Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 16 Tháng Hai, 2020, 04:41:07 pm



Tiêu đề: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Hai, 2020, 04:41:07 pm
          
        - Tên sách : Qua miền Tây Bắc

        - Tác giả : Nguyễn Công Huy (tức thành viên phicôngtiêpkích)

        - Nhà xuất bản Hồng Đức

        - Số hóa : Giangtvx

        - Các tác phẩm khác của Nguyễn Công Huy đã có trên diễn đàn:  

               + Tôi từng là phi công tiêm kích https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30100.0

               + Vũ Xuân Thiều - Phi công cảm tử https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30146.0

               + Thanh kiếm bầu trời https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30148.0

               + Chiến mã trên không https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30157.0

               + Người tìm chìa khóa vàng https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30164.0

               + Đi xa ngoảnh lại https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30171.0

               + 10/5/1972 Ngày dài không chiến https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30217.0

               + Bay vào vũ trụ https://www.quansuvn.net/index.php?topic=31379.0

        - Sách do Nguyễn Công Huy dịch đã có trên diễn đàn :

               + Tiêm kích sống bằng chiến trận https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30154.0

               + Những phi đội bay về phía tây https://www.quansuvn.net/index.php?topic=30162.0

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/86382347_595362714526946_6398930246548062208_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGz0mFGnXz1OKD2c6kbeHYmB-gfb1vQEsGg7Cjrpgs7QXajKaubQgHF0JwLkbIdjY2WmZIt6rHZhh8ppMOM7NpczkFu_V1RwVSZ5pEvNNgTkg&_nc_ohc=NoTUxa_0c_QAX-p9xPD&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=4cc5458b00eb58fe7d677fbe0298592a&oe=5ED03095)
      


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Hai, 2020, 06:26:00 pm

Phần thứ hai



LỜI MỞ

        Từ khi còn nhỏ, tôi đã được nghe những bài hát về miền Tây Bắc qua những sáng tác của các nhạc sĩ An Thuyên, Nguyễn Thành, Đỗ Nhuận... với những lời thôi thúc như: "Đường lên Tây Bắc vút xa mờ. Đường lên Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ... Vượt sông Lô, ngược sông Hồng. Đường lên Tây Bắc đi trong mênh mông đất trời yêu thương. Gặp lại dấu chân cha ông. Gặp lại chín năm gian khổ. Những dấu chân mang hình mũi tên, còn đây chí hướng chúng ta đi tới. Kìa Điện Biên! Non cao Hoàng Liên! Sáng niềm tin chúng ta hành quân trên đường lên Tây Bắc vút xa mờ. Chập trùng biên giới chiến thắng thù...", rồi "Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa. Suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua..rồi "Giải phóng Điện Biên. Bộ đội ta tiến quân trở về. Giữa mùa này hoa nở, miền Tây Bắc tưng bừng vui. Bản Mường xưa nương lúa mới trồng. Kìa đàn em bé giữa đồng nắm tay xòe hoa...".

        Tôi thừa nhận một điều rằng, tôi đi chưa được nhiều, cũng không phải là ít trên các tuyến đường bộ, đường thủy, đường sắt..., nhưng riêng tuyến đường Tây Bắc thì không ngờ tôi lại gắn bó với nó dễ có đến hơn hai chục năm.

        Chuyến đi nào cũng có những vất vả, gian nan, nhưng chuyến đi nào cũng có những sức hút kỳ lạ. Mỗi một cung đường, mỗi một dốc đèo đều để lại những kỷ niệm không bao giờ quên và rồi sau những cung đường, những dốc đèo ấy lại mở ra những hiểu biết mới, nỗi nhớ mới, cảm nhận mới...

        Ngay lúc này, chi cần nhắm mắt lại là tôi có thể hình dung được mọi cung đường trên tuyến Tây Bắc cùng những kỷ niệm, những nỗi nhớ đầy vơi.

        Sẽ có lỗi và với riêng tôi sẽ là có tội nếu như không viết lại những gì trong từng ấy năm gắn kết với miền đất này.

        "Kin khẩu nhá lưm na. Kin pa nhá lưm nậm..." (Ăn cơm phải nhớ đến đồng ruộng. Ăn cá phải nhớ đến nước... ). Tôi luôn cảm ơn và biết ơn những tổ chức, những đồng đội, những già làng trưởng bản, những người anh, người chị, người em đã quý mến tôi, giúp đỡ tôi trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi tôi gặp hoạn nạn.

        Tôi cũng rất yêu quý những người tôi đã từng gặp.

        Tôi cố ghi lại những gì mình đã trải nghiệm để chia sẻ cùng bạn đọc và cũng là để tri ân những người từng gắn bó với tôi trên những tuyến đường ấy, để thêm yêu thêm quý những vùng miền tôi đã qua, thêm yêu thêm quý những người tôi từng yêu quý...

        Có thể, có những điều tôi viết ra ở đây chưa thật hoàn toàn chính xác nên tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình để tôi chỉnh lí cho hoàn thiện.

        Chân thành cảm ơn!
Tác giả.        


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Hai, 2020, 04:48:38 am

CHUYẾN ĐI ĐẦU TIÊN

        Thời gian Trung đoàn của tôi đóng quân ở sân bay Yên Bái thì sân bay Nà Sản của tỉnh Sơn La được chỉ định là sân bay dự bị và cũng là sân bay cơ động của Trung đoàn tôi.

        Theo đúng quy định, trước ban bay huấn luyện nào cũng phải tổ chức bay trinh sát thời tiết. Sau khi bay trinh sát qua các không vực bay của Trung đoàn, kiểu gì tôi cũng bay cắt qua sông Hồng, vòng về sân bay Nà Sản để xem xét khí tượng ở khu vực đó ra sao, sau đó bay rẹt dọc đường cất hạ cánh của sân bay Nà Sản ở độ cao thấp, thậm chí cực thấp rồi bật tăng lực, kéo ngược lên, lật máy bay quay về hướng Yên Bái, vào hạ cánh.

        Một điều như hiển nhiên, thời tiết ở khu vực Sơn La gần như khác hoàn toàn với khu vực Yên Bái 180 độ. Khi ở Yên Bái "trời quang mây tạnh" thì ở Sơn La trời đầy mây. Khi ở Yên Bái trời u ám, mây phủ dầy thì Sơn La lại quang đãng không một gợn mây nào. Dòng sông Hồng tựa như biên giới phân định thời tiết hai nơi một cách rõ rệt. Rất nhiều lần thấy được sân bay Nà Sản từ trên không, nhưng chưa một lần nào tôi đi bằng đường bộ đến đó.

        Vì là sân bay cơ động, sân bay dự bị của Trung đoàn nên tôi phải tìm cách lần tới đó để "mục sở thị" bằng được mới thôi...

        Có một lí do rất đơn giản và rất thiết thực, đấy là nếu phải đi cơ động thì các thành phần như cơ quan tham mưu, kỹ thuật, hậu cần, thông tin... bắt buộc phải di chuyển bằng đường bộ, chỉ có thành phần phi công là chuyển máy bay bằng đường không tới đó. Vậy thì phải biết cụ thể tuyến đường ấy nó thế nào, có những khó khăn, thuận lợi gì khi chuyển quân để còn tính toán cho tốc độ di chuyển cùng trăm thứ kèm theo đảm bảo an toàn.

        Theo tuyến đường quốc lộ số 6, tính điểm đầu là cầu sông Nhuệ (thị xã Hà Đông), qua Hòa Bình thì từ Hòa Bình lên Sơn La là 256 cây số. Nếu như tình trạng đường xá được như bây giờ và các phương tiện vận chuyển hiện đại như bây giờ thì thời gian di chuyển cho việc chuyển quân thực sự chẳng đáng là bao và chuyến hành quân chắc chắn là nhàn nhã hơn nhiều. Nhưng vào những năm đầu 1980 thì đấy là cả một vấn đề. Ngay như chuyện vượt dốc thôi cũng đã phải tính toán cho thật cẩn thận rồi. Xe cộ đều thuộc dạng "cà tàng", nhất là cái "anh" Ru-ma-ni sản xuất thì đúng là "vừa đi vừa đẩy" thật. Lên xuống dốc như vậy đâu có dễ. Cái dốc Cun ở Hòa Bình một thời đã là nỗi run sợ của nhiều lái xe: đường hẹp, dốc núi quanh co, cây cối rậm rạp, vực sâu, tầm nhìn hạn chế, rất nhiều nơi bị che khuất chẳng biết đằng trước sẽ có gì. Mối nguy hiểm luôn rình rập không biết sẽ xảy ra lúc nào. Các dốc lại liền nhau, tiếp nối nhau liên tục: hết dốc Cun lại đến dốc Quy Hậu... Lơ mơ là "ăn đòn" ngay! Vậy nhưng vẫn phải đi!

        Chuyến đi đầu tiên của tôi được xuất phát từ Sư đoàn, qua thị xã Hà Đông, ngược phía Hòa Bình theo tuyến đường quốc lộ số 6 để đến Nà Sản - Sơn La đầy âu lo và căng thẳng.

        Chuyển bánh từ 4-5 giờ sáng, xe cứ rù rì chạy nhích từng cây số một. Có lẽ cần phải nói rằng: di chuyển trên tuyến đường dài chính là sự rèn luyện tính kiên nhẫn và sự dẻo dai, bền bỉ cả về sức khỏe lẫn tinh lực. Nóng vội cũng hỏng việc mà trễ nải cũng hỏng việc...

        Mục tiêu đầu tiên là phải vượt dốc Cun sao cho an toàn. Cứ phải tính từng đoạn một theo kiểu sâu đo.

        Qua thị xã Hòa Bình!... Dốc Cun đây rồi! Đây là con dốc con đèo đầu tiên trên chặng đường lên Tây Bắc để rồi từ đây, càng đi thì đèo dốc càng cao hơn, ngoắt ngoéo hơn, hiểm trở hơn, nguy hiểm hơn và sự thử thách cho các "tay lái" càng tăng hơn. Ai cũng hít một hơi thật dài để trấn an tinh thần và chuẩn bị cho cuộc vượt dốc.

        Đúng là gian nan thực. Tuy độ dốc không lớn nhưng tuyến đường nhỏ, ngoắt ngoéo với cả chục khúc cua tay áo ôm sát vách núi, phía bên kia là vực sâu với tầm nhìn hạn chế, cây cối rậm rạp che khuất nhiều phần đường thì đúng là sự thử thách lớn của "cánh lái". Lên dốc được một đoạn, có người đã thấy tai mình bị ù, phải bịt mũi thở mạnh để đẩy màng nhĩ trở lại trạng thái bình thường mới nghe rõ những gì cần nghe. Tuyến đường vắng lặng cùng khung cảnh âm u, tĩnh mịch càng làm tăng thêm sự căng thẳng cho chuyến đi.

        Từ trước cho tới giờ, dốc Cun là con dốc có nhiều tai nạn nhất với đủ các loại xe từ xe khách đến xe tải, xe con, xe máy... nên không thể chủ quan, lơ là được.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Hai, 2020, 04:20:53 am

        Sau khi xe ì ạch lên đến đinh dốc Cun, chúng tôi dừng lại cho xe nguội máy một chút và bản thân chúng tôi cũng "xả chét" một chút, hít thở không khí nơi rừng núi, "ăn" một điếu thuốc cho tâm trạng nhẹ nhõm một chút rồi tiếp tục hành quân.

        Kim Bôi gần ngay đâu đây trên tuyến đường đi (thực ra là phải rẽ trái đi thêm một đoạn dài nữa mới đến). Tôi chợt nhớ đến bài "Nụ cười sơn cước" với lời hát "Ai về sau dãy núi Kim Bôi..." rồi lại nhớ đến câu:

       
"Thương nhau cho thịt cho xôi
        Ghét nhau đưa đến Kim Bôi, Hạ Bì..."

        Vùng này xưa kia là vùng "rừng thiêng nước độc", những người qua lại đây dễ bị "ngã nước" lắm nên tôi cũng thấy hơi chờn chọn...

        Vượt một loạt dốc, về đến Mẫn Đức là khu vực bằng phẳng rồi. Nơi đây nổi tiếng nhiều mía tím, mềm và ngọt, lại lắm nước nữa...

        Nghỉ đã!... Cứ đi từng chặng, nghỉ từng chặng rồi lại đi thì mới ổn.

        Qua Mẫn Đức là đến chợ Lồ. Một cái chợ với cái tên rất lạ mà mãi sau này tôi mới được nghe "sự tích" của nó cùng gắn với dốc Cun.

        Đường vẫn uốn lượn quanh co liên tục, mềm như dải lụa vắt qua các chân đồi chân núi, ẩn hiện dưới những tán cây rừng...

        Đây rồi Dốc Thung Khe (đèo Thung Khe). Nó còn có tên là "Đèo đá trắng". Anh bạn người Mường thì nói với tôi đấy là "Thung Nhái" vì nơi. này rất nhiều nhái. Từ Tân Lạc, con đèo bắt đầu đi mãi dần lên cùng cảnh sắc của Hòa Bình thay đổi không ngừng. Đèo Thung Khe không hùng vĩ như các đèo Ô Quy Hồ của vùng đất Lao Cai hay đèo Mã Pì Lèng của đất Hà Giang, hoặc Pha Đin của Sơn La - Điện Biên, Khau Phạ của Yên Bái nên có nhiều người đi qua không để ý, không nhớ tên nhưng nó chứa đựng vô vàn hiểm nguy bất ngờ. Rất nhiều tai nạn đã xảy ra ở nơi này, tháng nào năm nào cũng có. Độ dốc nhất của đèo chỉ 10% thôi nhưng con đèo chạy xuyên qua những dãy núi chập chùng nối đuôi nhau không dừng. Ta bỗng trở nên nhỏ bé, lọt thỏm giữa những ngọn núi thẳng đứng, trùng trùng điệp điệp ấy.

        Đèo Thung Khe chừng như một ngày có 4 mùa rõ rệt. Sáng sớm, mây trời giăng bảng lảng, bồng bềnh như sóng biển và những giọt nắng xiên qua cái biển mây yên ả ấy rọi xuống, rắc muôn ngàn đốm hoa trên mặt đất. Buổi trưa thì nắng nóng. Cái nắng vàng như mật ong chảy trên các ngả đường hắt lên bầu trời xanh trong với những đám mây trắng trôi lững lờ. Chiều về, không khí dịu hẳn. Những làn gió mát lành khiến cho nơi đây mát mẻ, với cái lạnh hắt hiu theo ánh hoàng hôn cùng chút le lói của mặt trời nhảy nhót sau những khúc cua trước khi lặn hẳn sau dãy núi. Tối đến, mây sà thấp xuống giăng kín mọi ngả đường, có khi trong vòng một mét thôi mà cũng không nhìn thấy nhau. Mà cũng không hẳn chỉ là tối, chiều hơi muộn đã vậy rồi. Về sau này, có lần qua đây, chúng tôi "lò dò" lên đến đỉnh thì vừa gặp một người đeo gùi trên vai, tôi hỏi: "Già đi đâu đấy?". Người kia trả lời: "Đi hái thuốc thôi!".

        Miền núi thường có những cây thuốc quý chữa được nhiều thứ bệnh. Tôi nhớ, ngày trước có những bà mế hay ngồi ở góc chợ bán những loại thuốc nam bằng lá cây, nhiều người đến mua lắm. Loại thì sắc uống, loại thì đắp, loại thì ngâm chân... Giá cả cũng hợp với túi tiền của người dân quê và bệnh cũng thấy chuyển lại không có tác dụng phụ nên nhiều người ưa dùng...

        Mới suy nghĩ một chút vậy thôi mà thoắt cái, bóng dáng người đi hái thuốc đã mất hút. Sương mù che khuất hết. Cả mây, cả sương mù tạo thành một biển màu trắng đục nhờ nhờ quyện vào nhau, mờ mờ ảo ảo, mọi vật cứ như thực như mơ...

        Mấy câu thơ cổ của Giả Đảo lại hiện lên trong đầu tôi:

                                        "Tùng hạ vấn đồng tử
                                        Ngôn sư thái dược khứ
                                        Chi tại thử sơn trung
                                        Vân thâm bất tri xứ..."


        Tạm dịch là:

                                        Hỏi chú nhỏ dưới gốc tùng
                                        Đi đâu vắng mặt mà không thấy thầy
                                        Loanh quanh hái thuốc đâu đây
                                        Chắc là bóng lẫn vào mây mất rồi!...


        Đúng thật! Con người miền núi luôn hòa lẫn với thiên nhiên, với mây gió, với mù sương, với ngàn cây, với đồi với núi, với dốc với đèo... cứ thoắt ẩn thoắt hiện. Họ sống thật hồn nhiên, hiền hậu, chất phác, thật thà, nói và làm luôn đi đôi với nhau, không xảo trá, không bon chen, đố kỵ... Giá mà ai ai trên hành tinh này cũng được như vậy thì hay biết mấy!...

        Nói đến Thung Khe không thể không nói đến sương mù. Sương mù đến ma mị. Nó làm ta như lạc vào cõi mê, không biết đường biết lối. "Mù quá hóa mưa" - câu ngạn ngữ này đúng với nghĩa đen của nó. Suốt chặng đường đèo, mây mù giăng đặc tạo thành mưa phùn, tầm nhìn kém vô cùng, xe cộ phải bật đèn vàng, bật gạt nước liên tục, bò nhích từng bước một. Vào mùa Đông thì chân tay lạnh cóng phải biết.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2020, 04:31:53 am

        Đỉnh đèo nằm bên dốc đá trắng. Tại đây, bên ven đường có những lán nứa xiêu vẹo với những chiếc bàn được ghép lại từ những mảnh gỗ cây xù xì bày bán ngô luộc, cơm lam, rêu đá, rau rừng... Nét đẹp thật bình dị. Đến đây không thể không dừng để ăn vài bắp ngô luộc đang bốc khói nghi ngút. Ngô ở đây là loại ngô nếp được trồng trên đất rừng, giữa những kẽ đá, đất màu mỡ, nó ăn sương đêm nên bắp to, hạt chắc và rất mềm, thơm. Chỉ cần nếm qua một lần là nhớ mãi không quên và kiểu gì khi đi qua đây cũng phải dừng để thưởng thức lại cái hương vị đặc biệt ấy.

        Gặp những ngày trời quang, đứng trên đỉnh đèo, ta có thể ngắm toàn bộ thung lũng dưới chân đèo với màu xanh đầy sức sống quyến rũ. Ta ngửa mặt ngắm bầu trời thăm thẳm cùng những đám mây nhàn tản trôi lững lờ để đón những làn gió mát lạnh thổi xua tan những mệt nhọc căng thẳng của chặng đường vừa để lại phía sau, để rồi lại tiếp tục cuộc hành trình với những gian nan mới...

        Đèo Thung Khe kết thúc ở ngã ba Tòng Đậu. Rẽ trái đi bản Lác, vòng phải tiếp tục ngược về Sơn La...

        Qua Tòng Đậu đến Đồng Bảng, qua Đồng Bảng đến đèo 46. Vượt qua đèo 46 sẽ đến Lóng Luông.

        Cứ qua mỗi địa danh là lại một lần thở phào nhẹ nhõm.

        Lóng Luông trước mặt đây rồi.

        Thời đó, từ khu vực Lóng Luông trở lên đến Mộc Châu, hai bên đường dân trồng cây anh túc (cây thuốc phiện) rất nhiều. Hoa anh túc đủ sắc màu sặc sỡ đung đưa theo gió dưới cái nắng chang chang vàng óng đến lạ lùng.

        Tôi không thông hiểu lắm về loài hoa này, chỉ biết rằng theo Thần thoại Hy Lạp thì hoa anh túc được nữ thần Ceres tạo ra để xoa dịu nỗi đau của mình bằng những giấc ngủ khi đi tìm con gái Proserpine bị thất lạc.

        Trong một câu chuyện khác liên quan đến loài hoa này là có một mụ phù thủy độc ác đã hóa phép biến một phụ nữ thành một bông hoa anh túc. Kể từ đó, người phụ nữ ấy phải sống trên cánh đồng cùng với những bông hoa anh túc khác và chỉ được về thăm nhà vào ban đêm mà thôi. Vào một đêm nọ, người phụ nữ kia bảo với chồng mình rằng nếu anh tìm và hái được bông hoa anh túc chính là cô thì lời nguyền của mụ phù thủy sẽ bị hóa giải và không còn hiệu lực nữa. Sáng hôm sau, người chồng đi ra cánh đồng và thấy hàng trăm ngàn bông hoa anh túc ở đó, tất cả đều giống nhau y hệt. Sau khi kiên nhẫn xem xét từng bông, anh đã vui mừng tìm được một bông chính là vợ mình - đó là bông hoa duy nhất không bị ướt sương đêm bởi đêm qua nàng đã ở nhà. Khi anh hái bông hoa đó, lời nguyền lập tức mất hiệu lực. Họ được sống với nhau rất hạnh phúc...

        Rồi hoa anh túc còn được chú ý tới trong suốt những cuộc chiến tranh của Napoleon vì những bông hoa kỳ bí này nở xung quanh những ngôi mộ mới của những chiến binh tử trận. Sau cuộc chiến 1914-1918, hoa anh túc mọc ngập tràn trên những ngôi mộ ở bãi chiến trường Flanders. Người ta nói rằng những bông anh túc mọc lên từ máu đã nhỏ xuống. Nó là biểu tượng tưởng nhớ những người đã chết trong chiến tranh...

        Rồi nữa, hoa anh túc còn được chạm khắc vào những chiếc ghế dài trong một số nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Hoa anh túc ở đấy biểu hiện cho niềm tin rằng chúng ta đang "yên nghỉ" trong khi biết trước về Ngày Tận Thế...

        Còn ở các chân cột của nhà Vua Mèo Vương Chí Sình trên Hà Giang thì lại đưa biểu tượng quả của cây anh túc. Mỗi chân cột là một quả tạc bằng đá khối, được đánh bóng bằng những đồng bạc hoa xòe...

        Tôi không biết loài hoa anh túc du nhập vào nước mình, vào vùng Tây Bắc này từ khi nào và bằng con đường nào, nhưng tôi được nghe kể khi gieo hạt cây anh túc vào tầm khoảng tháng 10 tháng 11 âm lịch thì thường phải gieo lẫn với hạt cải, gọi là cải Mèo vì cây anh túc khi nhỏ rất yếu ớt, ẻo lả, cần có chỗ dựa. Vậy là nó dựa vào cây cải để cùng lớn. Khi cây cải đến độ ăn được, người ta thu hoạch cải và lúc ấy thì cây anh túc cũng đã cứng cáp, tự đứng vững trong gió mưa, ra hoa kết trái. Tôi cảm nhận là cây cải đó khi ăn (chủ yếu là luộc) thì có vị ngọt lạ hơn các cây cải khác trồng riêng biệt không xen kẽ với cây anh túc. Sau này, khi ta có những chiến dịch tuyên truyền và hủy bỏ cây anh túc, những vạt cải Mèo ven đường vẫn trồng như xưa, nhưng ăn thì không "chất" bằng, nó cứng hơn, không mềm và ngọt như trước đây nữa.

        Đấy chỉ là cảm nhận của riêng cá nhân tôi thôi. Chẳng biết thực hư thế nào.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2020, 06:25:31 am

        Lan man một chút về loài hoa anh túc thế thôi. Bây giờ tôi trở lại chuyến đi.

        Qua Lóng Luông sẽ đến đất Mộc Châu.

        Sơn La có hai cao nguyên là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản.

        Cao nguyên Mộc Châu từng được ví là Đà Lạt của Tây Bắc. Mộc Châu ở độ cao 1.050 mét so với mực nước biển, có chiều rộng 25 cây số và dài khoảng 80 cây số cùng với hơn 1.600 ha đồng cỏ, mang khí hậu đặc trưng của miền cận ôn đới, đất đai màu mỡ, phì nhiêu. Nhiệt độ trung bình là 20 độ c và mùa Đông khô ráo hơn các vùng khác. Nói đến Mộc Châu là nói đến những trang trại bò sữa từ lâu đã nổi tiếng với giống bò trắng lang đen của Hà Lan.

        Nông trường Mộc Châu được thành lập năm 1958 với hàng ngàn con bò sữa, cung cấp sữa bò lớn nhất trong cả nước. Nơi đây cũng từng có một bãi cất hạ cánh cho loại máy bay "lắm cánh nhiều càng" An-2 vận chuyển sữa từ Mộc Châu về xuôi và cũng từng có một "chú" An-2 gặp nạn, lăn quay cạnh bãi cất hạ cánh vì vướng vào đường dây điện rồi nằm ở đó mãi đến tận những năm sau này mới di dời.

        Tôi chợt nhớ đến người Anh hùng lao động Hồ Giáo, người từng đi vào trang sách của các nhà văn với tất cả những lung linh ám ảnh, tuy rằng anh không công tác ở nơi này. Chắc nhiều người còn nhớ câu:

       
"Hỏi anh có thú vui gì
        Anh cười: “Vui thú đời đi chăn bò!..."

        Có lẽ, đấy là một đơn nhất, không lặp lại!...

        Mộc Châu là một cao nguyên xinh đẹp, rộng lớn nhất vùng núi phía Bắc. Cảnh quan thật kỳ vĩ với những ngôi làng xinh xắn bên ven đường, với những mùa hoa cải, hoa đào, hoa mận ngút trời, với những rặng hoa trạng nguyên đỏ thắm, hoa dã quỳ vàng rực rỡ, với những đồi chè xanh ngút ngàn, với những ngọn núi mờ ảo, mơ màng in bóng trong mây... Tiết trời se se lạnh cùng những lớp sương mù dày đặc khiến cảnh vật nơi đây đẹp một cách lạ lùng, mê mẩn hồn người.

        Vậy là chúng tôi ở cách Hà Nội 140 cây số. Chặng đường đã qua đầy gian nan, nhưng khi đến đất Mộc Châu, không khí trong lành, mát mẻ đã xua tan đi những mệt mỏi, giúp chúng tôi có sự hứng khởi để tiếp tục cuộc hành trình.

        Đến Yên Châu! Mọi người trên xe bỗng dưng hồ hởi hẳn lên khi al đó cất tiếng hát: "Nghe con suối róc rách đang reo vui đón mừng thắng lợi này. Bàn làng em vừa rồi lập công bắn rơi máy bay Mỹ...".

        Yên Châu cũng là địa đanh đã đi vào sử sách. Từ năm 1948 đến 1953 thuộc Liên khu Việt Bắc, từ năm 1953 đến 1955 thuộc Liên khu Tây Bắc, từ năm 1955 đến 1962 thuộc Khu tự trị Thái Mèo và từ 1962 đến 1975 thuộc khu tự trị Tây Bắc. Nay là một huyện của tỉnh Sơn La.

        Yên Châu cách Hà Nội 240 cây số và cách Sơn La gần bảy chục cây số. Yên Châu chỉ rộng 843 cây số vuông, nhung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều. Các dãy núi đá vôi chia Yên Châu thành 2 vùng là vùng lòng chảo và vùng cao biên giới. Vùng lòng chảo thì khí hậu khô nóng, nhất là vào tháng 3 đến tháng 5 bị ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào), nắng ghê gớm và gió rát rạt. Được cái là trời ban cho đất Yên Châu loại quả đặc biệt đó là xoài. Loại xoài quả bé mà tròn (gọi là muồng kẻo) để được cả tháng, rất ngọt và thơm. Khi gọt xoài xong, rửa tay rồi mà vẫn không hết mùi thơm của xoài, vậy mới lạ và khêu gợi một cách thật ấn tượng...

        Qua Yên Châu là sắp đến đèo Chiềng Đông.

        Đèo Chiềng Đông chỉ dài 8 cây số nhưng cũng là đèo khó khăn nhất trong việc thử thách tay nghề và ý chí của "cánh lái" vì nó chạy vắt qua các dãy núi hiểm trở ở độ cao 800 mét so với mực nước biển. Vào mùa mưa, nhiều cung đường hay bị sạt lở. Độ dốc của đèo là 10%, nó cũng nguy hiểm chẳng kém gì đèo Pha Đin, đèo Tằng Quái ở phía trước. Cũng ở đèo Chiềng Đông này, mấy đồng đội của Sư đoàn tôi đã gặp tai nạn khi chở dầu lên sân bay Nà Sản nạp cho máy bay làm nhiệm vụ đặc biệt. Khi trở về, xe đã mất phanh, lao vào tà-luy và lật rơi xuống vực. Hai anh Hoàng Chu và Nguyễn Văn Biểu chết ngay ven đường khi xe bắt đầu lật, còn các anh Đàm Cảnh Thai, Trần Xuân Bất, Nguyễn Văn Tuyến thì lăn xuống tít sâu và thoát khỏi tay tử thần một cách may mắn lạ lùng. Những lần đi công tác qua đây, chúng tôi đều dừng xe, xuống thắp nhang ở nơi hai anh Chu và Biểu mất, đồng thời đặt vào đó mấy hòn đá. Người dân quanh vùng khi đi qua cũng đều đặt thêm những hòn đá vào đó nên nấm mộ đá ấy ngày càng to dần. Sau này, khi tuyến đường mở rộng và nắn thẳng không đi qua nơi đó nữa thì chúng tôi không còn cơ hội thắp nhang viếng các anh nhưng vẫn nhắc tới các anh, nhắc tới chuyến đi định mệnh kia.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2020, 07:46:56 am
     
        Bản thân tôi cũng từng bị tai nạn trên tuyến đường lên Tây Bắc này, cũng tưởng cầm chắc cái chết trong tay và cũng thoát khỏi nó một cách khó tin... nên không ai có thể nói giỏi được. Tính mệnh của mình, của những người trong xe phụ thuộc hết vào người ngồi sau tay lái, chỉ sơ xẩy một tí thôi là chẳng còn gì để nói cả!

        Trở lại chuyến đi của chúng tôi khi đến đèo Chiềng Đông.

        Nghe nói con suối dưới chân đèo là nơi chị em người Thái vẫn quen tắm trần (hay còn gọi là tắm tiên). Tôi nhắc dè chừng:

        - Lái xe không được nhìn ngang nhìn ngửa đâu nhá. Việc quan sát ấy là để cho bọn tớ, sau này sẽ kể lại. Nhưng mà tuyệt đối không được anh nào chỉ trỏ, cười cợt gì, nghe chưa?. Hay là... muốn tắm thì ta dừng xe xuống tắm cho mát đã?...

        - Cũng hay đấy ạ!

        Nói thì nói thế thôi, thời gian đâu có cho phép dừng. Mà cũng chỉ cảnh báo thế thôi, chứ làm sao bắt được con mắt của cánh lái xe chuyên nghiệp luôn phải nhìn thẳng, không ngó ngang ngó ngửa. Mắt cánh lái xe đảo nhanh hơn mắt bọn tôi nhiều lắm, cứ như rang lạc ấy. Nói là nói cho vui vậy thôi!

        Quả thực, thời đó việc tắm táp ở suối là chuyện bình thường, là việc sinh hoạt hàng ngày, tất cả đều hồn nhiên. Mãi đến tận những năm sau này cũng vẫn vậy. Rồi dần dà mới bị mai một bởi nhiều lí do... Rồi cũng nhiều phong tục, tập tục cũng bị dỡ bỏ, bãi bỏ, bị bào mòn... thành thử đáng tiếc lắm.

        Địa danh Cò Nòi đã ở phía trước mặt.

        Một miền đất khá bằng phẳng và trù phú. Nào mía, nào ngô... được trồng tỉa từng khu lên tốt bời bời, xanh um mát mắt, cứ ngả nghiêng theo ngọn gió chiều trông tựa như những làn sóng xanh ngoài trùng dương. Có tài liệu gọi Cò Nòi là Co Noi. Có lẽ nó gắn với đặc điểm ờ nơi này có rất nhiều nứa tép. "Co" là cây, còn "Noi" là "mậy noi" - một loại nứa nhỏ bằng ngón tay dùng để đan phên liếp thưng nhà. Tôi không quan tâm đến chuyện ấy lắm, chi biết nơi đây từng là "rốn bom" do tàu bay B-26 của Pháp trút xuống để chặn đường quân ta lên Điện Biên trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 và nói đến Cò Nòi thì tôi lại nhớ đến Vũ Xuân Thiều. Anh đã hy sinh trên vùng trời của mảnh đất này trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972. Xác "pháo đài bay" B-52 của Không quân Mỹ và máy bay MiG-21 của anh đều nằm lẫn lộn trên những triền đồi của Cò Nòi, thi hài anh được đưa về nghĩa trang Bố Ân trên Sơn La, sau này thì dời về nghĩa trang Văn Điển. Tôi cũng đã từng ghi sau bức thư của người bạn gái anh gửi cho anh (mà anh chẳng bao giờ được nhận và được đọc) hai dòng như sau:

Chiều chiều mây phủ Sơn La
Nhớ thương bạn, nước mắt và lộn cơm!...

        Vậy mà đã bao nhiêu năm trôi qua. Vùng đất Cò Nòi đã nhiều đổi thay, đã có những nét khởi sắc. Sau này thì người ta xây dựng nhà máy đường ở vùng này, tôi không rõ công suất và sản lượng được bao nhiêu tấn/năm, nhưng giữa khu vực rộng lớn ấy chỉ thấy ống khói nhà máy nhỏ nhoi với những làn khói mỏng manh tỏa ra trông chẳng khác gì điếu thuốc lá cắm ngược trên bàn trà cùng những sợi khói lơ đãng uốn quanh...

        Đấy là chuyện của sau này chứ hồi chúng tôi đi trong chuyến đi đầu tiên thì còn hoang sơ vô cùng.

        Xe "bò" đến Hát Lót là mừng lắm. Không khí trên xe bỗng nhộn nhịp hẳn lên. Không thấy ai còn trong trạng thái ngái ngủ hay lờ đờ mệt mỏi nữa. Từ đây đến sân bay Nà Sản chỉ còn 7-8 cây số. Đến đấy là sẽ được tắm táp, ăn uống, nghỉ ngơi đàng hoàng sau hành trình đài đầy bụi bậm, gian nan và căng thẳng, mệt mỏi...

        Sân bay Nà Sản được người Pháp xây dựng vào khoảng năm 1950. Đầu tiên chi là một đường băng ngắn với nền đất nện, về sau thì được mở rộng, kéo dài thêm và có nền lát ghi sắt, có thể đáp ứng cho loại máy bay Dakota cất hạ cánh được.

        Cuối tháng 10 năm 1952, Pháp đã xây dựng một Tập đoàn cứ điểm tại đây, xung quanh Nà Sản nhằm ngăn chặn sự tấn công của Việt Minh.

        Từ 30 tháng 11 đến mồng 2 tháng 12 năm 1952, quân Việt Minh đã tấn công sân bay Nà Sản và đánh chiếm được một số cứ điểm tại đây nhưng không đủ sức đánh chiếm Tập đoàn cứ điểm. Sân bay Nà Sản đã trở thành cảng tiếp vận Hàng không hữu hiệu giúp cho Pháp cầm cự trước sự tấn công của quân Việt Minh. Vì vậy, Tổng chỉ huy quân Việt Minh, tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển sang thế bao vây cô lập quân Pháp cho đến khi họ rút khỏi Nà Sản vào đầu năm 1953.

        Sau năm 1954, sân bay Nà Sản bị bỏ hoang một thời gian dài. Đến đầu thập niên 1960 thì được khôi phục nhằm phục vụ nhu cầu đi lại đường không của vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, không lâu sau thì lại bị đóng cửa do lượng khách đi lại ít...

        Về "sự sống", về lịch sử hoạt động của sân bay Nà Sản, tôi sẽ nói sau. Chỉ biết bây giờ, sân bay Nà Sản - một cầu nối trong tuyến đường Hàng không mà Pháp từng xây dựng để vận chuyển cho căn cứ Điện Biên Phủ đã hiện ra trước mắt chúng tôi.

        Vậy là đã "cán đích"!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2020, 07:22:51 am

NHỮNG CHUYẾN ĐI TlẾP

        Sau chuyến đi đầu tiên thì không lâu sau, tôi lại có chuyến đi thứ hai, thứ ba và rồi cứ thế "túc tắc" các chuyến đi nối nhau theo thời gian trên tuyến đường này.

        Từ chuyến thứ hai trở đi, tôi đã bắt đầu cảm nhận rõ rệt về từng cung đường, cảm nhận về những món ăn mà dưới xuôi không có, tôi chưa từng được ăn bao giờ ví như là món "nậm pịa" (hoặc còn gọi là nặm pịa) chẳng hạn.

        Cái món này, lúc mới nhìn, nó không được "bắt mắt" cho lắm và khi nếm thử miếng đầu tiên thì đúng là cũng gây khó chịu thật: nó có vị đắng lại hăng hăng và... khó ngửi. Nhưng sau này, sau vài ba lần ăn, nếu cảm nhận thật kỹ, thật chậm thì tôi thấy thực sự bị cuốn hút. Nó mang màu sắc hoang sơ, lâu đời vào bậc nhất của núi rừng và là nét độc đáo trong ẩm thực của đồng bào dân tộc Thái. Nó làm ta xao xuyến đến nao lòng với những hương vị riêng của miền sơn cước.

        Theo tôi tìm hiểu thì "nậm" hay "nặm" nghĩa là canh, còn "pịa" là thứ dịch sền sệt trong ruột non của loài vật ăn cỏ (như bò, trâu, dê..), nhưng chủ yếu là bò. Có người gọi nó là "phân non" nghe ghê chết, tiếng Trung Quốc thì gọi là "ngưu tát phiết", còn miền xuôi gọi cái thứ đó là "phèo", lấy "pịa" tức là "bắt phèo".

        Vì nó là món ăn "là lạ" và độc đáo nên tôi nói hơi kỹ một chút giúp cho bạn đọc nếu có dịp ngược Tây Bắc sẽ không lạ lẫm khi nhìn thấy món ăn này.

        "Nậm Pịa" là món ăn đặc trưng của người Sơn La, có thể dùng làm nước chấm mà cũng có thể dùng làm món ăn giống như một loại canh. Nó có tác dụng giúp cho đường tiêu hóa ổn định và cũng giải rượu rất tốt nữa. Nguyên liệu của món này chính là nội tạng các loài vật ăn cỏ bao gồm dạ dày, tiết, lòng, tim, gan, phổi... thập cẩm "tạp pí lù" đem ninh nhừ. Ngoài ra, còn có một thành phần rất đặc biệt nữa đó là "pịa". "Pịa" là phần dịch nằm giữa đoạn dạ dày và ruột già. Nếu ai đã biết "bắt phèo" lợn thì hẳn dễ dàng hình dung được cách lấy "pịa" của người Thái.

        "Bắt phèo" thì thế thôi, nhưng cách chế biến "pịa" thì cầu kỳ hơn nhiều.

        "Pịa" chỉ lấy ở trâu, bò, dê và các loài ăn cỏ khác ở rừng, nhưng trong số ấy được đánh giá cao hơn cả là "pịa" dê vì dê có thể ăn được mọi loại lá cây, thậm chí cả lá ngón. Năng lực tự nhiên đã khiến dê tạo ra những chất có khă năng kháng độc trong cơ thể. Từ đó, "nậm pịa" dê có tính năng tiêu độc, giúp cho cơ thể con người tiêu hóa tốt hơn.

        Nếu là "pịa" bò thì tất cả là từ bò hết, nhất là phải có tiết bò đông, rồi sụn bò, đuôi bò, thịt bò, bạc nhạc bò, lục phủ ngũ tạng... bò.

        Việc lấy "pịa" phải rất cẩn trọng. "Pịa" được lấy ngay khi bộ lòng mới được đưa ra khỏi ổ bụng bò, được bảo quản cẩn thận tránh ruồi nhặng bâu vào. Phần ruột non được thít chặt bằng lạt ngăn cách với ruột già và dạ dày, cốt để chất nhũ tương trong ruột non không bị pha tạp. Đấy là phần tinh túy nhất, nó mang vị đắng của mật và vị ngọt của protein.

        Tiếp đến là giai đoạn nấu "pịa": nồi nước xương bò được ninh sôi trong nhiều giờ liền, tới khi đủ vị ngọt và ngậy bấy giờ mới đổ tất cả nguyên liệu thịt,sụn, lục phủ ngũ tạng... vào rồi ninh. Phần ruột non được cắt khúc ngắn, trộn với các loại rau thơm, rau mùi tàu, tỏi, ớt, bột mắc khén... Tất cả đều băm nhỏ, cho vào và đun sôi tới khi thành hỗn hợp sền sệt. Đấy chính là món "nậm pịa" trứ danh!

        "Pịa" cũng được chuyên dùng như món chấm cho thịt nướng. Khi chấm miếng thịt nướng vào "pịa", miếng thịt sẽ trở nên thơm ngon đặc biệt. Nó có vị đắng, tuy nhiên sau khi ăn sẽ để lại vị ngọt trong cuống họng.

        Nét độc đáo của "pịa" cũng như nét đặc sắc trong ẩm thực của người Thái ru lòng người một cách thật nhẹ nhàng mà quyến rũ là vậy...

        Nhiều năm sau này, sau nhiều chuyến đi thì tôi mới hiểu thêm về câu ngạn ngữ của vùng Tây Bắc: "ngủ Mông, ăn Thái, đái Kinh". Nghĩa là, người Mông (ta vẫn quen gọi là người Mèo) khi say rượu rồi có thể ngủ bất kỳ ở đâu, có thể gối đầu lên hòn đá mà ngáy, có thể nằm cạnh gốc cây, bãi cỏ... đều ngủ ngon lành. Người Thái thì chế biến được rất nhiều món ăn ngon, kể cả những loại lá cây rất tầm thường, thậm chí cả "lá thối" (phắc min) - khi chưa nấu nướng, nó có mùi kinh khủng, nhưng khi đã thành món ăn lại tuyệt vô cùng. Còn người Kinh thì đúng là... bạ đâu đái đấy thật! Tôi có anh bạn đã từng làm một phóng sự về... đái bậy, từ cảnh lũ trẻ tồng ngồng vừa tắm vừa "bắc cần câu" xuống sông, rồi các cảnh ở khắp các vị trí từ gốc cây đến ven đường, thậm chí cả ở giữa đường, cả đàn ông lẫn đàn bà đều như nhau tuốt, lại còn có cảnh một ông "Tây ba lô" hỏi một người Việt ta với thứ tiếng "Việt bồi" lơ lớ: "Tôi chi biêt HaLong bay, ơ phô nay co cam đai bay. Thế là thế nao?". Tức là, ông "Tây ba lô" thấy trên bờ tường viết dòng "Cấm đái bậy" nhưng bị mất hết dấu, thành thử ông Tây hiểu đấy như là một thắng cảnh giống thắng cảnh Hạ Long mà ta vẫn quảng cáo "HaLong bay".

        Quà là chua xót, cười ra nước mắt!...

        Liên quan đến "pịa", tôi kể thêm một chuyện vui vui thế này: sau nhiều chuyến đi, quen thân với nhiều người, họ thấy tôi ăn uống cũng không kiêng khem, chê bai gì, món nào nghe chừng cũng thấy ngon miệng thì họ quý. Có lần, một ông mời tôi đến nhà ăn cơm. Vào bữa, sau vài tuần rượu, ông nói:

        - Hôm nay có cả "pịa" gà đấy!

        Tôi nghe xong câu ấy bỗng thấy "nổi da gà" vì từ trước tới giờ, món "pịa" chỉ làm từ động vật ăn cỏ, nay còn có cả "pịa" gà thì tôi chưa nghe bao giờ, chưa thấy bao giờ, nên sợ là phải. Sợ vì nghĩ đến cảnh "bắt phèo" gà. Gà thì lấy đâu ra "phèo"?. Mà cái ruột của nó chưa bằng cái xe điếu kia, tuôn được nó ra thì... eo ôi! Tôi không dám tưởng tượng nữa kẻo phải bỏ dở bữa ăn mà chuồn. Chắc nhìn cái dáng điệu của tôi buồn cười lắm nên chủ nhà mới bảo:

        - Nói cho vui thôi! Tao lấy tiết gà trộn với óc gà rồi cho tí mật gấu vào, thế là giống "pịa", là thành "pịa" thôi, ăn được đấy!

        Thế thì tôi yên tâm quá rồi còn gì. Vậy là lại rót chén đầy, nâng lên: "Hảo hãn nới" (Sức khỏe nhé!), “Mắn rưn nới" (Sống lâu nhé!). Nào, "Au hành nào!" (Cạn chén nào!). Ô, còn gì vui bằng!

        Tôi đã nói rồi, người Thái có thể chế biến nhiều thứ thành món ăn mà!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2020, 06:24:21 am

        Cái cách uống rượu của người dân tộc Thái ở Sơn La cũng khác các nơi khác: sau khi chạm chén rượu đầu tiên, thế nào cũng phải nghiêng chén, đổ một chút rượu xuống đất về phía bên trái mình. Tôi tò mò tìm hiểu thì được giải thích: đúng ra là phải lấy ngón tay út chấm vào chén rượu rồi nhỏ mấy giọt xuống bên trái mình cho con ma nhà mình, sau đó chấm tiếp và nhỏ mấy giọt sang bên phải cho con ma nhà người, tiếp đến lại chấm và nhỏ mấy giọt nữa xuống giữa chỗ ngồi cho thổ công thổ địa gì đó. Phong tục ấy dần dà được "cắt xén" bớt đi cho thuận tiện, tức là chỉ đổ một lần về phía bên trái thôi.

        Tôi thấy đấy là một nét rất nhân văn nên học theo. Một lần, khi vào tiệc rượu, một em phát hiện ra tôi làm động tác ấy liền thắc mắc:

        - Ơ, anh Huy không phải người Sơn La mà sao lại biết phong tục của người Sơn La thế nhỉ?.

        - Cũng biết đấy! - tôi trả lời như những người ở đây vẫn hay trả lời.

        - Thế thì phải uống riêng với anh một chén thôi!

        - Ừ, uống thôi!

        Uống riêng với nhau là phải rót chén đầy. Tôi thấy tôi với em ngồi cách nhau một người. Tôi liền nói:

        - Phải rót cho cả người "báng lẩu" nữa chứ!

        Ẹm tròn mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Chẳng là, nếu ở giữa mình và người sẽ uống riêng với mình có một ai đó thì người ấy là người "báng lẩu" -  người "gánh rượu". Nó tựa như người gánh đôi thùng gánh nước ấy và đương nhiên là người ấy cũng phải được rót đầy chén để chạm. Sau thủ tục ấy rồi mới chạm riêng từng thành phần, uống xong thì người được mời phải mời lại người vừa mời mình và sau mỗi lần uống là bắt tay. Uống bao nhiêu chén, bấy nhiêu lần bắt tay. Thủ tục ấy như là để "khẳng định" rằng mình đã uống hết. Có nơi còn bày ra chuyện sau khi uống hết liền xòe bàn tay trái ra, đập mạnh miệng chén xuống và giơ tay cho biết rằng "chính quyền đã đóng dấu xác nhận". Ai để "dấu" bị nhòe - tức là vẫn còn rượu trong chén (mà ta quen gọi là "rông- đen") thì sẽ bị phạt, phải uống lại cho đến khi "con dấu" tròn trịa mới thôi.

        Động tác uống xong rồi bắt tay không rõ xuất xứ từ đâu nhưng sau này tôi thấy nhiều nơi áp dụng lắm. Ai cũng nói rằng nguồn gốc chuyện ấy là ở quê hương mình. Tôi chẳng muốn tranh luận làm gì.

        Một lần trong bữa rượu, sau khi đã dăm bảy lượt nâng chén, có người hỏi tôi:

        - Mày có biết tại sao lại gọi là dốc Cun rồi chợ Lồ không?

        - Không biết đâu vớ! - tôi vừa cười vừa trả lời.

        - Thế này này, ngày xưa người ta vẫn gọi là "dốc Cu", có hai chữ thôi, còn chợ thì tận ba chữ cơ. Rồi khi cái cán bộ Việt Minh đến thì bảo là tên ấy nghe không được đâu, xấu lắm, tục tĩu lắm, bèn lấy cái chữ thứ ba của chợ ghép cho vào dốc. Thế là chợ còn hai chữ, dốc thành ba chữ, mới là chợ Lồ, dốc Cun đấy!

        Tôi nghe xong bật cười, tất cả cũng cười ầm lên. Ôi! Những người dân miền sơn cước ngày thông minh mà tế nhị, hóm hỉnh làm sao. Thế là lại rót rượu, lại nâng chén:

        - Nào, uống vì cái dốc, vì cái chợ nào!

        - Cạn chén thôi, "au hành" thôi!

        Cuộc vui cứ thế kéo dài, rượu cứ rót tràn, cứ nâng, cứ uống... Uống đi! uống đi! Đừng sợ hết rượu! Suối ở đây không bao giờ cạn mà!...

        Cuộc sống với mọi chuyện cứ đơn giản như vậy!

        Thực ra, chỉ khi quen biết nhau, thân thiết quý mến nhau thì mới được như thế. Tất cả đều sống chan hòa, cởi mở, không khách sáo, nói năng ăn uống lại còn có phần bỗ bã nữa. Đúng là không gì bằng sự thông hiểu, sự quý mến nhau thật!

        Lần chúng tôi lên Nà Sản, Sơn La để tìm chỗ ở mới cho Tiểu đoàn căn cứ sân bay vì chỗ ở hiện giờ có nhiều điều không ổn. Nó vừa xa sân bay, đường vào căn cứ thì hẻo lánh, nhỏ như lối ngõ, hai bên đầy lau sậy um tùm. Được mỗi cái là ở gần mó nước (nguồn nước) thôi. Mấy anh em tôi vào Tiểu đoàn, nói nội dung và yêu cầu của chuyến đi công tác xong thì đi khảo sát, tìm địa điểm mới. Chúng tôi tìm được một nơi có thể nói là "đắc địa" vì đất ở đấy bằng phẳng, gần đường quốc lộ, tiện việc di chuyển, cơ động, lại gần sân bay, nên việc canh gác, triển khai cho nhiệm vụ rất hợp lí. Đang đứng ở gần đoạn cuối dốc, anh phó đoàn của chúng tôi vừa lấy tay khoát khoát ra hiệu, vừa giải thích, tình cờ có một chị người Thái "cưỡi" trên chiếc xe đạp nam lao từ trên dốc xuống. Hình như chị có nói điều gì đó nhưng chúng tôi không hiểu vì ngôn ngữ bất đồng. Chưa ai kịp định thần, xe của chị đã lao trúng người anh phó đoàn. Cả hai lăn kềnh xuống rãnh bên lề đường. Rất may là không ai bị sây sát gì. Hai người đứng lên, phủi bụi ở quần áo, anh phó đoàn của chúng tôi với nét mặt căng thẳng, hỏi to:

        - Thế mày không thấy tao đứng ở đây à?.

        - Thế mày tưởng tao biết đi xe đạp à? - chị người Thái hồn nhiên hỏi lại.

        Tất cả chúng tôi phá lên cười. Hai người nhìn nhau rồi cũng cười ngặt nghẽo. Thế là "hòa cả làng", "vui như Tết"... Thì ra, mọi chuyện ở vùng sơn cước này đều đơn giản, không phức tạp như miền xuôi. Dưới miền xuôi, sau cú va chạm ấy chắc sẽ to tiếng với nhau lắm mà rồi có khi "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" nữa cũng chưa biết chừng. Cuộc đời này đã phức tạp lắm rồi, sao con người lại cứ muốn cho nó phức tạp hơn lên thế nhỉ, sao không cư xử với nhau, sao không suy nghĩ và hành động cho đơn giản đi giống như chị người Thái kia nhỉ?.

        Cứ mỗi lần tôi đi, tôi lại gặp nhiều điều, tôi lại suy tư, lại dằn vặt...

        Con người ta cứ tự mình làm khổ mình thôi. Trên đời này, có loài vật nào như thế đâu!

        Những chuyện thuộc về giai thoại của người Thái, người Mông (người Mèo) thì còn nhiều nhiều lắm. Họ đă từng là "lãnh địa" riêng, là "Khu tự trị Thái Mèo" cơ mà, nên đương nhiên, họ cũng có cái lí, cái lẽ riêng của họ chứ!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2020, 05:53:58 am

ĐƯỜNG LÊN ĐIỆN BIÊN

        Kể từ đầu năm 1993, khi tôi chuyển ngành, rời khỏi đời quân ngũ sang sống cuộc đời dân sự thì những chuyến đi Tây Bắc ngày càng nhiều hơn, dày hơn. Sau khá nhiều lần đi Sơn La, tôi có chuyến ngược Điện Biên.

        Để cho chuyến đi này được suôn sẻ, an toàn cả đi lẫn về và đạt được kết quả mong muốn, chúng tôi phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng, nào là thức ăn nước uống dọc đường, nào là một số thuốc điều trị sơ cứu các bệnh thông thường, ví như đường ruột, cảm cúm... rồi tư trang, rồi cả vũ khí (vì hồi đó chúng tôi có được cấp phát vũ khí). Nghĩa là như đi chiến dịch...

        Tôi rất háo hức với chuyến đi này. Điện Biên Phủ là địa danh từng làm chấn động địa cầu, một dấu son sáng chói trong những trang sử vàng của dân tộc ta trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, làm sao lại không đến cho được. Phải đến để hiểu cả quá trình "năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt..." nhu nhà thơ Tố Hữu miêu tả thế nào chứ. Phải đến để tận mắt thấy đồi Al, hầm Đơ-cat-tơ-ri và nhiều thứ khác gắn với lịch sử nữa...

        Chặng đường lên Sơn La, tôi đã kể trước rồi. Kế hoạch của chúng tôi là đến Sơn La càng sớm càng tốt để còn có thời gian nghỉ ngơi.

        Đường lên Sơn La đến lúc này đã quen thuộc và xe cộ cũng khá tốt nên đi không ì ạch, vất vả như xưa. xế chiều, đoàn chúng tôi đến được Sơn La, bố trí chỗ ăn nghỉ và đặt trước một số thứ cho sáng sớm hôm sau hành quân xong là tranh thủ tắm táp rồi chuẩn bị ăn tối và nghỉ sớm để lấy sức cho chặng đường phía trước.

        Sơn La nằm ở độ cao 600 mét so với mực nước biển, có diện tích 14.125 cây số vuông, chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ ba trong số 63 tỉnh, thành phố. Đường biên giới quốc gia dài 250 km, giáp ranh với các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa, Huaphanh (Lào) và Luang Prabang (Lào) là 628 km.

        Nhắc đến Sơn La là nhắc đến cây đào Tô Hiệu với nhà tù Sơn La - nơi giam cầm các chiến sĩ cách mạng kiên trung, các lãnh tụ của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

        Được biết, nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây từ năm 1908 trên đỉnh đồi Khau Cả, đầu tiên mang tên "Prison de Vạn Bú" với diện tích 500 mét vuông, sau này diện tích mở rộng tới 1.700 mét vuông và đổi tên thành "Penitencier de Son La".

        Các bức tường của nhà tù đều được xây bằng đá lẫn gạch, lợp mái tôn, không trần. Chỗ tù nhân nằm cũng xây bằng đá, mặt láng xi măng và có gắn hệ thống cùm chân. Trong các phòng giam xây hố xí cao hơn chỗ nằm, không có nắp đậy, không có nước dội và ít được vệ sinh nên gây ô nhiễm ghê gớm, nhất là khi có gió Lào hoặc mùa Đông rét mướt. Vì vậy, các tù nhân luôn bị dịch bệnh và lây lan nhanh chóng.

        Nếu như trước đây "Prison de Vạn Bú" chỉ giam tù thường phạm thì nay "Penitencier de Son La" giam cả tù chính trị mà chủ yếu là tù cộng sản.

        Trong 15 năm đã  có đến 1.007 lượt tù nhân cộng sản bị giam cầm ở nơi đây. Có nhiều lãnh đạo chủ chốt như các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Cơ Thạch, Song Hào, Xuân Thủy, Lê Thanh Nghị... đã  trải qua. Nơi đây cũng đã  trở thành trường học cách mạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những chiến sĩ cách mạng trung kiên. Hội đồng thống nhất đã  được bí mật tổ chức cuối năm 1935 do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Đến năm 1939, thành lập Chi bộ lâm thời do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Bí thư và tổ chức bắt liên lạc với bên ngoài thông qua hộp thư bí mật đặt ở cây đa bản Hẹo. Các tù nhân đã  tổ chức vượt ngục và người thanh niên dân tộc Thái là Lò Văn Giá đã  mưu trí, dũng cảm dẫn đoàn tù vượt ngục thành công.

        Chi bộ trong tù gắn liền với tên tuổi nhiều Đảng viên trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu, người bí thư Đảng năng nổ, nhiệt huyết. Cây đào do anh trồng đã  trở thành biểu tượng của sự sống mãnh liệt, ý chí kiên cường không khuất phục.

        Từ năm 1980, nhà tù Sơn La được phục chế dần. Đây chính là trung tâm giáo dục về truyền thống cách mạng cho những thế hệ sau.

        Năm 1962, nhà tù Sơn La được xếp hạng Di tích Quốc gia.

        Năm 2014, Di tích lịch sử nhà tù Sơn La được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt.

        Sơn La cũng là nơi có những món đặc sản chế biến từ hoa ban. Ngày trước, thành phố Sơn La được coi như thành phố hoa ban, sau này thì lại chuyển thành thành phố hoa đào, không biết có phải đấy là sự gắn kết với cây đào Tô Hiệu hay không.

        Đấy là chuyện sau này, còn thời bấy giờ, chúng tôi tất cả dồn sức, lo lắng cho chuyến đi nên chẳng có nhiều thời gian tìm hiểu về chuyện hoa ban, hoa đào nữa...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2020, 05:09:57 am
   
        Tính từ Sơn La đến Tuần Giáo là 56 cây số. Từ Tuần Giáo đến thị xã  Điện Biên là gần trăm cây. Đoạn đường không dài bằng từ Hà Nội lên Sơn La nhưng vất vả hơn, nguy hiểm hơn vì đường quanh co hiểm trở, nhất là để qua được mấy cái đèo như đèo Pha Đin, đèo Tằng Quái... là cả một vấn đề.

        Bác Hồ đã  từng viết:

"Đi đường mới thấy gian lao
Núi cao rồi lại núi cao chập chùng..."

        Đúng là tuyến đường Tây Bắc không thể biết được khi nào sẽ kết thúc núi. Núi tiếp núi, đèo tiếp đèo... Cứ phải kiên trì thôi...

        Thời gian tôi còn ở trong quân ngũ, những chuyến ngược miền Tây, tôi hay đi với cậu lái xe Nguyễn Văn Khánh. Đấy là một chiến sĩ trẻ nhưng đã  khá dày dạn kinh nghiệm chạy trên các tuyến đường rừng núi. Khi chuyển ngành, đến đơn vị mới, sau một số chuyến tôi đi với lái xe Phạm Mạnh Tùng thì hầu như từng ấy năm còn lại, tôi gắn bó với lái xe Nguyễn Văn Hiệp (còn gọi là Hiệt), người từng có thâm niên chạy xe tải, xe khách trên tuyến Hà Nội - Lao Cai đến cả chục năm trước khi về với chúng tôi.

        Trong quân ngũ, thày dạy lái xe đầu tiên của tôi là Trần Văn Hiến - chiến sĩ lái xe của đơn vị tôi mà tôi đã  kể trong cuốn "Đi xa ngoảnh lại", còn ở đơn vị mới này thì Nguyễn Văn Hiệp là thày dạy bổ túc, nâng cao tay nghề cho tôi mà những chuyến đi công tác, anh em tôi hay gọi là "chuyến đi dã ngoại". Tay lái tôi vững vàng hơn, có kinh nghiệm hơn chính là nhờ sự chỉ bảo của thày Nguyễn Văn Hiệp trên các tuyến đường công tác vùng Tây Bắc...

        Trở lại chuyến đi.

        Chúng tôi dậy từ rất sớm, ăn sáng xong là lên đường luôn. Mới rời thị xã  Sơn La một đoạn, gặp ngay đèo Sơn La.

        Vượt đèo Sơn La, đến đèo Chiềng Pấc.

        Đèo Chiềng Pấc ngắn thôi, nhưng khá dốc, quanh co với nhiều khúc cua hẹp, vách núi cao, vực sâu. Nếu đi vào mùa Đông và mùa Xuân thì căng thẳng hơn nhiều vì sương mù giăng dày đặc suốt tuyến đường. Vào mùa mưa lại dễ gặp sự sạt lở. Nhìn chung, các đường đèo hầu như đều vậy cả...

        Mục tiêu là phải vượt được Pha Đin một cách an toàn.

        Đèo Pha Đin còn được gọi là dốc Pha Đin (như trong thơ của nhà thơ Tố Hữu: "Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ...") với chiều dài 32 cây số, nằm trên Quốc lộ số 6, nối liền hai tỉnh Sơn La và Điện Biên. Phần phía Sơn La thuộc xã  Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, còn phần phía Điện Biên thuộc xã  Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo.

        Nghe nói, trước đây để phân chia địa hạt đèo Pha Đin, người ta đã tổ chức cuộc đua ngựa từ hai phía Tuần Giáo và Thuận Châu. Ngựa hai bên theo lệnh xuất phát từ chân đèo chạy ngược lên đỉnh đèo, nơi hai ngựa gặp nhau là biên giới của hai tỉnh. Vì ngựa của Lai Châu chạy nhanh hơn ngựa của Sơn La nên phần đèo Pha Đin thuộc về Điện Biên nhiều hơn Sơn La.

        Thực hư thế nào không rõ nhưng tôi nghe được vậy thì kể lại vậy thôi.

        Cái tên gọi Pha Đin xuất xứ từ tiếng Thái là Phạ Đin. Phạ có nghĩa là Trời, Đin có nghĩa là Đất với hàm ý: nơi đây là nơi tiếp giáp giữa Trời và Đất. Có lẽ cũng đúng như vậy thật, vì khi vượt đèo, ngước nhìn lên, ta thấy như trời sát ngay đầu với những màn mây hư ảo cùng những đợt gió thổi ào ạt có lức bạt cả hơi thở.

        Pha Đin có nhiều cung đường với vô số các khúc cua tay áo, cua chữ A, chữ z... liên tiếp nối nhau. Có những đoạn đường đèo dày đặc sương mù, tầm nhìn chỉ vài mét. Đứng trên đỉnh Pha Đin, ta có cảm giác như đứng trên biển mây bồng bềnh, phiêu lãng...

        Pha Đin được mệnh danh là một trong "Tứ đại đèo" của vùng Tây Bắc có lẽ cũng không ngoa.

        Sau này, tuyến đường Pha Đin được mở rộng, hạ bình độ, phần nhiều chạy phía dưới đèo nên không còn nguy hiểm nữa, chứ hồi chúng tôi đi, đường vẫn rất hẹp, hai ô-tô muốn tránh nhau là phải tìm chỗ tránh, một xe dừng lại để xe kia "len" qua, đâu có dễ dàng gì. Khi mở được tuyến đường mới, tuyến đường cũ vẫn nằm vắt vẻo phía trên đỉnh, lưu giữ lại kỷ niệm về một thời oai hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

        Đỉnh đèo có những chỗ đất khá bằng phẳng ở hai bên đường. Nơi ấy là nơi đồng bào thường gùi mận, gùi dưa mán... ra bán. Mận bán cả gùi, dưa cứ xếp từng đống vài ba quả một. Quả to, hai quả một đống, quả nhỏ hơn thì ba quả một đống. Khi dừng hỏi mua, người bán thủng thẳng trả lời:

        - Một đùng một đúng! - (một đồng một đống)

        - Một "đùm" hai "đúm" nhá! - anh chàng Hiệp lái xe mặc cả kiểu trêu đùa.

        - Không được đâu vớ!

        - Một "đùm" hai "đúm" được đấy!

        - Bảo là không được rồi mà!

        Rất dứt khoát, một đồng là một đồng, không hơn không kém. Mọi thứ được mặc định hết rồi, cứ đủng đỉnh trả lời thế thôi, ai mua thì mua, chẳng cần chèo kéo làm gì. Nhưng cũng có trường hợp họ trả lời theo kiểu phản ứng nhanh, "đốp chát" ra phết. Ây là khi gặp người Mèo ôm con mèo đi bán, liền hỏi theo kiểu bỡn cợt:

        - Mày đem bán con gì đấy?

        - Tao đem bán con Kinh đấy!

        Ghê chưa? Cũng "phang" lại ra trò, tế nhị, hóm hỉnh ra trò đấy chứ có phải vừa đâu!...Ôi! Pê tu Mông trang (Anh em người Mông ta) phức tạp quá đấy.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2020, 07:21:22 am

        Lại còn chuyện mấy thanh niên người Mèo từng làm cho cảnh sát giao thông sững sờ nữa cơ. Đấy là có lần, ba chàng thanh niên mặt mũi đỏ lựng vì hơi men, đầu chẳng mũ nón gì hết, cùng "cưỡi" trên chiếc xe mô-tô Minsk, phóng ầm ầm, "đánh võng" trên đường. Cảnh sát giao thông thấy hành động vi phạm luật giao thông ấy liền tuýt còi, ra hiệu dừng xe. Tức thì, cả ba thanh niên đồng thanh:

        - Hết chỗ rồi! Không đi nhờ được đâu!

        Thôi đành "bótay.com"!

        Những chuyện "vui vui" như vậy trên tuyến đường này không ít đâu, khi nầo có dịp, tôi lại kể tiếp.

        Đi nhiều lần trên tuyến đường này, bao giờ chúng tôi cũng chất lên xe ít dưa mán, vừa đi vừa ăn cho đỡ khát mà lại có thêm vitamin...

        Chúng tôi cũng chọn được một địa điểm khá đẹp để ngồi nghỉ ngơi, "xả chét". Đấy là khi đã  qua đỉnh đèo một đoạn, có khoảng đất khá trống trải, bằng phẳng, đứng đó có thể ngắm những cung đường uốn lượn mềm mại qua các chân đồi chân núi, lại thấy những thửa ruộng bậc thang xếp đều đặn với đủ sắc màu. Vậy là nghỉ thôi. Bụng cũng đã  ngót ngót rồi. Mọi đồ ăn được bày biện nhanh chóng: xôi, trứng luộc, thịt rang mặn và chai rượu đặt cạnh. Xoa xoa hai tay vào nhau theo kiểu nhà quê, tôi mời to:

        - Nào, đã  đến bữa rồi, xin mời tất cả vào mâm thôi!

        Gọi là mâm cho oai chứ chẳng qua chỉ là tờ báo cũ được trải ra trên vạt cỏ chứ có gì đâu. Thế là mỗi anh tợp một ngụm rượu rồi dùng "năm quân" xử lí đám đồ khô kia, vừa ăn vừa ngắm trời ngắm đất, vừa chuyện trò rôm rả.

        Cái vị trí ấy chẳng ai bảo ai và cũng chẳng ai quy định cả nhưng lần nào đi tới đấy cũng ngồi nghỉ rồi ăn chút gì đó trước khi "đổ đèo" sang Tuần Giáo.

        Tuần Giáo là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Điện Biên, cách Hà Nội chừng hơn 400 cây số. Theo các di chỉ khảo cổ học thì Tuần Giáo là địa bàn có con người đến cư trú từ rất sớm.

        Thời Hùng Vương, nước Văn Lang chia làm 15 bộ, Tuần Giáo thuộc bộ Tân Hưng, thời Lý thuộc châu Lâm Tây, thời Trần thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang. Thời Lê thuộc trấn Gia Hưng.

        Thời Lê Cảnh Hưng, châu Tuần Giáo có tên là Tuân Giáo, có nghĩa là "tuân theo giáo hóa của triều đình".

        Năm 1841, nhà Nguyễn lập phủ Điện Biên, châu Tuân Giáo thuộc phủ Điện Biên.

        Năm 1858, khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, tới tháng 4 năm 1890 mới chiếm được Lai Châu, trong đó có Tuần Giáo. Từ 1891 trở đi, Tuần Giáo khi nằm trong Tiểu quân khu Vạn Bú, khi thuộc tỉnh Vạn Bú, khi thuộc Sơn La, rồi thành tổng Tuần Giáo thuộc châu Điện Biên... cho tới sau cách mạng tháng Tám thì thành lập Huyện Tuần Giáo.

        Năm 1952, Tuần Giáo được bộ đội chủ lực giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc.

        Tuần Giáo có diện tích tự nhiên là 157.949,80 ha với địa hình hiểm trở và đa dạng, 70% diện tích là các dãy núi cao từ 800 mét trở lên, còn lại là các dãy chừng 500 - 700 mét với những sườn vách sừng sững như những tòa thành thiên nhiên. Núi non của Tuần Giáo ghi nhiều dấu ấn trong những trang sử hào hùng. Căn cứ Pú Nhung gắn với tên tuổi của người Anh hùng lực lượng vũ trang Vừ A Dính, Sùng Phái Sinh. Hang Thẩm Púa thuộc xã  Chiềng Sinh từng là Đại bản doanh của Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trước khi chuyển vào xã  Mường Phăng (huyện Điện Biên).

        Sơ bộ lịch sử của Tuần Giáo là vậy.

        Đến ngã ba Tuần Giáo, chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi, thở phào nhẹ nhõm vì vừa vượt qua được một trong "tứ đại đèo" của miền Tây Bắc. Từ đây đến Điện Biên chỉ còn chưa đầy trăm cây số nữa thôi, nhưng còn phải vượt qua con đèo cũng có tiếng là ghê gớm, đó là đèo Tằng Quái.

        Sau khi thưởng thức món bánh rán nóng cùng mấy chén trà thơm ở ngã ba Tuần Giáo và "bắn" mấy hơi thuốc, chúng tôi tiếp tục lên đường. Con đường nhỏ hẹp, vắng vẻ vẫn uốn lượn quanh co qua các sườn đồi sườn núi xanh ngút ngàn, cao vời vợi và âm âm u u. Cứ nhẩm tính từng đoạn, vượt được đoạn nào mừng đoạn ấy. Đường thì dài mà hầu như chỉ mỗi xe chúng tôi lủi thủi đi nên càng thấy buồn tẻ và chặng đường như càng dài hơn...

        Phía trước là Mường Ẳng. Năm 1969, huyện Tuần Giáo có 2 thị trấn là thị trấn Tuần Giáo và thị trấn nông trường Mường Ẳng. Tới năm 2006, thị trấn Mường Ăng được đổi tên là Mường Ảng.

        Đèo Tằng Quái thuộc địa phận huyện Mường Ẳng, cách Điện Biên 40 km.

        Đèo Tằng Quái dài khoảng 11 cây số. Tuy không quá dài nhưng nhiều dốc nguy hiểm, uốn lượn quanh co với cảnh mây trời núi non hòa quyện đẹp tựa tranh vẽ. Biển mây trên đèo Tằng Quái gợi cảm hứng cho những thợ săn ảnh từ khắp nơi đổ về đây. Sau này người ta còn đem cả loại cây "ngàn tỉ" - cây mắc-ca tới trồng ở khu vực này nữa.

        Cảnh thiên nhiên đẹp như vậy nhưng để vượt được đèo cũng đâu đơn giản. Mây mù thường xuất hiện đột ngột cùng với tầm nhìn rất kém chính là sự thử thách lớn đối với những người ngồi sau tay lái...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2020, 07:22:30 am

        Dầu sao chúng tôi cũng đã  vượt qua nó một cách an toàn. Các địa danh phía trước lại lần lượt hiện ra: bản Nà Tấu, trạm thủy điện Nà Lơi, rồi Mường Phăng...

        Nói đến Mường Phăng là nói đến Đại bản doanh quân sự của chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Tìm hiểu về tên gọi Mường Phăng thì được biết: "Mường" theo tiếng người Thái nghĩa là một đơn vị hành chính, còn "Phăng" có nghĩa là đâm, chém. Tương truyền, vùng đất Điện Biên xưa kia dưới sự chỉ huy của người Anh hùng nông dân Hoàng Công Chất đã  nổi dậy chống lại sự thống trị của vua Lê, chúa Trịnh vào những năm từ 1706 đến 1768. Nghĩa quân đã  chống chọi với đội quân triều đình do Đoàn Nguyên Thục chỉ huy, đã  giao chiến suốt từ Nậm Cô của đất Tuần Giáo về tới vùng đất Mường Phăng. Tại đây, nghĩa quân đã  nhử quân triều đình vào thế trận vây bẫy và kết thúc trận đánh bằng một trận gươm đao ác liệt. Cái tên "Mường Phăng" chắc xuất xứ từ đấy.

        Chuyến đi này chúng tôi chưa đến được Mường Phăng, nhưng những chuyến đi sau, chúng tôi đã  đến đó khá nhiều lần, đã  đi thăm Sở chỉ huy quân sự của chiến dịch Điện Biên Phủ bố trí dọc con suối nhỏ dưới chân núi Pú Đồn cùng các hầm hào, lán trại ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ của rừng nguyên sinh - "rừng Đại tướng" như người dân ở đây vẫn gọi, thăm hầm của Đại tướng thông sang hầm của tướng Hoàng Văn Thái và nhiều nơi khác nữa.

        Được đến đấy mới hiểu thêm, mới thấy được những dấu ấn lịch sử oai hùng của dân tộc cùng tài năng xuất chúng của vị Võ tướng với tên gọi thân thiết "anh Văn", mới thấy được sự quật khởi, sự đồng tâm hiệp lực của toàn dân vì thắng lợi chung, mới càng tự hào vì mình là con dân đất Việt...

        Nếu các bạn có điều kiện, hãy trèo lên đỉnh Pù Cá phía sau Sở chỉ huy. Từ đó có thể thấy được toàn bộ thung lũng Mường Thanh, các căn cứ điểm của quân Pháp trước kia như Him Lam, đồi Độc Lập, Dl, Cl, Al, cầu Mường Thanh... về điểm này, chắc vị tướng Đờ-cát-tơ-ri (Christian de Castries) chỉ huy quân đội Pháp không thể nào biết được và càng không thể hình dung nổi...

        Các bạn cũng hãy đến thăm hồ Pá Khoang - một hồ nước có diện tích 600 héc-ta, chứa gần 40 triệu mét khối nước để cung cấp cho cánh đồng Mường Thanh được xây dựng từ những năm 1970 với công sức của hàng ngàn thanh niên xung phong, về tận sau này, theo tôi được biết, vào năm 2006, ông Trần Lê - Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ nông lâm Mường Phăng đã  đem giống hoa anh đào của Nhật về ươm trồng và đã  nhân giống trên diện tích khá lớn của hồ Pá Khoang. Loại hoa anh đào trồng ở đây thuộc loại hoa anh đào Higan Sacura, hoa rất sai và thời gian nở hoa kéo dài tới 3 tuần lễ. Điện Biên từng mở lễ hội hoa anh đào chào đón các du khách tham quan. Các bạn đừng bỏ lỡ cơ hội nhé!

        Còn bây giờ, xe đã  đến địa hạt Điện Biên. đã  thấy con sông Nậm Rốm uốn mình với những đoạn nước trong rồi lại có những đoạn nước đục. Nhắc đến Nậm Rốm tôi lại nhớ đến bài thơ "Nhớ vợ" của nhà thơ Cầm Vĩnh Ui với những lời rất mộc mạc, chân chất, thật thà của người miền núi và rất thơ:

                                                  Tôi nhớ vợ tôi lắm
                                                  Xin được về hai ngày
                                                  Nhà tôi ở Mường Lay
                                                  Có con sông Nậm Rốm
                                                  Ngày kia tôi sẽ đến
                                                  Lại cầm súng được ngay
                                                  Tôi càng bắn trúng Tây
                                                  Vì tay có hơi vợ
                                                  Cho tôi đi, đừng sợ
                                                  Tôi không chết được đâu
                                                  Vì vợ tôi lúc nào
                                                  Cũng mong chồng mạnh khỏe
                                                  Cho tôi đi, anh nhé
                                                  Về ôm vợ hai đêm
                                                  Vợ tôi nó sẽ khen
                                                  Chồng em nên người giỏi
                                                  Ngày kia tôi về tới
                                                  Được đi đánh cái đồn
                                                  Hay được đi chống càn
                                                  Là thế nào cũng thắng
                                                  Nếu có được trên tặng
                                                  Cho một cái bằng khen
                                                  Tôi sẽ rọc đôi liền
                                                  Gửi cho vợ một nửa.


        Tôi được biết, Nậm Rốm hoặc Nậm Rôm, theo nghĩa tiếng Thái thì Nậm là nước, còn Rôm là cây gỗ lát. Nậm Rôm là con sông bắt nguồn từ rừng gỗ lát nên nó còn có tên là "suối gỗ lát". Cũng chẳng biết Nậm Rôm được đọc chệch thành Nậm Rốm từ khi nào, nó giống như đèo Phạ Đin thành Pha Đin vậy thôi.

        Vào năm 1963, Đại thủy nông Nậm Rốm được khởi công với hơn 2.000 người (trong đó có 800 Thanh niên Tháng Tám từ miền xuôi lên) tham gia xây dựng và hoàn thành sau 7 năm. Đại thủy nông Nậm Rốm cung cấp nước tưới cho toàn bộ cánh đồng Mường Thanh và phục vụ cho nuôi trồng thủy sản của người dân vùng lòng chảo. Năm 2015, công trình này được xếp hạng "Di tích lịch sử của Tỉnh".


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Hai, 2020, 06:08:20 am
   
        Đã  tới Điện Biên Phủ!

        Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái nghĩa là "Xứ Trời". Đây là "đất tổ" của nhiều ngành Thái ở Đông Nam Á.

        Khi Lạng Chạng đưa một bộ phận người Thái đen từ Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) đến Mường Thanh thì vùng đất này gọi là Song Thanh vì có 2 mường: Thanh Nưa (Thanh trên) từ bản Noong Hét ngược về đầu nguồn sông Nậm Rốm và Thanh Tẩu (Thanh dưới) từ bản Noong Hét đến cuối sông Nậm Rốm.

        Năm 1754, thủ lĩnh Hoàng Công Chất nổi dậy chống lại vua Lê chúa Trịnh, giải phóng đất Mường Thanh, xây thành đắp lũy, gọi là Phủ Chiềng Lễ (phiên âm Hán Việt thì là Trình Lệ) và ở đây từ năm 1754 đến năm 1769. Ngày nay vẫn còn đền thờ ông, ở đó có cây hữu nghị xanh tươi quanh năm. Nếu như ở Lam Kinh, Thanh Hóa có cây Đa-Thị như biểu hiện mối tình thắm thiết thì ở đền thờ Hoàng Công Chất có cây đa cùng quyện với cây xanh, cây si thành một khối tượng trưng cho sự gắn bó hữu nghị, đoàn kết của các dân tộc miền Tây Bắc.

        Cho đến năm 1778, nhà Lê bình được Hoàng Công Toản (là con trai của Hoàng Công Chất) và đặt ra châu Ninh Biên thay cho tên gọi Mường Thanh.

        Tên gọi Điện Biên là do vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841 từ châu Ninh Biên. Điện Biên có nghĩa là vững chãi (Biên là biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên tức là Điện Biên Phủ vậy).

        Nhắc đến miền Tây Bắc thì không thể không nhắc tới dân tộc Thái với Thái đen và Thái trắng. Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ tên gọi Thái đen, Thái trắng là do phân biệt màu da của người Thái (tựa như người ở châu Phi và châu Âu), nhưng hoàn toàn không phải vậy.

        Cùng là dân tộc Thái, nhưng người Thái đen và Thái trắng khác hẳn nhau về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục...

        Lấy ví dụ về trang phục của họ chẳng hạn: đàn ông người Thái đen khi lớn tuổi sẽ vấn khăn trên đầu, với người Thái trắng thì không. Còn với phụ nữ thì trước kia, khăn piêu chỉ người Thái đen mới có, sau rồi nó được dùng chung cho phụ nữ của cả hai dân tộc.

        Về áo, tôi làm quen và hỏi một em người Thái:

        - Những hàng cúc trên ngực áo em mang biểu tượng của cánh bướm hay cánh hoa ban?.

        - Nó là tượng trưng của những cánh bướm đấy!

        - Sao có người mang hàng cúc bằng bạc, có người lại mang hàng cúc bằng nhôm?.

        - Đấy như là sự phân biệt "đẳng cấp" đấy. Nhà giàu thì đánh cúc bằng bạc, nhà nghèo thì chỉ đánh cúc bằng nhôm thôi. Ngay xà-tích cũng vậy, nhà giàu thì làm bằng bạc và có đầy đủ các vật kèm theo như bông lúa, các loại quả... còn nhà nghèo thì thiếu hẳn những thứ ấy.

        - Vậy có quy định trên áo phải có bao nhiêu hàng cúc không và gài thế nào?.

        - Em phải nói về áo đã, cổ áo của phụ nữ Thái đen có viền gấp cao như là áo dài truyền thống của phụ nữ miền xuôi ấy, còn cổ áo của phụ nữ Thái trắng thì thấp, không có viền, mà khoét hình trái tim. Tùy theo chiều cao của từng người mà cúc áo có thể nhiều hơn hay ít hơn, nhưng khoảng 12 hay 13 hàng gì đấy. Cài cúc bằng móc, một bên có lỗ, bên có móc, người ta gọi nó là bên đực, bên cái, tượng trưng cho đôi nam nữ mà!

        - Thế thì... cởi có dễ không?.

        - Anh không cởi được đâu! - em quay mặt, tủm tỉm cười với vẻ mặt và ánh mắt lúng liếng liếc như nũng nịu, như khơi gợi...

        Về sống áo thì vậy, còn một việc khác nữa là người con gái Thái đen khi đã  lập gia đình là phải kết "tằng cẩu" - tức là bó tóc thành búi trên đỉnh đầu và thường buộc một đồng hào bạc ở đó. Nhưng con gái người Thái đen chỉ kết "tằng cẩu" khi lấy người cùng dân tộc Thái đen, còn khi lấy người dân tộc khác thì không kết "tằng cẩu". Phụ nữ Thái trắng không kết "tằng cẩu". Thế là phong tục này làm cho những người sản xuất mũ bảo hiểm khi đi xe máy phải suy nghĩ đấy. Phải làm ra chiếc mũ bảo hiểm kiểu gì cho những người có "tằng cẩu" đội một cách chắc chắn, chứ không thì nó cứ ngất nga ngất ngưởng trên đầu, trông kỳ dị lắm...

        Tôi lan man một chút để các bạn hiểu thêm về lịch sử của những miền đất này, còn chuyến đi của chúng tôi sau khi tới Điện Biên, sắp xếp chương trình làm việc xong xuôi thì được bố trí nghỉ ngơi ở nhà khách của Tỉnh. Chiều hôm đó có mấy đoàn khách đến nên nhà khách tổ chức thịt dê. Chúng tôi ngồi riêng một mâm. Khi thấy cô ở nhà khách qua mâm chúng tôi, tôi đề nghị cô cho chúng tôi món "nậm pịa". Cô tròn xoe mắt ngạc nhiên, không hiểu sao mấy người từ Hà Nội mới lên mà đã  biết món này. Cô nhìn chúng tôi và trả lời rụt dè:

        - Vâng, để em bổ sung!

        - Nếu có "lạp" thì mang cho chúng tôi luôn thể nhé! - tôi nói.

        - Sao các anh lại biết những món này nhỉ? - cô càng ngạc nhiên hơn, hỏi lại chúng tôi.

        - Tao có biết mà! - tôi nói theo kiểu người miền núi.

        Cô lấy tay che miệng cười và thế là chúng tôi quen nhau.

        Cái món "lạp" mà tôi đề nghị ấy chính là món thịt sống (hoặc của bò, của lợn, gà, vịt... thậm chí cả cá) băm nhỏ và tẩm ướp gia vị, trong đó có nước cốt chanh và ớt. Nó giúp sát khuẩn và làm cho chín tái phần bên ngoài miếng thịt mà bên trong vẫn giữ vị tươi ngon. "Lạp" cũng có thể làm chín nhưng ăn thì không "ấn tượng" bằng để sống. "Lạp" thường ăn với xôi. Sau này, có những chuyến tôi sang Lào, bên đó món "lạp" được coi như "linh hồn" của các bữa tiệc vì "lạp" trong tiếng Lào nghĩa là "lộc" - nó mang đến sự may mắn và tượng trưng cho lời chúc bình an. Có điều, "lạp" của người Lào làm cay hơn của người dân tộc Thái rất nhiều. Vậy thôi...

        Kết thúc công việc, chúng tôi tranh thủ đi thăm một số nơi như đồi Al, cầu Mường Thanh, hầm Đờ-cát, thắp nhang viếng các liệt sĩ ở nghĩa trang đồi Al, viếng nghĩa trang tưởng niệm đồng bào bản Noong Nhai bị Pháp dội bom hủy diệt cả bản, thăm đền thờ Hoàng Công Chất...

        Những chuyến đi sau này thì còn qua suối nước nóng UVA rồi vào bán giao lưu... nghĩa là mở rộng được tầm nhìn và sự hiểu biết.

        Cứ qua mỗi chuyến đi là tôi lại cảm nhận được nhiều điều, học thêm được nhiều điều. Người xưa từng nói: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là vậy. Túi kiến thức của tôi cứ được bổ sung dần, căng dần. Tôi càng thêm quý, thêm yêu những người dân miền sơn cước và càng trân trọng những tình cảm của họ dành cho tôi qua những tháng năm tôi công tác ở những miền đất ấy.

        Sơn La, Điện Biên và các tinh khác của miền Tây Bắc luôn để lại cho tôi những kỷ niệm thật đẹp đẽ, sâu đậm chẳng thể phai mờ. Tôi vẫn thường mơ về các vùng rừng núi, về các tuyến đường, các cung đường mà mình từng qua và luôn ao ước mình có đủ sức khỏe để có được những chuyến thăm lại những vùng miền mà mình từng gắn bó, từng yêu quý...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2020, 06:28:51 am

CHIỀU TÂY BẮC

                                                  Tôi ngược miền Tây
                                                  Giữa chiều chạng vạng
                                                  Nắng vàng lênh láng
                                                  Chảy óng như tơ
                                                  Dốc quanh co tung vết bụi mờ
                                                  Ngựa thồ ngô xuống núi
                                                  Mấy thiếu nữ thản nhiên
                                                  Cởi trần tắm suối
                                                  Cười rung vách đá ven rừng
                                                  Bọt thác tung bảy sắc cầu vồng
                                                  Mái nhà sàn khói vương bảng lảng...


        Tôi đã  ghi nhận được hình ảnh về một trong những chuyến đi trên tuyến đường Tây Bắc là như thế. Cái nắng về ban chiều nó vàng óng như tơ, nó sánh như mật ong chảy tràn trên các vạt rừng, các ngọn đồi, ngọn núi, trên các con đường dốc, đường mòn... Cái màu vàng thật lạ lùng, không giống với một màu vàng nào, ở nơi nào. Nó cứ lặng lẽ phủ và thấm đẫm vào mọi vật. Khi xe chạy từ trong bóng râm của một vạt rừng nào đó, vừa vượt qua khúc đường vòng thì ngay trước mặt là một khoảng trống mênh mông với màu vàng của nắng chiều đổ xuống lênh láng trong không gian tĩnh lặng. Bạn sẽ thấy choáng ngợp. Dừng xe lại, vừa mở cửa bước xuống thì ngay lập tức cảm nhận được làn gió rừng mang theo hương rừng ào tới. Bạn không thể không hít một hơi dài cho căng lồng ngực. Mùi hương rừng cũng không giống bất kể với mùi hương nào. Nó mang theo mùi của các loại lá, mùi của các loài hoa, mùi của đá núi, mùi của đất núi, mùi của nước suối, mùi của rêu, mùi của cỏ cây... một thứ mùi mà chỉ có vùng rừng mới có được. Tôi đi cũng khá nhiều miền có rừng, có núi và có lẽ, nếu bịt mắt lại cũng vẫn biết rằng đã  đến vùng rừng núi rồi, bởi mùi hương rừng không bao giờ lẫn, chỉ chạm một lần là nhớ mãi.

        Ở miền núi, chiều cũng kéo dài hơn ở dưới đồng bằng. Nếu ở dưới đồng bằng trời đã  nhá nhem thì trên núi vẫn nhìn rõ mặt người. Những vạt nắng cuối cùng của buổi hoàng hôn vẫn xòe như những dải lụa nhè nhẹ bay trên các mỏm núi, các tán cây. Không gian tĩnh lặng với những vạt mây mỏng manh trôi bảng lảng, với những làn sương như những làn khói lam quanh các triền dốc gợi cho ta sự hoang vắng đến hư vô.

        Có một chiều, trong một chuyến đi từ Điện Biên về Sơn La, gặp cảnh ấy, trên xe bỗng không ai nói với ai câu nào nữa. Mỗi người chắc đều có tâm trạng riêng.

        Giữa nơi rừng núi hoang vu thế này, sự im lặng nghe nó cứ thế nào ấy. Khi đến khúc cua, nhìn qua vạt rừng phía trước thấy khúc cua khác hiện ra. Trông thế thôi chứ chắc phải đi dăm cây số nữa mới đến khúc cua ấy. Tôi liền nói đùa với anh lái xe:

        - "Phi" thẳng sang khúc cua bên kia đi!

        Anh lái xe từ từ phanh xe lại, trả lời với giọng không bình thường:

        - Không thể làm thế được đâu! Sao anh lại bảo như thế nhỉ? Không làm thế được đâu!

        Nếu như lần ấy tôi đi với Nguyễn Văn Hiệp thì không sao, vì Hiệp là người cũng thích đùa, hóm hỉnh và biết tính tôi thi thoảng hay có kiểu "giật gân" như thế, nhưng lần này lại đi với anh lớn tuổi hơn Hiệp thật nhưng thời gian chạy trên tuyến rừng núi còn ít, kinh nghiệm chưa nhiều, nói như "cánh lái" là "già nhưng tay lái trẻ", vì vậy hơi hốt hoảng khi nghe tôi nói câu nói trên cũng đương nhiên thôi.

        Mọi người trên xe không biết xử lí thế nào để xua tan sự căng thẳng. Tôi ân hận vì cái tính hay bỡn cợt kiểu Tắc-Giăng. Thật may, vừa qua đoạn cua có khoảng đất rộng khá bằng phẳng, tôi đề nghị dừng xe. Mọi người xuống ngồi trên các tảng đá quanh đấy nghỉ ngơi và ngắm cảnh hoàng hôn đang lụi dần.

        Màn mây mỏng lướt nhè nhẹ tựa như tấm mạng che trên các tán lá rừng. Gió vuốt mơn man. Giữa cảnh rừng núi mênh mang, yên ắng đến hoang vu... tôi như thấy được cảnh một chàng trai người Mông ngồi chênh vênh trên tảng đá thổi sáo với ánh mắt đăm đắm ngó về phương trời xa. Đúng là như nghe vẳng đâu đó tiếng sáo Mèo với những cung bậc âm thanh trầm bổng thật. Tôi chợt nhớ đến những câu hát trong "Bài ca trên núi", một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương:

                                                  Hơ hơ... ớơ... hơ hơ
                                                  Đầu trời có sao chiều sao sớm
                                                  Đầu núi kia có ớ ơ hai người
                                                  Dù đi cùng trời, dù đi khắp núi
                                                  Trời chỉ có, chi có sao sớm sao chiều
                                                  Núi chi có hai người, hai người yêu nhau.
                                                  Hỏi rừng chiều có tiếng khèn ai đó
                                                  Khèn hát lên những lời mong chờ
                                                  Đường đi về rừng, đường đi xuống núi
                                                  Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
                                                  Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau...


        Thế là tôi cất giọng "Dù đi cùng trời, dù đi khắp núi. Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều..."

        Vừa nghe đến đấy, một anh thốt lên:

        - Vợ chồng A Phủ! Bài hát trong phim "Vợ chồng A Phủ"! Anh biết cả bài hát ấy à?.

        - Ừ, biết một tí thôi! Cái gì cũng chi biết có một tí! Thế mới chán, thế mới khổ chứ!

        - Không chán đâu! Không khổ đâu! - mấy giọng nói cắt ngang và cười.

        Tất cả cùng cười. Tiếng cười hồn nhiên vang lên xóa tan cảnh âm u tĩnh mịch nơi rừng núi lúc chiều tà. Không khí lại vui vẻ, náo nhiệt trở lại.

        Nào, lên xe đi tiếp thôi!

        Những cung đường với những khúc cua ngoằn ngoèo trôi vội qua gầm xe. Chúng tôi sôi nổi bàn luận đủ thứ chuyện, quên hẳn sự vất vả gian nan. Thế mới biết, để xóa được tâm trạng nặng nề, để gây được niềm vui, tạo tâm lí thoải mái cho chuyến đi thật quan trọng và không phải dễ gì mà làm được, nhất là với những tuyến đường, những cung đường nơi rừng núi mênh mang, tịch mịch, nơi mà con người luôn cảm thấy sự cô đơn, trống trải!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2020, 06:28:02 am

MỞ LẠI ĐƯỜNG BAY

        Trước năm 1994, cơ sở vật chất tại các sân bay địa phương như Nà Sản, Điện Biên, Vinh... đều thiếu thốn, không đồng bộ nên không thể đảm bảo cho việc hoạt động bay khai thác Hàng không được. Vì vậy, phải gấp rút nâng cấp, xây cất mới hàng loạt công trình như đường băng, sân đỗ, nhà ga, hệ thống chỉ huy cùng nhiều công trình khác nữa đảm bảo tối thiểu cho sự hoạt động của một sân bay. Song song với đó là vấn đề nhân sự của các ban ngành cũng phải được bố trí hợp lí, đầy đủ cùng nhiều thứ khác nữa mà nói ra đây thì dài dòng lắm...

        Khi hạ tầng cơ sở và mọi thứ đã  ổn định, nhiệm vụ tiếp theo là phải làm việc với lãnh đạo các tỉnh Sơn La, Lai Châu để báo cáo và trình kế hoạch tiến hành mở lại các đường bay.

        Tôi cùng anh Phan Thái Hồng, anh Đặng Tích và chàng thanh niên Nguyễn Xuân Huân "chuột nhắt" được giao trực tiếp thực thi nhiệm vụ ấy. Chúng tôi cùng nhau trên một chuyến xe -  lập thành một "gánh hát" - (chúng tôi gọi đùa như vậy) rong ruổi trên các tuyến đường.

        Anh Phan Thái Hồng vốn là bác sĩ, nhưng nay giữ chức Phó Chánh văn phòng Cụm cảng Hàng không miền Bắc (sau này thì anh trở lại đúng chức năng của mình là Giám đốc Trung tâm y tế). Anh Đặng Tích tốt nghiệp Đại học văn hóa, sau giữ chức Phó Giám đốc Trung tâm văn hóa. Chàng trai trẻ Nguyễn Xuân Huân "chuột nhắt" là chàng thanh niên người nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn vô cùng, nhất là trên sân bóng chuyền khi đảm nhận vai trò "Triển Chiêu" (tức là vị trí phòng thủ, "quét" phía dưới trong những trận cá độ đánh 3 người một bên). Nguyễn Xuân Huân là trợ thủ đắc lực của anh Đặng Tích.

        "Gánh hát" của chúng tôi, ba người ba tính cách khác nhau nhưng lại rất hợp nhau trên mọi nẻo đường công tác.

        Lãnh đạo của các Tỉnh rất nhiệt tình ủng hộ và tạo mọi điều kiện cho chúng tôi nên chúng tôi càng hăng hái trong công việc, không quản ngại khó khăn vất vả, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

        Với sân bay Nà Sản, tôi đã  trình bày một phần ở những trang trước rồi. Sau những năm 1960 mọi hoạt động bay phải dừng hết. Giải phóng miền Nam, đường băng của sân bay Nà Sản được lát bằng ghi nhôm - chiến lợi phẩm chuyển từ các sân bay trong Nam ra. Nó có thể đảm bảo cho nhiều loại máy bay cất hạ cánh, nhưng với các loại máy bay tiêm kích thì duy nhất chỉ có một chuyến của MiG-21 do phi công Nguyễn Văn Miên điều khiển hạ cánh ở đây mà thôi.

        Ngày mở lại đường bay Nà Sản - Hà Nội là một ngày đầy nắng và gió. Trời không gọn mây, mặt trời chói lòa đổ lửa xuống khắp đồi khắp núi. Gió Tây mang hơi nóng thổi rát rạt. Gió mạnh tới mức phải cử một thanh niên đứng sau tấm phông giữ chặt lấy chân bức tượng Bác vì sợ đổ. Gần đến giờ tiến hành buổi mít-tinh, anh Đặng Tích phát hiện ra gió đã  giật mất chữ "L" trên tấm phông.

        Dòng "Lễ khánh thành" chỉ còn "ễ khánh thành"! Gay go to rồi! Làm thế nào đây?! Thời đại bây giờ, các tấm biểu ngữ được in trên vải sơn với khổ rộng, chẳng sợ gì mưa gió, nhưng vào thời ấy, các chữ phải cắt bằng xốp rồi dùng bột gạo nếp nấu lên thành hồ dán. Trong hồ dán ấy phải pha thêm chút nước vôi để chống loài gián không cho chúng gặm nhấm. Chất keo tự tạo ấy không chống lại được với sức gió như vũ bão nên bị bong là phải.

        Đang lúc lúng túng chưa biết nên xử trí thế nào, anh Đặng Tích nhác thấy một cháu chừng trên chục tuổi đang biến chữ "L" của mình thành khẩu súng ngắn trong trò chơi đánh trận giả. Thế là anh Đặng Tích hét lên với cái giọng the thé chẳng giống ai:

        - Không được lấy "lờ" (L) của tao! Giả "lờ" tao đây!!!

        Nghe tiếng hét, cậu bé sợ quá quẳng chữ "L" xuống đất rồi chạy mất hút. Anh Đặng Tích chạy lại nhặt vội lên, cười hớn hở như vừa trúng số độc đắc.

        Mải miết lo cho cuộc mít-tinh nên không ai nghĩ đến chuyện vừa xảy ra, nhưng mít-tinh xong thì câu chuyện đòi "lờ" (L) của anh Đặng Tích mới được nhắc lại, được thêu dệt, được thêm "lời bình" và được những trận cười nghiêng ngả. Chính anh Đặng Tích lại là người cười khoái trá nhất.

        Câu chuyện ấy đã  trở thành giai thoại trên các tuyến đường công tác của anh em chúng tôi đến mãi tận sau này.

        Buổi tổ chức mở lại đường bay diễn ra ngắn gọn, xúc tích nhưng cảm động. Nhiều bà con ở những bản xa xôi nghe tin đã  đến từ ngày hôm trước để được dự. Tôi không ngờ hôm ấy lại đông vui đến thế. Ai cũng tươi cười, hồ hởi, háo hức vì sắp được nghe những tiếng động cơ từ trên trời, sắp được thấy những "con chim sắt" lên xuống sân bay, thấy được "xe bin tình hau" (máy bay tỉnh nhà) hoạt động rồi. Làm sao mà không vui, không mừng được!

        Mấy vò rượu cần được đem ra đặt trước sân. Các lãnh đạo Tỉnh và chúng tôi cùng vít cần, chưng nhau "một trâu" (tức là hai coóng nước đổ vào bình rượu - một trâu có hai sừng mà!). Mọi người cũng cùng uống, cùng vui. Uống xong thì vào vòng xòe. Giữa nắng lửa và gió nóng, các khuôn mặt đỏ lựng lên vì men rượu, vì cái nóng của thời tiết... đều rạng ngời trong niềm hân hoan khó tả.

        Tiếng hát "Inh lả ơi! Sao noọng ời..." cất lên theo nhịp xòe làm xốn xao cả vùng cao nguyên Nà Sản. Thật phấn khích, thật cảm động làm sao.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2020, 08:01:19 am

        Với quan niệm của người dân tộc Thái, nếu không múa xòe thì lúa sẽ không có hạt, ngô không có bắp và trai gái không lấy được nhau., nên không có cuộc vui nào là không có xòe.

        Đấy vừa là nhịp điệu của cuộc sống vừa là nét văn hóa tâm linh của người dân miền Tây Bắc.

        Sân bay Nà Sản trở lại hoạt động đã  làm thay đổi diện mạo của Sơn La. Tuy mới chỉ đưa loại máy bay ATR-72 vào khai thác, nhưng những chuyến bay đã  làm cho không khí vùng rừng núi này trở nên nhộn nhịp, sống động. Khoảng cách giữa miền xuôi và miền ngược được rút ngắn lại rất nhiều.

        Sau 10 năm hoạt động trở lại, đến năm 2004, sân bay Nà Sản lại bị dừng bay vì nhiều lí do, nhiều nguyên nhân. Rồi theo phương án nâng cấp sân bay để các loại máy bay lớn hơn có thể hoạt động được, Nà Sản sẽ xây dựng đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ bằng bê tông xi-măng, xây lại nhà ga và các công trình khác cho đồng bộ...

        Hy vọng một ngày nào đó trong tương lai gần, sân bay Nà Sản sẽ được mở lại đường bay nối với mọi miền của Tổ quốc và tiếng hát "Inh lả ơi, sao noọng ời..." tiếp tục vang vọng cùng điệu xòe chào đón các du khách về thăm Sơn La...

        Ngày mở lại đường bay với sân bay Điện Biên, "gánh hát" của chúng tôi cũng vẫn thành phần cũ: tôi, anh Phan Thái Hồng, anh Đặng Tích, Nguyễn Xuân Huân rồng rắn kéo nhau đi làm công tác chuẩn bị giống như kiểu tiền trạm và rồi lại được giao trực tiếp cùng Tỉnh tổ chức sự kiện này.

        Rút kinh nghiệm lần tổ chức ở Nà Sản, anh Đặng Tích nấu hồ dán sao cho chất lượng hơn và cũng cắt dự phòng một bộ chữ xốp nữa.

        Phông màn, khẩu hiệu căng xong, tôi thấy như còn thiêu thiếu cái gì đó. Đúng là thiếu thật! Thiếu hoa! Nhưng vào thời gian ấy hoa tươi ở Điện Biên còn hiếm lắm. Ngoài lẵng hoa để phía trên khán đài, còn cần các bát hoa ở các dãy bàn đại biểu nữa chứ. Tôi chợt nhớ đến những khóm nghệ mọc ở đường băng đất sát cạnh đường băng chính. Những khóm nghệ rừng vào mùa này đang trổ hoa. Hoa nghệ vươn lên qua kẽ lá như chiếc tháp màu vàng nhạt pha sắc trắng ngà, có bông mang màu đỏ tía, đẹp một cách lạ lùng...

        Khi được bày thành những bát hoa, ai cũng ngạc nhiên vì vẻ đẹp bình dị và hoang dại của nó. Rất nhiều người không hiểu được đấy là loài hoa gì. Sau này, tôi còn được biết qua một chương trình ẩm thực của một đầu bếp người Pháp hướng dẫn, hoa nghệ còn có thể chế biến thành một món xa- lát. Thế mới thú vị chứ!

        Ngày ấy cũng là một ngày nắng nóng và gió lùa ào ạt. Tôi chỉ sợ nửa chừng mà một chữ nào đó trên tấm phông bay theo gió thì không còn biết làm thế nào nữa. Chắc anh Đặng Tích còn lo hơn tôi nhiều, nhưng may mắn, tất cả đều suôn sẻ.

        Kết thúc buổi mít-tinh, lại vào mâm rượu. Những vò rượu cần, những chai rượu trắng được mang ra. Lại vít cần, lại rót, lại uống... trong bầu không khí ngày càng náo nhiệt, hoan hỉ.

        Sân bay Điện Biên vốn là sân bay dã chiến hồi 1954 - cứ điểm 206 năm xưa. Nó là một căn cứ tiếp vận rất quan trọng của quân đội Pháp và cũng là sân bay trung tâm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Năm 1958, vận tải Hàng không chính thức được -mở tại sân bay Điện Biên do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm, nhưng các chuyến bay Hàng không còn rất ít.

        Đến năm 1984, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tuyến bay Hà Nội - Điện Biên - Hà Nội bằng các loại máy bay An-24, Iak-40 được khôi phục. Sau 10 tháng khai thác, do các điều kiện kỹ thuật không cho phép, vào cuối tháng 1 năm 1985, sân bay tạm dừng hoạt động để sửa chữa đường cất hạ cánh và rồi lại được mở lại đường bay với sự vận chuyển Hàng không bằng loại máy bay ATR-72.

        Năm 2004, sân bay Điện Biên được mở rộng, nâng cấp không chỉ đường cất hạ cánh mà cả sân đỗ, nhà ga... Số lần chuyến bay trong ngày cũng tăng và đã  đón khách từ Lào, Mianma, Cămpuchia đến thẳng Điện Biên, không phải qua sân bay Nội Bài nữa.

        Tiềm năng cùa Điện Biên còn nhiều và sân bay Điện Biên sẽ còn phát triển hơn nữa cùng mạng lưới sân bay trong toàn quốc, đàm bảo sự kết nối giữa mọi vùng miền của Tổ quốc và Quốc tế.

        Tôi, anh Phan Thái Hồng, anh Đặng Tích và Nguyễn Xuân Huân cùng lái xe Nguyễn Văn Hiệp còn tiếp tục đi làm nhiệm vụ như vậy với các sân bay khác như Vinh, Cát Bi...

        Có năm, hầu như chúng tôi liên tục có mặt trên đường, chẳng mấy khi được ở nhà. Những điểm dừng chân để ăn, nghỉ trên các tuyến đường hồi ấy rất ít. Hầu như chúng tôi thuộc lòng các nhà hàng và theo lịch trình, biết đến đâu là phải dừng chân cho hợp lí. Một vài nhà hàng cũng nhận ra chúng tôi vì là khách quen. Có năm, vào ngày 26 Tết mà chúng tôi vẫn đi công tác, khi dừng chân tại một nhà hàng, sau khi ăn uống xong, chủ nhà hàng còn đem lịch, đem quà Tết tặng cho anh em chúng tôi. Tôi, anh Phan Thái Hồng và Nguyễn Văn Hiệp nhìn nhau cùng chung ý nghĩ: "Thường thì chỉ khách nhớ nhà hàng mà sao riêng mình thì nhà hàng lại nhớ khách thế này?". Chắc đoán được ý nghĩ của chúng tôi, chủ nhà hàng giải thích: "Các bác là khách quen, khách quý của nhà hàng nên chúng em gửi biếu chút quà Tết thôi. Các bác nhận cho là chúng em vui rồi!".

        Đã  nói thế thì phải nhận thôi! Làm cho người khác vui là mình cũng thấy vui, thấy hạnh phúc chứ!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2020, 02:00:12 pm

PHÙ YÊN BÌNH DỊ

        Tôi được nghe nhiều về địa danh Phù Yên cùng với những lời mời chân thành. Tôi cũng rất muốn đến thăm miền đất này - một vùng đất của tỉnh Sơn La, nơi ngày xưa từng có bà chúa Phù Dung ngự trị, nơi ngày xưa từng có bọn giặc "cờ đen" ra oai tác quái, cũng là nơi ngày xưa nhà nước ta từng tổ chức thu thuế bằng... thuốc phiện.

        Lần lữa mãi rồi tôi cũng đến được đất Phù Yên, đến với bản Cù.

        Gọi là bản Cù vì trong bản trồng nhiều cây sấu. "Cù" là "cây sấu". Vậy là có tên bản Cù. Thế thôi!

        Đường đến Phù Yên không hiểm trở, nhưng khó đi, nhất là có đoạn dài gần trăm cây số với đường đá lởm chởm, ngồi trên xe mấy tiếng đồng hồ bị xóc như xóc ốc, đặc biệt là qua khu vực Đèo Cón.

        Khi bước xuống xe, người mỏi đến rã rời, vậy mà những ngọn gió trong lành của núi, của rừng đã  nhanh chóng làm tan đi cái mệt nhọc của từng người. Hít một hơi thật sâu, cảm nhận được không khí tràn căng lồng ngực, thấm đầy ắp từng phế nang... Cơ thể hồi phục nhanh đến không ngờ. Mọi sự tưởng chừng như mới bắt đầu, tất cả những gì khó nhọc, mệt mỏi đều tan biến đi như khói bụi...

        Rừng khoanh nuôi tái sinh khá nhanh. Lại thấy lại được màu xanh của rừng, của núi ngút ngàn trong tầm mắt. Thế mới biết, sự thiếu vắng rừng ghê sợ biết nhường nào!

        Người dân nơi đây gồm các dân tộc Thái, Mông, Dao, Mường... tất cả đều hiền hậu, chất phác... Cũng giống như tất cả những người dân ở các miền núi khác mà tôi từng gặp, họ đều có chung một đặc tính là rất quý khách.

        Nhiều cụ già ở nơi đây không biết tiếng phổ thông nhưng vẫn hồ hởi, xởi lởi lắm. Ngôn ngữ có phải là vấn đề trở ngại chính đâu.

        Bữa tiệc dọn trên nhà sàn để đãi khách bày nhanh đến không ngờ. Các bước chân bắt nhịp lên "chín bậc tình yêu" để rồi bước vào nhà sàn cùng với những âm thanh cót két rung theo từng nhịp bước. Tùy thuộc vào chiều cao của từng ngôi nhà sàn mà cầu thang có thể cấu tạo 7 bậc hay 9 bậc. Tôi tự nhủ: "Đây cũng là cách tính theo "sinh, lão, bệnh, tử" đây, cũng là "nhà chữ sinh, đình chữ lão" đây. Người xưa vẫn dạy thế mà. Thì ra, ở đâu trên đất nước này, nền văn hóa cũng có những nét giống nhau, những nét tương đồng đến kỳ lạ!".

        Sàn nhà không lát hết bằng gỗ, vẫn có những diện tích lát bằng những cây diễn, cây bương đập dập. Có lẽ, đấy cũng là nơi tạo điều kiện cho trai bản có cơ hội lách tay qua sàn nhà để với lên tìm người con gái mình thích, mình yêu đang nằm trên sàn trong những đêm "chọc sàn" tỏ tình...

        Chỉ những người già và khách quý mới được ngồi gần cửa sổ chính, sau đó là phân chia ngôi thứ, ngồi xa dần. Phụ nữ không được ngồi cùng mâm với cánh đàn ông, mà phải ngồi mâm riêng, xa cửa sổ (trừ những người cao tuổi như mẹ, hoặc bà, hoặc cụ).

        Nhà sàn không có ngăn chia thành các phòng nên rất rộng rãi, ngồi được nhiều chỗ. Bữa tiệc đón chúng tôi có đến 6-7 mâm bày trên sàn nhà, mà mỗi mâm có đến 8-9 người chứ ít đâu.

        Không khí thật vui vẻ, náo nhiệt.

        Ngồi vào mâm là phải uống liền 2 chén vì lí do là đi đến với nhau bằng 2 chân. Nếu đi bằng ô-tô thì phải uống 4 chén, bởi: "Cái cán bộ nó đi bằng ô-tô, có những... 4 chân cơ!". Tiếng cười rổn rang khắp các mâm. Thế là: "Nào! Đồng khởi đi!". Thế là nâng chén. Thế là chạm chén. Thế là uống... Người miền núi lấy rượu làm thước đo tình cảm, đo sự thật thà, uống không hề “gian lận" như một số người ở miền xuôi. Họ có rất nhiều lí do, nhiều cớ để “dỗ rượu" lắm. Mà khi vào mâm, thấy ai nói cũng hay, cũng có lí có lẽ cả. Thế thì nâng chén thôi! Thế thì uống thôi!

        Các món ăn toàn của rừng, của núi, của suối cung cấp cho. Ví dụ như món “súp Tây Bắc" chẳng hạn có rất nhiều vị, trong đó tôi nhận ra có quả cà dại, hoa đu đủ V.V.. Rồi món rêu đá, cá suối, măng lau... Toàn tự đi bắt về, tự hái về, tự chế biến thôi. Có lẽ, tôi sẽ viết riêng một số món ăn của vùng Tây Bắc trong mục "Những món ăn là lạ" vào những trang sau để các bạn hiểu thêm. Còn bấy giờ, khi nhìn thấy đĩa măng lau xào thì tôi vừa cười vừa nói:

        - Thế là hôm nay mình ăn mất mấy cái đệm bông lau rồi!

        - Ơ! Anh Huy nói giống người của bản mình quá! - tất cả mọi người đồng thanh.

        Thế là lại rót, lại chạm, lại uống.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2020, 06:49:23 am

        Mà sao bỗng dưng tôi lại nghĩ được, lại nói được như thế, cũng thấy có lí như thế nhỉ?. Thế thì uống thôi! Uống thôi! Rừng núi mênh mông thế này, thác ngàn suối cả dài rộng thế kia, cái chén bé tí tẹo này đem so với rừng với núi, với suối với thác... thì là cái thá gì đâu!...

        Bếp của nhà sàn được thiết kế ngay gần bậc cầu thang lên xuống, cạnh sân phơi nho nhỏ.

        Tôi nghe nói, đất ở bếp sưởi trong nhà phải là đất lấy ở tổ mối đùn và do các bàn tay của các thiếu nữ đem nhào với nước, dùng chày giã cho thật nhuyễn, thật mịn, tựa như đất đóng gạch phơ ở dưới xuôi rồi mới lấy làm nền, mới chất củi đốt sưởi.

        Về sau này, tôi còn được biết thêm: nếu bị ngộ dộc thức ăn, bị đau bụng, trướng bụng đầy hơi thì người ta gạt hết tro nóng trong bếp sang một bên rồi moi lấy ít đất của nền bếp, thả vào cốc nước sôi, khoắng lên, để lắng sau đó gạn lấy nước trong cho uống thì chỉ trong chốc lát sẽ thổ ra hết, tựa như rửa dạ dày là khỏi. Phải chăng, khi đùn đất, họ hàng nhà mối đã  tiết ra một loại chất gì trong nước bọt của chúng để rồi cùng với tác động của sự nhào nặn, của lửa đun hàng ngày mà luyện thành một thứ thuốc tẩy dễ kiếm mà chẳng tốn kém gì?...

        Tôi không rành về khoản dược nên không dám khẳng định, chỉ võ đoán thế thôi!

        Tiệc rượu chẳng mấy khi kết thúc dưới vài ba tiếng đồng hồ mà thường kéo dài hơn nhiều với những lời mời chào của chủ nhà:

        - Cái măng mình hái được mà! Cái rêu đá mình lấy được mà! Cá mình bắt được ở dưới suối mà! Gà của nhà đấy! Dê của nhà nuôi đấy! Rượu nhà ủ được đấy! Cứ ăn, cứ uống thôi, đừng có nhìn đồng hồ làm gì! uống rượu thì phải vui lên chứ! Nào, đồng khởi nào!...

        Thế là lại uống! Vừa ăn, vừa uống, vừa hát... Không ai còn nghĩ đây là bữa ăn nữa mà là một ngày hội nhỏ của nhà sàn.

        Cảnh mênh mang, hùng vĩ của núi rừng, không khí đầm ấm chan hòa của dân bản đã  làm tan hết mọi nhọc nhằn, mọi ưu phiền và quên đi mọi chức tước, mọi cương vị đang có, chỉ còn lại tình người. Tình người nồng thắm như men say! Thời gian vùn vụt trôi chẳng ai thèm để ý đến nữa!

        Đường về thì xa nên chúng tôi xin phép rời mâm rượu. Bà chủ nhà đứng đón sẵn ngoài bậc thang với một chai rượu và cái chén cầm trên tay. Theo phong tục, tôi phải uống để đi lấy may, uống để chủ nhà gửi cho vợ con tôi ở nhà. Sau từng ấy chén, tôi tưởng đã  xong, nhưng chủ nhà lại nói:

        - Ơ, thế mày không uống để chúc chúng tao ở lại mạnh khỏe à?.

        Thế là lại tiếp tục cầm chén để chúc chủ nhà ở lại mạnh khỏe, để có dịp gặp lại nhau. Xong hết mọi thủ tục đó mới được rời gót. Tôi bước xuống từng bậc thang mà thấy cứ đong đưa, rung rinh như đi trên cầu kiều. Nhà sàn cũng thấy rung rinh trong nắng chiều. Rừng cũng lung linh trong màu xanh huyền ảo...

        Ra đến xe, thấy ông chủ nhà đã  cầm chai, cầm chén đứng ở cạnh xe. Bấy giờ mới là thủ tục chúc lên đường an toàn...

        Tôi rưng rưng trong phút chia tay với người bản Cù.

        Phù Yên! Bản Cù! Thế nào tôi cũng sẽ trở lại nơi đầy - nơi 1 trong 4 lòng chảo của miền Tây Bắc đã  từng đi vào câu ca: "nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc", nghĩa là nhất Mường Thanh, nhì Mường Lò, ba Mường Than, bốn Mường Tấc, nơi có những con người mới gặp nhau lần đầu mà đã  thấy thân quen tự bao giờ.

        Con đường bỗng thấy không còn xa xăm, không gập ghềnh, khúc khuỷu nữa. Một khi đã  quý nhau, đã  đằm nặng những kỷ niệm về nhau rồi thì những chông gai trở ngại kia cũng chỉ là thứ phù phiếm, cũng chỉ nhẹ như hơi thở mà thôi!

        Nhà sàn với những người dân Phù Yên, người dân của bản Cù thật dung dị, thật tuyệt vời đến nhường nào!

        Và tôi đã  giữ được lời hứa. Tôi đã  đến bản Cù của Phù Yên không phải chi một lần.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2020, 12:09:18 pm

BÌNH LẶNG BẮC YÊN

        Sau những lần đi Phù Yên, tôi cùng anh bạn đường Phùng Đức Giang còn có chuyến về Bắc Yên.

        Bắc Yên cũng là một huyện của tỉnh Sơn La, nơi có thủy điện Ngọc Chiến, có cơ sở nuôi cá Hồi, cá Tầm, cũng là nơi có loại rượu ngô ngon có tiếng, rồi táo Mèo, mắc khén...

        Hai anh em tôi lủi thủi "bò" trên đường với chiếc xe bé nhỏ, loại KIA Morning mà tôi vẫn gọi đùa là "cái chuồng gà".

        Lủi thủi là đúng vì hầu như suốt cả mấy tiếng đồng hồ liền, tôi chẳng gặp chiếc xe nào cả. Rừng núi mênh mang. Chiều đã  xế. Hai anh em tôi cứ lọt thỏm trong cái mênh mang bạt ngàn của rừng, của núi tựa như hai kẻ hành khất vậy. Cứ phải vừa đi vừa nói, hết nói rồi thì hát, hết hát thì trêu nhau dăm câu, rồi thì lại để cho cái "mồm sắt" (tức là cái ra-đi-ô trên xe) nó cất tiếng để đỡ lẻ loi, cô quạnh.

        Chúng tôi dự định "phi" một mạch về Ngọc Chiến uống rượu ngô, nghỉ đêm ở đó và sớm hôm sau đi thăm thủy điện. Nhưng dự định thì bao giờ chẳng là dự định! Khi đến gần núi u Bò, mặt trời đã  lặn, chỉ còn những ráng vàng như những dái quạt hắt lên trên nền trời xanh lơ. Biết không thể đi tiếp được nên đành thay đổi kế hoạch. Chúng tôi quyết định tạt vào thăm cơ sở nuôi cá Hồi, cá Tầm và cũng có ý đồ là nếu có con nào to to, "sực" được thì đặt vấn đề mua một con để quay về Bắc Yên phục vụ cho bữa tối.

        Cơ sở nuôi cá được thiết kế, quy hoạch rất bài bản. Chúng tôi được giới thiệu và được đi thăm các bể nuôi. Mỗi bể có dăm ngàn con uyển chuyển, lượn lờ giữa những làn nước lạnh lẽo, trong leo lẻo...

        Tôi vừa nghe giới thiệu về cách chăm nuôi, vừa đưa mắt tìm các bể xem bể nào có cá to không, nhưng rồi thất vọng vì trong tất cả các bể, "chú" nào phổng phao nhất cũng chỉ ba bốn lạng là cùng! Thế là hỏng ăn rồi, công cốc rồi còn gì!

        Quay về đến thị xã  Bắc Yên, trời đã  tối sẫm. Cái đói cũng bắt đầu hành hạ cái dạ dày. Chúng tôi tìm được một nơi trông khá khang trang, sạch sẽ nên tạt vào đó đặt món ăn. Vừa ngồi xuống, mới uống được một li, chưa kịp cầm đũa thì thấy hơn chục người kéo vào với đủ sự ồn ào. Mấy người trong số đó nhận ra người quen là anh bạn tôi. Thế là mấy mâm dồn dịch hết sang bên mâm tôi, quây lại thành một quần thể. Các món ăn bày chung, rượu được rót ra nhanh chóng và rồi sau thủ tục giới thiệu, tự giới thiệu tiếp đến là đủ mọi lời thăm hỏi, chúc tụng liên tục nối tiếp nhau, liên tục "trăm phần trăm"...

        Ây à! Những tưởng giữa miền đất Bắc Yên bình lặng này chỉ có hai anh em tôi với núi rừng tĩnh mịch là bạn với nhau thôi chứ, ai ngờ lại có người quen, lại có nhiều bạn mới đến thế. Mà đã  là người quen, đã  là bạn mới thì phải uống để nhớ, để lần sau gặp lại không cần phải "màn chào hỏi" nữa.

        Cảnh u tịch của miền rừng núi bỗng vỡ òa bởi những tiếng nói, tiếng cười râm ran. Không khí của nhà hàng sôi động hẳn lên. Chúng tôi được chăm bẵm đến nơi đến chốn. Mặt ai cũng đỏ lựng, mắt ai cũng lóng lánh như có những ngọn lửa nhảy múa, miệng ai cười cũng tươi... Không còn ranh giới chủ, khách, không còn phân biệt lạ quen... Tất cả đều hòa đồng, đều như những người bạn ngồi hàn huyên...

        Sung sướng quá, hạnh phúc quá!...

        Mãi khuya tiệc rượu mới tàn. Chúng tôi tạm chia tay nhau để mai anh em tôi còn lên đường sớm.

        Tôi về phòng nghỉ nhưng cứ trằn trọc, không ngủ được. Chuyến đi nào về miền Tây Bắc, lần gặp gỡ nào với những người dân bản cũng đều để lại cho tôi những dấu ấn sâu đậm.

        Chừng như, càng xa chốn thị thành bao nhiêu thì người ta sống càng hồn nhiên bấy nhiêu và đối xử với nhau cũng tình người bấy nhiêu thì phải. Vật chất càng thiếu thốn, sống càng gần gũi với thiên nhiên bao nhiêu thì tâm hồn càng rộng mở, càng hào phóng bấy nhiêu thì phải. Tôi không thấy sự bon chen, lừa lọc, ích kỷ, đố kỵ cùng những tật xấu khác trong con người họ. Phải chăng núi rừng tĩnh lặng cũng làm cho họ sống một cách chậm rãi, suy nghĩ một cách chậm rãi, sâu sắc, không hời hợt, không xô bồ, gấp gáp, chụp giật... như ở nơi thị thành. Phải chăng giữa nơi mênh mang, u tịch của rừng của núi, con người ta thấy cần đến nhau hơn, gần nhau hơn như một cộng dồng... Phải giải thích đầy đủ, cặn kẽ về những vấn đề này thế nào được nhi?...

        Tôi cứ luẩn quẩn với biết bao ý nghĩ, biết bao câu hỏi cho tới lúc mỏi mệt quá thì tự chìm vào cõi mê...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2020, 05:03:21 am

ĐI “ĐƯỜNG 6”, VỀ “ĐƯỜNG 2”

        Sau nhiều chuyến ngược xuôi trên tuyên Sơn La, Điện Biên thì chúng tôi lập kế hoạch cho chuyến đi theo một vòng khép kín, đấy là xuất phát từ Hà Nội theo tuyến đường quốc lộ số 6 lên Sơn La rồi Điện Biên, sau đó vòng lên Tam Đường, qua Sa Pa, Lào Cai và xuôi Yên Bái về Hà Nội.

        Có lẽ, đấy là chuyến đi dài với nhiều gian truân, nhưng ai cũng hăm hở muốn có được chuyến đi như thế.

        Kết thúc mọi công việc ở Điện Biên, chúng tôi bắt đầu rồng rắn lên đường theo đúng kế hoạch đã  định. Thời tiết khô ráo với cái nắng hanh hanh và gió ngàn thổi lồng lộng càng làm cho chúng tôi thêm phấn khích.

        Cây cối hai bên đường vẫn còn rậm rạp, um tùm. Ven suối có những cây vả mật với bao nhiêu là quả chín đỏ tím bám đầy xung quanh thân cây. Tôi đề nghị dừng xe nghỉ giải lao, tranh thủ nhào xuống bứt mấy chùm đưa cho các anh thưởng thức. Có người lần đầu tiên biết đến cây vả, lại được ăn cả quả vả nữa thì cảm động lắm vì từng ấy tuổi đầu rồi mới "mục sở thị", mới biết rằng "lòng vả cũng như lòng sung" là thế nào.

        Chuyện trò cứ râm ran không chỉ lúc nghỉ mà ngay cả trên xe cũng vậy.

        Con đường chạy ven dòng sông Đà thơ mộng. Dòng Đà giang vào mùa này không phải là mùa nước lũ nên nó rất êm đềm. Nó tựa như dải lụa xanh lơ, óng ả, mềm mại vắt qua các chân núi, chân đồi liên tiếp nối nhau như không bao giờ dứt. Nó như một điểm nhấn trong bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên miền Tây Bắc. Ai cũng trầm trồ trước cảnh đẹp của núi rừng miền sơn cước này.

        Đến cầu Hang Tôm, chúng tôi dừng chân. Cây cầu đứng lặng lẽ giữa vùng trùng điệp núi non trông thật lẻ loi giữa không gian tĩnh mịch, u hoài. Với tôi, đây là lần đầu tiên và cũng gần như là lần sắp cuối đứng với cây cầu, bởi sau một vài lần đi trên tuyến này nữa thì tôi không còn cơ hội lặp lại hành trình và khi thủy điện Mường La được khởi công xây dựng, được khánh thành đưa vào hoạt động, cả vùng rộng lớn này đều ngập chìm trong nước, đương nhiên là cả cầu Hang Tôm. Vậy là có muốn mấy cũng chịu, không thể nào gặp lại được cây cầu ấy nữa...

        Cả đoàn cứ cặm cụi, lặng lẽ đi, mỗi người đeo đuổi một ý nghĩ riêng. Có lẽ giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, trùng điệp núi non, hoang vắng đến ma mị thế này thì ai cũng thấy mình quá bé nhỏ, ai cũng thấy có điều gì đó sờ sợ, chờn chợn nên im ắng là phải...

        Qua Phong Thổ, qua Lai Châu và sau khi vượt đèo Giang Ma thì đến một trong "tứ đại đèo" nữa của miền Tây Bắc - đèo Ô Quy Hồ.

        Đèo Ô Quy Hồ còn được gọi là "đèo Hoàng Liên" do đèo vắt qua dãy Hoàng Liên Sơn và cũng còn có tên là "đèo quanh năm mây phủ".

        Đèo Ô Quy Hồ nằm ở độ cao gần 2.000 mét. Nó chiếm giữ chiều dài kỷ lục trong "tứ đại đèo" với chiều dài khoảng 50 cây số. 2/3 đèo nằm ở địa phận huyện Tam Đường, 1/3 đèo còn lại nằm phía Sa Pa.

        Với độ cao cùng sự hiểm trở và chiều dài như vậy, nó đã  được mệnh danh một cách không chính thống là "vua đèo vùng Tây Bắc".

        Tương truyền, xưa kia ở nơi đây từng có một loài chim có tiếng kêu đến da diết. Nó gắn với huyền thoại một tình yêu không thành của đôi trai gái. Rồi từ đó theo thời gian, tiếng kêu "Ô quy hồ" của loài chim kia đã  được đặt cho tên đèo.

        Nơi đây còn có những câu chuyện truyền miệng liên quan đến những con "hổ thần" chuyên rình bắt những người qua lại. Chắc thời ấy rừng còn rậm rạp, đường xá chưa có như bây giờ nên các vị "chúa sơn lâm" mới tự do thả sức hoành hành.

        Thời nay, tuyến đường được mở, lại được nâng cấp để thành tuyến du lịch cho lữ khách thì không còn thấy bóng dáng nào của các "ông Ba Mươi" nữa.

        Đến đỉnh đèo là đến cổng Trời.

        Độ cao của đèo khiến khí hậu hai bên đèo được phân định tại cổng Trời trở nên khác biệt. Nếu như phía Tam Đường thời tiết ấm áp thì bên phía Sa Pa lại lạnh lẽo. Sương mù bao phủ suốt cả ngày và khắp núi rừng chìm ngập trong màn mâv...

        Chúng tôi dừng xe để xuống ngắm cổng Trời.

        Vừa mở cửa xe đã  gặp ngay những trận gió ào ạt thổi tới mang theo cái lạnh của xứ núi nên ai cũng thoáng rùng mình. Mây mù bao phủ khắp nơi, không quan sát được khung cảnh nơi đây, đành nhảy nhảy mấy cái rồi đi đi lại lại cho ấm người, "ăn" một điếu thuốc và lại lên xe tiếp tục hành trình đến Sa Pa.

        Sa Pa đã  hiện ra trước mắt.

        Theo tôi được biết những thông tin về Sa Pa thì: Sa Pa nằm ở độ cao 1.500 đến 1.650 mét so với mực nước biển. Thị trấn Sa Pa ở độ cao 1.600 mét, cách Hà Nội 376 km và cách Lao Cai 38 km.

        Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp đã  quyết định mở cuộc điều tra về người dân tộc thiểu số vùng núi cao và những đoàn điều tra đầu tiên đến Lao Cai là vào năm 1898.

        Năm 1903, đoàn thám hiểm của Sở Địa lí Đông dương đã  khám phá ra cảnh quan mặt bằng ở Lồ Suối Tùng và làng Sa Pa. Sự kiện này đã  đánh dấu việc ra đời của Thị trấn Sa Pa và cũng trong năm này, người Pháp đã  cho xây dựng ở đây một bốt quân sự, đồng thời họ cũng xác định nơi đây sẽ là khu an dưỡng để phục vụ những người Âu khi chưa quen với khí hậu của miền nhiệt đới.

        Tên gọi Sa Pa có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại, phát âm là Sa Pả hay Sa Pá có nghĩa là "bãi cát" bởi trước đây nơi này là bãi cát và dân cư sử dụng nó để họp chợ. Người phương Tây không phát âm được những từ những chữ có dấu nên họ đọc thành Sa Pa và khi viết bằng chữ Pháp thì là "Cha Pa", mãi tận sau này mới đổi cho thống nhất là Sa Pa.

        Vậy là chỉ riêng một cái tên thôi mà cũng đã  khối vấn đề cần bàn luận.

        Vào năm 1909, khách sạn Cha Pa (nằm trên đường Sa Pa đi Lao Cai) được khánh thành và từ năm 1914, người Pháp xây dựng Sa Pa thành một "kinh đô nghỉ hè" thực sự trên vùng núi Bắc kỳ theo hướng dân sự hóa. Các khách sạn như "khách sạn Fansipan", "khách sanh Le Metropole"... xuất hiện và trong khoảng thời gian từ giữa năm 1924 đến 1940 đã  có chừng 100 biệt thự được xây cất.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2020, 05:42:27 am

        Tổng cộng, người Pháp xây ở Sa Pa có đến gần 300 ngôi biệt thự.

        Theo đà ấy, cuối những năm của thập kỷ 30, Sa Pa đã  phát triển đạt đến đỉnh cao nhất của mình: vào những ngày của mùa Hè, Sa Pa đón hàng ngàn khách người Âu đang sống và làm việc ở Việt Nam bấy giờ lên đấy nghỉ mát.

        Nhưng sự phát triển ấy không được lâu bền. Tháng 3 năm 1952, Tham mưu trưởng quân đội Pháp đã  lệnh ném bom Thị trấn. Từ dinh nghỉ mát của Thống sứ đến phần lớn khách sạn, biệt thự đều bị phá hủy, tất cả biến thành hoang tàn, đổ nát trong trận ném bom ác liệt này.

        Đầu những năm 1960, Sa Pa bắt đầu được khôi phục nhưng rồi cuộc chiến năm 1979 lại một lần nữa tàn phá Sa Pa...

        Sa Pa có được bộ mặt như ngày hôm nay là cả một sự cố gắng rất lớn.

        Cảm nhận về chuyến đi của chúng tôi lần ấy, tuy Sa Pa đã  được cải tạo xây dựng thêm nhiều nhưng vẫn còn giữ được những nét hoang sơ, cổ kính. Những cây Pơ mu cao to lừng lững vươn thẳng lên trời, rồi những cây "sa mu đứng nửa vành con thoi" như nhà thơ Xuân Diệu mô tả vẫn còn nhiều, nhiều lắm...

        Ngôi nhà thờ đá của Sa Pa đứng tĩnh lặng trong sương mù huyền ảo thoắt ẩn, thoắt hiện. Đấy là dấu ấn của người Pháp xây dựng theo kiến trúc Gotic La Mã. Tất cả được xây cất bằng đá đẽo, liên kết với nhau bởi hỗn hợp vôi, cát, mật mía... Nhà thờ được xây dựng vào đầu thế kỷ 20, bốn phía đều quan sát được và là điểm nhấn đầu tiên của Thị trấn Sa Pa.

        Trước nhà thờ, mỗi tối thứ Bảy hàng tuần đều diễn ra buổi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số mà ta quen gọi là "Chợ tình". Đấy là nét văn hóa dân tộc và cũng chính là hơi thở của núi rừng Tây Bắc.

        Sau khi lấy được nhà nghỉ, chúng tôi kéo nhau đi tắm nước thuốc của người Dao đỏ, vừa là để khám phá, vừa là để hồi phục lại sức qua chuyến đường dài. Phải công nhận một điều là bài thuốc tắm ấy có tác dụng rõ rệt.

        Ăn tối xong, không ai muốn ngủ ngay, tất cả lại kéo nhau đi chợ nướng. Nếu đến Sa Pa mà không thưởng thức các đồ nướng, không ăn cơm lam thì mất hết thi vị. Mỗi loại thịt nướng đều có vị ngon riêng của nó. Trong cái lạnh se se, trong cảnh mù sương mơ màng huyền ảo, những món đồ nướng thơm phức cộng với những cốc rượu ngô, rượu táo mèo thơm lừng làm cho ta ngất ngây đến thăng hoa. Món cơm lam chẻ từ ống nứa còn nóng hổi thơm đậm đà. "Ngon nhất cơm, thơm nhất con" - người ở đây nói vậy. Cứ ăn rồi mới cảm nhận hết được...

        Loanh quanh thế mà mất khá nhiều thời gian. Chúng tôi tiếp tục bàn đến chuyện "văn hóa phi vật thể", ấy là tìm chỗ hát Karaoke, ra "quy chế" hát quay vòng theo chiều kim đồng hồ, cứ thế lần lượt mà thực hiện. Có anh mệt quá vì đã  ngấm hơi men, không thể hát được nhưng vẫn phải chấp hành quy định, đứng sát màn hình đọc từng chữ một. Mọi người cười ầm lên và cuộc vui tạm dừng. Dọc đường về nhà nghỉ, tiếng cười nói râm ran của bọn tôi khiến lũ chó của Thị trấn giật mình, sủa ỏm tỏi làm kinh động khoảng không gian tĩnh lặng...

        Sáng hôm sau, tôi dậy khá sớm lần ra chợ, mua một chiếc áo thổ cẩm khoác luôn lên người, tiện thể mua một chiếc gùi và chất dăm cân đào Sa Pa vào trong đó, quàng lên vai, lậc khậc đi về nơi nghỉ. Đi được một đoạn, một khách du lịch tiến sát tôi, hỏi nhỏ:

        - Mày có mật gấu bán không?

        - Ô, tao không có đâu vớ! - tôi trả lời với cái giọng lơ lớ.

        - Vậy mà tao cứ tưởng mày phải có chứ!

        - Không có đâu mà!

        Cuộc đối thoại ngắn gọn diễn ra chi trong một vài phút nhưng làm tôi khoái chí vô cùng. Thì ra, mình cũng giống người dân tộc miền núi đấy chứ. Về tới nhà nghi, tôi đem chuyện này ra kể, người thì tin tôi, người thì cho rằng tôi bịa chuyện. Đúng là, chuyện bịa như thật đã  khó tin rồi, chuyện thật như bịa càng khó tin hơn!...

        Chúng tôi rời Sa Pa, qua Lao Cai xuôi về Yên Bái.

        Đến địa hạt giáp ranh giữa Yên Bái và Phú Thọ thì dừng chân bên một quán nhỏ ven đường. Chủ quán là người xởi lởi. Chúng tôi thấy chú cá chép vừa được đánh ở dưới ao lên còn đang giãy đành đạch. Đặt vấn đề mua, chủ quán đồng ý ngay. Thế là chúng tôi đề nghị cho nấu nhờ cơm. Cũng lại đồng ý. Chúng tôi "đặt món" rất nhanh: đầu cá và đuôi cá sẽ nấu canh, khúc giữa rán giòn chấm mắm ớt là đủ bữa. Liếc thấy vườn su hào tươi mơn mởn, chúng tôi mua luôn mấy củ để cho vào nồi canh cá. Gạo vo kỹ, bắc lên bếp củi. Lửa cháy rừng rực, chẳng mấy chốc nồi cơm sôi sùng sục, nồi canh cá cũng vậy. Chúng tôi quyết định vần cơm cho có nhiều cháy. Cháy cơm nấu nồi bằng gang, lại đun củi nữa thì ngon phải biết. Chủ nhà vừa kiếm được cho chúng tôi một mẻ lạc, rang lên nhắm rượu. "Tửu lạc vô bần"! - cổ nhân dạy vậy. Thế là quá ổn rồi...

        Đúng tầm đói. Bữa cơm mang tính dã ngoại ấy ngon không tả nổi. Bà chủ nhà cứ chăm chú nhìn chúng tôi rồi hỏi:

        - Chắc các chú đều là bộ đội? - chị chủ nhà hỏi.

        - Chị đoán sai rồi! - chúng tôi trả lời.

        - Không! Tôi ít khi sai lắm! Chỉ có bộ đội mới nhanh nhẹn, mới khéo léo, mới biết làm nhiều việc thế thôi! Các chú chẳng thể giấu được tôi đâu!

        Đúng, không có gì giấu được dân cả. Người dân chân thật, chất phác, hiền hậu nhưng rất tinh tế trong việc đánh giá con người. Nhóm chúng tôi toàn là những người đã  qua quân ngũ thật. Quân đội là trường Đại học lớn. Ở đó mình được rèn luyện, được hun đúc để hình thành và nâng cao bản lĩnh, ý chí, kỹ năng sống và nhiều nhiều thứ khác nữa... Những người từng trưởng thành qua quân ngũ bao giờ cũng có những nét khác biệt...

        Dọc đường về Hà Nội, trên xe râm ran đủ thứ chuyện, nhưng tựu trung, ai cũng thích thú, cũng bằng lòng về chuyến đi này và một mong muốn chung là vào thời gian nào đó, tất cả lại được đi cùng trên tuyến đường ấy để thêm một lần trải nghiệm, thêm một lần phát hiện những điều mới mẻ và gắn kết với nhau hơn.

        Tôi biết điều ấy chắc khó khăn nhưng vẫn thầm hẹn ước. Người xưa từng nói: "Nếu có duyên thì thế nào cũng gặp!".

        Tôi hy vọng chúng tôi vẫn còn duyên với miền Tây Bắc!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Ba, 2020, 04:40:20 am

A-PA-CHẢI

        Sau những lần đi tuyến Sơn La - Điện Biên -  Hà Nội, rồi Sơn La - Điện Biên - Sa Pa - Hà Nội thì tôi luôn được mời chào đến thăm Mường Nhé với câu: "Đến Điện Biên mà không đi Mường Nhé thì đâu đã  phải là đến Điện Biên!".

        Tôi biết, Mường Nhé là huyện nghèo nhất Điện Biên, có khi còn là nghèo nhất nước. Từ Điện Biên lên Mường Nhé chỉ khoảng 170-180 cây số thôi nhưng đường rất khó đi, mà đường cũng chẳng ra đường nữa.

        Mường Nhé - một thời vua Mèo muốn xây nhà thờ và quy tụ toàn bộ người Mèo (người Mông) vùng Tây Bắc về đó để lập ra một lãnh địa riêng tựa như "nước Đề Ga" ở vùng Tây Nguyên. Cũng khá vất vả mới "dẹp" được vụ đó. "Vua" Mèo bỏ chạy vào rừng sâu, chỉ ôm theo chiếc máy tính cá nhân có định vị vệ tinh, nhưng vẫn bị bắt...

        Tôi hứa sẽ đến Mường Nhé vào dịp nào đó. đã  hứa là phải thực hiện. Vậy là, chúng tôi tổ chức một chuyến đi chỉ có 3 anh em (tôi, anh Trần Văn Năm cùng anh Mạc Hòa) trên chiếc ô-tô KIA Morning -  chiếc "chuồng gà" của tôi và thay tua nhau lái.

        Đến Sơn La, chúng tôi ngủ lại một đêm, sáng hôm sau ăn uống đàng hoàng xong mới ngược Điện Biên. Tuyến đường Tây Bắc đã  quen thuộc nên chúng tôi đi khá nhanh. Buổi trưa chúng tôi đã  được đón tiếp tại Điện Biên rồi. Tại đất Điện Biên, công việc không được trôi chảy vì tôi gặp nạn, anh bạn Mạc Hòa phải bay về Hà Nội, còn lại tôi và anh Trần Văn Năm ở lại. Nghĩ thấy chán. Được sự động viên pha chút kích động, chúng tôi quyết tâm lên đường. Lần này thì phải bỏ chiếc "chuồng gà" của tôi lại vì "không thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ", lấy chiếc Santa Fe của anh Đỗ Đức Tiến. Anh là người từng đi nhiều chuyến lên Mường Nhé vì thế sẽ có nhiều thuận lợi. Một điều thú vị, 3 người là thông gia, liên gia với nhau nên những câu chuyện trên xe càng vui vẻ.

        Rời Điện Biên một lúc là thấy ngay tình trạng đường sá vất vả thế nào rồi. Được cái, không gian yên tĩnh của rừng núi cùng không khí trong lành của nó làm dịu đi những căng thẳng. Chúng tôi đi vào mùa khô nên trời nắng chang chang và gió thổi rát rạt. Gió chạy ào ào đuổi nhau trong các lùm cây, trên các vách núi, sườn đồi. Những bụi nứa, những khóm lau sậy rạp mình khi gió đạp qua. Hoa dã quỳ nở vàng dọc hai bên đường suốt chiều dài cả hàng chục cây số.

        Nếu như ở Đà Lạt, hoa dã quỳ chỉ trong từng tuyến phố hay ven những vạt rừng, thì ở đây, hoa trải từ ven đường lên tận lưng chừng núi, giống hệt cánh đồng bạt ngàn hoa hướng dương ở bên Nga. Loài hoa này phát triển nhanh lắm. Nó phát tán theo gió mà. Cứ đà này thì mấy năm sau, khi có chuyến đi tiếp theo, chắc chúng tôi sẽ được lướt trong biển vàng rực rỡ của hoa dã quỳ. Nghe nói trước đây ô-tô không thể đi nổi trên tuyến đường này, chỉ sau khi có "bạo loạn", bấy giờ đường sá mới được gấp gáp xây dựng.

        Quá trưa một chút, chúng tôi đến Mường Nhé. Anh Tiến là người "quen thung quen thổ" nên có sự báo trước và chúng tôi được đón tiếp đến nơi đến chốn. Sau khi cơm no rượu say, chúng tôi muốn nghỉ đêm ở Mường Nhé để hiểu thêm mọi thứ ở miền biên ải này, nhưng mấy anh lại nói: "Đến đây mà không đi A-pa-chải thì thật uổng và cũng chẳng còn nghĩa lí gì nữa!". Nói A-pa-chải là nói đến cột mốc "không số" (hoặc gọi là cột mốc "số không" cũng thế) - nơi một con gà gáy cả 3 nước đều nghe tiếng.

        A-pa-chải là một bản thuộc xã  Xín Thầu, huyện Mường Nhé và cột mốc ấy nằm trên đỉnh núi cao 1.824 mét so với mực nước biển, cách bản cuối cùng về phía Tây của xã  Xín Thầu chừng 6-7 cây số đường rừng.

        Cột mốc được cắm vào ngày 27-6-2005.

        Phần phía Việt Nam thuộc A-pa-chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, phần bên Lào thuộc huyện Phong Sa Lỳ, phần Trung Quốc thuộc tỉnh Vân Nam.

        Cột mốc ở A-pa-chải là cột mốc đẹp nhất Đông Dương.

        Cột mốc được làm bằng đá hoa cương, nặng 8 tấn (tính cả phần đế) với chiều cao 1,8 mét đứng trên khối vuông mỗi cạnh dài 5 mét.

        Rồi A-pa-chải còn có chợ biên giới, nơi ta và bạn qua lại giao lưu thông thương với nhiều mặt hàng nông sản, lâm sản mà miền xuôi không có... "Vậy sao lại không đi nhỉ?" - tôi tự hỏi và nhìn hai bạn đường của mình. Hai anh kia đều bảo: "Tùy anh thôi!". Tùy thì tùy! Thế thì đi thôi! Từ đây đi A-pa-chải khoảng bảy tám chục cây số chứ mấy. Vậy là lên xe, nổ máy và... thẳng tiến!

        Nói 70-80 cây số nghe chẳng là bao, nhưng đường đi thì không phải không gian nan. Tầm hơn 2 giờ chiều chúng tôi đến Trạm Biên phòng A-pa- chải. Ngồi uống nước với các chiến sĩ biên phòng, làm quen rồi hỏi han tình hình mới biết chợ biên giới không họp vào ngày hôm ấy. Tôi hỏi thăm về cột mốc, được các chiến sĩ cho biết từ Trạm, ô-tô có thể đi đến sát chân núi, từ chân núi, các chiến sĩ tuần tra đi và về mất chừng hơn 3 tiếng đồng hồ.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2020, 05:50:20 am

        Nếu căn trên bản đồ, từ Trạm biên phòng lên đến đỉnh núi chỉ chừng dăm sáu cây số đường chim bay. Thoáng nghĩ trong đầu: "với tốc độ bay 900 km/h, 1 phút đã  đi được 15 km. Kể mà bay như xưa thì sau mấy chục giây đã  lên đến nơi". Rồi lại tự trách cái "bệnh nghề nghiệp" nó cứ gắn vào mình, thật chẳng ra làm sao! Trở về với thực tế đi! Thế là nhẩm tính: họ trẻ họ đi mất hơn 3 tiếng, minh lớn tuổi rồi thì cộng thêm 1 tiếng hoặc tiếng rưỡi nữa là cùng vì chuyện leo dốc, đi đường rừng núi với mình đâu có lạ lẫm gì. Bây giờ mới 3 giờ chiều, nếu ta đi thì cùng lắm chỉ đến 7 giờ, cùng lắm 8 giờ là xuống núi rồi. Chắc chẳng khó khăn lắm!...

        Tôi trình bày ý định của tôi thấy không ai phản đối, chỉ mỗi anh Tiến đau chân là không đi thôi, anh nhận phần lái xe đưa chúng tôi vào sát chân núi. Anh Năm thì là dân săn bắn nên chuyện dốc núi, rừng rú không là thá gì...

        Thấy anh em chúng tôi hăng hái và quyết tâm, Trạm cử cho một chiến sĩ biên phòng người dân tộc Thái dẫn hai anh em chúng tôi đi. Anh Tiến lái xe đưa 3 người vào sát chân núi, khi xe không thể đi được nữa thì cho chúng tôi xuống và quay về Trạm, hẹn mấy tiếng sau sẽ quay lại đón...

        Việc đầu tiên sau khi xuống xe là quan sát địa hình, địa vật rồi kiểm tra lại hành trang.

        Nhìn xung quanh bốn bề chỉ thấy núi là núi. Con đường chúng tôi đi vừa rồi uốn lượn trông giống như con giun đất đang lết trên các sườn núi. Gió thổi dào dạt. Ngoài tiếng gió không còn âm thanh nào khác nữa. Trời xam xám với những đám mây nặng nề, uể oải trôi. Ngửng lên nhìn ngọn núi chúng tôi cần vượt thì cây che hết tầm mắt, sát chân núi là hai thân cây gỗ to bằng bắp chân dựng sát nhau với độ dốc chừng 70 độ. Chắc là tay phải bám vào một cây, chân đạp vào cây kia để vượt đoạn dốc đầu tiên trước khi chính thức đặt những bước trên đỉnh của A-pa-chải.

        Hành trang mỗi người chỉ có "một phần tất yếu của cuộc sống" - tức là một chai nước Lavie và hai chiếc bánh "Chôcôpai" cùng cái... tặc lưỡi là đi thôi!

        Cái tặc lưỡi đại đa số mang lại những điều rất tệ hại, hiếm hoi mới có sự may mắn và chuyến đi này của chúng tôi nằm trong cái sự may mắn ấy.

        Trước khi leo, cả ba chúng tôi nhìn nhau như thăm dò lại quyết tâm nhưng không thấy ai lắc đầu mà cùng gật, vậy là chiến sĩ biên phòng bám cây leo lên trước để "thị phạm" như chúng tôi vẫn nói - đó là kiểu làm mẫu và cũng là để kéo giúp chúng tôi khi bước những bước cuối kẻo bị hụt chân.

        Qua "cửa ải" đầu tiên, đến một doi đất tương đối phẳng, chúng tôi dừng lại chụp ảnh kỷ niệm chặng đường đầu tiên rồi bước tiếp.

        Đường lên đỉnh nơi đặt cột mốc phải đi theo lối mòn với chiều rộng chắc chỉ 30 cm là cùng. Giai đoạn đầu phải vượt qua những ngọn đồi thấp, tiếp đến là những ngọn đồi khá dốc đầy cỏ tranh rồi những đoạn toàn bụi cây gai sau đó là rừng nguyên sinh dày đặc dây leo. Phía bên trái là vực sâu hun hút. Cậu chiến sĩ biên phòng luôn nhắc chúng tôi đặc điểm này để đề phòng.

        Đi được một hồi, nhiều đoạn không còn lối vì bị lợn rừng dũi tìm thức ăn. Nhìn vết chân và vệt dũi, cậu chiến sĩ biên phòng phán đoán con lợn này chắc phải hơn tạ. Tôi bắt đầu gờm. Cái giống lợn rừng này hung hãn lắm, chỉ cần nó húc nhẹ cho mình một phát thôi thì bộ răng nanh của nó không biết sẽ để lại dấu ấn kinh khủng đến như thế nào trên cơ thể mình và bấy giờ việc cầm máu, việc sơ cứu... sẽ như thế nào đây. Nghĩ thế rồi lại suy luận: thường bao giờ các giống vật cũng sợ người, nó thường chủ động lảng tránh, chỉ khi nào nó thấy bị uy hiếp thì mới có hành động tự vệ thôi. Tôi nghĩ bụng thế nhưng không nói ra mồm.

        Khi gặp những vạt cỏ gianh, tôi chợt nghĩ đến loài hổ. Nghe nói hổ rất sợ ở rừng nứa mà chỉ ở những rừng những đồi cỏ gianh. Tới lúc này, tôi phải hỏi chiến sĩ biên phòng:

        - Rừng này liệu có hổ không cháu?

        - Không có đâu, chú ạ! Cháu công tác ở đây 3 năm rồi, hầu như ngày nào cũng đi tuần tra hoặc dẫn khách du lịch đi tham quan nhưng chưa hề nghe thấy nói đến hổ.

        - Có lẽ họ săn bắn hết rồi chăng?

        - Ở đây không được phép săn bắn, khu vực giáp biên mà, nhưng dân họ thường đặt bẫy. Có ngày chúng cháu thu được đến cả trăm chiếc bẫy đấy!

        - Vậy rừng này nhiều vắt không?.

        - Mùa khô này thì không có đâu! Yên tâm đi, chú ạ!

        Vậy là yên tâm bước theo người chiến sĩ. Leo chừng một giờ, đến nơi có tảng đá to nằm trên khoảng đất trống, cậu chiến sĩ người Thái bảo chúng tôi dừng lại:

        - Các đoàn thường đi đến đây là nghỉ giải lao rồi mới đi tiếp!

        - Ta đi được bao nhiêu đoạn đường rồi?.

        - Cũng được nhiều nhiều rồi đấy!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2020, 09:10:16 am

        Nghỉ thì nghỉ thôi. Tôi làm một hơi hết già nửa chai nước và làm nhiệm vụ "phó nháy" chụp ảnh cho anh Trần Văn Năm và cậu chiến sĩ. Xong xuôi, chúng tôi tiếp tục lên đường. Rừng càng ngày càng rậm rịt, cây cối ngày càng um tùm, bóng tối cũng ngày càng đậm. Đến một gốc cây to chừng dăm sáu người ôm, anh Trần Văn Năm sướng quá kêu dừng lại chụp ảnh. Lúc này đã  phải bật đèn pin lên thì mới chụp được. Tôi hối thúc phải đi nhanh chứ khề khà thế này không biết bao giờ mới lên được đến đỉnh, mà mục tiêu đặt ra chính là phải sờ được vào cột mốc. Vậy là phải ra đi trong sự tiếc nuối của anh Năm.

        Tôi đồ chừng chỉ mới đi được 1/3 đoạn đường là cùng, trời đã  tối sẫm. Nếu ở phía ngoài bìa rừng, trời chắc vẫn còn sáng, nhưng trong rừng rậm làm gì có ánh nắng nên tối là phải. Đường trơn lầy vì lúc gần trưa ở trên này có mưa. Thế mới phức tạp. Nhiều cây, nhiều cành đổ chắn lối lắm. Có chỗ chúng tôi phải chui qua dưới thân cây, có chỗ lại phải bò trèo qua thân cây rồi mới đi được. Tôi đã sử dụng hết khẩu phần "Choco Pie" và cũng xong "một phần tất yếu của cuộc sống" liền vứt luôn vỏ chai cho rảnh tay để còn bám cây, rẽ lối mà đi...

        Bắt đầu thấm mệt. Mồ hôi tóa ra gần như ướt hết áo. Hơi thở có lúc không đúng nhịp nữa và nghe chừng tim đập cũng đã  gấp gáp. Anh Trần Văn Năm lo sợ huyết áp của tôi có "vấn đề" nên thi thoảng lại hỏi: "Đồng chí có sao không đấy?", hoặc: "Tình hình sức khỏe thế nào?".

        Cái trò leo dốc mà cứ đi cứ nói thì nhanh hết sức lắm, mà không trả lời không được. Tôi bèn nghĩ cách chấm dứt chuyện phỏng vấn.

        - Này, nếu bây giờ nghe cái "phựt" rồi tôi lăn quay cu dơ ra thì hai bác cháu nhà anh làm thế nào?

        - Phải khiêng anh xuống thôi! - anh Năm trả lời.

        - Không được!

        - Thế ý anh là sao?

        - Phải khiêng tôi lên!

        - Khiêng lên?

        - Vâng! Khiêng tôi lên đến cột mốc. Tôi có "ba chân" thì giăng mỗi chân về mỗi phía rồi để tôi ở đó!

        - Chân nào giăng phía nào?

        - Chân phải giăng về phía ta, chân trái giăng về phía Lào, còn chân kia thì... giăng về... phía ấy!

        - Thôi, thôi! Đang leo dốc mệt thế này không đủ sức cười đâu, đừng pha trò nữa!

        Thế là chấm dứt chuyện hỏi han. Tất cả cặm cụi đi...

        Trời tối om. Cuộc sống của rừng bấy giờ mới bắt đầu sôi động bởi những hoạt động của những loài chim, loài thú ăn đêm. Đã nghe thấy những tiếng hú, rồi những tiếng tác của nai, tiếng đập cánh của bọn lông vũ... còn tôi thì cũng đã  nghe thấy tiếng của mình thở không bình thường. Những bước chân đã  cảm thấy nặng, không muốn nhấc cao nữa. Đúng là mệt thật!

        Tôi vừa thở dốc vừa hỏi chiến sĩ người Thái:

        - Còn xa nữa không cháu?

        - Không xa đâu! Sắp đến rồi ạ!

        Lát sau thì tôi hiểu cậu chiến sĩ này rất khéo động viên chúng tôi và là người rất tâm lí. Lúc ấy chỉ cần hé lộ một chút về chặng đường đến đích còn xa và khó khăn hơn thì có lẽ tình hình sẽ khác, tư tưởng sẽ chùng xuống và rất dễ... bỏ cuộc. Đằng này thì khác. Chúng tôi lại hăm hở bước. Để xua tan sự im lặng trong đêm tối, tôi lại lên tiếng:

        - Năm nay cháu bao nhiêu tuổi rồi nhi?

        - Cháu 22 rồi ạ!

        Tôi giật mình. Vậy là mình hơn cậu ấy tận 46 tuổi. Thảo nào mà những bước chân của cậu ấy di chuyển nhanh nhẹn thế. Chuyến đi này đúng là sự bốc đồng của chút tuổi trẻ còn sót lại trong mình thật. Thấy tôi im lặng, cậu chiốo sĩ hỏi lại:

        - Vậy chú bao nhiêu tuổi ạ?

        - Tớ hơn cậu có 46 tuổi thôi!

        - Ôi, thế là bác hơn cả tuổi bố cháu rồi! Thế bác kia ạ?

        - Bác ấy cũng thế!

        - Tuổi cao như vậy mà hai bác còn trèo được thế là khỏe đấy. Cách đây mấy ngày, cháu dẫn một đoàn đi mà nhiều thanh niên phải bỏ cuộc đấy, chưa trèo được lên đến chỗ mình đang đứng đây đâu!

        - Quân đội rèn luyện các bác đấy!

        - Đúng các bác là cựu phi công tiêm kích có khác!

        Tôi không trả lời thêm, lặng lẽ bước. Đi cũng đã  lâu mà vẫn thấy rừng dày đặc, tôi thấy sốt ruột, lại hỏi:

        - Còn xa nữa không?

        - Sắp đến rồi mà!
 
Lần này thì tôi không hỏi thêm gì nữa vì biết có hỏi cũng thế thôi, chỉ thêm mất sức. Tôi được bố trí lúc thì đi ở giữa, lúc lại đi sau cùng vì tôi không có đèn pin. Ba người chỉ có 2 chiếc đèn: một của cậu chiến sĩ, một của anh Trần Văn Năm nên không thể đi nhanh. Sự chuẩn bị sơ sài và chủ quan tai hại là thế. Mãi rồi cũng thấy một khu hưng hửng sáng ở phía xa, cậu chiến sĩ biên phòng nói:

        - Chỗ ấy là đỉnh đấy! Cột mốc ở đấy!

        Nói thì gần thế thôi chứ chúng tôi còn phải chật vật một thời gian dài nữa mới lên được tới nơi...

        Đỉnh của A-pa-chải là đây! Cột mốc "không số" là đây! Cả ba chúng tôi ngồi phịch xuống chân cột mốc.

        Nghỉ đã ... Thở đã ...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2020, 06:38:33 am

        Khi "hoàn hồn" rồi, tôi lại có ý nghĩ kỳ quái là "đánh dấu" nơi mình đến theo kiểu của chó sói. Tôi rủ anh Trần Văn Năm thì anh bảo anh không... "buồn", còn cậu chiến sĩ thì nói là đã  "xử lí tình huống"... lúc gần lên đến nơi rồi. Vậy là mình tôi lẳng lặng... "tưới" xung quanh cái khối vuông, ra vẻ khoái trá lắm.

        Xong cái động tác "đánh dấu", bắt đầu chụp ảnh để khẳng định mình đã  đến đây. Lúc bấy giờ mới chưa đến 7 giờ chiều mà trời đã  tối lắm. Mây giăng kín trời và rừng rậm đã  không cho chút ánh sáng nào của buổi hoàng hôn lọt xuống được nơi đây. Chúng tôi như ngâm mình trong biển sương. Đành lấy đèn pin rọi vào mặt để chụp. Người ngồi chụp cũng mệt mà người đứng bấm máy cũng chẳng khỏe khoắn gì hơn. Vậy mà vẫn hét nhau:

        - Chuẩn bị chụp nhé! Cười lên nào!

        - Hết hơi rồi, không cười được đâu! Cứ chụp nguyên trạng như vậy kẻo sau này lại bảo là "diễn"! - tôi nói như hụt hơi.

        - Nào, thế thì chụp vậy!

        Chụp thì chụp thế thôi, có ai để ý đến chuyện phối cảnh hay ngắm nghía, tạo dáng gì đâu. Khi về đến Trạm, cho mấy anh em xem trên máy và nhất là sau khi rửa thành ảnh mới thấy mình như bị chết trôi mấy ngày dưới suối được kéo lên bờ. sắc mặt nhợt nhạt, ủ rũ... Nói chung là chẳng giống ai. Nhưng mà, đấy mới là mình lúc bấy giờ với sự thật 100 phần trăm.

        Nếu cột mốc ở Mũi Cà Mau nằm sâu ở dưới đất, được bao quanh bằng lồng kính ở phía trên thì cột mốc ở đây sừng sững đứng trên đỉnh núi. Chừng như còn to hơn cả cột mốc ở Lũng Cú. Đấy chỉ là nhận xét của cá nhân tôi thôi. Để xây được cột mốc này phải tốn tiền tỉ vì từ hạt cát, hạt xi- măng, giọt nước... đều phải cõng từ dưới chân núi lên. Thật tốn công tốn của vô cùng mới có được ’ điểm đánh dấu của biên giới quốc gia.

        Từ cột mốc "không số" này dọc theo biên giới Việt - Trung, bắt đầu đánh dấu từ số 1 trở đi, cứ mốc lẻ là ta xây, mốc chẵn bạn xây. Với biên giới Việt - Lào cũng tương tự như vậy. Đủ biết việc đánh dấu chủ quyền bằng những cột mốc biên giới tốn kém đến nhường nào...

        Đứng trên cột mốc nơi tận cùng phía Tây Bắc của Tổ quốc mới thấy thiêng liêng làm sao. Cũng giống như khi tôi đứng bên cột mốc trên cột cờ Lũng Cú, tôi cứ tự hỏi không biết bao nhiêu người đã  ngã xuống để giành giật được điểm chốt này từ xưa tới giờ và từ bây giờ về sau, liệu có còn sự giành giật, còn sự đổ máu nào cho vùng lãnh thổ nữa hay không. Việc mở mang, lấn chiếm đất đai, lãnh thổ có phải là ý nguyện của dân thường hay chi của những nhà cầm quyền... và nhiều nhiều vấn đề khác nữa...

        Tính riêng thời gian leo dốc, chúng tôi đã  "ngốn" mất gần 4 tiếng đồng hồ rồi. Khi xuống sẽ thế nào đây vì trời ngày càng tối, đèn pin chỉ có 2 chiếc, lại không dám sử dụng liên tục sợ hết pin. Lúc lên còn đang khỏe, đang hăng, khi xuống vừa mệt vừa đói, vừa khát... chẳng biết thế nào mà lần, nhưng không thể không xuống núi...

        Bên phía đất Trung Quốc, họ làm đường lên cột mốc khá đàng hoàng: lối đi có tay vịn bằng thép và các bậc được làm bằng chất liệu com-po-zit. Biết rằng "nhảy" sang đó mà đi sẽ đỡ mệt hơn nhiều nhưng không dám vì vi phạm biên giới quốc gia dễ bị ăn đạn lắm, mà rồi còn gặp rất nhiều phiền toái về sau này. Ước ao không biết bao giờ bên mình mới có được những bậc đi như vậy.

        Lên dốc có kiểu vất vả của lên dốc, xuống dốc cũng vậy. Đường xuống trơn, dễ ngã hơn, giày của chúng tôi lại là loại giày thể thao trên sân ten- nit, đế phẳng không gai, độ bám kém nên không ngã mới là lạ. Hơn nữa, lúc xuống không còn thấy lối mòn đâu cả vì lợn rừng đã  dũi, đã  cày xới, san bằng hết. Đã  gian nan lại càng gian nan.

        Cậu chiến sĩ biên phòng liên tục nhắc chúng tôi: "Đừng ngã sang phía vực nhé!".

        Khi đi lên, phía vực bên tay trái, khi xuống, vực sẽ ở bên phía tay phải, nếu "có gì" nhớ phải đổ sang phía tay trái, phía tà-luy dương còn tạm được, bằng không thì...

        Tôi và anh Trần Văn Năm không biết ai ngã nhiều hơn ai, nhưng chắc không ai dưới ba chục lần. Cứ nghe thấy tiếng "Ây à" hay "Ốp pà" thì hoặc tôi hoặc anh Năm lại "vồ ếch", có đoạn "vồ" đến mấy lần liền.

        Cũng chẳng ai thèm để ý đến chuyện mình bẩn thỉu, lấm lem thế nào nữa, chỉ chăm chắm vào bước chân làm sao bước cho vững thôi. Chiếc gậy chống khi lên dốc bây giờ chống xuống dốc làm tay phồng dộp. Đi ba chân vậy mà vẫn ngã như thường. Cậu chiến sĩ người Thái hình như không bị ngã lần nào. Tuổi còn trẻ, hoạt bát, nhanh nhẹn, hơn nữa hầu như ngày nào cũng đi thành thói quen và giày cũng được trang bị loại có đinh như giày của cầu thủ bóng đá... đă giúp cho người dẫn đường của chúng tôi tránh được những cú "vồ ếch" bất đắc dĩ.

        Khi lên dốc còn lo sợ gặp rắn rết, thú dữ... Khi xuống dốc, tất cả chỉ tập trung vào việc bước thế nào để không ngã và nếu nhỡ có ngã thì phải đổ người sang phía sườn núi. Chắc xuống được tầm nửa chặng đường, chúng tôi đứng giải lao một chút. Phải đứng vì chẳng có chỗ nào có thể ngồi được cả. Tôi hỏi cậu chiến sĩ:

        - Này, nhỡ ra tớ bị lăn sang bên phải thì thế nào nhỉ?

        - Chắc bác cũng chỉ rơi độ 6-7 mét là mắc cây thôi, chưa xuống hẳn dưới vực đâu!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2020, 03:18:17 am

        Nghe câu trả lời hồn nhiên của chàng trai mà tôi sởn gai ốc. Rơi xuống 6-7 mét coi như rơi từ nhà hai tầng xuống đất còn gì, mà mắc vào cây nằm ở đó đợi hai bác cháu nhà anh Năm về đến Trạm thông báo rồi lại đợi lực lượng cứu hộ lên chắc phải đến tận sáng hôm sau. Thời gian mắc kẹt trong đêm mình sẽ làm gì, những gì sẽ xảy ra tiếp sau đấy?. "Họa vô đơn chí" mà! Tôi lắc đầu xua những ý nghĩ vớ vẩn ấy đi và lập tức trượt chân làm cái "oạch", tỉnh hẳn người. Không được nghĩ ngợi nữa. Phải tập trung vào từng bước chân. Tôi cứ lẩm nhẩm như vậy suốt chặng đường. Bỗng cậu chiến sĩ người Thái nói:

        - Các bác đứng ở đây đợi cháu nhé. Hình như ta bị lạc đường!

        Nói rồi cậu bước chéo sang một bên và mất hút trong bóng đêm dày đặc. Phải mất đến mươi phút không thấy cậu ta quay lại. Tôi nghĩ bụng: "Hay là cậu ta quăng bọn mình ở đây, "bỏ của chạy lấy người" chăng?". Rồi lại tự mắng mình: làm gì có chuyện ấy được!

        Kiểu lạc đường giữa rừng vào lúc đêm tối thế này tôi chưa được trải nghiệm bao giờ. Lát sau thấy ánh đèn pin lướt đến và tiếng nói hồ hởi: "Ta đi đúng đấy!".

        Mừng quá!

        Điện thoại hầu như không sử dụng được vì không có sóng. Cái "anh" Vinaphone thì chịu chết rồi, chỉ còn nhờ vào Mobiphone hoặc Viettel mà thôi, nhưng hai "anh" kia lúc này cũng... tịt ngóm.

        Khát nhưng không còn gì uống, đói nhưng chẳng có gì ăn. Tôi mệt rũ. Bữa trưa toàn nâng cốc, nâng chén chúc nhau, ăn được mấy đâu. Trong trạng thái chưa tỉnh hẳn đã  leo dốc. Mà cái trò uống rượu chếnh choáng rồi đi dốc thì nhanh mệt và phí sức lắm. Biết vậy nhưng làm thế nào bây giờ. "Đâm lao phải theo lao" thôi!

        Cũng may, đi được một đoạn nữa, tôi liên lạc được với anh Tiến. Tính giờ áng chừng chúng tôi xuống gần hết dốc, anh "phi" xe lên nhưng đợi mãi chẳng thấy tăm hơi gì, gọi điện thoại chi thấy tiếng ò e í... "ngoài vùng phủ sóng". Bóng đêm phủ mịt mùng, không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối, không tiếng muỗi kêu, không tiếng côn trùng rỉ rả, gió cũng lặng như tờ...

        Khi gặp chúng tôi, anh Tiến mới nói cái cảm giác chờn chợn lúc một mình giữa chốn hoang vu của vùng biên ải mà rồi không rõ số phận của chúng tôi thế nào nữa. Anh không dám ngồi trong xe, bước ra ngoài cũng sợ nốt thành thử "tiến thoái lưỡng nan", tới khi nghe điện thoại thấy tiếng tôi gọi thì mừng quá. Tôi nhờ anh bật đèn pha ô-tô lên để chúng tôi biết hướng mà lần xuống. Anh nói đã  bật nhưng chúng tôi chẳng thấy tí quầng sáng nào hắt lên cả. Có nghĩa là chúng tôi còn ở rất xa, có thể vẫn còn sau núi và sau đến mấy quả đồi cũng chưa biết chừng. Trạm trưởng sốt ruột, cứ mấy phút lại gọi cho chiến sĩ của mình một lần và lần nào cậu chiến sĩ cũng trả lời là sắp về đến nơi rồi để ở nhà yên tâm.

        Lời nói dối thật ngọt ngào và sao mà dễ chấp nhận đến thế. Trong ngữ cảnh ấy nếu nói thật, mọi việc sẽ rối tung lên. Người đang trên núi cũng lo mà người ở nhà càng lo hơn. Tôi cứ gật gù: "Cậu chiến sĩ này có thể liệt vào bậc có thứ hạng trong vai trò ổn định tư tưởng cho mọi người. Giỏi đấy!".

        Đúng là, nói thật khó lắm! Có phải lúc nào cũng nói thật được đâu!

        Chúng tôi cứ lếch thếch đi và vẫn bị trượt ngã như thường. Cái trò khi đã  mệt, đã  đói thì chân cẳng nó cứ run rẩy, chẳng nghe theo sự chỉ đạo của cái đầu. Biết thế mà đành chấp nhận thế...

        Đã thấy lờ mờ khu vực có vẻ quang đặng. Tôi lại gọi điện cho anh Tiến, nhờ anh bật đèn pha ô-tô lên. Lần này thì chúng tôi thấy được vệt sáng của đèn pha, tôi thông báo ngay và cảm nhận được sự phấn chấn của mình. Rồi chúng tôi cũng xuống được đến con đường dưới chân núi, ngược ánh đèn pha di chuyển về phía ô-tô.

        Đến gần xe mới nhìn lại bản thân, mới giật mình: người chẳng còn ra hồn người nữa, mặt mũi nhợt nhạt, từ chân đến đầu lấm lem bùn đất, tóc rũ rượi, bết mồ hôi. Cứ thế này mà bò lên xe thì phải rửa xe bao nhiêu lần mới sạch! Tôi cố gạt bùn đất bám quanh giày, quanh quần áo và sau khi tìm được mấy tờ báo trong xe, trải xuống dưới rồi mới dám ngồi.

        Anh Tiến nhận xét: "Trông các anh thật như đám tàn quân thất trận ấy!". Chắc thảm hại lắm khi thấy cảnh chúng tôi, nhất là tôi chống gậy đi xiêu vẹo trong ánh đèn. Từng ấy tiếng đồng hồ chỉ có leo với trèo, với vật lộn cùng triền dốc, với những cú ngã, cú trượt chân, với đói với khát thì còn ai tươi tỉnh được. Duy nhất chỉ có cậu chiến sĩ biên phòng là còn hồn nhiên thôi.

        Gần 11 giờ đêm, chúng tôi về tới Trạm biên phòng. Tôi đề nghị cho anh em tôi đi lau rửa chút đã  rồi mới vào gặp mặt. Chúng tôi tranh thủ giặt giày, thay quần áo...

        Nước lạnh làm chúng tôi tỉnh táo ra nhiều...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2020, 06:58:38 pm

        Khổ thân mấy anh em biên phòng. Tuần trước mưa lũ, cả quả đồi đằng sau nhà sạt xuống, lấp ngang phía sau nhà. Mấy anh em có được sự trợ giúp san gạt đất đá nhưng chưa được là bao. Vừa canh gác, vừa tuần tra, vừa dẫn khách tham quan, vừa lao động xúc đất đá đổ đi..., mệt mỏi lắm chứ, vậy mà họ vẫn đợi chúng tôi về để cùng ăn cơm. Ngày thường, hơn 5 giờ chiều đã  ăn, mà hôm nay hơn 11 giờ đêm rồi.

        Trước khi ngồi vào mâm, tôi lên tiếng:

        - Thành thực xin lỗi các cháu vì bọn chú đã  để các cháu chờ đợi quá lâu, các cháu bị đói oan vì các chú!

        - Không sao đâu ạ! Thi thoảng chúng cháu cũng vẫn thế mà!

        Thật cảm kích làm sao khi được nghe những câu nói ấy. Cám ơn mấy anh em nhiều lắm!

        Tôi đói run cả chân tay. Tôi có tật xấu là khi đói, tay chân nó cứ run lẩy bẩy, chẳng thể điều khiển được. Sau chừng ba bốn chén rượu “tẩy trần", người mới hoàn hồn, bấy giờ mới bắt đầu có sự vui nhộn, một cuộc vui “vô tiền khoáng hậu", nào hát nào đọc thơ, nào giao lưu qua lại, nào bắt tay, uống kiểu khát vọng...

        Không khí vùng biên ải gần giữa đêm tưng bừng, náo nhiệt hẳn lên. Bỗng anh Tiến nói với tôi:

        Ở đây anh em còn trồng được cà-rốt, củ nào củ ấy to lắm, mọc trồi lên cả mặt đất đấy!

        - Ô, hay quá! Vậy thì nhổ cho xin vài củ để nhắm rượu đi!

        Khi "cà-rốt" được đem vào, tôi nhận ra đấy là củ cải đỏ. Tôi lấy dao cắt từng khoanh và hướng dẫn cách chấm muối làm "mồi nhắm". Mọi người uống rượu và nhắm với củ cải đỏ thích chí lắm vì chưa ai làm như thế bao giờ.

        Cuộc vui nào rồi cũng phải đến lúc kết thúc. Trạm trưởng tuyên bố:

        - Thôi, tối nay ta dừng ở đây để các bác còn nghỉ ngơi, sáng mai xuôi Điện Biên!

        - Sáng mai gì nữa! Bây giờ đã  hơn 3 giờ sáng rồi còn gì!

        Mọi người lúc đó mới xem đồng hồ. Đúng là hơn 3 giờ sáng rồi thật. Chúng tôi về phòng sắp xếp lại đồ đạc. Hai anh Năm và Tiến tranh thủ ngả lưng, còn tôi ngồi lọ mọ viết những gì cần viết. Chừng hơn tiếng đồng hồ trôi qua, tôi pha ấm trà uống cho ấm bụng, cho tỉnh táo trước lúc lên đường.

        Cuộc chia tay thật bịn rịn. Mới gặp nhau đấy thôi mà như đã  quen, đã  hiểu nhau từ lâu lắm rồi. Mới biết nhau thôi mà như đã  là người tri kỷ. Mấy anh em ở Trạm biên phòng muốn giữ chúng tôi tới hôm sau để còn đi chợ đường biên, cho biết chợ biên giới nơi cửa khẩu này thế nào, có khác biệt gì so với các chợ biên giới khác hay không, nhưng vì công việc nên chúng tôi không ở lại được, đành phải hẹn khi khác... Vậy là những cái bắt tay thật chặt, những cái ôm thật ấm nồng thấm đượm tình cảm miền biên ải được thể hiện thay cho những lời nói...

        Tôi bỗng rưng rưng trong câu: "Hẹn thế nào cũng có ngày trở lại..". Đấy không phải là lời hẹn mà là một lời hứa, một lời thề thốt phải thực hiện bằng được...

        Xe lăn bánh.

        Anh em ở Trạm đứng vẫy cho tới khi chúng tôi khuất hẳn sau khúc cua.

        Chúng tôi bắt đầu nhắc lại từng kỷ niệm, rồi "kiểm điểm" lại chuyến đi. Chuyến đi thật mạo hiểm vì sự ngẫu hứng, bốc đồng kiểu manh động. Chưa một ai tìm hiểu cho đến nơi đến chốn cái mục tiêu mình đặt ra và các biện pháp cần thực hiện mục tiêu ấy thế nào đã  vội vã  ra quyết định rồi. Rất may là mọi chuyện suôn sẻ. Giả dụ một ai đó chỉ cần trượt chân, cho dù không lăn xuống vực nhưng chi sái chân, bong gân thôi, không thể đi được nữa thì việc khiêng nhau, cáng nhau thế nào giữa nơi rừng già, không đường sá vào lúc đêm hôm như thế đã  "ốm đòn" rồi chứ đừng nói gì đến những chuyện to tát khác nữa. Anh Tiến cứ nhắc đi nhắc lại: "Ân hận nhất là để hai bác đi một mình, nhỡ có "thế nào" thì chẳng biết phải giải thích ra làm sao!".

        Nhưng tất cả đã  qua, đã  ổn. Tôi lẩm nhẩm hát: "Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa. Núi sâu đèo cao bao khó khấn vượt qua...".

        Qua rồi. Tất cả vượt qua rồi. Giờ là lúc phải đảm bảo an toàn cho tới Điện Biên.

        Nắng đã  lên. Bầu trời cao vời vợi. Gió cũng cất tiếng reo và những đóa dã quỳ bên đường cũng nghiêng ngả theo nhịp vờn của gió... Chúng tôi kể những chuyện vui và những tiếng cười lại cất vang trên chặng đường hoang vắng của miền sơn cước...

        Sau đó mấy năm, khi có dịp ba anh em tôi ngồi uống rượu với nhau, anh Tiến vẫn nói:

        - Tới giờ vẫn ân hận về chuyến đi của các anh, nhỡ mà để xảy ra chuyện gì...

        - Chuyện gì đâu! Chết là cùng chứ gì! Mà chết đâu có dễ. Người xưa vẫn có câu: "Thiên cổ gian nan duy nhất tử!" đấy thôi. Âu cũng là chút bốc đồng của tuổi trẻ còn sót lại. Mà suy cho cùng, đấy cũng là lần kiểm tra "sức bền vật liệu" của hai anh em tôi thôi mà! - tôi vừa cười vừa trả lời.

        - Không thế thì làm sao có chuyến đi lịch sử được! - anh Trần Văn Năm tiếp lời.

        Đúng! Nhìn một góc độ nào đó với cá nhân chúng tôi thì đấy đúng là "chuyến đi lịch sử" thật! Những ai đã  từng một lần trải nghiệm như hoàn cảnh của bọn tôi mới thấm.

        A-pa-chải! Cái tên cứ ngân vang mãi trong tôi. Miền đất cứ ám ảnh tâm trí tôi với những gì rất thiêng liêng mà gần gũi. Chuyến đi như là vội vã  vậy thôi nhưng in đậm trong tôi bao dấu ấn không thể phai mờ và luôn thôi thúc, kêu gọi tôi trở lại.

        Tôi thầm nhủ: "Tôi sẽ trở lại A-pa-chải, sẽ lại lên đỉnh của A-pa-chải, lên cột mốc "không số". Sẽ lại gặp lại những người lính biên phòng ở Trạm biên phòng... Đấy là niềm tin, là lời hứa và là niềm mong ước!"...

        Gần đây, tôi gọi điện thoại cho Trạm trưởng biên phòng ở A-pa-chải hỏi thăm tình hình, được Trạm trưởng thông báo mọi việc ở đó vẫn tốt đẹp, cá nhân Trạm trưởng đã  chuyển đến nơi công tác mới, về gần phía Điện Biên rồi.

        Khi thấy tôi có ý định muốn trở lại A-pa-chải một lần nữa thì giọng phía đầu dây bên kia sôi nổi hẳn lên:

        - Trước khi đi, chú báo cho cháu nhé! Cháu sẽ đi cùng chú trở lại đấy và cùng chú lên núi. Cháu vẫn nhớ các chú lắm đấy! Nhớ chuyến đi của các chú, nhớ bữa ăn tối lúc gần nửa đêm và sách chú tặng cháu, cháu vẫn hay đem ra đọc đấy!

        - Cám ơn cháu nhiều! Chú cháu mình thi thoảng liên lạc với nhau nhé! Hẹn sớm gặp nhau nhé! Nhiều may mắn nhé!...

        Tôi cúp máy mà lòng cứ bâng khuâng. Tôi nghe vang vọng âm thanh của A-pa-chải đang mời gọi, thôi thúc...

        Và tôi bỗng thấy rạo rực khác thường. Hình như chút tuổi trẻ còn lại đang trỗi dậy!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2020, 08:07:04 am

LŨNG CÚ, MÃ-PÌ-LÈNG

        Tôi vừa "làm" chuyến vào Đất Mũi Cà  Mau, ra đến sân bay Nội Bài vào lúc gần 8 giờ tối. Chưa ra khỏi ga đã  nhận được cú điện thoại:

        - Có đi Lũng Cú không?

        - Bao giờ đi?

        - Ngày mai!

        - Mấy giờ xuất phát và đón nhau ở đâu?

        - 5 giờ 30 sáng tại địa điểm X X..!

        - OK! Gặp nhau nhé!

        Tôi cúp máy. Đi thôi! Từ nơi đất mũi của Tổ quốc trở về, nay được "vèo" cái lên cực Bắc của Tổ quốc sao không đi?. Hành trang vẫn nguyên trong ba lô, có phải chuẩn bị gì đâu... Chẳng nhận lời thì sao!...

        Tôi có thói quen: trong ba lô luôn để sẵn mấy bộ quần áo, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, dao cạo râu và một số vật dụng khác để có thể khoác lên vai, đi bất kể lúc nào, tới bất kể đâu, hệt như người lính thời chiến vậy. Cho nên, khi nghe lời "rủ rê" kia là tôi vui vẻ nhận luôn.

        Tôi đến nơi hẹn sớm hơn chừng mươi phút. Chuyến đi nào cũng vậy, tôi không muốn mọi người phải chờ đợi mình nên bao giờ tôi cũng chủ động đến sớm.

        Hơn chục anh em trên chiếc xe 16 chỗ xuất phát từ Hà Nội ngược Tuyên Quang rồi đi Hà Giang.

        Tuyến đường lên Tuyên Quang tôi đã  đi mấy lần rồi. Lần thì thăm sân bay quân sự đầu tiên ở Soi Đúng, nơi ấy từng ghi nhận những hoạt động của Đội huấn luyện Không quân từ năm 1947 đến năm 1951, đánh dấu chặng đường phát triển của Không quân nhân dân Việt Nam. Sau khi chuyển 2 máy bay De Tiger Moth và Moraner Saunier của vua Bảo Đại từ sân bay Bình Ca lên Soi Đúng, ngày 14-9-1949, chiếc Tiger Moth lần đầu tiên in hình cờ đỏ sao vàng đã  cất cánh bay lên bầu trời, đánh dấu sự kiện quan trọng trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, khẳng định chủ quyền tự do trên bầu trời Tổ quốc. Lần khác, tôi lại được đến sân bay quốc tế đầu tiên là sân bay Lũng Cò, một sân bay dã chiến với chiều dài 400 mét và rộng 20 mét. Thời gian làm sân bay chỉ trong 2 ngày với lực lượng 200 người dân của 4 xã xung quanh cùng 1 đơn vị bộ đội. Loại máy bay L-5 của Không quân Mỹ đã  cất hạ cánh chở thuốc men, đạn dược của quân đồng minh giúp ta trong khoảng thời gian 2 tháng, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Hiện nay, chiếc máy bay L-5 vẫn còn được lưu giữ ở đó. Tiếp những chuyến sau là đi "về nguồn", từ Tuyên Quang qua Đại Từ, Thái Nguyên... vì thế, tuyến đường này tôi không lạ lẫm lắm, nhưng từ Tuyên Quang lên Hà Giang thì đây là lần đầu tiên tôi được đi nên tôi chăm chú và hăm hở vô cùng.

        Những tuyến đường ở miền núi luôn có những điểm giống nhau, cảnh vật cũng na ná như nhau, nhưng khi đến vùng cao nguyên đá, mọi thứ khác hẳn hoàn toàn. Đá! Đá thôi là đá!. Những ngọn đá tai mèo như những ngọn thương, ngọn giáo sắc nhọn đâm thẳng từ dưới đất lên, sừng sững trước gió mưa, trước mọi thời tiết khắc nghiệt, thách thức với số phận.

        Trong thời gian chiến tranh năm 1972, một anh trong đoàn bay của tôi khi chiến đấu, gặp nạn đã  phải bỏ máy bay, nhảy dù, "tiếp đất" vào vách đá tai mèo, bị gãy chân, nằm điều trị hàng năm trời nên khi tôi nhìn ngắm những vách đá ở đây, thấy người cứ gai gai. Cho dù vậy, tôi vẫn muốn ngắm cho thật kỹ. Tôi thò đầu qua cửa sổ để nhìn, mấy anh ngồi cạnh thấy vậy lôi ngay tôi vào. Các anh ấy "choáng" trước cảnh tượng mênh mông đá, mà đá đều sắc nhọn, lạnh lẽo đến lạ lùng. Ven đường không có dải bảo hiểm nên nhìn xuống cứ thấy hun hút toàn đá là đá...

        Vậy mà người Mèo ở đây đã chinh phục được đá, đã  gieo trồng các loại cây làm lương thực thực phẩm nuôi sống con người. Những mảnh ruộng bậc thang xen lẫn trong đá tạo những gam màu đặc biệt kỳ ảo. Tôi thích nhất câu nói của người dân ở nơi này: "Phải đè ngửa núi xuống mà cấy chứ!".

        Ý chí, nghị lực của họ thật phi thường. Không chỉ tìm mọi cách tạo ra và canh tác trên những thửa ruộng bậc thang mà trên từng kẽ đá, hốc đá đều được họ gùi đất lên đổ vào và tra hạt ngô. Ngô mọc lên từ đá. Màu xanh nõn nà của ngô làm dịu đi màu xám lạnh của đá tạo nên sự sống, sự yên bình. Chiếc lưỡi cày của người Mèo làm cho đá phải sợ. Nó làm bung được cả đá. Đá được xếp thành bờ ruộng, thành tường, thành bờ rào... Bàn tay của người Mèo là bàn tay của các nghệ nhân. Ngắm những công trình đá ấy mới thật khâm phục tài năng của họ, ý chí của họ... Và rồi những cánh đồng tam giác mạch với những cánh hoa nhỏ li ti cùng sắc màu rực rỡ đã  làm nên điều kỳ diệu thu hút mọi du khách, tạo thành thương hiệu ở nơi đây.

        Cao nguyên đá Đồng Văn sau này được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Đấy là Công viên địa chất đầu tiên của nước ta và là Công viên thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á.

        Cao nguyên đá cách Hà Giang 132 km theo đường quốc lộ 4C với diện tích 2.350 cây số vuông ở độ cao trung bình từ 1.400 đến 1.600 mét. Đấy là nơi chứa đựng các loại hình di sản địa chất, di sản văn hóa và đa dạng sinh học và cũng là nơi sinh sống của 17 dân tộc với nhiều phong tục tập quán, lễ hội khác nhau.

        Vùng núi đá hiểm trở và hùng vĩ ở nơi cực Bắc của Tổ quốc trải dài qua 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn cùng với cảnh đẹp tráng lệ và ấn tượng đã  làm say đắm lòng người.

        Đến Đồng Văn, chúng tôi thăm phố cổ, nơi mang những nét kiến trúc của đồng bào vùng cao và được biết rằng ở phố cổ này có đến hơn 40 ngôi nhà đã  tồn tại từ 100 đến 300 năm, đặc biệt ngôi nhà của dòng họ Lương thuộc dạng lâu đời nhất.

        Nhà của Vua Mèo Vương Chí Sình xây dựng từ đầu thế kỷ XX, mô phỏng theo kiến trúc của Trung Quốc. Nó vừa là định thự đồng thời cũng vừa là pháo đài phòng thủ giữa vùng cao nguyên đá với diện tích hơn 1000 mét vuông. Chỉ tính riêng những chân cột đá được tạc theo hình quả thuốc phiện và dùng một số lượng lớn bạc trắng (bạc hoa xòe) để đánh bóng các chân cột ấy đã  thấy tốn kém vô cùng.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Ba, 2020, 07:06:07 am

        Chúng tôi không đi hết được những nơi cần đến ví như bãi đá cổ chẳng hạn. Nơi ấy, tôi tìm hiểu thấy người ta nói rằng: đấy là quần thể đá có khắc những dấu hiệu có niên đại đến 2.000 năm, đặc biệt có 7 phiến đá lớn và 2 tảng đá cực lớn (cự thạch) trên đó có khắc khoảng 80 hình đa dạng mà các nhà khoa học đang phải mất công nghiên cứu, tra cứu để tìm câu trả lời. Chắc là những chuyến đi sau, nếu có điều kiện, tôi mới có dịp ghé qua. Còn dịp này, vì thời gian có hạn, chúng tôi đành xếp lại địa danh này, dành cho lần khác.

        Chúng tôi phải đến thăm Cột cờ Lũng Cú.

        Cột cờ Lũng Cú ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển. Phía bên trái Cột cờ là thung lũng Thèn Ván, phía bên phải là đầu nguồn dòng sông Nho Quế bắt nguồn từ Vân Nam đổ về Đồng Văn, Mèo Vạc...

        Dòng sông Nho Quế là dòng sông ngắn nổi tiếng chạy dưới chân đèo Mã Pì Lèng. Người ta ví nó tựa như dải lụa màu xanh lam giữa vùng núi non trùng điệp, còn tôi, tôi cho rằng, nó chỉ như một sợi len màu thiên thanh được đan trong tấm thảm rộng mênh mông đến hoang sơ của miền biên ải xen giữa những gam màu xám bạc của đá và những mảng màu úa vàng của vùng đồi núi cằn khô...

        Lá cờ trên Cột cờ Lũng Cú rộng 54 mét vuông, tượng trưng cho 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Mỗi tuần thay cờ một lần vì không chịu nổi cái nắng cái gió ở nơi đây.

        Tôi trèo lên đỉnh cột. Đứng đây nhìn bao quát được cả vùng rộng lớn. Tôi nhớ đến Vị Xuyên, nơi cách đây chưa lâu đã  có đến 4.000 chiến sĩ hy sinh bảo vệ biên giới, bảo vệ chủ quyền Quốc gia. Nơi ấy có những cao điểm ác liệt được gọi là "lò vôi thế kỷ". Nước mắt tôi cứ chảy ròng. Tôi biết, hàng năm, những người lính từng chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên vẫn tụ hội về nơi ấy, cùng hát trong nước mắt "Về đây đồng đội ơi" để tưởng niệm anh linh những người đã  ngã xuống cho sự bình yên.

        Khi tôi ở Trung đoàn Không quân đóng tại Yên Bái, từ 1979, chúng tôi đã  bay tuần tiễu, đã  trực ban chiến đấu trên không, sẵn sàng yểm trợ cho khu vực Xín Mần - Mường Khương- Vị Xuyên -  Thanh Thủy. Tôi quá biết sự ác liệt ở nơi này, nhưng không ngờ nó kéo dài tới tận năm 1989. Nếu tính từ 1979 thì đúng 10 năm tròn. Biết bao nhiêu mất mát, bao nhiêu máu xương đổ xuống trong 10 năm ấy... Làm sao mà tôi không khóc được?. Tôi thì thầm, giàn giụa nước mắt với những lời trong ca khúc "Gặp gỡ đồng đội" của nhạc sĩ Ngọc Khuê: "Đồng đội ơi! Ta về với nhau, ta trở về thăm một thời oanh liệt. Như năm xưa ta vừa mới bên nhau, mười tám đôi mươi, trời xanh biếc trên đầu. Đồng đội ơi! Mãi mãi là tình yêu thương đồng đội, mãi mãi niềm tự hào âm vang trong lòng người. Ta về với nhau, đồng đội ơi! Ta về với nhau, đồng đội ơi!"...

        Những cảm xúc cứ vỡ òa theo từng bước chân, theo từng đoạn đường, để rồi khắc sâu thêm vào trong tâm khảm mình những nỗi niềm, những lời thề thốt, những hy vọng, nguyện ước cho một tương lai tươi sáng...

        Trải qua một đêm trên vùng cực Bắc của Tổ quốc, sớm sau chúng tôi vượt Mã Pì Lèng, theo con đường Hạnh Phúc để xuôi về Hà Nội.

        Mã Pì Lèng với chiều dài 20 km, một trong "Tứ đại đỉnh đèo" của miền Tây Bắc, thuộc xã  Pả Vi, Mèo Vạc, theo tiếng Quan Hỏa là "Sống mũi con ngựa" - với hàm ý "ngựa qua đây cũng phải bạt vía, lạc hơi". Nó chính là vua của các con đèo Việt Nam, là hùng quan số 1 của Hà Giang và là nơi mà các phượt thủ luôn muốn chinh phục bởi từng có câu "Bất đáo Pì Lèng phi phượt thủ" (chưa đến Mã Pì Lèng chưa xứng danh phượt thủ).

        Mã Pì Lèng nằm trong quần thể của Công viên địa chất Đồng Văn - Hà Giang ở độ cao 2.000 mét, trên con đường mang tên Hạnh Phúc nối thành phố Hà Giang với Đồng Văn và Thị trấn Mèo Vạc. Đường đèo bao gồm 9 khúc quanh uốn lượn men theo tường núi dựng đứng, phía dưới là vực sâu hun hút, vừa lãng mạn vừa hùng vĩ khi nhìn xuống dòng sông Nho Quế.

        Dòng sông Nho Quế như chẻ đôi vùng giáp biên: một bên là đỉnh Mã Pì Lèng, một bên là Săm Pun - nơi có cột mốc biên giới và cửa khẩu thông thương từ Xín Cái sang Điền Bồng của Trung Quốc.

        Cung đường Mã Pì Lèng cùng vực sâu Nho Quế - hẻm vực sâu nhất khu vực Đông Nam Á với chiều sâu khoảng 800 mét là hai đỉnh điểm mà ai đến đây cũng thấy choáng ngợp và ngất ngây đến nao lòng. Những đám mây, những vạt nắng thoắt ẩn thoắt hiện trên đỉnh đèo mang, đầy tính chất huyền bí. Khi đứng trên đỉnh đèo, bỗng thấy mình quá bé nhỏ và choáng ngợp trước phong cảnh núi sông hùng vĩ. Tôi chợt nhớ đến ca khúc "Vượt núi" của nhạc sĩ Hoàng Vân:

        "... Đường qua Trường Sơn, đường Mã Pì Lèng
        Ngọn Hoàng Liên Sơn khó mấy cũng qua
        Ngọn Tây Côn Lĩnh khó mấy cũng vượt
        Nhìn về phía xa núi vẫn tiếp núi
        Ta vẫn còn đi..."


        Đúng là con đèo ghê gớm thật!

        Để xây dựng được con đường cheo leo trên vách đá và sườn núi dốc mang tên "con đường Hạnh Phúc", đã  có hàng chục ngàn thanh niên thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc nước ta từng miệt mài đục đá, đối diện với mọi hiểm nguy rình rập ròng rã suốt 6 năm trời (từ 1959 đến 1965). Riêng đoạn qua Mã Pì Lèng, một đội quân cảm tử đã  phải treo mình trên vách núi, lấn từng xăng-ti-mét đá một trong vòng 11 tháng liền. Mỗi ngày có đến vài chục người hy sinh khi treo mình đục bức tường của đá. Đấy gần như là "Vạn lí trường thành" của Việt Nam. Hiện nay, trên định đèo vẫn còn một tấm bia ghi lại những dấu ấn trong quá trình xây dựng đèo và tưởng nhớ những người đã  hy sinh để làm nên con đường mang tên Hạnh Phúc này. Có thể đọc được những dòng chữ "... Ngày khởi công: 10-9-1959. Ngày hoàn thành: 10-3-1965. Thành phần mở đường gồm...". Những dòng ngắn gọn, cô đọng thế thôi nhưng thấm đẫm bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của những thanh niên xung phong trong 6 năm liền.

        Nhiều con đường khác nữa trên đất nước này, nhất là trong giai đoạn chiến tranh cũng như vậy.

        Dọc đường về Hà Nội, hồn tôi như đã  neo gửi lại xứ sở miền cực Bắc của Tổ quốc. Tôi thấy thời gian của chuyến đi quá ngắn, quá gấp gáp. Tôi rất muốn quay trở lại để thêm một lần nữa được cùng sống với những người dân ở nơi đây - những người "sinh ra từ đá, sống trên đá và chết vùi trong đá", để cảm nhận được sự bình yên và hạnh phúc thật bình dị trong cuộc sống vô thường...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2020, 07:26:27 am

CÁI MƯA, CÁI NẮNG, CÁI GIÓ

        Tôi gặp trận mưa rừng đầu tiên trong chuyến đi làm nhiệm vụ chuyển gần trăm ống dẫn dầu từ sân bay Nà Sản - Sơn La về Sư đoàn. Khi đi thì chẳng sao, tất cả đều thuận lợi trong khung cảnh trời quang mây tạnh, nhưng tới lúc về gần đến Mãn Đức, bỗng dưng tối sầm. Tôi cùng ba anh em nữa ngồi trên chiếc xe "ZIN" ba khoang do Nguyễn Văn Khánh lái bắt đầu thấy lo lắng. Cái điềm này báo trước cho ta biết chẳng mấy chốc nữa mưa sẽ ập xuống trắng trời cho mà xem, trời lại xế chiều rồi nên nhiều thứ phức tạp sẽ kéo đến lắm.

        Tôi động viên lái xe và anh em cứ bình tĩnh, cốt sao đảm bảo an toàn. Vừa dứt lời, lập tức nghe tiếng sấm và những đợt gió thổi ào ạt kéo tới luôn. Mây đen kịt và xà thấp như với tay là tóm được. Xe phải bật đèn pha mới nhìn thấy đường. Tiếp ngay đấy là mưa sầm sập trút, không hề có "dự báo dự lệnh" gì hết. Những giọt mưa to và nặng quất rào rào vào xe. Khổ thân chiếc gạt nước đã  làm việc hết tốc lực mà hầu như chẳng ăn thua gì, kính xe vẫn mờ nhòe nhoẹt. Những tia chớp kèm theo những tiếng sấm ngay tắp lự làm cả vùng rừng núi vốn yên ả phải rung lên liên hồi. Mấy anh em tôi trên xe cũng run bần bật. Tôi là người vốn thích mưa từ tấm bé. Những trận mưa rào luôn gắn với những kỷ niệm của tuổi thơ tôi: nào là đi úp cá chép vật đẻ, nào là bắt cá rô ngược dòng nước hoặc chỉ là để trần truồng tắm nước mưa, la hét giữa trời mưa cho thỏa chí mà thôi, nhưng chưa bao giờ tôi bắt gặp trận mưa kinh khủng như thế này. Cả vùng rừng núi mênh mang đang sáng sủa như vậy mà bỗng dưng chìm ngay trong địa ngục tối tăm cùng với những tia chớp sáng lòa và những tiếng nổ đinh tai nhức óc kèm theo những dòng mưa xối xả, những ngọn gió quất ràn rạt tứ bề không biết khi nào mới ngớt, chẳng khác gì cảnh trong "Ngày tận thế".

        Mấy anh em tôi trên xe không biết né vào đâu. Tất cả đều "ướt như chuột lội" vì xe đâu có được như xe hiện đại thời bây giờ. Trên xe lại còn đủ thứ quà, đủ thứ mọi người gửi mua nữa chứ: nào nấm hương rừng, mộc nhĩ rừng, chè núi, gạo nếp nương, đỗ tương đen...

        Kiểu này chẳng biết rồi sau cơn mưa sẽ thế nào, kể cả chúng tôi.

        Liên tục phải động viên lái xe đi cho an toàn và cùng "căn đường" giúp cho lái xe bởi nước mưa tràn ngập trắng đường, tầm nhìn rất kém, dốc đèo quanh co, nhất là khu vực dốc Cun. Vượt qua tất cả các dốc, về đến thị xã  Hòa Bình rồi mà mưa vẫn không hề dứt, nghe chừng cường độ có khi còn tăng hơn nên tôi động viên Nguyễn Văn Khánh cố gắng "tiến về đồng bằng" để nhỡ có vấn đề gì còn dễ xử lí.

        Khá khuya chúng tôi mới đến thị xã  Hà Đông, ở đấy thi thoảng mới thấy có một cửa hàng còn mở, tôi đề nghị dừng xe, kiếm chút gì ăn cho ấm dạ bởi suốt từ trưa tới giờ dạ dày vẫn trống không, nhưng mấy anh em không đồng ý, người thì bảo ta đang ướt át, bẩn thỉu lấm lem thế này vào nhà hàng có mà người ta chạy hết, người thì bảo về Sư đoàn có bao xa nữa đâu, cố tí là xong, ừ, vậy cố thì cố thôi. Thế là xe cứ rù rì chạy trong mưa gió và chúng tôi trên xe cứ run lập cập vì đói và rét...

        Ngày ấy là ngày cầu Thăng Long vừa thông xe kỹ thuật nên chúng tôi quyết định "phi" qua cầu. Hai bên thành cầu vẫn còn buộc những lá cờ chuối bay phần phật trong mưa gió. Đến giữa cầu, tôi lệnh dừng xe và tất cả xuống xe. Mọi người không hiểu chuyện gì xảy ra. Tôi nói vui: "Hãy tè ở đây đi, tè để kỷ niệm chuyến đi và kỷ niệm ngày này, biết đâu ngay ngày mai thôi là ta chẳng còn có cơ hội nào nữa, chẳng còn gặp nhau được nữa!". Tất cả nghe theo tôi, cùng "xả lũ" ở giữa cầu, giữa cơn mưa còn đang trút xối xả...

        Về đến Sư đoàn bộ, trời đã  khuya lắm rồi. Tôi hối thúc những ai có quà hoặc gửi mua quà thì dậy mà lấy kẻo ngày mai mộc nhĩ rừng sẽ nở to như cái quạt nan, nấm hương thối không còn hương nữa, gạo nếp nương sẽ mốc, đỗ tương nứt nanh...

        Lại ầm ỹ trong mưa mất mấy chục phút rồi mấy anh em tôi mới được tắm qua, thay quần áo khô và tới lúc ấy mới kiếm chút gì đó cho vào bụng...

        Kể từ lần đó, tôi rất gờm và cảnh giác với những trận mưa rừng.

        Trận mưa tôi gặp sau đó một thời gian là khi tôi đi công tác lên Điện Biên. Chúng tôi dừng xe ăn trưa ở Yên Châu, vừa xong bữa thì trời nổi gió, mây kéo đến rất nhanh và tôi cũng hối hả thúc thanh toán và lên đường vì đã  có những giọt mưa đầu tiên rơi xuống kiểu không bình thường, báo hiệu trận mưa này sẽ là trận mưa dữ dội. Mọi người thắc mắc sao không nghỉ chút đã , sau mưa rồi hãy đi, nhưng tôi không nghe. Tất cả vừa vào xe xong, đúng như là có những thùng nước khổng lồ dội từ trên trời xuống. Chỉ vài phút thôi mà mặt đường đã  ngập trắng xóa. Mấy con suối trước đầy nước chỉ chảy róc rách, bây giờ đã  trào tuôn như thác, bọt bắn tung trắng ra cả mặt đường...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2020, 05:56:08 pm

        Bấy giờ tôi mới giải thích, nếu không đi ngay, đường sẽ sạt lở và mình sẽ phải nằm lại đây ít nhất là dăm ngày. Không những không thực hiện được nhiệm vụ mà rồi chẳng có cái gì để nuôi nhau trong những ngày ấy nữa.

        Đúng như vậy. Xe chúng tôi qua chưa được bao lâu, tuyến đường trên đèo Chiềng Đông bị mưa làm sạt một đoạn dài. Mấy ngày sau, khi chúng tôi từ Điện Biên về, đoạn sạt lở ấy mới san gạt được một lối nhỏ đủ cho thông xe một chiều. Bấy giờ mọi người mới thông cảm cho sự hối thúc của tôi khi đi...

        Trên tuyến đường Tây Bắc, tôi còn gặp nhiều trận mưa nữa nhưng đều vượt qua được một cách an toàn để rồi khi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn như cảm nhận được tiếng gió rít, tiếng sấm ầm vang và tiếng những giọt nước mưa quất xối xả cùng không gian âm u tĩnh mịch của núi rừng...

        Nhớ đến mưa rừng là tôi lại nghĩ ngay đến cảnh đi vớt củi rều. Làng tôi cách sông Hồng không xa lắm nên vào mùa mưa lũ, những cây những cành củi, những loại quả trên rừng, nhiều nhất là quả bàm bàm, thậm chí cả cột nhà trôi thành bè từ miền ngược về. Mọi người í ới gọi nhau đi vớt những thứ đó về phơi để đun nấu. Loại "tạp pí lù" ấy được gọi là "củi rều"!

        Đã  có lần, tôi còn thấy một chú chó cún đứng trên mái nhà tranh trôi theo dòng nước chảy xiết. Chắc chú rất sợ hãi, không biết cuộc đời mình sẽ phiêu bạt nơi đâu và có sống sót hay không... Tôi nhìn theo chú cún mà lòng buồn vô hạn. Cứ nghĩ nếu mình đang ở trong tình cảnh ấy chắc cũng đành phó thác mình cho số phận thôi. Liệu có dạt được vào một bến bờ nào đó, được ai đó cưu mang hay cứ thế trôi tuột thẳng ra cửa biển làm mồi cho Hà Bá...

        Người xưa vẫn nói: "Nhất Thủy, nhị Hỏa, tam đạo tặc!" quả không sai, nhất là giờ đây, con người - tàn phá rừng một cách vô tội vạ thì rồi sẽ còn phải hứng chịu những hậu quả khôn lường do chính mình gây ra...

        Đấy là cái mưa, còn nói đến cái nắng, cái gió thì phải tính từ tháng Ba dương lịch trở đi vì tháng Ba là tháng bắt đầu có gió Tây - gió nóng thổi từ phía bên Lào sang. Bầu trời như cao hơn, không gọn mây và màu trời cũng không xanh trong, nó hơi đùng đục. Cái nắng mang theo cái nóng ta có thể cảm nhận được ngay từ sáng sớm. Càng gần trưa, nắng càng như đổ lửa xuống rừng, xuống núi. Nắng làm cháy táp các lá cây. Tất cả như bị nhúng nước sôi. Mặt đường nhựa trở nên mềm dẻo, nghe thấy cả tiếng lốp xe dính nhựa đường lép nhép.

        Những trận gió mang hơi nóng rát rạt thổi ào ạt tới. Không gian chừng ngộp thở. Phía trước mặt như có hơi nước sôi bốc lên làm cho muôn vật nhòe nhoẹt không rỗ nét. Gió thả sức tung hoành, lắm lúc nổi cơn thịnh nộ vô cớ, tạo ra những trận cuồng phong. Gió nóng ném từ trên trời xuống và bốc hất tung ngược lên trời. Tất cả nằm trong vòng xoáy nóng đảo điên. Bầu trời bị hun tưởng cong rộp như miếng bánh đa nướng. Cây cối bất lực rạp mình, oằn lưng gánh chịu hiểm họa. Những tấm lá cọ lợp trên mái lều ven đường dựng ngược lên như đám lông nhím, những mái tôn rung bần bật trong tiếng rên rỉ thảm hại. Bụi thốc mù trời và những cơn lốc xoáy cuốn phăng mọi thứ vào đó trông tựa "hố đen" trong dải Thiên Hà...

        Với cái nắng cái gió như vậy, nếu để đầu trần đi bộ, chỉ vài phút thôi, khi sờ lên đầu, bỏng rát cả tay...

        "Nắng tháng Ba, chó gà thè lưỡi"- tôi chợt nhớ đến câu tổng kết của người xưa và nhớ đến cảnh chó nằm tít trong gầm giường với chiếc lưỡi thè dài, dãi chảy ra, thở hồng hộc, còn gà thì giang đôi cánh với chiếc mỏ há rộng và cái cổ cứ giật giật theo nhịp thở dồn dập.

        Đã  có đôi lần, tôi nói đùa với mấy anh em trong chuyến đi vào đúng ngày nắng nóng: "Cứ há mồm, thè lưỡi ra thở như chó ấy là dịu ngay!". Tất cả đều cười. Cười mà cũng toát mồ hôi hột.

        Với cái nắng này, chỉ phơi ngô phơi sắn, phơi đỗ tương... là hay thôi, nhất lại là ở sân bay Nà Sản, mặt đường băng lát bằng ghi nhôm, chỉ sáng tới chiều tất cả đều khô ròn hết...

        Mọi con suối vào mùa này đều cạn khô. Đất như rang, chuyển thành màu xám bạc. Cảnh vật nhuốm trong gam màu rêu úa như không còn sức sống...

        Tôi nhớ đến câu thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật:... Nước khe cạn, bướm bay lèn đá..". Đúng như vậy thật, trên các dòng suối cạn, các lèn đá, bướm lũ lượt từng đàn với đủ màu sắc đỗ kín mọi nơi. Những đôi cánh mỏng rung rung tạo nên những làn sóng mờ ảo giữa nắng tạo ra nghịch cảnh thách thức với cái gió nóng đang thổi rát rạt.

        Những ngày nắng gió như vậy, nghĩ đến chuyện phải ra đường đã  thấy vã  mồ hôi nhưng những người dân miền núi vẫn đi lại như thường. Tôi vẫn bắt gặp từng đôi vợ chồng người Mèo, hoặc từng tốp để đầu trần đi làm nương, đi chợ hay đi thăm người quen. Họ cứ lầm lũi đi, có người còn cho con vào gùi, địu trên lưng. Mới biết cuộc sống lam lũ đến nhường nào và sức chịu đựng của những người dân nơi đây dẻo dai tới mức nào...

        Cái mưa, cái nắng, cái gió của miền Tây Bắc đã  tạo nên sự khác biệt giữa các vùng miền, mang nét đặc sắc riêng mà ai đã  một lần trải qua cũng khắc đậm trong ký ức, chẳng bao giờ phai mờ...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2020, 09:43:54 am

MỘT VÀI MÓN ĂN “LÀ LẠ” VÀ TỤC NGỦ THỬ

        Hàng năm, cứ vào khoảng tháng Ba dương lịch, khi tiết trời đã ấm, khi cái nắng đã thấy hanh hanh và khi hoa mận, hoa đào đã phai dần là lúc hoa ban nở.

        Dọc ven đường, ven suối rồi khắp rừng, trên các vách núi cheo leo đều ngập chìm trong sắc trắng, một sắc trắng tinh khôi của hoa ban. Tất cả các nhành cây tựa hồ như có hàng ngàn hàng vạn con bướm trắng đỗ kín rung rinh trong nắng, đung đưa nhẹ nhàng theo làn gió núi.

        Màu trắng của hoa ban được ví như sắc màu của sự tinh khôi, trong sáng như vẻ đẹp của người thiếu nữ miền sơn cước. Nó cũng là biểu trưng cho tình yêu thủy chung vĩnh cửu, phóng khoáng và lãng mạn...

        Tôi nghe kể rằng: xưa kia có nàng Khôm xinh đẹp được sinh ra trong một gia đình nghèo khó lại

        yêu chàng Tào Lu xuất thân từ gia đình giàu có. Tình yêu của họ không được chấp nhận, nhất là từ phía gia đình chàng Tào Lu. Vào mùa Xuân, hai người rủ nhau lên chơi ở hang Thẩm Đông Ngoạng (còn gọi là "Rừng Ve" tức hang Thẩm Lé bây giờ). Chàng Tào Lu ít lâu sau bị cảm chết. Nàng Khôm bị ép lấy người khác. Nàng phản kháng mạnh mẽ và tìm cách chạy trốn. Nàng trốn vào rừng, chạy tới lúc kiệt sức rồi chết. Nơi nàng nằm xuống sau này mọc lên một loài cây có hoa màu trắng, hương thơm và mật ngọt. Người dân gọi đó là Hoa Ban.

        Lại còn có truyền thuyết khác về hoa ban. Đó là chuyện tình cảm động của đôi trai tài gái sắc người dân tộc Thái. Nàng là Ban, người con gái nết na thùy mị, múa dẻo, hát hay. Chàng là Khum, giỏi săn bắn, làm nương rẫy...

        Hai người đã  hẹn ước với nhau, thề nên vợ nên chồng. Thế nhưng, khi chàng Khum đi làm ăn xa, nàng Ban ở nhà đã  lọt vào mắt của tên chúa đất. Tên chúa đất quyết bắt nàng Ban về làm vợ. Nàng Ban đã  bỏ trốn, băng rừng lội suối để đi tìm chàng Khum. Nàng đi tới ngọn núi thứ một nghìn rồi mà vẫn không thấy người mình yêu đâu cả. Nàng gục xuống chết vì kiệt sức và tuyệt vọng. Từ chỗ nàng chết sau này mọc lên một loài cây với những chiếc lá trông tựa như hai trái tim lồng lên nhau và rồi cây trổ hoa với những bông trắng hồng như ngón tay người trinh nữ, nhị hoa có màu tím, màu của thủy chung, cánh hoa thì trắng như màu li biệt. Cây đó được gọi là cây Ban.

        Chàng Khum sau khi đi làm ăn xa về không thấy người yêu, lại nghe được tin người yêu đã  bỏ trốn liền vội vã  đi tìm. Chàng đi, đi mãi mà không thấy bóng dáng nàng Ban đâu cả rồi kiệt sức, ngã xuống hóa thành con chim chỉ sống cuộc đời lẻ loi, không bầy đàn, suốt ngày cứ bay trong vô vọng như đang tìm kiếm thứ gì đó. Người ta gọi chim đó là chim Khum.

        Loài chim Khum chi hót khi vào mùa Xuân, lúc hoa Ban nở và sau khi hoa Ban tàn thì chim lại sống trong câm lặng.

        Tôi không biết sự tích nào là chính xác hơn nên cứ chép ra đây để bạn đọc tìm hiểu thêm.

        Cứ vào dịp tháng hai âm lịch (khoảng tháng Ba dương lịch), khi hoa ban nở trắng núi rừng, đồng bào dân tộc Thái vùng Tây Bắc tổ chức "Lễ hội Hoa Ban". Lễ hội này còn được gọi là "Lễ hội Xên Mường". Đây là lễ hội mang sắc thái tâm linh trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Thái với tâm niệm thinh bái "Then" tức vị thần tối cao, rồi thinh bái "nàng Ban" nữ nhân vật huyền thoại tượng trưng cho sự trinh trắng của người thiếu nữ Thái và tình yêu đôi lứa thủy chung, rồi thinh bái ma trời, ma mường, ma núi, ma sông... để giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, lứa đôi hạnh phúc, cuộc sống luôn đầm ấm yên vui...

        Kết thúc lễ hội là tất cả chia tay xuống đồng cày cấy. Dân ca Thái có đoạn:

        "..Muốn chơi thì chơi lúc hoa ban còn hoa
        Đùa thì đùa thời hoa ban còn nhiều
        Lát nữa hoa sẽ tàn
        Con gái có chồng thì bị xích đeo tay, gông đeo cổ, không được đi nữa."

        Hoa ban rừng cùng với khăn piêu, áo cóm... chính là những mảnh ghép của đời sống văn hóa người Thái vùng Tây Bắc.

        Đồng bào dân tộc Thái dùng hoa ban chế biến làm thức ăn, làm phong phú thêm bữa ăn hàng ngày và tạo nên những nét ẩm thực riêng biệt của miền sơn cước.

        Hoa ban có hai loại: trắng và đỏ. Hoa ban đỏ không ăn được, còn hoa ban trắng thì được chế biến thành nhiều món ăn lắm. Có lần, mấy gia đình chúng tôi đến đặt cơm ở một gia đình người dân tộc Thái và đề nghị được ăn những sản phẩm chế biến từ hoa ban. Khi vào bếp xem cách chế biến, tôi nói với em gái người Thái:

        - Em hướng dẫn cho anh biết cách làm những món ăn từ hoa ban nhé!

        - Bây giờ thì chưa được đâu. Lát nữa phải uống đã , mà phải sau 30 chén em mới nói cơ! - em vừa thoăn thoắt xào nấu vừa tươi cười trả lời.

        - Làm sao mà anh uống được 30 chén chứ!

        - Em không biết đâu!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2020, 07:35:19 am

        Tôi băn khoăn. Có thể em nói thực mà cũng có thể nói đùa. Nếu thực thì sau 30 chén, tôi chẳng còn biết giời đất gì nữa, em có nói cũng chẳng nghe thấy gì và cũng chẳng nhớ gì. Mà nếu em đùa, có nghĩa là em chẳng nói đâu. Tốt nhất là tự tìm để biết thôi. Thế là tôi lẩn mẩn tự "trang bị kiến thức" cho mình bằng mọi cách.

        Theo tôi tìm hiểu, hoa ban có thể nấu canh, đơn giản nhất là bằng cách lấy nước luộc gà, nêm mắm muối cho vừa miệng, đun sôi lên rồi thả các cánh hoa ban vào, thế là đã  có món canh hoa ban rồi. Nếu làm nộm hoa ban thì phức tạp hơn, tức là phải đem đồ hoa ban lên cho chín rồi để nguội sau đó trộn với các loại gia vị như giềng, muối, ớt, tỏi, lá mùi tàu, húng, rau mùi, hạt mắc khén cùng với thịt cá suối nướng xé nhỏ và chút tương đặc biệt, trộn tất cả thật nhẹ nhàng, đều tay, đợi chừng 15 đến 20 phút khi tất cả ngấm đều là có thể thưởng thức được.

        Giữa tiết Xuân mơ màng, bên bếp lửa hồng tí tách nổ hoa, được thưởng thức món nộm hoa ban cùng với những chén rượu thơm nồng thì còn gì bằng.

        Đương nhiên, hoa ban còn có thể chế biến theo nhiều cách nữa, tôi chỉ dám mạo muội giới thiệu qua vậy thôi. Hy vọng sẽ được các bạn trao đổi, bổ sung thêm vào danh sách trong thực đơn món hoa ban.

        Một món "là lạ" nữa chính là món rêu đá. Đấy cũng là món đặc sản của người dân tộc Thái và tôi biết ở một số vùng, một số tỉnh ở Thái Lan như tỉnh Loei hoặc Nakhon Rachasima chẳng hạn cũng có món này.

        Cùng với món măng chua, món thịt gác bếp (hoặc thịt trâu hoặc thịt lợn) thì rêu đá là món ăn không thể thiếu khi tiếp khách quý.

        Theo truyền thuyết, có một đôi trai tài gái sắc kia yêu nhau nhưng lại gặp sự cản trở của vị Chúa Đất nơi họ sinh sống. Vì vậy, họ đi đến quyết định là cùng nhau chạy trốn lên đỉnh núi cao. Cô gái xót thương cho thân phận mình, cho tình yêu của mình khóc nhiều tới mức nước mắt tuôn thành suối, thành một dòng nước lớn chảy từ trên đỉnh núi xuống. Cuối cùng, muốn để được sống bên nhau mãi mãi, họ cùng nhau lao xuống dòng nước đó. Cơ thể chàng trai vỡ tan biến thành những mảnh đá, còn mái tóc dài óng ả của cô gái thì biến thành rêu bám trên các mảnh đá ấy.

        Mối tình tuyệt đẹp dẫn đến sự tuyệt vọng rồi tuyệt mệnh... làm day dứt bao thế hệ muôn đời sau.

        Cũng từ đó, món rêu đá hay còn được gọi là "quẹ" trở thành món đặc sản của miền rừng núi Tây Bắc.

        Rêu đá có thời hạn sử dụng rất ngắn, chỉ trong vòng 2-3 ngày thôi. Để lâu thì rêu bị khô hơn, không ngon. Rêu đá thường mọc ở các nguồn nước chảy mạnh, dưới chân thác và bám vào những tảng đá to. Lấy rêu bằng cách đi dọc theo suối, dùng dao tách những mảng rêu bám chặt vào đá rồi đập rêu bằng chày gỗ cho bung lớp đất cát bám bên ngoài, rửa sạch rồi chế biến.

        Rêu đá có thể làm thành các món nộm, xào, nấu canh hay nướng.

        Nếu dùng để nấu canh thì sau khi rửa sạch, cắt rêu thành các đoạn nhỏ, sau đó cho vào nước luộc gà hoặc nước xương hầm là đã  được món canh rêu đá. Còn để làm nộm, rêu thường chế biến với rêu non. Sau khi rửa sạch, đồ chín thì trộn với muối súp, mì chính, gừng, rau mùi, hạt mắc khén và có thể trộn thêm ớt nướng giã nhỏ.

        Nếu làm món nướng sẽ phức tạp hơn nhưng lại đặc biệt thơm ngon. Sau khi làm sạch, rêu đá được tẩm ướp với các loại gia vị như mì chính, gừng, sả, hành, hạt sen... rồi bọc trong lá dong hoặc lá chuối, kẹp giữa hai thanh tre và nướng trên than hồng. Cũng có thể đem vùi trong tro nóng phía trên là than. Rêu nướng thường được ăn kèm với căc loại thịt lợn, gà, cá. Có nơi người ta lại cho rêu đá vào trong ống nứa non thay cho lá chuối bọc bên ngoài rồi đem nướng nên rêu nướng có vị rất đặc trưng, ăn một lần là nhớ mãi.

        Rồi món nộm da trâu của Sơn La cũng là món lạ. Da trâu đem hơ trên bếp lửa cho cháy sạch lớp lông dày và cứng đi sau đó dùng dao cạo bỏ lớp da ngoài cùng, tiếp đến là cho vào nồi luộc khoảng 1 tiếng đồng hồ. Luộc xong vớt ra ngâm vào nước lạnh cho da có độ giòn, dai. Công đoạn tiếp theo là thái thật mỏng. Việc này cần có dao thật sắc và tốn khá nhiều thời gian. Thái xong thì ngâm qua nước nóng, vắt thêm nước chanh cốt để tạo vị thơm. Da trâu lúc này sẽ chuyển thành màu vàng nhạt, có độ giòn, khi cắn nghe sần sật, là lạ.

        Các loại gia vị trộn cho món này gồm có trám rừng, tỏi, lạc rang giã nhỏ, băm nhuyễn cùng với các loại rau thơm, rau rừng, mắc khén, nước măng chua làm từ củ măng tươi ngâm đủ thời gian để cho măng tiết ra chất nước chua mát, thanh thanh.

        Nếu bạn thưởng thức món này một lần thôi, lần sau thế nào cũng đề nghị được thưởng thức tiếp cho mà xem. Chẳng thế mà đã  có câu: "Nộm da trâu, nhai lâu nhớ kỹ" mà!


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2020, 02:21:43 pm

        Còn nhiều, rất nhiều món khác nhau nữa, ví dụ như món "súp Tây Bắc", rồi món cá nướng trứ danh (pa pinh tộp), thịt trâu gác bếp, gà nướng mọi, lợn bản hấp lá chuối, rau dớn xào tỏi mẻ, măng rừng luộc chấm chẩm chéo v.v. mà tôi không thể kể hết được và cũng không đủ thời gian để tìm hiểu hết được nên chỉ điểm qua vài món thế thôi, các bạn sẽ tự tìm hiểu và thưởng thức lấy thì mới thấy hết những thi vị của nó.

        Thực ra, những món "là lạ" tôi kể ở đây chưa phải là những món thật độc đáo.

        Nậm pịa, thắng cố và cháo thuốc độc (cháo ấu tẩu) mới là những món gây ấn tượng mạnh.

        Nậm pịa thì tôi đã  kể ở nhưng trang trước rồi. Bây giờ tôi sẽ kể tiếp mấy món kia.

        Tôi cho rằng, thắng cố là đặc sản ẩm thực. Nếu như nhắc đến Hà Nội là nhắc đến phở thì khi nhắc đến vùng Tây Bắc phải nhắc đến thắng cố.

        Thắng cố là món ăn truyền thống của người Mèo (người Mông) vùng núi Hà Giang, nhưng dần dà, tất cả những người dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc, sau đó sang cả vùng Đông Bắc cũng ưa chuộng. Tiếp đến là miền xuôi, chỉ có điều, dưới miền xuôi chế biến thắng cố theo kiểu hợp với khẩu vị người miền xuôi nên mất đi những nét nguyên bản của thắng cố.

        Tìm hiểu thì được biết, có nhiều cách giải thích về thắng cố. Có ý kiến cho rằng, nó bắt nguồn từ tiếng Hán, đọc theo âm Hán Việt là "thang cốt", nghĩa là "canh xương" hoặc đọc là "thang hoắc" cũng thế. Có ý kiến lại cho rằng đấy là biến âm của "thoảng cố" trong tiếng Mông là "nồi nước", nhưng cũng có người lại nói là "khấu tha" nghĩa là "canh thịt". Việc kết luận chính xác thế nào thuộc về những nhà nghiên cứu.

        Chỉ biết rằng, thắng cố xuất hiện cách đây có lẽ đến gần 200 năm rồi và thắng cố ngon nhất vẫn là thắng cố ngựa ở vùng Bắc Hà, Mường Khương, Sa Pa, Lao Cai.

        Thắng cố nguyên bản được chế biến từ ngựa. Tất tần tật từ đầu đến đuôi cùng lục phủ ngũ tạng đều được sử dụng hết. Sau khi thịt ngựa, thịt cùng nội tạng của nó được làm sạch rồi tẩm ướp cùng các loại gia vị như: thảo quả, hoa hồi, quế chi, sả, gừng, đẳng sâm, ý dĩ, kỳ tử, hạt sen, lá chanh nướng thơm tán nhỏ, ngải cứu v.v.

        Gia vị tùy từng vùng chế biến nhiều hay ít nên cũng có những hương vị khác nhau.

        Chảo thắng cố được đặt kê trên những hòn đá cùng với ngọn lửa hồng nhảy múa, than bắn tí tách. Nước dùng gồm xương ngựa, nội tạng, tiết và gia vị ninh sôi hàng tiếng đồng hồ, liên tục vớt bọt và váng bẩn, sau đó ninh tiếp với lửa nhỏ. Thịt ngựa sẽ được ninh nhừ, có vị ngọt, mềm.

        Tùy theo khẩu vị của thực khách mà có thể thêm ớt của Mường Khương, mắc khén, muối...

        Chảo thắng cố có thể phục vụ cùng lúc mấy chục người ăn, ăn đến đâu múc ra đến đó. Thắng cố được múc ra bát to, sóng sánh thịt nạc thịt mỡ cùng lục phủ ngũ tạng của ngựa còn nóng hổi, khi ăn phải vừa ăn vừa thổi.

        Có thể nhúng thêm các loại rau như cải Mèo, cải ngồng... và ăn cùng mèn mén để ngấm thêm hương vị của núi rừng.

        Lần đầu ăn thử, món thắng cố có mùi vị hơi khó chịu tựa như món nậm pịa, nhưng những lần sau, khi nếm một miếng thịt ngựa rồi một miếng nội tạng của nó thì sẽ thấy hương vị thơm thơm, bùi bùi, ngọt ngọt cộng với vị cay của ớt, vị thơm ngai ngái của các loại gia vị và nhâm nhi với rượu ngô Bắc Hà hay rượu San Lùng nồng ấm, thấm đậm men say giữa tiết trời se lạnh... mới thấy được sự kết tinh những tinh hoa của núi rừng, không thể nào quên.

        Sau này, món thắng cố được biến tấu, chế biến từ bò, trâu, lợn., và các loại gia vị cũng khác loại gia vị truyền thống nên tôi cho rằng những món thắng cố "cải tiến" ấy không thể ngon bằng món thắng cố ngựa nguyên bản.

        Một món nữa mà có người mới nghe thấy đã  sởn gai ốc. Đó là món Cháo thuốc độc (cháo ấu tẩu).

        Củ ấu tẩu thuộc nhóm độc dược bảng A.

        Ấu tẩu mọc trên đỉnh núi Tây Côn Lĩnh, thường được dùng ngâm rượu làm thuốc xoa bóp tay, chân, lưng, vai, các khớp xương, các vết thương kín khi đau nhức nhưng lại được đồng bào dân tộc dưới chân Tây Côn Lĩnh "giải độc", biến thành món cháo giải cảm và là món ăn bổ xương cốt.

        Để làm được nồi cháo ấu tẩu phải chế biến cả ngày trời. Cháo ấu tẩu phải có chân giò lợn, thịt nạc băm với các loại gia vị khác như ớt, hành, tía tô... Nó có vị đắng đắng như vị tam thất, tuy nhiên, khi kết hợp với các loại "phụ gia" kia thì nó lại tạo ra vị ngọt ngọt trong cổ họng, một cảm giác rất lạ miệng.

        Bởi phải ninh cháo suốt cả ngày nên cháo chỉ có bán vào lúc chiều tối tới đêm và theo khuyến cáo của người dân tộc Tày thì trẻ nhỏ với những người dưới 18 tuổi không nên ăn nhiều loại cháo này vì sẽ bị giòn xương.

        Việc "giải độc" củ ấu tẩu thế nào, tôi chưa tiện viết ở đây. Nó cũng giống như chuyện có người cho tôi một số hạt mã tiền và hướng dẫn cho tôi cách tẩm ướp để "giải độc" nó rồi mới ngâm rượu uống. Tôi đã  làm theo, đã  ngâm và uống trong một thời gian dài, thấy rất hay, có tác dụng nên khi nhắc đến cháo thuốc độc, tôi thấy hào hứng lắm.

        Nếu khi nào có điều kiện, vào buổi tối hay buổi đêm nào đó, các bạn cứ thử để trải nghiệm...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2020, 05:10:47 am

        Tất cả các món ăn, món nào cũng được tẩm ướp với rất nhiều các loại gia vị, nhưng theo tôi biết, có một loại mà dưới đồng bằng không thể có được, đó là hạt mắc khén.

        Mắc khén được sử dụng rất rộng rãi, đặc biệt là với những món nướng.

        Nó được coi là linh hồn của ẩm thực miền Tây Bắc.

        "Mắc" theo tiếng Thái là "quả", còn "khén" thì chẳng hề có chữ gì đồng nghĩa với nó cả. Tôi đi hỏi nhưng không ai giải thích được nghĩa của "khén" là gì. Vậy là, ngay trong ngôn ngữ bản địa cũng không có. Bởi vậy, "mắc khén" là một tên riêng và tự nhiên tồn tại như chính bản thân núi rừng hoang dã, bí hiểm nhưng cũng lại thật quen thuộc với con người.

        Cây mắc khén thuộc loại cây gỗ nhỏ, có chiều cao từ 14 đến 18 mét, thân thẳng, vỏ có nhiều gai bọc quanh tựa như cây gạo dưới vùng xuôi, lá kép lông chim một lần lẻ. Nó mọc khắp nơi trên núi rừng Tây Bắc. Mắc khén ra hoa vào tháng 6 tháng 7. Hoa của nó thành từng chùm như hoa xoan, màu xám trắng. Tháng 11 là thời điểm thu hoạch quả. Quả lúc tươi có màu xanh lá cây và ngon nhất là dùng quả khi còn tươi. Nhưng vì có nhu cầu sử dụng với thời gian dài nên người ta bẻ ngay cả chùm rồi đem về phơi hoặc hong khô trên bếp để dùng cả năm. Quả mắc khén màu nâu sẫm, hạt đen óng, mùi vị hơi giống tiêu. Hạt nó cho mùi thơm riêng và ngây ngất. Nó không cay như ớt mà tạo ra vị tê tê rần rần nơi đầu lưỡi khi ta nếm. Khi sử dụng, cho mắc khén rang đều trên chảo, đun nhỏ lửa. Sau khi rang nóng phải để chừng 30 đến 45 phút cho thật nguội hẳn mới đem giã vì nó chứa nhiều tinh dầu. Tôi cũng đã  thấy người ta cho ngay mắc khén vào bát rồi gắp mấy cục than hồng bỏ vào đó lắc đều tới khi có mùi thơm thì bỏ than ra, thổi cho hết bụi, đợi nguội là giã ngay trong bát. Rất đơn giản, gọn nhẹ.

        Ngoài việc dùng để tẩm ướp ra thì mắc khén còn là thành phần quan trọng của món "chẩm chéo" đấy, các bạn ạ...

        Đã  nói đến "đồ ăn" không thể không nói đến "thức uống". Mà "thức uống" của người miền núi thì chính là rượu. Người ta không gọi là "uống" rượu mà là "ăn" rượu. Ăn cơm gọi là "kin khẩu", uống nước gọi là "kin nậm", uống rượu gọi là "kin lẩu". Ăn hay uống cũng đều là "kin". Vậy thì tôi phải đả động một chút về chuyện ăn rượu -"kin lẩu" mới được.

        Nét khác lạ về rượu ở đây chính là rượu cần. Rượu cần được gọi là "lẩu Xá" tức là rượu của người Xá (người Khơ-mú). Đó là thứ rượu được ủ men, không chưng cất (lẩu xiêu).

        Tôi không thật rành về men nhưng chỉ biết rằng nó gồm nhiều thứ quả như quả bơ, mắc cái, củ giềng, lá trầu không, quả ớt và những thứ quả khác nữa. Tất cả được giã nhuyễn với gạo tấm, sau đó nắm thành nắm tròn dẹt như chiếc bánh rán, đem ủ trong đống rơm, xếp thành từng lớp đều nhau. Chừng 15 đến 20 ngày sau, khi có mùi men bốc lên thì lấy ra đem phơi, để trên gác bếp sấy khô. Khi nào dùng thì giã nhỏ rồi rắc vào cơm rượu. Mỗi mẻ rượu cần sử dụng khoảng 7 đến 9 bánh. Cơm rượu không chỉ đơn thuần là cơm như dưới xuôi nấu rượu mà là có lẫn cả trấu. Lần tôi đến thăm nhà một cán bộ ở huyện Mai Sơn của Sơn La, được xem công đoạn cuối, tức là cho cơm rượu vào vò. Tôi được giải thích là trấu cũng phải đem đồ kỹ lên để sát trùng. Sau khi cho "cơm rượu" vào vò rồi thì đổ một lớp trấu sạch lên trên rồi dùng tro bếp giây thật kỹ trộn chút nước cho dẻo đắp lên trên cùng tạo độ kín khi ủ. Cuối cùng mới lấy ni-lông hoặc lá chuối khô, bao xi măng, vải... bịt phía ngoài. Sau thời gian ủ nhất định theo từng mẻ rượu là có thể "kin" được. Khi ấy, dỡ bỏ phần bọc, bỏ phần tro phủ, bốc hết lớp trấu phía trên lớp cơm rượu đi, chọc mấy lỗ xuống tận đáy vò rồi đổ nước suối hoặc nước lọc vào, đợi mấy phút là tiến hành cuộc vui.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2020, 10:03:23 am

        Tùy từng loại vò to nhỏ mà số lượng cần có thể có 4 chiếc, 6 chiếc hoặc hơn.

        Nhìn hình dáng chiếc cần, ta có thể đoán biết được rượu cần ấy xuất xứ từ nơi nào. Ví dụ cần nhỏ mà cong như dấu ngã là ở khu vực Hòa Bình, cần thẳng và to hơn là ở khu Sơn La. Cần thẳng và to hơn nữa là ở Điện Biên. Vậy thôi.

        Khi uống rượu cần thì ít nhất cũng phải "đi một trâu", nghĩa là hai sừng. Trước kia, người ta lấy sừng trâu để đong nước, sau này thì dùng ống tre, ống bương hoặc ca nhựa nhưng nguyên tắc là cứ nhập cuộc thì phải "đi một trâu" tức là phải uống hai "coóng". Người cầm "coóng" cùng lúc đổ hai "sừng" nước xuống vò và người uống phải uống sao cho rượu không được chảy ra ngoài. Nếu để chảy ra ngoài là bị phạt. Cái hay của rượu cần là khi nào cảm thấy nhạt là nhấc cần lên, chọc ra chỗ khác, chỗ ấy thế nào rượu cũng đậm hơn.

        Rượu cần là tượng trưng của sự đoàn kết vì mỗi lần uống đều có 2, hay 4 hoặc 6 người (tùy theo số cần), vui vẻ lắm. Sau khi uống xong bấy giờ mới vào bàn, uống rượu tự nấu đựng trong các chai. Chai nào cũng có một đoạn tre hoặc trúc xoáy chặt vào miệng chai. Phía gần đoạn mấu thì dùi một lỗ nhỏ cốt để người "châm tửu" (rót rượu) không phải nhoài người với ra xa mới rót được. Tôi gọi đấy là "dụng cụ chuyên dùng". Cứ uống hết rượu chai trên bàn thì lại xuống uống rượu cần rồi vào vòng xòe. Cuộc vui chẳng mấy khi kết thúc trước 3-4 tiếng đồng hồ.

        Biết tôi đi nhiều lần qua tuyến đường Tây Bắc, một anh bạn tôi hỏi:

        - Này, ông đi như vậy, ngoài những món ăn không giống miền xuôi ta thì còn có những phong tục nào không giống miền xuôi ta nữa?.

        - Phong tục rồi tục lệ thì mỗi nơi mỗi khác, nhiều lắm, nhưng tôi thấy có phong tục "ngủ thử" là khác với miền xuôi vô cùng.

        - Thế thì có chuyến nào đi, ông cho tôi theo và dẫn tôi đi ngủ thử nhé! Mới nhắc đến thôi mà đã  thấy thích lắm rồi! - anh bạn tôi hồ hởi đề nghị.

        - Đừng có mà giàu trí tưởng... bở! Không như ông nghĩ đâu! - tôi trả lời.

        - Thế là thế nào? - anh bạn tôi băn khoăn thực sự.

        Theo tôi tìm hiểu và được biết thì phong tục "ngủ thử" hay "ngủ thăm", "ngủ ngửi" đều là những phong tục diễm tình nguyên sơ của rừng già. Thoạt nghĩ, ta cứ tưởng họ rất phóng túng, nhưng không phải như vậy.

        Trong văn hóa của một số dân tộc miền núi phía Bắc (như người Dao, người Thái, người Mông, người Mường..) đối với nam nữ đã  trưởng thành cứ từ 13-14 tuổi trở lên mà chưa chồng thì việc "ngủ" đã  trở thành tục lệ trước khi kết hôn, kể cả hiện tượng con trai cạy cửa hoặc chọc sàn nhà con gái để tán tỉnh cũng vậy.

        Khi việc ban ngày tạm dừng, cộng đồng thường tham gia uống rượu cần, diễn tấu cồng chiêng, nhảy múa, hát dân ca... Khi cái chân đã  mỏi, khi men rượu cần đã  thấm cũng là lúc con mắt lim dim hoặc là có nhu cầu tình tự, hoặc là muốn trải lòng mình với những người xung quanh. Lúc bấy giờ là lúc các chàng trai, cô gái ưng nhau bắt đầu tìm cho mình một chỗ để "ngủ thăm", "ngủ thử"... bên cạnh bếp lửa hồng trong ngôi nhà rông, nhà sàn... Ví như người Dao đen Tiền thì có tục "ngủ ngửi" cho quen hơi, người Thái, người Mông, người Mường thì có tục "ngủ thăm". Cho dù là "ngủ ngửi" hay "ngủ thăm", "ngủ thử" thì đấy đều là động tác để mở màn cho việc kết nối lâu dài trong hôn nhân. Ví như với người Mường, trong phong tục lâu đời của họ thì những chàng trai đến tuổi trưởng thành được phép tới "ngủ thăm" nhà cô gái mà họ ưng. Các cô gái lúc tối đến thì đốt một ngọn đèn, coi như là "tín hiệu" cho các chàng trai đến "ngủ thăm". Nếu đèn trong buồng cô gái còn sáng nghĩa là chưa có ai đến "ngủ thăm", chàng trai phải tự cạy cửa mà vào nhà. Sau 5 lần "ngủ thăm", nếu cả hai ưng nhau thì bấy giờ chàng trai mới cùng gia đình mình đến nhà gái để xin đám cưới.

        Trong tất cả các lần "ngủ thăm", "ngủ thử"... đôi bên có thể đắp chung chăn hoặc riêng, nhưng chỉ được tâm sự, không được đụng chạm, chỉ được "ngủ chay" mà thôi, cấm vượt "đèn đỏ". Mọi sự lạm dụng về thể xác sẽ bị coi là vi phạm luật tục, sẽ bị tố cáo và bị nộp phạt, xử lí nặng.

        Chính vì vậy mà hầu như không xảy ra hiện tượng "ăn cơm trước kẻng".

        Đấy chính là một nét đẹp của đại ngàn hoang thẳm mà không phải dân tộc nào cũng có được. Tôi thấy rất cần được trân trọng và gìn giữ.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2020, 04:28:54 am

TRÒ CHƠI NÉM PAO TRONG TẾT CỦA NGƯỜI MÈO

        Ngoài những trò vui khi đón Tết của các đồng bào dân tộc khác ở vùng núi phía Bắc như múa khèn, ném còn, đẩy gậy, đánh quay, kéo co... thì người Mèo (người Mông) còn có trò ném pao.

        Quả Pao còn được gọi là Pa Pao. Con trai đi tìm vợ thường mang theo khèn đi để biểu diễn bằng những điệu múa khèn mạnh mẽ mà uyển chuyển... Còn con gái khi đi lễ hội thì mang theo quả Pao mềm mại, bởi họ mong muốn sẽ tìm được một người đàn ông phù hợp với mình. Nó vừa là đồ chơi, vừa là đồ trang sức không thể thiếu trên người họ.

        Quả Pao được khâu nối bằng các miếng vải lanh, bằng vải thổ cẩm hoặc chắp những mảnh vải nhiều màu sắc khác nhau lại để tạo cho Pao có nhiều màu đẹp mắt và dùng lụa tơ tằm tạo sự mềm mại cho Pao. Quả Pao kết thành trái to bằng quả cam, được nhồi hạt lanh hoặc bông vào bên trong.

        Khi chơi, tất cả được phân chia thành hai đội, bên nam bên nữ cách nhau khoảng 5-7 mét. Cô gái ném Pao cho chàng trai nào có nghĩa là cô đã  thích anh ta.

        Tài khéo léo là không để rơi Pao, họ giao ước với nhau bằng số lần ném, số lần bắt Pao. Nếu bên nào để rơi thì bên đó chịu thua và bên thua sẽ phải chịu sự quyết định của bên thắng.

        Khi ném Pao là lúc họ trao ánh mắt nụ cười cho nhau và trao nhau tình cảm. Thoạt trông tưởng các động tác như đơn điệu nhưng tôi nghĩ rằng đấy là cả một sự tổng hòa theo quy luật âm dương. Khi đã  bắt Pao tức là đã  cảm nhận được tình cảm của phía bên kia và khi ném lại Pao tức là cũng đã  trao gửi lại tình cảm từ phía mình.

        Người con trai tìm vợ, đầu tiên là để ý xem khả năng dệt vải, thêu thùa và làm Pao của người con gái. Pao tốt thi đường khâu phải kín, khi cầm quả Pao thấy không cứng quá và cũng không mềm quá, qua đó có thể đánh giá được chủ nhân của nó là người giỏi giang và đảm đang.

        Khi đã  thích người con gái kia rồi thì chàng trai cầm giữ quả Pao rồi tìm đến nhà hoặc tìm gặp chủ nhân của Pao để bày tỏ tình cảm. Thấy hợp nhau, họ cùng nhau hẹn hò tiếp.

        Quả Pao không chỉ là một đồ chơi đơn thuần mà nó là vật minh chứng cho tình yêu đôi lứa của người Mèo. Họ chơi trò ném Pao để tìm cho mình những người tình phù hợp với mình.

        Khi không ưng nhau thì thôi không bắt Pao. Có người nói với tôi rằng đã  có bài hát với những lời hát buồn "Quả Pao rơi mất rồi, em không yêu anh nữa...".

        Ném Pao nhiều khi trở thành hoài niệm đến khắc khoải trong cả cuộc đời vì có thể đấy lại là mối tình không trọn vẹn và khi không đến được với nhau sau chuyện tình ném Pao ấy, họ sẽ tìm gặp lại nhau ở chợ tình Khâu Vai.

        Đấy chính là nét đặc sắc, tính nhân văn của trò ném Pao vậy...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2020, 05:16:52 am

CHỢ TÌNH KHÂU VAI

        Trong chuyến đi Hà Giang, đoàn của chúng tôi có người quen ở đấy và dẫn anh em chúng tôi tới thăm nhà. Sau những lời chào hỏi, sau mấy tuần trà, chủ nhà hỏi chúng tôi:

        - Các bác, các anh khi nào xuôi Hà Nội?

        - Ngày mai chúng tôi về!

        - Các bác, các anh ờ lại chơi thêm dăm bữa đi, vài ngày nữa là đến phiên chợ tình Khâu Vai rồi đấy. Vui lắm. Một nét văn hóa nhân văn không nên bỏ qua!

        Vì điều kiện không cho phép nên anh em chúng tôi không ở lại được. Tôi từng nghe đến chợ tình Khâu Vai nhưng chưa bao giờ được dự cả nên rất tò mò.

        Qua tìm hiểu thì được biết chợ tình Khâu Vai mỗi năm họp một lần vào ngày 27-3 âm lịch. Chợ thuộc địa phận xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang.

        Chợ Khâu Vai xuất hiện vào khoảng chừng năm 1919. Nó còn có tên là chợ tình Khâu Vai hay chợ Phong Lưu. Theo tiếng dân tộc của người Tày,. Nùng... Khâu Vai có nghĩa là Đèo Gai.

        Theo truyền thuyết của chợ, tất cả liên quan đến mối tình ngang trái của chàng trai người Nùng và cô gái người Giáy. Chàng trai người Nùng tên là Ba, nhà ở Khau Vai. Chàng rất khôi ngô, tuấn tú, hát hay, sáo giỏi nhưng nhà lại nghèo. Còn cô Út xinh đẹp là con gái của vị tộc trưởng người Giáy. Cặp đôi trai tài, gái sắc ấy gặp nhau và yêu nhau tha thiết nhưng gia đình cô út không đồng ý, phản đối kịch liệt bởi nhà chàng Ba nghèo, hơn nữa lại khác dân tộc, không cùng con ma, không cùng phong tục tập quán...

        Con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ được.

        Bị gia đình ngáng trở, hai người đã  trốn nhà, đưa nhau lên sống trên hang núi Khau Vai.

        Sau khi phát hiện hai người rủ nhau bỏ đi, gia đình họ tộc nhà cô út lập ức mang súng kíp, mang cung nỏ sang bên nhà chàng Ba chửi mắng thậm tệ. Phía nhà chàng Ba cũng mang súng, mang dao, mang gậy gộc ra đứng chửi lại. Từ việc chửi bới, xúc phạm nhau bằng lời đến việc sử dụng dao, gậy, súng ống diễn ra chỉ trong chốc lát. Hai bên gia đình lao vào cuộc ẩu đả dữ dội. Từ trên hang núi nhìn xuống, chàng Ba và cô út thấy rất rõ cảnh đâm chém tàn bạo của hai họ.

        Chàng Ba và cô út xót thương cho cha mẹ, cho dân bàn bỗng dưng chỉ vì tình yêu của mình mà trở thành thù hận, mà chém giết nhau. Hai người đành nuốt nước mắt, chia tay nhau để trở về làng, thề hẹn kiếp sau sẽ là vợ chồng.

        Ngày họ chia tay là ngày 27-3.

        Khi chia tay, họ cùng nhau cắt máu ăn thề. Cho dù không lấy được nhau nhưng hàng năm, cứ đến ngày 27-3, họ lại lên Khau Vai hát cho nhau nghe, kể cho nhau nghe những gì ấp ủ, những gì thầm kín trong lòng suốt đêm rồi đến hết đêm hôm sau, họ lại chia tay nhau trở về sống cuộc sống thường nhật.

        Vào ngày cuối cùng của cuộc đời, họ lại tìm đến nhau, ngồi bên hòn đá năm xưa cùng thề thốt, ôm chặt lấy nhau và cùng nhau đi vào cõi vĩnh hằng...

        Ngày ấy cũng đúng ngày 27-3.

        Người dân lấy ngày đó là ngày họp chợ.

        Dân làng đã  dựng lên "Miếu Ông", "Miếu Bà" ở ngay nơi họ mất để tưởng nhớ mối tình thiêng liêng ấy.

        Nơi ấy cũng là địa điểm để người ta tìm đến nhau sau một năm hoặc nhiều năm xa cách, chủ yếu là những người có mối tình trắc trở, yêu thương nhau thực sự nhưng vì lí do nào đó không lấy được nhau, mỗi người đều có duyên có phận, có duyên có số, có duyên có nợ... riêng của mình. Đúng ngày 27-3, họ về đây để tâm sự, để kể cho nhau nghe cuộc sống riêng của mình, rồi ôn lại những kỷ niệm xưa, những tình cảm xưa...

        Có nhiều đôi vợ chồng trong ngày này cũng cùng đi chợ nhưng khi đến nơi, vợ tìm bạn của vợ còn chồng tìm bạn của chồng. Họ không hề ghen tuông, không hề bực bội mà tôn trọng nhau, tôn trọng cả người bạn của vợ, của chồng mình, coi đó là sự linh thiêng, bổn phận và trách nhiệm trước cuộc sống tinh thần của người bạn đời.

        Không chỉ có người Nùng, người Giáy mà còn có rất nhiều người của các dân tộc khác với đủ mọi lứa tuổi đều đến đây vào ngày này.

        Tất cả cùng hướng về chợ tình, hướng về người mình đã  yêu, đang yêu và sẽ yêu như hướng về một nghi lễ linh thiêng, trọng đại nhất...

        Khi ông mặt trời đã  khuất sau mỏm núi phía Tây, khi sương đã  giăng mù trời, khi những đống lửa lớn được đốt lên và những can rượu lớn được mang ra là lúc chợ tình Khâu Vai bắt đầu...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2020, 10:50:17 am

CHUYẾN ĐI GẦN ĐÂY NHẤT

        Thật may mắn đến không ngờ! Vào khoảng tầm trung tuần tháng 3-2018, khi tôi vừa dừng bút trên trang bản thảo (vì tôi vẫn có thói quen viết trên giấy, sau rồi mới "gõ" vào máy), đang mơ màng nghĩ về những chuyến đi trên tuyến đường Tây Bắc thì chuông điện thoại réo. Tôi nhấc máy trả lời và nhận được câu hỏi:

        - Ngày tới có tổ chức chuyến đi giao lưu gặp gỡ với các cảng Hàng không Nà Sản, Điện Biên rồi lên đường đi Lai Châu, Sa Pa, chinh phục Phan Si Păng, qua Lao Cai rồi về Hà Nội. Anh có tham gia được không?.

        - Đi chứ! Cụ thể ngày nào và tập kết ở đâu, vào giờ nào? - tôi trả lời gần như reo lên.

        - Ngày mai sẽ có thông báo cụ thể! Thế nhé!

        - OK!

        Đúng là "buồn ngủ gặp chiếu manh"! Tôi đang nghĩ không biết đến khi nào mình mới lại có được chuyến "đi đường 6 về đường 2" như cách đây hơn chục năm. Hơn chục năm trời là cả quãng thời gian dài và đã  có biết bao đổi thay trong quãng thời gian ấy. Rất mong muốn có chuyến đi như vậy mà chưa tính được nên tổ chức thế nào cho hợp lí. Đùng một cái có lời mời. Không nhận vội thì mới là lạ!

        Những vật dụng cần thiết tối thiểu thì tôi luôn để trong ba lô, bất kể lúc nào "ới" là có thể khoác lên vai, đi được ngay, vẫn giống như người lính vậy.

        Thế là đúng ngày giờ quy định, tôi có mặt tại điểm hẹn, "khăn gói quả mướp" lên đường.

        Các địa danh quen thuộc dần hiện ra trên đường lên Sơn La: Dốc Cun, Cao Phong, Tòng Đậu, Đồng Bảng, Mộc Châu...

        Tuyến đường lên Sơn La, Điện Biên tôi mới đi cách đây hơn ba năm nhưng cũng đã  thấy khác lạ. Cam ở Cao Phong đã  nhiều hơn xưa, đã  có thương hiệu và nền kinh tế đã  khởi sắc. Trên đỉnh đèo Thung Khe xuất hiện nhiều loại hàng hơn, đa dạng hơn: ngoài món ngô luộc, ngô nướng truyền thống, có thêm trứng luộc, trứng nướng, khoai lang nướng cùng các sản vật của rừng của núi. Không ai bảo ai, tất cả đều dừng để nếm những món đặc sản dân dã ấy. Đúng lúc dừng nghỉ thì trời hửng nắng, đứng từ đó có thể phóng tầm mắt nhìn được khắp các dãy núi bao quanh, thấy được những khúc cua của con đường uốn lượn mềm mại như chú trăn khổng lồ đang nằm sưởi nắng.

        Nghỉ ngơi thư dãn mươi phút lại tiếp tục lên đường.

        Loài hoa Tam Giác Mạch đã  được đem về trồng trên các sườn đồi của Mộc Châu. Các loại hoa được trang trí, xếp hình xếp chữ ngay ngắn phục vụ cho khách du lịch đến chụp ảnh cùng hoa. Cách nghĩ cách làm đã  khác trước rồi. Nền kinh tế thị trường nó làm thay đổi nhận thức rất nhanh. Không thay đổi không được.

        Chúng tôi dừng xe, đến thăm viếng khu di tích tưởng niệm Trung đoàn 52 - Binh đoàn Tây Tiến, đọc lại những câu thơ hừng hực khí phách ngang tàng vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc chiến tranh và hoàn cảnh sống cực kỳ gian khổ nhưng vẫn giữ được cốt cách hào hoa, yêu đời và rất lãng mạn của người Đại đội trưởng tài hoa - nhà thơ Quang Dũng (Bùi Đình Dậu). Bài thơ đầy cảm hứng lãng mạn, tráng lệ và bi hùng:

        Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
        Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
        Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
        Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

        Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
        Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
        Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
        Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

        Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
        Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
        Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
        Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

        Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
        Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

        Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
        Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
        Khèn lên man điệu nàng e ấp,
        Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

        Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
        Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
        Có nhớ dáng người trên độc mộc,
        Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?

        Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
        Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
        Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
        Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

        Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
        Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
        Áo bào thay chiếu, anh về đất,
        Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

        Tây Tiến người đi không hẹn ước,
        Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
        Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
        Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


        Ngoài ông ra còn có những nhạc sĩ, họa sĩ tài hoa khác nữa trong Binh đoàn ấy - đấy là những người lính mang tâm hồn nghệ sĩ. Chúng tôi được biết thêm về tình cảm, mối quan hệ gắn bó quân dân của các dân tộc miền Tây Bắc, tình hữu nghị chiến đấu keo sơn của hai dân tộc Việt - Lào.

        Hình ảnh người phụ nữ không ngại ngần, vắt sữa của mình cho anh bộ đội của Binh đoàn Tây Tiến uống khi anh bị thương, sức kiệt đã  nói lên tình cảm cao đẹp và sự hy sinh quên mình ấy.

        Hình ảnh That Luông thu nhỏ với cây hoa Champa cùng nở hoa cạnh cây hoa ban mang tính biểu trưng cho tình hữu nghị Việt - Lào sâu đậm.

        Mới hiểu thêm ý tứ trong những câu thơ của bài thơ "Tây Tiến".


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2020, 07:40:33 am

        Mùa này đang là mùa hoa ban nở. sắc trắng của hoa ban rải khắp tuyến đường, ven các sườn đồi, sườn núi tựa như triệu triệu con bướm trắng đỗ trên các nhành cây đung đưa theo gió.

        Sơn La đón tiếp chúng tôi thật niềm nở. Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND Tỉnh và nguyên Chủ tịch Liên đoàn lao động đã  đến dự buổi gặp mặt cùng các anh chị em của Cảng hàng không Nà Sản với chúng tôi. Không còn phân biệt ngôi thứ chủ, khách nữa mà là anh em trong một nhà. Buổi gặp mặt chan hòa tình cảm. Tôi thực sự cảm động, thật khó nói bằng lời...

        Rời Sơn La, chúng tôi ngược về Điện Biên. Đèo Phá Đin đầy mù sương và mưa rắc mau hạt. Nghỉ ngơi một chút khi lên đến đỉnh. Đỉnh đèo bây giờ đã  mở nhiều nhà hàng dịch vụ với các sản vật của miền rừng núi và miền xuôi. Các mặt hàng khá phong phú. Uống mấy chén trà nóng cho ấm người rồi xuôi Tuần Giáo. Dọc đường đi, xen lẫn màu trắng của hoa ban là sắc tím mơ mờ của hoa xoan. Những mảng màu ấy làm dịu sự căng thẳng trên chặng đường dài. Qua đèo Tà Cơn, qua Mường Ảng là đèo Tằng Quái hiện ra. Mây mù che kín nên không thấy được những hàng cây cà-phê, "những hàng cây nghìn tỉ" - cây mắc-ca, nhưng tôi vẫn mường tượng ra màu xanh thắm của những tán lá.

        Trên đỉnh đèo Tằng Quái có xây một "Tằng Quái lầu" với diện tích khá rộng rãi ở vùng đất bằng phẳng. Công trình này mới khánh thành, đưa vào sử dụng vào năm 2016.

        Chúng tôi xuống xe, tản bộ quanh "Tằng Quái lầu", vươn vai hít thở khí trời trong lành, "ăn" mấy kiểu ảnh, "bắn" vài điếu thuốc rồi tiếp tục lên đường.

        Càng gần Điện Biên thì hoa ban càng nhiều hơn, dày hơn. Những cây trồng cũ, trồng mới xen nhau dọc tuyến đường. Ban giám đốc sân bay nhiệt tình ra đón chúng tôi ở cách sân bay tận dăm sáu cây số. Sự chu đáo làm chúng tôi cảm động vô cùng.

        Cuộc gặp với tất cả cán bộ, nhân viên của cảng hàng không Điện Biên chừng như không có hạn định thời gian. Những lời chúc tụng, những giọng hát, những tiếng chạm chén cứ vang mãi không dứt cho dù đã  khuya. Tình cảm chân thành và men nồng làm ấm cả trời đêm. Cuộc vui nào rồi cũng phải kết thúc. Chúng tôi lại lưu luyến chia tay tiễn biệt để lên đường đi Lai Châu, Sa Pa, Lao Cai.

        Tuyến đường này tôi đi lần cuối tính ra cũng đã  hơn chục năm. Đường đi bây giờ đã  mở rộng, cây cối cũng quang đãng hơn. Lai bắt đầu nhẩm tính từng địa danh: Mường Lay, Phong Thổ, Tam Đường...

        Xe chạy men theo bờ sông Đà. Dòng Đà giang mùa này không phải mùa mưa, mùa lũ nên nó êm ả, lặng lờ trôi trông tựa như mái tóc dài óng ả của người thiếu nữ miền sơn cước. Dòng sông nào mà chẳng vậy. Mùa mưa lũ thì gầm gào đến man dại, hung dữ, phá phách gây ra những hậu quả khôn lường. Mùa khô thì lại hiền hòa, êm dịu đến lạ lùng... Đúng như một bà cô khó tính, trái tính trái nết!

        Tôi cố để ý tìm lại cây cầu Hang Tôm xưa nhưng không thấy đâu. Chắc nó đã  nằm lặng lẽ dưới đáy nước khi thủy điện Mường La - Sơn La đưa vào hoạt động. Còn biết bao ký ức, bao kỷ niệm, bao nỗi vui buồn chìm sâu dưới đáy nước nữa. Cây cầu Hang Tôm mới được xây khang trang hơn nhưng với tôi nó đơn giản cũng chỉ là cây cầu vì nó chưa để lại dấu ấn gì trong tâm khảm của tồi cả.

        Từ khi tách tỉnh thì Tam Đường được xây dựng thành "thủ phủ" của Lai Châu. Tốc độ xây

        dựng khá nhanh với những nét quy hoạch mang dáng dấp khá hiện đại. Thế là mừng lắm rồi.

        Tôi hồi hộp chờ vượt đèo Ồ Quy Hồ - con đèo thuộc loại ghê gớm trong "tứ đại đèo" của miền Tây Bắc. Nhớ lại những chuyến đi trước mà cứ thấy lo lo, nhưng rồi thấy đường đèo bây giờ đã  mở rộng nhiều nên yên tâm phần nào. Có điều, tôi thấy lượng xe quả tải, quá khổ bây giờ ít đi theo tuyến đường 6 nữa mà hình như lại tập trưng hết vào tuyến đường này thì phải. Có lẽ chuyện ấy xảy ra khi truyến đường cao tốc Hà Nội - Lao Cai được đưa vào khai thác, sử dụng, vất vả nhất là khi đang bám cua, ngược dốc mà gặp ngay mấy "anh" kềnh càng xuôi dốc đối đầu.

        Lên đến đỉnh đèo Ô Quy Hồ, chúng tôi dừng lại. Vừa xuống xe là cảm nhận được ngay cái lạnh lẽo đến rùng mình và những bản giao hưởng của gió. Kia là Cổng Trời. Sự hiện diện của những ngôi nhà cao tầng ở khu vực này làm cho cảnh quan có cái gì đó trở nên khang khác. Tôi cứ nhớ về những năm trước, khi đi qua đây đứng trước cổng Trời thấy mình nhỏ bé đến lạ lùng. Cây rừng rậm rạp cùng đoạn đường hun hút gió và mây sà thấp ngay đỉnh đầu với sương mù mịt mùng tạo cảm giác vắng lặng, hoang sơ, kỳ bí... Vậy mà giờ đây khác hẳn. Đường rộng rãi, quang đãng, các quán xá mọc ngay bên lề đường. Mấy tòa nhà cao tầng sừng sững như thách thức với trời xanh. Chỉ còn gió. Gió muôn thuở vẫn vậy, vẫn lùa rít từng cơn mang theo cái lạnh tê tái. Tôi đứng lặng ngắm trời ngắm đất mà buồn vui lẫn lộn...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2020, 09:14:40 pm

        Sa Pa chỉ còn cách đây vài chục cây số. Chẳng mấy chốc mà chúng tôi đã  tới nơi. Đập ngay vào mắt tôi là sự ngổn ngang với hàng loạt công trình đang xây cất dở. Sa Pa bỗng trở nên nhỏ bé, chật chội, không còn dáng dấp một Sa Pa yên bình trong mù sương như xưa kia nữa. Nỗi buồn vô cớ ập vào tôi. Có lẽ tôi thuộc loại người hoài cổ nên cứ muốn giữ lại những gì thuộc về quá khứ mà không chịu đổi mới.

        Cũng phải chấp nhận thôi. Thời gian qua đi, mọi vật đều biến đổi. Con người làm sao thoát được sự nô lệ của hoàn cảnh...

        Tôi lang thang trong đêm ở Sa Pa để nhớ lại những chuyến đi trước đây, để luyến tiếc một thời và để so sánh với hiện tại. Thấp thoáng bóng những ngôi nhà cổ trong sương mù. Tôi chợt nhớ đến câu thơ "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" mà lòng cứ bâng khuâng. Cái gì cũng có giá của nó thật. Mới từng ấy năm thôi mà sao cảm thấy xa ơi là xa!

        Ngày hôm sau, chúng tôi đi "chinh phục" Phan Si Păng. Nói là chinh phục cho oai chứ tất cả đều ngồi trong ca-bin trên cáp treo, từ từ lên dốc, ngắm nhìn rừng núi Hoàng Liên trôi chậm chạp dưới chân mình với đủ mọi cảm giác, mọi ý nghĩ...

        Phan Si Păng có hệ thống động, thực vật rất phong phú. Rất nhiều loại dược liệu quý, gỗ quý cùng các loài chim thú có mặt ở nơi đây. Theo danh sách tổng hợp thì có đến 1.680 loại cây chia làm 679 chi, thuộc 7 nhóm. Đặc biệt với dòng phong lan thì đa dạng vô cùng. Nếu nước ta có 111 chi phong lan và 643 loài thì ở Phan Si Păng đã  có đến 330 loài rồi.

        Trong thời gian lênh đênh trên cáp treo, tôi chợt nhớ đến các vụ tai nạn trong những chuyến chinh phục đỉnh Phan Si Păng của du khách Thụy Điển, của du khách người Anh và rồi cả chàng trai Hà Nội, sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp... mà bỗng thấy chờn chợn.

        Tôi còn được biết nhà văn Nguyễn Tuân cũng đã  từng chinh phục Phan Si Păng. Có lẽ, ông là nhà văn đầu tiên của nước ta đã  leo lên Phan Si Păng. Ông từng ngồi trong lều giữa cơn mưa rừng, đốt lửa bằng những cây sặt để sưởi ấm và viết thư cho người bạn nhà văn tận trong miền Nam.

        Thật khâm phục tài năng cùng sở thích khám phá mạo hiểm, lãng tử của ông.

        Trên đỉnh cao 2.963 mét, có một cột mốc đánh dấu năm 1905 người Pháp đã  tới chinh phục đỉnh cao và lên cao nữa là một khối đá khổng lồ được kê lên bởi những tảng đá nhỏ tựa như chiếc bàn cao ngất ngưởng giữa trời mây. Đấy chính là đỉnh Phan Si Păng - Hủa Si Pan - Hoa Thạch Bàn - "phiến đá khổng lồ nằm chênh vênh"!...

        Đứng trên đỉnh Phan Si Păng - nóc nhà của Đông Dương mới thấy hết cảnh hùng vĩ của núi rừng, mới thấy được sức mạnh và tài năng của con người thật là ghê gớm.

        Rời Sa Pa, rời Lao Cai, chúng tôi xuôi về Hà Nội, kết thúc 5 ngày "rong ruổi" trên tuyến đường miền Tây Bắc.

        Khi chia tay nhau, thấy mọi người vẫn còn khỏe mạnh, vui vẻ sau chuyến đường dài là yên tâm vô cùng. Lại hẹn gặp lại nhau ở chuyến đi sau và hy vọng vẫn còn đông đủ với cả số lượng, với cả sắc thái và sức lực như thế này...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Ba, 2020, 08:26:08 pm
       
(https://scontent-xsp1-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91048321_623214228408461_6772091775617073152_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=ERlazGQUAuYAX8Q41_r&_nc_ht=scontent-xsp1-2.xx&oh=a0df13e2e9d29be34104db9152776877&oe=5EA973A9)
Mùa hoa ban.

(https://scontent-xsp1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91409632_623214268408457_222741470736547840_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=UKNgvUXbcDUAX9fnhLa&_nc_ht=scontent-xsp1-1.xx&oh=abb7e9236c0bdcc6079544097bb972a9&oe=5EA92DD0)
Hoa nghệ rừng.

(https://scontent-xsp1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91486457_623214255075125_7699966610345295872_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=9BG3pXKr34sAX_G9wrm&_nc_ht=scontent-xsp1-1.xx&oh=ce1499df523ed48b9af3a5d0004536ff&oe=5EA9420D)
Từ đỉnh đèo Khe Thung nhìn xuống.

(https://scontent-xsp1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90963880_623214301741787_7921314007712006144_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=yFXmo8TMDO0AX9jtnvo&_nc_ht=scontent-xsp1-1.xx&oh=0044df9eca7882c52e0f9ca3848ab574&oe=5EA5C1D7)
Di tích lưu niệm Trung đoàn Tây Tiến.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2020, 11:48:41 am
     
(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91903340_623214321741785_806042787387539456_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=5OKaQw0-3lMAX9gtNXV&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=d926e8adcd7655ae59069952ad8255cc&oe=5EA7340C)
Mở lại đường bay Hà Nội - Nà Sản.

(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91507239_623214341741783_2522193770477256704_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=jWj5uYLjH0wAX_SWlvn&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=02ea96850dcd22af291c6ee8d8f5939a&oe=5EA8768A)
Mở lại đường bay Hà Nội - Điện Biên Phủ.

(https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91306831_623214375075113_6582170340422582272_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=9nBEwVa5cUQAX_v0XTE&_nc_ht=scontent-sin6-1.xx&oh=1154eab97709fed3c887891e51b07736&oe=5EA7AA14)
Từ trái sang: Đặng Tích (ngoài cùng) Tác giả (thứ tư), Phan Thái Hồng (thứ sáu).

(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91540010_623214401741777_273382094388854784_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=bLBaQ96k62oAX-vapT8&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=023c00ce0cf3f9975e92a64be8795dcd&oe=5EAA108D)
Tác giả và Nguyễn Văn Hiệp trên đèo Pha Đin.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2020, 08:20:07 am
           
(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91699634_623214438408440_962148321562984448_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=xwPVsUjyddAAX9GB2WB&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=61d1cf0832b92104a859b61f0503ab4e&oe=5EA94E3E)
“Tằng Quái lầu” trên đèo Tằng Quái.

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91424348_623214458408438_5029676676670291968_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=P1pWEfqFzsUAX8agSJN&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=e552ef2cff5613a20e1fae705b52cb71&oe=5EAA6B0B)
Chuẩn bị vượt núi A Pa Chải.

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91397455_623214475075103_8094166461188145152_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=u6N0i2y014cAX8qyuq0&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=dcddf6772b272f6621fd06d4be55b49c&oe=5EA9414A)
Tác giả và Trần Văn Nấm trước khi tiếp tục vượt núi

(https://scontent-hkg3-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91283110_623214488408435_5529030117331828736_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=oowzeYKJR0cAX-DbcYT&_nc_ht=scontent-hkg3-2.xx&oh=afc304d47cbd3f2dd290253b3649cbd5&oe=5EA9C67C)
Ăn tối cùng Trạm biên phòng A pa Chải.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2020, 04:32:54 pm
       
(https://scontent-hkt1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91184548_623214515075099_8029750288279666688_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=XHATDHHT0f0AX8l4wDC&_nc_ht=scontent-hkt1-1.xx&oh=5f02c700967a3473f314cd0774af3d08&oe=5EACBE80)
Trên cột mốc 0 số ở A Pa Chải.

(https://scontent-hkt1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91624717_623214541741763_2933989153144045568_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=hmXCq2xNXlAAX89mR7S&_nc_ht=scontent-hkt1-1.xx&oh=9eed45d0f1a9373ab92a0e37b977e1b9&oe=5EAC50CB)
Trước công nhà Vua mèo ở Hà Giang.

(https://scontent-hkt1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91533550_623214555075095_269702565841600512_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=QasrA6yi_OMAX_EBUMM&_nc_ht=scontent-hkt1-1.xx&oh=91ab5503bd2b1c150ad7b485784da271&oe=5EAAF73F)
Trên tuyến đường Hạnh Phúc - Mã Pì Lèng.

(https://scontent-hkt1-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91356853_623214598408424_4365124560282976256_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=JLJoK-cKK48AX84L_6D&_nc_ht=scontent-hkt1-1.xx&oh=6a1def588259ce2aeb60663e172cd851&oe=5EAC233E)
Dưới chân cột cờ Lũng Cú.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2020, 08:50:34 am
           
(https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91451389_623214615075089_3108982811025997824_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=RC4qzCOYRwcAX9RDypJ&_nc_ht=scontent-sin6-1.xx&oh=df31c191a8b954602545b152addd5324&oe=5EACD672)
Cột mốc cột cờ Lũng Cú

(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91235775_623214625075088_4672739193288392704_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=_QoSxAjDZ-0AX-NZtBp&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=9be90a835e6dac5aafe5e000b72994b3&oe=5EADB5F3)
Sa Pa mùa hoa cải vàng

(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91002943_623214648408419_1694234654036459520_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=A9DTOSTz3XsAX8CPNGk&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=1859b1dbad9f632574a4ea9ed6d6cd30&oe=5EAA3CC7)
Trên đỉnh Phan Xi Păng.

(https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90752575_623214708408413_4221875306333470720_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=NEAa7cLbzF8AX-5ph-d&_nc_ht=scontent-sin6-1.xx&oh=d9f9e66243e08c688af68110e07a9d55&oe=5EABF5D5)
Cổng Trời ở đèo Ô Quy Hồ.

(https://scontent-sin6-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/91328852_623214741741743_930105700871307264_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=dViQ0-Sk2ywAX8om1Xx&_nc_ht=scontent-sin6-1.xx&oh=63c8e6fc37ff7c56ab91e53857659ba1&oe=5EAAF359)
Sông Nho Quế dưới chân đèo Mã Pì Lèng.


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2020, 01:28:37 pm
       
Phần thứ hai

THƠ

                                   
CHIỀU TÂY BẮC
                                   
                                    Tôi ngược miền Tây
                                    Giữa chiều chạng vạng
                                    Nắng vàng lênh láng
                                    Chảy óng như tơ
                                    Dốc quanh co tung vết bụi mờ
                                    Ngựa thồ ngô xuống núi
                                    Mấy thiếu nữ thản nhiên
                                    Cởi trần tắm suối
                                    Cười rung vách đá ven rừng
                                    Bọt thác tung bảy sắc cầu vồng
                                    Mái nhà sàn khói vương bảng lảng
                                    Ché rượu cần ủ men lúc sáng
                                    Mùi nếp thơm lừng
                                    Thấm đẫm trong hương rừng
                                    Mắt tôi ầng ậng nước
                                    Chắc Mẹ già miền quê
                                    Giờ này đang nấu bếp!..

                                   
                                   
GHI CHÉP TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG TÂY BẮC
                                   
                                    Đường lên Tây Bắc
                                    Gió thốc quăn trời
                                    Hoa Ban nở trắng
                                    Bướm ngàn chơi vơi
                                   
                                    Rượu cần lúng liếng
                                    Điệu xòe lả lơi
                                    Vòng tay rộng mở
                                    Khèn lên chào mời
                                   
                                    Người xưa đâu vắng
                                    Thương nhớ khôn nguôi
                                    Phận duyên còn, hết?
                                    Miền Tây Bắc ơi!...

                                   
                                   
ĐÊM SƠN LA
                                   
                                    Đêm Sơn La thăm thẳm
                                    Gió hú từng cơn dài
                                    Sương rừng khua lộp độp
                                    Vào mê, nhớ Liêu Trai!...
                                   
                                     
VÔ ĐỀ
                                   
                                    Núi trùng điệp, bạt ngàn hoa Ban trắng
                                    Người trong mơ mong mãi chẳng về
                                    Kỷ niệm dâng trào, nhần nhận đắng
                                    Đêm cựa mình, trăn trở sông quê!...
                                   
                                   
THOÁNG XUÂN
                                   
                                    Em gái vùng cao dáng dịu hiền
                                    Bên nhà sàn bẽn lẽn cười duyên
                                    Gió Xuân nồng ấm hơi men lá
                                    Lưng giậu đỏ bừng hoa Trạng Nguyên!...
                                   
                                   
GẶP GỠ ĐẦU XUÂN
                                   
                                    Về Tây Bắc dịp đầu Xuân
                                    Vọng vang núi biếc trong ngần tiếng oanh
                                    Gió theo cái nắng hanh hanh
                                    Đưa đàn bướm trắng đỗ cành hoa Ban
                                    Chạm nhau bát rượu đầy tràn
                                    Mắt sóng sánh giữa giòn tan tiếng cười
                                    Mình say, bạn cũng say thôi
                                    Như Tây Bắc, đất nghiêng trời cùng say!...

                                   
                                   
RỪNG ƠI
                                   
                                    Trời đổ sương muối
                                    Úa táp các vườn cây
                                    Cành run rẩy trong sắc màu xám mốc
                                   
                                    Những đoàn người
                                    Lầm lũi kéo nhau vào rừng
                                    Nghe vang vọng những tiếng rìu khô khốc
                                   
                                    Tôi đứng trên đinh dốc
                                    Đau đáu ngó rừng
                                    Vẳng đâu lời than thở
                                    Mai ngày còn lá hay không?...

                                   
                                   
ĐIỆN BIÊN VÀ CHÙM THƠ VÔ ĐỀ
                                   
                                    Vô đề 1
                                   
                                    Điện Biên
                                    Sau một năm trở lại
                                    Con đường xa ngái
                                    Bụi hút nắng hanh
                                    Trời thẳm xanh
                                    Ùn mây vần vũ
                                    Cây cầu cũ
                                    Cô đơn
                                    Vắt trên đôi bờ suối cạn
                                    Lòng ngao ngán
                                    Nhớ tiếng thì thầm dòng suối năm xưa
                                   
                                    Tôi ngẩn ngơ
                                    Nghĩ đến nhân tình thế thái
                                    Bao mảnh đời qua lại
                                    Cây cầu, ngày ngày
                                    Vẫn còng lưng gánh nặng tiễn đưa...
                                   
                                    Buồn sao những kỷ niệm xưa
                                    Ước gì có được ngày mưa mịt mùng!...

                                   
                                    Vô đề 2.
                                   
                                    Giưa vùng trùng điệp núi non
                                    Tiếng người năm cũ vẳng còn đâu đây
                                    Ì ầm nghe tiếng máy bay
                                    Chiền chiện tung sắc cỏ may tím trời!...

                                   
                                    Vô đề 3.
                                   
                                    Trời chợt mưa, chợt tạnh
                                    Trăng chợt ló ra, chợt lẩn mây
                                    Bao điều vụt hiện rồi vụt biến
                                    Duy còn vân tay trong vòng tay...

                                   
                                    Vô đề 4.
                                   
                                    Giữa suối
                                    Lũ trẻ tắm truồng, nô đùa ầm ỹ
                                    Ven suối
                                    Chiếc cọn nước già nua, cũ kỹ
                                    Nhẫn nại quay từng vòng
                                    Kẽo kẹt cõng nước về cho lúa trổ bông
                                    Lũ trẻ vẫn tồng ngồng
                                    La hét
                                    Nào đã  biết
                                    Công ơn!...
                                     

                                    Vô đề 5.
                                   
                                    Điện Biên cầu mới xây rồi
                                    Cây cầu cũ chẳng bóng người lại qua
                                    Trời chiều bỗng trút cơn mưa
                                    Mình tôi tha thủi đường xưa. Một mình!...

                                   
                                   
MƯA RỪNG
                                   
                                    Đã  từ lâu. Lâu lắm
                                    Mới gặp trận mưa rừng
                                    Mây hăm hở phừng phừng
                                    Đè trùm lên muôn vật
                                    Cả không gian ngây ngất
                                    Đất trời cuồng si mê
                                    Sấm chớp giăng bốn bề
                                    Ngàn cây xòa rối tóc
                                    Sỏi đá lăn khắp dốc
                                    Điệu hoan vũ cuốn tròn
                                    Suối lũ đổ dập dồn
                                    Hú gào trong hoang dại
                                    Mồ bạn tôi tê tái
                                    Ướt sũng cuối bìa rừng
                                    Nơi mặn muối, cay gừng
                                    Khói nhang nay tắt lịm
                                    Cửa cài then im ỉm
                                    Mẹ già tóc bạc phơ
                                    Trong bóng tối thẫn thờ
                                    Lưng còng theo dấu hỏi
                                    Điện nhà nào sáng chói
                                    Ly, cốc chạm lanh canh
                                    Hồn băng giá lạnh tanh
                                    Tiếng cười nghe khô khốc
                                    Mưa cuộn cùng gió lốc
                                    Nhàu nát cả tâm linh
                                    May mắn hay vô tình
                                    Qua thác trời không đắm
                                   
                                    Đã  từ lâu. Lâu lắm
                                    Mới gặp trận mưa rừng!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2020, 10:32:20 am
                                    
                                    
TẢN MẠN VÙNG CAO
                                   
                                    Bắc nồi nấu rượu ngay cạnh suối
                                    Dòng thì chảy ngược, dòng chảy xuôi
                                    Dòng kia đưa được người ra biển
                                    Dòng này đưa được người lên trời...
                                    
                                                          *
                                                       *     *
                                    
                                    Lâu lâu mới trở lại rừng
                                    Ngơ ngơ ngác ngác giữa vùng tà huy
                                    Miền cô thôn hóa kinh kỳ
                                    Người xưa, bạn cũ dời đi nơi nào?!...

                                    
                                    
SA PA ĐÊM MƯA
                                   
                                    Chợ tình chẳng họp đêm mưa
                                    Sa Pa hoang vắng, gió lùa
                                    Không tiếng khèn gọi bạn
                                    Không tiếng sáo chào mời
                                    
                                    Bên bàn rượu
                                    Mình với bóng Ta thôi
                                    Hai bát rượu trắng
                                    Chứa muôn ngàn cơn mưa...
                                    
                                    Mặc trời gào thét
                                    Mặc cho gió lùa
                                    Ta ngồi lặng thinh
                                    Trong Ta luôn sẵn có Mình
                                    Cần gì phải đến chợ tình Sa Pa!.

                                    
                                    
BẤT NGỜ SƠN LA
                                   
                                    Bất ngờ ngọn gió lang thang
                                    Bất ngờ từng vạt bướm vàng
                                    
                                    Bất ngờ đường núi quanh co
                                    Bất ngờ ướt sũng cánh cò
                                    
                                    Bất ngờ bùng cháy lửa yêu
                                    Bất ngờ giông tố ban chiều
                                    
                                    Bất ngờ giọt nắng rưng rưng
                                    Bất ngờ câu hát giữa chừng
                                    
                                    Bất ngờ tản mạn câu thơ
                                    Bất ngờ mộng mộng, mơ mơ...

                                    
                                    
TẢN MẠN MƯA RỪNG
                                   
                                    Mưa! Mưa xối trắng rừng
                                    Mưa nẫu đất, bọt thác tung trắng trời
                                    
                                    Mưa! Mưa nhuộm trắng đêm
                                    Còn anh thức trắng...
                                    nhớ Em bạc đầu!...
                                    
                                    
VỀ RỪNG
                                   
                                    Lâu lắm rồi tôi mới về rừng núi
                                    Để nghe lại tiếng reo của suối
                                    Để gặp lại hương man mác của rừng
                                    Thời gian qua sống ở dưới đồng bằng
                                    Giữa những chốn phồn hoa đô thị
                                    Giữa những bon chen, lọc lừa, ích kỷ
                                    Giữa bụi bặm thời gian, sương gió cuộc đời
                                    Tôi gần như chẳng phải là tôi
                                    Bao toan tính hằn lên, nhàu khuôn mặt
                                    Bao trăn trở làm cho lòng câm bặt
                                    Tôi bơ vơ giữa bến nhân gian
                                    Trở về đây, khi chạm ngọn gió ngàn
                                    Tôi như kẻ mộng du bừng tỉnh lại
                                    Rừng xanh thẳm tựa vòng tay êm ái
                                    Vỗ về tôi cho lòng bớt bão giông
                                    Trời trong xanh thẳm đến tận cùng
                                    Gió cất lời ru tôi vào giấc ngủ
                                    Mặc những tiếng gầm gào của bao dòng thác lũ
                                    Tôi lại thấy mình cùng tuổi với ngây thơ
                                    Con suối nào như giếng tắm ngày xưa...

                                    
                                    
THÁNG BA Ở NÚI
                                   
                                    Gió giận, oán trách đá
                                    Cây thi nhau trút lá
                                    
                                    Đá lặng câm chẳng nói
                                    Cũng chẳng hề muốn hỏi
                                    
                                    Suối cứ chảy lững lờ
                                    Vẻ trầm ngâm suy tư
                                    
                                    Mây trời sà xuống thấp
                                    Giăng bốn phương mịt mờ
                                    
                                    Giá như đá cứ nói
                                    Và suối kia cứ hỏi
                                    
                                    Mây cũng đừng rong chơi
                                    Mọi chuyện chẳng rối bời
                                    
                                    Nhưng đá cứ lặng lẽ  
                                    Ôm mối tình chứa chan
                                    
                                    Giữa tháng Ba thơm ngát
                                    Trắng xóa rừng hoa ban...

                                    
                                    
THƠ VUI
                                   
                                    Điện Biên Phủ hơi bị xa
                                    Con đường hơi bị ổ gà khó đi
                                    Núi cao hơi bị xanh rì
                                    Suối sâu hơi bị thầm thì lặng trôi
                                    Bữa rượu uống hơi bị vui
                                    Chia tay hơi bị bùi ngùi nhớ mong
                                    Má ai hơi bị ửng hồng
                                    Để ai hơi bị phải lòng ai đây
                                    Mắt nhìn hơi bị đắm say
                                    Ra về hơi bị nhớ ngày Điện Biên!...

                                    
                                    
TẢN MẠN HOA BAN
                                   
                                    Em kể sự tích hoa Ban
                                    Giọng nghèn nghẹn, lệ muốn tràn khỏi mi
                                    
                                    Xót thương cho cảnh chia li
                                    Kẻ ở lại, người đã  "đi" về trời
                                    
                                    Hóa thành muôn cánh tinh khôi
                                    Gieo khắp rừng, sáng ngời ngời sắc hoa
                                    
                                    Bóng đêm nhẹ phủ Sơn La
                                    Giữa cơn mê, trắng bóng tà áo ai...

                                    
                                    
QUẢ PAO RƠI RỒI
                                   
                                    Quả Pao rơi mất rồi
                                    Em không yêu anh nữa
                                    Lòng anh không còn lửa
                                    Suối nguồn anh cạn khô
                                    Vòng tay anh hững hờ
                                    Mắt anh không đắm đuối
                                    
                                    Muốn nói gì thì nói
                                    Em chẳng tin nữa đâu
                                    Mưa rơi ướt mái đầu
                                    Sao lời anh chẳng ướt
                                    Bao nhiêu câu thề thốt
                                    Sao gió rừng cuốn bay
                                    
                                    Bát rượu loãng men say
                                    Em đâu còn thèm uống
                                    Vào vòng xòe luống cuống
                                    Điệu khèn nghe rã rời
                                    Không nói được nên lời
                                    Lòng đau như dao cứa
                                    
                                    Thôi! Làm gì được nữa?
                                    Quả Pao rơi mất rồi!...

                                    
                                    
NHỚ SƠN LA
                                   
                                    Ai người có thể quên ta
                                    Còn ta, ta nhớ Sơn La vô cùng
                                    
                                    Nhớ khi sầm sập mưa rừng
                                    Rồi khi nắng cháy rát lưng, bỏng đầu
                                    
                                    Rộng vòng xòe, nắm tay nhau
                                    "Inh lả ơi!..." nối nhịp cầu vần xoay
                                    
                                    Rượu khát vọng uống ngoắc tay
                                    Cùng giao hẹn: "Uống không say không về!"
                                    
                                    Mây mù che đỉnh Thung Khe
                                    Vượt đèo như vượt cõi mê hãi hùng
                                    
                                    Hoa Ban nở trắng núi rừng
                                    Hoa Mận phủ tuyết sáng bừng cao nguyên
                                    
                                    Vào ngày gió rét mùa Đông
                                    Bên bếp than hồng, mưa rắc lâm thâm
                                    
                                    Bao lời tri kỷ tri âm
                                    Trút tâm sự ấy vào tâm sự này
                                    
                                    Đêm khuya sương núi giăng dầy
                                    Bồng bênh như thể trên mây,... như là...
                                    
                                    Ai người có thể quên ta
                                    Còn ta, ta nhớ Sơn La vô cùng!...

                                    
                                    
VIẾT Ở A-PA-CHẢI
                                   
                                    Vào một ngày đầu Đông
                                    Chúng tôi lên xe, hướng về miền biên ải
                                    Qua Mường Nhé,
                                                             ngược lên A-pa-chải
                                    Cuốc bộ, xuyên rừng, nhằm mốc "số không"
                                    
                                    Đường quanh co, sương phủ mịt mùng
                                    Gió thốc mồ hôi tan ngược lên triền dốc
                                    Trời tối sẫm, chúng tôi dò đến mốc
                                    Nơi tiếng gáy của gà cả ba nước đều nghe
                                    Bốn bề sương phủ mây che
                                    Tôi rưng rưng nước mắt
                                    Cảm nhận được những điều thiêng liêng nhất
                                    Khi đứng trên điểm chốt phía Tây Tổ quốc mình
                                    
                                    Biết bao người đã  anh dũng hy sinh
                                    Gìn giữ từng tấc đất
                                    
                                    Ai người để mất
                                    Sẽ đắc tội với cha ông
                                    
                                    Hùng thiêng hào khí non sông
                                    Đồng tâm gìn giữ mới mong trường tồn...

                                    
                                    
TẢN MẠN KHAU VAI
                                   
                                    Trời có nắng, có mưa
                                    Người có duyên, có phận
                                    
                                    Ai đó suốt đời ân hận
                                    Ai đó sống trong khổ đau
                                    Day dứt nhớ về nhau...
                                    Cái duyên... cái số
                                    Níu buộc ta bằng những sợi vô hình...
                                    
                                    Thôi, Ta đừng tự trách Mình
                                    Hàng năm hẹn đến chợ tình Khau Vai!...

                                    
                                    
PHAN SI PANG
                                   
                                    Phan Si Păng - nóc nhà cao vời vợi
                                    Rừng lặng lẽ trôi theo tuyến cáp dài
                                    Vương trong gió ngát nồng hương thảo quả
                                    Hoàng Liên xưa từng in dấu chân ai?!...

                                   
                                   
VỀ TRUNG ĐOÀN VỚI ANH, EM NHÉ!
                                   
                                    Trung đoàn anh đóng quân nơi ấy
                                    Có sông Hồng như dải lụa chảy qua
                                    Và đường băng như chiếc trâm ngà
                                    Cài trên đầu rừng xanh bát ngát
                                    Cọ xòe tay vẫy chào, múa hát
                                    Hương quế nồng say, man mác... bồi hồi...
                                    Mùi táo Mèo quyến rũ, đọng mãi đầu môi...
                                    Bưởi Cát Lem đậm đà vị ngọt
                                    Về Trung đoàn
                                    Em sẽ ngẩn ngơ giữa tiếng chim lảnh lót
                                    Sẽ sững sờ trước màu sắc muôn hoa
                                    Anh sẽ đưa em thăm thắng cảnh Thác Bà
                                    Qua Yên Bình, về Nam Cường, lên Cổ Phúc
                                    Thăm thành phố rộn ràng, đông đúc
                                    Ngược phía Âu Lâu
                                    Vượt những nhịp cầu
                                    Ngang sông Hồng, sang Nghĩa Lộ
                                    Anh sẽ đưa em lên Bắc Hà
                                    Uống rượu ngô, ăn thắng cố
                                    Nghe tiếng sáo, tiếng khèn gọi bạn... lả lơi
                                    Về Trung đoàn
                                    Ngắm những đôi cánh MiG tung hoành
                                    ngang dọc giữa trời
                                    Luôn sẵn sàng giữ yên vui Đất Mẹ
                                    Các bạn anh - những chàng lính trẻ
                                    Sôi nổi, hồn nhiên,... càng lắng đậm tình người
                                   
                                    Dù anh bay khắp bốn phương trời
                                    Anh vẫn mang theo dáng hình em nhỏ bé
                                    Về Trung đoàn với anh, em nhé!
                                    Anh ngóng trông, thao thiết đợi em về!...


Tiêu đề: Re: Qua miền Tây Bắc
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2020, 08:17:10 am
     
LỜI KHÉP

        Mọi cung đường, tuyến đường của miền Tây Bắc vẫn luôn cuốn hút, lôi kéo, hấp dẫn tôi và tôi cũng luôn sẵn sàng lên đường bất kể lúc nào.

        Từng ấy năm trôi qua với biết bao kỷ niệm vui, buồn chẳng thể nào quên. Mùa nào trong năm, vùng nào của miền Tây Bắc cũng đều có sắc thái riêng, không giống với bất kỳ đâu.

        Mùa hoa đào, hoa mận, hoa cải trắng, cải vàng, hoa ban, hoa tam giác mạch... cùng với nét ẩm thực độc đáo của miền sơn cước luôn ám ảnh trong tâm trí tôi. Tình cảm của người miền núi nồng ấm, thấm đượm như men say. Tôi về đấy tựa như được về nhà mình, được sống trong sự chan hòa, cởi mở, không có những bon chen, lọc lừa, đố kỵ. Những phong tục, tập quán mà xưa kia tôi chưa từng biết đến thì nay tôi đã  hiểu và tự phát hiện được những sự khác lạ ngay trong bản thân mình...

        Trên những tuyến đường ấy, tôi tìm được "cái Tôi" là nhờ sự hòa nhập được với thiên nhiên. Tôi từng có mong muốn, khi tôi trở về "cát bụi", một phần "cát bụi" của tôi được trả về với rừng, với ngàn cây, để rồi:

                                      Mai mốt trong sắc lá xanh tươi
                                      Hẳn là thấp thoáng bóng hồn tôi
                                      Nhởn nhơ theo những bàn tay lá
                                      Thả chút bâng khuâng xuống nhịp đời...


        Tôi mới được qua 3 trong "tứ đại đèo" của miền Tây Bắc, đó là Pha Đin, Ô Quy Hồ, Mã Pì Lèng. Còn 1 trong "tứ đại đèo" nữa là Khau Phạ, tôi chưa có dịp qua nhưng rồi thế nào cũng lần tìm đến bằng được để có dịp trải nghiệm.

        Tôi cứ tự nhủ: "Đời người ngắn lắm! Nếu còn đi được, hãy cố đi, bằng không, sau này đến lúc chỉ ngồi đần mặt ra mà luyến tiếc! Đi để học hỏi! Đi để sau này còn có cái gì đó mà nói chuyện với con, với cháu! Nếu cứ sống mà chẳng biết gì thì cuộc sống sẽ buồn tẻ lắm, vô vị lắm!.".

        Tôi mong rằng các bạn cũng có những ý nghĩ giống tôi, cảm thông với tôi và biết đâu, trên chặng đường nào đó của miền Tây Bắc, tôi lại được ngồi tiếp rượu các bạn.

        Rừng núi mênh mang với những người dân chất phác, thật thà, hiền hậu chắc sẽ luôn sẵn sàng chào đón các bạn và bậc thang nhà sàn cũng sẵn sàng cõng những bước chân của các bạn đấy!...


MỤC LỤC
       Lời mở
        
        
       - Chuyến đi đầu tiên
        - Những chuyến đi tiếp
        - Đường lên Điện Biên
        - Chiều Tây Bắc
        - Mở lại đường bay
        - Phù Yên bình dị
        - Bình lặng Bắc Yên
        - Đi "đường 6", về "đường 2"
        - A-Pa-Chải
        - Lũng Cú, Mã-Pì-Lèng
        - Cái Mưa, Cái Nắng, Cái Gió
        - Một vài món ăn "là lạ" và tục ngủ thử
        - Trò chơi ném Pao trong Tết của người Mèo
        - Chợ tình Khâu Vai
        - Chuyến đi gần đây nhất
        
        
THƠ
       - Chiều Tây Bắc
        - Ghi chép trên tuyến đường Tây Bắc
        - Đêm Sơn La
        - Vô đề
        - Thoáng xuân
        - Gặp gỡ đầu xuân
        - Rừng ơi
        - Điện Biên và chùm thơ vô đề
        - Mưa rừng
        - Tản mạn vùng cao
        - Sa Pa đêm mưa
        - Bất ngờ Sơn La
        - Tản mạn mưa rừng
        - Về rừng
        - Tháng ba ở núi
        - Thơ vui
        - Tản mạn hoa ban
        - Quả Pao rơi rồi
        - Nhớ Sơn La
        - Viết ở A-Pa-Chải
        - Tản mạn Khau Vai
        - Phan Si Păng
        - Về Trung đoàn với anh, em nhé!
        
        Lời khép

HẾT