Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2020, 02:45:40 PM



Tiêu đề: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2020, 02:45:40 PM
    
        - Tên sách : Sức mạnh làm nên chiến thắng

        - Tác giả : Trung tướng, AHLLVTND Nguyễn Văn Phiệt

        - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

        - Năm xuất bản : 2014

        - Số hóa : Giangtvx
    
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/81795980_567274540669097_185533348712546304_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=njYwJjXbhZYAQnIcRJHtt8YsJCGk8hq78WEWbndQimVhEAQSjxCj2OhQQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e5a9d60bca554b560af9357784975c70&oe=5EA3A1E4)


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2020, 04:00:32 PM
         
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82735468_568102947252923_2097349229193199616_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_ohc=uLgbM0qrLxMAQlizuhFXICuzUOYpT1CwL4NRdFgRmyhSzwYa_Qnx_pWiA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=47ecfa06da25ec3fbf11f71383b9257b&oe=5EA8B24F)
Ảnh bìa 4: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 63 giao nhiệm vụ trên sa bàn cho kíp chiến đấu tháng 5-1967 tại trận địa Chèm (Hà Nội); nguồn: Báo Quân đội nhân dân điện tử.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/81521954_568102977252920_6112876293533990912_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=c9Yl8gVrn74AQnd_JrsYV_08unGJ2uHTYoNLZzfcfmbp_X-V3pwa5WxDw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2b55d97313639cb7d152c4bef35ca869&oe=5EB0ABE9)
Trung tướng, AHLLVTND Nguyễn Văn Phiệt

LỜI GIỚI THIỆU
       Trung tướng Nguyên Văn Phiệt xuất thân từ một dòng tộc có truyền thông văn hóa và cách mạng - dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hưng Yên - một vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa.

        Với hơn 40 năm phục vụ trong quân ngũ, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt trưởng thành từ người chiến sĩ rađa thành sĩ quan điều khiển tên lửa phòng không, đảm nhiệm nhiều chức vụ từ Trung đội trưởng đến Sư đoàn trưởng, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không, Quân chủng Phòng không -  Không quân. Trong bất cứ hoàn cảnh nào đồng chí luôn là một đảng viên gương mẫu, một cán bộ có ý chí và bản lĩnh kiên cường, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm trong chiến đấu, luôn vững vàng trong lãnh đạo, chi huy xây dựng đơn vị, có tấm lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ và được mọi người yêu mến.

        Cuốn hồi ký "Sức mạnh làm nên chiến thắng" của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt là những kỷ niệm, những suy nghĩ về cuộc đời binh nghiệp trong hơn 40 năm, trong đó chứa đựng nội dung tâm huyết của tác giả về sức mạnh chính trị - tinh thần. Đó không chỉ là những sự kiện mà còn là những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, chiến đấu mà tác giả đã được trải nghiệm. Đặc biệt là những trận chiến đấu đối phó với các thủ đoạn tác chiến điện tử của không quân Mỹ, đánh trả các loại máy bay chiến thuật và máy bay chiến lược B-52 đòi hỏi ý chí, quyết tâm dám đánh và quyết đánh thắng của cả một tập thể kíp chiến đấu bền gan, vững chí nhằm đúng máy bay Mỹ mà tiêu diệt, giành thắng lợi vẻ vang.

        Cuốn sách có giá trị thiết thực trong giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay, trong đó những kinh nghiệm trong chiến đấu và xây dựng đơn vị sẽ giúp cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng Phòng không - Không quân phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, vượt qua mọi khó khăn thử thách để xây dựng Quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cùng các lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ vững chắc bầu trời, biển đảo và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; góp phần xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngày 28 tháng 7 năm 2014              
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/81358035_568102937252924_6533564912793288704_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ohc=tnJH0blcktUAQlDO9lT8zX6got82tEKHO2SHwRhjvhVP76HDIOvesIpNA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=02b6c0dae4e3b349340535c026c3489e&oe=5E988AE6)          
Trung tướng NGUYỄN XUÂN MẬU          
Nguyên Phó Chủ nhiệm UBKT QUTW        
Phó Chính ủy Quân chủng PK-KQ (1964-1977)


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2020, 12:23:09 PM

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ của quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Bộ đội Phòng không - Không quân từ đầu năm 1965 đến cuối năm 1972, chống chiến tranh leo thang phá hoại của các lực lượng không quân Mỹ đã giành được thắng lợi vô cùng to lớn. Đỉnh cao của cuộc đọ sức là chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, ta đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, làm nên một huyền thoại "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" trong lịch sử giữ nước của dân tộc ở thế kỷ XX. Với chiến thắng đó, chúng ta buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu về nước.

        Trong cuộc đối đầu không cân sức đó, sức mạnh quân sự của các lực lượng không quân Mỹ và bộ máy điều hành chiến tranh khổng lồ của "Lầu Năm góc" đã bị đánh bại bởi sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, trong đó sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân và Quân đội ta là nhân tố hàng đầu làm nên chiến thắng. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ đội Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc đã phát huy cao độ sức mạnh chính trị - tinh thần, tạo ra sức mạnh chiến đấu tổng hợp đánh thắng các thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật của không quân Mỹ. Những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong cuộc đọ sức với các lực lượng không quăn Mỹ hùng mạnh là biểu tượng rực rỡ của ý chí kiên cường, bất khuất, trí tuệ thông minh, sáng tạo và nghệ thuật quân sự tài tình của dân tộc ta.

        Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là một vị tướng trưởng thành từ người chiến sĩ, có hơn 40 năm phục vụ trong Quân chủng Phòng không - Không quân, trực tiếp tham gia chiến đấu chống chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ. Hồi ký của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt ghi lại những sự kiện chủ yếu trong chặng đường đã đi qua của cuộc đời một người chiến sĩ phòng không. Những chặng đường đó gắn liền với những năm tháng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, gắn liền với những năm tháng sau chiến tranh phát triển các lực lượng phòng không, xây dựng Quân chủng Phòng không, Quân chủng Phòng không - Không quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc bầu trời Tô quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Những chặng đường quân ngũ đã đi qua của Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt nằm trong lịch sử hơn 50 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân chủng Phòng không - Không quân, tuy chưa phản ánh đầy đủ nhưng đã khẳng định rõ sức mạnh chính trị - tinh thần là nhân tố có vai trò quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Đó cũng là sức mạnh bảo đảm cho Bộ đội Phòng không - Không quân vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh đó được bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, sự giáo dục, rèn luyện của Quân đội, tạo nên hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" mang cốt cách riêng của những người lính gắn bó với sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc, sóng mãi trong lòng nhân dân; từ truyền thống gia đình, quê hương, dân tộc.

        Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN         


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:39:05 AM
   
Chương 1

GIA ĐÌNH, QUÊ HƯƠNG CỘI NGUỒN CỦA SỨC MẠNH TINH THẦN

        Tôi sinh năm 1938 trong một gia đình nông dân lao động nghèo, ở một vùng quê đồng chiêm trũng thuộc thôn Vệ Dương, xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

        Trước khi nói về tuổi thơ của tôi, tôi muốn viết đôi dòng về quê hương Ân Thi tỉnh Hưng Yên - nơi tôi sinh ra và viết về dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi (xã Kim Chân, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh) - nguồn cội tổ tiên của tôi.

        Ân Thi là huyện nằm ở giữa, phía đông của tỉnh Hưng Yên. Đây là một tỉnh trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, phía đông nam giáp huyện Phù Cừ, phía nam giáp huyện Tiên Lữ, phía tây - tây nam giáp huyện Kim Động, phía tây bắc giáp huyện Khoái Châu, phía bắc giáp huyện Yên Mỹ và huyện Mỹ Hào có ranh giới là sông Bắc - Hưng - Hải (các huyện này đều thuộc tỉnh Hưng Yên); phía đông bắc giáp huyện Bình Giang, phía đông giáp huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương, phần lớn ranh giới là sông Kẻ Sặt (một sông nhánh thuộc hệ thông sông Thái Bình). Ân Thi có 1 thị trấn huyện lỵ là thị trấn Ân Thi và 20 xã: Phù Ủng, Bãi Sậy, Bắc Sơn, Đào Dương, Tân Phúc, Văn Nhuệ, Hoàng Hoa Thám, Quang Vinh, Vân Du, Xuân Trúc, Quảng Lãng, Đặng Lễ, Cẩm Ninh, Nguyễn Trãi, Đa Lộc, Tiền Phong, Hồ Tùng Mậu, Hồng Vân, Hồng Quang, Hạ Lễ.

        Ân Thi là một huyện đồng bằng thuần nông, chuyên canh lúa nước, dân trí tương đối cao, dân bản địa chủ yếu là dân tộc Kinh, tập quán thuần hậu, đa số theo đạo Phật, đạo Mẫu, số ít theo Thiên chúa giáo.

        Trải qua những biến động của lịch sử mà địa giới và đơn vị hành chính của Ân Thi đã nhiều lần thay đổi. Thời cổ xưa mảnh đất này thuộc đất của Lạc Long Quân. Thời Bắc thuộc, thuộc quận Giao Chỉ, Giao Châu, Đằng Châu, v.v... Đến thời tiền Lê gọi là phủ Thái Bình. Đời vua Lý Cao Tông (1175-1210) đổi phủ Thái Bình thành Khoái Lộ. Đến đời hậu Lê, năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đổi Khoái Lộ ra Khoái Châu; phủ Khoái Châu thuộc thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1469 là năm đầu tiên nước nhà lập bản đồ, cũng là lúc đổi thừa tuyên ra thành trấn (tức là đạo); phủ Khoái Châu thuộc trấn Sơn Nam gồm có 5 huyện: Kim Động, Thiên Thi (Ân Thi sau này), Đông Yên, Tiên Lữ, Phù Dung (sau là Phù Cừ)1. Đến đời Minh Mệnh thứ 12 (1831), dùng cách chia để trị bỏ trấn, chia nhỏ trấn ra lập thành tỉnh; tỉnh Hưng Yên ra đời thời kỳ này. Tỉnh Hưng Yên lúc đó có hai phủ (Khoái Châu và Tiên Hưng); Thiên Thi (Ân Thi) nằm trong phủ Khoái Châu. Đến đời Minh Mệnh thứ 13 (1832) huyện Thiên Thi được đổi thành huyện Thi Hoa (có cả Phù Cừ). Đời Tự Đức thứ 8 (1855) huyện Thi Hoa tách Phù Cừ ra lấy tên là huyện Ân Thi.

        Thời thuộc Pháp, từ năm 1873 tỉnh Hưng Yên còn 2 phủ, 6 huyện, dưới huyện là tổng và xã; Ân Thi vẫn thuộc phủ Khoái Châu. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta bỏ tổng, xã, phủ; điều chỉnh lại địa giới huyện, xã; cả tỉnh có 8 huyện, 117 xã, trong đó huyện Ân Thi có 16 xã. Kết thúc cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp, tỉnh Hưng Yên có 9 huyện, 115 xã, trong đó huyện Ân Thi có 21 xã.

        Đế bớt đầu mối, tiện cho việc điều hành công việc, ngày 1 tháng 4 năm 1979 Hội đồng Chính phủ ra quyết định về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới của các huyện trong tỉnh Hải Hưng; huyện Kim Động hợp nhất với huyện Ân Thi, lấy tên là huyện Kim Thi, huyện lỵ đặt tại xã Thổ Hoàng.

        Diện tích tự nhiên của huyện là 128,22km2; dân số 130.295 người (số liệu thống kê năm 2003).

        Về giao thông, Ân Thi có 3 quốc lộ đi qua là quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (dự kiến hoàn thành năm 2015) và quốc lộ 39 mới (dự án). Đường quốc lộ 38 chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ thị trấn Kẻ Sặt huyện Bình Giang, cắt ngang huyện, qua thị trấn Ân Thi, nối với đường quốc lộ 39 ở Kim Động.

        Về lịch sử văn hóa: Trước kia, dọc đường 38 địa phận xã Tân Phúc có nhiều dấu vết Thánh Gióng đánh giặc Ân là các ao nhỏ (vết chân ngựa) và các bụi tre ngà (vũ khí) liên tiếp trên cánh đồng. Là một địa phương có truyền thông hiếu học, nhân dân Ân Thi xưa kia nối tiếng thông minh. Huyện Ân Thi thời phong kiến đã có nhiều vị nổi danh khoa bảng. Trong gần 10 thế kỷ khoa cử, Ân Thi đã đóng góp 41 nhà đại khoa, đứng đầu toàn tỉnh (toàn tỉnh có 228 đại khoa). Có những làng, xã có truyền thông khoa cử lâu đời như: Thổ Hoàng có 10 đại khoa (trong đó có 1 bảng nhãn, 9 tiến sĩ), Bình Hồ - xã Quảng Lãng, Phù Vệ - xã Tân Phúc... Nhiều người đã thành đạt bằng con đường khoa cử, đỗ tiến sĩ, ra làm quan trong triều đến chức Thượng thư, Tể tướng (bộ trưởng); họ cống hiến nhiều cho dân, cho nước, được ghi nhận vào bia đá lưu giữ ở Văn Miếu (Hà Nội), về văn hóa có: Hoàng Công Chí, người Thổ Hoàng đậu tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, sau đi sứ ở Yên Kinh (Bắc Kinh - Trung Quốc), về địa lý có Hoàng Đình Chính, người Thổ Hoàng đậu tiến sĩ khoa At Mùi (1775) đời Lê Cảnh Hưng, được cử đi sứ Trung Quốc. Đặc biệt là danh tướng Phạm Ngũ Lão ỏ làng Phù Ủng (Ân Thi) là một tướng tài, phò 3 đời vua nhà Trần (Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông).

-----------------------
        1. Huyện lỵ Ân Thi: Lúc đầu ở xã Mão Cầu, rồi chuyển về Bích Chàng (1851), đến năm 1855 lại chuyển về Mão Cầu, năm 1876 chuyển về Ân Thi, nay là xã Hồng Quang.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:41:04 AM

        Phạm Ngũ Lão vốn là gia tướng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn coi ông như người bạn, phải bày mưu làm lễ đổi họ chuyến con gái ruột là quận chúa Anh Nguyên thành con nuôi rồi gả cho Phạm Ngũ Lão. Vị tướng tài đức này đã bốn lần mang quân đi tiễu phạt quân Ai Lao quấy nhiễu, hai lần đánh thắng quân Chiêm Thành và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên (1285-1288), diệt nội phản. Ông là người văn võ toàn tài, trung thành, liêm khiết, được phong là Điện súy Thượng tướng quân. Khi ông mất, vua Trần cho nghỉ triều để tưởng nhớ và được thờ cùng với Trần Quốc Tuấn (Đức Thánh Trần). Nhắc đến danh tướng Phạm Ngũ Lão là nhắc đến một danh thần mà tiếng tăm được gói trong bốn chữ: văn, võ toàn tài1.

        Đồng đất Ân Thi có nhiêu thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng gặp không ít khó khăn do thiên tai gây ra. Không kể 18 năm liền vỡ đê Văn Giang cuối thế kỷ trước, gây bao nỗi khổ cực cho nhân dân. Nỗi khổ cực ấy đã được thể hiện phần nào trong câu ca dao đầy hờn oán như:

       
"Cha đời cái đê Văn Giang
        làm cho phủ Khoái cơ hàn bao năm"

        Vỡ đê nước sông tràn vào, tuy có bồi đắp cho đồng ruộng lớp phù sa sông Hồng màu mỡ, nhưng lại cuốn theo tài sản, xói lở đất đai, đưa cát già đến từng vùng; nghiêm trọng hơn là mùa màng mất trắng hoàn toàn. Lụt đã thế, hạn cũng không kém "mười năm chín hạn". Có năm nắng kéo dài thì những cánh đồng lòng chảo, ao chuôm, sông ngòi cũng khô trắng hoàn toàn, nứt nẻ đến cỏ cũng khó mọc và không sống được, nói gì đến lúa, màu. Cuộc đấu tranh với thiên nhiên diễn ra liên tục, từ đó đã tôi luyện nên phẩm chất tốt đẹp cho con người Ân Thi là: cần cù, chịu khó, giàu nghị lực, thông minh, sáng tạo, yêu quê hương, đất nước.

        Về thương nghiệp ở Ân Thi phát triển chậm. Chợ thì nhiều nhưng chỉ có tính chất buôn bán, trao đổi trong thôn xóm, làng xã với nhau. Cuối thế kỷ XIX Ân Thi có một số chợ lớn như: chợ Gò, chợ Thi, chợ Trương, chợ Đìa, chợ Chiền, chợ Gạo, v.v... và nơi giáp ranh có chợ Giàn, chợ Sặt... nhưng cũng chỉ tiêu thụ lúa, màu, gia súc nhỏ, gia cầm. Chợ buôn bán trâu, bò chỉ tồn tại một thời gian ở thôn Kim Đằng. Kinh doanh thương nghiệp tương đối lớn, phần nhiều nằm trong tay một số ít Hoa kiều, như cửa hàng bào chế bán thuốc bắc ở phố Ngàng, chợ Thi; cửa hàng vật liệu xây dựng (gỗ, luồng, tre, nứa, lá gồi) ở bến Lở (Duyên Yên).

        Số người chuyên nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Ân Thi rất ít, chiếm tỉ lệ rất thấp so với số dân. Nguồn sống chính của người dân trong huyện chỉ trông vào nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt.

        Ngoài cuộc sống vật chất, người dân Ân Thi còn có đời sống tinh thần phong phú. Ân Thi có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và danh nhân nổi tiếng. Đình, chùa ở đây xây dựng chủ yếu vào thế kỷ XVIII, XIX; cũng có một số đình chùa được xây dựng từ thời Lý, Trần, kiến trúc đẹp với những bức chạm trổ tuyệt tác, điển hình là chùa Kim Chung (còn gọi là chùa Chuông) được xây dựng từ năm 1705 đến năm 1719 đời vua Lê Dụ Tông. Đền Xá xây từ năm Minh Mạng thứ 20; đền Đằng Châu, v.v... Đến nay một số đình, đền, chùa đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa như: Đền thờ Phạm Ngũ Lão (xã Phù Ủng); đền thờ Thái Thượng Lão quân (xã Hồng Vân); đền Nhân Vũ (xã Nguyễn Trãi), đền thờ Đê Thích (xã cẩm Ninh). Chùa Trà Lầm là cơ sở của xứ ủy, liên tỉnh B của Tỉnh ủy Hưng Yên vào những năm 1939-1945.

        Đất và người Ân Thi đã trường tồn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt Nam, đã vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt. Họ đã biến những cánh đồng lau sậy thành bờ xôi, ruộng mật. Đất đai ấy thực sự có nhiều khả năng to lớn để phát triển nghề trồng trọt có tính chất đa canh. Thế nhưng dưới xã hội cũ - xã hội thực dân - nửa phong kiến - thực tế ngành trồng trọt không phát triển được; người nông dân bị áp bức bóc lột đến cùng cực. Có áp bức, tức có đấu tranh, người dân Ân Thi đã từng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược và chế độ phong kiến thối nát.

        Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng làm tay sai cho giặc. Lúc đầu thực dân Pháp còn đặt chế độ quân quản. Sau đó, chúng thay thế chế độ quân quản bằng bộ máy hành chính dân sự. Ở thị xã Hưng Yên có tên công sứ người Pháp cầm đầu tỉnh, được giao quyền rộng rãi, đứng đầu về quân sự và chính trị; công sứ cũng là kẻ đứng đầu về tư pháp, trực tiếp làm chánh án tòa án đệ nhất cấp (tư pháp với người Âu) và đệ nhị cấp (tư pháp với người bản xứ).

------------------
        1. Tư liệu lưu trữ tại Phòng Văn hóa huyện Ân Thi.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:42:16 AM

        Nhằm dễ bề bóc lột và lừa bịp nhân dân, thực dân Pháp vẫn giữ và củng cố chế độ chính quyền tay sai phong kiến từ huyện, tổng đến xã. Như vậy, từ khi bị thực dân Pháp xâm lược nước ta huyện Ân Thi đã chuyển từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Tuy nhiên, khi có ánh sáng của Đảng soi rọi, một số người trong bộ máy chính quyền địa phương đã theo cách mạng, tiếp tục tham gia chính quyền địch, nhưng để làm bình phong cho phong trào cách mạng "Ngày làm việc quan, đêm làm việc dân", tiêu biểu như ông Lý Thiệu (Tổng Mếu) ở Ân Thi.

        Từ thực tế cuộc sống, nhân dân Ân Thi đã từng đứng lên đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài để giành quyển sống cho mình và bảo vệ quê hương, đất nước. Ngược dòng lịch sử ta thấy Ân Thi là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng trong trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Từ những năm 1255-1320 An Thi đã có đại tướng quân Phạm Ngũ Lão, người Phù Ủng, văn,võ kiêm toàn. Ông đã góp công cùng nhà Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông. Đến khi thực dân Pháp sang xâm lược, nhân dân Ân Thi mà chủ yếu là nông dân lao động rất hăng hái hưởng ứng tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp ngay từ những ngày đầu của Đổng Quế, Tán Thuật, Kỳ Đồng, Đề Thám, v.v...1. Nổi bật là phong trào Bãi Sậy do anh hùng Tán Thuật lãnh đạo. Nhân dân Ân Thi có những đóng góp không nhỏ kể cả người và của, hầu hết các xã, ít hoặc nhiều đều đã tham gia2, có người đã trở thành thủ lĩnh mưu trí, tài giỏi, có công lớn trong phong trào Hãi Sậy. Điển hình như Đê đốc Khuy ở Huệ Lai, Ân Thi. Ngay thời kỳ địch dựa vào tay sai Hoàng Cao Khải khủng bố dữ dội, con gái Để đốc Khuy là Đốc Huệ đã dem quân bao vây địch ở Phù Cừ - Bình Giang, buộc chúng phải trả lại thủ cấp của thân phụ bà. Ngoài ra còn có Lãnh Tiêm (Ninh Thôn, cẩm Ninh); Đê đôc Tiêm, Tán Đức, Bùi Thị Huân (Nguyễn Trãi); Vũ Thị Hội (Phù ứng), v.v... Phong trào Bãi Sậy bị yếu dần, rồi bị dìm trong biển máu vào những năm 1889-1890, nhiều làng mạc bị triệt hạ, nhân dân bị tàn sát, tù đầy. Hầu hết đề đốc, lãnh binh bị địch giết hại. Một số đã tìm đến vối phong trào yêu nước của Đề Thám ở Yên Thê" (Bắc Giang), trong đó có cụ Gạch người thôn Tòng Củ (xã Vân Du, Ân Thi) còn được khắc tên vào bia đá ở Tân Yên - Hà Bắc (nay thuộc Bắc Giang). Một số lánh sang Lào, Thái Lan. Số còn lại thì tan tác hoặc nằm im. Mặc dù bằng những thủ đoạn tàn sát, tù đầy, hiểm độc, đê hèn đến mấy và phong trào bị tan vỡ, nhưng kẻ thù không thể dập tắt được lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Ân Thi. Ngày đêm họ vẫn nung nấu, thầm lặng rèn luyện ý chí đón chờ thời cơ nổi dậy.

        Những xã có nhiều người tham gia phong trào là: Quang Trung, Đô Lương, Bãi Sậy, Trần Phú, Hồ Tùng Mậu, Hòa Bình, Chiến Thắng, Phan Chu Trinh, Quang Vinh, Bắc Sơn (thuộc Ân Thi).

        Sang đầu thế kỷ XX phong trào kháng Pháp càng sôi nổi, rộng khắp. Điển hình là phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh (1925-1926) được đông đảo học sinh, giáo viên, thanh niên Ân Thi hưởng ứng.

        Nhân dân Ân Thi cần cù lao động, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, không ngừng đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược và chê độ phong kiến thối nát. Truyền thống đó đã thấm sâu vào mỗi người dân địa phương. Những cuộc đấu tranh của ông cha trước đây đã góp phần giữ gìn độc lập - tự do cho dân tộc. Nhưng vì chưa có đường lối đúng đắn của giai cấp công nhân, chưa có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nên các phong trào đấu tranh ấy cuối cùng cũng bị thất bại. Khi có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì truyền thống yêu nước kết hợp với tinh thần cách mạng sẽ trở thành sức mạnh to lớn, là nguồn gốc và nguyên nhân của mọi thắng lợi trong phong trào cách mạng ở Ân Thi vào những giai đoạn lịch sử sau này.

        Người dân quê tôi giàu lòng yêu nước, hiếu học, cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đời sống nhân dân quê tôi vô cùng khó khăn do sự áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai.

        Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làng Vệ Dương, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi cũng là một địa bàn kháng chiến quan trọng của tỉnh Hưng Yên. Vùng đất này còn là cái nôi của đội du kích Hoàng Ngân.

------------------------
        1. Đổng Quế, quê ở Bình Dân, Bình Phú, Khoái Châu, là người tập hợp nghĩa quân chống Pháp đầu tiên, mở đầu cho phong trào Bãi Sậy.

        - Tán Thuật (gọi tắt cả chức và tên) tên thật là Nguyễn Thiện Thuật, quê ở Xuân Dục (Mỹ Hào).

        - Kỳ Đồng là một lãnh đạo phong trào yêu nước từ tỉnh Thái Bình ảnh hưởng sang phía nam Hưng Yên, trong đó có Ân Thi.

        - Đề Thám, quê gốc ở Dị Chế (Tiên Lữ) vốn họ Trương, lúc bé tên Trương Văn Nghĩa, sau lớn đổi thành Trương Văn Thám, khi lập căn cứ ở Yên Thế mới lấy tên là Hoàng Hoa Thám.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:43:04 AM

        Trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ và gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"1 đã nhất tê đứng lên đánh giặc, cứu nước, đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta.

        Nằm trong các huyện phía nam đường số 5, nhân dân Ân Thi đã có hơn 4 năm trực tiếp chiến đấu, mặt giáp mặt với quân thù. Qua hơn 4 năm ấy, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phải chịu đựng biết bao gian khố hy sinh; hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng đã ngã xuống. Hàng ngàn người bị địch bắt, tra tấn, tù đầy... nhiều thôn xóm bị san bằng, đốt trụi nhiều lần. Hàng ngàn nóc nhà bị đốt phá, hàng trăm hécta hoa màu bị tàn phá... Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân huyện nhà đã giữ vững lời thề độc lập, không sợ gian khổ hy sinh, từ khó khăn vươn lên phá thế kìm kẹp của địch, giành thế chủ động, tiến công tiêu hao sinh lực địch. Trong khói lửa của cuộc chiến tranh đã có biết bao tấm gương chiến đấu dũng cảm trước kẻ thù, hơn 2 ngàn người con ưu tú của huyện đã tham gia bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, trong đó có hơn 200 đảng viên. Hơn 6 ngàn người tham gia lực lượng dân quân du kích và hàng vạn lượt người đi dân công đào hào, đắp ụ, tải thương, tải đạn trên các chiến trường. Lực lượng vũ trang địa phương đã đánh trên 80 vị trí, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng, diệt và phá gần 100 xe quân sự.

        Với thành tích mà Đảng bộ và nhân dân Ân Thi giành được trong 9 năm kháng chiến đã được Đầng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương Chiến công, huân - huy chương Kháng chiến các hạng và nhiều bằng khen, giấy khen.

        Sau năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, quê hương Ân Thi cũng là nơi đi đầu trong phong trào cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, phong trào "Ba ngọn cờ hồng" phát triển hệ thống thủy lợi, đào mương dẫn nước tưới tiêu cho ruộng đồng. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người dân quê tôi luôn chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, huy động sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Hàng ngàn người dân đã tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, tham gia quân đội.

        Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, huyện Ân Thi quê tôi và nhiều xã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

        Xã Tân Phúc nằm ở phía bắc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Phía bắc giáp các xã Bắc Sơn và Bãi Sậy; phía nam giáp các xã Hoàng Hoa Thám và Quang Vinh; phía tây giáp xã Đào Dương, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; phía đông giáp xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi và xã Thái Dương, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

        Xã Tân Phúc có quô'c lộ 38 và tỉnh lộ 204 chạy qua. Diện tích tự nhiên 470,44 ha, trong đó đất chuyên canh lúa là 302,29 ha. Quy mô dân sô có hơn 4.000 khẩu với 1.260 hộ gia đình (1999). Mật độ dân số 861 người/km2. Tân Phúc là một xã trung bình vê đất đai và dân số; đất không rộng người không đông, thuần nông chuyên canh cây lúa nước.

        Ngược dòng lịch sử, kể từ năm 1810 trở về trước, vùng đất này có tên là xã Phù Vệ thuộc tổng Phù Vệ huyện Đường Hào, gồm các thôn: Phúc Tá, Đô Mỹ, Linh Đạo, Thị Tân và Ngọc Xuyết. Năm 1932, xã Phù Vệ chuyển về huyện Ân Thi quản lý. Sau đó, Phù Vệ còn có tên là xã Chiến Thắng (bao gồm một phần đất của xã Quang Vinh); nay là xã Tân Phúc, có các thôn: Linh Đạo, Ngọc Nhuế, Phúc Tá, Vệ Dương, Thị Tân và Đồng Môi.

        Nói đến địa danh Tân Phúc, nhiều người trân trọng và thán phục nơi đây là vùng đất hiếu học. Qua gần 10 thế kỷ khoa bảng Việt Nam (từ năm 1075 đến năm 1919) xã Tân Phúc có 9 vị đỗ đại khoa - là một trong số ít xã của tỉnh Hưng Yên có nhiều vị đỗ đạt cao, được lưu danh trên 9 văn bia tại Văn miếu Xích Đằng thành phố Hưng Yên.

        Xưa kia mảnh đất này nằm trong vùng chiêm trũng. Hàng năm, người nông dân rất cần cù, chịu thương chịu khó, "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" để làm ra hạt thóc nuôi nhau. Thế nhưng, thiên nhiên vốn thất thường, luôn gây ra cảnh "chiêm khê mùa thối". Mất mùa, nhà nhà đều chịu cảnh túng thiếu, bữa đói, bữa no. Nhưng các cụ quê tôi khi đó đều có chung một tâm niệm: Để chữ cho con là đầu tư chiều sâu như sách có câu: "Dẫu có bạc vàng trăm ngàn lạng; không bằng để sách một vài pho". Các bậc cha mẹ đã nhẫn nhục nhận cái đói về mình để cho con cái giàu thêm chữ nghĩa. Vì thế, xã Phù Vệ trước đây, nay là xã Tân Phúc đã được mệnh danh là vùng đất hiếu học. Nhiều vị đại khoa đã được ghi danh tại Văn miếu Xích Đằng như: Ngô Văn Phòng đỗ hoàng giáp năm 1484; Lương Đức Mậu đỗ tiến sĩ năm 1511; Ngô Mậu Đôn đỗ tiến sĩ năm 1523; Lương Giản đỗ tiến sĩ năm 1526; Lương Quý đỗ hoàng giáp năm 1532; Ngô Mậu Du đỗ tiến sĩ năm 1565; Ngô Văn Chính đỗ tiến sĩ năm 1637; Đỗ Thạch đỗ tiến sĩ năm 1661.

----------------------
        1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2002, tr. 480.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:43:53 AM

        Ngày nay, người dân xã Tân Phúc quê tôi một năm cấy hai vụ lúa và làm một vụ đông. Sau khi giao đất ổn định lâu dài theo Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy, Tân Phúc đã tiến hành dồn điền đổi thửa, tạo ra một địa bàn thích hợp cho cơ giới hoá khâu làm đất. Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu đổi với cây lúa, đảm bảo tưới tiêu chủ động. Do đó, diện tích lúa chất lượng tăng nhanh, chiếm tỷ trọng lớn, cho giá trị thu nhập cao. Năm 2010, bình quân 1 ha canh tác đạt 86 triệu đồng. Mức tăng trưởng kinh tê hàng năm đạt 12%. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 10-12 triệu đồng/năm.

        Với truyền thống hiếu học có từ xưa, nay cuộc sống của người dân quê tôi đều khá giả, biết phát huy lợi thế của vùng đất: Thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Các bậc cha mẹ đều chú trọng cho con em tới trường để được bằng chị bằng em. Phong trào học tập lan toả khắp các thôn với khí thế người người đi học, nhà nhà cho con em cắp sách đến trường. Các dòng họ đều lập được quỹ khuyên học. Có phần thưởng (gọi là quà) tặng con em trong dòng họ mình mỗi khi học giỏi và đỗ đạt. Tuy giá trị phần thưởng không lớn, nhưng có sức động viên, thúc đẩy các em thi đua nhau học tập để làm hành trang vững bước vào đời. Lời giảng của thầy cô chắp cho thế hệ học sinh thân yêu có thêm đôi cánh để bay cao bay xa, xứng đáng với truyền thông hiếu học của tổ tông, quê hương.

        Những năm gần đây, xã Tân Phúc mỗi năm có tới gần 30 em thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng. Đến nay, xã Tân Phúc có tới hàng trăm người có trình độ đại học và cao đẳng, đang công tác ở khắp mọi miền Tổ quốc. Anh Đặng Đình Tuyến thôn Ngọc Nhuế, đi du học ở Ba Lan có học hàm tiến sĩ.

        Tân Phúc là vùng "Địa linh, nhân kiệt". Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Tân Phúc - vùng đất hiếu học, một miền quê lúa đang đổi thay từng giờ, mạnh mẽ và uyển chuyển, nơi đây nông thôn được ngói hoá, san sát nhà xây kiên cố cao tầng. Thị tứ Tân Phúc nằm trên trục đường giao thông, đông vui sầm uất, đẹp như phố thị. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới còn rất thấp. Một sức mạnh trầm tích đang bùng lên, đưa Tân Phúc vững bước đi lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước1.

        Tân Phúc không chỉ là vùng đất hiếu học mà còn là vùng đất "văn,võ song toàn". Nhân dân Tân Phúc tự hào với lớp lớp con em ra trận, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Và, đã có không ít thanh niên - những người con thân yêu của Tân Phúc, mãi mãi lưu tuổi xuân trong lòng đất mẹ Việt Nam và trên vùng đất của bạn bè quốc tế. về làng, có người là thương binh, bệnh binh, nhiều người mang quân hàm cấp tá, cấp tướng. Trong đó, tôi vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1973) và phong quân hàm Trung tướng (năm 1999), góp phần làm sáng danh vùng quê lúa...

        Hơn 40 năm thoát ly vào Quân đội, tôi luôn tự hào về quê hương, nơi nuôi dưỡng, ôm ấp và chắp cánh cho tuổi thơ của tôi. Quê hương không thể thiếu với mọi người, tôi cũng vậy, quê hương luôn ở trong trái tim, thôi thúc động viên tôi cống hiến, phục vụ nhiều hơn. Trong suy nghĩ của tôi, quê hương, đất nước luôn là tổ ấm thiêng liêng, là máu thịt, mảnh đất nuôi dưỡng sự trưởng thành của mỗi gia đình, dòng họ.

        Ngược dòng lịch sử của gia tộc, ông nội tôi sinh ra tại làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngày nay báo chí vẫn đôi lần nhắc đến gọi là làng Tiến sĩ. Gia đình nhà tôi bắt đầu về sống ở nơi đồng đất Hưng Yên từ đời ông nội tôi. Ông tên là Nguyễn Sỹ Chấn, sinh năm Giáp Thân (1884), năm lên 7 tuổi (năm Canh Dần - 1890) do anh em cãi nhau, ông bỏ đi không biết đường về, rồi càng đi càng mất phương hướng. Những ngày sau đó, ông được một người đi chợ Kẻ Sặt là cụ Thông Phạp thấy chú bé bơ vơ đã mang về nuôi. Nghe tin đó, cụ Đội (Nguyễn Văn Môn, thường gọi là cụ Đội Môn) đã xin về làm con nuôi, thế là cuộc đời ông, gia đình cháu chắt của ông lập cơ nghiệp tại thôn Vệ Dương (trước đây thuộc xã Hoàng Hoa Thám), sau hòa bình thuộc xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

        Sau này, ông đã nhiều lần về quê, nhưng nghĩa tình nuôi lớn đã níu kéo ông và gia đình gắn chặt với đồng đất Hưng Yên. Bố tôi - con trai ông là Nguyễn Văn Hãn cũng đã một đôi lần muốn về nơi quê cha đất tổ nhưng vẫn không thành. Các cụ có câu "Cha sinh không tày mẹ dưỡng". Đời chúng tôi đã gộp cả sinh và dưỡng nên ở đâu cũng là gia đình, làng xóm ấm áp tình người. Một điều ngẫu nhiên rất trùng hợp là, cụ Đội nhận ông tôi làm con nuôi cũng là họ Nguyễn; nên từ đây có chi họ Nguyễn làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phát tích tại Hưng Yên.

---------------------
        1. Tư liệu lưu trữ tại Phòng Văn hóa huyện Ân Thi.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:45:26 AM

        Tôi ở đời thứ 20, theo gia phả còn ghi lại, gia đình tôi thuộc chi anh Bá Lanh là Chi trưởng, nhưng anh đã mất năm 1959, các cháu con của anh Bá Lanh đều sinh một bề là con gái, nên sau này tôi được toàn bộ chi nhất trí cho làm Chi trưởng họ Nguyễn làng Kim Đôi - dòng họ có 18 tiến sĩ thời phong kiến (từ năm 1466 đến năm 1700), đặc biệt có một gia đình có 5 tiến sĩ - đây là chuyện ít nơi nào có trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ. Lúc còn nhỏ tôi chưa được biết nhiều về cội nguồn gia đình mình. Khi lớn lên tôi được bố mẹ đưa về tìm lại gốc tích quê hương, được làm Chi trưởng để nối nghiệp dòng họ tôi mới nhận thấy trong sức mạnh tinh thần to lớn của mỗi con người đều được bắt nguồn từ sức mạnh truyền thông gia đình, dòng họ, quê hương và cao hơn cả là sức mạnh truyền thống của dân tộc. Tôi còn nhớ mãi cái ngày mà cả chi giao cho tôi trọng trách làm Chi trưởng, lúc đó tôi còn trẻ, đang là một chiến sĩ rađa. Lần ấy, được cùng bố mẹ vê thăm quê nhân ngày giỗ tổ, anh Bá Lanh - Chi trưởng đã mất. Sau khi làm lễ thắp hương trước bàn thờ họ, tôi được các ông bà, cô bác trong họ giao làm Chi trưởng đảm trách việc hương khói tổ tiên của dòng họ. Khi đó, trong tôi như có thêm nguồn sức mạnh ngầm thúc đẩy bản thân rèn luyện, phấn đấu để xứng đáng với các bậc tổ tiên dòng họ và làm gương cho con, cháu sau này.

        Họ Nguyễn nhà tôi có 18 tiến sĩ được vinh danh ở các triều đại trong lịch sử dân tộc: Đó là: Nguyễn Nhân Thiếp: đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận 7 (1466) năm 50 tuổi làm quan Lại bộ Thượng thư; Nguyễn Nhân Bỉ: đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất (1466) năm 19 tuổi và năm Tân Sửu 1481 (vì khoa trước không đỗ cao và năm 1481 thi lại), có đi sứ, làm quan Binh bộ Thượng thư, có tham dự Tao đàn; Nguyễn Nhân Dư: đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) năm 17 tuổi làm quan Hiến sát sứ; Nguyễn Đạc: đỗ tiến sĩ khoa At Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475), năm 18 tuổi làm quan Hàn lâm Viện Hiệu thảo; Nguyễn Nhân Trù: đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, làm Hải Dương Hiến sát sứ; Nguyễn Huân: đỗ bảng nhãn khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức 27 (1496) năm 21 tuổi, làm quan Lễ bộ Thượng thư sau thăng Thái bảo; Nguyễn Đạo Diễn: đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), năm 29 tuổi, làm quan Hiến sát sứ; Nguyễn Củng Thuận: đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496) năm 25 tuổi, làm quan Lại bộ Tả thị lang; Nguyễn Kính: đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496) năm 18 tuổi, hai lần đi sứ, làm quan Thượng thư; Nguyễn Xung Xác: đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Thuận 7 (1466), lúc đầu tên gọi Nhân Phùng sau đổi Trọng Xác, rồi lại đổi là Xung Xác, làm quan Lễ bộ Tả thị lang chưởng Hàn lâm Viện, dự hội Tao đàn; Nguyễn Hoành Khoản: đỗ tiến sĩ khoa Canh Mùi niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) năm 20 tuổi; Nguyễn Lượng: đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Thuận Bình 8 (1556) làm quan Thượng thư; Nguyễn Dũng Nghĩa: đỗ hoàng giáp khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức 24 (1493), làm quan Giám sát ngự sử; Nguyễn Lý Quang: đỗ hoàng giáp khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508); Nguyễn Năng Nhượng: đỗ hoàng giáp khoa Nhâm Tuất niên hiệu Chính Trị 5 (1562), năm 27 tuổi, có đi sứ làm quan Thượng thư tước Đạo phái hầu; Nguyễn Quốc Quang: đỗ tiến sĩ khoa Canh Thân niên hiệu Chính Hòa 21 (1700), năm 25 tuổi, làm quan Tự khanh; sau đối tên là Quốc Ánh; Nguyễn Tất Thông: đỗ tiến sĩ khoa Tân Sửu (1481), làm Tri huyện Lập Thạch; Nguyễn Nhân Bị: đỗ tiến sĩ khoa Tân Sửu làm Binh bộ Thượng thư, dự Tao đàn1.

        Mười tám tiến sĩ là niềm tự hào của dòng họ; trong 18 cụ, có 2 cụ làm đến chức quan Lễ bộ Thượng thư, dự Tao đàn, 2 cụ làm đến chức Binh bộ Thượng thư, 2 cụ làm đến Lại bộ Thượng thư, 2 cụ làm đến Hộ bộ Thượng thư...

        Thật hiếm có dòng họ nối chí cha ông, thi đua nhau đèn sách học hành, chỉ mong sao cho con cháu được học tập để không hố thẹn với đời, học để lập thân, lập nghiệp. Đây là một trong những dòng họ phát tích lâu đời trên vùng đất Kinh Bắc, ở triều đại nào cũng có người học hành đỗ đạt cao và được cử làm quan trong triều đình. Gia phả họ Nguyễn làng Kim Đôi ghi lại rằng: "Vốn xưa nghiệp võ nhà Trần, nhiều công giúp nước văn khoa hiển đạt triều Lê; kế thế công khanh Lê Thánh Tông khen: "Kim Đôi gia thế, áo đỏ, áo tía đầy triều"; cha chú đồng khoa tiến sĩ, con cháu nối dòng thi đỗ cùng vào vườn thượng uyển hái hoa, rỡ ràng bia đá, quốc sử ghi tên 18 tiến sĩ khoa danh Thăng Long Văn miếu thành truyền thống, thiên tài, phúc hậu nhờ nghĩa huấn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ mà chuyên cần học tập, có chí thì nên; nhà nghèo chỉ có tiền kẽm gỉ xanh đi thi mà bảng vàng tên đỏ"2. Truyền thông họ Nguyễn làng Kim Đôi lấy "chí" để lập nghiệp, lấy "trung" để phụng sự Tổ quốc, đề cao "nhân, đức, liêm, chính" làm lẽ sống. Các cụ giữ chức quan đều là quan thanh liêm, làm việc thiện để thu phục nhân tâm.

--------------------------
        1. Trích Gia phả họ Nguyễn làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

        2. Trích Gia phả họ Nguyễn làng Kim Đôi.



Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:45:48 AM

        Truyền thông dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi luôn in sâu trong tâm khảm của tôi, hình thành trong tôi từ rất sớm nghị lực vượt qua khó khăn, gian khổ, kiên trì học tập, rèn luyện, phấn đấu không vì danh lợi cá nhân mà lấy cống hiến của bản thân để phụng sự Tổ quốc, trung thành với Đảng, hết lòng phục vụ nhân dân làm mục đích phấn đấu, làm lẽ sống cao cả của bản thân mình và dạy dỗ con cái trong gia đình.

        Bố tôi tên là Nguyễn Văn Hãn, sinh năm 1912. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, loạn ly khi thực dân Pháp vào xâm lược nên bố tôi phải đi làm con nuôi, thực chất là đi ở, làm thuê, cuốc mướn từ nhỏ.

        Mẹ tôi tên là Phùng Thị Thai, sinh năm 1915 trong một gia đình bần nông nghèo nên không được học hành, chỉ ở nhà làm việc đồng áng phụ giúp bố mẹ. Quê gốc họ ngoại tôi ở Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, cùng tha phương cầu thực đến lập nghiệp tại thôn Vệ Dương, xã Tân Phúc. Đúng là duyên kỳ ngộ, bố mẹ tôi đêu có quê gôc ở Bắc Ninh, chỉ khác huyện mà thôi và cùng có nơi sinh là xã Tân Phúc huyện Ân Thi.

        Mẹ tôi là người phụ nữ hay lam hay làm. Khi đi lấy chồng mẹ tôi vừa phải gánh vác công việc nhà chồng vừa phải trông nom, chăm sóc bố mẹ đẻ, vì ông bà ngoại tôi chỉ sinh được hai người con gái, mẹ tôi là chị cả.

        Mẹ tôi kể, khi mới về làm dâu mẹ phải xép lép lắm vì xuất thân từ gia đình nghèo khó, không được học hành gì nên khi về làm dâu gia tộc có dòng dõi trâm anh lúc nào cũng phải đau đáu nghĩ phải làm gì để xứng với gia tộc họ Nguyễn. Lần đầu về thăm quê nội (làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), mẹ tôi được chị dâu giao cho đi chợ mua sắm đồ chuẩn bị làm giỗ tổ để thử mẹ tôi xem có xứng đáng là dâu họ Nguyễn Sỹ không? Khi mẹ tôi đi chợ về bác kiểm tra và nói: Thím mua thế này là đúng, giỗ nhà mình thường sắm như vậy và bác tỏ ra rất vui và thương quý mẹ tôi hơn. Hàng năm, bố mẹ tôi đều về quê đôi ba lần nên mẹ tôi rất nhanh hòa nhập và là người con dâu được họ hàng quý mến.

        Mẹ tôi là người luôn bận rộn, hết lo việc nhà, trồng rau, nuôi gà, chăn lợn... đến việc ngoài đồng, rồi việc làng xóm, ít khi ngơi tay. Những lúc rảnh rỗi, mẹ tôi còn đi cấy mướn kiếm thêm cái ăn cho gia đình. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một nách 3 con nhưng mẹ tôi vẫn tham gia Đội du kích Hoàng Ngân, tham gia phá đường, cản xe địch, đào hầm che giấu cán bộ Việt minh. Khi hòa bình lập lại, mẹ tôi tiếp tục tham gia làm cán bộ phụ nữ ở thôn, xã, làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1960. Sau đó làm Bí thư chi bộ thôn. Hình ảnh của mẹ tôi luôn để lại trong tâm trí tôi là sự cần cù, tần tảo, rất mực yêu chồng, thương con.

        Cả cuộc đời bố mẹ tôi gắn bó với đồng ruộng, tần tảo, lầm lũi suốt ngày hết ngoài đồng lại về trong vườn, không lúc nào tôi thấy bố mẹ ngơi tay.

        Sinh thời, bố mẹ tôi rất thương con nhưng cũng rất nghiêm khắc trong giáo dục, dạy bảo con cái trưởng thành. Từ nhỏ mẹ đã dạy tôi biết làm những việc trong nhà, biết yêu thương anh chị em và mọi người xung quanh. Hằng ngày tôi vừa đi học, vừa phải phụ giúp bố mẹ những công việc đồng áng. Bố tôi là người hiền lành, phúc hậu, sống nghĩa tình, được mọi người dân trong làng quý mến, kính trọng. Khi tôi mới lớn lên, bố đã dạy tôi phải biết cày, biết bừa ruộng, biết trồng lúa và làm đay (một loại cây công nghiệp gieo trồng, thu hoạch rất vất vả đế cung cấp sợi tơ cho ngành công nghiệp dệt). Nhờ vậy ngay từ lúc 15 tuổi tôi cũng đã biết được nhiều việc, cả việc ruộng đồng và việc trong nhà. Tuổi thơ của tôi trôi đi trong tình thương yêu của gia đình, họ hàng, làng xóm xen lẫn với những vất vả, nhọc nhằn của gia đình nông dân nghèo.

        Mẹ tôi kể, bố mẹ tôi lấy nhau từ năm 17 tuổi nhưng mãi không sinh con. Ở thời buổi ấy, tuổi như bố mẹ tôi mà chưa sinh con đầu lòng được coi là những người muộn có con.

        Thấy vậy, ông bà ngoại tôi lo lắng bảo bố mẹ tôi nhận nuôi một người con trai - con của chị gái để dễ sinh con và nuôi con không vất vả. Đây là quan niệm của các cụ ngày xưa. Vậy mà cũng mấy năm sau bố mẹ tôi mới sinh ra tôi. Khi sinh ra tôi (năm 1938), bố tôi đã 27 tuổi, ông bà và họ hàng đều mừng cho bố mẹ tôi vì đã có con đầu lòng dù hơi muộn. Lúc tôi mới sinh không làm giấy khai sinh nên bố mẹ đặt tên cho tôi là An để ghi nhận ân nghĩa Trời, Phật đã cho bố mẹ tôi một đứa con. Sợ tôi khó nuôi, ông bà, bố mẹ tôi đã gửi tôi vào chùa (bán cho Đức Ông) và tôi được đặt lại tên là Phiệt. Từ đó, tên thường dùng và sau này tên trong giấy khai sinh của tôi đều lấy là Nguyễn Văn Phiệt.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2020, 09:46:15 AM

        Anh nuôi tôi tên là Nguyễn Văn Tiến, được bố mẹ tôi nuôi, đến khi anh xây dựng gia đình và đi bộ đội địa phương thì mới ra ở riêng. Tôi nhớ năm 1953, địch bắt được anh, chúng đưa về giữa sân đình làng tra tấn, lúc đó anh vẫn mặc bộ quần áo nâu bình thường. Nghe nói, anh mang theo khẩu súng "mútcơtông" nhưng đã vùi ngoài ruộng, chẳng có chứng cớ gì nhưng chúng vẫn tra tấn anh rất dã man. Chúng đánh để bắt anh khai các cơ sở cách mạng của Việt minh, nhưng anh tôi không khai. Cứ thế chúng đánh đập anh để lung lạc ý chí của nhân dân và gia đình. Nhưng chúng đã nhầm, nhân dân cả thôn Vệ Dương hầu hết đi theo cách mạng, theo Việt minh, đi theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, đánh đổ bè lũ địa chủ, cường hào, ác bá - tay sai của thực dân Pháp.

        Sau khi tra tấn, đánh đập không lấy được lời khai chúng thả anh ra, anh được chăm sóc ở nhà hơn một tuần sau đó anh tiếp tục về đơn vị. Tháng Tám năm 1953, anh chuyển sang bộ đội chủ lực và được cử đi học lái xe, rồi tham gia chiến đấu ở mặt trận Điện Biên Phủ. Sau đó, anh cùng đơn vị sang chiến đấu trên chiến trường nước bạn Lào.

        Sau ngày hòa bình năm 1954, anh tiếp tục lái xe cho các đồng chí lãnh đạo vả trực tiếp lái xe cho đồng chí Lê Quang Hòa. Năm 1983, anh nghỉ hưu về sống tại quê cùng vợ, con và các cháu. Những hình ảnh anh bị giặc tra tấn dã man trước mắt tôi và gia đình lúc đó cứ theo tôi mãi trong suốt cuộc đời quân ngũ, nhất là trong những lúc chiến đấu ác liệt phải đối mặt với máy bay, tên lửa, bom đạn của kẻ thù xâm lược tàn phá quê hương, giết hại những người dân lương thiện, vô tội, tiếp thêm lòng dũng cảm và chí căm thù để tôi cùng đồng đội chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

        Tôi lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nô dịch, người dân lương thiện bị áp bức, bóc lột nặng nề, đời sông vô cùng khó khăn, thiếu thốn, khổ cực, cơm không đủ ăn, phải chịu đói rét quanh năm ngày tháng.

        Lúc nhỏ, anh em tôi luôn được bố mẹ yêu chiều. Mỗi lần đi chợ về mẹ đều mua quà, khi thì nắm bỏng gạo trộn đường, khi thì quả ổi, quả thị, hay củ sắn, bắp ngô. Mẹ tôi kể, hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, những năm dân ta phải chạy loạn vì giặc càn, mẹ tôi để tôi vào cái thúng đặt vào một đầu quang gánh, còn đầu kia để đồ đạc rồi gánh đi chạy giặc. Có những lần tôi xin mẹ cho tự đi nhưng mẹ vẫn không đồng ý vì sợ tôi bị lạc giữa dòng người đông đúc không biết đâu mà tìm. Nhiều lần tôi đòi theo cậu Tráng (em họ mẹ tôi) là bộ đội địa phương nên lúc nào bên người cậu cũng đeo vài quả lựu đạn mỏ vịt và con dao găm nhưng mẹ tôi cũng sợ cậu sơ suất để tôi nghịch làm nổ lựu đạn hoặc mải việc lại quên để tôi bị lạc nên không cho. Có một lần tôi trốn mẹ đi theo cậu và lúc mỏi chân bắt cậu cõng trên lưng hàng giờ liền. Không thấy tôi đâu mẹ tôi đã nước mắt ngắn nước mắt dài di tìm khắp nơi. Khi thấy cậu cõng tôi trên lưng, mẹ tôi cứ mắng cậu mãi, cậu chỉ cười và nói: chị sợ con chị chết à, đi với cậu thì chết sao được mà khóc ghê thế.

        Sau này khi tôi đã có vợ rồi mà mẹ vẫn chiều và vẫn phần quà bánh cho tôi. Đến khi tôi nhập ngũ trở thành bộ đội Cụ Hồ và có con rồi mẹ vẫn gọi tôi một cách âu yếm. Khi tôi đi bộ đội rồi chỉ thăm mẹ qua những lá thư gửi về từ trận địa và những lần nghỉ phép ngắn ngủi.

        Vợ tôi kể, giai đoạn đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, chúng tôi không được nghỉ phép vì Bộ đội Phòng không phải luôn thay phiên nhau trực sẵn sàng chiến đấu mẹ cứ mong ngóng tôi về từng ngày. Mãi đến hết chiến dịch phòng không chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai (năm 1972) tôi mới được đi tranh thủ nên viết thư báo trước về nhà. Khi biết tin tôi sắp được nghỉ, trong vườn có quả mít chín mẹ tôi không cho hái mà bắt để dành chờ tôi về.

        Có thời kì khó khăn cả nhà luôn phải thái rau má, rau muống mang phơi khô để nấu độn cùng cơm ăn cho no và có độn như thế mới đủ gạo ăn cho cả nhà quanh năm. Nhưng khi tôi về nghỉ phép mẹ tôi bảo vợ tôi nấu cơm trắng chứ không độn rau như mọi ngày. Tôi thưa với mẹ là ở bộ đội cũng phải ăn độn cơm với hạt mỳ và bo bo và bảo vợ cứ nấu cơm độn rau nhưng mẹ tôi nhất định không chịu. Mẹ nói: cả năm, có khi mấy năm con mới được về nghỉ phép với gia đình, bắt con ăn cơm độn rau sao được! Nghe mẹ nói như vậy tôi rất xúc động và cảm ơn mẹ đã lo lắng và thương yêu tôi như ngày nào dù tôi đã lớn, đã trưởng thành rồi.

        Bố mẹ tôi đã chắt chiu, chịu đựng sự vất vả cả đời mình để cho con cháu được học hành, tiếp nối truyền thống hiếu học của gia đình, làm rạng danh dòng họ, quê hương.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:35:39 AM

        Sống trong vùng tề bị địch o ép (vùng tề quê tôi khác các vùng tề khác là thực dân Pháp không kiểm soát được hoàn toàn), nên không có trường để chúng tôi đi học. Đến tuổi đi học, mẹ tôi đã lặn lội lên tận thị trấn Yên Mỹ, cách nhà tôi trên 10 km để hỏi chỗ trọ để tôi được đến trường học văn hóa. Yên Mỹ cũng là một vùng địch tạm chiếm (còn gọi là vùng tề) nên thực dân Pháp cho mở trường dạy Pháp ngữ và quốc ngữ. Sau nhiều ngày vất vả tìm kiếm cuối cùng mẹ tôi cũng hỏi nhờ được nhà ông Long ở thôn Trai Trang thuộc thị trấn Yên Mỹ cho tôi trọ học. Hàng tháng mẹ tôi tính ngày lương ăn để định kỳ mang lên tiếp tế cho tôi; đôi khi mẹ còn may và mang lên cho tôi những bộ quần áo mới để tôi yên tâm học hành, không phải lo lắng về cái ăn, cái mặc, chỉ tập trung học hành cho bằng bạn bằng bè.

        Khi tôi bắt đầu học sang lớp nhất thì trường phải đóng cửa vì thầy giáo bị thực dân Pháp bắt nên tôi phải về quê. Thấy tôi không được đi học tiếp bố mẹ tôi cũng sốt ruột nhưng hoàn cảnh chiến tranh, loạn lạc lúc bấy giờ không có nơi nào gần quê tôi mở trường lớp đế dạy học. Hơn 1 năm sau mẹ tôi lại lặn lội lên tận thôn Đá thuộc xã Quang Vinh, cách nhà tôi khoảng 3 km để gặp thầy giáo Kính xin cho tôi học ở nhà thầy. Năm 1952, tôi đã tốt nghiệp lớp nhất, tương đương lớp 4 hệ phổ thông 10 năm.

        Phải đi học ở những trường xa như vậy tôi mới thấy thương bố mẹ rất nhiều. Bố mẹ tôi vất vả làm lụng, một nắng hai sương mà nhà vẫn thiếu đói, ngoài hai mùa vụ mẹ tôi còn phải đi làm hàng xáo (mua thóc (còn gọi là ăn đong) ở nơi giá thấp bán ở nơi giá cao) đế kiếm thêm tiền nuôi cả nhà; có khi bố mẹ tôi phải mang về tự xay, giã thành gạo để đem bán, lãi thêm phần trấu, cám. Mỗi chuyến đi như vậy, bố mẹ tôi phải vất vả mất 2-3 ngày mới kiếm thêm được mấy đồng để thêm vào nuôi sống cả nhà và cho tôi ăn học.

        Được đi học là tất cả tâm nguyện của bố mẹ tôi, sau này được tìm hiểu về họ hàng, tổ tiên, tôi càng thấy kiêu hãnh, tự hào về gia đình, dòng họ và nguyện cố gắng phấn đấu để không phụ lòng mong mỏi của bố mẹ.

        Tôi là con trưởng, nhưng vì nhiệm vụ nên luôn phải đi xa, không được ở gần để giúp đỡ, phụng dưỡng bố mẹ. Cuộc đời bố mẹ tôi lam lũ từ nhỏ, chỉ được mấy năm cuối đời khi tôi được nghỉ công tác mới có điều kiện để chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ. Tuy nhiên, lúc này tuổi bố mẹ tôi đã gần 90, tôi cũng chẳng phụng dưỡng báo hiếu được bao nhiêu.

        Làng quê tôi những năm kháng chiến chống Pháp rất nghèo, buổi tôi chỉ có đèn dầu. Chúng tôi chỉ mong những đêm trăng sáng để bạn bè rủ nhau đi chơi dưới trăng. Những đêm mùa hè như thế, bọn trẻ chúng tôi thường tụ tập ở một nhà đứa bạn có sân rộng để chơi trò "trốn tìm". Những trò chơi này rất phổ biến với trẻ con ở quê tôi lúc bấy giờ, nó đem lại sức khỏe, trí tuệ cho những đứa trẻ ở nông thôn nghèo. Ngoài việc vui chơi đêm hè, hằng năm chúng tôi chỉ mong đến ngày Tết Trung thu để được các anh, các chị thanh niên tổ chức liên hoan văn nghệ. Những năm tháng vô tư, hồn nhiên của tuổi thơ cứ trôi qua như vậy với biết bao kỷ niệm buồn, vui.

        Trong những ngày hè, ngoài việc vui chơi tôi vẫn phải thường xuyên giúp bố mẹ chăn trâu, cắt cỏ, làm các công việc trong gia đình như bao đứa trẻ khác. Đến năm 1951, 1952 tôi được các anh chị phụ trách Đội thiếu niên - nhi đồng của xã và thôn đưa vào đội hát. Hàng đêm, vào những ngày hội, chúng tôi lần lượt đến các thôn Tam Đô, Bổ, Mụa, An Đạm, xã Hoàng Hoa Thám để biểu diễn và diễn thuyết những nội dung do các anh chị phụ trách chuẩn bị từ trước; nhiều lần tôi được tập diễn thuyết trước các anh bộ đội của huyện. Người tôi bé và thấp nên phải bắc ghế đẩu để đứng lên diễn thuyết. Tuy đã tập nhiều lần, nhưng khi nói tôi vẫn run nên chưa được trôi chảy, người em họ của tôi tên là Nguyễn Đức Triệu - bộ đội huyện Ân Thi phải đứng sau để nhắc. Sau này tôi mới biết, chính những việc làm của chúng tôi là làm công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng đến với nhân dân.

        Năm 1953, ở vùng châu thổ sông Hồng quê tôi địch ráo riết xây dựng đồn bốt, chà xát các thôn làng để tách Việt minh với nhân dân. Thôn Vệ Dương quê tôi, nằm giáp ranh giữa vùng tự do Hải Dương và vùng địch chiếm đóng gọi là "tề" nên thường xuyên có cán bộ Việt minh về làng để lãnh đạo kháng chiến, việc canh gác phải rất chặt chẽ. Bốt địch đóng cách làng tôi khoảng 2km (gọi là bốt Mới) để khống chế dọc đường quốc lộ 38, án ngữ vùng tự do bên kia Hải Dương cùng với các bốt lớn ở Đọ, Đơm (Bình Trì) lập thành tuyến đầu án ngữ không cho Việt minh đánh trực tiếp các bốt lớn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:36:10 AM
       
        Hàng ngày, chúng hay tổ chức đi tuần vào các thôn, làng gần đó để lùng sục, bắt bớ nhân dân đi làm phu. Thôn tôi sống trong cảnh o ép, ngày nào cũng vậy cứ 5 đến 10 người, có khi đông hơn bị bắt lên bốt để làm phu (đào đắp công sự, dọn dẹp vệ sinh)... Khác với các làng trong xã, làng tôi là làng "tề" nhưng trong làng lúc nào cũng có cán bộ Việt minh, khi địch đến thì cán bộ xuống hầm bí mật. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ, bố mẹ tôi đào hầm trong nhà nuôi giấu cán bộ, chăm sóc thương binh và hoạt động cách mạng. Thời đó ở làng tôi cứ thấy Tây, thấy lính dõng từ xa chuẩn bị càn vào thôn là đánh kẻng và hô to "Việt minh"... Đây chính là những tiếng loan báo để đánh động cho cán bộ Việt minh họp ở đâu đó trong làng biết kịp tìm chỗ ẩn nấp, đảm bảo an toàn. Cũng có lúc bị chúng đánh úp, địch đến đầu làng rồi mới biết để thông báo nên nhiều cán bộ đã không kịp xuống hầm phải nhảy xuống ao bèo ẩn nấp. Những lúc như vậy tôi cũng phải vào hầm bí mật ẩn nấp nhiều lần.

        Chứng kiến nhiều tội ác của giặc Pháp và hàng ngày được tham gia hoạt động cùng các anh chị phụ trách, trong tôi luôn nung nấu suy nghĩ: mình phải làm gì để giúp đỡ cách mạng? Và từ đó, cứ mỗi lúc một việc, tôi đã đi theo các anh Việt minh từ lúc nào không biết. Nhiều lần tôi được các anh tin tưởng, giao nhiệm vụ bằng truyền đạt miệng, chuyển thông tin, tài liệu cho các đồng chí trong xã và các xã bạn lân cận.

        Tôi nhớ, có lần mang tài liệu đến thôn Ngọc Đồng giao cho anh tên là Kiên. Khi xong, ra khỏi làng thì có hai máy bay Hencát bay đến ném bom, bắn phá. Lúc đó người dân đi đường đông lắm, tất cả cùng nhảy xuống con sông chỉ rộng chừng bảy, tám mét toàn bèo và rau muống. Lúc máy bay sà xuống, mọi người cứ lấy bèo phủ kín để nó không nhìn thấy; trông mọi người lúc đó thật buồn cười và ngộ nghĩnh. Thòi kỳ sau hòa bình, năm 1954, khi xây dựng hệ thông sông Bắc - Hưng - Hải (Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương), con sông đó được khai rộng ra và gọi là sông Điện Biên.

        Thấy tôi đi theo các anh chị phụ trách hoạt động như vậy bố mẹ tôi không yên tâm vì vẫn muốn tôi tiếp tục học để lập thân, lập nghiệp nên khuyên nhủ tôi nên tập trung để học hành. Năm 1952, tôi học hết lớp nhất và đi tham gia cách mạng một thời gian, sau lại về học tiếp tại Trường cấp II Ân Thi. Lúc đó cả huyện An Thi có một trường cấp II. Tuổi học sinh thời đó không như bây giờ, tôi còn nhớ khi đó tôi đã lớn mà vẫn học với các em còn bé, quàng khăn đỏ. Có lẽ, lúc đó tôi nhiều hơn bạn bè cùng lớp đến bốn, năm tuổi gì đó. Khi học cấp II, hàng năm tôi đều được bầu làm lớp trưởng và học lực luôn xếp thứ nhất lớp nên được các thầy, cô giáo quý mến, bạn bè trong lớp, trường yêu quý. Tôi luôn mơ ước học xong cấp II, sẽ đi học một nghề gì đó để lập nghiệp sau này. Mơ ước của tuổi học trò thật trong sáng và giản dơn. Nhưng khi đất nước còn bị chia cắt làm hai miền, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của thanh niên là thiêng liêng, cao quý nhất, đang được đặt lên hàng đầu. Đáp ứng yêu cầu chi viện chiến trường miền Nam, bạn bè đồng trang lứa với tôi lần lượt nối bước nhau nhập ngũ thì tôi lại mong muốn được nhập ngũ để góp một phần sức nhỏ bé của mình vào cùng quân và dân ta kháng chiến chống Mỹ, giải phóng đất nước, thu giang sơn về một mối.

        Năm 1959 là năm tuyển nghĩa vụ đầu tiên của tỉnh Hưng Yên. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ kính yêu, tôi cùng bạn bè xung phong tham gia tuyển nghĩa vụ quân sự đợt này. Trong thôn tôi có 5 người đi dự tuyển thì 4 người trúng tuyển, chỉ mình tôi không đạt tiêu chuẩn về sức khỏe. Hội đồng tuyển nghĩa vụ kết luận tôi bị lệch tim, họ nói tim nằm ở bên phải. Khi nghe Hội đồng kết luận như vậy tôi rất buồn, bởi đất nước đang chiến tranh, non sông còn bị chia cắt nên nhập ngũ để làm nghĩa vụ của người thanh niên là vinh dự hàng đầu, là ước nguyện không chỉ của riêng tôi mà là của tất cả lớp thanh niên thời bấy giờ. Bạn bè cùng trang lứa động viên tôi rèn luyện thêm sức khỏe đế lần sau lại tham gia tuyển chắc sẽ trúng tuyển.

        Sau một thòi gian kiên trì rèn luyện, đầu năm 1960, tôi lại xin đi tuyển tiếp và đã trúng tuyến, với kết quả đạt loại Al. Tôi phấn khởi báo tin cho bố mẹ, người thân trong gia đình và chuẩn bị sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ của thanh niên bảo vệ Tổ quốc. Biết tin tôi trúng tuyển nghĩa vụ, bố mẹ tôi vừa mừng vừa lo, mừng vì tôi được cùng bạn bè thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng là bảo vệ Tổ quốc và lo vì bố mẹ sợ tôi chưa quen chịu đựng gian khổ sẽ không theo kịp được bạn bè, đồng đội. Những ngày chờ nhập ngũ, bố mẹ không chỉ chuẩn bị cho tôi những đồ dùng cần thiết mà còn động viên tinh thần, nhắc nhở tôi cố gắng phấn đấu, rèn luyện cho bằng bạn bằng bè, đừng lo lắng cho bố mẹ ở nhà. Khi nhập ngũ tôi có thêm một nỗi lo ngoài lo lắng cho bố mẹ là lo cho người vợ trẻ và đứa con vợ tôi mới mang bầu được mấy tháng.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:36:35 AM

        Vợ chồng tôi cưới nhau vào mùa thu năm 1957, đến nay vẫn được coi là vợ chồng son, biết tôi có nguyện ước muốn thoát ly nên bố mẹ tôi đã cùng ông cậu đi hỏi vợ cho tôi. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ bố mẹ tôi hỏi vợ cho anh Ứng (anh họ tôi) vì anh hơn tôi 3 tuổi. Chả là lúc đó tôi với anh "con chấy cắn đôi" lúc nào cũng có nhau như hình với bóng. Tôi lúc đó đang học cấp II nên không nghĩ gì chuyện vợ con. Khi biết gia đình ép lấy vợ, tôi rất bất ngờ và phản đối kịch liệt. Bố mẹ tôi cứ ép và phân tích mãi làm tôi cũng phải suy nghĩ lại, buộc phải chấp nhận sự sắp xếp của gia đình. Bố mẹ lấy cớ tôi đi bộ đội, ra chiến trường biết thế nào nên muốn có người đỡ đần công việc nhà và nhờ cậy khi tuổi cao.

        Vợ tôi tên Đào Thị Hoa, sinh năm 1940 trong một gia đình bần nông nghèo, lúc nhỏ gia đình khó khăn nên cũng không được học hành gì mà phải ở nhà bế em và phụ giúp bố mẹ việc nhà. Ở quê tôi ngày đó, con gái ít được đến trường, cả xã chỉ có một trường cấp I học nhờ ở đình làng Phúc Tá nên vợ tôi chủ yếu học bình dân học vụ vì không phải đóng tiền. Dù chỉ biết đọc, biết viết nhưng vợ tôi cũng biết lo toan, tính toán việc nhà. Tôi hơn vợ tôi 2 tuổi và biết vợ tôi từ những ngày sinh hoạt trong Đội thiếu niên trước đây. Lúc đó chúng tôi cũng bị bạn bè gán ghép thành đôi chứ đâu được tìm hiểu hay yêu đương gì như thanh niên nam nữ bây giờ. Được hai bên gia đình đồng ý, chúng tôi thành vợ thành chồng, rồi nên tình nên nghĩa. Vợ tôi là người hiền lành, chân chỉ hạt bột nên lúc ban đầu mọi người trong họ hàng còn bảo là "đần". Sống với nhau một thời gian, tôi càng thấy thương và yêu cái "đần" của vợ. Sau này tôi được gia đình kể lại một trong những việc "đần" của vợ tôi là sau khi tôi nhập ngũ, xã gọi vợ tôi đi dân công làm thủy lợi. Lúc này vợ tôi đang mang bầu cháu đầu, nếu báo cáo thì sẽ được miễn nhưng vợ tôi lại giấu vì xấu hổ.

        Biết tôi nhập ngũ vợ tôi rất buồn, nhưng biết đây là mong ước cháy bỏng của tôi,vợ tôi không nói gì mà chỉ lẳng lặng chuẩn bị hành trang cho tôi. Biết vậy nên những ngày còn ở nhà tôi luôn tranh thủ giúp vợ mọi việc trong nhà ngoài họ, động viên vợ an tâm giữ gìn sức khỏe để chăm sóc bố mẹ thay tôi và chuẩn bị tinh thần vượt qua những khó khăn, vất vả trong những ngày vượt cạn và chăm sóc con khi không có tôi bên cạnh.

        Cuộc đời là những chuyến đi. Với tôi, ngày 4 tháng 2 năm 1960 là ngày đáng ghi nhớ trong cuộc đời - ngày tôi khoác lên mình bộ quần áo màu xanh cỏ úa rộng lụng thụng bước lên xe ô tô trong tâm trạng lưu luyến, chia tay gia đình, bạn bè và thầy cô giáo. Gửi lại quê hương, bố mẹ, người thân, bạn bè và cả một thòi thơ ấu đầy ắp kỷ niệm, tôi háo hức lên đường. Đây quả là một chuyến đi lắng đọng, ấn tượng sâu đậm và mãnh liệt nhất.

        Hình ảnh người thân, các bạn bè tiễn chân chúng tôi lên đường nhập ngũ, mừng vui, nhớ nhung khó kể xiết. Khi đã xa quê thì quê hương với tất cả niềm tự hào và tình cảm của người thân, bạn bè là sự níu kéo, là bến đỗ để mỗi khi nhớ nhà tôi hoài niệm, nhớ về.

        Đã hơn nửa thế kỷ kể từ ngày xa quê lên đường nhập ngũ, quê hương, cuộc sống biết mấy đổi thay. Nhưng với tôi, Tân Phúc - Ân Thi - nơi chôn nhau cắt rốn, Kim Chân - Quế Võ - nguồn cội tổ tiên, với truyền thông yêu nước, tinh thần bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm; cần cù lao động,... cộng với truyền thông hiếu học quý báu của gia tộc, dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi... là mảnh đất mỡ màu nuôi dưỡng ý chí, nghị lực và tâm hồn tôi. Truyền thông quê hương, gia đình, dòng tộc, tình cha, nghĩa mẹ, tình cảm vợ chồng, anh em ruột thịt, bạn bè thân thương một thuở luôn là nguồn sức mạnh, là điểm tựa để tôi vững bước trên con đường binh nghiệp của mình.

        Hưng Yên quê hương nhãn lồng mà cha mẹ tôi đã gắn bó, cũng là nơi tôi sinh ra là một vùng quê giàu truyền thông cách mạng, cùng với truyền thống dòng họ hun đúc trong tôi và các anh, chị, em trong gia đình theo tiếng gọi của Đảng, lớp lớp thanh niên lên đường tham gia chiến đấu trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để làm gương cho con, cháu sau này noi theo. Hành trang đi theo suốt cuộc đời quân ngũ của tôi sau này là hình ảnh, là tiếng nói của quê hương luôn nhắc nhở tôi vượt lên mọi gian khó làm tròn bổn phận của gia đình, quê hương với Tố quốc, với nhân dân.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:38:14 AM
         
CHƯƠNG 2

NHỮNG NĂM THÁNG RÈN LUYỆN, THỬ THÁCH BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI LÍNH BẢO VỆ BẦU TRỜI TỔ QUỐC (1960- 1965)

NHỮNG NGÀY ĐẦU NHẬP NGŨ, VINH DỰ ĐƯỢC ĐỨNG VÀO HÀNG NGŨ CỦA ĐẢNG

        Mỗi chúng ta đều có một ngày sinh. Đó là cha mẹ trao cho ta sự sống - ngày chúng ta làm người. Nhưng với thế hệ những người lính suốt một thời trận mạc chúng tôi thường bảo nhau rằng: chúng ta có một ngày sinh thứ hai nữa, đó là ngày nhập ngũ, ngày chúng ta trở thành Bộ đội Cụ Hồ. Nên ngày sinh thứ hai của tôi là ngày 4 tháng 2 năm 1960.

        Ngày tiễn tôi lên đường nhập ngũ, cả bố mẹ và vợ tôi đều đưa tôi đến tận điểm tập trung quân của toàn huyện. Sau khi làm các thủ tục trao nhận quân, chúng tôi lên xe theo sự sắp xếp của người chỉ huy để về địa điểm đơn vị đóng quân.Rời điểm tập trung xe đưa chúng tôi đến ga Cẩm Giàng để đi tàu hỏa đến ga Gia Lâm, rồi từ ga chúng tôi hành quân bộ về sân bay Gia Lâm. Chúng tôi ở đây chỉ một thời gian ngắn trong vài giờ, có lẽ để làm công tác chuẩn bị, đến gần tối, xe đưa cả đoàn ra ga tàu hỏa ở Gia Lâm. Chúng tôi là những anh em cùng xã, cùng huyện lên tàu theo thứ tự từng tên người, từng tiểu đội. Tàu chạy qua các thị trấn, làng mạc, cảnh vật cứ dần bị đồi núi che khuất tầm nhìn. Lúc này, nỗi nhớ nhà và sự lo lắng bắt đầu hình thành và trào lên lẫn lộn trong tôi. Đi đâu nhỉ? Sao tàu cứ hối hả chạy mãi, chạy mãi?... Tàu chạy suốt một đêm đến sáng thì dừng bánh tại ga, chúng tôi được lệnh xuống tàu. Lúc hỏi ra tôi mới biết đây là ga Vinh của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Từ ga, chúng tôi tiếp tục hành quân bộ, trên lưng đeo ba lô, xếp thành hàng lối hành quân dưới sự chỉ huy của các tiểu đội trưởng. Chúng tôi đi mải miết khoảng 13-15 km thì đến địa điểm Trung đoàn 290 đóng quân. Gọi là địa điểm đóng quân của đơn vị nhưng thực chất là ở trong nhà dân tại xã Hưng Dũng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An vì lúc này Trung đoàn rađa 290 chưa có doanh trại đóng quân cố định.

        Trung đoàn rađa 290 mượn xã bãi cát trông để làm nơi huấn luyện tân binh và gọi là Trung tâm huấn luyện. Việc tổ chức sắp xếp lại biên chế đơn vị một lần nữa đã để lại những suy tư trong mỗi người. Khi rời gia đình lên đường nhập ngũ còn có anh em đồng hương cùng đơn vị, hôm nay chúng tôi phải chia tách ra các tiểu đội, trung đội khác nhau.

        Trong tiểu đội có 12 người thì chỉ có 6 người là của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên còn 6 người là của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ấn tượng khó quên đối với tôi trong những ngày đầu nhập ngũ là phải làm quen với tiếng nói của những người đồng đội quê Nghệ An và người dân địa phương. Lúc đầu mới tiếp xúc, việc khó nhất đối với chúng tôi là phải thật chú ý lắng nghe mới hiểu được hết ý muốn diễn đạt của mọi người. Tuy lúc đầu có khó khăn, nhưng vừa học tập, vừa làm quen rồi chúng tôi cũng quen dần.

        Trong 4 tháng huấn luyện tân binh, chúng tôi học chủ yếu là các động tác điều lệnh cơ bản và những bài học chính trị đầu tiên mà người quân nhân phải biết, phải hiểu để chấp hành và thực hiện nhiệm vụ cho đúng. Những ngày đầu luyện tập đội ngũ trên thao trường dã chiến, từ động tác chào, đi đều hết sức mới mẻ, đến giờ giấc ăn cơm, ngủ nghỉ đều theo quy định thống nhất. Những buổi học tập chính trị, nghe chính trị viên đại đội giảng bài tôi đều ghi chép tỉ mỉ; mỗi bài học chính trị đều chứa đựng ý chí, quyết tâm của Đảng, của cả dân tộc, giáo dục mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho chiến sĩ quân đội, không tiếc xương máu, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc. Mới qua 4 tháng mà cuốn sổ tay được bạn bè trao tặng trước lúc lên đường nhập ngũ tôi đã ghi chép hết quá nửa là những bài học chính trị, còn lại là những dòng nhật ký ghi lại công việc hàng ngày và những tình cảm nhớ về bố mẹ, vợ và đứa con trai đầu lòng. Sau này có thời gian rảnh để xem lại, tôi mới thấy thật đáng quý và đáng trân trọng, bởi lúc đó học tập chính trị đối với những tân binh như tôi không chỉ là một nhiệm vụ thiêng liêng mà còn là nỗi khát khao của người lính để được hiểu biết đường lối của Đảng, nhận rõ kẻ thù xâm lược.

        Sự bận rộn, cuốn hút của những ngày huấn luyện tân binh giúp chúng tôi quen dần với cuộc sống, nếp sinh hoạt của bộ đội; niềm tự hào được trở thành người chiến sĩ ngày càng tăng lên lấp dần đi nỗi nhớ nhà, nhớ bố mẹ, vợ con. Mỗi buổi tối sau giờ sinh hoạt, ôn tập các bài học chính trị, bên ngọn đèn dầu tôi lại tranh thủ viết thư về thăm nhà. Tập giấy pơluya mỏng cứ vơi dần theo thời gian. Những bức thư viết gửi về nhà tôi luôn kể về cuộc sống sinh hoạt, sức khỏe và sự trưởng thành của mình, động viên vợ ở nhà thay tôi nuôi con, chăm sóc bố mẹ. Vợ chồng tôi lấy nhau đã được mấy năm, tình yêu và hương vị ngọt ngào của cuộc sống vợ chồng đang đơm hoa kết trái hạnh phúc thì tôi vào bộ đội. Tôi phải xa nhà lúc vợ tôi mới 20 tuổi. Những lá thư vợ tôi viết trả lời rất mộc mạc, cùng với lời động viên tôi yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đằng sau đó chứa đựng tình cảm nhớ nhung da diết, không thể hiện hết được bằng lời.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:39:45 AM
   
        Sau khi học xong khóa huấn luyện tân binh, chúng tôi chưa biết sẽ được phân đi đâu, về đâu và làm gì? Nhưng tôi nghĩ đã là người lính thì dù có đi đâu và cấp trên phân công làm nhiệm vụ gì thì cũng vui vẻ chấp hành dù những điều ấy lúc này vẫn là điều bí mật. Trong tiểu đội có cậu ra vẻ ta biết, nói với tôi rằng: "Mày  sướng nhé, được đi học T2  rồi1". Lúc đầu tôi cũng chẳng hiểu đi học T2 là học gì mà chỉ thấy những người có trình độ văn hóa hơn một chút được biên chế vào một lớp thì được mọi người cho là sướng, thế thôi. Sau khi kết thúc khóa huấn luyện tân binh, chúng tôi tiếp tục học chuyên binh chủng, biên chế tổ chức đơn vị lại bị xáo trộn thêm một lần nữa. Tôi được biên chế về lớp học T2, lúc bấy giờ tôi mới rõ lớp T2 là lớp "trắc thủ" rađa. Đây là giai đoạn huấn luyện chuyên môn, chuyên sâu của Bộ đội Rađa nhằm đào tạo những chiến sĩ là trắc thủ rađa biết khai thác, sử dụng các đài rađa làm nhiệm vụ cảnh giới, trinh sát, thu thập tình báo trên không quản lý vùng trời.

        Ở đại đội rađa, vinh dự nhất và là thành phần quan trọng nhất trong chiến đấu, đó là kíp trắc thủ. Tôi được chọn đi học trắc thủ là một điều rất vinh dự, tự hào nhưng tôi cũng tự lường trước những khó khăn, thử thách, vì đây là một nhiệm vụ đòi hỏi người học phải có ý chí quyết tâm rất cao mới hoàn thành nhiệm vụ học tập và bảo đảm thao tác chiến đấu giành thắng lợi. Bởi lẽ, khí tài rađa là những vũ khí, trang bị hiện đại, được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo theo nguyên lý làm việc của các đèn điện tử, các mạch điện tử hiện đại, phức tạp, là trang bị kỹ thuật ở trình độ công nghệ cao tại thời điểm lúc đó. Học trắc thủ rađa phải có kiến thức về cơ sở vô tuyến điện để nắm vững sơ đồ chức năng, hiểu được nguyên lý làm việc của máy vô tuyến thu, phát  liên đài; biết thao tác, hiệu chỉnh màn hiện sóng, phát hiện mục tiêu, thông báo tình báo kịp thời; biết thao tác nhạn dạng sóng phản xạ địa vật, thao tác chống các thủ đoạn tác chiến điện tử của địch, gây nhiễu chế áp cánh sóng của đài rađa...

        Xác định đây là một thử thách quyết liệt, những ngay đầu tôi và các đồng chí trắc thủ khác phải cố gắng vượt qua rất nhiều khó khăn trong học tập lý thuyết và an đó là khó khăn khi thao tác thực hành trên đài. Thực tế đã có những trường hợp chiến sĩ được tuyển chọn học trắc thủ không hoàn thành nhiệm vụ, không theo học được. Nhiều đêm, tôi và các đồng chí trong lớp trắc thủ phải thắp đèn dầu học thêm ngoài giờ. Tôi suy nghĩ, mình vinh dự được tuyển chọn vào binh chủng kỹ thuật hiện đại nhất của Quân đội ta lúc bấy giờ, nếu không cố gắng phấn đấu trở thành một trắc thủ giỏi sẽ không xứng đáng với truyền thống gia đình, truyền thống dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi và nếu mình có quyết tâm cao sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.

        Sau 3 tháng học tập, tôi được công nhận là trắc thủ số 1, đạt loại giỏi cả lý thuyết lẫn thực hành và được biên chế về Đại đội 12 thuộc Trung đoàn rađa 290, cùng đơn vị hành quân ra sân bay Gia Lâm nhận rađa rồi hành quân về thị trấn Ba Đồn thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình để triển khai chiến đấu.

        Trong điều kiện đất nước vẫn đang có chiến tranh, kể từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954), nước ta bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đế quốc Mỹ lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm tàn sát đẫm máu các cơ sở cách mạng của ta. Trong thời gian huấn luyện trắc thủ, chúng tôi tiếp tục được học tập nâng cao trình độ, kiến thức chính trị, được quán triệt những chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thời gian này, đế quốc Mỹ tăng cường máy bay trinh sát ra miền Bắc, thả biệt kích nhằm cài cắm phá hoại các cơ sở kinh tế, quốc phòng, phát hiện đánh chặn các lực lượng của ta chi viện cho chiến trường miền Nam. Do đó, nhiệm vụ chiến đấu của Bộ đội Rađa đặt ra hết sức nặng nề, phải cảnh giới, trinh sát, phát hiện mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động của không quân, hải quân Mỹ xâm phạm vùng trời, vùng biển của Tố quốc; kiên quyết không để các thông tin tình báo trên không, trên biển sai, sót, lọt, chậm, không đê miền Bắc xã hội chủ nghĩa bị bất ngờ trước âm mưu, thủ đoạn tập kích đường không của Mỹ.

        Kể từ ngày 1 tháng 3 năm 1959, đơn vị rađa đầu tiên của ta phát sóng làm nhiệm vụ chiến đấu quản lý vùng trời, phát hiện chính xác mục tiêu địch, đến thời điểm đơn vị tôi triển khai chiến đấu các đơn vị rađa của ta không ngừng phát sóng và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bộ đội Rađa trở thành một lực lượng đặc biệt quan trọng của Bộ Tư lệnh Phòng không trong nhiệm vụ chiến đấu, quản lý và bảo vệ vùng trời miền Bắc.

-------------------------
        1. T2 là viết tắt của hai từ "trắc thủ".


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:43:36 AM
 
        Với vị trí quan trọng của Bộ đội Rađa, đặt lên vai chiến sĩ rađa trách nhiệm rất nặng nề. Đơn vị tôi nhận một bộ rađa P8 có 2 xe (1 xe anten và 1 xe đài) và 2 máy nổ làm nhiệm vụ chiến đấu: cảnh giới, trinh sát phát hiện địch xâm phạm trên không và trên biển. Được học lập chính trị, thấm nhuần chủ trương, đường lối của Đảng kiên quyết đấu tranh giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, là chiến sĩ rađa tôi luôn ý thức phải làm tốt nhiệm vụ của người trắc thủ, nên khi triển khai trực ban chiến đấu một thời gian ngắn, tôi đã nhanh chóng nắm được tính năng kỹ thuật, chiến thuật của khí tài hiện đại, loại rađa P8.

        Trong trực ban chiến đấu, tôi luôn nhanh nhạy xử trí các tình huống, thuộc sóng về cố định (sóng phản xạ của địa vật). Do đó, khi mục tiêu xuất hiện là nhanh chóng phát hiện được ngay. Đường bay dọc biên giới Thái Lan, Campuchia khi mục tiêu máy bay địch xuất hiện tôi thường phát hiện rất sớm, thông báo chính xác các tín hiệu tình báo thu được về hoạt động của không quân Mỹ.

        Đóng quân trên đất Quảng Bình, tôi vinh dự được phân công dạy bình dân học vụ cho bà con địa phương. Trong các buổi tối (trừ tối thứ ba phải sinh hoạt ở đơn vị), tôi bố trí thời gian rảnh rỗi để lên lớp hướng dẫn cho bà con học tập. Lúc đầu, tôi rất lúng túng, vì khi các học viên hỏi tôi không nghe được, nhất là một số từ địa phương, sau cũng quen dần. Nhưng thật trớ trêu, khi vừa quen thì tôi được cấp trên cho đi học đào tạo tiểu đội trưởng nên phải chia tay với lớp học.

        Làm mọi công tác chuẩn bị xong, tôi chia tay bạn bè, anh em trong đơn vị và bà con trong thôn xóm nơi đơn vị đóng quân với tâm trạng bịn rịn, nhớ nhung. Dù thời gian gắn bó chưa lâu nhưng tình đồng đội, tình cảm quân dân gắn bó thắm thiết trong những ngày đầu nhập ngũ đã để lại trong tôi những kỷ niệm vui buồn, những ấn tượng khó phai về sự nồng ấm, chân thành của tình đất, tình người trên mảnh đất miền Trung cát trắng, gió lào.

        Đầu tháng 2 năm 1961 tôi có mặt tại xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An để nhập học. Hơn 60 người thuộc các thành phần của các trung đoàn rađa được tập trung về đây để học tập. Toàn bộ học viên khóa học của chúng tôi biên chê thành một đại đội, đóng quân cạnh Đại đội rađa 14, một đơn vị của Trung đoàn rađa 290.

        Đại đội 14 có hai loại rađa P8, P10 đang làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu, đây là một thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập. Đại đội học viên của chúng tôi được biên chế làm 3 trung đội, mỗi trung đội có 3 tiểu đội để vừa tiện quản lý, vừa học chiến thuật bộ binh được thuận lợi. Thời gian chúng tôi học tập là 9 tháng, vì là binh chủng kỹ thuật nên tiểu đội trưởng cũng là trưởng kíp trắc thủ của đài rađa. Người tiểu đội trưởng của đơn vị rađa sử dụng khí tài, trang bị hiện đại đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật, chiến thuật; đồng thời, phải nắm chắc điều lệnh, điều lệ, cách quản lý vũ khí, khí tài, quản lý con người để vừa phải bao quát công việc như một tiểu đội trưởng bộ binh, lại phải nắm chắc kĩ thuật để quản lý tốt khí tài, trang bị hiện đại, bảo đảm luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.
 
        Tuy nói là khóa học tập trung, quân số ở các đơn vị cử về, nhưng thực chất chúng tôi đóng phân tán trong nhà dân, sống trong tình yêu thương, giúp đỡ của nhân dân ở xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tuy học tập vất vả nhưng chúng tôi thấy rất vui, vì vừa hoc tập chuyên môn, vừa được thực hành công tác dân vận. Mọi sinh hoạt, hoạt động trên các mặt công tác chúng tôi đều thi đua nhau làm tốt. Vệ sinh trong nhà dân, ngoài xóm ngõ vào các buổi chiều thứ sáu, giúp các gia đình neo đơn tăng gia sản xuất, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước cho nhân dân. Tôi còn nhớ như in những lần Đại đội chúng tôi tổ chức giao lưu văn nghệ với địa phương. Có lần Đại đội dựng một chương trình văn nghệ (tôi có tham gia) đi biểu diễn ở các xã trong huyện như Nghi Hương, Nghi Hải... được lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao và khen ngợi mãi. Đang thời chiến tranh, giặc giã, là người lính bảo vệ bầu trời Tổ quốc, đối đầu với mũi tôn, hòn đạn của kẻ thù, sống chết khôn lường, nên chúng tôi luôn được đón nhận ở các mẹ, các chị và bà con cô bác... tình thương yêu vô bờ bến. Khi kết thúc lớp học chúng tôi trở về đơn vị công tác, nhân dân rất quyến luyến khi chia tay và còn nhớ mãi đến sau này.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Một, 2020, 05:44:21 AM

        Sau buổi bế mạc khóa học, tôi và một số đồng chí không được biên chế về đơn vị cũ, mà được điều động đi học tiếp một loại rađa mới (513K) của Trung Quốc tại Trung tâm huấn luyện ở Tư Đình, Hà Nội. Tôi rất phấn khởi vì được cấp trên tin tưởng cho học thêm loại rađa mới. Về địa điểm học mới tôi có thêm niềm vui vì được gần gia đình hơn dù chưa biết có được nghỉ tranh thủ để thăm gia đình không.

        Con đường binh nghiệp của tôi từ đây như đã được xác định. Khi bước vào học tập tôi đã xác định học cho tốt để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được cấp trên giao nên tôi lao vào học tập say sưa. Giáo viên là chuyên gia của bạn, chúng tôi phải học qua phiên dịch nên thời gian học dài gấp đôi. Tôi đã tranh thủ học ngày, học đêm, nắm chắc được tính năng kỹ thuật, chiến thuật của loại vũ khí mới. Sau khi về Trung tâm huấn luyện học được một tháng, tôi viết thư về nhà, mẹ và vợ tôi biết tin lên thăm ở Trung tâm huấn luyện.

        Thời gian học ở Hà Nội, tôi có một kỷ niệm vui là một lần tôi xin nghỉ phép đúng dịp cháu gọi tôi là chú quê ở Quế Võ, Bắc Ninh đi lấy chồng. Do bố cháu mất sớm, tôi là Trưởng họ lại là chú của cháu (chú cũng như cha) nên đại diện thay cho bố cháu. Vì còn trẻ, lại không quen với việc tổ chức lễ nghi theo phong tục cưới xin ở quê, lúc đầu tôi rất lo và lúng túng, nhưng may được mọi người trong gia đình hỗ trợ rồi mọi chuyện cũng diễn ra suôn sẻ. Đến nay cháu tôi đã là mẹ của 6 đứa con, có cháu nội, cháu ngoại đầy đủ.

        Kết thúc lớp học, tôi trở về đơn vị, được biên chế vào Trạm kỹ thuật thuộc Trung đoàn rađa 290. Biên chế là vậy, nhưng tôi được cử đến Trạm kỹ thuật của Bộ Tư lệnh Phòng không để học tập thêm. Trạm kỹ thuật nằm trong khuôn viên của một gia đình giàu có đã bỏ lại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gần đình làng Khương Thượng (nay là khu tập thể K40B của Quân chủng Phòng không - Không quân). Tôi được biên chế học thợ cơ khí, thợ điện, suốt ngày tiếp xúc với mặt phẳng, mỏ hàn, động cơ biến thế. Lúc đầu tôi rất băn khoăn, tưởng chừng như công việc này không liên quan gì đến nhiệm vụ kỹ thuật của đơn vị rađa. Song, tôi suy nghĩ, mọi khóa học trước tôi đều đạt kết quả cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, việc tổ chức tuyển chọn đi học lần này chắc có sự tính toán do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị nên tôi xác định quyết tâm, bất cứ việc gì cũng sẵn sàng nhận và phấn đấu hoàn thành tốt. Sau này khi trở về làm đúng chuyên môn tôi mới hiểu rõ việc học thêm thợ cơ khí, thợ điện là bổ sung thêm tay nghề cho tôi, dể vững vàng trong việc hoàn thành nhiệm vụ.

        Tháng 1 năm 1962, tôi học tập xong. Đúng 8 giờ sáng ngày 20 tháng 1 đồng chí Trạm trưởng Trạm kỹ thuật Trần Văn Đức, được phép của Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 trạm kỹ thuật thuộc Trung đoàn rađa 290 và Trung đoàn rađa 291: mỗi trạm nhận 2 xe công trình (1 xe công trình điện, 1 xe công trình cơ khí). Nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi sẵn sàng ở tư thế hành quân. Đúng 9 giờ chúng tôi đội ngũ chỉnh tề nhận nhiệm vụ và lên xe, hành quân theo quốc lộ số 1 về thành phố Vinh. Thời gian này, nói là Trạm kỹ thuật ai cũng tưởng thuộc ngành kỹ thuật riêng, nhưng không phải biên chế như vậy mà chỉ là bộ phận kỹ thuật nằm trong ngành hậu cần, vì biên chế trong mỗi trung đoàn rađa chỉ có 3 cơ quan: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần.

        Làm công tác kỹ thuật là niềm yêu thích đôi với tôi vì được nghiên cứu khám phá, khai thác khí tài, trang bị kỹ thuật hiện đại, nhưng mỗi khi không giải quyết được công việc tôi cảm thấy rất áy náy, khó chịu. Vì cả trung đoàn chỉ có hai, ba đồng chí kỹ sư mà các đồng chí này chủ yếu đi sâu vào quản lý, còn sửa chữa chủ yếu là thợ và kỹ thuật viên có trình độ trung cấp nhưng cũng rất ít. Hàng năm, đội ngũ thợ chúng tôi đều được thủ trưởng trung đoàn biểu dương, đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ.

        Tháng 12 năm 1963, tôi vinh dự được Chi bộ Trạm kỹ thuật Trung đoàn rađa 290 kết nạp vào Đảng. Người giới thiệu tôi là Trạm trưởng Trạm kỹ thuật Phạm Đình Tính và kỹ thuật viên Nguyễn Đình Kỳ. Việc phấn đấu vào Đảng của tôi cũng mất thời gian khá dài. Từ khi nhập ngũ vào bộ đội, ở mọi cương vị công tác tôi luôn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, nhưng vì tôi luôn phải thuyên chuyển nhiều đơn vị, không có đơn vị nào tôi ở được một năm, mà theo Điều lệ Đảng qui định, phải có ít nhất một năm cùng làm việc, sinh hoạt mới được bồi dưỡng, giới thiệu kết nạp vào Đảng. Tôi suy nghĩ, mình cứ yên tâm phấn đấu, cống hiến phục vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng giao cho, đó chính là thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phấn đâu suốt đời, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ thì sớm hay muộn tổ chức Đảng sẽ xem xét kết nạp. Thời gian tôi công tác ở Trạm kỹ thuật Trung đoàn rađa 290 được hơn một năm, đang làm các thủ tục kết nạp vào Đảng thì tôi lại có lệnh thuyên chuyển về Trạm kỹ thuật Trung đoàn rađa 291. Tôi được Chi bộ Trạm kỹ thuật


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 07:59:17 PM

        Trung đoàn rađa 290 đề nghị Đảng ủy cấp trên cho phép tôi được kết nạp Đảng rồi mới đi nhận nhiệm vụ.

        Buổi lễ kết nạp thật là trang nghiêm, xúc động đối với tôi vì lý tưởng, hoài bão hướng tới của bản thân đã đạt được. Tôi nhớ mãi lời hứa quyết tâm trước Đảng kỳ, lúc bình thường tôi học thuộc, đọc khá trôi chảy, thế mà lúc đó, giờ phút đó tôi xúc động quá nên đọc ngắc ngứ mãi. Trong suy nghĩ của tôi, Đảng là linh hồn, là cuộc sống, Đảng là người đem lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Tôi nguyện đi theo Đảng là đi theo con đường hạnh phúc, con đường đúng đắn nhất, cho dù phải phấn đấu hy sinh, gian khổ để đạt được. Bản thân tôi được đứng trong hàng ngũ của Đảng là niềm vinh dự, niềm tự hào cao nhất để tôi được cống hiến, được phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, không vì danh lợi của cá nhân. Chỉ có đi theo Đảng thì bản thân tôi, gia đình và quê hương tôi mới thoát khỏi cảnh đói khổ, lầm than mà những năm tháng tuổi thơ của tôi đã chứng kiến.

        Khi về nhận nhiệm vụ ở Trung đoàn rađa 291 tôi thấy phấn khởi và không bận tâm lo nghĩ gì, vì trước đó tôi đã có thời gian ngắn được sống ở đây để làm công tác chuẩn bị nhận khí tài, hành quân vào tỉnh Quảng Bình nên phần lớn anh em trong đơn vị đã quen biết nhau.

        Thời gian này, Trung đoàn đóng quân tại sân bay Gia Lâm. Tôi tiếp tục được biên chế về Trạm kỹ thuật thuộc Ban Hậu cần của Trung đoàn. Đồng chí Nguyễn Đăng Đệ làm Trạm trưởng. Anh là người Hà Nội, dáng rất thư sinh, trắng trẻo, giọng nói dịu dàng, rất tình cảm và có trình độ kỹ thuật tốt, quản lý khoa học mẫu mực.

        Về trạm, tôi được Trạm trưởng phân công vào tổ cơ điện, chuyên môn sửa chữa động cơ, biến thế, mỏ hàn... Đối với tôi, đây là công việc cũng khá quen thuộc, bất cứ công việc gì, nhiệm vụ gì, dù khó khăn thế nào tôi cũng sẵn sàng nhận và phấn đấu hoàn thành với mục tiêu đạt kết quả tốt nhất. Lúc này tôi không còn là một quần chúng, mà đã là một đảng viên của Đảng, trách nhiệm trước chi bộ và đơn vị nặng nề hơn, những công việc dù nhỏ nhất cũng phải phấn đấu hoàn thành tốt.

        Tôi nhớ có một việc tuy nhỏ nhưng giải quyết được công việc lớn của đơn vị. Hồi ấy rađa loại 406 của Trung Quốc to kềnh càng nhưng bắt được mục tiêu ở cự ly xa đến 400km. Loại rađa này bạn giúp ta khí tài và một số phụ tùng kèm theo, nhưng khi phụ tùng hết thì không có để thay thế. Đó là trường hợp một cái biến thế để sinh phân vạch cự ly của màn hình trắc thủ số 1, ở xưởng cũng như ở các đơn vị quấn đi, quấn lại nhiều lần mà phân vạch cự ly vẫn cứ tách làm đôi, gây khó khăn cho việc xác định chính xác cự ly mục tiêu của trắc thủ. Tôi suy nghĩ, chắc phải có bí quyết gì? Xem trên sơ đồ mạch không có gì thay đổi mà sao quân theo vẫn không được. Tôi nảy ra ý định đến Trạm rađa 19 cũng có máy 406 (đơn vị đang đóng quân ở Quảng Xương - Thanh Hóa). Tôi đã nghiên cứu tháo đếm các vòng, tìm ra bí quyết quấn khoảng 1/3 (gần 1.000 vòng) thì quấn ngược lại 5 vòng xong lại quấn tiếp. Tôi về trạm làm theo bí quyết đã tìm đem lắp cho Trạm rađa 13 đang đóng quân ở Đồ Sơn - Hải Phòng, ở đó có rađa cùng loại đang làm vice kém chất lượng. Sau khi lắp xong, máy làm việc rất tốt. Tôi báo cáo với đồng chí Trạm trưởng, đồng chí rất vui mừng và động viên tôi làm thêm một số biến thế dự trữ cho máy. Việc mày mò làm công tác kỹ thuật của tôi dược thủ trưởng các cấp chú ý và khen ngợi, tạo điều kiện giúp đỡ tôi. Được cấp trên động viên, khích lệ tôi lại càng hăng say, không chỉ trong công tác kỹ thuật mà cả các cung tác khác tôi được đồng chí, đồng đội quý mến. Từ năm 1962 đến năm 1965 tôi liên tục được bầu là Chiến sĩ thi đua và được tặng danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng của Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Tháng 6 năm 1965, tôi đang đi công tác bảo quản định kỳ máy cho Đại đội rađa 18, đóng quân ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa thì có lệnh về Trung đoàn để nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi từ Thanh Hóa về Hà Nội, tôi luôn suy nghĩ xem mình được cấp trên giao nhiệm vụ gì. Lung mung lắm nhưng tôi chẳng nghĩ được gì. Về đến Trung đoàn, tôi được đồng chí Chính ủy Hoàng Khoát giao nhiệm vụ làm Đài trưởng Đài rađa P12 đi phối thuộc chiến đấu trực tiếp cùng với một đơn vị đặc biệt. Khi giao nhiệm vụ đồng chí Chính ủy nói, đơn vị này rất đặc biệt nên khi đi cùng phải tự xử lý mọi tình huống và thực hiện tốt sự chỉ huy chiến đấu của đơn vị bạn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 07:59:40 PM
   
        Nhận thức đây là nhiệm vụ rất quan trọng, vì ở đơn vị rađa có bao giờ phải hành quân gấp như thế đâu; do vậy tôi đã xin Trung đoàn cho tập luyện thao tác thu hồi, triển khai anten ban ngày, ban đêm cho nhanh chóng, chuẩn xác, bắt mục tiêu thông báo kịp thời. Chúng tôi đã ra sức tập luyện chờ ngày đi làm nhiệm vụ. Đó là một ngày tôi không thể nào quên - ngày 20 tháng 7 năm 1965, chúng tôi được lệnh đi làm nhiệm vụ. Là một chuẩn úy chuyên nghiệp, được cấp trên tin tưởng giao phụ trách một đài rađa, cùng kíp trắc thủ, tôi thấy phấn khởi, tự hào nhưng cũng rất lo vì đây là một nhiệm vụ nặng nề. Nói về chuyên nghiệp quân sự lúc đó, chuẩn úy cũng gọi là sĩ quan nhưng chỉ được đeo quân hàm có một gạch (chúng tôi thường gọi đùa là "một gậy") không có sao, lương hằng tháng nhận không theo quân hàm. Quân nhân chuyên nghiệp được mặc bộ quần áo "ống túm", ống quần may không khác gì ông tay áo; quần áo được "pích kê" đầu gối, mông, khuỷu tay để chống rách, vì vải không có độ bền, đẹp như bây giờ. Khi hành quân chúng tôi đi bằng hai xe (1 xe đài và 1 xe anten), mỗi xe phải kéo theo một máy nổ loại AĐ10. Khi đi có xe kéo hành quân rất nhùng nhằng, khó đi mà đường thì lại hẹp, có lúc vào đường rừng, có đoạn là đường mới làm, lại hành quân ban đêm nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng với ý chí quyết tâm sẵn sàng hoàn thành tốt nhiệm vụ, chúng tôi đã đến địa điểm đúng thời gian, triển khai chiến đấu nhanh chóng, chính xác, sẵn sàng chờ lệnh bắt mục tiêu thông báo cho các đơn vị hỏa lực súng, pháo phòng không và loại vũ khí phòng không mới.

        Trung đội rađa của chúng tôi phối thuộc với đơn vị X, sau này tìm hiểu mới biết đó là Tiểu đoàn tên lửa 61 thuộc Trung đoàn tên lửa 236. Đây là trung đoàn tên lửa đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng, chính phủ và nhân dân Liên Xô giúp đỡ, gồm 4 tiểu đoàn hỏa lực: Tiểu đoàn 61, Tiểu đoàn 62, Tiểu đoàn 63, Tiểu đoàn 64 và một tiểu đoàn kỹ thuật sản xuất lắp ráp đạn tên lửa: Tiểu đoàn 65. Từ đầu tháng 5 năm 1965, Trung đoàn tên lửa 236 đã triển khai huấn luyện chiến đấu dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô. Sau hơn 2 tháng huấn luyện, giữa tháng 7 năm 1965, các tiểu đoàn tên lửa ra quân chiến đấu; trong đó Tiểu đoàn 63 và Tiểu đoàn 64 vinh dự được ra quân đánh trận đầu. Do lực lượng tên lửa phòng không của ta còn rất mỏng, lần đầu tiên xuất hiện tại chiến trường Việt Nam nên triển khai chiến đấu theo chiến thuật đánh phục kích, bí mật, bất ngờ, phải cơ động hành quân di chuyển trận địa liên tục sau mỗi trận đánh. Một tiểu đoàn tên lửa hành quân chiến đấu có mấy chục xe kéo, là những xe bịt bạt, bịt sắt, đi đến đâu đều có những chiến sĩ công an, dân quân canh gác dọc đường. Xe chúng tôi đi trong đội hình của Tiểu đoàn 61, ngồi trên xe hành quân thấy thật kiêu hãnh và tự hào.

        Ngày 24 tháng 7 năm 1965 đã đi vào lịch sử của Bộ đội Tên lửa và Quân chủng Phòng không - Không quân anh hùng, hai tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 ra quân đánh trận đầu đã lập công xuât sắc bắn rơi tại chỗ một máy bay Mỹ trên vùng trời Ba Vì, Hà Tây. Ra quân đánh thắng trận đầu có ý nghĩa rất sâu sắc về tinh thần của bộ đội, vừa tạo niềm tin vào vũ khí, trang bị hiện đại; tin vào khả năng khai thác sử dụng vũ khí hiện đại của bộ đội ta, đồng thời viết tiếp truyền thống ra quân đánh thắng trận đầu của Bộ đội Pháo phòng không ngày 5 tháng 8 năm 1964, của Bộ đội Không quân ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965. Đây là chiến công khẳng định Quân đội nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh, có vũ khí hiện đại để vít đầu bọn giặc trời đang làm mưa, làm gió trên bầu trời miền Bắc của chúng ta. Trong suốt quá trình tham gia phối thuộc chiến đấu chúng tôi có nhiều kỷ niệm thú vị. Mỗi khi đánh xong một trận cấp trên hay có lệnh di chuyển các đơn vị nên nhiều khi các đồng chí tên lửa đi lúc nào chúng tôi không hay biết. Khi chúng tôi nhận được lệnh hành quân di chuyển thì các đồng chí đó đã đi hết rồi. Cũng đúng thôi, vì chúng tôi còn phải trinh sát trên không để các đồng chí ấy thu hồi khí tài và hành quân được an toàn. Đến trận địa mới quy định bảo mật cũng nghiêm ngặt lắm, nên chúng tôi chẳng biết đơn vị các đồng chí đó ở đâu, chỉ khi tên lửa bắn lên thì mới biết tên lửa ở gần mình quá mà không hay biết gì, việc ngụy trang của trận địa tên lửa rất kín đáo nhằm tránh sự phát hiện đánh phá của không quân Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:00:35 PM

TRỞ THÀNH SĨ QUAN ĐIỀU KHIỂN TÊN LỬA RA QUÂN ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU

        Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, đầu năm 1965 đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, mở đầu là cuộc tập kích bằng không quân đánh phá tập trung vào các mục tiêu quân sự của ta ở khu vực các tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh ngày 7 tháng 2 năm 1965. Thời gian cuối tháng 2 năm 1965, trong các buổi sinh hoạt đơn vị chúng tôi đều được quán triệt tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, đưa miền Bắc hước vào trạng thái chiến tranh. Từ tháng 3 năm 1965, cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của đế quốc Mỹ ngày càng phát triển lan rộng ra khắp miền Bắc. Đây là cuộc chiến tranh hoàn toàn mới không những đối với ta mà ngay cả với đế quốc Mỹ - kẻ tiến hành chiến tranh. Do vậy, bản thân đế quốc Mỹ cũng phải vừa đánh vừa thăm dò vừa đánh vừa nghiên cứu, thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh leo thang từng bước: leo thang cả về phạm vi đánh phá, mục tiêu đánh phá, cường độ đánh phá; leo thang về áp dụng kỹ thuật và chiến thuật. Đối với ta, tiến hành chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ là hình thức chiến tranh đầu tiên trong lịch sử giữ nước của dân tộc. Do vậy chúng ta cũng phải vừa đánh vừa nghiên cứu, vừa đánh vừa xây dựng, phát triển lực lượng, bảo đảm càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.

        Đến tháng 10 năm 1965, chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đã bao trùm toàn miền Bắc, thế trận phòng không của ta cũng đã được thiết lập với 4 lực lượng cơ bản là: rađa, không quân, tên lửa và các lực lượng súng, pháo phòng không. Cường độ, quy mô, thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật đánh phá của không quân Mỹ ngày càng tăng đặt ra yêu cầu phát triển lực lượng của ta bảo đảm đánh thắng các lực lượng không quân chiến thuật và không quân của hải quân Mỹ. Tháng 11 năm 1965, tôi và một số đồng chí bộ đội rađa được lệnh đi xây dựng một số đơn vị tên lửa mới. Trong lòng chúng tôi rất phấn khởi, mong sao mau đến đơn vị, nhanh được biên chế và bước vào học tập để được đi chiến đấu như các đơn vị tên lửa mà mình đã hiệp đồng chiến đấu. Nhưng khi tôi về đơn vị nhận nhiệm vụ mới biết có lệnh điều động tôi về đơn vị khác. Quyết định cầm trong tay là về Trung đoàn tên lửa 257, nhưng khi đến nơi tôi được đồng chí Vũ Hữu Nam phụ trách cán bộ của Trung đoàn 257 cho biết, tôi có danh sách ở đây, nhưng nay lại có lệnh điều động về Trung đoàn 278. Tôi hỏi: Trung đoàn 278 ở đâu? Đồng chí chỉ đường cho tôi và nói nhỏ: "Nghe nói: Trung đoàn 278 sẽ đi Liên Xô học tập chuyên binh chủng", về đến Trung đoàn 278, tôi trình giấy giới thiệu và quyết định điều động nhận nhiệm vụ, cán bộ phụ trách hồ sơ giải thích cho tôi: "Theo quyết định đồng chí về làm Trợ lý Đài rađa H12, nay có một đồng chí nhận nhiệm vụ rồi, đồng chí nhận nhiệm vụ khác".

        Sau đó, tôi được điều về Ban Hậu cần, đồng chí Quang Hưng phụ trách quân nhu trung đoàn phân công tôi chịu trách nhiệm nhận những trang thiết bị từ kho Quân chủng về cho Trung đoàn. Lúc này tôi nghĩ, đã làm quân nhu thì làm gì phải sang Liên Xô học tập nữa. Bao nhiêu ao ước mong chờ của tôi lâu nay là được về đơn vị tên lửa, phải được học tên lửa để chiến đấu trực tiếp, đành gác lại. Khi giao nhiệm vụ, các đồng chí thủ trưởng Trung đoàn động viên tôi làm trợ lý quân nhu trong ngành hậu cần của Trung đoàn. Từ trước đến giờ tôi chỉ mới học kỹ thuật rađa, chẳng biết gì về công tác hậu cần thế nhưng lại được giao nhiệm vụ này tôi suy nghĩ, hay các đồng chí thấy tôi có thời gian làm tiếp phẩm, anh nuôi, hay là trong hồ sơ lý lịch tôi ghi Ban Hậu cần - kỹ thuật mà cấp trên giao cho tôi làm Trợ lý quân nhu. Những băn khoăn đó cứ trăn trở mãi trong suy nghĩ của tôi. Mặc dù vậy, tôi xác định mình là đảng viên, việc gì được cấp trên phân công mình đều phải làm tốt. Tôi lao vào công việc hăng say, trong việc này tôi có thuận lợi là ở Quân chủng tôi đã quen biết nhiều nên khi đi đến đâu đều nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của đồng chí, đồng đội.

        Đầu tháng 12 năm 1965, Trung đoàn 278 nhận được lệnh đi Liên Xô, trong danh sách tôi cũng có tên, nhưng không phải với chức danh trợ lý quân nhu mà là sĩ quan điều khiển thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 93. Tôi rất phấn khới, bởi đây là một vinh dự tôi vẫn ước ao, là bước ngoặt trên con đường binh nghiệp, từ một kỹ thuật viên rađa của đơn vị trinh sát kỹ thuật, chuyển thành sĩ quan tên lửa của đơn vị hỏa lực chiến đấu. Và cái tên Tiểu đoàn tên lửa 93 thân thương, trìu mến gắn với tôi từ đây.

        Trên đường hành quân từ Việt Nam sang Liên Xô học tập chuyển loại binh chủng tên lửa, chúng tôi đi qua Trung Quốc và được quán triệt là những sinh viên Việt Nam đi du học. Tàu xuất phát từ ga Hà Nội, chúng tôi đi lên ga Đồng Đăng - Lạng Sơn, sau đó chuyển sang tàu của bạn để đi Bằng Tường - Trung Quốc. Chúng tôi đi trên đất Trung Quốc bốn, năm ngày thì đến ga Mãn Châu Lý tiếp tục chuyển sang tàu của bạn Liên Xô và đi thêm khoảng sáu đến bảy ngày mới đến nơi học tập.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:01:22 PM

        Đi trên đường chúng tôi có nhiều chuyện vui nhưng cũng phải khắc phục nhiều khó khăn, vất vả. Khi đến sông Cầu, Cầu Đáp Cầu đã bị bom Mỹ phá hỏng, chúng tôi phải xuống tàu đi bộ băng qua cầu phao. Lúc này cả đoàn mấy trăm con người xuống tàu cùng đi bộ, việc hành quân phải mang theo vali thật là khó khăn, vất vả vì chúng tôi vốn chỉ quen hành quân bằng ba lô. Dù mệt nhưng tất cả đều rất vui, vì từ cán bộ trung đoàn cho đến người chiến sĩ, từ đồng chí đã trải qua thời kỳ chống Pháp, đến những chiến sĩ vừa nhập ngũ, đồng chí tuổi đã ngoài 40, đồng chí còn trẻ măng mười tám, đôi mươi cùng kết thành một khối hành quân. Cả đoàn vừa đi vừa trò chuyện để lại phía sau những đoạn đường gian khổ, khó khăn, vất vả từ lúc nào không hay.

        Đến đầu cầu phao phía nam sông cầu, cách quê nội tôi chỉ vài trăm mét, tôi dừng lại đưa ánh mắt nhìn qua màn đêm về phía bãi Vọng Nguyên, nằm sát bờ đê là nơi an nghỉ của các cụ tổ tiên, dòng họ và đặc biệt là 18 tiến sĩ triều nhà Lê của họ Nguyễn làng Kim Đôi. Tôi tâm niệm cảm ơn tổ tiên và thầm hứa, đi học về con nguyện cùng đơn vị, cùng quân và dân cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để báo đáp công ơn của tổ tiên, dòng họ, giành độc lập, tự do cho quê hương đất nước.

        Sau khi đi bộ đến ga Sen Hồ, chúng tôi tiếp tục hành quân bằng tàu hỏa đến ga Đồng Đăng, tàu của bạn Trung Quốc đã chờ sẵn, chúng tôi chuyển tàu, thế là lại một lần nữa phải di chuyển quân trang, hành lý, đồ đạc của người lính và sắp xếp lại cho gọn gàng trên tàu của bạn. Nói là quân trang, đồ đạc, hành lý của người lính, nhưng thực tế không phải là những chiếc ba lô con cóc bạc màu mà Nhà nước trang bị cho chúng tôi đầy đủ từ vali đựng quần áo, túi xách, giày dép. Nhìn cả đoàn người thì không ai có thê biết đó là những quân nhân. Đoàn tàu lướt qua những núi đồi, cánh rừng bạt ngàn, những cánh đồng màu mỡ, làng mạc của Trung Quốc; những đồng đất, cánh rừng đó cũng giống như đất nước Việt Nam ta. Có một điều khác là, họ sống và làm việc trong không khí hòa bình rất nhộn nhịp nên chúng tôi thấy cuộc sống ở đây rất sôi động. Qua 4 ngày 4 đêm, đoàn tàu Trung Quốc đã đưa chúng tôi vào ga Mãn Châu Lý. Ngay bên kia là đất nước Liên Xô vĩ đại. Tàu của Liên Xô cũng đã chờ sẵn để đón đoàn với sự hợp đồng rất nhịp nhàng, ăn khớp. Dọc đường đi trên đất Trung Quốc, đến các ga dừng nghỉ chính quyền và nhân dân địa phương chào đón chúng tôi rất nồng ấm, niềm nở. Sang đến đất nước Liên Xô, vào ga Bai Can cả đoàn dừng nghỉ và tắm nước nóng. Đây đúng là một điều thú vị vì đã mấy ngày trên tàu chúng tôi chưa được tắm thoải mái nên nước giội đến đâu làm cho da thịt nở nang, sảng khoái đến đó. Sau đó, chúng tôi hành quân bằng tàu hỏa trên đất nước Liên Xô mất 6 ngày đêm nữa mới đến địa điểm học tập. Đây là Trung tâm huấn luyện tên lửa của bạn, nằm trên bãi sa mạc Kapakum, một vùng sa mạc mênh mông. Những ngày này trời đang sang xuân, cây cối đã có những chồi xanh nở rộ. Nơi học tập rất xa làng mạc, phố xá, nên chúng tôi không có thời gian và điều kiện để đi chơi, cả đoàn chúng tôi đều xác định: đi sang nước bạn phải cố gắng học cho tốt để nhanh chóng về nước tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

        Khi chuẩn bị bước vào học chính thức, tôi được biên chế vào lớp sĩ quan điều khiển, cả lớp có 10 đồng chí (mỗi tiểu đoàn có 2 đồng chí; Ban Kĩ thuật 1 đồng chí; Ban Tham mưu 1 đồng chí):

        - Tiểu đoàn 91 có đồng chí Nguyễn Sinh Thủy và đồng chí Nguyễn Văn Tể.

        - Tiểu đoàn 92 có đồng chí Vũ Văn Thố và đồng chí Hoàng Văn Đề.

        - Tiểu đoàn 93 có đồng chí Trần Danh Tùng lớp trưởng) và tôi.

        - Tiểu đoàn 94 có đồng chí Nguyễn Văn Hiến và đồng chí Trần Kim cảnh.

        Cơ quan Tham mưu có đồng chí Nguyễn Văn Độ.

        Cơ quan Kĩ thuật có đồng chí Lê Quang Thừa.

        Bước vào học tập, tôi xác định cho mình phải tập trung ngay từ bài đầu, học đến đâu phải nắm chắc đến đó, không hiểu thì phải hỏi ngay. Tiếng Nga tuy đã được học nhưng cả lớp vẫn còn lõm hõm, nghe câu được câu chăng, chúng tôi phải học qua phiên dịch nên thời gian dài gấp đôi. Đây mới là bước học tập lý thuyết cơ bản, chứ chưa được học thực hành trên máy. Chương trình học tập của chúng tôi rất căng thẳng với nhiều môn học: binh khí tên lửa toàn đài, xạ kích các phương pháp điều khiển tên lửa, chế độ nổ của đạn tên lửa, học chiến thuật cấp phân đội với các bài bắn, quy tắc bắn mục tiêu trên không, bắn mục tiêu mặt đất, mặt nước trong các điều kiện khác nhau... đòi hỏi người học phải có kiến thức cơ bản về vô tuyến điện mới tiếp thu được.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:01:48 PM
       
        Ở vị trí sĩ quan điều khiển như "quả tim" của cả tổ hợp tên lửa, đòi hỏi chúng tôi phải nắm chắc chức năng hoạt động của từng thành phần, trên từng xe: xe điều khiển YA, xe tính toán AA, xe thu phát PA trong quy trình điều khiển khép kín của toàn bộ bộ khí tài. Có như vậy khi thao tác kiểm tra chức năng, đánh giá chất lượng khí tài, sĩ quan điều khiển mới có thể đưa ra được kết luận chính xác khí tài có bảo đảm sẵn sàng chiến đấu được hay không. Đây là một thử thách không chỉ đối với riêng tôi, mà với tất cả các đồng chí trong lớp học chuyển loại tên lửa. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp thu kiến thức, nhưng mỗi lần nghĩ về quê hương, về tội ác dã man của đế quốc Mỹ xâm lược, trong lòng tôi lại dấy lên một ý chí quyết tâm phải học tập tốt, nắm chắc vũ khí, khí tài trang bị để về cùng đồng đội chiến đấu bảo vệ quê hương. Với quyết tâm của bản thân và sự khiêm tốn học tập, sau các buổi lên lớp của giảng viên, tôi tranh thủ học thêm ngoài giờ, do đó các môn kiểm tra kế cả lý thuyết lẫn thực hành tôi đều đạt điểm cao nhất (5 điểm theo thang điểm 5 của bạn).

        Trong chương trình huấn luyện chuyển loại tên lửa, học thực hành trên máy thì có, nhưng thực tế thao tác bắt máy bay trên màn hiện sóng thì không có vì các sân bay đều ở xa, nhưng khi bắn đạn thật thì phía bạn Liên Xô yêu cầu phải thao tác bắt mục tiêu là máy bay thật. Được sự nhất trí của Trung tâm huấn luyện Bacu, ở đó có Trung đoàn 275 là đơn vị cùng được thành lập và sang Liên Xô học chuyển loại cùng một đợt với chúng tôi; Trung đoàn 275 có khí tài để huấn luyện thực hành; các kíp chiến đấu của Trung đoàn tôi gồm: tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển tên lửa và ba trắc thủ được sang để cùng luyện tập với các kíp chiến đấu ở các tiểu đoàn của Trung đoàn 275. Trên đường hành quân di chuyển sang Trung đoàn 275 để học thực hành bắt mục tiêu máy bay, chúng tôi phải đi qua một biển gọi là: "Biển Caxpi" để đến vùng Xi Tan Trai của thành phố Bacu, một điều thú vị vì tất cả chúng tôi chưa có ai được đi tàu biển bao giờ. Lần này chúng tôi được đi trên biển suốt cả một đêm nên thấy rất thú vị. Dù chưa được đi tàu biển, nhưng tôi không bị say và ngủ rất ngon vì sóng ở biển này không to. Sáng hôm sau khi tàu vào cảng đã có xe của bạn đón và đưa chúng tôi về Trung đoàn 275. Khi sang huấn luyện tại Trung đoàn 275 tại Trung tâm huấn luyện Bacu, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 93 được biên chế vào học tập cùng Tiểu đoàn 69 của Trung đoàn 275. Những ngày ở đây được luyện tập thao tác bắt mục tiêu máy bay MiG-21, được nhìn rõ tín hiệu mục tiêu thật trên màn hiện sóng làm cho tâm trạng chúng tôi phấn khởi, hứng thú học tập và hiểu biết thực tế hơn.

        Thời gian học thực hành bắt máy bay mới được 10 ngày, đã đến ngày đi bắn đạn thật, chúng tôi hành quân bằng tàu hỏa, đi hơn một ngày thì đến trường bắn. Đến nơi, mỗi tiểu đoàn được nhận một bộ khí tài và ba quả đạn tên lửa. Phía bạn còn cho biết, bộ khí tài tên lửa này các đồng chí Việt Nam bắn xong, nếu có sai sót gì thì bạn sửa chữa và ngay sau đó sẽ chuyển sang Việt Nam bàn giao trực tiếp cho các đơn vị chúng tôi. Nhận khí tài, làm công tác chuẩn bị, với lý thuyết đã học, chúng tôi thao tác điều chỉnh với quyết tâm làm cho bộ khí tài có tham số tốt nhất, bảo đảm bắn tiêu diệt mục tiêu, tạo lòng tin cho đơn vị. Khi bạn nói bộ khí tài tên lửa chúng tôi bắn kiểm tra lần này, sẽ được bàn giao cho chúng tôi để sử dụng chiến đấu ở Việt Nam, tôi thầm nghĩ, không hiểu có đúng không nên đã ghi tên mình vào bên trong khung máy tủ sĩ quan điều khiển. Quả thật, khi về Việt Nam đi nhận khí tài đế chiến đấu, tôi kiểm tra, đúng là bộ khí tài mà kíp chiến đấu của Tiểu đoàn tôi đã sử dụng bắn đạn thật tại trường bắn của khối Vacxava ở Liên Xô.

        Ngày bắn đạn thật kiểm tra kết quả huấn luyện, tâm trạng tôi thật khó tả, niềm vui sướng, phân khởi xen lẫn những hồi hộp và lo lắng trách nhiệm. Mỗi tiểu đoàn nhận 3 quả đạn làm công tác chuẩn bị để bắn hai mục tiêu: một mục tiêu dù do máy bay thả ra, khi máy bay thoát ly khỏi khu vực thì được lệnh thao tác phát sóng bắt mục tiêu dù để bắn. Mục tiêu thứ hai là máy bay không người lái.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:02:27 PM

        Các tiểu đoàn lần lượt bước vào làm công tác chuẩn bị bắn. Lúc đầu tôi nghĩ chắc theo thứ tự các tiểu đoàn thì chúng tôi sẽ bắn sau, nhưng ngược lại, đơn vị tôi được Trung đoàn giao nhiệm vụ bắn đầu tiên. Đây vừa là vinh dự, nhưng cũng mang trách nhiệm rất nặng nề trước những tình cảm mong đợi của phía bạn về kết quả huấn luyện. Tôi thầm nghĩ, đây là trận đánh đầu tiên mà tôi và các đồng đội được sử dụng vũ khí, khí tài hiện đại đê chiến đấu. Nếu bắn tiêu diệt mục tiêu tức là chúng tôi đã đánh thắng và chúng tôi có khả năng sử dụng loại vũ khí hiện đại này để đánh thắng không quân của đê quốc Mỹ xâm lược đang gây bao nhiêu tội ác cho nhân dân miền Bắc nước ta. Sau khi bắn xong tôi hỏi lại mói được biết, trong quá trình Trung đoàn theo dõi huấn luyện hiệp đồng kíp chiến đấu, Tiểu đoàn 93 của tôi kết quả huấn luyện đạt khá hơn các tiểu đoàn khác nên được chọn chỉ định giao nhiệm vụ vào bắn trước đế tạo tâm lý tự tin cho kíp chiến đấu các tiểu đoàn khác. Trước khi vào tuyến bắn tôi rất hồi hộp, lo đến trách nhiệm mà Trung đoàn tin tưởng giao cho bắn đầu tiên để rút kinh nghiệm. Sau một thoáng suy nghĩ định hình những kiến thức đã học được ỏ Trung tâm huấn luyện, tôi bình tĩnh, tự tin bước vào thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh tôi có đồng chí sĩ quan điều khiển của bạn tên là Daxapon cùng quan sát, theo dõi kíp chiến đấu thao tác bắn. Đồng chí Daxapon sau đó sang Việt Nam làm chuyên gia theo dõi, giúp đỡ quá trình chiến đấu của đơn vị và bản thân tôi hơn một năm.

        Trước cuộc diễn tập bắn đạn thật, tôi rất hồi hộp, phần vì lần đầu tiên được ấn nút phóng đạn bay thật, phần vì lo trách nhiệm trước đơn vị. Tôi nhớ lại những ngày luyện tập bắt mục tiêu máy bay MiG và thực hành phóng giả đạn tên lửa, cảm giác nhận biết khi tên lửa phóng lên diệt mục tiêu như thế nào với tôi vẫn còn mơ hồ. Còn kíp chiến đấu của Tiểu đoàn, tôi rất tin mọi người thao tác chính xác, bám sát ổn định, các khẩu lệnh hiệp đồng nhanh, gọn, rõ, nhịp nhàng theo thứ tự các bước thực hành xạ kích chiến đấu. Bây giờ là lúc yêu cầu cao, tập trung trí tuệ hiệp đồng chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ. Vừa có lệnh phát sóng, cả hai mục tiêu dù và máy bay không người lái tôi đều sục sạo bắt được và giao tay quay cho trắc thủ sớm, đồng thời theo dõi diễn biến và báo cáo Tiểu đoàn trưởng. Đến cự ly phóng, tôi hô to và rõ, Tiểu đoàn trưởng lệnh "phóng", tôi nhanh chóng đưa ngón tay cái bên phải ấn mạnh, dứt khoát vào nút phóng. Một tiếng "cạch" nhẹ, xe điều khiển hơi rung, tên lửa rời bệ phóng dũng mãnh bay đi, để lại phía sau một tiếng "ào" rít lên xé tan bầu không khí đang hết sức tập trung của kíp chiến đấu trong xe điều khiển YA. Khi tên lửa bay vào cánh sóng, "cửa sóng chờ" nhảy ra bắt dẫn bay theo quỹ đạo của phương pháp điều khiển đã chọn. Tên lửa có điều khiển tốt bay về phía mục tiêu, tôi bình tĩnh đọc thông báo các khoảng cách cự ly của tên lửa tiến đến mục tiêu và điếm gặp. Tín hiệu mục tiêu trên màn hiện sóng nhanh chóng bị xóa, tôi hô "mục tiêu bị tiêu diệt", cả ba trắc thủ: góc tà, cự ly và phương vị đều hô mục tiêu bị tiêu diệt. Cảm giác trong tôi thật khó diễn tả khi sở chỉ huy trường bắn thông báo mục tiêu bị tiêu diệt. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sức mạnh của vũ khí hiện đại và bộ đội Việt Nam có khả năng khai thác, sử dụng để tiêu diệt không quân Mỹ. Với hai quả đạn, Tiểu đoàn tôi đã tiêu diệt hai mục tiêu, như vậy đơn vị đã tiết kiệm được một quả đạn. Lúc này tôi thầm nghĩ, mình đã hoàn thành nhiệm vụ, không phụ lòng mong mỏi của các đồng chí bạn Liên Xô và thủ trưởng Trung đoàn; tôi cũng đã thực hiện được lòi hứa trước cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn và Tiểu đoàn. Một sự khởi đầu với hai quả đạn tiêu diệt hai mục tiêu, sau này lại trùng hợp với trận đánh đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 12 năm 1972, bằng hai quả đạn tên lửa, trong vòng 10 phút tôi đã chỉ huy Tiểu đoàn bắn rơi hai máy bay B-52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, trong đó có một chiếc rơi tại chỗ.

        Chuẩn bị chia tay với các thầy cô giáo, chia tay với Trung tâm huấn luyện, với đất nước của V.I. Lênin vĩ đại đề trở về quê hương chiến đấu, tình cảm thật là lưu luyến. Chúng tôi đóng gói xếp gọn quân tư trang cho vào vali. Hành lý được phía bạn chuyển lên xe, chở đi trước, chúng tôi mới lên xe hành quân đi sau tiến thẳng ra ga tàu. Khi chia tay ở bến tàu, người ở người đi thật là bịn rịn, tàu kéo hết hồi còi này đến hồi còi khác mà vẫn chưa tạm biệt nhau được. Những câu tạm biệt, hẹn gặp lại bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga mãi không dứt, phải đến khoảng 10 phút sau tàu mới rời ga được.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:02:47 PM

        Rời đất nước Xô viết anh hùng, chúng tôi ra về mỗi người đều được trang bị một kiến thức mới, kiến thức tiên tiến, hiện đại để về chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tàu chạy suốt hơn 10 ngày, qua các cánh rừng, đồng ruộng của đất nước bạn Liên Xô và Trung Quốc mà chúng tôi cảm thấy gần gũi như ở đất nước Việt Nam. Khi tàu đến ga nào dừng lấy nước và nghỉ ngơi, chúng tôi lại được chính quyền và nhân dân địa phương đón tiếp rất thân tình, đầm ấm như đón tiếp những người thân trên đường ra trận. Trong không khí cờ, băng rôn, khẩu hiệu chào đón, ở nhiều nhà ga còn có những đoàn văn nghệ biểu diễn chào mừng đoàn chúng tôi. Các bạn như những người ở hậu phương lớn, tiễn những người con, người chiến sĩ Việt Nam ra tiền tuyến. Trong mỗi chúng tôi lúc đó rất xúc động và tự hào rằng, nhân dân hai nước lớn xã hội chủ nghĩa anh em đang đứng bên cạnh Việt Nam, coi Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam như người thân một nhà. Sự tự hào và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của mỗi chúng tôi lại trào dâng lên hơn bao giờ hết, muốn con tàu chạy nhanh lên, đua với thời gian để chúng tôi sớm được nhận khí tài, vũ khí kịp thời triển khai chiến đấu bảo vệ bầu trời quê hương.

        Nhân dân hai nước Liên Xô, Trung Quốc trương cờ, khẩu hiệu, băng rôn đón tiếp, tiễn những người con ra mặt trận là thế đấy. Tình cảm quốc tế vô sản mãi mãi in sâu trong tâm trí của tôi, động viên chúng tôi chiến đấu vì dân tộc Việt Nam, vì chủ nghĩa xã hội và khát vọng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhưng có một điều làm cho chúng tôi suy nghĩ là khi tàu từ Liên Xô chạy qua Trung Quốc, chúng tôi phải chờ ở ga Mãn Châu Lý đến 4 ngày, nghe nói là vì không có hợp đồng trước. Suốt thời gian chờ tàu, chúng tôi không được đi đâu, cứ phải chờ ở trên tàu, thật là một điều đáng tiếc trước những khát khao, mong muốn được ra trận của những người lính. Sau 4 ngày chờ đợi, chúng tôi nhận được lệnh tiếp tục lên tàu hành quân về nước.

        Về đến ga Hà Nội vào đêm của những ngày cuối thu, cuối tháng 9 năm 1966, chúng tôi xuống tàu tập hợp đội hình trước sân ga, sau đó hành quân về Cát Động, xã Bình Đà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) để làm công tác chuẩn bị trả quần áo đã mượn và nhận quần áo của mình gửi lại. Với bộ quân phục màu cỏ úa trông mỗi người chúng tôi đều cứng cáp hơn, rắn rỏi hơn. Dù thời gian học ở nước bạn ngắn, nhưng mỗi chúng tôi bây giờ đã bổ sung thêm cho mình những nhận thức mới rộng lớn hơn và được trang bị những kiến thức quân sự tiên tiến mới. Chúng tôi thầm biết ơn Đảng, Nhà nước đã tạo điều kiện, cho chúng tôi được đi học. Chúng tôi nguyện hứa quyết tâm, ra quân chiến đấu phải đánh thắng ngay trận đầu mới xứng với công lao to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin tưởng dành cho và xứng đáng với tấm lòng của đất nước và nhân dân hai dân tộc Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ.

        Về đơn vị làm công tác chuẩn bị xong mà chúng tôi vẫn chưa có lệnh đi nhận khí tài, mỗi khi nghe tiếng máy bay Mỹ gầm rú, oanh tạc, làm mưa, làm gió trên bầu trời hòa bình của chúng ta, trong lòng tôi và các đồng đội chỉ muốn có khí tài để vít đầu bọn "thần sấm", "con ma" của giặc Mỹ, bắt chúng phải đền tội. Phải nằm chờ năm, sáu ngày rồi mà chúng tôi vẫn còn phải chờ tiếp. Tâm trạng sau chuyến đi học nước ngoài về ai cũng muốn được về thăm nhà vài ngày, một phần vì muốn chia sẻ những điều mới lạ vừa được biết về đất nước bạn với gia đình, bạn bè, mặt khác muốn cùng gia đình, vợ con được hưởng niềm phấn khởi, vinh dự vì trong nhà có người được đi học nước ngoài về cho dù chẳng có quà gì làm kỷ niệm. Nhưng vì chiến tranh không cho phép, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc không chỉ cướp đi tính mạng, tài sản của nhân dân mà nó còn lấy mất cả những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nhất của những người dân lương thiện như gia đình những người lính chúng tôi.

        Chúng tôi tiếp tục chờ đợi, mong muốn sớm được nhận khí tài triển khai chiến đấu trỗi lên đã làm lắng xuống tư tưởng muốn về thăm nhà. Không chỉ để giữ bí mật mà là bảo toàn lực lượng, mà đây lại là lực lượng kỹ thuật hiện đại nên lúc này là rất quan trọng.

        Ngày 9 tháng 10 Tiểu đoàn tôi được lệnh về ga cổng Quân chủng ở đường Tàu Bay (bây giờ là đường Trường Chinh) nhận khí tài. Con đường từ ngã tư Vọng đến ngã tư Sở lúc đó còn nhỏ, lại có đường tàu hỏa rẽ từ ngã tư Vọng đi vào. Gọi là đi vào, nhưng thực tế tàu phải lùi vào đến ụ đất tự đắp để bốc dỡ, vận chuyến khí tài từ trên các toa tàu xuống, hay chuyến hàng hóa từ dưới kho đưa lên tàu, ngay gần cổng số 2 của Quân chủng Phòng không - Không quân hiện nay.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Một, 2020, 08:03:29 PM

        Chúng tôi tiếp nhận được xe khí tài nào thì ngay lập tức hành quân về Xuân Mai làm công tác chuẩn bị, bảo quản định kỳ, lau chùi. Sau khi nhận đủ cả bộ khí tài thì chúng tôi tiến hành lắp ráp đồng bộ, định kỳ làm tham số và triển khai sẵn sàng ra quân chiến đấu.

        Về nước chuẩn bị ra quân chiến đấu, thực hiện mục tiêu đánh thắng trận đầu vừa là phương châm chỉ đạo, vừa là quyết tâm của Bộ đội Phòng không - Không quân phát huy truyền thống đánh giặc của ông cha ta. Đánh thắng ngay từ trận đầu với đôi tượng tác chiến là không quân Mỹ, tại chiến trường miền Bắc sẽ tác động rất lớn đến tinh thần chiến đấu, đặc biệt là đối với kíp chiến đấu của chúng tôi mới đi học ở Liên Xô về nước. Bởi lẽ, đánh thắng trận đầu sẽ tạo được niềm tin đánh thắng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ngay từ đầu; khắng định Bộ đội Tên lửa có đủ khả năng, trình độ thao tác sử dụng vũ khí, phương tiện chiến đấu hiện đại để đánh thắng không quân Mỹ. Đánh thắng trận đầu đôi với máy bay chiến thuật của không quân Mỹ, sẽ tạo lòng tin vào khả năng đánh thắng các lực lượng không quân của Mỹ. Các đơn vị bạn ra quân chiến đấu trước đều đã thực hiện được quyết tâm đánh thắng trận đầu. Chúng tôi là đơn vị ra đời sau, tuy áp lực về khả năng thao tác sử dụng vũ khí có phần bớt căng thẳng so với các đơn vị đầu tiên, nhưng về mặt tâm lý cũng rất căng thắng vì cuộc đối đầu của Bộ đội Tên lửa với các thủ đoạn áp dụng kỹ thuật tác chiến điện tử của không quân Mỹ ngày càng diễn ra gay go, quyết liệt hơn.

        Cuộc chiến đấu chống chiến tranh leo thang phá hoại của không quân và hải quân Mỹ đối với miền Bắc lúc này đã kéo dài tới 18 tháng, đang ở thời kỳ gay go, quyết liệt. Chiến dịch "mũi lao lửa" sử dụng không quân đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ đang từng bước bị quân và dân ta chặn đứng. Hàng trăm máy bay Mỹ đã bị bắn rơi tại chỗ trên miền Bắc. Quân và dân miền Bắc, từ các cụ dân quân, các nữ dân quân, các lực lượng phòng không ba thứ quân, nòng cốt là Bộ đội Phòng không - Không quân hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đang thi đua lập công bắn máy bay Mỹ, với khẩu hiệu "bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái". Hầu hết các địa phương trên miền Bắc đều lập công bắn rơi máy bay Mỹ, không ngày nào Đài Tiếng nói Việt Nam không đưa tin máy bay Mỹ bị bắn rơi. Có thể nói, khí thế thi đua đánh Mỹ vang dội khắp núi sông như thôi thúc chúng tôi lập công đánh thắng ngay từ trận đầu.

        Khí thế thi đua đánh Mỹ là như vậy, nhưng thực chất bước vào chiến đấu các đơn vị hỏa lực tên lửa gặp rất nhiều khó khăn, phải "đấu trí" quyết liệt với tác chiến điện tử và tên lửa chống rađa của không quân Mỹ. Kể từ cuối tháng 7 năm 1965, Trung đoàn tên lửa 236 ra quân đánh thắng trận đầu, từ ngày đó Bộ đội Tên lửa đã trở thành mục tiêu phải tiêu diệt ngay từ đầu của không quân Mỹ mỗi khi chúng đánh phá miền Bắc. Khi phát hiện thấy tên lửa SAM-2 xuất hiện trên chiến trường miền Bắc, lập tức các lực lượng không quân chiến thuật của Mỹ đã săn lùng để tiêu diệt. Do lực lượng tên lửa của ta lúc đầu còn mỏng, ta áp dụng chiến thuật đánh du kích, bí mật phục kích đánh chặn và liên tục cơ động thay đổi trận địa, thay đổi địa bàn chiến đấu để bảo toàn lực lượng, thường xuyên làm cho không quân Mỹ bị bất ngờ. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh không quân chiến thuật và không quân của hải quân Mỹ đều hiểu rằng, tên lửa phòng không của Bắc Việt Nam chỉ có thể là tên lửa phòng không của khối Vacxava viện trợ. Chính vì vậy, trong từng bước leo thang chiến tranh, không quân Mỹ từng bước nghiên cứu áp dụng các biện pháp chế áp điện tử, chế áp hỏa lực, đánh phá các trận địa tên lửa của ta. Thao tác chiến đấu đánh trả không quân Mỹ giai đoạn này không thuần túy chỉ là thao tác bám sát, bắt chính xác mục tiêu và thực hành xạ kích bằng phương pháp điều khiển tối ưu khi xác định rõ cự ly mục tiêu trên màn hiện sóng của sĩ quan điều khiển và các trắc thủ. Đánh chặn không quân Mỹ vào đánh phá các mục tiêu bảo vệ, Bộ đội Tên lửa phải đương đầu với tác chiến điện tử, phải tác chiến trong điều kiện không quân Mỹ sử dụng thả "nhiễu tiêu cực"1, phát "nhiễu tích cực"2, cả nhiễu ngoài đội hình (do các máy bay EB66, EC121 bay ngoài đội hình phát ra) và nhiễu trong đội hình (do các máy bay tiêm kích, cường  kích ném bom được trang bị máy phát nhiễu phát ra) để che giấu đội hình tiến công. Đồng thời, không quân Mỹ còn sử dụng "tên lửa tự dẫn"3 không đối đất - tên lửa chống rađa, ký hiệu AGM-45 và AGM-78, có tên gọi là Sraike và Standa bay theo tâm cánh sóng rađa điều khiển tên lửa để đánh trả mỗi khi ta phát sóng.

---------------------------
        1, 2. Là dạng nhiễu địch sử dụng giấy tráng phủ kim loại được máy bay thả ra làm nhiễu đài rađa.

        3. Là loại tên lửa không đối đất do máy bay Mỹ phóng ra, nó hoạt động theo nguyên lý tự dẫn, khi có năng lượng sóng điện từ nó tự bay theo ở tâm cánh sóng nơi tập trung năng lượng mạnh nhất.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:36:09 AM

        Thực tế trong cuộc đối đầu quyết liệt này, đã không ít đơn vị tên lửa của ta đánh không thắng, lại bị tên lửa không đối đất của không quân Mỹ phá hỏng khí tài, cán bộ, chiến sĩ hy sinh, đơn vị mất sức chiến đấu. Bởi lẽ, thao tác chiến đấu của Bộ đội Tên lửa là cuộc đấu trí quyết liệt, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa bản lĩnh, ý chí quyết tâm chiến đấu, quyết tâm đánh thắng với sự nhanh trí, thông minh, sáng tạo, quyết đoán... để thao tác loại bỏ nhiễu tiêu cực, nhận định và lựa chọn đúng dải nhiễu có mục tiêu, tránh nhiễu giả để sục sạo và bám sát; đồng thời phải tính toán phát sóng theo chu kỳ hợp lý để tránh hoặc gạt bỏ tên lửa chống rađa. Mỗi trận chiến đấu diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ vài chục giây. Trung đoàn cho Tiểu đoàn 93 ra quân đánh trận mở màn cho toàn Trung đoàn. Tôi làm sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn nên rất lo lắng. Trận đánh lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ khẳng định khả năng thao tác sử dụng khí tài chiến đấu trong tình huống thông thường như khi bắn đạn thật ở trường bắn nước bạn, mà là cuộc đối mặt giữa kỹ thuật với chiến thuật, giữa cái sống với cái chết, giữa chiến thắng hay thất bại. Không chỉ riêng tôi mà cả toàn bộ kíp chiến đấu đều có tâm trạng lo lắng như vậy. Thủ trưởng Trung đoàn, Tiểu đoàn động viên kíp chiến dấu, đồng đội trong kíp chiến đâu nhìn tôi với ánh mắt tin cậy. Vì tôi là sĩ quan điều khiển, người bật công tắc phát sóng, thao tác sục sạo mục tiêu mở đầu mỗi trận đánh và cũng là người ấn nút phóng cho tên lửa bay lên và theo dõi kết thúc trận đánh. Tuy không ai nói ra, nhưng tôi hiểu rằng, vị trí, vai trò và trách nhiệm của tôi trong kíp chiến đấu là hết sức nặng nề.

        Được Trung đoàn chỉ vị trí trận địa, các đồng chí cán bộ đại đội, Tiểu đoàn đã đi trinh sát, làm công tác chuẩn bị. Đó là khu rừng bãi bụa rộng bao la, còn nơi chúng tôi đặt trận địa gọi là trận địa Mẫn Đức thuộc tỉnh Hòa Bình. Tiểu đoàn tôi triển khai chiến đâu theo phương án bố trí trận địa phục kích, trên một đường bay được xác định là đường bay chủ yếu mà máy bay Mỹ bay từ hướng tây nam vào đánh phá Thủ đô Hà Nội. Đây thực chất là những trận địa bảo vệ Hà Nội ở vòng ngoài. Đêm 20 tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn tôi triển khai sẵn sàng chiến đấu xong, khí tài kiểm tra tham số 3 rãnh, 5 bệ và đạn tốt, sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu. Ngày 21 tháng 10 năm 1966, bầu trời yên tĩnh, không có máy bay bay qua, đơn vị luyện tập theo các phương án chiến đấu đã dự kiến trước. Chúng tôi suy nghĩ có thể trong một vài ngày tới trận đánh mở màn của Tiểu đoàn vẫn chưa thể xảy ra. Vừa luyện tập, vừa hồi hộp chờ đợi, chúng tôi chính thức bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt, sẵn sàng đối mặt với bom, đạn Mỹ và sẵn sàng chiến đấu hy sinh. Sau mỗi bài tập, chúng tôi tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, tuy chưa có thực tiễn trận đánh nào của Tiểu đoàn, nhưng mọi ý kiến trao đổi trong kíp chiến đấu theo lý thuyết đã học vẫn rất sôi nổi. Do nhận thức đúng nhiệm vụ và trách nhiệm, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu, cả Tiểu đoàn bước vào chuẩn bị chiến đấu với sức mạnh tinh thần to lớn, bình tĩnh, tự tin, sẵn sàng chờ đợi những gì sẽ xảy ra phía trước với một niềm tin chiến thắng. Cuộc đấu trí của kíp chiến đấu Tiểu đoàn 93 chúng tôi với sức mạnh quân sự và phương tiện kỹ thuật tác chiến điện tử hiện đại nhất thế giới của không quân Mỹ đã diễn ra sớm hơn so với chúng tôi phán đoán, dự định.

        Đúng 10 giờ ngày 22 tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn được lệnh báo động chiến đấu vào cấp 1. Chúng tôi nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Sĩ quan điều khiển và cả ba trắc thủ tuy hồi hộp, nhưng rất tự tin, thao tác kiểm tra khí tài nhanh chóng, chính xác, khẩu lệnh dứt khoát, rõ ràng. Kiểm tra chức năng, đánh giá khí tài xong, tôi báo cáo với Tiểu đoàn trưởng: khí tài 3 rãnh, 5 bệ đạn tốt. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Lộc, quê Hà Tĩnh, với giọng nói miền Trung nhẹ nhàng nhưng rất ấm áp ra lệnh cho chúng tôi: sục sạo, bắt mục tiêu từ phương vị 230 đến 300. Tôi nhẹ nhàng quay tay quay, nhanh chóng đưa anten chính xác về hướng đã định để sục sạo, quan sát, phát hiện máy bay địch. Trên màn hiện sóng xuất hiện hai dải nhiễu cơ động, biến dạng, tạo hình xoắn, vặn thừng; tôi báo cáo Tiểu đoàn trưởng và tiếp tục theo dõi phát hiện mục tiêu. Bỗng màn hình xuất hiện rõ 4 máy bay đang bay vào ở phương vị 280, tôi báo cáo phát hiện mục tiêu ở cự ly 50km.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:36:37 AM
   
        Theo dõi thao tác chiến đấu của tôi lúc này, ngoài Tiểu đoàn trương còn có đồng chí sĩ quan điều khiển Daxapon chuyên gia Liên Xô ngồi sau nên tôi cũng vững tin hơn. Khi bắt và dẫn mục tiêu ở cự ly 40km, trên màn hiện song lại xuất hiện màn nhiễu dạng sương mù che phủ mục tiêu, tôi báo cáo có nhiễu, Tiểu đoàn trưởng quan sát trên màn BMKO và lệnh: "chống nhiễu". Tôi bật công tắc về chế độ chống nhiễu, mục tiêu lại hiện rõ, vì đây là nhiễu tiêu cực bằng các bó giấy tráng kim loại do máy bay địch thả ra. Thực hành các thao tác chuẩn bị chiến đấu xong, 3 trắc thủ bám sát tốt, tôi tắt anten không cho phát sóng ra không gian (tránh máy bay địch phát hiện có sóng điện từ và sử dụng tên lửa chống rađa danh phá đài điều khiển) chỉ theo dõi máy bay địch trên màn Bl/IKO của Tiểu đoàn trưởng, còn tôi là sĩ quan điều khiển cứ theo dõi trắc thủ cự ly bám sát mà vạch đường đánh dấu cự ly trên màn hiện sóng chuyển động theo. Đến khoảng cự ly 35km, tôi tiếp tục bật công tắc phát sóng trở lại, 4 máy bay địch vẫn ngang nhiên bay vào. Tôi báo cáo xin lệnh phóng. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh phóng, tôi đã ấn nút phóng ở cự ly 28km, 2 đạn rời bệ vào cánh sóng có điều khiển tốt. Quan sát, theo dõi tên lửa bay về phía mục tiêu và đê phát hiện xem có tên lửa chống rađa không. Đến khoảng cách 10km tôi bình tĩnh dọc thông báo rõ ràng: mười,... năm,...ba,..., mục tiêu có biểu hiện cơ động tránh tên lửa nhưng trắc thủ bám sát tốt. Tên lửa gặp mục tiêu, đạn nổ tốt, mục tiêu bị tiêu diệt, 1 máy bay F-105 bị bắn rơi tại chỗ trên đất Hòa Bình. Cảm giác đánh thắng ngay từ trận đầu thật vui sướng, khi đạn gặp và tiêu diệt mục tiêu, cả kíp chiến đấu như muốn đứng dậy ôm lấy nhau nhảy múa, nhưng vì đang chiến đấu nên chúng tôi phải nén niềm vui đó trong lòng. Đồng chí Daxapon thực sự vui mừng, cứ đưa ngón cái tay phải của mình lên mãi không thôi. Không phải đồng chí ra hiệu ngón tay ấn nút phóng đạn mà là biểu lộ rất tốt, quá tốt. Đây là trận đánh đầu tiên, lại là trận đánh thắng do kíp trắc thủ của Tiểu đoàn tự điều khiển, các tham số kỹ thuật của khí tài do đội ngũ kỹ thuật viên của Tiểu đoàn tự hiệu chỉnh; do vậy cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn phấn khởi và tin vào khả năng khai thác làm chủ khí tài và thao tác chiến đấu bảo đảm đánh thắng không quân Mỹ ở những trận tiếp theo.

        Khi Trung đoàn tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh mở màn, tôi mới biết Trung đoàn đặt niềm tin và giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 93 đánh trước để rút kinh nghiệm cho các kíp chiến đấu của Trung đoàn. Tin vui Tiểu đoàn 93 đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ nhanh chóng được truyền đến các đơn vị. Tiếu đoàn ra quân đánh thắng, đã giữ vững và phát huy truyền thống đánh thắng trận đầu của Bộ đội Tên lửa. Thật là vinh dự cho Tiểu đoàn 93, tôi là sĩ quan điều khiển đã thực hiện được đúng quyết tâm và ý định của Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn. Tiểu đoàn 93 đã có chiếc máy bay đầu tiên được ghi vào sổ vàng truyền thống của Trung đoàn.

        Ra quân đánh thắng trận đầu, được Trung đoàn biểu dương chúng tôi rất phấn khởi; cán bộ, chiên sĩ Tiểu đoàn, nhất là kíp trắc thủ lại càng có lòng tin vào chính mình. Nó còn là niềm tự hào, bởi vì ra quân chiến đấu trên mỗi xe, mỗi hệ vẫn còn có một chuyên gia của Liên Xô đi kèm để giúp đỡ về mặt kỹ thuật. Trận này các đồng chí không trực tiếp làm tham số như ở trường bắn mà chỉ theo dõi, khi phát hiện có sai sót thì mới hướng dẫn. Ra quân chiến đấu chúng tôi nghĩ phải tự mình vươn lên nắm và làm tốt công tác kỹ thuật, chiến thuật, thuần thục cách đánh để bạn nhanh chóng không còn trực tiếp cùng ngồi chiến đấu với chúng tôi nữa. Thời gian này tôi và các đồng chí, đồng đội luôn suy nghĩ nhân dân Liên Xô đã giúp mình vũ khí, khí tài chiến đấu. Đây là mồ hôi, xương máu của giai cấp công nhân và nhân dân Liên Xô, bên cạnh đó còn có những đồng chí - những con người cụ thể trực tiếp giúp mình thì đừng để các đồng chí đó phải hy sinh. Chính vì vậy, chúng tôi đã quyết tâm học tập vươn lên làm chủ vũ khí, khí tài để các đồng chí chuyên gia Liên Xô từng bước không phải trực tiếp có mặt tại trận địa tham gia chiến đấu. Những trận đánh tiếp theo sau của Tiểu đoàn, đều do chúng tôi tự làm tham số chiến đấu và thao tác chiến đấu, chuyên gia bạn chỉ giúp khi bảo quản định kì, tham số tuần, tháng cho khí tài.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:37:43 AM

Chương 3

THAM GIA CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA KHÔNG QUÂN MỸ(1967-1968)

        Chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc diễn ra từ tháng 3 năm 1965 đến ngày 30 tháng 11 năm 1968. Không quân Mỹ không chỉ từng bước leo thang về không gian mà chúng từng bước leo thang về kỹ thuật và chiến thuật. Điển hình là những nấc thang mà không quân Mỹ áp dụng phương tiện kỹ thuật tác chiến điện tử chế áp hỏa lực các trận địa tên lửa, đồng thời điều chỉnh các đội hình chiến thuật máy bay tiến công đánh phá. Để đánh thắng không quân Mỹ, các lực lượng phòng không -  không quân mà trước hết là Bộ đội Tên lửa phải đối đầu, đấu trí quyết liệt nhất với các thủ đoạn gây nhiễu chế áp điện tử và chiến thuật tập kích đánh phá của không quân chiến thuật và không quân của hải quân Mỹ. Tính đến thời điểm cuối năm 1966 đế quốc Mỹ đã khai thác tối đa sức mạnh tác chiến điện tử, áp dụng vào chiến trường miền Bắc nước ta, chủ yếu nhằm chế áp các đài rađa, trước hết là rađa điều khiển tên lửa. Cuộc "đấu trí", "đấu lực" giữa sức mạnh của con người Việt Nam với sức mạnh của vũ khí Mỹ biểu hiện đặc trưng nhất ở Bộ đội Tên lửa.

        Cuộc đối đầu khó khăn nhất trong chiến đấu của các lực lượng phòng không - không quân nói chung và Bộ đội Tên lửa nói riêng là chống các thủ đoạn tác chiến điện tử của không quân Mỹ. Đó là các thủ đoạn gây nhiễu chế áp đài rađa, dưới các dạng nhiễu tiêu cực và nhiễu tích cực nhằm che giấu đội hình máy bay vào tập kích đánh phá mục tiêu. Nhiễu tiêu cực là nhiễu do chúng sử dụng giấy kim loại thả để che lấp đội hình máy bay vào đánh phá, làm nhiễu loạn tín hiệu phản xạ trở về từ máy thu của các đài rađa; làm cho các trắc thủ rađa, trắc thủ tên lửa không quan sát, phát hiện thấy mục tiêu để theo dõi, bám sát, chỉ thị, điều khiển hỏa lực tiêu diệt máy bay địch. Các dạng nhiễu tích cực phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều so với nhiễu tiêu cực. Đó là loại nhiễu được điều chế từ máy phát nhiễu đặt trên máy bay, nó được tạo ra dưới dạng năng lượng sóng điện từ có cùng tần số làm việc của máy thu các đài rađa và đài điều khiển tên lửa. Thủ đoạn gây nhiễu tích cực, có nhiễu ngoài đội hình và nhiễu trong đội hình với các dạng nhiễu hình thù khác nhau; đặc biệt là nhiễu xung, nhiễu râu do máy bay của hải quân Mỹ thực hiện, nó luôn biến đổi hình dạng, rất khó xác định đâu là nhiễu thật, đâu là nhiễu giả. Đối với nhiễu xung, nhiễu râu khi thao tác bắt mục tiêu, bám sát mục tiêu tín hiệu luôn co bóp, biến dạng làm cho việc căn tim đường tín hiệu cự ly và phương vị không chuẩn xác sẽ không diệt được mục tiêu. Nhiễu tích cực tác động mạnh, trực tiếp, chủ yếu chế áp vào các đài rađa sóng ngắn (sóng xăngtimét) như rađa điều khiển tên lửa, rađa dẫn đường của không quân và rađa ngắm bắn của pháo, do nguyên lý tạo cánh sóng của các loại rađa này khác với rađa sóng mét. Ngoài chế áp điện tử, không quân Mỹ còn tăng cường chế áp hỏa lực bằng việc đánh phá của bom, đạn và tên lửa chống rađa.

        Đơn vị tôi vinh dự được sang Liên Xô để học chuyển loại khí tài tên lửa, lực lượng chuyển loại chủ yếu là bộ đội rađa, pháo cao xạ, pháo binh. Thời gian học 9 tháng cả lý thuyết và thực hành. Chúng tôi thi đua nhau học tập nắm chắc kỹ thuật, chiến thuật của loại vũ khí hiện đại này. Do đó, trình độ nắm khí tài, thao tác chiến đâu cũng có những thuận lợi nhất định, bảo đảm hiệu suất chiến đấu tốt hơn. Trong năm 1966, riêng Tiểu đoàn 93 đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ. Có 2 chiếc rơi tại chỗ, tiêu thụ 20 quả đạn tên lửa, được đánh giá là đơn vị chiến đấu có hiệu suất cao của Trung đoàn.

        Năm 1967, do thất bại ở chiến trường miền Nam, đê quốc Mỹ đã ra sức đánh phá miền Bắc, cuộc chiến đấu chống chiến tranh leo thang phá hoại của không quân Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt hơn. Đế quốc Mỹ sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tác chiến điện tử và áp dụng nhiều thủ đoạn chiến thuật tập kích đánh phá mục tiêu ở trình độ tinh vi hơn. Chúng đã leo đến nấc thang cao nhất, thực hiện đánh phá trực tiếp vào Thủ đô Hà Nội là chủ yếu. Chúng dùng mọi thủ đoạn, sức mạnh quân sự để triệt phá, hủy diệt các lực lượng phòng không và các mục tiêu mà chúng cần hủy diệt. Thủ đoạn gây nhiễu trong và ngoài đội hình tập kích đã gây khó khăn cho tên lửa rất nhiều, nay chúng lại dùng nhiễu QLC-71 (nhiễu rãnh đạn) làm cho nhiều đơn vị bắn lên đạn lại rơi xuống đất không diệt được máy bay địch, mà mục tiêu bảo vệ thì cứ bị phá hoại.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:38:04 AM

        Thời gian này, Tiểu đoàn 93 được Trung đoàn tiếp tục giao nhiệm vụ cơ động chiến đấu bảo vệ vòng ngoài Thủ đô Hà Nội; Tiểu đoàn cũng tham gia đánh một số trận nhưng không bắn rơi được máy bay Mỹ. Một thời gian sau, với quyết tâm nung nấu, ý chí quyết vươn lên trong kỹ thuật, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn" tìm ra cách đánh thắng. Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô đã tập trung nghiên cứu nghiêm túc, từ những suy nghĩ nhỏ, động tác nhỏ, phát hiện nhỏ về thủ đoạn hoạt động của không quân Mỹ mà các thành phần trong từng kíp chiến đấu của Bộ đội Tên lửa nêu ra tại các cuộc rút kinh nghiệm, phân tích, mổ xẻ từng vấn đề. Trong những buổi rút kinh nghiệm như vậy, từ người trắc thủ đến tiêu đoàn trưởng đều là những người trực tiếp nói về những diễn biến thật trong mỗi trận đánh; các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thắng hay không thắng được đề nghị làm rõ; từ đó tìm được nguyên nhân chính xác để khắc phục là một hệ thống thống nhất. Chúng ta phải cảm ơn những nhà khoa học Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô đã đúc kết, nghiên cứu nhanh, cải tiến kịp thời vũ khí, khí tài nên chỉ trong một thời gian ngắn đã khắc phục thành công các nhược điểm của khí tài. Giữa năm 1967, các đơn vị tên lửa lại thi đua lập công trong chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Vào cuối năm 1967, Tiểu đoàn 93 bắn rơi 3 máy bay, có một chiếc bắn rơi tại chỗ.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta ở miền Nam đã giáng một đòn chiến lược bất ngờ vào Mỹ - ngụy, làm cho nội bộ nước Mỹ chia rẽ sâu sắc. Trước tình hình đó, Tổng thống Giônxơn quyết định xuống thang chiến tranh, ra lệnh từ ngày 31 tháng 3 năm 1968 không quân Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ ta tại Pari. Nhưng với bản chất hiếu chiến, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Tổng thống Giônxơn lại ra lệnh cho không quân tập trung đánh phá ác liệt tuyến giao thông vận chuyển chiến lược từ địa bàn Quân khu 4 trở vào phía Nam, tăng cường trinh sát miền Bắc để khi cần quay lại đánh phá được ngay. Từ ngày 1 tháng 4 năm 1968, từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra tạm được phân chia thành chiến trường Al, còn từ nam vĩ tuyến 20 trở vào là chiến trường A2. Tại chiến trường A2, các trận chiến đấu của Bộ đội Tên lửa diễn ra rất ác liệt với không quân và hải quân Mỹ. Trung đoàn tên lửa 278 được giao nhiệm vụ cơ động chiến đấu bảo vệ tuyến giao thông từ Ninh Bình đến Thanh Hóa, rồi từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh.

        Không khí chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của đồng bào miền Nam càng thúc giục chúng tôi quyết tâm ra quân đánh thắng. Đầu năm 1968, đơn vị chúng tôi cơ động chiến đấu khu vực Ninh Bình, đánh 8 trận, tiêu thụ 16 quả đạn, diệt 2 máy bay, cả 2 chiếc rơi tại chỗ. Quá trình chiến đấu sát biển chúng tôi không chỉ phải đối phó với các thủ đoạn phóng tên lửa không đối đất từ các loại máy bay của địch mà còn phải đối phó với pháo biến từ ngoài khơi đánh vào khi trận địa bị lộ. Ở Nông trường Hà Trung, trận địa của chúng tôi chủ yếu triển khai trong rừng cà phê. Chiến đấu ở đây chúng tôi không chỉ chú ý hướng chính, hướng chủ yếu mà phải quan sát sẵn sàng đánh trả không quân Mỹ trên tất cả các hướng. Triển khai chiến đâu ở những địa bàn này có nhiều điểm bất lợi so với triển khai trận địa chiến đấu ở các khu vực khác. Các trận địa tên lửa của ta nằm giữa hai gọng kìm của không quân và hải quân Mỹ. Thường là phía tây có máy bay thuộc lực lượng không quân chiến thuật của Mỹ ở căn cứ Thái Lan tiến công đánh phá, phía biển có máy bay thuộc lực lượng không quân của hải quân Mỹ từ Hạm đội 7 tập kích đánh phá. Khi ta phóng tên lửa diệt những máy bay từ biển bay vào, có thể sẽ có máy bay của không quân địch từ hướng Lào sang đánh vào trận địa và ngược lại.

        Có một điều chúng tôi phải tính toán kỹ vì từ đây vào đến vĩ tuyến 17, thường trong một trận chiến đấu gặp cả máy bay của hải quân và máy bay của không quân địch. Đây là một vấn đề rất khó khăn vì máy bay của hải quân Mỹ mang loại nhiễu khác, chủ yếu là nhiễu xung và nhiễu râu, cách tập kích đánh phá của chúng cũng theo chiến thuật khác. Máy bay của hải quân Mỹ thường tập kích chớp nhoáng, đánh vẹt từ biển vào rồi bay ra, nếu công tác chuẩn bị cho trận đánh không tốt, chuẩn bị chậm là lỡ thời cơ. Máy bay của lực lượng không quân chiến thuật Mỹ lại mang nhiễu khác, cách đánh mục tiêu cũng khác; do vậy, các đơn vị tên lửa chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 phải chịu nhiều áp lực. Lực lượng chi viện của ta giữa tên lửa với tên lửa, đội hình khó cho phép như lý thuyết đã học. Lực lượng pháo cao xạ bố trí bảo vệ trận địa tên lửa cũng gặp khó khăn trong bố trí đội hình cụm hỏa lực. Lực lượng không quân từ các sân bay ở khu vực Hà Nội vào chi viện càng khó khăn hơn. Vì địch không chỉ dùng máy bay của hải quân và máy bay của không quân đón đánh mà chúng còn sử dụng cả tên lửa pháo hạm ngoài biển để đánh chặn không quân của ta chi viện cho chiến trường và chế áp hỏa lực, đánh phá các trận địa tên lửa, trận địa pháo cao xạ của ta.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:39:10 AM

        Tại đây, Tiểu đoàn 93 đã đánh một trận, không tiêu diệt được máy bay địch mà còn bị chúng đánh vào trận địa làm hỏng khí tài. Trận này Tiểu đoàn tôi đối đầu với lực lượng không quân của hải quân Mỹ từ ngoài biên tập kích vào, chủ yếu bay thấp, đánh vẹt, sử dụng "nhiễu xung trả lời"1 và "nhiễu râu"2. Do chiến thuật bay thấp, tập kích chớp nhoáng của máy bay địch, kinh nghiệm chiến đấu đánh trả của kíp chiến đâu trong điều kiện chúng sử dụng nhiễu xung, nhiễu râu chưa nhiều nên trận đánh không thắng, trận địa bị lộ. Khi bị địch đánh trúng vào trận địa, khí tài của đơn vị bị hỏng không chiến đấu được, để bảo toàn lực lượng Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Lộc đã lệnh cho kíp chiến đấu sơ tán về các khu vực theo phương án đã xác định. Tôi và kíp trắc thủ sơ tán về khu vực Đài thông tin tiếp sức để quan sát khí tài và chờ sẵn sàng nhận lệnh. Ngồi bên ngoài nhìn vào trận địa, hết đợt này 4 chiếc đến đợt khác 8 chiếc máy bay địch thi nhau trút bom vào cánh rừng cà phê, nơi mà bộ khí tài tên lửa của Tiểu đoàn đang bố trí ở đó, chúng tôi sốt ruột và lo lắng vì biết khí tài sẽ bị phá hỏng. Đôi lúc tôi còn nghe được tiếng đồng chí Tiểu đoàn trưởng đang ở trong trận địa báo cáo lên Trung đoàn, đợt 1 địch đánh phá hỏng..., đợt 2 địch đánh phá hỏng... và có rất nhiều mảnh bom đánh thủng anten. Lúc đó, tinh thần và quyết tâm chiến đấu càng nung nấu trong tôi, mình phải đánh thế nào cho tốt để địch không có cách nào đánh lại được mình. Khó thật! Ý nghĩ ấy cứ luôn dằn vặt trong tâm trí tôi mà chưa có lời giải đáp thỏa đáng.

        Cả kíp chiến đấu đang sơ tán ngồi gần xe thông tin tiếp sức, xe này thường bố trí cách trận địa khoảng từ 1 đến 2km. Chúng tôi thấy một loạt bom rơi xung quanh xe tiếp sức, có một quả rơi gần chỗ kíp chiến đấu của chúng tôi ngồi. Nghe thấy tiếng rơi "uỵch" mà không thấy có tiếng nổ, thì ra quả bom rơi cách chúng tôi chỉ khoảng một mét nhưng không nổ. Thật may mắn cho cả kíp chiến đấu chúng tôi vì không xảy ra tổn thất, thương vong gì. Bộ đội Tên lửa chúng tôi thường có câu nói động viên nhau để yên tâm chiến đấu "chúng đánh chưa chắc đã trúng, mà trúng chưa chắc đã chết".

        Đầu tháng 4 năm 1968, từ Thanh Hóa chúng tôi được lệnh hành quân vào Nghệ An. Khi hành quân đơn vị đi theo đường 15 "gọi là đưòng bò lăn", con đường chiến lược nhiều ổ trâu, ổ gà rất khó đi. Chúng tôi ngồi trên xe mà cứ thấy đuôi xe hết văng bên đông lại văng bên tây, có lúc xe sa lầy phải huy động đến 2 xe xích (ATC) kéo cũng không lên được nên phải tiếp tục đào, rồi lại kéo. Hành quân đường dài đối với các xe khác đã là khó khăn, nhưng khó nhất là xe PA (xe anten thu phát) có lúc kéo gẫy cả càng, lại phải thay thế, mà khi thay thì cực lắm; còn kéo được thì nó cũng chẳng khác nào con ngựa bất kham, lúc văng trái, lúc văng phải, có lúc nằm ệch bên ta luy, còn đi sau nó thì tim chúng tôi thót lại liên tục. Hành quân như thế đâu chỉ có trời và đất mà kẻ địch suốt đêm rình rập, lộ ra là chúng đánh ngay. Đặc biệt ở những ngã ba, những bến phà đâu chỉ phát hiện chúng mới đánh mà chúng còn đánh theo thời gian, theo tọa độ, nếu phát hiện thấy thì chỉ ít phút sau là máy bay Mỹ thi nhau kéo đến đánh phá liên tục.

        Khó khăn gian khổ là vậy, nhưng với ý chí quyết tâm của tập thể cán bộ, chiến sĩ, chúng tôi đã hành quân đến địa điểm tập kết an toàn, bảo đảm thời gian quy định. Vừa hành quân đến nơi chúng tôi bước ngay vào nghiên cứu tình hình địch trên không, mặt đất, địa hình đế bố trí trận địa. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng trong quá trình tác chiến.

        Địch tuyên bố không ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, âm mưu của chúng thật xảo quyệt, như vậy chúng có thể dồn sức đánh phá ác liệt hơn vào khu vực "cán xoong" Khu 4 trên bản đồ địa lý. Có những người không hiểu lại cho là chúng có thiện chí, nhưng thật ra đó là trò lừa đảo bằng ngoại giao. Nhân dân Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu của chúng.

        Những ngày này, từ những lùm cây, ngã ba đường hay những khu vực nghi ngờ có vết xe đi là máy bay Mỹ lùng sục đánh xăm, đánh dồn dập. Ngã ba Truông Bồn, dọc từ cầu Cấm đến Bến Thủy, trên đường số 1 ban đêm chúng thả pháo sáng liên tục, bầu trời và mặt đất sáng như ban ngày. Giai đoạn này cấp trên có ý định vận chuyển hàng hóa vào chiến trường chủ yếu đi ban đêm. Chúng tôi được lệnh, cứ 18 giờ hàng ngày triển khai chiến đấu, đến 4 giờ sáng thu hồi cất giấu khí tài vào vị trí an toàn, vì lúc này địch đang ở thế thượng phong, ta phải thường xuyên cơ động và phục kích đánh đêm mới phù hợp trong điều kiện lực lượng còn mỏng, cơ động ban ngày dễ bị lộ. Cách tổ chức lực lượng tên lửa phục kích đánh đêm cũng góp phần làm cho địch đánh giãn ra, tạo thuận lợi cho việc vận chuyến hàng từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam ngày càng nhiều hơn.

----------------------
        1. Một dạng nhiễu khi máy thu của rađa, đài điều khiển tên lửa thu về có hình dạng đường bao giống như tín hiệu máy bay địch.

        2. Một dạng nhiễu xung trả lời, nhưng nó luôn biến dạng về phương vị, trắc thủ bám sát, theo dõi rất khó.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:39:38 AM

        Mỗi người cán bộ, chiến sĩ chúng tôi có nhiều trăn trở và suy nghĩ, đất nước mình, nhân dân mình đang sống yên ổn, tự do thế mà đế quốc Mỹ cứ ngang nhiên dùng máy bay, tàu chiến đánh phá thành phố, làng mạc, phá tan những cây cầu, những ngã ba đường, hoành hành trên bầu trời suốt ngày đêm. Ta phải làm gì? Chiến đấu đánh trả không quân Mỹ như thế nào? Bảo vệ mục tiêu thế nào? Kiên quyết không để đế quốc Mỹ huênh hoang tuyên bố "dọn sạch các bệ phóng tên lửa ở Khu 4". Con giun xéo mãi cũng quằn, Quân chủng Phòng không -  Không quân đã quyết định mở "Chiến dịch A2" mang mật danh "CZA2" báo vệ các kho, tuyến đường và hàng vận chuyển cả ngày và đêm vào chiến trường.

        Đầu tháng 5 năm 1968, Tiểu đoàn tôi được lệnh tham gia chiến dịch A2. Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn được sắp xếp lại, lúc đó tôi là Đại đội trưởng Đại đội 1, nhưng Trung đoàn yêu cầu tôi phải chiến đấu ở vị trí sĩ quan điều khiển. Chẳng hiểu quy mô, mức độ, cách đánh chiến dịch sẽ thế nào, vì chúng tôi phải chờ đến ngày 11 tháng 5 họp mới được giao nhiệm vụ cụ thể. Tôi suy nghĩ, sắp đến ngày sinh nhật Bác - 19 tháng 5 năm 1968, đơn vị đang đóng quân và chiến đấu trên quê Bác, thật vinh dự, tự hào nhưng chúng tôi phải chiến đấu thế nào? Phải quyết tâm ra sao?, để giành thắng lợi lập công dâng Bác kính yêu.

        Đêm 9 tháng 5 chúng tôi chiếm lĩnh trận địa thuộc xã Nghi Trưòng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đây là bãi cát chạy dọc theo xã, trận địa nằm cạnh Trường phổ thông cấp I. Ở đây có cả một rừng phi lao chiều dài gần 2km, chiều rộng chỗ lớn nhất từ 600m đến 700m, chỗ nhỏ nhất chỉ từ 300m đến 400m, các cabin chiến đấu được đưa xuống công sự rồi luồn gỗ, tre xong phủ cát lên ngụy trang trông chẳng khác nào bãi cát. Phương án chiến đấu của Tiểu đoàn là giám sát đường bay từ biển vào, bảo vệ thành phố Vinh và các trục giao thông vận chuyển. Công tác chuẩn bị cho chiến dịch là rất tốt nhưng khi đơn vị triển khai khí tài xong, kiếm tra chức năng thì phát hiện hỏng động cơ quay góc xe PA, còn tham số xe YA, AA chưa thật chuẩn. Động cơ hỏng không có trang bị thay thế ngay mà phải chờ vận chuyển từ kho của Quân chủng. Chờ một ngày, hai ngày... rất sốt ruột mà vẫn không có phụ tùng thay thế, chúng tôi vẫn bám trận địa và chuẩn bị các tham số sẵn sàng nhận lệnh của cấp trên.

        Đúng 10 giờ ngày 12 tháng 5 năm 1968, máy bay trinh sát của địch phát hiện được trận địa của Tiểu đoàn, chúng cho nhiều tốp máy bay đánh phá quyết liệt. Hết máy bay trên trời (không quân chiến thuật của Mỹ) đánh vào trận địa, lại đến pháo kích từ ngoài biển vào. Vì khí tài chưa sẵn sàng chiến đấu nên Tiểu đoàn chưa cho lệnh nạp đạn tên lửa vào bệ phóng. Khi máy bay địch đánh vào trận địa chỉ có khí tài của Đại đội 1 và 5 bệ phóng của Đại đội 2 do đó không có đạn bị cháy. Chúng tôi nhận định máy bay Mỹ chỉ đánh tọa độ, vì những ngày này chúng đánh rộng hết cả huyện Nghi Lộc, bất kỳ chỗ nào nghi vấn chúng đều ném bom, bắn phá. Lực lượng pháo cao xạ các loại đánh trả, bắn phủ kín cả bầu trời nhưng không diệt được máy bay nào của dịch. Chớp thời cơ giãn cách giữa các trận đánh, tối hôm đó chúng tôi đã nhanh chóng cho thu hồi khí tài và đưa về địa điểm trú ẩn, ngụy trang an toàn. Riêng chiếc xe AA đã gắn bó với chúng tôi nay phải chia tay vì trúng 2 quả bom bị hỏng nặng không thể kéo đi được nữa.

        Cứ lần lượt máy bay, rồi pháo từ biển đánh vào trận địa cho đến 10 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1968. Đây là những ngày buồn, ngày đáng nhớ của Tiểu đoàn 93, ngày khí tài hỏng, không đánh được địch, lại bị máy bay địch ném bom trúng vào trận địa làm hỏng khí tài, thương vong cán bộ, chiến sĩ. Số anh em hy sinh chủ yếu thuộc đại đội pháo cao xạ của Tiểu đoàn bảo vệ tên lửa. Đặc biệt nhà cửa, ruộng đồng, trâu, bò... của nhân dân xã Nghi Trường bị máy bay địch đánh phá cày đi, xới lại rất tang thương. Thật xót xa, đau thương vì đơn vị đóng quân ở đó mà không bảo vệ được dân, không giúp đỡ được nhân dân khi máy bay địch đánh phá. Bối cảnh lúc đó, mỗi người một việc bằng mọi cách dù có hi sinh đến tính mạng cũng phải đưa được khí tài đến nơi an toàn. Chúng tôi nhớ khẩu hiệu "còn người còn khí tài" dù bom, pháo của địch đánh ác liệt đến đâu cũng phải đưa được khí tài, tên lửa ra khỏi vùng địch giội bom. Mỗi khi nhớ lại những ngày tháng đó tôi vẫn thấy tự hào gấp bội về những người đồng đội, những chiến sĩ tên lửa đối mặt với bom, đạn địch có thể hy sinh, nhưng khí tài đang nằm đó, họ mặc cho bom cứ rơi, có những lúc tưởng như đội bom để mà thu dỡ khí tài. Đồng chí Lưu Xuân Đáo - Đại đội phó kiêm Trưởng xe anten thu, phát PA đứng giữa những làn bom địch chỉ huy anh em xe PA thu hồi anten. Sau khi thu xong, chúng tôi tổ chức đưa đi cất giấu an toàn. Đây thật sự là những tấm gương anh dũng của người cán bộ tên lửa phòng không.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Một, 2020, 05:40:05 AM

        Tôi là Đại đội trưởng đại đội kỹ thuật (theo cách gọi của bạn), nhưng vẫn chủ yếu chiến đấu ở cương vị sĩ quan điều khiến. Đại đội kỹ thuật là đại đội được biên chế các xe điều khiển YA, xe tính toán AA, xe thu phát PA và các xe cung cấp điện; kíp chiến đấu biên chế chủ yếu ở các xe này; trong đó, sĩ quan điều khiển vị trí chiến đấu lại xe YA. Mọi thao tác của sĩ quan điều khiển là sự khởi đầu và kết thúc toàn bộ quy trình hoạt động chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa. Nói như vậy, để thấy sự quan trọng trong chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa là người sĩ quan điều khiển. Tiểu đoàn trưởng là nhạc trưởng, còn người chịu trách nhiệm thao tác chiến đâu là sĩ quan điều khiển cùng ba trắc thủ thực hiện từ khâu bắt đầu và khâu cuối cùng đưa quả đạn từ bệ phóng đến gặp và tiêu diệt mục tiêu máy bay địch.

        Hoạt động chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa đòi hỏi tiểu đoàn trưởng là người chỉ huy trận đánh, phải dành hết tâm huyết, trí tuệ, những kiến thức, kinh nghiệm chỉ trong thời gian rất ngắn (tính bằng giây) để suy nghĩ hạ quyết tâm tiêu diệt địch đúng thời cơ; còn người sĩ quan điều khiển là người phải nhanh nhạy, bao quát tình hình diễn biến thực tế trên các màn hiện sóng, quản lý chắc những tình huống xảy ra, đón những thời cơ thuận lợi nhất, chấp hành mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng, là người chịu trách nhiệm chính trong việc điều khiển quả đạn tên lửa tiêu diệt máy bay địch. Ba trắc thủ là những người chiến sĩ gan góc, có lòng tin, có đôi mắt sáng, có trình độ thao tác chiến đấu điêu luyện trên khi tài để cùng sĩ quan điều khiển xử trí các tình huống diễn biến của trận đánh. Ta thường gọi "bộ 5". Tôi còn nhớ, Thiếu tướng Đỗ Phúc (thời kỳ chiến đấu anh là Tham mưu phó Sư đoàn phòng không 361) đã viết bài "Kíp săn B-52" đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Phòng không - Không quân rất hay đã nói lên được vị trí quan trọng về "bộ 5" của Bộ đội Tên lửa trong chiến đấu đánh B-52. Tất nhiên, tên lửa đã là quan trọng, vì nó là công nghệ quân sự cao, hiện đại. Cám ơn anh Phúc đã động viên cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Tên lửa Việt Nam.

        Năm 1968, Tiểu đoàn tôi đánh 14 trận, tiêu diệt được 3 máy bay. Khi vào chiến dịch A2, Tiểu đoàn đang triển khai chiến đấu chưa đánh được trận nào thì đã bị địch đánh hỏng bộ khí tài. Nói hỏng bộ khí tài cũng chưa thật là chính xác, mà hỏng hoàn toàn xe AA (thường gọi là xe tính toán) tại trận địa thuộc xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi rất đau xót và ân hận. Trận địa Nghi Trường là trận địa để đơn vị tham gia chiến dịch, lại là quê hương của đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Đức Giám. Anh có khổ người cao, to, tính tình cởi mở; là người xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc nên con người và tiếng nói đậm chất xứ Nghệ không lẫn vào đâu được. Quê anh nghèo lắm, nhưng tinh thần cách mạng không nghèo. Có một chuyện "con sâu làm rầu nồi canh" chứ không thê nói nhân dân Nghi Lộc quê hương Xô viết Nghệ An thiếu tinh thần cách mạng. Sau khi chọn trận địa theo vị trí cấp trên xác định đã xong, trên thực địa đơn vị cũng đã làm xong hầm cho khí tài, cho người, chỉ còn hành quân đưa khí tài đến là triển khai sẵn sàng chiến đấu. Trước đêm đưa khí tài vào trận địa, thì ngay buổi sáng hôm đó nghe nói có một thầy giáo Trường cấp I đã cho học sinh chặt hết những ngọn phi lao gần vị trí trận địa mà đơn vị chuẩn bị triển khai chiến đấu, làm mất cả hệ thống ngụy trang của trận địa. Những ngày này bầu trời của chúng ta, nhưng đế quốc Mỹ coi như là của chúng, máy bay sục sạo suốt ngày đêm, nên mỗi lùm cây thay đổi là chúng đánh xăm ngay. Chính vì vậy, chúng tôi đã phải ngụy trang lại như cũ bằng cách chặt những ngọn cây phi lao từ xa về buộc lên những cây đã bị chặt nhưng trời Nghi Lộc nắng và nóng, cây khô rất nhanh. Các "trắc thủ" kíp 3 chưa được tham gia chiến đấu thì làm nhiệm vụ ngụy trang, cứ liên tục khi lá héo phải thay ngay nên rất vất vả mà vẫn không bảo đảm ngụy trang trận địa theo kế hoạch. Nghe nói, ông thầy giáo này suy nghĩ chưa kĩ nên đã làm những việc gây khó khăn cho đơn vị chứ không phải là chỉ điểm, là phản động gì. Vì ông nghĩ đơn giản là chặt đi thì đơn vị không về đó triển khai chiến đấu nữa, kẻo máy bay Mỹ đánh phá trận địa lại đánh cả vào dân thường. Nhưng ông ấy không hiểu được, ở đó dù khó khăn đến mấy đơn vị cũng phải khắc phục, vì trận địa này đã được chiến dịch xác định là trận địa chốt rồi. Hơn nữa, máy bay Mỹ đánh phá cả miền Bắc chứ chúng có loại trừ dân thường đâu. Chúng sẵn sàng bắn, giết cả người già, trẻ em và phụ nữ, đánh phá cả bệnh viện và trường học.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 08:50:01 PM

        Tham gia chiến đấu trong chiến dịch A2, có nhiều sự kiện làm tôi nhớ mãi về những ngày ác liệt trên trận địa xã Nghi Trường. Ngày mai là ngày N rồi, ngày N-l thủ trưởng Trung đoàn đi họp nhận nhiệm vụ của chiến dịch, thật không may xe đi qua Phương Tích trên đoạn đường đẩy bom, bất ngờ quả bom nổ, các đồng chí trong đoàn bị hy sinh nên mệnh lệnh lúc này cấp trên giao cho các tiểu đoàn chỉ thông qua những bức điện. Chiến dịch mở ra, ý định của cấp trên có 4 tiểu đoàn tên lửa tham gia, thì 2 tiểu đoàn hỏng khí tài chưa khắc phục xong, các tiểu đoàn còn lại thì bị địch khống chế từ đầu, chỉ còn cao xạ các tầm 37, 57, 88, 100mm các loại súng pháo cỡ nhỏ chiến đấu. Các đơn vị pháo cao xạ chiến đấu rất anh dũng, nhưng cũng không có kết quả, máy bay Mỹ vẫn hoành hành trên bầu trời Nghệ An mà đơn vị tôi lúc này khí tài vẫn hỏng. Không đánh được địch, lại bị địch đánh vào trận địa, Bộ đội Tên lửa và Bộ đội Cao xạ của Tiểu đoàn hy sinh 8 đồng chí, một số khác bị thương.

        Khi phát hiện thấy các trận địa tên lửa gần biển, máy bay Mỹ tập trung đánh hủy diệt bằng các đợt tập kích liên tục, 24 giờ đồng hồ trong ngày hầu như không ngớt tiếng bom đạn của địch. Tuy chúng đánh liên tục, nhưng vẫn theo quy luật của nó. Thời gian máy bay, pháo kích đánh phá mục tiêu, điểm đánh ít lặp lại những nơi bom đã rơi; còn pháo ngoài biển bắn vào dày như "nêm cối"1. Nhờ đó chúng tôi đã tổ chức cho thu dỡ anten, khí tài giữa 2 đợt bom đạn địch. Nhưng khi kéo khí tài ra, lại là một vấn đề hết sức khó khăn, buộc chúng tôi phải suy nghĩ, tính toán cẩn thận. Theo kế hoạch chiến đấu, khi khí tài bị hỏng thì chúng tôi phải đưa lên Nông trường Sông Con ở khu rừng phía tây của tỉnh Nghệ An để khắc phục, song lúc này điều kiện đơn vị không thể kéo ngược lên đó được. Nhưng nếu không quyết định sớm, sẽ "ăn bom" của chúng ngay. Đơn vị quyết định: kéo khí tài xuống dãy phi lao sát biển, đào hầm đưa khí tài xuống rồi phủ cát lên, trông như một bãi cát thôi. Đây là vị trí gần địch hơn, nhưng lại rất bất ngờ và an toàn. Ở đây chúng tôi luôn nghe những tiếng máy bay gầm rít từ biển vào, những tiếng gầm, tiếng xé gió chiu chíu của đạn pháo từ Hạm đội 7 của Mỹ bắn vào mà lòng càng đau xót, cắn chặt răng lại, mà lòng đầy căm hận "sao chúng lại lộng hành như vậy?".

        Địch đánh trúng trận địa, khí tài bị hỏng không chiến đấu được. Lệnh của Tiểu đoàn cho đơn vị sơ tán khỏi trận địa đế bảo toàn lực lượng; chúng tôi di chuyển về hướng xã Nghi Hương, cứ đi đến đâu thì máy bay thả bom và pháo kích từ biển lại đánh vào gần đó như đuổi theo chúng tôi. Có đồng chí trắc thủ tên là Nguyễn Văn Vinh, hệ phát lệnh, quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An nói đùa trêu tôi: "Anh Phiệt là gián điệp hay sao mà đi đến đâu nó cứ đánh đuổi theo". Tôi cũng trêu đùa lại đồng chí Vinh: "Vì chú phát sóng lệnh điều khiển đạn của ta thì không điều khiển lại đi điều khiển đạn của địch về mình".

        Trận này máy bay Mỹ đánh rộng ra hầu khắp huyện Nghi Lộc. Mấy ngày sau đơn vị đưa số khí tài còn lại về Nông trường Sông Con, Tiếu đoàn được bổ sung thêm xe tính toán AA. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật ở các cấp đã tập trung, dồn ghép dược bộ khí tài hoàn chỉnh. Mỗi bộ khí tài có đặc tính khác nhau, nay ghép lại phải làm sao cho các tham số nó thuận theo ý muốn của chúng ta. Vì phải có tham số ổn định cao nhất như thế mới có thể chiến đấu được. Khi ghép các khối, cũng có những phân vân thế này, thế nọ của mỗi đồng chí. Nhưng qua kiểm tra chức năng thì thấy rõ bộ khí tài đã hoàn chỉnh, bảo đảm chiến đấu tốt.

        Cuối tháng 10 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn đã ra lệnh cho không quân ngừng ném bom đánh phá miền Bắc, kể từ ngày 1 tháng 11. Như vậy bước leo thang phá hoại lần thứ nhất bằng không quân của đế quốc Mỹ đã bị thất bại. Ngày 7 tháng 11 năm 1968, Níchxơn trúng cử Tổng thống, với lời hứa sẽ kết thúc chiến tranh ở Việt Nam nên được cử tri Mỹ ủng hộ. Nhưng với bản chất hiếu chiến, xâm lược của đế quốc Mỹ và Đảng Cộng hòa, cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc sẽ còn diễn ra hết sức quyết liệt.

        Từ đầu năm 1969, tuy không có máy bay của Mỹ đánh phá miền Bắc, nhưng Bộ đội Phòng không - Không quân vẫn phải sẵn sàng chiến đấu 24/24 giờ. Vì thời gian này, mặc dù các máy bay ném bom của không quân và hải quân Mỹ không hoạt động đánh phá miền Bắc, nhưng chúng thường xuyên tăng cường các máy bay trinh sát có người lái và không người lái hoạt động trinh sát, phát hiện các hoạt động chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây cũng là thời cơ để Bộ đội Tên lửa rèn luyện nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật sẵn sàng cho cuộc chiến đấu tiếp theo. Thực hiện chủ trương chấn chỉnh lại tổ chức, các đơn vị phòng không rút bớt một số đầu mối trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 08:51:08 PM

        Ngày 12 tháng 3 năm 1969, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Lê Văn Tri đã ký Quyết định số 303/TM-QL giao cho Sư đoàn phòng không 365 tiến hành hợp nhất Trung đoàn tên lửa 278 với Trung đoàn tên lửa 261. Quyết định ghi: "Sáp nhập Trung đoàn 278 với Trung đoàn 261 củng cố thành một trung đoàn mạnh, lấy phiên hiệu là Trung đoàn 261"1.

        Trung đoàn tên lửa 261 có nguồn gốc từ Lữ đoàn pháo binh 368, một đơn vị có truyền thông và thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trung đoàn thành lập ngày 30 tháng 5 năm 1966 theo Quyết định số 42/QĐ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Trung đoàn có 4 tiểu đoàn hỏa lực là: Tiểu đoàn 56, Tiểu đoàn 57, Tiểu đoàn 58, Tiểu đoàn 59 và Tiểu đoàn kỹ thuật 60. Trung đoàn 261 đã sang Liên Xô học chuyển loại tên lửa từ tháng 7 năm 1967, về nước cuối tháng 3 năm 1968, biên chế thuộc Sư đoàn phòng không 365. Sau khi về nước, Trung đoàn đã nhanh chóng triển khai sẵn sàng chiến đấu, đánh máy bay trinh sát điện tử của Mỹ xâm phạm vùng trời miền Bắc.

        Ngày 2 tháng 1 năm 1969, Tiểu đoàn 56 đánh trận đầu lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát 147.S của Mỹ trên đất Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.

        Trang bị của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 261 còn mới, trong khi đó trang bị của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 278 đều đã cũ, số giờ làm việc tích lũy cao; một số bộ khí tài còn bị hỏng nặng do bị không quân Mỹ đánh phá trận địa trong "Chiến dịch A2" năm 1968, mới được sửa chữa khắc phục.

        Việc sáp nhập được tiến hành cũng rất khẩn trương, Tiểu đoàn 91 thuộc Trung đoàn 278 sáp nhập với Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn 261 lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 57; Tiểu đoàn 92 sáp nhập với Tiểu đoàn 59 lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 59; đế nguyên các tiểu đoàn 93, 94, 95. Toàn bộ quân số và khí tài của Tiểu đoàn 56 thuộc Trung đoàn 261 điều sang trực thuộc Trung đoàn tên lửa 263; toàn bộ quân số và khí tài của Tiểu đoàn 58 và Tiểu đoàn 60 thuộc Trung đoàn 261 được điều về Cục Hậu cần để tổ chức thành tiểu đoàn kho. Các cơ quan của hai trung đoàn cũng được sắp xếp, củng cố lại bảo đảm quân số tinh, gọn, hợp lý hơn. Từ đây, Tiểu đoàn 93 thuộc biên chế của Trung đoàn tên lửa mang phiên hiệu 261.

        Tháng 8 năm 1969, tôi được trên cho về Trường Sĩ quan Phòng không (nay là Học viện Phòng không - Không quân) để học tập. Đây là lớp đầu tiên mở cho những đồng chí tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó tên lửa. Xác định thời gian học theo chương trình 3 năm, nhà trường đặt tên là "Lớp đào tạo cán bộ trung đoàn" nhưng khi đưa ra xin ý kiến lại vướng một số đồng chí đã là cán bộ trung đoàn. Các đồng chí này thắc mắc: Tôi đã là cán bộ trung đoàn còn đi đào tạo làm gì? Nên sau đó nhà trường lấy tên là "Lớp bồi dưỡng đào tạo cán bộ trung đoàn", ký hiệu là 53. Lớp này mở ra theo ý định của Quân chủng và theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, để rút kinh nghiệm cho việc xác định mục tiêu đào tạo các lớp tiếp theo. Và các lớp tiếp sau đó được xác định với mục tiêu đào tạo là: lớp đào tạo cán bộ trung đoàn. Đối tượng chiêu sinh đều là cán bộ tiểu đoàn. Thời gian chúng tôi được học tập, cũng là thời gian Quân chủng chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng cho các cuộc chiến đấu tiếp theo.

        Lớp học 53 bước vào khai giảng có 53 đồng chí, chiêu sinh từ các trung đoàn tên lửa, đã qua chiến đấu, ít nhiều đều có những kinh nghiệm thực tế, nay tập hợp về đây học tập lý thuyết để củng cố nhận thức, do vậy mọi người đều rất phấn khởi. Lớp được biên chế thành 4 tiểu đội. Cán bộ lớp, cán bộ tiểu đội do học viên tự đảm nhiệm. Để theo dõi, quản lý lớp và thành lập tổ chức đảng trong lớp học, Đảng ủy nhà trường bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Văn Giao đảm nhiệm chức vụ Chính trị viên, Bí thư chi bộ. Đồng chí Nguyễn Ngọc Điển - Trung đoàn phó Trung đoàn tên lửa 257 làm Lớp trưởng. Đồng chí Nguyễn Hồng Quảng - Trung đoàn phó Trung đoàn tên lửa 263 làm Lớp phó. Lớp học diễn ra đúng thời gian đế quốc Mỹ ngừng ném bom đánh phá miền Bắc. Thật là sung sướng với những người lính chiến chúng tôi vì không phải thấp thỏm lo nghĩ đến việc chiến đấu trực tiếp mà chỉ dành thời gian tập trung đèn sách để sẵn sàng cho cuộc chiến đấu cao hơn.

------------------
        1. Theo Hồ sơ lưu trữ tại bảo mật Quân chủng Phòng không, số 566 năm 1969.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 08:52:15 PM

        Theo chương trình đào tạo, thời gian học tập của chúng tôi là 3 năm, nhưng đến cuối năm 1971 lớp học đã kết thúc. Thời gian học tập lúc đầu chúng tôi còn ở khu nhà lá, thưng nứa trong khu rừng cách sân bay Tông khoảng 3km. Sau một thời gian, lớp chúng tôi chuyến về khu nhà bằng (gọi là nhà bằng vì có cái nhà thời Pháp xây dựng để máy bay, máy móc, đã bị đổ nghiêng) ở sân bay Tông, ngay sát khu vực Hiệu bộ. Đây là sân bay do Pháp xây dựng, các đường băng đều được xây dựng bằng đất và một ít bằng bê tông, tại xã Trung Sơn Trầm, thị xã Sơn Tây. Để chuyển được toàn đơn vị về vị trí của nhà trường, cán bộ, chiến sĩ toàn trường nói chung, lớp 53 nói riêng vừa học tập, vừa lao động hết sức vất vả, nhưng chỉ thời gian ngắn toàn trường đã có nhà ở khang trang và tập trung hơn. Buổi sáng học, buổi chiều chúng tôi vào rừng chặt tre, nứa, lá rồi đưa lên xe bò kéo, đẩy về để xây dựng nhà ở, xây dựng lớp học. Chúng tôi phải kéo những chiếc xe bò đi xa hàng chục kilômét mới đến nơi. Bình thường thì không sao, nhưng khi bị hỏng dọc đường thì 3 hoặc 4 đồng chí loay hoay và nhịn đói, có hôm đến 11 hay 12 giờ đêm mới được ăn. Gian khổ, khó khăn thật, nhưng nghĩ lại những lúc chiến đấu gặp tình huống khó khăn, địch áp dụng các thủ đoạn chiến thuật mới, hay lúc khí tài bị máy bay Mỹ đánh phá hỏng hóc nặng... trong tôi lại dấy lên quyết tâm học tập. Tôi xác định, đến trường dù việc to, việc nhỏ phải hoàn thành thật tốt. Đây là dịp làm học viên thì đúng rồi, nhưng chúng tôi lại được sống cuộc sống của người chiến sĩ thực thụ nên ai cũng phấn khởi. Hàng đêm chúng tôi thay nhau canh gác trận địa, doanh trại, sáng đi lấy bánh mì, rồi thường vào ngày nghỉ thứ bảy và chủ nhật thì đi lấy rau nuôi lợn. Việc lấy rau lợn tưởng như là việc bình thường nhưng cũng rất vất vả. Khi mùa đông đến, trời rét căm căm chúng tôi vẫn phải xuống sông lấy rau, rồi về băm cho lợn ăn. Tất cả là thi đua, là chỉ tiêu nên chúng tôi đều đạt và vượt theo quy định nhà trường.

        Lớp chúng tôi theo mục tiêu đào tạo, không phải do tuổi cao, già nua mà gọi là lớp 53. Nếu so các lớp khác thì tuổi chúng tôi cũng hơn một chút, như lớp kỹ thuật đầu ngành - lớp 51, lớp đào tạo bổ túc cán bộ đại đội -  lớp 52. Ba lớp này đều thuộc Tiểu đoàn 5 - Tiểu đoàn tên lửa của nhà trường. Trong đó còn có lớp đào tạo cán bộ sơ cấp, thế mà chúng tôi vẫn quyết tâm thi đua cùng họ từ học tập, tăng gia, thể dục thể thao, vệ sinh, an toàn đơn vị... Hàng tuần, tháng, năm lớp chúng tôi đều được nhà trường biểu dương, khen ngợi.

        Tôi nhớ vào đêm 20 rạng ngày 21 tháng 11 năm 1971, đến phiên tôi gác khu vực doanh trại, nghe thấy tiếng máy bay, nhìn phía xa Hà Nội có tên lửa bắn lên. Chúng tôi được nhà trường báo động, đơn vị về vị trí chiến đấu. Nói là chiến đấu cho vui chứ chúng tôi làm gì có vũ khí, khí tài mà chiến đấu. Cả dơn vị chỉ có 2 khẩu súng CKC, không có đạn; tất cả hầu như đều tay không về vị trí chiến đấu mà thôi. Sau đó ít phút, hướng số 4 có một số trực thăng bay vào độ cao khoảng từ 200m đến 300m gần như sát các ngọn tre bay về hướng số 2, nhưng chẳng thấy ai bắn cả. Lúc đầu chúng tôi nghĩ là máy bay của ta tập, một số đêm trước cũng tập như vậy. Sau mới biết là trực thăng của Mỹ đi cứu giặc lái. Mọi việc gần như an bài, chúng tôi được nhà trường cho một xe ô tô đưa một số đồng chí đến vị trí trại giam phi công Mỹ, ở đó có một máy bay trực thăng của Mỹ đổ bộ xuống nhưng không bay lên được. Đó là trại giam phi công Mỹ bị bắn rơi máy bay trong các cuộc không kích đánh phá miền Bắc, ở gần chùa Và, thị xã Sơn Tây. Chiếc trực thăng này đỗ đúng cửa trại giam, mục đích để cứu số giặc lái bị giam ở đây. Nhưng khi đáp xuống, cánh quạt máy bay đã va vào cành cây bàng, nên bị gẫy, bọn biệt kích Mỹ phải bỏ lại và chúng dùng một lượng lớn thuốc nổ để phá hủy. Thật không may cho chúng, số giặc lái ta đã chuyển đi từ những ngày trước đó. Vậy là cuộc tập kích bất ngờ đổ bộ đường không, cứu giặc lái của biệt kích Mỹ đã thất bại. Được biết để thực hiện cuộc đổ bộ đường không này, không quân Mỹ đã chuẩn bị rất công phu, chúng đắp sa bàn luyện tập theo phương án tập kích đổ bộ bất ngờ.

        Nói đến chuyện cứu giặc lái vào cái đêm đó còn nhiều chuyện phải bàn lắm. Song, qua đó tôi thấy sự mất cảnh giác của ta đã để cho địch đưa cả trực thăng đi từ sân bay ở Thái Lan bay qua Lào, qua dãy Trường Sơn vào Sơn Tây, chỉ cách Hà Nội 40km để cứu giặc lái. Còn về phía ta, pháo cao xạ không bắn được viên nào, dân quân địa phương thì nghe nói cách đó mấy ngày đã có lệnh cho thu súng đạn nên cũng chẳng có gì để mà chiến đấu. Những việc này sao lại trùng hợp nhau vậy. Tôi cứ phân vân nghĩ mãi có đúng thế không? Có phải như vậy không? Và tôi không giải đáp được. Thật ân hận quá, chiến sĩ canh trời sao mà như thế! Đồng đội tôi và tôi luôn tự trách mình sao lại để như vậy. Tôi còn tiếc, có chiếc đồng hồ là kỷ vật mua từ Liên Xô hôm đó trong lúc cơ động về vị trí sẵn sàng chiến đấu đã rơi đâu mất.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 08:53:55 PM
        
Chương 4

THAM GIA CHIẾN ĐẤU ĐÁNH THẮNGCHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA KHÔNG QUÂN MỸ (1972)

        Cuối năm 1971, học xong "Lớp bồi dưỡng đào tạo cán bộ trung đoàn" tôi tiếp tục được điều về Tiểu đoàn 93. Trước khi đi học, tôi đeo quân hàm cấp Trung úy, giữ chức vụ Tiểu đoàn phó; đến nay kết thúc khóa học trở về đơn vị vẫn giữ nguyên quân hàm và chức vụ Tiểu đoàn phó. Vì việc đi học của tôi là để nâng cao trình độ nhận thức, nắm chắc lý luận về công tác chính trị, công tác quân sự, công tác kỹ thuật để chiến đấu tốt hơn, chứ không phải để được thăng cấp, thăng chức. Có thể khẳng định rằng, trong suốt cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, không đồng chí nào trong chúng tôi có ý kiến gì về chức vụ và quân hàm, mặc dầu Nhà nước và Quân đội cũng có những quy định về cấp bậc cho từng chức vụ. Những năm tháng chiến tranh, tôi chỉ có suy nghĩ mình là người đảng viên, là một sĩ quan Quân đội, vinh dự và tự hào lắm. Phục vụ trong Quân đội, tôi chỉ biết chấp hành mệnh lệnh và thực hiện nhiệm vụ theo cương vị được  giao, tuyệt đối chấp hành kỷ luật chiến trường, thực hiện "quân lệnh như sơn" không có ý kiến gì khác, luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

        Thòi gian này, Tiểu đoàn 93 đang làm nhiệm vụ bảo vệ đường 1 bắc, đóng tại trận địa Chùa Đổ. Có lẽ nó là một ngôi chùa bị đổ đã từ lâu, còn lại ít gạch ngói nên lấy đó làm tên gọi cho trận địa nằm ở xã cuối của huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc (nay thuộc Bắc Giang). Sau đó, đơn vị tôi nhận được lệnh cơ động về trận địa Dỏ. Cũng như tất cả các đơn vị tên lửa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các tỉnh phía Bắc, nhiệm vụ của Tiểu đoàn 93 thời gian này chủ yếu đánh máy bay không người lái, bay thấp; nhưng đơn vị chưa có lần nào bắn được máy bay không người lái bay thấp, vì máy bay đều hoạt động ngoài vùng hỏa lực của đơn vị.

        Sau Tết Nhâm Tý (1972), tình hình trên chiến trường miền Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Cuối tháng 3 năm 1972, ta bắt đầu mở các chiến dịch lớn ở Trị Thiên - Huế, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Mỹ - ngụy bị quân ta đánh cho thất bại nặng nề trên các chiến trường. Để cứu vãn tình thế chúng tiến hành ném hom trở lại miền Bắc. Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân Mỹ đối với miền Bắc, diễn ra bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 năm 1972. Lần này chúng không leo từng nấc thang về không gian, phạm vi đánh phá như trước đây mà nhanh chóng, ồ ạt đánh thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng. Tổng thống Mỹ Níchxơn ra lệnh huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân mở Chiến dịch "Lainơbếchcơ I"1 vừa tập kích đường không, vừa phong tỏa thủy lôi đường biển nhằm mục đích: bao vây, cô lập miền Bắc, ngăn chặn sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa vào miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam; phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng làm cho miền Bắc suy yếu, không đủ sức chi viện cho chiến trường miền Nam, làm lung lay ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đồng thời củng cố tinh thần của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn; gây sức ép cho ta trên bàn đàm phán ở Pari, buộc ta phải chấp nhận kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Mỹ.

        Ngày 15 tháng 4 năm 1972, tình hình địch ngày càng khẩn trương. Suốt từ đầu tháng 4 đến nay, ta chiến thắng lớn ở khắp các chiến trường, do vậy kẻ địch đã ngoan cố và liều lĩnh đánh phá lại miền Bắc. Mấy ngày đầu tháng 4 chúng tập trung đánh phá khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Cuộc chiến đấu của chúng ta đang ở vào giai đoạn vô cùng quyết liệt và cũng đang giành được những thắng lợi vô cùng to lớn trên chiến trường.

-------------------------
        1. Tạm dịch là chiến dịch cứu trợ, hay còn gọi là "cứu bóng trước khung thành".


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 08:55:10 PM

        Đế quốc Mỹ đã sử dụng cả máy bay chiến lược B-52 đánh phá Hải Phòng vào đêm 15 rạng ngày 16 tháng 4 năm 1972. Ngày 16 tháng 4, chúng đã sử dụng hơn 60 lần chiếc máy bay chiến thuật ở độ cao 7-8 km gây nhiễu trong đội hình đột nhập vùng trời phía tây Hà Nội. Bộ đội Rađa báo có B-52; các đơn vị tên lửa ở Hà Nội, Hải Phòng phóng hàng chục quả đạn không diệt dược mục tiêu. Cảng Thượng Lý, Hải Phòng và kho xăng Đức Giang, Hà Nội bị máy bay Mỹ đánh phá thiệt hại nặng. Những ngày đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, không quân Mỹ leo thang nhanh, còn tên lửa của ta thì bắn không trúng. Nhiều đơn vị phóng tên lửa lên, đạn cứ xuyên qua các tốp máy bay và lao thẳng đến điểm tự hủy. Tâm trạng đánh không thắng đã làm cho cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị có những suy nghĩ khác nhau. Đây đó có ý kiến cho rằng, đánh không thắng nguyên nhân không phải do nhiễu của máy bay địch có gì mới mà là "nhiễu tư tưởng", do chủ quan, xả hơi, nghỉ ngơi sau hơn ba năm không quân Mỹ ngừng đánh phá miền Bắc. Đã có nhiều buổi sinh hoạt tư lương trong đơn vị theo chỉ thị của trên, để tìm nguyên nhân vì sao đánh không thắng. Gắn bó với nhau nhiều năm, đặc biệt trong các trận chiến đấu ác liệt chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân Mỹ, tôi rất tin vào bản lĩnh chiến đấu và ý chí quyết tâm của anh em trong đơn vị, tôi có một suy nghĩ theo hướng khác: Có thể đi tìm điều bí ẩn ở thủ đoạn tác chiến điện tử của không quân Mỹ, xem chúng có gì mới nhằm ngăn chặn các đòn đánh trả của Bộ đội Tên lửa. Câu trả lời về nguyên nhân cụ thể chưa rõ, nhưng riêng tôi khẳng định rằng, lần này không quân của đế quốc Mỹ chắc chắn có những thay đổi về kỹ thuật tác chiến điện tử và chiến thuật tổ chức đội hình tập kích đánh phá, nhằm phát huy tối đa khả năng chế áp điện tử, sử dụng tên lửa chống rađa (không đối đất) loại Shrike AGM-45 và Standard AGM-78, gây khó khăn cho ta rất nhiều. Sau nhiều đêm suy nghĩ về quá trình đối đầu với tác chiến điện tử của không quân Mỹ, tôi càng thấy rõ hơn. Ngay từ những ngày đầu sử dụng không quân đánh phá miền Bắc, đế quốc Mỹ đã coi phương thức tác chiến điện tử là biện pháp hàng đầu để hạn chế tổn thất vê máy bay bị các lực lượng phòng không của ta bắn rơi. Trên tuyến vận tải chiến lược của ta chi viện cho miền Nam, quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi các phương tiện trinh sát điện tử, lập hàng rào điện tử Mác Namara nhằm phát hiện, ngăn chặn sự xâm nhập của ta vào chiến trường phía Nam. Mỹ đưa tác chiến điện tử lên hàng những biện pháp tác chiến chiến lược trong chiến tranh phá hoại miền Bắc. Khi phải đối phó với hoạt động đánh trả của các lực lượng phòng không miền Bắc nước ta, không quân Mỹ đã coi đây là chiến trường trọng điểm để thử thách và phát triển các phương tiện tác chiến điện tử của quân đội Mỹ, từng nấc thang áp dụng kỹ thuật tác chiến điện tử ngày càng nguy hiểm hơn. Nhất định lần này chúng phải có điểm gì mới trong kỹ thuật gây nhiễu chế áp điện tử đài điều khiển tên lửa, hoặc thay đổi đội hình nghi binh tập kích đánh phá.

        Tôi nhớ lại trong thời gian học tập ở trường vừa qua, được các đồng chí giảng viên giới thiệu, phân tích về thủ đoạn tác chiến điện tử của không quân Mỹ mới thấy rõ, thời kỳ đầu năm 1965, không quân Mỹ gây nhiễu cường độ còn nhẹ, đơn giản. Đối tượng bị gây nhiễu chủ yếu là các đài rađa cảnh giới, rađa cung cấp phần tử bắn của pháo cao xạ. Nhiễu được phát ra từ xa, trên các máy bay trinh sát điện tử EB-66, EC-121, EA-3B... hoặc từ các hạm tàu trên biển để yểm hộ từ xa ngoài đội hình máy hay tập kích đánh phá. Thông thường nhiễu phát ra ở độ cao từ 4 đến 6km, che lấp đội hình máy bay cường kích, tiêm kích bom bay ở độ cao trên nền nhiễu vào đánh phá mục tiêu. Đồng thời, các máy bay này còn thả những đám mây nhiễu tiêu cực bằng giấy tráng kim loại để tự bảo vệ.

        Nửa cuối năm 1965, khi tên lửa phòng không của ta xuất hiện, liên tục bắn tiêu diệt máy bay địch ở độ cao trên nền nhiễu, buộc máy bay Mỹ phải bay thấp và tăng cường phát nhiễu, các máy bay gây nhiễu ngoài đội hình hay vào gần hơn, tạo ra cường độ nhiễu nặng hơn để chế áp các đài điều khiển tên lửa. Song, máy bay Mỹ bay thấp vào đánh phá mục tiêu lại bị các lực lượng phòng không tầm thấp, chủ yếu là các loại súng, pháo phòng không trong thế trận chiến tranh nhân dân đánh trả quyết liệt, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ các loại. Trước những thất bại nặng nề, khoảng từ cuối năm 1966 đến giữa năm 1967, không quân Mỹ thay đổi chiến thuật, bay cao trở lại và thực hiện thủ đoạn gây nhiễu trong đội hình, bằng cách trang bị máy phát nhiễu trên các máy bay cường kích và tiêm kích bom. Lúc đầu, một tốp máy bay (thường là 4 chiếc) vào đánh phá, có một hoặc hai máy bay mang máy phát nhiễu, nhưng vẫn bị tên lửa đánh tiêu diệt bằng phương pháp điều khiển 3 điểm và chế độ ngòi nổ trực tiếp khi không xác định rõ cự ly máy bay. Bị thất bại, không quân Mỹ tăng cường gây nhiễu trong đội hình, thậm chí mỗi máy bay mang tới hai máy phát nhiễu để tăng cường độ nhiễu nên rất nặng hòng chế áp hoàn toàn đài điều khiển tên lửa của ta. Cuộc "đấu trí" giữa Bộ đội Tên lửa với các thủ đoạn tác chiến điện tử của không quân Mỹ được nâng lên ở cấp độ cao hơn. Các đơn vị tên lửa vẫn tìm ra cách bắn rơi máy bay Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 09:15:37 PM
       
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82203586_574044673325417_3120730847955648512_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=a-9eMjeKab8AQl0V9LEUtp6abAmcKwvPmSOSvkw0-WXa8jHouZlgjWhqg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=9a1b1cddaf2f3bd40501189d407736e3&oe=5ED9CAFA)
Tổng Bí thư Đỗ Mười nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân chủng khi đoàn vào báo công với Bác Hồ, ngày 3-2-1999

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82807778_574044683325416_6967508449668104192_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=SWQ86LeKDX4AQnK21ugVMX9704akhuh1Od29eW4GMm-A78ogDO4tUdTSg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6e347fdf0f2362f15d7d910797181c0f&oe=5E9D0933)
Đón Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến thăm và làm việc với Quân chủng, năm 2000

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/81988034_574044686658749_1990993241805160448_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=bMMCNqNmo00AQkcl7HdVuvxZQ7C6a0fjs9bK2cN7MvqFduiHurddUpPvw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1c31c3e52ebde8a3139f5b062169762e&oe=5EA2E788)
Chụp ảnh lưu niệm cùng Chủ tịch nước Lê Đức Anh nhân dịp dự Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VI, năm 1996

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82850792_574044733325411_7808144673184153600_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=y9qjVM2_-dEAQluEl5xPl9MN5KeFJR3exCIG5iK2-GBWPGDl_R6rFNYkA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b9f98661799a4b5a994b2b2bfe4ac019&oe=5ED6C802)
Đón Chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm và làm việc với Quân chủng, tháng 11-1999


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Một, 2020, 09:18:35 PM
       
(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82436814_574044739992077_7172309863484096512_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=Cmtg8DdeQxwAQl73nKVM-MKMB8BWImK3lCj9oMyanjFiQdmxp3c2egBaQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=e843405f06d10120d4a17251a9d84f02&oe=5E9A16BA)
Đón nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đến thăm Quân chủng, tháng 8-1999

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82688285_574044746658743_1167537561782976512_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=IUnys3S-IZYAQlDbw1lgDWLXN8k26kX5BAb2Ealpzb0agA2FrLsesSMgA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=22bd4dbab9a6ddd477102d7ddcc91d6c&oe=5EA04D52)
Đón Đại tướng Đoàn Khuê - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm và làm việc với Quân chủng, tháng 10-1996

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82038675_574044829992068_2593942144049741824_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=FGsn3sAgtJwAQmn0-R6aLFHw1CFn3dEvuL_9AtrjFlicAcgfK2oO4RxNw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=cb31059de3a2dbae25e95260f7502dd6&oe=5ED80400)
Cùng đoàn Cựu chiến binh Sư đoàn 361 đến thăm và chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 2005

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82185630_574044843325400_456059680691585024_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=ICSdFtafMfQAQkqXRJUMFTKsssteHRcbkGbfIixaujF7S-aqU3Cp6wFZg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f2a61e15a6f16d3b411d911b399ece0c&oe=5E9C0A9D)
Thượng tướng Phạm Văn Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng cơ quan Bộ Quốc phòng và lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không, Quân chủng Không quân dự Hội nghị triển khai thực hiện hợp nhất Quân chủng Phồng không và Quân chủng Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân, ngày 15-6-1999


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:49:51 PM

        Thời kỳ cuối năm 1967 và cả năm 1968, tác chiến điện tử diễn ra quyết liệt nhất, không quân Mỹ áp dụng hầu hết các thủ đoạn gây nhiễu cả nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực, nhiễu trong đội hình và nhiễu ngoài đội hình, kết hợp sử dụng tên lửa tự dẫn phá hủy các đài rađa, đặc biệt là đài rađa điều khiển tên lửa. Đáng chú ý là, cùng với thủ đoạn gây nhiễu tần số đài điều khiển tên lửa bắt mục tiêu, không quân Mỹ còn xảo quyệt gây nhiễu tần số phát lệnh của đài điều khiển tên lửa (gọi là nhiễu rãnh đạn ALQ-71). Nhiễu rãnh đạn làm tên lửa của ta mất điều khiển, tên lửa cứ phóng lên là rơi xuống đất, phải mất một thời gian lực lượng kỹ thuật của ta và chuyên gia Liên Xô mới nghiên cứu tìm ra cách khắc phục cả về kỹ thuật và chiến thuật bảo đảm đánh thắng. Như vậy, lần này không quân Mỹ chắc chắn có những thủ đoạn tinh vi hơn, chúng tôi cần phải nghiêm túc nghiên cứu mới tìm được cách đánh thắng.

        Ngoài ra địch còn được trang bị các loại bom lade để đánh phá mục tiêu và cả các trận địa hỏa lực pháo phòng không, tên lửa. Bằng loại vũ khí này, chỉ trong tháng 5 năm 1972 không quân địch đã phá hỏng các cầu Hàm Rồng, Long Biên, Đuống và nhiều cầu khác một cách dễ dàng. Trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất muốn làm được điều đó chúng phải mất rất nhiều thời gian, máy bay và giặc lái.

        Về thủ đoạn, không quân Mỹ cũng tăng cường các hoạt động chế áp hỏa lực phòng không và hệ thống rađa bằng cả hỏa lực và biện pháp kỹ thuật.

        Thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1972 là thời kỳ khó khăn của Bộ đội Tên lửa nói chung và bộ đội bảo vệ bầu trời phía Bắc Tổ quốc nói riêng.

        Đầu tháng 5 năm 1972, chúng tôi được lệnh hành quân lên trận địa Na Hoa thuộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Tôi chỉ huy đơn vị đánh hai trận nhưng không bắn rơi máy bay nào. Tôi suy nghĩ rất nhiều, không hiểu tại sao kíp chiến đấu của Tiểu đoàn đã từng đánh nhiều trận, bắn rơi máy bay Mỹ, có kinh nghiệm chiến đấu, hiện tại các thành phần trong kíp chiến đấu không có thay đổi nhiều mà đánh không thắng? Tại sao những kinh nghiệm đánh mục tiêu trong nhiễu tạp tích cực, nhiễu trong đội hình được vận dụng vào hai trận đánh vừa qua mà máy bay không bị tiêu diệt, máy bay không rơi? Tại sao những ngày này hầu hết các đơn vị tên lửa đánh không thắng? Phải chăng sau hơn ba năm ngừng ném bom đánh phá miền Bắc, lũ "cướp trời Mỹ" lại nghĩ ra những trò gì ẩn chứa đằng sau kỹ thuật tác chiến điện tử và thủ đoạn tổ chức đội hình tập kích đánh phá mục tiêu? Phải làm gì để đánh thắng chúng? Chẳng lẽ các đơn vị tên lửa lại chịu bó tay.

        Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, toàn quân, toàn dân ta kiên định quyết tâm hao vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam trong bất kỳ tình huống nào. Các đơn vị tên lửa lúc này tăng cường tổ chức sinh hoạt rút kinh nghiệm chiến đấu sau mỗi trận đánh, làm rõ nguyên nhân đánh không thắng, phát huy trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ để tìm ra cách đánh thắng. Đồng thời quán triệt sâu sắc chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết chiến đấu bảo vệ miền Bắc và làm tốt, nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến trong tình hình mới". Trong những năm tháng chiến tranh, việc sinh hoạt, học tập chính trị để được nghe, được quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng đối với tôi rất thiêng liêng. Tôi ghi chép những quan điểm, tư tưởng từ các chỉ thị, nghị quyết của Đảng kín cả quyển sổ tay đã theo tôi qua nhiều năm tháng. Những "lời dạy" của Đảng lúc nào cũng như thôi thúc tôi, tiếp cho tôi niềm tin và sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Phải nghiên cứu tìm ra cách đánh thắng không quân Mỹ xâm lược, đây vừa là mục tiêu, vừa là mệnh lệnh đối với tất cả các đơn vị tên lửa lúc này. Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn vừa sẵn sàng chiến đấu, vừa luyện tập theo các phương án chiến đấu đã xác định, đồng thòi nghiên cứu thật kỹ hai trận đánh không thắng để đưa ra những nhận định về âm mưu, thủ đoạn mới của không quân Mỹ.

        Cuối tháng 6 năm 1972, tôi có lệnh điều về làm quyền Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57 trong cùng Trung đoàn, thay cho đồng chí Nguyễn Khắc Cần, Tiểu đoàn trưởng đi học chuyển loại tên lửa mới Petropa (thường gọi là SAM 3). Thế là tôi phải rời Tiểu đoàn 93 mà tôi đã gắn bó từ khi còn là sĩ quan điều khiển (như một cán bộ trung đội) nay tôi đã làm Tiểu đoàn phó. Tính ra tôi chiến đấu, công tác ở đó có 6 năm mà tôi đã được giữ 5 chức vụ, tôi thực tâm không có suy nghĩ gì chỉ biết lao vào chiến đấu.

        Ngày rời khỏi Tiểu đoàn 93, tôi được nhận quyết định phong quân hàm Thượng úy và giữ chức vụ quyền Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:51:54 PM

        Chia tay anh em Tiểu đoàn 93 trong bầu không khí ấm áp tình người, tình đồng chí, tôi rất nhớ lúc chia tay có cán bộ các đơn vị và cán bộ Tiểu đoàn, đặc biệt có anh em các kíp trắc thủ điều khiển đến để tạm biệt tôi. Thật bịn rịn, người ở, người đi. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng là một cán bộ đã tham gia kháng chiến chống Pháp, người nhỏ nhắn, trắng trẻo, đẹp trai, quê ở Tiên Lãng, Hải Phòng, tính tình điềm đạm ít nói. Lúc chia tay tôi, anh bảo: "Trên phong quân hàm và điều động đồng chí ở cương vị mới, chúng ta thi đua nhau lập công". Anh ôm lấy tôi trong sự ngưỡng mộ, trìu mến của mọi người, xong anh điều chiếc xe kéo đạn, lấy đầu xe và cùng đồng chí lái xe đưa tôi về Tiểu đoàn 57.

        Xe chạy ngay trong đêm đến cầu Bắc Giang thì gặp máy bay Mỹ đánh phá cầu (đây là cây cầu do Bộ đội Công binh bắc). Tôi qua gần đầu cầu bờ nam thì bom rơi bờ bắc làm hỏng cầu, nhưng may mắn là xe của tôi đã vượt khỏi cầu, tôi bảo lái xe cho xe tăng tốc độ vượt lên. Mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ là cầu, lại có những xe và hàng đang cháy sáng rực, tôi bảo lái xe mở đèn cốt mà chạy. Chúng tôi về đến Tiểu đoàn 57 lúc 4 giờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1972. Sau đó, tôi nghe tin đoàn cán bộ của Tiểu đoàn đi xe trước chúng tôi để nhận nhiệm vụ của Trung đoàn đi học chuyên loại khí tài mới (SAM 3), do phải đón một số đồng chí nên thành đi sau tôi, đã trúng bom. Có đồng chí hy sinh, nhiều đồng chí bị thương. Trong lòng tôi trào lên sự căm phẫn khi chứng kiến bọn đế quốc Mỹ đã diệt những mầm xanh đang tràn trề sức chiến đấu mới của các đơn vị "Tên lửa phòng không".

        Tôi rời Tiểu đoàn 93 với tâm trạng bịn rịn và suy nghĩ, đến đơn vị mới mình phải làm gì để nhanh chóng bước vào chiến đâu. Với quân hàm Thượng úy, quyền Tiểu đoàn trương một đơn vị mọi thứ đều mới, từ trận địa, mục tiêu bảo vệ đến vũ khí, khí tài, mà khí tài theo tôi được biết là quá cũ. Vừa qua đơn vị đã đánh một số trận với máy bay tiêm kích, cường kích đều không thắng lợi, anh em thiếu lòng tin cho là khí tài không đảm bảo các thông số kỹ thuật đế chiến đấu. Bộ khí tài của Tiểu đoàn 57 đã bị ngập nước trong trận lụt lịch sử năm 1971, ngành kỹ thuật của Trung đoàn và cán bộ kỹ thuật của Tiểu đoàn đã ra sức sửa chữa khôi phục, sau mấy tháng khí tài có tham số ổn định, bảo đảm chiến đấu. Phải cám ơn đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Trung đoàn tên lửa 261 có óc sáng tạo, tài ba và đôi tay khéo léo, đưa bộ khí tài từ chỗ bỏ đi trở về vị trí chiến đấu. Công lao này thuộc về ngành kỹ thuật, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Ngọc Anh, Chủ nhiệm Kỹ thuật đã kiên trì bám công trường, giải quyết dứt điểm từng công đoạn, từng công việc cụ thế. Bộ khí tài tham gia chiến đấu được một thời gian, cấp trên cho đi đại tu và đến tháng 4 năm 1972 điều cho Tiêu đoàn 57 bộ khí tài trong kho. Đây là bộ khí tài của Tiểu đoàn 93 bị máy bay Mỹ đánh hỏng ở xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An năm 1968. Quân chủng đã sửa chữa, bố sung thêm xe AA, rồi đại tu đưa vào kho làm khí tài dự trữ. Bộ khí tài này đã gắn bó với tôi từ năm 1966, tôi thật may mắn, tình cờ lại được chiến đấu với bộ khí tài đã theo tôi từ Liên Xô về Việt Nam.

        Bộ khí tài Tiểu đoàn 57 nhận lần này đã trải qua quá trình cơ động chiến đấu suốt từ Hà Nội, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An... Nó đã bị địch đánh hỏng nhiều lần và đưa vào nhà máy sửa chữa, giờ tích luỹ đã trên 13.000 giờ. Thời gian sử dụng đã lâu, tuổi thọ các linh kiện điện tử đã "mỏi" nên các tham số rất hay thay đổi. Do vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật cho nó cũng rất vất vả. Theo quy định của Nga mỗi ngày chỉ làm định kỳ 1 lần vào buổi chiều. Nhưng do khí tài cũ các tham số hay bị "trôi" chúng tôi phải kiểm tra tham số ngày 2 lần: sáng và chiều. Ngoài ra có lúc đang báo động, căn cứ vào các đồng hồ đo, màn hiện sóng của sĩ quan điều khiển nếu thấy hiện tượng gì bất thường, các xe lại phải kiểm tra lại những tham số theo yêu cầu của sĩ quan điều khiển. Nhiều lần khí tài bị hỏng, chúng tôi đã tập trung đội ngũ cán bộ kỹ thuật cùng nhau nghiên cứu và bàn biện pháp khắc phục. Ngày đó Tiểu đoàn chúng tôi có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn giỏi, ý thức tập thể và tinh thần trách nhiệm rất cao. Do vậy tuy khí tài cũ, hay hỏng hóc nhưng Tiểu đoàn vẫn tự đảm bảo được hệ số sẵn sàng chiến đấu cao. Cả năm không một lần lỡ thời cơ do hỏng hóc khí tài.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:52:09 PM

        Cũng thời gian này Đại đội trưởng Đại đội 1 là đồng chí Lưu Xuân Đáo được thay đổi nhiệm vụ vì bị bệnh dạ dày quá nặng. Mỗi khi thời tiết thay đổi, hoặc làm việc căng thẳng lại ôm bụng đau, mặt mày tái mét. Thay đồng chí Đáo là Nguyễn Văn Hoàng - một kỹ sư vô tuyến điện khoá 9 Trường đại học Bách khoa Hà Nội. Hoàng là học sinh miền Nam tập kết, con một cán bộ cao cấp trong Quân đội, bố anh đã hy sinh vì bom B-52 trong chiến dịch Gianxơnxiti năm 1967. Đồng chí vừa tập trung để đi chuyển loại tên lửa mới ở Liên Xô về. Trên đường hành quân từ Trung đoàn về Quân chủng, bị máy bay Mỹ đánh ở cầu Bắc Giang. Một số anh em hy sinh, Hoàng và một số đồng chí khác bị thương. Điều trị khỏi vết thương Hoàng được cấp trên bổ nhiệm về làm Đại đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 57 thay đồng chí Đáo. Hoàng hiền lành, nhìn bề ngoài có vẻ ít nói và khó gần, nhưng ai đã ở với anh rồi mới biết đó là một con người rất giàu tình cảm và có khiếu nói chuyện rất cuốn hút người nghe.

        Công việc bàn giao của chỉ huy Tiểu đoàn xong, tôi ngồi tâm sự với kíp chiến đấu, anh em rất tin tưởng và đặt lòng tin vào tôi. Trong kíp chiến đấu có đồng chí Nguyễn Đình Kiên, quân hàm chuẩn úy, Đại đội phó Đại (tội 1. Đồng chí Kiên quê ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An, là sinh viên đại học năm thứ 2 của Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, nhập ngũ theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước năm 1966. Trước đây, tôi cùng một số đồng chí trong Trung đoàn trực tiếp huấn luyện lớp sĩ quan điều khiển có đồng chí Nguyễn Đình Kiên, nên tôi biết tương đối rõ về đồng chí này và tin vào khả năng của đồng chí rất nhiều. Đồng chí thông minh, chịu khó, là người ham học tập, ham tìm tòi cái mới và biết linh hoạt vận dụng vào thực tiễn nên chỉ trong thời gian ngắn của khóa huấn luyện đồng chí đã nắm tốt chức trách của một sĩ quan điều khiển, thao tác sử dụng thành thạo khí tài, luôn bám sát, uốn nắn kíp trắc thủ. Tôi có ý định sử dụng đồng chí Kiên chiến đấu ở vị trí sĩ quan điều khiển. Ba trắc thủ là: trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ góc tà Đỗ Văn Khay, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài đã từng chiến đấu bắn rơi máy bay Mỹ, đều có những kinh nghiệm chiến đấu nhất định.

        Khi tôi về nhận nhiệm vụ ở Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261, đồng chí Kiên đã là Đại đội phó, đồng chí Quản Đức Sắn là sĩ quan điều khiển. Tôi yêu cầu đồng chí Kiên chiến đấu ở cương vị sĩ quan điều khiển, đồng chí rất vui vẻ không từ chối nhiệm vụ. Kiểm tra thực tế khi hiệp đồng chiến đấu, tôi và kíp chiến đấu đã nhanh chóng hòa nhập, những khẩu lệnh to, rõ, gọn, chính xác thôi thúc kíp chiến đấu, đặt lòng tin đánh thắng. Theo dõi bám sát thấy sai số của các trắc thủ rất nhỏ, tôi yên tâm đi vào luyện tập chiến thuật, xử lý các tình huống. Đội ngũ kỹ thuật làm công tác chuẩn bị tham số khí tài sẵn sàng chiến đấu do đồng chí Kiên chủ trì nên tôi rất tin tưởng với trình độ nắm và hiệu chỉnh các tham số của các đồng chí ấy. Từ bộ khí tài ngập lụt năm 1971, đến bộ khí tài đã chiến đấu gần 13.000 giờ được các đồng chí hiệu chỉnh tham số đến nay vẫn ổn định, bảo đảm chiến đấu tốt. Không phải tôi không tin đồng chí Quản Đức Sắn, là sĩ quan điều khiển lúc dó, nhưng vì kinh nghiệm chiến đấu của đồng chí Sắn còn ít, càng không phải tôi rập khuôn là khi tôi làm Đại đội trương vẫn đánh ở cương vị sĩ quan điều khiển ở chiến dịch A2. Tôi chỉ nghĩ rất đơn giản là, Tiểu đoàn 57 đã đánh một số trận chưa thắng, để xây dựng lòng tin cho đơn vị trước hết kíp chiến đấu phải có quyết tâm cao, kiên trì, sáng tạo học tập, rèn luyện, muốn vậy thì phải là đồng chí Kiên - sĩ quan điều khiển thực hiện. Cũng chính vì đồng chí Kiên đã qua chiến đấu, đánh thắng, có kinh nghiệm, nếu chiến đấu ở vị trí sĩ quan điều khiển, tôi tin tưởng đơn vị sẽ đánh thắng.

        Sau những trận đánh phá của máy bay B-52 Mỹ vào Vinh, Thanh Hóa, Hải Phòng hồi tháng 4, được sự chỉ đạo của Quân chủng, Bộ Tham mưu đã giúp Sư đoàn phòng không 361 xây dựng phương án đánh máy bay B-52 bảo vệ bầu trời Hà Nội. Tháng 5 năm 1972, lần đầu tiên phương án trên được xây dựng, đến tháng 7 năm 1972, phương án được bổ sung lần thứ hai. Trước sự phát triển tình hình đánh phá của địch, cùng với nhận thức của các cấp về đối tượng tác chiến là máy bay chiến lược B-52 ngày một rõ hơn, Sư đoàn 361 tiếp tục hoàn thiện phương án đánh B-52 theo sự chỉ đạo của Quân chủng. Phương án được thông qua lần thứ ba vào tháng 9 năm 1972. Các phương án trên đều được phổ biến và quán triệt đến các trung đoàn. Trong phương án xác định tên lửa là lực lượng chủ yếu đánh máy bay B-52, Trung đoàn 261 là một trong hai trung đoàn chủ lực đánh máy bay B-52 bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội năm 1972.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:52:48 PM

        Được sự chỉ đạo của Quân chủng và Sư đoàn, Trung đoàn 261 tiếp tục mở những hội nghị dân chủ quân sự cho cán bộ, chiến sĩ tham gia xây dựng để hoàn thiện phương án đánh máy bay B-52. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị được thảo luận về cách đánh, cách xử trí, thao tác hiệp đồng cụ thể của từng thành phần trong kíp chiến đấu, từng người trong đơn vị.

        Trên thực tế, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 261 chưa một lần được tiếp xúc với máy bay B-52. Trong những lần máy bay B-52 vào đánh phá Thanh Hóa, Hải Phòng, các kíp chiến đấu đã một đôi lần mở máy thu nghiên cứu nhiễu B-52. Bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai, phải đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử ngày càng phát triển, Trung đoàn đã từng bước vượt qua khó khăn, thử thách đánh rơi được máy bay cường kích của địch và ngày càng tiến bộ.

        Tuy vậy, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1972, hiệu quả chiến đấu của các đơn vị tên lửa đạt thấp. Tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị còn có những biểu hiện băn khoăn, lo lắng với nhiệm vụ đánh máy bay B-52. Kịp thời nắm bắt tư tưởng này, được sự chỉ đạo của cơ quan  chính trị các cấp, Đảng ủy Trung đoàn 261 đã xác định phải làm tốt công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đâu cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 361 phát động phong trào thi đua tìm cách đánh thắng máy bay mang nhiễu tạp trong đội hình.

        Đồng chí Trần Sanh, Phó Tư lệnh Sư đoàn đã trực tiếp xuống Tiểu đoàn 57 trao đổi kinh nghiệm tìm ra cách đánh và yêu cầu kíp chiến đấu luyện tập. Dùng phương pháp kết hợp giữa trắc thủ xe điều khiển và trắc thủ ống nhòm TZK đặt trên anten phương vị (13) gọi là trắc thủ PA-00. Loại ống nhòm này ta đề xuất, bạn đã cải tiến cho chúng ta từ năm 1967. Do quá trình phát sóng chiến đấu, các đài điều khiển tên lửa bị nhiễu nặng không bắt được máy bay, phải sử dụng ống nhòm TZK có bội số lớn để bắt, dẫn chính xác mục tiêu cho kíp chiến đấu thao tác bắn tiêu diệt. Đây là biện pháp tích cực nhằm phát huy tối ưu các phương pháp để đánh thắng mọi thủ đoạn kỹ thuật chế áp điện tử và chiến thuật tập kích đánh phá của không quân Mỹ. Không quân Mỹ thay đổi đội hình chiến thuật bay, thì phương pháp đánh của ta vận dụng sao cho phù hợp, nay đã đến lúc phải luyện tập để bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ. Từ ngày 24 tháng 6 năm 1972 trở đi, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn chủ yếu luyện tập thao tác theo cách đánh này và được đồng chí Phó Tư lệnh Sư đoàn đánh giá tốt, hài lòng, tin vào khả năng của kíp chiến đấu, tin tưởng chúng tôi sẽ đánh thắng bằng phương pháp mới này. Đó là cách đánh thắng máy bay địch mang nhiễu trong đội hình đã thay đổi giãn cách cự ly.

        Ngày 26 tháng 6 năm 1972, địch lại đánh phá Hà Nội. Chúng huy động lực lượng khá đông. Thủ đoạn cung rất xảo quyệt. Khu vực chúng đánh phá là khu Bạch Mai. Từ phía nam địch cho một số tốp tiêm kích bay vào để gây nhiễu tiêu cực, chế áp không quân ta. Khoảng 8 giờ sáng ngày 26 tháng 6 năm 1972, đơn vị báo động vào cấp 1, phát hiện nhiều tốp máy bay ở phía nam và tây nam Hà Nội. Hôm nay quyết tâm của chúng tôi là bắt mục tiêu để đánh dứt điểm bằng phương pháp vượt nửa góc. Nhưng do tình hình nhiễu khá phức tạp. Nhiễu tiêu cực chúng thả dày từ cự ly 60 km cho tới 10 km. Mặt khác mục tiêu vẫn gây nhiễu trong đội hình, khu vực đánh phá lại khá xa trận địa chúng tôi (trên 20 km), khí tài lại trục trặc, đang sửa chữa, việc bắt mục tiêu để tiêu diệt không thực hiện được nên đơn vị chưa chiến đấu. Đến 15 giờ ngày 26 tháng 6, khí tài sửa chữa xong, kiểm tra đồng bộ tốt. Không quản mệt nhọc, cả kíp chiến đấu lao vào luyện tập.

        Sáng 27 tháng 6, trong buổi làm công tác chuẩn bị chiến đấu, Trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo nhắc nhở: "Nếu máy bay địch vào phải kiên quyết bắn rơi tại chỗ giành lấy chiếc máy bay thứ 3.700". Lời nhắc nhở của đồng chí Trung đoàn trưởng có sức động viên mãnh liệt đối với tôi và cả kíp chiến đấu. Ngày 27 tháng 6 năm 1972 là một ngày đáng ghi nhớ của tôi, của Tiểu đoàn 57 và cũng có thể nói là của cả Hà Nội. Nó chấm dứt những chuỗi ngày lo âu, trăn trở của chúng tôi để tìm cách đánh thắng không quân Mỹ. Nó đã chứng minh được hướng đi của chúng tôi tìm ra cách đánh mới là đúng. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng tôi đã bổ sung vào cách đánh "ba điểm" của Bộ đội Tên lửa phòng không một cụm từ mới. Đó là đánh "ba điểm có chỉ chuẩn".

        Từ sáng sớm hôm ấy đơn vị đã báo động mấy lần. Địch tăng cường trinh sát và đánh phá các khu vực ngoại thành. Triệu chứng một trận tập kích đánh phá lớn vào Hà Nội đã rõ ràng. Mọi công việc chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo. Tất cả đã sẵn sàng thử lửa cùng giặc Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:53:08 PM

        Khi đơn vị có lệnh báo động vào cấp 1, tôi linh tính mình cùng kíp chiến đấu sẽ được thử phương pháp đánh mới, vì máy bay địch đang bay vào, thời tiết lại nắng đẹp. Theo dõi trên bản đồ tình báo 9x9, thấy có nhiều tốp máy bay địch hoạt động ở phía nam Hà Nội. Chuẩn bị khí tài xong, tôi báo cáo Trung đoàn: khí tài 3 rãnh, 6 bệ, đạn tốt, PA-00 tốt. Cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tiêu diệt tốp mục tiêu bay vào ở phương vị 220.

        Tôi cho phát sóng bắt mục tiêu, tóm luôn được 4 chiếc bay vào ở cự ly 55 km. Phát hiện thấy có sóng rađa chúng tung nhiễu, lúc này trên màn hiện sóng trắc thủ chỉ thu được nhiễu tạp trong và ngoài đội hình, cường độ rất nặng không thấy được tín hiệu mục tiêu. Tôi đã quyết định sử dụng phương pháp kết hợp trắc thủ TZK quan sát, phát hiện, thông báo máy bay cho trắc thủ góc tà, phương vị vê tay quay theo để phát hiện đúng chiếc máy bay đang bay vào theo tình huống đơn vị đã huấn luyện trong thời gian vừa qua. Trước đây, trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, khi phát hiện dải nhiễu chính xác của 4 chiếc (1 tốp máy bay) bay vào, kíp chiến đấu làm các động tác phối hợp kiểm tra về góc, xác định chính xác cự ly, độ cao rồi quay tay quay đưa đường BM vào giữa dải nhiễu là đã bắt trúng một chiếc trong tốp để tiêu diệt. Nhưng đến lần này, cách bắt, bám sát mục tiêu không phải như thế nữa, vì khoảng cách giãn cách giữa các máy bay địch đã rộng hơn trước mà ngòi nổ đầu đạn chỉ có cự ly phát sóng nhất định. Nếu bắt, bám sát mục tiêu như cách đánh trước đây sẽ không tiêu diệt được mục tiêu.

        Cuộc đấu trí của Bộ đội Tên lửa với các thủ đoạn kỹ thuật và chiến thuật của không quân Mỹ lần này diễn ra rất gay go, quyết liệt. Không quân Mỹ lợi dụng sự tối tân của kỹ thuật sóng điện tử để thay đổi đội hình tập kích đánh phá. Quá trình nghiên cứu về các thủ đoạn chiến thuật của không quân Mỹ, Tiểu đoàn 57 đã có cách đánh mới: dùng trắc thủ PA-00 quan sát, phát hiện mục tiêu máy bay địch, chỉ chuẩn cho trắc thủ góc tà và trắc thủ phương vị của xe điều khiển bám sát chính xác vào một máy bay. Sau đó trắc thủ xe điều khiển nhớ vị trí tim giữa đường cự ly và phương vị giao nhau trên màn hiện sóng nằm ở vị trí nào của độ rộng dải nhiễu và giữ nguyên điểm ngắm đó trong suốt quá trình bám sát mà điều khiển đạn tên lửa bay tới mục tiêu Còn việc xác định độ cao thì dựa vào cự ly thông báo của đài rađa nhìn vòng P12, đặt vào đồng hồ y87 để xác định; sĩ quan điều khiển so sánh, xác định cự ly phóng thật chính xác.

        8 giờ 30 phút ngày 27 tháng 6, Tiểu đoàn báo động vào cấp 1. Cả trận địa rộn vang tiếng máy nổ. Kíp chiến đấu nhanh chóng vào vị trí. Cũng như những lần trước, khi kẻ địch đã có dã tâm đánh phá Hà Nội thì chúng tiếp cận rất nhanh. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên vừa kiểm tra chức năng khí tài xong thì những tốp máy bay gây nhiễu tiêu cực đã vào gần. Mở máy thu kiểm tra nhiễu thì trên màn hiện sóng đã trắng xoá các loại nhiễu tạp. Theo lệnh của tôi, sĩ quan điều khiển Kiên thao tác nâng cao thế và phát sóng, nhưng do nhiễu quá nặng không thể nào phát hiện được mục tiêu. Chúng tôi sốt ruột lắm vì cả ngày hôm qua không đánh được và ngày hôm nay cũng không đánh được nữa thì sẽ ra sao đây? Do vậy, sĩ quan điều khiển Kiên quyết tâm xin đánh bằng phương pháp "ba điểm có chỉ chuẩn" như đã luyện tập. Khi Kiên thao tác quay anten về phương vị 210 và thu nhiễu thì phát hiện một tốp máy bay mang nhiễu tạp, nhưng nó khác hắn những tốp khác, chúng tôi nghĩ với dải nhiễu này thì việc tiêu diệt mục tiêu sẽ dễ dàng hơn. Sĩ quan điều khiển quyết định cho trắc thủ bám sát dải nhiễu và báo cáo tôi xin đánh bằng phương pháp "ba điểm". Đề nghị đó được tôi chấp nhận. Lúc này mục tiêu đã vào đến cự ly 35km. Các thao tác chiến đấu diễn ra hết sức khẩn trương. Chỉ trong vòng chục giây đồng hồ mọi công tác chuẩn bị bắn đã hoàn tất. Theo lệnh của tôi, sĩ quan điều khiển Kiên thực hiện phóng 2 quả tên lửa theo phương pháp điều khiển ba điểm (phương pháp T/T), giãn cách thời gian phóng từ quả 1 đến quả 2 là 6 giây. Hai quả đạn tên lửa rời bệ phóng bay lên, có điều khiển tốt. Khi quả một gặp mục tiêu thì một điếm sáng bùng lên ở cự ly 20km. Hai đồng chí Đoàn Văn Súc và Nguyễn Đình Thanh trên nóc cabin đều hô gặp mục tiêu, cự ly 20km, đạn nổ tốt, máy bay bốc cháy. Chiếc máy hay F-4H rơi tại chỗ ở cánh đồng làng Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:53:27 PM

        Khi đó tôi rất vui nhưng vẫn còn lo quả đạn thứ hai không biết có rơi vào dân không? Mãi sau lúc Tiểu đoàn có lệnh về cấp 2, các trắc thủ quang học cùng như anh em ở ngoài thông báo là đạn nổ trên không tôi mới hết lo. Thế là trong trận này kíp chiến dâu chúng tôi đã thực hiện được quyết tâm của mình cũng như của cả Tiểu đoàn 57 và cũng là quyết tâm cua Bộ Tư lệnh Sư đoàn phòng không 361 là bắn rơi lại chỗ máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội.

        Một trận đánh đã diễn ra mà kết quả ngoài phạm vi dự kiến của chúng tôi. Là người lính ai mà chẳng phấn khởi khi đánh thắng. Nhưng ở trường hợp chiến thắng của chúng tôi hôm nay có một ý nghĩa rất lớn không phải cho riêng tôi hay cho Tiểu đoàn tôi, mà nó còn có ý nghĩa rất lớn cho cả Hà Nội, nên ngay sau trận đánh, phóng viên báo Nhân dân đã lập tức đến đơn vị và họ mang theo cả những tấm ảnh chụp chiếc máy bay Mỹ đang bốc cháy đùng đùng trên hầu trời Hà Nội. Đó là niềm động viên, cổ vũ rất to lớn đối với đơn vị chúng tôi. Lúc này là lúc chúng tôi đang được đơn vị trao cho trách nhiệm bảo vệ một vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc nên phải quyết xứng đáng với sự tin cậy đó mà ra sức phấn đấu để góp được nhiều công sức của mình vào trong những chiến công chung của đơn vị và cả nước. Chiến công hôm nay là bước mở đầu cho những loạt chiến công sau to lớn hơn nữa. Muốn vậy thì chúng tôi còn phải cố gắng và phấn đấu nhiều hơn nữa thì mới đạt được ước mơ đó.

        Sau trận đánh có một chuyện nhỏ xảy ra làm chúng tôi cũng lo lắng. Đó là việc công nhận máy bay rơi. Tuy là bắn rơi tại chỗ và đã có nhiều người nhìn thấy, nhưng cấp trên chưa công nhận thì vẫn chưa phải là thành tích của mình. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi quyết định của cấp trên. Thời gian này có một chuyện tế nhị, đó là trên Sư đoàn không khuyến khích đánh bằng phương pháp "ba điểm". Trong khi đó Tiểu đoàn chúng tôi lại bắn rơi tại chỗ bằng chính phương pháp đó, nên khi xem xét công nhận máy bay rơi có một số ý kiến không nhất trí. Nhưng rất may cho chúng tôi, tại thời điểm chúng tôi đánh thì không có đơn vị nào cùng đánh. Hơn nữa, lúc đó có đồng chí Phó Chính ủy Sư đoàn phòng không Hà Nội nhìn tận mắt trận đánh và xác nhận chiếc máy bay bị bắn rơi là do tên lửa từ phía bắc sông Đuống bắn sang. Điều đó đã giúp cho Tiểu đoàn 57 được công nhận đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay này. Đó là chiếc máy bay thứ 3.700 của Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc. Đồng thời, nó cũng là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội kể từ sau ngày 16 tháng 4 năm 1972 - ngày đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc. Chiếc máy bay này rơi tại Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội. Đó là một chiếc F-4H. Chiến thắng này đã củng cố lòng tin của kíp chiến đấu chúng tôi vào cách đánh mà chúng tôi đã dày công luyện tập trong thời gian qua. Chiến thắng này cũng đã xoá đi những nghi kỵ trong nội bộ đơn vị đối với kíp chiến đấu. Tôi như trút được một gánh nặng trên vai. Không khí đơn vị trở lại những ngày vui vẻ như cuối năm 1971. Sau chiến thắng đó, Thành ủy, ủy han hành chính, các ban ngành, đoàn thể của thành phố Hà Nội đã đến chúc mừng chiến công xuất sắc của đơn vị. Phóng viên báo, đài Trung ương và Hà Nội cũng xuống phỏng vấn viết bài đưa tin liên tục. Các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới, Tiền phong lúc đó đều đăng trang trọng trên trang nhất chiếc máy bay Mỹ đang bốc cháy như một bó đuốc giữa buổi trưa trên bầu trời Hà Nội.

        Niềm vui chiến thắng đã đến với cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn sau nhiều ngày khó khăn, vất vả luyện tập. Tiểu đoàn 57 đã lập công rất xuất sắc, bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 3.700 trên miền Bắc. Đây cũng là chiếc máy bay mang nhiễu trong đội hình đã thay đổi chiến thuật bay, mà suốt thời gian qua ở Hà Nội chưa có đơn vị tên lửa nào bắn rơi được chúng. Trận đánh thắng cùa Tiểu đoàn tôi đã mở ra cách đánh máy bay mang nhiễu tạp trong đội hình, với thủ đoạn chiến thuật mới, đó là trong đội hình bay của một tốp giãn cách giữa các máy bay ở cự ly xa nhau hơn trước. Đây cũng là chiến thuật vận dụng tốt sự kết hợp giữa sử dụng kính ngắm quang học PA-00 với đài điều khiển tên lửa, đánh tiêu diệt các tốp máy bay mang nhiễu tạp tích cực trong đội hình, có giãn cách cự ly bay xa nhau. Chiếc máy bay này cũng là chiếc thứ 12 mà tôi đã trực tiếp tham gia chiến đấu bắn rơi, trong suốt cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Niềm tin đánh thắng và tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Tiểu đoàn 57 lại trỗi dậy, tất cả đều hăng hái thi đua bước vào những trận đánh mới cho dù khó khăn, phức tạp và ác liệt vẫn còn đang ở trước mắt chúng tôi trong những ngày tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Một, 2020, 07:53:44 PM

        Trận chiến đấu thắng lợi, là trận mở đầu cách đánh thắng bằng sự kết hợp giữa trắc thủ xe điều khiển và trắc thủ PA-00. Mặc dù có phần thuận lợi cho kíp chiến đấu của chúng tôi trong trận đánh, vì lúc này trời tháng 6 nắng rất đẹp, tầm nhìn của trắc thủ sử dụng kính quang học TZK rất rõ, đã hỗ trợ cho những hạn chế về tầm nhìn của các trắc thủ xe điều khiển. Nhưng phải khẳng định dứt khoát rằng, nhờ có ý chí quyết tâm cao, sự cố gắng, mưu trí, sáng tạo, nhanh nhạy của kíp chiến đấu, đặc biệt là trắc thủ PA-00 với các trắc thủ điều khiển và sĩ quan điều khiển thì trận đánh mới giành được thắng lợi một cách hoàn hảo như vậy. Đây là một thành công trong cách đánh, khẳng định Bộ đội Tên lửa Việt Nam lại có cách đánh thắng thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật mới của không quân Mỹ. Đánh theo cách này đòi hỏi sự luyện tập công phu, tỉ mỉ của các trắc thủ, sự theo dõi tinh tế để duy trì sự chính xác của sĩ quan điều khiển, sự quyết tâm cao, mệnh lệnh chuẩn xác của Tiểu đoàn trưởng. Kinh nghiệm của trận đánh được Tiểu đoàn 94 vận dụng triệt để sử dụng kính quang học TZK phối hợp chặt chẽ với kíp trắc thủ điều khiển, bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4 ngày 1 tháng 7 năm 1972. Những kinh nghiệm này đã được phổ biến đến các tiểu đoàn tên lửa của Sư đoàn phòng không 361.

        Sau trận đánh thắng, Tiểu đoàn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Riêng đồng chí Đoàn Văn Súc, trắc thủ PA-00 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân khen ngợi và tặng đơn vị một bức trướng mang dòng chữ: "Đơn vị lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ máy bay địch đầu tiên". Đại sứ Cu Ba tại Việt Nam gửi thiệp chúc mừng và tặng lẵng hoa cho Tiểu đoàn. Cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn còn vinh dự được đón đoàn đại biểu của Thành ủy, Ủy han hành chính và các cơ quan đoàn thể của Thành phố Hà Nội đến thăm, tặng quà. Đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch ủy ban hành chính thành phố Hà Nội trao bức trướng cho đơn vị mang dòng chữ: "Mưu trí, sáng tạo, lập công xuất sắc" và nhiều quà tặng. Đặc biệt, Đoàn đại biểu thành phố Hà Nội đến tặng đơn vị một con bò để khao quân. Đây là một thông lệ bất thành văn của Hà Nội khi các đơn vị phòng không bảo vệ Thủ đô lập được chiến công xuất sắc - bắn rơi một máy bay được một con bò để khao quân. Hôm đó, đơn vị vui như ngày hội, vì đã lâu rồi nay mới bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ, bộ đội được khao quân để động viên. Tôi suy nghĩ, đang sẵn sàng chiến đấu cao, nên bàn với đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Văn Ưởng giao cho cơ quan Tiểu đoàn bộ chăm sóc con bò được thưởng, khi có điều kiện thì tổ chức liên hoan sau. Anh Ưởng là người nhiều tuổi, dược cán bộ, chiến sĩ đơn vị rất kính trọng và yêu mên. Anh đã thận trọng xin ý kiến các đồng chí trong chỉ huy Tiểu đoàn và các đại đội, tất cả đều nhất trí với ý kiến của tôi nêu ra. Nhưng do chuồng trại sơ sài mấy ngày sau bò sổng chuồng, đi mất. Tin lan truyền cả Tiểu đoàn, anh em tiếc một bữa mừng công không có thịt bò của Đoàn đại biểu thành phố Hà Nội tặng. Bộ phận hậu cần của Tiểu đoàn thì lo sốt vó, cho quân toả đi các nơi lân cận trong huyện Đông Anh tìm kiếm. Cũng may là, sau 3, 4 ngày tìm kiếm cuối cùng anh em hậu cần cũng tìm lại được con bò.

        Liên tiếp trong tháng 7 năm 1972, không quân Mỹ tổ chức các đợt đánh phá ác liệt vào Hà Nội. Chúng không chỉ đánh phá các mục tiêu quân sự mà còn điên cuồng đánh vào cả các khu dân cư, bệnh viện, đê điều của ta. Thậm chí chúng còn đánh cả vào đại sứ quán một số nước ở Hà Nội. Ngoài ra, chúng còn sử dụng một lực lượng đáng kể tìm đánh các trận địa cao xạ, tên lửa của ta. Tiểu đoàn tôi được trên xác định là trận địa chốt ở tại Bãi Trám, Đông Anh, Hà Nội. Trong những ngày này cũng đã có 5 quả tên lửa không đối đất của không quân Mỹ bắn vào xung quanh trận địa. Có quả chỉ cách đài rađa nhìn vòng 300m. Trước tình hình đó, cấp trên đã có chủ trương sử dụng Tiểu đoàn 57 "chốt kết hợp cơ động xung quanh trận địa chốt" để nhằm tránh hoả lực địch. Thực hiện chủ trương của trên, trong tháng 7 và tháng 8 chúng tôi đã liên tục cơ động tới các trận địa Mai Hiên, Liên Hà - đó là một bãi phù sa bồi do trận lụt năm 1957 để lại, thuận lợi cho đơn vị làm công sự để chiến đấu. Sau đó chúng tôi lại quay về trận địa Tó. Các trận địa này nằm cách trận địa chốt (trận địa Tó) từ 8 đến 10km. Mỗi trận địa chúng tôi ở khoảng 10 đến 15 ngày. Có trận địa như Lộ Khê, đơn vị mới cơ động về triển khai chiến đấu được mấy ngày thì máy bay địch phát hiện, đánh vào trận địa nhưng may lại lệch ra ngoài, cách trung tâm trận địa khoảng 500, 600m. Ngay đêm hôm đó chúng tôi lại cơ động sang trận địa khác.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:23:52 AM

        Đây là thời kỳ không quân địch đánh phá liên tục vào cả nội thành, ngoại thành Hà Nội và các mục tiêu khác trên đường 1 bắc và đường 5. Nhờ những thay đổi về kỹ thuật và chiến thuật, nên không quân Mỹ tập kích đánh phá các mục tiêu thường nhanh hơn cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Thời kỳ này các lực lượng phòng không nói chung, tên lửa phòng không nói riêng, đang phải chi viện cho chiến trường miền Nam mở các chiến dịch quy mô lớn. Đồng thời tăng cường lực lượng bảo vệ tuyến đường giao thông chiến lược 559 nên lực lượng bảo vệ Hà Nội so với những năm 1967, 1968 có ít hơn. Trực tiếp bảo vệ Hà Nội chỉ có 2 trung đoàn tên lửa phòng không: Trung đoàn 261 ở phía bắc sông Hồng và Trung đoàn 257 ở phía nam sông Hồng. Ngoài ra có một số đơn vị pháo phòng không 37, 57, 100mm, súng máy phòng không 12,7mm, 14,5mm của Sư đoàn phòng không Hà Nội, Quân khu Thủ đô và dân quân, tự vệ. Tuy nhiên, với tinh thần "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" quân và dân Hà Nội đã kiên cường chiến đấu, đánh bại mọi thủ đoạn đánh phá của các lực lượng không quân Mỹ.

        Đê quốc Mỹ thực hiện chiến dịch đánh phá Thủ đô Hà Nội ngày càng ác liệt hơn, ngày nào, đêm nào cũng có máy bay ném bom, bắn phá Hà Nội và các địa phương lân cận. Bộ đội Tên lửa phải thường xuyên cơ động đánh phục kích, chuyển hóa thế trận đánh địch ở vòng trong, vòng ngoài bảo vệ Thủ đô.

        Ngày 4 tháng 7 năm 1972, địch tiếp tục đánh phá ác liệt vào Hà Nội. Từ sáng sớm chúng đã tổ chức trinh sát khí tượng và tới 11 giờ ngày 4 tháng 7 thì tổ chức một đợt đánh lớn vào các mục tiêu phía nam Hà Nội. Trận địa chúng tôi chỉ đánh được những tốp máy bay bay thẳng vào gây nhiễu tiêu cực và chặn kích. Ngay từ phút đầu, chúng tôi đã phóng hai quả tên lửa bằng phương pháp "ba điểm" diệt một máy bay địch. Tuy nhiên, hôm nay không quân địch có nhiều thủ đoạn xảo quyệt hơn, chúng tăng cường thả nhiễu tiêu cực trong đội hình. Sau trận đánh, nhìn lên bầu trời Hà Nội lấp lánh đầy dải nhiễu với các kích cỡ khác nhau. Mấy giờ đồng hồ sau nhiễu rơi xuống trắng xoá khắp cả trận địa và vùng quanh Hà Nội. Nhiễu tiêu cực là một khó khăn tạm thời cho cách đánh của Bộ đội Tên lửa chúng tôi. Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để bắt được mục tiêu và đưa đạn tới tiêu diệt mục tiêu, mà đạn không nổ trước vào các đám nhiễu tiêu cực là cả một vấn đề lớn đang đặt ra trước mắt cho Bộ đội Tên lửa chúng tôi. Ngoài những điều đó ra, địch cũng đang tăng cường đánh phá các trận địa tên lửa. Chúng phóng tên lửa Sraike vào trận địa theo tọa độ. Xung quanh trận địa chúng tôi đã có 5 quả tên lửa địch phóng vào. Nhưng cũng may tất cả chúng đều phóng theo tọa độ nên đều rơi ra ngoài. Cuộc chiến đấu là thế đấy. Ta đánh chúng, chúng cũng tìm cách đánh lại ta. Trong muôn vàn khó khăn đó, ta phải tìm ra cách đánh tốt nhất đế đánh thắng địch thì mới xứng đáng với truyền thống đánh giặc của ông cha. Điều đó làm cho tôi phải suy nghĩ rất nhiều. Nhưng nếu chỉ mình tôi suy nghĩ và làm vẫn chưa đủ mà làm sao phải truyền được những quyết tâm, những suy nghĩ đó của tôi tới mọi người trong kíp chiến đấu cùng làm thì mới có hiệu quả. Đối với Bộ đội Tên lửa, trận trước đánh thắng, trận sau đánh không thắng là chuyện thường, nhưng sau mỗi trận đánh không thắng phải tìm ra được nguyên nhân vì sao chưa đánh thắng. Đó chính là cái quý nhất mà mỗi cán bộ, chiến sĩ tên lửa trăn trở sau từng trận đánh.

        Để tránh sự đánh phá các trận địa tên lửa của không quân địch, ngày 8 tháng 7 năm 1972, đơn vị chúng tôi cơ động về trận địa Lê Xá, cách trận địa cũ khoảng l0 km. Đáng lẽ đi từ hôm trước, nhưng do chuẩn bị trận địa chưa tốt nên hôm sau chúng tôi mới hành quân. Đã lâu đơn vị không cơ động nên việc tổ chức thu hồi, triển khai hành quân từng bộ phận có những lúng túng, vất vả. Song, nhờ có thời gian chuẩn bị tương đối dài, do đó công việc cũng xuôi chèo mát mái. Đúng 18 giờ có lệnh thu hồi khí tài, nhưng nhùng nhằng mãi đến 22 giờ chúng tôi mới hành quân được, cả đơn vị cơ động thức trắng đêm để sáng ngày 9 tháng 7 hoàn thành triển khai xong và làm công tác chuẩn bị chiến đấu.

        Tiểu đoàn chúng tôi cơ động về đây là theo mệnh lệnh của Sư đoàn. Vì theo lời khai của giặc lái Mỹ bị bắt, thời gian tới không quân Mỹ sẽ tập trung đánh phá một số trận địa tên lửa quanh Hà Nội, trong đó có trận địa Tó. Theo ý đồ đánh phá của địch, chúng tôi phải "nhổ chốt" ra đi chiến đấu dã chiến. Thực tế trong những lần đánh phá vừa qua, máy bay địch cũng đã phóng theo tọa độ một số quả tên lửa không đối đất vào quanh trận địa cũ của Tiểu đoàn, về trận địa này, mọi sinh hoạt của đơn vị đều khó khăn, thiếu nước, ở nhà bạt cơ động nên rất nóng. Chúng tôi trực chiến đấu kíp 1 lại càng khó khăn hơn, vì cả ngày lẫn đêm đều phải ở trận địa. Nước tắm và rửa mặt phải chia nhau từng cốc. Song, đó là khó khăn chung của cả đơn vị chứ chẳng riêng ai trong điều kiện chiến đấu ác liệt này.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:24:11 AM

        Trận địa Lê Xá hay còn gọi là trận địa Mai Hiên thuộc Đông Anh, Hà Nội. Đây là trận địa dã chiến nằm gần đê sông Đuống. Vì là trận địa dã chiến nên không có cây cối gì, chỉ có cát bụi. Tại đây, lần đầu tiên chúng tôi triển khai trận địa chiến đấu. cả trận địa là bãi cát phù sa bồi từ ngoài sông Đuống vào. Theo bà con địa phương kể lại, bãi cát này là kết quả của trận lụt vỡ đê năm 1957 hay năm 1958 gì đó đã bồi đắp nên. Ở đây nắng thì bụi, mưa gió càng khổ hơn, gió to vừa bụi cát vừa dễ đổ nhà bạt. Sau mỗi trận mưa thì bùn lầy nhão nhoét. Những ngày này lại là tháng mưa nhiều của đồng bằng Bắc Bộ, mưa gió thất thường khiến cuộc sống của chúng tôi lại càng vất vả hơn. Thời chiến, trận địa dã chiến nên chúng tôi chỉ triển khai nhà bạt để ở. Mỗi nhà ở được 6, 7 người, nhà bạt vuông thì được hơn chục người. Ở nhà bạt, vào buổi trưa mùa hè nằm nghỉ như nằm trên chảo rang, còn mùa đông thì lạnh như nằm giữa trời. May mà lúc đó chúng tôi còn đang ở tuổi sung sức, ăn ngủ tốt. Hơn nữa, một ngày báo động chiến đấu năm, bảy lần, ban đêm thêm hai, ba lần nữa chúng tôi đều mệt nhoài nên đặt lưng xuống là có thể ngủ ngay được, không cần biết nóng hay rét. Khi chúng tôi về đây triển khai chiến đấu xong, thì ngày hôm sau nhân dân xa Lộc Hà và các xã lân cận đã mang cây chuối ra trồng kín trận địa để ngụy trang. Hàng mấy trăm cây chuối được trồng trong có mấy ngày. Với sự hiện diện của những người chiến sĩ tên lửa phòng không đã làm cho họ mặt hoang sơ của bãi cát trở nên có sức sống hơn. Tuy nhiên, những khó khăn vất vả của chúng tôi ở đây chưa thấm gì với những ngày tôi vào chiến đấu ở khu vực "cán xoong" thuộc huyện Nghi Lộc, Nghệ An năm 1968. Và càng chưa thấm gì với các đồng đội tôi đang ngày đêm hành quân chiến đấu trên đường Trường Sơn và ở chiến trường miền Nam ruột thịt.

        Chuyển về trận địa Lê Xá được gần chục ngày, ngày 16 tháng 7 năm 1972, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã lại đến phỏng vấn và ghi âm về trận đánh thắng ngày 27 tháng 6, bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.700 trên miền Bắc. Đồng chí phóng viên này đã về đơn vị một lần dạo Tết trước. Họ ghi âm một buổi rút kinh nghiệm chiến đấu của kíp 1 Tiểu đoàn 57 chúng tôi.

        Phát huy chiến công và cách đánh mới đã được thực tế chứng minh, bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 3.700 trên miền Bắc; trong tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn đánh 6 trận, bắn rơi 3 máy bay F-4 của Mỹ. Những chiến công đó đã khẳng định cách đánh "ba điểm có chỉ chuẩn" của quang học mà chúng tôi đã dày công nghiên cứu và tập luyện trong suốt thời gian qua là đúng. Mặc dù thời gian này vẫn tồn tại từ cấp trên suy nghĩ cho rằng, đánh bằng phương pháp "ba điểm" là không hiệu quả. Thậm chí có người còn quy kết đánh bằng "ba điểm" là do sợ địch đánh lại bằng tên lửa chống rađa. Nhưng thực tế hiệu quả chiến đấu từ cuối tháng 6 cho đến hết tháng 7 năm 1972 đã chứng minh là chúng tôi đã đi đúng hướng và đã tìm ra được cách đánh trả có hiệu quả đối với những thủ đoạn kỹ thuật, chiến thuật mới của không quân địch. Cuộc sống chiến đấu vất vả, cái sống, cái chết cận kề nhau, lúc đó tất cả chúng tôi đều không ai nghĩ ngợi điều gì. Suy nghĩ duy nhất của tôi lúc đó là làm sao hoàn thành nhiệm vụ, bắn rơi càng nhiều máy bay Mỹ càng tốt. Với những trận đánh thắng liên tiếp trong tháng 7 này nên cả đơn vị rất phấn khởi, khí thế chiến đấu của mọi người đều rất cao.

        Đúng 9 giờ 51 phút ngày 18 tháng 7 năm 1972, đơn vị đánh một trận theo cách đánh mới, tiêu diệt một máy bay F-4 của địch. Thay đổi vị trí chiến đấu, Tiểu đoàn được lệnh hành quân về trận địa Lỗ Khê, thuộc xã Liên Khê. Gọi là trận địa nhưng được bố trí trên một bãi rộng, hướng tây bắc có mấy lò gạch, hướng tây nam có xóm nhỏ, trận địa này đánh đường bay địch bay từ hướng đông nam vào đánh phá sân bay Đa Phúc. Vào những ngày cuối tháng 7 năm 1972, ngoài việc tập kích đánh phá ban ngày, các lực lượng không quân địch còn tổ chức đánh phá cả ban đêm vào các mục tiêu trong nội thành Hà Nội và dọc các tuyến giao thông chiến lược của ta như tuyến đường 5, đường 1 bắc, đường 1B... Có đêm đơn vị chúng tôi phải báo động chiến đấu vào cấp 1 tới 5, 6 lần. Nhưng phần lớn không quân địch đều hoạt động ngoài vùng hoả lực của Tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:24:26 AM

        Từ giữa tháng 7 năm 1972, đêm nào đơn vị cũng phải báo động chiến đấu 5, 6 lần. Sáng ngày 23 tháng 7 nam 1972, chúng tôi làm công tác chuẩn bị chiến đấu xong, đang tranh thủ luyện tập bám sát cho trắc thủ thì được lệnh vào cấp 1. Mọi công việc chuẩn bị chiến đấu cluing tôi làm một cách khẩn trương. Vừa kiểm tra chức năng xong, sĩ quan điều khiển phát sóng sục sạo và phát hiện được hai máy bay Mỹ ở phương vị 100, cự ly 30 km. Mục tiêu bay với tham số lớn. Khi cách trận địa khoang 10km thì nó bắt đầu bay lên hướng sân bay Nội Bài. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên đề nghị bắn đuổi nhưng tôi không đồng ý. Thế là tốp này chúng tôi không đánh được. Thực chất đây là tốp nghi binh kết hợp chặn kích. Vì mải theo dõi tốp này, chúng tôi đã bỏ nốt một tốp bay thấp vào đánh Hà Nội. Cả cấp trên và chúng tôi đã để lỡ thời cơ. Trong lúc đang theo dõi tình hình trên không, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên phái hiện được mục tiêu ở cự ly 18km, anh lập tức quay anten về phía nam và sục sạo thì bắt được hai tốp mục hen dang bay ra cự ly từ 12 đến 15km. Như vậy, đợt hoạt động đánh phá này là máy bay của hải quân địch, đơn vị tôi không đánh được. Nguyên nhân chủ yếu là do phán đoán địch chưa tốt, bị địch nghi binh đánh lừa. Đài 1 rađa nhìn vòng bắt và dẫn mục tiêu kém. Sau trận đánh bị lỡ thời cơ này, Trung đoàn trưởng đã đến tổ chức rút kinh nghiệm tại Tiểu đoàn. Có người nói đó là lệnh của Sư đoàn, cả Hà Nội hôm nay không có đơn vị tên lửa nào kịp nổ súng, chắc cấp trên cũng đau đầu (sau này chúng tôi được biết sáng đó không quân Mỹ đã đánh vào Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội). Ở Hà Nội chúng tôi làm nhiệm vụ đánh địch là đại diện cho Tổ quốc. Mỗi trận đánh không chỉ nhân dân ta theo dõi mà cả thế giới cũng dõi theo. Do đó, cấp trên cũng rất nghiêm khắc với chúng tôi khi địch vào mà không đánh được. Song, qua rút kinh nghiệm Trung đoàn trưởng cũng thấy được rõ nguyên nhân. Chúng tôi cũng rất khách quan trong việc tìm nguyên nhân không đánh được. Tôi nghĩ, đi đánh giặc ai mà chẳng có những phút thiếu sót dẫn tới lỡ thời cơ. Vấn đề là mình cần nghiêm khắc với mình thì mới có được cách đánh tốt hơn. Chính vì vậy, đối với những thiếu sót của mình, tôi rất nghiêm túc tìm cách sửa chữa, cố gắng để không bao giờ lặp lại. Qua trận này cũng để lại cho tôi một bài học sâu sắc về đánh giá âm mưu, thủ đoạn của không quân địch. Sau khi rút kinh nghiệm xong, đơn vị tổ chức mừng công về chiến thắng bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.700 trên miền Bắc.

        Đêm 23 tháng 7 năm 1972, cũng như những đêm trước địch vẫn tăng cường hoạt động đánh phá đường 1B. Thông thường chúng sử dụng một vài chiếc bay thấp đánh phá cầu phà và các đoàn xe vận tải để ngăn chặn sự vận chuyến của ta cho miền Nam. 23 giờ đêm thì có lệnh báo động vào cấp 1. Địch đã bắt đầu hoạt động ở hướng nam, tây nam. Ở đây có một chiếc đang bay vào, có mang nhiễu râu, có lẽ là máy bay A-6. Theo phần tử đài 1 của Tiếu đoàn thông báo thì nó chỉ bay quanh quẩn ở cự ly 60-70km. Kíp chiến đấu chúng tôi đang theo dõi tốp mục tiêu này thì Trung đoàn thông báo hướng đông bắc có mục tiêu. Đồng thời, lúc đó đài 1 của Tiểu đoàn cũng bắt được mục tiêu ở cự ly 35km. Sĩ quan điều khiến Kiên quay nhanh anten về hướng thông báo và phát sóng thì bắt được mục tiêu ở cự ly 28km, độ cao 400 m. Ba trắc thủ thao tác bám sát, kẹp chặt mục tiêu bằng các tay quay điêu luyện của mình, sĩ quan điều khiển xác định phần tử phóng. Các tham số nằm trong phạm vi cho phép phóng đạn. Theo lệnh của tôi, sĩ quan điều khiển Kiên đã phóng 2 quả đạn ở cự ly 18km và 16km giãn cách 12 giây, phương pháp điều khiển K. Mục tiêu là máy bay A-6 (lực lượng không quân chiến thuật của hải quân Mỹ) nên có nhiễu râu. Hai quả đạn tên lửa phóng lên đều có điều khiển tốt. Sau khi theo dõi quả 1 nổ xong, quay lại quan sát quả 2 thì không thấy tín hiệu tên lửa đâu nữa. Tôi lo quá. Vì chỉ theo dõi được nó ở đoạn đầu nên tôi tưởng đạn đã rơi xuống đất. Nhưng sau đó, kiểm tra lại thì biết quả đạn đó nổ trước mục tiêu khoảng 4-5km. Đây là trận đánh trả đầu tiên của Tiểu đoàn với đối tượng là lực lượng không quân chiến thuật của hải quân Mỹ. Nếu như cả hai quả đạn đều điều khiển tốt cả thì hay biết mấy. Nhưng đáng tiếc, quả 2 nổ sớm cho nên kết quả là không diệt mục tiêu. Trận này Tiểu đoàn đánh trả máy bay chiến thuật của hải quân Mỹ, bay thấp, một đối tượng khó nhưng cả kíp chiến đấu đều thao tác rất chững chạc.

        Ngày 28 tháng 7 năm 1972, chúng tôi chuẩn bị hành quân từ trận địa Lê Xá về trận địa dã chiến ở xã Lỗ Khê, cũng thuộc Đông Anh, chỉ cách trận địa Lê Xá khoảng hơn chục kilômét và cách trận địa "chốt" ở Tó chỉ khoảng 10km. Vùng này nằm trong phạm vi "chốt" của Tiểu đoàn nên dù có cơ động trận địa nào đi nữa thì cũng chỉ là chiến thuật, còn cơ bản vẫn phải đảm bảo đánh được các đường bay địch vào đánh Hà Nội và sân bay Nội Bài.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:24:45 AM

        Ngày 30 tháng 7 năm 1972, địch tổ chức đánh cầu Đuống và cầu Đáp cầu. Chúng tôi vẫn ở trận địa Lê Xá. 9 giờ 15 phút đơn vị báo động vào cấp 1. Sau khi vừa kiểm tra chức năng xong, mở máy thu kiểm tra nhiễu thì đã có một tốp mục tiêu vào gần, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên đang tiến hành thống nhất dải nhiễu bám sát với trắc thủ chuẩn bị đánh thì thấy các điều kiện xạ kích không cho phép. Đặc biệt hôm nay trời mù nên quang học phát hiện mục tiêu rất gần. Chúng tôi xác định tốp này chỉ là tốp gây nhiễu tiêu cực, đánh cũng được không đánh cũng không sao vì nó không trực tiếp đánh phá mục tiêu (tốp này sau khi thả nhiễu tiêu cực xong sẽ làm nhiệm vụ tiêm kích nên thông thường là tên lửa không đánh). Tốp này bay qua trận địa với tham số gần như bằng 0. Phía sau nó là cả một dải rộng kéo dài các tấm giấy kim loại với các kích cỡ khác nhau, chúng tôi gọi đó là đám mây nhiễu tiêu cực. Bỏ qua tốp thứ nhất không đánh. Theo quy luật đánh phá của không quân Mỹ, chúng tôi biết chắc chắn chỉ sau 10-15 phút là máy bay cường kích ném bom sẽ tập kích đánh phá, do đó đã chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt để "tiếp đón" chúng. Đúng như dự kiến, 9 giò 25 phút từ hướng đông nam xuất hiện 3 tốp mục tiêu bay thẳng vào phía trận địa. Một ý nghĩ xuất hiện nhanh trong đầu tôi là phải tiêu diệt những tốp mục tiêu này, vì chính chúng là những kẻ mang bom đến giết hại đồng bào ta. Sĩ quan điều khiển thao tác nhanh chóng tóm gọn một chiếc đang ẩn nấp dưới những dải nhiễu tạp. Cũng như mọi khi dải nhiễu quét rất mạnh nên trắc thủ bám sát khó khăn. Lúc đầu có một vài trắc thủ hơi chần chừ vì khó bám sát. Nhưng tôi và sĩ quan điều khiển quyết tâm đánh nên mọi việc đều trôi chảy. Tuy dải nhiễu có khó bám sát, nhưng vì yêu cầu bảo vệ yếu địa, vì trách nhiệm của đơn vị với Hà Nội, chúng tôi đã quyết tâm đánh và đã đánh thắng, bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4H của Mỹ tại khu vực Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Điều này làm cho cấp trên, Đáng bộ và nhân dân Thủ đô phấn khởi. Chỉ trong tháng 7 năm 1972 nong Tiểu đoàn 57 đánh 6 trận với 12 quả đạn, đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Có thể nói đó là một chiến công xuất sắc của Bộ đội Tên lửa bảo vệ Hà Nội trong giai đoạn đó. Điều làm cho tôi phấn khởi nhất là, được làm người lính chiến đã mấy năm nay, nhưng thời gian này tôi mới được chiến đấu nhiều và đạt được kết quả tốt như vậy. Với người lính thì đó chính là niềm vui giá trị nhất. Mặc dù có khó khăn, gian khổ, nhưng những kết quả chiến đấu vừa qua của đơn vị đã làm cho tôi quên đi tất cả những nỗi vất vả, khó khăn. Tôi mong muốn hoa chiến công tiếp tục nở rộ cho bõ công những ngày vất vả luyện tập.

        Đầu tháng 8 năm 1972 đơn vị mới cơ động tới trận địa Lỗ Khê. Trận địa là một sân trường của các cháu hoc sinh cấp I đã sơ tán. Trường nằm sát đường liên xã va sát rìa làng Lỗ Khê, thuận tiện cho việc triển khai. Trận địa dã chiến nên không có công sự cho khí tài; ở duy mặt bằng hẹp, chỉ triển khai được 4 bệ phóng. Đạn tên lửa dự trữ lại phải giấu xa. Do vậy khi di chuyển hoả lực để đánh liên tục là gặp khó khăn. Chúng tôi triển khai xong chỉ kịp đào công sự cho cá nhân. Việc ngụy trang ở đây cũng rất khó khăn; vì thời tiết cuối mùa hè nên nắng rất gay gắt. Hàng ngày, sau khi chuẩn bị chiến đấu xong, chúng tôi lại phải thay toàn bộ lá ngụy trang cho khí tài, đạn bệ và nhà bạt. Khối lượng lá ngụy trang rất lớn. Đơn vị đóng quân ở đồng bằng nên đến đâu cũng phải liên hệ với địa phương, Đoàn thanh niên, các cụ phụ lão để nhờ giúp đỡ. Kíp 2 là bộ phận đảm nhiệm công việc này cũng rất vất vả. Có lúc bí quá anh em phải chặt cây trong vườn cây của các cụ, thực hiện kế "tiền trảm hậu tấu". May nhờ chiến tranh ác liệt các cụ cũng tha thứ.

        Triển khai chiến đấu đã vài tuần, nhưng địch không vào vùng hoả lực của Tiểu đoàn. Tôi cảm thấy sốt ruột. Chúng tôi đã quen rồi, một ngày không được đánh nhau là cảm thấy buồn và sốt ruột. Mấy ngày gần đây, không quân Mỹ tăng cường sử dụng máy bay A-6A bay thấp đánh đêm, nên cũng gây căng thẳng cho chúng tôi. Sáng ngày 16 tháng 8, đơn vị báo động một lần. Địch tổ chức trinh sát ở hướng tây nam và hướng đông nam. Đó là dấu hiệu của một đợt đánh phá lớn vào Hà Nội của không quân Mỹ. Quả là như vậy, quá trưa từ hướng tây nam xuất hiện nhiều tốp mục tiêu bay vào đánh Hà Nội. Tiểu đoàn tôi đánh hai trận bằng 3 quả tên lửa. Lý do đánh ít như vậy là vì trận địa này đường tiếp đạn hơi khó khăn, nên đánh xong đợt 1 rồi vẫn chưa nạp xong đạn để đánh đợt 2, do vậy trận sau chỉ phóng được 1 quả.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:25:40 AM

        Ngày 2 tháng 9 năm 1972, là ngày thiêng liêng của đất nước, ngày độc lập của dân tộc, thế mà bọn đế quốc Mỹ không trân trọng, vẫn ngang nhiên tập kích đánh phá Thủ đô Hà Nội, giết hại nhân dân ta. Chúng tôi quyết tâm đánh cho chúng biết sức mạnh của quân và dân ta, sức mạnh Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng bảo vệ bầu trời Tố quốc. Đúng 11 giờ 40 phút ngày 2 tháng 9, máy bay Mỹ xuất hiện đánh phá Hà Nội, Tiểu đoàn đã kịp thời chuyển cấp chiến đấu, bắn rơi tại chỗ một chiếc F-4 ở khu vực Hà Bắc. Chúng tôi đang làm công tác thu thập phần tử bắn, bỗng xuất hiện một tốp máy bay, có 2 chiếc bay thấp, bất ngờ đánh vào khu vực trận địa. Hôm đó địch đã thả 4 quả bom bi mẹ với hàng ngàn quả bom con vào trận địa chúng tôi. Nhưng thật là may nó đã chệch khỏi trận địa, rơi vào các lò gạch đang nghi ngút khói, ở phía tây, cách trận địa khoảng từ 200 đến 500m, đơn vị an toàn. Nghe bom bi nổ chát chúa, chúng tôi chỉ biết ngồi chờ sự may rủi. Bởi vì trên màn Bl/IKO vẫn còn nhiều tốp mục tiêu lởn vởn ở cự ly gần. Trận địa lúc đó lại không có bất cứ một loại hoả lực như pháo, hay súng máy phòng không bảo vệ, chỉ trông chờ hoả lực của các đơn vị tên lửa và không quân ta chi viện. Nhưng sự chi viện này rất mỏng manh. Nếu địch đánh phá lần thứ 2 thì không biết điều gì sẽ xảy ra. May là chúng chỉ đánh một đợt rồi cút thẳng. Trong tháng 8 năm 1972, địch tăng cường đánh phá giao thông và chế áp tên lửa, đánh phá các hệ thống sân bay của ta. Những ngày này thực sự là những ngày hè nóng bỏng cả về nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngay đêm mùng 2 tháng 9, chúng tôi đã được lệnh hành quân về triển khai chiến đấu tại trận địa Tó thuộc huyện Đông Anh.

        Về lại Tó, cái trận địa cách đây hơn 2 tháng chúng tôi đã chiến đấu ở đó, đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay F-4E mang nhiễu trong đội hình. Chúng tôi rời trận địa Tó đã hai tháng, hôm nay lại có dịp về lại trận địa cũ. Đây là trận địa cơ bản nên các sinh hoạt cũng khá hơn vì có nhà tranh vách đất để ở, có nước giếng khơi để sinh hoạt. Thời chiến chỉ cần vậy là tốt lắm rồi. Đi đến trận địa nào chúng tôi cũng được chính quyền, nhân dân coi như đơn vị của mình, không những giúp chúng tôi củng cố công sự, ngụy trang trận địa mà sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống xảy ra. Các đơn vị nữ dân quân đều có phương án chuẩn bị trước, rất cụ thể, rõ ràng như: tham gia cứu thương, cùng bộ đội cứu hỏa, cứu khí tài... thời kỳ này tất cả thanh niên đều tham gia vào bộ đội, đi chiến đấu ở các chiến trường, mọi công việc ở nhà chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm.

        Ngày 3 tháng 9, không có tốp mục tiêu nào vào khu vực Hà Nội. Sáng ngày 4 tháng 9 năm 1972, trời chuyển sang tiết thu, buổi sáng còn se lạnh, gần trưa bầu trời trong xanh, không có tí gợn mây nào, kíp trắc thủ đang nghe phổ biến phương án chống Shrike và kinh nghiệm phát hiện Shrike của các đơn vị trong Quân chủng do tôi truyền đạt. Khoảng 9 giờ có lệnh báo động cấp 1, kíp chiến đấu về vị trí rất khẩn trương. Trên xe YA, đồng chí Lê Quang Thái, Trợ lý tham mưu của Trung đoàn xuống nắm tình hình chiến đấu của Tiểu đoàn cũng có mặt theo dõi trận đánh. Kiểm tra khí tài xong: 3 rãnh, 5 bệ, đạn tốt, trên bản tiêu đồ 5 X 5 đã có một tốp máy bay xuất hiện. Tôi lệnh cho đài 1 (đài rađa nhìn vòng m2) xác định tính chất mục tiêu. Đài trưởng báo cáo: xuất hiện tốp mục tiêu 4 chiếc, độ cao 4,5 km đang bay vào. Tôi lệnh cho sĩ quan điều khiển phát sóng sục sạo ở phương vị 280. Đài điều khiển bắt được mục tiêu ở cự ly 40 km, tôi đã lệnh hạ cao thế, làm công tác chuẩn bị phóng. Kíp trắc thủ đã qua chiến đấu, có kinh nghiệm: Đồng chí Nguyễn Đình Kiên là sĩ quan điều khiển có trình độ, thao tác tốt, nhanh nhạy; ba trắc thủ: trắc thủ góc tà Đỏ Van Khay, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài đều bám sát tốt. Các đồng chí đã đánh thắng một số trận nên rất bình tĩnh, tự tin trong thao tác chiến đấu. Theo dõi từ khoảng cách cự ly 40 km, rồi 80 km, sĩ quan điều khiển thường xuyên kiểm tra không thấy máy bay địch có thủ đoạn gì. Đến cự ly 24 km, tôi lệnh phát sóng, đài điểu khiển bắt được mục tiêu không nhiễu, các trắc thủ bám sát tự động cả ba man. Tôi lệnh phóng hai quả đạn tên lửa theo phương pháp điều khiển "vượt trước nửa góc" (phương pháp PC).


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:26:12 AM
         
        Khi hai quả đạn phóng lên, đạn có điều khiển tốt, bất ngờ cả tôi, sĩ quan điều khiển và kíp trắc thủ đều phát hiện có tín hiệu Shrike (tên lửa không đối đất của địch), đang theo cánh sóng của đài điều khiên bay thắng vào đài. Tôi động viên kíp chiến đấu bình tĩnh, kiên quyết điều khiển đạn tiêu diệt máy bay địch, sau đó gạt Shrike ra ngoài khu vực đài điều khiển. Phát hiện có lên lửa phóng lên, máy bay địch đã phóng Shrike đánh trả và cơ động bay ra. Khi quả đạn thứ nhất bay đến cự ly gặp mục tiêu, đạn nổ nhưng mục tiêu không bị tiêu diệt (vì khi bắn đón, mục tiêu cơ động bay ra thành bắn đuổi). Lúc này tôi lệnh nâng anten, hạ cao thế nhằm nâng đường bay thẳng của Shrike vào đài vượt qua đỉnh đài. Sĩ quan điều khiển đã thao tác xử lý chuẩn xác, trước sự theo dõi chứng kiến của đồng chí Lê Quang Thái, trợ lý tham mưu của Trung đoàn. Theo tính toán thì quả Shrike sẽ nổ cách trung tâm khoảng 50m đến 100m phía sau anten. Nhưng không may cho đơn vị, ngay trên thành công sự của xe điều khiển (YA) có hai cây phi lao cao trên 10m, quả Shrike của địch đã chạm vào ngọn cây và nổ, mảnh đạn chụp xuống trận địa làm hỏng khí tài, đơn vị không tiếp tục chiến đấu được. Hầu hết những người có mặt ở xe điều khiển đều bị thương: tôi, anh Ưởng - Chính trị viên Tiểu đoàn, Hoàng - Đại đội trưởng Đại đội 1, Lơm - Đại đội trưởng Đại đội 2, Mệnh - trắc thủ chuẩn bị đạn, Truyền - tiêu đồ 9x9, Hồng - tiêu đồ 5x5, Áp - trực ban tác chiến Tiểu đoàn, Khay - trắc thủ góc tà. Trong đó Khay và Hồng là bị thương nặng. Đồng chí Nhẫn được đơn vị đưa ra Bệnh viện Đông Anh cấp cứu, nhưng vết thương quá hiểm -  một mảnh Shrike nhỏ của kẻ thù đã xuyên thủng tim. Bác sĩ Bệnh viện Dông Anh sau khi kiểm tra vết thương đã buồn bã nói với chúng tôi và những người có mặt ở đó rằng: chúng ta phải vĩnh biệt đồng chí của mình, vết thương không thể cứu được. Sau này tôi nghe anh em trong đơn vị kể lại, sau khi tổ chức truy điệu và an táng Nhẫn ở Nghĩa trang liệt sĩ Đông Anh xong, vài ngày sau đơn vị lại phải xử lý một chuyện khó xử và cũng thật đau lòng. Vợ Nhẫn là cô Nhàn đang công tác ở Lạng Sơn trên đường về quê chuẩn bị sinh con, đã ghé qua trận địa Tó để thăm chồng trước khi về nhà. Anh em trong đơn vị không còn cách nào khác là phải nói dối rằng, Nhẫn đang đi công tác xa. Vì đều là người quen và có các đồng chí Sắn, Đài là đồng hương nên cô không nghi ngờ gì. Mọi người thương cho Nhẫn, cho Nhàn và đứa con sắp ra đời không biết mặt bố. Chiều hôm đó đơn vị đã bố trí đồng chí Đài - trắc thủ phương vị đưa vợ Nhẫn về quê và sau đó cô đã sinh một cháu gái, mẹ tròn con vuông.

        Tôi nhớ mãi hình ảnh đồng chí Trịnh Văn Lơm, Đại đội trưởng Đại đội bệ phóng - Đại đội 2 bị thương cụt ngón cái và ngón trỏ. Mặc cho máu chảy đầm đìa, đồng chí lấy tay kia bịt lại để chạy khắp trận địa gọi cán bộ, chiến sĩ đơn vị đi cứu đạn tên lửa. Hai quả đạn tên lửa nằm trên bệ phóng đang cháy, khói bốc nghi ngút, nếu như đạn nổ sẽ đe dọa đến tính mạng của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Nhưng nếu không xử lý tốt, cũng rất nguy hiếm vì khói bốc lên làm lộ trận địa, máy bay địch phát hiện đến oanh tạc ném bom, bắn phá. Nguy hiểm hơn nữa, chẳng may có một nguyên nhân nào đó làm mạch phóng cháy, quả đạn bay đi không có điều khiển mà rơi vào khu dân cư thì thiệt hại khó lường hết.

        Trận đánh không thắng lợi, khí tài hỏng, đồng đội hy sinh và thương vong tôi buồn lắm. Vừa dứt tiếng nổ, các đồng chí dân quân đã có mặt ở trận địa giúp đơn vị cứu thương và khắc phục hậu quả. Tôi bị thương vào chân, tay và mông máu chảy ra thấm ướt đẫm quần áo, đồng chí nữ dân quân Hoàng Thị Yên yêu cầu chúng tôi cho băng bó, nhưng thời gian lúc này quý lắm, chúng tôi tạm quên đi vết thương, bền bỉ chịu đựng đau đớn kiểm tra các xe, cứu chữa thương binh, đưa các đồng chí hy sinh về nơi quy định, thu dỡ khí tài kéo về vị trí an toàn. Công việc khắc phục hậu quả cơ bản ổn định, tôi và đồng chí Chính trị viên được sơ cứu xong thì phải đi bệnh viện điều trị. Mọi công việc tôi bàn giao cho đồng chí Tiểu đoàn phó Nguyễn Quang Hòe chỉ huy đơn vị. Tôi động viên anh em trong đơn vị bình tĩnh đưa khí tài về nơi quy định để sửa chữa khắc phục.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Một, 2020, 12:26:42 AM

        Sau thời gian nằm viện điều trị vết thương, tôi và Chính trị viên trở về đơn vị thì khí tài đã được khôi phục, sửa chữa xong. Cuối tháng 9 năm 1972 đơn vị được lệnh triển khai chiến đấu ở trận địa Kim Tiền (thường gọi là đồi Sậu), thuộc huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc, trận địa nằm phía tây sân bay Đa Phúc. Triển khai sẵn sàng chiến đấu được ít ngày, chưa đánh trận nào thì lại có lệnh cơ động về trận địa Đại Đồng thuộc xã Đại Mạch, nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội. Hôm đó đơn vị đang sửa máy thì tôi nhận được lệnh của cấp trên chuẩn bị thu hồi, hành quân. Sau khi triển khai nhiệm vụ cho các đại đội xong, 19 giờ chúng tôi bắt đầu thu hồi khí tài và rút khỏi trận địa vào khoảng 22 giờ. Đến 24 giờ đêm chúng tôi về tới trận địa Đại Đồng. Xe điều khiển hành quân đến trận địa sớm, nhưng vẫn chưa thể triển khai được. Do thiếu xe nên không thể kéo hết khí tài cùng một chuyến, phải chờ mấy tiếng đồng hồ sau mới kéo đủ khí tài về trận địa để triển khai chiến đấu. Đến ngày 28 tháng 9 năm 1972, chúng tôi triển khai xong khí tài ở trận địa Đại Đồng nhưng vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu vì còn thiếu một số linh kiện thay thế ở các xe khác mà cấp trên chưa cấp đủ.

        Trận địa Đại Đồng cũng thuộc huyện Đông Anh, cách trận địa Tó khoảng hơn 10 km theo đường chim bay. Đây là một trận địa cơ bản có công sự đắp bằng đất được xây dựng từ đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Trận địa cách làng Đại Đồng khoảng hơn l km và nằm cạnh đường tỉnh lộ nối bến phà Chèm với thị xã Phúc Yên nên rất thuận lợi cho việc cơ động, phòng tránh khi cần thiết. Các công sự trong trận địa đều trồng một ít cây phi lao, bạch đàn để ngụy trang. Trận địa bố trí được 6 bệ phóng, đường đi lại trong trận địa thuận lợi. Tiểu đoàn 57 lần đầu tiên về đây triển khai chiến đấu. Qua mấy ngày, không có máy bay vào khu vực hỏa lực của Tiểu đoàn, kíp chiến đấu tăng cường tập luyện.

        Sau đúng một tháng mất sức chiến đấu, suốt ngày lăn lê bò càng để sửa chữa khí tài, đến trưa ngày 4 tháng 10 năm 1972 khí tài của Tiểu đoàn đã có 2 rãnh, bệ sẵn sàng chiến đấu. Tôi nghĩ rằng, tuy không thực biện được đúng thời gian quy định của cấp trên, song anh em cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn đã cố gắng hết sức mình để sửa chữa, khôi phục khí tài. Phải nhìn nhận thực tế khách quan và chủ quan để đánh giá vấn đề thì mới đúng mức. Còn chỉ nhìn vào việc không đảm bảo thời gian quy định thì sẽ không thấy hết được những cố gắng to lớn của chúng tôi trong thời gian đó. Một tháng qua tuy vất vả thật, nhưng dù sao thời gian đầu anh em trong đơn vị cũng được nghỉ ngơi chút xíu đã lại sức. Bây giờ bước vào giai đoạn chiến đấu mới tôi quyết tâm sẽ cùng kíp chiến đấu ra quân chiến đấu và lập những chiến công mới. Tôi biết rằng, cuộc chiến đấu tới sẽ còn gian khổ, ác liệt hơn trước vì đây là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở giai đoạn chủ yếu của cuộc chiến tranh. Trách nhiệm của người đảng viên sẽ giúp tôi phải vươn lên đế hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ. Đó là những điều mà bản thân tôi lúc nào cũng đặt ra và quyết tâm phấn đấu để hoàn thành cho kỳ được dù hoàn cảnh khó khăn, ác liệt thế nào đi chăng nữa.

        Một tháng qua im tiếng còi báo động, im tiếng súng nổ, giờ đây trở lại với những âm thanh quen thuộc, tôi thấy rộn ràng, phấn chấn như khi ta đi giữa quãng đường vắng vẻ bỗng nghe một tiếng người, một tiếng chim kêu quen thuộc vậy. Đành rằng bước vào cuộc chiến đấu mới thì bản thân tôi sẽ phải vất vả gấp bội, song đó là sự vất vả để góp vào chiến công chung của đơn vị và của cả nước. Vậy thì dù có vất vả bao nhiêu tôi cũng sẵn sàng đón nhận và kiên quyết vượt qua. Những ngày chiến đấu ác liệt mới đang chờ đón chúng tôi. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để đón nhận những thử thách mới và chúng tôi kiên quyết sẽ vượt qua để giành lấy phần thắng về mình.

        Vài ngày sau được trên cung cấp đủ vật tư, khí tài, chúng tôi đã sửa xong các hỏng hóc của đài điều khiển và bệ phóng. Đến ngày 6 tháng 10 năm 1972 thì Tiểu đoàn 57 sẵn sàng chiến đấu với 3 rãnh, 6 bệ. Đó là khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất của Tiếu đoàn tên lửa phòng không SAM-2.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:42:33 AM

        Ngày 6 tháng 10 năm 1972, chúng tôi đánh 2 trận, máy bay địch vào tập kích khá đông. Chúng đánh phá khu vực sân bay Nội Bài. Khí tài của Tiểu đoàn bảo đảm tốt. Điều kiện chiến đấu lúc đó có những điều phức lạp mới. Đây là đường bay lần đầu chúng tôi đánh. Do việc nắm và phán đoán đường bay của địch chưa chắc nên việc chọn thời cơ phóng chưa phù hợp. Chúng tôi đã phóng đạn quá gần. Mặt khác trắc thủ góc tà là Ngô Ngọc Lịch vừa từ kíp 2 lên thay Đỗ Văn Khay bị thương ngày 4 tháng 9 vừa qua. Thời gian qua khí tài bị hỏng, viộc bám sát, hiệp đồng còn quá ít, do đó trình độ cả kíp chiến đấu phần nào còn hạn chế. Mặt khác thủ đoạn cua không quân địch cũng có những thay đổi. Chúng thường hoạt động vào những ngày thời tiết xấu, tầm nhìn quang học hạn chế, trắc thủ quang học không phát huy được vai trò chỉ chuẩn, do vậy Tiểu đoàn đánh 2 trận nhưng không diệt được mục tiêu.

        Quyết tâm ra quân đánh thắng của chúng tôi thế là không thực hiện được. Trong sở chỉ huy hôm nay cũng khá căng thẳng, cấp trên cứ giục và liên tục hỏi tại sao không đánh. Tôi nghĩ có khí tài trong tay ai mà không muốn đánh. Nhưng đánh vào lúc nào cho có hiệu quả, dó là trách nhiệm của những người thực hiện xạ kích. Tuy nhiên, nhiều lúc chúng tôi lại cứ phải bị động chờ lệnh cấp trên nên ngay cả tôi là Tiểu đoàn trưởng cũng phái đánh trong những điều kiện không thoải mái. Tất nhiên lấy bảo vệ yếu địa để hạ quyết tâm, nhưng nó cũng còn có cơ sở cụ thể về xạ kích nữa chứ!

        Qua trận đánh ngày hôm đó cùng với việc đưa Tiểu đoàn 57 ra triển khai chiến đấu khi khí tài chưa sửa chữa hoàn chỉnh, làm cho tôi nghĩ tới một điều là phần nào đó cấp trên cho rằng sau lần bị đánh vào trận địa ngày 4 tháng 9 vừa qua, tình hình tư tưởng bộ đội chắc có vấn đề nên triển khai sửa chữa khí tài chậm để trì hoãn việc ra quân và bây giờ ra quân rồi lại chần chừ không dám đánh... Nếu quả như vậy thì thật oan uổng cho chúng tôi. Đành rằng anh em trong đơn vị cũng có người thế này, người thế khác. Lúc thường ngày cũng có đồng chí chưa yên tâm phục vụ quân đội, chấp hành kỷ luật đi lại chưa tốt, đi phép, tranh thủ có lúc còn lên chậm so với thời gian quy định của cấp trên. Nhưng khi bước vào chiến đấu mọi người đều rất trách nhiệm. Điều đó thể hiện ở chỗ họ thức khuya, dậy sớm để định kỳ sửa chữa khí tài đảm bảo sức chiến đấu của Tiểu đoàn. Cả năm nay, đơn vị chưa một lần lỡ thời cơ do cán bộ, chiến sĩ thiếu tinh thần trách nhiệm. Trong chiến đấu chúng tôi chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên, dù cho bom rơi, đạn nổ vào chính trận địa, khí tài hỏng, đồng đội người thì hy sinh, người thì bị thương nhưng không một ai bỏ vị trí chiến đấu, bình tĩnh cứu chữa khí tài, cứu chữa thương binh, làm tốt công tác liệt sĩ, không một lời kêu ca, phàn nàn.

        Khoảng 13 giờ ngày 6 tháng 10, Tiểu đoàn có lệnh báo động vào cấp 1, kiểm tra các tham số khí tài tốt. Đúng 13 giờ 10 phút, đài điều khiển phát sóng bắt được tốp mục tiêu từ hướng 32 bay vào, Tiểu đoàn phóng 2 quả đạn, được trên công nhận diệt một máy bay F-4. Như vậy trong hơn 3 tháng, tính từ ngày 27 tháng 6 năm 1972 đến ngày 6 tháng 10 năm 1972, Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi 6 máy bay của đê quốc Mỹ, có 3 chiếc rơi tại chỗ. Đây là một thành tích chiến đấu rất đáng khen ngợi.

        Sau các đợt hoạt động đánh phá đầu tháng 10 của không quân chiến thuật, Mỹ sử dụng máy bay F-111 bay thấp, đánh đêm vào các mục tiêu ở nội và ngoại thành Hà Nội nhằm gây tâm lý căng thẳng cho nhân dân Thủ đô. Máy bay F-111 được Mỹ sản xuất từ những nam cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX và lần đầu tiên chúng sử dụng tại chiến trường Việt Nam. Đây là loại máy bay cường kích bom, chủ yếu hoạt động ban đêm và hay ở độ cao rất thấp và có thể mang tới 14 tấn bom.

        Tiểu đoàn tôi lúc đó đang triển khai ở Đại Đồng là một trận địa có công sự. Bờ công sự xe thu phát được đắp cao ngang mép dưới anten góc tà do vậy càng hạn chế việc phát hiện máy bay bay thấp và cực thấp. Máy bay F-111 được trang bị thiết bị rađa phát hiện chướng ngại vật nên thường bay rất thấp (dưới 300m) do vậy việc phát hiện của hệ thống rađa của ta rất khó khăn. Chúng tôi đã báo cáo cấp trên và đề xuất nâng cao nền anten để phát hiện F-111, nhưng chưa kịp thực hiện thì Mỹ đã tuyên bố ngừng ném bom.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:44:56 AM

        Trong thời gian giữa tháng 10 năm 1972 các lực lượng phòng không Hà Nội nói chung, Bộ đội Tên lửa nói riêng rất vất vả với máy bay F-111. Có ngày đêm Tiếu đoàn tôi phải báo động tới 32 lần. Nhiều lần báo động lên xe mấy phút thì về cấp 2, chưa bước chân ra khỏi vị trí chiến đấu thì lại có lệnh báo động cấp 1. Báo động liên tục nhưng không đánh được trận nào chúng tôi lại càng ức chế. Cũng may lưới lửa súng máy phòng không tầm thấp của dân quân tự vệ ta ngày đó đã phát huy hiệu quả và nổ súng kịp thời để đưa những tên giặc nhà trời xảo quyệt này vào nằm chung số phận với lũ F-105, F-4, A-6... trong bãi tha ma xác máy bay Mỹ bị quân dân miền Bắc bắn rơi.

        Trong nửa cuối tháng 10 và tháng 11 năm 1972, tình hình trong nước và thế giới có những diễn biến phức tạp. Trên chiến trường miền Nam, sau những chiến dịch lớn ở Quảng Trị, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ ta giành được những thắng lợi lớn nhưng vẫn chưa đủ sức để buộc Mỹ - ngụy ký Hiệp định Pari lập lại hoà bình ở Việt Nam. Mỹ rêu rao tuyên truyền "hoà bình ở Việt Nam đã nằm trong tầm tay". Ta chủ động tiến công địch trên mặt trận ngoại giao bằng việc đưa ra bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam". Đây là một sáng kiến quan trọng của ta và buộc Mỹ phải lúng túng đối phó. Ngày 22 tháng 10 năm 1972, Tổng thống Níchxơn tuyên bố ngừng ném bom và bắn phá miền Bắc từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra, đưa các tàu sân bay của Mỹ ra xa vùng biển Việt Nam.

        Sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 3 tháng 11 năm 1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu "Cách đánh B-52" do cơ quan khoa học quân sự Quân chủng biên soạn. Hội nghị được tổ chức tại hội trường Sư đoàn phòng không 361 ở Hòa Mục, thời gian 1 ngày. Các cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn trưởng và trắc thủ kíp 1 của các tiểu đoàn tên lửa thuộc Trung đoàn 261 cũng được dự. Trong đó, các tiểu đoàn trưởng có tôi, anh Nguyễn Thăng, anh Trần Minh Thắng và anh Nguyễn Mạnh Hùng; các sĩ quan điều khiển có: Nguyễn Đình Kiên, Dương Văn Thuận, Lại Văn Thân, Nguyễn Đình Cương...

        Tài liệu "Cách đánh B-52” là kết tinh trí tuệ, mồ hôi và cả xương máu của bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội tên lửa đã lăn lộn trên chiến trường Khu 4 để tìm cách đánh B-52 và đúc rút thành những kinh nghiệm quý báu truyền đạt lại cho chúng tôi.

        Tại hội nghị, những kinh nghiệm đánh B-52 rút ra từ thực tiễn chiến đấu của Bộ đội Tên lửa trong chiến dịch Trị - Thiên, trên tuyến vận tải chiến lược ở Quân khu 4 và Hải Phòng được đưa ra thảo luận và trao đổi kỹ. Theo sự chỉ đạo của Quân chủng, đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 93 đã báo cáo một trận đánh máy bay cường kích không thành công của Tiểu đoàn mình khi gặp trường hợp địch gây nhiễu mạnh để hội nghị rút kinh nghiệm.

        Những vấn đề cụ thể về cách đánh của tiểu đoàn tên lửa như chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, chọn cự ly phóng, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu, cách chống tên lửa Shrike của địch một lần nữa được thống nhất.

        Trong kết luận tập huấn chúng tôi nhớ mãi lời đồng chí Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Try nhắc nhở. Trước tiên Tư lệnh nhắc lại lời của Bác Hồ nói với đồng chí Phùng Thế Tài và đồng chí Đặng Tính ngày 29 tháng 12 năm 1967: Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, rồi nó có thua mới chịu thua. Phải dự kiến tình huống này để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị... Chú nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã huỷ diệt Bình Nhưỡng, ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội...

        Tiếp đó đồng chí Tư lệnh nhắc nhở các đơn vị, nhất là Bộ đội Tên lửa Hà Nội phải chuẩn bị nhiều phương án cụ thể, tỉ mỉ và phải tổ chức luyện tập xử lý thành thạo các tình huống dự kiến để khi địch đưa B-52 vào đánh Hà Nội, Bộ đội Tên lửa phải bắn rơi tại chỗ ít nhất là một chiếc để lấy "đuôi" của nó bổ sung vào bộ sưu tập xác máy bay Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi trên miền Bắc.

        Sau khi dự hội nghị trở về, chúng tôi tập trung huấn luyện kíp chiến đấu. Các kíp chiến đấu được ưu tiên luyện tập mỗi ngày 2 giờ để xử trí chỉ huy và thao tác đánh B-52 với quyết tâm kíp 1 đánh giỏi trong mọi tình huống; kíp 2 đánh được gần như kíp 1; kíp 3 đánh được tình huống ít phức tạp.

        Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, Tiểu đoàn 57 đã về lập kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội. Kế hoạch được thông qua Đảng ủy Tiểu đoàn và Trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo ký phê chuẩn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:45:31 AM

        Sau khi có kế hoạch chiến đấu đánh B-52, cũng như những lần trước tôi chỉ đạo sĩ quan điều khiển "bóc" các đường bay làm các tình huống cụ thể để đưa vào tủ giả và hàng ngày tổ chức luyện tập cho kíp chiến đấu. Trong quá trình huấn luyện, thông thường kíp 1 tập thì kíp 2 đứng sau theo dõi để bình tập và ngược lại. Sau mỗi lần luyện tập chúng tôi đều tổ chức rút kinh nghiệm và bình tập. Từng trắc thủ nhận xét lẫn nhau cả ưu điểm cũng như thiếu sót. Sĩ quan điều khiển tổng hợp, nhận xét đánh giá ưu điểm, khuyết điểm từng người trong kíp và chỉ ra hướng sửa chữa khắc phục trong những lần tập sau. Mỗi lần rút kinh nghiệm luyện tập hiệp đồng hay bám sát ghi sai số, chúng tôi đều ghi chép vào sổ để có cơ sở đánh giá sự tiến bộ của từng người và có biện pháp giúp đỡ cụ thể. Bằng cách đó chúng tôi đã rèn cho các kíp trắc thủ bám sát giỏi và thành thục phương án xử trí tình huống đánh B-52 theo kế hoạch tác chiến Tiểu đoàn đã xây dựng. Mặt khác đó cũng là cách để nâng cao trình độ cả hai kíp sẵn sàng thay thế nhau khi cần thiết. Những ngày không quân Mỹ ngừng bắn tạm thời chính là cơ hội để chúng tôi tổ chức huấn luyện bổ sung những nội dung còn yếu, thiếu mà thực tế chiến đấu đã đặt ra.

        Đầu tháng 11 năm 1972, được lệnh của trên, Tiểu đoàn nhận bộ khí tài mới đưa về triển khai, bảo quản, làm tham số tại trận địa Mai Hiên, thuộc xã Mai Lâm. Chắc cấp trên biết chúng tôi đang sử dụng bộ khí tài quá cũ nên cho thay, nhưng tôi đã đề nghị với Trung đoàn bộ khí tài Tiểu đoàn mới nhận để đồng chí Tiêu đoàn phó Nguyễn Quang Hòe và kíp chiến đấu 3 làm công tác mở niêm cất, triển khai khí tài sẵn sàng chiến đấu. Còn kíp chiến đấu vẫn tiếp tục chiến đấu với bộ khí tài cũ. Bộ khí tài cũ nhưng chúng tôi đã nắm được nó, mà nó đã cùng chúng tôi đánh thắng nhiều trận. Bộ khí tài mới tốt thật đấy nhưng chúng tôi chưa bắn lần nào, chưa bắn rơi máy bay. Mặt khác, tôi nghĩ nên tận dụng hết bộ khí tài cũ vì còn rất tốt, nó gắn bó với tôi từ khi học chuyến loại ở Liên Xô năm 1966.

        Cũng trong thời gian này đơn vị đã có lệnh chuẩn bị mọi mặt để toàn bộ Trung đoàn tên lửa 261 lên đường vào chiến trường Quảng Đà làm nhiệm vụ. Bộ đội được làm công tác tư tưởng và những anh em ở Bắc Bộ đã được đi tranh thủ về thăm gia đình từ 5 đến 7 ngày. Số anh em quê ở Khu 4 thì sẽ đi tranh thủ sau.

        Ngoài chương trình huấn luyện chuyên ngành, chúng tôi đã tổ chức huấn luyện các nội dung binh chủng hợp thành như sử dụng súng bộ binh, động tác cá nhân, tiểu đội, trung đội bộ binh chiến đâu phòng ngự, phản công bảo vệ trận địa... Tất cả chúng tôi ngày đó luôn tâm niệm "là người chiên sĩ có lệnh là đi, có giặc là đánh và đã đánh là phải thắng". Cả nước lúc đó đều hướng về giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nên việc chuẩn bị đi "B dài" của chúng tôi như một lẽ thường tình.

        Ngày 9 tháng 12 năm 1972, đơn vị chính thức nhận nhiệm vụ đi chiến trường B. Lúc này tôi mới hiểu, bộ khí tài mới trên giao cho Tiểu đoàn là để đưa vào chiến trường B chiến đấu. Chúng tôi rất phấn khởi và phân công nhau làm công tác chuẩn bị nhưng vẫn phải sẵn sàng chiến đấu cao với bộ khí tài trên 13.000 giờ.

        Chiều ngày 15 tháng 12 năm 1972, đơn vị nhận được điện của Trung đoàn không đi chiến trường B nữa, ở lại sẵn sàng chiến đấu đánh B-52 bảo vệ Hà Nội. Cấp trên nhận định, tới đây địch sẽ đánh phá Hà Nội ác liệt hơn, có cả máy bay B-52 nên cần phải chuẩn bị thật chu đáo, địch vào phải chiến đấu tốt, đánh thắng ngay từ trận đầu. Đơn vị đang có một số đồng chí cán bộ, chiến sĩ đi phép. Còn tôi với đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn và kíp chiến đấu (kíp 1) chưa đi phép nên cũng thuận lợi cho việc thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Trung đoàn.

        Sáng ngày 16 tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn tập trung mở Hội nghị quân sự bàn cách đánh, đi sâu cách đánh máy bay B-52. Sau hội nghị, toàn đơn vị ra sức luyện tập theo phương án đã bàn. Chúng tôi tìm hiểu, học tập và đã hiểu được khá rõ về máy bay B-52. Đây là một trong những loại vũ khí chiến lược của Mỹ có sức mạnh ghê gớm, nhưng nó cũng có cái yếu chí mạng. Máy bay B-52 ra đời được quảng cáo "Siêu pháo đài bay", "Pháo đài bay thượng đẳng", là thần tượng của không lực Hoa Kỳ; là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ điệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới, là thứ vũ khí linh hoạt nhát trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (tàu ngầm hạt nhân, tên lửa tầm xa mang đầu đạn hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược B-52).


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:45:48 AM
   
        Khi B-52 tiến công đánh phá, nó trút bom như mưa, tiếng bom rơi xé không khí gầm rú ghê rợn như giông bão. Một phi vụ B-52 có thể hủy diệt cả một vùng rộng lớn (1 tốp B-52 có 3 chiếc) biến một vùng rộng có diện tích khoảng 2km thành bình địa... Không một sinh vật nào tồn tại, đối phương bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần vì họ bất lực trước sức mạnh của B-52. Máy bay B-52 bay trong đội hình đầy nhiễu: nhiễu tiêu cực, nhiễu tích cực trong đội hình do các loại máy bay chiến thuật (F) đi bảo vệ mang nhiễu; nhiễu do bản thân máy bay B-52 mang (một B-52 có 15 máy gây nhiễu) và nhiễu tích cực ngoài đội hình do các máy bay vòng ngoài phát ra, gây khó khăn cho tên lửa phòng không rất lớn. Một tốp B-52 đi ném bom, có hàng chục máy bay chiến thuật đi để bảo vệ, đánh trực tiếp các trận địa tên lửa, đánh không chiến với không quân của ta. Chúng tập kích đánh thẳng vào trận địa tên lửa, phá hủy khí tài làm mất sức chiến đấu và đánh phủ đầu các sân bay, không cho máy bay của ta xuất kích chiến đấu. Đây là một thủ đoạn tác chiến cực kỳ nguy hiểm, đối phương sử dụng sức mạnh quân sự đánh phủ đầu, đánh chế áp hệ thống hỏa lực và các lực lượng đánh trả của ta rất quyết liệt.

        Chiều ngày 17 tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn lại được lệnh chuyến lên sẵn sàng chiến đấu cao. Trong năm qua chúng tôi đã quen với những đợt chuyển cấp thế này rồi, nên mọi công việc chuẩn bị chỉ một loáng sau đã đâu vào đấy. Vũ khí, khí tài, đạn bệ tốt, quân số kíp 1 đầy đủ, ngụy trang công sự được bổ sung. Mọi người đã trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Ngay từ sáng hôm đó tôi đã cho cán bộ đi gọi những đồng chí đi phép tranh thủ trở về đơn vị chiến đấu. Chiều tối thì Sắn - sĩ quan điều khiển đã có mặt tại trận địa, nhưng tôi vẫn quyết định vẫn để Kiên làm sĩ quan điều khiển cho hết chiến dịch. Với chúng tôi khi đó cũng chẳng biết chiến dịch sẽ kéo dài bao lâu, chỉ biết rằng nếu địch còn đánh phá Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung là chúng tôi tiếp tục chiến đấu. Các đồng chí ở xa, đành phải để theo như phương án như trước khi đi phép là: "Khi có tiếng súng phải trở lại đơn vị ngay".

        Như vậy sự tráo trở, lật lọng của chính quyền Níchxơn đã lộ rõ bộ mặt nham hiểm, vậy chúng sẽ làm gì với Thủ đô Hà Nội - trái tim thân yêu của cả nước? Sự căm thù bè lũ cướp nước lại trào lên, rõ ràng trước đây cũng như bây giờ chúng ta không thể tin đê quốc Mỹ được, phải luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng giáng trả kẻ thù những đòn đích đáng khi chúng liều lĩnh đánh phá trở lại Hà Nội.

        5 giờ 30 phút sáng 18 tháng 12 năm 1972, đơn vị làm công tác chuẩn bị chiến đấu theo quy định thì nhận được lệnh của Trung đoàn vào cấp 1, trên máy điện thoại, đồng chí Võ Công Lạng, Trung đoàn phó truyền dạt nhắc nhở đơn vị chuẩn bị tham số khí tài cho thật tốt, kíp chiến đấu (kíp 1) sẵn sàng để đánh B-52 bảo vệ Hà Nội. Tiếng của ông nhỏ nhẹ, đằm thắm làm cho mọi người nghe rất chú ý. Khi kết thúc, tất cả chúng tôi đều in đậm những mệnh lệnh hành động trong chiến đấu. Ngay sau đó, đồng chí Dương Đình Thảo, Chính ủy Trung đoàn động viên cán bộ, chiến sĩ: Nếu B-52 vào Hà Nội chúng ta phải bắn rơi tại chỗ, bắt giặc lái để chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1972) tròn 28 tuổi. Chúng tôi đã nhận được mệnh lệnh và những lời động viên của lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn trước trận đánh với ý chí quyết tâm rất cao. Ngày 18 tháng 12, kíp chiến đấu hết bàn bạc cách đánh, lại mở máy luyện tập, đây là thời cơ quyết tâm để thực hiện lời hứa của cán bộ, chiến sĩ toàn Tiểu đoàn với cấp trên.

        Quá trình bàn bạc, thảo luận cách đánh, kíp chiến đấu chúng tôi đều thống nhất nhận định: B-52 tuy mạnh đấy, nhưng nó cũng có cái yếu mà Bộ đội Tên lửa chúng tôi đã tìm ra. Một là, B-52 bay vào đánh phá Hà Nội phái bay theo đường bay nhất định, phải có điểm kiểm tra trước khi cắt bom, căn cứ vào đó Bộ đội Tên lửa bố trí trận địa có lợi nhất để tiêu diệt máy bay địch. Hai là, khi bay ném bom, B-52 phải bay bằng và không cơ động, dải nhiễu của chúng sẽ rất ổn định, còn nhiễu của các loại máy bay chiến thuật (F) thường cơ động, nhất là khi chúng tôi phân biệt đâu là F chỉ cần bật công tắc phóng giả, các loại (F) thấy sóng điều khiển tên lửa là cơ động tránh, thế là phân biệt được nhiễu B-52 với nhiễu của (F). Ba là, máy bay B-52 bay ban đầu còn một số đèn sáng trên lưng, trắc thủ PA-00 sử dụng kính TZK dễ dàng phát hiện. Theo kinh nghiệm của những đơn vị đi trước, đã từng vào chiến trường Khu 4 nghiên cứu đánh B-52 thảo luận trong các hội nghị bàn về cách đánh B-52 tại Sư đoàn 361, chúng tôi lập thành các phương án cụ thể, đưa vào tủ tạo mục tiêu giả trên xe điều khiển YA để luyện tập. Vì đơn vị chúng tôi chưa được vào chiến trường Khu 4 nghiên cứu cách đánh B-52. Đây là ý chí quyết tâm của toàn đơn vị, quyết đánh, biết đánh, quyết thắng B-52.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:46:37 AM

        Cả ngày 18 tháng 12 năm 1972 đơn vị chúng tôi vẫn hoạt động công tác bình thường. Gần trưa có báo động chuyển cấp vì có một chiếc máy bay không người lái bay vào trinh sát Hà Nội, Hải Phòng. Đây là một hoạt động thường tình nhưng cũng là dấu hiệu của một đợt đánh lớn của không quân Mỹ.

        Chiều 18 tháng 12 năm 1972, đơn vị được lệnh cho bộ đội ăn cơm sớm để chuẩn bị chiến đấu với không quân chiến lược của đê quốc Mỹ trong đêm nay. Công tác chuẩn bị và chờ đợi bước vào trận đánh tác động rất lớn đến tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị. Yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ phải bình tĩnh, học thế nào đánh thế, chớp thời cơ thuận lợi để tiêu diệt địch.

        Mùa đông năm đó rất lạnh và buổi tối thường đến nhanh hơn. Sau khi ăn cơm chiều xong, tôi ghé qua nhà Ban chỉ huy Đại đội 1, Hoàng - Đại đội trưởng, Hợp -  Chính trị viên Đại đội 1 và sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên ngồi tán gẫu, uống chén trà Hồng đào của Hoàng mang từ nhà lên bên ngọn đèn dầu madút vàng khè. Thời đó gia đình nhà Hoàng có phiếu B, tiêu chuẩn của bố Hoàng. Thỉnh thoảng về tranh thủ Hoàng lại mang trà Hồng đào, thuốc lá Điện Biên lên cho mấy anh em cùng hưởng "xái". Bên chén trà nghe Hoàng kể chuyện trên trời, dưới biển có lúc gần cả đêm. Cuộc sống chiến đấu ngày đó thật vất vả, nhưng con người sống với nhau lại tình cảm, gắn bó và thật sự thương yêu nhau như anh em trong nhà.

        Đến 18 giờ 30 phút, tôi lại cho mở máy kiểm tra lần cuối các tham số kỹ thuật của khí tài, mong sao các tham số chuẩn nhất (thường gọi là tham số danh định) nhỏ nhất trong giới hạn cho phép. Làm các tham số xong, chúng tôi lại tranh thủ tập luyện thì có lệnh từ sở chỉ huy Trung đoàn cho vào cấp 1. Chỉ sau 3 phút, chúng tôi đã báo cáo lên Trung đoàn: Kl (đây là ký hiệu của Tiểu đoàn 57) khí tài 3 rãnh, 6 bệ, 6 đạn tốt, sẵn sàng chiến đấu. Do khí tài đang mở học tập nên công tác kiểm tra chức năng, đánh giá khí tài được rút gọn.

        Tôi nhớ, chuẩn bị cho chiến dịch này, đơn vị đã tổ chức hội nghị bàn rất kỹ về chuẩn bị vũ khí, khí tài, cơ sở vật chất cho chiến đấu dài ngày như thế nào? Bồi dưỡng sức khỏe bộ đội ra sao? Các phương án đều đã được tính toán, bàn kỹ rồi, việc của ai người ấy cứ thế mà thực hiện. Bộ phận nuôi quân cách trận địa khoảng 2 km, nhưng với tinh thần tích cực, các đồng chí xác định trách nhiệm đảm bảo ăn uống cho bộ đội chu đáo; không quản nắng mưa, rét buốt, đêm tối, khi trận địa yêu cầu là các đồng chí có mặt. Bộ phận nuôi quân của Tiểu đoàn chúng tôi cũng được xác định là một trong những lực lượng quan trọng, góp phần để đưa quả đạn tới tiêu diệt mục tiêu.

        Đến 19 giờ 15 phút, trên tiêu đồ tình báo quốc gia 9x9 đã xuất hiện nhiều tốp máy bay địch bay men theo biên giới Việt - Lào lên khu vực Sơn La, rẽ sang hướng đông ngã ba Việt Trì, ven Tam Đảo vào đánh phá mục tiêu Hà Nội. Khi B-52 vào thì nhiễu tiêu cực, nhiễu trong và ngoài đội hình, nhất là các loại máy bay chiến thuật (F) quần lộn oanh tạc, đánh phá các trận địa tên lửa và sân bay gây khó khăn cho việc bắt, bám sát mục tiêu máy bay địch để tiêu diệt. Khi B-52 bay vào càng gần khu vực hỏa lực của Tiểu đoàn thì nhiễu càng nặng thêm, việc phân biệt đâu là nhiễu B-52, đâu là nhiễu của các loại máy bay chiến thuật (F) là điều hết sức khó khăn, vì đơn vị chúng tôi chưa đánh B-52 bao giờ. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp chúng, chủ yếu chỉ nghe, học tập những kinh nghiệm mà các đơn vị bạn đã chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4, nó là thách thức rất lớn đối với chúng tôi. Việc thông tin liên lạc trong nội bộ đã khó, còn việc nhận lệnh và háo cáo Trung đoàn lại càng khó hơn vì nhiễu vô tuyến điện của địch đã chế áp, chặn các kênh liên lạc của ta. Để bảo đảm thông tin chỉ huy, Sư đoàn đã có sáng kiến dùng máy phát trực tiếp xuống các tiểu đoàn tên lửa, chỉ có nghe và nhận lệnh, như thế cũng rất thuận lợi trong chiến đấu rồi.

        Khoảng gần 19 giò 30 phút, sau khi kiểm tra chức năng đánh giá khí tài, đạn bệ tốt, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên mở máy thu quay một vòng kiểm tra linh hình nhiễu tạp trong và ngoài đội hình. Khi quay đèn hướng tây nam phát hiện có nhiều dải nhiễu xuất hiện. Linh tính và kinh nghiệm mách bảo chúng tôi là có khả năng địch sẽ tổ chức đánh lớn Hà Nội. Lúc này chúng tôi cũng chưa nghĩ tới khả năng B-52 đánh Hà Nội. Tôi thông báo sơ bộ tình hình địch cho toàn Tiểu đoàn. Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Ưởng nhắc nhở, động viên bộ đội bình tĩnh, thao tác chính xác, quyết tâm đánh thắng. Tiêu đồ 9x9 bắt đầu thông báo ở hướng tây nam có nhiều tốp máy bay địch đang bay lên hướng bắc. Theo lệnh của tôi, sĩ quan điều khiển quay an ten về tây nam và tiến hành chọn dải nhiễu. Cả một góc rộng gần 90 độ là nhiễu tạp dày đặc. Bên màn góc tà chí có hai dải còn trên màn phương vị thì kín màn là nhiễu.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:46:59 AM
   
        Căn cứ quy luật đường bay, độ sáng, vận tốc góc sĩ quan điều khiển cùng ba trắc thủ tiến hành chọn và thống nhất dải nhiễu. Theo lệnh tôi, sĩ quan điều khiển và kíp trắc thủ bám sát đánh tốp đi đầu. Đài 1 và đài K.X-60 cũng đã phát hiện được mục tiêu. Sĩ quan điều khiển đối chiếu các phần tử giữa đài điều khiển với các đài K8-60 và đài 1 đều thống nhất. Mọi công tác chuẩn bị bắn đã hoàn thành. Tôi hạ lệnh phóng hai đạn. Hai tiếng nổ vang lên, cabin xe điều khiến rung nhẹ. Đó là lúc 19 giờ 54 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972. Đây cũng là giờ phút mở đầu trận đánh của Tiểu đoàn 57 tham gia chiến dịch 12 ngày đêm "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", cả hai quả đạn đểu điều khiển tốt và nổ ở cự ly 22km. Nhưng thật đáng tiếc trận này chúng tôi đánh tốp đi đầu là tốp máy bay F-4 gây nhiễu tiêu cực, do vậy đạn nổ nhưng không diệt được mục tiêu.

        Tám phút sau, khoảng 20 giờ 2 phút chúng tôi đánh trận thứ 2 vào một tốp cùng từ hướng tây bắc xuống ném bom sân bay Nội Bài, khu vực Đông Anh. Trận này chúng tôi chỉ bắn được một quả đạn vì một quả vào vùng cấm, một quả phóng đạn không đi. Đạn điều khiên tốt và nổ ở cự ly 24km, nhưng cũng không diệt được mục tiêu. Đang theo dõi kết quả bắn, bỗng nhiên chúng tôi nghe hàng loạt tiếng nổ kéo dài phía xa. Loạt tiếng nổ đó kéo dài hàng phút đồng hồ. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy những âm thanh giết người hàng loạt gần như vậy.

        Đợt đánh phá của địch kéo dài khoảng một giờ đồng hồ. Sau khi về cấp 2, chúng tôi tổ chức hội ý rút kinh nghiệm. Các đồng chí kíp 2 từ trong xóm đi ra trận địa để hỏi thăm tình hình, vì họ đang sốt ruột chưa biết chuyện gì xảy ra. Như một làn sóng lan toả nhanh trong đơn vị: B-52 đã đánh Hà Nội. Mọi người tiếp nhận tin này một cách im lặng và đầy suy tư. Ai cũng đã được quán triệt là Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội. Nhưng hôm nay chuyện xảy ra sau lúc Mỹ rêu rao "hoà bình ở Việt Nam trong tầm tay" thì mọi người đều thấy đau lòng và căm thù tột bậc. Hơn lúc nào hết bộ mặt lật lọng, thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù càng được phơi bày rõ ràng. Kíp chiến đấu sơ bộ rút kinh nghiệm hai trận đánh vừa qua và bàn cách đối phó có hiệu quả với B-52. Trơi rét nhưng ai cũng bứt rứt trong người vì không hài lòng với chính mình trong hai trận đánh, nhất là trận đanh sau, vì bệ đạn hỏng nên chỉ đánh được có một quả. Riêng sĩ quan điểu khiển và kíp trắc thủ thì việc phát hiện mục tiêu trong nhiễu chưa tốt, bám sát dải nhiễu trong điều kiện ban đêm không có quang học chỉ chuẩn còn hạn chế, chọn thời cơ mở ngòi nổ 11 giây chưa phù hợp. Hơn 22 giờ chúng tôi đi nằm. Chăn màn để trong nhà bạt từ chiều đến giờ bị hấp thụ cái lạnh giữa mùa đông quấn vào người lạnh như quấn chăn ướt. Cái lạnh thấu xương của đêm đông, cái day dứt đánh chưa thắng làm tôi không tài nào chợp được mắt.

        Trằn trọc tới 23 giờ 30 phút thì lại có báo động. Đợt tập kích lần thứ 2 trong đêm bắt đầu. Địch vẫn sử dụng đường bay từ phía tây nam lên tây bắc, sau đó bay qua phía nam Tam Đảo vào đánh Nội Bài, Đông Anh, Mễ Trì. Thủ đoạn của chúng vẫn cho 3 - 4 tốp máy bay F-4 đi trước khoảng 10 - 15 phút để thả nhiễu tiêu cực đồng thời ngăn chặn máy bay ta nhằm hộ tống từ xa cho đội hình B-52 phía sau. Trong mỗi tốp 3 chiếc B-52 chúng lại bố trí từ 8 đến 12 chiếc F-4 bảo vệ trực tiếp phía trước và hai bên sườn. Đội hình bay của B-52 được bố trí rất chặt chẽ, chủ yếu để đối phó với không quân ta. Với đội hình hay như vậy việc phân biệt giữa máy bay B-52 với máy bay F-4 hộ tống để tên lửa đánh đúng đối tượng là một khó khăn, nhất là khi cả hai loại đều gây nhiễu tạp che lấp đội hình bay của chúng. Bước vào trận đánh này chúng tôi xác định tập trung đánh B-52 theo đúng phương án đã đề ra. Chúng tôi bỏ qua các tốp gây nhiễu tiêu cực. Theo lệnh của tôi, sĩ quan điều khiển mở máy thu nhiễu ở hướng tây - tây bắc. Sau khi kiểm tra tất cả các dải nhiễu sĩ quan điều khiển quyết định chọn một dải có độ sáng ổn định, ít "quét" và tiến hành các động tác thống nhất dải nhiễu giữa góc tà và phương vị. Bằng các động tác thành thục sĩ quan điều khiển và các trắc thủ đã nhanh chóng chọn dải nhiễu và thống nhất xong. Sau khi đối chiếu với các đài và đã thống nhất, sĩ quan điều khiển phát sóng kiểm tra mục tiêu. Cả ba màn trắc thủ và sĩ quan điều khiển đều trắng xoá nhiễu, không thể nào phát hiện được tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu. Trắc thủ báo cáo vận tốc góc. Bằng kinh nghiệm và cảm giác tay quay quen thuộc trong bám sát, các anh hô: "Mục tiêu ổn định". Sĩ quan điều khiển báo cáo tôi tình hình mục tiêu và đề nghị cho tiêu diệt. Một tình huống bất ngờ xảy ra, Tiểu đoàn mất liên lạc với sở chỉ huy Trung đoàn. Sau này chúng tôi mới biết khi máy bay B-52 vào cách Hà Nội từ 70 đến 100km là hệ thông thông tin tiếp sức của ta bị địch khống chế. Tiểu đoàn chuyến sang đánh theo phương án đã được trên phê chuẩn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Một, 2020, 09:47:18 AM

        24 giờ 4 phút Tiểu đoàn đánh trận thứ 3 trong đêm bằng phương pháp "ba điểm" với 3 đạn đúng theo phương án tác chiến Tiểu đoàn đã xây dựng. Đây là lần đầu tiên chúng tôi lệnh đánh vào một mục tiêu bằng 3 đạn. Tuy nhiên, trận này chúng tôi tiến hành bắn ở cự ly khá xa, nên trong 3 quả đạn chỉ có một quả nổ ở cự ly 30km và cũng không diệt được mục tiêu. Có thể nói đây là một trận đánh rất bài bản, đúng với kế hoạch đã phê chuẩn nhưng kết quả thì vẫn chưa theo ý muốn. Sau khi đánh tốp này xong, lúc 24 giờ 9 phút chúng tôi còn tiếp tục bắn đuối hai quả tốp sau nữa nhưng cả hai đạn đều vượt. Đợt đánh phá lần thứ 2 trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12 năm 1972 của máy bay B-52 Mỹ diễn ra trong khoảng 1 giờ. Sau khi về cấp 2 mọi người đều mệt nhoài. Chúng tôi vừa có được mấy phút nghỉ cho lại sức, nhưng vừa chợp mắt thì lại báo động. Máy bay F-111 hoạt động đánh phá xen kẽ giữa hai đợt đánh lớn cua B-52 nhằm tạo cho ta một sự căng thắng tột bậc. Đây là đối tượng chúng tôi không đánh nhưng chúng hoạt động thì vẫn phải chuyển cấp theo dõi. Thời gian đó, kíp chiến đấu của chúng tôi đang tuổi 24, 25 đến 30 -  đó là tuổi ăn, tuổi ngủ như các cụ vẫn nói. Nhưng suốt cả năm 1972, đặc biệt dịp tháng 10 vừa qua chiến tranh đà rèn cho chúng tôi thích nghi với cuộc sống quên ngày, quên đêm để chiến đấu. Đêm nay cũng vậy, báo động F-111 xong về đặt lưng chưa ấm chỗ, giấc ngủ chưa tới chân giường thì lại báo động máy bay B-52 vào đánh phá đợt 3 trong đêm. Khi đó chưa đầy 4 giờ sáng ngày 19 tháng 12 năm 1972. Chúng tôi nhanh chóng về vị trí. Mặc dù mắt cay xè nhưng mọi công tác chuẩn bị chiến đấu vẫn được làm khẩn trương, chu đáo và chính xác. Kiểm tra chức năng xong sĩ quan điều khiển mở máy thu nhiễu, vẫn hướng tây nam và đông nam có nhiều dải nhiễu tạp. Khả năng chúng vẫn sử dụng đường bay cũ vào đánh Hà Nội. Đúng như dự đoán, từ hướng tây - tây bắc các tốp B-52 được máy bay chiến thuật hộ tống lại lừ lừ tiến vào. Mục tiêu chủ yếu của chúng vẫn là hệ thông sân bay, các chân hàng. Đặc biệt sáng 19 tháng 12 chúng đã dùng B-52 đánh vào Đài Tiếng nói Việt Nam. Như vậy quy luật hoạt động của kẻ địch từ đường bay, đội hình, hướng tập kích, thủ đoạn gây nhiễu đã bộc lộ và phù hợp với dự kiến của ta.

        Sáng hôm đó vào lúc 4 giờ 35 phút và 5 giờ, Tiểu đoàn đánh tiếp 2 trận tiêu thụ 4 đạn, nhưng vẫn chưa bắn rơi B-52. Chúng tôi về cấp 2 chuẩn bị rút kinh nghiệm. Suốt đêm qua gần như thức trắng nên mọi người đều mệt.

        Buổi sáng mùa đông trời rét như cắt, tất cả ăn sáng qua loa, rồi tập trung để Tiểu đoàn tổ chức rút kinh nghiệm. Lúc này tin vui chiến thắng của quân và dân Hà Nội bắn rơi 3 máy bay B-52 của Mỹ đã được thông báo. Tất cả chúng tôi đều rất phấn khởi vì như vậy là Bộ đội Tên lửa đã thực hiện được quyết tâm của Quân chủng bắn rơi tại chỗ B-52. Càng vui hơn khi chiếc máy bay B-52 bị bắn rơi tại chỗ ở Phủ Lỗ lại do Tiểu đoàn 59 của Trung đoàn 261 bắn.

        Vậy là đêm 18 tháng 12 năm 1972, với chúng tôi là một đêm tồi tệ. Tiểu đoàn đánh 6 trận tiêu thụ 11 quả đạn không diệt được chiếc B-52 nào. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều, trong khi đó đơn vị bạn đã bắn rơi tại chỗ B-52. Chiến thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ B-52 của đơn vị bạn càng làm cho chúng tôi sốt ruột. Tuy cả đêm qua gần như thức trắng nhưng sáng nay mọi người trong kíp chiến đấu của Tiểu đoàn vẫn có mặt đầy đủ để tham gia rút kinh nghiệm. Trọng tâm buổi họp là tìm nguyên nhân vì sao đêm qua Tiểu đoàn đánh 6 trận tiêu thụ 11 qua đạn mà chưa bắn rơi được B-52. Mọi người tham gia ý kiến rất sôi nổi, thẳng thắn, chân tình vì công việc chung. Ai cũng chỉ quan tâm tới vấn đề nóng bỏng của Tiểu đoàn lúc này là vì sao đánh chưa thắng và làm thế nào để đánh thắng trong trận tới. Không ai đổ lỗi cho ai, nhưng ai cũng đều tự nhận thấy thiếu sót của mình để khắc phục; không nặng nề, chì chiết, nhưng sâu sắc, trách nhiệm, đầy ắp tình người, tình đồng đội, đồng chí. Điều cốt lõi rút ra trong những trận đánh chưa thắng đêm qua là: chọn thời cơ phóng quá xa, lúc đó trắc thủ bám sát dải nhiễu chưa trúng giữa một máy bay mà là giữa ba chiếc nên khả năng tiêu diệt thấp. Việc bám sát dải nhiễu khi mục tiêu tách dải cũng cần phải chủ động và linh hoạt. Việc phối hợp giữa đài K8-60 với đài điều khiển để xác định chính xác cự ly mục tiêu tạo điều kiện xác định cự ly phóng, cự ly mở ngòi nổ 11 giây chưa phù hợp. Công tác bảo đảm đạn, tiết kiệm đạn để chiến đấu liên tục cũng được đặt ra... Tất cả những nội dung trên kíp chiến đấu chúng tôi đã rút ra và bổ sung vào kế hoạch chiến đâu. Chúng tôi họp rút kinh nghiệm vừa xong thì lại có báo động. Một đợt hoạt động của không quân chiến thuật đánh phá bổ sung các mục tiêu phụ cận và các trận địa phòng không để dọn đường cho các đợt. tập kích ban đêm. Chúng tôi chuyển cấp nhưng được lệnh chỉ theo dõi chứ không được đánh. Bộ đội Tên lửa khu vực Hà Nội chỉ đánh máy bay B-52.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:42:35 AM

        Cả ngày 19 tháng 12, chúng tôi còn phải chuyến cấp 2, 3 lần nữa nhưng chỉ theo dõi hoạt động của chúng, không đánh trận nào, mặc dù có lúc chúng đã vào vùng hoả lực của Tiểu đoàn. Những lúc như vậy chúng tôi chỉ muốn phóng cho chúng vài quả đạn nhưng kỷ luật chiến đấu không cho phép. Ngày đầu tiên của chiến dịch 12 ngày đêm chống tập kích đường không chiến lược của không quân Mỹ vào Hà Nội đối với tôi đã diễn ra như vậy.

        Khoảng 19 giờ 40 phút lại có lệnh chuyển cấp. Đơn vị chúng tôi đã nhanh chóng có mặt trên các vị trí chiến đấu. Trời vẫn rét buốt và tối đen như mực. Sau khi kiểm tra chức năng xong, sĩ quan điều khiển báo cáo tôi tình trạng khí tài, đạn, bệ và mở máy thu kiểm tra tình hình nhiễu trên các hướng. Cũng như đêm qua, hôm nay vẫn xuất hiện nhiều dải nhiễu ở hướng tây nam và đông nam. Như vậy là hướng đường bay địch vẫn chưa thay đổi. Cả kíp chúng tôi bước vào trận đánh hôm nay với tâm trạng vừa háo hức lập công vừa lo lắng, không đánh thắng thì sẽ khó ăn, khó nói với mọi người trong đơn vị và với cấp trên. Sau khi quay một vòng kiểm tra nhiễu, sĩ quan điều khiển đưa anten về hướng chủ yếu của Tiểu đoàn. Tôi thông báo tình hình trên không và nhận định: địch sẽ tiếp tục tổ chức các đợt tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội, kíp chiến đấu rút kinh nghiệm những trận đánh đêm qua, chuẩn bị khí tài tốt, bình tĩnh xử lý các tình huống trong chiến đấu, chọn đúng máy bay B-52 để tiêu diệt. Chính trị viên tiểu đoàn động viên và kêu gọi toàn đơn vị phát huy thành tích chiến đấu trong thời gian qua, quyết tâm bắn rơi B-52 của đế quốc Mỹ để trả thù cho đồng chí, đồng bào Hà Nội vừa bị bom đạn của chúng sát hại. Nhiệm vụ của chúng tôi hôm nay là phải chọn đúng B-52 để tiêu diệt. Căn cứ nhiệm vụ Trung đoàn giao, theo chỉ thị của tôi, sĩ quan điều khiển chọn một dải nhiễu sáng ít quét, có tốc độ góc ổn định giao cho trắc thủ bám sát và tiến hành kiểm tra đồng nhất. Theo nội dung rút kinh nghiệm sáng nay, hôm nay chúng tôi sẽ bắn ở cự ly gần hơn, chú ý động tác bám sát khi dải nhiễu tách thành nhiều dải, sẵn sàng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu và chuyển phương pháp điều khiển sang đón nửa góc và tiết kiệm đạn. Vấn đề bảo đảm đạn đã trở thành mối quan tâm của cấp trên. Phương án cũ đánh B-52 là sử dụng 3 đạn, nhưng hôm nay chỉ sử dụng 2 đạn. Tất cả những nội dung đó chúng tôi đã huấn luyện trước đây nhưng bây giờ phải bổ sung và vận dụng cho thành thạo trong chiến đấu. Sau khi đã chọn đúng tốp B-52 được giao, sĩ quan điều khiển làm động tác kiểm tra lần cuối. Mọi công việc chuẩn bị xong xuôi. Lúc 20 giờ 10 phút ngày 19 tháng 12 năm 1972 tôi lệnh phóng 2 đạn ở cự ly 28 và 27 km. cả hai quả đạn điều khiển tốt. Sĩ quan điều khiển nâng cao thế, hy vọng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu nhưng không có. Khi quả đạn thứ nhất cách mục tiêu 2km sĩ quan điều khiển mở ngòi nổ 11 giây. Tên lửa thứ nhất đi đến cự ly 22km thì nổ và trắc thủ cự ly cũng đọc mục tiêu cự ly 22. Trắc thủ quang học hô máy bay bốc cháy. Cả kíp chúng tôi lặng thinh một lúc chờ quả thứ 2 gặp mục liêu xong và cùng oà lên sung sướng vì đã thực hiện được ước mơ bắn rơi máy bay B-52 của Mỹ. Có thể nói đây là những giờ phút lịch sử đối với cá nhân tôi và cả Tiểu đoàn 57. Chúng tôi đã làm được điều kỳ diệu: bắn rơi "pháo đài bay" của Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Bao công sức, mồ hôi và cả xương máu chúng tôi và đồng đội đã đổ xuống cho chiến công này. Tôi vui sướng đến rơi nước mắt. Sau một ngày đêm với 7 trận đánh liên tục đến nay chúng tôi mới hoàn thành được ước nguyện bắn rơi B-52 của Mỹ. Niềm vui là vậy nhưng chúng tôi cũng đành nén xuống. Cuộc chiến đấu vẫn đang tiếp diễn và ngày càng khó khăn, ác liệt.

        Trận đánh lúc 20 giờ 10 phút đơn vị được công nhận bắn rơi một chiếc B-52, nhưng chưa bắn rơi tại chỗ. Các thành phần kíp chiến đấu đều tin tưởng đã đánh đúng theo phương án luyện tập, thực hành xạ kích chuẩn xác, đánh trúng mục tiêu B-52, nhưng tại sao B-52 chưa rơi tại chỗ. Đó là điều băn khoăn của chúng tôi. Kíp chiến đấu tổ chức rút kinh nghiệm ngay sau trận đánh đã bám sát vào dải nhiễu của một chiếc B-52, nhưng chưa đưa đường vạch dấu phương vị BM thật chính xác vào giữa tín hiệu chiếc B-52. Kíp chiến đấu tiếp tục luyện tập uốn nắn những sai sót, sau đó tạm nghỉ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:43:02 AM

        Chúng tôi vừa chợp mắt lại có lệnh báo động lúc 23 giờ đêm 19 tháng 12. Trên cả tiêu đồ 9x9 và tiêu đồ 5x5 đã xuất hiện có nhiều tốp B-52 bay vào Hà Nội. Đợt tập kích này đơn vị không đánh trận nào. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 20 tháng 12, Tiểu đoàn tôi đánh thêm một trận lúc 5 giờ 5 phút sáng nhưng không tiêu diệt được mục tiêu. Xen kẽ các đợt tập kích bằng B-52, không quân Mỹ vẫn sử dụng máy bay F-111 đánh phá bổ sung các mục tiêu nhằm gây căng thẳng cho các lực lượng phòng không, uy hiếp tinh thần nhân dân ta, làm lung lay ý chí chiến đấu của quân và dân ta, buộc ta phải ngồi lại bàn đàm phán Pari và ký hiệp định theo những điều khoản có lợi cho chúng. Nhưng chúng đã nhầm. Một dân tộc đã dám dứng lên cùng đồng minh chống phát xít, nay lại dám đứng lên chống Mỹ để giành lấy độc lập, tự do và thống nhất cho Tổ quốc thì chẳng có sức mạnh tàn bạo nào có thể khuất phục. Kẻ thù càng bạo tàn, ý chí của quân và dân ta càng trở nên kiên cường, bất khuất. Lòng căm thù càng dồn nén càng trở thành sức mạnh để thiêu cháy kẻ thù. Những ngày này chúng tôi chỉ nghĩ tới một điều là làm thế nào bắn hạ thật nhiều B-52 của Mỹ để trả thù cho đồng bào, đồng chí đã bị bom đạn Mỹ giết hại.

        Sau trận đánh rạng sáng 20 tháng 12, Tiểu đoàn tố chức rút kinh nghiệm nghiêm túc. Nhiều câu hỏi đặt ra, tại sao đánh không rơi tại chỗ B-52, có sợ Shrike của địch hay không, bám sát đã chính xác mục tiêu B-52 hay chưa. Trọng tâm rút kinh nghiệm vẫn xoay vào, tại sao không đánh thắng, không bắn rơi tại chỗ B-52 để mổ xẻ làm rõ nguyên nhân và đề ra chống tư tưởng sợ Shrike của địch, chống bằng được nhiễu trong tư tương, sau đó lại luyện tập.

        Ban ngày, tên lửa đã được lệnh không đánh máy hay chiến thuật nhưng mỗi khi chúng hoạt động đánh phá thì chúng tôi vẫn phải vào cấp 1 mở máy trực sẵn sàng. Vì vậy ban ngày chúng tôi cũng phải chuyên cấp 3 - 4 lần. Tình hình đạn tên lửa đến hôm nay bắt đầu có vấn đề. Tiểu đoàn kỹ thuật lắp ráp không cung cấp đủ nhu cầu chiến đấu của các tiểu đoàn hoả lực. Từ  trước tới nay cao nhất chỉ triển khai 2 dây chuyên lắp ráp, nhưng nay đã phải triến khai tới 3 dây chuyền và đích thân một đồng chí Cục phó Cục Kỹ thuật phải xuống chỉ đạo việc sản xuất đạn tại Tiểu đoàn kỹ thuật 95. Đạn tên lửa ở kho chiến lược cũng vận chuyển về khó khăn vì địch đánh phá ác liệt các tuyến giao thông. Phương án cung cấp đạn cho các tiểu đoàn hoả lực đã phải tính đến ưu tiên những đơn vị trọng điểm thì được cung cấp đạn nhiều hơn. Tiểu đoàn 57 khi đó ở trận địa Đại Đồng được xác định là đơn vị ở hướng chủ yếu của Trung đoàn và cũng là một trong những đơn vị ở hướng chủ yếu của Sư đoàn phòng không Hà Nội, do vậy trong phân phối đạn có được ưu tiên hơn. Tuy nhiên, ngày hôm nay cũng chỉ được bổ sung có 4 quả tên lửa. Như vậy, cơ số đạn của Tiêu đoàn chỉ đạt 1/2 theo quy định. Toàn đơn vị lúc này chỉ còn có 6 quả đạn đã nạp trên bệ. Tuyến 2 không còn quả nào. Xe chở đạn đang nằm chờ ở tiểu đoàn kỹ thuật.

        Chúng ta đang tổ chức một chiến dịch phòng không nhằm đối phó với một kẻ thù có tiềm lực mạnh chưa từng có trong lịch sử chiến tranh của dân tộc, do vậy những khó khăn đó cũng là đương nhiên. Phương án tiết kiệm đạn được đặt ra một cách nghiêm khắc. Ngoài việc quy định chỉ sử dụng tên lửa để đánh B-52, chúng tôi thông qua kinh nghiệm những ngày chiến đấu vừa qua thấy rằng nếu làm công tác chuẩn bị chiến đấu tốt, trắc thủ thao tác tốt, chọn thời cơ phóng thích hợp, thì có thế giảm số lượng đạn trong loạt bắn xuống từ 1 đến 2 quả mà vẫn tiêu diệt được mục tiêu. Một nội dung mà mọi người cùng quan tâm đó là sự gián đoạn thông tin liên lạc giữa sở chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn khi B-52 vào cách vùng hoả lực ta từ l00 km trở vào. Việc này đến nay đã được trên bổ sung phương pháp thông tin liên lạc bổ trợ thông qua may thu P-311 với mật danh là "FA". Phương pháp liên lạc này là chỉ tiếp nhận thông tin một chiều để nhận mệnh lệnh từ trên xuống, còn tiểu đoàn vẫn chủ động đánh theo phương án là chính. Những ý kiến này được bổ sung vào phương án chiến đấu của Tiểu đoàn.

        Về phía không quân Mỹ đến hôm nay đã bộc lộ quy luật hoạt động của chúng. Mỗi đêm tổ chức 3 đợt đánh phá bằng không quân chiến lược B-52 vào các mục tiêu trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng và các khu vực phụ cận nhằm tiêu hao tiềm lực quân sự, kinh tế của ta. Mặt khác chúng đánh cả vào các khu dân cư để uy hiếp tinh thần của nhân dân nhằm tạo sự mất ổn định về chính trị trong lòng xã hội ta, buộc ta phải ngồi lại bàn đàm phán theo yêu cầu của Mỹ. Xen kẽ các đợt hoạt động của B-52 là các đợt đánh bổ sung của máy bay F-111. Ban ngày chúng sử dụng không quân chiến thuật đánh phá các lực lượng phòng không và các mục tiêu khác nhằm tạo nên một tình trạng căng thẳng liên tục cả ngay lẫn đêm. Về đường bay, ba ngày qua chúng sử đụng các đường bay hướng tây - tây bắc là chủ yếu.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:50:54 AM
           
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82241388_576733119723239_4556295422938710016_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=R4ZHYDZDBG8AX_HCDp-&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7d7d243c32ff00b0fbac3f13b5f46064&oe=5E99204E)
Cùng thầy giáo Phong và các bạn học sinh lớp 7A Trường cấp II Ân Thi chụp ánh lưu niệm nhân dịp làm báo tường kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1959) - đồng chí Phiệt đứng thứ tư từ phải sang

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82241871_576733116389906_4735149534865260544_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ohc=8FwNrOLKGzIAX95wbF8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=5fdce3cc93f4e272db50ba9672de73d6&oe=5EA2B227)
Chụp ánh lưu niệm cùng bạn học lớp sửa chữa của Binh chủng Phòng không năm 1961 (đồng chí Phiệt ngồi thứ hai từ phải sang)

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82187783_576733126389905_714656826905329664_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_ohc=8bCz1wabrd4AX9wvvio&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8f8569f15071eb4719b0aa8eb1102302&oe=5ED669DA)
Chụp ảnh lưu niệm cùng đồng đội trước khi nhận khí tài hành quân về đơn vị, năm 1962 (đồng chí Phiệt đứng hàng sau thứ ba từ phải sang)

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82774148_576733163056568_8605143788454674432_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=pqR9nn4tKrEAX_HE7n3&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=cd81413ba6c621e157fbe5b2b8f11406&oe=5E9D9D2D)
Rút kinh nghiệm chiến đấu cùng kíp trắc thủ trong chiến dịch 12 ngày đêm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của dế quốc Mỹ năm 1972 (đổng chí Phiệt ngồi bên phải)


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:54:13 AM
           
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82563793_576733189723232_2679644965151178752_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_ohc=0R4ka75msy4AX-39KWi&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a8f9d631f7546e12ca703eef3e64ee16&oe=5E8EF629)
Trung đoàn 261 tổ chức đón danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Văn Phiệt tại trận địa Tó, tháng 9-1973

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82135065_576733173056567_4607128452535943168_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=b4FFp_n3rs4AX8R6A8C&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e6908d063cd4ab291ebf8c8e8fcc1838&oe=5EA56382)

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82279160_576733209723230_8654340375382589440_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=e3RBHsb20yAAX__cnhk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=c1047fc83b6a4a89d98640f8926717d6&oe=5E9E786F)
Chụp ảnh lưu niệm với bạn cùng lớp bổ túc cán bộ cao cấp khóa 4 tại Học viện Quân sự cấp cao, năm 1981

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82432681_576733226389895_299164121641779200_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=UceSb4FWEoUAX9ZVMlu&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a4c6cce85d7a404b41c1a047043147b1&oe=5E967ED9)
Chụp ảnh lưu niệm cùng đồng chí Mạc Ninh và các bạn Cu Ba nhân dịp sang thăm đất nước Cu Ba, tháng 7-1973


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:55:08 AM

        Sau một ngày căng thẳng, đến 16 giờ 30 phút chúng tôi lại tiến hành làm công tác chuẩn bị chiến đấu cho khí tài, đạn bệ. Sĩ quan điều khiển sáng, chiều nào cũng phái trực tiếp cùng kíp chiến đấu làm công tác kiểm tra các tham số của xe điều khiển, kiểm tra chức năng đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của đài điều khiển, bệ đạn, phát hiện kịp thời các hỏng hóc để sửa chữa. Thông qua các kết quả kiểm tra xác định khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn Tiểu đoàn. Đây là một chức trách quan trọng của người sĩ quan điều khiển. Để làm tròn chức trách này yêu cầu người sĩ quan điều khiển phải học hỏi, nắm vững nguyên lý không chỉ của xe điều khiển mà còn phải nắm vững sơ đồ chức năng toàn đài điều khiển, vòng điều khiển kín của bộ khí tài SAM-2. Quan trọng hơn nữa là anh ta phải tạo dựng được lòng tin trong anh em cán bộ, chiến sĩ thông qua những việc làm của mình hàng ngày. Tiểu đoàn tôi lúc đó có rất nhiều cán bộ kỹ thuật được đào tạo cơ bản bậc đại học và trung cấp kỹ thuật ở các trường quân đội và cả các trường ngoài. Họ có trình độ và kiến thức kỹ thuật khá vững. Những lúc chiến đấu căng thẳng như thế này cán hộ, chiến sĩ chúng tôi càng phải gắn bó khăng khít. Hơn một năm nay sử dụng bộ khí tài cũ này, chúng tôi đã làm việc với nhau và đã hiểu rõ về nhau cho nên trong chỉ huy chuẩn bị chiến đấu của Tiểu đoàn thường tiến hành thuận lợi.

        Ngày 20 tháng 12 cũng vậy. Cả ngày đêm lăn lộn chiến đấu, buổi chiều chúng tôi kiểm tra khí tài chu đáo để chuẩn bị cho các trận đánh đêm. Mọi người đều biết tính tôi là rất khắt khe trong các chỉ tiêu kỹ thuật nên đều kiểm tra rất kỹ. Sau khi chuẩn bị chiến đấu buổi chiều xong, khí tài của Tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu tốt, chúng tôi về nghỉ ngơi, ăn cơm chiều sớm để chuẩn bị cho một đêm chiến đấu tiếp theo.

        Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 20 tháng 12, Tiểu đoàn lại chuyển vào cấp 1. Quả thật không quân Mỹ đi chiến đấu cũng rất chính quy và đúng giờ. Hướng tấn công, thời gian, đội hình bay của chúng hôm nay cũng chưa có gì thay đổi. Tiểu đoàn đánh một trận lúc 20 giờ 15 phút, đạn có điều khiển nổ ở cự ly 28 km, rađa K8-60 báo mất mục tiêu ở cự ly 26 km, nhưng không được công nhận bắn rơi B-52. Đến đợt chiến đấu thứ 2 trong đêm 20 rạng sáng 21 tháng 12, bắt đầu từ 4 giờ 36 phút ngày 21 tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn được lệnh vào cấp 1 sớm để đón đánh địch. Trong đêm đã báo động 4, 5 lần, ai cùng mệt nhoài vì thiếu ngủ và căng thẳng về tinh thần, nhưng khi vừa nghe tiếng kẻng báo động vang lên la mọi người đã tung chăn, xỏ giày chạy nhanh về vị trí chiến đấu, những ngày này trời vẫn rét buốt. Bình thường nghĩ tới việc chui ra khỏi chăn trong thời tiết như thế cũng đã ngại, nhưng chỉ một phút sau khi có tiếng kẻng là tiếng máy nổ đã rền vang xé tan không gian giá lạnh của buổi sáng mùa đông ở khu ngoại thành Hà Nội. Thông thường 4, 5 phút sau toàn Tiểu đoàn đã sẵn sàng chiến đấu. Để đảm bảo được thời gian trên chúng tôi đi ngủ mặc nguyên cả quần áo dài, áo rét thậm chí có anh mang nguyên cả giày để nằm ngủ. Các đồng chí máy nổ nằm ngay trên xe để khi có kẻng báo động là có thể nổ máy được ngay. Việc ngủ trên máy là không đúng, nhưng vì là thời chiến nên nhiều việc làm cũng trái quy định thông thường, miễn sao đạt kết quả tốt trong chiến đấu là làm. Bước vào trận chiến đấu hôm nay một vấn đề nổi cộm đối với Tiểu đoàn là thiếu đạn. Đêm qua đơn vị không được bổ sung thêm quả đạn nào. Hiện tại toàn đơn vị chỉ còn trên bệ 4 quả đạn, bằng một phần ba cơ số quy định. Chúng tôi đã phải tính đến khả năng tiết kiệm đạn cao nhất là mỗi trận chỉ đánh một quả để có thể bắn được nhiều tốp B-52 khi chúng đánh phá mục tiêu. Đợt này không quân Mỹ huy động khoảng 27-30 chiếc B-52 và hàng chục máy bay chiến thuật hộ tống tham gia đánh phá. Càng về sáng càng trở nên căng thẳng vì cả đêm mất ngủ, trận địa chỉ còn 4 quả đạn. Lệnh trên giao cho Tiểu đoàn diệt tốp 531, chúng tôi bắt được dải nhiễu gọn, nhỏ, nhưng khi phóng đạn lên máy bay đi theo phương vị lớn, nên không phóng quả thứ 2. Tuy quả đạn có điều khiển tốt, nhưng vì "tham số đường bay"1 quá lớn không diệt được mục tiêu. Trong lúc này xe đi nhận đạn chưa về mà Tiểu đoàn chỉ còn 3 quả tên lửa nạp trên bệ phóng tại trận địa. Ba quả đạn chỉ đánh được một trận theo lý thuyết đã học, vì mục tiêu B-52 có mặt phản xạ lớn, phải tiêu diệt bằng 2 đến 3 quả đạn mới bảo đảm xác xuất diệt mục tiêu. Lúc này Trung đoàn thông báo, trên hướng chủ yếu mà Trung đoàn đảm nhiệm, Tiểu đoản 94 đã hết đạn (gọi lóng là hết bút chì), Tiểu đoàn 59 đã hết đạn từ trận đánh trước, Tiểu đoàn 93 chỉ còn 3 quả đạn, máy bay thì cứ lao vào vun vút, 5 tốp, 6 tốp B-52 theo đường chì thoăn thoắt của tiêu đồ viên. Từ sở chỉ huy Trung đoàn, đồng chí Trần Hữu Tạo - Trung đoàn trương thông báo tình hình chiến đấu của Trung đoàn, rồi động viên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 57: "Các đồng chí Kl bình tĩnh, dũng cảm chiến đấu, quyết tâm bắn trúng, bắn rơi tại chỗ B-52". Nghe những lời động viên, giao nhiệm vụ của Trung đoàn trưởng, tôi thấy xấu hổ và tự trách mình, trên tin tương như vậy sao không chỉ huy Tiểu đoàn bắn rơi tại chỗ được B-52.

----------------------
        1. Đường vuông góc kẻ trên mặt đất, từ trận địa đến hình chiếu đường bay của máy bay in xuống mặt đất.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:55:26 AM

        Căn cứ diễn biến trên bản tiêu đồ, trên màn hình quang học và tình hình vũ khí, khí tài, đạn, trình độ của kíp chiến đấu, tôi hội ý nhanh với đồng chí Nguyễn Văn Ưởng - Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Tiểu đoàn, rồi hạ quyết tâm báo cáo Trung đoàn: "Kl còn ba bút chì, xin chia cho mỗi người một bút" (nghĩa là xin mỗi trận chỉ đánh bằng một quả đạn) được sơ chỉ huy Trung đoàn đồng ý. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn còn động viên chúng tôi bình tĩnh, quyết tâm đánh trúng, bắn rơi lại chỗ B-52. Chính ủy Trung đoàn Dương Đình Thảo, quê Thái Bình, người nhỏ nhắn, nhưng rất nhanh nhẹn, tác phong dứt khoát, kiên quyết, làm việc gì cũng cẩn thận suy nghĩ lợi, hại rồi tìm mọi biện pháp để hoàn thành. Anh là người tính tình phóng khoáng, độ lượng, rất mực thương yêu cấp dưới, gắn bó máu thịt với cán hộ, chiến sĩ, được mọi người trong đơn vị mến phục. Lời động viên của Chính ủy Trung đoàn đã truyền thêm quyết tâm cho tôi và cho kíp chiến đấu của Tiểu đoàn trong những giờ phút chiến đấu đầy căng thẳng, khó khăn và quyết liệt.

        5 giờ 00 phút sáng ngày 21 tháng 12, các tốp máy hay B-52 số 518, 532, 533... lần lượt bay vào, Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn: "Kl diệt tốp 518, phương vị 330, độ cao 10".

        Tiểu đoàn sử dụng đài 1 (đài rađa nhìn vòng P12) và đài rađa bổ trợ (K8-60) dải sóng xăngtimét để sục sạo, phát hiện mục tiêu, đồng thời cho đài điều khiển (PA) mở máy thu nhiễu B-52. Khi bắt được nhiễu B-52, kíp chiến đấu đã tiến hành các biện pháp so sánh phần tử của ba đài chọn thống nhất dải nhiễu B-52. Sĩ quan điều khiển và các trắc thủ theo dõi, bám sát chính xác dải nhiễu, kiểm tra đi, kiểm tra lại nhiều lần, so sánh với các đài nhìn vòng, bổ trợ đều thống nhất tốp và chiếc B-52. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao lần bắt mục tiêu này tôi tin tưởng đến thế. Tôi suy nghĩ, chiếc máy bay B-52 chắc chắn sẽ bị chúng tôi bắn rơi. Tôi lệnh phóng đạn ở cự ly 32 km, trắc thủ góc tà đọc 2-60, 2-70, 2-80... 3-20, phương vị 330. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên ấn nút phóng nhưng đạn không đi, liền báo cáo và nhanh chóng làm các động tác... Tôi lệnh phóng quả thứ 2, trắc thủ góc tà đọc 3-40, đạn có điều khiển. Sĩ quan điều khiển tiến hành thao tác nâng cao thế nhưng không phát hiện thấy mục tiêu. Trắc thủ cự ly đặt độ cao mục tiêu theo phần tử đài rađa bố trợ (K8-60) vào đồng hồ U87 và thông báo liên tục cự ly mục tiêu B-52, sĩ quan điều khiển thông báo cự ly tên lửa bay về phía mục tiêu. Khi khoảng cách giữa tên lửa và mục tiêu cách nhau từ 2 km đến 3 km thì sĩ quan điều khiển bật công tắc ngòi nổ 11,5 giây giữ chậm. Vì không quân địch sử dụng nhiễu tiêu cực là giấy tráng kim loại thả phía trước che hướng bay vào của B-52; khi tên lửa của ta phóng lên, do phản xạ trở về của nhiễu làm ngòi nổ vô tuyến (PB) thu đủ xung sẽ kích nổ đạn tên lửa khi đạn chưa bay đến mục tiêu định tiêu diệt. Do vậy, ta phải sử dụng ngòi nổ giữ chậm 11,5 giây.

        Trận đánh thứ 2 này vẫn trên hướng đường bay cũ là hướng bắc - tây bác. Đạn điều khiển tốt. Trận này chúng tôi vẫn đánh bằng phương pháp "ba điểm" mở ngòi nổ 11 giây chậm và phóng ở cự ly gần là 28km. Khi đạn còn cách máy bay khoảng 4km thì cả hai màn hiện sóng của góc tà và phương vị dải nhiễu đang bám sát đều tách dải. Đây là một tình huống phức tạp, nếu sĩ quan diều khiển xử lý không tốt thì mỗi góc sẽ bám vào một chiếc máy bay khác nhau. Theo kinh nghiệm và những kiến thức sẵn có bằng phản xạ gần như lập tức sĩ quan điều khiển hô khấu lệnh: "Tà bám dải cao, phương vị dải phải". Bằng những động tác khéo léo và điêu luyện, các trắc thủ Lịch và Đài đã nhanh chóng bám sát đúng dải nhiễu. Khi đó tên lửa cách máy bay địch khoảng 2km và sĩ quan điểu khiển mở ngòi nổ 11 giây. Trận đánh đang diễn biến rất căng thắng, sau đó ít giây tên lửa bay đến cự ly 22km thì mất tín hiệu trả lời, tín hiệu đạn tên lửa trên màn hiện sóng của sĩ quan điều khiến mất và ngay lập tức dải nhiễu trên màn hiện sóng của hai góc cũng biến mất. Cả ba trắc thủ Lịch, Thi, Đài đồng thanh hô to: "Mất nhiễu", trắc thủ cự ly Mè Văn Thi hô gặp mục tiêu, cự ly 25km. Cùng lúc đó trắc thủ PA-00 Đoàn Văn Súc, Nguyễn Đình Thanh từ trên nóc về thu phát cũng báo cáo về: "Mục tiêu bốc cháy rất to" lúc 5 giờ 9 phút. Sĩ quan điều khiển xúc động báo cáo tôi: "Đã tiêu diệt tại chỗ một B-52". Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Ưởng thông báo chiến thắng cho toàn Tiểu đoàn và động viên bộ đội chuẩn bị chiến đấu trận tiếp theo. Tiểu đoàn được trên công nhận đã đánh trúng, bắn rơi 1 chiếc máy bay B-52. Sau này, phái đoàn MIA đã công nhận chiếc B-52 này do Tiểu đoàn 57 bắn rơi tại Sầm Nưa của Lào.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Một, 2020, 04:55:45 AM

        Sau khi Tiểu đoàn đăng ký đầy đủ các phần tử, báo cáo lên sở chỉ huy Trung đoàn kết quả trận đánh, sĩ quan điều khiển quay anten về hướng chính ở phía tây bắc thì vẫn còn các tốp nhiễu B-52 mang số hiệu 532, 533, 541... vẫn tiếp tục bay vào Hà Nội. Tôi lệnh cho kíp chiến đấu sẵn sàng đánh tiếp, lúc này chỉ còn một quả đạn trên bệ phóng. Sĩ quan điều khiển đề nghị tôi cho phép đánh nốt quả cuối cùng. Tôi đồng ý. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên nhanh chóng cùng kíp trắc thủ chọn và thống nhất dải nhiễu của tốp B-52 gần nhất. Mọi thao tác rất khẩn trương, thuần thục và chính xác. Khi mục tiêu bay vào đến vùng hỏa lực, Tiểu đoàn báo cáo sở chỉ huy Trung đoàn xin diệt tốp 532, Trung đoàn trưởng nhất trí. Tốp 532 có 3 chiếc bay vào ở cự ly khoảng 40km - 45km, căn cứ phần tử đài nhìn vòng (P12), đặt các phần tử để bắn, tôi lệnh diệt mục tiêu cự ly 32km, góc tà 3-20, phương vị 355, độ cao 10km, một quả phóng. 5 giờ 19 phút sĩ quan điều khiển ấn nút phóng. Đây là quả đạn cuối cùng của Tiêu đoàn được phóng lên, đạn có điều khiển tốt, quá trình điều khiển đạn, nhiễu trong đội hình và ngoài đội hình mục tiêu đan xen nhau, rất khó khăn cho việc bám sát của trắc thủ. Nhưng với quyết tâm và kinh nghiệm sẵn có của 3 trắc thủ, đã bám sát chính xác vào một chiếc B-52. Đạn bay được từ 10km đến 15km, sĩ quan điều khiến Nguyễn Đình Kiên yêu cầu 3 trắc thủ bám chắc, chính  xác vào một chiếc B-52, chỉ khoảng cách ngắn thôi là đạn hay đến mục tiêu. Tên lửa bay đến cự ly 24km, sĩ quan điều khiến hô mất tín hiệu đạn, các trắc thủ đều đồng thanh hô đạn nổ trùm mục tiêu, mục tiêu bị tiêu diệt, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi hô cự ly 25km. Trên màn hiện sóng của 3 trắc thủ và sĩ quan điều khiển đều mất nhiễu, mất tín hiệu mục tiêu. Trắc thủ TZK (PA-00) báo cao máy bay bốc cháy, cháy rất to, lúc đó là 5 giờ 19 phút. Đây là trận đánh cuối cùng của Tiểu đoàn vào rạng •ang ngày 21 tháng 12 năm 1972, chiếc B-52 thứ hai rơi tại chỗ ở chợ Thá, Núi Đôi, huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc sau 10 phút.

        Tất cả chúng tôi oà lên sung sướng vì đã làm được một điều kỳ diệu là chỉ trong có 10 phút bắn rơi 2 chiếc máy bay B-52 - "siêu pháo đài bay" - con át chủ bài của Không quân chiến lược Mỹ, một điều từ trước đến nay chưa ai làm được. Cả Tiểu đoàn vui mừng vì chiến công tuyệt vời đó. Chúng tôi xuống xe giữa sự hân hoan chào   đón của mọi người. Anh em trong đơn vị ai cũng đến bắt lay chúc mừng tôi, sĩ quan điều khiển và kíp trắc thủ. Chiên công là chung của Tiểu đoàn, nhưng kíp chiến đấu luôn là người quyết định chiến công đó.

        Như vậy, chỉ trong 10 phút chiến đấu, từ lúc 5 giờ 9 phút đến 5 giờ 19 phút ngày 21 tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn 57 đã lập công xuất sắc, đánh 2 trận vào 2 tốp B-52, bắn rơi 2 chiếc B-52 bằng 2 quả đạn. Trận thứ nhất máy bay rơi sáng rực lúc trời đang hửng sáng, phóng viên báo Nhân dân Văn Bang và các chiến sĩ ở công sự ẩn nấp trong trận địa đã đứng lên hô vang như ngày hội. Trận thứ 2 sau đó 10 phút, chiếc B-52 lại cháy to, tiếng hô càng to hơn, xóa đi bầu không khí của một đêm đông đầy căng thẳng. Ngay sau trận đánh, nhà báo Văn Bang đến bắt tay từng cán bộ, chiến sĩ chúc mừng chiến thắng của chúng tôi. Chiến công của Tiểu đoàn đã góp phần cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội đập tan âm mưu đánh đòn quyết định của giặc Mỹ. Đêm 20, rạng sáng 21 tháng 12 năm 1972, cũng là một ngày lịch sử, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 14 máy bay các loại của đế quốc Mỹ, có 7 máy bay B-52, trong đó có 5 chiếc B-52 rơi tại chỗ.

        Bằng một quả đạn đánh trúng, bắn rơi B-52, đây là sự quyết tâm, là ý chí và trí tuệ của con người. Chiến tranh là sự đối đầu quyết liệt giữa hai bên tham chiến, vũ khí trang bị là yếu tố rất quan trọng, nhưng không quyết định được thắng lợi; bởi lẽ vũ khí do con người chê tạo ra và con người sử dụng nó. Con người với sức mạnh tinh thần mới là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh; ý chí và trí tuệ con người Việt Nam là yếu tố quyết định nhất, thực tế nó đã quyết định thắng lợi của trận đánh, của chiến dịch, của cả cuộc chiến tranh. Trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, bắn rơi tại chỗ B-52, bắt sống giặc lái là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của quân và dân miền Bắc, của lực lượng phòng không ba thứ quân, của Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó Bộ đội Tên lửa chúng tôi vinh dự được lịch sử giao trọng trách là lực lượng nòng cốt nhất.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 08:58:41 AM

        Sáu giờ sáng 21 tháng 12, vì mùa đông nên trời vẫn còn mờ tôi, chúng tôi vừa về nơi ở và mọi người đang sôi nổi bàn tán về trận đánh tuyệt vời của Tiểu đoàn thì có hai đồng chí bộ đội nói là ở Học viện Chính trị, hiện sơ tán ở xã Nam Hồng, huyện Đông Anh mang đến cho chúng tôi một chiếc mũ giặc lái Mỹ, một tấm dù trắng cùng dây đã rách nát. Các anh nói đầy vẻ thán phục: "Đây là chiến lợi phẩm của các anh sáng nay, chúng tôi mang trả lại cho các anh để làm kỷ niệm. Chúc mừng chiến công xuất sắc của các anh". Nói xong các anh bắt tay chúng tôi và lại đạp xe về đơn vị ở cách đó gần l0 km. Sau này chiếc mũ giặc lái được nộp cho Trung đoan để đưa vào nhà truyền thống, còn dù và dây dù chúng tôi chia mỗi người một mẩu làm kỷ niệm. Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 năm 1972, cả Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã bắn rơi 7 chiếc máy bay B-52, riêng Tiểu đoàn tôi bắn rơi hai chiếc. Đây là một trong nhưng trận thắng giòn giã của đợt chiến đấu chống tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội.

        Ngày 21 tháng 12 năm 1972, cả Tiểu đoàn sống trong bầu không khí phấn khởi, tin tưởng và tự hào vì đã lập dược chiến công oanh liệt, bắn rơi tại chỗ B-52. Chiến công đó là cơ sở để cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn tiếp tục lập công trong những trận đánh tiếp theo. Với niềm tin đánh thắng, được sự cổ vũ của các đơn vị và hưởng ứng thi đua lập công kỷ niệm ba ngày lễ lớn trong tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn tổ chức sinh hoạt rút kinh nghiệm và luyện tập chiến đấu, uốn nắn những sai sót của các trận đánh thắng và chưa thắng. Trận đánh thắng rạng sáng 21 tháng 12 của Tiểu đoàn chúng tôi sau này đã được coi là một trận đánh điển hình về hiệu suất chiến đấu cao, tiết kiệm đạn, thời gian di chuyển hoả lực nhanh và tinh thần tiến công địch liên tục.

        Cả ngày 21 tháng 12 năm 1972, nhiều đợt không quân chiến thuật của Mỹ lồng lộn đánh phá các mục tiêu ở khu vực Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và tuyến đường 1 nam. Đặc biệt chúng đã nhận thấy mối nguy cơ thực sự của B-52 chính là lực lượng tên lửa chứ không phải là không quân tiêm kích. Do vậy, chúng ra sức lùng sục các trận địa tên lửa phòng không để tiêu diệt. Chúng tôi vẫn triển khai ở trận địa Đại Đồng. Trận địa này cũng được xác định là một trận địa chốt ở phía bắc sông Hồng. Chúng tôi đã triển khai trận địa từ đầu tháng 10 năm 1972 và đã đánh gần 20 trận ở đây giành thắng lợi. Nhưng do được ngụy trang cẩn thận và nằm sâu gần trung tâm Hà Nội nên Tiểu đoàn vẫn an toàn. Sau đêm 20 tháng 12, Tiểu đoàn được bổ sung thêm 6 đạn. Đây là sự ưu tiên rất lớn của cấp trên dành cho đơn vị chúng tôi. Những đơn vị khác chỉ được bổ sung 3-4 quả. Ban ngày mỗi khi có không quân chiến thuật hoạt động chúng tôi vẫn phải chuyển vào cấp 1 nhưng chỉ theo dõi địch chứ không đánh.

        Sau những thất bại nặng nề về số lượng máy bay B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, trong đội ngũ phi công lái B-52 cũng xuất hiện tư tưởng hoang mang, lo sợ. Do vậy, đêm 21 rạng sáng ngày 22 tháng 12, không quân Mỹ tập trung đánh phá vòng ngoài, vừa trinh sát thăm dò hỏa lực phòng không bảo vệ Hà Nội, vừa ngăn chặn các hướng chi viện lực lượng cho Hà Nội. Trong đêm chúng đã sử dụng 18 lần chiếc máy bay F-111 đánh xen kẽ các đợt vào các mục tiêu ở Hà Nội, tập trung đánh phá sân bay Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, ga Văn Điển, ga Gia Lâm, trận địa tên lửa Mẫu Lương. Chúng chỉ tổ chức một đợt dùng B-52 vào đánh phá Hà Nội từ lúc 2 giờ 40 phút đến 4 giờ 20 phút. Đợt đánh phá này chúng sử dụng 24 lần chiếc B-52. Theo dõi trên bản tiêu đồ thấy B-52 bay vào từ hướng tây bắc, chúng rẽ sang hướng đông sớm hơn nhưng vẫn trong phương án mà Tiểu đoàn chúng tôi đã chuẩn bị. Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn diệt tốp 512. Chúng tôi cho kiểm tra, xác định nhiễu, yêu cầu đài rađa bổ trợ (K8-60) xác định tính chất của mục tiêu vì lúc này đài rađa nhìn vòng (P12) nhiễu rất nặng. Tôi cho đài điều khiển (PA) thu nhiễu, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên cùng các trắc thủ so sánh phần tử và thống nhất dải nhiễu của một chiếc B-52. Sau những thao tác nhịp nhàng, chính xác của sĩ quan điều khiển và các trắc thủ, tôi lệnh phóng tên lửa diệt mục tiêu ỏ cự ly 34km bằng 2 đạn, phương pháp điều khiển ba điểm (T/T), chế độ ngòi nổ 11,5 giây chậm. Sĩ quan điểu khiển ấn nút phóng, cả hai quả đạn bay lên vào cánh sóng có điều khiển lốt; trắc thủ góc tà đọc 2-60, 2-70... 3-20... quả 1 nổ, cự ly 25km, quả 2 nổ, góc tà đọc 3-70, mục tiêu bị tiêu diệt. Các trắc thủ báo nhiễu mờ dần, mất dải nhiễu bám sát, trắc thủ TZK (PA-00) báo mục tiêu bốc cháy lúc 3 giờ 12 phút, ngày 22 tháng 12 năm 1972, chiếc B-52 rơi tại chợ Bến, Hòa Bình. Đây là chiếc máy bay B-52 thứ 4 Tiểu đoàn chúng tôi bắn rơi kể từ đầu chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 08:58:59 AM

        Trước tình hình địch tăng cường đánh phá các trận địa tên lửa, trưa 22 tháng 12 Tiểu đoàn được tăng cường một tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm gồm 3 đại đội để bảo vệ trận địa. Tiểu đoàn cao xạ chiến đấu độc lập và hiệp đồng với chúng tôi để cung cấp các thông tin về máy bay địch trong phạm vi hoả lực của Tiểu đoàn. Mục tiêu bảo vệ trực tiếp của pháo cao xạ là Tiểu đoàn tên lửa 57. Ngày 22 tháng 12 năm 1972 là một ngày vô cùng ý nghĩa đối với chúng tôi. Trước khi bước vào trận chiến đấu, Sư đoàn và Trung đoàn đã phát động phong trào thi đua lập thành tích kỷ niệm những ngày lễ lớn trong tháng 12 năm 1972. Chúng tôi đã hứa quyết tâm phải bắn rơi máy bay B-52, bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái và chiến công ngày hôm nay chúng tôi đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B-52 thứ 2 trên bầu trời Hà Nội đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 28 của Quân đội - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 - 22.12.1972).

        Các ngày 23, 24, 25 Tiểu đoàn không đánh trận nào vì địch hoạt động giãn ra khu vực Hải Phòng, Thái Nguyên và nghỉ lễ Nôen. Trong ngày nghỉ Tiểu đoàn được đón Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và các đồng chí đại diện các cơ quan Bộ Quốc phòng đến thăm và kiểm tra đơn vị. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng biểu dương thành tích chiến đấu của đơn vị những ngày vừa qua, thông báo tình hình địch thời gian tới và nhắc nhở đơn vị phải luôn cảnh giác, không được chủ quan, thoả mãn với thành tích đã có, kiên quyết chuẩn bị tốt về mọi mặt để địch vào là phải đánh thắng giòn giã hơn nữa. Đồng chí hỏi thăm tình hình kíp chiến đấu và động viên mỗi người cố gắng hoàn thành chức trách của minh. Đồng chí xuống thăm đơn vị trong vòng 30 phút.

        Đêm 26 và 27 tháng 12, địch tổ chức đánh phá trở lại Hà Nội ác liệt hơn. Tiểu đoàn tôi đánh tiếp 5 trận với 10 quá đạn nữa, nhưng không bắn rơi chiếc nào. Sáng 28 tháng 12 năm 1972, 9 giờ 30 phút đơn vị có lệnh báo động vào cấp 1, đơn vị về vị trí sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn yêu cầu tên lửa chỉ theo dõi, không đánh, dành đạn để đánh B-52. Khi thây 5 tốp, 6 tốp máy bay chiến thuật (F) liên tiếp bổ nhào đánh vào trận địa Tiểu đoàn 77 ở Chèm, phía nam sông Hồng, tôi báo cáo Trung đoàn cho đánh chi viện, nhưng Trung đoàn lệnh chỉ theo dõi không được đánh. Dự đoán máy bay chiến thuật của địch sẽ đánh phá trận địa của Tiểu đoàn, vì trận địa Đại Đồng trên xác định là trận địa chốt. Tiểu đoan tôi cơ động về triển khai chiến đấu ở đây từ cuối tháng 9 năm 1972, đã đánh một số trận trước khi vào chiến dịch, mấy đêm nay Tiểu đoàn đánh trả quyết liệt, chắc chắn bị lộ. Tôi cho ngụy trang trận địa, khí tài, chuẩn bị lực lượng pháo cao xạ sẵn sàng chiến đâu đánh trả không quân địch.

        Đúng như nhận định của chúng tôi. Chỉ sau khoảng 7 đến 10 phút nhìn trên màn BMKO và quan sát ngoài Iran địa đã có năm, sáu tốp máy bay chiến thuật (F) bổ nhào ném bom, đánh phá trận địa của chúng tôi, có 4 qua bom bi mẹ, 8 quả bom phá loại 250kg trúng vào trận địa. Tôi lệnh cho bộ phận pháo cao xạ chiến đấu, các đồng chí bắn mãnh liệt, nhưng máy bay chưa rơi. Nhờ có lực lượng pháo phòng không bảo vệ nên số bom phá địch ném xuống đều chệch khỏi trung tâm trận địa, còn toàn bộ bom bi phủ kín đội hình Tiểu đoàn triển khai. Trên nóc xe điều khiển có 4, 5 quả bom bi con nổ nhưng nhờ lớp vỏ cây sặt bọc thêm xung quanh nên hạn chế rất nhiều tác dụng sát thương của bom bi con. Sau những loạt bom làm khí tài hỏng, 3 quả đạn tên lửa bốc khói nghi ngút. Tôi quan sát trận địa và lệnh cho Đại đội trưởng Đại đội bệ phóng Trịnh Văn Lơm cử lực lượng cứu 2 quả đạn ở bệ phóng phía bắc và tây bắc trận địa. Quả đạn ở bệ phóng hướng đông, đông bắc trận địa đã vọt bay khỏi bệ phóng, tôi lo nó bay vào khu dân cư thì gay go, nhưng may mắn nó đã rơi cách phía tây Đại đội pháo cao xạ bảo vệ Tiểu đoàn một khoảng cách an toàn. Đồng chí Lê Trọng Nhậm - Tham mưu phó Trung đoàn pháo cao xạ 260 trực tiếp chỉ huy chiến đấu đã kịp thời báo cáo, có tên lửa rơi cách trận địa khoảng gần 600m, không nổ. Còn việc xử lý bom phá, bom bi chưa nổ tại trận địa, chúng tôi phải cho xe ATC do đồng chí Át lái chạy cho nổ những quả bom bi đê thu dỡ khí tài, còn những quả bom phá chưa nổ nằm trong trận địa, tôi cho đánh dấu, canh gác an toàn và báo cáo lên trên. Sau đó lực lượng công binh đã đến xử lý an toàn số bom này. Vì đã có kinh nghiệm cứu các quả đạn đang cháy, lực lượng cứu chữa đã kịp thời đưa được các quả đạn đến nơi an toàn. Bom lại rơi, cao xạ bắn mãnh liệt nhưng vẫn không tiêu diệt được máy bay. Toàn Tiểu đoàn có một đồng chí pháo thủ của Đại đội 2 là anh Quang hy sinh, bốn đồng chí bị thương. Tôi lệnh cho các đại đội tập trung giải quyết thương binh, liệt sĩ, thu dỡ khí tài kéo về vị trí an toàn gần khu vực chợ Yên cho ngụy trang, canh gác chuẩn bị đưa đi sửa chữa.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 08:59:37 AM

        Nhưng vì khí tài bị hỏng, nên Tiểu đoàn mất sức chiến đấu phải thu hồi đưa về nơi cất giấu để sửa chữa. Tiểu đoàn tên lửa 77 của Trung đoàn 257 ở bên kia phà Chèm cũng bị địch đánh trước chúng tôi khoảng 30 phút. Một biểu hiện khác thường là không quân Mỹ những ngày qua đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 để đánh các trận địa tên lửa. Tiểu đoàn tên lửa 94 cùng Trung đoàn tôi đóng ở Tam Sơn, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh đã bị B-52 đánh hỏng khí tài và bộ đội bị thương vong vào đêm 27 tháng 12 năm 1972. Điều này chứng tỏ chúng đã hiểu được mối nguy hiểm của lực lượng tên lửa phòng không đối với chúng là như thế nào.

        Đêm 28 tháng 12 năm 1972 địch chỉ tổ chức đánh hai đợt vào Hà Nội và các vùng phụ cận. Trong đó chúng đã sử dụng một tốp 3 chiếc B-52 đánh vào trận địa của chúng tôi, nhưng rất may các loạt bom đều chệch khỏi trung tâm từ 500 đến 700m. Do vậy số anh em làm nhiệm vụ thu hồi các khí tài còn lại vẫn an toàn.

        Ngày 29 tháng 12 năm 1972, đơn vị tạm thời phân lán dọc đường một làng nhỏ vì chưa tìm được vị trí triển khai khí tài để sửa chữa. Từ tối hôm trước đến lúc này chúng tôi nhận hết lệnh này đến lệnh khác. Mới 3 giờ sáng tôi đã gọi đồng chí Kiên dậy để đi nhận khí tài mới ngay. Kiên nhảy lên xe đi luôn về Lâm Hộ, nơi Tiểu đoàn 43 thuộc Trung đoàn tên lửa 263 đang nhận khí tài. Ở đây Kiên lại nhận nhiều lệnh khác nhau, hết nhận khí tài mới, lại về khôi phục bộ khí tài cũ nên không biết phải làm thế nào. Quyết tâm của cấp trên là sau 2 ngày Tiểu đoàn 57 phải ra quân để tham gia chiến đấu. Lệnh là như vậy nhưng thực tế gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là khí tài. Tuy cấp trên rất chú ý giải quyết nhưng khó khăn là ở chỗ chưa ai nắm chắc được mức độ hư hại của khí tài ra sao nên chưa thể đánh giá được đúng mức khả năng thời gian khôi phục nó. Cả ngày hôm đó nhìn cảnh nhân dân sơ tán chạy ngược, chạy xuôi tôi thấy rất đau lòng. Nhất là cảnh các cụ già, các em nhỏ gồng gánh, tay bế, tay bồng nháo nhác tìm chỗ ẩn nấp. Thật là một cảnh chạy loạn. Nhìn những cảnh này trong lòng tôi càng thấy uất ức, địch đã vô cớ mang bom đạn để trút lên đầu những người dân vô tội.

        Cả ngày 29 tháng 12 chúng tôi vẫn phải lo giải quyết một số hậu quả còn lại ở trận địa cũ và tổ chức đi tìm trận địa mới để chuẩn bị triển khai sửa chữa khí tài và chiến đấu tiếp. Công việc chồng chất lên nhau, nhưng nhò có anh em trong đơn vị vẫn vững vàng, trong những lúc khó khăn và khẩn trương như thế này mọi người đều nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc, đồng đội và đơn vị. Do vậy, mọi công việc triển khai đều được thực hiện một cách tự giác và khẩn trương hơn thường ngày. Điều đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ huy, lãnh đạo của Tiểu đoàn. Chính lúc này mới thấy được bộ đội ta rất dũng cảm, cả những đồng chí ngày thường có những mắc mớ với tổ chức nhưng lúc này vẫn rất thông suốt với nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước.

        Ở đơn vị từ sáng tới giờ tôi cũng nhận được nhiều mệnh lệnh khác nhau. Bây giờ trực tiếp Tư lệnh phó Sư đoàn 361 Trần Sanh xuống đơn vị chỉ đạo là Tiểu đoàn phải triển khai chiến đấu ngay. Mọi thứ cần thiết sẽ được trên cung cấp đầy đủ. Thế là tôi điều Kiên lại Lâm Hộ để nhận thêm máy nổ và xe chia điện. Quyết tâm của Quân chủng và Sư đoàn là hết đêm nay và ngày mai Tiểu đoàn 57 phải ra quân chiến đấu được. Quyết tâm rất cao. Bản thân đơn vị cũng đã chuẩn bị nên mọi công việc đều tiến hành tốt. Bộ đội rất tích cực và chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm. Thế nhưng khi đơn vị chúng tôi vừa kéo máy nổ và xe chia điện về tới trận địa thì một mệnh lệnh khác đã được ban hành: Phải kéo trả lại toàn bộ khí tài mới và đưa bộ khí tài cũ về trận địa Đại Đồng triển khai sửa chữa tại đó. Mệnh lệnh từ trên xuống và không được giải thích. Chúng tôi đoán mò chắc là có một diễn biến lớn về chính trị gì đó đã xảy ra. Và mệnh lệnh đã được chấp hành nghiêm túc.

        Tối hôm đó, toàn bộ khí tài chúng tôi đã đưa vào vị trí tại trận địa Đại Đồng. Cuộc chiến đấu mới được xây dựng lại ngay trên trận địa cũ đã làm nên những chiến công lừng lẫy nhưng cũng còn vương đầy những vết tích của bom đạn kẻ thù. Chúng tôi đã quyết tâm sẽ bám lấy trận địa này để khôi phục khí tài và chiến đấu tiếp.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 09:00:05 AM

        Chiều 29 tháng 12 năm 1972, tôi đã nhận được lệnh của trên đưa kíp trắc thủ của Tiếu đoàn 57 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng vào Khu 4 nhận nhiệm vụ chiến đấu. Tôi là Tiểu đoàn trưởng; đồng chí Nguyễn Đình Kiên là sĩ quan điều khiển; các trắc thủ bao gồm: trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài; còn trắc thủ góc tà là đồng chí Trần Ngọc Côn của Tiểu đoàn 93 thay thế đồng chí Ngô Ngọc Lịch - trắc thủ góc tà của Tiểu đoàn bị thương. Khi nhận lệnh của Trung đoàn đi làm nhiệm vụ ở Khu 4, chỉ có kíp chiến đấu gọn, tôi cứ suy nghĩ mãi mà chưa rõ lý do, nhưng vẫn phải "quân lệnh như sơn". Tất cả công việc của Tiểu đoàn, tôi giao cho đồng chí Tiểu đoàn phó thay tôi.

        Mãi tới đêm khuya ngày 30 tháng 12 chúng tôi mới được tin là kẻ địch đã buộc phải ngừng ném bom Hà Nội và tái lập lại tình trạng như trước ngày 18 tháng 12, có nghĩa là chúng sẽ tiếp tục ném bom, bắn phá hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào. Như vậy là từ tối nay chiến dịch tập kích chiến lược vào Hà Nội của không quân Mỹ kết thúc và thất bại một cách thảm hại. Trên mảnh đất Thăng Long lịch sử lại một lần nữa viết nên những trang sử chói lọi trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Uy danh của không quân chiến lược Mỹ, "pháo đài bay siêu đẳng" B-52 đã phải gục ngã dưới chân thành Thăng Long lịch sử. Trong chiến dịch này Quân chủng Phòng không - Không quân đã lập công xuất sắc, nhưng vai trò nòng cốt là binh chủng tên lửa, trong đó chủ yếu là Sư đoàn 361. Đợt chiến đấu này chúng tôi vinh dự được tham gia gần hết chiến dịch. Đơn vị tôi đã lập được chiến công xuất sắc và đã được Quốc hội tặng thương Huân chương Quân công hạng nhất. Trong cuộc đời bộ đội chưa bao giờ tôi cảm thấy vất vả và ác liệt như 12 ngày qua, song tôi cũng chưa bao giờ lại phấn khởi, tự hào về binh chủng, đơn vị mình như thời gian này. Xuất phát từ những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tuyên dương danh hiệu Anh hùng Quân đội cho Binh chủng Tên lửa phòng không.

        Đi vào Khu 4 lúc này có 2 kíp chiến đấu, kíp của tôi và kíp của Tiểu đoàn 78 Trung đoàn tên lửa 257, do đồng chí Nguyễn Chấn làm Tiểu đoàn trưởng. Hai kíp chiến đấu cùng hành quân bằng một xe, vào đến Thanh Hóa thì kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 78 đi nhận nhiệm vụ, còn chúng tôi đi tiếp vào Đông Hiếu, Nghệ An mới nhận nhiệm vụ. Chúng tôi vẫn chưa hiểu nhiệm vụ như thế nào, làm gì nên cứ bàn tán nhau vào để chiến đấu hay rút kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm thì các đồng chí đã chiến đấu ở đây còn nhiều hơn mình, hay là ý định cấp trên thử thách gì? Băn khoăn về cấp trên tin hay chưa tin cứ xoáy vào đầu óc tôi. Đến Khu 4 nhận nhiệm vụ do đồng chí Phó Chính ủy Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu giao lúc này chúng tôi mới rõ. Quân chủng nhận định: B-52 sẽ đánh hạn chế ở Khu 4, do vậy cấp trên điều kíp chiến đấu chúng tôi tăng cường cùng các đơn vị chiến đấu để giáng cho đế quốc Mỹ một đòn nữa. Tôi được giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267 thay đồng chí Hiệu vì đồng chí Hiệu sức khỏe yếu, thường đau ốm luôn nên được cấp trên điều về Trung đoàn nhận nhiệm vụ.

        Tám năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đê quốc Mỹ, quân và dân ta đã bắn rơi hàng nghìn máy bay đủ các kiểu loại của chúng. Đến trước chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, chỉ còn B-52, con át chủ bài, một trong ba lực lượng chiến lược dùng để răn đe hòa bình thế giới của đế quốc Mỹ là chưa bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái. Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào Thủ đô Hà Nội, chúng muốn đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá. Nhưng chúng đã sai lầm, nhân dân ta, Quân đội ta, mà điển hình là quân và dân Hà Nội đã chiến đấu anh dũng, kiên cường, vùi xác hàng chục B-52 dưới bùn đen, hàng chục giặc lái B-52 phải vào nghỉ ở nhà tù Hỏa Lò, nơi được gọi là "Khách sạn Hintơn Hà Nội" để chờ ngày cuốn cờ về nước. Trong chiến dịch này, Tiểu đoàn 57 của tôi đã bắn rơi 4 chiếc B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ.

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, để quốc Mỹ và chư hầu cút khỏi đất nước ta, hòa bình được trở lại.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 09:00:20 AM

        Tháng 1 năm 1973, tôi cùng kíp chiến đấu Tiểu đoàn 52 đánh một trận nhưng không rơi máy bay. Do trận địa bố trí xa mục tiêu nên khi phóng đạn lên thì máy bay đã ném bom và vòng ra, tên lửa bắn đón chuyển thành bắn đuổi nên không có kết quả. Tôi và kíp trắc thủ ở Tiểu đoàn 52 được hơn một tháng thì có lệnh trở về đơn vị cũ. Về đến Trung đoàn, tôi được thủ trưởng Trung đoàn cho đi phép thăm nhà. Đã hơn 2 tháng ngừng tiếng súng mà gia đình không thấy tôi về, trong khi đó trận địa Đại Đồng bị địch đánh phá trông xơ xác, vợ tôi linh tính thế nào đó, đã cho cậu em lên hỏi trực tiếp thì đồng chí gác ở trận địa nói có tên tôi, có đóng quân chiến đấu ở đây, nhưng hiện nay đi công tác xa, chưa biết khi nào về. Đồng chí gác ở trận địa nói thật, nhưng gia đình tôi vẫn chưa rõ thực hư là tôi đi công tác xa thật hay đã... nên vẫn lo lắng. Cậu em tôi dò hỏi mãi mà không biết được cụ thể thế nào. Khi thấy tôi về, cả gia đình, họ hàng đều mừng vui, giải tỏa được nỗi lo thầm kín bấy lâu.

        Suốt đợt chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của không quân Mỹ tháng 12 năm 1972 tôi không được nghỉ phép, qua thư từ tôi mới biết tin do làm lụng vất vả nên vợ tôi bị ốm đau liên miên. Bác sĩ chẩn đoán vợ tôi bị thoái hóa đốt sống lưng nên không làm được việc nặng, đi lại khó khăn. Biết tôi bận chiến đấu không về chăm sóc được nên vợ tôi gắng chịu đựng, không dám cho gia đình và bố mẹ tôi biết. Thấy vợ đau yếu, tôi chỉ biết động viên vợ uống thuốc và chờ dịp tôi có thời gian rảnh có thể thu xếp nghỉ phép dài ngày để dưa VỢ tôi đi chữa bệnh cho dứt điểm. Qua nhiều bạn bè, đồng chí, tôi được biết ở chùa Bộc (Hà Nội) có Hội thuốc nam của các cụ (gọi là Hội lương y) xem mạch, bốc thuốc tốt lắm. Lần nghỉ phép này, tôi đưa vợ đến Hội thuốc nam ở chùa Bộc khám và bốc thuốc. Vì ở xa không có điều kiện đi lại nhiều nên tôi nhờ các cụ lương y cắt thuốc cho vỢ tôi uống liền 2 tuần, xong mới đến khám lại và bốc thuốc tiếp. Lần thứ hai đến khám, các cụ lương y xem mạch và nói bệnh của vợ tôi có tiến triển tốt nên vợ chồng tôi mừng lắm. Lần này các cụ cắt cho vợ tôi 20 thang thuốc uống trong 20 ngày, sau đó không phải đến khám nữa mà chỉ đến lấy thuốc về sắc uống tiếp thôi. Các cụ còn bảo phải uống đủ 100 thang mới khỏi được bệnh.

        Để thuận tiện cho quá trình điều trị bệnh, tôi báo cáo với Sư đoàn và Trung đoàn cho vợ tôi ở nhờ một gian ở nhà khách của Sư đoàn trong thời gian chữa bệnh. Lúc này tôi là Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng Trung đoàn 261, đóng quân ở Đông Anh nên tôi không có điều kiện ở lại chăm sóc vợ vì phải bám đơn vị và bám bộ đội. Đang chưa biết tính thế nào thì may mắn vợ chồng tôi gặp chị Tỉnh, vợ anh Chi Lăng là cán bộ Ban Tuyên huấn cùng đơn vị cũng đang chữa bệnh ở đó, tôi đã nhờ và chị đồng ý giúp đỡ vợ tôi trong thời gian tôi ở đơn vị. Chỉ những ngày nghỉ tôi mới xin phép để sang chăm sóc và động viên vợ được. Dù đang chữa bệnh nhưng vợ tôi vẫn lo việc nhà vì các con còn nhỏ, bố mẹ thì già, tôi phải động viên vợ kiên trì chữa cho khỏi hẳn bệnh. May mắn gặp thầy gặp thuốc, chỉ một đợt thuốc nam ấy vợ tôi đã khỏi hẳn bệnh thoái hóa đốt sống cho đến tận bây giờ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 09:01:46 AM

Chương 5

NHẬN ĐƯỢC DANH HIỆU CAO QUÝ NHẤT TRONG CUỘC ĐỜI, TÍCH CỰC HỌC TẬP, ĐỀ CAO TRÁCH NHIỆM XÂY DỰNG SƯ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG BẢO VỆ VÙNG TRỜI ĐÔNG BẮC TỔ QUỐC

NHẬN ĐƯỢC DANH HIỆU CAO QUÝ NHẤT TRONG CUỘC ĐỜI (1973)

        San đợt nghỉ phép, tôi được nhận nhiệm vụ làm Tham mưu trưởng Trung đoàn tên lửa 261 theo Quyết định số 23/PNA3, do đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, Phó Chính ủy Quân chủng ký. Công tác được một thời gian, tôi được cấp trên giao một số sổ sách, kinh nghiệm chiến đấu, yêu cầu đọc để hiểu và nhớ. Tôi thắc mắc tự hỏi, rồi cũng hỏi một số đồng chí khác: "Nghiên cứu để làm gì?". Tuy chưa rõ mục đích, nhưng tôi vẫn miệt mài đọc để tìmn hiểu, tích lũy thêm kinh nghiệm cho mình. Mãi sau đó, Phòng Cán bộ Quân chủng đưa tôi lên Tổng cục Chính trị nhận nhiệm vụ làm hộ chiếu để đi Cu Ba thăm và truyền đạt những kinh nghiệm đánh B-52 cho bạn, lúc này tôi mới rõ. Thật vinh dự và sung sướng vì đây là lần đầu tiên tôi được đi một vòng trái đất. Đi Liên Xô, Trung Quốc thì đã đi rồi, nay sang Cu Ba, một nước được nhân dân ta rất ca ngợi ở bên cạnh nước Mỹ, dù là một nước nhỏ nhưng rất anh hùng. Được đến đây là điều mong ước của biết bao người.

        Nhưng tôi vẫn còn một điều băn khoăn là sẽ truyền đạt thế nào, truyền đạt cái gì? Tôi được các đồng chí ở Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị bồi dưỡng. Các đồng chí ở Cục Tuyên huấn nói có kinh nghiệm gì, hiểu đến đâu cứ trao đổi hết với bạn. Các đồng chí còn bồi dưỡng cho chúng tôi cách giao tiếp để thực hiện đúng với phong tục, tập quán của nước bạn. Đến Cục Tuyên huấn, tôi rất bất ngờ vì được trao đổi với anh Nguyễn Sĩ Thanh, chính lại là người nhà. Anh quê ở làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh cùng quê với ông nội tôi. Khi ngồi tâm sự, hai anh em nhận ra nhau lại là người trong họ nên trao đổi công việc càng thuận lợi hơn.

        Bộ Quốc phòng tổ chức đoàn đi có chiến sĩ Điện Biên Phủ thời chống Pháp và chiến sĩ Điện Biên Phủ trên không thời chống Mỹ. Gọi là đoàn nhưng thực chất cả đoàn chỉ có 2 người: Đồng chí Mạc Ninh là Trưởng đoàn, tôi là đoàn viên. Đồng chí Mạc Ninh giỏi tiếng Pháp, tôi biết được tiếng Nga. Khi đi, Đại sứ quán Cu Ba và Cục Đối ngoại của Bộ Quốc phòng Việt Nam đưa chúng tôi ra sân bay, dặn dò mọi điều và chỉ dẫn cho chúng tôi khi đến các sân bay quá cảnh sẽ có người đón, đưa đến chỗ ăn, nghỉ, rồi đưa lên máy bay chuyển tiếp.

        Khổ nỗi, theo dự kiến, máy bay chúng tôi đi sẽ bay từ sân bay Nội Bài đến sân bay Karachi của Pakistan thì đỗ xuống đó, nhưng vì ở đó đang có chiến sự nên máy bay phải đỗ xuống Ấn Độ, rồi từ Ấn Độ mới bay qua Mạc Tư Khoa. Chúng tôi nghỉ ở sân bay này khoảng một tiếng đồng hồ rồi lại bay qua Marốc. Đây là sân bay mà tôi thấy nó có cái gì đó khác với các sân bay của các nước mà tôi đã đi qua. Không ồn ào, náo nhiệt, tôi đoán họ đón ai đó mà cả một đoàn người áo trắng, nằm bò rạp xuống sân băng, mới trông thì thấy rất lạ. Chúng tôi tiếp tục nghỉ ở đây để máy bay làm công tác chuẩn bị vượt Bắc Đại Tây Dương sang nửa bên kia của trái đất. Máy bay bay qua biển êm lạ thường, không như bay qua đất liền. Đặc biệt, tôi thấy được chỉ một khoảnh khắc thôi, rất ngắn, rất đáng nhớ vào ban đêm, chỉ như thoáng qua đã lại là ban ngày. Lúc đầu tôi cũng thấy ngạc nhiên vì chưa hiểu đêm gì mà sao ngắn vậy? Dù tôi đã được học địa lý thế giới rồi, thế mà hôm đó cứ tự chất vấn bản thân mãi và cũng bị bất ngờ.

        Máy bay của chúng tôi đang tiến vào đất nước Cu Ba xinh đẹp. Đang ngồi, có đồng chí tiếp viên đến thông báo cho anh Mạc Ninh và tôi được mời vào phòng thay quần áo (việc này được thông báo, dặn dò từ trước là chúng tôi mặc bộ quân phục để khi xuống máy bay vì bạn sẽ tổ chức đón tiếp tại sân bay). Sau khi chúng tôi mặc xong bộ quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam đi về chỗ ngồi, thì ôi, sao lúc đó có rất nhiều, rất nhiều người từ ghế hai bên đứng lên ngắm nhìn chúng tôi, ai nay đều muốn đến gần để ngắm, bắt tay người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam vừa chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Mọi người, ai cũng muốn nói chuyện với chúng tôi như muốn chia sẻ những tình cảm: tôi là học sinh, tôi là sinh viên của Cu Ba học ở Liên Xô về nghỉ, tôi là người Cu Ba... Lúc đó tôi thấy thật tự hào cho dân tộc Việt Nam có một quân đội được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, một quân đội bách chiến, bách thắng.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Một, 2020, 09:02:17 AM

        Cả máy bay cứ thế ồn ào. Có người nói tiếng Tây Ban Nha, người nói tiếng Pháp, người nói tiếng Nga, cũng có một vài người nói tiếng Việt chưa sõi và tất cả đều chúc mừng Việt Nam anh hùng.

        Họ cứ dồn sát tôi và anh Mạc Ninh để hỏi chuyện và tặng các vật kỷ niệm. Không khí thật đầm ấm tình đồng chí, anh em. Đất nước Cu Ba xa về khoảng cách địa lý, nhưng không xa về tình cảm anh em. Máy bay đã đến biển Cu Ba, nhìn về phía bên phải, qua cửa sổ tôi có thế nhìn thấy được nước Mỹ. Máy bay hạ cánh từ từ xuống sân bay Lahabana trong buổi bình minh của ngày hè một cách êm ả. Tôi và anh Mạc Ninh chờ cho khách xuống hết rồi mới rời máy bay. Ra đến cầu thang, đã thấy đoàn người đón ở chân cầu thang, rồi chúng tôi cùng đoàn đi vào nhà khách của sân bay để trò chuyện. Đồng chí Tuaret là Cục phó Cục Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân cùng bà Epmende đón chúng tôi và trò chuyện rất thân mật. Tôi cảm thấy mình như những người anh em đi chiến đấu xa lâu ngày, nay trở về gia đình, không khí sao mà đầm ấm thế. Trò chuyện một lúc họ đưa chúng tôi lên xe. Tôi và anh Mạc Ninh mỗi người một xe về nhà khách Bộ Quốc phòng Cu Ba.

        Thời gian ở trên đất nước Cu Ba anh em, chúng tôi được đi xem danh lam thắng cảnh miền nhiệt đới bên kia bán cầu, thăm những công trình của nhân dân Cu Ba, thăm các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội Cu Ba. Đặc biệt, đoàn tuy ít người nhưng vẫn được Chủ tịch Phiden Castro gặp mặt và trò chuyện, tôi thực sự cảm động.

        Những ngày đi đến thăm các đơn vị tên lửa của bạn để truyền đạt những kinh nghiệm chiến đấu, tôi cảm thấy rất tự hào vì được đại diện cho Bộ đội Tên lửa nói lên tiếng nói của dân tộc, của Quân đội và của Bộ đội Phòng không - Không quân về sức mạnh làm nên chiến thắng. Đó là sức mạnh chính trị - tinh thần, được chuyển hóa thành những hành động chiến đâu, để đánh thắng không quân của đế quốc Mỹ xâm lược hiện đại và hung mạnh. Việt Nam đã qua thực tế chiến đấu với đế quốc Mỹ, nên khi chúng tôi chia sẻ những kinh nghiệm chiến đấu, kinh nghiệm xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp để đánh thắng kẻ thù, bạn tin lắm, quyết tâm học để làm bằng được, bạn vận dụng kinh nghiệm một cách triệt để. Tôi nhớ khi đến trận địa của một tiểu đoàn tên lửa, loại SAM-3 bảo vệ Thủ đô Lahabana trên một quả đồi, được bạn xây dựng kiên cố trong hầm, khi chiến đấu chỉ có 3 bệ phóng và đạn là tự động đưa lên mặt đất, còn cây ngụy trang được trồng, chăm bón rất tốt. Nhưng khi đoàn chúng tôi đến thăm, thẳng thắn trao đổi với bạn: "Nếu ngụy trang bằng cây lá nhọn sẽ tiêu hao sóng phản xạ và không đúng với địa hình khu vực" bạn lập tức thay đổi ngay (bạn còn ghi vào sổ nhật ký các đoàn đến thăm).

        Có một việc không ngờ tới là chúng tôi đến Cu Ba đúng vào dịp kỉ niệm 20 năm Ngày Chiến thắng Môncađa (26.7.1953 - 26.7.1973). Khi chúng tôi đi cùng dòng người, họ đã đề nghị công kênh chúng tôi lên và hô những lời chúc mừng nhân dân Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, những lời chia sẻ tình cảm, cám ơn nhân dân Việt Nam đã chiến thắng đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam anh hùng. Tôi thực sự xúc động và bất ngờ trước những tình cảm trân trọng của nhân dân Cu Ba đối với những người đã chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

        Bạn bố trí cho chúng tôi ở trong một khách sạn sang trọng nhất ở Lahabana. Ở đây, ban ngày chúng tôi đi tham quan, dự mít tinh, gặp mặt trao đổi, đêm về nghỉ ngơi. Nhưng cứ mỗi tôi khi chúng tôi về đến phòng đã thấy một đĩa hoa quả đầy và tươi mới. Khi hỏi ra chúng tôi mới biết, bà Epmande, lúc đó là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba, một người đồng chí, một người mẹ Cu Ba, coi những chiến sĩ Việt Nam như người thân của mình, đã mua những túi quà đầy tình nghĩa gửi đến cho chúng tôi hàng ngày.

        Rời Cu Ba về nước, tôi nhớ mãi tinh thần cách mạng của nhân dân Cu Ba thật là cao cả, tinh thần xây dựng xã hội chủ nghĩa thật là sôi động. Cu Ba tuy còn nghèo, nhưng tình nghĩa bạn bè, tình đồng chí thật là thủy chung, son sắt. Đảng, Chính phủ và nhân dân Cu Ba anh em, lúc nào cũng một lòng hướng về nhân dân Việt Nam, đất nước, con người Việt Nam.

        Về đơn vị, tôi được thủ trưởng Trung đoàn gặp, giao nhiệm vụ, đồng chí Dương Đình Thảo - Chính ủy Trung đoàn nói: "Khi đồng chí ở Cu Ba thì ở nhà đã làm các thủ tục đề nghị cấp trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng chí". Tôi rất xúc động và chỉ biết cảm ơn Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhất là thủ trưởng các cấp trong đơn vị, cùng cán bộ, chiến sĩ đã dành tình cám sâu nặng, nhường phần thưởng cao quý đó cho tôi. Ngày 3 tháng 9 năm 1973, tôi vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:18:17 PM

        Trong buổi trao danh hiệu Anh hùng cao quý, tôi thấy rất hồi hộp, xúc động và sung sướng vô cùng. Ngoài cấp trên và anh em bạn bè, đồng đội, Quân chủng còn mời cả mẹ đẻ, mẹ vợ tôi và vợ tôi đến dự buổi mít tinh long trọng này. Theo thông lệ sau khi được trao huy chương và bằng Anh hùng xong, một đồng chí thay mặt những người được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" lần này phát biểu. Lúc đó, tôi thầm cảm ơn Đảng, Nhà nước, nhân dân, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong Quân đội và bạn bè, đồng đội luôn theo sát quá trình xây dựng, chiến đấu của bản thân tôi, đã trao cho tôi vinh dự lớn lao này.

        Ngày 2 tháng 3 năm 1974, theo Quyết định số 4065/ĐUĐT do đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ký, tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 261, đơn vị mà tôi có nhiều năm liên tục xây dựng, chiến đấu và trưởng thành ở đó.

        Tháng 7 năm 1974, tôi được cấp trên cho đi học lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ trung, cao cấp do Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức. Lớp học được tổ chức tại Yên Hòa, nay là Khu tập thể 361 Phòng không - Không quân. Lớp bồi dưỡng lý luận chính trị được tổ chức thành một tiểu đoàn do đồng chí Dương Bá Kim làm Tiểu đoàn trưởng. Đây là tiểu đoàn mà Quân chủng thực hiện nhiệm vụ của trên để bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ. Vì việc bồi dưỡng tập trung của các học viện, nhà trường Quân đội có nhiều khó khăn, không đáp ứng được việc phát triển lực lượng lúc bấy giờ. Đa số chúng tôi về học là cán bộ quân sự, đã qua chiến đấu ở cương vị đảm nhiệm từ sơ cấp phát triển lên, phải được bồi dưỡng lý luận chính trị để đáp ứng yêu cầu công tác ở cương vị cao hơn. Tuy thời gian học tập có một năm, nhưng đối chiếu với những công việc lãnh đạo, chỉ huy trong thực tiễn tôi thấy sáng tỏ thêm rất nhiều điều. Có nhiều vấn đề trước đây khúc mắc, qua học lý luận tôi đã tự giải quyết được. Sau khóa học, kiểm tra phần lý luận cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, công tác đảng, công tác chính trị tôi đều đạt loại giỏi. Chia tay lớp học, mỗi đồng chí mỗi nơi, tôi tiếp tục về đơn vị cũ công tác. Sau khi hoàn thành khóa học, tôi thấy tự tin hơn, giải quyết công việc chắc chắn hơn.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất hai miền Nam - Bắc, tháng 8 năm 1975, tôi được cấp trên cho về Trường Văn hóa Lạng Sơn học tập để tiếp tục học thi lấy bằng tốt nghiệp phổ thông cấp 3. Vì tôi đã học lớp 10 nhưng chưa có bằng tốt nghiệp. Trước đây trong chiến đấu tổ chức chưa có điều kiện cho đi học, nay xây dựng Quân đội hiện đại, đòi hỏi phải có bằng cấp để tiếp thu tri thức khoa học kỹ thuật nên tôi được cấp trên cho đi học.

        Trước khi tập trung để về trường, tôi được Tổng cục Chính trị giao phụ trách các đồng chí anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ. Tất cả gần 100 đồng chí biên chế về Tiểu đoàn 3 của trường, kiểm tra rồi phân thành 10 lớp học; có lớp quân số chỉ có 2 đồng chí. Sau khi chúng tôi học hết năm thứ nhất, nhà trường chọn một số đồng chí tuổi đã cao không theo toàn bộ các môn, đưa vào một lớp, chỉ học các môn văn, sử, địa và thi lấy bằng tốt nghiệp các môn đã học. Tôi học hết chương trình lớp 10A, 10B và được phép của Bộ Giáo dục, trường tổ chức thi tốt nghiệp với 3 môn: Toán, lý, hóa. Kết quả cả 3 môn tôi đều đạt loại giỏi. Học xong văn hóa, tôi tiếp tục chuyển sang Tiểu đoàn 4 để học môn Nga văn. Vào học Nga văn, giáo viên Chủ nhiệm lớp cử tôi làm Lớp trưởng, tôi từ chối mãi không được. Thế là từ các lớp học phổ thông đến các lớp học ở Trường Văn hóa Quân đội, tôi đều được chỉ định làm Lớp trưởng, nghĩ lại tôi thấy không hiểu do cái duyên nợ gì mà như thế. Có lẽ làm lớp trưởng lớp học Nga văn, yêu cầu khi vào lớp phải báo cáo bằng tiếng Nga, nên tôi được chọn vì đã biết chút ít tiếng Nga. Do lực lượng phòng không chủ yếu chiến đấu bằng vũ khí trang bị của Liên Xô, các ký hiệu đều ghi bằng tiếng Nga buộc chúng tôi phải nhớ thuộc lòng mặt chữ. Tôi nghĩ, lần này được học tiếng Nga để sử dụng vũ khí trang bị thì thuận lợi quá. Số các đồng chí học cùng với tôi, nhiều đồng chí hết năm thứ nhất Nga văn là đi Liên Xô học chuyên môn, rồi có một số đồng chí năm thứ hai cũng được cử đi học chuyên môn. Còn tôi, hết năm thứ hai, không thấy trên gọi đi đâu cả, nhưng tôi vẫn yên tâm sẵn sàng nhận nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:19:04 PM

* XÂY DỰNG SƯ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG
SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ VÙNG TRỜI ĐÔNG BẮC TỔ QUỐC

        Tháng 9 năm 1978, tôi nhận được quyết định làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 257. Đây là trung đoàn được thành lập trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi mới ra đời, Trung đoàn đã kế thừa thành quả của các trung đoàn 234, 238, 285, ra sức học tập, rèn luyện để ra quân chiến đấu và chiến thắng. Khi không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, vừa chiến đấu vừa xây dựng, lấy chiến trường làm thao trường, càng đánh càng trưởng thành nhanh chóng và vững chắc, Trung đoàn phát huy sức mạnh tống hợp của các lực lượng và phương tiện, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, cùng với các lực lượng của mặt đất đối không trên miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Đặc biệt, trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972, Trung đoàn đã cùng Trung đoàn tên lửa 261 làm nòng cốt trong các lực lượng phòng không ba thứ quân đánh bại chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972.

        Khi trên vai khoác ba lô vừa về đến Quân chủng để nhận nhiệm vụ, có đồng chí gặp tôi nói: Sao ông lại nhận nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 257? Nên đề nghị đi đơn vị khác. Tôi hỏi ra thì được biết, Trung đoàn 257 có lệnh triển khai chiến đấu, khí tài bảo quản trong kho từ mấy năm nay, sờ đến cái gì cũng thiếu do công tác quản lý không tốt; nội bộ cán bộ trong Trung đoàn và đơn vị đang mất đoàn kết, xây dựng đơn vị yếu kém. Khi hiểu được tình hình, tôi càng quyết tâm về Trung đoàn 257 để đóng góp công sức xây dựng, phát triển đơn vị, vì đây là một trong những trung đoàn có thành tích trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Tổng kết chiến đấu trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, Trung đoàn tên lửa 257 đã bắn rơi 74 máy bay các loại; riêng trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, Trung đoàn bắn rơi 11 chiếc B-52, có 8 chiếc rơi tại chỗ. Đây là một đơn vị có bề dày chiến công rất to lớn. Tôi tự xác định trách nhiệm của mình phải đem hết khả năng cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn phấn đấu viết tiếp những chiến công, những thành tích mới xứng đáng với sự hy sinh xương máu của các đồng chí đi trước đã làm nên những chiến công oanh liệt của Trung đoàn.

        Vê đến Sư đoàn phòng không 363, tôi được đồng chí Đinh Phúc Hải - Chính ủy Sư đoàn giao nhiệm vụ về Trung đoàn tên lửa 257. Đồng chí còn căn dặn và hướng dẫn tôi những việc cần làm trước và việc cần làm sau.

        Khi bắt tay vào điều hành công việc, lúc đầu tôi thấy khó khăn thật. Tiểu đoàn 77 ra quân đầu tiên mà thiếu thốn nhiều thứ quá, điều của các tiểu đoàn 76, 78, 79 sang mà vẫn còn thiếu. Tôi trực tiếp đi báo cáo ngành kỹ thuật Sư đoàn, Quân chủng, được các đồng chí hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất đế không phải chỉ có Tiểu đoàn 77 mà các tiểu đoàn khác cũng phải nhanh chóng ra quân chiến đấu.

        Chiến tranh chấm dứt, vũ khí, khí tài phải được đưa vào niêm cất, báo quản là đúng, không thể cứ triển khai chiến đấu tất cả được. Theo lý thuyết thì những đơn vị niêm cất bảo quản dài hạn, khi phá niêm cất triển khai chiến đấu chỉ sau 72 giờ phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Nhưng các tiểu đoàn của Trung đoàn tên lửa 257 phải mất hàng tháng, dù đã được sự giúp đỡ tận tình của trên, không thì phải kéo dài hơn nữa. Bài học niêm cất, bảo quản cũng được rút ra từ đây, phải kiểm kê, nắm chắc chất lượng, giao trách nhiệm cụ thể, tỉ mỉ, định kì kiểm kê, đánh giá chất lượng, bổ sung kịp thời, canh gác nghiêm ngặt.

        Khi cả 4 tiểu đoàn đã sẵn sàng chiến đấu, tưởng rằng cứ thế phát triển lên. Nhưng lúc này lại có cái khó vì những năm 1978, 1979, việc đưa bộ đội chuyển từ thời bình sang thời chiến là một điều cực kỳ gian khổ, khó khăn. Có một số sĩ quan, nhất là cấp phân đội mới tốt nghiệp ở các trường về, lại gặp chiến sĩ là lính nghĩa vụ mà họ đã phục vụ chiến đấu, công tác 2 hoặc 3 năm thì rất e ngại. Hòa bình lại vừa được mấy năm, họ chỉ muốn hưởng thụ, còn cống hiến thì bất cần. Số chiến sĩ lại vừa mới xa gia đình, được giáo dục chưa nhiều, đua đòi ăn nhậu, chơi bời. Doanh trại các tiểu đoàn không có gì để ngăn cách nên cứ đến giờ nghỉ ngơi là chiến sĩ, có cả cán bộ bỏ vị trí ra hàng quán, nhà dân chơi bời, không tự giác ghép bản thân vào nền nếp nên rất khó quán lý.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:19:25 PM

        Tôi nhớ hồi ấy, Tiểu đoàn 77 đóng ở trận địa xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, có chiến sĩ tên là Nguyễn Văn Trái, ngang bướng, hay ăn cắp vặt. Có lần đồng chí này trong phiên gác đã lấy trộm cọc đất của bộ khí tài đang chiến đấu mang đi bán. Cán bộ chỉ huy đơn vị lúc đó rất vất vả, cắt người gác khí tài, doanh trại rồi lại phải cử người gác theo dõi đồng chí gác. Trước đó, chưa triển khai chiến đấu đồng chí này còn vác cả đoạn nối giữa anten phương vị với anten phát lệnh PPK nặng đến 30kg, 40kg đem bán. Mặc dù biết chắc là đồng chí đó đem bán nhưng hỏi mãi đồng chí vẫn không nhận. Theo Điều lệnh kỷ luật của Quân đội, tôi lệnh phạt giam đồng chí này để giáo dục, răn đe.

        Sau lệnh phạt giam chiến sĩ trong đơn vị, tôi suy nghĩ rất nhiều về trách nhiệm của người chỉ huy đơn vị lúc chiến đấu gian khố giữa cái sống với cái chết, chỉ có tình đồng chí, đồng đội thương yêu nhau mới bảo vệ được nhau. Đất nước sau chiến tranh, đời sống của nhân dân và Quân đội đang gặp rất nhiêu khó khăn, nên chiến sĩ dễ vi phạm kỷ luật. Thành ngữ có câu: "Đói ăn vụng, túng làm liều", nêu cán bộ gần gũi chiến sĩ, biết động viên tinh thần thì chiến sĩ sẽ không vi phạm kỷ luật, sẽ biết khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi chỉ đạo cơ quan Tham mưu và Tiểu đoàn tiếp tục giáo dục, động viên và đồng chí đó đã nhận ra khuyết điểm, sai phạm. Tiếp tục giáo dục, động viên, tạo cơ hội cho đồng chí sửa chữa khuyết điểm. Sau này đồng chí đã trở thành một chiến sĩ tốt, hăng hái trong chiến đấu, nhiệt tình trong công tác. Tôi đã đùa với đồng chí Trái, bây giờ gọi là "Phải", không là "Trái" nữa.

        Khi ra quân chiến đấu, đơn vị bắt đầu đi vào nền nếp thì chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Trung đoàn 257 được giao nhiệm vụ bảo vệ vùng Đông Bắc Tổ quốc, phối hợp với các lực lượng giữ vững trận địa. Sở chỉ huy Trung đoàn lúc này ở ngã ba Biểu Nghi, thuộc thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Tiểu đoàn 76 đóng ở xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng; Tiểu đoàn 77 ở Cọc 6, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Tiểu đoàn 78 ở Dốc Đỏ, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Tiểu đoàn 79 ở Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Thế trận bố trí xong, đơn vị trực ban chiến đấu 24/24 giờ, nhưng không có máy bay địch nên chưa chiến đấu trận nào.

        Kết thúc chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 3 năm 1979, trên điều chỉnh đội hình cho phù hợp sát biên giới vùng Đông Bắc hơn. Sở chỉ huy Trung đoàn chuyển về đóng quân ở Hà Lầm, thị xã Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh; Tiểu đoàn 78 về trận địa Yên Than; Tiểu đoàn 79 ra đảo Cái Bầu, Tiểu đoàn 76 ở cầu Trắng, huyện Hoành Bồ; Tiểu đoàn 77 vẫn ở Cọc 6, cẩm Phả; Tiểu đoàn 80 ở Quang Hanh, Cẩm Phả. Như vậy, đội hình chiến đấu của Trung đoàn tên lửa 257 nằm trọn trên đất Quảng Ninh. Ở Quảng Ninh, đơn vị được các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể của địa phương luôn quan tâm, chăm sóc như chính lực lượng vũ trang của mình, con em mình. Khi chúng tôi xây dựng các trận địa chiến đấu trên đất Quảng Ninh đều được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các ban ngành và nhân dân các dân tộc trong tỉnh động viên giúp đỡ cả vật chất và tinh thần. Điển hình là xây dựng trận địa Tiểu đoàn 77 ở Cẩm Phả, tỉnh, ngành than mà trực tiếp là Mỏ than Cọc 6 đã dùng xe ủi, xe vận chuyển đất đá để giúp đơn vị. Các xe vận chuyển đểu là xe đặc chủng của ngành than, mỗi chuyên chở hàng chục tấn. Ngoài ra còn có các xe ủi, xe đầm, xe gạt làm việc suốt ngày đêm, không khác gì một công trường lớn. Thật là không có nhân dân thì làm sao có trận địa như thế để chống giặc. Mãi sau này khi xa Quảng Ninh và cho đến bây giờ tôi vẫn thầm cảm ơn Đảng, chính quyền, đoàn thể các dân tộc tỉnh Quảng Ninh, đi đến đâu chúng tôi cũng nhận được sự đón tiếp nồng thắm, sự chia sẻ cả vật chất, tinh thần trong những lúc khó khăn nhất.

        Ngày 2 tháng 9 năm 1979, tôi được bổ nhiệm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 363. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc tạm ngưng, nhưng còn rất nhiều phức tạp. Đồng chí Nguyễn Duy Bi, người thay tôi nhưng lại chưa về nên chưa làm công tác bàn giao được. Chưa làm công tác bàn giao xong, chưa nhận nhiệm vụ theo quyết định bổ nhiệm, thì tôi lại nhận được Quyết định số 976/QĐ-QP ngày 8 tháng 10 năm 1979 chỉ sau quyết định cũ hơn một tháng, cũng do Thứ trưởng Đặng Vũ Hiệp ký, điều tôi về làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 380. Tôi và một số đồng chí cán bộ Sư đoàn là: Nguyễn Khắc Chuẩn - Phó Chính ủy, Nguyễn Danh Mậu - Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Mai Văn Hoạt - Chủ nhiệm Chính trị cùng các cơ quan và một số cán bộ, chiến sĩ có mặt ở Trạm 44, An Dương, thành phố Hải Phòng thuộc Sư đoàn 363 để làm công tác thu nhận cán bộ, chiến sĩ, chuẩn bị cơ sở vật chất ra quân chiến đấu theo lệnh của trên.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:19:51 PM

        Do tình hình thế giới, khu vực có những thay đổi có lợi cho cách mạng nước ta, cấp trên quyết định không thành lập Sư đoàn 380 nữa, mà điều chúng tôi về Sư đoàn 369 vừa được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1979. Cán bộ Sư đoàn 369 lúc này đã có đồng chí Hoàng Bát là Tư lệnh Sư đoàn, các cơ quan tương đối đủ, đồng chí Đào Tiến - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Đình Ái - Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Tuyên - Phó Tư lệnh phụ trách hậu cần, đồng chí Nguyễn Trung Lữ - Phó Tư lệnh phụ trách kỹ thuật. Sư đoàn có Trung đoàn pháo cao xạ 230.

        Sau một thời gian ổn định tổ chức, ngày 9 tháng 10 năm 1979, Bộ Tổng Tham mưu ra quyết định điều Sư đoàn phòng không 369 ra bảo vệ Đặc khu Quảng Ninh. Khi về Quảng Ninh, Bộ Tư lệnh Sư đoàn có sự thay đổi, đồng chí Đinh Công Khẩn - quyền Tư lệnh Sư đoàn, đồng chí Đào Tiến - Chính ủy, đồng chí Nguyễn Khắc Chuẩn - Phó Chính ủy, đồng chí Nguyễn Danh Mậu - Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trương, tôi - Nguyễn Văn Phiệt làm Phó Tư lệnh phụ trách hậu cần, đồng chí Nguyễn Trung Lữ - Phó Tư lệnh phụ trách kỹ thuật.

        Sư đoàn phòng không 369 lật cánh về làm nhiệm vụ chiến đấu trên hướng Đông Bắc Tố quốc, Sư đoàn tiếp nhận các đơn vị đang đóng quân chiến đấu ở đó. Trong đó có Trung đoàn tên lửa 257 đang bảo vệ khu vực Quảng Ninh, Trung đoàn cao xạ 225 đang bảo vệ khu vực Uông Bí, Tiểu đoàn cao xạ 30 bảo vệ Bãi Cháy, Cẩm Phá thuộc Sư đoàn 363 bàn giao cho Sư đoàn 369. Trung đoàn 230 của Sư đoàn 369 hành quân từ sân bay Nội Bài ra bảo vệ khu vực Cẩm Phả, Cửa Ông. Trên cơ sở Tiểu đoàn cao xạ 30, Quân chủng cho Sư đoàn 369 tổ chức thành Trung đoàn cao xạ lấy phiên hiệu là Trung đoàn cao xạ 278 bảo vệ khu vực Bãi Cháy, Hòn Gai. Như vậy trong năm 1979, lực lượng chiến đấu của Sư đoàn 369 có Trung đoàn tên lửa 257, ba trung đoàn cao xạ 230, 278, 225. Tháng 3 năm 1980, Quân chủng Phòng không điều Trung đoàn tên lửa tầm thấp 281 từ Sư đoàn 375 Đà Nẵng cơ động hành quân ra cho Sư đoàn. Trên miền đất Đông Bắc địa đầu của Tổ quốc có một sư đoàn phòng không, biên chê 5 trung đoàn gồm hai trung đoàn tên lửa, ba trung đoàn pháo cao xạ nằm trọn trong đất tỉnh Quảng Ninh, bảo vệ vùng trời Đông Bắc và vùng than thân yêu của Tổ quốc.

        Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Trung đoàn 257 đã khẩn trương tổ chức chuyển các đơn vị đang làm nhiệm vụ bảo quản, niêm cất khí tài thành đơn vị chiến đấu va cơ động từ Hải Phòng ra Quảng Ninh an toàn, đúng thời gian quy định.

        Làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở tuyến đầu bảo vệ khu vực Đông Bắc của Tổ quốc trong điều kiện địa ban chiến đấu mới, khí tài cũ thiếu đồng bộ, bộ đội gặp không ít khó khăn, thử thách. Với phẩm chất và bản lĩnh đã được tôi luyện gần 15 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được sự lãnh đạo, tổ chức của Quân chủng, Sư đoàn, Trung đoàn, tất cả cán bộ, chiến sĩ đơn vị đều xác định rõ trách nhiệm chính trị, đoàn kết nhất trí, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm với cấp trên.

        Tôi ra Quảng Ninh cùng với Trung đoàn tên lửa 257 nên nắm được địa hình, quen biết các đồng chí lãnh đạo của tỉnh, được Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao các nhiệm vụ liên hệ với tỉnh Quảng Ninh xây dựng trận địa, xây dựng mối đoàn kết quân dân trong các khu vực đóng quân, tạo nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho đơn vị. Tôi suy nghĩ, đất nước ta vừa thoát khỏi chiến tranh chống xâm lược, non sông mới thu về một mối, đời sống của nhân dân và Quân đội đang gặp rất nhiều khó khăn, nay lại phải đối phó với chiến tranh biên giới; do vậy phải xây dựng được mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh, một địa phương có truyền thống yêu nước, cách mạng, một tỉnh biên giới tiền tiêu của Tổ quốc... để xây dựng một thế trận mới -  thế trận phòng không nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Thế trận có vững chắc thì Sư đoàn mới hoàn thành nhiệm vụ, tôi không kể ngày đêm hăng say với công việc của một Phó Tư lệnh Sư đoàn phụ trách hậu cần nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm "thực túc binh cường". Do đã có mối quan hệ thân thiết từ trước nên đi đến đâu tôi cũng được chính quyền địa phương, nhân dân ủng hộ rất vô tư. Nhiều lúc tôi tự hỏi có phải vì thời chiến không? Nhưng không phải, đến mãi sau này tấm lòng của người thợ mỏ, của nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh vẫn thế.

        Được Sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của cấp ủy, chính quyền và nhân dân vùng mỏ, cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị như được tiếp thêm sức mạnh, nêu cao quyết tâm chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn, sẵn sàng đánh thắng địch ngay từ trận đầu bằng quả đạn đầu trên tuyến đầu vùng Đông Bắc của Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:20:10 PM

        Tháng 9 năm 1980 tôi được trên cho về học tập tại Học viện Quân sự cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam (nay là Học viện Quốc phòng). Tôi theo học khóa 4 (bổ túc). Khi đã thực hành, nay lại được bồi dưỡng thêm về lý luận làm cho việc nhận thức của tôi sâu hơn, vững vàng hơn khi về tiếp tục công tác. Khóa học của chúng tôi kéo dài trong thời gian một năm, được trang bị rất cơ bản kiến thức về các mặt quân sự, chính trị. Đây là cơ sở cần thiết đối với mỗi cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của Quân đội. Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại lúc này cần phải có những cán bộ hội tụ đầy đủ những kiến thức về chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật. Kết thúc khóa học, Học viện tổ chức kiểm tra để đánh giá nhận thức, sự tiếp thu của mỗi người bằng lý thuyết và thực hành trên bản đồ, tôi đều đạt loại giỏi.

        Tháng 9 năm 1981, về đơn vị tôi được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Sư đoàn 369, với quân ham thượng tá (quyết định phong quân hàm do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ngày 27 tháng 1 năm 1980). Trên cương vị mới, tôi đã được trang bị lý luận nên bắt tay vào điều hành công việc thuận lợi, chắc chắn hơn. Quá trình điều hành công việc cũng như các cuộc diễn tập, cả diễn tập bộ binh của Sư đoàn đều được Quân chủng đánh giá tốt, có nhiều lần xuất sắc. Chính thế mà cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn tin tưởng, bản thân tôi phấn khởi, mọi việc diễn biến tốt hơn. Ngoài tổ chức sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng đơn vị ngày càng tốt, môi quan hệ gắn bó giữa Sư đoàn phòng không 369 với Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân và các ban, ngành của tỉnh Quảng Ninh, với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Quảng Ninh càng thêm thắm thiết.

        Năm 1983, Sư đoàn 369 vinh dự được Quân chủng Phòng không và Ban Thanh niên Quân đội giao tổ chức "Hội nghị gặp mặt ba lực lượng" (thanh niên quân đội, thanh niên công an, thanh niên địa phương) để các sư đoàn trong toàn Quân chủng về dự và nhân rộng ra cả nước. Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao cho tôi làm Trưởng ban tổ chức hội nghị này.

        Khi nhận nhiệm vụ, tôi rất lo, vì chưa biết phải tổ chức với hình thức nào, nội dung gì, cách làm ra sao để hội nghị đạt mục đích, yêu cầu Quân chủng đề ra. Tôi cùng cơ quan lập ra kế hoạch rất công phu và chặt chẽ vì tôi nghĩ đây là thời cơ để xây dựng toàn diện đơn vị. Kế hoạch lập xong đã được Quân chủng thông qua, tôi trực tiếp báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh. Sau khi được Quân chủng và Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh nhất trí chúng tôi mừng lắm, chỉ còn lại khâu hợp đồng thế nào để ba lực lượng vào cuộc nhịp nhàng ăn khớp.

        Để có ba lực lượng cùng tham gia là một vấn đề khó khăn. Khi tôi báo cáo lãnh đạo địa phương, được chính quyền và các đoàn thể tỉnh Quảng Ninh, công an tỉnh Quảng Ninh nhất trí chúng tôi tổ chức cuộc họp liên tịch bàn vị trí, thời gian ngày hội. Nội dung tổ chức bao gồm: thi trại, thi tìm hiểu về Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, thi nấu ăn và văn nghệ...

        Trong công tác chuẩn bị thì việc tổ chức đón đại biểu các nơi về dự là điều khó khăn đối với Sư đoàn tôi vì đơn vị chuyển đến điểm đóng mới, doanh trại còn chưa có, chỗ đón đại biểu làm sao cho đàng hoàng được. Tôi suy nghĩ, nếu đặt vấn đề đúng thì mọi sáng kiến sẽ được bung ra.

        Tôi không nhớ rõ và cũng không hiểu lúc đó tôi và đồng chí Phạm Duy Kích - Chủ nhiệm Chính trị Sư đoan đã liên hệ ra sao mà chỉ 3 tháng trời, cả vùng núi than trở thành một sân bóng đá, khu hội trường, nhà truyền thống được xây dựng cơ bản; có từ 4 đến 6 nhà để các đơn vị về cắm trại bằng tre, nứa, lá, trát vách, chuẩn bị mọi điều kiện vật chất cơ bản để đón khách dự kiến khoảng hơn 200 người. Đồng chí Lê Mai - Giám đốc sở công an nhận bảo đảm cả vấn đề ăn và nghỉ cho khách. Vậy là phần đáng lo nhất của Ban tổ chức coi như xong.

        Được sự giúp đỡ của Ban Thanh niên Quân chủng, công tác chuẩn bị của chúng tôi được hoàn tất trước kế hoạch dự kiến. Đồng chí Nguyễn Đức Côn, Trưởng ban Thanh niên Quân chủng còn xuống trước mấy ngày cùng chúng tôi rà soát lại mọi công tác chuẩn bị để hội nghị được suôn sẻ.

        Ngày 26 tháng 3 năm 1983 thực sự trở thành ngày hội của toàn Sư đoàn. Tại nơi tuyến đầu - vùng Đông Bắc của Tổ quốc, các lực lượng có sự giao lưu nồng thắm tình quân dân, đầm ấm tình đồng chí, đồng đội thiết tha, gắn bó. Đêm hội trại của ba lực lượng vinh dự đón đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Đức Tâm (sau là ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương) tới dự và thắp ngọn đuốc đầu tiên cho thanh niên ba lực lượng.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:40:12 PM
             
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82401595_578280549568496_9077011341092323328_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=WT5FkQ-vUigAX_BjYyS&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=076a7d2d77d60b2048c87992fb13e187&oe=5EA6D214)
Đoàn đại biểu Quân chủng chụp ảnh lưu niệm cùng các thủ trưởng Bộ Quốc phòng tại Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VI, năm 1996

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/83828708_578280552901829_3449023244525371392_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=WJvVPVxBF3kAX_sWqtw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5f00beff93786f233d181c0a95db2755&oe=5E9AD874)
Chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu quân - binh chủng nhân dịp dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82390251_578280542901830_3724094863084355584_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=vMBCIQF3snkAX9DMgnm&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e3347e7da503cca029230816d245b525&oe=5EA42F74)
Đoàn Chủ tịch Đại hội Đảng bộ quân chủng lần thứ II (vòng II), năm 1991

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82464488_578280589568492_4926220900308615168_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=EQTPNb5c36kAX99C4mo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1f6e486c4050ea9ccf845d80824400e5&oe=5E9BDFCD)
Đoàn cán bộ, chiến sĩ Quân chủng báo công với Bác Hồ, năm 1999


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Một, 2020, 04:43:18 PM
     
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82414740_578280596235158_5281846833822302208_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=FC7CVu5UJMIAX_g4k8d&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=af4b911809571ba920fb0ffa5f9051f2&oe=5EDB394D)
Chụp ảnh lưu niệm cùng Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân sau khi hợp nhất, năm 1999

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82954608_578280602901824_642684964709597184_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=swnndFZUFuEAX_BrUm3&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7aee6cc0f16222b75c78342f29876f2d&oe=5E9BA9B1)

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82465891_578280652901819_3627333596412379136_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ohc=wr8wJWHJjrgAX9z30nL&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=9f912e9be7519a5953b373cee2b3e65d&oe=5E9B154C)
Đón đoàn chuyên gia Nga, Bêlarút, Ucraina (từng tham gia chiến đấu tại Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ) sang thăm Quân chủng, năm 2008

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/83521941_578280659568485_5029316535072587776_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=hjU1N-tYEvgAX_x35xX&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b9854a2b3eb1abc466faed56b838a805&oe=5E942363)
Cùng đoàn cán bộ Quân chủng lên thăm Điện Biên Phủ nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7-5-2004


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:29:34 AM
     
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82456466_578654366197781_1389381959880278016_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_ohc=_3dATpuQW-UAX-m_zQs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cb8babea9fa26f4cdc8758acd045f042&oe=5E92AE7C)
Dự Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ VI, tháng 10-2000

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/l/t1.0-9/83366660_578654376197780_8414733598866800640_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=FG7bBCFMKngAX9fuEEt&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7739d36646989bca29e5e4cc37384943&oe=5EA52CFA)
Chụp ảnh lưu niệm cùng Ban chấp hành Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam, năm 2009

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82388994_578654379531113_1857225699392225280_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=j9DDbW6b-3MAX-jNrhS&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2a67e3e026837e668a94f20578bc5e56&oe=5ED7E090)
Chụp ảnh lưu niệm cùng Bộ Tư lệnh Quân chủng đến chúc Tết gia đình năm 2002

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82653963_578654416197776_449303512451383296_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=RRjReA98nkQAX_qDDk_&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=6162d9b1d5d1b24a89ee9e260f15eb8d&oe=5E9D16CC)
Cùng anh em họ hàng chụp ảnh kỷ niệm nhân lễ mừng thọ mẹ 100 tuổi, năm 2013


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:31:43 AM
   
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82988010_578654422864442_8190035882196074496_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=BIHyNNoxZwkAX8pHnOS&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=bbbe61d95b0735b788b4790ad262ea09&oe=5EA0E8E0)
Chụp ảnh kỷ niệm cùng vợ nhân dịp đến thăm nhà lưu niệm Bác Hổ tại Quảng Đông (Trung Quốc), năm 2004

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/82573985_578654432864441_4828675686141001728_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=ffMhmYLHwbYAX-a_qUV&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=43d2ac7eaab3e7d98d794c76d1f770ac&oe=5E8DB460)
Những phút giây hạnh phúc bên con cháu

        Ngày 12 tháng 6 năm 1985, theo Quyết định số 142/QP do Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký, tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn phòng không 369. Với quyết tâm và trách nhiệm của mình, tôi ra sức học tập và nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, nắm chắc các mặt chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành tốt mọi công việc của người Sư đoàn trưởng. Thực tế trước đó hơn một năm, cấp trên đã giao cho tôi làm Sư đoàn trưởng và tôi đã bàn giao chức vụ Phó Sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng cho đồng chí Phạm Đức Vĩnh. Nhưng không hiểu vì lí do gì, hoặc là do tình hình biến động của khu vực và thế giới hay không mà ngày 14 tháng 6 năm 1984, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xuống Đoàn An dưỡng 22 (Hạ Long), triệu tập tôi và đồng chí Đinh Công Khẩn, Sư đoàn trưởng đến gặp và nói rằng: "Ai vẫn việc đó, chưa có gì thay đổi". Tôi thì đã bàn giao vị trí Tham mưu trưởng cho đồng chí Vĩnh rồi, nay chỉ giữ chức Phó Sư đoàn trưởng. Theo cơ chế quy định, ở chức danh của tôi, Sư đoàn trưởng giao việc gì thì tôi làm việc đó, hết việc thì thời gian rảnh rỗi tự nghiên cứu, đọc sách để nâng cao nhận thức cho bản thân. Một năm sau tôi mới được cấp trên giao chức vụ Sư đoàn trưởng để đồng chí Đinh Công Khẩn, Sư đoàn trưởng được nghỉ hưu.

        Thời gian giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 369, tôi đã chỉ huy Sư đoàn hoàn thành tốt các nhiệm vụ cấp trên giao, xây dựng Sư đoàn vững mạnh trên các mặt: sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, nền nếp, tác phong của hộ đội được duy trì tốt, mối đoàn kết quân với dân vùng mỏ ngày càng thắm thiết.

        Tháng 9 năm 1988, tôi được Quân chủng cử về Học viện Chính trị quân sự học tập một năm. Khi nhận nhiệm vụ đi học, tôi được Quân chủng chỉ đạo bàn giao chức vụ Sư đoàn trưởng cho đồng chí Trần Mạnh Hiến, do vậy trong quá trình học tập, tôi không phải lo lắng gì đến công việc của Sư đoàn nữa. Khi chia tay với Sư đoàn, với vùng đất mỏ thân yêu mà tôi đã có những năm tháng gắn bó, nghĩa tình quân dân sâu nặng, tôi bố trí thời gian đến chào các đồng chí lãnh đạo địa phương tỉnh Quảng Ninh, chào bà con xung quanh đơn vị để về trường học tập.

        Về Học viện Chính trị quân sự, tôi nghiên cứu học tập theo chương trình bồi dưỡng kiến thức lý luận cho cán bộ cao cấp trong Quân đội. Đây là lớp thí điểm đầu tiên, theo sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương. Chúng tôi học theo một chương trình lý luận cao hơn chương trình của các đối tượng mà Học viện đang đào tạo đề rút kinh nghiệm năm sau Bộ sẽ mở lớp chính khóa, vì vậy chưa được xác định rõ tên gọi của lớp học.

        Theo đúng ý tưởng chỉ đạo của cấp trên, lớp chúng tôi được gọi là lớp bồi dưỡng lý luận cho cán bộ cao cấp trong Quân đội khóa 1; sau này được gọi là lớp bổ túc A (bổ túc lý luận cao cấp cho cán bộ nguồn phát triển trong Quân đội). Thành viên lớp học hao gồm cán bộ của các quân chủng, binh chủng, quân khu, quân đoàn, cơ quan chiến lược, học viện, nhà trường trong toàn quân được triệu tập về học. Tôi là người nhiều tuổi nhất, mang quân hàm đại tá, kế tiếp là đồng chí Nguyễn Văn Hoặc ở Quân đoàn 2 mang quân hàm thượng tá, còn lại đều là trung tá và thiếu tá.

        Trong quá trình học tập, công việc hàng ngày như vệ sinh, tăng gia... các đồng chí trẻ tuổi đều tranh phần để làm giúp những người nhiều tuổi như tôi. Tôi rất cảm động về tinh thần đồng chí, đồng đội của các đồng chí ấy. Một năm học thật là ngắn ngủi đã kết thúc, tuy phải vất vả đèn sách, nhưng tôi đã được trang bị để nắm vững thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiến thức về công tác đảng, công tác chính trị sau này về đơn vị vận dụng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ ở cương vị lãnh đạo, chỉ huy mới cao hơn.

        Tôi suy nghĩ, sau nhiều năm công tác thực tế lại được đi học tập trung tại nhà trường, cũng là dịp để tôi nghiên cứu, hệ thống lại kiến thức cơ bản về lý luận chính trị nên tôi tập trung học tập, gắn lý luận liên hệ với thực tiễn, do đó thành tích học tập của tôi đạt rất cao. Một năm học tập cũng để lại cho tôi tình cảm đồng chí, đồng đội gắn bó nghĩa tình đến mãi những năm sau này.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:33:32 AM

Chương 6

VỮNG VÀNG TRƯỚC KHÓ KHĂN XÂY DỰNG QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG, QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN VỮNG MẠNH TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC(1989-2001)

        Tháng 7 năm 1989, sau khi kết thúc khóa học tại Học viện Chính trị quân sự, tôi về Quân chủng nhận nhiệm vụ theo Quyết định số 163/QPĐ do Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký ngày 27 tháng 5 năm 1989. Theo quyết định, tôi được cấp trên bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không. Nhận nhiệm vụ mới là thử thách lớn đối với tôi. Dù đã được học về chính trị, nhưng chỉ đạo, hướng dẫn và điều hành trực tiếp hoạt động công tác đảng, công tác chính trị thì tôi chưa được thực hành. Hơn nữa, đây là hoạt dộng công tác đảng, công tác chính trị của toàn Quân chủng, cả về phạm vi và trình độ, kinh nghiệm đòi hỏi rất cao. Đối với tôi là cán bộ quân sự, nay chuyển làm cán bộ chính trị là một công việc hoàn toàn mới. Vinh dự dược đảm nhiệm cương vị mới rất lớn, nhưng trách nhiệm trước yêu cầu xây dựng Quân chủng lại hết sức nặng nề. Tôi tự xác định: công tác gì được phân công đều phải quyết tâm hoàn thành. Đã là cán bộ trong Quân đội, dù là cán bộ quân sự hay chính trị do tổ chức phân công, làm việc phải nắm chắc nguyên tắc, dựa vào cơ quan, lắng nghe, học tập anh em thì nhất định sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

        Khi giao nhiệm vụ, tôi được các thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân chủng phân tích, động viên: Làm công tác đảng, công tác chính trị của một quân chủng kỹ thuật hiện đại, mà đã có thực tiễn chiến đấu, xây dựng đơn vị từ cơ sở, lại nắm chắc kỹ thuật, làm tốt công tác tố chức huấn luyện là điều thuận lợi để điều hành nhưng phải chống chủ quan, bảo thủ thì nhất định hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

        Tính đến tháng 6 năm 1992, làm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không được ba năm, tôi học tập được rất nhiều và cũng trưởng thành nhiều trong chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của Quân chủng, nhưng cũng có những việc phải đấu tranh kiên quyết, phân tích rõ những vấn đề nảy sinh đúng, sai mới ổn định xây dựng đơn vị.

        Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, đang thay da đổi thịt từng ngày, nhưng làm thế nào để đổi mới được lực lượng vũ trang nói chung, Quân chủng Phòng không - một quân chủng kỹ thuật hiện đại nói riêng là vấn đề lớn, hóc búa cho lãnh đạo các cấp.
         
Tình hình thế giới ở những thập kỷ cuối của thê kỷ XX đang có những diễn biến hết sức phức tạp, không có lợi cho phe xã hội chủ nghĩa, cho sự phát triển của đất nước ta, trong đó có lực lượng vũ trang, Quân đội và Quân chủng Phòng không. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa lớn, cái nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã tan rã. Những năm đó, nội bộ Quân chủng, nhất là đội ngũ cán bộ đã học tập ở Liên Xô ngao ngán, thiếu lòng tin. Trước đây, họ có một lòng tin tuyệt đối vào chủ nghĩa xã hội, vào Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, nay đang chao đảo. Họ còn lo vũ khí, khí tài mà Quân chủng sử dụng đểu của Liên Xô, nay không còn nguồn viện trợ đó, công tác đảm bảo sẽ ra sao? Tôi cùng các đồng chí thủ trưởng trong cơ quan chính trị Quân chủng bàn bạc, đề xuất với Đảng ủy Quân chủng những hướng giải quyết cụ thể từng vân đề nên dần dần đã làm ổn định tình hình tư tưởng trong đơn vị. Công tác kỹ thuật còn đòi hỏi yêu cầu cao, phát huy sáng kiến giữ tốt, dùng bền, sáng chế được những phụ tùng đơn giản thay thế. Công tác tư tưởng lấy đội ngũ cán bộ chính trị làm mô phạm giáo dục chung.

        Khi có Nghị quyết số 47/NQ-TW của Bộ Chính trị, giải quyết chính sách đối với cán bộ đã phục vụ trong lực lượng vũ trang, nay do giảm biên chế chuyển sang phục vụ trên các lĩnh vực công tác khác, tôi được Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao làm "Trưởng ban 47" chăm lo giải quyết chính sách cán bộ, có các cơ quan giúp việc là Phòng Cán bộ, Phòng Quản lý nhà đất, Phòng Tác chiến.

        Ban 47 đi vào hoạt động có nền nếp, đúng các quy định của trên, trực tiếp là sự lãnh đạo của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Ban 47 đã tham mưu lập kế hoạch, xây dựng các phương án dài hạn để giải quyết. Trong những năm đó, tuyệt đại đa số cán bộ của Quân chủng được giải quyết đúng nguyện vọng như hỗ trợ kinh phí, phân phối vật liệu, giải quyết nhà đất, nên số cán bộ dôi dư tạm ổn định chuyển đơn vị, nghỉ chế độ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:33:57 AM

        Trong lúc khó khăn, đoàn kết để giải quyết công việc là điều vô cùng cần thiết, nhưng sao tránh khỏi những tư tưởng cá nhân chủ nghĩa len lỏi, dựa vào tập thể để định ra chủ trương theo cá nhân mình, làm nội bộ dễ nảy sinh mâu thuẫn, mất đoàn kết. Thời kỳ nói sai hay đúng, cứ làm đã qua rồi. Thực tế, không ít cán bộ vẫn mang tư tưởng cũ áp đặt trong khi Đảng ta đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh thực hiện dân chủ trong toàn xã hội. Ở Cục Chính trị Quân chủng, tôi lắng nghe những ý kiến phản ánh, có cả đúng, có cả chưa đúng, rồi tự chọn lọc để giải quyết, vì vậy, được cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan Cục Chính trị cũng như trong toàn Quân chủng yêu mến, tin tương.

        Cuộc đời binh nghiệp của tôi so với bạn bè cùng trang lứa tuy đã đạt nhiều thành tích, đặc biệt vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng cao quý, nhưng cũng không ít lần phải đối mặt với thử thách như khi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng là một thử thách rất lớn đối với tôi về công tác chuyên môn. Trước những băn khoăn về chuyên môn, một câu hỏi luôn đặt ra trong tâm trí tôi: hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm vụ? Sau một thời gian đảm nhiệm, tôi luôn cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ ở cương vị mới này. Nhưng thật bất ngờ, có một chuyện lặp lại tương tự thời kỳ tôi công tác ở Sư đoàn phòng không 369 lúc tôi là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 363, khi điều về Sư đoàn 369 thì lại làm Phó Tư lệnh sư đoàn phụ trách hậu cần. Khi tôi được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng thì mãi một năm sau mới được bàn giao. Nay từ cán bộ quân sự tôi được bổ nhiệm làm cán bộ chính trị được hơn một năm, còn nhiều bỡ ngỡ lắm, công việc còn phải hỏi các đồng chí trợ lý chưa nói đến trưởng phó phòng, thế mà lại có quyết định bổ nhiệm tôi làm Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Ở vị trí này, đúng là với nhiều người mơ cũng không thể có được. Nhưng tôi lại khác, là người chỉ huy thì có chỉ huy toàn diện các mặt công tác có cả công tác chính trị. Ở cương vị Cục trưởng Cục Tổ chức, đòi hỏi tôi phải rất giỏi về nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, công tác đảng, công tác chính trị. Vấn đề này quá mới đối với tôi, nên tôi thấy làm được tốt thì nhận, không làm được cũng phải nói cho rõ. Thấy khó quá, đắn đo mãi rồi tôi đi đến quyết định không nhận nhiệm vụ.

        Thú thật lần đầu tiên của cuộc đời người lính trên 31 năm kể cả thời gian chiến đấu, chưa bao giờ tôi từ chối nhiệm vụ cấp trên giao. Đây là điều day dứt mãi trong tôi cho đến tận bây giờ. Tôi báo cáo và được đồng chí Lê Khả Phiêu - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Nguyễn Trọng Hợp - Cục trưởng Cục Cán bộ gặp, nghe trình bày ý kiến cá nhân. Tôi phát biểu những ý kiến này trước cấp trên cũng thấy rất xấu hổ và ái ngại, nhưng chẳng còn con đường nào khác. Vì tôi nghĩ nhận rồi mà không hoàn thành nhiệm vụ thì càng gây khó khăn cho tổ chức. Khi phát biêu, trình bày hết những tâm tư, suy nghĩ, được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị động viên và chấp nhận ý kiến trình bày của tôi, tôi rất phấn khởi, đặc biệt, đồng chí còn động viên tôi về công tác cho tốt trên cương vị đảm nhiệm, cấp trên không đánh giá gì việc không nhận nhiệm vụ của tôi.

        Năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng được tổ chức, có nhiêu nội dung mới trong xây dựng Văn kiện của Đại hội, đặc biệt là việc lấy ý kiến tham gia vào "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội" và "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (1991 - 2000)". Vì vậy Đại hội Đảng bộ Quân chủng Phòng không lần thứ IV được tiến hành hai vòng. Đại hội vòng 1, từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 3 năm 1991, chưa bầu cấp ủy, chủ yếu tham gia báo cáo của cấp trên và bầu đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Sau khi dự đại hội cấp trên về thì làm công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội vòng 2.

        Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 9 năm 1991, Đại hội Đảng bộ Quân chủng Phòng không lần thứ IV vòng 2 được tiến hành. Đại hội đã thành công tốt đẹp, đề ra được chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng Quân chủng trong 5 năm và bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới. Tôi là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng được bầu vào Ban Thường vụ và làm Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra của Đảng ủy Quân chủng.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:34:17 AM

        Là Chủ nhiệm Chính trị một quân chủng hiện đại là niềm vinh dự, tự hào đổi với tôi. Song tôi vẫn băn khoăn và suy nghĩ không hiểu cấp trên đánh giá mình ra sao? Mình có xứng đáng là nguồn phát triển lên Phó Tư lệnh Chính trị không?... Lại còn có người nói: "Cuộc đời có nhiều khúc mắc quanh co thì sẽ càng phát triển". Tôi thì cho rằng không phải như vậy mà chỉ đúng một phần. Trong tổ chức mỗi con người đều có sự ràng buộc, tôi không đổ lỗi cho ai cả, mảnh đất đang nuôi dưỡng tôi là Cục Chính trị Quân chủng Phòng không rất tốt, có bao kinh nghiệm của các anh lớp trước đê lại quý lắm, chỉ có bản thân mình phấn đấu ra sao - tức là phải do cá nhân mình khẳng định. Có những chuyện xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, chỉ vì việc cá nhân không đạt được thì đổ tại tổ chức, tại cá nhân nào đó rồi nói sau lưng, thậm chí đơn từ giấu tên. Có điều, đơn mà đúng thì không nói làm gì, mà chỉ đúng một phần hoặc hoàn toàn sai sự thật, chỉ muốn làm mất uy tín của đồng chí mình, cấp trên của mình.

        Tôi suy nghĩ, trong công tác cán bộ việc đánh giá cán bộ là khó nhất, nếu không quản lý, nắm chắc cán bộ, đánh giá khách quan, nghe không hết, giải quyết không triệt để, không đến nơi đến chốn rất dễ bị người nhiễu nhương xu nịnh làm sai lệch. Việc sử dụng cán bộ mà không công tâm, thì không thể sử dụng đúng người, đúng việc được. Muôn làm tốt việc này, Cục Chính trị Quân chủng là cơ quan tham mưu giúp Thường vụ Đang ủy vê công tác cán bộ, trước hết phải thực sự công tâm.

        Vào giữa năm 1992, theo Quyết định số 235/CT của Chính phủ, do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 26 tháng 6 năm 1992, tôi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không và được bầu làm Bí thư Đảng ủy Quân chủng thay đồng chí Vũ Trọng Cảnh nghỉ hưu.

        Bộ Tư lệnh Quân chủng giai đoạn này bao gồm: Trung tướng Trần Nhẫn là Tư lệnh, tôi là Phó Tư lệnh Chính trị, Thiếu tướng Ngô Huynh là Phó Tư lệnh, Đại tá Vũ Ngọc Diệp là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng.

        Với cương vị, chức trách mới nặng nề, tôi đã xác định bản thân tiếp tục trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo trên cương vị Bí thư Đảng ủy Quân chủng, tôi đã cùng tập thể Đảng ủy, tập thế Ban Thường vụ định ra nhiều chủ trương, cách làm mới để xây dựng Quân chủng Phòng không vượt qua những khó khăn, thử thách, vững vàng đổi mới đi lên.

        Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn, khả năng đầu tư mua sắm vũ khí, trang bị cho Quân chủng rất hạn hẹp. Để khắc phục những khó khăn, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng đánh thắng nếu có chiến tranh xảy ra, tôi đề xuất với Thường vụ và Đảng ủy Quân chủng đưa ra chủ trương lãnh đạo đột phá vào công tác đảm bảo kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Được Thường vụ Đáng ủy nhất trí, tôi chỉ đạo cơ quan chuyên môn chuẩn bị giúp Đảng ủy Quân chủng ra nghị quyết chuyên đề, chủ trương đột phá vào xây dựng nhà che khí tài, phân loại khí tài và đưa vào bảo quản, niêm cất nhằm tiết kiệm để sử dụng lâu dài. Khi nghị quyết được ban hành, tôi xác định phải làm tốt công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ để nâng cao ý thức giữ tốt, dùng bền vũ khí, khí tài, trang bị; thực hiện có hiệu quả cuộc vận động "Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm" mà Bộ đã phát động.

        Tôi suy nghĩ phải kiên quyết lãnh đạo không để vũ khí, khí tài, trang bị xuống cấp, không để hư hỏng, mất mát thất lạc. Bài học của những năm 1977, 1978, có không ít đơn vị buông lỏng việc quản lý, bảo quản vũ khí, khí tài, trang bị tôi còn nhớ rất rõ. Nghị quyết của Dang ủy Quân chủng giao cho Cục Kỹ thuật phải chỉ đạo chặt chẽ từng đơn vị, từng việc cụ thể. Khí tài được kiểm tra phân loại trước khi niêm cất, che đậy: loại 1 được niêm cất dài hạn, loại 2 niêm cất ngắn hạn, loại 3 tập trung sửa chữa. Tất cả khí tài đều được che đậy 100% tiến tới che đậy vững chắc kể cả ở đơn vị chiến đấu.

        Năm 1994, Đảng ủy Quân chủng ban hành nghị quyết thì đến năm 1997 toàn bộ khối lượng lớn vũ khí, khí tài của Quân chủng được đưa vào trong nhà che và được bảo quản, niêm cất dài hạn và ngắn hạn. Có bộ khí tài tên lửa niêm cất 3 năm, khi tháo niêm cất, các tham số đều tốt và có giá trị như trước đó 3 năm, khí tài triển khai sẵn sàng chiến đấu thường xuyên ở các trận địa cũng được che đậy đảm bảo hệ số kỹ thuật sẵn sàng chiến đấu, được cấp trên đánh giá rất cao.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:34:34 AM

        Trong công tác xây dựng Đảng bộ, tôi xác định phải tích cực đối mới phong cách lãnh đạo và phương pháp, tác phong công tác. Thường vụ và Đảng ủy Quân chủng chú trọng đột phá vào công tác tổ chức xây dựng Đảng bộ Quân chủng. Tập trung chỉ đạo các cấp xây dựng một loạt các quy chế lãnh đạo từ chi bộ, đến Đảng bộ Quân chủng như: Quy chế lãnh đạo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, lãnh đạo công tác huấn luyện; Quy chế lãnh đạo công tác tài chính, công tác bảo quản, niêm cất vũ khí, khí tài; Quy chế lãnh đạo công tác cán bộ, công tác tư tưởng, công tác kiểm tra; Quy chế xây dựng lực lượng... nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, được cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, đảng viên hưởng ứng nên sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị có bước tiến bộ đáng kể.

        Bẵng đi một thời gian, khi tôi đang giữ chức vụ Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng, đang dồn tâm huyết xây dựng Quân chủng, mong muốn được yên tâm phục vụ đến lúc nghỉ hưu, nhưng lại một câu chuyện về công tác cán bộ làm tôi suy nghĩ. Có tin đồn tôi sẽ được cấp trên bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương và khi bỏ phiếu tín nhiệm lựa chọn Tư lệnh Quân chủng Phòng không, có đồng chí đã nói không đưa tôi vào danh sách lấy phiếu tín nhiệm chức vụ Tư lệnh để cấp trên bố trí công tác khác (nghe nói bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Toàn bộ những thông tin đó đều là những điều làm phân tán, gây khó khăn cho công việc của tôi. Song, tôi luôn tự xác định cho mình, phải vững vàng trong tư tưởng, dù bất cứ công việc gì Đảng giao là làm, không tính toán cho riêng mình. Khi được tổ chức hỏi ý kiến về nguyện vọng, tôi luôn báo cáo trung thực khả năng của mình, nêu trên thấy đúng sẽ bố trí sắp xếp, tạo điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tôi luôn tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của tổ chức đảng cấp trên. Nhờ đó tạo cho tôi một sức mạnh về bản lĩnh chính trị và tinh thần hăng say làm việc để phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao dù ở bất cứ cương vị công tác nào.

        Tháng 12 năm 1993, đồng chí Ngô Huynh được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân chủng, thay đồng chí Trần Nhẫn nghỉ hưu; đồng chí Trần Ngọc Lân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn phòng không 367 được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Quân chủng. Tôi và đồng chí Tư lệnh bàn bạc thống nhất những định hướng lớn xây dựng Quân chủng trong 5 năm tới; trước mắt tập trung vào xây dựng mới sở chỉ huy Quân chủng mang tính chiến lược (đến nay vẫn được đánh giá là sở chỉ huy hiện đại nhất toàn quân); xây mới Nhà Bảo tàng Quân chủng kịp thời phục vụ kỷ niệm 25 năm đánh thắng B-52 vào tháng 12 năm 1997; quy hoạch củng cố nơi làm việc của các cơ quan Quân chủng... Những việc làm trên đều được cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng đồng tình ủng hộ.

        Khoảng giữa năm 1997, chuẩn bị kỷ niệm 25 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", Bộ triệu tập đồng chí Tư lệnh và tôi lên thông báo chủ trương của trên hợp nhất Quân chủng Phòng không với Quân chủng Không quân. Đồng thời giao cho hai quân chủng về làm công tác chuẩn bị, xây dựng đề án đề xuất với Bộ, trước hết xác định vị trí sở chỉ huy Quân chủng, và dự kiến sắp xếp các cơ quan của Quân chủng...

        Đầu năm 1998, đồng chí Ngô Huynh bị đột quỵ não phải nằm Viện trong trạng thái hôn mê kéo dài; đồng chí Nguyễn Văn Thân, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng (thay đồng chí Vũ Ngọc Diệp được Bộ điều làm Phó Tổng Thanh tra Quân đội) được Bộ giao phụ trách Quân chủng; đồng chí Vũ Anh Thố mới được trên bổ nhiệm Phó Tư lệnh Quân chủng. Lúc này hầu hết các cơ quan, đơn vị trong toàn Quân chủng anh em trông cậy vào các quyết định của Ban Thường vụ và tôi. Việc hợp nhất hai quân chủng phải tạm hoãn lại và kéo dài qua năm 1998. Trong năm 1998, cũng mấy lần Bộ triệu tập Bộ Tư lệnh của hai quân chủng lên nắm tình hình công tác chuẩn bị cho hợp nhất. Lúc này bao nhiêu vấn đề mới nảy sinh: gọi là sáp nhập hay gọi thế nào? Tên gọi Quân chủng Không quân - Phòng không hay chỉ gọi là Quân chủng Không quân... Riêng tôi suy nghĩ, có lẽ trở vê tên cũ như Bác Hồ đã đặt trước đây là Quân chủng Phòng không - Không quân sẽ thuận hơn. Chỉ có thế thôi mà cũng có rất nhiều ý kiến của cán bộ đương chức, cán bộ nghỉ hưu đến Quân chủng gặp chúng tôi phản ánh tâm tư, nguyện vọng. Chúng tôi tiếp thu, nhưng đây là nghị quyết, là mệnh lệnh của cấp trên, tôi chỉ biết giải thích để các đồng chí đó hiểu và thông cảm thôi. Việc hợp nhất hai quân chủng được thực hiện vào tháng 6 năm 1999.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Một, 2020, 06:34:53 AM

        Chủ trương hợp nhất Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân cấp trên đã có từ lâu. Do điều kiện nền kinh tế đất nước sau chiến tranh lâm vào khủng hoảng, đời sống nhân dân và lực lượng vũ trang gặp rất nhiều khó khăn, việc đầu tư mua sắm, bổ sung vũ khí, khí tài cho các lực lượng phòng không - không quân rất hạn hẹp. Vũ khí, khí tài, trang bị của hai quân chủng xuống cấp nhanh, việc sửa chữa, thay thế khắc phục hỏng hóc rất khó khăn; nhiều vụ tai nạn máy bay xảy ra, sức chiến đấu giảm sút. Chủ trương hợp nhất hai quân chủng để tăng sức mạnh chiến đấu là hoàn toàn đúng. Nhưng trong mấy tháng làm công tác chuẩn bị, tư tưởng mỗi cán bộ, chiến sĩ cũng xôn xao, nào giữ chức, nào xuống chức, người đi, người ở... Việc làm công lác tư tưởng để đơn vị hoạt động ổn định thật là khó khăn cho người làm công tác tư tưởng, làm công tác chính trị. Cơ quan chính trị, cán bộ chính trị và mọi cán bộ, đảng viên lúc này phải thể hiện rõ phẩm chất chính trị, bản lĩnh vững vàng của mình làm cho đơn vị ngày cáng ổn định và phát triển.

        Đúng 9 giờ 00 phút ngày 22 tháng 6 năm 1999, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà và các cơ quan Bộ Quốc phòng đã triệu tập hội nghị tại Quân chủng để công bố quyết định hợp nhất hai quân chủng và giao nhiệm vụ. Đồng chí Nguyễn Đức Soát - nguyên Tư lệnh Quân chủng Không quân được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Tôi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân. Đồng chí Nguyễn Văn Thân - nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không là người thay thế thứ nhất vị trí đồng chí Nguyễn Đức Soát. Đồng chí Phạm Phú Thái -  nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân. Các đồng chí nguyên Phó Tư lệnh của hai quân chủng nay giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Tôi được bổ nhiệm giữ cương vị mới phấn khởi thật, nhưng cũng là điều làm tôi lo lắng nhiều. Hàng loạt câu hỏi đặt ra với tôi: Làm sao xây dựng tốt mối đoàn kết giữa cán bộ của hai quân chủng? Làm sao xây dựng được lề lối, tác phong làm việc, công tác thống nhất? Làm sao để công tác tư tưởng thông suốt cho mọi người, để Quân chủng sớm ổn định đi vào sẵn sàng chiến đâu và chiến đấu thắng lợi?

        Tuy hai quân chủng trước đây là một, cùng làm một nhiệm vụ, nhưng đã tách ra vừa tròn 22 năm. Tôi là người đứng đầu cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quân chủng, phải chịu trách nhiệm công việc này trước Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, trước Bộ Tư lệnh và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong toàn Quân chủng. Việc hợp nhất này đặc biệt quan trọng là các cơ quan nếu cùng hành động, cùng tiếng nói là một ý chí, có sai trái kiên quyết đấu tranh, làm được như vậy sẽ bền vững mãi mãi, làm gương đề đơn vị noi theo.

        Bắt tay vào công tác chuẩn bị cụ thể, đụng chạm đến từng con người, ai cũng muốn đơn vị cũ của mình phải có những vị trí lãnh đạo tương xứng. Công tác cán bộ lúc này thật là khó khăn và là một thử thách lớn đối với tôi. Con người là vậy, vị trí là vậy, chỉ có cách bó đũa chọn cột cờ, rồi động viên tinh thần trách nhiệm để cán bộ thông cảm, cùng nhau nắm chặt tay, quyết tâm xây dựng đơn vị. Những đồng chí cấp trưởng, nay xuống giữ cấp phó làm tôi suy nghĩ nhiều nhưng đã là hợp nhất, hai đơn vị thành một thì điều đó sẽ xảy ra, chỉ có cách là động viên tư tưởng, giáo dục nhận thức, trách nhiệm chính trị ở mỗi cấp sao cho thật tốt.

        Chuyện biên chế, tổ chức đã được nhanh chóng thực hiện, công tác cán bộ bước đầu đã hoàn thành để đưa đơn vị vào nền nếp hoạt động, sẵn sàng chiến đấu, không để một phút không có lực lượng canh giữ bầu trời Tố quốc. Song, đằng sau đó là những vấn đề rất phức tạp mà công tác cán bộ phải giải quyết, đặc biệt là việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân sẽ được tiến hành vào khoảng cuối năm 2000, chuẩn bị tiến tới Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vào năm 2001. Trong Quân chủng đã có xuất hiện đơn thư phản ánh không đúng sự thật, tư tưởng công thần, địa vị, ngấm ngầm tranh chức, tranh quyền đây đó ở một số đơn vị cơ sở trước khi bước vào đại hội ở từng cấp. Đáng buồn hơn, ngấm ngầm có sự tác động của một số cơ quan và cán bộ có thẩm quyền đến công tác chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đáng các cấp trong Quân chủng.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:55:39 PM

        Ở cương vị Bí thư Đảng ủy Quân chủng, tôi suy nghĩ rất nhiều, lo lắng rất nhiều về công tác cán bộ của Quân chủng những năm trước mắt và tiếp theo; mong sao mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân chủng đề cao bản lĩnh chính trị, có tâm, có tầm trong giải quyết những khó khăn của công tác cán bộ. Quân đội ta do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, Bác đã dạy chúng ta nhiều điều. Trong công tác cán bộ, Bác luôn nhấn mạnh, đã là cán bộ của Đảng phải coi trọng cái đức, lấy đức làm gốc. Bác chỉ rõ: Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống, nó phải do quá trình rèn luyện mà nên. Đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy thật là dễ hiểu, dễ nhớ, nhưng làm theo Bác sao mà khó đến thế. Trong cuộc đời hoạt động hơn 40 năm, tôi đã gặp những câu chuyện thật nực cười về công tác cán bộ. Tôi thầm nghĩ, sao lại như vậy? Vì thực tế có cán bộ tuổi trên tôi, có thâm niên hoạt động nhiều hơn, cấp bậc chức vụ và trọng trách cao hơn, luôn cho mình là người từng trải, họ nói họ luôn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Nhưng học phải hành, phải làm theo tấm gương của Bác thì họ không chịu làm theo.

        Bác Hồ thường dạy: Cán bộ, đảng viên phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Nghĩ về lời Bác dạy, tôi thấy thấm thía và cũng thấy thương cho những cán bộ, vì công thần mà có chức, có quyền cao lại mất tín nhiệm để mất đi những giá trị nhân văn cao quý của mình. Tôi suy nghĩ, biết đâu đó khi chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, họ còn làm những điều đến những đứa trẻ cũng không muốn làm. Cái chức, cái quyền nếu được đặt trong cái tâm của mình thì sẽ thu phục được lòng người, sẽ bớt đi những điều bất hạnh trong cuộc sống. Tôi thường nói với mấy người bạn thân, có người là thông gia với tôi sau này, đừng lạm dụng chức quyền để đánh mất mình, mà phải "để dành" chức quyền cho lúc nghỉ hưu.

        Trong những thời điểm đầy thử thách và áp lực, tôi luôn tin tưởng vào cấp trên, đặc biệt là các đồng chí chủ trì cao nhất của Bộ, đó là Bộ trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tôi đặt niềm tin, ngưỡng mộ sự đoàn kết thống nhất của Đảng ủy Quân sự Trung ương, các đồng chí Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và các cơ quan Bộ Quốc phòng để chúng tôi vững tin tháo gỡ những khó khăn. Nhưng đôi khi những ý kiến của các đồng chí lại trái ngược nhau.

        Khi hợp nhất hai quân chủng công tác tư tưởng, sắp xếp biên chế đang rối bời, lại thêm việc đất đai để đâu, làm gì, ở đâu, thật là rối như canh hẹ. Tôi và đồng chí Tư lệnh Quân chủng đã gỡ dần từng mối, từng điểm để thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Tư lệnh Quân chủng Nguyễn Đức Soát là người dám làm dám chịu trách nhiệm, biết cách xử trí nhiều tình huống, những việc khó khăn, giữ được đoàn kết, gỡ từng mối, từng nút. Tôi là cán bộ chính trị rất quý, tôn trọng đồng chí nên công việc giải quyết được ăn khớp, suôn sẻ.

        Tôi được phong quân hàm Thiếu tướng ngày 11 tháng 8 năm 1990, đến khi hợp nhất Quân chủng đã gần 10 năm, trong đó có hai năm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng và tám năm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng. Nhưng thật trớ trêu, đợt phong quân hàm năm 1999 tôi không có tên trong danh sách, đến giờ tôi cũng không hiểu vì sao? Đó là quyền lợi, là sinh mệnh chính trị của tôi nên không thể coi như không có chuyện gì xảy ra. Cơ quan chuyên môn vẫn nói là tôi được đề bạt. Do 10 năm làm công tác đảng, công tác chính trị, tôi có dịp được tiếp xúc các cơ quan chiến lược của Đảng và Nhà nước. Nhiều đồng chí đến làm việc với Quân chủng đều thấy rõ sự tận tụy, lắng nghe, khiêm tốn học tập của tôi, quan tâm đến việc đề nghị phong quân hàm của tôi. Thấy tôi không có tên trong danh sách đề bạt cấp trung tướng năm đó nên có đồng chí hỏi tôi lý do vì sao. Biết thông tin này, tôi cũng rất buồn, tôi suy nghĩ và đến hỏi cơ quan ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đến đây tôi được đồng chí Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cho biết, tập thể thủ trưởng Tổng cục Chính trị khi thẩm định đã quyết định để lại, chưa đề nghị đợt này, để sang năm đề nghị đợt sau với lý do là tôi có đơn. Chỉ có lý do thế thôi.

        Tôi tự thắc mắc: Sao lại thế? Đơn thì đã được Đảng ủy Quân sự Trung ương mà trực tiếp là đồng chí Thượng tướng Phạm Văn Trà - Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự kiểm điểm một ngày và đã có kết luận rõ ràng: Tôi không mắc sai phạm gì, được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các cơ quan mà trực tiếp cơ quan ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương đã cùng dự sinh hoạt kiểm điểm ở các bước.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:55:57 PM
     
        Việc phong quân hàm cấp tướng là sự khẳng định của Đảng, Nhà nước và Quân đội đối với sự cống hiến, phục vụ của tôi. Tôi nghĩ chắc có cá nhân nào đó phản ánh sai sự thật với cấp trên. Tôi nhờ đồng chí Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân chủng sao bản kết luận cuộc kiểm tra đối với tôi mà đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trương Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà đã trực tiếp dự kiểm điểm một ngày gửi đến ủy ban kiểm tra Trung ương, đúng địa chỉ, đúng cơ quan công bằng nghiêm minh của Đảng. Với sự can thiệp này, tôi đã có tên trong danh sách đề bạt quân hàm trung tướng trình lên Thủ tướng Chính phủ. Tháng 9 năm 1999, tôi được phong quân hàm trung tướng. Đây là một vinh dự cho tôi. Xin cảm ơn Đảng đã đào tạo, bồi dưỡng những người ngay thẳng, công minh vì mọi người, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, vì sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

        Tôi giữ cương vị Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, nếu tính thời gian theo quyết định thì vừa tròn 4 năm. Thực chất tôi dành đúng 1 năm 7 tháng để chủ yếu đi nắm công tác tư tưởng, tổ chức lực lượng không quân, còn lực lượng phòng không tôi đã nắm rồi. Vì tôi nghĩ có nắm chắc mới giải quyết, sắp xếp đúng người, đúng chức trách nhiệm vụ.

        Khi đơn vị bắt đầu đi vào ổn định thì tôi được cấp trên thông báo nghỉ hưu. Năm 2000 tôi nghỉ phụ trách công tác đảng, còn công tác chính quyền đến năm 2001 được Nhà nước cho nghỉ hưu. Đối với cán bộ chính trị gắn liền với công tác đảng, nghỉ không làm công tác đảng thì hầu như không còn điều hành gì nữa. Tôi quyết định xin cấp trên cho tôi nghỉ việc luôn để chờ hưu. Trong thời gian ngắn ở cương vị Phó Tư lệnh Chính trị tôi đã ra sức làm tốt chức trách, nhiệm vụ, được cán bộ, chiến sĩ toàn Quân chủng có lòng tin, đánh giá tốt, không khí đoàn kết trong đơn vị ấm tình đồng chí, tình người.

        Khi mới hợp nhất hai quân chủng, điều tôi băn khoăn nhất là công tác cán bộ, trực tiếp là việc bố trí sắp xếp, sử dụng, quy hoạch cán bộ ở các cơ quan Quân chủng. Lực lượng phòng không tôi đã nắm và giải quyết rồi, lực lượng không quân tôi tự hứa với bản thân sẽ nắm thật chắc giải quyết triệt để. Vì hai lực lượng trước đây là hai quân chủng, nay hợp nhất làm một, nếu giải quyết không chặt chẽ, có tình, có lý sẽ gây mất đoàn kết, lòng tin của cán bộ, chiến sĩ sẽ giảm sút. Đặc biệt là hợp nhất cơ quan chính trị và cơ quan hậu cần, theo biểu biên chế của Bộ chỉ sử dụng được một và dư một. Việc bố trí sắp xếp, quy hoạch như thế nào cho hợp lý cũng là một bài toán đòi hỏi lời giải phải "thấu tình, đạt lý". Phải làm gì để có lợi cho cán bộ, chiến sĩ, lợi cho đơn vị, đảm bảo cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Tôi mới bước đầu nắm bắt được công việc thì cấp trên báo tôi được nghỉ hưu nên mọi phương án, kế hoạch tố chức sắp xếp đành gác lại.

        Quá trình làm công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ Quân chủng lần thứ VI, việc chuẩn bị các văn kiện của đại hội được thực hiện đúng kế hoạch. Chuẩn bị nhân sự cấp ủy, tôi đã báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương dự kiến danh sách cấp ủy Quân chủng nhiệm kỳ mới do đại hội các cấp giới thiệu, Đảng ủy Quân chủng nhất trí thông qua, trong đó có tên tôi. Chỉ còn 10 ngày nữa là khai mạc đại hội, tôi nhận được điện của Tổng cục Chính trị thông báo tôi đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Phấn khởi là mình được đại diện cho những anh hùng, những tấm gương thi đua tiêu biểu của Quân chủng đi dự. Nhưng tôi lại lo lắng vì với trách nhiệm là Bí thư Đảng ủy đang chuẩn bị cho ngày tổ chức đại hội Đảng bộ đã đến gần. Mà đây lại là Đại hội Đảng bộ đầu tiên sau khi hợp nhất nên tôi rất mông lung, nhưng vẫn phải xác định chấp hành mệnh lệnh của trên.

        Ban ngày tôi đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, tối về làm công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ Quân chủng. Mọi thủ tục đại hội tôi đều đã thông qua Thường vụ Đảng ủy Quân chủng đúng nguyên tắc chặt chẽ. Khi kiểm tra lại công tác chuẩn bị của cơ quan về công tác điều hành đại hội tôi thấy có những vấn đề khác nghị quyết của Thường vụ đã thông qua. Khi hỏi lại mới biết là có sự chỉ đạo của cấp trên, không có văn bản mà chỉ là truyền đạt miệng. Do vậy, tôi yêu cầu các dồng chí trong Thường vụ thực hiện theo nghị quyết đã thông qua. Tôi đang là Bí thư, việc điều hành đại hội tôi không thể trốn tránh trách nhiệm được. Hơn nữa, quá trình chuẩn bị các văn kiện đại hội tôi trực tiếp chỉ đạo từ đầu.

        Chỉ còn 5 ngày nữa là đến ngày đại hội, tôi nhận được giấy triệu tập của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương lên nhận nhiệm vụ. Trước khi đi, tôi đã biết nhiệm vụ của mình, khi gặp, tôi không có gì bỡ ngỡ. Đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp gặp và nói với tôi: "Đồng chí lần này không vào cấp ủy nữa, năm 2001 Bộ báo cáo lên trên để đồng chí nghỉ hưu". Tôi trả lời hoàn toàn nhất trí. Đồng chí lại hỏi xem tôi có ý kiến gì không? Tôi trả lời: "Tôi hoàn toàn nhất trí, vì tôi là đảng viên, Đảng bảo tôi làm thì tôi làm, Đảng bảo nghỉ, tôi nghỉ". Tôi chỉ đề nghị nếu tôi nghỉ thì giao công tác chính trị chủ yếu của Quân chủng cho ai và xin phép về làm công tác chuẩn bị và bàn giao công tác chính trị. Tôi xin phép, ba ngày sau tôi bàn giao xong sẽ báo cáo với Bộ; còn công tác đảng tôi xin được trực tiếp giao trong quá trình đại hội là đầy đủ nhất. Không thấy các đồng chí nói gì đến các bước chuẩn bị và tổ chức Đại hội Đảng của Quân chủng.

        Đại hội lần này, tôi cố gắng chuẩn bị thật kỹ, từ tư tưởng chỉ đạo đại hội, đến công tác nhân sự, đánh giá quá trình xây dựng hai đảng bộ Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân, đặc biệt là phương hướng nhiệm kỳ 2001 - 2005; làm công tác chuẩn bị và điều hành đại hội thật mẫu mực. Còn việc nên gọi đại hội Quân chủng lần này là lần thứ mấy cho hợp logic, tôi đã chuẩn bị tờ trình báo cáo Thường vụ. Được sự nhất trí của cấp trên chúng tôi đưa vấn đề trên vào bàn trong đại hội. Đại hội thông nhất gọi là "Đại hội Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân lần thứ VI", có cơ sở và rất khoa học được toàn Đảng bộ Quân chủng đánh giá cao. Tôi nghĩ: Quá trình đại hội là quá trình xây dựng quan điểm, đường lối, chủ trương, là quá trình đấu tranh thống nhất nhận thức nên đây là thời cơ bàn giao tốt nhất cho đồng chí được đại hội bầu làm Bí thư khóa mới.

        Cuộc bàn giao tôi thấy nhẹ nhàng và sâu sắc, trân trọng và trang nghiêm. Do việc bàn giao công tác đảng diễn ra trong quá trình đại hội, nên phiên họp đầu tiên của Đảng ủy nhiệm kỳ mới do đồng chí Bí thư mới được bầu triệu tập tôi không tham dự. Có nhiều ý kiến của đại biểu dự đại hội cho rằng, cuộc họp đầu tiên của Đảng ủy mới nên mời đồng chí bí thư cũ dự và có ý kiến phát biểu ở hội nghị này thì toàn bộ đại hội sẽ được đánh giá thành công rất trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:57:33 PM
   
THAY LỜI KẾT

        Tháng 6 năm 2001, trên có quyết định cho tôi nghỉ chờ hưu. Đến tháng 6 năm 2003 tôi nhận sổ hưu và coi như cuộc đời binh nghiệp kết thúc từ đây. Được nghỉ hưu là một điều phấn khởi tôi mong muốn từ lâu. Vì trước đó, tôi đã suy nghĩ, khi hợp nhất hai quân chủng là tôi xin nghỉ đế cấp trên chọn đồng chí trẻ hơn thay tôi làm Bí thư sẽ phù hợp hơn. Nhưng cấp trên vẫn tin tưởng tiếp tục giao nhiệm vụ cho tôi. Tôi nghĩ, có lẽ đây là sự lựa chọn, sự tin tưởng, tín nhiệm của tổ chức đối với tôi. Vì thời kỳ đầu mới hợp nhất, cần người có kinh nghiệm để giữ vững sự ổn định về tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn Quân chủng. Cơ quan Bộ Tư lệnh đang là hai, nay là một, quân số dư ra phải từng bước giải quyết có tình, có lý, tạo lòng tin vào nhau mới làm cho Quân chủng ổn định và phát triển được. Tôi đã làm bí thư hai khóa, nay nghỉ hưu là đúng rồi.

        Tôi vui và phấn khởi khi được nghỉ hưu vì đã làm tròn trách nhiệm của người công dân với Tổ quốc, trách nhiệm của người đảng viên với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng. Tôi tự trách mình chưa làm tròn bổn phận của một người con với cha mẹ, một người chồng, người cha với vợ con thân yêu.

        Cuộc đời binh nghiệp sẽ mãi mãi sống trong ký ức của tôi:

       Thời binh nghiệp từ nay thôi nhé!
        Chỉ còn tình bạn, tình đồng chí
        Mãi mãi đầm ấm tận đáy lòng

        Khi tôi nghỉ hưu, bố tôi đã 89 tuổi, mẹ tôi 86 tuổi, ai cũng nói tôi hạnh phúc nhất, nghỉ hưu rồi mà bố mẹ vẫn còn để được phụng dưỡng, các con đều thành đạt. Tôi suy ngẫm thấy đúng thật. Ớ cái tuổi gần tới "xưa nay hiếm" mà tôi vẫn còn được phục vụ bố mẹ già là vinh dự và hạnh phúc lắm. Theo quy luật "sinh, lão, bệnh, tử", bố mẹ già như chuối chín cây, gia đình tôi vẫn được một thời gian cha con, ông cháu quây quần, đầm ấm, thật hạnh phúc biết bao. Cuộc sống gia đình tôi có bốn thê hệ lúc nào cũng vui vẻ tràn ngập tiếng cười.

        Còn nói đến vợ tôi, chúng tôi xây dựng với nhau năm 1957, tình yêu chỉ thoáng qua, sinh hoạt trong đội thiếu niên trước đây, người này gán người kia thế là thành đôi, đâu được như nam nữ ngày nay. Tôi rất quý và thương vợ tôi vì cả đời chỉ lam lũ làm ăn vì gia đình chồng, vì các con; là một người hiền từ, trước đây còn bị các cụ coi là "đần" vì hiền lành quá, nhưng cả một thời gian dài hơn 40 năm tôi xa nhà, mà bố mẹ tôi vẫn được chăm sóc chu đáo. Khi tôi nghỉ hưu, từ năm 2001 cho đến năm 2007, bố mẹ tôi vẫn khỏe mạnh, các con đều ngoan và đã trưởng thành. Tôi phải cảm ơn người vợ rất mực thủy chung, dù có "đần" đi nữa, nhưng đã cho tôi một gia đình đầy hạnh phúc để tôi được dành thời gian công hiến cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân. Người ta thường nói: "Đằng sau sự thành đạt của người đàn ông, luôn có bóng hình của người phụ nữ", điều đó với tôi là hiện thực. Được Đảng và Nhà nước phong quân hàm cấp tướng, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị (nay gọi là Chính ủy) của một quân chủng kỹ thuật hiện đại nhất, lại được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" thật là vinh quang của bản thân tôi. Tôi cám ơn Đảng, Nhà nước, Quân đội và gia đình, trong đó có công lao lớn của bố, mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo tôi lớn khôn và tôi không bao giờ quên người vợ hiền lành, tần tảo đã chăm chỉ sớm khuya, chăm lo xây đắp gia đình êm ấm để tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao cho. Tôi suy nghĩ, mình phải làm gì trong những năm tháng cuối đời để bù đắp cho cha, mẹ và người vợ yêu quý của mình.

        Đầu năm 2005, bố tôi bắt đầu mắc bệnh hiểm nghèo, bác sĩ phát hiện thấy khối u trực tràng. Nhiều bác sĩ có chuyên môn giỏi, đều khuyên ông già rồi, không nên mổ, chỉ dùng thuốc để trị bệnh. Được một thời gian, bệnh của bố tôi có thuyên giảm, nhưng cũng chẳng được lâu. Ngày 4 tháng 6 năm 2007, mẹ tôi đang ở nhà quê quây quần với các cháu cùng cô em gái thì ốm nặng. Tôi đã về quê tại xã Tân Phúc, huyện An Thi, tỉnh Hưng Yên đón mẹ tôi đưa lên cấp cứu tại Viện Y học hàng không của Quân chủng. Bác sĩ chẩn đoán mẹ tôi bị viêm túi mật. Điều trị được 5 ngày bệnh thuyên giảm, tôi đưa mẹ về ở nhà số 174 phố Lê Trọng Tấn để dưỡng bệnh. Thật là họa vô đơn chí, sau một ngày mẹ tôi cấp cứu, sáng hôm sau, tôi chuẩn bị ra chỗ mẹ thì bố tôi kêu đau quá, tôi lại phải đưa bố đi cấp cứu ngày 5 tháng 6 năm 2007 vì căn bệnh u trực tràng, làm cho bụng lúc này trướng lên, không mổ, không sống nổi. Tôi gọi điện cho bác sĩ Hiên -  nguyên là Trưởng khoa phẫu thuật vùng bụng (B3) Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 hiện đang công tác tại Bệnh viện K Trung ương. Anh đã đến cùng bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 xem xét, xác định và cho biết bố tôi phải mổ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:58:37 PM

        Thế là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 làm các thủ tục phẫu thuật cho bố tôi tại khu kỹ thuật công nghệ cao của bệnh viện. Thời gian đứng ngoài phòng mổ chờ đợi tôi mới sốt ruột làm sao! Mãi đến 15 giờ các hộ lý đưa bố tôi ra xe trong tình trạng vẫn hôn mê không biết gì. Các bác sĩ đã dự kiến hai tình huống, nhưng nặng về tình huống làm hậu môn nhân tạo. Từ đây, bố tôi phải mang cái hậu môn không ai muốn ở bên bụng phía phải. Lúc này mọi sinh hoạt cá nhân ông đều phải nhờ vào con cháu. Sau một tuần ở bệnh viện, đến 10 giờ ngày 15 tháng 6, tôi đưa bố tôi về nhà để dưỡng bệnh. Thế là trong nhà tôi có 2 giường bệnh cho bố mẹ tôi.

        Thời gian này, bố tôi ăn uống thất thường, bệnh tình cũng thay đổi thất thường. Bác sĩ thăm bệnh và động viên gia đình: Cụ hồi phục thế là tốt! Cố gắng chăm sóc cụ sống thêm năm nào, ngày nào là tốt ngày đó. Có bác sĩ nói cố gắng thì cụ ở với chúng tôi được 6 tháng. Tôi cứ nhẩm tính khi bố tôi quằn quại đau đớn trên giường bệnh từ ngày 6 tháng 6 năm 2007 đến ngày 6 tháng 12 năm 2007 là khoảng 6 tháng. Như vậy tháng Mười âm lịch này sẽ là tháng định mệnh của bố tôi. Nhưng không, ngày khỏe ngày yếu cứ chen lấn nhau trong cuộc sống của bố. Bô tôi thêm ngày nào thì các con, các cháu còn được trông thấy, còn có ông cháu, bố con ngày ấy. Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi là ngày giỗ ông nội tôi, bố tôi còn giục con cháu làm giỗ và yêu cầu đưa bố tôi lên trước bàn thờ để thắp hương ông. Khi thắp hương bố tôi nói những điều gì đó mà tôi không nghe rõ, có lẽ đó là những điều bố tôi vẫn ấp ủ từ lâu.

        Đến ngày 6 tháng 6 năm 2008, bố tôi lại bị mệt nặng. Tôi tương lần này bố tôi sẽ về cõi vĩnh hằng, nhưng may mắn là bố tôi lại qua được. Bố tôi đang ở tuổi 97, chắc phải qua ngày sinh. Đúng vậy, con bệnh cứ bám theo bố tôi, còn con cháu ra sức tách ông khỏi căn bệnh quái ác đó. Bố tôi vẫn sống, vẫn tỉnh táo. Trên đời, không ai thoát khỏi cái chết. Người đời thường nói "Sống gửi, thác về". Ngày bố tôi phải về hầu hạ tố tiên đã đến. Đêm hôm đó như có linh tính, tôi bảo các em, con, cháu để tôi chăm sóc bố. Đang ngồi trông, theo dõi bỗng tôi thấy bố tôi trở bệnh rồi thở gấp, tôi gọi các em, con, cháu dậy để vĩnh biệt bố tôi. Đúng 1 giờ 26 phút ngày 28 tháng 10 năm 2008 (tức là ngày 30 tháng 9 năm Mậu Tý) bố tôi đã ra đi vĩnh viễn. Bố tôi sinh năm 1912 là năm Nhâm Tý, ra đi năm 2008 là năm Mậu Tý.

        Thê là từ đó, chúng tôi không còn được gặp bố bằng xương, bằng thịt nữa. Khi bố tôi ra đi, cái ngày định mệnh ấy lại là một ngày mưa lịch sử của Hà Nội và các tỉnh lân cận. Trời tuôn mưa, trận mưa chưa từng có, nhất là ngày làm lễ truy diệu và đưa bố tôi đi an táng. Ngày 31 tháng 10 năm 2008 (tức mùng 3 tháng 10 năm Mậu Tý) thi hài bố tôi được đưa về quê Hưng Yên, trên đường đi nước ngập mênh mông. Thật hú vía, nhưng cũng thật diễm phúc vì ở quê tôi lúc đó trời chưa đổ mưa. Gia đình còn chuẩn bị để làng, xã, bạn bè đến viếng bố tôi, sau đó đưa bố tôi ra đồng. Sau khi con cháu làm các thủ tục chôn cất xong thì trời vần vũ nhưng không mưa, mãi khi chúng tôi về gần đến nhà ở Hà Nội thì trời đổ trận mưa lịch sử gây lũ lụt lớn. Đây là trận lũ mà mấy chục năm mới có, là trận lũ lịch sử làm Hà Nội ngập trong biển nước mấy ngày liền. Từ quê Hưng Yên đi lên Hà Nội, nước ngập trắng mênh mông hai bên đường. Anh em, bạn bè, đồng chí hôm đó đưa bố tôi về nơi an nghỉ cuối cùng đã thức trắng đêm, có người mãi hôm sau mới tìm được đường không ngập nước để trở về Hà Nội.

        Vê phần mẹ tôi các bác sĩ chẩn đoán đau do viêm mặt. Do điểu trị đúng bệnh nên mẹ tôi chỉ nằm viện 5 ngày, xong về nhà con cháu chăm sóc, dưỡng bệnh mẹ lôi lại khỏe bình thường. Ngày 2 tháng 5 năm 2009, tôi đưa mẹ tôi về quê chơi mấy ngày để thăm bà con họ hàng. Đến ngày 7 tháng 5 năm 2009 mẹ tôi bị ngã vào lúc 14 giờ 34 phút tại nhà. Mẹ tôi có ý định giấu chưa cho tôi biết, vì biết tôi đang cùng đoàn cán bộ Quân chủng đi viếng nghĩa trang liệt sĩ đồi Al, thăm lại chiến trường xưa nhân kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Kiên Phủ.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:59:18 PM

        Ỏ Điện Biên Phủ, tôi ngày 8 tháng 5 năm 2009, tôi nhận dược điện thoại mẹ tôi ngã nhưng không nói rõ cụ thể nên tôi nghĩ chắc mẹ không bị nặng. Ngày 9 tháng 5 năm 2009, tôi có giấy mời về tỉnh Hưng Yên đón nhận quyết định của Chính phủ thành lập thành phố Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên. Quá trình đi từ Hà Nội về, trong lòng tôi luôn nóng như lửa đốt, không hiểu có chuyện gì. Tôi về thành phố Hưng Yên gặp Ban tổ chức trao tặng phẩm xong xin phép về đưa mẹ tôi đi Hà Nội. Lúc đầu tôi thấy mẹ vẫn bình thường vì vết thương kín nên tôi đưa mẹ tôi về nhà nghỉ thứ bảy, chủ nhật; nhưng có cái gì đó làm tôi không yên tâm. Sáng chủ nhật, tôi điện cho đồng chí Hải - Giám đốc Viện Y học hàng không, đồng chí bảo phải đưa mẹ tôi đi chụp chỗ chân bị gẫy. Bác sĩ xác định mẹ tôi bị gẫy chỏm xương quay ở đùi, bó bột không được. Tôi suy nghĩ và mời chú Bảo ở Trường Trung học Phòng không đến xem có thể bó lá được không, để mẹ tôi bớt phần đau đớn. Nhưng vì gẫy chỏm xương quay ở đùi nên cũng không bó lá được, cuối cùng bác sĩ quyết định mổ đóng đinh thì mẹ tôi mới có thể đi lại được. Mẹ tôi tuổi cao vẫn phải phẫu thuật, phải chịu đau đón, trong lòng tôi vô cùng thương xót.

        Các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 làm công tác chuẩn bị mổ rất tận tình. Bác sĩ Hải - Trưởng khoa trực tiếp mổ cho mẹ tôi. Mẹ tôi được đưa vào phòng mổ từ 10 giờ đến 13 giờ thì cáng được đưa ra đi về phòng hậu phẫu. Mẹ tôi điều trị ở đây được 9 ngày thì tôi xin cho mẹ ra viện về nhà (ngày 19 tháng 5 năm 2009) để gia đình tiếp tục thuốc thang. Từ đó mẹ tôi đã được các con, cháu thay nhau chăm sóc. Sức khỏe dần hồi phục, mẹ tôi sức khỏe bình thường chống gậy đi được, vịn cầu thang vẫn đi lên đi xuống bình thường. Tôi đã mua cho mẹ hai cái xe (gọi là 2 gậy) 4 bánh để đẩy đi ỏ những nơi bằng phẳng; đặt trên phòng mẹ tôi một chiếc ở dưới nhà một chiếc, để mẹ tôi đi lại sinh hoạt bình thường cùng con cháu.

        Ngày 25 tháng 8 năm 2012 tôi đưa mẹ tôi về quê Hưng Yên chơi mấy ngày. Ở quê mẹ tôi còn cô em gái, lâu ngày chị em không gặp nhau. Chiều ngày 28 tháng 8 năm 2012, tôi mời mẹ tôi về Hà Nội, nhưng mẹ tôi nói cho mẹ ở nhà thêm may ngày nữa. Tôi để mẹ ở nhà với em gái và các cháu, tôi trở lại Hà Nội vì một số công việc. Ngày 9 tháng 9 năm 2012 tôi cùng một số bạn về qué thăm mẹ. Các bạn tôi ăn bữa cơm thân mật quây quần cùng gia đình thật vui vẻ, sau đó trở lại Hà Nội. Tôi ở nhà với mẹ, mẹ tôi vẫn khỏe mạnh bình thường. Chiều 11 tháng 9, tôi lại mời mẹ cùng đi Hà Nội với tôi, mẹ tôi bảo ở nhà đến 15 tháng 8 âm lịch đê làm giỗ ông ngoại rồi mới đi. Sáng hôm sau, tôi đang họp bạn chiến dấu thì nhận được điện thoại em gái gọi anh về ngay để cấp cứu mẹ. Tôi chưa hỏi được gì thì điện thoại đã tắt, có hỏi cũng chẳng biết thế nào chỉ biết là ốm phải cấp cứu. Thế là tôi lấy xe về ngay, đến nhà thấy mẹ tôi đi ngoài ra máu và nôn ra máu, từ trước đến nay mẹ có bị bệnh này bao giờ đâu. Tôi đã gọi một xe ở quê đưa đi Hà Nội cấp cứu và gọi chú em ở Hải Phòng cùng lên luôn. Chúng tôi đưa mẹ đến Viện Y học hàng không của Quân chủng Phòng không - Không quân điều trị và bệnh đã thuyên giảm. Nhưng đến ngày 19 tháng 9 năm 2012 bệnh tình mẹ tôi lại nặng hơn, tôi xin chuyển mẹ tôi ra Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, để điều trị. Sau khi điều trị ở đó 37 ngày, đến 9 giờ 00 ngày 25 tháng 10 năm 2012, tôi đón mẹ tôi từ bệnh viện về trong tình trạng sức khỏe tốt, nhưng chưa đi lại được, nói ngọng không ra câu. Mọi người trong gia đình tôi thay nhau chăm sóc mẹ tôi, bà con họ hàng, khối phố thường xuyên đến thăm hỏi động viên. Mẹ tôi ở với chúng tôi đến ngày 14 tháng 3 năm 2013 (tức 14 giờ 15 phút ngày 3 tháng 2 năm Quý Tỵ). Mẹ tôi ra đi, vừa tròn 99 tuổi. Mẹ tôi mất đi là một tổn thất đối với gia đình tôi, là nỗi tiếc thương vô hạn của họ hàng, bạn bè khu phố, làng xóm quê hương.

        Tôi là con cả trong gia đình, khi còn nhỏ được bố mẹ nuôi ăn học, lớn lên tưởng được giúp đỡ cha mẹ, Nhưng đất nước vẫn còn chia cắt hai miền, thanh niên phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Tôi đã thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng này. Trong hơn 40 năm, chỉ có những lời động viên, hỏi thăm sức khỏe bố mẹ, nhiều lúc còn làm cho bố mẹ lo lắng. Nhưng cũng là diễm phúc và may mắn, khi nghỉ hưu tôi đã hơn 60 tuổi, nhưng vẫn còn được phục vụ, chăm sóc bố mẹ... Anh chị em chúng tôi và các con, cháu luôn quây quần bên bố mẹ, ông bà lúc khỏe và luôn túc trực bên giường bệnh cho đến khi bố mẹ tôi đi về hầu hạ tổ tiên. Vĩnh biệt bố mẹ, chúng tôi nguyện đoàn kết, thương yêu nhau xây dựng gia đình, dòng họ, xây dựng đất nước xứng đáng là những người con, người cháu của ông bà, bố mẹ, là người có ích cho xã hội.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 02:59:40 PM

        Về hưu một thời gian, năm 2003, tôi mới có điều kiện để đi thăm một số đồng chí, bạn bè, thấy được cuộc sống của nhiều gia đình quá khó khăn. Những gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh lại càng khó khăn hơn. Có đồng chí đã mang thương tật trên người, con cái họ còn phải mang những căn bệnh hiểm nghèo do di chứng chiến tranh. Những con liệt sĩ, con thương binh bị tật nguyền, dị dạng do chất độc da cam điôxin của cuộc chiến tranh tàn khốc trên 30 năm để lại. Có gia đình từ hai đến ba con đều bị tàn tật. Có cháu cứ nằm co quắp, mọi sinh hoạt đều nhờ sự giúp đỡ của bố mẹ, người thân, ai thấy cũng chạnh lòng.

        Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đãi ngộ, làm vợi đi những nỗi đau, giảm đi những khó khăn. Nhưng nỗi đau vẫn còn đó, khó khăn vẫn còn nhiều. Tôi suy nghĩ, những năm tháng cuối cuộc đời được chăm sóc, báo hiếu cha mẹ là một điều hạnh phúc, nhưng nhìn rộng ra toàn xã hội mới thấy tấm lòng của nhân dân, sự hy sinh cao cả của nhân dân cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc là vô cùng lớn. Mình phải làm gì đây? Chữ "hiếu" không chỉ trong phạm vi gia đình. Mình được Đảng, Quân đội chăm lo rèn luyện trưởng thành, được nhân dân đùm bọc nuôi dưỡng, phải làm gì cho nhân dân lúc này? Làm gì để những nạn nhân chiến tranh vơi đi những nỗi đau, những mất mát không gì có thể bù đắp được. Năm 2004, tôi bàn với một số bạn bè, có Trung tướng Nguyễn Văn Cốc, Đại tá Trần Mạnh Hiến, Bác sĩ Phạm Hồng Thái... chúng ta nên làm gì để giúp đỡ cho những người có hoàn cánh như trên dù rất nhỏ về tinh thần và vật chất. Ý tướng đóng góp một phần công sức nhỏ bé đế góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh được nảy sinh mạnh mẽ trong mỗi chúng tôi.

        Cuối năm đó (năm 2004), chúng tôi họp những người sáng lập một tổ chức từ thiện, gồm có: Tôi, anh Thái, anh Hiến, anh Tài, anh Long, anh Căn, anh Nhâm, anh Tạ Khá bàn và lập phương án thành lập một trung tâm nuôi dưỡng các cháu tật nguyền, có hoàn cảnh khó khăn. Khi được tập thể nhất trí, anh Phạm Hồng Thái là người chạy đôn chạy đáo lập đề án, xin ý kiến một số cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội. Đề án được xây dựng xong, Ban sáng lập cử tôi, anh Trần Mạnh Hiến, anh Phạm Hồng Thái lên báo cáo với Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Chúng tôi trình bày xong, được Thiếu tướng Nguyễn Văn Thưởng - Chủ tịch Hội chữ thập đỏ (trước đây là Cục trưởng Cục Quân y Tổng cục Hậu cần Bộ Quốc phòng) hoan nghênh và chỉ đạo cơ quan Trung ương Hội giúp đỡ. Riêng đồng chí rất đồng tình và ủng hộ sáng kiến của chúng tôi. Cũng thời gian này, Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị về xã hội hóa công tác chính sách, huy động nhiều đơn vị, nhiều cá nhân tập trung tham gia làm công tác chính sách. Đồng chí Chủ tịch Hội chữ thập đỏ còn hỏi chúng tôi Trung tâm lấy tên là gì? Chúng tôi báo cáo dự kiến có 3 tên gọi, nhưng thống nhất gọi là "Trung tâm nhân đạo Hồng Đức" mà chính đồng chí Chủ tịch cũng gợi ý cái tên này. Đề án chúng tôi nêu nhiệm vụ là bảo trợ, nuôi dưỡng, dạy bảo, phục hồi chức năng cho đối tượng là các cựu chiến binh, con em cựu chiến binh, gia đình chính sách, trẻ em tàn tật bị chất độc da cam điôxin, người già không nơi nương tựa. Quy mô của Trung tâm là một trung tâm, nhưng có nhiều cơ sở.

        Ngày 8 tháng 5 năm 2005 là ngày kỷ niệm Hội chữ thập đỏ, trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Trung ương Hội tuyên bố ra mắt "Trung tâm nhân đạo Hồng Đức" trước đầy đủ các cơ quan của Trung ương Hội, các lãnh đạo hội ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đặc biệt là có rất nhiều quan khách quốc tế. Từ đây Trung tâm nhân đạo Hồng Đức là một thành viên hoạt động độc lập của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam.

        Sau hội nghị thành lập về, chúng tôi triệu tập thêm một số đồng chí nữa thành lập cơ quan Trung tâm, lúc đầu có Ban Giám đốc (gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc). Tôi được Trung ương Hội quyết định làm Giám đốc, đồng chí Trần Mạnh Hiến làm Phó Giám đốc thường trực, đồng chí Nguyễn Đức Căn là Phó Giám đốc đối ngoại, đồng chí Phạm Hồng Thái là Phó Giám đốc nuôi dưỡng chăm sóc các đối tượng chính sách vào Trung tâm. Trụ sở chưa có, ông Nguyễn Văn Long đã tình nguyện cho mượn khu nhà của gia đình, có ba gian làm văn phòng, ba gian làm nhà ở và lớp học cho các cháu. Chúng tôi gửi công văn đi các tỉnh chiêu sinh, năm 2005 đã đón được 30 cháu do Hội chữ thập đỏ các tỉnh giới thiệu về.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Một, 2020, 03:00:01 PM

        Thời gian đầu đi vào nuôi dưỡng các cháu phái lo xin tiên tài trợ của các đơn vị, nhà hảo tâm. Sau một năm tôi thấy không ổn, cứ đi xin mãi sao được. Tôi nghiên cứu và bàn cùng Trung tâm nuôi các cháu và tìm cho các cháu cái nghề, thế là bao sáng kiến được đưa ra. Các cháu học gì, làm gì cũng là điều chúng tôi bàn rất kỹ. Buổi ban đầu dựng lên một số nghề: may mặc, thêu, mây tre đan xuất khẩu, kể cả nghề làm vàng mã, làm mộc... Sau một thời gian hoạt động chúng tôi thấy với sức khỏe của các cháu chỉ có nghề may mặc là hợp nhất, Trung tâm đã triển khai phát triển nghề này.

        Năm 2005 Trung tâm có một cơ sở ở số 9 ngõ 24 phố Lạc Trung thì năm 2008 đã phát triển bốn cơ sở và một phòng khám bệnh. Cơ sở 1 ở đường Âu Cơ, quận Tây Hồ; cơ sở 2 ở đường Tam Trinh, quận Hoàng Mai; cơ sở 3 ở chùa Ngòi thôn Quảng Lạp, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh; cơ sở 4 ở chùa Liên Phương, xã Liên Phương, huyện Thường Tín. Phòng khám bệnh ở số 9 ngõ 24 phố Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

        Sau này do tình hình kinh tế đất nước khó khăn, các nhà tài trợ cũng bớt dần, Trung tâm phải dồn lại còn 3 cơ sở, cơ sở 4 chủ yếu làm vàng mã, mây tre đan tạm ngừng. Các cháu được chuyển về 3 cơ sở còn lại của Trung tâm. Đơn vị tài trợ chính cho Trung tâm là Công ty Him Lam thành phố Hồ Chí Minh cùng các công ty, tổng công ty từ Bắc đến Nam đã hỗ trợ cơ sở vật chất như máy may, máy thùa khuy đến gần 100 chiếc. Xin cám ơn những nhà tài trợ, hảo tâm giúp đỡ trung tâm: Công ty Him Lam, Công ty may Nhà Bè, Việt Tiến, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Vừa làm vừa rút kinh nghiệm, Trung tâm không chỉ nuôi các cháu mà còn dạy cho các cháu có một cái nghề. Chúng tôi không cho các cháu "con cá" mà cho các cháu "cần câu" để các cháu tự kiếm sông nuôi bản thân. Từ năm 2005 đến nay, Trung tâm đã nuôi dưỡng dạy nghề cho hơn 1.000 cháu, nhiều cháu tự nguyện xin về mở cửa hàng kiếm sống, có cháu ở lại Trung tâm làm giáo viên cho lớp sau và là một thợ may trong cơ sở. Từ năm 2007 đến nay, các cơ sở chủ yếu làm may, các cháu đã có lương từ 1,2 triệu đến 2 triệu đồng/1 tháng, đột xuất có cháu thu nhập hơn 2 triệu. Sản phẩm chủ yếu là may đồng phục và nghi lễ đội cho các nhà trường cấp I, II, quần áo bảo hộ cho các nhà máy. Có việc làm, lại có nghề các cháu rất phấn khởi nên các cháu tự giác bảo ban nhau. Đặc biệt, các cháu còn nói: Sống trong Trung tâm không có mặc cảm, các thầy cô rất thương, rất quý và thông cảm với các cháu.

        Số các cháu ở Trung tâm xin về gia đình, tôi có gặp một số cháu; các cháu vui lắm, thấy mình đã có cuộc sống tự lập, ổn định không phải là người bỏ đi của xã hội, như cháu Tuyết liệt 2 chân đi lại bằng xe lăn, cháu vào Trung tâm học may sau ở lại làm giáo viên, nay cháu xin về nhà mở một cửa hàng ở thị trấn Thứa huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; cháu Nguyễn Đình Biên vào Trung tâm do cháu liệt 2 chân, đi bằng xe lăn. Trung tâm thấy cháu khỏe, nhanh, khả năng tiếp thu tốt, cháu cứ mầy mò vào vô tuyến, âm ly, hỏi ra biết nguyện vọng cháu muốn học sửa chữa máy móc. Chúng tòi cho cháu đi học một năm sửa chữa điện thoại di dộng, cháu về mở cửa hàng ở thị trấn Thứa. Có một điều thú vị là cháu Tạ Đình Lập ở Trung tâm, do cháu bị chất độc da cam điôxin, chân tay thì khỏe, đầu óc thì không ổn định, nói trước quên sau, Trung tâm cho ra ở giúp việc cháu Biên, anh em hay gọi đùa cháu là Giám đốc Tạ Đình Lập, và trở thành "cặp đôi hoàn hảo" Tôi hỏi, cháu Biên cho biết, nay cháu đang truyền đạt, dạy cho 2 bạn cùng tàn tật như cháu. Thu nhập hàng tháng của cháu đã bảo đảm đủ ăn cho cháu và bạn cháu là Lập và có dư được chút ít. Tới đây cháu xin Trung tâm để cháu trả tiền thuê nhà. Cháu đã tự lập được, chúng tôi và gia đình rất mừng cho cháu.

        Hoạt động nhân đạo vất vả lắm, nhưng chúng tôi cũng có niềm vui nho nhỏ mỗi khi thấy các cháu khỏe, có việc làm (tùy sức của các cháu). Các cháu tâm sự có nhiều khát vọng ta phải hướng cho các cháu, trong tập thể như Trung tâm, các cháu đều có hoàn cảnh như nhau nên hiểu nhau. Cháu Tuấn quê ở Quảng Ninh yêu cháu Vũ Thị Loan quê Bắc Ninh, chúng tôi đã mời hai gia đình đến, bàn cụ thể. Được sự nhất trí của hai gia đình, Trung tâm đã tổ chức kết hôn cho hai cháu, nay các cháu đã có 2 con (1 gái, 1 trai), cuộc sống hạnh phúc. Đến nay, Trung tâm đã tổ chức kết hôn cho 3 đôi hạnh phúc, gia đình rất phấn khởi.


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Một, 2020, 10:11:05 PM

        Từ ngày 8 tháng 5 năm 2005 đến nay, Trung tâm đã phối hợp với các bệnh viện như: Viện Y học hàng không, Bệnh viện Quân đội 103, khám cấp thuốc miễn phí, bảo trợ cho cựu chiến binh hàng ngàn người; đã dạy nghề cho hàng trăm cháu, có nhiều cháu đã tự mình kiếm sống. Ở Trung tâm về, các cháu đã là người có ích cho xã hội, nhiều thư của Hội chữ thập đỏ huyện, xã, phường cũng như gia đình các cháu cám ơn Trung tâm đã giáo dục các cháu, hướng nghiệp cho các cháu, các cháu đã là những con người có ích cho xã hội.

        Năm 2008, bố mẹ tôi ốm bất thường, nên tôi đã báo cáo với Trung ương hội xin phép cho nghỉ chức vụ Giám đốc ở Trung tâm Trung ương hội và Trung tâm đã đồng ý và quyết định đồng chí Trần Mạnh Hiến - Phó Giám đốc Thường trực thay tôi làm Giám đốc. Tôi vẫn được các đồng chí trong Trung tâm cử làm Chủ tịch để có điều kiện làm từ thiện giúp đỡ Trung tâm.

        Xin cám ơn Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam, cán bộ, các cháu của Trung tâm nhân đạo Hồng Đức thời gian qua đã giúp tôi, cùng chúng tôi làm được những điều thiện, những điều nhân đức mà xã hội đang cần, đang mong.

        Tôi bắt đầu tập hợp lại những trang bút ký của mình khi đã nghỉ công tác, bố tôi đã ở tuổi 96, mẹ tôi tuổi 93, đến nay cả bố mẹ tôi đều đã qua đời. Những cuốn sổ tay cũ kỹ đi theo tôi suốt cuộc đời đã giúp tôi hồi tưởng lại gia đình, quê hương, đất nước - nguồn gốc cho tôi một sức mạnh chính trị - tinh thần từ nội lực bên trong để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tôi vô cùng biết ơn bố mẹ đã sinh ra và nuôi tôi khôn lớn; cảm ơn người vợ đã một đời chắt chiu nuôi các con khôn lớn thành đạt, các cháu ngoan ngoãn, học tập tốt để tôi yên tâm cống hiến sức mình phục vụ Đảng, Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

        Với tôi, sau khi rời quân ngũ thì cuộc sống vẫn như dòng chảy không ngừng nghỉ với bao công việc gia đình và đoàn thể xã hội. Nhưng trong dòng chảy đó có nhiêu khoảng lặng để tôi có thời gian nhìn lại cuộc đời mình sâu lắng hơn dù độ lùi thời gian có thể làm nhạt nhòa rất nhiều kí ức.

        Hơn 40 năm làm Bộ đội Cụ Hồ, tôi đã chiến đâu, công tác ở nhiều đơn vị, đi qua nhiều vùng quê, nhiều trận địa... ở từng đơn vị tôi từng chiến đấu và công tác có biết bao anh em, đồng chí, bạn bè đã đồng cam cộng khổ, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong công việc và cuộc sống. Bởi vậy, những gì tôi làm được và đạt được hôm nay đều có sự đóng góp công sức của nhiều người - nay người mất, người còn. Khó có thể kể hết bao kỷ niệm trong tập hồi ức này, tôi chỉ mong những dòng hồi ức này giúp tôi bày tỏ lòng tri ân sâu nặng đến mọi người.

        Tôi xin cám ơn Đảng, Nhà nước, Quân đội đã giáo dục, rèn luyện tôi trưởng thành; cám ơn quê hương Hưng Yên giàu truyền thống cách mạng, cái nôi sinh ra và giáo dục tôi những năm tháng tuổi thơ; cám ơn nhân dân các địa phương đã đùm bọc, yêu thương, che chở tôi trong những năm tháng chiến đấu gian khổ; cám ơn dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi (xã Kim Chân, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh) với truyền thông hiếu học... Tất cả đã cho tôi sức mạnh làm nên chiến thắng.

MỤC LỤC

        Lời giới thiệu   
        Lời Nhà xuất bản   
        Chương 1: Gia đình, quê hương - cội nguồn của sức mạnh tinh thần   
        Chương 2: Những nãm tháng rèn luyện, thử thách bản lĩnh của người lính bảo vệ bầu trời Tổ quốc (1960-1965)   
        Chương 3: Tham gia chiến đâu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân Mỹ (1967-1968)   
        Chương 4: Tham gia chiến đấu đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân Mỹ (1972)   
        Chương 5: Nhận được danh hiệu cao quý nhất trong cuộc đời, tích cực học tập, để cao trách nhiệm xây dựng Sư đoàn phòng không bảo vệ vùng trời Đông Bắc Tổ quốc   
        Chương 6: Vững vàng trước khó khăn xây dựng Quân chủng Phòng không, Quân chủng Phòng không - Không quân vững mạnh trong sự nghiệp đổi mới đất nước (1989-2001)
        Thay lời kết

HẾT


Tiêu đề: Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Một, 2020, 09:58:06 AM

        Không hiểu sao tác giả không đưa 1 chi tiết quan trọng vào sách : Tiểu đoàn 57 cùng với tiểu đoàn 79 là 2 tiểu đoàn có hệ thống điều khiển được cải tiến, kết nối với ra đa K8-60 của pháo cao xạ 57 mm, nhờ vậy có thể dễ ràng phát hiện được B.52 và lại chống được Shrike (vậy mà vẫn bị dính Shrike).

        Sau khi đưa sách lên Dựng nước giữ nước, tôi có dịp (1/2020) quay lại trận địa của tiểu đoàn 57 tại Đại Đồng xã Đại Mạch, Đông Anh, HN. Sau đây là vài hình ảnh hiện nay (2020) của trận địa năm xưa :

        - Một tấm bảng (bia?) ghi lại chiến công xưa :

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/83522681_584898578906693_8406371628253970432_o.jpg?_nc_cat=107&_nc_ohc=PaQenw53GLQAX-slpDY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=fd005cd4ee16ceb6a412fedc6b177db6&oe=5E8DC9DE)

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/83488617_584898595573358_6891998208730333184_o.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=bs84bxtYDxEAX_0bWC2&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0a1a4088224c755a3d34f9999f490de5&oe=5ED55CD6)

        - Trận địa có 1 vị trí cực kỳ quan trọng để bảo vệ HN. Sau chiến tranh, ta vẫn duy trì trực chiến và giữ lại trận địa này. Nay tấc đất tất vàng nên trận địa năm xưa đã biến mất, thay vào đó là những nhà kiên cố nhiều tầng. Thật tiếc :

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/84519130_584898588906692_8575275091229671424_o.jpg?_nc_cat=107&_nc_ohc=xiT7-EwVzcMAX_ke271&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=769345753c04bf80ee11333702c2f19a&oe=5ECF6684)