Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:23:35 am



Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:23:35 am
Tên sách: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai
Xuất bản 22-12-1993

* Chỉ đạo nội dung:
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY GIA LAI.

* Cơ quan chủ quản:
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH.

* Chủ nhiệm đề tài:
Đại tá PHAN ANH TUẤN
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh.

* Ban Biên tập gồm:
PHAN ANH TUẤN      Đại tá.
LÂM HUẾ         Đại tá.
NGUYỄN PHIÊN      Đại tá.
ĐẶNG VÂN         Thượng tá.
NGUYỄN NGỌC HÒA   Thiếu tá.

LỜI GIỚI THIỆU

Gia Lai là một trong hai tỉnh Bắc Tây Nguyên, là quê hương sinh sống lâu đời của các dân tộc anh em: Jơrai, Bahna và Kinh; là địa bàn có giá trị chiến lược quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng trong chiến tranh giải phóng cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trải qua bao thế kỷ đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai luôn luôn đoàn kết gắn bó, lao động cần cù, khắc phục muôn vàn khó khăn, đã hun đúc tinh thần thượng võ bất khuất, liên tục vùng lên chống mọi áp bức bất công của bọn xâm lược và phản động bán nước.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng bộ Gia lai thành lập, trực tiếp lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh vùng lên tiến hành đấu tranh cách mạng. Thấm nhuần chân lý “Không có gì quí hơn Độc lập Tự do”, trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc Pháp và giặc Mỹ xâm lược nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, dựa vào dân, phát huy truyền thống quật cường, tự lực cánh sinh, kiên trì tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng góp phần cùng cả nước giành thắng lợi vĩ đại Mùa xuân năm 1975 lịch sử.

Để ghi lại những chặng đường lịch sử chiến đấu đã qua, Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức biên soạn cuốn Sử “GIA LAI 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG” nhằm phản ánh cuộc chiến tranh nhân dân của các dân tộc trong tỉnh đầy hy sinh gian khổ, nhưng đã giành thắng lợi vẻ vang.

GIA LAI 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG là công trình khoa học lịch sử, sau cuộc lịch sử Đảng bộ Tỉnh, nó đáp ứng được tình cảm, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc để làm tài liệu nghiên cứu, học tập, tuyên truyền phát huy truyền thống cách mạng của tỉnh.

Nhân dịp này, chúng tôi chân thành cảm ơn các cơ quan, các đồng chí cán bộ lãnh đạo lão thành, các cán bộ chỉ huy qua các thời kỳ hoạt động ở Tây Nguyên, Gia lai đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu để cuốn sử được ra mắt bạn đọc.

Quá trình biên soạn, tuy Ban biên tập có nhiều cố gắng nhưng không sao tránh khỏi những thiếu sót. Mong các đồng chí, bạn đọc chân thành góp ý để cuốn sử đạt chất lượng cao hơn.


Bác Sỹ Ksor Krơn
                                                                                                                       
ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:29:07 am
Chương mở đầu
*
*   *
KHÁI QUÁT VỀ
ĐỊA LÝ THIÊN NHIÊN, CON NGƯỜI GIA LAI.

Gia Lai là một trong những tỉnh ở cửa ngõ Bắc Tây Nguyên, nằm phía tây Quân khu V, ở vào khoảng 12o85’’20 – 14o36’’30 vĩ độ Bắc và 107o27’’23 – 108o54’’40 kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum.

Tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum có nguồn gốc gắn bó từ xưa. Vào cuối năm 1932, thực dân Pháp tách huyện Tân An và huyện Cheo Reo (AyunPa) thuộc địa bàn tỉnh Kon Tum để lập tỉnh Pleiku. Đến tháng 8 năm 1943 chúng sát nhập huyện An Khê (thuộc tỉnh Bình định) và tỉnh Pleiku.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công. Chi đội Tây sơn, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên được thành lập, phụ trách địa bàn hai tỉnh Gia Lai(1) và Kon Tum. Tháng 1 năm 1950 Trung đoàn 120 biên chế mới đảm nhận công tác quân sự địa phương ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Để thống nhất chỉ đạo hoạt động trên chiến trường địch hậu, tháng 4 năm 1950 Thường vụ Liên khu ủy 5 quyết định thống nhất hai tỉnh Gia lai và Kon tum gọi là tỉnh Gia-Kon.

Sau hiệp định Genève, trong điều kiện tiến hành đấu tranh chống địch trong giai đoạn Cách mạng mới, Tỉnh ủy Gia Lai và Tỉnh ủy Kon Tum thành lập riêng trong khu vực Liên tỉnh 4 (gồm tỉnh Kon Tum, Gia Lai và ĐăkLăk).

Đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tháng 9 năm 1975 hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum sát nhập lại thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum để cùng cả nước đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Đến tháng 11 năm 1991, chấp hành nghị quyết của Quốc hội khóa VIII tách thành hai tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.

Ngày nay tỉnh Gia lai phía bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía tây giáp tỉnh BaTaNaKiRi (đông bắc Campuchia) có biên giới dài 90 km. Phía nam giáp tỉnh ĐăkLăk, phía đông giáp tỉnh Bình Định và một phần tỉnh Phú Yên.

Diện tích tỉnh có: 16.527 kilômét vuông. Dân số có 726.123 người(2), mật độ dân số gần 44 người/km2, gồm ba dân tộc đông là Kinh (51%), 49% đồng bào các dân tộc ít người, số đông là dân tộc Jơrai và dân tộc Bahnar. Gia lai là một tỉnh rừng núi trùng điệp, có thế đứng cao so với các vùng tiếp giáp. Rừng có nhiều loại gỗ quí như trắc, cẩm lai, giáng hương, kờte, săng lẽ… và có nhiều động vật quí hiếm có giá trị kinh tế cao như voi, hổ, báo, hươu, nai, gấu, bò tót, trâu rừng, sóc bay, thằn lằn bay v.v…. Rừng Gialai còn có nhiều dược liệu quí. Rừng chẳng những là nơi kín đáo cất dấu kho tàng, che dấu lực lượng hành binh đoàn lớn, mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để ta khai thác phục vụ chiến đấu và đời sống.

Địa bàn tỉnh được hình thành bởi nhiều dạng địa hình không đều nhau; có hai loại phổ biến, đó là núi và cao nguyên, ngoài ra cũng có những thung lũng, đất bằng giữa các núi hay là những hố sụt. Phía bắc tỉnh có núi Kông Kah King (1761m) quanh năm mây mù bao phủ, ở giữa dọc đèo Mang Yang có núi Kông La Pang (1571m), phía tây La – Sơn có điểm cao Chử HơDrung (1028m)(3). Phía nam tỉnh vùng AyunPa không có ngọn núi nào cao đáng kể. Từ những nơi cao hạ thấp dần xuống hình thành những cao nguyên tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 600 – 700 mét (so mặt biển), xen kẽ có những mỏm núi có giá trị khống chế các vùng xung quanh. Phía đông tỉnh, sát cao nguyên Pleiku là lòng chảo An khê rộng vào khoảng 40 kilômét, phù sa cổ trong các thung lũng sông tạo thành những bậc thềm rất rõ nét bị cắt quãng bởi những dòng suối đâm ngang. Cao nguyên này còn có những đồi nhỏ tròn như những chiếc vung khum khum nằm giữa đèo Mang Yang và đèo An Khê.

Phần cao nguyên phía tây tỉnh thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng le, có các bãi trống có bãi rộng đến một kilômét vuông.

Đất Gia Lai rất màu mỡ. Nhìn chung có hai loại đất được phong hóa chính là phong hóa ba-dan và phong hóa gra-nít rất tích hợp với các loại cây công nghiệp như cau su, cà phê, chè v.v… Gia Lai có những sông lớn và rất nhiều suối phát nguyên từ những dãy núi cao. Các sông, suối chảy về hai hướng: một hương ra biển Đông, một hướng sang phía tây đổ vào lực vực sông Mê Kông. Đáng kể là các sông Ba, sông Sêrêpôk, sông Ayun và một phần sông SéSan (còn gọi là sông Pô-kô). Sông Ba bắt nguồn từ phía đông bắc tỉnh, có hệ thống chi nhánh chằng chịt, xuyên qua các vùng dân tộc Bahnar, Jơrai qua thị trấn Ayun Pa đổ về Phú Yên trên một chiều dài trên 300 kilômét. Sông Ba lại còn có phụ lưu Ayun vửa nổi tiếng thơ mộng, có nhiều cảnh đẹp quyến rũ, có dung tích hơn 4 triệu mét khối nước(4), Các suối lớn như Ia Mơ, Ia Drăng, Ia Puch… bắt nguồn từ cao nguyên Pleiku đổ về sông SéréPôk. Sông suối lắm thác ghềnh, không thuận tiện cho việc giao lưu, vận chuyển.

Trên các vùng đất bằng của tỉnh có những hồ tự nhiên rộng và đẹp. Như hồ Ayun thượng (1265 hecta), hồ Ia Hrung (106 ha). Đặc biệt có Biển Hồ và tên địa phương là Ia Nueng rộng 230 hecta, không xa thị xã Pleiku bao nhiêu, in rõ hình dáng của miệng núi lửa tròn vành vạnh, là cảnh đẹp thiên nhiên, có sự tích xa xưa đau buồn cho dân 3 làng Jơrai, dấu vết của một sự kiện bi thảm khó quên, một tình cảm triều mến của đồng bào Pleiku. Đến Gialai không ai không nhắc đến thác Ya-Ly, cách thị xã Pleiku khoảng 30 kiômét về phía tây bắc. thác cao 30 mét, nước chảy mạnh tạo thành một bức tường trắng xóa. Đây là nơi du ngoạn của nhân dân và khách vãng lai.


(1) Sau khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 ta gọi tỉnh Pleiku thành tỉnh Gia Lai.
(2) Số liệu Cục thống kê tỉnh theo Niên giám thống kê 1991-1992
(3) Còn thường gọi là núi Hàm Rồng hay Hòn Rồng
(4) Sách Tây Nguyên. Nxbản Văn hóa 1980 – Trang 24


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:31:40 am
Tỉnh có mạng lưới giao thông quan trọng. Quốc lộ 14, con đường chiến lược xương sống của Tây nguyên chạy từ Đà Nẵng lên Kon Tum, xuyên ngang tỉnh Gia Lai vào ĐăkLăk. Con đường đó có một thời kỳ đã được xây dựng bằng máu và nước mắt của những chiến sĩ cách mạng trung kiên thời kỳ tiền khởi nghĩa:

                                    “… mỗi hòn đá đó bao hòn huyết,
                                          Một khúc cầu dây, mấy khúc thây!”

Tố Hữu.

Quốc lộ 19 chạy từ cảng Quy Nhơn lên thẳng phía tây tỉnh sang tỉnh RaTaNaKiRi (CPC). Con đường có ý nghĩa quan trọng cả về chiến lược và chiến dịch. Vừa là một đường chiến lược quan trọng ở Miền Trung, vừa có thể chia cắt chiến dịch và chiến lược chiến trường Việt Nam và cả Đông Dương ra làm đôi. Là trục đường cơ động của các đơn vị vũ trang tập trung, các binh đoàn cơ giới của ta (cũng như của địch) trong các chiến dịch tiến công và phản công. Trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, những đỉnh đèo An khê, Mang Yang, suối ĐakPơ, cầu Ayun và biết bao địa danh khác theo trục đường đã trở thành tên của những chiến công bất diệt, là mồ chôn giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai, mà chiến thắng GIM100 đã đi vào lịch sử oai hùng của quân và dân Khu 5, trong đó có tỉnh ta.

Con đường số 7 từ Mỹ Thạch (Chư Sê) chạy xuống Củng Sơn – Phú Yên, con đường còn nhiều dấu vết băm nát của mạng chiến tranh nhân dân ta, là bãi tha ma của hàng ngàn xe cơ giới Mỹ ngụy trong cuộc tháo chạy lịch sử 3-1975.

Tỉnh còn có mạng lưới đường hàng tỉnh nối liền Thị xã Pleiku đến các Huyện nông thôn: Đường 7B đi từ An khê về thị trấn AyunPa và Thuận Mẫn. Đường 6B nối Phú Mỹ - PleiMe – Phú Nhơn. Đường 509 từ Pleiku đi Plei Jirăng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ phía tây tỉnh đã hình thành tuyến đường hành lang.

Đường 1B cắt ngang phía tây tỉnh từ Bắc vào Nam, sát biên giới Việt Nam – CPC. Đường 220 nối liền đường số 14 từ Võ Định vòng qua đông bắc Pleiku ra giáp đường số 19 tại ngã ba làng Kon Dỏng. Mạng đường sá trên tỉnh có tác dụng rất tốt đối với hoạt động quân sự, đặc biệt là vào mùa khô.

Trong những năm chiếm đóng, thực dân Pháp xâm lược Mỹ và tay sai đã tổ chức, xây dựng một hệ thống sân bay lớn như Cù Hanh, Aréa, Tân Tạo, có lúc hàng 30 – 40 máy bay phản lực hoạt động. Ngoài ra còn xây dựng hàng loạt sân bay dã chiến phục vụ mưu đồ chiếm đóng lâu dài của chúng.

Núi rừng Gialai còn bị chi phối bởi thời tiết, khí hậu. Hàng năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình hàng năm 164,5 ly(1). Tháng 7, 8,9 là những tháng cao điểm mưa to, liên tục, gây ra lũ lụt, rất trở ngại cho sinh hoạt, canh tác và hoạt động quân sự. Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4,5 năm sau; nhiệt độ trung bình từ 21-25oc, đất se cứng, khô hanh. Nhiều suối khô cạn, trời trong xanh, thời tiết đưa lại nhiều thuận lợi cho giao thông và hoạt động quân sự.

Dân cư tỉnh Gia Lai sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung với những tập quán cổ truyền mang nhiều bản sắc tốt đẹp của nhiều dân tộc. Nét nổi bật là mỗi làng có một nhà Rông cao to và rộng, loại nhà sàn có kiến trúc đặc biệt gắn chặt tâm lý, tình cảm sinh hoạt xã hội của đồng bào dân tộc. Là trái tim của buôn làng đời đời không thể xóa nhòa trong tâm trí của đồng bào dân tộc.

Thiên nhiên ở đây không những tạo cho tỉnh những tiềm năng kinh tế rất dồi dào, mà còn tạo nên những đặc điểm hình thành một địa bàn quân sự có tầm chiến lược quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Gia lai có thế đứng cao so với các khu vực tiếp giáp. Từ đây có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực chung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, địa bàn rộng lớn cả chiều sâu và kín đáo, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nối liền nhau, hỗ trợ cho nhau càng tạo thêm một thế hiểm trở vững chắc. Những yếu tố trên tạo thành Gialai là một địa bàn chiến lược của Tây Nguyên, là căn cứ lâu dài, bền vững của Cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Gia lai bắc giáp tỉnh KonTum, trong những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa bàn hai tỉnh có liên quan mật thiết trong hợp đồng chi viện cho nhau chiến đấu. Là nơi dung trú lực lượng tích trữ lương thực thực phẩm, cơ động lực lượng chiến lược của trên chi viện cho các chiến trường.

Phía nam, vùng huyện Krong Pa và một phần huyện AyunPa là căn cứ địa cách mạng của tỉnh Đăk-Lăk trong hai cuộc kháng chiến.

Phía đông tỉnh giáp miên tây tỉnh Bình Định. Trong suốt cuộc kháng chiến chống giặc Pháp là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo tỉnh Gia lai, là địa bàn đứng chân của cơ quan chỉ huy Trung đoàn 120 và các cơ quan Huyện đội, làm bàn đạp phát triển tiến công lên Tây Nguyên và là hậu phương khai thác được nhiều tiềm lực vật chất cung cấp cho xây dựng và hoạt động của lực lượng ta, phá được thế bao vây ngăn chặn kinh tế của giặc Pháp.

Phía tây tỉnh, đường số 19 kéo dài từ Thị xã Pleiku lên Đức Cơ sang tỉnh RaTaNaKiri (CPC), trong hai cuộc kháng chiến là địa bàn liền núi, liền sông, thuận lợi làm nơi xuất phát của các lực lượng quân tình nguyện sang giúp lực lượng cách mạng chân chính Cămpuchia và Nam Lào.

Nhận thức Gia lai là địa bàn chiến lược quân sự quan trọng, những năm giặc Pháp chiếm đóng, chúng lợi dụng địa hình hiểm trở để tổ chức khu vực phòng ngự nhiều tuyến, xây hệ thống cụm điểm tựa để bảo vệ phòng giữ các khu căn cứ, thị xã, quận lỵ; áng ngữ khống chế các trục giao thông chiến lược tạo thành hệ thống phòng thủ chung trên chiến trường Tây Nguyên.

Về mặt tiến công quân sự, ta có thể thực hành đánh chia cắt, bao vây, cô lập địch từng khu vực để tiêu diệt chúng. Tỉnh là địa bàn dung lượng và sử dụng thuận lợi các lực lượng binh chủng hợp thành tương đối lớn, các đơn vị cơ giới hóa để tiến công địch. Là chiến trường thường xuyên nổi ra những đòn tiến công tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng từng khu vực, phá từng mảng ấp chiến lược của chúng.

Địa bàn Tỉnh có tầm quan trọng về mặt chiến lược quân sự như trên, nên trong suốt 30 năm tiến hành hai cuộc kháng chiến, quân và dân Gai Lai đã từng trải qua muôn vàn gian khổ, ác liệt hy sinh; những cũng nơi đây đã từng bao phen đánh những đòn tiêu diệt lớn làm cho địch thất bại nặng nề. Quân và dân Gia Lai đã làm nên bao sự tích anh hùng.


(1) Lượng mưa theo số liệu Cục thống kê tỉnh.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:34:46 am
*   *
*

Hiểu rõ vị trí chiến lược của Gia Lai, kẻ địch luôn luôn tìm cách giành giật địa bàn này. Trong cuộc xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dốc mọi cố gắng, dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, từ những hoạt động tình báo khoác áo thầy tu truyền đạo đến những đạo quân xâm lược ào ạt hòng xâm chiếm Việt Nam, có Tây Nguyên, GiaLai.

Khi Pháp chiếm xong Tây Nguyên vào khoảng năm 1890(1) với tham vọng khai thác thuộc địa, bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, vơ vét thật nhiều tài nguyên trên những vùng đất đai màu mỡ; chúng còn nhận ra ngay giá trị về mặt quân sự của miền cao nguyên rừng núi này. Vì vậy, khi đến nơi là chúng lập ngay các đồn binh để cai trị, tiếp đó chúng đặt vấn đề “ra sức phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông dương”.

Năm 1928 thực dân Pháp thành lập các tiểu đoàn bộ binh miền núi. Đến xâm lược Đông dương lần thứ hai, vào giữa năm 1946, những cánh quân Lê dương có xe cơ giới máy bay chi viện từ phía Tây (Bô Keo – Campuchia) đánh xuống cùng phối hợp với cánh quân phía Nam (Buôn Hồ - Đăk Lăk) ra hợp điểm tập trung đánh chiếm Gia Lai theo dọc trục quốc lộ số 19 và số 14 đến sát ranh giới tỉnh Bình Định. Từ đây chúng lập phòng tuyến chiếm giữ và uy hiếp, khống chế đánh phá đồng bằng Khu V. Chúng tổ chức ngay lực lượng vũ trang Cao nguyên(1), có bộ phận tập trung công khai hoạt động, có bộ phận ngấm ngầm nằm trong dân để bám giữ Tây Nguyên, làm chỗ dựa cho ý đồ xâm lược lâu dài đen tối của chúng.

Đế quốc Mỹ nhảy vào thay thế thực dân Pháp càng chú trọng đến địa bàn Tây Nguyên. Nhận thức đây là địa bàn rất có giá trị về chiến lược quân sự; chúng cho rằng: “Muốn chiến thắng ở Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được vùng Cao nguyên trung phần” có tính chất chiến lược này. Chúng dùng chính sách thực dân kiểu mới, thông qua bọn tây sai tư bản mại bản và phong kiến phản động để nắm Tây Nguyên.

Về quân sự, đế quốc Mỹ và tay sai lập Vùng II chiến thuật. Bộ chỉ huy Quân đoàn II ngụy đóng tại Pleiku, làm căn cứ chiến lược lớn để hòng đè bẹp phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và đồng bằng Khu V. Mỹ ngụy lập các trại huấn luyện “lực lượng đặc biệt”, thực chất là đào tạo các loại biệt kích nhằm đánh phá sâu trong các khu dân cư cả vùng chúng kiểm soát đến tận dọc biên giới cùng với lực lượng cơ động quân cộng hòa, biệt động, bảo an để thiết lập hệ thống phòng thủ kiên cố nhiều tuyến, nhiều vòng, từ giáp biên giới Campuchia đến trung tâm Thị xã, thị trấn, nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của ta từ ngoài vào, kìm kẹp quần chúng, đánh phá phong trào cách mạng trong tỉnh. Thực hiện các biện pháp chiến lược trong “chiến tranh đặc biệt”, tại Thị xã Pleiku thường xuyên có từ 1.000 đến 1.200 cố vấn quân sự Mỹ các loại.

Leo thang lên chiến tranh cục bộ, ở Miền Nam Việt Nam đế quốc Mỹ đã tung vào địa bàn Gia Lai những đơn vị quân chiến đấu sừng sỏ hòng tìm diệt quân chủ lực và dập tắt phong trào kháng chiến của tỉnh. Với lực lượng chiến đấu cơ động Mỹ và tay sai liên tiếp mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, kết hợp với hàng ngàn trận ném bom, rải thảm B52, thả chất độc hóa học, hòng biến núi rừng Gia Lai thành những vùng trắng hoang vu.

Hiệp định Pa Ri ký kết, quân viễn chinh Mỹ cam chịu thất bại cuốn cờ về nước; bọn tay sai Ngụy Sài Gòn liên tiếp sử dùng hàng chục Trung đoàn của các Sư đoàn bộ binh 22, 23 các liên đoàn biệt động cùng công binh, pháo binh, cơ giới… của biệt khu 24 mở hàng ngàn cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm giành giật những vùng tranh chấp và đánh sâu vào vùng giải phóng của tỉnh.

Suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước, Gia lai là tỉnh có phong trào nhân dân du kích chiến tranh vững mạnh, có vùng căn cứ rộng, là nơi đứng chân của các binh đoàn chủ lực cấp trên; là chiến trường phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa ba lực lượng, ba thứ quân, liên tục tổ chức những đòn đánh tiêu diệt nhỏ, vừa và lớn quân địch. Là địa bàn có lợi thế để bộ đội ta mở những chiến dịch tiến công địch nhiều vùng, nhiều hướng. Cả lúc cách mạng ở giai đoạn tạm thời gặp khó khăn, tỉnh vẫn là nơi đứng chân vững chắc của cơ quan lãnh đạo để tạo và chuyển thế cho cả vùng rộng lớn.

Gia Lai cũng là bàn đạp cho các lực lượng ta làm nhiệm vụ quốc tế giúp cho phong trào cách mạng các tỉnh bạn ở Nam Lào và Đông bắc Campuchia.


(1) Sách CDịch Tây Nguyên đại thắng – Nxbản QĐND trang 17
(2) Forces armées des hauts plateause.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:45:33 am
*   *
*

Từ thế kỷ trước, nhân dân các dân tộc Gia Lai đã căm ghét chống lại bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương.

Vào giữa thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1771), cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn – Nguyễn Huệ lập căn cứ ở địa bàn vùng An khê, đồng bào dân tộc Bahnar phía đông tỉnh đã đứng lên, sát cánh cùng với đạo quân voi hùng dũng của Vua Quang Trung đập tan các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn. Đèo An khê, cửa ngõ lên Tây nguyên từ xa xưa, con đườn giao thông cổ chủ yếu nối liền đồng bằng Bình Định – Gia Lai, nơi đây đã cháy bùng lên ngọn lửa của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Các di tích: Lũy 7 cạnh ở An Khê, Sở chỉ huy của Nghĩa quân, các di tích đồn lũy, kho tàng trên nền Ông Nhạc, Ông Bình, cánh đồng Cô Hầu v.v… đã chứng minh điều đó.

Từ đây đến cuối thế kỷ 18, lịch sử đấu tranh của các dân tộc trong tỉnh bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đoàn kết gắn bó giữa anh em dân tộc Kinh và Thượng, Jơrai và Bahnar chung sức đấu tranh chống lại các thế lực áp bức, bảo vệ buôn làng.

Những năm đầu của thế kỷ 19, để chuẩn bị cho cuộc vũ trang xâm lược Tây Nguyên, các giáo sĩ người Pháp(1) tìm đường lên vùng đồng bào dân tộc Bahnar (KonTum) truyền đạo đã bị nhân dân địa phương bắt nộp cho Triều đình Huế. Mãi đến năm 1850, các giáo sĩ Pháp khác(2) lên Kon Tum tiếp tục truyền đạo. Đến năm 1852 sơ sở công giáo đầu tiên đã hình thành và đến năm 1870 địa phận giáo đạo KonTum thành lập.

Thực hiện âm mưu thôn tính nước ta, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để trị” kích động sự kỳ thị dân tộc, chúng lập ra “Liên minh Bahnar” để chống lại người Séđăng, đầu độc tư tưởng hằn thù dân tộc.

Lịch sử phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào các dân tộc trong tỉnh bắt đầu từ khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược lên buôn làng mình. Các cuộc đấu tranh này diễn ra lúc sôi nổi quyết liệt, bùng lên rồi lại bị vùi dập đàn áp, rồi lại bung lên liên tiếp và nổ ra trên nhiều nơi, nhiều vùng làm cho kẻ thù phải tìm cách đối phó.

Đoàn công cán của Nevelle, công sứ Pháp ở Qui Nhơn ngày 6 tháng 1 năm 1885 lên Pleiku, đã bị dân làng Piơm (dân tộc Bahnar) tiến công giết một người và bắn bị thương chín người khác. Nevelle buộc phải bỏ dở cuộc hành trình quay về Qui Nhơn.

Sau cuộc đấu tranh sôi nổi của đồng bào KonTum chống Pháp, cướp đất lập đồn điền, ngày 7 tháng 4 năm 1904 lại xảy ra cuộc đấu tranh lớn ở vùng Cheo Reo. Ô-đăng-đan (Ođendhal) tên quan cai trị Pháp xuất phát từ Phan Rang lên khảo sát Tây Nguyên đã dừng chân ở Gia Lai và gặp Hỏa Xá. Tên thực dân cáo già này một mực đòi xem “gươm thần” đã bị Hỏa Xá từ chối, và cho người phục đập chết cùng tất cả tùy tùng. Hỏa Xá lúc bấy giờ là Ơi Ất(3).

Được tin Ô-đăng-đan chết, quân Pháp đưa 34 lính lê dương và 200 dân binh đến khủng bố dân làng. Ngày 29 tháng 5 năm 1904, khi quân Pháp kéo vào làng thì dân làng đã lánh sâu trong rừng, chúng đành quay về không dám lùng sục sâu vào rừng sợ bị phục đánh. Sự kiện dũng cảm và mưu trí này làm chấn động thực dân Pháp ở Đông dương lúc ấy và đã làm cho các dân tộc Tây Nguyên khâm phục, ngưỡng mộ(4).

Phía An khê, này 26 tháng 1 năm 1907, một lực lượng lính Pháp đến làng Kon Klót đã bị dân làng vây đánh quyết liệt. Tên Pari (Charles Paris) chủ đồn điền KonTum trúng tên thuốc độc chết, số còn lại phải luồn rừng quay về, đến ngày hôm sau mới đến Đồn Tú Thủy.

Từ ngày 07 đến ngày 16h tháng 8 năm 1911, hai tên lãnh binh Pháp (là Berner và Marel) chỉ huy cuộc càn vào làng Plei Bông (đông thị xã Pleiku), chúng đốt phá làng mạc, nhân dân đã dũng cảm chống lại, bắn bị thương một tên cai và một tên lính rồi rút vào rừng.

Những năm 1929 đến năm 1931, đồng bào dân tộc nhiều vùng trong tỉnh đã bất hợp tác với chính quyền cai trị Pháp, đồng bào các làng Đé ChơGang, Đé Krúi… các làng phía Nam và Bắc đường 19 đã nổi lên chống bắt phu, chống giặc thu thuế; đã cắm chông, làm chướng ngại chống giặc Pháp lùng sục khủng bố. Tuyến đường KonTum, Peiku đi Bình Định luôn luôn bị phục đánh xe bưu điện, xe vận tải của Pháp. Dây điện thoại dọc đường thường bị cắt phá, một số cột điện thoại bằng gỗ bị đào vứt bỏ, cuộc đấu tranh của nhân dân kéo dài nhiều năm liền gây cho Pháp nhiều thiệt hại.

Đầu tháng 1 năm 1929, tên giám binh Saint PéRon và tên lãnh bị Jurier chỉ huy cuộc càn vào làng BăBlŏt (An khê) dân làng dùng tên tẩm thuốc độc, bẫy đá chống lại. Sang tháng 3 năm 1929 chúng lại cho quân càn quét vào làng ĐéBar, làng Su, làng Thắng, làng Kŏ; cho máy bay ném bom xuống các làng để uy hiếp, nhưng dân làng không sợ phân tán vào ở trong rừng(5).

Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1931, đồng bào làng ĐéKrưĭ (An khê) có già làng lãnh đạo đấu tranh bất hợp tác với Pháp. Địch càn vào làng, đồng bào dùng tên ná bắn chết 10 lính, bắn bị thương một số khác. Đến tháng 9 năm 1931 dân làng ĐéTơRưng dưới sự chỉ huy của già làng Ven, làng Nhơn, làng Lung đã nổi lên sống bất hợp tác với Pháp, dân làng không đi làm xâu, không nộp thuế, không đi làm đường, làm đồn điền cho giặc Pháp; còn tổ chức phục đánh các toán lính đi lùng càn. Trong hai năm chống địch, dân làng đã bắn chết 10 lính Pháp, bắn bị thương 3 tên khác.

Nhìn chung, những cuộc nổi lên đấu tranh chống giặc Pháp của nhân dân các dân tộc trong tỉnh trước năm 1945 tuy có liên tục, nổi dậy trên nhiều vùng, gây thiệt hại cho quân cai trị Pháp, làm cho chúng phải khiếp sợ. Nhưng đều là những cuộc nổi dậy tự phát, do một số tù trưởng, gia làng cầm đầu. Lực lượng nổi dậy thường giới hạn trong vài ba làng, có lúc trong một khu vực nhỏ hàng chục làng, nhưng phần đông ở thế cô lập, cục bộ, hạn chế trong thời gian rất ngắn, trong chừng mực mà đất đai, tính mạng của đồng bào bị trực tiếp đe dọa.

Vì vậy những cuộc đấu tranh của nhân dân các làng rất dũng cảm, quyết liệt, nhưng chỉ thời gian ngắn bị cô thế nên phải tan rã.

Tuy nhiên những cuộc đấu tranh của đồng bào mang tính quần chúng nhân dân bắt nguồn từ truyền thống thượng võ từ ngàn xưa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh địa thế hiểm trở của rừng núi, mà sau này trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp và giặc Mỹ, ta đã phát huy lợi thế, phát động cuộc chiến tranh nhân dân rất thuận lợi.


(1) Hai giáo sĩ là Miche và Duclos
(2) Là Comlees và Fontaine
(3) Sách Tây Nguyên Nxb Văn hóa 1980 Trang 180
(4) Sách Tây Nguyên Nxb Văn hóa 1980 Trang 180
(5) Lịch sử Đảng bộ Ankhê.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:49:05 am
Phần thứ nhất

*   *
*

KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1945-1954)

CHƯƠNG I

Từ các phong trào yêu nước đến Khởi nghĩa
giành Chính quyền ở Gia Lai

I/ Phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền trong tỉnh những năm trước 1945:

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp chủ trương khai thác quy mô tài nguyên thuộc địa. Từ năm 1919 – 1925 chúng đã lập thêm 15 đồn điển ở tỉnh Gia Lai và Kon Tum chiếm gần 17.000 ha đất(1).

Quá trình lập các đồn điền đã thu hút đông đảo lực lượng lao động từ các nơi đến, phần đông là nông dân các tỉnh đồng bằng trung châu bị tước đoạt hết ruộng đất là dân nghèo thị thành không có công ăn việc làm, một số ít có tham gia các phong trào đấu tranh hoặc quần chúng cảm tình với cách mạng, thoát lưới mật thám từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quy Nhơn, Sài Gòn lánh về. Vì vậy trong lúc phong trào các nơi tạm lắng xuống, thì ở các đồn điền, nhất là đồn điền Bàu Cạn đã lập các tổ chức bí mật hoạt động.

Tại Gia Lai công nhân các đồn điền Bàu Cạn, Biển Hồ, Đăk Đoa, Sac Ko… phải làm việc từ 13 – 14 giờ trong ngày. Trước năm 1936, công nhân các đồn điền ở đây đã đấu tranh với chủ đòi cải thiện đời sống, nhưng tự phát, rời rạc nên giới chủ không chịu nhượng bộ, lại tìm cách sa thải các anh em hăng hái đấu tranh.

Đồng bào Jơrai quanh thị xã Pleiku (các làng Tiêng, làng Nhiên, làng Dôr…) đã đấu tranh chống Pháp bắt đi làm xâu khai phá vỡ đất cho các đồn điền. Cũng thời gian cuối năm 1939, chúng đưa công nhân đi làm đường số 19 tại vùng Chư Ty (huyện Đức Cơ), anh em đã đấu tranh không đi làm – bọn Pháp điều lính đến đàn áp. Cuộc xung đột quyết liệt giữa công nhân chống lại lính đã làm chết một công nhân và làm bị thương 7 người khác. Cuộc đấu tranh tuy không thành công nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng công nhân các đồn điền trong tỉnh sớm có ý thức đấu tranh.

Cùng thời gian ấy, anh Trần Ren từ Sài Gòn lên và chị Phan Thị Út từ Huế vào Bàu Cạn hoạt động để tránh lưới mật thám theo dõi. Tháng 03 năm 1940 sau khi chắp nối được liên lạc với nhau, hai người là Đảng viên Cộng sản cũ đầu tiên tổ chức hội ái hữu có 900 hội viên, tổ chức Hội tương tế, Hội đá bóng…, tập hợp được đông đảo công nhân tham gia các tổ chức quần chúng. Hoạt động của các tổ chức tuy này công khai, được chủ chấp nhận (Như đấu bóng đá, đấu võ đài…).

Tháng 05 năm 1940 ở đồn điền Bàu Cạn thành lập Hội cứu tế đỏ, có 7 hội viên, do anh Trần Ren phụ trách. Phong trào công nhân ở Bàu Cạn bắt đầu phát triển. Năm 1940, trong một thời gian ngắn đã nổ ra những lần đấu tranh của công nhân hái chè, công nhân sấy chè khô đòi tăng lương, cải thiện đời sống, chống bọn cai trị hãm hiếp nữ công nhân. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ, hợp lẽ phải, chủ Tây phải nhượng bộ, giải quyết một số yêu sách của công nhân, giảm giờ làm từ 19 giờ xuống 12 giờ trong ngày, trưa được nghỉ 30 phút, cai ký không được vô cớ cúp phạt như trước.

Để phát triển hoạt động của phong trào công nhân mạnh hơn, đúng hướng, chị Phan Thị Út được cử xuống các tỉnh đồng bằng để tìm bắt mối liên lạc và xin ý kiến chỉ đạo của trên. Ngày 07 tháng 08 năm 1940 chị Út bị mật thám theo dõi bắt. Sang ngày 09 tháng 08 anh Trần Ren cũng bị bắt và sau đó số Hội viên cứu tế đỏ bị bắt 4 người. Bọn địch bắt đầu khủng bố, kiểm soát công nhân gắt gao, một số công nhân cốt cán bị sa thải. Phong trào phải chuyển vào thế bảo toàn cơ sở, không hoạt động như trước.

Tại đồn điền Đăk Đoa, anh em công nhân cũng tổ chức đấu tranh đòi chủ, cai ký giải quyết cấp lương thực kịp thời, sửa sang nhà ở, cấp thuốc men chữa bệnh cho công nhân. Đòi giảm giờ làm và tăng lương. Cuộc đình công kéo dài một ngày rưỡi (từ ngày 03-01-1941) buộc chủ phải chấp nhận.

Những năm từ 1941 đến 1945 phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền trong tỉnh đã được tổ chức xây dựng cơ sở và liên lạc móc nối nhau hoạt động. Lực lượng có phát triển, có một số nòng cốt được thử thách qua đấu tranh, xây dựng thành cốt cán, hình thành được các tổ chức quần chúng hoạt động có kết quả. Các cuộc đấu tranh bắt đầu từ nội dung kinh tế nang lên hoạt động xã hội; ảnh hưởng tốt đến công nhân các đồn điền lân cận trong tỉnh. Nhưng phong trào mới dấy lên chưa được bao lâu thì bị địch khủng bố, tan rã. Do đó kết quả rất ít; tuy vận cũng tích lũy được những nhân tố tích cực, phát triển tiềm lực cách mạng, góp phần khơi dậy cuộc đấu tranh cách mạng trong tỉnh, khi có thời cơ điền kiện nổ ra.


(1) Năm 1889 Hội Delignon mở đồn điền Chầu Pầu (An Khê) chiếm 531 ha; Năm 1921 lập đồn điền Chè Biển Hồ 513 ha; Năm 1923 lập đồn điền chè Bàu Cạn 500 ha; Năm 1924 lập đồn điền chè ĐăkĐoa 500 ha; Năm 1932 lập đồn điền Hà Lòng 571 ha. Năm 1936 lập đồn điền chè Suối Đôi 428 ha.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:50:40 am
*   *
*
II/ Phong trào quần chúng nhân dân trong tỉnh trước năm 1945 đến khởi nghĩa tháng 8 giành thắng lợi:

Những năm trước 1945 tình hình chung trên thế giới cũng như trong nước đang có những chuyển biến mau lẹ. Thời cơ giành thắng lợi cho cách mạng đang đến gần. Tháng 02 năm 1943 Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định xúc tiến khởi nghĩa vũ trang. Tháng 05 năm 1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa. Ngày 22 tháng 12 năm 1944 Đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập.

Hòa nhịp với phong trào chung cả nước, phong trào cách mạng ở Nam Trung bộ cũng có những bước phát triển mới. Ngày 11 tháng 03 năm 1945 Tỉnh ủy Lâm thời Quảng Ngãi phát động khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ và thành lập đội du kích Ba Tơ ngày 12 tháng 03 năm 1945.

Lúc này hàng trăm Đảng viên Cộng sản, chiến sỹ cách mạng bị giam giữ trong các nhà tù Buôn Ma Thuột, Đăk Tô đấu tranh buộc địch phải trả lại tự do. Giữa tháng 4 năm 1945 cuộc vận động đón tiếp các đoàn chiến sỹ cách mạng được trả tự do từ Đăk Tô – Kon Tum về Quy Nhơn được tổ chức trở thành buổi sinh hoạt, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, nhất là thanh niên đứng lên tập hợp lực lượng chống giặc Nhật, cứu nước. Trong buổi đón tại Pleiku anh Lê Văn Hiến căn dặn thanh niên: “Độc lập của Nhật đem lại là độc lập bánh vẽ, ta phải tiếp tục đấu tranh nữa, phải tuyên truyền cho nhân dân thấy thất bại tất yếu của Nhật, phải đấu tranh giành độc lập thật sự…”. Qua cuộc tiếp xúc này ý thức giác ngộ cách mạng của Thanh niên được nâng lên.

Tháng 4 năm 1945, Đoàn thanh niên Pleiku thành lập. Ban trị sự của Đoàn do anh Trần Ngọc Vỹ phụ trách; lúc đầu có 60 đoàn viên, chia làm 3 toán, sau phát triển lên 6 toán.

Tháng 5 năm 1945, Đoàn thanh niên Chấn Hưng ở An Khê thành lập do các anh Trần Sanh, Đỗ Trạc phụ trách. Đến tháng 7 năm 1945 đoàn thanh niên Cheo Reo thành lập. Các đoàn Thanh niên Pleiku, An Khê, Cheo Reo đã tập hợp thu hút đông đảo anh em viên chức tiến bộ vào đoàn. Ở Cheo Reo, ngoài số viên chức tiến bộ còn phần đông gồm thanh niên người dân tộc các làng quanh thị trấn, học sinh trung, tiểu học được tiếp xúc với thời cuộc.

Lúc đầu các đoàn thanh niên hoạt động nhằm vận động quần chúng tham gia hoạt động xã hội, văn nghệ thể thao, sau tiến lên đấu tranh đòi dân chủ, chống bọn tham quan ô lại, thực chất là chống bọn tay sai thân Nhật. Được sự giúp đỡ của Đoàn thanh niên Pleiku, nhân dân thị xã đấu tranh tổ giác tên Quản đạo Nguyễn Hữu Nhơn tay sai Nhật tham nhũng, buộc tên này phải từ chức.

Các đoàn thanh niên sinh hoạt đi sâu vào nội dung yêu nước, nói chuyện về lịch sử, nêu gương chiến đấu hy sinh của các chiến sỹ cách mạng tiền bối. Hình thức tổ chức bằng cắm trại, tập võ, đấu kiếm, đá bóng… Đặt tên các toán: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lê Lợi, Quang Trung…

Chỉ trong thời gian ngắn hạt động của các đoàn thanh niên lan rộng ra các đồn điền quanh thị xã: Bàu Cạn, Biển Hồ và các vùng nông thôn lân cận như Ngô Sơn, Tiên Sơn, An Mỹ… đều phát triển lực lượng thanh niên nhanh chóng và hoạt động sôi nổi.

Nòng cốt các tổ chức thanh niên là viên chức tiến bộ, tự họ có căm ghét chế độ thực dân phong kiến nên dễ tiếp thu ảnh hưởng phong trào yêu nước; khi thành lập là thời điểm các nơi ở đồng bằng phong trào cách mạng đang lên cao. Để có phương hướng hoạt động chắc chắn, cụ thể, đoàn Thanh niên Chấn Hưng An Khê cử cán bộ về chiến khu Ba Tơ để bắt liên lạc với phong trào Việt Minh.

Nhận thấy Phong trào hoạt động của thanh niên mạnh mẽ, đều khắp thị xã, thị trấn đến vùng nông thôn dân tộc lân cận thị xã, bọn Nhật và tay sai bù nhìn Trần Trọng Kim ra mặt khủng bố, chúng định trục xuất các cán bộ phụ trách phong trào. Nhưng lúc phong trào cách mạng đang dâng cao, phát xít Nhật và bọn bù nhìn đang hoang mang, lực lượng thanh niên đấu tranh mạnh mẽ, hợp lý được quần chúng nhân dân hậu thuẫn ủng hộ, nên các cán bộ lãnh đạo Đoàn Thanh niên vẫn ở Pleiku tiếp tục hoạt động.

Song song với hoạt động của các Đoàn thanh niên phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền Bàu Cạn, Biển Hồ, Đăk Đoa nổi lên công khai đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống cướp bóc tài sản, đòi đưa người do công nhân cử lên thay thế cho bọn cai ký chủ sở là tay sai của Nhật. Các tổ chức cứu tế, ái hữu trước đây bị lắng xuống, nay củng cố hoạt động trở lại mạnh mẽ, thu hút được nhiều công nhân tham gia. Phong trào công nhân các đồn điền ngày càng phát triển và liên kết chặt chẽ với phong trào thanh niên trong tỉnh.

Trong vùng đồng bào các dân tộc lợi dụng tình trạng bộ máy cai trị của tỉnh ở nông thôn bị tê liệt sau khi Nhật đảo chính Pháp, đồng bào đã tự động không đi xâu, không nộp thuế. Mặc nhiên không thừa nhận bộ máy thống trị của giặc Nhật và tay sai, thực hiện quyền tự quản của mình. Nhân dân các làng dân tộc ven thị xã Pleiku, Cheo Reo, An Khê liên kết và hưởng ứng phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân trong nội thị.

Vào những ngày đầu tháng 8 năm 1945, bọn Nhật và tay sai lại nhiều lần đe dọa khủng bố phong trào thanh niên Gia Lai, nhưng mọi thủ đoạn của chúng đều bị thất bại trước khí thế đang lên của đông đảo quần chúng nhân dân thị xã, thị trấn và nông thôn rộng rãi. Phong trào yếu nước của nhân dân Gia Lai có bước phát triển mới. Đoàn Thanh niên Chấn Hưng An Khê đã bắt liên lạc được với Mặt trận Việt Minh ở Quảng ngãi. Hoạt động của quần chúng các nơi được tổ chức chặt chẽ hơn. Những toàn bảo vệ cho quần chúng đấu tranh được hình thành. Các Đoàn Thanh niên Pleiku, Cheo Reo đã vận động được lính bảo an giác ngộ ủng hộ phong trào, có một số cai tiến bộ tham gia, ta tranh thủ họ trấn áp bọn tay sai Nhật.

Thế địch đang suy yếu, phong trào cách mạng của quần chúng đang rầm rộ vươn lên, mặc dù lúc ấy chưa có sự chỉ đạo trực tiếp của tổ chức Đảng và của Mặt trận Việt minh, nhưng phong trào đấu tranh của đồng bào kinh và đồng bào dân tộc đã diễn ra đều khắp và thực hiện đúng theo chỉ dẫn của mặt trận Việt Minh cho Đoàn Thanh Niên Chấn Hưng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:52:29 am
*   *
*

III/ Gia Lai khởi nghĩa giành chính quyền:

Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9 tháng 8 năm 1945 Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Sau một tuần lễ tiến quân như vũ bão, Hồng quân Liên Xô tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Quan Đông. Phát Xít Nhật đầu hàng không điều kiện. Những điều kiện chủ quan và khách quan của cuộc Tổng khởi nghĩa ở nước ta đã chín muồi.

Đêm 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa; Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến, toàn quốc đồng bào đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…”(1). Bão táp cách mạng cuồn cuộn dâng cao, nhân dân cả nước triệu người như một nhất tề đứng dậy với sức mạnh như nước vỡ bờ.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi rực rỡ ở Hà Nội, tiếp theo ở Huế ngày 23-8-1945 và Sài Gòn ngày 25-8-1945. Cao trào cách mạng cả nước đang giáng đòn quyết định vào kẻ thù tại các trung tâm chính trị, làm tan rã hàng mảng bộ máy thống trị của giặc Nhật và tay sai.

Ở Gia Lai, bọn địch càng hoang mang cực độ, những tên hiến binh Nhật đã cuốn khỏi Pleiku. Lực lượng bảo an, chỗ dựa duy nhất của bù nhìn tay sai, một số ngả về phía cách mạng, ủng hộ các hoạt động của quần chúng và nhân dân yêu nước. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Đoàn thanh niên Chấn Hưng An Khê, huy động quần chúng nổi dậy chiếm quận lỵ, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, sau đó tỏa về các làng nông thôn tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng. Ngày 21 tháng 8 các xã lân cận thị trấn đều lập chính quyền cách mạng ra mắt quần chúng nhân dân.

Trong khí thế thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Đoàn thanh niên An Khê gấp rút chuẩn bị quần chúng có vũ trang kéo về Pleiku phối hợp với lực lượng Thị xã cướp chính quyền ở tỉnh lỵ.


(1) Hồ Chí Minh – Tuyển tập – Tập 1 – Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa – Nhà xuất bản sự thật – 1980 – trang 348


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:53:18 am
Thị xã Pleiku khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh tỉnh Bình Định điện cho Tỉnh trưởng Pleiku, bức điện viết: “Nhật đã đầu hàng đồng minh, Việt Minh sẽ khởi nghĩa, thái độ của Thanh niên Gia Lai như thế nào?” Nhưng mãi đến ngày 18 tháng 8 năm 1945 tên Bữu Phu Tỉnh trưởng mới dám đưa bức điện cho đại diện Đoàn thanh niên hỏi ý kiến. Đoàn Thanh niên yêu cầu Bữu Phu từ chức, nhưng y chần chừ chưa trả lời.

Chiều 22 tháng 8 năm 1945, Đoàn thanh niên trực tiếp nhận điện của Việt Minh lần thứ hai: “Bảo Đại đã thoái vị, Việt Minh đã giành chính quyền, yêu cầu Đoàn thanh niên tổ chức biểu tình ủng hộ Việt Minh!”

Ngay đêm 22 tháng 8 năm 1945, Đoàn thanh niên Pleiku dùng áp lực buộc Tỉnh trưởng Bữu Phu ký lệnh trưng dụng xe đưa thanh niên đi vận động quần chúng, chia về các cơ sở, đồn điền, các xã ven phụ cận Pleiku tập trung về thị xã để cướp chính quyền.

Sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, từng đoàn nhân dân thị xã, các vùng lân cận có vũ trang giáo mạc, gậy gộc từ các ngả tiến về trung tâm thị xã. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng dương cao từ các nơi nhân dân rầm rập về tập trung tại Tòa Công Sứ. Cuộc mét tinh có trên mười ngàn người gồm công nhân các đồn điền, nhân dân thị xã, nông dân kinh và dân tộc các làng vùng ven. Tại cuộc mét tinh đại diện Mặt trận Việt Minh trịnh trọng tuyên bố xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chính quyền cai trị của Nhật, tay sai, thành lập chính quyền cách mạng, kêu gọi toàn thể đồng bào ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Ngày 23 tháng 8 năm 1945 bộ máy chính quyền cách mạng bắt đầu hoạt động. Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Gia Lai do ông Trần Ngọc Vỹ làm Chủ tịch và các ông Phan Bá, Nay Phin làm phó Chủ Tịch.

Những tên tay sai thân Nhật có tội ác với nhân dân đều bị bắt giam. Số lính bảo an tình nguyện theo cách mạng đều được tiếp nhận, số khác cho về nhà làm ăn. Ủy ban cách mạng lâm thời tổ chức ngay các đoàn cán bộ về các huyện, các đồn điền để giúp đỡ tổ chức lập bộ máy chính quyền các cấp, đồng thời nhanh chóng tổ chức một đoàn có lực lượng vũ trang ra Kon Tum để hỗ trợ cho Kon Tum khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại Cheo Reo, từ trước phong trào quần chúng đã phát triển khá mạnh, nhân dân đã thực sự làm chủ buôn làng của mình. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, trước tình hình diễn biến thuận lợi khởi nghĩa ở An Khê, Pleiku, Đoàn thanh niên Cheo Reo do các anh Nay Phin, Rơ chăm Thép, Rơ Chăm Briu, Ksor Ný dẫn đầu đã vận động quần chúng nhân dân nội dậy có sự tham gia ủng hộ của một số lính bảo an người dân tộc có cảm tình với cách mạng đã nổi dậy chiếm đồn bảo an, bắt Đồn trường, thu 70 súng các loại, thu hết số vũ khí của chánh Tổng Chủ làng. Đầu tháng 9 năm 1945, đại diện chính quyền Gia Lai về thị trấn Cheo Reo tổ chức mét tinh chào mừng cuộc nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Ủy ban cách mạng lam thời huyện được thành lập ra mắt nhân dân, ông Nay Phin làm chủ tịch; 5 ủy viên: Rơ Chăm Thép, Rơ chăm Briu, Ksor Ný, Siu Deo, Siu Sing.

Các huyện Chu Ty, Pleikly và khắp vùng nông thôn dân tộc được tác động của cuộc khởi nghĩa ở tỉnh lỵ, An Khê, Cheo Reo, dùng áp lực của quần chúng, vận động một số bảo an đồng tình đứng lên lần lượt hạ uy thế bọn thống trị, chờ tỉnh về lập chính quyền cách mạng.

Trong vòng hơn một tuần lễ nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hoàn thành cuộc nổi dậy cướp chính quyền, thiết lập bộ máy chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở. Dựa theo chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, Ủy ban cách mạng lâm thời các cấp nhanh chóng ban bố và thực hiện các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc, bãi bỏ sưu thuế, tịch thu tài sản kho tàng của giặc Nhật và tay sai. Chính quyền cách mạng kêu gọi nhân dân các dân tộc phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết kinh thượng, hăng hái thực hiện các chủ trương nhiệm vụ của chính quyền cách mạng.

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Gia Lai nổ ra và thu thắng lợi giòn giã trong hoàn cảnh chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Mặt trận Việt Minh, nhưng đó là cả quá trình quần chúng lao động đã được tiếp thu ảnh hưởng cách mạng, được giác ngộ từ ít đến nhiều, từ gián tiếp đến trực tiếp, một quá trình liên tục và kịp thời hành động theo đường lối của Đảng. trước cách mạng tháng 8 nhân dân các dân tộc ở Gia Lai đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh chống áp bức bóc lột. Những cuộc nổi dậy đó tuy bị kẻ thù đàn áp rất dã man, nhưng đã làm cho nhân dân Gia Lai ngày càng có ý thức đấu tranh mạnh mẽ với địch, tạo điều kiện tiếp thu nhanh chóng ảnh hưởng phong trào chung theo đường lối của Đảng.

Trong hoàn cảnh chưa có cơ sở Đảng trực tiếp chỉ đạo, được tiếp thu chủ trương khởi nghĩa của Đảng nhân dân các dân tộc, nhất là các Đoàn thanh niên yêu nước đã nhận rõ bước ngoặt lịch sử trong đời sống chính trị - xã hội của mình châm dứt cuộc đời nô lệ, đã đem lại ánh sáng rực rỡ của độc lập tự do, bình đẳng dân tộc, sẵn sàng đứng lên giành và giữ cuộc sống mới của chính quyền cách mạng đem lại với khẩu hiệu “Thà chết không chịu làm nô lệ!”.

Thắng lợi cách mạng tháng Tám ở Gia Lai đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, mở ra một khả năng to lớn chưa từng có cho việc tập hợp đông đảo lực lượng yêu nước trong các dân tộc, các từng lớp nhân dân trong tỉnh, mở rộng Mặt trận đoàn kết nhanh chóng, rộng rãi, phát động cao trào cách mạng trong tỉnh, với tinh thần cách mạng tiến công thể hiện sức mạnh vùng lên mau lẹ, kịp thời đồng loạt nổi dậy cướp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở trong thời gian ngắn, trong điều kiện tỉnh Gia Lai lúc bấy giờ dân cư thưa thớt, đi lại nhiều khó khăn, thông tin liên lạc rất hạn chế, nhưng có các Đoàn thanh niên yêu nước hăm hở làm nòng cốt, có các cơ sở trong anh chị em công nhân các đồn điền từng tập dợt qua đấu tranh, nay có thời cơ vùng lên cùng đồng bào các dân tộc đã từng tẩy chay bộ máy trị của địch từ trước, nay tiếp thu mệnh lệnh khởi nghĩa là vùng dậy như sóng trào lan nhanh ra toàn tỉnh.

Thắng lợi cách mạng tháng 8 ở Gia Lai đã mở ra bước ngoặt lịch sử về phát triển nhanh chóng, củng cố lực lượng cách mạng, đoàn kết chặt chẽ giữa kinh và dân tộc, bình đẳng thực sự trong khí thế mới, kề vai sát cánh đấu tranh chống địch. Nhân dân các dân tộc Gia Lai vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, càng nhận thức sâu sắc là chỉ một lòng, một dạ đi theo con đường mà Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn mới thoát khỏi nô lệ, lầm than, lạc hậu để cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:56:08 am
CHƯƠNG II

Năm đầu kháng chiến, từng bước ngăn chặn
cuộc tấn công của giặc Pháp, bảo vệ
lực lượng Cách mạng
(Tháng 8/1945 đến 1946)

Cách mạng giành chính quyền thắng lợi. Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời. Dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập, tự do; Nhưng lịch sử lại một lần nữa thử thách sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt nam.

Ở ngoài Miền Bắc 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch do đế quốc Mỹ giật dây, mượn cớ tước vũ khí quân Nhật, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng đang non trẻ, mưu lập chính phủ bù nhìn tay sai của chúng.

Ở trong Nam, thực dân Pháp núp sau lưng quân Anh, được quân Anh giúp sức, âm mưu đánh chiếm từ Vĩ tuyến 16 trở vào, chuẩn bị bàn đạp để thôn tính phần còn lại của Đông Dương.

Ở Gia Lai, sau khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi bọn tay sai phản động còn đang bàng hoàng nằm im trước khí thế sục sôi của quần chúng chưa dám ngóc đầu dậy. Do vậy ta vẫn còn điều kiện thuận lợi để tranh thủ củng cố và phát triển lực lượng cách mạng. yêu cầu khách quan của phong trào cách mạng của tỉnh lúc bấy giờ là: “Triệt để tranh thủ tình hình, gấp rút thành lập tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo phong trào, củng cố giữ vững chính quyền, cải thiện đời sống nhân dân, tích cực chuẩn bị điều kiện cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai…”.

Đầu tháng 6 năm 1945, Đoàn thanh niên Pleiku với tư cách là lực lượng khởi nghĩa cử đoàn đại biểu ra Xứ ủy Trung kỳ xin chỉ thị, được Xứ ủy tiếp và giao nhiệm vụ cho Đoàn, đồng thời cử đồng chí Phan Thêm làm phái viên của Xứ ủy lên Gia Lai hoạt động; cùng đi với đồng chí Phan Thêm có 7 cán bộ du kích Ba Tơ.

Tháng 10 năm 1945, Chi bộ Đảng cộng sản Gia Lai được thành lập tại Pleiku có 9 Đảng viên, đồng chí Nguyễn Đường làm Bí thư. Ban chấp hành Việt Minh tỉnh cũng được thành lập; mặt trận cấp tốc mở các lớp huấn luyện về điều lệ, chương trình hoạt động. Các Đoàn thể quần chúng nông dân, phụ nữ, thanh niên và công hội đều được tổ chức và triển khai các công tác cụ thể. Nhất là Đoàn thanh niên cứ quốc vận động thanh niên xung phong tòng quân tham gia vào lực lượng dân quân du kích.

Vấn đề cấp bách đặt ra cho chính quyền cách mạng lúc này là gấp rút tổ chức lực lượng vũ trang và nửa vũ trang để củng cố và bảo vệ chính quyền. Những đội vũ trang quần chúng đầu tiên trong cách mạng tháng 8 làm nhiệm vụ giữ trật tự an ninh trong thị xã, thị trấn, đồn điền được nhanh chóng xây dựng thành các đội tự vệ, lực lượng dân quân các buôn làng được khẩn trương tổ chức, thực hiện õ trang toàn quân, từ tỉnh xuống huyện đều lập quỹ “Đở đầu nuôi quân”.

Tháng 10 năm 1945, Chi đội Phan Đình Phùng ở Bình Định được điều lên Gia Lai. Sau đợt tuyển quân bổ sung một số thanh niên địa phương cả kinh và dân tộc đổi thành Chi đội Tây Sơn, có các chiến sĩ du kích Ba Tơ làm nòng cốt:

Đồng chí: Phan Phong – Làm Chi đội trưởng

Đồng chí: Võ Văn Dật – Làm chi đội phó

Đồng chí: Phan Thêm – Chính trị viên.

Chi đội có 3 Phân đội(1):

Phân đội Nguyễn Nhạc đóng ở Pleiku và Móc Đen.

Phân đội Nguyễn Huệ đóng ở An Khê.

Phân đội Nguyễn Lữ đóng ở Kon Tum.

Đây là đơn vị bộ đội tập trung đầu tiên của trên chi viện cho hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Chi bộ đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Tây Sơn(2). Một số Đảng viên được bổ sung vào Chi đội để tăng cường lãnh đạo đơn vị và nhanh chóng chọn một số cán bộ đưa đi học trường lục quân của Miền.

Đến cuối năm 1945, ngoài bộ đội tập trung tỉnh ở đâu có chính quyền cách mạng đều có tổ chức dân quân du kích. Tỉnh tổ chức trường Quân chính của tỉnh ở An Khê để huấn luyện cho số cán bộ thanh niên kinh và dân tộc, mãn khóa số này về làng huấn luyện lại cho thanh niên các làng. Trong vòng một tháng tỉnh mở được hai lớn gần 100 cán bộ, trong đó có một số bổ sung cho Chi đội Tây Sơn.

Dân quân du kích khá đông, trang bị vũ khí quá thô sơ ít ỏi; ngoài một số súng trường, tiểu liên thu được của lính bảo an khi khởi nghĩa, còn chủ yếu bằng giáo mác, mã tấu, đại đao, lựu đạn.

Thực hiện vũ trang toàn dân ai nấy đều sôi nổi, hăng hái cầm vũ khí sẵn sàng giết giặc giữ buôn làng; Thanh niên trai tráng, dân quân tự vệ hăng hái luyện tập quân sự. Mỗi người dân đều tự kiếm một loại vũ khí sẵn sàng chờ lệnh. Lò rèn quanh thị xã, thị trấn ngày đêm rèn dao, kiếm, giáo mác để trang bị cho dân. Xưởng đúc vũ khí được xây dựng tại núi Đất (tại Cửu An – An Khê) lấy tên xưởng Hoàng Hoa Thám, nhân dân trong tỉnh đã quyên góp hàng trăm tấn sắt, gang đồng, nhôm chì… nhiều gia đình mang những chiếc nồi đồng, lư đồng, mâm thau mới ủng hộ cho cách mạng để xưởng công binh đúc vũ khí. Chính quyền cách mạng còn huy động hàng vạn ngày công đào đắp con đường từ chân núi Đất ra giáp đường số 7 dài hơn 7km để vận chuyển nguyên liệu, vũ khí.

Phòng Quốc dân thiểu số tỉnh cấp tốc mở một khóa huấn luyện chính trị cho 30 cán bộ và 25 thanh niên các vùng Pleiku, An Khê, Cheo Reo, Chư Ty đào tạo thành cán bộ tuyên truyền xung phong vào hoạt động các buôn làng đồng bào dân tộc. Đặc biệt Hội phụ lão cũng được tổ chức trong các buôn làng đồng bào dân tộc, các cụ là những bậc cốt cán trung kiên trong việc khuyên bảo con cháu một lòng theo kháng chiến.


(1) Chi đội tương đương Trung đoàn, phân đội tương đương tiểu đoàn. Phân đội Nguyễn Nhạc đồng chí Lê Đình Lệ làm Phân đội trưởng.
(2) Đầu tháng 12 năm 1945 Ban chấp hành Lâm thời Đảng Cộng sản tỉnh Gia Lai thành lập lấy tên là Đảng bộ Tây sơn. Ban chấp hành có 7 ủy viên, đồng chí Phan Thêm làm Bí thư.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Giêng, 2020, 10:57:07 am
*   *
*

Quân và dân Gia Lai sớm bước vào thế trận chiến đấu mới:

Chính quyền cách mạng vừa giành được một tháng thì ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp núp sau lưng quân Anh gây hấn, nổ súng tiến công vào Sài Gòn.

Cũng trong những tháng cuối năm 1945, tình hình ở Tây Nguyên ngày một xấu đi nghiêm trọng do âm mưu xâm lược của giặc Pháp. Từ tháng 11 năm 1945 chiến sự đã lan rộng đến Bô-Keo (Campuchia). Ngày 5 tháng 12 năm 1945, quân Pháp từ Kratiê (CPC) tràn sang đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.

Trước tình hình đó chính quyền cách mạng tỉnh Gia Lai phải khẩn trương tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu, các cấp từ tỉnh xuống huyện đề ra nhiều biện pháp để ổn định đời sống nhân dân, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, động viên góp quỹ nuôi quân và giải quyết các nhu cầu cuộc sống cho dân.

Vào tháng 01 năm 1946, sau khi phái Đoàn đồng chí Võ Nguyên Giáp vào thăm tỉnh Gia Lai, cán bộ quân dân chính được hiểu rõ thêm âm mưu xâm lược của Pháp và xác định phải chuẩn bị xây dựng căn cứ của tỉnh ở vùng Hà Bàu (Đông Bắc thị xã Pleiku khoảng 15 km). Mặc dù thời gian khẩn trương, còn nhiều khó khăn, thiếu thốn chưa chuẩn bị được bao nhiêu, nhưng chủ trương trên phản ánh ý thức của quân dân Gia Lai nắm được vấn đề cốt từ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống lại quân xâm lược Pháp.

Công việc chuẩn bị chiến đấu của tỉnh được khẩn trương thực hiện, nhất là sau tiếng súng của giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Lực lượng vũ trang Trung Trung bộ nhanh chóng điều Chi đội 4 và 5 tiến lên Gia Lai để phối hợp chiến đấu ở mặt trận phía Tây. Phía Nam từ giữa tháng 10 năm 1945 bộ đội ta đã tổ chức chặn đánh, vây hãm giặc Pháp đến chiếm Nha Trang, đồng thời bố trí lực lượng ngăn chặn mũi tiến công của giặc trên các đường số 21, 11; Một bộ phận lực lượng ta chặn đánh giặc Pháp ở Phan Thiết, Phan Rang. Những trận chiến đấu xảy ra giữa bộ đội ta và giặc Pháp tuy không cân sức, nhưng diễn ra liên tục, vô cùng quyết liệt, giành đi giật lại từng trận địa, từng đoạn đường, từng góc phố trên một không gian rộng.

Bước đầu đã chặn đứng được âm mưu xảo quyệt của giặc Pháp hòng tiêu diệt nhanh lực lượng ta chiếm dễ dàng ngay các tỉnh Nam Trung bộ. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội ta ở Nha Trang – Phan Thiết đã cổ vũ lực lượng vũ trang Gia Lai tin tưởng vào quyết tâm chiến đấu của mình.

Trong lúc đó bọn Pháp đã trắng trợn tập trung lực lượng nhằm đánh chiếm toàn bộ vùng cao nguyên Trung bộ trong thời gian ngắn để làm bàn đạp khống chế chiến trường Nam Đông Dương. Cuộc tấn công ào ạt của mười lăm ngàn quân Pháp có máy bay, cơ giới, pháo lớn yểm trợ là một thử thách nặng nề với các lực lượng vũ trang ta.

 Tuy lúc đầu trang bị còn quá ít ỏi, thô sơ, nhưng với lời thề “Hy sinh vì tổ quốc” “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, cán bộ, chiến sỹ Mặt trận Tây Gia Lai xông lên dũng cảm quyết chống giặc. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, các phân đội Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (Chi đội Tây Sơn) đã sát cánh cùng Chi đội 4 và 5 nam tiến bố trí chặn đánh cánh quân Pháp từ Bô-Keo (Campuchia) định tràn sang phòng tuyến Ia Dao, Chư Ty.

Ngay từ những ngày đầu, đồng bào dân tộc Jơrai, các làng sát biên giới đã sát cánh cùng bộ đội chiến đấu. Tổ du kích của ba làng Moc Đen, Moc Trêl và Moc Trang do anh Rơ Chăm Bút làm tổ trưởng cùng các đội viên RahLan Suyên, Rơ Chăm Suin, RahLan Phơn và Sit Hăt đã hăng hái làm trinh sát, liên lạc dẫn đường cho Chi đội Tây Sơn bám đánh địch. Tổ du kích cùng cán bộ Ủy ban cách mạng lâm thời do anh Ksor Thanh phụ trách đã huy động hàng trăm thanh niên, dân làng chặt cây rấp đường, đắp chướng ngại vật từ khu vực suối Ia Brang đến suối Ia Bi; cho dân quân chặt loại nữa ống to, nhét giẻ rách đốt gây tiếng nổ nghi binh quấy rối địch. Anh Rơ Chăm Bút tổ trưởng du kích đã mưu trí lợi dụng vật chướng ngại dùng tên ná tẩm thuốc độc bắn chết ba tên Pháp tại suối Ia Bi ngày 23 tháng 11 năm 1945. Đây là trận chiến đấu đầu tiên của du kích Gia Lai sát cánh cùng chi đội Tây Sơn, chặn đánh quân xâm lược Pháp tràn xuống xâm chiếm biên giới tỉnh ta. Các hoạt động của quân và dân Gia Lai cùng Chi đội Tây Sơn, bộ đội Nam tiến đã chặn đánh địch quyết liệt. Công tác động viên nhân dân phía sau tích cực chi viện cho tuyến biên giới bảo đảm chiến đấu liên tục. Lực lượng tự vệ và thanh niên tình nguyện chiến đấu được bổ sung quân số cho Chi đội Tây Sơn. Trạm phẫu dã chiến đặt tại Bàu Cạn do bác sĩ Nguyễn Thiện Thành phụ trách đã khắc phục muôn vàn khó khăn, thiếu thốn tận tình cữu chữa thương binh từ Plei Móc đen chuyển về.

Hoạt động của lực lượng ta đã gây nhiều thiệt hại cho địch, buộc chúng phải trụ lại lập phòng tuyến biên giới chờ quân tiếp viện.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 07:53:57 am
*   *
*

Ngày 06 tháng 03 năm 1946 Hiệp định sơ bộ được ký giữa Chính phủ nước ta và Bộ chỉ huy quân Pháp. Hiệp định đã tạo ra cho nhân dân ta thời gian và có thêm điều kiện để xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng cho cuộc chiến đấu mới. Đấu tranh buộc địch phải thi hành hiệp định “6-3”, một đoàn đại biểu của Chính phủ ta được cử vào Nha Trang để bàn với Bộ chỉ huy Pháp ở Nam Trung bộ về việc thực thi lệnh ngừng bắn ở các tỉnh phía Nam Trung bộ. Ở Gia Lai cũng cử một phái đoàn gồm ba cán bộ; Đồng chí Nguyễn Đường – Đại diện lực lượng vũ trang, đồng chí Phan Bá – đại diện Mặt trận Việt Minh và đồng chí Nguyễn Xuân đại diện chính quyền tỉnh đến Ô Ia Đao đấu tranh đòi quân Pháp phải tôn trọng hiệp định sơ bộ “6-3”, ngừng ngay hành động khiêu khích và lấn chiếm. Nhưng ta càng thiện chí, hòa bình, nhân nhượng thì giặc Pháp lại ngoan cố tập trung lực lượng, phương tiện chiến tranh ở Bô-Keo, Bô-Khăm (CPC) và cả cánh quân ở phía Nam (Buôn Ma Thuột) khiêu kích, lấn chiếm tiến công và các tuyến phòng giữ của bộ đội ta.

Trước hành động bội ước của giặc Pháp quân và dân Gia Lai tỉnh táo theo dõi từng hành động của chúng. Ủy ban kháng chiến Miền Nam Việt Nam lệnh cho toàn tuyến phía Tây sẵn sàng chiến đấu đánh trả địch. Ban vận động Quốc dân thiểu số trực tiếp chỉ đạo công tác vận động đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cùng bộ đội sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhận thức được dã tâm của thực dân Pháp, khối đoàn kết các dân tộc được củng cố một bước làm cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài. Ngày 19 tháng 4 năm 1946 Đại hội “Đoàn kết đánh Pháp” của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có chừng 1.000 vị được tổ chức tại thị xã Pleiku. Trong thư gửi Đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần nhắc nhở các dân tộc phải coi nhau như anh em ruột thịt. Người viết “… đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Jơrai hay E Đé, Sé Đăng hay Bahnar và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”. Nhân dân Gia Lai vô cùng tự hào phấn khởi trước thắng lợi của Đại hội “Đoàn kết đánh Pháp”, thấy rõ lòng thương yêu các dân tộc của Bác Hồ, mong muốn các dân tộc đoàn kết chung quanh chính phủ, Mặt trận Việt Minh để chống giặc Pháp xâm lược. Sau Đại hội các đại biểu dân tộc của tỉnh tỏa về các khu vực Cheo Reo, PleiKly, Chu Ty, PleiPiơm (Mang Yang) phát huy kết quả Đại hội, nhân dân vô cùng phấn khởi, hoan nghênh nhiệt liệt.

Âm mưu địch đánh chiếm hết Tây Nguyên lúc này càng bộc lộ rõ rệt. Chúng tập trung quân lực, cơ giới giới từ Nam Bộ ra, Nha Trang lên, Buôn Ma Thuột xuống; nhất định sắp có những cuộc hành quân lớn để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.

Để đối phó với tình hình, Ủy ban kháng chiến Miền Nam Việt Nam điều Đại đoàn 23 lên phối hợp chiến đấu với các tỉnh Gia Lai và Kon Tum, kiên thủ mặt trận phía Tây. Trung đoàn 67 bố trí một Tiểu đoàn từ Buôn Hồ Ki lô mét 152 để cản địch trên đường 14 từ Buôn Ma Thuột ra Pleiku. Tiểu đoàn Tăng Bạt Hổ phòng giữ tại Cheo Reo sẵng sàng phối hợp với Mặt trận Buôn Hồ. Tại thị xã Pleiku, thị xã Kon Tum mỗi nơi có một Tiểu đoàn phòng giữ.

Lực lượng vũ trang Gia Lai được củng cố, bổ sung thêm một số cán bộ Đảng viên vào làm nòng cốt cho Chi đội Tây Sơn. Ban hỗ trợ kháng chiến Mặt trận phía Tây tổ chức nhiều đợt huấn luyện du kích, tự vệ cấp tốc ngắn ngày để bổ sung quân số cho Chi đội Tây Sơn. Chính quyền và Ủy ban Mặt trận Việt Minh động viên nhân dân các dân tộc trong tỉnh quyên góp tiền của gây quỹ “kháng chiến nuôi quân”, “hũ gạo nuôi quân” được phổ biến khắp làng.

Hạ tuần tháng 4 năm 1946, Ủy ban hành chính ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, huy động nhân dân phá hoại cầu cống, di chuyển kho tàng về phía sau; các cơ quan tỉnh, bộ phận nặng chuyển dần xuống An Khê khi tình hình Mặt trận căng thẳng chuyển tiếp xuống vùng giáp ranh tây tỉnh Bình Định. Cơ quan huyện Cheo Reo được dời về tây tỉnh Phú Yên.

Máy móc các đồn điền chè tháo gỡ cất dấu, chuyển về sau, khi có lệnh tiêu thổ kháng chiến, nhân dân thị xã Pleiku bắt đầu tản cư, đốt nhà, chuyển hàng; lửa cháy ngợp trời, từng dòng người, phần lớn ông bà già, trẻ em chuyển về sau. Dân quân tự vệ thị xã và các đồn điền và một số làng en thị xã ở lại bám trụ, làm nhiệm vụ canh gác, cứu thương, tiếp tế phục vụ bộ đội chiến đấu.

Mặt trận phía Nam tỉnh lúc bấy giờ đang sôi động. Một cánh quân Pháp từ M’Drak đến chiếm Buôn Kít. Tại Buôn Tring bắc Buôn Ma Thuột, chúng tập trung một lực lượng khá đông có cơ giới yểm trợ nhằm đánh thẳng vào Buôn Hồ. Liên tục những ngày cuối tháng 4 năm 1946, giặc Pháp đã gây ra nhiều vụ khiêu khích để dò xét thế trận của bộ đội ta. Ta chủ trương dùng bộ phận nhỏ của phân đội Nguyễn Huệ phối hợp với Chi đội 4 Nam tiến khẩn trương củng cố phòng tuyến và bí mật đánh sâu vào các vị trí của địch ở Buôn Hồ, Buôn Lak, buộc quân Pháp phải co đội hình lại. Tại đây thế trận cầm cự giữa ta và địch rất quyết liệt. Ngày 1 tháng 5 năm 1946, hai nghìn quân Pháp có phi pháo yểm trợ mở hai giọng kìm tấn công bộ đội ta đang giữ ở Buôn Tung Thang và Buôn Bluk; Phân đội Nguyễn Nhạc đã kịp thời chặn đánh bẻ gãy một trong hai gọng kìm của địch, làm chết và bị thương 100 tên, chúng phải lui về vị trí cũ.

Kế hoạch chuẩn bị chiến đấu ban đầu đã chuyển được một phần chủ động trong đối phó của ta với cuộc tấn công quy mô của giặc Pháp. Ta khắc phục mọi cách, phát hiện kịp thời các thủ đoạn của địch và đánh trả có hiệu quả. Cán bộ, chiến sỹ của Chi đội Tây Sơn và Trung đoàn 67 cùng lực lượng dân quân du kích đã chịu đựng gian khổ, ác liệt, trụ bám giữ được các phòng tuyến của ta ở kilômét 90 (đường số 14) cũng như trên biên giới phía Tây.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 07:56:10 am
*   *
*

Cuộc hội nghị trù bị giữa phái đoàn quân sự của ta với Pháp ở Đà Lạt đi vào bế tắc. Ta bác bỏ những ý kiến của bên đại diện Pháp đòi đưa vấn đề “Dân tộc thiểu số” tại bàn Hội nghị, đòi mở cuộc trưng cầu để lập chính thể Trung kỳ, Nam kỳ và Tây kỳ tự trị nhằm phủ nhận vai trò của Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Tại Phông-Ten-Nơ-blô, giữa lúc cuộc đàm phán chính thức của Đoàn đại biểu chính phủ ta với Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp sắp sửa khai mạc thì ở Việt Nam, giặc Pháp âm mưu “làm việc đã rồi” tập trung 5000 quân Pháp có phi pháo yểm trợ mở cuộc tấn công trên toàn Mặt trận Nam Trung bộ, chủ yếu chúng tập trung vào chiếm các vùng còn lại của Tây Nguyên.

Ngày 22 tháng 06 năm 1946, chúng mở cuộc tiến công bằng hai hướng vào mặt trận Buôn Hồ (đường số 14) và hướng Plei Móc Đen; cùng ngày một số cán bộ của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam phân công nhau lên củng cố Mặt trận tây Pleiku và Cheo Reo.

3 giờ sáng ngày 23 tháng 6, Bộ chỉ huy Mặt trận phía Tây do đồng chí Đàm Quang Viễn chỉ huy và Bộ chỉ huy Đại đoàn 23 khai hội quyết định:

“Kiên quyết giữ các trọng điểm Pleiku, Mang Yang, Đèo An Khê.

- Chuyển một bộ phận lực lượng ở Kon Tum về tăng cường giữ Pleiku.

- Phải cố thủ ở Cheo reo, kiến lập trận địa ở Mang Yang, quyết tử ở đèo Mang Yang.

- Củng cố các bộ phận của lực lượng ta đang giữ Hôn Drung. Thanh Bình, Plei Móc Đen.

- Đơn vị ở Pleiku phải có kế hoạch phòng thủ cả phía Đông Nam thị xã từ Hon Drung đến Tra Dom…”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận, các đơn vị ta triển khai kế hoạch chiến đấu. Phân đội Nguyễn Nhạc tổ chức phá hoại cầu đường, chôn bom, mìn kết hợp tiêu hao ngăn chặn từng cánh quân Pháp, đồng thời cho các mũi nhỏ luồn phía sau đánh vào bộ phận địch đang chốt giữ Buôn Tang Thang. Tiểu đoàn Tăng Bạt Hổ tập kích vào cánh quân Pháp đang di chuyển ở Buôn Đá tiêu diệt một số địch, chúng bỏ chạy tán loạn, ta thu được 7 gánh quân trang và thuốc men. Ngày hôm sau (23 và 24/06) Phân đội Nguyễn Nhạc cùng Chi đội Nam tiến chặn đánh quyết liệt cánh quân tại Kilômét 90, diệt và làm bị thương 150 tên lính Pháp. Phía Cheo Reo – Buôn Huynh bộ đội ta giao chiến quyết liệt với địch, để gọng kìm Buôn Blêch không tiến sát đến đường 14 được.

Mặt trận phía Tây Chi đội Tây Sơn (Phân đội Nguyễn Huệ) cùng Trung đoàn 67 kiên quyết đánh địch tại Bô Khâm, nhưng lực lượng ta mỏng, bộ phận tiếp viện chưa đến kịp nên ta rút về phía Plei Móc Đen.

Sau khi chiếm Bô Khâm chúng cho một cánh tiến sang Plei Mnú, tập kích một bộ phận của ta ở Plei Ia Dao, rồi từ điểm này xuyên rừng đánh úp mặt sau phòng tuyến Plei Móc Đen. Lực lượng ta chống đỡ yếu ớt vì bị đánh bất ngờ. Tổ du kích anh Rơ Chăm But kịp thời nổ súng diệt hai tên địch tại suối Ia Brang.

Trước sức tấn công ồ ạt của địch, tuyến chiến đấu Plei Móc Đen bị phá vỡ, nhất là sau khi chiếc xe của Bộ chỉ huy mặt trận phía Tây đi kiểm tra tình hình quay về bị địch tập kích(1); cánh quân này tiến xuống Thanh Bình, nhưng đến Chư Klơm Ya bị bộ đội và du kích liên tiếp chặn đánh, có hai tên sĩ quan Pháp bị diệt. Trưa 24 tháng 6 chúng đến Bàu Cạn.

Tại Bàu Cạn công nhân đã sớm sơ tán từ trước, cảnh vườn không nhà trống, đường sá đắp nhiều ụ chống xe cơ giới một đoạn dài, phản khó khăn lắm chúng mới vượt qua đoạn phía Đông Bù Cạn để hợp quân với cánh từ phía Nam ra tràn xuống đánh chiếm thị xã Pleiku vào 15 giờ ngày 24 tháng 6 năm 1946.

Quân Pháp đến Pleiku, trước cảnh “một thành phố chết”(1), nhà cửa hoang tàn, không một bóng người, từng đêm khói bốc lên nghi ngút, chúng vội chia làm hai cánh đánh ra Kon Tum và một cánh tiến xuống An Khê.

Tại Cheo Reo, Tiểu đoàn Hùng Việt quần đánh nhau với địch từ 25 và 26 tháng 4 năm 1945, rồi rút về Tây Bình Định.

Cánh Bắc Tiểu đoàn 4 của trung đoàn 67 và phân đội Nguyễn Lữ (chi đội Tây Sơn) chặn đánh quyết liệt khi quân Pháp đang vượt sông Đăk Bla, diệt và làm bị thương 100 tên giặc Pháp.

Hướng Đông, Trung đoàn 67, Chi đội Tây Sơn (Phân đội Nguyễn Huệ) do đồng chí Linh chỉ huy cùng với Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 94 bố trí chiến đấu tại khu vực Trà Dom liên kết với tuyến phòng giữ của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 94 bố trí từ Cầu AYun đến đèo Mang Yang.


(1) Trong xe có 7 đồng chí thì hy sinh 6, còn đồng chí Linh chạy về Pleiku; trong số hy sinh có đồng chí Đàm Quang Viễn, Hữu Thành.
(2) Theo báo cáo của UBKCMN VN – Hồ sơ số 1 – Quân ủy Trung ương.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 07:57:53 am
Nhưng vì không có kế hoạch tổ chức lực lượng triển khai từ trước, việc chuyển quân từ Bình Định lên chậm do thiếu phương tiện nên các tuyến chiến đấu của bộ đội ta ở Trà Dom, Cầu Ayun, suối Đôi không vững chắc đã bị vỡ trước sức tấn công bằng cơ giới của giặc Pháp.

Tuy vậy bộ đội ta đã dũng cảm chặn đánh địch quyết liệt trên từng chặn đường. Trưa ngày 28 tháng 6 năm 1946 đoàn xe cơ giới địch lên đỉnh đèo Mang Yang, không có vũ khí đánh xe bọc thép, chiến sỹ Bùi Thức cảm tử giả chết nằm ngang trên mặt đường, khi xe địch đến gần anh đã vùng dậy dùng chai dầu xăng và Cà rép đốt xe cơ giới địch. Học tập Bùi Thức một số cảm tử quân của ta đã anh dũng lao vào diệt xe giới địch, buộc chúng phải lùi về sau 500 mét; Cùng ngày một tổ súng đại liên 13 ly, bắn rơi một báy bay khu trục của Pháp tại đỉnh đèo Mang Yang.

Chiều ngày 28 tháng 6 năm 1948, địch tiến đánh đèo An Khê, lực lượng ta có một đại đội dựa vào thế hiểm trở đã đánh cản được địch. Chiều ngày 29 tháng 6 năm 1946 một đoàn xe cơ giới Pháp gồm 12 chiếc dẫn đầu đội hình tiến công ồ ạt lên đèo, lúc này ta có thêm quân tiếp viện, nên đã đánh lui được đoàn xe cơ giới của địch, ta phá hủy được 2 xe tăng và 4 xe thiết giáp địch, buộc quân địch lui về sau củng cố. Cuộc đánh trả của bộ đội ta rất anh dũng, quyết liệt. Nhưng quân Pháp cố dồn binh lực và xe cơ giới tiến công, qua ba đợt tiến đánh lên đèo An Khê từ 28 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1946 lúc 14 giờ 30 phút chúng mới chiếm được. Bộ đội ta rút khỏi đỉnh đèo về Vườn Xoài (Bình Định).

Chiếm đỉnh đèo An Khê, quân Pháp tổ chức tuyến phòng ngự tại đấy, thực chất chúng cũng không còn đủ sức tiến xa hơn nữa. Tiến chiếm đỉnh đèo An Khê, giặc Pháp phải chịu nhiều thiệt hại sinh lực và phương tiện chiến tranh mới chiếm được và cũng từ đây chúng kết thúc kế hoạch đánh chiếm Tây Nguyên.

Về ta, chính quyền nhân dân cách mạng thiết lập vừa tròn 314 ngày trên địa bàn Gia Lai, giờ đây đã thành chiến trường hậu địch vùng giặc Pháp chiếm. Qua các trận đọ sức quyết liệt ban đầu giữa quân và dân Gia Lai với giặc Pháp xâm lược đã nổi bật lên truyền thống chiến đấu anh dũng bất khuất của các dân tộc trong tỉnh.

Tình hình cơ sở cách mạng trong nhân dân mới tổ chức, chính quyền cách mạng mới hình thành chưa được củng cố xây dựng, nhất là các vùng sâu, vùng cao. Lực lượng vũ trang tập trung cũng như dân quân tự vệ còn ít về số lượng, chất lượng chưa xây dựng được bao nhiêu, vũ khí quá ít ỏi, nhưng quân và dân tỉnh một lòng một dạ tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ, nên liên tục chiến đấu. Nhân dân chịu đựng gian khổ ác liệt, theo sát cuộc chiến đấu của bộ đội ta, giúp đỡ bộ đội tận tình, hy sinh tính mạng, tài sản để quyết chiến đấu chống giặc Pháp. Cán bộ và nhân dân các vùng Ya Hôi, Thượng An, An Thượng, Cửu Đạo, An Xuân, An Thạch, đồng bào kinh, đồng bào dân tộc đã bí mật tổ chức tiếp tế lương thực, cứu chữa thương binh, đưa đón bộ đội rút lui từ các phòng tuyến phía Tây về; cả một số đồng bào thị xã, anh chị em công nhân các đồn điển tản cư vượt vòng kiềm tỏa của địch về vùng tự do an toàn. Trên đường hành quân về xuôi, tuy mệt nhọc, thiếu đói, nhưng cán bộ, chiến sỹ, các lực lượng ta giữ nghiêm kỷ luật dân vận, tuyệt đối không đụng chạm đến tải sản của dân.

Về tác chiến, cức lực lượng vũ trang ta tuy đã bố trí thế trận trên các trọng điểm, tinh thần chiến đấu của cán bộ chiến sỹ vô cùng dũng cảm, nhiều gương hy sinh cực kỳ anh dũng. Nhưng là những đơn vị tập trung mới xây dựng, chưa có thời gian huấn luyện nhiều về chiến thuật. Trình độ chỉ huy của cán bộ chưa có kinh nghiệm, nên sức đối phó với đội quân xâm lược nhà nghề sừng sỏ, trang bị hiện đại rất hạn chế; Trong khi đó lực lượng ta đông, nhưng phân tán dàn mỏng, thiều chiều sâu. Có một số đơn vị đóng sâu ở hậu phương, khi tình hình khẩn trương, cơ động tiếp viện không kịp thời. Thế trận chiến tranh nhân dân, hoạt động của du kích quá yếu nên không góp sức đắc lực cho bộ đội tập trung có điều kiện diệt địch.

Song ta đã kịp thời chủ động có kế hoạch đối phó từ đầu, dự lường được tương quan lực lượng giữa ta và địch, nên kịp thời chủ trương sơ tán dân, di chuyển cơ quan kho tàng, thực hiện biện pháp vừa đánh trả vừa ngăn chặn địch, nên bảo toàn được thực lực của cách mạng, hạn chế một phần tổn thất.

Nhìn chung Đảng bộ Gia Lai lúc bấy giờ đã thực hiện nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mình là vừa tranh thủ thời gian khẩn trương xây dựng thực lực cách mạng, vừa động viên quân và dân nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù; và đã động viên các lực lượng quân, dân các dân tộc đoàn kết, kiên cường chặn đánh các cuộc tấn công ào ạt của địch góp phần cùng khu Trung Trung bộ đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, bảo tồn được thực lực cách mạng. Đó là thắng lợi bước đầu của kết quả quán triệt và vận dụng đúng đắn đường lối kháng chiến của Đảng, phát huy được trí tuệ và sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân mới thành lập, phát huy trí tuệ và sức mạnh của nhân dân các dân tộc trong tỉnh để kháng chiến, trong hoàn cảnh so sánh lực lượng giữa ta và địch trên địa bàn tỉnh quá chênh lệch, địch hơn ta gấp nhiều lần về số lượng, trang bị, vũ khí kỹ thuật.

Sau khi chiếm được Tây Nguyên thực dân Pháp lập xứ “Tây kỳ tự trị”, tìm mọi cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hòng lôi kéo đồng bào Tây Nguyên chống lại cách mạng. Chúng gấp rút “tổ chức lực lượng vũ trang Cao Nguyên”(1) để phục vụ cho mưu đồ chính trị lâu dài của chúng.

Nhưng nhân dân các dân tộc Gia Lai bất khuất, quyết vượt qua khó khăn thử thách một lòng đoàn kết kháng chiến, giải phóng quê hương.


(1) Forces armées des hauts phanteaux


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:00:58 am
CHƯƠNG III

Chấn chỉnh củng cố lực lượng, trở lại bám địa bàn,
đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch
(1947-1949)

Sau khi chiếm tỉnh Gia Lai, giặc Pháp khẩn trương xây dựng hệ thống cứ điểm giáp ranh giữa Gia Lai – Bình Định cùng với củng cố các trung tâm thị xã và các quận lỵ. Chúng cho quân rải lập đồn từ vùng Sơ Ró (phía Nam) đến Ya Hội, đầu đèo An Khê đến phía Bắc giáp ranh Tây huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), đồng thời đóng cứ điểm chốt giữ các trục lộ giao thông quan trọng đường số 19 và 14 hòng ngăn chặn các lực lượng ta từ các tỉnh đồng bằng tiến lên.

Về chính trị, chúng dồn hết số dân Kinh quanh thị xã, thị trấn chưa kịp tản cư, mua chuộc, dụ dỗ và hăm dọa để lập cho được bộ máy tề tay sai, cùng với tung quân ra lùng quét các nơi có cơ sở du kích của ta.

Về ta, sau khi các đơn vị bộ đội tập trung rút về Phú Phong (Bình Định) đã khẩn trương ổn định tình hình, củng cố sắp xếp biên chế lực lượng. Số cán bộ, chiến sỹ Kinh của Chi đội Tây Sơn sát nhập với các đơn vị chủ lực ở đồng bằng. Số đông anh em người dân tộc sát nhập thành Tiểu đoàn Ama Trăng Lơng, được tập trung chỉ đạo nuôi dưỡng, huấn luyện.

Để tăng cường lãnh đạo cuộc kháng chiến ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Trung Trung bộ quyết định điều động bổ sung cán bộ, kiện toàn các cấp ủy Đảng và Ủy ban kháng chiến các tỉnh, đưa lực lượng trở lại bám đất, bám dân.

Hội nghị của Tỉnh ủy Gia Lai quyết định: “Gấp rút đưa lực lượng lên bám địa bàn, khẩn trương xây dựng củng cố cơ sở, trước hết là vùng Nam và Bắc An Khê, tạo bàn đạp đưa các bộ phận công tác phát triển lên các vùng khác đi sâu vào lòng địch, nhất là vùng ven thị xã, các đồn điền. Tổ chức các đoàn thể cứu quốc, thành lập Mặt trận Việt Minh các địa phương ở An Khê”.

Tháng 9 năm 1946, sau khi củng cố Đại đội Đinh Drong cùng các đoàn cán bộ cơ sở tiến lên vùng địch chiếm An Khê và Cheo Reo.

Đại đội Đinh Drong thành lập tháng 9 năm 1946, quân số lúc đầu có 44 cán bộ và chiến sỹ, hầu hết là anh em dân tộc Bahnar vùng An Khê, rút ra trong số anh em người dân tộc Ama Trăng Lơng đang huấn luyện ở Quảng Ngãi, trang bị được 3 súng trường (mỗi khẩu 18 viên đạn), 3 súng moussqueton (súng trường loại ngắn).

Đồng chí Kpă Y Yao làm Đại đội trưởng

Đồng chí Nguyễn Nhuận làm chính trị viên.


Tranh thủ lúc địch còn đang xây dựng cứ điểm, chưa kịp bung ra kìm kẹp nhân dân, các đội cán bộ gây cơ sở của ta đã nhanh chóng bắt liên lạc với một số cán bộ thôn địa phương vùng Cửu An, Cửu Đạo, An Xuân và một số cụ già các làng dân tộc (phần đông là Hội viên Hội phụ lão tổ chức sau khởi nghĩa tháng 8) bám ruộng đất, phát động nhân dân, ổn định tư tưởng chọn cốt cán xây dựng cơ sở, củng cố lập chính quyền cách mạng. Chỉ một thời gian ngắn ta đã bắt mối liên lạc được hầu hết cơ sở cũ ở vùng Kinh và gây mối trong thị trấn An Khê. Có cán bộ và lực lượng vũ trang trở lại đại bàn, đồng bào Kinh và dân tộc vô cùng phấn khởi. Ngay khi giặc Pháp vừa chiếm An Khê, một số đồng bào dân tộc Bahnar lập tức dời nhà lên núi cao lập làng chiến đấu chống địch.

Giữa tháng 9 năm 1946 tỉnh mở Hội nghị có 30 cán bộ cơ sở vùng Kinh An Khê, tại vùng núi giữa An Bình và Cửu Định để bồi dưỡng hướng dẫn thống nhất chương trình và phương pháp hoạt động; cùng lúc, một bộ phận lãnh đạo của tỉnh và huyện An Khê đứng tại chiến khu Thượng Bình để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Hướng Cheo Reo còn có nhiều khó khăn, cán bộ gây cơ sở đã dựa vào Phòng Quốc dân thiểu số Trung Trung bộ, đứng tại Tây Bắc tỉnh Phú Yên để tổ chức xây dựng cơ sở từ vùng ƠiNu, Đăk Băng tiến lên phía Nam tỉnh. Cuối tháng 9 năm 1946, cơ quan tỉnh, huyện đã được củng cố ổn định, tranh thủ bắt tay vào lãnh đạo phát triển cơ sở hầu hết ở An Khê. Một số vùng làng đồng bào dân tộc ở Kan nak đã khôi phục được cơ sở - Tháng 10 năm 1946 đã có đoàn cán bộ vượt sang Sông Ba phối hợp với lực lượng vũ trang diệt tề trừ gian, tổ chức thêm cơ sở mới.

Cùng với việc đẩy mạnh cơ sở chính trị, phát triển lực lượng vũ trang ở địa phương, chủ trương của tỉnh và huyện An Khê xây dựng chiến khu Xóm Ké làm căn cứ đứng chân chỉ đạo phong trào.

Chiến khu Xóm Ké ở Thượng Bình (thuộc xã Song An nay) cách thị trấn An Khê 15 km về phía Đông, tiếp giáp phía Tây tỉnh Bình Định rộng khoảng 20 km2. Nơi cơ quan lãnh đạo kháng chiến của tỉnh Gia Lai và huyện An Khê từ năm 1946 – 1950.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:03:19 am
Trong vùng Kinh A Khê ta đã tổ chức dân quân được 13 xã, nơi xã khá tổ chức được một trung đội, các tổ dân quân du kích Thượng Bình, Cửu An đã phối hợp với bộ đội chiến đấu nhiều lần để bảo vệ chiến khu Xóm Ké và đã độc lập tác chiến thu được kết quả ở các trận phục kích tại Cầu Đá Trắng, truông Giây Bom, ở suối Gấm diệt một tiểu đội địch vào sâu lùng càn, do đồng chí Trần Khanh chỉ huy.

Chủ trương “trở lại địa bàn bám dân gây dựng cơ sở” của tỉnh là một quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình chiến trường, đáp ứng nguyện vọng nhân dân, nên chỉ thời gian ngắn phong trào cách mạng quanh vùng An Khê đã móc nối, gây dựng được cơ sở sâu rộng và hoạt động tích cực.

Nhưng tình hình chung cả nước đang căng thẳng trước âm mưu xảo quyệt của thực dân Pháp. Ngày 14 tháng 9 năm 1946 Hồ Chủ tịch ký với Chính phủ Pháp tạm ước Phông-Ten-nơ-blô; bản tạm ước ký chưa ráo mực thì ngày 16 tháng 9 năm 1946 quân Pháp huy động lực lượng tấn công ta trên các mặt trận. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng ta đã khẳng định: “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”.

Ngày 19 háng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “… bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người giàn, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu nước…”.

Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ, chủ trương quân sự của ta lúc này là tăng thêm lực lượng cho các vùng bị địch chiếm, đẩy mạnh du kích chiến tranh trong lòng địch, hỗ trợ cho bám dân gây dựng cơ sở.

Để hỗ trợ cho xây dựng cơ sở chính trị ở Gia Lai, Bộ chỉ huy Quân khu V chủ trương mở đợt hoạt động quân sự trên địa bàn tỉnh.

Sau khi nhận lệnh các đơn vị đứng chân tại Vĩnh Thạnh, Phú Phong chia làm nhiều cánh tiến lên khu vực An Khê. Bộ đội ta đã đồng loạt hoạt động bao vây, quấy rối và đánh chiếm một số vị trí tiền tiêu của địch ở Kan nak, Tú Thủy, Cửu An, An Thạch, Eo Gió, diệt một số địch có 2 tên Pháp, bắn bị thương một số. Ta thu một trung liên, hai tiểu liên và 10 súng trường. Cánh phía Nam bộ đội ta tấn công Đồn Thượng An, cứ điểm Đầu Đèo, đánh cứ điểm Hòn Cỏ, Ya Hội, diệt 3 tên địch có 01 tên Pháp, bắn bị thương 3 tên khác. Hướng Tây một lực lượng do đồng chí Giáp Văn Cương chỉ huy đánh cứ điểm Kon braih bắt sống 3 lính Ngụy, thu 01 súng trường, phá hủy 01 súng máy của địch.

Sau đợt hoạt động rầm rộ, cuối tháng 9 sang đầu tháng 10 năm 1946, bộ đội chủ lực phân tán cùng dân quân du kích chặn đánh liên tiếp các toán quân tuần tiểu bao vây đồn bót, phục kích giao thông, tiêu diệt từng tốp địch, phá hủy nhiều xe quân sự của chúng. Nhiều đêm ta bí mật chôn mìn cách cổng đồn vài trăm mét, sáng hôm sau địch hành quân ra khỏi cổng đồn đã vấp mìn nổ, giặc chết ngay trước cổng đồn, làm cho chúng rất khiếp sợ.

Được bộ đội chủ lực hoạt động hỗ trợ, phong trào du kích chiến tranh vùng đồng bào dân tộc Nam và Bắc An Khê phát triển khá hơn trước, nhiều thôn đã xây dựng Trung đội du kích được huấn luyện và trang bị bom, mìn, lựu đạn. Nhân dân vùng du kích hoạt động phá đường, phá cầu, đắp chướng ngại vật và bố phòng nhiều tuyến chông thò dài hàng mấy trăm mét. Đại đội Đinh Drong liên tục bám địa bàn An Khê cùng du kích đánh địch nống lấn ra vùng Xóm Ké, Ya Hội, Thượng An, dùng bom giật nổ diệt 32 tên địch, phá sập cầu suối Vối, thu 7 lựu đạn.

Cuối năm 1946, hoạt động quân sự của lực lượng ta sôi động, phong trào cơ sở chính trị phát triển khá. Địch ở An Khê lúc này tăng thêm lực lượng, củng cố các cứ điểm mới ở Ya Hội, Đầu Đèo, mở rộng sân bay Cây Me để đối phó với ta.

Tháng 01 năm 1947, cơ quan tỉnh có bộ phận lớn chuyển lên chiến khu Đé Groi (thuộc xã Sơ Ró) để chỉ đạo phong trào. Tỉnh tổ chức đại hội thành lập Ban chấp hành Việt Minh huyện An Khê, khối đoàn kết toàn dân không ngừng được củng cố, Tỉnh ủy tăng cường cán bộ chuyên trách xây dựng các làng Kan nak, Ya Hội, Kơ Chơn Bơng, riêng vùng Kinh An Khê chia thành hai khu vực để chỉ đạo cụ thể(1).


(1) Khu 1: Từ Thượng Bình vào đến thị trấn.
Khu 2: Từ Cửu An, Cửu Đạo và phía Tây thị trấn


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:07:27 am
Đầu năm 1947, Ban chỉ huy Mặt trận quyết định mở đợt tấn công vào khu vực An Khê, trọng điểm là tổ chức đánh cứ điểm Tú Thủy. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 đồng chí Vi Dân đích thân tổ chức chỉ huy trận đánh này. Để tăng thêm khí thế cho bộ đội, công tác động viên tuyên truyền trong nhân dân ủng hộ bội đội được phát động rầm rộ, kết hợp nghi binh địch. Huy động đồng bào Kinh các làng Đông Sông Ba đồng loạt xé thẻ kiểm soát, đốt phá nhà cửa nơi gần đồn, phá hoại giao thông, thực hiện vườn không nhà trống, nhân dân tập trung về 5 khu vực sống bất hợp tác với địch, mỗi khu vực có từ 1 đến 3 trung đội dân quân được tổ chức, trang bị tốt, huy động đồng bào dân tộc và đồng bào Kinh ủng hộ cho 5 khu vực hàng trăm tấn thóc, hàng trăm trâu bò, heo gà cho bộ đội và du kích.

Đêm 14 tháng 3 năm 1947, một lực lượng cảm tử quân bao gồm phần lớn cán bộ từ tiểu đội trở lên đến Tiểu đoàn do đồng chí Vi Dân trực tiếp chỉ huy tiến công vào Đồn Tú Thủy; cán bộ chiến sỹ ta dùng mã tấu, tiểu liên, lựu đạn vượt rào kẽm gai, bãi mìn chông của địch, hết đợt này đến đợt khác xung phong vào đồn. Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm nhưng do bị lộ từ đầu, địch đã đề phòng đối phó nên trận đánh không kết quả.

Cùng với bộ đội chiến đấu tấn công vào đồn, lực lượng dân quân được huy động tham gia chiến đấu đông đảo. Hơn 300 quần chúng nhân dân ở Tú Thủy, Cửu Đạo, An Xuân tiến vào khu vực Cây Đa đầu chợ Đồn (cách đồn Tú Thủy 500 mét) giương cờ dỏ sao vàng, nổi trống thanh la hô khẩu hiệu địch phản kích, một số đồng bào bị thương, nhưng đội ngũ quần chúng đấu tranh không nao núng.

Trận tấn công đồn Tú Thủy không thu thắng lợi, Trung đoàn trưởng Vi dân cùng một số lớn cán bộ hy sinh(1), mất nhiều vũ khí. Kết thúc trận đánh bộ đội ta rút về vùng tự do, lại có lệnh huy động đồng bào tản cư xuống Bình Định(2).

Chủ trương tấn công quy mô đồn Tú Thủy chưa có sự bàn bạc cụ thể và thống nhất phân công trách nhiệm giữa đơn vị quân sự và cấp ủy, chính quyền địa phương trong lúc điều kiện khách quan và chủ quan chưa có phép. Sau khi không giành được thắng lợi về tiêu diệt địch lại chủ trương đưa dân tản cư xuống vùng tự do đồng bằng. Đó là một chủ trương không sát thực tế, không phù hợp với đường lối kháng chiến toàn dân toàn diện, lâu dài của Đảng ta, vừa không phản ánh đúng nguyện vọng của quần chúng, nó cũng xuất phát từ tư tưởng chủ quan, phiêu lưu mạo hiểm, mất cảnh giác, phô trương lực lượng, lộ ý đồ chiến đấu từ đầu.

Quân địch nhân trận đánh không thành này phản kích lại phong trào cách mạng, đánh phá truy lùng cơ sở, khủng bố tra tấn giết hại hàng trăm đồng bào, gây nhiều khó khăn cho phong trào cách mạng trong địa bàn. Tỉnh ủy đã kịp thời chủ trương phân công cán bộ xuống cơ sở, bám chặt địa phương, động viên giáo dục nhân dân ổn định dần tình hình.

Tuy trận đánh không thành nhưng bọn địch ở Tú Thủy cũng như các nơi khác khiếp sợ và khâm phục tinh thần chiến đấu quả cảm hy sinh của bộ đội ta.

Ngày 02 tháng 07 năm 1947 gần 2000 quân Pháp, có 20 đại bác và một số xe bọc thép yểm trợ hành quân càn quét xuống vùng Phú Phong nhằm đánh vào các cơ quan và đơn vị của ta mà chúng cho rằng đây là nơi xuất phát tiến công lên địa bàn Gia Lai. Ta kịp thời chủ trương kiên quyết đánh bại cuộc hành quân của địch. Một mặt bộ đội ta phân tán từng bộ phận phối hợp với dân quân du kích tổ chức chặn đánh địch từ nhiều phía. Mặt khác ta chuẩn bị một số quyết chiến điểm sẵn sàng cơ động lực lượng đánh diệt từng bộ phận, bẻ gãy từng cánh quân của chúng. Đại đội quyết tử luồn lên hướng An Khê đánh chặn tuyến vận chuyển tiếp tế của địch. Trưa ngày 4 tháng 7 cánh quân có 300 tên men theo đường Đồng Hào, Tiên Thuận đang vượt đèo Bồ Bồ đã lọt vào trận địa phục kích của ta. Bị đánh bất ngờ trên đoạn độc đạo nên cánh quân này hoàn toàn tan rã, trên 150 tên địch bỏ xác tại trận, số sống sót tháo chạy về An Khê.

Thất bại của cuộc tung quân càn quét xuống Phú Phong đã buộc chúng phải co về giữ vùng đã chiếm, lo củng cố tuyến phòng thủ dọc giáp ranh, không thực hiện được chiến lược đánh nhanh mà quay về dùng mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế để củng cố vùng chiếm đóng.

Hoạt động quân sự của ta đã thực sự thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn tỉnh. Từ khi cơ quan chỉ đạo tỉnh lên đứng chân tại Đê Groi (xã Sơ Rơ) công tác tuyên truyền của Đảng bộ lên mạnh, một số Chi bộ Đảng vùng Kinh An Khê được tổ chức(3) công tác xây dựng căn cứ tại địa bàn tạo điều kiện mở rộng và phát triển cơ sở ra phía bắc, mở phía nam giáp tỉnh Đăk Lăk.


(1) Theo số liệu tại Mô Chung tại Tú Thủy có 107 đồng chí hy sinh trong tấn công vào đồn Tú Thủy.
(2) Theo sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện An Khê
(3) Tháng 9 năm 1947 huyện An Khê đã lập 5 Chi bộ, 30 đảng viên, chủ yếu là Đảng viên ở cơ sở và lực lượng vũ trang. Lịch sử Đảng bộ An Khê tóm tắt sơ thảo – Trang 15


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:09:52 am
Đầu năm 1947 cơ sở ta có 73 làng, đến tháng 12 năm 1947 cơ sở phát triển lên 214 làng. Riêng các tháng gần cuối năm đã phát triển thêm 118 làng có cơ sở. Trong lúc địch tập trung đánh phá vùng kinh. Ta đẩy mạnh hoạt động vùng đồng bào dân tộc. Phong trào cơ sở ở Kan nak Ya Hội phát triển mạnh, nhân dân liên tục đấu tranh chống lập tề, chống làm xâu nộp thuế; dân quân Ya Hội liên tục hoạt động bao vây, quấy rối cứ điểm, bố phòng chống địch càn quét. Tháng 9 năm 1947 đồng chí Gôt chỉ huy dân quân phục kích địch ở làng Môn Bar diệt 7 tên.

Từ phía Nam An Khê ta đã xây dựng, củng cố và phát triển lên Mang Yang Đak Bơt, có lúc tiến lên được vùng PleiKly Tây sông Ayun; phía Bắc An Khê ta củng cố vững BơNâm, Ka-nak để tiến lên Konmơha. Trong đó Ya Hội, Đak Bok, Kan nak, Kơchơng Bơng là vùng cơ sở khá. Đoàn công tác địch hậu gồm các đồng chí Trần Xi, Nguyễn Khoa, Lê Văn Roi đã lên đến Kon Mơ ha, Biển Hồ, Ngô Sơn, Tiên Sơn gây dựng cơ sở và móc nối liên lạc với các linh mục, gây dựng cơ sở trong đồng bào công giáo.

Đây là sự cố gắng lớn của quân và dân Gia Lai qua một năm trở lại bám trụ địa bàn tiến vào vùng địch gây dựng cơ sở. Tình hình cơ sở phát triển khá tạo điều kiện để xây dựng dân quân du kích. Tháng 8 năm 1947 dân quân du kích vùng Kinh An Khê phát triển đông, hoạt động tốt. Huyện chủ trương xây dựng đại đội dân quân danh dự, sinh hoạt và chiến đấu tập trung làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh tại đại phương.

Đại đội dân quân danh dự huyện An Khê gồm những dân quân có tinh thần chiến đấu và số thanh niên hăng hái thoát ly, có một số cán bộ của bộ đội chủ lực làm nòng cốt; quân số lúc đầu có 70 người, trang bị một số tiểu liên, súng trường, bom mìn, lựu đạn.

      Đồng chí Phạm Phương làm đại đội trưởng
      Đồng chí Dương Thành làm chính trị viên
(1)

Thời gian sau chuyển thành Đại đội bộ đội địa phương huyện An Khê, phía nam, đại đội dân quân Cheo Reo thành lập và tiếp sau là Trung đội dân quân xã Đăk Băng (huyện Krongpa) được thành lập(2).

Tháng 8 năm 1947 đại đội Đinh Drong của tỉnh đã trưởng thành, quân số 114 người, trang bị 22 súng trường, bổ sung thêm một số tân binh người dân tộc và lập thành ba đại đội tập trung của tỉnh là Y Bhin Nam và Y Bhin Bắc. Y Bhin Nam hoạt động phía Nam An Khê, Y Bhin Bắc hoạt động phía Bắc An Khê.

Một thành công lớn của ta lúc này là đã kịp thời rút kinh nghiệm trong chiến đấu hỗ trợ cho xây dựng cơ sở. Nhất là các đơn vị thuộc Trung đoàn 210 (khu 5) đã bám sát chỉ đạo tác chiến luôn gắn chặt phối hợp cùng cán bộ địa phương xây dựng được nhiều cơ sở mới. Đội ngũ cán bộ cơ sở được chỉnh đốn về tổ chức, xây dựng cơ sở và bồi dưỡng phương pháp công tác vận động quần chúng, do đó phong trào cách mạng ở địa phương phát triển khá nhanh, mạnh; cả phía Nam và phía Bắc đường 19 phát triển đồng đều, đã cắm sâu cơ sở vào vùng địch, cả các vùng đồng bào công giáo ở Kon Mơ ha, Ngô Sơn, Tiên Sơn cũng xây dựng được cơ sở cách mạng.

Tiêu biểu nhất là trận chiến đấu tiêu diệt một Trung đội âu Phi ngày 12 tháng 11 năm 1947 của quyết tử quân Ngô Mây ở Rộc Dừa.

Ngô Mây sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Cha chết sớm, Ngô Mây rất vất vả từ nhỏ; Ngô Mây lớn lên xung phong vào bộ đội để đánh giặc giữ làng.

Vào bộ đội Ngô Mây xung phong vào Đội quyết tử. Trong trận đánh Dộc Dừa (cửa suối Dứa) cách An Khê 4 km, gặp khó khăn đơn vị tổ chức yểm hộ để đội hình rút quân. Quân Pháp cậy đông ào tới, vừa đi vừa hét: Việt Minh! Việt Minh!

Từ vị trí ẩn nấp chở sẵn, Ngô Mây cổ quàng khăn đỏ, ôm bom lao vào địch, thét lớn: Việt Minh đây!

Một tiếng nổ rền vang, khói tan, một trung đội âu Phi tan xác. Ngô Mây và chiếc khăn quàng đỏ trở thành biểu tượng cho tinh thần QUYẾT TỬ, bám đất, bám dân, đánh địch hỗ trợ cho xây dựng cơ sở, nhân dân huyện An Khê và quanh vùng còn nhắc mãi người anh hùng quyết tử Ngô Mây!



(1) Lịch sử tóm tắt Đảng bộ Huyện An Khê – Trang 74
(2) Đại đội dân quân Cheo Reo có 30 người. Anh Tứ Đại đội trưởng. Nay Then chính trị viên


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:10:26 am
*   *
*

Cuối năm 1947 cuộc kháng chiến toàn quốc vừa tròn một năm. Nếu tính từ ngày đầu đánh giặc Pháp kéo đến biên giới tỉnh Gia Lai (ngày 23/11/1945) quân và dân Gia Lai đã trải qua hơn hai năm chiến đấu dũng cảm kiên cường chống lại một kẻ thù đông, mạnh, tàn bạo, nham hiểm.

Tuy trước bối cảnh lúc đầu giáp mặt với kẻ thù hung hãn, nhưng quân và dân Gia Lai có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, của Xứ ủy Trung kỳ đã đoàn kết các dân tộc kinh thượng, Jơrai, Bahnar thực hiện đúng theo lời kêu gọi ngày toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, Chính phủ. Kiên định tư tưởng, không chạy dài, luôn luôn động viên cán bộ, chiến sỹ, dân, quân, chính, Đảng xây dựng tinh thần bám địa bàn, bám cơ sở, xây dựng bàn đạp, luồn sâu vào hậu địch, lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Nhờ vậy mà đã nhanh chóng khôi phục cơ sở, đẩy mạnh đấu tranh chống địch.

Có sự hướng dẫn của Mặt trận Việt Minh nắm vững khâu đoàn kết, toàn dân các cấp chính quyền cách mạng đã nắm được dân, tập hợp mọi lực lượng trong vùng đồng bào Kinh, dân tộc, tôn giáo cùng một lòng đoàn kết đánh Pháp, nắm vững phương châm tác chiến tiêu diệt địch, bảo vệ và xây dựng phát triển cơ sở cách mạng.

Chính quyền cách mạng, Mặt trận Việt Minh cùng cơ quan Phân Ban quốc dân thiểu số chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, lập các hợp tác xã cung cấp gạo, muối, vải, công cụ thuốc men và tiêu thụ lâm thổ sản của đồng bào, quan hệ các tỉnh đồng bằng cứu trợ cho đồng bào kinh, dân tộc hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm nâng thêm uy tín của chính quyền cách mạng.

Tuy vậy ta còn phạm những thiếu sót là:

- Thiếu biện pháp tích cực để đẩy mạnh công tác vùng dân tộc, nhất là thời kỳ cuối năm 1946 sang đầu năm 1947, nắm chỉ đạo lực lượng quân sự và hoạt động quân sự phục vụ cho xây dựng củng cố cơ sở yếu.

- Chưa chú trọng đào tạo cán bộ địa phương, cán bộ người dân tộc để làm nòng cốt trên từng địa bàn, do vậy xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở chưa đều khắp, một số nơi có cơ sở nhưng hoạt động còn yếu.

Tuy còn những thiếu sót trên, nhưng quân dân Gia lai đã đứng trụ bám địa bàn góp phần cùng cả nước đánh bại âm mưu chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của địch, vững vàng tin tưởng bước vào giai đoạn chiến đấu mới.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:14:51 am
*   *
*

BÁM ĐẤT GIÀNH DÂN, ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH
DU KÍCH TRONG VÙNG ĐỊCH:

Ngày 15 tháng 01 năm 1948, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng nhận định “Năm 1948 là năm chiến tranh thực sự sẽ diễn ra khắp nước, quân thù sẽ càn quét dữ dội hơn các vùng đồng bằng Bắc Bộ, Khu 5, lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại”.

Vì vậy mục tiêu chiến lược của ta năm 1948 là: “Phát triển mạnh mẽ chiến tranh nhân dân trên khắp chiến trường, biến hậu phương địch thành tiền phương ta, qua đó ta mạnh dần lên, địch suy yếu đi, so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta…”

Sau khi chiếm được Gia Lai nhận thức vai trò, vị trí chiến lược của địa bàn quan trọng này, chúng ra sức thực hiện chủ trương “Bình Định”, dựa vào bọn tay sai Ngụy quyền cũ lập bộ máy cai trị từ tỉnh xuống buôn làng, mỵ dân bằng sách “Tự trị” giả hiệu với những thủ đoạn:

- Tuyên truyền chia rẽ, lừa phỉnh nhân dân.

- Chia rẽ giữa Kinh và Thượng

- Chia rẽ giữa các bộ lạc

- Phát triển mạnh Thiên chúa Giáo (Thực hiện tôn giáo hóa nhân dân) phát triển đạo thiên chúa, tin lành trong đồng bào dân tộc.

- Phát triển mạnh Ngụy quân, Ngụy quyền, giăng mạng lưới gián điệp, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”.

- Bao vây cướp bóc kinh tế, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”

Chúng tập trung thực hiện ba chính sách lớn:

+ Chính sách có mặt(1): Thông qua bộ máy tề điệp từ trên xuống dưới, dùng các cuộc hành quân, kinh lý, chiêu an, dồn dân để luôn luôn buộc dân có mặt ở buôn, rẫy, nắm quyền dân siết chặt hơn, hạn chế đến cắt đứt liên lạc quan hệ với cách mạng.

- Chính sách không can thiệp(2) còn gọi là không đụng chạm, chúng mị dân bằng tuyên bố không đụng chạm, không can thiệp vào phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc, đề cao vai trò tù trưởng, chủ làng (thực chất là bộ máy tề tay sai của giặc Pháp) để tự xem xét giải quyết những sự vụ trong dân theo tập quán dân tộc, đề cao Ngụy quyền tay sai người dân tộc.

- Chính sách muối, ký ninh và dụng cụ(3) bằng cách độc quyền phân phối muối, thuốc qui-nin chữa bệnh sốt rét và quản lý chặt việc mua sắm các dụng cụ bằng kim loại và những thứ đồ dùng rất thiếu mà quần chúng chưa tự sản xuất được để khống chế đồng bào.

Xương sống của ba chính sách trên là “Bình Định”, chiếm đóng phòng giữ bằng hệ thống “Lô cốt” chúng xây thêm và củng cố một số cứ điểm thành hệ thống phòng thủ chăng chịt quanh thị xã, thị trấn, dọc theo các trục giao thông đường số 19, số 14, phân cách phía Đông và Tây Sông Ba.

Pháp xúc tiến mạnh việc bắt lính nhất là thanh niên địa phương người dân tộc để xây dựng các đơn vị quân địa phương, giữ các thị trấn, đồn điền, ấp, xã, để thay thế cho quân Lê Dương, rút số này lập những đơn vị cơ động ứng chiến nhỏ để tập trung lực lượng càn quét.


(1) Politique de Présence
(2) Politique de non compromis
(3) Politique du sel, du quinacrine, des outlis


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:15:48 am
Tỉnh Gia Lai là vùng địch tạm chiếm, vì vậy nhiệm vụ hàng đầu là đẩy mạnh chiến tranh du kích sâu trong lòng địch, để đánh bại kế hoạch “Bình Định” của chúng, từng bước giành thế chủ động về ta. Tháng 01 năm 1948 Ban cán sự tỉnh quyết định các nhiệm vụ: “Phát triển du kích chiến tranh hoạt động mạnh phía sau lưng địch, nhằm tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta. Lực lượng vũ trang phải đánh được các điểm nhỏ, đánh phá liên tục các đường giao thông quan trọng, hỗ trợ tích cực cho phát triển xây dựng cơ sở, phá bằng được âm mưu “Bình Định của địch”. Đẩy mạnh hơn nữa công tác binh, địch vận, đồng thời tích cực chống chính sách bao vây phong tỏa kinh tế của địch động viên mọi lực lượng tăng gia sản xuất tại chỗ…”

Các biện pháp cụ thể:

- Về quân sự: Ra sức chấn chỉnh tổ chức lực lượng, tích cực luyện quân lập công, phát triển rộng và mạnh lực lượng dân quân du kích.

+ Thành lập Tỉnh đội Bộ dân quân do đồng chí Phạm Phương và Siu Ken phụ trách chuyên lo xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang cơ sở.

+ Tiếp tục củng cố và đưa các đội công tác đi sâu vào gây cơ sở trong lòng địch. Củng cố chính quyền ở những vùng ảnh hưởng ta còn ít. Lập những ban vận động chính quyền đi sâu vào những vùng địch còn khống chế xây dựng. Các đơn vị người dân tộc, các đại đội độc lập và các địa phương phối hợp hoạt động với các đội công tác.

+ Tổ chức luyện quân lập công cho bộ đội tỉnh và huyện.

- Về chính trị: Củng cố khối đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh công tác phát động quần chúng gây cơ sở trong vùng địch. Phá bộ máy Ngụy quyền thôn xã, phá kế hoạch dồn dân của địch, tích cực vận động binh lính địch.

- Về kinh tế: Đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc, chỉnh đồn ngành quân giới, quân y, quân nhu, cải tiến trang bị cấp dưỡng cho bộ đội, thực hiện dân, quân, chính tham gia bài trừ hàng ngoại.

Thực hiện những biện pháp trên, phong trào kháng chiến ở tỉnh từng bước được mở rộng, với khẩu hiệu “Tây Tiên”, với lời ca “Tiến lên Tây Nguyên, tiến lên Tây Nguyên, vui trong gian lao, đội ta kiên trì…” tiến sâu vào lòng địch thành hành động thiết thực, cụ thể của cán bộ, chiến sỹ gây cơ sở địch hậu.

Đội vũ trang tuyên truyền 101 đã liên lạc được với công nhân đồn điền chè Bàu Cạn, Xá Gào, Nước Đỗ.

Đội vũ trang tuyên truyền 102 củng cố bàn đạp ở Bơ Năm tiến lên nối lại cơ sở ở KonMơba và phát triển lên vùng Đăk Đoa.

Đội vũ trang tuyên truyền 103 đã gây cơ sở vùng Đê Sê Rơn, Đê Kuk.

Đại đội 1 (trước là Y Bhin Bắc) hoạt động ở đường 7 (Hoàng Hoa Thám) bám xây dựng kèm cặp du kích làng Kon Trut (xã Krem), hướng dẫn nhân dân bố phòng, chống càn quét, dùng ná diệt 2 lính Pháp.

Đại đội 3 hoạt động phía Nam do đồng chí Đàm làm Đại đội trưởng, phối hợp với bộ đội huyện Đak Bơt đánh 9 trận ở vùng Đê A Lao, Đăk Bơt, bắt 5 tù binh, thu 8 súng.

Tháng 5 năm 1948, Đại đội Y Bhin Nam (Đại đội 3) cùng với cơ sở binh vận do đồng chí Kpă Yao chỉ huy dùng chiến thuật kỳ tập với lực lượng một trung đội trang bị mạnh, trong một đêm đột nhập diệt hai đồn Plôk và Ia Ke, thu 42 súng các loại, được Bộ chỉ huy Quân khu 5 khen ngợi. Phát huy thắng lợi Đại đội Y Bhin Nam phối hợp cùng đại đội Văn Lượng chiến đấu hỗ trợ cho xây dựng, củng cố vùng căn cứ Ya Hội chống càn quét, diệt 60 tên địch.

Lực lượng tập trung tỉnh có điều kiện tập kích, tiêu diệt, đánh thiệt hại nhiều cứ điểm: An Thạch, Đăk Bơt, đột nhập đồn điền Sac Ko, ven thị xã Pleiku. Tháng 8 năm 1948 Tiểu đoàn 80 cùng các Đại đội Y Bhin Nam và Y Bhin Bắc phục kích đoàn xe địch tại suối Đak Pơ trên đường số 19, diệt 9 xe quân sự, thu một súng đại liên browning và nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Sau đó đại đội Y Bhin Bắc phân tán làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở, củng cố vùng Kan nak, làng Lợt, Sơ Tang, Đê Rooh và các làng vùng Tây Nam Kannak.

Cán bộ về, bộ đội về bám xây dựng cơ sở, phong trào vùng địch hậu dần dần chuyển động; cơ sở chính trị; cơ sở vũ trang được xây dựng và củng cố. Nhiều nơi lực lượng vũ trang phối hợp với quần chúng diệt tề trừ gian. Những trận chiến đấu tập trung để hỗ trợ cho phong trào quần chúng được chuẩn bị chu đáo thu thắng lợi như đánh địch ở Đăk Đoa, đột nhập đồn điền chè Biển Hồ, Bàu Cạn đã gây tiếng vang lớn.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:16:31 am
Đi đôi với tác chiến diệt địch hỗ trợ cho gây cơ sở, tỉnh tổ chức đột “luyện quân lập công” trong tháng 6 năm 1948 tổ chức lớp huấn luyện 25 ngày cho 27 cán bộ huyện đội đến Trung đội để bồi dưỡng thống nhất nội dung học tập cho cán bộ chỉ huy. Tiếp sau các huyện mở được 6 lớp huấn luyện cho cán bộ chỉ huy dân quân xã, chủ yếu huấn luyện biết sử dụng thành thạo vũ khí thô sơ, các động tác bắn súng, ném lựu đạn, gài mìn…

Đến giữa năm 1948, phong trào cách mạng trong tỉnh có tiến bộ một bước, chính quyền cách mạng được mở rộng thêm 77 làng so với đầu năm, đưa tổng số làng có chính quyền ta trong tỉnh là 397 làng, có nơi phát triển cơ sở trong vùng đồng bào kinh sát ven thị xã. Tình hình cơ sở chính trị ngày càng mở rộng, cán bộ cơ sở động viên nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất. Lực lượng vũ trang cũng bước đầu có kế hoạch sản xuất tự túc tại địa bàn hoạt động.

Hoạt động tác chiến thu được kết quả, cơ sở chính trị được mở rộng. Dân quân du kích đầu năm có 700 đội viên, đến giữa năm 1948 đã phát triển lên được 1040 đội viên, trong đó có 79 du kích thoát ly được huấn luyện và tác chiến khá. Phong trào huấn luyện dân quân du kích được chỉ đạo chặt chẽ, có nơi huấn luyện từ 2-3 lần, mỗi lần 10 ngày; dân quân vùng Bahnar An Khê biết bố trí bom mìn, ném lựu đạn; đã độc lập tác chiến được 5 trận, giết 01 tên Pháp, 02 lính Ngụy, bắn bị thương 6 tên khác, phá 14 cầu, treo cờ cách mạng, rải truyền đơn quanh đồn Cửu An, Tú Thủy.

Cán bộ chiến sỹ trong tỉnh đã dấy lên khí thế thi đua sôi nổi, xác định được trách nhiệm, kiên định tư tưởng, chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai, nâng được ý thức kỷ luật, ra sức chiến đấu chống càn quét, bảo vệ vùng du kích, vùng căn cứ có kết quả. Các căn cứ Thượng Bình, Xóm Ké, Ya Hội, Kan nak, Kơ Chơng Bơng được củng cố vững chắc.

Tháng 6 năm 1948 Tỉnh đội bộ dân quân và các huyện đội An Khê, Đak Bơt, Cheo Reo được kiện toàn. Phát động mạnh việc xây dựng dân quân du kích chiến tranh sâu vào lòng địch. Nắm vững phương châm du kích chiến là chính, đánh nhỏ ăn chắc, kết hợp chặt chẽ phương thức hoạt động của Ban xung phong, đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập cùng bộ đội chủ lực tạo sức mạnh tổng hợp để phá kế hoạch “Bình Định” chiêu an của giặc Pháp. Tích cực củng cố chính quyền cách mạng, động viên lực lượng vũ trang tham gia tích cực xây dựng và củng cố cơ sở, nhằm không cho hậu phương địch ổn định, giam chân địch lo đối phó với hoạt động của ta, làm cho địch không rảnh tay đưa quân đi càn quét vùng tự do và vùng căn cứ du kích.

Năm 1948 tình hình cơ sở trên địa bàn có nhiều chuyển biến mới, nhưng vẫn còn nhiều nhược điểm.

Cơ sở phát triển chưa đều, chậm. Đến cuối năm 1948 phía đông đường 14 vẫn còn 350 làng chưa có cơ sở; một số làng vùng Pleikly địch càn quét, không có cán bộ bám sát cơ sở nên bị mất liên lạc với dân gần 100 làng.

Phía Tây giáp biên giới Campuchia, vùng các đồn điền, một số vùng đất bằng đông dân còn bị địch kiểm soát chặt, nhiều nơi còn cơ sở “trắng”.

Nắm phương châm hoạt động vùng sau lưng địch, nhất là chấp hành chính sách dân tộc còn nhiều lệch lạc, hoạt động của các đội công tác, đội vũ trang tuyên truyền còn lộ liễu, bộc lộ lực lượng, trong đội ngũ cơ sở chưa chú ý xây dựng số trung kiên nòng cốt, nên khi địch càn quét khủng bố dễ vỡ hàng loạt.

Trong chỉ đạo hoạt động du kích chiến tranh còn ỷ lại vào các đợt hoạt động của các đơn vị chủ lực, chưa chủ động đẩy phong trào hoạt động toàn diện và liên tục.

Công tác phá tề trừ gian còn phạm “Hữu khuynh” có nơi sử dụng tề sai nguyên tắc, có lúc phạm “tả khuynh” diệt tề bừa bãi gây phản ứng trong nhân dân.

Phát triển lực lượng dân quân chậm vì thiếu kế hoạch bồi dưỡng đào tạo cán bộ tại chỗ, nhất là cán bộ người dân tộc.

Sang đầu năm 1949, giặc Pháp tập trung lực lượng càn quét ngăn chặn các trục đường tiến quân của ta nhằm đẩy lùi các đội vũ trang tuyên truyền đang đi sâu vào quần chúng kiểm soát. Chúng ra sức bắt lính, bắt phu, lập ngụy quyền, bổ sung cho các đơn vị bị thương vong. Mặt khác chúng lợi dụng các thiếu sót của cán bộ, bộ đội ta để tuyên truyền chia rẽ, kích sâu mâu thuẫn, kích động hằn thù dân tộc.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:18:53 am
Chúng tập trung đánh phá phong trào với nhiều thủ đoạn nham hiểm xảo quyệt. Nhưng ta chưa thực sự sâu sát tình hình nhân dân, chưa nhạy bén trước âm mưu địch, kế hoạch đối phó với các thủ đoạn của địch chưa kịp thời nên phong trào có phần chững lại. Phần lớn các đội vũ trang tuyên truyền, các đội công tác cắm sâu vào vùng địch bị đánh bật ra. Có một số cán bộ, chiến sỹ bị hy sinh, một số cơ sở bị vỡ, một số trung kiên trong cơ sở bị bắt hoặc bị khủng bố.

Tháng 2 năm 1949, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Gia Lai họp lần thứ nhất. Đại hội kiểm điểm đánh giá tình hình phong trào cách mạng trong tỉnh, đề ra phương hướng nhiệm vụ đến, bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới và bầu đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai(1).

Đại hội đã nhất trí đề ra nhiệm vụ năm 1949 là: Phát động phong trào du kích chiến tranh rộng rãi, đánh sâu vào hậu địch, dồn hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng; liên tục đánh phá các trục giao thông; tích cực chống càn quét, tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta để hỗ trợ đắc lực cho xây dựng và phát triển chính quyền, phát triển cơ sở, giữ vững vùng căn cứ du kích.

Phải nắm vững chiến thuật du kích chiến, đánh giỏi về phục kích, tập kích, địa lôi, đánh giao thông nghi binh, phá hoại. Các lực lượng vũ trang phải nắm vững phương châm hoạt động, xây dựng cơ sở, phấn đấu mở rộng cơ sở lên phía Tây đường số 14.

Xây dựng lực lượng du kích xã, thôn, chiến đấu tại chỗ vững vàng để dần dần có thể thay thế các đơn vị bộ đội địa phương.

Sử dụng lực lượng phù hợp tình hình từng địa bàn, tổ chức ban xung phong 116 tiến lên hoạt động hướng Bơ Ngoong – Pơ Tó.

Đại đội 29 hoạt động tại Cheo Reo, Đại đội 79 hoạt động vùng M’Drak(2).

Các đội vũ trang tuyên truyền trụ bám các địa bàn:

Đại đội 101 hoạt động vùng Bàu Cạn.

Đại đội 102 hoạt động vùng Đăk Đoa.

Đại đội 103 hoạt động vùng Đăk Bơt.

Đại đội 3 hoạt động khu nam Đăk Đoa.

Đại đội 1 hoạt động khu Trung.

Cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang phải học tập nắm vững các điều cơ bản, mục đích, nội dung công tác gây cơ sở địch hậu, lấy vận động chính trị, giác ngộ nhân dân làm chính, làm cho nhân dân tự giặc đứng lên đánh địch và điều quan trọng nhất phải khắc phục mọi hành động lệch lạc, gò ép, tập hợp ghi tên…

Phải nắm vững phương châm hoạt động là kiên trì vận động, lấy vận động giác ngộ chính trị và cải thiện đời sống cho nhân dân là chính. Hoạt động quân sự chỉ để hỗ trợ cho vận động chính trị. Hành động quân sự phải đúng lúc và có phương thức thích hợp. Khi đã có cơ sở vững chắc thì vũ trang cho quần chúng, tổ chức cho quần chúng đứng lên đánh giặc, từng bước xây dựng thành làng chiến đấu, vùng du kích và căn cứ du kích.

Sau một thời gian học tập kiểm điểm rút kinh nghiệm, ta đã tổ chức sử dụng lực lượng phù hợp từng địa bàn hoạt động. Các Ban xung phong, các đội vũ trang tuyên truyền lại bắt đầu những ngày chiến đấu gian khổ để giành dân, giành đất trong vùng địch kiểm soát. Cán bộ, chiến sỹ với khí thế bừng sôi nhằm thẳng lên núi rừng Tây Nguyên tiến lên. Câu hát: Ta mau lên đường nhằm Tây Nguyên ta tiến lên…! vang động trong từng đơn vị, từng lòng người cán bộ, chiến sỹ địch hậu.


(1) Ban chấp hành Đảng bộ mới có 5 ủy viên, đồng chí Nguyễn Xuân làm Bí thư và là đại biểu của Đảng bộ đi dự Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ hai.
(2) Đại đội 29 và 79 thuộc D MaTrong Lơng tháng 10/1948 Cheo Reo sát nhập tỉnh Đăk Lăk (hồ sơ 8/LK5 VP quân ủy Trung ương 315


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:21:29 am
Biến quyết tâm thành hành động cụ thể, cán bộ chiến sỹ người kinh lên công tác gây cơ sở, có đồng chí tự cà răng, căng tai, phơi mình trần giang nắng cho da đen để hòa mình trong đồn bào dân tộc. Cuộc chiến đấu thầm lặng, không có trận địa, không có hàng rào ranh giới địch ta, nhưng vô cùng gian khổ, khẩn trương và quyết liệt. Ngoài tinh thần dám hy sinh, chịu đựng gian khổ, kiên trì thuyết phục, hết lòng thương yêu nhân dân; cán bộ chiến sỹ các đội vũ trang tuyên truyền, các đội gây cơ sở còn phải có quan điểm tư tưởng hiểu thấu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. Phải có nhận thức suy nghĩ đúng, biết phân biệt đâu là hành động lầm lạc nhất thời của một số ít người bị địch cưỡng ép mua chuộc, và đâu là tình thần đấu tranh bất khuất, tinh thần yêu nước, khát khao độc lập tự do của quần chúng nhân dân các dân tộc, để biết vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, gạt đám tro tàn, khơi lên nhen nhóm những đóm than hồng thành ngọn lửa cách mạng đấu tranh.

Trong chiến tranh gian khổ đã xuất hiện nhiều tấm gương hy sinh, tận tụy quên mình vì sự nghiệp cách mạng.

Trung đội phó Nguyễn Hữu Nhơn, vừa gây cơ sở ở một số vùng đồng bào dân tộc Bah nar đang bị địch khống chế nặng. Lúc đầu dân không chịu tiếp xúc, không cho vào làng. Nhơn đã kiên trì lót lá ngủ ngoài rừng, lân la đi rẫy này đến rẫy khác để cùng dân cuốc đất, nhổ cỏ. Người lớn không chịu gặp Nhơn tìm cách làm quen với các em nhỏ, có lúc Nhơn giả làm Bò cho các em cưỡi, hát cho các em nghe; từ chỗ quen thân sau được các em yêu mến, từ đó Nhơn bắt chuyện được với người lớn và lần lượt bám dân móc nối gây dựng cơ sở cách mạng(1).


Với việc kiên trì vận động quần chúng và việc chấp hành đúng đắn chính sách dân tộc của Đảng cộng sản với tinh thần chân thành đoàn kết thương yêu nhân dân, các đội cán bộ cơ sở đã làm cho nhân dân từ chỗ bị địch tuyên truyền xuyên tạc nên nghi ngờ lẩn tránh không gặp cán bộ chuyển dần thành tin tưởng mến phục. Những định kiến hằn thù giữa các dân tộc do địch cố tình xúi giục, gây mất đoàn kết trong dân đã được giải quyết xóa bỏ(2). Ngọn lừa căm thù của đồng bào dân tộc đã được hướng đúng mục tiêu là đứng lên làm cách mạng, đuổi giặc Pháp. Núi rừng Tây Nguyên đã đứng lên! Khối đoàn kết kinh thượng, đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các vùng, đoàn kết quân và dân ngày càng gắn bó.

Phong trào cơ sở Gia Lai đã có bước tiến khá, nhưng vẫn còn diễn ra trong thế giằng co giữa ta và địch. Thực dân Pháp một mặt tập trung lực lượng đánh phá phong trào quyết liệt hòng đẩy lùi các đội vũ trang tuyên truyền gây cơ sở của ta, mặt khác ráo riết tổ chức mạng lưới tề điệp ngầm trong dân, cho bọn gián điệp giả danh lái buôn người truyền đạo đi sâu vào các buôn làng dò la tình hình, tổ chức các ổ vũ trang phản động.

Nắm chính sách dân tộc của Đảng và phương châm kiên trì vận động quần chúng, các lực lượng vũ trang của tỉnh vẫn nắm chặt địa bàn, thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với dân, ngày đêm rĩ rã phát động quần chúng giúp dân sản xuất cải thiện đời sống.

Phong trào du kích chiến tranh cũng từ đây mở rộng địa bàn hoạt động sâu vào vùng sau lưng địch, tạo cơ sở cho bộ đội tập trung tác chiến tiêu hao, tiêu diệt địch. Các đại đội độc lập tỉnh đã lên đứng hoạt động phía Sông Ba theo tục Nam đường số 19. Vùng đồn điền Chè Bàu Cạn ta đã tổ chức được chính quyền nhân dân ở cơ sở, lập Hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến. Phía Tây Mang Yang đến Mỹ Thạch, sát chân núi Hơ Drung đã xây dựng các các đội du kích.

Xã Ya hội có phong trào du kích khá vững, có 21 làng với 3000 khẩu, có truyền thống chống xâm lược từ lâu, phong trào du kích chiến tranh phát triển sớm được xây dựng thành xã chiến đấu từ năm đầu kháng chiến.

Xã có hệ thống bố phòng liên hoàn, nhân dân và du kích đã chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều địch bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản nhân dân.

Cuối năm 1949, xã Ya hội được Bộ chỉ huy Quân khu 5 tặng danh hiệu “xã kiểu mẫu”(3).


(1) Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc 1952, Nguyễn Hữu Nhơn được bầu làm chiến sĩ thi đua toàn quân.
(2) Vụ mất đoàn kết đánh nhau giữa dân làng Kon Hà Nừng với dân làng Kon blô (Vĩnh thanh) đã được giải quyết.
(3) Hội nghị du kích chiến tranh K5 năm 1952 được biểu dương “Ya hội là xã chiến đấu miền núi tiêu biểu của Tây Nguyên” Tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Huyện ủy An Khê.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Giêng, 2020, 08:24:35 am
Tháng 6 và tháng 7 năm 1949 lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với Trung đoàn 210 của khu 5 mở đợt hoạt động mạnh hướng bắc Tây Nguyên, bộ đội ta đã đánh thắng địch liên tục mấy trận tại suối Đăk Pơ đường 19. Việc kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với gây cơ sở có nhiều tiến bộ. Đến cuối năm 1949, một vùng cơ sở rộng đã được hình thành trong khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - M’Drak (Đăk Lăk) và dọc Nam và Bắc đường số 19 từ Tây đèo Mang Yang lên gần giáp ven thị xã Pleiku. Nhiều khu căn cứ vững chắc, nhiều làng chiến đấu kiên cường vùng Nam và Bắc An Khê đã hình thành. Ngoài xã Ya Hội là căn cứ vững chắc còn có căn cứ du kích làng Sơ Tơr do đồng chí Núp chỉ huy, tạo thành khu du kích vững quanh thị trấn An Khê.

Khu du kích làng SơTơr nằm phía Bắc đường số 19, có 18 hộ, 100 khẩu dân tộc Bahnar. Ba năm liền nhân dân bị địch bao vây không cho dân mua muối, vải, nông cụ… Nhân dân SơTơr phải đốt tranh lấy tro ăn thay muối, lột vỏ cây làm khố mặc. Giặc Pháp dụ dỗ “Về hàng, cho muối ăn” dân làng Sơ Tơr đồng thanh bảo “ăn muối của Tây khổ suốt đời”. Bảy lần giặc càn vào làng, bảy lần nhân dân xây dựng lại làng chiến đấu mới. Sau ba năm kiên cường chiến đấu, dưới sự chỉ huy hướng dẫn của anh Núp, du kích SơTơr đã diệt hàng chục tên giặc bằng vũ khí thô sơ, tự tạo. Sơ Tơr trở thành pháo đài bất khả xâm phạm, sừng sững hiên ngang đứng vững trên mạng Tây Bắc huyện An Khê.

Thôn Đội trưởng Núp được bầu là chiến sỹ thi đua Trung đoàn 120 năm 1952(1)

Dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương Đảng, từ đầu năm 1948 về phát triển phong trào du kích chiến tranh trong vùng địch hậu, các lực lượng vũ trang Gia Lai dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, đã nắm vững và vận dụng linh hoạt phương thức hoạt động để gây cơ sở. Qua đó mà xây dựng lực lượng dân quân du kích ngày càng lớn mạnh. Từ đó hình thành các khu du kích liên hoàn, xây dựng một số làng, xã chiến đấu vững. Các đội du kích có khả năng chiến đấu tập trung có kết quả, làm nòng cốt cho phong trào nhân dân du kích chiến tranh, phát triển đủ sức tiêu hao địch rộng rãi, tiêu diệt những toán địch càn quét, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng vũ trang kháng chiến.

Từ năm 1948 sang năm 1949, các lực lượng vũ trang Gia Lai đã mở liên tục các đợt hoạt động, bàng mọi hình thức chiến tranh đánh địch liên tục, đã diệt 694 tên địch, trong đó có 4 sỹ quan Pháp, bắn bị thương 105 tên, bắt 64 tên, thu nhiều vũ khí, đạn, trang bị.

Từ thực tế hoạt động trên chiến trường ta đã đạt được:

+ Nắm vững mục đích gây cơ sở địch hậu là nhằm phát động phong trào du kích chiến tranh sau lưng địch, mở rộng khu vực giải phóng của ta trong lòng địch.

+ Phải dựa hẳn vào dân là điều cơ bản, phải chú trọng xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, tổ chức nhân dân thành đội ngũ, phải có kế hoạch đào tạo cán bộ địa phương tại chỗ, vừa gắn chặt đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống cho dân, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch từ thấp đến cao; Phải biết dùng hành động quân sự hoạt động đúng lúc, đúng điều kiện để đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng.

+ Phát động du kích chiến tranh phải trên cơ sở trình độ nhân dân khá vững; tổ chức vũ trang cho dân, chuẩn bị cho dân sẵn sàng chống địch, khủng bố càn quét có bộ đội tập trung giúp sức duy trì và phát triển phong trào.

+ Trong đẩy phong trào du kích chiến tranh lên phải đặc biệt quan tâm xây dựng vùng căn cứ du kích thật vững chắc(3).

Qua ba năm thực hiện chủ trương chấn chỉnh lực lượng trở lại bám địa bàn chiến trường đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch, các lực lượng vũ trang Gia Lai đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, nắm vững phương châm, phương thức hoạt động đã bảo toàn và phát triển được lực lượng ta; nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương bám sát chiến trường, mở được thêm nhiều cơ sở, giữ được các vùng căn cứ du kích.

Thành công của Gia Lai đã góp phần cùng chiến trường khu 5 và cả nước đẩy địch quay về thế phòng ngự củng cố các vị trí chiến lược, lo giữ thị xã, thị trấn và các trục giao thông quan trọng. Thế cầm cự giằng co giữa ta và địch trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện rõ rệt; trọng tâm hoạt động của các lực lượng vũ trang ta là vùng địch tạm chiếm.


(1) Anh Núp được đi dự đại hội chiến sĩ thi đua Liên khu 5 tháng 5 năm 1953; được Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày 3 tháng 8 năm 1955
(2) Hồ sơ lưu trữ ở K5 44 tờ 42


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:22:23 am
CHƯƠNG IV

Thống nhất Quân, dân, chính, tích cực mở rộng cơ sở địch hậu,
đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp các chiến trường.
(1950-1951)

Đến cuối năm 1949 sang đầu năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang trên đà phát triển mạnh. Nghị quyết Trung ương Đảng(1) chỉ rõ: “Mạnh bạo đẩy mạnh vận động chiến đấu tiến tới…”. Các lực lượng vũ trang trên toàn quốc đã mở một loạt chiến dịch với quy mô từ 3 đến 5 tiểu đoàn để hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh(2).

Hòa nhịp với khí thế chung của cả nước, tháng 01 năm 1950 Hội nghị cán bộ Đảng toàn Khu 5 sau khi phân tích tình hình địch, ta trên chiến trường đã chủ động tiếp tục đẩy phong trào du kích chiến tranh lên cao trong vùng sau lưng địch. Đồng thời tập trung lực lượng mở những chiến dịch lớn tạo chuyển biến mới tương quan lực lượng giữa ta và địch.

Trên địa bàn Gia Lai lúc này, thế cầm cự giằng co giữa ta và địch diễn ra rõ rệt, địch buộc phải quay về đối phó với ta tại vùng chúng kiểm soát. Chúng xúc tiến mạnh chính sách chiêu an, dồn dân, chủ yếu tập trung vào vùng đồng bào Kinh dọc các trục giao thông quan trọng, vùng ven Thị xã, Quận lỵ, Vùng đồng bào các dân tộc, giặc Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu phát triển tổ chức vũ trang phản động địa phương. Tuyến phòng giữ trước đây dọc giáp ranh giữa Gia Lai và Bình Định nay buộc địch phải co lập tuyến phòng giữ dọc theo đông và tây bờ sông Ba. Chúng củng cố các cứ điểm Đaktung, Tung Bung và Tô Năng, tăng thêm cứ điểm củng cố tuyến bảo vệ quanh thị xã. Đưa các Cha Linh mục xuống các khu dồn dân để chiêu an, hoạt động chiến tranh tâm lý.

Về ta, Tỉnh chủ trương đẩy mạnh công tác chiến tranh du kích, củng cố các đơn vị đủ sức tiến sâu hoạt động vào lòng địch. Tháng 01 năm 1950, Trung đoàn 120 biên chế tổ chức lực lượng phù hợp chiến trường đặc trách địa bàn tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum .

Tháng 4 năm 1950, hội nghị tổ chức Khu ủy 5 bàn công tác xây dựng Đảng, Thường vụ Khu ủy quyết định thống nhất 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum thành tỉnh Gia-Kon.

Phía Gia Lai, tỉnh phân chia các Khu để chỉ đạo sát tình hình cơ sở:

* Đông đường 14:

Khu 4 vùng đồng bào dân tộc bắc đường 19 (An Khê)

Khu 5 vùng ĐakBơt.

Khu 6 vùng Ya Hội, Sơ Rô, Djama.

Khu 7 vùng Kinh Thị trấn huyện An Khê.

Khu 8 Huyện PleiKon từ Hà Bàu đến Kommơha.

(Đến tháng 3 năm 1951 sát nhập Khu 4 và 7 lập huyện An Khê.

Nhập Khu 5 và 6 lập huyện Đak Bớt vào cuối năm 1950.

* Tây đường 14:

Đoàn 118 hoạt động vùng Chưty (gồm ChưPrông và Đức Cơ hiện nay).

Đoàn 112 hoạt động vùng Phưpăh (hiện nay).

Mỗi Khu lập Ban cán sự Đảng chỉ đạo, có tăng cường 1 đại đội của Trung đoàn 120 hoạt động xây dựng cơ sở.

Về lực lượng quân sự: Trung đoàn 120 biên chế 8 đại đội độc lập. Bố trí 3 đại đội vượt vùng Kan nak, Mang Yang, ĐakBơt, Ya Hội, Djama và Sơ Rô; sử dụng 2 đại đội làm lực lượng cơ động của Trung đoàn.

Bộ đội địa phương mỗi Huyện từ 2 đến 3 Trung đội.

Đại đội 8 bổ sung kiện toàn Huyện đội KonPlong nam – hoạt động vùng từ Đak Pne, đến ĐakProng, Kon Ha Nưng, đến làng KonTrun, Kon Hai thuộc xã Krem.

Huyện PleiKon có đại đội 1 hoạt động, đến cuối năm 1950 tăng cường Đại đội 5 lên phối hợp xây dựng cơ sở.

(Còn lại 3 Đại đội của Trung đoàn bố trí ở hướng tỉnh Kon Tum).


(1) Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 6 Khóa 1 – Tháng 1/1949
(2) Các chiến dịch: Sông Thao 5-1949, Sông Lô 5-1949, Hòa Bình 11-1949 và Lê Hồng Phong 01-1950


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:23:18 am
*   *
*

Sau củng cố sắp xếp lực lượng, các đơn vị triển khai Kế hoạch hoạt động. Tháng 07 năm 1950, Đại đội 1 phá hoại cầu Châu Phu, phục kích đánh xe địch trên đoạn ngã ba đường 19 và đường 7, tập kích đồn KukKông, diệt 50 tên. Đại đội 3 đánh 5 trận chống địch càn quét vùng Djama, Sơ Rô, Kon Thup, đặc biệt liên tục quần đánh lực lượng địch tràn vào chiến khu Đe Krăp diệt hàng chục tên địch, bảo vệ căn cứ an toàn.

Hoạt động quân sự có tiến bộ, hỗ trợ cho củng cố và mở rộng cơ sở, tạo điều kiện phát triển và xây dựng lực lượng dân quân du kích. Toàn tỉnh đã có 2.000 đội viên dân quân. Mỗi huyện có thêm tân binh xây dựng Đại đội địa phương Huyện. Các Huyện KonPlong và PleiKon, mỗi huyện xây dựng 02 trung đội.

Các đội vũ trang tuyên truyền cũng được củng cố. Đội vũ trang tuyên truyền 102 bám trụ hoạt động vùng ĐăkĐoa, xây dựng cơ sở được 5 làng khu vực Đé SơMay. Đội 103 hoạt động vùng ĐăkBơt, có 2 tổ vượt qua sông Ayun móc nối cơ sở vùng Chí Rùi lên sát Mỹ Thạch.

Nhìn chung bước sang năm 1950, việc chỉ đạo hoạt động trong tỉnh được tập trung đúng mức. Đảng viên, cán bộ, chiến sĩ thống nhất hành động bám sát cơ sở. Tình hình cơ sở phát triển thuận lợi, mở rộng nhiều nơi, có vùng nhân dân bắt đầu tham gia chiến đấu, bố phòng chống địch, ủng hộ bộ đội về vật chất. Thanh niên người dân tộc xung phong vào bộ đội 1.500 người bổ sung cho bộ đội các huyện và tỉnh. Các địa phương tổ chức bố phòng xây dựng làng, xã chiến đấu có kinh nghiêm. Bộ đội địa phương Huyện tiến bộ vững, trưởng thành. Huyện ĐăkBơt xây dựng 2 Đại đội Huyện, nòng cốt cho việc kết hợp giữa chiến đấu với chống dồn dân, chống địch vũ trang cho dân, xây dựng làng, xã chiến đấu được chặt chẽ.

Phong trào du kích chiến tranh tiến bộ thúc đẩy việc sản xuất tự túc trong dân và lực lượng vũ trang. Nhất là phong trào trồng mỳ (sắn) được phổ cập rộng rãi. Chủ trương của Tỉnh: Mỗi cán bộ, chiến sĩ bộ đội, mỗi cán bộ dân, chính, Đảng lên chiến trường hoạt động, mỗi người phải mang theo từ 50 hom sắn trở lên (sắn gòn) để trồng làm lương thực tự túc tại chỗ. Giống sắn mới đưa lên chiến trường vừa cải thiện đời sống bộ đội, vừa gây giống sắn mới cho dân trồng giải quyết bớt nạn đói giáp hạt. Đưa cây sắn lên Tây Nguyên còn có ý nghĩa gắn bó tình cảm, tư tưởng của cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang bám chặt địa bàn hoạt động.

Năm 1950, các đơn vị tỉnh, huyện đã sản xuất tự túc được 35 tấn lúa, hàng trăm hecta sắn. Nhân dân các căn cứ du kích động viên góp cho bộ đội các chiến dịch được 200 tấn lương thực. Các đơn vị, cơ quan ngành quân chính, kinh tế đã giải quyết cho dân 60 tấn muối, cứu đói gần 100 tấn gạo.

Phát động phong trào trồng sắn, tự túc tại chỗ, dự trữ lương thực có ý nghĩa chính trị to lớn góp phần khắc phục nạn đói của Khu 5 trong năm 1950, đưa việc sản xuất tự túc cùng với Khu 5 có tính chất chiến lược thúc đẩy cuộc Kháng chiến.

Tình hình trên đã tạo nên bộ mặt chiến trường hậu địch địa bàn Gia Lai sáng sủa hơn nhiều. Tuy vậy, phong trào du kích chiến tranh trong tỉnh tiến bộ chưa đều. Bộ đội địa phương Huyện, du kích xã có số lượng đông nhưng chất lượng không đều, còn một số nơi yếu, hiệu suất chiến đấu còn thấp. Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy của của tỉnh, một số huyện còn đóng ở đồng bằng, xa chiến trường, ít sát tình hình, giải quyết uốn nắn tình hình không kịp thời; nhất là trong uốn nắn thực hiện phương châm, phương thức tác chiến và xây dựng cơ sở chậm.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:26:06 am
*   *
*

Cuối năm 1950, quân ta chiến thắng lớn ở chiến dịch biên giới, tiêu diệt và bắt sống hơn 8.000 tên địch, đa số là lính Âu Phi tinh nhuệ. Chiến thắng biên giới đã làm thay đổi cục diện chiến trường giữa ta và Pháp, mở ra bước ngoặc đưa cuộc kháng chiến của ta từ chiến tranh du kích là chủ yếu, tiến lên kết hợp chiến tranh du kích với đánh vận động. Quân dân ta đã giành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, qua 5 năm chiến đấu trong vùng hậu địch cực kỳ gian khổ, ác liệt, quân và dân tỉnh ta đã giành được những thắng lợi quan trọng. Tuy nhiên, trước yêu cầu đòi hỏi của tình hình mới ta phải nhanh chóng khắc phục những yếu kém để tiến lên kịp thời với sự phát triển chung của cả nước.

Về địch, sang năm 1951, chúng có những thay đổi:

+ Tiểu khu Pleiku có 5 chi khu, sang hè năm 1951, chúng tách chi khu Kon Tum xây dựng thành Tiểu khu độc lập trực thuộc Bộ tư lệnh Tây nguyên.

Ở Gia Lai còn 4 Chi khu phụ trách các vùng:

- Chi khu Nam An Khê.            - Chi khu Bắc An Khê.
- Chi khu DjamaKênh.            - Chi khu Cheo Reo.

+ Để tập trung sức “bình định” Tây Nguyên, tướng Đơ Lát đơ Tát-xi-nhi (De latttre de Tassigny) – Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương chủ trương tách Tây Nguyên ra khỏi vùng chiến thuật Nam Trung phần (Zone Sud An Nam) thành Quân khu Tây Nguyên độc lập, củng cố xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ thoái thủ.

+ Đi đôi việc lập hệ thống cứ điểm lô cốt “BoongKe”, chúng ra sức phát triển củng cố ngụy quyền, bắt lính xây dựng ngụy quân; kết hợp “bình định” với càn quét; càn quét quy mô lớn, dài ngày kết hợp với càn quét nhỏ nhưng liên tục nhằm chà đi, xát lại các vùng căn cứ du kích của ta.

+ Cùng với càn quét đánh phá quyết liệt, chúng tung tiền hàng để mua chuộc, lũng đoạn, chia rẽ nhân dân; phát triển đạo Thiên chúa, đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc, vùng ven thị xã. Đặc biệt chúng đẩy mạnh xây dựng các ổ vũ trang phản động địa phương (gọi là GOUM) nhằm tạo ra một mạng lưới kiểm soát của chúng ở các vùng.

GOUM là một tổ chức vũ trang phản động người dân tộc địa phương. Hoạt động của GOUM thâm độc, nham hiểm. Chúng lấy làng tổ chức đơn vị, chọn thanh niên trai tráng khỏe mạnh để cấp vũ khí. Lúc đầu khuyến khích số này dùng súng bắn thú rừng. Nhưng về sau khi thấy Việt Minh thì bắn Việt Minh. Từng làng do Chủ làng làm chỉ huy (Chef Goum). Nhiều làng (Goum) ở liền khu vực liên kết lại thành “Groupement” để có đủ lực lượng tập kích vào các bộ phận hoạt động nhỏ lẻ của ta.

Đầu năm 1951, trên Gia Lai địch đã tổ chức GOUM trên nhiều vùng. Vùng KonPlong nam địch đã tổ chức ở các làng KonLen, Konvon, Kon Lôc (xã Đak Krong) xuống đến Komplo (Vĩnh Thạnh). Vùng này chúng trang bị cho GOUM 57 súng các loại. Ở Kan nak chúng trang bị 14 súng, vùng An Khê 27 súng, vùng Đak Bơt 19 súng. Về sau lan ra đến các làng Vong Bong, Đe Du, Đe’Bom, Đe’Mơnang (thuộc huyện AyunPa nay).

Bị Pháp mua chuộc, lừa phỉnh, đã có tên ham tiền của địch trở nên gian ác, bắt cán bộ cơ sở của ta (chủ yếu là cán bộ Kinh) giết, cắt tai nạp cho Pháp để lấy thưởng bằng muối (01 cái tai Việt Minh nạp cho Pháp lấy thưởng 25 kg muối)(1).

Tổ chức GOUM đã gây cho hoạt động của ta gặp nhiều khó khăn trong việc bám dân, bám địa bàn, một số vùng phong trào bị lắng xuống. Đại đội 5 của tỉnh lên hoạt động vùng Kon Len, Đak Krong (tháng 5/1951); một đêm phải di chuyển chỗ ngủ 02 lần để tránh GOUM tập kích, bắn tỉa quấy rối.


(1) Năm 1951 chúng bắt cắt tai đồng chí Đoan – công tác ở làng Đê Dơng tih (lớn) và cắt tai đồng chí Long – công tác ở làng Đê Tơnăng Sang (thuộc huyện Kong ChRo hiện nay)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:26:54 am
Trước chủ trương chiến lược của địch ra sức “bình định” Tây Nguyên, Ban cán sự tỉnh quyết định: “Nhiệm vụ quan trọng số một là tập trung sức mở rộng và xây dựng cơ sở địch hậu, phá chính sách “bình định”, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch. Động viên quân và dân trong tỉnh ra sức chiến đấu, mở rộng cơ sở, phát triển nhanh lực lượng. Kiên quyết phấn đấu đưa toàn bộ vùng cơ sở phía đông đường 14 thành căn cứ du kích, phía tây đường 14 thành Khu du kích, phấn đấu mở rộng lên sát biên giới nối với đông bắc CamPuChia. Trọng tâm củng cố cơ sở vùng Đak Bơt, Đak Đoa. Thị xã Pleiku tổ chức cho được đội quân ngầm. Chú ý phát triển cơ sở vào vùng Bàu Cạn, Mỹ Thạch, Chuty để tạo điều kiện đưa vùng đông đường 14 xây dựng thành Khu căn cứ du kích.

Trước hết phải khẩn trương kiện toàn các đại đội độc lập, tăng số lượng và chất lượng cho các đội vũ trang tuyên truyền. Xây dựng nhanh, mạnh lực lượng dân quân du kích. Phát động phong trào sản xuất tự túc mạnh trong các lực lượng.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, Ban Cán sự Tỉnh chủ trương mở đợt học tập cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang để nâng cao giác ngộ giai cấp, nâng lập trường chính trị, rèn luyện quan điểm tư tưởng chiến tranh nhân dân, tư tưởng trường kỳ kháng chiến, quan điểm quần chúng, xây dựng ý thức tự lực, tự cường; đấu tranh khắc phục những biểu hiện tư tưởng muốn thắng nhanh, trông chờ ỷ lại ngoại viện, ngán lâu dài, ngại gian khổ, coi nhẹ công tác gây cơ sở địch hậu, coi nhẹ chỉ đạo phong trào du kích chiến tranh.

Lần đầu tiên bộ đội tỉnh, huyện được học các nội dung: Ai là bạn, ai là thù, kháng chiến để làm gì? Vì sao phải kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Bản chất quân đội ta v.v…. Về Đảng, học tập và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao trình độ lãnh đạo cho Đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng.

Sau chỉnh huấn chính trị, tỉnh tổ chức đợt huấn luyện quân sự, rèn luyện cho cán bộ các đơn vị tập trung Tỉnh và Huyện về chiến thuật phục kích cấp Trung và Đại đội và huấn luyện các môn kỹ thuật cơ bản. Qua huấn luyện, cán bộ chiến sĩ hiểu được về tư tưởng quân sự vô sản của Đảng được vận dụng vào huấn luyện bộ đội.

Đồng thời thực hiện “Rèn cán chỉnh cơ” thực hiện giản cơ quan, học tập sửa đổi lề lối làm việc cải tiến kỹ thuật, hợp lý tổ chức, tăng hiệu suất công tác.

Qua học tập, huấn luyện để nâng cao một bước giác ngộ giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ. Tình thương yêu đồng đội, một lòng phục vụ nhân dân, tinh thần quyết khắc phục khó khăn bám trụ chiến trường, dũng cảm chiến đấu vì sự nghiệp Cách mạng được củng cố nâng cao hơn trước.

Với sự nổ lực củng cố xây dựng nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang đi đôi với xây dựng tiềm lực kháng chiến; được Liên khu 5 hỗ trợ chi viện(1) tỉnh Gia Lai có cơ sở vững chắc để hoàn thành nhiệm vụ đẩy mạnh du kích chiến tranh, xây dựng và mở rộng cơ sở địch hậu, góp phần phá chính sách “bình định” củng cố Tây Nguyên của địch.

Ngày 6/01/1952, Trung đoàn tổ chức Lễ xuất quân trọng thể tại làng Trà Sơn (huyện Bình Khê – Bình Định) phát động thi đua rầm rộ giữa các đơn vị Tiểu đoàn 14 cùng 8 Đội vũ trang tuyên truyền và Cơ quan trung đoàn bộ.

Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ban Cán sự, mệnh lệnh hoạt động của Trung đoàn các đội vũ trang tuyên truyền hăm hở tiến sâu vào lòng địch. Cơ sở cách mạng đã phát triển đều khắp phía đông đường 14 từ ĐakBơt ra phía bắc giáp ranh giới tỉnh Kon Tum.

Phía tây đường, đã dựa vào cơ sở ở huyện PleiKon làm bàn đạp phát triển lên vùng Ruộng Lào. Phía Chu Ty phát triển được 200 làng, nối liền cơ sở từ Đak Bơt lên Bàu Cạn qua Chu Ty lên giáp biên giới Campuchia.

Lực lượng dân quân du kích được xây dựng đều ở 4 huyện phía đông đường 14. Các thôn đều có tổ chức dân quân. Xã có một Tiểu đội đến một Trung đội du kích tập trung, bộ đội địa phương huyện được tăng quân số, nâng được chất lượng.


(1) Năm 1950 Liên khu ủy 5 bổ sung cho tỉnh Gia Lai 30 cán bộ được học tập bồi dưỡng về gây cơ sở địch hậu ở Tây Nguyên (còn gọi là lớp “chuẩn bị cho Tổng phản công” của Liên khu 5.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:28:56 am
*   *
*

Để hỗ trợ cho xây dựng cơ sở, đồng thời củng cố và mở rộng căn cứ Bắc Tây Nguyên, tháng 8 năm 1951, Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu 5 chủ trương mở hoạt động hè ở Bắc Tây Nguyên (Khu vực Kon Tum) nhằm đập tan bọn phiến loạn Chí Xẻng ở Sơn Hà, tập trung lực lượng chủ lực Khu 5 tiêu diệt cứ điểm Kon Plong.

Konplong là một chi khu (Sous Quartier) tương đối kiên cố của địch ở mạn đông Kon Tum có trên 200 tên lính đóng giữ để bảo vệ Tiểu khu Kon Tum, khống chế hành lang miền tây Quảng Ngãi, uy hiếp vùng tự do đồng bằng. Tên đồn trưởng Đuy-Sê huyênh hoang tuyên bố: “Khi nào nước sông Rhe chảy ngược thì Việt Minh mới lấy được đồn này!”.

Đúng 4 giờ 30 phút ngày 6/8/1951, Trung đoàn 108 chủ lực Khu 5 mổ súng tiến công đồn Konplong. Mặc cho địch ngoan cố chống cự, sau 8 giờ chiến đấu quyết liệt ta làm chủ trận địa. Tên đồn trưởng và 90 lính bị giết và bị thương, gần 100 tên bị bắt làm tù binh. Ta thu 200 súng các loại, 20 tấn đạn, nhiều quân trang, quân dụng.

Thừa thắng xông lên, Đại đội 5 của Trung đoàn 120 và một bộ phận của Trung đoàn 803, một trung đội bộ đội huyện Konplong nam tiến công tiêu diệt đồn Konpông đêm 15 tháng 5 năm 1951. Các đồn Konplông, Konpông bị tiêu diệt rung động trong hàng ngũ quân ngụy, nhất là trong số ngụy quân người dân tộc; nên địch ở các đồn Kon Kơleng, Kon Mơha hoảng hốt bỏ đồn tháo chạy. Mảng cứ điểm án ngữ đông Kon Tum bị bộ đội ta đánh tan rã làm mất chỗ dựa của bọn phản động địa phương.

Chiến thắng Konplông, thực hiện được yêu cầu tiêu diệt sinh lực địch, thu nhiều vũ khí trang bị, bồi dưỡng cho lực lượng ta, đánh giá một bước tiến bộ về xây dựng lực lượng, nâng trình độ chiến, kỹ thuật của cán bộ, chiến sĩ, hỗ trợ đắc lực cho phong trào du kích chiến tranh gây cơ sở Cách mạng.

Được đòn tiến công quân sự hỗ trợ, bộ đội ta cùng cán bộ dân, chính, Đảng phân công đi sát từng buôn làng, mang gạo, muối, vải, nông cụ để giúp dân ổn định tình hình, an tâm sản xuất. Cán bộ đi sâu giáo dục phát động nhân dân, vách tội ác giặc Pháp và tay sai, vận động các gia đình binh lính địch đi gọi chồng, con, em về. Cán bộ chiến sĩ thi đua học tiến dân tộc để có khả năng tuyên truyền hướng dẫn cho nhân dân xây dựng buôn làng chiến đấu. Cán bộ, bộ đội sống sát dân, hết lòng phục vụ nhân dân qua hành động thực tế hàng ngày, mà dần dần cảm hóa vận động được quần chúng nhân dân đồng loạt đứng lên phá các Khu dồn dân, Khu tập trung gom dân của địch; giải tán kịp thời các ổ vũ trang phản động địa phương.

Đại đội 3 do đồng chí Dương Lâm Thai chỉ huy đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội huyện Đak Bơt, phát động nhân dân 23 làng trong Khu dồn dân, có 6.000 người nổi lên phá Khu đồn trở về làng cũ. Cơ sở chính trị xây dựng mới ở 20 làng từ vùng Đe’Ar, Kon Thup đến dọc đông bờ sông Ayun. Phía đông bắc tỉnh, các đội cán bộ công tác cơ sở xát vào phát động các làng Konlen, Konlốc, Konvon vùng lên phá ổ vũ trang Kon Hà Nừng, ĐakKrong thu 46 súng trường các loại. Phát động nhân dân tuyển chọn xây dựng được 02 Trung đội du kích tập trung xã, trang bị 50 súng.

Phong trào du kích chiến tranh được mở rộng. Dọc hai bên đường 19 đến vùng ĐakĐoa, Biển Hồ nhiều căn cứ du kích, làng chiến đấu được xây dựng vững hơn trước.

Đội du kích làng ĐéĐoa (xã ĐakĐoa) có người con dân tộc Bahnar kiên cường bất khuất. Bok Wừu sanh nhăm 1905(1) tham gia hoạt động đánh địch từ ngày đầu kháng chiến. Nhiều lúc đứt liên lạc với trên, Bok vẫn kiên trì vận động quần chúng xây dựng cơ sở. Trong những năm Pháp chiếm đóng xây đồn ĐakĐoa, Bok đã kiên trì, bí mật vận đông nhân dân quyên góp lương thực nuôi 10 cán bộ, chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền và cán bộ cơ sở suốt 8 tháng trời hoạt động. Bok đã chỉ huy đội du kích diệt tên đội Wit khét tiếng ác ôn ở đồn ĐakĐoa và cảnh cáo, vạch mặt tên Thảng tay sai gian ác. Có lần Bọk bị địch bắt, nhanh trí Bok kêu lên thật to làm hiệu cho 6 cán bộ cơ sở chạy thoát. Lần thứ hai bị địch bắt, Bok tìm cách trốn thoát khỏi tay giặc. Lần thứ ba bị địch bắt, dù dùng nhục hình tra tấn: cắt hai tai, xẻo mũi, chặt đứt 10 ngón tay; nhưng địch không làm lay chuyển ý chí kiên cường của người đội trưởng du kích. Trước lúc hy sinh, Bok còn dùng mưu lừa quân địch đi vào khu có hầm chông, bố phòng của du kích, chúng chết và bị thương hàng chục tên. Quân địch hèn hạ đã dùng dao khoét mắt của Bok rồi kéo xác Bok vứt lên bờ suối ĐakPne. Năm 1953, Bok Wừu được truy tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua Liên khu V(1).

Trên tục đường 19, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích bao vây bức rút các cứ điểm: Tô Năng, Đak Bung, ĐakVen, Đak Tung, Đé Kơjiêng. Một thời gian sau không lâu, địch rút cứ điểm Đé Alao, ĐéTơjil, Plei Bông. Du kích và nhân dân tổ chức phá đường liên tục, tổ chức phục kích các đoàn xe vận tải, các toán tiếp tế gây cho địch nhiều thiệt hại, quân Pháp phải dùng máy bay tiếp tế cho các cứ điểm lẻ.

Phía Nam bộ đội địa phương huyện Đak Bơt mở rộng hoạt động xuống Cheo Reo, đánh trận giao thông trên đường 7 ( tháng 1/1951) tiêu diệt một tiểu đội địch, phá hủy 03 xe quân sự.


(1) Bok từ dân tộc Bah Nar dịch sang tiếng Việt là Ông, nói lên sự kính trọng của nhân dân
(2) Ngày 07 tháng 05 năm 1956 Bok Wừu được Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 06:29:19 am
Đội du kích làng Đak Brik hơn một năm trời (1951) bị địch bao vây vẫn kiên cường bám núi Kông Chiêng đánh địch bảo vệ cơ sở, làng Djama Môn (huyện Kông Chro) để Bok Nhớ lãnh đạo, lúc đầu có 90 bếp (hộ gia đình), qua mấy năm bám trụ chiến đấu chống địch kiên cường, chúng chà đi xát lại nhiều lần, làng còn 29 người bám trụ kiên cường bất khuất, cho đến ngày đánh Pháp thắng lợi.

Đi đôi hoạt động quân sự, các lực lượng vũ trang đẩy mạnh công tác vận động quần chúng phá âm mưu chiêu an dồn dân của địch. Các khu du kích từ phía đông đường 14 trở xuống được củng cố, một số vùng yếu được phục hồi. Các đội vũ trang tuyên truyền luồn sâu lên phía tây đường sang đất Campcuhia để hoạt động. Vừa giúp cho lực lượng chân chính Campuchia xây dựng phát triển cơ sở, và cũng từ đấy làm bàn đạp để các Đội vòng về phía tây tỉnh xây dựng cơ sở vùng Chư Ty, Chư Prông bảo đảm an toàn, đánh lạc hướng theo dõi của địch.

Thắng lợi thu được từ cuối năm 1950 sang năm 1951 của tỉnh là thắng lợi của sự chỉ đạo sâu sát của Đảng bộ, thống nhất chỉ đạo các lực lượng quân, dân, chính, Đảng; có tiến bộ về nắm vận dụng phương châm gây cơ sở địch hậu. Kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực kết hợp với phong trào du kích chiến tranh của địa phương tạo ra thế đánh địch liên tục, đều khắp ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt thành công trong giải tán Khu đồn Đak Bơt và phá tan ổ vũ trang phản động địa phương ở xã ĐakKrong nêu được bài học thiết thực:

+ Đó là cán bộ quân, dân, chính đi sâu sát bám dân phát động quần chúng, giáo dục lòng căm thù giặc cướp bóc.

+ Hoạt động quân sự đánh diệt được bọn địch kìm kẹp dân, tạo điều kiện cho quần chúng đứng lên đấu tranh chống địch.

+ Lấy vận động chính trị làm chính, có kết hợp chặt chẽ biện pháp giải quyết kinh tế chăm lo đời sống nhân dân, đẩy mạnh sản xuất, giúp đỡ nông cụ và quan tâm cứu đau, cứu lạt cho dân.

+ Phải đẩy mạnh công tác binh địch vận, vận động giáo dục các gia đình có con em cầm súng của địch, kêu gọi con em trả súng cho địch hay mang súng về nạp cho Cách mạng, lập công.

+ Khẩn trương kèm cặp, đào tạo cán bộ dân tộc tại chỗ, xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở đủ sức đánh địch bảo vệ buôn làng. Nhanh chóng xây dựng củng cố các đoàn thể quần chúng.

Trong đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn, việc tập trung xây dựng các làng căn cứ du kích thật vững là nhân tố quan trọng thường xuyên làm hạt nhân thúc đẩy phong trào ngày càng tiến bộ vững chắc, từ đó lan rộng ra và hỗ trợ cho các vùng khắp trong tỉnh.

+ Vùng du kích SơTơr lan ra 9 làng chung quanh phía tây và phía bắc giáp vùng Bơ Nâm.

+ Căn cứ Ya Hội lan ra vùng Djama, Đé Sơ Rơn, tiến lên vùng Đak Bơt.

+ Vùng Kon Hà Nừng lan ra xã ĐakKrong, Đak Pne và hoạt động xuống xã KơRem, KonBlo (H.KơBang).

+ Vùng LaBa tiến lên giáp huyện PleiKon, xây dựng vùng ĐakĐoa và Kon Mơha. Tạo thành Khu du kích liên hoàn rộng lớn.

Căn cứ du kích được xây dựng củng cố vững, cơ quan các Huyện đã chuyển lên tại địa bàn để chỉ đạo sát, trực tiếp cơ sở. Việc lên lạc báo cáo giữa huyện và tỉnh được kịp thời. Lực lượng vũ trang địa phương phát triển chắc chắn. Cuối năm 1951, toàn tỉnh xây dựng được 4338 đội viên du kích có chất lượng chiến đấu khá. Vận động được 440 binh lính địch đào ngũ bỏ, mang nạp cho Cách mạng 39 súng trường, tiểu liên.

Việc củng cố nâng chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang được chỉ đạo đúng mức, thu kết quả tốt. Thực hiện phương châm: “Kiện toàn chất đơn giản lượng”, biên chế cơ quan gọn nhẹ phù hợp chiến trường hậu địch. Chú trọng tổ chức cho cán bộ Đảng viên, trên cơ sở thấu suốt đường lối Cách mạng, quan điểm kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh. Cán bộ đi sát dưới, cơ sở; lực lượng vũ trang bám cơ sở làm công tác dân vận, nắm vững phương châm gây cơ sở địch hậu, học nói thành thạo tiếng dân tộc là những yếu tố quan trọng để đoàn kết nhất trí tạo sức mạnh to lớn làm chuyển biến tình hình chiến trường hòa nhập với chiến trường Khu 5.

Nhìn chung hai năm qua quân và dân Gia Lai đã có những nỗ lực lớn và đạt thành công quan trọng. Tuy còn có những thiếu sót về vận dụng phương châm gây cơ sở trên từng vùng, nhưng thành công quan trọng nhất là đã vượt qua những thử thách khó khăn của chiến trường sau lưng địch, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, tự lực, tự cường thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm của Đảng bộ.

Với thắng lợi đó, quân và dân Gia Lai đã tạo được thế đứng, điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển thế và lực, tiếp tục xây dựng và nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân trong những tiếp theo.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 07:26:25 am
CHƯƠNG V

Đẩy mạnh tiến công địch, phối hợp chiến trường cùng cả nước giành thắng lợi,
kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược.
(1952-1954)

Sau hai năm khắc phục khó khăn, trụ bám giữ phong trào cục diện chiến trường trên địa bàn tỉnh có bước chuyển biến mới.

Trước chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường toàn quốc, địch ra sức củng cố Tây Nguyên, thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Vùng đồng bào dân tộc Bah nar phía Đông và Nam tỉnh địch tổ chức “Atum” để chia rẽ dân tộc phá hoại cuộc kháng chiến.

A Tum là một tổ chức chính trị phản động do Pháp nắm số tay sai là Chánh tổng, chủ làng vùng dân tộc, lợi dụng phong tục tập quán vùng dân tộc Bahnar, tuyên truyền mỵ dân, lừa bịp quần chúng bằng khẩu hiệu “Yă Yang” (Trời) để gây chia rẽ kinh thượng để chống phá cách mạng. Tổ chức này hoạt động đi đôi với “Goum” nhằm tập hợp lực lượng phản động địa phương, chống phá cuộc kháng chiến.

Chúng bắt đầu nhen nhóm tổ chức ở các làng Konpông xuống Kon Hà Nừng, qua vùng Đé Mơr, Ka Yang, Konplo, Đé Bơ, Đé Lơt (huyện Kbang); ta đã kịp thời phát hiện phát động quần chúng vạch trần âm mưu địch, chỉ cho nhân dân hiểu rõ thủ đoạn địch để chống lại chúng. Bọn cầm đầu, Chánh tổng, chủ làng ra đầu thú như: Chánh tổng Ba Ky (làng Kon Len), cá biệt có tên ngoan cố đã bị chính quyền cách mạng trừng trị như tên Già Rõh làng Konpông (nay thuộc huyện Konplông).

Về ta, Ban cán sự tỉnh và Trung đoàn 120 chủ tương “chấn chỉnh củng cố lực lượng, thống nhất quân, dân chính Đảng phù hợp với tình hình chiến trường. Phát triển và đẩy mạnh dân quân du kích chiến tranh thật rộng lớn. Tích cực gây dựng và giữ vững cơ sở chính trị, xây dựng kinh tế, tác chiến, liên tục tiêu hao và tiêu diệt địch để phối hợp chiến trường Khu 5, chỉ đạo nắm vững phương châm du kích chiến tranh là chính…”.

Cuộc hội nghị quân huấn, tham mưu của Trung đoàn quyết định:

- Giải thể tiểu đoàn 14, lập hai đại đội tăng cường là Đại đội 54 và Đại đội 68 làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn tỉnh hỗ trợ cho xây dựng và củng cố cơ sở.

- Thành lập 4 huyện đội: An Khê, Đăk Bơt, KonPlông (Nam) và huyện PleiKon trực thuộc Trung đoàn chỉ huy. Biên chế các đại đội 1, 3 và 8 cùng đại đội huyện An Khê bổ sung vào lực lượng các huyện đội để hình thành bộ máy cơ quan đầy đủ, xây dựng các trung đội tập trung huyện đủ quân số và tổ chức các đội chuyên xây dựng cơ sở của huyện(1).

- Chuyển Đại đội 9 và Đại đội 10 về Mặt trận miền Tây.

- Củng cố 4 đội vũ trang tuyên truyền.

Đại đội 104 hoạt động vùng ĐăkĐoa

Đại đội 107 hoạt động vùng Đăk Bơt

Đại đội 112 hoạt động vùng Chưpăh

Đại đội 118 hoạt động vùng Chư Ty – ChưPrông.

- Cơ quan Trung đoàn có Liên Trung đội công binh, Đại đội quân báo, Đại đội thông tin.

- Số anh em còn lại lập Đội dưỡng huyện.

Đến tháng 4 năm 1952 chuyển một số anh em Liên trung đội công binh về Khu 5, một số bổ sung lập Đại đội 70. Tháng 5-1952, khu 5 bổ sung 150 tân binh, Trung đoàn lập thêm Đại đội 72, quân số Trung đoàn lúc này có 2995 người.


(1) Đại đội 8 bổ sung cho huyện đội Konplông (Nam)
Đại đội 3 bổ sung cho huyện đội Đak Bơt
Đại đội 1 bổ sung cho huyện Plei Kon
Đại đội An Khê bổ sung cho huyện đội An Khê


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 07:26:55 am
Đi đôi củng cố tổ chức, sắp xếp lực lượng, Trung đoàn tổ chức đợt huấn luyện quân sự:

- Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ học tập bản chất quân đội nhân dân Việt nam, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi, nhằm củng cố lập trường chiến đấu nâng giác ngộ ý thức bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sĩ.

- Huấn luyện cấc kỹ thuật cơ bản: Bắn súng máy, súng trường, đâm lê, đánh kiếm, ném lựu đạn, sử dụng bom mìn, đào công sự.

Huấn luyện về chiến thuật phục kích tại chỗ và vận động phục kích, đánh tao ngộ (gặp gỡ) chim sẻ, địa lôi chiến.

Trung đoàn lấy Đại đội 54 xây dựng đơn vị điểm, làm nhiệm vụ chủ công.

Song song với xây dựng củng cố bộ đội tập trung, Trung đoàn chỉ đạo các huyện tập trung sức xây dựng, củng cố các Trung đội tập trung huyện và dân quân du kích.

Để liên tục hoạt động trên chiến trường, Trung đoàn tổ chức các đơn vị thay phiên nhau huấn luyện. Từ tháng 1 đến tháng 5-1952, Đại đội 54 hoạt động vùng Đăk Bơt đã chiến đâu 34 trận, phá hủy 29 cầu, cống; diệt 65 tên và bắn bị thương 54 tên địch, bắt 17 tên, thu 3 trung liên, 7 tiểu liên, 26 súng trường, 2 máy VTĐ và 2.600 đồng bạc đông dương, bắn hỏng 2 xe quân sự, phá hỏng 2 trung liên.

Qua đợt củng cố, bộ đội địa phương các huyện An Khê, Đăk Bơt tiến bộ vững chắc, quân số được bổ sung, trình độ kỹ thuật và chiến thuật nâng cao, tác chiến thu được kết quả. Trung đội tập trung huyện Đăk Bơt phối hợp cùng du kích xã Ya Hội và xã Yang Bắc, phục kích tiêu diệt một trung đội địch từ đồn Dijamara càn quét, diệt tên Pháp chỉ huy, thu 2 trung liên, 1 tiểu liên và một súng trường.

Các huyện Đăk Bơt, An Khê, Konplong (Nam) Plei Kon đã xây dựng thêm được 223 du kích tập trung và phát triển được 671 dân quân được trang bị và huấn luyện tốt. Du kích xã phối hợp chiến đấu với bộ đội tỉnh được 14 trận và có hàng chục trận chiến đấu độc lập.

Hoạt động chiến đấu của các lực lượng có kết quả, chống được địch càn quét, bảo vệ được các khu du kích, nhân dân rất tin tưởng an tâm sản xuất.

Tình hình hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền có nhiều tiến bộ. Đội 118 phát triển thêm 18 làng có cơ sở, xây dựng 13 tổ quần chúng, 8 tổ mật giao, 12 đội viên trung kiên; xây dựng cơ sở hành lang nối liền phía Đông và phía Tây đường 14 lên giáp Đông Bắc Campuchia.

- Huyện Pleikon xây dựng cơ sở nối liền Nam và Bắc Đak Đoa.

- Số làng xã chiến đấu được giữ vững như Ya Hội, SơTơr, Kà Tung, BarBlôt Đé BơTuk, Kon Hà Nừng. Làng Đé Nghe đất bằng, trống (Nam đường 19) du kích đã dùng vũ khí thô sơ bố phòng chống địch càn quét có kết quả.

Vùng căn cứ được giữ vững, thanh niên địa phương xung phong vào bộ đội khá đông, có đại đội tỉnh một phần ba là con em người dân tộc.

Vùng địch kiểm soát có một số nơi tổ chức được du kích mật, làm được nhiệm vụ báo địch, canh gác bảo vệ các đội công tác hoạt động.

Từ năm 1952, sau đợt củng cố các lực lượng vũ trang, tình hình cách mạng trong tỉnh có nhiều chuyển biến tiến bộ. Nguyên nhân chủ yếu là Đảng bộ thực hiện nghiêm túc chủ trương thống nhất dân, quân, chính đảng, thống nhất chủ trương thống nhất lực lượng, thống nhất hành động và thống nhất chế độ, tạo sức mạnh hướng về địa bàn cơ sở hoạt động công tác. Tác chiến diệt địch cũng nhằm mục đích xây dựng bảo vệ cơ sở. Cán bộ, chiến sĩ thi đua học nói tiếng dân tộc, hòa mình trong dân, đào tạo xây dựng được cán bộ cốt cán người dân tộc, che dấu được lực lượng, bảo vệ được cơ sở; đồng thời kịp thời rút kinh nghiệm trong nắm phương thức hoạt động có tiến bộ.

Tuy vậy phong trào vẫn tiến bộ chưa đều. Hướng Tây đường 14 việc phát triển cơ sở còn chạy theo số lượng, theo chiều rộng. Đội vũ trang 118 bị đứt liên lạc với Trung đoàn gần một năm nên ảnh hưởng đến sức chiến đấu, công tác.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 07:27:34 am
*   *
*

Chiến thắng An Khê
Phong trào du kích chiến tranh trưởng thành vượt bậc


Cuối năm 1952, chủ lực ta trên chiến trường chính Bắc bộ chiến thắng lớn ở Tây Bắc. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố vưng chắc, các chiến trường trong nước tổ chức phối hợp nhịp nhàng và trên đà thắng lợi.

Chiến trường Khu 5, sau hơn một năm nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai tình hình mọi mặt đều có chuyển biến.

Chiến tranh du kích vùng sau lưng địch dần dần được khôi phục, một số nơi có phát triển. Tuy vậy, giặc Pháp vẫn ngoan cố tiếp tục xúc tiến công tác “bình định chiêu an”, đánh phá vùng căn cứ của ta, củng cố vùng chúng kiểm soát, hòng biến Tây Nguyên làm bàn đạp đánh phá vùng tự do của Khu 5.

Tháng 10 năm 19542, Khu ủy 5 chỉ thị: “tiếp tục xây dựng cơ sở, đẩy mạnh đấu tranh trong vùng sau lưng địch, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đẩy mạnh công tác ngụy vận, xây dựng căn cứ địa vững chắc…”.

Bộ chỉ huy Khu 5 mở đợt hoạt động Đông xuân 1952-1953 trọng điểm tác chiến ở An Khê.

An Khê, bình phong áng ngự đường số 19 là một trong những đầu cầu địch xuất quân càn quét xuống vùng tự do Khu 5.

Tập đoàn cứ điểm An Khê gồm: Đồn Kon Lía, Tú Thủ, Cửu An, Thượng An và Tháp canh Đầu Đèo, Eo Gió.

Đây vừa là tuyến phòng thủ vững chắc của địch nhằm ngăn chặn lực lượng ta tiến lên phía tây, và là hệ thống cứ điểm cắm sâu vào vùng du kích phía Đông Sông Ba. Mỗi cứ điểm có một Đại đội sơn chiến đóng giữ trong công sự vững chắc, có hệ thống hỏa lực bố trí ở Tú Thủy, Cửu An, Thượng An và trận địa pháo đầu đèo An Khê tạo thành hệ thống hỏa lực mạnh.

Chấp hành mệnh lệnh mở chiến dịch Đông xuân ngày 20 tháng 11 năm 1952, Ban cán sự và Ban chỉ huy Trung đoàn quán triệt mệnh lệnh, chỉ thị cho các lực lượng trong tỉnh mở đợt học tập củng cố ngắn ngày, chuẩn bị mọi mặt để phối hợp chặt chẽ và phục vụ cho chủ lực Khu 5 giành thắng lợi lớn trên địa bàn tỉnh.

Cơ quan lãnh đạo, Ban chỉ huy Trung đoàn chuyển hết các bộ phận chính lên đứng chân tại vùng Kon Hà Nừng, Đé Sơ Lam để chỉ đạo. Hàng vạn dân công các tỉnh vùng tự do Bình Định, Quảng Ngãi bí mật vận chuyển lương thực, thực phẩm lên địa bàn tỉnh. Từng đoàn các đội thanh niên xung phong lên phục vụ tại chiến trường hệ thống thông tin giây của tỉnh cũng khẩn trương hình thành từ tây sông Kôn (Vĩnh Thạnh) lên đến các xã Kơ Rem, Kon Trut đển Kon Hà Nừng. Khí thế chuẩn bị cho chiến dịch được khẩn trương thực hiện.

Trung đoàn 120 nằm trong đội hình thực hành chiến dịch cùng với các Trung đoàn 108, 803, tiểu đoàn 40 chủ lực khu.

Tháng 12 năm 1952 kỷ niệm 6 năm toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích Khu 5 giải phóng thi đua 50 vạn đồng, một cổ vũ lớn của vị lãnh tụ, người chân thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân đối với những ngày sôi nổi bước vào chiến dịch.

Bộ chỉ huy Khu 5 phát động đợt thi đua “Đông xuân lập công dâng quà lên Hồ Chủ tịch”. Bộ đội tỉnh, huyện, dân quân du kích sôi nổi học tập chính trị, quân sự động viên nhau hồ hởi lập công.

Câu ca dao truyền nhau từ các đơn vị chỉ lực đến bộ đội địa phương tỉnh, huyện như thôi thúc mỗi người hăng hái lập chiến công:

            “Đông xuân này đã đến rồi,
            Súng ơi! Súng có bồi hồi hay không?
            Tiến quân dưới ngọn cờ hồng,
            Đã nghe tiếng súng diệt đồn nổ vang!”.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 07:29:42 am
*   *
*

Đại đội 54, Đại đội 86 của Trung đoàn 120, bộ đội địa phương các huyện được triển khai trên khắp các địa bàn, chuẩn bị lót lực lượng bám địch, nắm cơ sở cốt cán, chuẩn bị chiến trường sẵn sàng lập công mới.

Một giờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1953 chiến dịch An Khê mở màn, cùng một lúc quân ta tiến công đồn Cửu An, Eo Gió và Tú Thủy. Sau 30 phút chiến đấu toàn bộ quân địch ở Cửu An, Eo Gió bị tiêu diệt. Riêng cứ điểm Tú Thủy địch dựa vào công sự ngoan cố chống cự; Đồn Tú Thủy lúc đó địch đã cải tiến công sự ngoại vi phức tạp, có hào sâu, dưới lòng hào cắm chông dày đặc kết hợp dây kẽm gai bùng nhùng. Trận đánh phải kéo dài, lại nổ súng sau Cửu An, bộ đội ta thương vong lớn. Hai ban chỉ huy Đại đội hướng chính, hướng phụ đều bị thương vong, nhưng cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 365 đã động viên nhau anh dũng liên tục tiến công hết đợt này đến đợt khác. Trận đánh căng thẳng đến cực độ, tuy nhiên trước tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng, sức tiến công quyết liệt và kỹ thuật tốt của bộ đội ta, mọi kháng cự ngoan cố của địch bị đập tan.

Cứ điểm Cửu An, Eo Gió, Tú Thủy bị tiêu diệt, bọn địch ở Đồn Kon Lía (gần Kan Nak) bỏ đồn tháo chạy, bỏ lại nguyên vẹn kho tàng, đạn dược không kịp phá hủy. Hệ thống phòng ngự phía Bắc An Khê bị đập nát, đồn Thượng An bị cô lập; quân Pháp ở Tây Nguyên được lệnh báo động và kêu cứu tăng viện.

Ban chỉ huy Mặt trận An Khê nhận định: Pháp sẽ cho quân tiếp viện. Ta kiên trì mai phục trên đường 7 (đoạn từ đường 19 vào Cửu An) đúng nhận định của ta sau nhiều lần cho máy bay trinh sát dò xét, ngày 17 tháng 1 năm 1953, tiểu đoàn Sơn chiến số 8 có xe bọc thép dẫn đầu lên tiếp viện. Đến cách đồn Cửu An khoảng 500 mét, quân địch đã lọt vào trận phục kích của ta vào lúc 10h30’. Sau một hồi kèn xung phong dục dã, bộ đội ta từ các phía xông thẳng vào đội hình quân địch. Tên Quan tư chỉ huy tiểu đoàn bị bắt sống ngay tại trận. Như rắn mắt đầu, toàn bộ đội hình hành quân của địch bị tan rã. Đại đội 112 thuộc tiểu đoàn 19 xung kích bắt sống 100 tên giặc, thu nhiều vũ khí.

Đợt hai chiến dịch bắt đầu, đêm 20 rạng ngày 21 tháng 10 năm 1953, tiểu đoàn 59 thuộc Trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt căn cứ Thuận An, tháp canh Đầu Đèo. Lúc này địch đã đề phòng cẩn mật. Đầu Đèo là vị trí hỏa lực kiên cố uy hiếp các huyện phía tây tỉnh Bình Định. Để đánh thắng hai cứ điểm này bộ đội ta phải phát huy sáng tạo, linh hoạt; nắm chắc tình hình địch ở Thượng An, ban đêm chúng đưa bộ phận lớn ra ngoài đồn lót phục, mờ sáng chúng mò vào đồn để tránh ta tiến công. Trinh sát đã nắm chắc quy luật; đến đêm ta bố trí sẵn trận địa hỏa lực, bộ binh theo bám nắm chắc bọn ra nằm ngoài. Tờ mờ sáng, chờ cho khi chúng rút về đồn, thừa cơ ta xông lên dùng bộc phá đánh phá sập lô cốt đầu cầu. Toàn bộ đội hình bộ đội ta xung phong vào tiêu diệt làm cho chúng không kịp trở tay.

Tại lô cốt Đầu Đèo công sự khá kiên cố, nên bộ đội ta phải dùng bộc phá cỡ 40 Kg (thay cho loại bộc phá 20kg) đánh sập lô cốt địch. Ta thu nhiều vũ khí, đạn dược, trong đó có 2 pháo 88 ly lấy ở Cửu An, Tú Thủy và một khẩu lựu pháo 155 ly thu ở đồn Thượng An.

Ngày 24 tháng 1 năm 1953, trận đánh mới lại diễn ra, tiểu đoàn 39 thuộc Trung đoàn 803 phục kích đánh quân tiếp viện trên đường số 19, tiêu diệt hai đại đội thuộc tiểu đoàn số 5 (5 4 BPVN); cuộc tiếp viện của địch bị thất bại.

Ngày 25 tháng 1 tại Tây An Khê, Đại đội 68 và Đại đội huyện An Khê phục kích tiêu diệt một đại đội lính dù ngụy từ PleiKu xuống tiếp viện, ta phá hủy 25 xe quân sự, diệt gần trăm tên địch. Chiến sự An Khê ta thắng dồn dập, bộ đội huyện Đăk Bơt thừa thắng tập kích bức rút đồn Djiama và đồn Đé Blôm.

Ngày 28 tháng 1 năm 1953, chiến dịch kết thúc. Sau 12 ngày liên tục chiến đấu, bộ đội chủ lực Khu 5, bộ đội tỉnh, huyện, dân quân du kích phối hợp chặt chẽ giành thắng lợi lớn. Ta tiêu diệt và bức rút 6 cứ điểm kiên cố của địch, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn, 5 đại đội, thu gần 600 khẩu súng các loại, trong đó có 3 pháo lớn, 50 súng đại liên, trung liên, hơn 30 tấn đạn các loại, quét sạch toàn bộ lưới tề điệp, bộ máy ngụy quyền thôn xã, diệt và làm tan rã các ổ vũ trang phản động địa phương 13 làng ở Đăk Bót, 23 làng ở An Khê, nạp 80 súng. Ta diệt 2 ác ôn khét tiếng; các làng Đé Dơng, Bah Nar, KonBlô nạp 31 súng; hầu hết các khu tập trung dân dọc hai bên đường 19, đường số 7 như làng Kuk Kôn, Tà Tung, Ta Núp, Xa Wong, Kà Tung đồng bào đứng lên phá khu dồn chạy về gần khu du kích Sơ Tơr, phía bắc An Khê vùng Kan Nak, Cô Yêm, Đé Bơ nhân dân nổi dậy diệt hai tên ác ôn, nạp 91 súng cho chính quyền cách mạng. Ta giải phóng hoàn toàn 4 xã An Tân, Đông Kan Nak, Bắc Kan Nak, Bơ Nâm có trên mười ngàn dân.

Phía nam tỉnh, cơ sở được mở rộng 7 làng ở Đak Bằng. Địch bị thế cô lập, rút đồn Cà Lúi, Chánh Đơn vùng Tây Cheo Reo xây dựng cơ sở 10 làng ở Ia Piar, 20 làng vùng Ia Tul và 21 làng vùng Chư ChRăng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Giêng, 2020, 07:30:53 am
Chiến thắng Đông xuân 1952-1953 là chiến thắng lớn nhất trên chiến trường Khu 5 từ trước đến nay; ta tiêu diệt nặng sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta. Ta tranh thủ chủ động phối hợp với chiến trường chính, giải phóng được mạng lưới liên hoàn gần 20 ngàn dân; mở rộng thêm vùng du kích, nối lại một số cơ sở cũ, phát triển thêm cơ sở mới trong vùng địch kiểm soát, củng cố thêm vùng căn cứ du kích. Phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ, thể nghiệm một bước đi mới về nắm phương châm công tác vùng địch, vận dụng trưởng thành thiết thực, mặt khác ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự của Đảng, ba thứ quân đều có trưởng thành.

Đại tướng Tổng tư lệnh nhận xét chiến thắng của chiến dịch An Khê “thắng lợi này chứng tỏ các đồng chí đã tiến bộ về chính trị cũng như về kỹ thuật sau thời kỳ chỉnh huấn, đặc biệt về kỹ thuật đánh điểm nhỏ, đánh quân viện nhỏ… Phục vụ đắc lực cho xây dựng và phát triển cơ sở trong hậu địch…”. Phát huy kết quả chiến thắng Đông xuân, sang hè tỉnh khẩn trương xây dựng lực lượng, củng cố vùng giải phóng, sẵn sàng đánh địch ra phản ứng càn quét. Đại đội 54 đánh một trận phục kích trên đường số 19 diệt gọn một trung đội địch, bắt 20 tên. Đại đội 68 cùng bộ đội huyện An Khê phân tán từng bộ phận hướng dân kèm cặp dân quân du kích bố phòng, xây dựng lực lượng hậu bị, bảo vệ các khu dân. Phong trào toàn dân tham gia bố phòng, đào hầm, cắm chông được nhân rộng, nhân dân tham gia đông đảo, có đợt kéo dài đến 10 ngày, có hàng trăm người hăng hái cải tạo địa hình, đào hầm, vót chông… với khí thế sục sôi trong các buôn làng. Tề ngụy dao động mạnh, nhiều nơi tan rã. Ta mở tòa án nhân dân xử tội những tên gian ác khét tiếng, gây nhiều nợ máu trong dân (tên Yương, H Lin) nhân dân đồng tình phấn khởi.

Trong vùng địch còn kiểm soát ta phát động nhân dân đấu tranh phá thế kèm của chúng, nhân dân không chịu nhận súng địch giao; các đoàn cán bộ ta đi sâu nắm lại các cơ sở cũ ở các làng Bung Ban, Ha Wen bị đứt liên lạc từ lâu, xây dựng cơ sở vùng Đé Kà Tui làm bàn đạp phát triển cho vùng kinh ở Tân Phong, chợ đồn.

Chính quyền và mặt trận các cấp tổ chức giúp đỡ nhân dân vùng mới giải phóng và cả vùng bị địch càn quét tàn phá nặng. Đặc biệt giúp đỡ nhân dân mới phá các khu dồn trở về làng cũ, đẩy mạnh sản xuất chống đói. Nhiều rẫy tự túc, rẫy kháng chiến được tổ chức, phát động đợt trồng sắn, nhất là trồng sắn Gòn ngắn ngày, có thể ăn thay cơm.

Giữa năm 1953 xảy ra nạn đói và đau trên phạm vi rộng, nhất là khu vực dân mới giải phóng, do địch tàn phá càn quét đốt rẫy nương, chòi lúa. Chính quyền, Mặt trận huyện, tỉnh tập trung cứu đói; các đơn vị bộ đội, ngành kinh tế, lương thực xuất hàng chục tấn gạo, hàng tạ muối cứu đói, cứu lạt cho dân. Ban dân y tổ chức các đội Y tế vào từng làng cứu đau cho dân; cán bộ, chiến sĩ, du kích chia từng bát gạo, nắm muối, viên thuốc cho dân với tinh thần:

            Oei minh Jak, bơn khung asong
            Đei minh brong, bơn khung tơklah
            Mơnat! Mơ nat Kon pơlei bongot!(1)


Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai, Nghị quyết Đảng bộ Khu 5, quân và dân Gia Lai đã có sự nỗ lực phấn đấu tăng cường lực lượng về mọi mặt. Ta đã tranh thủ thắng lợi chung trên chiến trường, ra sức xây dựng và mở rộng vùng du kích, củng cố khối đoàn kết nhân dân các dân tộc; đẩy mạnh tác chiến tiêu hao, tiêu diệt địch hỗ trợ đắc lực cho xây dựng phong trào; làm tốt công tác binh tề vận, diệt ác trừ gian có kết quả, đẩy du kích chiến tranh có tiến bộ, quan tâm chăm lo việc sản xuất tự túc, cứu đau, cứu đói kịp thời.

Cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang tiến bộ về tư tưởng, kiên định, tích cực bám trụ cơ sở, gắn bó chiến trường, bộ đội tập trung, cơ quan biên chế gọn, nâng hiệu quả công tác, chiến đấu, chỉ đạo có nhiều chuyển biến tiến bộ, thống nhất dân, quân, chính, đảng đoàn kết thành một khối thống nhất trong chỉ đạo xây dựng phong trào.

Tuy vậy, ta tiếp thu chiến thắng trên chiến trường chưa đúng mức, xây dựng bàn dạp vùng sâu chưa vững chắc; chỉ đạo chống càn quét chưa cụ thể từng vùng, nên có nơi địch đốt làng, xúc dân. Ta có cứu trợ đói nhưng chưa kịp thời, chưa đến các vùng sâu, xa (làng KonGo xã ĐakPne huyện KonPlong đói đau chết 20 dân).

Đánh giá đúng thắng lợi năm 1952-1953 trên chiến trường Gia Lai có ý nghĩa quyết định mà quân và dân trong tỉnh đã giành được, là những cơ sở để đưa cuộc kháng chiến trên một vùng hậu địch quan trọng tiến lên một bước mới phối hợp với toàn miền cùng cả nước chuẩn bị cho đông xuân 1953-1954 giành thắng lợi.


(1) Bài ca cổ động cứu đói tiếng Bah Nar năm 1953:
Dịch tạm:
         Có một đấu mình cũng cho
         Có một gùi, mình cũng chia
         Thương! Thương đồng bào mình đói


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:04:18 am
*   *
*

Đông Xuân 1953-1954

Sau chiến thắng An Khê ở Khu 5 và thắng lợi chiến trường toàn quốc Na-va ráo riết tăng cường lực lượng đưa tổng số quân ở nam Trung bộ hơn 50 ngàn, tăng dần 1/3 so cuối năm 1952, có 25 tiểu đoàn cơ động.

Địch ráo riết củng cố “bình định” vùng chúng kiểm soát, đồng thời càn quét đánh rộng ra vùng tự do Khu 5 thực hiện theo kế hoạch Na Va, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, mở chiến dịch At Lăng (Atlante) nhằm buộc chủ lực ta phải đối phó, phá kế hoạch tấn công của ta trên chiến trường Tây Nguyên.

Quân Pháp lần lượt đưa Binh đoàn cơ động số 10 từ Pháp sang, Binh đoàn cơ động 100 (GIM 100) từ nam Triều Tiên về, các binh đoàn cơ động số 11, 21 ở Bình Trị Thiên vào và ở Nam bộ ra cùng các binh đoàn cơ động số 41, 42 để đưa tổng số lực lượng cơ động Pháp chuẩn bị cho chiến dịch lên 40 tiểu đoàn cơ động. Tướng Đơ Bô Pho (De Beau Fort) – Tư lệnh quân khu Tây Nguyên được Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp giao quyền chỉ huy bước 1 và bước 2 cuộc hành quân này.

Tại Gia Lai, địch chủ trương co về củng cố lực lượng tăng cường phòng thủ, bố trí lại hệ thống các cứ điểm tại An Khê. Chúng tăng cường phòng thủ, củng cố 7 cứ điểm, rút các đồn lẻ như Djama, Tô Năng, Hà Tam, Kon Thup. Chúng cố bắt cho được 17 ngàn lính mới để bổ sung 4 e BM, xây dựng thêm 5 tiểu đoàn để chuyển bổ sung cho chiến trường Bắc bộ 2 tiểu đoàn.

Chúng tập trung quân càn quét vùng ta mới mở ra để khôi phục thế phòng ngự đang bị ta phá vỡ từng mảng. Mức độ càn quét tăng hơn trước. Trạng thái địch càn quét, ta chống càn quét, ta mở cơ sở ra, địch phá lập lại đang diễn ra giằng co quyết liệt, nhất là các vùng An Khê và Đak Bơt. Tuy địch có cố gắng cải thiện thế phòng thủ sau khi ta chiến thắng An Khê, nhưng nhìn hình thái chiến trường trên địa bàn Gia Lai địch bố trí tương đối sơ hở, có nhiều điểm yếu. Lực lượng cơ động tuy có tăng nhưng địch phải bố trí phân tán thành từng cụm, rải dài theo các trục lộ giao thông, dễ bị quân ta bao vây chia cắt. Địa hình Gia Lai rừng núi hiểm trở nên khả năng cơ động ứng cứu chậm, nhiều hạn chế.

Về ta, sau chiến thắng Đông-Xuân 1952-1953 lực lượng vũ trang tỉnh được củng cố, xây dựng mới. Tháng 4 năm 1953 được bổ sung tại chỗ, tỉnh củng cố đại đội 72, thành lập tiểu đoàn 109 do đồng chí Dương Lâm Thai phụ trách. Bộ đội khẩn trương tổ chức huấn luyện, sẵn sàng đánh trả cuộc càn quét của địch. Qua đợt huấn luyện, cán bộ chỉ huy đại đội, tiểu đoàn và huyện đối nắm được các nguyên tắc chiến thuật, vận dụng sát hợp với trình độ bộ đội và yêu cầu tác chiến tại địa bàn. Tư tưởng, tác phong công tác của cán bộ, chiến sĩ có tiến bộ, có kinh nghiệm trong xây dựng lực lượng và bảo vệ phong trào. Nhân dân một số vùng Kinh có kinh nghiệm thực tế trong giáp mặt đấu tranh với địch. Qua các cuộc càn quét, tuy bị địch khủng bố nhưng ta vẫn nắm được dân, kịp thời ổn định tình hình phong trào du kích chiến tranh phát triển khá mạnh, cơ sở chính trị được củng cố bộ đội ta có nhiều điều kiện thuận lợi trong tổ chức bao vây, tiêu diệt gọn từng đơn vị nhỏ của địch hành quân càn quét. Các khu du kích được củng cố đưa lên thành căn cứ du kích nhiều vùng liên hoàn.

Khối đoàn kết nhân dân được liên tục củng cố, giải quyết được các vụ xích mích kỳ thị dân tộc do kẻ xấu xúi dục. Ta nắm được các từng lớp nhân dân trong đồng bào dân tộc, vùng kinh ven thị xã, thị trấn ta cũng liên lạc, tranh thủ được một số cán nhân tầng lớp trên ủng hộ cách mạng.

Đông-Xuân 1953-1954, Khu 5 chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên. Đây là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất đi đôi với nhiệm vụ quan trọng thứ 2 là củng cố bảo vệ vùng tự do của Khu.

Thực hiện mệnh của Trung ương, đầu tháng 12 năm 1953 Khu ủy và Đảng ủy Bộ tư lệnh Khu 5 quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực cho nhiệm vụ tấn công lên Tây Nguyên, giao nhiệm vụ đánh địch bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương. Liên Khu chỉ thị cho chiến trường sau lưng địch đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá giao thông, bao vây các đồn bót, đánh sâu vào thị xã, thị trấn gây rối loạn trong sào huyệt địch.

Gia Lai và Kon Tum là hướng tiến công chính của chủ lực khu 5 trong quá trình chiến dịch.

Nhận thức quán triệt nhiệm vụ trên, Ban cán sự và Ban chỉ huy Trung đoàn 120 tập trung toàn lực lượng quân, dân, chính, Đảng phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu cho chiến trường Khu 5 đánh thắng.

Trước hết tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh trên toàn tỉnh, củng cố và phát triển các khu du kích, đẩy mạnh công tác binh, tề vận; ra sức đấu tranh phá kế hoạch bắt lính, dồn dân của địch. Tập trung lực lượng tỉnh, huyện một cách hợp lý để kiềm giữ địch, không cho chúng rảnh tay điều lực lượng đánh phá vùng tự do.

Tỉnh còn chỉ đạo các cấp, các lực lượng, các ngành tích cực đẩy mạnh sản xuất, bảo vệ mùa màng, cứu đói, phòng đói; phát triển mạng lưới mậu dịch, giải quyết nhu yếu phẩm cho nhân dân để góp phần xây dựng và củng cố các cơ sở chính trị vững mạnh.

Nhiều Hội nghị các ngành cấp tỉnh, huyện khẩn trương chuẩn bị các mặt cho nhiệm vụ chính trên chiến trường. Khẩu hiệu “Tất cả để chiến thắng, tất cả cho chiến dịch” được chuyển từ chiến sĩ trên thao trường huấn luyện đến các đoàn dân công phục vụ tiền tuyến, các đội thanh niên xung phong làm nhiệm vụ hỏa tuyến.

Ngày 01 tháng 01 năm 1954, Bộ tư lệnh Quân khu 5 phát động phong trào thi đua lập công giành cờ luân lưu “Quyết chiến, quyết thắng” của Hồ Chủ tịch.

Giữa tháng 01 năm 1954, quân và dân Gia Lai đón tiếp các đoàn quân chủ lực, các đoàn dân công, các đội thanh niên xung phong hỏa tuyến lên đường.

Cuộc tiến công Đông xuân 1953-1954 trên chiến trường Gia Lai mở màn.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:04:46 am
Giải phóng tỉnh Kon Tum

Mặc cho địch ra sức thực hiện kế hoạch “Atlante” lấn chiếm một phần vùng tự do Khu 5, nhưng ta vẫn nắm chủ động kiên quyết tập trung lực lượng thực hiện theo kế hoạch đã định.

Ngày 27 tháng 01 năm 1954, cuộc tiến công chiến lược ở bắc Tây Nguyên bắt đầu. Cứ điểm Mang Đen, Mang Búk, Kon Braih là ba mục tiêu được chọn tiến công đầu tiên.

Nhưng để đánh lạc hướng chú ý của địch, đêm 26 rạng ngày 27 tháng 01, Trung đoàn 120 cùng với Tiểu đoàn 40 chủ lực đảm nhận hướng phụ đường 19, cùng một lúc nổ súng tiêu diệt cứ điểm Ba Bah Kơtu, sau đó tiêu diệt cứ điểm Ka Tung và Bup Bê, diệt hàng trăm tên địch, cắt đứt giao thông đường 19 hơn chục Kilômét.

Hướng chính, đêm 27 rạng ngày 28 tháng 01, lực lượng chủ lực khu nổ súng. Mang Đen là một tiểu khu kiên cố. Trung đoàn 108 đảm nhận tiêu diệt Khu A và Khu B. Sau 6 giờ chiến đấu quyết liệt, tiểu đội xung kích của đại đội 225 thuộc tiểu đoàn 19 do Tiểu đội trưởng Võ Cát chỉ huy đã chiếm được lô cốt cố thủ cuối cùng của khu B. Đến 6 giờ 05 phút sáng 28 tháng 01 toàn bộ quân địch ở cứ điểm Mang Đen bị tiêu diệt.

Ở cứ điểm Kon Baih, đường hành quân xa, khi ở Mang Đen bộ đội ta nổ súng thì tiểu đoàn 59 còn cách Kon Braih 5km. Địch đã báo động ra nằm ngoài đối phó. Rút kinh nghiệm chiến đấu đồn Thượng An, bộ đội ta bí mật bố trí sẵn hỏa lực, bộ binh ếm sát địch, chờ đến mờ sáng khi địch kéo nhau về đồn, toàn bộ đội hình tấn công của ta dũng mãnh lao vào xung phong tiêu diệt cả số địch ở ngoài và trong đồn; địch lớp chết, lớp bỏ chạy. Trung đội phó Trần Xưng tuy bị thương vẫn lao người nằm đè lên bờ rào giây kẽm gai, lấy thân mình làm cầu thang cho bộ đội lao thẳng vào đồn. Đến 6 giờ 30 phút ngày 28 tháng 01 cờ chiến thắng của ta phất cao giữa đồn.

Cùng đêm liên đội đặc công của Khu phối hợp với tiểu đoàn 89 san bằng cứ điểm Mang Bút.

Thế là chỉ trong một đêm cụm phòng thủ kiên cố phía Bắc và Đông thị xã Kon Tum bị phá vỡ, tiểu khu Kon Tum hối hả xin quân tiếp viện.

Tranh thủ thời cơ viện binh địch còn sa lầy ở Phú Yên, Bộ chỉ huy chiến dịch đẩy nhanh tốc độ tiến công địch. Tối 28 tháng 01, sử dụng Trung đoàn 108 tiến nhanh về phía tây tiêu diệt toàn bộ các cứ điểm của địch từ Đăk Tô đến Đak Glei, giải phóng toàn bộ vùng bắc tỉnh Kon Tum. Trung đoàn 803 được lệnh áp sát thị xã Kon Tum bố trí một lực lượng cùng bộ đội tỉnh cắt đường số 14 đoạn từ thị xã Kon Tum đi PleiKu.

Trên đường 19 Đại đội 54 thuộc Trung đoàn 120 phát triển chiến đấu trên hướng Đèo Mang Yang, đêm 29 tháng 01, ta pháo kích bao vây bức rút đồn Kon Rong – Kà Tu; Đêm 31 tháng 01 ta tiêu diệt đồn Plei Bông và đến ngày 5 tháng 2 ta tập kích đồn ĐăkĐoa, tiếp tục dùng lực lượng phục kích uy hiếp đường 19. Trong vòng một tuần lễ, các lực lượng vũ trang Gia Lai cùng một bộ phận chu lực Khu 5, bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Plei Kon, Đăk Rơt được huy động tấn công địch khu vực ngã ba đường 19 và đoạn đường 19 bis.

Hướng đông thị xã Kon Tum, sáng ngày 01 tháng 02 Trung đoàn 803 chặn đánh tiêu diệt một đại đội thuộc Binh đoàn cơ động số 100 vừa keo đến làng Kon Sơlũh; Ngay trong đêm đơn vị đặc công Khu 5 thọc sâu tiêu diệt Sở chỉ huy của tiểu đoàn địch tại trung tâm thị xã Kon Tum.

Ngày 04 tháng 02, tiểu đoàn 39 thuộc trung đoàn 803 chặn đánh diệt 7 xe quân sự địch trên đường 14, đoạn ngã ba đi Ia Ly.

Trước sức tấn công ào ạt của quân chủ lực ta, lực lượng địa phương quân địch chốt trên các điểm dọc đường 14 tháo chạy. Nắm chắc tình hình, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích tổ chức truy kích địch, hàng đoàn dân công nam, nữ, vai gánh nặng lương thực, thực phẩm băng rừng lội suối hồ hởi bám sát bộ đội cùng đuổi bắt địch.

Địch bị thất bại nặng nề, dồn dập, trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt. Bộ chỉ huy viễn chinh Pháp buộc phải ra lệnh cho tướng Đơ Bô-Pho rút bỏ thị xã Kon Tum về tăng sức phòng thủ cho thị xã PleiKu. Quân Pháp buộc phải dừng cuộc hành quân Atlante, đưa quân lên bổ sung phòng giữ thị xã PleiKu và Quốc lộ 19.

Ngày 7 tháng 2 năm 1954 thị xã Kon Tum và toàn tỉnh Kon Tum hoàn toàn giải phóng với diện tích hơn 10 ngàn km2 và hơn 20 vạn dân.

Giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum là một thắng lợi lớn của quân và dân Khu 5. Ta đã dồn địch từ thế tung quân ra càn quét giành chủ động chiến trường phải quay về thế phòng ngự bị động chống đỡ cuộc tiến công chiến lược của ta.

Về ta, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum là thắng lợi lớn đầu tiên trên chiến trường miền Nam Việt Nam, tiêu diệt từng mảng cứ điểm địch, tiêu diệt các binh đoàn cơ động, lực lượng phòng thủ kiên cố của địch, vừa giải phóng vùng đông dân, đất đai rộng lớn nối liền vùng tự do Khu 5, với các vùng chiến đấu của các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia.

Tỉnh Kon Tum được giải phóng, mảng phòng thủ phía Bắc thị xã PleiKu bị hở sườn, làm đảo lộn thế bố trí của địch, phải có thời gian dài mới củng cố được.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:05:58 am
*   *
*

Sau chiến thắng Kon Tum tạo một đà phấn khởi mạnh mẽ, thuận lợi cho ta, đồng thời lực lượng ta cũng có những khó khăn mới. Một bộ phận lực lượng bị thương vong chưa kịp bổ sung, sức khỏe bộ đội giảm sút.

Vùng tự do Khu 5, địch lấn chiếm thị xã Quy Nhơn và một số vùng ở Phú Yên, từ đó có những diễn biến tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ, cả trong lực lượng dân công, thanh niên xung phong phát sinh, lo âu, phân vân giữa chủ trương tiến công lên Bắc Tây Nguyên với lo giữ bảo vệ vùng tự do.

Trước tình hình đó Thường vụ Khu ủy 5 Hội nghị mở rộng khẳng định; “thắng lợi của ta vừa qua chứng minh phương châm chỉ đạo chiến lược của Trung ương là đúng”. Nếu ta không tiến công lên Tây Nguyên thì không củng cố được hậu phương; mà muốn phòng ngự chống lại sức tấn công của địch những nơi chúng đánh ra ta cũng không thực hiện được.

Chấp hành Chỉ thị của Khu 5, Ban cán sự Gia Lai triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng và củng cố vùng mới giải phóng; phát huy thắng lợi, đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh, liên tục tấn công vùng địch còn kiểm soát; động viên toàn thể cán bộ, dân, quân, chính, Đảng bám chiến trường, khẩn trương xây dựng lực lượng củng cố các đoàn thể quần chúng, nắm dân huy động phục vụ chiến đấu và chống địch càn quét bắt lính.

Lực lượng Trung đoàn 120, bộ đội huyện An Khê, Đăk Bơt chuyển hoạt động sang nam đường 19. Đại đội 54 và Đại đội 68 hoạt động vùng ngã ba Mỹ Thạch đường 14 và đường 7, vùng tam giác Cheo Reo, An Khê, PleiKu đánh địch càn quét nống chiếm, đánh giao thông trên đường 19, đường 7.

Sau khi địch rút bỏ Kon Tum, chúng tập trung quân phòng thủ Tây Nguyên, nhất là thị xã Pleiku,

Tại thị xã PleiKu địch bố trí 9 tiểu đoàn cơ động, trong đó có lực lượng binh đoàn cơ động 100, thành hình cánh cung từ cứ điểm Đăk Đoa (đông bắc thị xã khoảng 15km) vòng về phía tây bắc giáp đồn điền Chè Biển Hồ giữ mạn Bắc thị xã.

Hướng An Khê – đường 19 địch bố trí 9 tiểu đoàn thuộc binh đoàn cơ động số 11 và 21, tổ chức tuyến phòng giữ đông – tây, để ngăn chặn lực lượng ta chuyển sang tiến công phía nam đường 19.

Hai binh đoàn 41 và 42 địch bố trí vùng điểm cao Trà Khê phòng thủ phía nam.

Về ta, tuy đã giành được thắng lợi lớn, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch lúc này trên chiến trường Gia Lai thì ta vẫn chưa hơn hẳn địch về số lượng và chưa giành được thế chủ động hoàn toàn về chiến dịch. Do đó Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương tổ chức một đợt tấn công ngắn nhưng thật mạnh vào cụm phòng thủ thị xã PleiKu và trên đường trục số 19 nhằm tiêu diệt tiếp một bộ phận quan trọng sinh lực địch, buộc chúng phải đối phó, chưa dám tung lực lượng ra phản công ta.

Đúng kế hoạch đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, cùng một lúc ta dồn dập tấn công vào cánh cung phòng thủ vòng ngoài và một bộ phận khác bí mật luồn sâu đánh vào trung tâm thị xã PleiKu.

Ngày 18 tháng 2 sau 8 giờ chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Đăk Đoa, diệt một đại đội của Binh đoàn cơ động 100, bắt số 150 tên lính Âu Phi. Đây là trận đánh cứ điểm có công sự bê tông vững chắc, có trận địa pháo lớn 8 khẩu 105 ly từ đồi Cơ Ty Prông yểm trợ. Dưới ánh trăng rằm, cán bộ chiến sĩ ta dùng bộc phá liên tục phá hết lớp rào này đến lớp rào khác để xông lên. Đại đội trưởng Lê Công Khai bị pháo bắn dập nát đôi chân, anh vẫn lê mình theo bộ đội chỉ huy hoàn thành nhiệm vụ mở cửa. Người này ngã xuống, người khác xông lên, cán bộ trên hy sinh, cán bộ dưới lên thay chỉ huy quyết tâm giành thắng lợi kỳ được.

Tại Trung tâm thị xã Pleiku, bộ đội đặc công cùng các phân đội bộ binh tập kết vào nhiều cơ sở, kho tàng của địch, giết và làm bị thương gần 200 tên, phần lớn là sĩ quan chỉ huy và phá nhiều vũ khí trang bị.

Phía tây thị xã quân địch bị ta lừa kế nghi binh hộc tốc kéo quân ra lấn nống đã sa vào thế trận bày sẵn trên dãy đồi Cơ Ty prông, bị giết và bị thương hàng trăm tên.

Sáng 25 tháng 2, bọn chỉ huy Pháp ở Pleiku xưa các binh đoàn 11, 21 và 100 ra càn quét sâu hai bên đường 19. Chúng đã vấp phải bố phòng chông thò, mìn, lựu đạn gài của dân quân du kích các huyện Mang Yang, Đăk Bơt, An Khê thêm hàng chục tên bỏ mạng.

Cùng với đà tiến công quân sự, bộ đội địa phương, dân quân du kích, cán bộ dân, chính đảng phát động nhân dân nổi dậy diệt tề trừ gian, phá các khu dồn phía Nam đường 19 sát đường số 7, diệt và bức rút nhiều cứ điểm lẻ trong vùng du kích của ta.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:06:29 am
Ngày 8 tháng 2 đại đội 54 và bộ đội huyện Đăk Bơt tiến công diệt đồn Đăk Bơt, địch ở đồn Đăk Lá, Kon Thụp đã rút chạy. Ngay hôm sau bộ đội huyện Đăk Bơt đột nhập địch ở thị trấn Cheo Reo diệt một số, phá hủy trụ sở cơ quan ngụy quyền địch.

Hoạt động của các đại đội 54, 68, bộ đội huyện, dân quân du kích đã phá vỡ phần lớn bộ máy ngụy quyền địch phía nam tỉnh. Tiểu đoàn 109 hoạt động đánh địch quanh An Khê. Ta đã bắt gọi hàng ngàn tên ngụy quân, ngụy quyền, tề điệp do địch cài lại trong vùng mới giải phóng, giải tán gần hết các ổ vũ trang phản động địa phương, thu gần 200 súng các loại. Chính quyền cách mạng được thiết lập trên vùng vừa mới giải phóng.

Phía Nam thị xã bộ đội đặc công có du kích mật phục vụ, đã tiêu diệt cứ điểm Plei Pơ tại một tiền đồn bảo vệ ngã ba đường 14 và đường 7.

Phát hiện bộ đội ta chuyển hoạt động sang phía nam tỉnh, Tướng ĐơBôPho lệnh cho binh đoàn cơ động 100 tập trung quân tại PleiRing vào tối 20 tháng 03 để giải tỏa càn quét vùng giải phóng Đăk Bơt.

Trung đoàn 803 (thiếu tiểu đoàn 365) kịp thời phát hiện địch, tổ chức tập kích quân Pháp vừa đến Plei Ring, ta đã linh hoạt chuyển phương án đánh địch trong công sự vững chắc sang đánh địch đang tập trung xe pháo, người đang ngổn ngang ngoài trời.

Đúng 2 giờ sáng ngày 21 tháng 03, toàn bộ hỏa lực ta cùng lúc bất tập trung giáng xuống khu tập trung xe pháo và binh lực địch ngoài trời. Từ phút đầu ta đã diệt hàng trăm tên lính Âu Phi, phá hủy hàng chục xe cơ giới, hàng chục khẩu pháo; giữa lúc bọn địch đang kinh hoàng với cú đánh phủ đầu của hỏa lực ta chưa kịp hồi phục thì 5 mũi xung phong của bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu vào chia cắt đội hình địch tiêu diệt chúng. Sau giờ chiến đấu bộ đội ta đã giết, bắn bị thương 600 tên lính Âu Phi.

Cùng thời gian một cánh quân khác về giữ đèo Mang Yang trên trục đường 19 đã bị chủ lực ta tiêu diệt thu toàn bộ vũ khí.

Trước thất bại dồn dập, nặng nề địch buộc phải rút hết số tàn quân về Pleiku để củng cố, bỏ dỡ cuộc càn quét lấn nống. Khu du kích Đăk Bơt được củng cố vững chắc.

Trên đường 19, Đại đội 54 cùng bộ đội chủ lực phục kích các đoàn xe vận chuyển của địch. Ngày 4 tháng 4 đoàn xe địch từ An Khê về Pleiku bị bộ đội ta tiêu diệt tại cầu Hà Tam. Ngày 10 tháng 04, 20 xe từ Pleiku xuống tiếp tế cho An Khê bị bộ đội ta tiêu diệt tại đèo Mang Yang. Như vậy từ ngày 4 đến ngày 28 tháng 4 liên tiếp có 6 đoàn xe quân sự địch bị tiêu diệt trên đoạn đường dài 20km ở khu vực đông và tây cầu Ayun. Tiếp sau, từ tháng 4 sang tháng 5 các đơn vị bộ đội bám liên tục cắt nhiều đoạn đường giao thông số 19, buộc địch không giám nống lấn ra giải tỏa vì hệ thống tuyên bố phòng chông mìn của du kích và bộ đội địa phương các huyện liên tục phục kích trên trục đường. Địch phải dùng máy bay tiếp tế các cứ điểm lẻ.

Sau một tháng đọ sức giữa ta và địch, tỉnh Kon Tum được hoàn toàn giải phóng. Đại bộ phận vùng nông thôn rừng núi và đất bằng đông dân của tỉnh Gia Lai đã đứng lên làm chủ Chính quyền cách mạng đã lập nên cả những vùng ven thị xã, thị trấn. Toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai của Pháp, bộ máy tề điệp bị tan rã tại chỗ, hàng nghìn tên ra nạp vũ khí đầu hàng chính quyền Cách mạng, một số ít tên ngoan cố gian ác bỏ chạy vào thị xã Pleiku. Vùng căn cứ du kích được mở rộng liên hoàn. Địch ở thị xã Pleiku bị bao vây cô lập. Dọc đường giao thông 19 và 14 các cứ điểm co nằm im không dám lấn nống như trước; phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn lên mạnh, nhân dân, cán bộ, bộ đội hồ hởi phấn khởi trước chiến thắng Xuân Hè 1954. Nhân dân thị xã Pleiku số đông reo mừng chiến thắng của ta, bọn phản động hoang mang giao động bám sát gót chân Pháp chờ ngày tháo chạy.

Kìm chân cánh quân địch ở Quy Nhơn, đập nát các cánh quân trên đường 19 và các bộ phận lấn nống càn quét, ta đã đẩy quân Pháp trên chiến trường Tây Nguyên lui về thế phòng ngự bị động. Quyền chủ động trên chiến trường Khu 5 đã ở trong tay Bộ chỉ huy chiến dịch. Từ trước đến nay chưa bao giờ quân Pháp tập trung một lực lượng mạnh và đông, cố gắng chiến tranh lớn như thế, ném vào một địa bàn hẹp như chiến trường Khu 5 mà phải cam chịu thất bại. Thắng lợi của các lực lượng vũ trang ta không chỉ đánh bại một cuộc hành quân lớn của địch, mà còn mở rộng được khu căn cứ địa cách mạng to lớn, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh vùng hậu địch lên cao chưa từng có. Ta đã làm thất bại, phá sản âm mưu thâm độc của địch, tạo ra sức biến đổi to lớn về so sánh lực lượng giữa ta và địch, làm biến đổi cục diện chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta. Thế và lực của quân và dân Gia Lai đã mạnh lên góp phần cùng chiến trường Khu 5 tạo tiền đề giành những thắng lợi to lớn hơn nữa.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:07:44 am
*   *
*

Tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 (Gim 100) giải phóng An Khê, phối hợp chiến trường Khu 5 giành thắng lợi lớn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Tại Khu 5 địch phải căng ra phân tán đối phó các hoạt động của ta: trên đường 19 An Khê quân Pháp còn binh đoàn cơ động 100 và một số tiểu đoàn khinh quân ngụy chốt giữ; Binh đoàn cơ động 42 về giữ thị xã Pleiku.

Trong tháng 5 hoạt động du kích của tỉnh được đẩy mạnh, thường xuyên bố trí các lực lượng phục kích các đoàn xe địch vận chuyển trên đường 19. Đại đội 54, 68 liên tục bám địch trên hai bên trục lộ 19, Đại đội 70, 72 lo xây dựng củng cố các vùng mới giải phóng phía nam tỉnh.

Tây Nguyên đã bắt đầu mùa mưa, gây nhiều khó khăn, trở ngại hoạt động của bộ đội, nhất là bộ đội huyện, dân quân đang bám địch còn nhiều thiếu thốn, vất vả. Tuy vậy, trước chiến thắng dồn dập trong nước, trên địa bàn đã cổ vũ anh em hồ hởi phấn khởi vượt qua; thanh niên tình nguyện vào bộ đội rất đông, có điều kiện bổ sung quân số cho bộ đội tỉnh và huyện, nhất là anh em dân tộc Bahnar, Jơ Rai; trang bị vũ khí cũng được bổ sung, cấp phát đầy đủ.

Trước hiện tượng quân Pháp rút bỏ nhiều vị trí trên địa bàn Gia Lai, Khu 5 ra lệnh cho Trung đoàn chủ lực 96 và tỉnh Gia Lai bố trí quân báo bám, theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch sẵn sàng tiêu diệt khi chúng tháo chạy.

Ngày 23 tháng 6 quân báo ta phát hiện binh đoàn cơ động 42 từ Pleiku nống ra chốt giữ các điểm cao khống chế từ Kông Dơng đến chân đèo Mang Yang. Quân địch ở An Khê phá hủy một số công sự. Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 6 Bộ chỉ huy Khu 5 lệnh tiêu diệt GIM 100, kế hoạch đánh quân địch ở An Khê rút chạy được gấp rút triển khai.

Từ trong đêm cán bộ, chiến sĩ đơn vị quân báo Trung đoàn 120 ra yếm quân bám địch khắp dọc trục đường 19, mặc cho máy bay quân Pháp quần đảo nhiều vòng rà thấp sát mép đường và thả bom napan đốt cháy cỏ cây dọc hai bên đường. Một số anh em trinh sát, quân báo bị thương vong, nhưng tất cả đều cắn răng chịu đựng bám sát theo dõi từng hành động của địch báo cho Bộ chỉ huy.

Lực lượng địch rút lui gồm: Binh đoàn cơ động 100 (GIM 100), tiểu đoàn khinh quân ngụy 520, tiểu đoàn pháo binh 105m/m cùng một số đơn vị địa phương quân. Ngoài ra còn tính đến sự ứng cứ của binh đoàn cơ động 42.

Lực lượng ta tham chiến có trung đoàn chủ lực 96 gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 120 (Gai Lai) có đại đội 54, đại đội 68, đơn vị quân báo Trung đoàn. Ngoài ra còn đại đội địa phương các huyện An Khê, Đăk Bơt làm nhiệm vụ phối hợp đón lỏng từ xa và làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ.

Tuy số lực lượng quân địch đông gấp hai lần quân ta, nhưng cán bộ, chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh, huyện đều quyết tâm tấn công. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh: “Kiên quyết đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy”. Đây là quyết tâm hoàn toàn chính xác.

Đúng 10 giờ ngày 24 tháng 6 năm 1954 khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu quyết chiến của ta, theo kế hoạch đã vạch sẵn, tiểu đoàn chặn đầu nổ súng; cả đoàn xe trên 200 chiếc nối đuôi nhau cố vượt nhanh lên bắt liên lạc với binh đoàn 42 thì toàn bộ hỏa lực của ta tập trung chặn đứng lại, các xe đầu bốc cháy, hàng loạt xe sau thúc lên nhưng phải quay đầu dồn cục, tạo thành mục tiêu tập trung cho hỏa lực và bộ binh ta tiêu diệt.

Sau hơn một giờ chiến đấu quyết liệt, ta làm chủ trận địa hoàn toàn. Đại tá Baroux chỉ huy cuộc hành quân trúng đạn bị thương từ đầu, tên tham mưu trưởng vừa lên thay bị ta bắn chết. Hàng ngũ quân địch rối loạn trước sức tấn công vũ bảo của bộ đội ta. Lúc này mấy chiếc phi cơ địch đến ứng cứu nhưng đã chậm, trên trận địa dài hàng ba ki-lô-mét không còn phân biệt giữa ta và địch, vì bộ đội ta đã xung phong ra mặt đường đánh giáp lá cà với những tên địch ngoan cố còn dựa vào thành xe chống cự.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:10:21 am
Suốt một dải dài suối Đak Pơ ngổn ngang xe, pháo, xác địch. Trên 700 lính Âu Phi bị chết và bị thương; gần 1200 tên khác, trong đó có Đại tá Baroux cùng toàn bộ Ban tham mưu binh đoàn 100 bị bắt sống.

Một số toán tàn binh khác cố chạy bán sống bán chết vào phía Nam đường 19 bị du kích, nhân dân các xã Ya Hội, Yang Bắc truy lùng. Một số chạy lạc vào các làng Đé Chơu, Đé ChkơRei xin ăn, chị em phụ nữ tước súng bắt nộp cho bộ đội.

Tiêu diệt binh đoàn cơ động 100, bộ đội ta thu 229 xe cơ giới, 20 súng đại bác, trên 1.000 ngàn súng các loại và hàng chục tấn đạn. Thừa thắng ta truy đánh các bộ phận chốt của binh đoàn 42 đến ứng cứu và quét sạch toàn bộ hệ thống cứ điểm chốt trên đường 19, giải phóng toàn bộ huyện An Khê và khu vực phía đông thị xã Pleiku.

Chiến thắng Đăk Pơ, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động 100 của Pháp là một trong những trận đánh mẫu mực của bộ đội chủ lực Khu 5 phối hợp chặt chẽ với bộ đội tỉnh Gia Lai, nêu cao tinh thần anh dũng, kiên cường, táo bạo bám chặt địch.

Đak Pơ mãi mãi là một trong những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và còn vang vọng mãi suốt trong mấy chục năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau chiến thắng Đak Pơ tiêu diệt GIM 100, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen toàn Khu 5.

Bác viết: “… các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bác khuyên toàn thể cán bộ, chiến sĩ cần phải nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công, phải ra sức dân vận và ngụy vận.

Chớ vì thắng mà kiêu, mà chủ quan khinh địch, ra sức tranh thủ lấy thành tích to hơn nữa.

Bác chờ tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thăm đồng bào trong đó.

                                                                                                                                                                          
Chào thân ái và quyết thắng
Bác
Hồ Chí Minh

Sau chiến thắng đường số 19, bộ đội chủ lực và bộ đội tỉnh chuyển vào bao vây Cheo Reo cắt đường số 14. Ngày 15 tháng 7 năm 1954 ta pháo kích vào thị trấn Cheo Reo và tổ chức bao vây địch ở thị xã Pleiku từ 17/7, lúc này quân Pháp đang thực hiện kế hoạch thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn và tập trung lực lượng có trọng điểm của Tướng E Ly(1). Chúng cho một bộ phân rút khỏi Pleiku, lại sa vào trận địa phục kích của ta ở Chư Drek, ta phá hủy 62 xe quân sự, diệt 300 tên, bắt sống gần 200 tên. Tiếng pháo lớn của ta nổ vang dội một vùng núi rừng Bắc Tây Nguyên càng gieo thêm nỗi kinh hoàng khủng khiếp trong hàng ngũ binh lính địch.

Cuộc tiến công chiến lược của các lực lượng ta ở mặt trận Bắc Tây Nguyên đã toàn thắng. Lực lượng vũ trang Gia Lai cùng cán bộ, dân, chính đảng và nhân dân các dân tộc trong tỉnh suốt thời gian chiến dịch sát cánh phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực khu 5, đoàn kết giúp đỡ bộ đội chủ lực mọi mặt, giúp đỡ tận tình các đoàn dân công hỏa tuyến, các đội thanh niên xung phong lên phục vụ chiến trường hoàn thành nhiệm vụ.

Lực lượng vũ trang Gia Lai, đồng bào các dân tộc trong tỉnh nổ lực tối đa góp phần cùng chiến trường tiêu diệt 28.271 tên địch, thu 7.592 khẩu súng các loại giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum và hầu hết tỉnh Gia Lai (Trừ thị xã Pleiku). Ban cán sự tỉnh đã thành lập Ban quân quản chuẩn bị cho tiếp quản thị xã được giải phóng.

Ngày 20/7/1954, Hội nghị Giơ-Ne-Vơ về Đông dương kết thúc. Hội nghị ra tuyên bố tuyên ngôn chính trị về hiệp định đình chiến ở Đông dương. Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đã giành thắng lợi.


(1) Tướng E Ly vừa sang thay Na Va


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:20:36 am
Từ tháng 8/1945 đến tháng 7/1954, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Gia Lai đã trải qua chặng đường lịch sử vô cùng gian khổ khó khăn, nhưng đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Cách mạng vừa mới thành công, chính quyền nhân dân mới thành lập, lực lượng vũ trang nhân dân mới hình thành đã phải đương đầu với đạo quân xâm lược Pháp ào ạt tấn công vào địa bàn tỉnh, quân và dân trong tỉnh đã anh dũng chiến đấu, phối họp cùng lực lượng Khu 5 kịp thời ngăn chặn từng bước cuộc tiến công của địch, bảo vệ được thực lực cách mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Cuộc chiến đấu không ngang sức giữa ta và địch kéo dài đến tháng 7-1954, tỉnh Gia Lai đã thu được thắng lợi lớn.

Suốt mấy năm dài kháng chiến, trong điều kiện cực kỳ gian khổ khó khăn, quân và dân Gia Lai với tinh thần quyết chiến quyết thắng, tự lực tự cường, bám dân bám đất, am hiểu phong tục tập quán, địa hình rừng núi để tuyên truyền vận động giành giật từng người dân, từng buôn làng với địch.

Vừa công tác vừa chiến đấu, học tập nắm vững phương châm phương thức hoạt động trong vùng địch, cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang nắm được quan điểm chính sách của Đảng, nhất là chính sách dân tộc và tôn giáo để tổ chức nắm dân, xây dựng thực lực chính trị, trên cơ sở đó mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ chiến đấu phân tán đến chiến đấu tập trung đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của địch góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Đảng bộ Gia Lai đã nhận thức đúng đắn đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài của Đảng. Sau khi Pháp chiếm, Đảng bộ đã sớm ổn định tình hình, chấn chỉnh củng cố lực lượng trở lại bám chiến trường, bám dân xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng. Đó là một chủ trương đúng đắn, nghiêm minh là yếu tố cơ bản đầu tiên để huy động sức mạnh chiến đấu của nhân dân các dân tộc. Chủ trương thống nhất lực lượng quân, dân, chính, Đảng trên chiến trường địch hậu là điểm sáng tạo để tập trung sức chỉ đạo quân sự, chính trị phát huy sức mạnh tổng hợp vào việc xây dựng, chiến đấu và phát triển cơ sở. Cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang phải làm tốt công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị. Cán bộ chính trị, cán bộ chuyên môn các ngành vừa xây dựng cơ sở vừa xây dựng du kích chiến tranh, xây dựng làng xã chiến đấu để đủ sức đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, tự túc lương thực, đảm bảo đời sống nhân dân các dân tộc.

Quán triệt quan điểm tư tưởng kháng chiến lâu dài của Đảng trong điều kiện chi viện của trên còn nhiều khó khăn, kinh tế trong tỉnh còn nghèo, sản xuất còn lạc hậu mà quyết tâm xây dựng các lực lượng chống lại kẻ thù hung bạo tàn ác, các lực lượng vũ trang tỉnh đã thấm nhuần tư tưởng “Lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy súng địch đánh địch…” dùng vũ khí thô sơ tự tạo kết hợp với vũ khí hiện đại, cộng với dũng khí cách mạng để đánh thắng kẻ thù.

Xuất phát từ thực tiễn trên mà tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang phải thật phù hợp. Từ những đội du kích nhỏ từng buôn làng tiến lên xây dựng bộ đội địa phương huyện và các đơn vị tập trung tỉnh. Trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 120 đặc trách quân sự địa phương của bắc Tây Nguyên.

Bộ đội tập trung tỉnh ngoài nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt địch còn có trách nhiệm kèm cặp dân quân du kích chiến đấu, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Dân quân du kích phải xây dựng rộng rãi, đều khắp và vững mạnh là lực lượng cơ động tại chỗ sẵn sàng đập tan các cuộc càn quét lấn chiếm của địch.

Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo đoàn kết rộng rãi nhân dân các dân tộc trong tỉnh, kinh, thượng, Ja rai, Bah nar, già, trẻ, giá, trai không phân biệt tôn giáo, vùng căn cứ du kích, vùng tranh chấp, cả nhân dân trong vùng địch kiểm soát đều một lòng, một dạ hướng về cách mạng, hướng về Hồ Chủ tịch với cái tên thân thương gọi Bok Hồ, tin tưởng kháng chiến chống địch, tin tưởng vị lãnh tụ Bok Hồ kính yêu, luôn luôn khắc sâu trong tim người dân Gia Lai, “Hạt gạo Bok Hồ, hạt muối Bok Hồ, anh bộ đội Bok Hồ” là những hình ảnh thân yêu nhất động viên mọi người xông lên vượt mọi khó khăn, ác liệt, một lòng, một dạ bền gan chiến đấu.

Đoàn kết các dân tộc thành một khối sức mạnh để thực hiện toàn dân đánh giặc giữ buôn làng. Quán triệt sâu sắc vị trí chiến lược của tỉnh càng tăng cường củng cố khối đoàn kết dân tộc, chăm lo cải thiện từng bước đời sống nhân dân, tập hợp quần chúng vào mặt trận bằng các tổ chức “Hội đánh Tây”, “nhóm nhân dân kháng chiến” ở từng buôn làng, là những hình thức vận động nắm dân rất sinh động, phù hợp trình độ chính trị của dân, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 06:21:45 am
Quan tâm chăm lo cải thiện đời sống nhân dân trở thành nhiệm vụ chính trị cấp thiết là một trong những nhân tố quan trọng để tổ chức toàn dân đánh giặc. Đảng bộ và Mặt trận chính quyền từ tỉnh đến huyện để khai thông vận chuyển muối, gạo, nông cụ giúp dân, động viên sản xuất đi đôi tổ chức mua nông lâm sản của dân; Tổ chức cuộc vận động đưa “Cây sắn” lên Gia Lai từ năm 1950 trở đi là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược trên địa bàn tỉnh. Do vậy đi đôi bình chọn chiến sĩ thi đua diệt địch, tỉnh còn tổ chức bình chọn chiến sĩ thi đua sản xuất giỏi; tỉnh còn quan tâm giải quyết cứu đau, đói và cứu lạt cho dân, nhất là thời gian giáp hạt.

Là chiến trường hậu địch, nơi kẻ thù đang ra sức thi thố mọi âm mưu nham hiểm của chính sách thực dân kiểu cũ. Vì vậy công tác tuyên truyền giáo dục tập hợp dân làm nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các lực lượng vũ trang, tổ chức Ban xung phong, đội vũ trang tuyên truyền, đội vũ trang công tác, đoàn cán bộ vận động chính quyền để luồn sâu vào vùng địch bám dân, bám địa bàn, tuyên truyền rỉ rả từng người dân từ ông già đến em bé, từ lúc giả làm trâu, ngựa cho các em cỡi, từ chỗ dân chưa tin dần dần đến dân tin, dân mến, dân nuôi dân chỉ địch cho đánh, dân bày cách bóc gỡ các tổ chức phản động tại địa phương, truy tróc tề điệp gian ác, các tổ chức phản động cài cắm trong dân.

Từ phương thức hoạt động trên ta phát triển rộng cơ sở chính trị, vũ trang, hình thành ba vùng thích hợp: Vùng căn cứ du kích, vùng du kích, vùng địch tạm chiếm. Ba vùng này tuy mức độ hoạt động có khác nhau, nhưng có sự liên quan hỗ trợ nhau nhằm kết hợp chặt chẽ hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị, binh tề vận, diệt ác trừ gian chống các hoạt động phá hoại của địch.

Đảng bộ tỉnh đã sớm nhận thức quan điểm bạo lực trong chiến tranh cách mạng. Sau cách mạng tháng 8 thành công, quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Sài Gòn – Nam bộ, tỉnh đã tiến hành khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang. Tập trung xây dựng dân quân du kích, các đội tự vệ, thực hiện võ trang lập công binh xưởng rèn đúc vũ khí, xây dựng căn cứ địa làm nơi tiến thủ để chỉ đạo phong trào, từ chiến khu Xóm Ké đến Ya Hội, Sơ Tơr để loan rộng ra nhiều vùng tạo điều kiện chủ quan chỉ đạo đứng chân, và nơi dung lượng các đơn vị chủ lực của khu mở các chiến dịch giành thắng lợi lớn.

Đảng lãnh đạo trực tiếp lực lượng vũ trang là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến đấu thắng lợi của các lực lượng vũ trang; Bí thư Ban cán sự tỉnh kiêm chính ủy Trung đoàn, Bí thư Ban cán sự các huyện Kiêm chính trị viên Huyện đội trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự địa phương.

Thống nhất quân, dân, chính, Đảng; thống nhất chế độ, tất cả hướng về cơ sở phục vụ, đẩy cuộc chiến tranh du kích ngày càng tiến bộ. Cán bộ, chiến sĩ động viên nhau học nói tiếng dân tộc. Nhiều đồng chí thành thạo cả tiếng Jarai và Bahnar. Đó là thuận lợi lớn trong công tác vận động quần chúng. Cán bộ Kinh và cán bộ dân tộc đều biết song ngữ là một quan điểm nhận thức đúng đắn đáng khuyến khích. Đó cũng là đạo đức, là văn minh của người Đảng viên, cán bộ tranh thủ được lòng dân, thực hiện ba bám, bốn cùng có hiệu quả(1). Muốn làm được điều đó cần tăng cường giáo dục bản chất Cách mạng, bản chất giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ.

Trong chiến trường địch hậu, một yếu tố quan trọng thường xuyên, có lúc có tính chất quyết định là kết hợp chặt chẽ hoạt động quân sự của các đơn vị chủ lực với phong trào nhân dân du kích chiến tranh của địa phương. Thắng lợi của các chiến dịch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cơ sở, hoạt động du kích chiến tranh. Phong trào du kích chiến tranh mạnh, cơ sở quần chúng vững chắc làm chỗ dựa cho các chiến dịch tiến công và phản công của các đơn vị chủ lực.

Lực lượng vũ trang tỉnh luôn gắn bó, phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ tận tình các đơn vị chủ lực, cả các đoàn dân công và thanh niên xung phong lên phục vụ ở chiến trường.

Quân và dân Gia Lai luôn luôn kiên định nhiệm vụ, tin tưởng tuyết đối vào đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, đoàn kết gắn bó giữa Đảng và quần chúng, đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, đoàn kết Kinh – dân tộc, đoàn kết với quân chủ lực hoạt động trên địa bàn; gắn bó chặt chẽ với lực lượng Cách mạng chân chính ở các tỉnh đông bắc Campuchia tạo sức manh to lớn giành nhiều thắng lợi.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Một nửa nước đã sạch bóng quân xâm lược nhưng còn một nửa nước chưa được giải phóng. Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào còn bị địch thống trị.

Giương cao ngọn cờ QUYẾT CHIẾN QUYẾT THẮNG của Đảng, của Bác Hồ; quân và dân Gia Lai cùng quân dân cả nước sẵn sàng chấp hành nghiêm chỉnh nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.


(1) Ba bám: Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bộ đội bám địch
Bốn cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng lao động với dân, cùng dân chiến đấu


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Hai, 2020, 07:28:09 am
(https://scontent.fhan2-2.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/84008349_964884030575496_8237415440259743744_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=LxfQh7IiaEsAX9KSwb9&_nc_ht=scontent.fhan2-2.fna&oh=0df79f0049f925a9b8496e787e5d6818&oe=5EBB5BD7)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:16:54 am
Phần thứ hai

*   *
*

KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC
(1954-1975)

CHƯƠNG VI

Từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ,
Chuẩn bị cho đồng khởi trên địa bàn tỉnh

I – Nhận rõ kẻ thù kiên định nhiệm vụ khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới

Ngày 20/7/1954 Hiệp định Giơ-Ne-Vơ về Việt nam và Đông dương được ký kết, Hiệp định và bản tuyên bố chung của các nước tham gia Hội nghị đều công nhận:

- Tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam.

- Nước Việt Nam tại chia làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam tạm thời giao đối phương quản lý, để chờ 2 năm Tổng tuyển cử (20/7/1956) thống nhất nước nhà dưới sự giám sát Quốc tế. Quân đội Pháp phải rút khỏi đất nước ta.

Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới. Đất nước tạm chia làm hai miền và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:

- Miền Bắc tiến dần lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Trong bước ngoặt chung cả nước, phong trào cách mạng của Gia Lai cũng chuyển sang một thời kỳ vô cùng khó khăn phức tạp. Qua chín năm chiến đấu bền bỉ, anh dũng và quyết liệt với kẻ thù, quân và dân Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ, liên tục với các lực lượng vũ trang Khu 5, bám trụ giành giật từng người dân, từng tấc đất với địch, đưa phong trào cách mạng trong tỉnh tiến lên từng bước vững chắc.

Trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954, quân và dân Gia Lai cùng lực lượng Khu 5 tiến công mạnh mẽ, đập nát thế phòng thủ, ách kìm kẹp của giặc Pháp, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum và hầu hết tỉnh Gia Lai (trừ thị xã PleiKu). Đang trên đà chiến thắng thì Hiệp định Giơ-Ne-Vơ được ký kết, theo các điều khoản của Hiệp định, tỉnh Gia Lai được sớm giao cho đối phương quản lý(1). Cán bộ và lực lượng vũ trang tập kết ra miền Bắc có sự giám sát của Ủy ban quốc tế(2).

Chín năm liên tục bám trụ kháng chiến trong lòng địch, trải qua bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, ác liệt, quân và dân Gia Lai luôn luôn một lòng hướng về Đảng, về Hồ Chủ tịch. Ngày An Khê và hầu hết tỉnh Gia Lai được giải phóng, nổi vui mừng nhìn ánh hào quang của lá cờ đỏ sao vàng, ảnh vị cha gia của dân tộc chưa bao lâu, thì giờ đây mây mù u ám đã kéo đến bao phủ bầu trời Tây Nguyên, bầu trời tỉnh Gia Lai.

Từ chỗ đại bộ phận tỉnh là vùng giải phóng, vùng du kích, có chính quyền, có lực lượng vũ trang, hoạt động công khai, đấu tranh vũ trang là chủ yếu; nay trở thành vùng đối phương quản lý kiểm soát, ta phải hoạt động bí mật, đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình. Đây là sự thay đổi cả về thế và lực hết sức cơ bản, cả phương châm và phương pháp đấu tranh. Niềm vui phấn khởi xen lẫn với lo âu; vui vì nửa nước đã được hoàn toàn giải phóng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã giành những thắng lợi hết sức to lớn. Suy nghĩ lo âu vì tình hình sẽ ra sao khi cán bộ và bộ đội rút chuyển đi hết; nhân dân sẽ sống và chịu đựng như thế nào dưới bộ máy cai trị của kẻ thù mới.

Đảng và Chính phủ đã thấu hiểu nỗi lo của đồng bào Miền Nam. Ngày 22/7/1954, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “… đồng bào Miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi tin chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành dân chủ trong toàn quốc. Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn theo dõi sự cố gắng của đồng bào và tin chắc đồng bào sẽ thắng lợi…”.


(1) Tỉnh Gia Lai giao cho đối phương quản lý ngày 30-8-1954
(2) Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam gồm 3 nước:Ấn Độ, Ba lan và Canađa.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:18:03 am
Quán triệt Nghị quyết Khu 5(1) đồng chí Bí thư Tỉnh ủy khẳng định nhiệm vụ cách mạng của Đảng bộ Gia Lai trong giai đoạn mới, khi đối tượng cách mạng đã thay đổi thì phương châm, phương pháp đấu tranh cách mạng cũng thay đổi. Một loạt công tác tư tưởng, công tác tổ chức cần phải được giải quyết khẩn trương trước tình hình có nhiều khó khăn phức tạp. Trước hết nhận thức tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và Đảng viên đối với kẻ thù mới là nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới còn mơ hồ giản đơn. Trong một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng chưa hình dung, nhận thức đầy đủ về bộ mặt kẻ thù mới; cả nhận thức về phương châm, phương pháp đấu tranh cũng chưa được thấu triệt và dự lường hết những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, trong lúc ta phải bàn giao địa bàn tỉnh cho đối phương quá gấp.

Khó khăn rất nhiều và lớn nhưng những nhân tố đảm bảo cho việc ổn định tình hình, tiếp tục đưa phong trào cách mạng của tỉnh tiến lên theo phương hướng mới rất cơ bản. Đó là lòng trung thành với cách mạng, lòng tin tuyệt đối của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ.

Các đơn vị vũ trang của tỉnh đến đầu tháng 8 năm 1954 đã tập trung tại An Khê để làm lễ chiến thắng. Ngày 30/08/1954 tập trung về Phú Phong (Bình Định) để biên chế tổ chức. Các đơn vị vũ trang của Gia Lai đi tập kết lập thành Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 120. Ngày 20/091954, trung đoàn dự lễ chiến thắng toàn Khu 5 tại thị trấn Phù Cát (Bình Định) và đến ngày 20/10/1954 trung đoàn hành quân xuống cảng Quy Nơn để tập kết ra miền Bắc.

Đi đôi việc chuyển quân tập kết ra Bắc, Tỉnh ủy khẩn trương triển khai nhiệm vụ tổ chức lực lượng. Một số cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ ở lại chiến trường trên tinh thần tự nguyện bố trí bám địa bàn, bám dân, có 131 đồng chí (59 cán bộ quân đội), trong đó có 5 cán bộ chuyển ra hoạt động hợp pháp. Vũ khí để lại có 7 khẩu tiểu liên (gồm 3 súng tôm xông, 4 súng tuyn), đạn mỗi khẩu có 300 viên; có 70 khẩu súng trường, mỗi khẩu 200 viên đạn; có một số súng ngắn trang bị cho cán bộ bám cơ sở. Ngoài ra còn có chôn dấu hai hầm súng ở chiến khu Đé Krăp dự phòng cho chiến đấu sau này.

Trên cơ sở bố trí cán bộ ở lại, cùng cán bộ địa phương tại chỗ ở các vùng cơ sở cũ vững các cấp cũng tổ chức học tập về phương châm, phương pháp hoạt động trong vùng địch kiểm soát; tuyên truyền giáo dục nhiệm vụ, xác định tư tưởng nắm chủ trương đối lối phương châm cách mạng cho cán bộ Đảng viên và quần chúng nhân dân, là công tác trung tâm lúc bấy giờ. Việc củng cố tổ chức Đảng theo phương hướng: “Lập chi bộ nhỏ, tinh gọn, trong sạch vững mạnh, nghiêm mật. Phát triển tổ chức lực lượng theo yêu cầu, không theo khả năng”; nắm vững phương châm chung cho cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới là; “tích lũy lực lượng, trường kỳ tồn tại, giữ vững ngọn cờ hòa bình thống nhất, vững bước đưa phong trào tiến lên…”.

Trong lúc nhân dân ta đang ra sức ổn định củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, thì cũng là lúc Đế quốc Mỹ và tay sai ráo riết phá hoại Hiệp định. Chúng thực hiện các biện pháp lớn là:

- Tiến hành phế truất Bảo Đại, gạt Pháp và bộ máy tay sai thân Pháp, gây uy tín cho Ngô Đình Diệm, lập các Đảng phái phản động, tổ chức bộ máy cai trị có hệ thống từ Trung ương đến buôn làng.

- Tập trung sức xây dựng lực lượng vũ trang, mở đường giao thông chiến lược 14, 19 và đường 7, sửa chữa sân bay, đóng hệ thống cứ điểm dọc biên giới, vùng giáp ranh tỉnh, có 30 cứ điểm lớn nhỏ từ trung đội đến đại đội.

- Thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”.

- Cải cách điền địa, lập hệ thống dinh điền.

Trong đó biện pháp chủ yếu của Mỹ và tay sai là “tố cộng, diệt cộng” nhằm tiêu diệt lực lượng lãnh đạo cách mạng, xóa bỏ mọi ảnh hưởng của Đảng cộng sản Việt nam trong đồng bào dân tộc. Lập bộ máy chỉ đạo. “tố cộng từ Trung ương xuống xã, thôn, buôn làng do những tên phản động gian ác nhất có nợ máu với nhân dân phụ trách”.

Nhân lúc Mỹ và tay sai dồn lực lượng đánh phá ở vùng tự do cũ của Khu 5, tỉnh Gia Lai khẩn trương củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng để trở về bám địa bàn hoạt động. Từ tháng 9/1954 đến tháng 01/1955, Tỉnh ủy mở 4 lớp học cho cán bộ ở lại về đường lối, phương châm, phương pháp hoạt động tại làng Tà Lốc (Vĩnh Thạnh – Bình Định). Ngày 26/4/1955 cơ quan Tỉnh ủy chuyển lên làng Đé Môn (thuộc xã Srô). Đến tháng 8/1955 chuyển cơ quan lên làng Đé bam (thuộc huyện Kông chro) để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Trong khi di chuyển cơ quan vừa mới đến vùng giáp ranh tỉnh đã chạm ngay một lực lượng địch đang càn quét dọc suối Hơ Wây, nhưng được nhân dân che chở, bảo vệ, đồng chí Đoan du kích mật đã dẫn đường đưa đoàn cán bộ đến địa điểm an toàn.

Được sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời của Tỉnh ủy, các đoàn cán bộ đã về bám tại cơ sở địa bàn. Mỗi xã đã có 2 đến 3 cán bộ kinh và dân tộc thoát ly phụ trách, mỗi làng đều có cơ sở chính trị sống công khai hợp pháp trong dân. Dựa vào phong tục tập quán của mình và lợi dụng lúc Mỹ Diệm đang tập trung lực lượng đánh phá các tỉnh đồng bằng, đồng bào các dân tộc trong tỉnh tranh thủ củng cố lực lượng, học tập xác định nhiệm vụ, đoàn kết giữ phong trào, bảo tồn lực lượng cách mạng.


(1) Khu ủy 5 họp các này 27, 28 tháng 07 năm 1954


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:18:54 am
*   *
*

II – Những cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào các dân tộc đòi hòa bình, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ:

A. Phong trào đấu tranh đòi hiệp thương: Ngày 16/05/1955, Trung đoàn 803 đơn vị cuối cùng của Khu 5 xuống tàu hoàn thành thắng lợi cuộc chuyển quân tập kết. Thời gian ấy quân đội Pháp cũng rút khỏi vùng mỏ Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Một nửa nước ta từ vĩ tuyến 17 trở ra đã vĩnh viễn không còn bóng quân xâm lược.

Trong lúc các lực lượng vũ trang ta đang thực hiện các điều khoảng của Hiệp định Giơ-ne-vơ về chuyển quân tập kết; trên vùng Cao nguyên Gia Lai, đồng bào các dân tộc và đồng bào kinh ở An Khê (huyện 2, 7 cũ) đã đấu tranh với địch dưới hình thức biểu tình chống địch vi phạm Hiệp định, đòi địch phải giải quyết đời sống cho dân. Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tục từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1954 của trên 2000 đồng bào vùng Đak Đoa, Đak Bơt, dựa vào các điều hiệp định buộc địch trước kia đóng ở đâu nay cứ ở đó, không được lập thêm đồn bót mới.

Ngày 6 tháng 6 năm 1955, Chính phủ nước Việt nam dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở Hội nghị hiệp thương với nhà đương cục Miền Nam bắt đầu từ 20 tháng 7 năm 1955. Tiếp đến ngày 19/7/1955, Chính phủ ta lại gửi công hàm cho chính quyền Miền Nam đề nghị cử đại biểu tham dự Hội nghị Hiệp thương.

Hưởng ứng các bản tuyên bố của Chính phủ ta, hàng vạn nhân dân vùng nông thôn dân tộc đến thị xã, thị trấn gây dự luận rộng rãi, đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Nhiều nơi đồng bào rầm rộ tổ chức mét tinh, biểu tình, cử đại biểu đến cơ quan quận, tỉnh, đến ủy ban quốc tế đưa kiến nghị, nguyện vọng đòi chính quyền Miền Nam phải ngồi hiệp thương với Miền Bắc để bàn việc tổ chức tổng tuyển cử. Cùng với những cuộc đấu tranh đòi yêu sách trên, vào khoảng tháng 8 và tháng 9 năm 1955, cơ hơn năm ngàn đồng bào từ các vùng vào quận An Túc (An Khê) đấu tranh đòi Mỹ Diệm không được cho quân bắn phá bừa bãi vào làng và kéo dài thời gian đổi bạc. Cuộc đấu tranh này có sự đồng tình, phối hợp của phái đoàn ta ở ủy ban liên hiệp đình chiến, buộc địch phải chấp nhận. Nhiều cuộc đấu tranh dồn dập kiên quyết buộc tên Nguyễn Văn Ngọc Tỉnh phó phải đích thân xuống An Khê giải quyết các yêu sách của dân.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956 có sự chỉ đạo đúng mức, kịp thời, sát hợp của cán bộ bám các địa bàn, những cuộc đấu tranh của đồng bào các nơi được bùng lên đều khắp. Nhất là vùng khu 2, 7 và khu 4, 5 đã thu được thắng lợi, gây niềm tin phấn khởi trong nhân dân. Có lúc hàng ngàn người kéo vào Chu Ty, nhập thị xã Pleiku đấu tranh đòi địch phải thả những người đại diện của quần chúng đấu tranh bị địch bắt, chúng phải chấp nhập giải quyết.

Các cuộc đấu tranh với địch thu thắng lợi thì phong trào cách mạng trong nhân dân tiếp tục được củng cố, khu căn cứ của tỉnh ở vùng Đé Bam – Đé Krăp được giữ vững. Các tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng bí mật được kiện toàn. Số muối, nông cụ cất dấu từ trước dần dần được giải quyết cấp phát cho dân các vùng gặp khó khăn.

Cán bộ kịp thời bám sát cơ sở, tranh thủ phát động quần chúng, xây dựng đội ngũ cốt cán, sẵn sàng đấu tranh chống địch. Đã dựa vào phong tục tập quán để hướng dẫn đồng bào sử dụng vũ khí thô sơ bảo vệ buôn làng, bảo vệ cơ sở cách mạng hạn chế không cho địch sục sâu vào rừng. Ta đã phát động phong trào văn nghệ quần chúng sôi nổi, rộng rãi để tập họp được đông đảo quần chúng dân tộc tham gia. Qua đó mà thâm nhập, giáo dục tuyên truyền hướng dẫn nội dung đấu tranh và rút kinh nghiệm cho quần chúng đạt được kết quả. Nhiều cuộc đấu tranh đông bằng ngàn người, nhưng có tổ chức, có cốt cán, có lãnh đạo gây cho địch bất ngờ, lúng túng. Mặt khác ta đã vận động nắm được số nhân viên người dân tộc có cảm tình với cách mạng cài vào bộ máy Ngụy quyền của Diệm. Tại vùng khu 2, 7 (An Khê cũ) đã có 50% hoặc hơn số nhân viên ngụy quyền cấp cơ sở là người của ta chuẩn bị sẵn đưa vào; có một số nhân viên Ngụy quyền cấp chuẩn bị sẵn đưa vào; có một số nhân viên Ngụy quyền cấp cấp quận (huyện) là người của ta cài vào hoặc đã tranh thủ được họ. Ta chủ động liên lạc số này trong các cuộc đấu tranh chống xâu, thuế có kết quả. Qua đấu tranh phong trào ở các khu du kích cũ có ổn định nên ta xây dựng thêm được nhiều cơ sở trong vùng trước đây do Pháp kiểm soát, nên đến đầu năm 1957 toàn tỉnh đã có cơ sở ở 911 làng (trong tổng số 1001 làng của tỉnh).


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:21:55 am
*   *
*

B. Phong trào nhân dân đấu tranh chống địch “Tố cộng”:

Trong khoảng thời gian nửa năm 1956 sang năm 1957 là lúc địch ráo riết xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ quân sự. Chúng tăng cường mở rộng các đồn bót cũ, xây dựng thêm nhiều đồn bót mới, hình thành hệ thống cứ điểm vây quanh các khu căn cứ của ta. Chúng ra sức bắt xâu, tăng thuế, cướp đất rừng lập các khu dồn dân gọi là “Dinh điền”. Bằng mọi biện pháp cưỡng bức xúc dân từ các tỉnh đồng bằng, nhằm vào các gia đình cách mạng, Đảng viên, gia đình có người thân đi tập kết đưa lên Gia Lai, lập những ấp dân cơ cư dọc các trục lộ giao thông chiến lược 14, 19, vùng đất bằng sát biên giới Việt Nam – Campuchia. Mưu đồ của chúng là xây dựng những cơ sở hậu cần, làm pháo đài chống phá cách mạng phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Âm mưu của địch là muốn tiêu diệt nhanh cơ sở cách mạng của ta ở vùng núi. Chúng cho rằng chừng nào chưa kiểm soát được Tây Nguyên thì tình hình của chúng ở các nơi khác cũng khó ổn định, nhưng vì chúng chưa có cơ sở trong dân, địa thế lại hiểm trở chi phối, nên chúng chủ trương lúc đầu chỉ tập trung đánh phá một số khu vực trọng điểm là Đak Đoa, Đak Bơt và nam An Khê.

Chúng tập trung đánh vào một số khu trọng điểm điển hình với mọi hành động dã man, tàn ác như thời Trung cổ. Bọn tay sai ác ôn hung hăng gào thét “đánh thật mạnh, nhổ hết cơ sở của Việt Cộng!”. Chúng xua quân đốt làng mạc từ “nhà rông” đến chòi để lúa, nhà giữ rẫy đều thiêu đốt sạch. Chúng bắt hàng loạt người tra tấn đến chết hoặc đánh đến tàn phế. Mặt khác chúng mở các lớp học “chiêu hồi tố cộng” hàng 10 ngày đến nửa tháng để uy hiếp tinh thần nhân dân, hòng phát hiện khai báo Đảng viên, cốt cán. Chúng cấm nhân dân không được ngủ tối ngoài rẫy, ai đi rẫy, đi rừng không được mang theo gạo, muối.

Tuy Mỹ Diệm dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng chúng không đè bẹp được ý chí kiên cường bất khuất của cán bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân bảo vệ che dấu cán bộ. Có số cán bộ, Đảng viên bị địch bắt dù tra tấn nhục hình hết sức dã man vẫn không khai báo, không nói xấu về Đảng. Đồng chí Đei – Bí thư chi bộ làng Krong Hra (Nam An Khê) bị địch bắt tra tấn rất dã man, đồng chí không hề khai báo một lời, chúng điên cuồng đem chôn sống đồng chí; trước lúc hy sinh đồng chí đã khẳng khái hô to: “Bok Hồ arih ling lang”(1); tinh thần bất khuất của người Đảng viên cộng sản đã góp phần giữ vững lòng tin và cổ vũ khí thế đấu tranh cho quần chúng nhân dân.

Trước những hành động địch đánh phá phong trào một cách quyết liệt, Tỉnh ủy kịp thời chủ đạo cho các cơ sở: “Tiếp tục phát động quần chúng đấu tranh đòi hiệp thương đòi bỏ sưu, bỏ thuế, đòi cải thiện dân sinh, chống địch khủng bố, chống bắt người kháng chiến cũ”.

“Củng cố và phát triển cơ sở cách mạng, học tập quán triệt sâu thêm cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân nắm và vận dụng phương châm đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp đối với từng vùng cho sát. Triệt để lợi dụng thế hợp pháp để đấu tranh, đồng thời vận dụng phong tục tập quán để đẩy thế đấu tranh không hợp pháp”.

“Tiếp tục củng cố nội bộ Đảng, học tập, giữ vững và nâng cao khí tiết cách mạng, rèn luyện nhân sinh quan cho Đảng viên, cán bộ Đảng viên, cán bộ phải bám cơ sở, bám phong trào, lãnh đạo hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ cơ sở, bảo vệ phong trào. Phải khẩn trương chuyển hướng tổ chức. Chi bộ làng sinh hoạt, đơn tuyến, phát triển Đảng viên mới bí mật, xây dựng củng cố các tổ chức quần chúng hoạt động bí mật.

Những chủ trương trên, nhất là kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh hợp pháp với đấu tranh không hợp pháp, đấu tranh chính trị với đấu tranh để tự bảo vệ đã tạo thế chủ động cho nhân dân. Qua hai năm đấu tranh chống địch “Tố cộng” tuy đã có bị một số tổn thất, nhưng phong trào vẫn giữ vững.

Nghị quyết của Tỉnh ủy đã nhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt và đấu tranh chống địch trong nhân dân Kinh cũng như đồng bào dân tộc. Sang đầu năm 1956 khi Mỹ Diệm đẩy mạnh các đợt “tố cộng” đánh phá ráo riết phong trào cả tỉnh thì tinh thần đấu tranh của đồng bào các dân tộc càng quyết liệt và bùng lên mạnh mẽ.

Nhân dân các làng không nộp thuế, không đi làm xâu đồn bót của địch, không chịu nộp ảnh để làm thẻ căn cước, không treo ảnh Diệm, không treo cờ ba sọc(2). Có làng đồng bào đem ảnh Diệm, đem cờ ba sọc treo xó bếp, góc rào. Địch khủng bố tra hỏi, cả làng đồng thanh trả lời: “theo phong tục dân tộc treo cờ, ảnh giữa nhà con ma nó bắt chết cả làng”; giặc dở thủ đoạn mỵ dân, tung hàng xa xỉ phẩm ra mua chuộc dân làng, đồng bào liền kéo nhau lên trụ sở xã, cơ quan quận đòi ngụy quyền phải bán muối, vải nông cụ, thuốc chữa bệnh… đấu tranh đòi chúng phải để đồng bào đi lại tự do trong rừng để tìm lâm thổ sản, thuốc chữa bệnh.

Nhân dân còn cắm chông, gài thò, rào đường, tổ chức canh gác không cho địch lùng sâu vào các khu căn cứ, địch hỏi, đồng bào nói thẳng; “dân làng đào hầm, chông, gài thò để chống thú rừng phá hoa màu. Muốn đi vào rừng các ông phải báo trước và phải đi theo các ngả đường đã làm dấu, nếu không báo trước, đi sai đường, vướng chông thò chết, bị thương dân làng không chịu trách nhiệm”.

Hai trăm đồng bào vùng Đak Đoa đã vác giáo mác, tên ná kéo ra vây bọn lính ngụy đang lùng sục bắt cán bộ, đảng viên, chúng phải thả người rút quân về quận.

Tức nước vỡ bờ! Trước những hành động khủng bố dã man tàn bạo của kẻ thù, đồng bào dân tộc bảo nhau “đánh Mỹ Diệm không thể đánh bằng miệng được(3), ta phải nhổ cỏ từ lúc mới mọc, không được để nó lớn lên phá lúa!”.


(1) Bok Hồ arih ling lang: Bác Hồ sống mãi mãi, Bác Hồ muôn năm.
(2) Cờ Ngụy quyền Sài gòn
(3) Ý nói không thể chỉ có đấu tranh chính trị với địch được


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:22:33 am
Vì vậy, từ giữa đến cuối năm 1958, nhân dân trong tỉnh đã nổi lên nhiều cuộc đấu tranh tự vệ lẻ tẻ. Những tên ác ôn khét tiếng, những tên hoạt động gián điệp chỉ điểm bị nhân dân bí mật trừ khử.

Thanh niên làng Djama đã phục rượu diệt một tên gián điệp tại bờ sông Ba, không báo cho cán bộ biết. Du kích xã Yang Nam (huyện KôngChro) do đồng chí Bà Yua Bí thư xã chỉ huy đã diệt tên huyện Yâu ác ôn khét tiếng dẫn quân về khủng bố làng Đé Alao. Cuộc trừng trị ác ôn này diễn ra chớp nhoáng, đồng chí Bà Yua xông vào vật lộn với tên ác ôn, du kích mật xáp vào diệt luôn, bọn lính không hề hay biết. Đến tháng 9-1958, tên Ngọc dẫn lính về làng Đé Hle (xã Yang Trung) tìm tên Yâu đã bị du kích mật xông vào “nhà rông” bắt đem thủ tiêu.

Những tháng cuối năm 1958 hoạt động diệt ác ôn của du kích mật đã rộ lên; nhân dân làng Bơ Bah (Nam An Khê) tổ chức diệt tên Kơ và tiếp sau diệt tên Keu bằng trận phục kích trên đoạn đường số 7 (gần làng Hơn Đak) do đồng chí Phạm Hồng Bí thư Huyện ủy chỉ đạo, anh em dùng dao rựa xông ra chặt chết tên ác ôn nhiều nợ máu này.

Nhiêu tên ác ôn khét tiết bị diệt, bí mật thủ tiêu, nhân dân vùng Nam An Khê (Kông Chro) an tâm sản xuất, đi lại, buôn làng được thuần khiết. Những tên tay sai khác khiếp sợ nằm im, không dám hoạt động lộ liễu, trắng trợn như trước; phong trào nhân dân có điều kiện phát triển.

Trong quá trình đánh địch khủng bố “tố cộng” thanh niên kéo nhau ra rừng lập các trại bí mật (đồng bào gọi là đầm). Được sự hướng dẫn trong cán bộ, số thanh niên này đã tổ chức thành đội ngũ, vũ trang bằng vũ khí thô sơ. Địch càng lùng sục, đánh phá thì các trại bí mật càng được tổ chức nhiều hơn. Các vùng căn cứ du kích khu 1 (K Bang), khu 7 (Krông Chro) và vùng Đăk Bằng (KrôngPa) dân làng sống bất hợp pháp với địch, có hàng mấy trăm làng địch không lập được chính quyền.

Những hoạt động diệt ác, bảo vệ dân làng, những hành động tự vệ, ít nhiều mang tính tự phát của quần chúng nhân dân và của cán bộ cơ sở, thể hiện nguyện vọng thiết tha được vũ trang cho phép đánh địch để bảo vệ quyền sống, bảo vệ làm ăn yên ổn.

Những cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa nhân dân các dân tộc trong tỉnh với bộ máy Ngụy quyền tay sai, với đội quân ác ôn khét tiếng tàn ác của Mỹ Diệm, tuy có vài nơi bị tổn thất, nhưng căn bản và cuối cùng ta đã làm thất bại chính sách “tố cộng, diệt cộng” của chúng. Ta đã bảo vệ được lực lượng cách mạng, giữ được phong trào đấu tranh của quần chúng, bảo vệ được khu căn cứ. Các tổ chức Đảng được giữ vững và củng cố, đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện thử thách. Quần chúng nhân dân giác ngộ, hiểu Đảng cộng sản là yêu nước, yêu dân, dũng cảm đấu tranh, nhân dân càng gắn bó và bảo vệ Đảng, ảnh hưởng của Đảng sâu sắc, sâu rộng trong đồng bào.

Tháng 6 năm 1958, Khu ủy V Hội nghị mở rộng nghiên cứu những kinh nghiệm nắm, vận dụng phương châm, phương pháp đấu tranh của phong trào cách mạng ở Nam bộ. Đồng chí Lê Duẩn đã trao đổi với Khu ủy V về vị trí chiến lược của Khu V, những vấn đề cần thiết để làm chuyển biến tình hình, trong đó có việc tổ chức lực lượng vũ trang, trước mắt chỉ nên tổ chức tổ 3 người, tiểu đội, nhiều nhất chỉ đến trung đội để làm nhiệm vụ bảo vệ buôn rẫy. Khi có điều kiện sẽ phát triển thành phong trào du kích lẻ tẻ, kết hợp với lối đánh bằng kỹ thuật đặc công rất linh hoạt…

Thời gian này Khu ủy có chỉ thị cho các địa phương được phép diệt ác ôn, chỉ thị của Khu Ủy đáp ứng nguyện vọng tha thiết của Đảng viên cán bộ và nhân dân để thúc đẩy phong trào trong tỉnh.

Tỉnh ủy chủ trương thành lập các đội tự vệ, trước hết tổ chức ở khu 2 (huyện K’Bang) và khu 7 (huyện Kông Chro). Tỉnh phân ra các vùng để chỉ đạo cụ thể: Vùng ta làm chủ, vùng vừa có địch vừa có ta, vùng địch còn kiểm soát nhằm để chỉ đạo phương thức xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở và đấu tranh thích hợp với từng vùng.

Một hình thức chính quyền mới của nhân dân cũng được thành lập: Một số nơi có cơ sở vững, mỗi xã có 3 cán bộ phụ trách gọi là “Ban cán sự hoặc ban tự quản” để điều hành công việc, chỉ đạo phong trào; Ban tự quản này cũng hình thành cùng lúc với tổ chức đội tự vệ mật (gọi là du kích M). Du kích mật lấy thôn hoạt động làm chính từ 3 đến 5 người. Hoạt động đơn tuyến do cán bộ cơ sở nắm chỉ đạo, chỉ huy; trang bị cho du kích bằng dao, ná, tập luyện canh gác bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ và tăng gia sản xuất tự túc. Chưa có chủ trương hoạt động đánh địch.

Bằng những thủ đoạn tàn sát khủng bố “tố cộng, diệt cộng” một cách dã man khốc liệt, Mỹ Diệm hòng tiêu diệt Đảng bộ, dập tắt phong trào cách mạng của tỉnh. Nhưng chính thời điểm mà chúng tưởng sắp tiêu diệt được lực lượng cách mạng thì cũng là thời điểm mà phong trào đấu tranh trong tỉnh bắt đầu vùng lên tiến công trở lại chúng.

Nguyên nhân cơ bản là các ấp bộ Đảng nắm vững Nghị quyết của Tỉnh ủy, kịp thời triển khai tại địa bàn cơ sở Nghị quyết sát đúng tình hình, hợp ý nguyện của dân, được đội ngũ cán bộ, Đảng viên nghiêm chỉnh thực hiện. Địch càng ra sức khủng bố, cán bộ Đảng viên đã dũng cảm kiên quyết khôn khéo lãnh đạo quần chúng, sát dân, sát cơ sở, nêu cao khí tiết cách mạng; nhân dân Kinh cũng như dân tộc gắn bó vận mệnh của mình với Đảng, với cách mạng, hăng hái đấu tranh bảo vệ cách mạng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:23:09 am
C – Phong trào nhân dân đấu tranh chống địch cướp chiếm đất lập “dinh điền” và chống chính sách “dinh điền” của địch:

Song song với phong trào nhân dân chống chính sách “tố cộng, diệt cộng” của địch, phong trào nhân dân nổi lên diệt ác ôn, thám báo, gián điệp vùng phía đông tỉnh, thì ở vùng đất bằng phía tây tỉnh lại nổ ra cuộc đấu tranh chống địch chiếm, cướp đất lập “dinh điền” của địch cũng rất quyết liệt.

Nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược nước ta lâu dài từ năm 1957 trở đi, Mỹ Diệm ráo riết chiếm đất, rừng của đồng bào dân tộc trên vùng đất bằng phía Tây tỉnh, đề dồn dân ào ạt từ các tỉnh đồng bằng lên Gia Lai xây dựng một hệ thống “Dinh điền” gần giáp biên giới CamPuChia.

Việc chiếm đất, dồn dân, cưỡng ép dân di cư, địch đã làm đảo lộn cuộc sống bình thường của đồng bào Kinh từ đồng bằng lên và đụng chạm đến đời sống, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, nhân dân rất căm phẫn.

Trước tình hình đó Tỉnh ủy sớm đề ra chủ trương phát động đồng bào các dân tộc trong tỉnh đấu tranh chống địch. Khẩu hiệu “chống địch cướp đất” đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, tranh thủ được tầng lớp trung gian, chủ làng, già làng và cả một số nhân viên Ngụy quyền người dân tộc đồng tình ủng hộ.

Ngay từ đầu nhân dân các vùng bị địch cướp đất đã tập hợp lực lượng, cùng nhau đi cắm cọc, chăng dây khoanh vùng, giữ đất, giữ ruộng nương, giữ hồ ao, mồ mả, đốt tranh giữ tre, không cho địch chặt phá lấy làm nhà đón người di dân, kiên quyết không cho địch chiếm rẫy rừng của đồng bào.

Đầu năm 1959, bọn địch tại tiểu khu Pleiku và quận Lệ Thanh đưa một trung đội bảo an cùng hai xe ủi đến vùng PleiBlang Yam (Chưpăh) thực hiện cày ủi ruộng rẫy của dân làng. Nhân dân đã kịp huy động đông đảo lực lượng dùng lý lẽ đấu tranh với địch. Trên 2.000 người của 92 làng chung quanh chẳng bao lâu đã kéo đến tiếp sức cho dân làng Plei Yam đấu tranh không cho địch cày ủi ruộng nước. Bọn địch vẫn ngoan cố cho xe ủi phá cọc rào. Chị Chăm người làng Ken Ngó dẫn đầu đoàn phụ nữ lăn ra mặt đường nằm trước mũi xe ủi của địch không cho xe xúc cọc, phá ruộng rẫy. Ở Bảo Đức hàng trăm phụ nữ khác do chị H’ Len dẫn đầu, cũng nằm lăn ra trước đầu xe ủi đất. Bọn ác ôn ngoan cố ra lệnh cho dân đàn áp, chúng cho xe xúc cả người lẫn đất ra bờ lô. Lập tức hàng trăm người cả ông, bà già, trẻ em xông vào vây đánh bọn ác ôn. Có anh em tự vệ và thanh niên nhảy lên xe và xông vào buồng lái lôi lái xe ra không cho nổ máy. Cuộc đấu tranh ngày càng quyết liệt, dân các làng ngày càng đông dẫn đến vây xe, tranh thủ thuyết phục lính bảo an, cuộc đấu tranh kéo dài hai, ba ngày, quần chúng cử đại biểu đi Pleiku đấu tranh tiếp. Bọn ác ôn buộc phải dừng ngay cuộc cày ủi, trước khí thế đang hừng hực dâng lên của đồng bào, chịu cứu chữa người bị thương, nhận các kiến nghị của dân, gửi lên trên. Nhân dân tiếp tục cắm cọc, cuốc ruộng, đào mương dẫn nước tưới được 8 ha ruộng.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh PleiBlangYam, Bảo Đức đã nhanh chóng lan rộng tới vùng Chí Ngheh, qua Khu 5 (huyện ChưPrông). Giữa tháng 2/1959 nhân dân các vùng Mỹ Á – Đức Nghiệp đã mang giáo mác, tên ná đến vây nhà “Địa điểm tưởng” tìm người bị địch bắt, đánh nhau với bọn tay sai ác ôn đến cày ủi đất. Nhân dân của 25 làng xã Ia Bong, Ia Phìn lăm lăm giáo mác, gậy gộc kéo đến dinh điền Lê Ngọc đấu tranh quyết liệt không cho địch cày ủi, phá rào, phá rẫy ruộng, đòi bồi thường tài sản. Quần chúng chia từng toán 7 người thay phiên nhau gác suốt đêm không cho xe ủi nổ máy. Cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt, quần chúng xáp vào vật lộn với lái xe, địch bắt trói dân, quần chúng xông vào dùng dao cắt dây trói; địch bắt đại diện của dân, quần chúng xông vào giành lại. Bọn ác ôn điên cuồng cho lính xả súng bắn vào đồng bào làm chết và bị thương 14 người. Trước tình hình ấy, quần chúng đã khiêng người bị thương chuyển lên quận đấu tranh, đòi bồi thường, đỏi thả người bị bắt.

Đồng bào Kinh bị địch ép đi “dinh điền” đã phối hợp đấu tranh với đồng bào dân tộc. Khi bọn ác ôn đàn áp cuộc đấu tranh, đồng bào Kinh hô to “Đả đảo khủng bố, ủng hộ đồng bào Thượng”. Một số lính bảo an đi theo cũng phản đối hành động đàn áp dã man của bọn chỉ huy ác ôn, ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc và đồng bào dinh điền.

Được sự chỉ đạo kịp thời của các cấp tỉnh, huyện, trước sức đấu tranh quyết liệt của đồng bào trong phạm vi 143 làng của 20 địa điểm kéo dài hàng hai tháng liền, có sự đồng tình của một số lính bảo an người dân tộc, bọn ác ôn đầu sỏ Quận Lệ Thanh phải ký giấy chịu bồi thường thiệt hại cho dân (trên 20 ngàn đồng bạc lúc bấy giờ) bãi bỏ việc cày ủi, trả lại 50 rẫy cho dân, thay đổi một số tên tay sai, hạn chế đàn áp khủng bố, quan hệ đoàn kết giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc tại chỗ gắn bó hơn.

Song song với cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc chống địch cướp đất, đồng bào Kinh bị cưỡng ép lên lập “Dinh điền” đã nổi lên đấu tranh đòi về quê cũ, hoặc bỏ đi nơi khác lấy cớ khí hậu Tây Nguyên khắc nghiệt. Đồng bào Ninh Đức đình công nghỉ trồng cao su, đòi địch phải cấp đủ lương thực, thực phẩm. Đồng bào ở Lệ Phong, Lệ Kim nghỉ việc đòi quận, địa điểm trưởng cải thiện đời sống, đấu tranh trả giống đay, thay giống lúa để có lương thực ăn tại chỗ. Cuộc đấu tranh của đồng bào liên tục, quyết liệt chống địch bóc lột, o ép đủ cách. Không cam chịu nhục, đồng bào ở Plei Me 1, Plei Me 2, dinh điền Sùng Lễ, Tân Lạc đã chặt, cuốc, đốt phá hàng trăm hecta cao su, đòi địch trả dân về quê cũ ở đồng bằng.

Các cuộc đấu tranh trên đã làm chậm trễ âm mưu cướp đất lập “Dinh điền” của Mỹ Diệm.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:24:32 am
*   *
*

D – Đồng khởi của đồng bào các dân tộc trong tỉnh:

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) ngày 13 tháng 01 năm 1959 dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Miền Nam là: “giải phóng Miền Nam khỏi ách thống trị của Đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Việt Nam…”. Hội nghị khẳng định “… con đường phát triển cơ bản của cách mạng Miền Nam là dùng bạo lực, lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều, hoặc ít, tùy tình hình để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân…”

Tháng 2 năm 1959, Quân ủy Trung ương Hội nghị mở rộng để quán triệt nghị quyết 15 Trung ương, bàn tổ chức chi viện cho miền Nam. Một số cán bộ chiến sĩ ra tập kết miền Bắc năm 1954 nay được lựa chọn trở về miền Nam chiến đấu.

 Tháng 7 và tháng 8 năm 1959, Nghị quyết 15 Trung ương đã được tổ chức học tập cho cán bộ, Đảng viên các cấp ở tỉnh. Nghị quyết được phổ biến đến đâu, khí thế cách mạng của quần chúng bùng lên đến đó – “Đảng đã cho đánh địch rồi!”, nhân dân các dân tộc trong tỉnh từ đồng bào đến cơ ở vùng Kinh đều rạng rỡ phấn khởi, hăng hái gia nhập các đoàn thể giải phóng, đẩy mạnh sản xuất, bố phòng chống địch. Đồng bào dân tộc xung phong làm “Rẫy cách mạng”, trồng thêm sắn, ngô nuôi quân, xây dựng lực lượng vũ trang; chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.

Con đường phát triển cách mạng ở Miền Nam Việt Nam đã được vạch rõ. Những bế tắc lúng túng về hình thức, phương pháp đấu tranh đã được giải quyết. Nguyện vọng của quần chúng cách mạng đã được đáp ứng. Thời kỳ cách mạng mới của cách mạng Việt Nam ở Miền Nam đã mở ra.

Tháng 9 năm 1959 cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trà Bồng ở Miền Tây Quảng Ngãi đã mở ra và giành thắng lợi; cùng với cuộc nổi dậy của đồng bào vùng Thồ Lồ, tháng 8 năm 1958 và cuộc nổi dậy của nhân dân các làng Tơ Lốc, Tơ Léc và làng Hà Rì (Vĩnh Thạnh) tháng 2 năm 1959 đã lao lên Gia Lai, cố vũ thôi thúc nhân dân các dân tộc trong tỉnh kiên quyết đấu tranh chống địch.

Tháng 11 năm 1959, tự vệ mật và thanh niên làng Đé Sơ Rơn và làng Đé Skiết (huyện KôngChro) đã phục rượu và mưu trí diệt một tiểu đội thám báo, khi bọn này bị lừa lội qua suối Sdrôh diệt 7 tên, thu 7 súng trường và đạn. Cuối năm 1959, nhân dân làng Ơi Đăk – xã Đăk Bằng (huyện KrôngPa) nổi dậy giết tên cảnh sát quận, giải thoát cho 2 cán bộ rồi kéo cả làng ra rừng bố phòng chống địch.

Cùng thời gian này lực lượng vũ trang tỉnh được gấp rút xây dựng. Đoàn cán bộ quân sự, chính trị của Trung ương chi viện cho Gia Lai đợt đầu tiên có 25 đồng chí đã đến căn cứ của tỉnh. Các cán bộ ở Miền Bắc đều đã qua đào tạo hoặc bổ túc ở các trường chính quy có trình độ chính trị vững vàng, trình độ kỹ thuật và chiến thuật được huấn luyện cơ bản, đã trải qua kháng chiến có kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy và am hiểu chiến trường.

Các các bộ quân đội mấy năm ở lại Miền Nam, ngoài một số đồng chí chuyển qua giữ các vị trí công tác Đảng, các ngành, các đoàn thể, còn một số đồng chí trở lại nắm chỉ huy, lãnh đạo các đơn vị vũ trang mới thành lập.

Các chiến sĩ trong các đột thoát ly, các đội tự vệ mật làm công tác bảo vệ cơ quan, các đội sản xuất tự túc, các đội vận chuyển v.v…. được chọn tập hợp lại cùng với số thanh niên hăng hái tình nguyện vào lực lượng vũ trang. Đặc biệt sau đợt học tập Nghị quyết 15 Trung ương, phong trào thanh niên tình nguyện gia nhập bộ đội sôi nổi, rầm rộ. Các huyện 2, huyện 7 các thanh niên trẻ, khỏe đến xin vào bộ đội vượt quá số lượng cần tổ chức. Một số anh em phải động viên trở về làng làm nòng cốt trong dân quân du kích tại cơ sở. Những thanh niên được tuyển vào đơn vị vũ trang đều qua rèn luyện thử thách trong các đợt đấu tranh chống địch “Tố cộng” nên có ý thức giác ngộ cách mạng, căm thù địch sâu sắc, ý chí cách mạng kiên định.

Ngày 23 tháng 10 năm 1959 các Trung đội vũ trang tập trung tỉnh chính thức thành lập, đợt đầu có 3 Trung đội gồm làng 10, làng 20 và làng 30(1). Sang năm 1960 lập thêm 3 Trung đội là làng 40 ở vùng Đăk Lôh (KơBang) và làng 50, làng 60 ở huyện 7 (KôngChro), số vũ khí cất dấu năm 1954 được đào lên, sửa chữa, trang bị cho các Trung đội mới thành lập. Ngoài số súng cũ có thêm 3 Trung liên và một súng cối 60 ly ở miền Bắc chuyển vào.

Thường vụ Tỉnh ủy chỉ định Ban quân sự tỉnh trực thuộc Tỉnh ủy chuyên lo xây dựng và chỉ đạo hoạt động của lực lượng vũ trang do đồng chí Vũ Trung Thành Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Kpă Thìn Tỉnh ủy viên phụ trách (tháng 3-1960). Dần dần có tăng thêm một số cán bộ ngoài Bắc bổ sung vào xây dựng các cơ quan tham mưu, chính trị hậu cần chuyên lo bảo đảm cho lực lượng vũ trang tỉnh.

Đầu năm 1960, Khu 5 điều động 2 Trung đội của Gia Lai (Trung đội 50 của khu 7 và Trung đội 45 của khu 4 và khu 5) bổ sung cho tỉnh Đăk Lăk và Khánh Hòa. Đến năm 1961 Khu 5 điều tiếp Trung đội 40 (khu 2) bổ sung cho tiểu đoàn 50 (quận 5) và Trung đội 60 (khu 7) bổ sung cho Tiểu đoàn 30 (Quận 3) thuộc công trường 3 (Trung đoàn 3) chủ lực Khu 5.

Các huyện đều xây dựng được một Trung đội tập trung của huyện, một số huyện tổ chức thêm đội vũ trang công tác.


(1) Làng là phiên hiệu dùng chỉ Trung đội.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:26:35 am
*   *
*

Giữa năm 1960, Hội nghị Khu ủy 5 kiểm điểm việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 15 Trung ương. Qua thực tế tình hình diễn ra từ cuối năm 1959 sang đầu năm 1960, Hội nghị khẳng định: “Nếu chỉ vũ trang tự vệ mà không có sức mạnh quân sự thích đáng để đánh vào lực lượng quân sự của địch đúng chỗ, đúng lúc thì ưu thế chính trị của ta không phát huy được, nhược điểm của địch không bộc lộ rõ hết”. Hội nghị quyết định:

“Mạnh dạn phát động quần chúng ở miền núi vũ trang chống địch càn quét”.

“Đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh và Khu”.

“Khẩn trương xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ vững chắc làm chỗ dựa cho đồng bằng”.

Chấp hành mệnh lệnh hoạt động của Khu 5, Tỉnh ủy Gia Lai chủ trương mở đợt phát động quần chúng rộng rãi trên địa bàn tỉnh, lấy tên “Phong trào thương dân, yêu nước đứng lên làm cách mạng”. Vùng đồng bào Bah Nar gọi là lung Kting Pjing the dak (đứng lên giải phóng xây dựng đất nước”. Phong trào đồng khởi này vùng lên bằng tất cả mọi hành động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, động viên ủng hộ nhân vật tài lực cho cách mạng tham gia đấu tranh chính trị, hoạt động vũ trang vùng lên đập đổ bộ máy Ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân.

Tỉnh chọn địa điểm mở đầu cho cuộc đồng khởi này bằng tiến công tiêu diệt cứ điểm Kan Nak.

Kan Nak là một cứ điểm nằm về phía bắc quận lỵ An Túc (An Khê) khoảng 25km. Có một Đại đội biệt động đóng giữ, công sự tương đối kiên cố. địa hình thuộc dạng trung bình.

Chọn điểm Kan Nak mở đầu cho cuộc đồng khởi ta có nhiều thuận lợi về thế và lực. Cứ điểm nằm sâu trong vùng ta làm chủ. Nhân dân trong vùng lâu nay đã được tôi luyện trong đấu tranh chống địch khủng bố “tố cộng”. Lực lượng vũ trang tỉnh thành lập đơn vị đầu tiên trên địa bàn này. Việc chỉ đạo của Tỉnh ủy và chỉ huy của Ban quân sự tỉnh có nhiều thuận lợi. Từ cứ điểm Kan Nak trở ra phía Bắc và Tây Bắc là vung rừng núi trùng điệp, nơi đóng cơ quan chỉ đạo, khu vực dấu quân chuyển quân bảo đảm bí mật. Có nhiều thuận lợi trong bước chuẩn bị chiến đấu cho các lực lượng ta. Là trận mở màn cho cuộc đồng khởi, nên cán bộ chỉ huy của Tỉnh, các cơ quan dân, chính, Đảng, cơ quan tham mưu tỉnh trực tiếp chỉ huy điều hành giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện cho trận mở màn đánh thắng.

Lực lượng chiến đấu của Tỉnh có 3 Trung đội bộ binh, tuy mới thành lập nhưng được huấn luyện tốt, có tinh thần chiến đấu dũng cảm hăng hái lập công. Có một Trung đội đặc công tỉnh làm nòng cốt, có trình độ kỹ thuật được đào tạo chu đáo. Công tác trinh sát địch, địa hình được chuẩn bị tốt.

Đúng giờ quy định, đêm 23 tháng 10 năm 1960 bộ đội ta đã bí mật cắt rào, lót đội hình sát địch từ hai mũi phía Bắc và Tây đồng loạt tiến công tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm từ phút đầu. Bị đánh bất ngờ, hệ thống điện đài, chỉ huy của địch bị tê liệt, hàng ngũ quân địch rối loạn. Ta làm chủ trận địa sau 30 phút chiến đấu, tảo trừ, đã diệt và làm bị thương trên 100 tên địch, thu 80 súng các loại và hàng tấn đạn. Địch ở quận An Túc không kịp ứng cứu.

Chiến thắng Kan Nak là trận đánh tiêu diệt đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh, diệt gọn một Đại đội địch đóng giữ trong công sự tương đối vững chắc, ta thu toàn bộ vũ khí, bắt tù binh. Ta ít thương vong; trận đánh thắng lợi giòn giã, mở màn cho phong trào đồng khởi của đồng bào Bah Nar phía đông tỉnh. Bộ máy Ngụy quyền cơ sở của địch chung quanh Kan Nak bị ta phá rã. Nhân dân các làng phía Bắc đường 19 vùng lên bố phòng, cắm chông, rào làng, đốt thẻ kiểm tra, bất hợp tác với địch, lập bộ máy “tự quản” từ làng đến xã trên một vùng rộng lớn.

Địch ở quận An Túc và các đồn dọc trục lộ 19 không dám tự do đi lại lùng sục như trước vì chúng bị đánh bất ngờ, chưa hiểu được lực lượng ta.

Chiến thắng Kan Nak là điểm khởi đầu của đồng khởi trong tỉnh ở khu vực phía đông tỉnh, gồm trên 100 làng đồng bào Bah Nả đứng lên giành quyền làm chủ.

Chiến thắng Kan Nak đã vang dội sang phía nam đường số 19, đồn Ktõh (huyện 70 và đồn Đak Bơt (huyện 6) bị đơn độc, sợ ta đánh đã rút chạy. Một vùng đông dân cư phía nam đường 19 đứng lên làm chủ.

Thừa thắng Kan Nak, tỉnh kịp thời chuyển lực lượng lên phía Tây đường số 14 hoạt động. Đơn vị 30 và đơn vị đặc công tỉnh làm nòng cốt cùng bộ đội huyện và du kích Khu 4 (Chư Păh) tổ chức chiến đấu với quyết tâm cao, nhất là tiêu diệt cho được Quận lỵ Lệ Thanh.

Quận lỵ Lệ Thanh cơ quan đầu não của Ngụy quyền có đại đội biệt kích đóng giữ, khống chế một vùng dân cư đông đúc về Tây Bắc thị xã Pleiku. Nơi đây đã từng gây ra bao tội ác với đồn bào dân tộc Ja Rai trong thực hiện âm mưu cướp đất lập “dinh điền”. Do vậy mà cán bộ, chiến sĩ các đơn vị tham chiến đã nêu cao quyết tâm phát huy chiến thắng Kan Nak, đập nát quận lỵ, giải phóng cho đồng bào.

Đêm tối trời cuối tháng 11 năm 1960, bộ đội ta đã dùng chiến thuật đặc công tiêu diệt hoàn toàn quận lỵ. Trên 400 tên địch bị giết chết và bị thương, bị bắt sống, chỉ có một số ít thoát chạy. Ta thu toàn bộ vũ khí, giành thắng lợi giòn giã ở Lệ Thanh, các đơn vị ta nhanh chóng đột nhập vào các dinh điền Lệ Kim, Sùng Lễ, Đức Vinh phát động quần chúng phá khu dồn, xây dựng cơ sở và bộ máy tự quản của ta.

Từ thắng lợi đông đường đến thắng lợi to lớn phía tây của tỉnh, ta đã đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Đây là cuộc đồng khởi nổi dậy giành quyền làm chủ khu vực đồng bào JaRai trên vùng đất của tỉnh một khu dân cư rộng lớn sát nách căn cứ quận lỵ, thị xã. Đặc biệt ở vùng này quần chúng nổi dậy chống đánh địch, nhưng vẫn giữ thế hợp pháp cho dân, vẫn ra vào tiếp xúc với địch, mở ra cách vận dụng linh hoạt sáng tạo phương châm đấu tranh hai chân, ba mũi giáp công với chúng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2020, 07:28:00 am
Tháng 10 năm 1960, phụ nữ làng Sung Ia O (ChưPrông) đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt một Tiểu đội bảo an địch kéo vào làng lùng sục, khủng bố đồng bào, khi thấy chúng xả súng bắn dân bị thương, lòng căm thù địch bốc lên cao, hàng chục chị em đã đồng loạt dùng củi xông vào đật chết ngay tại chỗ 7 tên ngụy, bắt sống một tên, thu 9 súng, có một súng ngắn.

Trước khí thế tấn công và nổi dậy đồng loạt trên địa bàn tỉnh, chỉ trong thời gian ngắn, đồng bào các dân tộc trên diện rộng 500 làng với 150 ngàn người đứng lên giải tán bộ máy Ngụy quyền ở cơ sở giành quyền làm chủ. Vùng căn cứ giải phóng của ta được mở rộng, nối liền từ đường số 5 (Mang Đen) vào đến đường 19 chiến lược chạy dài vào phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, đồng thời hình thành vùng đấu tranh hai chân hợp pháp của hai huyện phía tây tỉnh, với số dân đứng lên làm chủ gần 2/3 dân số toàn tỉnh.

Thắng lợi của đợt tấn công đồng khởi và nổi dậy trên địa bàn tỉnh đã bước đầu góp phần làm thay đổi cục diện phong trào cách mạng trong tỉnh và Khu 5. Nhân dân từ thế phải ép mình chịu đựng đã đứng lên đánh địch giành quyền làm chủ đại bộ phận địa bàn nông thôn tỉnh.

Thắng lợi đồng khởi của tỉnh ta góp phần cùng cuộc đồng khởi toàn miền Nam giành thắng lợi to lớn. Đẩy chính sách xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ qua tên tay sai Ngô Đình Diệm đã đi vào con đường bắt đầu bế tắc, làm phá sản chiến lược “chiến tranh một phía” của chúng. Bọn tay sai Mỹ bắt đầu mâu thuẫn nhau dẫn đến tên Nguyễn Chánh Thi, Phan Quang Đán làm đảo chính để lật Diệm ngày 11 tháng 11 năm 1960. Cuộc đảo chính bị thất bại, nhưng biểu hiện sự chia rẽ trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ và tay sai không sao hàn gắn được.

Về ta, cuộc đồng khởi thắng lợi, tăng cường lối đoàn kết toàn dân. Tháng 10 năm 1961, ta làng Đăk Lẽh (huyện KBang) Đại hội đại biểu các dân tộc miền núi Tây Nguyên họp thành lập “Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên”, một bộ phận của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam và bầu cụ Y Bih Alé Ô làm Chủ tịch. Đại hội đã nêu cao tinh thần đoàn kết đấu tranh chống các âm mưu thủ đoạn áp bức chia rẽ dân tộc của Mỹ và tay sai, kêu gọi đồng bào các dân tộc miền núi sát cánh cùng đồng bào cả nước đấu tranh cho độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Cùng thời gian này, Mặt trận Dân tộc giải phóng Tỉnh thành lập đoàn kết các dân tộc, động viên khí thế đấu tranh chống địch mạnh mẽ.

Sau một thời gian nén đau thương căm hờn chịu đựng nay đã đến lúc đồng bào các dân tộc vùng lên. Hàng vạn quần chúng nổi dậy xóa bỏ ách kìm kẹp của Mỹ, Diệm giành quyền làm chủ đại bộ phận rừng núi và nông thôn. Thời kỳ tạm ổn định của Mỹ Diệm đã qua, thời kỳ khủng hoảng liên tiếp kéo dài đã bắt đầu, hình thành du kích cục bộ và khởi nghĩa đã mở ra một cao trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ(1).

Thời kỳ từ năm 1954-1960 là thời kỳ mà Đảng bộ tỉnh, cán bộ, Đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã trải qua một chặng đường tuy không dài, nhưng đầy khó khăn, ác liệt và bao thử thách hiểm nghèo.

Từ chỗ đại bộ phận tỉnh là vùng giải phóng, vùng du kích, trừ thị xã Pleiku nay trở thành vùng địch chiếm. Từ chỗ có chính quyền và quân đội đến hỗ chỉ còn lực lượng chính trị. Từ hoạt động công khai chuyển vào hoạt động bí mật, từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị, cách mạng tạm thời chuyển vào thế giữ gìn lực lượng. Đó là những thay đổi rất cơ bản cả thế và lực, cả về nội dung và phương pháp đấu tranh của phong trào cách mạng tỉnh ta.

Chuẩn bị cho một bước ngoặt lớn như vậy trong hoàn cảnh gấp rút tiến hành nhiều công việc mới mẻ và phức tạp như chuyển quân tập kết, cất dấu vũ khí, sắp đặt tổ chức và bố trí cán bộ ở lại… mặc dù Đảng bộ đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi sự bở ngỡ và sai sót một số mặt.

Tuy vậy, được sự chỉ đạo trực tiếp và kịp thời của Khu ủy, Tỉnh ủy Gia Lai và toàn Đảng bộ đã vận dụng sáng tạo linh hoạt của lợi thế địa bàn rừng núi, hiểm trở đã khơi dậy tinh thần trung kiên bất khuất của nhân dân các dân tộc, cùng với sự hy sinh chịu đựng đầy gian khổ ác liệt của Đảng viên, cán bộ bám dân, bám đất, bám buôn làng, vận dụng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc để xây dựng củng cố phong trào.

Điểm nổi bật của lãnh đạo là nhận thức được vị trí chiến lược của địa bàn tỉnh; quán triệt nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công đã kịp thời đề ra chủ trương xây dựng căn cứ địa bàn, xoi và giữ hành lang, xây dựng thực lực chính trị, làm cơ sở vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang xác định phương châm, phương thức hoạt động; chỉ đạo sát đúng phương thức đấu tranh kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh tự vệ diệt ác, tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Nhờ vậy, mặc dù địch khủng bố đàn áp khốc liệt, phong trào cách mạng của tỉnh vẫn được giữ vững và phát triển, tạo điều kiện khi có Nghị quyết 15 Trung ương Đảng thì kịp thời và đủ sức phát động cuộc đồng khởi nổi dậy vào cao điểm cuối năm 1960 giành thắng lợi lớn. Đã phát động chiến tranh du kích toàn tỉnh đều khắp, hai phần ba chính quyền địch ở cơ sở bị tan rã, 70% số dân trong tỉnh giành quyền làm chủ góp phần cùng toàn dân miền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh một phía” của Đế quốc Mỹ, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ cách mạng Miền Nam chuyển sang thế tiến công địch.

Từ thực tiễn của địa bàn tỉnh và phong trào đấu tranh của quần chúng ta thấy khí thế cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, việc tìm hiểu đánh giá đúng kẻ thù về âm mưu, thủ đoạn, chỗ mạnh, chỗ yếu và các biện pháp chiến lược đánh phá phong trào cách mạng của chúng để ta kịp thời xác định chủ trương, phương châm phương thức đấu tranh cho phù hợp là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để bảo vệ duy trì và phát triển phong trào giành thắng lợi, hạn chế thấp nhất tổn thất cho cách mạng.


(1) Nghị quyết Bộ chính trị Trung ương Đảng ngày 24-01-1961


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:24:36 am
CHƯƠNG VII

Phát động và đẩy mạnh chiến tranh nhân dân,
cùng toàn miền đánh thắng “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

I/ Tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh:

Tháng 01 năm 1961, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp để cụ thể háo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khóa III về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng Miền Nam.

Hội nghị kết luận: “Qua 2 năm thực hiện Nghị quyết 15 Trung ương, nhân dân Miền Nam từ thế bị kiềm kẹp đã vùng lên đấu tranh và tạo thành phong trào cách mạng mạnh mẽ. Hình thái du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện. Cách mạng Miền Nam phát triển theo con đường tổng khởi nghĩa với những đặc điểm mới và khả năng hòa bình phát triển không còn nữa. Một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân sẽ bùng nổ để lật đổ chính quyền Mỹ Diệm, giải phóng Miền Nam”.

Cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã thu thắng lợi, xuất phát từ đặc điểm địa bàn tỉnh, với so sánh lực lượng cụ thể từng vùng khác nhau, Tỉnh ủy đề ra hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp là: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch cả hai mặt chính trị và quân sự…”

- Vùng căn cứ du kích đấu tranh vũ trang là chủ yếu.

- Vùng đất đồng bằng nông thôn (phần lớn là vùng tranh chấp) thì đấu tranh chính trị và vũ trang có thể ngang nhau.

- Vùng thị xã, thị trấn (địch đang kiểm soát) thì đấu tranh chính trị là chủ yếu.

Phương châm đấu tranh đã xác định cụ thể: Tiến hành đánh địch trên cả hai mặt quân sự và chính trị, bàng 3 mũi giáp công (Quân sự, chính trị và binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (vùng rừng núi, vùng đất bằng nông thôn và thị xã, thị trấn, quận lỵ), nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch để thắng địch.

Sự chỉ đạo sát đúng này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng các lực lượng, tổ chức đưa phong trào cách mạng tiến lên có cơ sở vững chắc. Đó cũng là sự phát triển sáng tạo về chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, tạo thế cho phong trào cách mạng trong tỉnh tiến lên. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần đã phát triển thành chiến tranh cách mạng. Vì vậy việc xây dựng một lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng lớn để đáp ứng với nhiệm vụ cách mạng ngày càng phát triển là một yêu cầu cấp bách.

Ngày 15 tháng 02 năm 1961, Bộ chính trị ra Chỉ thị thống nhất các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam. Cán bộ chiến sỹ ra tập kết Miền Bắc năm 1954 lần lượt từng đơn vị về lại chiến trường.

Tháng 01 năm 1961, Đại đội 1 Đại đội tập trung đầu tiên của tỉnh được thành lập gồm các Trung đội (làng) 10, 20 và 30. Đại đội đứng chân tại huyện 2 (Kơ Bang) do các đồng chí Tiến và Ngọc chỉ huy.

Tháng 05 năm 1961, Trung đoàn 120 ra tập kết Miền Bắc tổ chức học tập Nghị quyết 15 Trung ương (tại Phủ Quỳ Tây Nghệ An) đã biên chế thành các đơn vị thực binh và các khung cán bộ về bổ sung cho các tỉnh Tây Nguyên. Tỉnh Gia Lai được bố sung hai khung cán bộ. Mỗi khung (Đại đội) có 28 cán bộ từ Tiểu đội trưởng đến Đại đội trưởng(1).

Tháng 7 năm 1961 hai khung cán bộ này về đến căn cứ tỉnh. Khẩn trương tuyển chiến sỹ mới và điều một số chiến sỹ cũ dân tộc các huyện 5 và 7 làm tiểu đội phó. Trong vòng một tháng đã biên chế xong 2 Đại đội. Đại đội 2 (gọi là vùng 4) anh em dân thộc BahNar đứng chân tại khu 7 (KôngChro) phụ trách xây dựng và chiến đấu khu vực k7, k6 và sau này khu 11. Đại đội 3 (gọi là vùng 3) đứng chân tại khu 5, phụ trách xây dựng, chiến đấu ở hai huyện 4 và 5.

Các huyện cũng đã hình thành các ban quân sự huyện tương đối đầy đủ (gọi là huyện đội). Đã có 7 trên 9 huyện trong tỉnh đã xây dựng Trung đội tập trung của khu (các khu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7), khu 9 (Pleiku) và khu 8 (An Khê) xây dựng 1 đến 2 đội vũ trang công tác.

Cơ quan tỉnh đội ngoài các ban tham mưu, chính trị, hậu cần được kiện toàn, tỉnh xây dựng Đại đội đặc công, Trung đội trinh sát, Trung đội thông tin, Trung đội công binh, Ban hậu cần tỉnh có thêm Phân đội vận tải, bộ phận Quân giới, sản xuất, may mặc.


(1) Khung cán bộ BaNar do đồng chí Phan Anh Tuấn và Y Don chỉ huy.
Khung cán bộ JaRai do đ/c Siu và Wil và Nguyễn Ngọc Luân chỉ huy.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:25:05 am
Nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị tập trung tỉnh, huyện là chiến đấu, thường xuyên hoạt động để đẩy mạnh và làm nòng cốt phong trào nhân dân du kích chiến tranh trên địa bàn. Ra sức chiến đấu tiêu hao rộng rãi quân địch, kèm cặp dân quân du kích; đồng thời xây dựng chuẩn bị điều kiện đánh tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, kết hợp tấn công binh tề vận làm tan rã từng bộ phận quân địch.

Ngay từ đầu thành lập, Tỉnh ủy quan tâm xây dựng công tác Đảng, công tác chính trị cho các đơn vị tập trung, xác định rõ chức năng của lực lượng vũ trang tỉnh, huyện phải làm tốt 3 nhiệm vụ chủ yếu là: Chiến đấu giỏi, công tác vận động quần chúng nhân dân giỏi và là đội quân lao động sản xuất tự túc giỏi. Các đơn vị tập trung tỉnh có trách nhiệm vừa xây dựng mình trưởng thành, vừa kèm cặp bộ đội huyện và dân quân du kích chiến đấu, xây dựng tốt.

Để đảm bảo nâng cao chất lượng cho các lực lượng vũ trang trong tỉnh, thống nhất nội dung xây dựng, huấn luyện, cuối năm 1961, Ban cán sự tỉnh (Tỉnh đội) tổ chức hội nghị Quân chỉnh toàn tỉnh, chỉnh huấn ngắn ngày cho các cán bộ chủ trì các đơn vị nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ cho từng lực lượng, từng địa bàn, giáo dục cho cán bộ chiến sĩ hiểu rõ âm mưu thủ đoạn địch, phát động phong trào tố cáo tội ác của Mỹ và bọn ác ôn tay sai đàn áp nhân dân trong các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của chúng, xây dựng ý chí và quyết tâm chiến đấu cho cán bộ chiến sỹ.

Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình hoạt động của các đơn vị vũ trang trong đợt đồng khởi cuối năm 1960, đúc kết kinh nghiệm bổ sung huấn luyện cho năm 1961-1962.

Mặt khác, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị quán triệt quan điểm, tự lực, tự cường, đẩy mạnh tham gia sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm và các trang bị cần thiết hàng ngày cho bộ đội. Kế hoạch sản xuất tự túc lương thực được đưa vào kế hoạch thi đua toàn diện của đơn vị như chỉ tiêu diệt địch, thu vũ khí và chỉ tiêu huấn luyện bộ đội, phát động quần chúng, công tác dân, địch vận. Đặc biệt nhấn mạnh chỉ tiêu chiến đấu tiêu diệt địch, thu vũ khí trang bị cho ta.

Đối với việc nuôi dưỡng, huấn luyện xây dựng dân quân du kích, Tỉnh ủy, Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh phát động nhân dân làm “rẫy kháng chiến”, “rẫy cách mạng”, nuôi quân chiến đấu. Các đoàn thể nhân dân thi đua hưởng ứng. Một không khí sôi động, khí thế kháng chiến được động viên nhân dân từng làng, từng bếp, (từng hộ gia đình) quyên góp cho mặt tận tỉnh hàng trăm bộ Cồng chiêng, nồi đồng, trâu, bò, chăn, mền, khố mới để làm quĩ kháng chiến lâu dài.

Đi đôi việc xây dựng lực lượng vũ trang năm 1961 cũng hình thành hệ thống hành lang giao liên. Tuyến hành lang Trung ương xuyên suốt Bắc Nam từ phía đông thị xã Kon Tum qua các khu 1, 2 (Kơ Bang) vượt ngang quốc lộ số 19 về khu 7 (KôngChro) xuôi về tây tỉnh Phú Yên. Tỉnh còn mở tuyến hành lang Đông – Tây song song với phía nam và phía bắc quốc lộ 19. Phía bắc, hành lang tỉnh xuyên từ khu 1, 2 lên khu 4 giáp sát biên giới CamPuChia. Đây là tuyến hành lang vận chuyển hết sức quan trọng, nối liền căn cứ cơ quan tỉnh với cơ quan chỉ huy Mặt trận Tây nguyên (từ tháng 5/1964 đến 1975) cũng nối liên lạc với đường giao liên chiến lược 1B của Trung ương trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đường giao liên phía nam (gọi là đường dây H4) từ khu 7 (KôngChro) lên khu 6 (nam Mang Yang) qua đường 14 lên khu 5 (Chưprông) giáp Binh trạm Nam (sau này). Tuyến giao liên của tỉnh do Ban giao bưu phụ trách, do một đồng chí Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo với trên 20 trạm giao liên, trang bị gần chục máy vô tuyến liên lạc đến các nơi xa, đã phát huy tác dụng rất lớn cho việc chỉ đạo xây dựng, chiến đấu bảo đảm hậu cần tại chỗ.

Để tiếp tục đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, Tỉnh tổ chức đợt hoạt động mạnh trên toàn tỉnh từ tháng 4 năm 1961. Bộ đội tỉnh đã tổ chức hàng trăm lần vũ trang tuyên truyền vào các vùng ven, sát nách thị xã, thị trấn, dinh điền, các khu tập trung đông dân. Nhân dân 20 làng dọc quốc lộ số 19 (Tây) của khu 4 và khu 5 nổi lên chống địch gom xúc dân, đốt thẻ kiểm tra, rải truyền đơn chống địch dồn quân, bắt lính. Cuộc đấu tranh của nhân dân đã gây náo động và thức tỉnh cả những người chưa hăng hái tham gia cách mạng.

Tháng 6 năm 1961, tỉnh mở đợt hoạt động Hè – Thu để phối hợp với đợt đấu tranh phá thế kìm kẹp của các tỉnh đồng bằng, củng cố và mở rộng căn cứ địa miền núi. Ngày 2 tháng 9 năm 1961, Đại đội 1 phối hợp với trung đội 14 của khu 2 (Kơ Bang) phục kích giao thông đoạn bắc An Khê vào Eo Gió, diệt tốp xe địch 4 chiếc, địch chết 36 tên, thu 6 súng và một số trang bị. Cùng thời gian Tiểu đoàn 50 của Quân khu tập kích địch ở cứ điểm KanNak buộc địch rút bỏ đồn. Phía tây trung đội 31 khu 5 (ChưPrông) phục kích toán địch càn quét ở vùng Lệ Ngọc, đã khéo léo kết hợp vũ khí tiếng nổ với cắm chông làm thiệt hại nặng một Trung đội bảo an địch buộc chúng phải bỏ dở cuộc càn.

Phía nam đường 19 Tiểu đoàn 30 của Quân khu tập kích địch đóng giữ dinh điền Châu Bân, đánh vào đơn vị địch ở sát thị trấn An Khê, cùng với Trung đội khu 7 (KôngChro) diệt toán địch tại khu chợ dồn (Tân Phong). Trường Trinh sát tỉnh đánh vào Đồn An Thượng diệt một số địch, thu 5 súng. Quần chúng nhân dân các làng của xã Gào, ven thị xã Pleiku đã nổi dậy phá kèm, cùng lực lượng vũ trang thị đánh hỏng nhà máy điện Nước Đổ (gần Bàu Cạn).

Phối hợp với hoạt động rộ trên mạn đông Pleiku và tây An Khê, một mũi đặc công của tỉnh và bộ đội tập trung khu 7 đã phối hợp với bộ đội đặc công, an ninh tỉnh Phú Yên đột nhập vào thị xã Củng Sơn giải thoát được các vị trong phong trào đấu tranh cho hòa bình bị địch đưa an trí tại đây, trong đó có cụ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được đưa vào vùng căn cứ an toàn.

Chiến tranh du kích trên toàn tỉnh bắt đầu phát triển, mở rộng diện tiêu hao địch. Các cuộc lùng sục của địch đều bị bộ đội và du kích chặn đánh. Nhiều tuyến bố phòng chông thò dày đặc khắp nơi, hạn chế quân địch càn quét sâu vào khu căn cứ. Những toán biệt kích liều lĩnh đi sâu vào vùng căn cứ đều bị đánh thiệt hại. Các cứ điểm nhỏ, lẻ đóng sâu sát vùng căn cứ phải rút bỏ. Vùng căn cứ của tỉnh được mở rộng, góp phần quan trọng tạo thành khu căn cứ của Khu 5 được mở rộng vững chắc.

Vừa xây dựng, huấn luyện, tổ chức đánh giặc giữ làng bảo vệ các khu căn cứ, bảo vệ các tuyến hành lang vận chuyện, vừa sản xuất tự cấp tự túc, bám sát cơ sở quần chúng nhân dân làm công tác tuyên truyền vận động, anh bộ đội đã mang “Trái tim Cụ Hồ” đến với lòng dân nơi buôn rừng xanh, góp phần xây dựng vùng căn cứ cách mạng ngày càng mở rộng và củng cố lực lượng vũ trang của tỉnh cũng từ đây mà ngày một trưởng thành vững chắc đảm nhận được nhiệm vụ của nhân dân giao phó.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:26:33 am
*   *
*

II/ Đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao, tiêu diệt địch, phá ấp chiến lược, giành dân, mở rộng và củng cố vùng căn cứ, vùng giải phóng, đánh bại kế hoạch Stalây – Tây-lơ của Mỹ:

Sau một năm thực hiện nghị quyết của bộ chính trị (tháng 01 năm 1961) phong trào cách mạng của nhân dân Miền Nam đã được giữ vững và ngày càng phát triển. Tỉnh Gia Lai, nhân dân vùng lên làm chủ đại bộ phận vùng rừng núi, vùng nông thôn đất bằng đã phát triển cơ sở khá rộng.

Để cứu vãn nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ một mặt trực tiếp nắm quyền chỉ huy quân sự ở Miền Nam, mặt khác tăng cường viện trợ trang bị vũ khí; đưa một số đơn vị vũ trang Mỹ chủ yếu là không quân, hải quân, biệt kích Mỹ vào làm chỗ dựa, hỗ trợ cho quân Ngụy và Ngụy quyền Sài Gòn tiến sâu thêm một bước trong cuộc chiến tranh xâm lược của chúng.

Tháng 2 năm 1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ ở Miền Nam (MACV) do tướng Ha-Kin cầm đầu. Chúng đề ra kế hoạch Stalây – Tay lơ mà nội dung cơ bản là dồn dân, lập “ấp chiến lược”, là xương sống của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Tham vọng của Mỹ ngụy là trong năm 1962 chúng sẽ lập 16.000 “ấp chiến lược” trong tổng số dự tính 17.000 ấp theo kế hoạch dồn dân của chúng.

Biện pháp cấp bách nhất là chúng ráo riết đôn quân bắt lính, tăng nhanh quân số. Ở Gia Lai từ 6 Tiểu đoàn và 9 Đại đội năm 1961 lên 15 Tiểu đoàn và 11 đại đội sang năm 1962. Dùng thủ đoạn mở liên tục những cuộc càn quét khốc liệt dài ngày kết hợp với nhiều cuộc càn quét ngắn ngày vào sâu các vùng căn cứ của ta, vùng ta làm chủ bằng chiến thuật “trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, bằng chiến thuật “bủa lưới phóng lao”, hòng nhanh chóng tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo phong trào cách mạng gom được số dân trong vùng đất bằng trong tỉnh để mở “Ấp chiến lược”.

Để thực hiện mưu đồ trên, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1962, chúng điều Sư đoàn bộ binh số 22 ngụy lên càn quét ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, tập trung vào vùng đông dân tây đường số 14. Sau đó chúng lại điều sư đoàn 9 Bộ binh ra càn quét đánh phá vào vùng căn cứ Kon Hà Nừng; đến tháng 6 năm 1962 chúng đưa sư đoàn 22 càn vào khu du kích Đăk Bơt.

So sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch lúc này trên địa bàn tỉnh, thì lực lượng quân sự địch đông hơn ta gấp nhiều lần. Tuy ta có làm chủ nông thôn rừng núi, nhưng địch còn kiểm soát vùng đất bằng đông dân nhiều của, còn giữ các vị trí then chốt quan trọng như thị xã, quận lỵ, trục giao thông chiến lược, địch đang tập trung lực lượng hùng hổ mở hết cuộc càn quét này đến cuộc càn quét khác, chúng thực hiện “đốt sạch, phá sạch, bắt hết” ở vùng ta làm chủ. Càn quét khủng bố kết hợp với chiêu an, chiêu hồi ở vùng tranh chấp, dùng biện pháp “tố cộng” kết hợp với biện pháp hành chính, thanh lọc trong vùng chúng kiểm soát. vùng ven thị xã Pleiku, địch o ép mạnh để gom xúc dân, lập ấp. Vùng khu 3 chúng đổ quân dồn các làng Ta Wơn, làng Phung, làng Tuêk, làng Broch, làng Kach… một cách trắng trợn, ồ ạt. Các cuộc đánh phá liên tục đã gây cho ta nhiều tổn thất. Chúng đã gom 43.000 dân trong 289 làng lập 117 “Ấp chiến lược”; bắn chết 210 đồng bào, bị thương 111 người khác, 739 người bị chúng bắt tra khảo, tù giam; đốt, cướp hơn 500 tấn lúa, giết 230 trâu bò của dân; bắn cháy 73 làng trong vùng căn cứ. Đội vũ trang công tác phía nam huyện 7 bị địch tập kích, ta mất 16 súng trường, tiểu liên và trang bị.

Để làm thất bại kế hoạch Stalây-Taylơ của Mỹ và tay sai, tháng 3 năm 1962 Tỉnh ủy chủ trương phát động quần chúng chống phá quốc sách “Ấp chiến lược”, phá thế kìm kẹp của địch ở vùng nông thôn miền núi và vùng đất bằng trong tỉnh, giữ vững và mở rộng căn cứ du kích, đẩy mạnh xây dựng các lực lượng vũ trang để đối phó với các thủ đoạn của địch ngày càng quyết liệt, để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng giành thắng lợi hơn nữa.

Lực lượng tỉnh triển khai trên 3 hướng:

- Đại đội 1 hoạt động ở huyện 3, vùng Đăk Đoa, Hà Bầu.

- Đại đội 2 cùng bộ đội huyện 7 hoạt động theo trục đường 7 từ đèo Chư Sê đến Cheo Reo (Ayunpa).

- Đại đội 3 hoạt động vùng Lệ Ngọc – Hoàng Ân (ChưPrông).


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:26:59 am
Mở đầu đợt hoạt động Đại đội 2 và đội vũ trang công tác nam khu 7 đêm 2 tháng 5 năm 1962 đột nhập vào ấp Đé Amil, giải tán Trung đội dân vệ, một bộ phận đốt phá cầu Ia Ke, tuyên truyền phát động quần chúng nhân dân các ấp Đé Mil, Ia Sol, Đé MơNhă. Có bộ đội tỉnh hỗ trợ đội vũ trang bám dân tuyên truyền chính sách của mặt trận dân tộc giải phóng, vạch trần âm mưu xảo quyệt dồn dập lập ấp kìm kẹp của địch; và đội vũ trang công tác vận động rút ra một số thanh niên bổ sung cho đội. Đánh hơi thấy lực lượng của ta lần đầu tiên hoạt động tương đối đông, đi sâu vào vùng chúng kiểm soát, Tiểu khu Pleiku đã dùng trực thăng đổ bộ một Đại đội Cộng hòa thuộc Trung đoàn 42 xuống đường 7 để đối phó. Được đội công tác, du kích mật báo cáo kịp thời, Đại đội 2 nhanh chóng triển khai lực lượng từ hướng Plei-Ngol (Đông nam Cheo Reo 4Km) bôn tập hành quân xuyên rừng tiến về hướng địch đang càn quét. Đúng 12 giờ trưa ngày 09 tháng 05 ta đã phát hiện Đại đội địch đang nghỉ trưa tại làng KơTe (đông sông Ayun). Đây là làng cũ của đồng bào Jơ Rai, dân làng bị địch gom xúc sang tây sông lập ấp chiến lược, nên thuận lợi cho Đại đội 2 quyết tâm tập trung toàn lực tập kích ngay vào đội hình địch đang nghỉ trưa trong làng. Đại đội chia làm hai mũi bất ngờ, đồng loạt tập kích thẳng vào làng. Bị ta đánh bất ngờ và ở vào thế bị động, bất lợi (địch ngủ trên sàn nhà cao) nên địch chống trả yếu ớt. Sau 10 phút tấn công ta tiêu diệt hoàn toàn Đại đội địch, chỉ còn mấy tên liều chết tháo chạy sang sông. Địch chết tại chỗ 45 tên, ta thu 20 súng có 7 khẩu tôm xông và quân trang, đạn dược. Trận đánh nhanh gọn. Ta vô sự. Nhân dân quanh vùng rất phấn khởi. Đội công tác áp sát vào khu vực thị trấn Cheo Reo phát động quần chúng. Bộ tư lệnh Quân khu 5 tặng thưởng Huân chương chiến công hạng hai cho Đại đội 2.

Hướng Nam Mang Yang Tiểu đoàn 30 thuộc Trung đoàn 3 của Quân khu 5 hoạt động vùng Đé Ar – Kon Thụp vây ép lính bảo an địch tại ấp Cham Yang, kết hợp tấn công chốt Bảo An ở KôngGôh. Nhưng do công tác xây dựng cơ sở chính trị chưa vững chắc, phát động quần chúng chưa sâu rộng, thiếu cốt cán nên hoạt động quân sự chưa phối hợp chặt chẽ với phát động quần chúng nên ta phá không được ấp; Trung đoàn 40 ngụy đổ quân phản kích, bộ đội ta chuyển sang chống càn quét từ tây suối PơYâu đến sát sông AYun.

Phát huy thành tích đã đạt được trong hè 1962 ra quân thắng lợi, ngày 3 tháng 10 năm 1962, Đại đội 2 đánh trận giao thông trên đường 7, đoạn Kueng Mep diệt gọn tốp xe địch 3 chiếc, thu 5 súng. Ngày 6 tháng 10 năm 1962, Đại đội 3 có tăng cường một trung đội của Đại đội 2 hoạt động diệt kẹp vùng Lê Ngọc – Hoàng Ân đánh thiệt hại nặng Đại đội bảo an địch, hỗ trợ cho nhân dân hai làng Bâk phá khu đồn Põ trở về làng cũ, tên Quận trưởng Lê Thanh lồng lộn cho quân ra đốt phá, tàn sát dân hai làng Băk, giết chết 102 người, phần lớn là người già, phụ nữ, trẻ em.

Phía đông đường 14, ngày 14 tháng 10 năm 1962, Đại đội 2 và bộ đội tập trung huyện 6 (Mang Yang) tập kích địch trong “ấp chiến lược” Glar, đánh sập trụ sở ấp, giải tán Trung đội dân vệ, Trung đội nữ “Liên đới”, bắt giáo dục một số tên tay sai hung ác, xóa bỏ bộ máy tề điệp.

Hướng Bắc Mang Yang Đại đội 1 cùng thị Đội vũ trang Thị đội 9 (Pleiku) đột nhập vào dinh điền Lệ Chí vũ trang tuyên truyền, gây cơ sở. Phía Tây Nam thị xã, hoạt động quân sự của tỉnh đã hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh chính trị, phát triển được cơ sở Sở Chè số 1 và số 2 của Bàu Cạn. Cùng với phá ấp chiến lược làng Yịt (ChưPrông) Đại đội 1 cùng đội công tác huyện 3 đánh địch chốt ở ấp Đé Kơjiêng đưa 300 đồng bào trở về làng cũ, củng cố hành lang đi lại nội tỉnh; các làng Angleh, Đak jõ, Đé Gôh, Adroch được phát động, quần chúng đứng lên giải tán bộ máy tề, giải tán trung đội dân vệ ở ấp chiến lược vùng K (khu vực làng Mo, Tuêk…).

Kết thúc năm 1962, qua hai đợt hoạt động của lực lượng vũ trang tỉnh ta đã phá được 64/81 ấp chiến lược, phạm vi 149/179 làng bị địch dồn, giải tán 5 Trung đội dân vệ (có 160 tên), thu gần 30 súng, vận động rã ngũ 546 tên bảo an, dân vệ.

Thắng lợi to lớn về đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đã tiêu hao, tiêu diệt được sinh lực địch cùng với thắng lợi bước đầu về phá ấp chiến lược đã giữ vững và phát triển phong trào, làm cho số dân vùng ta làm chủ được tăng lên ở một tầm quan trọng rất lớn trong tình hình địch đưa ra toàn bộ lực lượng để ra sức “Bình định” Miền Nam trong vòng 18 tháng.

Tham vọng của Mỹ, tay sai rất to lớn. Chúng dùng biện pháp quân sự là chủ yếu cùng với các thủ đoạn chính trị bịp bợm, chiến tranh tâm lý, chiến tranh chiêu hàng, cả áp dụng biện pháp bao vây phá kinh tế ta, liên tục mở nhiều cuộc càn quét lớn, nhỏ, dai dẳng, với nhiều thủ đoạn tàn ác, tàn sát hàng trăm đồng bào cùng một lúc, huy động 1 đến 2 Sư đoàn ngụy càn quét trên địa bàn tỉnh. Nhưng phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh vẫn đứng vững, phát triển thắng lợi. Lực lượng vũ trang tỉnh tiến bộ, trưởng thành, lần đầu tiên ra quân Đại đội ta tiêu diệt Đại đội Cộng hòa địch đóng quân dã ngoại giữa ban ngày, diệt gọn từng tốp xe quân sự địch từ 3 đến 4 chiếc, đánh địch ra càn quét thu kết quả, bảo vệ được vùng căn cứ, hỗ trợ cho dân đứng lên phá ấp chiến lược.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:27:30 am
Nhân dân phấn khởi, hăng hái sản xuất, làng nào cũng làm “rẫy cách mạng”. Mỗi gia đình tỉa thêm từ 1/3 đến 1/2 gùi lúa giống (khoảng 10 đến 15 kg giống), mỗi làng trồng thêm một rẫy sắn. Mùa thu hoạch nhân dân góp lúa, bắp ủng hộ cách mạng, gây quỹ nuôi quân. Các lực lượng trang tỉnh chấp hành Chỉ thị Quân khu “đem khối óc bàn tay xây dựng cơ đồ” không được ỷ lại chờ trên. Các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện, cơ quan đều sắp xếp thời gian chăm lo sản xuất tự túc. Đại đội 1 của tỉnh là đơn vị sản xuất giỏi nhất, năm 1962 bình quân đầu người thu hoạch 1 tấn lúa và 1.000 gốc sắn. Thực phẩm lương thực được cải thiện, đảm bảo cho chiến đấu và giúp dân trong vùng đóng quân.

Đây là thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời kỳ đầu chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng. Nó đã tạo cho quân và dân trong tỉnh có thế đứng vững chắc để tiếp tục phát triển lực lượng.

Tuy vậy, thế kìm kẹp của địch vấn còn chặt, năm 1962 chúng đã gom được 43.000 dân, lập 117 ấp chiến lược, nhất là vùng đông dân đất bằng phía tây tỉnh, sát nách thị xã và quận lỵ địch còn kiểm soát chặt. Bản thân các lực lượng vũ trang ta chưa đánh bại được các thủ đoạn chủ yếu của địch, nhất là chiến thuật “thiết xa vận” của chúng còn uy hiếp nhân dân, hạn chế công tác phát động quần chúng gây cơ sở.

Tuy thất bại nặng nề nhưng thực hiện kế hoạch “Bình định”, Mỹ và tay sai quyết định đẩy mạnh thực hiện cho được kế hoạch Stalây-Taylơ sang năm 1963 với quy mô rộng và đánh phá ác liệt hơn.

Tháng 2 năm 1963, chúng triển khai “chiến dịch toàn quốc” để lập thêm 7.500 “Ấp chiến lược” gom thêm 8 triệu dân ở Miền Nam.

Ở Gia Lai chúng xây dựng “Ấp chiến lược kiểu mẫu” vùng đồng bào Kinh ở Lệ Chí (bắc Mang Yang) và làng Nú, làng Breng (dân tộc) vùng ven thị xã Pleiku. Chúng cho các đội “bình định” lính bảo an đến cải tạo lại địa hình các làng dân tộc, các thôn đồng bào kinh để lập “ấp tại chỗ”. Chung quanh ấp chúng bắt dân đắp bờ thành cao bằng đầu người, trên cắm cọc sắt, giăng dây kẽm gai, đặt mìn, gài lựu đạn, ngoài đào hào sâu, lòng hào cắm chông, ngoài hào là hàng rào bằng cây rừng to chôn chặt, cắm chông các cỡ; ấp rào chung quanh chỉ chừa hai cửa ra vào, do dân vệ, thanh niên chiến đấu tại ấp canh gác cả ngày lẫn đêm. Trong ấp địch rào ngăn từng lô bằng hàng rào kẽm gai để chống lực lượng ta phát triển chiến đấu bên trong. Việc ra vào của dân trong ấp rất nghiêm ngặt, kiểm tra chặt chẽ, đi làm rẫy không được mang gạo, cơm, muối… Từ 9 giờ tối giới nghiêm đến 5 hoặc 6 giờ sáng hôm sau.

Ngoài lực lượng dân vệ canh gác kiểm soát, mỗi xã chúng bố trí một đoàn “cán bộ Bình định” từ 15 đến 20 tên chuyên trách đánh phá phong trào, xăm hầm, hoạt động chiến tranh tâm lý, chiêu hàng, chiêu hồi. Chúng tập trung một lực lượng quân sự đông, một bộ máy kịp kẹp vô cùng gian ác thi thố nhiều thủ đoạn thâm độc. Chúng tưởng có thể nhanh chóng khuất phục được ý chí đấu tranh của nhân dân thực hiện được quốc sách của chúng. Nhưng địch càng đánh phá, càng tàn ác, thì sức chống trả của nhân dân các dân tộc trong tỉnh càng quyết liệt.

Đầu năm 1963, Tỉnh chủ trương mở một đợt tiến công liên tục 6 tháng, nhằm tiêu hao, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng bảo an, dân vệ và các tổ chức vũ trang địa phương của địch. Cũng thời gian này hưởng ứng phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc giành dân” của Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam phát động, một khí thế sôi nổi đẩy phong trào chiến tranh trong tỉnh được đều khắp.

Ngày 02 tháng 01 năm 1963, Đại đội đặc công tỉnh phối hợp với Tiểu đoàn đặc công 407 của Quân khu tiêu diệt Trung tâm huấn luyện biệt kích ở Plei Mơ Rông (Chưpăh) giết, làm bị thương và bắt sống gần 400 tên, thu toàn bộ vũ khí. Chiến thắng Plei MơRông đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kìm kẹp dân hướng tây bắc thị xã Pleiku.

Hướng Đông từ ngày 09 đến ngày 19 tháng 10 năm 1963 Đại đội 2, bộ đội khu 7 (KôngChro) liên tục tiêu hao, tiêu diệt từng toàn quân địch của Sư đoàn 22 ngụy càn quét vùng nam An Khê. Trong lúc bọn bảo an càn quét gom dân các làng Đé Ar, Kon Thụp, Đại đội 2 đã vòng lên phía tây đường 14 tổ chức trận kỳ tập lúc 15 giờ vào ấp chiến lược TauRong TauKuk sát đường quốc lộ 14 (nam Mỹ Thạch) bắt tập trung giáo dục Trung đội dân vệ, giải tán về nhà thu 14 súng trường các loại.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:28:22 am
Chiến tranh du kích ngày càng được đẩy mạnh, làng chiến đấu được xây dựng đánh địch càn quét gom dân có hiệu quả, nhân dân bố phòng sáng tạo bằng mọi cách, đủ các loại chông: chông hầm, chông đòn, chông bẫy, chông treo, chông kết hợp với gài thò, gài lựu đạn và gài cả súng. có những tuyến chông liên hoàn dài hàng 500 mét đến vài ba chục km. Có nơi du kích sử dụng vũ khí tự tạo kết hợp bố phòng chông.

Nhiều đội du kích thôn, xã qua bố phòng chiến đấu đã trưởng thành nhanh chóng, độc lập chiến đấu đánh địch giữ làng.

Xã chiến đấu A1 (nay thuộc xã Yang Bắc – An Khê) là xã xuất sắc trong bố phòng đánh địch.

Xã có 7 làng hình thành thế bố trí liên hoàn, quanh xã có tuyến chông dài hàng chục ki-lô-mét. Từng làng có hầm trú ẩn cho dân. Các cuộc học tập, sinh hoạt đều ở dưới hầm. Rẫy phát phân tán, có chừa nhiều cây cao để chống trực thăng đổ quân. Nhiều cuộc càn quét của địch bị thất bại vì lính bị thương chông thò quá nhiều. Trong 4 tháng đầu năm 1963 xã A1 đã đánh bại 3 cuộc càn quét lớn của địch. Đội du kích xã A1 đã liên tục vây quét buộc địch phải rút bỏ đồn Ktõh và đồn Krong Đung.

Năm 1963, xã A1 được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam tuyên dương là xã chiến đấu xuất sắc toàn miền.

Nhân dân trong tỉnh gọi công thò là những “chiến sỹ” kiên cường chịu đựng nắng mưa, không ăn, không nói, nhưng biết giết giặc Mỹ và tay sai bảo vệ bản làng.

Phụ nữ vùng Bỏ Năm (dân tộc BahNar) tháo vòng đồng đưa cho du kích đúc chông bố phòng đánh địch. Năm 1963 toàn tỉnh bố phòng trên 450 triệu cây chông, đặt 23.000 mũi thò, đào hàng ngàn bẫy các loại.

Phong trào bắn máy bay địch cũng được phát động rộng rãi toàn tỉnh. Anh Hà-Ri người dân tộc BahNar, xã đội phó xã Tây Nam (huyện Kơ Bang) đang cõng con đi làm rẫy thấy máy bay trinh sát (L19) quần lượn theo hành lang Trung ương, anh đã dùng súng trường bắn rơi ngay chiếc máy bay, một tên lái sĩ quan Mỹ chết.

Dân quân du kích vùng giáp ranh giữa Gia Lai và Kon Tum chống địch càn quét vào vùng căn cứ Kon Hà Nừng giết và làm bị thương 300 tên lính sư đoàn 9 Bộ binh ngụy, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

Phong trào thị xã cũng có bước chuyển biến mới. Đồng bào Kinh vùng Lệ Chí, Lệ Cần, Biển Hồ, Nhơn Thọ xây dựng được nhiều cơ sở nội và ngoại tuyến, lập các ban án sự quần chúng hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch lập ấp chiến lược, khu dồn; tên mật thám ở Lệ Cần lên mặt đàn áp bị nhân dân trừng trị.

Năm 1963 cuộc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ ở Miền Nam Việt Nam đã đi vào con đường hầm không có lối thoát. Mâu thuẫn nội bộ địch ngày càng gay gắt, ngày 01 tháng 11 năm 1963 một nhóm tay sai thân Mỹ do Dương Văn Minh cầm đầu đã làm đảo chính lật Diệm để cứu vãn cố gắng chiến tranh của chúng.

Trải qua những năm tháng chiến đấu hết sức gian khổ trong những điều kiện vô cùng khó khăn phức tạp, phong trào cách mạng trong tỉnh vẫn vững chắc tiến lên, mặc dù so sánh lực lượng giữa ta và địch vẫn còn nhiều chênh lệch. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công nắm vận dụng phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang trên ba vùng chiến lược, quân và dân trong tỉnh đã cùng chiến trường từng bước làm thất bại những âm mưu thủ đoạn của địch. Đã phát động và tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, căn bản thực hiện được nhiệm vụ xây dựng và củng cố căn cứ địa của tỉnh.

Chiến tranh có quy luật riêng của nó. Khi phong trào du kích chiến tranh phát triển đến một trình độ nhất định, nếu không kịp thời đẩy trình độ tác chiến tập trung lên quy mô thích hợp thì chẳng những tác chiến tập trung không phát triển mà du kích chiến tranh cũng không phát triển cao hơn được.

Vấn đề cơ bản là: Muốn tiêu diệt được nhiều sinh lực địch thì đấu tranh vũ trang phải ngày càng giữ vai trò quan trọng và có lúc quyết định. Vì vậy các lực lượng vũ trang cách mạng phải được xây dựng, tổ chức và huấn luyện trang bị tốt hơn để đủ sức tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, mới tiến lên đánh bại được các thủ đoạn chiến thuật của chúng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:31:04 am
Trong lúc trên địa bàn tỉnh địch còn có nhiều ưu thế hơn ta về mặt quân sự, vấn đề muốn đánh thắng chúng thì ta phải tạo cho được sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch. Do đó ba thứ quân của ta phải được xây dựng tổ chức hợp lý và nâng cao chất lượng chiến đấu, đồng thời phải xây dựng lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng nhân dân có đội ngũ chặt chẽ, có khả năng tiến công địch với nổi dậy phá ấp giành dân để xây dựng và mở rộng vùng căn cứ thành hậu phương vững chắc tạo nên địa bàn tỉnh là chiến trường tiêu diệt lớn sinh lực địch.

Đến cuối năm 1963 kế hoạch Stalây-Taylơ tuy phải kéo dài thêm một năm nhưng vẫn không thực hiện được. Cuộc đảo chính “thay ngựa giữa dòng” vẫn không cứu vãn được tình thế. Địch vẫn phải tiếp tục quốc sách gom dân lập “Ấp chiến lược” với mức độ tàn bạo, ác liệt hơn.

Trước tình hình trên Trung ương Đảng họp lần thứ 9 (khóa III) tháng 12 năm 1963 ra Nghị quyết “… Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt lâu dài… Đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định, nhưng đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh tan lực lượng quân sự của địch, chỗ dựa của nền thống trị của chúng, làm cho cách mạng thắng lợi…” Vì vậy điều quan trọng nhất, quyết định nhất là trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng quân sự…”

Nhiệm vụ trước mắt của lực lượng vũ trang phải đạt mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt từng bộ phận quân địch tạo điều kiện tiến lên làm tan rã lực lượng quân sự của chúng, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy phá phần lớn các “Ấp chiến lược”, giành nhân, vật, tài lực cho cách mạng, làm chủ núi rừng, đánh bại kế hoạch gom dân lập ấp của địch.

Ngày 01 tháng 05 năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên (B3) thành lập. Sự ra đời của Mặt trận là một yêu cầu khách quan do điều kiện địa lý, nhân văn, kinh tế của Tây Nguyên và nhất là do vị trí chiến lược quan trọng của nó trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở Miền Nam và khu vực Nam Đông Dương. Đây là sự phát triển tất yếu của cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ cứu nước nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu diệt lớn, đẩy mạnh chiến tranh chính quy phát triển(1).

Tỉnh Gia Lai nằm trong địa bàn hoạt động của Mặt trận. Do vậy Gia Lai đã thực sự là chiến trường đánh tiêu diệt vừa và lớn quân địch, thu hút và giam chân các đơn vị chủ lực cơ động của Mỹ - Ngụy.

Để thực hiện các chủ trương kế hoạch của Trung ương, phối hợp với chiến trường, Tỉnh ủy chủ trương động viên toàn Đảng, quân và dân trong tỉnh ra sức đấu tranh đưa phong trào chuyển lên một bước mạnh mẽ góp phần đẩy địch vào thế sa lầy, lúng túng, thất bại nặng nề hơn trước về quân sự và chính trị. Ra sức giữ vững và mở rộng căn cứ Miền núi, tạo thành hậu phương lớn an toàn cho khu 5.

Cuối năm 1963 đầu năm 1964, Tỉnh thành lập Liên đại 45 (tiểu đoàn thiếu) gồm Đại đội 3 cũ của tỉnh (anh em Ja Rai), một Đại đội bộ binh anh em Kinh 34 đồng chí của Trung đoàn 3 (QK5) chuyển về và một Đại đội bổ sung ở Miền Bắc về, có trang bị hỏa lực mạnh (ĐKz 57, cối 81 ly). Đơn vị đứng chân tại khu 5 (ChưPrông) hoạt động hướng khu 4, 5 và tây thị xã Pleiku.(2)

Các Đại đội độc lập của tỉnh, các Trung đội tập trung của huyện được bổ sung quân số, trang bị đầy đủ một số súng chống xe tăng như B40 cũng được chuyển về một số trang bị cho bộ đội tỉnh. Ngoài ra ta thu được vũ khí của địch trang bị tương đối đầy đủ cho bộ đội tỉnh và huyện.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ cũng được quan tâm đúng mức, chỉ đạo chặt chẽ. Đại đội cho chi bộ Đảng lãnh đạo, chi bộ Đại đội đông nhất có 50 Đảng viên (Đại đội 2) tỷ lệ lãnh đạo 27% quân số. Cơ quan tỉnh đội, các huyện đội, đặc biệt là Ban dân quân, Ban quân giới tỉnh được tăng cường cán bộ để chuyên lo chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong cơ sở.

Các phân đội trực thuộc: Thông tin, trinh sát, công binh được bổ sung quân số thành Đại đội đủ. Tỉnh thành lập xưởng quân giới chuyên dập lại đạn cho súng Trung liên (24 – 29) và sản xuất mìn tự tạo trang bị cho du kích.


(1) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những sự kiện quân sự Viện lịch sử Việt Nam – Bộ Quốc Phòng – Trang 111
(2) Liên đại 45 ngày đầu thành lập do đồng chí Lương Bá Tân và đồng chí Nguyễn Đức Phổ chỉ huy.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:32:01 am
Cơ quan chính trị tập trung hướng dẫn giáo dục quán triệt tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới cho các lực lượng vũ trang, gắn chặt tác chiến tiêu diệt địch với phát động quần chúng phá ấp giành dân. Có tiêu diệt được lực lượng kìm kẹp làm tan rã địch từng bộ phận mới hỗ trợ cho quần chúng bung ra phá banh các ấp chiến lược, giải phóng dân mới tạo điều kiện để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Làm tốt hai nhiệm vụ trên là làm thất bại biện pháp chiến lược của địch.

Tỉnh phát động phong trào thi đua “giết giặc giành dân, xây dựng quân đội”, phong trào “bắn máy bay rộng khắp”, “diệt xe tăng, xe bọc thép” đến tận các đơn vị dân quân du kích.

Khí thế thi đua sôi nổi trong tỉnh, trong các lực lượng Đại đội 1 bám trụ hoạt động vùng Lệ Chí, đồn điền Đăk Đoa, tiến công binh vận Trung đội bảo an đóng ở ấp Hà Bầu, Đại đội đặc công tỉnh mấy lần đột nhập vào trung tâm huấn luyện đồi 810, một mũi sắc nhọn, luồn sâu áp sát diệt địch phía tây Nam thị xã. Ta kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự và tấn công binh vận đưa đồn trưởng đồn Đăk Đoa cùng một lính tề về với cách mạng(1). Trung đội 14 (huyện Kơ Bang) đánh địch trên đường Cửu An đi Kan Nak diệt một số tên, buộc chúng không dám sục vào vùng căn cứ.

Hướng nam, Đại đội 2, bộ đội Khu 7 cùng du kích liên tục bám đánh địch càn quét vào dọc sông Ba, từ 19 tháng 02 đến 29 tháng 03 năm 1964 đã tiêu hao diệt nhiều tên địch của Sư đoàn 9 ngụy càn vào khu vực suối PTó.

Để mở rộng thế kìm kẹp của địch, đầu năm 1964 các trung tâm huấn luyện biệt kích do các cố vấn Mỹ trực tiếp điều hành đã đổ quân cắm sâu hoặc sát vùng căn cứ của ta. Chúng đóng các đồn: Ktõh ở khu 7, đồn Kuãi (DoLim) ở khu 6, đồn PleiMe ở khu 5 và đồn Đức Cơ, Chữ Nghéh ở khu 4. Tiếp sau chúng đóng thêm đồn Plei Mơ Rông và Plei Djrăng nhằm ngăn chặn, cắt phá hành lang của ta từ đông đường số 1 lên giáp sông Pô Kô (T30).

Những trại biệt kích này rất thâm độc, vừa gây áp lực về quân sự vừa hoạt động chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, lôi kéo cán bộ cách mạng, đánh phá cơ sở trong nhân dân vùng giải phóng và vùng căn cứ.

Để củng cố vùng căn cứ, phá tan âm mưu thủ đoạn trên của địch, Đại đội 2 tỉnh được thực hiện kế hoạch vây đánh bọn biệt kích Mỹ ở đồn Ktõh. Ngày 25 tháng 04 năm 1964, Đại đội có một tiểu đội của huyện đội 7 phối hợp phục kích toán xe địch trên đường số 7 đoạn Krông Đung về Ktõh. Đây là vùng trắng dân, đồng bào đã chuyển sâu vào suối Hơ Wây lập làng chiến đấu, địa hình đoạn đường trung bình, rừng non nhiều cây gai quýt mọc dầy, đường lượn theo bờ sông Ba, lâu nay du kích ít hoạt động. Ta nắm chắc quy luật xe địch đi và về.

Đúng 14 giờ đoàn xe 7 chiếc chờ lính biệt kích và cố vấn Mỹ từ An Khê về đã lọt vào trận địa phục kích của bộ đội ta. Toàn đội hình, đồng loạt nổ súng 3 xe chạy trước bốc cháy,. Bộ đội vận động xung phong ra đường diệt nốt 4 xe còn lại. Toàn bộ 45 tên biệt kích cùng 7 tên cố vấn Mỹ ngoan cố chống lại phải đền mạng. Ta thu 20 súng các loại, có một đại liên mỹ Browning, một súng M79, toàn bộ quân trang, thực phảm và thu được 3,4 lượng vàng. Địch ở An Khê, các chốt gác trên đường số 19 không kịp phản ứng. Bọn biệt kích còn lại trong đồn Ktõh co lại phải chờ đến đêm mới dám xuống sông Ba lấy nước tắm giặt.

Hướng Tây Liên đại 45 cùng Đại đội khu 5 và khu 4 liên tục tổ chức đánh phá trục giao thông đường 19 (Tây). Các đoàn xe vận chuyển của địch từ Bàu Cạn, Thanh Giáo, Thanh Bình lên Đức Cơ, Móc Đen đều bị tiến công, tiêu diệt.

Hè năm 1964 Tây Nguyên bắt đầu mùa mưa. Những cơn mưa như trút nước kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Đất bazan lầy lội, không có dép, không có ni lông; bộ đội, du kích phải chặt lá chuối rừng che khỏi ướt. Quần áo thiếu thốn. Tiểu đội trưởng Bơr của Đại đội 2 cắt đội chiếc khố đang mặc chia cho đồng đội. Gian nan, vất vả, nhưng không một ai kêu ca.

Ngày 01 tháng 07 năm 1964 trên quốc lộ 19, đoạn suối Đăk Pơ, nơi xưa đã chôn vùi toàn bộ Binh đoàn cơ động Pháp số 100 (GIM 100) năm 1954 lại diễn ra một trận đánh giao thông lớn. Tiểu đoàn 93 thuộc Trung đoàn 2 bộ binh Quân khu 5, những chiến sỹ vừa từ quê hương Nghệ Tĩnh vào chiến trường lần đầu tiên xuất trận cùng phối hợp có 2 Đại đội bộ binh và Trung đội công binh của tỉnh đánh trận phục kích tiêu diệt đoàn quân vận của Quân đoàn 2 ngụy, tiêu diệt 41 xe quân sự và một Đại đội Cộng hòa hộ tống thu 31 súng các loại. Đây là trận đánh phối hợp đẹp của bộ đội tỉnh với chủ lực Quân khu. Trong trận này đã thể hiện trình độ chiến đấu, trí thông minh và quả cảm của cán bộ, chiến sỹ bộ đội tỉnh, phần đông là anh em dân tộc.


(1) Ông Siu Teo đồn trưởng Đăk Đoa ra căn cứ cách mạng, sau được bầu làm Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Gia Lai.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Hai, 2020, 08:34:01 am
Trận địa phục kích dài 2 km (từ km 93 – 95). Bộ phận chặn đầu ngoài lực lượng hỏa lực của Tiểu đoàn 93 còn có Trung đội công binh tỉnh. Ban chỉ huy trận đánh do đồng chí Giáp Văn Cương – Phó Tư lệnh Quân khu 5 và đồng chí KPă Thìn – Tỉnh đội trưởng Gia Lai chỉ huy, đích thân giao cho đồng chí Glia trung đội phó công binh tỉnh người dân tộc BahNar chỉ huy bộ phận chặn đầu đoàn xe. Bộ phận công binh có 9 đồng chí, chia thành 3 tổ, vũ khí mỗi tổ có một “mìn đòn gánh”.

Mìn đòn gánh làm bằng khúc nứa to dài độ 1,5 mét chẻ đôi, bên trong đặt khối bộc phá mạnh, đấu với hai viên Pin, khi đoàn xe xắp đến đoạn chặn đầu, từng tổ 3 người ôm “mìn đòn gánh” lao nhanh ra mặt đường; mỗi cây mìn đặt ngang qua đường cách nhau 30 đến 40 mét xếp chênh nhau, khi xe chạy đến, bánh xe dậm phải “cây mìn” thì mìn nổ.

Kết quả thực hiện đúng theo kế hoạch, lần lượt 3 xe đi đầu đều bị nổ tung, bốc cháy, khói ngút trời, xác xe lăn giữa đường, tạo thành vật cản, buộc toàn bộ đoàn xe ở phía sau ùn đến tạo mục tiêu tập trung để các hỏa điểm của bộ đội ta từ hai bên đường tiêu diệt. đây là cách đánh mìn đầy linh hoạt, thông minh của các chiến sỹ công binh dân tộc gan góc dũng cảm.

Phía Nam đường 19, Đại đội 2 bộ binh của tỉnh làm nhiệm vụ đối diện. Ra quân trận này Đại đội có 110 tay súng (quân số đại đội lúc này là 185 đồng chí), trang bị hỏa lực mạnh. Khi bộ phận chặn đầu và cánh phía bắc đường số 19 nổ súng, đội hình đại đội đã yếm sẵn kín đáo sẵn sàng bắn diệt những tên địch tháo chạy sang nam đường. Khi có lệnh xung phong toàn Đại đội dũng cảm xông ra mặt đường diệt nốt số địch còn lại bám vào thành xe chống cự. Riêng đại đội 2 thu được 19 súng (có một đại liên Browning). Toàn trận đánh thu 31 súng, bắt 2 tù binh, bộ đội ta giải thích chính sách của Mặt trận, phóng thích tại chỗ, trận đánh này đại đội 2 được Ban chỉ huy Mặt trận biểu dương.

Lập thành tích chào mừng Đại hội liên hoan chiến sỹ thi đua Quân khu 5 tổ chức tại Trung tâm căn cứ tỉnh. Đại đội 2 đánh trận giao thông trên đường 7 đoạn Mỹ Thạch đi Kon gôh, tiêu diệt gọn đoàn xe 8 chiếc, có một xe bọc thép, thu 16 súng (có 2 trung liên). Phát huy thành tích, tháng 10-1964, đại đội phối hợp với Huyện đội 6 tập kích đánh rã Đại đội bảo an ở dinh điền Nhơn Thọ (tây cầu Ayun) thu 37 súng, giải phóng gần 100 đồng bào Kinh bị cưỡng ép di cư lập dinh điền trở về quê cũ ở đồng bằng.

Tính đến cuối năm 1964, Quân và dân tỉnh Gia Lai phối hợp với bộ đội chủ lực của trên phát động quần chúng phá 135 khu dồn, ấp chiến lược như ấp Cham Yang ở Đé Ar – Kon thụp (Nam Mang Yang), ấp làng Yịt (Chưprông) Khu dồn Chư Nghéh (Chư Păh), giải phóng được 50 ngàn dân đưa số dân lên thế làm chủ toàn tỉnh là 16 vạn người. Vùng căn cứ được mở rộng từng mảng lớn tiếp giáp biên giới CamPuChia, xã liền xã, huyện liền huyện, hình thành thế bao vây, uy hiếp thị trấn, thị xã.

Phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân nông thôn với địch của hơn 40.000 đồng bào, vận động đào rã ngũ 1951 lính bảo an, dân vệ, có 3 Trung đội mang về nạp cho chính quyền cách mạng 67 súng. Cơ sở nội tuyến các làng Kinh và làng dân tộc ven thị xã được xây dựng, hoạt động có hiệu quả.

Hai lực lượng, ba thứ quân được xây dựng và củng cố, tăng số lượng và chất lượng. Bộ đội tỉnh có tiến bộ, đánh diệt gọn Đại đội địch ngoài công sự, diệt từng đoàn xe 6 – 8 chiếc, thu được vũ khi trang bị cho ta. Đã diệt được chốt bảo an giữ “ấp chiến lược” hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp. Du kích chiến đấu tiêu hao rộng rãi địch càn quét, bảo vệ căn cứ. Vùng ven Thị xã du kích đã phối hợp trinh sát, đặc công tiêu diệt Trung đội dân vệ, phá cầu cống phát triển cơ sở trong công nhân các đồn điền, rút được thanh niên ra bổ sung cho lực lượng Thị.

Vùng mới giải phóng đã được tổ chức, xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Nhân dân các dân tộc, vùng căn cứ hăng hái phấn khỏi tăng gia sản xuất, bình quân mỗi lao động vùng giải phóng trỉa từ 15 – 20 kg lúa giống, trồng từ 500 – 1.000 gốc sắn (mì) góp phần động viên lương thực nuôi quân trên địa bàn tỉnh.

Việc mở mạng lưới giao lưu mậu dịch ở vùng giải phóng của tỉnh giáp đến ranh giới các tỉnh đồng bằng mở cửa khẩu mua nhu yếu phẩm, dụng cụ sản xuất phục vụ yêu cầu sinh hoạt cho nhân dân, cơ quan, cung cấp cho hoạt động quân sự, đã góp phần cải thiện một phần đời sống nhân dân vùng giải phóng, phá thủ đoạn của địch bao vây phá hoại kinh tế ta.

Sau một năm nỗ lực, có chi viện của trên, phong trào cách mạng Gia Lai đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, trụ bám địa bàn, sát cơ sở, tạo điều kiện thuật lợi tiếp tục đưa phong trào tiến lên.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 09:53:26 am
*   *
*

III/ Chiến thắng Xuân năm 1965:

Đến cuối năm 1964, cục diện chiến trường toàn Miền Nam đã thay đổi có lợi cho ta. Mỹ và tay sai đã lâm vào thế bị động, mâu thuẫn nội bộ địch ngày càng thêm gay gắt. Bọn tay sai của đế quốc Mỹ đã 5 lần lật đổ nhau, nhưng không cứu vãn được thế suy sụp của chúng.

Tháng 12 năm 1964, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định tập trung lực lượng mở đợt hoạt động Xuân nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, phá toàn bộ “ấp chiến lược” còn lại, giành đại bộ phận nhân, tài, vật, lực. Đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận làm cho nội bộ địch khủng hoảng, mâu thuẫn càng tăng; rút kinh nghiệm nâng cao trình độ tác chiến của ba thứ quân…

Ban cán sự Tỉnh đội tổ chức học tập cho các lực lượng vũ trang, xây dựng ý chí tấn công địch, phối hợp với lực lượng Quân khu quyết giành thắng lợi lớn trên chiến trường.

Đợt hoạt động xuân này tấn công trên quy mô lớn gồm nhiều lực lượng, ba thứ quân, diễn ra nhiều hướng trên không gian tương đối rộng; kết hợp tiến công tiêu diệt lớn địch với nổi dậy của nhân dân đứng lên giành chính quyền làm chủ trong kế hoạch chỉ đạo hợp đồng, thống nhất do Quân khu trực tiếp chỉ huy.

Tỉnh Gia Lai thành lập Ban chi viện tiền phương trên địa bàn tỉnh, do một số ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách có đồng chí Chính trị viên phó Tỉnh đội tham gia nhằm huy động các cấp, các ngành tập trung cán bộ, lực lượng, huy động vật lực cung cấp cho chiến dịch. Tuyến hành lang của tỉnh được củng cố bảo đảm vận chuyển cung cấp lương thực, có dự trữ, các trạm sơ phẩu được bố trí trên hai cung đường bắc và nam đường số 19. Các Đội du kích được tổ chức luân phiên trực trên trục hành lang làm nhiệm vụ tải thương, tải đạn. Các đoàn dân công bắc An Khê, nam Pleiku có hàng ngàn nam, nữ thanh niên từ các huyện đồng bằng được giải phóng tình nguyện đi chiến dịch cùng đơn vị chủ lực lên phục vụ tại chiến trường Gia Lai.

Bộ đội Tỉnh, huyện được bổ sung quân số đầy đủ. Thanh niên nam, nữ Kinh, dân tộc xung phong nhập ngũ, vũ khí, trang bị được bổ sung đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ. Đại đội tỉnh có Trung đội hỏa lực, Liên đại 45 được bổ sung quân số và trang bị, tăng cường cán bộ chỉ huy.

Phát huy kết quả Đại hội thi đua Quân khu, các đơn vị động viên học tập các gương chiến sỹ thi đua xuất sắc Điện Ngọc, chiến sỹ Vai, liệt sỹ Đinh Tam v.v… phát động khí thế thi đua lập công sôi nỏi trong bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích.

Mặt trận Tây Nguyên (B3) lúc này cũng được tăng cường về tổ chức, bổ sung lực lượng. Trung đoàn 320, Tiểu đoàn đặc công 952(1) đóng quân tại khu 5 (Chưprông) và khu 4 (Chưpăh).

Đợt tiến công Xuân 1965 trên địa bàn Gia Lai sẽ đồng thời diễn ra trên hai hướng trọng điểm tập trung vào hai khu chiến:

- Hướng đông, phía tây đèo Mang Yang, dọc trục đường 19 có Trung đoàn 10 chủ lực Quân khu cùng các Đại đội 1, 2 của Tỉnh và bộ đội các khu 2, 6, 7.

- Hướng tây có Trung đoàn 320 chủ lực Mặt trận Tây Nguyên cùng Tiểu đoàn 952 đặc công, Liên đại 45 của Tỉnh và bộ đội khu 4, 5. Hoạt động từ khu vực Đức Cơ xuống Thanh An, Thanh Bình.

Đúng kế hoạch, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 02 năm 1965 bộ đội chủ lực hướng đông Pleiku cùng lúc nổ súng tấn công sân bay Cù Hanh, trại lính Hô-lô-uê ở Pleiku. Trại lính Hô-lô-uê nằm quảng giữa sân bay và Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy. Trại này có đến 1.000 cố vấn Mỹ.

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 7 tháng 2, sau khi bí mật vượt qua các lớp rào hệ thống bố phòng, các chiến sỹ đại đội 3 Tiểu đoàn đặc công 409 của Quân khu và Đại đội đặc công 90 của tỉnh phối hợp đã nằm sẵn dưới cánh máy bay địch. Lệnh phát hỏa cùng một lúc hàng chục tiếng bộc phá nổ vang rền. Sau 30 phút chiến đấu, các chiến sỹ ta đã phá hủy, phá hỏng 42 máy bay địch các loại, giết và làm bị thương 350 tên giặc(2). Trong trận đánh này đồng chí Thanh Minh Tám là mũi phó đặc công đã lập thành tích xuất sắc.

Thanh Minh Tám sinh năm 1935, dân tộc Rhe quê xã Hiếu, huyện Konpong, nhập ngũ 19/09/1953. Đồng chí ở Đại đội 3 – Tiểu đoàn đặc công 409. Sau được điều về làm Đại đội phó Đại đội 90 đặc công tỉnh Gia Lai. Khi học tập chuẩn bị kế hoạch đánh sân bay, đồng chí nêu quyết tâm: “Nếu có chết tôi nằm trên cánh máy bay của địch mà chết”. Quyết tâm này đã thành hành động chiến đấu dũng cảm. Riêng bản thân đồng chí Tám đã diệt 12 tên giặc lái Mỹ, phá hủy 8 máy bay địch. Trận này đồng chí được khen thưởng Huân chương chiến sỹ hạng nhất(3).

Tiếp đến ngày 8 tháng 2 năm 1965, Đại đội 1 của tỉnh phối hợp với Trung đoàn 10 chủ lực tiến công tiêu diệt cứ điểm Kà Tung, diệt đồn Kan nak, uy hiếp đường số 19 đoạn đông đèo Mang Yang. Đến ngày 15 tháng 2 lực lượng ta phục kích đánh thiệt hại tiểu đoàn 22 biệt động trên đoạn đông đèo Mang Yang, Cầu Xa Wông.

Trong lúc chủ lực và đại đội 1 hoạt động trên đường căng kéo địch, thì từ 11 đến 13 tháng 2 Đại đội 2 của tỉnh tập kích diệt Trung đội dân vệ giữ ấp Glar và tập kích đồn Konjueng (nam Mang Yang) gây cho địch nhiều thiệt hại nặng.

Trên hướng Tây, Tiểu đoàn 952 đặc công, Tiểu đoàn 334 của Trung đoàn 20 cùng Liên đại 45 của tỉnh cùng hiệp đồng đánh chiếm một loạt đồn bảo an phía Tây Pleiku và dọc trục đường số 19 (nối dài).

Sau chiến thắng hiệp đầu, Trung đoàn 10 chuyển lên hoạt động hướng ngã ba đường 7 và đường số 14. Đánh hơi có chủ lực ta hoạt động hướng này, tiểu khu Pleiku cho Trung tâm huấn luyện biệt kích ở Kuái (Do Lim) cho một Đại đội ra thăm dò. Trưa 25 tháng 5, Đại đội 2 của tỉnh phục kích tại làng Chí Rùi (đông sông Ayun) nổ súng bắn cháy 2 xe quân sự chở lính, diệt gần 40 tên, bọn còn lại tháo chạy về đồn Kuái. Cùng ngày, Trung đội 3 của Đại đội 2 và bộ đội Khu 7 bao vây bức rút trại huấn luyện biệt kích Mỹ ở Ktõh.

Mở đầu chiến dịch xuân năm 1965, bộ đội chủ lực và bộ đội tỉnh, huyện, dân quân du kích trên hai hướng đông và tây tỉnh đã phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ. Chiến trường trên tỉnh sôi động chưa từng có từ ngày đồng khởi đến nay. Hoạt động quân sự thắng lợi, ngày đêm nhân dân đứng lên đốt ấp, phá khu dồn, lửa cháy ngợp trời. Từng đoàn đồng bào ở các ấp tay xách, vai gùi heo gà, điệu con, hồ hởi kéo nhau trở về làng cũ. Bộ máy tề điệp thôn, xã tan rã ra đầu thú, chịu sự giáo dục của chính quyền Cách mạng. Số ngoan cố bỏ chạy về quận lỵ, thị xã lánh thân.

Chiến dịch xuân 1965, ta giành hoàn toàn chủ động trên chiến trường, tạo thế và lực mới cho phong trào cách mạng của tỉnh. Nhiều vùng rộng lớn phía tây tỉnh được giải phóng đưa lên thế làm chủ mạnh. Đường chiến lược 19, 14 bị cắt đứt gián đoạn giao thông nhiều lần. Các đoàn dân cộng, bộ đội hành quân, vận chuyển lương thực giữa ban ngày. Các chốt lẻ địch gác đường co lại. Cơ sở vùng ven và nội thị xã phát triển rộng rãi. Một khí thế mới dâng cao trong nhân dân các dân tộc trong tỉnh.


(1) Tiểu đoàn 952 lấy Tiểu đoàn 407 và 545 hợp nhất
(2) Theo hồi ký Giôn – Xơn thú nhật 20 máy bay Mỹ bị phá hủy, phá hỏng. Có 8 Mỹ chết, hơn 100 lính Mỹ bị thương. Trả đũa trận thiệt hại này Giôn – Xơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch “Mũi lao lửa” ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới và khu vực Chấp Lễ bắc Đồng Hới (những sự kiện Quân sự Bộ Quốc phòng – Trang 119)
(3) Ngày 19-09-1967 đồng chí Tám được Ủy ban Trung ương MTDTGP Miền Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nay đồng chí về hưu làm Bí thư Đảng ủy xã Hiếu – huyện KonPlong tỉnh Kon Tum.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 09:56:16 am
*   *
*

IV Sang hè năm 1965

Ngày 27 tháng 04 năm 1965 Quân ủy Trung ương chỉ thị; “Chuẩn bị đánh thắng địch trong mọi tình huống phát triển của chiến tranh…” Thực hiện chỉ thị trên, Quân khu chủ trương “đẩy mạnh đấu tranh chính trị, vũ trang và vận đông binh sỹ địch nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, làm cho chúng rối loạn cao độ về chiến lược, suy sụp hoàn toàn về chính trị…”.

Ban Cán sự tỉnh đội ra nghị quyết về nhiệm vụ quân sự địa phương là; Phát huy thắng lợi xuân 1965, tiếp tục tiêu hao, tiêu diệt địch, mở mảng giành dân, xây dựng và mở rộng căn cứ địa rừng núi, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung lớn mạnh, đẩy mạnh xây dựng lực lượng trong thị xã, thị trấn, khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện để đối phó và chiến thắng địch nếu mở rộng chiến tranh.

Tây Gia Lai là trọng điểm của hoạt động hè 1965. Mở đầu phía đông tỉnh Đại đội 1 và trung đội 14 (huyên 2) cùng bộ đội chủ lực Quân khu đánh địch trên đường 19, diệt 2 đại đội biệt kích ở Mang Yang, tiếp tục cắt phá giao thông bao vây uy hiếp địch, buộc chúng rút bỏ các chốt gác đường từ đông đèo Mang Yang xuống đến cầu Châu Bấu. Đường hành lang vận chuyển Trung ương đi lại dễ dàng.

Hướng đông nam tỉnh, Đại đội 2 cùng Trung đoàn 10 chủ lực liên tục đánh phá giao thông trục đường 7 và đường 14. Đại đội 2 cùng bộ đội khu 6 đánh rã Trung đội dân vệ, phát động quần chúng phá banh tại chỗ mảng “ấp chiến lược” từ Gờ Hô xuống Chí Rùi giáp Mỹ Thạch.

Trong lúc lực lượng ta hoạt động rộ phía đông và nam tỉnh, địch lo đối phó thì ở hướng tây, Liên đại 45 của tỉnh, bộ đội các Khu 4, Khu 5 đã phối hợp với bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên tấn công tiêu diệt hệ thống các chốt Bảo an gác đường 19 (tây), phát động quần chúng phá khu dồn làng Yịt, đưa 2.000 đồng bào về làng cũ.

Tiêu diệt quận Lệ Thanh

Đi đôi với tiêu diệt hàng loạt chốt bảo an, phá banh các “ấp chiến lược”, quyết tâm của Mặt trận Tây Nguyên là tiêu diệt quận lỵ Lệ Thanh.

Đây là trận đánh lớn then chốt, tạo điều kiện đánh viện trên đường 19 (tây), dùng chiến lược kỳ tập kết hợp với cường tập.

Đêm 31 tháng 5 Tiểu đoàn 952 đặc công cùng một tiểu đoàn của Trung đoàn 320 tiêu diệt gọn quận lỵ Lệ Thanh. Hôm sau (01/6) Trung đoàn 320, Liên đại 45 của tỉnh tổ chức phục kích trên đường 19. Đúng theo ý đồ, Tiểu đoàn bảo an ngụy và phái đoàn kiểm tra Bộ Nội vụ ngụy quyền Sài Gòn đã lọt vào trận địa phục kích của ta, bị tiêu diệt gọn, ta bắt sống tên Lê Văn Cứ - Thiếu tá tỉnh phó Pleiku và cả đoàn tùy tùng.

Ta trụ lại, phục kích tiêu diệt 15 xe quân sự địch lên giải tỏa, 2 Đại đội bảo an bị đánh thiệt hại nặng, ta bắn rơi 10 máy bay lên thẳng. Trận đánh thu thắng lợi giòn giã, thúc đẩy nhân dân vùng lên phá tiếp các khu dồn còn lại.

Trước thắng lợi liên tiếp, dồn dập của ta, quận lỵ Lệ Thanh bị tiêu diệt, tỉnh phó Pleiku bị bắt sống, ta làm chủ hoàn toàn trục đường 19 (tây), Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên quyết định chuyển thế trận, tập trung lực lượng bao vây trại huấn luyện đặc biệt Đức Cơ.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 09:58:12 am
Đức Cơ bị bao vây, Tiểu khu Pleiku và Quân đoàn 2 ngụy tung quân lên giải tỏa. Từ ngày 3 tháng 7 đến ngày 9 tháng 8 các lực lượng vũ trang ta đã đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 5 lính thủy đánh bộ, chi đoàn xe thiết giáp và Tiểu đoàn 1 quân biệt động, loại bỏ vòng chiến đấu 1.200 tên cộng hòa, biệt động.

Nhân dân khu vực hai bên đường 19 (tây) trong 124 làng của 66 “ấp chiến lược” đã nổi dậy phá rã bộ máy kìm kẹp của địch, giải tán 59 Trung đội dân vệ, thu toàn bộ vũ khí. Phá banh 15 dinh điền, giải phóng hơn 30.000 đồng bào Kinh.

Cán bộ, Ủy ban Mặt trận giải phóng tỉnh, huyện có tăng cường một bộ phận bộ đội chủ lực của Trung đoàn 320, chia từng thôn, làng tuyên truyền giải thích các chính sách của Ủy ban Mặt trận, củng cố ổn định tinh thần tư tưởng nhân dân an tâm ở lại vùng giải phóng làm ăn, cán bộ ta kịp thời chi viện gạo, muối, thuốc chữa bệnh cho đồng bào.

Tại đồn điền chè Bàu Cạn do người Pháp quản lý, ta cử cán bộ đến tiếp xúc, xác định cho họ an tâm sản xuất dưới sự bảo trợ và quản lý của Mặt trận dân tộc giải phóng và chính quyền cách mạng. Phải để cho công nhân tổ chức bộ máy chính quyền và công hội giải phóng. Đồn điền phải có nghĩa vụ nộp thuế cho chính quyền cách mạng. Anh chị em công nhân được quyền tham dự học tập các chủ trương chính sách của cách mạng, động viên họ hăng hái tham gia chính quyền tự quản. Anh chị em công nhân rất phấn khởi, phát hiện những tên tay sai chỉ điểm để chính quyền cách mạng giáo dục; đấu tranh đòi chủ đồn điền trả lương đúng kỳ cho công nhân.

Căn cứ cách mạng phía tây tỉnh được mở rộng liên hoàn giáp huyện Sa Thầy ở phía bắc, đến giáp biên giới Campuchia, tạo ra thế vững chắc cho đường “chiến lược Hồ Chí Minh” an toàn. Tại đây nhân dân các dân tộc phối hợp cùng bộ đội chủ lực tổ chức lực lượng tiếp tục nhận hàng chi viện của trên, xây dựng hệ thống kho tàng tuyên bố phòng thành khu vực căn cứ hậu cần có tầm cỡ chiến dịch, chiến lược ở phía Đức Cơ giáp biên giới, tạo điều kiện vững chắc cho Mặt trận Tây Nguyên có thể tổ chức những chiến dịch quy mô trên địa bàn này, bảo đảm cho các đội, binh đoàn từ Miền Bắc hành quân vào Nam qua đây được bổ sung lương thực, thực phẩm và nghỉ ngơi.

Sau một thời gian ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ quân địch, ngày 9 tháng 8 năm 1965, bộ đội ta chuyển sang phản kích trung tâm huấn luyện Đức Cơ, các lực lượng của ta đã diệt 500 tên địch, phá hủy 25 xe quân sự.

Lúc này trọng điểm chiến dịch đã chuyển sang hướng Kon Tum. Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên cho mở vây Đức Cơ chuẩn bị cho thế trận chiến đấu mới.

Mặc dầu thời điểm này quân chiến đấu Mỹ đã bắt đầu triển khai lực lượng lên Tây Nguyên, nhưng quân và dân Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ với chủ lực của trên liên tục chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt, loại 3.461 tên địch chết và bị thương, có 222 tên Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, phá vỡ bức rút nhiều cứ điểm nhỏ, uy hiếp mạnh mẽ hệ thống phòng ngự của địch. Lực lượng dân quân du kích tiến bộ, độc lập chiến đấu 48 trận, loại 455 tên địch, thắng lợi về quân sự đã hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy liên tục phá hàng trăm “ấp chiến lược”, phá vỡ hàng mảng “dinh điền” đưa số dân làm chủ của tỉnh 226.000 người(1), đẩy mạnh công tác binh vận giáo dục 135 gia đình ngụy quân kêu con em về, vận động đào rã ngủ 4.650 lính ngụy, phần đông là anh em người dân tộc.

Thắng lợi xuân hè 1965, quân và dân Gia Lai đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân mạnh mẽ, đều khắp. Là thế trận chủ động tiến công địch bằng hai chân, ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược trên địa bàn tỉnh. Là thắng lợi của chỉ đạo phối hợp chặc chẽ giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tỉnh nhịp nhàng, thống nhất, phối hợp giữa các lực lượng phía đông và phía tây tỉnh, giữa tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng được chỉ đạo sâu sát. Cũng là thắng lợi trong công tác huy động sức dân chi viện cho tiền phương, đồng bào hy sinh vượt qua khó khăn ác liệt, gian khổ, có lúc bị hy sinh xương máu để góp phần cùng bộ đội giành thắng lợi.

Từ đồng khởi tháng 10 năm 1960 đến hè 1965 là thời kỳ phong trào cách mạng tỉnh Gia Lai đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ để phát triển toàn diện và vững chắc; đã nắm vận dụng phương châm kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tấn công tiêu diệt địch với khởi nghĩa từng phần. Là thời kỳ toàn Đảng bộ, quân dân đã kiên trì đấu tranh về tư tưởng thấm nhuần và vận dụng sáng tạo những phương pháp và hình thức đấu tranh để đánh bại từng thủ đoạn biện pháp quân sự, chính trị của địch, nhất là phát huy cao độ thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh.


(1) Gồm: 117.000 dân giải phóng Xuân 65.
50.000 dân giải phóng hè 65.
59.000 dân vùng căn cứ cũ.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 09:58:45 am
Lực lượng vũ trang tỉnh đã từng bước trưởng thành và tiến bộ đồng đều, nhất là từ năm 1964 và trở đi. Phương châm đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị được chỉ đạo chặt chẽ và vận dụng linh hoạt có kết quả. Từ cấp lãnh đạo đến đơn vị thực hiện có cơ sở quán triệt xuyên suốt, khắc phục có tiến bộ tư tưởng hữu khuynh co thủ, rụt rè trong cán bộ các cấp, các ngành.

Bộ đội tỉnh, huyện đã từng bước nâng trình độ đánh tiêu diệt địch mở ra khả năng đại đội tỉnh diệt gọn đại đội địch càn quét dã ngoại, diệt gọn từng đoàn xe quân sự địch từ 6 – 8 chiếc, phối hợp với đơn vị chủ lực của trên chiến đấu có hiệu suất cao, đã làm tốt chức năng bộ đội địa phương hỗ trợ tích cực cho quần chúng nổi dậy phá hàng mảng ấp chiến lược, làm nòng cốt cho phong trào quần chúng nhân dân vũ trang đánh địch.

Hoạt động quân sự trong từng đợt, từng chiến dịch đã tạo ưu thế quân sự cho lực lượng cách mạng mặc dù trong thời gian từ 1964 đến hè 1965 quân địch còn hơn ta về quân số, tranh bị, kỹ thuật.

Khi khởi nghĩa vũ trang chuyển thành chiến tranh cách mạng, khi Mỹ và tay sai đã dùng bộ máy quân sự phản cách mạng thẳng tay đàn áp khủng bố quần chúng, khi đấu tranh vũ trang giữ vai trò ngày càng quan trọng, có tác dụng quyết định trực tiếp để tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, đánh thắng chúng về quân sự trên chiến trường. Vì vậy, lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và cơ sở đều phải thực hiện tốt nhiệm vụ tiêu hao địch rộng rãi và tiêu diệt lực lượng quân sự địch từ nhỏ đến lớn để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy; kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch.

Trong điều kiện kẻ địch còn ưu thế hơn ta về mặt quân sự, muốn đánh thắng chúng, ta phải tạo cho được sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch. Muốn làm được điều đó đi đôi với lực lượng vũ trang lớn mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, ta phải xây dựng lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng nhân dân. Lực lượng chính trị đó phải tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, có khả năng tập hợp đấu tranh chống lại địch bất cứ tình huống nào. Thực tế sinh động trên địa bàn gia lai cho thấy: Không phải hễ có tiến công quân sự mạnh, lực lượng quân sự đông là tức khắc quần chúng nổi dậy ngay được. Vì nổi dậy được hay không chủ yếu do bản thân phong trào quần chúng mạnh hay yếu quyết định. Sức mạnh của phong trào quần chúng là ở tổ chức, đi đôi với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ta phải tích cực tuyên truyền giáo dục vận động tổ chức quần chúng, đưa quần chúng ra đấu tranh từ thấp đến cao, thì khi có đòn quân sự hỗ trợ, quần chúng mới có khả năng nổi dậy và nổi dậy vững chắc giành thắng lợi.

Khi phong trào du kích chiến tranh trong tỉnh đã phát triển đều mạnh, phát huy được khả năng tiêu hao địch rộng rãi, làm nòng cốt được cho nhân dân đánh địch giữ làng, du kích độc lập chiến đấu có hiệu quả đến một mức nhất định, yêu cầu chỉ đạo phải kịp thời chủ trương đẩy mạnh xây dựng và tác chiến của bộ đội tập trung tỉnh để thúc đẩy không ngừng phong trào du kích chiến tranh. Cuối năm 1963 tỉnh chủ trương xây dựng Liên đại 45 (tiểu đoàn thiếu) là phù hợp với tình hình phát triển lực lượng chung để nâng sức chiến đấu phối hợp với hoạt động của các đơn vị chủ lực trên địa bàn, thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh.

Để đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Đế quốc Mỹ, trước hết ta phải đánh bại những biện pháp chiến lược chủ yếu của chúng là càn quét, gom xúc dân, lập “ấp chiến lược” để kẹp dân bình định nông thôn. Muốn vậy ta phải kiên quyết đánh bại từng thủ đoạn chiến thuật của địch trong các cuộc hành quân càn quét như “trực thăng vận, thiết xa vận…”. Nếu không dù có tiêu hao, tiêu diệt được địch, phá được một số “ấp chiến lược”, địch cũng sẽ càn quét líp lại. Từ những năm 1963 – 1965, tỉnh phát động phong trào “bắn máy bay rộng khắp”, phong trào “đánh cắt giao thông địch”, xây dựng làng xã chiến đấu, sử dụng rộng rãi linh hoạt, có hiệu quả, các loại vũ khí thô sơ, tự tạo, bố phòng đánh địch, bảo vệ được vùng căn cứ giải phóng, góp phần cùng toàn miền Nam làm cho những chỗ dựa chủ yếu của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị phá sản, ngụy quân rệu rã, ngụy quyền bất lực, hệ thống “ấp chiến lược” tan rã và thành thị bị lung lay.

Cuộc chiến tranh đang bước vào giai đoạn mới, với thế trận chiến tranh nhân dân được củng cố, với truyền thống đoàn kết dũng cảm chiến đấu của nhân dân các dân tộc, lực lượng vũ trang tỉnh cùng nhân dân khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đọ sức với quân chiến đấu Mỹ xâm lược và bọn tay sai trên chiến trường Gia Lai.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 10:02:09 am
CHƯƠNG VIII

Phát huy thế chủ động chiến trường, góp phần cùng quân dân toàn miền
đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.
(1965-1968)

I/ Quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường Gia Lai. Quyết tâm và những đối sách của quân và dân tỉnh ta:

Vào giữa năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã căn bản thất bại. Trước nguy cơ đó, đế quốc Mỹ tìm cách cứu vãn tình thế. Với bản chất cực kỳ phản động của tên sen đầm quốc tế, ỷ vào tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn; bất chấp dư luận nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ lại đưa quân chiến đấu vào Miền Nam Việt Nam.

Đế quốc Mỹ đã chính thức phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với Miền Bắc và đang từng bước chuyển cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam nước ta từ “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ”.

Chiến tranh cục bộ là một trong ba hình thức chiến tranh của đế quốc Mỹ (lúc bấy giờ). Đó là một cuộc chiến tranh thực sự đối với đế quốc Mỹ, nhưng hạn chế về qui mô và phạm vi. Trong chiến tranh cục bộ, Mỹ phải đưa quân chiến đấu của chúng vào trực tiếp tham chiến. Quân Ngụy tay sai vẫn duy trì, tiếp tục tăng cường, vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng phụ thuộc vào Mỹ. Quân Mỹ và quân Ngụy là 2 lực lượng chiến lược để tiến hành chiến tranh, nhưng quân Mỹ giữ vai trò chủ yếu.

Tháng 07 năm 1965, cùng với việc đổ quân chiến đấu Mỹ vào Miền Nam và bắn phá ác liệt ở Miền Bắc, đơn vị tiền trạm đầu tiên của Sư đoàn không vận số 1 của Mỹ đến Tân Tạo (An Khê). Tháng 8 năm 1965, toàn bộ sư đoàn triển khai xong căn cứ quân sự của chúng ở An Khê. Căn cứ rộng 49 km2. Sư đoàn có 16.000 quân, 466 máy bay các loại, phần lớn là máy bay lên thẳng chở quân chiến đấu.

Căn cứ Sư đoàn có 2 khu vực. Phía Tây Sông Ba là bãi đất tương đối bằng và rộng. Áng ngữ về phía Tây và đông bắc là điểm Cao Hòn Cong (có Hòn Cong lớn và Hòn Cong nhỏ), có đồi Kôn Hơrăng, GơĐak. Đây là khu vực lực lượng chủ yếu của Sư đoàn, có sân bay lên thẳng Tân Tạo nằm sát chân núi Hòn Cong. Khu vực đông Sông Ba có sân bay Cây Me là sân bay cũ của Pháp. Mỹ cải tạo làm sân bay vận tải tiếp tế. Chung quanh căn cứ quân sự, Mỹ xúc dân từ các vùng lân cận đến lập “ấp chiến lược” bảo vệ vùng ngoài căn cứ.

Mỹ vào chiến trường Gia Lai, so với trước đây là một bước chuyển sang giai đoạn chiến tranh mới, với lực lượng tác chiến mới có số lượng đông hơn, qui mô lớn hơn, trang bị hiện đại hơn, cường độ ác liệt hơn trước nhằm thực hiện biện pháp chiến lược “tìm diệt và bình định”; quân chiến đấu Mỹ đảm nhiệm chiến lược “tìm diệt”; còn công cuộc “bình định” giao cho quân Ngụy. Đế quốc Mỹ tin tưởng sẽ đè bẹp được phong trào Cách mạng. Thời gian này là những năm tháng thử thách cực kỳ nghiêm trọng đối với quân và dân tỉnh ta cũng như đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ. Cuộc đọ sức lịch sử của nhân dân ta với đế quốc Mỹ đã phát triển đến giai đoạn quyết liệt nhất.

Tuy nhiên, tất cả những điều đó không vượt ra ngoài dự kiến của Đảng ta. Từ Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (12/1963) đã tính đến khả năng đế quốc Mỹ có thể tăng quân hoặc mở rộng chiến tranh ở Miền Nam thành chiến tranh cục bộ. Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (03/1965) sau khi phân tích tình hình, đã đề ra nhiệm vụ cơ bản, nhiệm vụ cụ thể cho từng miền là giữ thế chủ động, sẵn sàng đánh thắng địch khi chúng chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ ở Miền Nam…

Quyết tâm đó thể hiện trong lời kêu gọi ngày 20/07/1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn…”

Tháng 12/1965, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 12 chỉ rõ: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào Miền Nam hàng chục vạn quân chiến đấu, dù qui mô, cường độ chiến tranh có khác trước, nhưng vẫn là cuộc chiến tranh hạn chế, lực lượng so sánh giữa ta và địch căn bản vẫn không thay đổi lớn”. Hội nghị cán bộ Trung cao cấp toàn Quân Khu V nhất trí: Mỹ đưa quân vào Miền Nam là bị động. Ta có đủ khả năng đánh thắng quân chiến đấu Mỹ.

Về lực lượng ta, cuối năm 1965 phong trào du kích chiến tranh phát triển cao. Các sư đoàn chủ lực Quân Khu 5, Mặt trận Tây Nguyên đã được xây dựng, hình thành những quả đấm mạnh, bố trí sẵn trên những địa bàn chiến lược quan trọng.

Tuy Mỹ đưa quân ào ạt vào Miền Nam, nhưng chúng vẫn phải dựa vào Ngụy quân, Ngụy quyền, vẫn phải thực hiện một số chính sách mị dân nhằm lừa bịp, lôi kéo quần chúng, vì vậy ta vẫn có thể tiếp tục đấu tranh chính trị, binh vận để hình thành ba mũi giáp công đánh địch trên cả ba vùng chiến lược.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 10:04:37 am
*   *
*

Vào thời kỳ sôi động này, tại vùng căn cứ của tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 2 để tổng kết phong trào cách mạng trong tỉnh từ Đồng Khởi đến đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và đề ra nhiệm vụ cho Đảng bộ quyết tâm đánh thắng quân xâm lược Mỹ. Ngay trong những ngày đại hội sôi nổi bàn các biện pháp đánh Mỹ, nhiều địa biểu nêu ý kiến: Mỹ vào ta còn có khả năng đấu tranh chính trị trực diện nữa không? Ta có đánh Mỹ được không và đánh như thế nào? Thì ngày 14/07, huyện 2 báo cáo lên Đại hội: “Cụ Dư làng Su Briêng (thuộc xã Bắc) đã dùng ná tên tẩm thuốc độc giết chết một lính Mỹ đang nấp dưới gốc cây trong rẫy sắn của cụ”. Tin tức thực tế nóng hổi và sinh động này làm phấn khởi nức lòng toàn thể đại hội, khẳng định khả năng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của nhân dân trong tỉnh.

Để bảo đảm thắng lợi cho nhiệm vụ chiến đấu mới cực kỳ quyết liệt này công tác giáo dục quán triệt nhiệm vụ, động viên tư tưởng đi đôi với khẩn trưởng xây dựng và củng cố các tổ chức thực sự mạnh mẽ. Tỉnh tăng cường cán bộ củng cố cho các cơ quan quân sự thị xã, các huyện; Chuyển đại đội đặc công 90 của tỉnh cho Thị đội Pleiku; củng cố địa bàn xã Gào (khu 9), xã B7 (Chư Păh) làm bàn đạp cho các lực lượng áp sát vào nội thị. Xây dựng trung đội du kích xã Gào thực sự mạnh có 46 tay súng thường trực chiến đấu; xây dựng một tiểu đội an ninh và một tiểu đội biệt động cùng với Trung đội vũ trang thị phối hợp hoạt động với các đội vũ trang công tác của thị.

- Huyện đội 3 (bắc Mang Yang) rút thanh niên trong dinh điền Lệ Chí ra thành lập trung đội tập trung của huyện có 35 tay súng(1).

- Các huyện 4, 5, 6, 7 mỗi huyện xây dựng một Đại đội tập trung huyện, quân số mỗi Đại đội từ 60 – 760 người. Tách phía Nam huyện 7 (từ xã PTó xuống Cheo Reo) thành lập huyện 11 (một phần huyện AYunpa ngày nay) cơ quan chỉ đạo, chỉ huy của huyện 11 đóng tại núi KôngBlôi. Huyện có một Trung đội tập trung 30 tay súng, 2 đội vũ trang công tác xây dựng cơ sở.

- Huyện 8 (An Khê) bổ sung cán bộ, xây dựng Trung đội tập trung và 2 đội vũ trang công tác.

Ngày 01 tháng 10 năm 1965, Tỉnh thành lập Tiểu đoàn tập trung đầu tiên, lây tên là Tiểu đoàn 15, (H15). Quân số lấy từ Liên đại 45 cũ làm nòng cốt, chuyển Đại đội 2 về Tiểu đoàn. Xây dựng Đại đội 2 làm đơn vị chủ công. Quân số lúc biên chế có 450 cán bộ chiến sỹ, 3 Đại đội bộ binh (Đại đội 2 dân tộc Bahnar, Đại đội 3 dân tộc Jarai, Đại đội 4 dân tộc Kinh), Đại đội 5 hỏa lực gồm anh em kinh và dân tộc.

Ban chỉ huy Tiểu đoàn lúc thành lập có:

Đồng chí Lê Ngọc Điểm – Đại úy Tiểu đoàn trưởng.

Phan Anh Tuấn – Đại úy Chính trị viên Tiểu đoàn.

Trần Thơ – Thượng úy Chính trị viên Phó Tiểu đoàn.

Nguyễn Châu – Thượng úy Tiểu đoàn Phó.

Lúc này Mặt trận Tây Nguyên đã triển khai các đơn vị chủ lực mới bổ sung từ Miền Bắc vào. Quan hệ chỉ đạo, chỉ huy của lực lượng vũ trang tỉnh cũng bổ sung những điểm mới. Ngoài sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của Tỉnh ủy, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên trực tiếp chỉ huy chiến đấu huấn luyện, thống nhất điều hành sử dụng để hiệp đồng chiến đấu với quân chủ lực Tây Nguyên. Về hậu cần, trang bị do Quân khu bảo đảm.

Tháng 10 năm 1965, Mặt trận Tây Nguyên tổ chức chỉnh huấn tình hình và nhiệm vụ cho cán bộ trung, cao cấp toàn Mặt trận. Đồng chí Chu Huy Mân Bộ tư lệnh phát động phong trào thi đua đánh Mỹ, diệt Mỹ, bắt sống Mỹ.

Tỏa về các địa bàn, phong trào thi đua “Quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” được phổ biến quán triệt đến từng phân đội bộ đội tập trung, dân quân du kích. Khẩu hiệu “Tìm Ngụy mà đánh, tìm Mỹ mà diệt” được trở thành khẩu hiệu hành động mà mỗi chiến sỹ cán bộ trong 3 lực lượng. Phong trào “Bắn máy bay rộng khắp”, những đợt đánh phá, cắt giao thông vận chuyển của địch, được phổ biến rộng rãi phát động đến xã, bản làng.


(1) Tháng 6/1965 Khu 9 giao dinh điền Lệ Chí cho K3 quản lý, xây dựng


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 10:11:03 am
*   *
*

CHIẾN THẮNG LEIME

Trận đọ sức đầu tiên giữa các lực lượng vũ trang Tây Nguyên với Kỵ binh bay số 1 của Mỹ trên chiến trường Gia Lai:


Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ là đơn vị mới thành lập theo sáng kiến của Mac Namara (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ) có thể đổ quân xuống bất cứ nơi nào cũng được. Do đó chúng có thể làm thay đổi đột ngột so sánh lực lượng nghiêng về phía có lợi cho quân Mỹ vào thời điểm quyết định của trận đánh. Bên cạnh Sư đoàn không vận Mỹ, Sư đoàn bộ binh 22 Ngụy cũng có mặt thường xuyên ở Gia Lai, Bình Định. Với lực lượng quân sự to lớn, chúng ráo riết mở rộng sân bay Cù Hanh; tập trung binh kí kỷ thuật, cày ủi hai bên đường Quốc lộ số 19, mỗi đêm rộng hàng 500 mét để chống hoạt động của du kích.

Mỹ lên Gia Lai chúng nuôi tham vọng tiêu diệt chủ lực ta, đánh phá phong trào cách mạng, phá căn cứ địa, ngăn chặn chia cắt hành lang chiến lược của ta, hòng chiếm giữ địa bàn chiến lược xung yếu này.

Mỹ đổ quân đóng ở Gia Lai, nơi đây trở thành một trong những chiến trường tiêu diệt lớn sinh lực địch. Với địa hình rừng núi, không gian nhỏ hẹp, Mỹ Ngụy hí hửng đắc thắng về biện pháp chiến lược “tìm diệt của chúng”.

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, quân và dân Gia Lai cũng như Mặt trận Tây Nguyên đã sẵn sàng bước vào thế chiến đấu mới.

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây nguyên cùng Đảng bộ Gia Lai tập trung lực lượng mở chiến dịch Plei Me. Ý định chiến dịch là:

- Vây điểm diệt viện

- Trước diệt Ngụy, sau diệt Mỹ

- Kéo quân Mỹ ra xa căn cứ, đưa chung đi sâu vào các vùng rừng núi để tiêu diệt.

Địa bàn chiến dịch diễn ra trên khu vực Bàu Cạn, Plei Me, Đức Cơ, Ia Drăng khoảng 1.600 km2, tây nam thị xã Pleiku 30 km. Đây là khu vực tương đối bằng phẳng có một số điểm cao không đáng kể, cây rừng non kín đáo, xen kẽ những bãi tranh hoặc Jút (loại cây le lá nhỏ) thuận lợi cho lực lượng ta cơ động, dấu quân cũng như trong kế hoạch nhử địch vào các trận địa ta đã chuẩn bị sẵn.

Cứ điểm Plei Me là trại huấn luyện biệt kích và cũng là tiền đồn bảo vệ phía tây Nam thị xã Pleiku, là bàn đạp của các cuộc hành quân đánh phá vùng căn cứ cách mạng dọc theo biên giới giáp Campuchia. Tướng Vĩnh Lộc tư lệnh Quân khu 2 ngụy đánh giá PleiMe là vị trí biên phong mạnh, hiểm trở trên tuyến phòng thủ Tây và Tây nam thị xã Pleiku.

Phối hợp với chiến dịch PleiMe, Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội sử dụng bộ đội khu 4 và 5 cùng dân quân du kích các xã dọc biên giới phối hợp với các đơn vị chủ lực từ lúc chuẩn bị chiến trường. Dân quân du kích chiến đấu xã Ia PNôn, Ia Mơ, Ia Lâu, IaPuch bố trí dày trên các tuyến hành lang chiến lược, bảo vệ các khu kho lương thực, các trạm phẫu, binh trạm. Bộ đội khu 4, 5 phát động phong trào bắn máy bay thấp, nhất là trực thăng.

Chuyển Tiểu đoàn 15, Bộ binh tỉnh (H.15) về đứng tại núi KôngChiêng, suối PơYâu phụ trách chiến đấu khu vực Đông đường 14. Bộ đội các khu 3, 6, 7 áp sát đường 19 đánh giao thông và hoạt động vùng đất bằng phía tây sông AYun.

Tỉnh tổ chức nhiều đoàn cán bộ xuống các xã vận động nhân dân đi dân công, huy động lương thực, thực phẩm chi viện cho bộ đội chiến đấu. Thu năm 1965, nhân dân các vùng trong tỉnh đã động viên 1.200 tấn lương thực. Nhân dân các vùng tranh chấp, vùng giải phóng đều náo nức xung phong đi phục vụ chiến trường, từng đoàn dân công đủ các lứa tuổi, dân tộc, Kinh đều đi gùi đạn, gạo, vũ khí, dắt trâu bò hành quân theo bộ đội, cả nhà đi dân công, cả làng đi dân công; Nhiều cụ già ở làng Sinh, làng Mui, làng Núi, làng Ơ gói cơm nếp, gùi chuối, gà, mía đi bộ hàng chục kilômét đến thăm, động viên bộ đội.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 10:11:56 am
Rừng núi Tây Nguyên bừng bừng khí thế đánh Mỹ.

Đêm 19/10/1965, các đơn vị có nhiệm vụ nghi binh lừa địch nổ súng uy hiếp cứ điểm Đức Cơ, tiến công Đồn Tân-Lạc. Đại đội 2 của Tiểu đoàn 15 tập kích đánh rã Trung đội dân vệ đóng giữ ở nhà thờ cũ Mỹ Thạch, thu 32 súng, buộc địch dùng máy bay C47 đến bắn phá chi viện. Trong lúc đó Trung đoàn 43 vẫn lặng lẽ khẩn trương củng cố công sự vây ép cứ điểm PleiMe.

22 giờ 04 phút ngày 19/10, bộ đội chủ lực tấn công diệt đồn Chư Ho, tiền đồn bảo vệ trại biệt kích PleiMe, 400 tên biệt kích Ngụy cùng 12 tên cố vấn Mỹ bị giam hãm chặt trong hệ thống chiến hào bao vây của ta.

Quân Mỹ ráo riết phản kích. Ngày 20 tháng 10, chúng huy động 200 lần chiếc máy bay liên tục ném bom, bắn phá trận địa vây ép của ta. Bom phá, bom bi, bom phốt pho, napan trùm kín khu chiến. Lửa napan bốc cháy hừng hực tạo thành bức thường khói lửa trùm kín trận địa quân ta. Rừng núi xơ xác, đất bazan bị cày xới một màu đỏ rực; cây cối đổ ngổn ngang, đất đá nham nhở. Bộ binh địch trong đồn liên tục bung ra phản kích. Mặc cho địch lồng lộn đánh phá, cuộc vây cứ điểm đến ngày thứ tư, bộ đội phải ăn gạo rang dự trữ, nhưng viện binh địch chưa xuất hiện. Bộ đội ta vẫn anh dũng giữ vững quyết tâm vây chặt địch.

Qua 5 ngày dội bom đánh phá chúng không phá vỡ được vòng vây của bộ đội ta. Bọn chỉ huy Biệt khu 24 phải cho quân giải tỏa(1).

Sáng ngày 23 tháng 10, một chiến đoàn hỗn hợp ngụy gồm Tiểu đoàn 21, 22 biệt động và Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 42 cùng với chiến đoàn thiết giáp số 3 từ Pleiku theo đường tỉnh lộ 21 vào giải tỏa PleiMe. Đúng 9 giờ đội hình địch lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 320. Cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt giữa ta và địch ngay từ đầu. Đoàn xe cơ giới của địch bị cắt ra thành nhiều đoạn. Nhiều xạ thủ bắn xe cơ giới địch rất chính xác, chiến sĩ b40 Nguyễn Văn Lãng bắn 3 quả đạn diệt 3 xe cơ giới; Lương Văn Bạt bắn 2 phát đạn diệt 2 xe M48; Chiến sỹ Nguyễn Văn Hàng bắn cháy 5 xe M113; hàng chục xe cơ giới địch bốc cháy ngùn ngụt, khói trùm lên trận địa. Địch bị dồn về điểm cao 601. Ta và địch giành nhau từng gốc cây, ụ mối, hàng chục xe cơ giới địch liên tiếp bị bắn cháy, đội hình chúng bị chia cắt, phá vỡ. Những tên còn sống sót vội bỏ xe tháo chạy. Trung đội dân quân du kích làng Siêu (xã E9) đón lõng diệt 25 tên, thu 10 súng.

Đến 18 giờ trong ngày, trận địa im tiếng súng, xác xe, xác địch nằm ngổn ngang trên điểm cao 601 và dọc đường tỉnh lộ số 21. Chiến đoàn 3 thiết giáp, một tiểu đoàn và đại đội quân biệt động bị tiêu diệt; bắn cháy và phá hủy 89 xe quân sự các loại.

Bị vố đánh phủ đầu quá đau, quân Mỹ buộc phải nhảy ra ứng cứu. Nhằm bất ngờ đánh sâu vào hậu phương chiến dịch của ta, chúng gấp rút tổ chức căn cứ hành quân tại đồn điền chè Bàu Cạn, liên tiếp cho máy bay trinh sát thăm dò dọc sát biên giới Campuchia, máy bay B52 dội bom xuống các trục hành lang, đổ quân từng Đại đội theo lối “nhảy cóc” xuống khu vực làng Mui, làng Ia Riêng, Plei Klăh đông nam suối Ia Mơ và Plei-Thê sát biên giới. Dân quân du kích các xã Ia Mơ, Ia Pnôn đã phối hợp với bộ đội chủ lực thiết lập sẵn thế trận, đã dũng cảm tiêu diệt từng tốp địch. Gồm 300 tên Mỹ bị giết, bị thương. Ta bảo vệ được các khu vực kho tàng, các trạm thực phẩm, bảo vệ được thương binh đang điều trị. Bị thua đau trận đòn thứ hai, ngày 9 tháng 11, các toán quân nhảy cóc này phải rút lui về Pleiku.

Ngày 10 tháng 11, tướng KiNa – Tư lệnh Sư đoàn 1 không vận gấp rút điều Lữ đoàn 3 kỵ binh do Đại tá Han Mơ chỉ huy từ căn cứ An Khê đổ quân xuống Bàu Cạn từ một bộ phận xuống Plei Ngo.

Chủ động tiến công ngay lúc địch đang triển khai thế trận, liền đêm 11 tháng 11, Tiểu đoàn đặc công 952 có du kích xã E5 (Ia Phìn) và các chiến sĩ đội vũ trang biệt động thị Pleiku dẫn đường, bất người tập kích vào sở chỉ huy hành quân và sân bay dã chiến Bàu Cạn, phá hủy 40 máy bay lên thẳng, diệt 200 tên Mỹ, thu 4 súng AR15. Tuy bị đánh phủ đầu khá đau, nhưng đến 14 tháng 11 chúng xúc Tiểu đoàn 1 của Lữ đoàn 3 đổ xuống bắc Chưprông 3 kilômét, đổ Tiểu đoàn 2 và 2 trận địa pháo xuống Pleiklăh, nam Ia Drăng.


(1) Biệt khu 24 gồm Tiểu khu Pleiku và Tiểu khu KonTum tách khỏi vùng chiến thuật II. Tăng cường cho Biệt khu 24 có Trung đoàn 42 cộng hòa – Thành lập Quân khu II (Không tổ chức vùng 2 chiến thuật) – Sách LLVTND Tây Nguyên, Trang 44


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2020, 10:14:37 am
THẾ TRẬN ĐÃ MỞ

Cánh quân địch vừa đổ xuống Chưprông đã bị Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 chặn đánh tiêu diệt một Đại đội. Hôm sau Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 lại tiến công tiêu diệt Đại đội thứ 2. Bị đánh đau, Oét-Mô-Len phải dùng 100 lần chiếc B52 ném bom rãi thảm dọc thung lũng Ia Drăng. Y cho rằng; “Vì không còn cách nào khác, Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận đang nguy khốn…”

Bộ đội ta vượt qua bom pháo truy kích sát gót địch, chúng không dám cụm lại để chờ máy bay lên thẳng đến cứu mà lợi dụng đêm tối chạy bộ hòng thoát khỏi Ia Drăng. Nhưng chúng chỉ chạy loanh quanh chưa được 5 km. Sáng 17 tháng 11 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 do Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi chỉ huy gặp địch nổ súng công kích. Nghe tiếng súng Tiểu đoàn 33 do Tiểu đoàn Phó Luận chỉ huy lao đến phối hợp. Ta và địch giành nhau từng gốc cây, khóm rừng, vượt qua bom, rốc-két từ máy bay lên thẳng bắn xuống. Cuộc giáp chiến vô cùng ác liệt các chiến sĩ ta quần đánh địch với cả phía trước, phía sau, bên sườn. Cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 33 đều hy sinh. Chính trị viên Phó Đại đội Đinh Văn Đế 3 lần bị thương vẫn bám đội hình tiếp tục chỉ huy chiến đấu, bắn chết 5 tên Mỹ, hết đạn anh dùng dao găm đâm chết một tên Mỹ khác.

Sau 4 ngày đêm chạm trán quyết liệt với bộ đội ta, Tiểu đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ chỉ còn một số tên sống sót chạy về căn cứ. Thượng sĩ Mi-gen-xay-cơ mô tả nỗi kinh hoàng của lính Mỹ “tôi nghe tiếng kêu la khắp quanh tôi, tôi bảo những người còn sống sót cứ liều mình mà chạy thì may ra còn sống, chưa bao giờ chúng tôi chạy nhanh đến thế, chúng tôi phải bỏ lại phần lớn những người bị thương, họ kêu la thảm thiết…” (Miền Nam giữ vững thành đồng – Tập 4 – NXB khoa học xã hội – Hà Nội – Trang 73).

Diệt xong Tiểu đoàn 1 Mỹ, bộ đội ta chuyển sang vây đánh Tiểu đoàn 2 không vận tại nam Ia Drăng, diệt 200 tên, phá hủy 3 pháo lớn, bắn rơi 7 máy bay trực thăng.

Oét-mô-len buộc phải ra lệnh cho quân ngụy đến ứng cứu, giải vây cho Mỹ. Ngày 18 tháng 11, hai chiến đoàn dù ngụy số 1 và số 2, lực lượng dự bị chiến lược của Ngụy đổ quân xuống Ia Pơ Man, Ia Nau. Quân ta đã bố trí sẵn thế trận. Trung đoàn 320 xuất kích. Trên 200 tên lính dù phơi xác tại trận địa.

Không dám kéo dài chiến trận hơn nữa, ngày 19 tháng 11 toàn bộ quân địch rút khỏi thung lũng Ia Drăng.

Sau 30 ngày chủ động và liên tục tấn công, ta đã đánh bại và tiêu diệt lớn cả quân Mỹ và Ngụy. Trong đó ta diệt Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 3 không vận Mỹ, chiến đoàn 3 thiết giáp và 1 Tiểu đoàn ngụy, phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi và phá hủy 59 máy bay lên thẳng, tiêu diệt 2.964 tên địch, trong đó có 1.700 tên Mỹ, phá 5 pháo lớn, thu 73 súng, 58.000 viên đạn(1).

Chiến thắng PleiMe là kết quả của tinh thần quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ của quân và dân Gia Lai cùng bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Là kết quả của sự chỉ đạo sắc sảo, đánh giá đúng địch, ta, khôn khéo phát huy thế hiểm của núi rừng, lợi dụng địa hình bày sẵn thế trận, vận dụng linh hoạt sáng tạo phương châm tư tưởng chỉ đạo tác chiến, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta ở nơi ta đã lựa chọn. Là cách đánh phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực ta, lôi địch ra khỏi công sự của chúng mà đánh; kết hợp với lối du kích chiến tranh được xây dựng vững chắc bảo vệ hậu phương chiến dịch; Chiến thắng PleiMe đã chứng minh tính ưu việt của phong trào chiến tranh nhân dân. Trên địa bàn xảy ra chiến sự, lực lượng du kích chiến đấu tại chỗ mạnh như các xã Ia Phin, Ia Lâu, Ia Mơ… linh hoạt cơ động còn hơn trực thăng Mỹ. Quân Mỹ đổ quân đến đâu là ngay tại đó trực thăng bị bắn rơi, quân Mỹ bị ăn đòn của du kích, của bộ đội đặc công và của bộ đội địa phương tại địa bàn.

Chiến thắng PleiMe, tiêu diệt một tiểu đoàn quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường Miền nam, đã thổi lên hồi kèn thắng trận tiêu diệt Tiểu đoàn Mỹ đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên. Đây là lần đầu tiên Mỹ đưa quân vào Tây Nguyên và cũng là lần đầu tiên Mỹ phải rút chạy về chiến dịch; lần đầu tiên Sư đoàn Kỵ binh Không vận ra quân và bị thất bại.

Chiến thắng PleiMe thôi thúc khí phách anh hùng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh kiên cường bám buôn làng nương rẫy, ngày đêm đánh giặc. Bộ Tổng tư lệnh đã gửi thư khen quân và dân Tây Nguyên. Chính phủ đã quyết định tặng thưởng cho các đơn vị chiến thắng quân Mỹ ở PleiMe 02 Huân chương Quân công hạng nhất(2).

Trong bước đọ sức với quân chiến đấu Mỹ, với đối tượng tác chiến mới, lực lượng chiến cuộc nòng cốt trong chiến tranh của đế quốc mỹ, ta đánh thắng Mỹ ngay từ trận đầu. Qua cuộc đọ sức này ta đã đúc kết được kinh nghiệm, khẳng định lòng tin, sẵn sàng đánh thắng những âm mưu, biện pháp chiến lược và thủ đoạn đánh phá của quân Mỹ.


(1) Những sự kiện quân sự - Viện Lịch sử Quân sự - Quốc phòng, trang 143
(2) Điện Quân ủy Miền gửi BTL Tây Nguyên, 12-1965 Lực lượng vũ trang nhân dân Tây nguyên, Trang 64


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:26:27 am
*   *
*

VÀNH ĐAI DIỆT MỸ

Từ khi quân Mỹ vào lập căn cứ ở Tân Tạo, được sự chỉ đạo của Quân Khu, học tập kinh nghiệm các vành đai diệt Mỹ ở Chu Lai – Đà nẵng, “Vành đai diệt Mỹ” ở Gia Lai được tổ chức.

Vành đai diệt Mỹ ở An Khê gồm nhân dân, các đội du kích tập trung của xã Bắc (huyện Kbang), phía Nam có xã chiến đấu A1 (Nay thuộc xã Yang Bắc – An Khê). Cùng với quân dân 2 xã còn có các phân đội chuyên môn đặc công, công binh áp sát quanh căn cứ Tân Tạo. Nhân dân các xã Bắc và xã Tân Tạo có trên 2.000 người. Hai xã này có truyền thống chiến đấu kiên cường và xây dựng xã chiến đấu có nhiều kinh nghiệm, bám trụ vững chắc. Nội bộ nhân dân được thuần khiết, tổ chức các đoàn thể quần chúng chặt chẽ. Các Trung đội du kích xã cùng các Phân đội Kỹ thuật chuyên môn, các đơn vị công binh tỉnh về sau tăng cường các Đại đội đặc công của Tiểu đoàn 407 đến Đại đội 2 Tiểu đoàn đặc công 450, thường xuyên bám chắc địa bàn. Tuy các đơn vị bố trí đứng chân phân tán để kèm cặp dân quân du kích nhưng thống nhất thành thế trận chiến đấu trong kế hoạch chung, tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức vây hãm, tiến công địch dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Đảng địa phương, phía Bắc do đồng chí Chiêu – Bí thư chi bộ, phía Nam do đồng chí Bà Đã – cán bộ xã chỉ huy. Vành đai diệt Mỹ trở thành một trong những khu vực chiến tranh diễn ra quyết liệt nhất giữa ta và địch.

Khi Mỹ vào An Khê, chúng đốt sạch các làng đồng bào dân tộc Bahnar chung quanh, phá sạch các nương rẫy hoa màu dọc nam và bắc đường 19. Pháo địch ở Tân Tạo cùng hàng ngàn máy bay trực thăngvũ trang luân phiên liên tục bắn phá hàng tuần lễ vào xã Bắc và xã A1, trong vòng 15 ngày cuối tháng 9/1965, gần 2.000 dân ở đây trung bình mỗi người phải chịu một phát đạn đại bác hoặc một quả rốc-kết.

Ác liệt. Căng thẳng. Cuộc chiến đấu trên vành đai diệt Mỹ diễn ra liên tục suốt ngày đêm. Nhưng với vũ khí thô sơ, hầm chông cạm bẫy, các đội du kích xã Bắc và xã A1 quanh căn cứ Tân Tạo đã liên tục đánh bại các cuộc đổ quân lùng sục của Sư đoàn Không vận Mỹ. Trong 3 tháng đông 1965, du kích xã Bắc đánh gần 100 trận, loại 452 địch, có 66 tên Mỹ, bắn rơi 11 trực thăng, phá hủy 16 xe quân sự, có 9 xe bọc thép. Nữ du kích Phơng, người con gái dân tộc Bahnar của xã Bắc, giữa ban ngày đã luồn vào phục kích trong hàng rào kẽm gai của sân bay Tân Tạo, dùng súng trường bắn cháy 01 máy bay lên thẳng. Nhân dân xã Bắc đã cắm 5.257.900 cây chông, đào 210 hầm chông. Dù bị bắn phá ngày đêm của pháo địch nã từng chùm vào xã, nhưng được sự chỉ đạo kiên quyết của đồng chí Chiêu – Bí thư chi bộ, nhân dân xã Bắc đã kiên cường bám trụ sát nách căn cứ địch(1).

Ngoài vành đai diệt Mỹ của xã Bắc và xã A1, liền với phía Tây An Khê, giáp đông đèo Mang Yang, mạn nam đường chiến lược số 19 đã xây dựng xã A3 huyện 7 (nay là xã ChơKơrei thuộc huyện Kông Chro) là xã chiến đấu toàn diện.

Xã A3 có 7 làng, số dân 1.667 người, dân tộc Bahnar, thành lập 2 Trung đội du kích xã vững. Đội du kích luôn thay phiên hoạt động bám đường 19. Trong 3 năm từ năm 1965 đến năm 1968, đội du kích đã đánh 329 trận, diệt 1.891 tên địch, có 145 tên Mỹ. Du kích thường xuyên phối hợp tác chiến với Tiểu đoàn 15 tỉnh, Trung đoàn 95 chủ lực, đánh diệt nhiều đoàn xe vận tải quân sự. Riêng đội du kích xã A3 đã phá hủy 62 xe quân sự, có 5 xe tăng, phá hủy 4 pháo 105 ly, đánh sập 2 cầu, 2 lô cốt địch gác đường, bắn rơi 5 máy bay lên thẳng. Đường hành lang Trung ương vận chuyển qua đường 19, đi vào giữa xã, suốt hàng chục năm được du kích và nhân dân bảo vệ các đoàn cán bộ, tải sản, vũ khí khối lượng lớn được an toàn. Nhân dân trong xã bố phòng trên 3,5 triệu cây chông. Ở sát đường 19 nhưng Mỹ không cách gì phá nổi xã chiến đấu(2).

Từ tháng 03/1965, Mỹ ào ạt đưa quân Mỹ vào Miền Nam. Nhà cầm quyền hiếu chiến Mỹ hy vọng tạo nên một sự thay đổi quan trọng trong tương quan lực lượng trên chiến trường nghiêng về phía có lợi cho chúng. Nhưng thực tế diễn biến trên chiến trường Miền Nam cũng như địa bàn Gia Lai đã hoàn toàn ngược lại ý muốn chủ quan của chúng. Lực lượng cách mạng không lùi về phòng ngự mà vẫn tiếp tục tiến công. Ta không những tiêu diệt hàng mảng lớn quân ngụy, giữ vững và chủ động mở rộng vùng giải phóng, mà còn bước đầu đánh thắng các đơn vị chiến đấu Mỹ.

Vành đai diệt Mỹ đã vây hãm chúng trong những căn cứ quân sự, làm cho quân lính luôn nơm nớp lo sợ quân du kích. Không những ta phát huy nhiều sáng kiến trong tiêu diệt sinh lực địch mà còn mưu trí và dũng cảm phá hủy phương tiện chiến tranh của địch.


(1) Ngày 06/11/1978 xã Bắc được Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
(2) Ngày 20/12/1976 xã A3 được Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:27:15 am
Mỹ vào Gia Lai, ngoài việc cày ủi trắng hai bên đường chiến lược 19 mỗi bên hơn 500 mét để chống hoạt động của du kích, chúng còn xây dựng một hệ thống ống dẫn dầu từ cảng Qui Nhơn dọc theo quốc lộ 19 lên thị xã Pleiku để phục vụ cho các phương tiện chiến tranh của chúng. Nhưng Mỹ không lường nổi sức tiến công ngày đêm của mạng lưới nhân dân du kích chiến tranh hai bên nam và bắc đường 19. Ống dẫn dầu nằm nổi trên mặt lề đường là mồi trực tiếp cho những tay súng trường thiện xạ của du kích. Có đêm du kích bắn thủng hàng trăm mét ống, dầu chảy lai làng, giặc Mỹ chịu không nổi. Chúng đối phó bàng cách đào mương chôn ống dầu dưới lòng đấu sâu từ 5 đến 6 tấc. Nhưng cũng không lọt qua mưu trí không khéo của du kích. Ống dẫn dầu của địch vẫn bị phá, và khi đường ống chôn quá sâu bị phá, Mỹ càng khó tìm ra chỗ hỏng để sửa chữa. Cuối cùng đến đầu năm 1967, chúng phải đào bỏ toàn bộ hệ thống đường ống này.

Trên vùng đất bằng của tỉnh, vành đai diệt Mỹ được tỉnh chỉ đạo xây dựng phù hợp sát địa hình để duy trì thế tiến công địch liên tục, nhưng vẫn giữ được thế hợp pháp cho quần chúng, không cho địch chia cắt thành hai vùng phân cách để chúng đánh phá hủy diệt vùng ta. Vành đai diệt Mỹ vùng đất bằng phía Tây gồm các xã B5, B6, B7 (thuộc Chư Păh), xã E5 (Ia Phìn – Chưprông), xã E14 (Ia Lốp thuộc Chư Sê) và xã Gào (thị xã Pleiku). Liên tục mấy năm liền các xã vành đai này đã giữ vững khí thế đấu tranh đánh địch, bảo vệ được dân, bảo vệ phong trào cách mạng, hoạt động của chiến tranh du kích có kết quả.

Trên đường 14 địa thế bằng phẳng, rừng non thưa thớt xen kẽ những vạt tranh non cao gần thắt lưng. Từ khi Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ vào đóng tại La Sơn, vùng phía Tây tỉnh càng bị bom pháo của địch cày xới tơi tả, tạo ra những bãi trống trơ trọi hàng 500 – 800 mét. Quân Mỹ đắc chí với địa hình bằng phẳng trống trải này. Ngoài từng tốp máy bay lên thẳng tuần tiểu, hàng ngày chúng bố trí một tuyến bót gác của dân vệ, bảo an bảo vệ trục giao thông 14. Puih Thu – Xã đội trưởng E14 (Ia Lôp) đã sáng tạo mưu trí cách đánh độc đáo, anh mặc khố, ở trần, mang gùi nhỏ đi rừng tìm trái cây, hái nấm, chỉ thấy trên tay anh cầm một con dao nhỏ. Nhưng bọn lính gác đường không sao phát hiện nổi ở cổ chân anh lại buộc dây thừng kéo lê khẩu súng trường Mỹ; đến nơi có bụi cây rậm anh giả ngồi nghỉ mát và sẵn sàng tư thế dùng súng trường ngắm bắn diệt các xe quân sự Mỹ chạy trên đường 14. Nhiều lần anh thực hiện mưu kế này ở nhiều đoạn đường khác nhau. Mùa đông năm 1966, trong 3 tháng Puih Thu đã bắn cháy trên chục chiếc xe quân sự Mỹ, có 2 xe Jeép, chết hàng chục tên lính Mỹ. Anh còn hướng dẫn cho du kích xã bám đường tiêu hao địch liên tục. Lính Mỹ bị diệt, bọn bảo an dân vệ gác đường sợ co lại, không dám lùng sục sâu. Nhân dân xã 14 vẫn sống hợp pháp sát nách căn cứ địch, rất tin tưởng đội du kích do Puih Thu chỉ huy(1).

Đi đôi với chiến đấu tiêu diệt địch, Tỉnh đội phát động phong trào đấu tranh binh, địch vận, nhất là từ khi Sư đoàn 4 vào đóng phía Nam tỉnh. Từng xã tổ chức các Trung đội du kích kẻ bảng viết khẩu hiệu kêu gọi binh sĩ Mỹ đấu tranh đòi hồi hương, chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt nam; khẩu hiệu viết bằng ba thứ tiếng Mỹ, Việt Nam và tiếng dân tộc, nội dung do Ban binh vận tỉnh phổ biến.

Trên trục đường 14 hàng trăm khẩu hiệu binh vận được giăng đầy trước những bãi tranh trống trải. Sư đoàn 4 Mỹ tức tối, cho lính ra nhổ phá khẩu hiệu, nhưng lại có hàng trăm khẩu hiệu khác giăng lên. Ăn quen lính Mỹ mò ra nhổ, mìn và lựu đạn du kích đã gài dưới gốc trụ khẩu hiệu nổ tung, mấy tên lính Mỹ toi mạng. Bị thiệt hại, bọn chỉ huy Mỹ dùng máy bay trực thăng (loại trinh sát) bay rà thấp theo dọc đường để gỡ phá khẩu hiệu. Do địa hình trống trải du kích không bắn máy bay được, xã đội phó Hyơng (xã E14) nảy ra sáng kiến: Dùng cây lồ ô lớn bám trụ khẩu hiệu, đầu trụ chứa một đoạn trống thả lọt quả bom bi, trên gác đầu bảng khẩu hiệu có dây kẽm cột đính khẩu hiệu với quả bom bi, cánh của bom bi tung xòe ra bom bi nổ ngay, đứt đôi chiếc trực thăng, 2 tên lính Mỹ toi mạng. Từ đấy trở đi, lính Mỹ, lính Ngụy không tên nào dám ra gỡ khẩu hiệu của du kích nữa.

*   *
*

Trải qua một năm (9/1965 – 8/1966) khi 2 Sư đoàn quân chiến đấu Mỹ vào Gia lai, cuộc chiến tranh của quân và dân các dân tộc trong tỉnh cực kỳ quyết liệt và thu nhiều thắng lợi bước đầu. Quân dân Gia lai đã nêu cao tinh thần quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, đánh phủ đầu một đòn mạnh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đặt tiền đồ tin tưởng vững chắc cho những thắng lợi tiếp theo. Nó thể hiện tính đặc sắc trong nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng bộ, phát huy kịp thời và cao độ truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Tuy nhiên đó chỉ là những thử thách ban đầu trong các trận đọ sức đối với quân Mỹ. Với tiềm lực quân sự và kinh tế của một tên đế quốc đầu sỏ, bản chất cực kỳ ngoan cố, hiếu chiến, chúng đã cơ bản triển khai được kế hoạch bố trí lực lượng, thiết bị chiến trường, tổ chức chỉ huy ráo riết xúc tiến biện pháp “tìm diệt” đi đôi với gom dân lập ấp “bình định” của chúng nhằm tiến công vào căn cứ quân chủ lực Tây Nguyên và phong trào du kích chiến tranh của tỉnh.

Về ta, những khu vực gần căn cứ quân sự Mỹ, ta vẫn giữ được quyền nhân dân làm chủ, nhưng mức độ ác liệt ngày càng tăng. Đời sống và sinh hoạt của nhân dân và bộ đội gặp nhiều khó khăn, có nơi thiếu ổn định.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân trong tỉnh đang bước vào một thời kỳ mới rất quyết liệt và phức tạp.


(1) Anh Puih Thu năm 1965 được Ủy ban TW Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, danh hiệu Anh hùng đầu tiên được tuyên dương của Lực lượng vũ trang Gia Lai trong kháng chiến chống Mỹ


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:30:48 am
*   *
*

II/ Cùng quân và dân Miền Nam đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của quân Mỹ. Mùa khô lần thứ nhất:

Đến cuối năm 1965, đế quốc Mỹ đưa vào Miền Nam nước ta trên 20 vạn quân chiến đấu Mỹ và chư hầu, trong đó có 184.000 quân Mỹ, một lực lượng lớn binh khí kỹ thuật, phương tiện chiến tranh và hơn 50 vạn quân ngụy các loại.

Trên địa bàn Gia Lai, tháng 8 năm 1966 Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ vào đóng ở La Sơn, đông cao điểm Chữ HơDrung; Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn bộ binh số 25 (“Tia chớp nhiệt đới”) đóng ở Cơ Ty Prông (đồi Đức Mẹ).

Với binh lực và binh khí kỹ thuật lớn tập trung trong tay, Oét-mo-len chủ quan hy vọng vào một giải pháp quân sự trên chiến trường quyết định mở một cuộc phản công chiến lược lớn 5 mũi tên vào hai hướng chiến lược chính vào Khu 5 và Miền đông Nam bộ nhằm tiêu diệt chủ lực ta “bẻ gãy xương sống Việt cộng” và các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy, triệt phá các căn cứ, giải tỏa áp lực của ta đang ngày càng áp sát đô thị, thị xã, thị trấn, đánh phá các hành lang, kết hợp “bình định” có trọng điểm, nhằm giành lại thế chủ động chiến trường.

Khu 5 (trong đó có Gia Lai) là một trong hai trọng điểm phản công bằng ba mũi tên của quân Mỹ. Chúng chú trọng đến việc giải tỏa con đường 19 chiến lược; vì chúng nhận định “con đường 19 có nguy cơ bị ta chiếm và cắt miền Nam ra làm đôi”(1).

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Trung ương “Chủ động tiến công tiêu diệt địch, đồng thời tích cực phản công địch khi chúng đánh vào vùng giải phóng của ta. Đây là thời điểm dân tộc ta phải “Nêu cao chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào”(2).

Bộ tư lệnh Quân Khu 5 chỉ thị cho các địa phương tích cực bố phòng, xây dựng làng, xã chiến đấu. Các đơn vị chủ lực đóng quân ở đâu có trách nhiệm phối hợp với địa phương tổ chức ban chỉ huy thống nhất để có kế hoạch hợp đồng tác chiến theo từng phương án cụ thể.

Tháng 01 năm 1966, Tỉnh ủy Hội nghị mở rộng đề ra các nhiệm vụ về quân sự:

- “Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững quyết tâm liên tục tiến công địch, đánh bại kế hoạch phản công mùa khô của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch kể cả Mỹ và ngụy.

- Tranh thủ thời gian, lợi dụng thời cơ giải phóng đại bộ phận nông thôn, giành dân xây dựng vùng ta làm chủ mạnh về mọi mặt, chú ý phát triển lực lượng cách mạng, bồi dưỡng sức dân, động viên phục vụ tiền tuyến.

- Khẩn trương xây dựng, phát triển và bảo tồn lực lượng cách mạng, phát triển phong trào thị xã, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tấn công binh vận, kết hợp chặt chẽ với hoạt động vũ trang bao vây uy hiếp làm rối loạn hậu phương địch, thúc đẩy, làm tan rã lực lượng địch nhiều hơn nữa…”

Đồng chí Phạm Hồng – Phó Bí thư tỉnh ủy được phân công sang làm chính trị viên Tỉnh đội từ tháng 10 năm 1965.

Lực lượng tỉnh, huyện được tăng cường tổ chức, biên chế, bổ sung trang bị. Quân khu 5 biệt phái hai Đại đội đặc công (thuộc Tiểu đoàn 407) tăng cường cho “Vành đai diệt Mỹ” ở Tân Tạo (An Khê). Trung đội “bắn tỉa” có 32 đồng chí trang bị súng “bắn tỉa” đặc chủng từ Miền bắc vào cho Gia Lai hoạt động ở trọng điểm “vành đai diệt Mỹ” An Khê và đoạn đông tây đèo Mang Yang đường 19.

Năm 1966 Tỉnh thành lập Đại đội 17 công Binh. Tiếp sau, Quân khu bổ sung Đại đội công binh 18 có trang bị kỹ thuật đầy đủ, hai Đại đội công binh này có nhiệm vụ chuyên trách, đánh phá giao thông trục đường 19. Mặt trận Tây Nguyên bổ sung Đại đội 21 đặc công cho thị Pleiku. Sức chiến đấu của bộ đội thị được tăng lên mạnh: Hai đại đội đặc công cùng với xã Gào, mỗi làng có một đội du kích thoát ly, một tổ du kích an ninh mật. Đội du kích tập trung của xã có 65 tay súng trang bị đầy đủ cùng đội vũ trang công tác vùng ven.

Lực lượng dân quân du kích được tổ chức xây dựng và củng cố các làng chiến đấu. Ban dân quân tỉnh tổ chức tập huấn, trưng bày các mô hình bố phòng bằng vũ khí thô sơ tại Hội nghị Quân chính tỉnh để các địa phương vận dụng bố phòng phù hợp với địa hình rừng núi và vùng đất bằng trong tỉnh. Các đội chuyên trách đánh hậu cứ, kho tàng, trận địa pháo của địch cũng được thành lập.

Lực lượng chủ lực Tây Nguyên, bộ đội tỉnh, các huyện đã hình thành kế hoạch chiến đấu thống nhất tại chỗ. Thế trận đánh Mỹ phản công trên địa bàn tỉnh đã chuẩn bị sẵn sàng.

Ngày 28 tháng 01 năm 1966 quân Mỹ phản công “ba mũi tên” trên các hướng Bắc Bình Định, nam Quảng Ngãi (Đức Phổ) và Phú Yên (huyện Tuy Hòa).

Để phối hợp chiến đấu với Quân khu, trong lúc quân Mỹ dồn quân xuống các tỉnh đồng bằng, ngày 19 tháng 02 năm 1966, Tiểu đoàn đặc công 407 luồn sâu vào đánh căn cứ sân bay Tân Tạo, diệt và bắn bị thương hàng trăm tên giặc lái máy bay, nhân viên kỹ thuật Mỹ, phá hủy, phá hỏng 97 máy bay lên thẳng.


(1) Tường trình của Oét-mô-len (dự thảo báo cáo tổng kết về địch của ban tổng kết chiến tranh Mặt trận B2).
(2) Kêu gọi của Trung ương Đảng trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng 12-1965)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:31:44 am
Từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3, Tiểu đoàn 15 tỉnh 2 lần đột nhập khu dinh điền Lệ Chí đánh thiệt hại Đại hội bảo an địch đang kẹp dân lập ấp.

Thực hiện đánh sâu căn cứ quân sự Mỹ, ngày 21 tháng 04 năm 1966 Tiểu đoàn đặc công 407 phối hợp chiến đấu với Tiểu đoàn 15 của tỉnh mở trận tấn công vào căn cứ Quân đoàn 2 ngụy. Tiểu đoàn 407 đảm nhận đánh sâu các mục tiêu bên trong, Tiểu đoàn bộ binh 15 sẵn sàng đánh địch phản kích vòng ngoài.

Đúng 21 giờ ngày 24 tháng 04, Tiểu đoàn 407 tấn công sân bay Cù hanh, phá hủy 40 máy bay, diệt 380 Mỹ, ngụy. Đây là trận thứ 2 ta đánh vào sân bay từ khi quân Mỹ vào Gia Lai, gây thiệt hại lớn về phương tiện chiến tranh của Mỹ, Cùng lúc một cánh quân khác đánh vào căn cứ quân đoàn 2 ngụy và trung tâm huấn luyện 810. Bộc phá nổ bừng sáng một góc trời phía đông bắc thị xã Pleiku.

Tiểu đoàn bộ binh 15 đã bố trí sẵn sàng thế trận ở vòng ngoài từ làng Kôn Gang Kốp đến làng Đé Thanh vòng qua Đé Gôh, Đé Đoa, có công sự tương đối vững chắc trên một chính diện đội hình rộng 4 ki-lô-mét.

Bị đánh tại hậu cứ quá đau, địch phản kích ngay, từ mờ sáng 22 tháng 4, từng đoàn máy bay trực thăng và vũ trang H.U.1.A chở đầy lính từ căn cứ Tân Tạo đổ quân xuống Lệ Chí. Sau 20 phút cấp tập pháo bắn từ căn cứ Cơ Ty Prông vào rìa căn cứ ta, trên 100 máy bay lên thẳng chia nhiều tầng, nhiều tốp bắn rốc kết xối xả vào vùng đồi rậm nghi có bộ đội ta ẩn nấp. Đúng 7 giờ 30 phút từ vị trí chỉ huy Tiểu đoàn qua điện thoại lệnh cho các đơn vị nổ súng bắn máy bay địch. Có công sự tương đối vững, có trận địa nghi binh có hiệu quả, các đơn vị an toàn và đồng loạt nổ súng. Cuộc chiến đấu mạnh mẽ của bộ đội ta dưới mặt đất với đội quân trực thăng Mỹ rất quyết liệt, trận địa nổ súng liên hồi, cứ chứng 30 đến 40 phút bộ đội ta lại thấy chúng dùng trực thăng cẩu xác các trực thăng bị ta bắn rơi về hướng Pleiku, càng động viên khí thế quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 16 giờ 30 phút thì trận địa im tiếng súng. Từng đàn trực thăng lần lượt cẩu hết xác trực thăng về. Bộ binh và xe cơ giới địch dàn tại Lệ Chí để sẵn sàng phản kích vào bộ đội ta cũng rút về thị xã, vì không phán đoán được quy mô và trận địa của ta, hơn nữa số máy địch bị bắn rơi quá nhiều, nên chúng không dám liều lĩnh nộp thân vào trận địa đã bày sẵn của ta có rừng núi bảo vệ. Kết quả trận đánh địch phản kích bằng trực thăng ngày 22 tháng 4 – 1966 Tiểu đoàn 15 bắn rơi 22 trực thăng Mỹ, diệt chết 120 tên lính Mỹ. Bộ đội ta an toàn, Tiểu đoàn 407 lui về hậu cứ chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Đây là trận bắn rơi trực thăng Mỹ nhiều nhất của bộ đội Gia Lai trong mùa khô lần thứ nhất ở Gia Lai và cũng là trận bắn rơi nhiều máy bay nhất của trực thăng vũ trang Gia Lai trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Qua trận chiến đấu trên, lực lượng vũ trang đã rút được kinh nghiệm về kỹ thuật bắn máy bay trực thăng Mỹ. Trong trận này đồng chí Châu Tiểu đoàn phó dùng súng trường bắn rơi tại chỗ một máy bay. Bộ tư lệnh Quân khu 5 tặng Huân chương chiến công hạng hai cho Tiểu đoàn và tặng Huân chương chiến công hạng ba cho đồng chí Châu. Tin chiến thắng trên, đồng chí Trần Văn Bình (tức Đẵng) Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai đến thăm Tiểu đoàn 15 chúc mừng thắng lợi và động viên cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn phát huy thành tích liên tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Phong trào du kích chiến tranh của các lực lượng vũ trang tỉnh đã phả triển mức cao, toàn diện. Ngoài mũi tiến công vào lực lượng bảo an, biệt kích, bọn bình định nông thôn kẹp dân, ta mở ra những đợt hoạt động đánh giao thông cắt vận chuyển của địch, gây ngừng trễ cho việc tiếp tế quân sự của chúng đồng thời cũng gây không ổn định trong thị xã, tạo điều kiện đưa phong trào đấu tranh chính trị cho quần chúng nội thị lên một bước. Ta cũng mở những cuộc tấn công sâu vào các hậu cức địch, đánh các khu kho dự trữ của chiến lược của chúng.

Đại đội 90 và Đại đội 21 của thị liên tục bám vùng ven, nhất là khu vực xung quanh Bàu Cạn, làng O Xơ (xã B7 Chưpăh) xây dựng bàn đạp, tạo thế đứng vững chắc tấn công vào nội thị. Các đại đội bám cơ sở, vận động quần chúng diệt ác phá kèm, đánh 4 trận, diệt các toán biệt kích nống ra thăm dò lực lượng ta, phục kích diệt 8 xe quân sự ở dốc Me Kút, dốc tây Hơ Drung. Đội biệt động thị tập kích nhà máy điện nước Đỗ gây tiếng vang náo động trong hàng ngũ địch. Bọn tay sai ác ôn co lại, chủ đồn điền chè Bàu Cạn chịu liên lạc với ta, nhận đóng thuế cho ta và đấu tranh không để lính bảo an đóng trong đồn điền.

Cuộc phản công chiến lược mùa khô 1 của Mỹ dự tính kéo dài từ tháng 1 đến tháng 6. Chúng huy động đến mức tối đa mọi binh khí, kỹ thuật, sử dụng mọi thủ đoạn đánh phá dã man, tàn bạo nhất. Nhưng sau khi ra quân đợt đầu chúng đã bị đánh thiệt hại nặng, đành phải chấm dứt cuộc càn trước 2 tháng. Ca-bôt-lốt Đại sứ Mỹ ở Miền Nam Việt Nam phải thú nhận:

“Không làm hao tổn được Việt Cộng

“Không diệt được đơn vị chính quy lớn nào của Việt Cộng

“Không ngăn chặn được du kích phát triển.

“Hậu phương không ổn định(1).

Quân và dân ta vẫn giữ được thế chủ động trên chiến trường và tiếp tục phát huy mạnh mẽ thế tiến công trên cả 3 vùng chiến lược, phá vỡ “ấp chiến lược” có 151 làng đưa dần lên thế làm chủ 33 ngàn người.


(1) Theo lịch diễn biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 tập 1 Viện lịch sử quân sự - Trang 152


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:33:32 am
HOẠT ĐỘNG HÈ THU 1966

Phát huy thắng lợi xuân 1966 Mặt trận Tây Nguyên mở đợt hoạt động hè thu trên chiến trường Gia Lai và Kon Tum để phối hợp với Mặt trận đường 9 bắc Quảng Trị.

Đêm 20 tháng 05 Tiểu đoàn 15 tập kích đại đội bảo an chốt giữ đồn Mo (nam Do Lim). Bộ đội chủ lực Tây Nguyên pháo kích cứ điểm PleiDjirăng (Chưpăh), tiêu diệt cụm quân địch ở Sùng Lễ, đến 29 tháng 5 ta tiến công Tiểu đoàn Mỹ ở Djirăng thu (núi Chưpa).

Phía Nam, Tiểu đoàn 15 cùng đội vũ trang công tác huyện 11 tập kích đồn bảo an Plei Rngol, đánh thiệt hại Đại đội biệt kích ngụy.

Trên Mặt trận giao thông các Trung đội du kích Xã A1, A3 (khu 7), xã Bắc (khu 2) và các xã Năm, Bắc Hà Lòng, xã Kông Dơng (khu 3) liên tục bám trụ hoạt động đánh xe trên đường 19. Khu vực tây An Khê và đông tây đèo Mang Yang ngày nào cũng có xe quân sự địch bị bắn cháy do quân du kích và đội bắn tỉa chuyên trách của tỉnh.

Để phối hợp với hướng Kon Tum đang bao vây quận lỵ Tumơrông, ngày 3 tháng 7 các đơn vị Tây Gia Lai đã đánh tiêu diệt Đại đội Mỹ ra càn quét ở Đức Vinh. Ngày hôm sau một Đại đội Mỹ khác có xe bọc thép yểm trợ mò ra lấy xác đồng bọn, đã bị các lực lượng ta chặn đánh diệt thêm một Đại đội nữa, phá hủy 4 M113. Trước áp lực mạnh của ta, quân Mỹ đưa lữ đoàn 3 kỵ binh ra tham chiến. Cuộc chiến đấu cánh tây Gia Lai diễn ra quyết liệt suốt trong tháng 7 và sang đầu tháng 8 năm 1966. Bộ đội chủ lực phối hợp bộ đội địa phương 4, 5 bao vây, tiêu hao, tiêu diệt thêm 4 Đại đội Lữ đoàn này tại khu vực làng Yịt, sát chân núi Chưprông và một Đại đội Mỹ bị đánh thiệt hại nặng ở Bắc thung lũng Ia Pa thuộc xã B11 Chưpăh).

Phía Đông, hai Đại đội công binh 17 và 18 liên tục bám sát hoạt động trên đường 19. Đã phát huy nhiều cách đánh sáng tạo. Đại đội công binh tập kích hai Trung đội bảo an gác cầu AYun bằng phóng một “mâm lựu đạn” đúng vào đội hình lính bảo an đang đứng chào cờ buổi sáng. “Mâm lựu đạn” vừa rơi xuống cách chân cột cờ 10 mét, lựu đạn cài sẵn trong mâm nổ tung, làm trên chục tên bảo an chết và bị thương. Mãi về sau số lính gác cầu không dám tập trung đông tại sân đồn.

Học tập kinh nghiệm của Đại đội công binh 18, anh Kpă Ing Trung đội trưởng du kích xã E3 (làng Yịt huyện Chưprông) đã đánh mấy lần bằng “mâm lựu đạn” vào đồn Tầm, chốt 30 của địch trên tục đường 19 (tây) gây cho địch nhiều thiệt hại kiếp sợ.

Trên đường 14, từ Mỹ Thạch đến Phú Nhơ và từ Phú Mỹ đi PleiMe (đường 21 tỉnh lộ) bọn gác đường, bọn biệt kích đi lùng luôn bị dân quân du kích, bộ đội khu 5 (Chưprông) tiêu hao, tiêu diệt. Tiêu biểu là gương chiến đấu dũng cảm mưu trí của Kpă Klơng.

Kpă KLơng sinh tại làng Pía, nhập ngũ lúc 17 tuổi (Sinh năm 1948, nhập ngũ năm 1965) là chiến sĩ nhỏ tuổi nhưng giỏi đánh mìn, vót chông gài thò, cặm bẫy bố phòng quanh trại biệt kích PleiMe. Khi còn 13 tuổi làm dân quân làng. Khi nhập ngũ, Kpă Klơng làm trinh sát của bộ đội khu 5 (Chưprông). Klơng có biệt tài bắn xâu táo địch. Anh luôn chọn điểm cao, lợi thế, bình tỉnh chờ địch đến gần từ 20 đến 30 mét bắn xuyên táo những tên biệt kích, bảo an. Có lần anh bắn 3 viên đạn súng, trúng diệt 5 tên ngụy. Lần đi trinh sát ở PleiMe, anh bám địa thế bắn 2 viên diệt 4 tên biệt kích. Thành tích của Kpă KLơng được nhiều lần bầu chiến sĩ thi đua bộ đội huyện và tỉnh. Ngày 17 tháng năm 1967, Kpă KLơng được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang với 6 chữ “Tuổi thiếu niên, chí anh hùng”(1).

Đêm 3 tháng 9 năm 1966, Tiểu đoàn đặc công tỉnh tập kích vào sân bay Tân Tạo phá hủy 40 chiếc máy bay lên thẳng. Đêm 28 tháng 10, Đại đội 70 đặc công tập kích vào trung tâm huấn luyện 810; dùng súng B40, AK đánh diệt Đại đội bảo an ở Cơ Ty Prông, diệt 50 tên Mỹ, phá hủy 7 xe quân sự.

Ngày 20 tháng 12 năm 1966, kỷ niệm 6 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, Tiểu đoàn 15 phục kích trên đường 7 đánh thiệt hại Tiểu đoàn pháo số 221 ngụy từ Cheo Reo về PleiKu diệt 7 xe bắn chết 100 tên địch, phá hủy 1 pháo.

Thắng lợi to lớn của quân và dân Gia Lai năm 1966 đã góp phần cùng nhân dân toàn miền đánh thắng hiệp đầu phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của giặc Mỹ ở Miền Nam. Đã tác động trực tiếp đến xây dựng và phát triển phong trào đấu tranh ở thị trấn, thị xã. Cơ sở thị xã phát triển khá, trong nội thị đã lập được chi bộ Đảng hoạt động hợp pháp. Các làng A, B, C, D thuộc xã Gào, các làng Tong, làng Nú, O Xơ (thuộc xã B7) đã đồng loạt nổi dậy đấu tranh không cho lính bảo an đóng quân trong làng. Các xã E5 (Ia Phìn) xã B5 (Ia Sao) làm công tác binh vận, vận động làm rã ngũ 85 lính bảo an bỏ ngũ về làng, nạp cho chính quyền cách mạng 10 súng.

Qua thực tiễn chiến đấu, quân và dân tỉnh đã hiểu được chỗ mạnh, chỗ yếu của quân chiến đấu Mỹ. Đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tuyệt đối của chiến tranh nhân dân, cũng như nhận thức rõ những khó khăn, nhược điểm của lực lượng vũ trang tỉnh. Nhược điểm đó là phong trào đấu tranh chính trị tuy có tiến bộ nhưng chưa tiến kịp, chưa kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự; công tác đô thị còn yếu, nhất là phong trào các quận lỵ như An Khê, Cheo Reo chưa mạnh, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình ngày càng phát triển; chưa phát huy hết khả năng tiềm tàng của chiến tranh du kích.


(1) Kpă KLơng tử trận tháng 8 năm 1975 lúc đó anh là Đại úy tham mưu phó Tỉnh đội Gia Lai – Kon Tum (23-08-1975)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:34:56 am
Tiếp tục đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ II của giặc Mỹ - 1967

Mùa mưa năm 1966 bắt đầu chấm dứt, cũng là thời điểm chấm dứt cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất. Nhưng những mục tiêu của chúng đề ra là: Tiêu diệt quân chủ lực Việt Cộng, phá chiến tranh du kích, cắt đứt hành lang chiến lược, giành chủ động về chiến lược “bình định” có trọng điểm vẫn chưa thực hiện được.

Thất bại nặng nề ở chiến trường, bị dư luận ở nước Mỹ và trên thế giới phản đối, nhưng với bản chất hiếu chiến chính quyền Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục leo thang mở rộng chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc, ném bom bắn phá thủ đô Hà Nội, Hải phòng và ráo riết chuẩn bị cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai.

Chúng ồ ạt tăng quân chiến đấu Mỹ và chư hầu vào Miền Nam Việt Nam đến tháng 12 năm 1966 lên đến 40 vạn tên(1). Trên địa bàn Gia Lai, quân chiến đấu Mỹ đã giăng thế trận trên các hướng quan trọng:

- Sư đoàn 1 không vận ở Tân Tạo sẵn sàng cơ động chiến đấu đánh phá vùng căn cứ tỉnh và cơ động đổ quân phản công “tìm diệt” quân chủ lực ta ở các tỉnh đồng bằng Khu 5.

- Sư đoàn 4 Bộ binh đóng ở La Sơn, nam thị xã Pleiku, Lữ đoàn 3 (sư đoàn tia chớp nhiệt đới 25) ở Cơ Ty Prông là những đơn vị sẵn sàng đọ sức với các đơn vị chủ lực Mặt trận Tây Nguyên từ Gia Lai đến Kon Tum. Là lực lượng chủ chốt bảo vệ Pleiku, căn cứ quân đội 2 ngụy.

Từ kinh nghiệm thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, lần này Mỹ có tham vọng lớn là cố giành thắng lợi “tìm diệt và bình định” quan trọng để tạo nên bước ngoặt hòng giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn nhất.

Cuộc chiến đấu của quân và dân tỉnh ta sẽ quyết liệt hơn, gian khổ, phức tạp hơn. Quân số Mỹ đông gấp 2 lần so với mùa khô lần thứ nhất. Nhưng về ta, vùng giải phóng, vùng ta làm chủ vẫn được giữ vững, thế hai chân ba mũi giáp công vẫn duy trì, lực lượng ta vẫn áp sát địa bàn thị xã, quận lỵ, trên các trục giao thông chiến lược quan trọng và quanh các căn cứ quận lỵ lớn của địch “Vành đai diệt Mỹ” ở An Khê và vùng đất bằng phía tây tỉnh vẫn hoạt động có kết quả.

Ngày 17 tháng 7 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước. Người khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta là: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quí hơn độc lập tự do!”.

Tháng 8 năm 1966, Hội nghị quân chính Quân Khu 5 rút kinh nghiệm và bàn kế hoạch đối phó với cuộc phản công mới của địch. Quân khu chỉ thị cho Gia Lai: Là chiến trường có nhiều điều kiện đánh tiêu diệt địch, có điều kiện tổ chức những đợt hoạt động dài ngày, phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực Tây Nguyên để thu hút, giam chân nhiều lực lượng địch, làm cho chúng tuy quân đông nhưng phải phân tán đối phó.

Tháng 1 năm 1967, Tỉnh ủy Gia Lai ra Nghị quyết “Tiếp tục động viên mọi nỗ lực của toàn Đảng bộ, quân dân trong tỉnh cùng chiến trường Khu 5 và toàn miền đánh thắng chiến tranh cục bộ ở mức cao của Mỹ. Trước mắt, dồn mọi cố gắng đánh thắng kế hoạch “phản công mùa khô lần thứ hai của Mỹ…”.

Hội nghị quân chính Tỉnh đội do đồng chí Kpă Thìn – Tỉnh đội tưởng và đồng chí Phạm Hồng – Chính trị viên chủ trì tổ chức rút kinh nghiệm các trận đánh Mỹ của các đơn vị tỉnh, huyện, dân quân du kích trong mùa khô lần thứ nhất. Nhiều bài học sinh động, thực tế được đúc kết trong Hội nghị. Đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của quân chiến đấu Mỹ cụ thể trên địa bàn tỉnh, mặt yếu của chúng khi đổ quân càn quét sâu trong vùng căn cứ, trong hành quân, chuyển quân trên các lộ giao thông, trong hậu cứ; thấy rõ mặt hạn chế về phát huy binh khí kỹ thuật trên chiến trường rừng núi.


(1) Quân Mỹ lúc này là 389.000 tên, chư hầu 52.000 tên. Tổng số quân Mỹ ngụy có 19 Sư đoàn, 9 Trung đoàn và 20 tiểu đoàn. Trong đó có 6 sư đoàn, 3 trung đoàn Mỹ, 2 sư đoàn và 2 trung đoàn Nam Triều Tiên.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:48:32 am
Về lực lượng ta tuy đã giành được thắng lợi trong cuộc đọ sức trận đầu. Nhưng những trận đánh diệt gọn còn ít, chưa làm chủ chiến trường, nhất là chưa làm chủ trận địa ở đoạn kết thúc, nên thu chiến lợi phẩm còn ít, sự chỉ đạo trong đánh với quân Mỹ chưa sát tình hình thực tế, chưa cụ thể; trang bị những loại vũ khí cần thiết để diệt xe cơ giới, xe bọc thép, xe tăng của địch còn thiếu. Do đó hạn chế đánh quân đổ bộ đường không, hoặc đánh sâu căn cứ, hậu phương kho tàng của địch thu kết quả ít, chưa thường xuyên. Đánh giao thông diệt gọn ít, chưa thu được vũ khí, làm chủ mặt đường v.v..

Qua chiến đấu nảy sinh tư tưởng dao động, bi quan trọng một số cán bộ, chiến sỹ, cá biệt có cá nhân giảm sút ý chí chiến đấu.

Để khắc phục tình hình trên, Ban cán sự và Ban chỉ huy Tỉnh đội chủ tương củng cố toàn diện lực lượng vũ trang của tỉnh, trước hết tập trung xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu, nêu cao tinh thần dũng cảm đánh Mỹ, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Đồng thời quan hệ với mặt trận tây Nguyên bố trí lực lượng hợp lý tạo thế trận đánh địch mạnh mẽ. Mặt trận Tây Nguyên biệt phái Trung đoàn chủ lực 95 về hoạt động tại Gia Lai (quân số chỉ huy do B3 phụ trách). Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn đứng chân Tây đường 14; Tiểu đoàn 2 đứng phía đông đường chuyên đánh giao thông địch đoạn đường 19 từ Tây An Khê đến Lệ Cần (đông Pleiku).

Tiểu đoàn bộ binh 6 sát nhập với Đại đội pháo ĐKB31 thành Tiểu đoàn 631 đứng tại xã B6 (IaDrung – Chưpăh), tây bắc thị xã Pleiku.

Tháng 4 năm 1967, tỉnh thành lập Đại đội công binh thứ 3 số đông là anh em dân tộc JaRai, lấy tên Đại đội 19, cùng bộ đội khu 5 đánh giao thông địch từ Hơ Drung lên Thanh Bình, Đức Cơ.

Ngày 15 tháng 12 năm 1967, Tiểu đoàn đặc công 408 chính thức thành lập do đồng chí Văn Đình Dư và Mai Xuân Tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn cùng hai Đại đội đặc công thị Pleiku có trách nhiệm đánh sâu vào thị xã, sân bay, các hậu cứ, kho tàng của địch.

Phía đông, Tiểu đoàn đặc công 407 (thiếu) áp sát căn cứ Sư đoàn không vận số 1 Mỹ, hỗ trợ đắc lực cho “Vành đai diệt Mỹ” của tỉnh.

Tiểu đoàn 2, Đại đội công binh 17, 18, Trung đội bắn tỉa và dân quân du kích các khu 2, 3, 6, 7 chuyên trách đánh phá giao thông địch trên đường 19, hình thành “Mặt trận đánh cắt giao thông” địch liên tục.

Tỉnh còn tổ chức Đại đội hỏa lực cối 81 ly trực thuộc tỉnh, trực tiếp sử dụng đứng chân tại căn cứ của tỉnh.

Cuộc chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng căng thẳng ác liệt. Máy bay B52 liên tục rải thảm trong vùng căn cứ, máy bay rải chất độc hóa học phá hủy mùa màng lương thực, phá trụi cây rừng. Máy bay B57 thả bom tọa độ. Pháo lớn 175 mili (vua chiến trường) liên tục bắn phá vào vùng căn cứ cơ quan tỉnh. Sinh hoạt nhân dân khó khăn, mùa màng lương thực hư hại, bộ đội thiếu gạo, bữa ăn của cán bộ cơ quan, đơn vị chiến đấu bằng hạt ngô bung, sắn luộc nhưng hôi mùi chất độc hóa học, đành chịu vậy. Nhiều đàn trâu bò của nhân dân hàng trăm con bị máy bay địch bắn chết phơi xác trên đồng cỏ. Nhiều làng đồng bào dân tộc phải ăn, ở, sinh hoạt suốt tháng năm trong hầm hang đá ở núi Kông Chiêng, Kông Kah King, KôngChro, Kông Siêk… Cuộc sống cực kỳ gian khổ nhưng nhân dân các dân tộc trong tỉnh vẫn bám địa bàn, cùng bảo nhau “ăn mì (sắn) đánh Mỹ, ăn mì thắng Mỹ”.

Nhân dân vùng đất bằng làm chủ hợp pháp, tranh chấp bị địch o ép, dồn xúc vào các khu dồn, “ấp chiến lược”. Chúng ra sức “bình định” kìm kẹp, bao vây hòng đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi dân để chúng tiêu diệt. Địch còn ra sức đánh phá hòng cắt đứt hành lang, bao vây phong tỏa các cửa khẩu, ngăn chặn hàng hóa ở vùng địch ra vùng ta. Nhiều chuyến hàng lương thực, thực phẩm chuyển về căn cứ có thấm máu của chiến sỹ và nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy, Ban cán sự Tỉnh đội chủ trương đợt sinh hoạt nội bộ Đảng, củng cố tổ chức, rèn luyện tư tưởng, xây dựng chi bộ 4 tốt, rèn luyện Đảng viên 4 tốt. Đảng viên cán bộ phải nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, thực hiện chỉ đạo chặt chẽ đợt sinh hoạt chính trị, chống “hữu khuynh, tiêu cực”, xây dựng ý chí chiến đấu, chống mọi biểu hiện sợ Mỹ, ngại hy sinh ác liệt, ngán ngẩm lâu dài.

Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị: “Đưa 2/3 số Đảng viên ở cơ sở, hầu hết là Đảng viên trẻ và 100% đoàn viên thanh niên lao động ở cơ sở vào dân quân du kích. Tỉnh ủy phân công một Tỉnh ủy viên người dân tộc sang làm chính trị viên phó Tỉnh đội(1) và một số huyện ủy viên sang làm huyện đội trưởng, chính trị viên phó huyện đội. Đoàn cán bộ nữ dân tộc được bổ túc lớp đại đội, huyện đội ở trường quân chính Tây Nguyên về làm cán bộ trợ lý dân quân tỉnh và các huyện đội, chuyên trách xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Ngoài ra còn động viên một số cán bộ tuyên huấn, đoàn thể của tỉnh sang tăng cường cho cơ quan chính trị của tỉnh đội.


(1) Đồng chí Đuk dân tộc Bahnar quê Khu 2 làm CTV phó tỉnh đội, bị tử thương ở khu 5 (ChưPrông). Tỉnh ủy điều đồng chí Đinh A (Bahnar) sang làm CTV phó tỉnh đội.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:49:59 am
*   *
*

Sang đông xuân 1966 – 1967, phối hợp hoạt động của Quân Khu 5, Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công địch trên hướng Sa Thầy nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực Mỹ, hỗ trợ cho phong trào phá ấp giành dân của tỉnh; thu hút giam chân quân Mỹ ở chiến trường rừng núi tạo điều kiện chiến trường đồng bằng hoạt động.

Sông Sa Thẩy chảy từ bắc Kon Tum vào giáp Tây Gia Lai.

Đông Sa Thày là nhánh sông Pô Kô, đây là khu vực rừng già, xen kẻ bãi cỏ tranh. Bờ sông dựng đứng thành đá như những bức tường vững chắc. Dòng sông PôKô cách biên giới Việt Nam – Campuchia khoảng 20 km, địch lập đồn biên phòng Plei Yrăng.

Ngày 18 tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 95 bao vây đồn Pleiyrăng. Ta tổ chức công binh và du kích bắc chiếc cầu treo qua sông Pô Kô, thông tin bắt dây điện thoại chằng chịt làm kế nghi binh. Phát hiện “thế trận” của ta (thế trận giả), địch dùng máy bay B52 ném bom rải thảm khu vực cầu treo, tung biệt kích sục sâu vào phía tây sông, cho Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ đổ quân chiếm tuyến bàn đạp đông sông Pô-Kô; thiết lập trận địa pháo tầm xa khu vực Sùng Lễ, Sùng Thiện; chuẩn bị cho cuộc hành quân “tìm diệt Pôn RiVơ IV”. Ngày 23 tháng 10, chúng cho 100 lần chiếc bay lên thẳng đổ Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4 Mỹ và 01 đại đội biệt kích sang bờ tây sông Pô-Kô.

Quân địch đã đi đúng thế trận bày sẵn của ta. Từ 25/10 đến 10/11, Trung đoàn 320 đã liên tục xuất kích tiêu diệt gần 5 Đại đội Mỹ. Mặc cho bom B52, pháo lớn ném tới tấp vào khu chiến của ta nhưng đều vô hiệu. Chúng bèn cho Lữ đoàn 2, Sư đoàn 4; ngày 11/11; đổ quân vào dãi đất thuộc rừng thưa tại khu vực sông Sa Thày, nhằm chặn đánh vào sau lưng đội hình chiến dịch của ta. Một lần nữa, quân Mỹ sa vào khu quyết chiến của bộ đội ta. Địch vừa mới đổ quân, pháo binh của ta nổ súng đánh phủ đầu cụm quân của Tiểu đoàn 2 – thuộc Lữ đoàn 2 và 1 Đại đội pháo 105 ly, 1 Đại đội súng cối 106,7 ly. Kho đạn dã chiến của quân Mỹ bốc cháy. Hai đại đội pháo, cối cùng Sở chỉ huy của Lữ đoàn 2 Mỹ bị diệt.

Các ngày tiếp sau, ta tiến công dồn dập vào các cụm quân Mỹ ở hai bên bờ đông và tây sông Sa Thày.

Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ bị đánh khá đau, chúng tăng Lữ đoàn 2 của Sư đoàn không vận số 1 vào Khu chiến. Địch đã làm đúng ý định chiến dịch của ta, ném toàn bộ Sư đoàn 4 bộ binh, Lữ đoàn 2 của Sư đoàn không vận số 1, nhiều đại đội biệt kích, hơn 10 đại đội pháo lớn vào một khu chiến gần 400 Km2 từ Sùng Lễ, Sùng Thiện đến Đức Cơ, Lê Thanh, đông sông Pô-Kô đến tây sông Sa Thày. Lúc này trọng điểm khu chiến nằm về phía tây tỉnh Gia Lai. Tuy địch tập trung một binh lực lớn nhưng vẫn không ngăn chặn được sức tấn công của bộ đội ta. Ngày 10 tháng 11 ta tiêu diệt cụm địch ở Pông Giong, ngày 1 tháng 11 ta tấn công cụm địch ở Giáo trạch. Quân Mỹ bị đánh đau và liên tục bị dồn sức đối phó với quân chủ lực phía trước và lưới du kích chiến tranh ở phía sau lưng chúng. Bọn sỹ quan than thở “Thung lũng sông Sa Thày còn đẫm máu hơn thung lũng Ia Drăng”(1).

Nhân dân phía tây huyện Chưpăh chịu đựng trung bình mỗi ngày địch ném xuống bản làng, núi đồi hơn 110 tấn bom, 100 tấn pháo. Toàn chiến dịch quân Mỹ ném xuống trận địa 10.500 tấn bom và đại bác, xuất kích 306 lần chiếc máy bay B52, nhưng chúng vẫn bị thất bại nặng, bị tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh. Ngày 28 tháng 11 năm 1966, Mỹ rút khỏi khu vực sông đông Sa Thày.

Sau thất bại ở Sa Thày, đầu năm 1967 quân Mỹ lại mở các cuộc hành quân Săm-but-tơn, Prăngxi MaRion vào phía tây tỉnh Gia Lai. Chiến sự lại diễn ra trên nhiều khu vực: Đức Cơ, đường 19 (tây) Đak Đoa, đông đèo Mang Yang. Tại huyện Chprông Mỹ đổ 10 ngàn quân chà xát các vùng Boong Sơ, Boang Klũh (E7) nhưng không “tìm diệt” được cơ quan Huyện ủy và các đơn vị chủ lực của ta.

Trái lại ta đã chủ động tấn công vào sào huyệt địch, tối ngày 9 tháng 1 năm 1967, Tiểu đoàn 952 đặc công tập kích vào sân bay Cù Hanh, đến ngày 9 tháng 4 tập kích vào sân bay Tân Tạo, phá hủy tất cả 130 máy bay các loại, đốt cháy bồn xăng 5 triệu lít. Ngày 17 tháng 3 năm 1967 tiểu đoàn 15 bộ binh tỉnh đánh thiệt hại nặng Đại đội bảo an địch càn vào suối Ptó. Ngày 01 tháng 3 Đại đội 60 và Đại đội 70 tập kích vào căn cứ Sư đoàn 4 Mỹ tại La Sơn diệt và làm bị thương 187 tên Mỹ, 70 “cán bộ bình định”, phá hủy 21 xe quân sự, đốt cháy một kho đạn lớn và một kho xăng. Bị đánh đau vào cơ quan đầu não, ngày 01 tháng 04 năm 1967 quân Mỹ kết thúc cuộc càn quét ở Sùng Thiện – Đức cơ.


(1) Miền Nam giữ thành đồng, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội – Tập IV – Trang 120


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2020, 08:51:32 am
Trên Mặt trận giao thông đường 19, hai đại đội công binh cùng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 95 liên tục phục kích đánh các đoàn xe quân sự Mỹ. Ngày 3 tháng 9 Đại đội 17 công binh phục kích diệt đoàn xe 37 chiếc tại đoạn suối Kà Tung thu 16 súng. Ngày 14 tháng 11 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 95 cùng Đại đội 4 của Tiểu đoàn 15 phối hợp phục kích đoạn nam Hà Lòng phá hủy 24 xe quân sự Mỹ. Phát huy thắng lợi, ngày 4 tháng 12 năm 1967, Tiểu đoàn 15 bộ binh có Đại đội bộ đội khu 7 phối hợp phục kích tại đông suối Đak Pơ, phá hủy đoàn xe quân sự Mỹ 67 chiếc, bắn rơi 01 trực thăng, thu 01 súng AR15, diệt 100 tên Mỹ.

Đi đôi với hoạt động quân sự đánh bại các cuộc phản công càn quét “tìm diệt” của quân Mỹ, các lực lượng vũ trang tình liên tục tiến công các đơn vị bảo an, dân vệ gác ấp chiến lược, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch hỗ trợ cho việc bẻ gãy gọng kìm “bình định” của địch. Bộ đội, dân quân du kích thực hiện ba bám trong phát động phong trào phá ấp giành dân. Đó là “”Đảng viên, cán bộ bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”.

Đảng viên, cán bộ bám dân để lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống đánh địch. Là vấn đề cơ bản then chốt nhất, vì Đảng viên, cán bộ có bám dân, lãnh đạo, nhân dân đấu tranh chống địch thì nhân dân mới bám đất, một tấc đất không đi, một ly không rời. Nhân dân làng Ring De (xã Gào) có 115 người, mấy lần địch càn xúc, đốt làng gom dân, các cụ già trong làng kiên quyết đấu tranh, ôm cột nhà cháy xém quyết bám làng, bám rẫy không để địch xúc đưa vào khu dồn. Trước tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân làng Ring De, bọn ác ôn “bình định” phải nhượng bộ.

Nhân dân bám đất giữ thế đấu tranh hợp pháp, chống địch cào xúc, phân tuyến, phân vùng, tạo thế cho du kích bám đánh địch, bộ đội bám vùng ven thị xã, bám các căn cứ quân địch, tạo điều kiện diệt bọn ác ôn, bình định của địch như xã Gào, xã Ia Sao (Chưpăh), E15 (Chư Sê). Có du kích, bộ đội huyện, đội vũ trang công tác bám đánh địch, năm 1967 Tiểu đoàn 15 cùng bộ đội huyện 3 liên tục tập kích diệt bọn bảo an biệt kích trà trộn trong dân ở dinh điền Lệ Chí, buộc chúng không dám ở trong dân phải ra đóng chốt ở ngoài, tạo điều kiện cho dân nổi dậy phá các ấp Hà Bàu, Lệ Chí, Hà Lòng, phá lỏng kềm cho 2.300 dân ở vùng K (huyện 3).

Phía tây sông AYun, Tiểu đoàn 15 và bộ đội huyện 6 liên tục đánh diệt các đơn vị bảo an, bình định nông thôn đóng ở ấp Mo, Hà Bòng, Kuái (Do Lim) đánh diệt Trung đội bảo an đóng chốt ở ấp Kồ, ấp BarMaih, Hà Bòng (vùng tây sông AYun). Ngày 15 tháng 7 Tiểu đoàn 15 diệt Trung đội bình định ở ấp Mo, địch ra phản kích, tiểu đoàn vận động đánh thiệt hại Đại đội biệt kích địch càn vào Kon Thụp Đăk, Lá, bảo vệ được dân vùng đông sông AYun ổn định, giữ thế chiến tranh chống địch mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho các đội vũ trang công tác vùng ven thị xã diệt nhiều tên ác ôn, mật báo, xây dựng được nhiều cơ sở mật trong nội thị.

Trong hai năm 1966 – 1967, quân Mỹ ngụy tập trung trên địa bàn tỉnh khá đông, tăng cường nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, đánh phá các vùng căn cứ của ta vô cùng ác liệt. Có hàng ngàn máy bay các loại ở Tân Tạo, Cù Hanh, AréA, thiết lập nhiều sân bay dã chiến ở Đức Cơ, Bàu Cạn; nhiều trận địa pháo lớn cơ động ở Lệ Trung, Cơ Ty Prông, Kà Tung, Hà Nam, có cả pháo 175 (vua chiến trường) bắn phá cả ngày, đêm vào sâu các cơ quan, căn cứ của ta. Mật độ tung quân càn quét cao chưa từng có, hàng trăm cuộc càn quét lớn nhỏ, 31% đánh sâu vào căn cứ ta để “tìm diệt”, 44% càn quét phục vụ “bình định”, 5% đối phó, giải tỏa và phòng ngự, tập trung vào trọng điểm vùng đất bằng phía tây của tỉnh. Chúng đổ quân Mỹ ngụy vào huyện 5 (Chưprông) 10 ngàn quân để càn quét so với số dân trong huyện tỷ lệ 1/3 (huyện 50 có 30 ngàn dân). Chúng tưởng với số quân đông này sẽ đè bẹp ngay phong trào cách mạng của huyện. Nhưng chúng hung hăng cuồng vọng bao nhiêu thì càng thất vọng bấy nhiêu. Quân dân Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tây Nguyên quyết đấu tranh, đánh địch nhiều phương thức linh hoạt, sáng tạo, phát động mạnh chiến tranh du kích đều khắp; liên tục đánh sâu, đánh hiểm vào hậu cần, kho tàng, cơ quan đầu não địch, đánh mạnh trên mặt trận giao thông liên tục, diệt được nhiều đoàn xe từ 21 đến 67 chiếc, bắn rơi trực thăng thu vũ khí. Hoạt động quân sự đều khắp đã tác động tốt đến phong trào đấu tranh trong thị xã, quận lỵ; kết hợp chặt chẽ tác chiến với công tác binh địch vận có nhiều kết quả.

Thiệt hại của địch trong mùa khô thứ hai là thất bại toàn diện, cả về quân sự và chính trị. Thất bại không chỉ biểu hiện trong những thiệt hại to lớn của chúng trên chiến trường mà điều quan trọng là sự phá sản hoan toàn của các mục tiêu “tìm diệt” và bình định” mà chúng hy vọng vào kế hoạch phản công quy mô của chúng.

Thắng lợi của quân và dân ta có ý nghĩa rất quan trọng trong thời điểm lịch sử này. Nó biểu hiện quyết tâm cách mạng sắt đá và khả năng to lớn của quân và dân các dân tộc trong tỉnh, khả năng vai trò nòng cốt của chủ lực Tây Nguyên đứng vững chắc trên địa bàn, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Đó là kết quả của đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, khoa học của Đảng ta, đánh dấu trưởng thành về chỉ đạo chiến tranh của Đảng bộ, trưởng thành vượt bậc của cán bộ, chiến sỹ và đồng bào các dân tộc trong tỉnh qua hai năm giáp mặt chiến đấu với quân Mỹ, mở ra triển vọng to lớn cho giai đoạn mới.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:02:27 pm
*   *
*

III/ Tấn công và nổi dậy đồng loạt xuân 1968:

1. Chuẩn bị cho phương hướng chiến lược:

Cuộc chiến đấu oanh liệt của quân và dân qua hai mùa khô 1966 – 1967 đã đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế rối ren phức tạp. Nắm vững thời cơ, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 6 năm 1967 hạ quyết tâm: “Đánh cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên một sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự…”.(1)

Quán triệt ý định của Trung ương Đảng, Quân Khu đã chỉ thị các lực lượng vũ trang đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, chuẩn bị mọi mặt cho đòn tiến công quyết định khi thời cơ xuất hiện.

Nắm vững phương hướng chiến lược của trên, thu đông 1967 các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, dân quân du kích tổ chức đánh sâu vào vùng ven thị xã, quận lỵ như Lệ Trung, Lệ Thanh, Phú Nhơn, làm cho hậu phương địch ngày càng thêm rối loạn, tạo điều kiện cho các đội công tác xây dựng phát triển cơ sở, xây dựng thêm một số hành lang mới, làm bàn đạp nhập thị thuận lợi hơn trước.

Lực lượng chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã áp sát hai cánh nam, bắc thị xã Pleiku. Trung đoàn bộ binh 95 hoạt động phía nam đường 19, chủ chốt trong mặt trận đánh phá giao thông chiến lược của địch. Tiểu đoàn bộ binh 361 hoạt động phía tây bắc thị xã. Khu vực đông tây thị xã, đèo Mang Yang không còn là đường đi lại an toàn của địch. Thị xã Pleiku, các quận lỵ không còn là nơi “bất khả xâm phạm” của chúng. Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở La Sơn phải rải quân đóng thành từng cụm suốt từ nam thị xã Pleiku ra đến Đăk Tô, Tân Cảnh (bắc Kon Tum). Sư đoàn 22 ngụy, tuy Sở chỉ huy căn cứ đóng ở Trà Quang (Phù Mỹ - Bình Định) nhưng thường xuyên phải ném từ 1 đến 2 Trung đoàn lên Gia Lai để cùng Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ càn quét đánh phá vùng ta làm chủ. Chúng thực hiện biện pháp: Mỹ ra vòng ngoài càn quét để “tìm diệt”, quân Ngụy trấn giữ vòng trong làm công việc “bình định”. Nhưng càng rải quân ra “bình định”, chiếm giữ ấp, quân ngụy lại ngập sâu vào biển chiến tranh nhân dân của ta, biến lực lượng cộng hòa cơ động làm nhiệm vụ phòng giữ(2).

Cuối năm 1967, Bộ chính trị quyết định chuyển chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Trên chiến trường Quân Khu và Mặt trận tây Nguyên quyết định tập trung cả ba lực lượng liên tục tiến công mạnh mẽ quân địch cả xuân và hè 1968; Chủ yếu tập trung vào Xuân 1968, nhằm đánh sập Ngụy quân, ngụy quyền, tiêu diệt nặng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, kết hợp với nổi dậy của quần chúng giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

Ở Gia Lai xác định những trọng điểm sau:

- An Khê cùng với Bình Định phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên đánh quỵ Sư đoàn 22 ngụy, một bộ phận quân Mỹ và Nam Triều Tiên.

- Pleiku là một trong hai trọng điểm quan trọng để tiêu diệt lớn quân địch, thu hút, kiềm chế, tiêu diệt sinh lực Mỹ, tạo thuận lợi cho chiến trường đồng bằng hoạt động. Thị xã Pleiku chủ yếu dùng đòn tấn công bằng quân sự.

Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và Khu ủy 5, Tỉnh ủy Gia Lai quyết định; “Mở chiến dịch tiến công và nổi dậy vào thị xã Pleiku và các cứ điểm trong toàn tỉnh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đón thời cơ tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà…”.


(1) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975 Những sự kiện lớn Bộ Quốc Phòng Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà nội 1988 – Trang 177
(2) Tại Gia Lai: Quân Mỹ - F1 không vận, F4 bộ binh, Lữ dù 173
Quân Ngụy – E3 thiết giáp D biệt động số 11, số 12 cùng 1 số Tiểu đoàn bảo an biên phòng. Sách LLVTND Tây Nguyên Trang 12


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:02:58 pm
Bộ tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư Lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức Hội nghị liên tịch ba tỉnh Đak Lăk, Gia Lai và Kon Tum phối hợp chung và thành lập các Ban chỉ huy chung từng tỉnh để triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Hà chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên xuống Gia Lai lập Ban chỉ huy chung của tỉnh. Khẩu hiệu: “Tất cả để chiến thắng, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân” biến thành những nội dung lớn trong các cuộc Hội nghị, học tập về tình hình nhiệm vụ cho cán bộ các cấp, các ngành, các cuộc Hội nghị về du kích chiến tranh, hội nghị chuyên đề bàn công tác đô thị, công tác binh địch vận hoạt động trong tấn công và nổi dậy được thảo luận sôi nổi ở các cấp từ tỉnh xuống huyện.

Về tác chiến: Tỉnh đội tập trung chỉ đạo giải quyết nâng trình độ chỉ huy cho cán bộ giải quyết các đánh địch có hiệu quả, diệt được các chốt bảo an kìm kẹp “bình định” trong các ấp chiến lược; đánh diệt được lực lượng bảo an, Cộng hòa trong các cuộc hành quân lấn chiếm. Đồng thời đánh đều khắp trên Mặt trận giao thông, cắt từng thời gian hệ thống vận chuyển của địch, đánh mạnh vào chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ. Tỉnh tiếp tục phát động thi đua đánh phá giao thông và bắn máy bay Mỹ rộng khắp.

Đồng thời khẩn trương huấn luyện cho bộ đội tỉnh, huyện biết đánh địch và đánh thành thạo quân địch bám giữ trong công sở, đường phố, doanh trại để phục vụ cho chiến đấu trong nội thị theo yêu cầu nhiệm vụ đến.

Vấn đề lớn thứ hai là động viên rút thanh niên nhập ngũ bổ sung quân số cho các đơn vị tỉnh, huyện. Tiểu đoàn 15 tỉnh quân số có 450 người. Công tác bảo đảm vật chất được khẩn trương triển khai, các đoàn dân công phục vụ tiền tuyến được thành lập. Công tác chi viện tiền phương được tổ chức đều khắp. Đông xuân 1967-1968, tỉnh huy động 1.600 tấn lương thực, mức huy động cao nhất của tỉnh từ trước đến nay. Với tinh thần “Tất cả đều chiếu thắng…” đồng bào vùng căn cứ tự nguyện “Tơtuh” (dốc hết) lương thực phục vụ cho chiến đấu; ngoài ra còn hàng trăm rẫy sắn của dân, của bộ đội đến kỳ thu hoạch. Các hành lang Co2, Co4, H4 của tỉnh và của trên tấp nập từng đoàn dân công, đồng bào dân tộc gùi vũ khí, đạn dược, lương thực từ các binh trạm của Tây Nguyên và các huyện đông đường 14.

Tỉnh tổ chức tháng hoạt động đêm. Ngày 4 tháng 1 năm 1968, Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào sân bay Cây Me và Tân Tạo. Tiểu đoàn đặc công 408 tập kích vào căn cứ liên đoàn 20 công binh đông Pleiku 3 km, diệt 120 tên, Tiểu đoàn bộ binh 15 ngày 8 tháng 1 năm 1968 tập kích vào quận lỵ Lệ Trung diệt một trung đội bảo an, hỗ trợ cho nhân dân ở ấp chiến lược bắc Hà Lòng nổi dậy diệt ác ôn, phá rã trung đội dân vệ. Đại đội hỏa lực và Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào căn cứ của Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ gây thiệt hại cho chúng. Trong tháng hoạt động đêm, các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã đánh 225 trận vừa, nhỏ, diệt 3.075 địch, có 2.024 tên Mỹ chết và bị thương; ta phá hủy, phá hỏng 572 xe quân sự; bắn rơi và phá hủy 260 máy bay lên thẳng; đốt 17.000 lít xăng, phá banh một số mảng ấp chiến lược, giải phóng 7.000 dân đông vùng ven thị xã về lại làng cũ.

Trọng điểm thị xã Pleiku, Ban cán sự thị đề nhiệm vụ: “khẩn trương động viên tư tưởng toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân nỗ lực chuẩn bị mọi mặt, tập trung sức xây dựng thực lực vững mạnh và đều khắp, đáp ứng yêu cầu cho tấn công và nổi dậy, nhằm đạt giải phóng hoàn toàn vùng thị xã, kể cả các đồn điền…”.

- Xây dựng xã Gào và các bàn đạp chung quanh thị xã, các trục giao thông hành lang bảo đảm cho từng địa bàn đứng chân chỉ đạo chiến dịch, xây dựng căn cứ sát thị xã vững chắc bất cứ tình huống nào.

Tình hình thị xã có chuyển biến mới. Trong nội thị từ 3 Đảng viên đã phát triển lên 20 Đảng viên, có 60 cơ sở nòng cốt trung kiên, xây dựng được 3 tổ vũ trang biệt động thị có 9 đội viên, hàng trăm cảm tình, cốt cán, xâu nắm và phát động được hàng ngàn quần chúng.

Ở các đồn điền quần chúng công nhân được phát động, xây dựng được nhiều cơ sở, nhất là Bàu Cạn, An Mỹ, Lệ Cần, Trà Bá, thực sự làm bàn đạp đứng chân cho các đơn vị hoạt động vào thị xã. Chi bộ xã Gào có 90 Đảng viên, 150 đoàn viên, xây dựng củng cố được 2 Trung đội du kích mạnh có 80 đội viên, hàng trăm dân quân thôn, được trang bị đầy đủ vũ khí. Một số đơn vị vùng ven khác như xã B5 (Ia Sa – Chưpăh) xã B7 (IaPet Chưpăh), xã Song An (An Khê) được chuẩn bị tốt, lót được một số vũ khí phục vụ cho cuộc tấn công và nổi dậy.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:03:20 pm
Ban chỉ đạo tấn công và nổi dậy ở trọng điểm Pleiku gồm các đồng chí:

+ Tạ Quang Kim - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự Khu 9 (Thị Pleiku) chỉ đạo chung.

+ Lê Tiên – Tỉnh ủy viên, Phó bí thư Ban cán sự khu 9 trực tiếp chỉ đạo nội thị.

+ Hoàng Lê – Tỉnh ủy viên phụ trách tổ chức chỉ huy lực lượng quần chúng của các huyện huy động nổi dậy nhập thị.

Các đồng chí Đỗ Minh Cảnh (Thống), Lê Ngọc Ký (Điềm) trong Ban cán sự Tỉnh đội chỉ huy các lực lượng quân sự.

Lực lượng tham gia tấn công vào thị xã gồm các đơn vị của Mặt trận Tây Nguyên: Trung đoàn 95 bộ binh, Tiểu đoàn 631 đại đội đặc công và đại đội pháo súng 12ly7.

Lực lượng tỉnh gồm Tiểu đoàn bộ binh 15, Tiểu đoàn đặc công 408. Đại đội pháo binh ĐKB 231.

Lực lượng thị 9 có Đại đội đặc công 90, 21, đại đội vùng ven, 3 tổ biệt động.

Ngoài ra huy động các trung đội du kích các khu 3, 4, 5, 6 ở ven thị. Du kích xã Gào, B7, B5 có 180 người, 77 đảng viên có 19 du kích nữ, trang bị 6 súng cối 60 ly, 6 súng B49, 14 súng M79, Tiểu liên AK đầy đủ.

Dự kiến huy động 300 cán bộ các cơ quan ban, ngành, đoàn thể tỉnh và các huyện lân cận. Cố gắng huy động khoảng 40 ngàn quần chúng của huyện 4 giáp thị xã và 10 ngàn quần chúng trong nội thị nổi dậy.

Các huyện khác trên địa bàn như 2, 7, 11, 8 do các cấp ủy trực tiếp điều hành phối hợp với trọng điểm thị xã. Các Đại đội công binh 17, 18, 19 của tỉnh có kế hoạch cùng du kích dọc trục đường 19, 14 đánh phá giao thông địch và đột nhập phá các ấp chiến lược vùng đất bằng tây sông AYun, đánh rã các Trung đội dân vệ.

Tháng 1 năm 1968, sau khi kết thúc đợt hoạt động đêm các đơn vị khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch đến.

Như thường lệ, ngày 01 tháng 01 năm 1968, nhân dân cả nước đón thư chúc tết Mậu Thân của bác Hồ.

Tết này Bác viết:

            “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
            Thắng trận tin vui khắp nước nhà
            Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
            Tiến lên!
            Toàn thắng ắt về ta!”.


Chưa có năm nào ra trận mà lòng chiến sỹ được giục giã như xuân này. Từng đoàn cán bộ mò mẫm chuẩn bị chiến trường. Tân binh huyện 5 (Chưprông) anh em dân tộc JaRai mới bổ sung cho Tiểu đoàn 15, mặc dù chưa qua huấn luyện cơ bản về kỹ thuật cá nhân đã đưa vào huấn luyện đội hình chiến đấu chiến thuật Tiểu đội, Trung đội đánh vào lô cốt cố thủ, vào các khu nhà chiếm giữ của địch. Trên thao trường huấn luyện của Tiểu đoàn tại xã Đăk La (nam Mang Yang) vang tiếng xung phong nhịp nhàng hăng hái của chiến sỹ tân binh rèn luyện chờ ngày xuất quân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:04:46 pm
*   *
*

b. Giờ tấn công và Nổi dậy

Ngày 29 tháng 1 năm 1968, các đơn vị bộ binh tỉnh, huyện; các Đoàn cán bộ, các Đội vũ trang công tác, các Đội an ninh; lực lượng dân quân tự vệ trong và ngoài Thị xã đều ở vị trí xuất phát.

Các bàn đạp An Mỹ, Lệ Cần, Làng Dôr, các vùng Ấp Mo, BurMaih, đến xã Gào, xã B7, B5, hàng đoàn cán bộ cơ sở theo kế hoạch chung đã cùng nhân dân cơ sở gần 300 người, chia từng tốp nhỏ, từng hướng khác nhau cải trang ra vào Thị xã dưới dạng đi sắm Tết để thăm dò tình hình, nghe ngóng dự luận kịp báo cáo cho cán bộ, có người vào ở luôn trong nội thị chờ giờ nổi dậy.

Tại đường 19, ấp Lê Cần, ta tranh thủ thời cơ tha tên tù binh Lê Văn Cứ (là Tỉnh đội phó Pleiku) ta bắt hè năm 1965 để gây ảnh hưởng lợi thế cho đấu tranh chính trị, binh vận.

Đúng 0 giờ 55 phút, ngày 31 tháng 1 năm 1968 (giao thừa Tết Mậu Thân) các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công địch. Lực lượng ta đã chia làm nhiều cánh, nhiều hướng đột nhập vào nội thị. Tiểu đoàn đặc công 408 (gồm Đại đội 60, 70 và 80) đánh vào sân bay Aréa, quân đoàn 2 ngụy, phá hủy 45 máy ban lên thẳng, đốt cháy 35 xe quân sự. Đại đội 90 đặc công Thị xã, một mũi đánh vào khu biệt động quân diệt Ban Chỉ huy và 200 tên lính, phá hủy, đốt cháy 35 xe quân sự. Một mũi khác cùng Đại đội 1 Thị xã nhanh chóng đánh vào Tiểu khu Pleiku, diệt một số tên tại cơ quan Tiểu khu và các ụ súng bảo vệ. Cùng lúc, một bộ hận đánh vào tỉnh đoàn bảo an, đánh thẳng vào Ty cảnh sát ngụy, diệt 10 xe M113, nhanh chóng đánh phá các nhà trại giam khu chiêu hồi, giải thoát gần 2000 cán bộ và nhân dân bị địch giam giữ.

Tiểu đoàn 15 bộ binh tỉnh đứng chân tại xã ĐakLá được lệnh hành quân bôn tập. đến giờ “G” đơn vị mới đến khu vực Thuần Phong, Hội Phú và Trà Bá H. kịp triển khai đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất tiến về hướng Sư Vạn Hạnh để phối hợp với Đại đội đặc công 90 đang chiến đấu dọc đường Hoàng Diệu (nay là Hùng Vương). Mũi thứ hai phối hợp cùng một bộ phận của Đại đội Khu 6 (Mang Giang) băng qua đồi cà phê vào khu vực xưởng cưa, đến cầu Hội Phú tiến về căn cứ của Trung Đoàn 3 thiết giáp ngụy ở ngã ba Phù Đổng, vừa bố trí đội hình tiến công thì trời sáng.

Hai đại đội đặc công Thị xã sau khi đánh chiếm các mục tiêu đã nhanh chóng triển khai đánh các vị trí địch từ ngã ba Diệp Kinh trở lên theo đường Hoàng Diệu, một mũi khác phát triển qua đường Trịnh Minh Thế (nay là đường Trần Hưng Đạo) đánh diệt một toán địch có xe M113 ra phản kích tại ngã ba Bưu Điện. Một tổ của Đại đội 90 từ khu vực Tiểu khu phát triển đánh diệt ổ đề kháng của địch tại ngã ba cây xăng Caltex, sau đó tiến về phía Trường Trung Học Pleiku (nay là trường PTCSở Diên Hồng).

Bộ phận Đại đội khu 6 cùng Đội vũ trang công tác của đồng chí MêK phát triển sang khu giải trí, đánh diệt Trung đội bảo an tại đấy.

Đại đội 231 pháo ĐKB liên tục pháo kích vào căn cứ Quân Đoàn II ngụy, phá hỏng dàn ra-đa viễn thông của địch. Trung đoàn 95 bộ binh diệt đoàn xe 26 chiếc tại khu vực cầu AYun (Đường 19) không cho địch cứu viện cho Pleiku.

Ngay từ phút đầu ta đã bất ngờ đánh trúng các mục tiêu chủ yếu của các cơ quan chỉ huy đầu não Mỹ ngụy trong thị xã và các căn cứ quân sự, khiến chúng hoang mang, lúng túng, và bị thiệt hại nặng. Phần lớn các căn cứ địch chống cự yếu ớt, một số toán lính ngụy lẩn trốn hoặc bỏ chạy.

Ta đã chiếm các vị trí tiến công và triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu cho ngày tiếp sau.

Đến 5 giờ sáng 31 tháng 1 (mồng một Tết) trong nội Thị có phầm in tiếng súng. Các đơn vị tranh thủ củng cố công sự và phát triển chiến đấu. Trong giây phút im ắng đó, một số đồng bào khu vực Thuần Phong, Hội Phú ra mời bộ đội về nhà ăn Tết.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:05:06 pm
Thời gian im tiếng súng không lâu. Từ 7 giờ sáng địch bắt đầu phản kích quyết liệt. hàng trăm quả đạn đại bác từ các căn cứ pháo binh địch nã vào trung tâm Thị xã, nhà dân đã bốc cháy một số. Máy bay trực thăng vũ trang từ Sư đoàn 4 Mỹ, Cơ Ty Prông đổ về, từng tốp dàn hàng ngang phóng từng chùm rốc-kết xuống các khu Thuần Phong, Hội Phú, Sư Vạn Hạnh, chúng phát hiện các đơn vị bộ đội ta đang bám trụ. Đến 10 giờ trưa; địch cho xe tăng, xe bọc thép có trực thăng yểm trợ, một cánh tiến theo đường Hoàng Diệu, cánh thứ hai theo đường 14, qua thôn Trà Bá Hai, vòng về bọc sau đội hình bám trụ của bộ đội ta thực hiện siết vòng vây. Cuộc giáp chiến quyết liệt của bộ binh ta với cơ giới địch. Dưới làn đạn rốc-kết và pháo lớn, cán bộ chiến sĩ các đơn vị đã dựa vào công sự đánh trả từng mũi phản công của chúng. Nhiều xe tăng, xe bọc thép của địch lần lượt bốc cháy. Bộ đội ta vừa bắn máy bay rà thấp, vừa bắn xe tăng, xe bọc thép, vừa xung kích giáp lá cà quần lộn đánh địch trước mặt, sau lưng và bên sườn. Lực lượng trụ bám của ta ít, trang bị hỏa lực có mức độ, nhưng đã chiến đấu hết sức dũng cảm, đánh trả địch quyết liệt đến cùng quyết không lùi bước. Suốt ngày mồng một tết bộ đội ta quần lộn với địch, trận địa không ngớt tiếng súng, khói lửa mịt mù. Ta đã diệt được nhiều sinh lực, bắn cháy hàng chục chiếc xe tăng, xe cơ giới của chúng.

Đến tối mồng một Tết tiếng súng thưa dần. Riêng một bộ phận của Đại đội 21 Thị xã đánh vào khu vực Tòa hành chính và một số tổ đánh vào khu 37 pháo binh địch, một tổ đánh vào đài phát thanh tỉnh.

Liên tiếp các ngày sau ta vừa đánh bồi các căn cứ kho tàng, sân bay, pháo kích vào căn cứ La Sơn, cứ điểm địch ở Chử Hà Tây, vừa chặn đánh giao thông và bộ binh địch nống ra giải tỏa.

Bộ đội các khu đã tổ chức tập kích vào các chốt bảo an, dân vệ, diệt ác phá kèm, tạo thế cho quần chúng nổi dậy. Trung đội tập trung khu 6 tập kích vào ấp chiến lược Glar (nam MangYang) đánh rã Trung đội dân vệ, thu hết vũ khí, chuẩn bị phát động quần chúng, đến trưa quân bảo an ở quận Lệ Trung vào phản kích, vây ấp, bắt một số cán bộ ta.

Đại đội 19 công binh tỉnh tập kích vào Trung đội bảo an gần đồn điền chè Bàu Cạn, đánh diệt xe trên đường 19 (kéo dài). Nhiều nơi địch phản ứng gay gắt nhưng bộ đội các huyện đã xáp vào phát động quần chúng, diệt ác ôn, thu được thắng lợi trên mặt trận giải phóng nông thôn.

Về hoạt động của lực lượng chính trị: Phối hợp với tấn công quân sự; cán bộ, nhân viên các cơ quan, đoàn thể, ban ngành quanh tỉnh huy động gần 200 cán bộ, nhưng đường hành quân xa không kịp nhập Thị vào đêm giao thừa. Có một số cán bộ tăng cường lên Thị trước cùng với cán bộ, các cơ quan, đoàn thể Thị xã trên 40 đồng chí đã nhập thị cùng các đơn vị bộ đội. Tuy số lượng hạn chế, nhưng các đồng chí đã kịp tỏa ra các hướng phối hợp với bộ đội, vừa chiến đấu, vừa tập hợp quần chúng động viên, phát động, diệt ác ôn, trấn áp tề điệp. Anh em đã sát cánh cùng bộ đội chiến đấu và có đồng chí hy sinh anh dũng.

Phía đông nam Thị xã, nhân dân các làng đồng bào dân tộc vòng ấp Mo, BarMaih đã nổi dậy đập phá cơ quan ngụy quyền. Các toán cán bộ “bình định nông thôn” ở ấp Mo hốt hoảng bỏ chạy về Thị xã. Các nơi khác, nhân dân nổi dậy, diệt ác, giải tán tề tay sai, bao vây tiến công binh vận các đồn bót.

Trên đường 19 khu vực Lệ Cần, An Mỹ, làng Nủ quần chúng được huy động nhập thị gần 1.500 người, địch cho lính bảo an, có xe cơ giới hỗ trợ ra đàn áp, gần ba chục đồng bào hy sinh và bị thương một số lớn.

Hướng khu 8 (Chưprông) có các đồng chí lãnh đạo Huyện huy động trên 4 ngàn đồng bào chia làm nhiều hướng tiến thẳng về vây quận lỵ Thanh An, Tân Lạc, Thanh Giáo. Một cánh khác tiến về hướng làng Nhơn (xã B7) Trà Bá. Phía bắc và tây bắc Thị xã một số đồng bào tiến về đường Ngô Sơn, Tiên Sơn; Hướng khu 4 (Chư Păh) triến về làng Ku Rôh.

Trước khí thế nổi dậy của quần chúng khắp nơi, địch vô cùng hốt hoảng, chúng đã cho phi cơ, pháo và bộ binh đàn áp dã man đồng bào tay không. Nhiều đoàn đã bị chặn lại ở ngoại vi Thị xã; nhiều gương hy sinh dũng cảm; tuy bị thương nhưng vẫn động viên nhau tiếp tục tiến lên.

Trong nội Thị, đêm giao thừa đảng viên, cơ sở và quần chúng cảm tình lắng nghe tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo, hồi hộp theo dõi, đợi chờ diễn biến tình hình. Đến trưa, khi địch phản kích quyết liệt, các cánh quân sự của ta chống trả địch liên tục, nhưng trước tình hình địch đông, hoạt động quân sự của ta chưa đủ độ để quần chúng Thị xã phối hợp hành động. Tuy vậy lực lượng đảng viên và cơ sở nội Thị đã có bước chuẩn bị chu đáo. Đồng bào đã sẵn sàng gánh chịu hy sinh, đã khéo léo đưa cán bộ chỉ đạo vào nội thị để chuẩn bị lực lượng. nhiều gia đình có điều kiện để làm thật nhiều bánh, chuẩn bị thức ăn để sẵn sàng chi viện, tiếp tế cho bộ đội và đồng bào nhập Thị. Đồng bào, cơ sở đã che dấu gần 500 cán bộ, du kích và đồng bào vùng nông thôn lân cận được “rấm” vào trong Thị trước ngày tiến công. Khi xảy ra chiến đấu có mấy cơ sở che dấu, nuôi dưỡng thương binh, tạo phương tiện hợp pháp đưa anh em trở về căn cứ. Một chiến sĩ Đại đội 21 (Thị xã) bị thương nặng được đồng bào cứu chữa, chăm sóc sau 11 ngày hồi phục sức khỏe mới tìm cách đưa trở về căn cứ ở xã Gào.

Trong khó khăn gian khổ, ác liệt, càng nổi bật sự cưu mang, đùm bọc của nhân dân đối với cách mạng, đối với lực lượng vũ trang con em ruột thịt của mình. Lòng dân là chiếc nôi nuôi dưỡng, là chỗ dựa vững chắc để bộ đội ta hoạt động thắng lợi trong tiến công địch.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:06:58 pm
*   *
*

Nhìn chung trên địa bàn Gia Lai, trọng điểm là Thị xã Pleiku, đợt tấn công và nổi dậy liên tục từ 31-1-1968 đến 6-2-1968, quân và dân trong tỉnh đã thực hiện đồng loạt tiến công, ngay từ đầu đã đánh trúng tất cả các mục tiêu chủ yếu một cách bất ngờ, khiến quân địch trở thay không kịp, đối phó yếu ớt.

Bộ đội và cán bộ, dân quân du kích có bước chuyển biến nhảy vọt về chất lượng, chẳng những tiến công mạnh mẽ vào các căn cứ địch mà còn trụ bám kiên cường liên tục đánh địch phản kích trong điều kiện bom đạn ác liệt một thời gian dài. Tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang và nhân dân nổi dậy rất cao. Nhiều phân đội trụ bám chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Nhiều đoàn quần chúng giương cao cờ cách mạng vượt qua bom đạn xáp vào đấu tranh với địch. Những tấm gương hy sinh chiến đấu kiên cường dũng cảm bám trụ đánh trả địch quyết liệt đã để lại những ấn tượng sâu sắc, không bao giờ phai mờ trong nhân dân Thị xã và vùng ven Thị. Nó cổ vũ và khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, ý thức tự hào dân tộc của những người dân sống lâu năm trong thế kìm kẹp của địch, nhất là đầy sự khâm phục của số đông đồng bào bị Mỹ - Diệm cưỡng ép di dân lập đồn điền đang sống ở vùng ven Thị xã, nơi xảy ra khu chiến của bộ đội ta.

Ta đã phát triển được thế tiến công chiến lược áp đảo quân thù trên toàn Tỉnh, đưa chiến tranh cách mạng vào tận dinh lũy cuối cùng của địch, dồn chúng vào thế vô cùng hoang mang, lúng túng. Chỉ trong một thời gian ngắn, chiến thắng của ta đã tạo ra một cục diện mới trên chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch lún sâu vào thế phòng ngự bị động(1).

Chiến thắng Xuân Mậu Thân đã đánh dấu một bước chuyển biến nhảy vọt về chiến tranh nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh; chưa bao giờ Đảng bộ, Mặt trận dân tộc giải phóng lại động viên và tổ chức được một lực lượng hùng hậu hàng chục vạn đồng bào của các dân tộc nổi dậy tiến công địch trên qui mô rộng lớn như vậy. Nó thể hiện đường lối chống Mỹ cứu nước, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng, phát huy cao độ sức mạnh chiến đấu, to lớn của đồng bào trên cả ba vùng; căn cứ rừng núi, nông thôn đất bằng và nội thị xã, thị trấn.

Qua chiến đấu, khối đoàn kết các dân tộc càng rộng rãi, quyền làm chủ núi rừng của nhân dân các dân tộc được xây dựng và phát huy cao, lực lượng cách mạng thêm phát triển. Đặc biệt cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng trong nội Thị được thử thách, rèn luyện kiên cường vững vàng hơn.

Thắng lợi Tết mậu Thân còn thể hiện tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của cán bô, chiến sỹ, đảng viên, cơ quan, lực lượng dân quân du kích, các Đội vũ trang công tác, quần chúng nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, khắc phục mọi khó khăn phục vụ vô điều kiện để giành thắng lợi. Sau cuộc đọ sức “hai mùa khô” với quân Mỹ trên địa bàn tỉnh, tuy ta giành được thắng lợi lớn nhưng chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật. Nhưng khi có lệnh chuẩn bị cho tiến công và nổi dậy thì Đảng bộ các cấp, các ngành, các đơn vị, các đoàn thể quần chúng đã khắc phục vô vàn khó khăn, huy động mọi tiềm lực, tạo được khối lượng vật chất, tạo được sức mạnh tổng hợp, phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên đủ sức đồng loạt tiến công theo kế hoạch đã định.

Cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân trong tỉnh không những chỉ góp phần cùng cả nước giành thắng lợi có ý nghĩa về chiến lược mà còn giành được những thắng lợi cụ thể về mặt chiến thuật. Bộ đội, các lực lượng vũ trang ta đã rút được nhiều kinh nghiệm về đánh sâu trong hậu cứ địch, nhất là trưởng thành một bước về đánh địch cố thủ trong công sự, đường phố, tạo điều kiện cho các cuộc tấn công địch giành thắng lợi sau này trong đánh sâu vào thị xã, quận lỵ.

Tỉnh ủy Gai Lai và Mặt trận 300(2) tổng kết: “Quân và dân Tỉnh ta (chủ yếu là Mặt trận Thị xã Pleiku) đã diệt 3.500 tên địch, trong đó có 1.300 tên Mỹ, phá hủy phá hỏng 580 xe quân sự, 35 pháo và một số máy bay các loại, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu của địch.

Phối hợp với tấn công quân sự, 11.000 quần chúng xuống đường biểu tình đấu tranh chính trị. Chính quyền một số ấp, xã ở các huyện 3, 4, 5, 6 được thành lập. Hơn 14 ngàn đồng bào phá ấp chiến lược trở về làng cũ; 11 làng ven Thị xã được giải phóng”.

Thắng lợi Xuân Mậu Thân của Gia Lai nằm trong thế trận chung của Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và cả nước, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các chiến trường. Quân dân Gia Lai đã góp phần vào thắng lợi chung to lớn của cả nước, tạo ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng.

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt thường trực Quân ủy Trung ương gởi điện: “Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của Quân dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân dân thị xã Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh…”.


(1) Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên 3-1968
(2) Mặt trận 300 là tổ chức chỉ huy giữa lực lượng Tây Nguyên phối hợp với lực lượng địa phương trên địa bàn tỉnh Gia Lai.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:08:27 pm
Ngày 4 tháng 2 – 1968, Hồ Chủ tịch thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, gửi điện khen: “Quân và dân ta ở Miền Nam đánh rất giỏi, rất đều, rất nhịp nhàng, đánh khắp nơi và nơi nào cũng thắng to…”

Bác dặn: “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan, quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng, càng dẫy dụa điên cuồng, quân và dân ta càng phải tăng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh liên tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa…”

Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy động loạt này, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4 khẳng định: “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.”

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 đã thực sự làm cho quân Mỹ khiếp sợ. Viên tướng của ban tham mưu của Oét-Mô-len hồi bấy giờ phải thốt lên “Oa-sinh-tơn phải kinh hoàng”, Phó tổng thống Mỹ Hăm-Phrây rầu rĩ nói: “Tết đã thực sự đẩy lùi chúng ta”(1). Ngáy 31 tháng 3 năm 1968, Jonhsơn phải ra tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam và chịu đàm phán với ta tại Pari. “Nước Mỹ hùng mạnh về quân sự trong lịch sử, lần này đã trở thành kẻ thua trận về nhiều mặt…”(2)

Kết quả thắng lợi thật to lớn, nhưng sự hy sinh tổn thất của ta cũng không nhỏ. Hơn 200 cán bộ và chiến sỹ hy sinh. Hàng ngàn quần chúng bị chết bị thương. Hàng mấy trăm cán bộ, chiến sỹ và đồng bào bị bắt, tù đày, bị tra tấn. Song quân và dân ta đã làm cho kẻ thù hết sức khiếp sợ và thán phục.

Tuy ta có tổn thất, trả giá đắt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy; nhưng không có sự hy sinh cao cả đúng mức, thì làm sao có thắng lợi to lớn vẻ vang như chiến công hiển hách Tết Mậu Thân! Những dòng máu anh hùng của các liệt sỹ, của chiến sĩ, đồng bào đổ ra trong Tết Mậu Thân có ý nghĩa sâu sắc, có giá trị tinh thần vô giá, xứng đáng với tầm vóc thắng lợi, xứng đáng với sự nhớ ơn, ngưỡng mộ muôn đời của thế hệ sau.

Tuy nhiên, ta chưa thực sự giành được thắng lợi như quyết tâm đã đề ra.

Trước hết, ta chưa đánh giá đúng tương quan địch, ta trên chiến trường cụ thể, chưa đánh giá đúng khả năng, phản ứng của địch để có kế hoạch cụ thể ngăn chặn, kiềm chế địch nhất là đánh phá liên tục các sân bay, trận địa pháo của địch để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Do đó, việc chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị chiến trường còn đơn giản, công tác nắm địch, nắm các mục tiêu địch chưa cụ thể, nên công tác chuẩn bị cho tiến công về quân sự còn nhiều thiếu sót đáng lẽ không đáng có.

Việc sử dụng lực lượng theo kế hoạch lúc đầu có qui mô lớn, nhưng khi nổ súng thì không đồng loạt, một số đơn vị lớn chưa vào thị xã, hoặc đến chậm. Việc chiến đấu trong nội thị lực lượng quá ít, mỏng, cơ sở vật chất, lương thực, đạn dược thiếu, thông tin liên lạc không có (cả hữu tuyến và vô tuyến) nên sức chiến đấu của bộ binh, đặc công giảm sút nhanh, không trụ bám dài ngày được. Do đó mà đòn quân sự chưa đủ sức hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Trong công tác tư tưởng thường nhấn mạnh một chiều đến thuận lợi, nên khi vấp váp khó khăn, chưa đạt yêu cầu đề ra thì nảy sinh những biểu hiện dao động, băn khoăn, lo lắng, thậm chí có người cho là thắng lợi ít mà tổn thất nhiều, tỏ ra thiếu tin, bi quan.

Được Hội nghị Tỉnh ủy khẳng định, qua hội nghị Quân chính toàn tỉnh 9-1968, Ban cán sự và Ban Chỉ huy đã phát động tư tưởng trong cán bộ, phát huy dân chủ thảo luận, phân rõ đúng sai. Hội nghị được tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất nhận thức: “Tổng tiến công và nổi dậy là một giai đoạn, là một quá trình tiến công phấn đấu rất ác liệt và phức tạp, bằng cả tấn công quân sự, tấn công chính trị và tấn công binh vận, bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và có cả phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và tiến công bằng ngoại giao…”. Từ phân tích trên mà dần dần thử nghiệm, thấm sâu, an tâm, ổn định tự giải đáp được những vướng mắc, xây dựng lòng tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của Bác Hồ, và chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng.

Nghe theo lời dạy của Bác Hồ trong điện khen quân dân ta ở Miền Nam Việt Nam và điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Mặt trận Tây Nguyên: “hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, liên tục tiến công và phản công tiêu diệt nhiều địch (cả Mỹ, ngụy và bọn biệt kích) đập tan mọi âm mưu xảo quyệt của chúng, làm cho chúng tê liệt, đánh cho chúng không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành chính quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ…”(3)


(1) Cuộc chiến tranh 30 năm – Hãng thông tin Mỹ AP
(2) Roi-tơ ngày 2-2-1968
(3) Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi Mặt trận Tây Nguyên 4-2-1968


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:09:20 pm
Trong khí thế sục sôi cách mạng của toàn Miền Nam, đồng bào và các lực lượng vũ trang Gia Lai đã đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, thừa thắng xốc tới, liên tiếp tiến công và phản công địch. Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào sân bay Cù Hanh đêm 13 và 14 tháng 2 – tiểu đoàn bộ binh 15 của tỉnh đột nhập vào ấp chiến lược Glar, đánh thiệt hại đại đội bảo an từ quận Lệ Trung vào giải tỏa. Cán bộ, chiến sỹ trụ bám ban ngày trong ấp diệt từng toán địch mặc cho pháo lớn từ Lệ Trung bắn vào chi viện. Đồng chí Siu Tem chính trị viên đại đội hỏa lực của tiểu đoàn đã dùng lựu đạn RKG đốt cháy một xe tăng M48 của địch tại làng Breng Dôr, buộc chúng phải rút lui.

Bị ta đánh trúng vào sào huyệt, giặc Mỹ và tay sai lồng lộn điên cuồng, liên tiếp mở các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá cơ sở cách mạng trong thị xã và vùng ven, cho xe ủi đất san bằng các làng xung quanh Thị để lập vành đai trắng. Chúng thường xuyên giới nghiêm trong thị xã, quận lỵ, truy lùng bắt bớ cơ sở cách mạng hòng triệt phá, truy tróc các chỗ dựa của lực lượng cách mạng, đẩy ta ra khỏi địa bàn thị xã.

Chúng tổ chức các cuộc hành quân, tung biệt kích, thám báo lùng sục quanh ven Thị xã, căn cứ quân sự, máy bay trinh sát rà lượn; máy bay trực thăng “quạt” soi tìm dấu vết, nơi trú quân, đường mòn; thả những “cây trinh sát nhiệt đới” để phát hiện các cuộc hành quân, hội họp của bộ đội ta. Trên các trục giao thông quan trọng địch dùng bom đạn, hóa chất độc phát quanh hai bên đường, gài mìn clây-mo nơi chúng nghi là hành lang đi lại của các đội công tác, lập thêm các chốt, tăng cường tuần tra lót phục các hướng xâm nhập vào thị xã v.v…

Cuộc đọ sức của ta và địch trên mặt trận này đã diễn ra ngày càng gay go quyết liệt. Bộ đội ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, thử thách để đánh thắng địch. Cứ sau mỗi lần các mục tiêu bị tấn công, giặc Mỹ lại tăng thêm phòng thủ, thay đổi cách bố trí; thêm nhiều lớp rào kẽm gai, chòi canh dày đặc, đèn pha, mìn sáng càng nhiều hơn.

Vì vậy, việc đưa các mũi đặc công của ta lọt vào nổ súng đúng thời gian theo kế hoạch là một khó khăn lớn. Nhiều lần đơn vị đặc công tiểu đoàn 408 hành quân tiếp cận đến khu vực “bãi lầy” vùng Kon Gang – làng Dập thì gặp địch phục kích; trận chiến đấu phải dừng lại hôm sau chuyển sang phương án, mục tiêu khác. Đồng chí Tấn Tiểu đoàn phó tiểu đoàn đặc công 450, chưa vượt hết các lớp chướng ngại vật vào mục tiêu thì trời sắp sáng, cả tổ đặc công phải vùi mình sát lùm cỏ cả ngày gữa hai lớp rào kẽm gai của căn cứ sây bay Tân Tạo chờ đêm sau tiếp cận chiến đấu. Có tổ 3 chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 450 sau khi nổ súng đánh địch, rút ra được khỏi các lớp rào kẽm gai thì trời sáng phải chui vào hang đá trên núi Hòn Cong. Địch phát hiện đánh mìn sập hang đá. Tổ 3 đồng chí hy sinh, vĩnh viễn nằm tại Hòn Cong như tượng đài bất diệt.

Khó khăn, thử thách ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ ta nêu cao quyết tâm đánh địch, và nhất định tìm ra cách đánh, xây dựng lòng tin cho đơn vị. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân các đơn vị mũi nhọn của ta kiên trì bám địch, phát hiện được những sơ hở của chúng và tìm được cách đánh có hiệu quả.

Trận tập kích căn cứ hậu cần của Sư đoán 4 Mỹ ở Kơty Prông rạng sáng 23 tháng 8 của Tiểu đoàn 408 đặc công – ngọn cờ đầu “Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ” đã tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh và kỹ thuật điêu luyện đánh hậu cứ địch. Đơn vị phải hành quân hàng chục ki-lô-mét dưới trời mưa tầm tã, vượt qua nhiều đồn bót, giấu mình suốt ngày trời cạnh căn cứ địch với độc chiếc quần lót, gói thuốc nổ trong tay. Trước giờ nổ súng có 5 đồng chí bị thương vong vì đạn pháo của địch, song bộ đội vẫn giữ quyết tâm chiến đấu. Chỉ trong vòng 25 phút, đơn vị đã phá hủy 133 xe quân sự, diệt 72 tên Mỹ, phá sập 11 nhà, nhiều lô cốt.

Đồng bào khu 4 (Chư păh) đã góp phần làm nên chiến công này. Sau trận đánh đồng bào đã đón sẵn trên đường khiêng, cõng thương binh về căn cứ an toàn. Đồng bào sướt ngô non nấu cháo nuôi bộ đội (do giáp hạt thiếu gạo).

Trên mặt trận giao thông lại diễn ra sôi động và liên tục sau tổng tiến công và nổi dậy. Hễ đâu có xe địch chạy là ở đấy có trận địa tiêu diệt xe. Dân quân du kích xã, thôn diệt xe tăng địch đi càn quét ngay bên rìa làng, ven rẫy. Lấy bom bi, đạn lép của địch làm mìn diệt xe địch đã thành phong trào rộng rãi, lan khắp tỉnh. Anh Siu Hyơn “người kỹ sư không có văn bằng của chiến tranh nhân dân vô địch”, người xã đội phó xã E14 (khu 5) đã tự tạo gần 100 quả mìn các loại liên tục hướng dẫn cho du kính đánh xe địch trên đường 14.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Hai, 2020, 04:09:44 pm
Phong trào nữ dân quân đánh xe cơ giới địch đã xuất hiện ở huyện 4 (Chư Păh) với “lá cờ đầu diệt xe cơ giới Mỹ” ở Gia Lai và cả Tây Nguyên là các chị Rơmah Sao, Rahlan Mêk xã B9 (Chư Păh) đã đánh 14 trận, cùng lúc đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Đường chiến lược số 14 và đường số 19 là nơi chiến sự diễn ra quyết liệt nhất và cũng là nơi xe của địch bị chôn vùi nhiều nhất. Ngoài Trung đoàn 95, đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên cắm địa bàn nách đông nam Thị xã Pleiku có nhiệm vụ đánh cắt giao thông vận chuyển của địch, còn mạng lưới du kích chiến tranh dày đặc của bộ đội Tỉnh, Huyện, dân quân du kích các xã ven đường đến các xã vùng sâu thay phiên nhau ra đánh xe địch. Các lực lượng đã phối hợp nhịp nhàng, vận động nhiều lối đánh sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả. Ta kết hợp đánh nhỏ lẻ thường xuyên với đánh từng đoàn xe địch vận chuyển, từ 30-40 chiếc, vừa diệt xe cơ giới với diệt bộ binh đi giải tỏa, vừa đánh phá cầu cống, băm nát, cắt vận chuyển, vừa tập kích diệt các đơn vị bảo an, phá ấp mở dân các vùng Hà Lòng, AYun, Hà Ra, Phú Yên… Cán bộ công binh Trịnh Đức Trá (Đại đội 17 công binh) đã chỉ huy Trung đội trong 9 tháng đánh 15 trận giao thông, bản thân anh diệt 26 xe các loại và 51 tên địch, 15 lần đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

“Dạ dày đô thị”, bị chọc thủng, “cuống họng giao thông” bị bóp nghẹt. Mỹ - ngụy ở Gia Lai trăm bề khốn quẫn, càng sa lầy trong thế bị động lúng túng buộc phải rải quân đối phó khắp nơi.

Từ hè 1965 đến cuối năm 1968, quân và dân Gia lai cùng quân dân toàn Miền đã trải qua những năm tháng chiến đấu cực kỳ gay go, ác liệt trên địa bàn tỉnh.

Là nơi quân chiến đấu Mỹ đổ quân vào đông nhất trên chiến trường Tây Nguyên, cũng là một trong những trọng điểm “tìm diệt và bình định” của Mỹ - Ngụy, nên đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt.

Nét nổi bật là trước kẻ địch còn có ưu thế quân đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng bộ Tỉnh đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, kịp thời xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ. Cơ quan quân sự các cấp đã đề ra những biện pháp tổ chức thích hợp cả về lực lượng, cách đánh để thực hiện quyết tâm đó.

Tư tưởng chỉ đạo đúng đắn ấy xuất phát từ sự nhận định, đánh giá đúng địch; lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân được giáo dục và tổ chức, đã dựa chắc vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng, củng cố trong quá trình đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Ta đã đánh giá đúng khả năng các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân trong tỉnh trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ; nhận rõ những nhân tố góp phần thắng lợi của địa bàn chiến lược, nhất là khi Mặt trận Tây Nguyên có thế đứng chân vững chắc trên phía tây tỉnh.

Từ đầu, khi quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào Gia Lai, quân và dân trong tỉnh chưa hiểu thật cụ thể về lực lượng và cách đánh của quân chiến đấu Mỹ. nhưng do quán triệt nhiều lần tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, tin tưởng mãnh liệt vào sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, với ý chí sắt đá giải phóng Miền nam, bảo vệ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, với tinh thần cách mạng “cứ đánh đi, thực tiễn sẽ giúp ta tìm ra các đánh”.

Trên cơ sở đó mà Đảng bộ đã chỉ đạo thành công tổ chức “vành đai diệt Mỹ”; đã huy động nhiều lực lượng phối hợp chặt chẽ trong một thế trận chung, đã nhân lên nhiều lần sức mạnh tại chỗ, nhiều đơn vị, nhiều bộ phận tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn, liên tục tiến công quân Mỹ giam chân chúng trong sào huyệt luôn nơm nớp lo sợ, hãm chúng trong thế luôn luôn bị động đối phó. Vành đai diệt Mỹ là biểu hiện cao của tư tưởng tiến công và là nét sáng tạo của thế trận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới.

Vành đai diệt Mỹ ở Gia Lai đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt theo địa hình cụ thể. Vùng căn cứ rừng núi hiểm trở quanh căn cứ Sư đoàn 1 không vận chủ yếu là hoạt động vũ trang đánh diệt địch. Nhưng ở vùng đất bằng, đồi trọc trống trải quanh căn cứ Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở La Sơn, ở vùng Kơty Prông của Lữ 3 Sư đoàn 25 thì vành đai hoạt động bằng hai chân, ba mũi; tấn công quân sự, đấu tranh chính trị, tiến công binh vận; lực lượng dân quân, nhân dân sống bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp; vừa đánh địch linh hoạt, bảo vệ được dân làng an tâm sản xuất.

Quân chiến đấu Mỹ vào Gia Lai, các lực lượng vũ trang ta đã linh hoạt vận dụng các phương thức tác chiến chiến thuật, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt. Đã tăng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt được nhiều địch, phá hủy được nhiều phương tiện chiến tranh của chúng; vẫn duy trì nhiều thế đấu tranh chính trị của quần chúng; vẫn đẩy mạnh công tác tiến công binh, địch vận cả quân Mỹ và quân ngụy. Những loại hình chiến đấu trên đã đi vào lòng dân, phù hợp với trình độ, khả năng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đưa phong trào chiến tranh nhân dân của tỉnh lên mức cao, toàn diện.

Cùng với việc vận dụng sáng tạo các phương thức tác chiến, Đảng bộ đã chỉ đạo sát sao khẩu hiệu “ba bám” cho các cấp, các ngành, cho lực lượng vũ trang, có ý nghĩa hướng dẫn hành động cách mạng dũng cảm ngoan cường, tạo sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất đánh thắng giặc Mỹ. Những làng chiến đấu “Hang đá Bok Krôh” sừng sững đứng giữa vùng tam giác lửa đạn của Kon Gang (bắc Mang Yan), hang đá Đak Brết, chân núi Kông Chiêng xã PơYâu (nam Mang Yang); Vùng đất bằng như xã Gào (Pleiku), làng O sơ (xã B7) và xã B5 (ChưPăh) sát nách căn cứ địch vẫn trụ bám kiên cường.

Địa bàn thị xã Pleiku, ngoài cơ sở mật vẫn duy trì, phát triển, ta đã chuyển một số cán bộ vào hoạt động hợp pháp trong nội thị. Tại vùng ven thị còn tổ chức hầm bí mật, nhơ đó mà tuy địch đánh phá phong trào quyết liệt, ta vẫn giữ được thế liên tục hoạt động.

Ba năm giáp mặt chiến đấu với quân Mỹ trong chiến tranh cục bộ, lực lượng vũ trang tỉnh đã trưởng thành một bước lớn, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đoàn kết chặt chẽ với bộ đội chủ lực Tây Nguyên giành nhiều thắng lợi.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:05:26 am
CHƯƠNG IX

Góp phần đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
trên địa bàn tỉnh
(1969-1973)

I – Bước đầu đánh thắng kế hoạch “bình định” của địch, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân (1969-1971):

Sau thất bại xuân Mậu Thân, Jhon – sơn đề ra chủ trương “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Từ “tìm diệt và bình định quân Mỹ chuyển sang “quét và giữ” nhằm ba mục đích:

- Giữ cho được thị xã, quận lỵ, các căn cứ quân sự, các đường giao thông chiến lược quan trọng, các vùng đông dân, nhiều của.

- Giữ cho quân Mỹ khỏi bị thiệt hại nặng.

- Giữ cho ngụy quân, ngụy quyền khỏi tan rã, sụp đổ.

“Phi Mỹ hóa” của Jhon-sơn tiến hành chưa được bao lâu thì tháng 3 năm 1969, Ních-xơn lên làm tổng thống thay Jhon-sơn, đề ra học thuyết “Ních-xơn”, điều chủ chủ trương “phi Mỹ hóa” thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Đây là thủ đoạn cổ truyền “dùng người bản xứ đánh người bản xứ”, “dùng người Việt đánh người Việt” của chủ nghĩa thực dân theo công thức: Quân ngụy + trang bị vũ khí, tài chính + cố vấn Mỹ. Âm mưu cơ bản của chúng là cố giữ Miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta. Đây cũng là một bước xuống thang chiến tranh nhưng không phải để chấm dứt, mà để chúng kéo dài mà mở rộng chiến tranh xâm lược.

Thực hiện chiến lược chiến tranh mới này, Ních – Xơn đề ra 4 điểm chính của biện pháp chiến lược:

1. Phát triển và hiện đại hóa quân ngụy, làm cho quân ngụy đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang cách mạng.

2. “Bình định nông thôn” là biện pháp chiến lược chủ yếu, nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở cách mạng, giành dân, kiểm soát đất, đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi dân buộc phải rút lên các căn cứ rừng núi để bị cô lập và tiêu diệt.

3. Bao vây triệt phá kinh tế, đánh phá hành lang cắt đứt mọi chi viện từ Miền Bắc vào Miền Nam.

4. Lợi dụng sự bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hòng buộc nhân dân ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho chúng.

“Việt Nam hóa chiến tranh” là một âm mưu hết sức thâm độc, xảo quyệt, nhưng nó lại là sản phẩm của một chuỗi thất bại. Nó ra đời khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” đã phá sản. Nó chứa đựng những mâu thuẫn nội tại mà Mỹ và tay sai của chúng không sao khắc phục được.

Tháng 4 năm 1969 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng vạch rõ:

- Vì thất bại và suy yếu nên buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, rút bớt lực lượng, giảm chi phí, nhưng lại muốn xuống thang trong thế mạnh.

- Xuống thang chiến tranh để rút dần quân Mỹ, mà lại muốn quân ngụy mạnh lên để thay thế được cho quân Mỹ; việc mà khi còn ba mươi vạn quân Mỹ, quân ngụy vẫn chưa làm được.

- Mỹ muốn rút quân càng sớm càng tốt để bớt thương vong, giảm chi phí chiến tranh, nhưng rút sớm thì ngụy quân không thể đứng vững được. Nhưng nếu kéo dài việc rút quân Mỹ thì thương vong của Mỹ càng lớn, khó khăn kinh tế càng phát triển, nội bộ nhà cầm quyền Mỹ càng thêm mâu thuẫn, lục đục.

- Dùng biện pháp “quét và giữ” mang nặng tính chất phòng ngự thì không thể thực hiện được mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược.

Để thực hiện các biện pháp chiến lược trên. ở Gia Lai, Mỹ ngụy chọn vùng đất bằng để đưa quân ngụy ra đương đầu với chủ lực ta. Chúng dùng B52 liên tục ném bom rải thảm các khu căn cứ, các trục hành lang, nơi đứng chân của các đơn vị chủ lực mà chúng chưa đủ sức đánh vào. Mỹ còn thâm độc hơn là cho máy bay rải chất độc hóa học vào vùng giải phóng phá hoại kinh tế. Cùng lúc, chúng tung quân chủ lực ra đánh vòng ngoài, lực lượng còn lại gồm địa phương, biệt động, bảo an, chúng tổ chức các “đoàn bình định” xuống bám bản ốc để truy tróc cơ sở các mạng, kìm kẹp dân.

Chúng tập trung đánh phá xã B5 (Ia sao) làm thí điểm, cho đây là nơi có lợi trong thực hiện kế hoạch bình định, vì:

- Xã B5 nằm sát ven thị xã Pleiku, ở Tây Bắc có căn cứ Quân đoàn II ngụy, sát nách lữ đoàn 3 Mỹ ở Cơty Prông. B5 là vùng đất bằng, rừng non, thưa, đồng cỏ rộng, thuận lợi cho sử dụng bộ binh, cơ giới càn quét.

Chúng hy vọng: Nếu triệt phá được phong trào xã B5 là đơn vị “thành đồng” của cách mạng, thì sẽ phát huy thanh thế tiếp tục đánh phá phong trào nơi khác mạnh hơn.

- Địch thực hiện kế hoạch “Tam giác chiến” là:

- Đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý

- Chiêu hồi, chiêu hàng.

- Hoạt động tình báo cài cắm gián điệp bằng nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyết và trắng trợn.

Chúng phát triển đảng “Dân chủ” của Thiệu, bắt mọi người phải ghi tên vào đảng. Ai không muốn cũng ghi. Bọn tay sai giao việc từng người. Ai không nhận cũng giao. Rồi tung tin: Người này làm việc cho Mỹ, người kia làm việc cho Thiệu – nhằm thực hiện bôi lem, bôi đen trong quần chúng nhân dân, gây nghi ngờ lẫn nhau, lẫn lộn thật giả, gây chia rẽ mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, nhất là vùng nông thôn. Thậm chí chúng bố trí vợ tên tiểu đoàn trưởng biệt động là nữ gián điệp, người dân tộc Ja Rai vào ở hẳn trong nhà đồng chí Rơ Chăm Ok xã đội trưởng xã B5. Tên này theo kèm sát mẹ và vợ đồng chí Ok, tấn công mua chuộc, dụ hàng không từ một thủ đoạn nào.

- Ngày 19 tháng 12 năm 1968 địch ồ ạt đổ quân càn quét, xúc dân vùng Đăk Đoa, Kôn gôh (bắc Mang Giang) gom vào ấp ở đông Hà Bàu; xúc dân làng Đe Ar, Kon thup sang tây sông Ayun dồn vào ấp Kồ, quanh đồn Kuái (Dolim) củng cố ấp Glar.

- Phía tây Chưpăh, địch huy động 6 tiểu đoàn của liên đoàn biệt động và trung đoàn 45 và sư đoàn 22 ngụy, có máy bay bay, pháo lớn, cơ giới yểm trợ càn vào các xã miền núi phía tây bắc huyện Chưpăh. Sư đoàn 4 Mỹ nằm vòng ngoài để hà hơi cho quân ngụy càn xúc dân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:07:08 am
*   *
*

Tháng 4 – 1969, Khu ủy 5 chỉ thị: Muốn đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trước hết phải đánh bại được biện pháp chủ yếu của địch là “bình định nông thôn”, về quân sự: phải tiêu diệt được bọn “bình định ác ôn”, diệt được các chốt trong các ấp để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Phải tiêu diệt được sinh lực địch, đi đôi phá hủy các phương tiện chiến tranh của chúng, nhất là diệt quân cơ động làm mất chỗ dựa cho bọn kìm kẹp, tạo thế cho bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích thường xuyên đánh địch bảo vệ vùng ta.

Quân và dân Gia Lai quán triệt chỉ thị trên đã khẳng định quyết tâm: Giữ dân và giành dân làm chủ, mở rộng vùng giải phóng là gốc, là vấn đề quan trọng nhất, là cái trục của toàn bộ phong trào hiện nay và về sau của toàn Đảng bộ tỉnh.

Tuy vậy, lúc này tình hình trong tỉnh cũng đang gặp những khó khăn:

- Qua các đợt tiến công và nổi dậy Xuân 1968 lực lượng vũ trang tỉnh quân số giảm sút. Tiểu đoàn 15, các đại đội 90, 21, đại đội huyện 6 bị thương vong gần 200 cán bộ, chiến sĩ chưa có quân số bổ sung.

- Tình hình cơ sở trong Thị xã có thay đổi, một số đồng chí bị địch phát hiện bắt giam, một số chuyển đổi vùng, giao thông liên lạc bị gián đoạn.

- Tình hình kinh tế trong dân thiếu đói, Tiểu đoàn đặc công 408 thiếu gạo, đầu năm 1969 phải ăn khoai thay cơm ba tháng liền.

- Về tư tưởng, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn bị ảnh hưởng những trận chiến đấu ác liệt, tổn thất, thương vong trong tấn công và nổi dậy nên nảy sinh tư tưởng bi quan, dao động, sa sút ý chí chiến đấu.

- Về chỉ đạo phong trào, một số cán bộ vẫn còn lướng vướng với việc khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã, chưa quán triệt công tác trung tâm là dồn sức đánh bại kế hoạch “bình định” của địch, nên chưa kiên quyết tổ chức đánh trả địch khi chúng đưa quân ra càn quét vùng ta.

Trước tình hình nhiệm vụ mới, cấp bách, Ban Cán sự tỉnh đội tăng cường công tác giáo dục, quán triệt sâu sắc trách nhiệm của lực lượng vũ trang, khẳng định thắng lợi to lớn về chiến lược của cuộc tấn công và nổi dậy, nhất trí thông suốt tư tưởng, nhận thức thắng lợi và công lao to lớn của quân và dân trong Tỉnh đồng thời thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu của lực lượng ta, nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn của địch đã chuyển hướng các biện pháp chiến lược; xác định trách nhiệm của các lực lượng vũ trang tỉnh là kiên định tư tưởng, đổi mới tổ chức, nâng cao khí thế cách mạng mới để đánh thắng địch trong tình hình mới.

Tháng 6 năm 1968, tỉnh điều động hết số cán bộ, chiến sĩ dân tộc JơRai của tiểu đoàn 15, cùng với bộ đội Khu 4 và Khu 5 thành lập tiểu đoàn 45. Quân số tiểu đoàn 280 đồng chí do đồng chí YGir làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn đứng chân tại xã E7 (huyện 5) đảm nhận trách nhiệm hoạt động hướng Khu 4 và Khu 5.

Số cán bộ, chiến sĩ còn lại của tiểu đoàn 15 (đại đội 2, đại đội 4) chuyển Đại đội 1 độc lập từ Khu 2 sang bổ sung đủ quân số lập Tiểu đoàn mới thành Tiểu đoàn 67. Tiểu đoàn đứng chân tại núi Kông Chiêng hoạt động trên địa bàn Khu 6 và Khu 7. Quân số tiểu đoàn 260 đồng chí, do đồng chí Ngọc và Nguyễn Văn Hai chỉ huy.

- Tháng 9-1968, Quân khu chuyển Tiểu đoàn đặc công 450 (thiếu) và đứng tại xã Bắc (khu 2) thay cho Tiểu đoàn đặc công 407 nhận nhiệm vụ khác.

- Tiểu đoàn đặc công 408 đứng chân tại Đak Đoa có nhiệm vụ áp sát thị xã Pleiku, đánh các căn cứ quân sự Mỹ - ngụy trong thị và vùng ven.

- Đại đội 90 và 21 của thị Pleiku được mặt trận Tây Nguyên bổ sung quân số, tăng cường cán bộ, tiếp tục xây dựng bàn đạp ở xã B7, xã Gào. Đại đội vùng ven thị có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hành lang từ Lệ Cần, làng Dôr, An Mỹ. Trong nội thị khẩn trương củng cố 3 chi bộ bám các ấp nội xây dựng phong trào(1)(1) và xây dựng 2 tổ biệt động nội thị, 55 cơ sở cốt cán.

- Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên bổ sung đồng chí Nguyễn Hữu Hành về làm Tỉnh đội phó và đồng chí Lê Bình về làm Chính trị viên phó Tỉnh đội, đồng chí Đỗ Minh Cảnh (Thống) về nhận công tác Ban dân quân Mặt trận Tây Nguyên.

- Sau kiện toàn tổ chức, trường quân sự tỉnh tổ chức lớp tập huấn cán bộ từ tiểu đoàn, đại đội, cán bộ các cơ quan trên 120 đồng chí thời gian 1/2 tháng để học tập quán triệt tư tưởng đánh bồi, đánh nhồi, tập trung nhiều lực lượng, nhiều đơn vị đánh vào một mục tiêu địch, một cụm hay khu kho… nhằm sát thương nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm giảm sức chiến đấu của một số đơn vị địch, trong một thời điểm nhất định, làm cho địch bị động đối phó.


(1) Chi bộ ở ấp 3 có 3 đảng viên do đồng chí Nguyễn thị Dư làm bí thư.
Chi bộ 2 ở ấp 4 có 3 đảng viên, đồn chí Cao thị Màu làm Bí thư.
Chi bộ 3 ở ấp 6 và 7 có 3 đảng viên, đồng chí Võ Ngọc Bá làm Bí thư.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:08:25 am
Thực hiện nhiệm vụ đánh phá “bình định” của địch từ ngày 15 đến ngày 28 tháng 01 năm 1969, tiểu đoàn 67 liên tục tập kích vào các chốt bảo an ở ấp BarMaih, ấp Hà bòng đánh thiệt hại 2 trung đội bảo an. Từ 22 tháng 2 đến ngày 4 tháng 3, tiểu đoàn 67 cùng bộ đội Khu 6 tiếp tục đánh – diệt một số địch ở ấp Glar và ấp Kồ. Cùng thời gian tiểu đoàn đặc công 408, đại đội hỏa lực tỉnh, đại đội 231 ĐKB đồng loạt đánh vào căn cứ Sư đoàn 4 Mỹ ở La Sơn, Sở chỉ huy quân đoàn II ngụy, gây thiệt hại lớn cho chúng. Trong đợt tiến công dồn dập này, các lực lượng tỉnh đã tập kích vào 4 mục tiêu quanh thị xã, sân bay Cù Hanh, sân bay ARéA, bắn chết và bị thương 847 địch, trong đó có 154 Mỹ, phá hủy 47 xe quân sự, 4 máy bay. Bị đánh thiệt hại nặng ở hậu cứ, trung tâm đàu não, địch phải sớm chấm dứt cuộc hành quân “Bình tây 49, Bình tây 50” quay về bảo vệ căn cứ của chúng.

Trên mặt trận giao thông phía đông đèo Mang Yang trong 3 tháng đầu năm, đại đội 17 và 18 công binh cùng du kích Khu 2 và Khu 7 diệt 445 tên địch, phá hủy, phá hỏng 61 xe quân sự bắn rơi 4 trực thăng.

Tại trọng điểm “bình định” của địch ở xã B5, nhân dân nổi lên đấu tranh chống, đánh địch liên tục. Xã có 6 làng nằm trên vùng đất bằng, chung quanh rừng non thưa thớt, dân làng sống tập trung từng khu vực, phía đông là căn cứ pháo Cơty Prông, phía bắc giáp xã B4 (MơRông) nam giáp xã B15 (Ia Der), dân làng sống vừa làm chủ, vừa tranh chấp; đội du kích có 45 tay súng do xã đội trưởng Rơchăm Ok chỉ huy, tổ chức hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp. Đội du kích đã được xây dựng và củng cố dũng cảm bám sát địch. Ngày 16 tháng 4 năm 1969, xã đội trưởng Ok chỉ huy 6 du kích, chia làm 2 tổ, tập kích vào nhà chiếu phim của quân ngụy tại căn cứ Quân đoàn 2, đánh sập lô cốt 2 tầng, bắn sập 3 lô cốt khác, diệt 3 xe bọc thép. Riêng đồng chí Ok bắn 7 quả đạn B40, ném một thủ pháo diệt 8 mục tiêu, địch chết 50 tên.

Nhờ đi lại hợp pháp, ngày 24 tháng 4, đồng chí Ok và một đội viên du kích dùng xe đạp đi vào thị xã mua hàng, phát hiện thấy bọn “bình định” đang đóng một làng sát căn cứ Cơty Prông, đồng chí nhanh chóng tổ chức 2 tổ du kích tập kích vào toán “bình định”, đánh sập 4 lô cốt, diệt 3 xe M113.

Trong Xuân Hè 1969, du kích xã B5 cùng bộ đội công tác cơ sở của huyện 4 đã bám trụ, liên tục tổ chức chiến đấu, đánh vào các đoàn “bình định”, bảo an kẹp ấp tất cả 154 trận, diệt 486 địch, có 76 Mỹ, bắn bị thương 93 tên, có 41 Mỹ, phá hủy 22 xe quân sự, có 11 xe M113 và bọc thép, phá một kho đạn. Hoạt động của du kích đã hỗ trợ cho nhân dân trong 6 làng huy động 21 lượt quần chúng đấu tranh không cho địch càn xúc, dỡ nhà để lập khu dồn, rải 1340 tờ truyền đơn, vận động 32 lính bảo an người dân tộc bỏ đồn về nhà làm ăn; bố phòng 25.000 cây chông, đào 112 hầm chông, chống địch càn vào nơi du kích ở.

Năm 1969, xã B5 được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam tuyên dương đơn vị Thành đồng Quyết thắng(1).

Trong nội thị xã, sau khi củng cố lực lượng, bổ sung cán bộ, kiện toàn tổ chức, các đội tự vệ hoạt động có nhiều tiến bộ. Nổi lên là đội tự vệ các cấp 3, 4, 5, 6. Có chi bộ đảng lãnh đạo, biết dựa vào dân giữ thế hợp pháp đánh địch mưu trí dũng cảm. Xuân – Hè 1969, từ tháng 2 đến tháng 5 – 1969, tổ biệt động của đồng chí Võ Ngọc Bá đánh 10 trận, làm thiệt hại nhà máy điện, cháy 8 kho vật tư, cháy 1.000 lít xăng, phá hủy 1 xe Jeep, diệt 21 tên địch, trong đó có 1 tên thiếu tá Nam Triều Tiên, 5 sĩ quan Mỹ.

Tổ biệt động đồng chí Hiệp đánh 4 trận, có 1 trận bằng mìn hẹn giờ, phá hủy 2 xe Jeep, 1 xe vận tải, diệt 2 lính Mỹ, 1 lái xe ngụy. Em Trịnh Viết Lợi 12 tuổi đã mưu trí dùng lựu đạn gài diệt 2 tên “bình định ác ôn” đang la cà trong quán.

Vùng ven xã Gào, du kích đánh 16 trận, phá 4 xe quân sự, bắn rơi 3 trực thăng, diệt 4 lính, thu 4 súng AR15, 6 lựu đạn, được mặt trận Tây Nguyên tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng 3.

Sau khi đánh bại cuộc hành quân “Bình tây 49, Bình tây 50” của địch tại vùng núi Chưpăh, Mặt trận Tây Nguyên chuyển hướng tiến công địch vào tuyến phòng thủ phía tây thị xã Kon Tum.


(1) Ngày 15-2-1970 xã B5 được UB Trung ương Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày 5-9-1970 đồng chí RơChăm Ơk xã đội trưởng B5 cũng được UB TƯ MT tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:10:22 am
Phối hợp với hoạt động ở hướng Kon Tum, tiểu đoàn 45 cùng với đại đội 31 Khu 4 tổ chức vây ép, pháo kích bắn tỉa vào trại huấn luyện đặc biệt Đức Cơ – Tiểu đoàn 631 tập kích vào Lữ đoàn 3 Mỹ ở Tân Lạc ngày 12-5-1969 tiêu diệt cụm pháo địch, đánh thiệt hại một đại đội xe tăng và 2 đại đội bộ binh. Đại đội 19 công binh liên tục đánh giao thông đoạn Thanh An – Chữ HơDrung phá 39 xe quân sự từ 24 tháng 5 đến 18 tháng 6 – 1969.

Phía đông đường 19, tiểu đoàn 57 tập kích vào đại đội bảo an ở ấp Bar Maih, cùng ngày 10 tháng 6, đội du kích xã E5 (IaPhìn) tập kích địch giữ ấp 6 làng Klanh, đánh rã trung đội dân vệ, diệt chết 12 tên.

Cuộc đánh phá kế hoạch “bình định” của địch được tổ chức luân phiên lực lượng hoạt động thường xuyên từ xuân sang hè, đến đông không tập trung thành đợt cao điểm, mà liên tục căng kéo địch nhiều hướng buộc chúng phải bị động đối phó. Ngày 18 tháng 11 tiểu đoàn đặc công 408 chuyển sang hoạt động ở phía nam thị xã, đánh vào cụm pháo địch ra dã ngoại ở ngã ba Mỹ Thạch, phá hủy 8 pháo 105 ly phá kế hoạch càn quét gom dân của địch ở vùng Gơbô – Chỉ Rùi.

Ở xã E3 Khu 5 xã đội trưởng Siu Săng chỉ huy tổ du kích dùng mìn tự tạo tài 6 quả diệt 6 xe địch đoạn từ Thanh Bình đi Đức Cơ. Tình hình vùng ven thị xã tuy địch ra sức o ép mạnh, nhưng nhân dân liên tục nổi dậy phá banh 2 xe dồn làng Rieng De và Khu dồn dốc Ke Kũt, vận động đào rã ngũ 15 lính bảo an.

Trong lúc chủ lực cơ động của Mỹ - ngụy đang bị bộ đội chủ lực Tây Nguyên kìm chân tiêu diệt trên các trọng điểm, các lực lượng vũ trang tỉnh đã hoạt động đều khắp, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy đánh phá các khu dồn, các “ấp chiến lược”, diệt ác ôn rải truyền đơn, tiến công binh vận, gây rối loạn trong hậu phương địch, chặn đứng và làm thất bại một phần chương trình gom xúc dân “bình định” của địch.

Ta đã vận dụng có hiệu quả phương thức đánh bồi, đánh nhồi, kết hợp vận động quần chúng xáp vào tấn công các đoàn “bình định”, đấu tranh trực diện với chúng. “Bình định” và chống “bình định”, lấn chiếm và chống lấn chiếm để giành dân và giữ dân, giành quyền làm chủ của nhân dân là cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng quyết liệt, dai dẳng, gay gắt và liên tục, từ tháng này đến tháng khác. Địch đã huy động hàng trăm lần chiếc máy bay B52, hàng ngàn lần chiếc máy bay chiến thuật ném trên 1.000 tấn bom, bắn hơn 16.000 quả pháo lớn và các trung tâm căn cứ nhằm hỗ trợ cho các cuộc càn quét gom dân. Ta đã dùng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, của 3 thứ quân tiến công địch khắp trên 3 vùng chiến lược để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, nên ta vẫn giữ được vùng căn cứ, bảo toàn được lực lượng, cơ quan. Vùng ta làm chủ phía đông tỉnh, tuy có gặp khó khăn về kinh tế, nhưng đã duy trì vững chắc thế trận đấu tranh đánh địch.

Khuyết điểm của ta là chậm chỉ đạo chuyển hướng đối phó với âm mưu và biện pháp chiến lược mới của địch. Vẫn tiếp tục thực hiện chủ trương tiến công và nổi dậy để giành thắng lợi quyết định(1), dùng lực lượng đánh vào hậu cứ, thị xã, quận lỵ, trong lúc địch đã tập trung lực lượng ra càn quét xúc dân vùng giải phóng của ta như khu vực ĐakĐoa (huyện 3) Đé Ar, KonThup, ĐakÓ (huyện 6), cá biệt có đồng chí còn cho rằng: dân đã bị địch gom kẹp chặt trong ấp chiến lược mà vẫn cho là số dân ta còn làm chủ! (ấp Kồ ở huyện 6). Số dân làm chủ ở vùng đất bằng bị thu hẹp, nguồn động viên lương thực bị giảm, tác động ảnh hưởng đến vùng căn cứ thiếu ổn định. Lực lượng du kích vùng ven thị xã có giảm về số lượng và chất lượng chiến đấu.

Trong thị xã Pleiku, do sơ hở, đội công tác bị địch tập kích lấy mất tài liệu, nên sau ngày 25 tháng 5- 1969 chúng truy bắt hơn 50 cơ sở nội thị gây khó khăn cho phong trào(2). Thôn Gia Tường, ấp Nước Đổ địch xúc hết dân về gần Bàu Cạn. Bàn đạp đứng chân của lực lượng thị xã bị trống, một bộ phận lớn chuyển xuống Kôn Gang – Bok Rei; đưa lực lượng dồn sức xây dựng bàn đạp An Mỹ - Lệ Cần, phải sau một thời gian dài mới khôi phục được.

Cũng qua đợt tiến công và nổi dậy Xuân 1968 một số cán bộ, cơ sở ta bị địch bắt, vì vậy chúng tập trung bom, pháo đánh phá sau vùng cơ quan tỉnh, gây mất ổn định trong sinh hoạt, làm ăn của dân. Một số cơ quan chuyển lên vùng cao, sâu (Đakglẽh, Đầm Bărét…) việc đi lại bảo đảm cơ sở vật chất gặp nhiều khó khăn.

Tuy có tập huấn về cách đánh, nhưng chất lượng chiến đấu của bộ đội tỉnh, huyện chưa nâng lên theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, chưa diệt gọn được các chốt giữ ấp cỡ đại đội bảo an, nên còn hạn chế cho hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp.


(1) Báo cáo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – tài liệu lưu trữ nội bộ - trang 206.
(2) Đồng chí Hạnh đội công tác bị địch bắt lấy tài liệu, bắt 50 cơ sở. Sau đó tên Lầm đội trinh sát của B3 đầu hàng khai báo, địch bắt thêm một số cơ sở nữa.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:10:52 am
*   *
*

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân trong tỉnh cũng như toàn miền Nam đang ở trong thời kỳ đầy khó khăn thử thách, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ kính yêu của toàn Đảng, toàn dân tộc qua đời. Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần đã gây một sự xúc động rất mạnh mẽ, sâu sắc trong các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh, không những trong vùng giải phóng, mà trong vùng địch kiểm soát, trong thị xã cũng chia sẻ nỗi đau buồn với nhân dân cả nước. Ngày 9 tháng 9, tại khu rừng bạt ngàn vùng căn cứ cách mạng, hàng ngàn cán bộ và đồng bào đứng im trước cơn mưa tầm tã để tổ chức lễ truy điệu Bác; cùng lúc mọi người đều hướng về Thủ đô Hà Nội lắng nghe từng tiếng, từng lời di chúc thiêng liêng của người.

Biến đau thương thành sức mạnh Ban cán sự Tỉnh đội tổ chức đợt sinh hoạt chính trị học tập Di chúc Bác cho cán bộ, chiến sĩ. Cuộc học tập nhằm củng cố tư tưởng, xây dựng lòng tin tuyệt đối vào đường lối, phương hướng chiến lược của Đảng quyết tâm là chuyển tình hình của lực lượng vũ trang, chống hữu khuynh tiêu cực, vươn lên giành thắng lợi mới.

Đi đôi củng cố chính trị, cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần và trường Quân sự tỉnh tập trung cố gắng mở lớp tập huấn cho cán bộ và bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ xã đội toàn tỉnh nhằm quán triệt chủ trương “đặc công hóa” bộ đội và dân quân tự vệ. Thi đua với thời gian, nắm chắc yêu cầu huấn luyện đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu. Tỉnh đội mở lớp tập huấn cho 150 cán bộ tiểu đoàn, Huyện đội, đại đội, trợ lý cơ quan. Sau đó mở lớp bồi dưỡng cán bộ xã đội cho 89 đồng chí tại trung tâm căn cứ.

Tổ chức huấn luyện cho cán bộ chủ trì, nâng cao chất lượng chiến đấu cho bộ đội, cùng với tăng trang bị hỏa khí, chất nổ, phấn đấu diệt được các điểm chốt cỡ đại đội bảo an đóng giữ ấp, đánh thiệt hại liên đội bảo an khi nống ra càn quét để trực tiếp phục vụ cho nhiệm vụ diệt kẹp giành dân, xây dựng và củng cố vùng giải phóng. Đồng thời quan tâm chỉ đạo tốt công tác tăng gia sản xuất tự túc.

Đến cuối năm 1969, tỉnh giải thể tiểu đoàn 45, chuyển lực lượng bổ sung cho Khu 4 và Khu 5. Mỗi khu có 2 đại đội được trang bị tốt.

Củng cố và phát triển lực lượng du kích, chú trọng xây dựng các đội tự vệ chiến đấu ở vùng ven và nội thị, nhất là các vùng yếu như vùng ven quận An Túc (An Khê).


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:11:32 am
*   *
*

Bước sang năm 1970, tình hình mọi mặt trong tỉnh có những chuyển biến có lợi cho ta.

Một số đơn vị quân chiến đấu Mỹ bắt đầu rút về nước. Tháng 2 năm 1970, sư đoàn bộ binh Mỹ rời căn cứ La Sơn, giao cho quân ngụy đóng giữ. Tuy lúc đầu lính Mỹ rút chưa nhiều nhưng đã tác động mạnh trong hàng ngũ ngụy. Nơi quân Mỹ rút đi, quân ngụy không đủ sức thay thế, sức đánh phá, lùng sục của chúng bắt đầu giảm.

Ngày 18 tháng 3-1970, bọn tay sai của Mỹ tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ XiHaNúc. Một lực lương quân Mỹ, ngụy tràn sang xâm lược CamPuChia, nhằm thực hiện âm mưu cắt phá con đường vận chuyển chiến lược từ cảng XiHaNúcvin về phía biên giới ta. Nhưng trái lại, gây đảo chính và đưa quân vượt ra ngoài biên giới Việt nam sang xâm lược CamPuChia làm cho đế quốc Mỹ và tay sai càng sa lầy hơn.

Trước tình hình trên, Tỉnh ủy và Ban cán sự đã cụ thể hóa các nhiệm vụ:

- Quân và dân trong tỉnh phải liên tục phát động quần chúng, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

- Ra sức phát triển thực lực cách mạng, xây dựng và củng cố cơ sở Đảng. Xây dựng các đội du kích mạnh và các đoàn thể quần chúng trong vùng địch kiểm soát.

- Xây dựng và củng cố vùng căn cứ, vùng ta làm chủ, đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm; vừa đánh giặc, vừa sản xuất.

- Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng viên 4 tốt.

- Lực lượng vũ trang phải tiêu hao rộng rãi và tiêu diệt địch để phục vụ cho nhiệm vụ đánh bại “bình định nông thôn” của địch.

Tháng 1 năm 1970, Mặt trận Tây Nguyên bổ sung đồng chí Nguyễn Chí Thành về làm chính trị viên phó tỉnh đội. Đồng chí Tạ Quang Kim - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy được phân công sang làm Chính trị viên Tỉnh đội thay cho đồng chí Phạm Hồng về nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Nguyễn Hữu Hành được điều sang làm Tỉnh đội trưởng Kontum, đồng chí Lê Bình về lại mặt trận Tây Nguyên.

Tháng 5 năm 1970, Mặt trận Tây nguyên biệt phái hẳn tiểu đoàn 2 của trung đoàn 95 cho Tỉnh đội Gia Lai quản lý, chỉ huy có nhiệm vụ chuyên trách đánh giao thông trên đường 19 cùng với các đại đội công binh tỉnh; tiểu đoàn 2 có nhiệm vụ diệt địch mở dân khu vực từ tây chân đèo MangYang lên đến Lệ Cần – An Mỹ. Đồng chí Lâm Huế - Trung đoàn phó và đồng chí Nguyễn Bá Dũng – Phó chính ủy trung đoàn 95 có quyết định của Bộ tư lệnh Tây Nguyên bổ sung vào ban chỉ huy Tỉnh đội Gia Lai.

Đi đôi việc kiện toàn bổ sung cán bộ chỉ huy, lãnh đạo, việc xây dựng lực lượng tỉnh, huyện cũng được chú trọng đúng mức. Nhất là khẩn trương thực hiện “đặc công hóa” bộ binh cho bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích. Về tổ chức, mỗi đại đội bộ binh biên chế thành 3 mũi đặc công thay cho cấp trung đội. Mỗi mũi có từ 15 đến 20 cán bộ và chiến sĩ. Đại đội có 3 mũi; Quân số đại đội từ 60 - 70 người, trang bị phần lớn là tiểu liên AK47, có một số súng AK báng gấp để tiện chiến đấu. Các loại thuốc nổ mạnh như hợp chất C4 được Mặt trận Tây Nguyên cung cấp. Ngoài ra, bộ phận quân giới tỉnh sản xuất “pháo tay” (thủ pháo) có sức công phá tốt để trang bị cho bộ đội và du kích.

Trường Quân sự tỉnh mở lớp bồi dưỡng kỹ thuật đặc công cho cán bộ huyện đội, đại đội huyện, xã đội trưởng. Có 92 cán bộ dự học thời gian 15 ngày. Sau lớp tập huấn, tỉnh xây dựng đại đội 2 của tiểu đoàn 67 và đại đội 7 của tiểu đoàn 2 là đơn vị có trình độ “đặc công hóa” khá, làm đơn vị chủ công của các tiểu đoàn. Trên tỉnh xây dựng được 56 tiểu đội du kích đặc công hóa và 16 tổ du kích công binh chuyên đánh giao thông địch.

Cuối tháng 3 năm 1970, trong lúc một bộ phận quân cơ động Mỹ và phần lớn chủ lực ngụy đang sa lầy ở chiến trường CamPuChia, thì Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch Hè. Trọng điểm tập trung hướng Bắc KonTum. Đây là thời điểm tốt để lực lượng vũ trang Gia Lai ra quân phối hợp chiến trường với bộ đội chủ lực Tây Nguyên.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:11:50 am
Tháng 5-1970, đại đội 2 tiểu đoàn 450 đặc công tập kích vào sân bay Tân Tạo, phá hủy 12 máy bay lên thẳng diệt 25 giặc lái và nhân viên kỹ thuật Mỹ. Đồng chí Nguyễn Văn Ngọc, thượng sỹ, mũi phó, một mình phá hủy 5 máy bay trực thăng, diệt 8 tên Mỹ.

Phong trào du kích chiến tranh, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng có bước phát triển mới. Ngày 12 tháng 5 năm 1970, chiến sĩ du kích thiếu niên Puih Glỡ quê làng Maih xã E6 (IaRung – ChưPăh) 16 tuổi với 3 viên đạn súng trường, anh bắn rơi chiếc máy bay trực thăng đang xà thấp quan sát vùng tây bắc thị xã PleiKu, máy bay bốc cháy, giết chết tên tướng Mỹ 3 sao Giôn-Đin-La, Tư lệnh công binh Mỹ ở miền nam Việt nam và tên tướng Ađam 2 sao cùng đi, Bộ Tư lệnh quân khu 5 tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng hạng ba cho anh Puih Glỡ.

Tháng 2 năm 1970, nữ Tiểu đội trưởng du kích Kpả O quê xã E5 (Ia Phin-Chư Prông) chỉ huy 2 Tiểu đội du kích đánh xe trên đoạn Thanh An – Hơ Drung diệt 42 lính ngụy. Riêng chị O diệt 8 tên, thành tích trên được Bộ tư lệnh Tây Nguyên tặng thưởng Huân chương giải phóng hạng ba.

Tháng 6-1970, Tiểu đoàn 2 của tỉnh đã tập kích đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an đóng chốt giữ ấp chiến lược HaRa, diệt và bắn bị thương 47 tên, đánh sập 2 lô cót, 1 điểm gác, hỗ trợ cho một số làng phía nam đường 19 phá ấp về lại khu căn cứ.

Song song với hoạt động quân sự tiêu hao, tiêu diệt địch, phong trào đấu tranh chính trị trong nhân dân cũng phát triển khá. Xã E14 (Ialốp Chư Sê) phát động 12 lượt trong 10 làng, vận động làm rã ngũ 4 trung đội dân vệ và lính gác bảo vệ đường 14 về nhà làm ăn. Xã E5 phát động 24 đợt có trên hai ngàn đồng bào, gọi 15 lính bảo an càn quét lùng sục vào căn cứ của xã. Nữ du kích Kpă Thăh đã vận động đồng bào ông bà già ra ngăn địch không cho chúng bắn pháo vào làng, buộc chúng phải kéo pháo về.

Hưởng ứng phong trào sản xuất, tiết kiệm, đóng góp lương thực nuôi quân, trong hai năm 1969-1970, nhiều xã căn cứ du kích đã động viên đóng góp lương thực cho cách mạng. Xã ĐakBằng (KrôngPa) ủng hộ cách mạng 6.000 gùi lúa (trên 70 tấn gạo), 2 triệu gốc sắn, cung cấp cho bộ đội và cơ quan tỉnh ĐakLắk. Xã E14 (IaLốp) đóng góp 120 tấn ngô hạt, 420 tấn sắn và 100 tấn lúa cho địa phương, giúp đỡ bộ đội chủ lực hoạt động nam Mỹ Thạch đến Phú Nhơn.

Năm 1970, địch đã cố gắng huy động hết các lực lượng, bộ máy hành chính, lực lượng cảnh sát, gián điệp hoạt động ráo riết về chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, cùng các đoàn “bình định nông thôn”, các đơn vị địa phương quân; cùng phần lớn quân chính quy ngụy, có hỏa lực, máy bay Mỹ chi viện tối đa vào công tác “bình định”, liên tục từ kế hoạch này sang kế hoạch khác, tập trung đánh phá phong trào cách mạng trong tỉnh, một cách toàn diện, nhưng kế hoạch “bình định nông thôn” của chúng đã liên tiếp bị thất bại một bước quan trọng. Thế kẹp của chúng bị phá lỏng, quân ngụy tuy còn đông nhưng sức chiến đấu kém.

Rút kinh nghiệm trong thực tế đấu tranh đọ sức với địch 1969, sang năm 1970, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tập trung sức bằng mọi biện phá làm thất bại nghiêm trọng chương trình “bình định” của địch. Chúng thi thố nhiều chương trình, nào “bình định đặc biệt”, “bình định bổ túc”, “bình định cấp tốc”, “bình định trọng điểm” v.v…. nhưng không làm lay chuyển được sức đoàn kết đấu tranh của nhân dân ta.

Vùng giải phóng của ta vẫn được giữ vững, vùng làm chủ khu vực đất bằng phía tây tỉnh được củng cố và mở rộng. Các nơi bị địch o ép như xã B5, B3, B8 của Chư Păh, xã E14, E15 của Chư Sê được kịp thời củng cố.

Việc chỉ đạo của Tỉnh ủy và Đảng ủy Bộ tư lệnh B3 được chặt chẽ, sâu sát, giải quyết từng nội dung cụ thể, hướng dẫn phong trào đi từng bước vững chắc. Tuy địch đánh phá ác liệt nhưng các hành lang vận chuyển tiếp tế, giao liên hai bên nam và bắc tỉnh vẫn giữ được liên lạc chặt chẽ, chi viện kịp thời cho phong trào hoạt động trong tỉnh.

Năm 1970, Đảng bộ tỉnh không những thu được thắng lợi về diệt địch, bảo vệ phong trào, giữ được dân mà còn có liên hệ trong năm phương châm đấu tranh chống địch gom xúc dân, tấn công binh địch vận, chống hoạt động chiến tranh tâm lý của địch; xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang tiến bộ toàn diện, nhất là lực lượng vũ trang cơ sở hoạt động hiệu suất cao.

Tình hình đến năm 1970 tuy vẫn còn khó khăn, nhưng bớt căng thẳng như Thu đông 1969.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:12:22 am
*   *
*

Năm 1971, Đế quốc Mỹ lại tiến thêm một bước nữa trong hành động mở rộng chiến tranh xâm lược của chúng.

- Ở Tây Nguyên, chúng đưa Sư đoàn ngụy số 22 càn ra vùng ngã 3 biên giới nhằm cắt hành lang chiến lược của khu vực Mặt trận Tây Nguyên.

- Phía bắc, chúng tung quân ra Đường 9 – Nam Lào nhằm đánh một đòn quyết định cắt đứt tuyến giao thông chiến lược từ miền Bắc để chi viện cho miền Nam.

Tham vọng của chúng quá lớn, nhưng uy thế và sức mạnh tạm thời mà chúng cố tạo được vào cuối năm 1969 không còn nữa. Đặc biệt là sau tháng 2 năm 1971, khi chúng tập trung phần lớn lực lượng cơ động của quân ngụy, có không quân Mỹ yểm trợ tối đa để tiến công ra hướng Đường 9 – Nam Lào đã bị thất bại thảm hại, càng khiến cho lực lượng chúng thêm suy yếu.

Trong lúc đó, trên mặt trận Kon Tum từ ngày 27 tháng 2 đến ngày 4 tháng 3 năm 1971, bộ đội chủ lực Tây Nguyên đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 42 của Sư đoàn 22 ngụy, tiểu đoàn 22 biệt động quân, buộc chúng vội vã rút khỏi vùng núi Ngok TôBa.

Ở Gia Lai, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, phối hợp chiến trường, đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh củng cố vùng căn cứ, nâng cao sức chiến đấu của ba thứ quân.

Ngày 15 tháng 3, Trung đoàn 95 cùng tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 đồng loạt tiến công tiêu diệt hoàn toàn quận lỵ Phú Nhơn, diệt gọn đồn bảo an PleiKly Phun, cùng toàn bộ hệ thống chốt bảo an, dân vệ gác đường 14 từ Mỹ Thạch đến Phú Quang và một số chốt trên đường số 7. Hiệp đồng với hoạt động quân sự, nhân dân trong 26 ấp chiến lược và 25 làng trong các khu dồn vùng trọng điểm “bình định” của địch từ Phú Thiên – Kuẻng Mép, Mỹ Thạch nổi dậy phá rã toàn bộ bộ máy chính quyền địch ở cơ sở. Ta bắt sống tên quận phó Phú Nhơn, sử dụng tên này kêu gọi 34 trung đội dân vệ ra đầu hàng, đầu thú chính quyền cách mạng, nộp gần 500 khẩu súng các loại. Hệ thống kìm kẹp của địch quanh khu vực ngã ba đường 14 – 7 bị phá vỡ một mảng lớn. Vùng giải phóng, thế làm chủ của dân từ đông đường 14 sang phía tây giáp CamPuChia, hành lang H4 được sử dụng. Ta làm chủ khu vực xung yếu này, không những đã phá vỡ kế hoạch “bình định nông thôn” của địch, mà còn là một mối uy hiếp lớp với hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở phía nam và phía tây thị xã PleiKu, uy hiếp mạnh trục đường chiến lược 14.

Cùng với chiến thắng Phú Nhơn, tiểu đoàn 67 tiến công đại đội bảo an ấp làng Kồ, phá bung một số ấp phía tây sông Ayun, đưa lên thế làm chủ một số làng ở ấp Bar Maih có 100 dân, 3 làng ở ấp Kồ 547 dân, cùng với số dân làm chủ tại huyện 6 làm 17.300 dân,.

Phát huy thắng lợi, tiểu đoàn 67 chuyển về hoạt động vùng PleiRNgol hỗ trợ cho nhân dân đứng lên làm chủ ấp Đé Pông có 210 dân. Phát động quần chúng xây dựng cơ sở đưa mười làng phía đông nam Plei Rngol có 2713 dân lên thế tranh chấp.

Trên đường 19,đại đội công binh 18 phối hợp với tiểu đoàn 2 liên tục đánh phá giao thông địch, phá hủy 7 xe M113 diệt 80 lính, phát động nhân dân 4 làng ở ấp HàRa có 457 dân nổi lên phá thế kìm kẹp của địch.

Kết hợp với tấn công quân sự, cán bộ cơ sở và cốt cán trong nhân dân đã tuyên truyền các chính sách của Mặt trận cho 1.033 gia đình, 722 binh sĩ ngụy, vận động giáo dục làm tan rã 18 trung đội dân vệ, phòng vệ dân sự khu vực Tây sông Ayun mở ra một địa bàn rộng lớn, từ Hà Bòng đến GơHô giáp phía nam Chư Á mở thêm được 20 ngàn dân lên thế làm chủ, phá vỡ từng mảng ấp chiến lược khu vực đất bằng phía tây của tỉnh, trực tiếp thúc đẩy hoạt động của Thị xã. Tháng 4-1971, anh Siu Pôp cơ sở binh vận của thị dùng mìn hẹn giờ đốt cháy một bồn xăng 1,2 triệu lít xăng, được Mặt trận Tây Nguyên thưởng Huân chương giải phóng hạng Ba.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:13:33 am
*   *
*

Ba năm từ 1969 đến 1971 là thời điểm Đảng bộ và lực lượng vũ trang tỉnh ta phải ra sức khắc phục nhiều khó khăn phức tạp để giành thắng lợi. Quân Mỹ trên địa bàn tỉnh đã dần dần rút về nước để thực hiện xuống thang chiến tranh. Hoạt động quân sự của ngụy không ồ ạt như trước, chúng không mở cuộc hành quân lớn nào ra vùng căn cứ và vùng giáp ranh, mà chủ yếu tập trung vào kế hoạch “bình định” lập ấp chiến lược để nắm dân. Chúng tập trung xe cày ủi, san bằng địa hình để gom xúc dân vào các làng vùng đất bằng, lập thêm các khu dồn gần sát dọc các trục giao thông lớn quan trọng.

Quân Mỹ tiếp tục rút, quân ngụy tiếp tục làm công việc “quét và giữ”, nên chúng dùng mọi thủ đoạn thâm độc, chà đi sát lại nhiều lần từng nơi để gom xúc dân cho bằng được.

Về ta do nhận thức, đánh giá chưa kịp thời nhạy bén các thủ đoạn xảo quyệt của chúng cho nên thời gian từ cuối 1968 sang đầu năm 1969 chưa chỉ đạo đánh trả địch quyết liệt chặn ngay âm mưu gom xúc dân của chúng, nên chúng đã gom được 20 ngàn dân vùng giải phóng ra lập ấp.

Tuy nhiên, dù địch có ngoan cố đến đâu cũng chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể làm xoay chuyển được xu thế phát triển của tình hình. Những chỗ yếu cơ bản của địch ngày càng lộ rõ, ta đã kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm, đề ra biện pháp khắc phục khuyết điểm.

Được sự chỉ đạo của Khu ủy V, và sự hỗ trợ của Mặt trận tây Nguyên, tỉnh đã khẩn trương củng cố xây dựng lực lượng, kiện toàn tổ chức, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang tập trung và vũ trang cơ sở, liên tục hoạt động ngăn chặn từng bước các thủ đoạn đánh phá của địch.

Từ năm 1970 trở đi, ta đã giữ được vùng căn cứ địa rừng núi mà còn dồn sức đấu tranh giành giật giằng co với địch, mở ra từng mảng dân ở vùng đất bằng phía nam và tây tỉnh, bước đầy đánh thắng kế hoạch “bình định” của địch, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:14:46 am
II – Phối hợp chiến trường tiêu diệt sinh lực địch

Giải phóng từng khu vực rộng lớn liên hoàn (1972-1973)

Sau hai năm dốc sức thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ đã không đạt được mong muốn. Quân ngụy trụ cột của chiến lược này dù có được trang bị và yểm trợ của hỏa lực Mỹ cũng không thể mạnh lên.

Tuy vậy, địch vẫn còn kiểm soát được các vị trí quan trọng, khống chế được các vùng đông dân nhiều của. Quân Mỹ trong các căn cứ vẫn còn, nhưng bộ binh Mỹ không còn giữ vai trò chiến đấu. Lúc này chúng điều thêm lữ đoàn Nam Triều Tiên lên giữ khu vực đèo An Khê.

Quân ngụy ra sức bắt lính, đôn quân, thành lập các tiểu đoàn bảo an, liên đoàn bảo an làm lực lượng cơ động chiến đấu tại chỗ thay cho quân cộng hòa. Sư đoàn bộ binh 23 về đóng quanh khu vực thị xã PleiKu để hà hơi cho quân địa phương, bảo an các quận đi càn quét “bình định”. Vùng địch còn kiểm soát, chúng dùng nhiều biện pháp kẹp dân, ráo riết hoạt động chiến tranh tâm lý, mị dân.

Đi đôi với tổ chức những cuộc hành quân “bình định bổ túc” nhằm líp lại những khu dồn ta mới mở ra trong năm 1971, chúng củng cố hệ thống phòng ngự cơ bản để đủ sức đối phó với tấn công của quân chủ lực ta. Chúng kết hợp các khu dồn, ấp chiến lược với các cứ điểm từ 1 đến 2 chốt, quân số từ 1 đến 2 đại đội bảo an, hoặc 1 liên đội bảo an phụ trách, hoặc 4 đến 5 trung đội dân vệ thành từng cụm phòng thủ liên hoàn. Xu hướng chung của địch là ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự, chúng dựa vào công sự vững chắc và hỏa lực làm chính kết hợp với cơ động phản kích khi bị ta tiến công.

Để đánh bại các thủ đoạn mới của địch, tỉnh độ đề ra niệm vụ

- Phải xây dựng, nâng cao chất lượng chiến đấu cho lực lượng vũ trang tỉnh, phải đủ mạnh, khẩn trương tổ chức thiết bị chiến trường, tạo mọi điều kiện để đánh thắng địch trong một số trận thương đối lớn, đẩy mạnh phong trào nhân dân du kích chiến tranh của tỉnh.

- Các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện và cả dân quân du kích có khả năng độc lập chiến đấu tốt, phối hợp với quân chủ lực đánh bại được quân địa phương của địch, tiêu diệt được từng cụm chốt của bảo an, phá vỡ được hệ thống kìm kẹp của địch trên từng khu vực, giải phóng được từ 5 – 7 xã liên hoàn

- Cùng các cấp ở địa phương, tham gia phát động quần chúng, xây dựng thực lực chính trị vùng nông thôn, đất bằng, trong thị xã. Xây dựng các đoàn thể quần chúng, củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị, binh vận.

- Đẩy mạnh sản xuất, bảo vệ ăn cứ, đảm bảo có nguồn lương thực tại chỗ - tổ chức lực lượng thu mua, khai thác, vận chuyển các nguồn hàng từ vùng địch đưa ra, từ các cửa khẩu mua về và nguồn hàng của cấp trên chi viện để chuẩn bị cho tác chiến quy mô ngày càng lớn và dài ngày.

Trước mắt tranh thủ thời gian, tập trung củng cố xây dựng lực lượng, tổ chức mở các lớp đào tạo ngắn ngày ở trường Quân sự tỉnh, nhất là mũi trưởng đặc công hóa bộ binh, tiểu đội trưởng và các lớp chuyên môn y tá, đáp ứng cho nhu cầu chiến đấu.

Bổ sung quân số cho các tiểu đoàn bộ binh 67, tiểu đoàn đặc công 408, các phân đội binh chủng chuyên môn, đại đội 231 ĐKB, đại đội hỏa lực và 3 đại đội công binh tỉnh. Đồng thời củng cố lực lượng vận chuyển trên các hành lang CO2, CO7 và H4 luôn luôn được thông suốt.

Đợt sinh hoạt chính trị nâng cao chất lượng công tác Đảng viên và kết nạp Đảng viên khóa Hồ Chí Minh được tổ chức chỉ đạo chặt chẽ, phát động tư tưởng, xây dựng quyết tâm phấn đấu mục tiêu lý tưởng, bình xét tư cách đảng viên chuẩn bị cho đợt ra quân chiến đấu mới.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:16:19 am
Lớp tập huấn tại trường quân sự tỉnh cho cán bộ sơ cấp trở lên toàn tỉnh được tổ chức, đi sâu nâng năng lực chỉ huy, đưa trình đội tổ chức tác chiến của bộ đội theo phương thức hiệp đồng theo binh chủng phù hợp với trang bị hiện có của tỉnh, đảm bảo yêu cầu tác chiến tập trung theo lược đồ chung của chiến dịch. Yêu cầu cán bộ phải có quyết tâm cao, lãnh đạo chỉ huy giỏi, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm.

Lớp tập huấn có 150 cán bộ tại làng Tơ Mặk, vùng căn cứ tỉnh đã biểu lộ quyết tâm ra quân chiến đấu đạt thành tích mới.

Tiểu đoàn đặc công 408, đại đội 90 và đại đội 21 thị xã áp sát vào các chi khu căn cứ đầu não của địch, các phương tán tác chiến đã được tỉnh thông qua và bắt tay vào chuẩn bị, xây dựng cơ sở bảo đảm thắng lợi.

Các tiểu đội du kích đặc công, công binh chuyên trách được tập huấn và trang bị đầy đủ hơn trước.

Xưởng quân giới tỉnh, các đại đội công binh tổ chức các tổ chuyên trách thu bom lép (địch thả không nổ) cưa lấy thuốc chế tạo mìn các loại phục vụ chiến đấu, nhất là sản xuất loại mìn ĐH 10, ĐH 20 phục vụ các mũi đặc công phá rào, diệt chốt.

Phong trào du kích chiến tranh tỉnh phát triển mạnh. Ngày càng nhiều gương chiến đấu xuất sắc dũng cảm của đội ngũ du kích gái. Do vậy, Thường vụ tỉnh ủy nhất trí kế hoạch của tỉnh đội bổ nhiệm một số cán bộ nữ, đã kinh qua cấp ủy Huyện sang làm cán bộ huyện đội(1) để tăng cường chỉ đạo lực lượng vũ trang cơ sở. Cùng lúc Mặt trận Tây Nguyên cùng Quân khu V bổ sung đoàn cán bộ dân tộc đã được đào tạo ở trường Quân chính Tây Nguyên và học viện quân sự Trung ương, có 45 cán bộ, trong đó có 25 cán bộ nữ, được tăng cường cho Ban dân quân tỉnh và trợ lý các huyện đội.

Tháng 9-1971, Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh khóa IV họp tại vùng trung tâm căn cứ, động viên toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh nắm lấy thời cơ, phát triển thế tiến công trên cả 3 vùng, bằng 3 mũi giáp công, phát động 3 cao trào quyết thắng giặc Mỹ xâm lược:

- Diệt và làm tan rã lớn quân ngụy

- Tiến công và nổi dậy làm chủ nông thôn.

- Cao trào cách mạng ở thị xã, quận lỵ.

Đại hội kêu gọi Đảng viên, cán bộ nêu cao vai trò gương mẫu lãnh đạo quân dân trong tỉnh tiến lên giành thắng lợi lớn.

Công tác thiết bị chiến trường từng bước triển khai. Tỉnh huy động đợt ra quân làm đường chuẩn bị cho chiến đấu. Thời gian ngắn 5 tháng mùa khô cuối 1971, hàng ngàn dân công già trẻ, trai gái cùng bộ đội đi làm trên 200Km đường ô tô chiến dịch phía đông tỉnh từ Trạm Lập đến Cầu Dây (sông Ba). Hệ thống cơ sở hậu cần chiến dịch như kho, trạm xá tiền phương; trạm sửa chữa vũ khí, chế tạo vũ khí tự tạo dựng lên ở các trọng điểm. Các tuyến hành lang được phân công các đội du kích phục vụ hỏa tuyến, đảm bảo chuyển hàng qua nam bắc đường 19 và đông tây đường 14 được thông suốt, an toàn. Tỉnh còn mở thêm một số mạch đường dự phòng, nếu địch càn quét vẫn bảo đảm giao thông liên lạc. Dân công huy động vận chuyển được 1681 tấn lương thực, vật chất kỹ thuật chi viện từ binh trạm Bắc về phía căn cứ tỉnh. Ngoài sức ôtô chở còn do đồng bào dân tộc gùi về các cụm kho an toàn. Nhân dân vùng căn cứ, vùng giải phóng và cả đồng bào một số làng trong vùng tranh chấp đã động viên góp 1.200 tấn lương thực phục vụ chiến đấu cho các đoàn quân chuyển từ ngoài vào qua các đường hành lang Trung ương ngang qua tỉnh.

Tỉnh tổ chức lực lượng mậu dịch chuyên mở các cửa khẩu khai thác hàng nhu yếu phẩm từ các tỉnh đồng bằng và từ vùng giáp ven thị xã, thị trấn, góp phần giải quyết vật chất cho sinh hoạt của bộ đội và nhân dân.


(1) Cán bộ huyện đội nữ: Đ/C H’Yam huyện đội trưởng khu 5 (Chư Prông), đ/c Sâm chính trị viên phó khu 6 (Mang yang) và đ/c Lui chính trị viên phó khu 7 (Kông Chro), đ/c Lâm huyện đội phó thứ 2 (Kơ Bang)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:17:40 am
*   *
*

Tham gia tiến công chiến dịch 1972 giải phóng một vùng đất đai rộng lớn

Theo kế hoạch chung trên chiến trường Miền Nam sẽ tiến hành ba đòn chiến lược.

- Đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những phương hớn và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân ngụy, phá vỡ từng bộ phận thế bố trí phòng ngự của địch, mở rộng vùng giải phóng.

- Đòn tấn công và nổi dậy ở các vùng nông thôn và đồng bằng hết sức quan trọng – kết hợp tấn công quân sự, chính trị, binh vận, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh và phong trào nổi dậy của quần chúng.

- Đòn đấu tranh chính trị của nhân dân các đô thị, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch, chuẩn bị khi có thời cơ cụ thể đẩy mạnh cuộc đấu tranh thành cao trào cách mạng.

Trong ba đòn tấn công thì tấn công quân sự tiêu diệt nhiều sinh lực địch có tính chất quyết định. Đòn tấn công chính trị ở nông thôn và đô thị là rất quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi quyết định.

Bắc Tây Nguyên là hướng trọng điểm của tấn công quân sự. Lực lượng địch ở đây có Sư đoàn 22 ngụy, Sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động số 2. Chúng chia thành 3 cụm phòng thủ mạnh là: Đak Tô – Tân Cảnh, Thị xã Kontum và thị xã Pleiku.

Tại khu vực Pleiku chúng bố trí Sư đoàn 23 ngụy

Chủ trương của Mặt trận Tây nguyên là hình thành thế chia cắt quân địch để tiêu diệt.

- Chia cắt giữa đồng bằng và Tây Nguyên

- Chia cắt giữa Pleiku và Kon Tum

- Chia cắt giữa cụm thị xã Kon Tum và Đak Tô – Tân Cảnh

Chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên tập trung vào khu vực Đak Tô – Tân Cảnh. Gia Lai phối hợp tổ chức cài thế chiến dịch, nghi binh, chia cắt, phân tán, cô lập từng cụm quân địch. Tỉnh đã nắm vững và tuân thủ thời cơ khẩn trương chuẩn bị các lực lượng phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực.

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 26 tháng 3 năm 1972 Trung đoàn 95 có các đại đội 31, 32 của huyện Chưpah, phối hợp tổ chức đánh cắt giao thông địch trên đường số 14 đoạn từ gần Ia Tôwe đến chân núi Chư Thoi cách thị xã Kontum 9 kilômét về phía nam. Thế chia cắt con đường huyết mạch giữa Pleiku và Kon Tum đã hình thành.

Cùng thời gian này, ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 12 (thiếu) của Quân đoàn 3 Quân khu V chốt cắt đường 19 đoạn Đồng Phó đông đèo An Khê. Trước thế uy hiếp của quân ta, Quân đoàn 2 ngụy đưa các trung đoàn 45 và 53 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của Sư đoàn 23 và trung đoàn 24 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của Sư đoàn Mãnh hổ Nam Triều Tiên ra phản kích. Nhưng cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn 95 ở Chư Thoi cũng như trung đoàn 12 phía đông An Khê đã đánh trả kiên cường giữ vững trận địa, đánh bại các đợt phản kích, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng hơn chục đại đội và phá hủy gần trăm xe quân sự địch. tại Chư Thoi, anh em du kích của xã B1, B2 và B3 phối hợp với Trung đoàn 95 đã anh dũng chịu đựng bom pháo, cả chất độc hóa học, sát cánh cùng chủ lực chiến đấu rất dũng cảm, từ 26 tháng 3 đến 22 tháng 4 ta đã làm tê liệt hẳn vận chuyển của địch trên đường 14. Nhân dân thị xã Pleiku cũng như Kon Tum rất hoang mang rối loạn. Ta đã tạo thế bao vây, chia cắt chiến dịch toàn bộ quân địch ở Kon Tum.

Trên đường 19, từ ngày 1 tháng 4, Tiểu đoàn 2 cùng các đại đội công binh 17, 18 liên tục tiến công các đoàn xe vận chuyển của địch từ Hàlòng đến KônDơng, xuống đến chân đèo Mang yang, Xa Wồng, Châu Pầu. Du kích các xã A1, A3 (khu 7), xã Bắc (khu 2) huy động bám đường diệt xe, diệt lính gác các chốt trên đường, đánh địch chốt giữ điểm cao mâm Xôi, tây đèo An Khê. Các chốt địch cô lập, ta làm tê liệt đường 19 gần 20 ngày. Tiểu đoàn 2 vừa tấn công vừa tiêu diệt địch các chốt, vừa phát động quần chúng phá rã bộ máy kìm kẹp khu vực đông dân từ ấp Phú Yên, HàRa đến Hà Lòng.

Thế trận chia cắt đường 19 và đường 14 tạo thuận lợi cho chủ lực phía bắc Kon Tum tấn công tiêu diệt cụm phòng ngự cơ bản Đak Tô – Tân Cảnh, uy hiếp mạnh thị xã Kon Tum.

Ngày 9 tháng 6 năm 1972, Giôn Pôn Van – trùm cố vấn Mỹ ở Quân đoàn 2 ngụy lên thị sát thị xã Kon Tum, lúc quay về, chiếc máy bay lên thẳng của hắn bị các chiến sĩ ta bắn rơi ở nam Chư Thoi sát đường 14, tên tướng “bình định” tương đương 3 sao bị tan sác.

Tuyến phòng ngự cơ bản bắc Kon Tum của địch bị đập tan tành, mặt trận phía đông Kon Tum sôi nổi khí thế giết giặc.

Hướng Gia Lai, thừa thế thắng lợi chung, tiểu đoàn đặc công 408 tập kích kho xăng quân đoàn 2 ngụy, đánh vào sân bay Aréa phá hủy, đốt cháy mấy ngàn tấn xăng dầu và phương tiện chiến tranh. Phối hợp hoạt động quân sự bộ đội huyện 3 đột nhập phá ấp Hà Long giải phóng 7.000 dân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Hai, 2020, 07:18:05 am
Tháng 8 năm 1972, các lực lượng ta tiêu diệt cứ điểm Đức Cơ, giải phóng toàn bộ khu dân cư các làng Mócđen xuống đến làng Yít, giải phóng trên 3.000 dân, đưa số gia đình binh sĩ ngụy vào sinh sống trong vùng giải phóng. Phía huyện 4 (ChưPah) ta giải phóng mảng dân 20 làng có 5.200 dân thuộc các xã B8, B9, B10 đưa lên thế làm chủ.

Hướng đông nam thị xã Pleiku, tiểu đoàn 67 phá rã toàn bộ mảng ấp chiến lược từ Tủt Hang Ring đến Gơ Hô.

Một vùng rộng lớn được giải phóng từ tây đường 14 lên giáp biên giới CamPuChia, sang phía nam giáp ranh giới tỉnh Đaklak sạch bóng quân địch. Tỉnh tổ chức hàng chục đoàn cán bộ các ngành, các cơ quan, đoàn thể cùng với các đội công tác dân vận của Sư đoàn 320 Tây Nguyên kịp thời bám dân mới bung ra, tổ chức hoc tập, hiểu rõ các chính sách vùng mới giải phóng của Mặt trận dân tộc Giải phóng. Ta tổ chức quần chúng, ổn định tư tưởng, chọn cốt cán, tổ chức chính quyền, tổ chức các đoàn thể quần chúng. Đặc biệt tỉnh tập trung sức người, sức của để cứu đói, đau, lạt, ổn định nơi ăn, ở, sinh sống, an tâm ở lại vùng giải phóng của cách mạng.

Dọc đường 19 (tây) bộ đội các huyện 4, 5 cùng một bộ phận của trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) tiêu diệt cứ điểm Đồn Tầm, đồn Chư Phổ, hổ trợ cho đồng bào Thanh Giáo, khu 6 làng Klanh vùng lên phá rã ấp chiến lược. Đêm 14 tháng 8, tiểu đoàn đặc công 408 tập kích phá hủy 12 kho bom đạn cách thị xã Pleiku 8 kilômét về phía đông bắc.

Hoạt động hướng tây Gia Lai sôi động, quân đoàn 2 ngụy phải điều bớt một lực lượng của Sư đoàn 23 sang tăng cường phòng giữ Thị xã Kontum về giữ thị xã Pleiku.

Chiến tranh du kích phát triển mạnh và đều khắp, áp sát vùng ven thị xã, liên tục đánh phá các trục giao thông 19, 14 chiến lược. Nhất là sử dụng phổ biến các loại mìn tự tạo của xưởng quân giới tỉnh sản xuất để đánh xe, diệt chốt, phá rào, mở ấp. Ngày 8 tháng 9 trung đội xã E5 (Ia Phin) do đông chí Kpă O chỉ huy phục kích đoạn từ đường 19 vào Lệ Ngọc, dùng bộ binh, mìn định hướng ĐH 10 diệt gọn trung đội bảo an đi lùng, 3 tên chết và bị thương ta thu được 20 súng. Phát huy thắng lợi, chị O chỉ huy trung đội phục kích đoạn từ Lệ Ngọc đi Phù Mỹ, 1 xe tăng địch đạp mìn nổ tung, anh em dùng súng B40 bắn diệt 2 xe nữa. Trung đội được Mặt trận Tây Nguyên tăng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng ba. Chị Kpă O người chỉ huy du kích chiến đấu giỏi, là cán bộ công tác binh vận hoạt động tích cực, được tặng thưởng nhiều huân chương, bằng, giấy khen .

Ngày 11 tháng 11, bộ đội huyện 5 phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt cứ điểm 433 (Phú Cường) nam ngã ba Mỹ Thạch, giải phóng 9 làng trên trục đường từ Phú Mỹ đi Phú Nhơn có 1.045 dân đưa lên thế làm chủ tại chỗ. Huyện Chư Prông (trừ quận lỵ) giải phóng trên 20 ngàn dân sát đường 14.

Phong trào nội thị Pleiku có chuyển biến mạnh. Lực lượng tự vệ mật, đội biệt động, cơ sở binh vận cùng đại đội đặc công, đại đội vùng ven đã đánh 32 trận diệt 178 tên địch, có 50 tên cố vấn và nhân viên kỹ thuật Mỹ, thu 25 súng, bắt 32 tù binh, bắn rơi 9 trực thăng, phá hủy 30 xe quân sự, có 5 xe M113, phát 13.230 tờ truyền đơn, đưa 3.551 dân lên thế làm chủ tại chỗ.

Năm 1972, địch cố tập trung lực lượng, tăng thêm 3 liên đoàn bộ binh, 3 chi đoàn xe thiết giáp và một số đơn vị pháo cỡ lớn để phòng thủ Tây Nguyên, liên tiếp mở các cuộc phản kích hòng chiếm lại những vùng ta mới giải phóng, nhất là khu vực tây và nam thị xã Pleiku, nhưng chúng đã bị các lực lượng vũ trang ta đánh bại. Tuyến phòng thủ cơ bản của địch bị phá vỡ từ bắc Kon Tum đến vùng tây bắc và tây nam thị xã Pleiku.

Quân và dân Gia Lai nỗ lực, tranh thủ thời cơ, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tây Nguyên, giữ vững được vùng căn cứ, tấn công quân sự, phát động quần chúng, đấu tranh chính trị, binh vận, phá hàng mảng ấp chiến lược, khu dồn, nhiều nơi rất quan trọng như Đức Cơ, Phú Nhơn, ngã ba Mỹ Thạch, thực sự vây ép địch về co thủ trong thị xã; thắng lợi trên vùng nông thôn rộng lớn có tác động manh đến phong trào thị xã, hoạt động đều và mạnh hơn trước.

Thắng lợi trên địa bàn Gia Lai góp phần tích cực cho Tây Nguyên và toàn miền đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

Sau khi trúng cử lại tổng thống, ngày 4 tháng 11 năm 1972, Ních-Sơn và các thế lực hiếu chiến nhất của Mỹ lại âm mưu dùng sức mạnh quân sự đế buộc nhân dân ta phải khuất phục. Ngày 8 tháng 12 năm 1972, chúng trắng trợn dùng máy bay B52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố thị xã khác ở miền Bắc.

Nhưng cuộc phiêu lưu quân sự điên rồ của Mỹ đã bị thất bại thảm hại. Quân và dân Miền bắc anh dũng chiến đấu đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay chiến lược B.52 và 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F.111.

Không còn cách nào khác, chúng buộc phải ngồi vào bàn hội nghị thương lượng. Ngày 27 tháng 1-1972, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết tại Pari.

Chưa ký đã phá, vừa ký vừa phá địch lại điên cuồng mở những cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ”. Cảnh giác sẵn sàng đánh bại mọi mưu đồ của địch, quân và dân trong tỉnh đã anh dũng chiến đấu giữ vững từng tấc đất của vùng giải phóng, nhân dân đã kịp thời đứng lên giành quyền làm chủ ngay trên những vùng sâu, vùng lõm sát nách thị xã, quận lỵ. Một hình thái xen kẽ và tranh chấp cắm cờ giữ đất quyết liệt hình thành ở các địa phương.

Cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ ở đất nước ta ngót một phần tư thế kỷ đã bị thất bại thảm hại. Cách mạng Việt Nam đã giành nhưng thắng lợi vô cùng vẻ vang có ý nghĩa rất sâu sắc và rộng lớn.

Với thắng lợi ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam, cách mạng miền Nam nước ta đã bước vào một giai đoạn mới đã xuất hiện ở Miền Nam, trước hết và chủ yếu là sự thay đổi hết sức quan trọng về so sánh lực lượng, thế và lực của cách mạng đã hơn hẳn thế và lực của bọn phản cách mạng, tạo ra những điều kiện rất thuận lợi để nhân dân Miền Nam cũng như tỉnh ta tiếp tục tiến lên hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn mới.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:00:53 am
CHƯƠNG X

Trừng trị Mỹ Ngụy phá hoại Hiệp định Pa Ri,
tấn công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà,
cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

I. Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, kiên quyết đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng.

Hiệp định Pari được ký kết là thắng lợi to lớn của nhân dân ta, là thất bại nặng nề của đế quốc Mỹ và tay sai. Tuy buộc phải ký hiệp định, nhưng đế quốc Mỹ chưa chịu để mất Miền Nam Việt Nam. Âu mưu cơ bản và nhất quán lâu dài của đế quốc Mỹ là biến Miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự của chúng, nên Mỹ cố tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” theo công thức: “Quân ngụy + viện trợ kinh tế quân sự và cố vấn Mỹ”.

Ngày 9 tháng 1 năm 1973, khi chưa ký hiệp định Pari, Quân ủy Trung ương họp đã chỉ rõ: “Ý đồ chiến lược của đế quốc Mỹ là chấm dứt mọi sự tham chiến trực tiếp về quân sự ở Miền Nam Việt Nam, đồng thời giữ vững và tăng cường quân ngụy, tìm cách làm cho cách mạng dần dần yếu đi hòng tiếp tục thực hiện học thuyết NíchXơn, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới lâu dài ở nước ta. Trong tình hình mới, chúng ta sẽ cố gắng giữ cục diện Miền Nam như hiện nay để làm cơ sở tìm cách tiến lên. Chúng sẽ ra sức củng cố ngụy quân ngụy quyền, phá hoại hiệp định Pari, phá hoại hòa bình…”

Từ sự phân tích trên, Nghị quyết nhấn mạnh: “Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất: địch gây chiến tranh trở lại…”

Đúng như Quân ủy Trung ương nhận định. Hiệp định Pari ký chưa ráo mực thì đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của chúng đã phá hoại hiệp định một cách có hệ thống. Ngày 28 tháng 1, tên việt gian đầu sỏ Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn tuyên bố không tôn trọng lệnh ngừng bắn và ra lệnh cho quân ngụy thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Chúng đẩy mạnh kế hoạch “bình định nông thôn”, xóa bỏ “vùng da báo”, lấn chiếm và líp lại các vùng mới giải phóng khu vực đất bằng trong tỉnh, nhằm ý đồ phân vùng phân tuyến để đẩy lực lượng ta lên núi cao, để thực hiện bao vây kinh tế, làm cho lực lượng cách mạng hao mòn để dễ bóp chết. Mặt khác, chúng ngấm ngầm thỏa hiệp vô nguyên tắc với bọn phản động và cơ hội quốc tế nhằm ngăn cản, cắt xén viện trợ, trang bị, vũ khí kỹ thuật cho ta, làm cho lực lượng ta không đủ sức tấn công được.

Ở GiaLai, địch tiếp tục sử dụng lực lượng thực hiện “tràn ngập lãnh thổ”, “bình định đặc biệt”. Trước hết tập trung đánh phá các căn cứ “lõm”, đánh bật các chốt của lực lượng ta đang chiếm giữ các trục giao thông.

Âm mưu của chúng rất thâm độc. Để khắc phục tình trạng quân số, trang bị giảm xuống khi quân Mỹ đã rút phần lớn ở chiến trường, chúng thực hiện “hòa hoãn” nơi này với ta, dựng lên nhà “hòa hợp” thương lượng để dồn lực lượng, binh khí, phương tiện kỹ thuật, tập trung đánh phá, lấn chiếm giải tỏa từng khu vực nơi khác. Vì vậy mà mật độ hỏa lực của chúng có nơi còn sử dụng cao hơn trước khi ký hiệp định Pari.

Lực lượng ta đã khắc phục khó khăn kiên quyết chống trả địch.

Tiểu đoàn 67, Tiểu đoàn đặc công 408 phối hợp và luân phiên chốt giữ khu vực Plei Bông, Đé KơJiêng. Qua 23 ngày đêm chiến đấu quyết liệt chống địch phản kích, ta đánh lui nhiều mũi tiến công thọc sâu vào khu vực phòng ngự của bộ đội ta. Cán bộ chiến sĩ bám sát địa bàn, chịu đựng bom pháo, sẵn sàng đánh thiệt hại nặng từng đợt lấn chiếm của địch. Nhân dân các làng Pleibông Mô, Bông Rung, Đé KơJiêng sơ tán vào rừng. Bộ đội ta vừa chiến đấu, vừa chăm sóc, bảo vệ bò, heo, tài sản của dân. Nhân dân rất khâm phục tinh thần chiến đấu, ý thức kỷ luật nghiêm của bộ đội cách mạng.

Trên đường 19, tiểu đoàn 2 bộ binh cùng các đại đội công binh 17, 18 và bộ đội các Khu 7, 2 tổ chức thế trận chốt giữ đông đèo Mang Yang. Ta khắc phục nhiều khó khăn cấu trúc quân sự, bố trí chướng ngại trên một khu vực đồi đá trống trải, bảo đảm cắt giao thông vận chuyển của địch thời gian 7 ngày.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:02:17 am
Trên đường 14, tiểu đoàn 12 do đồng chí Kpă Klơng chỉ huy cùng đại đội 19 công binh, bộ đội khu 5 tổ chức trận địa cắt giao thông địch tại ngã ba đường 14 và 19, khu vực núi Hơ Drung đến 6 làng Klanh, đã đánh diệt nhiều tốp xe quân sự địch.

Phía bắc thị xã Pleiku, trung đoàn 95 bộ đội khu 4 và du kích các xã dọc đường 14 huy động nhân ra đào đắp chướng ngại đoạn từ làng Krai đến HơReng, giáp chân núi Chư Thoi cắt đứt giao thông vận chuyển của địch giữa Pleiku và Kon-Tum gần một tháng.

Địch rất nham hiểm, chúng phản kích quyết liệt và phá hoại hiệp định có hệ thống. Nhưng về ta, ngay từ khi chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới, lãnh đạo và chỉ huy các cấp chưa đánh giá đầy đủ âm mưu và thủ đoạn kẻ thù, chưa phân tích kỹ tính chất phản kích phá hiệp định của địch, nên việc tổ chức và chuẩn bị cán bộ, chiến sỹ, nhân dân vùng căn cứ cũng như vùng mới giải phóng, vùng ven thị xã và cách đánh trả lại địch, nên chuẩn bị còn giản đơn thiếu cụ thể.

Thế trận phòng giữ chốt chặn trên các điểm cao, các trục giao thông, trận địa thiết bị quá giản đơn, phần lớn chỉ tự vệ, chống trả một cách thụ động, công tác bảo đảm vật chất, lương thực, thông tin chỉ huy thiếu, nên khi địch tập trung lực lượng đánh vào trận địa ta, nhiều đơn vị thay nhau phản kích, thì dù ta có trụ bám vững chắc đến đâu cũng bị tiêu hao lực lượng giảm sức chiến đấu.

Về tư tưởng trong một số cán bộ, chiến sỹ nảy sinh tư tưởng hòa bình, lỏng lẻo ý chí chiến đấu, muốn xả hơi thư giãn sau thời gian dài chiến đấu liên tục ác liệt, nên khi thấy địch liên tiếp phá hoại hiệp định thì ngại “căng thẳng”, muốn dùng “hòa hoãn thương lượng”, hạ thấp hình thức đấu tranh, ngại “vi phạm hiệp định”, giữ thế ổn định một chiều. Vì vậy mà không kiên quyết tổ chức và đẩy mạnh hoạt động, vũ trang tiến công địch, để căng kéo lực lượng địch ra đối phó trên toàn chiến trường. Cá biệt có người có chiến trường bằng lòng với một vài kết quả cụ thể về đấu tranh lý lẽ, chính trị với địch ở nhà “hòa hợp” ở Thanh An, làng Yịt nơi tiếp giáp giữa ta và địch.

Tháng 5 năm 1973, tỉnh giải thể các Đội đặc công 90, 21, Đại đội vùng ven tạo cho địch có điều kiện củng cố vùng chúng kiểm soát, đủ thời cơ tập trung lực lượng đánh phá vùng ta. Một số căn cứ “lõm” ta làm chủ trong vùng địch lâu nay giữ được thế hợp pháp, nay ta huy động “cắm cờ giành đất” đã bộc lộ lực lượng, bị địch khủng bố đàn áp.

Trong chỉ đạo đánh địch lấn chiếm, nhiều địa phương “ngại vi phạm hiệp định đình chiến”, nên không chủ động tổ chức lực lượng đánh địch, mà chỉ bị động đánh trả khi bị tiến công, nên địch đủ sức lấn chiếm thêm từng điểm, từng vùng(1).

Thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 1973 ta chưa chủ động trong kế hoạch đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch phá hoại hiệp định Pari. Địch đã chiếm lại một số nơi ta vừa mở trước ngày ngừng bắn. Riêng vùng Đức Cơ, vùng căn cứ của ta vẫn được giữ vững. Số dân làm chủ trong tỉnh còn là 126.000 người (địch gom xúc lại 34.000 dân). Nguyên nhân chính là do ta có khuyết điểm trong chỉ đạo, chứ không phải do địch mạnh(2).

Ngày 5 tháng 7 năm 1973, Khu ủy V họp quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, kiểm điểm tình hình và xác định nhiệm vụ trung tâm cho Đảng bộ khu V đến là ra sức đánh bại bình định lấn chiếm của địch, giành dân, giữ dân, mở rộng quyền làm chủ, phát triển thực lực ta.

Tháng 10 năm 1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia-Lai họp khóa V kiểm điểm tình hình, phê phán tư tưởng hữu khuynh, lệch lạc trong năm phương hướng chỉ đạo phong trào chống đánh địch sau hiệp định Pari, xác định lực lượng vũ trang tỉnh nắm chắc nhiệm vụ: “Động viên lãnh đạo bộ đội tỉnh, huyện, dân quân du kích cùng các đoàn thể nhân dân, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công đánh địch cả phía trước lẫn phía sau, phối hợp với bộ đội chủ lực, bảo vệ các địa bàn xung yếu, đánh những trận tiêu diệt gọn, hỗ trợ cho địa phương… “Đưa cán bộ cơ sở xáp vào bám lại vùng địch. Du kích và bộ đội huyện bám vào nông thôn, các ấp chiến lược. Các tiểu đoàn tỉnh đánh diệt được các chốt địch mới nống ra…”


(1) Những sự kiện quân sự - Bộ Quốc Phòng - Viện lịch sử quân đội V.Nam Hà Nội - 1988 - Trang 292
(2) Trích tổng hợp tình hình 6 tháng sau Hiệp định Paris, báo cáo trong Đại hội Đảng bộ tỉnh GiaLai 10.1973 và Hội nghị công tác Đảng - công tác chính trị mặt trận Tây Nguyên.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:02:50 am
Ngày 22 tháng 9 năm 1973, đại đội 32 huyện 4 phối hợp với bộ đội chủ lực Tây Nguyên tiến công tiêu diệt cứ điểm Chư ngheh (Lệ Minh) diệt và bắt sống tiểu đoàn quân biệt động biên phòng địch. Chiến thắng tiêu diệt đồn Chư ngheh đã nhổ một cái gai cắm sâu giữa vùng giải phóng của ta, động viên lực lượng, các cấp, các địa phương kiên quyết và chủ động tiến công địch trên các mặt. Chiến tranh du kích lại bùng lên mạnh mẽ và diễn ra trên khắp các nơi tiếp giáp với địch. Những nhà “hòa hợp”, những cuộc tiếp xúc giả tạo đã bị quần chúng nhân dân vạch mặt, tẩy chay. Chỉ trong vòng 20 ngày đầu tháng 10/73, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tiêu diệt và bắn bị thương 600 tên địch.

Ngày 15 tháng 10/1973, mệnh lệnh “đánh trả quân lấn chiếm” của Bộ chỉ huy Quân giải phóng Miền Nam ban ra cho các lực lượng vũ trang ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ vùng giải phóng.

Cuối năm 1973, Tỉnh ủy hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 (khóa III): “Con đường lớn của cách mạng Việt Nam có thể trải qua nhiều bước quá độ, và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt đưa cách mạng tiến lên…”

Lực lượng vũ trang tỉnh phải giữ vững vùng căn cứ, vùng giải phóng ta làm chủ, phải xây dựng và củng cố lực lượng vùng ven tạo thế uy hiếp Thị xã, quận lỵ, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị trong vùng tranh chấp và vùng địch kiểm soát. Phải chủ động đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của chúng, đánh những trận tiêu diệt đau, mạnh để bảo vệ vùng ta làm chủ, bảo vệ dân.

Bộ đội tỉnh phải xây dựng thành những đơn vị sắc gọn tinh nhuệ, trang bị tương đối hiện đại, sử dụng vũ khí thô sơ thành thạo, đủ sức tấn công và phản công địch khi chúng ra càn quét gom dân, lấn đất. Ra sức phát triển dân quân du kích thành một lực lượng vũ trang mạnh mẽ của quần chúng đồng thời là lực lượng chính trị cho quần chúng.

Sáu tháng cuối năm 1973, các lực lượng vũ trang tỉnh đã có những đòn đánh trả địch quyết liệt các cánh quân địch ngoan cố ra càn quét lấn chiếm. Phong trào đấu tranh chính trị, tiến công binh địch vận của nhân dân đã tạo ra thế tấn công địch đều khắp trên các địa bàn quanh thị xã, thị trấn.

Quân ngụy từ chỗ hung hăng bung lực lượng ra càn quét đánh phá lấn chiếm vùng giải phóng nay bắt đầu co lại, lui về phòng giữ. Tình hình đó chứng tỏ: chỉ có tiến công, liên tục tiến công địch bất cứ tình huống nào mới làm cho địch suy yếu, thất bại. Mặc dù Mỹ cố sức chi viện về quân sự, kinh tế, kỹ thuật nhưng không vực nổi quân ngụy mạnh lên được.

Về ta, tuy có thu được những kết quả đánh địch lấn nống trong 6 tháng cuối 1973, nhưng do ta có nhiều sơ hở trong những tháng đầu sau hiệp định Pa-ri, lúng túng về nắm phương châm trong chỉ đạo đánh địch lấn chiếm, nên phong trào có sút hơn trước ngày ngừng bắn. Tình hình trong thị xã, vùng ven có nhiều khó khăn, hoạt động vũ trang yếu, chưa đều. Vùng giải phóng phía tây tỉnh, địch lấn nống nên bị thu hẹp. Lực lượng vũ trang tỉnh có mở được từng hướng hoạt động, đánh được quân bảo an ra lấn nống, nhưng chưa đánh bại được lực lượng chủ lực cộng hòa của địch đến phản kích.

Trước tình hình trên, Ban cán sự tỉnh đội đã tập trung chỉ đạo xây dựng bộ đội tinh nhuệ, chất lượng cải tiến trang bị từng phần, từng đơn vị theo khả năng của tỉnh. Xây dựng dân quân du kích mạnh, rộng, có một số đơn vị chuyên trách. Trường quân sự tỉnh mở lớp tập huấn cho cán bộ toàn tỉnh nghiên cứu về chiến thuật và chiến dịch, thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ dự tập huấn phải đạt yêu cầu: nắm chắc nội dung, nguyên tắc chiến thuật, huấn luyện bộ đội tốt, rèn luyện tốt, chất lượng cao, trưởng thành nhanh.

Nắm vấn đề then chốt trong giáo dục và huấn luyện lần này làm cho cán bộ các cấp nhận rõ yêu cầu, xác định nhiệm vụ và khả năng thực tế đơn vị, thực tế đội ngũ cán bộ của mỗi đơn vị; nhận rõ được khả năng và hiện thực, giữa tình hình hiện tại và xu thế phát triển để mỗi người nhận thấy trách nhiệm và tự giác rèn luyện phấn đấu. Lớp tập huấn được Ban Cán sự tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, vừa tổng kết hoạt động của lực lượng vũ trang năm 1973, vừa quán triệt một số vấn đề cơ bản về nghệ thuật chiến đấu và chiến dịch, để nâng cao sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ, chiến sỹ. Đi đôi lớp tập huấn còn có cuộc vận động nâng cao ý thức làm chủ tập thể, sử dụng và quản lý tốt cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:03:24 am
Cuộc vận động xây dựng đảng cũng được tổ chức thực hiện phấn đấu:

- Đảng viên phải có trình độ lý luận, nhận thức được đường lối nhiệm vụ cách mạng.

- Có kiến thức khoa học quân sự, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi theo cương vị đảm nhận.

- Phải tiên tiến về chính trị, tư tưởng về chuyên môn nghiệp vụ.

Phong trào thi đua trong các lực lượng vũ trang Tỉnh được phát động với khí thế ra quân và tiến công mạnh mẽ, tin tưởng:

            Trường Sơn chuyển mình,
            Sông Ba dậy sóng!
            Quét sạch quân thù,
            Giải phóng Tây Nguyên!


Tháng 3 năm 1974, Đoàn cán bộ của ban chỉ huy Tỉnh đội do đồng chí Phan Anh Tuấn Chính trị viên phó tỉnh đội phụ trách lên tổ chức học tập Nghị quyết 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cho cán bộ hai huyện 4 và 5. Lớp học 3 ngày có 42 cán bộ dự, nâng nhận thức lý luận, liên hệ tình hình thực tế địa phương, xây dựng ý chí quyết tâm vững vùng giải phóng phía tây tỉnh. Nhất là ra sức củng cố dân quân du kích các xã B5, B4, B7 và B8 (Chưpah) là những xã bị ảnh hưởng tác động của “hòa hoãn, hòa hợp dân tộc” sau hiệp định Pa-ri, đã giảm sút chất lượng chiến đấu. Đợt củng cố được các đồng chí trong Ban thường vụ hai huyện 4 và 5 trực tiếp chỉ đạo. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1974 sức chiến đấu của các bộ đội du kích của các xã sát nách Thị xã có chuyển biến khá. Du kích xã B5 tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị thực hiện chống địch lấn chiếm, vận động 12 lính ngụy người dân tộc bỏ ngũ về nhà.

Phía huyện 5, địch cho nhiều chuyến trực thăng HU1A chở biệt kích đổ quân vào căn cứ các xã phía tây huyện như Ia Mơ, Ia Lâu, Bong Kluh, Bong Sơ… Từ ngày 15 tháng 6 đến 14 tháng 7 năm 1974, du kích các xã trên đã bắn rơi hai trực thăng vũ trang đổ biệt kích, diệt gọn 7 toán biệt kích vừa đổ quân xuống địa bàn, chưa kịp triển khai hoạt động, diệt 45 tên, bắt sống 2 tên, thu 27 súng AR15, AR16, và M79, bảo vệ an toàn cơ quan đơn vị và hành lang.

Phía nam huyện 7, quân ngụy từ Cheo Reo ba lần đưa quân ra lấn chiếm, đóng chốt tại Kông Blôm. Các tiểu đoàn 67, tiểu đoàn 2, 1 đại đội đặc công tỉnh, luân phiên tổ chức tập kích, vây ép, đánh giao thông, cắt tiếp tế gây cho địch nhiều thiệt hại, chúng phải bỏ chốt rút về Cheo Reo.

Đầu năm 1974, trước hoạt động vây ép mạnh tây thị xã Pleiku, Quân khu 2 ngụy huy động 31 tiểu đoàn chủ lực cơ động theo đường 5a, 5b càn quét sâu vào trung tâm huyện 4 phía tây tỉnh, hòng chiếm lại Chư Ngheh và phát hiện lực lượng chủ lực Tây Nguyên. Các đơn vị của sư đoàn 320 chủ lực Tây nguyên đã đánh thiệt hại nặng lực lượng càn quét lấn chiếm này, buộc chúng rút sớm về Thị xã, vùng giải phóng được bảo vệ an toàn.

Tháng 3 năm 1974, Sư đoàn 320 chuyển sang hoạt động hướng huyện 5, tiêu diệt cứ điểm Lệ Ngọc, một điểm chốt quan trọng bảo vệ vòng ngoài của địch về phía tây nam thị xã Pleiku. Thừa thắng đơn vị tiến công tiêu diệt cứ điểm 711, 631, tiêu diệt Tiểu đoàn 82 biệt động, 1 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép. Ta thu 2 pháo lớn 155 ly, 1 súng cối 106,7 ly. Nhân dân huyện 5 vô cùng phấn khởi. Khi bộ đội ta nổ súng đánh địch trên đường 21 khu vực làng Siêu, đồng bào các làng Bong Klũh, Bong Sơr trèo lên các nhà “rông” xem bộ đội chủ lực ta truy kích diệt địch đang tháo chạy. Dân quân các xã E7, E8, E9 phục vụ bộ đội thu dọn chiến lợi phẩm. Nhân dân phấn khởi nói: “Trước đây, bộ đội ta đánh Mỹ ở Pleime, Ia drăng, đồng bào phải đi gùi đạn, gạo, khiêng thương binh, bom đạn ác liệt lắm, gian khổ lắm, nhân dân rất sợ nhưng cũng hăng hái đi. Bây giờ bộ đội ta đánh quân ngụy lấn chiếm, bộ đội đã có cái xe chở gạo đạn; Anh em mình bị thương, hy sinh đã có cái xe chở về căn cứ. Nhất định quân mỹ ngụy phải thua cách mạng sớm!”.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:03:53 am
Đi đôi với đánh bại “bình định” lấn chiếm của địch, GiaLai đã cùng mặt trận Tây Nguyên khẩn trương tổ chức thiết bị chiến trường. Trước hết tập trung xây dựng tuyến đường cơ giới nối liền từ hành lang chiến lược Trung ương (đường Hồ Chí Minh) nối các hành lang ngang của tỉnh. Đầu năm 1974, trục hành lang này đã vào đến Miền Đông Nam bộ. mạng đường ô tô chiến dịch đã thông suốt từ binh trạm Nam xuống đến làng Siêu (xã E9) giáp đường 21 đi Plei Me. Tuyến từ binh trạm Trung xuống đến Bảo Đức – PleiYam (ChưPăh).

Đặc biệt trong một thời gian ngắn chủ trương huy động bộ đội (chủ yếu là công binh) cùng nhân dân xuống căn cứ mở đường 220, chạy từ Kôn Rốc, đông thị xã Kon Tum xuyên thẳng đến Đak Đoa, ra Plei Bông giáp đường chiến lược 19 như một lưỡi gươm dài vươn ra chặt đứt con đường chiến lược sinh tử này của quân ngụy.

Tại trung tâm căn cứ tỉnh, đã dần dần xây dựng Thị trấn “Dân chủ”, tạo nên một trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa vùng căn cứ cách mạng, tạo nên một đầu mối giao lưu quan trọng cung cấp mọi nhu yếu phẩm chuyển từ các cửa khẩu khai thác, mua ở đồng bằng lên trao đổi, cải thiện đời sống cho cán bộ, bộ đội, các cơ quan và cho đồng bào dân tộc vùng căn cứ và cho các đoàn khách trên đường hành lang Trung ương tạo nên một bộ mặt mới giữa rừng núi bao la.

Đi đôi công tác thiết bị chiến trường, việc biên chế bộ đội, huấn luyện chiến đấu, dự trữ lương thực, tiết kiệm vũ khí đạn dược (nhất là đạn của bộ binh) được chú ý chỉ đạo chặt chẽ, đúng mức.

Đầu năm 1974 Tỉnh có 3 tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 67, 12 và 2) tiểu đoàn 12 của Mặt trận Tây Nguyên chuyển giao cho tỉnh và điều tiểu đoàn đặc công 408 giao cho Mặt trận chỉ huy quản lý…

Trung đoàn bộ binh 95 được chuyển về đứng hẳn tại nam đường 19 có nhiệm vụ đánh phá giao thông địch, tạo một thế trận hiểm đối với tập đoàn Quân đoàn 2 ngụy.

Tỉnh tổ chức tập huấn 120 cán bộ tập trung bồi dưỡng về chỉ huy chiến đấu hiệp đồng, nâng trình độ đánh tiêu diệt được quận lỵ, đánh diệt được tiểu đoàn bảo an trong công sự để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Đến tháng 2 năm 1974, dân quân du kích toàn tỉnh có 13.345 đội viên (13% dân số làm chủ) biên chế 124 trung đội du kích xã, 52 tiểu đội du kích đặc công, 18 đội du kích công binh.

Ngày 19 tháng 4 năm 1974, một tin buồn đối với Đảng bộ, dân và quân Gialai, đồng chí Trần Văn Bình (tức Đẳng) – Khu ủy viên, Bí thư tỉnh ủy GiaLai, sau một cơn đau nặng đã từ trần tại vùng căn cứ tỉnh. Thường vụ Khu ủy V quyết định đồng chí Ksor Ný (Ama Nhan) làm Bí thư Tỉnh ủy thay đồng chí Bình.

Từ ký kết hiệp định Pari đến cuối năm 1974, gần hai năm chiến đấu giằng co giữa ta và địch. Tuy mấy tháng đầu ta có phạm thiếu sót về chỉ đạo tổ chức, giáo dục lãnh đạo tư tưởng chỉ huy chiến đấu cho bộ đội, nhân dân. Địch đánh phá phong trào quyết liệt, ta gặp một số khó khăn.

Nhưng dưới sự lãnh đạo kịp thời của Khu ủy, của Trung ương cục Miền Nam, Đảng bộ, cán bộ các cấp, các ngành kịp thời phê phán đấu tranh chỉ rõ sai trái, nguyên nhân, nhanh chóng chuyển biến tư tưởng, xác định nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển tình hình mới, khẩn trương củng cố chiến trường, kiên quyết tấn công và phản công địch, giữ vững và củng cố vùng giải phóng.

Ta đã xây dựng thế trận vững chắc, quân và dân trong tỉnh có khí thế mới. Phong trào nội thị được khôi phục nhanh, có đà chuyển biến tốt, tạo sức mạnh đồng đều trong tình hình chung của tỉnh, tạo được thế mới, lực mới, khả năng mới cho bộ đội tập trung và dân quân du kích, có nhiều điều kiện thuận lợi tiến lên giành thắng lợi mới.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:04:55 am
*   *
*

II/ Tấn công và nổi dậy toàn tỉnh, phối hợp cùng toàn Miền và cả nước giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước:

Sau gần hai năm đánh thắng cuộc chiến tranh “Việt Nam hóa” trong thời kỳ mới của đế quốc Mỹ, cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho ta. Thế và lực ta càng ngày càng chủ động và mạnh lên, quân địch ngày càng bị động và suy yếu.

Tháng 12 năm 1974, quân ta thắng lớn ở Phước Long tỉnh đầu tiên ở Miền nam được giải phóng hoàn toàn. Rõ ràng so sánh lực lượng giữa ta và địch chuyển sang một thời kỳ mới có lợi cho cách mạng.

Tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp khẳng định; “Chưa bao giờ ta có đủ điều kiện quân sự, chính trị, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền nam tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà…”

Trên cơ sở đó Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến lược 2 năm 1975 – 1976. Ngoài ra còn có dự kiến phương án cực kỳ quan trọng; “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì sẽ giải phóng Miền nam trong năm 1975…”

Đầu năm 1975, ngụy quân vẫn còn đông, còn nhiều trang bị kỹ thuật, nhưng trước thế trận chiến tranh nhân dân của ta, chúng phải rải quân phân tán đối phó trên nhiều hướng. Tại GiaLai địch bố trí Sư đoàn ngụy số 23 (thiếu) 3 Liên đoàn quân biệt động, 7 Tiểu đoàn bảo an, một Thiết đoàn xe tăng, bọc thép, 3 Tiểu đoàn pháo binh…

Lực lượng ta trên địa bàn tỉnh, các đơn vị chủ lực đã triển khai áp sát thị xã, quận lỵ, dọc trục giao thông. Sư đoàn 968 áng ngữ phía tây, khu vực đường 19 (tây), trung đoàn 95 bộ binh áp sát trục lộ giao thông đường 19 Pleiku xuống An Khê.

Chấp hành Nghị quyết Khu ủy V, phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang GiaLai cùng nhân dân trong tỉnh liên tục tiến công và nổi dậy, tiêu diệt lực lượng kìm kẹp dân, phối hợp chặt chẽ với đơn vị chủ lực, giải phóng phần lớn vùng đất bằng phía nam Pleiku – Cheoreo, đánh bại kế hoạch “bình định lấn chiếm” của địch, giữ vững và phát huy thế chủ động chiến trường, thực hiện chia cắt chiến dịch…

“Liên tục đánh phá giao thông địch, đánh liên tục sâu vào hậu cứ, cơ quan đầu não, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm cho tiềm lực kinh tế của địch giảm sút nghiêm trọng.

Đẩy mạnh chiến tranh chính trị trong toàn Thị xã, ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, biệt động nội thị diệt gọn ác ôn đầu sỏ, làm chủ cơ sở.

Ra sức xây dựng và củng cố vùng giải phóng, xây dựng mạng đường chiến dịch, hoàn thành công tác thiết bị chiến trường…”.

Trong kế hoạch tiến công xuân 1975, Mặt trận Tây Nguyên chủ trương: GiaLai cùng Kon Tum hoạt động nhử địch tập trung về giữ Bắc Tây Nguyên. Nhiệm vụ thứ hai là phải huy động toàn lực lượng phối hợp với quân chủ lực cắt đứt đường 19 thực hiện chia cắt chiến lược giữa Tây Nguyên và đồng bằng, và cắt đứt đường 14, thực hiện đòn chia cắt chiến dịch giữa cụm phòng ngự KonTum và thị xã Pleiku.

Thực hiện nhiệm vụ trên, tiểu đoàn 67, tiểu đoàn 12 bộ binh, tiểu đoàn đặc công 408 tập trung về hướng đông nam và đông bắc thị xã, áp sát các vùng ven thị xã, các căn cứ quân sự đầu não của Quân khu 2 ngụy, đặc biệt sẵn sàng tiêu diệt toàn bộ bộ máy kìm kẹp vùng đông nam thị xã sát ngã ba Mỹ Thạch, đông và tây dọc đường 14.

Tiểu đoàn 2 bộ binh, các đại đội công binh 17, 18, Đại đội hỏa lực tỉnh áp sát đường 19 phối hợp với Trung đoàn 95 hoạt động đông và tây đèo Mang Yang, thực hiện diệt chốt địch, cắt vận chuyển giao thông.

Cơ quan tiền phương Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy Tỉnh đội tập trung về vị trí Trung tâm ở huyện 3 để trực tiếp thống nhất chỉ đạo, chỉ huy và sẵn sàng đón thời cơ mới do cấp trên qui định. Khu vực trọng điểm phía đông thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Phan Anh Tuấn Tỉnh ủy viên, Chính trị viên phó Tỉnh đội và đồng chí Đặng Hữu Đĩnh Phó tham mưu trưởng cùng các bộ phận hỏa lực, đặc công trinh sát hiệp đồng cùng bộ phận của Sư đoàn 3 Quân khu V tổ chức hiệp đồng chiến đấu giải phóng vùng An Túc (An Khê) và toàn bộ vùng nông thôn phía đông tỉnh.

Phương án tác chiến cơ bản của Tỉnh đã xác định: Tổ chức hiệp đồng với các đơn vị chủ lực Tây Nguyên và Quân khu V đã hình thành. Các lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong Tỉnh với khí thế quyết thắng vượt lên khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử này.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:07:33 am
CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN MỞ MÀN

Hướng tây GiaLai, ngày 1 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 968 từ trước đã thực hiện hút địch về phía bắc Tây Nguyên, nay đã sử dụng lực lượng với những quy mô thích hợp cho từng mục tiêu và vận dụng cách đánh có bài bản đã nổ súng tiến công tuyến phòng thủ của địch ở phía tây nam thị xã Pleiku. Lực lượng địa phương Khu 4 và khu 5 phối hợp chặt chẽ với chủ lực áp sát vào trục giao thông, các điểm chốt lẻ. Sư đoàn đã cùng một thời gian đánh các cứ điểm địch ở ngoại vi quận lỵ Thanh An bứt rứt đồn Tầm, đánh chiếm dãy cao điểm Chư Tân KơRa, Chư Gôi, mõm 605, huy hiếp mạnh Thanh Bình, Thanh An phía tây nam Thị xã Pleiku. Bộ đội huyện 4 tổ chức đánh vào phía tây thị xã, làm trận địa pháo nghi binh, huy động hàng ngàn đồng bào dân tộc rầm rộ làm đường.

Trước khí thế rầm rộ tấn công hoạt động nghi binh của lực lượng ta, ngày 3 tháng 3, địch vội vã rút Trung đoàn ngụy 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga, Thuận Mẫn rở về Thanh An để đối phó. Trung đoàn ngụy số 44 (Sư đoàn 23) bị tiêu hao nặng buộc nằm chết gí ở khu vực Pleiku.

Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3, ta bắt đầu thực hiện đòn tấn công chia cắt chiến lược trên đường 19. Trung đoàn 95 (a) cùng với các Đại đội công binh 17, 18 và Tiểu đoàn 2 của tỉnh phối hợp tấn công tiêu diệt hệ thống đồn bót địch từ ngã ba Plei Bông đến ấp Phù Yên, Hà Ra, cắt đứt đoạn đèo Mang Yang đến cầu Ayun dài trên 20 kilômét. Cầu Ayun, một chiếc cầu tương đối lớn quan trọng trên đoạn đường 19 đã bị công binh đánh sập.

Ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 Quân khu 5 dù có nhiều khó khăn về quân số và bảo đảm hậu cần đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, tích cực phối hợp đánh cắt đường 19, từ đèo Thượng An (An Khê) đến cầu số 13, chiếm 9 lô cốt dọc giao thông, diệt 2 đại đội và cơ quan tiểu đoàn bộ của Tiểu đoàn 1 – Trung đoàn 47, bắt 20 tù binh, thu nhiều vũ khí, làm chủ hoàn toàn đoạn đường trên.

Quận lỵ An Túc (An Khê) lúc này như hòn đảo chơ vơ cô lập giữa biển chiến tranh nhân dân. Tuy vậy bọn ngụy quân ngụy quyền và hệ thống dồn bót chung quanh áng binh cố thủ, bất động hy vọng chờ quân tiếp viện đến. Phía nam, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, Trung đoàn 25 cắt đường số 21, đoạn Cư Cúc, đến ngày 8 tháng 3 một bộ phận của Sư đoàn 320 tiêu diệt quận lỵ Thuận Mẫn cắt đường số 14 đoạn bắc Cẩm Ga.

Thế là lực lượng ta cơ bản đã cài xong thế trận được hình thành đúng như mưu kế, đạt được cả ba thế chia cắt: cắt đường số 19, đường số 21 và đường số 14.

Tranh thủ thời cơ địch đưa các đơn vị chủ lực ra giải tỏa các đường 19, 14, phía tây Pleiku, Tiểu đoàn 67 và Tiểu đoàn 12, đại đội huyện 6, huyện 5 đã đánh mạnh vào các bộ phận quân bảo an đang chốt giữ các ấp chiến lược, hai bên đường 14 sát nách phía nam Thị xã. Du kích xã B1, B2, B3 đánh địch gác đường từ Ta Wơn, Hà Reng đến làng Ia Krai thuộc phía bắc Khu 4. Đại đội công binh 19 phối hợp cùng chủ lực Sư đoàn 968 đánh diệt chốt làng Yịt. Tiểu đoàn đặc công 408, đại đội ĐKB pháo kích mạnh vào căn cứ Quân đoàn 2 ngụy, phá dàn ra-đa vô tuyến viễn thông, tập kích vào sân bay Cù Hanh, phá hủy máy bay nhà cửa trong căn cứ của địch.

Trên đường 19, Trung đoàn 95, Tiểu đoàn 2 đã liên tiếp đánh lui các đợt phản kích của Liên đoàn biệt động số 4 và Thiết đoàn 3 thiết giáp, diệt 2 chi đoàn bọc thép. Lúc này địch tập trung đối phó hướng Pleiku và trên đường số 19, hướng chống cự mạnh nhất là phía tây thị xã đồng thời chúng kết hợp với phản kích để giải tỏa giao thông ở hướng đèo Mang Yang. Hướng đông đèo An Khê, địch điều 2 Trung đoàn của Sư đoàn bộ binh 2 từ bắc Bình Định cơ động đến phản kích để giải tỏa đèo Thượng An. Nhưng tất cả các cố gắng của địch đều bị lực lượng ta ở các hướng đó đánh bại.

Tiểu đoàn đặc công 408 lại tập kích và trận địa phòng ngự của địch ở phía tây nam thị xã, làm cho tuyến phòng ngự của địch bị co lại. Đại đội 231ĐKB liên tục đánh phá vào sân bay Cù Hanh để làm giảm tác dụng đi đến triệt để phá vây cắt vận chuyển tiếp tế của địch, phối hợp với vây cắt đường bộ làm cho tình thế địch thêm khốn đốn.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:08:44 am
Các hoạt động những ngày đầu tháng 3 năm 1975 tạo thế chia cắt chiến địch đã cơ bản thực hiện. Con đường huyết mạch giao lưu từ đồng bằng lên Tây nguyên bị cắt đứt nhiều đoạn, cộng với đường 21 và đường 14 cũng bị cắt, khu vực phòng thủ Pleiku và Kon Tun, trong đó có cơ quan chỉ huy Quân đoàn II ngụy hoàn toàn bị cô lập, nên địch vẫn khẳng định hướng chính của chúng phải đối phó là Kon Tum và Pleiku. Con đường chiến lược số 19, 21, 14 bị ta cắt, chúng cũng cho chỉ là những hoạt động phối hợp(1).

Các đơn vị của Sư đoàn 320 đã bám sát đường 14 từ khu vực Cẩm Ga trở ra. Sáu giờ 15 phút ngày 7 tháng 3, một đơn vị nhỏ của Sư đoàn 320 bao vây tiến công cứ điểm Chư Sê, sau 40 phút chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn một trung đội địch. Cùng với đánh diệt cứ điểm Chư Sê, ở phía nam bộ đội ta đã tiêu diệt cứ điểm Cầm Ga. Đánh thắng hai cứ điểm này có tác dụng rất tốt làm cho quân địch càng hoang mang, lúng túng, tạo cho bộ đội ta thêm thời cơ thuận lợi. Lúc này các chốt bảo an, dân vệ chốt giữ dọc đường số 7 từ Chư Sê đến Mỹ Thạch, Phú Quang ra đến Phú Mỹ hoàn toàn tan rã.

Nhìn chung quá trình mở màng chiến dịch, thế trận ta đã hình thành vững chắc, ta đánh chia cắt tốt, cài thế bao vây chắc, hoạt động nghi binh khôn khéo, hiệp đồng phát động quần chúng phá ấp chiến lược nhịp nhàng, thu hút được địch dồn về hướng Pleiku – Kon Tum, giữ được chân chúng ở đó. Các ấp chiến lược đã nổi dậy phá rã toàn bộ bộ máy kìm kẹp và lực lượng địa phương quân, tạo ra thời cơ thuận lợi cho chiến dịch. Mặt trận chính ở Buôn Mê Thuột ta đang nắm chắc quyền chủ động và tạo điều kiện thực hiện chiến công đánh các trận then chốt đã chín muồi, ta có thể thực hiện theo đúng kế hoạch.

Theo đúng lược đồ phương án tác chiến, từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 các lực lượng thuộc Bộ Chỉ Huy chiến dịch Tây Nguyên đồng loạt tấn công vào thị xã Buôn Mê Thuột. Qua các trận đánh vô cùng dũng cảm, táo bạo, quyết liệt của các đơn vị binh chủng hợp thành, các hướng, các mũi hiệp đồng chặt chẽ, xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Qua một ngày đầu chiến đấu quyết liệt, quân ta đã chiếm hết các mục tiêu địch và một phần quan trọng của căn cứ Sư đoàn 24 ngụy. Đêm 10 tháng 3, quân ta đã tổ chức hiệp đồng giữa các mũi và các binh chủng để sáng 11 tháng 3 thực hành cuộc công kích mới mạnh mẽ vào mục tiêu quyết định cuối cùng là cơ quan chỉ huy hành quân của Sư đoàn bộ 23 ngụy.

Đúng 9 giờ ngày 11 tháng 3 xe tăng ta phá vỡ hầm chỉ huy cơ cơ quan hành quân Sư đoàn 23, mặc cho địch điên cuồng huy động 47 lần chiếc máy bay đến oanh tạc ném bom, nhưng bị quân ta bắn trả, yểm trợ cho bộ binh, cơ giới tiến công. Đúng 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975, ngọn cờ chiến thắng của quân ta đã phấp phới bay trên nóc hầm chỉ huy của Sư đoàn 23 ngụy.

Đến đây, trận tấn công thị xã Buôn Mê Thuột đã kết thúc. Quân ta đã giành được thắng lợi giòn giã.

Ngày 12 tháng 3, quân ngụy vội vã điều các trung đoàn 44, 45 và liên đoàn Biệt động từ Biên Hòa lên Pleiku và các đơn vị từ Pleiku vào Buôn Mê Thuột để phản kích tái chiếm Buôn Mê Thuột. Nhưng trước thế tiến công, chống trả của bộ đội ta, từ chỗ đến tăng viện để phản kích, quân tiếp viện trở thành kẻ bị bao vây.

Cùng thời gian trên, ngày 12 tháng 3 ở hướng tây nam Pleiku, ta diệt hai chốt điểm và áp sát vào Thanh Bình, uy hiếp quận lỵ Thanh An. Trên đường 14, bộ đội huyện 4 và du kích các xã phía bắc huyện cùng Tiểu đoàn 631 đánh cắt giao thông từ cầu Ia Tôwe đến Hà Reng, đại đội 231ĐKB tiếp tục pháo kích vào sân bay Cù Hanh giữa ban ngày Tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 67 phá ấp giải phóng dân toàn bộ khu vực đông nam Thị xã Pleiku.

Ngày 13 tháng 3, Tiểu đoàn 2 cùng đại đội 16, Trung đoàn 95 tiêu diệt cụm địch ở ngã ba Plei Bông, liên tục đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt hai chi đoàn thiết giáp, phát triển xuống chiếm khu vực đèo Mang Yang làm chủ đoạn đường hiểm yếu này.

Như vậy, nhiệm vụ bước đầu của chiến dịch Tây Nguyên đã đạt kết quả tốt. Chiến thắng Buôn Mê Thuột đã mở đầu nhanh gọn, giòn giã. Là một đòn hiểm, rất đau, một đòn trí mạng khiến địch không sao gượng dậy được. Đó là một trận then chốt và cũng là một thắng lợi then chốt của chiến dịch. Ở Gia Lai, địch co về gữ thị xã, quận lỵ. Quần chúng nhân dân vùng nông thôn ven thị được giải phóng, nhân dân nội thị công khai bàn tán về chiến thắng của cách mạng, ngụy quân, ngụy quyền hoang mang cực độ.


(1) Bộ Tổng tham mưu ngụy và cơ quan CIA Mỹ cùng thống nhất nhận định như vậy


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:10:13 am
*   *
*

ĐỊCH THÁO CHẠY KHỎI KON TUM VÀ GIALAI
TÌNH GIALAI HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG

Sau đòn thứ hai: đập tan cuộc phản kích kết thúc số phận Sư đoàn 23 ngụy là đến đòn truy kích diệt toàn bộ quân địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên, chủ yếu là lực lượng quân đoàn 2 ngụy đang khốn đốn tại Kon Tum và Pleiku.

Ngày 12 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương dự kiến: “Địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, Thị xã Buôn Mê Thuột, nhiều quận lỵ khác bị mất, đường 19 chiến lược bị cắt, thì lực lượng còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Pleiku và cũng có thể buộc chúng phải rút lui chiến lược…”

Dự kiến của Trung ương hoàn toàn chính xác, nhạy bén, rất kịp thời. Trước sức tấn công dồn dập, mạnh mẽ của quân ta trên khắp mặt trận, quả nhiên sáng ngày 14 tháng 3 bọn đầu sỏ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn hốt hoảng đến Cam Ranh ra lệnh cho tư lệnh Quân khu 2 rút bỏ Tây Nguyện. Cụ thể của chiến dịch cay đắng và gấp rút này là rút bỏ toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2 còn lại ở Kon Tum và Pleiku nhằm tránh bị quân ta tiêu diệt, co về giữ đồng bằng. Ngày 15 tháng 3, Phạm Văn Phú vội vàng cho sở chỉ huy Quân đoàn 2 ở Pleiku chuồn trước bằng máy bay lên thẳng về Nha Trang. Tiếp đến cuộc tháo chạy lớn bằng đường bộ. Đường 14 và 19 bị quân ta cắt đứt. Chúng chỉ còn cách đánh liều mở đường máy tháo chạy theo con đường số 7 từ Pleiku đến Mỹ Thạch về Phú Thiện, qua thị xã Cheo Reo về Củng Sơn – Tuy Hòa. Con đường này cũ, hẹp, bị bỏ hoang lâu ngày vì du kích của ta hoạt động mạnh. Lực lượng địch rút chạy tổng cộng 27 đầu mối đơn vị(1) và tàn quân ở các nơi chạy về. Ngoài ra trên đường rút chạy còn có các lực lượng bảo an, biệt kích, dân vệ đồn trú trong các thị trấn, quận lỵ từ Phú Thiện đến Củng Sơn. Quyết tâm tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch từ Pleiku, Kon Tum về Cheo Reo, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng vào trận đánh gồm Sư đoàn 320, Trung đoàn 95, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn pháo binh. Các hướng, các địa phương từ nam Pleiku trở vào cũng tiếp tục đẩy mạnh đà tiến công của mình để tiêu diệt địch. Tại hướng Pleiku, Sư đoàn 968, các tiểu đoàn bộ binh, tiểu đoàn đặc công 408, đại đội hỏa lực của tỉnh GiaLai tiến nhanh vào thị xã Pleiku, vượt qua các vị trí dọc đường để bám sát đội hình rút chạy của địch từ phía sau đánh tới. Ngày 16 tháng 3 các đơn vị địch lử Kon Tum rút chạy. Ngày 17 tháng 3, quân địch ở GiaLai bắt đầu rút. Thế nhưng, bắt nguồn từ sự choáng váng rối loạn về chiến lược sau đòn hiểm Buôn Mê Thuột, cuộc rút chạy bỏ Tây Nguyên đã diễn ra hoàn toàn trái ngược với mong muốn “có tổ chức, có chỉ huy và tuyệt đối bí mật” như kế hoạch chúng đề ra, mà chỉ là một cuộc tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân thất bại thảm hại.

Các đơn vị chủ lực, bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích thuộc khu vực đông huyện 5, huyện 6 cùng huyện 11 theo trục đường 7 đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực để truy kích diệt địch.

Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 hành quân suốt đêm từ 22 giờ ngày 16 tháng 3 đến 11 giờ ngày 17 tháng 3, anh em du kích đốt đuốc dẫn ra đến mặt đường 7, tuy một bộ phận địch chạy đầu đã đi lọt, anh em đã lập tức tổ chức chốt chặn. Đến 16 giờ ngày 17 tháng 3 đã nả súng tiêu diệt 8 xe chở bộ binh địch. Tiếp sau toàn bộ trung đoàn 64 đã vào trận, từ đấy không một tên địch nào lọt qua trận địa chốt của ta. Vừa chốt chặn, vừa tranh thủ chuẩn bị hợp đồng tiến công vào khu chiến Cheo Reo.

Cùng thời gian, Trung đoàn 48 đưa đội hình vào sát sân bay Cheo Reo, một bộ phận ra chốt cắt đường 7 cách đông nam Cheo Reo 3 kilômét.

Sáng 17 tháng 3 tại Phú Nhơn, du kích các xã E14, E15, xã IaKo phát hiện thấy địch ở Kênh Sâm sắp tháo chạy, anh em kịp báo cho Trung đoàn 9 tiêu diệt ngay số địch ở đấy, số sống sót chạy về Phú Nhơn. Tiểu đoàn 12 bộ đội huyện 5 đã đến ngã ba Mỹ Thạch. Sang sáng ngày 18 tháng 3 áp sát quận lỵ Phú Thiện, chiếm lĩnh khu vực đèo Chư Sê.


(1) Lực lượng địch rút chạy gồm có: 6 liên đoàn biệt động quân; Lữ đoàn kỵ binh số 2 và 3 thiết đoàn 19, 21, 3; 6 tiểu đoàn pháo binh (có một tiểu đoàn pháo 175 ly): 1 tiểu đoàn của trung đoàn 44; tiểu đoàn 89 của liên đoàn 21; cơ quan Quân đoàn 2; 2 liên đoàn bảo an của Kon Tum và Pleiku; bộ phận sĩ quan của Sư đoàn 6 không quân.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:10:59 am
Tại khu chiến Cheo Reo, sáng 18 tháng 3 các đơn vị ta đã bao vây chặt các hướng quanh thị xã. Đúng 11 giờ pháo binh ta tập trung nã vào trung tâm Cheo Reo, trúng nhiều mục tiêu, nhiều xe địch bốc cháy, quân địch hốt hoảng tháo chạy thục mạng. Đến 17 giờ, ta phát hiện địch ở khu sân bay tháo chạy, bộ binh ta lập tức xung phong đánh chiếm sân bay, 18 giờ 30 ta hoàn toàn làm chủ sân bay đánh tan Liên đoàn biệt động số 28 ngụy.

Số còn lại co cụm trong thị xã Cheo Reo, pháo binh và bộ binh ta hiệp đồng chặt chẽ, đến 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3 quân ta tiến công giải phóng hoàn toàn Thị xã, Cheo Reo bị thất thủ, ta đánh chiếm quận lỵ Phú Thiện. Một số xe tăng bộ binh tháo chạy, ta dùng pháo bắn chặn diệt nốt số tàn quân này cả xe và bộ binh.

Tàn quân địch ở sân bay Cheo Reo chạy xuống chốt tại Ơi Nu bị quân và dân huyện KrôngPa đánh bật chúng trở lại bám vào đèo Tân A. Đến 13 giờ ngày 19 tháng 3 bộ đội ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Một số luồn rừng tháo chạy về đồng bằng.

Trong 3 ngày liên tục chiến đấu từ 17 đến 19 tháng 3, Sư đoàn 320 cùng quân và dân Gialai, chủ yếu là các đơn vị dọc trục số 7 đã phối hợp chặt chẽ tiến công tiêu diệt địch, bắt sống, gọi hàng hơn 13.000 tên địch, thu và phá hủy hàng ngàn xe các loại, thu gần 4.000 súng, pháo các loại, rất nhiều phương tiện, khí tài. Cả một vùng rộng lớn từ Phú Nhơn, Ngã ba Mỹ thạch, quận Phú Thiện, Thị xã Cheo Reo đến Ơi Nu, Phú Túc hàng mấy vạn dân được giải phóng.

Sáng 17 tháng 3, Trung đoàn 29 thuộc Sư đoàn 968, Trung đoàn 95, các tiểu đoàn 2, 67, 408, đại đội pháo ĐKB 231 cùng các cơ quan tỉnh vào giải phóng thị xã Pleiku.

Ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 19 và bộ đội huyện 5 vào giải phóng quận lỵ Thanh An.

Ngày 23 tháng 3, một bộ phận Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3 Quân khu 5), cơ quan tiền phương tỉnh, các phân đội chuyên môn, bộ đội, cơ quan các ban ngành huyện 8 vào giải phóng huyện An Túc (An Khê). Bộ đội các huyện 2, huyện 7 và lực lượng tỉnh kiểm soát, tảo trừ bọn địch các cứ điểm Cửu An, Tú Thủy, sân bay Cây Me Tân Tạo. Trên ba chục ngàn dân tại Thị trấn An Khê và vùng nông thôn quanh thị trấn được hoàn toàn giải phóng.

Ngày 17 tháng 3 năm 1975, tỉnh Gialai được giải phóng. Từ một tỉnh bị địch kiểm soát, chiếm đóng khống chế, nay được hoàn toàn giải phóng, trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường Miền Nam Việt Nam có trách nhiệm chi viện cho các chiến dịch tiến công và nổi dậy để phát triển thế tấn công chiến lược góp phần vào sự nghiệp giải phóng toàn Miền Nam.

“Tiến lên
   Toàn thắng ắt về ta!”


Lời thơ bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại kính yếu trong Xuân 1968 đã thành hiện thực.

Trước sức tấn công thần tốc, vũ bảo của quân và dân ta, mọi chiến trường, mọi hướng, mọi địa phương dồn vào phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng.

Thần tốc, táo bạo! Năm cánh quân của ta như năm mũi dao nhọn lao lên cắm thẳng vào thủ đô Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của chính phủ bù nhìn tay sai đế quốc Mỹ. Mọi sự kháng cự cuối cùng của địch đều nhanh chóng bị đập tan.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cờ chiến thắng của Đảng, của dân tộc và quân đội ta đã phất cao trên nóc dinh “độc lập”. Đây là thời điểm báo hiệu sự cáo chung của chế độ tay sai đế quốc Mỹ xâm lược.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng! Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân đã toàn thắng.

Cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã toàn thắng..


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:11:35 am
(https://scontent.fhan2-4.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-9/87346260_220869209098307_373636543862013952_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=_RhJ-Ha_uzEAX8ihpGw&_nc_ht=scontent.fhan2-4.fna&oh=d7d2419f1c446050b6329dd4384f2027&oe=5F0007FA)


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:12:57 am
KÉT LUẬN

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, tài giỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt 30 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Quân và dân GiaLai rất tự hào đã góp phần cùng nhân dân toàn Miền và cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên Độc lập, Tự do, thống nhất Tổ quốc, từng bước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Gia Lai là tỉnh miền núi, đồng bào các dân tộc ở đại bộ phận nông thôn bao quanh các nhóm dân cư người Kinh ở Thị xã, các thị trấn và dọc các trục giao thông. Đồng bào Kinh cũng như dân tộc trên địa bàn tỉnh có mức sống còn quá thấp, lao động vất vả, thường xuyên thiếu đói. Nền kinh tế trong tỉnh còn lạc hậu, chủ yếu sản xuất nông nghiệp, du canh. Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp chưa phát triển. Tiềm năng kinh tế - xã hội chưa được khai thác, còn nhiều hạn chế trong huy động phục vụ kháng chiến.

Nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống chống ngoại xâm, nhưng trước Cách mạng tháng Tám chưa có tổ chức Đảng Cộng sản, chỉ mới hình thành tổ chức quần chúng yêu nước; gần sát thời gian khởi nghĩa các tổ chức quần chúng mới tiếp thu chương trình hoạt động của Mặt trận Việt Minh.

Từ tháng Tám năm 1945 đến tháng 4 năm 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân Gia Lai đã trải qua chặng đường lịch sử vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng đã giành được thắng lợi vẻ vang.

Thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân 30 năm trên địa bàn Gia Lai là thắng lợi tổng hợp của nhiều yếu tố tạo thành, bắt nguồn từ đường lối chiến lược của chiến tranh nhân dân, sự chỉ đạo về phương châm, phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, kết hợp sức mạnh của dân tộc được phát huy cao độ với sức mạnh của thời đại trong cuộc chiến tranh nhân dân vô địch, mà nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân.

Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Gia Lai, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, sinh ra và lớn lên trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, có sự chi viện to lớn của Trung ương và các tỉnh Nam Trung Bộ. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, được sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh, được sự đùm bọc, chăm sóc của nhân dân các dân tộc, lực lượng vũ trang tỉnh đã đoàn kết chiến đấu, phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với lực lượng chủ lực đã từng bước trưởng thành qua từng giai đoạn cách mạng.

Từ những ngày đầu, lực lượng vũ trang tỉnh trang bị còn thô sơ, thiếu thốn. Với số ít súng thu được của địch trong những ngày khởi nghĩa, còn phần nhiều là gậy gộc, giáo mác. Nhiều chiến sĩ đầu trần chân đất, anh em dân tộc đa phần mặc áo ló, đóng khố. Lương thực thiếu thốn, quyên góp trong dân, có lúc bộ đội phải ăn củ rừng thay cơm và có lần phải ăn tro tranh thay muối. Khó khăn vô vàn chống chất, nhưng được Đảng bộ chỉ đạo, chính quyền và Mặt trận Việt Minh hướng dẫn, nhân dân nuôi dưỡng, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang ra sức khắc phục khó khăn, từ những ngày đầu cuộc kháng chiến đã dũng cảm chiến đấu ngăn chặn từng bước tiến công của địch.

Chưa đầy một năm sau khởi nghĩa, tỉnh Gia Lai bị địch chiếm đóng, trở thành chiến trường hậu địch. Từ trong lăn lõi, hoạt động, chiến đấu, xây dựng từng người dân, từng tổ chức cơ sở cách mạng, bốn bề quân thù vây ép, đói cơm, lạt muối, núi rừng hiểm trở, phong tục tập quán, tiếng nói dân tộc chưa thạo, cán bộ và chiến sĩ người Kinh đã hòa mình với anh em dân tộc xây dựng những đội vũ trang công tác, đội vũ trang tuyên truyền, ban xung phong len lỏi trong đồng bào vận động nhân dân các dân tộc đứng lên đánh giặc, giữ làng. Từ đó, xây dựng những đội tự vệ, đội du kích ngày càng trưởng thành, tiến lên xây dựng các đơn vị tập trung huyện, tỉnh, đẩy phong trào chiến tranh nhân dân trong tỉnh lên cao góp phần cùng bộ đội chủ lực giải phóng gần hết tỉnh Gia Lai trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thực dân Pháp rút đi, đế quốc Mỹ nhảy vào. Cuộc kháng chiến chống kẻ thù mới, nguy hiểm hơn của nhân dân trong tỉnh bắt đầu. Từ đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang để khôi phục, củng cố phong trào, xây dựng và giữ vững căn cứ địa miền núi.

Chiến tranh du kích ngày càng phát triển, từ những đội tự vệ sống trong lòng dân đã nhanh chóng hình thành các đơn vị tập trung từ nhỏ đến lớn, có các binh chủng chuyên môn kỹ thuật, đưa trình độ chiến đấu ngày càng cao, phối hợp với chủ lực Tây nguyên và Quân khu V lập được nhiều chiến công to lớn.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:14:01 am
Chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ không những chỉ bằng vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, mà còn bằng vũ khí thô sơ với những mũi chông căm thù, mũi tên thuốc độc, cộng với mưu trí thiết lập “những vành đai diệt Mỹ”, những chiến dịch đánh cắt giao thông, bắn máy bay rộng khắp, tạo nên sức mạnh tổng hợp với đấu tranh chính trị, tiến công binh, tề địch vận, ba mũi giáp công đã đập nát tấm áo giáp sắt của tên hung nô thời đại (đế quốc Mỹ).

Thấm nhuần tư tưởng “lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy tinh nhuệ thắng ô hợp”, quân dân Gia Lai đã cùng mặt trận Tây Nguyên, Quân khu V chiến đấu giành thắng lợi trong các đợt tấn công và nổi dậy Xuân 1968, Xuân 1972 và Xuân 1975, góp phần cùng cả nước kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Trên chặng đường chiến đấu 30 năm, lực lượng vũ trang tỉnh dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ đã trải qua nhiều giai đoạn vô cùng khó khăn phức tạp trong điều kiện xây dựng, chiến đấu của chiến trường hậu địch. Nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các lực lượng vũ trang tỉnh lại phải đối chọi với một kẻ thù hung bạo, có lực lượng quân sự đông hơn, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn gấp nhiều lần; còn các lực lượng vũ trang tỉnh phải xây dựng và chiến đấu trong hoàn cảnh thường xuyên thiếu thốn mọi mặt.

Xuất phát từ vị trí, đặc điểm của tỉnh, từ âm mưu và hành động cụ thể của địch, từ thực tế tình hình, trong điều kiện hoàn cảnh kinh tế, văn hóa còn thấp đã xây dựng nên phong trào cách mạng của nhân dân và hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang tỉnh qua từng giai đoạn cách mạng; cộng với học tập kinh nghiệm các chiến trường tỉnh bạn, cuộc đấu tranh nhân dân của tỉnh đã đúc kết được những điểm nổi bật làm bài học thiết thực đưa đến thắng lợi cho tỉnh:

Trước hết quân và dân trong tỉnh phải nắm vững đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính do Đảng ta lãnh đạo mà vận dụng vào địa bàn tỉnh với quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” mà động viên, giáo dục, phát huy truyền thống đoàn kết đấu tranh; với tinh thần thượng võ quật khởi của nhân dân các dân tộc, một lòng một dạ tin vào Đảng, tin vào Bác Hồ kiên quyết đứng lên chống giặc xâm lược. Từ những ngày đầu kháng chiến, nhân dân đã xây dựng chiến khu Xóm Ké, Gia Hội, làng kháng chiến Sơ Tơr, khu du kích Đak Bơt, Đé Đoa tiến lên lập khu du kích, khu căn cứ, vùng căn cứ rộng lớn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang lập “Vành đai diệt Mỹ” sáng tạo thích hợp với địa hình rừng núi hiểm trở; cùng với loại “vành đai diệt Mỹ” trên vùng đất bằng, đồi trọc, sát nách căn cứ quân sự Mỹ; đã liên tục bám trụ tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng, “bóp nghẹt dạ dày”, “thắt cổ giao thông” bằng các chiến dịch đánh cắt giao thông vận chuyển của địch; Kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, tiến công binh tề vận, vây hãm địch trong các căn cứ quân sự.

Quân và dân Gia Lai đã sớm phát huy thế mạnh hiện có là vũ khí thô sơ và tự tạo, nhờ đó mà xây dựng được nhiều làng, xã chiến đấu, lập được nhiều thành tích xuất sắc, là tỉnh có phong trào du kích chiến tranh mạnh của Tây nguyên trong hai cuộc kháng chiến. Là địa bàn chiến lược quân sự thể hiện rõ nét vận dụng có hiệu quả phương châm đấu tranh trên ba vùng (vùng căn cứ rừng núi, vùng nông thôn đất bằng và thị xã quận lỵ) bằng hai cân ba mũi giáp công đánh địch liên tục, không để cho địch tạo ra hai tuyến, vùng trắng để đánh phá ta; Là địa bàn có phong trào du kích chiến tranh đều, mạnh, kết quả chiến đấu của dân quân du kích, trên các mặt đều gấp đôi hay hơn nữa so với thành tích chiến đấu của bộ đội tập trung tỉnh, huyện; đặc biệt có ba tên tướng Mỹ sừng sỏ đã bỏ mạng ở chiến trường Gia Lai do tay súng thiện xạ của dân quân du kích.

Lực lượng vũ trang Gia Lai đã thể hiện lòng trung thành vô hạn của mình đối với Đảng, với nhân dân. Trong quá trình chiến đấu và xây dựng, các lực lượng vũ trang luôn luôn quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo đường lối kháng chiến, nắm vững phương châm, phương pháp cách mạng và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân trong điều kiện chiến trường địch hậu, cũng như trong điều kiện địch có quân đông, phương tiện kỹ thuật hiện đại, nên đã tìm ra cách đánh sáng tạo, thiết thực. Vì vậy, qua hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang đã kết hợp có hiệu quả giữa nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng đánh địch trên cả ba vùng, phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân; kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực, thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch hỗ trợ đắc lực để làm chủ của nhân dân; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài đồng thời biết tạo thời cơ và tiếp thu thời cơ, nắm vững thời cơ giành những thắng lợi trong tiến công và nổi dậy Xuân 1968, 1972 và Xuân 1975 cùng cả nước giành thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:15:31 am
*   *
*

2. Các lực lượng vũ trang nhân dân phải luôn luôn nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng và thể hiện sâu sắc tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng để xây dựng và chiến đấu giành thắng lợi.

Chiến tranh nhân dân là hình thức cao của bạo lực cách mạng. Để tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi, Đảng bộ các cấp từng bước xây dựng thực lực lớn mạnh, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên cả ba vùng chiến lược, thực hiện ba mũi giáp công, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Từ những ngày đầu cách mạng tháng Tám, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nhận thức sâu sắc rằng: Không còn con đường nào khác là phải kiên cường bất khuất, phải cầm vũ khí đứng lên chiến đấu một mất một còn với địch, hy sinh tất cả vì Tổ Quốc, thà chết không trở lại cuộc đời nô lệ, là động cơ thôi thúc các dân tộc trong tỉnh cầm vũ khí xông lên kháng chiến. Tỉnh đã kịp thời chủ trương vũ trang toàn dân, khẩn trương xây dựng đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên là Chi đội Tây Sơn làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh của tỉnh.

Trong những năm giặc Pháp chiếm đóng, cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang đã học tập, vận dụng, nắm vững phương châm, phương pháp hoạt động trong lòng địch; biết tổ chức học tập đánh địch trong điều kiện cụ thể sát hợp chiến trường là tổ chức xây dựng các ban xung phong, đội vũ trang công tác, vũ trang tuyên truyền, các đoàn cán bộ vận động xây dựng chính quyền luồn sâu vào vùng địch để tuyên truyền vận động nhân dân đứng lên đánh giặc, giữ làng.

Những năm giặc Mỹ và tay sai đàn áp khủng bố phong trào cách mạng ở địa bàn tỉnh, chúng huy động tối đa bộ máy cai trị, lực lượng cảnh sát, mật vụ, các lại quân, các đảng phái phản động dùng nhiều thủ đoạn tàn bạo, thâm độc hòng dập tắt phong trào cách mạng. Nhưng Đảng bộ đã chấp hành chủ trương của trên tổ chức lực lượng cán bộ, đảng viên ở lại bám dân, bám địa bàn, xây dựng cơ sở, phát động phong trào đồng khởi giành thắng lợi trên nhiều vùng, đoàn kết nhân dân các dân tộc thành lực lượng cách mạng kiên trì và quyết liệt đấu tranh chống lại các thủ đoạn đàn áp, các biện pháp chiến lược của địch, dấy lên các phong trào đấu tranh chính trị sôi động, biểu hiện cao nhất là các cuộc nổi dậy diệt ác ôn, các phong trào đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống địch cướp đất lập dinh điền, chống địch gom dân lập ấp chiến lược v.v….

Bạo lực cách mạng gồm lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang, với hai hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Vì vậy việc chăm lo giáo dục tinh thần yêu nước xây dựng khối đoàn kết toàn dân, làm cho nhân dân quán triệt nhiệm vụ cách mạng, trên cơ sở đó mà tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địch từ thấp đến cao.

Trên cơ sở phát động cuộc chiến tranh nhân dân, chăm lo lực lượng chính trị lớn mạnh, Đảng bộ không ngừng chăm lo xây dựng các lực lượng vũ trang. Được giáo dục, rèn luyện từng bước theo phương châm vừa xây dựng, vừa chiến đấu, lấy kết quả chiến đấu làm mục tiêu xây dựng, có ba thứ quân đều trưởng thành, đánh độc lập tốt, đánh phối hợp với bộ đội chủ lực cũng tốt, kết hợp tiến công tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh.

Nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng với hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên cả ba vùng chiến lược, thực hiện ba mũi giáp công, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực là vấn đề cơ bản tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh bại lực lượng quân sự địch trên chiến trường. Là quan điểm cơ bản xuyên suốt của Đảng ta trong đấu tranh cách mạng và tiến hành chiến tranh giải phóng. Vì vậy, nơi nào, lúc nào lơ là hoặc buông lỏng bạo lực cách mạng thì nơi đó sẽ gặp khó khăn, không tránh khỏi bị tổn thất. Sau hiệp định Pa-ri, một số nơi đã buông lỏng đấu tranh vũ trang, dùng “thương lượng hòa hợp, hòa hoãn” với địch, nhưng càng “hòa hợp”, địch càng lấn chiếm, lấn đất, giành dân, ta gặp nhiều khó khăn. Nghị quyết Trung ương thứ 21 đã chỉ đạo các cấp phải nắm vững quan điểm bạo lực. Mệnh lệnh “đánh trả quân lấn chiếm” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Miền đã phát huy sức mạnh tổng hợp ở từng địa phương kiên quyết đánh trả địch, giành thế chủ động chiến trường.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:16:05 am
*   *
*

3. Luôn luôn nắm vững quan điểm lấy dân làm gốc, bám sát dân, chiến đấu tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ cho dân, xây dựng mở rộng vùng giải phóng kiên quyết đánh bại âm mưu thủ đoạn bình định gom dân lập ấp của địch.

Thực hiện chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ và các tập đoàn phản động tay sai đều ra sức thực hiện các chương trình “bình định”, coi đó là quốc sách, là biện pháp chiến lược hàng đầu chủ yếu, nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng để hòng đánh bại chiến tranh cách mạng.

Đảng bộ và các lực lượng vũ tang nhân dân xác định nhiệm vụ trung tâm, trước mắt và lâu dài là giữ dân, giành dân, làm chủ, mở rộng vùng giải phóng là vấn đề quan trọng nhất, là gốc, là cái trục của toàn bộ phong trào.

Ngay từ đầu, sau những chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” đẫm máu, địch thực hiện kế hoạch Stalay – Taylor bằng gom dân, lập ấp chiến lược. Quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy thực chất là những trại giam khổng lồ để chúng kìm kẹp, kiểm soát, bóc lột nhân dân, biến nơi đó thành nơi cung cấp đội quân đánh thuê của đế quốc Mỹ. Sau thất bại của chiến tranh cục bộ ở Miền Nam Việt Nam, Mỹ - Ngụy coi ấp chiến lược là vấn đề then chốt hàng đầu, là xương sống của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Do đó địch đã tung ra các biện pháp chiến lược “bình định cấp tốc”, “bình định bổ túc”, “bình định có trọng điểm” v.v. hòng gom dân, chiếm đất; Thực chất là cuộc chiến tranh giành dân.

Đối với phong trào cách mạng ở Gia Lai, từ trong kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống giặc Mỹ - tay sai, một chân lý, một quan điểm cơ bản là: Có dân là có tất cả, có dân mới xây dựng được thực lực chính trị, mới có cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, mới xây dựng được cơ sở hậu cần tại chỗ… Nếu mất dân là mất tất cả.

Thực tiễn cuộc chiến tranh nhân dân đã khẳng định – Chỉ có dân, dựa vào dân, đi vào trong dân, cùng với dân bàn bạc, cùng với dân chiến đấu thì mới giữ vững và củng cố được lòng tin của dân, mới có thể thực hiện được nhiệm vụ giữ dân, giành dân, giành quyền làm chủ về tay nhân dân, mới xây dựng và phát triển được lực lượng cơ bản của cách mạng, mới củng cố và mở rộng được khối đoàn kết nhân dân các dân tộc. Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch, cấp trên bám cấp dưới, bám cơ sở. Đó là một trong những bí quyết thành công của Đảng bộ trong tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng.

Những cán bộ, Đảng viên, chiến sĩ đi sâu hoạt động trong vùng địch; những cán bộ, đảng viên trở lại bám chiến trường sau hiệp định Giơ-ne-vơ, có đồng chí cà răng, căng tai, phơi mình trần ngoài nắng cho đen da, để hòa mình, cùng ở, cùng ăn, cùng công tác với dân, học nói thông thạo tiếng dân tộc là những hình ảnh cao đẹp, là biểu hiện phong cách của người chiến sĩ cách mạng quán triệt tinh thần lấy dân làm gốc, dựa hẳn vào dân, tin tưởng nhân dân để xây dựng phong trào cách mạng, giành từng người dân trong vùng địch kiểm soát.

Để phá quốc sách “ấp chiến lược”, chống lại biện pháp “bình định” của địch, Đảng bộ tỉnh xác định là phải có đòn tiến công quân sự mạnh, phải xây dựng lực lượng vũ trang có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi, tiêu diệt được các chốt điểm do các đại đội bảo an của địch đóng giữ, diệt được các “đoàn bình định nông thôn”. Đồng thời phải chú trọng xây dựng được thực lực chính trị của quần chúng ngay trong các ấp chiến lược. Vì sức mạnh của quần chúng là ở tổ chức, phải tích cực kiên trì giáo dục, tổ chức quần chúng, đưa quần chúng ra đấu tranh chống địch từ thấp đến cao, thì khi có đòn tiến công quân sự hỗ trợ, quần chúng mới có thể nổi dậy và nổi dậy thắng lợi và mới giữ vững được thành quả của nổi dậy. Tuyệt đại bộ phận các cuộc nổi dậy phá “ấp chiến lược” đều bùng lên từ trong “ấp chiến lược”.

Những cuộc đấu tranh hợp pháp chống địch, thực hiện hai chân ba mũi giáp công cũng từ hành động cách mạng của nhân dân các dân tộc hàng ngày trong lòng địch vùng lên đấu tranh, nhất là đồng bào ở vùng đất bằng phía tây tỉnh, mà tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của hàng ngàn người ở Plei Yam, Bảo Đức, Ia Sao, Ia Pét ở huyện 4 (Chư Păh), vùng Sung Ia O, Ia Phìn ở huyện 5 (Chư Prông).

Nhận thức sâu sắc việc phá ấp giành dân, giành quyền làm chủ của nhân dân, đánh bại biện pháp “bình định” của địch là vai trò của nhân dân, sự giác ngộ cách mạng của quần chúng, từ đó mà xây dựng cơ sở chính trị mạnh, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang mạnh. Kẻ địch dù có ra sức thực hiện các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt đến đâu cuối cùng cũng phải chịu thất bại trước sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Vai trò quần chúng nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng vô cùng to lớn. Tuy trong hoàn cảnh trình độ sản xuất còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng khi được tiếp thu chủ trương của Đảng, được Mặt trận dân tộc giải phóng động viên, hô hào thì phong trào tham gia hưởng ứng của quần chúng rất mạnh mẽ, sẵn sàng hy sinh đóng góp cho cách mạng, cho chiến thắng quân thù. Dù phải ăn khoai sắn, nhưng hàng năm đồng bào đóng góp cho quỹ cách mạng từ 1000-1200 tấn lương thực, trong đợt tiến công và nổi dậy Xuân 1968, nhân dân Gia Lai góp 1.600 tấn lương thực chỉ để lại lúa làm giống, cho trẻ sơ sinh. Đợt đồng khởi 1960, đồng bào đã quyên góp hàng ngàn nồi, ghè, ching chiêng để ủng hộ Ủy ban Mặt trận, phụ nữ tháo vòng đồng nữ trang đưa cho du kích đúc tên, chông bố phòng đánh giặc.

Đồng bào Jơrai, Bahnar trong vùng địch kiểm soát đã nuôi giấu cán bộ hoạt động, chăm sóc nuôi dưỡng thương binh đánh sâu trong hậu cứ lành bệnh rồi đưa ra căn cứ an toàn. Thanh niên dân tộc tình nguyện nhập ngũ những ngày đồng khởi đã hăng hái lên đường làm nhiệm vụ trong các trung đội của tỉnh, bổ sung cho Khánh Hòa, Đăk Lăk, cho các đơn vị chủ lực liên khu của quận 30, 50 (Tiểu đoàn 30, 50). Điều đó thể hiện sự giác ngộ vượt bậc, nhảy vọt khi có ánh sáng của Đảng đưa đến buôn làng các dân tộc.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:16:40 am
*   *
*

4. Nhận thức việc xây dựng vùng căn cứ địa trên địa bàn tỉnh, có ý nghĩa thực tiễn to lớn, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh.

Đảng bộ, các lực lượng vũ trang tỉnh trải qua 30 năm chiến tranh đã không ngừng xây dựng, củng cố địa bàn tỉnh thành căn cứ địa, hậu phương tại chỗ, bảo đảm, phục vụ chiến đấu cho bản thân lực lượng tỉnh và cho các đơn vị của trên, đó là vấn đề hết sức cơ bản, cấp bách trong chỉ đạo kháng chiến.

Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, tỉnh đã chọn Xóm Ké, Đé Groi, Ya Hội, Sơ Tơr làm chiến khu, và từ năm 1950 trở đi đã hình thành vùng căn cứ rộng lớn khu vực Kon ha nưng làm căn cứ du kích, làm nơi đúng chân cơ quan Tỉnh trực tiếp chỉ đạo phong trào; làm nơi tập kết lực lượng chủ lực Liên khu V tổ chức những chiến dịch tiến công tiêu diệt địch.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Gia Lai là địa bàn chiến lược quan trọng không những đối với bản thân tỉnh, mà còn là vùng căn cứ vững mạnh phát triển nối tiếp Miền Tây các tỉnh đồng bằng, và xây dựng ngày càng lớn mạnh về phía tây thành căn cứ đứng chân vững chắc của Mặt trận Tây Nguyên; là hậu phương tại chỗ vững mạnh làm nhiệm vụ chính trị cơ bản lâu dài. Giặc Mỹ phải lo sợ sự vững mạnh của căn cứ địa Gia Lai, chúng phải ném vào địa bàn này 2 sư đoàn và một lữ đoàn quân chiến đấu Mỹ thiện chiến, một sư đoàn quân Nam Triều Tiên (chư hầu) cùng hàng chục vạn quân ngụy các loại, nhưng đành cam chịu thất bại.

Vấn đề cơ bản, then chốt của căn cứ địa là xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc làm lực lượng chính trị hùng hậu tại chỗ. Đảng bộ, đoàn thể nhân dân được xây dựng vững mạnh trong sạch. Lực lượng vũ trang địa phương quân chủ lực hoạt động trên địa bàn luôn luôn chấp hành tốt các chính sách, nhất là chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo và chính sách, kỷ luật vùng mới giải phóng. Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang phải làm tốt công tác vận động giác ngộ đồng bào các dân tộc, đoàn kết thống nhất, tin tưởng tuyệt đối, trung thành với sự nghiệp cách mạng. Vinh dự, tự hào tại Gia Lai nơi tổ chức “Đại hội đoàn kết đánh Pháp” ngày 19-4-1946 mà Bác Hồ đã gởi thư thăm hỏi, tháng 10 năm 1961 Đại hội đại biểu các dân tộc miền núi Khu V họp thành lập phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên, một bộ phận khăng khít của Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam; thể hiện tiêu biểu cho khối đoàn kết các dân tộc, là căn cứ Gia Lai được xây dựng củng cố vững mạnh.

Gia Lai là căn cứ địa vững chắc, không những chung trong tỉnh, mà trên từng địa bàn huyện cũng đã xây dựng những khu căn cứ bảo đảm cho các cơ quan chỉ đạo Huyện, cho các đơn vị binh chủng chuyên môn, kỹ thuật áp sát thường xuyên tiến công địch như ở Thị 9 (PleiKu) huyện 8 (An Khê) giữ vững được phong trào. Ngay cả các Huyện vùng đất bằng, đồi trống, cơ quan, các đơn vị vũ trang vẫn bám trụ vững chắc, liên tục hoạt động được nhân dân che chở, phục vụ tận tình. Vì vậy việc xây dựng vùng căn cứ địa vững mạnh là phải đi đôi với đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của địch, đảm bảo thuần khiết nội bộ nhân dân.

Vùng căn cứ địa vững mạnh là hậu phương tại chỗ, đảm bảo thực hiện đầy đủ các chính sách hậu phương quân đội, là khu vực hậu cần nhân dân, huy động mọi tiềm lực của dân đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Đi đôi huy động sức dân là phải chăm lo bồi dưỡng, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề kinh tế - xã hội cho dân. Phát động quần chúng nhân dân tăng gia sản xuất tiết kiệm, khai thác các luồng hàng đáp ứng nhu cầu của dân; quan tâm đầy đủ việc cứu đói, cứu đau, cứu lạt cho dân, chống địch phá hoại mùa màng, bao vây kinh tế vùng căn cứ của ta.

Vùng căn cứ địa Gai Lai đã hình thành hệ thống hành lang Trung ương và địa phương vững chắc, luôn luôn đảm bảo an toàn, thông suốt trong suốt cuộc kháng chiến. Con đường hành lang Trung ương Bắc – nam, đường chiến lược 1B (đường mòn Hồ Chí Minh) mặc dù địch đánh phá ác liệt, nhưng chưa đứt một tuyến nào, bảo đảm lương thực, thực phẩm, nghỉ ngơi an toàn cho các đoàn khách lai vãng. Là hệ thống đường đảm bảo vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm có tầm chiến lược, chiến dịch, tiếp thu đầy đủ sự chi viện của Trung ương, cung cấp cho tỉnh và cho chiến trường các tỉnh bạn, nơi tiếp nhận và cung cấp cho quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế.

Vùng căn cứ đã nuôi dưỡng các lực lượng vũ trang và nhân dân qua các thời kỳ kháng chiến, nhất là những thời điểm địch đánh phá ác liệt, thả chất độc hóa học; nhưng các lực lượng vũ trang đã nhận thức đúng đắn công tác hậu cần tại chỗ, sản xuất tự túc. Nơi nào có lực lượng vũ trang trú quân là nơi đó có hàng ngàn rẫy sẵn (mỳ). Nhân dân các dân tộc có “rẫy kháng chiến”, “rẫy cách mạng”, khẩu hiệu “ăn mỳ đánh Mỹ, ăn mỳ thắng Mỹ” đã thấm nhuần trong dân, trong các đơn vị bộ đội, cơ quan dân, chính, Đảng.

Trong điều kiện chiến đấu ác liệt suốt 30 năm, Gia Lai thực sự là vùng căn cứ địa cách mạng đứng vững trước mọi âm mưu đánh phá ác liệt, thâm độc, xảo quyệt của các kẻ thù. Nơi trụ bám kiên cường của các lực lượng vũ trang nhân dân, nơi nuôi dưỡng phong trào cách mạng lúc khó khăn ác liệt, nơi đứng chân của các binh đoàn chủ lực Tây Nguyên, Quân khu V tiến hành tấn công và phản công địch giành nhiều thắng lợi.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:17:30 am
*   *
*

5. Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của phong trào cách mạng và chiến tranh giải phóng ở nước ta.

Thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng của nhân dân ta cũng như trên địa bàn Gia Lai, trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn của Đảng. Không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các giai đoạn chiến tranh, ra sức xây dựng Đảng bộ quân sự vững mạnh về tư tưởng và tổ chức, kiên định đường lối phương châm công tác. Quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường, các cấp lãnh đạo đã vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của địa bàn tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu giành nhiều thắng lợi.

Lực lượng vũ trang luôn luôn tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng bộ, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Đảng bộ để tổ chức thực hiện hoàn thành nhiệm vụ. Từ ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Ban Cán sự Đảng bộ Tây Sơn kịp thời quyết định tổ chức các lực lượng khẩn trương trở lại chiến trường, bám dân, bám đất, đi sâu vào lòng địch, học hỏi, vận dụng xây dựng cơ sở địch hậu. Trên chiến trường hậu địch, đầy khó khăn gian khổ ác liệt Ban Cán Sự GiaKon thực hiện chủ trương thống nhất Quân, Dân, Chính, Đảng, thống nhất chế độ, tất cả hướng về cơ sở đẩy mạnh phong trào nhân dân du kích chiến tranh, nắm vững phương châm, phương pháp hoạt động trong vùng địch hậu. Cán bộ chiến sĩ rèn luyện chiến đấu giỏi, làm tốt công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở. Cán bộ chính trị, chuyên môn các ngành vừa hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn phải bám sát xây dựng cơ sở, phải chăm lo xây dựng làng, xã chiến đấu, biết lãnh đạo nhân dân sản xuất. Đó là điểm sáng tạo trong chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh trên chiến trường địch hậu.

Sức mạnh lãnh đạo của Đảng bộ Gia Lai là luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quần chúng, với đồng bào các dân tộc. Nắm vững chính sách dân tộc của Đảng, trụ bám sâu sát trong quần chúng. Khẩn trương kịp thời tổ chức lực lượng trụ bám chiến trường trong bước ngoặt của cuộc chiến tranh sau hiệp định Giơnevơ, nhanh chóng hòa mình len lõi hoạt động trong quần chúng nhân dân các dân tộc. Nhờ bám sát tồn tại ngay trong quần chúng mà cán bộ, đảng viên lãnh đạo các cấp đã nắm được địch, hiểu được các âm mưu thủ đoạn của địch, phát huy được trí thông minh, tài năng đánh giặc phát huy to lớn lực lượng quần chúng trong đấu tranh chính trị, tiến công binh vận, thực hiện đấu tranh hai chân, ba mũi giáp công đánh địch.

Đảng bộ đã quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang lực lượng chính trị cả về tư tưởng và tổ chức. Thường xuyên kiện toàn các tổ chức Đảng, xây dựng trong sạch vững mạnh, chăm lo nâng cao năng lực lãnh đạo của chi bộ, cấp ủy Đảng, thường xuyên tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, xem đó là khâu quyết định thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ của Đảng trên chiến trường. Tỉnh ủy quyết định cử nhiều cán bộ Đảng có phẩm chất, năng lực sang chỉ huy, chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tỉnh, Huyện, Phó Bí thư tỉnh ủy sang làm chính trị viên Tỉnh đội, Bí thư Huyện ủy làm chính trị viên Huyện, Thị đội. Nhiều Tỉnh ủy viên người dân tộc sang làm Huyện đội trưởng, Huyện đội phó, chính trị viên phó Huyện đội. Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy, bí thư chi bộ luôn luôn nắm chắc chất lượng dân quân tự vệ cơ sở và bộ đội địa phương tỉnh, huyện. Đội ngũ nữ trợ lý dân quân người dân tộc được bổ sung đầy đủ ở Ban Dân Quân tỉnh và trợ lý các Huyện đội. Trên cơ sở đó mà tỉnh thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang cơ sở.

Trong chỉ đạo cụ thể, Tỉnh ủy, Ban Cán sự Tỉnh đội đặt đúng vị trí vai trò cán bộ dân tộc để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng ngày một đông đảo, trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến. Đội ngũ cán bộ dân tộc hoàn thành các nhiệm vụ trên các cương vị được phân công.

Sức mạnh lãnh đạo của Đảng bộ còn ở chỗ tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên luôn luôn giữ vững và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, nêu cao khí tiết cách mạng trước kẻ thù như Bok Wưu, đồng chí Đei bí thư Chi bộ, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, tận tụy hy sinh chiến đấu như liệt sĩ Y Đôn vượt qua khó khăn hoàn thành nhiệm vụ.

Được Đảng bộ trực tiếp lãnh đạo, xây dựng trong chiến đấu công tác các lực lượng vũ trang tỉnh đã hòa mình trong cuộc kháng chiến toàn dân, là những chiến sĩ chiến đấu giỏi, công tác vận động quần chúng tốt, tăng gia sản xuất tự túc thu nhiều kết quả. Thường xuyên duy trì tốt cuộc vận động rèn luyện xây dựng chi bộ 4 tốt, Đảng viên 4 tốt, đẩy mạnh cuộc vận động học tập, sinh hoạt tư tưởng, tự phê bình và phê bình, tổng kết kinh nghiệm, từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy cán bộ, đảng viên các cấp, đưa phong trào nhân dân du kích chiến tranh ngày càng trưởng thành không ngừng phát huy bản chất giai cấp công nhân, hun đúc thành những truyền thống:

- Lực lượng vũ trang nhân dân luôn luôn trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam, với chế độ xã hội chủ nghĩa, với nhân dân. Căm thù chủ nghĩa đế quốc xâm lược, bọn phản động tay sai cho giặc và mọi lực lượng chống lại lợi ích của nhân dân lao động, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Độc lập Tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của nhân dân.

- Nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, biết đánh, biết thắng, dũng cảm mưu trí, trong chiến đấu, kiên trì bám trụ trong vận động quần chúng, cần cù sáng tạo trong lao động, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

- Gắn bó máu thịt với nhân dân lao động, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, dựa vào dân mà hoạt động, cùng nhân dân chiến đấu và chiến thắng, quân dân một ý chí.

- Nội bộ đoàn kết chặt chẽ, cán bộ chiến sĩ thực sự bình đẳng về chính trị, thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, kỷ luật nghiêm minh, thống nhất ý chí và hành động.

- Nêu cao tinh thần tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, luôn luôn mưu cầu tiến bộ, không ngừng rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, bản lĩnh chiến đấu, năng lực công tác, làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự cách mạng Việt Nam và khoa hoc kỹ thuật quân sự hiện đại.

- Có tinh thần quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết thủy chung, chí nghĩa chí tình.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:18:59 am
*   *
*

Truyền thống vẻ vang của các lực lượng vũ trang Gia Lai bắt nguồn từ bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Độc lập Tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng…”. Truyền thống đó được quán triệt, vận dụng và phát huy trong hoàn cảnh cụ thể ở chiến trường trong tỉnh suốt hai cuộc kháng chiến chống giặc Pháp và giặc Mỹ.

Gia Lai nằm trong thế trận chung của Mặt trận Tây Nguyên và cả nước. Mỗi thắng lợi, thành tích, trưởng thành của lực lượng vũ trang và cuộc chiến tranh nhân dân của tỉnh đều gắn liền với bối cảnh chung của chiến trường Liên Khu V và của cách mạng cả nước. Cả nước và Mặt trận Tây Nguyên đã kề vai sát cánh với GiaLai, biến Gialai thành căn cứ địa cách mạng vững chắc ngày càng lớn mạnh.

Trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm, quân và dân GiaLai luôn luôn nhận được sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Trung ương Đảng, của Bộ Tổng Tư lệnh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã dành cho chiến sĩ và đồng bào các dân tộc tỉnh ta sự săn sóc ân cần, tình thương yêu ấm áp. Người vẫn hằng theo dõi từng bước đi, nhịp thở của chiến trường, đã nhiều lần gửi thư(1) động viên, cổ vũ quân dân Tây Nguyên và GiaLai tiến lên giành thắng lợi. Niềm tin yêu của Đảng, của Bác là nguồn sức mạnh để quân và dân tỉnh ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ vững bước tiến lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Thắng lợi vẻ vang 30 năm qua trên chiến trường có tấm lòng hậu phương lớn Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa chi viện sức người sức của từ những ngày đầu kháng chiến. Tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, sự hy sinh to lớn của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ nhiều thế hệ, nhiều dân tộc từ mọi miền đất nước theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc vào chiến trường chiến đấu; nhất là hàng ngàn chiến sĩ giải phóng quân Nam Tiến đã sát cánh cùng quân và dân GiaLai chiến đấu trên biên giới giáp Cămpuchia từ đầu kháng chiến chống giặc Pháp; trong kháng chiến chống Mỹ, GiaLai vui mừng đón những người con thân yêu của tỉnh Cao Bằng kết nghĩa vào chiến trường sát cánh chiến đấu với quân dân tỉnh ta.

Trên chiến trường hậu địch đầy khó khăn gian khổ, quân và dân GiaLai luôn luôn được sự chi viện thường xuyên, phối hợp chặt chẽ của các binh đoàn chủ lực của Quân khu V từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ xâm lược. Đặc biệt từ giữa năm 1964 trở đi, Mặt trận Tây Nguyên (B3) hỗ trợ tích cực cho Gia Lai đẩy mạnh và phát triển phong trào nhân dân du kích chiến tranh lên mạnh, đều khắp. Quân và dân Gia Lai rất vinh dự và tự hào về sự có mặt của các binh đoàn chủ lực hoạt động chiến đấu trên địa bàn tỉnh. Biết bao người con ưu tú đã cùng nhân dân, đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã chịu đựng gian khổ và anh dũng hy sinh, hiến trọn đời cho Độc lập, Tự do muôn đời của Tổ quốc, cho Hạnh phúc của nhân dân. Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi công và nhớ ơn các liệt sĩ, những người con trung hiếu mẫu mực của nhân dân, gương trung liệt ngàn thu sáng mãi.

Mỗi thắng lợi, mỗi chiến công thu được về tiêu diệt địch, giành dân, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ vùng căn cứ, đấu tranh chính trị, tiến công binh vận của tỉnh đều có sự đóng góp công lao chung của các lực lượng quân, dân, chính, Đảng. trong đó, thành tích đáng kể, có lúc có tính quyết định của lực lượng chủ lực Quân khu V và Mặt trận Tây Nguyên đứng chân hoạt động trên địa bàn, cùng với sự chi viện giúp đỡ tận tình mọi mặt của các tỉnh đồng bằng khu 5.

Những chiến công bất diệt, những phẩm chất, truyền thống và những bài học của cuộc chiến tranh giải phóng Gai Lai sẽ còn sống mãi và âm vang trong lịch sử như bài ca không tắt. Là truyền thống quí báu bồi đắp cho lớp lớp thế hệ hiện tại và mai sau.

Trong đội ngũ lực lượng vũ trang nhân dân Gia Lai, giờ đây nhiều đồng chí đã trưởng thành lên những cương vị mới; các cán bộ lãnh đạo, các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp trong Quân đội. Nhiều đồng chí đã hoạt động trên các lĩnh vực và địa phương khác nhau. Nhiều đồng chí đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình trong hai cuộc trường chinh của dân tộc. Và biết bao lớp lớp chiến sĩ đi đầu đánh Pháp, đánh Mỹ, diệt Ngụy trên chiến trường năm xưa, nay đã trở về ruộng đồng, công trường, nhà máy, là đội ngũ cựu chiến binh trên mọi miền đất nước, lại tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống “anh bộ đội Cụ Hồ” trên mặt trận mới.

Bước sang giai đoạn mới của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ trang nhân dân GiaLai nguyện ra sức bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, sẵn sàng cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng GiaLai mãi mãi là pháo đài vững chắc, là căn cứ vững mạnh, xứng đáng vị trí chiến lược quan trọng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng đập tan mọi mưu đồ khiêu khích và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và mọi thế lực phản động quốc tế, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, làm tròn nhiệm vụ theo con đường Đảng Cộng Sản Việt Nam và Bác Hồ đã chọn, xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.


(1) Xem chủ thích ở sau.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:21:59 am
Trích nội dung các thư của Bác Hồ gửi cho quân và dân Tây Nguyên – Khu 5
(có tỉnh Gia Lai)

1. Ngày 19-4-1946 Bác Hồ gửi thư cho Đại Hội đoàn kết đánh Pháp của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên họp tại thị xã Pleiku:

“… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Jarai hay É đê, Séđăng hay Bahnar và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”

2. Bác Hồ gửi thư khen Khu 5 trong chiến thắng ĐakPơ tiêu diệt binh đoàn cơ động Pháp số 100 (GIM 100): ngày 24-6-1954.

“… Các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng, thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bác khuyên toàn thể cán bộ, chiến sỹ cần phải nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công, phải ra sức dân vận và ngụy vận.

Chớ vì thắng mà kiêu, mà chủ quan khinh địch, ra sức tranh thủ lấy thành tích to lớn hơn nữa.

Bác chờ tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thăm đồng bào trong đó.

                                                                                                                                                       
Chào thân ái và Quyết thắng
Bác
HỒ CHÍ MINH.

3. Ngày 4 tháng 2 năm 1968 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ gửi điện khen:

“… Quân và dân ta ở Miền Nam đánh rất giỏi, rất đều rất nhịp nhàng, đánh khắp nơi và nơi nào cũng thắng to…”

Bác dặn: “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng, càng dẫy dụa điên cuồng; quân và dân ta càng phải tăng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh liên tục, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa…”

4. Bác Hồ gửi thư cho Đại hội anh hùng, chiến sỹ thi đua Mặt trận Tây Nguyên 11-1968 nhờ cụ Y Bih Alẽo Phó chủ tịch Đoàn chủ tịch UBTƯ MTDTGPMNNV chuyển:

Thân ái gửi đồng bào, cán bộ và chiến xĩ Tây Nguyên. Tôi rất vui mừng nhận được thư báo cáo thành tích của Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ lần thứ 2 của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Tây Nguyên.

Như vậy là quân và dân Tây Nguyên, già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thi đua diệt giặc lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Tôi nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang.

Giặc Mỹ và tay sai bị thua to trên khắp nước ta, đã phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá Miền Bắc, và chịu ngồi nói chuyện với đại diện hai miền nước ta. Nhưng chúng còn rất ngoan cố, hiếu chiến, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược. Vì vậy nhiệm vụ của quân và dân cả nước ta còn rất nặng nề.

Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, ra sức củng cố và phát triển vùng giải phóng và phục vụ tiền tuyến.

Tôi tin chắc rằng Tây Nguyên nhất định cùng cả nước tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Tôi xin gửi đến Cụ Chủ tịch, các vị trong phong trào dân tộc tự trị và toàn thể đồng bào Tây nguyên, các cháu thiếu niên và nhi đồng lời thăm hỏi ân cần và lời chào quyết thắng.

                                                                                                                                                       
Hà Nội ngày 30-11-1968
HỒ CHÍ MINH


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:29:25 am
PHỤ LỤC

THÀNH TÍCH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN VÀ DÂN TỈNH GIA LAI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Cuộc kháng chiến oanh liệt của các lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Gia Lai chống thực dân Pháp xâm lược bắt đầu từ ngày 23 tháng 11 năm 1945 tại phòng tuyến Ia Dao biên giới Việt Nam – Campuchia, ngày các chiến sĩ bộ đội Tây Sơn cùng nhân dân làng Móc Đen nổ súng đánh trả cánh quân Pháp ừ Bô-Keo (CPC) tràn sang biên giới tỉnh Gia Lai.

Qua 9 năm kháng chiến chống Pháp các lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Gia Lai đã đánh tất cả 428 trận, tiệt diệt 595 tên địch, bắn bị thương 629 tên, bắt 117 tên, thu 15 súng ngắn, 347 súng trường, 33 súng tiểu liên, 16 súng trung liên, 1 súng đại liên, 3 súng cối 60 ly, 7 máy VTĐ, bắn rơi 1 máy bay, thu 2.600 đồng bạc Đông Dương và nhiều quân trang quân dụng.

*   *
*

THÀNH TÍCH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN VÀ DÂN TỈNH GIA LAI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC:

Tính từ đồng khởi 23/10/1960 đến 17/03/1975, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai đã đánh 12.990 trận vừa và nhỏ, đã tiêu diệt và làm bị thương 71.898 tên địch, trong đó có 1.178 tên Mỹ (trong đó có 3 tướng Mỹ), bắt 1.350 tên, đào rã ngũ 12.265 tên.

Phá hủy 8.304 xe quân sự, có 1.322 xe tăng, bọc thép, M113, bắn rơi và phá hủy 1.659 máy bay phần lớn là máy bay trực thăng, đánh sập 1.242 nhà lính, 791 lô cốt, 133 hầm ngầm, 1 khu rađa, 64 ụ súng, 33 máy nổ; đánh sập, hỏng 119 cầu, 14 cống; phá hủy, phá hỏng 1.670 mét ống dẫn dầu; đốt cháy 45 kho xăng, có hàng triệu lít xăng; đốt và phá hủy 228 kho đạn, 310 pháo lớn.

Phát động nhân dân lập tuyến bố phòng, xây dựng làng xã chiến đấu, cắm 388.645.000 cây chông, 200.000 bẫy thò.

Giành dân và giữ dân lúc cao điểm được 22 vạn dân (hè 1965) giải phóng làm chủ trên địa bàn rừng núi và vùng đất bằng của tỉnh.

Lực lượng vũ trang Gia Lai đã được Chính phủ tặng thưởng:

Huân chương thành động hạng ba.

Ba Huân chương Quân công.

Và hàng trăm Huân chương chiến công các loại.

Tháng 11 năm 1978, được Quốc hội và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho các lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Gia Lai.

Tháng 12 năm 1984 kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng vũ trang Gia Lai – Kon Tun được tặng thưởng Huân chương sao vàng.

*   *
*

ĐƠN VỊ VÀ ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

1. Lực lượng vũ trang Nhân dân tỉnh Gia Lai Tuyên dương ngày06-11-1978
2. Xã B5 huyện 4 nay là xã Ia Sao huyện Chưpăh15-02-1970
3. Đại đội 2 Tiểu đoàn đặc công 45020-09-1971
4. Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Bộ binh20-09-1971
5. Xã A3 huyện 7 nay là xã Chơkơrei H. Kôngchro20-2-1976
6. Xã Đăk Băng huyện Krôngpa   06-11-1978
7. Xã Bắc huyện 2, nay thuộc huyện Kbang06-11-1978
8. Xã Gào thị 9, nay thuộc thị xã Pleiku06-11-1978
9. Xã E5 huyện 5, nay là xã Ia Phìn H. Chưprông06-11-1978
10. Xã E14 huyện 5, nay là xã Ia Lốp H. Chư Sê06-11-1978
11. Huyện 5, nay là huyện Chưprông – Gia Lai06-11-1978

CÁN BỘ VÀ CHIẾN SỸ ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Trong kháng chiến chống Pháp:

1. Liệt sỹ Wưu – Đội trưởng du kích làng Đé Đoa, xã Đăk Đoa huyện Mang Yang (nay) tỉnh Gia Lai. Tuyên dương anh hùng: 07-05-1956

2. Anh hùng Núp – Thôn đội trưởng du kích quê lang Sơtơr huyện Kơ Bang tỉnh Gia Lai. Tuyên dương anh hùng: ngày 03-08-1955.

Trong kháng chiến chống Mỹ:

1. Puih Thu – Dân tộc Jơrai, xã Đội trưởng xã E14 huyện 5, nay là xã Ia Lốp huyện Chư Sê. Tuyên dương anh hùng ngày: 05-05-1965.

2. Kpă Klơng – Dân tộc Jơrai, Tiểu đội phó trinh sát huyện 5 (Chưprông) quê xã Ia Piar – Chưprông. Tuyên dương anh hùng ngày: 17-09-1967

3. Thanh Minh Tám – Dân tộc Rhe, Đại đội phó, thiếu úy, quê xã Hiếu huyện Komplong – Kon Tum. Tuyên dương anh hùng ngày: 17-09-1967

4. Rơ Chăm Ơk – Dân tộc Jơrai, Xã đội trưởng xã B5 huyện 4 (xã Ia Sao huyện Chưpăh). Tuyên dương anh hùng ngày: 05-09-1970.

5. Kpă Ó (nữ) – Dân tộc Jơrai, Trung đội trưởng du kích xã E5 (Ia Phìn – Chưprông). Tuyên dương anh hùng ngày: 06-11-1978.

6. Liên sỹ Đôn – Dân tộc Bahnar, Đại đội phó, chuẩn úy thuộc Đại đội 70 Tiểu đoàn đặc công 406. Quê làng Chai, xã Yang Bắc Khu 7 nay là xã Yang Bắc huyện An Khê. Tuyên dương anh hùng ngày: 06-11-1978.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:31:45 am
*   *
*

CHÚ THÍCH

1. Những ký hiệu địa danh trong kháng chiến chống Pháp:

* Phía đông đường 14 (1950):

- Khu 4 vùng dân tộc Bắc đường 19 (An Khê)

- Khu 5 Vùng Đăk Bơt

- Khu 6 Vùng Ya Hội, Đé Srô, Đé Djama

- Khu 7 Vùng Kinh thị trấn An Khê

- Khu 8 huyện PleiKon từ Hà Bầu – Kon mơha đến cuối năm 1951.

- Sát nhập Khu 4 và Khu 7 lập huyện An Khê, nhập Khu 5 và Khu 6 lập huyện Đức Bơt.

- Huyện PleiKon Bắc Mang Yang ngày nay.

- Đăk Bớt nam Mang Yang.

* Phía tây đường 14:

- Đoàn 118 hoạt động vùng Chư Ty, nay là huyện Đức Cơ huyện Chưprông.

- Đoàn 112 hoạt động vùng huyện Chưpăh hiện nay.

2. Những ký hiệu địa danh trong kháng chiến chống Mỹ:

* Gọi Khu tương đương huyện:

Khu 1: Bắc huyện Kơ Bang hiện nay

Khu 2: Nay huyện Kơ Bang

Khu 3: Bắc huyện Mang Yang

Khu 4: Huyện Chư Păh

Khu 5: Huyện Chưprông

Khu 6: Nam hyện Mang Yang

Khu 7: Huyện Kôngchro ngày nay

Khu 8: Thị trấn An Khê

Khu 9: Thị xã Pleuku

Khu 10: Trung tâm căn cứ tỉnh, Tây hyện KơBang

Khu 11: Một phần huyện AYunpa hiện nay.

* Gọi B, E là ký hiệu xã:

B1, B2, B3 các xã thuộc huyện 4 (Chư păh)

E3, E5, E7 các xã thuộc huyện 5 (Chưprông).

SỐ LIỆT SĨ CỦA QUÂN DÂN GIA LAI
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ

(Theo sách Nam Trung bộ kháng chiến – Trang 538)

Danh hiệu Liệt sỹ Chống Pháp: 225
Danh hiệu Liệt sỹ Chống Mỹ: 4.982


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:32:50 am
SÁCH, TƯ LIỆU ĐỂ THAM KHẢO, SƯU TẦM BIÊN SOẠN

1. Sách:

- Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng 3 tập – BTL Quân khu 5 – 1989.

- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kiện quân sự - Viện lịch sử quân sự V.Nam – BQ Phòng Hà Nội – 1988.

- Sức mạnh Việt Nam – Nxb QĐN Dân 1976.

- Miền Nam giữ vững thành đồng – Nxb KHXH – 1970.

- Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng – Trung tướng Hoàng Minh Thảo – Nxb QĐND 1977.

- Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước – Nxb QĐND – Hà Nội – 1970.

- Tây Nguyên – Nxb văn hóa – Hoàng Văn Huyên – Hànội 1980.

- Sách Nam Trung bộ kháng chiến 1992.

2. Tư liệu

- Tập tư liệu hồ sơ số 1. Tóm tắt chiến dịch Tây – Kỳ (Tây Nguyên) 12-1945 – 7-1946 lưu trữ tại Phòng Tư liệu Bộ Quốc Phòng.

- Dự thảo “Lược sử Trung đoàn 120 – Ban liên lạc Trung đoàn 120 -1993.

- Tập tài liệu giáo dục Truyền thống: Sự hình thành và phát triển của LLVTrang Gialai – KonTum – 1979.

- Các tư liệu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Gia La – Ban Tuyên Giáo Gia Lai.

- Các tư liệu của Ban Biên Tập Lịch sử Đảng bộ Thị xã Pleiku – 1993.

- Lịch sử Đảng bộ An Khê, 1993

- Bài viết Nhật ký, Tường thuật, ghi chép của các cán bộ hưu trí lão thành:

- Đồng chí Nguyễn Đức Lang, đ/chí Phan Thêm, đồng chí Đỗ Huyên, đ/c Trần Ren, đ/c Nguyễn Khoa, đồng chí Phan Bá (Võ Đông Giang), Hồ Quang Đàm, đồng chí Đoàn Xoa (Lý), đ/c Hà Vi Tùng.

3. Tổng hợp ý kiến đóng góp trong hai cuộc hội thảo: Tháng 9-1992 và Tháng 4 – 1993 gồm các cơ quan quanh Tỉnh – Sở Giáo dục Đào Tạo – Sở văn hóa thông tin, Trường Cao Đẳng sư phạm - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phòng khoa học Lịch sử quân sự quân khu 5 – Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh. Một số cán bộ hưu trí lão thành ở tỉnh.

4. 21 ý kiến đóng góp trong Hội nghị Hội đồng Nghiệm thu đề tài “Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng” ngày 21-9-1993 tại Pleiku.


Tiêu đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Hai, 2020, 08:36:06 am
LỜI CẢM ƠN

Quá trình biên soạn bộ sử “Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng” Ban biên tập chúng tôi đã được các cơ quan Quân Khu 5, tỉnh Gia Lai cùng các đồng chí cán bộ lãnh đạo, cán bộ hưu trí lão thành từng hoạt động trên chiến trường Gia Lai tham gia đóng góp nhiều ý kiến bổ sung để bộ sử được sớm hoàn thành gồm:

Phòng khoa học lịch sử quân sự Quân Khu 5

Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Gia Lai

Ban khoa học kỹ thuật tỉnh Gia Lai (Nay là Sở Khoa học, Công nghệ và môi trường)

Đồng chí Nguyễn Văn sỹ (Ksor Krơn) - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, thường xuyên đôn đốc nhắc nhở động viên Ban biên tập.

Và các đồng chí cán bộ hưu trí lão thành:

Hồ Quang Đàm         Phan Thêm
Lê Ngọc Điềm         Ngô Thành
Đỗ Hằng         Nguyễn Chí Thành
Lê Tiến         Hồng Kpă Thìn
Phạm Hồng      Lê Tiên
Hoàng Lê         Trần Như Trinh
Ama Nhan         Hà Vi Tùng

Cùng nhiều đồng chí khác.

Ban biên tập xin chân thành cảm ơn các cơ quan và các đồng chí./.

                                                                                                                                                                   
T/M BAN BIÊN TẬP
PHAN ANH TUẤN

* Chịu trách nhiệm xuất bản:
      - Đại tá: Phan Anh Tuấn

* Ban biên tập:
      - Đại tá: Phan Anh Tuấn
      - Đại tá: Lâm Huế
      - Đại tá: Nguyễn Phiên

* Trình bày bìa:
      - Nguyễn Thế Phong