Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:23 am



Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:23 am

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23151;image)

Tên sách: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2004
Số hóa: macbupda

(https://i.imgur.com/nBU313K.jpg)

(https://i.imgur.com/JYROSPQ.jpg)

Chỉ đạo nội dung:

   BAN THƯỜNG VỤ - TỈNH ỦY BẠC LIÊU

Chỉ đạo thực hiện:

   Đồng chí TRƯƠNG CÔNG ĐẶNG - Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy.

   Đồng chí TRƯƠNG MINH CHIẾN - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban Tuyên giáo.

   Đồng chí BÙI HỒNG PHƯƠNG - Tỉnh ủy viên - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

   Đồng chí HỒ KHẢI HOÀNG - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
   
Biên soạn:

   Đại tá NGUYỄN VIỆT HÙNG - Chính ủy Bộ chỉ huy Quân sự - Trưởng ban.
   
   Thượng tá VÕ HÀ ĐÔ - Trưởng ban KHCNMT - BSLSKT Phó ban thường trực
   
   Thượng tá NGUYỄN THANH VÂN - Phó chủ nhiệm chính trị.

   TRẦN NAM ĐOÀN - Cán bộ hưu trí.

   HUỲNH KIM GIA - Nguyên Trưởng phòng Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:14:51 am
LỜI NÓI ĐẦU

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ giành độc lập tự do, thống nhất đất nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, đi từ chiến thắng Điện Biên Phủ đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc muôn vàn gian khổ và chiến thắng vẻ vang, có sự đóng góp to lớn của Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Để ghi lại những chặng đường đấu tranh anh dũng kiên cường, sự hy sinh cao cả của Đảng bộ, quân dân tỉnh Bạc Liêu qua từng giai đoạn lịch sử, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 và Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc nghiên cứu biên soạn lịch sử 30 năm kháng chiến của Đảng bộ, quân dân tỉnh nhà, Đảng ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bạc Liêu tiến hành biên soạn cuốn Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975). Cuốn sách ghi lại một giai đoạn lịch sử hào hùng, đầy gian lao thử thách và chiến thắng vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung, giải phóng tỉnh nhà nói riêng. Trong quá trình biên soạn, được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu và sự tham gia cộng tác đầy nhiệt tình, trách nhiệm của các đồng chí lão thành cách mạng đã từng lãnh đạo, chỉ huy trong suốt những năm kháng chiến và sự giúp đỡ đóng góp của nhân dân trong tỉnh. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, thời gian lịch sử khá dài, tư liệu thất lạc và phân tán, nhân chứng lịch sử không còn nhiều nên việc sưu tầm tư liệu, xác minh sự kiện gặp nhiều khó khăn. Do vậy, cuốn sách sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Rất mong được sự đóng góp nhiệt tình, đầy trách nhiệm của các đồng chí và độc giả để cho lần tái bản sau đạt chất lượng hơn.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan nghiên cứu lịch sứ quân sự Quân khu 9, Phòng lịch sử Đảng - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu. Ban nghiên cứu biên soạn lịch sử quân sự hai tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các đồng chí lão thành cách mạng đã cung cấp nhiều tư liệu, đóng góp nhiều ý kiến quý báu để chúng tôi hoàn thành cuốn sách.

                                                                                                                                                   
Bạc Liêu, tháng 4 năm 2004
T.M ĐẢNG ỦY - BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ
TỈNH BẠC LIÊU
CHỈ HUY TRƯỞNG
Đại tá HỒ KHẢI HOÀNG

(https://scontent.fhan2-3.fna.fbcdn.net/v/t1.15752-0/p280x280/79957363_3287909717947553_7577824840027996160_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_ohc=w-PtF-UTySAAQnkHRXlMT43GFiFqYXHSXPZPcSq6sKrZwHzKpll79-8gg&_nc_ht=scontent.fhan2-3.fna&oh=f5e967d4d88bf6f9783da26a39791849&oe=5E7D69B3)


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:17:28 am
LỜI GIỚI THIỆU

Bạc Liêu là tỉnh cực nam của Tổ quốc Việt Nam, một vùng đất thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên rộng lớn, bờ biển dài, có rừng tràm, rừng đước độ che phủ khá dày đặc, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Đặc biệt con người Bạc Liêu vốn có truyền thống yêu nước, căm ghét chế độ thực dân, phong kiến, cần cù sáng tạo trong lao động, bất khuất trong đấu tranh và một lòng theo Đảng. Nơi đây đã từng là căn cứ địa của Xử ủy Nam Bộ và khu Tây Nam Bộ qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Suốt cuộc kháng chiến 30 năm (1945 - 1975), lịch sử đấu tranh của Đảng bộ, quân dân tình Bạc Liêu luôn gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với địa thế thuận lợi, dồi dào về sức người, sức của, cùng với trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, Đảng bộ, quân dân tỉnh Bạc Liêu đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, cùng cả nước viết nên trang sử vàng chói lọi, tạo nên những biểu tượng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, góp phần đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta nói chung, nhân dân tỉnh Bạc Liêu nói riêng. Đó là chiến thắng mang ý nghĩa quốc tế và thời đại sâu sắc, góp phần đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Cùng vài chiều dài lịch sử đấu tranh chống chọi với thiên nhiên để khai phả vùng đất mới, cũng như trong đấu tranh giành và giữ quê hương đất nước, trong đó giai đoạn lịch sử 30 năm (1945 – 1975) là giai đoạn đấu tranh hào hùng. gian khổ ác liệt nhất và chiến thắng vẻ vang nhất, nhân dân Bạc Liêu cũng như cả nước, những người nông dân bần cùng, dưới sự áp bức bất công của chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân Bạc Liêu đã nổi dậy đấu tranh chống lại bọn địa chủ và nhà cầm quyền Pháp như cuộc nổi dậy cứa hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ở U Minh Hạ (1870 - 1872); của nông dân làng Ninh Thạnh Lợi do hương chủ Chọt lãnh đạo (1927); của gia đình Mười Chức ở đồng Nọc Nạng (1928)...

Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1930), phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân Bạc Liêu chuyển lên một bước mới, đã làm nên chiến thắng Hòn Khoai trong khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), cùng nhân dân cả nước nổi dậy cướp chính quyền nhanh gọn trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thời gian để xây dựng chính quyền còn non trẻ và ổn định đời sống nhân dân chưa được bao lâu, ngày 23 tháng 9 năm 1945 Đảng bộ, quân và dân tỉnh Bạc Liêu lại cùng nhân dân Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay từ ngày tháng đầu của cuộc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân Bạc Liêu đã chủ động phối hợp với quân dân tỉnh Sóc Trăng lập mặt trận Nhu Gia, đến việc hình thành ba mặt trận Ngan Dừa - Phước Long; Cà Mau - Tân Hưng và Thới Bình - An Biên để ngăn chặn bước tiến của quân Pháp, giúp cho cơ quan lãnh đạo của Nam Bộ, Khu ủy, lực lượng vũ trang một số tỉnh rút về khu căn cứ an toàn ở U Minh Hạ - Cà Mau, kịp thời chi viện cho một trận Tân An - Sải Gòn, mặt trận Binh Thủy - Cần Thơ, đồng thời sáng tạo ra cách đánh thủy lôi chiến trên sông, nhận chìm nhiều tàu giặc như các trận Mây Dốc, Mương Điều, Ao Kho..., xây dựng nơi đây thành căn cứ địa vững chắc của Xứ ủy. Khụ ủy, Bộ Tư lệnh khu 9 và của tỉnh suốt thời kỳ dài, từng bước đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới, cùng nhân dân cả nước kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu đã làm tròn trách nhiệm xây dựng và bảo vệ khu tập kết 200 ngày, chuyển hưởng đẩu tranh chính trị buộc địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, mà đỉnh cao là phong trào Đồng Khởi năm 1959 - 1960, thực chất là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở nông thôn, đập tan bộ máy ngụy quân, ngụy quyền xã ấp, giành quyền làm chủ của nhân dân; sau đó tiếp tục thực hiện Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, quân dân tỉnh nhà kịp thời chuyển lên đấu tranh vũ trang mạnh mẽ, làm nên chiến thắng Bà Ai - Cai Giảng (trận Ấp Bấc thử hai); phối hợp nhịp nhàng toàn Miền tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đến chống phá bình định, giải phóng nông thôn, dẫn đến đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, tự đứng lên giải phóng tỉnh nhà nhanh gọn bằng sức mạnh tổng hợp của quân và dân Bạc Liêu dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là cướp chính quyền mà không đổ máu (ngày 30 tháng 4 năm 1975).

Trải qua 30 năm trường kỳ kháng chiến, tỉnh Bạc Liêu luôn bị chia cắt, xa sự chỉ đạo của Trung ương, nhưng với tinh thần tự lực tự cường, dũng cảm và sáng tạo, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Bạc Liêu vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo như “thủy lôi chiến”, “hàn cản trên sông”; xây dựng và giữ vững căn cử địa cách mạng lâu dài; đặc biệt là hai lần nổi dậy cướp chính quyền (23-8-1945 và 30-4-1975), là một trong những tỉnh giải phóng sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và không phải đổ nhiều xương máu, buộc viên tỉnh trưởng Trương Công Thiện và Nguyễn Ngọc Điệp đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận bàn giao cho chính quyền cách mạng.

Với tình cảm là người con của quê hương Bạc Liêu, tôi rất vinh dự và tự hào về lịch sử truyền thống đấu tranh của Đảng bộ, quân dân tỉnh nhà qua cuộc kháng chiến. Tôi thấy rằng Tỉnh ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tình chỉ đạo tiến hành biên soạn cuốn “Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)” là một việc làm có ý nghĩa thết thục, sâu sắc, nhằm tái hiện sinh động một thời kỳ đấu tranh vô cùng ác liệt và chiến thắng vẻ vang của quê hương Bạc Liêu, qua đó rút ra những bài học quý báu, làm cơ sở để tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Tôi hoan nghênh sự nỗ lực, cố gắng của Tỉnh ủy - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bạc Liêu và tập thể Ban biên soạn đã chỉ đạo kịp thời, hoàn thành cuốn “Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và các đồng chí cuốn sách quỷ này.


                                                                                                                                                             
LÊ PHƯỚC THỌ
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trưởng ban Tổ chức Trung ương


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:20:36 am
Mở đầu

BẠC LIÊU VÙNG ĐẤT - CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG

I. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Bạc Liêu vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là tỉnh cực nam của Tổ quốc Việt Nam. Xóm mũi Rạch Tàu được xác định là điểm cuối cùng nằm trên vĩ tuyến 8° 30’ bắc, kinh tuyến 104° 45’ đông, là vùng đất liền cực nam của tỉnh.

Tỉnh Bạc Liêu thời ấy (cả phần đất Cà Mau ngày nay) có diện tích tự nhiên 7.700 km2 vuông lớn nhất trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phía bắc giáp tình Rạch Giá, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, phía nam và phía tây giáp biển Đông và biển Tây với chiều dài bờ biển là 307 km hình dáng như mũi một con tàu rẽ sóng, biển Đông hướng về phía tây, nơi tiếp giáp vùng biển Thái Lan, Malaisia...

Dân số trong toàn tỉnh năm 1916 có 97.050 người, trong đó đa số là người dân tộc Kinh chiếm 78.1%, dân tộc Khơ-me có 15,8%, dân tộc Hoa có 6,1%.

Vùng đất Bạc Liêu là một trong 21 địa hạt của Nam Kỳ, được chỉnh thức đổi danh xưng thành tỉnh ngày 20 tháng 12 năm 1899 theo sắc lệnh của toàn quyền Đông Dương(1) nhưng đến ngày 1 tháng 1 năm 1990 Sắc lệnh trên mới được áp dụng toàn Nam Kỳ. Lúc đầu tỉnh có hai quận Vĩnh Lợi và Cà Mau, năm 1904 quận Vĩnh Lợi cắt một phần đất phía bắc lập thêm quận Vĩnh Châu, đến năm 1918 Pháp cắt phần đất phía nam quận Vĩnh Lợi và phía bắc quận Cà Mau lập quận Giá Rai.

Về phía địch, địa giới hành chính này tồn tại đến tháng 10 năm 1956. Ngày 25 tháng 10 năm 1956, theo sắc lệnh số 143/NV của Ngô Đình Diệm phân lại địa giới hành chính của các tỉnh miền Nam, các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, sáp nhập vào tỉnh Sóc Trăng thành lập tỉnh Đa Xuyên, tách toàn bộ phần đất của quận Cà Mau cũ thành lập thành tỉnh An Xuyên,

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, chính quyền Sài Gòn ký sắc lệnh số 254/NV tái lập tỉnh Bạc Liêu gồm: Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu và Phước Long (Rạch Giá). Địa giới nảy tồn tại đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Về phía chính quyền cách mạng, phân địa giới hành chính có khác chính quyền Sài Gòn. Năm 1947 sáp nhập hai làng Vĩnh Hưng và Vĩnh Phú của quận Hồng Dân(2) về quận Vĩnh Lợi. Đến năm 1948 giao quận Vĩnh Châu và làng Hưng Hội về tỉnh Sóc Trăng, đồng thời lập thêm quận mới là quận Ngọc Hiển. Ngày 13 tháng 11 năm 1948 cắt hai làng Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu. Đến năm 1951 thành lập thêm huyện Trần Văn Thời(3). Cũng năm 1951, tỉnh Bạc Liêu tiếp nhận hai huyện An Biên, Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá. Tháng 6 năm 1953 giải thể thị xã Bạc Liêu, thành lập huyện Châu Thành - Vĩnh Lợi. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đến năm 1955 huyện Vĩnh Châu trả về tỉnh Bạc Liêu, hai huyện An Biên, Hồng Dân trở về tỉnh Rạch Giá. Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập. Ngày 20 tháng 6 năm 1956 thành lập thêm huyện mới Thới Bình. Năm 1957, các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, thị xã Bạc Liêu và huyện Hồng Dân được chia về cho tỉnh Sóc Tràng. Đến năm 1962, huyện Giá Rai sáp nhập về tỉnh Cà Mau.

Tháng 11 năm 1975, tái lập tỉnh Bạc Liêu lần thứ nhất gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Đến năm 1976, theo quyết định của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau thành tỉnh Minh Hải.

Ngày 1 tháng 11 năm 1996, kỳ họp lần thứ 10 Quốc hội khóa IX quyết định chia tỉnh Minh Hái thành hai tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau. Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Bạc Liêu được tái lập lần thứ hai, đơn vị hành chính lúc đầu có: thị xã Bạc Liêu, các huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân. Năm 2000, tách huyện Hồng Dân thành láp lại huyện Phước Long, năm 2002 tách các xã phía nam huyện Giá Rai thành lập huyện Đông Hải. Diện tích tự nhiên 2.489km2, bở biển dài trên 56km, dân số 739.767 người.

Bạc Liêu cũ là tỉnh đồng bằng ven biển, được thiên nhiên ưu đãi hàng năm đất và rừng lấn biển từ 70 đến 80mét về phía tây. Là vùng đất có nhiều kênh rạch và nhiều cửa sông như: cửa Gành Hào, cửa Bồ Đề, cửa Bảy Háp, cửa sông Ông Đốc... và các sông lớn tự nhiên như: sông Ông Đốc, sông Gành Hào, sông Tam Giang, sông Bảy Háp và hàng chục con sông nhỏ đan nhau như mạch máu trong cơ thể con người. Ngoài ra, còn có nhiều kinh xáng do thực dân Pháp đào để khai thác tải nguyên như kinh xáng Chắc Băng, kinh xáng Cà Mau - Phụng Hiệp, kinh xáng Cạnh Đền - Giá Rai, kinh xáng Bạc Liêu - Cà Mau, kinh xáng Gành Hảo - Hộ Phòng - Chủ Chí và kinh xáng Cầu Sập - Ngang Dừa... ven bờ trên những con sông tự nhiên lớn nhỏ thưởng là những vạt dừa nước, mắm, sú, vẹt và các loại cáy tạp mọc um tùm.

Đất liền 80 với mặt biến cao từ 3 đến 0,5mét, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc từ 0,01 đến 0,005/1km theo hướng từ đông bắc xuống tây nam. Diện tích rừng tự nhiên, đến năm 1930 có khoảng 740.000 héc-ta, rừng đước nối tiếp nhau bao quanh mũi Cà Mau từ phía nam sang phía tây, rừng tràm U Minh Hạ thuở ấy kéo dài tận huyện Hồng Dân và một phần của huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi ngày nay. Đồng ruộng và đất hoang lầy trũng chiếm phần lớn đất đai có khoảng 400.000 héc-ta.

Địa hình và sông rạch vùng đất Bạc Liêu rất thuận lợi về giao thống đường thủy, tàu bè đi lại thông thương, tiện cơ động lực lượng bằng phương tiện đường sông và dễ giấu quân cho cả ta và địch. Đặc biệt rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh độ che phù dày đặc rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Ngược lại, giao thông đường bộ trước và trong kháng chiến chống Pháp phát triển còn kém, quan trọng nhất là đoạn quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) chạy từ phía đông bắc thị xã Bạc Liêu đến Cà Mau - Năm Căn dài khoảng 128 km đoạn lộ từ thị xã Bạc Liêu đi Vĩnh Châu dài khoảng 38 km, Vĩnh Mỹ - Phước Long dài khoảng 23 km, Cà Mau - Thời Bình dài 40,2 km, và Cà Mau - Đầm Dơi dài 23km.

Về khí hậu, Bạc Liêu là vùng khí hậu cận xích đạo, nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt độ ít thay đổi trung bình là 26°C, hàng năm có 02 mùa mưa nắng rõ rệt, lượng mưa hàng năm thấp nhất là 1.940 mm (1942), cao nhất là 2.945 mm (1979).

Bạc Liêu là một trong những vựa lúa quan trọng của cả nước và giàu về tôm cá, thủy hải sản; rừng đước và rừng tràm đã cung cấp nhiều gỗ, than cho các tỉnh và thành phố ở Nam Bộ; là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đồng bằng sông Cửu Long, nơi có rừng thiên nhiên rộng, bờ biển dài, giàu lúa gạo, giàu thủy sản và muối. Người dân Bạc Liêu lại giàu lòng yêu nước nên tỉnh luôn là căn cứ địa cách mạng qua hai cuộc kháng chiến.


(1) Đổi danh xưng địa hạt thành tỉnh.
(2) Năm 1947 chính quyền cách mạng đổi tên quận Phước Long thành quận Hồng Vân. Về phía địch vẫn gọt là quận Phước Long.
(3) Từ đầu năm 1949 chính quyền cách mạng đổi tên “quận” thành “huyện”, “làng” thành “xã”.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:22:04 am
II. DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG

Dân cư phân bố không đều. Từ những ngày đầu về đây mở đất, ba dân tộc Kinh, Khơ-me, Hoa sống quần cư đan xen lẫn nhau; nhân dân thường tựu cư đông đúc tại các ngả ba ngã tư sông và sống rải rác trên các trục lộ giao thông và ven những con kinh rạch, để tiện giao thương và dựa vào nhau chống chọi với thiên nhiên và thú dữ. Người dân Bạc Liêu vốn có truyền thống yêu nước căm ghét chế độ thực dân phong kiến. Từ khoảng năm 1658, dòng lưu dân người Việt đến đây khai phá vùng đất mới, đến năm 1714 vùng đất Bạc Liêu bắt đầu được ghi tên trên bản đồ Việt thời vua Lê - chúa Nguyễn trong hai huyện Long Xuyên và Trấn Di thuộc trấn Hà Tiên; dòng lưu dân người Hoa ở Triều Châu (Trung Quốc) chạy loạn Mãn Thanh được chúa Nguyễn cho vào cư trú, và người Khơ-me bị dòng họ Xi-xa-vát tàn sát nên chúa Nguyễn cho nương náu làm ăn. Đất càng lấn biển và người quần tụ càng đông.

Bạc Liêu là một vừng đất mới hình thành trên 200 năm nhưng bề dầy lịch sử văn hóa gắn liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn của các cộng đồng dân cư sống trên vùng đất này. Người Bạc Liêu được hội tụ từ ba dòng lưu dân người Việt gốc, người Hoa, người Khơme đến khai khẩn vùng đất hoang, nên họ sống hòa nhập đoàn kết và cố kết hỗ trợ lẫn nhau để đấu tranh với thiên nhiên hoang đã khắc nghiệt và thú dữ. Cuối thế kỷ XIX, Bạc Liêu còn là một vùng đất hoang sơ ngập mặn, điều kiện làm ăn còn rất khó khăn, dân cư rải rác, đường đi lại không thuận tiện, nên các triều đại phong kiến nhà Nguyễn khó với tay đến kiểm soát thống trị vùng đất này. Cả ba dân tộc anh em sống đan xen lẫn nhau, nền văn hóa của cả ba dân tộc đều có bản sắc riêng, hàng năm thưởng có các lễ hội: Đồng bào Kinh có lễ hội cúng đình, thờ thần Hoàng Bổn Cảnh. Ngoài ra còn có đại lễ Kỳ Yên, còn gọi là lễ Thượng Điền giữa tháng 5 âm lịch, lễ Thấp Miếu còn gọi là lễ hạ điền giữa tháng 12 âm lịch. Đồng bào Khơ-me có lễ hội vào năm mới (Chol-chnam-thmây) vào giữa tháng 4 âm lịch, lễ hội chào mặt trăng (Oóc-om-boóc) ngày 15 tháng 10 âm lịch, lễ hội (Đôn-ta). Đồng bào Hoa có lễ Thanh Minh vào tháng 3 âm lịch, lễ thí giàng vào tháng 7 âm lịch... nhưng đồng thời cũng bổ trợ cho nhau thành một nét văn hóa chung của vùng đất Bạc Liêu.

Tiêu biểu cho nét văn hóa đó là tính cách gan góc, kiên cường, cần cù, sáng tạo, chung sức chung lòng để chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và chống giặc ngoại xâm, đồng thời chinh phục khai thác những sản vật mà thiên nhiên ưu đãi để tạo lập một cuộc sống ấm no cho bản thân gia đình họ, dần tạo ra hàng hóa dồi dào giao thương với các tỉnh miền Tây. Họ sống phóng khoáng, hào hiệp, sẵn sàng giúp đỡ, tương trợ cho những ai mới đến, và rất căm ghét chế độ thực dân, phong kiến, khao khát độc lập. tự do; họ là những người chống sưu cao. thuế nặng, tránh những áp bức bất công của nhà cầm quyền phong kiến, muốn lẩn tránh sự bắt bớ. tù đày nên thích sống dọc ngang, không bị cường quyền áp chế.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Việt Nam. Đến năm 1860 thực dân Pháp đánh chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, trong đó có phần đất thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vào những năm 1920 - 1930, địa chủ Tây và địa chủ bản xứ lợi dụng có tiền của, dựa vào thế lực của nhà cầm quyền Pháp, biết rõ luật lệ, nộp đơn, nộp tiền ở Sài Gòn xin khai khẩn vùng đất Bạc Liêu. Thực tế trên bàn đồ những phần đất này là vô chủ, vì vậy những người nông dân khai phá xong thì đất đó đã có trên sổ bộ của bọn địa chủ.

Các tên địa chủ Pháp đua nhau tới Bạc Liêu lập đồn điền như: Ê-vơ-ra (Evrad), A-ba-le (Abalain), Ar-bô-ra-ti (Arborati), Gui-da-mê (Guyamer), Cam-bô (Campot), Ham-nơ-lanh (Hamielain), Pa-tec-ni và Cút-xanh... chiếm hơn 100 ngàn héc-ta. Những tên địa chủ người Việt như: Trần Trinh Trạch chiếm 145.000 héc-ta ruộng lúa và 10.000 ha ruộng muối. Địa chủ người Hoa như Vưu Tụng chiếm 75.000 héc-ta, Châu Oai 40 000 héc-ta và nhiều địa chủ khác như Trương Đại Danh (huyện Kệ), Ngô Phong Điều, Hòa Khện, Chủ Xiệp, huyện Suôl, Chủ Đống chiếm từ 5.000 đến 20.000 héc-ta.

Người nông dân Bạc Liêu qua nhiều đời ra sức lao động khẩn hoang, phút chốc đã trở thành tá điền, gắn cả cuộc đời trong đồn điền của những tên địa chủ không thoát ra được, đời sống vô cùng cơ cực.

Nhân dân Bạc Liêu vốn căm ghét bọn thực dân phong kiến và đã từng nổi dậy đấu tranh. Năm 1861 nhân dân vùng đất Mũi đã nhận chìm xuồng ghe ở cửa Bồ Đề để ngăn tàu Pháp đi vào Cà Mau.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:23:40 am
Vào khoảng cuối năm 1867, nhân dân vùng Hưng Hội, Gia Hòa, Hòa Tú, Mỹ Thanh thuộc phía bắc Bạc Liêu hơn 1.000 người tựu nghĩa dưới quyền chỉ huy của ỏng Chưởng đã tổ chức phục kích đánh bất ngờ, gây cho quân Pháp nhiều thương vong.

Năm 1868, nhiều nghĩa quân ở vùng Đầm Chim - Đầm Dơi theo Nguyễn Trung Trực sang đánh chiếm đồn Kiên Giang - Rạch Giá.

Năm 1870, hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự con trai cử nhân Đỗ Văn Nhâm ở Cái Tàu (U Minh Hạ) huy động trên 600 dân làng nổi dậy chống Pháp, diệt tên Pháp Ê-can-gơ (Escange) và tên tri huyện Phan Tử Long và một số lính mã tà. (Hiện nay tại Cái Tàu còn di tích hai ông hàn sông ngăn tàu tây). Cuộc nổi dậy của Đỗ Thừa Luông, Đổ Thừa Tự kéo dài được 3 năm (1870 - 1872) thì bị thực dân Pháp đàn áp dập tắt.

Đến đầu năm 1901 thực dân Pháp thực hiện công cuộc trị an và khẩn hoang ở Bạc Liêu, chúng bắt hàng nghìn người dân đi làm xâu đắp lộ Bạc Liêu - Cà Mau, lẽ ra mỗi người chỉ làm hai ngày công trong địa hạt của mình theo luật định, nhưng bọn tay sai thực dân Pháp bắt dân làm xâu đến 2 tháng mà không trả thêm tiền công. Trong khi đó mùa màng của nhân dân thất bát, việc cưỡng bức bắt dân làm xâu 2 tháng là quá khả năng chịu đựng người dân.

Có áp bức tất có đấu tranh. Ngày 25 tháng 2 năm 1902, trên 150 người dân làng Hòa Bình, Vĩnh Mỹ quận Vĩnh Lợi đấu tranh không chịu đi làm xâu, với yêu cầu đòi giảm ngày công, trả thêm tiền, cấp thuốc trị bệnh, Sau đó họ kéo lên Bạc Liêu đấu tranh với tỉnh trưởng và gởi đơn khiếu nại lên thống đốc Nam Kỳ. Cuộc đấu tranh bền bỉ kéo dài đến 2 năm, cuối cùng thực dân Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận những yêu sách của nhân dân.

Cùng thời gian này, ở làng Tân Thành quận Cà Mau cũng có hàng nghìn người dân do ông Hương Thân Chúng dẫn đầu đấu tranh đòi yêu sách thương tự ở làng Hòa Bình, thực dân Pháp cũng phải nhượng bộ…

Qua những cuộc đấu tranh trên, ở Bạc Liêu chế độ hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp được nới lỏng hơn, quần chúng nhân dân càng tin tưởng hơn vào sức mạnh đoàn kết của mình.

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, sau khi thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập bộ máy cai trị toàn Nam Kỳ, chúng thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Nhưng quần chúng nhân dân ở Bạc Liêu chuyển sang hình thức đấu tranh mới, đó là thành lập các phường hội, như “Thiên địa hội”, nhằm tập hợp sức đoàn kết để đấu tranh, hạn chế sự hà khắc, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến. Tổ chức “Thiên địa hội” của người Hòa với khẩu hiệu hành động “Phản Thanh phục Minh”, tổ chức “thiên địa hội” của người Việt lại có khẩu hiệu “Phản Pháp phục Nam”.

Thực dân Pháp cay cú, cho cảnh sát lưu động lùng sục,bắt bớ hội viên “Thiên địa hội”. Ở làng Vĩnh Mỹ - Giá Rai(1), chúng bắt anh Hứa Văn Sáu đày ra Côn Đảo.

Trong những năm diễn ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), thực dân Pháp trút gánh nặng chiến tranh cho nhân dân thuộc địa. Chúng bắt lính và vơ vét của cải đưa về chính quốc, gây ra bao nỗi đau buồn, đói khổ cho nhân dân ta. Ông Cao Văn Lầu đã sáng tác ra bài “Dạ cổ hoài lang” để than thương sự khổ đau chia lìa và bồi đắp tinh thần cho khác chiến.

Năm 1925, ở Bạc Liêu liên tiếp nổ ra những cuộc đấu tranh của học sinh thành Bạc Liêu đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu, và cuộc đấu tranh của nhân dân làng Tân Hưng - Cà Mau chống tên điền chủ thực dân Ba-tét-xti.

Ngày 4 tháng 4 năm 1926, nhiều học sinh quê Bạc Liêu đang học ở Sài Gòn tham gia lễ tang cụ Phan Chu Trinh - một chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân. Sau đó nhiều học sinh bị đuổi học, trong đó có các anh Tào Văn Tỵ (La Kim Lý), Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Văn Sáu. Các anh mang về cho Bạc Liêu nhiều sách báo tiến hộ, trong đó có cả báo “Việt Nam hồn” do Nguyễn Ải Quốc chủ trương, Nguyễn Thế Truyền thực hiện.


(1) Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, xã Vĩnh Mỹ lại thuộc huyện Vĩnh Lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:24:49 am
Tháng 5 năm 1927, ở làng Ninh Thạnh Lợi - Phước Long, tiểu điền chủ Trần Kim Túc (hương chủ Chọt) vận động hàng trăm nông dân quanh vùng tổ chức một lực lượng bán vũ trang có trang bị dao, phảng và hình thành một trận địa có đại bản doanh. Lực lượng nghĩa binh do chủ Chọt chỉ huy đã nổi dậy chém chết 3 tên lính mã tà thu 3 súng, đâm bị thương tên cò Bu-sê (Bouchet), cảnh cáo các tên cai tổng Trí và xã trưởng Mến, tay sai đắc lực cho Pháp đã từng tiếp tay cho bọn thực dân cướp đất của nhân dân quanh vùng. Cuộc chiến đấu của nghĩa binh với lính kín, lính mã tà diễn ra khá ác liệt trong gần 2 ngày, cuối cùng tên chủ tỉnh Rạch Giá phải nhờ quân cứu viện của tên chủ tỉnh Cần Thơ mới đàn áp được lực lượng nổi dậy. Gia đình và lực lượng nghĩa binh của hương chủ Chọt có 20 người chết, trong đó cô “công chúa” Nguyễn Thị Nhậm chiến đấu hết sức dũng cảm như một nữ tướng và 17 người khác bị bắt.

Cuộc nổi dậy của nông dân do Hương chủ Chọt lãnh đạo và chỉ huy ở làng Ninh Thạnh Lợi đã gây tiếng vang trong toàn Nam Kỳ, buộc Pháp phải điều chỉnh một số chính sách cai trị lúc bấy giờ.

Tháng 2 năm 1928. lai nổ ra vụ đồng Nọc Nang ở làng Phong Thạnh quận Giá Rai. Bọn địa chủ Mã Ngàn (thường gọi là Bang Tắc), Hà Thị Trâm dựa vào thế lực của tên Phủ Huấn ráo riết cướp đất, cuớp lúa của nông dân, trong đỏ có gia đình Mười Chúc. Anh em Mười Chúc cắt máu ân thế, làm lễ tạ ông bà, lạy mẹ lần cuối để báo hiếu, thề quyết tử để giữ đất, giữ lúa. Bằng những vũ khí thô sơ như giáo, mác, gậy gộc, với lòng căm thù đến tột đỉnh, anh em Mười Chức đã xô xát quyết liệt chống lại hành động ngang nhiên đến cướp lúa của tên địa chủ Bang Tắc đã diễn ra tại sân lúa gia đình Mười Chức vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1928. Hành động cướp lúa được chính quyền thực dân Pháp cho hai tên cò Tournier và Bougou chỉ huy lính mã tà, lính kín và một số tên hội tề làng Phong Thạnh đến tiếp tay.

Trong cuộc xô xát này về phía gia đình Mười Chức có 4 người chết: Mười Chức, vợ Mười Chúc (Phạm Thị Nghĩa) cùng đứa con trong bào thai và hai em của Mười Chức là Nhẫn và Nhịn. Phía chính quyền thực dân có tên cò Toumier đền mạng, một số tên khác bị thương.

Cuộc đấu tranh ở cánh đồng Nọc Nạng đã gây tiếng vang chấn động cả nước. Ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đã viết nhiều bài đăng trên các báo tiếng Việt, tiếng Pháp ở Sài Gòn bênh vực cho gia đình Mười Chức và đã vận động hai luật sư người Pháp biện hộ cho gia đình Mười Chức, cãi không ăn tiền tại phiên tòa đại hình Cần Thơ ngày 17 tháng 7 năm 1928, buộc nhà cầm quyền Pháp phải kết tội bọn địa chủ sang đoạt và bọn quan lại tham nhũng.

Những cuộc đấu tranh quyết liệt, nhung mang tính tự phát của những người nông dân bần cùng chống lại sự đàn áp, buộc thực dân phải nhượng bộ, nhưng cuối cùng cũng không có lối ra. Tinh thần đấu tranh bất khuất đó cũng như những tội ác của bọn địa chủ, thực dân nơi đây đã tạo ra những mảnh đất tốt để cách mạng gieo mầm.

Vào nhũng năm hai mươi của thế kỷ XX, giữa lúc cách mạng Việt Nam đang ở ngã ba đường, thì Nguyễn Ái Quốc, nhà yêu nước chân chính đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã bắt gặp “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin. Người xúc động thốt lên: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.

Từ khi tim thấy con đường cứu nước, Nguyễn Ấi Quốc đã đến quê hương Cách mạng tháng Mười. Người tích cực hoạt động trong quốc tế cộng sản, tìm mọi cách truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối cách mạng về trong nước. Các hạt giống đỏ đầu tiên đã nảy nở trên vùng đất Bạc Liêu.

Anh thanh niên Huỳnh Quảng, quê Cái Tàu - Bạc Liêu, một trong số thanh niên có chí hướng yêu nước đang ra đi tìm đường cách mạng, đến đất nước Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phương pháp cách mạng. Khi trở về Nam Kỳ, anh cùng một số đồng chí lập ra “An Nam Cộng sản Đảng”. Đồng chí Huỳnh Quảng là hội viên “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” đầu tiên, cũng là đảng viên cộng sản đầu tiên ở Bạc Liêu.

Cuối năm 1927, Đào Hưng Long được Kỳ bộ Nam Kỳ cử về hoạt động và là người đầu tiên tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin tại quận Cà Mau - Bạc Liêu.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Trước đó chi bộ An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tại thị trấn Cà Mau, do đồng chí Lâm Thành Mậu làm bí thư. Sau khi thống nhất các tổ chức đảng thành đảng cộng sản, các chi bộ làng Phong Thạnh, chi bộ Tân Thành được thành lập. Đây là những chi bộ đảng cộng sản đầu tiên của Đảng bộ Bạc Liêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:27:08 am
Nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động ngày 1 tháng 5 năm 1930, các chi bộ tổ chức treo cờ Đảng, trương biểu ngữ, rải truyền đơn một số nơi trong tỉnh. Tại thành Bạc Liêu tuy chưa có cơ sở đảng, nhưng một số thanh niên công chức có chí hướng cách mạng như Tào Văn Tỵ (La Kim Lý), Huỳnh Kim Kế, Huỳnh Chấn Gia được biết có đảng cộng sản chủ trương đánh Tây, hợp với khát vọng của mình, các anh tự động vẽ hai lá cờ đỏ búa liềm với dòng chữ “Đảng cộng sản đánh Tây” và các anh phân công nhau đi treo một lá cờ ở bến đò giữa (phường 5 thị xã Bạc Liêu ngày nay) và một lá cờ trước cổng thành lính mã tà (Garde Civile Locale), nay là trung tâm thương mại Bạc Liêu(1).

Đường lối cách mạng của Đảng là “phản phong phản đế, tiến lên võ trang bạo loạn lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, giành lấy chính quyền về tay nhân dân; đây cũng là nguyện vọng, ước mơ của nhân dân, của những người nông dân bần cùng ở Bạc Liêu.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ tự phát chuyển lên tự giác nhằm lật đổ ách thống tri, áp bức của thực dân, phong kiến. Bằng nhiều hình thức đấu tranh kinh tế, chính trị, họp pháp, bất họp pháp liên tiếp nổ ra ở thị xã Bạc Liêu, Cà Mau, các làng Khánh Bình, Tân Hưng Tây, Phong Thạnh... tập họp được đông đảo quần chúng cách mạng.

Công nhân hãng xe hơi Hiệp Thành cùng với nhân dân thị xã Bạc Liêu và những người làm muối tổ chức “họp tác xã” và “hội ái hữu” tổ chức đấu tranh đòi giới chủ tăng lương, giảm giở làm. Dân làm lộ Cà Mau - Năm Căn đẩu tranh chống bắt phu, đòi tiền công, đòi cấp thuốc trị bệnh. Nhân dân làng Khánh Bình đấu tranh chống tên địa chủ Nguyễn Cao Hoài cướp đất công điền, kết hợp cùng báo chí đưa yêu sách lên nhà cầm quyền Pháp buộc Chính phủ Pháp bỏ tù bọn Nguyễn Cao Hoài và tay sai của hắn, đền bù cho nạn nhân. Nông dân làng Tân Hưng Tây đấu tranh chống xã Vang, cả Khuê, biện Đậu. Nhân dân làng Phong Thạnh - Giá Rai được chi bộ lãnh đạo, kéo đến dinh quận gặp quận trưởng Nguyễn Văn Quý yêu cầu miễn thuế kiểm lâm, cho bà con vào rừng đốn cây về cất lại nhiều nhà do cơn bão trước đó làm sập.

Năm 1936 - 1939, công tác vận động tuyên truyền công khai của Đảng, nổi bật là phong trào Đông Dương đại hội với các ủy ban hành động đã tập hợp được đông đảo quần chúng cả thành thị và nông thôn xung quanh Đảng, ở thành thị, công nhân nhà máy xay lúa, các trại cưa, công nhân thủ công đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi tự do hội họp, lập nghiệp đoàn. Đông đảo chị em mua bán ở chợ đấu tranh đòi giảm thuế, chống thu tiền chợ quá cao. Ở nông thôn nổi lên phong trào đấu tranh đòi giảm tô, giảm tức, chống địa chủ cướp ruộng, ở rừng đước Năm Căn, sau khi thành lập Ban cán sự Công hội đỏ, Ban cán sự phân công các ủy viên đi tuyên truyền vận động nhân dân làm nghề chài lưới, công nhân lò than và khai thác rừng đấu tranh chống chủ lò, cặp rằn phạt vạ vô cớ, ăn hối lộ, hà khắc, bóc lột công nhân.

Đến tháng 10 năm 1938, trên cơ sở xây dựng và phát triển được 21 chi bộ và có trên 100 đảng viên, để thống nhất lãnh đạo phong trào cách mạng đang diễn ra mạnh mẽ, Xứ ủy và Liên tỉnh ủy Hậu Giang cho phép Đảng bộ Bạc Liêu mở hội nghị đại biểu bầu Tỉnh ủy lâm thời (22-10-1938), đồng chí Bùi Thị Trường làm bí thư. Đầu năm 1939, Xứ ủy điều động đồng chí Bùi Thị Trường làm công tác khác. Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ ủy và Liên tỉnh ủy Hậu Giang, Tỉnh ủy lâm thời Bạc Liêu mở hội nghị kiểm điểm tình hình trong thời gian qua, đề ra kế hoạch công tác trong thời gian tới, đồng thời sắp xếp lại Tỉnh ủy, đồng chí Trần Văn Đại được cử làm bí thư. Cuộc hội nghị này được coi như Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ I. Lúc này số lượng đảng viên trong toàn tỉnh có 125 đồng chí.

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, mở ra một thời kỳ đấu tranh cách mạng ở Việt Nam nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng.

Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 (ngày 6, 7 tháng 11 năm 1939) chủ trương “giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng”, tạm gác khẩu hiệu cách mạng điền địa. trên cơ sở liên minh công nông, tranh thủ đoàn kết tập hợp mọi lực lượng có thể đoàn kết được, chĩa mũi nhọn cách mạng vào chủ nghĩa đế quốc, giải quyết bằng được công cuộc giải phóng dân tộc. Hội nghị Trung ương chỉ rõ: “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương khỏng có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả các ách ngoại xâm vô luận là da trắng hay da vàng để tranh lấy độc lập dân tộc”. Trung ương vạch rõ chiến tranh đế quốc sẽ tạo thời cơ cho cách mạng Đông Dương bùng nổ, vì vậy phải tập trung mọi cuộc đấu tranh vào cuộc đấu tranh chung nhằm dự bị lực lượng tiến dần võ trang bạo động giành chính quyền. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ.


(1) Dẫn theo Lịch sử Đảng bộ Bạc Liêu


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:27:43 am
Thời kỳ Bảng bộ và nhân dân Bạc Liêu chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa võ trang bắt đầu.

Đảng bộ Bạc Liêu được nhanh chóng khôi phục và phát triển, khẩn trương chọn lọc những quần chúng tốt, vững vàng đưa vào các tổ chức cách mạng như: công nhân phản đế, nông dân phản đế, thanh niên phản đế, phụ nữ phản đế, chuẩn bị lực lượng cho thời cơ mới.

Tháng 3 năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ đề ra chủ trương chuẩn bi bạo động. Đến tháng 5 năm 1940, Xứ ủy truyền đạt chủ trương cho Hội nghị Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu và cùng bàn kế hoạch khởi nghĩa võ trang trong tỉnh. Tỉnh ủy được bầu lại do đồng chí Trần Văn Thời làm bí thư để lãnh đạo và chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 7 năm 1940, đồng chí Trần Văn Thời họp Xứ ủy về, tổ chức sản xuất vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Xưởng sản xuất vũ khí do đồng chí Võ Hoành phụ trách, ông Trần Văn Hưng (bác Tám Hưng, thân sinh của đồng chí Trần Văn Thời) phụ trách kỹ thuật.

Lúc này toàn Đảng bộ và các đoàn thể phản đế hào hứng chuẩn bị khởi nghĩa. Nhân dân góp sắt thép, đồng, thau để rèn vũ khí. Nhà buôn ủng hộ thuốc nổ, diêm sinh để làm lựu đạn, thuốc súng. Lò rèn các thôn, xã ra sức rèn giáo, mác, xà no, xà beng.

Ngày 15 tháng 10 năm 1940 trung đội du kích Tân Hung Tây được thành lập tại rạch Bàu Ráng - Cái Cám. Trung đội có 21 đồng chí, trong đó có 2 nữ, 12 đảng viên. Cùng thời điểm này đội du kích Rạch Gốc - Tân Ân cũng được thành lập; nhiều tổ, đội tự vệ ở một số làng cũng được tổ chức và được huấn luyện học tập cách sử dụng súng, chiến thuật du kích chiến đấu, cách bảo vệ cán bộ, bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình của quần chúng.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra trên hầu hết các tỉnh miền Đông, ở Bạc Liêu lệnh khôi nghĩa của Xứ ủy được đồng chí Ngô Thị Nhân, liên lạc của Tỉnh ủy mang về tới thường trực Tỉnh ủy vào lúc 8 giờ tối ngày 22 tháng 11 năm 1940. Trong thư, Xứ ủy chỉ đạo Tỉnh ủy Bạc Liêu đón xe chở vũ khí từ Sài Gòn xuống để trang bị cho lực lượng khởi nghĩa và chờ tin cuối của Xứ ủy. Đồng chí Ngô Thị Nhân được Tỉnh ủy phân công trở lên Vĩnh Long gặp Xứ ủy xin chỉ đạo giờ chót.

Không thể chờ đợi tin giờ chót của Xứ ủy, ngày 26 tháng 11 năm 1940, Tỉnh ủy Bạc Liêu họp hội nghị mở rộng tại căn cứ ở Lung Lá - Nhà Thể bàn kế hoạch khởi nghĩa trong toàn tỉnh và phân chia thành ba khu vực.

Khu vực 1: vùng Năm Căn gồm thị trấn Năm Căn, một số làng xung quanh và Hòn Khoai, do đồng chí Quách Văn Phẩm, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách chung. Đồng chí Phan Ngọc Hiển trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa Hòn Khoai.

Khu vực 2: Thị trấn Cà Mau và một số làng xung quanh, do đồng chí Trần Văn Thời, Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp phụ trách.

Khu vực 3: Thành Bạc Liêu và các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi do đồng chí Trần Phán, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy phụ trách.

Hội nghị nhất trí chọn vùng Năm Căn làm chính, Hòn Khoai làm điểm khởi đầu, vì ở đây có khả năng giành thắng lợi trọng vẹn, vừa tạo được khí thế ban đầu, vừa có thêm vũ khí để trang bị cho lực lượng khởi nghĩa.

Ngày 13 tháng 12 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do đồng chí Phan Ngọc Hiển trực tiếp lãnh đạo chỉ huy đã giành được thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn.

Với sự chuẩn bị chu đáo, kế hoạch chặt chẽ, cùng với sự gan dạ dũng cảm, đánh địch vào lúc bất ngờ nhất (23 giờ 15 phút đêm 13 tháng 12 năm 1940), các chiến sĩ đã đánh ngã tên chủ đảo Ô-li-vơ, thu 1 súng ngắn, 2 sủng trường, 2 thùng mìn và toàn bộ quân trang quân dụng.

Sau khi làm chủ đảo, thu chiến lợi phẩm, đồng chí Phan Ngọc Hiển ra lệnh nhanh chóng trở về đất liền, được nhân dân Rạch Gốc - Tân Ân hò reo đón mừng.

Sau khi về đất liền, đội du kích khởi nghĩa Hòn Khoai lại áp sát thị trấn Năm Căn, nhưng không nhận được hiệu lệnh tấn công, cũng không liên lạc được với Ban chỉ huy khởi nghĩa. Để phát huy thắng lợi, 9 giờ sáng ngày 14 tháng 12 năm 1940, đồng chí Phan Ngọc Hiển cùng các đồng chí tấn công vào nhà quận trưởng kiểm lâm, tên đốc Đông khiếp sợ buộc phải nộp vũ khí cho quân khởi nghĩa.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:28:18 am
Hôm sau (ngày 15 tháng 10 năm 1940), bọn thực dân Pháp ở Cà Mau cho 2 tàu chở lính tập và mã tà tiến vào Rạch Gốc hòng tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa. Trước lực lượng mạnh của địch, các chiến sĩ ta rút vào rừng để bảo toàn lực lượng. Bọn địch truy quét ráo riết. Sau nhiều ngày đêm băng rừng vượt sông, chịu đói, chịu khát, các chiến sĩ ta đã bị địch bám sát và vây bắt tại bãi Khai Long.

Sau hơn 6 tháng giam cầm, tra tấn hết sức dã man tại nhà tù Bạc Liêu, các chiến sĩ ta vẫn giữ vững khí tiết. Ngày 12 tháng 7 năm 1941, đế quốc Pháp đem 10 chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai gồm: Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Nguyễn Văn Cẩn, Ngô Kim Luân, Nguyễn Văn Bình, Quách Văn Phẩm, và Lê Tồn Khuyên ra hành quyết tại sân vận động Cà Mau.

Trước khi bị địch hành quyết, các chiến sĩ Hòn Khoai tỏ thái độ bình tĩnh, hiên ngang trước kẻ thù. Đồng chí Phan Ngọc Hiển giật vải băng đen che mắt, hướng về phía đồng bào hô to:

- Đả đảo đế quốc Pháp!

- Đảng cộng sản muôn năm!

- Đông Dương độc lập, muôn năm!

Các đồng chí khác cùng hô theo.

Đồng chí Ngô Kim Luân gởi lời chào mọi người và hô:

- “Hỡi đồng bào, tôi sắp chết cho Tổ quốc và cho giống nòi.

Cách mạng thế giới thành công muôn năm!”

Sau khi hành quyết 10 chiến sĩ Hòn Khoai, giặc Pháp điên cuồng khủng bố các chiến sĩ cách mạng. Chúng đưa 42 người tham gia cách mạng ở Rạch Gốc -Tân Ân ra tòa kết án từ 5 năm tù đến khổ sai, chung thân. Ngoài số bị giết, bị tù đày trên, Pháp còn bắt 27 chiến sĩ cách mạng ở Bạc Liêu đày ra Côn Đào. Đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công chỉ còn 16 người trở về, 11 người hy sinh ở Côn Đảo sau những đòn tra tấn hết sức dã man và đau yếu, bệnh tật, đói rét...

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ không đình kịp theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7, đã nổ ra trong lúc thời cơ chưa chín muồi, mặc dù khí thế cách mạng đang dâng cao, tiến hành trên diện rộng (18 tỉnh trên 20 tỉnh). Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai - khởi nghĩa Nam Kỳ đã tô thắm thêm truyền thống bất khuất quật cường của dân tộc ta, là cuộc tập dượt quy mô lớn tạo điều kiện để cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.

Lúc này chiến tranh thế giới lần thứ II phát triển lan rộng trên các nước Châu Âu, Châu Á, quân phát xít đang trên đà tiến công. Trung ương Đảng ta tổ chức hội nghị lần thứ 8 do đồng chí Hồ Chí Minh chủ trì (19-5-1941), hội nghị chủ trương đưa phong trào giải phóng dân tộc và công cuộc chuẩn bị võ trang khởi nghĩa lên một bước mới. Thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, đoàn kết tập hợp mọi lực lượng cả nước, xúc tiến xây dựng lực lượng võ trang để đón thời cơ, dự kiến khả năng sẽ khởi nghĩa từng phần đi đến tổng khởi nghĩa.

Hội nghị nhấn mạnh “Nếu thời cơ đến mà không giải quyết được giải phóng dân tộc, thì chẳng những dân tộc đời đời chịu kiếp ngựa trâu, mà sự nghiệp giải phóng dân tộc hàng vạn năm không giành lại được”.

Nghị quyết Hội nghị lần 8 của Trung ương, vào đến Nam Kỳ chậm do sự khủng bố, tàn sát, bắt bớ của đế quốc Pháp sau khởi nghĩa Nam Kỳ. Từ năm 1941 đến đầu năm 1945, Đảng bộ Bạc Liêu vừa xây dụng lại tổ chức và phong trào cách mạng ở cơ sở, vừa chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa khi có thời cơ đến. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Đương, trước diễn biến mới vô cùng thuận lợi, ngày 12 tháng 3 năm 1945 thường vụ Trung ương Đảng đề ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ở Bạc Liêu toán quân Pháp khoảng vài trăm tên chạy vào rừng Tân Bằng, Năm Căn. Ban vận động tái lập Đảng bộ Nam Kỳ, viết thư đề nghị họ hợp tác với ta chống lại phát xít Nhật, nhưng do bản chất đế quốc xâm lược, chúng từ chối đề nghị của ta, sau đó bọn Pháp đều bị quân Nhật bắt sống.

Sự kiện Nhật đảo chính Pháp, đưa tình thế cách mạng vào thời kỳ tiền khởi nghĩa. Tại Bạc Liêu, các đồng chí vừa thoát khỏi nhà tù Bà Rá và các nhà tù khác, cùng các đồng chí còn lại ở địa phương ráo riết tuyên truyền tổ chức quần chúng chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:43:16 am
Trong khi chưa kịp tổ chức lại Đảng bộ thống nhất, các nhóm đảng viên trong tỉnh chủ động liên lạc với các Xứ ủy tích cực phát triển các tổ chức quần chúng. Các hội cứu quốc, Mặt trận Việt Minh được bí mật tổ chức ở một số nơi, đặc biệt là ta lợi dụng các tổ chức công khai để phát triển mạnh mẽ và rộng rãi như “Thanh niên Tiền Phong”(1) ở thành Bạc Liêu và nông thôn. Đồng thời ta xây dựng được chi bộ Đảng và quần chúng giác ngộ trong cơ lính “thủ hộ”(2). Đối với tổ chức thanh niên tiền phong ta tranh thủ được Nguyễn Văn Năm (Tú tài Năm) là thủ lĩnh, ông sẵn sàng lãnh đạo lực lượng thanh niên Tiền phong đứng về phía cách mạng. “Chi bộ đặc biệt” trong cơ lính thủ hộ tranh thủ giác ngộ được ông Đinh Công Thưởng (Quản Thưởng) được cử ra làm chỉ huy trưởng lực lượng cộng hòa vệ binh và ta tổ chức hội binh lính cứu quốc trong cơ lính thủ hộ, anh em binh lính rất hăng hái, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà “Tổ chức” giao cho. Gần đến ngày cướp chính quyền, chi bộ kết nạp thêm 2 đồng chí: Hứa Bá Lộc và Lâm Ngọc Em, như vậy lúc này chi bộ trong cơ lính thủ hộ đã có 5 đảng viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị quốc dân ở Tân Trào phát lệnh tổng khởi nghĩa. Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc, đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Cùng ngày, Nhật đầu hàng Đồng minh. Tình thế vô cùng cấp bách và thuận lợi cho ta cướp chính quyền. Tỉnh ủy lâm thời Bạc Liêu kịp thời chỉ đạo, lãnh đạo các lực lượng và quần chúng nhân dân áp đảo địch, giành chính quyền. Ngày 17 tháng 8 năm 1945 Tỉnh ủy lâm thời đứng ra thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh, do đồng chí Lê Khắc Xương làm chủ nhiệm, ông Cao Triều Phát(3) làm phó chủ nhiệm và một số ủy viên Mặt trận.

Tỉnh ủy chủ trương đưa một “bộ phận công khai” ra trực diện với địch với danh nghĩa là đại diện cho Mặt trận Việt Minh do đồng chí Tào Văn Tỵ chịu trách nhiệm chung. Bộ phận công khai nhiều lần đến gặp trực tiếp tỉnh trưởng Trương Công Thiện, buộc y ra lệnh cho bọn lính không được gỡ truyền đơn. biểu ngữ của quần chúng nhân dân không được lệnh cho thanh niên Tiền phong làm bất cứ việc gi sai trái với chủ trương của Mặt trận Việt Minh và buộc tỉnh trưởng phải giao lại ngôi nhà của tên pháp Carrere cho ta để làm trụ sở Mặt trận Việt Minh.

Đến ngày 19 tháng 8 năm 1945, bọn ngụy quân, ngụy quyền tại Bạc Liêu lung lay tận gốc, nhiều công chức bỏ nhiệm sở, một số tìm đến thanh minh với cách mạng.

Ngày 20 tháng 8 năm 1945, trong không khí cách mạng sôi sục, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chuyển cuộc biếu tình đón tên khâm sai bù nhìn Nguyễn Văn Sâm thành cuộc mít tinh tuần hành thị uy rộng lớn trên 3.000 người từ nông thôn kéo vào hòa nhập cùng các tầng lớp nhân dân trong nội thành Bạc Liêu, chào mừng Mặt trận Việt Minh, đả đảo chính quyền bù nhìn. Tối 20 tháng 8 năm 1945, Một trận Việt Minh họp liên tịch thành lập chính quyền cách mạng lấy tên “Ủy ban giải phóng dân tộc tỉnh Bạc Liêu”, gồm 8 người: bác sĩ Nguyễn Tú Vinh, chủ tịch; luật sư Trương Tấn Phát, phó chú tịch; Phan Vân Phi. Tổng thư ký; Tào Văn Tỵ, (ủy viên thường vụ tỉnh ủy), ủy viên trưởng quân sự; Nguyễn Khắc Cung (tỉnh ủy viên), ủy viên trưởng an ninh; Nguyễn Vân Quảng (tỉnh ủy viên), ủy viên giao thông liên lạc - bưu điện; Nguyên Văn Sáu (tỉnh ủy viên), ủy viên xã hội - giáo dục; nhân sĩ Phan Kim Cân ủy viên tài chính - ngân khố.

Để chuẩn bị lực lượng tham gia cướp chính quyền, ngoài vận động các tầng lớp nhân dân, các nhân sĩ trí thức, các tôn giáo, Tỉnh ủy lâm thời còn phân công đồng chí Nguyễn Văn Quảng (Tình ủy viên) vào đơn vị cộng hòa vệ binh chỉ đạo “chi bộ đặc biệt” tổ chức vận động anh em binh lính ủng hộ cách mạng và sẵn sàng tham gia cướp chính quyền.

Ngày 22 và sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, ủy ban Mặt trận Việt Minh và Ủy ban giải phóng dân tộc tỉnh cử đoàn đại biểu đến gặp tỉnh trưởng Trương Công Thiện buộc y phải giao chính quyền cho cách mạng, Thiện quanh co trì hoãn, còn lo sợ quân Nhật trở lại. Ta huy động tất cả binh lính cộng hòa vệ binh trong cơ lính thủ hộ và quần chúng nhân dân đến vây kín dinh tỉnh trưởng.

Trước sự đấu tranh kiên quyết và khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân, tỉnh trưởng Trương Công Thiện buộc phải đầu hàng. Y công bố trước đông đảo quần chúng nhân dân, từ giờ phút này chính quyền tỉnh Bạc Liêu thuộc về cách mạng, thuộc về nhân dân. Lúc này là 9 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Bạc Liêu kết thúc bằng cuộc mít tinh tuần hành to lớn với rừng cờ đỏ sao vàng, chào mừng ủy ban giải phóng dân tộc. Tối ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban hành chính cách mạng lâm thời tỉnh Bạc Liêu thành lập (trên cơ sở Ủy ban giải phóng dân tộc). Tiếp theo tỉnh lỵ, ta khởi nghĩa giành chính quyền ở toàn bộ các quận, xã trong tỉnh. Ngày 23 tháng 8 năm 1945 cũng trở thành ngáy truyền thống của lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau.

Khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi nhanh chóng và không đổ máu ở Bạc Liêu nói lên sự lãnh đạo kịp thời nhạy bén của Đảng, ý chí cách mạng, sức mạnh quật cường của quần chúng nhân dân trong tỉnh. Mặc dù thời gian tổ chức chuẩn bị gấp, nhân dân Bạc Liêu dưới sự lãnh đạo của đảng bộ đã kịp thời, nhất tề vừng lên, phối hợp với cả nước giành thắng lợi trọn vẹn và sớm nhất 80 với các tỉnh và thành phố Nam Bộ.

Cách mạng tháng Tám thành công là sự đổi đời của nhân dân, từ người dân nô lệ đã đứng lên làm chủ vân mệnh của mình. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ vua quan phong kiến cả ngàn năm trên đất nước ta, chấm dứt nỗi khổ nhục mất nước của dân tộc Việt Nam. Từ đây lịch sử dân tộc, cũng như của Đảng bộ, quân dân tỉnh Bạc Liêu chuyển sang trang mới với thời kỳ đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, đồng thời buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến trưởng kỳ suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ” chấn động địa cầu và kết thúc bằng chiến dịch “Hồ Chí Minh” lịch sử, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


(1) Tổ chức bán vũ trang rộng rãi của Nhật.
(2) Cơ lính thủ hộ của Pháp, sau Nhật đổi tên là Cộng hòa vệ binh.
(3) Đứng đầu 12 phái Cao đài Hậu Giang.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:46:40 am
Chương một

ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

I. DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ, QUÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU DŨNG CẢM CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1946)

Cuộc khởi nghĩa ngày 23 tháng 8 năm 1945, nhân dân Bạc Liêu đã cùng cả nước đập tan bộ máy thống trị của thực dân phong kiến, giành lại chính quyền từ tay phát xít Nhật. Việt Nam đã trở thành một nước độc lập tự do, từ một dân tộc bị nô lệ đứng lên ngang hàng với các dân tộc trên thế giới. Hòa với niềm vui, tự hào của nhân dân cả nước đón chào ngày độc lập, trong những ngày đầu giành chính quyền, Đảng bộ và quân dân tỉnh Bạc Liêu cũng đương đầu với những khó khăn chồng chất. Tuy là một tỉnh giàu lúa gạo, nhưng đại bộ phân nhân dân lúc bấy giờ thiếu ăn, bệnh tật nhiều nhưng thiếu thuốc chữa trị, hầu hết nhân dân phải mặc quần bô, áo bố. Các tệ nạn cờ bạc đĩ điếm, trộm cắp, nghiện thuốc phiện, tệ mê tín dị đoan lan tràn từ tỉnh lỵ đến vùng thôn quê.

Tử ngày 25 đến 26 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ, chính quyền cách mạng từ quận đến làng được thành lập. Ủy ban hành chính cách mạng lâm thời tỉnh Bạc Liêu ra mắt trước 2 vạn đồng bào. Đồng chí Lê Khắc Xương, Bí thư Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Mật trận Việt Minh tuyên bố từ nay xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thành lập chính thể dân chủ cộng hòa, quyền tự do dân chủ thuộc về nhân dân, mà nhân dân lao động là trên hết. Đồng chí kêu gọi nhân dân trong tỉnh đoàn kết xung quanh chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh, ra sức bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tiếng hoan hô nhiệt liệt của toàn thể đồng bào nối lên vang dội trước lời tuyên bố mới mẻ chưa bao giờ có trong lịch sử.

Ổng Nguyễn Tú Vinh, đại biểu trí thức, Chủ tịch ủy ban hành chính cách mạng lâm thời thay mặt chính quyền bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân, với Đảng Cộng sản Đông Dương, hứa hẹn đem hết tinh thần và nghị lực làm trong nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho. Lần lượt đại biểu thanh niền tiền phong, các đoàn thể cứu quốc, các tầng lớp nhân dân nói lên niềm tự hào là một người dân được sống trong độc lập, tự do, tin tưởng sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, quyết tâm đoàn kết cùng nhau giữ vững độc lập, dù phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và cả thế giới nhà nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” ra dời.

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 nhiệm vụ cấp bách đó là: chống giặc đói, chống giặc dốt, tuyển tổng cử, xây dựng nếp sống mới, xóa bỏ 3 loại thuế (thuế thân, thuế chợ, thuế dò). Tự do tin ngưỡng. Sau đó Người khái quát thành ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói. diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sắc lệnh của Chính phủ, nhân dân Bạc Liêu đã cùng nhân dân cả nước tiến công trên ba mặt trận: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Đồng thời hường ứng “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ Vàng” để dùng vào việc khẩn cấp, nhất là cho quốc phòng. Nhiều đồng bào trong tỉnh đem cả vàng vòng, nhẫn cưới hiến cho cách mạng (số vàng do đồng bào ủng hộ trên 80 kg), được sự chỉ đạo của Xứ ủy đồng chí Lê Khắc Xương, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Bạc Liêu xuất một số vàng cho hai đồng chí Dương Quang Đông và Phan Thái Hòa (Ba Nhâm) đi sang Xiêm(1) mua vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang tỉnh và khu.

Tỉnh Đảng bộ đặc biệt coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Từ những ngày đầu vận động cách mạng, trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã chú ý xây dựng lực lượng vũ trang như: đội du kích Tân Hưng Tây - Rạch Gốc, Tân Ân... sau khi giành chính quyền trong các nhiệm vụ cấp bách nhằm củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng và xây dựng đời sống nhân dân. Đảng bộ xem việc xây dựng lực lượng vũ trang hết sức bức thiết.


(1) Thái Lan ngày nay.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:47:36 am
Đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên được thành lập trên cơ sở đơn vị lính “Gạc-xi-vin” của Pháp, sau đổi tên là đơn vị “cộng hòa vệ binh”, có chi bộ Đảng do đồng chí Trang Văn Tỷ làm bí thư, được bổ sung lựa chọn từ đoàn viên thanh niên cứu quốc, thanh niên tiền phong ở các lảng Vĩnh Lợi, Vĩnh Trạch, Long Thạnh, Hòa Bình, Vĩnh Mỹ. Trong một thời gian ngắn, đơn vị vũ trang được củng cố bổ sung, thành một đại đội lấy tên thống nhất trong toàn xứ là “Cộng hòa vệ binh”. Đại đội lúc này có 100 quân do ông Đinh Công Thưởng làm đại đội trưởng, đồng chí Trang Văn Tỷ làm chính trị viên, đồng chí Nguyễn Huân, anh Huỳnh Tấn Trực làm đại đội phó. Hàng trăm nam nữ thanh niên, học sinh tham gia các lớp y tá, cứu thương, sẵn sàng tình nguyện tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu khi có chiến tranh.

Đơn vị quốc gia, tự vệ cuộc (an ninh tỉnh) cũng được thành lập. Đồng thời lực lượng du kích, tự vệ chiến đấu xây dựng phát triển rộng rãi đến quận, làng. Phong trào luyện tập quân sự được đông đảo quần chúng thanh niên tham gia hưởng ứng nhiệt tình, chỉ với tầm vông, giáo mác đã góp phần giữ gìn an ninh trật tự trên đường phố, trong xóm ấp. Trang bị của các đơn vị lực lượng vũ trang lúc bấy giờ gồm súng lấy của Pháp, mua của Nhật, tịch thu của hội tề, địa chủ, và nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong khi đó, từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh, đã lần lượt chiếm giữ nhiều bót cảnh sát và nổ phát súng đầu tiên đánh chiếm Sài Gòn. Các nơi quân Pháp chiếm đóng, lực lượng vũ trang và nhân dân chống trả quyết liệt, bao vây quân Pháp trong nội thành.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra lời kêu gọi “Pháp đã xâm lược nước ta một lần nữa, Độc lập hay là chết. Tất cả đồng bào già, trẻ, gái, trai hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược”.

Ngày 24 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho đồng bào Nam Bộ nhắc lại lời một nhà đại cách mạng Pháp “thà chết tự do, còn hơn sống nô lệ”. Nhân dân trong tỉnh trước tiếng kêu sơn hà nguy biến, hết sức căm thù bọn thực dân Pháp trở lại cướp nước ta, thề quyết đứng lên để cứu nước, cứu mình.

Tình ủy Bạc Liêu họp ra nghị quyết chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến: Đồng chí Tào Văn Tỵ, ủy viên quân sự tỉnh, được giao nhiệm vụ làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến; tăng cường xây dựng các đơn vị lực lượng vũ trang, sản xuất vũ khí... đồng thời đồng chí Tào Văn Tỵ cấp tốc điều động một trung đội cộng hòa vệ binh, trang bị đầy đủ do đồng chí Nguyễn Văn Năm (Tú tài Năm) và Trương Văn Sáu chỉ huy khấn trương lên đường chi viện cho Mặt trận Tân An. Một trung đội cộng hòa vệ binh khác cũng được lệnh lên đường chi viện cho Mặt trận biên giới Hà Tiên. Đồng thời một trung đội thanh niên xung phong của tỉnh cũng được tăng cường cho mặt trận Bình Thủy (Cần Thơ). Đai đội cộng hòa vệ binh tỉnh gấp rút tổ chức xây dựng thêm 2 trung đội mới, lực lượng cảm tử quân được thành lập do anh Nguyễn Cử Trọng và Tạ Kim chỉ huy.

Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến được đẩy mạnh tử thành thị đến nông thôn. Nhiều cuộc mít tính, hội họp được tổ chức. Mọi người dân sục sôi lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược. Các bài hát: “Tiếng gọi thanh niên”, “xếp bút nghiên lên đàng chiến đấu”, “Hội nghị Diên Hồng”, “dòng sông hát”, “Chi Lăng”, “Bạch Đằng giang”... thúc giục thanh niên lên đường cứu nước.

Để có thêm vũ khí trang bị cho dân quân tự vệ, ngoài số vũ khí thu được của Pháp, Nhật, Ủy ban kháng chiến tỉnh động viên nhà sư chùa Long Phước Tự (chùa Cô Bảy) tọa lạc tại phường 5 thị xã Bạc Liêu ngày nay cho sử dụng chùa làm nơi đúc lựu đạn. rơ-sạc lại đạn cũ, sửa súng hư. Xưởng còn sử dụng ga-ra của ông Năm Bửu và nhà anh Tạ Kim làm phi tiêu, mã tấu, dao găm. Xưởng do đồng chí Long Báo (Hai Khe) chỉ đạo, sau đó xưởng được dời xuống đình Cây Giang - Long Điền. Đồng thời công binh xưởng còn được thành lập ở Cái Tàu, Biện Nhị. Các lò rèn ở các địa phương đều biến thành công binh xưởng sản xuất vũ khí thô sơ, các ban tiếp tế, ấp, làng, quận được thành lập. Nhân dân tích cực đóng góp nhiều của cái vát chất để ủng hộ kháng chiến, đảm bảo đầy đù lương thực, thực phẩm, nuôi bộ đội.

Trong tháng 10 và tháng 11 năm 1945, theo sự chỉ đạo của Xứ ủy, Bạc Liêu hợp nhất hai tỉnh ủy Bạc Liêu - Cà Mau và hợp nhất ban nhóm “Tiền phong”. “Độc lập”. “Giải phóng”. Đảng bộ bầu Ban chấp hành mới gồm 15 đồng chí. Đồng chí Lê Khắc Xương và sau đỏ đồng chí Phan Thúc Rịch làm bí thư. Tỉnh ủy chủ trương: “phải nắm chắc ba công cụ sắc bén là chính quyền, cơ quan an ninh (quốc gia tự vệ cuộc) và lực lượng vũ trang”. Cuối tháng 10 năm 1945, đồng chí Lê Khắc Xương kiêm nhiệm chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thay ông Nguyễn Tú Vinh; đồng chí Tào Văn Tỵ làm ủy viên quân sự trong Ủy ban hành chính, trực tiếp nắm lực lượng vũ trang; đồng chí Nguyễn Khắc Cung phụ trách lực lượng quốc gia tự vệ cuộc. Cuối tháng 10 năm 1945 Mặt trận Sài Gòn - Tân An diễn ra hết sức ác liệt, các đơn vị lực lượng vũ trang trong đó có trung đội cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu chiến đấu dũng cảm gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, nhưng do lực lượng ít, vũ khí trang bị kém nên ta không đủ sức ngăn chặn các mũi tấn công của địch xuống miền Tây.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:48:06 am
Ngày 27 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm Mỹ Tho. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Pháp đánh chiếm tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 30 tháng 10 năm 1945, Pháp đưa quân bằng đường sông tiến đánh Cần Thơ. Trung đội thanh niên xung phong tỉnh Bạc Liêu phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Cồn Thơ dũng cảm chiến đấu, diệt nhiều địch. Qua nhiều ngày chiến đấu ác liệt hai bên bờ rạch Bình Thủy, do quân địch hơn ta gấp nhiều lần, 13 chiến sĩ thanh niên xung phong Bạc Liêu dũng cảm chiến đấu và anh dũng hy sinh. Đồng bào Bình Thủy thương tiếc những chiến sĩ Bạc Liêu đặt tên đơn vị này là đơn vị “Bình Thắng”, các chiến sĩ được mai táng tại nghĩa trang Bình Thủy (sau ngày miền Nam hoàn toàn giai phóng, tỉnh Cần Thơ dựng bia tưởng niệm 13 chiến sĩ “Bình Thắng” tai Bình Thủy).

Trung đội cộng hòa vệ binh chi viện cho mặt trận Hà Tiên sau khi tham gia nhiều trận đánh ở biên giới có lệnh lui về Rạch Giá phối hợp với các đơn vị Rạch Giá tham gia đánh địch ở Rạch Sỏi, đồng chí Lựu chiến sĩ quê ở Hòa Bình hy sinh tại Rạch Sỏi. Đơn vị này sau này còn tham gia chiến đấu ở Tầm Vu.

Ngày 9 tháng 1 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Sóc Trăng. Ủy ban kháng chiến tỉnh Bạc Liêu, trực tiếp là ủy viên quân sự Tào Văn Tỵ điều đơn vi lực lượng vũ trang lên phối hợp với Sóc Trăng mở mặt trận Nhu Gia để ngăn bước tiến của địch xuống Bạc Liêu. Ông Đinh Công Thưởng và kỹ sư Nhâm dùng thuốc nổ phá sập một phần cầu Nhu Gia. Đêm 10 tháng 1 năm 1946, quân Pháp dùng thuyền vượt sông Nhu Gia, chờ quân địch ra đến giữa sông ta bất ngờ nổ súng bắn chìm tất cả thuyền chở quân Pháp, tiêu diệt 17 tên địch. Sáng hôm sau lực lượng ta tổ chức bắn tỉa quân địch bên bờ bắc diệt 5 tên nữa. Đêm 11 rạng 12 tháng 1 năm 1946 ta bí mật vượt sông tập kích dữ dội vào quân Pháp diệt thêm 20 tên, lực lượng ta có 2 chiến sĩ bị thương nhẹ. Sáng ngày 12 tháng 1, quân Pháp cả bộ binh và cơ giới buộc phải rút quân về Sóc Trăng.

Trong lúc quân địch ồ ạt tiến đánh hầu hết các tỉnh Nam Bộ, Tỉnh ủy Bạc Liêu lại nhận được chủ trương tổ chức bầu cử quốc hội. Lấn đầu tiên người dân Bạc Liêu cùng nhân dân cả nước tự do, binh đẳng chọn lựa những đại biểu xứng đáng bầu vào Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, có trên 95% số cử tri nô nức đi bỏ phiếu. Đồng chí Ngô Thị Huệ, tỉnh ủy viên, đại diện Mặt trận Việt Minh, cụ Cao Triều Phát đại diện Cao đài Hậu Giang; ông Nguyễn Văn Đính đại diện trí thức đắc cử đại biểu quốc hội lần đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Tiến công bằng đường bộ thất bại, ngày 29 tháng 1 năm 1946, quân Pháp dùng tàu thủy hành quân theo sông Cổ Cò - Vàm Lẻo tiến chiếm thành Bạc Liêu. Đơn vị cộng hòa vệ binh, cảm tử quân và hàng trăm dân quân tự vệ các làng Hưng Hội, Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi tổ chức trận địa phục kích ngăn chặn địch. Ta căng dây cáp ngang sông chặn tàu và ken các bè chứa đầy xăng. Theo kế hoạch khi tàu giặc Pháp đến, ta dùng khẩu đại liên 20mm bắn vào tàu giặc và bắn vào các bè xăng làm bốc cháy trên mặt sông, đốt tàu giặc. Song ở trận địa phục kích tại Vàm Lẻo có nội gián phá hoại. Đại liên bắn không nổ, bè xăng không cháy, tàu giặc phá dây cản, tiến chiếm tỉnh lỵ Bạc Liêu, cùng lúc chúng đưa quân đánh chiếm quận Vĩnh Châu.

Đồng chí Tào Văn Tỵ, Ủy viên quân sự tỉnh trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ tịnh lỵ Bạc Liêu, điều đội cảm tử quân mai phục tại cầu sắt Cả Phượng. Khi bọn địch tiến vào thành Bạc Liêu, đội cảm tử được trang bị lựu đạn và một số súng trường do đồng chí Hai Ngó chỉ huy từ trên lầu cao ném lựu đạn và bắn tỉa vào đội hình địch tiêu diệt hàng chục tên. Nhưng do chưa quen đánh trong thành phố, chỉ biết tiến mà không chuẩn bị đường rút lui, lựu đạn ta nhiều trái không nổ. Sau gần nửa ngày ta và địch giằng co, quân Pháp bao vây bắt sống 13 đồng chí ta. Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946, chúng đem 13 chiến sĩ cảm tử ra bắn tại Cầu Quay (cầu Kim Sơn ngày nay).

Cả ngày và trong đêm 30 tháng 1 năm 1946, một bộ phận cộng hòa vệ binh do đồng chí Trang Văn Tỷ, Nguyễn Huấn chỉ huy, phối hợp với đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Cần Thơ đánh địch ở ngoại ô diệt 20 tên Pháp, thu một số vũ khí, phá hủy nhiều công sự chiến đấu của địch. Đồng chí Tào Văn Tỵ và Nguyễn Khắc Cung tổ chức cho lực lượng tự vệ làng Long Thạnh phá cầu Sập. Đồng chí Nguyễn Vân Uông, ủy viên quân sự quận Giá Rai huy động nhân dân các làng Phong Thạnh, Long Điền, Vĩnh Mỹ, Hòa Bình vừa phá lộ, vừa đốn hạ cây, cột dây thép và làm nhiều chướng ngại vật trên mặt đường. Một số bè rơm và ghe chài chứa đầy đất được nhận chìm xuống kinh xáng đoạn cầu số 2 nhằm ngăn chặn cuộc tiến quân bằng đường sông của Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:48:44 am
Đồng bào trên tuyến lộ Đông Dương và ven quốc lộ 4 nhân dân thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”, một bộ phận tản cư ra các áp ven biển thuộc làng Vĩnh Mỹ, Long Điền, một bộ phận tán cư về hướng Vĩnh Hưng, Phước Long, Phong Thạnh Tây.

Cùng thời điểm trên, lực lượng vệ quốc đoàn của Khu 8, Khu 9 và các tỉnh ủy, ủy ban hành chính, ủy ban kháng chiến cùng lực lượng cộng hòa vệ binh các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng đều lui về Ngang Dừa, ngã tư Vĩnh Phú, Cạnh Đền, Đầu Sấu.

Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946 (29 tết âm lịch Ất Dậu), Pháp dùng tàu chuyển quân theo sông kinh xáng Bạc Liêu - Cà Mau xuống đánh chiếm quận lỵ Giá Rai. Đến cầu Sập, chúng bị lực lượng tự vệ làng Long Thạnh, Hòa Bình, chặn đánh bằng súng lửa và vũ khí thô sơ. Do tương quan lực lượng và vũ khí trang bị quá chênh lệch, lực lượng tự vệ ta rút lui sau một hồi chiến đấu. Khi tàu địch đến cầu số 2, lọt vào trận địa của ta, khẩu đại liên ta nổ được vài loạt rồi kẹt đạn, ta lại rút lui.

Một cánh quân khác do tên địa chủ Pháp E-vơ-ra chỉ huy tiến bằng đường bộ đánh chiếm thị tứ Hòa Bình và tiến xuống Giá Rai, đến ấp Bình Lãng tự vệ làng Hòa Bình nổ súng chiến đấu rất ác liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng nhiều đồng chí ta hy sinh, trong đó có toàn bộ ban chỉ huy gồm các anh Tạ Văn Hồ, Phùng Lai Hòa, Mã Hoài Sơn. Tại Láng Tròn, đơn vị cộng hòa vệ binh quận Vĩnh Lợi phối hợp với cộng hòa vệ binh quận Thạnh Trị - Sóc Trăng chặn đánh gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng cũng không ngăn chặn địch tiến chiếm quận Giá Rai.

Ngay trong đêm 31 tháng 1 năm 1946, lực lượng cộng hỏa vệ binh tỉnh Sa Đéc do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy phối hợp với trung đội cộng hòa vệ binh quận Giá Rai do đồng chí Trần Khương Kiện làm trung đội trưởng tập kích vào đội hình quân Pháp vừa đóng chiếm ở Giá Rai. Ta tiêu hao một bộ phận quân địch, nhưng đồng chí Trần Khương Kiện hy sinh (năm 1952 ta lấy tên của đồng chí Trần Khương Kiện đặt tên cho một xã của huyện Giá Rai).

Quân địch tạm dừng ở Giá Rai vì cả đường sông và đường bộ xuống Cà Mau chúng vấp phải nhiều chướng ngại vật không đi được. Đúng lúc này đồng chí Nguyễn Văn Sa, đại biểu đi dự Đại hội thanh niên toàn quốc, được đặc trách chở vũ khí của Trung ương tăng cường cho Quân khu 9, qua nhiều chặng đường, được các đồng chí Nguyễn Chánh (Quân khu 5), Dương Bạch Mai, Nguyễn Bình (Quân khu 7, Đỗ Phát Quang (Bến Tre) giúp đỡ tổ chức vận chuyển số vũ khí về đến Khu 9, Bạc Liêu, lực lượng vũ trang quận Cà Mau được tăng cường một số súng đạn và lựu đạn.

Ngày 2 tháng 2 năm 1946 (tức ngày mùng một Tết), quân địch dùng tàu sắt từ kinh xáng Hộ Phòng theo sòng Gành Hào đánh chiếm quận lỵ Cà Mau. Đồng chí Phạm Ngọc Cử, phụ trách quân sự Cà Mau trực tiếp chỉ huy trung đội cộng hòa vệ binh, bố trí chặn đánh địch từ ngoài vào quận lỵ gây cho địch nhiều thương vong. Khi địch vào được thị trấn, ta lợi dụng sông rạch địa hình phức tạp liên tục vây đánh địch trong quận lỵ.

Địch đánh chiếm quận lỵ Giá Rai. Cà Mau và đánh lên Vĩnh Thuận, Ba Đình đã tác động đến tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, một số cán bộ cấp tỉnh hoang mang dao động. Tỉnh ủy và ủy ban hành chính tuy có kế hoạch chống địch tái chiếm, tiêu thổ kháng chiến và sơ tán rút lui về xây dựng căn cứ, nhưng kế hoạch chưa nêu cụ thể và chưa dự kiến hết tình huống. Do đó khi địch tấn công ồ ạt, mỗi cơ quan cấp tỉnh và đơn vi lực lượng vũ trang đều lui về mỗi nơi không thống nhất, từ đó các cơ quan đầu não tỉnh mất liên lạc với nhau, tỉnh không liên lạc được với quận và ngược lại. Riêng Ủy ban kháng chiến do đồng chí Tào Văn Tỵ chỉ huy cùng một số lực lượng cộng hòa vệ binh tỉnh lui về Phước Long theo cụ Vũ Đức(1). Đến trung tuần tháng 2 năm 1946, toàn tỉnh “đứt hệ thống” tình hình nảy vô cùng phức tạp, bọn Việt gian phản động nhiều nơi ngóc đầu dậy tản sát đồng bào để trả thù, một bộ phận cán bộ chạy ra đầu hàng giặc, nạn trộm cắp nổi lên khắp nơi.

Ngày 2 tháng 2 năm 1946, một số đồng chí Xứ ủy: Ung Văn Khiêm, Phạm Hùng và Võ Sỹ triệu tập cuộc họp bất thường tại rạch Bà Đặng - Thời Bình, có cả chỉ huy, lãnh đạo Khu 8. Khu 9 và các tỉnh đến dự, nội dung là việc phải tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến như thế nào trước tình hình địch và ta hiện giờ.


(1) Nơi có tổng hành dinh của Khu bộ Khu 9.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:49:50 am
Hội nghị đều nhất trí là phải xin Trung ương chi viện gấp, nhưng về phương cách tiến hành cuộc kháng chiến thì có hai loại ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất: chủ trương phân tán lực lượng võ trang, dựa vào dân, bám vào cơ sở cách mạng ở các tỉnh, xây dựng vùng U Minh làm căn cứ, áp dụng chiến thuật du kích, bí mật luồn sâu về vùng tam chiếm khôi phục phong trào kháng chiến.

Ý kiến thứ hai: nên đưa đại bộ phận lực lượng vũ trang Khu 8 và Khu 9 lên miền Đông cùng Khu 7 đánh giặc. Như thế sẽ có điều kiện nhận sự chi viện của Trung ương nhanh hơn. Khi lực lương vũ trang ba khu lớn mạnh sẽ từ Khu 7 kéo xuống phối hợp với phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên. Chủ trương này còn được gọi là “xuyên Đông”. Loại ý kiến này được các đồng chí Xứ ủy và một số đồng chí dự hội nghị đồng ý, riêng đồng chí Vũ Đức - Khu bộ trưởng Khu 9 và một số cán bộ dân, quân, chính, đảng phản đối quyết liệt chủ trương này.

Hội nghị tranh luận rất căng thẳng, kéo dài đến nửa đêm. Đa số người dự hội nghị thiên về ý kiến thứ hai. Đồng chí Đào Văn Trường (Khu trưởng Khu 8) và đồng chí Vũ Đức (Khu trưởng Khu 9) được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng “xuyên Đông”.

Đơn vị do đồng chí Đào Văn Trường, Khu bộ trưởng Khu 8 chỉ huy thực hiện chủ trương “xuyên Đông”, vượt được sông Hậu đến Bến Tre, bị địch tấn công thương vong một số phải dùng ghe biển chạy ra cực Nam Trung Bộ,

Lực lượng vũ trang Quân khu 9, một vài tiểu đội đến bờ sông Hậu (quận Kế Sách) bi địch ngăn chặn không qua sông được. Đồng chí Vũ Đức, Khu bộ trưởng Khu 9 ra lệnh triệu hồi không “xuyên Đông” nữa. Đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do ông Đinh Công Thưởng chỉ huy được lệnh sang Phước Long. Các đồng chí Tào Văn Tỵ, Trang Vân Tỷ và ông Đinh Công Thưởng ở tại tổng hành dinh cụ Vũ Đức. Một bộ phận đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do đồng chí Nguyễn Huân và đồng chí Hứa Bá Lộc chỉ huy đóng tại làng Vĩnh Hưng.

Cùng thời điểm này, mặt trận Tân Hưng đã được hình thành, chủ yếu là lực lượng cộng hòa vệ binh quận Cà Mau do đồng chí Mai Văn Khoa và Vương Tấn Phát chỉ huy.

Trung tuần tháng 2 năm 1946, Bộ chỉ huy Chiến khu 9 họp hội nghị mở rộng ở Ngan Dừa - Phước Long, có đại biểu các tỉnh thuộc khu đến dự. Hội nghị quyết định tổ chức ra ba phản khu (còn gọi là 3 mặt trận).

Tổ chức và nhiệm vụ của 3 phân khu như sau:

1 - Phân khu Ngan Dừa - Phước Long, đồng chỉ Phạm Ngọc Hưng chỉ huy đóng tại ngã tư Vĩnh Phú. Lực lượng gồm có bộ đội Nam tiến: cộng hòa vệ binh các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Tại đây còn gọi là tổng hành dinh của đồng chí Vũ Đức, Khu bộ trưởng và Chính trị bộ chủ nhiệm Phan Trọng Tuệ.

2 - Phân khu Cái Tàu - An Biên là căn cứ địa lâu dài và bảo vệ công binh xưởng, do Khu bộ phó Nguyễn Ngọc Bích, Trần Văn Nghĩa (Gia Long) và Võ Quang Anh phụ trách, lực lượng gồm cộng hòa vệ binh các tỉnh Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc và Rạch Giá.

3 - Phân khu Tân Hưng - Cà Mau, chủ yếu lả lực lượng cộng hòa vệ binh quận Cà Mau và lực lượng tự vệ các làng chung quanh thị trấn Cà Mau, tổ chức lập mặt trận ngăn chặn địch. Đến giữa tháng 3 năm 1946, khu tăng cường thêm lực lượng Nam tiến và đồng chí Tăng Thiên Kim về chỉ huy mặt trận này.

Đồng thời tại hội nghị này, Bộ chỉ huy Khu quyết định thành lập lực lượng sát gian đoàn, thực chất là đội vũ trang tuyên truyền trừ gian diệt ác, đi gây dựng lại cơ sở trong vùng bị tạm chiếm và đô thị.

Trong tháng 6 năm 1946, đồng chí Tào Văn Tỵ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Bạc Liêu được điều lên khu đi công cán theo chi thị của Khu bộ trưởng Vũ Đức.

Giữa lúc Đảng bộ và quân dân Nam bộ, Chiến khu 9 và tỉnh Bạc Liêu gặp muôn vàn khố khăn thì Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 ký kết, đã tạo ra một sức mạnh và khí thế mới về chính trị, tinh thần cho cuộc chiến ở Nam Bộ nói chung, Đảng bộ và quân dân Bạc Liêu nói riêng. Nhiều đoàn biểu tình của quần chúng ở các làng Hòa Bình, Vĩnh Mỹ, Long Điền, thị trấn Cà Mau kéo tới các đồn bót gặp những tên đồn trưởng Pháp đòi chúng thi hành hiệp định, đòi thừa nhận quyền hợp pháp của Việt Minh trong khu vực chúng chiếm đóng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:18:49 pm
Ngày 15 tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy Bạc Liêu triệu tập hội nghị tại ấp Bà Bèo - làng Tân Hưng. Hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình địch, ta và nhận định tình hình sắp tới. Hội nghị quyết định phân công cán bộ đảng viên trở lại các địa bàn bám đất, bám dân, khôi phục lại phong trào trong vùng địch tạm chiếm, diệt tề trừ gian, chống giặc càn quét, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, đồng thời hội nghị bầu đồng chí Trần Văn Đại làm Bí thư Tỉnh ủy (thay cho người tiền nhiệm trước đó bỏ cơ sở chạy qua Xiêm).

Nhưng thực dàn Pháp không thi hành hiệp định, chúng ngoan cố phá hoại cuộc đàm phán giữa đồng chí Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Văn Châu tại Ngan Dừa - Phước Long (16-3-1946) với tên chỉ huy Pháp trên tàu để yêu cầu phía Pháp thi hành hiệp định.

Sáng ngày 17 tháng 3 năm 1946, quân Pháp bắt đầu tấn công mạnh vào mặt trận Phước Long - Ngan Dừa. Lực lượng ta dựa vào công sự chặn đánh địch quyết liệt suốt 2 ngày 3 đêm tại ngã tư Vĩnh Phú. Ta và địch mỗi bên giữ một bờ kinh xáng, cuộc chiến giằng co không bên nào xung phong được. Lực lượng ta vì thiếu đạn được không thể chiến đấu lâu dài được, lần lượt tổ chức rút lui về Tân Lộc, Tân Lợi, Khánh Bình, Cái Rắn. Sau khi mặt trận Phước Long bị tan vỡ, một số đơn vị lực lượng vũ trang của khu, của tỉnh được tăng cường về phối hợp với mặt trận Tân Hưng - Cà Mau.

Đến cuối tháng 3 năm 1946, ta huy động trên 1.000 người dân với lực lượng tự vệ, du kích làm nòng cốt và hàng trăm xuồng ghe chở cây hàng cản Tắc Thủ. Kinh nghiệm hàng cản, đắp đập để ngăn chặn tàu địch ở Tác Thù và cả mặt trận Tân Hưng sau này được phổ biến ra cả miền Tây để phòng giữ các căn cứ kháng chiến.

Trong khi quân Pháp đánh xuống phía nam và đang bị mặt trận Tân Hưng ngăn chặn ở phía đông bắc Cà Mau. Theo lời kêu gọi của cụ Cao Triều Phát, hơn 2.000 tín đồ phái Cao đài Hậu Giang tập trung về thánh thất Giồng Bốm, hàng ngày đào công sự, luyện tập võ nghệ lập căn cứ để chống Pháp và bảo vệ đạo.

Ngày 6 tháng 4 năm 1946 (nhằm ngày mùng 5 tháng 3 năm Bính Tuất), Pháp cho 1 trung đội tấn công vào Giồng Bốm, nhằm để thăm dò thái độ phản ứng và khả năng kháng cự của lực lượng phái Cao đài Hậu Giang. Lực lượng võ trang tự vệ của đạo(1) chặn đánh địch từ xa, buộc chúng rút lui. Ngày 12 tháng 4 năm 1946, Pháp lại mở đợt tấn công quy mô lớn hơn. Chúng cho 3 máy bay bắn phá ác liệt, gây cho lực lượng đạo một số thương vong (11 người tử trận, hàng chục người khác bị thương). Sáng ngày 15 tháng 4 năm 1946, Pháp đưa 2 tiểu đoàn quân viễn chinh chia làm ba mũi tấn công vào Giồng Bốm. Chúng ném bom, pháo kích dữ dội vào tòa thánh, lực lượng “thanh niên đạo đức đoàn” với gươm, kiếm, dao găm đánh giáp lá cà với địch. Do tương quan lực lượng không cân sức, cụ Cao Triều Phát ra lệnh mở đường máu rút lui bảo toàn lực lượng. Trưa cùng ngày quân Pháp chiếm thánh thất Giồng Bốm. Trận địa Giồng Bốm thất thủ, toàn bộ nhà cửa và thánh thất bi đốt, trên 100 chức sắc và thanh niên đạo đức đoàn tử trận. Trận Giồng Bốm là trận đánh lớn nhất của tín đố cao dài Hậu Giang trong kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.

Trước đó, vào đầu tháng 4 năm 1946, quân Pháp nhiều lần đánh vào mặt trận Tân Hưng. Lực lượng của ta tại mặt trận Tân Hưng lúc này gồm cộng hoa vệ binh quận Cà Mau và các làng lân cận, được tăng cường thêm đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do Nguyễn Huân, Trang Văn Tỷ, Hứa Bá Lộc chỉ huy cùng với bộ phận cộng hòa vệ binh của các tỉnh Vĩnh Long, Sóc Trăng và đơn vị Nam tiến của khu. Mặt trận bố trí với chính diện từ sông Ông Đốc (Voi Vàm) qua Rạch Rập, lộ xe đến Gành Hào, chiều sâu từ sát thị trấn Cà Mau tới đình Tân Hưng đồn Cái Rắn và bố trí thành nhiều tuyến mà tuyến chính là đình Tân Hưng. Đồng thời ta vận động quần chúng nhân dân tham gia quyên góp ủng hộ, xung phong làm cản trên sông, đắp mô trên lộ và tải thương; điển hình có nữ đồng chí Trần Thị Minh Khai (Hai The), quận ủy viên Cà Mau vận động hàng trăm chị em phụ nữ đi tiếp tế nuôi quân.

Với tinh thần kiên quyết chiến đấu giữ vững mặt trận, mặc dù với vũ khí thô sơ, nhưng lực lượng võ trang ta biết dựa vào địa hình kinh rạch phức tạp, được quần chúng nhân dân ủng hộ, giúp đỡ đã đánh bại nhiều đợt tấn công của địch có cả máy bay và tàu sắt diệt nhiều tên.


(1) Còn có tên gọi là “Thanh niên đạo đức đoàn”.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:19:20 pm
Ngày 2 tháng 5 năm 1946, giặc Pháp mở cuộc đợt tiến công vào mặt trận Tân Hưng. Hướng chính diện quân Pháp đưa bộ binh cò xe cơ giới yểm trợ tiến theo hướng lộ xe Cà Mau - Năm Căn. Hướng vu hồi phía tây, chúng cho tàu chiến tiến ra Tắc Thủ và theo sông Ông Đốc hòng đánh tạt sang hướng trái và vu hồi phía sau ngăn chặn quân ta rút về U Minh. Một bộ phận tàu chiến khác có chở cả bộ binh tiến về phía Đông theo sông Gành Hào - kinh xáng Đội Cường, nhằm đánh vòng bên sườn phải không để quân ta rút về rừng đước Năm Căn.

Quân ta chặn đánh quyết liệt, chặn đứng nhiều đợt tiến công của quân địch trên hướng chính diện, nhưng không chặn được hai hướng vu hồi đường sông. Trong trận đánh trên kinh xáng Đội Cường, các đồng chí Tô Bình Đẳng, Huỳnh Ngọc Điệp, Nguyễn Văn Thanh, Trung Can cải tiến thủy lôi Nhật để đánh tàu địch. Khi tàu địch đến, thủy lôi nổ nhưng không trúng mục tiêu, các cỡ súng trên tàu địch bắn mãnh liệt vào đội hình của quân ta, đồng chí Trung Can anh dũng hy sinh.

Mặt trận Tân Hưng tuy bị tan vỡ, nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ, ngăn chặn địch trong suốt ba tháng, đù thời gian cho Xứ ủy, Khu ủy, Tỉnh ủy xây dựng các vùng căn cứ ở Cái Tàu - U Minh và vùng rừng đước Năm Căn. Mặt trận Tân Hưng còn nói lên sức mạnh của chiến tranh nhân dân theo đường lối lãnh đạo của Đảng, là một sự kiện nổi bật trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp và từ đây đã rút ra một số bài học về hình thức tác chiến, phân tán lực lượng, tiến hành chiến tranh du kích, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, không còn dàn mặt trận và tổ chức các phân khu như trước, địch dễ tập trung lực lượng tiêu diệt mặt trận ta.

Sau khi phá vỡ Mặt trận Tân Hưng, quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng vào nông thôn sâu ở Bạc Liêu, Cà Mau. Sự kiện trên cùng gây nên tâm lý bi quan, thiếu tin tưởng của một bộ phận cán bộ và quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, kể từ đây ta chấm dứt lối đánh bằng cách dàn một trận có tính chất phòng ngự và vận dụng rộng rãi chiến tranh du kích khi tiến công địch trong mọi lúc, mọi nơi, trên cả ba vùng, bằng cả ba mũi giáp công.

Cơ quan Khu ủy và Khu bộ Khu 9 rút về Đầm Dơi, một bộ phận chuyển về làng Khánh An, Khánh Lâm, cơ quan Tỉnh ủy chuyển về Tân Thuận. Có một số ít cấp ủy viên hoang mang, dao động trước tình hình khó khăn. Các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh, quận bị tiêu hao, tình hình chiến đấu sa sút sau khi mặt trận Tân Hưng tan vỡ và rút về Đầm Dơi, Cái Tàu. Lực lượng vũ trang các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Sóc Trăng đều rút về địa bàn tỉnh nhà.

Trong tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1946, các đơn vị vũ trang nhỏ đều phân tán, còn đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh theo chỉ đạo của trên, trước tình hình khó khăn, đơn vị cho anh em về giấu súng ở khâu Cây Bông xã Long Điền Tây - Đông Hải ngày nay) và phân tán vào dân. Một số về thăm gia đình sau một tháng tập hợp trở lại. Lẻ tẻ có một vài đơn vị vũ trang mất phương hướng có những hành động cướp bóc của nhà giàu và thậm chi xung dột lẫn nhau đã phải xử lý. Chính quyền đoàn thể cấp xã hầu như không còn hoạt động. Một số người tích cực chỉ hoạt động lẻ theo hướng dẫn của tổ chức Đảng. Lúc này các đồng chí đảng viên cũ, các đồng chí từ Côn Đảo và các nhà tù khác trở về sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và một số cán bộ đầy nhiệt huyết cách mạng gánh vác vai trò có ý nghĩa quyết định để củng cố gây dựng lại phong trào.

Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên-Việt ra đời. Hội có nhiệm vụ mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Hội Liên-Việt tỉnh Bạc Liêu do ông Dương Thuần Chương làm hội trưởng. Hội tập hợp nhiều nhân sĩ, trí thức, tín đồ các tôn giáo như: Phật giáo, Tịnh độ sư sĩ, Cao đài, Thiên chúa giáo, Tin lành vào hội. Mặt trận đoàn kết dân tộc ở Bạc Liêu càng được mở rộng, nhiều nhà trí thức, chức sác, tôn giáo không làm việc cho Pháp, đưa cả gia đình vào “bưng biền”, vào chiến khu tham gia kháng chiến.

Cuối tháng 5 năm 1946, đồng chí Tào Văn Tỵ đi công cán theo lệnh Khu bộ trưởng Vũ Đức, khi về nước cùng đồng chí Nguyễn Văn Sa được Tỉnh ủy phân công xây dựng lực lượng dân quân du kích tỉnh, đồng thời chuẩn bị bốn bãi tại cửa Rạch Gốc và cửa Bồ Đề để nhận vũ khí mua từ bên Xiêm (Thái Lan) đưa về để trang bị thêm cho các đơn vị vũ trang tỉnh và khu.

Cũng vào cuối tháng 5 năm 1946, theo sự chỉ đạo, các huyện ủy và một bộ phận lực lượng vũ trang trở lại địa phương, bám cơ sở hoạt động. Nhiệm vụ trọng tâm lúc này diệt tề ngụy ác ôn (gọi là phá tề), thành lập các đội diệt tề và cài cắm người vào các ban hội tề nhằm vô hiệu hóa hoạt động của chúng


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:20:05 pm
Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và đúng đắn của Khu ủy và Tỉnh ủy, sự vững vàng và tích cực nỗ lực của một số cán bộ, đảng viên trung kiên, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân đã vượt qua cơn thử thách hiểm nghèo. Phong trào kháng chiến tạm lắng một thời gian nhưng sớm được tổ chức lại và dần dần hồi phục phát triển.

Đầu tháng 6 năm 1946, vào lúc 8 giờ sáng một đội vũ trang có súng phun lửa do hai đồng chí Trần On và Nguyễn Thanh Hiền chỉ huy hóa trang chặn tàu đò Năm Căn - Cà Mau tại ngã ba sông Xóm Ruộng (Đầm Dơi) diệt hai tên Pháp, thu 2 khẩu súng và 60 viên đạn, đồng thời viết thư báo cho quân Pháp ở Cà Mau biết bộ đội cụ Vũ Đức trừng trị quân xâm lược. Ngày hôm sau, được đồng bào báo tin có hai tên lính ngụy theo xuồng tam bản của dân đi Cà Mau, cũng tại vàm Xóm Ruộng; đồng chí Trần On bắn chết một tên, bị thương một tên thu 2 súng trường Nhật và 60 viên đạn.

Ngày 20 tháng 6 năm 1946, quân Pháp cướp 360 xuồng của dân, chở lính Pháp và lính Khơ-me tiến đánh vào căn cứ Cái Tàu (rừng U Minh). Bộ đội Trần Hồng Sơn, Trần Tứ Phương, Chủ tịch Dậu tổ chức phục kích hai bên bờ sông vàm Tắc Thủ đi Cái Tàu bắn chim 200 xuồng, diệt 80 tên, thu nhiều súng đạn. Liên tiếp trong ngày 23 tháng 6 năm 1946, quân Pháp mở trận càn vào Tân Lộc, lực lượng vũ trang quận Cà Mau diệt 13 tên, thu 6 súng. Bọn Pháp tình nghi Ban hội tề làng có quan hệ với Việt Minh, có quan hệ với tề ở làng Tân Lộc.

Trên địa bàn hai quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, “Ban tối trời” của ta liên tục hoạt động diệt nhiều tên tề gian ác. Bọn tề do Pháp mới dựng lên hoảng sợ rút về Bạc Liêu.

Tháng 7 năm 1946, tờ báo “Tiếng súng kháng địch” của lực lượng vũ trang Quân khu 9 do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng trực tiếp phụ trách biên tập, ấn loát tại Đầm Dơi ra số đầu tiên đã báo hiệu một thời ki mới của cuộc kháng chiến ở Bạc Liêu và cả miền Tây Nam Bộ.

Cũng trong tháng 7 năm 1946, các chiến sĩ đại đội cộng hòa vệ binh tỉnh được lệnh về Gò Cát - Long Điền lấy súng tập hợp theo đơn vị. Bộ đội khu và tỉnh tổ chức thành vệ quốc đoàn. Ở khu, đồng chí Huỳnh Phan Hộ thay đồng chí Vũ Đức làm khu bộ trưởng, ở Bạc Liêu thành lập Ban Tham mưu tỉnh chỉ huy lực lượng Vệ quốc đoàn do đồng chí Tào Văn Tỵ, Ủy viên quân sự, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh chỉ huy chung; ông Đinh Công Thưởng, Tham mưu trường; đồng chí Hồ Hùng, Nguyễn Văn Sa làm tham mưu phó. Bộ đội tỉnh được tập hợp lại, một bộ phận được phân công bảo vệ cơ quan đầu não của tỉnh đóng ở Tân Hòa - Đầm Dơi; bộ phận lớn tập trung xây dựng, huấn luyện, kết hợp với địa phương diệt tề, trừ gian. Trong xây dựng đơn vị Vệ quốc đoàn đặc biệt coi trọng xây dựng kỷ luật quan hệ đoàn kết quân dân và phối hợp tốt với các địa phương diệt tề trừ gian. Phương châm đánh địch lúc bấy giờ là “chắc thắng, lấy súng địch trang bị cho ta”. Ngày đầu củng cố lại đơn vị vệ quốc đoàn có một trung đội do đồng chí Nguyễn Huân làm trung đội trưởng, đồng chí Tạ An Khương có trình độ văn hóa khá được bầu làm chính trị viên thay cho đồng chí Trang Văn Tỷ bị địch bắt.

Cùng thời gian này theo sự chỉ đạo của tỉnh ủy, đã có hàng trăm cán bộ đảng viên trong tỉnh trở về địa phương hoạt động, nối lại hệ thống từ tỉnh đến các quận, làng; kiện toàn, củng cố thành lập ủy ban hành chính các quận, đặc biệt ủy ban hành chính các cấp đều có ủy viên quân sự. Ở Vĩnh Lợi, ông Lâm Minh Thanh làm ủy viên quân sự; quận Giá Rai, ông Trần Vĩnh Ninh làm ủy viên quân sự. Ở quận Vĩnh Châu do tình hình phức tạp, tổ chức đảng và cán bộ đảng viên quá mỏng không bám được địa bàn. Nội thành Bạc Liêu trắng cơ sở, trắng đảng viên nên đến ngày 25 tháng 12 năm 1946 mới thành lập được ủy ban hành chính. Trong khi đó quàn Pháp thường xuyên đóng trên tỉnh lỵ Bạc Liêu hơn 2000 tên. Chúng tăng cường lùng sục, càn quét ra các vùng ven nội ô. Chúng xây dựng bộ máy cảnh sát gồm những tên ác ôn khét tiếng như: Mo-rết-ti, Xếp Huế, cò Mi Túc, cai Thâu. Bọn này hằng ngày bắn giết đồng bào không gớm tay. Trong một trận càn vào ấp Giồng Me, chúng bắt được 12 người dân đang nhổ mạ đem về bắn tại cầu Cái Tràm.

Sau Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng ở Tân Hòa (8-1946), đai đội dân quân tỉnh và đại đội công an xung phong được tăng cường lên các quận Giá Hai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Bạc Liêu nhằm hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích vùng địch hậu; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ ưu tú trong các đơn vị lực lượng vũ trang tăng cường về các làng Vĩnh Châu. Ban quân sự tỉnh cử đồng chí Cao Kiến Thiết, Ủy viên đặc biệt của Ban quân sự tỉnh về xây dựng cơ sở ở làng Vĩnh Lợi; đồng chí Tần Xuân Định, cán bộ phòng Tham mưu thuộc Ban quân sự tỉnh được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban hành chính làng Lai Hòa. Các đồng chí Nguyễn Thị Nga, Trần Thị Bướm, Huỳnh Nghi Đoàn được bố trí hoạt động hợp pháp xây dựng cơ sở địch trong nội thành Bạc Liêu và thị trấn Cà Mau.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:22:03 pm
Do ta nắm được quy luật hoạt động của bọn địch ở đồn Lai Hòa, đồng chí Giang Bol, đại đội phó dân quân tỉnh hóa trang đóng giả sĩ quan Pháp cùng tiểu đội mặc sắc phục lính Pháp đột nhập vào chợ Xẻo Me, lên xe đò chạy thẳng vào Lai Hòa. Bọn lính trong đồ Lai Hòa không hay biết gì, khi xe dừng lại trước cửa đồn lực lượng ta bất ngờ xông vào đồn nổ súng diệt gọn quân địch trong đồn, thu toàn bộ vũ khí.

Ngày 29 tháng 8 năm 1946, để kỷ niệm ngày Quốc khánh 2 tháng 9, vào lúc 3 giờ khuya, trung đội Vệ quốc đoàn do đồng chí Phạm Hồng Thám chỉ huy đã kết hợp với nội ứng tập kích đồn Tân Bằng tiêu diệt cả một trung đội địch, trong đó có 12 tên Pháp thu toàn bộ vũ khí. Với chiến thắng này ta đã giải phóng tuyến sông Trẹm, căn cứ U Minh Thượng - U Minh Hạ được nối liền. Sau trận diệt đồn Tân Bằng, tinh thần quân địch đã lung lay, ta bố trí người vận động được 16 lính ngụy ở Thới Bình mang 16 súng về với nhân dân. Đây là hai trận diệt đồn đầu tiên bằng hình thức hóa trang, kỳ tập của lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu.

Đầu tháng 9 năm 1946, sau một thời gian xây dựng, công tác và chống địch càn quét, ta quyết tâm bố trí đơn vị vệ quốc đoàn tỉnh đánh một trận diệt tàu địch để thu vũ khí. Đơn vị bố trí trận địa phục kích đánh tàu trên kinh xáng Cái Ngang. Khi tàu địch đến, khi chiến sĩ ta vừa nổ súng, trung đội trưởng Nguyễn Huân phát hiện trong tàu địch đa số là đồng bào ta. Đồng chí ra lệnh thôi bắn và chạy ra trước trận địa làm hiệu ra lệnh cho đơn vị và đã hy sinh vì một viên đạn lạc. Nhớ người chỉ huy kiên cường, hy sinh vì nhân dân, đồng bào Cái Ngang lấy tên đồng chí đặt tên cho xã mình “xã Nguyễn Huân”, đơn vị cũng lấy tên đồng chí đặt tên cho đơn vị “trung đội Nguyễn Huân”; đồng chí Hứa Đá Lộc được đơn vị bầu làm trung đội trưởng, đồng chí Tiết làm trung đội phó. Đơn vị về đóng quân tại Rạch Xóm Ruộng củng cố và tập luyện. Vào đầu tháng 10 năm 1946, đơn vị được trinh sát báo tin địch đi càn ra Mương Điều, chúng chở quân bằng ghe lườn. Đơn vị tổ chức trận địa phục kích tại vàm Xóm Ruộng. Khi bọn địch trở về. ta bất ngờ nổ súng tiêu diệt 12 tên, chỉ còn 2 tên sống sót, thu 10 súng; ta an toàn. Đây là trận đầu ra quân thắng lợi, được Tỉnh ủy và ban tham mưu biểu dương.

Từ đầu tháng 9 năm 1946, phong trào kháng chiến đã được khôi phục ở nhiều nơi trong tỉnh. Đội du kích được thành lập lại trên nhiều làng. Các tổ chức đoàn thể hội nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố xây dựng lại và đi vào hoạt động thiết thực. Bộ đội sống trong nhân dân chuyên lo xây dựng và chiến đấu, việc tiếp tế nuôi quân được đoàn thể và nhân dân lo, nhân dân nuôi bộ đội và cùng bộ đội đánh giặc, tình đoàn kết quân dân được xây dựng củng cố qua gian nan thử thách. Một kinh nghiêm được rút ra ở thời kì này là “bộ đội không có chính trị sẽ không vững, tổ chức không sát quần chúng sẽ tan rã”.

Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với chính phủ Pháp bản Tạm ước 14 tháng 9, Ủy ban nhân dân Nam bộ chủ trương “triệt để lợi dụng hình thức công khai để tuyên truyền cho kháng chiến cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tích cực củng cố chính quyền và hoạt động quân sự mạnh lên, gia tăng địch vận kết hợp với nội ứng, làm cho quân địch càng hoang mang dao động”.

Với ý nghĩa tích cực của Tạm ước 14 tháng 9, trên chiến trường Bạc Liêu, ở một số địa phương như: các làng Long Điền, Phong Thạnh, Vĩnh Mỹ, ta và địch gặp nhau thương lượng thi hành hiệp ước, án binh bất động. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình được tổ chức rầm rộ ở vùng giải phóng. Bọn tế điệp chung quanh đồn bót hoang mang, một số tên xin thú tội. Uy thế của cách mạng càng lên cao.

Đến cuối tháng 9 năm 1946, đồng chí Cao Kiến Thiết cùng các đồng chí àởthành Bạc Liêu tổ chức lại Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể thanh niên, phu nữ và lão thành cứu quốc cũng được thành lập lại 4 vùng ven thành Bạc Liêu.

Ngày 20 tháng 10 năm 1946, sau nhiều lần vận động, cụ Cao Triều Phát đứng đầu 12 phái Cao đài thống nhất được Tỉnh ủy mời về Tân Hòa, xã Tân Thuận, cụ nhất trí đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh. Trong lễ tuyên thệ được tổ chức trang trọng, cụ Cao Triều Phát tuyên thệ trung thành với Chính phủ Hồ Chí Minh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc.

Lời tuyên thệ của cụ Cao Triều Phát cũng là lời tuyên thệ của toàn bộ chức sắc, chức việc, tín đồ phái Minh chơn đạo Hậu Giang. Từ đây họ mãi mãi gắn bó với cách mạng, với Đảng.

Theo tinh thần thông tư của Ủy ban nhân dân Nam Bộ quy định “ai trong hàng ngũ địch trở về được hưởng quyền công dân”, ở Bạc Liêu đến cuối tháng 10 năm 1946 các nhân viên hội tề ra tuyên bố “cương quyết tự giải tán, dù nguy hiểm đến đâu cũng không sờn lòng, không thể hợp tác được với Pháp, xin cách mạng tha thứ quá khứ”, nhiều binh sĩ địch rã ngũ, hầu hết các ban hội tề giải tán, số còn lại hoang mang không dám hoạt động.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:22:41 pm
Cùng thời điểm này, chính sách phân ly “Nam Kỳ tự trị” của Pháp cũng bị phá sản. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, Nguyễn Văn Thinh - thủ tướng Chính phủ “Nam Kỳ tự trị” treo cổ tự tử. Sự kiện này làm chấn động hàng ngũ tay sai của Pháp.

Đầu tháng 11 năm 1946, đồng thời với việc xây dựng củng cố chính quyền và đoàn thể các cấp, đồng chí Cao Kiến Thiết cùng các địa phương tổ chức thành lập mới hai trung đội tự vệ chiến đấu của tỉnh. Tuy mang tên là đơn vị tự vệ nhưng những đơn vị này được Ban quân sự tỉnh trực tiếp quản lý, điều động chiến đấu trong toàn tỉnh.

Vào cuối tháng 10 năm 1946, đồng chí Tào Văn Tỵ xuống làng Tân Ân - Rạch Gốc, phát hiện ra sự việc trước đó mấy tháng ông Huỳnh Ngọc Báu cho trái thủy lôi, anh em trong làng cải tiến trái thủy lôi, ngày 5 tháng 5 năm 1946 đem đi đánh tàu Pháp ở kinh xáng Đội Cường nhưng không thành công. Đồng chí móc ráp số anh em đó về tập hợp ở vùng 6 lò than Tân Ân, đơn vị thủy lôi được chính thức thành lập tại đây; quân sổ lúc đầu có 15 đồng chí do đồng chí Huỳnh Ngọc Điệp phụ trách trong đó có các đồng chí Tô Bình Đẳng, Nguyễn Văn Thuận, Võ Văn Lược, Lê Văn Bén, Tạ Văn Cương... Trái thủy lôi đầu tiên sưu tầm được đem về Đầu Trâu chỉ còn 3/4 thuốc nổ, anh em nghĩ ra cách trộn tro trấu vào và đem thủy lôi đi đánh tàu.

Ngày 1 tháng 11 năm 1946, trái thủy lôi cải tiến đầu tiên do ba đồng chí: Điệp, Vốn, Võ, đưa đến vàm Giá Ngự cài dưới lòng sông Khi tàu địch đến, ta điểm hỏa cho thủy lôi nổ, nhưng sức công phá của thủy lôi chưa đủ mạnh, tàu địch chỉ vỡ một mảnh nhưng không chìm. Nhân dân Đầm Dơi - Năm Căn rất phấn khởi. Đóng bào hăng hái đem cho thủy lôi và cả thuốc nổ, riêng ông Huỳnh Ngọc Báu đem cho 8 trái thủy lôi. Lúc này đội thủy lôi đã có hàng chục trái.

Ngày 7 tháng 11 năm 1946, đội thủy lôi lại bố trí trận địa đánh tàu vàm Mây Dốc - Vàm Đình, lực lượng ta chia thành 3 tổ đánh 3 trái thủy lôi do đồng chí Tào Văn Tỵ trực tiếp chỉ huy. Sáng ngày 10 tháng 11 năm 1946, một tàu sắt và một xà lan giặc lọt vào trận địa phục kích, trái thủy lôi của tổ chặn đầu dây giặt bị đứt, thủy lôi không nổ, chiếc tàu La Ton-năng (La Tonnante) chạy lướt qua, trái thủy lỏi thử hai nổ làm chìm xà lan phía sau, chiếc tàu thứ hai Ma-ri Hăng-rêt (Marie Henriette) vẫn chạy tới. Khi chiếc Ma-ri Hăng-rết vừa đến tổ một thì đồng chí Vốn đã nối lại được dây giật, trái thủy lôi nổ, chiếc tàu địch chìm xuống đáy sông mang theo xác cả một trung đội lính Lê Dương. Đồng chí Cao Văn Hùng (Cao Kiến Thiết) cùng 20 chiến sĩ được phân công ở lại vận động nhân dân mò tìm gần 100 khẩu súng, nhiều đạn dược, quân trang quân dụng và một cặp đựng tài liệu và tiền.

Chiến thắng Mây Dốc - Vàm Đình là trận thủy lôi chiến đầu tiên của Bạc Liêu, mở ra khả năng mới trừng trị giặc Pháp, quân dân nức lòng phấn khởi và cũng từ đó tàu sắt của Pháp không còn là phương tiện bất khả xâm phạm.

Cũng trong tháng 11 năm 1946, đội công tác do đồng chí Dung Văn Phát (Năm Đông) phụ trách đi mua vũ khí ở Thái Lan đưa về một đoàn ghe chở vũ khí trọng tải từ 8 - 14 tấn. Cùng với số vũ khí này còn có thêm anh em tình nguyện quân từ Thái Lan về thành lập đại đội Cửu Long 1 do đồng chí Nhăm và sau đó là đồng chí Hạp là đại đội trưởng, đồng chí Lý Hồng Hải làm chính trị viên; đại đội lúc đầu có 3 trung đội, có 160 cán bộ, chiến sĩ.

Cuối năm 1946, theo sự chỉ đạo thống nhất của ủy viên quân sự Nam Bộ, các tỉnh thành lập chi đội vệ quốc đoàn (trước đó tháng 10 năm 1946 thành lập Ban quân sự tỉnh do đồng chí Tào Văn Tỵ làm trưởng ban) tỉnh Bạc Liêu thành lập chi đội 25 vệ quốc đoàn do đồng chí Nguyễn Văn Sỏi làm chi đội trưởng, Nguyễn Văn Sa làm chính trị viên. Lúc này chi đội 25 có 3 trung đội: trung đội “Nguyễn Huân” do đồng chí Hứa Bá Lộc chỉ huy, trung đội “Ngọc Hiển” xây dựng từ lực lượng vũ trang Cà Mau do đồng chí Trần Hồng Sơn và Trần Tử Phương chỉ huy, trung đội “Phạm Văn Đồng” do đồng chí Trần Đức Hiền chỉ huy; một thời gian sau các trung đội trở thành đại đội, chi đội chuyển thành Trung đoàn 125; các đại đội gốm: Đại đội 1093, 1094 và 1095.

Người chỉ huy vệ quốc đoàn chịu sự chỉ huy của Khu bộ Khu 9. Riêng ở Bạc Liêu lúc này lực lượng vệ quốc đoàn có lực lượng tự vệ chiến đấu và các tổ chức võ trang như trung đội thủy lôi do Ban quân sự tỉnh chỉ huy.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:24:27 pm
II. PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN (12-1946 - 12-1950)

Đầu tháng 10 năm 1946, tướng Đác-giăng-li-ơ của Pháp thực hiện chính sách “tằm ăn lá”, từng bước thực hiện âm mưu lấn chiếm miền Bắc nước ta. Y công khai phủ nhận các điều khoản đã ký trong Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946. Quân viễn chinh Pháp tiến hành đánh phá chính quyền cách mạng và lặp lại bộ máy cai trị trên đất nước ta một lẳn nữa.

Từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 18 tháng 12 năm 1946, quân Pháp lần lượt đánh chiếm Hải Phòng, Đồ Sơn, Hải Dương, Đà Nẵng, Tiên Yên và cho máy bay quần lượn suốt ngày trên bầu trời Hà Nội và cuối cùng là chúng đưa tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi ta phải đình chỉ mọi hoạt động đang ráo riết chuẩn bị cho kháng chiến, phải trao cho quân Pháp duy trì trật tự an ninh trong thủ đô. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Lời kêu gọi có đoạn viết:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lẻn đánh thục dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.


Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đầu năm 1947, quân dân trong tỉnh Bạc Liêu tích cực hưởng ứng đẩy mạnh phong trào kháng chiến lên một bước mới. Hệ thống chỉ huy quân sự từ chi đội, tỉnh đến quận, làng được củng cố. Tỉnh ủy tăng cường cán bộ, đảng viên ưu tú vào lực lượng vũ trang. Cấp tỉnh thành lập tỉnh đội bộ dân quân, đồng chí Tào Văn Tỵ được chỉ định làm tỉnh đội trưởng, đồng chí Phan Văn Xoàn làm chính trị viên, đồng chí Trần Văn Thoại làm tỉnh đội phó, các quận thành lập quận đội bộ dân quân. Đồng chí Thanh, quận đội trưởng Vĩnh Lợi; đồng chí Nghiêm, quận đội trưởng Giá Rai; đồng chí Lầm, quận đội trưởng Hồng Dân. Du kích được tổ chức rộng rãi, đã có 500 du kích tập trung và 1.000 du kích xã, ấp. Ngoài ra, tỉnh còn có Đại đội tự vệ chiến đấu 101, công binh xưởng được mở rộng, ban tiếp tế các cấp cũng được thành lập đã vận động nhân dân ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm.

Về địch đầu năm 1947, Pháp trút đại bộ phận quân viễn chinh ở Nam Bộ tăng cường cho miền Trung, miền Bắc. Thay vào đó, chúng ra sức bắt lính phát triển ngụy quân. Bằng thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo các lãnh tụ tôn giáo phản động trong Cao đài Tây Ninh, Hòa hảo, Công giáo và người Khơ-me, chúng tổ chức thành lập biệt kích, chủ lực.

Ngày 8 tháng 1 năm 1947, địch thành lập đơn vị vũ trang Cao đài phái Tây Ninh do thiếu tá Nhã chỉ huy đóng tại Cà Mau, tiếp đó chúng lập đội biệt kích công giáo. Chúng bắt nhiều thanh niên Khơ-me ở Vĩnh Châu, Hòa Bình, Vĩnh Mỹ, Hộ Phòng, Cà Mau đưa vào lính ngụy. So sánh tương quan về số lượng giữa ta và địch lúc bấy giờ địch 3 ta 1. Tuy quân số đông, vũ khí hiện đại, nhưng địch không thật sự mạnh do đại đa số bị ép buộc hoặc bị mua chuộc, tinh thần chiến đấu kém lại không được nhân dân ủng hộ.

Tháng 2 năm 1947, du kích Hưng Mỹ do Chủ tịch Dậu chỉ huy phối hợp với bộ đội tỉnh bao vây đồn Rau Dừa do một trung đội lính Pháp đóng giữ. Qua nhiều ngày đêm bao vây, tập kích, bắn tỉa và kết hợp đưa người vào làm nội ứng, làm ly gián nội bộ của địch, cùng với phong tỏa đường tiếp tế, ta diệt 8 tên buộc bọn địch phải bỏ đồn rút chạy.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:24:59 pm
Cùng thời gian trên, 9 tự vệ làng Vĩnh Lợi chỉ với cây roi trong tay, phục kích gần đầu lộ số 1, đường ra bót Cây Bàng, bất ngờ tấn công tốp lính canh ruộng muối. Bọn lính bị bất ngờ hoảng hốt quẳng súng bị chạy tán loạn, ta bắt sống 1 tên thu 4 súng. Tại bót Cây Bàng, ta cử má Sáu Cầu (người Khơ-me lai) làm nghề đặt đó ở Cây Bàng, hàng ngày má thường ghé vào bót cho lính một số tôm, cá để gây cảm tình với chúng. Qua một thời gian má xây dựng được hai cơ sở trong lính Khơ-me. Dựa vào lực lượng nội tuyến, ta cho cơ sở dẫn dụ số lính ra khỏi đồn, tước được 11 khẩu súng.

Ngày 10 tháng 3 năm 1947, đồng chí Phan Văn Nam (Năm Chà) thuộc lực lượng Quốc vệ đội dùng colt 12 mm diệt tên cai Thâu tại góc Nhà Thờ gần cầu số 3 (Nhà Thờ phường 2 ngày nay). Cai Thâu là một tên gian ác đã từng phá hoại phong trào và cơ sở cách mạng trong nội thành Bạc Liêu. Việc trừng trị hắn có tác dụng cành cáo bọn tay sai và thúc đẩy tinh thần kháng chiến của nhân dân trong nội thành và vùng phụ cận. Tám ngày sau đồng chỉ Năm Chà lại bắn chết một tên Tây đen gần hồ bơi, thu 1 súng. Từ đây ở các quận các làng có hàng trăm tên Việt gian cũng bị trừng trị.

Tháng 3 năm 1947, một bộ phận trung đội Nguyễn Huân kết hợp với du kích dùng mìn diệt 2 xe địch trên lộ Rạch Rắn - Cây Giang, thu 2 súng. Cùng thời gian trên, đồng chí Hứa Bá Lộc bố trí 2 tiểu đội vệ quốc đoàn phục kích giữa đoạn kinh xáng Hộ Phòng - Gành Hào diệt 1 trung đội lính Pháp, thu 1 súng trung liên, 9 súng trường, bắt sống 1 số tên Pháp.

Đầu tháng 4 năm 1947, phát huy thắng lợi của lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh, đai đội tự vệ chiến đấu 101 phối hợp với du kích địa phương tổ chức phục kích đánh địch càn quét vào Gò Muồng - Định Thành, diệt 40 tên địch. Cùng thời gian này, 1 bộ phận của Đại đội 101 phục kích đánh giao thông trên kinh xáng Bạc Liêu - Cà Mau một đoạn gần cầu số 2, ta đánh chìm 3 xuồng chở đầy đồ tiếp tế của địch.

Giữa tháng 4 năm 1947, đại đội tự vệ chiến đấu 101 dùng bộc phá đánh sập cầu Cái Tràm và gài 4 quả mìn phục kích chặn đánh xe địch từ Bạc Liêu đến tiếp viện. Khi chiếc xe đi đầu trúng mìn nhiều tên địch văng xuống vệ đường tan xác, đồng chí Minh trung đội trưởng dẫn đầu đơn vi xung phong tiêu diệt những tên còn lại, nhưng đồng chí Minh chẳng may trúng đạn và anh dũng hy sinh.

Một giờ sau lại một đoàn xe địch đến tiếp viện, một bộ phận trở vào lấy xác đồng chí Minh thì bị địch bao vây. Đồng chí Diệu, đại đội phó chiến đấu mãnh liệt tập trung sự chú ý của địch về một hướng để đơn vị rút lui an toàn, riêng đồng chí anh dũng hy sinh. Thương tiếc hai đồng chí, chính quyền và nhân dân đặt tên xã Minh Diệu - Vĩnh Lợi.

Củng trong tháng 4 năm 1947, tự vệ chiến đấu cùng quốc vệ đội dùng 5 quả bom và địa lôi bố trí trận địa phục kích tại Cầu Trâu, đoạn quốc lộ 4 từ Bạc Liêu đi Sóc Trăng Đúng 8 giờ 30 phút sáng, hai đại đội địch do tên Ô-li-vơ chỉ huy phân khu Sóc Trăng - Bạc Liêu mở đợt càn vào Mỹ Điền - Long Điền. Sau khi đốt hàng trăm nhà của đồng bào, chúng rút quân về Sóc Trăng, đi đầu là xe thiết giáp và tiếp sau là các xe GMC. Khi hai xe thiết giáp đi đầu lọt vào trận địa, ta cho địa lôi nổ, toàn bộ quân địch trên hai chiếc xe đều bị tiêu diệt Bọn địch trên các xe GMC phía sau hoảng hốt nhảy xuống nằm sát hai bên mé lộ (ta vẫn giữ bí mật). Sau mấy phút hoàn hồn, bọn chỉ huy Pháp ra lệnh cho quần chúng tiến lên cứu bọn trên hai xe đang cháy. Chờ cho bọn địch tiến đến trái địa lôi lớn nhất (60 kg), ta điểm hỏa, thêm hàng chục tên địch chết tan xác. Nhưng bọn địch cứ tiến lên, ta cho trái địa lôi cuối cùng nổ, cùng lúc đồng loạt nổ súng mãnh liệt vào đội hình địch. Bọn còn lại quay đầu xe chạy về Bạc Liêu. Trận đánh diễn ra không quá 30 phút, ta phá hủy 2 xe thiết giáp cùng 2 khẩu trọng pháo 40mm, 3 đại liên và tiêu diệt gần 100 tên địch, thu 1 súng đại liên, 10 súng trường, 2 colt 12mm, trên 2.000 viên đạn, lực lượng ta an toàn.

Trung tuần tháng 4 năm 1947, lực lượng tỉnh phối hợp với du kích Vĩnh Lợi phục kích đánh tên địa chủ - thiếu tá Ê-vơ-ra bị thương và diệt 20 tên lính, sau đó lực lương ta tổ chức phục kích tại lẫm lúa Châu Oai trên đường Hòa Tấu - Hòa Bình, bắt sống thiếu tá Ê-vơ-ra.

Cuối tháng năm 1947, ta mời chị Bol Sal, người Khơ-me, vợ của đại úy Ô-li-vơ đến chỗ liên lạc và vận động chị cộng tác. Chị Bol Sai đã vận động được nhiều binh lính, nhất là binh lính người Khơ-me đã bí mật chuyển cho ta hàng nghìn viên đạn để đánh giặc. Cũng bằng địch vận, ta xây dựng được nhiều nội ứng trong bót hội đóng Điều. Đồng chí Nguyền Ngọc Được, cơ sở nội ứng của ta đã vận động và dẫn nguyên 1 tiểu đội có võ trang vào căn cứ cách mạng gia nhập vào hàng ngũ kháng chiến.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:26:13 pm
Ngày 14 tháng 5 năm 1947, ta nắm được tin quân Pháp đi tiếp tế cho đồn Đầm Dơi. Đội thủy lôi phối hợp với đơn vị vệ quốc đội do đồng chí Huỳnh Ngọc Điệp chỉ huy tổ chức đánh tàu địch. Ta huy động nhân dân cùng đơn vị đắp cản và bố trí 2 trận địa thủy lôi cách nhau 200m trên kinh xáng Mương Điều và cách cản về hướng Cà Mau 4 km, mỗi trận địa 20 đồng chí sẵn sàng chi viện cho nhau. Ngày 18 tháng 5 năm 1947, lúc 9 giờ sáng, tàu La-ton-năng thoát chết ở trận Mây Dốc dẫn xác vào phá cản, nhung không phá được. Tàu địch quay trở về Cà Mau nhưng rất chủ quan. Khi lọt vào trận địa phục kích, nhiều quả thủy lôi cùng nổ, chiếc tàu La-ton-năng chìm xuống đáy sông. Ủy ban hành chính làng Tân Duyệt và các làng lân cận đắp ngăn hai đầu kinh xáng nơi tàu chìm, suốt máy ngày đêm tát cạn khúc sông, lấy được 3 đại liên 13,2mm, 2 trung liên, 2 súng cối và toàn bộ quân trang quân dụng, ta tháo gỡ máy tàu đưa sang Thái Lan bán được 13.000 kíp(1) để mua vũ khí trang bị cho bộ đội tỉnh nhà.

Chiến thắng Mương Điều thể hiện rõ sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân. Quân dân đoàn kết một lòng, đắp cản chặn tàu làm địch không phá nổi, bố trí trận địa hết sức bất ngờ làm cho quân địch rất chủ quan và dùng sức ngươi tát cạn cả khúc sông. Trận thắng Mương Điều hòa cùng những trận thắng trên quốc lộ 4 đã làm nức lòng dân quân trong tỉnh, thúc đẩy phong trào cửa quân dân Bạc Liêu lên một bước mới. Sau trận này ta tích cực bao vây buộc địch rút hết đồn bót ở nam Cà Mau, chỉ còn lại đồn vàm xáng Đội Cường.

Ngày 19 tháng 5 năm 1947, nhân kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu, trung đội Vệ quốc đoàn “Nguyễn Huân” do đồng chí Hứa Bá Lộc chỉ huy, phối hợp với du kích làng Tân Thành tổ chức phục kích tại cua Chệt Hậu trên quốc lộ 4 cách thị tứ Tắc Vân 2 km về hướng đông. Ta dùng mìn diệt 2 xe địch, bắt sống 2 tên Pháp.

Cùng thời gian này, 19 đồng chí vệ quốc đội hóa trang là dân làm muối phục kích đánh địch tại ruộng muối Km số 5. Súng, lựu đạn giấu trong cần xé, trong ky, các chiến sĩ ta giả làm người cào muối, địch không hay biết. Bọn lính Cao đài kéo ra trên 100 tên đi hàng ba, súng quàng chéo trên lưng. Chờ địch đến cách 20m chiến sĩ ta chộp lấy súng bắn quét và ném lựu đạn vào đội hình địch. Trận chiến đấu diễn ra hết sức bất ngờ và chớp nhoáng làm cho bọn địch không kịp phản ứng, chúng bị tiều diệt gần hết, chỉ có hai tên chạy thoát, ta thu gần 100 khẩu súng đem về trang bị cho công an các quận. Nhân dân rất phấn khởi, còn bọn lính Cao đài đồn đi khắp nơi trong tỉnh: “bộ đội ông On đánh như xuất quỷ nhập thần”.

Ngày 30 tháng 5 năm 1947, bọn địch đi càn quét ở Vĩnh Hưng trên đường rút về lộ 4. đơn vị quốc vệ đội do đồng chí Trần On chỉ huy chặn đánh địch ở đoạn cầu Cả Dầy diệt 2 xe lội nước (crabe), thu 1 đại liên, 3 trung liên và hơn 1.000 viên đạn.

Tháng 7 năm 1947, du kích làng Hòa Bình hóa trang là dân hợp pháp đi chợ, bất ngờ xông vào đồn ấp Vôn (tức cầu Đìa Chuối) “ôm hè”, cướp súng giặc, diệt 3 tên, bắt sống 3 tên, thu 6 súng.

Đầu tháng 10 năm 1947, Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến hợp nhất thành Ủy ban kháng chiến - hành chính, nhằm để thống nhất chỉ đạo hai mặt kháng chiến và kiến quốc.

Phát huy chiến thắng Mương Điều, ngày 6 tháng 10 năm 1947, chỉ đội 24 Vệ quốc đoàn tỉnh Rạch Giá có thủy lôi của ông già Báu đưa lên và có tổ thủy lôi của Bạc Liêu tăng cường đã đánh chìm 2 tàu, 2 ghe máy, 2 ghe lồng chim của địch ở Ba Đình - Rạch Giá, diệt 80 tên Pháp và ngụy thu 2 súng trọng liên 13,2mm, 2 trung liên và 2 súng trường. Cùng thời gian này, đơn vị chi đội 25 Bạc Liêu liên tục đánh địch nhiều trận ở Chợ Hội, Huyện Sử, Bàu Mót, bao vây các đồn Thới Bình, Thứ 11, đánh địch ở Kinh Tư - Đập Đá diệt nhiều tên địch, thu 2 trung liên và 20 súng trường... Quân Pháp buộc phải rút các đồn lẻ trên tuyến Chắc Băng - Thới Bình, Cạnh Đền - Phước Long, vùng căn cứ của ta được mở rộng nối liền với các tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ.

Phối hợp với chiến dịch phản công Thu Đông ở Việt Bắc, tháng 11 năm 1947, Quân khu 9 điều chi đội 25 của tỉnh Bạc Liêu cùng lực lượng của Cần Thơ, Sóc Trăng tổ chức trận phục kích đánh đoàn xe địch ở Tầm Vu. Ta diệt 6 xe và 100 tên địch, thu nhiều vũ khí.


(1) Đồng tiền của Thái Lan lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:28:12 pm
Cùng trong tháng 11 năm 1947, đội thủy lôi tỉnh tổ chức trận địa phục kích, dùng thủy lôi đánh chìm tàu La Terrcar (khủng khiếp) của địch tại Ao Kho trên sông Gánh Hào cách thị trấn Cà Mau khoảng 6 km (đây là chiếc tàu lớn nhất của địch ở miền Tây), diệt 1 đại đội lính lê dương (chỉ còn 1 tên sống sót), ta thu 2 trọng liên 13,2mm, 2 đại liên, 50 súng trường.

Chiến thắng Giá Ngự, Mây Dốc - Vàm Đình, Mương Điều, Ao Kho, Ba Đình là những trận thủy lôi chiến tiêu biểu của quân dân Bạc Liêu và cả Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng này cùng với phong trào du kích, chiến tranh rộng khắp liên tiếp tấn công, bao vây bức rút đồn địch và chặn đánh các tuyến giao thông thủy, bộ đã buộc quân Pháp phải rút hết lính lê dương khỏi Bạc Liêu và giao lại cho quân ngụy; đồng thời quân địch rút hết các đồn bót, bỏ vùng nông thôn Bạc Liêu về phòng giữ trung tâm tỉnh lỵ, thị trấn, thị tứ và trục lộ 4 Bạc Liêu. Vùng nông thôn Bạc Liêu được hoàn toàn giải phóng, tạo điều kiện cho quân dân ta tiến công địch ở vùng đô thị và xây dựng căn cứ địa vùng giải phóng vững mạnh. Cuối năm 1947, Bạc Liêu có 27/34 làng được hoàn toàn giải phóng với trên 150 ngàn dân, chiếm 3/4 dân số trong tỉnh, tạo ra nguồn nhân lực vật chất dồi dào cung ứng kịp thời cho cuộc kháng chiến trong tỉnh và cả Nam Bộ.

Bên cạnh cách đánh “thủy lôi chiến” độc đáo, ở Bạc Liêu còn có chiến công là đắp và rào cản trên sông ngăn tàu địch. Đây là những công trình to lớn bằng sức lao động của hàng chục vạn lượt người dân, trong đó các lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Tổng số cản ở tỉnh Bạc Liêu lúc đó là 77 chiếc, trong đó có 28 cản lớn như: cản Vĩnh Hưng, cản Tắc Thủ, càn Mương Điều... Nhiều lần tàu giặc đến dùng mìn cố phá nhưng không kết quả

Qua một năm thử thách trong chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, Đảng bộ và quân dân Bạc Liêu đã từng bước trưởng thành, phong trào cách mạng nhanh chóng được khôi phục và không ngừng phát triển, liên tiếp giành thắng lợi lớn trên chiến trường, mở rộng vùng giải phóng, căn cứ địa được xây dựng liên hoàn, tạo tiền đề thuận lợi cho cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới.

Bước sang năm 1948, Bạc Liêu giao huyện Vĩnh Châu và làng Hưng Hội cho tỉnh Sóc Trăng và chia Cà Mau thành lập huyện mới Ngọc Hiển. Như vậy lúc này tỉnh Bạc Liêu có 4 huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Cà Mau, Ngọc Hiển với 34 xã và 391 ấp, hầu hết các xã đều có bộ máy chính quyền đầy đủ.

Trước đó vào tháng 6 năm 1947, đồng chí Trần Văn Sớm được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy thay cho đồng chí Nguyễn Văn Quảng được điều sang làm Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ.

Sau khi được đồng chí Trần Văn Sớm, Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt mặt trận Việt Minh mời đến giải thích chính sách giảm tô, giảm tức của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Ba Huy - “công tử Bạc Liêu”, một trong những địa chủ lớn hứa hẹn và chấp hành nghiêm chủ trương của Việt Minh.

Việc giảm tô, giảm tức ở Bạc Liêu vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp được thực hiện, một một vận động được hầu hết địa chủ trong tỉnh hưởng ứng, có nhiều địa chủ đã hiến đất cho cách mạng, mặt khác đã động viên tinh thần hăng say sản xuất của người nông dân, tích cực đóng góp cho công cuộc kháng chiến.

Sau thất bại ở Việt Bắc, chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” bị phá sản thực dân Pháp quay lại bình định chiến trường miền Nam, biến miền Nam thành hậu phương khai thác người và của phục vụ cho âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”. Tướng Đơ La-tua (De latour), Tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ đưa ra chiến thuật “đón bót và tháp canh”(1). Đầu năm 1948, quân địch ở Bạc Liêu có 2.663 tên gồm 1 đại đội lính lê dương mới được điều trở lại có 243 tên, còn lại là quân ngụy, chúng tăng cường quân củng cố các đồn bót và xây dựng hàng trăm tháp canh xung quanh thị xã, thị trấn và dọc theo quốc lộ 4 từ Bạc Liêu - Cà Mau nhằm bảo vệ các trục giao thông chính, bảo vệ các đoàn xe tiếp tế của chúng, đồng thời ngăn chặn hành lang tiếp tế vận chuyển của ta. Mỗi tháp canh chúng bố trí 1 tiểu đội hoặc tiểu đội thiếu, được trang bị súng trung liên, súng phóng lựu, súng trường và nhiều lựu đạn. Bằng chiến thuật này, ngoại vi thành Bạc Liêu và hai bên tuyến lộ 4 Bạc Liêu - Cà Mau trở thành vành đai trắng. Hàng nghìn gia đình nông dân hai bên tuyến lộ phải rời bỏ ruộng vườn, tản cư vào vùng giải phóng.


(1) Còn gọi là chiến thuật Đờ la-tua.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:30:22 pm
Với chiến thuật này địch đã gây cho ta nhiều khó khăn. Trong khi tháp canh của địch được xây rất kiên cố, trang bị vũ khí mạnh, lực lượng vũ trang ta chưa có vũ khí đánh lô cốt kiên cố. Đồng thời địch tăng cường tung do thám, gián điệp vào vùng giải phóng để chỉ điểm, dẫn đường cho địch vào đánh phá căn cứ ta, đã gây cho ta nhiều tổn thất nhất định.

Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, Tỉnh ủy chủ trương phát động phong trào phá lộ, hàn cản, làm hầm chông, bãi lửa ngăn giặc. Đã huy động hàng nghìn lượt người dân đi phá lộ Đông Dương(1) và tuyến lộ Bạc Liêu - Cà Mau và hàn nhiều cản lớn, nhỏ gây khó khăn không nhỏ cho quân địch và bảo vệ được vùng căn cứ của ta.

Tháng 3 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc trong: toàn Đảng, toàn quân toàn dân với khẩu hiệu: “Người người thi dua, ngành ngành thì đua. ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Tỉnh ủy Bạc Liêu chủ trương thi đua xây dựng vùng giải phóng ở mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội được quần chúng nhân dân hăng hái thực hiện, nhờ đó vùng giải phóng phát triển mạnh.

Trong tháng 3 năm 1948, theo chỉ thị của Xứ ủy, Đảng bộ Bạc Liêu tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II. Đại hội chủ trương: nhanh chóng xây dựng căn cứ địa tỉnh về mọi mặt nhằm đáp ứng kịp thời cho kháng chiến, kiến quốc. Đai hội đã bầu Ban chấp hành mới gồm 15 đồng chí, đồng chí Trần Văn Sớm được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

Đến giữa năm 1948, tỉnh chỉ đạo tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân xã và cử ra Ủy ban kháng chiến hành chính xã, thực hiện giảm tô 25%. Nhân dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất, đóng góp nhiều lương thực để nuôi quân, đồng thời tăng cường phá hủy kho dự trữ của địch trị giá trên 6 triệu đồng, đục chìm một thuyền to chở lúa tiếp tế của địch nhấn chìm gần 2.000 giạ lúa.

Trên địa bàn vùng căn cứ của tỉnh có công binh xưởng của Quân khu, dân quân xưởng, công an xưởng của tỉnh. Các xưởng quân giới đã sản xuất được một số loại vũ khí như: mìn, bazoka, lựu đạn, trôm lông, súng ngắn... đã kịp thời trang bị cho lực lượng vũ trang chiến đấu. Đồng thời cấp ủy và chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt, lực lượng tự vệ chiến đấu và du kích được phát triển tử tỉnh đến xã, ấp.

Cuối năm 1948, hưởng ứng chủ trương “Cuộc vận động thi đua rèn cán chỉnh quân” của Bộ quốc phòng, các đơn vị vệ quốc đoàn và dân quân du kích trong tỉnh đều đẩy mạnh phong trào thi đua học tập chính trị và rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật rất sôi nổi.

Lực lượng tự vệ chiến đấu và dân quân du kích phát triển rộng khắp. Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh có 230 tiểu đội dân quân tự vệ, trong đó có 25 tiểu đội nữ, du kích có 65 tiểu đội, trong đó có 16 tiểu đội nữ. Trong năm 1948, các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh 23 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 123 tên địch, làm bị thương 120 tên khác. Do phong trào du kích chiến tranh được đẩy mạnh, quân địch không dám bung ra càn quét, chỉ đóng chốt dọc quốc lộ 4 và vùng thị xã, thị trấn.

Đồng thời năm 1948, Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu giành được nhiều thắng lợi to lớn về mặt kinh tế - xã hội, nổi bật là việc tạm giao 199.752 ha đất cho hàng nghìn hộ nông dân sản xuất, thu thuế đạt 10.318.000 đ (tiền Đông Dương ngân hàng) xóa mù chữ 86.000 người. Tỉnh xuất 20% số tiền thuế, đặc biệt chỉ cho thương binh, vận động giúp đỡ 1.500 gia đình liệt sĩ, chiến sĩ tại ngũ.

Trong năm 1948, quân địch cũng gây cho ta nhiều thiệt hại về người và của. Ngày 13 tháng 3 năm 1948 Pháp đưa tiểu đoàn 19 bê-meo mở trận càn vào Vĩnh Hưng, đốt toàn bộ nhà cửa chợ Vĩnh Hưng, giết 130 người. Cũng trong tháng 3 năm 1948, Pháp đưa quân càn vào ấp Châu Điền, Ngân Điền, Mỹ Điền, xã Long Điền; chúng đốt 300 nhà dân và bắt 90 người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.

Tháng 5 năm 1948, các đại đội 1094 và 1095 tổ chức dùng thủy lôi phá Cầu Sập nhưng chỉ làm cầu bị nghiêng. Tháng 9 năm 1948, hai đại đội trên vận động đánh 1 tiểu đoàn địch đi càn quét cướp phá ở Cái Rắn - Rạch Mũi xã Tân Hưng, ta diệt 40 tên Pháp và 50 tên ngụy. Bộ đội Vệ quốc đoàn của tỉnh còn phối hợp với đơn vị của Quân khu đánh nhiều trận trên địa bàn tỉnh bạn. Chi đội 25 và đơn vị Cửu Long tham gia đánh trận Tầm Vu (lần 4). Trận này ta diệt hàng chục xe địch thu một khẩu đại bác 105 mm rồi dùng trâu kéo về căn cứ. Các đại đội 1094 và 1095 do đồng chí Trần Tử Phương chỉ huy còn tham gia trận Sóc Xoài ngày 4 tháng 8 năm 1948, diệt nhiều xe địch, thu 1 đại bác 90 mm.


(1) Quốc lộ 4.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:13 am
Trên địa bàn tỉnh nhà, trước những hoạt động có hiệu quả của lực lượng công an xung phong và quốc vệ đội, phòng nhì Pháp đã dùng thủ đoạn tiền và gái mua chuộc được Phan Văn Năm (Năm Chà), đại đội phó Quốc vệ đội. Ta đã kịp thời phát hiện, lấy phát động tư tưởng và giáo dục để giành lại con người bị địch mua chuộc. Năm Chà nhận ra tội lỗi của mình quyết tâm lấy công chuộc tội.

Được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Trần Văn Sớm, Bí thư Tỉnh ủy, Ty Công an lập kế hoạch tương kế tựu kế, cho ngươi liên lạc báo tin với địch là ta đồng ý tổ chức cuộc gặp để trao đổi tin địa chủ thiếu tá Ê-vơ-ra, tại căn nhà lá mương số 8 - Giồng Me (thuộc khóm 12, phường 2 bây giờ). Bọn phòng nhì Pháp hí hửng là nhân cơ hội này vừa nhận được tên Ê-vơ-ra, vừa đón Năm Chà dẫn đơn vị quốc vệ đội ra đầu hàng.

Phía địch đề phòng tối đa, chúng bố trí nhiều xe GMC, cho quân rải dọc đoạn lộ 4 từ Bạc Liêu đến Cầu Sập và rải một tiểu đoàn bộ binh dọc theo lộ Cây Bàng ra hướng biển, nhưng chúng vẫn rất tin là nắm được người nội gián chúng đã cài.

Về phía ta, bố trí 1 tiểu đội công an xung phong ở phía trong điểm hẹn, một bộ phận quốc vệ đội được trang bị mạnh phục kích ở điền Ê-vơ-ra, một bộ phận khác ém kín ở Giồng Me, một tổ công an chuẩn bị ghe biển đề phòng trường hợp khó khăn không rút hết được bằng đường bộ thì đi bằng đường biển.

Khoảng 10 giờ sáng một ngày cuối tháng 8 năm 1948, bọn đầu sỏ Pháp trên đường vào chỗ hẹn, đơn vị quốc vệ đội do đồng chí Suối, phục kích nơi hiểm yếu bất ngờ xông ra bắt sống toàn bộ số tên đầu sỏ: đại úy Ô-Pui (Ollivee), chỉ huy phân khu Sóc Trăng - Bạc Liêu; trung úy Phuộc-nhê (Fourncer), chánh sở mật thám Pháp ở Bạc Liêu; cò Mỉ Túc, tên Việt gian mật thám cáo già; Trần Văn Mưu, tư sản chủ điền ruộng muối, tay sai đắc lực cho Pháp. Lực lượng địch yểm trợ ở vòng ngoài không hay biết, đến 22 giờ cùng ngày ta rút quân an toàn và đưa bọn đầu sỏ vừa bắt được về đến căn cứ ở khâu Cây Bông xã Long Điền.

Việc bố trí bắt được những tên đầu sỏ quan trọng của địch là kết quả của cuộc đấu trí giữa công an tỉnh với bọn mật thám địch, là kết quả của hành động táo bạo, dũng cảm, mưu trí của các chiến sĩ công an võ trang ta. Bọn địch ở Bạc Liêu mất người cầm đầu, hoang mang dao động không biết nên phản ứng như thế nào, còn nhân dân thị xã cũng như toàn tỉnh vô cùng phấn khởi. Đây là một trận thắng lớn của ta về mặt quân sự và chính trị.

Bước vào những tháng cuối năm 1948, địch tăng cường mở nhiều trận càn quét phá hoại nền kinh tế và vùng giải phóng của ta. Vào tháng 7 năm 1948, Pháp tổ chức trận càn vào Vĩnh Hưng. Quân khu và tỉnh kịp thời điều tiểu đoàn Cửu Long II, đại đội 1094 của tỉnh cùng lực lượng quốc vệ đội tỉnh, địa phương quân huyện, công an xung phong huyện Vĩnh Lợi, du kích hai xã Thạnh Thới và Vĩnh Hưng tổ chức liên tiếp đánh địch trong nhiều ngày, tiêu diệt trên 140 tên địch, bẻ gãy hoàn toàn cuộc càn quét của địch. Đến tháng 10 năm 1948, Pháp lại tiếp tục mở trận càn vào Vĩnh Hưng một lần nữa, có cả xe bọc thép mở đường. Lực lượng quốc vệ đội kết hợp với vệ quốc đoàn và du kích Vĩnh Hưng tổ chức cài mìn và tập kích vào đội hình địch, kết quả ta tiêu diệt gần 90 tên địch, thu 30 súng.

Tổng kết năm 1948, các đơn vị vũ trang trong tỉnh độc lập tác chiến và phối hợp tác chiến 12 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch, làm bị thương 120 tên. Riêng quốc vệ đội và công an xung phong diệt 112 tên; thể hiện tinh thần liên tục tiến công với cách đánh táo bạo mưu trí, linh hoạt được nhân dân nhiệt tình giúp đỡ giành nhiều thắng lợi to lớn gây được lòng tin trong quần chúng nhân dân và vùng địch hậu, tạo điều kiện tốt cho phong trào đấu tranh chính trị của đồng bào đô thị và thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh phát triển.

Cùng thời gian này, đặc phái viên của Trung ương vào Nam bộ phổ biến chủ trương bao vây, phong tỏa, tẩy chay kính tế địch, nhằm phá âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp.

Ngày 18 tháng 2 năm 1949, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra nghị quyết đổi danh xưng quận, làng thành huyện, xã. Cùng thời gian này, Pháp bày trò “Việt Nam độc lập bánh vẽ”, đưa Bảo Đại lên làm quốc trưởng thành lập chính phủ Bảo Hoàng, thành lập quân đội Bảo Hoàng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:05:22 am
Đầu tháng 3 năm 1949, thực hiện chủ trương của Trung ương, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh ra lệnh cấm bán lương thực thực phẩm, than củi trong vùng giải phóng ra vùng địch tạm chiếm, đồng thời thực hiện Nghị đỉnh 62/ND, cấm mua hàng hóa ở thành thị vào vùng giải phóng vô hạn định đến ngày 20 tháng 5 năm 1949 phải tiêu thụ cho hết các hàng hóa ngoại thành đã dự trữ từ trước. Đến tháng 6 năm 1949 các tiệm mở quán ở vùng giải phóng ngừng hoạt động. Ta lại chủ trương cắt giấy bạc Đông Dương làm đôi để xài trong vùng giải phóng. Đồng thời phát hành tiền Cụ Hồ loại 100 đồng, nhưng lại thiếu giấy bạc loại 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng. Một trăm đồng tiền loại lớn chỉ đổi được 70 đồng tiền nhỏ.

Chủ trương bao vây, phong tỏa kinh tế địch dẫn đến tình trạng nông, lâm, thủy sản vùng giải phóng do nông dân sản xuất ra không tiêu thụ được. Trong khi đó hàng nhu yếu phẩm bị khan hiếm trầm trọng, nhất là thuốc chữa bệnh, gây khó khăn không nhỏ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân vùng giải phóng, bộ đội thiếu thuốc chữa trị khi bị thương và bệnh tật. Đã xẩy ra nhiều trường hợp người dân lén lút ra ngoài thành mua nhu yếu phẩm (còn gọi là phong trào “nhảy dù”), gây ra tình trạng rất phức tạp.

Bước sang năm 1949, lực lượng vệ quốc đoàn, quốc vẻ đội, cả tự vệ và du kích không ngừng phát triển. Trong khi đó Quân khu chủ trương rút các trung đoàn đứng chân tại các tỉnh, thành lập các liên trung đoàn tập trung của Khu. Qua một thời gian các liên trung đoàn hoạt động tác chiến không hiệu quả, nghiêm trọng là tập trung quân chủ lực quá lớn, làm cho lực lượng vũ trang ở cơ sở huyện, xã thiếu hụt lực lượng nghiêm trọng. Tư tưởng thỏa mãn dừng lại, tư tưởng tiến công bị giảm sút, phong trào du kích chiến tranh ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn.

Giữa năm 1949, chấp hành chủ trương giúp bạn Cam-pu-chia chống Pháp, tỉnh Bạc Liêu cử hàng trăm cán bộ, chiến sĩ lên đường làm nghĩa vu quốc tế, Các đồng chí Trần Vu, Trần Chỉnh, Chu Lý là những đồng chí đầu tiên tham gia giúp bạn xây dựng lực lượng bộ đội Ít-xa-rắc (Issarak) ở Cam-pu-chia. Tỉnh Bạc Liêu ngoài giúp bạn xây dựng lực lượng còn vận chuyển lương thực thực phẩm và lập một công binh xưởng hỗ trợ cho bạn. Tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Cam-pu-chia và giữa lực lượng Ít-xa-rắc với quân tình nguyện Việt Nam ngày thêm gắn bó.

Cũng vào thời điểm nảy, sau khi đưa Bảo Bại lên làm Quốc trưởng, thành lập chính phủ Bảo hoàng, ở tỉnh Bạc Liêu chúng đưa Lưu Khắc Nhạc về làm tỉnh trưởng, Tạ Vĩnh Mỹ (cai tổng Mỹ) làm quận trưởng Vĩnh Lợi, Bùi Văn Kháng làm quận trưởng Giá Rai, Lý Hưng Huy làm quận trưởng Cà Mau, phần lớn lính Pháp rút đi để tăng cường cho chiến trưởng chính, thay vào đó là lính Bảo hoàng có khoảng 2.400 tên.

Tháng 10 năm 1949, Xử ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính, Bộ Tư lệnh Nam Bộ chuyển bộ máy và cơ quan lãnh đạo từ Đồng Tháp Mười về làng U Minh. Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng đối với Đảng bộ, quân dân Bạc Liêu. Từ đây Đảng bộ Bạc Liêu được sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Xứ ủy như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Thượng Vũ (Nguyễn Văn Kỉnh), Nguyên Văn Nguyễn. Cơ quan tuyên huấn, báo chí, ấn loát của xứ, của khu và tỉnh, Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ đặt tại rừng tràm U Minh đả kịp thời động viên cổ vũ, thường xuyên phổ biến đường lối chủ trương, chính sách của Đảng. Các trường phổ thông trung học kháng chiến nội trú của Nam Bộ như Thái Văn Lung, Nguyên Văn Tố, Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Công Mỹ, Tiền Phong được mở rộng, nhiều con em ở Bạc Liêu được vào trường học tập. Trường Đảng, Trường quân sự Nam Bộ được lập ngay và mở các lớp huấn luyện đầu tiên ở Khai Long - Rạch Gốc vùng rừng đước Năm Căn. Tiểu đoàn 410 và tiểu đoàn 307 chủ lực của Nam Độ và Quân khu 9 về đứng chân và hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Nhân dân Bạc Liêu giàu lòng yêu nước, có tinh thần cách mạng cao, có lòng người thủy chung với cách mạng và là vựa lúa, rừng cây đủ điều kiện để xây dựng căn cứ địa vững chắc của bộ máy kháng chiến và cơ quan lãnh đạo của Nam Bộ.

Ở Bạc Liêu lúc này địch đã sử dụng quân ngụy, phần lớn là lính Cao đài Tây Ninh thay quân Pháp làm nhiệm vụ chiếm đóng. Chúng không lấn chiếm được vùng giải phóng, nhưng đóng thêm đồn bót, tháp canh để giữ tuyến lộ 4 từ Bạc Liêu đi Cà Mau. Khi đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng bù nhìn, ở Bạc Liêu chúng tổ chức ra nhiều tổ chức phản động như: “Việt Nam phục quốc”, “Thanh niên bảo quốc đoàn”, “đội tự vệ công giáo” để lợi dụng tôn giáo mà hoạt động do thám, bắt lính và mê hoặc thanh niên. Sau khi chúng biết rõ cơ quan đầu não kháng chiến Nam Bộ đã chuyển về căn cứ U Minh, chúng tăng cường lực lượng quân ngụy và cảnh sát ruồng bố, càn quét ra vùng xung quanh, ra sức bắt lính và vơ vét của cải trong vùng chúng kiểm soát, đồng thời phá hoại tài chính của ta, bắt giết trâu bò, tung giấy bạc giả, thu mua rút nông sản, phá hoại kế hoạch xuất nhập hàng hóa cần thiết của ta.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:06:26 am
Xét thấy điều kiện thực tế được cấp trên cho phép tỉnh Bạc Liêu lập thêm huyện mới lấy tên là huyện Trần Văn Thời, lúc này trong tỉnh có 2 huyện được giải phóng hoàn toàn: Ngọc Hiển, Trần Văn Thời. Địch chỉ chiếm đóng tỉnh lỵ và các huyện Giá Rai, Cà Mau và tuyến quốc lộ 4. Vùng giải phóng Bạc Liêu chiếm 9/10 đất đai và 6/7 dân số (31/36 vạn 143 người) lực lượng vũ trang tỉnh có Liên trung đoàn 123 - 125 của Bạc Liêu - Sóc Trăng, có 5 đại đội bộ binh, lực lượng dân quân du kích đã tổ chức xong bộ máy chỉ huy từ tỉnh đội bộ dân quân đến huyện đội, xã đội với 64.800 người

Đầu tháng 5 năm 1950, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ III, họp tại Trường Đảng ở xã Trần Phán, huyện Ngọc Hiển. Đại hội có 350 đại biểu của các đảng bộ huyện, thị xã, các ngành cấp tỉnh và lực lượng vũ trang, có đồng chí Văn Viên đại diện Khu ủy về dự.

Nội dung cơ bản của đại hội là kiểm điểm đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ trong thôi gian qua, nghiêm khác phê phán nhưng sai lầm trong công tác đảng những năm 1948 - 1949. phê phán nhận thức và cách làm sai lệch trong chủ trương bao vây, phong tỏa kinh tế địch đến tự bao vây kinh tế ta. Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm.

1. Đẩy mạnh tiến công địch về quân sự và ngụy vận, tiêu hao, tiêu diệt, làm tan rã nhiều lực lượng địch, củng cố và mở rộng vùng giải phóng lực dựng và bảo vệ vững chắc căn cứ địa kháng chiến tỉnh và các cơ quan đầu não của Nam Bộ.

2. Thực hiện chính sách tạm cấp ruộng đất theo chỉ thị của Trung ương và Xứ ủy.

3. Đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, phát triển các mặt văn hóa, giáo dục, y tế xã, hội... thể hiện tính ưu việt của chế độ mới trong vùng nông thôn giải phóng.

Đại hội bầu ra Ban chấp hành mới gồm 15 đồng chí uy viên chinh thức và 6 ủy viên dự khuyết, đồng chí Trần Văn Sớm làm Bí thư.

Ít tháng sau, Trung ương cục chỉ định bổ sung đồng chí Vũ Thượng Liên, ủy viên thường vụ phụ trách chính trị viên Tỉnh đội (sau đó đồng chí Trần Đình Khôi thay đồng chí Vũ Thượng Liên), đồng chí Hứa Bá Lộc làm tỉnh đội trưởng, đồng chí Tào Văn Tỵ được điều lên làm trưởng phòng dân quân Khu 9, đồng chí Phan Văn Xoàn đi ra Bắc học và ở lại miền Bắc trực tiếp tham gia đơn vị cảnh vệ bảo vệ Bác Hồ và Trung ương Đảng.

Tháng 6 năm 1950, trước tình hình khó khăn bức xúc do ảnh hưởng của việc thực hiện chủ trương bao vây kinh tế địch, được Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ cho phép, tỉnh Bạc Liêu cho mở rộng giao thương kinh tế giữa hai vùng. Các huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai, Cà Mau, thành lập các trạm xuất nhập giữa nông thôn và thành thị. Nông dân rất phấn khởi, bộ mặt kinh tế vùng giải phóng chuyển biến tích cực.

Cùng thời điểm này, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân thị xã Bạc Liêu và Cà Mau diễn ra sôi nổi. Ngày 1 và 19 tháng 5 năm 1950, kỷ niệm ngày Quốc tế lao động và ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, công nhân và thanh niên rải truyền đơn. căng biểu ngữ trong nội ô Bạc Liêu và Cà Mau, dùng lưu đạn diệt bọn phản động trong thị xã Bạc Liêu. Ngày 11 tháng 6 năm 1950, nhân lễ truy điệu Trần Bội Cơ(1), hàng vạn đồng bào ở thị xã bất chấp bọn công an, mật vụ, cảnh sát rầm rộ kéo biểu tình hô vang khấu hiệu đả đảo giặc Pháp và bọn mật vụ. Ủng hộ phong trao đấu tranh của học sinh ở Sài Gòn, nhân dân đã tham gia đông đảo ký tên vào bản tố cáo hành động dã man của thực dân Pháp, quyên góp 20 ngàn đồng ủng hộ gia đình Trần Bội Cơ. Cũng tại Bạc Liêu, hơn 200 thanh niên bị địch bắt tập trung về rạp hát Chung Bá để đưa vào lính, đồng loạt nổi dậy đập phá bàn ghế, cùng lấy cây làm vũ khí chống lại bọn cảnh sát, đã tự giải thoát khỏi tay địch. Cùng thời gian này hàng nghìn đồng bào ở Long Điền - Giá Rai, Minh Diệu - Vĩnh Lợi đấu tranh giành giật với địch không cho chúng cướp lúa, đã giữ lại hàng nghìn giạ lúa.


(1) Một nữ sinh bị địch sát hại trong cuộc đấu tranh chống Pháp của sinh vên Sài Gòn năm 1950


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:28 am
Sau đại hội đảng bộ, tỉnh Bạc Liêu đặt trọng tâm vào việc triển khai thực hiện chính sách tạm cấp ruộng đất với sách lược cho vùng nông thôn: “dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên hiệp với phú nông, tranh thủ địa chủ khai minh tiến bộ, cô lập, đánh đổ địa chủ Việt gian phản động. Mặt trận Việt Minh giáo dục thuyết phục những thành viên thuộc giai cấp địa chủ và tư sản hoan nghênh và ủng hộ chính sách bồi dưỡng sức dân, đoàn kết kháng chiến của Đảng. Phần lớn địa chủ khai minh xin hiến điền. Tỉnh còn tịch thu đất đối tượng là địa chủ Pháp, địa chủ Việt gian phản động theo Pháp.

Cuối năm 1950, Bạc Liêu đã cấp cho nông dân 50 nghìn héc-ta đất. Hai năm 1951 - 1952 tỉnh lại cấp 101.816 héc-ta cho nông dân nghèo vùng giải phóng, việc giảm tô giảm tức, cấm cho vay nặng lãi và việc bắt địa chủ thối tô được nông dân nhiệt liệt hoan nghênh. Đến cuối năm 1953, tỉnh Bạc Liêu đã cơ bản hoàn thành việc cấp đất cho dân. Qua 5 năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, khẩu hiệu “Ruộng đất về tay dân cày” lần đầu tiên được thực hiện ở tỉnh Bạc Liêu.

Việc thực hiện tạm cấp ruộng đất ở Bạc Liêu có ý nghĩa như một cuộc cách mạng ruộng đất, cuộc cải cách ruộng đất thực sự xét về các mặt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, Sự tước bỏ quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ cũng như quy mô to lớn ruộng đất được chia, thỏa mãn nhu cầu về ruộng đất cho nông dân, làm trỗi dậy ý thức và quyền làm chủ ruộng đất của nhân dân.

Ngày 3 tháng 8 năm 1951, Tỉnh ủy chỉ thị cho các cấp bộ đảng tăng cường lãnh đạo, phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “thực túc binh cường”. Nông dân được chia ruộng đất hăng hái thi đua, hỗ trợ lẫn nhau đẩy mạnh sản xuất Các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời tổ chức hơn 1.800 vạn vần đổi công và 20 hợp tác xã nông nghiệp, huyện Giá Rai còn tổ chức các hợp tác xã làm muối.

Vụ mùa 1950 - 1951, toàn tỉnh canh tác được 179.000 ha, thu hoạch 7.800.000 giạ lúa. Trúng mùa, nhân dân khắp nơi tổ chức từng đoàn xuống ghe với băng cờ khẩu hiệu, đánh trống múa lân chở hơn 6 nghìn giạ lúa thuế nông nghiệp đến các kho kháng chiến. Năm 1952 nông dân lại đóng thuế nông nghiệp hơn 8 nghìn giạ lúa, nhiều hộ nông dân ngoài phần đóng thuế nông nghiệp còn ủng hộ cho kháng chiến từ hàng tạ đến hàng tấn lúa, gao.

Được tạm cấp ruộng đất, sản xuất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vùng giải phóng đã cải thiện và phát triển đáng kể, hơn hẳn vùng tạm chiếm. Khả năng động viên sức người, sức của tăng lên rõ rệt. Nhân dân hăng hái, tích cực đóng góp hàng vạn ngày công lao động đào kinh, đắp lộ, bắc cầu để giao lưu kinh tế, văn hóa mới, Các tệ nạn mê tín dị đoan, trộm cắp, cờ bạc, bói toán và đồng bóng gần như mất hẳn. Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng phát triển rộng rãi, nhiều sách báo, tranh ảnh, bài hát, câu hò, làm cho đời sống văn hóa tinh thần của quần chúng trong vùng kháng chiến càng phong phú. Lực lượng dân quân, du kích gắn liền với mặt trận sản xuất và xây dựng vùng giải phóng rất xứng đáng vai trò nòng cốt cho các phong trào.

Các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh đều có nội dung hoạt động thiết thực nhằm phục vụ kháng chiến. Hội phụ nữ vận động đông đảo chị em tham gia kiến thiết nông thôn, phục vụ dân công cho chiến trường, lập các hội bảo trợ dân quân, hội mẹ chiến sĩ và quyên góp hàng trăm nghìn đồng ủng hộ kháng chiến, nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo anh em thương bệnh binh, thăm viếng động viên giúp đỡ gia đình bô đội. Đồng bào Khơ-me, Hoa và tín đồ các tôn giáo, cũng tích cực tham gia dân quân du kích, đóng góp nhiều tiền của ủng hộ kháng chiến.
Những thành tựu về tạm cấp ruộng đất, xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội đã tăng cường tiềm lực quốc phòng, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang xây dựng và chiến đấu giành thắng lợi. Có gần 65.000 thanh niên nam nữ tham gia lực lượng dân quân du kích, 2.790 thanh niên tòng quân gia nhập vệ quốc đoàn và hàng vạn người tham gia lực lượng dân công hàn cản, ngăn sông, phá lộ, xung phong phục vụ chiến trường.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:57 am
Thực hiện Nghị quyết Xứ ủy và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ, bên cạnh xây dựng vùng căn cứ kháng chiến, Xứ, Khu và tỉnh còn chăm lo việc sản xuất vũ khí trang bị cho lực lượng. Xưởng quân giới Quân khu 9 đặt ở rừng U Minh được tăng cường thêm để đàm đương nhiệm vụ xưởng Nam Bộ. Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã bổ sung cho xưởng nhiều máy móc và nhất là kinh nghiệm, sản xuất các loại vũ khí có sức công phá lớn; các loại súng lăng xà bom, súng không giật SSA, SSB ra đời. Sửa chữa các khẩu pháo 105mm, 90mm ta thu được của giặc đang cất giấu đưa sử dụng để thành lập đơn vị bộ đội pháo binh. Binh công xướng của dân quân tỉnh và xưởng của công an tỉnh được sáp nhập làm một để phát triển năng lực và kỹ thuật sản xuất đủ đáp ứng yêu cầu chiến đấu của bộ đội và dân quân trong tỉnh. Phong trào cải tiến, phát triển vũ khí diễn ra sôi nổi trong các xưởng của tỉnh và của Khu.

Song song với việc xây dựng phát triển vùng nông thôn giải phóng, sản xuất vũ khí đảm bảo cho nhu cầu chiến đấu, việc tăng cường sức chiến đấu của đơn vị lực lượng vũ trang cũng được coi trọng.

Tử cuối năm 1949, lực lượng Vệ quốc đoàn hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng sáp nhập thành Liên trung đoàn 123 - 125 do đồng chí Lầu, tiếp đó là đồng chí Trần Thắng làm trung đoàn trưởng; đồng chí Nguyễn Hoàng (Huỳnh Chiêu) và sau đó đồng chí Đào Công Tám làm chính trị viên; các đồng chí Thơm và Nguyễn Tấn Khương làm trung đoàn phó. Bên cạnh hệ thống Vệ quốc đoàn còn có hệ thống dân quân từ tỉnh đội bộ đến xã đội. Quốc gia tự vệ cuộc trở thành Ty Công an, quốc vệ đội trở thành công an xung phong, nhiệm vụ chủ yếu là công tác bảo vệ an ninh chính trị, còn trực tiếp tham gia chiến đấu do lực lượng vệ quốc đoàn và dân quân du kích đảm nhiệm.

Cuối năm 1950, theo sự chỉ đạo của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ về tăng cường xây dựng đơn vị chủ lực mạnh, mỗi quân khu có 1 trung đoàn. Khu 9 tập trung xây dựng Trung đoàn Cửu Long, lực lượng chính được sáp nhập từ 2 trung đoàn Đồng Tháp và Tây Đô với các tiểu đoản 307, 308 và 410. Sở chỉ huy trung đoàn Cửu Long đứng chân và hoạt động tác chiến chủ yếu dựa trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.

Về xây dựng lực lượng vũ trang trong tỉnh, từ đầu năm 1950, bộ đội địa phương huyện được xây dựng cấp đại đội bằng cách đưa các đại đội từ các Liên trung đoàn về tăng cường, dồn du kích. Tuy nhiên do thiếu lực lượng, mới có các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Cà Mau có đại đội, các huyện vùng giải phóng mới có đơn vị cấp trung đội.

Về hoạt động quân sự, tháng 4 năm 1950. địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, đơn vị vũ trang thị xã Bạc Liêu phối hợp với tiểu đoàn 410 tham gia chiến dịch Sóc Trăng làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là chính sách ruộng đất. Nếu đồng bào Khư-me rời bỏ vùng tạm chiếm trở về quê cũ, sẽ được trả lại ruộng đất, gia đình nào không có đất sẽ được tạm cấp như đồng bào Kinh. Đối với lực lượng “vũ trang tự vệ” do Pháp trang bị ở các sóc, ta chỉ tước vũ khí, giáo dục rồi thả tại chỗ, kết hợp tuyên truyền miệng và phân phát hàng chục nghìn truyền đơn tiếng Khơ-me đã có ảnh hưởng rất lớn, làm cho đồng bào Khơ-me ở vùng địch tạm chiếm thấy được chủ trương, chính sách của Việt Minh lả đúng đắn.

Phối hợp với chiến dịch Long Châu Hà của Quân khu mở cuối năm 1950, bộ đội và dân quân du kích trong tỉnh vận động nhân dân mở đợt phá hoại với quy mô lớn trên lộ 4, đồng thời bao vây uy hiếp, bắn tin địch ở các đón bót, hàng vạn dân quân đánh bức nhiều đoạn lộ Tắc Vân - Hộ Phòng, Giá Rai - Hòn Bình, gây cho địch nhiều thương vong và trở ngại trên tuyến lộ giao thông từ Bạc Liêu đi Cà Mau.

Trên phạm vi cả nước, ngày 12 tháng 8 năm 1950. Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương mà chiến dịch biên giới Cao Bắc Lạng Sau 28 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, dũng cảm (từ 16-9 đến 14-10-1950) quân và dân ta đã giành thắng lợi lớn trên chiến trường, loại khỏi vòng chiến đấu trên 8.000 tên địch, chiếm một nửa lực lượng cơ động của Pháp ở miền bắc Đông Dương, giải phóng 35 vạn dân, với diện tích 4.500km2 đất đai, 5 thị xã. 13 thị trấn và một dải biên giới dài 760 km, mở rộng vùng căn cứ địa Việt Bắc nối liền với phe xã hội chủ nghĩa.

Ở chiến trường Nam Bộ, quân địch gần như không có hoạt động gì đáng kể, chỉ tăng cường chốt giữ các trung tâm tỉnh lỵ, quận lỵ và hệ thống tháp canh dọc các tuyến lộ giao thông chủ yếu, còn đại bộ phận lực lượng tập trung cho chiến trưởng Bắc Bộ.

Tuy nhiên năm 1960, tình hình hoạt động quân sự của ta trên chiến trường Nam Bộ nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng lại mắc phải một số sai lầm. Đó là tư tưởng nôn nóng, muốn ăn to đánh lớn; tập trung lực lượng chủ lực đông nhưng hiệu quả chiến đấu không cao, ngược lại phong trào chiến tranh du kích ở các địa phương bị giảm sút nghiêm trọng.

Trong khi đó trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, địch tái chiếm 8 đồn, máy bay và pháo của địch gây cho ta một số thiệt hại đáng kể, phá hư 230 lò than, 7 lò đường, bắn chết gần 200 trâu bò, ném bom trúng đài phát thanh Nam Bộ ỏ kinh 9 Biển Bạch và cơ sở y tế Nam Bộ ở Cái Sắn.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:10:29 am
III. CÙNG CẢ NƯỚC CHUẨN BỊ TỔNG PHẢN CÔNG

Sau thất bại nặng nề ở chiến trường Bắc Bộ trong chiến dịch Cao Bắc Lạng của ta, Chính phủ Pháp điều tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi (De Lattre de Tassigny) Tổng thanh tra quân lực Pháp, sang Đông Dương đảm nhiệm chức Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nắm cả quyền chỉ huy dân sự lẫn quân sự. Đờ Lát chủ trương lập “vành đai trắng”. Mỹ và Pháp ký hiệp ước viện trợ cho quân đội “quốc gia”, cung cấp tối đa cho ngụy quân Việt Nam. Chính quyền bù nhìn ra lệnh tổng động viên, nâng quân số từ 65.000 quân (năm 1950) lên 110.000 (năm 1951); ở Bạc Liêu từ 2.400 tên tăng lên 3.600 tên. Chúng tiếp tục đưa quân lấn chiếm một số vùng đông dân và có nhiều tín đồ các tôn giáo như xã Minh Phố, Láng Dài, Cầu Trâu, Chệt Én, Cây Giang, lầu Huyện Kệ... mở rộng vùng kiểm soát quanh thị xã Bạc Liêu, uy hiếp một phần của huyện Giá Rai và xã An Xuyên huyện Cà Mau; tăng cường cho máy bay bắn phá vùng giải phóng nơi chúng nghi là có căn cứ của ta, nhiều nhà cửa của đồng bào bị đốt cháy, làm cho một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoang mang dao động.

Đầu năm 1951, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định phân tán đơn vị chủ lực tập trung về các địa phương hoạt động, hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh vùng địch hậu. Các huyện Ngọc Hiển, Trần Văn Thời xây dựng địa phương quân lên cấp đại đội, đồng thời đưa lực lượng lên phối hợp với các lực lượng vũ trang hai huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi hoạt động tác chiến và phá lộ Đông Dương.

Trong chiến dịch Sóc Trăng II do Quân khu mở (tháng 5 năm 1951), bộ đội tỉnh Bạc Liêu có nhiệm vụ phối hợp chiến đấu ở mặt trận phụ, một bộ phận lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với tiểu đoàn 410 của Miền tổ chức trận vận động tập kích quân địch càn quét tại Vĩnh Hưng, ta tiêu diệt hơn 300 tên địch. Trận cầu Sập, bộ đội tỉnh yểm hộ cho trung đội chiến sĩ Hòa Bình(1) làm nhiệm vụ xung kích diệt đồn. Trung đội chiến sĩ Hòa Bình đóng giả là đơn vị lính Tây đi patrui gọi lính đồn Cầu Sập mở cửa. Nhưng mật hiệu không rõ ràng, bị lính đồn chống lại, các chiến sĩ Hòa Bình chiến đấu rất dũng cảm nhưng không phá được đồn, hai chiến sĩ hy sinh, một bị thương. Tuy trận đánh không thành, nhung thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ Hòa Bình.

Tháng 6 năm 1951, Tỉnh ủy mở đợt vận động địa chủ khai minh hiến điền. Hàng chục địa chủ tỉnh Bạc Liêu đem ruộng đất hiến cho chính quyền cách mạng, Toàn bộ tố đất do địa chủ khai minh hiến được ta đem tạm cấp cho nông dân.

Tháng 7 năm 1951, Xứ ủy Nam Bộ có quyết định giải thể tình Rạch Giá, sáp nhập hai huyện Hồng Dân và An Biên vào tỉnh Bạc Liêu. Từ đây tình Bạc Liệu có thêm hai đơn vị hành chính cấp huyện, địa bàn vùng giải phóng và khu căn cứ kháng chiến được mở rộng, lực lượng vũ trang càng phát triển, tạo khả năng mới cho cuộc kháng chiến ở tỉnh.

Cuối năm 1951, phong trào du kích chiến tranh có những chuyến biến rõ rệt. Du kích các xã Thạnh Thới, Minh Diệu, Đào Văn Viết, Vĩnh Mỹ, Long Điền và Châu Thới liên tục tổ chức bao vây, bắn tỉa, tập lách, phục kích tiêu diệt nhiều địch, kềm chân địch trong các tháp canh, lô cốt. Ta bố trí nhiều bãi lửa, làm địch hạn chế đi biệt kích vào các ấp xã vùng ven. Về xây dựng lực lượng vũ trang ta, trong năm đã có trên 65.000 nam nữ thanh niên hăng hái lên đường gia nhập lực lượng bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực.

Từ cuối năm 1951, Xứ ủy Nam Bộ xác định nhiệm vụ “phát triển chiến tranh du kích, kềm chân địch ở Nam Bộ”. Xứ ủy giải quyết một loạt vấn đề về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang để đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích chống càn quét và bình định lấn chiếm, ở miền Tây, Trung đoàn Cửu Long giải thể được tăng cường cho bộ đội địa phương tỉnh huyện, chỉ còn lại tiểu đoàn 307, các trung đoàn được giải thể, đưa lực lượng tăng cường cho các tỉnh. Từ đây tỉnh đội bộ dân quân chỉ huy thống nhất cả bộ đội thường trực tỉnh, huyện và dân quân du kích, để huy động cả lực lượng vũ trang trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh nhân dân địa phương.

Lực lượng vũ trang ba thứ quân dưới sự lãnh đạo thống nhất của Tỉnh ủy, phong trào chiến tranh nhân dân trong tỉnh phát triển mạnh mẽ. Năm 1952 quân và dân tỉnh Bạc Liêu đã đánh trên 40 trận lớn nhỏ, diệt hàng trăm tên địch.


(1) Trung đội Hòa Bình gồm anh em lính lê dương - Âu Phi chạy ra hàng ngũ kháng chiến Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:41 am
Tháng 1 năm 1952 tiểu đoàn 410 cùng với lực lượng vũ trạng huyện Cà Mau và du kích xã Tân Thành tiến công đồn Đầu Dừa cạnh nhà thờ Thiên chúa giáo Cà Mau. Đồn do 1 trung đội địch đóng giữ, được xây dựng kiên cố, có hảng rào thép gai bảo vệ chung quanh khá dày. Lực lượng ta do tiểu đoàn trưởng Phạm Ngọc Thảo, chính trị viên Vũ Thượng Liên và Trần Đình Khôi, huyện đội trưởng Cà Mau chỉ huy.

Tiểu đoàn cùng lực lượng du kích bí mặt tiếp cận cắt rào gai nhanh chóng áp sát bờ tường. Đại đội 559 do đại đội trưởng Đúp và chính trị viên Lê Quốc Sũng chỉ huy làm đơn vị mũi nhọn, bất ngờ tập kích mãnh liệt và xung phông. Địch chống trả khá quyết liệt, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, lực lượng ta đồng loạt xung phong đánh chiếm được đồn. Toàn bộ quân địch trong đồn bị tiêu diệt và bắt sống, chỉ có 4 – 5 tên chạy thoát; về phía ta có sáu đồng chí hy sinh và bị thương.

Cuối tháng 1 năm 1952, lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu phối hợp với địa phương quân tỉnh Sóc Trăng đánh trận phục kích ở Lai Hòa - Lạc Hòa phá hủy 10 xe quân sự, tiêu diệt 100 tên địch. Đơn vị địa phương quân huyện Giá Rai đánh tiêu diệt đồn Cây Giang. Công an xung phong thị xã Bạc Liêu bắn bị thương thiếu tá Trương Văn Xương (Cao Đài phản động) giữa thị xã. Lực lượng địa phương quận Giá Rai, Vĩnh Lợi liên tiếp tổ chức nhiều trận đánh vào hệ thống tháp canh của địch trên tuyến lộ 4 từ Bạc Liêu đi Cà Mau.

Ở xã Châu Thới huyện Vĩnh Lợi, ba anh em thanh niên Minh, Mẫn và Vĩnh dùng hai khúc cây đập chết 3 tên lính nguy ở đồn Tân Hùng vào cướp phá làng, xóm thu 3 súng trường. Phát huy gương giết giặc ở Châu Thới xã Minh Diệu huy động 15 chiến sĩ du kích hóa trang dân thường gọi lính đồn ra mua thực phẩm. Khi bọn địch ra, bất ngờ anh em ôm và dùng dao diệt tên đồn trưởng cùng một tên lính khác. Số anh em còn lại nhanh chóng xông vào đồn Ấp Vôn, một số tên hoàng hốt bỏ chạy, số còn lại đầu hàng. Ta thu 5 khẩu súng mas, 3 thùng lựu đạn và trên 3.500 viên đạn.

Ba năm trước lực lượng quốc vệ đội có vũ khí đánh chiếm đồn Ấp Vòn. Lần này chỉ tay không, du kích Minh Diệu lại chiếm được đồn, một chiến thắng nhờ vào lòng dũng cảm và táo bạo.

Như vậy là từ năm 1950 đến năm 1952, Đảng bộ và quân dân tỉnh Bạc Liêu đã chuyển mình mạnh mẽ bằng cách củng cố xây dựng Đảng và xây dựng các lực lượng vũ trang nâng cao tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng. Lực lượng vũ trang từng bước xây dựng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và khả năng chiến đấu; Đảng bộ thống nhất lãnh đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân trong toàn tỉnh, theo sự chỉ đạo của Khu ủy, Phân liên khu miền Tây. Để hợp lý trong việc lãnh đạo, chỉ huy, Ban chỉ huy Tỉnh đội được kiện toàn, bổ sung. Đồng chí Nguyễn Văn Sa, nguyên là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 125 của Khu được điều về thay đồng chí Hứa Bá Lộc giữ chức tỉnh đội trưởng Bạc Liêu. Đồng chí Hứa Bá Lộc giữ chức tỉnh đội phó kiêm huyện đội trưởng Giá Rai và sau đó đồng chí xin hẳn xuống làm huyện đội trưởng Giá Rai. Đồng chí Trần Văn Sớm, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, sau đó đồng chí Trần Văn Sớm đi học, lần lượt các đồng chí Ung Văn Khiêm, Võ Văn Kiệt kiêm chức chính trị viên tỉnh đội. Tỉnh đội phó gồm có các đồng chí Phạm Tất Khương, Trần Đình Khôi. Ở cấp huyện cũng có sự thay đổi, đồng chí Nguyễn Trường Quang (Chín Phi), ủy viên thường vụ, chính trị viên huyện đội Vĩnh Lợi được điều về giữ chức huyện đội trưởng Cà Mau. Đồng thời với việc kiện toàn, củng cố cơ quan quân sự các cấp, Tỉnh ủy còn chỉ đạo thực hiện tốt chính sách ruộng đất. Riêng năm 1952, tỉnh đã tạm cấp thêm 150.000 héc-ta đất cho nông dân, từ đó nhân dân hăng hái sản xuất, đóng góp nhiều sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến.

Có thể nói năm 1952 là năm thắng lợi về chỉnh đốn nội bộ, nhờ đó các mặt công tác và phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân trong tỉnh đã phát triển và vươn lên mạnh mẽ, đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng tỉnh Bạc Liêu thành căn cứ địa vững chắc cho Xứ ủy, trong đó có các cơ quan đầu não và chỉ huy của Nam Bộ, Quân khu, đưa cuộc kháng chiến có thời gian chuẩn bị chững lại tiến lên trong một thế trận mới, chuẩn bị mọi lực lượng sẩn sàng phối họp với chiến trường chinh Bắc Bộ trong chiến cuộc Đông Xuân năm 1953 - 1954.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:13:15 am
IV. PHỐI HỢP CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ, ĐỈNH CAO LÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ, KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Trên chiến trường chính, bước sang năm 1953 sau chiến thắng ở Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, ta đã giành lại thế chủ động trên chiến trường, quân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động. Tình thế đó buộc Pháp phải lựa chọn, một là phải thắng nhanh, hai là phải chịu thua ở Việt Nam, chấp nhận cho Mỹ thay thế.

Về phía Mỹ, Mỹ muốn hất cẳng Pháp, quyết không để Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng lọt vào tay cộng sản. Mỹ trực tiếp can thiệp, viện trợ từ 70 - 80% chi phí chiến tranh. Mỹ cũng thỏa thuận với Pháp cử tướng Hăng-ri Na-va đang giữ chức tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Vừa đến Đông Dương, Na-va đã đề ra kế hoạch “18 tháng chuyến bại thành thắng”, buộc Việt Nam đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp.

Về ta, sang năm 1953, các lực lượng vũ trang ba thứ quân đã có bước lớn mạnh cả số lượng và chất lượng, đủ sức mở những trận đánh lớn và đủ mức kiềm chế lực lượng địch ở vùng sau lưng địch.

Ở Bạc Liêu, sau các đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh quân”, gắn với việc thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất cho nông dân, bồi dưỡng sức dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân được kiện toàn củng cố và phát triển mới. Tỉnh đội thành lập mới đại đội 552 cơ động của tỉnh, huyện Cà Mau thành lập đại đội 553, huyện Giá Rai thành lập đại đội 554, mỗỉ xã đều có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội du kích; dân quân du kích trong toàn tỉnh lúc này đã có trên 56.000 người(1).

Về địch, trên địa bàn Bạc Liêu, ngoài quân số chiếm đóng trước đây, chúng tăng cường thêm 3 tiểu đoàn khinh binh, liên tiếp mở hơn 100 cuộc càn quét, biệt kích lớn nhỏ, đánh phá ác liệt vào vùng căn cứ của ta. Chúng đã huy động cả 3 tiểu đoàn và phối hợp với thủy quân, không quân đánh sâu vào vùng căn cứ các huyện Hồng Dân, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Địch đóng thêm một số đồn như: Rạch Rắn (4-1953), Cây Giang (5-1953) và lấn chiếm tuyến lộ Giá Rai đi Cái Cùng để kiểm soát vùng kinh tế lúa và muối. Ở thị trấn Cà Mau địch tăng cường 1 tiểu đoàn với ý đồ xây dựng Cà Mau thành căn cứ quân sự, làm đạp đánh phá vào vùng căn cứ của ta. Ở Xẻo Rô - An Biên, địch tăng cường hoạt động do thám, biệt kích. Máy bay địch tăng cường đánh phá nhằm vào cơ quan, công trường, cơ sở sản xuất, các chợ vùng giải phóng, v.v... Tàu chiến địch cũng thường thọc sâu vào các cửa sông Cái Lớn, sông Đốc, Gành Hào, kinh xáng Hộ Phòng... bắt xuồng ghe đánh cá của dân và đốt nhiều nhà dân ở hai bên bờ. Địch còn tung gián điệp, chỉ điểm vào vùng giải phóng dò la tin tức, tiến hành chiến tranh tâm lý, tung tin đồn nhảm nhằm xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng, gây hoang mang trong quần chúng. Ở vùng tạm chiếm, địch tăng cường lực lượng cảnh sát ruồng ráp, hòng đánh dạt cơ sở cách mạng, bắt thanh niên đi lính, cướp giật tài sản lúa gạo của dân.

Bước vào những tháng đầu năm 1953, nhằm chống phá âm mưu càn quét, đánh phá, lấn chiếm của địch, các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh mở đợt hoạt động tác chiến liên tục.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, đại đội 552 của tỉnh do đồng chí Giang Pôn chỉ huy, tập kích đồn Rạch Rập. Đồn này do 1 trung đội địch đóng giữ. Nắm chắc quy luật bọn lính đồn thường bỏ bót đi ăn nhậu để súng tại đồn, đồng chí chính trị viên trung đội Ngô Hải Kiệt chỉ huy đơn vị bất ngờ đột nhập vào đồn, một số tên địch bị diệt ngay tại chỗ, còn một tên sống sót bất ngờ bắn trả, đồng chí Kiệt hy sinh. Ta vừa chiếm được đồn thì quân địch ở Cà Mau kịp thời đến viện, ta không kịp thu chiến lợi phẩm.

Trong tháng 2 năm 1953, đại đội 554 huyện Giá Rai kết hợp với du kích các xã Minh Phí, Long Điền Đông diệt 2 đồn và kết hợp ngụy vận bức rút 3 đồn Đốc Béc, Đội Thân và Chệt Niêu.

Ngày 13 tháng 3 năm 1953, đại đội 553 địa phương quận huyện Cà Mau cùng du kích hai xã Tân Lộc và An Xuyên phối hợp với tiểu đoàn 307 chủ lực phân liên khu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 19 BVN ngụy Cao đài (phái Tây Ninh) do thiếu tá Nhã chỉ huy tại Bào Thúi. Đã nhiều lần tiểu đoàn 307 có mặt là quân địch không dám vào. Được du kích và cán bộ địa phương góp ý, tiểu đoàn 307 về đóng quân được mấy hôm, công khai hành quân về hướng nam Cà Mau rồi đêm về bí mật trở lại ém quân phục kích. Thiếu tá Nhã tưởng như mọi lần, hắn cho gom cả tiểu đoàn 19 BVN đang đóng ở Cà Mau, Tắc Vân, Cây Gừa mở cuộc hành quân càn quét vào Tân Lộc và An Xuyên. Bất ngờ tiểu đoàn 307, đại đội 553 và lực lượng du kích tổ chức vận động bao vây tiêu diệt gọn cánh quân địch rút chạy về Bàu Thúi - Ô Rô, đồng thời chặn đánh cánh quân địch trên lộ xe Tân Lộc. Kết quả ta đã tiêu diệt 300 tên địch, bắt sống 40 tù binh, ta thu toàn bộ vũ khí, bọn lính Cao đài ở ngoài vòng vây giương cờ đạo chạy bán sống bán chết về Cà Mau.


(1) Theo “Lịch sử Đảng bộ Bạc Liêu”


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:13:56 am
Trong tháng 4 năm 1953, Phân khu miền Tây mở hội nghị chỉnh huấn cán bộ quân sự toàn khu và mở các lớp tập huấn cán bộ quân sự đầu tiên. Các đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu được Phân liên khu chọn làm điểm chỉ đạo chỉnh huấn. Hội nghị chỉnh huấn đánh dấu bước tiến bộ quan trọng, làm cho lực lượng vũ trang tỉnh nắm vững phương châm, chính sách của Đảng, kịp thời chấn chỉnh những sai lầm hữu khuynh và đề ra kế hoạch chủ động đánh địch. Cán bộ đã sâu sát nắm chắc tình hình đơn vị, thực hiện chủ trương, kế hoạch xác thực hơn.

Sau đợt rèn cán, chỉnh quân, đại đội 552 của tỉnh, được Ban chỉ huy Tỉnh đội theo sát, kịp thời lãnh đạo xây dựng về chính trị tư tưởng, bổ sung đủ quân số và đội ngũ cán bộ cấp đại đội, trung đội, các đại đội địa phương quân huyện cũng được tăng cường củng cố, tuy có chậm nhưng cơ bản vững chắc.

Để lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh, đêm ngày 11 tháng 5 năm 1953, tiểu đoàn 307 phối hợp với đại đội 552 Bạc Liêu tập kích tiêu diệt đồn Hộ Phòng, diệt và làm bị thương 2 trung đội địch, bắt sống 10 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Ngày 15 tháng 5 năm 1953, Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV họp tại ấp Đất Sét, xã Phú Mỹ. Đại hội đã kiểm điểm tình hình 2 năm qua trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, đặc biệt về chính sách ruộng đất cho dân, về kết quả thu thuế nông nghiệp, về phát động chiến tranh du kích và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thời đề ra phương hướng nhiệm vụ hai năm tới, trọng tâm là phát triển lực lượng vũ trang địa phương chuẩn bị cho tổng phản công. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ gồm 17 ủy viên chính thức, 10 ủy viên dự khuyết; Ban thường vụ 5 đồng chí do đồng chí Ung Văn Khiêm, ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Kiệt, Phó Bí thư kiêm Chính trị viên tỉnh đội.

Thực hiện nghị quyết của đại hội, một số đồng chí cán bộ đảng viên có năng lực được tăng cường sang làm chính trị viên các đơn vị lực lượng vũ trang, đồng thời tiếp tục kiện toàn các cấp ủy Đảng trong các đơn vị lực lượng vũ trang. Việc chỉ đạo lãnh đạo bên dưới có kế hoạch sâu sát và chặt chẽ hơn, thường xuyên kiểm tra đôn dốc, các biểu hiện hữu khuynh tiêu cực dần được khắc phục, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang được nâng lên rõ rệt, có đủ khả năng vừa độc lập tác chiến vừa phối hợp với chủ lực Phân liên khu tiến công quân địch giành nhiều thắng lợi.

Trung tuần tháng 5 năm 1953, tiểu đoàn 307 phối hợp với dân quân du kích địa phương tổ chức trận địa phục kích đánh chặn đoàn tàu xe vận tải của địch tại đoạn lộ tẻ cách Tắc Vân khoảng 6 km về hướng Cà Mau, bắn cháy 7 xe quân sự, tiêu diệt 1 đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí, tiếp đó đại đội 931 của tiểu đoàn 307 phục kích diệt 1 trung đội địch đóng tại đồn Tắc Vân.

Để lấy lại uy thế và củng cố tinh thần chiến đấu cho quân ngụy, địch tiến hành liên tục các cuộc càn quét lớn, đánh sâu vào vùng căn cứ ta. Ngày 29 tháng 5 năm 1953, địch huy động 1 trung đoàn, trong đó có 2 tiểu đoàn khinh binh: 15 BVN và 19 BVN phối hợp với thủy quân và không quân yểm trợ do đại tá Lơ Đuých chỉ huy mở cuộc càn sâu vào vùng căn cứ ta. Quân địch tiến nhanh và bất ngờ, chúng đốt phá nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân trên đường chúng đi qua, từ Chủ Chi, Chợ Hội, Thới Bình đến Cái Tàu, Vàm Tắc Thủ. Tai đây chúng phối hợp với một cánh quân của thị trấn Cà Mau hành quân dọc theo bờ sông Ông Đốc đến kênh xáng Bà Kẹo qua Cái Kẹo, Bờ Đập, một cánh quân khác đánh ra kinh xáng Đội Cường.

Lúc này tiểu đoàn 307 đang luyện quân ở xã Long Điền (Giá Rai) cùng lực lượng công an xung phong Nam Bộ và đại đội 552 của tỉnh Bạc Liêu tổ chức khẩn trương vận động bằng xuồng đuổi bám đánh địch đến rạch Ông Bích xã Khánh Bình cũng không kịp; địch đã đến Bà Kẹo, Thọ Mai. Ta dự đoán địch sẽ đi trở về ngã ba Đầm Cùng, về đường sông Bảy Háp. Bộ đội ta khẩn trương hành quân mang vác nặng vượt qua đồng lầy, sông rạch, ra sức đuổi theo đón đánh địch. Trên đường du kích cùng vác súng theo bộ đội đánh giặc rất đông; đồng thời nhân dân tích cực tiếp tế, giúp đỡ xuồng ghe đưa bộ đội vượt sông. Sau cuộc họp khẩn trương thảo luận quyết tâm chiến đấu, ta triển khai nhanh đội hình phục kích chặn đón địch từ vàm Nhị Nguyệt đến đầu kinh xáng Đội Cường, lúc ấy tàu địch cũng vừa đến, Sở chỉ huy ta đóng tại Bào Vũng xã Tân Hưng. Tham gia chỉ huy trận đánh có đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, tiểu đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Tiên, chính trị viên tiểu đoàn 307; các đồng chí chỉ huy đại đội các huyện Trần Văn Thời và Ngọc Hiển cùng tham gia ban chỉ huy. Đến 9 giờ sáng ngày 30 tháng 6 năm 1953, khi đoàn tàu địch lọt vào trận địa phục kích của quân ta, đơn vị đồng loạt nổ súng, đánh chìm 4 tàu địch đi đầu, 6 chiếc còn lại phía sau phản kích dữ dội và cho bộ binh lên bờ lùng sục. Đến 7 giờ 30 phút ngày 1 tháng 7 năm 1953, bọn địch tổ chức rút theo sông Bảy Háp về Cà Mau, lại lọt vào ổ phục kích của ta. Lực lượng ta cấp tập nổ súng chia cắt quân địch. Sau một giờ chiến đấu ta làm chủ trận địa. Qua hai ngày chiến đấu, ta bắn chìm 4 tàu địch, tiêu diệt 400 tên, thu 300 súng các loại. Chiến thắng Nhị Nguyệt là một bước ngoặt lớn, đánh dấu thời kỳ ta giành lại thế chủ động trên chiến trường Bạc Liêu và Tây Nam Bộ, thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh trong tỉnh phát triển và vươn lên về mọi mặt. Nhân dân nức lòng phấn khởi, ủng hộ cho tiểu đoàn 307 nhiều gà, vịt và hàng trăm xuồng; 13 chiến sĩ của tiểu đoàn 307 hy sinh được nhân dân và chính quyền địa phương tổ chức truy diệu và an táng chu đáo. Tiểu đoàn vận động hàng trăm thanh niên hai huyện Ngọc Hiển, Cà Mau gia nhập thẳng vào tiểu đoàn 307.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:14:25 am
Về địch, bọn lính “bảo hoàng” trong tỉnh tinh thần hoang mang cực độ. Tiểu đoàn 512 của địch vừa bắt lính bổ sung 520 tên, sau đó đào ngũ mất 100 tên vì sợ đẩy ra chiến trường miền Bắc.

Sau chiến thắng Nhị Nguyệt, Tỉnh đội tổ chức tổng kết và phổ biến kinh nghiệm. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây, tỉnh lập kế hoạch chống càn, tập trung chỉ đạo các huyện Cà Mau, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời. Từ tháng 7 năm 1953, phong trào chống địch càn quét đạt được kết quả nhất định nhưng chưa đi vào thế cơ bản, vững chắc. Nhiều cuộc kiểm điểm, rút kinh nghiệm về chống càn được tổ chức, thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh đi lên, lực lượng dân quân du kích được củng cố, phát triển mạnh hệ thống công binh xưởng sản xuất nhiều vũ khí thô sơ, bồi sửa lại các cản trên sông, bố trí đều khắp hộ thống trạm canh, hệ thống mõ báo động theo các ngả địch có thể càn vào căn cứ của ta.

Cuối năm 1953, tình hình chung trên chiến trường toàn quốc thay đổi, tạo nhiều thuận lợi cho ta. Tháng 9 năm 1953 Bộ Chính trị họp quyết định nhiệm vụ quân sự năm 1953 – 1954, đưa quân chủ lực lên Tây Bắc, giải phóng Lai Châu. Quân Pháp sau thất bại trên chiến trường Lào và Bắc Bộ, để đối phó với ta trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, tướng Na-va chủ trương tập trung rút bớt lực lượng ở Nam Bộ tăng cường cho chiến trường chính. Giữa tháng 11 năm 1953, Na-va cho đổ quân thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh báo cáo quyết tâm tiến công Điện Biên Phủ, được Bộ Chính trị thông qua.

Trong lúc tinh thần quân địch hoang mang, sa sút, ta kịp thời nắm lấy thời cơ thuận lợi. Từ tháng 10 năm 1953, Phân liên khu miền Tây mở chiến dịch “trung tâm địch ngụy vận”. Kết hợp với phong trào du kích chiến tranh đang phát triển mạnh, nhiều tỉnh tiến sâu vào vùng địch hậu, vận động quần chúng nổi dậy, bức rút hàng loạt đồn bót của địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Gò Công, Mỹ Tho, Cần Thơ.

Trong chiến dịch “trung tâm địch ngụy vận” ở Bạc Liêu, bên cạnh đưa chiến tranh du kích vào vùng địch hậu, liên tục tấn công và uy hiếp quân địch, bộ máy công tác địch vận được tăng cường bổ sung từ tỉnh đến cơ sở. Ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong lính ngụy người Khơ-me và binh lính tín đồ đạo Thiên chúa và nhiều cơ sở ở vùng địch tạm chiếm, ở thị xã Bạc Liêu, ta bố trí được cả người vào làm thư ký cho tỉnh trưởng Bạc Liêu.

Giữa tháng 12 năm 1953, Tỉnh ủy và tỉnh đội Bạc Liêu xác định nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Trước đó, vào tháng 9 năm 1953, các đơn vị đại đội 553 huyện Cà Mau cùng du kích xã Tân Lộc, An Xuyên tiến công tiêu diệt 1 đồn và 2 tháp canh ven thị trấn Cà Mau, tiêu diệt hàng chục tên địch. Cùng thời gian này bộ đội địa phương và du kích hai huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai liên tục bám đánh tiểu đoàn 19 BVN của địch mới vừa được củng cố lại. Trong thời gian này ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, buộc địch phải rút bỏ nhiều tháp canh dọc trên tuyến lộ 4 từ Cà Mau - Bạc Liêu.

Nhân dân trong tỉnh hăng hái tham gia kháng chiến. Ngoài nghĩa vụ đóng thuế nông nghiệp, nhân dân còn đóng góp nhiều của cải vật chất cho kháng chiến, riêng số tiền ủng hộ cho các công binh xưởng sản xuất vũ khí trong tỉnh đã lên tới hàng triệu đồng.

Các đoàn thể quần chúng tích cực phát triển hội viên và có nhiều phong trào thiết thực ủng hộ kháng chiến. Các ngành tôn giáo vận, Khơ-me vận và Hội Liên Việt được củng cố và được Tỉnh ủy quan tâm lãnh đạo, đã tập hợp được đông đảo khối đại đoàn kết toàn dân một lòng theo Đảng và ủng hộ kháng chiến.

Phối hợp chiến trường chung, mở đầu cho chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954. tại Bạc Liêu, tiểu đoàn 307 phối hợp với đại đội 553 địa phương Cà Mau, cùng du kích xã Tân Thành tiến công đồn nhà thờ Thiên chúa giáo Cà Mau, do một đại đội địch đóng giữ. Một đêm đầu tháng 12 năm 1953, đại đội độc công và đại đội 932 tiểu đoán 307 bí mật tiếp cận, bất ngờ dùng bộc phá mở cửa nhanh chóng chiếm tầng cao của đồn địch và từ trên đánh xuống, từ trong đánh ra. Ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận tiêu diệt đồn Nhà Thở mở đầu đợt hoạt động chiến đấu trong tỉnh diễn ra ở giữa thị trấn Cà Mau, quân dân Bạc Liêu vô cùng phấn khởi, khí thế càng vươn lên mạnh mẽ.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:17:37 am
Cuối năm 1953, địch tiếp tục lún sâu vào thế bị động. Đầu năm 1954, ở Bạc Liêu địch còn 3 tiểu đoàn khinh binh 19, 512, và 521.

Tháng 2 năm 1954, chúng phải đưa 2 đại đội của tiểu đoàn 512 lẽn Sóc Trăng thay thế cho lực lượng Sóc Trăng rút ra chiến trường chính, đến ngày 20 tháng 3 năm 1954 tiểu đoàn 512 của địch lại rút khỏi Bạc Liêu. Địch tăng cường bắt lính bổ sung quân gấp cho 2 tiểu đoàn 19 và 512, quân số cũ và đặc biệt số mới bổ sung tinh thần hoang mang cực độ, có gần 100 tên đào ngũ.

Tuy bị động, nhưng những tháng đầu năm 1954, địch vẫn cố gắng đánh phá vùng ven, vùng căn cứ với 8 cuộc hành quân lớn nhỏ. Chúng đóng thêm một số lô cốt tăng cường kiên cố các bót Lò Heo, Phán Tề và Nhà Thờ để phòng giữ quận lỵ Cà Mau.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, quân dân tỉnh Bạc Liêu cùng quân dân khu Tây Nam Bộ nỗ lực phấn đấu chuẩn bị mọi mặt để tiến công địch. Hưởng úng chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, phát huy thắng lợi trận Nhà Thờ Cà Mau, ngày 23 tháng 12 năm 1953 đại đội 552 của tỉnh phối hợp với tiểu đoàn 307 chủ lực Phân liên khu phục kích kết hợp với vận động chiến tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Hòa Hảo ở “vườn Cụ Hồ”(1) xã Tân Thành huyện Cà Mau. Ngày 7 tháng 2 năm 1954, địa phương quân huyện An Biên phối hợp với đại đội đặc công và đơn vị trợ chiến của tiểu đoàn 307 tổ chức tấn công quận ly An Biên, bắt sống quận trưởng Sàng, quận phó Thiện, tiêu diệt gần 100 tên địch, thu nhiều vũ khí đạn dược.

Ngày 1 tháng 3 năm 1954, tiểu đoàn 307 do đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, tiểu đoàn trưởng; đồng chí Nguyễn Văn Tiên. chính trị viên chỉ huy, có sự phối hợp với đại đội 552 của tỉnh do đồng chí Lê Quốc Sỹ chỉ huy cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích An Biên mở đợt hoạt động 15 ngày để giải phóng An Biên. Mở đầu đợt hoạt động, ngày 1 tháng 3 năm 1954, ta dùng hỏa lực bao vây, tập kích đồn chính của chi khu An Biên và các tháp canh từ chợ Thứ Ba(2) đến Xẻo Rô, vừa bao vây pháo kích vừa tuyên truyền kêu gọi binh sĩ trong đồn trở về với gia đình. Sáng ngày 2 tháng 3 năm 1954, địch cho 2 đại đội đến cứu viện. Đại đội 552 của tỉnh cùng 2 đại đội 931, 933 của tiểu đoàn 307 chặn đánh, diệt 20 tên, số còn lại tháo chạy về Rạch Giá. Sau 3 ba ngày đêm bao vây, pháo kích mãnh liệt, đến chiều ngày 4 tháng 3 năm 1954, toàn bộ hệ thống đồn bốt, tháp canh từ chợ Thứ Ba đến Xẻo Rô số bị tiêu diệt, số bỏ chạy.

Ngày 6 tháng 3 năm 1954, địch cho tiểu đoàn Hòa Hảo 522 do Nguyễn Giác Ngộ chỉ huy đến chi viện cho khu An Biên. Khi quân địch đến Bàu Môn, chúng lọt vào trận địa phục kích của ta, bộ đội ta bất ngờ nổ súng, tiêu diệt tại chỗ 237 tên, chỉ còn 12 tên sống sót chạy về Xẻo Rô, ta thu hàng trăm súng. Trận này ta cũng thiệt hại nặng, có 63 chiến sĩ hy sinh. Ngày 7 tháng 3 năm 1954, địch đưa thêm 2 tiểu đoàn đến tiếp viện lần thứ ba. Trên đường chúng vấp phải mìn và bị bộ đội ta chặn đánh liên tục, chúng tiến quân chậm chạp. Quận ly An Biên càng bị cô lập hoang mang. Ngày 8 tháng 3 năm 1954, bọn ở quận lỵ An Biên và quân chi viện đều tháo chạy. Quân ta truy kích diệt nhiều địch, bắn chìm 1 tàu, hư 1 tàu. Chỉ sau 8 ngày bao vây, tiến công mãnh liệt, cuối tháng 3 năm 1954 ta tiêu diệt đồn Xẻo Rô, hoàn toàn giải phóng quân An Biên, bắt sống quận trưởng Lâm Quang Thiệp (cha của Lâm Quang Phòng).

Qua đợt hoạt động này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch, thu 400 súng, hệ thống đồn bót tại quận ly An Biên đến Xẻo Rô tận sông Cái Lớn bị ta quét sạch, huyện An Biên được hoàn toàn giải phóng. Đây là huyện được giải phóng đầu tiên ở khu Tây Nam Bộ.

Phát huy chiến thắng ở quận lỵ An Biên, các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh liên tiếp tiến công địch, giành nhiều thắng lợi. Đại đội 552 của tỉnh tấn công 2 lô cốt ở Cầu Sập, diệt 24 tên, bắt sống 2 tên, thu 6 súng. Một đại đội của tiểu đoàn 307 phục kích đánh giao thông đoạn Tắc Vân tiêu diệt 1 trung đội địch. Trong đêm 1 tháng 5 năm 1954, các đại đội địa phương Bạc Liêu, Giá Rai, Vĩnh Lợi phối hợp với tiểu đoàn 307 tấn công toàn bộ đồn bót địch trên lộ Đông Dương từ cầu Sập đến Cà Mau, diệt và bắt sống gần 200 tên địch. Hai ngày 16 và 17 tháng 5 năm 1954, địch đưa 2 tiểu đoàn 19 BVN và 512 BVN càn vào xã Vĩnh Hòa, Bình Phú, Minh Diệu huyện Vĩnh Lợi đốt trên 500 nhà dân. Chúng bị đại đội 554 huyện Giá Rai và du kích các xã diệt 30 tên. Ngày 26 tháng 5 năm 1954, hai tiểu đoàn này lại càn vào xã Long Điền, bị du kích xã Long Điền bắn tỉa diệt 14 tên.

Đợt hoạt động tấn công địch từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1954, phối hợp với chiến trường chính, quân dân tỉnh Bạc Liêu tích cực, chủ động bám đánh địch, loại khỏi vòng chiến đâu trên 1.000 tên địch, trong đó trận phục kích ở Bàu Môn ta tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn, giải phóng một chi khu (An Biên), san bằng hàng chục đồn bót, bức rút, bức hàng nhiều tháp canh dọc tuyến lộ 4. Với những chiến công, thành tích trên, Đảng bộ và quân dân tỉnh Bạc Liêu được Xứ ủy Nam Bộ và Quân khu biểu dương.

Quân địch bị thất bại nặng nề ở chiến trường Điện Biên Phủ. Chỉ sau 55 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, diệt và bắt sống 16.000 tên địch, tướng Đờ Caxtơri và toàn bộ cơ quan tham mưu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đều bị bắt sống. Nhung ở chiến trưởng miền Tây và tỉnh Bạc Liêu, từ tháng 5 đến 20 tháng 7 năm 1954, địch vẫn tăng cường hoạt động đánh phá nhằm giành lại thế chủ động để mặc cả với ta tại Hội nghị Giơ-ne-vơ và duy trì sự chiếm đóng làm hậu phương lâu dài cho âm mưu xâm lược của chúng. Máy bay địch mấy tháng đầu bị hút vào chiến trường Điện Biên Phủ lúc này hoạt động trở lại, oanh tạc và trinh sát sâu vào vùng căn cứ ta; các đồn bót cũng tăng cường lùng sục, nống ra càn quét xung quanh, mở và sửa lại đường giao thông bị cắt đứt.


(1) Đây là khu vườn có địa hình tốt, gần quốc lộ 4 nay thuộc phường 6 thành phố Cà Mau. Tại đây ta đã nhiều lần phục kích tiêu diệt địch, được nhân dân ca tụng là “Vườn Cụ Hồ”.
(2) Quận lỵ An Biên của địch đóng tại chợ Thứ Ba.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 06:19:00 am
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Chính phủ Pháp kỷ Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, tôn trọng độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nước Việt Nam tam thời chia làm hai miền, miền Bắc được giải phóng, quân Pháp tạm thời quản lý miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, trong hai năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Lệnh ngừng bắn có hiệu lực từ 7 giờ ngày 11 tháng 8 năm 1954. Tỉnh Bạc Liêu được chọn làm khu tập kết tạm thời 200 ngày để lực lượng vũ trang ta tiến hành công tác chuẩn bị tập kết ra Bấc.

Lực lượng vũ trang Phân liên Khu miền Tây được biên chế thành 3 trung đoàn. Bộ đội địa phương và dân quân, du kích tỉnh Bạc Liêu trở thành tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 3.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của Đảng bộ và quân dân tỉnh Bạc Liêu kể từ ngày 9 tháng 1 năm 1946, mở đầu bằng trận đẩy lùi cuộc tiến công của quân Pháp ở cầu Nhu Gia đến ngày ngừng bắn 11 tháng 8 năm 1954 trên chiến trường tỉnh Bạc Liêu trải qua hơn 8 năm rưỡi.

Với những ngày đầu kháng chiến “chỉ nóp với giáo mang trên vai”, quân dân Bạc Liêu với lòng yêu nước, chí khí quật cường đã chiến đẩu dũng cảm băng cách triển khai nhiều một trận ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch và gây cho địch nhiều thiệt hại. Nhưng đối đầu với thực dân Pháp, một đội quân nhà nghề được trang bị khá hiện đại, có nhiều kinh nghiệm và thủ đoạn xâm lược, quân dân Bạc Liêu vũ khí trang bị thô sơ, thiếu kinh nghiệm trong chiến đấu. Vì vậy các mặt trước sau đều bị phá vỡ, quân Pháp đã chiếm đóng các vùng đô thị và một số vùng nông thôn sâu. Lực lượng vũ trang bước đầu chưa vững chắc, tổ chức chính quyền và các đoàn thể đến nhiều tổ chức cơ sở Đảng do chưa có kế hoạch chu đáo, khi quân địch tiến chiếm Bạc Liêu, mỗi tổ chức và một số cá nhân tự sơ tán về mỗi nơi nên hầu như mất liên lạc. Nhưng nhờ có Đảng bộ được xây dựng từ rất sớm, được rèn luyện thử thách trong đấu tranh chính trị và qua hai cuộc khởi nghĩa(1), nhiều đảng viên kiên định và dũng cảm, có đông đảo quần chúng nhân dân và các chiến sĩ kiên cường, bất khuất, thà chết tự do còn hơn sống nô lệ, lại được sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy và Quân khu, cuộc kháng chiến của Đảng bộ quân dân Bạc Liêu được duy trì và phát triển.

Chỉ trong một thời gian ngắn, sau khi mặt trận Tân Hưng tan vỡ, lực lượng ta nhanh chóng được tổ chức xây dựng lại trên cơ sở nhân dân cách mạng. Đảng bộ đã kịp thời kiện toàn, củng cố, tập trung lãnh đạo cuộc kháng chiến. Ta vừa tiến công địch vừa xây dựng, tổ chức lực lượng, vừa chiến đấu vừa học tập rèn luyện và sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo. Quân dân Bạc Liêu đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phối hợp với chiến trường toàn quốc tiến công và phản công quân địch. Bằng vũ khí thô sơ tự tạo và súng cuớp của địch, các lực lượng vũ trang liên tiếp tấn công diệt đồn, đánh viện, tự chế thủy lôi đánh chìm nhiều tàu chiến của địch ở Mương Điều, Nhị Nguyệt, Ao Kho,v.v… từng bước giải phóng nông thôn. Căn cứ địa càng được mở rộng trên 9/10 diện tích toàn tỉnh với 6/7 số dân, suốt cuộc kháng chiến, Bạc Liêu thực sự là căn cứ địa của khu Tây Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và Xứ ủy Nam Bộ. Vùng tự do được mở rộng, lại sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân khu đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bạc Liêu đào tạo nguồn cán bộ, xây dựng lực lượng và cơ sở vật chất, đồng thời tiến hành thực hiện tốt chính sách giảm tô, giảm tức, tạm cấp ruộng đất, xem đây thực sự là một cuộc cách mạng để nông dân làm chủ ruộng đất, hăng hái lao động sản xuất, ủng hộ tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Qua thực hiện chính sách ruộng đất và công tác tuyên truyền giáo dục, Đảng bộ đã xây dựng vững chắc đội ngũ đảng viên, nâng cao tính giai cấp, tính tiên phong, giáo dục, rèn luyện bản chất cách mạng, tinh thần chiến đấu cho các lực lượng nhân dân.

Song song với việc tăng cường xây dựng căn cứ địa kháng chiến vững chắc, Đảng bộ, quân dân Bạc Liêu đẩy mạnh tiến công địch về quân sự, chính trị và địch ngụy vận trong vùng bị chiếm đóng. Phối hợp với các chiến dịch của bộ đội chủ lực trên chiến thắng khu Tây Nam Bộ và toàn quốc, quân và dân Bạc Liêu lần lượt đánh bại các cuộc càn quét lớn của địch vào vùng giải phóng, liên tiếp tiến công hệ thống đồn bót, tháp canh của quân địch ở vùng ven và trục lộ giao thông chính từ Bạc Liêu đi Cà Mau gây cho địch nhiều thiệt hại lớn và cả tiến công tiêu diệt địch ở trong quận lỵ, tiến lên tiến công làm chủ quận lỵ, giải phóng hoàn toàn huyện An Biên. Ta ở thế chủ động tiến công, thế mạnh, quân địch càng lún sâu vào bị động phòng giữ. Cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bạc Liêu được chọn là khu 200 ngày để chuyển quân tập kết.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Bạc Liêu đã thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tập hợp đoàn kết chặt chẽ các dân tộc, đoàn kết lương giáo. Với tinh thần tự lực, dựa vào sức mình là chính, chiến tranh nhân dân ở Bạc Liêu đánh địch cả ở nông thôn và thành thị kết hợp cả đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và binh địch vận, vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo như “thủy lôi chiến” và hàn cản trên sông, buộc quân địch phải rút về cố thủ thị trấn, thị xã, vùng giải phóng được mở rộng. Là một tỉnh vừa là căn cứ địa cách mạng, vừa cung cấp nhiều sức người sức của cho cuộc kháng chiến ở Tây Nam Bộ và Nam Bộ, nhân dân Bạc Liêu đã tùng đùm bọc, nuôi chứa, chở che cho nhiều cơ quan và cán bộ lãnh đạo của Xứ ủy và Quân khu 9.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bọn đế quốc xâm lược phải thừa nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; chấp nhận rút quân về nuớc. Nhưng với âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, chúng can thiệp sâu và trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Con đường giải phóng dân tộc Việt Nam mới đi được một nửa. Nhân dân Bạc Liêu cùng nhân dân miền Nam “đi truớc về sau” còn phải vượt qua bao gian nan hiểm nghèo, bao trở lực trong cuộc chiến đấu, tiếp tục cùng toàn dân giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


(1) Khởi nghĩa Nam Kỳ và Tổng khởi nghĩa tháng Tám.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:02:03 am
Chương hai

KẺ THÙ MỚI, CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH MỚI
(1954 - 1960)

I. KHU TẬP KẾT 200 NGÀY

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp đối với ba nước Đông Dương. Việt Nam tạm thời bị chia cắt hai miền: miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc sự kiểm soát của quân Pháp, sau 2 năm hai miền Nam, Bắc sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước (theo Hiệp định đã ký).

Về tập kết, theo điều khoản của Hiệp định, lực lượng của ta tập trung từ nam sông Cái Lớn tới ngã ba Nước Trong, từ rạch Nước Trong tới ấp Xẻo Lá và kinh xáng Ngan Dừa đến xã Vĩnh Hưng, từ Vĩnh Hưng thẳng hướng Nam ra biển, gồm địa giới các huyện An Biên, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Cà Mau, Thới Bình, Trần Văn Thời và Ngọc Hiển của tỉnh Bạc Liêu là khu tập kết của lực lượng vũ trang các tỉnh miền Tây, các cơ quan Nam Bộ, quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia, Chính phủ kháng chiến Cam-pu-chia bộ đội Ít-xa-rắc để chuyển quân ra Bắc.

Ngày 20 tháng 8 năm 1954, Tỉnh ủy chỉ định ban quân chính để tiếp quân khu vực tập kết. Kinh Xáng Chắc Băng trở thành trung tâm khu tập kết.

Ngày 25 tháng 8 năm 1954, quân đội liên hiệp Pháp cùng các cơ quan hành chính cai trị rút toàn bộ khỏi thị trấn Cà Mau, Tắc Vân, Hộ Phòng, Giá Rai để ta tiếp quản.

Ngày 26 tháng 8 năm 1954, hai vạn đồng bào các huyện Trần Văn Thời, Ngọc Hiển và các xã ven thị trấn Cà Mau rẩm rộ kéo ra mít tinh mừng hòa bình. Thị trấn Cà Mau tràn ngập rực rỡ cờ hoa.

Lực lượng vũ trang các tỉnh miền Tây rầm rộ kéo về đây chuyển quân ra Bắc. Gia đình cán bộ, bộ đội, đồng bào yêu nước các vùng lân cận cũng kéo về đông đảo để gặp gỡ, chia tay người đi, kẻ ở. Cà Mau như ngày hội mừng chiến thắng.

Trong thời gian lực lượng vũ trang đóng quân ở khu tập kết, các đơn vị vừa học tập, vừa khẩn trương giáo dục quần chúng, tuyên truyền thắng lợi của hiệp định. Đồng thời cùng chính quyền cách mạng địa phương giải quyết những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân như: chia cấp ruộng đất, đổi tiền Đông Dương, thu lại tiền tài chính Việt Nam cho đồng bào. Tại thị trấn Tắc Vân, Cà Mau, Giá Rai, Hộ Phòng chính quyền cách mạng cứu trợ hơn 10.000 tấn gạo, hàng trăm nghìn tiền Đông Dương cho các gia đình nghèo, cất sửa nhà cửa cho nhân dân khó khăn về nhà ở; cùng ngành giáo dục tu sửa lại các trường học cũ của khu táp kết gồm: 875 trường, mở 200 lớp học bình dân, xóa 75% số người không biết chữ. Các trạm y tế, nhà bảo sanh được xây dựng thêm 24 trạm ở các xã, đào tạo hàng trăm cán bộ y tế đảm bào chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Chỉ trong vòng 200 ngày có trên 10 nghìn lượt người dân đến khám chữa bệnh. Thanh niên tập trung hát hò liên hoan văn nghệ, thể dục thể thao giao lưu với bộ đội tạo ra nếp sống vui tươi lành mạnh. Các tệ nạn xã hội mất hẳn. Ban đêm nhà nhân dân không cần đóng cửa, đồ đạc không sợ trộm cắp. Nhiều người ở các nơi kể cả Sài Gòn - Chợ Lớn cũng đến để xem, tìm hiểu vùng giải phóng, để được tai nghe, mắt thấy những việc lãm tốt đẹp của cách mạng.

Mặc dù thời gian tập kết không lâu nhưng lực lượng vũ trang và chính quyền có những việc làm thiết thực ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư tình cảm của nhân dân. Từ đó niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố vững chắc, nhân dân thương yêu, gắn bó mật thiết với lực lượng vũ trang. Mọi người thấy rằng có Đảng là có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Cùng với việc chuyển quân tập kết, việc sắp xếp lực lượng bố trí thế trận cho cuộc đấu tranh mới cũng được tiến hành khẩn trương. Tỉnh ủy Bạc Liêu được đồng chí Lê Duẩn Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và một số đồng chí của Liên tỉnh ủy miền Tây trực tiếp chỉ đạo, các đồng chí đã giúp cho tỉnh ủy nắm chắc âm mưu của kẻ thù, dự kiến tình hình cuộc đấu tranh của nhân dân ta.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:02:26 am
Các đồng chí đã chỉ ra: “Chúng ta phải kháng chiến trường kỳ 9 năm đến Điện Biên Phủ mới bắt đế quốc trả một nửa đất nước, còn một nửa nước không đời nào đế quốc chịu trả dễ dàng cho ta. Đối với đế quốc Mỹ thì phải dùng bạo lực, phải có sức mạnh”, và còn tiên đoán cuộc đấu tranh quyết liệt mà nhân dân miền Nam phải đương đầu. Dự kiến về sự lâu dài của cuộc chiến tranh ước tính phải mất 15 - 20 năm và chỉ đạo xây dựng Đảng bộ vững chắc, chất lượng của đoàn thanh niên, tổ chức lực lượng vũ trang bí mật, tự vệ bán công khai và công tác binh vận được coi là tầm quan trọng chiến lược.

Khi chuyển quân tập kết, Đảng bộ Bạc Liêu còn lại trên 10.000 đảng viên, Đảng bộ tiến hành sắp xếp cho phù hợp với cuộc chiến tranh mới. Đảng viên được giáo dục tình hình nhiệm vụ mới và bồi dưỡng 5 bước công tác cách mạng, công tác bí mật.

Lúc này Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh được Xứ ủy chỉ định, đồng chí Châu Văn Đặng làm Bí thư. Các ban chấp hành huyện ủy và chỉ ủy được củng cố kiện toàn tinh giảm về số, mạnh về chất đảm bảo lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đoàn thanh niên lao động được Đảng tổ chức thay cho thanh niên cứu quốc, xây dựng theo hướng chú trọng chất lượng, lựa chọn những thanh niên là con em nông dân kiên quyết cách mạng, dũng cảm mưu trí.

Các tổ chức quần chúng trước đây đều giải thể, thay thế bàng các tổ chức biến tướng như: vạn vần đổi công, tổ chức bình dân học vụ, hội phụ huynh học sinh, hội cứu tế, các tổ chức nữ công, hội thể thao…

Về lực lượng vũ trang, các đồng chí cán bộ xã đội, du kích không tập kết mà ở lại địa phương. Ta để lại nhiều chiến sĩ bộ đội địa phương tỉnh, huyện và 200 cán bộ cấp trung đội đến tiểu đoàn, rút từ các đơn vị tiểu đoàn 307, 410. Sau khỉ chiếc tàu Stavropol đưa quân tập kết đến bến Sầm Sơn - Thanh Hóa, đồng chí Lê Đức Thọ lại điều nguyên 1 tiểu đoàn theo tàu trở lại miền Nam và đưa về Cà Mau cùng với nhiều cán bộ binh vận.

Vũ khí còn lại 2.000 khẩu ta đem chôn giấu (không kể súng ngắn trang bị cho các đồng chí Bí thư Đảng ủy xã trở lên). Được Xứ ủy Nam Bộ và Khu ủy Khu 9 giúp đỡ, vũ khí để lại Bạc Liêu nhiều gấp 2 lần vũ khí trước đây tỉnh có trong kháng chiến chống Pháp. Công binh xưởng Bạc Liêu được để lại đồng bộ. Xưởng và vũ khí được cất giấu.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ ở làng xã được xây dựng theo hình thức tự vệ thanh niên và các đội dân canh chống cướp.

Đối với binh vận, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ, ban binh vận tỉnh Bạc Liêu do đồng chí Tăng Văn Manh (Hồng Phúc) phụ trách đã chuẩn bị và đưa cán bộ, chiến sĩ ta cài cắm vào quân đội và cơ quan chính quyền các cấp của địch để góp phán che giấu lực lượng, bảo vệ nhân dân, cơ sở cách mạng.

Ngày 31 tháng 1 năm 1955, trong lễ bàn giao khu tập kết 200 ngày cho quân đội liên hiệp Pháp, đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban liên hiệp đình chiến thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoan nghênh và khen tinh thần cách mạng của nhân dân Bạc Liêu và kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với niềm tin Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí thay mặt cán bộ, bộ đội đi tập kết chia tay với đồng bào và hẹn sẽ trở lại.

Chuyển tàu cuối cùng ở cửa sông Ông Đốc chở quân tập kết công khai lên tàu. Trước lúc tàu nhổ neo đồng chí Lê Duẩn đã bí mật trở lại hoạt động và trực tiếp chỉ đạo Tỉnh ủy Bạc Liêu. Lúc chia tay, đồng chí Lê Duẩn nhờ đồng chỉ Lê Đức Thọ báo cáo với Bác Hồ, với Trung ương Đảng: “Tình hình cách mạng miền Nam rất phức tạp, việc chia cắt có thể kéo dài 15 - 20 năm không thể giải quyết sớm hơn”.

Như vậy, ngay từ đầu được sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn, Đảng bộ Bạc Liêu đã hiểu được âm mưu thủ đoạn của địch và nắm chắc đường lối chủ trương chính sách của Đảng nên đã có chủ trương biện pháp chỉ đạo đứng đắn, xác thực trong việc chuẩn bị các mặt cho cuộc đấu tranh lâu dài, quyết liệt.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:03:50 am
II. ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, BUỘC ĐỊCH THI HÀNH HIỆN ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, ĐÒI QUYỀN DÂN SINH, DÂN CHỦ, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG

Tháng 1 năm 1955 Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho Ngô Đình Diệm nhằm để chống phá cách mạng miền Nam.

Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1955, sau khi ta chuyển quân xong, bàn giao khu tập kết, quân địch kéo vào chiếm đóng hầu hết các huyện trong tỉnh. Chúng lập hệ thống đồn bót dầy đặc dọc theo tuyến lộ xe và kinh, sông lớn.

Biện pháp của chúng là lúc đầu tuyên truyền lừa mị, mua chuộc, nhung trước sự đấu tranh của nhân dân ngày càng quyết liệt, bọn địch tiến hành khủng bố, dân áp. Chúng ráo riết bắt lính, đưa người vào bộ máy ngụy quyền xã, ấp, lập hệ thống cai trị từ tỉnh đến xã, tổ chức mạng lưới cảnh sát do thám dày đặc, lập nhiều tổ chức; các đơn vị chủ lực, địa phương ra sức truy lùng những người kháng chiến cũ; thực hiện các đạo luật “dặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, “tố cộng, diệt cộng”; mở các chiến dịch: “Trương Tấn Bửu”, “Nguyễn Trãi”, v.v_ Chúng đưa quân càn quét, bắn giết, chúng ép các gia đình cách mạng ly khai những người đi tập kết, thưởng tiền cho những tên tay sai làm tình được với vợ cán bộ cách mạng.

Ngày 8 tháng 1 năm 1955, Diệm ra đạo dụ số 2, bắt nông dân phải làm khế ước, đóng tô cho địa chủ, tước đoạt quyền lợi ruộng đất mà cách mạng đã đem lại cho nông dân, khôi phục giai cấp địa chủ làm chỗ dựa cho chế độ của chúng.

Nhân dân Bạc Liêu được quán triệt học tập về tình hình nhiệm vụ và Hiệp định Giơ-ne-vơ để đấu tranh chống lại luận điệu sai trái của địch, ra sức tranh thủ sự đồng tình của binh sĩ địch để chống lại những tên ác ôn. Nông dân các vùng nông thôn liên tiếp tổ chức biểu tình kéo đến thị trấn, thị xã kết hợp cùng đồng bào đô thị đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, đòi thi hành hiệp định. Nhân dân các địa phương còn đấu tranh bảo vệ trường học, trạm y tế, các hội quần chúng biến tướng.

Thị xã Bạc Liêu, thị trấn Cà Mau, không ngừng náo động những đoàn người từ các huyện xã vùng ven kết hợp nhân dân thị xã đấu tranh thường xuyên và từng đợt rầm rộ lớn. Nổi bật như công nhân nhà máy chà gạo Hậu Giang do đồng chí Tư Hiền lãnh đạo đấu tranh hợp pháp chống địch đuổi 12 công nhân; cuộc đấu tranh dẫn đến phải ra tòa án Sài Gòn xét xử buộc địch phải bồi thường cho công nhân 130.000 đồng.

Cuộc đấu tranh chính trị trở nên quyết liệt khi quân địch tăng cường đàn áp khủng bố “tố cộng, diệt cộng”. Biện pháp đấu tranh của ta là tẩy chay các cuộc tố cộng, nhân dân các xã quyết tâm không tham gia. Nhân dân xã Phong Thạnh phát huy truyền thống đấu tranh “đồng Nọc Nạng” tuyệt đối khống ai đi học tố cộng, các buổi học cải huấn địch chỉ gom được người già, trẻ em.

Ở thị xã Bạc Liêu chúng gom hàng trăm đồng bào dự tố cộng. Quân địch đưa cô Lý, đoàn viên đoàn Thanh Lao (Đoàn Thanh niên Lao động) ra uy hiếp ly khai. Chúng hớn hờ khi thấy cô chạy đến ảnh Bác Hồ, nhưng cô Lý ôm ảnh Bác dõng dạc nói: “Bác Hồ là cha của dân tộc, có xé là xé chúng mày, bọn phản động bán nước”.

Ở Cà Mau chúng bắt được đồng chí Chín Hồng (Chín Tâm), chi ủy viên xã trong một trận càn ở Lung Dừa. Chúng tra tấn dã man nhưng không lay chuyển được người cách mạng. Chúng đưa đồng chí đến đình Tân Hưng dự buổi tố cộng có rất động nhân dân, đồng chí Chín Hồng không ly khai mà vạch tội ác Mỹ - Diệm. Quân địch thất bại thảm hại, lôi đồng chí Chín Hồng đi và đánh đập đến chết. Đồng chí hy sính anh dũng trước sự khâm phục và thương tiếc của nhân dân.

Để chống quốc sách tố cộng, diệt cộng của địch, lúc đầu có nơi đánh giá không hết sự tàn ác xảo quyệt của địch. Chỉ bộ Hòa Bình quá tin ở phong trào đấu tranh chính trị rộng mạnh ở địa phương, đã chủ trương đưa đảng viên ra đấu lý với địch. Kẻ địch tìm vây bắt những người bị lộ và khủng bố dã man, có người đã không giữ được khí tiết.

Nhằm bảo vệ nhân dân, khắp các ấp, xã, đều tổ chức tự vệ thanh niên bí mật và công khai tổ chức các “hội chống cướp”, “dân canh chống cướp”. Huyện Cái Nước có 60 tổ chức của 60 ấp, các hội này tổ chức theo xóm có nòng cốt khoảng 10 - 20 người. Khi có trộm cướp, địch rình rập, nhân dân đốt đuốc dùng cây, roi, giáo mác đánh kẻ lạ mặt. Quân địch đi đến đâu đều phải báo trước, các đội dân canh chống cướp đã bảo vệ được cán bộ, đảng viên, tránh tố cộng diệt cộng, giải thoát được nhiều đồng chí bị bắt, bảo vệ được dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:20 am
Trường hợp cán bộ bị bắn giết, nhân dân đem xác người đi biểu tình lên huyện, tỉnh đấu tranh có cuộc đến hàng nghìn dân kéo đi buộc chúng phải trừng trị những tên sát nhân bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân. Có cuộc địch đàn áp dã man, người này ngã người kia đứng lên với làn sóng mạnh mẽ buộc địch phải nhượng bộ.

Giữa năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa hàng vạn đồng bào Thiên chúa giáo từ Phát Diệm - Ninh Bình di cư vào Nam đến lập các khu dinh điền ở huyện Thới Bình. Chúng đưa 12.000 giáo dân Bùi Chu với 25 cha cố vào 4 xã của Thới Bình, bắt đồng bào phải dời đi nơi khác. Chúng đưa xáng múc xây dựng 17 nhà thờ với âm mưu tạo ra nơi đây một trung tâm tôn giáo, một số cứ điểm quân sự phản động giữa vùng căn cứ kháng chiến. Ban cán sự Cà Mau Bắc đã kịp thời phá âm mưu của địch. Nhân dân 4 xã bằng công tác tuyên truyền vận động giúp đỡ đồng bào di cư, tranh thủ cha cố đồng thời răn đe cảnh báo những tên chỉ huy đầu sỏ, đông đảo quần chúng nhân dân dùng cây, roi, dao, mác ngăn chặn đoàn xáng cạp. Trước sự phản ứng, đấu tranh quyết liệt của nhân dân, địch buộc phải hủy bỏ kế hoạch lập khu dinh điền Thới Bình - U Minh, chuyển về lập khu đỉnh điền ở Cái Sắn - Tân Hiệp.

Từ tháng 3 năm 1965, khi quân địch đã chiếm đóng khắp vùng nông thôn. Bọn địa chủ lao động trước đây chạy vào thành phố, thị xã được bọn tề xã và đồn bót ủng hộ, nhân cơ hội ngóc đầu dậy được chính quyền Ngô Đình Diệm chứng nhận quyền sở hữu, chúng trở về đòi lại ruộng đất, thu lúa ruộng, bắt nông dân lập khế ước. Một số địa chủ hiến đất cho chính quyền cách mạng trước đây cũng trở về “xin tô”.

Nông dân dựa vào chứng chỉ sở hữu ruộng đất mà Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã cấp kéo từng đoàn biểu tình lên hội đồng xã, lên quận đấu tranh yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nông dân.

Không khoan nhượng với những tên địa chủ ác bá, cuộc đấu tranh nhanh chóng trở nên quyết liệt. Nhiều địa phương như: Giá Rai, Vĩnh Lợi đã tổ chức xử một số tên tay sai gian ác như: tên Nhái, tên Quy, tên Phát, v.v…

Ở xã Ninh Quới – Hồng Dân, ba đồng chí Lê Bá Đông, Diệp Văn Oanh, Hồng Lĩnh được Đảng ủy phân công trang bị một dao găm, một dao phay, một súng lục đến hội đồng xã đâm chết tên Mười Trinh, tiếp đó các đồng chí diệt tên cai tổng Rớt, tên Châu Bình Phán về cướp ruộng ở Ngan Dừa và cán bộ ta gọi tên Trương Khánh Châu đến cấm không cho hắn thu lúa ruộng. Ở huyện Ngọc Hiển, Cà Mau, nông dân mà nòng cốt là thanh niên lao động kéo đến bắt giữ bọn đo đất, tịch thu toàn bộ máy móc dụng cụ, chấm dứt việc đo đất, điều chỉnh ruộng cho địa chủ. Ở Trần Văn Thời nhân dân biểu tình, xé khế ước, cuộc đấu tranh ở đây gắn liền với cuộc đấu tranh chống địch lấn chiếm ruộng đất và việc bắt dân đào kinh, làm lộ, mở rộng các khu dinh điền. Ở Cái Nước, bọn địa chủ theo chân quân địch về lấy ruộng, Huyện ủy Cái Nước gọi đến giáo dục cảnh cáo chặn đứng được ngay tư đầu ý đồ cướp ruộng của chúng. Tại Giá Rai, nhân dân ở hợp tác xã ruộng muối bằng nhiều hình thức đấu tranh, tố cáo tội ác hai tên địa chủ Mùi và Quỷnh, buộc bọn địch ở quận phải trị tội hai tên địa chú ác bá, nhân dân bảo vệ được ruộng muối Vĩnh Mỹ, Long Điền.

Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nông dân, bọn địa chủ thất thế, nhiều tên chạy trở lại thành phố, một số tên ở lại thị xã, thị trấn khi đi ruộng có cả trung đội tỉnh theo bảo vệ. Nông dân Bạc Liêu đã bất chấp sự kềm kẹp của chính quyền địch, kiên quyết đấu tranh giữ ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã cấp.

Với sự tác động của sự đấu tranh sâu sắc của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ngày 22 tháng 10 năm 1956. Ngô Đình Diệm buộc phải đưa ra đạo dụ 57 truất hữu ruộng đất đối với địa chủ có trên 100 héc-ta, ha xuống cỏn 10 héc-ta, trả tiền cho địa chủ bị lấy ruộng nhằm “tư sản hóa” địa chủ; cấp đất lập trang trại để “hữu sản hóa” đi đến tư sản hóa một bộ phận nông dân theo chính sách ruộng đất của Mỹ và Mỹ xem đây là một biện pháp để thiết lập chế độ thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.

Đi đôi với đấu tranh chính trị, hỗ trợ cho đấu tranh giữ ruộng đất, việc diệt ác trừ gian cùng được tiến hành kiên quyết và thận trọng, bảo đảm không giết lầm người chưa đáng tội chết. Các xã, huyện tiến hành lập danh sách những tên ác ôn thông qua tỉnh phê duyệt, những tên đáng trừng trị ta cảnh cáo nhiều lần, nếu tên nào ngoan cố không chịu hối cải ta mới trừng tri.

Ở huyện Phước Long, hai thanh niên Phước và Ngọc được phân công diệt tên quận trưởng Chiếm gian ác tại Phó Sinh làm hắn bị thương, đánh trả những tên chi viện và hai đồng chí đã anh dũng hy sinh. Ở Ngan Dừa, Tỉnh ủy ra lệnh tiêu diệt 3 tên ác ôn: Chơn. Xem, Khánh để trừ hâu họa và những tên đầu sỏ, hai đồng chí đoàn viên Đoàn thanh lao nhận nhiệm vụ hạ sát tên Khánh tại quán nước và rút lui an toàn. Ở Giá Rai ta dùng lực lượng ngầm diệt các tên: Năm Nhọn, Hai, Ngọc và tên Huỳnh làm thám báo. Ở sông Đốc, ta tiêu diệt tên Châu Long, thám báo ác ôn, ở Vĩnh Lợi ta tiêu diệt tên cánh sát Phú, tên Luông, đội trưởng dân vệ; ở Cái Nước, tên Khởi ở Phú Hưng... Đặc biệt thanh niên ở Giá Rai có sáng kiến dùng thùng thiếc đựng dầu loại 20 lít, đục đít thùng thành như cái “hom lờ” có cạnh bén, nhọn theo dõi bọn do thám, chỉ điểm lợi dụng sơ hở chụp thùng thiếc đó vào đầu ngập đến vai. Tên do thám la thất thanh, không gỡ ra được, càng đụng tới càng đau nhức, không biết ai làm để trả thù. Từ đó chúng rất sợ và không dám nghênh ngang như trước.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:48 am
Nói chung các huyện, xã trong tỉnh đã trừng trị những tên phản động gian ác làm cho phong trào đấu tranh ở địa phương phát triển mạnh. Bọn địch trả thù lại bằng cách ta giết 1 tên gian ác thì chúng đem 3 tù nhân chính trị ra xử bắn và để loại bỏ ảnh hưởng của kháng chiến, đàn áp, khủng bố nhân dân vùng giải phóng. Từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 12 tháng 3 năm 1955, Diệm mở chiến dịch “tự do” do Dương Văn Đức chỉ huy, đánh vào khu căn cứ của ta. Ngô Đình Diệm đến tại thị trấn Cà Mau dự lễ và duyệt binh “lực lượng quốc gia áo đen” của Lâm Quang Phòng.

Việc trừ gian diệt ác có chọn lọc và tiến hành tích cực đều khắp trong tỉnh đã góp phần nâng lên uy thế của cách mạng, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh giữ ruộng đất; đồng thời bảo vệ được cơ sở cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng.

Củng với các phong trào đấu tranh chính trị vì diệt ác, công tác binh vận cũng được phát triển mạnh mẽ do ta chuẩn bị từ trước và đã thực hiện một bước ở thị xã Bạc Liêu. Từ đó tạo thêm thuận lợi cho ta đưa người cài vào lòng địch. Ta đã đưa 160 cán bộ quân sự vào cảnh vệ binh và các đơn vị chủ lực quân đội ngụy.

Nhiều đồng chí được chúng phong cấp sĩ quan, chức đồn trưởng: đồng chí Mạc Văn Hồng đại úy cảnh vệ binh, đồn trưởng đồn Đầm Cùng; đồng chí Trần Văn Tập, trung úy, đồn trưởng đồn Vàm Đình. Ta còn đưa cán bộ vào nắm cả 4 tàu quân sự địch, ở Vĩnh Lợi đồng chí Sáu Nhân, Bí thư huyện ủy đưa được 5 người của ta vào tiểu đoàn Lê Công ở Cầu Sập. bố trí người vào cả lực lượng Cao đài liên minh. Cũng tại Vĩnh Lợi, ta đã bắt liên lạc với Thạch Nao và tiểu đội lính người Khơ-me Vĩnh Châu (tù binh ở Điện Biên Phủ đã trở lại quân đội ngụy).

Lực lượng ta bố trí và xây dựng trong lòng địch, khi nhiều đảng viên được tổ chức trong lực lượng quân sự địch. Về cơ bản ta nắm được lực lượng cảnh vệ binh. Do có điều kiện thuận lợi đó nên một số đồng chí được bố trí vào cảnh vệ binh, vào các tàu địch.

Khi quân địch đã xây dựng, củng cố hệ thống gián điệp và tổ chức lại cảnh vệ binh thành bảo an, nhiều đồng chí của ta bị thuyên chuyển sang các tỉnh khác, một số đồng chí bị địch phát hiện nên bị bắt, một số đồng chí phải tổ chức khởi nghĩa phá đồn đem vũ khí. lực lượng vào rừng như các trường hợp đồn Đầm Cùng, Cái Keo. Tuy vậy ta vẫn duy trì được một nửa lực lượng đã đưa vào lực lượng địch.

Đối với chính quyền cơ sở của địch ta cũng cài cắm người vào hội đồng xã, trưởng ấp, ủy viên cảnh sát, vào thanh niên và phụ nữ cộng hòa, dân vệ, thanh niên chiến đấu. Cuối năm 1955 đầu năm 1956, phần lớn các tổ chức của địch nói trên người của ta chiếm một nửa.

Việc ta nắm được cảnh vệ binh, có người trong các tổ chức của địch, trước mắt có lợi cho việc bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh chính trị và trừ gian diệt ác, đồng thời có lợi cho khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng về sau.

Tháng 3 năm 1955, khi quân địch tiến vào chiếm đóng toàn tỉnh thì cuộc xung đột giữa quân các giáo phái với quân đội quốc gia chính quyền Ngỏ Đình Diệm cũng nổ ra. Trung ương Đảng ra chi thị về: “tình hình hỗn loạn ở miền Nam”, đặt vấn đề tranh thú duy trì lực lượng giáo phái chống Diệm. Xung đột vừa nổ ra, Xứ ủy lập tức cử nhiều cán bộ cấp khu, tỉnh vào lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hào tranh thủ, giúp đỡ họ chống Diệm và cũng để duy trì và khoét sâu mâu thuẫn Pháp - Mỹ ở Việt Nam.

Đối với lực lượng Hòa Hảo, ta cử cán bộ vào cơ quan tham mưu của Năm Lửa, Ba Cụt. Một trung đoàn của Ba Cụt, trung đoàn Lê Hoan tránh xung đột với quân Diệm, được đồng chí Nhanh là cố vấn hướng dẫn kéo về Bạc Liêu tại Phước Long và Thới Bình. Quân Ba Cụt kéo vào đất căn cứ của ta, nhân dân đã nuôi dưỡng chăm sóc vận động, giáo dục tranh thủ họ. Cán bộ, binh sĩ trung đoàn Lê Hoan đều muốn theo ta đánh giặc, họ trao vũ khí cho cán bộ ta và yêu cầu không trả lại. Đồng chí Hai Phước và hơn 10 cán bộ các tiểu đoàn 307, 410 đã hướng dẫn giúp do trung đoàn Lê Hoan chống lại quân Diệm truy kích. Do ta tổ chức chỉ huy và làm cố vấn, trung đoàn Lê Hoan đánh một trận tiêu diệt quân Diệm ở kinh 30, kinh 5, kinh 6 La Cua diệt trên 300 tên địch, thu gần 200 súng. Hai cán bộ ta: đồng chí Miên, đồng chí Nguyễn Văn Sót hy sinh anh dũng.

Ta đã tranh thù nắm được hầu hết sĩ quan, binh lính chỉ trừ tên Nguyễn Thời Rê, trung đoàn trưởng, vốn là sĩ quan phòng nhì của Pháp đóng tại Cần Thơ. Theo lệnh Ba Cụt, Rê đưa trung đoàn rút về Cần Thơ, binh sĩ để lại nhiều vũ khí cho ta, một it binh sĩ ở lại với nhân dân huyện Thới Bình, khi Ba Cụt bị Nguyễn Ngọc Thơ lừa ra Cần Thơ hội đàm và bị chặt đầu, lực lượng Hòa Hảo tan rã.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:10 am
Ngày 23 tháng 6 năm 1955, bọn đặc khu An Phước tổ chức đưa lực lương “quốc gia áo đen” bao ráp thánh thất Ngọc Sắc(1) ở Thị Phụng - thuộc phái Cao đài Minh Chơn đạo Hậu Giang, chúng cho những tên chỉ điểm nhìn mặt và bắt được 23 chức sắc, chức việc là người kháng chiến cũ, chúng cướp đi nhiều dụng cụ y tế và tài sản của thánh thất. Chúng sử dụng 1 tiểu đoàn phong tỏa Tòa thánh; thâm độc hơn, là chúng cho tháo gỡ bảng hiệu “Minh Chơn đạo”, treo lên bảng hiệu “Cao đài thống nhất”(2) và tra tấn đến chết giáo hữu Trần Ngọc Kỳ nhằm chia rẽ tôn giáo, uy hiếp tinh thần của tín đồ và quần chúng nhân dân nói chung.

Được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên tỉnh ủy miền Tây, Tỉnh ủy Bạc Liêu huy động lực lượng, phát động cuộc đấu tranh rộng lớn lên án Mỹ - Diệm vi phạm hiệp định, đòi thả người bị bắt, trả lại tài sản mà chúng cướp đi và trừng trị bọn ác ôn. Đông đáo tín đồ tập trung về Tòa thánh, tổ chức cầu siêu giáo hữu Trần Ngọc Kỳ, được các chi phái miền Tây, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và tổ chức một số tờ báo ủng hộ. Chức sắc, chức việc và đông đảo tín để đệ đơn lên nhà cầm quyền Diệm và nhiều đoàn tín đồ trực diện đấu tranh lên quận, tỉnh, đến Phan Khắc Sửu, Nguyễn Ngọc Thơ. Cuộc đấu tranh quyết liệt kéo dài hơn 10 tháng, đến tháng 4 năm 1956, Diệm buộc phải ra lệnh thả những người bị bất, bãi bỏ phong tỏa Tòa thánh; riêng tài sản, bọn đặc khu An Phước không trả.

Đây là một thắng lợi có ý nghĩa chính trị đầu tiên giáng vào Mỹ - Diệm, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ ở tỉnh Bạc Liêu. Thế lực cách mạng được củng cố và mở rộng trong mặt trận đoàn kết tôn giáo chống Mỹ - Diệm. Đặc biệt, lòng tin của tín đồ và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao.

Để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ngày càng mạnh mẽ và rộng khắp của quần chúng nhân dân và đối phó với hành động đàn áp khủng bố của Mỹ - Diệm, tháng 8 năm 1955, đồng chí Lê Duẩn giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến (Tham mưu trường Quân khu miền Tây trong kháng chiến chống Pháp), Phó Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây cùng đồng chí Phan Ngọc Sến, Tỉnh ủy viên Bạc Liêu bắt tay tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang bí mật tại Bạc Liêu.

Hai lớp học cho cán bộ khung được tiến hành, giáo viên là các đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, Phan Ngọc Sến; học viên là cán bộ quân sự được bố trí ở lại. Lớp thứ nhất gồm 13 học viên, học trong hai tháng 8 và 9 năm 1955, học xong xây dựng thành khung cán bộ một đại đội “Phan Ngọc Hiển”, có chi bộ Đảng do đồng chí Trần Văn Tập (Hai Đại), chỉ huy trưởng làm bí thư; đồng chí Lê Tòng Bá (Út Điệp) làm phó bí thư. Lớp thứ hai có 12 học viên, tổ chức vào tháng 10 năm 1955, xây dựng thành khung đại đội thứ hai, bí thư chi bộ là đồng chí Trần Văn Đởm (Ba Văn), phó bí thư là đồng chí Lê Huấn (Tư Đỏ).

Khung cán bộ nào được tổ chức xong phân công về từng địa phương xây dựng đơn vị. Đảng viên loại “A” ở các chi bộ. Đoàn viên Thanh niên Lao động hăng hái dũng cảm, thử thách trong đấu tranh cách mạng được tuyển lựa vào lực lượng vũ trang, đơn vị lực lượng vũ trang do Ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo, tổ chức. Những năm đầu còn bí mật cả với Xã ủy tổ chức theo tổ 3 người, 3 tổ thành một tiểu đội, 3 tiểu đội thành một trung đội, 3 ngày tổ sinh hoạt 1 lần, 1 tuần tiểu đội học tập 1 lần; thủ tục kết nạp vào lực lượng vũ trang như kết nạp vào Đảng, từng cán bộ, chiến sĩ tuyên thệ nhận nhiệm vụ. Các chiến sĩ được học đường lối cách mạng miền Nam. 10 lời thề, 12 điều kỷ luật, 15 điều bí mật của Quân đội nhân dân Việt Nam, học công tác vận động quần chúng và rèn luyện võ nghệ, tập quân sự; các chiến sĩ sản xuất riêng hoặc cùng làm với gia đình để bảo đảm tự túc và góp cho đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ góp phần tích cực vào phong trào ở địa phương mình, nhưng còn phải giữ bí mật với địa phương về nhiệm vụ, chức trách của chiến sĩ lực lượng vũ trang.

Đơn vị lực lượng vũ trang được giữ bí mật nghi trang dưới tên gọi “Đội bảo vệ hòa bình”, chủ yếu để che mắt địch.

Việc xây dựng lực lượng vũ trang được tiến hành tích cực, nghiêm túc, thận trọng. Trong 3 tháng đầu đã có 14 đại đội lực lượng vũ trang bí mật được xây dựng.

Đầu năm 1956, Thường vụ Tỉnh Bạc Liêu kiểm điểm đánh giá tình hình thấy rằng tổ chức Đảng được giữ vững, tổ chức đoàn phát triển, lực lượng vũ được tổ chức, ta có cơ sở mạnh trong quân đội địch. Có ý kiến trao đổi: “nếu trên cho khởi nghĩa, tỉnh sẽ làm cái một”, nhưng quyết định khởi nghĩa phải nhìn toàn cục, phải có tình thế cách mạng.

Ngày 20 tháng 7 năm 1956, Mỹ - Diệm phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ không chịu hiệp thương tổng tuyển cử. Tỉnh ủy mở cuộc vận động rộng lớn trong toàn tỉnh tổ chức với quy mô một chiến dịch, phát động nhân dân tiến vào thời kỳ đấu tranh quyết liệt lâu dài, đồng thời đấu tranh mạnh mẽ đòi chính quyền Ngô Đình Diệm hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Hai vạn người bằng đò máy, xuồng ghe, đi bộ, đi xe kéo vào thị xã Bạc Liêu, thị trấn Cà Mau với khí thế đấu tranh mạnh mẽ. Nhiều binh lính địch đi cùng nhân dân trong cuộc biểu dương lực lượng to lớn này.

Tiếng vang của cuộc đấu tranh lan rộng gây chấn động lớn trong hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền. Như vậy trong gần hai năm vừa đấu tranh với địch vừa tiến hành xây dựng lực lượng, Đảng bộ và nhân dân Bạc Liêu đã trải qua nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng giành lấy nhiều kết quả quan trọng. Đồng thời tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng được một lực lượng cách mạng quần chúng đông đảo, kể cả trong bộ máy ngụy quân ngụy quyền tạo được hậu thuẫn sẵn sàng cho cuộc đấu tranh mới.


(1) Tòa thánh trung ương giáo hội Phật giáo Cao đài Minh Chơn đạo Hậu Giang
(2) Do Phan Khắc Sửu, Bộ trưởng Bộ cải cách điền địa của Diệm cầm đầu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:08:02 am
III. ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ KẾT HỢP VÕ TRANG TỰ VỆ, TIẾN TỚI VÕ TRANG TUYÊN TRUYỀN DIỆT ÁC TẠO THẾ MỚI CHO QUẦN CHÚNG ĐẤU TRANH

Tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Bỉ thư Xứ ủy Nam Bộ hoàn chỉnh “Đề cương cách mạng miền Nam”. Bản đề cương chỉ rõ: “nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính dân tộc, dân chủ để cùng miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân”. Đề cương dự kiến khả năng khởi nghĩa giành chính quyền bằng bạo lực của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang như kiểu cách mạng tháng Tám năm 1945.

“Đề cương cách mạng miền Nam” được phổ biến cho cán bộ, đảng viên Bạc Liêu gây nhiều phấn chấn. Tiếp đó lại có nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ cuối năm 1956 về sự chỉ đạo vũ trang tuyên truyền.

Tháng 10 năm 1957, chính quyền Ngõ Đình Diệm phân chia lại các tỉnh, lập thêm các tỉnh nhỏ để dễ bề cai tri. Chúng chia tỉnh Bạc Liêu ra làm hai. Ba quận: Giá Rai, Vĩnh Lợi, Phước Long và thị xã Bạc Liêu nhập vào tỉnh Sóc Trăng, lấy tên là tỉnh Ba Xuyên. Các huyện Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Thới Bình, Cái Nước và thị xã Cà Mau thành tỉnh An Xuyên.

Địch tiến hành âm mưu “tố cộng diệt công”, tổ chức hệ thống thám báo, mật báo và nhiều tổ chức khác để phục vụ cho việc đánh phá cơ sở cách mạng. Mặt khác Diệm trắng trợn tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Diệm ra pháp lệnh đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, ban hành luật quân dịch, triển khai chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, tăng cường hành quân bố ráp bắt hàng loạt cán bộ của ta như: đồng chí Châu Long, Nguyễn Văn Be, Tăng Quốc Hùng, Trần Thị Lý và Hà Thái Bình ở thị xã Bạc Liêu. Đồng chí Thu Loan, Phan Văn Của ở Giá Rai và hàng chục đồng chí ở Vĩnh Lợi, Hồng Dân.

Cuối năm 1957, theo Nghị quyết của Liên tỉnh ủy miền Tây giải thể tỉnh Bạc Liêu, sáp nhập các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu về tình Sóc Trăng, phần còn lại của tỉnh Bạc Liêu (cũ) thành lập tỉnh Cà Mau.

Hội nghị của Tỉnh ủy Sóc Trăng chỉ đạo: Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chính trị với nội dung dân sinh, dân chủ chống khủng bố trả thù; đồng thời phát triển lực lượng tự vệ với hình thức đội thanh niên chống cướp bảo vệ xóm ấp, dùng lực lượng này để trấn áp tề diệp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị với danh nghĩa người kháng chiến cũ hoặc lực lượng giáo phái.

Sau hội nghị, Thường vụ Tỉnh ủy Sóc Trăng có kế hoạch xây dựng lực lượng ngầm. Theo kế hoạch, mỗi huyện xây dựng một đại đội phân tán ở các xã ấp, lấy tổ 3/3 để thường xuyên sinh hoạt và huấn luyện Lực lượng ngầm làm nòng cốt trong các đội tự vệ để hoạt động.

Lúc này phong trào đấu tranh chống đạo dụ 57 cũng như phong trào chống đuổi nhà. dồn dân, chống khủng bố diễn ra khắp nơi ngày càng quyết liệt. Tháng 3 năm 1957, ở Châu Hưng, Vĩnh Lợi, binh lính bất bình trước sự đàn áp khủng bố của địch đối với nhân dân, 1 tiểu đội địch vác súng chạy về với cách mạng tham gia đấu tranh chống địch.

Theo chỉ thị của Liên tỉnh ủy, khoảng tháng 10 năm 1957, tỉnh tuyển chọn lực lượng ngầm đưa về trên 1 đại đội để xây dựng lực lượng vũ trang và tháng 12 năm 1957 Liên tỉnh ủy đưa về Sóc Trăng 1 trung đội vũ trang thành lập lực lượng vũ trang tỉnh mệnh danh là tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng do Ba Phong làm chỉ huy trưởng hoạt động thực hiện nhiệm vụ: diệt ác, trấn áp bọn phản cách mạng, làm công tác vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở tạo thuận lợi cho phong trào đấu tranh chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng trong tỉnh.

Không chịu nổi cảnh đàn áp của địch, theo kiến nghị của các địa phương, Tỉnh ủy Sóc Trăng chấp nhận cho diệt một số tên thật gian ác để ngăn chăn hành động khủng bố, trả thù tao thuận lợi cho phong trào đấu tranh. Các đội tự vệ tổ chức diệt ác ở xã Ninh Quới - Hồng Dân ta tổ chức diệt các tên Châu Minh Phán; tên tổng Nấu, trưởng đồn Bà Ai; tên Sơn, trưởng đồn Cai Giảng; tên trưởng ấp Nhạn; cai tổng Tài ở Vĩnh Hưng; ở Giá Rai diệt tên Thẩm, tổng đoàn dân vệ và 14 tên ác ôn khác.

Đầu năm 1958, Thường vụ Tỉnh ủy Sóc Trăng chủ trương cho đơn vị vũ trang Đinh Tiên Hoàng vũ trang tuyên truyền diệt ác để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh. Đơn vị Đinh Tiên Hoàng liên tục tổ chức trấn áp bọn phản cách mạng tề diệp ở các địa phương nhất là các xã thuộc huyện Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai tạo điều kiện cho cơ sở ta hoạt động. Tháng 8 năm 1958, đơn vị Đinh Tiên Hoàng chống càn 2 trận do đại đội bảo an quận Phước Long càn vào ấp Phước Hòa, Hậu Bối, xã Phước Long và ấp Bình Dân, xã Lộc Ninh gây cho địch nhiều thiệt hại.

Tháng 12 năm 1958, Mỹ - Diệm đầu độc thảm sát trên 1.000 tù chính trị và đồng bào yêu nước tại nhà tù Phú Lợi. Tỉnh ủy Sóc Trăng phát động một đợt căm thù và đấu tranh chống thảm sát. Nhiều nơi trong tình nhân dân tổ chức cầu siêu ở các chùa cho các tù nhân bị nạn, đồng thời đồng bào liên tục trực diện đấu tranh tại các tề xã, quận đòi chồng, con đang bị giam cầm và bị đầu độc tại Phú Lợi. Quần chúng nhân dân các huyện Thạnh Trị, Giá Rai mặc đồ đen cùng với nhân dân thị xã Bạc Liêu trên 4.000 người trực diện đấu tranh đòi cho vào thăm chồng, con bị đầu độc, đòi bồi thường nhân mạng. Chính quyền thị xã cho cảnh sát đàn áp đánh đập bắt giam trên 130 người tại thị xã.

Đầu năm 1959, thực hiện chủ trương của Mỹ - Diệm, chính quyền tỉnh Ba Xuyên xúc tiến thành lập các khu trù mật. Ai không đi thì bị bắt, bị tù đày. Đồng thời chúng ra lệnh gom dồn dân vào các khu trù mật để dễ bề kiểm soát và bắt lính. Gia đình cán bộ đại bộ phận bị tập trung vào xung quanh đồn bót, khu trù mật để khống chế mua chuộc, buộc phải kêu chồng con về đầu thú. Một mặt chúng cho đóng thêm đồn bót ở một số nơi của huyện Hồng Dân như vàm Bà Ai, Gai Giảng và Cỏ Thum. Đưa nhiều tên gian ác khét tiếng làm trưởng đồn như tên Nấu và tên Trần Vi Sơn làm xã trưởng kiêm đồn trưởng để đánh phá vùng căn cứ xã Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc. Ở quận Phước Long chúng tập trung hàng vạn dân đào kinh đắp lộ nối liền từ khu trù mật Phước Long đến đồn Bà Ai, Cai Giảng, nhân dân phải tự lo com nước và phải làm xong theo quy định của chúng, làm mệt không được nghỉ, không được than. Nhiều người làm đến ngất xỉu, có một số người bị chết. Nhiều ngươi bị chúng đánh đập dã man do làm không nổi. Nhân dân đặt tên con kinh tên là: “Đứt Ruột” mà không gọi là kinh “Cộng Hòa”.

Để thực hiện ý đồ tiêu diệt cơ sở cách mạng, địch đưa một số tên ác ôn xuống địa phương làm nòng cốt liên toán trưởng thanh niên cộng hòa, tâp hợp thành đội ngũ, trang bị roi, dây, giao, mác, mỗi toán có 1 - 2 súng để đi chặt phá địa hình và lùng sục bắt cán bộ. Ở huyện Vĩnh Lợi tuyến rừng nằm ven biển từ cống Cái Cùng đến Xiêm Cáng bị chặt phá gần hết. Tháng 5 năm 1959, Diệm ban hành luật 10/59, ra lệnh thẳng tay chém giết đồng bào yêu nước, chúng nêu khẩu hiệu “giết lầm hơn thả lầm”. Một số nơi chúng đưa máy chém đến xử tử cán bộ tại chỗ nhằm uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân. Ở xã Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi địch bắt được đồng chí Ba Lò đem ra vàm kinh xã Vĩnh Hưng đánh đập đến chết, rồi chặt đầu cắm cọc bêu dưới mé sông.

Trước tình hình trên, Tỉnh ủy Sóc Trăng lãnh đạo các cấp Đảng bộ phải bám sát quần chúng để vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh chống gom dân, chống chặt phá địa hình. Ở nhiều nơi đã đấu tranh thắng lợi hạn chế được tình trạng địch chặt phá rừng, phá vườn của nhân dân. Đặc biệt đơn vị Đinh Tiên Hoàng phân tán thành nhiều bộ phận bám vào các xã, ấp liên tục giáo dục, trấn áp bọn tề điệp, thanh niên cộng hòa gian ác để hỗ trợ đồng bào chống phá khu trù mật.

Mặc dù trong giai đoạn này địch tăng cường đàn áp, khủng bố hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng, nhưng được sự lãnh đạo của Đảng mà đặc biệt là bản “Đề cương cách mạng miền Nam” ra đời đã tạo luồng sinh khí mới cho phong trào đấu tranh chính trị và diệt ác phát triển mạnh mẽ ở khắp thành thị, nông thôn làm cho địch phải hạn chế các hành động đàn áp, khủng bố.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:09:01 am
IV. ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ CHUYỂN LÊN ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ KẾT HỢP VÕ TRANG, THỰC HIỆN ĐỒNG KHỞI

Năm 1959 là năm khó khăn ác liệt sự khủng bố tàn sát dã man của địch. Tuy chúng không dập tắt được phong trào đấu tranh cách mạng, nhưng phong trào đấu tranh chính trị bị giảm sút, lực lượng cách mạng tổn thất rất đáng kể.

Ngày 28 tháng 1 năm 1960. Tỉnh ủy Sóc Trăng học tập quán triệt Nghi quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Nghị quyết 15 đã đáp ứng được sự mong đợi của cán bộ, đảng viên và đồng bào trong tỉnh. Tỉnh ủy quyết tâm biến nội dung tinh thần Nghị quyết 15 thành hành động cách mạng, nổi dậy phá kềm kẹp giành chính quyền, làm chủ nông thôn. Tỉnh ủy ra nghị quyết lãnh đạo với phương châm “dùng sức mạnh bạo lực của quân chúng kết hợp với vũ trang để nổi dậy. Dùng lực lượng vũ trang để làm đòn xeo, tiến hành khởi nghĩa đều khắp và đồng loạt, phát huy công tác binh vận, sử dụng cơ sở trong lòng địch, kết hợp với tấn công chính trị và vũ trang giành thắng lợi”. Do tình hình cụ thể giữa ta và địch, quá trình nổi dậy của quần chúng để giành quyền làm chủ ở nông thôn, tỉnh chia làm hai bước:

Bước 1: Tạo thế tạo lực, dùng bạo lực diệt ác phá kềm xây dựng lực lượng chính trị vũ trang, nhanh chóng thành lập các đội vũ trang huyện, xã để phối hợp phong trào chính trị tiến công địch, cần phát huy thế mạnh thuận lợi từng khu vực, từng địa phương tiến công địch để giành thắng lợi không chờ đợi.

Bước 2: Đồng loạt nổi dậy tấn công địch để giành chính quyền làm chủ nông thôn.

Đối với lực lượng vũ trang, đơn vị Đinh Tiên Hoàng sau khi được phổ biến tinh thần Nghị quyết 15 và quán triệt phương án Đồng Khởi, Tỉnh ủy chỉ thị cho đơn vị hoạt động phối hợp với địa phương đánh địch diệt ác, phá kèm, lấy vũ khí địch trang bị cho ta. Trong khi tiến hành cùng các địa phương chuẩn bị, chủ trương của đơn vị là phải đánh ngay bọn bảo an Phước Long, vì bọn này đang cấu kết với địa chủ đi cướp đất của nhân dân hai xã Vĩnh Phú và Vĩnh Hưng.

Ngày 10 tháng 2 năm 1960, đơn vị Đinh Tiên Hoàng đưa một bộ phận về xã Vĩnh Hưng đón đánh địch. Cùng ngày một bộ phận còn lại của đơn vị chặn đánh tiêu diệt 1 tiểu đội dân vệ tại xóm ông Sáu Phèn xã Phong Thạnh bắt được tên cảnh sát xã Đực Ba.

Ngày 12 tháng 2 năm 1960, đơn vị phục kích đánh tiêu diệt 1 trung đội bảo an Phước Long đang dẫn địa chủ đi cướp lúa ở ấp Mỹ Trinh xã Vĩnh Hưng, tên thượng sĩ Triệu trung đội trưởng và địa chủ Long đền tội. Ngày 13 tháng 2 năm 1960, đơn vị chặn đánh tổng đoàn dân vệ Giá Rai đi cướp lúa ở xã Phong Thạnh (có tên quận Thủy cùng đi) tại xóm Kim Xia, ta nổ súng và truy kích địch đến gần thị trấn Giá Rai, tiêu diệt và bắt sống gần hết, còn một số tên chạy thoát trong đó có tên quận Thủy.

Trong 5 ngày ra quân, lực lượng vũ trang tỉnh đánh 3 trận tiêu diệt 2 trung đội, 1 tiểu đội, thu gần 30 súng có 1 trung liên, lực lượng ta an toàn. Một sổ tù binh bị bắt được ta giáo dục và kêu gọi không làm tay sai cho Mỹ - Diệm. Nhân dân các địa phương phấn khỏi trước thắng lợi của lực lượng vũ trang. Bất chấp sự kềm kẹp của địch, đồng bào tổ chức tham viếng ủng hộ lực lượng vũ trang.

Để chuyển phong trào Đồng Khởi trên toàn bộ huyện Hồng Dân, lực lượng vũ trang tỉnh thống nhất với kế hoạch của huyện ủy mở một đợt tiến công diệt ác phá kềm trong huyện để giành quyền làm chủ nông thôn, chủ yếu là xã Ninh Thạnh Lợi, một phần xã Vĩnh Lộc, Lộc Ninh. Thực hiện kế hoạch trên, đầu tháng 3 năm 1960, một bộ phận lực lượng vũ trang trấn áp bọn tề ấp tại Cai Giảng để dụ địch ra khỏi đồn. Khi ta rút ra, bọn này đánh trống mõ báo động. Sáng hôm sau, bọn địch ở đồn Cỏ Thum chia làm hai mũi. Mũi 1 tiểu đội bảo an của quận Phước Long bắt toàn bộ tề xã qua Cai Giảng. Một mũi trung đội dân vệ đi xuống Xã Sang (Cai Giảng) 3 km. Đơn vị tỉnh tập trung đánh tiêu diệt 1 tiểu đội bảo an, bắt toàn bộ tề xã cùng đi (có tên Chủ tịch Dân đầu hàng phản bội). Đơn vị nhanh chóng vận động chặn đánh trung đội dân vệ tại đầu xóm Xã Sang. Sau một giờ đánh địch, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ trung đội dân vệ, tên Trần Vi Sơn, xã trưởng cảnh sát kiêm trưởng đồn chết tại trận. Nhân dân xã Ninh Thạnh Lợi nổi dậy san bằng đồn bót, truy lùng bất giáo dục giải tán bọn tề ấp. Chỉ trong vòng 4 giờ, lực lượng vũ trang đánh liền 2 trận, diệt 1 trung đội và 1 tiểu đội, thu gần 30 súng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:09:28 am
Trước thất bại đó, tên quận trưởng Phước Long cùng đại đội bảo an đi cứu viện đến ấp Tà Hông bị nhân dân tác động hù dọa, địch nổ súng vu vơ rồi rút về Phước Long. Ngày hôm sau, xã tổ chức một số nhân dân đưa thây quân địch trả cho quận Phước Long để làm thối động địch, hàng trăm binh sĩ và nhân dân thị trấn tụ tập hoan nghênh chính sách của lực lượng giải phóng, đấu tranh với chính quyền quận buộc phải tiếp tục đi lấy thây và nguyền rủa chính quyền. Hoảng sợ chính quyền quận phải đến hứa hẹn với gia đình binh sĩ và cảm ơn những người chờ xác binh lính chết ra quận.

Sau những trận đánh ở Cai Giảng, Xã Sang, nhân dân các xã Vĩnh Lộc, Lộc Ninh, Ninh Thạnh Lợi nổi dậy bao vây đồn Bà Ai, Cai Giảng phá thế kềm kẹp, các ấp quanh đồn, giải tán bộ máy kém kẹp. Trước thế tiến công của quần chúng, đồn Bà Ai, Cai Giảng rút chạy. Cùng với xã Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh, các xã Ninh Hòa, Ninh Quới, Phước Long, Vĩnh Phú, lực lượng xã cũng tổ chức phá kềm giải tán tề ấp và lực lượng phản động. Cuối tháng 3 huyện Hồng Dân giải phóng hoàn toàn xã Ninh Thạnh Lợi, còn lại các xã khác ta làm chủ từ phân nửa đến hai phần ba.

Phát huy thắng lợi của huyện Hồng Dân, ngày 20 tháng 3 năm 1960, một bộ phận lực lượng tỉnh xuống xã Long Điền, Giá Rai phối hợp với xã đánh diệt đồn Cây Giang thu 20 súng và nhiều vàng bạc, tên Phỉ và tên Hoàng Vân, ác ôn đền tội. Nhân dân Long Điền nổi dây phá kềm kẹp giành quyền làm chủ. Nội tuyến làm nội ứng, kết hợp ba mũi bao vây bức rút cứ điểm Chủ Chí; các xã Long Điền, Phong Thạnh được giải phóng cơ bản.

Huyện Vĩnh Lợi nội tuyến phục vụ diệt gọn đồn Châu Thới, diệt tên đồn trưởng đồn Hòa Bình, tên Chính Biên, tên Tươi và hàng chục tên ác ôn khác. Quần chúng nổi dậy bao vây bức rút san bằng 2 đồn Cây Dương và Bàu Sàng, cùng huyện Hồng Dân diệt đồn Trưởng Tòa. Tuyến lộ Phước Long, cầu số 2 dài 25 km được giải phóng; các xã Hưng Hội, Vĩnh Mỹ, thị trấn Hòa Bình lực lượng vũ trang đột nhập diệt ác, đốt phá trụ sở tề xã; ở Châu Hưng nội tuyến khởi nghĩa diệt cảnh sát trưởng và phó gian ác, bắt sống 11 tên dân vệ, thu 11 súng. Vùng nông thôn Vĩnh Lợi hai phần ba đất đai, dân số được giải phóng.

Ở thị xã Bạc Liêu, nội tuyến phục vụ diệt tên Thuyền, tên Diệp, tên Sang thám báo tiểu khu, ta thu 1 súng. Đêm 3 tháng 4 năm 1960, tại trụ sở đồn dân vệ Trà Kha, đồng chí Lâm Đại Trương, nội tuyến cùng binh sĩ khởi nghĩa diệt tên đội Ba gian ác, bắt giáo dục thả tại chỗ 11 dân vệ, thu toàn bộ vũ khí và thiêu hủy trụ sở tề xã.

Trung tuần tháng 4 năm 1960, đơn vị Đinh Tiên Hoàng đang học Nghị quyết 15 và chủ trương của Tỉnh ủy tại Đầm Bé xã Hưng Hội, đại đội bảo an thị xã Bạc Liêu đi càn, đơn vị Đinh Tiên Hoàng tổ chức đánh và diệt gọn trung đội đi đầu, bất 7 tù binh; bọn địch còn lại chạy tổn loạn, ta truy kích gần tới thị xã Bạc Liêu thu nhiều súng đạn, bắt tù binh giáo dục thả tại chỗ.

Cuối tháng 4 năm 1960, tại Vĩnh Châu, Tỉnh ủy tổ chức họp sơ kết bước một Đồng Khởi. Hội nghị đánh giá: “Ta giành thắng lợi lớn, vượt dự kiến, diệt 6 đồn, bức rút 1 đồn, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên thu 100 túng, diệt hàng trăm tên tề điệp. Riêng khu vực các huyện của tỉnh Bạc Liêu giải phóng hoàn toàn 1 xã, giải phóng cơ bản 4 xã; Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân đang sôi sục khí thế đồng khởi, lực lượng vũ trang tăng nhanh, tỉnh có đại đội huyện có từ 1 - 2 trung đội, xã có tiểu đội. Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch nhanh chóng tạo nên thế, lực và tích cực chuẩn bị cho nổi dậy bước 2. Theo đề nghị của ban chỉ huy đơn vị Đinh Tiên Hoàng, Tỉnh uy chấp thuận cho đơn vị đổi tên là đơn vị Phú Lợi. Một bộ phân của đơn vị được điều về hỗ trợ cho quần chúng nhân dân huyện Long Phú, đồng thời quyết định thành lập trung đội thứ hai đứng chân hoạt động ở huyện Giá Rai.

Ngày 5 tháng 5 năm 1960, Thường vụ Huyện ủy Vĩnh Lợi chỉ đạo toàn huyện tiến công địch. Tại xã Vĩnh Hưng, lực lượng huyện cùng với xã kết hợp nội tuyến đồn Vĩnh Hưng, dùng mưu dụ địch về quận Phước Long. Trên đường đi ta chặn đánh tiêu diệt 1 trung đội trên vỏ lãi tại đập Hào Cáo, thu 20 súng, có 1 trung liên. Lực lượng ta cùng với nhân dân kéo về bao vây đồn Vĩnh Hưng, địch hoảng hốt bỏ súng tháo chạy, ta chiếm và san bằng đồn thu thêm hàng chục súng và nhiều đạn dược. Cũng thời gian đó lực lượng xã Hưng Hội cùng với nhân dân bao vây đồn Bà Yều có kết hợp nội ứng, đồn Bà Yều đầu hàng và giao cho ta toàn bộ vũ khí.

Đầu tháng 5 năm 1960. đơn vị Phú Lợi đánh vào thị trấn Vĩnh Châu, chiếm chi công an và dinh quận, phá nhà đèn, đánh thiệt hại nặng đồn bảo an. Du kích xã Hòa Lạc, Khánh Hòa hóa trang kì tập diệt đồn Lai Hòa.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 06:09:50 am
Trước thế mạnh tấn công của quân dân Vĩnh Lợi, bọn địch ở đồn Vĩnh Trạch bỏ đồn tháo chạy. Nhân dân vùng lên giành quyền làm chủ, phá kém kẹp và truy lùng ác ôn. Xã Vĩnh Hưng được giải phóng và nhiều nơi trong huyện nhân dân giành được quyền làm chủ.

Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1960, toàn tỉnh mở đợt đồng loại nổi dậy diệt ác, phá kềm. Để giải phóng nông thôn, nhân dân kháp nơi trong tỉnh nổi dậy trống mõ vang trời, nhân dân vùng giải phóng phối hợp với nhân dân vùng tạm chiếm có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang trấn áp tề điệp và bọn phản cách mạng, giải tán các tổ chức và phản động, phá giao thông nhiều nơi, bao vây đồn bót. Nhiều cuộc mít tinh ở các địa phương liên tiếp diễn ra. Đầu tháng 6 năm 1960, nhân dân xã Lạc Hòa huyện Vĩnh Châu phần lớn là đồng bào Khơ-me cùng lực lượng vũ trang bao vây gọi hàng đồn Giồng Chùa, lực lượng ta phá sập cầu Giồng Chùa, cắt đứt giao thông. Địch hoảng sợ bỏ đồn tháo chạy.

Cuối tháng 6 năm 1960, lực lượng du kích cùng nhân dân tuyến sông Vàm Lẽo - Cổ Cò chặn bắt đoàn tàu chở gạo của Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu) thu trên 1.000 tấn, ta đem phân phát cho bà con trong vùng. Những chuyến sau đoàn tàu chở gạo của Trần Thị Xuân luôn được tàu sắt đi theo yểm trợ.

Từ ngày 17 tháng 7 năm 1960, lực lượng vũ trang huyện Hồng Dân cùng với hàng ngàn quần chúng bao vây đồn Ngan Dừa suốt 7 ngày đêm, làm cho địch chết và bị thương 25 tên, đêm 24 tháng 7 năm 1960, địch rút chạy về quận Phước Long. Ngày 26 tháng 7 năm 1960, địch đưa một tiểu đoàn từ Bạc Liêu yểm trợ chiếm Ngan Dừa, lực lượng ta chặn đánh diệt 7 tên, làm thương 12 tên, ta thu 3 súng. Củng lúc đó lực lượng du kích xã Ninh Hòa đánh chiếm tàu hậu cần của địch tại Sư Liên tiêu diệt 6 tên, bắt sống 2 tên, thu 6 súng, 50 ba lô, 2.500 viên đạn, nhiều dụng cụ y tế và thuốc men. Ta tiếp tục làm chủ quận Ngan Dừa nhiều ngày.

Ngày 2 tháng 9 năm 1960, Tỉnh ủy chỉ thị huy động gần 10.000 lực lượng quần chúng của các huyện Giá Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lợi và Thạnh Trị kéo vào thị xã Bạc Liêu, cùng lực lượng quần chúng tại thị xã xuống đường đấu tranh với địch chống khủng bố, bắt lính, đòi hòa bình thống nhất nhà nước, đả đảo Mỹ - Diệm. Địch hoảng sợ dùng lực lượng và cảnh sát ngăn chặn. Đoàn biểu tình tiếp tục tiến vào nội ô thị xã, địch điều thêm lực lượng đến đàn áp, đoàn biểu tình tiếp lục đấu tranh giằng co với địch, địch tổ chúc bắt lén một số người, lực lượng ta trụ lại đến ngày hôm sau đấu tranh đòí thả những người bị địch bắt. Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân và có ủng hộ của một số binh lính ngụy với đồng bào, địch buộc phải thả tự do cho một số người bị bắt.

Đây là cuộc đấu tranh chính trị có quy mô lớn nhất trong tỉnh, thể hiện sức mạnh của quần chúng, là bài học kinh nghiệm cho việc tổ chúc đấu tranh chính trị tiếp sau.

Ngày 14 tháng 9 năm 1960, Tỉnh ủy ra lệnh đồng khởi toàn tỉnh. Trong đêm, nhân dân đánh trống mõ biểu thị sự đồng tình, khắp nơi nhân dân cùng lực lượng vũ trang truy bắt ác ôn, bao vây đồn bót địch. Tại các huyện Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, nhân dân và lực lượng vũ trang bao vây đồn dân vệ Cái Tràm, thu toàn bộ vũ khí. Tháng 10 năm 1960, một bộ phận đơn vị Phú Lợi hỗ trợ nhân dân An Trạch nổi dậy truy bắt tề diệp, trấn áp bọn phaen cách mạng, diệt và bắt giáo dục hàng chục tên ác ôn.

Lực lượng huyện Hồng Dân, du kích xã Vĩnh Phú bao vây đồn Trưởng Tòa; đại đội bảo an quận Phước Long 4 cứu viện, đơn vị Phú Lợi chặn đánh tại kinh Xáng Cụt; trên 200 quần chúng dùng gậy gộc, dao, mác bất chấp súng đạn cùng đơn vị Phú Lợi tiến công địch. Đại đội bảo an rút chạy, lực lượng ta và nhân dân truy kích đến gần thị trấn Phước Long, đồn Trưởng Tòa không được cứu viện phải ra đầu hàng.

Cùng với huyện Hồng Dân, lực lượng vũ trang vũ nhân dân huyện Vĩnh Lợi bao vây đồn Cây Dương, Bàu Sàng hai đồn này tháo chạy, đồn bót bị san bằng. Du kích xã Vĩnh Hung kết hợp du kích xã Minh Diệu tiến công diệt đồn Hòa Bình thu hàng chục súng.

Qua đợt nổi dậy tiến công địch để giành chính quyền làm chủ, trong tỉnh nhiều xã được giải phóng. Đặc biệt, hai huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi cơ bản thục giải phóng. Huyện Hồng Dân trở thành căn cứ của Liên tỉnh ủy.

Giai đoạn từ 1945 - 1960 là thời điểm khó khăn ác liệt của cách mạng miền nam nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng. truớc một kè thù mới có tiềm lực kinh tế quân sự mạnh, với âm mưu thủ đoạn độc ác và tàn bạo hòng tiêu diệt phong trào cách mạng bằng các đạo luật “tố cộng, diệt cộng” các đạo dụ số 2, chỉ dụ 57 và luật 10/59, Đảng bộ, nhân dân Bạc Liêu phải chịu nhiều mất mát, hy sinh to lớn.

Trải qua những năm tháng gian lao trước sự đàn áp khủng bố dã man của kẻ thù, Đảng bộ và nhân dân Bạc Liêu đã anh dũng đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, đòi quyền dân sinh, dân chủ, lên đấu tranh chính trị kết hợp võ trang tự vệ, đồng khởi, đã thu được nhiều kết quả quan trọng, đó là: xây dựng được một lụt lượng cách mạng quần chúng đông đảo, rộng khắp và lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tùng giai đoạn cách mạng. Các cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang, diệt ác giành nhiều thắng lợi to lớn, giải phóng phấn lớn các xã trong tỉnh, xây dựng căn cứ vững chắc làm cơ sở cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ trong những năm tiếp theo.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:32 am
Chương ba

TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN, GÓP PHẦN LÀM PHÁ SẢN HOÀN TOÀN CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1961 - 6/1965)

I. XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRlỂN LỰC LƯỢNG, MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG, CHỐNG PHÁ BÌNH ĐỊNH, GOM DẰN LẬP ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH (1961 - 1963)

Các cuộc đấu tranh chính trị và vũ trang, những cuộc khởi nghĩa cục bộ ở nhiều địa phương liên tục nổ ra dẫn đến Đồng khởi năm 1960 của nhân dân miền Nam cho thấy, mặc dù chế độ tay sai Ngô Đình Diệm của Mỹ được xây dựng trên bộ máy cai trị độc tài quân sự tàn bạo, nhưng phong trào đấu tranh của quân và dân ta vốn ngày càng phát triển mạnh, chính quyền ngụy vẫn lâm vào thế khủng hoảng sâu sắc, kéo dài và đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Thắng lợi to lớn của Đồng khởi miền Nam là bước thắng lợi đầu tiên rất cơ bản trong quá trình đấu tranh lâu dài của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng khởi thắng lợi đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng miền Nam sau bao năm đấu tranh gìn giữ và tích trữ lực lượng. Từ nay phong trào Cách mạng của nhân dân tại miền Nam bước sang thời kỳ mới, thời kỳ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh Cách mạng, song song tiến hành đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị nhằm hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến tới hòa bình, thống nhất nước nhà.

Trong tình trạng khủng hoảng, bị động lúng túng trước thế phát triển của Cách mạng miền Nam Mỹ buộc phải tập trung đối phó bước đầu bằng kế hoạch “chống nổi dậy”. Kế hoạch này do nhóm hỗn hợp Mỹ MAAG(1) với USOM(2) và Tòa đại sứ Mỹ vạch ra, được thực hiện trong những tháng đầu năm 1961. Nhưng kế hoạch chống nổi dậy vẫn bị thất bại thảm hại. Mỹ chủ trương tiếp tục xâm lược Việt Nam bằng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” để giữ chế độ tay sai Ngô Đình Diệm, duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam trong chiến lược “chống cộng” ở Đông Nam Á và thế giới.

Tháng 11 năm 1960, Ken-nơ-đi trúng cử Tổng thống nước Mỹ. Ngay sau đó, Ken-nơ-đã thông qua chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt do Tay-lo(3) khởi xướng.

Ngày 29 tháng 4 năm 1961, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp đề ra những chính sách, biện pháp, cắc bước thực hiện cuộc “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam. Những quyết định của hội đồng được Ken-nơ-đi chính thức phê chuẩn, trong đó nói rõ: “Để ngăn chặn Cộng sản thống trị miền Nam Việt Nam để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ có tính quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và không công khai nhằm mục tiêu nói trên”(4)

Theo Sắc lệnh ngày 13 tháng 4 năm 1961, địch giải tán các tổ chức quân khu chia lãnh thổ Việt Nam cộng hòa (miền Nam Việt Nam) ra thành 3 vùng chiến thuật. Mỗi vùng có một quân đoàn, biên chế từ hai đến bốn sư đoàn. Dưới vùng chiến thuật là khu chiến thuật. Đặc biệt chú trọng kiện toàn cấp tiểu khu (tỉnh) và chi khu (quận), nhằm tạo điều kiện cho càn quét và bình định từng địa phương có hiệu quả. Ở miền Tây Nam Bộ địch thành lập thêm tỉnh Chương Thiện, lấy thị xã Vị Thanh làm tỉnh lỵ nhằm chia cắt ngăn chận tuyến giao thông liên lạc của Cách mạng ở miền Tây Nam Bộ.

Ngày 8 tháng 6 năm 1961, Ken-nơ-đi thông qua kế hoạch NSAM 52, chính thức thực hiện chiến hoạch “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành trên quân Ngụy làm lực lượng chủ yếu với trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ, cùng với bộ máy cố vấn Mỹ chỉ đạo. Mục tiêu cơ bản là cô lập cách mạng miền Nam với miền Bắc, giành lại nông thôn đánh bật lực lượng vũ trang và cơ sở Cách mạng ra khỏi nhân dân, coi Nam bộ là chiến trường đông dân nhiều của. Kế hoạch đề ra cho toàn miền Nam từ năm 1961 đến 1965 là tăng quân ngụy từ 170.000 lên 278.000 (có 12 sư đoàn bộ binh), 2 sư đoàn dự bị chiến lược, 86 đại đội biệt động quân, phát triển rộng rãi, quân bảo an và dân vệ


(1) Tên gọi của “phái đoàn cố vấn quân sự”
(2) Tên gọi của “phái đoàn viện trợ kinh tế”
(3) Mác-xoen Tay-lo. đại tướng cố vấn quân sự đặc biệt của Tổng thống (1961-1962). Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (1962-1964), Đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1964-1965), cố vấn đặc biệt của Giôn-xơn về Việt Nam (1964-1965)
(4) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, Việt Nam TTX phát hành năm 1971.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:05:36 am
Ngày 26 tháng 6 năm 1961, Ken-nơ-đi cử Tay-lo sang miền Nam Việt Nam nghiên cứu đề nghị của Diệm tăng quân ngụy lên 27 vạn, và giúp Diệm xây dựng chương trinh bình định. Sau gần 1 tháng nghiên cứu, Tay-lo đưa ra một kế hoạch chiến lược toàn diện và lâu dài. Kế hoạch chia làm ba bước:

Bước 1: Trong vòng 18 tháng, từ tháng 6 năm 1961 đến cuối năm 1962, bình định cho được miền Nam Việt Nam, dồn dân lập 16.000 ấp chiến lược.

Bước 2: Trong năm 1963, tập trung khôi phục kinh tế, tiếp tục hoàn tất chương trình bình định, phát triển thêm quân Ngụy, tiến hành các hoạt động gây rối phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Bước 3: Phát triển kinh tế. Dự kiến cuối năm 1965 biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia mạnh về quân sự, phồn vinh về kinh tế của “thế giới tự do”.

Địch cho rằng bước 1 là bước quyết định, hy vọng giành thắng lợi to lớn vào cuối năm 1962 và kết thúc chiến tranh vào năm 1965.

Quá trình thực hiện các kế hoạch chiến lược trên đây, địch áp dụng 6 biện pháp lớn:

1 - Chuyển hướng mạnh mẽ việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ngụy theo hướng chống một cuộc chiến tranh du kích phát triển cao; đặc biệt coi trọng lực lượng địa phương quân và các đặc chủng chống chiến tranh du kích.

2 - Tập trung nỗ lực và toàn diện thực hiện chương trình bình định theo “quốc sách ấp chiến lược”.

3 - Phong tỏa biên giới và vùng biển, cắt mọi chi viện của miền Bắc cho Nam Việt Nam, tung biệt kích và mở chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc để cô lập và làm suy yếu lực lượng ta ở miền Nam.

4 - Tiếp tục củng cố hộ thống ngụy quyền các cấp, đủ sức tiến hành chiến tranh dưới sự chỉ đạo của Mỹ.

5 - Triển khai nhanh việc tăng cường cố vấn quân sự và lực lượng yểm trợ Mỹ bao gồm không quân, hải quân, pháo binh, hậu cần, kỹ thuật.

Chương trình bình định 18 tháng được triển khai vào đầu tháng 7 năm 1961. Đợt thí điểm lập ấp chiến lược ở hai nơi Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ). Đến tháng 8 năm 1961, địch ra lệnh mở chiến dịch xây dựng ấp chiến lược trên toàn miền Nam

Trước tình hình thay đổi chiến lược chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã sáng suốt nhận định: Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua, thời kỳ khủng hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng của chúng đã bắt đầu”, về phương châm chiến tranh, Bộ Chính trị nêu rõ: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công bằng hai chân (chính trị và quân sự), ba mũi (chính trị, vũ trang, binh vận)”.

Tỉnh Ba Xuyên(1) thiếu tá Hoàng Mạnh Thường và sau đó là trung tá Nguyễn Ngọc Thắng làm tỉnh trưởng. Chúng đẩy mạnh việc bắt lính để tăng cường cho lực lượng bảo an, cảnh sát, dân vệ, củng cố bộ máy ngụy quyền, nhất là ở cơ sở. Đến cuối năm 1961 ngụy quân ở tỉnh Ba Xuyên có 3.300 tên. Riêng khu Bạc Liêu có khoảng 1.500 tên. Toàn miền Nam bọn địch mở 3 trung tâm huấn luyện chiến đấu, trong đó ở miền Tây có 1 trung tâm đặt ở Dù Tho, xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Ba Xuyên.

Sau thắng lợi to lớn của phong trào Đồng Khởi dưới lự lãnh đạo của Tỉnh đảng bộ. nhân dân trong tỉnh nô nức xây dựng vùng giải phóng, xây dựng cuộc sống mới, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ và phát triển thực lực cách mạng, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được


(1) Thời điểm này, khu vực Bạc Liêu về phía địch thuộc tỉnh Ba Xuyên. Phía ta, thuộc về tỉnh Sóc Trăng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:06:05 am
Song, tình hình mới đặt ra, phong trào cách mạng ở tỉnh phát triển nhanh chóng, nhưng lực lượng đảng viên quá ít không đủ sức lãnh đạo phong trào. Lực lượng vũ trang vừa mới hình thành. Phong trào chính tn tuy rộng lớn nhưng chưa được tổ chức chặt chẽ. Vì vậy. Tỉnh ủy chủ trương trước mắt phải khấn trương phát triển đảng, tổ chức lực lượng vũ trang nhanh chóng, vững chắc, đi đôi với tấn công địch để mở rộng và giữ vững quyền làm chủ nông thôn. Đối với vùng giải phóng, chú trọng phát triển chiến tranh du kích, xây dựng xã ấp chiến đấu, thành lập các đội du kích ở cơ sơ, phát tnển rộng rãi phong trào dân quân du kích, tổ chức chống địch càn quét, tái chiếm.

Mở rộng vùng nông thôn giải phóng, từ đầu năm 1961 các lực lượng vũ trang trong tỉnh tiếp tục tấn công truy quét bọn phản động để đảm bảo an ninh vùng giải phóng, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền, diệt ác, phá kềm, tiêu hao tiêu diệt địch ở các vùng kềm kẹp. Mùa khô lực lượng vũ trang các huyện và bán vũ trang các xã, ấp đã thực hiện hàng trăm cuộc vũ trang tuyên truyền, diệt ác.

Lực lượng vũ trang tỉnh liên tục tấn công giành nhiều thắng lợi. Tháng 1 năm 1961, đơn vị Phú Lợi cùng đơn vị 96 của Khu phối hợp lực lượng vũ trang huyện Hồng Dân và du kích các xã trong khu vực mở đợt tấn công địch trên tuyến Ngan Dừa - Vĩnh Phú, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Đẩu tháng 5 năm 1961, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh họp Hội nghị mở rộng tại xóm Cây Me, xã Đại Ân (cù lao Dung), huyện Long Phú. Đây là cuộc hội nghị đầu tiên công khai sau 6 năm đấu tranh chính trị. Đây cùng là hội nghị chuyển hướng chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn mới. Hội nghị đánh giá tình hình, phong trào cách mạng của tỉnh nhà và căn cứ vào nhiệm vụ, phương châm đấu tranh cách mạng Trung ương đã đề ra trong giai đoạn mới, Hội nghị đề ra những công tác lớn trước mắt như sau:

- Đánh địch bằng chính trị, vũ trang, binh vận trên khắp địa bàn trong tỉnh. Xây dựng lực lượng du kích xã, ấp, phát triển lực lượng địa phương quận huyện, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân.

- Tổ chức lực lượng đấu tranh chính trị tại ấp, xóm, lấy các đoản thể quần chúng, nhất là Hội phụ nữ làm nòng cốt.

- Nhanh chóng xây dựng vùng nông thôn giải phóng toàn diện, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết lại vấn đề ruộng đất (do ngụy quyền cướp giật của nông dân). Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, văn nghệ. v.v… tạo không khi hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân.

Hội nghị quyết định thành lập ngay một số ban, ngành có hệ thống dọc từ tỉnh xuống huyện, xã: quân sự, an ninh, tuyên văn giáo(1), tổ chức, dân vận. binh vận, thanh vận, phụ vận, nông vận, Khơ-me vận, ban đấu tranh chính trị. Hội nghị đã bổ sung một số đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, phân công tác tỉnh ủy viên phụ trách các ban ngành tỉnh, bí thư huyện, thị.

Ngày 10 tháng 6 năm 1961. tại Kinh Làng, xã Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân (nay là huyện Vĩnh Lợi), Đại hội đại biểu các giai cấp, dân tộc tôn giáo đoàn thể được tiến hành để thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh do đồng chí Lê Hoàng Chu, nhà giáo yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kỳ cựu (từ năm 1930) làm chủ tịch. Đại hội ra tuyên bố thực hiện chính sách 10 điểm của Mặt trận Dan tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó, tại xóm Bà Yếu xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh ra mắt nhân dân, có hơn 5.000 người đến dự. Nhân dân khắp nơi trong vùng giải phóng tổ chức mít tinh chào mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh ra đời. Cờ Mặt trận tung bay phấp phới nhiều nơi ở nội ngoại ô thị trấn, thị xã. Nhân dân biểu hiện niềm vui vô hạn trước sự kiện trọng đại này. Tiếp sau, từ tháng 7 năm 1961 đến tháng 12 năm 1961, Mật trận Dân tộc giải phóng các xã lần lượt được thành lập đều khắp trong tỉnh.

Hoạt động vũ trang kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị, binh vận liên tục tiến công địch những tháng đầu năm 1961, đơn vị Phú Lợi kết hợp với đơn vị 96 của Khu lập được những chiến công xuất sắc, đánh công đồn đả viện, diệt gọn tổng đoàn dân vệ Ngan Dừa, đánh thiệt hại nặng đồn ngã tư Đẩu Sấu (tháng l năm 1961), phục kích đánh tiêu diệt gọn 2 trung đội bảo an ở Cổ Cò (xã Hòa Tú. tháng 4 năm 1961). Riêng đơn vị Phú Lợi phục kích tiêu diệt một trung đội dân vệ Trà Cuông (xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên) càn vào Cây Mét (tháng 5 năm 1961). Kết quả đó đã làm cho ngụy quân, ngụy quyền địa phương thêm lo sợ, nhân dân vó cùng phấn khởi.


(1) Tên cơ quan ghép gồm tuyên truyền, văn hóa, giáo dục


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:43 am
Để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5, đơn vị Phú Lợi cùng tiểu đoàn 96 phối hợp với huyện Thạnh Trị mở một cuộc vũ trang tuyên truyền biểu dương lực lượng trên tuyến kinh Xáng - Ngã Năm Vĩnh Phú, nhằm phát huy khí thế cách mạng quần chúng trấn áp bọn phản cách mạng. Ba giờ chiều ngày cuối tháng 4 năm 1961, hàng trăm xuồng chở gần 300 cán bộ, chiến sĩ từ Mỹ Quới tiến ra Hàng Xoài, cách chi khu Ngã Năm 2 km; lực lượng kéo đi trên bờ dưới sông rợp bóng cờ Mặt trận tung bay với những tiếng loa, tiếng kèn đồng vang dội. Nhân dân hai bờ Xáng tiếp đón bộ đội. Hàng trăm người hòa cùng bộ đội đi biểu dương. Hàng trăm ghe xuồng máy ngược dòng thì dừng lại, xuôi dòng thì hòa cùng đi gần đến Vĩnh Phú. Lần đầu tiên từ cuối năm 1954 đến lúc này, ta xuất hiện một lực lượng vũ trang cách mạng trong vùng tranh chấp.

Giữa tháng 7 năm 1961, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định thành lập đại đội Phú Lợi (c71). Đại đội cơ động hoạt động trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ công tác của Đảng, làm nòng cốt trong phong trào vũ trang, thực hiện tiêu diệt sinh lực địch. Đại đội hình thành ba trung đội bộ binh; một trung đội trinh sát - đặc công - công binh; một tiểu đội hỏa lực; quân số 150 cán bộ, chiến sĩ nòng cốt của đại đội là lực lượng vũ trang Phú Lợi, còn lại hầu hết là nòng cốt, đoàn viên thanh niên lao động và một số đảng viên ở các địa phương rút lên có quá trình trong phong trào đấu tranh công tác chống Mỹ - Diệm và trưởng thành từ phong trào Đồng khởi năm 1960. Cán bộ đại đội, trung đội có một số kinh nghiệm qua lực lượng vệ quốc đoàn trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ trải qua rèn luyện, thử thách những năm đầy gian khổ nhất chống chế độ Mỹ - Diệm ở miền Nam, nhưng đại bộ phận chưa kinh qua huấn luyện quân sự. Ban chỉ huy đại đội có 4 đồng chí là cán bộ có thành tích chiến đấu ngay từ ngày đầu thành lập đơn vị. Đồng chí Nguyễn Thành Hưng (Năm Liêm) - đại đội trưởng, Tư Loan - chính trị viên, Mười Trinh, Tám Hoài - đại đội phó. Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, đại đội vừa huấn luyện vừa chiến đấu. Những tháng đầu thành lập, đại đội tập trung huấn luyện quân sự là chính.

Cuối tháng 7 năm 1962, đơn vị Phú Lợi (sau khí được lấy phiên hiệu là đại đội 761) kết hợp với quân chủ lực miền Nam bao vây bức rút chi khu Ngan Dừa, với trận công đồn đả viện, phục kích đánh thiệt hại nặng đại đội can viện biệt động quân ngụy do tên trung úy Thủy, chi khu trưởng chi khu Phước Long chỉ huy. Đây là quả đấm vũ trang mạnh nhất của địa bàn trong tỉnh lúc bấy giờ.

Ngành binh vận tỉnh trong năm 1961, đội ngũ được phát triển cả về số lẫn chất, có hệ thống tổ chức từ tỉnh đến xã huyện. Công tác binh vận được đẩy mạnh. Ta đưa nhiều cơ sở vào lòng địch và vận động binh lính trở về với nhân dân. Ta tổ chức đại hội gia đình binh sĩ, Qua đại hội, được học tập, hầu hết gia đình binh sĩ có chuyển biến, trở thành quần chúng tốt, tham gia đấu tranh trực diện, bao vây đồn bót; tham gia phong trào du kích chiến tranh. Từ sự vận động đó đã góp phần mở lộng mặt trận đoàn kết nhân dân. Trong năm 1961 toàn tỉnh binh sĩ ngụy rã ngũ 150, mang ra nộp hàng trăm súng. Đặc biệt anh Diễn (lính bảo an) mang ra 9 khẩu súng.

Cùng với phong trào đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị diễn ra khắp nơi trong tỉnh. Đội ngũ được tổ chức chặt chẽ, có ban lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh, có bố trí lực lượng nòng cốt, có tổ chức nhóm liên lạc và bảo vệ lực lượng, tạo điều kiện huy động đông đảo chị em phụ nữ tham gia. Một số cuộc đấu tranh trực diện điển hình như;

Ngày 21 tháng 3 năm 1961, bọn lính chi khu Phước Long đi càn quét bắn chết chị Tư ghe hàng tại ấp Phước Hòa - xã Phước Long, lập tức trên 150 quần chúng chở thi hài chị Tư vào dinh quận trưởng Phước Long, vạch mặt tố cáo bọn giết người man rợ. Ngày 18 thắng 4 năm 1961, tại thị xã Bạc Liêu nổ ra cuộc đấu tranh quy mô hơn 5.000 quần chúng ở các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai kéo vào thị xã Bạc Liêu cùng với nhân dân thị xã đấu tranh chống bắt lính, bắt xâu, chống càn quét khủng bố, chống thu thuế. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, hơn 3.000 quần chúng ở huyện Vĩnh Lợi tổ chức thành đoàn kéo vào thị xã Bạc Liêu cùng đấu tranh chống địch càn quét, bắn phá, và đòi Ngô Đình Diệm từ chức. Ngày 25 tháng 5 năm 1961, hơn 3.000 quần chúng ở huyện Vĩnh Lợi tiếp tục kéo vào thị xã Bạc Liêu, cùng với hàng nghìn đồng bào tại chỗ đấu tranh chống địch càn quét, khủng bố, bắn giết ở vùng nông thôn, đòi Ngô Đinh Diệm từ chức.

Phong trào đấu tranh của “đội quân tóc dài” liên tiếp diễn ra ngày càng quyết liệt, làm cho bọn địch thêm khốn đốn.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:09:15 am
Để hỗ trợ cho phong trào cách mạng trong tỉnh, giữa tháng 10 năm 1961, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng, Hội phụ nữ giải phóng và Đoàn thanh niên lao động phối hợp với thị xã Bạc Liêu mở một cuộc “nhập thôn”(1), địa điểm ở một nơi trong vùng giải phóng xã Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân. Hàng nghìn đồng bào vùng ven. Đặc biệt là lực lượng trí thức, các vị chức sắc tôn giáo, tư sản ở thị xã có cảm tỉnh với cách mạng đến tham dự. Cuộc nhập thôn đã làm nổi bật thanh thế vùng nông thôn giải phóng, thôi thúc cổ vũ mạnh mẽ đồng bào ở thị xã, thị trấn, vùng kềm, vùng yếu tham gia đấu tranh chống Mỹ - ngụy.

Năm 1961, phong trào chính trị nổ ra. Hàng trăm cuộc đấu tranh trực diện của quần chúng và gia đình binh sĩ với khẩu hiệu, chống khủng bố, bắn giết, đốt phá, chống bắt lính, đòi bồi thường thiệt hại. Có hàng chục cuộc đấu tranh trực diện ở thị xã, quận lị, qui mô 500 đến 5.000 người, có những cuộc chở thi hài người bị thảm sát đi đấu tranh được sự đồng tình của đồng bào thị xã, thị trấn và số đông binh sĩ, làm địch thối động, xuống giọng, chấp nhận giải quyết yêu sách đấu tranh.

Phong trào xây dựng vùng giải phóng được đẩy mạnh. Nổi bật là phong trào xây dựng xã, ấp chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng và phong trào sản xuất vũ khí để trang bị cho du kích đánh địch. Nam nữ thanh niên hăng hái tham gia phong trào du kích, xã có trung đội dân quân, xã có 2 đến 3 tiểu đội du kích. Để giải quyết tình trạng thiếu vũ khí của lực lượng du kích, ở một số huyện, xã xây dựng công trường sản xuất vũ khí. Một số ấp có lò rèn sản xuất vũ khí, tự nghiên cứu chế tạo súng trường, súng ngựa trời, hỏa lôi công, lựu đạn gài, đạp lôi, mã tấu. Chỉ sau một thời gian ngắn phần lớn các xã vùng giải phóng đã khắc phục được tình trạng khó khăn về vũ khí đánh địch.

Phong trào tăng gia sản xuất trong nhân dân, việc sản xuất tự túc của bộ đội được đẩy mạnh bảo đảm lương thực nuôi quân đánh giặc

Vùng giải phóng bước đầu được xây dựng về mọi mặt, thực lực cách mạng ngày một phát triển. Quần chúng ở xã ấp được tập hợp vào Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Ban chấp hành đoàn thể cấp huyện và xã lần lượt ra đời.

Thắng lợi của phong trào cánh mạng năm 1961 có ý nghĩa rất quan trọng, đã tạo thế lực, làm tiền đề cho Đảng bộ và quân dân trong tỉnh đấu tranh chống Mỹ - ngụy vào những năm ác liệt của “chiến tranh đặc biệt”.

Năm 1962, đế quốc Mỹ chính thức thi hành kế hoạch Xta-lây-Tay-lo đẩy mạnh mọi hoạt động thực hiện chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “bủa lưới phóng lao” bằng các phương tiện chiến tranh tối tân để đánh phá phong tráo đấu tranh cách mạng. Đồng thời Mỹ ngụy đẩy mạnh thực hiện quốc sách “ấp chiến lược”, bình định miền Nam. Địch ra sức tuyên truyền nhồi sọ ngụy quân, ngụy quyền tư tưởng chống cộng, xuyên tạc đường lối, chủ trương cách mạng. Dựa vào sự chỉ đạo của phân cục tình báo Mỹ, địch thành lập hàng loạt cơ quan do thám, gián điệp, cơ quan mật vụ, an ninh quân đội, công dân vụ, tâm lý chiến, chiêu hồi. Chúng tìm mọi cách cài người vào tổ chức cách mạng, các tổ chức công khai hợp pháp, nửa hợp pháp của quần chúng, mai phục lâu dài, thu thập tình báo, phát hiện các đảng viên cốt cán, cơ sở cách mạng. Chúng mở các lớp chuyên đào tạo cán bộ bình định, đưa các đoàn bình định (áo đen) về nông thôn, thực hiện “cùng ăn. cùng ở, cùng làm” với dân, nhắm vào các gia đình có người thân đi thoát ly tham gia kháng chiến hoặc đi tập kết để đánh phá tìm cách làm hoen ố vợ con cán bộ, chiến sĩ cách mạng, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nông thôn.

Để thực hiện quốc sách “ấp chiến lược”, Mỹ - Diệm lập một hệ thống chật chẽ từ trên xuống dưới, sử dụng tất cả các lực lượng và các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, gián điệp .... nhưng cơ bản là dùng quân sự với vũ khí hiện đại, kỹ thuật chiến tranh tân kỳ như “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “hạm đội nhỏ trên sông” để càn quét bắn phá, bình định, gom dân vào ấp chiến lược và đóng đồn để bảo vệ ấp chiến lược.

Địch phân ấp chiến lược ra làm bốn loại(2), ở mỗi địa phương chúng đểu có trọng điểm, tại ấp chiến lược chúng đóng đồn, xây lô cốt, bắt dân đào hào, đắp bờ thành ao, giăng kẽm gai, cắm chông, gài mìn ... Mỗi ấp chiến lược mở 2 cửa có vọng gác, ra vào phải theo giờ giấc quy định. Mỗi ấp có một ban trị sự do địch chỉ định hoặc có bầu thì phải bầu người do chúng giới thiệu, ngoài ra chúng còn cài cắm lực lượng ngầm; có hương ước do địch thảo sẵn.


(1) Nhập thôn là tổ chức đưa nhân dân ở vùng địch kiểm soát vào vùng giải phóng để hiểu thêm về phong trào cách mạng, tăng thêm niềm tin đối với cách mạng.
(2) Loại 1: Ở chung quanh thị trấn, thị xã, cơ quan đầu não hành chính, căn cứ quân sự, sân bay. bến cảng, kho tàng
Loại 2: Nằm trên các trục lộ giao thông thủy, bộ, vùng đông dân, nhiều của, vùng tôn giáo dân tộc.
Loại 3: Nằm trong vùng kháng chiến của ta.
Loại 4: Ở cửa khẩu, biên giới.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:10:26 am
Chúng phân loại dân để có đối sách khác nhau: Loại tin dùng, thì dành nhiều quyền lợi để mua chuộc, đó là bọn lưu manh côn đồ, bọn thuộc tầng lớp bóc lột có thù hận với cách mạng. Chúng dụ dỗ đi đôi với hăm dọa những người lừng chừng sợ sệt. Đối với những người có quan hệ với cách mạng, phản đối hoặc tỏ ý chống lại việc lập ấp chiến lược, chúng thẳng tay khủng bố.

Địch cưỡng bức quần chúng vào các tổ chức lao động, gọi là “ngu hóa nhân dân”, ai không vào coi như chống lại “quốc gia”, là theo “Việt cộng”. Đối với người Khơ-me, chúng lập ra tổ chức Khơ-me Sơ-rây, phụ lực cho chúng. Trong đồng bào Thiên chúa giáo, chúng lập tổ chức thanh niên, phụ nữ thánh nghiệp, hội con đức mẹ, thiếu nhi nghĩa binh. Bên cạnh những hành động đó, địch tung hàng hóa, tạo lối sống phồn vinh giả tạo, gây tâm lý cầu an hưởng lạc; cám dỗ thanh niên bằng lối sống ăn chơi sa đọa. trụy lạc... Ở vùng công giáo, chúng lập ấp chiến lược theo họ đạo, vùng Khơ-me chúng lập theo phum sóc, khoanh bao nhà chùa, nhà thờ, sử dụng khuôn viên nhà thờ, nhà chùa để làm nơi đóng quân, trụ sở giáo việc; mua chuộc lợi dụng cho được linh mục, sư sãi khống chế giáo dân và đồng bào dân tộc. Thủ đoạn thâm độc này nhằm gây khó khăn cho ta khi tấn công phá khu ấp chiến lược, vu khống ta vi phạm tự do tín ngưỡng.

Đầu tháng 3 năm 1962, Mỹ - Diệm đưa không đoàn 42(1) đến đóng tại sân bay Sóc Trăng (trên 60 máy bay các loại) đảm nhiệm không vận, cơ động lực lượng để càn quét, đánh phá phong trào cách mạng ở miền Tây Nam bộ. Đồng thời địch tăng cường cho Ba Xuyên một số phương tiện chiến tranh (như tàu chiến, xe cơ giới, pháo 105 mm) và hằng trăm cố vấn Mỹ, chuyên viên kỹ thuật phục vụ cho việc đánh phá gom dân lập ấp chiến lược trong tỉnh.

Mùa khô năm 1962, bọn ngụy quân tập trung lực lượng, liên tục tổ chức càn quét vùng giải phóng. Chúng mở hàng trăm cuộc hành quân đánh phá gây nhiều thiệt hại cho nhân dân.

Để chủ động giành thắng lợi cho cách mạng miền Nam, tháng 2 năm 1962, Bộ Chính trị sau khi phân tích đánh giá tình hình mọi mặt đã chủ trương: “Kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự giành và giữ thế chủ động, đẩy địch vào thế bị động, tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, ra súc đánh phá kế hoạch Xta-lây Tay-lo...” mở rộng hơn nữa phong trào giải phóng dân tộc, tăng cường chặt chẽ hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, khơi sâu hơn nữa mâu thuẫn nội bộ địch ...”.

Ngày 16 tháng 2 năm 1962. Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất tuyên bố 4 chủ trương cứu nước khấn cấp trong tình hình mới:

1 - Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

2 - Giải tán toàn bộ ấp chiến lược.

3 - Thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc.

4 - Thực hiện đường lối ngoại giao hòa bình trung lập.

Đẳu năm 1962, tại xã Long Điền huyện Giá Rai, Tỉnh ủy họp mở rộng đánh giá tình hình thời gian qua, tiếp thu nghị quyết mới của cấp trên và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới. Nghị quyết nêu rõ: “Phát động phong trào chiến tranh nhân dân rộng khắp, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, vũ trang và binh vận, tập trung, chống phá ấp chiến lược, chống càn quét lấn chiếm. Tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, xây dựng vùng nông thôn giải phóng thành hậu phương vững chắc làm chỗ dựa cho cuộc chiến tranh nhân dân. Nhiệm vụ chống phá ấp chiến lược được xem là nhiệm vụ trung tâm trong thời gian này”. Hội nghị quyết định thành lập ban chỉ đạo phá ấp chiến lược từng cấp để thống nhất lãnh đạo chỉ huy công tác trung tâm này.


(1) Không đoàn không quân số 42 thuộc sư đoàn 4 không quân gồm: 2 phi đoàn chuyển quân Hải Âu và Thần Điểu, mỗi phi đoàn 24 chiếc, 1 phi đoàn vận tải số 249 từ 3 đến 4 chiếc, 1 đội phi cơ tải thương 4 chiếc và một số máy bay trinh sát. Tổng cộng trên 60 chiếc.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:12:01 am
Tỉnh ủy chủ trương tăng cường phát triển đảng, đi đôi với củng cố chi bộ, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp bộ đảng. Trong công tác phát triển đảng, quan tâm đến vùng yếu, vùng có đồng bào Khơ-me, những ấp chưa có đảng viên và một số vùng có tính chất chiến lược như vùng thị trấn, thị xã. Đẩy mạnh việc xẩy dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân. Thành lập ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội thay cho ban quân sự các cấp. Các đồng chí bí thư tỉnh ủy huyện ủy, thị ủy, bí thư chi bộ xã trực tiếp làm chính trị viên tỉnh đội, huyện đội, thị đội, xã đội.

Đối với các đoàn thể quần chúng, Tỉnh ủy chỉ đạo tăng cường hoạt động, tập hợp nhân dân thành một lực lượng có tổ chức, làm nòng cốt trong việc đấu tranh chống phá ấp chiến lược của Mỹ - ngụy. Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh, huyện, xã được coi là ngọn cờ hiệu triệu tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo và các dân tộc Việt, Khơ-me, Hoa.

Tình ủy được chấn chỉnh và bổ sung. Đồng chí Dương Minh Cảnh (Ba Hòa) được điều về Khu, đồng chí Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), Phó bí thư Tỉnh ủy được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy. Tỉnh ủy thành lập “Phân ban Tỉnh ủy khu vực Bạc Liêu”(1) gồm các đồng chí tỉnh ủy viên hoạt động ở khu vực Bạc Liêu; đồng chí Phạm Lưu Thức, Ủy viên thường vụ Tình ủy làm “Trưởng phân ban”, giao huyện Giá Rai về tỉnh Cà Mau.

Ban chỉ huy tỉnh đội gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), Bí thư Tỉnh ủy kiêm chính trị viên; Sáu Hà, Tỉnh đội trưởng; Chỉn Bưởi, Chính trị viên phó; Tám Thu, Tham mưu trưởng; Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn), Tỉnh đội phó.

Các huyện:

- Vĩnh Lợi: đồng chí Tư Chương, Chính trị viên; đồng chí Thạch Nao, Huyện đội trưởng; đồng chí Năm Chiêm, phụ trách đơn vị lực lượng vũ trang huyện.

- Giá Rai: đồng chí Nguyễn Văn Để (Tư Vân), Bí thư Huyện ủy kiêm Chính trị viên; Nguyễn Văn Lực, Huyện đội trưởng; Phạm Văn Đương (Tám Hùng) và đồng chí Ba Lộc, Huyện đội phó.

- Hồng Dân: đồng chí Chín Đấu, Chính trị viên; đồng chí Chín Thương Huyện đội trưởng.

Ban chỉ huy Tỉnh đội quyết định thành lập cắc đơn vị binh chủng gồm: phân đội cối 82mm và ĐKZ 57mm (602), trung đội đặc công (603), trung đội công binh (604) và các bộ phận tham mưu, chính trị hậu cần.

Sau hội nghị Tỉnh ủy mở rộng phong trào tấn công địch bằng ba mũi giáp công được đẩy mạnh.

Ngày 15 tháng 2 năm 1962, trên 5.000 lực lượng đấu tranh chính trị các huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai và thị xã Bạc Liêu nổ ra cuộc đấu tranh tại thị xã Bạc Liêu với khẩu hiệu chống càn quét dồn dân vào ấp chiến lược, chống bắt lính đôn quân. Đoàn ngươi từ hướng Nhà Mát vừa tiến đến cửa ngõ phía nam thị xã (cầu sắt Nhà Thờ), địch rất hoảng sợ dùng súng bắn thẳng vào đoàn biểu tình. Chị Tô Thị Lùng, thuộc lực lượng huyện Giá Rai bị trúng đạn hy sinh tại chỗ. Đoàn biếu tình vô cùng phẫn nộ trước hành động dã man của địch, vạch mặt lên án kẻ thù, đòi chúng phải bồi thường nhân mạng. Ngay lúc ấy nhiều tên lính ngụy, nhất là bọn ác ôn hoảng hốt lủi trốn. Trước khí thế quyết tiến không lùi của nhân dân, bọn đầu sỏ ngụy quyền, ngụy quân tại Bạc Liêu buộc phải hứa đáp ứng yêu sách của đồng bào. Riêng cái chết của chị Tô Thị Lùng, chúng xin chịu lỗi và bồi thường tiền chôn cất.

Đồn Gia Hội thuộc xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, địch chiếm đóng vào cuối năm 1961, nằm trong kế hoạch lấn chiếm xây dựng tuyến vành đai phía dông bắc thị xã Bạc Liêu nối liền với tuyển lộ Cà Lâm qua Đào Viên ra lộ 4, cách thị xã Bạc Liêu 10km. Đồn Gia Hội địch đóng 30 dân vệ, có một tiểu đội bảo an làm nòng cốt, kiến trúc hình tam giác kiên cố. Rút kinh nghiệm đánh đồn Bừ Lư không thành công, đại đội 761 tăng cường giáo dục chính trị và nhiều đêm huấn luyện công đồn trên sa bàn, tất cả hạ quyết tâm giành thắng lợi cho trận đánh. Giữa tháng 2 năm 1962, đại đội 761 tiến công đồn Gia Hội; không đầy một giờ nổ súng, đồn này bị diệt gọn. Chiến thắng Gia Hội có tác dụng cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, đánh gãy kế hoạch lấn chiếm, xây dựng tuyến vành đai phía dông bắc thị xã Bạc Liêu. Buộc địch phải bỏ đồn Gia Hội lùi về Nàng Rền.


(1) Do địa bàn Sóc Trăng quá rộng, nên Tỉnh ủy tổ chức 2 phân ban để chỉ đạo.
Phân ban 1 gồm các huyện: Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Lịch Hội Thượng, Long Phú.
Phân ban 2[/i] gồm các huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Thạnh Trị và thị xã Bạc Liêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:12:30 am
Ngày 25 tháng 2 năm 1962, địa phương quân huyện Vĩnh Lợi cùng du kích xã Long Thạnh kết hợp với cơ sở nội tuyến đánh diệt gọn đồn Cầu Sập, thu toàn bộ vũ khí. Cùng với thời gian này du kích xã Long Thạnh phục kích đánh mìn đoàn xe quân sự GMC 37 chiếc trên quốc lộ 4, diệt 1 chiếc. Ngày 6 tháng 5 năm 1962 địch dùng lực lượng trực thăng đổ quân tại xã Châu Thới, đánh điểm vào hơn 500 dân công đang đào tuyến kinh chống xe lội nước từ Giồng Bướm qua Hậu Bối, xã Vĩnh Hưng làm chết và bị thương trên 30 người. Đây là trận đổ quân đầu tiên trong tỉnh. Chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận và việc quân địch bung ra phản kích, ào ạt lập ấp chiến lược tác động đến tư tưởng Đảng bộ và quần chúng, xuất hiện tư tưởng sợ trực thăng đổ quân, sợ xe lội nước. Một số quần chúng vùng giải phóng chạy ra khu ấp chiến lược.

Địch đóng lại đồn Gia Hội vào cuối tháng 2 năm 1962. Với quyết tâm giải phóng quê hương ngay trong những ngày đẩu, chi bộ xã Hưng Hội lãnh đạo du kích và nhân dân bao vây, tấn công đồn bằng 3 mũi giáp công: Dùng hàng tấn phân gà, vịt và ớt xông khói, làm cho địch ngày đêm không lúc nào yên ổn. Trong quá trình bao vây, các đồng chí đã xây dựng được anh Săn, anh Sung (lính trong đồn) trở thành cơ sở nội tuyến, phân công chị Nguyễn Thị Hường, đoàn viên thanh lao làm cán bộ mật giao. Đêm 2 rạng 3 tháng 4 năm 1962, một bộ phận của đơn vị Phú Lợi và du kích xã Hưng Hội cùng anh Sung, anh Săn đánh tiêu diệt đồn Gia Hội. Kết quả ta tiêu diệt 1 trung đội dân vệ, 1 tiểu đội bảo an, thu 29 sủng các loại và toàn bộ quân trang, quân dụng. Cùng đêm, đồng chí Huỳnh Nghiệp Đoàn, bí thư xã trực tiếp chỉ huy lực lượng du kích bao vây đồn Năm Căn, trong lúc đồn Gia Hội bị ta tấn công. Tại đồn Năm Căn, du kích vừa nổ súng vừa gọi loa buộc địch đầu hàng, ta dùng mưu mẹo hù dọa địch. Sáng ngày 3 tháng 4 năm 1962 đồn Năm Căn hoảng hốt bỏ chạy, ta san bằng đồn và giải phóng hai ấp Gia Hội và Năm Căn.

Sau trận đồn Gia Hội, chị Nguyễn Thị Hường bị địch bắt. Chúng dùng nhiều hình thức tra tấn dã man nhưng chị vẫn giữ khí tiết cách mạng. Sáng ngày 22 tháng 4 năm 1962, chúng đem chị về Gia Hội tế cho những tên bị ta diệt. Trước khi bị địch bắn, chị hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chí Minh muôn năm”. Chị Nguyễn Thị Hường đã hy sinh dùng cảm, để lại trong lòng nhân dân Hưng Hội sự tiếc thương vô hạn và sự mến phục về tấm gương kiên cường bất khuất của người con gái quê hương.

Tháng 4 năm 1962, tại Hồng Dân địch bắt đầu triển khai việc gom dân lập ấp chiến lược. Chúng điều chỉnh tổ chức lại chiến trường, cắt nhỏ địa bàn thành lập thêm chi khu Kiến Thiện (Ngan Dừa). Như vậy, huyện Hồng Dân có 2 chi khu thuộc hệ thống hai tiểu khu Ba Xuyên và Chương Thiện nằm trong vùng 4 chiến thuật của Mỹ - Diệm. Bọn địch ở Bạc Liêu mở cuộc hành quân từ 15 tháng 4 đến 25 tháng 4 năm 1962 tại Phước Hòa, Bình Dân, Phước Trường (xã Phước Long), Bà Ai, Cai Giảng, Cỏ Thum (xã Ninh Thạnh Lợi), Mỹ Hai, Đìa Muồng, Tây Mập, Tây Lác (xã Vĩnh Phú Đông), Bình Hổ, Bình Thạnh, Chủ Đống, Chủ Xiệp (xã Vĩnh Phú Tây) để khủng bố bắn giết nhân dân, quyết tâm khoanh vào ấp chiến lược. Trong đợt hành quân này chúng gom được 500 gia đình ra tuyến sông Phước Long đi Ninh Quới, Ninh Quái ra Cầu Sập.

Trong các ấp chiến lược quần chúng đã liên tục đấu tranh chống kềm kẹp đòi ra vùng tự do, đòi giải quyết nhà ở, chống các tổ chức lao động của địch. Đảng viên, du kích tự vệ mật bám vào quần chúng xây dựng cơ sở, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Một số nơi như Vĩnh Phú Đông, thị trấn Phước Long, Vĩnh Hưng tổ chức thanh niên chiến đấu của địch trở thành lực lượng chiến đấu của ta và họ đã hoạt động, canh gác theo yêu cầu của cách mạng. Kết hợp với lực lượng bên ngoài, nhân dân trong ấp chiến lược trấn áp bọn ác ôn, phá rào, làm lỏng sự kềm kẹp của địch nhưng chưa phá được dứt điểm.

Học tập kinh nghiệm các tỉnh bạn, từ dâu tháng 5 năm 1962, Tỉnh ủy phát động trong toàn tỉnh đồng loạt ra quân xây dựng ấp, xã chiến đấu cặm cọc chống trực thăng, đào kinh chống xe lội nước của địch bảo vệ vùng giải phóng. Những khoảng đất trống tiếp cận cơ quan, nhà dân, điểm đóng quân đều dùng cây cặm cọc, giăng dây không cho địch đổ quân. Kinh chống xe lội nước, rộng 3m sâu 2m, chạy dài liên ấp, liên xã, có tác dụng làm chậm bước tiến của địch.

Từ giữa tháng 5 năm 1962, Mỹ - ngụy huy động 8 tiểu đoàn, 130 tàu chiến, 2 tiểu đoàn pháo, nhiều máy bay đổ quân, oanh kích và chi đoàn xe bọc thép chiến dịch Bình Tây để đánh vào các tỉnh Tây Nam Bộ hòng tiêu diệt lực lượng du kích của ta và hỗ trợ chương trình bình định. Để chủ động phá chiến dịch Bình Tây ngay từ đầu đơn vị pháo binh của Khu phối hợp pháo binh tỉnh pháo kích mạnh sân bay Sóc Trăng - hậu cứ dã chiến của chiến dịch; phá hủy hơn 20 máy bay của địch, nhiều tên phi công chết và bị thương. Chiến dịch Bình Tây bước đầu đã gặp khó khăn.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:14:46 am
Cũng trong khuôn khổ chiến dịch Bình Tây, đầu tháng 8 năm 1962 địch dùng trực thăng đổ quân xuống tại Cây Vong - Cựa Gà (xã Vĩnh Hưng - Hồng Dân). Đại đội Phú Lợi của tỉnh vừa đến đây trong đêm phải triển khai chống càn. Đại đội đầu tiên của địch lọt vào trận địa ta chờ sẵn, bị diệt gọn. Bị đánh đau, bất ngờ, địch cho phi cơ ném bom bắn phá nhiều lần vào xóm Cây Vong và đổ 1 tiểu đoàn, tổ chức nhiều mũi đánh vào quân ta. Trong điều kiện bất lợi địa hình trống trài, đồng nước khó khăn về công sự, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quân ta giữ vững trận địa đến tối, đánh bật nhiều đợt phản công của địch, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Lực lượng ta cũng có tiêu hao nhưng không lớn. Qua đó, đơn vị rút được kinh nghiệm chống địch càn bằng trực thăng đổ quân với một lực lượng lớn.

Ngày 8 tháng 8 năm 1962, địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu kết hợp du kích xã Vinh Phước tiêu diệt đồn Xẻo Me, diệt 18 tên, bắt sống 3 tên, thu 20 súng, thiêu hủy cơ quan tề xã và toàn bộ giấy tờ.

Ngày 21 tháng 9 năm 1962, địch cho 1 chi đoàn xe lội nước M113 từ Bạc Liêu càn qua ấp Đông Hưng và Trung Hưng 2 xã Vĩnh Hưng. Chúng bắt được 5 cán bộ xã ấp của ta. Liền sau đó quần chúng ấp Đăng Hưng tập hợp nhanh chóng trên 50 người xông vào bám sát theo đoàn xe M113 để giành giật cán bộ ta. Ngày 25 tháng 11 năm 1962, các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Hồng Dân, Thạnh Trị cùng với thị xã Bạc Liêu mở đợt tấn công chính trị quy mô vào thị xã Bạc Liêu với 6.000 người tham dự. Mũi đấu tranh ở Trà Kha, địch nổ súng vào đoán đấu tranh làm chết vi bị thương một số chị em, trong đó chị Ánh là người đi đầu cầm cờ Mặt trận, chị ngã xuống, người khác tiến lên(1) giương cao ngọn cờ đấu tranh.

Năm 1962, quân dân trong tỉnh đã giành thắng lợi trên nhiều mặt. Phong trào du kích chiến tranh phát triển rộng, ngay cả ở những vùng yếu và vùng địch kềm. Ba thứ quân ngày càng trưởng thành trong chiến đấu, lực lượng vũ trang phát huy tốt vai trò đòn xeo trong phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược. Trong năm, quân ta đánh địch trên 500 trận và tiến công phá ấp chiến lược, tổng số tiêu hao tiêu diệt trên 1.300 tên địch, diệt 1 chi khu. 7 đồn, bức rút 5 đồn, bắn rơi 2 máy bay, bắn cháy 4 xe quân sự, thu trên 300 súng các loại: phá tan. phá rã 41 ấp chiến lược, làm tan rã trên 300 tên địch trong bộ máy kềm ở cơ sở (tề ấp, tổ thanh niên chiến đấu, lực lượng Khơ-me Sa-rây…). Phong trào đấu tranh trực diện ngày càng rộng mạnh và quyết liệt, có hàng chục vạn lượt quần chúng tham gia. Vùng giải phóng ngày càng được mở rộng. Giải phóng đến đâu ta xây dựng xã ấp chiến đấu đến đó.

Tỉnh Ba Xụyên năm 1963, địch tăng cường trung đoản 33 đóng tại Chung Đôn, ngoại ô thị xã Sóc Trăng và trung đoàn 32(2) đóng tại thị xã Bạc Liêu, đưa chi đoàn thiết xa vận số 9 gồm 12 xe M113 đóng tại đầu sân bay Bạc Liêu để phối hợp hoạt động; tăng cường phát triển đội tuần giang có đến 43 chiếc (gọi là hải thuyền) hoạt động trên tuyến Ba Sắc, ngăn cách hành lang của ta từ Khu 9 qua Khu 8, tăng cường pháo 105mm và 155mm cho tiểu khu, chi khu bắn khắp nơi trong tỉnh. Cường độ hoạt động của địch tăng mạnh. Lực lượng càn quét của địch nâng lên cấp tiểu đoàn. Địch coi việc lập khu ấp chiến lược là quốc sách, nên chúng quyết thực hiện cho được âm mưu bình định miền Nam theo kế hoạch Xta-lay Tay-lo của chúng.

Cuối năm 1962, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ được chấn chỉnh. Đồng chí Nguyễn Văn Hơn, Bí thư Tỉnh ủy được Khu ủy chỉ định đi học trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam; đồng chí Phạm Lưu Thức (Năm Thức), ủy viên thường vụ Tỉnh ủy làm quyền bí thư Tỉnh ủy.

Vận dụng nghị quyết của cấp trên vào tình hình cụ thể ở địa phương, Tỉnh ủy chú trọng: Đẩy manh tiến công phá ấp chiến lược song song với việc đẩy mạnh phát triển du kích chiến tranh, xây dựng xã, ấp chiến đấu, chống càn quét, chống phi pháo, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, xây dựng và bảo vệ nông thôn vùng giải phóng, đồng thời nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh, thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch và phương tiện chiến tranh của địch.


(1) Trong cuộc đấu tranh này, ta hy sinh 3 người: Trương Thị Anh, Nguyễn Thị Bê, Nguyễn Thị Cẩm. Chị Út Tình bị địch bắn gãy chân.
(2) Các trung đoàn 32 và 33 thuộc sư đoàn 21 ngụy.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:16:11 am
Cũng vào cuối năm 1962, từ Sài Gòn, Ngô Đình Diệm đưa 1 đại đội thuộc Liên đoàn 77 lính công giáo đến nhà thờ Nàng Rền do tên Đại úy Sơn làm đại đội trưởng, kết hợp với tên thiếu tá Diễn, sĩ quan tuyên úy Thiên chúa giáo đội lốt cha cố đầu độc, cưỡng ép thanh niên công giáo cầm súng chống lại cách mạng. Chúng thành lập 1 đại đội có 118 quân do tên Phú làm đại đội trưởng, đại đội này do liên đoàn 77 trực tiếp huấn luyện, trang bị. Đầu năm 1963, chúng xây dựng xong đồn nhà thờ Nàng Rền. Cùng thời gian này chi khu Vĩnh Lợi đưa quân vô tái chiếm đồn Năm Căn. Lúc đầu chúng cho 1 đại đội bảo an giữ, sau đó chúng rút trung đội bảo an, đưa 1 trung đội lính nhà thờ Nàng Rền thay. Những ngày cuối năm 1962, Liên đoàn 77 cùng với lính công giáo địa phương đánh liên tục vào vùng căn cứ của các xã chung quanh. Chúng bắt người, giết người 1 cách dã man, không kể dân thường hay cán bộ cách mạng. Chỉ tính tháng 2 năm 1962 và tháng 1 năm 1963, chúng bắt trên 200 người ở các xã Gia Hòa, Thạnh Quới, Châu Hưng, Hưng Hội, trong đó có đại đức Minh Thu chùa Phú Tòng, anh Năm Thể, Út Chệt, cô Thanh Tùng người công giáo ở họ đạo Nàng Rển và nhiều người dân vô tội khác. Trước hành động dã man của Liên đoàn 77 và lính công giáo nhà thờ Nàng Rền, nhân dân vô cùng căm phẫn, kể cả gia đình công giáo, nhiều gia đình bỏ nhà đi theo cách mạng. Để trả thù, đồng bào, đồng chí, lực lượng vũ trang của ta quyết tâm đánh cho được địch ở Nàng Rền. Ngày 25 tháng 2 năm 1963, du kích xã Hưng Hội và địa phương huyện Vĩnh Lợi kết hợp 1 trung đội của đại đội Phú Lợi, cặm băng cờ đầu xóm Trà Xô dụ địch ra ngoài, ta nổ súng diệt gọn 1 trung đội lính ngụy, thu toàn bộ vũ khí.

Từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 2 năm 1963, tại ấp Nhà Lầu, xã Ninh Thạnh Lợi (huyện Hồng Dân), Tỉnh đội mở Hội nghị du kích chiến tranh lần thứ nhất để tổng kết phong trào du kích chiến tranh, nêu điển hình học tập rút kinh nghiệm. Hội nghị thảo luận nhiệm vụ công tác quân sự trong năm 1963 và những năm tiếp theo mà chủ yếu là chống phá ấp chiến lược, phát triển phong trào đấu tranh chống trực thăng đổ quân, chống xe lội nước, phòng chống phi pháo, v.v... Sau cuộc hội nghị về du kích chiến tranh, phong trào đánh địch toàn dân, toàn diện, đặc biệt là 3 mũi giáp công được dấy lên trong toàn tỉnh.

Đêm 25 tháng 4 năm 1963, biệt động thị xã Bạc Liêu đánh khám lớn, giải thoát 41 tù chính trị, ngay sau đó địch huy động gồm 2 tiểu đoàn chủ lực và 1 chi đoàn thiết xa đuổi tới Vĩnh Hưng, Mỹ Quới.., lực lượng ta bảo vệ tù chính trị về căn cứ an toàn.

Mùa khô năm 1963, căn cứ vào chủ trương của Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng và Ban chỉ huy Tỉnh đội chính thức thành lập các đại đội binh chủng: đai đội 602 với 3 phân đội cối (cối 82, ĐKZ 57, ĐKZ 75), đại đội 603 đặc công và đại đội 604 công binh.

Ngày 22 tháng 5 năm 1963, thường vụ Tỉnh ủy chi thị: “Mở tuần lễ đánh Mỹ xâm lược theo chủ trương của Trung ương Cục miền Nam”. Đội biệt động thị xã Bạc Liêu bố trí chiến sĩ Huỳnh Thanh Dũng hóa trang trả trộn vào “Bar Thanh Tân”, dùng mìn đánh bọn Mỹ đang ăn nhậu ở đây vào lúc 20 giờ đêm ngày 31 tháng 5 năm 1963, gây thương vong một số tên. Đài BBC, buổi sáng ngày 1 tháng 6 năm 1963 đưa tin “Việt cộng cho nổ 1 quả mìn giữa trung tâm thành Bạc Liêu”. Các đài Giải phóng, Hà Nội, Bắc Kinh cũng phát ban tin Bạc Liêu đánh bom vào bọn Mỹ để chào mừng ngày Quốc tế thiếu nhi 1 tháng 6.

Tính đến cuối tháng 3 năm 1963, địch lập được một số ấp (khu) chiến lược: Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu 38 ấp, Hồng Dân 9 ấp, thị xã Bạc Liêu 14 ấp và 4 khu.

Cuối tháng 5 năm 1963, tỉnh ủy Sóc Trăng quyết định tách huyện Vĩnh Lợi thành 2 huyện Vĩnh Châu và Vĩnh Lợi.

Để dáp ứng yêu cầu của tình hình mới, tháng 6 năm 1963, trung ương cục mở Hội nghị “Chống, phá địch lập ấp chiến lược” toàn Miền. Qua hội nghi, về nhận thức, kế hoạch, biện pháp, “Về phá ấp chiến lược” của lãnh đạo tỉnh và Đảng bộ được nâng lên một tầm nhận thức mới.

Đảng bộ nhận thức rất rõ: Muốn gom dân vào ấp chiến lược, địch phải đẩy mạnh càn quét, bắn phá. Muốn đánh bại địch gom dân lập ấp chiến lược phải đập tan các cuộc càn quét, đánh phá của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tạo điều kiện phát động quần chúng kiên trì đấu tranh “một tấc không đi, một ly không rời”. Dã lâm và khả năng lập ấp của Mỹ- ngụy rất thâm độc và rất lớn, phải tùy tương quan lực lượng của ta và địch từng nơi, từng lúc mà đề ra mức độ phá cho thích hợp. Khi có cao trào, có sự phối hợp của quân chủ lực, quần chúng đã được rèn luyện qua đấu tranh, có kinh nghiệm, thì phá rã “hàng dề, hàng màng”. Tới đỉnh cao là phá ấp chiến lược ở những nơi có thể, xây dựng thành xả, ấp chiến đấu, thành căn cứ cách mạng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:01:42 am
Về công tác an ninh, đi sâu phát động phong trào bảo vệ an ninh từ trong nội bộ cơ quan, đoàn thể ra ngoài nhân dân làm cho mọi người hiểu rõ âm mưu của địch, nâng cao cảnh giác chống tình báo, do thám, gián điệp bảo vệ vùng căn cứ giải phóng, v.v... Ban an ninh tỉnh còn tổ chức công khai những phiên tòa xét xử các vụ gián điệp phản động. Ta kiên quyết trấn áp bọn đầu sỏ gian ác, đồng thời khoan hồng số lầm lạc biết hối cải. Khu ủy, Ban an ninh Khu khen ngợi cấp ủy và ban an ninh tỉnh dám nghĩ dám làm, thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng.

Lực lượng vũ trang thị xã Bạc Liêu nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Ta bố trí 1 tổ biệt động do Huỳnh Thanh Dũng chỉ huy, các chiến sĩ ta hóa trang làm thường dân ớ dưới ghe bến chợ Cầu Sập, đúng 7 giờ 30 phút sáng ngày 22 tháng 7 năm 1963, các chiến sĩ biệt động nhanh chóng diệt tên Hồng trưởng nhóm do thám ác ôn, thu 1 sung ru-lô và rút lui an toàn.

Tháng 8 năm 1963, Ban chỉ huy Tỉnh đội quyết định thành lập đại đội 74, lấy trung đội của đại đội 71 qua làm nòng cốt, rút một số lực lượng địa phương quân và du kích các nơi trong tỉnh: Hồng Dân, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên và một bộ phận trinh sát đặc công của tỉnh. Đại đội này có 3 trung đội bộ binh, 1 tiểu đội trinh sát và 1 đại đội bộ. Đồng chí Năm Tài làm đại đội trưởng. Chiến trường hoạt động trong thời gian trước mắt của đơn vị là huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Thạnh Trị.

Đêm ngày 10 tháng 9 lực lượng biệt động thị xã đột nhập vũ trang tuyên truyền vào 3 khu trong nội ô thị xã Bạc Liêu. Trong đêm ta huy động trên 550 quần chúng phá hoại một đoạn quốc lộ 4 và đốt cháy cầu Cái Tràm (cầu này nằm trên quốc lộ 4). Ta bắt giáo dục một số phụ quân tại ấp chiến lược Cái Tràm và Hòa Bình. Ngày 11 tháng 9 công binh đánh mùn vào xe GMC giữa đường Trà Kha – Cầu Sập làm chết và bị thương 10 tên lính ngụy. Lúc 8 giờ sáng ngày 12 tháng 9, ta bắn rơi 1 máy bay trực thăng tại Hoành Tấu (Vĩnh Mỹ). Địch bắn trọng pháo yểm trợ bộ binh lấy thây. Chúng đem về thị xã Bạc Liêu xác 1 tên đại úy.

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 10 năm 1963 địa phương quân huyện Hồng Dân phối hợp với lực lượng Khu đánh tiêu diệt hai đồn Ngan Dừa và Bến Luông. Ngày 19 tháng 10 năm 1963, địch huy động 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, dùng máy bay trực tháng đổ quân đánh vào hậu cứ của ta tại Bà Ai - Lộc Ninh. Địch vừa đặt chân xuống đất, bị lực lượng ta nổ súng tấn công gây cho chúng nhiều tổn thất nặng. Địch cho phi cơ nhiều đợt giội bom và tiếp tục đổ quân, tăng cường hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, nhưng đều bị lực lượng của ta đánh bật ra ngoài. Đến 5 giờ địch tiếp tục đổ thêm quân, bị lực lượng ta đồng loạt xuất kích tiêu diệt nhiều tên địch. Kết thúc trận đánh địch chết và bị thương trên 600 tên, 6 máy bay bị bắn rơi tại chỗ và nhiều chiếc bị thương. Chiến thắng Lộc Ninh là đòn giáng trả nặng nề vào quân chủ lực ngụy, vào chiến thuật “trực thăng vận”, thể hiện sức mạnh chiến tranh nhân dân, là sự cổ vũ thúc đẩy phong trào cách mạng trong toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Chiến thắng Lộc Ninh diễn ra ngay ngày đầu Hội nghị ủy ban công đoàn thế giới đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam đang họp tại thủ đô Hà Nội, lả một món quà chào mừng hội nghị của giai cấp công nhân thế giới, gây một tiếng vang khắp năm châu làm cho địch bị thất bại nặng nề trước dư luận của thế giới. Thắng lợi này là sự tiếp tục tiên hao tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, lập thành tích cho đợt thi dua “Ấp Bắc” giết giặc lập công góp phần thắng lợi cho đợt thi đua yêu nước chống Mỹ xâm lược để chuyển biến tình hình, đưa phong trào cách mạng tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Chiến thắng Lộc Ninh là trận thắng lớn nhất góp phần cùng toàn miền Nam làm phá sản chuyến thuật “trực thăng vận” của Mỹ - ngụy.

Năm 1963, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh. Lực lượng địa phương quân huyện, du kích xã, ấp được hình thành và phát triển. Trong năm 1963 có trên 130.000 lượt quần chúng (phần lớn là nan nữ thanh niên) đào đắp được 210.000 chiến hào, chiến lũy để chống xe lội nước, đào nhiều hầm chông, làm hơn 120 bãi lửa, đào hơn 20.000 hầm hố chống phi pháo, cắm hơn 1 triệu mũi chông các loại, 205.000 cọc chống phi cơ trực thăng đổ quân. Năm 1963, các lực lượng vũ trang trong tỉnh tiến công đánh địch trên 825 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 1.205 tên địch, diệt 5 đồn, bức rút 8 đồn khác, bắn rơi và phá hỏng 25 máy bay các loại. Trong các trận đánh, nhìn chung ta đã thực hiện tốt việc kết hợp lực lượng ba thứ quân để tiến công địch.

Cùng với thắng lợi của lực lượng vũ trang, phong trào chống phá ấp chiến lược tiếp tục giành được kết quả ngày càng cao. Trong năm 1963, lực lượng tại chỗ tiến công 275 đợt phá rã và làm lỏng hàng trăm lượt khu ấp chiến lược trong tỉnh; phá rã 1.515 tên tay sai trong bộ máy kềm kẹp, trong đó có 1.072 tên thanh niên cộng hòa, thanh niên chiến đấu và Khơ-me Sa-rây, diệt và làm bị thương 25 tên gian ác. Phong trào chính trị liên tục đấu tranh ngay trong khu ấp chiến lược, các thị xã thị trấn và có nhiều tầng lớp tham gia.

Tuy nhiên, nhìn chung phá khu ấp chiến lược tuy diện rộng nhưng chưa quyết liệt, phá rã rất ít, chỉ một bị phá thiệt hại nặng như Trà Vôn, Cái Tràm, Trà Bang, Ngan Dừa, Cống Đôi, Hòa Bình và Tân Bình, có nơi phá 2 đến 3 lần như: Ngan Dừa, Cống Đôi và Trà Ôn. Binh vận vẫn còn yếu so với hoạt động vũ trang và chính trị. Xây dựng thực lực đối với vùng ngoài còn chậm chưa đáp ứng yêu cầu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:03:16 am
Những hoạt động của lực lượng vũ trang và phong trào chống phá ấp chiến lược đã có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị. Năm 1963 phong trào đấu tranh chính trị trực diện tại chỗ tại các đồn bót, tề xã, dinh quận, tòa hành chính tỉnh diễn ra liên tục và phát triển khắp nơi trong tỉnh với các khẩu hiệu: “chống đuổi nhà, gom dân vào ấp chiến lược, chống càn quét ném bom, bắn phá bừa bãi, chống bắt lính...”.

Sáng ngày 22 tháng 8 năm 1963, trên 5.000 đồng bào gồm có các tín đồ tôn giáo, gia đình nạn nhân do Mỹ Diệm tàn sát, gia đình binh sĩ và có trên 1.000 học sinh các trường trung học tiểu học, có mặc đạo phục và tang phục, mang bàn thờ tang từ các ngõ đường kéo thẳng vào thị xã Bạc Liêu. Tại các đường phố trong nội ô, đồng bào đi đấu tranh và đồng bào đô thị bàn bạc các khẩu hiệu sôi nổi. Để phản đối và lột trần cuộc bầu cử quốc hội và chính quyền Ngô Đình Diệm bù nhìn, sáng ngày 30 tháng 9 năm 1963, có trên 4.700 người, trong số này có 200 học sinh và 8 nhà sư mặc áo vàng, tiến thẳng vào trung tâm thị xã Bạc Liêu đấu tranh đòi địch thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh cho nhân dân.

Những tháng cuối năm 1963, tại miền Nam xuất hiện phong trào đấu tranh rộng lớn của tín đồ phật tử ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn chống lại chính quyền Mỹ Diệm. Ở tỉnh Bạc Liêu, phong trào đấu tranh của tín đồ phật giáo mà phần lớn là sư sãi, đồng bào Khơ-me chống lại sự bắn phá của địch vào các nhà chùa và giết hại dân lành cùng liên tục nổ ra.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Dương Văn Minh làm cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị cho các huyện ủy, thị ủy, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang phải làm một số việc khẩn trương. Ngày 11 tháng 11 năm 1963, Thưởng vụ Tỉnh ủy có Đảng văn số 449/E vạch rõ bản chất tay sai Mỹ của bọn đảo chính và nhấn mạnh một số công tác cấp bách của Đảng bộ, đối với đô thị cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận.

Với đà chiến thắng mới của năm 1963, căn cứ vào sự chỉ đạo của Khu ủy và Quân khu, thường vụ tỉnh ủy chỉ thị nhanh chóng xây dựng “quả đấm” trung tâm, bố trí lực lượng ta đều khắp trên chiến trường, quyết tâm đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của địch trong tỉnh, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở miền Nam.

Căn cứ vào chỉ đao của Thường vụ Tỉnh ủy, Ban cán sự, Ban chỉ huy tỉnh đội quyết định điều chỉnh cán bộ trong các lực lượng vũ trang, điều động một bộ phận bộ đội địa phương và du kích xã, lấy thêm một số tân binh thành lập đại đội thứ 3. Tháng 12 năm 1963, đại đội 75 được thành lập, đồng chí Năm Hùng, đại đội phó đại đội 71 được bổ nhiệm làm đại đội trưởng; đồng chí Ba Miên chính trị viên và đồng chí Tư Minh, đại đội phó. Chủ trương của Ban chỉ huy tỉnh đội là đại đội 75 nhanh chóng tăng cường huấn luyện, tích cực chuẩn bị mọi mặt để bước vào năm 1964 đưa vào hoạt động(1). Thời điểm này đồng chí Ngô Thành Phát được phân công làm tỉnh đội trưởng thay đồng chí Sáu Hà được điều động về công tác ở khu 9.

Phát huy thắng lợi trong đấu tranh chính trị trực diện, lúc 8 giờ sáng ngày 14 tháng 12 năm 1963, trên 4.000 đồng bào từ các nơi đổ vào thị xã Bạc Liêu, trong số này có hơn 2.600 đồng bào và học sinh tại thị xã cùng tham gia với đồng bào nông thôn đấu tranh với bọn ngụy quyền.

Năm 1963, toàn tỉnh có hơn 600 cuộc đấu tranh chính trị với trên 180.000 lượt quần chúng tham gia. Địch phải thả gần 1.000 đồng bào bị chúng bắt và hơn 400 gia đình thoát khỏi ấp chiến lược về quê cũ làm ăn. Phong trào đấu tranh chính trị trực diện tại chỗ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng du kích đánh địch bảo vệ xóm làng.

Công tác binh vận phát triển khá mạnh. Ban binh vận ra tờ tin (khổ nhỏ) “Súng Mỹ lòng ta” để phổ biến trong binh sĩ và gia đình binh sĩ về tin tức thời sự và những bài thơ binh vận để tuyên truyền vận động anh em binh sĩ quay về với nhân dân, tham gia kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Kết quả đến năm 1963, ta tuyên truyền vận động được hơn 3.000 gia đình binh sĩ, tuyên truyền giáo dục chính sách của Đang cho trên 650 binh sĩ và làm tan rã 365 binh lính, đặc biệt có 4 cuộc binh biến phản chiến bắn lại bọn sĩ quan gian ác, mang 17 khẩu súng về với nhân dân.

Vùng giải phóng, các cấp ủy Đảng chỉ đạo thi đua phát triển nông nghiệp, khai hoang phục hóa diện tích gieo trồng, mở rộng được 2.000 ha trồng trọt. Phát động nhân dân làm thủy lợi nội đồng, đào kinh xổ phèn dẫn nước ngọt vào ruộng. Đã đào được 16 kinh mới, nạo vét 4 kinh cũ. Việc đào kinh, một mặt cải tạo đồng ruộng, phục vụ sản xuất thâm canh tăng vụ; mặt khác tạo địa hình xây dựng xã ấp chiến đấu, ngăn chặn xe lội nước của địch và tổ chức chiến đấu. Ta đã động viên nhân dân nhường trên 300 ha ruộng đất cho những hộ không đất, thiếu đất sản xuất, cứu trợ lúa gạo cho những gia đình thiếu ăn... Vùng nông thôn giải phóng được xây dựng và phát triển mạnh đã cổ vũ động viên hàng nghìn thanh niên tòng quân giết giặc cứu nước.

Kết quả đạt được trong năm 1963 về các mặt hoạt động đã làm cho nhân dân trong tỉnh vô cùng phấn khởi, từ đó có tác dụng thúc đẩy cuộc kháng chiến toàn tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn.


(1) Đại đội 75 sau khi thành lập chuẩn bị đưa vào hoạt động, Khu có nghị quyết rút toàn bộ, chỉ còn khung cán bộ.
Tháng 3-1964, vừa tập hợp lực lượng để xây dựng lại, bị địch đổ quân càn quét gây thiệt hại nặng nề, gần đến ngày thành lập, đại đội 75 mới xây dựng đưa vào hoạt động.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:04:09 am
II. LIÊN TỤC TẤN CÔNG ĐỊCH, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1964 - 6/1965)

Sau khi anh em Diệm - Nhu bị đáo chính và bị giếi chết, chế độ Sài Gòn, tay sai của Mỹ càng lâm vào thế khủng hoảng trầm trọng kéo dài. Nội bộ bọn tay sai thường xuyên tranh chấp quyền lực, trong lúc cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam ngày càng lẻn cao. Ngày 22 tháng 11 năm 1963, ba tuần lễ sau ngày anh em Diệm - Nhu bị giết, Ken-nơ-đi bị ám sát, Giôn-xơn lên thay làm tổng thống Hoa Kỳ. Giôn-xơn khẳng định tiếp tục thực hiện chính sách “xâm lược” của Mỹ đã cam kết với Việt Nam cộng hòa, lập trường này được thể hiện trong bản giác thư ngày 26 tháng 11 năm 1963.

Tháng 12 hăm 1963, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định: chủ trương của Mỹ là tiếp tục “chiến tranh đặc biệt” được tăng cường, đồng thời tích cực chuẩn bị “chiến tranh cục bộ” và mở rộng ra miền Bắc.

Về cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương Đảng quyết định những vấn đề chiến lược đưa phong trào lên cao hơn nữa. Tiếp tục khẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh những yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang để chủ động kịp thời đối phó với kế hoạch “chiến tranh leo thang” của địch.

Ngày 1 tháng 1 năm 1964, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức Đại hội lần thứ II ở Tây Ninh.

Đại hội hoàn toàn nhất trí: “Dốc toàn lực thực hiện tại cùng cuộc kháng chiến toàn diện và trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai bán nước, giành thắng lợi to lớn trong thời gian trước mắt”,

Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt (ngày 27 tháng 3 năm 1964). Tại hội nghị Người nói: “Hiện nay bọn hiếu chiến Mỹ và bè lũ tay sai mới của chúng lại ba hoa hô hào Bắc tiến! Nhưng chúng phải hiểu rằng: Nếu chúng liều lĩnh động tới miền Bắc thì nhất định chúng sẽ bị thất bại. Vì nhân dân cả nước kiên quyết đánh bại chúng, vì các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta”.

Trên chiến trường Sóc Trăng - Bạc Liêu, địch đưa không đoàn 84 với 2 phi đội máy bay lên thẳng HUIA, HU1B thay cho không đoàn 42. Tăng cường trang bị pháo 105mm cho các chi khu.

Trong năm 1964, địch đẩy mạnh việc bắt lính đôn quân để tăng cường càn quét đánh phá, đóng thêm đồn bót, khôi phục hàng trăm ấp chiến lược bị ta phá trước đây và xây dựng thêm một số ấp chiến lược mới; tăng cường phi pháo, rải chất độc hóa học hủy diệt cây rừng nhiều nơi như: rừng mắm ven biển xã Vĩnh Mỹ (huyện Vĩnh Lợi), Giồng Chùa (Lạc Hòa - Vĩnh Châu), xã Long Điền Đông, Long Điền Tây (huyện Giá Rai) các xã Ninh Thạnh Lợi - Vĩnh Lộc, Lộc Ninh (huyện Hồng Dân) làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của nhân dân.

Thực hiện nghị quyết và sự chỉ đạo của Khu ủy , Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng trong toàn Đảng bộ, đặc biệt là trong lực lượng vũ trang, tăng cường hoạt động của các lực lượng vũ trang và an ninh, xây dựng phát triển các đoàn thể quần chúng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, binh vận, chống bắt lính, chống gom dân vào ấp chiến lược đưa phong trào đấu tranh trong tỉnh phát triển lên một bước mới.

Tỉnh ủy được chấn chỉnh và bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), sau khi đi học về được chỉ thị làm Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Lê Văn Mỹ (Năm A), ủy viên thường vụ giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy thay đồng chí Nguyễn Văn Thới (Ba Hữu) đã hy sinh.

Căn cứ của Tỉnh ủy được đội phòng thủ kết hợp với lực lượng an ninh bảo vệ an toàn và đặc biệt là do tấm lòng nhân dân đối với Đảng, nhân dân đã nuôi chứa, làm hầm bí mật, nhà vách đôi  che giấu cán bộ, phòng gian bảo mật tốt nên cơ quan đầu não của Đảng bộ cũng như các ban, ngành, đoàn thể đều được an toàn.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:05:36 am
Căn cứ của Tỉnh ủy được đội phòng thủ kết hợp với lực lượng an ninh bảo vệ an toàn và đặc biệt là do tấm lòng nhân dân đối với Đảng, nhân dân đã nuôi chứa, làm hầm bí mật, nhà vách đôi(1) che giấu cán bộ, phòng gian bảo mật tốt nên cơ quan đầu não của Đảng bộ cũng như các ban, ngành, đoàn thể đều được an toàn.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ cho không quân đánh phá miền Bắc đã gây phẫn nộ cao độ đối với nhân dân miền Nam và đồng bào cả nước. Đoàn chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tuyên bố: “...Mười bốn triệu nhân dân miền Nam muôn người như một với quân giải phóng và các lực lượng vũ trang, bán vũ trang của mình sẽ sát cánh cùng 17 triệu đồng bào miền Bắc và quân đội nhân dân anh em kiên quyết kháng chiến đến cùng, tiêu diệt đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trên cả nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. Đó là ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của toàn thể nhân dân miền Nam cũng như miền Bắc”.

Thực hiện tuyên bố và lời kêu gọi của Mật trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ phát động đợt tiến công vũ trang, chính trị, binh vận rộng khắp, quyết đánh địch với khẩu hiệu “Đế quốc Mỹ xâm phạm miền Bắc một ta đánh trả gấp mười lần”. Một phong trào đấu tranh mạnh mẽ khắp nơi trong tỉnh từ thành thị đến nông thôn.

Kết thúc đợt xuân hè 1964, Ban cán sự, Ban chỉ huy Tỉnh đội thực hiện kế hoạch thành lập tiểu đoàn tập trung của tỉnh, gồm 3 đại đội bộ binh (71, 74, 75), điều động một số cán bộ huyện đội, lực lượng địa phương, du kích xã thuộc các huyện Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Phước Long, Vĩnh Lợi; tách một bộ phận đại đội 602, 603 thành lập đại đội trợ chiến và các đơn vị trực thuộc. Những ngày cuối tháng 6 năm 1964, các đại đội được tập hợp tại ấp Trà Teo, xã Khánh Hòa để tổ chức biên chế chinh thức: tiểu đoàn gồm 3 đại đội bộ binh và 1 đại đội trợ chiến, có các trung đội trinh sát, thông tin liên lạc đầy đủ và tiểu đoàn bộ, quân số trên 800 cán bộ, chiến sĩ, lấy tên là Phú Lợi; số hiệu 85 lấy ngày tiểu đoàn ra mắt để làm số hiệu d764 (thành lập ngày 1-7-1964), Ban chỉ huy tiểu đoán gồm ba đồng chi Lê Văn Tới (Tư Lê), tiểu đoàn trưởng; Năm Liêm tiểu đoàn phó; Bảy Đủ, chính trị viên. Đảng ủy tiểu đoàn cũng được Ban cán sự Tỉnh đội chỉ định gồm 7 đồng chí và đồng chí Bảy Đủ làm bí thư Đảng ủy. Đội ngũ cán bộ tiểu đoàn, cán bộ đại đội hầu hết trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ, có một số kinh qua trường lớp quân sự, một số kinh qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được đào tạo từ miền Bắc về bồ sung. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện, thử thách từ phong trào Đồng Khởi, có thành tích chiến đấu trong những năm đầu chống cuộc chiến tranh đặc biệt.

Ngày 1 tháng 7 năm 1964, tại xóm Cây Gừa, xã Hòa Tú (quê hương Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940), tiểu đoàn Phú Lợi làm lễ ra mắt trước nhân dân. Trong đội hình trang phục nghiêm trang đứng giữa sân lễ trước hàng nghìn đồng bào quanh vùng tham dự, đại diện ban chỉ huy tiểu đoàn Phú Lợi hứa với nhân dân trong tỉnh sẽ mãi mãi xúng đáng với lòng tin cậy của nhân dân, của Đảng bộ. Lễ ra mắt đồng thời cũng là lễ xuất quân của tiểu đoàn Phú Lợi.

Hai ngày sau lễ ra mắt, tức ngày 3 tháng 7 năm 1964, tiểu đoàn trú quân tại Tân Lập. xóm Lương, ngọn ấp Tân Tĩnh, xã Vĩnh Phước. Buổi sáng máy bay địch đến quần đảo. Phát hiện địch đến càn quét, tiểu đoàn lệnh cho các đại đội sẵn sàng chiến đấu theo phương án giả định, quyết giành thắng lợi trận đánh mở đầu. 8 giờ sáng, tàu địch chở tiểu đoàn biệt động quân phiên hiệu “Cọp đen” từ Sóc Trăng xuống đổ quân trên trục kênh xáng Vĩnh Châu đối diện với xóm Lương, cách 1 km. Địch chia làm nhiều mũi tiến công vào ngay đội hình các đại đội 2 và 3 ở xóm Lương. Địch không phát hiện lực lượng ta đóng quân tại đây, ta phải giữ thế bất ngờ với địch. 10 giờ sáng, đại đội 2 và đại đội 3 đánh địch. Súng nổ rộ, bọn địch đi đầu không kịp trở tay bị diệt gần hết, số còn lại tháo chạy; đồng bọn đi sau triển khai đánh trả. Đại đội 1 của tiểu đoàn Phú Lợi vận động, nổ súng đánh vào sườn bên phải của địch, quyết cắt đường về trên trục kinh xáng Vĩnh Châu ra Cổ Cò. Bị tiến công và trong thế bị bao vây, địch phải rút chạy ra bờ Xáng. Đại đội 2 vừa tiến công vừa cho một mũi chọc thẳng đánh chiếm bờ Xáng, quyết không để địch chiếm bờ Xáng chống cự. Hơn một giờ chiến đấu, tiểu đoàn biệt động của địch bị tiểu đoàn Phú Lợi của ta đánh tan tác: 1 đại đội bị tiêu diệt, 2 đại đội khác bị thiệt hại nặng, hàng trăm tên địch chết và bị thương. Ta thu nhiều súng đạn (có 8 trung liên, đại liên và cối 60mm). Thắng lợi của tiểu đoàn Phú Lợi làm nức lòng nhân dân trong tỉnh, đặc biệt ở hai huyện Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên.


(1) Nhân dân làm hàng chục nghìn hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn. Bạc Liêu thuộc vùng đồng bằng, nếu không có hầm thì cán bộ không thể sống và bám trụ được, có nhiều tấm gương làm hầm tốt. Hầm bí mật kết hợp với hầm chông, bãi lửa để đánh địch, bảo vệ căn cứ, bảo vệ xóm làng. Nhà vách đôi. Có gia đình làm 5-6 vách đôi, chứa cả 1 trung đội đánh địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:47 am
Sáu tháng cuối năm, lực lượng vũ trang tỉnh, địa phương quân huyện và du kích xã liên tục tiến công địch. Xã Ninh Thạnh Lợi (Hồng Dân) chỉ trong vòng 6 ngày (từ ngày 10 đến 15-7-1964) đã có trên 100 thanh niên tình nguyện tòng quân nhập ngũ. Ngày 2 tháng 8 năm 1964, đại đội công binh của tỉnh phục kích đánh mìn một đoàn xe quân sự hành quân trên lộ Bạc Liêu - Vĩnh Châu, ta phá hủy 6 xe, số còn lại quay trở về Bạc Liêu. Đêm ngày 19 tháng 8 năm 1964, biệt động thị xã Bạc Liêu dột nhập vào khu ấp chiến lược Tân Tạo, Bạc Liêu (sát sân bay) bắt và giáo dục tại chỗ 4 tên tay sai, thu 2 súng. Sáng ngày 30 tháng 8 năm 1964, trinh sát thị xã Bạc Liêu đột nhập vào khu cầu vòng đánh mìn ngôi nhà “cao đẳng Trường Tiền” nơi địch dành riêng cho Mỹ ở, kết quả 3 tên Mỹ chết tại chỗ và 4 tên khác bị thương. Đêm ngày 5 tháng 9 năm 1964, địa phương quân huyện Vĩnh Lợi được cơ sở nội tuyến phục vụ, đánh lô cốt tại chợ Vĩnh Mỹ, ta diệt 2 tên, làm bị thương 1 tên khác, thu 5 súng.

Ngày 16 tháng 10 năm 1964, đại đội 75 thuộc tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với du kích xã Châu Thới nổ súng đánh một tiểu đoàn biệt động quân của địch làm cho chúng bị thiệt hại nặng. Sau đó địch cho máy bay giội bom, bắn phá làm thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân. Sáng hôm sau, hàng trăm gia đình ở đây đã chở xác của nạn nhân ra thị xã Bạc Liêu đấu tranh đòi bồi thường nhân mạng. Bọn đầu sỏ ngụy quyền Bạc Liêu phải chấp nhận yêu sách của nhân dân.

Ngày 23 tháng 10 năm 1964, địch đổ quân xuếng ấp Rọc Lá, xã Vĩnh Phú, huyện Hồng Dân để đánh điểm tập trung tân binh của ta. Địa phương quân huyện Hồng Dân cùng đại đội 75 tỉnh chiến đấu quyết liệt suốt một ngày, ta và địch tổ chức tấn công và phản công 5 trận, kết quả địch chết và bị thương 84 tên, bị thương 2 trực thăng, ta bẻ gãy cuộc càn của địch. Ngày 10 tháng 11 năm 1964, địa phương quân huyện Hồng Dân bao vây đồn Phó Sinh, dùng đơn vị đặc công bí mật đánh thiệt hai nạng đồn này, diệt và làm bị thương 14 tên. Qua ngày 22 tháng 11, binh sĩ địch hoang mang đào ngũ 3 binh sĩ, mang 2 súng trung liên và 1 súng ga-răng, 8 lựu đạn giao cho cách mạng. Ngày 25 tháng 11 năm 1964, biệt động thị xã Bạc Liêu đánh mìn tại nhà “cao đẳng Trường Tiền” (lần thứ 2), diệt 6 tên Mỹ.

Nhằm thực hiện việc chia nhỏ, xáo trộn chiến trường đánh phá cách mạng, địch cắt các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Phước Long (Hồng Dân), Vĩnh Châu của tỉnh Ba Xuyên, tái lập tỉnh Bạc Liêu vào ngày 1 tháng 10 năm 1064, do trung tá Võ Quốc Sử làm tỉnh trưởng. Từ nay, tỉnh nhà phải đối mặt với 3 tiểu khu của địch là Ba Xuyên, Bạc Liêu và Chương Thiện.

Ngày 27 tháng 11 năm 1964, ngụy quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số 343/QL tách các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra khỏi Vùng 3 chiến thuật thành lập Vùng 4 chiến thuật do Quân đoàn 4 phụ trách; gồm 3 khu chiến thuật, tỉnh Bạc Liêu nằm trong khu chiến thuật 42.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, giữa tháng 7 năm 1964, Hội nghị chuyên đề công tác binh vận tỉnh được tổ chức do đồng chí Nguyễn Văn Nhung (Ba Mai), Tình ủy viên, Trưởng ban binh vận tỉnh chủ trì. Sau hội nghị, Ban binh vận tỉnh được tăng cường, đội ngũ cán bộ được tăng lên, sự hoạt động ở các cấp đi vào nề nếp. Các hoạt động của lực lượng vũ trang và binh vận đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị trong tỉnh phát triển một bước mới, số lượng người tham gia ngày càng đông.

Về phong trào đấu tranh chính trị, để dâng quà nhân kỳ niệm lần thứ 74 ngày sinh của Bác, ngày 19 tháng 5 năm 1964, đông đảo học sinh trường Trí Tri (nay là trường phổ thông trung học công lập Bạc Liêu) đấu tranh chống đôn quân bắt lính, chống làm tay sai cho Mỹ, chống đàn áp khủng bố, Mỹ phải rút về nước. Ngày 26 tháng 5 năm 1964, cuộc biểu tình khoảng 6.600 người tại thị xã trong đó có trên 100 binh lính ngụy và trên 150 người Khơ-me. Sáng ngày 2 tháng 6 năm 1964, hơn 2.000 người từ nông thôn ven thị xã biểu tình kéo vào nội ô đấu tranh trực diện với ngụy quyền, chống rải chất độc hóa học, đòi chấm dứt bắn pháo vào nông thôn, chống ném bom na-pan, chống bắt lính.

Phong trào đấu tranh chống bắt lính trong đồng bào Khơ-me phát triển mạnh. Các chùa Khơ-me cho thanh niên vào chùa tu để chống bắt lính (một số chùa có lúc chứa từ 200 đến 500 thanh niên). Hình thức đấu tranh này có nhiều kết quả, làm cho địch lúng túng phải tìm cách đối phó.

Từ ngày 15 đến 31 tháng 8 năm 1964, có 3 cuộc đấu tranh quy mô của trên 8.000 lượt đồng bào nông thôn và đồng bào đô thị hưởng ứng, nổ ra với khí thế quyết liệt. Đồng bào trương băng, khẩu hiệu, cờ một trận thét vang các khẩu hiệu “chống Mỹ - Khánh” giữa thị xã Bạc Liêu, một trong những khẩu hiệu đó là: “Chấm dứt ngay việc bắt lính đôn quân”.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:09:45 am
Qua một năm đấu tranh với kẻ thù. quân dân trong tỉnh liên tiếp giành được những thắng lợi lớn trong các mặt trận.

Cuối năm 1964, đồng chí Lưu Hiền Đức làm tỉnh đội trưởng. Trong năm 1964. lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh địch trên 700 trận, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch; trong số này ta tiêu diệt hơn 1.300 tên, bắn rơi và phá hỏng hơn 30 máy bay và thu trên 1.000 khẩu súng các loại... lực lượng vũ trang két hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng tiến công đánh phá ấp chiến lược, trong đó 25 ấp bị ta phá rã hoàn toàn.

Phong trào đấu tranh chính trị và binh vận ngày càng được phát huy. Năm 1964, trong tỉnh có gần 600 cuộc đấu tranh trực diện với địch, hơn 900.000 lượt người tham gia, địch phải bồi thường cho nhân dân hàng trăm nghìn đồng(1), thả gần 1.000 người bị bắt, 1.200 gia đình được rời khỏi ấp chiến lược trở về chỗ cũ làm ăn. Công tác binh vận phát triển mạnh, kết quả ta đã vận động rã ngũ gần 1.00 binh sĩ, trong đó có khoảng 300 quân chủ lực. Có hàng trăm cuộc đấu tranh của binh sĩ và gia đình binh sĩ đòi giải ngũ, đòi tăng lương chống càn quét...

Vùng nông thôn giải phóng, phong trào du kích chiến tranh phát triển rộng khắp. Năm 1964 có hàng vạn quần chúng tham gia xã ấp chiến đấu, đào đắp trên 60.000m chiến hào, hàng chục nghìn hầm hố và nhiều công sự, ụ chiến đấu, tích cực bảo vệ vùng giải phóng. Công tác chống do thám gián điệp được tăng cường, ta đã giáo dục, cải tạo quản lý tại chỗ trên 1.000 tên tề điệp, chỉ điểm. Ban an ninh đã phá nhiều vụ án quan trọng. Công tác văn hóa giáo dục được đẩy mạnh. Cất thêm 1.000 trường học mới, sửa chữa 15 trường học cũ, mở lớp đào tạo giáo viên, bồi dưỡng cán bộ giáo dục, đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, trường văn hóa Samaky (trường học sinh Khơ-me) mới được thành lập cùng với trường Lê Văn Tám do tiểu ban giáo dục (thuộc Ban tuyên giáo Tỉnh ủy) phụ trách được củng cố, tăng cường. Sức khỏe nhân dân được quan tâm chăm sóc. Việc chích ngừa, cấy fi-la-tốp được phát động rộng rãi. Sản xuất phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, lương thực dồi dào, đảm bảo tốt việc nuôi quân đánh giặc.

Ngày 20 tháng 1 năm 1965, trong thông điệp nhảm chức, tổng thống Giôn-xơn tuyên bố: “Mỹ đã có hành động mạnh mẻ hơn để ngăn chặn sự sụp đồ hoàn toàn của quân đội miền Nam, giữ vững Nam Việt Nam”. Đến đầu năm 1965, đế quốc Mỹ đưa cuộc “chiến tranh đặc biệt” đến mức cao nhát, tăng cường cố vấn Mỹ, đưa một sô đơn vị trợ chiến Mỹ vào miền Nam, dùng không quân đánh phá liên tục miền Đác Việt Nam.

Bọn địch ở Sóc Trăng - Bạc Liêu(2) tăng cường càn quét và đành phố bàng bom đạn vào vùng giải phóng, dùng chất hóa học triệt phá địa hình, bết dân vùng giải phóng ra ấp chiến lược. Sáu tháng đấu năm 1966, có hơn 300 lượt máy bay địch ném bom. trên 200 lần bắn phá của địch tàng gấp nhiều lần so với trước đây, gây nhiều khó khăn cho cân cứ của ta, lầm thiệt hại nặng nề về tài sản và tính mạng của nhân dân. Với thù đoạn trên, địch đạt được một số kết quả nhất định, vùng nông thôn giải phóng có nơi khống còn dân, nhân dân tạm thời ra đô thị, vùng địch kềm để tránh bom đạn và sự khủng bố của địch, nhưng ở nhiều khu vực giải phóng đa số nhân dân vẫn bám trụ với du kích để chiến đấu bảo vệ xóm làng, vùng giải phóng trong tỉnh vân liên hoàn, hành lang vẫn mở rộng, vùng tranh chấp áp sát thị xá, thị trấn, thị tứ. Phong trào nhân dân du kích phát triển cao, thế và lực của ta đang mạnh, địch đang bị tấn công trên nhiều hướng.

Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 3 năm 1965, Trung ương họp Hội nghị lần thứ 11 nhận định: “Từ hơn một năm nay, cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam tiến bộ rất nhanh, thu được những thắng lợi ngày càng to, cuộc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ngày càng bị khủng hoảng và thất bại nghiêm trọng. Đế quốc Mỹ thấy là chúng có thể thất bại hoàn toàn nếu không thay đổi chính sách, cho đến cả thay đổi chiến lược chiến tranh đặc biệt của chúng ở miền Nam.... Cuộc chiến tranh này được đẩy tới mức độ cao, bao gồm một số yếu tố của chiến tranh cục bộ và chiến tranh đã vượt khỏi phạm vi miền Nam lan tới miền Bắc, trước mắt với hình thức ném bom, bắn phá bằng không quân” Hội nghị đề ra nhiệm vụ: Tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở mức độ cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đốỉ ngắn, đồng thời sẵn sàng đối phó và quyết thắng trong cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra”(3).

Trung ương Cục miền Nam chủ trương: Tiếp tục tạo thế, tạo lực, đẩy mạnh tiến công trên các mặt trận, các địa bàn, làm phá sản kế hoạch bình định có trọng điểm, đánh quy quân chủ lực ngụy, làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, tạo thế chủ động chiến trường, sẵn sàng trong tư thế đánh Mỹ nếu chúng liều lĩnh gây ra cuộc “chiến tranh cục bộ”. Thực hiện Nghị quyết của Đảng và căn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương, Tỉnh ủy chủ trương: Đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, chống phá ấp chiến lược. Kêu gọi nhân dân bám ruộng vườn, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tỉnh ủy, huyện ủy phải dồn sức chỉ đạo toàn diện phong trào cách mạng ở địa phương.


(1) Giá trị đồng tiền lúc bấy giờ
(2) Tháng 3 năm 1965, tên trung tá Bùi Vân Sanh thay tên trung tá Vũ Quốc Sử làm tỉnh trưởng.
(3) Nghi quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (lưu trữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:10:06 am
Tiếp tục phát huy thắng lợi bằng ba mũi giáp công, ngày 2 tháng 1 năm 1965, anh Ru Ri, một binh sĩ yêu nước người dân tộc Khơ-me đánh một quả mìn tại công sở Vĩnh Lợi làm chết 4 tên (3 cảnh sát và 1 dân vệ). Đêm ngày 5 tháng 1 năm 1965, du kích xã Vĩnh Lơi diệt gọn một lô cốt ở đầu cầu sắt, cách Sóc Đồn 400m, diệt 5 tên, bắt 1 tên, ta thu 6 súng cạc-bin Ngày 8 tháng 1 năm 1965, biệt động thị xã Bạc Liêu ném lưu đạn vào 1 xe Jép chở bọn Mỹ trên đường Trương Vĩnh Ký (nội thị xã) diệt 2 tên Mỹ và làm bị thương 1 tên Mỹ khác. Đêm ngày 9 tháng 1 năm 1965, du kích xã Long Thạnh đột nhập ấp chiến lược Tân Long (Cầu Sập) diệt tên trưởng ấp ác ôn và bắt giáo dục thả tại chỗ một tên phụ quân. Đêm ngày 15 tháng 1 năm 1965, một binh sĩ yêu nước đánh một quả mìn vào nhà máy điện gây thiệt hại nặng, làm mất điện suốt 3 ngày. Từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 1 năm 1965, lực lượng vũ trang, chính trị và binh vận thị xã Bạc Liêu tiến công hai ấp chiến lược Biển Tây A và Giồng Me, bắt giáo dục tại chỗ 9 tên phòng vệ, thu 9 súng và nhiều đạn, lựu đạn, ta phá sạch tất cả cửa rào ấp chiến lược. Đêm ngày 24 tháng 1 năm 1965, du kích và lực lượng chính trị binh vận xã Long Thạnh vào phá ấp chiến lược Tân Long, phá hủy 2 tháp canh, 400m rào thép gai, nhổ 50 trụ sắt và cắm trở lại đầu ấp 2.000 mũi chông để gài địch. Đêm ngày 27 tháng 1 năm 1965, đội biệt động thị xã Bạc Liêu đột nhập vào 2 đồn địch đóng cách nhau 120 m nằm trên tuyến sân bay và bót hội đồng Điều, ta diệt 22 tên và làm bị thương 8 tên khác, thu 1 trung liên FM, 1 ba-dô-ca, 2 cạc-bin và nhiều quân trang quân dụng. Trận đánh tập kích quy mô khá lớn, diệt gọn địch trong công sự vững chắc và ở cạnh sân bay, làm cho kẻ địch càng lúng túng, bị động và hoang mang hơn lúc nào hết. Buổi sáng ngày 28 tháng 1 năm 1965, nội tuyến đánh 1 quả mìn tại phòng làm việc chỉ huy của sư đoàn 21 tại thị xã Bạc Liêu, kết quả viên đại úy chỉ huy sư đoàn Bùi Văn Kịch chết ngay tai chỗ, một số tên khác bị thương.

Để đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân, Tỉnh ủy mở Hội nghị du kích chiến tranh với chủ trương đưa chiến tranh nhân dân ra tận các vùng kềm, vùng kiểm soát của địch, tiêu diệt thêm nhiều đồn bót, phá rã và làm hỏng thêm nhiều khu ấp chiến lược. Sau hội nghị du kích chiến tranh ở tỉnh, cuối tháng 3 năm 1965, Tỉnh chủ trương cho các huyện Vĩnh Lợi, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, chỉ đạo cho ba xã Hưng Hội, Châu Hưng, Gia Hòa bao vây đồn nhà thờ Nàng Rền. Thời gian bao vây hơn một năm. Riêng hai xã Hưng Hội, Châu Hưng huy động trên 500 du kích xã, ấp gần 10.000 lần lượt dân công, trên 3 triệu mũi chông, đào trên 10.000m chiến hào và kinh chống xe lội nước, hàng nghìn công sự chiến đấu. Ta đánh phản kích trên 50 trận lớn nhỏ, diệt nhiêu tên địch, trong đó có một số tên gian ác. Du kích dùng mìn đánh tan xác 3 xe M113, một chiếc tại đầu xóm Cả Vĩnh, 1 chiếc tại đầu xóm Quốc Kỷ, 1 chiếc tại trường học Chất Đốt. Ta mời giáo dục gần 100 lượt gia đình binh sĩ, làm tan rã 50 tên, trong số rã ngũ có mang ra theo 5 khẩu súng. Thời gian bao vây đồn Nàng Rền địch phản kích ác liệt, có trận địch huy động cả 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 33 sư đoàn 21, có xe M113 yểm trợ. Địch trút xuống các mũi bao vây của ta hàng trăm tấn bom đạn. Vườn tược nhà cửa bị phá sạch, xung quanh các mũi không còn khoảng đất nào nguyên vẹn, nhưng lực lượng du kích vẫn chiến đấu ngoan cường dũng cảm, bất cứ tình huống nào cùng bám mũi. Bao vây đồn Nàng Rền tuy chưa dứt điểm được, nhưng ta rút ra nhiều kình nghiệm trong bao vây đánh lấn: địch quân số đông, công sự vững chắc, vũ khí mạnh, phương tiện chiến tranh hiện đại; ta sử dụng lực lượng nhỏ, mũi nhọn đuôi dài, hậu cần tại chỗ, phát huy ưu thế chiến tranh nhân dân, đánh địch bằng ba mũi, có gì đánh nấy. Thời gian bao vây ta tiêu diệt địch chết và bị thương trên 100 tên, bên ta du kích xã Châu Hưng bị thương 1, du kích xã Hưng Hội hy sinh 2. Trong bao vây xuất hiện nhiều điển hình như: gia đình anh Chín Công ở Châu Hưng, anh cùng ba người con trực tiếp chiến đấu và giữ mũi. Đồng chí Ba Nhật, xã đội trưởng Châu Hưng, chỉ 3 viên đạn diệt 3 tên địch. Nữ đồng chí Mười Lớn, phó bỉ thư xã Hưng Hội vừa điều khiển dân công vừa chỉ huy chiến đấu, đồng chí là một nữ kiện tướng trong bao vây. Đồng chí Tùng, đồng chí Đẩu được kết nạp Đảng tại mũi mới 17 tuổi... Qua bao vây, hai xã Hưng Hội, Châu Hưng được Trung ương tặng thương Huân chương Chiến công hạng ba...

Từ giữa năm 1965, sau thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải chuyến sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam; tháng 3 năm 1965 mới có 27.000 quân Mỹ ở miền Nam, tháng 7 năm 1965 lên 81.400, tháng 10 lên 148.300 và tháng 12 năm 1965 lên tới 181.000. Mỹ cũng thúc ép một số nước đồng minh của Mỹ như Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan... đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Cho đến cuối năm 1966 trên chiến trường miền Nam Việt Nam đã có trên 76.000 quân Mỹ, quân của chính quyền Sài Gòn và Phi-lip-pin, đảo Gu-am, Ô-ki-na-oa... sẵn sàng phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Giữa năm 1965, lần đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long, Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B52, rải bom xuống Rạch Gốc (xã Tân Ân, Cà Mau). Cũng từ năm 1965, máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Hà Nội, Hải Phòng... nhằm gây sức ép với miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc với miền Nam, hòng làm lung lay quyết tâm kháng chiến của nhân dân và nâng đỡ tinh thần ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn.

Phong trào tiến công mạnh mẽ và liên tục của quân dân trong tỉnh đã làm thối động hàng ngũ của địch ở hậu phương. Từ giữa năm 1965, bọn địch chủ yếu là củng cố phòng thủ và hoạt động nhò nhằm ngăn chặn sự tiến công của quân ta, toàn tỉnh chỉ còn khoảng 70 đồn bót (trừ hai thị xã); ta giải phóng trên 10 xã, nhiều xã giải phóng phân nửa hoặc 2/3, nhiều vùng tranh chấp từ thế yếu chuyển lên thế mạnh, nhiều ấp chiến lược bị tan rã.

Qua hơn 4 năm cùng với quân dân miền Nam chống lại cuộc “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, Đảng bộ và quân dân tỉnh đã liên tục giành được thắng lợi ngày càng lởn. Thế và lực của ta mạnh lên, lực lượng chính trị, vũ trang phát triển toàn diện về số lượng và chất lượng. Thế của địch yếu dần, chúng phải co cụm, phòng thủ đối phó. Thắng lợi của quân dân Sóc Trăng - Bạc Liêu đã góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện giành nhiều thắng lợi mới ở địa phương trong giai đoạn tiếp sau.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:02 am
Chương bốn

ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG
CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(7/1965 -1968)

I. ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH TÌM DIỆT VÀ BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH (7/1965 - 1967)

Từ giữa năm 1965, để cứu quân ngụy khỏi sụp đổ, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam ngày càng nhiều, chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Mục tiêu chủ yếu của chiến lược “chiến tranh cục bộ” là đánh bại cách mạng miền Nam Việt Nam trong vòng 25 đến 30 tháng. Từ giữa năm 1965, tại địa bàn Sóc Trăng - Bạc Liêu, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”, nhưng chưa đưa các đơn vị chiến đấu quân viễn chinh vào chiến trường này. Chủ yếu là chúng tăng thêm cố vấn và sĩ quan Mỹ vào các cơ quan chỉ huy tác chiến, đồng thời tăng cường sử dụng đến mức cao nhất hỏa lực không quân, hải quân và pháo binh để đánh phá có tính chất hủy diệt vùng giải phóng yểm trợ cho quân ngụy càn quét, bình định.

Ở Bạc Liêu, tháng 7 năm 1965, địch bổ sung cho đơn vị biệt động quân số 42, tăng quân số 2 tiểu đoàn bảo an 448 và 411, tổ chức nhiều toán biệt kích, Trung đoàn 32 (của sư đoàn 21) thường xuyên túc trực ở đây, Song song với tăng quân số, địch tăng cường phương tiện chiến tranh hiện đại như: máy bay ném bom, trinh sát, trực thăng vũ trang chở quân, nhiều xe bọc thép, tàu chiến, pháo hạm, ham đội nhỏ, nhiều loại thuyền cao tốc, hải thuyền, giang thuyền, v.v… Chúng đưa xuống Sóc Trăng - Bạc Liêu một trung đoán thiết xa vận gồm 3 chiến đoàn: chiến đoàn 2/9 đóng ở Sóc Trăng; chiến đoàn 4/9 đóng ở Bạc Liệu; chiến đoàn 3/9 cơ động. Đi đôi với việc đánh phá bằng bom đạn, địch mở các cuộc hành quân càn quét dài ngày kết hợp với biệt kích đánh phá liên tục vào vùng giải phóng và vùng tranh chấp, tiếp tục rải chất độc hóa học triệt phá địa hình căn cứ cách mạng, vùng giải phóng, đánh phá hành lang giao thông vận chuyển của ta, tăng cường hoạt động do thám gián diệp, chiến tranh tâm lý.

Trước ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ngày 20 tháng 7 năm 1985, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lởi kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước. đồng miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng kiên quyết chiến đấu, dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ngày 3 tháng 8 năm 1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng xác định lập trường sắt đá của 14 triệu đồng bào miền Nam “Sẽ hy sinh tất cả thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc, giành độc lập hoàn toàn”.

Được sự chỉ đạo của Khu ủy, đầu tháng 8 năm 1965, Tỉnh ủy mở đợt sinh hoạt chính trị, phát động trong Đảng bộ, các lực lượng vũ trang, ban ngành đoàn thể và nhân dân nhận thức đúng tình hình, không ngán ngai đánh Mỹ, chủ động đánh Mỹ, quán triệt nội dung lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tuyên bố của Mặt trận Dân lộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm xây dựng một quyết tâm sát đá: đánh Mỹ và thắng Mỹ. Ban chỉ huy Tỉnh đội tổ chức hội nghị bồi dưỡng kiến thức quân sự, phòng tránh phi pháo, lập trận địa bắn máy bay địch. Qua đợt chỉnh huấn, luyện quân, cán bộ, chiến sĩ đều nâng cao được ý chí chiến đấu, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đêm 6 tháng 8 năm 1965, địa phương quân huyện Hồng Dàn phối hợp với một bộ phận đặc công của tỉnh tiến công đánh thiệt hại nặng đồn Phó Sinh, địch chết và bị thương 18 tên. Sáng ngày 8 tháng 8 năm 1965, địch cho máy bay ném bom dọc theo bờ xáng Xã Thoàng vô Kênh Nhỏ, làm hàng chục người chết và bị thương, 20 nhà của đồng bào bị cháy. Trên 1.300 đồng bào Kênh Nhỏ và hai bờ sông Xã Thoàng chở thi hài những ngươi do máy bay địch giết hại ra tại quận Phước Long buộc chúng phải đền mạng và điều trị những người bị thương. Cuộc đấu tranh kéo dài giằng co quyết liệt, nhiều gia đình người thân bị chết tràn lên tới cửa dinh quận. Tên quận trưởng phải bồi thường hàng trăm nghìn đồng cho những người chết. Số người bị thương địch cho vào nhà thương điều trị, đồng thời hứa giải quyết những yêu sách của đồng bào ta.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:29 am
Đêm 28 tháng 8 năm 1965. một bộ phận của tiểu đoàn Phú Lợi cùng địa phương quân huyện Hồng Dân đánh tập kích dã ngoại, tiêu diệt 1 đại đội bảo an và 1 đoàn bình định của địch tại chợ Phó Sinh, bắn sập 1 góc đồn, diệt và làm bị thương gần 100 tên địch, thu 52 súng (có 5 trung liên). Kế hoạch bình định khu vực ba xã Phước Long, Ninh Thạnh Lơi và Phong Thạnh của địch bị đánh gãy.

Giữa tháng 10 năm 1965, trung đoàn 32 (sư đoàn 21 ngụy) phối hợp với lữ đoàn thiết giáp, có 32 xe M113 và máy bay ném bom yểm trợ, dùng trực thăng đổ quân xuống các xã Gia Hòa, Hòa Tú, Hưng Hội bằng trực thăng để tìm và diệt Tiểu đoàn Phú Lợi. Ba ngày đầu ta ém quân, địch xua quân đi lùng sục, vấp phải những bãi mìn, hầm chông, chịu nhiều tổn thất. Đến ngày thứ tư thi địch bị tiểu đoàn Phú Lợi cùng địa phương quân huyện, du kích xã đồng loạt nổ súng tiêu diệt chúng ở ba ấp, Tân Hòa, An Hòa. Hiệp Hòa. Địch phải chạy dạt ra cánh đồng Tân Hòa và cụm lại ở đó. Bị thiệt hại nặng địch không dám rút quân đường bộ. Đến ngày thứ năm, chúng phải dùng máy bay rút toàn bộ quân ra khỏi mặt trận. Qua 5 ngày đêm chiến đấu. ta đánh thiệt hai nặng trung đoàn 32 (sư đoàn 21), loại khỏi vòng chiến đấu 380 tên, bắn cháy 3 xe M113, bắn rơi tại chỗ 3 trực tháng, bắn bị thương 6 chiếc trực thăng khác.

Ngày 13 tháng 10 năm 1965, một trung đội dân vệ xã Long Điền Tây kết hợp với một trung đội bảo an Giá Rai càn vào ấp Thạnh Trị (xã Long Điền Tây). Du kích xã Long Điền Tây phục kích nổ súng diệt tại chỗ 21 tên, thu 15 súng (có 1 đại liên) và 1 máy thông tin vô tuyến điện PRC25. Lực lượng ta tiếp tục phục kích đánh trung đội dân vệ từ Giá Rai vào để chi viện. Trận này ta dùng thủ pháo, lựu đạn đánh cấp tập vào đội hình địch, chỉ trong vòng 45 phút, diệt thêm 13 tên thu 8 súng. Chiến thắng trên làm nức lòng quân dân trong huyện.

Đêm 20 tháng 10 năm 1965, anh Nguyễn Văn Tròn (nội tuyến) phục vụ địa phương quân huyện Hồng Dân đánh giáp lá cà diệt gọn đồn dân vệ Lộc Ninh, diệt 30 tên (có tên Quách Văn Hớn, trưởng đồn), ta thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng.

Đêm 27 tháng 10 năm 1965, biệt động thị xã Bạc Liêu đánh 2 lô cốt nằm trên tuyến sân bay bót Hội đồng Điều, làm địch chết 22 tên, bị thương 8 tên, ta thu 4 súng (1FM, 1 ba-dô-ka, 2 cạc-bin) và nhiều quân trang quân dụng.

Tháng 10 năm 1966, Khu ủy Tây Nam Bộ tặng thưởng đại hội Đảng bộ, quân dân thị xã Bạc Liêu lá cờ mang dòng chữ “Thị xã Bạc Liêu, ngọn cờ đầu đánh hậu cứ diệt Mỹ và tay sai trong tỉnh”. Đánh hậu cứ địch có hiệu quả là do Đảng bộ thị xã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân khá tốt, cơ sở chính trị vững vàng trong nội bộ, có căn cứ giải phóng và phong trào du kích áp sát thị xã. Đồng thời cũng do Đảng bộ quan tâm xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang có cách đánh và tổ chức thích hợp.

Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1965, sư đoàn 21 ngụy và tiểu khu Bạc Liêu mở nhiều cuộc càn lớn dài ngày vào vùng tiếp giáp Vĩnh Lợi - Thạnh Trị - Mỹ Xuyên. Mỗi cuộc càn, địch sử dụng từ 1.000 đến 1500 quân, có nhiều xe bọc thép, kết hợp với máy bay, tàu chiến. Địch bị các lực lượng vũ trang của ta đánh đau, gây thiệt hại nặng, nhiều tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 12 tàu sắt bị bắn chìm, 6 xe M113 bị bắn cháy và hư, 15 trực thăng bị bắn rơi và bị thương.

Ngày 27 tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12 nhận định: “Quân viễn chinh Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, không quân, hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc nhung tính chất cơ bản chiến tranh của Mỹ vẫn là chiến tranh xâm lược thực dân mới. Tuy Mỹ có tăng lực lượng quân sự lớn nhưng chúng có những chỗ yếu cơ bản, nhất là về chính trị. Quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, tính chất ác liệt của chiến tranh tăng lên gây cho ta nhiều khó khăn, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản không thay đổi, ta vẫn giữ và phát huy thế tiến công của chiến tranh nhân dân ở miền Nam”.

Cuối năm 1965, khi đã tăng quân trên chiến trường miền Nam lên tới 72 vạn tên (có 18 vạn quân Mỹ, 2 vạn quân Nam Triều Tiên) với trên 2.000 máy bay (có 600 máy bay chiến đấu) đế quốc Mỹ bắt đầu cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất để thực hiện mục tiêu “tìm diệt”, “bẻ gãy xương sống Việt cộng”. Tháng 1 năm 1966, Mỹ - ngụy hùng hổ ra quân nhằm vào hai chiến trường chính là đồng bằng Khu 5 và miền Đông Nam bộ. Đến tháng 4 năm 1966, địch buộc phải chấm dứt cuộc phản công vì bị quân dân ta đánh thiệt hại nặng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Một, 2019, 06:13:48 am
Bước vào năm 1966, đi đôi với đánh phá bằng quân sự, địch đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý, dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc, dụ dỗ cán bộ ta để chiêu hồi, dùng do thám, gián điệp dò la nơi ăn ở của lực lượng ta, cả cấp lãnh đạo ở địa phương để đánh phá, tiêu diệt, ở vùng giải phóng địch tăng cường đánh phá bằng phi pháo, ngày đêm thả bom trộm(1) vào vùng căn cứ cách mạng và vùng đồng bào sống tập trung làm thiệt hại về người và tài sản, gây hoang mang trong nhân dân. Bọn địch còn bắn, giết trâu bò để phá ta về kinh tế, sản xuất nông nghiệp bị ngưng trệ, không cung ứng đủ lương thực cho kháng chiến và làm cho đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Qua đó chúng khống chế buộc nhân dân phải tập trung vào các ấp tân sinh(2) hòng thực hiện âm mưu “tát nước bắt cá” tách Đảng ra khỏi nhân dân để ta không xây dựng được phong trào cách mạng trong quần chúng.

Tiếp tục phát huy thành quả cách mạng, Tỉnh ủy phát động mạnh mẽ phong trào đấu tranh sâu rộng trong toàn tỉnh với quyết tâm giữ thế liên tục tiến công ở các vùng: vùng ven, vùng ngoại ô tranh chấp và ngay tận sào huyệt địch, giành và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân. Để chuẩn bị cho đợt tiến công mới, Tỉnh ủy chỉ đạo điều chỉnh, bố trí lại lực lượng vũ trang trong tỉnh, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động xây dựng vùng giải phóng vững mạnh làm hậu phương trực tiếp cho các lực lượng vũ trang chiến đấu góp phần tạo thắng lợi mới cho các đợt tiến công. Nhân dân ở vùng giải phóng và vùng ven thị xã, thị trấn đẩy mạnh xây dựng ấp, xã chiến đấu, đào kênh, vét mương, trồng cây cải tạo địa hình, đặc biệt phát động phong trào nhặt bom, đạn lép để cải tiến thành mìn đánh địch. Công binh xưởng tỉnh dựa vào nhân dân thu gom hỏa tiễn của máy bay địch bắn không nổ chế tạo thành pháo công đồn có sức công phá như ĐKZ 75. Cơ quan an ninh tỉnh phối hợp vói các ngành dân vận và quân sự tỉnh tổ chức nhiều phiên tòa xét xử bọn lao động, đồng thời giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng, phong trào bảo mật trong nhân dân. Đời sống nhân dân trong vùng giải phóng được nâng cao, tạo thêm khả năng làm hậu cần nhân dân của tỉnh, vừa đáp ứng nhu cẩu của địa phương, lại còn bảo đảm cho chủ lực khu đang hoạt động trên địa bàn tỉnh và đóng góp về trên. Thực hiện chỉ thị của Khu ủy, Tỉnh ủy phân công cán bộ tỉnh, huyện xuống cơ sở chỉ đạo, đẩy mạnh công tác xây dựng chi bộ, củng cố các đoản thể giải phóng, cùng cố phong trào chiến tranh du kích. Tỉnh đội tổ chức học tập nâng cao trinh độ chính trị, giải quyết tư tưởng, phổ biến kinh nghiệm tác chiến trong lực lượng vũ trang địa phương. Những chiến thắng vang dội của ta đã động viên hầu hết nam giới ở các xã, ấp giải phóng và tranh chấp vào dân quân du kích.

Sáng ngày 12 tháng 1 năm 1966, hai chiến sĩ nữ trong đội biệt động thị xã Bạc Liêu là Nguyễn Thị Sảnh (Sáu Hùng) và Trần Thị Hoa (Mười Hoa) đưa 1 quả mìn 50kg từ vùng căn cứ ra nội ô thị xã Bạc Liêu. Mìn đặt trong thùng cá hai đáy, dưới đáy là mìn, phần trên là nước có rộng cá lóc. Xuồng chở mìn phải đậu cách xa mực tiêu 300m trên kinh Cả Phượng (góc ngã ba Lý Tự Trọng về Ngô Gia Tự hiện nay). Hai đồng chí phải dốc hết sức khiêng thùng cá đựng quả mìn trọng lượng chung gần 100kg di chuyển trên vùng nhiều nguy hiểm đe dọa. Khi đến mục tiêu, hai đồng chí đặt thùng “cá mìn” xuống đất, nắm dây giựt kíp, vừa giựt vừa chạy, mỗi người một ngả. Lúc ấy là 8 giờ 30 phút sáng. Tiếng nổ long trời chấn động cả nội ô, địch thương vong hàng chục tên, địch đuổi theo và bắt được đồng chí Sáu Hùng. Chúng tra tấn đồng chí vô cùng tàn nhẫn, sau đó đưa đồng chí ra tòa tỉnh Bạc Liêu tuyên án tử hình(3) đồng chí Sáu Hùng không hề nao núng, hô to các khẩu hiệu: Đả đảo tòa án tay sai! Đả đảo Mỹ - ngụy! Đảng lao động Việt Nam muôn năm!

Ngày 16 tháng 1 năm 1966, đại đội pháo binh của tỉnh dùng cối 82 bắn vào hậu cứ sư đoàn 21, sân bay Bạc Liêu, căn cứ pháo binh (bót hội đồng Điều) gây cho địch nhiều thiệt hại. Qua ngày sau địch dùng máy bay, pháo bộ binh đánh phá quyết liệt vào cấc ấp ven biển thuộc xã Vĩnh Lợi và xã Vĩnh Mỹ A huyện Vĩnh Lợi. Sau đó, chúng đóng đồn Xóm Lẫm, Ranh Làng, Nhà Mát, cua quẹo ấp Đầu Lộ 1, đồn số 6, số 9, số 10. số 12. Chúng đóng tất cả 8 đồn làm cho chi bộ xã Vinh Lợi gặp nhiều khó khăn không bám được dân, đại bộ phận bị đánh dạt ra rừng mắm, chỉ còn lại số cán bộ hợp pháp ở lại bám cơ sở.


(1) Bom trộm: địch dùng máy bay B57 thả bom vào ban đêm, mỗi lần thả từ 3 đến 5 trái loại 500kg có sức công phá cực mạnh.
(2) Từ năm 1965 địch gọi “ấp chiến lược”“ấp tân sinh”, nhưng nội dung, tính chất và hình thức không thay đổi.
(3) Đồng chí Nguyễn Thị Sảnh (Sáu Hùng) chống án tử hình, sau tòa án ngụy xử chung thân, đày đi Côn Đảo. Năm 1973, được trao trả tại Lộc Ninh. Hiện nay đồng chí ở huyện Hồng Dân, được nghỉ chính sách. Lúc bị địch bắt là đảng viên dự bị, lúc ở tù được chi bộ nhà tù công nhận đảng viên chính thức.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:01:12 am
Trong tháng 1 năm 1966, tại huyện Hồng Dân địch đóng thêm 5 đồn gồm: đồn Miễu Bà, đồn Sư Liên, đón Mồ Côi, đồn Vàm Xáng, đồn Vàm Ngang Dừa. Toàn huyện quân số địch tăng lên 678 tên có 23 cố vấn Mỹ

Đồn nhà thờ Nàng Rền bị ta bao vây từ năm 1965 bằng ba mũi giáp công (chính trị, binh vận, vũ trang) có lực lượng an ninh tỉnh, huyện tham gia, tỉnh đến ngày 27 tháng 2 năm 1966 ta diệt và làm bị thương 150 tên địch.

Trên cơ sở hình thái chung của cả nước và từ thực tiễn chiến trường miền Nam, tháng 2 năm 1966. Quân ủy Trung ương đề ra 6 phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang ta:

1 - Đẩy mạnh tác chiến tập trung, mở những chiến dịch vừa và lớn của bộ đội chủ lực trên những hướng quan trọng.

2 - Đẩy mạnh chiến tranh du kích, bộ đội địa phương và một bộ phận của quân chủ lực.

3 - Đánh phá các cơ sở hậu cứ, các cơ quan đầu não của địch.

4 - Phát triển cách đánh giao thông.

5 - Kết hợp hoạt động vũ trang chính trị của quần chúng ở đô thị và vùng ven.

6 – Phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và binh vận.

Phong trào du kích chiến tranh, bao vây đánh lấn, bao vây bắn tỉa trong mùa khô 1966 phát triển mạnh. Các điểm bao vây đánh lấn của các nơi trong tỉnh ngày càng siết chặt như: chi khu Phước Long, đồn nhà thở Nàng Rền, các đồn Trà Âu, Ê-vơ-ra, Phó Sinh, Cây Bàng, Cổ Cò... du kích bao vây bắn tỉa làm chết và bị thương hơn 500 tên địch, làm rã hàng trăm tên khác.

Ngày 5 tháng 6 năm 1966, biệt động thị xã Bạc Liêu cường tập diệt toàn bộ lính đồn cảnh sát (trạm kiểm tra ra vào thị xã Bạc Liêu) ở góc đường Võ Thị Sáu và Trần Huỳnh ngày nay, làm chết và bị thương 8 tên, thu 6 súng và tất cả quân trang, quân dụng. Ngày 7 tháng 6 năm 1966, một tiểu đoàn biệt động ngụy từ Bạc Liêu đến chi khu Phước Long kết hợp đại đội bảo an 564, có 5 tên Mỹ, mở đợt cản phá vùng căn cứ xã Ninh Thạnh Lợi. Chúng vừa đến kinh Ranh, lọt vào ấp, xã chiến đấu liền bị du kích xã Ninh Thạnh Lợi chống càn quyết liệt kết hợp các ổ ong vò vẽ và hầm chông, bãi lửa. Qua hơn một buổi chống càn 3 đợt, địch chết 7 tên; 3 tên lọt vào hầm chông, 2 tên Mỹ bị ong vò vẽ đánh bị thương, cuộc càn bị bẻ gãy.

Ngày 12 tháng 6 năm 1966, bọn địch ở chi khu Phước Long biệt kích vào xóm Kinh Nhỏ - xã Thoàng. Đúng 5 giờ sáng địch nổ súng xông vào xóm nhà lục soát. Em Trần Văn Hòa (14 tuổi) căm thù giặc sau đợt máy bay ném bom giết hại đồng bào ở kinh nhỏ (tháng 8 năm 1964) trong đó có mẹ ruột của Hòa, em quyết đi bộ đội và xin một quả lựu đạn để trả thù cho mẹ và bà con, cuối cùng em nhận được một quả lựu đạn M26 và trở thành “trinh liên” của địa phương quân Hồng Dân. Lúc địch nổ súng vào xóm, Hòa bình tĩnh ném lựu đạn vào chỗ bọn lính đang tập trung, 2 tên chết tại chỗ, 3 tên khác bị thương nặng, quân địch tràn lên giết chết em Hòa. Trần Văn Hòa hy sinh một cách quả cảm, chiến công này có đăng trên báo “Quân giải phóng” lúc bấy giờ và được cấp trên cấp bằng khen. Chiến công của Hòa mở màn cho phong trào thiếu niên đánh Mỹ diệt ngụy sau này.

Giữa năm 1966(1), địch đưa một chiếc xáng để đào bao quanh thị xã Bạc Liêu về hướng đông bắc từ Cầu Xáng (phường 1 ngày nay) vòng cung tới Trà Kha (phường 8 ngày nay). Ý đồ của địch là tạo tuyến ngăn cách không để cho lực lượng cách mạng tiến công vào thị xã từ hướng này. Địch huy động hàng trăm quân chủ lực, bảo an, cảnh sát bảo vệ chiếc xáng. Thực hiện quyết tẩm của cấp ủy là kiên quyết phá hỏng âm mưu của chúng, lực lượng vũ trang thị xã Bạc Liêu tấn công địch cả đêm lẫn ngày ròng rã gần 4 thắng, làm chết và bị thương trên 30 tên, cuối cùng đồng chí Mười Hoa (nữ biệt động thị xã) hóa trang dùng mìn đánh kỳ tập nhận chìm chiếc xáng tại cầu quay Bạc Liêu.

Tháng 10 năm 1966, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền mở Hội nghị về chiến tranh du kích toàn miền lần thứ ba. Hội nghị chủ trương ra sức phát động quần chúng tham gia kháng chiến, chấn chỉnh tổ chức và tăng cường lực lượng dân quân du kích, tìm ra những hình thức thích hợp để nhân dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu có hiệu quả cao.

Trong năm 1966, lực lượng vũ trang và bán vũ trang trong toàn tỉnh đánh địch trên 860 trận, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, trong đó có 75 tên Mỹ; phá hủy và bắn rơi hơn 100 máy bay, 45 xe quân sự, 7 tàu chiến, thu 320 súng các loại. Vùng giải phóng mở rộng thêm 10 xã.


(1) Địch đưa tên trung tá Lâm Chánh Ngôn (thay tên Sảnh) làm tỉnh trưởng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:03:09 am
Năm 1967, địch tiếp tục đánh phá mạnh hơn ở vùng ven hai thị xã Sóc Trăng, Bạc Liêu và các căn cứ cách mạng của tỉnh, huyện. Địch tiến hành bình định nông thôn, lấn chiếm vùng giải phóng nhằm phá chỗ dựa của cách mạng. Chúng còn dùng thủ đoạn đem hàng hóa Mỹ ra bày trò viện trợ cấp phát, cứu tế để lừa bịp, mua chuộc nhân dân ở các vùng ven và nội ô thị xã. Năm 1967, địch tăng cường nhiều lực lượng, đẩy mạnh cân quét, đánh phá bằng bom pháo, quyết tâm thực hiện kế hoạch chiến lược “tìm diệt và bình định”, củng cố tỉnh lỵ Bạc Liêu thành căn cứ an toàn của chúng.

Phương hướng nhiệm vụ năm 1967 của ta là: Khẩn trương, tăng cường phát triển các lực lượng vũ trang, an ninh, binh vận cả về số lượng, bám chắc địa bàn, liên tục tấn công vào các vùng yếu như ven thị xã, thị trấn, đánh vào chỗ mạnh tạm thời của địch (như cơ giới, sân bay, kho tàng, phương tiện) quyết tâm phá kềm, diệt ác làm cho hậu phương địch luôn luôn không ổn định, hỗ trợ đắc lực phong trào đấu tranh chính trị ở thi xã, thị trấn.

Để thực hiện nhiệm vu năm 1967, Tỉnh ủy chỉ đạo tập trung mở một đợt phát động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, quyết tâm vượt mọi khó khăn, đẩy mạnh hoạt động vũ trang, chính trị và binh vận; liên tiếp tiến công địch, quyết đánh gãy kẽ hoạch mùa khô năm 1967 của địch trên chiến trưởng Sóc Trăng, Bạc Liêu. Từ năm 1967, công tác tuyên truyền phát động quần chúng được đẩy mạnh, tuyên truyền thắng lợi của ta trong năm 1966 và tình hình nhiệm vụ năm 1967.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, quân dân ta đã liên tục tiến công địch, lực lượng ba thứ quân kết hợp với phát triển đấu tranh chính trị và binh vận mở nhiều đợt tiến công phá rã nhiều ấp tân sinh, đánh đồn, diệt viện, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phát triển phụ nữ tham gia hoạt động vũ trang cùng tiến lên một bước mới, nhất là các chiến sĩ nữ biệt động thị xã Bạc Liêu và trung đội địa phương quân nữ huyện Giá Rai(1).

Đêm 3 tháng 2 năm 1967 địa phương quân huyện Hồng Dân kết hợp phân đội đặc công tỉnh đánh vào trụ sở hội đồng xã Lộc Ninh. Chỉ trong vòng 15 phút chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt 19 tên, bắt sống 3 tên, thu 21 súng các loại, 1 máy đánh chữ và nhiều tài liệu quan trọng.

Từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 3 năm 1967, lực lượng địa phương quân huyện Hồng Dân kết hợp du kích xã Phước Long bao vây đồn Phó Sinh suốt 5 ngày liền, diệt và làm bị thương 12 tên địch. Ngày 17 tháng 3 năm 1967, địa phương quân huyện Hồng Dân kết hợp địa phương quân huyện Thạnh Trị và đơn vị 309 (chủ lực Khu) đánh thiệt hại nặng khu Ngã Năm và diệt 2 đồn Xóm Gạo, Cầu Đỏ.

Tháng 4 năm 1967, sau nhiều lần bị ta pháo kích vào sào huyệt, tiểu khu Bạc Liêu đưa 2 tiểu đoàn bảo an vào đóng ở Hoành Tấu (Vĩnh Mỹ A), Công Điền (Châu Thới), Lúc đầu chúng đóng ở Giá Choại, sau dời qua Mặc Đây Nhò (Châu Hưng), mục đích để án ngữ bảo vệ thị xã và hỗ trợ cho chương trình bình định nông thôn. Các tiểu đoàn này đóng sâu vào vùng căn cứ gây cho ta nhiều khó khăn về ăn ở, hoạt động, đi lại. Các ấp ven biển hai xã Vĩnh Mỹ A, Vĩnh Lợi; các ấp Giá Tiểu, Giá Đại, Xẻo Lá (Hưng Hội), Công Điền, Cái Điều, Nàng Rền, Xóm Lớn (Châu Thới), Mặc Đây, Bà Chăng, Thông Lưu A, Thống Lưu B (Châu Hưng) và một số ấp của xã Long Thạnh... Nhân dân bỏ nhà chạy ra vùng kềm. Trước tình hình trên, Huyện ủy Vĩnh Lợi phân công các đồng chí trong Ban thường vụ Huyện ủy xuống các xã bàn kế hoạch đối phó, trước mắt bằng mọi cách phải đánh phủ đầu địch. Trong thời gian ngăn, du kích ba xã: Vĩnh Mỹ A, Châu Thới, Châu Hưng kết hợp với bộ phận trình sát của huyện Vĩnh Lợi mưu trí, dựa vào sức mình, có gì đánh nấy, với tư tưởng tiến công, chỉ trong thời gian hơn một tháng, đánh liên tục 10 trận diệt và làm bị thương 207 tên địch, thu 16 súng. Bước đầu làm cho tiểu đoàn đóng dã ngoại hoang mang lo sợ, ăn ngủ không yên, ban đêm phải dời chỗ đóng quân liên tục, ban ngày không còn dám đi lè tẻ cướp giật của dân.

Cuối tháng 8 năm 1967, ở huyện Hồng Dân, địa phương quân kết hợp với lực lượng du kích bao vây các đồn ngã tư Phó Sinh, đồn Vàm Xáng, tiêu hao nhiều sinh lực, địch hoang mang rút chạy về chi khu.

Tại thị xã Bạc Liêu, ngày 1 tháng 9 năm 1967, đội biệt động thị xã dùng mìn định hướng đánh doanh trại của đội thám báo thuộc sư đoàn 21 ngụy, tiêu diệt trên 20 tên địch. Tiếp theo đó, ta tổ chức pháo kích vào tiểu khu, hậu cứ sư đoàn 21 và hậu cứ tiểu đoàn 411 (ở Tu Muối) gây cho địch nhiều thiệt hại. Giữa tháng 10 năm 1967, dựa vào cơ sở cách mạng tại chỗ, lực lượng võ trang thị xã đã tập kích tiêu diệt 2 đoàn bình định Trà Kha B và Trà Văn. Những ngày cuối tháng 9 năm 1967 pháo binh quân khu cùng lực lượng vũ trang thị xỉ Bạc Liêu pháo kích 2 đêm liền bằng cối 8 vào tiểu khu, vào hậu cứ Sư đoàn 21 và hậu cứ tiểu đoàn bảo an 442 (ở Tu Muối) gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ngày 20 tháng 12 năm 1967, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra lệnh ngừng tiến công quân sự vào lễ Nôel (ngày 25 tháng 12 năm 1967). Ngày 25 tháng 12 năm 1967, lực lượng ta đấu tranh chính trị đồng loạt tiến công vào thị xã, thị trấn vùng yếu và vùng kềm. Tại thị xã Sóc Trăng và Bạc Liêu có đến gần 20 nghìn đồng bào tham gia đấu tranh; riêng thị xã Bạc Liêu, lực lượng nội ô và bèn ngoài vào len tới 9.000 người, đoàn đấu tranh trương băng, khẩu hiệu: đòi Mỹ cút về nước, đòi chấm dứt chiến tranh, chống bắt lính đôn quân. Địch tập trung ngăn chận, khủng bố, bắt hố khẩu hiệu chổng cộng. Làn sóng phản đối lên cao, lực lượng đấu tranh không hô khẩu hiệu chống cộng mà hô chống bắt lính đôn quân, chống bắt bớ đánh đập, đòi Mỹ cút về nước và giành giật số người bị địch bắt. Đại bộ phận binh sĩ đồng tình với cuộc đấu tranh, phản đối trong ngày lễ Nôel mà bắt người đánh đập, họ không chịu cùng với lực lượng cảnh sát đàn áp cuộc đấu tranh. Trước khí thế mạnh mẽ của quần chúng, địch buộc phải thả một số. nhưng chúng vẫn còn giữ lai gần 100 người; hôm sau, ta tiếp tục đấu tranh buộc chúng phải thả hết. Cùng thời gian này, ở huyện Thạnh Trị có hơn 1.000 người biểu tình trên tuyến Cầu Trâu - Cái Dầy. Ở thị trấn Phước Long. 500 đồng bào trực diện đấu tranh tại huyện lỵ. Kết quả cuộc đấu tranh ngày 25 tháng 12 năm 1967 trong toàn tỉnh đã giành được thắng lợi gây nhiều ảnh hường tốt.

Năm 1967, bằng ba mũi giáp công, quân dân tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, phá rã lỏng gần 100 ấp tân sinh, làm thiệt hại nặng 7 đại đội, 3 đoàn bình định, 2 tiểu đoàn chủ lực, bắn cháy và hỏng 13 máy bay, phá hư 71 xe quân sự, bắn chìm và cháy 25 tàu, xuồng chiến đấu. Phong trào dũng sĩ diệt Mỹ - ngụy, diệt cơ giới và phong trào du kích chiến tranh phát triển rộng khắp. Lực lượng vũ trang, an ninh, binh vận được củng cố và tăng cường, phong trào đấu tranh chính trị ở hai thị xã có bước phát triển tốt. Địa bàn hoạt động của tỉnh được mở rộng. Các trận đánh ta thường nhằm vào chỗ hiểm yếu của địch như đánh vào phương tiện chiến tranh (máy bay, xe cơ giới...), cầu, đường giao thông chiến lược, đồn lô cốt quan trọng, đài truyền thanh và lực lượng quân sự cơ động, đưa chiến tranh nhân dân tiến sát vào thị xã, thị trấn và thường diễn ra ngay tại sào huyệt địch.


(1) Thành lập giữa năm 1966, do đ/c Bảy Xô (nữ) làm trung đội trưởng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:05:28 am
II. TỔNG TIỀN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968) TẠI BẠC LIÊU

Trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, Mỹ - ngụy thất bại nặng nề, chúng có sự điều chỉnh biện pháp chiến lược, tăng cường đánh phá miền Nam, chuyển từ “tìm diệt và bình định” sang “quét và giữ”. Với đà thắng lợi của cách mạng miền Nam, tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Bộ Chính trị xác định “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân của cả hai miền đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”(1).

Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 12 năm 1967 đã được Hội nghị lẩn thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết thông qua tháng 1 năm 1968. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, quân và dân ta khẩn trương chuẩn bị cả về tinh thần và vật chất cho cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân. Sự chuẩn bị của ta với khí thế sôi sục nhưng bề ngoài bình lặng bí mật tới giờ nổ súng. Mỹ - ngụy cũng phán đoán ta chuẩn bị đánh lớn nhưng hướng tiến công, quy mô, hình thức, lực lượng ta ra sao thì chúng không hề biết. Vì thế, giáp Tết Mậu Thần, địch chỉ báo động sẵn sàng chiến đấu. Chiều 30 Tết(2), địch hủy bỏ lệnh nghỉ tết, gọi binh sĩ trở về doanh trại và tăng cường phòng thủ, ngoài ra chúng chưa có biện pháp gì cụ thể.

Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, trung tuần tháng 1 năm 1968, Tỉnh ủy họp tại Cái Cui, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, đánh giá tình hình năm 1967, đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1968, Hội nghị họp được 3 ngày thì đồng chí Nguyên Văn Hơn (Hai Tân), Bí thư Tỉnh ủy nhận điện của Khu ủy mời họp khẩn cấp. Đồng chí Lê Văn Mỹ (Năm A), Phó Bí thư Tỉnh ủy tiếp tục điều hành hội nghị.

Ngày 25 tháng 1 năm 1968, đồng chí Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân) đi họp ở Khu về truyền đạt lệnh tổng tiến công và nổi dậy của tỉnh, gồm 8 đồng chí: do đồng chí Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban. Ngay sau đó Ban Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập cấp tốc Ban cán sự Tỉnh đội bàn kế hoạch và bố trí lực lượng tổng tiến công ở hai thị xã và quyết tâm nỗ lực khắc phục mọi khó khăn trở ngại để lãnh đạo chỉ đạo các lực lượng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ lịch sử.

Mục tiêu chủ yếu ở hai thị xã được xác định: Đánh diệt cơ quan đầu nào của địch, diệt lực lượng bảo an nòng cốt, làm tổn thất nặng phương tiện chiến tranh của địch, cùng với tổ chức quân chúng nổi dậy khởi nghĩa thực hiện nhiệm vụ giải phóng hai thị xã.

Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Ban Thưởng vụ Tỉnh ủy quyết định thành lập Ban chỉ huy tổng tiến công và nổi dậy ở thị xã Sóc Trăng (trọng điểm 1 của tỉnh), thị xã Bạc Liêu (trọng điểm 2 của tỉnh) và Ban phụ trách đánh phá giao thông, bộ phận tiếp tế vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm cho mặt trận.

Ban chỉ huy tổng tiến công và nổi dậy ở thị xã Sóc Trăng do đồng chí Phạm Lưu Thức (Năm Thức), Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng ban.

Ban chỉ huy tổng tiến công và nổi dậy thị xã Bạc Liêu gồm:

1 - Đồng chí Lê Quân, Phó Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban,

2 - Đồng chí Nguyễn Văn Nhung (Ba Mai), Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội làm phó ban.

3 – Đồng chí Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn), Tỉnh đội phó, làm phó ban.

4 - Đồng chí Đặng Văn Tiếu (Sáu Huấn), Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Bạc Liêu làm phó ban.

5 - Đồng chí Lê Văn Năm (Ba Hiếu), Bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi làm ủy viên.

6 - Đồng chí Hồ Nam (Tư Hiền), Phó Bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi làm ủy viên.

7 - Đồng chí Nguyễn Thành Cẩm (Năm Tấn), Phó Bí thư Thị ủy làm ủy viên.

8 - Đồng chí Lý Hồng Quốc, Chính trị viên Thị đội Bạc Liêu làm ủy viên.

9 - Đồng chí Huỳnh Phú Lộc (Ái Dân), Phó ban an ninh tỉnh làm ủy viên.

10 - Đồng chí Nguyễn Viết Thống, Phó ban an ninh tỉnh làm ủy viên.


(1) Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 12-1967 và Nghị quyết lần thứ 14 của BCH Trung ương Đảng tháng 10-1968 đều ghi là tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Đến Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) mới sửa lại là tổng tiến công và nổi dậy.
(2) Trước đây, âm lịch của ta và Trung Quốc trùng nhau, nhưng trong năm 1967 ở miền Bắc có sự chỉnh lý lại, lịch ta sớm hơn 1 ngày. Khu Trị Thiên, Khu 5 và Tây Nguyên nổ súng sớm theo lịch mới, còn Nam Bộ vẫn theo lịch cũ chậm 1 ngày. Địch ở Nam Bộ thấy ta nổ súng đã đề phòng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:06:15 am
Các đồng chí Lê Quân, Nguyễn Văn Nhung, Huỳnh Phú Lộc phụ trách chỉ huy sở. Những đồng chí khác trong Ban chỉ huy được phân công phụ trách từng mũi tấn công vào sào huyệt địch.

Lực lượng vũ trang được bố trí tiến công vào trọng điểm Bạc Liêu gồm:

- Đại đội 240 bộ binh chủ lực (độc lập) của Tỉnh đội, có 150 quân, do đồng chí Tám Hoài làm chính trị viên và đồng chí Tám Lộc làm đại đội trưởng.

- Đại đội Trường quân sự địa phương của Tỉnh đội (mới thành lập theo yêu cầu tình hình) có 120 quân, do đồng chí Hoàng làm chính trị viên, đồng chí Lê Thanh Trung làm đại đội trưởng.

- Đại đội an ninh vũ trang của Ban an ninh tính, có 75 quân, do đồng chí Phạm Hồng Phước làm chính trị viên, đồng chí Ba Thạch làm đại đội trưởng.

- Đại đội 1 địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, có 100 quân, do đồng chí Hồng Ân làm chính trị viên, đồng chí Năm Tín làm đại đội trưởng.

- Đại đội 2 địa phương quân huyện Vĩnh Lợi (mới thành lập) có 80 quân từ 4 trung đội du kích của 4 xã (Vĩnh Mỹ, Long Thạnh, Châu Thới và Minh Diệu), do đồng chí Hai Trường, chính trị viên phó huyện đội làm chính trị viên, đồng chí Hai Nghề (bí thư xã Hưng Hội rút lên) làm đại đội trưởng.

- 3 Trung đội biệt động thị xã Bạc Liêu, có 72 quân, do các đồng chí trong Ban chỉ huy quân sự thị xã trực tiếp chỉ huy từng trung đội độc lập ở từng mũi tấn công.

- 1 khẩu đội cối 8 của thị xã Bạc Liêu, có 10 quân.

- 1 trung đội súng cối do tỉnh tăng cường, có 27 quân.

- 5 trung đội du kích của 5 xã: Châu Hưng, Hòa Bình, Vĩnh Hưng, Hưng Hội và Vĩnh Lợi, có 118 quân.

Như vậy, tổng số được huy động tập trung là: 728 quân, gồm 5 đại đội, 1 khẩu đội cối 8 của thị xã Bạc Liêu, 1 trung đội cối của tỉnh, 3 trung đội biệt động và 5 trung đội du kích.

Ngoài lực lượng trên, tỉnh còn chỉ thị triển khai các lực lượng khác như: Ban tuyên huấn, Ban binh vận, Ban an ninh, các đoàn thể... Riêng Ban đánh phá giao thông do đồng chí Trương Tứ Giang (Tư Tứ), Tỉnh ủy viên, Chính trị viên phó Tỉnh đội phụ trách. Đại đội công binh 604 chịu trách nhiệm đánh phá đường giao thông Sóc Trăng đến Phú Lộc (quốc lộ 4). Đồng chí Hai Trung, Trưởng ban đánh phá giao thông của huyện Thạnh Trị chịu trách nhiệm đoạn Phú Lộc-Bạc Liêu.

Ban an ninh tỉnh nhanh chóng triển khai lực lượng bám sát hai trọng điểm với mục tiêu chinh là ty cảnh sát và trại giam (khám giam), Ban binh vận tỉnh có kế hoạch cùng với lực lượng vũ trang, chính trị tiến công địch.

Các ban ngành đoàn thể tỉnh, huyện phân công cán bộ tham gia tổng tiến công và nổi dậy theo chức năng, nhiệm vụ được giao và huy động quần chúng đóng góp, phục vụ tiền tuyến.

Tình hình tại khu vực Bạc Liêu trong thời điểm này có: Phân ban Tỉnh ủy, mỗi huyện - thị đều có huyện - thị ủy, mỗi xã đều có xã ủy, các phường trong nội ô đều có chi bộ mật. Tổ chức đoàn thể có đều khắp các huyện - thị, xã - phường khá mạnh. Chuẩn bị mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, Tỉnh đội trang bị cho khu vực Bạc Liêu 50 khẩu súng AK; 50 khẩu K1, 2 khẩu cối 82; 6 khẩu B40; 2 khẩu đại liên; 2 khẩu sơn pháo không giật 75mm (hoàng tử lưng gù) và 1 tấn thuốc nổ TNT.

Về phía địch, thị xã Bạc Liêu là tỉnh lỵ của ngụy quyền tỉnh Bạc Liêu, phía đông thị xã là quận lỵ của ngụy quyền Vĩnh Lợi. Trong thời điểm cuối năm 1967 tại đây có khoảng 7.000 quân bao gồm các binh chủng bảo an, cảnh sát, dân vệ, thám báo; v.v, Riêng bảo an có 2 tiểu đoàn và biệt động quân 1 tiểu đoàn, 1 đại đội thám báo, 1 đại đội bộ binh bảo vệ. Có trung đoàn 32 (của sư đoàn 21) thường xuyên túc trực. Có đội xe V100 (nồi đồng) tuần tra nội bộ ngoại ô, 1 đội xe M113. Có đội trực thăng cường kích đổ quân nhảy giò. Một máy bay trinh sát (L19). Một đại đội trọng pháo đặt tại bót Hội đồng Điều. Có đoàn cố vấn quân sự Mỹ khoảng 200 tên thường xuyên tại Bạc Liêu. Có sân bay, ngoài trực thăng, máy bay trinh sát, thường xuyên lên xuống. Có bộ máy tình báo CIA, một khám lớn và một trại tạm giam. Một trường huấn luyện (trung tâm Dân Chí) có một đại đội bảo vệ và huấn luyện tân binh quân địch, một đại đội hành chính tiếp vận...


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:06:44 am
Ban chỉ huy tổng tấn công và nổi dậy thực hiện phương châm: táo bạo, bí mật, bất ngờ, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, đánh sâu diện rộng, cơ động nhanh, hai chân ba mủi, kết hợp tổng tiến công với nổi dậy.

Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ, phương châm đã nêu; căn cứ vào tương quan ta địch; Ban chỉ huy trọng điểm Bạc Liêu bố trí các mũi tiến công vào thị xã tỉnh lỵ Bạc Liêu như sau:

Mũi I:

Phát triển từ hướng đông - đông bắc thị xã, đánh diệt địch làm chủ các khu: Lò Gạch, Võ Tánh, Khu III, Khu IV. Kết hợp quần chúng và gia đình binh sĩ nổi dậy chiếm tòa hành chính tỉnh, ty cảnh sát và cư xá Mỹ. Lực lượng mũi này gồm: đại đội 240 (của Tỉnh đội), đại đội an ninh vũ trang (Ban an ninh tỉnh), 1 trung đội đu kích xã Châu Hưng, 1 trung đội biệt động và 1 khẩu đội cối 8 của thị xã Bạc Liêu. Tổng số 287 quân, do đồng chí Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn) chỉ huy.

Mũi II:

Từ hướng đông - đông nam thị xã đánh vào. nhiệm vụ mục tiêu mũi này: diệt gọn bọn địch dã ngoại, diệt đồn cầu Thứ Ba, xông lên đánh chiếm cầu Quay và khu vực Tu Muối; đánh chiếm đến đâu, phát động quan chúng nổi dậy làm chủ đến đó. Lực lượng mũi này gồm: đại đội 1 địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, 1 trung đội biệt động thị xã Bạc Liêu, 1 trung đội du kích xã Vĩnh Lợi, 1 trung đội du kích xã Hưng Hội. Tổng số có 184 quân, do đồng chí Hồ Trung Hiền (Hồ Nam) chỉ huy chung.

Mũi III:

Tiến công từ hướng tây nam thị xã (Trà Kha A. B); nhiệm vụ mục tiêu là: đánh cho tê liệt cụm pháo ở bót Hội đồng Điều; diệt bọn thám báo đóng ở khu Lò Bún, đánh chiếm bệnh viện Bạc Liêu, đánh vào khám lớn diệt bọn bảo vệ và thả tù chính trị; kết hợp quần chúng tại chỗ diệt ác phá kềm, nổi dậy giành chính quyền làm chủ khu vực Cầu Kè và công-xi Rượu. Đặc biệt, đội biệt động trang bị mạnh, nhưng gọn nhẹ đánh kỳ tập vào bọn cố vấn quân sự Mỹ ở gần khu hồ bơi; khi hoàn thành nhiệm vụ thì phát triển đánh sang hậu cứ sư đoàn 21. Lực lượng mũi này có: đại đội 2 địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, đại đội Trường quân sự tỉnh, 1 trung đội biệt động thị xã, 1 trung đội pháo cối của tỉnh tăng cường, 2 trung đội du kích của hai xã: Hòa Bình, Vĩnh Hưng. Tổng số mũi này có 311 quân, do đồng chí Đặng Văn Tiếu (Sáu Huấn) chỉ huy.

Ngày 27 tháng 1 năm 1968, (nhằm ngày 28 tháng chạp âm lịch), đồng chí Lê Quân triệu tập các đồng chí trong ban chỉ huy trọng điểm Bạc Liêu, có cả các đồng chí trong Ban thường vụ các huyện ủy: Vĩnh Lợi, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu... họp tại nhà ông Hai Đực, ấp Thạnh Hưng II, xã Minh Diệu (Vĩnh Lợi). Mục đích cuộc họp: kiểm tra, rà soát mọi mặt, uốn nắn những thiếu sót, chậm chạp; nắm chắc lại tình hình tại tỉnh lỵ Bạc Liêu và các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân. Đồng chí Lê Quân phổ biến phương hưởng mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của từng mũi tấn công vào tỉnh lỵ Bạc Liêu; nhưng giờ “G” là giờ nổ súng sẽ phổ biến sau.

Ngày 28 tháng 1 năm 1968, (ngày 29 tháng chạp), Tỉnh ủy được đồng chí Phan Công Cương (Chính Lân), Khu ủy viên, thay mặt Khu ủy truyền đạt ngày giờ tổng tấn công và nổi dậy toàn miền Nam cho Tỉnh ủy.

Ban chỉ huy thống nhất của trọng điểm Bạc Liêu từng giờ từng phút theo dõi địch tình. Trước giờ cao điểm, qua báo cáo nhanh từ trong nội ô cho thấy rõ: chưa có dấu hiệu địch hay biết về sự chuẩn bị và thế tiến công của ta. Tuy vậy, địch vẫn cảnh giác phòng thủ như các năm trước, chúng hạn chế cho binh sĩ về nhà ăn tết, binh sĩ ở hậu cứ bị cấm trại. Đặc biệt, địch tăng cường bọn biệt động quân án ngữ vành đai thị xã.

Một khó khăn rất lớn đối với ta là các tiểu đoàn chủ lực của địch tạm dừng lại ở các hậu cứ tại tỉnh lỵ Bạc Liêu để ăn tết, kể cả một số chiến xa và trực thăng, thay vì trong những ngày không tết thì chúng đi hành quân khắp nơi, bỏ trống hậu cứ. Vấn đề nảy có ảnh hưởng lớn tương quan lực lượng địch, ta trong những ngày tới.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:07:30 am
+ Diễn biến tiến công:

Theo một lệnh của Ban chỉ huy thống nhất thì trễ lắm đến 15 giờ chiều ngày 30 tết, các lực lượng được giao nhiệm vụ tiến công địch ba mũi, phải được tập kết đúng địa điểm quy định để gấp rút hành quân. Địa điểm tập kết từng mũi như sau:

- Mũi I: xóm Xã Mười, xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi. Đường hành quân vượt quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) đoạn Cái Dầy - Trà Văn, tiến thẳng đoạn giữa kinh xáng sân bay - trung tâm chiêu hồi.

- Mũi II: Ấp Kim Cấu, xã Vĩnh Trạch, huyện Vĩnh Lợi, hành quân theo tuyến lộ Vĩnh Châu - Bạc Liêu đến nhà máy Hậu Giang (thuộc phường 5 ngày nay).

- Mũi III: Ấp Đông Hưng, xã Vĩnh Hưng, huyện Hồng Dân hành quân tắt vô Trà Kha B (thuộc phường 8 bây giờ).

Ba mũi thống nhất quy ước: Khi nghe thấy mũi 1 bất đầu nổ súng (tức là khi mũi này vượt qua được kinh xáng sân bay tiến quân vào xóm Lò Gạch, đường Hòa bình giáp ranh phường 3 ngày nay), thì các mũi đồng loạt nổ súng tấn công.

Trước giờ giao thừa lực lượng của các mũi đã khẩn trương bí mật tiến vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công đúng theo kế hoạch và phương án tác chiến.

Mũi I, khi đến kinh xáng sân bay, trinh sát không qua sông được kể cả căng dây vẫn bị đứt trôi mất 1 khẩu AK, cho đến gần sáng không vượt được qua sông, toàn bộ lực lượng mũi này phải rút về xóm Mặc Đây (thuộc xã Châu Hưng), huyện Vĩnh Lợi.

Đến quá giờ giao thừa, không biết lý do gì mà mũi I không nổ súng, với tinh thần cách mạng tiến cộng, Ban chỉ huy mũi II hạ lệnh nổ súng diệt và làm tan rã các cụm quân dã chiến của địch tuyến nhà máy Hậu giang - chùa Long Phước - cầu số 3. Toàn bộ lực lượng phát triển lên phía nam cầu Quây đánh sang Tu Muối (hậu cứ tiểu đoàn biệt động quân 42). Lực lượng ta phát động quần chúng treo cờ, xuống đường cùng với lực lượng vũ trang trừ gian diệt ác giành quyền làm chủ. Địch phản kích quyết liệt. Lực lương ta bám nhà kiên cố đánh phản kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Quần chúng nổi dậy bằng nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau.

Đến 2 giờ sáng (sau giờ giao thừa), mũi III, Ban chỉ huy hạ lệnh nổ súng. Đội biệt động đánh thẳng vào mục tiêu khám lớn để giải thoát tù chính trị. Trung đội súng cối nã cấp tập vào trận địa pháo 105 mm (bót Hội đồng Điều). Một đơn vị đánh vào đại đội thám báo ở khu Lò Bún, diệt và làm bị thương một số tên địch. Đội biệt động hóa trang kỳ tập bắn B40 và ném pháo dù vào cư xá (gần hồ tắm) diệt hàng chục tên Mỹ. Địch tung V100 (nồi đồng) và mọi hỏa lực khác phản kích dữ dội. Một tiểu đội biệt động do đồng chí Tư Minh chỉ huy, chiến đấu vô cùng anh dũng, cuối cùng cả tiểu đội hy sinh chỉ còn duy nhất đồng chí Tư Minh. Ban chỉ huy mũi III nhận định không thể trụ lại nơi đây suốt ngày được, để bảo toàn lực lượng, các đồng chí lệnh rút toàn bộ về trụ tại ngọn Trà Kha B (phường 8 thị xã Bạc Liêu ngày nay).

Đêm mùng 1 rạng mùng 2 tết, mũi I tiếp tục chia thành 2 mũi. Một mũi do đồng chí Trần Văn Tửng dẫn mũi gồm 40 quân của 2 đơn vị: Một tiểu đội biệt động do đồng chí Đức làm tiểu đội trưởng, đồng chí Châu Tuấn Kiệt làm tiểu đội phó. Một trung đội du kích xã Châu Hưng (huyện Vĩnh Lợi) do đồng chí Ba Nhựt xã đội trưởng Châu Hưng chỉ huy. Mũi này trong đêm mùng 1 tết vượt qua được kinh xáng sân bay bằng xuồng khiêng theo từ Trà Văn. Quân ta phát triển thăng vào khu Lò Gạch, Võ Tánh, trên đường phát triển đánh dạt 3 cụm tiền đồn địch, diệt trên 20 tên. Quân ta chiếm lĩnh một phần khu Lò Gạch và Võ Tánh, một phần khu III và khu IV (phường 3 ngày nay). Đúng theo nhận định của ta, trời vừa tảng sáng thì địch đưa quân bao vây, trận đánh diễn ra suốt ngày mùng 2 tết. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Lực lượng địch điều đến đông hơn ta hàng chục lần. Quân ta chiến đấu vô cùng dũng cảm cuối cùng đến tối mùng 2 tết, ta bị thương vong gần hết (chỉ còn lại hai đồng chí Trần Vân Tửng và Châu Tuấn Kiệt).

Cũng trong đêm mùng 1 tết, một bộ phận lớn của mũi I vượt kinh xáng Bạc Liên đoạn gần nhà máy chà Hậu Giang, chỉ huy của bộ phận này bắt liên lạc được ngay với chỉ huy của mũi II. Các đồng chí trong chi bộ hợp pháp bố trí chỗ nơi cho Ban chỉ huy. Trong đêm này lực lượng của mũi II và mũi I phối hợp nhanh chóng tiếp tục chiếm và làm chủ toàn bộ khu vực bên kia sông cầu Quây như đêm trước. Lúc này phía bên chợ thuộc khu III, khu IV địch tăng lực lượng đối phó với lực lượng ta đã tiến chiếm tại ấp Hoàng Diệu A và ấp Hoàng Diệu B đến cư xá Mỹ. Tiếng súng nổ vang đều khắp, đến gần sáng mùng 2 tết, tiếng súng, tiếng mìn càng nổ dữ dội. Ban chỉ huy chung của mũi gồm các đồng chí Năm Nhẫn, Tư Hiền, Năm Tấn, Ba Quốc, Tám Thương tổ chức một cuộc họp chớp nhoáng tại nhà một cơ quan gần nhà máy chà Hậu Giang vào lúc 3 giờ rưỡi sáng, để quyết định: lực lượng tạm rút ra ngoại ô.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:08:49 am
Lực lượng của mũi II trên đường tạm lui quân từ trong nội ô về Long Thạnh, lúc 7 giờ sáng, địch truy kích ta trên đường hành quân ở cánh đồng Trà Kha B, gây cho ta tổn thất nặng.

Đêm mùng 2 tết, toàn bộ đội quân của mũi này là đột nhập vào làm chủ được hoàn toàn khu vực như hai đêm trước (toàn bộ phường 5 ngày nay). Ban chí huy có ý định vượt sông sang cư xá Mỹ, hậu cứ tiểu khu và tòa hành chính tỉnh, nhưng qua sông không được vì địch án ngữ nghiêm ngặt. Ta lại tiếp tục truy quét bọn tề điệp và giải tán phòng vệ dân sự của khu vực ta đã làm chủ. Gần sáng, đại bộ phận cánh quân này tạm rút về xóm Thào Lạng (xã Vĩnh Trạch, thị xã Bạc Liêu ngày nay), còn để lai 1 trung đội bám trụ ở đoạn lộ cầu thứ 3. Mười giờ trưa mùng 3 tết, địch dùng xe lội nước vượt sông phản kích, bị quân ta đánh trả quyết liệt, gây cho chúng thương vong nặng. Phía ta nhiều đồng chí hy sinh. Trận địa giằng co đến chiều tối, địch rút lui, quân ta vẫn tiếp tục bám trụ chờ lệnh tấn công mới.

Sáng mùng 3 tết, địch tại Bạc Liêu dùng trực thăng “nhảy giò”(1) vào căn cứ hậu cần của ta và ấp Nam Hưng (xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi) chúng lấy được một số vũ khí (cả pháo lưng gù). Sự kiện nay có ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình tiến công của ta ở những ngày tới. Quần chúng ở những khu vực này cho rằng ta đã để cho thằng địch “sút chuồng”.

Đêm mùng 4 tết, vẫn mũi II có quân của mũi I kết hợp phát triển theo hướng cũ. nhanh chóng làm chủ toàn bộ các ấp Gia Long, Vĩnh Hinh, Minh Mạng, Khu V (các nơi này nay thuộc phường 5). Như các đêm trước vẫn không vượt được qua sống (tức là phía bên chợ và cũng là trung tâm nội ô) để đánh chiếm “tòa hành chính tỉnh”, “tiểu khu”... nhưng ta vẫn quét sạch bọn tề điệp, thanh niên cộng hòa, ta làm chủ đến gán sáng và rút an toàn vào ấp Năm Căn (xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi). Mũi III, đêm ngày 3 tháng 2 năm 1968 (mùng 1 tết) vẫn tiếp tục tiến công địch. Toán bộ lực lượng này đã đứng ở Trà Kha B, từ đây phát triển vào khu vực Công-xi Rượu. Sáng mùng 6 tết, quân ta chạm trán địch ở đây, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, trung đoàn 32 (sư đoàn 21) phải đến cứu viện. Do thế trận không thuận lợi cho quân ta nên Ban chỉ huy quyết định rút lui để bảo tồn lực lượng.

Ngày 4 tháng 2 năm 1968 (mùng 6 tết), Ban thường vụ Tỉnh ủy triệu tập hai Ban chỉ huy trọng điểm I và II (2 thị xã) mở hội nghị 80 kết rút kinh nghiệm cuộc tiến công vừa qua. Sau khi nghe phản ánh tình hình, hội nghị đánh giá: Tết Mậu Thân ta tiến công, địch hoàn toàn bất ngờ, ta diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của địch, làm chúng hoang mang dao động. Khí thế cách mạng của quần chúng dâng cao. Tuy nhiên, lực lượng chủ yếu của địch chưa bị đánh thật đau, chưa bị tiêu diệt nhiều, các mũi tiến công của ta chưa thật ăn khớp nên tác động kềm chế địch chưa cao. Một số đơn vị chưa thực hiện được nhiệm vụ nên địch có điều kiện tập trung đối phó ở từng nơi, gây tổn thất khá lớn cho ta. Nội ô thị xã chưa có phong trào quần chúng nổi dậy đều khắp.

Về chỉ đạo, chỉ huy, thông tin liên lạc của ta chưa chặt chẽ. Ban chỉ huy trọng điểm nắm không chặt tình hình địch, chưa dự kiến hết tình huống khó khăn để xử lý cho thích hợp. Công tác chuẩn bị của ta chưa tốt và quá cấp tốc về thời gian nên thắng lợi đạt chưa cao. Ban chỉ huy rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch tiếp tục chi đạo cuộc tiến công.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ sắp tới: phải tập trung tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hai thị xã phải khẩn trương xây dựng lực lượng tại chỗ cùng với lực lượng bên ngoài đưa vào, nỗ lực phát động, tổ chức quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp kịp thời và công kích. Đẩy mạnh cống tác binh vận làm tan rã nhiều lực lượng địch, có phong trào binh biến, phản chiến ngay trong lực lượng chủ lực, bảo an.

Ở trọng điểm Bạc Liêu, lực lượng các mũi của ta sau khi lui ra vùng ven, được sắp xếp, củng cố, bố sung, chiếu ngày 7 tháng 2 năm 1968 (mùng 9 tháng giêng, Mậu Thân), Ban chỉ huy trọng điểm họp toán quân phát động tư tưởng, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền đạt mệnh lệnh liên tục đột nhập nội ô thị xã tỉnh lỵ Bạc Liêu. Các đồng chí Chín Thương và Sáu Hiển chỉ huy lực lượng đánh vào Khu III và khu IV, đồng chí Tám Thắng chỉ huy đội cối 8 yểm trợ do biệt động dẫn mũi. Đồng chí Chín Phước được giao nhiệm vụ cùng đồng chí Chín Thương, Sáu Hiển chiếm cho được xóm Lò Gạch, xóm cầu số 4, dùng nhà của ông Huỳnh Kim Kê làm chỉ huy sở để triển khai chiếm toàn bộ Khu III và khu IV.


(1) Trực thăng đổ quân.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:10:31 am
Đúng theo kế hoạch, ta hành quân đến Trà Văn, cơ sở tại đây giao cho 5 chiếc xuồng khiêng theo để làm phương tiện vượt kinh xáng sân bay. Khi trinh sát ta vượt qua sông phát hiện quân địch phục kích sẵn để chặn đường tiến quân của ta. Lệnh của chỉ huy mũi cho bộ phận trinh sát nằm im tại bờ sông chờ cho toàn bộ quân ta chuyển hết qua sông mới triển khai hỏa lực. Ta chủ động nổ súng đánh dạt đội hình địch qua hai bên, quân ta đánh thẳng đến kinh Cả Phượng. Lúc này địch căng quân dọc theo kinh Cả Phượng cố thủ. Quân ta không thể vượt qua sông được. Đến gần sáng, ta tập trung hỏa lực tiêu diệt ụ để kháng cầu số 4, từ đây quân ta tiến qua kinh Cả Phượng, chiếm nhanh một phần khu III và một phần khu IV, nơi tập trung các cơ quan đầu não địch. Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1968 (mùng 10 tháng giêng), ta và địch đánh nhau, giành nhau từng căn nhà, từng đường phố. Hơn 10 giờ trưa, quân ta không thể tiến chiếm được nữa vì các đường dẫn đến các cơ quan đầu não của địch chúng bố trí vững chắc. Ta triển khai lực lượng bám các điểm cao. Địch cũng không thể tiến công tiêu diệt quân ta. Chúng dùng trực thăng bắn phá và rải xăng đặt đốt toàn bộ khu vực ta phòng ngự. Phía ta, lúc này bị lửa cháy, mất công sự, phải vừa chiến đấu, vừa chiếm nhà, chiếm công sự của địch để bảo toàn lực lượng, bảo vệ các chiến sĩ bị thương. Cứ thế, ta và địch đánh nhau quyết liệt. Đến 15 giờ chiều, lực lượng ta nằm trong thế bị bao vây, địch dùng loa phóng thanh mặt đất và trên máy bay L19 kêu gọi ta đầu hàng. Lực lương ta vẫn kiên cường đánh trả địch. Đến tối, ta củng cố lại lực lượng đánh mở đường để rút quân và đưa được toàn bộ thương binh ra khỏi vòng vây địch về căn cứ xóm Ngọc Được, Hoàng Ba xã Hưng Hội. huyện Vĩnh Lợi. Ta hy sinh 11 đồng chí, bị thương 20 đồng chí. Riêng khẩu đội B40 của thị xã không còn đồng chí nào nguyên vẹn. Phía địch bị thương vong hàng trăm tên. Từ trận này, ta rút hết quân ra khỏi nội ô, hôm ấy là đêm ngày 8 tháng 2 năm 1968 (mùng 10 tháng giêng, Mậu Thân).

Đầu tháng 3 năm 1968, tỉnh thành lập thêm 2 tiểu đoàn: Tiểu đoàn Phú Lợi II và Tiểu đoàn 368 (Bạc Liêu): Tiểu đoàn 368(1) có 4 đại đội: đại đội 1 (đại đội 240 cũ), đại đội 2 (đại đội 21 địa phương quân huyện Vĩnh Lợi), đại đội 3 (đại đội Trường quân sự tỉnh), đại đội 4 (đại đội địa phương quân huyện Vĩnh Châu). Đồng chí Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn), tỉnh đội phó làm chính trị viên kiêm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn này lúc mới thành lập có 450 quân và hoạt động tại khu vực Bạc Liêu, đến khi tổng tấn công đợt II mới chuyển địa bàn. Trận đánh đầu tiên của tiểu đoàn 368 là trận đánh phản kích tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 32 ngụy) tại ấp Bà Chăng (xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi), ta diệt 48 tên địch.

Được sự chỉ đạo của Khu ủy, thượng tuần tháng 4 năm 1968 tại ấp Nhà Lầu, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ họp sơ kết đợt I và bàn kế hoạch tiến công đợt II. Hội nghị thống nhất nhận định chung là: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân ta đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, làm đảo lộn chiến lược của địch, đẩy chúng lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Mặc dầu ta không giành thắng lợi cao theo yêu cầu nhưng đã gây thối động lớn đến Hoa Thịnh Đốn và dư luận thế giới, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, từng bước phi Mỹ hóa chiến tranh, quân Sài Gòn sẽ vào thay quân Mỹ trên toàn chiến trường. Chính phủ Mỹ phải nhấc đến việc thương lượng với Chính phủ ta; đồng thời phải thay đổi chiến lược quân sự “tìm diệt và bình định” bằng chiến lược “quét và giữ”. Tỉnh ta đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung đó. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng giữa ta và địch còn chênh lệch, ta chưa diệt được phần lớn quân chủ lực và cơ quan đầu não của địch. Về chỉ đạo ta có khuyết điểm là trong lúc tập trung tiến công vào thị xã, thị trấn lại thiếu sự chỉ đạo mạnh việc phá kềm, bao vây bức hàng, bức rút đồn bót, giải phóng nông thôn. Được sự chỉ đạo của cấp trên là: “Hướng công kích và khởi nghĩa nhằm vào đô thị, nhưng phải nhớ rằng kết thúc lớn nhất, quan trọng nhất là phải đặt ở việc giành và giữ nông thôn”, hội nghị thống nhất coi đó là nội dung chỉ đạo đối với Đảng bộ. Hội nghị Tỉnh ủy cũng quán triệt Nghị quyết của Khu ủy về yêu cẩu nhiệm vụ sáp tới là: “Nắm vững mục tiêu chiến lược, thừa thắng xông lên giành thắng lợi cuối cùng, liên tục tổ chức tiến công và nổi dậy, bẻ gãy phản kích của địch ở đô thị cũng như ở nông thôn; nhanh chóng xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị bảo đảm ưu thế hơn địch, để chuyển biến tương quan lực lượng cho nhanh, tranh thủ thời gian nắm lấy thời cơ có nhiều thuận lợi cho ta, không có lợi cho địch và khả năng có những đột biến, ta phải sẵn sàng tiến công giành thắng lợi”(2).

Hội nghị Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ của Đảng bộ là: Mở một đợt sinh hoạt chính trị làm cho Đảng bộ, lực lượng vũ trang, các ban ngành và đoàn thể trong tỉnh thấy rõ thắng lợi của ta to lớn, toàn diện, tình hình thay đổi lớn thuận lợi cho ta, đồng thời cũng thấy được khó khăn, tồn tại.


(1) Tiểu đoàn thành lập tháng 3 năm 1068, nên lấy phiên hiệu d 368
(2) Nghị quyết Hội nghị Khu ủy mở rộng tháng 4 năm 1968


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:11:02 am
Để chuẩn bỉ cho đợt II, Tỉnh ủy chủ trương phải khẩn trương bổ sung lực lượng vũ trang, xây dựng ba thứ quân đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sấp tới. Quyết tâm trong thời gian ngắn, lực lượng vũ trang tiến công địch liên tục. Cần phải xây dựng lực lượng mũi nhọn cho hai thị xã để kết hợp với pháo binh và đặc công tiến công vào thị xã, tập trung lực lượng tỉnh, tiến cõng giải phóng vùng ven và vùng nông thôn, đẩy mạnh hoạt động của địa phương quân huyện và du kích để giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.

Nhằm thúc đẩy phong trào chung cũng như phong trào hai thị xã, ngày 23 tháng 4 năm 1968, Đại hội Mật trận Dân tộc giải phóng tỉnh khai mạc. Đại hội với yêu cầu tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo nhất là giới tri thức, tư sản dân tộc và các tầng lớp trung gian khác vào đại gia đình cách mạng. Đại hội phổ biến các chính sách cho các thành viên mặt trận, làm cơ sở phổ biến rộng rãi ra quảng đại quần chúng, ngay cả trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền nhằm thực hiện toàn dân đoàn kết một lòng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Trước khi vào đợt II tình hình địch trong tỉnh vẫn trong thế bị động phòng ngự. Chúng lo tập trung củng cố ổn định vùng ven hai thị xã, lộ giao thông, chi viện giải tỏa cho các đồn bót, các khu vực bị ta tiến công. Địch tiếp tục đẩy mạnh đánh phá các vùng ven, quyết đẩy lùi lực lượng vũ trang ta ra xa.

Vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968, cùng với toàn miền Nam, quân dân Sóc Trăng - Bạc Liêu, mở đợt II, đồng loạt tiến công vào các thị xã, thị trấn, trong toàn tỉnh. Quân dân các huyện và thị xã Bạc Liêu vào đợt II với tỉnh thần “thừa thắng xông lên, liên tục tiến công, liên tục nổi dậy”. Biệt động thị xã và địa phương quân huyện, du kích xã liên tiếp mở các đợt tiến công vào các vị trí ở nội ô thị xã, thị trấn, thị tứ và đồn bót địch. Thực hiện mạnh mẽ ở ba mũi giáp cống, đánh bại nhiều cuộc phản kích của địch.

Biệt động và khẩu đội cối thị xã Bạc Liêu liên tục hoạt động hằng đêm phục kích đánh dã ngoại, bắn tỉa và pháo kích vào các đồn Trà Kha, Cầu Thứ Ba, Vĩnh Trạch, Sóc Đồn, Cầu Sập, đặc biệt liên tục các đêm từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 5 năm 1968 pháo kích vào tiểu khu và hậu cứ tiểu đoàn bảo an ở Tu Muối. Thời gian này quân dân thị xã Bạc Liêu loại khỏi vòng chiến đấu hơn 150 tên địch.

Địa phương quân huyện Vĩnh Lợi cùng hơn 1.000 lực lượng dân công vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968 chiếm đoạn quốc lộ 4 Bạc Liêu - Cầu Chầu. Để đánh phá giao thông, ta đã cuốc xới chiều dài gần 1.000m lộ, đắp trên 100 ụ chướng ngại và cắm nhiều băng cờ, rải nhiều truyền đơn, gây ách tác giao thông quốc lộ 4 nhiều ngày.

Ở Hồng Dân, địa phương quân và du kích các xã, thị trấn liên tục bao vây, pháo kích chi khu Phước Long, chi khu Ngang Dừa, các đồn Phó Sinh, Ninh Quới. Đặc biệt là đã luồn sâu vào thị trấn, thị tứ diệt một số tên ác ôn có nợ máu với nhân dân, gây sự sợ hãi đối với ngụy quân, ngụy quyền tại địa phương…

Huyện Giá Rai, địa phương quân và du kích thị trấn pháo kích vào chi khu và dinh quận gây thiệt hại nặng cho địch, đánh phục kích đoàn bình định diệt nhiều tên. Du kích các xã bao vây, bắn tỉa, đánh phục kích, chống càn gây thiệt hại đối với một số đồn: Cây Giang, Khúc Tréo, Láng Tròn, Hộ Phòng. Bọn lính các đồn hoang mang lo sợ.

Ban binh vận tỉnh và Ban binh vận các huyện, thị tăng cường giáo dục gia đình binh sĩ vào đồn thuyết phục vân động chồng - con - em trở về với gia đình, với nhân dân, đồng thời bố trí lực lượng du kích tiến sát hàng rào đồn hỗ trợ cho lực lượng binh vận đấu tranh. Phong trào đấu tranh chính trị kết hợp binh vận được đẩy mạnh liên tục, đặc biệt là vùng kềm ở nông thôn. Cấp ủy và các đoàn thể địa phương phát động tổ chức nhiều cuộc học chính trị cho quần chúng, đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ của mọi người, đi vận động hàng nghìn gia đình binh sĩ, tuyên truyền, phát truyền đơn, giấy thông hành, thư tay đến đối tượng binh sĩ, sĩ quan ngụy, kết quả có nhiều binh sĩ đào ngũ.

Cuối tháng 6 năm 1968, kết thúc đợt II, quân dân trong tỉnh đã tiến công, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, tíéu diệt, bức hàng, bức rút hàng chục đồn bót bắn cháy phá hủy hàng chục máy bay, hàng chục xe quân sự. Vùng nông thôn giải phóng có nơi được mở rộng, ở hai thị xã ta vẫn duy trì được thế tiến công.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:12:27 am
Tiếp theo đợt I, thắng lợi đợt II của quân dân trong tỉnh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung cả nước, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao thêm phần thuận lợi, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận chinh thức đàm phán với Chính phù ta về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên ở địa phương, tình hình tiến công đợt II không đều, nhiều xã trong tình phong trào quần chúng nổi dậy tiến công còn yếu. Thị xã chưa chuyến biến mạnh, phong trào vùng ven phát triển ít và yếu, xây dựng bổ sung lực lượng còn chậm, chưa đáp ứng kịp yêu cầu.

Từ tháng 6 năm 1968, chiến trường Sóc Trăng - Bạc Liêu địch tập trung bình định ở các xã trọng điểm như: Vùng đất Long Phú, ven phía nam thị xã Sóc Trăng và xung quanh thị xã Bạc Liêu, ở mỗi quận, địch chọn 1 hoặc 2 xã làm trọng điểm bình định. Chúng ráo riết bắt lính đôn quân, xây dựng thêm lực lượng bảo an, trang bị vũ khí thêm cho dân vệ, thanh niên cộng hòa. Chúng cố gắng chiếm lại một số vùng đã mất, lấn chiếm một số vùng ven chi khu và thị xã. Mặt khác địch có ý đồ tranh chấp với ta vùng nông thôn, nhất là vùng có đồng bào Khơ-me.

Ngày 20 tháng 7 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ cả nước. Người khẳng định: “Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân tự lo giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay. Đó là nguyện vọng của nhân dân ta, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới”, Ngươi kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta “Kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì độc lập, tự do, 31 triệu đồng bào ta quyết vượt mọi khó khăn gian khổ hy sinh, quyết đánh và quyết thắng”.

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết của Bộ Chính trị, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 7 (tháng 6 năm 1968) xác định nhiệm vụ phương hương chung trong thời gian tới là: “Phải làm cho toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân nhận rõ thắng lợi sau 2 đợt tiến công và nổi dậy của toàn Miền, nhất là của hương trọng điểm, nhận rõ thất bại mới và sự sụp đổ mới của địch, nhanh chóng củng cố và phát triển lực lượng của ta, liên tục đánh địch những đòn nặng hơn, giành thắng lợi mới to lớn hơn”. Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ mới, chủ trương sắp tới là: “Tiếp tục phát triến thắng lợi của đợt II, tiếp tục tấn công và nổi dậy, duy trì hoạt động thường xuyên liên tục với phương thức và sử dung lực lượng thích hợp, đi đôi với tích cực củng cố xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chính trị, tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho các đợi hoạt động lớn hơn”.

Hội nghị Khu ủy (tháng 7 năm 1968) đánh giá; “Đợt II ta tiếp tục đánh địch giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng, làm cho địch lún sâu hơn vào thế phòng ngự... nhưng thắng lợi của ta chưa đúng mức do còn nhiều mặt yếu như chủ quan, có quan điểm kéo dài, chưa thống nhất và kiên định. Do đó cần phải khẩn trương, quyết liệt mới giành thắng lợi chiến lược cho giai đoạn”.

Vào trung tuấn tháng 7 năm 1968, Tỉnh ủy tổ chức đợt sinh hoạt chính trị học tập Nghị quyết Trung ương Cục, Nghị quyết Khu ủy và triển khai kế hoạch tiến công đợt III đến từng cấp ủy, huyện, xã, đến đối tượng cán bộ, đảng viên các ban ngảnh đoàn thể tỉnh. Trong học tập, Tỉnh ủy khẳng định: Phải xác định tổng công kích, tổng khởi nghĩa của ta là một giai đoạn, là một quá trình diễn ra liên tục, quyết liệt và đầy khó khăn mới đi đến thắng lợi. Phải phát huy cao độ ý thức trách nhiệm, tinh thần tự lực tự cường thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị này còn được tiến hành sâu rộng trong quần chúng nhằm tạo ra một phong trào cách mạng mạnh mẽ với khí thế sôi sục, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống phức tạp của cuộc kháng chiến.

Tháng 7 năm 1968. các huyện mở hội nghị triển khai học tập Nghị quyết của Tỉnh ủy về phong trào du kích chiến tranh. Ban chỉ huy Tỉnh đội quyết định phát động phong trào du kích chiến tranh trong toàn tỉnh. Đợt thi đua bắt đầu từ ngày 14 tháng 7 năm 1968 với mục tiêu: Tiêu diệt, tiêu hao nhiều lực lượng địch, bức hàng, bức rút nhiều đồn bót, đánh phá làm gián đoạn, tê liệt giao thông, hoàn thành nhiệm vụ ở bất cứ chiến trường nào.

Về công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy xác định công tác củng cố, xây dựng “chi bộ 4 tốt”(1) là vấn đề hết sức cấp bách, là khâu trung tâm, bảo đảm cho việc hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững chắc gắn liền với việc củng cố các ngành các tổ chức quần chúng. Ban tuyên huấn, Ban tổ chức, Trường Đảng tỉnh góp phần tích cực đưa cán bộ về xây dựng chi bộ, Đảng bộ cơ sở các vùng, đặc biệt là vùng xung yếu.


(1) Chi bộ 4 tốt:
- Lãnh đạo tiến công địch và xây dựng ta tốt.
- Quan hệ với quần chúng tốt.
- Xây dựng nghị quyết và thực hiện Nghị quyết tốt.
- Lãnh đạo xây dựng chi bộ về tư tưởng tổ chức lề lối làm việc tốt.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 06:15:11 am
Đêm 17 tháng 8 năm 1968, sau khi chuẩn bị các mặt, cùng với nhân dân miền Nam, toàn tỉnh tiến công đợt III. Các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện tổ chức tiến công vào các thị xã, thị trấn, thị tứ và nhiều đồn bót địch trong tỉnh, phá hoại các trục lộ giao thông.

Tại thị xã Bạc Liêu, quân ta đánh thiệt hại hậu cứ tiểu đoàn 1 (trung đoàn 32) và hậu cứ tiểu đoàn biệt động quân số 42. Nổi bật là cuộc binh biến ở Trung tâm huấn luyện (Trung tâm Dân Chí), một đại đội tân binh tổ chức ném lựu đạn, rồi rút chạy vào vùng nông thôn. Một đại đội khác hưởng ứng nổ súng chống lại bọn chỉ huy, tất cả 75 binh sĩ trở về với cách mạng. Ta tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị quy mô tại thị xã, có 3.500 người tham gia với các khẩu hiệu dân sinh dân chủ. Các lực lượng bên ngoài đột nhập vào nội ô, phối hợp với lực lượng tại chỗ diệt ác phá kềm ở khu vực Lò Heo, Cầu Quay, chợ trung tâm, chợ cá, xóm Mới A, Vĩnh Hinh, Bạch Đằng, Giồng Me diệt một số ác ôn trong các tổ chức kềm kẹp. Đặc biệt, trưa ngày 11 tháng 9 năm 1968, quả mìn do chiến sĩ biệt động Phùng Ngọc Liêm thực hiện nổ tung làm một số sĩ quan, cảnh sát ngụy chết và bị thương (tại quán cơm “Xừng Ký”, nhà lồng chợ Bạc Liêu) làm chấn động cả một vùng. Đồng chí Phùng Ngọc Liêm đã hy sinh oanh liệt, đồng chí được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt ngụy”.

Ở vùng ven thị xã Bạc Liêu và các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, lực lượng vũ trang đánh tập kích hàng trăm trận, diệt và làm bị thương nhiều tên địch, bắn rơi 7 máy bay và hỏng 2 xe quân sự. Đưa hơn 3.000 quần chúng làm công tác binh vận, giáo dục hơn 3.000 gia đình binh sĩ, sử dụng gần 500 gia đình đi vận động: binh sĩ, gởi 1.690 giấy thông hành, 11.200 truyền đơn kêu gọi binh sĩ, kết quả vận động hơn 1.000 binh sĩ đào rã ngũ, mang ra 9 khẩu súng, trên 3.000 viên đạn và 37 lựu đạn. Phong trào binh biến đã xuất hiện.

Đợt III tuy ta có đạt kết quả ở mức độ nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa tiêu diệt được nhiều lực lượng địch. Phong trào nổi dậy ở nông thôn yếu, diện bao vây gỡ đồn bót địch chưa nhiều, việc bổ sung, phát triển lực lượng vũ trang tập trung còn nhiều khó khăn, kéo dài. Trong Đảng bộ băn khoăn vì việc tiến công vào thị xã, thị trấn. Nông thôn bị bỏ trống. Địch phản kích chiếm đóng lại đồn bót, đánh phá cơ sở cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn.

Tháng 10 năm 1968, tiểu đoàn Phú Lợi II được giải thể, đưa quân số tăng cường cho tiểu đoàn Phú Lợi I. Đến cuối tháng 12 năm 1968, tiểu đoàn 368 cũng giải thể, chỉ còn giữ lại một đại đội độc lập (c368).

Trong năm 1968, toàn thể đảng bộ và quân, dân tỉnh dồn sức tiến công địch. Ta loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.000 tên địch (trong nhiều đợt) bức rút, bức hàng 14 lượt đồn bót, phá hủy và làm bị thương 78 máy bay, phá hư 152 xe quân sự, 25 tàu chiến và nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của địch. Ta phá rã đại bộ phận ấp tân sinh, đưa vùng giải phóng lên 15 xã có trên 200.000 dân và hàng trăm nghìn dân trong thế của ta và địch tranh chấp quyền làm chủ.

Kết hợp với tiến công địch, ta phát động phong trào quần chúng làm nghĩa vụ đóng góp được hơn 5.000 giạ lúa và 8.837.000 đồng; vận động trên 600 thanh niên lên đường tòng quân. Các đoàn thế phát triển mạnh, các tổ chức nông dân, thanh niên, phụ nữ phát triến được gần 50.000 hội viên, đoàn viên, phong trào du kích xã, ấp phát triển, chất lượng chiến đấu được nâng cao. Đảng bộ không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, số lượng được tăng lên với 4.075 đảng viên(1).

Qua 1 năm thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng tiến hành “Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”, cùng với miền Nam, Đảng bộ và quân dân Sóc Trăng - Bạc Liêu đã giành thắng lợi lớn, đã giáng một đòn bất ngờ làm cho quân địch hoang mang dao động mạnh. Ta đã tiến công vào sào huyệt địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, tạo nên thế và lực mới của phong trào cách mạng tỉnh, góp phần làm thay đổi cục diện có lợi cho ta làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo nên bước ngoặt mới cho công cuộc giải phóng miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chấp nhận rút quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam; phải xuống thang chiến tranh chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc và chấp nhận họp Hội nghị bốn bên ở Pa-ri về việc ngừng chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên trong chỉ đạo của ta có một số khuyết điểm: ‘‘Chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên ta đã đề ra yêu cẩu chưa thật sát với tình hình thực tế. Ta đã không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyền hướng kịp thời. Ta chậm thấy những cố gắng mới của địch, những khó khăn lúc đó của ta, không đánh giá hết âm mưu trong kế hoạch bình định nông thôn(1) nhằm giành lại những vùng đã mất”. Sau Tết Mậu Thân ta chuyển chậm, chủ trương tiếp tục các đạt tấn công vào đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm để địch gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất(3). Công tác binh vận của ta bị động, lúng túng khi địch cắm trại ta không liên hệ được nội tuyến, không kết hợp được với lực lượng vũ trang, chính trị để tiến công địch.

Mặc dù vậy, “cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị tri to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng”(4). Đây là một cuộc tổng diễn tập của toàn Đảng, quân, dân nói chung và Đảng bộ quân dân Bạc Liêu nói riêng, nhằm nâng cao khả năng tấn công địch giành thắng lợi hoàn toàn sau này.

Với ý chí kiên cường và lòng quyết tâm đánh thắng quân Mỹ xâm lược, quân dân Sóc Trăng - Bạc Liêu đoàn kết, dũng cảm tiến công địch, cùng cả nước đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” - bước leo thang cao nhất của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chuyển phong trào cách mạng miền Nam sang bước ngoặt mới.


(1) Báo cáo tình hình tháng 11-1968 và sơ kết cao điểm tháng 12-1968.
(2) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng (12-1973)
(3) Kết luận về Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ của Bộ Chính trị BCH TƯ Đảng (ngày 25-5-1994)
(4) Kết luận về Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ của Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng (ngày 25-5-1994)


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:35:56 am
Chương năm

KIÊN CƯỜNG BÁM TRỤ, ĐÁNH BẠI NGHIÊM TRỌNG BÌNH ĐỊNH
CỦA MỸ NGỤY, GÓP PHẦN GIÀNH THẮNG LỢI HIỆP ĐỊNH PA-RI
(1969-1973)

I. BÌNH ĐỊNH VÀ CHỐNG BÌNH ĐỊNH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BẠC LIÊU (1970)

Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán 4 bên ở Pa-ri. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố bám lấy Việt Nam và Đông Dương. Thực hiện “chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh” kết hợp ba loại chiến tranh: giành dân, hủy diệt, bóp nghẹt, trong đó bình định giành dân đóng vai trò quyết định. Tiến hành ào ạt các hình thức chiến dịch: bình định cấp tốc, bình định xây dựng, bình định phát triển, ở đồng bằng sông Cửu Long chúng tiến hành vào tháng 10 năm 1968.

Tháng 11 năm 1968, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng chỉ thị cho Đảng bộ miền Nam, chủ trương tiếp tục tổng công kích tổng khởi nghĩa. Ngày 20 tháng 1 năm 1969, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam thông báo đến cấp huyện ủy về âm mưu bình định cấp tốc của địch, chủ trương đẩy mạnh tiến công toàn diện, gắn quá trình tổng công kích, tổng khởi nghĩa với đánh bại bình định cấp tốc của địch.

Tại chiến trường Bạc Liêu:

Tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và hai đợt tiếp theo. Lực lượng tỉnh, huyện, xã tập trung vào thi xã tỉnh lỵ Bạc Liêu, tiêu hao một bộ phận quân địch. Phá hủy một số phương tiện chiến tranh. Tại các chi khu đồn bót, lực lượng ta chủ yếu bao vây, bắn tỉa, kềm căng địch, gây thiệt hại cho địch không đáng kể. Cuối năm 1968, địch ở Bạc Liêu được tăng cường trang bị pháo 105 - 155mm, tiểu liên AR15, M16, bắt lính bù đắp quân số hao hụt và thành lập thêm tiểu đoàn 408 và 3 đại đội bảo an tiểu khu, 4 đại đội bảo an chi khu, 3 đại đội bảo an và 350 dân vệ đóng 32 đồn bót (tính cả quận Vĩnh Châu), 150 tên cảnh sát các loại. Tại tỉnh ly còn có hậu cứ sư đoàn 21 ngụy, 1 sân bay, 1 chi đội xe M113, trung tâm huấn luyện “Dân Chí” trung đoàn 33, sư đoàn 21 ngụy túc trực.

Về ta: Lực lượng vũ trang tỉnh qua tổng tiến công Mậu Thân tiêu hao khá lớn. Biên chế lại còn tiểu đoàn Phú Lợi 1 và 1 đại đội độc lập, hoạt động trên địa bàn Sóc Trăng và Bạc Liêu. Địa phương quân Hồng Dân và Vĩnh Lợi biên chế lại mỗi nơi còn 1 đại đội thiếu, biệt động thị xã Bạc Liêu 2 trung đội thiếu, du kích các xã phổ biến còn từ 1 tiểu đội đến trung đội thiếu. Bổ sung quân số gặp khó khăn, súng đạn thiếu nghiêm trọng.

Chuẩn bị cho đợt tiến công nổi dậy xuân 1969 Tỉnh ủy chủ trương mỏ đợt phát động sâu rộng tứ nội bộ ra quần chúng với các chủ đề: “Phong trào thanh niên 5 xung phong” ở vùng giải phóng, “Phong trào 4 dũng cảm” của thanh niên thị xã, thị trấn, “Phong trào phụ nữ 5 tốt”, “Phong trào việc nhỏ chí lớn” trong thiếu niên. Tỉnh ủy và Tỉnh đội lập ban chỉ đạo vận động thanh niên tòng quân của tỉnh do đồng chí Nguyễn Tấn Thành (Sáu Kẹo), Tỉnh ủy viên làm trưởng ban. Các huyện thị và cơ sở thành lập ban vận động do cấp ủy lãnh đạo, cấp đội làm nòng cốt.

Đợi phát động tạo được sinh khí mới ở nhiều địa phương, có hàng trăm thanh niên nhập ngũ. Song, khó khăn lớn của lực lượng vũ trang các cấp là thiếu cán bộ cốt cán và thiếu vũ khí đạn dược. Hệ thống công trường tỉnh, huyện, xã đã được khôi phục và hoạt động, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu trang bị và chiến đấu của các đơn vị.

Vào đồng loạt tấn công xuân Kỷ Dậu 1969, tiểu đoàn Phú Lợi của tỉnh thắng lớn, tiêu diệt cứ điểm Tam Sóc. Địa phương quân huyện Vĩnh Lợi phối hợp với du kích xã Long Thạnh diệt đồn Béc Hen nhỏ và đồn Trà Khứa thu hàng chục súng. Du kích nhiều xã xông lên bao vây đồn bót, đào phá và đắp mô chướng ngại, gài trái nổ trên nhiều đoạn quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A), gây ách tắc giao thông cho địch.

Bọn địch ở tiểu khu, chi khu, đồn bót bung ra phản kích, giải tỏa, lực lượng ta đánh trả gây cho địch một số thiệt hại. Ta cũng bị tiêu hao, bị địch đánh dạt khỏi ven thị xã, thị trấn và quốc lộ 4.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:36:19 am
Cuối tháng 2 năm 1969, tiểu khu Bạc Liêu dùng trực thăng đổ tiểu doản bảo an tiểu khu và tiểu đoàn 4 trung đoàn 33 sư đoàn 21) chốt tuyến kinh xáng số 2 Phước Long, càn quét đánh phá các xã Vĩnh Phú, Vĩnh Hưng, Phong Thạnh phục vụ bình định đóng đồn.

Tiểu đoàn Phú Lợi của tỉnh đang bổ sung quân số và rèn luyện vùng căn cứ huyện Hồng Dân. Được chỉ thị của Tỉnh ủy và Tỉnh đội phối hợp các huyện thuộc phân ban Bạc Liêu bẻ gãy mũi bình định cấp tốc của địch trên địa bàn này. Sau thời gian trinh sát, thực địa, thượng tuần tháng 3 năm 1969, tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp địa phương quân huyện Hồng Dân tập kích diệt gọn đại đội địch chốt tại Xáng Cụt - xã Vĩnh Phú, thu 80 súng, pháo kích làm thiệt hại nặng cụm quân khác đóng ở Bào Sàng. Hôm sau, đơn vị phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an tiểu khu Bạc Liêu hành quân phản kích.

Tiếp theo, đêm 21 tháng 3 năm 1969, tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với địa phương quân huyện Vĩnh Lợi, biệt động và đơn vị an ninh vũ trang thị xã Bạc Liêu tập kích sân bay Bạc Liêu, diệt và làm bị thương 23 tên địch, bắn cháy 2 máy bay L19, bắn cháy và phá hủy 11 xe MI 13, một kho xăng, thu 7 súng. Cùng lúc, địa phương quân Vĩnh Lợi tiêu diệt đồn dân vệ Trà Văn trên quốc lộ 4 cách trung tâm thị xã 2 km.

Địch bị đánh liên tục, kế hoạch bình định chiếm đóng tuyến Kinh Xáng cầu số 2 đi Phuớc Long chựng lại.

Tháng 4 năm 1969, địa phương quân huyện Vĩnh Lợi đánh thiệt hại nặng đồn Xã Xính (xã Châu Thới), trên đường rút quân về căn cứ bị trực thăng địch truy kích làm hàng chục chiến sĩ hy sinh và bị thương.

Cuối tháng 4 năm 1969, tiểu khu Bạc Liêu đổ quân chốt cụm tuyến kinh Xáng cẩu số 2 đi Phước Long, tuyến kinh xáng Vĩnh Hưng đến Cầu Sập. Cùng lúc, tiểu khu Chương Thiện đổ 1 tiểu đoàn của sư đoàn 9 ngụy chốt cụm ở Phèn Suông đến Dày Oán, vùng giải phóng của xã Ninh Quới tiếp giáp với vùng giải phóng Long Mỹ. Lần này địch đổ quân ồ ạt, nhiều điểm, sâu trong vùng giải phóng của ta. Quân số địch lên đến cả trung đoàn chủ lực, phối hợp với bọn chi khu, đồn bót bung ra càn quét, cụm quân, chà đi xát lại nhiều ngày. Địa phương quân các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cùng du kích các xã bám đánh địch nhiều trận gây cho chúng nhiều thiệt hại. Riêng cụm quân ở Phèn Suông - Dày Oán (xã Ninh Quới), du kích xã do đồng chí Tuyên và đồng chí Điền lãnh đạo, phục kích đánh bọn địch bung ra 3 trận, diệt 36 tên, đặc biệt là trận tập kích chớp nhoáng vào hậu cứ tiểu đoàn địch tại vàm Phèn Suông thu 20.000 viên đạn, du kích thọc sâu đánh bọn dân vệ và hội đồng xã Ninh Quới, diệt 5 tên, thu 4 súng. Du kích thị trấn Phước Long diệt 9 tên ác ôn...

Đợt hè và đợt thu năm 1969, các lực lượng vũ trang của ta chủ yếu là tiếp tục bám đánh các mũi bình định cấp tốc của địch. Tuy nhiên, địch dựa vào quân đông, được phi pháo của vùng 4 chiến thuật chi viện tối đa, lực lượng ta quân số bổ sung không bù đắp số tiêu hao, thiếu đạn, không đủ sức đánh dài hơi. Địch lấn tới đóng đồn bót, cơ sở chính trị và quần chúng chạy dạt, dồn vào các lõm căn cứ, lực lượng vũ trang ta lâm vào thế bị động chống đỡ.

Ngày 1 tháng 9 năm 1969, Tỉnh ủy, Tỉnh đội mở Hội nghị du kích chiến tranh toàn tỉnh, đánh giá tình hình chống phá bình định, nêu quyết tâm bám trụ và đề ra biện pháp, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, ngăn chặn, đẩy lùi bình định của địch, đẩy mạnh hơn nữa phong trào xây dựng ấp, xã chiến đấu, công trường sản xuất vũ khí, vận động tòng quân.

Ngày 3 tháng 9 năm 1969, được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, theo chỉ thị của Tỉnh đội, cùng với Đảng bộ và nhân dân, các lực lượng vũ trang trong tỉnh tổ chức lễ tang Bác. Tổ chức phát động “Học tập và làm theo Di chúc của Bác”. Biến đau thương thành hành động cách mạng quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong những ngày lễ tang Bác, lực lượng vũ trang tình diệt hàng trăm địch, bắn cháy 4 xe M113, bốn trực thăng khi chúng đánh vào ấp Trường Lộc, xã Trường Khánh, nơi đơn vị c247 đang làm lễ truy điệu Bác. Du kích và Đảng bộ xã Châu Thới lập đền thờ Bác tại ấp Bà Chăng, thề chiến đấu đến hơi thở cuối cùng bảo vệ đền thờ Bác. Quân dân xã Châu Thới đã giữ trọn lời thề bảo vệ an toàn đền thờ Bác đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Cùng thời gian này, vùng 4 chiến thuật ngụy mở chiến dịch quy mô “bình định, nhổ cỏ U Minh” và cuộc hành quân “bịt kín đường 1C của cộng sản” (Hà Tiên - lộ Cái Sắn). Chiến dịch này bị quân dân U Minh và Rạch Giá gây cho chúng thiệt hại nặng nề, phải kết thúc trước kế hoạch. Tuy nhiên, trong khu vực các xã Phước Long, Ninh Thạnh Lọi, Vĩnh Lộc là vung giải phóng của huyện Hồng Dân nối liền U Minh Thượng, địch sử dụng các trung đoàn của sư đoàn 9 đánh phá dài ngày, chốt đóng hàng chục đồn bót, uy hiếp vùng giải phóng còn lại của huyện Hồng Dân.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:37:19 am
Ngày 11 tháng 10 năm 1969. Khu ủy Tây Nam Bộ chỉ thị “đẩy mạnh tiến công đợt Đông”. Quân khu ủy chỉ thị: Tập trung đánh bại bình định thêm một bước và nhanh chóng phát triển lực lượng ta, tạo điều kiện vững chắc để sang Xuân giành thắng lợi cao hơn. Tiếp theo, Quân khu ủy có chỉ thị các lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tân công địch phối hợp với chiến dịch phản công phá kế hoạch bình định U Minh.

Lực lượng vũ trang Bạc Liêu qua đợt phát động học tập và làm theo Di chúc Bác Hồ, đã bổ sung quân số và chấn chỉnh tổ chức, bám đánh địch càn quét, bao vây bắn tỉa đồn bót.

Đêm 11 tháng 11 năm 1969, đơn vị Phú Lợi kết hợp du kích xã Châu Hưng tập kích đại đội bảo an cụm quân bình định ở cầu Cà Lâm, diệt và làm bị thương nhiều tên, chúng tháo chạy, bỏ kế hoạch đóng đồn.

Năm 1969, mặt trận bình định và chống bình định trên chiến trường Bạc Liêu diễn ra vô cùng ác liệt. Trong toàn tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu, ta đánh địch 2.037 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 14.700 tên địch: Địch lấn chiếm nhiều vùng giải phóng của ta, đóng thêm 123 đồn bót, làm chết và bị thương 2.256 cán bộ và nhân dân, bắt 1.603 người, 2.000 nhà bị cháy sập, 81.999 gịa lúa dám phụ và lúa của nhân dân bị đốt và cướp. Ta diệt được nhiều địch, nhưng mất đất, mất dân, thiệt hại của Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh khá lớn.

Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã thiếu quân số, vũ khí, địa bàn ngày càng bị thu hẹp. Khó khăn nhất là huyện Vĩnh Lợi, trong 9 xã địch đã đóng đồn bót cũ và mới 80 cái, 27 “cốt” phòng vệ dân sự, 10 đoàn bình định, 8 ban tề xã, 8 cuộc cảnh sát, 68 ban tề ấp, 41 trung đoàn phòng vệ dân sự; Đảng bộ hy sinh gần 100 cán bộ đảng viên. Có 1 chi ủy viên, 1 xã đội phó và 2 đảng viên đầu hàng dẫn địch đánh phá cơ sở, khui trên 20 hầm bí mật. Đảng bộ và du kích xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Trạch, Châu Hưng bị đánh dạt ra khỏi địa bàn. Nghiêm trọng hơn là có 1 Tỉnh ủy viên phân hóa chạy dài bỏ Đảng; 1 đoàn viên đầu hàng phục vụ cho địch bắt hàng trăm cán bộ và gia đình cách mạng ở ven thị xã Bạc Liêu, tác động xấu đến tư tưởng tâm lý Đảng bộ, lực lượng vũ trang và quần chúng.

Tình hình ngày càng ác liệt, địch bình định ào ạt, lấn tới, diễn biến tư tưởng trong Đảng và quần chúng nặng nề thêm. Xã nào cũng có đảng viên cốt cán bỏ việc, đầu hàng, tác động xấu đến tinh thần tư tưởng của lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1970, Tỉnh ủy họp quán triệt Nghị quyết của Trung ương, Trung ương Cục, Khu ủy, Tỉnh ủy nêu phương hướng nhiệm vụ năm 1970 của tỉnh “nỗ lực vượt bậc hơn nữa, phát huy thắng lợi đã giành được, ra sức khắc phục những nhược điểm tồn tại, đẩy mạnh tiến công địch ba mũi giáp công, tiêu diệt và làm tan rã nhiều sinh lực địch, giành quyền làm chủ và mở rộng vùng nông thôn giải phóng, đánh bại một bước kế hoạch bình định nông thôn của địch”.

Nghị quyết đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các mặt vũ trang, chính trị, binh vận, xây dựng lực lượng cách mạng, trong đó chú trọng củng cố phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang các cấp; tập trung đợt xây dựng “chi bộ 4 tốt” theo Nghị quyết 8 của Trung ương Cục(1). Đảng bộ và các lực lượng vũ trang tiến hành chỉnh huấn tư tưởng theo nội dung 5 xây, 5 chống; phát động quần chúng với nội dung “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Đợt sinh hoạt chính trị, chỉnh huấn tạo được chuyển biến quan trọng. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh ủy, hàng trăm đảng viên trẻ và đoàn viên thanh niên lao động các ngành tỉnh, huyện, xã gia nhập lực lượng vũ trang. Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã được bổ sung, tăng số lượng lẫn chất lượng, qua chỉnh huấn có bước chuyển biến về tinh thần tư tưởng - tổ chức và lực lượng. Đơn vị B68 bảo vệ Tỉnh ủy được bổ sung quân thành lập đại đội mới, phiên hiệu c1/70. Các xã địch bình định, cán bộ đảng viên ly hương, qua chỉnh huấn đã có một bộ phận cùng với du kích trở lại bám địa bàn, móc nối, gây dựng cơ sở ba mũi. Các ấp lõm giải phóng, du kích, cơ quan, nhân dân bố trí bãi lửa (chông, lôi, mìn, lựu đạn) chống địch biệt kích càn rừng, phá địa hình.


(1) Tiêu chuẩn 5 tốt đối với LLVT: 1-Tuyệt đối trung thành với cách mạng, đoàn kết tốt; 2-Chiến đấu dũng cảm, công tác tích cực, hoàn thành nhiệm vụ tốt; 3-Tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hóa nghiệp vụ và rèn luyện thể lực tốt; 4- Chấp hành kỷ luật tốt, phòng gian bảo mật tốt; 5-Giữ gìn vũ khí trang bị tốt, lao động sản xuất, tiết kiệm tốt.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:37:51 am
Chiến thuật mới của địch là “dùng trực thăng vũ trang soi đêm”, bắn phá các căn cứ lõm của du kích và các đường hành lang vận chuyển của ta. Đêm 21 tháng 1 năm 1970, đồng chí Phạm Ngọc Em, ấp đội trưởng Xóm Tre (xã Ninh Quới) cùng Đoàn Văn Hớn, du kích xã dũng cảm bắn rơi tại chỗ 1 chiếc trực thăng “soi đêm” và bắn bị thương 1 chiếc khác. Địch cho 1 tốp trực thăng đến bắn phá, lấy xác đồng bọn. Du kích xã và du kích ấp Ngang Kè bắn cháy thêm 1 chiếc nữa. Lần đầu tiên trong tỉnh, du kích ấp bắn rơi trực thăng, trừng trị chiến thuật “trực thăng soi đêm” của Mỹ - ngụy.

Chuẩn bị cho đợt xuân hè năm 1970, Quân khu điều Trung đoàn 1 chủ lực Khu lên địa bàn tây nam Chương Thiện, bao gồm một số xã huyện Hồng Dân, thuộc chi khu Kiến Thiện. Nhiệm vụ: phối hợp lực lương vũ trang địa phương tấn công địch đợt xuân hè, ngăn chặn, đẩy lùi bình định của địch vùng đồng bằng

Đêm 3 tháng 3 năm 1970, vào đồng loạt của Khu. Trung đoàn 1 chủ lực Khu phối hợp địa phương quân huyện Hồng Dân đánh thiệt hại nặng chi khu Phước Long diệt và làm bị thương 120 tên địch, diệt chi cảnh sát, phá hủy 2 khẩu pháo 105 mm, 1 kho đạn: diệt, gọn 2 đồn Miếu Bà và kinh Cộng Hòa An giữa tây bắc chi khu, thu 50 súng.

Liên tiếp 3 ngày, ngày 4, 5, 6 tháng 3 năm 1970, địch đổ 2 trung đoàn 32 và 22 (sư đoàn 21) phân kích vùng Xẻo Dừng, Chòm Cao, Cỏ Thum, kinh Xá Sang (xã Ninh Thạnh Lợi). Lực lượng ta gồm: Trung đoàn chủ lực Khu và bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích các xã dựa vào công sự bắn trực thăng đổ quân, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Ba ngày đánh địch phản kích ta đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn 32 và 33, loại khỏi vòng chiến đấu trên một nghìn tên địch, trong đó có 37 tên đầu hàng, thu 457 súng, bắn rơi hai phản lực F105, năm trực thăng, bị thương 7 trực thăng và 1 máy bay trinh sát L19.

Thua đau, địch điều động thêm trung đoàn 15. sư đoàn 9, lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến và 3 chi đoàn xe bọc thép, 20 khẩu pháo, cụm quân, càn rừng suốt 20 ngày liền; chúng quyết đẩy lùi chủ lực ta ra khỏi địa bàn. Địch bị hầm chông bãi lừa chết, bị thương hàng trăm tên. Riêng tại Cái Cui, khu vực cơ quan tuyên huấn tỉnh, địch bị nổ trái chết và bị thương 20 tên. Chúng điên cuồng trả thù, bắn chết hàng trăm đồng bào ta, đốt nhiều nhà dân.

Lực lượng võ trang địa phương và du kích vào cao điểm bao vây bấn tỉa đồn bót, đánh địch nống ra diệt hàng trăm tên, nổi bật là địa phương quân huyện Hồng Dân phối hợp du kích xã Lộc Ninh phục kích diệt 1 trung đội biệt kích, một đoàn bình định, thu toàn bộ vũ khí: phối hợp tiểu đoàn Phú Lợi tập kích cụm quân chủ lực hỗ trợ bình định tại Xẻo Chích (Ninh Quới) diệt gần 100 tên địch, thu nhiều súng đạn. Quần chúng quanh chỗ địch cụm quân làm công tác binh vận, nhiều lính đào ngũ, quần chúng hướng dẫn, đưa đón về tới gia đình.

Huyện Vĩnh Lợi, địa phương quân huyện phối hợp với tiểu đoàn Phú Lợi tập kích diệt gọn đại đội Bảo an cụm quân đóng đồn ấp Hoàng II (xã Hưng Hội), thu vũ khí, có 1 cối 60, 1 đại liên. Tiếp đó, địa phương quân huyện kết hợp du kích xã Châu Thới diệt đồn Dù Phịch. Du kích xã Hưng Hội phục kích diệt tên Thơm, trưởng đoàn bình định, thu 2 súng, 1 máy thông tin HT1.

Kết thúc mùa khô năm 1970, chiến trường miền Tây cũng như trong tỉnh có chuyển lên một bước về tiêu diệt địch, chống phá bình định và xây dựng thực lực cách mạng, nhất là lực lượng vũ trang. Song, bình định của địch chưa chựng lại. Khu vực căn cứ các xã Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc huyện Hồng Dân địch đóng mới 12 đồn bót.

Cũng trong mùa khô năm 1970, thực hiện cái gọi là “chiến tranh bóp nghẹt”, đế quốc Mỹ giúp Lon-non đảo chánh chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia, xóa chế độ trung lập, dựng nên chính quyền Lon-non tay sai Mỹ, hòng bóp nghẹt cách mạng miền Nam. Ngày 29 tháng 4 năm 1970, chúng huy động 5 vạn quân Mỹ và 5 vạn quân ngụy tấn công xâm lược Cam-pu-chia. Cuộc hành quân này bị lực lượng ta và bạn Cam-pu-chia đánh bại. Các sư đoàn nòng cốt của vùng 4 chiến thuật bị thiệt hại nặng, chỗ dựa của kế hoạch bình định đồng bằng sông Cửu Long bị lung lay. Về ta, đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục và đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền được điều động tăng cường cho khu Tây Nam Bộ, Trung ương cũng tăng cường cho Tây Nam Bộ một trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 10) để hỗ trợ chống phá bình định.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:39:23 am
Địch chủ yếu dựa vào quân đội để bình định, đánh phá cơ sở cách mạng và kềm dân tại xóm ấp, nên chúng triển khai hệ thống đồn bót dày đặc, hầu như cứ mỗi ấp một cái đồn, đồn bót cách nhau không quá 5km. Căn cứ hậu phương của ta bị thu hẹp, chỉ tồn tại những căn cứ lõm, trong tầm nhìn của đồn bót giặc, điều kiện ăn ở sinh hoạt của cán bộ và lực lượng vũ trang vô cùng vất vả, căng thẳng, đòi hỏi phải có phương thức mới phù hợp (lực lượng tinh gọn, ăn ở, đi lại hoạt động theo phương châm bí mật, khéo ngụy trang...). Tuy nhiên, tình hình mới cũng đẩy địch vào thế lực lượng quân địa phương bị dàn mỏng, nhất là lực lượng chi khu và xã. Đồn bót địch trước đó từ 1 trung đội đến đại đội Bảo an hoặc dân vệ. các thị tứ của xã và các chốt chiến lược thường là đại đội Bảo an, nay hầu hết đồn bót mới chiếm đóng, mỗi xã chỉ 1 vài đồn “cái”, quân Bảo an từ 2 tiểu đội đến trung đội để làm nòng cốt, còn lại là dồn dân vệ từ 1 tiểu đội đến trung đội, có nơi một tiểu đội dân vệ cộng với một “cốt” tiểu đội phòng vệ, có nơi trung đội phòng vệ cụm dã ngoại trong dân(1). Rõ ràng so sánh đơn vị từng đồn bót của địch thì hiện nay “bở”'(2) hơn trước nhiều, cả về quân số, vũ khí, kiên cố công sự, mặt khác có bộ phận khá lớn là lính mới và bị ép úp bộ vào phòng vệ dân sự. Từ đó, xuất hiện điều kiện mới về so sánh lực lượng cụ thể tại địa phương giữa từng đồn bót địch với lực lượng du kích xã và địa phương quân huyện ở thế ta mạnh, địch yếu. Một khi lực lượng ta bám trụ địa bàn, dựa vào dân, đặc biệt là mũi binh vận kết hợp thì khả năng diệt gọn đồn bót đối với địa phương quân và du kích sẽ trở thành phổ biến. Về phía quân cơ động tiểu khu của địch, một khi đồn bót nông thôn bị tấn công trên diện rộng thì chúng không đủ khả năng can viện.

Đó là điểm yếu không thể khắc phục của địch khi chúng ào ạt bình định chiếm đóng, dàn mỏng lực lượng; là điều kiện thuận lợi mới của ta, nhất là lực lượng địa phương mở rộng khả năng tiêu diệt tiêu hao sinh lực địch, thu vũ khí, trang bị cho ta.

Vào cao điểm đợt mùa thu tháng 7 năm 1970, địa phương quân và du kích các xã của huyện Vĩnh Lợi nhờ bám trụ vững ở các địa bàn tiếp cận địch, bắt đầu đánh địch có hiệu quả cao. Du kích xã Vĩnh Mỹ A và Long Thạnh đánh bọn trong đồn nống ra, thu 4 súng. Du kích xã Hưng Hội diệt 5 tên ở đồn Gia Hội thu 5 súng. Địa phương quân đánh thiệt hại nặng đồn Trà Co và đồn Thào Lạng. Du kích xã Châu Hưng bố trí bãi mìn clây-mo diệt trung đội dân vệ đồn Cái Dầy, bắt sống 20 phòng vệ, thu 9 súng. Du kích xã Vĩnh Lợi đánh bọn trong đồn nống ra, thu 4 súng.

Địa phương quân huyện Hồng Dân phối hợp một bộ phận Trung đoàn 2 của Khu, phục kích diệt 1 đại đội Bảo an và 1 trung đội biệt kích quận Phước Long, bắt sống 5 tên thu hàng chục súng. Tiếp theo, lực lượng ta bao vây đồn Lái Viết (xã Ninh Hòa) đánh viện, diệt gọn đại đội Bảo an 658 và Ban chỉ huy hành quân, 2 tên cố vấn Mỹ và tên quận trưởng Thép đền tội.

Cuối năm 1970, từ kết quả bám trụ, xây dựng lực lượng ba mũi, du kích xã Vĩnh Hưng kết hợp nội tuyến diệt đồn dân vệ Bà Bèo, thu toàn bộ vũ khí, trang bị cho du kích xã. Tiếp theo, 3 cán bộ chính trị ấp Mỹ Hòa bám trụ tuyến kinh xáng khoảng giữa đồn Đất Phèn đến đồn Rọc Lá (không đầy 2km), được quần chúng phục vụ, các đồng chí dùng lựu đạn và 1 khẩu AR15 diệt gọn 3 tên dân vệ đồn Lung Cả Huế (ấp Mỹ Thọ Tây), thu 1 khẩu M79, 2 khẩu AR15. Du kích xã Vĩnh Hưng từ 1 tiểu đội phát triển lên 1 trung đội, trang bị mạnh.

Cùng thời gian này, du kích xã Ninh Quới kết hợp nội tuyến diệt gọn đồn Xóm Tre, thu toàn bộ vũ khí. Địch tái chiếm đồn Bà Bèo và Xóm Tre, nhưng thắng lợi của du kích xã Vĩnh Hưng và Ninh Quới có ý nghĩa lớn về bài học bám trụ và khả năng du kích xã kết hợp binh vận diệt được đồn.

Cuối năm 1970, bọn địch ở vùng 4 chiến thuật tổ chức lấn chiếm U Minh lần thứ ba. Địch tổn thất nặng hơn hai lần trước, nhưng chúng đóng được một số đồn thọc sâu vào căn cứ U Minh. Vùng căn cú rừng chồi các xã Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh địch đóng thêm 8 đồn, có một chốt nằm giữa rừng Hóc Quả trên tuyến sông Bến Luông - Cái Chanh do 1 tiểu đoàn chót cắm, 4 khẩu pháo 105mm, chặn đường hành lang vận chuyển của ta từ U Minh lên chiến trường Long Mỹ - Chương Thiện.

Toàn phân ban Bạc Liêu chỉ còn 3 ấp rừng chồi thuộc xã Ninh Thạnh Lợi (Hồng Dân) là vùng giải phóng, căn cứ của tỉnh và huyện Hồng Dân. Còn lại là những căn cứ lõm phạm vi chỉ một ấp, nửa ấp, địch thường đánh phá. Lực lượng ta tồn tại trong địa hình kết hợp bãi lửa, hầm bí mật, gian khổ và ác liệt. Tuy nhiên, những chiến thắng đầu tiên trong đợt Hè Thu và cuối năm 1970, đặc biệt là lực lượng du kích kết hợp binh vận diệt đồn ở Vĩnh Hưng và Ninh Quới có tác dụng đem lại niềm tin của Đảng bộ và lực lượng vũ trang, tin tưởng khả năng đánh bại bình định của địch.


(1) Trang bị của phòng vệ dân sự thường là chỉ 1/2 biên chế, bằng các loại vũ khí thuộc thế hệ cũ: cạc-bin M1, M2, Mỹ tự động, lựu đạn.
(2) Mỏng và yếu


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:41:01 am
II. LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LUỒN SÂU, BÁM TRỤ, KẾT HỢP BA MŨI GIÁP CÔNG ĐẨY LÙI TỪNG BƯỚC BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH, GIÀNH THẮNG LỢI TỪNG PHẦN (1971)

Cuối năm 1970, Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết 10 (được cụ thể thành Chỉ thị 01/71) “chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đánh bại bình định là nhiệm vụ trung tâm”.

Đầu tháng 3 năm 1971, đồng chí Võ Văn Kiệt, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, Bí thư Khu ủy Tây Nam Bộ triển khai Chỉ thị 01 của Tỉnh ủy. Xác định phương thức chống phá bình định là “luồn sâu, bám trụ, xây dựng lực lượng, kết hợp ba múi giáp công đánh địch”. “Trong tình hình mới, cấp trên phải bám cơ sở, thực hiện Đảng bám dân, dân bám đất, ba mũi bám đánh địch...”.

Ban cán sự Tỉnh đội ra nghị quyết học tập quán triệt nghị quyết Đảng, phát động trong toàn quân phong trào tình nguyện bám trụ vùng địch bình định. Các cấp đội, chỉ huy đơn vị chọn đưa đi bám trụ là những cán bộ chiến sĩ có khả năng và điều kiện là người địa phương, có gia đình và người thân trong vùng địch bình định, nhất là có người thân và bạn bè đang là tề lính địch). Nhiệm vụ là vận động quần chúng, xây dựng lực lượng bạ mũi, vận động, móc nối người thân của mình đang trong hàng ngũ địch làm nội tuyến, nội ứng, kết hợp lực lượng bên ngoài diệt đồn, diệt ác, phá bình định của địch. Các lực lượng còn lại của các đơn vị được biên chế gọn nhẹ, mạnh, bảo đảm cơ động, bí mật, kết hợp lực lượng bám trụ để đánh địch, diệt ác, phá kềm.

Đợt học tập, phát động tạo chuyển biến quan trọng, phần lớn địa bàn xã, ấp địch bình định đều có lực lượng chính trị, binh vận, công an, lực lượng vũ trang bám trụ. Giữa năm 1971, nhiều nơi xây dựng được cơ sở cảm tình, nội tuyến trong lực lượng phòng vệ, dân vệ. tề ấp của địch. Riêng huyện Hồng Dân các xã đều xây dựng được cơ sở nội tuyến trong phòng vệ dân sự và dân vệ. Đây là những ngòi nổ ngay trong lòng địch, tạo điểu kiện cho phương thức ba mũi đánh phá bình định của địch trên diện rộng, mà kẻ địch không lường nổi.

Lực lượng bám trụ xây dựng được nhiều loại hầm bí mật (hầm nấp, vách đôi) trong nhà dân và các lõm căn cứ kết hợp địa hình với bãi lửa và hầm bí mật, có sức chứa từ 1 tổ, 1 tiểu đội, đến trung đội lực lượng vũ trang, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang tiếp cận đánh địch bất ngờ.

Trên chiến trường chung, mùa khô năm 1970 -1971, Mỹ - ngụy cùng lúc tổ chức hành quân lớn tiến công đánh đường 9 - Nam Lào, Ka-ra-chê - Công-pông-chàm - Cam-pu-chia và vùng 3 biên giới(1), hòng bóp nghẹt đường chi viện từ miền Bắc cho cách mạng miền Nam Đến 16 tháng 4 năm 1971, ba cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy phải kết thúc thảm bại, chúng phải co về tuyến sau phòng thủ và củng cố lực lượng. Một lần nữa các sư đoàn chủ lực ngụy ở vùng 4 chiến thuật bị đánh thiệt hại nặng, khả năng hỗ trợ, chi viện bình định đồng bằng sông Cửu Long bị giảm sút. Tinh thần thất bại chủ nghĩa xuất hiện trong các đơn vị chủ lực ngụy, tác động tới tề ngụy trong tỉnh. Ngược lại, những chiến thắng vang dội ở chiến trường chính đã củng cố niềm tin, cổ vũ tinh thần chiến đấu của Đảng bộ và quân dân tỉnh nhà.

Phối hợp chiến trường nông thôn, 6 tháng đẩu năm 1971, biệt động mật của thị xã phục vụ đội biệt động diệt hàng chục tên thám báo, tề điệp ác ôn ở Trà Kha B, Trà Kha A, Khu 4 và Tân Tạo. Trước đó, cơ sở hợp pháp của công an thị xã dùng lựu đạn diệt tên Chính Nhã, một tên đầu hàng phục vụ địch đánh phá cơ sở cách mạng có nhiều nợ máu với nhân dân.

Tháng 9 năm 1971, Khu ủy và Quân khu ủy Tây Nam Bộ chủ trương đánh mạnh vào bọn chủ lực ngụy đang chiếm đóng ở U Minh. Ta diệt trên 2.000 tên địch, diệt hàng loạt đồn bót, địch rút chạy nhiều chốt. Ta thu hồi 7 khu vực tuyến sông Cái Tàu, giải phóng xã Khánh Hưng B. Sư đoàn 21 ngụy thiệt hại nặng phải chuyển về vùng hậu cứ củng cố. Vùng 4 chiến thuật bỏ kế hoạch tô dày, lấp kín U Minh. Thắng lợi U Minh tạo niềm tin của quân và dân tỉnh nhà đánh bại bình định của địch.

Phối hợp chiến trường U Minh, du kích xã Vĩnh Lợi (huyện Vĩnh Lợi) kết hợp nội tuyến bắt gọn một trung đội phòng vệ dân sự ấp Giồng Nhản (cách trung tâm thị xã Bạc Liêu 6km), thu 20 súng, họp dân xử tên Quyền, tình báo ác ôn. Du kích xã Long Thạnh kết hợp nội tuyến bắt giải tán một trung đội phòng vệ dân sự tại Cầu Sập, thu 5 súng; giải tán trung đội phòng vệ dân sự Cái Tràm, thu 2 súng. Địa phương quân huyện kết hợp du kích Vĩnh Mỹ B diệt đồn Bào Sàng, thu 27 súng, bức rút một đồn khác. Địa phương quân kết hợp du kích xã Long Thạnh diệt đồn Béc Hen nhỏ, thu 15 súng.


(1) Nơi biên giới giáp ba nước Lào – Việt Nam – Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:42:01 am
Ở huyện Hồng Dân, địa phương quân phối hợp du kích xã Lộc Ninh phục kích bọn bảo an chi khu Ngan Dừa vào đóng đồn Vàm Chùa, Cai Giảng, diệt 37 tên, làm bị thương nhiều tên, bắn rơi 1 trực thăng. Địch rút chạy bỏ kế hoạch đóng đồn.

Ngày 2 tháng 9 năm 1971, một nữ du kích mật ở thị trấn Phước Long dùng lựu đạn diệt tên Nhạn, thám báo ác ôn.

Du kích xã Lộc Ninh phục kích đại đội bảo an 66, diệt và bắt sống 33 tên, thu 36 súng, 2 máy PRC25. Đội phòng thủ Huyện ủy Hồng Dân bắn rơi 1 máy bay phản lực F105 của địch đang ném bom ấp Cai Giảng xã Lộc Ninh. Địch cho nhiều tốp trực thăng đến phóng pháo khu vực này, đồng chí xã đội phó và lực lượng du kích xã Lộc Ninh bắn 6 phát đạn làm cháy 1 trực thăng và bị thương 1 chiếc khác.

Tháng 9 năm 1971, địa phương quân và du kích xã Ninh Quới kết hợp nội tuyến diệt đồn cống Sáu Hỷ và Xóm Chùa, thu hơn 28 sũng, giải tán 1 trung đội phòng vệ dân sự. chống phản kích diệt 6 tên địch.

Du kích xã Vĩnh Hưng, dựa vào công sự, bãi lửa, đánh bật nhiều đợt tiến công của tiểu đoàn Bảo an 411 tiểu khu Bạc Liêu, diệt và làm bị thương 21 tên, giữ vững lõm căn cứ ấp Đông Hưng, bảo vệ an toàn hàng trăm cán bộ và quần chúng sơ tán tại đây.

Phối hợp phong trào chính trị, binh vận chống địch bầu cử hạ viện tháng 8 năm 1971 và bầu cử tổng thống ngụy tháng 9 năm 1971, lực lượng du kích xã, ấp bám đánh bọn đồn bót lùa bất dân đi bầu cử, đánh bọn canh gác thùng thăm ở nhiều điểm bầu cử, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Riêng huyện Vĩnh Lợi diệt 91 tên, có 9 trưởng phó đồn, 2 trưởng ấp, 2 tên đầu hàng phản bội, 6 liên toán trường phòng vệ dân sự, thu 32 súng.

Tháng 11 năm 1971, Khu ủy và Quân khu ủy Tây Nam Bộ chủ trương “Chuyển lên tiến công, kết thúc thời kỳ giằng co ác liệt với địch”. Tỉnh ủy, Tỉnh đội chi thị “Tiếp tục đẩy mạnh phản công phá bình định giành thắng lợi lớn hơn, đồng thời chuẩn bị tốt cho các bước kế tiếp, đẩy mạnh hơn nữa công tác binh vận, xây dựng cơ sở nội tuyến trong các sắc lính, ở cả ba vùng, phục vụ cho bước đồng loạt phá bình định mở mảng chuyển vùng, chú trọng phòng vệ dân sự, dân vệ, bảo an đóng đồn vùng kềm mới, vùng trọng điểm”.

Kết thúc năm 1971, toàn tỉnh đánh địch 1.660 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 8.394 tên, diệt 27 đồn. cốt, một phân chi khu, đánh thiệt hại nặng một chi khu thu 1.000 súng. Binh vận kết hợp khởi nghĩa, nội ứng 60 cuộc, gỡ 18 đồn bót, hàng nghìn binh sĩ rã ngũ. Địch tái chiếm hầu hết các đồn bót bị mất, nhưng tinh thần binh sĩ hoang mang, nhiều nơi không dám bung ra lùng sục như trước nữa. Phong trào đấu tranh chính trị trực diện có hàng nghìn quần chúng tham gia, phá bầu cử gian lận của địch, giành nhiều thanh niên khỏi đi lính hơn 1.000 gia đình khu vực địch bắt dân ở yên chỗ cũ làm ăn. Ta giữ vững căn cứ Tỉnh ủy, các huyện, thị ủy các lõm căn cứ của xã. Chi bộ Đảng và du kích đứng vững trên địa bàn bám trụ. Hơn 100 ấp chuyển lên tranh chấp thế ta mạnh, nhân dân hăng hái sản xuất, đưa con em vào lực lượng vũ trang, đóng góp quỹ đảm phụ giải phóng hơn 10.000 giạ lúa.

Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xã phát triển nhanh du kích các xã bám đánh địch nhiều trận gây cho chúng nhiều thiệt hại. Ngoài ra, hệ thống công trường tỉnh, huyện, xã khôi phục khá mạnh, sản xuất các loại mìn, bộc phá, vũ khí cải tiến phục vụ xây bãi lửa, xã ấp chiến đấu và phục vụ bao vây đồn bót. Nhờ đó, sức chiến đấu của các lực lượng nâng cao rõ rệt. Địa phương quân tự lực diệt được đồn trung đội địch, du kích phần lớn xã kết hợp nội tuyến diệt được đồn bót, du kích ấp của một số xã kết hợp nội tuyến diệt được đồn phòng vệ, bắt giải tán cả trung đội phòng vệ dân sự.

Cuộc chiến bình định và chống bình định trong tỉnh năm 1971 tuy ta và địch còn giằng co, ác liệt, nhưng chiến trường đồng bằng Bạc Liêu đã vượt qua thời kỳ khó khăn nhất. Ta đã chặn địch lại, đẩy lui chúng từng bước, giành thắng lợi từng phần. So sánh lực lượng ta địch nhất là tại cơ sở có bước chuyến biến rõ, có lợi cho ta, tạo điều kiện thuận lợi cho năm 1972 phản công đánh bại nghiêm trọng bình định của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:42:51 am
III. PHỐI HỢP CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TOÀN MIỀN, PHẢN CỔNG PHÁ BÌNH ĐỊNH, MỞ MẢNG, CHUYỂN VÙNG, ĐÁNH BẠI NGHIÊM TRỌNG KẾ HOẠCH BÌNH ĐỊNH VÀ CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH CỦA ĐỊCH. GÓP PHẦN GIÀNH THẮNG LỢI HIỆP ĐỊNH PA-RI (1972)

Đầu năm 1972, Bộ Chính trị thông qua nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương và kế hoạch “Cuộc tiến công chiến lược năm 1972”, lấy chiến trường Trị Thiên làm hướng chính. Ngày 30 tháng 3 năm 1972 quân dân ta mở đợt tấn công đồng loạt ở miền Nam. Địch co cụm về phòng thủ tuyến trong, Mỹ tăng cường không quân, hải quân cho quân ngụy, Ních-Xơn ra lệnh ném bom miền Bắc trở lại. Ngày 6 tháng 4 năm 1972 quân dân ta đồng loạt đánh mạnh vào các tỉnh nam Khu 6 cũ. Ních-xơn tuyên bố hoãn không thời hạn các phiên họp ở Hội nghị Pa-ri.

Tại chiến trường Bạc Liêu, ngoài tiểu khu và 4 chi khu, địch có 186 đồn bót đóng trên hai huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi. Quân số chung 11.000 tên (không tính quân chủ lực sư đoàn 21). Tiểu khu Bạc Liêu bất đầu triển khai “kế hoạch tứ niên cộng đồng tự vệ và cộng đồng phát triển địa phương”. Mục tiêu là tập trung tăng cường xây dựng lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự mạnh, xây dựng chính quyền xã ấp vững chắc làm công cụ cho kế hoạch bình định tập trung quét sạch cơ sở cách mạng, quyết không để lực lượng ta tồn tại. Đầu năm 1972, địch tiếp tục đẩy mạnh bắt lính đôn quân, đóng thêm đồn phòng vệ, tô dày thêm hệ thống đồn bốt. Đối với vùng giải phóng và khu căn cứ du kích tăng cường độ phi pháo hủy diệt và tát dân ra vùng địch tạm chiếm, B57 ném bom trộm ban đêm, trực thăng “cá lẹp” phóng pháo; trực thăng “cán gáo” đánh phá hầm trú ẩn, pháo bầy bắn hàng trăm hàng nghìn quả đạn vào một điểm. Địch liên tiếp mở các chiến dịch phát hoang, mang tên “Đồng khởi”, “Sao hôm”, “Đại phong”, v.v... bắt ép phòng vệ và dân chúng dọn sạch cây lá, dùng chất độc hỏa học và đạn pháo “FosFore” phá địa hình. Từ ngày 10 đến ngày 22 tháng 1 năm 1972, địch huy động 1.000 quân của tỉnh và quận, 2.000 phòng vệ dân sự chặt phi rừng tràm Mỹ Phước, đánh vào căn cứ của Tỉnh ủy, rừng lá Lâm Khiết là căn cứ của Tỉnh đội. Tuy nhiên, binh sĩ địch trong tỉnh tinh thần sa sút, hoang mang, không còn chỗ dựa vững chắc là quân chủ lực vùng 4, không còn hung hăng lùng sục như thời kỳ bình định cấp tốc.

Trong thị xã, thị trấn địch mở chiến dịch “Vì dân”, liên tục hành quân cảnh sát, bao ráp lục xét, đánh phá cơ sở cách mạng, trấn áp tinh thần quần chúng, bắt lính, vơ vét thuế khóa. Nhiều nơi chúng cưỡng ép phụ nữ tuổi từ 16 - 35 vào phòng vệ, bắt tập quân sự, canh gác, ai không vô phải đóng tiền canh gác. Bị quần chúng kịch liệt phản đối, dần dần chúng buông trôi.

Tháng 1 năm 1972, Tỉnh ủy họp Hội nghị mở rộng triển khai Chỉ thị 13 của Trung ương Cục, Nghị quyết 26 của Khu ủy, kiểm điểm tình hình hoạt động năm 1971, đề ra nhiệm vụ năm 1972: “Động viên nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ, quân dân trong tỉnh, ra sức phát huy cao độ thành quả đạt được, tranh thủ thời cơ thuận lợi của chiến trường toàn miền, đẩy mạnh ba mũi giáp công với tư tưởng tiến công địch trên tinh thần tự lực tự cường, quyết chiến quyết thắng, đưa phong trào tiến công nổi dậy đồng loạt, đánh cho ngụy quân ngụy quyền sụp đổ một bước để giành thắng lợi lớn nhất, nhằm làm thất bại cơ bản bình định và chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch. Chuyển nông thôn kềm mới lên thế ta mạnh và giải phóng lõm, đứng vững trên địa bàn trọng yếu như trước Tết Mậu Thân. Đồng thời đẩy mạnh phong trào chính trị ở thị trấn, thị tứ lên một bước mới”.

Mục tiêu chung là đẩy mạnh tấn công tổng hợp trên diện rộng, mở mảng, giải phóng vùng kềm mới, chuyển lên thành thế tranh chấp ta mạnh ở vùng kềm cũ. Hai huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi nằm trong trọng điểm 1 của Khu, phối hợp chủ lực Khu mở mảng giải phóng tuyến sông Ngan Dừa nam Long Mỹ là vùng trọng điểm lúa gạo của Bạc Liêu.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ban hành chính sách binh vận 10 điểm, khuyến khích binh sĩ ngụy quân và nhân viên ngụy quyền bỏ hàng ngũ địch, lập công trở về với cách mạng, có thành tích được khen thưởng, ly khai chống Thiệu, được giữ nguyên chức nguyên lương. Đối với lực lượng phòng vệ dân sự, cách mạng coi họ là những người bị địch cưỡng ép, không coi lả đối tượng tiêu diệt. Chính sách khoan hồng chính nghĩa của ta là đồn tấn công chính trị mới đánh vào hàng ngũ địch, phục vụ nhiệm vụ chống phá bình định, mở mảng chuyển vùng.

Vào cao điểm đồng loạt 1 (tháng 2 năm 1972), Quân khu đưa 2 trung đoàn chủ lực đánh mạnh, mở mảng tỉnh Chương Thiện. Phối hợp chiến trường Chương Thiện, quân dân trong tỉnh xông lên bao vây, tấn công hàng trăm đồn bót, đánh địch nống ra, can viện, diệt nhiều tên. Nổi nhất ở Hồng Dân, địa phương quân và du kích xã phối hợp chủ lực Khu tập kích gây thiệt hại nặng 3 đồn Cỏ Thum, kinh Đứt Ruột và Cây Mét, phục kích đánh diệt gọn 2 đại đội bảo an tiểu đoàn 411 tiểu khu Bạc Liêu và đại đội 915 chi khu Phước Long. Tiểu đoàn Phú Lợi tỉnh kết hợp địa phương quân, có 2 nội tuyến phục vụ, diệt gọn phân chi khu Cà Lâm, 2 trung đội dân vệ, 1 đoàn bình định, 1 tiểu đội cảnh sát, giải tán 2 trung đội phòng vệ dân sự. Địa phương quân huyện và du kích xã Long Thạnh kết hợp nội tuyến diệt đồn phòng vệ Xóm Lá, thu vũ khí; đánh mìn trên quốc lộ 4 diệt 2 xe công binh.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:43:51 am
Ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược toàn miền Nam bắt đầu.

Tỉnh vào cao điểm đồng loạt bước 2, ngày 7 tháng 4 năm 1972 toàn tỉnh tấn công bao vây 140 đồn bốt.

Huyện Hồng Dân, đêm 20 tháng 4 năm 1972, địa phương quân, du kích phối hợp chủ lực Khu đánh tiêu diệt chi khu Ngan Dừa, diệt 200 tên, thu nhiều súng đạn, phá hủy 2 pháo 105 mm, bắt 25 phòng vệ dân sự.

Phối hợp với tấn công chi khu Ngan Dừa, quân dân xã Ninh Quới xông lên bằng ba mũi bao vây tấn công, các đồn bót trong xã, đến ngày 23 tháng 4 năm 1972, diệt và bước rút 7 đồn (Đường Cày, Cầu Sắt, cống Sáu Hỷ, Xóm Tre, Phèn Suông. Dầy Quán, Lái Viết) thu 150 súng, 140 binh sĩ trở về với nhân dân, giải phóng hoàn toàn xã Ninh Quới. Xã Ninh Hòa lực lượng ba mũi bao vây 6 đồn, đồn Vàm Lái Viết bỏ đồn chạy về đồn Xẻo Rô. Đến ngày 25 tháng 4 năm 1972. Ta kết bợp binh vận bức hàng đồn Xẻo Rô, thu 40 súng; bức rút các đồn Trà Óc. Trà Ky, Ninh An, giải phóng cơ bản xã Ninh Hòa. Cũng đêm 20 tháng 4 năm 1972. du kích xã Lộc Ninh phối hợp chủ lực Khu diệt gọn đồn Bà Ai, bắt 7 tù binh, du kích xã, ấp bao vây số đồn bót còn lại. Ngày 24 tháng 4 đồn Tà Suôl, Bình Dân rút chạy, giải phóng cơ bản xã Lộc Ninh. Đêm 27 tháng 4 năm 1972, ba mũi xã Phước Long bao vây hai đồn Phước Hòa A và Tám Tỏn, bắn tỉa diệt 2 tên. bị thương 5 tên, rã ngũ 5 tên. mang 2 súng. Du kích xã Vĩnh Lộc bức rút đồn Xẻo Quao và đồn Vàm Xáng, Ngan Dừa. Mười ngày cao điểm đồng loạt, huyện Hồng Dân diệt 464 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 17 tên, rã ngũ 202 tên, diệt và bức rút 16 đồn bót, giải phóng và giải phóng cơ bản ba xã Ninh Quới, Ninh Hòn, Lộc Ninh. 32.000 dân và 630 gia đình trở về chỗ ở cũ, trên 300 thanh niên vùng địch tạm chiếm vào vùng giải phóng tham gia kháng chiến.

Thắng lợi của huyện Hồng Dân tạo một bước kỷ lục mới về quy mô diệt địch, gỡ đồn. mở mảng chuyển vùng trong thời gian ngắn nhất. Nổi lên tư tưởng chiến lược tiến công, nghệ thuật chỉ đạo biết vận dụng thời cơ quân chủ lực đánh lớn vào cứ điểm chi khu, lực lượng ba mũi của địa phương đồng loạt xông lên bao vây tấn công đồn bót giành thắng lợi to lớn, tạo một bước chuyển biến có tính chất nhảy vọt.

Tại huyện Vĩnh Lợi, địa phương quân đánh thiệt hại đồn Đìa Chuối và đồn Giồng Bướm. Du kích các xã trong huyện bao vây đồn bót, đánh bọn xỉa ra, can viện, phản kích 58 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 174 tên địch, thu 6 súng; vũ trang tuyên truyền vào thị tử Hòa Bình, tuyến lộ 4, cầu số 2 đến Bào Sàng, có 8.953 quần chúng dự, lực lượng ta diệt 4 tên ác ôn, cảnh cáo 41 tên khác, có 8 cuộc 104 quần chúng đấu tranh chống đuổi nhà, phát hoang, đánh đập, làm tiền...; binh vận làm rã ngũ 101 binh sĩ, mang ra 1 súng, xây dựng 12 cơ sở nội tuyến mới.

Ở thị xã Bạc Liêu, đêm 30 tháng 3 năm 1972, đơn vị pháo biệt động pháo kích sân bay Bạc Liêu, gây cho địch một số thiệt hại.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972, địch đổ trung đoàn 15 sư đoan 9 phối hợp với tiểu khu Bạc Liêu, tiểu khu Chương Thiện phản kích ác liệt vào chiến trường Hồng Dân, tái chiếm chi khu Ngan Dừa, hà hơi số đồn bốt còn lại. Địch không tái chiếm được đón nào bị ta gỡ trong tháng 4 năm 1972. Chúng phái rút bỏ chốt Hóc Quà một tiểu đoàn và 4 khẩu pháo (thuộc xã Vĩnh Lộc – Hồng Dân), khai thông tuyến vận chuyển bằng đường sông từ căn cứ Cái Chanh lên các xã đồng bằng. Sau đó địch cho B52 rải thảm khu vực này.

Trên chiến trường miền Nam, địch phản kích quyết liệt trên các mặt trận, nhất là Quảng Trị - mục tiêu quân sự, chính trị số một, hòng giành thế mạnh đàm phán với ta trong các phiên họp trở lại vào ngày 13 tháng 7 năm 1972 ở Pa-ri.

Vào cao điểm đồng loạt từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 9 tháng 6 năm 1972, diện tiến công đánh phá bình định trong tỉnh càng rộng, mạnh hơn, cả vùng kềm mới và kềm cũ.

Tại huyện Hồng Dân đêm ngày 9 tháng 6 năm 1972, đơn vị chủ lực Khu pháo kích thiệt hại nặng chi khu Phước Long và đồn Phó Sinh. Du kích các xã Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Phú Đông, Phựớc Long, Ninh Thạnh Lợi tiến lên bao vây tấn công đồn bót địch. Diệt đồn Còng Đá, bức rút đồn Xẻo Dừng (xã Ninh Thạnh Lợi), mở ra tuyến kinh xáng Cạnh Điền - Phó Sinh. Xã Vĩnh Phú Đông dùng lực lượng ba mũi vây chặt đồn Tây Lác, Tay Mập. Liên đội 44 bảo an Bạc Liêu vào cứu viện, tiểu đoàn Phú Lợi phối hợp du kích xã phục kích đánh hai trận, làm thiệt hại nặng liên đội này. Tháng 7 năm 1972, đơn vị Phú Lợi phối hợp du kích xã tiêu diệt đại đội biệt kích quận Phước Long tại Chủ Xiệp. Du kích xã Vĩnh Phú Đông và Vĩnh Hưng kết hợp nội tuyến diệt đồn Tây Mập và đồn Bà Bèo lần thứ hai. Địa phương quàn huyện kết hợp nội tuyến diệt đồn Xáng Cụt. Du kích xã Vĩnh Lộc kết hợp chủ lực Khu diệt đồn Bần Ổi, Cần Xé, Cái Nứa, khai thông tuyến sông Đa Đình - Bến Luông. Địa phương quân huyện cùng du kích các xã Ninh Quới, Ninh Hòa, Lộc Ninh liên tục chống địch phản kích, diệt hàng trăm tên, bảo vệ vùng giải phóng mới mở ra. Đồng bào xã Ninh Quới tấn công binh vận tiểu đoàn chủ lực ngụy đang cụm quân càn quét trong xã, làm rã hàng trăm tên địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:44:50 am
Huyện Vĩnh Lợi đồng loạt vào cao điểm ngày 8 tháng 5 năm 1972. Du kích xã Vĩnh Lợi kết hợp nội tuyến diệt đồn phòng vệ Xóm Lẫm. Du kích xã Vĩnh Mỹ B đánh thiệt hại nặng đồn phòng vệ Già Tuốt. Du kích xã Châu Thới tước vũ khí trung đội phòng vệ ấp Cái Dầy. Du kích xã Châu Hưng diệt đồn phòng vệ và đánh thiệt hại nặng đồn dân vệ Thông Lưu B. du kích xã Long Thạnh tước vũ khí phòng vệ ấp Cái Tràm 1. Du kích và địa phương quân đánh ngoài công sự 26 trận, diệt 408 tên địch, thu 77 súng; tổ chức vũ trang tuyên truyền 62 cuộc, binh vận rã ngũ 35 binh sĩ... Tháng 6 năm 1972, đồng loạt bao vây 11 đồn, huy động trên 5.000 lượt dân công đào đắp công sự, chướng ngại, bãi chông, lựu đạn, sát thương nhiều tên địch, đánh bọn can viện, bó địch trong đồn. Đêm 2 tháng 6 năm 1972, du kích xã Vinh Mỹ A tập kích đồn Vĩnh Lập diệt và làm bị thương 14 tên, bắt sống 6 tên, thu 9 súng. Ngày 22 tháng 6 năm 1972, địa phương quân phối hợp đơn vị Phú Lợi đánh thiệt hại nặng đồn Giồng Bướm (xã Châu Thới), phục kích đánh địch can viện diệt 35 tên. Trước tình hình đồn bót, vũ khí bị mất càng nhiều, nhiều đồn bót đang bị bao vây chặt, bọn tiểu khu, chi khu không đủ sức can viện, chủ lực bị kềm chân ở chiến trường chính, cuối tháng 6 năm 1972, tiểu khu Bạc Liêu ra lệnh rút bỏ hàng chục đồn bót sâu trong vùng nông thôn kềm mới huyện Vĩnh Lợi, ta mở ra hàng chục lõm giải phóng liên hoàn nhiều ấp. Song song với tiến công địch, các xã trong huyện tích cực vận động thanh niên tòng quân, bổ sung cho du kích xã 32 đồng chỉ, đưa về trên 64 đồng chí.

Vào đồng loạt 6 tháng 9 năm 1972, lực lượng ba mũi trong huyện bao vây 19 đồn bót, ngoài chiến thuật chướng ngại, bãi lửa, lần này áp dụng chiến thuật thông hào lấn sát đồn địch, dựng pháo đài, ưu thế trên cao bắn cắm vào đồn, dùng nạng giàng thun phóng lựu đạn gây sát thương nhiều địch. Sáng kiến này về sau được phổ biến nhiều nơi. Đêm 8 tháng 8, du kích xã Châu Thới kết hợp nội tuyên diệt đồn Cầu Trâu, thu 10 súng. Lực lượng ba mũi xã Minh Diệu bao vây bức rút đồn Bộ Tàu. Nội tuyến phục vụ diệt gọn đồn Bào Sàng thu 14 súng. Các xã Long Thạnh. Châu Hưng, Hưng Hội đánh nhiều trận, diệt 1 xe GMC trên quốc lộ 4. Địa phương quân huyện phục kích diệt gọn trung đội bảo an thuộc đại đội 442, thu 8 súng.

Phối hợp phản công phá bình định ở nông thôn đêm 9 tháng 6 năm 1972 pháo binh biệt động thị xã Bạc Liêu pháo kích trung tâm huấn luyện “Dân Chí” làm chết và bị thương 20 tên địch. Đội phòng thủ thị ủy phục kích diệt 1 tiểu đội địch tiếp tể đồn Biền Tây, thu 5 súng, có 1 M79. Biệt động thị xã kết hợp nội tuyến diệt đồn số 10, thu toàn bộ vũ khí. Đánh thiệt hại đón Trà Kha và đồn Trà Văn, phục kích đánh diệt 1 xe tuần tiễu; lực lượng ta áp sát vào nội ô.

Phối hợp phong trào ba mũi phá bình định, phong trào đấu tranh chính trị diễn ra quyết liệt ở nhiều nơi chống địch càn quét bắn phá, giết người, cướp của, bắt lính đôn quân, vơ vét thuế khóa, nổi nhất là đấu tranh chống khủng bố, bắt lính. Tại chùa Cỏ Thum, địch bắn chết anh Giỏi; sư sãi và đồng bào Khơ-me - Việt ở đây kéo lên Phước Long đấu tranh, tên quận trưởng nhận lời, phạt tù tên giết người, bồi thưởng tiền an táng. Đồng bào Khơ-me - Việt ở quanh các chùa Dầy Quán, Đìa Chuối, Cỏ Đôn đấu tranh chống địch ném bom bắn phá, phát hoang vườn tược, chống bắt sư sãi và thanh niên đi lính. Đặc biệt, ở thị xã Bạc Liêu, phối hợp với cuộc đấu tranh chống bắt lính quy mô lớn của gần 11 nghìn sư sãi và đồng bào Khơ-me - Việt thị xã Sóc Trăng, ngày 18 tháng 7 năm 1972, hơn 2.000 quần chúng thị xã gồm tu sĩ, học sinh, buôn gánh bán bưng, công nhân lao động thị xã Bạc Liêu đấu tranh với khẩu hiệu: “chống bắt học sinh, thanh niên đi lính, chống đuổi nhà, đuối chợ”. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi 125 thanh niên không bị bắt lính, địch hoãn đuổi nhà, đuổi chợ.

Những tháng 6, 7, 8 và 9 năm 1972, địch tăng cường phản kích đánh phá, đối phó lại cuộc tiến công của ta, chiếm lại một số vùng bị mất, nơi không tái chiếm được thì đánh phá ác liệt, tát dân ra khỏi vùng giải phóng, “thà mất đất hơn mất dân'“. Khu vực Bạc Liêu chúng đánh mạnh vào các xã Châu Thới, Vĩnh Hưng, Vĩnh Phú, Ninh Quới, Ninh Hòa, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi. B52 ném bom rải thảm vùng Hóc Quả (xã Vĩnh Lộc), vàm Lái Viết (xã Ninh Hòa). Trong 3 tháng 7, 8, 9 năm 1972, địch càn 158 cuộc, đốt 302 nhà, bắn chết 264 người, bị thương 264 người, 112 người bị bắt, đánh đập, cầm tù. Tiểu đoàn 411 bảo an Bạc Liêu do Mã Thành Nghĩa chỉ huy đánh vào xã Châu Thới, Vĩnh Hưng đã dùng hành động trả thù man rợ bắn giết, đánh đập, hãm hiếp phụ nữ, bắn chết chị em khi đang cho con bú, cắt mũi, xẻo tai...

Địch không hạn chế được sức tấn công của ta. Trong quý III năm 1972, ta đánh địch 253 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 1.363 tên. Khu vực trọng điểm tỉnh (huyện Hồng Dân) diệt bức rút 18 đồn. Khu vực Bạc Liêu diệt thêm 9 đồn, bức rút 1 đồn, bình định của địch tiếp tục đẩy lùi, ta gỡ 28 đồn, địch chỉ tái chiếm 9 đồn.

Cuộc tiến công chiến lược xuân hè năm 1972 của quân dân miền Nam thắng lớn, quân chủ lực ngụy bị đánh bại ở nhiều nơi, phải lui về cố thủ. Chiến trường Tây Nam Bộ ở trọng điểm và các tỉnh đều thắng lớn. Tính đến cuối tháng 9 năm 1972, Tây Nam Bộ diệt hơn 80.000 tên địch, gỡ 1.000 đồn bót, 31.000 binh lính đào ngũ mang ra 339 súng, phá rã hơn 10.000 phòng vệ dân sự, thu 1.000 súng; giải phóng 29 xã, chuyển lên tranh chấp ta mạnh 240 xã. Ta, địch từ thế cài răng lược hồi cuối năm 1971, đã chuyển thành thế “da beo” uy hiếp địch.

Chiến trường Bạc Liêu ta diệt, làm rã 6.639 tên địch, thu 1.067 súng. Diệt, bức rút, bức hàng trên 100 đồn bót, giải phóng hoàn toàn và cơ bản 4 xã, 94 ấp, 105.000 dân. Lực lượng ba mũi phát triển nhanh, áp sát địch. Nhân dân vùng giải phóng tham gia các đoàn thể, lực lương du kích, tự vệ, được trang trải hàng nghìn hécta ruộng đất, phát triển sản xuất, đóng góp hơn 100.000 giạ lúa đám phụ giải phóng, hàng nghìn thanh niên tòng quân.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:17 am
Nét nổi bật của hoạt động vũ trang trong tỉnh năm 1972 là phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung, đánh địch khắp nơi, các địa phương đều đánh được địch, đạt yêu cầu mục tiêu mở mảng chuyển vùng của Tỉnh ủy, Tỉnh đội đề ra. Cách đánh có nhiều sáng tạo, sử dụng có hiệu quả hình thức chiến thuật bao vây đánh lấn như dùng bãi lửa vây gí địch, đào giao thông hào, công sự, lấn sát đồn bót bắn tỉa, dùng giàn thun phóng lựu đạn vào đồn gây sát thương địch; đặc biệt là phương thức kết hợp ba mũi bao vây tiêu diệt, bức rút, bức hàng đồn bót địch. Năm 1971 phương thức chủ yếu là vũ trang kết hợp nội tuyến diệt đồn bót, nay nâng lên sử dụng ba mũi tấn công địch, lực lượng vũ trang vây dí, gây sát thương địch, hậu thuẫn cho lực lượng chính trị của quần chúng bao vây uy hiếp địch; gia đình binh sĩ làm lực lượng xung kích tiếp cận đồn bót, dùng máy phóng thanh kêu gọi chồng con em trở về với cách mạng. Đồn Xẻo Rô xã Ninh Hòa là một điển hình quá trình đồng loạt bao vây, một số đồn lẻ rút chạy cụm về đồn Xẻo Rô, ta huy động lực lượng ba mũi vây chặt đồn này, sử dụng vợ tên trưởng đồn gọi hàng, chúng đầu hàng, ta thu 40 súng.

Về địch, khả năng chi viện, tái chiếm giảm sút; xuất hiện dấu hiệu co cụm, chống đỡ.

Tháng 10 năm 1972, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban cán sự Tỉnh đội chủ trương cho các cấp đội khẩn trương phát triển lực lượng, chuẩn bị các một theo phượng án xông lên giành thắng lợi lớn nhất khi tình hình có đột biến do bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri tạo ra. Tỉnh đội quyết định thành lập Tiểu đoàn Phú Lợi 2 và chuẩn bị thành lập Tiểu đoàn Phú Lợi 3. Các huyện thành lập thêm đại đội địa phương quân thứ hai và kiện toàn các đơn vị binh chủng đặc công, pháo binh. Xã có ít nhất 1 trung đội du kích trang bị mạnh, ấp có tiểu đội du kích đủ trang bị.

Giữa tháng 10 năm 1972, Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhận Thông tư 08/72 của Khu ủy về việc Mỹ thỏa thuận các văn bản Hiệp định Pa-ri, sẽ ký chính thức vào ngày 26 tháng 10 năm 1972. Tỉnh ủy, Tỉnh đội chủ trương mở đợt tấn công mới, dốc các lực lượng xông lên chiếm lĩnh các mục tiêu trọng yếu, chuẩn bị đón thời điểm thắng lợi lớn nhất

Đế quốc Mỹ lật lọng không ký hiệp định đã thỏa thuận để Ních-xơn đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2 vào tháng 11 năm 1972. Mỹ tiếp tục tăng vũ khí, phương tiện chiến tranh cho quân ngụy, đốc thúc tiếp tục bình định lấn chiếm.

Phối hợp với quân dân toàn Miền trừng trị thái độ ngoan cố, lật lọng của Mỹ - ngụy, tháng 10 năm 1972, địa phương quân huyện Vĩnh Lợi cùng du kích xã Hưng Hội, Châu Hưng kết hợp cơ sở nội tuyến, diệt gọn phân chi khu Sóc Đồn (cách thị xã Bạc Liêu 2km), diệt 1 trung đội dân vệ, 1 đoàn bình định, 1 ban tề xã, 1 tiểu đội cảnh sát, giải tán 2 trung đội phòng vệ, thu 30 súng. Địch ở thị xã Bạc Liêu hết sức hoang mang.

Ngày 12 tháng 11 năm 1972, địa phương quân huyện Hồng Dân chiếm lĩnh địa bàn ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Hưng), phối hợp du kích xã phục kích diệt đại đội 915 bảo an quận Phước Long, thu toàn bộ vũ khí, 3 máy thông tin PRC25, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an 448 tiểu khu Bạc Liêu, diệt 57 tên.

Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, Ních-xơn ra lệnh cho máy bay B52 ném bom thủ đô Hà Nội và thành phố Hái Phòng. Quân dân miền Bắc làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, quân dân miền Nam đánh mạnh khắp chiến trường, nhận chìm ý đồ đàm phán trên thế mạnh của tập đoàn Ních-xơn.

27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoàn bình ở Việt Nam được ký kết tại Pa-ri.

Bốn năm triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” theo học thuyết Ních-Xơn, Mỹ - ngụy đã tập trung mọi cố gắng, liên tục phản công và tiến công ở miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào, ném bom miền Bắc lần thứ hai. Kết hợp các loại chiến tranh giành dân, chiến tranh hủy diệt và chiến tranh bóp nghẹt bằng mọi thủ đoạn hết sức tàn bạo, thâm độc. Nhưng Mỹ - ngụy không đạt được mục tiêu đầy tham vọng của chúng, ngụy không mạnh lên mà suy sụp thêm, cách mạng miền Nam không bị “tàn lụi dần” mà càng lớn mạnh, làm cho chúng thất bại nặng nề trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán Pa-ri.

Ở Bạc Liêu, liên tiếp các chiến dịch bình định cấp tốc bình định đặc biệt, bình định phát triển của Mỹ - ngụy trong những năm 1969 - 1971 đã gây nhiều khó khăn tổn thất cho đồng bào và phong trào cách mạng trong tỉnh. Vượt qua mọi khó khàn gian khổ, ác liệt, hy sinh, Đảng bộ, quân dân Bạc Liêu luôn giữ vững ý chí chiến đấu, kiên định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, ra sức thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Các lực lượng vũ trang trong tỉnh cùng với Đảng bộ kiên cường luồn sâu bám trụ vùng địch bình định, bám dân, xây dựng lực lượng ba mũi, chống phá bình định, phối hợp với cuộc tiến công chiến lược toàn Miền năm 1972, lực lượng ba mũi khắp các huyện, xã và nhiều ấp xông lên tự lực gỡ đồn bót địch, đồng loạt mở mảng chuyển vùng, làm thất bại nghiêm trọng kế hoạch bình định lấn chiếm của địch.

Qua thử thách, tôi luyện, các lực lượng vũ trang trong tỉnh phát triển cân đối, trưởng thành vượt bậc cả về quân số, trang bị và trình độ tác chiến, làm tốt vai trò đòn xeo và là lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc.

Có thể nói bốn năm đối đầu với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, là thời kỳ mà các lực lượng vũ trang tỉnh nhà đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh địch và xây dựng lực lượng ta, góp phần đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong tỉnh phát triển đến đỉnh cao, tạo được thế mới, lực mới cho quân, dân tỉnh nhà bước sang giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giai đoạn giành thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:05:33 am
Chương sáu

PHỐI HỢP CHIẾN TRƯỜNG CHUNG, LIÊN TỤC TIẾN CÔNG NỔI DẬY,
GIẢI PHÓNG TỈNH BẠC LIÊU, GÓP PHẦN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM,
THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
(27/1/1973 – 30/4/1975)

I. TRỪNG TRỊ ĐỊCH VI PHẠM HIỆP ĐỊNH PA-RI, LÀM THẤT BẠI CHIẾN DỊCH “TRÀN NGẬP LÃNH THỔ, CẮM CỜ, LẤN ĐẤT, GIÀNH DÂN” CỦA MỸ - THIỆU (1973)

Hiệp định Pa-ri ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, quy đinh: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Mỹ phải rút quân và cam kết chấm dứt mọi sự dính líu quân sự ở miền Nam. Hiệp định mở ra bước ngoặt mới cho cách mạng Việt Nam, là cơ sở chính trị và pháp lý đảm bảo các quyền dân tộc cơ bản để nhân dân miền Nam tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Song, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố bám giữ Đông Dương, bám lấy học thuyết Ních-Xơn và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, phá hoại Hiệp định Pa-ri một cách có hệ thống. Mỹ cam kết ủng hộ chính quyền tay sai của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, vạch cho Thiệu kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” để chuyển bại thành thắng khi hiệp định có hiệu lực.

Thiệu huênh hoang lập trường “bốn không”: không nhượng một tấc đất, không có chính phú liên hiệp, không có thương lượng, không có Đảng cộng sản và Đảng trung lập hoạt động ở miền Nam.

Trước khi hiệp định ký kết, tiểu khu Bạc Liêu mở nhiều cuộc càn quét, lấn chiếm, B52 rải bom các xã Vĩnh Lộc, Ninh Quới, Ninh Thạnh Lợi, tái chiếm đồn thứ 10 và 12 ven thị xã Bạc Liêu.

Đêm 27 rạng sáng 28 tháng 1 năm 1973, toàn bộ lực lượng ba mũi của ta xông lên bao vây, lấn sát đồn bót địch, chiếm lĩnh các ấp tranh chấp và kềm mới, cầm băng cờ, phóng thanh vào đồn bót, họp dân tuyên truyền nội dung Hiệp định Pa-ri, chính sách hòa hợp dân tộc, chính sách binh vận 10 điểm, kêu gọi binh sĩ về với nhân dân, kêu gọi đồn bót án binh bất động, vận động quần chúng nổi dậy giành chính quyền làm chủ.

Huyện Vĩnh Lợi đưa được 94 gia đình binh sĩ vào đồn bót vận động làm rã 52 binh sĩ, bắt mối 28 cơ sở.

Nhiều đồn bót án binh bất động không ra khỏi đồn. Số ít đồn bót ra gỡ băng cờ bị du kích nổ súng, chúng co lại chờ xem tình thế.

Ở hướng đông bắc Bạc Liêu, địch cho 2 tiểu đoàn bảo an 483 và 486 phối hợp tàu chiến tấn công Cổ Cò, giữ đường huyết mạch chuyển gạo về Sài Gòn. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, Tiểu đoàn Phú Lợi của tỉnh đánh địch nhiều trận, diệt 30 tên, bắn cháy 1 tàu sắt.

Trừng trị địch vi phạm Hiệp định, đêm 29 tháng 1 năm 1973, đơn vị Phú Lợi đánh tiêu diệt phân chi khu Chợ Kinh, 4 đón lẻ đóng trên tuyến Cổ Cò rút chạy

Khu vực chi khu Kiến Thiện (Ngan Dừa) và các xã Bắc huyện Hồng Dân thuộc trọng điểm 1 của khu Tây Nam Bộ, ta và địch giành nhau quyết liệt, tiểu khu Bạc Liêu đưa 2 tiểu đoàn bảo an và 1 chi đoàn xe bọc thép giải tỏa số đồn bót bị ta vây ép. Du kích các xã chặn đánh nhiều trận gây cho chúng một số thiệt hại, du kích ấp Phước Tường (xã Phước Long) phối hợp trường quân chính của tỉnh phục kích diệt 14 tên địch, du kích xã Lộc Ninh diệt 7 tên, du kích xã Vĩnh Hưng diệt 9 tên, các xã khác diệt 29 tên trên tuyến kinh xáng Ngan Dừa - Ninh Quới. Một bộ phận của Trung đoàn 2 chủ lực Khu cùng địa phương quân huyện Hồng Dân chặn đánh bọn bảo an tiểu khu Bạc Liêu diệt 35 tên, bắn cháy 1 xe bọc thép, ta làm chủ tuyến kinh xáng 4 ngày; phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Địch liên tục viện quân, tranh chấp ác liệt với ta khu vực này, tái chiếm 6 đồn bót thuộc các xã Ninh Hòa, Lộc Ninh, Phước Long đóng 1 chốt tiểu đoàn tổng hợp tại Ninh An.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:06:44 am
Ngày 1 tháng 2 năm 1973, tỉnh vào đồng loạt tiến công chính trị binh vận Tết Nguyên Đán. Mười ngày trước, trong và sau tết có 674 binh sĩ đào rã ngũ, đại đội bảo an 402 có 50 binh sĩ đào ngũ, tiểu đoàn bảo an 202 rã ngũ 21 có 1 trung úy, mang ra 4 súng,

Để trấn an ngụy quân, ngụy quyền trong vùng và đẩy mạnh bình định lấn chiếm, ngày 2 tháng 2 năm 1973, tư lệnh vùng 4 chiến thuật ngụy họp với thuộc cấp, truyền đạt mệnh lệnh của tổng thống Thiệu “trên hòa bình, dưới chiến tranh, ngoài hòa hợp, trong bình định” chủ trương “ba ngăn”: ngăn quần chúng nổi dậy, ngăn ngụy quyền sụp đổ, ngăn ngụy quân tan rã. Chỉ tiêu đồn bốt ngày 26 tháng 3 năm 1973 phải khôi phục tất cả các vùng bị mất từ sau ngày 25 tháng 1 năm 1973,

Triển khai lệnh của Thiệu, tỉnh trưởng Bạc Liêu Nguyễn Ngọc Điệp lệnh cho tất cả đồn bót, các thứ quân bung ra bình định, lấn đất giành dân. Đồng thời Thiệu ra lệnh xử bắn người nào hoan hô hòa bình và bọn lính trốn khỏi đơn vị, bỏ tù những gia đình có con trốn lính và lính trốn; lệnh cho dân treo cờ ba sọc trước nhà và trên ghe xuồng, sơn cờ trên nóc nhà để tỏ lòng trung thành với chính thể quốc gia.

Ngày 3 tháng 2 năm 1973, Khu ủy, Quân khu ủy họp mở rộng đánh giá tình hình, diễn biến chiến trường những ngày sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực. Hội nghị đi đến kết luận quan trọng: “Mỹ - Thiệu ngoan cố phá hoại hiệp định, muốn địch thi hành hiệp định ta phải vững mạnh và phải đánh mạnh. Tây Nam Bộ tình huống nào cùng phải giữ vừng vùng nông thôn giải phóng, trong phản công và tấn công phải phát huy sức mạnh ba mũi. kết hợp pháp lý của hiệp định. Phải nắm vững lực lượng vũ trang tiến công địch, làm đòn xeo cho ba mũi”.

Tinh thần cơ bản của hội nghị được cụ thể hóa bằng chỉ thị Khu ủy số 03 ngày 9 tháng 2 năm 1973 “khẳng định nhiệm vụ tiến công ba mũi không gì thay đổi, hiệp định được ký kết và có hiệu lực là thêm thuận lợi cho ta tiến lên đánh bại địch”.

Kết luận ở hội nghị mở rộng ngây 2 tháng 2 năm 1972 và Chi thị 03 ngày 9 tháng 2 năm 1973 của Thưởng vụ Khu ủy II chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời, quyết định cho Tây Nam Bộ ở thế chủ động tiến công, đánh bại kế hoạch tràn ngập lãnh thổ và bình định mới của địch, đưa cách mạng tiếp tục tiến lên. Tình trạng xả hơi ngơi nghỉ, hòa bình chủ nghĩa được giải quyết ngay từ đầu”(1).

Sau tết Nguyên Đán, tiểu khu Chương Thiện phối hợp tiểu khu Bạc Liêu mở nhiều cuộc hành quân càn quét dài ngày vào các xã Ninh Hòa, Ninh Quới, Lộc Ninh, Vĩnh Hưng (huyện Hồng Dân); xã Châu Thới. Minh Diệu, tuyến sông Cổ Cò (huyện Vĩnh Lợii. Địch huy động mức độ cao phi pháo, xe lội nước, đánh phá ác liệt để tát dân ra khỏi vùng giải phóng. Đến cuối tháng 3 năm 1973 có 343 cuộc càn quét lỏn nhỏ, làm chết, bị thương 386 người, đốt cháy 1.200 nhà. cướp và đốt 43.353 giạ lúa, lấn chiếm 12 đồn bót. Khu vực này trở thành trọng điểm ta và địch ở Bạc Liêu và Chương Thiện tranh chấp ác liệt, dài ngày. Từ đầu tháng 3 năm 1973, vùng 4 chiến thuật triển khai chương trinh bình định mới, nội dung chủ yếu là: Khôi phục phát triển kinh tế các vùng an ninh, chuẩn bị kế hoạch kinh tế dài hạn, củng cố ngụy quân, ngụy quyền, hiện đại hóa quân ngụy. Phương thức bình định là làm ào ạt, càn quét đến đâu chiếm đóng đến đó, không qua bước chà đi xát lại như trước đây.

Ngày 9 tháng 3 năm 1973, vùng 4 chiến thuật mở cuộc hành quân quy mô 30 tiểu đoàn, bình định Tây nam Long Mỹ, trong đó bao gồm các xã Vĩnh Lộc, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới và chi khu Ngan Dừa (huyện Hồng Dân). Địch thiệt hại nặng phải kết thúc sớm vào ngày 24 tháng 4 năm 1973. Thiệu phải xuống vùng 4 chiến thuật hà hơi cho cấp dưới và lệnh tiếp tục huy động 76 tiểu đoàn trong toàn vùng, mở cuộc hành quân bình định lần thứ 2 thuộc địa bàn Chương Thiện và Long Mỹ vào ngày 18 tháng 5 năm 1973. Lần này địch tổn thất nặng nề hơn và phải kết thúc sớm để củng cố bổ sung lực lượng.

Ngày 29 tháng 3 năm 1973, Mỹ làm lễ cuốn cờ rút quân Mỹ ở thành phố Cần Thơ và các tỉnh Tây Nam Bộ, giao căn cứ Đồng Tâm cho quân ngụy. Sự kiện này khoét sâu tinh thần thất bại chủ nghĩa trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền trong toàn vùng và tỉnh Bạc Liêu.


(1) Khu ủy, Quân khu ủy Tây Nam Bộ báo cáo về Trung ương Cục và kiên trì bảo vệ chủ trương đúng đắn này. Đến cuối năm 1973 được Trung ương Bộ Chính trị công nhận là chủ trương đúng đắn và triển khai toàn Miền.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:07:15 am
Thực hiện 8ự chỉ đạo của Khu ủy và Quân khu ủy Tỉnh ủy và Tỉnh đội chủ trương trong toàn tỉnh mở đợt tiến công đồng loạt đòi địch thi hành Hiệp định Pa-ri, tố cáo Mỹ vi phạm Hiệp định, đẩy mạnh tiến công ba mũi làm cho địch suy sụp hơn nữa về tư tưởng và tổ chức, làm thất bại âm mưu bình định mới của Mỹ - ngụy.

Tại huyện Vĩnh Lợi đêm 1 tháng 4 năm 1973, Tiểu đoàn Phú Lợi phối hợp với du kích xã Châu Thới diệt đồn Giồng Bốm, do một trung đội dân vệ đóng giữ, thu toàn bộ vũ khí, nhân dân nổi dậy san bằng đồn, giải phóng cơ bản xã Châu Thới; pháo binh của Tỉnh pháo kích thiệt hại nặng phán chi khu Vĩnh Hưng. Toàn huyện bao vây pháo kích 14 đồn bót địch, gây cho chúng một số thiệt hại. Du kích chống địch nống ra phản kích 26 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Đêm 24 tháng 4 năm 1973, du kích xã Long Thạnh kết hợp nội tuyến trong vòng một đêm diệt 1 đồn dân vệ, 2 cốt phòng vệ, 4 cốt gác ở cầu Cái Tràm, thu 66 súng.

Ở huyện Hồng Dân, lực lượng địa phương quân và du kích các xã chống càn quét và đánh địch nống ra nhiều trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, nhiều nơi giữ vị trí chiếm lĩnh ở vùng tranh chấp, áp sát đồn bót địch.

Đêm 3 tháng 5 năm 1973, ta vào đợt tấn công đồng loạt toàn khu Tây Nam Bộ, nhằm đánh phủ đầu kế hoạch bước 2 của vùng 4 chiến thuật ngụy lấn chiếm trọng điểm Chương Thiện.

Phối hợp chiến trường trọng điểm Chương Thiện, huyện Hồng Dân đêm 3 tháng 6 năm 1973, chủ lực Khu phối hợp địa phương quân và đu kích xã Ninh Hòa diệt gọn tiểu đoàn tổng hợp dã ngoại tụi ấp Ninh An, diệt 136 tên, bắt sống 37, thu hàng trăm súng, đồn Ninh An hoảng sợ rút chạy về chi khu Ngan Dừa, ta tiếp tục pháo kích làm thiệt hại nặng chi khu Ngan Dừa. Huyện Vĩnh Lợi đêm 3 tháng 6 năm 1973, du kích xã Vĩnh Mỹ A phối hợp du kích xã Hòa Bình diệt gọn đồn phòng vệ Do Thới, đánh thiệt hại nặng đồn phòng vệ ấp Vôn. Đơn vị Phú Lợi kết hợp du kích Hưng Hội tập kích đánh thiệt hại nặng trung đội bảo an đóng ấp Hoàng Quân 2; du kích xã Châu Thới phục kích diệt gọn tiểu đội dân vệ đồn Cầu Trâu. Ngày 6 tháng 6 năm 1973, tiểu khu Bạc Liêu và phân chi khu Vĩnh Hưng huy động một tiểu đoàn và một đại đội bảo an hành quân tái chiếm đồn Châu Thới bị ta diệt trước đó, lực lượng địa phương quân phối hợp du kích xã bám đánh địch liên tục trong 6 ngày đêm, làm chết bị thương hàng chục tên địch, cuối cùng địch hủy bỏ kế hoạch đóng đồn, du kích thu 400 cột sắt, 28 cuộn kẽm gai, giữ vững xã Châu Thới giải phóng.

Tháng 4 và tháng 6 năm 1973, lực lượng chính trị binh vận tiến vào vùng yếu, vùng kềm, phát động hảng chục nghìn lượt quần chúng, tán phát nhiều truyền đơn, vận động quần chúng đấu tranh chống địch. Quần chúng dẫn lực lượng ta diệt 10 tên ác ôn, cảnh cáo trấn áp nhiều tề điệp, giải tán hàng trăm phòng vệ dân sự, có 90 cuộc quần chúng đấu tranh với khẩu hiệu chống bắt lính, chống đuổi nhà gom dân chống hãm hiếp, giết người, cướp của, đòi trừng trị bọn ác ôn, đòi thi hành Hiệp định Pa-ri. Tại thị xã Bạc Liêu, nhân ngày kỷ niệm Quốc tế lao động, nhiều xí nghiệp, trường học, chị em mua gánh bán bưng đã đình công, bãi khóa, chống bắt lính, chỏng thuế, chống đuổi chợ. Đặc biệt là cuộc đấu tranh chống địch sát hại lục À Cha Sơn Thal ở Prây-chốp, hàng nghìn sư sãi và quần chúng Khơ-me trong 30 chùa ở Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu kéo vào thị xã Bạc Liêu đòi trừng trị bọn giết người, đòi bồi thường. Tỉnh trưởng Bạc Liêu phải nhận lỗi, hứa giải quyết yêu sách của đoàn đấu tranh.

Ngày 13 tháng 6 năm 1973, trước thất bại nặng nề về quân sự, chính trị, dư luận trong nước và thế giới thúc ép, Mỹ - ngụy buộc phải ký với ta thông cáo chung, nghiêm chỉnh thực hiện hiệp định, trước mắt thực hiện 4 vấn đề lớn là ngừng bắn, không lấn chiếm, quy định vùng kiểm soát và cửa khẩu, thay thế vũ khí, triển khai các tổ liên hiệp quân sự ở các địa phương, trao trả hết tù binh. Thông cáo chung cho việc ngừng bắn là vấn đề cấp bách nhất và mấu chốt để giải quyết các vấn đề khác.

Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Tỉnh đội các địa phương, lực lượng ba mũi chuẩn bị sẵn sàng. Ngày 14 tháng 6 năm 1973, thông cáo chung được công bố. Mặc dù địch bố phòng nghiêm ngặt, nhưng ta xông lên chiếm lĩnh 90 ấp, vây 115 đồn bót, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, đánh trống mõ treo băng cờ, phát loa vào đồn bót, thông báo lệnh ngừng bắn và nội dung thõng cáo chung.

Tiểu khu Bạc Liêu ra lệnh thiết quân luật cấm trại binh sĩ 100%, cấm đồn bót quan hệ với dân, không cho gia đình binh sĩ vào đồn thăm chồng, con em... ngân chặn đòn tấn công chính trị, binh vận của ta. Bọn tiểu khu trắng trợn vi phạm bản thông cáo chung, tung các tiểu đoản bảo an tiểu khu, chi khu phản kích giải tỏa đồn bốt, gỡ băng cờ. Hầu hết số đồn bót vùng nông thôn kềm mới đều “án binh bất động”, khi bọn ở trên xuống thì chúng kéo ra chiếu lệ.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:07:53 am
Trừng trị địch vi phạm hiệp định và bản thông cáo chung, đơn vị Phú Lợi ngăn chặn đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an, tiểu khu Bạc Liêu phản kích giải tỏa tuyến sông Vàm Lẻo - Cổ Cò, 2 đồn trên tuyến sông rút chạy.

Huyện Hồng Dân hoạt động chặn đánh bọn đồn bót bung ra, tiếp tục vây ép 13 đồn bót, đánh thiệt hại nặng đồn Tà Suôl, Xóm Tre, bức rút đồn Bình Lộc (xã Vĩnh Lộc).

Ngày 17 tháng 7 năm 1973, địa phương quân huyện hoạt động phối hợp với địa phương quân Vĩnh Lợi đánh địch can viện đồn Dù Phịch, diệt gọn đại đội đi đầu 67 tên, thu 45 súng. Đêm 17 tháng 7 năm 1973 du kích xã Vĩnh Lộc vây đồn Bến Luông, dùng đầu đạn pháo 105 mm cải tiến phóng vào đồn, địch hoang mang rút chạy.

Cùng ngày, du kích xã Ninh Quới đánh bọn đồn xóm Tre nống ra diệt 3 tên, có 1 phó đồn. Ngày 9 tháng 10 năm 1973. trung đội dân vệ đồn Mươi Ất (xã Phước Long) khởi nghĩa, mang 19 súng trở về hàng ngũ cách mạng, số đông anh em đã gia nhập lực lượng vũ trang huyện, xã. Ngày 10 tháng 10 năm 1973, địa phương quân huyện phối hợp đơn vị tỉnh phục kích diệt gọn đại đội bảo an phân chi khu Vĩnh Hưng, diệt 57 tên, bị thương 4 tên, bắt sống 5, thu toàn bộ vũ khí. Đêm 6 tháng 11 năm 1973, địa phương quân phối hợp nội tuyến diệt đồn cống Sáu Hỷ, diệt 2, bắt sống 18 tên, thu 20 súng. Cùng đêm, đại đội 2 địa phương quan kết hợp nội tuyến diệt đồn Bà Bèo (xã Vĩnh Hưng) lần thứ ba. diệt 3 bắt sống 4. thu toàn bộ vũ khí. Đồng loạt trong tháng 6, địa phương quân và du kích các xã huyện Vĩnh Lợi đánh 18 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên địch. Đồng thời ta vận động tòng quân đưa về trên 104 tân binh, bổ sung địa phương quân 74, du kích xã 91.

Quý III năm 1973. huyện Vĩnh Lợi lực lượng vũ trang đánh 48 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 293 tên địch, thu 24 súng; kết hợp nội tuyến diệt 2 đồn (Cái Tràm và thị trấn Hòa Bình); binh vận làm rã 275 binh sĩ, 4 cuộc binh biến hắn chết 1 trưởng đồn, 9 tên gian ác.

Biệt động thị xã Bạc Liêu kết hợp nội tuyến diệt đồn số 10, đánh thiệt hại nặng đồn Trà Kha. Pháo binh biệt động pháo kích sân bay gây cho địch một số thiệt hại. Du kích phối hợp biệt động và công an vũ trang diệt hàng chục tên gian ác. Nhiều cuộc vũ trang tuyên truyền ven thị xã.

Phong trào đấu tranh chống bắt lính diễn ra rộng khắp và quyết liệt hơn trước, bắt đầu gây khó khăn lớn cho kế hoạch bổ sung quân số của địch. Trước đây chống bắt lính diễn ra mức lẻ tẻ, hình thức chủ yếu tránh né hợp pháp không bạo lực. Từ sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ rút quân Thiệu ngoan cố phá hoại hiệp định, xua lính đi bình định lấn chiếm chốt ngày càng nhiều, tác động lớn đến binh sĩ, gia đình binh sĩ và quần chúng thị xã, thị trấn, vùng kềm. Tinh thần thất bại chủ nghĩa trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền càng nặng nề, đụng trận số đầu hàng càng nhiều hơn, chính họ cũng không muốn con em họ bị bắt lính, bị thúc ép đi bắt lính thì họ làm cầm chừng, “nhiều binh sĩ bắt được nhiều lính, ông Thiệu càng kéo dài chiến tranh, sẽ đến lượt mình chết”. Các bậc cha mẹ đã đến lúc phải bảo vệ con, vợ bảo vệ chồng, “thà ngồi tù, chồng con không chết trận”. Đồng bào nhiều nơi dùng bạo lực ẩu đả với cảnh sát, giành giựt con em khỏng để bị bắt lính. Ở thị xã Bạc Liêu hình thành hàng chục cụm thanh niên trốn lính và lính trốn trong các khu phố, có bố trí thông tin báo động, tranh thủ được tề ấp và phòng vệ dân sự đồng tình bảo vệ. Thanh niên Khơ-me và tôn giáo thì dựa vào chùa anh em trốn lính và lính trốn “tĩnh làm dân, động làm tu sĩ”. Các chùa lớn như chùa cũ Hòa Bình, Xiêm Cán, Đầu Sấu, Ngan Dừa đã có hàng trăm thanh niên như vậy. Các thi trấn, vùng kềm xuất hiện phong trào thanh niên vào vùng giải phóng để khỏi bị bắt lính. Một số trong anh em đã tham gia công tác cách mạng, tham gia lực lượng vũ trang.

Phong trào chống bắt lính lớn mạnh cộng với quân ngụy bỏ ngũ càng tăng, dẫn đến số quân ngụy càng giảm sút nghiêm trọng trong năm 1974 không hồi phục được.

Bước vào quý III năm 1973, tình thế ta và địch ở Tây Nam Bộ, cũng như chiến trường Bạc Liêu có những biến đổi quan trọng, có lợi cho ta.

Mỹ rút quân kéo theo sự cắt giảm viện trợ Mỹ(1), ngụy quân mất chỗ dựa là lính Mỹ và sự chi viện phi pháo của quân Mỹ, là hai khó khăn nan giải của chế độ Sài Gòn. Thiệu phái kêu gọi lính ngụy, “đánh giặc theo lối con nhà nghèo”. Ngày 23 tháng 8 năm 1973, Thiệu lại xuống vùng 4 chiến thuật (Cần Thơ), bàn việc nắm lúa gạo, coi “lúa gạo là quốc sách” để cứu nguy cho ngụy quyền Sài Gòn. Thiệu hạ thấp yêu cầu bình định, chi bình định trọng điểm Chương Thiện và phong tỏa U Minh, không coi U Minh là điểm bình định bước II như kế hoạch đầu năm. Thiệu chỉ thị kết hợp kế hoạch bình định và kế hoạch cướp lúa là một, đặt tên là kế hoạch “Trần Khánh Dư”.

Về ta, đồng chí Bí thư Khu ủy ra Hà Nội trực tiếp báo cáo Bộ Chính trị và Trung ương nghe tình hình Tây Nam Bộ trừng trị địch vi phạm hiệp định, đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch ở trọng điểm Chương Thiện và U Minh, giữ được đất được dân. Bộ Chính trị và Trung ương đồng tình quan điểm chỉ đạo của Tây Nam Bộ. Nghị quyết 21 của Trung ương tháng 7 năm 1973 nêu rõ: “Nhiệm vụ trước mất của cách mạng miền Nam là: Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên ba mật trận chính trị, quân sự, ngoại giao một cách chủ động, linh hoạt, tùy theo từng nơi, từng lúc mà kết hợp ba mặt đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên tiến công để giành thắng lợi hoàn toàn. Nghị quyết Trung ương nhấn mạnh: “Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững chiến lược tấn công”. Tháng 9 năm 1973, Trung ương Cục miền Nam họp Hội nghị lần thứ 21 triển khai Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng. Ngày 5 tháng 10 năm 1973. Bộ chỉ huy Miền ra lệnh: “Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn. Kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu. bằng các hình thức và lực lượng thích đáng”. Như vậy, tư tưởng chiến lược tiên công và quan điểm cách mạng bạo lực đã được thấu suốt trong toàn Đảng, toàn quân ta.

Tây Nam Bộ cũng như Bạc Liêu tiếp tục thừa thắng xông lên trong điều kiện thuận lợi hơn về so sánh lực lượng cả thế và lực, kẻ địch trong thế yếu bị căng kéo trên toàn miền Nam.


(1) Viện trợ Mỹ năm 1972 cho Sài Gòn là 9,3 tỷ, năm 1973 là 7,3 tỷ


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:10:47 am
II. TỈNH BẠC LIÊU TÁI LẬP, MŨI VŨ TRANG - ĐÒN XEO CỦA TỈNH ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG, VỪA XÂY DỰNG VỪA TẤN CÔNG ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH CƯỚP RÚT LÚA VÀ BÌNH ĐỊNH MỚI CỦA MỸ - NGỤY (20/11/1973 – 1974)

Bạc Liêu là chiến trường đồng bằng, đông dân, nhiều lúa gạo. vốn là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa hai đối trọng: Khu tây Nam Bộ của ta và vùng 4 chiến thuật của địch, trước mất là trọng điểm tranh chấp ác liệt trên mặt trận bình định lấn chiếm và chiến tranh lúa gạo. Thành lập lại tỉnh Bạc Liêu để sự lãnh đạo của Đảng bộ được tập trung, sâu sát, kịp thời là yêu cầu khách quan của cách mạng trong giai đoạn mới. Tỉnh Bạc Liêu còn là lá chắn bảo vệ khu căn cứ Cà Mau - U Minh.

Từ yêu cầu trên, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, địa giới bao gồm các huyện Giá Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu; có 1 thị xã tỉnh lỵ, 3 thị trấn, 2 thị tứ, 25 xã, 310 ấp, 352.648 dân (52 ấp giải phóng có 29.517 dân, 71 ấp tranh chấp 69.000 dân, 104 ấp vùng kềm và thị trấn, thị xã 200.615 dân).

Ngày 20 tháng 11 năm 1973, đồng chí Vũ Đình Liệu (Tư Bình), Bí thư Khu ủy Tây Nam Bộ chủ tri Hội nghị cán bộ tại khu căn cứ Cái Chanh - Ninh Thạnh Lợi huyện Hồng Dân, để triển khai quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh 11 thành viên, do đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Hườn Khu ủy viên làm Bí thư.

Hội nghi bàn các nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, khẩn trương ổn định một bước tổ chức ban ngành tỉnh, căn cứ ở, vừa chuẩn bị ngay kế hoạch tấn công mùa khô 1973 - 1974, phối hợp chiến trường chung chống kế hoạch bình định và cướp rút lúa của địch. Phân công các thành viên Tỉnh ủy phụ trách từng mặt công tác.

Ban chỉ huy Tỉnh đội lúc này gồm các đồng chí: Đoàn Thanh Vị, Ủy viên Thưởng vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên; Phạm Văn Đương, Tỉnh ủy viên, Chính trị viên phó; Đặng Văn Nuôi (Chín Hỏa) tỉnh ủy viên, Tỉnh đội trưởng; Nguyễn Hoàng Diệu, Tỉnh đội phó phụ trách tham mưu; đồng chí Tư Thạch, Tỉnh đội phó phụ trách hậu cần; đồng chí Trần Công Bằng, Tỉnh đội phó.

Phòng Tham mưu: đồng chí Nguyễn Hoàng Diệu - Tham mưu trưởng; Tham mưu phó gồm các đồng chí: Nguyễn Tấn Điệp (Tư Dũng), Trương Ngọc Nhuận (Tư Thủ), Huỳnh Dương Tiển. Phòng Chính trị: đồng chí Huỳnh Ngọc Hổ (Sáu Sơn), Chủ nhiệm; Phó chủ nhiệm gồm các đồng chí Lý Trí Tính, Nguyễn Văn Nhẫn (Hai Nhẫn). Phòng Hậu cần: đồng chí Châu Văn Thọ (Tám Hồng), Chủ nhiệm; Bùi Thanh Tâm, Chính trị viên. Bác sĩ Phạm Thiện Lương, phụ trách quân y; đồng chí Năm Râu, Trưởng ban quân lương; đồng chí Ba Quý, Trưởng ban quân giới, vận tải; đồng chí Tư Vuông (Tư Bản), Trường ban tài vụ, Xưởng quân giới có 34 cán bộ. Binh công xưởng do đồng chí Văn Phước Nhuận làm giám dốc, Nguyễn Văn Mót, Phó giám dốc, Tư Binh, Chính trị viên.

Tiểu đoàn 1 Bạc Liêu lúc này có trên 100 cán bộ, chiến sĩ thuộc tiểu đoàn 4 tỉnh Cà Mau đưa lên, do đồng chí Nguyễn Văn Bảy (Năm Xuân), tiểu đoàn trưởng: Phạm Thuận Hà, chính trị viên; Huỳnh Văn Bé (Hai Hóa), chính trị viên phó.

Kế hoạch quân sự mùa khô 1973 - 1974 được xác định: Lực lượng vũ trang các huyện, thị đẩy manh tấn công các mục tiêu theo kế hoạch chỉ định, kết hợp mũi chính trị - binh vận bẻ gãy các mũi bình định lấn chiếm, cướp rút lúa của địch. Tiểu đoàn 1 tỉnh gấp rút bổ sung quân số. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là phải dứt điểm gọn một số đồn bót và đánh thiệt hại nặng bảo an chi khu, tiểu khu, làm đòn xeo cho diện tấn công ba mũi và nâng khí thế cho đơn vị mới xuất quân. Đơn vị lấy tuyến kinh xáng Vĩnh Hưng - Vĩnh Phú và kinh xáng số 2 làm điểm đột phá, mở cho được vùng giải phóng bắc lộ 4 nối liền căn cứ phía sau.

Cuối tháng 12 năm 1973, tiểu đoàn được bổ sung đại đội địa phương quân của huyện Vĩnh Lợi. Số quân lên 200 cán bộ chiến sĩ, đứng chân xã Ninh Quới (Hồng Dân) chuẩn bị kế hoạch tác chiến.

Đêm 17 tháng 12 năm 1973, vào đồng loạt toàn Miền, lực lượng địa phương quân Hồng Dân và du kích xã Ninh Quới phối hợp một bộ phận chủ lực Khu đánh thiệt hại nặng đồn Dầy Oán, diệt gọn đồn Xóm Tre. tiếp tục đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 Sư đoàn 9 và chi đoàn xe bọc thép can viện; bao vây bức rút đồn Dầy Oán (xã Ninh Quới). Địa phương quân huyện phối hợp du kích xã Vĩnh Phú Đông có nội tuyến phục vụ đồn Chủ Ngô, diệt 2 tên, bắt sống 19 tên, thu toàn bộ vũ khí. Du kích xã Ninh Thạnh Lợi kết hợp Trường Quân sự địa phương diệt gọn đồn Cống Đá. diệt 8 tên, bắt sống 7 tên, thu 19 súng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:12:06 am
Tại huyện Vĩnh Lợi, đêm 17 tháng 12 năm 1973 địa phương quân cùng 21 công an vũ trang và du kích xã Vinh Mỹ B phối hợp một bộ phận tiểu đoàn 1 Bạc Liêu, một đêm diệt 1 đồn dân vệ và 3 đồn phòng vệ ở Cây Dương, thu 72 súng. Du kích xã Hưng Hội phối hợp Tiểu đoàn Phú Lợi, Sóc Trăng diệt đồn Hoàng 2 thu 20 súng, phục kích đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an phản kích, thu 3 súng. Các xã bao vây 17 đồn, đánh địch phản kích 15 trận, diệt 35 tên, có 1 trưởng đồn, 2 trưởng ấp ác ôn. Tháng 1 năm 1974, địa phương quân huyện và du kích Minh Diệu đứng trụ tuyến kinh xáng Vĩnh Hưng - Cầu Sập đánh bọn bị cướp lúa và tiếp tế đồn bót, bắn chìm 4 tàu, diệt 25 tên, thu 4 súng. Một bộ phận địa phương quân phối hợp du kích xã Châu Thới và Long Thạnh bao vây pháo kích tiểu đoàn bảo an 411 tiểu khu cụm quân hỗ trợ cướp lúa ở Châu Thới, sau 5 ngày đệm bị ta vây đánh địch tháo chạy. Địa phương quân huyện cùng du kích xã Châu Hưng pháo kích đồn Giá Đại, địch chết 8 tên, có 1 trưởng đồn. Địa phương quân phối hợp du kích xã Hòa Bình diệt đồn dân vệ Xóm Lá, thu 12 súng. Địa phương quân huyện phối hợp một bộ phận chủ lực Khu pháo kích thiệt hại nặng đồn nhà thờ Nàng Rền, đồn Trà Hắc, đồn Quốc Kỷ; phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an 486 và 3 trung đội dân vệ tai Bà Chăng xã Châu Thới.

Ở huyện Giá Rai, địa phương quân huyện và du kích xã bao vây nhiều đồn bót, chặn đánh bọn đồn nống ra và bọn tề lính đi cướp lúa trên 30 trận, diệt hàng trăm tên địch, bẻ gãy nhiều mũi lấn chiếm, cướp lúa của địch.

Lực lượng tiểu đoàn 1 tỉnh Bạc Liêu vào chiến dịch mùa khô không suôn sẻ. Đơn vị chọn điểm đột phá là cụm đồn ngã tư Vĩnh Phú, thuộc xã Ninh Quới, phương án chiến thuật là công đồn đả viện. Đêm 10 tháng 12 năm 1973, ta công đồn Chủ Ngô, bao vây Vĩnh Phú, không dứt điểm được. Suốt ngày 11 tháng 12 lực lương ta bám trận địa quần nhau với hơn 300 quân và phi pháo của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 20 tên, ta hy sinh 6 đồng chí và một số bị thương. Trận mở màn ta không đạt yêu cầu. Bốn ngày san. lực lượng ta đánh kỳ tập đồn Vĩnh Phú, chỉ diệt được 1 tên, ta hy sinh 4 đong chí. Ban chỉ huy Tỉnh đội họp rút kinh nghiệm, ý kiến chung là: Tiểu đoàn 1 đại bộ phận chưa quen chiến trường, chưa nắm chắc âm mưu thủ đoạn và sở trường của địch, mặt khác bộ đội thời gian huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật không nhiều, vũ khí trang bị còn kém so với quân địch. Phía địch lại phát huy được lực lượng tổng hợp. Muốn thắng địch ta phải có bước đi phù hợp với chiến trường mới. Ban chỉ đạo tấn công của tỉnh chỉ thị địa phương quân các huyện đánh vừa và nhỏ, kết hợp ba mũi tiến công trên diện rộng, đơn vị tỉnh chuyển về địa bàn tuyên kinh xáng Phụng Hiệp thuộc xã Phong Thạnh Tây và Phong Thạnh huyện Giá Rai, nếu mở được địa bàn này sẽ mở luôn được trục kinh xáng số 2 và kinh xáng Vĩnh Hưng. Cán bộ chiến sĩ ta tương đối quen thuộc chiến trường này.

Ngụy quyền Sài Gòn triển khai kế hoạch dài hạn “cộng đồng tái thiết, cộng đồng phát triển năm 1973 đến 1975”. “kế hoạch hiện đại hóa quân ngụy dài hạn năm 1973 đến 1979”, “kế hoạch hậu chiến năm 1973 đến 1980”. Tiểu khu Bạc Liêu xúc tiến phương án huấn luyện đại trà phòng vệ dân sự, từng bước thực hiện nhiệm vụ bình định, cơ động; kêu gọi lính đào nhiệm tái nhập ngũ, miễn hình phạt; chuyển cấp xã lên phân chi khu, cho bọn sĩ quan tình báo, bình định, ác ôn trấn nhiệm để giữ ổn định tinh thần binh sĩ. Về kinh tế thành lập nông trường gia binh ở Vĩnh Lợi.

Giữa tháng 3 năm 1974, phía nam lộ 4 thuộc huyện Giá Rai, đại đội “Quyết thắng”(1) của tỉnh tổ chức trận hóa trang kỳ tập đánh đại đội địch đóng dã ngoại (thuộc nông trường gia binh) đóng cống số 9 -Vĩnh Lợi, ta tiêu diệt trên 20 tên địch, thu 31 súng, bắt sống trung úy đại đội trưởng.

Vào cao điểm hai mùa khô 1973 - 1974, tiểu đoàn của tỉnh sau thời gian chấn chỉnh, chuẩn bị chiến trường, đêm 4 tháng 4 năm 1974 nổ súng tấn công đồn 23 xã Phong Thạnh (Giá Rai), không dứt điểm được. Ta tiếp tục vây đồn triển khai đánh quân viện.

Địch huy động lực lượng bảo an của chi khu Giá Rai và dân vệ các đồn bốt, được sự chi viện của pháo binh đánh vào trận địa ta ở ấp 24 và 25 xã Phong Thạnh - Giá Rai, lực lượng lượng ta kiên cường chiến đấu suốt ngày gây cho địch một số thiệt hại. Bên ta đồng chí Năm Xuân, tiểu đoàn trưởng, đồng chí Hai Hóa, chính trị viên phó tiểu đoàn và một số chiến sĩ hy sinh. Bốn ngày sau, đơn vị tổ chức công đồn Đầu Sấu, dụ bọn can viện diệt 4 tên địch, nhưng ta hy 5 chiến sĩ. Đơn vị gặp khó khăn về chỉ huy, quân số, nhất là tinh thần chiến đấu. Đồng chí Đoàn Thanh Vị, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội trực tiếp tổ chức Hội nghị quân nhân, giải quyết tư tưởng cho đơn vị. Qua phát biểu ý kiến dân chủ đi đến nhất trí kết luận: Do ta không biết đánh chứ không phải địch mạnh. Địch đang chủ quan, nếu ta tổ chức đánh điểm đơn vị nhỏ nào đó của địch thì chúng sẽ hoang mang dao động. Tiểu đoàn nên quyết tâm “hễ đánh là thắng”. Đơn vị chọn 60 chiến sĩ có quyết tâm cao, trang bị mạnh, đồng chí Huỳnh Văn Đây (Tư Thành) cán bộ tham mưu Tỉnh đội được chỉ định giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng chỉ huy đơn vị; đồng chí Đoàn Thanh Vị trực tiếp với chỉ huy sở. Trận đầu tiên ta phục kích tại ấp 22 Phong Thạnh, dùng kế nghi binh dụ địch vào đúng trận địa phục kích của tiểu đoàn, đơn vị bất ngờ nổ súng mãnh liệt, ta diệt gọn đại đội bảo an quận Giá Rai, tên đại úy Phấn đền tội; ta truy kích diệt gần hết 1 trung đội dân vệ, đồn kinh xáng Hộ Phòng và đồn 18 hoang mang bỏ chạy. Trận này ta diệt gọn địch, thu vũ khí, ta chỉ bị thương vài chiến sĩ, địch bắt đầu hoang mang Phát huy thắng lợi, du kích xã Phong Thạnh bao vây bức rút đồn 23 và đồn 25, tiếp theo ta bao vây bức rút đồn 18, đồn 19 và đồn Cầu Đen, mở trục kinh xáng Phó Sinh - Giá Rai, Hộ Phòng – Chủ Chí.


(1) Đơn vị tiền thân của Tiểu đoàn 9 tỉnh Bạc Liêu sau này.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:12:39 am
Trận thắng ấp 22 xã Phong Thạnh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình tỉnh vừa tái lập. Không chỉ ở số lượng địch bị diệt, đồn bót bị gỡ, mà đã tạo được niềm tin và tinh thần chiến đấu cho đơn vi tỉnh vừa đến chiến trường mới; tạo ra mô hình kết hợp sức mạnh tại chỗ (cơ động tỉnh, địa phương quân huyện, du kích xã ấp), tiến công áp đảo kẻ địch đông mạnh hơn. Trận thắng còn giúp cho công tác lãnh đạo, chỉ huy về đánh giá đúng ta, địch, biết làm công tác chính trị, động viên tinh thần chiến đấu, với “lực lượng nhỏ, bén nhọn đánh thắng quân đội đông mạnh ô hợp”; biết tạo ra chiến thắng dù nhỏ để giải quyết tư tưởng, lòng tin và khí thế chiến đấu cho đơn vị.

Cùng thời gian này, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội cử đồng chí Tư Thạch, Tỉnh đội phó xuống chỉ đạo địa bàn nam lộ 4 thuộc huyện Giá Rai, Tiểu đoàn 2 của tỉnh được thành lập trên cơ sở đại đội “Quyết thắng” của Cà Mau đưa về và rút lực lượng địa phương quân và du kích huyện Giá Rai thành lập thêm 2 đại đội mới. Đồng chí Nguyễn Văn Đức làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn dựa vào căn cứ vùng Khâu Cây Bông, bắt tay ngay vào hoạt động chiến dịch mùa khô 1973 - 1974, đánh địch và hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh địa phương.

Tại huyện Hồng Dân, đêm 2 tháng 3 năm 1974, đội phòng thủ Tỉnh ủy do đồng chí Ba Dũng phụ trách phối hợp du kích các xã Phước Long và Ninh Thạnh Lợi bao vây phân chi khu Cống Đá, bức rút đồn Nhà Lầu, Xẻo Dừng, Phước Trường, diệt và bắt sống nhiều địch, mở tuyến kinh xổng Phó Sinh - Cạnh Đền. Đặc công địa phương quân Hồng Dân phối hợp du kích xã Vĩnh Phú Đông bao vây pháo kích đồn Thầy Thép làm chết bị thương 6 tên địch, phục kích đánh bọn biệt kích quân Phước Long can viện diệt 28 tên. Du kích xã Vĩnh Phú Tây phối hợp tiểu đoàn 1 tỉnh phục kích tại ấp Bình Hổ và Phước Trường đánh tiểu đoàn bảo an 448 và bảo an chi khu Phước Long diệt 57 tên, bị thương 38 tên, thu 29 súng. Địa phương quân huyện kết hợp du kích xã Vĩnh Phú Tây bao vây, tập kích, bức rút đồn bảo an và đồn dân vệ Tây Mập thu 48 súng. Thừa thắng, ta bao vây, phục kích đồn dân vệ và đồn phòng vệ Tây Lát, giữa đêm địch tháo chạy lọt vào ổ phục kích, ta diệt 5 tên, san bằng đồn, thu 35 súng. Lực lượng ba mũi xã Vĩnh Hưng bao vây pháo kích đồn Bắc Hưng, sau 3 ngày bị tấn công địch chết, bị thương 5 tên, buộc phải rút chạy về phân chi khu Vĩnh Hưng. Một bộ phận tiểu đoàn 1 tỉnh phối hợp du kích xã Vĩnh Hưng đánh kỳ tập đồn Miếu Hội, diệt 37 tên, bắt 6 tên thu 47 súng. Đặc công và địa phương quân huyện đánh kỳ tập tiêu diệt dân Đất Phèn xã Vĩnh Hưng, diệt 7 tên, bắt 5 tên, thu toàn bộ vũ khí. Du kích xã Ninh Quới bao vây đồn Cầu Sắt, dùng đầu đạn 105mm cải tiến đánh vào đồn 3 ngày, địch chết 3 tên, rút chạy về phân chi khu Ninh Quới. Lực lượng ba mũi xã Phước Long bao vây đồn Tám Tỏn, Phước Hòa A, Phước Trường, sau 5 ngày bị vây ép ba mũi, hàng chục lính rã ngũ, số còn lại rút chạy về chi khu Phước Long. Du kích xã Vĩnh Lộc phối hợp một bộ phận chủ lực Khu diệt đồn 120 đầu lộ xã Vĩnh Lộc do một đại đội bảo an đóng giữ, thu toàn bộ vũ khí.

Huyện Vĩnh Lại, vào đồng loạt cao điểm 2 thắng giòn giã. Địa phương quân huyện diệt đồn Dù Phịch, tập kích hậu cứ tiểu đoàn 488, pháo kích phân chi khu Vĩnh Hưng, diệt 41 tên thu 21 súng, có 1 đại liên. Địa phương quân kết hợp nội tuyến diệt đồn Chùa Độn thu 18 súng; du kích dũng mìn định hướng đánh đồn Cây Dương, địch tháo chạy tán loạn. Du kích xã Vĩnh Mỹ A vây đồn Vĩnh Tiến làm 8 dàn vệ rã ngũ, bọn còn lại rút chạy, ta giải phóng ấp Vĩnh Tiến. Du kích xã Châu Hưng vây đồn Chất Đốt, dùng nạng giàn thun bắn lựu đạn vào đồn làm chết và bị thương 5 tên, đào ngũ 9 tên, chống địch can viện diệt 11 tên bảo an tiểu đoàn 411. Tháng 3, địa phương quăn huyện và du kích xã Vĩnh Lợi, kết hợp cơ sở nội tuyến diệt đồn số 9, thu 30 súng, có 1 cối 60mm. Du kích xã Châu Hưng dùng mìn định hướng và lựu đạn diệt đồn Xóm Nhỏ thu 9 súng. Địa phương quận huyện kết hợp du kích xã Minh Diệu bao vây bức rút đồn Cả Hùng. Du kích xã Hưng Hội và Châu Hưng bao vây và bức rút đồn Nàng Rền, đánh viện diệt 17 tên; bắn bị thương 2 trực thăng, rã ngũ 28 tên. Lập thành tích dâng quà mừng sinh nhật Bác ngày 19 tháng 5, các xã bao vây 17 đồn địch, du kích xã Châu Hưng bức rút đồn Chắc Đốt, phối hợp địa phương quân có nội tuyến phục vụ tập kích đồn Nhà Dài diệt 4 tên địch, bắt sống trưởng đồn. Du kích xã Châu Thới vây đồn Nàng Rền đánh địch nống ra diệt một số tên, thu 1 M79, tháng 6 năm 1974 các xã Minh Diệu, Châu Hưng, Vĩnh Mỹ B bao vây hàng chục đồn bót, đánh địch nống ra diệt 18 tên, có 2 trưởng đồn, 1 phó đồn, diệt 1 xe GMC.

Cuối tháng 4 năm 1974, tiểu đoàn 2 tổ chức bao vây đồn Khâu Cây Bông, ta bắn chết 3 tên địch ngoài đồn và tổ chức cho chị em phụ nữ khiêng thây vào đồn trả cho địch, lực lượng ta tiếp tục vây chặt bọn địch trong đồn, buộc chúng gọi trực thăng xuống chở xác, ta bắn bị thương chiếc trực thăng và bay về đến Cây Giang rơi làm chết toàn bộ số địch trên chiếc trực thăng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:13:19 am
Chiến dịch mùa khô tháng 12 năm 1973 đến đầu tháng 5 năm 1974, toàn tỉnh loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên địch, gỡ 54 đồn bót, giữ 26 nền đồn, giải phóng cơ bản 5 xã, giải phóng hoàn toàn 87 ấp, có 49.630 dân. Thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng, ta khắc phục được những khó khăn bước đầu tỉnh mới thành lập, tiếp tục tấn công tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch khá lớn, mở ra vùng giải phóng liên hoàn nhiều xã ấp, tạo dần thế vây ép địch. Lực lượng vũ trang được bổ sung về số lượng chất lượng, đang thế tấn công. Tiểu đoàn 1 tỉnh vượt qua thời kỳ khó khăn, sức chiến đấu có vươn lên, quen thuộc chiến trường, làm tốt chức năng “quả đấm” của tỉnh. Ban ngành tỉnh ổn định một bước, tổ chức và hoạt động. Địch bị đẩy lùi một bước, quân số giảm xấp xỉ 1/4 (9.668/12.308 tên hồi tháng 11 năm 1973), tinh thần chiến đấu sa sút, khá nang cơ động can viện, phản kích, tái chiếm giảm rõ (đồn bót bị gỡ 54, chỉ tái chiếm 26 bằng 51%). Địch lui dần về co cụm chỏng đỡ. Kế hoạch bình định lấn chiếm và cướp rút lúa cơ bản bị đánh bại.

Tháng 6 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi quân ngụy “phải đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo”, với 4 biện pháp: giảm quân số xuống 40 vạn, hạn chế phương tiện cơ động, tiết kiệm vật liệu, nhiên liệu, quân đội tham gia sản xuất. Chủ trương này của Thiệu càng bộc lộ rõ và khoét sâu tình thế quẫn bách của quân đội ngụy.

Kết thúc chiến dịch mùa khô, Khu ủy chủ trương “tiếp tục đẩy mạnh tiến công trong mùa mưa, mở rộng diện tấn công, thúc đẩy vùng ven và thành thị chuyển lên, đồng thời chuẩn bị kế hoạch mùa khô năm 1974 -1975.

Tỉnh ủy họp mở rộng đánh giá tình hình thực hiện chiến dịch mùa khô của tỉnh, tiếp thu chủ trương Trung ương Cục và Khu ủy, đề ra phương hướng nhiệm vụ đến cuối năm “đẩy mạnh tấn công ba mũi, đẩy địch vào thế suy sụp hơn nữa, mở rộng vùng giải phóng, hình thành thế vây ép địch. Chuyển mạnh vùng yếu, vùng kềm, thị xã, thị trấn. Chuyển mạnh mũi binh vận làm tan rã nhiều địch hơn nữa, kết hợp chống bắt lính, ngăn chặn nguồn bổ sung của địch. Xây dựng vững chắc vùng giải phóng, cung cấp người, của cho phía trước. Nhanh chóng xây dựng thực lực cách mạng, nhất là lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, xả. Chuẩn bị tốt nhất cho mùa khô năm 1974 - 1975 giành thắng lợi cao hơn”.

Vào đồng loạt tấn công mùa mưa ngày 13 tháng 7 năm 1974, lực lượng ta sung sức hơn. Tiểu đoàn 1 của tỉnh được bổ sung quân số trang bị, giúp xây dựng mới 2 đại đội địa phương quân Giá Rai đứng chân hoạt động phía nam lộ 4 thuộc huyện Giá Rai, đại đội phòng thủ có kế hoạch phát triển thêm đại đội mới. Địa phương quân các huyện xây dựng thêm đại đội 2, hầu hết các xã có trung đội du kích trang bị mạnh, nhiều ấp đội du kích trang bị khá. Ngoài ra, khu vực các xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi còn được bộ phận đơn vị khu hỗ trợ mở rộng căn cứ. So với trước, sức chiến đấu của ta những tháng mùa mưa có bước phát triển mới về gỡ đồn bót, trụ lại đánh địch phản kích, đẩy lùi địch tái chiếm, vùng giải phóng giữ vững và tiếp tục mở rộng.

Phối hợp chiến trường Cà Mau sau khi diệt cứ điểm cầu số 3, thu 2 pháo 105mm. Ta bao vây pháo kích cụm pháo số 8, địch phải cho trực thăng cần cẩu pháo và yểm trợ căn cứ số 8 rút chạy. Tiếp theo, ta bao vây bức rút các đồn Đầu Sấu, ngã tư Chủ Chí, số 2, mở tuyến kinh xáng Đầu Sấu - Chủ Chí - Phó Sinh.

Xã Phong Thạnh diệt đồn ấp 18 và đồn ấp 19 giải phóng tuyến kinh xáng Giá Rai - Phó Sinh. Du kích xã An Trạch phục kích đánh địch can viện diệt trung đội cơ động phân chi khu Khúc Tréo thu 15 súng. Xã An Trạch vây đồn An Hòa đánh viện diệt 5 tên, diệt đồn ấp 14 và ấp 16.

Khu vực nam lộ 4, tiểu đoàn 2 của tỉnh kết hợp với dân quân du kích xã Long Điền Đông ba mũi bao vây bức hàng 2 đồn, bức rút 6 đồn, giải phóng phần lớn các xã. Xã Định Thành ba mũi bao vây diệt 6 đồn, bức rút 2 đồn, mở ra một số ấp giải phóng.

Huyện Vĩnh Lợi, địa phương quân kết hợp du kích xã Long Thạnh và thị trấn Hòa Bình, có nội tuyến diệt cụm đồn Cầu Cái Tràm trên quốc lộ 4, gồm 1 đồn dân vệ, 4 cốt gác phòng vệ, thu 6 súng. Du kích xã Minh Diệu đánh sập cốt gác đồn Cả Hùng, bao vây đồn Trà Co, Đìa Chuối và Xóm Lá. Ở đồn Xóm Lá dùng lực lượng du kích vây chặt, bắn tỉa, đưa hàng trăm gia đình binh sĩ dung loa phóng thanh vừa kêu gọi vừa tác động, địch hoang mang bỏ đồn rút chạy, lực lượng quần chúng san bằng đồn. Du kích xã Vĩnh Mỹ B đánh thiệt hại nặng đồn Cây Dương, diệt trụ sở tề và phòng vệ phân chi khu diệt 16 tên, có tên Duy, trung úy phân chi khu trường; tên Út Đờn, xã phó an ninh, làm bị thương 25, bắt 12 tên, giải tán 2 trung đội phòng vệ dân sự thu 34 súng. Địa phương quân cùng du kích các xã chiếm tuyến kinh xáng Cầu Sập - Vĩnh Hưng đánh tàu địch tiếp tế, can viện, diệt nhiều tên, có tên thiếu úy Can, bắn chìm 2 tàu chở đạn dược thuốc men, lương thực, làm cho số đồn bót đóng sâu nông thôn thêm khó khăn. Trong hai tháng 10 và 11 năm 1974, ta đánh địch 33 trận, địa phương quân huyện đánh tiêu diệt đại đội bảo an 511, kết hợp du kích xã Vĩnh Mỹ diệt đồn Chùa Độn. Du kích xã Hưng Hội kết hợp nội tuyến bắt giữ tên trung đội phòng vệ ấp Năm Căn thu 21 súng. Du kích xã Châu Hưng bao vây đồn Chất Đốt, đánh địch chi viện diệt nhiều tên, đồn Chất Đốt rút chạy. Tính chung, huyện Vĩnh Lợi tấn công hàng chục đồn bót, đánh 33 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 226 tên địch, thu 71 súng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:14:58 am
Các xã khu vực tây bắc huyện Hồng Dân gồm Ninh Hòa, Ninh Quới, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh thuộc quận Kiến Thiện (Ngan Dừa), nằm trong trọng điểm bình định Chương Thiện, ta và địch tranh chấp quyết liệt. Địa phương quân và du kích các xã liên tiếp đánh trả nhiều cuộc càn quét tái chiếm của địch, diệt hàng trăm tên, bẻ gãy kế hoạch tái chiếm, giữ vững các xã giải phóng cơ bản Ninh Quới, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh, Ninh Hòa, từng bước củng cố xây dựng thành địa bàn căn cứ của tỉnh

Từ sau Hội nghị tập huấn công tác thành thị của Khu ủy, tháng 4 năm 1974, thị xã Bạc Liêu đưa phong trào lên có bài bản hơn. Tỉnh ủy điều động đồng chí Lê Văn Năm, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi, bổ sung Ban Thường vụ Tỉnh ủy về làm Bí thư Thị ủy Bạc Liêu. Thị xã được tỉnh tăng cường thêm một tổ cán bộ, Các đội an ninh vũ trang, đội tấn công của binh vận cắm ở địa bàn ven, phối hợp hành động tấn công địch. Đánh đầu não và diệt ác 55 trận, diệt 195 tên, có 1 đại úy, 2 trung úy, 1 thiếu úy, hàng chục thám báo, tề diệp ác ôn; trấn áp 23 tề xã ấp và liên toán phòng vệ Công tác binh vận 164 binh sĩ và 433 phòng vệ bỏ ngũ, xây dựng 13 nội tuyến; gây mâu thuẫn cho địch bắn nhau tại thị xã Bạc Liêu, chết bị thương 18 tên. Phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ chống bắt lính, vơ vét cướp bóc, đuổi nhá đuổi chợ diễn ra liên tục với nhiều hình thức quyết liệt, mang tính chính trị của học sinh, sinh viên, tri thức, lãnh tụ tôn giáo, làm cho địch thêm khốn đốn.

Các tháng tiến công mùa mưa 1974, toàn tỉnh thắng lớn, toàn diện, có bước phát triển hơn mùa khô. Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 4.000 tên địch, gỡ 69 đồn bót, vùng giải phóng bắc lộ 4 mở rộng thêm, mở mới nhiều áp giải phóng nam quốc lộ 4. Vùng yếu, vùng lõm thị xã, thị trấn chuyển lên rõ nét. Địch tiếp tục suy sụp, quân số hao hụt nghiêm trọng, giảm hẳn khả năng phi pháo và cơ động, tái chiếm. Địch lùi hẳn về co cụm.

Tháng 10 năm 1974, Khu ủy Tây Nam Bộ thành lập tỉnh Long Châu Sa. Khu ủy điều động đồng chí Nguyễn Văn Đáng, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu làm Bí thư Tỉnh ủy Long Châu Hà; chỉ định đồng chí Đoàn Thanh Vị là Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, kiêm chính trị viên Tỉnh đội. Bổ sung vào Tỉnh ủy 4 đồng chí: Đồng chí Tạ Minh Hiển (Năm Hiển, phụ trách Bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi; đồng chí Nguyền Hòa Diệu, phụ trách Tỉnh đội phó Tham mưu trưởng; đồng chí Tư Thạch, phụ trách Tỉnh đội phó; đồng chí Sáu Thanh (Khu đưa về), phụ trách nông dân.

Tỉnh ủy điều động đồng chí Nguyễn Văn Út (Út Đen), Bí thư Huyện ủy Giá Rai về làm chính trị viên Tiểu đoàn 1 Bạc Liêu.

Từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 7 tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị họp quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, phê chuẩn kế hoạch 2 năm và kế hoạch tác chiến năm 1975 của Bộ Tổng Tham mưu. Trung ương Cục miền Nam nêu quyết tâm đánh bại bình định, giành quyền làm chủ, giải phóng nông thôn, làm thay đổi so sánh lực lượng có ý nghĩa quyết định trong năm 1975.

Năm 1974, Đảng bộ, quân dân Bạc Liêu nắm vững tư tưởng chiến lược tấn công tự lực tự cường, khắc phục khó khăn bước đầu thành lập tỉnh, đoàn kết phấn đấu lập thành tích to lớn, toàn diện: Loại khỏi vòng chiến đấu 6.756 tên địch, diệt gọn và đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn, 7 đại đội bảo an, 15 trung đội dân vệ, làm giảm quân số địch từ 12.300 quân vào cuối tháng 11 năm 1973 xuống còn 6.347 quân vào cuối năm 1974. Diệt, bức hàng, bức rút 138 lượt đồn và 8 lượt cốt, ta giữ được 77 nền đồn; đồn bót địch giảm từ 223 vào cuối tháng 11 năm 1973 đến cuối năm 1974 còn 154. Vùng giải phóng mở rộng gồm 8 xã giải phóng cơ bàn”(1) giải phóng phần lớn 4 xã(2), giải phóng hoàn toàn 62 ấp 53.236 dân (chung cũ mới giải phóng 124/310 ấp, 83.000 dân, chiếm gần 1/4 số dân toàn tỉnh).

Phong trào chính trị của quần chúng nâng lên mức độ rộng và mạnh hơn. Vùng giải phóng, vùng tranh chấp quần chúng tham gia ba mũi gỡ đồn bót, chống càn quét lấn chiếm, chống địch cướp rút lúa, đi dân công hàn cản, phá lộ, phục vụ chiến trưởng. Phong trào quần chúng vùng kềm, vùng thị xã, thị trấn, tham gia diệt ác phá kềm, 8.500 lượt người trực diện đấu tranh chống bắt lính, cướp bóc, đuổi nhà, đuổi chợ, chống bắt lính đôn quân, lên án Thiệu vi phạm hiệp định. Địch xoa dịu, nhượng bộ bồi thường 885.000 đồng, thả 543 người bị bắt, trên 600 thanh niên khỏi đi lính và vào phòng vệ dân sự, giành lại trên 10.000 giạ lúa và 7.500.000 đồng khỏi bị cướp bóc.

Công tác binh vận có tiến bộ, đại hội gia đình binh sĩ các cấp và giáo dục lẻ tẻ 12.000 lượt gia đình binh sĩ, giáo dục vận động trực tiếp 4.000 binh sĩ, rã ngũ 2.642, mang ra 32 súng. Sư sãi chùa Ngan Dừa vận động rã tập thể một trung đội địch, có thượng sĩ trung đội trưởng. Sử dụng nội tuyến khởi nghĩa 2 đồn, nội ứng diệt 22 đồn và 8 cốt, thu 250 súng. Cài mâu thuẫn bắn nhau chết 18 tên, 50 quân chủ lực và trung đội dân vệ phản chiến chống lệnh can viện đồn bót bị vây. Nâng chất 130 cơ sở nội tuyến và bắt 294 mối mới.

Về xây dựng các mặt: Thành lập ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh, huyện, thị và nhiều xã. Chính quyền tỉnh triển khai một số văn bản của Khu, trong đó có việc cấp thẻ quân nhân cho tất cả quân nhân các lực lượng vũ trang cách mạng từ cấp huyện trở lên; quy định 10 điều đối với vùng mới giải phóng, quy định tạm thời chính sách dân công Một số huyện tiến hành điều tra gia đình thương binh, liệt sĩ, bộ đội, xếp hạng thương binh. Hàng chục nghìn quần chúng tham gia xây dựng xã, ấp chiến đấu, đào đắp 10.200m hào lũy, 58 000 hầm chông, công sự, xuống 1.600.000 mũi chông và chất nổ; làm 182 cản cây, trồng 1.800.000 cây và 183 công lá tràm, mắm cải tạo địa hình. Thu đảm phụ giải phóng mùa 1973 - 1974 được 370-000 giạ, quần chúng úy lạo bộ đội, thương binh 1 triệu đồng. Phát triển 275 đảng viên, 311 đoàn viên, 3.948 hội viên các đoàn thể, 320 du kích xã. 764 du kích ấp, 743 dân quân Tự vệ, thu 972 tân binh (bổ sung địa phương quân 427, tỉnh 420, Khu 88, biệt động thị xã 8, an ninh vũ trang 22, phòng thủ 14). Cử 420 thanh niên thoát ly vào công tác các cơ quan tỉnh, huyện, thị xã tổ chức 20 tổ chống bắt lính.

Trường quân sự tỉnh mở 2 lớp 100 học viên, 3 lớp y tá, dược tá 138 học viên.

Thắng lợi to lớn, toàn diện của tỉnh năm 1974 có sự đóng góp xứng đáng của lực lượng vũ trang, ba thứ quân trong tỉnh làm tốt vai trò đòn xeo ba mũi tiến công địch. Lực lượng ta càng đánh càng mạnh, phát triển vượt bậc; địch quân số giảm gần một nửa, tinh thần sa sút. Thế đứng ta - địch từ cài răng lược chuyển thành thế da beo. Cục diện chiến trường ta chuyên lên thế thắng, thế chủ động tiến công; địch trong thế thua, bị động phòng ngự. Một biến đổi nhảy vọt trong so sánh lực lượng ta - địch, ta tạo ra chỉ một năm sau ngày tỉnh Bạc Liêu tái lập.


(1) 8 xã giải phóng cơ bản: Vĩnh Lộc, Lộc Ninh, Ninh Quới, Ninh Hòa (Hồng Dân), Châu Thới (Vĩnh Lợi), Phong Thạnh, Phong Thạnh Đông, Long Điền Tây (Giá Rai).
(2) Giải phóng phần lớn: Minh Diệu, Châu Hưng, Vĩnh Mỹ B (Vĩnh Lợi), Long Điền (Giá Rai).


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:25:50 am
III. TẬN DỤNG THỜI CƠ XÔNG LÊN GIÀNH TOÀN THẮNG NHANH GỌN

Đầu mùa khô 1974 - 1975, tháng 12 năm 1974 Phó thủ tướng ngụy quyền Nguyễn Văn Hảo xuống Cần Thơ chỉ thị cho quân khu 4 và quân đoàn 4, các tiểu khu trưởng trong vùng kế hoạch an ninh lãnh thổ và lúa gạo, các tỉnh miền Tây phải cung 200.000 tấn gạo dự trữ chiến lược cho Sài Gòn.

Đầu tháng 12 năm 1974, Tỉnh ủy Bạc Liêu họp quán triệt Nghị quyết tháng 10 năm 1974 của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy, kiểm điểm tình hình thực hiện nghị quyết năm 1973 của tỉnh. Hội nghị nhất trí nhận định: Ta đang ở thế mạnh, thế tấn công, địch thế yếu bị động, co cụm chống đỡ, thời cơ hết sức thuận lợi để quân dân tỉnh nhà xông lên giành thắng lợi cao hơn. Tỉnh ủy chủ trương dốc toàn lực tẩn công địch ngay từ mùa khô 1974 - 1975, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang để có quả dấm mạnh giành thắng lợi quyết định khi có thời cơ.

Thực hiện nghị quyết của Tình ủy, Tỉnh đội lập kế hoạch đến cuối tháng 2 năm 1975 toàn tỉnh xây dựng 6 tiểu đoàn tập trung. Trong tháng 1 năm 1975, bổ sung tiểu đoàn 2 ở địa bàn nam quốc lộ 4 và tiểu đoàn 3 phòng thủ của tỉnh; các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai mỗi nơi xây dựng 1 tiểu đoàn. Riêng tiểu đoàn 1 chủ công của tỉnh phải bổ sung đủ 300 quân. Công trường tỉnh, huyện nâng chất lượng sản xuất lên gấp đôi, đáp ứng đạn và các loại chất nổ đánh công sự, nhất là bộc phá, đầu đạn 105mm, mìn, hỏa tiễn cải tiến phục vụ pháo kích tập kích công sự. Ngay từ bây giờ quân y có kế hoạch về cán bộ, y cụ, thuốc men cho trạm phẫu tiền phương phục vụ chiến trường, bộ phận cứu thương trực thuộc các tiểu đoàn mới thành lập; hậu cấn cổ phương án chuẩn bi cơm áo gạo tiền phục vụ bộ đội. Thị xã phải xây dựng 2 trung đội biệt động bí mật và 1 trung đội biệt động hợp pháp. Toàn bộ lực lượng phải rèn luyện tốt, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Tỉnh ủy chủ trương vận động toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân làm công tác binh vận. Ai có thân nhân trong hàng ngũ địch phải vận động họ lập công trở về với cách mạng, nội bộ Đảng phải gương mẫu. Thực hiện khẩu hiệu “dứt điểm gia đình đau khổ từng xóm, từng ấp, từng xã”, thực hiện “sạch làng, tốt xóm”.

Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra lời hiệu triệu kêu gọi: Toàn dân nổi dậy giành chính quyền các gia đình binh sĩ có trách nhiệm vận động con em trở về với nhân dân. Anh em lính, sĩ quan thể hiện lòng yêu nước bằng hành động thiết thực đào ngũ, rã ngũ, binh biến, phản chiến, đụng trận hạ súng đầu hàng quân giải phóng.

Mục tiêu quân sự mùa khô năm 1974 -1975 của tỉnh là thừa thắng xông lên tiến công địch đều khắp, mạnh mẽ và liên tục. Mở rộng đánh tiêu diệt đồn bót đơn vị địch, không để địch rút chạy co cụm lực lượng phản kích ta. Vừa đánh vừa bổ sung lực lượng theo nghị quyết của Tỉnh ủy, đảm bảo càng đánh càng mạnh. Lực lượng tỉnh hỗ trợ mở rộng vùng giải phóng bắc huyện Giá Rai và nam lộ 4; tiếp tục mở rộng vùng giải phóng huyện Hồng Dân nối liên hoàn Giá Rai, Vĩnh Lợi, áp sát quốc lộ 4 và tỉnh lỵ Bạc Liêu,

Chuẩn bị cho đợt mùa khô, công trường tỉnh phát động cao điểm thi đua sản xuất vũ khí, tháng 12 năm 1974, sản xuất được 300 lựu đạn và thủ pháo, 10 quả mìn định hướng, 6 quả mìn chống tăng, 20 bộ phóng đầu đạn pháo 105mm, sửa chữa nhiều khí tài, quân dụng.

Vào đồng loạt tấn công mùa khô toàn Khu, đêm 3 tháng 12 năm 1974, lực lượng Tiểu đoàn 1 của tỉnh phối hợp với địa phương quân và du kích huyện Giá Rai công đồn 23 (xã Phong Thạnh), phục kích đánh viện diệt gọn trung đội biệt kích tiểu khu và đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an phân chi khu Khúc Tréo, bắn bị thương 1 máy bay; ta tiếp tục đánh 3 tiểu đoàn bảo an đến can viện, diệt và làm bị thương 190 tên địch. Thừa thắng ta đánh tiêu diệt đồn 23 (lần thứ 9). Trong quý I năm 1975, huyện Giá Rai tiếp tục gỡ các đồn: Ngã Ba, Bến Mã, các đồn 18, 11, 20, 21 giải phóng cơ bản xã Phong Thạnh; xã Long Điền Tây tiêu diệt gọn đồn Khâu Cây Bông, bức rút đồn Chệt Há, Vĩnh Điền, Khu Sáu... xã Long Điền Tây và một phần xã Long Điền Đông được giải phóng.

Huyện Vĩnh Lợi, đêm 11 tháng 12 năm 1974, địa phương quân kết hợp du kích xã Minh Diệu diệt gọn đồn Đìa Chuối. Các xã bao vây pháo kích 21 đồn, bức rút đồn Nhà Dài A, Giá Đại, Cả Hùng, Trà Co, Vĩnh Lập, Vĩnh Lâm, giải tán 5 trung đội phòng vệ dân sự, loại khỏi vừng chiến đấu 347 tên địch, thu 33 súng, giải phóng 9 ấp, 2.229 dân. Sang tháng 1 và tháng 2 năm 1975, tiểu đoàn 1 của tỉnh kết hợp địa phương quần đánh tiêu diệt phân chi khu Vĩnh Hương. Địa phương quân kết hợp du kích xã Minh Diệu và Vĩnh Mỹ B đánh tiêu diệt đồn Bào Sàng, đồn Xóm Lá. Du kích thị tứ Hòa Bình đánh tiêu diệt đồn phòng vệ ấp Vôn, đánh thiệt hại nặng đồn dân vệ Láng Dài - Du kích Long Thạnh - Châu Thới phối hợp địa phương quân đánh thiệt hại nặng đồn Nàng Rền, Xã Xính. Lực lượng ba mũi xã Châu Hưng bao vây bức rút đồn Nhà Dài A lần thứ hai. Du kích xã Minh Diệu bức rút đồn Trà Co. Xã Vĩnh Mỹ B bức rút 2 lần đồn Bào Sàng. Xã Châu Thới bức rút đồn Nàng Rền. Du kích xã Vĩnh Lợi bức rút đồn Nhà Mát. Du kích các xã phán kích can viện 45 trận. Trong 2 tháng loại khỏi vòng chiến đấu 595 tên, thu 106 súng.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:26:56 am
Huyện Hồng Dân, địa phương quân phối hợp một bộ phận Tiểu đoàn 3 tỉnh công đồn Miếu Hội (xã Vĩnh Hưng), phục kích đánh tiểu đoàn bảo an 448 can viện, diệt 27 tên, thu 21 súng. Đêm 20 tháng 1 năm 1975, ta tiếp tục công đồn Miếu Hội lần hai, diệt 7 tên, ta trụ lại đánh viện, diệt gọn 1 đại đội tiểu đoàn bảo an 441, thu 41 súng. Đêm 15 tháng 2 năm 1975. địa phương quân kết hợp đại đội tiểu đoàn 1 tỉnh tấn công phân chi khu Ninh Quới, diệt 17 tên địch, bắt 29 tên, làm bị thương 9 tên, thu 17 súng. Xã Ninh Thạnh Lợi, đại đội phòng thủ tỉnh phối hợp du kích xã bao vây tấn công đồn đại đội bảo an Cỏ Thum, một số tên chết, bị thương, rã ngũ 4 tên, sau 3 ngày bọn còn lại rút chạy về chi khu Phước Long; đồn cầu Kinh Ranh cũng rút chạy. Thừa thắng, được bộ phận Khu hỗ trợ, ta tiếp tục diệt đồn Nhà Lầu, bức rút đồn Xéo Dừng, giải phóng hoàn toàn xã Ninh Thạnh Lợi; mở căn cứ liên hoàn giáp vùng bắc tỉnh Cà Mau về huyện Giá Rai.

Tiến công địch bước 1 chiến dịch mùa khô 1974 - 1975 tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm 1975), toàn tỉnh loại khỏi vòng chiến đấu 1.805 tên địch, diệt 362 tên (có 8 cấp úy, 11 trưởng phó đồn) làm bị thương 509 tên (có 10 cấp úy, 9 trưởng phó đồn), bắt sống 75 tên (có 1 cấp úy, 1 phó đồn), tan rã 861 tên. Diệt 21 trung đội dân vệ và phòng vệ, đánh thiệt hại 2 trung đội bảo an. Phá rã 19 toán phòng vệ 180 tên và 22 ban tề ấp. Diệt, khởi nghĩa, bức hàng, bức rút 55 vị trí, 71 lượt đồn bót, ta còn giữ 58/63 nền đồn. Thu 361 súng, 215.000 viên đạn, 30 máy thông tin và nhiều đồ dùng quân sự. Đánh diệt và hỏng 12 xe quân sự, đánh chìm 2 tàu, phá hủy 1 khẩu pháo, 20 căn trại lính. Giải phóng hoàn toàn xã Ninh Thạnh Lợi (huyện Hồng Dân), giữ vững 8 xã giải phóng cơ bàn, giải phóng cơ bản thêm các xã Long Điền Đông, Phong Thạnh Tây, Minh Diệu và Châu Hưng (cũ, mới có 12 xã giải phóng cơ bản). Giải phóng cơ bản 3 xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Mỹ A và Long Điền. Giải phóng chung 143 trên tổng số 310 ấp, có 103.000 dân.

Binh vận có tiến bộ, giáo dục 1.500 gia đình binh sĩ, bắt 63 mối mới, nâng chất 18 cơ sở, sử dụng khởi nghĩa diệt 4 đồn, nội ứng diệt 4 đồn, thu 100 súng, làm tan rã 861 binh sĩ, mang ra 20 súng.

Về xây dựng, ta phát triển 31 đảng viên, 49 đoàn viên, 403 nông hội, 110 thanh niên giải phóng, 278 phụ nữ giải phóng, 62 thiếu niên tiền phong, 48 nòng cốt, 559 dân quân tự vệ, 214 du kích ấp, 170 du kích xã, 14 biệt động, 37 an ninh võ trang. Thu 283 tân binh, bổ sung lực lượng huyện 112, tỉnh 165, khu 6. Có 90 thanh niên tham gia các cơ quan huyện, tỉnh. Thu đảm phụ mùa 1974-1975 bằng 264.000 giạ lúa.

Hai tháng mở màn chiến dịch mùa khô 1974 – 1975, toàn tỉnh thắng lớn, toàn diện hơn. Ba mũi tấn công địch giành thắng lợi vượt bậc. So với cả năm 1974, hai tháng đầu chiếm tỷ lệ 29,1% về địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 51,4% về gỡ đồn bót, giữ nền đồn không để địch tái chiếm tỷ lệ 92% so với năm 1974, nét nổi bật là ba thứ quân đánh đều tay, hơn 2/3 các xã trong tỉnh lực lượng ba mũi tự lực gỡ được đồn, lực lượng ta càng đánh càng mạnh. Tiểu đoàn tỉnh phát triển thêm mũi tiến công nam lộ 4, hình thành thế vây ép tỉnh lỵ Bạc Liêu.

Địch tiếp tục suy sụp, quân số chung trong tỉnh còn 5.016 tên (kể cả số lính kiểng)(1). Trong toàn tỉnh địch hiện còn 95 đồn, 2 thị tứ, 4 chi khu, 1 tiểu khu.

Địch ở Bạc Liêu năm 1974 bi mất nhiều đồn bót. quân số hao hụt một nửa. không bổ sung được buộc phải lùi về co cụm. Đợt 1 mùa khô tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm 1975, địch tiếp tục bi đánh đau hơn, càng lún sâu vào thế bị động chống đỡ, số đồn bót ta gỡ ở nông thôn gần như địch không còn khả năng tái chiếm; các chi khu Phước Long, Ngan Dừa và các phân chi khu ở nông thôn dần dẩn bị mất các đồn con, trở thành chi khu, phân chi khu trọi. Hơn 2/3 số đồn bót co lại, tiếp tục phân hóa, hòa hoãn với dân, không có bọn tiểu khu tới thì chúng không dám nống ra, mặc cho cấp trên thúc bách. Để cứu vãn tình thế, tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp ráo riết bắt lính, dùng biện pháp bao bắt một cách trắng trợn, bắt cả học sinh, thầy tu, khủng bố gia đình có con trốn lính, đôn thẳng hàng loạt phòng vệ dân sự lên bảo an cơ động và đóng đồn, mặt khác chúng cho bọn chiến tranh tâm lý tung tin “Việt cộng cố kế hoạch tấn công thị xã, thị trấn như hồi Tết Mậu Thân năm 1968 để lừa bịp quần chúng, hợp thức hóa hành động tăng thuế, bắt lính đôn quân và hành động bao ráp lục soát liên tục Xáo trộn quân bảo an ở các đồn bót để ngăn ngừa tấn công binh vận. Địch đôn và bắt 2.000 quân.


(1) Lính kiểng: lính chỉ có tên trong biên chế quân đội ngụy, nhưng bằng lo lót hối lộ cho bọn chỉ huy nên ăn ở nhà làm ăn, là số lính không có thật.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:27:20 am
Chiến trường chung liên tiếp thắng lớn. Ngày 6 tháng 1 năm 1975 ta giải phóng và chiếm giữ thị xã Phước Long. Đợt 1 tấn công mùa khô ở Tây Nam Bộ thẳng lợi hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Ta giải phóng và chiếm giữ chi khu Hưng Long, gỡ 981 đồn bót, thu 6 khẩu pháo 105mm, giải phóng 71 xã; ta giữ được kế hoạch cướp lúa của địch. Quân số của địch ở vùng 4 chiến thuật sụt giảm gần 1/3, các sư đoàn chủ lực ngụy giảm sút ý chí. Từ tháng 12 năm 1974 xảy ra đánh nhau giữa quân đội ngụy và 15.000 quân Hòa Hảo phái Huỳnh Văn Niệm và Lương Trọng Tường; vùng 4 chiến thuật phải huy động các sư đoàn chủ lực, pháo binh, phi cơ, thiết giáp đánh với bảo an quân gần 2 tháng. Tuy dẹp dược bảo an quân Hòa Hảo nhưng Thiệu bị cô lập chính trị nặng nề hơn. Khu Tây Nam Bộ tận dụng thời cơ này tranh thủ nắm quần chúng tín đồ Hòa Hảo, chuyển vùng yếu tỉnh Long Châu Hà và Cần Thơ lên. Qua đợt 1 mùa khô năm 1975, Tây Nam Bộ xuất hiện khả năng ba mũi tự lực huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh, trước mắt là tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Khu ủy chỉ đạo cả tỉnh xây dựng quyết tâm, kế hoạch theo hướng này. Đầu tháng 3 năm 1975, đồng chí Vũ Đình Liệu, Bí thư Khu ủy trực tiếp thỉnh thị, được Thường vụ Trung ương Cục miền Nam chấp thuận.

Theo chỉ đạo của Khu ủy, ngày 13 tháng 1 năm 1975, Tỉnh ủy họp xây dựng quyết tâm và kế hoạch dứt điểm thị xã tỉnh lỵ Bạc Liêu, giải phóng tỉnh. Trước mắt là chỉ đạo đợt 2 mùa khô vừa khẩn trương hoàn tất chỉ tiêu xây dựng 6 tiểu đoàn trong quý I năm 1975. Tỉnh ủy thành lập Ban chỉ huy tiền phương do đồng chí Đoàn Thanh Vị, Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban; các đồng chí Nguyên Viết Thông và Lê Văn Năm, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy làm Phó ban, các đồng chí Lê Văn Nuôi, Phan Thu Loan và Phạm Văn Đương làm ủy viên. Quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy từ Cái Chanh - xã Ninh Thạnh Lợi về Lái Viết - xã Ninh Quới để kịp thời chỉ đạo hướng trọng điểm tấn công. Căn cứ Cái Chanh giao cho bộ phận công trường tỉnh mở rộng việc sản xuất vũ khi.

Ngày 27 tháng 1 năm 1975, Tỉnh ủy ra Chi thị 02/CT.AE: “Đẩy mạnh mũi chính trị và binh vận theo kịp tình hình mới”. Yêu cầu các cấp các ngành kiểm điểm sâu sắc, tạo sự chuyển biến thật sự, nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu: Chuyển phong trào chính trị toàn tỉnh, nhất là vùng yếu thị xã thị trấn lên thành cao trào khởi nghĩa tấn công địch; ba mũi gỡ đồn bót; vùng yếu, thị xã thị trấn diệt ác phá kềm. Công tác binh vận phải trở thành phong trào quần chúng làm tan rã lớn hàng ngũ của địch kết hợp chống bắt lính, không để chúng hồi phục; dứt điểm “gia đình đau khổ” từng ấp, từng xã; sử dụng cơ sở nội tuyến vừa cho trước mắt, vừa cho thời cơ giải phóng tỉnh nhà, thực hiện tốt chính sách với gia đình binh sĩ và tù hàng binh. Trước mắt triển khai tốt tấn công binh vận tết Nguyên Đán năm 1975, tổ chức thực hiện Chỉ thị 02 và Thông tư 07 của Trung ương Cục về “Cuộc vận động chính trị, tiến công binh vận với chính sách 7 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam”. Ngành binh vận cho in 10.000 bản chính sách 7 điểm, yêu cầu trao tận tay gia đình binh sĩ và binh sĩ. Ai cầm trong tay bản chính sách 7 điểm được coi là biểu thị đầu tiên hướng về cách mạng. Nhiều gia đình binh sĩ và binh sĩ phấn khởi, coi đây là giấy thông hành, cất giấu kỹ để hộ thân.

Cuối tháng 2 năm 1975, đồng chí Nguyễn Hòa Diệu, Tỉnh đội phó lên Quân khu nhận nhiệm vụ. Theo hợp đồng tác chiến phục vụ phương án giải phóng tỉnh Cà Mau, lực lượng vũ trang Bạc Liêu có nhiệm vụ đánh diệt hai cứ điểm Láng Tròn và Hộ Phòng, trụ lại, vây dí chi khu Giá Rai, đánh bọn tiểu khu Bạc Liêu phản kích, phục vụ cho lực lượng quân khu và Cà Mau tấn công dứt điểm tiểu khu An Xuyên (Cà Mau). Tỉnh đội họp cán bộ xây dựng quyết tâm, triển khai công tác chuẩn bị. Giờ “G” Quân khu cho biết sau.

Chiến trường toàn miền Nam diễn biến hết sức nhanh chóng. Ngày 11 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Thiệu ra lệnh “di tản chiến thuật” rút bỏ Tây Nguyên. Cuối tháng 3 năm 1975, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, Huế, Quảng Nam Đà Nẵng, Quảng Ngãi... Chế độ Thiệu trên đà sụp đổ nhanh chóng không cưỡng lại được. Ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp đề ra chủ trương “Nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ cao độ về thời gian, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo bất ngờ làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay. Hoàn toàn giải phóng Sái Gòn trước mùa mưa”. Phương châm chỉ đạo hành động là “kịp thời, nhanh chóng, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Trung ương Cục miền Nam họp Hội nghị lẩn thứ 15, đề ra nhiệm vụ khẩn cấp: “Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung tinh thần và lực lượng, phát huy cao độ ba mũi giáp công, ba thứ quân, khắp ba vùng, vùng lên tổng công kích - tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sụp toàn bộ ngụy quân ngụy quyền, giành chính quyền với khí thế tấn công quyết liệt, thần tốc, táo bạo, quyết giành toàn thắng giải phóng xã mình, huyện mình, tỉnh mình và toàn miền Nam”.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:27:54 am
Ngày 31 tháng 3 năm 1975. Bộ Chính trị họp khẳng định: “Thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhát là trong tháng 4 năm 1975 không thể để chậm”. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Trung ương Cục miền Nam chì thị “táo bạo đánh các điểm then chốt, kể cả các tiểu khu, thị xã”.

Khu ủy và Quân khu ủy Tây Nam Bộ hủy bỏ phương án tập trung giải phóng tỉnh Cà Mau, chuyển sang phương án chỉ đạo các địa phương tự lực giải phóng cùng Khu giải phóng vùng 4 chiến thuật, theo chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam.

Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 4 tháng 4 năm 1975, Tỉnh ủy họp mở rộng tại Lái Viết, xã Ninh Quới, quán triệt chủ trương quyết tâm của Bộ Chính trị, Trung ương Cục, Khu ủy và Quân khu, xây dựng quyết tâm, phương án tổng công kích khởi nghĩa, giải phóng tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh ủy xác định: “thời cơ giải phóng Bạc Liêu đã đến”. Chủ trương: Nắm vững thời cơ lịch sử nghìn năm có một, động viên nỗ lực cao nhất của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, với tinh thần một ngày bằng 20 năm, thần tốc xông lên tổng công kích - tổng khởi nghĩa, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, giải phóng tỉnh nhà nhịp nhàng với các tỉnh bạn”.

Hội nghị có một số chủ trương quan trọng về phương châm, phương thức, tổ chức, hoạt động ba ba mũi trong tình hình thời cơ lịch sử. Quyết định huy lực lượng chính trị, binh vận tăng cường cho trọng điểm tỉnh lỵ quyết định tập trung lực lượng tấn công chính trị binh vận tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp và các sĩ quan, công chức cấp cao tiểu khu.

Đảng ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội họp quán triệt quyết tâm giải phóng Bạc Liêu, xây dựng phương án tổng công kích kết hợp tổng khởi nghĩa dứt điểm thị xã tỉnh lỵ được ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa tỉnh duyệt. Có những điểm chính yếu: Lực lương vũ trang tập trung 5 tiểu đoàn (gồm 3 tiểu đoàn tỉnh, tiểu đoàn huyện Vĩnh Lợi, tiểu đoàn biệt động thị xã Bạc Liêu phối hợp công an vũ trang tỉnh) và một số đại đội độc lập, biệt động hợp pháp của thị xã, tiến công ba hướng vào các mục tiêu trọng yếu của địch ở nội ô tỉnh lỵ như cụm pháo binh Hội đồng Điều, hậu cứ Sư đoàn 21 tại sân bay, chi khu Vĩnh Lợi và Trung tâm huấn luyện Dân Chí, hậu cứ tiểu đoàn 411 Tu Muối. Lực lượng biệt động mật đánh chiếm ty cảnh sát. Từ các mục tiêu bung ra chiếm dinh tiểu khu, dinh tỉnh trưởng và các chốt cảnh sát. Cụm pháo binh Hội đồng Điều là mục tiêu sổ 1, có vị trí mở cửa, làm bàn đạp, điểm đứng của Ban chỉ huy tổng công kích. Từ cứ điểm này ta dùng pháo địch không chế tiểu khu và dinh tỉnh trưởng, thuận lợi là nơi đây có nội tuyến làm nội ứng.

Vòng ngoài ta sử dụng một đơn vị đánh chiếm cứ điểm Cầu Sập, làm điểm tập kết lực lượng chi viện cho mũi tiến công phía trước.

Theo phương án được duyệt, Tỉnh đội triển khai cụ thể kế hoạch bổ sung quân số, rèn luyện, kiện toàn tổ chức chỉ huy, trang bị vũ khí, khí tài, kế hoạch trinh sát địch tình, kế hoạch hậu cần phục vụ tác chiến. Tỉnh ủy quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê Trung Tính, đại đội trưởng đại đội 2 (nguyên là đại đội địa phương quân huyện Vĩnh Lợi) lên giữ chức tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và lấy tiểu đoàn 1 là đơn vị chủ công của tỉnh.

Phương án được báo cáo về Quân khu, Quân khu chi viện cho Bạc Liêu một số vũ khí đánh hậu cứ địch gồm B40, B41, mìn và tiểu liên.

Trong khi khấn trương chuẩn bị cho mục tiêu giải phóng tỉnh lỵ, các lực lượng còn lại chủ yếu là du kích các xã tiếp tục tấn công địch. Lực lượng ba mũi bao vây 65 đồn bót, diệt và bức rút 4 đồn, làm rã ngũ 1.500 tên địch. Ta gỡ đồn ít hơn đợt 1 do địch cố thủ không ra ngoài, địch điều chuyển quân liên tục đề phòng ta tấn công binh vận. Về ta, tập trung điều chuyển, bổ sung huấn luyện các đơn vị theo phương án dồn sức cho trọng điểm. Trong tháng 3 năm 1975, toàn tỉnh có 450 thanh niên gia nhập các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện. Tuy nhiên, 3 tiểu đoàn của tỉnh chưa đù biên chế. Để giải quyết nhanh nhu cầu về quân số, Tỉnh ủy ra hiệu triệu kêu gọi đảng viên, đoàn viên và thanh niên trong tỉnh gia nhập lực lượng vũ trang, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho thời cơ lịch sử giải phóng quê hương.

Về địch, theo mật lệnh của Thiệu, ngày 8 tháng 4 năm 1975, ngụy quyền Bạc Liêu thành lập “Ủy ban tử thủ” của tỉnh (ngụy trang là Ủy ban bảo vệ tỉnh) do đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp làm chủ tịch. Thành viên gồm sĩ quan tiểu khu, ty cảnh sát, các chi khu trưởng và một số đại diện đảng dân chủ tôn giáo. Điệp lệnh cho các chi khu. đồn hót nống ra càn quét đánh phá để ngăn chặn lực lượng ta từ xa. Tuy nhiên bọn bên dưới hết sức hoang mang, vẫn án binh bất động, nằm im trong đồn, có nống ra cũng là chiếu lệ. Để hà hơi cho cấp dưới, đích thân tên tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp chỉ huy một cuộc hành quân đột kích vào xã Long Điền Đông lúc đồng bào đang xem trận bóng đá, bắn chết và bắt đi gần 30 người, gây thêm một sỏ tội ác trong giờ chế độ Sài Gòn đang giãy chết.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:28:33 am
Giữa tháng 4 năm 1975, cố vấn Mỹ và vùng 4 chiến thuật bắt đầu di tản. Ngụy quân, ngụy quyền ở Bạc Liêu hoang mang cao độ. Các chi khu, đồn bót không ra khỏi căn cứ, chỉ thỉnh thoảng thị uy bắn vài loạt pháo, nhưng cũng rất hạn chế. Tỉnh trưởng Điệp bố trí các tiểu đoàn bảo an co về thị xã phòng thủ vành đai: Cầu Sập - Sân Bay, hậu cứ tiểu đoàn 411, số tiểu đoàn còn lại án ngữ Cái Dầy - Sóc Đồn, cảnh sát dã chiến án ngữ lộ Nhà Mát vòng qua Tu Muối.

Chiến trường chung tiến triển hết sức nhanh chóng. Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chĩnh trị và Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối chiến dịch và lấy tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh” giải phóng Sài Gòn. Cùng ngày Nguyễn Bá Cẩn làm thủ tướng ngụy quyền thay Trần Thiện Khiêm. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, đại quân ta đập tan tuyến phòng thù Xuân Lộc - Phan Rang, bắt sống 2 tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang. Ngày 17 tháng 4 năm 1975, Phnôm Pênh thất thủ. Ngày 9 tháng 4 năm 1975, cố vấn Mỹ di tản. Ngày 21 tháng 4 năm 1975, nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức, nhiều nước phương tây đóng cửa sứ quán tại Sài Gòn.

Việc cố vấn Mỹ di tản và Nguyễn Văn Thiệu từ chức gây chấn động lớn trong hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền ở Bạc Liêu Nhiều binh sĩ, công chức không thi hành lệnh cấm trại, tạo lý, tạo cớ rời bỏ đơn vị, nhiệm sở, tìm xin chính sách 7 điểm của Mặt trận. Số sĩ quan đầu sỏ chỉ còn trung tá Đôn, tỉnh phó trung tâm hành quân; trung tá Oanh, trưởng ty cảnh sát; thiếu tá Mã Thánh Nghĩa, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 411; thiếu tá Sĩ, quân trưởng quận Giá Rai là còn tỏ ra ngoan cố tử thủ. Về đơn vị chỉ còn tiểu đoàn bảo an 411 quân số còn khá, nhưng chỉ làm nhiệm vụ chốt án ngữ Cầu Sập bảo vệ thị xã.

Quần chúng thị xã, gia đình binh sĩ đâu đâu cũng tập hợp bàn tán thời cuộc, họ nói công khai: “Cộng sản chiếm Sài Gòn nay mai, Sài Gòn còn thủ không nổi, ở tỉnh quèn làm sao tử thủ”. Họ bàn tán ngay trước mặt binh lính cảnh sát.

Bản hiệu triệu của Tỉnh ủy sau khi triển khai đến các chi bộ, Đoàn thanh niên; các đoàn thể và ra dân đã tạo chuyến biến rõ nét. Khắp vùng giải phóng dấy lên sinh khí cách mạng, quần chúng hăng hái tham gia các công tác chuẩn bị đón thời cơ, hàng nghìn thanh niên tham gia lực lượng vũ trang, dân công, hậu cần phục vụ chiến đấu.

Đến ngày 25 tháng 4 năm 1973, 3 tiểu đoàn của tỉnh, 3 tiểu đoàn của các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Hóng Dân, và một số đại đội độc lập của thị xã Bạc Liêu và của tỉnh bổ sung đủ quân số, sắp xếp tổ chức, huấn luyện cách đánh hậu cứ, công sự vững chắc, chuẩn bị các phương án tác chiến.

Ngày 25 tháng 4 năm 1975, Ban chỉ huy Tỉnh đội ra tại ấp Giồng Bốm, xã Châu Thới, xây dựng căn cứ tiền phương chỉ đạo trọng điểm thị xã Bạc Liêu.

Ngày 27 tháng 4 năm 1975, thị xã Bạc Liêu chuyển xong số vũ khí cho đội biệt động mật ở nội ô, số vũ khí trên được cất giữ cạnh ty cảnh sát Bạc Liêu (gồm 1 khẩu tiểu liên P63, 8 lựu đạn M67, 100 bộc phá...).

Lúc 17 giờ ngày 16 tháng 4 năm 1975, “Chiến dịch Hồ Chí Minh” bắt đầu, các cánh quân ta tiến công vào Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 4 năm 1975, Khu ủy và Quân khu cử đồng chí Sáu Trí, đặc phái viên đến truyền đạt cho Tỉnh ủy, Tỉnh đội mệnh lệnh tấn công đồng loạt toàn Tây Nam Bộ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa phổ biến lệnh tấn công cho các huyện. Đại diện cho Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa cùng ban chỉ huy giao nhiệm vụ cho chỉ huy các tiểu đoàn, các đại đội độc lập của tỉnh và tiểu đoàn Vĩnh Lợi và các đại đội thị xã Bạc Liêu.

Các mũi tấn công chiếm thị xã Bạc Liêu gồm có:

- Mũi 1: Gồm tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 3 có nhiệm vụ đánh chiếm cụm pháo binh Hội đồng Điều, làm chỗ đứng cho ban chỉ huy chiến dịch. Dùng pháo khống chế địch, phát triển đánh chiếm tiểu khu, dinh tỉnh trưởng, tòa hành chính. Dùng pháo yểm trợ các mũi 2 và 3.

Cử một bộ phản kết hợp binh vận đánh chiếm cứ điểm Cầu Sập, giữ Sườn và làm điểm trung chuyển sự chi viện cho mũi 1 và đại đội độc lập đánh chiếm sân bay.

- Mũi 2: Tiểu đoàn 2, đánh chiếm hậu cứ tiểu đoàn bảo an 411 (Tu Muối), phát triển đánh chiếm các chốt cảnh sát, trụ sở tề ở phạm vi khu 2 và phương 5 (nam cầu Quây ngày nay).

- Mũi 3: Các đại đội thị xã Bạc Liêu cùng với công an vũ trang và tiểu đoàn Vĩnh Lợi đánh chiếm chi khu Vĩnh Lợi, trung tâm huấn luyện tân binh (Dân Chí), phát triển phối hợp đội biệt động mật của thị xã đánh chiếm ty cảnh sát.

Các mũi khi chiếm lĩnh trận địa, có nhiệm vụ phối hợp lực lượng chính trị phát động quần chúng khởi nghĩa, truy bắt tề ngụy, tiếp quản đồn bót công sở của địch.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:30:00 am
Các huyện:

- Giá Rai đánh chiếm chỉ khu Giá Rai, cứ điểm Hộ Phòng. Phát triển hỗ trợ các xã đánh chiếm đồn bót trong huyện.

- Hồng Dân đánh chiếm chỉ khu Phước Long và chi khu Kiến Thiện (Ngan Dừa), phát triển hỗ trợ các xã dứt điểm đồn bót trong huyện.

Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Quân(1) (đặc phái viên của Khu ủy) nhận nhiệm vụ vào trụ ở chùa Vĩnh Đức (phường 1 nội ô thị xã Bạc Liêu) để trực tiếp chỉ đạo mũi chính trị, binh vận về hỗ trợ tấn công đại tá Nguyễn Ngọc Điệp.

Trước đó, Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa tỉnh đã phân công đồng chí Trần Thanh Hồng và ông Thích Hiển Giác(2), lấy danh nghĩa tôn giảo tranh thủ, phân hóa Điệp. Qua hai lần trực tiếp đàm luận hiện tình đất nước, Điệp thừa nhận chế độ Sài Gòn đang ở thế bất lợi. Mặc dù hắn tuyên bố giữ lập trường tử thủ, nhưng thái độ lộ rõ sự tuyệt vọng, không hung hăng như trước. Ban chỉ huy tổng công kích, tổng khởi nghĩa nhận định: Trước thời cơ chung và chiến trường trong tỉnh, Điệp đã phân hóa, từ đó việc tấn công chính trị đại tá Điệp được xác định là phương án 2, song song tiến hành tổng công kích, tồng khởi nghĩa.

Chiến trường chung, đại quân của ta từ nhiều hướng tấn công sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và ngoại vi Sài Gòn. Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, tổng thống Trần Vân Hương từ chức, Dương Văn Minh lên thay, hy vọng thương lượng với ta, thành lập chính phủ ba thành phần ở miền Nam.

Chiến trường Bạc Liêu, đêm 18 tháng 4 năm 1975, theo lệnh của Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa tỉnh, lực lượng địa phương quân du kích các ấp chiếm lĩnh địa bàn quanh đồn bót, chi khu, bao vây pháo kích, uy hiếp địch.

Những ngày tử 26 đến 28 tháng 4 năm 1975 tại thị xã Bạc Liêu tình hình hết sức sôi động, sĩ quan binh lính và gia đình tìm cơ sở ta xin chính sách 7 điểm của Một trận để hộ thân, hộ này xin được thông báo cho ngươi kia, số ác ôn làm ngơ, một số còn cho vợ con tìm cho mình. Số đông binh sĩ bỏ đơn vị, công chức bỏ nhiệm sở, tề quận Vĩnh Lợi, các xã, phường, ấp trong thị xã không còn làm việc. Cơ sở chính trị và binh vận của ta trong thị xã lãnh đạo quần chúng và binh sĩ đồn dư luận: “Sài Gòn thất thủ nay mai, ông Điệp nên thương lượng với Mặt trận để binh sĩ và nhân dân khỏi chết chóc”. Các tiểu đoàn bảo an cơ động, cảnh sát dã chiến, hậu cứ, cũng như tất cả chi khu, đồn bót trong tỉnh đều án binh bất động, nằm im chờ xem tình hình.

Ngày 29 tháng 4 năm 1975, đồng chí Trần Thanh Hồng và thượng tọa Thích Hiển Giác gặp đại tá Điệp, gợi ý Điệp nên thương lượng với Mặt trận Dân tộc giải phóng tình Bạc Liêu để binh sĩ và đồng bào không đổ máu, bản thân Điệp cũng được chính sách khoan hồng. Điệp còn giằng co chưa nhận lời, nhưng hẹn ngày 30 tháng 4 năm 1975 sẽ bàn tiếp.

Đêm 29 tháng 4 năm 1975, lực lượng vũ trang ba mũi hành quân đến vị trí tiếp cận tỉnh ly Bạc Liêu, theo phương án tối 30 tháng 4 năm 1975 nổ súng tổng công kích.

Mũi 1: Tập kết ở đình Châu Thới (ấp Xẻo Chích xã Châu Thới), cách thị xã Bạc Liêu 9km đường chim bay, cánh thứ 2 tập kết ở ấp Giồng Bốm (xã Châu Thới), cách thị xã 10km. cánh thứ 3 tạp kết ở Xóm Lá (xã Minh Diệu), cách thị xã khoảng 10km.

Mũi 2: Tập kết ở rùng mầm đầu ấp Giồng Me, cách trung tâm thị xã 5km.

Mũi 3: Tập kết ở Hưng Hội và Châu Hưng, cách chi khu Vĩnh Lợi khoảng 10km.


(1) Đồng chí Lê Quân, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng. nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu tái lập (tháng 11 năm 1973). Trước đó đồng chí trực tiếp làm Bí thư Thị ủy Bạc Liêu (1971 đến tháng 11 năm 1973), am hiểu tình hình ta địch ở Bạc Liêu
(2) Đồng chí Trần Thanh Hồng, Phó chủ tịch Mật trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bạc Liêu, có vị trí công khai là đâu liên tỉnh đạo Cao đài Hậu Giang. Bạc Liêu. Sóc Trăng và Chương Thiện. Đại đức Thích Hiển Giác. ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Bạc Liêu, có vị trí công khai là đại đức trụ trì chùa Vĩnh Đức (phật giáo tại trung tâm tỉnh lỵ Bạc Liêu, là thầy của vợ đại tá Điệp)


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:30:44 am
Đơn vị biệt động mật thị xã tập trung tại hai phòng luyện thi trong khu “Cọt Mỹ”, cách mục tiêu ty cảnh sát 50m.

Mặt trân Sài Gòn đêm 29 tháng 4 năm 1975, ta chọc thủng tuyến phòng thủ của địch, mở cứa tiến vào Sài Gòn. 8 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thay mặt Bộ tổng tham mưu ngụy lệnh cho sĩ quan và binh lính “án binh bất động chờ lệnh mới”. Vùng 4 chiến thuật và các tiểu khu, chi khu thuộc Tây Nam Bộ cùng bị ta đồng loạt công kích dữ dội.

7 giờ 30 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Quân với danh nghĩa đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh cùng đồng chí Trần Thanh Hồng và thuợng tọa Thích Hiển Giác đến gặp tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp, đặt vấn đề Điệp giao chính quyền cho Mặt trận sẽ được khoan hồng. Điệp giằng co, chờ xem tình thế Sài Gòn và vùng 4 chiến thuật Cần Thơ. Khi biết không còn hy vọng, Điệp chấp nhận đầu hàng, giao chính quyền cho Mặt trận Dân tộc giải phóng vào 9 giờ 30 phút.

11 giở 30 phút, một cuộc mit tinh trước tòa hành chính tình Bạc Liêu, hon 2.000 quần chúng thị xã tham dự. Điệp giới thiệu đồng chí Lê Quân nói chuyện với đồng bào. Đồng chí Lê Quân tuyên bố chấm dứt chế độ ngụy Sài Gòn, chính quyền về tay nhân dân.

15 giờ, Điệp dẫn phái đoàn thả tù chính trị ở khám lớn. 17 giờ, Ban quân quản do đồng chí Nguyễn Thuận Triều làm chủ tịch tiếp quản tiểu khu, tòa hành chính tính, dinh tỉnh trưởng, ty ngân khố, ty cảnh sát, ty dân vận chiêu hồi, đài truyền thanh. 18 giờ đài truyền thanh phát bản thông cáo số 1 của Ban quân quản.

Lực lượng vũ trang các mũi của ta triển khai chiếm lĩnh tiểu khu, hậu cứ tiểu đoàn 411, sân bay, cụm pháo Hội đồng Điều, Cọt Mỹ, chi khu Vĩnh Lợi; lực lượng ba mũi cơ sở ở thị xã chiếm lĩnh các công sở của địch, xong vào 18 giờ.

Phái đoàn ta buộc Điệp ra lệnh cho các chi khu đồn bót trong tỉnh hạ vũ khí đầu hàng. Lực lượng các huyện tiếp quản các chi khu đồn bót trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chỉ riêng chi khu Kiến Thiện (thuộc tiểu khu Chương Thiện) chúng còn giằng co đến trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975 mới chịu đầu hàng.

Đêm 30 tháng 4 năm 1975, đêm đầu tiên của suốt 30 năm đấu tranh, nhân dân trong tỉnh được sống trong hòa bình thật sự. Đồng bào vùng địch tạm chiếm, gia đình binh sĩ và bản thân hầu hết binh lính, sĩ quan mừng đón hòa bình không còn chiến tranh chết chóc, gia đình đoàn tụ. Đài truyền thanh phát suốt đêm các thông cáo của Ban quân quản, nội dung chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng; các quy định của Ban quân quản. Nhân dân liên hoan ăn mừng, ở thị xã và các chi khu lực lượng của ta và tàn quân ngụy gần như xen kẽ nhau, nhưng suốt đêm không một tiếng súng nổ. Khí thế cách mạng cuốn hút mọi người. Mấy tên ác ôn không ưa thích cách mạng cũng không dám chống cự, chui rúc lẩn trốn. Thiếu tá ác ôn Mã Thành Nghĩa, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 411 chạy suốt đêm và cùng đường hắn tự tử.

Những ngày tiếp theo lực lượng vũ trang làm nòng cốt, tổ chức cho tề ngụy trình diện giao nộp vũ khí, trên 12.000 tên, ta tiếp quản trọn vẹn vũ khí, phương tiện chiến tranh, kho tàng. công sở; quản lý toàn bộ sĩ quan trong diện đưa về trên cải tạo (chỉ trốn thoát thiếu tá Lợi).

Cuộc chiến tranh giải phóng của quân dân Bạc Liêu ròng rã 30 năm, kết thúc thắng lợi vẻ vang. Toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975 mãi mãi là dấu son chói lọi trong lịch sử chiến tranh giải phóng của tỉnh Bạc Liêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:33:23 am
KẾT LUẬN

Cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta bắt đầu từ ngày Nam Bộ kháng chiến năm 1945 đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng ấy, là bản anh hùng ca vĩ đại trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỳ hai mươi, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”(1).

Trong 30 năm kiên trì đấu tranh toàn diện với quân thù xâm lược, với lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng về Bác Hồ, Đảng bộ quân và dân tỉnh Bạc Liêu rất tự hào đã quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thế của địa phương, động viên được toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân đứng lên, phát huy sức mạnh tổng hợp, chiến đấu anh dũng, vượt qua muôn vàn khó khăn, chịu đựng biết bao gian khổ, hy sình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược trên giao cho địa phương mình, góp phần xứng đáng cùng với quân và dân cả nước đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam ta.

Trải qua chặng đường lịch sử hào hùng ấy, mỗi bước đi của quân và dân tỉnh Bạc Liêu đều gắn liền với những biến cố trọng đại của miền Tây Nam Bộ, của miền Nam và của cả nước.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, quân và dân tỉnh Bạc Liêu với quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đã anh dũng đứng lên kháng chiến.

Trong hoàn cảnh khó khăn của buổi đầu đánh giặc, do ta chưa có kinh nghiệm, lại thiếu vũ khí, sức giặc càng hung hãn, quân và dân tỉnh Bạc Liêu một mặt vừa sẵn sàng chi viện cho các tỉnh bạn ở các mặt trận Tân An, Bình Thủy, Hà Tiên, chống giặc vừa khẩn trương tổ chức các mật trận Phước Long, Ngan Dừa, Tân Hưng, Nhu Gia, Vàm Lẻo, thị xã Bạc Liêu... chiến đấu câm tù ngăn chận, vây hãm địch từng bước, làm xáo trộn kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo điều kiện tranh thủ về thời gian để củng cố chính quyền, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Từ năm 1947 đến năm 1950, khi quân địch mở rộng hoạt động lấn chiếm vào vùng nông thôn, quân và dân tỉnh Bạc Liêu đã tập trung nỗ lực chống lại chính sách “bình định” của địch, phát triển phong trào du kích chiến tranh, chấn chỉnh và xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo vào có hiệu quả cao trong chỏng càn quét, trong phục kích giao thông đánh tàu và trong tiến công diệt đồn bót, cứ điểm, tháp canh của địch. Nổi bật là từ cuối năm 1946, Bạc Liêu đã sáng tạo vũ khí thủy lôi đánh chìm hàng chục tàu chiến của giặc Pháp, là một trong những nơi mở đầu chiến thuật thủy lôi chiến ở Nam Bộ. Đậy cũng là giai đoạn chiến tranh nhân dân ở Bạc Liêu phát triển mạnh mẽ, hầu hết vùng nông thôn đều được giải phóng trô thành căn cứ địa kháng chiến, cung cấp nhân tài vật lực cho tiền tuyến, góp phần đánh bại chính sách “bình định” của địch.

Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, trong điều kiện địch chia cắt, phong tỏa và càn quét liên miên, quân và dân tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ vững phong trào, khắc phục những lệch lạc, hữu khuynh trong thực hiện phương châm ba vùng, đấu tranh giành giật sức người, sức của với địch; đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị về địch ngụy vận, giam chân địch tại chỗ, không ngừng mở rộng căn cứ địa và xây dựng cuộc sống mới mọi mặt ở vùng giải phóng, tạo thế, tạo lực, chống càn quét lớn, tiêu diệt quân chủ lực địch, làm chuyến biến tình thế ở miền Tây Nam Bộ, tích cực góp phần cùng quân và dân cả nước tiến công địch trong Đông Xuân 1953 - 1954, đưa quân đội viễn chinh Pháp đến Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (tháng 7 năm 1954) cho đến ngày toàn thắng (30 tháng 4 năm 1975) nhân dân Bạc Liêu đã trải qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Thuận lợi cũng nhiều, nhưng khó khăn cũng không ít. Đảng bộ Bạc Liêu đã quán triệt đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, nắm vững tư tường chiến lược tiến công, có nhiều sáng tạo trong việc vận dụng phương châm, phương thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh, đã phát động được đông đảo quần chúng đứng lên tiến công và nổi dậy, góp phần quan trọng cùng cả nước từng bước đập tan các chiến lược chiến tranh của Mỹ - ngụy.


(1) Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trong ương Đảng lại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:33:48 am
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Bạc Liêu vững tin vào đường lối, chủ trương của Đảng, kiên trì cuộc đấu tranh chính trị đòi được thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống “tố cộng, diệt cộng”, chống càn quét khủng bố, chống cướp đất dồn dân, vừa đấu tranh chính trị vừa có ý thức chuẩn bị tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang như cất giấu vũ khí, khôi phục xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang từ tự vệ tiến lên tuyên truyền, diệt ác, rồi tác chiến hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy phá thế kềm kẹp, giành quyền làm chủ. Khi thời cơ xuất hiện thì nổi dậy “Đồng khởi” phá được bộ máy kềm kẹp của địch và giành quyền làm chủ trên hầu hết vùng nông thôn trong tỉnh, chuyển phong trào cách mạng địa phương sang thế tiến công địch.

Khi Mỹ - ngụy tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, quân và dân Bạc Liêu ra sức xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang ba thứ quân, vận động linh hoạt phương châm hai chân, ba mũi, ba vùng, kết hợp tiến công với nổi dậy, tiêu diệt với làm chủ, sáng tạo nhiều hình thức phong phú và của chiến tranh nhân dân, đưa chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao, tập trung phá “ấp chiến lược” góp phần đập tan “quốc sách ấp chiến lược” của địch, cùng với toàn Miền đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Từ cuối năm 1965 đến cuối năm 1968 là giai đoạn Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam. Trên chiến trường chung, địch tập trung lực lượng cả Mỹ lẫn ngụy cùng với khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh lớn nhất hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng, trước hết là lực lượng vũ trang cách mạng và cơ quan đầu não của ta. Phối hợp với toàn Miền, quân và dân Bạc Liêu đã chủ động quyết tâm đánh Mỹ, diệt nguy, vận đụng phương thức, phương châm tiến hành chiến tranh một cách linh hoạt, cứ hiệu quả, căng địch ra, kềm địch lại buộc địch dàn mỏng lực lượng mà đánh, phát huy khả năng địa phương trong việc bảo đảm hậu cần tại chỗ, đặt cơ sở cho việc xây dựng và phát triển mạng lưới hậu cần nhân dân trong chiến tranh, góp phần lần lượt đánh bại các cuộc phản công chiến lược của địch, thực hành tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đánh đúng các cơ quan đầu não tại thành thị của địch buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và chịu đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri.

Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Bạc Liêu đã nhanh chóng chuyển sang tiến công, giành thế chủ động, đánh bại kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của địch, khẩn trương tạo thế, tao lực, tạo thời cơ, nhờ đó Bạc Liêu tận dụng tốt thời cơ, phát huy cao nhất sức mạnh ba mũi, buộc tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp đầu hàng, giành thắng lợi hoàn toàn, trọn vẹn.

Suốt 30 năm kiên trì chiến đấu liên tục, các thế hệ quân và dân Bạc Liêu đã cùng với quân và dân cả nước đánh bại hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác của Pháp và Mỹ, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chiến lược do trên giao cho.

Một là, trong thế chiến lược chung đã tiêu hao, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự và chính trị của địch ở địa phương, giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà, góp phán tích cực giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Hai là, đã làm tròn nhiệm vụ, xây dựng và bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược tỉnh Bạc Liêu, căn cứ địa của Xứ ủy Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Khu 9 trong kháng chiến, phối hợp với chiến tranh nhân dân ở các tỉnh khác như Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, kiên Giang, làm tăng sức mạnh của từng cuộc tiến công chiến lược nói riêng và toàn cuộc kháng chiến nói chung.

Ba là, đã làm tròn nhiệm vụ hậu phương chiến lược tại chỗ, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng với một khối lượng khá lớn.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài, gian khổ, phức tạp và hết sức quyết liệt. Con đường dẫn đến thắng lợi trong cuộc chiến tranh đó không phải chỉ có thuận buồm, xuôi gió mà còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, phải chịu dựng biết bao gian khổ, hy sinh.

Nhân dân Bạc Liêu có lịch sử đấu tranh lâu dài, có truyền thống yêu nước, tự lực tự cường và đức tính kiên cường, bất khuất, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đàng và Bác Hồ.

Đảng bộ Bạc Liêu có truyền thống đoàn kết nhất trí, bám sát quần chúng và dựa vào quần chúng, dũng cảm, kiên cường lãnh đạo nhân dân chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.

Thực tiễn sinh động và phong phú trong quá trình 30 năm kháng chiến của Bạc Liêu đã để lại nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:34:32 am
1. Nắm vững đường lối, nhiệm vụ cách mạng, quan điểm bạo lực và tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng vận dụng sát hợp với thực tiễn chiến trường, đề ra chủ trương và thực hành tổ chức, chỉ đạo có hiệu quả cuộc kháng chiến ở địa phương.

Là một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, đống thời đại biểu cho lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân ta và dân tộc ta. Chính vì thế, từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Quá trình vận dụng sáng tạo lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta, Đảng đã vạch ra đường lối cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, đường lối chiến tranh nhân dân một cách đúng đắn. Đường lối đó được Đảng bộ Bạc Liêu nắm vững, quán triệt một cách sâu sắc và xuất phát từ thực tiễn chiến trường để xác định chủ trương, phương hướng đấu tranh thích hợp, kịp thời thực hành tổ chức chỉ đạo, góp phần làm cho những nội dung về chiến lược, sách lược, phương pháp đấu tranh và khoa học quân sự cách mạng của Đảng ngày càng được bổ sung, chỉnh lý tiến tới hoàn thiện. Đó cũng là điều kiện cơ bản làm cho sợ lãnh đạo của Đảng tại địa phương ngày càng có hiệu quả hơn để động viên và tổ chức đông đảo quần chúng cách mạng ra sức thực hiện bằng được đường lối, quan điểm, tư tưởng của Đảng, đưa phong trào cách mạng đi đến thắng lợi.

Trong 30 năm chiến tranh giải phóng, Đảng bộ Bạc Liêu đã nắm vững quan điểm, nội dung, lực lượng để tiến hành bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng ở địa phương phù hợp với tương quan ta, địch từng thời kỳ, từng giai đoạn và giành được thắng lợi.

Trong kháng chiến chống Pháp, ngay buổi ban đầu khi chính quyền các cấp ở Bạc Liêu vừa mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám chưa được củng cố, lực lượng vũ trang mới hình thành còn nhỏ bé, tình hình chính trị còn nhiều phức tạp, ta đã biết phát huy sức mạnh chính trị của quần chúng, từng bước tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, tiến hành đấu tranh với địch, vượt qua những khó khăn, phức tạp của thời kỳ đầu, giữ vững được chính quyền cách mạng, phá tan âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp. Trên cơ sở đó, tổ chức và chỉ đạo cuộc chiến tranh ngày càng chặt chẽ, lực lượng vũ trang ba thứ quân được phát triển ngày càng lớn mạnh, làm nòng cốt cho nhân dân đánh giặc, phong trào du kích chiến tranh được đẩy mạnh và phát triển rộng khắp, liên tục tiến công địch, giành thắng lợi ngày càng lớn trong thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc, góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Pháp xâm lược.

Trong kháng chiến chống Mỹ, trước khi có Nghị quyết 15 của Trung ương, quán triệt quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công của Xứ ủy, đặc biệt trong “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn, trong bối cảnh, chủ trương, đường lối chưa được phổ biến rộng, Đảng bộ Bạc Liêu đi đôi với việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị có ý thức xây dựng lực lượng quân sự, làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, diệt ác hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Vì vậy, khi Nghị quyết 15 ra đời, Đảng bộ đã kịp thời lãnh đạo lực lượng vũ trang làm đòn xeo cho phong trào quần chúng đứng lên “Đồng Khởi” trong một thời gian ngắn giành được thắng lợi. Đó là kết quả của sự kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, nhanh chóng làm tan rã chính quyền địch, giành quyền làm chủ ở nông thôn rộng lớn, tạo cơ sở cho phong trào cách mạng chuyển sang thế tiến công địch và chuyển thành chiến tranh cách mạng.

Quá trình chỉ đạo kháng chiến cũng là quá trình Đảng bộ Bạc Liêu luôn nắm vững, vận dụng một cách sáng tạo quan điểm bạo lực, kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt và làm tan rã địch với giành quyền làm chủ, để tiêu diệt địch, để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng tại chỗ, thường xuyên liên tục cùng với tổ chức các đợt tiến công phối hợp lớn. Nổi dậy chuyển vùng Đông Xuân 1953 - 1954 góp phần đánh bại thực dân Pháp. Cao trào Đồng khởi năm 1960 đập tan bộ máy kém kẹp cửa địch giành quyền làm chủ trên hầu hết vùng nông thôn, tiến công và nổi dậy đánh phá “quốc sách ấp chiến lược” của địch năm 1964. Tiến công và nổi dậy Tết Mâu Thân 1968 buộc địch phải xuống thang chiến tranh, năm 1972 đánh bại một bước quan trọng âm mưu bình định của địch ở địa phương, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trước diễn biến hình thái chiến trường sau Hiệp định Pa-ri, Đảng bộ Bạc Liêu đã kịp thời nhận thức trong chuyển giai đoạn, đánh giá đúng âm mưu địch qua diễn biến thực tế ở địa phương, từ đó xác định tư tường kiên quyết tiến công trừng trị địch vi phạm hiệp định. Nhờ vậy, ta vẫn giữ được quyền chủ động tiến công địch trong đợt tiến công mùa khô 1974 - 1975 và giành quyền chiến thắng nhanh gọn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975.

Đường lối cách mạng của Đảng thể hiện tập trung nhất là tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân và ý chí quật cường của cả dân tộc ta. Có nắm vững, vận dụng một cách đúng đắn sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng thì mới có thể xác định chủ trương phương hướng đấu tranh thích hợp tại chiến trường, đồng thời tổ chức động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân địa phương vượt qua mọi thử thách ác liệt của cuộc chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến tiến từng bước đến thắng lợi, biến quyết tâm cách mạng của Đảng thành quyết tâm cách mạng của toàn thể nhân dân, của cả dân tộc. Đây là bài học lớn nhất của Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:35:08 am
2. Tin tưởng và dựa vào quần chúng, tổ chức xây dựng lực lượng cách mạng bao gồm lực lượng chính tri, lực lượng vũ trang, binh vận và các lực lượng khác, hình thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương để đánh thắng bạo lực phản cách mạng của địch.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta tiến hành khởi nghĩa vũ trang chiến tranh cách mạng, Đảng ta đã xác định được đường lối xây dựng lực lượng ngày càng hoàn chỉnh. Đó là đường lối “động viên và tổ chức toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi của quần chúng, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang và trong nhân dân hùng mạnh gồm ba thứ quân lầm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc”. Đường lối đó là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng bạo lực, về động viên toàn dân, vũ trang rộng rãi quần chúng cách mạng và xây dựng quân đội cách mạng kiểu mới truyền thống “cả nước đánh giặc” trong lịch sử chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước của dân tộc ta.

Chinh nhờ có sự động viên, tổ chức lực lượng quần chúng rộng rãi và lãnh đạo quần chúng đấu tranh mạnh mẽ, chúng ta mới có lực lượng to lớn của toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn.

Trong 30 năm kháng chiến, Đảng bộ Bạc Liêu luôn tin tưởng và dựa vào quần chúng, giáo dục, tổ chức tập hợp quần chúng, từng bước hình thành sức mạnh của cách mạng, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh, súc mạnh áp đảo quân thù để đánh đổ chúng. Nắm vững quan điểm đó, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ, nhân dân Bạc Liêu đã kiên trì bám trụ, luôn luôn tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, giữ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng, giữ mối quan hệ quân dân như cá với nước, thường xuyên chăm lo giải quyết những lợi ích trước mắt và lâu dài của nhân dân.

Nhờ bám quần chúng, sống trong dân, hiểu được dân, nắm được địch mới có cơ sở nghiên cứu. đánh giá đúng tình hình, hạ quyết tâm phát động quần chứng vùng dậy đồng khởi. Ngay trong những năm khó khăn, ác liệt, khi địch ráo riết bình định gom dân, lập ấp chiến lược, nhiều cấp ủy, các tổ chức vũ trang, các ngành cũng bám chặt trong quần chúng. Do đó tuy địch tạm chiếm đóng được đồn bót nhưng chúng không bao vây, tiêu diệt được lực lượng cách mạng, trái lại đại bộ phận đồn bót của chúng luôn bị nhân dân bao vây và hàng ngày, hàng giờ chúng phải chống đỡ với ba mũi tiến công của lực lượng cách mạng cơ sở. Âm mưu thâm độc của địch hòng tách Đảng ra khỏi dân “tát nước bắt cá” hoàn toàn bị thất bại.

Trong quá trình kháng chiến, nhờ bám dân tin dân, cán bộ đảng viên, lực lượng vũ trang đã vận dung sáng tạo những phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện tình hình từng nơi, từng lúc. Trong bất cứ tình huống nào vẫn thể hiện chủ trương Đảng bám chắc quần chúng, không ngừng giáo dục, giác ngộ quần chúng nhận dân và điều quan trọng là đã đưa họ vào các tổ chức cách mạng, hướng dẫn họ đấu tranh, bảo đảm sự thống nhất hành động, do đó đã xây dựng được thế chính trị vững chắc của quần chúng.

Trên mặt trận “giành dân, nắm dân” giữa ta và địch, sự vận dụng đúng đắn các chủ trương, chính sách của Đàng, nhất là việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, Đảng bộ đã xây dựng được khối liên minh công nông vững chắc. Từ đó đã thu hút được các tầng lớp trung gian, các tôn giáo, các gia đình binh sĩ, sĩ quan ngụy, đã khéo léo khoét sâu những mâu thuẫn của các tầng lớp này đối vối địch, phát huy tinh thần dân tộc chống chiến tranh xâm lược và khéo vận dụng sách lược của Đảng nên đã lôi kéo họ ngả về với kháng chiến, với cách mạng. Nhờ vậy ta đã hình thành được một trận dân tộc đoàn kết đấu tranh rộng rãi chống đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai.

Trên cơ sở khối đoàn kết toàn dân lấy liên minh công nông làm nền tảng, Đảng bộ Bạc Liêu đã giải quyết thành công việc tổ chức, xây dựng lực lượng bao gồm lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, binh vận và các lực lượng khác, hình thành sức mạnh tổng hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Trong suốt 30 năm chiến tranh, nhất là trong chiến tranh chống Mỹ, các lực lượng này đã không ngừng phát triển, nhờ sự kết hợp chặt chẽ việc xây dựng với phong trào tiến công địch, thực hiện tốt phương châm càng tiến công càng manh, càng trưởng thành.

Lực lượng vũ trang Bạc Liêu hình thành và phát triển từ phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi, manh mẽ của quần chúng và trong chiến tranh cách mạng, từ quận chúng mà xây dựng lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ đi đôi với vũ trang quần chúng rộng rãi. Cũng như trên khắp chiến trường miền Nam, việc xây dựng lực lượng vũ trang Bạc Liêu đã đi đúng đường lối của Đảng và có nhiều sáng tạo phù hợp với thực tiễn điều kiện về khả năng của địa phương, đặc biệt là ở chiến trương bị chia cắt, xa Trung ương.

Ngay từ đầu, khi các đội tự vệ chiến đấu trong chống Pháp, các đội vũ trang tuyên truyền trong chống Mỹ ra đời, quần chúng đã thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ và bảo đảm mọi yêu cầu cho hoạt động của các lực lượng vũ trang địa phương xây dựng, phát triển từ nhỏ đến lớn, lực lượng vũ trang Bạc Liêu bao gồm lực lượng của tỉnh, huyện, xã, ấp. Qua các thời kỳ đã phát triển kịp thời yêu cầu đòi hỏi của từng giai đoạn chiến tranh, đã sát cánh cùng với nhân dân và lực lượng của trên, của các tỉnh bạn đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy đều trưởng thành từ trong phong trào cách mạng mà ra, am hiểu quần chúng, am hiểu địa phương, chiến tranh và các địa bào chiến đấu Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã luôn chăm lo đến sự lớn mạnh, trường thành của đội ngũ cán bộ quân sự các cấp, thường xuyên có lực lượng dự trữ, nguồn kế tiếp, nhờ đó mà đáp ứng được yêu cầu phát triển lực lượng vũ trang trong tỉnh đồng thời còn cung cấp cán bộ cho cấp trên.

Được sự lãnh đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy, lực lượng vũ trang Bạc Liêu luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, luôn chủ động và độc lập chiến đấu, không trông chờ, ỷ lại cấp trên. Phát huy mọi tiềm năng sẵn có tại địa phương, khéo tranh thủ thời cơ để chủ động hiệp đồng với chiến trường chung, chiến trường trong quân khu. trong tỉnh để căng kềm địch, lừa địch, lực lượng vũ trang Bạc Liêu đã chủ động, liên tục tiến công quân địch, liên tục giành thắng lợi, xứng đáng vai trò “đòn xeo” của phong trào ba mũi tiến công địch tại địa phương.

Trong quá trình xây dựng và tiến công địch, lực lượng chính trị, lực lượng binh vận và các lực lượng khác đã không ngừng phát triển lớn mạnh và trưởng thành.

Lực lượng chính trị quần chúng bao gồm các đoàn thể, các tổ chức quần chúng là đội quân chính trị được giữ vững về tổ chức và phát huy tác dụng toàn diện qua các giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.

Lực lượng đấu tranh chính trị từ đấu tranh với khẩu hiệu dân sinh, dân chủ đến những khẩu hiệu cao hơn, với hình thức, quy mô quyết liệt hơn như tấn công phân hóa kẻ thù, làm công tác binh vận... đã hình thành tổ chức lực lượng tiến công địch ba mũi tại chỗ, đã diệt, phá rã lực lượng địch, dứt điểm đồn bót, giành quyền làm chủ và cùng phối hợp đắc lực với lực lượng vũ trang tác chiến trên các địa bàn trong tỉnh. Trong những đợt phối hợp đấu tranh dài ngày, trong những cuộc tiến công và nổi dậy, lực lượng này có thể huy động tới hàng nghìn người với hệ thống tổ chức, chỉ huy chặt chẽ.

Lực lượng binh vận ngày càng được củng cố và phát triển theo nhiệm vụ chính trị, theo yêu cầu chiến đấu từng lúc, từng thời kỳ. Từ tiến công chính trị vào hàng ngũ địch đến phá rã tổ chức địch, xây dựng lực lượng cách mạng bên trong, kết hợp với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang bên ngoài tiến công địch, từ thấp đến cao, từ diệt ác, phá phương tiện chiến tranh đến phản chiến, làm binh biến khởi nghĩa. Lực lượng binh vận đã được tổ chức trong một số đồn, một số đơn vị và đã phát triển rộng trong lực lượng phòng vệ dân sự tại xã ấp và ngay cả trong lực lượng bảo an, cơ động và một số sĩ quan địch.

Tin tưởng và dựa vào quần chúng, xây dựng lực lượng tổng hợp là nhằm thực hiện phương thức tiến công tổng hợp và qua tiến công tổng hợp mả xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng tổng hợp của địa phương. Việc coi trọng xây dựng lực lượng và biết phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đánh địch là bài học lớn trong quá trình chiến tranh giải phóng 30 năm qua của tỉnh Bạc Liêu.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:35:41 am
3. Phát huy tri tuệ tập thể của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, vận dụng sáng lạo hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh nhân dân thích hợp với điều kiện cụ thể của chiến trường.

Trong quá trình tiến hành kháng chiến, quân và dân Bạc Liêu đã sáng tạo ra nhiều hình thức, biện pháp, cách đánh có hiệu quả cao, thích ứng với điều kiện khách quan, tình hình so sánh lực lượng, thích ứng với những đặc điểm cụ thể của chiến trường.

Tùy từng giai đoạn lịch sử của Đảng bộ đã tổ chức quần chúng vào hai lực lượng (lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân) và sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn hai lực lượng ấy trong đấu tranh chính trị và quân sự.

Quá trình kết hạp giữa hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh cơ bản, cùng với quân và dân toàn Khu, quân và dân Bạc Liêu đã vận dụng sáng tạo phương thức ‘ba mũi giáp cộng”. Đó là sự kết họp giữa ba mũi chính trị, quân sự và binh vận trong một lực lượng, một xã ấp hay từng người, thường là dùng lực lượng phụ nữ, trong tiến công địch.

Tiến trình cuộc kháng chiến ở chiến trường Bạc Liêu cũng là quá trình tiến công địch liên tục, đồng thời với quá trình nổi dậy thường xuyên của quần chúng nhằm tiêu hao, tiêu diệt rộng rãi quân địch, giành dân và giành quyền làm chủ, đánh bại âm mưu và các biện pháp bình định của địch, một nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của chiến tranh trong các giai đoạn công tác. Các lực lượng vũ trang địa phương (từ dân quân du kích đến bộ đội huyện, tỉnh) và quần chúng có vũ trang đã liên tục tiến cõng địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, tiêu diệt đồn bót, cứ điểm, chi khu, lực lượng ác ôn và các lực lượng phản động khác trong bộ mảy kềm kẹp của chúng làm “đòn xeo” cho quần chúng nổi dây. Quần chúng khắp nơi không ngừng tạo cơ hội đứng lên phối hợp với tiến công quân sự, đập tan bộ máy kềm kẹp của địch ở cơ sở, bao vây bức rút đồn bót của địch tại xã, ấp, kêu gọi binh lính trở về với kháng chiến. Tiến công và nổi dậy trở thành mối quan hệ hữu cơ thúc đẩy phong trào kháng chiến phát triển, trở thành quy luật phổ biến trong chiến tranh nhân dân địa phương.

Quân và dân Bạc Liêu còn thực hiện cuộc chiến tranh du kích rộng rãi và vững chắc, tạo điều kiện cho chiến tranh chính quy phát triển, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Nhờ phát động rộng rãi chiến tranh du kích, ta đã đẩy mạnh được phát triển đấu tranh chính trị trong những năm 1950, 1954, 1957, 1958, 1959 và phong trào “Đồng khởi” năm 1960.

Thực hiện chiến tranh du kích, ta đã thu được thắng lợi lớn trong đánh địch càn quét lấn chiếm, phá “ấp chiến lược” xây dựng căn cứ. bao vây bức rút đồn bót.

Trên cơ sở chiến tranh du kích được giữ vững và phát triển, lực lượng chủ lực có điều kiện đẩy mạnh tác chiến tập trung tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch.

Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong quá trình tiến hành kháng chiến, quân và dân Bạc Liêu đã sáng tạo ra nhiều cách đánh góp phần hoàn chỉnh từng bước nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật, làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự của quân đội ta. Trong chiến tranh du kích, cũng như tham gia các chiến dịch tiến công và phản công của bộ đội chủ lực khu, tỉnh chiến đấu hợp đồng binh chủng, quân và dân Bạc Liêu đều quán triệt tư tường kiên quyết tiến công, phát huy lối đánh sở trường truyền thống, lình hoạt, mưu tri, nhằm vào chỗ yếu, sơ hở của địch, tạo thời cơ và nắm thời cơ đánh những đòn quyết định giành thắng lợi. Chiến trường Bạc Liêu chính là nơi diễn ra những trận đánh, những chiến dịch có ý nghĩa tác động sâu sắc đến tiến trinh chiến tranh ở Quân khu và miền Tây Nam Bộ.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:37:02 am
4. Đề cao tinh thần tích cực, chủ động, tự lực tự cường, khắc phục khó khăn xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương tại chỗ vững chắc để tiến hành kháng chiến thắng lợi.

Chiến trường Bạc Liêu ở xa Trung ương, bị địch bao vây, chia cắt, đánh phá quyết liệt đòi hỏi tinh thần tự lực, tự cường, tự mình đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất để tiến hành kháng chiến. Từ khi khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Bạc Liêu đã tích cực xây dựng chỗ đứng chân, xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương chiến lược tại chỗ, không ngừng tạo ra sức mạnh tổng hợp của các lực lượng kháng chiến để đánh thắng kẻ thù.

Ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đảng bộ Bạc Liêu đã dựa vào dân để tồn tại và chống giặc, lập xưởng sản xuất vũ khí trong rừng U Minh chuẩn bị khởi nghĩa Nam Kỳ lần lần thứ hai. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, vùng giải phóng tỉnh Bạc Liêu nằm trong căn cứ U Minh nổi tiếng của Nam Bộ. Đảng bộ có kinh nghiệm xây dựng căn cứ toàn diện về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, phát động phong trào toàn dân xây dựng bảo vệ vùng căn cứ, phong trào phòng gian bảo mật, phong trào hậu phương quân đội, phong trào đóng góp sức người sức của cho kháng chiến.

Thời kỳ chống Mỹ, có những đặc điểm khác trước: Chiến tranh không phân tuyến chia vùng, đường lối chiến tranh nhân dân đánh địch hai chân ba mũi, trên ba vùng chiến lược. Bạc Liêu là tỉnh đồng bằng, chỉ có từng lõm rừng chổi, ta - địch tranh chấp cài răng lược. Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng hậu phương căn cứ cho kháng chiến là hết sức cấp bách và phải là căn cứ lòng dân kết hợp với cải tạo địa hình thuận lợi ở cả ba vùng. Căn cứ có quy mô và vị trí thích hợp, đảm bảo các lực lượng đứng chân tồn tại, liên tục tiến công địch. Theo bước phát triển của chiến tranh và của các lực lượng vũ trang, hệ thống hậu phương căn cứ trong tỉnh từng bước mở rộng và hoàn chỉnh, bao gồm căn cứ của tỉnh, căn cứ huyện. căn cứ của xã, ấp (còn lại là “căn cứ lõm”). Căn cứ của ta đối mặt, tồn tại xen kẽ với đồn bót địch. Trong các ấp chiến lược, vùng địch bình định, lực lượng ta dựa vào căn cứ hầm bí mật kết hợp với bãi lửa, hầm bí mật trong nhà dân, vùng thị xã, thị trấn, vùng địch tạm chiếm, lực lượng ta dựa vào sự bảo vệ của dân (hầm bí mặt, hệ thống thông tin báo động)(1). Từ hình thái căn cứ độc đáo này các cơ quan lãnh đạo được bảo vệ an toàn, lực lượng vũ trang ta bám vững mọi địa bàn, tiếp cận và bất thần đánh địch ở mọi nơi. Hệ thống căn cứ của tỉnh còn nối liên hoàn, tạo hành lang giao thông vận chuyển thông suốt từ căn cứ U Minh của Khu ủy, Quân khu ủy đến tỉnh, huyện, xã tiếp giáp tỉnh bạn và tiếp cận vùng 4 chiến thuật ngụy ở Cần Thơ, tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực khu cơ động, tiêu diệt lớn quân địch. Hình thái căn cứ này tổn tại cho đến toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

Địch tìm mọi cách đánh phá hậu phương căn cứ của ta nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo, đẩy lực lượng vũ trang ta ra xa. Dùng mọi thủ đoạn đánh phá, càn quét quy mô, giết sạch, cướp sạch, đốt sạch, dùng phi pháo bắn phá, rồi chất độc hủy diệt địa hình, đánh mạnh kết hợp chiến tranh tâm lý tách dân ra khỏi vùng kiểm sót. Thời kỳ bình định cấp tốc 1969 - 1971 cường độ đánh phá vùng căn cứ kháng chiến hết mức ác liệt. Chúng tập trung cả trung đoàn chủ lực, cắm quân, càn rừng dài ngày: B52 ném bom rải thảm, pháo bẩy bắn cấp tập ngày đêm, phong tỏa kinh tế... Đảng bộ xác định xây dựng, bảo vệ vững chắc căn cứ hậu phương là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng. Tổ chức đánh địch càn quét, thực hiện khẩu hiệu “một tấc không di. một ly không rời”. Hướng dẫn quần chúng làm hầm hố tránh phi pháo, cất “nhà hai nóc” trong địa hình và ngoài đồng trống để bảo vệ tính mạng, tài sản và duy trì sản xuất, các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trong vùng giải phóng, phát động xây dựng xã ấp chiến đấu, trồng cây cải tạo địa hình, đào kinh đắp kinh để bảo vệ rừng. Đánh phá căn cứ và bảo vệ vùng căn cứ cũng là cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, dai dẳng giữa ta và địch, từ đầu đến suốt cuộc chiến tranh. Căn cứ kháng chiến ngay được củng cố và mở rộng lấn sát sào huyệt của giặc. Vì vậy hậu phương căn cứ không chỉ là nơi bảo tồn lực lượng, phục vụ chiến đấu, mà còn là chiến trường trực tiếp đánh địch, tiêu hao tiêu diệt địch khá lớn.

Công tác hậu cần kháng chiến, trong những năm đầu chống Pháp nhu cầu ăn, mặc của bộ đội đều dựa vào dân. Bộ đội đóng trong dân, việc ăn mặc dân ủng hộ. Phong trào vận động lương thực, thực phẩm, tiền bạc ủng hộ bộ đội có hàng trăm gia đình ủng hộ 100 đến 500 giạ lúa, có nhà hiến hàng trăm ki-lô-gam heo, gả, vịt, v.v... Những năm tiếp sau, qua thực hiện chủ trương tạm giao tạm cấp ruộng đất cho nông dân, sản xuất phát triển, nhân dân đóng quỹ đảm phục quốc phòng, thuế nông nghiệp nuôi quân (chống Pháp), đảm phụ giải phòng và thuế nông nghiệp (chống Mỹ). Nhân dân bảo quản, chế biến lúa gạo giao cho các ban hậu cần tiếp tế và hậu cẩn quân đội Hội mẹ chiến sĩ, đoàn thể phụ nữ tổ chức quyên góp thực phẩm, bánh trái úy lạo bộ đội, phát động các hỉnh thức “hũ gạo nuôi quân”, “con gà chống Mỹ”, “chiếc khăn tiền tuyền”, “chiếc áo mùa đông”, tặng chiến sĩ, thấm đậm tình tiền tuyến, hậu phương. Các loại hàng hóa phục vụ cho kháng chiến khan hiếm như giấy mực, hóa chất, y cụ thuốc men, vải vóc, quân dụng cho bộ đội... đều do đồng bào thị xã quyên góp, tìm mua và chuyển vào vùng giải phóng giao cho hệ thống hậu cần các cấp.

Vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang chủ yếu là lấy súng địch trang bị cho ta, kết hợp vũ khí, khí tài do hệ thống công trường sản xuất. Sau Đồng khởi 1960 và thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”, hệ thống công trường phát triển tận xã, ấp để đáp ứng nhu cầu trang bị, tác chiến và xây dựng xã ấp chiến đấu. Nguồn vũ khí Trung ương chi viện từ miền Bắc vào chủ yếu đảm bảo một phần cho lực lượng vũ trang tỉnh, chút ít đơn vị huyện thị. Năm 1962, theo chỉ thị của trên, Tỉnh ủy, Tỉnh đội tổ chức đoàn tàu do đồng chí Bông Văn Dĩa phụ trách chuyển vũ khí từng miền Bắc về Cà Mau, từ Cà Mau tỉnh tổ chức vận chuyển lên miền Đông cho Trung ương Cục. Từ năm 1965, Khu ủy mở ra đường vận chuyển 1C, tỉnh tổ chức các đội thanh niên xung phong tiếp nhận số vũ khí chi viện từ đất bạn Cam-pu-chia về tỉnh. Công tác tiếp nhận nguồn chi viện của Trung ương cho nhu cầu kháng chiến của chiến trường Nam bộ cũng như tỉnh nhà thể hiện tinh thần quyết tâm và sáng tạo của Đảng bộ. Các chiến sĩ đoàn tàu không số và các đội “thanh niên xung phong” đã chiến đấu kiên cường, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưa vào lịch sử “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” và con đường 1C - huyền thoại.


(1) Chùa phật giáo Vĩnh Đức (phường 3 thị xã Bạc Liêu, chùa Giác Hoa (Cái Dầy) là căn cứ của Tỉnh và Thị ủy đứng chỉ đạo tổng công kích – tổng khởi nghĩa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chùa Khơ-me Cò Thum từng là trạm quân y dã chiến của tỉnh, phẫu thuật thương binh nặng trong thời kỳ địch bình định cấp tốc. Có hầm bí mật chứa hàng tiểu đội du kích, đặc công.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:37:34 am
5. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, kiên cường, lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo là nguyên nhân cơ bản để giành thắng lợi.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc đương lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng ta, được sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Trung ương cục, Bộ Tư lênh Miền, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, Đảng bộ Bạc Liêu đả lãnh đạo quân và dân trong tỉnh tổ chức và tiến hành thắng lợi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện ở địa phương.

Thắng lợi đó chứng minh sâu sắc và toàn diện sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ trong suốt 30 năm kháng chiến. Nó khẳng định sự vững mạnh của Đảng bộ về chính trị tư tưởng và tổ chức, trước hết là việc nắm vững đường lối và kiên quyết chấp hành đường lối của Đảng sát hợp với tình hình cụ thể của địa phương, đồng thời nói lên tính nhạy bén của cấp lãnh đạo, chỉ huy về nắm vững quan điểm bạo lực, quy luật khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân địa phương.

Đảng bộ đã không ngừng phấn đấu, vừa lãnh đạo vừa xây dựng củng cố mình trong thực tiễn đấu tranh, nắm chắc vũ khí tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm nhiệm vụ chính trị được giao. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng bộ từ số ít dao động phân hóa bị quy luật chiến tranh đào thải, còn đại bộ phận đã anh dũng kiên cường chiến đấu trên mọi trận tuyến, tiền tuyến cũng như hậu phương, trong lòng địch hay trong các nhà tù của địch. Biết bao tấm gương hy sinh xả thân chiến đấu sáng ngời biểu tượng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và vai trò tiền phong chiến đấu của Đảng bộ là nguồn cổ vũ to lớn cho tinh thần quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân tỉnh nhà.

Công tác xây dựng Đảng và Đảng bộ đã đảm bảo sự liên tục của các thế hệ đảng viên, thế hệ sau tạo cho Đảng bộ một sinh lực mới, kế thừa và phát huy tốt sức manh của thế hệ cha anh giao lại. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm kháng chiến lâu dài, thắng lợi.

Quá trình lãnh đạo kháng chiến, Đảng bộ đặc biệt quan tâm lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tỉnh, chỉ đạo sâu sát, giải quyết kịp thời yêu cầu của quân đội đặt ra về tăng cường cán bộ, quân số, trang bị, thực hiện chế độ chính trị viên, kiện toàn công tác đảng, công tác chính trị trang quân đội. Từ đó quân đội càng đánh càng lớn mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cũng như chiến kỹ thuật đảm bảo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao cho.

Sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với quân đội là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của lực lượng vũ trang và phong trào chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của tỉnh nhà.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, quân dân Bạc Liêu tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ròng rã 30 năm - một cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài nhất trong lịch sử chiến tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; góp phần làm nên chiến tranh vĩ đại, trọn vẹn, mang ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc của thế kỷ XX, hoàn thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Quân dân Bạc Liêu có quyền tự hào chặng đường lịch sử đã qua, trân trọng truyền thống và những bài học quý giá, vươn tới những thắng lợi mới to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:38:45 am
PHỤ LỤC

I. TỔNG HỢP THÀNH TÍCH 30 NĂM KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẢNG BỘ -QUÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

Suốt 30 năm kháng chiến chống thực hiện Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, từ khởi nghĩa vũ trang đến dâu tranh cách mạng, Đảng bộ, quân dân tỉnh nhà đã lập được những thành tích rất đáng tự hào.

1 - Lực lượng vũ trang ba thứ quân đã phối hợp và độc lập tác chiến:

* Đánh địch 18.320 trận lớn nhỏ.

* Loại khỏi vòng chiến đấu 33.338 tên địch, trong đó tiêu diệt 20.038 tên, làm bị thương 12.800 tên, bắt sống 1.500 tên.

* Bắn rơi 13 máy bay, phá hủy và bắn bị thương 12 máy bay khác, bắn chìm 70 tàu chiến các loại, phá hủy 181 xe quân sự.

* Thu 10.737 khẩu súng các loại, 267 máy thông tin và trên 120 tấn đạn dược.

2 - Kết hợp giữa mũi đấu tranh chính trị và binh vận:

* Tổ chức 3.687 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, có hàng trăm nghìn lượt quần chúng tham gia. Trong đó có hàng chục cuộc có quy mô từ 4.000 đến 10.000 lực lượng tham gia, mà đỉnh cao là Đồng Khởi 1960, tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975.

* Mũi binh vận, cài cắm và xây dựng 1.321 cơ sở nội tuyến trong cơ quan chính quyền và quân đội, cảnh sát ngụy, khởi nghĩa 23 đồn, nội ứng phục vụ lực lương vũ trang diệt 151 đồn. kết hợp 3 mũi bức rút bức hàng 67 lượt đồn bót, binh vận làm ra ngũ hơn 19.600 tên địch, thu 2.200 súng.

* Đặc biệt trong chiến đấu Hồ Chí Minh toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, tiến công ba mũi buộc tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp và hơn 18.000 sĩ quan, binh lính, viên chức ngụy quyền trong toàn tỉnh đầu hàng tại chỗ. Ta tiếp quản 1 tỉnh lỵ (tiểu khu). 4 quận ly (chi khu). 45 đồn bót, toàn bộ vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh.

3 - Đảng bộ, quân dân tỉnh Bạc Liêu đã

* Làm tròn vai trò căn cứ địa cách mạng của Xứ ủy Nam Bộ và khu Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bảo vệ an toàn các cơ quan lãnh đạo Nam Bộ, khu, tỉnh.

* Đóng góp sức người sức của cho kháng chiến, có hơn 20.000 lượt thanh niên tòng quân tham gia các lực lượng vũ trang chiến đấu, đóng góp 54 triệu giạ lúa đảm phụ nuôi quân và thuế nông nghiệp cho kháng chiến.

* Qua cuộc kháng chiến 30 năm đầy gian khổ hy sinh, toàn tỉnh có 11.184 liệt sĩ. 5.562 thương binh. 68 địa phương, đơn vị và cá nhân được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là tỉnh và 4 huyện thị cũ: thị xã Bạc Liêu, các huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân đều được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, có 522 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7 cán bộ sĩ quan được phong hàm cấp tướng (1 thượng tướng, 2 trung tướng. 4 thiếu tướng).


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:39:24 am
II. DANH SÁCH CẤC ĐỊA PHƯƠNG - ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

A. ĐỊA PHƯƠNG - ĐƠN VỊ:

1. Nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Bạc Liêu (tuyên dương) 23-6-2003

2. Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Vĩnh Lợi 30-8-1995

3. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Hồng Dân 6-11-1978

4. Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Giá Rai 29-1-1996

5. Nhân dân và LLVT nhân dân thị xã Bạc Liêu 28-4-2000

6. Dân quân du kích xã Ninh Quới - Hồng Dân 20-10-1976

7. Đại đội BB1 huyện Vĩnh Lợi 20-10-1976

8. Dân quân du kích xã Châu Hưng - Vĩnh Lợi 6-11-1978

9. Dân quân du kích xã Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi 6-11-1978

10. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Long Điền Đông - Đông Hải 20-12-1994

11. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Phong Thạnh Dông - Giá Rai 30-8-1995

12. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Định Thành - Đông Hải 30-8-1995

13. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Ninh Thạnh Lợi - Hồng Dân 30-8-1995

14. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Châu Thới - Vĩnh Lợi 30-8-1995

15. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hưng Hội - Vĩnh Lợi 19-1-1996.

16. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Vĩnh Phú Tây - Vĩnh Lợi 20-8-1998.

17. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Lộc Ninh - Hồng Dân 11-6-1999

18. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Phong Thạnh Tây - Giá Rai 28-4-2000.

19. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Minh Diệu - Vĩnh Lợi 22-8 1998.

20. Nhân dân và LLVT nhân dân xã xã Long Điền Tây - Đông Hải 22 8-1998.

21. Nhân dân và LLVT nhân dân xã An Trạch - Đông Hải 15-8-2003.

22. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Phong Thạnh - Giá Rai 15-8-2003.

23. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Ninh Hòa - Hồng Dân 15-8-2003

24. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Vĩnh Lộc - Hồng Dân 15-8-2003.

25. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Long Điền - Đông Hải 15-8-2003

26. Phòng Cảnh sát bảo vệ - Công an tỉnh Bạc Liêu 28-8-1981

27. Ban an ninh - thị xã Bạc Liêu 28-8-1981.

28. Ban an ninh - huyện Giá Hai 28-8-1981.

29. Đội trinh sát vũ trang - huyện Vĩnh Lợi 28-8 1981.

30. Ban an ninh - huyện Hồng Dân 28-8-1981.

31. Giao bưu (bưu điện) tỉnh Bạc Liêu 8-11-2000.

32. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Phước Long - Phước Long 23-5-2005

33. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Vĩnh Phú Đông - Phước Long 23-5-2005

34. Nhân dân và LLVT nhân dân TT Phước Long - Phước Long 23-5-2005

35. Nhân dân và LLVT nhân dân xã Vĩnh Mỹ B - Vĩnh Lợi 23-5-2005

36. Nhân dân và LLVT nhân dân thị trấn Giá Rai - Giá Rai 23-5-2005

37. Nhân dân và LLVT nhân dân TT Hộ Phòng - Giá Rai 23-5-2005


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 06:39:52 am
B. CÁ NHÂN:

1. Trương Văn An (LS) sinh năm 1915, quê quán xã Ninh Quới - Hồng Dân. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 28-4-2000

2. Nguyễn Văn Bé Bảy (LS) sinh năm 1947, quê quán xã Long Điền - Đông Hải. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 10-12-1994

3. Trần Công Bằng sinh năm 1936, quê quán xã Long Điền Tây - Đông Hải. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978.

4 Nguyễn Văn Chánh (LS) sinh năm 1946, quê quán xã Ninh Quới - Hồng Dân. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân này 20-12-1969.

5. Dương Văn Diệp (LS) sinh năm 1939, quê quán xã Phong Thạnh - Giá Rai. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 28-8-1981

6. Lâm Vãn Lích sinh năm 1939, quê quán xã Định Thành - Giá Rai. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 1-1-1967

7. Nguyễn Thị Mười (LS) sinh năm 1925, quê quán xã Vĩnh Phú Đông - Phước Long. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978

8. Nguyễn Hữu Nghĩa (LS) sinh năm 1952, quê quán xã Định Thành - Giá Rai. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978

9. Lê Hồng Nhi (LS) sinh năm 1954, quê quán xã Hưng Thiện (cũ) - Giá Rai. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 24.1.1976

10. Phan Văn Nhờ, sinh năm 1925, quê quán xã Long Điền - Đông Hải. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 29-8-1985

11. Trần Thanh Quang, sinh năm 1947, quê quán xã Phong Thạnh Tây - Giá Rai. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 29-1-1996

12. Ngô Quang Tảo sinh năm 1932, quê quán xã Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 31-7-1998

13. Nguyễn Công Thượng (LS), sinh năm 1947, quê quán xã Phuớc Long - Phước Long. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 13-8-1980.

14. Lý Hữu Trí. sinh năm 1932, quê quán xã Khánh Bình - Trần Văn Thời (nguyên là đội trưởng trinh sát võ trang tỉnh Bạc Liêu). Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-6-1976.

15. Tô Minh Xuyến (LS), sinh năm 1950, quê quán xã An Trạch - Đông Hải. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 22-7-1998.

16. Trần Văn Hộ (LS), sinh năm 1950, quê quán xã Minh Diệu - Vĩnh Lợi. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 22-7-1998.

17. Ngô Văn Ngộ (từ trần), sinh năm 1903, quê quán xã Châu Thới - Vĩnh Lợi. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978.

18. Bùi Văn Viết (từ trần), sinh năm 1927, quê quán xã Hưng Hội - Vĩnh Lợi. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978.

19. Trần Văn Tất (LS), sinh năm 1941, quê quán xã Vinh Lộc - Hồng Dân. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978.

20. Phạm Hồng Thấy, sinh năm 1943, quê quán xã Ninh Quới – Hồng Dân. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-11-1978.

21. Trần Hiền Quang (LS), sinh năm 1928, quê quán xã Ninh Quới - Hồng Dân. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 7-5-1956.

22. Lê Minh Cơ (LS), sinh năm 1949, quê quán xã Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 29-1-1996.

23. Hồ Khải Hoàng, sinh năm 1955, quê quán xã Định Thạnh - Đông Hải. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 30-8-1989.

24. Hồ Minh Luông (LS), sinh năm 1942, quê quán xã Châu Hưng - Vĩnh Lợi. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 20-12-1994.

25. Ngô Quang Nhã (LS), sinh năm 1936, quê quán xã Châu Thới - Vĩnh Lợi. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 28-4-2000

26. Nguyễn Hồng Khanh (LS), sinh năm 1944, quê quán xã Ninh Quới - Hồng Dân. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 3-8-1995

27. Phan Thành Lập. sinh năm 1955, quê quán xã Khánh Dũng - Trần Văn Thời - Cà Mau. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 29-8-1985.

28. Trần Văn Sĩ (Út Hạnh), sinh năm 1943, quê quán thị trấn Thới Bình - Thới Bình - Cà Mau. Được tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 6-6-1976

29. Lê Thi Riêng (LS), sinh năm 1925, quê quán xã Vĩnh Mỹ - Vĩnh Lợi. Được truy tâng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 10-4-2001

30. Huỳnh Văn Xã (LS), sinh năm 1942. quê quán xã An Trạch - Đông Hải. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 23-5-2005.

31. Nguyễn Văn Phấn (từ trần), sinh năm 1920. quê quán xã Vĩnh Mỹ - Vĩnh Lợi. Được truy tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân ngày 23-5-2005.


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 10:08:17 pm
(https://i.imgur.com/nco8BIj.jpg)

Đồng chí Tào Văn Tỵ
Ủy viên quân sự tỉnh (8-1945 - 10-1947)

(https://i.imgur.com/ciP36MS.jpg)
(https://i.imgur.com/vmWFsfJ.jpg)
Đồng chí Hứa Bá Lộc
Đồng chí Nguyễn Văn Sa
Tỉnh đội trưởng (1950-1951)
Tỉnh đội trưởng (1951-1954)
(https://i.imgur.com/kNQwUqK.jpg)
(https://i.imgur.com/MANw3gu.jpg)
Đồng chí Lê Tấn An
Đồng chí Lưu Khánh Đức (Ba Dân)
Tỉnh đội trưởng (1962-1963)
Tỉnh đội trưởng (1965-1969)
(https://i.imgur.com/1KOgh8s.jpg)
(https://i.imgur.com/XS5VjAp.jpg)
Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (Sáu Kẹo)
Đồng chí Ngô Văn Tảo (Năm Nhẫn)
Tỉnh đội trưởng (1969-1970)
Tỉnh đội trưởng (1970-1974)
Chính trị viên (1971-1972)

(https://i.imgur.com/aWmEH0e.jpg)

Đồng chí Đặng Văn Nuôi
Tỉnh đội trưởng Bạc Liêu(11-1973 - 12-1975)


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 10:21:12 pm
(https://i.imgur.com/4UMimPL.jpg)
             
(https://i.imgur.com/487rycg.jpg)
Đồng chí Phan Văn Xoàn
             
Đồng chí Trần Văn Sớm
Chính trị viên (1948-1950)
             
Bí thư Tỉnh ủy - Chính trị viên (1951-1953)
(https://i.imgur.com/ycCQ1I2.jpg)
             
(https://i.imgur.com/Ch8oaod.jpg)
Đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân)
             
Đồng chí Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân)
Bí thư Tỉnh ủy - Chính trị viên (1953-1954)
             
Chính trị viên (1963-1967)
(https://i.imgur.com/ZxBrqAO.jpg)
             
(https://i.imgur.com/daOCcNG.jpg)
Đồng chí Nguyễn Văn Nhung (Ba Mai)
             
Đồng chí Lê Phước Thọ (Sáu Hậu)
Chính trị viên (1967-1969)
             
Chính trị viên (1969-1971)
(https://i.imgur.com/X48tyjA.jpg)
             
(https://i.imgur.com/dJjGsBO.jpg)
Đồng chí Trần Bá Liễng (Tám Dương)
             
Đồng chí Đoàn Thanh Vị (Ba Vị)
Chính trị viên (7-1972 - 11-1973)
             
Chính trị viên (11-1973 - 12-1975)
             
Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu (11-1973 - 1976)


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 10:48:39 pm
(https://i.imgur.com/LB4p5NF.jpg)

Chiếc tàu Pháp Lơ-toa-măng bị quân dân ta đánh chìm tại kinh xáng Mương Điền
(ngày 18 tháng 5 năm 1947)

(https://i.imgur.com/4SmvoEc.jpg)

Dân quân du kích luyện tập quân sự (năm 1968)

(https://i.imgur.com/w7R3ETj.jpg)

Các má huyện Vĩnh Lợi tiễn đưa con em lên đường đánh giặc (năm 1968)

(https://i.imgur.com/8KNhmFD.jpg)

Lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu dùng nạng giàn thun bắn lựu đạn vào đồn địch


Tiêu đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2019, 10:57:41 pm
(https://i.imgur.com/FWV14QS.jpg)

Tiểu đoàn 1 Bạc Liêu luyện tập thao tác súng 12,8 mm (năm 1974)

(https://i.imgur.com/pR6HSM6.jpg)

Ban Chỉ huy tỉnh đội Bạc Liêu bàn phương án tác chiến trước giờ hành quân (năm 1974)

(https://i.imgur.com/16fZbS7.jpg)

Tấn công tiêu diệt đồn Cỏ Thum (12-1974)

(https://i.imgur.com/BI76o08.jpg)

Đồng bào Lá Viễn tiễn đưa bộ đội tham gia chiến dịch Xuân 1975

(https://i.imgur.com/mmX9vOG.jpg)

Trung đội du kích tiếp quản chi khu quân sự Giá Rai (năm 1975)