Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:09:07 pm



Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:09:07 pm
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2007
Số hoá: ptlinh, quansuvn


Chỉ đạo nội dung:
- ĐẢNG ỦY - BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 7
- TỈNH ỦY TỈNH BÌNH DƯƠNG
- TỈNH ỦY TỈNH BÌNH PHƯỚC
- TỈNH ỦY TỈNH ĐỒNG NAI

Tổ chức thực hiện:
   BAN LIÊN LẠC CỰU CHIẾN BINH LIÊN TRUNG ĐOÀN 301-310

Chủ biên:
   Đại tá TS. HỒ SƠN ĐÀI

Biên soạn:
- ĐOÀN TẤN DŨNG (Chương mở đầu)
- HỒ THỊ NAM (Chương một, A)
- ThS. TRẦN QUANG TOẠI (Chương một, B)
- NGUYỄN THANH DANH (Chương hai, A)
- HUỲNH TẤN BỬU (Chương hai, B)
- Đại tá TRẦN PHẤN CHẤN (Chương ba)
- Đại tá TS. HỒ SƠN ĐÀI (Kết luận)
- Thượng tá NGUYỄN VĂN HÙNG (Phụ lục)

Thư ký đề tài:
   NGUYỄN THỊ MINH TÂM




(https://lh3.googleusercontent.com/fr4mRLtRuEd3NHFvyf4jCKMZ4LsgTKCx_FyBEqce1xnRzLTVRbUjJJas13XrRMnZUBh6TjHLvkxtur_u49_lMcTY1eJsg4jN7n4y4e26U-HFOFS7VILm1RH0-rATB6rcOL1NaezQOLI2AX3aGOfw2v3h1gYhxr4pGyTbiyeXEN7-V1BCiUb1WpyAFDKMkR9zDJNBi2DWolHmFPI_OQPELF5KhFnUJGHqDx8ELtWIyudFRl9vQY3Rdc3IWScIWWVp2KUXy1WBL01P9PXNujVV5oAPt0dtBZ9SK3DVrJtVHS3UXtjY65NTEauJ5S49PrmACeMlIT900kiZnDw8ftHh5FIHbP4BxDJUYaCBWl1gDFfBIxEr-mCZhCEXLcPcIyBJRCy_o9apvXBKmCy7V78bLE8dKL6vJUNNhfWJqcVAICR8v-k3uKp-8sZQGZ8GNXAbt2OsF_vCOYyGzTiusg-Ere0r2yRYMoCxVYHLH4J4sCCqLWfPRy7ExTaJXQcEqsynBlasrGGKHwp7JhtJbcXgrNMvujtwdno9afOpliGFdE8gkWfFAy_-4SpMyuVZcFHVfZW_7GgOESOzDdefcLQ8PEDkiaQuMZe_H0SLwiLE9kgnLLcqiZAmLG0t38Y_02EuNosZWRyqddfd_ERtP7TpTMAPM2Gl6EPkDVGngELevLX2NsuscjASu6k=w518-h913-no)


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:11:29 pm
LỜI GIỚI THIỆU


Liên Trung đoàn 301-310, trước đó là Chi đội 1, Chi đội 10, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 là đơn vị vũ trang tập trung của Khu 7 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Hoạt động trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, thường xuyên trên địa bàn hai tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, được sự đùm bọc nuôi dưỡng của nhân dân địa phương, Liên Trung đoàn đã vừa xây dựng vừa chiến đấu, lập được nhiều thành tích xuất sắc, đặc biệt trên mặt trận đánh giao thông, chiến dấu chống càn bảo vệ căn cứ địa, xây dựng phong trào du kích chiến tranh. Hoạt động của Liên Trung đoàn đã góp phần xứng đáng cùng quân và dân Nam Bộ, quân và dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược; làm nên những sự kiện lịch sử và địa danh huyền thoại như chiến thắng Bến Ông Khương, Đồng Xoài, La Ngà, Bến Cát, rồi chiến khu Bình Đa, chiến khu Thuận An Hòa, chiến khu Long Nguyên, chiến khu Đ...


Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về việc tổng kết biên soạn lịch sử các đơn vị vũ trang cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống xâm lược, trong nhiều năm qua, các cơ quan nghiệp vụ đã nỗ lực sưu tầm tư liệu biên soạn lịch sử các đơn vị vũ trang, kể cả những đơn vị nay không còn tổ chức phiên hiệu cũ. Dưới sự chỉ đạo của Đàng ủy Quân khu 7, Tỉnh ủy các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Ban liên lạc cựu chiến binh Liên Trung đoàn 301-310 đã phối hợp với Phòng Khoa học, công nghệ và môi trường Quân khu 7, Phòng Nghiên cứu lịch sử Đảng các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước biên soạn cuốn “Lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 (1945-1950)’’.


Tái hiện lại một cách hệ thống và tương đối đầy đủ quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của Liên Trung đoàn 301-310, cuốn sách nhằm tôn vinh công lao to lớn của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Liên Trung đoàn cùng vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân miền Đông Nam Bộ, trực tiếp là nhân dân hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa cũ trong giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn từ năm 1945 đến 1950.


Mặc dù Ban biên soạn đã hết sức cố gắng, nhưng do tư liệu (cả tư liệu gốc và tư liệu trí nhớ) còn lại không nhiều, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi điểm này điểm khác cần phải bổ sung chỉnh sửa thêm. Mặc dù vậy, đây là một công trình khoa học được thực hiện công phu, nghiêm túc, phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu giáo dục lịch sử truyền thống và cung cắp nhiều bài học kinh nghiệm quí cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay!


Với ý nghĩa ấy, tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách “Lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 (1945-1950)” cùng toàn thể bạn đọc.


Thành phố Hồ Chí Minh, 9-2007
Thiếu tướng Nguyễn Thành Cung
Ủy viên Trung ương Đảng,
Chính ủy Quân khu 7


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:14:42 pm
Chương mở đầu
CHIẾN TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN TRUNG ĐOÀN 301 - 310


Liên Trung đoàn 301-310, trước đó là Chi đội 1, Chi đội 10, rồi Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 hoạt động chiến đấu và công tác trên khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ, nhưng chủ yếu ở địa bàn tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một.


Biên Hòa - Thủ Dầu Một là hai tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Miền Đông Nam Bộ là cụm danh từ chỉ vùng đất phía Đông của Nam Bộ, ở vào vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên miền Nam với đồng bằng sông Cửu Long, lưng dựa vào dải Trường Sơn và vùng rừng núi Nam Đông Dương, mặt hướng xuông đồng bằng và biển Đông. Miền Đông Nam Bộ gồm có Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh (theo sự phân chia địa lý hành chính năm 1945).


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), miền Đông Nam Bộ là chiến trường trọng điểm của Nam Bộ, được tổ chức thành hai khu: Khu 7 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; từ năm 1951 gồm Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn và Phân liên khu miền Đông..


1. Tỉnh Biên Hòa

Tỉnh Biên Hòa ở vào vùng đất nối liền giữa Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên. Địa danh này đã nhiều lần thay đổi trong tiến trình lịch sử với các tên gọi: Trấn Biên (1698), Trấn Biên Hòa (1808), tỉnh Biên Hòa (1832). Sách Gia Định thành thông chí, tập Trung ghi “Năm 1698, Linh lược xứ Đàng Trong Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt một chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị”.


Tỉnh Biên Hoà có lịch sử hình thành trên 300 năm1 (Tính từ năm 1698 khi Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và kinh lược xứ Đàng Trong, lập phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình). Đến sau cách mạng tháng Tám 1945, địa bàn tỉnh Biên Hoà rất rộng lớn với diện tích trên 11.000 ki-lô-mét vuông bao gồm toàn bộ tỉnh Đồng Nai hiện nay, toàn bộ tỉnh Bình Phước, huyện Tân Uyên, Dĩ An tỉnh Bình Dương, quận Thủ Đức - Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), tiếp giáp các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa (nay là tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Lâm Đồng, thành phố Sài Gòn; dân số trên 200.000 người bao gồm nhiều dân tộc: Kinh, Hoa, Ch’ro, Mạ, S’tiêng..., trong đó người dân tộc Ch’ro, Mạ, S’tiêng là những cư dân bản địa. Xã Bình Trước, quận Châu Thành (sau là thị xã Biên Hoà) là trung tâm của tỉnh Biên Hoà.


Tỉnh Biên Hoà có địa hình bán trung du, diện tích rừng chiếm đến 2/3 (kể cả rừng cao su), với các con sông lớn là sông Đồng Nai, La Ngà, Sông Bé, Lòng Tàu, cùng với hệ thống chi lưu, sông suối chằng chịt. Rừng Biên Hoà là loại rừng nguyên sinh kín, thường ẩm, cây hỗn giao nhiều tầng, đa dạng về chủng loại với nhiều loại gỗ quý như cẩm lai, gõ, bằng lăng, sao, dầu...; động vật rừng phong phú với các loại thú lớn như voi, tê giác, cọp, báo, nai, heo rừng, khỉ... và hàng chục loài bò sát, chim muông khác. Ngoài rừng vùng cao còn khu rừng cận biển ngập mặn là rừng Sác (khu vực Long Thành, Nhơn Trạch giáp với tỉnh Bà Rịa, Cần Giờ của Sài Gòn. Núi cao ở Biên Hoà có núi Bà Rá, Chứa Chan, xen lẫn với những vùng đồi đồng bằng. Đất Biên Hoà đa dạng với các loại đất phù sa, đất đen, đất đỏ (bazan) rất phù hợp với việc phát triển các loại cây lương thực và cây công nghiệp.


Tỉnh Biên Hoà có hệ thống đường giao thông khá phát triển: quốc lộ I nối liền Nam - Bắc; quốc lộ 151 (Quốc lộ 15 trước đây từ ngã ba vườn Mít chạy ra Tam Hiệp, thẳng ra cổng 11 Long Bình hiện nay, nay là quốc lộ 51) Sài Gòn - Biên Hoà - Bà Rịa, Vùng Tàu; quốc lộ 20 Biên Hoà đi Đà Lạt; quốc lộ 13 Sài Gòn - Bình Dương; quốc lộ 14 Bình Phước đi các tỉnh Tây Nguyên; các liên tỉnh lộ số 8, 16, 24, liên tỉnh lộ số 2... Ngoài ra Biên Hoà còn có trên 100 km đường sắt Nam - Bắc, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh. Sông Đồng Nai thuận lợi cho việc lưu thông về miền Tây Nam Bộ, ra biển Đông...


Với một vị trí chiến lược quan trọng như vậy, khi tái chiếm Biên Hoà (25-10-1945), thực dân Pháp đã xây dựng nhiều căn cứ quân sự, cơ quan đầu não chỉ huy ở Biên Hoà như sân bay, Nha hình cảnh miền Đông, bộ chỉ huy trung đoàn 22 thuộc địa, kho bom đạn Thành Tuy Hạ...


Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa, xây dựng các cơ sở hạ tầng để bóc lột tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực dồi dào và rẻ tiền ở Việt Nam. Ở Biên Hoà thực dân Pháp xây dựng nhà máy BIF (từ 1897, đến 1912 đưa vào hoạt động1 (Đây là nhà máy chế biến ván sàn xuất khẩu. Nhà máy xây dựng một tuyến đường sắt từ Tân Mai lên Trảng Bom, Cây Góa để khai thác vận chuyển gỗ)), Đề-pô xe lửa Dĩ An, mở đường sá, đồng thời xây dựng các công ty trồng khai thác mủ cao su2 (Như các công ty Đất Đỏ, Michelin, Đồng Nai, Xuân Lộc). Chính sách khai thác cao su của thực dân Pháp đã hình thành thành nên những “địa ngục trần gian”, đó là những đồn điền cao su, nơi mà bọn chủ người Pháp, bọn tay sai cai, xu có quyền sinh sát đốì với người phu Việt Nam. Chính sách khai thác thuộc địa của tư bản thực dân đã thúc đẩy quá trình hình thành đội ngũ giai cấp công nhân ở Biên Hoà (bao gồm công nhân công nghiệp và công nhân cao su).


Nhân dân Biên Hoà có truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng. Ngay khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ I (tháng 12-1861), nhân dân Biên Hoà đã bất hợp tác với giặc. Sách Đại Nam thực lục chính biên (tập XXVI) viết: “Dân cư ba huyện Nghĩa An, Bình An, Long Thành gần chỗ giặc Pháp đóng, bỏ trốn đến 74 thôn”1 (Sách đã dẫn. Nxb Khoa học xã hội. H.1974, tr.238). Đặc biệt trong cuộc kháng chiến, các lãnh tụ nghĩa quân đã thành công trong việc tập hợp các dân tộc tham gia. Thực dân Pháp thú nhận: “Quân khởi nghĩa đã thành công trong việc lôi kéo những bộ lạc người Thượng ở ven biên giới Biên Hoà - Bà Rịa; trước đó những bộ lạc này vẫn đứng ngoài cuộc chiến. Việc tham gia của những bộ lạc này chứng tỏ cuộc khởi nghĩa ở Biên Hoà đã có một trợ lực quan trọng”2 (Poyen: Notice sur l'artillerie de la marine en indochine. P 88, P 1893).


Tuy triều đình nhà Nguyễn hèn yếu đầu hàng, nhân dân các dân tộc ở tỉnh Biên Hoà đã không ngừng đứng lên kháng chiến, hình thành những căn cứ đánh Pháp như Bàu Cá, Giao Loan của nghĩa quân Trương Định; phong trào Thiên địa hội, Đoàn Văn Cự (1905), Trại Lâm Trung (1914-1916). Những năm đầu thế kỷ 20, phong trào công nhân cao su từ đấu tranh tự phát đã từng bước phát triển lên tự giác khi có các tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, rồi Đông Dương Cộng sản Đảng. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Cam Tiêm (Ông Quế), Phú Riềng đã liên tục diễn ra từ năm 1926 đến 1930. Đặc biệt cuộc đấu tranh của 5.000 công nhân cao su Phú Riềng ngày 3 tháng 2 năm 1930 do chi bộ Đảng tại chỗ lãnh đạo gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước, cổ vũ rất lớn phong trào đấu tranh trong cả nước.


Từ hạt giống đỏ Phú Riềng, các chi bộ Cộng sản hình thành cả ở khu vực các đồn điền, nông thôn, đô thị, trong đó có chi bộ Cộng sản Bình Phước - Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu) thành lập tháng 2 năm 1935. Tháng 2 năm 1937, Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Biên Hoà được thành lập1 (Do đồng chí Trương Văn Bang (Ba Bang) làm Bí thư), lãnh đạo phát triển phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 7 năm 1940, Tỉnh uỷ lâm thời Biên Hoà đã xây dựng đội du kích (35 người) do đồng chí Trần Văn Quỳ làm đội trưởng tham gia cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Do tình hình chung cuộc khởi nghĩa thất bại, đội du kích chuyển vào rừng Tân Uyên hoạt động bí mật và bảo toàn lực lượng đến khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Biên Hoà cũng là nơi diễn ra sự kiện ngày 27 tháng 3 năm 1941, đồng bào dân tộc Ch’ro, S’tiêng ở Tài Lài đã giúp các đồng chí Trần Văn Giàu, Tô Ký, Dương Quang Đông, Tạ Tỵ... vượt ngục Tài Lài, tạo điều kiện xây dựng lại Xứ uỷ Nam Bộ, khôi phục phong trào, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn và Nam Bộ.


Đội ngũ giai cấp công nhân cùng với nông dân tỉnh Biên Hoà là lực lượng nòng cốt làm nên cách mạng tháng Tám năm 1945 ở địa phương; đồng thời cũng là lực lượng chủ lực cùng với nòng cốt là đội du kích trong Nam Kỳ khởi nghĩa xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Tinh thần yêu nước, đấu tranh, sớm giác ngộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản của nhân dân tỉnh Biên Hoà chính là đặc điểm quan trọng và động lực thôi thúc nhân dân Biên Hoà gia nhập các lực lượng kháng chiến, trong đó, lực lượng vũ trang làm nòng cốt để thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:15:41 pm
2. Tỉnh Thủ Dầu Một

Thủ Dầu Một là tỉnh, thuộc miền Đông Nam Bộ, trải dài từ nam Tây Nguyên đến thành phố Sài Gòn, gồm cả phần đất thuộc tỉnh Bình Dương và một phần tỉnh Bình Phước ngày nay.


Dưới triều Nguyễn, Thủ Dầu Một là vùng đất thuộc tỉnh Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm và đặt nền cai trị tại sáu tỉnh Nam Kỳ thì vùng đất này được đặt thành tiểu khu Thủ Dầu Một thuộc khu vực Sài Gòn1 (Sau khi đánh chiếm Nam Kỳ, Duy-pơ-rê (Dupré), đô đốc, tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ra nghị định chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát-Xắc. Mỗi khu vực hành chính lại chia thành nhiều tiểu khu. Khu vực Sài Gòn chia làm 5 tiểu khu: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Gia Định). Đến năm 1899, sau khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi các tiểu khu thành tỉnh thì Thủ Dầu một là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ.


Về sau, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, vùng đất này nhiều lần bị chia cắt và sáp nhập theo yêu cầu cai trị của bọn thực dân đế quốc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, do yêu cầu của sự phát triển, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và các xã An Bình, Bình An, Đông Hòa (thuộc huyện Thủ Đức) thành tỉnh Sông Bé. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh: Bình Dương, Bình Phước1 (Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.683,47 ki-lô-mét vuông, toàn tỉnh có 1 thị xã, 6 huyện, 5 phường, 8 thị trấn. Dân số của tỉnh 810,2 ngàn người (năm 2002). Trung tâm tỉnh Bình Dương đặt tại thị xã Thủ Dầu Một. Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.831,72 ki-lô-mét vuông, toàn tỉnh có 1 thị xã, 7 huyện, 94 xã, phường, thị trấn. Dân số của tỉnh trên 800 ngàn người, có 41 thành phần dân tộc sinh sống. Trung tâm tỉnh lỵ Bình Phước đặt tại thị xã Đồng Xoài).


Đất Thủ Dầu Một ngày xưa, nay là Bình Dương, Bình Phước đã từng là địa bàn sinh tụ của con người từ thuở xa xưa. Điều này được minh chứng qua các di chỉ khảo cổ mà các nhà khoa học đã khai quật được.


Về hình thể tự nhiên, Thủ Dầu Một phân chia làm hai vùng lớn: 1- Vùng đất đỏ Ba-zan, đất đỏ trên đá phiến, đất xám và đất dốc trên địa bàn đồi núi. Vùng đất này chiếm khoảng 55 vạn héc-ta, nằm ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. 2- Vùng đất xám, đất vàng nâu, đất dốc tụ rải rác, đất phù sa và đất phèn trên địa hình đồi thấp lượn sóng và đồng bằng, chiếm khoảng 40 vạn héc- ta nằm ở phía nam và tây nam của tỉnh.


Với vùng đất màu mỡ cùng với khí hậu nhiệt đới đã tạo điều kiện cho rừng phát triển, ở đây có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn, trải dài từ bắc đến nam tỉnh. Vào những năm đầu thế kỷ XX, diện tích rừng của Thủ Dầu Một chiếm gần 40 phần trăm diện tích toàn tỉnh, trong đó có những khu rừng già, những khu rừng nguyên sinh. Với địa thế hiểm trở, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, núi rừng Thủ Dầu Một là nơi xây dựng những căn cứ địa cách mạng, những chiến khu lớn nổi tiếng như chiến khu Đ, chiến khu Bù Gia Mập, chiến khu Long Nguyên, chiến khu An Thành, chiến khu Thuận An Hòa...


Rừng ở Thủ Dầu Một không chỉ có vị trí quan trọng về mặt quân sự trong kháng chiến mà còn có vị trí quan trọng về mặt kinh tế. Nó đã cung cấp cho các chiến sĩ cách mạng nhiều dược liệu quý dùng làm thuốc trị bệnh, nhiều loại dây, củ, rau rừng... thay cho lương thực trong những năm gian khổ ác liệt nhất.


Là tỉnh trung du, trên địa bàn Thủ Dầu Một có ba ngọn núi là: núi Bà Rá (ở thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long; nơi đây vào những năm 40 của thế kỷ trước, thực dân Pháp đã lập một nhà tù để giam cầm những chiến sĩ cộng sản và quần chúng yêu nước); núi Châu Thới (ở huyện Thuận An) và núi Cậu (ở Dầu Tiếng, Bến Cát). Ngoài ba ngọn núi đã nêu, Thủ Dầu Một còn có nhiều ngọn đồi nhấp nhô gợn sóng, cao thấp khác nhau tạo thành một cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.


Thủ Dầu Một có hai trục đường giao thông chiến lược quan trọng là quốc lộ 13 và quốc lộ 14 chạy dài từ bắc chí nam. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trên hai quốc lộ này đã diễn ra những trận đánh đẫm máu, gây cho địch nhiều thiệt hại, lính Pháp gọi quốc lộ 13 là “con đường không vui”, còn đế quốc Mỹ thì gọi là “con đường máu và nước mắt”. Bên cạnh các con đường chiến lược đó, trên địa bàn tỉnh còn có đường liên tỉnh 1A (đi Biên Hòa), đường liên tỉnh 14 (đi Tây Ninh) và các tỉnh lộ 13, 14, 15, 16, 7, 8... nối liền với các huyện.


Thủ Dầu Một có 3 con sông chính chảy qua: sông Sài Gòn, sông Bé và sông Đồng Nai (phần hạ lưu). Sông Sài Gòn và phần hạ lưu sông Đồng Nai vừa là tuyến giao thông thủy, vừa là nguồn nước tưới cho đồng ruộng, vừa là ranh giới tự nhiên của tỉnh. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Nam Tây Nguyên, dòng sông trải dài gần 240 ki-lô-mét của tỉnh, có nhiều phụ lưu... trên dòng sông này còn ghi nhiều chiến công của quân giải phóng đã nhấn chìm nhiều tàu giặc trong hai cuộc kháng chiến.


Sông Bé là sông chảy bên trong lãnh thổ của tỉnh. Nó là phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ vùng rừng núi của tỉnh Lâm Đồng, dài gần 200 ki-lô-mét, chảy quanh co qua nhiều địa hình khác nhau. Sau này, có một thời kỳ ông cha ta đã dùng tên Sông Bé để đặt tên cho tỉnh. Vào mùa khô, ở thượng lưu có chỗ mực nước hạ thấp xuống còn một mét có thể đi bộ qua được. Ở vùng hạ lưu dòng sông chảy lững lờ, ghe xuồng có thể đi lại được ở những chặng ngắn chừng vài cây số, nhưng nhìn chung sông Bé không thuận cho việc giao thông đường thủy. Đây là nhược điểm của sông Bé nhưng cũng nhờ vậy mà trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con sông này trở thành chiến hào thiên nhiên góp phần chặn bớt mức càn quét đánh phá của giặc bằng đường thủy và đường bộ vào các căn cứ của cách mạng.


Nhân dân các dân tộc Thủ Dầu Một có truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm.
Ngày 31 tháng 7 năm 1861, 1.500 nghĩa quân từ căn cứ trong rừng đã tiến về Đồng Ván thuộc làng Tân Ba, đánh bọn lính Pháp đang làm cầu và kho ở An Thành, nghĩa quân làm chủ nhiều ngày và kiểm soát cả đường bộ và đường sông ở đây.


Tháng 10 năm 1861, quân dân Bình An ba lần bao vây tiến công đồn Phú Cường, An Thạnh, Hưng Định gây nhiều thiệt hại cho giặc. Ngày 23 tháng 11 năm 1861, quân Pháp và tay sai đánh vào vùng Bình Chuẩn, Tân Khánh nơi nghĩa quân trú đóng đã bị nghĩa quân đánh trả quyết liệt. Ngày 15 tháng 12 năm 1861, 1000 nghĩa quân phối hợp với 500 quân triều đình tấn công lần thứ hai vào thủ phủ Bình An. Năm 1870, khi nghĩa quân của Trương Quyền và nhà sư Pô Cum Pô từ Tây Ninh tấn công vào các đồn nhỏ của Pháp ở ven sông Thị Tính (nay thuộc huyện Bến Cát), Bình An và Tân Uyên, nhân dân nhiều làng ở đây đã hưởng ứng mạnh mẽ. Đồng bào đã ủng hộ lương thực, quà bánh, heo gà và dẫn đường cho nghĩa quân.


Từ năm 1912 trở đi, Nơ Trang Long lãnh đạo các dân tộc ở Tây Nguyên và Đông Nam Kỳ đứng lên chống Pháp. Dưới sự lãnh dạo của Nơ Trang Long, từ năm 1912-1914 là thời kỳ oanh liệt và hào hùng của các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung cũng như đồng bào ở Lộc Ninh, Hớn Quản của Thủ Dầu Một - Bình Dương - Bình Phước nói riêng. Cũng trên mảnh đất mà nhân dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất ấy, vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều hạt giống Cộng sản đã phát triển, làm mọc lên phong trào cách mạng trước khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời.


Tháng 10 năm 1929, chi bộ đồn điền Phú Riềng được thành lập. Đây là một trong 19 chi bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Ngày 20 tháng 10 năm 1929, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã tổ chức cuộc bãi công lớn với 2.000 người tham gia đã nổ ra ở Phú Riềng.


Ngày 3 tháng 2 nâm 1930 (mùng 5 Tết), 5.000 công nhân thực hiện tổng bãi cộng đòi yêu sách, lúc đầu địch khủng bố nhưng trước sức mạnh của lực lượng công nhân, bọn chủ sở phải hạ bút “cam kết” thực hiện những yêu sách của công nhân. Có thể nói trên mảnh đất Thủ Dầu Một có sự lãnh đạo của Đảng sớm hơn một vài nơi khác ở Nam Bộ. Nhờ vậy mà nhân dân sớm giác ngộ cách mạng, sớm đi theo Đảng đấu tranh giành độc lập tự do. Ngay những năm 1932-1935 - thời kỳ thoái trào của cách mạng cả nước, ở Thủ Dầu Một phong trào vẫn đứng vững và phát triển. Nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhiều nơi cán bộ bị địch bắt bớ, tra tấn, khủng bố ác liệt, riêng Thủ Dầu Một là nơi tạm lánh của một số cán bộ, đảng viên từ nơi khác chuyển đến và được sự đùm bọc, che chở của nhân dân ở địa phương, nhờ đó mà cách mạng đã hạn chế sự tổn thất để các thời kỳ sau lại phát triển mạnh mẽ hơn.


Cũng với truyền thông đó mà nhiều lớp thanh niên đã hăng hái tham gia vào tổ chức Thanh niên Tiền phong và các lực lượng vũ trang của tỉnh, tiến hành cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay Nhật và hỗ trợ cho Sài Gòn giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.


Biên Hòa, Thủ Dầu Một là hai tỉnh ở vào vị trí trung tâm của miền Đông Nam Bộ, áp sát thành phố Sài Gòn, trấn giữ nhiều tuyến đường giao thông thủy bộ quan trọng, có địa thế thuận lợi cho hoạt động xây dựng căn cứ địa và tác chiến quân sự với qui mô lớn. Nhân dân có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, tổ chức Đảng Cộng sản sớm ra đời, phong trào nông dân, công nhân công nghiệp, công nhân cao su diễn ra mạnh mẽ và liên tục. Đây là những yếu tố tự nhiên và nhân văn tác động tích cực đến quá trình hình thành, xây dựng, chiến đấu và công tác của Chi đội 1, Chi đội 10, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 và Liên Trung đoàn 301 - 310.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:18:23 pm
Chương một
CHI ĐỘI 1 VÀ CHI ĐỘI 10
(11-1945 - 3-1948)


A. CHI ĐỘI 1 TỈNH THỦ DẦU MỘT (11-1945 - 3-1948)


I. CÁC TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA CHI ĐỘI 1


1. Những đội tự vệ đầu tiền của lực lượng vũ trang cách mạng Thủ Dầu Một (1930-1939)

Ngay khi mới thành lập, với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng đã phát động cuộc đấu tranh cách mạng trong công nhân và nông dân mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Trong cao trào cách mạng sôi nổi đó, các đội tự vệ công nông, mầm mống của các lực lượng vũ trang cách mạng đã ra đời.


Nối tiếp phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nam Kỳ, ngày 3 tháng 2 năm 1930, công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đã nổ phát pháo đầu tiên về sự xuất hiện lực lượng quần chúng vũ trang và hình thức bạo lực vũ trang. Lần đầu tiên đội xích vệ xuất hiện, có nữ chiến sĩ với dao, búa xông lên cướp súng đuổi đánh địch chạy tán loạn; xu cai đầu hàng, chủ Tây run sợ nhận tại chỗ mọi yêu sách của công nhân. Phú Riềng đã tạo ra tiền đề ở Nam Kỳ về sự hình thành lực lượng quần chúng vũ trang do Đảng lãnh đạo.


Bên cạnh sự xuất hiện của đội xích vệ công nhân còn có sự ra đời những đội tự vệ nông dân để chống đàn áp, cứu viện khi có người bị thương trong các cuộc biểu tình đấu tranh hoặc biểu dương lực lượng.


Cùng với phong trào đấu tranh ở Phú Riềng, công nhân và nhân dân lao động Thủ Dầu Một cũng liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống lại chế độ hà khắc của thực dân Pháp và tay sai như: lãng công, mít tinh, biểu tình ở các xã Thuận Giao, Tân Khánh, Bình Nhâm... Đặc biệt công nhân Đề-pô xe lửa Dĩ An, nông dân Thị trấn Uyên Hưng (quận Tân Uyên) tuy không có sự chỉ đạo của đảng viên cộng sản nhưng vẫn tổ chức các đội tự vệ bí mật rải truyền đơn, treo cờ Đảng ở các chợ trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, trong đó có “Kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười” do Trung ương phát động.


Trong thời gian này, thực dân Pháp thi hành chính sách khủng bố trắng vô cùng tàn bạo. Nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, nhiều đảng viên, quần chúng bị tàn sát. Trước tình hình đó ngày 3 tháng 1 năm 1931, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra thông cáo cho các Xứ ủy vạch rõ: “Phải dựa vào sức mạnh của quần chúng mà chống khủng bố; đồng thời phải đẩy mạnh việc phát triển các đội tự vệ công nông để bảo vệ cho quần chúng đấu tranh. Thông cáo viết: "... Khi có đấu tranh thì đội tự vệ phải đi đầu, đi kèm quần chúng mà bảo vệ, còn lúc thường thì phải tập luyện riêng, phải bàn định những cách hộ vệ mà bênh vực tranh đấu”.


Ở Thủ Dầu Một, những đợt sóng đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng, Đề pô xe lửa Dĩ An, của đồng bào ở cắc làng Bình Nhâm, An Sơn, An Thạnh, Tân Thới, Hưng Định, Thuận Giao (Thuận An) với nhiều hình thức quyết liệt trong những năm 1931- 1932, đã thu hút được đông đảo nhân dân tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đấu tranh chống khủng bố trắng, chống cải cách trù dập của địch, đòi quyền lợi dân sinh dân chủ, tạo thành một “đội quân chính trị quần chúng” hùng mạnh làm cơ sở cho một giai đoạn cách mạng mới.


Cuối năm 1932 các cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hình thành các nhóm tự vệ, làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho các cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su, công nhân lò chén, công nhân lò đường cùng những cuộc nổi dậy của nông dân và đồng bào dân tộc.


Trong quá trình bảo vệ và chiến đấu, lực lượng tự vệ thường đối mặt với bọn chủ sở cấu kết với mật thám và tay sai, xử lý linh hoạt và mềm dẻo, lúc tấn công quyết liệt để đạt được thắng lợi như: Đội tự vệ của đồn điền cao su Dầu Tiếng bất chấp sự đàn áp dã man của địch, kiên cường bảo vệ hơn 2.000 công nhân đấu tranh ròng rã 15 ngày đòi chủ đồn điền thực hiện các quyền dân sinh, dân chủ trong công nhân vào cuối tháng 12 năm 1932. Địch nổ súng đàn áp cuộc đấu tranh làm chết 23 người và bắt đi 21 người, nhưng đội tự vệ vẫn không chùn bước, quyết tâm bảo vệ đoàn biểu tình đến thắng lợi.


Trong những năm 1933, 1934, lực lượng tự vệ thị xã Thủ Dầu Một đã bảo vệ các cuộc rải truyền đơn, dán khẩu hiệu, mít tinh thành công mà bọn mật thám không truy tìm hay khám phá được những người tổ chức.


Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã ra Nghị quyết về đội tự vệ. Nghị quyết đề ra những nguyên tắc xây dựng đội tự vệ: về mặt chính trị, đội tự vệ là một tổ chức nửa quân sự của quần chúng nhân dân lao động, chủ yếu là công - nông do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo; thành phần gồm những đảng viên, đoàn viên và những người lao động nhiệt tình, cương quyết, không phân biệt gái trai, dân tộc, từ 18 tuổi trở lên, được giác ngộ về nhiệm vụ chính trị.


Đội tự vệ phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải chăm lo tranh đấu, ủng hộ và bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân. Về quân sự đội tự vệ được huấn luyện cách sử dụng các loại vũ khí, chiến thuật du kích, chiến thuật đánh trong thành phố...


Nghị quyết đội tự vệ là cơ sở lý luận đầu tiên cho công tác xây dựng và chiến đấu của các tổ, đội chiến đấu và công tác thành lập lực lượng vũ trang sau này.

Những năm 1936-1939, Đảng bộ Nam Kỳ đã lãnh đạo các cuộc vận động dân chủ chống phản động thuộc địa, tay sai, chống phát xít và chiến tranh xâm lược đòi tự do cơm áo hòa bình. Do tính chất, yêu cầu đấu tranh của thời kỳ này, nên các hình thức biểu tình có vũ trang như thời cao trào 1930-1931 ít xảy ra. Tuy vậy, nhiều hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh thích hợp, sáng tạo nảy sinh từ thực tiễn như: hợp pháp và nửa hợp pháp để tuyên truyền, vận động quần chúng hoặc kết hợp những hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp với những hoạt động bí mật để phát triển tổ chức Đảng và tổ chức Mặt trận dân chủ, đã đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, động viên, thu hút được đông đảo nhân dân tập hợp dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, hoạt động khá sồi nổi, tạo thành một “đội quân chính trị quần chúng” hùng mạnh.


Những diễn biến của các cuộc đấu tranh chính trị trong những năm 1936-1939 ở Thủ Dầu Một thực sự là ngày hội cách mạng của quần chúng trong tỉnh, làm tiền đề cho cao trào Cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm tiếp theo.


Có thể nói, trong những năm 1936-1939, tuy chưa hình thành lực lượng vũ trang chính thức để đánh trả lại các cuộc bắt bớ, đàn áp của địch. Song trong tiềm thức của mỗi người dân đều nhen nhóm tư tưởng bạo động để chống lại sự đàn áp của kẻ thù. Trong những ngàỵ đầu cách mạng, tuy các hình thức đấu tranh còn hạn chế, nhưng các hoạt động hỗ trợ đấu tranh của các tổ “tự vệ” đã hình thành những mầm mcmg của lực lượng vũ trang.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:20:50 pm
2. Lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một ra đời trong tổng khởi nghĩa năm 1945

Mùa thu năm 1939, sau khi đế quốc Pháp tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới thứ II và phát xít hóa bộ máy cai trị ở Đông Dương, tình hình có nhiều thay đổi. Trong nước, Chính phủ phản động Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tán Đảng Cộng sản và các tổ chức dân chủ tiến bộ ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa.


Ở Đông Dương, thực dân Pháp ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp của tại chỗ để cung cấp cho chiến tranh đế quốc của chúng; đồng thời ra tay đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo.


Hai tháng sau khi chiến tranh bùng nổ, hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương 3 ngày (6, 7, 8 ) tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định). Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ đánh đổ đế quốc Pháp lên hàng đầu, chống tất cả thế lực xâm lược, bất luận da trắng hay vàng để “tranh đấu giải phóng dân tộc”. Với mục tiêu đó, “Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương” ra đời.


Riêng về phương pháp đấu tranh, Hội nghị trên đã đề ra “dự bị những điều kiện bước tới bạo động, làm cách mạng giải phóng dân tộc, song phải hết sức tránh những cuộc tranh đấu non, tranh đấu không phương pháp, không chuẩn bị..”.


Tháng 3 năm 1940, đồng chí Võ Văn Tần - Ủy viên Trung ương Đảng kiêm Bí thứ Xứ ủy Nam Kỳ và các xứ ủy viên khác phổ biến Nghị quyết đến các Tỉnh ủy và Thành ủy. Lúc này, địch khủng bố rất ác liệt, nhiều đồng chí ủy viên Trung ương và Xứ ủy đã bị bắt, nhưng các tổ chức cơ sở Đảng, các Tỉnh ủy và Thành ủy vẫn tồn tại, trong đó có Tỉnh ủy Thủ Dầu Một.


Trên địa bàn Thủ Dầu Một, cũng như các tỉnh khác, sách báo và truyền đơn của Đảng vẫn bí mật lưu hành và phổ biến trong quần chúng, các đội tuyên truyền vẫn thâm nhập vào quần chúng giải thích tinh thần Nghị quyết VI của Trung ương. Nhiều nơi phong trào chống bắt lính diễn ra sồi nổi và rộng khắp trong các làng xã ở nông thôn, đặc biệt là trong các đồn điền cao su cùng với những dợt tuyên truyền cổ động binh lính chống chiến tranh và ủng hộ cách mạng.


Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù Nhật - Pháp cùng thống trị. Lòng căm thù giặc sâu sắc và khí thế cách mạng của quần chúng đã thúc đẩy Đảng bộ miền Nam chủ trương khởi nghĩa. Trước ngày 3 tháng 11 Xứ ủy Nam Kỳ đã triệu tập nhiều cuộc họp bàn về khởi nghĩa.


Tại Hội nghị Xứ ủy mở rộng các Tỉnh ủy, Thành ủy tại xã Tân Hiệp, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho từ ngày 21 đến 27 tháng 9 năm 1940, có 24 đại biểu của 19/21 tỉnh thành tới dự. Hội nghị đã ra Nghị quyết chuẩn bị khởi nghĩa toàn Xứ, Hội nghị đã thông qua kế hoạch khởi nghĩa và thành lập Ban khởi nghĩa của Xứ ủy và Ban quân sự các Đảng các tỉnh.


Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, tỉnh Thủ Dầu Một thành lập Ban khởi nghĩa tỉnh, triển khai tổ chức các đội vũ trang, rèn đúc, mua sắm vũ khí, luyện tập võ nghệ và quân sự, đẩy mạnh công tác vận động binh lính địch... Trưởng ban chỉ đạo khởi nghĩa của Tỉnh Thủ Dầu Một do đồng chí Hồ Văn Cống, Bí thư tỉnh uỷ phụ trách. Đồng chí Cao Thị Lình, đảng viên làng An Thạnh được giao nhiệm vụ liên lạc giữa Ban khởi nghĩa tỉnh với Liên Tỉnh uỷ miền Đông và các chi bộ Đảng... Toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ đều nêu cao quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ được phân công trên địa bàn các làng, thành lập các đội tự vệ vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cơ sở, làm công tác binh vận.


Trong khi Xứ ủy Nam Kỳ đang ráo riết chuẩn bị tiến tới phát động khởi nghĩa thì Hội nghị lần thứ VII Trung ương Đảng (từ ngày 6 đến 9-11-1940) quyết định tạm hoãn. Đáng tiếc là lệnh tạm hoãn không đến được Xứ ủy Nam Kỳ một cách kịp thời. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên 18 tỉnh thành trong tổng số 21 tỉnh Nam kỳ.


Khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị cho các Đảng bộ địa phương là: “Nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì biến đội tự vệ thành đội du kích để tùy thời cơ đánh úp các trại, cướp khí giới, tiểu diệt bọn phản gián, tịch thu tài sản của chúng... Những nơi nào gần các đường giao thông vận tải quan trọng hay các kho tàng trọng yếu của đế quốc (như các đường xe lửa, đường nhựa, các kho súng đạn...) thì các Đảng bộ địa phương đó phải tổ chức ngay đội biệt động gồm những phần tử hăng hái, can đảm nhất trong đội tự vệ để thi hành những việc như sau: phá đường sắt, cầu cống, ngăn cản quân thù, đừng cho lính bắn quân cách mạng, cắt đường điện, cướp xe cộ chở lương thực, khí giới của đế quốc”1 (Thông báo khẩn cấp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Văn kiện quân sự Đảng 1930-1945-Nxb QĐND H.1976, tr.100).


Sau khi nhận được lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ, Ban chỉ đạo khởi nghĩa của Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một khẩn trương chấp hành theo phương án đã định: lấy quận Lái Thiêu làm trọng điểm, chọn làng Thuận Giao làm điểm mở đầu phát động cho các làng khác nối tiếp trong cuộc khởi nghĩa này. Từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa đã nổ ra ở các quận trong tỉnh như Lái Thiêu, Tân Uyên, Bến Cát. Tại Lái Thiêu, các tổ tự vệ vũ trang đã bảo vệ thành công cuộc mít tinh với hàng trăm người tham gia ở làng Thuận Giao. Chi bộ An Sơn còn tổ chức cho một bộ phận đồng bào trong làng kéo qua làng Bình Lý cùng nhân dân đi khởi nghĩa ở quận Hóc Môn. Ở làng Tân Khánh, ban đêm đội tự vệ đi lùng bắt bọn tề ác ôn. Ban ngày, hàng trăm nông dân trồng thuốc lá kéo đến trụ sở Ban hội tề đòi giảm thuế. Tại Kiến Điền (An Điền) Bến Cát, nhóm thanh niên cảm tử do anh Nguyễn Tấn Bộ tổ chức bí mật phá đứt đường dây thép (điện thoại) dọc lộ 14 từ thị trấn Bến Cát đến Bến Súc. Ở đồn điền cau su Dầu Tiếng, chi bộ đảng vận động công nhân bãi công 3 ngày liền. Nông dân làng Định Thành cử đại diện đến gặp Ban hội tề đòi giảm thuế, chống bắt lính, chống đàn áp. Ở Tân Uyên, Ban khởi nghĩa đã thành lập nhiều tổ chức như: Hội phản đế nông dân, thanh niên và đội vũ trang khoảng 35 người, được trang bị một số súng trường, súng ngắn, giáo mác, gậy tầm vông do đồng chí Huỳnh Liễng và đồng chí Trần Văn Quỳ chỉ huy. Lực lượng trên đã tích cực hỗ trợ, bảo vệ cho các làng, thị trấn của Tân Uyên nổi dậy khởi nghĩa suốt từ ngày 23 tháng 11 đến ngày 24 tháng 11 năm 1940 góp phần làm lung lay chính quyền địa phương lúc bấy giờ.


Như vậy, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một đã lãnh đạo Đảng bộ, nhân dân 3 quận Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát nổi dậy suốt 8 ngày đêm từ 23 đến ngày 30 tháng 11 năm 1941, còn lại hai quận Hớn Quản, Bù Đốp chưa có điều kiện thực hiện.


Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra không đúng thời cơ và bị thất bại. Thực dân Pháp đã huy động tất cả lực lượng quân sự và toàn bộ bộ máy cai trị vào việc đàn áp. Xứ ủy và nhiều Đảng bộ địa phương bị địch bắt đến người cuối cùng. Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh trưởng Vôn (Volf) đã thẳng tay bắn giết những người cộng sản và yêu nước ở các làng, đồn điền cao su có tham gia khởi nghĩa. Các xã ở Tân Uyên, Lái Thiêu, Thành Săn Đá (Thủ Dầu Một) là nơi có cuộc khởi nghĩa nổ ra do đó bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Số người bị giết, bị thương và bị bắt khoảng 50 người, ở Tân Uyên, chúng tàn sát 11 người ở cầu Ông Hựu làng Tân Hòa và bắt 30 người khác đày đi Côn Đảo. Ở các làng An Sơn, Bình Nhâm (Lái Thiêu), Tương Bình Hiệp (Châu Thành) rất nhiều đảng viên bị bắt và bị đày đi Côn Đảo. Trong đợt này, đồng chí Hồ Văn Cống - Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một cũng bị bắt và đưa về giam ở Sài Gòn. Sau Tết Nguyên đán 1941, đồng chí bị kết án làm chính trị, bị đi đày và hy sinh tại nhà tù Côn Đảo. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ “là tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”.


Với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cùng với Đảng bộ và nhân dân Nam Kỳ, nhân dân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm một cuộc diễn tập lớn về khởi nghĩa vũ trang. Tuy không thành công, nhưng cuộc khởi nghĩa đã để lại những bài học quý giá về tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta. Đặc biệt là sự ra đời của các đội tự vệ vũ trang có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển các lực lượng vũ trang sau này.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:21:40 pm
Bước sang năm 1941, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ cũng như ở trong nước gặp khó khăn thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, tại rừng Khuổi Nậm ở vùng Pắc Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Hội nghị đã phát triển, và hoàn chỉnh các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 và Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương về vấn đề giải phóng dân tộc. Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Hội nghị khẳng định “chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay”. Hội nghị đề ra những chủ trương và chính sách cụ thể nhằm tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, trong đó quan trọng nhất là việc thành lập Mặt trận Việt Minh bao gồm các Hội cứu quốc của các tầng lớp nhân dân và áp dụng sách lược hết sức mềm dẻo để phân hóa cao độ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng với mục tiêu giải phóng dân tộc. Hội nghị còn nhận định khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn”.


Từ sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5- 1941), mặc dù địch khủng bố ác liệt, nhưng từ giữa năm 1942 trở đi, cán bộ, đảng viên tỉnh Thủ Dầu Một trước đây đã lẩn tránh đi nơi khác, nay lần lượt trở về địa bàn cũ và bắt lên lạc với nhau. Từ đó, lập ra nhiều nhóm đảng viên ở các làng An Sơn, An Thạnh, Thuận Giao, Tân Khánh, Phú Cường trong đó có Chi bộ Bình Nhâm do đồng chí Lâm Văn Sáng làm bí thư. Khi đó, ở phía bắc tỉnh Thủ Dầu Một cũng hình thành các nhóm đảng viên ở Sở cao su Lộc Ninh, Hớn Quản, chi bộ đồn điền Dầu Tiếng. Các nhóm đảng viên trên đã bắt liên lạc với nhau để tổ chức lại Tỉnh ủy, phục hồi cơ sở quần chúng cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa khi thời cơ đến.


Sau một thời gian xây dựng, ngày 23 tháng 3 năm 1943, Hội nghị tái lập Tỉnh ủy Thủ Dầu Một tại làng 1 sở cao su Dầu Tiếng. Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Văn Công Khai. Các ủy viên gồm có Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung. Trong các nhiệm vụ đề ra nhằm đưa cách mạng Thủ Dầu Một tiến tới Tổng khởi nghĩa, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng Đảng và cơ sở quần chúng cách mạng đặt lên hàng đầu. Trong đó Nghị quyết 8 (tháng 4-1943) của Trung ương đầu với Tỉnh ủy Lâm thời, qua sự truyền đạt của Xứ ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn là Nghị quyết chỉ đạo chiến lược, cách tổ chức Mặt trận Việt Minh, các đội cứu quốc, đội du kích và khẩn trương chuẩn bị các điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tỉnh uỷ đã đề ra chủ trương xây dựng các đội vũ trang để hỗ trợ cho phong trào cách mạng tại địa phương. Đây là chủ trương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng làm cơ sở cho quá trình xây dựng lực lượng vũ trang sau này.


Sự kiện Tỉnh ủy Lâm thời ra đời và chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang đã đưa cách mạng tỉnh Thủ Dầu Một bước sang một thời kỳ mới.

Ngay sau đó, Tỉnh ủy phân công các đồng chí phụ trách từng vùng, nhằm phổ biến tinh thần Nghị quyết Tỉnh uỷ và trực tiếp chỉ đạo các mặt công tác của Đảng tại cơ sở. Chỉ sau một thời gian tuyên truyền, vận động, các phong trào yêu nước của nhân dân Thủ Dầu Một đã phát triển từ vùng nông thôn đến các đồn điền cao su, nhà máy. Trong các hoạt động đó, các đội tự vệ cũng được thành lập để bảo vệ cho các cuộc đấu tranh của quần chúng. Đặc biệt là hoạt động của chi bộ vũ trang Mỹ Lộc (Tân Uyên) do đồng chí Trần Văn Quỳ phụ trách, bám rừng hoạt động suốt 4 năm (1941-1944) được nhân dân nuôi dưỡng, che chở hoạt động ngày càng hiệu quả. Chính lực lượng này cùng với một số tự vệ ở các nơi khác trong tỉnh là nguồn lực cán bộ xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Lúc này, ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, Hớn Quản và một số địa phương khác như Tân Uyên, Lái Thiêu, Châu Thành cũng lần lượt tổ chức các đội tự vệ vũ trang để bảo vệ nhân dân trong các cuộc đấu tranh chính trị chống lại chính sách đàn áp của thực dân Pháp.


Ở Thủ Dầu Một, cuôì năm 1944, Hội truyền bá Quốc ngữ ra đời tại Phú Cường, về sau phong trào lan rộng trong toàn tỉnh, sau đó lần lượt các huyện Bến Cát, Lái Thiêu, Tân Uyên và các làng nông thôn cũng thành lập Hội truyền bá quốc ngữ thu hút hàng ngàn quần chúng tham gia.


Hoạt động của Hội truyền bá Quốc ngữ ở Thủ Dầu Một ngay từ đầu đã xác định mục đích là giải quyết nạn mù chữ, đồng bào nghèo đều biết đọc, biết viết, biết tiếng Việt, mở rộng dân trí... nâng cao tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm và kêu gọi đồng bào tham gia công tác cứu quốc chuẩn bị khởi nghĩa. Kết quả của phong trào truyền bá Quốc ngữ ở Thủ Dầu Một còn là bài học kinh nghiệm thành công về công tác vận động trí thức của Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một.


Giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân Thủ Dầu Một cũng nhu nhiều nơi khác đang phát triển mạnh, thì tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng. Trên thế giới, quân đội Xô viết đã giành thắng lợi quyết định bằng hàng loạt đòn phản công chiến lược, đua chiến tranh đến cửa ngõ sào huyệt phát xít Đức. Ở mặt trận châu Á và Thái BìnhDương, số phận của phát xít Nhật cũng đang lung lay tận gốc. Ở trong nước, tháng 8 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh kêu gọi và phát động phong trào “sắm sửa vũ khí, đuổi thù chung”, xây dựng lực lượng vũ trang; đồng thời đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở nông thôn và thành thị lên cao. Trên phạm vi cả nước, không khí cách mạng sôi sục khắp nơi.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 08:22:19 pm
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, cuộc xung đột vũ trang giữa Nhật và Pháp đã nổ ra, 10 vạn lính Nhật ở Đông Dương đã bất ngờ tấn công vào bộ máy chính quyền Pháp. Chưa đầy 2 giờ, phần lớn lực lượng vũ trang của Pháp đã bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Ở Thủ Dầu Một chỉ có 200 lính tại thành Săng Đá do tên quan tư Pháp chỉ huy, nổ súng lẻ tẻ, chống cự yếu ớt. Sau đó tất cả người Pháp ở Thủ Dầu Một đều bị bắt tập trung về Sài Gòn. Nhật thay quân Pháp đưa quân chiếm đóng hầu hết các vị trí quân sự quan trọng như thành Săng Đá, Dinh tỉnh trưởng và các vị trí quân sự khác.


Sau khi Nhật đảo chính, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẩu hiệu hành động của Đảng ta là “đánh đuổi Phát xít Nhật và tay sai, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”; đồng thời phát động cao trào cứu nước chuẩn bị cho việc Tổng khởi nghĩa.


Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã họp và ra chủ trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy chỉ đạo chuyển phong trào lập nhóm Cứu quốc lên Hội Cứu quốc trong nông dân, công nhân, phụ nữ, thanh niên. Một cao trào cách mạng mới diễn ra sôi nổi khắp nơi trong tỉnh, hàng loạt tổ chức đoàn thể Cứu quốc ra đời ở thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên, Dĩ An. Cùng với Hội cứu quốc người Kinh, lại có Hội người Việt Nam mới ra đời ở Hớn Quản, Bù Đốp. Đây là đơn vị tự vệ bán vũ trang, chuẩn bị cho khởi nghĩa ở phía bắc của tỉnh, do đồng chí Lê Đức Anh thành lập.


Cùng với phong trào lập Hội cứu quôc còn có phong trào nhân dân sắm sửa vũ khí với nhiều biện pháp đem lại kết quả tốt.

Tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thực hiện chủ trương của Xứ ủy về việc thành lập Thanh niên Tiền phong, cử đồng chí Nguyễn Văn Đôi trước đây phụ trách Thanh Niên cứu quốc nay kiêm nhiệm Thanh niên Tiền phong. Sau ngày lễ ra mắt tại Sài Gòn, Thanh niên Tiền phong ở Thủ Dầu Một đựợc thành lập ở các quận, huyện trong tỉnh và hoạt động theo hệ thống tổ chức Thanh niên toàn Xứ và theo hướng dân của cán bộ Việt Minh cơ sở.


Ban qụản trị Thanh niên Tiền phong Thủ Dầu Một do nhà giáo Trịnh Kim Anh làm thủ lĩnh. Hoạt động của Thanh niên Tiền phong lúc bấy giờ rất phong phú như: diễn thuyết chính trị, biểu diễn văn nghệ, học tập quân sự... đã thu hút mạnh mẽ tầng lớp trẻ tham gia hoạt động. Ngay sau đó, lực lượng Thanh niên Tiền phong ở các thị trấn và làng xã ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, Phước Hòa, công nhân Đề-pô xe lửa Dĩ An đều thành lập các đội tự vệ nhằm chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa sắp đến gần. Chính họ cũng là tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Thủ Dầu Một, là những chiến sĩ đầu tiên trong hàng điệp trùng của những chiến sĩ Chi đội 1 sau này nối tiếp nhau chiến đấu giải phóng quê hương.


Đến đầu tháng 7 năm 1945, ở Thủ Dầu Một, khí thế cách mạng đã phát triển rất sôi nổi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh và Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể Cứu quốc ở các huyện, thị, lực lượng Thanh niên Tiền phong và quần chúng nhân dân đã sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Gần giữa tháng 8 năm 1945 là thời điểm cuộc chiến tranh thê giới lần thứ 2 tiến dần đến thời kết thúc với thất bại hoàn toàn của trục phát xít.


Trong khí thế cách mạng đang dâng lên chưa từng thấy, việc chớp thời cơ phát động khởi nghĩa trở thành ý chí, quyết tâm của Đảng và cả dân tộc ta. Từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Thái Nguyên), phiên họp cuối cùng để quyết định những chủ trương lớn trong đối nội, đối ngoại của cách mạng Việt Nam. Thì trưa ngày 15 tháng 8 năm 1945 Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 16 tháng 8 năm 1945 Đại hội Quốc dân Tân Trào tán thành quyết định chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16 tháng 8, Người gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa cho Quốc dân Việt Nam. Bức thư nhấn mạnh “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc, đồng bào hãy đứng dậy đem sức mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ". Lệnh tổng khởi nghĩa đã phát. Lời hiệu triệu của lãnh tụ dân tộc đã gửi quốc dân. Toàn dân tộc nhất tề đứng dậy. Bão táp cách mạng cuồn cuộn dâng cao.


Từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 8 năm 1945, ta giành chính quyền ở Hà Nội, Huế, Long An càng làm cho cao trào cách mạng ở Thủ Dầu Một tiếp tục phát triển mạnh hơn và đẩy kẻ thù vào thế cô lập. Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ chỉ đạo cho cán bộ, đảng viên, và cán bộ Cứu quốc đẩy mạnh công tác binh vận trong cảnh sát và cộng hoà vệ binh để lôi kéo binh sĩ làm theo lời kêu gọi của Việt Minh ủng hộ nhân dân giành chính quyền.


Tỉnh ủy còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động toàn dân khởi nghĩa. Đêm 23 tháng 8 năm 1945, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức tại Bưng Cầu thuộc làng Tương Bình Hiệp, do đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Tham dự hội nghị có các đồng chí Tỉnh ủy viên như Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung và bí thư chi bộ các quận Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát... Hội nghị quán triệt Nghị quyết của Xứ ủy về Tổng khởi nghĩa toàn Nam Kỳ. Hội nghị Tỉnh ủy kêu gọi cán bộ, đảng viên, các đoàn thể Cứu quốc, đơn vị tự vệ, đồng bào đoàn kết, nhất trí giành chính quyền trong ngày 25 tháng 8 năm 1945.


Ngày 24 tháng 8 năm 1945, tự vệ vũ trang Thanh niên Tiền phong, Thanh niên Cứu quốc cùng với các lực lượng quần chúng tự vệ vũ trang bằng những vũ khí thô sơ, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa địa phương đã khởi nghĩa giành thắng lợi ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Lộc Ninh, Lái Thiêu. Sau khi giành chính quyền thắng lợi ở các quận trong tỉnh, đêm 24 tháng 8, theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh, lực lượng cách mạng ở các làng, các quận rầm rập kéo về thị xã, đơn vị vũ tranh tập trung của tỉnh cùng các đội tự vệ Bến Cát, Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Lái Thiêu, Thị xã và đội Việt Nam mới của đồng bào dân tộc có tất thẩy mấy trăm cán bộ, chiến sĩ trang bị vũ khí thô sơ chiếm lĩnh các vị trí xung yếu trong thị xã hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Nhân dân tiến vào các trại lính, các trụ sở làm việc Tòa thị chính, Kho Bạc, Sở Bưu Điện... buộc bọn lính Nhật phải đầu hàng, nộp vũ khí.


Sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, ba vạn đồng bào từ các xã, thị trấn, đồn điền cao su hợp với hai vạn nhân dân thị xã biểu tình khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại toà thị chính tỉnh (Trước nhà làm việc của Ủy ban nhân dân Phú Cường), chứng kiến việc xoá bỏ chính quyền phát xít Nhật và tay sai, dựng lên một chính quyền mới - chính quyền cách mạng của nhân dân. Như vậy, trong ngày 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân Thủ Dầu Một đã giành chính quyền thắng lợi cùng ngày với thành phố Sài Gòn và 15 tỉnh bạn ở Nam Kỳ.


Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lực lượng vũ trang cũng được thành lập hỗ trợ cho chính quyền nhân dân. Đây là thắng lợi đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân địa phương do Đảng lãnh đạo, là kết quả của quá trình đấu tranh gian khổ, anh dũng, bất khuất của nhân dân ta. Được Đảng giáo dục, rèn luyện, được nhân dân che chở, đùm bọc. Trong quá trình chiến đấu, lực lượng vũ trang đã không ngừng lớn mạnh, hoàn thành xuất mọi nhiệm vụ.


Ra đời trong điều kiện phân tán nhỏ, lẻ, lực lượng non yếu, lại trong khoảng thời gian ngắn, nhưng các tổ chức vũ trang đầu tiên của Thủ Dầu Một đã đi từ không đến có và làm vai trò tiên phong trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trên quê hương.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:47:03 pm
II. CHI ĐỘI GIẢI PHÓNG QUÂN THỦ DẦU MỘT RA ĐỜI CHIẾN ĐẤU VÀ CÔNG TÁC (25-11-1945-3-1948)

1. Quá trình hình thành Chi đội 1 - Giải phỏng quân Thủ Dầu Một

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời mở ra cho dân tộc ta một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.


Trong những ngày đầu xây dựng và củng cố chính tịuyền cách mạng, tình hình cả nước cũng như trong tỉnh đứng trước những khó khăn lớn. Để đối phó với thù trong, giặc ngoài, giữ vững chính quyền cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và chủ trương vũ trang toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh.


Ở Thủ Dầu Một, trong thời kỳ đầu bộn bề khó khăn cùng với việc xây dựng chính quyền còn quá mới mẻ, thiếu cán bộ và kinh nghiệm nhưng đã bắt tay ngay vào nhiệm vụ củng cố bộ máy hành chính các cấp, từng bước ổn định đời sống nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được.


Sau khi cướp chính quyền lực lượng vũ trang của Thủ Dầu Một gồm có:

- Ở tỉnh, đơn vị xung kích cách mạng sau này gọi là bộ đội giải phóng của tỉnh do đồng chí Nguyễn Văn Thi - Ủy viên Tỉnh ủy chỉ huy.

- Ở Lộc Ninh, Hớn Quản có “Bộ đội Áo nâu” và “Bộ đội Việt Nam mới” do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy.

- Ở Bến Cát có đơn vị cựu chiến binh, sau gọi là “Bộ đội Quang Trung” do đồng chí Nguyễn Văn Ngọ (Bảy Quỳ) chỉ huy.

- Ở Quận Châu Thành có đơn vị vũ trang của Thanh niên Tiền phong,-công chức Thủ Dầu Một do Kiều Đắc Thắng chỉ huy.


Bên cạnh lực lượng vũ trang trên còn có một số đơn vị vũ trang khác như:

- Lực lượng “Bộ đội cảnh sát” theo Việt Minh trước và sau Cách mạng tháng Tám ở Thủ Dầu Một do ông Huỳnh Kim Trương (Cò Trương) và ông Nguyễn Văn Sáng phụ trách.

- Bộ đội Bảo an binh còn có tên là “Cộng hoà vệ binh” theo Việt Minh trước và sau Cách mạng tháng Tám do ông Nguyễn Sơn Xuyên (Ánh Theo) và ông Bùi Khánh Ngươn phụ trách.

- Ở Phú Cường: có lực lượng Nghĩa dõng quân theo Việt Minh do ông Triệu chỉ huy; lực lượng công chức của ông Quách Văn Trỉ (Võ Sĩ) và lực lượng công nhân lò chén của ông Đoàn Văn Đức.

- Quận Châu Thành có lực lượng Thanh niên Tiền phong các xã Phú Hoà, Định Hoà, Chánh Hiệp, và một số người “Lục lâm Quân” của Tám Liễu do Đoàn Hữu Hoà chỉ huy.

- “Đội du kích Thái Nguyên” gồm công nhân xe lửa Dĩ An, thợ may, thợ giặt ủi hoạt động ở khu vực Dĩ An - Thủ Đức.


Ngoài ra, còn có một số binh lính Nhật, Pháp đầu hàng theo lời kêu gọi của Việt Minh đã đứng vào hàng ngũ những người kháng chiến, trở thành những chuyên gia huấn luyện cho lực lượng vũ trang cách mạng.


Về trang bị hầu hết là vũ khí thô sơ như: gậy gộc, dao mác, tầm vông vạt nhọn và một số vũ khí, đạn dược cướp được của Pháp - Nhật như: súng trường, súng máy... Đến 23 tháng 9 năm 1945, lực lượng vũ trang trên toàn tỉnh đã tự trang bị được trên 300 súng các loại, trong đó có 8 trung liên.


Cùng với lực lượng vũ trang tỉnh, ở huyện sau khi giành chính quyền, mỗi huyện cũng có một tiểu đội bảo vệ cơ quan chính quyền cơ sở và bảo vệ trật tự trị an, chống bọn phản động trên địa bàn huyện. Lực lượng này với nhiều tên gọi khác nhau ở từng địa phương như: bộ đội Bến Cát, bộ đội Bắc Hải, bộ đội Cao su, bộ đội Thiểu số...


Ở cấp xã, chính quyền các địa phương đã tổ chức các đội tự vệ vũ trang (sau gọi là đội du kích) trên cơ sở lực lượng Thanh niên Tiền phong trước Cách mạng tháng Tám như Bình Nhâm, An Thạnh, Tân Khánh, Thuận Giao, Chánh Phú Hoà, Phú Cường và Đề-pô xe lửa Dĩ An... Ngoài ra các xã chưa có chi bộ cũng tổ chức được các tổ tự vệ do thu lĩnh Thanh niên Tiền phong chỉ huy. Ở các đồn điền cao su cũng thành lập đội Thanh niên công nhân vũ trang, làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền ở cơ sở, tuần tra canh gác, giữ gìn trật tự trị an ở mỗi làng, xã.


Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang lúc này là bảo vệ an toàn cho bộ máy chính quyền các cấp; tiến hành thu gom súng đạn, trang thiết bị quân sự để tự trang bị, đồng thời tiến hành phá các kho lương thực, thực phẩm của Pháp, Nhật chia cho dân nghèo.


Ra đời trong bão táp cách mạng, mặc dù thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trang thiết bị thô sơ, thiếu thống nhất về tổ chức và chỉ huy, nhưng lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một thật sự là lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân trong những ngày đầu giành chính quyền; Đây là lực lượng tiền thân để xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng Chi đội 1 Giải phóng quân tỉnh Thủ Dầu Một sau này.


Trong lúc nhân dân ta đang tập trung xây dựng và củng cô' chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới thì đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp sau lưng quân Anh - An trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Cũng chính sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xứ ủy và Uy ban nhân dân Nam Bộ tổ chức Hội nghị liên tịch khẩn cấp tại Cây Mai - Chợ Lớn, phát động nhân dân đứng lên kháng chiến chống Pháp, đồng thời ra lời kêu gọi toàn dân kháng chiến:

"... Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp và tiểu diệt tay sai của chúng.
Hỡi anh chị em dân quân tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu nước.”



Các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn trên toàn tỉnh Thủ Dầu Một sôi sục khí thế sẵn sàng chiến đấu. Một lần nữa thanh niên, học sinh, công nhân, nông dân Thủ Dầu Một rầm rập xuống đường. Những chiếc gậy tầm vông vạt nhọn, giáo mác, những câu ca tuyên truyền cho kháng chiến đã đi vào lịch sử như một biểu tượng về tinh thần quyết tử trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ.


Hưởng ứng lời kêu gọi của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương chi viện cho mặt trận Sài Gòn- Chợ Lớn để góp phần ngăn chặn sự lấn chiếm của giặc, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ.


Lực lượng tham gia chiến đấu ở Mặt trận số 1 (còn gọi là mặt trận Tiền tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn hay Mặt trận phía đông) gồm các đơn vị tự vệ phía bắc và một bộ phận công nhân của các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Phước Hoà tham gia chặn đánh từng bước tấn công, phá vòng vây của giặc. Tại Mặt trận số 2, “Đội quân áo nâu”, “Bộ phận tên ná” từ các đồn điền Lộc Ninh, Hớn Quản do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy tiến về Sài Gòn, giúp kìm chân địch để các nơi khác ở Nam Bộ có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến.


Cùng với hoạt động đánh địch tại Mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, công tác chuẩn bị đánh địch ngay trên địa phương cũng đươc xúc tiến mạnh mẽ. Tất cả các quận huyện Châu Thành, Bến Cát, Tân Uyên... lực lượng tự vệ cơ sở và bộ đội địa phương tích cực luyện tập quân sự, chuẩn bị vũ khí, phương án sẵn sàng phục kích chiến đấu ngăn chặn địch lấn chiếm. Các đơn vị Cộng hòa vệ binh, Quốc gia tự vệ Cuộc cùng các tổ tự vệ địa phương dùng bàn ghế, giường tủ, cây cối, gạch, đá... làm chướng ngại vật nhằm ngăn cản bước tiến của quân đội Pháp. Các lực lượng chiến đấu được phân công bám vùng ven thị xã tiếp tục diệt tề trừ gian.


Nhân dân được lệnh thực hiện kế hoạch “vườn không, nhà trống” và thực hiện khẩu hiệu bốn không: “không hợp tác với Pháp; không đi lính cho Pháp; không chí đường cho Pháp; không mua bán với Pháp”. Thị xã Thủ Dầu Một vắng lặng, chợ búa không họp, trường học, chùa chiền đóng cửa, không khí im ắng.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:47:49 pm
Ngày 23 tháng 10 năm 1945, binh đoàn kỵ binh thiết giáp do đại tá Massu chỉ huy đến Nam Bộ. Với lực lượng hùng hậu, tướng Leclerc thực hiện ngay kế hoạch phá vỡ vòng vây Sài Gòn và tiến chiếm các tỉnh Nam Bộ. Ngày 25 tháng 10 năm 1945, được quân Anh giúp sức, Pháp tiến đánh Thủ Dầu Một trên ba hướng. Hướng thứ nhất, Pháp kéo quân từ Biên Hòa theo đường Quản Hạt, tiến đánh Tân Khánh và thị xã Thủ Dầu Một, gồm lính bộ binh với 60 xe cơ giới yểm trợ, lực lượng vũ trang kháng chiến không đủ sức ngăn chặn. Do vậy, 9 giờ sáng ngày 25 tháng 10 năm 1945, thị xã Thủ Dầu Một thất thủ.


Cánh quân thứ hai và thứ ba của Pháp tiến quân từ Thủ Đức và Gò Vấp lên Lái Thiêu thì gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng vũ trang địa phương. Các trận đánh diễn ra ác liệt tại Gò Dưa, cầu Bến Phân. Hai cánh quân của Pháp bị chặn đứng, không chiếm được Lái Thiêu, phải rút về vị trí xuất phát.


Sau khi chiếm được tỉnh lỵ, quân Pháp được quân đội Nhật giao lại những cứ điểm quân sự như thành Săng Đá (Thành Quan) và một số vị trí quan trọng. Địch chiếm cả khu vực Toà hành chánh tỉnh. Trong vòng một tháng sau đó chúng chiếm đóng tất cả 10 cứ điểm lớn nhỏ trong nội ô và vài nơi ngoại ô thị xã. Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1945, Pháp từng bước mở rộng cuộc lấn chiếm dần về các quận phía nam, phía bắc tỉnh và tiến sâu vào vùng rừng núi chiếm lại các đồn điền cao su tỉnh Thủ Dầu Một. Ở vùng đồn điền cao su, quân Pháp có quân Anh yểm trợ đã vấp phải sự chống trả mãnh liệt của các lực lượng vũ trang công nhân. Nhiều cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt, nhiều chiến sĩ vũ trang và tự vệ công nhân đã anh dũng hy sinh trên từng bước tiến công của giặc. Do lực lượng địch quá đông, với vũ khí mạnh, nên các đồn điền cao su và các phòng tuyến chống Pháp trên địa bàn tỉnh đều bị quân Pháp chiếm đóng.


Quá trình tái chiếm Thủ Dầu Một là quá trình giao tranh đẫm máu giữa một bên là quân đội viễn chinh nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại và một bên là lực lượng vũ trang và du kích địa phương chỉ có lòng yêu nước với gậy gộc, giáo mác, tầm vông vạt nhọn. Nhưng đi đến đâu quân Pháp cũng đều bị bộ đội, du kích và tự vệ công nhân đánh trả quyết liệt đến đó. Do tương quan lực lượng không ngang sức, quân đội viễn chinh Pháp đã đánh chiếm toàn bộ tỉnh lỵ và thiết lập một nền cai trị như trước. Song lực lượng kháng chiến địa phương vẫn bảo tồn lực lượng. Nhiều hoạt động đánh địch vẫn diễn ra liên tục trên khắp địa bàn tỉnh, gây cho địch rất nhiều lúng túng.


Ở thị xã Thủ Dầu Một, sau ngày thất thủ lưc lượng vũ trang ban đêm vẫn đột nhập nội ô bắn phá các đồn bót địch, ban ngày rút ra phục kích bọn đi càn. Hai đội vũ trang hoạt động mạnh nhất là đội cảm tử do Nguyễn Văn Lộng (tự Chùa) và đội trinh thám do Đinh Quang Kỳ chỉ huy, diệt những tên điểm chỉ của địch mà ta phát hiện được.


Trong nội ô, tuy địch kiểm soát ban ngày, nhưng ở vùng Lò Chén, Phú Văn, Bà Lụa vẫn do chính quyền cách mạng làng Phú Cường và các lực lượng bán vũ trang kiểm soát. Tháng 10 năm 1945, một bộ phận thanh niên xung phong thị xã phóng hoả đốt kho chứa mủ cao su ở Phú Thọ (làng Phú Cường), đầu năm 1946 đốt lần thứ 2. Cả 29 nhà chứa mủ cao su chuyển từ Dầu Tiếng về dự trữ đã bị bốc cháy, làm cho dịch thiệt hại kinh tế rất nặng nề.


Tại Hớn Quản, tháng 10 năm 1945, đơn vị võ trang do Doanh Thắng Lung (Đoàn Tấn Long) chỉ huy đóng tại Chơn Thành, chặn đánh một đơn vị địch di chuyển trên đường 13, tại dốc cầu Cần Đâm thuộc ấp Tàu Ô xã Tân Khai (Hớn Quản), tiêu diệt một xe quân sự. Trong tháng 12, đơn vị vũ trang tập trung huyện Bến Cát đã chặn đánh môt toán địch hành quân trên đường gần ga Ông Khương, diệt 5 tên địch, thu 5 súng tiểu liên và súng trường, 2 súng phóng lựu đạn. Sau thắng lợi này, 10 lính Nhật trong một đơn vị gần đó chờ giải giáp đã tự nguyện mang 10 súng (có 1 trung liên) tìm đến xin gia nhập bộ đội ta đánh Pháp. Tiếp đó, bộ đội Hớn Quản đã phục kích một đơn vị địch đang di chuyển trên đường từ Lộc Ninh đi Bù Đốp, tiêu diệt và làm bị thương gần 60 lính, phá huỷ một số xe GMC.


Từ cuối năm 1945, tình hình chiến sự ở Nam Bộ càng thêm nóng bỏng sau khi giặc Pháp triển khai hoạt dộng và chiếm đóng một số tỉnh xung quanh Sài Gòn. Tình hình trên đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương đối với các tỉnh Nam Bộ, ngày 25 tháng 10 năm 1945, Trung ương tổ chúc Hội nghị quan trọng tại Cái Bè (Mỹ Tho) do đồng chí Hoàng Quốc Việt chủ trì. Hội nghị đã bàn và quyết định những nhiệm vụ cấp bách là chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong từng cấp uỷ Đảng. Trước hết là tăng cường sự lãnh đạo. chỉ đạo các lực lượng vũ trang, phát động quần chúng kiên quyết giữ vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, làm thất bại từng bước âm mưu đánh nhanh, giải quyết nhanh của địch.


Tại Thủ Dầu Một, mặc dù ta đã trực tiếp đánh địch nhưng do lực lượng vũ trang còn phân tán, chưa thống nhất về mặt tổ chức và chỉ huy nên kết quả hoạt động còn nhiều hạn chế. Ngoài các đơn vị do các đảng viên và một số cán bộ ngoài Đảng thực sự yêu nước, thực sự quyết tâm đánh địch giải phóng quê hương, còn một số đơn vị ô hợp, hữu danh vô thực chẳng những không dám đối đầu với địch mà còn nhũng nhiễu nhân dân, bắt nhân dân phải tiếp tế cho chúng, đồng thời gây nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương. Đó là lực lượng Đệ tứ sư đoàn của Lý Hoa Vinh được giao nhiệm vụ chiến đấu tại mặt trận Tham Lương, nhưng Lý Hoa Vinh không chiến đấu mà chặn nguồn tiếp tế lương thực, thực phẩm chuyển từ Hóc Môn đến các mặt trận. Sau đó Lý Hoa Vinh chia quân thành 2 cánh, một đóng tại Lái Thiêu sau chuyển về Bến Cát; cánh thứ 2 đóng tại Núi Cậu (Dầu Tiếng), Lý Hoa Vinh cho quân cướp súng của tự vệ công nhân đồn điền Michelin, bắt công nhân chở của cải cướp được lên núi chôn cất, rồi giết luôn người vận chuyển để giữ bí mật. Khi Pháp đánh chiếm Dầu Tiếng, Lý Hoa Vinh liền ra đầu hàng Pháp. Một bộ phận của lực lượng Bình Xuyên do Ba Nhỏ cùng với Phan Tấn Đạt chỉ huy về xây dựng hậu cứ tại Bình An (Dĩ An), sau đó kéo về Thanh An (Bến Cát). Bộ đội HT 29 từ Sài Gòn rút chạy lên Bến Cát xây dựng căn cứ. Trên đường rút, chúng thổ phỉ hoá ra sức cướp bóc và giết chết những ai chống đối lại chúng bằng cách bỏ người vào bao bố rồi thả trôi sông. Sau đó, một bộ phận lớn bộ đội HT 29 ra đầu hàng Pháp.


Tình hình đó đặt ra cho miền Đông Nam Bộ nói chung và Thủ Dầu Một nói riêng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đưa lực lượng vũ trang từng bước hoàn thiện nhằm đảm nhiệm sứ mệnh làm nòng cốt trong cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp.


Tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, đặc phái viên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà vào miền Nam để xây dựng, thống nhất các lực lượng vũ trang. Tại Thủ Dầu Một, được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy, ngày 20 tháng 11 năm 1945 đồng chí Nguyễn Bình triệu tập một hội nghị gọi là “Hội nghị quân sự Nam Bộ” tại An Phú xã (quận Lái Thiêu) sau này thường gọi là “Hội nghị An Phú xã”. Tuy nhiên, Hội nghị chỉ có mặt trên 40 đại biểu các đơn vị miền Đông. Hội nghị bàn việc thống nhất lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, thống nhất tên gọi, hình thức biên chế Chi đội (đối với lực lượng vũ trang tập trung), phân chia khu vực hoạt động, đề ra nghững giải pháp tiến hành chiến tranh du kích. Hội nghị nhất trí cử Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ; Vũ Đức (Hoàng Đình Giong) làm chính ủy, Nguyễn Thành Phương (Cao Đài) làm phó Tư lệnh; đồng thời quyết định biên chế các lực lượng vũ trang Nam Bộ thành 25 chi đội. Mỗi chi đội chịu trách nhiệm một tỉnh. Trước mắt thành lập Chi đội 1 ở Thủ Dầu Một.


Hội nghị An Phú xã có ý nghĩa tác dụng là bước đầu thống nhất các lực lượng vũ trang tuy trên danh nghĩa, nhưng động viên được tinh thần kháng chiến, củng cố niềm tin của cán bộ, nhân dân Nam Bộ thấy sự quan tâm của Trung ương, của chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:49:12 pm
2. Tổ chức biên chế Chi đội 1

Thực hiện nghị quyết Hội nghị An Phú xã, cuối tháng 11-1945, các lực lượng vũ trang trong tỉnh Thủ Dầu Một thống nhất lại thành một chi đội, lấy tên là Chi đội 1 giải phóng quân. Ban Chỉ huy Chi đội gồm: Huỳnh Kim Trương - Chi đội trưởng; Nguyễn Văn Thi, Trịnh Khánh Vàng - Chi đội phó; Vương Anh Tuấn - Chính trị viên Chi đội. Quân số có 800 cán bộ chiến sĩ, trang bị 80 súng trường, 1 súng máy, 10 súng phun lửa, 5 súng lục, 100 lựu đạn, còn lại là dao găm, mã tấu. Đây là lực lượng vũ trang mạnh ở một tỉnh vào thời điểm đó.


a. Ban Chỉ huy Chi đội:

Ban chỉ huy Chi đội 1 gồm có 4 người, thực tế hoạt động chỉ có Huỳnh Kim Trương và Nguyễn Văn Thi. Trịnh Khánh Vàng chưa đến Chi đội lần nào, sau chuyển về Tây Ninh. Vương Anh Tuấn còn quá bận việc ở trường huấn luyện, sau thuyên chuyển đi nơi khác. Chi đội 1 được thành lập ngoài thành phần công nông còn thu hút được nhiều người thuộc thành phần khác như viên chức, tri thức, học sinh tại thị xã và Sài Gòn.


Bộ phận chuyên môn trực thuộc, gồm:

Văn phòng Chi đội 1 và khối hậu cần: do đồng chí Nguyễn Khắc Cần nguyên là nhà giáo dạy trường tư thục Thanh Trước tại thị xã Thủ Dầu Một, trong lực lượng vũ trang Thanh niên Tiền phong được cử làm Chánh văn phòng kiêm phụ trách khối hậu cần Chi đội.

Ban Quân nhu: do đồng chí Hạ Hầu Cẩm - một thanh niên trí thức làm Trưởng ban; đồng chí Lương Văn Minh - thanh niên trí thức, con của Đốc học Lương Văn Phận làm phó ban.

Ban Quân y: do đồng chí Phạm Văn Sở thuộc gia đình nhà thuốc Võ Văn Vân làm Trưởng ban.

Ban Tài chính: do đồng chí Nguyễn Văn Thọ công chức Sở Bưu điện làm Trưởng ban.

Ban Quân giới: do Nguyễn Sanh Nhựt trong Ban chấp hành Thanh niên Tiền phong làm Trưởng ban.

Ban Giao thông liên lạc: do đồng chí Nguyễn Văn Thôi - Trung đội trưởng lực lượng Thanh niên Tiền phong nguyên là thuyền trưởng thời Pháp làm Trưởng ban.


Chi đội 1 được biên chế thành 3 đại đội chiến đấu từ đại đội 1 đến đại đội 3, phân bổ trên ba địa bàn các huyện Lái Thiêu, huyện Châu Thành, hai huyện Bến Cát và Hớn Quản. Thành phần các đại đội biên chế như sau:

b. Đại đội 1:

Đại đội 1 gồm các chiến sĩ chiến đấu ở mặt trận cầu Bến Phân, sau khi mặt trận này vỡ rút về bám trụ tại xã An Sơn dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Thi và trở thành lực lượng nòng cốt của đại đội 1. Sau khi Chi đội 1 thành lập, thống nhất, đơn vị này trở thành Đại đội 1. Đại đội 1 chịu trách nhiệm hoạt động vùng Lái Thiêu, An Sơn, Bình Đức... thuộc phía nam Thủ Dầu Một.


Ban chỉ huy Đại đội 1: gồm các đồng chí Hà Ngọc Tiếu (tự Hoàng), đại đội trưởng kiêm chính trị viên đại đội; Nguyễn Trọng Nghĩa (tự Mạnh) - Đại đội phó có biệt hiệu “Thánh đồng đen” sau chuyển về Chi đội 11 Tây Ninh; Phùng Gia Quỳ đại đội phó là một cựu binh Pháp, có tuổi, hy sinh sớm lúc đầu kháng chiến. Bước sang năm 1946, Ban chỉ huy đại đội 1 có thay đổi: Đinh Văn Cần - Đại đội trưởng, Nguyễn Văn Trinh - đại đội phó và Nguyễn Ngọc Ngoạn - chính trị viên. Đại đội 1 tổ chức thành 2 trung đội chiến đấu A và B, 1 đội trinh sát liên lạc và các Ban quân y, quân lương, quân giới.


Trung đội A: Ban chỉ huy trung đội A gồm các đồng chí: Vũ An Úy (Trung đội trưởng); Tư Quý (Trung đội phó), hy sinh trong trận tiến công chợ Búng trong dịp kỷ niệm Quốc khánh 1947, sau đồng chí Quản Câu lên thay. Trương Văn Vẻ (chính trị viên), tháng 8 năm 1947 đồng chí chuyển về Ban Tham mưu Chi đội, đồng chí Trần Minh Phú về thay. Quân số của Trung đội có 150 người, lực lượng ban đầu chủ yếu là các chiến sĩ từ Mặt trận cầu Bến Phân về, số còn lại là chiến sĩ quê ở miền Bắc và miền Trung, dù vậy tình đồng chí, đồng đội luôn thắm thiết, chan hoà.


Trung đội B: Ban chỉ huy Trung đội B gồm: Trần Ngọc Lên (Trung đội trưởng), Nguyễn Đình Tự (Chính trị viên). Lực lượng của Trung đội B được tập trung từ các đội du kích, các tay súng lẻ tẻ, trong đó có “bộ đội Tư Hồi”, tiếng tăm lừng lẫy ở chợ Lái Thiêu và các xã Vĩnh Phú, Phú Long, Tân Thới. Ngoài ra, Trung đội B còn có một số hàng binh đã giúp cho trung đội hoạt động rất tốt trong thời kỳ đầu: một người lính Nhật Bản sử dụng đại liên 7/7 rất hiệu quả, hai lính Pháp là Henri de Forgel và Alain, Henri đã đóng giả sĩ quan Pháp giúp Trung đội lấy bót Phú Hữu ban ngày... Trang bị buổi đầu tuy kém hơn so với Trung đội A, nhưng hoạt động của các chiến sĩ trung đội B rất dũng cảm. Trung đội thường đóng quân ở các vùng du kích, luồn sâu trong lòng địch để đánh địch. Vì vậy, chỉ sau một năm, Trung đội B đã tự trang bị 1 đại lên, 4 trung liên và gần 100 súng trường tốt.


c. Đại đội 2:

Ban chỉ huy đại đội 2 gồm các đồng chí: Đoàn Hữu Hoà - Đại đội trưởng, Lục Sĩ Nam - Đại đội phó, các đồng chí Phùng Gia Quỳ, Bùi Khánh Ngươn và sau này là đồng chí Trần Phùng đều là đại đội phó.


Lực lượng ban dầu là bộ đội Phú Hoà do Đoàn Hữu Hoà chỉ huy, trong quá trình chiến đấu Đại đội 2 tiếp tục được bổ sung thêm lực lượng của một số đơn vị như: lực lượng cảnh sát của đồng chí Tám Sáng, đồng chí Sương, Tám Cả, Cộng hoà vệ binh, một số cựu binh sĩ của đồng chí Hai Ngươn, bộ đội lò chén của đồng chí Nghiệp, dân quân Đề Thám phần lớn là anh em công nhân cao su. Về sau được tăng cường thêm bộ đội Lục Lâm quân của Tám Liễu, Ba Tiếu chỉ huy (Lực lượng này trước Cách mạng tháng Tám 1945 vốn căm ghét chế độ hà khắc của thực dân phong kiến nên tụ tập ở 2 xã Vĩnh Lợi, Tân Lợi sống bằng nghề trộm cướp. Đến Cách mạng tháng Tám, lực lượng này được giác ngộ, đứng lên thành lập một đơn vị vũ trang lấy tên là bộ đội Lục Lâm, trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã sát cánh cùng nhân dân chiến đấu rất dũng cảm).


Về trang bị vũ khí, ngoài vũ khí thô sơ, đại đội 2 lúc bấy giờ còn có 4 trung liên, 1 đại liên, súng trường thuộc loại khá. Đại đội 2 đóng quân tại rừng Vĩnh Lợi và chịu trách nhiệm hoạt động vùng Châu Thành, thị xã Thủ Dầu Một.


d. Đại đội 3:

Ban chỉ huy đại đội 3 do đồng chí Nguyễn Văn Ngọ (tự Quỳ) làm Đại đội trưởng. Địa bàn hoạt động của đại đội ba là quận Bến Cát và Hớn Quản. Lúc mới thành lập, đại đội 3 gồm lực lượng vũ trang nòng cốt của tỉnh và bộ đội Hớn Quản, Lộc Ninh. Với 3 phân đội và 2 ban công tác là: Ban phá hoại và Ban công tác đặc biệt, quân số tương đối đầy đủ. Về trang bị vũ khí: mỗi phân đội được trang bị ba khẩu súng trường, súng săn cũ với một ít đạn, còn lại là giáo mác, gậy tầm vông, cung, ná... Đại đội có 3 phân đội. Phân đội I hoạt động ở nam Bến Cát do đồng chí Nguyễn Văn Sáu làm Trung đội trưởng; Nguyễn Văn Ba (Ba Lò Rèn), làm Trung đội phó. Phân đội II hoạt động ở bắc Bến Cát, do đồng chí Phan Duy Thê làm Trung đội phó. Phân đội III làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Bến Tượng.


Sau trận hành quân lên An Long, phục kích đánh địch vận chuyển trên đường từ Chơn Thành - Nha Bích bị lộ (tháng 1-1946), Trung đội III của đại đội 3 bị hy sinh gần hết. Đại đội 3 còn lại phân đội I và phân đội II. Sau đó đại đội 3 được bổ sung thêm lực lượng của Hớn Quản do đồng chí Lê Đức Anh phụ trách với quân số 60 người. Ban Chỉ huy Đại đội lúc này gồm: Nguyễn Văn Ngọ (tự Quỳ, đại đội trưởng), Nguyễn Văn Hội (Đại đội phó), Lê Đức Anh (Chính trị viên). Đại đội có 2 trung đội, Trung đội A do Lê Danh Cát làm đại đội trưởng, Trung đội B do Nguyễn Văn cẩm làm đại đội phó. Địa bàn hoạt động của Đại đội 3 từ đây gồm cả chiến trường Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp.


Sau khi hình thành tổ chức, ngày 25 tháng 12 năm cuộc mít tinh ra mắt Chi đội 1 được tổ chức long trọng tại chiến khu An Sơn, trong niềm phấn khởi tự hào của đồng bào địa phương và cán bộ, chiến sĩ Chi đội.


Chi đội 1 Giải phóng quân Thủ Dầu Một ra đời ngay khi cuộc kháng chiến vừa nổ ra hơn một tháng là sự kiện quan trọng của nhân dân Thủ Dầu Một. Đây là tồ chức vũ trang cách mạng đầu tiên do Đảng bộ Thủ Dầu Một tổ chức xây dựng sau Cách mạng tháng Tám thành công; là đơn vị được thành lập sớm nhất ở Nam Bộ. Sự thành lập Chi đội có ý nghĩa rất to lớn, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của các đơn vị bộ đội tâp trung. Từ những đơn vị cục bộ phân tán, tiến lên hành lập Chi đội bước đầu được tổ chức chặt chẽ, thống nhất. Chi đội 1 là lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Nam Bộ không những đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu tại địa phương mà còn tham gia tích cực vào việc phát triển lực lượng vũ trang chủ lực của tỉnh, của miền Đông Nam Bộ.


Ngay từ khi mới thành lập, Chi đội đã thể hiện được tính tiên phong trong chiến đấu, chủ động đánh địch, đập tan các cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ nhân dân bảo vệ chính quyền. Hỗ trợ cho các đội tự vệ tác chiến tại chỗ, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần cùng nhân dân trong tỉnh đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:51:20 pm
3. Hoạt động xây dựng, chiến đấu và công tác của Chi đội 1 (11-1945 - 3-1948)

Chi đội 1 Thủ Dầu Một hình thành khi quân xâm lược cơ bản chiếm đóng được các vùng thị xã, thị trấn, đường giao thông quan trọng và bắt đầu càn quét “bình định” vùng nông thôn, các đồn điền cao su rộng lớn của ta. Đơn vị đứng chân chiến đấu trên một chiến trường rộng trải dài từ Lái Thiêu đến các huyện Châu Thành, Tân Uyên, Bến Cát, Dầu Tiếng, các huyện phía bắc có Hớn Quản, Lộc Ninh với 9.859 ki-lô-mét vuông, địa hình vừa có rừng núi, đồng bằng, thành thị, sông rạch chằng chịt, với nhiều đường giao thông quan trọng gồm cả đường bộ, đường thủy, đường sắt. Đây là những yếu tố khánh quan ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chiến đấu, xây dựng của Chi đội. Tuy nhiên hoạt động của Chi đội 1 cũng có nhiều thuận lợi: cán bộ chiến sĩ am hiểu địa bàn hoạt động, có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ, lại được nhân dân thương yêu, đùm bọc che chở. Điều quan trọng hơn Ban chỉ huy Chi đội là những đồng chí lãnh đạo có kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo các lực lượng vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Ngoài ra trên địa bàn đứng chân của đơn vị có các căn cứ vững chắc như chiến khu Thuận An Hoà, chiến khu An Sơn, chiến khu Long Nguyên... được nhân dân trong các căn cứ sẵn sàng ủng hộ kháng chiến.


Sau khi thống nhất lực lượng giải phóng quân, các cơ quan và Ban chỉ huy Chi đội 1 về đóng căn cứ tại xã An Sơn, quận Lái Thiêu để trực tiếp chỉ huy đơn vị, phân công các đại đội khẩn trương xây dựng phương án phòng thủ khu vực mình phụ trách. Tùy theo khả năng và điều kiện, từng đơn vị tham gia, xây dựng phong trào kháng chiến tại địa phương, phối hợp với tự vệ và các đội du kích địa phương bám đất, chiến đấu, giữ dân, bảo vệ chính, quyền.


Tháng 12 năm 1945, đại đội 3 Bến Cát đã tổ chức trận đánh tại cầu xe lửa Ông Khương. Bộ phận trinh sát phân đội 1 đại đội 3 Bến Cát phát hiện có khoảng 200 tên Pháp từ Lai Khê vào Nhíp 27, theo đường xe lửa hành quân xuống chợ Chánh Lưu. Ban chỉ huy phân đội do đồng chí Nguyễn Văn Sáu chỉ huy trưởng, Dương Văn Ba chỉ huy phó quyết định chặn đánh. Lực lượng tham gia trận đánh ngoài phân đội 1 còn một số chiến sĩ của Ủy ban quân sự của đồng chí Bảy Quỳ cùng bộ phận cứu thương của quận.


Trang bị vũ khí của ta chỉ có 4 khẩu súng trường, khẩu súng săn, 5 khẩu súng lục, còn lại là cung ná, tầm vông. Trận địa phục kích được chuẩn bị ở đoạn đường giữa Nhíp 27 và cầu Ông Khương có địa hình thuận lợi, hai bên là bờ dốc cao, lợi thế cho lực lượng của ta tấn công.


Đội hình của địch lọt vào trận địa phục kích, hai chiến sĩ chặn đầu dùng hai khẩu súng săn diệt tên chỉ huy đi đầu làm hiệu lệnh tấn công, tiếp đó các loại súng, cung ná của ta tập trung diệt bộ phận đi đầu gồm 5 tên. Quân địch bị đánh bất ngờ, đội hình rối loạn do tắm trận mưa đá xanh của ta, nhiều chiến sĩ xung phong nhảy xuống đường đánh giáp lá cà với địch. Đồng chí Ba Nha, chiến sĩ cứu thương dũng cảm xung phong, bị trúng đạn vào ngực vẫn cố sức ném đá vào kẻ thù. Kết quả trận đánh này ta diệt được 5 tên, thu 1 súng tôm-xông, 2 súng cạc-bin, 2 súng trường, 1 ống nhòm và 1 bản đồ.


Trận Ông Khương tuy nhỏ, nhưng đã có tiếng vang lớn trong toàn Chi đội và tỉnh Thủ Dầu Một, thắng lợi của trận đánh tạo niềm phấn khởi và tin tưởng trong cán bộ, chiến sĩ đại đội. Hình ảnh chiến sĩ Nha chiến đấu dũng cảm, kiên cường và anh dũng hy sinh (người chiến sĩ đầu tiên của đại đội 3 hy sinh trong kháng chiến chống Pháp) là tấm gương tiêu biểu cho lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một. Cũng thời gian trên, khi quân Pháp từ Buôn Ma Thuột đánh xuống, lực lượng vũ trang ở Hớn Quản - Lộc Ninh, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Đình Kính, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Hợi đã tổ chức cho bộ đội chặn đánh địch trên đường 14, Bù Nho, Tà Bái, Xóc Xiêm, Bù Đốp, Đắc Kia ngăn chặn hiệu quả các cuộc càn quét của địch. Tại Bù Đốp ta đánh một trận giao thông nổi tiếng, diệt được 5 xe GMC và hơn 60 tên địch.


Từ cuối năm 1945, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, quân đội Pháp xây dựng ngụy quyền, ngụy quân ở nhiều nơi quan trọng trên quốc lộ 13, các đầu mối giao thông, thị trấn, đồn điền cao su và các làng xã sát với vùng tự do của ta. Chúng xua nguỵ quân đi càn quét khắp nơi nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến và tàn sát đồng bào ta. Đi đến đâu chúng triệt phá, giết sạch, đốt sạch, cướp sạch đến đó. Không thể kể hết tội ác dã man của giặc Pháp, chúng bày ra đủ trò khủng bố rùng rợn nhất: chặt đầu những người theo kháng chiến bêu trên những cọc tre, giết người thả trôi sông, hãm hiếp phụ nữ... gây nhiều khó khăn cho hoạt động kháng chiến của nhân dân ta.


Ngày 24 tháng 1 năm 1946, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn tiến công quận lỵ Tân Uyên, nơi đặt cơ quan Khu bộ Khu 7. Cùng ngày, quân Pháp chiếm được Tân Uyên. Bộ đội Thủ Dầu Một rút về Tân Long, Tân Phước, rừng Cò My, Vĩnh Tân, Vĩnh Lợi. Bộ đội Khu 7 rút vào vùng 5 xã Mỹ Lộc, Tân Hòa, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An. Cơ quan Khu bộ về đóng ở Giáp Lạc.


Cùng với việc đánh chiếm thị trấn Tân Uyên, thực dân Pháp mở hàng loạt các cuộc càn quét ở khu vực Lái Thiêu, Châu Thành, Dĩ An... Nhiều làng mạc ở Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát bị đánh phá trơ trụi, xơ xác. Không khí khủng bố, chết chóc tràn ngập khắp xóm làng. Chiến khu An Sơn, nơi đóng quân của Ban chỉ huy Chi đội 1 và đại đội 1 thường xuyên bị đánh phá, thiếu lương thực, vũ khí...


Để tránh tổn thất lực lượng, Ban chỉ huy Chi đội quyết định tách thành hai bộ phận: Một bộ phận gồm Ban Tham mưu, Ban liên lạc do đồng chí Nguyễn Văn Thi trực tiếp chỉ huy ở lại bám đất, bám dân, xây dựng lực lượng. Một bộ phận gồm Ban quân y, Ban chính trị, Ban quân nhu, Ban quân giới tạm thời qua xã Bình Tân, Bình Mỹ thuộc tỉnh Gia Định trú đóng. Chi đội còn chủ trương thành lập các ban công tác phụ trách các địa bàn hoạt động như: Ban Công tác số 4, do đồng chí Nguyễn Văn Thi chỉ huy; Ban công tác số 10 do đồng chí Đinh Quang Kỳ chỉ huy thường tổ chức đột nhập về thị xã trừ gian, diệt tề.


Ở huyện, ngoài đơn vị vũ trang tập trung ta cũng thành lập thêm 2 ban công tác gồm: Ban công tác phá hoại và Ban công tác đặc biệt để thực hiện một số công tác đặc biệt trong các thị xã, thị trấn.


Công tác phong trào ở phía bắc (Lộc Ninh, Bù Đốp), Ban chỉ huy Chi đội đã chỉ dạo sát công tác dân tộc. Chi đội đã tổ chức đưa trung đội A bám trụ tại Hớn Quản (vùng đồng bào thiểu số rất nghèo nhưng lại có tinh thần chống Pháp) để xây dựng phong trào. Thời gian đầu, đồng bào ở đây rất dè dặt, không dám tiếp xúc với cán bộ ta. Nắm được tâm tư của đồng bào, các chiến sĩ Chi đội 1 bám sát địa bàn, hàng ngày tìm cách tiếp cận với đồng bào bằng những việc làm thiết thực của mình, dần dần hiểu ra họ đã tìm mọi cách để giúp đỡ cho kháng chiến.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:53:35 pm
Đến cuối tháng 2 năm 1946, trên chiến trường miền Nam, thực dân Pháp đã chiếm đóng các thành phố, thị xã, vùng kinh tế cao su và đường giao thông quan trọng. Trong tình thế khó khăn đó, ngày 6 tháng 3 năm 1946 Hồ Chủ tịch ký với Pháp hiệp định Sơ bộ. Đó là sách lược “Hoà để tiến”, tạo điều kiện để quân dân Nam Bộ tổ chức củng cố lực lượng đẩy mạnh cuộc kháng chiến. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 11 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ là phải biết tận dụng điều kiện thuận lợi sau Hiệp định Sơ bộ để tăng cường lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.


Tuy Hiệp định được ký kết, nhưng chỉ sau 10 ngày, ngày 15 tháng 3, Tướng Pháp Ny-Ô, tư lệnh quân Pháp ở Nam Việt Nam tổ chức tiến công càn quét Chiến khu Đ, lực lượng bảo vệ Khu bộ cùng đại đội 3 Chi đội 1 kiên quyết đánh trả, ngăn chặn địch. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt đã diễn ra ở Lạc An, Đất Cuốc, Bưng Tre, Suối Voi (Tân Uyên), Bến Súc (khi Khu bộ Khu 7 chuyển về Bến Cát). Nhiều chiến sĩ hy sinh bảo vệ Khu bộ được an toàn. Song song với mở càn lớn vào Chiến khu Đ, một trung đoàn địch ở Dĩ An càn quét vùng Tân Hoá Khánh, An Phú, Thuận Giao, Bình Hoà, Thái Hoà, Chi đội 1 đã tổ chức cho đại đội (Châu Thành) đánh địch ở ấp Hoá Nhựt, sau đó chặn đánh 1 đội đội địch từ bót Phú Hoà tiến sang, diệt 1 xe cam nhông với 30 tên địch, ở phía bắc Bến Cát, địch tiến công Long Nguyên, khai thông đường 13 từ Bến Cát đến Nhà Mát Long Nguyên, Cam Xe, Minh Thạnh. Phân đội 2 và ban công tác phá hoại (thuộc đại đội 3 Bến Cát) cùng nhân dân ra sức đánh địch, nhưng không cản nổi bước chân tàn sát của đoàn quân Lê dương.


Sự tăng cường càn quét, đánh phá của địch đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Hoạt động của chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở bị hạn chế. Cơ sở nhân dân bị thu hẹp, nguồn cung cấp luơng thực, vũ khí từ trên xuông không có, trong khi đó nguồn cung cấp tại địa phương lại cạn. Bộ đội ta sau những trận chống càn liên tiếp bị tiêu hao cả người và vũ khí, đạn dược, căn cứ đóng quân và địa bàn hoạt động của bộ đội bị thu hẹp. Lực lượng tự vệ các xã bị giảm sút nghiêm trọng.


Trước tình hình đó, Chi đội 1 và các đại đội chủ trương quay lại vùng địch mới chiếm. Một bộ phận của đại đội 1 và đậi đội 2 chuyển xuống vùng Đức Hòa, Bến Lức để xây dựng lực lượng. Các đại đội thuộc Chi đội 1 tổ chức vũ trang tuyên truyền diệt tề trừ gian, tô chức lại cơ sở quần chúng và tự vệ. Ngoài ra, Ban chỉ huy Chi đội còn lãnh đạo cho bộ đội kết hợp với Quốc gia tự vệ Cuộc cùng cán bộ địa phương đẩy mạnh công tác liên lạc với gia đình, bà con, bạn bè vận động tổ chức lại các đoàn thể cách mạng, tổ chức trừ gian diệt tề, từng bước xây dựng lại cơ sở chính trị trong quần chúng.


Tại thị xã, các chiến sĩ thuộc đại đội 2 vào nội ô trừng trị tên Bôi chỉ điểm. Ở Lái Thiêu, các chiến sĩ Chi đội 1 đột nhập vào chợ thị trấn xử tên Hương quản Thể và tên Do - thư ký quận Lái Thiêu, nhân viên phòng nhì Pháp.


Việc trừng trị những tên Việt gian nguy hiểm, kết hợp với cải tạo, giáo dục đã có tác dụng phá vỡ và làm tê liệt bộ máy tề nguỵ ở cơ sở. Tề trong thị xã phải làm việc theo mệnh lệnh của ta. Ở Bến Cát, một số tề bỏ việc. Địch không tìm được người làm tề cho quận, xã. Các hoạt động trừ gian phá tề của bộ đội và Quốc gia tự vệ Cuộc đã có tác dụng hạn chế sự đánh phá và chỉ điểm của bọn tay sai đối với phong trào cách mạng ở Thuận An Hòa và vùng căn cứ Tân Long - Vĩnh Lợi. Phát huy thắng lợi, Ban chỉ huy Chi đội 1 chủ trương tổng phá tề trong toàn tỉnh, chỉ trong 1 đêm ta phá được một số ban hội tề ở huyện và xã, thu được 130 súng.


Cùng với những hoạt động về quân sự, ta cũng tăng cường công tác Đảng trong quân đội. Tháng 3 năm đồng chí Nguyễn Đức Thuận - Đặc phái viên Xứ ủy đến Thủ Dầu Một triệu tập hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh. Hội nghị đã bàn về công tác phát triển Đảng trong quân đội và củng cố lại Tỉnh ủy. Hội nghị đã chỉ định Tỉnh ủy gồm 7 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Tiết làm Bí thư, đồng chí Văn Công Khai làm Phố bí thư.


Sau Hội nghị, Tỉnh ủy đã chỉ đạo cho Ban chỉ huy Chi đội 1 lựa chọn số cán bộ, chiến sĩ xuất sắc của Chi đội tuyên truyền, giáo dục để kết nạp vào Đảng. Tỉnh ủy đã tiến hành thành lập Chi đội ủy Chi đội 1 gồm 5 đồng chí do dồng chí Nguyễn Văn Thi làm Bí thư, đồng chí Lê Đức Anh làm Phó bí thư. Chi đội 1 lúc này được Xứ ủy, Khu ủy xác nhận là bộ đội của Đảng.


Việc thành lập Chi đội ủy Chi đội 1 tạo điều kiện cho công tác đảng, công tác chính trị bắt đầu đi vào nền nếp. Từ đó, các hoạt động quân sự ngày càng có hiệu quả, đặc biệt là đánh địch bằng binh vận, ngụy vận.


Tháng 7 năm 1946, đại đội 2 Chi đội 1 phối hợp với lực lượng Quốc gia tự vệ Cuộc huyện Châu Thành tiến công tiêu diệt bót Định Phước xã Tân Định. Trận đánh thắng lợi làm quân địch hoang mang, tạo cơ sở cho công tác ngụy vận ở Châu Thành và Bến Cát phát triển.


Tháng 8 năm 1946, Trung đội 1 thuộc đại đội 3, có cơ sở nội ứng hỗ trợ đã lợi dụng sơ hở của địch thọc sâu vào thị trấn Hớn Quản, tiến đánh dinh quận trưởng, đồn cảnh sát, nhà bưu điện, nhà ga, trụ sở tề xã Tân Lập, ta đốt trụ sở tề, nhà ga, bưu điện, diệt tên Việt gian Tư Quang và 3 tên lính khác, thu 2 súng.


Ngày 7 tháng 9, phân đội 2 thuộc trung đội 3, đại đội 3 đột nhập thị trấn Chơn Thành diệt tên quận trưởng Hớn Quản cừng một số lính. Trang tuần tháng 9, phân đội 1 thuộc trung đội 1 đại đội 2 (Châu Thành) đánh địch càn quét ở xã Tân Hưng, diệt tên sếp bót Bến Sắn, thu 1 súng ngắn. Ngày 28 tháng 9, phân đội 1, trung đội 3, đại đội 3 (Bến Cát) phục kích tại ga Chòi Bầu diệt tiểu đội Lê dương, thu 1 trung liên, 10 súng trường, và nhiều đạn, lựu đạn.


Nhân lúc bọn tề đang hoang mang, cùng với nhân dân địa phương Ban Chỉ huy Chi đội 1 chỉ đạo lực lượng các đơn vị mở đợt tiến công binh vận trong toàn tỉnh. Kết quả trong đợt này, ta đã vận động được hàng chục binh lính ngụy ở bót Phú Hưng (Bến Cát), bót Massari, thành Săng Đá, Liên đội lính partidăng ở nhà máy nước Bưng Cải... mang súng về với kháng chiến.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:55:09 pm
Từ giữa năm 1946, chiến trường Nam Bộ đang bước vào cuộc kháng chiến với thế ổn định để phát triển thì nảy sinh vấn đề phức tạp cả về chính trị và quân sự: vấn đề Hoà Hảo ở miền Tây và vấn đề Cao Đài ở miền Đông. Đối với Cao Đài miền Đông cũng như với Hoà Hảo miền Tây và với tôn giáo nói chung, chính sách của Đảng và Chính phủ ta là tôn trọng tín ngưỡng, đoàn kết dân tộc, chủ trương dùng biện pháp tuyên truyền, vận động tín đồ, chỉ rõ âm mưu lợi dụng tôn giáo để thực hiện thủ đoạn dùng người Việt đánh người Việt của thực dân Pháp. Nhiều tín đồ Cao Đài nhận ra âm mưu của địch và một số chức sắc phản động, hiểu được chính sách tôn giáo của cách mạng, nhiệt tình ủng hộ kháng chiến. Tuy nhiên, một số chức sắc phản động đội lốt tôn giáo đã cấu kết với thực dân Pháp tổ chức được lực lượng vũ trang Cao Đài. Dưới chiêu bài “Tạm hoà hoãn với Tây để đánh Tây”, lực lượng này từ hoạt động ngầm thủ tiêu người kháng chiến đến công khai chống phá cách mạng, từ Tây Ninh mở ra diện rộng hướng về ven Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn... Thực dân Pháp tuy không hoàn toàn tin Cao Đài, nhưng triệt để lợi dụng Cao Đài tạo phản, tạo lập những khu vực “an ninh”, lấy Tây Ninh làm căn cứ tạo thế dần giành lại chính quyền, kết hợp với vấn đề Bình Xuyên, với những khu quốc gia giả hiệu ở Gia Định, Bà Rịa... hòng bóp nghẹt mọi hoạt động kháng chiến.


Căn cứ tình hình trên, chủ trương của Khu bộ Khu 7 là: 1. Dẹp cho tan lực lượng và ảnh hưởng phản động nhất ở Tây Ninh và các khu an ninh, khu quốc gia giả hiệu để mở rộng phạm vi kiểm soát của ta. 2. Thanh trừng những phần tử nguy hiểm nhất trong bộ đội để chấn chỉnh và phát triển bộ đội. 3. Kéo những bộ đội còn lừng chừng và dân chúng còn mơ muội khỏi ảnh hưởng phản động và về với ta.


Nắm được ý định của ta, quân phiến loạn kịp thời chuyển hướng về “kế hoạch ba giai đoạn”, cấp tốc kéo quân ra các vị trí tiền đồn của quân Pháp, tìm bắt cán bộ kháng chiến. Trước tình thế mới, Bộ chỉ huy Khu 7 chủ trương một phương án mạnh mẽ mới, ra mệnh lệnh mạnh mẽ hơn về việc “tảo thanh” bọn phản động thâm nhập trong các làng nhiều tín đồ “làm cho dân chúng phân hoá rõ riệt, ai trung thành thì ở lại làng xóm, bọn nào phản động thì phải ra đồn bót”.


Tháng 4 năm 1947, Xứ ủy Nam Bộ chỉ thị cho Khu 7 và các tỉnh: hết sức bình tĩnh, tranh thủ sự ủng hộ và tham gia kháng chiến của các tín đồ Cao Đài, mặt khác kiên quyết trừng trị những tên manh tâm làm tay sai cho thực dân Pháp, chống lại cuộc kháng chiến. Cùng trong tháng, Tỉnh ủy Gia Định mở Hội nghị tại An Phú Đông, kiểm điểm, rút kinh nghiệm 1 năm xây dựng, củng cố lực lượng trên địa bàn. Riêng vấn đề Cao Đài, hội nghị chủ trương bắt bọn cầm đầu phản động, cử một số cán bộ, chiến sĩ làm công tác Cao Đài vận, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương của ta, đồng thời vạch trần âm mưu của thực dân Pháp và bọn phản động nhằm gây chia rẽ, phá rôi khối đoàn kết dân tộc. Nói chung, ở các tỉnh có Cao Đài, các Tỉnh ủy đều thể hiện quan điểm, chủ trương theo tinh thần trên.


Tuy nhiên, sự chỉ đạo kiên quyết nhưng lại chưa rõ đối tượng, một số cán bộ chỉ huy lại phạm sai lầm. Việc này gây hậu quả nghiêm trọng, trước mắt là ta mất dân, bọn phản động càng có cớ tuyên truyền phản chính sách đoàn kết tôn giáo của Đảng, Chính phủ, Mặt trận. Chúng lôi kéo, tạo được một lực lượng quần chúng, tăng cường bắn giết, cướp bóc... Đã hình thành những “xóm đạo” quanh đồn bót và những vùng trắng như Sa Nhỏ, Đồng Lớn (bắc Hóc Môn), Tân Hiệp, Tân Mỹ, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây... và nhất là Xuân Thới Sơn (nam Hóc Môn).


Đánh giá sai lầm trong tảo thanh Cao Đài, Nghị quyết hội nghị địch nguỵ vận Nam Bộ nêu rõ: “Đó là thời kỳ ta phạm vào tả khuynh rất nặng nề, chỉ biết đôn đốc dùng quân sự để tảo thanh, không biết dùng quân sự để kêu gọi, thuyết phục, vận động... Cùng với sự kích động mê hoặc, lừa mị của kẻ thù, thời gian đó đã gây nên nhiều sự hiểu lầm, thành kiến trong đồng bào Hoà Hảo và nguỵ binh Hoà Hảo cũng như Cao Đài”. Trong lời kêu gọi đồng bào Cao Đài ngày 3 tháng 5 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trừ một bọn rất ít đại gian, đồng bào ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian những người ấy dần dần giác ngộ quay về với Tổ quốc”.


Khu ủy, tỉnh ủy các tỉnh có đông giáo dân Cao Đài chỉ đạo đưa cán bộ về địa phương giải thích, vận động đồng bào tín đồ để xây dựng lại lòng tin, các đơn vị vũ trang về xóm ấp xin lỗi, chia buồn với những gia đình có người thân đã mất, sửa sang lại nhà cửa, ruộng vườn cho họ, hướng dẫn họ viết thư hoặc trực tiếp gọi thân nhân còn trong quân ngũ Cao Đài trở về. Phần đông đồng bào nhận ra âm mưu của kẻ thù, thông cảm sự sai lầm nóng vội của ta, từng bước tăng thêm lòng tin đối với kháng chiến, đi theo Cụ Hồ, nhận rõ chân tướng của bọn phản động.


Ở Thủ Dầu Một, một vài địa phương tự động đối phó bằng biện pháp mạnh, song Tỉnh ủy đã chặn đứng kịp thời và chủ trương dùng biện pháp chính trị để giải quyết vấn đề liên quan đến tôn giáo rất nhạy cảm và tế nhị này. Tỉnh ủy đã tổ chức tiếp xúc với các chức sắc Cao Đài, giải thích cặn kẽ âm mưu của địch phá hoại khối đoàn kết dân tộc làm suy yếu lực lượng kháng chiến, khuyên họ nói cho tín đồ biết phải trái, tránh lầm lạc. Đối với các chức sắc, để tránh cho họ khỏi bị giặc Pháp đến mua chuộc và rúng ép làm việc cho chúng, đề nghị đơn vị học tập một thời gian ở Hội đồng Sầm thuộc tỉnh Long An. Gia đình họ và đông đảo tín đồ rất đồng tình trước thái độ chân thành của cán bộ kháng chiến. Số chức sắc đi học một thời gian đều được đưa về gia đình an toàn, một số trở thành cán bộ cách mạng.


Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn lợi dụng lực lượng này, chúng tăng cường trang bị vũ khí cho lực lượng Cao Đài phản động tiến hành càn quét bắn phá khắp nơi. Nhằm ngăn chặn hành động đánh phá của chúng, đồng thời tạo điều kiện đẩy mạnh tác chiến trên các chiến trường, cuối tháng 12 năm 1946 Bộ chỉ huy Quân khu 7 thành lập 4 liên quân nhằm đánh bại lực lượng phản động Cao Đài do quân Pháp tổ chức đang điên cuồng giết hại nhân dân chống lại kháng chiến, hai trung đội thuộc Chi đội 1 tham gia Liên quân B do đồng chí Huỳnh Kim Trương chỉ huy hoạt động ở khu vực Hóc Môn, Trảng Bàng, Đức Hòa. Liên quân B đã cùng với các liên quân hoạt động trên khu vực phụ trách ngăn chặn hành động càn quét và cướp phá của quân đội Cao Đài.


Lúc này, để củng cố cơ quan chỉ huy, Khu 7 điều đồng chí Huỳnh Kim Trương về làm Tham mưu trưởng Quân khu, đồng chí Nguyễn Văn Thi lên làm Chi đội trưởng Chi đội 1, đồng chí Lê Đức Anh làm Chính trị viên chi đội 1 thay đồng chí Vương Anh Tuấn đã hy sinh.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 06:56:09 pm
Cuối năm 1946, với âm mưu tái chiếm toàn bộ Đông Dương, sau khi đã cơ bản hoàn thành việc đánh chiếm Nam Bộ, quân Pháp tăng cường gây hấn trên chiến trường Bắc Bộ. Đêm 19 rạng ngày 20 tháng 12 năm 1946, quân và dân Hà Nội với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” cùng các thành phố nổ súng chiến đấu. Toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị toàn dân kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và chỉ thị của Trung ương, lực lượng vũ trang Chi đội 1 cùng nhân dân Thủ Dầu Một với quyết tâm hy sinh chiến đấu, phối hợp cùng cả nước kháng chiến.


Tại thị xã Thủ Dầu Một, Đại đội 2, Chi đội 1 phối hợp Quốc Vệ đội tiến công trong thị xã gây cho địch nhiều thiệt hại đáng kể. Ở Lái Thiêu, Trung đội A, Trung đội B (đại đội 1) phối hợp với du kích các xã Thuận Giao, An Phú, Bình Hoà, Tân Thới, An Thạnh, An Sơn, Bình Chuẩn... tăng cường hoạt động phục kích, tập kích, chống càn, trừ gian diệt tề... gây cho địch nhiều thiệt hại, tạo niềm tin, phấn khởi trong nhân dân. Từ địa bàn đứng chân ở ba xã Thuận Giao, An Phú, Bình Hoà, lực lượng Trung đội A, Trung đội B của Đại đội 1 (Chi đội 1) mở rộng hoạt động diệt tề, trừ gian, vũ trang tuyên truyền, cùng cán bộ địa phương xây dựng cơ sở, vận động nhân dân cho con em tham gia lực lượng vũ trang, tham gia kháng chiến; giúp đỡ các xã xây dựng đội du kích chiến đấu bảo vệ xóm làng.


Ở vùng cao su, công nhân mở mặt trận phá hoại kinh tế dịch, đập chén, đổ mủ, đốt nhà máy. Các đồn bót trong các sở cao su Quản Lợi, Xa trạch, Xa Cát, thị trấn Hớn Quản bị quân ta tập kích. Đường 13, 14 bị đào phá. Sông Đồng Nai được đóng cọc ngăn sông chặn tàu. Đặc biệt cuối năm 1946, nhờ công tác địch vận tốt, Chi đội 1 đã tổ chức được cơ sở nội ứng trong bót Cao Đài đóng ở thị xã Thủ Dầu Một. Khi quân Cao Đài hành quân càn quét dừng chân đêm tại làng Bình Hoà (Bình Chuẩn), Đại đội 2 Chi đội 1 tổ chức tập kích, tạo điều kiện cho cơ sở nội ứng đưa 20 anh em Cao Đài trở về với cách mạng.


Chiến tranh mở rộng ra cả nước. Bộ chỉ huy Pháp phải điều bớt lực lượng từ Nam Bộ ra Bắc Bộ. Địch ra sức càn quét “bình định”, vơ vét nhân vật lực cung cấp cho mặt trận chính Bắc Bộ. Để đối phó với âm mưu mới của thực dân Pháp, Chi đội 1 đã cùng quân dân Thủ Dầu Một tổ chức chống càn có hiệu quả:

Ngày 18 tháng 1 năm 1947 quân Pháp mở cuộc tiến công vào Chiến khu Đ. Chúng tổ chức nhiều cánh quân đánh vào Tân Tịch, Bình Chánh, Mỹ Lộc. Bộ đội Chi đội 1 và du kích địa phương chặn đánh cánh quân vào Tân Tịch. Lực lượng của đồng chí Chín Quỳ tiến công một đại đội lính dù, diệt trên 1 tiểu đội, thu vũ khí đạn dược và gần 100 chiếc dù. Ở Bình Chánh, Đại đội 2 - Chi đội 1 cùng du kích chống càn khu vực Phú Chánh, Phú Hữu diệt 1 trung đội, buộc chúng phải quay trở về Phú Hoà.


Cùng thời gian trên địch mở một trận càn lớn vào các xã Bình Chuẩn, Thuận Giao, Phước Lộc do tên thiêu tá Perrot chỉ huy. Đại đội 1 đánh một trận ở bìa rừng Phước Lộc (rừng Cò My) bắn gãy tay tên Perrot, thu được khẩu súng P38 và diệt nhiều tên khác bẻ gãy cuộc càn. Trận chống càn quyết liệt nhất diễn ra tại ấp Phú Hội, xã Vĩnh Phú (Lái Thiêu). Lực lượng địch khoảng 1000 tên, có 20 xe bọc thép yểm trợ quyết bao vây tiêu diệt lực lượng ta ở lõm căn cứ Phú Hội. Một trung đội của Chi đội 1 kết hợp với một Đại đội Chi đội 6 và dội du kích xã đã nổ súng chống địch quyết liệt từ sáng đến trưa diệt được 198 tên. Bị tổn thất nặng, địch tập trung lực lượng thắt chặt vòng vây. Do lực lượng chênh lệch và thiếu đạn, ta mở mặt trận nghi binh rồi bí mật phá vòng vây vượt sông Sài Gòn rút lui về Hóc Môn. Sau một ngày lùng sục không phát hiện được lực lượng tạ, địch phải rút quân.


Tháng 3 năm 1947, Đại đội A phối hợp với lực lượng Chín Quỳ tập kích bất ngờ đồn Đất Cuốc, diệt và bắt sống 1 trung đội lính địch. Địch phải rút hết các đồn còn lại trong chiến khu. Nhân lúc tinh thần địch sa sút, dựa vào cơ sở trong lòng địch, Đại đội 2 cùng du kích xã tập kích diệt bót Thái Hoà thu trên 30 súng.


Ngoài ra, các đơn vị của Chi đội còn lấy đồn địch bằng mưu trí. Dùng hàng binh Pháp, Đức cải trang làm những tên chỉ huy Pháp, các chiến sĩ ta cải trang thành lính ngụy đã hiên ngang vào bót tuớc vũ khí và giải tán bọn lính ngụy chiếm đóng.


Tại Thị xã Thủ Dầu Một, nhờ gây dựng được cơ sở quần chúng ở 2 xã Phú Cường, Chánh Hiệp và trừng trị một số tên tay sai nguy hiểm, Ban công tác Chi đội 1 kết hợp với Quốc vệ đội tổ chức trừng trị một số tên tay sai trong nội ô. Tiểu đội Quốc vệ đội do đồng chí Dương Văn Bé chỉ huy diệt nửa tiểu đội địch trên đường 13 thu 1 đại liên, 5 súng trường. Quốc vệ đội cùng Ban công tác và lực lượng Châu Thành, dưới sự chỉ huy của đồng chí Dương Văn Sơn, hoá trang làm lính địch chiếm bót Giếng Máy, Chánh Hiệp không nổ một phát súng, thu 3 trung liên, 30 súng trường.


Tám tháng sau, ta đánh bót Giếng Máy lần thứ hai. Ê-min Giéc-manh, tù binh Pháp được ta giác ngộ tham gia bộ đội, hoá trang làm viên quan hai chỉ huy 1 trung đội mặc quân phục Pháp dẫn đội trưởng Dương Văn Sơn hoá trang thành chỉ huy Việt Minh bị bắt, hành quân thẳng vào đồn lúc nội ứng ta đứng gác. Giéc-manh hạ lệnh tập hợp toàn đồn, lính đồn vừa tập hợp xong, Dương Văn Sơn khoát tay, dây trói rơi xuống đất, rút súng ngắn chỉ thẳng vào tên đồn trưởng nguỵ bắt đầu hàng. Ta thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, phóng thích tù binh tại chỗ.


Tại Châu Thành và Lái Thiêu, Đại đội 1 và Đại đội 2 dùng nội ứng, ta lấy gọn tua Cây Me (Thuận Giao), bót Võ Lầu (Phú Long), bót Tương Bình Hiệp, bót Bình Nhâm. Tác động mạnh nhất là trận Phú Hữu giữa ban ngày, đúng vào lúc nội ứng ta đứng gác, lực lượng Chi đội 1 và du kích Phú Mỹ cải trang làm lính địch, có hàng binh Đức đóng vai chỉ huy đột nhập vào bót diệt 2 sĩ quan Pháp, bắt hàng cả trung đội thu toàn bộ vũ khí, đạn dược.


Ở Bến Cát, khi quân Pháp mở cuộc hành quân đánh vào căn cứ Đại đội 3 ở Bến Tượng, trong khi Đại đội đang hoạt động ở Hớn Quản, ngay sau đó Đại đội 3 lập tức quay về triển khai đánh địch càn quét bảo vệ căn cứ. Trong suốt đợt chống càn, Đại đội 3 bám trận địa đánh địch từ sáng đến chiều bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân. Tiếp đó Đại đội 3 cùng bộ đội Hoàng Thọ dùng chiến thuật “điệu hổ ly sơn” đánh đồn Phó Bình (Kiến An). Ta đốt trụ sở tề Kiến An dụ lính Âu - Phi trong đồn ra tiếp cứu, địch kéo ra một trung đội bị Đại đội 3 phục kích tiêu diệt thu 1 trung liên, 20 súng trường. Hai hôm sau, địch hoảng sợ bỏ bót Phó Bình.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:00:59 pm
Cuộc kháng chiến của Đảng bộ, quân dân Thủ Dầu Một từ giữa năm 1947 đã có những thuận lợi và trên đà phát triển. Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, chiến khu Đ được xây dựng thành căn cứ lớn của miền Đông Nam Bộ. Các huyện cũng hình thành các căn cứ kháng chiến như Châu Thành có căn cứ Vĩnh Tân, Vĩnh Lợi. Bến Cát có căn cứ tây nam Bến Cát, phía bắc có căn cứ Long Nguyên, Hớn Quản có căn cứ Tân Khai... Sự ra đời của hàng loạt các căn cứ đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của Thủ Dầu Một có chỗ đứng chân hoạt động chiến đấu. Lúc này Sở chỉ huy Chi đội 1, đại đội 1 (phụ trách địa bàn Lái Thiêu) đóng quân tại căn cứ ở Thuận An Hoà. Tại đây, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xây dựng lán trại, kho tàng, nhà làm việc, nhà nghỉ, trạm xá, công sự chiến đấu và tổ chức canh gác, bố phòng, tăng gia sản xuất để tự cung tự cấp, cung ứng lương thực. Mặc dù vật chất còn nhiều thiếu thốn, nhưng cuộc sống hàng ngày ở trong chiện khu vẫn đầy ắp tiếng cười và tiếng hát. Hàng đêm trong từng xóm ấp, thanh niên nam nữ tập trung sinh hoạt học tập, tổ chức văn nghệ, hát những bài ca kháng chiến. Từ trong căn cứ Thuận An Hoà, tiếng hát của Quốc Hương - cán bộ trung đội phó của Chi đội 1, thiết tha, hùng tráng vang lên với những bài ca cách mạng, ca ngợi tình quân dân kháng chiến đã thu hút đông đảo đồng bào trong vùng căn cứ và vùng địch tạm chiếm. Tiếng hát của Anh có sức kêu gọi, động viên, cổ vũ rất lớn tinh thần yêu nước, yêu quê hương, thắp sáng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ Chi đội 1 trong những lúc khó khăn, gian khổ. Căn cứ Thuận An Hoà cũng là nơi nuôi dưỡng tài năng Nguyễn Ngọc Tấn (sau này là nhà văn Nguyễn Thi), một cán bộ tiểu đội phó trung đội A, đại đội 1 của Chi đội 1. Những ngày sống chiến đấu ở Chi đội tại Thuận An Hoà, Nguyễn Ngọc Tấn say sưa làm bích báo in bằng đất sét. Các bài báo của anh ca ngợi cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 đánh giặc lập công và ca ngợi tình cảm quân dân cả nước tại chiến trường Lái Thiêu.


Cuối mùa thu năm 1947, thực dân Pháp tiến công căn cứ Việt Bắc, nhằm tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến. Nắm được âm mưu địch, ngày 15 tháng 9 năm 1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch”. Ngày 7 tháng 10, cuộc tiến quân lớn của quân Pháp do tướng Sa-lăng chỉ huy bắt đầu đánh lên Việt Bắc, căn cứ kháng chiến của Chính phủ ta.


Bộ Tư lệnh Khu 7 nhận được lệnh của bộ chỉ huy “Các khu đánh mạnh để phối hợp với Việt Bắc”. Đảng bộ và quân dân Thủ Dầu Một nhận thức đây không chỉ là mệnh lệnh của cấp trên mà còn là tiếng gọi của Tổ quốc trước thử thách.


Chấp hành mệnh lệnh trên, lực lượng vũ trang Chi đội 1 cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tổ chức một loạt trận giao thông chiến, “kinh tế chiến” để phối hợp với chiến trường chung.

Công nhân các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Phước Hoà mở chiến dịch phá hoại cả chục ngàn ha cao su: vạt vỏ, đổ mủ, đập chén, đốt kho, phá nhà máy. Ban chỉ huy Chi đội 1 tập trung lực lượng toàn Chi đội mở một loạt trận giao thông chiến trên khắp các chiến trường trong tỉnh. Trận đánh giao thông trên đường 14 tại ấp Bưng Còng (Thanh Tuyền) trong tháng 8 diệt đoàn xe địch vận chuyển cao su từ Dầu Tiếng về Sài Gòn. Lần khác ta phục kích đánh đoàn xe trên đường đi Phú Riềng bằng Ba-zô-min do ta chế tạo, trong đó trận đánh ở Bến Ông Khương là trận đạt hiệu quả cao nhất. Ngày 3 tháng 10 năm 1947 nắm chắc 3 đoàn xe lửa có hộ tống chạy từ Sài Gòn qua Thủ Dầu Một lên Lộc Ninh (mỗi đoàn cách nhau 15 phút), lực lượng Chi đội 1 tổ chức trận phục kích ở khu vực Nhíp 27. Để cho đoàn tàu thứ nhất và thứ hai đi qua, các chiến sĩ cho nổ mìn đúng toa thứ 5. Đoàn tàu bị đứt làm đôi. Đầu máy trật đường ray bị hư hại nặng. Từ hai bên, bộ đội ta lập tức ném lựu đạn, xung phong tiêu diệt hoàn toàn đoàn tàu và 2 tiểu đội địch hộ tống, thu 1 trung liên, 15 súng trường và  tiểu liên, 1 thùng lựu đạn, hơn 10.000 viên đạn và toàn bộ hàng hoá trên 8 toa tàu. Bên ta 2 chiến sĩ hy sinh, 3 bị thương. Cùng lúc, một tiểu đoàn địch từ Lai Khê đến tiếp viện, các chiến sĩ vận động đánh vào sườn tiểu đoàn địch diệt thêm 80 tên, buộc chúng phải rút lui, ta thu trên 3 trung liên, 12 tiểu liên, 23 súng trường.


Phối hợp với trận Bến Ông Khương, cùng ngày đại đội 902 (Chi đội 1) cùng du kích Thị xã đánh mìn chặn viện cách chợ Thủ Dầu Một 5 ki-lô-mét, diệt 1 đại đội địch, phá hủy 2 đại bác, 2 thiết giáp, nhiều toa xe và đạn dược trên đoàn xe lửa tiếp viện cho Bến Ông Khương. Trận Bến Ông Khương có tiếng vang lớn ở chiến trường và sang cả nước Pháp.


Mười tám ngày sau, quân Pháp mở rộng cuộc hành quân càn quét trả thù vào căn cứ Vĩnh Lợi - Bình Chánh, cũng là hậu cứ của đại đội 2 Chi đội, 7 giờ sáng ngày 21 tháng 10 năm 1947, chúng tiến công bao vây căn cứ. Lực lượng Chi đội 1 gồm đại đội 1, đại đội 2 đã kết hợp cùng các đội du kích các xã trên tổ chức chống càn. Các đội du kích của các xã Vĩnh Lợi - Bình Chánh đã tổ chức chiến đấu kềm chế, tiêu hao, quấy rối chặn từng bước tiến quân của địch, tạo điều kiện cho đại đội 1 và đại đội 2 tập trung lực lượng đánh vào 2 cánh quân càn quét của chúng. Kết quả, ta tiêu diệt hơn 2 đại đội địch, làm bị thương gần 70 tên, thu nhiều vũ khí đạn dược.


Phối hợp nhịp nhàng với cuộc tiến công đồng loạt của các chi đội Vệ quốc đoàn ở ngoại thành Sài Gòn, ngày 4 tháng 12 năm 1947, đại đội 1 tổ chức phục kích một đoàn xe quân sự của Pháp trên Quôc lộ 13 giữa Phú Văn và Búng. Ta phá hỏng 3 xe thiết giáp bánh cao su, xe vận tải, 1 xe Jeep, loại khỏi vòng chiến đấu 18 tên.


Kỷ niệm tròn một năm toàn quốc kháng chiến, ngày 17 tháng 12 năm 1947, Chi đội 1 và Chi đội 10 phối hợp với lực lượng du kích địa phương tổ chức đánh một đoàn xe địch ở Đồng Xoài trên Quốc lộ 14, kết quả ta tiêu hủy 1 xe chở xăng, 9 xe GMC chở lính, diệt 60 tên, bắt nhiều tên trong đó có 11 lái xe, thu 2 trung liên, 19 tiểu liên và súng trường, 1 máy vô tuyến điện. Trong trận này lần đầu tiên ta sử dụng Ba-zô-min do xưởng quân giới mới sáng chế để diệt xe tăng nhưng do lượng thuốc không đủ nên không đạt hiệu quả.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:05:15 pm
Trong cuộc chiến đấu chia lửa với các chiến sĩ căn cứ địa Việt Bắc, ngoài việc mở các trận đánh giao thông chiến lớn và chống càn thắng lợi, Chi đội 1 đã tổ chức tiêu diệt “chiến khu ma” Bình Quới Tây cuối năm 1947 thắng lợi.


Sau thất bại ở chiến dịch Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh, sang đánh kéo dài, trong đó Nam Bộ được coi là vùng trọng điểm phải bình định nhanh để biến thành nơi dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương với âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”.


Để phục vụ cho mưu đồ trên, thực dân Pháp ra sức tuyên truyền, lừa bịp, thu hút lực lượng trong các nhóm đảng phái phản động, trong các tôn giáo như Thiên chúa, Hoà Hảo, Cao Đài... thành lập “Mặt trận quốc gia Liên hiệp” xây dựng các “khu quốc gia” nhằm tạo thêm lực lượng và cơ sở xã hội, chia rẽ hàng ngũ kháng chiến.


Sau khi Thủ tướng “Nam Kỳ tự trị” Nguyễn Văn Thinh tự sát, Nguyễn Văn Xuân thay thế rồi đến Lê Văn Hoạch - người của giáo phái Cao Đài - Tây Ninh, song Lê Văn Hoạch không đủ uy tín. Từ vấn đề dó, đặt ra cho Hoạch và Bộ tham mưu của Hoạch là phải lôi kéo cho kỳ được các đạo hữu đang tham gia kháng chiến để thành lập “quân đội quốc gia”, xây dựng “chiến khu quốc gia” của chúng. Theo Lê Văn Hoạch, khi chiến khu này hình thành và phát triển, chắc chắn sẽ có sức hút mạnh mẽ, không chỉ riêng các tín đồ Cao Đài mà cả quần chúng còn đang lừng chừng chưa biết ngả về bên nào. Mưu đồ trên của Hoạch được Pháp ủng hộ và tạo điều kiện thực hiện.


Để có một căn cứ khả dĩ xây dựng “chiến khu” đáp ứng được yêu cầu chính trị và quân sự, sau một thời gian nghiên cứu, chúng chọn Bình Quới Tây - là một xã nằm ven đô Sài Gòn - Gia Định, được vòng cung sông Sài Gòn bao quanh và thông nhau bằng một nhánh sông có chiếc cầu sắt bắc qua, nối dài bằng con đường đá đỏ chạy thẳng ra bến đò Bình Quới, phía bên kia thuộc địa phận Thủ Đức. Với địa điểm này có thể thu hút được sự chú ý được các tầng lớp nhân dân ở thành thị và nông thôn, vừa có điều kiện phòng thủ vững chắc vừa cơ động được dễ dàng.


Để xây dựng “chiến khu quốc gia”, chúng điều về đây một đại đội lính Cao Đài Tây Ninh, 5 súng máy, 1 khẩu cối 60 ly, hàng trăm súng trường và tiểu liên loại tốt. Tại cầu sắt, chúng bố trí một tháp canh với một bán đội canh giữ, trang bị 5 súng máy. Ngoài nhiệm vụ phòng thủ, lính gác tháp canh còn canh giữ một ống dẫn nước từ bên ngoài đưa vào khu vực này. Khi nào chúng mở vòi, người Bình Quới mới có thể lấy nước sạch để dùng. Bến đò Bình Quới cũng đặt một chốt gác thường xuyên. Bên trong là khu doanh trại phòng tuyến của lính, một nhà giam và khu gia binh. Xung quanh khu vực này địa hình sình lầy, trống trải, lác đác mấy xóm nhà dân ở ven sông. Để “chiến khu” được hấp dẫn, chúng dự kiến sẽ xây dựng một khu phố có cả chợ và trường học... Biến Bình Quới Tây thành một ốc đảo hết sức an toàn. Ngoài đánh vào nhất thiết phải vượt qua những khoảng sân rộng, hành quân bộ thì chỉ vận động theo một con đường độc đạo có chiếc cầu sắt được canh giữ cẩn mật. Mặt khác, khi quân vào cũng như khi quay ra phải vượt qua hơn chục cây số dày đặc đồn bót.


Sau một thời gian trinh sát, nghiên cứu, cân nhắc kỹ càng. Ban Chỉ huy Chi đội 1 đề ra phương án tiến công “Chiến khu quỏc gia” bằng cách tương kế tựu kế: đưa lực lượng của ta vào hàng ngũ địch làm nội ứng để tiêu diệt căn cứ Bình Quới Tây. Với phương châm “ém lâu, ở lâu chờ thời cơ diệt địch”, từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 5 năm 1947, ta đã đưa vào hàng ngũ địch hơn 100 người gồm: tín đồ, bộ đội, biệt động với hơn 20 đảng viên, có cán bộ chỉ huy, trinh sát, giao liên và đầy đủ các bộ phận phục vụ khác, một số cán bộ, du kích thuộc các xã căn cứ Thuận An Hoà và đồng chí Hoàng Của (Ba Của) - Trưởng ban quân báo của Chi đội 1 vào “Ban chỉ huy” giữ chức “Tham mưu trưởng chiến khu quốc gia”, hiệp đồng tác chiến với Chi đội 1 ở bên ngoài cùng đánh tiêu diệt gọn quân địch.


Lực lượng trong “chiến khu quốc gia” quân số có 1 tiểu đoàn, biên chế tổ chức hình thành hai nhóm mang tính địa phương rõ rệt: Nhóm Tây Ninh - giáo phái phản động Cao Đài của Lê Văn Hoạch và nhóm Thủ Dầu Một (du kích của ta). Kế hoạch tác chiến của ta như sau: hiệp đồng giữa lực lượng nội ứng và lực lượng bên ngoài, khi có thời cơ, lực lượng nội ứng bên trong nổ súng diệt địch kết hợp với lực lượng bố trí bên ngoài (1 trung đội của Chi đội 1) bên sông Sài Gòn đối diện Bình Quới Tây sẵn sàng hỗ trợ cho lực luợng nội ứng, đồng thời sẵn sàng đánh quân địch ứng cứu trên đường sông, và bảo vệ quân ta rút về hậu cứ an toàn. Ta tổ chức huy động các thuyền (ghe) của nhân dân ém sẵn bên sông để chuyên chở bộ đội, du kích và vũ khí qua phía bắc sông Sài Gòn về hậu cứ. Đồng thời hiệp đồng với Chi đội 6 để nhận và đưa tù binh, hàng binh về phía sau. Ngày 3 tháng 12 năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Thi nhận được lệnh phải tiêu diệt gấp “chiến khu quôc gia” Bình Quới Tây.


Ngày 6 tháng 12 năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Thi triệu tập một cuộc họp tại một khách sạn ở trung tâm Chợ Lớn gồm đồng chí Hoàng Của “Tham mưu trưởng Bình Quới Tây”, đồng chí Bảy Thanh cán bộ tham mưu, đồng chí Xuân Ty, Mười Tài để phổ biến quyết tâm của Ban chỉ huy Chi đội 1. Cuộc họp đã thống nhất kế hoạch tác chiến.


Theo hợp đồng tác chiến, 16 giờ ngày 10 tháng 12 năm 1947, Ban chỉ huy “chiến khu” tổ chức đá bóng giao hữu giữa hai đội Tây Ninh và Thủ Dầu Một. Một số sĩ quan trong Ban chỉ huy và đông đảo binh sĩ đi xem cổ vũ cho hai đội. Súng đội nào thì giá ở sân đội đó (Đại đội Tây Ninh được trang bị súng nhiều và tốt hơn). Khi hiệp 1 kết thúc, lúc 16 giờ 45 phút, hai bên đổi sân cũng là lực lượng ta đổi chỗ về gần Ban chỉ huy và chỗ giá súng của đội Tây Ninh (bên phía sân đội Thủ Dầu Một). Lúc này, ngay tại Sở chỉ huy, tham mưu trưởng Hoàng Của đang mở tiệc chiêu đãi 5 tên trong Ban tham mưu Bình Quới Tây, có sự tham gia của cán sự tham mưu Bảy Thanh. Khi hiệp 2 của trận đấu bắt đầu, theo kế hoạch, đồng chí Ba Của - tham mưu trưởng “chiến khu quốc gia” và đồng chí Bảy Thanh dùng súng ngắn bắn chết 3 tên trong Ban chỉ huy và 2 sĩ quan tham mưu làm phát lệnh nổ súng tấn công. Các chiến sĩ đại đội Thủ Dầu Một nhanh chóng chạy đến giá súng của đại đội Tây Ninh đoạt lấy súng, bắt số sĩ quan và binh lính của đại đội Tây Ninh.


Trận đánh diễn ra trong 15 phút, ta làm chủ “chiến khu quốc gia”, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược và nhiều quân trang quân dụng. Số tù binh và nhân viên nguỵ quyền địch, ta tuyên truyền đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh, sau đó đưa về vị trí quy định đã hiệp đồng với Chi đội 6 để rút về phía sau.


Theo kế hoạch hiệp đồng, các ghe xuồng ta huy động của nhân dân đã nhanh chóng tập kết đúng thời gian đưa cán bộ và chiến sĩ ta qua sông Sài Gòn, sau đó bộ đội ta cắt đường vượt qua các trạm gác, đồn bót của địch về hậu cứ an toàn.


Trận Bình Quới Tây đã tiêu diệt và làm tan rã 1 tiểu đoàn địch, phá tan “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây, diệt 5 sĩ quan ngụy, thu toàn bộ vũ khí (81 khẩu súng) và nhiều đồ dùng quân sự.

Chiến thắng Bình Quới Tây đã đập tan tổ chức phản động “Mặt trận quốc gia liên hiệp” do Pháp dựng nên là chiến công của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Ban chi huy Chi đội 1. Sự dũng cảm, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ Chi đội 1, quân dân du kích Thuận An Hoà cùng các đơn vị hiệp đồng tham gia chiến đấu. Với chiến thắng này ta đã làm thất bại âm mưu thành lập cái gọi là “Nam Kỳ tự trị” do thực dân Pháp lôi kéo bọn phản động trong các tôn giáo làm hậu thuẫn cho chúng. Trận Bình Quới Tây là trận đánh hiệu suất chiến đấu cao, có tiếng vang lớn của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Ban chỉ huy Chi đội 1 đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội diệt địch, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch để tương kế tựu kế, tổ chức lực lượng lớn cài cắm trong hàng ngũ địch làm nội ứng tiến công ngay từ trong lòng địch, phá tan “chiến khu quốc gia”, tiêu diệt lực lượng đặc biệt của chính phủ bù nhìn Lê Văn Hoạch, tay sai thực dân Pháp. Trận đánh thể hiện trình độ tổ chức, công tác chuẩn bị chiến đấu chu đáo, tinh thần dũng cảm, chấp hành kỷ luật nghiêm, bảo đảm bí mật của cán bộ chiến sĩ Chi đội 1 và du kích các xã Thủ Dầu Một. Trận tiêu diệt “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây đã mở ra một cách đánh mới, một phương châm tác chiến mới được hình thành: sử dụng lực lượng quân sự kết hợp chặt chẽ công tác chính trị, binh vận và tiềm năng của nhân dân để giành thắng lợi.


Tại Hội nghị Xứ ủy mở rộng, đồng chí Lê Đức Anh Chính trị viên Chi đội báo cáo chiến thắng “Bình Quới Tây”, cả hội nghị và đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy nhiệt liệt khen ngợi.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:11:11 pm
Thắng lớn của đợt hoạt động quân sự cuối năm 1947 của lực lượng vũ trang Chi đội 1 đã góp phần đáng kể vào thắng lợi chung của chiến dịch Việt Bắc thu-đông năm 1947. Sự phối hợp đó được Trung ương Đảng và Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội đánh giá là tích cực và có hiệu quả.


Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, lực lượng vũ trang Chi đội 1 còn làm tốt công tác dân vận và vận động thanh niên, sinh viên, trí thức, công nhân ra chiến khu tham gia kháng chiến: nhờ vậy, trong quá trình chiến đấu ở chiến khu Thuận An Hoà, đồng bào An Sơn, Lái Thiêu tuy cuộc sống khó khăn nhưng vẫn thường xuyên quyên góp tiền của, đặc biệt các loại hàng hoá khan hiếm đưa vào chiến khu. Công nhân cao su ở Hớn Quản, Dầu Tiếng bớt một phần gạo để ủng hộ bộ đội. Rất cảm động khi có những chị giả đau xin thuốc ký ninh, bị buộc phải uống tại chỗ, chị em giả bộ uống, sự thật thì chỉ ngậm sau đó ra ngoài nhả ra, đem về phơi khô giữ giúp cho chiến sĩ đại đội 3.


Cùng với hoạt động chiến đấu, công tác Đảng, công tác chính trị cũng được chú trọng. Các đại đội Vệ quốc đoàn, các Ban chính trị của Chi đội đã tích cực phát triển đảng. Nhiều cán bộ trong Chi đội được kết nạp vào Đảng, các đại đội đều thành lập chi bộ. Tháng 12 năm 1947, hệ thống Đảng trong Chi đội đã lớn mạnh với 114 đảng viên tiêu biểu cho hàng ngàn chiến sĩ ưu tú của Chi đội 1.


Công tác củng cố xây dựng đơn vị vững về tổ chức, mạnh về chính trị được tiến hành thường xuyên. Ban chỉ huy Chi đội đã tổ chức cho chỉ huy chiến sĩ các đơn vị học tập để nâng cao trình độ chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật. Nhờ đó, bộ đội đã tổ chức được những trận đánh hiệp đồng cấp tiểu đoàn, khả năng cơ động và tác chiến tập trung tiến bộ hơn trước.


Tại Hội nghị Xứ ủy tháng 10 năm 1947, Xứ ủy đặt vấn đề mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng dân quân rộng rãi trên cơ sớ các đoàn thể của Mặt trận, xây dựng các đội du kích xã, xây dựng xã chiến đấu... Hội nghị quyết định thành lập hệ thống chỉ huy và lãnh đạo dân quân. Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy, trực tiếp làm trưởng phòng dân quân du kích trên toàn Nam Bộ.


Thực hiện chủ trương của Xứ ủy và quyết tâm của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, cuối năm 1947, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Ủy ban kháng chiến tỉnh thành lập tỉnh đội bộ, các huyện đội bộ và xã đội bộ dân quân, lập xưởng vũ khí tỉnh và huyện. Tỉnh đội bộ dân quân do đồng chí NguyễnVăn Tiết làm tỉnh đội trưởng, các đồng chí Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Kiệp, đồng chí Trinh làm tỉnh đội phó.


Phong trào xây dựng dân quân du kích trên toàn tỉnh có bước phát triển mới. Đội ngũ dân quân ở các xã được xây dựng, phát triển rộng rãi. Phong trào toàn dân giết giặc được tổ chức và động viên mạnh mẽ. Các đội du kích xã vừa tự tạo vũ khí, vừa lấy súng giặc giết giặc. Có đội ngũ dân quân bổ sung, sức chiến đấu của bộ đội càng mạnh. Các xã đều có ít nhất 1 tiểu đội du kích, xã mạnh có trung đội du kích. Trong thị trấn, thị xã, xí nghiệp, đồn điền cao su đều tổ chức đội du kích mật. Phong trào xây dựng xã chiến đấu được phát động, tạo điều kiện cho du kích và dân quân bám trụ làng xã đánh địch.


Cuối năm 1947, trong tỉnh đã có nhiều đội du kích mạnh như Tân Tịch, Mỹ Lộc, Bình Chánh, Thái Hòa (Tân Uyên); An Thạnh, Tân Quới, Tân Phước Khánh, Bình Hòa (Lái Thiêu); Phú Hòa, Định Hòa, Hòa Lợi, Phú Chánh, Phú Hữu (Châu Thành); Thới Hòa, Chánh Phú Hòa, Long Nguyên, Thanh Tuyền, Tân Khai (Bến Cát - Hớn Quản); Chánh Hiệp, Phú Cường. Cũng trong cuối năm 1947, làng Thanh Tuyền (Bến Cát) tổ chức một tiểu đội du kích nữ gồm 13 chị do Ngô Nguyệt Thu làm tiểu đội trưởng, Liễu Thị Kim Tinh làm tiểu đội phó. Đội đã độc lập chiến đấu và tham gia đánh địch bên cạnh đội du kích nam và bộ đội địa phương tiêu diệt địch, thu được súng góp phần bảo vệ chính quyền và nhân dân địa phuơng, được đồng bào yêu thương, tín nhiệm. Năm 1948, đội nữ du kích Thanh Tuyền được nhận nhiều bằng khen, giấy khen của cấp trên. Ngoài ra nổi bật còn có các dội du kích Hoà Lân, Tân Phước Khánh, Thái Hoà. Phong trào toàn dân kháng chiến của huyện Tân Uyên được Bác Hồ tặng Bằng khen tháng 12 năm 1947.


Trên cơ sở phong trào chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích trong tỉnh phát triển cao, Chi đội 1 trở thành một Chi đội mạnh cả về chính trị, tư tưởng, về lực lượng, trang bị, vũ khí cũng như kinh nghiệm và khả năng chiến đấu. Quân số Chi đội 1 phát triển lên 1.200 người, 1.350 súng trường, 28 tiểu liên, 18 trung liên, 10 đại liên. Trong quá trình chiến đấu, chiến lợi phẩm như súng đạn, quân trang quân dụng Chi đội thu được, ngoài trang bị cho các đơn vị trong Chi đội, Ban chỉ huy Chi đội còn hỗ trợ cho các xã chiến đấu.


Sau một năm cùng cả nước đánh giặc, cuộc kháng chiến trên địa bàn Thủ Dầu Một có những chuyến biến quan trọng. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp bị phá sản. Các lực lượng vũ trang địa phương không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Hệ thống dân quân du kích được xây dựng. Phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp. Các căn cứ kháng chiến được xây dựng tương đối ổn định trở thành hệ thống hậu phương tại chỗ, đáp ứng được nhu cầu cuộc kháng chiến.


Bước sang năm 1948, với thất bại trong chiến dịch Việt Bắc thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”, chuyển trọng tâm “bình định” Nam Bộ. Thực dân Pháp đã tăng thêm viện binh, điều chuyển lực lượng tập trung cho kế hoạch “bình định” ở Nam Bộ nhằm thực hiện mưu đồ “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”.


Ở miền Đông Nam Bộ, giặc Pháp tiến hành xây dựng các đồn bót, tháp canh dày đặc trên các trục lộ giao thông với chiến thuật “điểm và đường” hay còn gọi là chiến thuật Đờ La-tua (De Latour). Nhiều hệ thống tháp canh được xây dựng khắp nơi, nhất là các tuyến đường chiến lược các sở cao su và cơ sở kinh tế quan trọng khác. Với số quân lên 25.430 tên (Pháp và Lê dương 5.574 tên, lính ngụy và Cao Đài 19.864 tên), chúng đóng trên 491 cứ điểm chính (không kể đến bót nhỏ)


Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương ra sức xây dựng lực lượng du kích rộng khắp, tăng cường đánh phá giao thông địch, bảo vệ các trục đường giao thông liên lạc tiếp vận của ta, tổ chức xây dựng bộ đội chủ lực Khu làm lực lượng ứng chiến cho các vùng bị uy hiếp, đồng thời khởi động với lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh bẻ gãy các cuộc càn quét và tiêu hao sinh lực địch, giữ vững vùng kháng chiến.


Trên địa bàn Thủ Dầu Một, địch thực hiện âm mưu mới, mở nhiều cuộc càn quét vừa và nhỏ đánh vào các vùng căn cứ du kích của ta, đánh phá rồi đóng đồn bót bao vây vùng căn cứ, tung biệt kích đột phá bất ngờ gây cho ta rất nhiều tổn thất. Do đó, một số vùng từ cuối năm 1947 trước là vùng căn cứ nay trở thành vùng du kích như các xã phía nam quận Lái Thiêu, một nửa quận Châu Thành (Thủ Dầu Một). Cuộc kháng chiến của nhân dân Thủ Dầu Một càng trở nên khó khăn hơn. Ta cần phải đẩy mạnh các hoạt động quân sự để đẩy lùi các cuộc càn quét của địch, mở rộng vùng căn cứ của ta.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:12:10 pm
Trên cơ sở chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích phát triển, các cấp uỷ Đảng phát động toàn dân chống càn quét, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, đánh bại các cuộc càn quét của địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo toàn lực lượng ta, bảo vệ được căn cứ, hạn chế thiệt hại do địch gây ra.


Ở thị xã Thủ Dầu Một, nguy hiểm nhất là đội biệt kích do tên Ba-rát một sĩ quan Pháp hung ác khét tiếng, tự xưng là “con sư tử của Thủ Dầu Một” cầm đầu. Trên xe đạp, hắn đeo một biển nhỏ ghi “Le lion de Thủ Dầu Một”. Bộ đội nhiều lần phục kích, nhưng chưa diệt được vì nó luôn thay đổi quy luật, khi đi bộ, khi dùng xe jeep, lúc đi xe đạp... Được cơ sở và du kích cung cấp tin tức chắc chắn, đại đội 2, đội võ trang huyện Châu Thành và một tổ Quốc vệ đội bí mật phục kích ở cống Một Đồng (Phú Cường) cách chợ Thủ Dầu Một 2 ki-lô-mét. Ba-rát dẫn trung đội của hắn đi tuần tra rơi đúng vào ổ phục kích, bị ta tiêu diệt trên một tiểu đội, tên Ba-rát bỏ xác tại trận. Tên Gi-ô-văng Xi-li sau đó cũng bị đội biệt động thị xã bắt sống. Từ đó hoạt động biệt kích của địch ở thị xã giảm hẳn.


Ở khu vực Thuận An Hòa có đội biệt kích Bác-nhô. Bác-nhô nhiều lần dẫn biệt kích lùng sục, thọc sâu vào căn cứ rừng Cò My. Đại đội 1 do đồng chí Đinh Văn Cần chỉ huy cùng một tiểu đội quốc vệ đội tập kích đồn Tân Phước Khánh nhưng hắn thoát chết. Được đồng bào báo tin Bác-nhô đang lùng sục ấp Khánh Hội xã Tân Phước, bộ đội ta vận động bao vây chặn đánh diệt một bộ phận đội biệt kích nhưng Bác-nhô một lần nữa chạy thoát. Phải đến trận “Mả bịt bùng”, Bác-nhô mới bị du kích bắn chết. Từ đó đến mấy năm sau không còn biệt kích ở vùng Tân Phước, Tân Hóa và phía bắc rừng Cò My.


Ở thị trấn Bưng Cầu, đại đội 2 cùng du kích xã phục kích bắn bị thương tên quan hai Ê-mê-ni-dông và diệt nhiều tên khác, ở Bến Cát, được đồng bào và du kích Thới Hòa báo tin đồng chí Sáu cùng hai du kích đột nhập vào nhà diệt tên Sau - chỉ huy Com-măng-đô, làm đội này phải tan rã. Cùng với hoạt động diệt ác, Ban chỉ huy Chi đội còn chủ động đẩy mạnh các hoạt động chống càn có hiệu quả.


Ngày 3 tháng 3 năm 1948, một trung đoàn Âu Phi có thân binh Cao Đài đi theo từ Tân Ba, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bến Cát tiến vào càn quét căn cứ Vĩnh Lợi - Bình Chánh - Thái Hòa - tây nam chiến khu Đ. Đại đội 1, 2 Chi đội 1 phối hợp cùng du kích các xã Thái Hòa, Bình Chánh, Vĩnh Tân, Vĩnh Lợi, Tân Hưng, Tân Hòa Khánh chiến đấu quyết liệt trên các đường chúng tiến vào căn cứ. Khi giặc đi vào sâu bên trong, chúng đã đụng phải trận địa phục kích của Đại đội 2, bị tiêu diệt gần hết. Ở phía Thái Hòa, Bình Chánh quân địch cũng bị đánh thiệt hại nặng. Kết quả chống càn ở Bình Chánh - Vĩnh Lợi, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên và phá hủy 1 súng cối 120 ly.


Giữa tháng 3 năm 1948, giặc Pháp mở một cuộc càn lớn vào chiến khu Thuận An Hòa. Bộ đội đại đội 1, Chi đội 1 cùng với du kích các xã Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Bình Chuẩn, An Phú, Thuận Giao, Hòa Lân anh dũng chiến đấu. Địch quân đông, trang bị mạnh quyết bao vây để tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Nắm được chỗ yếu của địch, đồng chí Nguyễn Văn Thi - Chi đội trưởng Chi đội lúc này đang ở Phú Hòa đã tổ chức một trận đánh biệt động vào Ban chỉ huy hành quân của địch. Một trung đội ta cải trang làm lính Pháp do một hàng binh Đức đóng lon đại uý chỉ huy. Đúng 12 giờ trưa, trung đội này đàng hoàng đi thẳng vào Ban chỉ huy hành quân địch, bất ngờ nổ súng tiêu diệt hoàn toàn Ban chỉ huy hành quân gồm 1 thiếu tá, 4 đại úy, 10 trung úy. Như rắn mất đầu, bọn còn lại hoảng hốt tháo chạy.


Đây là một cách phá càn độc đáo, một cách đánh rất hiểm nhưng đạt hiệu quả chiến đấu lớn của Chi đội 1. Sau đó, quân Pháp đã dựng ở gần ngã tư đường Thủ Dầu Một - Biên Hòa và Tân Phước - Búng, nơi Sở chỉ huy hành quân địch bị ta tiêu diệt một đài chiến sĩ trận vong ghi rõ tên tuổi, cấp bậc 15 sĩ quan chết trận. Đồng bào gọi nơi này là “mả thằng Tây”.


Hoạt động chống địch có hiệu quả của Chi đội 1 trong những tháng đầu năm 1948 đã góp phần làm thất bại kế hoạch “Bình định” Nam Bộ của thực dân Pháp.

Khi lực lượng đã phát triển, thì quân giới là một trong hai vấn đề bảo đảm đặt ra một cách gay gắt nhất: lương thực và vũ khí. Vào giữa tháng 12 Ban Quân giới Chi đội được thành lập do ông Nguyễn Sanh Nhật làm Trưởng ban; ông Phan Đức Vượng và ông Nguyễn Lập Nguyệt làm Phó ban.


Thành phần của Ban Quân giới gồm cán bộ nhân viên, công nhân kỹ thuật của Đê-pô xe lửa Dĩ An, công nhân kỹ thuật, công nhân cao su, thợ thủ công, thanh niên và học sinh có trình độ văn hóa từ trung học trở lên. Ban Quân giới với nhiệm vụ thu thập, sưu tầm, sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu. Thời gian đầu, Ban quân giới Chi đội có 30 người, đóng ở xã An Sơn (Lái Thiêu) được chia làm nhiều bộ phận: văn phòng, tổ sưu tầm vũ khí, tổ tiếp liệu có nhiệm vụ vận động đồng bào ở các thị trấn ủng hộ tiền, thuốc trị bệnh, hoá chất, nhu yếu phẩm. Nhiệm vụ của Ban Quân giới rất nguy hiểm, đòi hỏi phải dũng cảm nhưng với tinh thần khắc phục khó khăn trong những ngày đầu chống Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:16:27 pm
Sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9- 1946), quân Pháp bội ước, mở rất nhiều cuộc tấn công vào căn cứ của ta. Ban chỉ huy Chi đội chủ trương cho ban quân giới di chuyển cơ quan và xưởng đến địa điểm khác; đồng thời phải hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu có cung cấp vũ khí cho bộ đội và bảo đảm an toàn cho đơn vị.


Ban quân giới - Binh công xưởng từ chỗ tập trung một địa bàn ở xã An Sơn nay tổ chức thành 2 bộ phận ở hai căn cứ xa nhau:

- Bộ phận thứ nhất bố trí ở rừng Bình Hoà, huyện Lái Thiêu. Tại đây có các đồng chí lãnh đạo Ban quân giới và một bộ phận nhỏ trực tiếp sản xuất do Nguyễn Văn Xây phụ trách. Nhiệm vụ của bộ phận này là sửa chữa vũ khí hư hỏng, “rờ sạc” đạn1 (Rờ sạc - viết theo cách nói, cách dùng từ quen thuộc của cán bộ, chiến sĩ quân giới miền Nam về một việc theo tiếng Pháp (Recharge-nghĩa là sửa chữa đạn), đúc đầu đạn súng trường... Nhờ có sự đóng góp nguyên vật liệu của nhân dân các địa phương Lái Thiêu, thị xã Thủ Dầu Một, Dĩ An, trong thời gian gần 2 năm, bộ phận này đã sản xuất phần vũ khí đáp ứng một phần yêu cầu vũ khí chiến đấu của đại đội ở Lái Thiêu và đại đội 2 ở Châu Thành.

- Bộ phận thứ hai: gồm đại diện lãnh đạo Ban quân giới và bộ phận lớn của xưởng, với hơn 60 công nhân cùng các phương tiện máy móc, vật liệu hành quân về Đồng Tháp Mười xây dựng căn cứ sản xuất vũ khí. Với quyết tâm cao, lực lượng công nhân quân giới Chi đội 1 đã lao động quên mình, chỉ sau một tháng họ đã xây dựng hoàn thành căn cứ sản xuất vũ khí. Nhằm giữ bí mật cho xưởng tránh sự đánh phá của địch, Công binh xưởng Chi đội 1 ở đây bố trí phân tán làm 4 nơi ở cách xa nhau:

+ Cơ sở 1: đóng quân trên kênh Hội Đồng Sầm, Ban giám đốc gồm Phạm Đức Vượng, Nguyễn Văn Nghiệp và năm cán bộ kỹ thuật làm việc. Đây là cơ sở trung tâm, tại đây có Ban hoá chất với 10 công nhân do đồng chí Mai Trường Cửu làm trưởng ban. Tổ thợ gò có 3 công nhân, do đồng chí Bảnh làm tổ trưởng. Sản phẩm của tổ này làm ra là các loại vỏ thuỷ lôi, vỏ Ba-zô-min...

+ Cơ sở 2: đóng quân trên đất Giồng Nhỏ, cách cơ sở trung tâm gần 5 ki-lô-mét. Cơ sở này có Ban sửa chữa với 15 công nhân, do đồng chí Tôn Đức Nhung làm trưởng ban; đồng chí Tô Ngọc Đường làm phó ban. Nhiệm vụ của cơ sở này là sửa chữa các loại súng trường của Pháp, Nhật...

+ Cơ sở 3: đóng quân trên đất gồng Manh Manh, cách cơ sở trung tâm gần 6 ki-lô-mét. Đó là ban đúc - nguội do đồng chí Ngọc làm trưởng ban và 20 cán bộ, công nhân chia ra làm các tổ. Tổ đúc do đồng chí Bạch phụ trách chuyên làm khuôn đúc các loại lựu đạn gài, nén và khuôn mìn. Tổ nguội, do đồng chí Xược làm tổ trưởng với hai máy tiện để làm đầu lựu đạn, den răng và hoàn thành phụ kiện của các sản phẩm đó. Tổ sửa chữa các loại súng có 6 công nhân, do đồng chí Lê Văn Luông phụ trách.

+ Cơ sở 4: ở xa 3 cơ sở trên, đó là Ban Hậu cần của xưởng, bao gồm các tổ: sưu tầm, bảo vệ, quân y do đồng chí Trương Văn Sự, y tá phụ trách.


Trải qua thời gian khoảng 18 tháng (từ tháng 6- 1946 đến tháng 12-1947) Ban quân giới - Binh công xưởng từ Thủ Dầu Một đến vùng Đồng Tháp Mười đã sản xuất hàng ngàn ki-lô-gam các loại vũ khí tự tạo (lựu đạn, mìn, viên đạn rờ sạc, súng hư sửa lại) chuyển về Thủ Dầu Một cùng với vũ khí tự tạo của binh công xưởng trụ lại xã Bình Hoà giao đến các đơn vị bộ đội của Chi đội 1 và lực lượng vũ trang của tỉnh chiến đấu diệt thù.


Ban Quân Y Chi đội do đồng chí Phan Văn Sổ làm trưởng ban. Cuối năm 1946 dưỡng đường đóng ở xã Phú An, Bến Cát có nhiệm vụ cứu chữa thương binh, bệnh binh. Trong những ngày đầu kháng chiến thuốc men rất thiếu thốn, cán bộ và lực lượng quân y vẫn khắc phục khó khăn cứu chữa kịp thời chiến sĩ bị thương, bị bệnh, đã tiến hành nhiều ca phẫu thuật cứu sống nhiều thương binh. Hoạt động quân y không chỉ ở phía sau mà còn bám sát bộ đội ra phía trước; Không chỉ cứu chữa thương binh mà còn cứu giúp dân nơi đóng quân, không ít trường hợp chiến sĩ quân y còn tham gia chiến đấu, tải gạo như: thầy thuốc Phan Văn Có, lúc trạm thiếu lương thực, anh đích thân lấy xe đi tải gạo và bị tai nạn gãy chân. Chị Phạm Thị Ngà hy sinh trong lúc vận chuyển dụng cụ thuốc men khi địch càn quét để lại nhiều tiếc thương cho mọi người.


Qua gần 3 năm hoạt động và chiến đấu, tiếp nối nhiệm vụ của lực lượng vũ trang địa phương, Chi đội 1 đã cùng quân và dân Thủ Dầu Một đánh bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh và bình định Nam Bộ” của thực dân Pháp, góp phần tạo thế tạo lực, hình thành chiến trường du kích cầm chân, tiêu hao địch.


Trong quá trình hình thành và phát triển, Chi đội 1 đã thể hiện được tính tiên phong trong mọi tình huống và tinh thần chiến đấu dũng cảm được thể hiện trên các mặt: về chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự bảo vệ nhân dân, bảo vệ cơ quan cách mạng. Chi đội 1 đã tổ chức thành nhiều đại đội chiến đấu khắp địa bàn tỉnh, liên tục đánh địch càn quét, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền, góp phần bảo vệ căn cứ đầu não Khu 7. Về xây dựng lực lượng, Chi đội luôn tự nâng cao chất lượng chính trị, xây dựng tổ chức Đảng từ chi đội, chi bộ, tổ đảng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chi đội đã đóng góp một bộ phận cán bộ, chiến sĩ cho việc xây dựng lực lượng và phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn hoạt động. Việc góp sức vô hiệu hóa, tước khí giới phân hóa và làm tan rã các lực lượng cơ hội như Đệ tam, Đệ tứ Sư đoàn cũng là một đóng góp đáng kể của Chi đội vào quá trình thống nhất lực lượng vũ trang ở miền Đông những năm đầu kháng chiến. Về kỹ thuật, chiến thuật, Chi đội đã hình thành sở trường vận động phục kích đánh địch càn quét và nâng cao một bước về tác chiến hợp đồng qua hoạt động liên quân và hoạt động chống càn.


Sự ra đời và hoạt động của Chi đội 1 đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của lịch sử. Với bản chất là lực lượng do Đảng xây dựng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và luôn được nhân dân đùm bọc, che chở. Trong quá trình chiến đấu xây dựng, Chi đội luôn phát huy tinh thần tự lực tự cường và gắn bó mật thiết với nhân dân. Những chiến công trong hoạt động quân sự của Chi đội từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 3 năm 1948 góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hun đúc nên truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, như lời Bác Hồ dạy: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cùng đánh thắng”.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:37 pm
B. CHI ĐỘI 10 TỈNH BIÊN HÒA (10-1945 - 3-1948)

I. CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN CỦA CHI ĐỘI 10

1. Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công mở ra một bước ngoặt của cách mạng địa phương. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, làm sôi sục khí thế kháng chiến bảo vệ độc lập của nhân dân Nam Bộ nói chung và tỉnh Biên Hoà nói riêng. Ngay trong đêm 23 tháng 9 năm 1945, đồng chí Hà Huy Giáp thay mặt Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh Biên Hoà tại nhà hội Bình Trước1 (Nhà hội Bình Trước nay là nhà truyền thống thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) quận Châu Thành. Tham dự hội nghị có 40 đảng viên Cộng sản, nhiều đồng chí là đảng viên người địa phương, một số từ Chi bộ đảng Hoà Hưng được Xứ ủy giới thiệu. Trong cuộc họp, hội nghị đã bầu Ban chấp hành Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên Hoà do đồng chí Trần Công Khanh làm Bí thư, Hoàng Minh Châu phó Bí thư. Ngoài những chủ trương về xây dựng chính quyền cách mạng, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng cuộc sống mới; vấn đề quan tâm và đặt lên hàng đầu của Tỉnh ủy là cần kíp xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh chuẩn bị cho cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập vừa giành được.


Hội nghị nhất trí giao cho đồng chí Phan Đình Công, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách quân sự, nhiệm vụ mở lớp huấn luyện quân sự tại địa phương làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Đồng chí Huỳnh Văn Hớn, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đảm trách vận động hậu cần cho trường huấn luyện. Được sự vận động của Ủy ban, ông Hồ Văn Thể, giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Du1 (Thường gọi là ông giáo Thể, có người em là Hồ Văn Leo đảng viên cộng sản hoạt động ở Biên Hòa-Sài Gòn trong phong trào 1936-1939), hiến một khu đất rộng ở ấp Vĩnh Cửu (xã Tam Hiệp) để làm địa điểm huấn luyện và ngôi nhà của gia đình làm nơi hoạt động của Ban chỉ huy trường. Trường được gọi tên là Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu. Chỉ trong vòng 3 ngày chuẩn bị, ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu khai giảng khoá học đầu tiên.


Đội ngũ giáo viên của Trại gồm Nguyễn Xuân Diệu2 (Đồng chí Đại tá Nguyễn Xuân Diệu, sau là hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 7 trong chống Pháp), giáo sư Phạm Thiều và một số sĩ quan, hạ sĩ quan người Nhật tình nguyện theo Việt Minh. Vũ khí của Trại do đồng chí Nguyễn Đình Ưu, một công chức ngân hàng Nông nghiệp ở tỉnh lỵ Biên Hoà, qua quan hệ với binh lính Nhật trước đây, mua được và cất giấu chuyển giao. Chương trình huấn luyện của Trại gồm hai nội dung: Quân sự, học đội hình và sử dụng vũ khí, cách đánh du kích và học chính trị về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc. Trong quá trình huấn luyện đến đầu tháng 10 năm 1945, trường được tăng cường thêm một số cán bộ quân sự theo đoàn quân Nam tiến, nguyên là học viên trường quân sự Trần Quốc Tuấn vào tham gia giảng dạy (như đồng chí Nguyễn Mạnh Liên).


Học viên của Trại từ các nguồn: Thanh niên địa phương, công nhân nhà máy cưa BIF (Tân Mai, Biên Hoà), công chức và thanh niên từ Sài Gòn lên tham gia kháng chiến. Nguồn hậu cần của Trại do Ủy ban nhân dân tỉnh cung cấp, nhưng chủ yếu do quyên góp của nhân dân xã Bình Trước. Chăm lo miếng ăn cho trường do Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh huy động chị em địa phương tình nguyện lên phục vụ. Tiếng súng chống xâm lược từ Sài Gòn - Gia Định như thôi thúc và cổ vũ tất cả học viên không ngại gian khổ ra sức rèn luyện và học tập. Đầu tháng 10 năm 1945, Ban chỉ huy Trại huấn luyện đã huy động các chiến sĩ học viên cùng với đoàn quân Nam tiến do đồng chí Nam Long chỉ huy chận đánh thực dân Pháp ở mặt trận cầu Bình Lợi (Thủ Đức) và nhiều lần chận đánh thực dân Pháp tuần tra thăm dò tình hình địa thế trên tuyến sông Đồng Nai.


Ngày 25 tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu chuyển về ấp Bình Đa (nay là phường Bình Đa, thành phố Biên Hoà). Và khi thực dân Pháp bước đầu mở rộng lấn chiếm, đầu tháng 11 năm 1945, Trại chuyển về Tân Uyên để hoạt động1 (Về Tân Uyên, Trại du kích Vĩnh Cửu sáp nhập cùng trường huấn luyện do Vệ quốc đoàn Biên Hòa mở, gọi là Trại huấn luyện Sở Tiêu do đồng chí Hoàng Bá Bích phụ trách).


Trong thời gian trên 1 tháng, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu đã mở được hai khoá đào tạo với trên 100 cán bộ quân sự ra trường. Những cán bộ tốt nghiệp ở Trại trở thành lực lượng nòng cốt để xây dựng bộ đội các huyện, xã sau này. Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu, Biên Hoà là trường Quân chính đầu tiên ở Biên Hoà và miền Đông Nam Bộ1 (Nhiều đồng chí, trong đó có Đại tá Nguyễn Xuân Diệu cho rằng, Trại là tiền thân của Trường Quân chính Quân khu 7 sau này).


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:03:58 pm
2.Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà

Lực lượng vũ trang của Ủy ban kháng chiến miền Đông được hình thành ở Sài Gòn. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, nhiều lực lượng kháng chiến và các đơn vị bộ đội rút ra ngoại thành, trong đó, lực lượng vũ trang của Uỷ ban kháng chiến miền Đông do Lương Văn Tương chỉ huy rút về Biên Hoà và đóng quân ở ngã ba thành Biên Hoà (Dốc Sỏi, nay thuộc phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà).


Khi quân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà, Lương Văn Tương dẫn một bộ phận rút ra Xuân Lộc rồi ra miền Trung. Một bộ phận vũ trang còn lại gồm 40 chiến sĩ và 30 súng do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy rút về Tân Tịch, Tân Uyên. Huỳnh Văn Nghệ vốn quê hương ở Tân Tịch, học sinh trường Petrus Ký, một thời kỳ dài hoạt động ở Thái Lan. Ông cũng là người được Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu cử về nghiên cứu rừng Tân Uyên chuẩn bị xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Tại Tân Uyên, với uy tín cá nhân, đồng chí Tám Nghệ đã tập hợp được các lực lượng: Du kích khởi nghĩa Nam kỳ do đồng chí Trần Văn Quỳ (Chín Quỳ) chỉ huy (17 chiến sĩ); lực lượng tự vệ vũ trang do Cao Văn Bố chỉ huy ở Tân Uyên; lực lượng vũ trang công nhân hàng hải từ Sài Gòn lên do Đào Văn Quang chỉ huy; lực lượng học viên của Trại Sở Tiêu Tân Uyên, hình thành nên lực lượng Vệ Quôc đoàn Biên Hoà do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy trưởng. Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà gồm 4 phân đội, mỗi phân đội có từ 12 đến 15 chiến sĩ, trang bị một số súng trường, dao, mã tấu và lựu đạn. Đơn vị thường được nhân dân trong vùng gọi tên là “Bộ đội Tám Nghệ”.


Để xây dựng phát triển lực lượng, đồng chí Tám Nghệ đã vận động bà con trong gia đình, dòng họ, mở rộng trong và ngoài quận Tân Uyên ủng hộ bộ đội. Đồng thời đồng chí cử Phạm Văn Thăng nghiên cứu và tổ chức các đội lặn dò tìm dưới đáy sông Đồng Nai phát hiện các xác tàu của quân đội Pháp bị Nhật đánh chìm trong cuộc đảo chánh 9 tháng 3 năm 1945. Tại Vàm Sông Bé, bộ đội tìm được nhiều súng, trong đó có cả trọng liên 13,2 ly và 12,7 ly. Ngoài ra tại Hàng Dài, các đồng chí còn khui được một hầm vũ khí do phát xít Nhật chôn giấu khi hay tin Nhật hoàng đầu hàng Đồng minh vào tháng 8 năm 1945.


Tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, đặc phái viên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào miền Nam để xây dựng, thống nhất các lực lượng vũ trang. Tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ ở An Phú xã (thực tế chỉ có đại biểu các đơn vị vũ trang miền Đông Nam Bộ dự). Hội nghị bàn vấn đề thống nhất lực lượng vũ trang, thống nhất chỉ huy. Hội nghị nhất trí cử Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ, Vũ Đức (Hoàng Đình Giong) làm chính ủy; đồng thời quyết định biên chế lực lượng vũ trang thành các chi đội. Trước mắt thành lập Chi đội 1 ở Thủ Dầu Một.


Hội nghị An Phú xã có ý nghĩa tác dụng là bước đầu thống nhất các lực lượng vũ trang tuy trên danh nghĩa, nhưng động viên được tinh thần kháng chiến, củng cố niềm tin của cán bộ, quần chúng với Trung ương.


Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, xác định nhiệm vụ của Nam Bộ, Trung Bộ; đồng thời chia cả nước ra làm chín khu, trong đó Nam Bộ có 3 khu 7, 8, 9.


Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ tổ chức Hội nghị mở rộng ở Vàm Cỏ Đông, bàn biện pháp xây dựng các chiến khu, trong đó có Lạc An (Tân Uyên), chỉ định đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng Khu 7, đồng chí Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm chính trị bộ, đồng chí Dương Văn Dương Khu bộ phó. Tháng 12 năm 1945, Pháp tấn công An Phú xã, Khu bộ khu 7 chuyển về Lạc An, dựa vào lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà và đồng chí Chín Quỳ để xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Nhờ vậy đồng chí Huỳnh Văn Nghệ nắm được chủ trương của Đảng, Chính phủ về kháng chiến, về xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng... Công tác tổ chức bộ máy và lực lượng của Vệ quốc đoàn Biên Hoà được triển khai chặt chẽ (có bài bản), giữ nghiêm kỷ luật và làm tốt công tác dân vận, tạo được uy tín trong dân. Nhiều đơn vị vũ trang ở địa phương đã tình nguyện gia nhập vào Vệ quốc đoàn Biên Hoà. Trên cơ sở phát triển lực lượng, Vệ quốc đoàn Biên Hoà đã tổ chức thành 3 phân đội, mỗi phân đội có 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 chiến sĩ.


- Phân đội 1: Do đồng chí Nguyễn Văn Học (thường gọi Học già) làm phân đội trưởng; Nguyễn Ngọc Ngộ phân đội phó chính trị, Hoàng Phùng Đức phân đội phó quân sự1 (Phân đội này gồm lực lượng của Ủy ban kháng chiến miền Đông do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đưa về lực lượng đội du kích của đồng chí Trần Văn Quỳ). Đặc biệt trong phân đội có hai chiến sĩ nguyên là sĩ quan Nhật theo kháng chiến, tên là Phúc và Hoá. Phân đội 1 đứng chân hoạt động ở 5 xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc, có nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Khu bộ và chỉ huy trưởng cùng nhân dân 5 xã.


- Phân đội 2: Do Đào Văn Tiêm làm phân đội trưởng; Nguyễn Văn Khoa phân đội phó chính trị; Nguyễn Văn Nhiều (Chín Nhiều) phân đội phó quân sự2 (Phân đội này gồm lực lượng trường huấn luyện quân sự ở Sở Tiêu). Phân đội 2 đóng ở thị trấn Tân Uyên, ngăn chặn địch từ Phước Hoà xuống, bảo vệ các cơ quan tỉnh, quận.


- Phân đội 3: Do Nguyễn Văn Lắm làm phân đội trưởng; Nguyễn Đình Vị phân đội phó chính trị; Lê Ngọc Sinh phân đội phó quân sự3 (Phân đội này gồm tự vệ Thái Hòa, Phước Hòa, thanh niên quận Tân Uyên tòng quân...). Phân đội 3 đứng chân ở nam thị trấn Tân Uyên, chặn đánh địch từ hướng lộ 16 Tân Ba lên, bảo vệ các cơ quan tỉnh, quận.


Trên đường vào Nam theo quyết định của Chính phủ, đồng chí Nguyễn Bình đã tập hợp được 20 sĩ quan, binh lính người Nhật, 7 binh sĩ người Đức và 10 người Việt, thường được gọi là “bộ đội quốc tế” do một đại uý Nhật chỉ huy. Theo chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Bình, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã cử Lê Thoa (người thông thạo cả tiếng Pháp, và Đức, Nhật) cùng với 20 lính thuỷ (do Đào Văn Quang từ Sài Gòn đưa lên) nhập vào đơn vị bộ đội quốc tế, trở thành một phân đội mạnh. Phân đội quôc tế đứng chân ở tả ngạn sông Đồng Nai khu vực Bình Đa, Vĩnh Cửu do Lê Thoa làm phân đội trưởng.


Văn phòng Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà được tổ chức như sau:

- Chỉ huy trưởng: Huỳnh Văn Nghệ

- Chánh văn phòng: Cao Văn Bổ.

- Ủy viên quản trị: Đào Văn Quang. Ủy viên quản trị chịu trách nhiệm tổ chức mua và vận chuyển lương thực, thuốc tây và lương thực từ nội thành về vùng căn cứ phục vụ cho bộ đội.

- Ủy viên phụ trách công tác huấn luyện chính trị, quân sự: Đỗ Ngọc Lạng.

- Ủy viên phụ trách căn cứ: Trần Văn Quỳ. Nhiệm vụ của Ủy viên phụ trách căn cứ là xây dựng căn cứ và “sanh sản tự túc” (tức sản xuất tự túc).

- Ủy viên phụ trách đường dây: Lâm Văn Phùng và Sáu Lĩnh, chịu trách nhiệm tổ chức đường dây liên lạc từ Biên Hoà - Sài Gòn và ngược lại, tiếp nhận sự ủng hộ của đồng bào ngoài thành cho kháng chiến.


Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7, Vệ quốc đoàn Biên Hoà do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy được xây dựng, tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh hơn so với tất cả các đơn vị vũ trang có mặt ở Biên Hoà lúc bấy giờ.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:05:22 pm
Cuối tháng 12 năm 1945, trong lúc Ủy ban nhân dân và Mặt trận các cấp từ tỉnh xuống quận đang tích cực chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh khu 7 đã trao đổi cùng chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa về việc tổ chức trận tập kích vào thị xã Biên Hòa.


Để chuẩn bị, Tư lệnh Khu 7 Nguyễn Bình chỉ thị điều một bộ phận lực lượng Chi đội 2-3 Bình Xuyên từ Long Thành; Chi đội 1 do Huỳnh Kim Trương chỉ huy ở Thủ Dầu Một; đơn vị bộ đội Tô Ký từ Hóc Môn bí mật chuyển quân về Tân Tịch phối hợp cùng các đơn vị của Vệ quốc đoàn Biên Hoà và quận Châu Thành. Phân đội quốc tế do Lê Thoa phụ trách ở Bình Đa được giao nhiệm vụ cử trinh sát vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà vẽ sơ đồ bố trí các điểm đóng quân, căn cứ và lực lượng của quân Pháp phục vụ cho trận tập kích.


Đêm 1 rạng sáng 2 tháng 1 năm 1946, Vệ quốc đoàn Biên Hoà vượt sông Đồng Nai từ hướng Dốc Sỏi tiến đánh thành Biên Hoà. Các lực lượng khác theo phân công tiến đánh vào các chốt, bót gác của thực dân ở Cầu Gành, Rạch Cát, Cây Chàm, phòng thông tin chợ Biên Hoà..., bắt một số tên Việt gian đưa về ngã ba Cây Đào (xã Tân Phú) lập toà án xét xử.


Trận tập kích đầu tiên và bất ngờ vào quân Pháp trong trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa gây tiếng vang lớn. Tuy không chiếm giữ được những vị trí quân sự theo kế hoạch, nhưng trận tập kích thể hiện được trình độ chỉ huy, phối hợp của các lực lượng, giữ được bí mật. Ý nghĩa chính trị của trận đánh càng to lớn hơn: “Tiếng súng Biên Hòa” của các lực lượng kháng chiến tạo niềm tin cho nhân dân, đặc biệt nhân dân trong vùng địch tạm chiếm với sự tồn tại và phát triển của cách mạng, đập tan luận điệu tuyên truyền và báo cáo của thực dân Pháp là cơ bản đã bình định xong Nam kỳ.


“Tiếng súng Biên Hòa” tạo nên một sức hút lớn của Vệ quốc đoàn Biên Hoà, của căn cứ kháng chiến ở Tân Uyên đối với nhiều người yêu nước từ nhiều nguồn Sài Gòn, Gia Định, miền Tây Nam Bộ... tìm về tham gia kháng chiến ở Biên Hòa. Trong đó, nhiều người sau này trở thành những cán bộ cốt cán, những sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam: Nguyễn Văn Lượng, Phạm Văn Anh, Phạm Văn Thăng, Đinh Quang An, Vũ Thiệu, Trần Liên Xô, Cô Tấn Chương, Bùi Trọng Nghĩa, Bùi Cát Vũ, Đặng Sĩ Hùng, Nguyễn Văn Quảng, Lê Văn Ngọc...


Trận tập kích vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà đêm 1 rạng sáng ngày 2 tháng 1 năm 1946, buộc thực dân Pháp phải nhận định đánh giá lại về lực lượng Việt Minh ở miền Đông nói chung và Biên Hoà nói riêng. Đặc biệt là lực lượng vũ trang kháng chiến đang đứng chân ở khu vực 5 xã Tân Uyên, trở thành đối tượng cần tiêu diệt hàng đầu của chúng ở Biên Hoà.


Thông qua tin trinh sát và tình báo, đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7 chỉ đạo cho Vệ quốc đoàn Biên Hòa triển khai lực lượng trên các hướng sẵn sàng đánh địch càn quét bảo vệ căn cứ. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ trực tiếp xem xét, chỉnh đốn tổ chức các phân đội, bố trí lực lượng xây dựng các phòng tuyến chốt chặn đánh địch các hướng: Phòng tuyến Bình Mỹ chặn địch từ hướng quốc lộ 13 Phước Hòa đánh vào; phòng tuyến Tân Long chặn địch từ hướng Thủ Dầu Một qua; phòng tuyến Bình Hoá chặn địch từ hướng Tân Ba lên (lộ 16). Hướng sông Đồng Nai, Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa bố trí một phòng tuyến từ bến đò Uyên Hưng (đối diện cù lao Mỹ Quới) đến đồn Kiểm lâm (đối diện bến đò Bình Long) để đánh tàu giặc trên sông. Phía tả ngạn sông Đồng Nai, một bộ phận phối hợp cùng Vệ quốc đoàn quận Châu Thành lập phòng tuyến chốt chặn từ Tân Phong, Lợi Hoà, Tân Định chặn đánh địch từ Biên Hòa lên hướng Cây Đào, Bình Long, không cho chúng vượt sông đánh tập hậu.


Vệ quốc đoàn Biên Hòa thành lập Ban tiếp tế mặt trận do đồng chí Trừ Sùng Thới làm trưởng ban, Trần Văn Quỳ làm phó ban, đảm bảo việc cung cấp lương thực cho các đơn vị chiến đấu. Ban hộ tự đình Tân Nhuận đã chuyển toàn bộ mặt bằng và khu vực xung quanh đình làm nơi đóng quân của trạm quân y tiền phương, nơi cứu chữa thương binh trước khi chuyển về tuyến sau. Một lớp cứu thương cấp tốc đã được Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà tổ chức ngay tại đình Tân Nhuận.


Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh Khu 7, nhân dân thị trấn Tân Uyên sau khi chuyển đồ đạc gia đình về 5 xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc đã thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”. Chiều ngày 17 tháng 1 năm 1946, thị trấn Tân Uyên đồng loạt bùng lên nhiều ngọn lửa lớn thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”. Ngọn lửa biểu thị cho quyết tâm kháng chiến của Vệ quốc đoàn Biên Hoà và nhân dân Biên Hoà: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.


6 giờ sáng ngày 20 ngày 1 năm 1946, một đoàn tàu quân sự Pháp theo sông Đồng Nai tiến về Tân Uyên. Khi tàu cặp theo cù lao Mỹ Quới đến Võ Sa, phân đội 2 nổ súng và ném lựu đạn. Một quả lựu đạn lọt ngay vào ông khói tàu, nổ phá huỷ máy tàu. Hai chiếc còn lại nổ súng loạn xạ, rồi cặp hai bên mạn chiếc tàu hư quay đầu về hướng Biên Hoà.


9 giờ sáng ngày 22 tháng 1 năm 1946, thực dân Pháp tiếp tục cho hai tàu theo sông Đồng Nai lên thăm dò. Bộ đội Vệ quốc đoàn nổ súng bắn chết tên lính lái tàu. Chiếc tàu không người lái quay mũi cặp vào bờ, hơn 30 lính Pháp trên tàu bị bắn hạ. Chiếc tàu còn lại nổ súng chống trả, nhưng bị bộ đội nổ súng liên tục chặn đầu, cuối cùng phải quay lại kéo chiếc tàu hư chạy về Biên Hòa.


Sáng sớm ngày 25 tháng 1 năm 1946 (nhằm 23 tháng chạp âm lịch, tức ngày đưa ông Táo về trời theo phong tục của dân tộc), 4.000 quân Pháp có máy bay, tàu chiến và pháo binh yểm trợ tấn công vào Tân Uyên bằng nhiều mũi. Máy bay Pháp quần đảo bắn dọc hai bên bờ sông Đồng Nai từ Bình Chánh, Uyên Hưng, Tân Hòa, Tân Tịch, Lạc An, Mỹ Lộc, Tân Nhuận và dọc các ven rừng yểm trợ cho bộ binh tiến quân.


Cánh quân địch từ Phước Hoà xuống bị phân đội 3 phục kích ở Bình Mỹ chặn đánh, nhưng do tương quan lực lượng, đơn vị chỉ cầm chân địch được 30 phút sau đó phải rút lui. Dọc đường rút quân, phân đội cho đắp ụ và phục kích đánh địch hai bên đường buộc địch phải đối phó. Do vậy, phải đến chiều tối quân Pháp mới đến được Mỹ Lộc.


Trong khi đó, phân đội 2 cùng lực lượng Bình Xuyên phục kích ở Tân Long đánh địch từ Thủ Dầu Một xuống. Sau 1 giờ chiến đấu, ta diệt 120 quân Pháp, bắn cháy 6 xe quân sự, nhưng cũng do lực lượng chênh lệch ta phải rút lui.


Cánh quân địch trên hướng Tân Ba, vừa lên đến Xóm Gò thì bị bộ đội ta phục kích, diệt một số tên. Lực lượng ta rút về cầu Lò Rèn, rồi về Rạch Lăng. Khi quân giặc đến cầu Rạch Tre, do cầu đã bị ta phá sập địch dồn lại và tìm cách qua cầu. Lực lượng ta từ Tân Long, Rạch Lăng, Xóm Miễu đã vận động tạo thế gọng kìm bao vây tấn công địch. Quân địch bất ngờ bị tấn công, hàng ngũ rối loạn, phải kêu tăng viện. Hai chiếc tàu chiến của Pháp từ dưới sông nổ súng và đổ quân tiếp viện. Ta dùng trọng liên 12,7 ly và 13,2 ly bắn cháy 2 chiếc tàu, diệt hơn 40 tên địch, thu 18 súng, rồi rút về bảo vệ thị trấn Tân Uyên.


Cánh quân Pháp từ hướng Tân Phong (Biên Hoà) tiến lên Cây Đào bị bộ đội quận Châu Thành chặn đánh quyết liệt, sau đó, đơn vị vượt sông về Tân Tịch tham gia bảo vệ căn cứ.


Mãi đến chiều cùng ngày, các mũi tiên công của quân Pháp đã bao vây quanh thị trấn. Địch cho 4 máy bay lên bắn phá dữ dội vào các công sự của ta, pháo địch từ các tàu trên sông liên tục nã đạn. Toàn bộ thị trấn Tân Uyên chìm trong khói và lửa. Không thấy lực lượng ta có phản ứng, quân Pháp ồ ạt tiến vào thị trấn. Lực lượng ta từ các công sự nhất loạt nổ súng. Địch chết thêm một sô tên. Bộ đội ta rút về Xóm Đèn (Tân Hoà) bố trí lại trận địa. Địch chiếm được thị trấn Tân Uyên, nhưng 220 lính Pháp bỏ mạng, 6 xe quân sự, 2 tàu chiến đấu bị bắn cháy, âm mưu tiêu diệt cơ quan Khu bộ và tiêu diệt lực lượng kháng chiến bị thất bại. Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà hy sinh 6 đồng chí, trong đó có Đào Ngọc Tiêm, phân đội trưởng, 14 chiến sĩ bị thương.


Cùng thời gian này, đồng chí Võ Tinh Quân được Khu bộ phân công đón bộ đội hải ngoại về đến Lạc An. Đây là bộ đội hải ngoại do Việt kiều tổ chức và tự trang bị vũ khí tốt. Lực lượng bộ đội hải ngoại gồm 3 tiểu đội do Nguyễn Khải chỉ huy.


Sau trận càn của quân Pháp kết thúc, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã tổ chức bố trí lại lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà như sau:

- Phân đội 1: Bổ sung một số tân binh, vũ khí thu được của địch trong trận chống càn Tân Uyên. Phân đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngộ; phân đội phó chính trị: Nguyễn Văn Được; phân đội phó quân sự: Hoàng Phùng Đức. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu căn cứ 5 xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ cơ quan Khu bộ, các cơ quan tỉnh.

- Phân đội 2 (sáp nhập hai phân đội 2 và 3 cũ lại): Phân đội trưởng, Nguyễn Văn Lắm; phân đội phó chính trị: Nguyễn Văn Khoa; phân đội phó quân sự: Lê Ngọc Sinh. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Bình Chánh, Thái Hoà, Tân Ba, Phước Thành.

- Phân đội 3: Lực lượng chủ yếu là bộ đội hải ngoại có tăng cường một số cán bộ. Phân đội trưởng: Nguyễn Khải; phân đội phó chính trị: Nguyễn Đình Vị; phân đội phó quân sự: Nguyễn Văn Nhiều. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Bình Hoá, Tân Dân, Bình Mỹ.

- Phân đội 4: Phân đội trưởng Nguyễn Chức Sắc; Nguyễn Văn Cơ phân đội phó, chính trị viên Hoàng Lập Trung (công nhân nhà máy BIF); phân đội phó quân sự Đinh Quang Ân. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Đồng Lách, Đại An, Tân Định và khu vực tả ngạn sông Đồng Nai.

- Phân đội 5: Là phân đội quốc tế trực thuộc Khu bộ nhưng do chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa chỉ đạo. Phân đội trưởng: Lê Thoa; phân đội phó chính trị: Mạnh Xuân Tâm; phân đội phó quân sự: Nguyễn Văn Quảng. Địa bàn đứng chân hoạt động khu vực Bình Đa, Vĩnh Cửu, Tân Mai, Tam Hiệp (quận Châu Thành).


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:06:30 pm
3. Lực lượng Giải phóng quân quận Châu Thành

Song song với việc xây dựng trường huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu của tỉnh, quận ủy Châu Thành tỉnh Biên Hòa đã xúc tiến việc xây dựng lực lượng vũ trang của quận, bao gồm một bộ phận Thanh niên Tiền phong và lực lượng Công đoàn xung phong của nhà máy cưa BIF. Lực lượng 60 chiến sĩ tổ chức 5 tiểu đội trang bị 30 súng các loại. Doãn Tiến Nghiệp nguyên là đội (tương đương thượng sĩ) trong sân bay Biên Hoà đã đứng ra chỉ huy và huấn luyện. Đơn vị đứng chân khu vực Tân Phú - Thiện Tân (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), lấy tên là Giải phóng quân Biên Hoà, thường được nhân dân gọi tên là bộ đội Sáu Ngọc (Lê Văn Ngọc, người thay thế đội Nghiệp chỉ huy đơn vị).


Ngày 25 tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà. Quận ủy Châu Thành rút ra khỏi tỉnh lỵ, về đứng chân khu vực Bình Đa và Bến Gỗ. Bộ đội Sáu Ngọc đã nhiều lần phối hợp với Đội Xung phong cảm tử do đồng chí Nguyễn Văn Ký và Hồ Văn Đại chỉ huy tập kích vào tỉnh lỵ, diệt tề trừ gian. Từ tháng 11 năm 1945, thực dân Pháp mở những cuộc hành quân đánh nống ra bên ngoài tỉnh lỵ theo hướng đường 24, 16, Bộ đội Sáu Ngọc phục kích ở những vị trí thuận lợi tập kích và ném lựu đạn vào xe bộ binh địch, gây cho chúng nhiều thương vong. Những lần sau để tránh thương vong, thực dân Pháp dùng lưới kẽm trùm kín mui xe để chống lựu đạn, bộ đội Sáu Ngọc có sáng kiến cột những móc sắt vào lựu đạn để khi ném móc vào lưới kẽm, lựu đạn nổ chụp vào càng gây nhiều sát thương cho giặc. Có những trận chờ khi giặc Pháp qua ngang đồn lính Nhật, bộ đội mới nổ súng, bọn lính Nhật trong đồng ngỡ quân Pháp bắn nên đánh trả, cả hai đều thiệt hại.


Ngày 26 tháng 1 năm 1946, bộ đội Sáu Ngọc đã vượt sông Đồng Nai sát cánh cùng bộ đội Tám Nghệ đánh địch ở Rạch Rớ, Tân Uyên. Ngày 15 tháng 3 năm một lần nữa bộ đội quận Châu Thành lại vượt sông Đồng Nai cùng bộ đội Tám Nghệ đánh chống càn của 5.000 quân Pháp vào chiến khu Lạc An. Tinh thần chiến đấu dũng cảm và phối hợp của bộ đội quận Châu Thành đã được Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gửi thư khen ngợi.


Ngoài đơn vị bộ đội Giải phóng quân Biên Hòa, ở quận Châu Thành còn hình thành một số đơn vị vũ trang mang tính chất tự phát do những cá nhân yêu nước thành lập. Đó là bộ đội Nguyễn Chức Sắc, bộ đội Hồ Hòa ở Tân Phong... tổ chức nhiều hoạt động phối hợp cùng bộ đội Sáu Ngọc đánh địch ở khu vực ngoại vi tỉnh lỵ Biên Hoà.



4.Vệ quốc đoàn quận Long Thành

Đầu tháng 9 năm 1945, để chuẩn bị kháng chiến, Quận uỷ Long Thành chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Ngoài các đội dân quận tự vệ xã nào cũng có, từ 16 đến 21 tháng 9 năm 1945, quận Long Thành hình thành lực lượng vũ trang lấy tên là “Cộng hoà vệ binh” do đội Giám1 (Nguyên là chỉ huy một đội lính khố đỏ trước đây, sau Cách mạng tháng Tám được cử làm ủy viên quân sự quận Long Thành) chỉ huy, gồm 27 chiến sĩ, trang bị 11 súng cướp được của bọn cảnh sát trong Cách mạng tháng Tám, còn lại là tầm vông, giáo, mác... do các chiến sĩ tự trang bị. Ủy ban nhân dân quận Long Thành đã thành lập Ban tiếp tế do đồng chí Ba Liêm ủy viên tài chính huyện làm trưởng ban có nhiệm vụ vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực để tiếp tế cho đơn vị. Cuối tháng 9 năm 1945, từ Thủ Đức một đơn vị Cộng hoà vệ binh 50 chiến sĩ trang bị 12 súng rút về Long Thành, sáp nhập cùng lực lượng Cộng hoà vệ binh của quận.


Trung tuần tháng 10 năm 1945, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu đã tăng cường 11 cán bộ quân sự vừa tốt nghiệp về Long Thành2 (Như các anh Võ Minh Như, Nguyễn Văn Toàn, Mỹ, Điệng, Ái, Võ Sĩ Đạo, Huỳnh Văn Đạo...), mang theo 11 khẩu súng. Theo chỉ đạo của Quận ủy Long Thành, các đồng chí đã mở lớp huấn luyện quân sự đầu tiên ở Long Thành tại Hang Nai, xã Phước An (nay là xã Phước Thọ huyện Nhơn Trạch) cho 46 thanh niên để bổ sung cho Cộng hoà vệ binh quận.


Cùng thời gian này Ban Đồng Nai ở tổng Thành Tuy Hạ1 (Ban Đồng Nai là ban thủ lãnh của đoàn Thanh niên Tiền phong của cơ sở cao su Ba lăng xi và công nhân Thành Tuy Hạ) xây dựng được một đơn vị vũ trang 20 chiến sĩ, trang bị 7 súng do Nguyễn Văn Đọt chỉ huy (thường gọi là thủ lãnh Đọt); một đơn vị với danh nghĩa công đoàn xung phong Phú Nhuận do Tư Lộc chỉ huy, có 4 súng trường, 1 súng săn. Sau hai lực lượng này sáp nhập lại thành một. Lực lượng vũ trang này không đặt dưới sự chỉ huy của Quận uỷ Long Thành.


Để có thêm vũ khí, đơn vị này phối hợp với lực lượng Bình Xuyên do Dương Văn Dương chỉ huy từ Sài Gòn kéo ra, tổ chức lặn mò súng trong một chiếc tàu chìm dưới sông Lòng Tàu, thu được 36 súng trường, 1 đại liên2 (Đơn vị của Nguyễn Văn Đọt được chia 18 khẩu súng trường và 1 đại liên). Đơn vị trở thành lực lượng được trang bị mạnh nhất trong các đơn vị vũ trang có mặt ở Long Thành lúc bấy giờ. Đến trung tuần tháng 10 năm 1945, lực lượng vũ trang thuộc Ban Đồng Nai sáp nhập vào Cộng hoà vệ binh quận Long Thành.


Ở Long Thành còn một lực lượng vũ trang từ nội thành Sài Gòn kéo ra do 4 tên Nguyễn Văn Du, Trịnh Công Tây, Nguyễn Văn Trực, Lê Văn Cảnh khoảng 70 tên, trang bị 20 súng về đóng quân ở khu vực thị trấn dài lên xã Phước Long. Chúng tự xưng là “đệ nhị sư đoàn”, nhưng thực chất là một toán phỉ chuyên cướp bóc, giết hại dân lành ở Long Thành. Cuối tháng 10 năm 1945, lực lượng Quốc vệ đội Long Thành kết hợp cùng lực lượng Cộng hoà vệ binh quận tổ chức giải tán lực lượng đệ nhị sư đoàn, bốn tên Tây, Du, Trực, Cảnh bị xử tội. Riêng tên đội Giám được khoan hồng trốn chạy về Sài Gòn.


Đến tháng 11 năm 1945, sau lớp đào tạo cán bộ quân sự của trường quân chính quận, quận ủy Long Thành quyết định sáp nhập lực lượng Cộng hoà vệ binh với lực lượng vừa tốt nghiệp, thành lập trung đội Giải phóng quân của Long Thành. Lực lượng gồm 200 quân, trang bị 92 súng các loại, 150 lựu đạn và hơn 1.000 viên đạn. Giải phóng quân quận Long Thành do Nguyễn Tam Nguyên chỉ huy trưởng, Huỳnh Văn Đạo chỉ huy phó, tổ chức thành 3 phân đội:

- Phân đội 1: Do Nguyễn Văn Đọt phân đội trưởng, Dương Ngọc Thạch phân đội phó, hoạt động từ thị trấn Long Thành đến Phước Thái (giáp Bà Rịa).

- Phân đội 2: Do Huỳnh Trước phân đội trưởng, hoạt động khu vực tổng Thành Tuy Hạ.

- Phân đội 3: Do Nguyễn Tam Nguyên kiêm nhiệm phân đội trưởng, hoạt động từ thị trấn xuống Bến Gỗ.


Đêm 26 tháng 1 năm 1946, hay tin thực dân Pháp chuẩn bị đánh chiếm Long Thành, Nguyễn Tam Nguyên bỏ chạy, lực lượng giải phóng quân quận Long Thành đổi tên thành Vệ quốc đoàn, do Huỳnh Văn Đạo làm trung đội trưởng và Nguyễn Văn Lung trung đội phó. Các phân đội được tổ chức lại: Phân đội 1 do Nguyễn Văn Toàn phân đội trưởng. Phân đội 2 do Võ Minh Như phân đội trưởng. Phân đội 3 do Dương Ngọc Thạch phân đội trưởng.


Vệ quốc đoàn Biên Hoà do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy đứng chân ở Tân Uyên; Giải phóng quân quận Châu Thành do Lê Văn Ngọc chỉ huy đứng chân khu vực Thiện Tân; Giải phóng quân quận Long Thành do Huỳnh Văn Đạo chỉ huy, mỗi đơn vị một hoàn cảnh ra đời khác nhau, nhưng đều do những cá nhân yêu nước, có quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp vì mục tiêu độc lập dân tộc. Đó là 3 đơn vị tiền thân của Chi đội 10 Biên Hoà sau này.


Sự hình thành và tồn tại nhiều đơn vị vũ trang ở tỉnh Biên Hoà trong một thời đoạn lịch sử nhất định, phản ánh một thực tế khách quan ở địa phương. Trước hết, việc hình thành vũ trang là cần thiết cho cuộc kháng chiến, nhưng trình độ lãnh đạo quản lý của Tỉnh uỷ Biên Hoà bấy giờ còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết về quân sự, thiếu kinh nghiệm trong xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang, dẫn đến việc không thể lãnh đạo thống nhất cảc lực lượng này. Thứ hai, khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị “Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán” vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Biên Hoà do nghiên cứu không sâu, không hiểu đây là sách lược của Đảng, thực tế là rút vào bí mật để lãnh đạo kháng chiến, dẫn đến hệ quả Tỉnh ủy không tồn tại trong một thời gian. Các lực lượng vũ trang một là, dựa vào sự lãnh đạo của các quận ủy (như ở Châu Thành và Long Thành), hai là, dựa vào cá nhân có uy tín (như bộ đội Tám Nghệ ở Tân Uyên).


Việc thống nhất các lực lượng vũ trang riêng lẻ, đảm bảo sự lãnh đạo chung khi thực dân Pháp ngày càng mở rộng công cuộc xâm lược ở toàn quốc nói chung, ở tỉnh Biên Hoà nói riêng, là yêu cầu bức thiết của cuộc kháng chiến, đồng thời cũng là một quy luật để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất với quân đội, lực lượng nòng cốt cho cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ nền độc lập vừa giành được.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:12:39 pm
II.CHI ĐỘI 10 HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU, CÔNG TÁC

1.Quá trình thành lập Chỉ đội 10

Sau trận càn của thực dân Pháp ngày 25 tháng 1 năm 1946, cơ quan Khu bộ khu 7 chuyển về đóng ở Giáp Lạc, Bưng Kè, Lạc An. Ngày 20 tháng 2 năm 1946, trong cuộc hội nghị ở Lạc An, Khu bộ quyết định bỏ văn phòng và võ phòng, lập Bộ tham mưu, văn phòng khu bộ và phòng chính trị đặt dưới sự chỉ huy của Khu bộ trưởng và phòng Chính trị khu. Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng để phát động du kích chiến tranh. Chương trình hành động cụ thể gồm: Củng cố bộ đội; tiêu diệt phản động; nắm chắc quần chúng; phát động du kích, đặc biệt trong nội thành Sài Gòn; thành lập các ban ám sát hoạt động trong nội thành....


Ngày 6 tháng 3 năm 1946, để tạo điều kiện chuẩn bị kháng chiến lâu dài, thể hiện thiện chí hoà bình, Chính phủ nước ta ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3. Thế nhưng chỉ 10 ngày sau, thực dân Pháp đã xé bỏ Hiệp định. Ngày 15 tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp mở cuộc càn quét vào 5 xã căn cứ với 5.000 quân có hải lục, không quân yểm trợ.


Sáng 15 tháng 3 năm 1946, địch chia làm nhiều cánh tấn công vào 5 xã căn cứ, đồng thời cho quân án ngữ phía tả ngạn sông Đồng Nai không cho quân ta từ căn cứ qua sông. Tránh đối đầu với quân địch đông hơn, Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn hạ lệnh phân tán lực lượng từng tiểu đội bám đánh địch, tổ chức phục kích đồng thời nghi binh thoát khỏi các gọng kìm của địch bày sẵn. Ý đồ tiêu diệt Khu bộ khu 7 của địch thất bại.


Sau trận càn này, bọn địch ở Tân Uyên tìm cách liên lạc với quân kháng chiến, chuyển thư của Bộ tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ đề nghị ta thương thuyết để thi hành Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3. Địa điểm thương thuyết ở miếu Bà Cô thuộc xã Thiện Tân (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai).


Ngày 10 tháng 4 năm 1946, cuộc thương thuyết giữa phái đoàn Pháp do đại tá Phay-lê (Feyler) trưởng đoàn và đoàn quân sự miền Đông gồm Huỳnh Văn Nghệ, giáo sư Phạm Thiều, Lâm Thái Hoà, Võ Bá Nhạc, luật sư Lê Đình Chi đã diễn ra tại miếu Bà Cô. Trái với tinh thần thiện chí của phái đoàn ta, phái đoàn Pháp ngoan cố đề nghị quân kháng chiến miền Đông phải giải giới, nếu không sẽ giải quyết bằng sức mạnh quân sự. Sau 6 ngày cuộc thương thuyết hoàn toàn tan rã. Tuy không giành được kết quả trong thương thuyết, nhưng qua cuộc đấu trí này, phái đoàn ta đã nêu cao chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đồng thời hiểu sâu hơn và vạch trần âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền lừa mị của thực dân Pháp.


Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Lơ-cléc (Lecler) chỉ huy 8.000 quân Pháp có máy bay, pháo binh, tàu chiến tấn công vào 5 xã căn cứ Tân Uyên. Trời vừa mờ sáng, 10 chiếc máy bay của Pháp đã xuất hiện trên bầu trời, chia làm 3 tốp bắn phá dọc sông Đồng Nai từ Tân Hoà lên Lạc An, bắn dọc bìa rừng. Tàu địch hàn phía tả ngạn sông Đồng Nai; đồng thời đưa một bộ phận khoá chặt Khánh Vân, cắt đứt đường tiếp vận quan trọng của ta ở phía nam chiến khu.


Cánh quân địch từ Tân Uyên chia làm hai mũi: Mũi thứ nhất tiến lên Tân Hoà, chốt quân ở xóm Đèn, một bộ phận tiến đánh lên Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An. Mũi thứ hai hành quân xuyên rừng từ Tân Lợi vào chốt tại Đất Cuốc, một bộ phận đánh lên Hàng Dài xuôi về Sông Bé, hội quân ở Lạc An.


Cánh quân địch từ Phước Hoà xuống cũng chia làm hai mũi: Một mũi tiến vào Bà Đã, Xóm Voi một mũi từ Bình Cơ đánh vào khu vực Bàu Cá Trê, Hàng Dài.

Cánh quân địch theo đường sông gồm 4 tàu chở đầy lính đổ bộ lên Lạc An, đánh Giáp Lạc rồi phát triển vào Đất Cuốc.

Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà chỉ đạo không tập trung quân, mà phân tán lực lượng, đánh quấy rối tiêu hao sinh lực địch, khi có thời cơ thì tập trung tấn công chớp nhoáng rồi lại phân tán nhanh. Cuộc chiến đấu trong căn cứ diễn ra rất ác liệt. Đơn vị bảo vệ Khu bộ chặn đánh địch tại Giáp Lạc, diệt một số tên, buộc địch bỏ Giáp Lạc, chuyển hướng vào Đất Cuốc. Ngay trong đêm ta tổ chức nhiều lần tập kích địch ở Đất Cuốc, buộc địch luôn phải đối phó, mệt mỏi cả tinh thần và thể xác. Tại Lạc An, ta bắn hạ một máy bay Pháp (rơi tại Long Thành cách thị trấn 3 ki-lô-mét. Tên phi công chết, ta thu 1 khẩu súng colt).


Ngày 21 tháng 4, cánh quân địch từ Phước Hoà vào đã đánh chiếm xưởng sản xuất vũ khí của Khu ở Bưng Tre, đập phá máy móc, giết hại nhiều cán bộ, chiến sĩ quân giới, sau đó kéo ra tập trung ở Xóm Voi đóng quân ăn mừng. 15 giờ chiều ta bất ngờ tập kích vào đội hình địch, địch bị bất ngờ bỏ chạy tán loạn để lại gần 100 xác chết. Hàng trăm tên lính đang tắm dưới suôi không kịp lấy quần áo bỏ chạy vào rừng.


Đêm 21 tháng 4, ta lại tổ chức tập kích địch ở Lạc An. Địch tuy chưa vào được cơ quan lãnh đạo của Khu bộ, của tỉnh, nhưng chúng có thuận lợi là đã khoá được hai con đường giao thông tiếp tế của ta ở Khánh Vân và phía tả ngạn sông Đồng Nai; hàng ngày vẫn tiếp tục lùng sục, cho máy bay phát loa gọi hàng. Để nghi binh, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ phát lệnh cho các đơn vị chuẩn bị vượt sông, tổ chức những bộ phận đánh địch dọc theo sông từ Lạc An về Tân Tịch, đưa một số chiến sĩ bơi lặn giỏi qua tả ngạn chuẩn bị bến lên.


Tướng Lơ-cléc nhận được tin tình báo, ra lệnh chỉ để lại một bộ phận giữ các chốt đã chiếm, còn đại bộ phận kéo về phía tả ngạn sông Đồng Nai phục kích chờ quân ta vượt sông sẽ tiêu diệt. Thế nhưng đêm 22 tháng toàn thể các cơ quan Khu bộ, cơ quan tỉnh và lực lượng vũ trang ta đã bí mật rời xóm Sình lên xóm Ông Lình rút ra ngoài vòng vây của địch. Mãi đến ngày 24 tháng 4, quân Pháp mới phát hiện bị đánh lừa, thì toàn lực lượng ta trong căn cứ đã rút lui an toàn.


Sau trận càn, Khu bộ Khu 7 quyết định rời Tân Uyên về lập chiến khu Đông Thành ở khu vực Giồng Dinh (thuộc huyện Đức Hoà Thành tỉnh Tân An, nay thuộc tỉnh Long An). Công binh xưởng của Khu vẫn ở tại Chiến khu Đ và gắn bó chặt chẽ với Vệ quốc đoàn Biên Hoà.


Cuối tháng 4 năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Bí thư Khu uỷ miền Đông triệu tập hội nghị cán bộ Biên Hoà tại Cù lao Vịt (Tân Triều). Đồng chí Trần Minh Trí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Biên Hoà. Hội nghị ra quyết nghị về việc thống nhất lãnh đạo của Đảng với lực lượng vũ trang. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà được cử làm uỷ viên quân sự tỉnh Biên Hoà.


Với cương vị mới, chính thức, tháng 5 năm 1946, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ triệu tập hội nghị quân sự tỉnh Biên Hoà tại Xóm Đèn (xã Tân Hoà). Hội nghị ra nghị quyết về hai vấn đề:

- Nhập Vệ quốc đoàn quận Châu Thành với Vệ quốc đoàn Biên Hoà thành một đơn vị vũ trang thống nhất của tỉnh, lấy tên là Vệ quốc đoàn Biên Hòa.

- Xây dựng căn cứ kháng chiến lấy tên chiến khu Đ trên cơ sở 5 xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An.


Tháng 6 năm 1946, Bộ chỉ huy Khu 7 mở hội nghị quân sự toàn khu. Vấn đề thống nhất chỉ huy, tổ chức các lực lượng vũ trang hình thành các chi đội ở tỉnh được đề cập. Ngay trong tháng 6 năm 1946, Vệ quốc đoàn Biên Hoà và Vệ quốc đoàn quận Long Thành thống nhất lại thành lập Chi đội 10 Biên Hoà.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:15:32 pm
2.Tổ chức biên chế Chi đội 10

Chi đội 10 Biên Hoà được tổ chức thành 3 đại đội phiên hiệu A, B, C quân số 1.100 người. Trang bị vũ khí gồm 380 súng trường, 13 súng máy gồm trung liên, đại liên, trọng liên 12,7 ly, 13,2 ly.

a. Ban Chỉ huy Chi đội:

Ban Chỉ huy Chi đội gồm các đồng chí: Chi đội trưởng: Huỳnh Văn Nghệ. Chi đội phó: Huỳnh Văn Đạo. Sau đó, đồng chí Đạo được Khu tăng cường về làm chi đội trưởng Chi đội 16 Bà Rịa, đồng chí Nguyễn Văn Lung từ Long Thành về làm chi đội phó Chi đội 10; đồng chí Cao Minh Căng, Chi đội phó. Chính trị viên: Phan Đình Công.


Các Ban của chi đội 10 gồm:

Ban quản trị: Do đồng chí Đào Văn Quang phụ trách.

Ban quân nhu: Do đồng chí Nguyễn Văn Lượng và Nguyễn An Hồng phụ trách.

Ban quân trang: Do Biện Ngọc Hưng phụ trách.

Ban quân y: Do bác sĩ Võ Cương phụ trách1 (Các cán bộ quân y có: các anh Yên, Trọng, Phan Văn Nghĩa, Huỳnh Kim Sa, Nguyễn Văn Ngân, Tỵ, Tịnh, Sang...; các chị Mỹ, Kiều, Trinh, Hoàng Lê, Minh Tâm, Hai (móm), Ca, Bi, Thơm, Hào, Cháo...).

Ban sanh sản tự túc: Do Trần Văn Quỳ phụ trách.

Ban trinh sát liên lạc: Do Võ Văn Mén, sau là Đào Văn Quý phụ trách; sau đó đổi tên Chi quân báo do Bùi Trọng Nghĩa làm trưởng ban.

Binh công xưởng (của Khu 7): Do đồng chí Bùi Cát Vũ giám đốc; Đặng Sĩ Hùng phó giám đốc; Nguyễn Cao làm chính trị viên. Binh công xưởng chi đội đóng ở Bưng Tre.

Kho vũ khí: Do Nguyễn Hi Vọng phụ trách.

Văn phòng chi đội: Đồng chí Cao Văn Bổ, chủ nhiệm.

Thư ký Ban chỉ huy: Đồng chí Hoàng Kim Chung.


Cuối năm 1946, đồng chí Phan Đình Công chuyển về công tác ở Bà Rịa, đồng chí Võ Cương được phân công kiêm nhiệm chính trị viên chi đội; Phòng Chính trị Chi đội được tăng cường các đồng chí hoạ sĩ Lê Vinh, Ngô Tiến, Nguyễn Văn Thọ (Thọ lai), anh Thành. Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hoà đóng ở Thường Lang.


b. Đại đội A:

Ban Chỉ huy Đại đội A gồm các đồng chí: Võ Tinh Quân (Đại đội trưởng), Nguyễn Văn Quang (Đại đội phó), Nguyễn Đình Vị (Chính trị viên).

Đại đội A có 3 trung đội:

- Trung đội 1, đóng quân trên địa bàn chiến khu Đ: Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngộ; trung đội phó: Hoàng Phùng Đức; Chính trị viên: Nguyễn Văn Được.

- Trung đội 2, đứng chân ở Bình Chánh, Thái Hoà, Tân Ba, Phước Thành quận Tân Uyên. Trung đội trưởng: Nguyễn Văn Lắm; Trung đội phó: Hoàng Lập Trung; Chính trị viên: Hoàng Đình Cận.

- Trung đội 3, đứng chân trên địa bàn Bình Hoá; Tân Dân, Bình Mỹ (Tân Uyên). Trung đội trưởng: Nguyễn Khải; Trung đội phó: Nguyễn Văn Nhiều; Chính trị viên Nguyễn Thanh Đạm.


c. Đại đội B:

Ban Chỉ huy Đại đội B gồm các đồng chí: Lê Văn Ngọc (Đại đội trưởng), Đinh Quang An (Đại đội phó), Nguyễn Văn Khoa (Chính trị viên).

Đại đội B có 3 trung đội:

- Trung đội 4 hoạt động vùng Đồng Lách, Đại An, Tân Định quận Tân Uyên và chuyển dần về hoạt động ở Xuân Lộc. Trung đội trưởng: Đinh Quang Ân (kiêm nhiệm); Trung đội phó: Lê Văn Chừng; Chính trị viên: Ngô Đình Tiêu.

- Trung đội 5 đóng quân trên địa bàn Bình Đa, Vĩnh Cửu quận Châu Thành. Trung đội trưởng: Lê Thoa; Trung đội phó: Nguyễn Văn Quảng; Chính trị viên: Mạnh Xuân Tâm.

- Trung đội 6 (thành lập sau này) hoạt động khu vực quận Xuân Lộc. Trung đội trưởng Võ Văn Vũ (Vũ Ba kẹ).


d. Đại đội C:

Ban Chỉ huy Đại đội C gồm các đồng chí: Lương Văn Nho (Đại đội trưởng), Nguyễn Văn Toàn (Đại đội phó), Lưu Văn Phảng (Chính trị viên)

Đại đội có 2 trung đội:

- Trung đội 7, hoạt động khu vực quận Long Thành lên giáp tỉnh Bà Rịa. Trung đội trưởng: Võ Minh Như; Trung đội phó: Nguyễn Điệng; Chính trị viên: Nguyễn Dự.

- Trung đội 8, Trung đội trưởng: Nguyễn Văn Mỹ; Trung đội phó: Nguyễn Hữu Nhẫn; Chính trị viên: đồng chí Đức.


Để chăm sóc sức khỏe, cứu thương cho cán bộ chiến sĩ, Ban chỉ huy Chi đội xây dựng bệnh viện của đơn vị ở xã Thường Lang. Bệnh viện ban đầu gồm có bác sĩ Võ Cương, bác sĩ Tài. Sau đó để tránh địch càn quét, bệnh viện chuyển lên đóng ở Thuộc Nghĩa, Hàng Dài, sau còn xây dựng thêm bệnh viện ở Suối Cá để đón nhận thương binh từ trạm cấp cứu Mỹ Lộc (do Phan Văn nghĩa, Huỳnh Văn Sa phụ trách). Tháng 2 năm 1947, quân y Chi đội mở lớp cứu thương khóa Yersin tại Mỹ Lộc với 40 học viên. Lớp do bác sĩ Võ Cương và các chị Lương, Ngọc, Tường, nguyên tốt nghiệp trường Y tá quốc gia giảng dạy.


Cuối năm 1946, đầu năm 1947, hệ thống quân y được triển khai tới các Đại đội, gọi là Quân y xá. Quân y xá Đại đội A do đồng chí Lê Kim Ngân làm quân y xá trưởng1 (Đồng chí Ngân hi sinh năm 1948 trên đường đi công tác). Quân y xá Đại đội B đóng tại Nôm Trường (Trị An) do đồng chí Phạm Văn Ngư làm Quân y xá trưởng. Quân y xá Đại đội C đóng tại Vườn Điều, Bà Bông huyện Long Thành do đồng chí Trần Văn Tươi làm Quân y xá trưởng2 (Cả 3 đồng chí Ngân, Ngư, Tươi đều làm y tá nhà thương Chợ Rẫy ra kháng chiến).


Trong năm 1947, Quân y Chi đội đã tổ chức được Phòng bào chế dược ở Ông Đồng do anh Phan Văn Sổ; phòng Nha y do đồng chí Tám Cửu và đồng chí Chín Chương phụ trách.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:16:34 pm
3.Chi đội 10 với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở Biên Hoà

Chi đội 10 Biên Hoà thành lập trong điều kiện thực dân Pháp về cơ bản đã kiểm soát các vùng đô thị, thị trấn, lấn chiếm nhiều vùng nông thôn, trong đó xây dựng một số đồn bót ngay trong căn cứ chiến khu Đ, đồng thời nhiều thanh niên xuất thân nông dân, công nhân, học sinh từ các vùng tạm chiếm thoát ly ra căn cứ xin gia nhập bộ đội. Việc tiếp tế nuôi quân, việc nắm tình hình địch để bộ đội hoạt động gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, để góp phần giải quyết những khó khăn trên, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã có sáng kiến xây dựng các Quận quân sự, hoạt động trong các vùng liên xã. Quận quân sự có các nhiệm vụ:

- Tự xây dựng tổ chức, mỗi quận hình thành một tiểu đội du kích tập trung trở lên. Ban đầu Chi đội cấp cho mỗi quận quân sự từ 1 đến 3 khẩu súng trường, sau đó tự trang bị cho mình bằng súng cướp được của địch.

- Tổ chức ở mỗi xã một tiểu đội du kích bán tập trung, khi cần mới tập trung, trang bị vũ khí tự tạo.

- Trinh sát nắm tình hình địch, báo cáo cho Ban Chỉ huy chi đội; đảm đương nhiệm vụ tổ chức địa bàn cho chi đội hoạt động đánh địch và cùng chi đội chiến đấu.

- Vận động các viên chức hội tề, binh lính ngụy và gia đình làm việc cho ta, trừng trị bọn tề nguỵ, Việt gian ngoan cố, phản động ác ôn.

- Tạm thời làm thay nhiệm vụ chính quyền ở cơ sở, thu thuế trong nhân dân, tiếp nhận sự ủng hộ của nhân dân chuyển về Chi đội nuôi quân.


Ban chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà bước đầu tổ chức được 9 quận quân sự ở Châu Thành, Tân Uyên và Xuân Lộc như sau:

Quận quân sự 1: Do đồng chí Trừ Sùng Thới phụ trách, hoạt động ở các xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An.

Quận quân sự 2: Do đồng chí Lê Ngọc Có và Lê Công Thính phụ trách, hoạt động tại các xã Bình Long, Lợi Hoà, Cây Đào (Tân Phú) thuộc quận Tân Uyên.

Quận quân sự 3: Do đồng chí Phạm Văn Anh, Phạm Văn Thăng, Cổ Tấn Chương phụ trách, hoạt động ở các xã Bình Hoá, Bình Chánh, Tân Dân, Mỹ Quới, Tân Ba, Phước Thành, Thái Hoà, Bình Mỹ (quận Tân Uyên).

Quận quân sự 4: Do đồng chí Trần Văn Xã (Tư Xã) phụ trách, hoạt động ở các xã Bình Hoà, Tân Phong, Tân Mai (quận Châu Thành).

Quận quân sự 5: Do đồng chí Châu Ngọc Đức phụ trách, hoạt động ở các xã Tân Hạnh, Hoá An, Bửu Hoà, Tân Vạn, Bình Trị (quận Châu Thành).

Quận quân sự 6: Do đồng chí Hoàng Tam Kỳ phụ trách, hoạt động ở Bình Đa, Vĩnh Cửu thuộc xã Tam Hiệp, xã Hiệp Hoà (quận Châu Thành).

Quận quân sự 7: Do đồng chí Đỗ Bồng Long phụ trách, hoạt động ở các xã Phước Hoà, Phước Vĩnh, Phước Sang, An Linh (quận Tân Uyên).

Quận quân sự 8: Do đồng chí Đỗ Duy Tý phụ trách hoạt động ở khu vực Trảng Bom, Bàu Côi, Phước Cang quận Châu Thành giáp ranh quận Long Thành.

Quận quân sự 9: Do đồng chí Đỗ Thanh Tùng và Võ Văn Vũ phụ trách, hoạt động khư vực đồn điền cao su thuộc các xã từ Dầu Giây lên Bình Lộc, Túc Trưng, Định Quán (quận Xuân Lộc).

Sau này còn thành lập thêm quận quân sự 10 do Huỳnh Công Tâm (Tư Ước), Tôn Quang Bảo, Nguyễn Nhạc phụ trách, hoạt động khu vực từ ngã ba Dầu Giây ra giáp Bình Thuận.


Như vậy với việc xây dựng các quận quân sự, Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa đã thể hiện tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, xây dựng được chân rết bên dưới cho chi đội hoạt động thuận lợi hơn. Có thể nói bước đầu, tỉnh Biên Hòa đã xây dựng được 3 hình thức vũ trang từ tỉnh xuống quận, xã, tiền thân của 3 thứ quân sau này.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:25:45 pm
4.Vừa xây dựng vừa chiến đấu

a.Từ các Quận quân sự đến các Ban công tác liên thôn:

Chi đội 10 Biên Hòa hình thành cũng là lúc thực dân Pháp cơ bản đã kiểm soát được vùng thị xã, thị trấn, xây dựng các bộ máy tề ở huyện, xã, tể chức hệ thống đồn bót cả ở đô thị, nông thôn, các đồn điền cao su. Đơn vị đứng chân chiến đấu trên một chiền trường rộng (trên 11.000km2), địa hình vừa có rừng núi, đồng bằng, đô thị, sông rạch khá chằng chịt, với nhiều lộ giao thông quan trọng gồm cả đường bộ, đường thủy và đường sắt. Biên Hoà là đô thị trung tâm của miền Đông Nam Bộ, lực lượng quân Pháp trên địa bàn gồm có: Trung đoàn 22 bộ binh thuộc địa và 1 tiểu đoàn của trung đoàn 11 bộ binh thuộc địa. Sở chỉ huy trung đoàn đóng tại thị xã Biên Hoà. Tiểu khu Biên Hoà gồm có 4 phân tiểu khu: Tân Mai, Xuân Lộc, Long Thành và Phước Hoà. 2 tiểu đoàn biệt kích (commandos), một do Paren chỉ huy đóng tại Cây Chàm thị xã Biên Hoà; một do Henry Voaro chỉ huy đóng ở Xuân Lộc. Lực lượng ứng chiến cơ động của địch gồm có: 1 tiểu đoàn cơ giới; 1 tiểu đoàn pháo binh; 1 đội thiết giáp. Ngoài ra khi cần mở những cuộc hành quân lớn, địch có thể tăng cường không quân, thuỷ quân và lực lượng cơ động Nam Đông Dương (bán lữ đoàn Lê dương số 13). Ngoài ra ở thị xã Biên Hoà, Long Thành, thực dân Pháp còn lợi dụng tôn giáo Cao Đài xây dựng những đơn vị vũ trang chống phá cách mạng.


So sánh tương quan lực lượng giữa thực dân Pháp và lực lượng vũ trang kháng chiến ở Biên Hoà - nòng cốt là Chi đội 10, rõ ràng có sự chênh lệch về quân số. Tuy nhiên hoạt động của Chi đội 10 có nhiều thuận lợi: Cán bộ, chiến sĩ am hiểu địa thế chiến trường; có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ; lại được quần chúng nhân dân, thông qua các đoàn thể cách mạng ủng hộ nhiệt tình, đồng thời cũng là tai mắt của kháng chiến. Ngoài căn cứ Chiến khu Đ được xây dựng ở 5 xã thuộc quận Tân Uyên, Biên Hoà còn có căn cứ rừng Sác ở vùng ngập mặn cận biển và một hệ thống những căn cứ du kích áp sát thị xã Biên Hoà như Bình Đa, Hố Cạn, Phước Cang, Đại An, Tân Định, Phước An, căn cứ núi Chứa Chan (Xuân Lộc)... Điều quan trọng hơn, Ban chỉ huy chi đội đã bố trí được các đại đội, trung đội đứng chân ở những vùng trọng điểm của tỉnh, trong đó đại đội A chủ yếu ở khu vực căn cứ và quận Tân Uyên (hữu và tả ngạn sông Đồng Nai), đại đội B (hai trung đội) đứng chân hoạt động khu vực thị xã Biên Hoà (quận Châu Thành, quận Xuân Lộc, nơi địch có nhiều cơ sở khai thác cao su, hệ thống giao thông quan trọng như lộ 1, lộ 20, đường 15, đường sắt); đại đội C đứng chân ở khu vực quận Long Thành án ngữ lộ 15 từ Biên Hoà đi Bà Rịa, tuyến sông Thị Vải, Lòng Tàu nối với biển Đông, có kho bom đạn Thành Tuy Hạ. Thế triển khai của Chi đội còn mở rộng hơn nhờ tổ chức được các quận quân sự, hình thành thế chân rết ở cơ sở hoạt động có hiệu quả.


Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chính phủ ta ký với Pháp bản Tạm ước. Quân Pháp ở Biên Hoà rút một số đơn vị bộ binh đi chuẩn bị mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước, rút bỏ một số đồn bót chúng đóng sâu trong căn cứ ta ở Tân Uyên, Long Thành. Vùng căn cứ kháng chiến được khôi phục và mở rộng; bộ máy Đảng, Chính quyền được củng cố. Các đội du kích ở quận và cơ sở tiến hành diệt ác ôn, trấn áp tề điệp, làm chủ được xã ấp, việc xây dựng cơ sở kháng chiến phát triển, hệ thống giao thông mở rộng, tạo điều kiện tiếp tế lương thực, hàng tiêu dùng cho bộ đội.


Trước chuyển biến tình hình có lợi cho kháng chiến, để tránh chồng chéo chức năng với chính quyền, Ban Chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà quyết định chuyển các quận quân sự thành các Ban công tác liên thôn, có đội du kích tập trung, là tiền thân của các quận đội dân quân sau này. Dưới các Ban công tác liên thôn là các Ban công tác xã có du kích xã (tiền thân các xã đội). Các ban công tác liên thôn là một tổ chức quân sự giúp việc cho Uỷ ban hành chính quận, nhưng do Ban chỉ huy Chi đội 10 chỉ huy và quyết định về kế hoạch hoạt động.


Ban công tác liên thôn 1: Do Trừ Sùng Thới trưởng ban, địa bàn hoạt động các xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc thuộc quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 2: Do Lê Ngọc Có trưởng ban và Lê Công Thính phó ban, địa bàn hoạt động các xã Bình Long, Lợi Hoà, Tân Phú (Cây Đào) quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 3: Do Phạm Văn Anh trưởng ban, Cổ Tấn Chương phó ban, địa bàn hoạt động ở các xã Bình Hoá, Bình Chánh, Tân Dân, Bình Mỹ, Phước Thành, Thái Hoà, Mỹ Quới, quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 4: Do Trần Văn Xã trưởng ban, hoạt động các xã Bình Hoà, Tân Phong, Tân Mai thuộc quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 5: Do Châu Ngọc Đức trưởng ban, hoạt động ở các xã Tân Hạnh, Hoá An, Bửu Hoà, Tân Vạn, Bình Trị thuộc quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 6: Do Hoàng Tam Kỳ trương ban, Nguyễn Văn Đồng phó ban, hoạt động ở các xã Hiệp Hoà, Tam Hiệp có ấp Vĩnh Cửu và Bình Đa, căn cứ dư kích của quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 7: Do Đỗ Bồng Long trưởng ban, Lý Quới và Lê Văn Thước phó ban, hoạt động ở các xã Phước Hoà, Phước Vĩnh, Phước Sang, An Linh thuộc quận Tân Uyên (sau đổi thành quận Sông Bé).

Ban công tác liên thôn 8: Do Đỗ Duy Tý trưởng ban, hoạt động vùng Bàu Côi thuộc quận Châu Thành và Phước Cang thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liên thôn 9: Do Đỗ Thanh Tùng trưởng ban, Trần Văn Lộc, Võ Văn Đức phó ban, phụ trách các xã và sở cao su Dầu Giây, Bình Lộc, Túc Trưng, Định Quán và dọc quốc lộ 20 thuộc quận Xuân Lộc.

Ban công tác liên thôn 10: Do Huỳnh Công Tâm trưởng ban, Nguyễn Văn Nhạc, Tôn Quang Bảo phó ban, phụ trách các xã và sở cao su Bình Lộc, Gia Ray, Bảo Chánh và dọc quốc lộ 1 từ An Lộc đến Gia Huynh thuộc quận Xuân Lộc.

Ban công tác liên thôn 11: Do Nguyễn Văn Xuất trướng ban, phụ trách các xã Tam An, An Lợi, Phước Tân, Tam Phước, Long Điềm thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liên thôn 12: Do Phạm Tự Do trưởng ban, phụ trách các xã Long Tân, Phú Hội, Phú Mỹ, Phước Thiền... thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liển thôn 13: Do Nguyễn Văn Lạch trưởng ban, phụ trách các xã Phước Lý, Phước Khánh, Phước An, Phú Hữu thuộc quận Long Thành.

Ban cộng tác liên thôn 14: Do Nguyễn Trọng Trường trưởng ban, phụ trách các xã Phước Kiễn, Phước Lai, Phước Long, Phước Thọ thuộc quận Long Thành.

Như vậy có thể nói đến cuổì năm 1946, trên địa bàn tỉnh Biên Hoà đã hình thành 3 hình thức tổ chức vũ trang: Các đại đội tập trung của chi đội; các đội du kích tập trung của Ban công tác liên thôn; du kích các xã, là cơ sở để xây dựng 3 thứ quân ở địa phương sau này. Trong lúc đó, ở trong thị xã, Ban chỉ huy chi đội chuyển các tổ ám sát làm nhiệm vụ diệt trừ ác ôn, thành các Ban công tác thành, tiền thân của biệt động đội Biên Hoà sau này.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:27:14 pm
b.Những trận đánh giao thông đường sắt:

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và khẳng định toàn dân tộc Việt Nam quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.


Trước đó vào ngày 16 tháng 12 năm 1946, Trung ương đã điện chỉ đạo Xứ ủy Nam Bộ “Nhiệm vụ của Nam Bộ là không cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc”.

Đêm 31 tháng 12 năm 1946, rạng sáng ngày 1 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội 10 nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp:

'“Tổ quốc lâm nguy!

Giờ chiến đấu đã đến!

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ Trung, Nam, Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước”.



Chi đội trưởng Chi đội 10 vừa đọc xong nhật lệnh của Tổng chỉ huy, thì từ hướng thị xã Biên Hoà, những loạt nổ lớn vang lên, mở đầu cho trận tấn công vào thị xã Biên Hoà lần thứ hai. Trận đánh có sự phối hợp của trung đội 5 (Lê Thoa), trung đội 1 (Nguyễn Ngọc Ngộ), Ban công tác liên thôn 4 (Trần Văn Xã) và Binh công xưởng chi đội 10 do Bùi Cát Vũ chỉ huy.


Đúng 2 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1947, Ban công tác liên thôn đưa các chiến sĩ binh công xưởng với khẩu côi 81 ly vừa chế tạo từ hướng Bửu Long vào Sở Cải xây dựng trận địa. Cùng lúc trung đội 5 từ bến đò An Hảo vượt sông Đồng Nai vào ém quân ở khu vực đài Kỷ niệm, đột nhập đốt cháy phòng thông tin của địch ở chợ Biên Hoà và rải truyền đơn của Việt Minh kêu gọi nhân dân nội thành tham gia ủng hộ kháng chiến. Trung đội 1 phục kích ở khu vực chòm mã ngả ba Dốc Sỏi chặn viện binh Pháp từ sân bay ra.


15 quả đạn cối 81 ly đã bắn vào thành Săng Đá của Pháp, gây nổ và tạo thành những cột lửa cao cháy sáng rực một góc thành. Cùng lúc phòng thông tin ở chợ Biên Hoà bị thiêu rụi, trạm canh trước dinh tỉnh trưởng Biên Hoà bị tấn công và đốt cháy. Nhân dân Biên Hoà vô cùng phấn khởi.


Trận tấn công thị xã Biên Hoà lần thứ hai là thực tế biểu hiện ý chí quyết tâm của Đảng bộ, quân dân Biên Hoà thực hiện sự chỉ đạo của Tổng chỉ huy, cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc; đồng thời là trận đánh kỷ niệm một năm ngày quân dân Biên Hoà tấn công thị xã (1-1-1946).


Trung tuần tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội triệu tập các đại đội trưởng (A, B, C), Giám đốc binh công xưởng chi đội và trưởng chi quân báo họp tại Văn phòng Ban chỉ huy (Tân Tịch), nhằm triển khai nhiệm vụ: “Không cho giặc Pháp cướp của Nam Bộ ra đánh Bắc, Trung Bộ”. Hội nghị nhận định muốn ngăn chặn dịch chuyển hàng chuyển quân ra Trung, Bắc, phải mở những trận đánh giao thông. Vấn đề quan trọng là chọn điểm mở mặt trận. Trên cơ sở nhận định: Quốc lộ 14, quốc lộ 20 cũng là giao thông huyết mạch của địch ra miền Trung, nhưng nếu xử dụng những con đường này địch phải đi đường vòng lên Tây Nguyên mới trở lại miền Trung, đường vừa xa vừa đèo dốc, do vậy Ban chỉ huy nhất trí chọn quốc lộ 1 làm mục tiêu tiến công các đoàn xe giao thông địch, đặc biệt đường sắt Bắc-Nam thuộc địa phận quận Xuân Lộc là mục tiêu chính.


Hội nghị chưa xong thì ngày 18 tháng 1 năm 1947, thực dân Pháp với lực lượng khoảng 2.000 quân có tàu chiến và pháo binh, bộ binh tấn công vào chiến khu Đ. Tuy nhiên nhờ đã bố phòng và cảnh giác cao, đại đội A phối hợp cùng các Ban công tác liên thôn ngăn chặn địch có hiệu quả, tiêu diệt nhiều bộ binh địch, đặc biệt bãi cọc chống nhảy dù ở khư vực trảng trống đã phát huy hiệu quả cao. Trận càn của Pháp bị bẻ gãy, ta thu nhiều vũ khí, máy thông và nhiều vải dù của địch.


Xuân Lộc là chiến trường xa, gặp nhiều khó khăn, việc đưa bộ đội với lực lượng lớn về tác chiến chắc chắn gặp nhiều khó khăn nếu không có sự giúp đỡ và ủng hộ của quần chúng, tuy bị giặc kìm kẹp chặt vẫn luôn hướng về kháng chiến. Trên cơ sở nhận định này, Ban chỉ huy giao nhiệm vụ cho đại đội B nghiên cứu kết hợp cùng Ban công tác liên thôn 9 và 10, thực hiện một trận đánh để tạo niềm tin với nhân dân địa phương, tạo điều kiện cho Chi đội về đứng chân hoạt động trong đợt.


Theo báo cáo của hai Ban công tác liên thôn, đại đội trưởng Lê Văn Ngọc quyết định chọn đồn Bình Lộc nằm trong đồn điền cao su Bình Lộc do 1 trung đội Lê dương đóng giữ, có công sự kiên cố, trang bị 1 cối 60 ly, một đại liên, 1 trung liên trên chòi gác, có sự hỗ trợ và chi viện của hai phân chi khu Dầu Giây và Túc Trưng.


Đồng chí Đinh Quang Ân, đại đội phó đại đội B kiệm trung đội trưởng trung đội 4 đã hoá trang thành công nhân để xâm nhập vào đồn điền nghiên cứu thực địa, kiểm tra tình hình địch do cơ sở của hai Ban công tác liên thôn cung cấp. Nữ cơ sở Nguyễn Thị Minh đã đưa đồng chí vào tiếp xúc với linh mục Khuê và được linh mục giúp đỡ hoá trang thành linh mục đi ra khỏi sự kiểm soát của thực dân một cách an toàn.


Một đêm đầu tháng 2 năm 1947, trung đội 4 và trung đội 6 để lại hai phân đội chặn viện bên ngoài, bí mật vào tiếp cận bao vây đồn Bình Lộc. Toàn bộ bọn lính trong đồn đều bị bất ngờ. Ta bắt sống toàn ban chỉ huy đồn, tên chủ sở đồn điền và binh lính, thu toàn bộ súng. Đồng chí Nguyễn Văn Khoa, chính trị viên đại đội cho tập hợp toàn thể tù binh nghe về chính sách của Việt Minh và khuyên bọn binh lính, sĩ quan đồn không nên chống phá cách mạng. Tên chủ sở phải làm cam kết không gây khó khăn cho công nhân và hứa đóng thuế cho kháng chiến. Toàn bộ địch đều được ta khoan hồng tha cho về nhà. Đồn Bình Lộc bị san bằng.


Trong lúc đó, Ban công tác liên thôn 9 và 10 cùng công nhân tháo gỡ máy móc thiết bị nhà máy chuyển lên xe bò chở ra khu kháng chiến; tịch thu và đốt toàn bộ những giao kèo, sổ sách của đồn điền, phóng hoả đốt văn phòng, nhà mủ, nhà kho của đồn điền.

Sáu tháng sau đồn điền Bình Lộc vẫn chưa khôi phục được cơ sở sản xuất.

Trận đánh đồn Bình Lộc thắng lợi gây tiếng vang lớn. Chính quyền, Mặt trận Việt Minh quận Xuân Lộc có điều kiện mở rộng gây dựng cơ sở, phát động phong trào hũ gạo nuôi quân rộng rãi, kể cả những nhà sư (chùa Xuân Hoà) cũng trở thành cơ sở tiếp nhận tiếp tế của quần chúng cho kháng chiến.


Trong lúc đó, trên chiến trường quận Tân Uyên, Đại đội A đã tổ chức đánh diệt đồn Đất Cuốc, mở thông đường liên lạc Lạc An - Đất Cuốc - Đất Đạo - Sở Tiêu. Chiến khu Đ được mở rộng. Các cơ quan chuyển ra Tân Hoà, Mỹ Lộc, Quân y viện chuyển ra Suối Cá, Mỹ Lộc, Binh công xưởng chuyển về Đất Cuốc... Sau đó, đại đội A tiếp tục tiến ra đường 16, nhổ bót Thái Hoà, đánh hàng loạt đồn bót địch trên đường 16; đánh địch ở Phước Hoà phát triển lên quốc lộ 14 đến Đồng Xoài.


Phía tả ngạn sông Đồng Nai, Trung đội 5 cùng các ban công tác liên thôn 4, 5, 6 tổ chức tập kích đồn bót địch trên đường 24, 15, bức rút bót Vĩnh Cửu, bót Mội nhĩ Bình Đa, mở rộng căn cứ du kích Bình Đa, áp sát thị xã Biên Hoà.


Thế làm chủ của ta mở rộng, căn cứ xây dựng vững chắc, thế bố trí của các Ban công tác liên thôn cùng du kích các xã được triển khai rộng. Đó là điều kiện thuận tiện để ban Chỉ huy chi đội 10 yên tâm chuyển một bộ phận lớn lực lượng về Xuân Lộc mở một loạt trận phục kích giao thông đường sắt.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:28:29 pm
Trận Bảo Chảnh (19-5-1947)

Đoạn đường xe lửa Bảo Chánh nằm trên cung đường xe lửa Nam-Bắc cách thị trấn Xuân Lộc chỉ độ 10 ki-lô-mét, đường xe lửa chạy xuyên qua khu rừng già, đường tiếp viện duy nhất của thực dân Pháp cũng chính là đường sắt. Với ta, địa điểm Bảo Chánh có nhiều thuận lợi: Gần với điểm tập kết của lực lượng bộ đội ta ở Suối Rết, việc chuyển quân và rút quân khi cần đều thuận lợi vì gần với căn cứ Chứa Chan của quận Xuân Lộc giáp liền với khu vực Thọ Vực, Định Quang, Bình Hoà, là khu vực rừng.


Lực lượng tham gia trận đánh gồm Đại đội B với hai trung đội 4 và 6 phối hợp cùng du kích hai Ban công tác liên thôn 9 và 10. Trang bị vũ khí của bộ đội có trung liên, tiểu liên, súng trường, lựu đạn. Binh công xưởng Chi đội 10 tăng cường 1 quả địa lôi kích nổ điện được chế tạo từ quả đạn pháo 75 ly.


Buổi trưa ngày 19 tháng 5 năm 1947, mặt trời lên cao. Đoàn xe lửa của địch chầm chậm chạy vào trận địa phục kích. Quả địa lôi phát nổ buộc đoàn xe dừng lại. Bộ đội ta từ cánh rừng hai bên đường xe lửa vận động ra, tiếng hô xung phong vang dậy rừng. Lực lượng ta vận động chiếm các toa tàu. Bọn lính hộ tống trên các toa tàu không kịp phản ứng, một số bị tiêu diệt, một số ôm súng chạy vào rừng, chạy ngược về hướng Xuân Lộc, một số đầu hàng tại chỗ. Ta thu một khẩu đại liên Hốt-kít, nhiều quân trang, quân dụng, lương thực thực phẩm, trong đó có nhiều bánh mì, cá hộp...


Trận ra quân đầu tiên ở Bảo Chánh thắng lợi hoàn toàn. Bộ đội ta nhanh chóng rút về núi Chứa Chan, mở hội nghị tổng kết trận đánh, chuẩn bị cho các trận sau. Riêng lực lượng hai Ban công tác liên thôn trở về địa phương, bố trí đội hình sẵn sàng đánh trả khi địch phản kích, ruồng càn giết hại nhân dân.


Lực lượng về đến căn cứ, cũng là lúc đồng chí Võ Văn Lắm, chiến sĩ Ban công tác liên thôn 10 trong lớp áo nhà sư đã hoàn thành nhiệm vụ hướng dẫn đoàn cán bộ cao cấp của Trung ương vào chỉ đạo phong trào kháng chiến Nam Bộ; đoàn do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu. Thay mặt Ban chỉ huy Chi đội, cán bộ chỉ huy các đại đội, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã báo cáo tình hình kháng chiến ở Biên Hoà; việc thực hiện chỉ thị của Trung ương không cho giặc cướp của Nam Bộ ra đánh Bắc, Trung Bộ, trong đó trận đánh xe lửa Bảo Chánh mở đầu cho hoạt động này.


Đồng chí Lê Duẩn đã xuống chân núi thăm hỏi, động viên và ngợi khen chiến công của bộ đội ta. Đồng thời đồng chí chỉ rõ những thiếu sót, yếu kém của bộ đội, nhất là về sức mạnh tư tưởng, quân phong, quân kỷ, chiến thuật, kỹ thuật chiến dấu. Đồng chí Lê Duẩn đã chuyển những tài liệu huấn luyện bộ đội (của trường quân sự Trần Quôc Tuấn) cho Ban chỉ huy Chi đội 10 và trực tiếp tham gia, quan sát việc huấn luyện bộ đội Chi đội 10 tại căn cứ, trao đổi với lãnh đạo tỉnh về việc kiện toàn, tổ chức bộ máy kháng chiến của tỉnh Biên Hoà.


Sau hai tuần huấn luyện, bộ đội Chi đội 10 Biên Hoà đã nâng cao được chất lượng chiến đấu về tư tưởng, đội ngũ và kỹ thuật chiến đấu, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.



Trận Trảng Táo (tháng 6-1947)

Sau trận Bảo Chánh, Binh công xưởng Chi đội nhận định mìn chế tạo bằng đầu đạn pháo 75 ly không đủ sức công phá đầu máy xe lửa địch, làm hư đoàn tàu. Hơn nữa trong điều kiện không có vũ khí nào mạnh hơn, Giám đốc binh công xưởng có sáng kiến dùng mìn 75 ly, kết hợp với tháo bù lon đường ray, cho các chiến sĩ khoẻ mạnh cột dây kéo mạnh hai bên, mục đích làm cho xe lửa trật bánh sắt khỏi đường ray phải dừng lại. Tham gia trận đánh Trảng Táo cũng gồm đại đội B và du kích hai Ban công tác liên thôn 9 và 10.


Khi đoàn xe lửa vừa đến, địa lôi nổ các chiến sĩ từ hai cánh rừng kéo mạnh dây đã cột vào đường ray, nhưng các toa đè trên đường ray sức kéo không đủ lực.


Khi bánh xe của đầu toa sau vừa ra khỏi đầu nối đường ray, các chiến sĩ dùng sức kéo mạnh, đường ray bật ra. Hai toa xe sau lọt khỏi đường ray những vẫn chạy thêm một đoạn nữa đến khúc cua thì lật nhào, đoàn tàu phía trước vẫn chạy luôn về ga Gia Huynh. Bộ đội ta truy kích theo, dùng lựu đạn đánh diệt toa tàu chở bọn lính hộ tống. Toa còn lại, ta tịch thu hai khẩu súng đại liên, 10 tấn gạo và nhiều đồ hộp thịt, cá.


Toàn lực lượng rút về căn cứ núi Chứa Chan, báo cáo kết quả với đồng chí Bí thư Xứ ủy và Ban chỉ huy Chi đội 10.


Ban chỉ huy cho một phân đội hướng dẫn và bảo vệ đồng chí Lê Duẩn lên đường về Nam Bộ.



Trận Bảo Chánh II

Trong quá trình đánh trận Trảng Táo, nhân dân Gia Huynh phát hiện được 3 quả bom lép (50 cân Anh) do quân Đồng minh ném trước đây còn sót lại và báo cáo cho Binh công xưởng đưa về, chế tạo thành 3 quả mìn kích nổ bằng điện dùng để đánh các trận kế tiếp.


Bị đánh hai trận ở Bảo Chánh và Trảng Táo, thực dân Pháp cũng đã rút kinh nghiệm đối phó. Trên đường xe lửa địch cho chạy cùng lúc hai đoàn tàu cách nhau khoảng 200 - 300 mét, để nếu một đoàn bị ta đánh, đoàn còn lại sẽ ứng cứu. Hơn nữa với hai đoàn tàu, địch buộc ta phải dàn quân kéo dài, tạo nhiều sơ hở để chúng phản công.


Nắm được ý đồ của thực dân, Ban chỉ huy Chi đội 10 chỉ đạo chặn đánh đoàn tàu đi sau, đồng thời bố trí lực lượng ngăn chặn không cho đoàn tàu đi trước có thể quay lại ứng cứu. Và để tạo bất ngờ cho địch, Ban chỉ huy chi đội cho bộ đội quay lại bố trí trận địa ở Bảo Chánh, nơi đoàn xe địch đã bị ta đánh vào tháng 5 năm 1947.


Đoạn đường sắt Bảo Chánh nằm giữa hai quả đồi, hai bên ta luy cao từ 4-5 mét. Bộ đội ta phục kích hai bên cách từ 10 đến 20 thước, từ nơi phục kích nhận biết tàu địch qua chiếc ống khói tàu nhô lên chứ không nhìn thấy hết đoàn xe.


Khi đoàn tàu lửa vào trận địa, đầu xe thứ nhất vừa qua, từ điểm chỉ huy quan sát, đồng chí đại đội trưởng đại đội B ra lệnh phát hoả. Quả địa lôi 50 cân Anh nổ lớn. Chiếc đầu máy xe lửa bị hất tung lên và rơi xuống đất kéo theo một tiếng vang rất lớn. Bộ đội ta từ hai bìa rừng vận động ra thì thấy đoàn tàu lửa đang chạy thục mạng về hướng Gia Ray, còn đoàn tàu thứ hai thì dừng lại cách trận địa trên 200 mét. Lúc đó ta mới phát hiện chiếc đầu máy Pacific bị nổ tung là đầu máy đẩy của đoàn tàu đi trước.


Bộ đội được lệnh vận động theo bìa rừng tiếp cận tấn công đoàn tàu đi sau. Từ hai bên ta luy trên cao (cách đường ray 4-5 mét), hoả lực ta bắn cấp tập vào hai toa bọc thép hộ tống, để bộ đội luồn dưới làn đạn xung phong lên các toa xe đánh địch. Nhưng bỗng nhiên, cả đoàn xe địch chuyển động rồi chạy ngược về hướng Dầu Giây. Bộ đội ta buộc phải nhảy xuống để rút vào rừng.


Như vậy ở trận Bảo Chánh lần thứ II, ta chỉ diệt được một đầu máy tàu lửa, nhưng chiến lợi phẩm thu được không nhiều.

Sau trận đánh, trung đội 4 quay về căn cứ Hầm Hinh (núi Chứa Chan) để luyện quân, trung đội 6 được lệnh chuyển hướng hoạt động trên lộ 20, đánh diệt bót La Ngà lần thứ hai, buộc địch bỏ luôn không đóng quân tại bót này.


Ngày 11 tháng 7 năm 1947, thực dân Pháp tổ chức tiến công vào căn cứ núi Chứa Chan. Trung đội 4 chỉ để lại một tiểu đội cùng du kích Ban công tác liên thôn 10 đã tổ chức chặn đánh quyết liệt, nhưng đạn không đủ dùng, Ban chỉ huy trung đội bố trí cho lực lượng theo đường bí mật rút khỏi căn cứ. Chiều 12 tháng 7, giặc chiếm được chùa hang trên núi, phá một số kho lương thực còn lại của huyện, nhưng lực lượng ta đã rút lui an toàn. Trung đội 4 và trung đội 6 đã bí mật chuyển quân về Bàu Cá (quốc lộ I) theo chỉ đạo của Ban chỉ huy đại đội và Chi đội.



Trận Bàu Cá (14-7-1947)

Tại Bàu Cá, ngoài trung đội 4, 6 (đại đội B), trung đội 5 ở Tam Hiệp, Vĩnh Cửu và trung đội 8 từ Long Thành cũng được điều về tập trung ở đây chuẩn bị cho trận đánh giao thông đường sắt nhân ngày quốc khánh nước Pháp (14-7-1947).


Binh công xưởng Chi đội 10 đã chế tạo từ hai quả bom 50 cân Anh thành hai quả địa lôi kích nổ bằng điện để phục vụ trận đánh. Lực lượng ta bố trí hai trận địa A và B trên tuyến đường đường sắt đoạn Bàu Cá.


12 giờ trưa ngày 14 tháng 7 năm 1947, đoàn tàu thứ nhất lọt vào trận địa A. Quả địa lôi nổ tiêu diệt đầu máy tàu. Bộ đội ta xung phong, nổ súng tiêu diệt 200 tên bao gồm bọn lính hộ tống (có 1 đại uý chỉ huy) và lính tăng viện ra chiến trường Trung, Bắc. Ta thu được 1 khẩu trung liên, 14 tiểu liên, 40 súng trường, 5 súng ngắn và 3 máy truyền tin vô tuyến, cùng nhiều lương thực thực phẩm, ở mặt trận B, đoàn tàu thứ hai chưa vào trận địa, nhưng nghe tiếng nổ nên dừng lại và chạy ngược về hướng Trảng Bom.


Trận đánh diễn ra đúng ngày quốc khánh nước Pháp, gây một tiếng vang chính trị rất lớn. Lời tuyên bố huênh hoang của chính quyền Pháp là đã bình định xong Nam kỳ trở thành sáo rỗng; chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp bất thành.


Sau trận đánh, Ban chỉ huy Chi đội chỉ đạo cho các đơn vị vũ trang nhanh chóng chuyển về chiến khu Đ dưỡng quân, huấn luyện và tổng kết đợt hoạt động chuẩn bị cho trận chiến sắp tới. Đồng thời Ban chỉ huy chỉ đạo hai Ban công tác liên thôn sô 9 và 10 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian, đánh tập kích, phục kích địch đi càn ruồng nhằm đánh lạc hướng địch là bộ đội chủ lực vẫn còn hiện diện trên chiến trường Xuân Lộc.


Như vậy, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ, chỉ thị của Tổng chỉ huy, trong 55 ngày đêm chiến đấu trên chiến trường Xuân Lộc, lực lượng Chi đội 10 đã liên tục mở 4 trận đánh giao thông đường sắt giành nhiều thắng lợi.


Thắng lợi cho thấy rõ quyết tâm của Ban chỉ huy Chi đội và toàn thể cán bộ chiến sĩ trong chiến đấu, khắc phục khó khăn để chiến đấu. Thắng lợi còn cho thấy sự chỉ đạo, chỉ huy sâu sát của Ban chỉ huy Chi đội. Từng trận đánh đều được nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch cụ thể. Điều quan trọng hơn là sự phối hợp chặt chẽ của các Ban liên thôn là rất cần thiết và là yếu tố quan trọng trong việc chuẩn bị chiến trường, nắm tin và phục vụ hậu cần cho bộ đội.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:31:19 pm
c.Luyện quân, nâng cao chất lượng chính trị và trình độ quân sự:

Cuối tháng 7 năm 1947, Tỉnh ủy Biên Hòa triệu tập hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh lần thứ II ở Mỹ Lộc. Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ thay mặt Khu miền Đông về tham dự và chỉ đạo hội nghị. Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Ký được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa. Hội nghị quyết nghị cần phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng với phong trào kháng chiến.


Về hoạt động vũ trang ở Biên Hòa, đồng chí Hai Sĩ đánh giá cao hoạt động tác chiến có hiệu quả của Chi đội 10, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế trong tác chiến và xây dựng: Ban chỉ huy Chi đội chưa chú trọng đến công tác xây dựng cơ sở và hỗ trợ đắc lực để xây dựng phong trào du kích chiến tranh ở địa phương; tập trung tác chiến là tốt nhưng khi lực lượng rút đi, cơ sở bị bỏ trống, địa phương không đủ lực lượng đối phó với các hoạt động đánh phá của địch. Đồng chí nhấn mạnh, Ban chỉ huy Chi đội cần chú trọng công tác xây dựng Đảng trong chi đội, đại đội, trung đội và các lực lượng vũ trang khác với các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ kiên trung đã trải qua hai năm chiến đấu, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng với lực lượng vũ trang.


Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy, ngay trong hội nghị, đồng chí bác sĩ Võ Cương, Chính trị viên Chi đội 10 đã được kết nạp Đảng và bổ sung vào Ban chấp hành Tỉnh ủy. Từ đầu tháng 8 đến cuối năm 1947, công tác phát triển đảng trong Chi đội 10 được đẩy mạnh. Tỉnh uỷ Biên Hoà đã tăng cường nhiều cán bộ đảng có kinh nghiệm về các đơn vị giúp cho công tác phát triển đảng được thuận lợi. Hàng loạt cán bộ, chiến sĩ các đại đội, trung đội được xem xét kết nạp vào Đảng và được Ban chấp hành Tỉnh ủy công nhận đảng viên chính thức1 (Đây cũng là một đặc điểm trong công tác xây dựng Đảng ở nhiều lực lượng vũ trang miền Đông. Các đảng viên mới kết nạp hầu hết là những cán bộ, chiến sĩ đã được thử thách và trui rèn qua hai năm kháng chiến, thể hiện được mục tiêu lý tưởng bản chất và bản lĩnh chính trị của người cộng sản).


Đến cuối năm 1947, 3 đại đội và 8 trung đội trực thuộc, một số tiểu ban, Binh công xưởng, văn phòng của Chi đội đã xây dựng được chi bộ, các đại đội, trung đội đều có chính trị viên, chi bộ...


Việc phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ, chi uỷ đảng trong các đơn vị vũ trang góp phần làm chuyển biến về nhận thức chính trị cho nhiều cán bộ chỉ huy các đơn vị, xác lập sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang Biên Hòa.


Đồng thời để đưa thông tin xuống với cán bộ, chiến sĩ, đẩy mạnh hoạt động giáo dục chính trị, Ban chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà đã cho xuất bản tờ báo “Tiếng Rừng”. Chỉ huy trưởng chi đội kiêm luôn chủ bút, chủ biên. Những cây bút chủ lực như Huỳnh Văn Nghệ, Bùi Cát Vũ, Phan Đình Công, Tô Văn Trước... và nhiều cây bút khác trong các cơ quan Dân, Chính, Đảng đã góp phần quan trọng cho tờ báo được in, phân phát, phổ biến đến các chiến sĩ và cả vào trong nội thành đến với quần chúng, động viên tinh thần và sức mạnh kháng chiến.


Thực hiện sự lãnh đạo của Xứ ủy, Bộ Tư lệnh Nam Bộ về việc thống nhất tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang, tháng 10 năm 1947, Tỉnh ủy Biên Hòa chỉ đạo xây dựng tỉnh đội dân quân, huyện đội dân quân, xã đội dân quân. Thực hiện quyết định này, lực lượng vũ trang Chi đội 10 tuy là lực lượng chủ lực của khu nhưng hoạt động ở chiến trường Biên Hoà đồng thời chịu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Biên Hoà trong vai trò bộ đội chủ lực của tỉnh. Từ Tỉnh đội đến Huyện đội, xã đội đều trực thuộc sự lãnh đạo của Đảng ủy và chính quyền địa phương cùng cấp. Tỉnh đội dân quân có nhiệm vụ chỉ đạo phát triển phong trào dân quân trong tỉnh, kết hợp chặt chẽ cùng Ban chỉ huy Chi đội trong kế hoạch tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo các huyện đội dân quân, xã đội dân quân phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị thuộc Chi đội 10 tác chiến trên địa bàn.


Tỉnh đội bộ dân quân tỉnh Biên Hoà gồm các đồng chí: Cao Văn Bổ (nguyên chánh văn phòng Chi đội 10 làm Tỉnh đội trưởng); Nguyễn Văn Trị (nguyên chánh văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên, Tỉnh đội phó); Nguyễn Minh Nguyệt (nguyên phó Chủ tịch Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Tỉnh đội phó); Nguyễn Văn Lai (Chính trị viên Tỉnh đội bộ).


Với Huyện đội bộ dân quân, Tỉnh ủy chỉ đạo trên cơ sở tố chức lại các Ban công tác liên thôn đã có để hình thành. Mỗi huyện đều có dội du kích tập trung trên cơ sở các đội du kích tập trung của các Ban công tác liên thôn trước đây. Mỗi xã đội xây dựng du kích thoát ly trên cơ sở đội du kích các xã trước đây của Ban công tác xã. Huyện đội bộ dân quân các huyện được tổ chức như sau:

Huyện đội Tân Uyên: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 ban công tác liên thôn 1, 2, 3, do Trừ Sùng Thới làm Huyện đội trưởng, Cổ Tấn Chương làm Huyện đội phó.

Huyện đội Châu Thành: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 2 ban công tác liên thôn 4, 5 và 6, do Trần Văn Xã làm Huyện đội trưởng, Phạm Văn Cẩm làm Huyện đội phó, Châu Ngọc Đức làm Chính trị viên.

Huyện đội Xuân Lộc: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 2 ban công tác liên thôn 9 và 10, do Võ Văn Đức làm Huyện đội trưởng, Huỳnh Công Tâm và Trần Văn Lộc làm Huyện đội phó.

Huyện đội Long Thành: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 4 ban công tác liên thôn 8, 11, 12, 14, do Phạm Tự Do làm Huyện đội trưởng, Nguyên Trọng Trường làm Huyện đội phó, Hoàng Văn Trí làm Chính trị viên.


Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Ban chỉ huy Chi đội 10 chủ trương mở một đợt huấn luyện quân sự, chính trị cho cán bộ chiến sĩ toàn chi đội. Trên cơ sở rút kinh nghiệm qua thực tiễn chiến đấu, tham khảo tài liệu huấn luyện quân sự của Trung ương, Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hoà đã xây dựng được tài liệu huấn luyện:

- Thực hành đánh số các chiến sĩ trong tiểu đội, trung đội, đại đội để tăng cường tính tập thể trong huấn luyện cũng như trong hành quân và tác chiến trong các đơn vị.

- Thực tập hành quân ngày và đêm, hành quân vượt rừng, vượt suối, vượt sông, đường cái... nhanh chóng, bí mật theo đội hình hàng dọc, nhanh chóng triển khai thành đội hình hàng ngang đánh tao ngộ với địch. Kỹ thuật chiến đấu tổ tam tam, kỹ thuật chiến đấu tiểu đội, trung đội, đại đội...

- Tăng cường trang bị mỗi chiến sĩ, cán bộ chỉ huy mỗi người một túi gạo 5 lít, đảm bảo đủ gạo ăn trong lúc làm nhiệm vụ, tác chiến trong 5 ngày. Mỗi cán bộ chiến sĩ được trang bị thêm một võng nằm bằng vải dù, đảm bảo tính cơ động và thuận tiện trong hành quân1 (Theo nhiều cán bộ Chi đội 10, trang bị này xuất phát từ sáng kiến của đồng chí Võ Văn Vũ trung đội trưởng trung đội 6 đại đội B đã từng thực hiện cho đơn vị mình).


Để đảm bảo liên lạc, chỉ huy thông suốt, Ban chỉ huy Chi đội 10 thành lập một đội thông tin liên lạc với các Ban chỉ huy đại đội; phương tiện trang bị là các máy điện thoại, các máy liên lạc vô tuyến, hữu tuyến, chiến lợi phẩm thu được của địch trong các trận chiến đấu.


Về chính trị, cán bộ, chiến sĩ chi đội được học tập về kỷ luật chiến trường; chính sách tù hàng binh; công tác dân vận, binh địch vận...


Sau đợt huấn luyện, đến cuối năm, toàn Chi đội 10 đã có bước phát triển mới về bản lĩnh chính trị và nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật trong chiến đấu. Các đơn vị khi hành quân đảm bảo đội hình trật tự và bí mật (đảm bảo hai đơn vị hành quân ngược chiều trong rừng, không phát hiện được nhau trong khoảng cách 50 mét).


Về vũ khí, nếu trước đây, khi chiến đấu bộ đội phải thu gom lại các vỏ đạn để binh công xưởng rờ sạt lại (Recharge), gắn hạt nổ, cán bộ chiến sĩ Binh công xưởng chi đội đã nghiên cứu đế tạo những khuôn lùa chế tạo vỏ đạn mới có chất lượng. Thực tế trong kháng chiến cho thấy việc tìm nguyên liệu (thuốc nổ TNT) rất khó khăn, và nếu chế tạo loại mìn thông thường thì không đủ nguyên liệu chế tạo đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Nhờ có kỹ sư Lê Tâm (học từ bên Pháp về) chuyển giao thiết kế và kỹ thuật, Binh công xưởng đã nghiên cứu chế tạo được một loại Ba-zô-min, thường gọi là mìn lõm, khi nổ hỏa lực tập trung vào một điểm, sức công phá lớn, do đó dùng đánh xe bọc thép của Pháp rất hiệu dụng...


Tháng 11 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội cử trinh sát nghiên cứu việc chuyển vận của địch trên quốc lộ 14, với ý định đánh giao thông để kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến. Tham gia trận đánh, Ban chỉ huy điều toàn bộ 8 trung đội tổ chức 3 mặt trên quốc lộ 14 (đoạn Đồng Xoài).


Sáng 19 tháng 12 năm 1947, đoàn xe quân sự Pháp 25 chiếc có hai chiếc thiết giáp AM đi đầu và khoá đuôi. Binh công xưởng cho nổ hai quả Ba-zô-min, nhưng không diệt được xe thiết giáp. Bọn địch hốt hoảng, chiếc AM đi đầu chạy thẳng về hướng Đồng Xoài, chiếc thứ hai chạy lùi lại. Bộ đội ta xung phong bắn cháy 1 xe chở xăng và 9 xe chở lính, diệt 60 tên địch, thu 2 trung liên, 7 tiểu liên và nhiều vũ khí, trang bị quân sự khác.


Khoảng 15 phút sau, cả hai chiếc thiết giáp AM của Pháp bắt đầu quay lại trận địa và nổ súng quyết liệt vào đội hình ta. Đạn chống tăng (Antitank) không còn, chai xăng cháy ném cũng không hiệu quả. Anh em bộ đội hô to liên tục: “điều Ba-zô-min lên!”, “điều Ba-zô-min lên!” để hù doạ tinh thần địch. Cả hai xe AM đều hốt hoảng rồ máy chạy về hướng Đồng Xoài. Bộ đội ta tiếp tục làm chủ tình hình, thu dọn chiến trường.


Đến tháng 1 năm 1948, trong khi các lực lượng đang chuẩn bị chiến trường trên hướng quốc lộ 20, theo yêu cầu của Binh công xưởng Quân khu, Chi đội (thiếu, lấy Đại đội B làm nòng cốt) tổ chức đánh giao thông trên quốc lộ 15, đoạn Phước Cang (Long Thành). Mục đích trận đánh là giúp cho Binh công xưởng tiếp tục nghiên cứu về tác dụng và sức công phá của Ba-zô-min. Trong trận này Ba-zô-min nổ nhưng không phá được xe thiết giáp AM của Pháp, bộ đội ta xung phong, xe địch hoảng hốt bỏ chạy về hướng Biên Hoà.


Đây là hai trận đánh giao thông có ý nghĩa của Chi đội 10 giúp Ban chỉ huy Chi đội rút kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạch tác chiến giao thông; đồng thời giúp Binh công xưởng chi đội, nghiên cứu, cải tiến chất lượng bazomine, đảm bảo có thể đánh diệt xe thiết giáp của địch. Qua hai trận giao thông ở quôc lộ 14 và quốc lộ 15, Ban chỉ huy chi đội nhận định trình độ chỉ huy của cán bộ, kỹ thuật tác chiến của các đơn vị có nhiều tiến bộ, có đủ khả năng thực hiện những trận phục kích giao thông lớn hơn. về vũ khí, tuy Ba-zô-min chựa diệt được xe thiết giáp, nhưng có nhiều triển vọng, nếu nâng trọng lượng Ba-zô-min lên 5 hoặc 6 ki-lô-gam chất nổ thì có thế thành công.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:39:15 pm
Trận phục kích giao thông La Ngà (1-3-1948):

Ngay khi Chi đội nghiên cứu chiến trường Đồng Xoài vào tháng 11 năm 1947, đồng chí đại đội trưởng đại đội B đã đề xuất ý kiến cùng Ban chỉ huy Chi đội về việc đánh giao thông địch trên quốc lộ 20, con đường giao thông chiến lược của địch từ Sài Gòn đi Tây Nguyên. Trên đường giao thông này, chúng thường xuyên tổ chức những chuyến công voa có chuyến đến trên 80 chiếc xe quân sự. Đồng chí đại đội trưởng cho biết, hai bên quốc lộ 20, đặc biệt đoạn La Ngà là rừng già trùng điệp nối liền với Tây Nguyên và Chiến khu Đ, do đó việc chuyển quân, ém quân mở trận đánh lớn và rút lui đều thuận lợi. Hơn nữa, khu vực này trước đây có một số dân tộc ít người và hàng quán ở Túc Trưng để các xe đi Đà Lạt hoặc về Sài Gòn nghỉ chân, thì từ tháng 5 năm 1947, thực dân đã giải tán, khu vực trở thành không dân rất dễ cho việc bảo mật khi ta chuyển quân và bố trí đội hình lớn, dài ngày.


Ban chỉ huy sau khi phân tích tình hình, cơ bản nhất trí chọn quốc lộ 20 để tổ chức trận phục kích giao thông lớn. Tuy nhiên, đồng chí Chi đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ phân tích: Muốn đánh lớn phải tập trung lực lượng, nhiều vấn đề đặt ra cần giải đáp: Lương thực cho lực lượng bộ đội tham gia chiến đấu dài ngày; vấn đề bảo vệ căn cứ Chiến khu Đ khi ta chuyển lực lượng lớn lên tác chiến khu vực quốc lộ 20; vấn đề đối phó với tăng viện của địch và hạn chế chi viện của địch bằng không quân từ Biên Hoà lên... Nhưng vấn đề được quan tâm hàng đầu là làm sao giải quyết được vấn đề hậu cần cho bộ đội ở chiến trường? Những câu hỏi đặt ra cũng là những thách thức, cần có những giải pháp cụ thể, đặc biệt là phải huy động được “sức dân” mới có thể giải quyết được.


Bằng tài năng chỉ huy và tổ chức, Ban chỉ huy chi đội 10 với quan điểm dựa vào dân và bố trí lực lượng hợp lý, đúng người, đã từng bước giải quyết đồng bộ các yêu cầu đặt ra cho trận đánh giao thông trên quốc lộ 20.


Kế hoạch tác chiến cùng phương án tác chiến được hoàn thiện, cũng là lúc đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, Chi đội trưởng được Khu trưởng Nguyễn Bình cử làm trưởng đoàn về Long Thành dự đám giỗ thiếu tướng Dương Văn Dương, nguyên Khu bộ phó Khu 7 và một số nhiệm vụ khác. Xong nhiệm vụ, đồng chí Tám Nghệ theo đường rừng về đến chỉ huy sở của Chi đội 10 (quốc lộ 20) trước khi trận đánh nổ ra 2 giờ.


Ban chỉ huy trận đánh gồm: Nguyễn Văn Lung, Chi đội phó Chi đội 10 làm chỉ huy trưởng, Đinh Quang Ân, Lê Văn Ngọc, Hoàng Minh Chánh chỉ huy phó, Võ Cương chính trị viên.


- Công tác trinh sát nắm quy luật địch trên đường:

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban chỉ huy Chi đội, cuối tháng 11 năm 1947, Đại đội B đã xây dựng một phân đội trinh sát đặc biệt, lấy chiến sĩ của Ban công tác liên thôn 9 trước đây làm nòng cốt - đó là những đồng chí đã trải qua thực tiễn chiến đấu, am hiểu địa hình, địa vật, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc và nhân dân khu vực, giỏi công tác dân vận. Đầu tháng 12 năm 1947, phân đội lên đường xuyên rừng, vượt suối đi La Ngà. Túi gạo mang theo ngày càng vơi dần, trước mặt họ vẫn là rừng núi mênh mông, nhưng tất cả vẫn quyết tâm tiến lên. Anh em phân tán tìm đến các rẻo cao rừng rậm nơi đồng bào dân tộc Ch’ro, Mạ sinh sống. Họ đóng khố, hoà đồng vào cuộc sống của người dân tộc, rồi từng bước len lỏi vào các vị trí thuận lợi để theo dõi các đoàn xe địch qua lại trên quốc lộ 20.


Phân đội đặc biệt đã cử các trinh sát Võ Sáu, Lâm Văn và Nguyễn Thành Đức bám sát đoạn đường quốc lộ 20, quan sát, ghi chép từng chuyến xe, từng đoàn xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt và từ Đà Lạt trở về Sài Gòn để nắm quy luật của chúng, khoảng cách từng xe một, cách bố trí bảo vệ của địch trong từng đoàn công voa quân sự... Đoạn hồi ký của một trinh sát cho ta thấy được một phần nhiệm vụ hoạt động của họ: “Những ngày xe địch không đi, chà, sao mà thời gian lại dài đến thế? Rừng núi bạt ngàn. Không gian bao la lặng vắng như tờ. Những lúc ấy cái yên tĩnh kéo dài, nó làm cho con người đến khó chịu căng thẳng. Chúng tôi thèm được nghe một tiếng động, chim kêu hay vượn hót... Cảnh vật tĩnh mịch mà lòng chúng tôi cứ như lửa đốt, bồn chồn. Tin tức đơn vị, chiến khu, địch đánh, ta chống càn... hàng tháng chúng tôi chẳng hay chẳng biết. Cứ vậy mà sống đằng đẵng ngày này qua ngày khác, màn trời chiếu đất. Ban ngày chúng tôi chia nhau mỗi người đến một vị trí quan sát, chiều tối mới về một chỗ gặp nhau hội ý trao đổi tình hình rồi ôm lưng nhau cho ấm mà ngủ qua đêm lạnh để rồi lại tiếp tục công việc...


“Hôm nào có đoàn xe địch đi qua, hôm ấy chúng tôi thấy vui hẳn lên. Chúng tôi nhìn như dán mắt xuống đường cái, tai lắng hết sức để nghe những tiếng động cơ nổ. Chúng tôi theo dõi từng giờ từng phút. Mấy giờ có máy bay thám thính lượn qua? Nó hay nhòm ngó những quãng rừng nào? Nó bay qua lại mấy lượt? Nó đi khỏi thì bao nhiêu phút sau có đoàn xe ô tô mới kéo đến? Số lượng, tốc độ, khoảng cách giữa các xe, lực lượng hộ tống, hỏa lực?...


Mỗi đoàn xe địch đi qua, chúng tôi lại tích thêm được một số tài liệu, lòng vui hẳn lên. Nhưng rồi lại lo, lo nhiều hơn vui... Tình hình địch luôn luôn biến đổi, tìm sao cho ra được cải quy luật chung nhất của những sự biến đổi ấy. Có vậy mới cung cấp được thực chất tình hình địch để cấp chỉ huy có cơ sở vững chắc đặt kế hoạch tác chiến, hạ quyết tăm..”.


Lòng kiên trì, nhẫn nại của các chiến sĩ trinh sát cuối cùng cũng được đền đáp. Kết quả cho thấy, địa điểm phục kích qua cầu La Ngà thuận lợi hơn, vì đoạn đường quanh co khúc khuỷu, một bên đồi cao, một bên vực thẳm. Đoạn đường này lại có nhiều điểm nứt nẻ, xe địch không thể chạy nhanh, trên đường thỉnh thoảng có những bãi phân voi lớn có thể ngụy trang để gài địa lôi mà địch không nghi ngờ. Hàng tuần vào thứ hai một đoàn xe địch từ Sài Gòn đi Đà Lạt và thứ năm có một đoàn xe khác từ Đà Lạt về Sài Gòn. Những đoàn xe này thường có hai xe thiết giáp đi mở đường và bọc hậu, có từ 6 đến 8 xe quân sự chở lính hộ tống, cùng xe jeep của bọn chỉ huy, mỗi đoàn từ 50 đến 100 chiếc xe các loại. Đi cùng đoàn xe quân sự địch có nhiều xe chở khách của những hãng tư nhân ở Sài Gòn. Chi quân báo cho người giả hành khách đăng ký chuyến đi ở các hãng xe này nên nắm chắc thời gian xuất phát của đoàn xe địch từ Sài Gòn đi Đà Lạt.


Báo cáo của phân đội trinh sát đặc biệt, những bản vẽ cụ thể về đội hình xe địch trên đường 20, giúp Ban chỉ huy chi đội lên kế hoạch cụ thể việc bố trí địa lôi và lực lượng đáp ứng yêu cầu chiến đấu.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:40:21 pm
Chuẩn bị hậu cần, lương thực cho bộ đội:

Phân đội trinh sát đặc biệt qua nắm tình hình phát hiện 20 mẫu lúa của đồng bào dân tộc làm nhưng chưa thu hoạch, do thực dân Pháp đã gom dân đi. Phân đội đã tuyển chọn thêm 19 thanh niên địa phương tình nguyện tham gia lực lượng ra sức chăm sóc, thu hoạch 20 héc-ta lúa, đóng cối giã lúa, dần sàng thành gạo đưa vào kho dự trữ. Lượng gạo đủ cho khoảng 1.000 quân dùng trong 1 tuần lễ được bố trí ở ven suối Sa Sả và vàm ngã ba sông La Ngà - Đồng Nai.


Đặc biệt, về lương thực, anh em đã đánh bắt cá rất nhiều ở suối Sa Sả, rửa sạch, ướp muối phơi khô gần 500 kí để dành ăn lâu dài. Và khi Chi đội 10 chuyển quân rời căn cứ, phân đội đã xẻ thịt 6 con trâu, cắt khúc luộc nước muối phơi khô để dành cho bộ đội. Hàng chục thùng phuy nước được bố trí cặp những con đường bí mật cho bộ đội dùng.


Bên cạnh đó, chính quyền, Mặt trận Việt Minh huyện Xuân Lộc cũng cử cán bộ vào các sở cao su Bình Lộc, Túc Trưng vận động công nhân cao su ủng hộ kháng chiến. Công nhân dù cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, của ít lòng nhiều đã quyên góp một số gạo, khô mắm ủng hộ cho kháng chiến chuyển về kho dự trữ chung. Lượng ủng hộ tuy không nhiều nhưng thể hiện lòng tin của đồng bào Định Quán - Xuân Lộc với kháng chiến. Mặc khác, chi quân báo cũng cử nữ đồng chí quân báo Nguyễn Thị Tuyết Lan, giả làm người đi buôn trên tuyến đường Đà Lạt - Sài Gòn, vận chuyển được 3 tấn gạo và một số thuốc tây, hàng hoá cần thiết chuyển vào kho dự trữ.

Vấn đề lương thực cho Chi đội cơ bản được giải quyết.


- Kế hoạch tác chiến của Ban chỉ huy Chi đội 10:

Sau khi giải quyết được vấn đề lương thực, hậu cần và nắm quy luật của địch trên quốc lộ 20, Ban chỉ huy đề ra kế hoạch tác chiến như sau:

Về quan điểm: Trước hết phải giữ vững hậu phương, bằng cách để lại một đại đội phối hợp cùng du kích địa phương sẵn sàng chống địch càn quét vào căn cứ Chiến khu Đ, trong khi đại bộ phận chi đội chuyển quân lên La Ngà. Có kế hoạch áp sát thị xã Biên Hoà đánh sân bay Biên Hoà, buộc địch phải rút bớt lực lượng về đối phó.


Tập trung ưu thế binh lực: Ban chỉ huy dự kiến địch có 2 đại đội hộ tống đoàn xe, nhưng có hoả lực yểm trợ mạnh, có xe thiết giáp, do vậy phải tập trung ưu thế binh lực để khắc phục mặt yếu của ta, hạn chế mặt mạnh của địch, bảo đảm đánh nhanh, giải quyết nhanh. Ban chỉ huy chi đội quyết định lực lượng tham gia trận phục kích gồm có: Ban chỉ huy chi đội 10 và cơ quan chỉ huy tất cả 27 đồng chí; Huy động quân số gồm hai đại đội của Chi đội 10 với 360 chiến sĩ1 (Đại đội A có 2 trung đội; Đại đội C 1 trung đội; Đại đội B có 2 trung đội và một trung đội quốc vệ đội huyện Xuân Lộc); Ba trung đội của Liên quân 17 gồm 154 chiến sĩ2 (Liên quân 17 là đơn vị chủ lực của Khu 7 mới thành lập, đang trực thuộc Chi đội 10 để huấn luyện. Liên quân do Hoàng Minh Chánh chỉ huy).


Địa điểm phục kích: Ban chỉ huy chi đội chọn quãng đường La Ngà - Định Quán, từ cây số 104 (cách Sài Gòn) đến cây số 113, bố trí làm ba trận địa C, B, A nối tiếp nhau. Đầu trận địa C ở cây số 104, cuối trận địa A ở cây số 113. Như vậy mỗi đại đội phụ trách một trận địa dài trên dưới 3 ki-lô-mét. Chỉ huy sở chung đặt sau trận địa B, liên lạc với các trận địa bằng điện thoại và với Bộ Tư lệnh Khu 7 bằng vô tuyến điện. Trạm y tế và quân y đặt ở tả ngạn sông Đồng Nai, cách sau trận địa phục kích 7 ki-lô-mét.
Kế hoạch tác chiến cụ thể được Ban chỉ huy Chi đội đề ra như sau:


Hành quân: Các đơn vị vũ trang tham gia trận đánh xuất phát bí mật rời căn cứ vào ngày N. Ngày N+3, bộ đội tập kết về Suối Cát, cán bộ đi trinh sát thực địa đặt kế hoạch binh hoả lực, Binh công xưởng bố trí địa lôi. Đêm, ngày N+3, lực lượng ra chiếm lĩnh trận địa sẵn sàng chiến đấu.


Về cách đánh: Lực lượng phải bảo đảm bí mật, bất ngờ, tấn công mãnh liệt, đánh nhanh giải quyết nhanh chiến trường. Địa lôi phải được chôn ở những đoạn đường hiểm, ngụy trang khéo (địa lôi chôn phía dưới ở trên đắp bằng các bãi phân voi rừng), tiêu diệt từ đầu xe thiết giáp hộ tống của địch; tập trung hoả lực đánh vào các đoàn xe hộ tống, diệt xe chỉ huy, xung phong mãnh liệt làm địch rối loạn, tê liệt, không ứng cứu được cho nhau. Truy kích bọn địch bỏ chạy về hướng đông lộ 20, kết hợp với kêu gọi binh lính địch bỏ súng đầu hàng. Thực hành tốt chính sách tù hàng binh và công tác dân vận.
Nghi binh đánh lừa máy bay địch lên chi viện bằng cách đốt nhiều đống lửa lớn cách trận địa về phía đông từ 3-4 ki-lô-mét để thu hút chúng.


Để đảm bảo đánh chắc thắng, Ban chỉ huy Chi đội đề ra kế hoạch “chỉ huy địch”, buộc chúng phải tiến vào trận địa phục kích của ta vào thời gian có lợi nhất cho ta. Bởi thông thường (ta nắm quy luật các đoàn xe), đoàn xe địch thường đến La Ngà khoảng từ 12 đến 13 giờ, thời điểm không có lợi vì máy bay địch có thể lên bắn phá, hoặc bộ binh địch từ Đà Lạt hoặc từ Sài Gòn, Biên Hoà lên ứng cứu gây khó khăn cho ta trong việc thu dọn chiến trường. Ban chỉ huy nhận định thời gian có lợi nhất cho ta là từ 15 đến 16 giờ, vì lúc chiều trời có sương mù hạn chế hoạt động của máy bay địch và viện binh địch không thể lên La Ngà khi trời còn sáng được.


Để thực hiện kế hoạch này, Ban chỉ huy chi đội giao nhiệm vụ cho trung đội 5 (Đại đội B) phối hợp cùng du kích và dân quân hai quận Châu Thành và Xuân Lộc triển khai nhiệm vụ từ đoạn Hố Nai (quốc lộ 1) lên ngã ba Dầu Giây và từ Dầu Giây ngược lên theo quốc lộ 20 phá hoại đường (đào đường, đắp vật cản), chặt cây mở miệng sẵn khi đoàn xe đến thì ngã đổ ra đường; bố trí du kích bắn tỉa quấy rối tiêu hao, bắt đoàn xe địch phải dừng nhiều lần để giải toả chướng ngại vật trên đường, tinh thần căng thẳng, buộc đoàn xe địch đến La Ngà phải chậm từ 2 đến 3 giờ đồng hồ.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:42:02 pm
- Vào trận hành quân:

Ngày 26 tháng 2 năm 1948, Chi đội 10 và Liên quân 17 hành quân xuất phát từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai để tiến về hướng quốc lộ 20. Các chiến sĩ phân đội trinh sát đặc biệt sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chuẩn bị hậu cần cho trận đánh, trở thành những chiến sĩ trinh sát dẫn đường cho các lực lượng về vị trí tập kết. Phân đội đã mở các con đường bí mật, hoặc bẻ cò các cây ven đường cho bộ đội hành quân. Những đoạn đường rừng, sình lầy chiến sĩ đi qua, các chiến sĩ phân đội đặc biệt là người đi sau xoá dấu vết không cho địch phát hiện.


Ngày 29 tháng 2, Chi đội 10 và liên quân 17 đã chiếm lĩnh trận địa đảm bảo an toàn và bí mật trên ba mặt trận A, B, C. Các chiến sĩ lo đào công sự chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì hối hả rải hàng chục ngàn mét dây điện thoại, xuyên rừng rậm nối liền chỉ huy sở với các trận địa. Các chiến sĩ binh công xưởng đưa những quả địa lôi chôn ở 3 trận địa. Anh em lợi dụng đặc điểm của quãng đường là các đàn voi thường qua lại để lại những bãi phân lớn, thế là anh em chôn địa lôi xong lấy ngay phân voi đắp lên trên để ngụy trang. Vừa hớ hênh nhưng lại kín đáo. Đặc biệt địa lôi ở trận địa A là rất quan trọng vì là quả địa lôi khoá đầu chặn đứng cả đoàn xe địch, đồng thời là tiếng nổ phát lệnh tấn công địch. Do đó, trực tiếp đồng chí Bùi Cát Vũ, Giám đốc binh công xưởng và công nhân kỹ thuật đi kiểm tra từng quả một, từ cách lắp kíp nổ, đến cách đặt, cách chôn, quyết tâm giật quả nào chắc nổ quả ấy. Các chiến sĩ quân y tất bật xây dựng các trạm cứu thương, đặt kế hoạch chuyển thương binh, kể cả việc chăm sóc những tù binh địch và hành khách đi trong đoàn (nếu có). Các chiến sĩ hậu cần nấu cơm, nắm thành từng vắt cùng với khô nướng, thịt trâu nướng phân phát cho tất cả cán bộ, chiến sĩ.


Đến tối 29 tháng 2 rạng sáng 1 tháng 3 năm 1948, mọi kế hoạch chuẩn bị, bố trí chiến trường của chi đội 10 trên 3 mặt trận đều đã hoàn thành, sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh.

Cùng trong đêm 29 tháng 2 năm 1948, thực hiện nhiệm vụ “chỉ huy địch” do Ban chỉ huy Chi đội 10 giao, đội du kích tập trung huyện Châu Thành mang cuốc, xẻng, dao, súng lên quốc lộ 1 quãng từ Hố Nai lên ngã ba Dầu Giây. Du kích huyện Xuân Lộc phụ trách từ Dầu Giây trở lên quốc lộ 20. Anh em mở miệng cây ven đường từng đoạn một, xẻ cho ngã lăn ra đường khi đoàn xe địch sắp đến, đắp các mô kết hợp chà cây trên đường; đồng thời bố trí đội hình bắn tỉa quấy rối địch...


- Diễn biến trận đánh La Ngà:

Đúng như tin tình báo từ trong nội thành cung cấp. Đoàn xe gồm 69 chiếc chở nhiều sĩ quan cấp cao, nhiều nhà tư sản ở Sài Gòn, khởi hành từ 5 giờ sáng đi Biên Hoà. Đoàn xe địch vượt cầu Gành, cầu Rạch Cát, dừng nghỉ khoảng 10 phút ở ngã ba Kỷ niệm sau đó xuất phát rời thị xã. Khi đoàn xe đến Hố Nai, đã phải dừng lại nhiều lần để cho bọn lính hộ tống khi thì lắp hố thông đường, khi thì cột dây kéo những đoạn cây lăn trên đường, phải dò mìn xem Việt Minh có ngụy trang trong những chòm cây không, khi thì phải quay lại đối phó với du kích thường bắn tỉa vào các xe đi đoạn cuối... Liên tục phải đối phó với chướng ngại trên đường, với du kích bắn tỉa, quấy rối, bọn địch trong đoàn xe rất bực bội, căng thẳng thần kinh, mệt mỏi vì không thể đảm bảo thời gian như đã định.


Mãi đến quá trưa ngày 1 tháng 3, đoàn xe địch mới bắt đầu đến ngã ba Dầu Giây rẽ sang quốc lộ 20. Đường quanh co, thỉnh thoảng gặp chướng ngại, nên mãi đến gần 15 giờ chiếc thiết giáp đi đầu mới tới La Ngà. Đoàn xe dừng lại để viên chỉ huy đoàn xe vào cứ điểm La Ngà hỏi tình hình, đồng thời điện cho đại tá Ta-lét (Talès), chỉ huy khu vực Đồng Nai Thượng cho đoàn xe nghỉ lại ở La Ngà vì trời chiều không thể đến Đà Lạt trước khi trời tối. Ta-lét trả lời rất dứt khoát: Không được, phải tiếp tục đi ngay, đây là khu vực đã bình định rồi. Tên chỉ huy đoàn xe vẫn tỏ ra nghi ngờ, hắn điện xin cho quân hộ tống từ Đà Lạt xuống đón đoàn. Lần này Ta-lét quát lên: Đi ngay! Thế là cả đoàn xe lại chuyển bánh. Trên đường đi, bọn lính hộ tống không ngừng bắn ầm ầm hai bên đường, nhất là ở những đoạn đường quanh co, khúc khuỷu có lẽ để trấn tỉnh tinh thần bọn sĩ quan và hành khách đi trong đoàn. Bọn địch không ngờ những phát đạn loạn xạ của chúng lại báo hiệu cho ta biết trước để chuẩn bị chiến đấu.


15 giờ 2 phút, trận địa C báo cáo chỉ huy sở: Ba xe chở lính hộ tống khoảng hơn 1 trung đội, rồi đến một tốp 11 chiếc khác vừa xe quân sự, vừa gíp (jeep) chỉ có 1 ô tô buýt chở hành khách. Tốc độ đoàn xe 30km/ giờ, khoảng cách các xe trên dưới 100 mét. Chưa có triệu chứng gì tỏ ra địch đã biết có quân phục kích. Chúng bắn rất bừa bãi... bộ đội ta vẫn ẩn nấp kín đáo.


Trận địa B kế tiếp báo cáo: Địch đang tiến qua trận địa B. Trong xe gíp có nhiều sĩ quan, đã trông thấy một đại tá và một tên thiếu tá.

Địch càng tiến vào trận địa, Ban chỉ huy trận đánh càng tin chắc vào chiến thắng.

Đoàn xe địch uốn mình tiến lên như một con rắn trườn mình qua những cung đường quanh co, khúc khuỷu, bụi cuốn mù mịt.

15 giờ 12 phút, Ban chỉ huy ra lệnh, những quả địa lôi ở trận địa A phát nổ làm chấn động cả núi rừng. Chiếc thiết giáp đi đầu đang xuống dốc đoạn cua quẹo, bị địa lôi hất bổng lên khỏi mặt đất, lao thêm khoảng 10 thước nữa mới chịu nằm bẹp dí trên đường. Trong 3 chiếc xe chở lính đi sau, thì 2 chiếc trúng địa lôi, ngã lật nhào, nhiều lính chết trong đó có tên chỉ huy đoàn xe, tên phụ trách máy thông tin.


Cả đoàn xe địch vẫn tiếp tục tiến vào trận địa, một phần vì tên phụ trách thông tin đã chết, một phần có lẽ vì suốt dọc đường chúng đã quen bắn bừa bãi nên không hay biết gì chiếc xe đi đầu đã bị phá huỷ.
15 giờ 14 phút, địa lôi trận địa C nổ. Núi rừng như chuyển mình. Trên đoạn đường dài hàng chục cây số, đoàn xe địch vật vã, lồng lộn. Rừng núi vang tiếng bộ đội ta “xung phong”, làm bọn địch đang mệt mỏi, khiếp vía kinh hồn, vứt súng đạn, xô đẩy nhau nhảy ra khỏi xe chạy dạt sang phía đông lộ 20, phần lớn bị hoả lực ta bắn hạ.


Ở trận địa A, xe địch ngã đổ ngổn ngang. Bộ đội ta nổ súng và xung phong mãnh liệt, địch hoàn toàn bị tê liệt không kịp phản ứng. Nhiều tên đưa tay đầu hàng. Trong số địch bị chết có nhiều sĩ quan: Đại tá Đờ Xê-ri-nhê (De Sérigné), chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương thứ 13 (13è DBLE); đại tá Pa-tơ-ruýt (Patruite), phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất của quân Pháp ở Nam Đông Dương; thiếu tá chỉ huy khu vực quân sự Hóc Môn; đại uý Giăng Cu-vơ-rơ (Jean Couvreur), trưởng phòng xe hơi trong bộ tổng tham mưu quân đội Pháp ở Đông Dương...


Ở trận địa B, bộ đội ta xung phong, tập trung hoả lực bắn vào 4 xe chở lính hộ tống, dùng đạn lửa bắn vào các xe vận tải quân sự. Bọn địch rối loạn hàng ngũ không kịp chống trả. 28 xe địch bị diệt gọn trong vòng 5 phút, 56 tên địch chết.


Ở trận địa C, bộ đội ta xung phong chiếm được 16 xe (3 xe chở lính, 13 xe vận tải quân sự). Tốp đi sau cùng của đoàn xe nổ súng bắn trả khá quyết liệt, kết quả 31 tên lính chết trên mặt đường, nhưng một số xe quay đầu chạy ngược về La Ngà.


Đến 15 giờ 57 phút, trận đánh kết thúc, hơn mười cây số lửa khói vẫn còn bốc cao, thỉnh thoảng vang lên những tiếng nổ lớn phát ra từ các xe quân sự của địch bị cháy, từ những bánh xe bị cháy nổ. Do thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết gọn, rút lui mau”, nên bộ đội ta tập trung phá huỷ các xe không chú trọng việc tịch thu chiến lợi phẩm.


Mãi đến gần 17 giờ mới có 3 chiếc máy bay của Pháp lên ứng cứu, nhưng trận địa quá trải dài, địch cũng không làm gì được, chỉ gầm rú hòng uy hiếp ta, hơn nữa chúng còn bị thu hút vào các trận địa giả ở phía đông quốc lộ 20 (ta đốt những đống lửa lớn). Nhưng vì trời chiều sương mù, máy bay địch chỉ bắn loạn xạ một lúc thì quay đầu rút ngay.


Nửa đêm, viện binh địch từ Đà Lạt xuống và từ Sài Gòn, Biên Hoà lên đến được khu vực La Ngà. Chiến trường còn loang mùi thuốc súng, khói lửa với 59 xác xe quân sự cháy trơ khung sắt và 150 xác địch chết ngổn ngang trên đường.


Kết quả trận phục kích giao thông La Ngà: Phá huỷ 59/70 chiếc xe quân sự Pháp. Diệt 150 lính Pháp, 25 sĩ quan Pháp trong đó có 1 đại uý, 1 thiếu tá, 2 đại tá. Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi điện khen và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho trận thắng La Ngà.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:44:17 pm
- Tiếng vang từ La Ngà:

Ngay sau khi trận đánh kết thúc, bộ đội đã rút về tập trung ở khu vực Suối Cát. Cùng đi có 270 tù binh và hành khách đi cùng đoàn xe. Một số binh lính địch bị thương không đi được và khoảng 50 thường dân đa số là người già, trẻ em, người tu hành... Ban chỉ huy cho tập trung về chỉ huy sở, tất cả được phát cơm vắt, cá khô, nước uống và chăm sóc vết thương. Sau khi được giải thích về chủ trương chính sách của Chính phủ, Việt Minh, ta cho phóng thích 50 người này về trước. Đồng thời thông qua số người này loan tin cho nhân dân ở Sài Gòn biết tất cả những người thường dân cùng đi trong đoàn xe và một số binh lính Pháp bị bắt sẽ được Việt Minh cho trở về nhà.


Thật cảm động khi diễn ra cuộc chia tay giữa hành khách và bộ đội. Một dì phước1 (Ma soeur, nữ tu đạo Thiên chúa) đã tháo xâu chuỗi thánh giá của mình choàng lên cổ trung đội trưởng Lê Ngọc Sinh, chắp tay lẩm bẩm: “Cầu Chúa ban phước lành cho chiến sĩ Việt Nam”. Chính tư cách người chiến sĩ cách mạng, với địch thì chiến đấu kiên cường, nhưng với nhân dân thì chân tình thân ái đã cảm hoá được nhân dân, cả đối với những người tu hành vốn xa lạ với kháng chiến.


Đêm 1 tháng 3 năm 1948, trong số 219 người trong đoàn xe được bộ đội đưa về Suối Cát, người Việt, Ấn, Hoa, Pháp đều có cả, trong đó có một số trí thức người Pháp, một số thanh niên nam nữ, sinh viên học sinh trong nội thành. Trong ánh lửa bập bùng giữa rừng đại ngàn, bộ đội, cán bộ quân y, cấp dưỡng đã đến thăm hỏi từng người một, cung cấp lương thực, nước uống. Người dân nội thành đặc biệt lớp trẻ lần đầu tiên tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, tiếp xúc với những bộ đội kháng chiến hiền lành, chân thực đã thực sự khâm phục thái độ ân cần của cán bộ, chiến sĩ ta. Một số thanh niên trong thành bất ngờ gặp lại những người bạn học xưa, đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, nay trở thành những cán bộ chỉ huy, những chiến sĩ kiên cường, rắn rỏi, già dặn. Chuyện kháng chiến làm cho bà con thêm khâm phục ý chí và nhân cách người chiến sĩ cách mạng.


Ban chỉ huy Chi đội định tổ chức một buổi chia tay liên hoan văn nghệ, nhưng nhận được tin quân Pháp đang chuẩn bị phản kích, bởi văng vẳng đã nghe tiếng súng của chúng từ hướng quốc lộ 20. Buổi liên hoan không thành. Cuộc chia tay giữa bộ đội Chi đội 10 và bà con ngay bờ sông Đồng Nai - nơi chiến sĩ gọi là bến “Tâm giao” thật bịn rịn. Nắm cơm, cá khô, phần ăn của bộ đội nhường cho bà con hành khách không chỉ là lương thực, mà trở thành món quà có ý nghĩa trước lúc đoàn hành khách qua sông trở lại quốc lộ 20 về Sài Gòn.


Sài Gòn, sáng sớm ngày 2 tháng 3 năm 1948, hàng loat tờ báo tiếng Việt xuất bản ở nội thành đều đưa tin về trận đánh thắng La Ngà với những hàng tít lớn: Một trận phục kích lớn lao chưa từng có! Chín chục phần trăm đoàn xe có lính hộ tống bị Việt quân huỷ diệt; Đại tá Đờ Xê-ri-nhê, chỉ huy bán lữ đoàn Lè dương thứ 13 tử trận; 150 binh sĩ thịệt mạng, trong đó có một số mất tích...


Từ đại lộ đến ngõ hẽm, bến xe, đến tiệm cà phê, hủ tíu, chợ, nhà hàng đâu đâu nhân dân cũng bàn tán trao đổi về trận La Ngà với lòng khâm phục: “Các anh cực khổ nhưng hiên ngang”. Các chủ hãng xe đò ở Sài Gòn đều bảo nhau không nên cho xe khách đi cùng các đoàn xe quân sự Pháp kẻo bị “hoạ lây” như ở La Ngà. Phòng thông tin Sài Gòn chật ních người, đa phần là người “sang trọng”, người Pháp đến nghe ngóng về số phận thân nhân họ có trong số 150 sĩ quan, binh lính chết trận La Ngà hay không?


Từ khi trở lại xâm lược nước ta đến thời điểm 1948, có lẽ thực dân Pháp chưa từng bị thua đau như ở trận La Ngà 1 tháng 3 năm 1948. Bọn Pháp ở Sài Gòn trong các bản tin, báo cáo của mình về chính quốc vẫn cố tình bưng bít thất bại này. Thế nhưng chết trong trận La Ngà lại có đại tá Đờ Xê-ri-nhê, vốn họ Đờ (De) tức thuộc dòng dõi quý tộc Pháp, nên được thực dân tổ chức lễ tang theo nghi thức long trọng nhất tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và xác được đưa về Pháp bằng máy bay. Nhưng ngay sau đó, nhiều câu hỏi đặt ra với Quốc hội nước Pháp cần xem xét lại báo cáo của những tên tướng chỉ huy ở Nam Bộ: Vì sao đã tuyên bố bình định xong Nam kỳ, lại có thể xảy ra trận thua đau ở Là Ngà. Đờ La-tua, chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ (1947-1949) đã cho điều tra sự thật, quy tội cho đại tá Ta-lét tại sao không cho quân tăng cường sớm từ Đà Lạt để cả đoàn xe bị tiêu diệt? Quá sợ vì trách nhiệm, đại tá Ta-lét đã tự sát.


Trong trận La Ngà, trung uý người Pháp Dép-phây (Joeffrey) bị thương ở chân, thay vì phải cưa chân, thì quân y Chi đội, trực tiếp là bác sĩ Võ Cương đã chăm sóc, điều trị giữ cho hắn nguyên lành. Vợ và con của viên trung uý được ta phóng thích đầu tiên cùng 50 hành khách về Sài Gòn trước đó. Và vài tháng sau, Ban chỉ huy Chi đội 10 cử nữ y tá Lương Ngọc Tương cùng cán bộ quân y trao trả trung uý Dép-phây tại chi khu Cây Đào. Cả hai vợ chồng viên trung uý trước sự chăm sóc chu đáo và tinh thần nhân đạo của bộ đội Việt Minh không chỉ nhận ra chính nghĩa của quân kháng chiến, mà còn lớn tiêng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Bọn Pháp đã trả cả gia đình Dép-phây về chính quốc. Vợ của viên trung uý đã nói: “ Từ trước tôi chỉ biết về quân đội Việt Nam qua các tờ báo Ca-ra-ven (Caravelle) và báo Sài Gòn (Journal de Saigon). Nhưng nay tôi mới thấy rõ sự thật. Chính chồng tôi cũng đã nói với tôi: Anh không có cảm tưởng rằng mình là một tù binh, họ cứu chữa cho anh rất tận tâm, như đối với người bạn thân của họ; họ rất nhân đạo và yêu chuộng hoà bình”1 (Trận phục kích La Ngà, Nxb Đồng Nai 1998, tr.90).


Còn nhà báo Rau-un Mi-chen (Raoul Michel), cựu chủ bút tờ báo Bạn Dân (Ami du peuple), người chết hụt trong trận La Ngà, khi trở về Sài Gòn, được bạn bè hỏi đã trả lời: “Chúng mình cần nói đúng sự thật, mà sự thật thì khác hẳn những gì chúng ta đã từng viết”2 (Như trên, sách đã dẫn).


Phát biểu của hai người Pháp chứng nhân còn sống sau trận thắng La Ngà không phải ngẫu nhiên. Đó chính là phát biểu phản ánh kết quả thực tế mà họ đã nhìn, đã chứng kiến tận mắt hành động anh dũng, quả cảm và tinh thần nhân đạo, kỷ luật chiến trường của bộ đội ta trong trận La Ngà. Phát biểu khẳng định của những chứng nhân người Pháp có sức mạnh cảm hoá tư tưởng binh lính người Pháp còn hơn cả súng đạn.


Trong một trận đánh ở Đồng Lách (Vĩnh Cửu) tháng 6 năm 1948, 14 lính Lê dương Pháp đã ra hàng tại trận, vì không muốn chết cho cuộc chiến phi nghĩa của Pháp và tin vào lòng nhân đạo của kháng chiến. Và tháng 8 năm 1948, hai lính Pháp ở bót Rạch Đông (Vĩnh Cửu) ban đêm đã vượt sông Đồng Nai mang theo một khẩu súng đại liên, một trung liên sang Chiến khu Đ xin hàng. Họ nói: “Chúng tôi chán ghét chiến tranh muốn ra hàng nhưng sợ bị giết. Nay, qua việc quân Việt Minh thả người bị bắt ở La Ngà, chúng tôi biết Việt Minh rất nhân đạo không như bọn chỉ huy quân Pháp nói láo, nên có điều kiện chúng tôi ra hàng”1 (Như trên, sách đã dẫn, tr.89).


Trong cuộc họp quân sự toàn Khu 7 ngày 28 tháng 3 năm 1948, Bộ Tư lệnh Khu đã đánh giá trận La Ngà: “Đánh trận La Ngà ta đã thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, thắng lợi về quân sự là lớn, nhưng thắng lợi về chính trị còn lớn hơn. Các chiến sĩ La Ngà không những đã anh dũng đánh giặc, mà còn biết làm công tác tuyên truyền rất khéo léo. Bằng những hành động thực tế của mình đã làm cho nhân dân tin tưởng, quý mến, kề thù phải khiếp sợ và khâm phục. Trận La Ngà chứng tỏ bộ đội Khu 7 nói chung, bộ đội Biên Hoà nói riêng có bước trưởng thành về nhiều mặt”1 (Sách đã dẫn, tr.91).


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:45:24 pm
- Tiếp tục chiến đấu bảo vệ căn cứ:

Đêm 2 tháng 3 năm 1948, tại Suối Cát (Xuân Lộc) khi chia tay tiễn đoàn hành khách trở về Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Văn Lung, Chi đội phó, người trực tiếp chỉ huy trận phục kích La Ngà lệnh cho các chiến sĩ Chi đội nhanh chóng lên đường hành quân vượt sông, vượt rừng nhanh chóng trở về Chiến khu Đ. Đồng chí nhận định khả năng thực dân Pháp sẽ cho quân truy kích; đồng thời nhân lúc lực lượng ta chưa quay về kịp sẽ mở hành quân càn quét đánh phá vào căn cứ. Đồng chí chỉ thị cho các đơn vị: 1- Hành quân cấp tốc, vượt sông Bé trở về chiến khu Đ trước khi địch hàn sông để phá vỡ kế hoạch bao vây của địch. 2- Trong hành quân phải tuyệt đối giữ bí mật. 3- Chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu, gặp địch có thể đánh trả ngay. 4- Đến Bến Trường, bộ đội vượt sông, còn Đại đội B và quốc vệ đội huyện Xuân Lộc chuyển cánh về áp sát uy hiếp thị trấn Xuân Lộc để phân tán lực lượng địch. Liên quân 17 sau khi vược sông Bé sẽ theo đường tắt về uy hiếp địch ở Tân Ba. 5- Các bộ phận quân y, quân nhu do khiêng vác cồng kềnh sẽ phân tán không đi cùng bộ đội. 6- Ba trung đội còn lại về căn cứ phối hợp với lực lượng ở Chiến khu Đ chống càn.


Với quyết tâm cao nhất, dù còn đang mỏi mệt sau trận đánh nhưng tốc độ hành quân của lực lượng rất cao. Nếu khi đi, đoạn đường từ Chiến khu Đ đến La Ngà mất 3 ngày, thì khi hành quân ngược lại, đơn vị chỉ mất 2 ngày đêm. Thực dân Pháp không thể ngờ tốc độ hành quân của bộ đội ta nhanh đến thế, vậy là cuộc truy kích của địch không thành.


8 giờ 30 phút sáng ngày 5 tháng 3 năm 1948, thực dân Pháp cho 3 máy bay khu trục lên quần đảo bắn phá vào Chiến khu Đ, sau đó 5 chiếc máy bay vận tải thả quân nhảy dù xuống Đất Cuốc. Đồng thời, địch cho 1.000 bộ binh từ nhiều hướng có tàu chiến trên sông, và xe cơ giới trên bộ bao vây tấn công vào Chiến khu Đ.


Nhờ có chuẩn bị trước, trung đội còn lại của đại đội A đã chủ động phân tán, phối hợp với dân quân du kích các xã và cơ quan trong căn cứ đánh tỉa, thu hút địch, tạo điều kiện cho lực lượng mới trở về có thêm thời gian dưỡng sức, bố trí đội hình đánh địch.


Trong hai ngày 5 và 6 tháng 3, địch lùng sục nhưng không gặp sự chống trả lớn, lại bị dân quân du kích bắn tỉa diệt trên 60 tên. Mờ sáng ngày 7 tháng 3, bộ đội ta bắt đầu mở các trận tập kích vào bọn địch. Tại dốc Bà Nghiêm (xã Tân Hoà), trung đội 7 của Đại đội C diệt 20 tên, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Địch cứ lùng sục, nhưng quân ta khi phân tán, lúc tập trung, khi ẩn khi hiện, buộc chúng phải căng thẳng đối phó, số binh lính bị diệt, bị thương ngày một nhiều.


Sau 8 ngày càn vào Chiến khu Đ, quân Pháp chết và bị thương trên 100 tên, phải rút lui. Không tiêu diệt được lực lượng kháng chiến, quân Pháp đã bắn giết 20 thường dân vô tội, trong đó có 7 phụ nữ và 3 trẻ em. Chúng đốt sạch nhà dân trong các xã Tân Hoà, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Thường Lang, Lạc An, Chánh Hưng, giết hơn 100 trâu bò và đốt 500 giạ lúa của dân cùng các cơ quan.


Thật ra ý đồ chính của bọn chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ khi càn vào Chiến khu Đ còn mục đích chính trị khác. Đó là đánh lạc hướng dư luận, đặc biệt là dư luận trong quốc hội và chính phủ Pháp sau trận Là Ngà, khi bộ tổng tham mưu quân viễn chinh Pháp ra thông báo: Đang truy kích ráo riết gây thiệt hại cho Việt Minh, thậm chí chúng còn báo cáo láo một cách trắng trợn: Đã giải thoát được một số quân lính Pháp và thường dân bị bắt trong trận La Ngà.


Chi đội 10 Biên Hoà được hình thành và chiến đấu trên một chiến trường rộng lớn, địa hình phức tạp. Khởi đầu từ việc tập hợp những đội vũ trang nhỏ, lẻ, có đơn vị xuất hiện từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 1940; có đơn vị hình thành ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, có đơn vị được tổ chức Đảng lãnh đạo; nhưng cũng có đơn vị hình thành một cách tự phát. Nhưng tất cả những đưn vị này đều có một điểm chung nhất: Những chiến sĩ đã từng trải qua thời kỳ bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột nên ý chí và quyết tâm chiến đấu rất cao. Chỉ huy các đơn vị đều là những người yêu nước, có lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc. Những đặc điểm đó là thuận lợi cơ bản để các đơn vị có thể tập hợp nhau thành một lực lượng vũ trang thống nhất với tên gọi Chi đội 10 Biên Hoà. Trong việc thống nhất các đơn vị vũ trang ở Biên Hoà có vai trò rất lớn của đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7 và đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà, lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng Chi đội 10.


Điểm nổi bật của Chi đội 10 Biên Hoà là hầu hết cán bộ chỉ huy từ Chi đội đến đại đội, trung đội, phân đội từ đầu chưa từng được học tập trong một trường quân sự nào có tính chất chính quy. Họ trưởng thành bởi lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến, thông qua việc xác định đặc điểm chiến trường, thông qua thực tiễn chiến đấu trên chiến trường và thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Khu 7 giao cho. Những chiến sĩ của Chi đội xuất thân từ nhiều thành phần: Đại đa số là nông dân, công nhân trong các đồn điền cao su, trong nhà máy cưa BIF, một số nhà máy công nghiệp ở Sài Gòn, thanh niên yêu nước từ các miền của đất nước tập hợp về; một số ít từng là công chức Pháp, sĩ quan, binh lính Lê dương của Pháp, của Nhật đã giác ngộ và tình nguyện tham gia chiến đấu với bộ đội Việt Minh.


Tuy không được đào tạo có bài bản từ các trường quân sự chính quy, nhưng Chỉ huy Chi đội 10 đã có nhiều ý tưởng sáng tạo độc đáo trong tổ chức lực lượng và chỉ huy chiến đấu. Chỉ hơn 4 tháng sau khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, kiểm soát các đô thị, thị xã, thị trấn, bộ đội Biên Hoà cùng các lực lượng vũ trang bạn đã tổ chức tập kích vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà, nơi đặt nhiều cơ quan chỉ huy của Pháp ở miền Đông Nam Bộ. Quả là một ý tưởng táo bạo, một sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng. Trận tập kích đầu tiên (1-1-1946) ở Biên Hoà rất kịp thời đập tan luận điệu huênh hoang của thực dân Pháp là đã cơ bản bình định xong Nam kỳ; đồng thời cũng là tiếng súng thu hút, tập hợp nhiều cá nhân yêu nước đến với chi đội, với Chiến khu Đ. Chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn cả lương thực, thuốc men, vũ khí, liên lạc, chính quyền cách mạng chưa vững mạnh, nhưng Chi đội 10 đã linh hoạt sáng tạo trong tổ chức để khắc phục vượt qua. Trong đó, việc hình thành các quận quân sự, các ban công tác liên thôn, ban công tác xã là sáng tạo quan trọng. Trước hết những tổ chức này tạo thành một chân rết quan trọng ở cơ sở, thực hiện diệt tề trừ gian, nắm tin tức, trinh sát, làm một phần nhiệm vụ chính quyền, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, phối hợp và tạo điều kiện cho Chi đội đánh địch có hiệu quả. Hàng loạt trận đánh giao thông, trận thắng La Ngà thể hiện tính hiệu quả của những tổ chức cơ sở này của Chi đội. Ban công tác liên thôn, Ban công tác xã còn là tiền thân của các huyện đội, xã đội sau này, góp phần hình thành ba lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Biên Hoà.


Địa thế rừng núi tự nhiên với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt thuận lợi, đã dược Chi đội phát huy để phát triển và mở rộng chiến thuật đánh phục kích, giao thông không chỉ gây nhiều thiệt hại cho thực dân Pháp, bổ sung lực lượng cho ta (vũ khí, lương thực, kinh nghiệm), đồng thời trở thành truyền thống, thế mạnh tác chiến của Chi đội. Thực hành tác chiến qua từng trận một trong một chuỗi trận đánh đường sắt từ nhỏ đến lớn (cả quy mô và lực lượng), phục kích giao thông đường bộ (quốc lộ 14, quốc lộ 15), Chi đội rút nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy tác chiến, tổ chức bố trí đội hình, xử lý nhiều tình huống phức tạp ở chiến trường; đồng thời qua từng trận sáng tạo những vũ khí có sức công phá mạnh tiêu diệt xe bọc thép, đầu máy xe lửa địch... cổ động và phát triển mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh nhân dân ở địa phương để tiến tới tổ chức, chỉ huy và thực hành hoàn hảo trận phục kích giao thông vang dội La Ngà (1-3-1948).


Chi đội 10 Biên Hoà đã hoàn thành nhiệm vụ là bộ đội chủ lực Khu 7, nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh ở địa phương.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:04:11 pm
Chương hai
TRUNG ĐOÀN 301 VÀ TRUNG ĐOÀN 310 (3-1948- 11-1949)


A.TRUNG ĐOÀN 301

I. TRUNG ĐOÀN 301 VỪA XÂY DỰNG VỪA CHIẾN ĐẤU

1.Thành lập Trung đoàn 301

Sau thất bại trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông từ năm 1948, thực dân Pháp đứng trước những khó khăn lớn, buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh. Từ chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, chúng chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”; từ mở rộng phạm vi hoạt động chuyển sang củng cố vùng chiếm đóng. Chúng thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, chúng ra sức củng cố nguỵ quyền, phát triển nguỵ quân, tranh thủ viện trợ. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp coi đây là nơi “bình định”, trọng điểm trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhằm biến Nam Bộ thành kho dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh. Để thực hiện điều đó, chúng dành một bộ phận lớn quân đội đóng thêm đồn bốt, cứ điểm, chi khu quân sự ở các đồn điền, các đường giao thông, các thị trấn, thị tứ, xây dựng các đơn vị vùng chiến cơ động, sẵn sàng mở các cuộc càn quét. Chúng coi Đông Nam Bộ là chiến trường rất quan trọng, một địa bàn chiến lược, vừa là cửa ngõ phía đông, phía bắc và tây bắc Sài Gòn, vừa là vùng nối liền Nam Bộ với các tỉnh ven biển miền Trung và khu vực Tây Nguyên rộng lớn, lại vừa là vùng tiếp giáp với chiến trường Campuchia về phía Đông Bắc. Ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp vạch ra kế hoạch bình định, bố trí lại chiến trường, phát triển lực lượng nguỵ binh, tăng cường lực lượng gián điệp, mở nhiều cuộc hành quân lớn nhỏ đánh vào các căn cứ kháng chiến và vùng du kích, tìm diệt lực lượng vũ trang và triệt phá cơ sở cách mạng ở địa phương.


Đến tháng 11 năm 1948, địch đóng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 491 cứ điểm. Lực lượng vũ trang của chúng gồm 5.547 tên Pháp và Lê dương, 13.664 lính ngụy. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1948, chúng đã chiêu dụ, mua chuộc thêm nhiều lính Cao Đài phản động. Trong năm 1948, địch tấn công ta 220 trận với quy mô từ 200 quân đến 1.000 quân (không kể những trận lùng sục với lực lượng nhỏ) vào 6 tỉnh xung quanh Sài Gòn.


Riêng ở Thủ Dầu Một, với quân số 6.800 tên, địch đóng tất cả 128 đồn bót (có 21 bót lính Cao Đài phản động) tăng 19 bót so với năm 1947. Chúng đã gây nhiều tội ác với nhân dân ta: Giết 639 người, bắt 1.917 người, làm bị thương 300 người, hãm hiếp 227 phụ nữ, bắn chết, cướp trên 2.000 con trâu, bò, đốt phá 2.171 nhà dân, cướp và đốt 8.726 giạ lúa, 14.897 lít gạo.


Ngoài ra, địch còn tiến hành đánh phá kinh tế vùng căn cứ nhằm làm kiệt quệ nguồn lương thực; đồng thời một mặt gây mâu thuẫn giữa đồng bào kinh với đồng bào thiểu số, cho lính đi theo canh gác công nhân cao su làm lô, nhằm ngăn chặn tiếp tế lương thực, thực phẩm cho kháng chiến. Mặt khác, chúng cho tình báo, gián điệp trà trộn trong nhân dân, trong căn cứ kháng chiến để làm tai mắt cho hành động quân sự và chính trị của chúng, gây chia rẽ trong hàng ngũ của ta.


Sự tăng cường càn quét đánh phá của địch đã gây cho ta nhiều tổn thất trong năm 1948. Tuy thế, địch cũng không thế xoay chuyển được tình thế, quân dân cả nước cũng như quân dân Thủ Dầu Một vẫn ở trên thế tấn công địch, giành thêm nhiều thắng lợi.


Đến năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Chỉ thị xây dựng các trung đoàn bộ đội tập trung trên toàn xứ. Ngày 27 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 họp Hội nghị thảo luận việc xây dựng các trung đoàn trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Hội nghị quyết định trên cơ sở các chi đội sẵn có, phát triển thành các trung đoàn. Địa bàn hoạt động của trung đoàn vẫn chủ yếu trong phạm vi của tỉnh và của huyện. Theo đó, Chi đội 1 của Thủ Dầu Một được đổi tên là Trung đoàn 301. Trung đoàn biên chế thành 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc: Đại hội 1 trở thành Tiểu đoàn 901 hoạt động ở vùng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Đại hội 2 trở thành Tiểu đoàn 902 hoạt động ở quận Châu Thành,


Đại hội 3 trở thành Tiểu đoàn 903, với 3 đại đội 2707, 2708, 2709 hoạt động ở Bến Cát, Hớn Quản, Lộc Ninh.


Ban chỉ huy Trung đoàn 301 gồm: trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thi; chính trị viên Lê Đức Anh; trung đoàn phó Lương Đường Minh, Nguyễn Văn Ngọ (tự Quỳ).


Sự thành lập trung đoàn không chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi mà còn biểu thị sự phát triển, thay đổi về chất, từ cơ cấu tổ chức, quy mô đơn vị đến trình độ, năng lực của cán bộ chiến sĩ. Nó tạo điều kiện để từng bước đưa dần đơn vị lên trình độ mới, tổ chức huấn luyện và chiến đấu ngày một cao hơn, hiệu quả hơn. Trung đoàn 301 cùng với các lực lượng dân quân du kích trong toàn tỉnh đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên khắp các chiến trường. Trung đoàn còn phân công 2 đại đội thường xuyên phối hợp với dân quân tự vệ trong các đồn điền cao su tham gia “Mặt trận cao su chiến” chuyên phá hoại cao su gây thiệt hại kinh tế cho địch.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:05:05 pm
2.Chiến đấu bảo vệ căn cứ địa và “Mặt trận cao su chiến”

Trong căn cứ lớn, trung đoàn cùng lực lượng du kích tại chỗ kiên quyết chiến đấu chống địch càn quét để bảo vệ căn cứ, bảo vệ sản xuất, xây dựng hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức bố trí canh gác bảo vệ nông dân làm mùa, tổ chức sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng thủ công nghiệp khắc phục việc thiếu lương thực của trung đoàn. Được sự giúp đỡ, hỗ trợ của Trung đoàn 301, các huyện đội được củng cố hệ thống dân quân du kích ở các xã, ấp, đặc biệt ở các xã vùng tranh chấp, dọc quốc lộ 13, 14 phát triển. Nhờ vậy, cuộc kháng chiến của quân dân Thủ Dầu Một đạt được nhiều thắng lợi mới trên mặt trận quân sự, đơn vị nào cũng cô gắng lập nhiều chiến công.


Trong năm 1948, Trung đoàn 301 cùng với quân dân trong tỉnh đi chống càn quét 32 trận, tấn công vào các đoàn công voa và nhiều đồn bót địch.

Tháng 3, địch huy động một trung đoàn Âu phi và bọn Cao Đài phản động càn quét khu vực Vĩnh Lợi - Bình Chánh. Bộ đội tỉnh và du kích chặn đánh, diệt và làm bị thương 120 tên, phá hủy 1 súng cối 120 ly.


Sau đó, vào giữa tháng 3 địch tổ chức cuộc càn lớn vào chiến khu Thuận An Hoà, một đơn vị của trung đoàn và du kích các xã anh hùng chiến đấu. Địch quân đông, trang bị mạnh vẫn hung hăng xấn tới.

Nắm được chỗ yếu của địch, chỉ huy trưởng của trung đoàn tổ chức một trung đội cải trang lính Pháp do một hàng binh người Đức chỉ huy đóng vai đại uý Pháp. Giữa trưa, đơn vị này xông thẳng vào sở chỉ huy địch, nổ súng tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy cuộc hành quân gồm 15 tên Pháp từ trung uý đến thiếu tá. Như rắn mất đầu, bọn còn lại hoảng hốt tháo chạy. Đây là đòn phá càn rất hiểm, đạt hiệu quả cao.


Đêm 19 tháng 3 năm 1948 đã diễn ra trận đánh độc đáo tiêu diệt tháp canh cầu Bà Kiên trên đường 16. Một tổ chiến đấu do đồng chí Trần Công An, trợ lý tác chiến huyện đội Tân Uyên chỉ huy. Đưa thang đặt ở chân tháp canh, chiến sĩ ta leo lên ném 2 trái lựu đạn vào trong tua. Lựu đạn nổ, tiểu đội nguỵ chết tại chỗ, ta thu 8 súng, 20 lựu đạn và đốt luôn tháp canh. Trận đánh này, tuy nhỏ song lại là trận đánh mở đầu bằng lối đánh đặc công, lần đầu tiên tháp canh Đờ La-tua bị đánh hạ. Với lối đánh bí mật, tiếp cận, lợi dụng sơ hở của địch để tiến công mục tiêu mở ra một cách đánh mới để hạ tháp canh. Phát huy lối đánh đặc công, liên tiếp trong năm 1948, bộ đội ta diệt hàng loạt tua khác, giáng cho chiến thuật tháp canh của Đờ La-tua thất bại thảm hại.


Tiếp theo đó, các tiểu đoàn 901, 902 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 903 phối hợp đánh 1 đoàn xe địch vận chuyển trên đường 13, tại dốc Cây Cày diệt 2 đại đội địch, phá 7 xe, thu 3 trung liên, 10 tiểu liên và 70 súng trường. Đây là trận diệt gọn đơn vị địch, thu nhiều vũ khí.


Tháng 10, Tiểu đoàn 902 phục kịch bọn tiếp viện bót Bưng Cần, hai xe thiết giáp trúng địa lôi bị hư hỏng nặng, địch chết 15, bị thương 5. Cũng trong tháng 10, Trung đoàn 301 tấn công đoàn xe địch gồm 2 thiết giáp, 3 cam nhông, địch chết 13, ta bắt được 5 tên Pháp và lính Âu Phi giáo dục rồi thả. Ta thu 3 súng máy, 30 súng trường, 21 tromblons, 45 tạc đạn và nhiều quân trang quân dụng.


Cuối năm 1948, ở đồn điền Quản Lợi nhờ cơ sở vùng đồng bào dân tộc Sóc Xiêm và nội ứng ở đồn điền cung cấp tin tức đại đội 2709, tiểu đoàn 903 đã bố trí phục kích trên đường Quản Lợi đi Trà Thanh, bắt sống tên chủ Gác-na, tiêu diệt 3 tên lính hộ tống. Nổi tiếng nhất là trận đánh ở nhà máy chế biến mủ Quản Lợi. Sau khi nghiên cứu chi tiết 5 máy đèn của nhà máy, ta đã sản xuất loại mìn đặc dụng đánh tan 5 máy đèn và 5 bồn xàng dầu, gây nên vụ cháy lớn trong nhà máy chế biến mủ, khiến bọn chủ sở phải cho ngừng sản xuất gần 3 tháng. Đại đội 2709 ở Hớn Quản và phân đội 10 huyện Sông Bé thuộc trung đoàn 310 của tỉnh Biên Hoà còn tổ chức đánh nhỏ, lẻ trên đường; 13, 14. Lực lượng vũ trang của ta bố trí mỗi tổ 3 người hoặc thành đội có 3 tổ phân chia từng đoạn đường để bắn trả, đánh quấy rối địch.


Cũng cuối năm 1948, Trung đoàn 301 tổ chức trận “giao thông chiến” đánh đoàn xe chiến đấu của địch trên đường 14 - đoạn gần cầu Nha Bích. Bằng loại mìn cải tiến do ta sản xuất (Ba-zô-min), quân ta diệt 3 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe đem vô rừng, tiêu diệt và bắt sống hoàn toàn đội quân áp tải, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.


Tiểu đoàn 903 phối hợp với du kích An Long, An Linh đánh đoàn công-voa giặc trên đường 13 và tuyến đường Bàu Bàng, tiêu diệt nhiều toa xe chở quân trang quân dụng.


Trong thời gian này, “Mặt trận cao su chiến” chuyên phá hoại cao su gây nhiều thiệt hại kinh tế cho địch. Đêm 17 tháng 10, bộ đội cao su và dân quân phá hoại sở cao su Dầu Tiếng, vạt vỏ 80 héc-ta cao su, đập bể 15.000 chén mủ, tịch thu 31 thùng gánh mủ và 160 lít gạo, nhiều công nhân cao su theo bộ đội thoát ly kháng chiến. Ở các đồn điền Hớn Quản, Minh Thạnh, Xa Cam, Xa Cát, bộ đội cao su và công nhân đã chặt và vạt vỏ hơn 1000 héc-ta cao su, phá huỷ hàng trăm nghìn chén đựng mủ, hàng chục kho lương thực, kho chứa mủ. Riêng đồn điền cao su Hớn Quản, phá huỷ 430 tấn mủ gây thiệt hại nặng nề kinh tế của địch.


Nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác vận động đồng bào dân tộc giữa năm 1948, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một quyết định thành lập phòng quốc dân thiểu số do đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước), tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 903 làm trưởng phòng, phòng quốc dân thiểu số tổ chức một đội vũ trang tuyên truyền đi sâu vào các vùng dân tộc, thành lập các mũi xung kích, tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng và phát triển cơ sở kháng chiến, giải thích rõ cho đồng bào về âm mưu chia rẽ thâm độc và tội ác của kẻ thù xâm lược, hướng dẫn đồng bào đấu tranh bảo vệ nương rẫy, hoa màu.


Bên cạnh những thắng lợi của hoạt động quân sự, còn có những hoạt động hiệu quả của dân quân du kích. Đây là lực lượng ngay khi vừa thành lập xong bộ máy chuyên trách đã phát triển nhanh rộng khắp. Được phòng dân quân Nam Bộ khen ngợi: “Dân quân Thủ Dầu Một có tài tổ chức chu đáo và mau lẹ”.
Đến cuối năm 1948, các cấp bộ đội được hình thành từ tỉnh đến xã (đủ ở 48 xã trong tỉnh) với 243 cán bộ, nhân viên đã tổ chức 47 trung đội quân dân du kích, với 410 đội viên. Trong năm đã mở được 3 khoá huấn luyện cho cán bộ dân quân tỉnh, quận với 173 học viên và 24 khoá huấn luyện cán bộ chỉ huy dân quân xã được trên 1.000 học viên.


Năm 1948, nhiều đội du kích xã chặn đánh những cuộc ruồng kích nhỏ của địch từ một tiểu đội đến một trung đội, liên tục gây thương vong cho địch. Lực lượng du kích còn phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, kể cả Quốc vệ đội, đội trinh sát và Công an xung phong của Ty Công an tỉnh kiên trì theo dõi và nắm bắt quy luật vận động của các đội biệt kích Pháp nổi tiếng hung ác. Bằng nhiều cú đánh bất ngờ, các lực lượng du kích của ta lập những thành tích xuất sắc.


Đó là trận phục kích 1 tiểu đội biệt kích do tên quan ba Pháp Barat (Baras) chỉ huy trên đường 13, tại cua chú Khải, gần Phú Văn. Tên này rất hung ác, luôn dương dương tự đắc, xưng danh là con “sư tử của Thủ Dầu Một”, hắn và đồng bọn đã bị ta tiêu diệt. Đó là trận tiêu diệt tiểu đội biệt kích Bacnhô tại mỏ Bịt Bùng (xã Tân Phước Khánh). Tên Bacnhô này đã chết hụt nhiều lần nay phải đền tội; trận diệt tên quan hai biệt kích Êmênơdông và nhiều tên khác tại Bưng Cầu (Định Hòa).


Giữa tháng 12 năm 1948, ta quyết tâm đánh đồn Bù Đốp (đây là một quận nằm ở phía bắc tỉnh Thủ Dầu Một). Sau một thời gian trinh sát và tiếp cận khu vực đồn và được cơ sở cung cấp tin tức, Tiểu đoàn 903 gồm 3 đại đội là 2707, 2708 và 2709 phối hợp với một bán đội công an vũ trang quận Hớn Quản gồm 180 quân do đồng chí Nguyễn Văn Cẩm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 903 chỉ huy tấn công vào cứ điểm Bù Đốp với 3 mục tiêu: dinh quận trưởng, trại lính 1 và trại lính 2. Trong trận này, ta tấn công, vận động bí mật, nhanh và bạo, đánh vào 2 đồn và dinh quận trưởng. Địch chủ quan, bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp bị ta tiêu diệt gần hết. Trong trận này ta thu 60 súng và phá trại giam giải thoát 60 đồng bào và đồng chí.


Trận đánh đạt hiệu quả cao nhờ sự giúp đỡ hết lòng của đồng bào dân tộc tại chỗ. Trận đánh này gây tiếng vang lớn, làm địch rúng động, vì đây là vùng sâu, nơi địch cho là an toàn nhất; sau trận đánh đồng bào là cơ sở vùng dân tộc và những người được giải thoát đều xin thoát ly theo kháng chiến. Tên tỉnh trưởng Thủ Dầu Một hết sức tức tối, hết tin tưởng vào lính dân tộc thiểu số. Hắn cách chức tên Gơbe (Gerber) đã làm quận trưởng tại đây hơn 20 năm.


Tiếp đó là trận đột kích vào sở cao su Quản Lợi diệt tên chủ sở và tên Tổng thanh tra công ty cao su Đất Đỏ làm cho địch hoang mang lo sợ.

Sau chiến thắng ở Bù Đôp, các đội vũ trang tuyên truyền được Khu 7 thành lập về hoạt động ở các địa phương. Vùng Lộc Ninh, Hớn Quản có các trung đội A và B. Trung đội A chịu trách nhiệm phía đông quốc lộ 13, giao đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Sóc Nê, Đất Đỏ, Chàng Hai, Bù Nồm và Xóm Bưng; trong công nhân có cơ sở Bù Đốp, Sở Nhỏ, Sở Brélin, Bùgoen, Sóc Đá, Bù Đinh. Trung đội B do đồng chí Du, huyện đội phó Hớn Quản chịu trách nhiệm phía tây đường 13 từ Hớn Quản đến Snoul (Campuchia) xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Tà Thiết, Sóc Bù Núi và trong các đồn điền.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:06:04 pm
II.LÀM NÒNG CỐT TRONG PHONG TRÀO DU KÍCH CHIẾN TRANH Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.Đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên các chiến trường

Du kích xã Chánh Hiệp do Huỳnh Văn Cù chỉ huy lấy bót địch ở nhà thờ ông Thưởng tại ấp Chánh Thành (nay thuộc Phường Hiệp Thành) giữa ban ngày. Du kích Tương Bình Hiệp phối hợp với bộ đội tỉnh lấy gọn đồn Tương Bình Hiệp lần 2. Du kích Định Hòa phối hợp đơn vị tỉnh đánh bót Bưng Cầu và phục kích hàng chục tên địch kéo đến cứu viện. Một tổ du kích do Nguyễn Thanh Đồng chỉ huy, thông qua nội ứng, xông thẳng vào đồn Rassari (xã Lai Uyên) diệt 2 tên chỉ huy hung ác, bức hàng toàn bộ lính ngụy, thu 44 súng các loại. Du kích xã Phú Mỹ phối hợp với lực lượng tỉnh phục kích tại Bàu Cống phá hủy 1 đầu máy xe lửa, 1 toa đạn dược, diệt nhiều tên Pháp, thu một số súng đạn.


Nổi bật là đội biệt động thị xã Thủ Dầu Một đột nhập một nhà hàng tại thị xã, diệt tất cả bọn phòng nhì đang họp, trong đó có tên chỉ huy là Giơvăngxili (tên này đã giết hàng chục đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta).


Trong phong trào dân quân du kích, thành tích của một số chị em rất nổi bật, đã tích cực tuyên truyền, giác ngộ, vận động được nhiều binh lính địch bỏ hàng ngũ địch theo kháng chiến.


Chị Bảy Qườn, quê xã Vĩnh Phú (Lái Thiêu) vận động được một trung đội lính Âu Phi đóng đồn tại địa phương mang toàn bộ vũ khí chạy sang phía cách mạng.

Chị Hai Ký, cũng quê xã Vĩnh Phú, bị địch bắt giam tại trại giam Thủ Đức đã cùng chị Tý, chị Năm giác ngộ 4 tên lính Khơme, giải thoát 16 chị em khác bị giam ở đây và mang về cho ta 3 tiểu liên, 1 súng ngắn và nhiều lựu đạn.


Ngoài ra, phong trào tòng quân giết giặc được phát động khắp nơi trong toàn tỉnh, chỉ riêng trong 1 tháng trong năm 1948 đã vận động anh em thoát ly đi kháng chiến ở đồn điền Xa Cát là 50 người và trên 10 người của đồn điền Xa Trạch đưa về bổ sung cho Tiểu đoàn 903.


Năm 1948 là mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ xây dựng, củng cố, phát triển và trưởng thành của cách mạng địa phương. Các cơ sở Đảng, các tổ chức đoàn thể từng bước được xây dựng hoàn thiện. Đặc biệt là lực lượng vũ trang được xây dựng thống nhất đến tận cơ sở tạo nên sức chiến đấu mới, thắng lợi mới. Cùng với chiến thắng Việt Bắc, quân dân Thủ Dầu Một cùng với quân dân toàn miền đánh bại kế hoạch “Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, buộc chúng sau đó phải chuyển sang chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “Dùng người Việt đánh người Việt”.


Bước sang năm 1949, cuộc kháng chiến đang ngày phát triển, thực dân Pháp lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Tài chính thiếu hụt trước nhu cầu quá sức của cuộc chiến tranh, mặc dù được tăng viện nhưng chúng vẫn lúng túng trước mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, một mặt muốn tập trung bình định dứt điểm Nam Bộ, mặt khác cần đưa quân ra chiến trường Bắc Bộ. Trong Hội nghị về phòng vệ Đông Dương ngày 4 tháng 1 năm 1949 tại Sài Gòn, Cao ủy Pi-nhông đưa ra chủ trương: Dồn nỗ lực quân sự vào Nam Bộ, tập trung bình định Nam Bộ, thực hiện chiến thuật Đờ La-tua.


Thực hiện chiến thuật này, đến năm 1949, trên địa bàn Thủ Dầu Một địch dành một bộ phận lớn quân đội đóng thêm đồn bót, cứ điểm ở các đồn điền, thị trấn, các đường giao thông chạy qua vùng cao su, xây dựng các đơn vị ứng chiến cơ động, sẵn sàng càn quét, phá hoại sản xuất. Chúng liên lạc tổ chức nhiều cuộc càn quét vào các khu căn cứ, khu tập trung đông dân cư, nhất là các khu căn cứ cách mạng. Quân Pháp còn điều động lực lượng lớn biệt kích, lính Lê dương để bảo vệ đường xá và các đồn bót quan trọng.


Để chỉ đạo và đưa kháng chiến đến thắng lợi, Bác Hồ, Trung ương Đảng xác định: “phải có lực lượng vũ trang hùng mạnh”1 (Kháng chiến nhất định thắng lợi - Trường Chinh, NXB Sự thật, H.1967, tr.103), lực lượng ấy phải trưởng thành từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính qui.


Ở Thủ Dầu Một, ta tiếp tục phát triển phong trào kháng chiến, các cấp ủy Đảng địa phương đã phát động toàn dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, lấy lực lượng Trung đoàn 301 làm nòng cốt tích cực chống càn, mở rộng phạm vi bao vây áp sát địch ở các đồn điền và những khu vực đông dân cư, đồng thời đánh địch trên đường 13, 14 nhằm tìm diệt, tiêu hao lực lượng địch, bảo toàn được lực lượng, hạn chế được thiệt hại do địch gây ra. Nhờ chống càn thắng lợi, kết hợp với tiến công địch trong đô thị, mở rộng vùng giải phóng, vùng căn cứ, giữ vững cơ sở quần chúng.


Tháng 3 năm 1949, diễn ra một cuộc chống càn tại chiến khu Đ, địch huy động cả ngàn quân đánh vào Bộ Tư lệnh Khu 7 và các cơ quan đầu não tỉnh Biên Hòa. Chúng chia lực lượng thành nhiều cánh tấn công có xe tăng yểm trợ. Bộ Tư lệnh khu chỉ đạo trận chống càn này phối hợp với Khu 7 các đơn vị vũ trang Biên Hòa và Thủ Dầu Một chặn đánh các ngả đường vào chiến khu và đánh trên sông Đồng Nai, đồng chí Trần Công An chỉ huy một tiểu đội đặc công đánh thử nghiệm xe tăng bằng mìn ta tự tạo. Mìn tự tạo được bố trí sẵn theo đường vào văn phòng Bộ Tư lệnh. Ba xe tăng địch dẫn xác đến trận địa, trúng mìn, bị tan xác tại chỗ. Ở các cánh quân khác, nhiều binh lính và xe tăng bị thiệt hại nặng. Lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ, xe tăng địch bị diệt khiến bọn chỉ huy địch hốt hoảng vội vã rút quân, kết thúc cuộc càn.


Ở Bến Cát, bộ đội ta phục kích 2 trận giao thông trên đoạn đường từ Rạch Bắp đi Thanh Truyền. Trận đầu thu được 2 xe đầy quân trang, quân dụng. Trận thứ hai vừa đánh, vừa chặn viện trên đường số 7, ta diệt 1 thiết giáp và 1 xe cam nhông cùng nhiều tên địch, thu 1 trung liên, 2 tiểu liên và một xe tải đầy hàng hóa.


Giữa năm 1949, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với du kích trên địa bàn tập kích đồn Nha Bích. Bị tấn công bất ngờ, địch trở tay không kịp, ta bố trí quân diệt gọn 1 đại đội địch, thu 1 súng Canông nòng dài, một số lựa đạn cùng đạn dược, thuốc men.


Rút kinh nghiệm từ các trận đánh bằng chiến thuật đặc công, tháng 5 năm 1949, Bộ Tư lệnh Khu 7 mở lớp huấn luyện đặc công tại Bà Đã cho 85 học viên các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa, Gia Định. Từ kinh nghiệm trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên của du kích Tân Uyên, hội nghị đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý để từng bước hoàn thiện kỹ thuật nghiên cứu, tiếp cận mục tiêu, hóa trang và vượt các chướng ngại vật... Đây là chiến thuật mới nhằm đánh vào hệ thống tua mà địch đang dựng lên chằng chịt khắp các nơi xung yếu. Các học viên học xong chưa được đánh liền vì còn chờ công binh xưởng sản xuất được nhiều vũ khí và có lệnh tấn công đồng loạt nhiều tháp canh để địch không kịp đối phó. Đồng thời Bộ Tư lệnh chỉ rõ cho binh công xưởng nghiên cứu, chế tạo mìn có khả năng đánh tháp canh. Tháng 10 năm 1949, đồng chí Bùi Cát Vũ tỉnh đội phó Biên Hòa và đồng chí Đặng Sĩ Hùng Giám đốc công binh xưởng đã nghiên cứu sản xuất được loại vũ khí phá tường (ký hiệu FT). Sau khi thử nghiệm đạt kết quả tốt, công binh xưởng tiếp tục sản xuất hàng loạt vũ khí này.


Tháng 6 năm 1949, trung đội du kích Tân Uyên do huyện đội phó Cố Tấn Chương chỉ huy đã kỳ tập lấy bót Rạch Tre thu hết đạn rồi đốt tua. Nắm được tình hình lúc bọn Pháp ở bót về thị xã Thủ Dầu Một dự lễ “Quốc khánh”, ngày 14 tháng 7 du kích Chánh Hiệp bí mật trổ ngói xuống diệt tên gác, thu toàn bộ vũ khí, tài liệu, quân trang, quân dụng, cùng lúc đó một số du kích khác dùng chất nổ đánh sụp một góc bót địch tại nhà cai tổng Biện.


Tháng 8 năm 1949, một bộ phận Trung đoàn 301 cùng với du kích địa phương tổ chức đánh địch trên đoạn đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh, đoạn đi qua Chơn Thành. Trận này phục kích được tổ chức chặt chẽ. Ta dùng 2 quả mìn Ba-zô-min (một loại mìn lõm được làm bằng thuốc nổ lấy từ bom đạn lép của địch) đặt ở vị trí thích hợp; đợi đến 2 giờ chiều, đoàn tàu chở quân từ Sài Gòn lên tới khu vực phục kích. Mìn nổ, quân ta tung lựu đạn và ồ ạt xung phong, phá hủy nhiều toa xe lửa, diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí đạn dược, trong đó có 2 súng Canông, lực lượng phục kích rút về căn cứ an toàn.


Trong khi các đơn vị lực lượng vũ trang của ta tập trung tìm mọi cách đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên các chiến trường; bộ đội trinh sát kết hợp với Công an vũ trang, du kích các xã luôn bám địa bàn tìm diệt những tên ác ôn, tề gian, những tên chỉ điểm, gián điệp và phá bộ máy ngụy quyền, góp phần làm thất bại chiến trạnh gián điệp của chúng. Đó là tên Trần Văn Sâm (lính kín), tên cai tổng Cao ở Tân Khánh, trốn ra thị xã đều bị diệt tại Phú Cường. Tại Lái Thiêu, ta trừng trị cả Sâm (Hưng Định), hương cả Đình, hương Quản Thế (Phú Long), cai Đính (thị trấn Lái Thiêu), hương quản Ớt (Vĩnh Phú), Tám Ca (Bình Nhâm). Tại Tân Uyên, các tên xã Bí, tổng Ngô, tổng Khoẻ, tổng Quốc, xã Lê, hương cả Xuân, hương cả Chà... đều bị diệt. Tại Hớn Quản, ta diệt tên ác ôn Huỳnh Kim Trọng ở Xa Cam (tên Trọng là chánh văn phòng của đồn điền Xa Cam khét tiếng ác ôn), hoặc giết hụt tên Chét Tạch ở Xa Cam... Tại Thủ Dầu Một, ta tốn nhiều thời gian nghiên cứu nắm quy luật đi lại, ăn ở diệt tên Nguyễn Văn Quả, một đội viên trinh sát đầu hàng địch đánh phá dữ dội cơ sở cách mạng của ta.


Những trận diệt tề, trừ gián điệp, chỉ điểm đều thực hiện đúng đối tượng, đúng chính sách với tinh thần quả cảm, táo bạo của cán bộ, chiến sĩ ta, được cán bộ, đồng bào hoan nghênh. Cũng nhờ đó mà từ cuối năm 1949 ở nhiều xã thuộc vùng yếu, bộ máy kìm kẹp của địch bị phá lỏng.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:07:00 pm
2.Phối hợp đánh địch trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa

Trong thời gian này, công tác phá hoại cũng là một mặt trận quan trọng cả về quân sự lẫn kinh tế. Thủ Dầu Một là tỉnh có diện tích cao su lớn nhất Đông Nam Bộ. Phá hoại kinh tế địch ở đây là phá hoại các đồn điền cao su của chủ tư bản Pháp, thường gọi là “cao su chiến”. Quân dân ta phá hoại bằng nhiều cách như lãn công, cạo hư cây, phá kiềng chén, đổ bớt mủ, xả mủ đổ ra đất, đấu tranh chống cúp phạt; thành lập những đơn vị bộ đội, du kích chuyên phá hoại cây cao su (chặt hoặc làm chết cây). Sau đó được uốn nắn, chuyển sang không phá cây cao su1 (Theo chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn-Bí thư Xứ ủy Nam Bộ: "Cuộc kháng chiến của ta nhất định giành được thắng lợi, cây cao su là nguồn lợi lớn của Tổ quốc, chúng ta phải chăm sóc, bảo vệ, không được chặt phá") mà phá hoại máy móc, nguyên vật liệu, giáng một đòn mạnh mẽ vào ý đồ dự trữ, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng. Địch cố gắng bảo vệ đồn điền cao su bằng cách tăng cường lực lượng quân sự, có cả xe thiết giáp chiếm đóng vùng cao su để đối phó công tác phá hoại của ta. Tuy thế, trong 104.000 héc-ta cao su toàn miền Đông đến năm 1948, bọn thực dân Pháp chỉ khai thác được 20.000 héc-ta. Trong năm 1949, các đồn điền cao su trong toàn tỉnh Thủ Dầu Một đã bị phá hoại 212 héc-ta cao su và 74.180 cây cao su. Riêng ở Hớn Quản, công nhân phá 430 tấn mủ gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho địch2 (Sinh hoạt và thành tích cao su Nam Bộ-lưu tại công đoàn cao su Việt Nam).


Tại đồn điền cao su Lộc Ninh, tên chủ La Lan nổi tiếng gian ác. Từ khi bị chết hụt trên đường 13, mỗi khi có việc cần về Sài Gòn hắn phải đi bằng máy bay chứ không dám đi bằng đường bộ. Ở Hớn Quản, Dầu Tiếng, ta tấn công vào các đồn điền, rút thanh niên, công nhân bổ sung cho bộ đội. Vừa giải thoát những chiến sĩ, du kích, kể cả đồng bào miền Bắc bị chúng bắt trong các cuộc càn quét ở Bắc Bộ đưa vào đây làm công nhân cạo mủ cho chúng, số anh em được giải thoát đều quyết tâm xin gia nhập bộ đội.


Đi đôi với hoạt động vũ trang tấn công địch, diệt tề, trừ gian, từ đầu năm 1949, được sự hỗ trợ của cán bộ, du kích địa phương, phong trào công nhân đấu tranh dòi dân sinh, dân chủ phát triển mạnh. Giữa năm 1949, 500 công nhân ở Sóc Xiêm (Hớn Quản) do anh Đạt cầm đầu đấu tranh đòi trả lương đúng kỳ hạn, đòi cấp gạo trắng, hạ giá sinh hoạt. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi, bọn chủ đồn điền buộc phải giải quyết quyền lợi cho anh chị em công nhân. Tháng 4 năm 1949 tại đồn điền Minh Thạnh, công nhân lãn công, tập trung trước nhà chủ sở, đưa yêu sách: “Tăng lương đủ sống, phát gạo trắng cho dân, bán đồ ăn ngon cho dân, không được ép công nhân mua đồ ăn mục hư”.


Công tác phá hoại đường bộ, đường sắt tuy những năm trước tỉnh có chỉ đạo nhưng việc thực hiện không được thường xuyên. Từ khi tổ chức dân quân được hình thành từ tỉnh đến xã, thì công tác này tiến hành thường xuyên, có nền nếp và quy mô hơn.


Địa bàn Thủ Dầu Một có các con đường giao thông huyết mạch: đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh; đường quốc lộ 13, cũng từ Sài Gòn lên Lộc Ninh rồi chạy qua Campuchia, qua Lào; đường liên tỉnh 14 từ Thủ Dầu Một đi Tây Nguyên; đường 14 đi Dầu Tiếng; đường 16 nối Tân Uyên với Phước Hoà; đường số 8 từ Tân Uyên đến Lạc An và nhiều con lộ trải sỏi đỏ liên xã, liên huyện. Với những con đường này, ta và địch giằng co rất ác liệt, ta phá địch sửa, ta lại phá. Để ngăn chặn bộ đội và du kích ta phá hoại đường, địch bắn pháo cầm canh, theo các trục lộ chính. Song ta vẫn phá, có lúc pháo bắn phía trước, ta phá phía sau và ngược lại.


Đối với đường sắt, ta vừa đánh phục kích khi tàu lửa đi qua, vừa gỡ tháo tà vẹt, tháo bù loong từng đoạn đường ray, phá cầu cống. Đường sắt bị phá nên việc vận chuyển của địch tiếp tế cho các đồn điền và chở mủ cao su về Sài Gòn gặp nhiều khó khăn.


Ta huy động hàng ngàn lượt dân công các huyện phía nam như Lái Thiêu, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một lên các huyện phía bắc của tỉnh để đào hào, đắp mô, cắm chông trên các đường lộ lớn nhỏ, làm cản trở việc càn quét hoặc tiếp tế đồn bót vùng trên của địch. Dân quân các xã dọc lộ 16 phá cầu Ông Tiếp, cầu Bà Kiên, cầu Tổng Bảng, cầu Rạch Cát, cầu Suối Đồn... Du kích cắm chông, gài lưu đạn ở những cây cầu bị phá, gây thương vong cho địch khi chúng đến sửa chữa cầu.


Địch đóng nhiều tua, bót để chia cắt tỉnh thành từng mảnh nhỏ, bao vây căn cứ tỉnh, huyện, cô lập vùng này với vùng khác. Ta ra sức phá hoại cầu, đường, nhiều nơi lực lượng vũ trang, du kích có sáng kiến, cắm chông, gài lựu đạn, mìn xung quanh để cô lập các đồn bốt địch. Đường giao thông bị đào bức ngang hoặc xẻ quanh co thành hào chữ chi, lại chằng chịt những mô đất làm cho xe cơ giới địch vận chuyển không được, có trường hợp xe tăng, thiết giáp bị sụp hầm. Những con đường bị phá hoại chi chít, những hào, mô đất lại trở thành công sự chiến đấu cho bộ đội ta và du kích chống địch mỗi khi chúng đi càn.


Năm 1949, tỉnh có chủ trương xây dựng làng chiến đấu, lực lượng dân quân các xã hăng hái sửa đổi địa hình, địa vật, khởi đào ở 6 xã có địa đạo, rào được 256.995 mét đường rừng và gần 100.000 mét theo mương rạch. Xã Định Hòa dẫn đầu với 2.000 mét địa đạo (cuối năm 1949).


Dân quân các nơi còn đóng trên 5.000 cọc chống chiến xa, cắm 207.800 cọc chống địch nhảy dù, đào 29.550 mét khối đất làm hầm núp công cộng và giao thông hào. Trên 900 lượt dân quân đi dân quân phục vụ chiến đấu và áp tải lương thực.


Tổng hợp thành tích hoạt động vũ trang trong năm 1949, các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích xã đã đánh 649 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 1990 tên địch (trong đó du kích loại 685 tên), thu 171 súng các loại (phần của du kích 44 súng), địch nguỵ vận thu 20 súng. So với năm 1948, số trận đánh cũng như số lượng địch bị loại khỏi vòng chiến đấu đều tăng. Với sự phát triền mạnh mẽ của phong trào kháng chiến, công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị tư tưởng của Trung đoàn 301 cũng được chú trọng, số lượng đảng viên mới kết nạp ngày cũng tăng. Trong 2 năm 1948, 1949 từ trung đoàn đến đơn vị huyện, du kích được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, có sự triển khai có hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị nên thế trận chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân toàn diện ngày càng được hoàn thiện, liên tục tấn công địch đánh đồn bót, chống càn, diệt tề, trừ gian làm cho âm mưu bình định lấn chiếm của địch bị thất bại. Vùng căn cứ cách mạng được mở rộng nối liền được các căn cứ ở miền Đông đưa cách mạng chuyển sang bước phát triển mới.


Tháng 9 năm 1949, Xứ ủy triệu tập hội nghị quân sự xứ, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy đã nêu lên những ưu điểm nhấn mạnh những thiếu sót sai lầm trong phong trào nói chung và cán bộ chỉ huy quân sự ở các địa phương nói riêng. Hội nghị đã đề ra các công tác trước mắt: chỉnh đốn bộ máy chỉ huy quân sự, xây dựng 3 thứ quân, rèn cán chỉnh quân, xây dựng quân nhu, quân giới, xây dựng căn cứ địa kháng chiến, tăng cường công tác chính trị tư tưởng trong tất cả các đơn vị, đẩy mạnh địch ngụy vận, đẩy mạnh thi đua giết giặc lập công, tăng cường công tác chính trị nội bộ, đề phòng địch gài người vào nội bộ... Nghị quyết của Hội nghị quân sự Xứ ủy thổi một luồng sinh khí mới, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến nhân dân trong tỉnh.


Sau Hội nghị của Xứ ủy, tỉnh Thủ Dầu Một tổ chức hội nghị quân sự toàn tỉnh tại Bến Sắn nhằm quán triệt những nghị quyết của Xứ ủy. Đây là lần đầu tiên trong tỉnh, các cán bộ quân sự tiến hành tự phê bình, phê bình một cách thẳng thắn và xây dựng đối với các đồng chí chỉ huy quân sự của tỉnh và các đơn vị trong tỉnh. Qua hội nghị, nội bộ được xiết chặt đoàn kết hơn, đồng thời từng người thấy được những mặt hạn chế của mình để khắc phục.


Cũng cuối năm 1949, tổ chức chỉ huy ở chiến trường Nam Bộ có một số thay đổi. Theo yêu cầu của trên, tháng 11 năm 1949, Trung đoàn 301 Thủ Dầu Một sáp nhập với Trung đoàn 310 Biên Hoà thành Liên trung đoàn 310 - 310 do đồng chí Nguyễn Văn Thi làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Quang Việt - Bí thư Tỉnh ủy kiêm chính trị viên.


Từ ngày thành lập, Trung đoàn 301 đã lớn mạnh về mặt tổ chức xây dựng và chiến đấu, đánh dấu bước hoàn chỉnh quá trình thống nhất lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong 2 năm 1948, 1949, với quy mô tổ chức mới về lực lượng vũ trang tập trung cùng với các đơn vị khác, Trung đoàn 301 đã đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu và công tác. Đặc biệt trên các mặt trận quân sự, đã có những trận đánh sắc bén, táo bạo, độc đáo hiệu quả cao, góp phần giữ được thế chiến trường du kích, lần lượt đánh bại các thủ đoạn chiến thuật của thực dân Pháp, gây cơ sở vùng địch hậu, bó hẹp sự kiểm soát của địch, cắt đứt nhiều tuyến giao thông quan trọng, đánh tiêu hao sinh lực địch bảo vệ hành lang kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa cùng cả nước làm thay đổi cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp vào một giai đoạn lịch sử mới.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:08:26 pm
B.TRUNG ĐOÀN 310

I. CỦNG CỐ TỔ CHỨC, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ ĐỘI THEO HƯỚNG CHÍNH QUI

1.Thành lập Trung đoàn 310

Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh sang đánh kéo dài, quay trở lại bình định vùng đã chiếm đóng và lấn chiếm vùng tự do của ta. Trên cơ sở nhận định Nam Bộ có tầm quan trọng về kinh tế, nơi có vựa lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và nguồn xuất khẩu cao su ở các tỉnh miền Đông, lại xa trung tâm đầu não kháng chiến, thực dân Pháp chủ trương tập trung bình định Nam Bộ, biến Nam Bộ thành trung tâm dự trữ chiến lược của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “Dùng người Việt đánh người Việt”.


Tại Biên Hòa, bộ máy chiến tranh của địch đẩy mạnh bình định trên tất cả các lĩnh vực. Về quân sự, chúng tăng thêm quân (lấy từ lực lượng mới bổ sung 5 tiểu đoàn từ Bắc Bộ vào Sài Gòn), phát triển ngụy binh, đóng thêm một số đồn bót ở các khu vực trọng yếu, liên tục tổ chức càn quét mở rộng vùng tranh chấp, đặc biệt ở hướng Xuân Lộc, Long Thành. Về chính trị, chúng tổ chức gom dân về các khu vực xung quanh đồn bót địch (bấy giờ ta gọi là khu nô lệ), củng cố bộ máy ngụy quyền tay sai, khuếch trương những tổ chức chính trị phản động, phát triển chiến tranh gián điệp, xúc tiến thành lập chiến khu quốc gia giả hiệu ở Rừng Sác - Long Thành, về kinh tế, chúng tăng cường khai thác xuất khẩu cao su, mặt khác khống chê ngăn chặn các nguồn vận chuyền tiếp tế và đánh phá hoạt động sản xuất của ta trong căn cứ. Về văn hóa, thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, dùng thủ đoạn truyền bá lối sông hưởng lạc để mua chuộc, lôi kéo cán bộ kháng chiến.


Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt khu vực tranh chấp trên địa bàn tỉnh trở thành vùng tạm bị chiếm. Nhiều khu vực căn cứ bị biến thành vùng tranh chấp (1/2 khu vực căn cứ huyện Châu Thành, 3/4 khu vực căn cứ huyện Xuân Lộc, 1/3 khu vực căn cứ huyện Long Thành). Lực lượng dân quân du kích ở một số địa phương giảm xuống. Nhiều vùng trắng xuất hiện xung quanh Chiến khu Đ làm ngăn cách sự liên hệ giữa bộ đội với nhân dân. Các ngả đường về chiến khu bị kiểm soát gay gắt. Binh công xưởng, nông trại sản xuất, trâu bò, cơ sở kho tàng trạm trại trong căn cứ bị thiệt hại nhiều do máy bay địch bắn phá và gián điệp phá hoại.


Về ta, lực lượng vũ trang tập trung phát triển, trong khi đó công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật không theo kịp. Nhu cầu bảo vệ và phát triển nền kinh tế kháng chiến đặt ra cấp thiết.

Từ thực tế tình hình, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị trong 4 ngày từ 16 đến 20 tháng 12 năm 1947 nhằm đánh giá một năm đầu cùng cả nuớc kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho năm 1948. Dự đoán chính xác âm mưu sắp tới của địch, hội nghị đề ra nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh đấu tranh kinh tế với địch kết hợp với đấu tranh quân sự, không cho chúng biến Nam Bộ thành “sân sau”, thành trung tâm dự trữ của cuộc chiến tranh. Tiếp đó, đầu năm 1948, tại Cây Cầy Chiến khu Đ, Tỉnh ủy Biên Hòa tổ chức hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh. Quán triệt nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ngày 15 tháng 1 năm 1948 về phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”. Phá kinh tế tài chính địch, thực hiện khẩu hiệu tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh”, trên cơ sở kết quả đạt được trong năm 1947, hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cho thời gian tới, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển du kích chiến tranh, kết hợp ba thứ quân để phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang bảo vệ căn cứ, tăng cường hoạt động vùng du kích, đánh giao thông, phá hoại cơ sở kinh tế của địch, xây dựng kinh tế kháng chiến”. Hội nghị một lần nữa, củng cố lại Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, bầu Phạm Văn Thuận làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm trưởng công an, Huỳnh Văn Lũy làm Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.


Bước sang năm 1948, công cuộc kháng chiến của quân và dân cả nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Tại Nam Bộ, sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, đặc biệt của các đơn vị bộ đội tập trung đặt ra nhu cầu cần được tổ chức lại ở mức độ cao hơn hầu đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. Đầu năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị xây dựng các trung đoàn bộ đội tập trung trên toàn xứ. Ngày 27 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 họp hội nghị mở rộng, đánh giá kết quả hoạt động của lực lượng kháng chiến giành thắng lợi trên các mặt quân sự và chính trị, nhất là sau trận La Ngà thì ngoài thắng lợi về quân sự thì ý nghĩa chính trị mang lại rất lớn. Hội nghị thảo luận và quyết định hai vấn đề lớn: một là thống nhất tổ chức, xây dựng các trung đoàn trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trên cơ sở các chi đội sẵn có sẽ phát triển thành các trung đoàn. Những chi đội lớn, có đủ quân số, vũ khí thì chuyển sang xây dựng trung đoàn (như Chi đội 1, Chi đội 10); những Chi đội thiếu quân số và vũ khí thì 2 hoặc 3 Chi đội nhập lại để xây dựng Trung đoàn. Mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn thực binh, 1 đại đội trợ chiến và các ban tham mưu, chính trị, quản trị. Ban chỉ huy trung đoàn có trung đoàn trưởng và 2 trung đoàn phó. Địa bàn hoạt động của trung đoàn vẫn chủ yếu trong phạm vi của tỉnh. Thứ hai là quyết định thanh trừng bọn phản động và gián điệp cài vào lực lượng Bình Xuyên tại Rừng Sác - Long Thành.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:10:00 pm
Tại Biên Hòa, sau trận phục kích La Ngà tháng 3 năm 1948, Chi đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ được đề bạt chức vụ Khu bộ phó Khu 7. Chi đội 10 thuộc tỉnh Biên Hòa tập trung thực hiện quyết định của Hội nghị Khu ủy Khu 7 về việc xây dựng Trung đoàn mang phiên hiệu 310.


Trung đoàn 310 thành lập không chỉ đơn thuần thay đổi tên gọi mà biểu thị sự phát triển, thay đổi về chất, từ cơ cấu tổ chức, qui mô đơn vị đến năng lực của cán bộ, chiến sĩ. Nó tạo điều kiện để từng bước đưa dần đơn vị lên trình độ xây dựng, tổ chức huấn luyện và chiến đấu ngày một cao hơn theo hướng chính quy.


Ban chỉ huy Trung đoàn 310 gồm: Nguyễn Văn Lung (trung đoàn trưởng), Nguyễn Văn Tư (Tư Râu) (chính trị viên)1 (Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai-Tập II và Hồi ký Nguyễn Văn Lung ghi: Chính trị viên: Võ Cương), Nguyễn Văn Quang, sau là Đinh Quang Ân (trung đoàn phó phụ trách tác chiến), Đào Văn Quang (trung đoàn phó phụ trách quản trị).


Quân số toàn Trung đoàn có 2.200 người, với 800 súng trường, 40 tiểu liên, 6 trung liên, 6 đại liên, 2 cối 60 ly, 1 cối 81 ly, 1 pháo. So với ngày đầu thành lập, lực lượng của Trung đoàn 310 đã có bước phát triển lớn. Trọng tâm của trung đoàn trong giai đoạn đầu thành lập là chấn chỉnh về tổ chức và đổi mới về trang bị. Về quân số, chỉ giữ lại trong đội hình những chiến sỹ có đủ sức khoẻ, đạt tiêu chuẩn bộ đội chính quy; thương binh, bệnh binh và thiếu sức khỏe được đưa về Trại an dưỡng thương bệnh binh tại Hàng Dài để điều trị, dưỡng sức; sau khi phục hồi sức khỏe sẽ được bố trí trở lại đơn vị chiến đấu hoặc sản xuất tự túc. Nhờ thực hiện chủ trương này mà các đại đội có biên chế gọn, nhẹ và mạnh hẳn lên so với trước.


Về trang bị: các đại đội, trung đội được điều chỉnh, trang bị lại theo hướng thống nhất trong toàn trung đoàn; bảo đảm mỗi trung đội khinh binh có 1 trung liên, 3 thompson, 3 tiểu liên. Mỗi trung đội được trang bị súng trường cùng chủng loại để dễ dàng trong việc tiếp tế và kiểm soát việc sử dụng đạn (hoặc cùng loại súng Anh, hoặc cùng loại súng muscoton).


Sau khi chấn chỉnh, biên chế Trung đoàn 310 có: 3 tiểu đoàn khinh binh và 1 đại đội trợ chiến (trang bị trọng liên 12,7 ly, súng cối 82 ly). Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh và 1 trung đoàn trợ chiến (trang bị đại liên và súng cối 60 ly). Mỗi đại đội có 3 trung đội khinh binh và 1 tiểu đội trợ chiến. Mật danh của tiểu đoàn mang tên các danh nhân quân sự và của đại đội mang tên các địa danh lịch sử.


Tiểu đoàn Lê Lợi (phát triển từ đại đội A)

Ban chỉ huy: Nguyễn Văn Lắm (Tiểu đoàn trưởng), Hoàng Phùng Đức (Tiểu đoàn phó), Hoàng Lập Trung (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh, gồm:

- Đại đội Thái Nguyên.

- Đại đội Đống Đa.

- Đại đội Chi Lăng.


Tiểu đoàn Quốc Tuấn (phát triển từ đại đội B).

Ban chỉ huy: Đinh Quang Ân (Tiểu đoàn trưởng), Lê Thoa (Tiểu đoàn phó), Nguyễn Văn Khoa (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh, gồm:

- Đại đội Lạc An.

- Đại đội Bắc Sơn.

- Đại đội La Nha (phát âm theo tiếng Pháp địa danh La Ngà).


Tiểu đoàn Quang Trung (phát triển từ đại đội C).

Ban chỉ huy: Lương Văn Nho (Tiểu đoàn trưởng), Nguyễn Văn Toàn (Tiểu đoàn phó), Lưu Văn Phảng (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 2 đại đội khinh binh gồm:

- Đại đội Đô Lương.

- Đại đội Lam Sơn.


Ban chỉ huy Trung đoàn nhanh chóng tổ chức các cơ quan, đơn vị trực thuộc, thành lập mới ban tham mưu, ban chính trị; kiện toàn ban quân nhu, Ban quân báo, binh công xưởng và tổ chức một đại đội trợ chiến. Ban quân báo một mặt củng cố các tổ tình báo các huyện, thị xã; mặt khác có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo nghiệp vụ các trung đội trinh liên (trinh sát-liên lạc) của các tiểu đoàn và các tiểu đội trinh liên các đại đội. Ban quân nhu đặc biệt tăng cường công tác sản xuất tự túc. Binh công xưởng từ Chi đội 10 chuyển sang được kiện toàn, từ chỗ rờ-sạc đạn phát triển lên tự túc cán đồng và dập vỏ đạn các loại. Các tiểu đoàn bộ đều có các cán sự tham mưu, chính trị và quân như giúp việc cho Ban chỉ huy tiểu đoàn.


Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam Bộ, Trung đoàn quyết định thành lập Trường Thiếu sinh quân nhằm giáo dục chính trị, văn hóa; tập luyện thể dục - thể thao đồng thời kết hợp với huấn luyện quân sự để các em trở thành những “chiến sĩ nhỏ” của Trung đoàn. Trường được xây dựng tại khu vực Lạc An - Tân Uyên thuộc Chiến khu Đ. Ban Chỉ huy Trung đoàn chọn một số cán bộ có trình độ chính trị, văn hóa, quân sự và có đạo đức tốt để thành lập khung nhà trường gồm:
Hiệu trưởng: Mạnh Xuân Tâm.


Huấn luyện chính trị, văn hóa, giáo dục: Lê Mai, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Phú.

Huấn luyện quân sự: Lê Mai Chương.

Huấn luyện quân sự thực nghiệm: Hồ Văn Quới.

Đảm bảo hậu cần: trường có 3 anh, chị nuôi (2 nam, 1 nữ).


Trường Thiếu sinh quân Trung đoàn 310 khai giảng vào tháng 6 năm 1949, triệu tập gần 100 học viên dưới 17 tuổi. Ngoài thiếu niên của Trung đoàn 310, trường còn tiếp nhận các thiếu niên của các đơn vị: Trung đoàn 300, Trung đoàn 301 và các cơ quan Dân, Chính, Đảng thuộc tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một.


Lãnh đạo Khu 7, trực tiếp là Huỳnh Văn Nghệ giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Trung đoàn và Ban Giám hiệu nhà trường là phải tổ chức đào tạo, huấn luyện toàn diện cho thiếu sinh quân cả về văn hóa, thể dục thể thao, quân sự để khi ra trường các em có trình độ cơ bản, tương lai có thể trở thành cán bộ chỉ huy quân đội và thiết thực phục vụ kháng chiến lâu dài. Sau 6 tháng huấn luyện, các em trưởng thành nhanh chóng, trở nên nhanh nhẹn, vững vàng. Đa số thiếu sinh quân sau đào tạo được bồi dưỡng chính trị và kết nạp Đảng, sau một thời gian công tác, chiến đấu được bố trí làm cán bộ tiểu đội, đại đội. Một số được chọn cử tiếp tục học các trường (Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Trường Trung học Bình Dân, Tiền Phong, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) như: Nguyễn Hữu Sanh, Đinh Hữu Trung, Lưu Trần Thới, Trần Đạt Thành, Đoàn Ẩn, Lưu Văn Phúc...). Riêng thiếu sinh quân Nguyễn Bảo Khánh được chọn cử đi đào tạo cán bộ đại đội ở miền Bắc1 (Theo tài liệu "Hạt giống đỏ" - Bài "Thiếu sinh quân Trung đoàn 310" -  Ban Liên lạc Thiếu sinh quân miền Đông Nam Bộ - Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 12 năm 2005). Trường thiếu sinh quân Trung đoàn 310 là một trong những trường có qui mô lớn về tổ chức, đông về số lượng học viên và đạt hiệu quả cao trong huấn luyện.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:11:30 pm
2.Nâng cao chất lượng mọi mặt của Trung đoàn

Sau khi ổn định tổ chức, Trung đoàn 310 bước vào mùa luyện quân; công tác huấn luyện được đổi mới, Trung đoàn không tổ chức huấn luyện tập trung mà từng đại đội cử cán bộ về Trung đoàn dự lớp tập huấn, sau đó về đại đội tập huấn lại cho đơn vị mình. Đại đội Bắc Sơn được chọn làm Đại đội mẫu để huấn luyện. Như vậy công tác huấn luyện gắn liền với chiến đấu, vừa chiến đấu vừa huấn luyện. Sau thời gian khoảng 4 tháng, các Đại đội có sự tiến bộ rõ rệt về mặt cơ động, triển khai tác chiến và chống tập kích bất ngờ của địch.


Tháng 5 năm 1948, Trung đoàn 310, nòng cốt là Tiểu đoàn Quốc Tuấn tổ chức tập trung đánh giao thông trên đường 14, đoạn ngã tư Đồng Xoài nhưng bị lộ; đoàn convoa địch không đi như ta dự đoán, Trung đoàn lùi về phục kích đoạn Mã Đà nhưng xe dò mìn của địch phát hiện mìn của ta, ta nổ súng diệt 1 thiết giáp. Đây là trận đánh tập trung cấp Trung đoàn cuối cùng của Trung đoàn 310; về sau này các đại đội bám sát địa phương, hỗ trợ chống bình định của địch, bao vây phá hoại kinh tế địch.


Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang được tăng cường, công tác phát triển Đảng được củng cố và xây dựng cơ sở Đảng đến đại đội, trung đội. Hoạt động của Tiểu đoàn ủy và Trung đoàn ủy ngày một chủ động và vững vàng hơn. Mối quan hệ giữa quân-dân-chính-Đảng trở nên gắn bó hơn; các đơn vị trực thuộc trung đoàn khi cơ động đến địa phương nào thì việc đầu tiên là cán bộ đơn vị đó tìm cách liên hệ ngay với Chi bộ xã để bàn bạc thống nhất phương án phối hợp hoạt động; nhờ giữ tốt mối quan hệ này mà đơn vị được cung cấp thông tin, hậu cần và bảo đảm địa bàn đứng chân hoạt động hiệu quả. Tiêu biểu là chi bộ Đảng của đại đội Lam Sơn1 (Tổ chức Đảng ở Đại đội Lam Sơn khi hình thành có 6 đảng viên, đến năm 1950 phát triển 60 đảng viên) (Tiểu đoàn Quang Trung), chi bộ có 12 đảng viên, cấp ủy có 3 đồng chí, chính trị viên đại đội là Bí thư chi bộ; mỗi trung đội tổ chức một phân chi (tổ Đảng), các tiểu đội đều có đảng viên. Sinh hoạt chi bộ được duy trì thường xuyên, 3 tháng họp một lần; tổ Đảng mỗi tháng họp một lần, đóng đảng phí đều đặn1 (Đảng phí đóng bằng tiền Đông Dương hoặc hiện vật do sản xuất tự túc như lúa, khoai, gà, vịt, v.v...). Cán bộ, chiến sĩ trong đại đội đều được học tập, huấn luyện về chính trị, quân sự; đặc biệt chú trọng giáo dục rèn luyện về 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội, quán triệt chính sách đối với tù binh, hàng binh và biết thực hiện công tác dân vận2 (Theo báo cáo Ban liên lạc truyền thống Đại đội Lam Sơn).


Công tác tuyên truyền, văn hóa văn nghệ được chú trọng; Ban Chính trị Trung đoàn ra tờ thông tin hàng tuần (in ronéo) phổ biến trong nội bộ trung đoàn. Ban chỉ huy trung đoàn cho thành lập đoàn hát bộ (còn gọi là hát bội) phục vụ trong quân đội, đoàn thường diễn các tuồng tích lịch sử như “Lưu Bình - Dương Lễ”, “Cánh tay Vương Tá”, v.v... Sinh hoạt chính trị - văn hóa ban đêm được duy trì thường xuyên ở các đại đội, nhờ vậy mà động viên tinh thần anh em chịu đựng và vượt qua khó khăn gian khổ, đề cao tinh thần chiến đấu, sản xuất tự túc.


Tháng 6 năm 1948, được sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 7 và Tỉnh ủy Biên Hòa, Trung đoàn ủy mở hội nghị mở rộng nhằm nhận định tình hình và đề ra phương hướng hoạt động: 1- Cần tích cực phá kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của địch, ra sức giành người, giành của với địch. Để thực hiện phương châm này, Trung đoàn chủ trương chỉ để lại một lực lượng vừa đủ đế giữ căn cứ, đưa toàn bộ lực lượng tiến về phía trước tấn công địch cả ở vùng tạm chiếm và vùng du kích. 2- Đối với vùng tạm chiếm, Ban quân báo củng cố biệt động đội phối hợp với lực lượng Quốc vệ đội (công an vũ trang) và các đoàn thể công đoàn, thanh niên, phụ nữ xây dựng cơ sở, chuẩn bị chiến trường, đánh những cú hiểm, đòn đau vào hậu cứ địch đồng thời có kế hoạch đánh diệt hoặc làm thiệt hại nặng các các đội Com-măng-đô của địch, bảo vệ cơ sở ta. 3- Đối với khu du kích, Trung đoàn tăng cường lực lượng phối hợp với bộ đội huyện, du kích xã tích cực chống địch càn quét, khủng bố, bảo vệ các căn cứ lõm. Các đại đội hoạt động dựa vào nhân dân và du kích địa phương nắm qui luật hoạt động của địch, chủ động luồn sâu vào vùng tạm bị chiếm, phục kích, đánh địch bất ngờ không để bị động chống càn. Phải xây dựng kế hoạch phối hợp với quân dân du kích sẵn sàng chống trả khi địch càn. 4- Đối với vùng căn cứ, phải phát triển các hình thức chiến đấu thô sơ của toàn dân bằng cách rào làng chiến đấu, đào hầm chông, gài lựu đạn, cắm cọc chống nhảy dù; tổ chức thực tập phối hợp các lực lượng quân, dân chính chống càn, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa quân báo và công an tăng cường công tác phản gián đồng thời bố trí điệp viên của ta vào nội bộ địch để nắm và kịp thời báo cáo tình hình địch về Trung đoàn. 5- Đối với hệ thống đường sắt, phải tổ chức một đơn vị nhỏ, tinh gọn, liên tục tấn công tiêu diệt các đoàn xe lửa của địch, làm tê liệt hệ thống giao thông đường sắt của địch.


Tại hội nghị, Trung đoàn cũng bàn bạc với tỉnh đội kế hoạch giao nhiệm vụ cho các huyện đội phối hợp với các đoàn thể tuyên truyền vận động binh lính mang súng trở về, đồng thời nghiên cứu nắm sơ hở của địch tại các tháp canh để bất ngờ kỳ tập tiêu diệt địch. Kết thúc hội nghị, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn ủy đã phát động phong trào thi đua giết giặc lập công.


Chấp hành chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ, của Tỉnh ủy tỉnh Biên Hòa và nghị quyết hội nghị Trung đoàn ủy, Trung đoàn 310 cùng với lực lượng dân quân du kích trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên khắp ba vùng kháng chiến. Tỉnh đội dân quân củng cố lại hệ thống dân quân du kích ở các địa phương, đặc biệt ở các xã vùng tranh chấp xung quanh Chiến khu Đ, dọc quốc lộ 15, quốc lộ 1. Đến giữa năm 1948, toàn tỉnh phát triển được 12.000 đội viên du kích với 233 súng các loại. Trung đoàn 310 đã cử các phân đội xuống hỗ trợ với du kích địa phương tiến đánh các đồn bót nhổ lẻ, đánh giao thông, giành quyền chủ động về chiến thuật. Tiểu đoàn Lê Lợi chỉ để lại 1 đại đội bảo vệ Chiến khu Đ, 1 đại đội ra hoạt động áp sát thị trấn Tân Ba và Sở cao su Phước Hòa; 1 đại đội khác khác vượt sông Đồng Nai phối hợp với đại đội Bắc Sơn của tiểu đoàn Quốc Tuấn hoạt động ở vùng ngoại vi thị xã Biên Hòa, hướng Tân Phong, Bình Ý. Hai đại đội còn lại của Tiểu đoàn Quốc Tuấn hoạt động sát vào thị trấn Xuân Lộc và các sở cao su Bình Lộc, An Lộc. Đại đội Lam Sơn - Tiểu đoàn Quang Trung chuyển lên hoạt động sát thị xã Biên Hòa, thị trấn Long Thành, tổ chức nhiều cuộc phục kích, tập kích vào các cứ điểm quân sự và các toán quân tuần tiễu của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Chỉ tính riêng tại khu vực huyện Tân Uyên, trong 6 tháng cuối năm 1948, bộ đội tập trung và du kích địa phương đã đánh đồn 2 trận, thu 28 súng trong đó có 1 đại liên, 2 súng trung liên và nhiều đồ dùng quân sự khác.


Ban quân báo Trung đoàn hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là công tác phản gián đã thành công trong việc đưa tin giả về việc ta sẽ tổ chức một buổi lễ có nhiều cán bộ và nhân dân tham dự tại Đất Cuốc, ta nghi trang để địch cho máy bay thả bom vào bãi đất trống, ta thu được một số bom lép đưa về Công binh xưởng tháo lấy thuốc nổ sản xuất vũ khí.


Như vậy là từ giữa năm 1948, do đặc điểm chiến trường, Trung đoàn không có những trận đánh lớn như lúc còn Chi đội, nhưng các đại đội đã thi đua luồn sâu đánh hàng trăm trận nhỏ, lẽ rất hiệu quả, thu được nhiều vũ khí. Tiêu biểu là Đại đội Bắc Sơn thuộc Tiểu đoàn Quốc Tuấn, ngày 13 tháng 8 năm 1948 đại đội phối hợp với bộ đội địa phương huyện Vĩnh Cửu bí mật ém quân phục kích tại Bến Cá giữa ban ngày, đánh diệt tên cai tổng Xồm ác ôn, thu một số súng, có một khẩu FM đầu bạc; vì đại đội luồn quá sâu vào ấp nên sau trận đánh không thể rút ra bằng đường bộ mà phải vượt sông sang Phước Thành, vòng qua Chiến khu Đ để về căn cứ. Đêm 30 tháng 8 năm 1948, đại đội Bắc Sơn tiếp tục luồn sâu phục kích giữa ngã ba Bình Ý và Giếng Mọi đánh diệt 2 xe, bắt sống tên Phước (Tây lai) khi hắn dẫn một tiểu đội đi ruồng bố, cướp bóc về. Nhân dân rất hả dạ khi những tên ác ôn bị tiêu diệt, suốt ba tháng liền đại đội liên tục nhận quà, lương thực của nhân dân tiếp tế.


Trên tuyến đường sắt đoạn từ Biên Hòa đi Trảng Bom, Trung đoàn tổ chức một đơn vị phối hợp chuyên đánh xe lửa gồm một số cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn Lê Lợi, một đội binh chủng chuyên môn Khu và trung đội trinh-liên của tiểu đoàn Quang Trung. Ban chỉ huy thống nhất do đồng chí Hoàng Phùng Đức - tiểu đoàn phó tiểu đoàn Lê Lợi làm chỉ huy trưởng; đồng chí Thoa - đội trưởng đội binh chủng chuyên môn khu và đồng chí Mật - trung đội trưởng trung đội trinh-liên làm chỉ huy phó. Ban chỉ huy thống nhất phân công đồng chí Mật chịu trách nhiệm trinh sát nắm địch tình và xác định địa điểm phục kích; đồng chí Thoa chịu trách nhiệm sử dụng Bazômin đánh diệt đầu máy xe lửa; đồng chí Hoàng Phùng Đức chịu trách nhiệm chỉ huy chung, khi cần thiết có thể điều động các đại đội Lam Sơn và Đô Lương (thuộc tiểu đoàn Quang Trung) đến hỗ trợ hoặc hiệp đồng tác chiến theo kế hoạch đã thỏa thuận trước. Trong 6 tháng đầu năm 1949, đơn vị đánh 15 trận, gây thiệt hại 15 đầu máy xe lửa (hiệu Pacific). Bị đánh liên tục, địch đối phó bằng cách không dùng đầu máy kéo đoàn tàu mà đẩy phía sau, thay vào chỗ đầu máy là một Wagon chở dân; trong đoàn tàu có một Wagon bọc thép chở quân hộ tống. Đơn vị trinh sát Trung đoàn nắm được sự thay đổi này báo cáo Ban chỉ huy lên phương án tác chiến; lần này ta không đánh vào đầu tàu mà đánh vào Wagon chở quân hộ tống đồng thời điều đại đội Lam Sơn và đại đội Đô Lương xung phong, trận này ta diệt trên 100 quân hộ tống. Bị tấn công dồn dập, tuyến đường sắt phải ngưng hoạt động một tháng, sau đó địch tiến hành rải quân canh gác suốt đoạn đường sắt từ Nhà thương điên (Bệnh viện tâm thần) đến Trảng Bom trước khi tàu chạy; đơn vị lợi dụng sơ hở đã bí mật luồn sâu đánh địch sát thị xã khi tàu rời khỏi ga ở đoạn thuộc xã Bình Trước.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:12:12 pm
II. HOẠT ĐỘNG CHỐNG CHÍNH SÁCH BAO VÂY CHIA CẮT CỦA ĐỊCH

1.Góp phần xây dựng nền kinh tế kháng chiến và tình đoàn kết dân quân

Nhằm thực hiện chủ trương “phá hoại kinh tế địch”, Trung đoàn 310 phân công 2 đại đội thường xuyên phối hợp với dân quân tự vệ trong các đồn điền cao su tham gia “mặt trận cao su chiến”, phá hoại cao su của tư bản thực dân Pháp. Ngoài ra, trung đoàn còn trang bị vũ khí cho liên đoàn cao su tỉnh để thành lập các đội tự vệ đặc nhiệm chuyên phá hoại cao su. Tính chung cả năm 1948, lực lượng phá hoại cao su tại các đồn điền cao su Biên Hòa đã phá được 1.952 mẫu trên tổng số 4.000 mẫu đang khai thác (tổng diện tích các đồn điền cao su tại Biên Hòa khoảng 25.000 mẫu) bằng các biện pháp vạc vỏ, chặt sâu quá nửa thân cây, tiện gốc cây, băm nát da cây và đốt cháy. Đốt và đổ 252.797 ki-lô-gam mủ. Đốt và phá trên 150 nhà xưởng, nhà chứa mủ cùng nhiều máy móc thiết bị khác. Đập bể 25.000 chén hứng mủ, 10.000 máng hứng mủ. Đưa về chiến khu hàng trăm thùng đựng mủ, các bộ phận máy móc cơ khí, dụng cụ văn phòng, về sau, Xứ ủy chỉ đạo không phá cây cao su vì xem đây là tài sản quốc gia và có liên quan đến công ăn việc làm của công nhân cao su nên chuyển sang phá hoại phương tiện khai thác và thành phẩm cao su.


Hoạt động của lực lượng vũ trang tại vùng tạm bị chiếm và du kích đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho địch (riêng các đồn điền cao su thiệt hại tính chung hơn 7.000 đồng tiền Đông Dương ngân hàng), bổ sung cho ta nhiều vũ khí đạn dược, nguyên liệu cho binh công xưởng, thuốc men và đồ dùng quân sự, đồng thời làm giảm áp lực của địch đối với vùng căn cứ, vùng tranh chấp. Hoạt động vận chuyển liên lạc của ta trên các tuyến giao thông từ đô thị và vùng nông thôn tạm bị chiếm về căn cứ và giữa các căn cứ với nhau nhờ thế được duy trì. Trung đoàn 310 cùng lực lượng du kích các huyện đảm nhiệm bảo vệ đường dây liên lạc, tiếp tế từ trung ương và Nam Bộ, bảo đảm vận chuyển thực phẩm từ Bà Rịa, gạo từ Đồng Tháp Mười, nguyên hóa liệu cho binh công xưởng và thuốc men từ Sài Gòn và thị xã Biên Hòa về chiến khu Đ tương đối an toàn.


Trong các căn cứ lớn như chiến khu Đ, Rừng Sác, Long Thành, Trung đoàn 310 cùng lực lượng du kích tại chỗ kiên quyết chiến đấu chống địch càn quét bảo vệ căn cứ, bảo vệ sản xuất. Các phân đội xây dựng hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức bố phòng canh gác bảo vệ nông dân làm mùa, mở lò rèn sản xuất nông cụ đổi lúa cho nông dân, mặt khác tổ chức sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp. Các nông trại mở rộng phạm vi canh tác lên dọc vàm Sông Bé. Tại Chiến khu Đ, Trung đoàn 310 xây dựng 1 lò đường ở Lạc An; 1 xưởng thuộc da (sản xuất thắt lưng, bao đạn, dây súng, giày da, xắc cốt, cặp tài liệu) và 1 cơ sở may đo quần áo cho bộ đội ở Mỹ Lộc, 1 lò chén (sản xuất chén dĩa ăn cơm, tách trà, vỏ lựu đạn, vỏ mìn bằng sành) tại Đất Cuốc. Trung đoàn còn xây dựng 1 xa nước phát điện tại suối Sâu, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của binh công xưởng (tồn tại đến năm 1951).


Kết quả hoạt động sản xuất nêu trên cộng với sự chu cấp (không định kỳ) của Phòng quân nhu Khu 7 (chủ yếu bằng tiền Đông Dương ngân hàng), của Ban kinh tài, của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hòa (chủ yếu bằng vật phẩm) và từ nguồn thu trong các trận phục kích giao thông, từ các trận tập kích sở cao su đã góp phần ổn định chế độ cung cấp trong lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa. Trung đoàn 310 và tỉnh đội bộ dân quân bước đầu tiêu chuẩn hóa chế độ cung cấp về lương thực và tiền phụ cấp đối với cán bộ, chiến sĩ (trung bình mỗi quân nhân được cấp mỗi ngày 1 lít gạo và 1 đồng tiền thức ăn, mỗi người được cấp 10 đồng tiền tiêu vặt)1 (Theo Lịch sử ngành Quân nhu (1945-1954) - Tổng cục Hậu cần, bản đánh máy, tư liệu Viện lịch sử Quân sự Việt Nam, L.166, tr.49).


Tháng 10 năm 1948, Hội nghị Khu 7 mở rộng đã đề ra hai chủ trương lớn là “phá khu nô lệ” và “tảo thanh Cao Đài”.

Việc chủ trương “phá khu nô lệ” là căn cứ vào việc địch tiến hành bình định, càn quét, khủng bố gom dân vùng ven vào vùng tạm chiếm và gần đồn bót địch nhằm lập vành đai trắng cách biệt giữa vùng căn cứ và vùng tạm chiếm; do đó việc “phá khu nô lệ” nhằm mở rộng vùng kiểm soát của ta, chống sự bao vây của địch, củng cố vả bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ sản xuất... Nhưng biện pháp thực hiện có sai phạm, tuy chưa nghiêm trọng và được kịp thời rút kinh nghiệm nhưng đã ảnh hưởng đến tình cảm của nhân dân; thay vì tổ chức bám dân xây dựng cơ sở lãnh đạo dân đấu tranh trở về đất cũ sản xuất thì lại kêu gọi dân trở về vùng du kích, nếu không thì đốt nhà, cưỡng bức dân trở về. Trung đoàn 310 có nhiệm vụ tổ chức “phá khu nô lệ Tân Vạn”, khi vào đến nơi thì chiến sĩ ta thấy dân ở đây phần lớn là bà con trước đây đã từng gắn bó, ủng hộ bộ đội do đó đã giải thích kỹ cho đồng bào, giúp họ dọn đồ đạt ra ngoài rồi đốt vài căn nhà chiếu lệ; Trung đoàn báo cáo về tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo dừng việc thực hiện “phá khu nô lệ” chờ xin ý kiến của Khu. Sau đó trinh sát nắm được tình hình là những hộ bị đốt nhà không những không trở về vùng du kích mà lại dọn vào sâu trong vùng tạm chiếm.


Về chủ trương “tảo thanh Cao Đài” là nhằm vào số chức sắc phản động làm tay sai cho Pháp. Tỉnh ủy Biên Hòa nhận định Cao Đài ở Biên Hòa phần lớn thuộc phái Bến Tre, tín đồ cơ bản là tốt, do đó Tỉnh ủy chủ trương không tảo thanh hàng loạt mà chỉ bắt những chức sắc phản động giáo dục rồi thả, do đó Trung đoàn 310 không phải thực hiện chủ trương này; các huyện Vĩnh Cửu, Tân Uyên, Sông Bé, Xuân Lộc không tiến hành việc tảo thanh; duy chỉ có huyện Long Thành do Ủy ban kháng chiến hành chính huyện tiến hành tảo thanh một số chức sắc phản động Cao Đài.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:18:24 pm
2.Đánh tháp canh, phá chiến thuật bao vây chia cắt của địch

Bước sang năm 1949, trước cuộc kháng chiến đang ngày càng phát triển của nhân dân ta, tại Nam Bộ thực dân Pháp lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Tài chính thiếu hụt trước nhu cầu quá sức của cuộc chiến tranh. Mặc dù được tăng viện (thêm 30.000 quân trên cả nước, tổng số quân cuối năm 1948 lên 160.000 trong đó có 85.000 Âu Phi), chúng vẫn lúng túng trước mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, một mặt muốn tập trung bình định dứt điểm Nam Bộ và mặc khác cần đưa quân ra chiến trường Bắc Bộ. Trong cuộc hội nghị về phòng vệ Đông Dương ngày 4 tháng 2 năm 1949 tại Sài Gòn, Cao ủy Pi-nhông thắng thê với chủ trương: dồn nỗ lực quân sự vào Nam Bộ, tập trung bình định, thực hiện chiêu bài lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Theo đó, kế hoạch bình định Nam Bộ được hoàn thiện thêm một bước trên cơ sở phát triển kế hoạch năm 1948, trong đó bổ sung nhấn mạnh việc thực hiện chiến thuật Đờ La-tua.


Đờ La-tua (Pierre Boyer De Latour du Moulin) là một trong những viên tướng nổi tiếng ở Pháp, có kinh nghiệm về bình định lãnh thổ, được điều từ Ma Rốc sang Sài Gòn từ tháng 7 năm 1947 thay tướng Ny-Ô (Nyo), hầu “có thể nhanh chóng vãn hồi đưọc an ninh cho Nam Việt theo kỳ vọng của Pháp”1 (Lê Văn Dương: Quân lực Việt Nam cộng hòa trong giai đoạn hình thành (1946-1955) - Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, 1972, tr.61). Kế hoạch “vãn hồi” của Đờ La-tua gồm 3 giai đoạn với 6 biện pháp2 (Ba giai đoạn: 1- Thời kỳ đẩy lùi đối phương (các tiểu đoàn chính quy Pháp đẩy lùi các đơn vị chủ lực Việt Minh, phá hủy các căn cứ địa); 2- Thời kỳ củng cố (đặt đồn bót trên một vành đai an ninh mới); 3- Thời kỳ tiêu trừ (tái lập sinh hoạt, xây dựng các cơ sở hành chánh xã ấp, tổ chức hương dõng, bảo đảm an ninh vùng chiếm đóng)), trong đó bao gồm biện pháp chiến thuật đồn bót tháp canh. Nội dung của chiến thuật tháp canh là tổ chức phòng vệ vững chắc các trục lộ giao thông và vùng kinh tế quan trọng, tạo thành một hệ thống ô vuông liên hoàn, có thể hỗ trợ lẫn nhau làm nhiệm vụ kiểm soát thường xuyên đường giao thông, vùng khai thác kinh tế, bảo vệ các đoàn xe và chia cắt lãnh thổ khống chế hoạt động của đối phương.


Tháp canh có cấu trúc hình vuông, mỗi cạnh dài 3 mét, tường xây bằng gạch cao trung bình 10 mét, nóc lợp tôn hoặc ngói. Tháp canh gồm 3 tầng, tầng trên cùng có lỗ châu mai. Xung quanh mỗi tháp bao một lũy đất dày cao 2 mét, có vách ken bằng các loại cây như cây dừa, tre. Bên ngoài có nhiều lớp hào lũy, kẽm gai, chông mìn, thả chó ngỗng và hệ thống đèn chiếu sáng vào ban đêm. Cửa ra vào hẹp và quanh co, đóng kín bằng các ngựa trụ và buổi tối thường được gài kèm lựu đạn. Các tháp canh cách nhau 1 ki-lô-mét, có khi gần hơn (300-500 mét) tùy địa hình miễn sao giáp nối được khoảng cách quan sát và yểm trợ lẫn nhau khi bị tiến công. Giữa 5-7 tháp canh có 1 tháp canh mẹ. Tháp canh mẹ đóng ở những điểm trọng yếu, được xây dựng kiên cố hơn, thường có một phần ngầm dưới đất, giữa có lô cốt chỉ huy. Lực lượng trong mỗi tháp canh có từ 1 tiểu đội đến 1 tiểu đội tăng cường, do 1 hạ sĩ hoặc trung sĩ chỉ huy, được trang bị súng trung liên, phóng lựu, vũ khí cá nhân và nhiều lựu đạn. Riêng tháp canh mẹ (chỉ huy nhiều tháp canh con) có thêm hỏa lực cầu vồng để bắn yểm trợ và trang bị máy truyền tin chỉ huy.


Ngoài các chức năng đã nêu ở trên, hệ thống tháp canh còn làm chỗ dựa để từ đó địch tổ chức càn quét sâu vào căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng chiếm đóng, mở rộng đến đâu đóng thêm tháp canh đến đó, theo lối “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”.


Thực hiện chiến thuật Đờ La-tua, từ đầu năm 1948, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa, thực dân Pháp bắt đầu triển khai xây dựng tháp canh. Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh Biên Hòa có 78 đồn bót và nhiều tháp canh1 (Báo cáo gửi Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam của Đoàn đại biểu quân sự Khu 7 năm 1949 - Phòng Khoa học Công nghệ môi trường Quân khu 7, LS.15, tr.11). Bước sang năm 1949, đồng thời phát triển ngụy binh, chúng xây dựng ồ ạt thêm nhiều tháp canh dọc trên các quốc lộ 1, 15, 20, các tỉnh lộ 24, 16, 2, các lối dẫn vào đồn điền cao su. Nhiều đồn bót tháp canh cũ được xây dựng nâng cấp kiên cố hơn. Đến mùa thu năm 1949, khi thực dân Pháp đã triển khai xong hệ thống tháp canh, toàn tỉnh Biên Hòa có 79 đồn và hàng trăm tháp canh khác2 (Tài liệu đã dẫn, tr.8 ).


Hệ thống đồn bót tháp canh của địch, với các hoạt động của nó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Việc di chuyển đi lại của các đơn vị vũ trang không còn được như trước. Một phân đội của Trung đoàn 310 đang làm nhiệm vụ ở Tân Ba bị lính tháp canh địch phát hiện báo cho lực lượng từ thị xã Biên Hòa sang tập kích gây thiệt hại nặng. Việc tiêu diệt tháp canh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố trong điều kiện quân ta chỉ có vũ khí thô sơ trở nên khó thực hiện. Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh Khu 7 về việc nghiên cứu cách đánh tháp canh địch, một số đơn vị trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã thử áp dụng nhiều cách đánh nhưng chưa có hiệu quả.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:19:26 pm
Sau khi nghiên cứu kỹ cấu trúc tháp canh và qui luật hoạt động của lính gác, đội du kích huyện Tân Uyên do Trần Công An (Hai Cà) chỉ huy tìm ra một cách đánh: sử dụng lực lượng nhỏ, bí mật đột nhập vào chân tường tháp canh, dùng thang leo lên thả lựu đạn vào trong tháp. Như thế, yếu tố có ý nghĩa quyết định là quá trình tiếp cận và leo lên tường tháp phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn. Tại căn cứ, đội du kích Tân Uyên bí mật tổ chức luyện tập cách đánh tháp canh. Các chiến sĩ chỉ mặc quần cụt, bôi bùn kín người cho tiệp với màu đất. Thời cơ tiếp cận là lúc lính canh đổi gác hoặc bật lửa hút thuốc. Đầu thang có bọc vải để tránh gây tiếng động khi tiếp xúc với tường gạch. Cách thực nghiệm là, trên 1 ngọn cây độc mộc làm tháp canh giả, người ngồi ở trên dùng đèn soi quét xuống các hướng phải không phát hiện được du kích bên dưới đang bò vào.


Đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948, tổ du kích Tân Uyên gồm bốn chiến sĩ và một cơ sở mật tổ chức đánh tháp canh cầu Bà Kiên trên tỉnh lộ 16. Vũ khí mang theo gồm 1 súng, 10 lựu đạn (1 của Mỹ, 9 tự tạo) và 1 thang tre (dùng để hái trầu, mượn của dân). Trận đánh diễn ra đúng như phương án tập luyện. Ba chiến sĩ xung kích Trần Công An, Hồ Văn Lung, Trần Văn Nguyên leo lên thả lựu đạn qua lỗ châu mai vào cả trong ba tầng tháp. Bên ngoài, du kích Nguyễn Văn Ai cầm sung gác ở đầu cầu sẵn sàng bắn chi viện và Trần Văn Hỏi (cơ sở mật) giữ cửa mở. Kết quả, tường tháp không đổ nhưng cả 11 tên lính bị tiêu diệt. Ta thu 8 súng và 20 lựu đạn.


Chiến thắng cầu Bà Kiên chẳng những đánh dấu lần đầu tiên lính tháp canh bị tiêu diệt tại chỗ, mà quan trọng hơn đã gợi mở ra một lối đánh mới nhằm chống lại có hiệu quả chiến thuật tháp canh của Pháp.


Tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Khu 7 phối hợp với Tỉnh đội Biên Hòa tổ chức hội nghị chuyên đề đánh tháp canh. Sau khi nghe báo cáo kinh nghiệm trận cầu Ba Kiên ngày 19 tháng 3 năm 1948, phân tích những thay đổi đối phó của địch, hội nghị quyết định: có thể sử dụng phương pháp bí mật đột nhập, dùng một loại mìn đặc biệt để tiêu diệt tháp canh. Khoa quân giới Khu 7 được giao nhiệm vụ sản xuất một loại mìn có thể đánh sập tường tháp. Tỉnh đội Biên Hòa có trách nhiệm tổ chức các tổ đánh tháp và triển khai ngay công tác luyện tập.


Cuối năm 1949, tại khu vực Bà Đã, Chiến khu Đ, 300 chiến sĩ du kích ưu tú được tuyển chọn từ các địa phương tỉnh Biên Hòa bước vào đợt tập luyện. Dưới sự chỉ huy của tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ và sự hướng dẫn của đội tập mẫu du kích Tân Uyên, các chiến sĩ chia thành 5 tổ (mỗi tổ có 6 người) tập kỹ chiến thuật đột nhập tháp canh và sử dụng mìn. Khoa quân giới Khu 7 phân công đồng chí Đặng Sỹ Hùng chỉ huy trực tiếp nghiên cứu cầu Bà Kiên, từ đó cải tiến chế ra một loại mìn lõm (Ba-zô-min) đánh phá bê tông, đem đánh thử đạt kết quả tốt, làm sập chân cầu Bà Kiên, từ đó kết luận mìn lõm có thể đánh sập tường tháp canh. Vấn đề còn lại là tìm cách đột nhập vào tháp để đánh mìn.


Sau 3 tháng tập luyện thành thục, đêm 21 rạng 22 tháng 3 năm 1950, 300 chiến sĩ du kích chia thành 50 tổ đồng loạt đánh 50 tháp canh trên các quốc lộ 1, 15, tỉnh lộ 24, 16. Kết quả, cả 50 tháp canh đều thủng 1 lỗ lớn đường kính 0,6-1,5 mét nhưng không cái nào bị sập. Phần lớn bọn lính trong tháp canh bị chết hoặc bị thương. Số còn sống cùng với tên gác trên nóc tháp đã sử dụng hỏa lực để chống cự, đối phó với lực lượng tiến công.


Từ loạt đánh 50 tháp canh, Bộ Tư lệnh Khu 7 và Tỉnh đội Biên Hòa họp hội nghị rứt kinh nghiệm, bổ sung hoàn chỉnh cách đánh, bằng cách sẽ thả bồi thêm quả mìn vào trong tháp canh sau khi tường đã bị đánh thủng. Khoa quân giới Khu 7 hoàn thiện loại mìn phá tường (gọi là FT) và chế tạo mới loại mìn mới để đánh sập tháp (gọi là Bêta).


Đêm 18 rạng 19 tháng 4 năm 1950, tổ đánh tháp canh của Tân Uyên do huyện đội phó Trần Công An chỉ huy có sự tham gia của tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ, với hai quả mìn FT và Bêta đã đánh sập hoàn toàn tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai. Kế đó, đầu tháng 5 năm 1950, tổ du kích Tân Uyên đánh sập tháp canh Vàm Giá trên lộ 14, diệt một trung đội Lê dương, thu 27 súng các loại và nhiều đạn dược, quân dụng. Phát huy thắng lợi trận Bà Kiên, trận Vàm Giá, lực lượng vũ trang Biên Hòa tiếp tục đánh hàng chục đồn bót tháp canh khác trên địa bàn toàn tỉnh (An Chữ, Cổng Xanh, Lô 10, Rạch Tre, Tân Hạnh, rạch Sỏi), và sang cả các tỉnh bạn như Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Tân An, Mỹ Tho.


Với trận cầu Bà Kiên lần thứ hai và trận Vàm Giá, cách đánh tháp canh được hoàn thiện. Tại hội nghị tổng kết chiến dịch Bến Cát tháng 11 năm 1950, cách đánh bí mật tiếp cận dùng mìn để hủy diệt mục tiêu được gọi là cách đánh đặc công. Từ đây cách đánh tháp canh được phổ biến rộng rãi ra toàn chiến trường Khu 7, Nam Bộ, Trung Bộ và cả nước, đồng thời vận dụng không chỉ diệt tháp canh mà cả trong các mục tiêu khác của địch. Các tổ chức đơn vị vũ trang được biên chế thêm bộ phận đặc công.


Tân Uyên - Chiến khu Đ trở thành nơi khởi phát, thành quê hương của cách đánh đặc công. Du kích Tân Uyên, về sau thành lập đại đội bộ đội địa phương Nguyễn Văn Nghĩa, được công nhận là đại đội đặc công đầu tiên của cả nước. Chiến sĩ Trần Công An sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Để tiến hành kháng chiến thắng lợi, Đảng ta xác định “phải có lực lượng vũ trang hùng hậu”1 (Kháng chiến nhất định thắng lợi - Nxb Sự thật, H.1967, tr.103) từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính qui “vận động chiến là cách đánh bằng quân chính qui hoặc quân du kích kết hợp lại thành đội tương đối lớn phối hợp với quân chính qui”2 (Tài liệu đã dẫn, tr.30). Tháng 1 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị quân sự nhằm kiểm điểm toàn diện công cuộc kháng chiến trong 4 năm qua và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc một báo cáo quan trọng, trong đó đề ra sáu nhiệm vụ trước mắt: “Gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân, tổ chức lại bộ máy quân giới, quân nhu, gia tăng công tác chính trị, địch vận, tuyên truyền đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công”1 (Văn kiện hội nghị Xứ ủy Nam Bộ 9-1949 - Phòng Khoa học công nghệ môi trường).


Giữa năm 1949, Tiểu đoàn Quốc Tuấn của Trung đoàn 310 được xây dựng thành tiểu đoàn chủ lực. Hai tiểu đoàn còn lại (Lê Lợi, Quang Trung) vẫn giữ là tiểu đoàn địa phương. Tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 310 có 3 đại đội khinh binh gồm: đại đội Lạc An, đại đội Bắc Sơn và đại đội Bạch Đằng. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm: Phạm Quang Thuần (tiểu đoàn trưởng), Lê Văn Chừng (tiểu đoàn phó), Nguyễn Đình Vị (chính trị viên). Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên trên chiến trường tỉnh Biên Hòa. Đến cuối năm 1949, Trung đoàn 310 hợp nhất với Trung đoàn 301 (Thủ Dầu Một) thành lập Liên Trung đoàn 301-310.


Trung đoàn 310 đã hoàn thành nhiệm vụ của mình là một trung đoàn địa phương mà tiền thân là các chiến sĩ vệ quốc thuộc các địa phương tỉnh Biên Hòa - đơn vị từng sinh ra, trưởng thành và chiến đấu gắn bó với mảnh đất Biên Hòa. Từ thời kỳ đầu, khi chưa có tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang nhưng các đơn vị luôn bám sát và hoạt động theo đường lối của Đảng, từ giữa năm 1947 trở về sau, khi có tổ chức Đảng từ trên đến dưới; Cán bộ, chiến sĩ của Chi đội 10, Trung đoàn 310 là bộ đội của Đảng, được Đảng trực tiếp lãnh đạo, giáo dục đã trưởng thành nhanh chóng. Phương châm hoạt động của đơn vị là luôn luôn tấn công, chủ động tìm địch mà diệt, Trung đoàn chiến đấu được trên các chiến trường có địa hình khác nhau mà sở trường là linh hoạt phân tán và tập trung, đánh những trận giao thông chiến có hiệu quả, vừa chiến đấu vừa huấn luyện và rèn cán, chỉnh quân để trở thành đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, tác phong chính qui, trình độ chiến thuật, kỹ thuật, kỹ luật chiến trường ngày càng nâng cao. Quá trình hoạt động, chiến đấu là quá trình đoàn kết và phối hợp chặt chẽ với các ngành, các giới từ tỉnh đến xã ấp, xây dựng cơ sở, phát triển du kích, hệ thống dân quân để từ đó hình thành ba thứ quân trong tỉnh, chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.


Trước tình hình mới, nhiệm vụ mới, Trung đoàn 310 đứng trong đội hình một đơn vị quân sự lớn hơn về qui mô tổ chức, với trách nhiệm nặng nề hơn trong cuộc chiến đấu còn rất gian lao phía trước.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:00:38 pm
Chương ba
LIÊN TRUNG ĐOÀN 301 - 310
(11-1949 - 10-1950)


I.THÀNH LẬP LIÊN TRUNG ĐOÀN 301 - 310

Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về tình hình nhiệm vụ, trong đó nêu rõ: “Cuộc chiến tranh của ta đã chuyển sang giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Trong giai đoạn này, Đảng ta lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng vận động chiến phải nâng lên ngang với du kích chiến và trở nên chủ yếu"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp. Nxb Sự thật. Tập 1. tr.327-328). Ngay sau khi có chỉ thị trên, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị triển khai nhiệm vụ “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” (25-8-1949). Từ đây, khẩu hiệu tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công chi phối mọi hoạt động kháng chiến, trong đó có vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp sau nghị quyết Xứ ủy về việc Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang (29-8-1949, Xứ ủy - Bộ Tư lệnh Nam Bộ triệu tập hội nghị quân sự Nam Bộ (từ ngày 3 đến ngày 5-9-1949). Đây là hội nghị quân sự lớn nhất ở Nam Bộ từ sau Nam Bộ kháng chiến nhằm nhìn lại, đánh giá một cách sâu sắc những vấn đề quân sự ở Nam Bộ, bàn phương hướng nhiệm vụ mới một cách toàn diện, ra nghị quyết 8 chuyên đề trong đó có chuyên đề nhiệm vụ chiến lược - bố trí quân lực thể hiện tinh thần “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc báo cáo và nêu 6 mặt công tác chủ yếu trước mắt trong đó có việc gấp rút chỉnh đốn bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân. Hội nghị thông qua ba yêu cầu nhiệm vụ quân sự: đưa du kích chiến tranh lên vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới với phương châm theo chỉ thị của Trung ương (từ năm 1948): “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, ra sức xây dựng căn cứ địa”.


Thi hành nghị quyết Hội nghị quân sự Nam Bộ nói trên, ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh 137/ML-NB xúc tiến thành lập các liên trung đoàn, xây dựng các tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập. Tinh thần của mệnh lệnh này là: trong khi nâng cấp biên chế bộ đội tập trung từ trung đoàn đến liên trung đoàn, mỗi đơn vị cần tổ chức một bộ phận mạnh có tính chất “quả đấm” cơ động, giữ vai trò “chủ lực”1 (Từ dùng trên chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ: "đại đội chủ lực" tỉnh, "tiểu đoàn chủ lực" của trung đoàn, "tiểu đoàn chủ lực khu"... (từ "chủ lực" không theo nghĩa hiện nay mà gắn với địa phương, đơn vị)) ở địa phương, đồng thời tổ chức các đại đội độc lập đưa về các vùng xung yếu để vừa chiến đấu hỗ trợ vừa nâng đỡ lực lượng và phong trào du kích địa phương, trong đó nhiệm vụ nâng đỡ là chủ yếu. Thi hành chỉ thị 137/ML-NB trên chiến trường Đông Nam Bộ, có 3 liên trung đoàn được thành lập từ 6 trung đoàn (riêng Trung đoàn 397 Bà Rịa vẫn giữ nguyên (có gốc từ các trung đoàn 307, 309 hợp nhất); Liên Trung đoàn 301 - 310 được thành lập vào cuối tháng 12 năm 1949, do các Trung đoàn 301 Thủ Dầu Một và 310 Biên Hòa hợp nhất1 (Các liên trung đoàn khác cũng được thành lập: Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái và Trung đoàn 312 Gia Định hợp nhất thành Liên trung đoàn 306-312; Trung đoàn 308 Chợ Lớn và Trung đoàn 311 Tây Ninh hợp nhất thành Liên trung đoàn 308-311).


Liên trung đoàn trưởng: Nguyễn Văn Thi

Chính trị viên: Nguyễn Quang Việt (Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thủ Dầu Một kiêm).

Liên trung đoàn phó: Đinh Quang Ân.


Thực hiện phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, khi sắp xếp biên chế, liên trung đoàn ưu tiên đơn vị mạnh cho tiểu đoàn tập trung, phần còn lại được sắp xếp, điều chỉnh thành các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội khinh binh, bố trí về các địa phương với nhiệm vụ đại đội độc lập. Theo tinh thần đó, tiểu đoàn Quốc Tuấn gốc là tiểu đoàn “chủ lực” của Trung đoàn 310 được chọn là đơn vị nòng cốt để xây dựng tiểu đoàn tập trung, mang phiên hiệu 302. Thực tế là với nhiệm vụ cơ động liên tỉnh, Tiểu đoàn 302 trở thành đơn vị chủ lực khu, cả về mặt chỉ huy, tuy danh nghĩa là tiểu đoàn tập trung của Liên Trung đoàn 301 - 310. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 302 gồm: Phạm Quang Thuần - Tiểu đoàn trưởng, Lê Xuân Lựu - Chính trị viên, Vũ Công Phong (sau đó là Bùi Quốc Ủy) - Tiểu đoàn phó.


Khi nâng cấp biên chế liên trung đoàn, nhiều cán bộ, chiến sĩ các Trung đoàn 301 - 310 được điều sang các đơn vị khác như Tiểu đoàn 303, Tiểu đoàn 304 (tiểu đoàn tập trung của Liên trung đoàn 306 - 312). Trong số các cán bộ nói trên có các đồng chí Hoàng Lập Trung, Lương Doãn, Nguyễn Văn Quảng, Quách Học Phát, Lê Văn Mỹ, Tạ Minh Khâm...


Việc nâng cấp biên chế từ trung đoàn lên liên trung đoàn thế hiện sự phát triển của lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Bộ, đặc biệt là lực lượng vũ trang tập trung. Đây là cấp biên chế cao nhất của lực lượng vũ trang tập trung trên chiến trường Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, một cố gắng rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” và mục tiêu tích cực “nâng vận động chiến lên ngang với du kích chiến” trong bối cảnh Nam Bộ vẫn đang là một chiến trường du kích và là chiến trường sau lưng địch trong tổng thế chiến trường cả nước.


Tuy nhiên, tình hình lúc bấy giờ đang đặt ra nhiều thử thách đôi với việc nâng cấp biên chế nói trên. Một là chủ trương “chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” lúc bấy giờ (từ mùa thu năm 1949) có biểu hiện của tư tưởng nóng vội, không quán triệt đầy đủ quan điểm “trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh”1 ("Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học" của Ban chỉ đạo tổng kết trực thuộc Bộ Chính trị (Nxb CTQG, H.1996): "Đây cũng là biểu hiện của tư tưởng "đánh nhanh giải quyết nhanh", là việc quán triệt không đầy đủ quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh..." (tr.231)); hai là, dưới tính chất, bối cảnh trên của chiến trường Nam Bộ, từ nửa cuối năm 1949, tình thế khó khăn của ta (trên chiến trường này) lại đang ngày càng tăng.


Thực tế là ta đã nâng cấp biên chế lên liên trung đoàn trong bối cảnh cuộc kháng chiến chưa đến giai đoạn chuẩn bị tổng phản công2 (Về ba giai đoạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp (phòng ngự, cầm cự, tổng phản công), căn cứ diễn biến thực tế, Bộ Chính trị đã có văn bản kết luận (14-6-1996) về ba vấn đề chỉ đạo chiến lược, trong đó giai đoạn II từ năm 1948 đến năm 1950, nội dung là: đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển chiến tranh du kích, từng bước lên vận động chiến... Giai đoạn 3 từ 1951-1954: phát huy quyền chủ động chiến lược, phát triển tiến công và phản công) và đặc biệt đối với Nam Bộ tình hình đó càng hiện rõ, những thử thách cụ thể đặt ra lúc bấy giờ là:

Trực tiếp và bức bách là vấn đề bảo đảm, đặc biệt là bảo đảm lương thực và quân nhu nói chung. Trước sau miền Đông Nam Bộ vẫn là chiến trường thiếu lương thực, từ cuối năm 1949 trở đi, việc đó lại ngày thêm nghiêm trọng, sự thiếu đói trở nên thường trực, việc đảm bảo lương thực cho cấp trung đoàn đã khó, cho liên trung đoàn còn khó hơn.


Bên cạnh khó khăn nghiêm trọng nói trên, những vấn đề khác đặt ra cũng không nhỏ: trình độ cán bộ chỉ huy và trình độ tác chiến của bộ đội nói chung chưa tương xứng cấp trung đoàn, liên trung đoàn; việc cung cấp trang bị vũ khí rất hạn chế... Ngoài ra còn vấn đề căn cứ cấp liên trung đoàn trong bối cảnh Nam Bộ là “chiến trường sau lưng địch”1 (Đồng chí Lê Duẩn khi là Bí thư Trung ương Cục đã nhìn lại, đánh giá, thời kỳ này: "Không thấy được bây giờ chúng ta đang nằm trong cái thế phòng ngự... cái thế bị bao vây và phá vây của Nam Bộ", ý thức sai lầm "tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công",... "chúng ta đang đi vào tư tưởng chính quy, tư tưởng chủ lực, vận động chiến ăn to, đánh lớn...", "chính lúc ấy lệnh tổng động viên đưa ra...", "toàn bộ bộ máy quân sự bên trên khu chỉ lo xây dựng mấy đơn vị chủ lực", "các đồng chí Khu 7, Khu 6 càng nặng thêm về chủ lực, ăn to đánh lớn, và cho đó là con đường thoát khỏi bị động, bế tắc lúc bấy giờ và hợp với tình hình chuyển biến "toàn quốc",... Hồ sơ A86-LS/CCTQK7)).


Trên chiến trường Đông Nam Bộ, riêng về mặt tác chiến của bộ đội tập trung, có thể nói năm 1947, đầu năm 1948 từ chi đội “quá độ” lên cấp trung đoàn về biên chế, là thời kỳ phát triển mạnh nhất, nhưng quy mô tác chiến phổ biến ở cấp đại đội hoặc nhiều đại đội, trung đội phối hợp, cũng có trận gọi là liên quân do nhiều đơn vị phối hợp, nhưng không có trận có tổ chức chỉ huy cấp trung đoàn. Nửa cuối năm 1948 và năm 1949, tuy quy mô biên chế cấp trung đoàn nhưng hoạt động tác chiến chưa tương xứng và đến khi nâng quy mô biên chế liên trung đoàn thì điều đó càng hiện rõ.


Ra đời trong bối cảnh như vậy, ngoài Tiểu đoàn 302 tỏ rõ vai trò tiểu đoàn chủ lực khu, phần còn lại của Liên Trung đoàn 301 - 310 vẫn giữ vai trò không khác

thời kỳ hai trung đoàn chưa hợp nhất. Tình trạng đó kéo dài và ngày càng hiện rõ yêu cầu điều chỉnh lại lực lượng, quy mô biên chế theo hướng gọn lại từng tiểu đoàn.

Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò của bộ đội tập trung trên chiến trường miền Đông Nam Bộ vào thời kỳ năm 1950, đầu năm 1951, trong đó thể hiện rõ tác dụng của phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” do liên trung đoàn tổ chức thực hiện.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:02:23 pm
II.THỰC HIỆN CHIẾN DỊCH BẾN CÁT

Năm 1950, khó khăn của ta trên chiến trường miền Đông ngày càng tăng, những yêu cầu chủ yếu về quân sự đặt ra là phá chiến thuật Đờ La-tua, địch đã tăng diện kiểm soát trên chiến trường, đặc biệt là ở những khu vực cao nguyên, tạo nên thế bị chia cắt nghiêm trọng đối với ta. Để phá chiến thuật Đờ La-tua, Bộ Tư lệnh Khu 7 và chỉ huy các đơn vị đều quan tâm, yêu cầu diệt tháp canh và tập trung nghiên cứu vấn đề này.


Từ sau trận đánh cầu Bà Kiên lần 1 (tháng 3-1948 do Trần Công An chỉ huy), trên chiến trường miền Đông, chiến thuật đánh tháp canh không ngừng được cải tiến qua thực tiễn và tổng kết, đặc biệt trận ra quân đồng loạt diệt 50 tháp canh trên nhiều cung đường trong một đêm (22 rạng 23-3-1950) đã tạo nên một bước ngoặt về chiến thuật đánh tháp canh và lần đầu tiên, từ “công đồn đặc biệt” gọi tắt là “đặc công” ra đời. Để đạt được thành công đó phải nói đến lực lượng chủ yếu ban đầu là đội du kích Tân Uyên, quá trình cải tiên sản xuất  vũ khí của các xưởng quân giới khu, của các tỉnh đội Biên Hòa, Thủ Dầu Một, của Liên Trung đoàn 301 - 310, của kỹ sư Lê Tâm (Phòng Quân giới Nam Bộ), và đặc biệt quan trọng là sự nắm bắt, tổng kết, chỉ đạo của Phòng Tham mưu Khu kết hợp với Ban chỉ huy Tỉnh đội, Ban chỉ huy Liên Trung đoàn 301 - 310.


Đầu năm 1950, Bộ Tư lệnh Nam Bộ phát động “chiến dịch mùa Xuân” nhằm hưởng ứng chiến dịch Tây Bắc theo chủ trương của Trung ương Đảng (gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong I). Trên chiến trường Đông Nam Bộ, ta mở “chiến dịch Dầu Tiếng”, nhưng thực chất đây là một đợt hoạt động quân sự kết hợp mục tiêu quân sự và xây dựng các trung đoàn, liên trung đoàn với nội dung là “rèn luyện vận động chiến”. Các đơn vị chủ lực kết hợp chặt chẽ với du kích tập trung huyện, dân quân du kích xã liên tiếp hạ nhiều đồn bót, tháp canh, đánh giao thông ddịch trên các trục giao thông quan trọng. Ý nghĩa chủ yếu của đợt hoạt động này là tạo bước trưởng thành nhất định đối với bộ đội tập trung về tổ chức chỉ huy, hoạt động tác chiến phối hợp nhiều đơn vị trên diện rộng, tạo cơ sở tiến tới chiến dịch Bến Cát sau này.


Tháng 8 năm 1950, Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập (theo chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ từ tháng 4 năm 1950, đây là một trong những bước chuẩn bị “tiến tới tổng phản công thắng lợi”). Đặc khu ủy trực thuộc Xứ ủy, Ban chỉ huy quân sự đặc khu có 4 thành viên, Liên trung đoàn trưởng 301 - 310 Nguyễn Văn Thi được điều về làm chỉ huy trưởng. Liên trung đoàn khuyết chỉ huy trưởng.


Chiến dịch Bến Cát (7 tháng 10 đến 15-11-1950, còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong) là chiến dịch duy nhất trên chiến trường Đông Nam Bộ thời kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm các mục tiêu: cắt đứt, giải phóng đường số 7 và phần lớn đường 14, tạo thế liên hoàn các căn cứ đông tây; tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn khu, phối hợp chiến dịch biên giới phía bắc, bồi dưỡng lực lượng ta. Với quy mô trung đoàn tăng cường, Ban chỉ huy chiến dịch được thành lập gồm: Tô Ký (Phó Tư lệnh Khu 7) - Chỉ huy trưởng, Vũ Duy Hanh (Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một) - Chính ủy, Lê Đức Anh (Tham mưu trưởng Khu 7) - Tham mưu trưởng. Lực lượng chiến dịch gồm: Tiểu đoàn 303 (chủ lực cơ động của khu), Tiểu đoàn 302 (tiểu đoàn tập trung của Liên Trung đoàn 301 - 310, thực tế cũng là chủ lực khu), Tiểu đoàn 304 (2 đại đội, đơn vị tập trung của Liên trung đoàn 306 - 312), 2 đại đội binh chủng, 4 đại đội độc lập (Bến Cát, Hớn Quản, Châu Thành, Trảng Bàng), du kích huyện Bến Cát. Dân công phục vụ chiến dịch là đơn vị chủ công trong nhiều trận quan trọng của chiến dịch. Tiểu đoàn 302 cùng các đội độc lập và du kích Bên Cát đã giành cả tháng để diễn tập công đồn với mô hình đồn Bến Súc.


Trận Bến Súc (đêm 7 rạng 8-10-1950) là trận chủ yếu mở màn chiến dịch với lực lượng chủ yếu là Tiểu đoàn 302, diệt được phần lớn đại đội lính thuộc địa, phá hủy hai phần ba đồn, nhưng do không diệt được chiếc xe thiết giáp bất ngờ xuất hiện (đồng chí Bé, du kích Tân Uyên) ôm bom xông lên diệt xe nhưng không thành, anh dũng hy sinh) và 3 lô cốt còn lại, nên không tiêu diệt hoàn toàn đồn Bến Súc, ta thương vong gần 100 cán bộ, chiến sĩ. Tuy nhiên, trận đánh tỏ rõ tinh thần chiến đấu dũng mãnh phi thường của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 302 và lực lượng phối thuộc.


Trận công đồn xuất sắc của Tiểu đoàn 302 là trận tiêu diệt đồn Mát-xơ-ri, có cơ sở binh vận của công an Bến Cát làm nội ứng. Tranh thủ đúng thời cơ trung đội Âu Phi đi dã ngoại, 2 tiểu đội trinh sát do đồng chí Dương, đại đội phó Đại đội 30 chỉ huy đã bất ngờ xông vào đồn, có nội ứng hỗ trợ, cả hai trung đội Partisan ra hàng, nộp vũ khí và xin theo kháng chiến. Đồn bị thiêu hủy hoàn toàn.
Các trận công đồn Bến Súc và Mát-xơ-ri làm cho địch ở nhiều đồn bót lân cận hoang mang, bỏ chạy.


Ngày 21 tháng 10, Tiểu đoàn 302 cùng các Tiểu đoàn 303, 304 phối hợp đánh một đoàn xe lớn của địch gồm 200 chiếc trên quốc lộ 13, đốt cháy 65 xe, thu 12 xe, 11 máy vô tuyến điện.


Đợt 3 chiến dịch Bến Cát nổi bật trận đánh đặc biệt làm vỡ nòng pháo 105 ly giữa đồn Rạch Kiến (đêm 8-11-1950). Trận đánh chỉ có 2 người: chủ công là chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn 302 Nguyễn Văn Rỡ, người hỗ trợ là tiểu đội trưởng công binh Việt. Vượt qua rào kẽm gai, hệ thống đèn pha, tường và chó tuần tra do một tên Pháp dẫn dắt, lần thứ nhất Rỡ đã vào tận khẩu pháo giữa đồn địch “xem tận mắt, sờ tận tay”, đo đạc; lần thứ hai trở vào với bộc phá Pê-ta (có dây dẫn nối với bình điện), nhét thẳng vào nòng pháo địch... Pháo 105 ly bị đánh vỡ toác nòng. Trận đánh tuy nhỏ nhưng rất đặc sắc, mở ra một khả năng mới trong quá trình hoàn chỉnh chiến thuật đánh tháp canh mà Khu 7 đang nghiên cứu: bí mật tiềm nhập “xem tận mắt, sờ tận tay” mục tiêu, “nở hoa trong lòng địch”, một khắc họa ban đầu về chiến thuật của binh chủng đặc biệt tinh nhuệ sau này được gọi là đặc công”1 (Theo sách "Sông Bé lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975)" - Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sông Bé. Tiểu đoàn trưởng 302 Phạm Quang Thuần đã đặt tên cho cách đánh của Nguyễn Văn Rỡ là "chiến thuật công đồn đặt biệt" gọi tắt là "đặc công". Từ "đặc công" đã ra đời từ đây).


Phát huy cách đánh trên, tiểu đội trưởng Việt và Lầm cùng tổ chiến đấu đã đánh sập chòi gác cao được mệnh danh là pháo đài của tiền đồn Bến Súc, diệt tên quan hai Pháp và địch trong chòi, thu khẩu trọng liên 12,7 ly và nhiều súng đạn.


Vào ngày cuối chiến dịch Bến Cát (15-11-1950) Tiểu đoàn 302 cùng Tiểu đoàn 303 còn diệt 20 xe địch và lực lượng hộ tống trên quốc lộ 13 (quãng từ Cây Xoài lên Chơn Thành).


Chiến dịch Bến Cát không chỉ đạt về cơ bản mục tiêu như diệt nhiều sinh lực địch2 (Đánh trên 300 trận lớn nhỏ, diệt 509 tên địch, làm bị thương 195 tên, bắt 120 tên, đánh sập hàng chục tháp canh, tua, đồn bót, 12 cầu cống, phá hủy 84 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa, đánh chìm 7 tàu xuồng chiến đấu, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự), gây tác động tích cực phong trào chiến tranh nhân dân toàn chiến trường, mà còn thể hiện một bước trưởng thành về công tác tham mưu, trình độ chỉ huy hoạt động phối hợp nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội, phối hợp giữa bộ đội tập trung với các lực lượng tại chỗ, tác chiến trên một địa bàn tương đương huyện, thời gian kéo dài, vận dụng nhiều chiến thuật; phục kích vận động, đánh công kiên, đặc biệt tiếp tục phát triển một bước mới về cách đánh tháp canh, bước đầu khắc họa tư tưởng, động tác cơ bản của chiến thuật binh chủng tinh nhuệ sau này.

Trong chiến dịch, Tiểu đoàn 302 xứng đáng vai trò một trong những đơn vị chủ công.


Tuy nhiên, chiến dịch Bến Cát cũng vấp phải khuyết điểm về huy động lực lượng, có thể nói đây là lần ra quân “dốc sức” cả về người1 (Huy động hết các Tiểu đoàn chủ lực 302, 303, 304, các đại đội "bén" của các liên trung đoàn, các đại đội binh chủng mới xây dựng... gồm 5.000 cán bộ, chiến sĩ bộ đội tập trung và dân quân du kích, 30.000 dân công) và phương tiện để những năm về sau Khu 7 không còn khả năng mở chiến dịch. Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đánh giá “chiến dịch Bến Cát đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng của các lực lượng vũ trang Khu 7, đưa phong trào kháng chiến của quân dân miền Đông Nam Bộ hòa nhịp với cuộc kháng chiến trên cả nước”, nhưng cũng cho rằng do chiến dịch Bến Cát mà Khu 7 kiệt quệ. Trong chiến dịch, ta cũng bộc lộ một số khuyết điểm về chỉ đạo, chỉ huy như đánh nhiều mục tiêu cùng một lúc, không dứt điểm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch, dự kiến không hết những tình huống phức tạp có thể xảy ra, chưa đánh được quân viện...


Theo chỉ đạo của Xứ ủy, sau chiến dịch Bến Cát, trên chiến trường miền Đông ta tập trung xây dựng bộ đội địa phương huyện từ du kích tập trung và một số đại đội độc lập; một số đại đội độc lập trở về bộ đội chủ lực, hoàn chỉnh hình thức lực lượng vũ trang địa phương ba cấp (bộ đội tập trung tỉnh, bộ đội địa phương huyện, dân quân du kích), về cơ chế, cuối năm 1950 đã hoàn thành hợp nhất hệ thống cơ quan dân quân với lực lượng vũ trang tập trung địa phương gọi là Ban chỉ huy thống nhất Vệ quốc đoàn và dân quân, ở cấp tỉnh, huyện gọi tắt là tỉnh đội, huyện đội. Có nhiều cán bộ các liên trung đoàn được điều về các tỉnh đội, huyện đội. Khi hợp nhất hai tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, Ban chỉ huy đầu tiên của Tỉnh đội gồm:

Tỉnh đội trưởng: Huỳnh Văn Nghệ.

Chính trị viên: Nguyễn Quang Việt (Bí thư Tỉnh ủy).

Phó chính trị viên: Lê Hồng Lĩnh.

Các tỉnh đội phó: Tùng Lâm (Trịnh Văn Tạo), Đinh Quang Ân, Thanh Tâm (Nguyễn Văn Trực).


Theo yêu cầu “đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”, các trung đoàn chủ lực trên chiến trường Nam Bộ lần lượt được thành lập với các phiên hiệu Đồng Nai, Đồng Tháp, Cửu Long, Tây Đô.


Trung đoàn Đồng Nai (hoạt động tại miền Đông Nam Bộ) gồm các tiểu đoàn 303, 302, 306. Trung đoàn trưởng: Trần Đình Xu, Chính ủy: Lê Xuân Lựu.

Đến đây, tổ chức liên trung đoàn mặc nhiên không còn.

Nhìn lại, việc nâng cấp bộ đội tập trung từ trung đoàn lên liên trung đoàn là một bước phát triển của lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, tuy nhiên xét về hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và cả trình độ chỉ huy, trình độ tác chiến của bộ đội trên một chiến trường du kích như Nam Bộ lúc bấy giờ, thì việc đó chưa phù hợp. Điều đó có hạn chế vai trò của bộ đội tập trung trong một thời gian nhất định, nhưng cũng vào thời gian đó phương châm “đại đội tập trung - tiểu đoàn tập trung đã phát huy được tác dụng ở nhiều địa phương, hạn chế được phần nào khó khăn đang ngày càng tăng trên chiến trường”.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:03:23 pm
KẾT LUẬN


Chỉ tồn tại hoạt động trong vòng 5 năm (1945-1950), nhưng Chi đội 1 - Chi đội 10, Trung đoàn 301 - Trung đoàn 310, rồi Liên Trung đoàn 301-310 đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, chiến đấu và công tác, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Địa bàn hoạt động của Liên Trung đoàn 301-310 rộng ra khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ nhưng tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Có thể nói đây là hai tỉnh trung tâm của miền Đông Nam Bộ, vừa áp sát thành phố Sài Gòn từ phía đông và đông bắc, trấn giữ nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng vừa bao gồm vùng rừng núi thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa và phần lớn các đồn điền cao su ở Việt Nam lúc bấy giờ. Cư dân Thủ Dầu Một, Biên Hòa vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng mạnh mẽ qua nhiều thời kỳ lịch sử với sự ra đời từ rất sớm các tổ chức Cộng sản và phong trào yêu nước của nông dân, công nhân công nghiệp, công nhân cao su diễn ra liên tục với qui mô lớn. Đặc điểm về địa lý tự nhiên, địa lý quân sự và nhân văn nêu trên đã tác động, chi phối sâu sắc đến lịch sử hình thành, phát triển của Liên trung đoàn.


Do những thuận lợi về địa lý như đã nêu ở trên, ngay sau ngày thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, Nguyễn Bình cùng nhiều cán bộ quân sự và đơn vị vũ trang cách mạng đã rút về Thủ Dầu Một để tổ chức kháng chiến. Và cùng với nhiều yếu tố khác về địa chính trị, địa quân sự, đây là lý do để lực lượng vũ trang cách mạng Thủ Dầu Một tiến lên thành lập chi đội, mang phiên hiệu số 1, ngay từ tháng 11 năm 1945 - Chi đội ra đời đầu tiên trong quá trình hình thành hệ thống của chi đội Vệ quốc đoàn trên toàn Nam Bộ. Chi đội 10 ra đời muộn hơn, trong nỗ lực gắn kết các tổ chức vũ trang địa phương tỉnh Biên Hòa với lực lượng từ các chiến trường khác đổ về Chiến khu Đ dưới ảnh hưởng uy tín nhà chỉ huy quân sự tài hoa Huỳnh Văn Nghệ. Trong hai năm đầu kháng chiến, Chi đội 1, Chi đội 10 vừa nỗ lực xây dựng đơn vị, đưa mọi hoạt động vào khuôn phép tổ chức dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản, vừa kiên quyết bám trụ, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tổ chức nhiều trận đánh giao thông nổi tiếng ở bến Ông Khương, Bảo Chánh, Bàu Cá, Đồng Xoài...


Bước sang năm 1948, ngày 27 tháng 3, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên cường độ cao, Chi đội 1 phát triển thành Trung đoàn 301 và Chi đội 10 phát triển thành Trung đoàn 310. Trong bối cảnh thực dân Pháp chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, điều chỉnh lực lượng tập trung bình định Nam Bộ, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 tập trung kiện toàn đơn vị trong tổ chức biên chế mới, xây dựng cản cứ địa, tăng gia sản xuất, đồng thời chủ động phân tán lực lượng đẩy mạnh hoạt động tác chiến hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh. Những trận chiến đấu chống càn với qui mô lớn tại các căn cứ địa kháng chiến đặc biệt ở Chiến khu Đ và trận đánh phục kích đoàn xe quân sự của địch ở La Ngà - quốc lộ 20 đánh dấu bước phát triển cao về nghệ thuật tổ chức trận đánh, trình độ chỉ huy của cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật của chiến sĩ hai trung đoàn trong điều kiện thiếu thốn về hậu cần và trang bị kỹ thuật.


Trong xu thê lực lượng vũ trang cả nước thực hiện “vận động chiến tiến tới”, ngày 18 tháng 11 năm 1949, Liên Trung đoàn 301-310 được thành lập trên cơ sở sáp hợp hai Trung đoàn 301 và 310. Trong đội hình Liên trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực được xây dựng, đánh dấu sự ra đời 3 thứ quân trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Không có những trận đánh lớn cấp liên trung đoàn, từng đơn vị trong đội hình liên trung đoàn chia tỏa về từng địa phương đánh địch càn quét, phá hoại kinh tế của địch tại các đồn điền cao su, cơ sở kinh tế, dọc trục lộ giao thông thủy bộ, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh tiêu diệt đồn bót, tháp canh địch. Song song với hoạt động tác chiến, Liên trung đoàn tổ chức các đơn vị luân phiên học tập chính trị, tổ chức đời sống văn hóa văn nghệ, huấn luyện quân sự, xây dựng các cơ sở sản xuất, vận chuyển hàng hóa, công binh công xưởng nhằm nâng cao khả năng tự bảo đảm về hậu cần kỹ thuật.


Mùa thu năm 1950, để tổ chức những trận đánh lớn phối hợp với chiến dịch Biên giđi, Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định giải thể các liên trung đoàn để thành lập các trung đoàn chủ lực. Từ đây Liên Trung đoàn 301-310 kết thúc nhiệm vụ. Từng đơn vị nhỏ chia tỏa ra hoặc về xây dựng Trung đoàn chủ lực Đồng Nai của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, hoặc về các đơn vị cơ động của Khu 7, của các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, các cơ quan quân sự địa phương. Trong tổ chức biên chế mới, cán bộ chiến sĩ cũ của Liên trung đoàn lại tiếp tục chiến đấu, tham gia chiến dịch Bến Cát, đánh địch trên các quốc lộ 1, 13, 14, 15, 20, trên dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, vận tải hàng hóa đạn dược từ Hàm Tân, Xuyên Mộc về Chiến khu Đ, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, làm công tác tôn giáo vận, địch ngụy vận, làm nòng cốt trong phong trào du kích chiến tranh cho đến ngày Nam Bộ ngưng tiếng súng sau Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:04:03 pm
Trên nền tảng phong trào chiến tranh nhân dân ồ địa phương, từ các tổ chức vũ trang nhỏ lẻ Liên Trung đoàn 301-310 đã phát triển thành một đơn vị có qui mô tương đương đại đoàn với khả nảng cơ động và hiệu suất chiến đấu cao. Cùng sinh ra, hoạt động trên chiến trường Nam Bộ, nhưng lịch sử xây dựng và chiến đấu của Liên Trung đoàn 301-310 có những đặc điểm riêng.


Trước hết, các đơn vị tiền thân của Liên Trung đoàn 301-310 ra đời từ rất sớm trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.


Tại Nam Bộ, do những đặc điểm lịch sử riêng, cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, chưa có các đơn vị vũ trang cách mạng tập trung. Sau ngày tổng khởi nghĩa, đặc biệt sau khi thực dân Pháp khởi hấn ở Sài Gòn, các tổ chức vũ trang ồ ạt ra đời. Bên cạnh một số đơn vị do Đảng Cộng sản trực tiếp xây dựng chỉ huy, có không ít tổ chức có thành phần hợp thành hết sức phức tạp, do những phần tử “anh chị”, cơ hội cầm đầu, hoạt động cát cứ không tuân phục sự lãnh đạo của Đảng. Bộ đội hợp thành Chi đội 1 Thủ Dầu Một và Chi đội 10 Biên Hòa chủ yếu là những thanh niên nông dân từ các địa phương, một bộ phận là quân du kích từ khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, công nhân hãng BIF, công nhân hỏa xa, sở củi, công nhân các đồn điền cao su, một số ít là học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước... đứng chân trong các tổ chức Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu, Thanh niên Tiền phong ra đời trước và trong Cách mạng tháng Tám hoặc gia nhập quân đội sau ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trừ một số ít vốn là đảng viên Cộng sản, đại bộ phận trong số họ thuộc giai cấp vô sản, tầng lớp lao động nghèo khổ, căm thù sâu sắc thực dân đế quốc, tự nguyên gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Yếu tố có ý nghĩa nền tảng trên đây, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cộng với vai trò của phái viên Trung ương Nguyễn Bình (trong việc ông tìm về Thủ Dầu Một, Biên Hòa liên hệ với những thủ lĩnh yêu nước như Huỳnh Kim Trương, Huỳnh Văn Nghệ, dùng uy tín cá nhân để tập hợp thống nhất các tổ chức vũ trang nhỏ lẻ) là những nguyên nhân dẫn đến việc ra đời sớm và thuần nhất của Chi đội 1, Chi đội 10. Trên thực tế, Chi đội 1 chỉ ra đời sau đơn vị Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, đúng vào ngày Hội nghị cán bộ quân sự Nam Bộ 20 tháng 11 năm 1945 tại An Phú xã (Gia Định). Và phải đến sau đó mấy tháng nữa, trong nửa đầu năm 1946, các chi đội Vệ quốc đoàn ở miền Đông Nam Bộ nói riêng, trên toàn Nam Bộ nói chung mới thành lập, đồng thời với sự phân hóa và tan rã của những tổ chức vũ trang ô hợp, giả danh cách mạng. Ra đời sớm, thành phần thuần nhất và nằm trong hệ thống lãnh đạo của Đảng Cộng sản và đặc điểm dễ thấy rõ đầu tiên của Liên Trung đoàn 301-310; đặc điểm này càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hết sức phức tạp của tình hình xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thời đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Thứ hai, lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 gắn liền với những trận đánh tập trung qui mô lớn với hiệu suất chiến đấu cao, đặc biệt trên mặt trận đánh giao thông.


Như đã trình bày ở trên, hầu hết cán bộ chiến sĩ Liên trung đoàn xuất thân từ nông dân, công nhân, học sinh trí thức, chưa được đào tạo cơ bản về kiến thức quân sự và trang bị vũ khí đầy đủ. Căm thù giặc sâu sắc, thông minh, quả cảm, cán bộ chiến sĩ Liên trung đoàn lăn xả vào chiến đấu, lấy môi trường chiến đấu làm trường học, khắc phục khó khăn gian khổ, sáng tạo ra muôn vàn cách đánh có hiệu quả. Cán bộ chiến sĩ ngành trinh sát tình báo xây dựng hệ thống điệp báo, cơ sở nắm tin rộng khắp, từ thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, các thị xã Biên Hòa, Thủ Dầu Một, đồn điền cao su đến các làng mạc dọc đường giao thông, ven vùng căn cứ kháng chiến, cả trong hàng ngũ địch. Nhờ vậy, ban chỉ huy các cấp nắm vững tình hình địch, phát hiện kịp thời gián điệp của địch cài cắm hoạt động trong chi đội, trung đoàn. Cán bộ chiến sĩ ngành tham mưu thông thuộc địa hình, mưu trí dũng cảm, đề xuất nhiều phương án tác chiến táo bạo, bất ngờ, khoa học. Cán bộ chiến sĩ ngành chính trị triển khai có hiệu quả công tác chính trị trong đơn vị, tổ chức tốt đời sống văn hóa văn nghệ, xây dựng hệ thống Đảng các cấp vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, đặc biệt trong những thời điểm gian khổ khó khăn. Cán bộ chiến sĩ ngành hậu cần kỹ thuật tổ chức tốt công tác bảo đảm ản uống và trang bị cho bộ đội trong điều kiện đơn vị phải tự cung cấp là chính, xây dựng hệ thống bảo đảm hậu cần kỹ thuật từ nhiều nguồn khác nhau: dựa vào dân, vận chuyển từ nơi khác về, lấy của địch và tự tăng gia sản xuất. Các xưởng quân giới tự sắm sửa máy móc dụng cụ, sửa chữa súng, nhồi đạn, sản xuất lựu đạn và chế tạo nhiều loại mìn khác nhau phục vụ cho từng trận đánh với các hình thức chiến thuật khác nhau như đánh giao thông đường bộ, giao thông đường sắt, đánh tháp canh địch. Nhờ vậy, các đơn vị thuộc Liên trung đoàn thường tổ chức thành công những trận đánh lớn với nhiều hình thức chiến thuật khác nhau chống địch càn quét vào Chiến khu Đ, tiêu diệt hàng loạt đồn bót tháp canh địch và phục kích đánh địch trên dọc đường giao thông. Trận đánh La Ngà ngày 1 tháng 3 năm 1948 đã đưa ra một hình mẫu tiêu biểu về lối đánh phục kích với lực lượng tham gia cấp trung đoàn trên một chiến trường rộng lớn, có sự chuẩn bị kỹ càng từ trinh sát nắm địch cho đến công tác bảo đảm hậu cần, giải quyết tù hàng binh, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị thực hành trận đánh.


Thứ ba, Lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 gắn liền với hoạt động xây dựng và bảo vệ Chiến khu Đ, với phong trào đấu tranh của nhăn dân Sài Gòn - Chợ Lớn, của công nhân các đồn điền cao su và nhân dân ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa.


Huyện Tân Uyên (tỉnh Biên Hòa) với những ưu thế đặc biệt về địa lý quân sự, ngay từ ngày đầu kháng chiến đã trở thành một căn cứ địa cách mạng, nơi “tụ nghĩa” của nhiều lực lượng kháng chiến không chỉ của riêng tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một. Từ năm 1946, căn cứ địa này - Chiến khu Đ - trở thành căn cứ của cả Khu 7 và Nam Bộ. Dựa vào địa hình tự nhiên thuận lợi và lòng dân ở đây, cũng như ở nhiều căn cứ du kích, căn cứ lõm khác như Bình Đa, Vĩnh Cửu, Thuận An Hòa, An Thành, Long Nguyên... Chi đội 10, Chi đội 1, sau đó là trung đoàn và Liên trung đoàn đã xây dựng căn cứ đứng chân, thao trường luyện tập quân sự, các cơ sở hậu cần như xưởng quân giới, bệnh viện quân y, khu tăng gia sản xuất, lò gốm, xưởng thuộc da... Bảo vệ Chiến khu Đ không chỉ để bảo vệ căn cứ địa của tỉnh, của Khu, Xứ, mà còn để bảo vệ chính căn cứ của đơn vị mình. Trong quá trình xây dựng và chiến đấu, Liên trung đoàn thường xuyên đề ra kế hoạch và tổ chức lực lượng tham gia xây dựng, bảo vệ Chiến khu Đ, như xây cất lán trại nhà làm việc, hội trường, nhà ở, kho tàng, bố trí hệ thống trạm gác, tuần tra, thực hiện các qui chế phòng gian bảo mật. Các đơn vị được phân công luân phiên làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chiến khu. Những trận chống càn nổi tiếng ở Chiến khu Đ và vùng ven từ cuối năm 1945 cho đến những năm ác liệt sau đó đều gắn liền với chiến công của lực lượng vũ trang cơ động Biên Hòa, Thủ Dầu Một.


Địa bàn hoạt động của Liên Trung đoàn 301-310 bao gồm nhiều đồn điền cao su quan trọng ở miền Đông Nam Bộ thuộc các công ty SIPH, CEXO, Terres rouges, Michelin... Nhiều cán bộ chiến sĩ của Liên trung đoàn vốn là công nhân cao su từ bỏ đồn điền “nóp với giáo mang ngang vai”, “ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Nhân dân địa phương, công nhân tại đồn điền tháo gỡ máy móc, quyên góp tiền bạc, gạo vải, thuốc men gửi nuôi bộ đội. Các chi đội, trung đoàn rồi Liên trung đoàn tổ chức đánh địch càn quét, tiêu diệt đồn bót tháp canh dọc lô, làng cao su, hỗ trợ cho công nhân đấu tranh với chủ đồn điền đòi quyền dân sinh dân chủ. Liên trung đoàn còn tổ chức “đại đội cao su” hoặc các đơn vị đặc nhiệm chuyên phối hợp với công nhân trong đồn điền chặt vạc vỏ cây, đốt mủ, phá nhà máy chế biến trong phong trào “cao su chiến”, phá hoại kinh tế của địch. Địa bàn hoạt động của Liên trung đoàn còn gần cạnh thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và các thị xã Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, trí thức; sự tiếp tế lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm, báo chí, và cả nhân lực từ đô thị là một yếu tố cấu thành sức mạnh của Liên trung đoàn. Và mặc nhiên, hoạt động tác chiến của Liên trung đoàn có tác động sâu sắc đến phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương, của cư dân các đô thị. Môi liên hệ này trở nên bền chặt, trở thành một đặc điểm trong lịch sử hoạt động kháng chiến ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa và tiếp tục được phát huy trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả sang thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, khi không còn phiên hiệu Liên Trung đoàn 301-310.


Từ mùa thu 1950, trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chống thực dân Pháp, ở tổ chức biên chế mới, cán bộ chiến sĩ của Liên Trung đoàn 301-310 lại tiếp tục chiến đấu, góp phần làm nên thắng lợi chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, rồi chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, chiến đấu  bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Nhiều người trong số họ chuyển ngành, góp phần xây dựng và  bảo vệ Tổ quốc trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Có người trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không còn tổ chức phiên hiệu đơn vị ngày xưa, nhưng tên gọi Chi đội 1, Chi đội 10, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310, Liên Trung đoàn 301-310 với những chiến công hào hùng một thời đánh giặc vẫn còn mãi với lịch sử, không chỉ là niềm tự hào của mỗi cán bộ, chiến sĩ đã từng chiến đấu, công tác ở Liên trung đoàn chung cho cả quân và dân miền Đông Nam Bộ, của thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 7 hôm nay đang tiếp nối truyền thống cha anh, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:26:43 pm
PHỤ LỤC


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY CHI ĐỘI 1

1.Ban Chỉ huy Chi đội:

(https://lh3.googleusercontent.com/ykjyA0Il2mpJFZkrEPY5VHKS8OC1GrbmpPSLHVLYT6tQ0EaglRabxidGYjEtDiCuqs7Enx9Z_plN16dlLlftb_rwH4CqfvWQvyyVMU11lcVo6JYU4dY-h_fcbsddI-nuunnxbDA_rgQlBN2_rgKGJhTUjkhmysVxrVg_8W5u1j1dfiIaSYDx1qsMwfnAD1vXo5K2sL8AVMtktldM65kEMkyiUXn0tf0kB4PCZibi2g-8-PHAg9Oi0o00kTYDu2iRZGzalkYOHwbiicCJUvTvLVp0FbhaZ16YQnT-SBiAUq6SSFLGTA7KX8XYEIP__Ie4gPeAMfsEkE1p-t8uqDhlANAt-jy-H24HxNyJyk5Y0xvE2fI-6BnGBEZ5VoLs5cRjf7n5k_hDTT87Y3xHabp5OWQ3doDrT9A-k_nIbJgclFEHGZHnxFe_MuzImIBJpYlVQeRjrHkhI3etQpiwf-ET1WnuIGR2w4DOoiTxa28jjT5pUecsBt4uoYNaJVzx-cUybxH-VmFDHLff_4B0njJiPWMse15C1fW40QsN4w1c9N7n4hk8yt_JDJHww34bhJCk5Va2I0tP0Ipd4BVeMjHO-jeDTT3XULssHH0JQVhi72VcilBs-EzuLWzoaD-FZ5KDVu3owisoS0e1vo_1l9TOjgyKr0ObiSgypxLUqsKwUT3paViIcAUVNRs=w850-h213-no)


2. Cơ quan và các đại đội:

(https://lh3.googleusercontent.com/OfosxmA6XPW2f48FTuZALwcnP7iRfyfrIKKIY2T2aBXfZ7lu23rMnlyyRiIv-YloYXJmWtvcxVNj3M9DdBOk7QgMNv1DJMSfUh8mAp9bKJrJychIVsuqOwphvfMqyS2uMVdYwzH94KSaVBVWMf_WKhqktBSuwiSrEN4WZTAvPSn-aI7wRP4IbdP0QXEPrHOrwP5t4rg1rG83g0wU-FAitdLT292qmrj136iF8lNpKiC03rq8wuo26FrW4ZZyYV6UNvdCMdEvJF6JEyUt3fGmGNKQfv3JOTSxeN9RP9-umkoaz-UQi476Bn7EjeenbIjtp_hAY75aHrLFIVp6izvUFMZG3P-wkYHQeRNgzIU0itcpNuOIVjhshZMG-T1apRST-FbBmjZKtAkqit2CmAYLd-vyLcb1NI4QgvlP04CsfFv-qd36mXR95vFBtXARMGRzYLoXqRR2pSJ5YCuOzC9PvwEAOSsRdbAmxFY6YzaXmMt9la0qvEuKkHguVz3Qwx7XcCCWVJrR4hUrrg90xm3-JznCBB-C-8qiqDccgqru36WSB_nrf8gsxma-2EYl1Oqhy9HdngHtMzPogw1fPevHQvhrOfmDqLqGueCNVKmdbFLiQ1mDVBG19JvsNwwWWEnjtDEF99JuCl4Fn8pBeDUSqTnqZUoFf7VGwzI3Uo5lLwCMG__YiSE_NJ4=w900-h632-no)


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN 301

1.Ban Chỉ huy Trung đoàn:

(https://lh3.googleusercontent.com/qrGkdBjAKzDdA6gxxMvgyamzs5yt6f_EMmF1YHKMP9Z2-a37tKkXcW_wBScLSJI0Lrc5x4pXALlDVKNItxl-bBNv_VX5vyWCogXgqksRI0FTn-kIIxIAX-3Ay054dnNprfEseF0H1C8XgKHSttAkf676yHXPx2Ov1tz_ZjLDQRPjdPg1fBzBaFZ_fwtVAdufwlzr8S9US2sJ2L6EazsoN0wCmqHdmPkILSDDsoKHDdCXhKCkCHsJM9LRiA3g67sphhAuXQrYEN_Ilzy9Fq_Y_CiXAYo9Z-LIYQefJr9l60qEtulbfQto-d4IgfYNuYJB4HBiO0VSNLepSq4tBkVzpmo1WQohi1AemeveumsDebzBOBfGRrYWiyCmUkLzhwGMYOOby6eSul9dUK2QQXlGgPQ2WthwFl-wv4UNqA2w9Ky-90zXByYzA8extTggg4Rp2Cf6ZJN51uYB3pPrwGTFhpPDlKr5qPVmcgJ4TQ0aL8QHuHg6jMaBcLQdzhtxy-E-aPL7sUygPkVfF_J9lrfDtLbIzXZ8_2OqQplSHp9TnKdT2PkyETaVtVzgxwVFJ2zjCXpzTYL_kWLnL56tGUCskSywrVl7_2exQMNzXG-oXx14gKaU6-B8ciL9LuGQgj-sEjKQEwXnlTdk-SsOOyn8yCNAa-1I-IswQjbOf_7a07h6SfD59UmKElw=w750-h124-no)

2.Các tiểu đoàn:

(https://lh3.googleusercontent.com/3BEguTpBto34E62rGFuNXoFTCMqVbe27R-E8nzQ8BuHKqqzXEznmGgQkClkl_7plRwmQCKcUm73iclmKZ3rUbTXplsWGSqJSfUA5ciQNxOq624n2fPcQxlIXqt7W7agDYpxnluyK3mJeXALpwkzMOmhS836Z3MmEFdzYNNhDoAG44IXlm9F11WVE7CVT3986MQ2I4RksQCmM6l4ri1ZIj6cW6sgbsQoy1G_3YLl5RKUjBxHQllX6uHRZ_cWTd2xsrP9uH3vsqMx2D_R2qBwGRy-RRspOhYQdcOseqYPA6hrlS3QvOmSFRGgEZBfLWg53zJHiRiNjRs3hxzeaxnUUaaEVZmsJQZmRyHVVd8EblOmRAEX3g8qcgOkPhNejF16exTeWvnu4I8UPxhCPtwGwScM3-DETyKAkB32-ryf_jJv3wWg5fAb9Bggusbqjab_bY-wPZsGrFv5CooTmsepzwL2eu9bL7bkSn5bU6y4-9IVcQTQvT-mRttBfk9bBInHK0lkFt3aMl9Eatib5AX1teuXjsjt2Ro-ZXcG24c8KUBbaMDqTldnT4PZtl0RubpWDj_D-rWBGkvLk7mRzKpQS62_d0l-6uEozo-rvZ0yFJNs9_V4UKPoOIZw5uJ7hOZEgCWLPtSrsfJz3-pckzV10aFmn6X930PEAe0ih4NiYSiixihX2ORHxDZs=w750-h703-no)


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY CHI ĐỘI 10


1.Ban Chỉ huy Chi đội:

(https://lh3.googleusercontent.com/MULTlEpOFnP4lWhL7P4l-vXJKrSg3qJxJRWNeE9bXAmAZ4X1IeY3uy9mMsQruOQrcYERuEHLvCbIbZbTCXT0LlyXEaGkKkXT49vJe-MOeDt7j1Cp1oxaSMHmraxy99K69I8uvW8KjGrso7nf-9qWe_SEhJglaVf2SVAieKSWcb-60QYwxkO00hiubOmYtpO5xkQaPNBWpWj58NlZcY0oGnNG2baRsHCtQGzbnfxOXm-UAyVcL83bmU8TU6GUHD00xwuGsH7X9WvuxgFPPaAAPLIPYTLyFa3Uj3fsmjtesK8iLASb8Suz7X2lKZ42wGEL-_bUTZxTgML-AzidwjdkbuY-aziRbpwit5cuTrLKsZLLfLr8EiUXb6OjPQtsL13cBaT878AxXvfYqa1b3ikmOHCxV_gXPuxKbj6S0JNgosRW_d4S-UdJev3cOUR-V8mXXpCBH5RNg4xjCr7ApvOU4tV2MOGMUWyvnUZdEtN2_NRDrfmWPxVBjCidmv-KM45h3P44sHDLLvEPhT-WGBeEGh-kOu9GTEowEw24F0nUb2YTrEdgb_7SAhuvZsuUztmkfylIZxBhg6QlN19HhMY3JEXpbWESmRKEQH1kpOpNyWWIL7ECJA6LnhB98516fjTm41B15xXV9RXI4ylST64aCCeesjvGYDbqTEUALUPfhDha-izmjfOvz8U=w750-h184-no)

2.Cơ quan và các đại đội:

(https://lh3.googleusercontent.com/_2dIG3rSkZ6Jp_dJtCs2ukvwcJeio5pIhAz23MmlBgDqUZpagB3_NqNbeTob8lucOcdVOvz1SUTFLWpkSBfmYSsn_8D65JTV2wuRYK7fp_hkETThrqy2ahxpHpQevrAImaNuTvO9h6ovC26BYxTb029gd4MKJ9leH05Dgyq7qRfUGryW0PFqA5H6VyAXoYFaHQwsAHfIBlExhFg-3RfpxD6Uh--7IT3wREqXige_BZ1_TPlI__eAlV50JVjIJD-ciZEzAShEyJJutfowA6iWuztX9Hv0eyCUVFv9PKfccpdiKtJDR0AyCNqIceBHUgivsi-eniwZlLFpswKnUR1ULqdspv7yo2E6IvMUDz8jn9shM7IQPpToA9CgZv7LsbT5awCX9-Gi8klbqqPOKXsy30x-hdl0tfbmto7IyamO4e83B_NqbQ8mD1d2G1sIGYNATzsH548iqjV56t4cQdGpwornRIGgu0bg875Hg9-HFA6cmX00uPfGf6dIA-7qM6s__o3HO4AhVBS8yDXa_4tIMQQqGC9S1wdy_Romn9oMj1nRHZSxzMbmNr1t1pjhLsn5CQvBGMTt45DIi9gI7ApF45kjOLY4NLXbiUfkZ4pNun3h9znKQ-0G0UJbk9UZWChndFLQu4gZfFis6phX_RV9BXywotnh8rmRvkgnkSmucNMqyl7N0h9XwZQ=w750-h352-no)


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN 310

1.Ban Chỉ huy Trung đoàn:

(https://lh3.googleusercontent.com/eRkJRkKtYAALQYzII90TJqVlm-ULIV7-QyaPIRWj0CA8N-SYk3Oyu1QRnwOdv36qkII7HIpAAntt5gE8fB5QoTfwYvf0hKXwCg4fAnnTMcmfpZhbvNbeyiHc9ZYCLaMp-aX-kFcoPbgNh7S1xx1laqxkucZ_OVwPmfLmWgY1PdrL6gt_r1xqv-7_wLqxxwGZ7hRNqOq7iuJwOMdem8NUcVeqKFUytBN91r8bDijlBsHoFyIK_K5RX7wdupSqiJE6mSWbNf2ZmqssKm8LmB2VTWToU0WPLq_DOaLnHpedVl8HzbPeAZB0cNDZuoz8WwgsGrZ9eTYy6erxvTSYamJtAhTPW_PTtGvRu7K6ekNetp4-FiyzXvmOYN1bjDWNO51rn861QPYQXOhoRSD1oTtk14d3zYBzG7VoTgnKxEI1EuuKnH2PKhwlZu4TkhRDCGMTQ15hjZZEYuCFLHSrsOS9ApNZuoZmXFpxk9N7tIWPfz9QV3r6gBQYtkmCm_vjKbsl2VtPO3aVg3scDC6L5lhzUa-cOi9BUNgZPc4TYf_636tFIKh6ltz7o3lgbkEpxl-bGVHyu1Te7LSZNCAUIBrKsQtvvDOaGfLqpeIKnp8cIaGjWiKe_kh7reBsPKSqd7d0w54xTWEkSxHCerG5eSg3DjfNv7-Z5Wsg1NeyJpodBV8EpKDrx5GhHHA=w750-h259-no)

2.Các tiểu đoàn:

(https://lh3.googleusercontent.com/JimSlmiMDarNm3iwtU9AczB3Qezw-scP2iSS5q6_9Xcg0HF1Zv-dGp2ubE_l8DieZjsoL6WwPljLBtkTxeesqOGnMK6DsbBrBCQknj0luIZUBCLsy0RypVI7s2ypOvXm4kpnILxr6YmFDt5yQZOoHuOTqkmoEjEdLx3T-KT1ZSzOsdpUodEuKAxd_oC1Dy6yKknocc9_-BtfNTGQa4s-5a01q8I9sPaDA7d1-d2hU9pBdkLvYzYfca2tGOi84s5v13DO6InaSYES7lyRutsEIGwQkatEPyf7ZrqMm31K7PltuwX0pMZoPjTwAgL7U3MZdmm0AVe-W1MrEI5lpdysDAzufSdJzGkwt95A-WCM7JpgmL6vJlR3PJICmJP8ig-c67IAYttfuakBY3p6zZlYliGlxt_O8CnIBGo0vIfLxkd0aQimzn1gXL8W69yde_8GYbrihJZoWPt5sAnEFnd_0RKim139OQo5IHrKK5fLLII7abp9C-WJDhId8SwhUMYJsV6Zntzkkaq1LPwQHg-RIUnfPB1VthMoJq2db99PXUJUGdXKPIrcXJc4PL14C8z-9tGgFmSvOiuwj4HpeHAEQUm_dL-GcQmNeta593zv1xe9FijLMU40ozClqcLnKg2oHPhPJnBIXnp7HBV1tjua4KHn5Ar_AuQALNoqPSUxucXmxp2NLoJZC8c=w750-h256-no)


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY LIÊN TRUNG ĐOÀN 301-310

1.Ban Chỉ huy Liên trung đoàn:

(https://lh3.googleusercontent.com/4marxYcBRPwmawOdA5_mL2ozr8SgH_139OKHJQc18CFXZevyR1_I3bO9DtnCkg5-7Ybt-4CnyZ5tIS3atv4unlddzzvrUD-KHH43jKuLkYMs5OJhrwJSTuHYQ8W9Hv4xW9HBjbf63sFSNAWVuXIRp64bgEoDYF1AEsFqp2btu4s0Nx8_G80WwUnJMqK42EOHDns4QesRBJH0MsHarJUgO1lc6FJEK5dvsUf1PzBe6gI4gBF6SwkUpSKBWI5v3aRnUY5rnVx7rnbSEeUcB36oxpMnItsUXRpdcfy91I0EdrTvQ15jhrV7YJZhzyNVWDDClFSyoJK24qPSskf8BtAA3reCsok8i63PaLqv4OHgClbn47LDgg5GZ7s9fOs0GKzK8wBbAwHJq6wCItaxgQ0uQE2_-0eFQb8J67vNvkbO7E-1c2sLgrHULG4oANXwMO3qqX_dn_GsIT8uFnojXCTyEr27fqLY9qFnJcOVkcaC_7tdl7Bfjlk7B-Yt2LiL1HLLOpgpZ0h-oxgGhgJn50WNUIw1rkjsaJAdmqsUkfua-M5a2eMmtbtVmNs3Qlg32xaFiSjM_5cOZS7ZJWqZBkCYzK_AIw5qAMm0V-KeP5CxAb0aczCo49tqOrn5StR2rzfWor-pRrxGXoZm4nVNfIitpKV1zZlT9HnsjuY59kIy1nOSbf0zQX4LS6w=w800-h135-no)


2.Tiểu đoàn 302:

(https://lh3.googleusercontent.com/NQceCEtluC5-aUc_x9CpkAb5lEVRoCnjcLiWSmtex7iR5jaRaKj7rDVHj8Dh_K6O8eFIxOGDOLp2YEl_cffrOcsOU_4R3g0z-hXqIe228xrqn-ZYhvM2J8gRn5DvyeHnnQjVwidNVQqhn22r1bACHJEKWMTHFvwiEja3lF_fC3BC6GaVEzzwZMPIY5oQ1VeI4sObcci6WGe1ZtP8w3POQUc7keUsuu7VE3l6qEONrWGDsX8GjM1KDXKZbKoFoGFqmoSp02ZDCM9FwHoBLmZXQmxroxBwJQw9jBrcxgJmjUXbKNgQ7_AXfj0E4T1JRpPxvDfEUZRhCjkc4JdRlHNtHU-R4-jR7etcqE4jPyGK-OVaKl0q-72PTTbzVtqMhYDBd239UaG5yd2rqV4qOgRjWMV6Rpz1u2AVSHRSB-4S_p1nHG_H3qBaM9cDeXvGENhcLJrxZePhTrJjwGUFsF-g5uFBd7m5lIKBqNPePgm9GudJsNRoAROHaIT_R7lvVL0Ol-BdCc2i1rpoi2BOMoEE8zJNaTF7LNPBYgvja_Ls2qdlHp9adS_WbMPCbRD_E9kxKL9FSkdohAwLXABlB37tj4sdHMT5K7l_V7eCF-sW6dl5ZT-IApZ5PSCvZpEntdBlRrNKy_1CL9gMMDamJcNdvcd6wiL9drn1fhPUmHb0mPVcEpC31Vb595g=w800-h85-no)


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:31:27 pm
CHIẾN KHU Đ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Hồ Sơn Đài


Danh từ Chiến khu Đ ra đời vào cuối tháng 2 năm 1946. Đ là mật danh nhằm chỉ căn cứ của “Tổng hành dinh” Khu 7 tại vùng rừng Tân Uyên, nằm trong hệ thống các căn cứ được xếp gọi theo thứ tự các chữ cái A, B, C... Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều người bàn cãi và đề xuất nhiều cách giải thích lai lịch khác nhau. Như Đ là chữ cái đầu viết tắt địa danh Đất Cuốc (xã Tân Hoà, huyện Tân Uyên), nơi bộ đội Huỳnh Vản Nghệ khởi cứ đầu tiên, tập hợp lực lượng, mở trại huấn luyện ngay trong ngày đầu kháng chiến. Đ là chữ cái viết tắt từ Chiến khu Đỏ, chiến khu Đảng nhằm chỉ tính chất cách mạng của chiến khu để phân biệt với căn cứ một số ít lực lượng vũ trang không cách mạng lúc bấy giờ. Đ là chữ cái đầu của tên gọi Chiến khu miền Đông, Chiến khu Đồng Nai, chiến khu Đầu tiên... Dù có nhiều cách giải thích khác nhau, trong thực tế danh từ Chiến khu Đ nhằm chỉ một vùng căn cứ rộng lớn ở miền Đông Nam Bộ đã đi vào lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở đây, cũng như những người chưa từng một lần đặt chân tới như là một biệt ngữ không còn đơn thuần mang ý nghĩa địa danh, mà biểu tượng của cách mạng, cho kháng chiến.


Chiến khu Đ nằm trên triền rừng bạt ngàn thoải từ chân cao nguyên miền trung và nam Tây Nguyên xuống giáp giới với các đô thị lớn như Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Sài Gòn. Khởi từ hạt nhân 5 xã Tân Hoà, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An (thuộc huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương ngày nay), cùng với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, Chiến khu không ngừng được mở rộng, lấy đường 16 về phía tây và sông Đồng Nai về phía nam làm ranh giới để ngày càng phát triển lên phía bắc và đông bắc, chiếm giữ một vùng đất đai rộng lớn trên toàn chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ.


Địa hình Chiến khu Đ chủ yếu là vùng bán bình nguyên, rừng và đồi liên tiếp nối nhau ngút ngát. Hệ thống đồi núi được phủ xanh bằng rừng cây nhiều tầng, những tuyến hào phòng thủ thiên nhiên do hàng ngàn sông suối thuộc lưu vực sông Đồng Nai tạo nên, hàng chục đường giao thông chiến lược và chiến thuật bao quát và đan cắt trong lòng chiến khu đã tạo cho Chiến khu Đ một thế đặc biệt lợi hại về mặt quân sự. Lại nữa, Chiến khu Đ ở vào vị trí gạch nối giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng đông dân cư và các đô thị lớn, là một trạm trung chuyển không thể thay thế từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ và ngược lại. Cư dân lâu đời ở Chiến khu Đ chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa, công nhân các đồn điền cao su và nông dân sông dọc triền sông suối. Họ là một trong những cộng đồng khu vực có truyền thống bất khuất, phong trào  cách mạng sớm và mạnh, thành một dòng chảy nổi bật ngay từ đầu thế kỷ 20.


Ưu điểm về địa lý tự nhiên, quân sự và nhân văn là những nhân tố cắt nghĩa nơi đây sớm trở thành một căn cứ cách mạng quan trọng ngay trong quá trình vận động tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.


Mùa thu năm 1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo hướng tất cả các cuộc đau tranh lẻ tẻ vào phong trào chống chiến tranh đế quốc, chống đế quốc Pháp và tay sai, chuẩn bị điều kiện tiến tới khởi nghĩa. Tỉnh ủy Biên Hòa bí mật xây dựng một đơn vị vũ trang do đồng chí Huỳnh Liễn chỉ huy, gồm 35 người với vài khẩu súng trường. Đơn vị đã lấy vùng rừng Tân Uyên làm một trong những căn cứ hoạt động, tập luyện, phát triển lực lượng.


Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ làm rung chuyển toàn bộ vùng nông thôn sát các đô thị. Từ căn cứ Tân Uyên, đội vũ trang Biên Hoà tỏa về các địa phương trong quận Tân Uyên - quận được chí đạo thí điểm trong khởi nghĩa làm nòng cốt trong lực lượng quần chúng tiến hành khởi nghĩa.


Do kế hoạch bị lộ từ trước, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố bắn giết các chiến sĩ cách mạng. Tại Tân Uyên, hàng loạt cơ sở Đảng bị vỡ. Đồng chi Huỳnh Liễn hy sinh, các đồng chí khác như Lê Văn Tôn, Nguyễn Hồng Kỳ bi địch bắt đày đi Côn Đảo. Phong trào cách mạng đứng trước thử thách to lớn. Trước sự truy lùng gắt gao của địch, bộ phận còn lại của đơn vị vũ trang tỉnh tập hợp lại thành một tiểu đội do đồng chí Trần Văn Quỳ (Chín Quỳ) chỉ huy rút sâu vào vùng rừng căn cứ cũ ở Tân Uyên để bảo tồn lực lượng và từng bước khôi phục xây dựng lại phong trào.


Cuối năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa. Xứ uỷ Nam Kỳ chủ trương chọn Tân Uyên, xây dựng thành một trong những căn cứ địa để in ấn sách báo, cất giấu vũ khí, huấn luyện cán bộ và lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn. Thực hiện chủ trương này, một số nhóm cán bộ đã về Tân Uyên chọn địa điểm xây dựng căn cứ địa. Tại Đất Cuốc, công việc xây dựng căn cứ bước đầu được triển khai. Đến ngày Nhật làm đảo chính (9-3-1945), công việc này bị ngưng lại vì cán bộ xây dựng căn cứ quay trở về Sài Gòn nhận nhiệm vụ khác theo yêu cầu cách mạng trong tình hình mới.


Vậy là, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng rừng Tân Uyên đã là một trong những căn cứ địa cách mạng của tỉnh Biên Hòa và Xứ ủy Nam Bộ. Sự kiện này kết hợp với những ưu điểm đã trình bày trên đã tạo thành yếu tố tiền đề quan trọng để vùng rừng Tân Uyên nhanh chóng trở thành một căn cứ địa kháng chiến ngay sau ngày thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.


Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, chính thức xâm lược nước ta một lần nữa. Sau một tháng bị vây hãm trong thành phố Sài Gòn, cuối tháng 10 năm 1945, có thêm viện binh, Bộ chỉ huy quân đội Pháp quyết định phá vòng vây đánh rộng ra chiếm các đô thị, vùng kinh tế quan trọng và các đường giao thông chiến lược. Biên Hòa, Thủ Dầu Một trở thành một trong những hướng đánh chiếm đầu tiên của chúng. Từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 1945, lần lượt, tỉnh lỵ Biên Hòa, Thủ Dầu Một rơi vào tay quân Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:33:25 pm
Do tương quan lực lượng không ngang sức, để bảo tồn củng cố lực lượng, các lực lượng kháng chiến dần dần rút ra vòng ngoài. Vùng rừng Tân Uyên trở thành hướng rút thuận lợi cho nhiều tổ chức kháng chiến và đơn vị vũ trang, trước hết thuộc địa bàn phía bắc và đông bắc vùng phụ cận Sài Gòn.


Một bộ phận gồm 40 người với 30 súng trường các loại do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy đã tách khỏi Ủy ban kháng chiến miền Đông (đang trên đường rút ra Xuân Lộc, Phan Thiết) về trụ lại vùng rừng Tân Uyên, hợp với tiểu đội vũ trang của đồng chí Trần Văn Quỳ xây dựng nơi đây thành căn cứ kháng chiến.


Tiếng lành đồn xa, nhiều lực lượng yêu nước từ các nơi khác cũng lần lượt kéo về xin gia nhập bộ đội Huỳnh Văn Nghệ. Đó là phân đội Ban tiếp tế miền Đông, các đơn vị tự vệ Tổng công đoàn Nam Bộc các tổ chức kháng chiến bị tan rã, công nhân từ các xương Ba Son, Đề-pô Dĩ An, BIF Biên Hoà... Lực lượng ngày càng đông, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ mở trường Quân sự tại Đất Cuốc nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị cho các học viên. Học viên sau khi mãn khoá một bộ phận ở lại, một bộ phận khác toả về các xã làm nòng cốt cho du kích địa phương.


Ngay chưa đầy một tháng tập hợp lực lượng, bộ đội Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một lực lượng đông đảo, tổ chức thành 4 phân đội gọi là Vệ quốc đoàn Biên Hoà hoạt động chu yếu ở địa bàn xung quanh căn cứ thuộc quận Tân Uyên.


Đầu tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, một cán bộ có nhiều kinh nghiệm xây dưng căn cứ địa ở miền Bắc được Trung ương cử vào Nam Bộ. Trong khi đi nắm tình hình ở các chiến trường, đồng chí về Tân Uyên và qua khảo sát thực địa, đồng chí đã thảo luận với Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà về việc chọn khu vực Lạc An rừng Tân Uyên lập căn cứ địa cho toàn khu.


Ngày 10 tháng 12 năm 1945, thực hiện nghị quyết hội nghị Thiên Hộ (Cái Bè - Mỹ Tho, 25-10-1945), tại Đức Hoà (Gia Định), hội nghị quân sự toàn Nam Bộ được triệu tập dưới sự chủ toạ của đồng chí Hoàng Quốc Việt. Hội nghị đã thảo luận và quyết nghị về việc tổ chức chiến trường trên toàn Nam Bộ, chia Nam Bộ thành các khu 7, 8, 9, chỉ định khu trưởng và ủy viên chính trị khu, thảo luận biện pháp củng cố phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng các căn cứ địa kháng chiến cho từng khu.


Khu 7 một tổ chức hành chính quân sự được chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng và đồng chí Trần Xuân Độ làm chính trị ủy viên Khu. Lạc An được chọn làm căn cứ địa của Khu 7.


Ngàv 17 tháng 12 năm 1945, cơ quan Khu bộ Khu 7 cùng với các bộ phận hậu cần trực thuộc về Tân Uyên xây dựng căn cứ đứng chân và hệ thống phòng thủ.


Cùng với cơ quan Khu 7 và Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Chi đội 1 - lực lượng Vệ quốc đoàn tỉnh Thủ Dầu Một - và nhiều đơn vị vũ trang khác từ miền Bắc, miền Trung, “Nam tiến” và trong toàn Khu cùng chuyển toàn bộ hoặc bộ phận về đóng ở Tân Uyên và vùng kế cận.


Vùng rừng Tân Uyên sau 2 tháng thực dân Pháp đánh rộng ra các tỉnh trở thành một trung tâm kháng chiến sôi động của tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một và toàn Khu 7. Hoạt động náo nhiệt ở chiến khu nhanh chóng thu hút sự chú ý của địch.


Sang đầu năm 1946, thực dân Pháp đưa quân đánh rộng ra vừa để tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và các đơn vị vũ trang, vừa để đóng đồn bốt chiếm đất giành dân, bảo vệ cơ sở chính trị kinh tế của chúng. Tân Uyên trở thành một trong những mục tiêu tấn công trước tiên. Từ giữa tháng 1 trở đi, chúng liên tục tổ chức các cuộc tàn công lên căn cứ Tân Uyên. Ngày 24 tháng 1, bằng cuộc tấn công quy mô lớn có phối hợp thuỷ lục không quân với hơn 4.000 tên, 4 máy bay, 4 tàu chiến và nhiều xe cơ giới, thiết giáp, thực dân Pháp chiếm được thị trấn Tân Uyên. Chúng lập 2 chi khu ở hai bên sông Đồng Nai khống chế chặt phía nam Tân Uyên.


Vấn đề xây dựng và bảo vệ căn cứ địa được đặt ra một cách cấp thiết.

Ngày 20 tháng 2, Khu bộ Khu 7 họp hội nghị bất thường tại Lạc An. Một trong những nội dung quyết nghị quan trọng của hội nghị là xây dựng địa bàn đứng chân, phân bố qui định các khu vực, bố trí hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều vùng bảo đảm chiến đấu ngăn chặn địch, bảo vệ an toàn căn cứ. Trung đội “bộ đội danh dự gương mẫu” được thành lập làm nhiệm vụ nghi thức và lưu động kháng chiến bảo vệ các cơ quan khu. Toàn bộ vùng căn cứ địa được chia thành nhiều khu vực, mỗi khu vực được gọi theo mật danh A, B, c... Đ là vùng Hố Ngãi Hoang, nơi đứng chân của “Tổng hành dinh” Khu 7.


Chiến khu Tân Uyên từ đây được đặt vấn đề xây dựng và bảo vệ một cách có hệ thống. Danh từ chiến khu Đ ra đời được gọi luôn cho cả vùng căn cứ lấy đây làm điểm cốt để ngày càng mở rộng lên mãi.


Trong buổi đầu kháng chiến còn nhiều ngỡ ngàng lúng túng và đầy rẫy những khó khăn thử thách, sự lãnh đạo của Đảng chưa xuống đến cơ sở và chưa bám sát thường xuyên phong trào, sự ra đời của Chiến khu Đ là sự đáp ứng tất yếu của yêu cầu đặt ra cháy bỏng lúc bấy giờ, biểu thị tính năng động và ý thức nhìn xa, chuẩn bị thực lực để kháng chiến lâu dài của các cán bộ kháng chiến miền Đông Nam Bộ, trong đó có vai trò quan trọng của các đồng chí Nguyễn Bình và Huỳnh Văn Nghệ và Trần Văn Quỳ.


Sau Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3, tại Nam Bộ, thực dân Pháp không chịu thi hành hiệp định, âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam. Đối với Chiến khu Đ, chúng rút bớt các đồn lẻ, tập trung củng cố chi khu và các đồn chính bao xung quanh, đặc biệt ven sông Đồng Nai và đường đá xanh 16. Mặt khác, tổ chức các cuộc tấn công liên tục với qui mô lớn vào trung tâm chiến khu, đặc biệt trong 2 cuộc càn ngày 25 tháng 3 và 18 tháng 4 địch huy động tổng cộng 13.000 lượt quân do đích thân tướng Lơ-cléc chỉ huy.


Sau trận càn ngày 18 tháng 4 (kéo dài đến ngày 22-4) của địch, các lực lượng kháng chiến trong căn cứ trong điều kiện phải đương đầu với lực lượng đối địch lớn mạnh gấp bội, lại thiếu kinh nghiệm trụ bám chống càn, sau một thời gian phân tán đánh tiêu hao quân địch đã buộc phải phá vây rút ra vòng ngoài. Từ đây cơ quan Khu bộ Khu 7 dời về “quân khu Đông Thành”, các cơ sở hậu cần của Khu nhập vào lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hòa tiếp tục ở lại xây dựng căn cứ địa, quyết tâm trụ bám, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:35:11 pm
Thông qua các hội nghị Cù Lao Vịt, Thiện Tân... vào giữa năm 1946, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Tỉnh ủy Biên Hoà, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một xác lập sự lãnh đạo tuyệt đối đối với các đơn vị vũ trang trong chiến khu. Công tác xây dựng căn cứ từ đây được tiến hành dưới sự lảnh đạo thường xuyên của Đảng.


Trên địa bàn Chiến khu Đ, lực lượng vũ trang các tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một lần lượt được tổ chức lại, sát nhập các đơn vị nhỏ lẻ thành tổ chức chi đội với trang bị ngày càng đầy đủ hơn. Trình độ quản lý chỉ huy của cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật và ý thức tổ chức kỷ luật của chiến sĩ được từng bước nâng dần lên. Các “Quận quân sự”, rồi “Ban công tác liên thôn”, thực chất là những tổ chức quân sự địa phương ra đời đã xây dựng và thúc đẩy lực lượng tự vệ chiến đấu, dân quân xã ấp phát triển. Phong trào tham gia kháng chiến trong nhân dân vùng căn cứ và vùng ven phát triển mạnh, hoà nhịp với phong trào trong toàn miền. Tất cả tạo thành mội phong trào chiến tranh nhân dân rộng và mạnh, tác động đến quá trình xây dựng và mở rộng của Chiến khu. Ý thức chuẩn bị thực lực mọi mặt để kháng chiến lâu dài được định hình một cách dứt khoát trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Công tác xây dựng căn cứ địa vì thế được tiến hành một cách chủ động.


Đến ngày toàn quốc kháng chiến, vùng rừng Tân Uyên đã trở thành một căn cứ kháng chiến nổi tiếng mà cán bộ, chiến sĩ thường gọi là Chiến khu Đ, trở thành một biểu tượng kháng chiến, chỗ dựa tinh thần trước hết cho nhân dân vùng tạm chiếm thành phố Sài Gòn, hai tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một và những khu vực kế cận. Sự hiện diện vững vàng của chiến khu là một trong những bước chuấn bị có “ý nghĩa quan trọng đặc biệt để quân và dân Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Khu 7 vững vàng bước vào thời kỳ mới - thời kỳ cùng cả nước kháng chiến.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ! Thực dân Pháp mơ rộng chiến tranh xâm lược ra phạm vi toàn quốc. Xung quanh Chiến khu Đ, chúng co cụm lại, rút bớt đồn nhỏ, tăng cường lực lượng cơ động càn quét cấp tiểu đoàn. Đây là một trong những trọng điểm càn quét của lữ đoàn Lê dương thứ 13 quân viễn chinh.


Phối hợp với tiếng súng toàn quốc, các lực lượng vũ trang tại Chiến khu bung ra hoạt động mạnh ở vòng ngoài cùng với phong trào đánh giặc lên mạnh ở vùng du kích đẩy địch co lại ở những vùng tạm bị chiếm. Các cơ quan kháng chiến tỉnh, huyện, các cơ sở sản suất từ trong rừng sâu kéo ra đóng sát bìa rừng như Tân Hoà, Mỹ Lộc... Chiến khu Đ được nới rộng và mở thông về nhiều vùng xung quanh xuống Long Thành, rừng Sác, lên quốc lộ 13.


Công tác “sinh sản tự túc", xây dựng nền kinh tế kháng chiến, công tác văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao được chú trọng. Các báo như “Vệ quốc”, “Việt Nam”, “Tiếng rừng”, “Sứ mạng”... được phát hành rộng rãi không chỉ trong chiến khu mà kể cả thành phô Sài Gòn và nhiều vùng bị tạm chiếm khác. Các đội trinh sát tình báo trong và bìa chiến khu hoạt động bảo vệ căn cứ có hiệu quả. Phòng “Quốc dân thiểu số” Khu 7 thành lập. Các đội thiểu số vận đi sâu vào từng buôn sóc đồng bào dân tộc Ch’ro, S’tiêng gây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng buôn sóc chiến đấu.


Cùng với hoạt động xây dựng căn cứ bên trong, từ Chiến khu Đ các lực lượng vũ trang tiến ra ngoài đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch, nhất là đánh giao thông đồn bót. Nắm chắc qui luật hoạt động của địch, đưa lực lượng táo bạo luồn sâu, ém quân bí mật, phục kích bất ngờ ngay giữa ban ngày rồi nhanh chóng hành quân về căn cứ, Chi đội 10 Biên Hoà đã tổ chức thắng lợi hàng loạt trận đánh giao thông địch, thu kết quả cao không chỉ về ý nghĩa tiêu hao sinh lực địch, gây rối loạn hoạt động đi lại của chúng mà còn bồi dưỡng nhiều kinh nghiệm tốt cho ta. Đó là các trận Bảo Chánh 1, Bảo Chánh 2, Trảng Táo, Bàu Cá, Đồng Xoài. Tại trận Trảng Táo tháng 6 năm 1947, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư lâm thời Xứ ủy Nam Bộ đã trực tiếp đến quan sát trận đánh và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Chi đội 10 trong cuộc họp tổng kết rút kinh nghiệm.


Trận đánh giao thông vang dội nhất diễn ra trên quốc lộ 20 (Sài Gòn - Đà Lạt) quãng từ cầu La Ngà đến thị trấn Định Quán. Đêm ngày 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1948, sau khi bố trí nghi binh tại các cửa rừng dẫn vào Chiến khu, Chi đội 10 Biên Hoà và Liên quân 17 Khu 7 bí mật rời khỏi Chiến khu Đ, vượt sông Bé, băng rừng trên quãng dường dài hơn 80 ki-lô-mét về La Ngà. Chiều ngày 1 tháng 3, đúng như dự kiến của ta, đoàn công voa chở phái đoàn cán bộ quân sự cao cấp của địch đi dự hội nghị tại Đà Lạt (chuẩn bị cho việc thành lập chính phủ Bảo Đại) lọt vào trận địa phục kích kéo dài 9km. Sau chưa đầy 60 phút chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ mặt đường, thiêu hủy 59 xe, diệt 150 tên lính Lê dương hộ tống, 25 sĩ quan trong đó có tên Đơ Sê-ri-nhê (De Serigne) đại tá chỉ huy bán lữ đoàn lê dương thứ 13 và tên Pa-ruýt (Paruist) đại tá phó tham mưu trưởng thứ nhất quân đội miền Nam Đông Dương.


Cay cú, Bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Sài Gòn điên cuồng mở cuộc phản kích qui mô lớn vào Chiến khu Đ, nơi mà chúng biết chắc “lực lượng Việt Minh” tấn công trận La Ngà vừa từ đó ra đi và chưa kịp trở về. Dự đoán trước được ý đồ của địch và đã chuẩn bị sẳn phương án tác chiến, lực lượng vũ trang ở lại bảo vệ căn cứ đã dùng chiến thuật dụ địch phân tán ra khắp các nẻo rừng để phục kích, đột kích tiêu hao, vừa thực hiện kế hoãn binh chờ lực lượng Chi đội 10 và Liên quân 17 trở về phối hợp đánh địch. Quân địch buộc phải rút lui sau khi bỏ lại Chiến khu Đ hơn 100 xác lính.


Chiến thắng La Ngà gây một tiếng vang lớn trong cả nước, làm chấn động cả dư luận nước Pháp. Thắng lợi của trận đánh đánh dấu một bước phát triển quan trọng về chất của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, đưa ra một mẫu mực về cách tổ chức trận đánh nối liền từ căn cứ địa tới chiến trường, phối hợp giữa việc lấy chiến khu làm nơi chuẩn bị, xuất phát, tiến công địch và bảo vệ an toàn căn cứ.


Sau trận La Ngà, đồng chí chỉ huy trưởng Chi đội 10 Biên Hoà được đề bạt lên Khu bộ phó Khu 7 và sau đó giữ chức Khu bộ trưởng. Đồng chí không về Chiến khu Đồng Tháp Mười mà ở lại Chiến khu Đ xây dựng căn cứ Khu. Một lần nữa, Chiến khu Đ trở thành nơi đứng chân của Bộ chỉ huy Khu 7.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:36:26 pm
Đầu năm 1948, thực hiện sự chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh hay đánh kéo dài, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”, quân đội Pháp tại Nam Bộ tập trung bình định vùng đã chiếm đóng, thực hành chính sách bao vây kháng chiến, đánh mạnh vào cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị của ta. Chúng tiến hành bao vây Chiến khu Đ về mọi phương diện, đặc biệt thiết lập hệ thống tháp canh Đờ La-tua dày đặc xung quanh và vào sâu trong căn cứ nhằm vây chặn, cắt đứt tất cả các ngả đường giao thông liên lạc, vận tải lương thực thực phẩm vào chiến khu. Thay các cuộc hành quân càn quét lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, dùng các toán Com-măng-đô bất ngờ thọc sâu vào căn cứ địa giết phá rồi rút ra nhanh chóng, kết hợp với dùng máy bay rà quét triệt phá các cơ sơ kho tàng, lán trại, hoa màu, nông súc. Mặt khác, chúng cho mật thám, chỉ điểm, nhân viên phòng nhì Pháp giả dạng công chức bỏ thành phố đi kháng chiến để xâm nhập Chiến khu, len lỏi sâu vào các cơ quan của ta, tổ chức bọn buôn lậu đưa hàng hoá xa xỉ và gái điếm vào Chiến khu khêu gợi sự ăn chơi, hưởng lạc, rượu chè trai gái; tung tin thất thiệt gây mang hoang dao động trong hàng ngũ kháng chiẽn.


Chiến khu Đ bước vào thời kỳ khó khăn liên tục và kéo dài. Nạn thiếu lương thực thực phẩm cho hàng ngàn con người, thiếu nguyên vật liệu hoá chất cho sản xuất vũ khí... diễn ra từng ngày một. Các cơ quan, binh xưởng, kho tàng, lán trại phải liên tục di chuyên vì căn cứ bị đánh phá chính xác và thường xuyên. Nội bộ cán bộ ta nghi ngờ, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Một số không ít cán bộ chiến sĩ không chịu nổi gian khổ trốn về thành đầu hàng giặc, phản bội lại kháng chiến. Thêm vào đó, không ít người hoang mang dao động vô tình phụ hoạ với luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Một vài cán bộ quân sự vốn là “dân anh chị” đi theo cách mạng, vẫn giữ nguyên tác phong kiểu anh hùng cá nhân, vô kỷ luật, quân phiệt, cục bộ, gây khó khăn thêm cho cách mạng.


Công tác xây dựng và bảo vệ chiến khu giờ đây tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng dự trữ kháng chiến, đánh mạnh vào hậu phương quân địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa.


Tháng 3 năm 1948, Chi bộ 10 Biên Hoà và Chi bộ 1 Thủ Dầu Một phát triển thành Trung đoàn 310 và Trung đoàn 301. Chiến khu Đ trở thành địa bàn tập huấn luyện quân cho sự chuyển nâng về chất này của lực lượng vũ trang. Từ Chiến khu Đ, các đơn vị đưa một phần lớn lực lượng từ vùng du kích và tạm bị chiếm hoạt động vừa để đánh vào hậu phương quân địch vừa thu hút phân tán lực lượng không cho chứng tập trung dồn ép chiến khu.


Bên trong Chiến khu, ta đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở các trại chăn nuôi và nông trường trồng trọt dọc triền sông, phát triển các ngành kinh tế công nghệ khác như xây dựng lò đường, lò gốm, xưởng dệt vải... Binh công xưởng tận dụng nguyên vật liệu cải tiến các loại vũ khí, đặc biệt các loại vũ khí cơ bản thông thường. Các bệnh viện quân y, bệnh viện dân y khắc phục tình trạng thiếu thuốc và dụng cụ y tế, thay thuốc tây bằng các loại thuốc nam có sẵn trong rừng chiến khu, với phương châm “địa phương hoá tây y, khoa học hóa đông y”. Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ cho in, lưu hành giấy bạc Việt Nam trong vùng căn cứ địa và vùng du kích. Tờ giấy bạc Việt Nam mà cán bộ chiến sĩ nhân dân ở đây thường gọi là “bạc Cụ Hồ” không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà trở thành một thứ bảo chứng, kỷ vật thiêng liêng về tình cảm của họ đối với Đảng, với Bác Hồ, với sự nghiệp kháng chiến, ủy ban kháng chiến hành chánh còn phát hành công phiếu kháng chiến rộng rãi trong nhân dân. Đồng thời, ta thực hiện chính sách bao vây kinh tế địch như cấm lưu hành giấy bạc Đông Dương ngân hàng của Pháp trong vùng căn cứ địa, cấm bán sản phẩm hàng hoá về vùng tạm bị chiếm.


Song song với việc xây dựng nền kinh tế tự túc tại chỗ, ta còn xây dựng các tuyến hành lang vận tải từ các vùng nhiều lúa, các căn cứ và thành phố Sài Gòn về Chiến khu Đ. Đơn vị cơ quan nào trong chiến khu cũng có trạm đầu cầu làm nhiệm vụ vận động bà con quyên góp và thu mua lương thực, vải vóc thuốc men, nguyên hoá liệu... tại các vùng tạm bị chiếm nông thôn và đô thị và từ đó tổ chức đưa về chiến khu bằng nhiều hình thức hoặc bí mật hoặc “bình phong”.


Công tác bảo vệ căn cứ địa cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Cuối năm 1948, các đơn vị bộ đội chủ lực khu ra đời. Tại Chiến khu Đ, Tiểu đoàn 303 thành lập, hoạt động trên địa bàn hai tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Dân quân du kích các xã trong chiến khu được xây dựng thành hệ thống có chỉ huy thống nhất. Mạng lưới thông tin nhân dân hình thành. Phong trào làm hàng rào xung quanh xóm ấp, dọc sông Đồng Nai, làm vật cản trên sông phát triển. Công tác phòng gian, bảo mật, chống gián điệp bước đầu thực hiện có kết quả.


Công tác bảo đảm an toàn trong chiến khu còn bao gồm cả việc chống thú dữ, đặc biệt chống cọp Ba Móng. Cọp Ba Móng xuất hiện ở Chiến khu Đ sau trận đánh La Ngà. Đây là một con cọp rất tinh quái, lúc ẩn lúc hiện, lưu động liên tục trong khắp mọi góc rừng căn cứ. Ba Móng tấn công người bất kể ngày hay đêm, đang ngồi họp, làm việc, đi trên đường hay đang ngủ. Tính đến năm 1950, Ba Móng đã ăn thịt hơn 100 người. Sự hoành hành của Ba Móng gây nên tình trạng hoang mang, lo sợ và làm đảo lộn mọi sinh hoạt trong cản cứ. Nhân đó, dịch làm giả cọp Ba Móng để hù doạ tung tin thất thiết trong căn cứ địa. Ban căn cứ của Khu phải qui định chế độ sinh hoạt đặc biệt, phát động phong trào làm hàng rào chống cọp tấn công xung quanh nhà ở, hội trường, cơ quan làm việc. Các tổ diệt cọp được thành lập. Đến đầu năm 1950, Ban quân giới Khu dùng xác người chết làm mồi dưới có chôn mìn mới diệt được cọp Ba Móng.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:37:09 pm
Điểm nổi bật nhất trong hoạt động tác chiến đánh địch lúc này là phong trào diệt tháp canh địch.

Đến cuối năm 1949, hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch xung quanh Chiến khu Đ được xây dựng hoàn tất. Hệ thống tháp canh này trở thành các điểm quan sát khống chế liên hoàn xung quanh chiến khu, đồng thời là điểm tựa để từ đó chúng tổ chức thường xuyên các đội biệt kích đột nhập vào căn cứ. Diệt tháp canh địch trớ thành một đòi hỏi bức xúc của công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ lúc bấy giờ. Tại Chiến khu Đ, Phòng Tham mưu Khu 7 kết hợp với tỉnh đội Biên Hòa nghiên cứu tìm cách diệt tháp, tổ chức các lớp học đào tạo chiến sỹ đặc nhiệm phá tháp. Ban quân giới Khu chế tạo các loại mìn FT và Bê ta. Trận đánh tháp canh sụp cầu Bà Kiên (19-4-1950) thắng lợi đã mở ra khả năng phá chiến thuật tháp canh Đờ La-tua của địch. Chiến khu Đ trở thành nơi tổ chức huấn luyện cán bộ làm nhân cốt mở rộng phong trào diệt tháp canh ra khắp chiến trường miền Đông, miền Tây Nam Bộ, miền Trung và cả nước. Cách đánh đặc công hình thành, khởi từ nôi điểm Chiến khu Đ.


Sau thất bại chiến dịch Biên giới, mặc dù gặp hàng loạt khó khăn, tại Nam Bộ, thực dân Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện bình định, thực hành bao vây và chia cắt nhỏ các vùng, các chiến trường của ta, kiểm soát chặt chẽ Khu 8, cắt đứt Nam Bộ ra làm hai vùng tách biệt Đông và Tây. Tại Chiến khu Đ, ta gặp rất nhiều khó khăn. Cuối năm 1950, Bộ Tư lệnh Nam Bộ từ miền Tây chuyển về đứng chân tại Chiến khu Đ, nhưng do thiếu nguồn lương thực thực phẩm, nên sang đầu năm 1951 phải dời về Chiến khu Dương Minh Châu.


Để phù hợp với tình hình, giữa năm 1951 Trung ương Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trường, lấy sông Tiền làm ranh giới chia Nam Bộ thành hai phân liên khu Đông và Tây, tổ chức lại lực lượng, kiện toàn lãnh đạo các cấp. Công tác xây dựng căn cứ địa cho các vùng, phân liên khu vì thế càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định thành lập Ban Căn cứ địa Nam Bộ do đồng chí Nguyễn Văn Trí làm trường ban, xây dựng U Minh, Đồng Tháp Mười, Chiến khu Đ, Dương Minh Châu thành các căn cứ lớn của Nam Bộ. Chiến khu Đ từ là của tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Khu 7 được xây dựng thành một trong những căn cứ chính của toàn miền Nam.


Trên địa bàn Chiến khu Đ giờ đây rộng khoảng 3.700 ki-lô-mét vuông. Tỉnh Thủ Biên (Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập lại) thành lập huyện căn cứ Đồng Nai, huyện căn cứ Sông Bé. Các huyện căn cứ tổ chức lại các xã, thành lập các xã mới ở những vùng thưa dân, chia căn cứ địa thành các khu vực có đan xen giữa các xóm ấp dân cư với các cơ quan đơn vị kháng chiến, các nông trường (trại sản xuất), công trường (binh công xưởng)... Tại các khu vực đều có hệ thống nhà lắp ghép (bằng cây lá) với đường sá ngay thẳng thuận lợi. Tiểu đoàn bảo vệ căn cứ 295, Tiểu đoàn chủ lực khu 303 phối hợp với đại đội bộ đội địa phương huyện căn cứ Nguyễn Văn Nghĩa và du kích các xã để bảo vệ căn cứ, phân chia khu vực phụ trách và hợp đồng tác chiến chống càn.


Lần đầu tiên, công tác xây dựng căn cứ địa được chú trọng thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ. Kết quả của những hoạt động nêu trên đã tạo điều kiện quan trọng về địa bàn và thực lực để quân và dân miền Đông bước vào thời kỳ gay go hơn trong giai đoạn cùng cả nước “tổng phản công”.


Tháng 10 năm Nhâm Thìn (1952), một trận bão lớn chưa từng có ập đến miền Đông Nam Bộ, và sau đó gây nên nạn úng lụt nghiêm trọng. Chiến khu Đ bị tàn phá nặng nề. Gần như toàn bộ cây lương thực hoa màu bị xoá sạch. Các kho tàng cất trữ lương thực thực phẩm thuốc men, quân trang, sách báo bị mục mốc. Vũ khí đạn dược bị gỉ sét, hư hỏng. Nhân đó, giặc Pháp liên tục càn quét vào Chiến khu, tuyên truyền chiêu dụ chiến sĩ cán bộ ta ra đầu thú. Lời ca “gió mưa lật đổ mái nhà, bao nhiêu gia đình tan hoang, đau thương lệ rơi chứa chan” trong ca khúc “Lên ngàn” của nhạc sĩ Hoàng Việt nhằm ghi lại một phần khó khăn ở miền Đông Nam Bộ sau trận bão lụt lịch sử này.


Lịch sử Chiến khu Đ trong giai đoạn sau bão lụt đến mùa thu năm 1953 là lịch sử chống đói, chống càn, chống chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch, chống tư tưởng dao động thoái chí trước gian khổ, giữ vững Chiến khu. Đây là giai đoạn khó khăn ác liệt nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Chiến khu Đ. Sự tồn tại vững vàng của chiến khu qua giai đoạn thử thách này có ý nghĩa rất quan trọng, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của cuộc kháng chiến, giữ vững lòng tin của đồng bào, chiến sĩ tại Chiến khu cũng như ở vùng tạm chiếm nông thôn và thành thị khác đối với sự nghiệp kháng chiến.


Từ cuối năm 1953, thực dân Pháp buộc phải tập trung lực lượng ra chiến trường miền Bắc. Tại Nam Bộ, chúng tiếp tục điều rút quân, thế vào đó những tiểu đoàn nguỵ quân được thành lập vội vã, thiếu tinh thần và kinh nghiệm chiến đấu. Hoạt động quân sự của địch quay về thế phòng ngự bị động. Xung quanh Chiến khu Đ, địch tiếp tục rút 3 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh và cơ giới. Lực lượng còn lại chỉ đủ giữ các đường giao thông, các cửa ngõ hiểm yếu và hành động càn quét nhỏ. Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam về “chuẩn bị đón lấy thời cơ mới” đã đề ra 3 nhiệm vụ chính: Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố và mở rộng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác địch nguỵ vận. Riêng về công tác căn cứ địa, Bộ Tư lệnh Phân liên khu ban hành một nghị quyết án chuyên đề hướng dẫn nội dung công tác củng cố và mở rộng các căn cứ trên địa bàn phân liên khu.


Các lực lượng vũ trang sau khi khắc phục nhược điểm dồn về chiến khu, bỏ trống địa bàn du kích và tạm bị chiếm và thích “ăn to đánh lớn” đã tổ chức lại thành những đơn vị phù hợp, toả về làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh ở cả ba vùng kháng chiến. Đầu năm 1954, vùng chiếm đóng của địch càng thu hẹp lại. Ta tích cực mở rộng Chiến khu Đ thành một vùng rộng lớn, phía bắc giáp đường 14, phía nam và phía đông nam giáp sông Đồng Nai, phía tây giáp đường 16 và liên tỉnh lộ 1A, phía đông lên đến Tà Lài. Từ Chiến khu Đ, đường liên lạc vận tải lên Long Nguyên, Dương Minh Châu, xuống Vĩnh Cửu, Long Thành, Rừng Sát, sang Bà Rịa, Xuyên Mộc... được mớ ra thông suốt. Tiểu đoàn vận tải 320 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, nguyên hoá liệu, tài liệu sách báo, vải vóc, tiền vàng từ bến Hàm Tân (Bình Thuận) về Chiến khu Đ, góp phần nối thông hành lang vận tải chiến lược từ Trung ương đến các chiến trường Nam Bộ.


Trong chiến khu, ta xây dựng một “xã hội Việt Nam mới” có chính quyền cách mạng, các đoàn thể, có tạm cấp ruộng đất và nền kinh tế kháng chiến độc lập, có cuộc sống văn minh với phong trào bổ túc văn hoá, văn nghệ thể thao... Tất cả tạo thành một hình mẫu xã hội lý tưởng, trở thành niềm tự hào, nơi hướng về của hàng triệu đồng bào khắp mọi vùng kháng chiến.


Và, thực tế ấy có lúc thuyết phục lớn lao trong công tác địch nguỵ vận ở xung quanh địa bàn Chiến khu Đ, đồng thời tạo thế và lực cho các đơn vị vũ trang mở một cao trào phối hợp với chiến trường miền Bắc, miền Trung và Lào, tiến tới đè bẹp hoàn toàn lực lượng quân xâm lược Pháp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ trong suốt 9 năm ròng rã.


Từ là căn cứ địa của một đơn vị vũ trang tỉnh Biên Hoà, Chiến khu Đ dần dần được xây dựng phát triển thành căn cứ địa của Khu 7 và toàn Nam Bộ. Kết quả hoạt động của Chiến khu đã góp một phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Và nó chuẩn bị những nhân tố cơ bản về giá trị tinh thần và lực lượng vật chất để trở thành tiền đề một căn cứ lớn ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau đó.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:40:31 pm
CHI ĐỘI 1 VÀ DÂN QUÂN THỦ DẦU MỘT

Nguyễn Văn Kiệp


Ngay khi chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền, bên cạnh lực lượng chính trị hùng hậu, Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu với quân địch bảo vệ quần chúng khi khởi nghĩa nổ ra.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thành lập, ở Thủ Dầu Một một số đơn vị lớn được tập trung thành lập Chi đội 1 và trong quá trình chiến đấu, Chi đội 1 trở thành nòng cốt và là chỗ dựa vững chắc trong việc xây dựng phong trào dân quân, tiến hành du kích chiến tranh, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân, đấu tranh toàn diện với quân địch.


Các đại đội của chi đội trong phạm vi chiến trường mình phụ trách, tùy theo khả năng và điều kiện đã huấn luyện và trang bị, tham gia xây dựng và củng cố các đội du kích và các đội du kích đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bộ đội đánh du kích bảo vệ dân, bảo vệ chính quyền, tiêu hao tiêu diệt địch mọi nơi mọi lúc bằng mọi cách khiến cho địch phân tán, bị động, rối loạn, mệt mỏi tạo điều kiện cho bộ đội đánh lớn tiêu diệt địch.


Từ giữa năm 1946 đến giữa năm 1947, không thể nào kể được đầy đủ nhưng tôi còn nhớ được ở Lái Thiêu - Đại đội 1, có các đội du kích như Hòa Lân (An Thạnh), Hưng Định... khống chế phân chi khu Búng, Tân Phước Khánh, Tân Hóa Khánh, Bình Chuẩn đối đầu với lính Cao Đài Tân Khánh. Bao quanh chi khu Lái Thiêu cũng có sự hoạt động của du kích Vĩnh Phú, Phú Long nhất là du kích Tân Thới.


Ở huyện Châu Thành - Đại đội 2, hoạt động xung quanh tiểu khu Thụ Dầu Một và căn cứ Phú Lợi đã có du kích Phú Cường, Chánh Hiệp, Định Hòa, Phú Hòa, Phú Hữu... các đội du kích Phú Chánh, Vĩnh Tân... bảo vệ địa phương và góp phần tích cực bảo vệ căn cứ Vĩnh Lợi.


Đại đội 3 hoạt động ở chiến trường Bến Cát - Hớn Quản, tổ chức các đội du kích Thới Hòa, Mỹ Phước, Chánh Phú Hòa thường xuyên gây rối, uy hiếp đánh nhỏ lẻ địch ở chi khu Bến Cát. Riêng chiến trường Hớn Quản là nơi gian khổ nhất, các đội du kích Tân Khai, Tân Lập Phú... vẫn thường xuyên hoạt động quanh huyện.


Các đường giao thông huyết mạch như đường 14 Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, đường 13 Sài Gòn - Lộc Ninh... khi qua địa phận Thủ Dầu Một, giặc thường bị các đội du kích ven lộ uy hiếp, quấy rối.

Qua giữa năm 1947, dân quân được phát triển mạnh, được tổ chức thành hệ thống và chỉ huy thống nhất, ủy viên dân quân tỉnh kiêm Tỉnh đội trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Văn Tiết, Bí thư Tỉnh ủy kiêm nhiệm, ở các huyện thường là đại đội phó (tiểu đoàn phó) biệt phái. Ủy viên thường vụ huyện ủy hoặc huyện bộ Việt Minh làm chính trị viên. Hầu hết các xã đội đều có đội du kích, mỗi ấp có đại đội dân quân tự vệ. Được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy Đảng, sự chi viện hỗ trợ tích cực của Chi đội 1, phong trào dân quân, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, xứng đáng với vị trí vai trò lực lượng chiến lược của nó. Lực lượng địch trong tỉnh bị căng kéo phân tán, bị bao vây quấy rối ngày đêm. Nhiều nơi ta xây dựng được ấp, xã chiến đấu có rào rấp công sự, đường hầm kèm lựu đạn chông mìn...


Phong trào dân quân tự vệ phát triển mạnh, các đội du kích có súng bén và đánh giỏi và đã tạo thêm điều kiện cho Chi đội 1 phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chiến trường (tháng 3 năm 1948. Chi đội 1 đổi thành Trung đoàn 301). Đặc điểm nổi bật là trung đoàn có được nguồn bổ sung quân số đã qua chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu. Các chỉ huy sở của trung đoàn (Thuận Giao) và các chỉ huy sở tiểu đoàn được bảo vệ từ xa. Nhiều nhân mối địch vận do dân quân tự vệ và du kích móc nối trực tiếp phục vụ trung đoàn.


Để phát huy rộng rãi công tác huấn luyện tuyên truyền giáo dục dân quân về chiến tranh nhân dân, đi đôi với việc mở trường huấn luyện cán bộ dân quân (xã An Điền - Bến Cát) do đồng chí Nguyễn Oanh, Thường vụ Tỉnh ủy làm Ủy viên chính trị, Tỉnh ủy đã cấp ngân sách cho tỉnh đội phát hành một tờ báo Dân Quân, mỗi tháng một kỳ từ 800 đến 1.000 số. Tòa soạn của báo đặt chung với tòa soạn báo “Việt Nam tiến” do đồng chí Nguyễn Chí Trung chủ trì. Chính tờ báo đó đã đi vào đời sống của dân quân. Đến kỳ mà chưa nhận được báo, các xã đội đã phái dân quân về tận tòa soạn yêu cầu được cấp trực tiếp và kịp thời.


Tháng 7 năm 1948, tại cuộc hội nghị dân quân ở Quân khu Đông Thành (Giồng Lức - Quéo Ba) do đồng chí Lê Minh Định ủy viên dân quân Quân khu chủ trì, Tỉnh đội Gia Định và Tỉnh đội Thủ Dầu Một được biểu dương và được thưởng một số tiền. Với số tiền đó, trên đường về qua các xã đội của huyện đội Bến Cát và huyện đội Châu Thành, đại diện tỉnh đội đã tùy theo đặc điểm mỗi nơi mà trích thưởng cho các xã đội lập nhiều thành tích.


Hồi tưởng lại những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Đông Nam Bộ, qua phong trào dân quân thời ấy thấy nổi lên hình thái một cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện, với vai trò của Chi đội 1 (Trung đoàn 301) đơn vị hướng dẫn hỗ trợ giúp đỡ tích cực và không mệt mỏi cho phong trào, đồng thời cũng là lực lượng đánh những đòn quyết định một khi dân quân và du kích đã tạo được tình huống thích hợp. Điều đó phù hợp với vấn đề đã rút ra “Muốn tổ chức một cuộc chiến tranh chống xâm lược, phải phát huy sức mạnh của toàn dân... vai trò tác chiến du kích có ý nghĩa chiến lược... Kết quả của từng trận đánh tuy không lớn nhưng nếu gộp lại thì rất to lớn. Nhưng nếu chỉ tác chiến du kích không thôi thì quân địch không thể bị chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận nên phải có bộ đội tập trung... Mỗi quan hệ giữa nhân dân, du kích và chủ lực là mối quan hệ hữu cơ, nếu tách rời nhau thì sẽ không duy trì được cuộc khảng chiến lâu dài và thắng lợi”.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:43:38 pm
PHÁ “CHIẾN KHU MA” BÌNH QUỚI TÂY


Nguyễn Văn Thi


Từ năm 1946, thực dân Pháp chủ trương tách Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam tổ chức cái gọi là “Nam Kỳ tự trị”. Để phục vụ cho chiến lược đánh nhanh thắng nhanh kết thúc vào mùa thu năm 1947, chúng tuyên truyền lừa bịp, thu hút lực lượng trong các nhóm đảng phái phản động, trong các tôn giáo như Thiên chúa, Hòa Hảo, Cao Đài... thành lập “mặt trận quốc gia liên hiệp” xây dựng các khu quốc gia nhằm tạo thêm lực lượng và cơ sở xã hội, chia rẽ hàng ngũ kháng chiến.


Thủ tướng chính phủ “Nam Kỳ tự trị” Nguyễn Văn Thinh tự sát, Nguyễn Văn Xuân thay thế rồi đến Lê Văn Hoạch - người của giáo phái Cao Đài Tây Ninh, Hoạch không tồn tại được bao lâu do có nhiều nguyên nhân mà một trong số nguyên nhân hàng đầu là hắn thiếu chỗ dựa vững chắc. Con chủ bài của hắn là lực lượng Cao Đài nhưng nhiều tín đồ đã đi kháng chiến hoặc hướng về kháng chiến, số nằm trong lực lượng vũ trang ở các đồn bót thì bố ráp, càn quét, giết chóc... tự chúng đã làm lộ bộ mặt mị dân của chúng, không có sức thu hút đạo hữu và quần chúng. Từ đó vấn đề đặt ra cho Hoạch và bộ tham mưu của hắn là nếu muốn tranh giành và giữ vững ngôi thứ trong hàng ngũ tay sai cho thực dân Pháp, cần phải dựa vào chủ trương của quan thầy lôi kéo cho kỳ được các đạo hữu đang tham gia kháng chiến thành lập “quân đội quốc gia”, dựng lên một “chiến khu” của quốc gia. Theo chúng khi chiến khu này hình thành và phát triển, chắc chắn sẽ có sức hút mạnh mẽ. Không chỉ riêng các tín đồ Cao Đài mà cả quần chúng còn đang lưng chừng chưa biết ngả về phía nào.


Chủ trương này phù hợp với âm mưu bình định, “dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp nên chúng ra sức tạo điều kiện cho bọn Hoạch nhanh chóng thực hiện.


Để có một căn cứ khả dĩ xây dựng “chiến khu” đáp ứng được yêu cầu chính trị và quân sự, sau một thời gian nghiên cứu, chúng chọn Bình Quới Tây. Hồi ấy Bình Quới Tây còn là một xã nằm ở ven đô Sài Gòn - Gia Định (hiện nay là khu vực của mấy chục lô nhà tầng cư xá Thanh Đa cùng với những biệt thự và nhà hàng sang trọng), được vòng cung sông Sài Gòn bao quanh và thông nhau bằng một nhánh sông có chiếc cầu sắt bắc qua, nối dài một con đường đá đỏ chạy thẳng ra bến đò Bình Quới, mà phía bên kia thuộc địa phận của huyện Thủ Đức. Chúng thấy nơi đây là nơi có thể thu hút sự chú ý của các tầng lớp nhân dân ở thành thị và nông thôn, vừa có điều kiện phòng thủ vững chắc vừa cơ động được dễ dàng.


Một đại đội lính Cao Đài Tây Ninh đã được đưa về với 5 khẩu súng máy, một khẩu cối 60 ly, hàng trăm súng trường và tiểu liên loại tốt. Tại chiếc cầu sắt duy nhất địch đặt một tháp canh vừa canh cầu vừa phải canh giữ một ống dẫn nước từ bên ngoài đưa vào khu vực này. Khi nào chúng mở vòi, người Bình Quới mới có thế lấy nước sạch để dùng. Bến đò Bình Quới cũng đặt một chốt gác thường xuyên. Bên cạnh doanh trại dọc ngang phòng tuyến của lính, còn có một nhà giam và khu gia binh. Xung quanh khu này địa hình sình lầy trống trải, lác đác mấy xóm nhà dân ở ven sông. Để “chiến khu” được hấp dẫn, địch dự kiến sẽ xây dựng một khu phố có cả chợ và trường học... Rõ ràng Bình Quới Tây là một ốc đảo hết sức an toàn. Ngoài đánh vào nhất thiết phải vượt qua những bãi sình, lầy và sông rộng, hành quân bộ thì chỉ vận động theo mỗi một con đường độc đạo có chiếc cầu sắt đã được chốt chặn. Mặt khác, khi quân vào cũng như khi quay ra phải vượt qua hơn chục cây số dày đặc đồn bót.


Đầu năm 1947, cấp trên cũng đã theo dõi nắm chắc được âm mưu và ý đồ của chúng nên điện khẩn cho Chi đội 1 (cụ thể là tôi) “phải, gấp rút bằng mọi cách đập tan âm mưu này ngay khi đang còn trong trứng nước không để cho chúng giành dân lấn đất, giành ảnh hưởng chính trị trong quần chúng”.


Chấp hành lệnh trên, sau một thời gian trinh sát, nghiên cứu, cân nhắc kỹ càng, tôi báo cáo và đề nghị mấy phương án tác chiến:

Một là cườnq tập: Phải sử dụng ít nhất hai tiểu đoàn và phải chấp nhận từ 30 đến 50 ca thương vong. Đó là chưa nói đến tình huống bị địch đánh chặn trên đường tiềm nhập hoặc trên đường rút lui từ Bình Quới về khu Thuận An Hòa.

Hai là kỳ tập: Sử dụng mấy tổ biệt động thực hiện. Mà dầu lực lượng biệt động có tinh nhuệ đến mấy cũng khó mà vượt sông nhanh, thọc thật sâu vào căn cứ tiêu diệt một lực lượng địch được trang bị khá mạnh.

Cho nên chỉ còn một cách thứ ba: Là dùng phương thức “nội ứng ngoại hiệp” đánh từ bên trong ra là chính, vừa chắc tay vừa tiết kiệm được xương máu. Tất nhiên nếu dùng cách này đòi hỏi thời gian và sự khéo léo đưa người của ta vào “chiến khu”, tạo điều kiện cho chín mùi thì ra tay, phá trận ngay trong một trận.

Cách thứ ba này được trên phê duyệt.


Cài người vào “chiến khu quốc gia” của Lê Văn Hoạch trong bối cảnh lúc bấy giờ có điều nghịch và cũng có cái thuận mà “thuận” là chính. Địch độc hiểm, luôn luôn cảnh giác đề phòng nhưng ta biết “lượn theo chiều gió, dùng gậy ông đập lưng ông”, nói cách khác là ta dựa vào âm mưu của chúng cố thu người mà đưa người của ta kể cả các tín đồ Cao Đài tham gia kháng chiến về “cộng tác” với chúng.


Tôi và anh Lê Đức Anh nhất trí cần phải thực hiện việc này từng bước mà đầu tiên phải đưa người vào bộ tham mưu của Hoạch. Có người của ta trụ vững trong cơ quan đầu não mới hỗ trợ được cho việc thực hiện các bước tiếp theo. Mà số người “trở về” cũng phải đến 1 đại đội. Đầu có xuôi đuôi mới lọt.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:45:30 pm
Tôi báo cáo anh Sáu Tiết, Bí thư Tỉnh ủy. Anh chậm chạp vấn điếu thuốc rê rồi gật gù:

- Được, nghe được. Có điều rồi đây chính anh phải nắm trong tay hàng trăm tánh mạng đồng chí, đồng đội cho nên phải bí mật, tỉnh táo, không được phép để sai sót.


Để thực hiện bước đầu, chúng tôi điểm qua cán bộ chỉ huy các cấp, cân nhắc mạnh yếu của mỗi người, cuối cùng chọn Hoàng Của đang là tham mưu phó phụ trách quân báo của Chi đội 1. Anh nắm chắc địch tình, khéo léo nhanh nhạy, giao du rộng, quen biết nhiều trong các giới và có kinh nghiệm trong ứng xử. Đặc biệt anh là một tín đồ Cao Đài, năm 1946 để né tránh bàn tay nham hiểm của địch, đã trực tiếp đưa hàng trăm đạo hữu xuống sản xuất ở vùng ven Đồng Tháp Mười, được nhiều cảm tình của đông đảo tín đồ. Thế là tôi cho gọi Hoàng Của. Sau khi nói qua âm mưu của địch và chủ trương của ta, tôi cầm tay Hoàng Của:

- Ba Của có dám nhận nhiệm vụ đi đầu không. Nguy hiểm đó!

Hoàng Của đứng bật dậy:

- Thưa anh Năm, tôi làm được. Tôi coi nhiệm vụ này là của cấp ủy và của anh tin tưởng giao cho. Phải vào hang cọp mới bắt được cọp. Tôi sẽ có cách.

Sau mấy ngày đi Tây Ninh, Hoàng Của quay về với vẻ mặt hớn hở:

- Được rồi anh Năm. Tôi đã qua trung gian móc nối với văn phòng của Lê Văn Hoạch. Bọn này vốn đang háo hức với kế hoạch “chiến khu quốc gia”, nên khi nghe tôi phác qua viễn cảnh vận động đưa đạo hữu từ trong kháng chiến trở về, chúng “đớp” ngay, phù hợp mà; hiện họ đang tìm mọi cách xác minh về bản thân tôi song tôi đã bịt chặt các đầu mối, không thế rò rỉ những gì có thể bất lợi. Cứ tin tôi đi.


Quả thật, chỉ một thời gian ngắn sau đó, kế hoạch Hoàng Của được chấp nhận và Hoàng Của trở thành thành viên trong Bộ tham mưu của Hoạch.


Qua được cửa ải đầu tiên và cũng là rất quan trọng này, việc cài người được triển khai rộng nhưng không có vẻ gì vội vàng khiến cho địch nghi ngờ. Đầu tiên vào cuối tháng 3 năm 1947, tôi chọn 4 đồng chí gồm Bảy Thanh, Xuân, Ty và Mười Tài đều là những cán bộ trẻ, năng nổ xông xáo và gan dạ. Anh em đang đá bóng ở sân Thuận Giao, tôi cho gọi về, trà nước xong tôi nhìn các đồng chí, hỏi:

- Này, có chịu đi công tác không?

- Công tác gì anh Năm? Bảy Thanh cất tiếng.

- Công tác đặc biệt - được không?

- Sẵn sàng - các anh em trả lời.

- Vậy thì ngay bây giờ tách ra khỏi Chi đội, về quân báo chịu sự chỉ huy của Hoàng Của. Việc tới đâu biết tới đó.


Bốn anh đứng dậy, nhìn gương mặt người nào cũng sáng láng, thông minh hăm hở, tôi mừng mà sao trong lòng cũng thấy nao nao!


Theo kế hoạch đã vạch, bốn anh này ra văn phòng đại diện Cao Đài thị xã Thủ Dầu Một. Đã được Hoàng Của báo trước, văn phòng này cấp cho mỗi người một giấy giới thiệu về công tác với “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây. Tới nơi, các anh này thấy đại đội lính Cao Đài trấn giữ “chiến khu” đang ráo riết xây dựng lán trại nói là để đón tiếp các đạo hữu từ trong bưng biền trở về. Đế tạo điều kiện cho các anh Thanh, Xuân, Ty, Tài dễ dàng đi lại nghiên cứu nắm tình hình Hoàng Của đã “gà” văn phòng của Hoạch cấp cho họ “giấy thông hành công lệnh” có chữ ký của Hoạch và đại diện phòng nhì của Pháp. Loại giấy này rất mạnh, đi khắp Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và các tỉnh lân cận, không một sắc lính nào dám đụng đến!


Thấy các anh em lọt vào tổ chức địch, đã đứng được, đầu tháng 5 năm 1947, tôi cho thực hiện đợt hai. Đợt này tôi cho lấy một số du kích được trui rèn trong đó có một số là tín đồ Cao Đài ở các địa phương như Thuận Giao, Hòa Lân, Bình Chuẩn, Bình Hòa, An Sơn, An Phú Xã... Sở dĩ đợt này tôi chọn du kích trong đó có tín đồ Cao Đài vì họ ở những địa phương khác nhau, chiến đấu giỏi, giặc đến họ đánh, giặc rút họ trở về với công việc thường ngày, bộ máy xác minh của địch dù mạnh tới đâu cũng khó mà mò ra tung tích và lai lịch đầy đủ của họ.


Các đợt tiếp theo, tôi chọn thêm một số chiến sĩ Đại đội 1 để làm nòng cốt, đặc biệt là lấy 5 xạ thủ súng máy thuộc loại cừ để chủ động về sau.

Đợt cuối, với những tay súng trường, tôi đưa theo đồng chí Tám Lãnh - Đội trưởng một đội biệt động mưu trí, dũng cảm, đã nhiều lần đụng độ với địch ngay trong thị xã Thủ Dầu Một.


Nơi thực hiện việc đưa rước là Gò Chùa Đồng An. Tôi chọn nơi này là vì bà con Đồng An vốn có bề dày truyền thống, một lòng một dạ với cách mạng, chỗ giao nhận lại là một nơi vắng vẻ, đêm tối rất ít người qua lại. Bên giao có Trần Lương (Trần Hải Phụng), Trần Minh Phú. Bên nhận có mấy người trong đó theo tin tình báo có đại tá Thanh Phong trong bộ quần áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, tay cầm đèn pin ngập ngừng chớp tắt. Việc đưa đón diễn ra từ 11, 12 giờ đêm. Những người tham dự làm việc như bộ máy đã được phát động, không ai nói với ai một câu nào.


Những người ra đi người nào cũng có một khẩu súng trường cũ kỹ hoặc lủng lẳng vài ba quả lựu đạn. Ngồi trên xe chăng bạt bịt bùng... dưới những cơn mưa tầm tã, một số anh em ta sợ và lo không biết đi đâu và làm gì chỉ biết đây là một công tác đặc biệt. Mãi khi tới chỗ gặp lại những khuôn mặt những người thân quen cũ, nỗi lo canh cánh bên lòng của họ mới được vơi dần.


Tính ra cả mấy đợt cài người, quân số bên ta đã hình thành một đại đội hơn 100 người gồm: du kích, tín đồ, bộ đội, biệt động với hơn 20 đảng viên, có cán bộ chỉ huy là bốn anh đi đợt đầu tiên, có trinh sát giao liên và đầy đủ các bộ phận phục vụ khác. Riêng về vũ khí thì chỉ có không đến 20 khẩu súng trường (sau này mới bí mật đưa thêm 2 tiểu liên Thompson).


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:49:02 pm
Sau một thời gian ăn tập, anh em được lãnh sinh hoạt phí và được phân công công tác.

Hoàng Của bây giờ là tham mưu trưởng “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây. Anh được tín nhiệm đến như vậy là vì trong bộ tham mưu của Hoạch, chỉ có kế hoạch “chiến khu quốc gia” của anh là hấp dẫn, đầy sức thu hút. Không riêng gì đối với Bình Quới Tây, anh còn trình bày cả kế hoạch xây dựng chiến khu ở Vĩnh Long để “móc nối” với các đạo hữu kháng chiến ở đồng bằng sông Cửu Long.


Do có bàn tay của Hoàng Của, bên ta được phân công quản lý và hoạt động trong khu vực ven sông Sài Gòn, thay chúng chốt bến đò Bình Quới. Đại đội Cao Đài Tây Ninh chỉ phụ trách từ cầu sắt trở vào đến khu doanh trại và lân cận.


Ăn ở, canh gác tuần tra, chốt chặn chốt điểm, anh em ta không ngại, chỉ sợ nhất là khi Tây Ninh yêu cầu phối hợp hai bên đi ruồng bố, càn quét vùng bên kia sông. Quân đội cách mạng làm sao lại đi đánh đập, mắng chửi, bắt bớ đồng bào mình cho được. Vậy mà không làm theo chúng thì sẽ bị lộ, đành phải đóng kịch: la ó, hò hét, vung tay vung súng vãi đạn lên trời. Vừa đóng kịch vừa lén gạt nước mắt. Mỗi lần bên Tây Ninh giao người cho ta đem về nhà giam, trên đường đi ta tìm đủ lý do để giải thoát cho họ dần, chỉ giữ chặt những tên tình nghi là chỉ điếm. Vậy mà địa phương cũng báo cáo lên trên “hơn 1 trăm lính Chi đội 1 đầu hàng ở chiến khu ma đang phá phách cơ sở của Thủ Đức”.


Một hôm, Hoàng Của bí mật trở về căn cứ. Câu đầu tiên tôi hỏi anh:

- Tây Ninh trang bị cho bên ta chưa?

- Thưa chưa thấy có kết quả cụ thể, hình như chúng còn tiếp tục dò xét và thử thách ta.

- Dầu sao ta cũng chẳng chờ đợi, hễ đứng được rồi thì chuyển sang giai đoạn chuẩn bị chiến đấu.

- Chính vì vậy mà hôm nay tôi về xin chỉ thị của anh.

Rồi Hoàng Của trải bản đồ Bình Quới Tây, khum bàn tay trái đặt lên khu vực đồng trại, cất tiếng:

- Anh xem, trước nay ta ở tạm, bây giờ ta đã đứng vững, để chuyển giai đoạn, cần phải bố trí doanh trại thế nào cho hợp lý. Nếu đóng riêng biệt một khu biệt lập thì thiếu thế tấn công, còn xếp với bên họ thành hình chữ L tầm quan sát và hiệu lực ứng phó bị hạn chế.

Tôi nhìn theo tay của Hoàng Của, hỏi:

- Sao không bố trí mặt đối mặt?

- Tôi có nghĩ đến song nếu ở trong thế như anh nói, lúc nào đội hình ta cũng nằm trực tiếp dưới tầm quan sát của chúng, nhất cử nhất động đều không tránh khỏi những cặp mắt lúc nào cũng xoi mói của đối phương.


Chuyển sang giai đoạn chuẩn bị hành động, việc bố trí đội hình của lực lượng là một bước bày khai thế trận, cần phải tính toán từng ly từng tí không được để sai sót ngay từ phút đầu tiên, tôi bảo Hoàng Của về trước, tôi sẽ tới tận nơi xem xét tận mắt địa hình địa vật, không những chỉ đạo về thế trận mà còn lo cho kế hoạch tiếp theo.


Qua chuyến đi này, tôi đóng vai trò tùy tùng của tham mưu trưởng, đến đâu cũng thấy Hoàng Của rất được trọng vọng, sĩ quan cấp dưới đứng nghiêm, lính gác đơn vị nào khi thấy anh đi qua đều bồng súng chào răm rắp.


Trước khi ra về, tôi quyết định đặt đội hình lực lượng ra mặt đối mặt với đối phương, khoảng cách giữa hai bên phải hơn trăm mét, tuy có chút bất lợi là bên kia có thế dùng ống dòm theo dõi ta nhưng ta có thuận lợi là chủ động nắm vững di biến động, sẵn sàng trong thế xông tới khi có lệnh và khi cần cũng có thế về phòng thủ, cho một cánh xuất kích đánh vòng vào lưng bọn chúng.


Về đến chỉ huy sở chi đội, tôi cho gọi Ba Thành phụ trách giao liên quân sự. Anh người nhỏ nhắn, rắn rỏi nhanh nhẹn, đã từng len lỏi lao lách trong vùng địch, có bộ ria mép mà cho đến mấy chục năm sau anh em ai cũng còn nhớ. Anh đến trình diện, nhìn tôi tỏ ý dò xét và sẵn sàng nhận lệnh. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt hóm hỉnh của anh:

- Gấp rút tổ chức một đường liên lạc bằng thuyền từ Lái Thiêu đến bến đò Bình Quới. Được chứ?

- Chở người hay chở hàng anh Năm?

- Cả hai. Mà phải thật chắc ăn.

Ba Thành đứng dậy:

- Xin anh Năm cho tôi vài ngày để nghiên cứu, sắp xếp.

- Ba ngày thôi, không hơn.

Ba Thành cười, bỏ nhỏ:

- Thật là găng, vậy anh Năm cho xin khẩu súng ngắn.

- Một khẩu súng ngắn và một số đạn dược.


Đúng ba ngày sau, Ba Thành trở về báo cáo đường liên lạc thủy đã thông suốt, có một số đồn trạm kiểm soát nhưng đảm bảo đi lọt. Anh xin tiền sắm một chiếc ghe ba tấn và xin ba trinh sát viên giỏi thủ vai tài công và bạn.


Liên lạc đường sông ổn định, tôi gọi Trần Lương (Trần Hải Phụng) yêu cầu chuẩn bị ngay một trung đội mạnh, bí mật khéo léo cho trinh sát xoi đường từ Vĩnh Phú đến bến đò Thủ Đức đối diện với bến Bình Quới, sẵn sàng móc ráp liên lạc với chốt gác của ta đang cắm tại đây.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:52:14 pm
Ngày 3 tháng 12 năm 1947, tôi nhận được điện của trên “xử lý ngay đối tượng X không được chậm trễ, để kéo dài sẽ phát sinh hậu quả xấu”. Vậy là trên chỉ thị phải tiêu diệt gấp “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây. Điện này đến không bất ngờ đối với tôi vì tôi đã chuẩn bị phương án tác chiến ngay từ khi bố trí đội hình trong doanh trại, có điều cho đến ngày đó chúng vẫn chưa chịu trang bị cho ta.


Sau khi bàn với anh Lê Đức Anh về kế hoạch thực hiện và báo cáo với anh Sáu Tiết, Bí thư Tỉnh ủy, tôi điện về trên “trong vòng 7 ngày tôi sẽ hoàn thành xong nhiệm vụ”.


Ngày 6 tháng 12, tại một khách sạn tại trung tâm Chợ Lớn, với danh nghĩa một bữa tiệc mừng làm ăn phát tài, tôi triệu tập một cuộc họp gồm Hoàng Của, Tham mưu trưởng Bình Quới Tây, Bảy Thanh cán bộ tham mưu, Xuân, Ty, Mười Tài chỉ huy lực lượng ta. Phổ biến xong mệnh lệnh của cấp trên và quyết tâm của chúng tôi, tôi nhìn anh em một lượt, cười:

- Làm được không nè?

Hoàng Của cũng cười:

- Nhất định phải được. Ta đã vào hang cọp và đã cỡi lên lưng nó rồi.

Tôi hỏi lại anh ta:

- Đã nắm chắc ban tham mưu và đại đội Tây Ninh chưa?

- Thật chắc rồi - Hoàng Của đáp với vẻ đầy tự tin.

Tôi quay sang ba anh em trong Ban chỉ huy lực lượng ta:

- Về ta, các anh thấy thế nào?

- Trăm người như một, anh em chúng ta có hơn một trăm trái tim và hơn trăm cái miệng, vậy mà đã mấy tháng rồi, bí mật vẫn được giữ vững mặc dầu kẻ địch ra sức dò xét, đánh hơi, thử thách.


Thấy ổn, tôi chỉ định Ban chỉ huy trận đánh gồm Hoàng Của chỉ huy trưởng, Bảy Thanh Chỉ huy phó phụ trách thông tin liên lạc và ba đồng chí Xuân, Ty, Tài trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang. Tôi ra chỉ thị cụ thể:

- Các anh thấy đó, ta đang ở thế chủ động, mạnh đoàn kết, mạnh ý chí. Vũ khí có kém thì ta tạo lực bằng cách tạo thời cơ thật thích hợp khiến chúng mất cảnh giác, bộc lộ sơ hở và ta sẽ chộp ngay sơ hở đó mà quật ngã chúng. Các anh cần chú ý là ta có ba cụm chiến đấu cần giải quyết. Một là Ban tham mưu - cơ quan đầu não điều hành căn cứ, phải đánh dập đầu rắn, nếu để chúng lọt lưới thế trận chúng ta sẽ bị đảo lộn ngay. Hai là tháp canh cầu sắt nếu trong khi ta ra tay mà nó còn đứng sừng sững đó, quân tiếp viện sẽ cơ động ứng cứu dễ dàng. Ba là người và vũ khí nguồn sinh lực của đôi phương. Mà ba cụm này phải bị hạ trong cùng một thời điểm. Nói cách khác là ba quả đấm thép phải giáng xuống cùng một lượt, cùng một lúc. Nghĩa là đúng ngày “N” giờ “G”, ba cụm này phải bị ta hạ gục, không được phép chệch choạc, không được phép sơ sẩy. Cuối cùng ta phải chọn giờ “G” thế nào vừa hạn chế tác dụng của quân cứu viện, vừa để ta rút khỏi chiến trường về căn cứ được an toàn. Nên nhớ ta mà làm ăn lụp chụp, nổ súng kéo dài, quân địch toàn thành phố và vùng lân cận sẽ báo động đỏ ngay.


Rồi chúng tôi giả say, bám vai bá cổ bàn thêm tình huống và nêu thêm các chi tiết còn vướng mắc cần phải tháo gỡ.


Tan “tiệc” về, hôm sau Hoàng Của đề nghị về Tây Ninh xin cho được tổ chức ăn mừng kỷ niệm ngày hòa nhập giữa hai lực lượng tại “chiến khu quốc gia”. Đề nghị đã được Lê Văn Hoạch chấp thuận và cho ngày 9 và ngày 10 làm lễ liên hoan.


Về phần tôi, đối với cấp trên và Chi đội 1, với bà con Thủ Dầu Một và Sài Gòn - Gia Định, đây là thời điểm quyết định cuối cùng qua bao nhiêu ngày, bao nhiêu anh em vì Tổ quốc, vì đạo vì đời mà xông vào tận sào huyệt của kẻ thù, nên tôi phải xuống tận nơi lần nữa đế kiểm tra thế trận đã bày và hạ đặt mệnh lệnh tác chiến. Thấy tôi bất ngờ xuất hiện trước giờ nổ súng, anh em hết sức phấn khởi. Những ánh mắt ngời sáng chan chứa niềm tin như ngầm thông cảm, ngầm hứa hẹn, ngầm đảm bảo sự thành công.


Ngày 9, hai bên vui chơi, ca hát, đánh cờ, múa lân. Hôm sau, đúng 14 giờ ngày 10 tháng 12 năm 1947, một trận bóng đá được khai mạc mà sân bóng là sân chào cờ nằm giữa doanh trại hai bên. Trận đấu diễn ra sôi nổi và hữu nghị. Qua hiệp 1, sau khi giải lao, hai bên đổi sân. Cổ động viên của bên nào thì theo về phía bên ấy. Và bây giờ, bây giờ đây đã đến lúc doanh trại của lực lượng Tây Ninh đang nằm sau lưng của bên ta tức là nằm sau lưng các cầu thủ và cổ động viên của ta.


Lúc này, ngay tại sở chỉ huy, Tham mưu trưởng Hoàng Của đang mở tiệc chiêu đãi 5 tên trong Ban tham mưu Bình Quới Tây, có sự tham dự của cán sự tham mưu Bảy Thanh. Hoàng Của liếc nhìn đồng hồ tay, biết là hiệp hai trận bóng đá bắt đầu. Chờ đúng 15 giờ 15 phút, anh đưa mắt cho Bảy Thanh và bất thình lình hai người vụt đứng lên. Súng ngắn của Hoàng Của vẩy vào hai sĩ quan tham mưu của đối phương, còn Bảy Thanh chụp Thompson hét to: “Tao bắn tụi mày”. 5 tên trong Ban tham mưu địch ngã vật ra.


Súng nổ tại Ban tham mưu đồng thời cũng là hiệu lệnh tấn công trên toàn mặt trận. Các cầu thủ bên ta vội ngưng chân bóng quay lại cùng các “cổ động viên” đồng đội ùa vào các giá súng, theo sự phân công từ trước, xạ thủ súng máy chụp lấy các khẩu súng máy, một tổ chiếm khẩu súng cối, rồi thì súng trường, lựu đạn... Xuân và Ty cầm tiểu liên đứng trấn hai cửa lớn, không để tên lính nào bên Tây Ninh nhào đến.


Súng đã có trong tay, anh em ta lao ra ngoài nhanh chóng dàn trận, nã đạn vào những tên ngoan cố, buộc một số đầu hàng và bắn đuổi số khác chạy ào vào vùng sình lầy. Cổng nhà giam được phá, mấy chục người được trả tự do, chĩ giữ lại mấy tên nội giám. Vợ con binh sĩ trong khu gia binh và số lính bị bắt sống, trước khi thả ngay tại chỗ đã được tập trung giải thích rõ về âm mưu của địch, chính sách tôn giáo và chính sách khoan hồng của cách mạng.


Rồi thì cả khu vực “chiến khu quốc gia” ngùn ngụt bốc cháy, về phía Tám Lãnh, trước giờ G, anh đã cùng một tổ có mặt ở tháp canh cầu sắt, họ đẩy xe đến chở nước như thường ngày và nhân tiện đưa rượu, thịt cùng số lính trong tháp canh tổ chức ăn mừng. Đang khi chén tôi, chén anh, nghe súng lệnh phát ra, anh cùng đồng đội hạ ngay các đối thủ, chiếm ngay ổ súng máy, gom lựu đạn súng trường, bịt chặt con đường độc đạo, sẵn sàng đánh quân tiếp viện (bộ phận của anh rút sau cùng).


Phần tôi, sau khi hạ đạt mệnh lệnh cuối cùng, tôi tỏ ý muốn ở lại với anh em trong giờ phút nghiêm trọng này nhưng cả ban chỉ huy trận đánh không ai đồng ý. Họ yêu cầu tôi phải tin ở anh em, nếu tôi mà có mặt tại trận, anh em sẽ phân tâm không tập trung hết tâm trí vào chiến đấu. Thế là tôi đành phải lên xe ra về. Đến cầu Bình Lợi, tôi nhìn đồng hồ: đã đúng giờ G. Liền đó súng nổ mấy tiếng, mấy phút sau nổ mấy loạt nữa rồi im bặt. “Ăn” rồi! Tôi nghĩ bụng như vậy. Thấy bọn lính trong đồn Bình Lợi bình chân như vại, tôi mừng thầm. Chắc bọn này cho những tiếng súng vừa rồi là những tiếng nổ quen thuộc mà ngày nào từ “chiến khu quốc gia” cũng vọng đến tai chúng đến phát nhàm, khỏi cần phải điện hỏi lôi thôi.


Tôi dự kiến cuộc chiến đấu có thể diễn ra trên dưới 30 phút, nhưng chỉ không đầy 10 phút, anh em đã làm chủ chiến trường. Từ đêm trước, tôi đã giao nhiệm vụ cho Trần Lương (Trần Hải Phụng) điều trung đội đã chuẩn bị xuống ém bên kia sông, bắt liên lạc với tổ chốt bến đò Bình Quới Tây, sẵn sàng chi viện cho bên trong nếu xảy ra bất trắc. Suốt đêm suốt ngày đơn vị đặc biệt này giấu mình trong mấy lùm dừa nước chịu cho muỗi cắn, chờ mãi mà không thấy gọi. Chỉ có liên lạc đường thủy là phải hoạt động. Cùng với chiếc ghe 3 tấn của Ba Thành nép mình chờ sẵn, ngay từ gần trưa ngày N (tức ngày 10 tháng 12), chốt gác của ta ở bến đò Bình Quới kêu xét và giữ lại một số ghe lớn. Mấy má, mấy chị chủ ghe giận dữ, bảo: “chốt gác này mọi khi hiền khô, bỗng dưng bữa nay trở chứng, chúng tôi tội gì mà bắt ghe, giữ hàng?”. Lính ta “trợn mắt”: “Mấy bà yên bụng đi, tin báo có ghe chở hàng cấm, cứ nấu cơm ăn rồi chờ đó, đợi chúng tôi báo cáo lên trên rồi tính”. Các má, các chị càu nhàu, cằn nhằn mãi, cho đến khi chiều xuống, hàng trăm quân ta cùng với chiến lợi phẩm từ trong “chiến khu” Bình Quới lao ra. Một cán bộ chỉ huy bắt tay làm loa: “Thưa đồng bào, xin lỗi các má, các chị, chúng tôi bộ đội và các đạo hữu, vâng lệnh cấp trên đã tiêu diệt hoàn toàn chiến khu ma Bình Quới. Bây giờ xin nhờ các má, các chị đưa chúng tôi sang sông”. Vậy là các má, các chị đổi giận làm vui, hoan hô vang dậy.


Có trung đội của Trần Lương mở đường, khoảng 3, 4 giờ khuya hôm ấy, anh em về đến Thuận An Hòa, không mất một người. Và cũng ngay sáng hôm đó, báo chí Sài Gòn chạy tít lớn “Trong mấy phút, chiến khu quốc gia đã bị xóa sổ trên đất Sài Gòn - Gia Định”.


Số vũ khí quân trang quân dụng thu được đủ trang bị một tiểu đoàn. Lực lượng Bình Quới Tây được xây dựng thành đại đội cơ đoàn của Chi đội 1.

Lúc bấy giờ Xứ ủy đang họp hội nghị mở rộng. Anh Lê Đức Anh chính trị viên Chi đội báo cáo chiến thắng Kinh Quới Tây. Cả hội nghị và đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy nhiệt liệt hoan nghênh. Sau này khi gặp tôi, sau cái bắt tay thân mật, đồng chí vỗ nhẹ vai tôi: “Các cậu đánh trận Bình Quới Tây rất hay".


Mấy ngày sau đó, chi đội tổ chức tuyên dương công trạng. Gia đình cán bộ chiến sĩ Bình Quới Tây được mời đến. Một số mẹ tưởng con đã hy sinh nên không cầm được nước mắt. Nhiều chị nghĩ rằng chồng mình khóng còn nữa nên đã vấn khăn tang. Chừng gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, con gọi mẹ, vợ nắm tay chồng, niềm vui không thể nào kể xiết. Ngay sau cuộc lễ, Ban chỉ huy Bình Quới Tây ra lời kêu gọi các đạo hữu, kêu gọi đồng bào, đừng có nghe theo lời đường mật giả nhân giả nghĩa của kẻ thù mà sa vào âm mưu chia rẽ, dùng người Việt đánh người Việt của kẻ thù. Lời kêu gọi có hiệu lực tức thì: đồn Cao Đài xã Phú Hòa và lính ở văn phòng đại diện Cao Đài thị xa Thủ Dầu Một đã vác súng trở về với cách mạng.


Vừa qua, tôi gặp lại chị Tư vợ của đồng chí Nguyễn Oanh nguyên Xứ ủy viên, năm 1943 được phân công phụ trách miền Đông, sau cách mạng tháng Tám là Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Thủ Dầu Một, hy sinh tại chuồng cọp Côn Đảo thời chống Mỹ. Chị nói với tôi: "Tôi ở tại Bình Quới mấy chục năm nay và cũng đã nhiều năm băn khoăn day dứt vì trận Bình Quới Tây kỳ diệu đến như vậy mà sao không dựng bia kỷ niệm để cho người sau được biết”. Tôi cười, không biết trả lời như thế nào cho phải, chỉ nói: “Chị thông cảm, diệt giặc là nhiệm vụ của chúng tôi, còn dựng bia kỷ niệm là việc của ngành bảo tồn bảo tàng”.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:53:12 pm
QUÂN Y VIỆN TRUNG ĐOÀN 301

Bảy Bua


Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị chuyển sang giai đoạn mới, nhằm phát triển quân đội để đáp ứng yêu cầu vào những năm 1947 - 1948, lực lượng vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một chuyển từ Chi đội 1 thành lập Trung đoàn 301. Từ đó, ngành quân y được tổ chức chấn chỉnh lại thành Ban quân y và quân y viện Trung đoàn 301. Bác sĩ Phạm Duy Thoan được giao phụ trách kiêm quân y viện trưởng. Quân y viện được thành lập giữa khu rừng ở Chòi Đúng chiến khu 2 - xây cất bằng cây rừng lợp tranh có 3 dãy nhà dành cho thương bệnh binh nằm, nhà mổ, có cả câu lạc bộ cho bệnh nhân sinh hoạt.


Tỉnh đưa anh Tám Sanh về làm chính trị viên, tổ chức bộ phận chuyên môn và không chuyên môn.
Trong công tác điều trị tận dụng khả năng hiện có, tổ đông y điều trị do anh Thi phụ trách, hoạt động đông - tây y kết hợp, điều trị một số bệnh nhân đạt kết quả tốt.


Trong điều kiện lương thực thực phẩm khó khăn, chế độ thương bệnh binh mỗi ngày được ăn 2 lon gạo, còn nhân viên được nửa lon gạo nấu trộn với khoai mì. Rau xanh thiếu thốn, trước tình hình trên, đơn vị tổ chức một tổ sản xuất 3 người trồng rau xanh do bác Chuộng phụ trách. Nhờ đó trong tuần có ba bốn buổi có rau xanh để cải thiện.


Lúc giờ lương thực càng ngày càng khó khăn, tất cả anh chị em nhân viên phải luân phiên tải gạo từ kinh Ba về, chỉ có bác sĩ viện trưởng và đồng chí chính trị viên bị thương tật không phải đi mà thôi.

Công tác tải gạo rất nguy hiểm vì phải đi qua đường ban đêm, vượt qua quốc lộ 13, đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh, địch thường phục kích. Anh chị em nhận thức: tải được gạo góp phần nuôi dưỡng thương bệnh binh, hơn nữa đi tải gạo được ăn no bụng. Công tác tải gạo có nhiều đơn vị bạn phải đổi bằng máu và có một số đồng chí cán bộ hi sinh trên đường 16.


Đầu năm 1948, quân y viện có nhà câu lạc bộ, có thư viện, có bàn pingpong, đặc biệt có ra tờ báo vui sống, xuất bản mỗi tháng một số, nội dung cũng khá hấp dẫn do anh Tám Sanh biên tập cùng anh em nhân viên đóng góp. Nội dung tuyên truyền phòng bệnh đường ruột, làm cầu tiêu kiểu mẫu, vệ sinh ăn đũa hai đầu. Việc này trong vùng đã thực hiện tốt. Tôi có nhớ có một bài viết khuyên không nên hút thuốc lá. Năm 1996, Nhà nước ta đã có văn bản hạn chế hút thuốc, vận động không hút thuốc lá.


Công tác vận động vệ sinh phòng bệnh được tiến hành rộng khắp và bằng nhiều hình thức, tổ tuyên truyền vệ sinh, tổ diễn kịch đốt lửa trại. Anh chị em nhân viên và vài bệnh nhân nhẹ tham gia, gây không khí vui tươi lành mạnh trong bệnh viện. Anh chị em trong quân y viện còn ra mấy xã đóng gần bệnh viện hoạt động tuyên truyền vệ sinh, cắt tóc, cắt móng tay, ăn đũa hai đầu, cầu tiêu vệ sinh, anh chị em còn diễn kịch được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng.


Về phần chuyên môn, ngoài công tác điều trị tại viện, ngoài đối tượng lực lượng vũ trang của tỉnh nhà, quân y viện còn tiếp nhận thêm thương bệnh binh công an dân chính đảng và các đồng bào kế cận khi bệnh tật được bà con chuyến tới.


Trong công tác điều trị, còn có tổ phẫu thuật lưu động phục vụ chiến dịch. Chiến dịch Thu - Đông năm 1947 mở màn, tổ phẫu thuật lên đường phục vụ, có bác sĩ Thoan, tôi và một số anh em nữa.


Trong trận đánh vào đoàn xe lửa chuyên chở quân sự, bác sĩ Thoan muốn góp phần mình trực tiếp chiến đấu, được chỉ huy bảy Cẩm cho phép anh mang theo khẩu tiểu liên, nằm gần đường xe lửa đi qua. Khi nghe tiếng mìn nổ lệnh thì lực lượng ta tiếp nổ vào các toa xe lửa phía sau, bác sĩ Thoan cũng nổ được một loạt súng vào quân thù và sau đó trở về với tổ phẫu thuật. Trận đánh này quân ta đánh hỏng nặng một đầu máy xe lửa, phá một số toa tàu, chết một số địch tuần tiễu bên dưới, sau đó địch tiếp viện đến, quân ta đánh trả và rút về căn cứ an toàn.


Song song với nhiệm vụ điều trị thương bệnh binh quân y viện Trung đoàn 301 còn tổ chức mở lớp đào tạo cứu thương cho các đơn vị trực thuộc, lực lượng vũ trang và các xã vùng lân cận. Sau 2 tháng học tập, anh chị em về đơn vị, địa phương bảo đảim phục vụ tốt, số lượng đào tạo 42 người.


Viện còn cử 5 nhân viên học lớp y tá khoá Pasteur, sau này có đồng chí trở thành bác sĩ như bác sĩ Tăng Văn Ngà (giờ đã về hưu), ba nhân viên học lớp y tá khoá Lê Văn Bờ, trong đó có bác sĩ Tư Tưng và bác sĩ Bảy Bua (đã nghỉ hưu).


Quân y viện trung đoàn, bảo đảm được yêu cầu lúc bấy giờ, hoạt động đảm bảo có hiệu quả gây được sự tín nhiệm của lãnh đạo và thủ trưởng của các đơn vị trực thuộc và bà con địa phương trong vùng.
Cũng cần nói thêm, yếu tố quan trọng thành công và có hiệu quả trên được sự lãnh đạo của Đảng bộ, đã kịp thời bồi dưỡng kết nạp một số đảng viên, thành lập chi bộ trực tiếp lãnh đạo bệnh viện.

Chi ủy lúc bấy giờ có 3 đồng chí:

- Anh Tám Sanh phụ trách Bí thư.

- Bác sĩ Thoan, Chi ủy viên.

- Tôi (Bảy Bua), Chi ủy viên.


Một yếu tố không kém phần quan trọng tạo sức mạnh và đưa Quân y viện của Trung đoàn 301 hoàn thành nhiệm vụ là sự đoàn kết gắn bó giữa cán bộ nhân viên, giữa anh em với lãnh đạo, mặc dù điều kiện vật chất thiếu thôn, có miếng xà bông chị em cũng chia nhau dùng, có gói thuốc lào anh em cũng chia nhau hút.

Vinh quang thay ngành áo trắng quân y
Góp phần xây dựng ngại gì gian lao
Thành quả gặt hái cũng đáng tự hào
Lòng tin trên hết làm sao cho tròn.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:53:47 pm
QUYẾT TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH

Nguyễn Thị Minh Tâm


Sông Đồng Nai nước đang mùa mưa chảy xiết, sáng tinh sương hơi nước bốc la đà. Như thường lệ vào buổi sáng quân y xá Đại đội B (Chi đội 10) đóng ở ven sông Đồng Nai, thuộc địa bàn Nom Trường (nay là Trị An) vẫn tiến hành công tác theo sự phân công của quân y xá trưởng. Sau khi chào cờ, người cho bệnh nhân ăn, người chuẩn bị thuốc men, hấp dụng cụ bông băng để lo điều trị cho thương bệnh binh. Tôi đang ngồi soạn thuốc, tính từ viên thuốc và ống thuốc (tôi giữ kho thuốc), gần tôi có các anh chị cứu thương đang cuốn bông băng chuẩn bị hấp để băng vết thương, bỗng nhiên có tiếng khóc: hu, hu, hu, và tiếng cười khúc khích. Tôi ngơ ngác chưa biết chuyện gì thì thấy anh Phạm Văn Ngự là quân y xá trưởng từ trại bệnh nặng đi lên, mặt đỏ hoe. Chị Bảy Hội (vợ anh Hai Sỹ) lại còn nói nhỏ: hôm nay có thương binh chết, không ai khóc nên tôi khóc, tình cờ anh Ngự nghe được, anh tức giận kêu toàn bộ nhân viên ra sân, đứng nghiêm dưới cột cờ, nói: Anh Nam là một đồng chí trẻ tuổi, gan dạ, đã cùng anh Đinh Quang Ân (Trung đội trưởng Trung đội 4, anh Ân chiến đấu vô cùng dũng cám. Khiếp sợ trước tài trí và sự dũng cảm của anh, giặc Pháp tôn anh là con hùm xám đất Xuân Lộc) đánh giặc từ đồn điền cao su Bình Lộc qua Ma Thiên lãnh (Cây Gáo), không may anh bị thương, đạn xuyên cột sống nên anh Nam bị liệt toàn thản. Và sáng nay anh đã hy sinh. Tại sao các anh chị không đau xót lại giả khóc cười trong sự đau thương? Hôm nay tôi cảnh cáo đứng cột cờ 15 phút, nếu anh chị nào còn tái phạm sẽ đuổi khỏi Quân y xá.


Toàn bộ đơn vị đứng nghiêm để nhận kỷ luật, lúc ấy tôi mới vỡ lẽ ra, do chị Hội giả khóc và các anh chị khác cười nên toàn đơn vị bị kỷ luật.

Anh Nam bị thương đưa về quân y cách 30 ngày, anh khoảng 20 tuổi, trắng trẻo thư sinh là tiểu đội trưởng Phân đội 1, Trung đội 4, tuy bị thương anh vẫn nói: anh là sinh viên Sài Gòn về thăm cha mẹ ở Xuân Lộc và xung phong gia nhập Vệ quốc đoàn. Vì bị liệt toàn thân nên lưng và các gout đều bị loét (ESCARRE). Những năm đầu kháng chiến, thuốc men dụng cụ y khoa rất thiếu thốn, phải dùng lá chuối rửa sạch, lau khô rắc phấn tale để anh nằm và giăng mùng để tránh ruồi muồi, còn việc giải phẫu vượt quá tầm tay, ngành y cũng đành chịu nên anh Ngự chỉ đau buồn nhìn anh Nam đi vào cõi chết.


Mặc dù bị thương rất nặng và đau đớn nhưng tôi chưa bao giờ thấy anh kêu la. Khi y tá thay băng, lau vết thương, trái lại lúc tỉnh sau uống thuốc giảm đau, mắt anh lại sáng lên thều thào qua hơi thở, nhất định thực dân Pháp phải thua, Việt Nam phải tự do, độc lập. Anh hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ với đầy mơ ước cống hiến cho Tổ quốc. Hình ảnh của anh và bao liệt sĩ khác của Chi đội 10 cứ hiện trong tâm trí của tôi những tấm gương sáng về tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.


Đêm Nom Trường (Trị An) sương xuống lành lạnh, dòng sông Đồng Nai êm ả xuôi dòng, trên trời lấp lánh ánh sao, bao hồn chiến sĩ thanh thoát bay cao để giành lại hạnh phúc tự do cho thế hệ mai sau.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:55:02 pm
CỌP BA MÓNG

Bùi Cát Vũ


Sự việc chính thức bùng nổ khi chị Bảy Cao - đoàn trưởng phụ nữ xã Lạc An - bị bắt cóc trong một trường hợp chưa từng có. Trước đó anh em trinh sát báo là có dấu cọp đào bới những cái mả mới trên đường hành quân từ La Ngà về Sông Bé, nhưng chi đội cho đó là quân Pháp tìm xác của hai đại tá là Đơ Sê-ri-nhê và Pa-ruýt. Rồi có tin huyện đội Vĩnh Cửu báo một em bé ở Thiện Tân đi lượm hột cầy bị mất tích. Lúc bấy giờ, ở Chiến khu Đ đã rất quen với cọp thật, cọp giả. Cọp thật thì thợ săn bắn được luôn, đem thịt ra chợ Bà Đã, Lạc An, Mỹ Lộc bán. Tháng trước đây anh Sáu Mẹo bắn được một con cọp xám rất to ở gần vàm sông Bé, đo từ giữa đầu đến chót đuôi chỉ thiếu vài phân là đầy 3 thước tây. Còn cọp giả thì đêm đêm tiếng nó bép1 (Cọp kêu, gọi là cọp bép (voi gầm, mang tác, vượn hú, cọp bép)) rền rừng xen với tiếng sủa của bầy chó chóc2 (Loại chó sói nhỏ con) giả rộ lên, nghe mà nổi da gà. Tiếng cọp bép rất dễ bắt chước, bằng miệng không tôi có thể làm ra một tiếng kêu giống hệt như vậy. Còn dấu chân cọp giả thì rất dễ, chỉ cần mang đôi giày cao su có đế hình móng chân cọp. Chúng tôi cũng thường hay nắm bàn tay lại, ấn xuống đất cát ướt, giả dấu cọp để gạt nhau chơi. Có hôm hai anh liên lạc Nhở và Ưu đi từ Binh công xưởng ra xóm gặp một con cọp trên đường xe bò, các anh đưa súng lên vai, la hét dọa: Bỗng nó đứng xổng lên trên hai chân chạy vào rừng.


Chị Bảy Cao bị cọp bắt ở Lạc An có đủ bằng chứng. Công an xã, xã đội, huyện đội, trung đoàn, quân khu đều phái cán bộ đến điều tra nghiên cứu. Chị là người cao lớn nhất - như tên của chị - trong số ba chị em nằm ngủ trên bộ ván trong nhà dân. Chị Bảy lại nằm phía trong cùng, gần vách lá buông ngăn với buồng của vợ chồng chủ nhà. Chị to lớn như vậy mà bị bắt đi mất không ai hay biết, đặc biệt là hai chị nằm ngay bên cạnh cũng đến sáng thấy mất chị, chỗ chị nằm có máu mới la hoảng lên. Ở ngoài sân có dấu chân cọp và một ít máu rải dài ước độ không đến một xị. Trong dấu chân cọp có một chân chỉ có ba móng (bàn chân cọp có bốn móng trước). Lần theo dấu vết vào rừng cách xóm nhà chừng 2 cây số, trong một lùm mật cật tối tăm, người ta phát hiện chỗ cọp ăn thịt người, còn sót lại một ống xương chân bị róc thịt máu me nhầy nhụa, một ít ruột già ruột non, một mớ tóc dài của phụ nữ. Rồi từ đó không còn thấy dấu tích gì nữa.


Rất nhiều lời bàn, các cụ già ở Lạc An thì cho là ban đêm mắt cọp cũng giống như mắt mèo nhìn rõ như ban ngày, nó lựa người mập mạp, lứa lứa vừa ngon, cũng như mình chọn con thịt vậy. Nằm ngoài hay nằm trong không thành vấn đề, móng nó sắc hơn dao, chỉ lảy ngang cổ họng thì không kêu được một tiếng. Còn bắt người thì nó làm nhẹ nhàng, khéo léo, như con mèo bắt chuột (tôi gọi bằng con bằng nó cho dễ phân biệt chớ các cụ thì gọi là ông là ngài cơ). Tại sao cọp lại có một chân trước ba móng, thì các cụ có hai giả thuyết: một là cọp nuôi của Tây sở sút chuồng, bị xích một chân từ nhỏ mang tật mất một móng; giả thuyết thứ hai theo tôi thì có lý hơn - con cọp này già rồi rụng mất một móng, nó không còn đủ sức rượt bắt các con thú khác, trong trận La Ngà nó ăn xác Tây, thấy thịt ngon mà người thì lại dễ bắt hơn thú nên nó ăn quen bám theo bộ đội để kiếm mồi.


Giới quân sự - cơ quan tham mưu của trung đoàn và quân khu, nhất là quân báo - thì cho đó là một vụ biệt kích giả cọp. Các anh phân tích: “Con cọp bao lớn mà bắt một con người to cao sung sức như vậy mà không giãy giụa tí nào, đến nỗi hai người nằm bên cạnh trên một bộ ván hẹp lại không hay biết? Bụng cọp bao lớn mà chỉ có vài giờ đã ăn hết sạch một con người hơn 50 ký lô, cả những xương to như xương đầu, xương bàn tọa? Cọp gì mà biết ai là đoàn trưửng phụ nữ xã? Chỉ có gián điệp biệt kích, đánh thuốc mê cả nhà, rồi khiêng chị Bảy Cao đi, còn máu và xương tóc ruột là của một người nữ tù khác ở bót Rạch Đông. Các anh kết luận: “Nay mai đây sau khi đã điều tra, định bắt người cán bộ phụ nữ nào khác, nó mới làm thịt chị Bảy Cao lấy xương tóc, ruột và hãm máu như đánh tiết canh xách theo để lại đánh lừa ta”.


Dù như thế nào cũng phải làm rào chống cọp. Ở trong rừng sâu thì làm nhà sàn. Khổ nhất là bệnh viện, thương binh mà ở nhà sàn thì hết sức bất tiện: Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh ra lời kêu gọi đồng bào giúp đỡ lẫn nhau, bộ đội giúp dân làm rào chống cọp.


Từ đó, mỗi khi mặt trời vừa lặn thì toàn thể Chiến khu Đ sống trong nỗi kinh hoàng. Đêm nào cũng có dấu chân cọp ba móng ở xóm này hay cơ quan nọ. Có khi, trong một đêm phát hiện dấu cọp ba móng ở 2-3 địa điểm cách nhau hơn 20 ki-lô-mét. Tham mưu trung đoàn hàng ngày phải tổng hợp tình hình báo lên Tham mưu khu về hoạt động của cọp ba móng.


Một chị ở Hàng Dài ru đứa con mới sanh trên võng gần vách rào, chị vừa bưng đèn ra ngoài một chút trở vào thì chỉ còn cái võng không, vách rào cây to bằng bắp chân bị vạch một lỗ trống hoác. Đêm sau, một anh nông dân, cũng ở Hàng Dài, vừa thò tay ra ngoài rào lấy cái gáo múc nước liền bị vuốt đứt ngọt mất cánh tay đến bả vai. Anh ấp đội trưởng Bà Sầm, ôm khẩu súng nằm ngủ trong nhà, xung quanh có rào cây găng có gai bằng bắp vế, cũng bị bắt đi mất, khẩu súng trường còn lại trên giường.


Ban chỉ huy trung đoàn triệu tập cuộc họp thành lập một đại đội săn cọp cơ động; còn mỗi cơ quan, ấp, xã thì tổ chức cho du kích cơ quan, du kích xã ấp làm việc này, kết hợp chống gián điệp biệt kích luôn.

Đại đội cơ động lên phục kích Hàng Dài thì cọp về bắt người ở Suối Ngang, đại đội về Suối Ngang thì cọp ra Bà Sầm, Đất Cuốc. Cho đến anh Lung, trung đoàn trưởng cũng nghi, anh nói với tôi: “Cọp gì mà biêt sợ súng, biết tránh bộ đội”.


Quân địch ở chi khu Tân Uyên, Cây Đào rất biết lợi dụng sự kiện này. Chúng tăng cường cọp giả, cũng có dấu chân 3 móng. Chúng liên tục mở những cuộc hành quân nhỏ bằng lực lượng com-măng-đô, buộc dân chúng và cơ quan phải thoát ly khỏi rào và nhà sàn.


Đồng bào và cơ quan ta rất xôn xao, lo sợ. Ở nhà sàn, giữa bốn tường rào như bị nhốt trong rọ, chống biệt kích rất bất tiện. Còn ra rừng ở lẻ thì không dám, ở chung thành đám đông lại phải đốt lửa xung quanh để trừ cọp thì lại để làm mồi cho bọn biệt kích.


Trung đoàn rất khổ tâm, đánh giá kẻ thù mới này còn lợi hại hơn 1 tiểu đoàn com-măng-dô. Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh phát động nhân dân làm bẫy làm hầm, treo giải thưởng 2.000 đồng cho ai giết được cọp 3 móng.


Khổ nỗi có một số đồng bào mê tín, cho việc làm rào, ở nhà sàn chẳng qua là “lấy vải thưa che mắt thánh”. “Ngài ngủ trong rừng chớ ai nói gì ngài cũng nghe hết, đừng chọc giận ngài, liệu anh có thể ở trên nhà sàn quanh năm suốt tháng được không?”. Những người này không làm rào làm sàn gì cả, như hai ông thầy chùa ở Đất Cuốc, vì vậy mà cọp ba móng tiếp tục bắt người đều đều, gây khủng khiếp ngày càng cao.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:56:31 pm
Sức mạnh tinh thần lúc này không phải dựa vào súng ống mà dựa vào những người hiểu biết nhiều về rừng, như ở Lạc An có chủ tịch Ngân, công an Sáu Lòng, ở Hàng Dài có ông Ba Cho, ở Giáp Lạc có anh Chín Quỳ. Chúng tôi phải học kinh nghiệm của những người thợ rừng lão luyện như vậy.


Hết bắt người đang ngủ rồi tới bắt người còn thức, cọp cũng không còn biết sợ lửa nữa. Một phân đội săn cọp phục kích đến gần sáng mới vào ngủ trong nhà đồng bào bỏ hoang ở Nhà Nai, đội viên nằm dưới đất xung quanh, phân đội trưởng nằm ở giữa trên mặt bàn, bên ngoài nhà có đốt mấy đông lửa, thế mà nó phóng vào chớp trung đội trưởng đem đi mất, cả phân đội không ai bị thương. Một anh tiểu đội trưởng về thăm vợ ở trại sản xuất Thuộc Nghĩa. Chị vợ rất sợ không dám ngủ dưới đất với chồng, mà đòi lên sàn gác nằm chung với anh em. Anh chồng giận lẫy, tự ái, cho là vợ không chung tình, anh ở dưới đất một mình. Thấy vậy chị vợ phải chiều chồng tụt xuống đất. Trại sản xuất nổi tiếng làm rào kiên cố nhất chiến khu. Từ nhà ra rào có một khoảng trông chừng 10 thước. Anh tiểu đội trưởng cẩn thận đốt bốn đống lửa ở bốn góc rào. Anh em nằm trên gác còn nói xuống trêu chọc hai anh chị. Nằm với chồng trên chiếc giường tre ngay dưới sàn gác, chị vợ cứ nghển cổ dòm chừng xung quanh. Bỗng chị run rẩy nói ú ớ: “cái gì kìa, cái gì như hai cục than lửa kia, em sợ quá”. Anh chồng đứng dậy lấy khẩu súng trường trên đầu giường lên đạn, đi một vòng xung quanh rào, vừa đi vừa nói: “Cọp đâu, tao bắn thấy mẹ chớ cọp”. Đi giáp một vòng trở lại giường, anh vừa nằm gối đầu lên khẩu súng, choàng chân gác qua bụng chị - như lời chị kể lại - thì bỗng chị cảm thấy như có một luồng gió thổi qua nhẹ nhàng như thể anh tự rút chân ra khỏi bụng chị. Tiếp theo là một tiếng rầm ở vách rào. Anh em trên gác bắn theo, đánh mõ, đánh thùng rồi xuống đất khiêng chị lên gác - chị bất tỉnh, tuy không bị một vết xây xát nào cả. Sáng ra mới thấy có một chỗ rào bị vạch cây bẹt ra, trên vỏ cây còn vướng mớ lông cọp. Đó là chỗ nó bí mật chui vào, còn hai cây rào bị tróc ngã ở kế bên đó là chỗ nó nhảy ra.


Nỗi kinh hoàng bao trùm khắp Chiến khu. Địch lớp rải truyền đơn, lớp tung tin đồn là: “Việt Minh vô rừng làm náo động đất thiêng mà trời đã dành cho muông thú. Nên trời sai thần hổ đuổi Việt Minh ra, trả rừng thiêng lại cho chúa sơn lâm ngự trị”. Một số người vừa tin vừa sợ bỏ về thành. Bà con vô rừng làm nương rẫy cũng bỏ hết đi về xóm cũ ngoài bờ sông. Những người có kinh nghiệm làm bẫy, cần cụp, thì ở ngoài xóm làng, mà cọp thì ít khi ra xóm nên bẫy không được gì. Chúng tôi, những cơ quan trong rừng cũng làm bẫy, làm hầm theo kiểu của đồng bào bày cho, nhưng không kết quả, trong lúc ấy thì dấu cọp ba móng đâu đâu cũng có. Thật là lạ. Điều này càng làm cho giả thuyết biệt kích thêm nặng cân hơn. Giáo điều, mê tín lại càng sâu thêm: “Cọp là giống vật linh thiêng nên người xưa mới tôn là thần hổ, mới có những tượng thờ trước các đình chùa miếu mạo, đừng động đến “ông ba mươi”, tờ sắc phong thần do ông giữ còn mới nguyên, đêm ba mươi tết ông mới mang về miếu đình cho dân làng cúng bái...”.


Trong rừng khoảng 8 giờ tối trở đi thì cứ một chốc lại nghe hướng cơ quan này la ó, đánh mõ gõ thùng, một lát lại nghe hướng cơ quan khác. Tất cả đều ở trên sàn gác, thế mà một cành cây rơi, một tiếng mơ trong giấc ngủ, một tiếng kêu rên của thương bệnh binh... đều kéo theo tiếng la bài hãi, tiếng đập thùng, đập mõ, không cản được. Bên quân y viện, trời đã hừng sáng, một anh nuôi xuống bến suối vo gạo liền bị cọp chụp dìm xuống nước lôi qua bên kia bờ suối mất tích luôn. Từ đó thương binh mê sáng cũng kêu cọp! cọp! Nữ y tá nằm ngủ chung với nhau, chị nọ gác chị kia, cũng la cọp. Y tá trực đi thăm bệnh cũng tưởng cọp. Một y sĩ mắc trượng bịnh mò gái, hễ thấy bóng anh ta thì nữ hộ lý la cọp! cọp! (sau này anh ta cùng được tặng danh hiệu là “cọp ba móng”). Tiếng thùng mõ nổi lên thâu đêm suốt sáng. Khách đồng bằng lên, Trung ương vào lỡ đường tối đến trèo lên cây cao ngồi như vượn mà vẫn còn sợ. Khách đến là đòi đi ngay chớ không chịu nấn ná như trước. Khi buộc phải hành quân đêm thì bộ độ vác súng cắm lưỡi lê, ai không có lười lê thì vác một cây lồ ô vạc nhọn. Ban đêm tốt nhất là ngủ trong mùng. Đó là cách mà các cụ bày cho, các cụ bảo cọp rất sợ cây nhọn, sợ vướng móng vào lưới. Nhớ lại hàng cọc sắt ở các chuồng cọp sở thú thấy cùng có lý. Còn cán bộ chúng tôi, cấm đi lẻ ban đêm thì cưỡi ngựa - lúc bấy giờ trong chiến khu có phong trào nuôi ngựa từ trường đua Phú Thọ đưa về. Ngựa đánh hơi cọp rất thính. Khi nó không chịu chạy nữa mà đút đầu vào bụi day mông ra ngoài, cụp tai, run rẩy toàn thân là có cọp đâu gần đây. Anh rút súng bắn vài phát, ngựa bình phục và chịu chạy là lúc cọp đã bỏ đi ra rồi.


Bên xưởng bì đạn, có một đêm, cọp vào nhảy lên bắt hàng chục con gà trong giỏ treo ngay dưới sàn ngủ. Sáng ra chỉ còn thấy đống lông gà dưới đất. Trâu của anh Chín Quỳ nhốt trong chuồng có rào, cọp thò tay vào vỗ trán, sáng ra thấy ba bốn con trâu gật gù gật gưỡng nước óc chảy lòng thòng. Ở xưởng cơ khí, một buổi sáng chúng tôi thấy ngay dưới sàn ngủ có một đống nước bọt, cứt và lông cọp. Chắc là ai nằm ló tay ló chân ra ngoài sàn, cọp ta thèm rỏ dãi mà không biết làm sao với đầu cây lót sàn nhọn tua tủa. Một hôm anh Thành thư ký văn phòng trung đoàn có việc vào xưởng. Khuya hôm ấy bỗng nghe có tiếng nhào đánh rầm trên sàn rồi mọi người la lạc giọng. Anh em đánh thùng, gõ mõ, bắn súng lung tung như điên. Tôi bồn chồn sốt ruột chờ cho anh em hết la để hỏi coi đồng chí nào xấu số. Hét mãi anh em mới chịu nín. Nằm tại chỗ điểm danh, thấy không thiếu người nào. Rủ nhau ngồi dậy, đốt đèn hội ý để tìm xem chuyện gì đã xảy ra. Truy mãi, mới ra ông khách Thành. Cậu ta đi đái (cầu tiểu tiện cũng ở trên cao) dưới trời trăng mờ mờ, cậu ta thấy cái chuồng gà lợp tranh vàng vàng tưởng là cọp nên nhào vô đè bừa lên người đang ngủ, anh em la hoảng. Từ đó anh em thấy mặt anh Thành là nhớ chuyện chuồng gà. Thành thì mắc cỡ đỏ mặt. Xưởng bì đạn lại bị bắt mất con heo gần đầy tạ trong chuồng có rào.


Thấy nó lộng hành quá, chúng tôi cưa gỗ làm một cái cũi hai ngăn. Một ngăn nhốt con heo làm mồi, ngăn kia là bẫy sập. Định bụng khi nó dính bẫy rồi sẽ tháo nêm tách hai ngăn ra, bỏ đói, xông khói, cho nó liệt rồi chở xe bò ra Mỹ Lộc để cho đồng bào xem lấy thưởng. Nhưng mãi không thấy nó đến nữa, mà lại đi nơi khác. Anh em trong xưởng lại cãi nhau: “Cọp thật hay cọp giả? Cọp thiêng hay chỉ là con thú như muôn ngàn loài thú khác?”. Nói lén “ngài” mà sợ ngài nghe. Nhưng có người lại nói: khi ngủ “ngài” nghe đủ hết, nhưng lúc dậy đi đụng một lá cây làm cho ngài quên một tiếng, rốt cuộc cũng không nhớ được gì.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:57:56 pm
Nói gì thì nói, nhưng ai cũng sợ nên khắp nơi đều đề phòng cả cho người, cả cho thú, tình hình lắng dịu được một thời gian. Nhưng càng đói nó càng táo bạo hơn. Từ chỗ chỉ bắt người đang nằm, nó dám bắt người đang đi trong đám đông. Lộng hành nhất là hôm nó bắt anh đại đội trưởng đại đội hỏa lực của khu ở Bà Sầm. Khoảng 8 giờ tối, đại đội sinh hoạt xong mới rủ nhau đi đái tập thể để lên gác ngủ. Đại đội trưởng cầm đèn pin đi trước mở cổng rào ra chỗ đi tiểu. Anh rọi đèn, thấy cặp mắt đỏ như hai hòn than bèn lùi lại hô: “cọp”. Nhanh như chớp nó nhảy đến, vồ anh, lôi ra rừng. Anh em trong đại đội quay vào nhà vác hai khẩu đại liên bắn theo hướng có tiếng kéo người nghe sột soạt phía trước. Anh em đốt đuốc sáng trưng, rượt theo bắn. Đuổi mãi, bắn như một trận đụng độ lớn - Binh công xưởng ở gần đó chúng tôi nghe rất rõ - anh em giành lại được xác của đại đội trưởng không đầu. Đuổi nữa, anh em đòi lại được đầu đại đội trưởng mới thôi. Khoảng 3 giờ sáng hôm ấy nó bắt mất một trong hai ông thầy chùa ở gần đó.


Hai ông thầy chùa này không chịu làm rào. Không ngủ sàn gác, mà tụng kinh rồi nằm lăn ra chiếu trải trên đất trước bàn thờ Phật. Có ai khuyên bảo thì họ nói: “Con người ta có số, nếu số bị ngài rước thì ở giữa Sài Gòn cũng không thoát khỏi. Có người chỉ thấy cái tượng ngài trên giấy cũng lăn ra chết...”. Hai ông thầy chùa lại còn bày chuyện đi gửi kinh cho đồng bào, nói rằng: “Ngài đến ngoài cửa am ngồi nghe tụng kinh còn để lại một đống nước bọt, ngài thèm nhưng Phật tổ Như Lai chưa cho phép. Sợ bần đạo tu chưa tới, ngài rước đi thì kinh bị thất lạc”. Công an phải theo dõi để xác minh hành động của họ. Trinh sát lén trèo lên cây rình coi ban đêm hai ông có ngủ trên đất thật khóng. Biết hai ông thầy chùa ngủ dưới đất thật, chúng tôi két luận là vì cọp thấy họ xanh xao ôm yếu quá (ăn chay trường mà) nên cọp chê đó thôi. Quá thật khi bị mất mồi đại đội trương, cọp ba móng liền quay lại xơi tạm một ông thầy chùa cho đỡ thèm. Ông thầy đi êm nhất trong chiến khu, không một tiếng kêu la, không một tiếng thùng mõ. Ông thầy sống sót nằm bên cạnh sợ chết khiếp, đến sáng mới tập tễnh đến mếu máo nói với chúng tỏi: “Ngài rước ông thầy kia đi hồi canh ba đêm qua rồi”. (Thế mà còn gọi là rước!). Chúng tôi không buồn mà còn giận bảo với ông này: “Nếu ông không chịu làm rào ngủ sàn thì sẽ đến phiên ông, đó là điều tất yếu".


Binh công xưởng cũng tổ chức một đội săn cọp hoạt động vùng Giáp Lạc - Bưng Kò - Suối Cá, nơi có các cơ sở của mình và quân y viện. Đội trưởng là anh Sáu Mẹo, một thợ săn nhiều kinh nghiệm, lại nổi tiếng vừa hạ con cọp xám ở vàm Sông Bé. Đội được trang bị rất mạnh, có cả đại liên mắc xim.


Một đêm tháng 5 trời trăng mờ mờ, khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi nghe tiếng la ó tiếng gõ thùng và vài ba phát súng trường ở hướng lò than của Binh công xường do anh Chín Lùn làm trưởng tổ. Tôi cùng với đội săn cọp lập tức chạy sang đó. Có một số anh em chưa từng Cầm súng chiến đấu cũng chạy theo, như anh Vinh thợ nguội, anh Lịch trưởng ban đúc. Ba công nhân đốt than ở trên sàn gác báo với chúng tôi là anh Chín Lùn thấy lò than lên khói trắng, sợ để đến sáng than biến thành tro, nên anh xuống đi nhét lỗ thông hơi (việc này anh Chín vẫn thường làm). Xong việc anh vào nằm trên võng hút thuốc. Bỗng anh em nghe tiếng cây sào phơi quần áo trước sân bị đổ ngã, nhìn xuống, thấy con cọp rất to, khệ nệ bê anh Chín Lùn qua suối, anh em bắn theo la ó đánh thùng chớ không dám xuống đất.


Tôi quyết định truy theo một lần cho đến nơi đến chốn. Anh em đốt đuốc, tôi có cây đèn 2 pin còn Sáu Mẹo thì có đèn săn đội đầu.

Qua suối rồi theo dấu không có gì là khó. Trên mặt đất đầy lá mục, nổi rõ hai vệt chân người bị kéo lê theo một hướng thẳng, thỉnh thoảng có một vệt máu còn mới, một mẩu da thịt, hoặc giẻ rách dính trên gốc cây. Chúng tôi gồm một tiểu đội dàn thành hàng ngang càn tới để bảo vệ lẫn nhau. Áp thợ đúc và Đức thợ nguội vác khẩu đại liên mắc xim đi theo sau, còn lại là súng trường, Sáu Mẹo thủ khẩu súng 2 nòng calíp 12. Trời còn trăng, nhưng trong rừng tối như bưng, không dám soi đèn pin đèn săn nhiều sợ hết điện, phần lớn là dùng đuốc nên chúng tôi tiến rất chậm.


Khoảng 1 giờ khuya, dấu vết dẫn chúng tôi vào một đám mật cật rậm rạp, mặt đất ẩm ướt. Ai nấy rùng mình vì mùi cọp vừa khét vừa tanh, y như mùi chuồng cọp ở sở thú. Bao vây lùm mật cật, rọi đèn pin rất kỹ vào trong một hồi lâu không thấy gì. Tôi, Sáu Mẹo và Lịch mới ghìm súng chui vào. Giữa những tàu lá mật cật gai nhọn như răng cưa bày ra một khoảnh đất trống nát dấu chân cọp xung quanh và chính giữa là những mẩu bầy nhầy tươi sống của một sinh vật vừa bị làm thịt, máu me phân cứt lẫn với một ông xương chân, một mớ ruột già ruột non, một vài mảng tóc dính trong da đầu như người ta dùng dao gọt. Mới đây thôi, cái mớ bầy nhầy này hãy còn ấm. Đúng y như những vụ trước mà chúng tôi nghe thuật lại, bây giờ thì thấy tận mắt. Từ trước người ta chỉ theo đến đây, gói những mẩu thừa thẹo này về làm đám ma đây.


Chỉ trong vòng 3 giờ phải đi mất hơn 2 ki-lô-mét, tha một con người kềnh càng như vậy, bụng dạ nào chứa hết một con người? Còn các xương khác ở đâu? Xương chân mà còn không nhai nuốt được thì xương đầu, xương chậu, xương ngực ở đâu? Giả thuyết về biệt kích lại thoáng hiện. Rùng rợn quá! Nhưng chúng tôi đông, lại trang bị tận răng, không sợ, dù là cọp 3 móng thật hay là biệt kích đi nữa.


Chúng tôi quyết định tìm dấu vết, theo đến cùng, đêm nay không thấy thì đi luôn ngày mai. Một dịp như thế này hiếm có, dấu vết kẻ thù còn nóng hổi. Phải trả thù cho anh Chín Lùn. Thương anh quá, một con người hiền lành, đốt than là nhiệm vụ chính, nhưng anh tranh thủ trồng rau cải, nuôi gà, nuôi heo, biến lò than làm một nơi an dưỡng cho Binh công xưởng. Mỗi khi anh Võ Cương và các anh ở quân y viện sang thăm chúng tôi hay ghé qua nghỉ chân ở đây, đều biết anh Chín Lùn.


Chúng tôi phân công từng tổ chia ô tìm tiếp dấu vết xung quanh lùm mật cật nhất là hướng đối diện với con đường vừa qua. Sâm soi thật lâu, một tổ phát hiện một vết máu trên lá khô, cầm nghiêng lá cây thấy giọt máu vẫn chưa đông. Rồi chúng tôi tìm được giọt máu thứ hai theo một đường thẳng nối từ lò than qua bụi mật cật. Từ đó nhằm đúng hướng, chúng tôi phăng theo. Cứ phát hiện được dấu mới thì bỏ chỗ cũ, một người cầm đuốc đứng làm hoa tiêu còn lại túa ra tìm tiếp.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:59:29 pm
Hình dung động tác mèo bắt chuột cũng dễ thấy rằng khi cọp ngoạm xác người lôi đi, đôi chân người kéo lê trên mặt đất để lại dấu trên lá khô rất rõ, lại vướng víu cây gai dây rừng, ì ạch chậm chạp. Đến một cự ly an toàn (chừng vài cây số) nó tìm một chỗ kín đáo dừng lại ăn xổi bộ chân, bộ lòng, vừa để thu vén cho miếng mồi gọn lại. Từ đó trở đi nó ngoạm mồi tha đi vừa gọn vừa nhanh. Nhưng máu trong xác người thì tiếp tục rỉ ra, càng về sau càng ít đi.


Theo dấu vết trong giai đoạn này rất chậm, phần thì trời tối đen như mực, dưới ánh đuốc chập chờn cứ nhầm những lá cây khô có đốm màu đỏ màu nâu. Được cái là hướng đi của nó theo một đường thắng, tránh qua chỗ bụi gai rậm rạp rồi cũng trở lại theo hướng cũ. Ngoài những vết máu, qua những chỗ đất mềm thỉnh thoảng cũng phát hiện dấu chân cọp còn mới nguyên. Lòng say mê theo dấu kẻ thù hấp dẫn chúng tôi đi mãi đến hừng sáng thì đến bờ một con suối vừa rộng vừa sâu. Không biết hiện mình đang ở đâu. Chiến khu Đ chỉ có hai con suối lớn: Suối Sâu và suối Cái. Suối Cái ở Mạng Xinh, Chang Chang, Đất Cuốc, ở đây là Giáp Lạc đi vào, chắc là suối Sâu.


Đến đây mất dấu. Trời đã sáng dần, không vội vã gì nữa, nghỉ một chập, chúng tôi chia nhau đi cặp theo mép nước hai bên bờ suối. Đất mềm, nhiều chỗ lầy, một con chồn xuống uống nước cũng để lại dấu chân, huống chi là cọp. Thế mà không ai phát hiện một dấu vết nào cả. Mùa mưa nước suối dâng cao, giữa dòng chảy xiết, sâu ngập đầu.


Dàn hàng ngang dò kiếm dọc trên dãy rừng dọc bờ suối một quãng rất xa cũng không thấy một dấu vết máu nào nữa.

Thật là như ma quỷ, không ai dám đưa ra một phán đoán nào nữa. Dấu máu cuối cùng còn rành rành đây chỉ cách bờ suối không đầy 10 mét thôi. Chỉ có cánh mới bay qua suối mà không để lại dấu vết. Thế này là thế nào!

Lại đổi chỗ, phân công nhau tìm thật kỹ hai bên mép nước, vạch những bụi rậm, đám tranh dọc theo bờ suối, nhất là bờ phía đối diện, ở bên này thì có thể phi thân xuống nước như người ta nhảy cầu ở bể bơi. Còn bên kia thì phái trèo lên chứ. Thế mà vẫn không thấy gì cả.


Chúng tôi ngồi nghỉ một chút, định sẽ trở lại một đoạn tìm coi có bị nghi binh đánh lạc hướng không. Trong lúc đó cậu Áp thợ đúc mới rắn mắt trèo lên đám rễ của một gốc cây cổ thụ bị đổ nằm vắt ngang qua suối. Giề rễ cây dính đất dựng lên như một bức tường cao phải đến 4-5 mét. Thân cây to 3 người ôm, nằm trên cao, như một chiếc cầu vồng cách mặt đất đến 3 mét. Ngọn cây nằm bên kia bờ suối ngổn ngang cành lá như một ngôi nhà sập. Bỗng Áp từ trên thân cây reo lên, cậu ta phát hiện một vệt máu trên ấy. Thế mà không nghĩ ra. Thật không ai ngờ. Vì lúc chúng tỏi mới tới bờ suối thì trời còn mờ tối - rễ cây cổ thụ bật gốc cao to lại nằm giữa đám cây đổ ngã xô bồ, đến độ mà chúng tôi cho là một vật chướng ngại khổng the vượt qua, nêu không phải là loài có cánh.


Chúng tôi phải đỡ nhau, đứng lên vai nhau để trèo lên bức tường rễ cây ấy, chuyền qua thân cây, tìm một cành tương đối thấp đu người xuống đất bờ bên kia suối. Tôi đi sau với tổ đại liên hóc-kít.


Giữa cảnh trời hừng sáng, rừng sâu im lặng - hình như khóng có cả tiếng chim kêu - bỗng nổi lên tiếng của anh Vinh thợ nguội, giọng nói mà mỗi lần nhớ lại là tôi thấy ớn lạnh, nổi gai ốc, dựng đứng lông cánh tay:

- Anh Chín đây nè!

Trời! Cái giọng nông dân tỉnh khô của Vinh, thoạt tiên tôi và nhiều anh em khác tưởng đâu anh Chín Lùn bị bệnh tâm thần chạy cút bắt với chúng tôi từ đêm qua tới giờ, đang ngồi nấp đâu đó.

Chạy đến chỗ anh Vinh: Anh Chín chỉ còn là một mảnh xác rách tả tơi, đầu mặt bị lột da thịt nham nhở, không thể nào nhìn ra anh Chín Lùn (người ta nói cọp dùng lưỡi có gai liếm mà như dao lóc da thịt vậy đó), ngực và hai cánh tay bầm vập như da trái banh bưởi non của trẻ con vậy. Phần bụng chỉ còn phập phều lớp da bọc, một chân bị tháo khớp, một chân còn lại cũng trầy tróc lở loét, bàn chân vặn ngược ra phía sau. Anh Chín đã nhỏ người, giờ đây chỉ còn vừa một xách. Tôi quan sát thật kỹ: ở cổ chỗ yết hầu có một vết móng cắm thật sâu, cổ họng bị cắt đứt, nhưng động mạch thì còn nguyên. Vì vậy mà anh Chín không la được. Hồi mới đến lò than tôi quan sát trên võng bao bố cũng chỉ thấy rất ít máu. Còn phía dưới thì sau khi gậm hết một chân, nó thò tay dưới làn da bụng bốc tuột bộ đồ lòng cả tim, phổi, ngực bụng chỉ còn cái vỏ.


Theo kế hoạch của Sáu Mẹo, chúng tôi phân công nhau làm công tác chuẩn bị.

Về tình hình địch, Sáu Mẹo khẳng định: chỗ lùm mật cật là nơi nó dùng bữa lót lòng, cũng như mình đi săn thú về đói thèm nhậu trước bộ đồ lòng vậy. Tại chỗ này đây, bên bờ suối, là chỗ nó giấu mồi. Nó về hang ổ ngủ cho khỏe rồi trưa chiều mới trở lại vờn mồi ăn kỹ bữa chính rồi xuống suối uống nước. Vì vậy mà ta cứ chuẩn bị, không sợ lộ. Chúng tôi phân làm hai bộ phận, một thì bứt mây ràng cổ chân và cột ngang nách cái xác bịn chặt vào các gốc cây gần đó để giữ xác. Chú ý là tư thế cái xác nằm như thế nào giữ y như thế đó. Còn một bộ phận thì đốn cây làm giàn gác trên cành hai thân cây sống, cách cái xác chừng 10 mét để làm chỗ phục kích cho ba người. Không cần đông hơn, dễ lộ.


Khoảng 8 giờ sáng thì mọi việc xong xuôi. Chúng tôi phân công tổ phục kích gồm: Sáu Mẹo, Lịch và tôi... Sáu Mẹo chỉ huy là niềm tin rồi, còn Lịch thì dù chưa ra trận, nhưng lớn tuổi thận trọng đỡ ngủ gật khi thần kinh căng thẳng, còn tôi là tiểu đoàn trưởng - giám đốc Binh công xưởng trách nhiệm nặng nề. Năm sáu anh em còn lại thì tìm đường đi về nhà lấy cơm và đánh xe bò ra để chở xác cọp về. Cây mắc xim để lại, dựng dưới gốc cây lấy lá đậy lại.


Anh em về cả, ba chúng tôi ngồi trên sàn gác, ngụy trang cẩn thận. Nói là sàn gác chớ thật ra là 3 lóng gỗ gác ngang giữa hai cành cây to. Rừng vắng quá, nhìn xác anh Chín Lùn, khung cảnh như trong chuyện huyền thoại nào đó về rừng.


Tôi ngồi giữa thủ cây mút Nhật quen thuộc, Sáu Mẹo bên phải tôi với khẩu súng hai nòng calíp 12 nhồi đạn to thuốc mạnh dùng để bắn thú dữ, bên trái tôi là Lịch cầm cây mút Anh đạn nguyên chất theo kế hoạch, đúng như lời dặn của anh Chín Quỳ, là tập trung bắn lúc cọp vồ lên xác, lúc nó mất đà và mê mồi, đừng bắn lúc nó đang đi, tối kỵ là lúc nó đang ngồi quẫy đuôi chuẩn bị vồ xác. Vì theo anh Chín thì khi nghe tiếng súng, nó nhảy rất nhanh, đạn không trúng nó được. (Về ý này thì tôi không cãi trực tiếp với anh Chín, nhưng tôi giải thích cho anh em là đạn bay trước tiếng nổ). Theo kế hoạch của Sáu Mẹo: anh bắn trước kéo 2 cò một lúc khi cọp vờn mồi, tôi bắn bồi trong lúc anh nạp đạn, còn Lịch thì dự bị để bảo vệ đề phòng cọp chồm lên chúng tôi.


Trời càng về trưa, vắng vẻ quá. Một tiếng gió rào, một cành cây rơi, một tiếng sóc chạy, một cánh chim vỗ đều phải chú ý quan sát, căng thẳng. Lịch lầm bầm van vái: “Anh Chín linh thiêng, hãy kéo nó lại đây, chúng tôi trả thù cho anh”. Sáu Mẹo thì lầm lì, tự tin. Đạn calíp 12 này là do anh tự rờ-sạc lấy. Tôi tin cậy ở anh. Với khẩu hai nòng này anh đã hạ hàng tấn thịt rừng trong 2 năm qua, có gần đủ mặt các loại thú dữ, kể cả cọp, gấu heo, gấu chó, beo, heo rừng...


Mãi đến 12 giờ trưa, bụng càng đói, thần kinh căng thẳng, cơn buồn ngủ từ đâu trong tim làm tê liệt thần kinh không thể nào cưỡng nổi. Hút thuốc cũng không dám, ngồi tê chân cũng chỉ được phép cục cựa nhè nhẹ trở bộ thôi. Tôi bắt đầu hoài nghi mà không dám nói ra: “hồi sáng mình gây tiếng động nhiều quá, đốn cây bứt mây để lại nhiều dấu vết lạ, lại còn hơi người đông đảo như thế này, Sáu Mẹo cũng mới làm việc này lần đầu, lý thuyết suông thôi”. Tôi bắt đầu tiếc cho cơ hội ngàn năm có một này. Tôi dựa lưng vào Lịch lim dim. Thấy vậy Sáu Mẹo gợi ý luân phiên nhau nằm nghỉ lưng, tôi nằm trước. Nói vậy chớ đâu có lòng dạ nào mà ngủ được, mắt nhắm mắt mờ nằm ngoẻo nhìn ra phía sau lưng.


Bỗng, như trong giâc mơ, tôi thoáng thấy hình dáng một con cọp vằn đen vàng lượn dưới đám bụi rậm, êm trơn như một con trăn gió, như kéo một dải lụa. Tôi ngồi dậy, day đầu về phía đó, nói nho nhỏ: “cọp! cọp!”. Sáu Mẹo và Lịch nhìn theo. Đến một khoảng trống, có tranh lúp xúp, một con cọp hiện nguyên hình, rất to. Nó dừng lại, bộ lông dưới cổ và bụng nó trắng như bông. Nó cong mình như con mèo vươn vai, thật không giống các con cọp trong vườn bách thú hay gánh xiếc, nó to và mập hơn nhiều. Nó lại đi khuất trong bụi, rất êm, chỉ có lá cây rung rinh. Nó đánh vòng một lượt ra phía sau lưng chúng tôi rồi đến gần chỗ cái xác mà mắt nó không rời.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:28 pm
Đến một cự ly tạo thành chỗ chúng tôi và cái xác ba đỉnh của hình tam giác cân, nó ngồi lại. Bị một số dây rừng và cành lá nhỏ che bớt, nhưng cũng trông rõ cái đầu, ngực, đuôi nó vẫy vẫy quét trên mặt đất. Mắt nó lừ đừ, thoắt mọp xuống nhìn cái xác, thoắt nghểnh lên. Không biết có ai nhúc nhích co chân co cẳng gì không, mà bỗng nhiên nó ngước nhìn lên chúng tôi. Rồi lại nhìn cái xác, lại nhìn chúng tôi. Bây giờ mới cảm thấy cái giàn của mình quá thấp. Anh Chín Quỳ, ông Ba Cho, chủ tịch Ngân đều nói: Thí dụ con mèo từ dưới đất nhảy lên bàn cao hai mét, thân mèo dài ba tấc thì tức là nó nhảy cao gấp 6 lần chiều dài thân của nó. Con cọp cũng vậy, nếu không kể phần đuôi, nó dài 1 mét thì nó nhảy cao 6 mét. Con cọp này không nhỏ hơn con hùm xám Sông Bé, nó có thể nhảy cao 7-8 mét. Cái giàn của chúng tôi chỉ cao có 4 mét. Nó phủ ngang qua đầu dễ như chơi. Rào nhà người ta cao như vậy mà nó còn phóng qua huống chi giàn chỗ chúng tôi ngồi quá thấp. Tôi có cảm tưởng là đứng thẳng trên hai chân sau, nó có thể vớ lấy bàn chân chúng tôi.


Nó ngồi như thế, nhìn cái xác rồi nhìn lên chúng tôi, chắc không lâu lắm, nhưng tôi chợt có cảm tưởng: “Nó không dám vồ mồi”. Tạng mặt kẻ thù đây rồi mà để nó mất hút là hèn nhát, tức chết được. Nhìn Sáu Mẹo, thấy anh biến sắc, khẩu hai nòng vẫn hướng về phía cái xác, còn mục tiêu sống thì đang ở bên phải, thuận phía của anh. Tôi quyết định và nói nho nhỏ:

- Bắn, Sáu Mẹo, bắn đi.

Sáu Mẹo trả lời thì thào:

- Bắn trật, chờ chút nữa.

- Anh không bắn, tôi bắn (trong cự ly này với khẩu mút Nhật quen thân tôi bảo đảm bắn trúng con mắt cọp).


Vừa nói tôi vừa rê nhẹ nòng súng sang phải. Sáu Mẹo thấy vậy liền lấy tay trái, cản nhẹ khẩu súng của tôi, tay phải anh kéo khẽ nòng súng về phía mục tiêu.

Trong nháy mắt, một tiếng nổ đôi dữ dội, phá tan bầu không khí im lặng nặng nề. Bên trái tôi, Lịch nổ ngay một phát lên không làm gãy cành lắc rắc lá xanh rơi tơi tả. Tôi hỏi lớn như quát:

- Lịch, sao mầy bắn?

Lịch đáp tía lia như cái máy nói tự động:

- Tôi khủng bố tinh thần nó mà!

Khói tan, tôi nhìn thấy dây lá rừng chỗ cọp ngồi lúc nãy bị phá đứt thành một lỗ trông còn ám khói.
Lịch reo lên:

- Nó ngã rồi, nằm một đống kìa.

Tôi và Sáu Mẹo cũng thấy một đống vàng vàng phía sau chỗ cọp ngồi lúc nãy.

Lịch tuột xuống đất trước, vì phía ấy có cành cây làm thang. Tôi và Sáu Mẹo xuống sau. Đến chỗ cái đống vàng sẫm ấy thì hóa ra là ụ gò mối.


Tìm lại chỗ cọp ngồi, thấy hai dấu quàu khá sâu làm bật rễ cây chảy nhựa. Đi vòng phía sau gò mối cũng thấy có hai dấu như vậy. Thì ra, con cọp đã nhảy lộn ngược về phía sau, bay qua phía trên gò mối, một bước nhảy xa phải đến 5-6 thước. Từ đó nó chạy tế bôn chân dấu đều đều trên lá mục. Chúng tôi theo dấu cũng một đường thẳng ngược với chỗ cái xác ra suối. Bây giờ thì chúng tôi chỉ mong nó bị thương. Thấy lá cây khô màu đỏ đỏ nào cũng cầm lên xem. Người ta nói: cọp hay liếm vết thương, lưỡi nó vừa có gai, vừa bẩn nên vết thương không lành và bị nhiễm trùng, nên cọp bị thương thì trước sau gì cũng chết.


Không có dấu máu. Chỉ có Sáu Mẹo là biết mình đã bắn trật, cọp đã nhảy khi anh kéo cò. Đạn bắn trúng mục tiêu tiếng nổ ấm, người đi săn thiện nghệ họ biết. Anh buồn, nhưng để không phụ lòng chúng tôi, anh không nói ra.


Đi cũng chừng non một cây số thì ngửi thây mùi cọp khét quá. Theo mùi mà tìm, chúng tôi chui vào một đám lá buông thấy trên mặt đất sạch nhẵn cành lá, có nhiều cứt cọp, lông và nước bọt cọp, cũ có mới có. Sáu Mẹo xanh mặt ra hiệu bảo chúng tôi mau mau quay trở về chỗ cũ.


Về đến nơi, nhìn xác anh Chín Lùn vẫn còn nguyên. Theo thứ tự chỗ ngồi thì phải Sáu Mẹo lên thang trước, kế tôi rồi mới tới Lịch. Nhưng lúc Sáu Mẹo vừa trèo lẻn thì Lịch nắm lưng tôi xuống, giành leo lên trước.

Lên sàn ngồi, tôi mới hỏi Lịch:

- Tại sao anh bắn không đúng kế hoạch.

Lịch mới thú thật:

- Tôi cứ nghi là cọp giả, tôi chờ cho Sáu Mẹo nổ súng sẽ thấy nó đứng hai chân, mà biệt kích thì không phải một đứa, nên tôi bắn khủng bố tinh thần tụi kia. Tôi sợ tụi nó chụp khẩu mắc xim thì mình mệt.
- Bây giờ thì anh tin là cọp thật chưa? Tôi hỏi.

- Tin, tin rồi.

Sáu Mẹo1 (Anh Sáu Mẹo hi sinh cùng với anh Sơn trong một trận đánh bảo vệ Binh công xưởng) thì không nói gì, trông anh buồn lắm.


Khoảng 3 giờ chiều thì anh em đánh xe bò tới bên kia suối. Thì ra họ đã tìm được đường đá đỏ Lò Than - Thục Nghĩa và đưa xe bò ra gần Suối Sâu. Nghe tiếng súng, anh em vừa dọn đường vừa đánh xe bò vào tới chỗ gốc cây đổ bên kia suối. Anh em mang theo cơm nước. Chúng tôi vừa ăn, vừa thuật lại mọi tình tiết. Xong tôi thúc anh em ra đường đỏ chờ, để ba chúng tôi ở lại phục kích tiếp.


Đêm ấy, một đêm nhiều mây đen, gió mạnh nhưng không mưa, ba anh em chúng tôi thức đến khuya. Anh Sáu Mẹo, đội đèn săn, thỉnh thoảng nghe có tiếng động anh bật đèn quất qua một lượt rồi tắt. Tôi bàn luân phiên nhau ngủ, nhưng anh Sáu Mẹo tình nguyện thức canh đến sáng. Chốc chốc anh lại rọi đèn.


Sáng hôm sau, đả giáp cứ, cái xác đã trở màu xám bốc mùi và có ký sình trùng li ti trên các chỗ lở loét. Anh em từ ngoài đường đỏ lại vào. Chúng tôi nhặt xác anh Chín gói vào mành bao bố, vác súng ra về, lòng buồn rười rượi. Đây là trận thảm bại cay đắng đầu tiên của tôi.


Tuy vậy từ thất bại rút ra những bài học quan trọng. Chúng tôi báo cáo tỉ mỉ với Bộ tham mưu Trung đoàn và Quân khu, cam đoan đây là cọp thật chớ không phải cọp giả. Rút ra một số quy luật máy móc của nó: chỗ có ống xương chân và ruột của nạn nhân chưa phải là chỗ cuối cùng; trước khi ăn bữa chính cọp đi quanh rồi mới vồ mồi cho nên dùng mìn gài chắc ăn hơn là phục kích bằng súng. Và hiệu lực đầu tiên của những kết luận đó là Ủy ban hành chánh tỉnh ra thông tri: “Từ nay về sau, khi rủi có xảy ra việc cọp bắt người thì thân nhân không nên đi tìm tử thi làm mất dấu vết mà báo cho các đơn vị săn cọp”.


Ít lâu sau, cọp ba móng bắt con heo của Binh công xưởng. Chúng tôi theo lập tức và đã tìm thấy xác heo hầu như còn nguyên, chỉ mất bộ lòng. Tuy rất thiếu ăn, nhưng chúng tôi kiên quyết không mang xác heo về mà để y tại chỗ, cột vào bốn chân heo bốn quả mìn hộp loong. Cũng vào khoảng 12 giờ trưa hôm sau nghe tiếng mìn nổ. Chúng tôi vào xem thì xác heo bị lôi đứt dây mây văng ra cách chỗ cũ chừng 3-4 mét. Hai quả mìn nổ, nhưng có lẽ mìn nhỏ lại nhồi thuốc đen, cọp lại phóng nhanh như tên bắn, nên không sát thương được nó. Xung quanh chỗ ấy cây cối bị dẫm nát như có một bầy cọp quần đạp chớ không phải chỉ mỗi một con. Như vậy là sau khi bị một trận Suối Sâu cọp càng cảnh giác, quần xoáy trôn ốc rất kỹ xung quanh rồi mới nhảy vào con mồi. Nhưng dù sao đó cũng là trí khôn máy móc của loài thú. Chúng tôi phổ biến kinh nghiệm cho các đội săn cọp, ngoài việc gài mìn trực tiếp vào xác mồi, cần phải gài mìn xung quanh. Lúc nó đi chậm, mìn nổ hiệu quả còn lớn hơn lúc nó vồ mồi.


Vụ giết cọp ba móng, trừ một thảm họa khủng khiếp cho nhân dân Chiến khu Đ, vạch trần mọi luận điệu tuyên truyền hù dọa của địch như thế nào xin nhường lời cho đơn vị lập chiến công là anh em công nhân xưởng bì đạn và anh Bùi Văn Nguyệt. Nhưng sau trận Suối Sâu, cơ quan, bộ đội, nhân dân mới tin chắc tai họa lâu nay là do một con cọp thật, một con cọp già ăn xác Tây ở trận La Ngà ngon miệng, nó theo bộ đội để hôi mồi, ăn quen nhịn không quen nó trở nên táo tợn, vượt qua những quy định mà tạo hóa cố tình hạn chế sức mạnh tàn bạo của loài thú dữ: nó không sợ lửa, nó không sợ mắt người, không sợ người đang thức tay cầm vũ khí nhưng dù gì đi nữa thì trí khôn của nó cũng chỉ là trí khôn của loài thú mà người xưa đã đúc kết bằng những chuyện dân gian như chuyện “người đi cày với con cọp”. Truyền thuyết dân gian về loài cọp đều đúng, nhưng người thời sau thì hay thần thánh hóa, hoặc hiểu một cách cố định. Từ đó dễ hoang mang, phán đoán sai. Sau vụ Suối Sâu đồng bào, cơ quan phòng chống cọp tốt hơn, tích cực hơn, nên tình hình gây tác hại của cọp ba móng cũng lắng đi nhiều, không phải quá khủng khiếp như mấy tháng đầu. Cho tới một hôm giữa ban ngày ban mặt, cọp ba móng dám từ trong rừng phóng ra giữa rẫy, lúc bà con ta đang tỉa lúa rất đông và bắt đi mất người con gái út của ông chủ tịch Lạc An, con người mới biết cái đói và thói quen hung dữ đã đưa loài dã thú đến chỗ táo tợn không lường.


Và chỉ sau đó ít hôm đội săn cọp của xưởng bì đạn đã hạ cọp ba móng tại trận, mổ bụng nó ra còn mấy móng chân người. Còn móng của nó thì sứt mất một, đúng như phán đoán của các cụ già ở Lạc An: Con cọp này đã quá già.


Miền Đông gian lao, Chiến khu Đ không phải chỉ gian khổ vì địch, đói, đau như anh em giải thích chữ Đ một cách dí dỏm, mà còn nạn thú dữ, nạn cọp ba móng hoành hành. Ta mất đi trên 100 mạng người, trong đó có đủ đại đội trưởng, trung đội trưởng, xã ấp đội trưởng, đoàn trưởng phụ nữ xã. Lỗi tại chúng ta, những người cầm súng. Đó cũng là một bài học xương máu không chỉ dành riêng để trừ cọp.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:03:19 pm
CHIẾN KHU Đ CÒN SÀI GÒN MẤT

Bùi Cát Vũ


Chỉ trong vòng hai tháng, Chiến khu Đ náo nức đón nhận nhiều tin vui từ Nam Bộ bay về, những sự kiện chuyển động về tổ chức chỉ huy diễn ra dồn dập đánh dấu một đỉnh cao của đợt sóng kháng chiến đầu tiên. Ban quân sự trong Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ được thành lập do đồng chí Nguyễn Thanh Sơn làm trưởng ban1 (Ngày 12-12-1947). Sau đó, Chính phủ Trung ương cử đồng chí Nguyễn Bình giữ chức Tư lệnh Nam Bộ và sắc phong Trung tướng2 (Ngày 20-1-1948). Như vậy là toàn quân toàn quốc có một Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trung tướng Nguyễn Bình - niềm hãnh diện chung cho chiến trường Nam Bộ. Anh Huỳnh Văn Nghệ chưa kịp làm nhiệm vụ Khu bộ phó Khu 7 liền được giao quyền Khu bộ trưởng. Để tiện việc chỉ huy và cũng để chuẩn bị căn cứ địa cho Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ, anh Nghệ được chấp nhận dời cơ quan quân khu bộ trở về chiến khu Đ. Anh Chín Quỳ - được điều động lên khu - đã cùng anh Trịnh Đình Hoa - kỹ sư xây dựng - lo việc xây cất nhà cửa khang trang cho khu tại Nhà Nai - Đất Cuốc.


Tiểu đoàn lưu động Hoàng Thọ được điều về đóng ở Bưng Kè - Giáp Lạc, bảo vệ mặt tiền cơ quan Quân khu.

Thật như là có phép lạ, mới đây chưa đầy một tháng, tôi là khách của cơ quan khu bộ, thì nay nghiễm nhiên tôi trở thành chủ nhà. Tôi có thể gặp các anh, không phải mất 4 ngày đường, mà chỉ 2 giờ thôi. Tuy vậy công việc chuẩn bị cho cuộc hành quân sắp tới xâm chiếm hết thời gian. Đã vậy địch còn mở một cuộc càn lớn vào chiến khu, có thể chúng đánh hơi thấy quân khu bộ mới về, hoặc là trả đũa trận Đồng Xoài mà chúng không đủ lực để thực hiện truy kích sát gót như trước.


Ngày 11 tháng 1, địch tấn công Chiến khu Đ. Chúng huy động trên 2.000 quân, 50 xe cơ giới, 12 tàu chiến, có pháo binh và phi cơ yểm trợ chia thành nhiều mũi nhiều hướng tiến vào chiến khu. Trọng điểm chúng nhằm vào cơ quan quân khu bộ mới về Nhà Nai, sở chỉ huy chi đội ở Tân Hòa và các cơ quan dân chính đảng tỉnh ở Mỹ Lộc. Trên hướng chủ yếu, chúng dùng 50 xe cơ giới chở một tiểu đoàn quân Lê dương từ đường 16 chọc thẳng vào Nhà Nai. Đồng thời một cánh quân nhảy dù xuống Bưng Kè - Giáp Lạc. Một cánh quân khác do tàu chiến từ Biên Hòa chở thẳng một mạch đổ bộ lên Tân Hòa. Cuộc hành quân này địch không tập trung lên Tân Uyên, Cây Đào như trước mà cơ động từ xa bằng máy bay, tàu thủy, xe cơ giới, nên tình báo ta không phát hiện trước. Nhưng nhờ đã có chuẩn bị thường xuyên và bố trí lực lượng đúng chỗ, nên ngay từ hôm đầu quân ta đã đánh tốt. Chỉ có cánh quân cơ giới địch vào Nhà Nai là trót lọt. Bộ phận du kích đánh mìn ở hướng này của huyện Tân Uyên rất dũng cảm nhưng chưa có kinh nghiệm, bị trinh sát địch phát hiện bắn chết hai người và lấy mất hai quả mìn điều khiển bằng điện.


Chi đội cho người vào Binh công xưởng tìm tôi và Hùng. Chúng tôi ra xóm Chùa gặp anh Lung, có cả anh Mười Thọ - cán bộ công binh khu, anh Cổ Tấn Chương - Huyện đội trưởng Tân Uyên, Trừ Sùng Thới - Huyện đội trưởng căn cứ. Anh Lung bàn với chúng tôi kế hoạch “nhốt” cơ giới địch trong chiến khu. Có thể nói kế hoạch anh Lung vạch ra rất sắc sảo. Chúng tôi tin là sẽ thực hiện được, ai cũng hăng hái. Huyện đội xã đội huy động dân quân, nhân viên cơ quan và đồng bào trong căn cứ ngả cây lấp tất cả các đường xe bò từ Nhà Nai ra sông Đồng Nai và ra đường 16. Làm từng đoạn từ xa đến gần rút ngắn tầm cơ động bao vây 50 xe địch ở Nhà Nai. Trên các đường ấy có đội du kích đánh mìn chặn đầu đoàn xe. Nội trong đêm, chúng tôi phải huấn luyện cho xong các đội du kích và hừng sáng hôm sau phân ra đi bố trí các ngả. Tôi cùng với Khanh phụ trách trực tiếp đội du kích đánh mìn hướng bến Chang Chang, trên con đường mà cơ giới địch vào. Anh Mười Thọ phụ trách ngõ ra Tân Uyên còn Hùng thì chặn đường ra Mỹ Lộc. Đó là những con đường be cũ có trên bản đồ, nay trở thành những đường xe bò mọc chồi lúp xúp mà cơ giới địch muốn trở về nhất thiết phải đi qua.


Dân quân du kích do anh Cổ Tấn Chương và anh Trừ Sùng Thới tập họp về Đất Đạo là nơi trung tâm, tổ chức thành tổ đội, huấn luyện xong phân tán đi các hướng.

Chúng tôi nghiên cứu thấy hai du kích của ta hy sinh mà không đánh được xe tăng là vì địch có hai tốp bộ binh luồn rừng đi trước cặp hai bên đường. Gặp ta bố trí nó nổ súng và phăng dây điện lấy quả mìn. Nếu không bị giết thì du kích cũng bỏ chạy không ai điều khiển cho mìn nổ khi xe tới. Chúng tôi nảy ra ý kiến làm bẫy tự động. Xe tăng, cơ giới cơ động bằng bánh xe. Làm thế nào dùng sức đè của bánh xe làm chập điện nổ mìn. Thế rồi bằng những thanh vạt giường tre trong nhà dân và vỏ lon đồ hộp, chúng tôi làm ra những cái bẫy khi bị lực đè lên mạnh hai miếng kim loại chập nhau nối mạch điện làm nổ quả mìn. Làm kiểu này lại rất tiết kiệm dây điện và pin. Chỉ dùng vài ba cục pin và mấy tấc dây điện là được một quả mìn tự động.


Đêm ấy, dưới ngọn đèn dầu, chúng tôi lên lớp cho các chiến sĩ du kích. Anh em đều là thanh niên nông dân, gan to mật lớn nhưng vừa mới chống nạn mù chữ, cần phải làm cho anh em hiểu và tin có cơ sở khoa học thì khi dùng mới sáng tạo. Tôi lo nhất là anh em làm chập dây điện mìn nổ tan xác thì thật là đáng buồn. Chính cậu Áp là thợ Binh công xưởng mà còn lúng túng làm nổ quả mìn trên đường 14, chút nữa thì anh Tám Nghệ - anh Lung - anh Quang và chúng tôi đi đời rồi.


Tôi giảng cho anh em về lý thuyết thật đơn giản, thật chậm rãi, anh Hùng và anh Mười Thọ phụ giáo, minh họa bằng thao tác mẫu với bóng đèn pin thay cho quả mìn. Tôi nói đi nói lại: “Các đồng chí thấy không, hai thanh vạt tre có ốp miếng thiếc bị tách rời ra bởi những cái nêm tre này, hai miếng thiếc bị bánh xe đè lên sẽ chập lại nối mạch điện làm cháy bóng đèn trong quả mìn, thì mìn nổ. Đúng, mìn nổ. Đấy các đồng chí thấy tôi cho sợi dây đồng này nối hai miếng thiếc, bóng đèn cháy. Rõ chưa? Bây giờ tôi làm lại tôi nối hai cái râu của bóng đèn vào với hai cái râu của cái gấp tre, bóng đèn không cháy vì chưa chập điện. Khi bánh xe tăng của địch cán lên làm hai miếng thiếc chạm nhau thì bóng đèn cháy nghĩa là mìn nổ. Cho nên cấm không được để chạm vào nhau giữa hai miếng thiếc dù chỉ là một sợi dây điện nhỏ bằng sợi tóc, coi đây: bóng đèn cháy, thấy chưa?”.


Tôi chỉ định cho học viên nói lại lý thuyết, hỏi những chỗ chưa rõ và mỗi người thao tác một lượt với bóng đèn.

Xong đâu đó, tôi cho anh em đi nấp sau các gò mối coi tôi thao tác mắc bẫy điện vạt tre vào một quả mìn thật, to bằng cái nồi ba. Thao tác đến đâu tôi nói đến đó. Lúc tôi nối sợi dây điện thứ hai vào râu của quả mìn, tuy đã nắm rất chắc, nhưng tôi vẫn ớn xương sống nổi da gà và các anh em khác chắc cũng rất hồi hộp, không khí im phăng phắc. Mắc xong tôi đặt tay lên quả mìn giải thích:

- Bây giờ có sức nặng, thật nặng, đè lên làm gẫy vạt tre hai miếng thiếc đụng nhau thì sao? - anh em trả lời: mìn nổ - Phải mìn nổ, nếu Tây có cầu Chúa cho đừng nổ thì nó cũng cứ nổ. Còn ta cũng vậy, lúc bố trí mìn hay lấy mìn lên mà làm chạm nhau giữa hai miếng thiếc bằng lưỡi dao hoặc sợi dây điện nhỏ bằng sợi tóc thì sao nè? - nổ! Phải rồi, ta có cúng heo xin đừng nổ nó cũng cứ nổ.


Lớp học giải tán lúc 11 giờ đêm. Anh Cổ Tấn Chương tổ chức thành ba đội mỗi đội có ba tổ mang theo 3 quả mìn và nhiều lựu đạn gài. Riêng đội của tôi được 5 quả. Dù sao tôi tin anh Mười Thọ và Đặng Sĩ Hùng sẽ trực tiếp thao tác không sợ rủi ro. Còn đội của tôi thì đã có tôi và Khanh.


Ngày 13 tháng 1, cánh quân cơ giới địch, sau hai ngày không làm được trò trông gì ở Nhà Nai, lục tục kéo ra theo đường cũ. Còn cách bến Chang Chang độ 1 cây số thì trinh sát địch vướng lựu đạn gài 2 bên đường xe bò. Chúng bắn như một trận chạm súng lớn. Rồi xe tăng tiến lên bị mìn nổ. Địch dừng lại bắn, sục sạo hai bên rừng rồi lại đi, lại bị nổ mìn lần thứ hai. Chúng buộc phải bố trí trú quân tại chỗ qua đêm. Hôm sau, ngày 14 bọn Pháp phải đưa một đơn vị viện binh và công binh từ Sài Gòn lên loay hoay mãi đến ngày 15 chúng mới mở được đường đưa đoàn cơ giới có máy bay hộ tống chạy tháo thân ra Bàu Cá Trê - đường 16. Bọn viện binh cũng bị vướng lựu đạn gài chết thêm mấy đứa. Chúng nó vừa qua khỏi, tôi, Khanh, và anh em du kích đến xem, nó bỏ lại một xác xe tăng, rất nhiều đoạn xích, quần áo bông băng máu me bê bết. Hai bên rừng chúng còn để lại những tấm nhôm hình chữ nhật dùng lót đường cho bộ binh chúng bước qua để tránh lựu đạn gài và mìn chống bộ binh của ta. Khi về anh em nói có một cái đùi lính tây mắc trên ngọn cây, nhưng lúc đó tôi mải nhìn dưới đất nên không trông thấy.


Trên các hướng khác, đại đội A cùng với bộ đội lưu động của khu phối hợp với dân quân du kích, diệt một số địch, thu 1 trọng liên và một số súng nhỏ, 400 chiếc dù bông. Đặc biệt là lần này địch vào các xóm “đời sống mới” gặp phải hầm chông cạm bẫy, buộc chúng phải chùn chân. Đáng lẽ chúng rút sớm hơn, nhưng vì phải chờ giải tỏa cho cánh quân cơ giới Nhà Nai nên đêm ngày 16 tháng một địch mới rút lui toàn bộ ra khỏi Chiến khu Đ.


Đánh thắng trận càn lớn này của địch - lần đầu tiên có xe tăng thiết giáp vào chiến khu - nhân dân ta rất phấn khởi. Nhân đó chính quyền và các đoàn thể cùng với tỉnh đội huyện đội phát động phong trào xã chiến đấu liên hoàn. Chôn cọc chống xe tăng trên các bến, các mối đường và cắm thêm cọc chống nhảy dù rộng khắp trên các ruộng đồng các trảng trống. Dân quân du kích xã, ấp phát triển thêm, khí thế bừng bừng. Các xã đều dựng lò rèn xưởng mộc làm chông tre chông sắt, hầm chông tự động, những cạm bẫy nổ và không nổ. Chiến khu Đ vững vàng thiện chiến, Chiến khu Đ càng phát triển toàn diện cuộc sống mới trong mối quan hệ đoàn kết chiến đấu sản xuất, trở thành niềm tự hào và là chỗ dựa về tinh thần của nhân dân vùng tạm chiếm và vùng du kích. Quân địch thì cũng bắt đầu đánh giá: Bình luận trên bản tin AFP “Chiến khu Đ còn thì Sài Gòn mất”.


Cũng qua cuộc chống càn này bộc lộ rõ hơn chỗ yếu của bộ đội lưu động Hoàng Thọ. Trên đường về Chiến khu Đ, lúc dừng chân ở An Điền, đơn vị này đã được du kích dẫn đi đánh một trận phục kích rất ngon, diệt địch lấy khá nhiều súng. Nhưng sau trận đánh, đơn vị vội vã lưu động ngay để tránh địch phản kích, không chia cho du kích một khẩu súng nào cả. Lời bình của giới quân sự đối với bộ đội lưu động của Khu: “dễ đánh khó thôi, đánh xong te liền, dân quân lãnh đủ” - đã được chứng minh ở An Điền, về Chiến khu Đ được bố trí ở Giáp Lạc -Bưng Kè, một dãy ruộng hẹp giữa rừng trên đường tắt từ Lạc An xuống Mỹ Lộc. Địch nhảy dù đúng như dự kiến, rất ngon, thế mà bộ đội Hoàng Thọ chỉ nổ súng một ít rồi rút lui. Chờ khi địch cơ động đi nơi khác liền huy động ra lấy dù, lượm vỏ đạn. Vì vậy mà tuy chi đội đang thiếu lực lượng để đánh đường 20 sắp tới. Ban chỉ huy nhất trí không sử dụng bộ đội Hoàng Thọ và tuyệt đôi giữ bí mật trận đánh này. Sau đó khu trưởng điều đơn vị này xuống Phù Mỹ (Bà Rịa).


Đối với chúng tôi, những công nhân Binh công xưởng, thì trận đánh xe tăng ở bến Chang Chang, tuy mới hạ được 1 chiếc, nhưng đó là cuộc thí nghiệm thực tế vô cùng quý báu đối với loại Ba-zô-min mới cải tiến. Sau trận Đồng Xoài và trước đó là trận dốc 47 trên quốc lộ 15 của đại đội B, mìn bị lép - trái nổ thì không hạ nổi xe thiết giáp, bộ đội mất lòng tin. Chúng tôi rất buồn. Thậm chí có cán bộ ở đơn vị chiến đấu nghi ngờ là chúng tôi muốn đề cao cá nhân nên khi Binh công xướng đi đánh thì đem theo mìn tốt, còn phát cho bộ đội thì mìn xấu. Anh em có biết đâu, trong hoàn cảnh thiếu thôn đủ mọi bề mọi thứ rất khó bảo đảm cho thuốc mồi khỏi bị ẩm trong khí hậu chứa nhiều lượng hơi nước, chưa nói là anh em ta phải qua sông qua suối, lội ruộng lội bưng dìm vũ khí xuống nước. Còn chúng tôi, đi ra trận với đầu nổ trong túi vải bọc kỹ mang theo bên mình, luôn luôn được sưởi ấm bằng nhiệt độ của người. Khi chôn mìn xong, chúng tôi mới lắp đầu nổ vào, lại còn nối dây, thử điện, đứt tắc chỗ nào chúng tôi biết và thay ngay bằng những phụ tùng dự bị.


Chiếc xe tăng địch bỏ lại bến Chang Chang thật có nhiều ý nghĩa. Nó là một chứng tích về niềm tin và lòng tự hào của bộ đội, du kích và nhân dân trong căn cứ Chiến khu Đ. Người được ăn ngon ngủ yên hơn cả có thể là anh Ba Lung, vì trong trận tới trên đường 20, anh đảm nhiệm vai trò quyết định thay cho anh Tám Nghệ.


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:04:32 pm
Xuân chiến khu

HUỲNH VĂN NGHỆ


Xuân vẫn về đây giữa chiến khu

Rừng thiêng nay bỗng hết âm u.

Núi non hớn hở thay màu áo

Suối biếc ngăn reo chuỗi hạt châu

Ánh sáng tưng bừng trên lá non

Chim đồi mát giọng hát véo von

Xa xa vọng gác thùng nhịp trống

Bướm giật mình bay: những mảnh hồn

Chiến sĩ từng đoàn dưới nắng tươi

Bên hoa ngồi kể chuyện, nô cười:

“ Xuân sau ăn tết nơi đâu nhỉ?

Tùy bóng cờ kia sẽ trả lời”.

Phấp phới cờ bay dưới gió xuân

Quân ca từng khúc nhịp xa, gần

Từng đoàn chiến sĩ đi ra trận

Có bướm chim đưa tận núi rừng.



Tết kháng chiến đầu tiên - CKĐ 1946


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:05:48 pm
Ngày hội

Biên Hòa đã mất

Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao

Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào

Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc

Già, trẻ, gái, trai rộn ràng tập hát

Tiến quân ca.

Anh Nguyễn Bình cũng đã về đây

Xem địa thế thấy sông dài rừng thẳm

Tình quân dân đầm ấm

Anh xuống ngựa buộc cương

Đồng bào mừng, thầm gọi “ông Trung ương"

“Của Bác Hồ gửi cho Nam Bộ”

Lạc An bỗng tưng bừng ngày hội

Kéo về đây đến bốn, năm chi đội

Kim Trương, Tô Ký, Vũ Đức, Tấn Chùa,

Chiến khu Đ của tiểu đội ngày xưa

Bỗng lớn lên như Phù Đổng.

Xóm, thôn rộn ràng cờ, trống

Chim rừng hốt hoảng

Tìm cành cao nhất đứng nhìn nhau.

Giữa rừng vang từng nhịp búa thầu

Của binh công xưởng đầu tiên làm lựu đạn.

Đáy sông xanh cũng xôn xao mây trắng

Thuyền ngược xuôi gạo, muối, giọng hò.

Phố Biên Hòa thị xã mến yêu

Chiến sĩ Lạc An yên giấc ngủ.



Chiến khu Đ - 1947


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:06:54 pm
Ngày hội


Biên Hòa đã mất

Chiến khu Đ cờ vẫn đỏ ngọn cao

Du kích Tân Uyên ngày đào đắp chiến hào

Đêm tập một, hai vang trường Đất Cuốc

Già, trẻ, gái, trai rộn ràng tập hát

Tiến quân ca.

Anh Nguyễn Bình cũng đã về đây

Xem địa thế thấy sông dài rừng thẳm

Tình quân dân đầm ấm

Anh xuống ngựa buộc cương

Đồng bào mừng, thầm gọi “ông Trung ương"

“Của Bác Hồ gửi cho Nam Bộ”

Lạc An bỗng tưng bừng ngày hội

Kéo về đây đến bốn, năm chi đội

Kim Trương, Tô Ký, Vũ Đức, Tấn Chùa,

Chiến khu Đ của tiểu đội ngày xưa

Bỗng lớn lên như Phù Đổng.

Xóm, thôn rộn ràng cờ, trống

Chim rừng hốt hoảng

Tìm cành cao nhất đứng nhìn nhau.

Giữa rừng vang từng nhịp búa thầu

Của binh công xưởng đầu tiên làm lựu đạn.

Đáy sông xanh cũng xôn xao mây trắng

Thuyền ngược xuôi gạo, muối, giọng hò.

Phố Biên Hòa thị xã mến yêu

Chiến sĩ Lạc An yên giấc ngủ.



Chiến khu Đ - 1947


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:08:26 pm
Rừng nhớ người đi

Kính tặng Trung tướng Nguyễn Bình,
những chiến sĩ Lạc An, đã từ biệt Chiến khu Đ
để về Đồng Tháp năm 1946.


Từ độ chàng đi vung kiếm thép

Mịt mù khói lửa khuất binh nhung

Rừng xanh thương nhớ như chinh phụ

Hồi hộp nghe từng tin chiến công.

Chòi cũ còn đây mái xác xơ

Tro tàn bếp lạnh, nhớ người xưa

Còn đâu những sáng tưng bừng nắng

Thử súng rền vang dưới bóng cờ.

Còn đây mái suối, chiếc cầu con

Bến đá chân anh bước đã mòn

Chim lắng, nước ngừng không hát nữa

Bãi hoang, dấu ngựa cỏ rêu phong.

Ngày đi có bướm chim đưa tiễn

Cành xanh bịn rịn vuốt yên cương.

Từ biệt Lạc An về Đồng Tháp.

Đâu biết rừng xanh cũng đoạn trường.

Từ đó Lạc An mang nhớ thương

Ba thu sầu rụng lá muôn vàn

Bốn phương lửa khói tung mù mịt

Rừng ngại ngùng cho cánh phượng hoàng.


1947


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:10:09 pm
Một trận chống càn

Rùng rợn tiếng loa vang

Giữa rừng khuya giá lạnh

“Chống càn... chống càn..."

Đồng bào chuẩn bị chống càn...”

Máy nói trung đoàn tiếp theo reo lệnh:

“Chôn ngay máy tiện

Tắt hết lửa lò

Tháo giấu máy in

Gánh dời kho gạo

Sơ tán hết trẻ thơ, già yếu

Ngụy trang cả hầm lúa, hang heo...”

Máy nói cứ reo...

Trinh sát chạy chân không bén đất.

Tin tức trở về từng phút, từng giây

“Tây đã vào Đất Cuốc

Xe tăng gầm phía Bào Đế, Tân Dân

Ở Lạc An, chúng đang đốt nhà dân

Nhổ từng gốc khoai

Cướp từng tô thóc.

Phía Cây Đào, rền tiếng súng ca nông

Đất Tân Tịch rỗ hố bom, đại bác.”

Rách nát thân dừa

Xác xơ ngọn chuối

Hai vợ chồng nhìn nhau không nói

Nhặt từng mảnh xương con

Gói lại

Đem chôn

Lệ trào tuôn

Không tắt lửa căm hờn

Trong bốn mắt.

Ôi chiến khu Tân Uyên!

Lại chảy nửa mái tranh, rẫy lúa,

Lại chảy nữa máu đồng bào đau khổ!

Ngồi đứng không yên

Tiểu đoàn chủ lực từ Long Nguyên

Mừng được lệnh đạp đêm về căn cứ.

Cành lá ướt, sương vuốt ve mũ, áo

Đồng bào gánh bánh, nước đón mừng...

Trời vừa rạng đông

Sông Đồng Nai bỗng cười tung sóng trắng

Thủy lôi ta hạ tàu giặc ở Xóm Đèn

Tây trắng cố dìm Tây đen

Chen nhau bơi, chui đầu vào lưới đạn.

Địa lôi ta nổ trên đường Hố Cạn

Làm gục đầu mấy chiếc xe tăng

Nát thây bọn ngụy thổ, Việt gian

Còn hai chân vướng tòn teng trên cành.

Băng hầm chông, lựu đạn.

Dân quân hạ “Ông lớn” khắp nơi.

Bọn nhảy dù chân chưa bén lúa tươi

Bị cọc bén chĩa ngay lòi ruột

Con “đầm già” bị một chùm đạn mút

Lảo đảo bay về khói vuốt theo đuôi.

“Giàn nhạc” ca nông đã câm họng lâu rồi

Chiếc “cán gáo” đã chuồn mất hút

Tiếng kèn của tiểu đoàn chủ lực

Đã vang rền phía Lò Than

Đồng bào reo mừng

Mẹ vội hái củi khô

Đun thêm nồi bánh tét,

Vừa vái Trời, vái Phật

“Phù hộ trung đoàn, giết giặc lập công!”

Nồi bánh tét chưa sôi

Tin giặc đã chạy rồi

Bỏ lại cả lon quan, xác lính.

Đêm liên hoan mẹ hò lanh lảnh:

“Khu Đ đi dễ khó về

Lính đi bỏ mạng, quan về mất lon.”


CKĐ 1952


Tiêu đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950
Gửi bởi: quansuvn trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 08:11:48 pm
Chiến khu Đ chống bão

Rùng rợn giữa đêm mưa

Tiếng vợ khóc gọi chồng chới với:

“Con trôi rồi, con trôi theo bè chuối...!”

Không tiếng trả lời

Chỉ từ nóc nhà tranh

Tiếng chó đứng sủa hời.

Trời sáng rồi, mưa vẫn cứ rơi

Những nóc nhà trôi

Những thân cây đổ.

Suối ngập thành soong, sông tràn thành biển

Mênh mông sóng vỗ chân trời.

Thôi hết rồi, hết lúa, hết khoai

Chiến khu Đồng Nai lại đói.

Con ngậm củ mài, cha nhơi củ chuối

Ướt mắt chồng nhìn vợ nuốt vỏ khoai

Đứt ruột mẹ tiếng con thơ đòi bú.

Voi cũng trôi tận Cù Lao Phố

Mấy con trâu vướng cột cầu Gành.

Một tượng phật dời lên nóc đình

Đành chắp tay nhìn dòng nước lũ.

Trút cả hủ, còn không đầy nắm muối

Cho ngày ăn cả đại đội Lam Sơn.

Ba người chia một vắt cơm.

Tạm đỡ dạ cả tiểu đoàn chủ lực.

Chèo chống ngày đèm, lênh đênh trên mặt nước.

Vớt của, vớt người.

Thân trần chèo chống dưới mưa.

Tiếng cười vẫn nô đùa sóng gió.

Từng manh chiếu, quả dừa, chiếc bừa, bó đũa.

Vớt lên mang trả lại từng người.

Đồn Rạch Đông nước ngập sắp trôi

Lính ngụy lên nóc đồn kèu cầu cứu:

“Huyện đội Vĩnh Cửu ơi... Vĩnh Cửu,

Cứu chúng em, ơn trả, nghĩa đền”

Chiến sĩ ta, cười reo lên

Nghe lệnh đồng chí chính trị viên:

“Chèo nhanh lên, cứu chúng nó...”

Nhưng giặc Pháp muốn thừa cơ trận bão

Đánh chiến khu, một trận cho tiêu tan

Dồn sức tấn công, lừa bịp, chiêu hàng.

Tăng cường truyền đơn và bom pháo.

Cả chiến khu đêm nay không ngủ

Tụ năm, tụ ba,

Bàn tán về tiểu đoàn ba trăm ba:

“Dù thiếu cơm, dù thiếu áo

Đánh giặc càng hay,

Ăn củ mì cũng giỏi

Thế nào cũng thắng, và... phải thắng!"

Bỗng được tin loa:

“Ta tiêu diệt hoàn toàn đồn Bến Sắn.”

Tiệc liên hoan có bát cơm gạo trắng

Tiếng cười, tiếng hát, vang rừng.


Hà Nội 1960