Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 06:05:25 AM



Tiêu đề: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 06:05:25 AM

        - Tên sách : Chúng tôi và MiG-17

        - Tác giả : Lưu Huy Chao;  Thủy Hướng Dương (ghi)

        - Nhà xuất bản Công an nhân dân

        - Số hóa : Giangtvx

(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72850846_515189892544229_8956911217838915584_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQnm9_dTWSpKneEYXdyVDJIBLqmal1vfJ_2ZwpVu10FhGIVHigdenYjmpebfXdq3_Zk&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=c62abc5ea2d8a79087744dc7d4775147&oe=5E62C089)


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 10:02:31 AM
 
LỜI CẢM ƠN CỦA TÁC GIẢ

        XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN:

        * ĐẢNG ÚY VÀ BỘ TƯ LỆNH QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN;
        * CỤC CHÍNH TRỊ QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN;
        * HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN ;
        * CÁC ĐOÀN KHÔNG QUÂN B70. B71 VÀ B72;
        * TRƯỞNG SỸ QUAN KHÔNG QUÂN;
        * CÁC ĐOÀN KHÔNG QUÂN YÊN THẾ VÀ SAO ĐỎ;
        * CỤC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM;
        * HÃNG HÀNG KHÔNG QUỐC GIA VIỆT NAM;
        * CÁC SÂN BAY QUỐC TẾ: HÀ NỘI, ĐÀ NẴNG, TÂN SƠN NHẤT;
        * ĐOÀN BAY 919;
        * TỔNG CÔNG TY BAY DỊCH VỤ VIỆT NAM;
        * CÔNG TY BAY DỊCH VỤ MIỀN BẮC;
        * CÔNG TY BAY DỊCH VỤ MIỀN NAM;
        * CÁC ĐƠN VỊ SÂN BAY KIẾN AN, SÂN BAY VINH;
        * BẢO TÀNG QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN;
        * NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN;
        * CÁC ĐỔNG ĐỘI VẢ BẠN CHIẾN ĐẤU CŨ;
        * CÁC ANH EM THƯƠNG BINH VÀ THÂN NHÂN LIỆT SĨ;
        * BẠN BẺ, NGƯỜI THÂN VÀ GIA ĐÌNH...

        ĐÂ GIÚP ĐỠ, ỦNG HỘ TÔI CẢ VẾ TINH THẨN VẬT CHẤT, CUNG CẤP TƯ LIỆU. TỔ CHỨC BẢN THẢO VÀ THỤC HIỆN ẤN HÀNH CUỐN SÁCH NÀY !

                                HÀ NỘI. THÁNG 12 NĂM 2009
                                      ĐẠI TẢ LƯU HUY CHAO

(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75349127_516002795796272_5324476441524436992_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmoiCuxSpD75X_xVPb1qKJky6_esphBgjo9DkA0WGk7QgydaA-SCZtQz-s4XwHfbXY&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=258636f775d3d49b06985d222598c07e&oe=5E63DC0F)


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2019, 03:03:07 PM
   
Chuyện của những anh trai làng
tạm xa việc đồng ruộng, cấy cày,
đi lái máy bay MiG đánh giặc

        Vào một ngày đẹp trời cuối năm 2008, tôi bất ngờ nhận được cuộc điện thoại từ một số máy lạ. Giọng một người đàn ông đã có tuổi:

        - Xin lỗi, anh là Đặng Vương Hưng phải không?

        - Dạ vâng, thưa... ông là ai và tôi có thể giúp được gì chăng?

        - Tôi là Nguyễn Trọng Đắc, cùng nghề làm văn chương như anh.

        - Vâng, em xin kính chào nhà văn Nguyễn Trọng Đắc!

        - Chào anh! May quá, người tôi cần đã gặp được rồi. Xin vào đề ngay: Tôi có một người bạn, là Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Phi công MiG-17. Ông ấy đang muốn viết và in một cuốn tự truyện. Tôi rất muốn nhờ anh giúp cho...

        - Vậy sao nhà văn Nguyễn Trọng Đắc không trực tiếp viết luôn?

        - Không, tôi chỉ chuyên về sáng tác và hư cấu văn học, còn ông bạn tôi lại cần một người tâm huyết với thể loại "Chuyện đời tôi" và nhiều kinh nghiệm tổ chức tủ sách về đề tài tư liệu chiến tranh như "Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam" và đặc biệt là "Mãi mãi tuổi 20”, mà anh là tác giả của những sự kiện ấy.

        - Cảm ơn bác đã động viên và nhớ đến, nhưng quả là thời gian này em quá bận với công việc sự vụ chuyên môn biên tập sách, lại còn phải dành thòi gian chăm sóc cho trang website lucbat.com, nên không dám hứa trước điều gì.

        - Tôi rất hiểu điều đó. Đến được với nhau hay không còn là cái duyên nữa. Nhưng chí ít thì anh hãy nhận lời tới thăm nhà và động viên ông ấy. Xin hãy gọi cho Đại tá Lưu Huy Chao, số điện thoại: 01699630167.

*

        Theo lời hẹn trước, tôi và bạn văn Thủy Hướng Dương (một admin thường trực của website lucbat.com) cùng đến thăm nhà ông Lưu Huy Chao ở số 35, phố Tô Vĩnh Diện, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

        Đón chúng tôi, là một người dàn ông dáng dong dỏng, nói giọng xứ Thanh, tuổi đã ngoài 70 nhưng trông còn rất phong độ - Đó chính là Đại tá, Cựu phi công MiG-17, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Huy Chao. Đặc biệt là, cái sự nhiệt tình của ông, thì dù gặp lần đầu, cũng khó mà từ chối được lời đề nghị: "Mong muốn có một cuốn sách để tri ân với đồng chí, đồng đội; không chỉ cho riêng tôi, cho những người đang sống, mà cho cả những người không còn nữa. Đấy là tâm nguyện cuối đời của một người lính già".

        Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận là sẽ giúp Anh hùng Lưu Huy Chao thực hiện tâm nguyện nêu trên. Tôi đã tiến cử: Thủy Hướng Dương, một cựu nữ sinh chuyên văn của trường Lê Hồng Phong, Nam Định sẽ giúp ông sưu tầm tư liệu và ghi chép lại những câu chuyện đáng nhớ nhất. Còn tôi, sẽ là người hoàn thiện bản thảo trước khi đưa in. Chúng tôi cùng cam kết là sau một năm cuốn sách viết về những cựu Phi công MiG-17 sẽ được trình làng, vối độ dày ít nhất là 500 trang in, khổ lớn...

        Chúng tôi đã có những chuyến đi tới nhiều sân bay quân sự; được nhìn tận mắt, sò tận tay những chiếc máy bay huyền thoại một thòi chưa xa, thậm chí còn được ngồi vào buồng lái của những chiếc máy bay phản lực kiểu mới... Chúng tôi đã được tiếp xúc với nhiều nhân chứng của một thời lịch sử hào hùng. Họ là những cựu Phi công MiG-17, dù sau này một số người đã chuyển loại, lái cả MiG-21 và một số loại máy bay chiến lợi phẩm của Mỹ thì MiG-17 vẫn là trung tâm của những hồi ức không thể nào quên, những câu chuyện cảm động, lạ lùng đến ly kỳ, dường như chỉ có trong chiến tranh.

        Liên quan đến MiG-17, dĩ nhiên là có cả MiG-21, rồi những trắc thủ ra-đa, những sĩ quan dẫn đường và cả những người thợ máy bình thường, nhưng vô cùng quan trọng vì lo bảo đảm kỹ thuật cho máy bay. Cũng liên quan đến MiG-17 còn có cả những phi công lái trực thăng, bộ đội tên lửa, cao xạ, dân quân, tự vệ...

        Nhưng trước hết, phải là những phi công lái MiG-17. Họ là lớp phi công tiêm kích đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam. Hầu hết, đó là những anh trai làng, vừa tạm biệt tay cày, tay cuốc, ruộng đồng là lên đường đi học lái máy bay chiến đấu. Tuy trình độ văn hóa còn có hạn, nhưng lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm chiến đấu lập công của họ thì có thừa. Khi vào trận, bắn hết đạn, họ sẵn sàng xả thân lao cả máy bay mình vào máy bay giặc... Nhiều người trong số họ đã hi sinh trong các trận không chiến bảo vệ vùng trời Tổ quốc và “Mãi mãi tuổi 20”. Nhưng họ đã cùng đồng đội bắn rơi hàng trăm máy bay hiện đại của Mỹ, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của một kẻ địch hùng mạnh nhất thế kỷ.

        Lịch sử dân tộc sẽ mãi ghi công các anh - Những “Anh hùng nông dân lái MiG-17” một thời.

*

        Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Huy Chao là một trong số ít những cựu Phi công Việt Nam xuất kích tới trên 100 lần. Trước khi vào bộ đội, rồi trúng tuyển đi học lái máy bay phản lực ở nước ngoài, Lưu Huy Chao mới học hết lớp 7 (nhiều đồng đội của ông chỉ mới học hết lớp 5, thậm chí là lớp 4); vừa đi học, vừa đi cày, cấy lúa. Sau này, khi đã bay thành thạo MiG-17, chỉ huy cả một Đại đội bay, Lưu Huy Chao vẫn giữ nguyên cái chất của một anh nông dân Thanh Hóa: ông từng lệnh cho các anh em phi công trong Đại đội đi vào xóm mượn... ruộng của dân để... cấy lúa nếp, gần sân bay Kép. Vụ ấy, các phi công trong Đại đội của Chao đã thu được hơn một tạ thóc nếp. Rồi Chao quyết định mang tất cả số thóc ấy đi... nấu rượu lậu. Chả là Lưu Huy Chao, Nguyễn Văn Bảy và nhiều anh em trong đơn vị đều rất mê rượu "cuốc lủi" và nghiện... thuốc lào nặng.

        Nhưng cuốn sách này không chỉ viết về Lưu Huy Chao. Ông chỉ đóng vai trò như một nhân chứng, như người dẫn chuyện cho bạn đọc yêu quý. Bởi thế, chúng ta sẽ gặp trong cuốn sách này những câu chuyện kể, những kỷ niệm sâu sắc của nhiều người khác nữa. Từ anh Chủ nhiệm Quân y chuyên săn sóc sức khỏe cho phi công; vừa nghe thông tin có anh em ta phải nhảy dù, là vội băng rừng lội suôi đi tìm mấy ngày liền, đến nỗi khổ của những người vợ các phi công bị “khát yêu”. Từ chuyện “anh cả” của những người thợ máy đã nghĩ ra cái "hăng-ga" độc đáo cho

        MiG-17, kiểu “ma-de-in-Việt-Nam” đến chuyện không quân ta tự khôi phục những chiếc máy bay cường kích A-37 của Mỹ phục vụ cho chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam...

        Đại tá Lưu Huy Chao tâm sự: Ông không có ý định “viết lại lịch sử’, mà chỉ muốn cung cấp thêm cho bạn đọc một góc nhìn của một “người trong cuộc". Đó có thể là những cảm nhận mang tính riêng tư và nhất thời; không phải là sự đánh giá, đúc kết bản chất của sự vật và hiện tượng sau chiến tranh.

        Bởi thế, có thể một số chi tiết, một vài nội dung của cuốn sách này chưa đồng nhất với quan niệm của ai đó; nên tác phẩm rất cần được quý bạn đọc góp ý và bổ sung thêm cho hoàn thiện hơn.

Hà Nội, tháng 12 năm 2009          
Nhà văn ĐẶNG VƯƠNG HƯNG        


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2019, 08:51:36 AM
           
TUỔI THƠ KHÔNG ÊM Ả

        Gần Tết, Đại tá Lưu Huy Chao mời mấy người bạn già cùng ngồi uống trà tại nhà ông.

        Tiếng cười nói rổn rang vui vẻ vang lên trong căn phòng ấm cúng. Các ông đều đã ngoài bảy mươi, gần tám mươi tuổi cả rồi. Trong số các bạn bè cùng lứa của Lưu Huy Chao, có người là cán bộ Nhà nước, nhà giáo, có người là giáo sư, tiến sĩ; nhiều người là kỹ sư, cử nhân, giám đốc công ty còn ông là Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, một trong những người được nể trọng nhất.

        Đến cỡ tuổi này, thật khó để có dịp tất cả bạn bè ông được gặp nhau đầy đủ. Mỗi người một câu chuyện, còn cựu Phi công, Anh hùng Lưu Huy Chao thì buổi gặp mặt cuối năm ấy bỗng dưng khiến ông nhớ về tuổi ấu thơ, một thời đã gắn vối ký ức không thế nào quên cho đến tận bây giờ -  khi ông đã sống bình yên với vợ con, và sau khi đã đi qua hai cuộc kháng chiến, trải qua mấy chục năm chiến tranh, bom đạn.

        Đại tá Lưu Huy Chao kể...

        Làng Thanh Oai (Đông Anh, Đông Sơn, Thanh Hóa) của tôi là một miền quê thuần nông, vào những năm 1950 chỉ vẻn vẹn có vài chục nóc nhà với hơn 200 nhân khẩu, hầu hết là làm nghề nông, chẳng có thêm một nghề nào khác.

        Ruộng đồng rộng mênh mông, cò trắng về đầy đồng ăn tôm, ăn cá. Lứa chúng tôi sinh ra tuy là thời chiến tranh, nhưng vì làng tôi thuộc vùng tự do, nên chưa phải nhìn thấy những trận chiến giáp lá cà, cho dù bọn Pháp đã hoành hành khắp nơi. Thỉnh thoảng tôi có nghe tiếng súng, tiếng bom của máy bay địch bắn đì đùng phía làng ngoài, hoặc chỗ Rừng Thông.

        Làng tôi cũng đã có những chú, những anh lên đường đi bộ đội tiến về Tây Bắc, nhưng dường như chúng tôi vẫn được hưởng sự bình yên của xóm làng miền Trung chưa bị xáo trộn lên bởi bom đạn giặc thù.

        Tôi nhớ, ngày trước làng tôi có cái nếp nhà thờ họ, mái ngói ta, rêu phủ xanh đen rì, thờ Cụ tổ họ Lưu là Lưu Ngạn Quang.

        Cụ Lưu Ngạn Quang đỗ Tiến sĩ đã làm đến chức Tả Thị Lang, thời Hồng Đức (Hậu Lê). Tôi tự hào là hậu duệ đời thứ 7 của cụ. Những buổi tối sáng trăng, các cụ già thường kéo nhau ra sân đình rót trà mời nhau, ngâm nga mấy câu thơ thế này:

Làng ta rợp bóng dừa xanh
Dưới ao cá lặn vươn mình nên thơ...

        Hay:

Có ông Hoàng Giáp Văn Quang
Sân đình đó chót hai hàng sơn tô...

        Ngày còn nhỏ, tôi nổi tiếng nghịch ngợm và láu cá, nhưng những trò láu cá của tôi thì không bao giờ có thể đánh lừa bố tôi được.

        Bố tôi là Lưu Huy Nghếch. Cái tên "Nghếch" của ông là do ngày bé, ông bà nội tôi sinh ra bố gần tám năm mới biết nói. Đã thế, bố tôi lại khờ chứ không nhanh nhẹn như những đứa trẻ khác, nên ông bà nội mới đặt cho bố cái tên "Nghếch" đó. Vậy nhưng lớn lên rồi, bố tôi lại rất ham học, nên cuối cùng thì ông cũng học hành tốt hơn cả và làm nghề dạy học trong làng.

        Ngày ấy, làm nghề dạy học chỉ là dạy chữ Hán mà thôi. Bố thường bắt tôi ngồi cả buổi sáng học chữ Nho. Oái oăm là cái tính của tôi có chịu ngồi yên bao giò? Cứ tranh thủ lúc bố không để ý là tôi lại tót đi chơi, lúc thì đánh đáo vói thằng Sam, thằng Tân, khi lại đi trèo cây bứt trộm ổi, trộm khế với thằng Nửu...

        Có lần tôi mải trèo cây thế nào mà cái cành ổi tự nhiên gãy gập xuống. Nó không gãy hẳn mà lại lơ lơ lửng lửng khiến cho cái áo của tôi mắc vào đó, còn hai tay tôi thì ra sức bám lấy cành đề không bị rơi phịch xuông đất. Loay hoay mãi mà không xuống được, tôi đâm hoảng, hét toáng lên:

        - Ối giời ôi, cứu tôi với! Ai cứu tôi với không tôi chết đây!

        Tôi chưa kêu dứt câu, thì thấy tiếng của mẹ tôi la thất thanh:

        - Thằng Chao! Ông ơi, ra xem thằng Chao nó làm sao kìa! Con ơi là con! Mày làm gì mà lại leo lên đó. Ông xem, ông đỡ nó xuống không nó rơi xuông đất là đập đầu chết còn gì!

        Tiếng bố tôi đủng đỉnh vọng ra từ nhà ngang:

        - Bà cứ kệ nó, để nó treo trên đó, nó leo lên được thì khắc tìm cách xuống được, đừng có lo!

        - Ông ơi là ông! Con ông chết đến nơi rồi mà ông vẫn còn nói thế ư? Đấy nó la ầm ầm thế, chắc sắp rơi đến nơi rồi! - Mẹ tôi càng thúc giục và lúc này thì bà đã tận mắt nhìn thấy tôi bị treo ngược cành cây thế nào.

        Nghe nói thê, bố tôi mới nhẩn nha bước ra nói:

        - Bà cứ để yên đó, nó mà làm sao thì nó đâu còn kêu la thế này được. Phải để cho nó biết, chứ bà cứ thấy nó kêu là đến liền à? Nó lừa ai, chứ đâu lừa tôi được!

        Bố nói vậy, nhưng cũng đỡ tôi xuống, nhưng lần ấy, ông đã đánh tôi một trận bằng thước lim nhớ đời.

        Nói thế chứ, cái tính hiếu động của tôi lúc bấy giờ chẳng ai kiềm chế được. Tôi vẫn rình cơ hội những lần mẹ tôi sai đi hái lá để làm thuốc trị rắn cắn giúp bà con hàng xóm để đi chơi.

        Mà mỗi một lần đi chơi, thì cấm có thấy tôi về đúng bữa cơm bao giờ và thế nào khi trở về nhà cũng bị mẹ tôi mắng: “Thằng tê! Mi hay đi chơi quá, chẳng chịu ở nhà cho tau nhờ !”.

        Tôi biết mẹ thế nào cũng mắng lâu nữa. Tôi thường tìm cách lỉnh đi đâu đó thật nhanh.

        Tôi học chữ nho bố tôi dạy cho đến khi mười ba tuổi thì làng tôi bắt đầu phong trào Bình dân học vụ.

        Anh Phao của tôi vì học chữ đã lâu nên được bố mẹ tôi cho đi học trường công buổi ban ngày. Học được ít nào, anh lại về dạy lại tôi làm quen với những chữ cái A, B, c...

        Lúc phong trào học chữ Quốc ngữ rộ lên khắp làng trên xóm dưới thì tôi sốt ruột lắm, tìm cách xin đi học. Tướng xin học dễ lắm, ai dè khi tôi đến chỗ đăng ký học, người ta bảo:

        - Mi quá tuổi rồi, bây giờ sao học được lớp trường công? Thôi, về bảo mẹ cậu xin vào lớp dân lập mà học.

        Tôi nghe xong, thấy buồn quá. Bây giờ mà phải học dân lập thì mẹ tôi đào đâu ra tiền mà cho tôi đi chứ?

        Anh Phao được học trường công, chả lẽ tôi lại không được? Bố dạy học, cả đời chỉ loay hoay ở nhà dạy trẻ con học

        chữ Hán. Mẹ thì cấy được mấy sào ruộng ông bà để lại, thỉnh thoảng hoặc có bữa cắt thuốc chữa rắn cắn cho bà con được mấy hào lại phải nuôi ba anh em tôi, ngày được ăn hai bữa cơm không phải độn là khá lắm rồi...

        Nghĩ vậy, tôi liền chạy đến xã nói với anh thư ký:

        - Anh sửa lại năm sinh cho em.

        - Thế chú định sửa thế nào? - Anh hỏi.

        - Anh cứ sửa cho em thê nào để được đi học là được Tôi năn nỉ.

        Anh nhìn tôi từ đầu tới chân một hồi rồi bảo:

        - Thôi được, thế thì phải sửa cho chú mày sinh năm 1933 thành 1939 mới được.

        Tôi sướng rơn. Không cần biết tôi sinh năm nào miễn là tôi được đi học, mà lại học trường công thì chẳng có gì trên đời này quan trọng hơn việc này cả. 


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2019, 08:53:36 AM

VỪA ĐI HỌC, VỪA ĐI CÀY, CẤY LÚA...

        Lại nói chuyện đi học, gà lên chuồng là chúng tôi lo chuẩn bị sách vở để đi đến lớp. Vở cũng chẳng có gì ngoài mấy tờ giấy đã có chữ của mấy người học trường Pháp bỏ đi để dùng lại.

        Phải nói giấy của người Pháp làm tốt thật. Chúng tôi lấy giấy cũ ngâm vào nước vôi trong cho chữ nhạt đi sau đó lại ngâm vào nước gạo. Ngâm nước gạo xong lại lấy giấy cho vào nước phèn chua, phải mấy công đoạn thì giấy cũ mới sạch hết chữ rồi mới lấy giấy phơi cho thật khô và khâu lại thành tập vở. Viết trên loại giấy tái chê thủ công ấy kể cũng hơi nhòe, nhưng thế cũng tốt chán.

        Sách giáo khoa không có, cả lớp chỉ có mấy đứa con nhà giàu ở huyện và con thầy giáo là có sách giáo khoa, lũ chúng tôi ngày nào cũng phải xem nhờ mấy đứa đó. Lớp học xa nhà tôi mấy cây số, phải đi bộ. Điều kiện đi học khó khăn là thế nhưng chúng tôi đều rất vui.

        Tôi thường chuẩn bị cái vó nhỏ, cắt từ một cái vó rách chỉ còn lại ước chừng gần một mét để bắt cá, bắt tôm. Trên đường đi học, gặp khoảnh ruộng nào tôi đoán là hôm ấy sẽ có nhiều cá thì tôi đặt cái vó nhỏ của tôi ở đó, ngụy trang lại sao cho khéo để không có người làng nào phát hiện ra tôi kéo vó trộm.

        Sau khoảng ba tiếng học xong là tôi về, vứt túi sách trên bờ, rồi nhảy xuống kéo vó lên.

        Tôi thuộc dạng "sát cá", nên hầu như đêm nào về tôi cũng được mẻ cá ngon lành. Nhất là những hôm nào có mưa rào, tôi không những được cá mà lại còn bắt được vô số ếch. Hôm sau, chắc chắn mẹ lại làm được một bữa tươi cho cả nhà.

        Tôi là đứa lười rửa bát nhất nhà, mỗi lần ăn xong tôi thường tìm cách chuồn cho thật nhanh để khỏi phải rửa bát. Cái Diệp, em gái tôi hoặc chị dâu lại phải rửa thay tôi. Nhiều lúc nó cáu mách mẹ, tôi lại bị mẹ mắng cho té tát. Tôi cười bảo nó:

        - Mày rửa bát cho anh, lúc nào anh có tiền mua quà cho, như thế không thích à?

        Cái Diệp cười tít mắt:

        - Anh nhớ phải mua quà cho em đấy nhé!

*

        Ngày nào cũng thế, ban ngày tôi đi làm đồng cùng mẹ và anh chị em còn tối lại sắp sách vỏ đi học. Thấy tôi nhanh nhẹn, xã đội cho tôi làm liên lạc. Thực ra việc làm liên lạc cũng chẳng có gì khó. Chỉ khi nào có việc như nghe tin Pháp nó chuẩn bị đánh đến đâu hoặc có công văn của cấp trên thì tôi mới phải đi. Chẳng kể đêm tối, lúc nào có lệnh là tôi cùng thằng bạn ở làng Đại Từ phải lập tức đi ngay chuyển tin khắp 12 thôn không chậm trễ.

        Đúng là “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng năng”. Nhiều bận, tôi trốn mẹ đi ra đồng xem có ai cắt lúa về nhà thì tôi nói với họ để tôi gánh giúp.

        Các bà, các chị thấy tôi nói thế thì ngạc nhiên lắm. Họ đều hỏi:

        - Thế mi hết việc à? Hay định gánh lúa lấy tiền?

        - Thì cứ đưa cháu gánh cho, chất đầy vào, cháu không lấy tiền đâu - Tôi vừa nói vừa giành lấy gánh lúa.

        Chẳng phải tôi ham việc gì đâu. Việc này chỉ có chị dâu tôi và con bé Diệp là biết rõ nhất.

        Khổ thế, lúc ấy trông tôi cao hơn mấy đứa cùng làng, người thì đã gầy sẵn nên trông cứ lênh khênh. Tôi nghe người ta nói muốn thấp thì phải gánh nặng vào làm tôi cứ tưởng thật vì tôi vốn sợ mình cao hơn bạn bè nên lúc nào tôi đi cũng phải cố còng lưng xuống cho thấp.

        Mỗi lần tôi năn nỉ người ta cho gánh lúa, tôi cứ thấy chị dâu và con bé Diệp khúc kha, khúc khích cười.

        Thấm thoắt tôi cũng được lên lớp Ba, bây giờ học lớp Ba phải chuyển trường xa hơn nhưng không phải học buổi tối nữa.

        Học trường xa nên tôi càng có cơ hội bày trò với lũ bạn. Ngày nào đi học về mấy đứa cũng rủ nhau đánh đáo ăn tiền. Tôi bắt thằng Sam giữ cặp sách hộ để tôi chơi. Món đánh đáo này thì tôi chơi giỏi lắm.

        Chơi một lúc thế nào cũng có tiền. Không được là bao, chỉ là mấy xu thôi, nhưng tôi có tiền đế mua quà, đãi lũ bạn hoặc về cho con bé Diệp nịnh nó rửa bát hộ. Thằng Sam có công giữ cặp sách cho tôi thì tôi cho nhiều hơn nên nó quí tôi lắm. Hầu như ngày nào cũng tình nguyện giữ cặp sách cho tôi mà không phàn nàn gì.

        Tuy nghịch ngợm là thế, nhưng cuối kỳ thi tôi luôn được điểm khá cao so với mấy đứa học cùng lớp. Hầu như cuối năm học tôi đều được thầy cho thẳng lên lớp, mà không cần thi cuối năm theo diện biểu quyết. Chả là cuối năm cả lớp có sự chứng kiến của thầy lựa chọn ra ba học sinh giỏi nhất lớp, trong ba học sinh đó lại chọn ra một học sinh theo cách giơ tay biểu quyết cho lên thẳng lớp trên mà không cần thi.

        Tôi được bầu là đội trưởng đội thiếu niên phụ trách đám thiếu niên trong làng. Vui đáo để. Nào là tổ chức trồng lúa gây quĩ, nào là bán lúa lấy tiền gom vào giúp thầy giáo cưới vợ. Lại còn tổ chức may áo đồng phục cho thiếu niên nữa chứ.

        Gọi là áo đồng phục, thực ra chỉ là mấy mảnh vải nhuộm nâu, nhuộm vàng chúng tôi bán lúa lấy tiền rồi nhờ người mua vải cắt may hộ. Như thế cũng đáng để nói lắm vì lũ trẻ làng tôi đâu có được mặc đẹp bao giờ ngoài bộ nâu sòng sờn rách mà bố mẹ may cho?

        Người làng thấy chúng tôi trồng được lúa thì ngạc nhiên lắm. Lúc này chúng tôi đang học lớp Bốn. Mấy đứa tụi tôi thây nhà chùa có một mảnh ruộng hoang phía rìa làng thì mừng lắm, lân la đến chùa hỏi mượn ruộng cấy. Nhà chùa cho ngay. Bây giờ mới lo đến chuyện chuẩn bị cấy lúa. Tôi nghĩ ngay đến bà cụ gần đó, thử nhờ xem sao:

        - Bà ơi, chúng cháu muốn cấy lúa ở khoảnh ruộng hoang của nhà chùa, bà bảo cho chúng cháu làm với nhé?

        Bà cụ vừa nhỏm nhẻm nhãi trầu, vừa bảo:

        - Người ta nói, ruộng bỏ hóa không cần phải bón phân gio gì đâu, chúng mày cứ thế mà cấy. Chỉ tội, khoảnh ruộng đó hơi cao, phải mất công tát nước. Cấy lúa ngắn ngày thôi. Như thế cũng mau được thu hoạch.

        - Vậy bà giúp cháu gieo mạ nhé, cháu sẵn có ít tiền dành dụm đây, cháu gửi bà mua thóc giống. Khi nào mạ lên bà ới chúng cháu một câu.

        - Cha bố các anh - Bà cười mắng - Được rồi, khi nào mạ lên thì bà gọi.

        Tôi sướng rơn như mở cờ trong bụng, họp mấy đứa lại phân công thằng Tân, thằng Nửu, thằng Sam, Cung,... chuẩn bị phân chuồng sẵn sàng, nếu cần phải bón là có ngay.

        Tôi còn dặn mấy đứa con gái: cái Thơm, cái Thảnh, cái Teng là những đứa con gái đảm, cấy lúa rất giỏi chuẩn bị tinh thần, có mạ là cấy, tháng Sáu sẽ tranh thủ bắt tay vào việc. Vì ở Thanh Hóa, tháng này là tháng có mưa, lợi dụng thời tiết để đỡ mất công tát nước vào ruộng. Chứ để tháng Tám hoặc tháng Chín lại phải mất công nhiều hơn. Bà cụ gieo giúp tôi hơn một yến thóc giống lúa ngắn ngày. Trồng loại lúa này chỉ độ ba tuần trăng là có thể thu hoạch.

*

        Thấm thoắt ba tháng trôi vèo qua, lúa trên mảng ruộng hoang không ngờ lại tốt đến thế. Lúa chín vàng khiến cho nắng tháng Chín dường như cũng vàng óng hơn.

        Buổi sáng hôm ấy, tôi đến lớp thấy mấy đứa con trai, con gái học cùng lớp xôn xao bàn tán về mảnh ruộng hoang của chúng tôi. Đứa nào cũng phấn khởi. Tôi tranh thủ dặn mấy đứa: “Ngày mai đi học về tranh thủ gặt lúa chúng mày nhé”.

        Cứ như vậy, tôi và lũ bạn đã cấy được trên mảnh ruộng đó một mùa lúa. Kinh nghiệm cấy lúa kể trên, sau này khi đã trở thành phi công, chỉ huy một đơn vị, tôi còn cho anh em "tăng gia" cấy lúa thành công, thu hàng tạ thóc nếp để... nấu rượu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2019, 08:55:01 AM
       
HỎI VỢ VÀ ĐI BỘ ĐỘI

        Tuy tham gia cấy, cày nhưng được cái tôi học cũng tốt, năm nào tôi cũng được bầu là lớp trưởng.

        Nhưng cũng thời gian này, tôi đã bị ảnh hưởng bởi hủ tục tảo hôn ở làng quê. Gia đình cứ thúc ép tôi lấy vợ sớm. Phần vì tôi học khá hơn mấy đứa cùng lớp (năm nào cũng được học sinh tiên tiến), phần vì ở lớp một số đã lấy vợ, lấy chồng chỉ còn mỗi tôi là chưa. Như thằng Nửu, thằng Tân bố mẹ chúng nó bắt chúng nó lấy vợ từ khi mười ba, mười bốn tuổi. Mà nghe đâu, mẹ đang dạm hỏi cho tôi chị Cúc làng bên thì phải.

        Vào năm 1952, tôi lúc ấy đã gần mười chín tuổi. Một hôm, tôi đang ở ủy ban xã, mấy chú bảo tôi làm cái đơn để học lớp "Cảm tình Đảng". (Chả gì tôi cũng có mấy năm làm Bí thư Đoàn thanh niên, lại là một trong những liên lạc của xã rất nhiệt tình). Thì mẹ tôi tất tả tìm đến, kéo tôi ra một chỗ và rỉ tai việc rất quan trọng:

        - Mi viền ngay đi! Mẹ chuẩn bị đủ cả rồi!

        - Viền mần chi? Con sắp được học "Cảm tình Đảng"!

        - Cứ viền là khắc biết. Việc này còn quan trọng hơn cả đi học lớp "Cảm tình Đảng". Chỉ cần mi viền rồi đi cùng mẹ. Dã có người gánh lễ sang bên ấy. Mẹ sẽ hỏi vợ cho anh...

        - Ôi dào, mẹ đi đi, con chưa thích lấy vợ.

        - Ơ cái thằng ni! Tao mất công bao nhiêu mới được. Mi cứ nói không là không hả? Đây là chuyện người lớn, đâu phải trẻ con chơi đùa.

        - Nhưng chị ấy hơn con những sáu tuổi. Con không lấy đâu - Tôi phụng phịu - Còn lớn tuổi hơn chị dâu nữa.

        - Nhiều tuổi một tí, nhưng mà nó đảm đang, hay lam hay làm. Có về làm dâu thì nhà mình mới được nhờ.

        Mẹ tôi nói vậy, rồi chẳng cần biết ý tôi thế nào nữa, bà kéo tay tôi lôi về.

        Tôi ngượng, mặt đỏ lựng cả lên, không dám ho he gì nữa vì sợ mấy chú, mấy anh trên xã mà biết thì...

        Thôi, tốt nhất là cứ về xem sao đã rồi tính.

        Làng tôi có cái lệ tảo hôn, lấy vợ lấy chồng rõ sớm. Cha mẹ hỏi ai là phải lấy người đó cấm được cãi. Mẹ biết tính tôi nên cũng chiều, hễ tôi không ưng ai là lập tức đi hỏi đám khác ngay.

        Đếm đi, đếm lại phải đến mười lăm lần mẹ sắm sửa đồ lễ ăn hỏi cho tôi rồi mà vẫn chưa đâu vào đâu. Tôi cứ khất lần thoái thác. Có lần mẹ bực quá bảo:

        - Bố mày mất sớm, tao còn sống lo cưới vợ được cho mày chứ chết đi rồi ai lo?

        Tôi thương mẹ, nhưng trong lòng không ưng ai cả ngoài một cô gái làng bên cạnh. Tôi thích cô ấy nhưng không đến nỗi say mê lắm, và cũng không dám nói với mẹ. Tôi chặc lưỡi: Kệ, đến đâu thì đến, cứ chơi đã, sao vội lấy vợ sớm làm gì.

        Mấy hôm nay xã tôi, người ta kháo nhau có đợt tuyển quân đi bộ đội. Thanh niên các làng Đông Anh, Đông Tiến... nô nức rủ nhau đi khám tuyển.

        Tôi nghe ngóng, bồn chồn không yên. Tôi đợi hết buổi học, rồi vác cả cặp sách lên xã. Người đi khám tuyển đông quá.

        Tôi định len vào giữa nhưng lại chợt giật mình nhỡ có ai biết về mách mẹ thì chết, nên lại thôi.

        Anh Phao đã đi thoát ly rồi, bây giờ mà tôi cũng đòi đi thì thế nào mẹ cũng cản. Đành phải chờ đến lượt vậy.

        Tôi cứ đứng ở bên cạnh bàn tuyên quân, núp sau cái cột nhà đợi người ta ghi tên người cuối cùng trong hàng xong rồi mới dám bước ra.

        Không cần đợi tôi trình bày gì nhiều vì các anh ở xã đã biết tôi. Với lại, đợt khám tuyển quân lần này dành cho những thanh niên tình nguyện. Ai thích thì đi, xã không bắt buộc. Họ lấy cả những người đã có vợ lẫn người chưa có vợ.

        May quá, tôi trúng tuyển ngay.

        Chiều tối, tỏi ôm cặp sách về nhà, vẫn coi như không hề có chuyện gì xảy ra. Mẹ tôi đang cho đứa cháu ăn.

        Tiếng lợn kêu ụt à ụt ịt phía chuồng sau nhà, chắc chị dâu đang cho chúng ăn. Tôi quẳng cặp sách xuống cuối giường rồi nằm giang tay ra, mắt mở to nhìn lên mái ngôi nhà cũ kỹ.

        Tôi cứ nằm như thế mà nghĩ ngợi lung tung. Mấy hôm nữa mình đi bộ đội rồi, rất có thể sẽ rất lâu sau mới về thăm nhà được hoặc cũng có thể sẽ không bao giờ về nữa... giống như chú Sung ở cuối làng. Không biết đi bộ đội có giống như đi dân công không nhỉ?

        Chợt những hình ảnh đợt tôi đi dân công trước đó hiện về... Đó là khi tôi cùng đoàn dân công Thanh Hóa gánh gạo cho bộ đội lên miền Tây Bắc phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ mấy tháng trước thay cho chị dâu tôi lúc ấy đang phải mang bầu. Nhưng chỉ tiếc một điều là tôi chỉ được tham gia một thời gian ngắn khoảng bốn tháng. Đi dân công tuy vất vả, phải gánh gạo, lương thực, phải trèo đèo, lội suối... nhưng mà vui.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2019, 08:55:50 AM

        Nhớ những câu hò Thanh Hóa mà các anh, các chị đã hát động viên nhau dạo trước bỗng làm tôi phấn chấn hẳn lên. Tôi bật ngồi dậy, gọi toáng lên:

        - Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi?

        - Có chuyện gì thế Chao? - Mẹ tôi bồn chồn hỏi.

        - Mẹ ạ, con quyết định rồi, ngày mai con sẽ đi bộ đội. Sáng nay con đi khám và đã trúng tuyển. Mẹ cho con đi mẹ nhé?

        - Mày đi khám tuyển rồi còn hỏi mẹ gì nữa? Thế mày nhất định không cưới vợ à? Anh Phao mày đã có cháu cho mẹ, con Diệp cũng sắp lấy chồng, chỉ còn có mày nữa thôi. Hay là mày lấy vợ đã rồi hãy đi?

        - Thôi mẹ ạ, thời gian không còn nhiều nữa. Mai con phải đi tập trung nghe người ta phổ biến để mấy hôm nữa lên đường.

        - Mày khó bảo quá, mẹ chỉ lo mày đi rồi thì... - mẹ nói đến đây thì nước mắt đã rơm rớm đó hoe cả đôi mắt.

        Tôi không dám nhìn mẹ, vội vàng nói:

        - Thôi, con đi sang thằng Nửu một lát.

        Tôi chạy thật nhanh. Tôi nghĩ, chỉ nán lại ở nhà thêm chút nữa là tôi cũng khóc. Nhưng lẽ nào, một thằng con trai mười chín tuổi đầu lại khóc chứ?

        Từ sáng sớm tinh mơ, khi con gà gáy một hồi dài cuối cùng, làng tôi đã nhộn nhịp khác thường.

        Bây giờ là đầu tháng Tư, vẫn chưa hết mùa Xuân nên khung cảnh trong làng có cái gì đó ấm áp lắm. Tiếng người làng í ới nhau ra đồng, tiếng trẻ con khóc theo mẹ, cả tiếng chó sủa vu vơ, tiếng gà gọi đàn con cục cục. Tất cả những âm thanh đó ngày nào tôi cũng nghe mà sao hôm nay thấy bâng khuâng quá.

        Một số người làng đã từng tốp đi về phía ủy ban xã. Hôm nay xã tổ chức buổi tiễn thanh niên đi bộ đội.

        Chỉ một lúc nữa thôi, tôi sẽ có tên khi người ta đọc danh sách những người lên đường nhập ngũ lần này.

        Cả lớp tôi, chưa đứa nào biết tôi đi bộ đội ngoài mấy thằng Sam, thằng Nửu, kể cả bọn con gái cũng không đứa nào biết.

        Hì hì, tôi đoán nếu bọn con gái mà biết thì hôm nay thế nào cũng có đứa sưót mướt khóc cho mà xem. Con gái đứa nào chẳng hay mau nước mắt? Tôi chỉ sợ nhìn thấy chúng khóc lại không đủ “dũng khí” mà đi...

        Tôi sốt ruột đi ra đi vào, tưởng chừng một giờ đồng hồ bằng mấy năm liền khiến cho mẹ tôi phải gắt lên:

        - Mày làm gì mà lượn như cờ lông công thế? Đây, quần áo mẹ đã sắp sẵn cả rồi. Mày khoác vào. Để mẹ xuống bếp lấy đùm xôi với miếng thịt mang theo mà ăn.

        Nói rồi, mẹ tất tả đi ngay, loáng cái đã thấy mẹ mang ra một đùm xôi to tướng. Mẹ nhét hết vào túi vải. Xôi vẫn còn nóng, tôi đeo túi mà cái nóng vẫn chạm vào người âm ấm.

        - Đi nào! Mấy đứa đâu? cùng mẹ đưa thằng Chao ra xã.

        Thế là tôi đã chính thức là bộ đội được mấy tuần rồi.

        Những tưởng tôi lên đường lần này là có cơ hội đi ra chiến trường ngay. Nhưng mà mãi vẫn chưa thấy cấp trên có động tĩnh gì.

        Tôi chỉ thấy bảo, đợt tuyển này là tuyển bộ đội địa phương. Tức là bộ đội chỉ có làm nhiệm vụ ở địa phương nơi mình sinh sống, khi nào có lệnh khẩn cấp thì sẽ phân công nhiệm vụ giúp bộ đội chủ lực sau.

        Và hiện tại chúng tôi vẫn đóng quân ở địa bàn xã, chưa có quân phục nên tôi vẫn mặc đồ áo vải nâu như hôm còn ở nhà với mẹ. Tôi hơi thất vọng vì không được đánh nhau ngay. Cứ loanh quanh ở Huyện thê này, thì khác nào dân quân du kích, buồn chết đi được.

        Có mấy thằng làng bên đi cùng đợt với tôi đã bỏ về. Hôm qua thằng Ruân còn bảo với tôi:

        - Chao ơi, tao nhớ vợ quá. Có khi tao về thôi.

        - Anh về, không sợ cấp trên sao?

        - Không, tao nhớ vợ lắm rồi. Tao mới lấy vợ được một tuần, chắc vợ tao thấy tao đi thê này thì buồn lắm, với lại tao thấy người ta về cũng nhiều có ai nói gì đâu? Ai thích thì đi, ai không thích thì về, làm gì có nội quy nào mà sợ.

        Tưởng thằng Ruân nói thế cũng phải mấy hôm nữa mới về, ai dè nó lẻn đi từ đêm hay sao mà sáng nay tôi dậy không thấy nó nằm bên cạnh như mọi khi nữa.

        Như vậy tính cho đến hôm nay, cả xã tôi còn mỗi hai đứa là tôi với thằng Phép còn bám trụ. Tôi không dao động, vì tôi chưa có vợ nên không biết nhớ là gì, thỉnh thoảng có nghĩ đến cô Cúc (chỉ thoáng thôi) lại qua ngay. Nhưng tôi vẫn mong một ngày tôi được ra trận.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 05:34:12 PM

LẦN ĐẦU RA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

        Tháng 10 năm 1954.

        Sau một thời gian làm nhiệm vạ áp giải tù binh từ Điện Biên Phủ về, tôi và thằng bạn cùng xã được lệnh cấp trên: Hành quân về thị xã Thanh Hóa diễu binh, ngay sau đó là ra tiếp quản Hà Nội, bổ sung quân số vào một đơn vị của Trung đoàn 53.

        Tôi sung sướng quá chạy ra chạy vào. Thế là thoát khỏi cái cảnh địa phương. Bộ đội gì mà cứ loanh quanh hết xã rồi lại huyện chạy ba cái việc lặt vặt liên lạc, bộ đội gì mà chưa được mặc lần nào bộ quân phục chán chết đi được. Lần này đi, tôi nhất định phải ra trận. Như thế mới gọi là bộ đội được chứ!

        Ra Hà Nội, tôi không làm liên lạc nữa mà nhiệm vụ chính của tôi là làm lính gác, có mặt ở những nơi như Nhà máy Điện, Bốt điện, Nhà máy nước để ngăn không cho những phần tử xấu sau giải phóng phá hoại hay tiêu hủy những công trình Pháp để lại.

        Ra Hà Nội, cái gì cũng lạ lẫm đối với chúng tôi. Ngoài giờ làm việc, lũ chúng tôi cứ lang thang quanh khu vực đóng quân ở Bạch Mai để thỏa mãn trí tò mò.

        Chiều hôm ấy, mấy chú lính vừa đi vừa rôm rả nói chuyện thì gặp một hàng kem. Tôi liền vào mua một lúc bốn chiếc, chia đều mỗi thằng một chiếc. Chà, kem Hà Nội có khác, ngon quá! Tôi và mấy thằng bạn ăn một loáng đã hết cái kem. Giá mà còn tiền, chắc tôi phải ăn luôn một lúc mấy chiếc liền cho đã.

        Chỉ riêng có thằng Lâng là không ăn, nó xin cô bán kem giấy báo. Vì mải ăn nên chúng tôi chẳng đê ý nó xin giấy báo làm gì. Thê là chúng tôi lại nghêu ngao đi... Bỗng dưng thằng Lâng kêu ré lên:

        - Cha mẹ ơi, lạnh quá! - Nó vừa nói vừa rờ chỗ túi quần.

        Chúng tôi đồng loạt đổ dồn mắt về thằng Lâng. Quần của nó từ chỗ túi quần đến đầu gối ướt hết. Tôi thấy vậy ôm bụng cười:

        - Mày đái dầm à? Mót quá thì tè vào gốc cây, sao phải nhịn?

        Mấy thằng kia thấy tôi nói thì được thể, cười lăn cười bò. Chúng nó xúm lại thằng Lâng...

        Còn thằng Lâng mặt méo xệch, tay thò vào túi quần lôi ra một đông giấy báo ướt nhoẹt, nhão nhoét. Nó cãi:

        - Không phải tao đái dầm. Khi nãy, tao thấy vừa đi vừa ăn ngại quá nên tao xin giấy báo gói kem lại cho vào túi quần định bụng khi nào về đơn vị thì ăn.

        - Ui chao, sao mày ngốc thê hả Lâng! Kem là phải ăn ngay, mày cho vào túi quần thì nó chảy ra là phải. Bây giờ nhìn mặt thằng Lâng trông tồi tội.

        Chúng tôi không dám cười nữa. Thực ra thằng Lâng không biết cũng phải, vì từ lúc bé tới giờ nó chỉ quanh quẩn ở làng, học hành lại ít làm sao biết cái kem có thể tan chảy.

        Nhìn mặt thằng Lâng đỏ lựng vì xấu hổ, chúng tôi lại thấy nhói đau vì cái sự lạc hậu của dân mình.

        Lại nhớ cách đó một tuần, cậu lính trẻ ở Đại đội 2 canh gác ở bốt điện gần sân bay Bạch Mai, chả hiểu thế nào lại nghịch ngợm cho tay vào ổ điện ba phà, bị điện giật chết cháy đen trong bốt, ngày hôm sau Đại đội mới phát hiện ra.

        Nghe nói, mấy cậu lính bên Đại đội ấy rất hay bày trò lấy dây nguội quẹt vào đầu dây nóng cho tóe lửa để xem. Cũng có hôm bị giật nhẹ, lại còn rủ nhau thử xem giật như thế nào.

        Từ hôm cậu lính bị điện giật chết, không còn có ai dám mon men đến bốt điện, trừ khi phải làm nhiệm vụ.

        Chúng tôi lại chuyển sang làm công tác dân vận, vận động bà con Thủ đô giao nộp vũ khí cho Chính quyền mới. Có những lần tôi trực tiếp tổ chức những buổi văn nghệ quần chúng biểu diễn ở Nhà Hát lớn, dân nô nức kéo tới xem.

        Kể cũng phấn khởi. “Tuy không được đánh trận, nhưng dẫu sao cũng làm được một số việc có ích” - Tôi nghĩ thầm và tự động viên mình như thế.

        Tháng 5 năm 1955.

        Trung đoàn 53 lại nhận lệnh cấp trên chuyển xuống tiếp quản thành phố Hải Phòng.

        Lẽ ra phải đi sớm hơn nữa, nhưng do một số trục trặc về công văn đến chậm nên bây giờ mới chính thức chuyển quân. Lần này không phải hành quân bộ mà sẽ được đi tàu hỏa.

        Khoảng chín giờ tối, mấy Đại đội chúng tôi tập trung sẵn ở ga Hàng Cỏ để lát nữa sẽ lên tàu.

        Cả Đại đội phải ép người chui cho vừa ba toa tàu chở than. Ban ngày tàu khách đông cứng người, với lại cũng ít có chuyến đi, nên chúng tôi phải đi tàu hàng chạy chậm như rùa bò.

        Ban đêm tiếng bánh xe toa tàu chạy trên đường ray rít lên lọng óc. Tuy nhiên, vẫn có người ngủ được, vừa ngồi vừa ngủ. Tôi cũng nhắm mắt cho đỡ mỏi, đôi lúc giật mình hé mắt ra nhìn bắt gặp đồng đội có những kiểu ngủ thật tức cười.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 05:34:35 PM

        Tờ mờ sáng hôm sau, chúng tôi mới đến địa điểm tập kết. Nhìn ra, ai nấy đều đen nhẻm từ đầu đến chân, mặt mũi loang lổ những than là than.

        Thì ra lúc đêm tối không ai nhìn rõ, bây giờ nhìn thấy nhau thê này, chúng tôi không ai nhịn được cười.

        Chắc cả nước chẳng có anh lính nào như chúng tôi cả, vừa bước xuống tàu đã vội vã tản đi kiếm chỗ rửa ráy ngay. Chúng tôi đều là lính trẻ nên chẳng ai chịu mang bộ mặt nhem nhuốc thế này mà đi vào thành phố.

        Hải Phòng sau ngày tiếp quản, bộ mặt thành phố dường như vẫn ngổn ngang trăm bề. Có lẽ chúng tôi phải ở đây để giúp dân một thời gian dài thì mới có thể ổn định được.

        Vẫn là công việc gác những địa điểm trọng yếu, nhưng ở Hải Phòng vất vả hơn ở Hà Nội nhiều, tôi nhận nhiệm vụ gác một xí nghiệp. Quanh đó dân nghèo đói quá. Chỉ cần lơ đễnh một chút là có người lẻn vào tháo thiết bị máy móc, thậm chí kể cả những bu lông ốc vít họ cũng tháo tuốt mang về bán lấy tiền.

        Hôm ấy đến phiên tôi gác, vừa nhận ca trực được một lúc thì phía cuối xưởng có tiếng la hét ồn ào. Tôi bồng súng trong tư thế sẵn sàng, nhưng mắt không quên liếc nhìn về phía đó. Một thằng bé mặc độc cái quần đùi vá, giơ cái lưng còm nhom đầy vết dính dầu mỡ đang luôn miệng vừa khóc vừa xin:

        - Các chú tha cho cháu lần này, cháu sẽ không bao giờ dám lấy của các chú nữa...

        - Á, thằng này còn già mồm, đánh chết nó đi. Bé ranh con mà đã trộm cắp! - Mấy cậu ở tiểu đội gác bên xưởng mặt mũi đó gay, giữ chặt tay thằng bé bẻ quặt ra sau.

        Chỉ bấy nhiêu thôi, tôi đã hiểu sự tình, vội chạy đến xin cho thằng bé. Tôi chỉ sợ mấy anh nóng lên, đánh nó thật thì tội vì tôi thấy nó bé quá. Thằng bé chừng mười tuổi là cùng, chắc vì nhà nghèo đói quá mới thế.

        Các anh ở tiểu đội nghe tôi nói, tha cho thằng bé ăn cắp ấy. Nó được tha, len lén nhìn tôi, rồi lí nhí:

        - Cháu cám ơn chú.

        - Được rồi, để chú đưa ra cổng. Từ nay đừng có lấy trộm nghe chưa? Nếu muốn, cứ đến phiên trực của chú, chú cho mày lấy, muốn lấy gì thì lấy, chú còn mang ra cổng cho. Mày mà cứ đi ăn trộm thế này, có ngày người ta bắn chết.

        Tôi dắt tay nó ra cổng và nói thế. Nó nghe tôi nói vậy thì mới thấy sợ hay sao mà òa lên khóc nức nỏ:

        - Mấy ngày rồi cháu không được ăn, thầy u cháu bữa trước bị người ta bắt mất rồi...

        Từ lúc tôi đi bộ đội tới giờ, chẳng bao giờ gặp tình huống này, lại càng chưa bao giờ chứng kiến trẻ con khóc một cách tức tưởi như vậy. Tôi đâm ra luông cuống, vụng về an ủi nó:

        - Thôi đừng khóc nữa, để chú tìm cho cái gì ăn. Mà tìm ở đâu ra bây giờ? Các chú cũng bị đói vì cả nước cũng bị đói mà.

        Tôi biết có tìm cũng không ra cái ăn nên đành lấy nắm cơm mà đơn vị chuẩn bị sẵn cho tôi ăn bữa chiều đem ra cho nó.

        Coi như chiều nay nhịn một bữa vậy. Nhìn nó ăn nắm cơm ngon lành, tôi thấy cổ họng mình nghèn nghẹn...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 05:35:23 PM
       
CHO CHÚNG CHÁU ĐI THEO VỚI!
     
        Năm ấy, Hải Phòng bị nạn đói hoành hành khiến cả thành phố lao đao. Nơi nào cũng có tin người chết đói.

        Trẻ con đứa nào đứa ấy gầy giơ xương, lở loét khắp người. Chúng tôi được phân công ở cùng với dân. Đôi lúc thấy chúng nó đói quá, có củ khoai, củ sắn nào chúng tôi cứ luộc sẵn để khi nào chúng đến thì cho mỗi đưa một củ.

        Ở xã Cát Hải quanh năm sóng nước này, cấy được khoảnh ruộng thì quí hơn vàng, bởi vậy trẻ con được chúng tôi cho ăn thì thích lắm. Hầu như ngày nào chúng cũng đến chơi.

        Thế lại hay, vì ngoài nhiệm vụ canh gác các trọng điểm ra, chúng tôi chẳng biết làm gì. Khi nào rảnh rỗi thì dạy chúng hát, tập văn nghệ cho chúng thế là có chúng nó bọn lính chúng tôi thêm vui vì có việc. Nào là lôi chúng ra cắt tóc, nào là bôi thuốc ghẻ, hắc lào (vì hầu như đứa nào cũng bị thế cả). Trong một tháng mà tất cả bọn trẻ con khác hẳn đi trông thấy, không còn nhếch nhác bẩn thỉu như trước nữa.

        Cơn bão số Bốn bỗng ầm ập đổ vào Cát Hải.

        Trên xã đã nhiều lần thông báo về cơn bão nguy hiểm này yêu cầu dân phải đi sơ tán, thậm chí Đại đội tôi đã phải cử người xuống tận làng vận động bà con đi nơi khác để tránh bão nhưng rất nhiều hộ gia đình cứ lấy lý do này khác lần lữa không đi.

        Đến chiều thì gió lớn táp mạnh đổ hết cây cối dọc đường làng. Một vài mái nhà bị tốc, tung hết cả mái rạ tả tơi. Chúng tôi được lệnh khẩn trương đến từng nhà giúp bà con nhưng vẫn không kịp. Mưa lớn ào ào đổ xuống, gió quất mạnh đến nỗi không thể bước, thậm chí có một vài anh đã thử ra ngoài liền bị gió nhấc bổng lên không trung, không thể cưỡng nổi.

        Chúng tôi bám nhau đi trong mưa bão, cố tìm trẻ con và người già đưa đến nơi trú ẩn an toàn. Cứ như vậy cả một đêm vật lộn với mưa bão, cho đến lúc chính chúng tôi phải lả đi vì mệt thì đếm ra cứu được vài chục người kể cả người lớn lẫn trẻ con. Lúc ấy đêm đã gần về sáng.

        Không ngờ đến sáng hôm sau cả xã bị ngập mênh mang là nước. Tiểu đội tôi lại được huy động đi khắc phục hậu quả sau bão vì Xã đội trưởng báo cáo một số bà con không kịp sơ tán đã bị nước cuốn trôi. Chẳng kịp nghỉ ngơi, chúng tôi lại đội mưa gió ra đi.

        Trước mắt tôi cảnh tượng thật hoang tàn. Xác người chết nổi trên dòng nước cuồn cuộn không biết bao nhiêu mà kể. Chẳng còn cách gì hơn, chúng tôi phải lao ngay xuống dòng nước để vớt từng người. Làm khẩn trương càng nhanh càng tốt vì sợ nếu chậm xác sẽ trôi ra biển khó mà tìm. cả tiểu đội từ sáng tới giờ đã hàng chục lần lao xuống nước rồi lại lên bờ mà mãi vẫn chưa kéo được hết xác người.

        Trong lần thứ mười một nhảy xuống cứu một bà cụ đang cố bám lấy cành cây gãy để đưa bà cụ lên thì anh Đức, một chiến sĩ cùng tiểu đội tôi do đuối sức bị dòng nước cuốn đi...

        Cho đến lúc biết tin anh Đức hi sinh thì tôi đã vớt được mười hai người, không còn đủ hơi sức lết đi thêm một bước nào nữa. Tôi nằm vật ra rệ đất, mặt mũi nhợt nhạt, tay chân nhăn rúm hết cả lại vì ngâm nước quá lâu và lạnh.

        Trận bão kinh hoàng đã làm cho người dân Cát Hải đã nghèo khổ, giờ lại càng khổ hơn. Còn chúng tôi sau trận bão khó mà quên được cảnh tượng hãi hùng cho đến mãi sau này.

        Thế rồi, thời gian tiếp quản Hải Phòng cũng đã hết. Cấp trên nói anh em chiến sĩ chuẩn bị thu xếp lên đường, rất có thể sẽ hành quân bộ vào Thanh Hóa làm công trình quốc phòng.

        Tôi vẫn biết là bộ đội thì luôn phải di chuyển theo đơn vị nay chỗ này mai chỗ khác nhưng trong lòng vẫn cứ thấy bâng khuâng sao ấy. Chẳng gì nơi đây chúng tôi đã từng ở chung với dân gần một năm trời, chúng tôi đã thuộc lòng tên từng đứa trẻ mỗi khi nhắc đến chúng.

        Chẳng biết khi chúng tôi đi, chúng nó có nhớ không nhỉ? Còn tôi chắc sẽ nhớ chúng lắm.

        Sáng nay, tất cả chúng tôi đã tập trung đông đủ ở doanh trại để chia tay bà con Cát Hải lên đường.

        Bọn trẻ con cũng theo bố mẹ tới. Lúc trước nghe nói những buổi chia tay giữa bộ đội với dân của các anh chị lúc nào cũng bịn rịn tôi chỉ biết vậy, bây giờ tôi lại chính là một trong những anh bộ đội đó mới thấy thực sự cảm động.

        Lẫn trong tiếng cười nói là những giọt nước mắt. Tôi cứ tưởng mình cứng rắn lắm nhưng thực tế hóa ra tôi lại là người đa cảm. Chúng tôi khoác ba lô hành lý lên vai tạm biệt đất Hải Phòng, bà con cô bác tiễn chân chúng tôi. Những câu chuyện chắp nối bỗng dưng chẳng thể nào dứt ra được.

        Đoàn chiến sĩ hành quân xen lẫn những người nông dân tạo nên một bức tranh chan chứa yêu thương khiến cho tôi thấy trái tim mình rộn rã lạ thường.

        Tôi giơ tay bứt một bông dâm bụt ven đường đưa cho thằng bé con đang được mẹ bế trên tay. Nó sướng quá cười toe toét. Bà con không còn đi theo chúng tôi mà dừng lại nhìn theo chúng tôi khuất dần sau chỗ ngoặt cuối con đường. Thỉnh thoảng chúng tôi ngoái đầu lại, vẫy tay chào thêm một lần nữa.

        Bỗng có tiếng trẻ con vừa chạy vừa khóc:

        - Các chú ơi, cho chúng cháu đi với! Chú Chao ơi, cho chúng cháu đi với!

        Chúng tôi thấy chúng khóc gọi thì không đành bước tiếp, chờ cho chúng lại gần, mấy anh mới nói:

        - Các cháu về đi, các chú đi bây giờ sẽ đi xa lắm, còn phải đánh giặc nữa. Các cháu ngoan về đi nhé.

        - Không, chúng cháu không về đâu, cho chúng cháu đi theo với, chúng cháu muốn học hát cơ - Bọn trẻ như bảo nhau đồng loạt khóc rống lên, nước mắt ròng ròng.

        Nói thế nào cũng không được, chúng chẳng chịu về. Chúng nó lại cứ bám lấy tay tôi:

        - Chú Chao ơi, cháu đi với, nếu chú không cho, các chú đi đâu, cháu sẽ đi theo!

        Tôi đâm ra lúng túng, đến nước này thì chịu thật rồi. Đại đội trưởng Thanh xuống cười bảo tôi:

        - Thôi có lẽ cậu phải ở lại, chứ chúng đi theo thế này kể cũng tội, chúng nó chắc không muốn cậu đi đâu. Ai bảo cậu quí chúng nó quá cơ! Cậu đưa chúng nó về rồi làm cách này...

        Đại đội trưởng cúi xuống nói thầm với tôi. Nghe lời anh Thanh, tôi dẫn lũ trẻ quay về làng.

        Đêm hôm ấy, tôi với lũ trẻ ngủ ở nhà một người làng.

        Nhìn lũ trẻ ngủ trong ánh đèn dầu leo lét, tôi thấy chúng mới dễ thương làm sao. Mà cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại có duyên với bọn trẻ đến thế. Tôi chờ chúng nó ngủ thật say rồi mới lẻn đi. Trước khi đi tôi còn kịp báo với anh chủ nhà:

        - Em đi nhé, bây giờ đuổi theo đơn vị, chắc tối sáng mai là kịp.

        Anh chủ nhà nắm tay tôi thật chặt, nhìn ánh mắt anh, tôi nghĩ anh đã thông cảm và hiểu cho bộ đội chúng tôi.

        Trăng trên đỉnh đầu sáng vằng vặc. Gió xào xạc bụi tre làng. Tôi khoác ba lô rảo bước thật nhanh theo hướng đơn vị sáng nay đã đi.

        Bao nhiêu ý nghĩ trong đầu cứ vậy miên man theo bước chân tôi. Thế là tôi đã đi bộ đội được hơn năm rồi. Cứ ở làng thì làm sao tôi được chứng kiến những câu chuyện thú vị thế này?


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 05:36:57 PM

TRÚNG TUYẾN PHI CÔNG

        Đó là thời điểm tháng 4 năm 1956.

        Chúng tôi được lệnh hành quân từ sân bay Kiến An (Hải Phòng) về Sầm Sơn (Thanh Hóa) làm Công trình Quốc phòng.

        Xa Hải Phòng, xa dân Cát Hải đã được năm ngày. Bọn lính chúng tôi, đứa nào cũng phải khoác trên lưng một ba lô nặng trĩu đủ thứ lỉnh kỉnh chăn màn, đồ dùng cá nhân ở bên trong. Phải hành quân đi bộ chứ không được đi tàu chở than như năm trước, cứ đi khoảng 30 cây số mới dừng lại nấu ăn.

        Trời nắng chang chang như đổ lửa. Nóng quá, uống nước cũng không ăn thua, chúng tôi bàn nhau bứt lá tre ven đường, đun lấy nước rồi bỏ chút đường vào, khi nào nóng quá thì uống một hớp, vừa đỡ khát lại đỡ mệt.

        Cả Trung đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ làm Công trình Quốc phòng. Công việc hàng ngày của chúng tôi là phá đá trên núi rồi đập nhỏ. Mới nhìn, tưởng là đơn giản, nhưng nếu chỉ dùng sức mạnh mà làm thì chỉ được một lúc là thấm mệt ngay. Mấy cậu lính mới không có kinh nghiệm cứ vác búa đập mãi mà không xong một phiến đá.

        Tôi nghĩ ra cách kê phiến đá thật chắc rồi dang tay bổ mạnh một phát, phiến đá toác ra làm mấy mảnh. Đập đá rồi thì làm sao đo được khối lượng mỗi người đập được bao nhiêu mà báo cáo cấp trên đây? Đại đội trưởng biết tôi đã học hết lớp năm nên cho tôi theo phụ giúp anh kỹ sư tính toán. Thế là mỗi ngày làm việc xong tôi lại phải nán lại đo đo đạc đạc bằng cách vận dụng thể tích hình nón để tính xem anh lính này đập được bao nhiêu đá, anh kia đập được bao nhiêu.

        Vì có một mình nên có khi mọi người được về nhà ăn cơm hết rồi mà tôi vẫn lọ mọ ở ngoài bãi đá. Lắm hôm đói lả cả người. Gì chứ bị đói là tôi không chịu nổi.

        Tôi làm một mình mấy hôm rồi tìm cách rủ thằng Kẽm lính mới ở lại làm cùng, nhưng nó làm được vài hôm nó bảo chán, nó chuồn luôn.

        Hôm sau tôi lại bảo anh chàng giáo Bính đi theo. Anh chàng này hồi chưa đi bộ đội làm thầy giáo làng. Dù sao cũng thuần và chăm chỉ hơn. Tôi vì vậy mà cũng đỡ vất vả.

        Hàng ngày chúng tôi cứ làm việc như vậy, chẳng mấy chốc Công trình Quốc phòng cũng gần hoàn thành. Tôi còn được đề nghị tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba vì đã có thành tích và sáng tạo giúp cho Trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng cuôl cùng, tôi chỉ được Quân khu cấp Bằng khen.

        Hôm nay, đơn vị tôi đã chuyển ra Quán Chẹt làm nốt đường hầm. Đang hì hục đập những phiến đá thành những viên đá nhỏ thì ở đâu có đoàn Quân y đến. Họ đi xe ô tô, mang theo cả một số máy móc gì đó. Đám lính chúng tôi tò mò, dừng tay búa nhớn nhác cả lên.

        - Chúng mày ơi, họ về làm gì ấy nhỉ? - Một người hỏi.

        - Chẳng biết nữa, nghe đâu họ về tuyển "Lính Không quân" - Một giọng khác nghe chừng có vẻ biết nhiều chuyện lên tiếng.

        - Ôi! "Lính Không quân" là thế nào?

        - Làm sao mà biết được, phải hỏi người ta chứ.

        Chúng tôi chỉ biết được chừng đó, thậm chí không biết lính không quân là gì. Câu chuyện cứ thế bàn tán mãi không dứt cho đến khi Đại đội trưởng Thanh tới nói:

        - Các cậu! Đoàn Bác sĩ của Không quân đến khám tuyển người cho Không quân. Chỉ chọn những cậu có sức khỏe tốt. Sau đây là danh sách 18 người. Các cậu nghe tôi đọc tên, ai có tên thì chuẩn bị rửa ráy đi, rồi sang phòng Y tế khám sức khỏe.

        Tất cả chúng tôi dường như chỉ chờ đợi mỗi câu nói này của Đại đội trưởng, ngay lập tức thu dọn búa, đá gọn gàng. Chúng tôi xếp hàng dài đợi đến lượt khám.

        Có mấy đứa ở Tiểu đội một khám xong, bọn tôi túm lấy hỏi:

        - Khám gì thế mày?

        - Khám hết, mắt mũi tai, toàn thân.

        - Nhưng mà người ta có nói khám làm gì không?

        - Người ta bảo là khám tuyển người đi “Líng hàng”. Tiếng Trung Quốc “líng hàng” sang tiếng mình có nghĩa là dẫn đường ấy mà - Họ giải thích.

        - Ừ, có thế chứ, dù sao tôi cũng biết là mình đang khám làm gì rồi. Chẳng biết có trúng không.

        Đến lượt tôi cứ vào. Ông bác sĩ bắt tôi há miệng, vạch mắt, xem tai đủ cả, rồi ông ta ghi gì đó vào một tờ giây gọi là phiếu kiểm tra sức khỏe. Tôi liếc thấy hầu hết là A, chỉ có vài dòng là В thôi. Khám xong tôi lại cùng mấy đứa trong tiểu đội về chỗ làm việc tiếp, cả ngày hôm ấy, đoàn Quân y khám hết cho cả Trung đoàn mãi tận chiều tối mới nghỉ...

        Một tuần sau khi khám sức khỏe, tôi vẫn cùng anh em đào núi làm công trình Quốc phòng ở Quán Chẹt, đường đi vào Nghệ An.

        Tôi gần như đã quên bẵng việc đi khám tuyển hôm trước, thì bỗng nhiên anh Thanh xuống Tiểu đội bảo tôi:

        - Cậu trúng tuyển rồi. Cả Trung đoàn mình có cậu và ba người nữa trúng tuyển là Hạ sĩ Lê Hồng Thịnh, Đại úy Nguyễn Văn Phúc và Thiếu úy Nguyễn Quốc Thông. Các cậu chuẩn bị ngay ngày mai sẽ lên đường đi Trường văn hóa Lạng Sơn học tập.

        Nghe anh nói, tôi hơi bất ngờ một chút, vì tôi không nghĩ mình lại trúng tuyển. Bây giờ biết mình được đi học, tôi vui quá tí nữa thì nhảy lên ôm lấy anh Thanh.

        Tôi nhìn quanh anh em đơn vị một lượt thầm nghĩ “thế là lại phải xa chúng mày rồi”.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2019, 05:37:25 PM

*

        Bốn anh em chúng tôi phải mất trọn ba ngày trời mới lên đến Trường Văn hóa Lạng Sơn. Ngôi trường nằm ở trung tâm Thị xã Lạng Sơn .

        Thực ra đơn vị này lúc đầu ở Kiến An - Hải Phòng chuyên giảng dạy bổ túc văn hóa cho những chiến sĩ hoặc sĩ quan được lựa chọn để đi học chuyên ngành hay nước ngoài, nhưng do cần bàn giao cho Quân khu 3 nên trường mới chuyển lên đây được ít lâu.

        Chúng tôi vừa học vừa phải khắc phục sửa chữa lại trường học của bọn Pháp để lại.

        Lên đây, tôi được ghép ở cùng phòng với Mai Đức Toại (sau này là, Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân) học tiếp lớp 6 cùng với một số anh em khác ở các đơn vị tuyển về.

        Còn Lê Hồng Thịnh cùng với Nguyễn Văn Phúc (sau này chúng tôi gọi thân mật là "Phúc Dù") thì được ở lại học đến hết lớp mười.

        Gọi là học tiếp văn hóa, nhưng chúng tôi chủ yếu là học ba môn toán, hóa, lý để phục vụ cho chuyên ngành học sau này, còn những môn văn sử địa, các thầy bảo cho qua hết.

        Thời gian ở Trường Văn hóa, phải nói là cực kỳ khó khăn, cơm không đủ ăn, chúng tôi phải trồng rau để cải thiện bữa ăn hàng ngày thêm cho đỡ đói.

        Đêm ở Lạng Sơn lạnh thấu xương nhưng mỗi tiểu đội vẫn phải cắt cử người để lấy phân bón rau. Tiểu đội nào cũng muốn có phân tưới rau cho tiểu đội mình nên không nhanh chân là hết.

        Một hôm, chúng tôi ai nấy hí hửng ngồi sẵn trước bàn trong nhà ăn của Nhà trường, nhìn chằm chằm vào đĩa rau cải bắp trắng nõn mà nuốt nưóc bọt vì quá hấp dẫn. Bàn ăn của tôi, được một đĩa có vẻ to hơn cả. Tôi sung sướng gắp một miếng cho vào miệng. Nhưng đưa miếng rau lên miệng, thấy có mùi gì thum thủm chẳng giông mùi thơm của bắp cải tí nào. Tôi vội vàng chạy ra ngoài nhổ phì phì rồi quay vào lẩm bẩm:

        - Các ông có ai ăn rau thấy mùi gì lạ không?

        - Làm gì có mùi gì? - Cả phòng ăn nhao nhao lên, rồi dí sát mũi vào đĩa rau cải - Ôi, đúng thật các ông ạ, mùi gì kinh quá.

        Bây giờ thì anh nào cũng gắp rau đưa lên mũi ngửi. Thằng Kháng bói tung đĩa rau lên, thì... 01 chao ôi! Một hòn phân lẫn trong đĩa rau lăn ra bàn. Cả bọn chúng tôi bỏ chạy ra ngoài nhà ăn, ôm bụng cười lăn lộn trêu nhau:

        - Cái ấy đúng là của thằng P. rồi, mày có ăn rau đâu mà chẳng bị táo bón! Có bị táo bón thì nó mới tròn như viên bi chứ.

        - Mày nói thế mà được à, của mày thì có...

        Sau bữa ăn ấy, thằng Giang người Huế lấy gạch viết lên bức tường dòng chữ: “Ở đây khổ hơn tù...”.

        Khố thân nó, vì mấy dòng chữ đó mà mấy hôm sau nó bị nhà trường khai trừ khỏi Đảng, đuổi học về quê tít tận Huế.

        Nhưng quả thật cuộc sống trên Trường Văn hóa khổ và đói quá.

        Ngoài nhiệm vụ học tập và duy trì phong trào văn hóa văn nghệ ra, những lúc rảnh rỗi chúng tôi vắt óc nghĩ cách cải thiện cho bữa ăn.

        Mỗi một Chủ nhật vừa để gây quỹ cho Chi đoàn, cũng vừa là một cách kiếm tiền, tôi dành dụm được mấy đồng mua đỗ đen và đường phên nấu một nồi chè bán cho học viên. Mỗi bát chè đỗ đen nấu đường phên bán được mấy xu, thế mà cuối tháng cũng để dành được vài đồng lãi.

        Đó cũng là một cách giải trí duy nhất ở Trường Văn hóa này.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2019, 09:58:32 PM
       
ĐƯỢC ĐI HỌC LÁI MÁY BAY MIG

        Cuối năm ấy, chúng tôi được gọi về Kiến An để học lý luận, phần học cuối cùng để chuẩn bị sang Trung Quốc học “líng hàng".

        Nhóm bạn chơi thân gồm tôi và Mai Đức Toại đã kịp học hết lớp Bảy, Ngô Đức Mai mới chỉ hết lớp Năm lại lục tục kéo về Kiến An.

        Khi ấy tất cả anh em ở Kiến An đã tập trung đông đủ theo sự phân công, sau này mỗi người sẽ theo học một ngành tùy theo lực học và tình trạng sức khỏe. Họ đã học tiếng Trung Quốc hầu như đã thành thạo lắm rồi, chỉ có tôi chẳng hiểu sao lại phải học muộn. Chỉ có một tháng rưỡi học tiếng, làm sao có thể học được đây? Tôi đâm lo ngay ngáy.

        Chỉ còn có vài ngày nữa là toàn bộ số học viên sẽ lên đường sang Trung Quốc. Danh sách đã công bố tất cả có 60 người được đi học lái máy bay.

        Tôi không có tên trong danh sách 60 người đi học lái máy bay, thì đùng một cái, hai người có trong danh sách học lái máy bay từ chổi không đi.

        Cả đoàn đều bất ngờ với quyết định của hai người đó, Lãnh đạo bỗng trở nên lúng túng, không biết tìm ai thay thế, vì để lỡ cơ hội học tập bồi dưỡng thế này thật uổng.

        Đến ngày thứ ba sau sự cô ấy thì tôi được Đoàn trưởng Trần Mạnh gọi lên phòng thầy Hiệu trưởng. Tôi vừa bước vào phòng thì đã thấy Triệu Bội Ngọc, một thằng bạn người Tày đã ngồi ở đó. Chúng tôi nhìn nhau và cố đoán xem vẻ mặt của Đoàn trưởng nói lên điều gì?

        Đoàn trưởng Trần Mạnh dường như cố ý để chúng tôi phải đoán già đoán non một hồi, mới chậm rãi lên tiếng:

        - Chắc các em đã sẵn sàng cho chuyến đi?

        - Vâng ạ! - Chúng tôi đồng thanh đáp.

        - Các em biết đấy, việc lựa chọn các em đi học là một sự ưu ái. Bởi rất nhiều người muốn đi học như các em mà không đủ khả năng hoặc sức khỏe mà đi. Chắc các em cũng đã biết việc hai em có tên trong danh sách học bay từ chổi đi học nước ngoài? Tôi muốn hai em sẽ thay thế những học sinh đó. Tôi hi vọng các em sẽ không phụ lòng tin của tôi, sau này sẽ công hiến cho đất nước những gì mà các em sẽ học được ở nước bạn. Kể từ ngày hôm nay, các em chính thức có tên trong danh sách học bay. Các em có thể về quê báo cho gia đình biết rồi trở lại trường ngay. Chỉ có năm ngày cho các em chuẩn bị.

        Đồng chí Đoàn trưởng Trần Mạnh nói liền một mạch khiến cho chúng tôi không kịp phản ứng gì. Chúng tôi chỉ biết vâng dạ rồi xin phép ra về.

        Ra khổi phòng, Triệu Bội Ngọc nói giọng tiếc rẻ:

        - Có lẽ tôi không về nhà được, nhà tôi xa thế chỉ có mấy ngày tôi làm sao kịp trở lại trường?

        - Ừ, cũng phải - Tôi gật gù - Nhà cậu ở tận Cao Bằng, đi lên đó cũng mất cả tuần. Nhưng tôi ở Thanh Hóa, nêu tranh thủ thì cũng kịp.

        - Thế thì chịu khó đi, cố mà về gặp u, biết đâu u cậu đã nhắm cho cô nào ở quê rồi, về là cưới luôn chứ lị - Triệu Bội Ngọc trêu tôi.

        Tôi không suy nghĩ gì thêm, về phòng thu xếp về Thanh Hóa luôn. Phải đi ngay nếu không sẽ không kịp chuyến tàu...

*

        Cũng may, tôi vừa đến ga thì tàu cũng chuẩn bị lăn bánh. Tôi háo hức về thăm mẹ đến nỗi quên mất mây lần phải xuống ga, tăng bo mấy lần mới về tới cầu Hàm Rồng thì khoảng mười một giờ đêm.

        Nhìn quanh quẩn chẳng còn phương tiện gì khác ngoài xe đạp hoặc xích lô. “Bằng giá nào hôm nay cũng phải có mặt ở nhà, chứ không thể chạy bộ từ Hàm Rồng về đến Đông Anh được” - tôi nghĩ thế và vời ngay một bác xích lô nhảy tót lên, tiền bao nhiêu không quan trọng.

        Bác xích lô tha hồ gò người mà đạp hết sức. Hai bác cháu vừa đi vừa nói chuyện trên trời dưới bể, mệt thì nghỉ một lát uổng nước rồi lại đi tiếp.

        Cho đến một giờ sáng, tôi đang gà gật ngủ trên xích lô thì bác xế gọi tôi dậy:

        - Này cậu ơi, về đến làng cậu rồi đấy.

        - Thế hả, bác đi nhanh quá nhỉ? - Tôi choàng tỉnh ngay như sáo - Thôi, bác để cháu xuống đây, cháu cảm ơn bác, bác cầm tạm vài đồng uống nước.

        Tôi móc trong túi quần 20 chục đồng, giúi vào tay bác rồi chạy về nhà.

        Mặc kệ đêm tối và như chưa hề xa nhà bao giờ, tôi lần đúng nhà mình gọi cửa. Tranh thủ lúc chờ mẹ tôi lên tiếng, tôi liếc nhìn xung quanh, cảnh vật vãn y nguyên như hồi tôi mới đi bộ đội, chẳng khác là mấy.

        - Mẹ ơi! Mở cửa cho con - Tôi sốt ruột.

        - Ai? Ai đấy? - Tiếng mẹ tôi vọng ra, chắc mẹ đang thắp đèn vì tôi thấy ánh đèn sáng lọt qua khe cửa.

        - Con là Chao đây.

        - Ôi, thằng Chao, thằng Chao về. Sao mi viền giữa đêm tối thế hả con? - Mẹ tôi mừng rỡ.

        Tôi chẳng đợi được nữa, mẹ vừa mới hé cửa là tôi ôm chầm lấy mẹ.

        - Con về thăm mẹ rồi lại đi luôn, chắc lần này con sẽ đi lâu mẹ ạ.

        - Thê đi đâu? Mày định không lấy vợ cho mẹ có cháu bế à?

        - Ôi, mẹ lo gì chứ? Khi nào con đi học về, mẹ lại mỏi tay mà bế cháu - Tôi cười rồi lảng sang chuyện khác - Thê anh chị Phao thế nào rồi mẹ? Còn cái Diệp nữa, nó được mấy đứa rồi?

        - Mày nói mẹ nghe đi, cấp trên cho mày đi học gì? Mẹ tò mò lắm rồi.

        - À, con đi học đường sắt bên Trung Quốc - Chả hiểu sao lúc ấy tôi nói dốì dẻo như kẹo kéo - Con đi mấy năm rồi sẽ về.

        Tôi chỉ ở nhà với mẹ đúng một hôm, rồi vội vàng phải bắt xe đi về trường ở Kiến An.
        Vậy là cuối cùng thì kể cả mẹ cũng chẳng biết chính xác là tôi sẽ đi học gì bên Trung Quốc. Chính vì điều đó mà sau này khi tin tôi được phong Anh hùng về xã Đông Anh, ai cũng ngạc nhiên bảo: “Lạ nhỉ, sao thằng Chao nó học đường sắt mà lại được phong Anh hùng lái máy bay !"


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2019, 10:00:22 PM

KHI NHỮNG ANH NÔNG DÂN ĐƯỢC NGỒI LẺN BUỒNG LÁI MÁY BAY PHẢN LỰC

        Đó là năm 1958 chúng tôi gồm sáu mươi mốt người được lựa chọn, dẫn đầu là Đoàn trưởng Trần Mạnh lên đường sang Trung Quốc qua lối Bằng Tường bằng tàu hỏa. Không phải đi chui như đoàn trước, lần này có vẻ đàng hoàng hơn, vì mỗi người dược trang bị một chiếc va ly da và bộ đồ công nhân màu xanh.

        Đến Bằng Tường, chúng tôi được chuyển sang tàu khác của Trung Quốc đến thẳng Trường số Ba ở tỉnh Liễu Ninh, nằm ngoài thành phố Cẩm Châu, Trường này chuyên đào tạo phi công cho các nước An-ba-ni, Triều Tiên, Việt Nam...

        Lúc mới sang, đại đa số những anh đã được học tiếng ở Cát Bi hầu như không có vấn đề gì, nhưng những người như tôi và một số anh em thì đúng là chật vật với thứ ngôn ngữ Tàu. Bởi vì tôi được lựa chọn muộn nhất nên ở Cát Bi phải tranh thủ học lý luận, có được học tiếng tí nào đâu, ngoại trừ những giờ rảnh rỗi học lỏm qua mấy anh.

        Mỗi cuối tuần học viên được tung tẩy ra ngoài phố, chúng tôi liều lĩnh nhảy tàu lên tận Bắc Kinh dù tiếng Trung Quốc mới học được mấy chục ngày.

        Người ta bảo, ngày đó cứ thấy mấy anh chàng mặc bộ đồ học viên bay, đi nghênh ngang trên đường phố thì đích thị là bộ đội Việt Nam. Trần Đình Lộc là anh chàng chẳng biết tí tiếng nào, nhưng lại hay đi la cà nhất, có lần bị Công an Trung Quốc bắt vào đồn. Sau họ biết là học sinh Trường Không quân, người Việt Nam, mới thả ra.

        Vào dịp Tết nguyên đán, chúng tôi kéo xuống nhà giáo viên chúc Tết, nhìn thấy người phụ nữ đang ẵm đứa trẻ chừng ba tháng, chúng tôi cứ nhao nhao lên chỉ vào đứa bé hỏi: Đây có phải con tôi không? (cấu trúc ngữ pháp tiếng Trung Quốc ngược hẳn với Việt Nam, lẽ ra phải hỏi Đây có phải con của thầy không?) làm cho vợ chồng thầy giáo cười rơi nước mắt. Có lần anh Trần Mạnh xuống tận phòng bảo chúng tôi:

        - Nhà trường gửi xuống thông báo cho học viên cùng với học viên Trung Quốc đi bắt rận cho cừu, tham gia sản xuất cùng bà con, các cậu chuẩn bị đi nhé!

        - Sao lại đi bắt rận cho cừu? - Chúng tôi ngạc nhiên bắt bẻ - Bọn em không đi đâu. Vối lại làm gì có cừu mà bắt rận?

        - Anh Trình ơi, anh xem lại đi chứ, em nghe thấy người ta đọc có từ “bải chai” có nghĩa là “cải trắng". “Đi thu hoạch cải trắng” mà chẳng hiểu sao anh lại dịch là “Đi bắt rận cho cừu”? - Tôi nhanh nhảu thêm vào.

        Đúng là chuyện dở khóc dở cười. Cho đến thời gian gần thi, tôi quyết định không cần nhờ phiên dịch nữa mà tự mình làm bài thi bằng tiếng Trung Quốc, vì có nhờ họ thì họ cũng không diễn đạt hết ý của mình, hoặc thậm chí dịch sai đi.

*

        Khác xa với sự tưởng tượng của tôi khi còn ở sân bay Cát Bi - Hải Phòng, việc học bay hóa ra không đến nỗi quá phức tạp.

        Điều quan trọng là phải nắm chắc lý thuyết để có thể vận dụng hiệu quả nhất. Việc này, với những người trình độ văn hóa lớp mười có lẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với những người trình độ lớp bảy như tôi, hay lớp bốn như Nguyễn Văn Bảy.

        Cũng vì sự hạn chế về kiến thức văn hóa mà Nguyễn Văn Bảy không thể “tiêu hóa” nổi định luật Bec-nu-li, khiến cho trong một trận chiến đấu sau này, máy bay của Bảy bị Mỹ bắn trọng thương một lỗ to bằng bàn tay trên thân máy bay chỗ gần buồng lái, Bảy đã suýt mất mạng vì lấy tay bịt lỗ thủng và ngay lập tức bị gió kéo tuột ra ngoài. Sau trận tí chết ấy, Nguyễn Văn Bảy mới vỡ lẽ thế nào là định luật Bec-nu-li.

        Còn tôi mới vỡ lẽ ra: Nông dân ngồi buồng lái máy bay phản lực quả là một điều phi thường!

        Đó là chưa kể đến việc có chịu nổi thử thách đối với tiền đình hay không? Trong tất cả các môn thể thao của Không quân, tôi cũng như hầu hết các anh em đều vượt qua khá suôn sẻ kể cả tập vòng xoay 360 độ (môn thể thao này, mình phải đứng giữa vòng tròn, rồi đút hai chân và nắm hai tay chặt vào vòng ở tư thế hai chân là chữ A, hai cánh tay giơ lên hình chữ V, rồi cho vòng xoay thật mạnh 360 độ, lấy người là trọng tâm xoay người theo vòng tròn).

        Chỉ trừ có hai anh chàng Nguyễn Văn Nhơn và Nguyễn Văn Bảy người miền Nam tập kết ra Bắc là hơi vất vả. Nhơn thì đỡ hơn, chứ Bảy thì luôn luôn có một cái ruột quả bóng đá, cắt cái miệng cho rộng ra và treo lủng lẳng bên mình. Cái ruột quả bóng này có một tác dụng duy nhất là khi nào lên máy bay Bảy có thể nôn thả phanh vào đó. Với Bảy, mỗi một lần lên khoang máy bay đều như bắt đầu một cuộc chiến, suốt gần bảy năm trời học lái cho đến mãi khi gần về nước tình trạng nôn của Bảy mới đỡ và tới khi trực tiếp chiến đấu thì mới dứt hẳn.

        Thực sự cho tới tận bây giờ tôi vẫn không thể hiểu nổi làm sao mà Nguyễn Văn Bảy lại có sức bền bỉ theo đuổi nghề bay và càng không thể hiểu được tại sao thời kỳ đó Việt Nam lại có được nhiều những người con ưu tú như vậy. (Sau này Nguyễn Văn Bảy đã là phi công nối tiếng không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới, với 7 lần bắn rơi máy bay Mỹ).

        Có một lần cả trường tôi xôn xao bàn tán về việc Võ Văn Mẫn quê Bến Tre bị cấp trên phê bình là: “Tư tưởng chán sống khi ở xa Tố quốc - làm nao núng tinh thần của đồng đội".

        Vào thời điểm ấy, khi nghe những câu tương tự chúng tôi thường sởn gai ốc vì rất có thể người bị kết tội như thế sẽ phải trở về nước hoặc bị kỷ luật nặng.

        Võ Văn Mẫn thì tôi biết, cậu ta rất hiền, đẹp trai, to con và học lái không đến nỗi nào. Không lẽ nào cậu ta lại hớ hênh khiến cho cấp trên phải để ý.

        Việc của Mẫn tuy thế cũng chưa khó bằng việc chúng tôi phải từ chối bắn người hình nộm. Thời điểm ấy mới quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc rạn nứt và trở nên cực kỳ căng thẳng. Trường Không quân số Ba của Trung Quốc, đương nhiên có rất nhiều người Trung Quốc ngoài những học sinh các nước ra.

        Những buổi ngoại khóa chơi thể thao, người Việt thích chơi các môn bóng đá, bóng rổ hay bóng bàn, nhưng người Trung Quốc chỉ khoái có mỗi môn bắn cung vào hình nộm. Mà hình nộm đó là ai? Người ta đã làm hình nộm bằng rơm và vẽ mặt giống y hệt Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Khơ-rúp- xổp. Người Trung Quốc lúc này rất hận Liên Xô, nên mỗi lần tổ chức bắn cung đều yêu cầu phi công Việt Nam bắn cùng.

        Tôi tuy ít học nhưng cũng lờ mờ hiểu được ý nghĩa vấn đề này và từ chối thẳng thừng. Cái cảm giác đau đớn sau mỗi lần người Trung Quốc bắn trúng hình nộm, rồi cười ha hả, cứ dai dẳng theo tôi mãi cho tới tận lúc về nước.

        Tất cả những chuyện đó với tôi chỉ là chuyện nhỏ so với chuyến bay cảm giác đầu tiên. Thật khó để tả lại giây phút đó tôi đã hoảng sợ như thế nào khi máy bay ép độ nghiêng, trong phút chốc người như đổ nghiêng xuống mặt đất. Nguyên tắc khi bay cảm giác lần đầu bao giờ học viên cũng ngồi trước để giáo viên hướng dẫn ngồi đằng sau, nhưng thầy giáo Lục Gia Thành hô luôn: “Chao, mày lượn vòng tròn tao xem”.

        Bất ngờ vì lời nói của thầy vài giây, nhưng tôi cũng mạnh dạn ép cần kéo lượn luôn một vòng với tốc độ không đổi 450 ki-lô-mét/ giờ. Xong lần lượn vòng phải tôi làm luôn một vòng lượn trái, hoàn thành bài tập phức tạp một cách trôi chảy.

        Dù sao tôi cũng tự hào là người đầu tiên trong đoàn học lái năm ấy được giáo viên Trung Quốc và Đoàn trưởng Trần Mạnh tin tưởng chỉ định bay cảm giác. 


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2019, 10:01:24 PM
     
TÌNH YÊU CỦA TÔI

        Tôi sắp xếp hành lý để chuẩn bị về nước. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được về thăm quê hương kể từ ngày sang đây học và là một kỳ nghỉ dài hơi cho đến khi nào có thông báo thì mới sang học tiếp.

        Kế’ ra được về cũng tốt, vì chúng tôi đã xa Việt Nam hơn một năm rồi còn gì. Nếu không vì Liên Xô cắt viện trợ (đợt cắt viện trợ này là đỉnh điểm đánh dấu sự rạn nứt mỗi quan hệ giữa Xô - Trung), thì lẽ ra chúng tôi cũng chưa được về đâu. Sự kiện này nhiều người cho là may, nhưng số còn lại thì đâm ra lo lắng vì không biết đến bao giờ mới học lại.

        Chúng tôi về tập trung ở sân bay Cát Bi, vừa là để tập trung không bị phân tán học viên, vừa là có điều kiện luyện tập kẻo quên mất kỹ năng thực hành, bởi vì ở Cát Bi loại máy bay YAK-18 lúc nào cũng có sẵn.

        Lại những ngày tập văn nghệ, trồng rau đến phát nhàm chán. Anh Chính, người cùng đơn vị bảo tôi:

        - Tao có cô em họ xinh lắm, ở ngay gần nhà mày, xã Đông Tiến ấy. Lúc nào về quê, tao giói thiệu cho.

        - Cô ấy xinh thế thì đâu đến lượt em? - Tôi bắt đầu hào hứng, nhưng vẫn tỏ ra nghi ngờ.

        - Đúng là con bé có vấn đề thật. Chứ không thì giờ đã về nhà người ta rồi chú mày ạ - Anh Chính nói tưng tửng.

        - Vấn đề gì?- Tôi tò mò.

        - Vấn đề là vì con bé xinh nên rất nhiều người hỏi. Cũng dăm bảy đám rồi, mà nó không ưng, lại ưng thầy dạy học mới chết chứ. Mà chú mày nghĩ xem, các cụ ai cho phép thầy giáo yêu đương học trò mà đòi lấy? Lúc con bé Thêu học lớp bốn thì chưa có gì, đến lúc nó học lớp năm, thầy giáo dạy lớp năm để ý nó chú mày ạ. Thế là chú mày biết chuyện gì xảy ra không? Chú của nó biết được làm ầm lên ở trường, làm cho tay thầy giáo kia phải bỏ dạy đấy. Tất nhiên là từ dạo đó con bé và thầy giáo cấm có được gặp nhau. Hiểu chưa chú mày?

        - Hì, em hiểu, nhưng mà các cụ cũng lạ thật. Thầy trò yêu nhau thì sao mà ngăn với cản.

        Tôi nói vậy, chứ trong bụng đã mừng thầm rồi.

        - Thì xưa nay vẫn thế, các cụ vẫn nói rằng kỵ nhất là thầy yêu trò mà.

        - Anh này, hôm nào về quê nhé. Anh nhớ giới thiệu cho em.

        - Được rồi. Chú cứ sắp xếp đi.

        Rồi tôi và anh Chính cùng về quê. Đến đầu làng, tôi bảo anh Chính cứ sắp xếp sao cho khéo, tôi về nhà rồi sẽ sang ngay.

        Ba giờ chiều, tôi xúng xính trong áo trắng tinh “sơ-vin” trong chiếc quần màu xanh Không quân, mò sang nhà anh Chính, ở bên này, anh Chính đã ngồi chờ sẵn, tôi liếc hỏi nhỏ:

        - Cô ấy đâu?

        - Chú mày cứ ngồi xuống đã. Vợ anh nó đi gọi rồi. Chú cứ yên trí.

        Nghe anh, tôi ngồi xuống nhưng mắt tôi chốc chốc lại ngoái ra ngoài cổng nhà anh. Hàng rào râm bụt rung rinh. Đây rồi, đây rồi. Tim tôi bỗng dưng đập liên hồi. Vợ anh Chính đi trước, còn “cô bé" đi sau. Đúng là đẹp thật. Tôi сố ngồi cho ngay ngắn, chờ hai người phụ nữ vào tận trong nhà mới lên tiếng chào. Chả hiểu sao, lúc ấy tôi bỗng trở nên “người lớn’ thế.

        Khi mọi người đã yên vị, anh Chính trịnh trọng giới thiệu từng người, anh còn nhấn mạnh:

        - Chú Chao đây, rất hiền lành lại giỏi giang. Sau này có thể trở thành phi công giỏi đấy cô Thêu ạ.

        Nghe anh Chính nói vậy, tôi ngượng đó cả mặt, nhưng cũng kịp nhìn thấy Thêu liếc nhìn tôi.

        Tôi bỗng nói liền một mạch với Thêu, không thèm để ý đây là lần đầu tiên gặp mặt:

        - Được anh Chính giới thiệu và biết chị hôm nay. Tôi xin đặt vấn đề tìm hiểu chị.

        - Ơ - Thêu bị bất ngờ nên buột miệng thốt lên - Em em vẫn còn đang đi học mà.

        - Tôi sẽ chờ em học xong - Tôi quả quyết - Chỉ mong em từ nay chấp nhận tôi.

        Thấy tôi nói vậy, Thêu lúng túng, mặt đó bừng lên nom lại càng xinh xắn. Cô thẹn thùng xin phép vợ chồng anh Chính ra về. Để lại tôi ngồi ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.

        Trước khi tôi phải trở lại Trung Quốc học tiếp, mẹ tôi lại sắp bánh kẹo, trầu cau đi hỏi vợ cho tôi.

        Nhưng lần này không phải như những lần còn ở nhà với mẹ, tôi hào hứng sắp xếp phụ mẹ thứ nọ thứ kia, nào là đi gửi đường, đậu xanh cho người quen làm bánh kẹo; nào là nhờ người chọn loại trầu cau nào đẹp, ngon nhất để mua. Tôi muốn làm đám hỏi với Thêu phải hoành tráng nhất. Mà có lẽ thế thật, cả làng tôi lúc ấy chẳng gia đình nào làm đám hỏi to như thế bao giờ.

        Lễ ăn hỏi, tôi trịnh trọng trong bộ quần áo Không quân, còn em thật đẹp trong bộ áo bà ba mới may. Chúng tôi nhìn nhau mà chẳng dám nói gì, vì sợ mọi người bắt gặp. Mãi cho đến lúc làm lễ xong, mọi người đã về hết thì tôi mới nán lại, lén cầm tay em. Thêu rút trong túi áo bà ba một chiếc khăn tay trắng tinh thêu hai chữ lồng “C&T" dúi vào tay tôi nói:

        - Tặng anh đấy!

        Chẳng có gì có thể tả nổi niềm hạnh phúc của tôi lúc đó. Tôi chỉ ước sao được ôm em thật chặt để nói cảm ơn em.

        Tạm biệt em, kể từ đó tôi luôn giữ kỷ vật mà em trao tặng tôi bên mình. Suốt sáu năm đằng đẵng tôi đi học, em đã chờ đợi tôi, chúng tôi đã gửi cho nhau những lá thứ thật dài gửi gắm bao nhiêu yêu thương trong đó.

        Có những lần nhớ em quá, tôi đã viết lá thư dài cả mét bằng giấy pơ-luya về Việt Nam cho em. Lá thư ấy chúng tôi còn giữ mãi đến lúc có đứa con gái đầu lòng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2019, 10:03:47 PM

MỘT ĐƠN VỊ KHÔNG QUÂN ANH HÙNG ĐÃ RA ĐỜI NHƯ THẾ

        Thế là sau gần bảy năm học bay ở Trường Không quân Số 3 của Trung Quốc, chúng tôi đã được trang bị đủ kiến thức và kỹ thuật cần thiết, để có thể trở về nước chiến đấu.

        Hồi đó, người ta nói trong nước cả dân tộc Việt Nam đang bừng khí thế chống Mỹ. Già trẻ lớn bé, tất thảy đều tham gia sau trận Mỹ ném bom miền Bắc. Còn chúng tôi? Ai cũng nôn nóng được quay về đất mẹ.

        Khi mới sang Trung Quốc, đoàn chúng tôi có tất cả 61 người. Thế mà sau bảy năm trở về, điểm lại quân số chỉ còn 23 người ít ỏi. Bởi vì sau lần khám lại đợt I, Nhà trường đã loại 16 người. Khi bay sơ cấp, loại thêm 20 người. Khi bay MiG-15 lại loại thêm lần nữa. Trong số 23 người ấy thì đã có hai người ở lại làm giáo viên, hai người là lãnh đạo, còn một người xin thôi bay trước khi về nước.

        Chúng tôi nhanh chóng đến sân bay Mông Tự để chuẩn bị cho chuyến chuyển trường.

        Một buổi chiều một ngày đáng nhớ năm 1964.

        Cả Đại đội gồm đầy đủ các thánh phần từ lãnh đạo đoàn cho tới Bác sĩ quân y, và tất nhiên là có cả các phi công ưu tú. Đoàn trưởng Trần Mạnh, Bác sĩ Lê Như Bổng... cùng ngồi trên chiếc máy bay AH-2 mà chúng tôi hay gọi đùa là máy bay Bà già hai tầng, cánh vuông bay vè vè với tốc độ chỉ 300 ki-lô-mét/ giờ.

        Còn chúng tôi gồm các phi công: Toại, Lai, Bảy, Hoàng, Huyền, Síu, Chao, Đe, Chung, Huyên, Đức, Xuân, Lộc... mỗi người “cưỡi” một chiếc MiG-17 về nước.

        Khoảng không gian từ Mông Tự về Việt Nam trời khá nhiều mây. Kể ra điều đó cũng làm chúng tôi hơi lo ngại, vì một số bài bay như khí tượng phức tạp, bay đêm, bay biển chúng tôi chưa được học và nhất là chưa được luyện tập nhảy dù trong chiến đấu nhiều.

        Trong lòng tôi dâng lên rất nhiều cảm xúc, vừa lo lắng vì lần đầu tiên chính thức điều khiển máy bay trên đường bay lạ, vừa hồi hộp vì sắp được hạ cánh trên quê hương...

        Khi qua biên giới Việt - Trung, đoàn trưởng Mạnh hét to trong máy bay:

        - Bổng ơi, qua biên giới rồi nhé, ông có nhìn thấy sông Hồng và quốc lộ Lào Cai - Hà Nội không?

        Bổng ghé nhìn xuống phía dưới sông và đường chạy song song với nhau xúc động nói gần như khóc:

        - Thấy rồi!

        Còn Nguyễn Khắc Lộc vẫn cái khiếu văn thơ trời cho bỗng nhiên xuất khẩu thành thơ, khi vừa hạ cánh:

“ Bay trên sông Đuống, sông Hồng
Ngỡ Hương Giang, ngỡ Cửu Long sóng trào
Nghiêng đôi cánh bạc trên cao
Nghe miền Nam gọi xôn xao mây trời"

        Khi chiếc máy bay cuối cùng do Nguyễn Khắc Lộc điều khiển là một chiếc máy bay hai buồng lái (cho một bao cát thay người) hạ cánh an toàn vào sân đỗ, thì niềm vui mới thực sự vỡ òa.

        Mọi người cảm động rơi nước mắt. Những cái bắt tay chúc mừng một ngày chuyên trường lịch sử thành công hơn mong đợi - Một cuộc chuyển trường có lẽ chẳng thể nào quên được trong mỗi chúng tôi.

        Tuy xuất thân từ Đoàn Không quân số Hai, nhưng chúng tôi (sau này là Đoàn Không quân Yên Thế) kể từ khi về nước phải nói là vô cùng vất vả.

        Phi công về đơn vị phải sống ở nơi sơ tán là cái xóm Thông Nhất ven sông Hồng. Nhà ở là những cái lán làm bằng vách tre dựng tạm cạnh dãy chuối cả ngày gió thối lá rách tả tơi, lật phà lật phật.

        Nhưng như thế có hề gì? Vì khí thế của cả đơn vị lúc này đang hừng hực, liên tục bắn rơi máy bay Mỹ, khiến cho anh em phi công phấn chấn lên rất nhiều, chẳng ai để ý tới khó khăn vất vả.

*

        Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế ra đời sau Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ một thời gian rất ngắn.

        Đó là khoảng thời gian đầu tháng Tư, Đại đội 2 do Mai Đức Toại chỉ huy sau chiến thắng trận đầu ngày 3 tháng 4 năm 1965 đã hòa vào đội ngũ chiến đấu của Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ.

        Trong thời gian đó, Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế hình thành bởi một số’ Phi công, cơ quan Tham mưu, Chính trị, Kỹ thuật, Thợ máy được san sẻ từ Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ cùng với toàn bộ phi công của Đại đội Mai Đức Toại.

        Được giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ Đoàn Không quân Yên Thế đó là người mà chúng tôi đã thân quen từ rất lâu (từ ngày bắt đầu sang Trung Quốc học bay) - người đó không ai khác là Nguyễn Phúc Trạch.

        Trước đó anh Nguyễn Phúc Trạch đã được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trực tiếp bổ nhiệm phụ trách theo dõi Quân Binh chủng. Sau khi tuyển chọn Đoàn học viên Không quân I (tiền thân của Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ) anh lại tiếp nhận luôn phụ trách Đoàn Không quân II chúng tôi.

        Trước lúc bàn giao nhiệm vụ cho anh Đại tướng hỏi:

        - Cậu còn băn khoăn gì không?

        - Tôi chỉ băn khoăn bị thương tật thế này làm phi công sao được? - Nguyễn Phúc Trạch xòe bàn tay có ngón trỏ cụt nói.

        Đại tướng cười:

        - Quân chủng cần người chỉ huy, lãnh đạo giỏi, hiểu biết kỹ thuật mà cậu thì có đủ tố chất đó. Tin cậy được, nhận đi!

        Kể từ đó, Nguyễn Phúc Trạch như có duyên với anh em phi công Đoàn Không quân Yên Thế, đang là Đoàn phó Đoàn Sao Đỏ giờ anh nhận trách nhiệm Đoàn trưởng Đoàn Yên Thế, với bao nhiêu khó khăn đang đợi trước mắt.

        Vừa phải xây dựng Trung đoàn mới, nhưng vừa phải chiến đấu. Hai nhiệm vụ song song không thể lơ là nhiệm vụ nào.

        Nguyễn Phúc Trạch bắt tay vào việc ngay. Anh chỉ thị cho Trần Kỳ kiểm tra đường hạ cánh theo tiêu chuẩn an toàn của MiG-17 để chuẩn bị cho việc chuyển sân từ sân bay Nội Bài về sân bay Kép.

        Trần Kỳ cho biết tĩnh không rất hạn chế do dãy đồi nằm ngang đường hạ cánh.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2019, 10:04:08 PM

*

        Mấy ngày sau đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới sân bay Kép đang ngổn ngang gạch đá thị sát, yêu cầu Bí thư Nguyễn Văn Định và Tư lệnh Phùng Thế Tài phải khẩn trương tiến hành san đồi.

        - Nhưng phá đồi phải được sự cho phép của... - Tư lệnh Phùng Thế tài ngập ngừng.

        - Quân đội không đủ quyền hạn làm việc lớn thế này, phải nhân danh Chính phủ, Phó Thủ tướng ký thay cho Đại tướng - Đại tướng quả quyết.

        Vậy là ít lâu sau, việc xin phép san đồi coi như không còn khó khăn gì, Bộ đội công binh thi công theo phương pháp nổ mìn “văng định hướng” do cán bộ giáo viên Trường Mỏ địa chất và Trường Bách khoa nghiên cứu.

        Bộ đội Công binh đã đào sâu vào lòng bốn quả đồi hàng trăm giếng lò, nạp 250 tấn bộc phá. Ngày mùng 8 tháng 7 năm 1965 bộc phá nổ. Trong chớp mắt bốn quả đồi phía Nam sân bay Kép được san phẳng.

*

        Bộ phận chỉ huy hạ cánh, kiêm sở Chỉ huy Trung đoàn đóng chốt trên ngọn đồi thông phía nam sân bay. Người cầm đối không chỉ huy trực tiếp chính là Trung đoàn trưởng Nguyễn Phúc Trạch, luôn có Chủ nhiệm Thông tin Lê Đại Hinh và dẫn đường Trần Kỳ sát cánh cùng.

        Mai Đức Toại là người thực hiện ba chuyến bay thử. Lần thứ nhất mang thùng dầu phụ thông trường độ cao thấp không hạ cánh, lần thứ hai hạ cánh không mang thùng dầu phụ, lần thứ ba hạ cánh với thùng dầu phụ đã tiêu hao. Cả ba chuyến bay thành công mỹ mãn làm cơ sở cho việc chuyển sân của Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế vào ngày 7 tháng 9 năm 1965.

        Thế là từ nay, phía Đông Bắc Hà Nội có thêm Trung đoàn Không quân khá mạnh kết hợp với lưới lửa phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội.

        Ngoài nhiệm vụ phủ kín hỏa lực vùng đông bắc Hà Nội, Đoàn Không quân Yên Thế còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác là cơ động trên các sân bay toàn miền Bắc như sân bay Yên Bái, Kiến An, Thanh Hóa, Nghệ An, cho tới Quảng Bình...

        Từ đây, những chiếc MiG-17 thoắt ẩn, thoắt hiện trên bầu trời đã khiến cho không quân Mỹ phải nhiều phen hoang mang lo sợ.

        Ngày đó, Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế là đơn vị chủ yếu sử dụng MiG-17, có thể cắt vòng bán kính hẹp để đánh địch, và đánh thấp hiệu quả. Ở Liên Xô hồi đó, MiG-17 đã được xếp hạng cũ, thế mà sang Việt Nam, phi công ta vẫn sử dụng nó một cách điêu luyện chẳng kể gì tính năng của nó không hiện đại, thậm chí còn lạc hậu nhiều so với các loại máy bay của Không quân Mỹ...

        Tuy xuất thân từ Đoàn Không quân Số Hai, nhưng Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế kể từ khi về nước, đóng quân ở sân bay Kép (tỉnh Hà Bắc cũ) phải nói là vô cùng vất vả.

        Những Đồng Văn Đe, Ngô Đoàn Nhung, Võ Văn Mẫn, ... nguyên là học sinh miền Nam là những phi công đầu tiên của Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế.

        Các anh đều xuất thân từ những gia đình Cách mạng, hoặc gia đình bị kẻ thù sát hại, nên những phi công này đều có lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng thời họ là những phi công thông minh, dũng cảm thậm chí hơi liều mạng, sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

*

        Chỉ sau vài tháng thành lập đơn vị, tháng 11 năm 1965 phi công Ngô Đoàn Nhung đã rất thành công trong kỹ thuật bắn trực thăng - một kiểu chiến thuật, kỹ thật tương đối khó, vì những trận chiến kiêu này thường xảy ra ở những vùng rừng núi địa hình phức tạp, tốc độ chênh lệch của máy bay MiG-17 so với trực thăng của địch là rất lớn có thể lên tới 500 ki-lô-mét/ giờ. Đặc biệt là thủ đoạn né tránh công kích của trực thăng Mỹ luôn bay rất thấp, sà xuống các thung lũng, nếu phi công ta công kích chỉ cần sơ xuất một chút là có thể va vào núi ngay.

        Còn phi công Võ Văn Mẫn, người Bến Tre, con trai của Bí thư Huyện uỷ Ba Tri, lại là một trong những phi công xuất sắc nhất trong số những học viên bay còn trụ lại trong tổng số 60 học viên học lái máy bay tại Trung Quốc những năm 60 của thế kỷ XX.

        Võ Văn Mẫn cũng chính là người bay số Hai trong Biên đội Biên - Mãn không chiến với 12 chiếc F-105 do Zem-các-lơ, người hùng phi công Mỳ chỉ huy trên bầu trời sân bay Nội Bài, ngày 19 tháng 4 năm 1966. Các anh đã chiến đâu vô cùng linh hoạt và dũng cảm, khiến đội quân của Zem-các-lơ phải tháo chạy, để rồi ngày hôm sau chúng quay trở lại chưa kịp vào đến mục tiêu đã bị pháo cao xạ ở Yên Bái bắn rơi. Và chính hắn đã bị bắt đưa về Hỏa Lò.

        Và phi công Lê Hải sau một năm học lái MiG-17 khẩn cấp ở Vân Nam - Trung Quốc (trước đó Lê Hải đang là lái chính, kiêm dẫn đường trên không máy bay AN-2, tốc độ tối đa 250 ki-lô-mét/ giờ), trở về bổ sung cho Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế trong lúc số phi công của Trung đoàn bị hao hụt khá lỏn.

        Chính tôi là người phát hiện ra khả năng nhanh nhạy, chính xác, điềm tĩnh trong chiến đấu của Lê Hải lúc mới về. Chỉ qua một vài lần bay chung, tôi chỉ muốn kéo Lê Hải bay số Hai cho tôi mỗi lần Biên đội xuất kích.

        Và tôi đã không nhầm, sau này Lê Hải đã 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ và nhiều lần yểm hộ cho đồng đội bắn rơi nhiều chiếc khác...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2019, 11:32:37 PM

“HĂNG GA” KIỂU VIỆT NAM

        Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế mới thành lập đã sẵn sàng làm nhiệm vụ, mọi cơ sở để thiết lập cho một Trung đoàn bay dần đi vào hoạt động, kể từ xưởng bảo dưỡng đến tổ cơ khí, tổ thợ máy

        Nhìn ngắm những cơ sở vật chất của đơn vị hiện tại, Đại úy Hồ Thanh Minh (anh là kỹ sư chế tạo máy bay gần như là người đầu tiên gắn bó với Trung đoàn Bay đầu tiên của Không quân Việt Nam) cười nói với chúng tôi:

        - Cho dù vẫn còn khó khăn vất vả nhiều, nhưng Trung đoàn của các cậu vẫn còn may mắn hơn bọn tôi nhiều. Còn nhớ khi Trung đoàn Bay Tiêm kích phản lực MiG-17 đầu tiên của Không quân Việt Nam với đầy đủ trang bị vũ khí bay về nước thì hàng ngày vẫn phải luyện tập động tác và đội hình chiến đấu trên không, trực chiến trên sân bay Nội Bài. Tuy vậy, khi máy bay về hạ cánh vẫn phải để ngoài, không có gì che chắn dưới cái nắng nóng của mùa hè, có lúc lên tới 60 đến 70 độ trên thân cánh máy bay. Đã vậy, công tác kiểm tra định kỳ máy bay cũng diễn ra luôn tại đường băng, nên anh em càng vất vả.

        Tất cả số máy bay của Trung đoàn chỉ có 32 chiếc bay chiến đấu và 4 chiếc bay huấn luyện. Nên hầu như máy bay nào cũng hoạt động hết công suất. Nhất là sau "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", đơn vị càng phải lo trực cũng như huấn luyện mỗi ngày lên đến 20 - 30 giờ bay.

        Nếu làm một phép tính đơn giản, thì với nhịp độ bay như thế, mỗi một ngày phải có ít nhất từ một đến ba chiếc máy bay phải kéo vào xưởng. Nhưng xưởng chưa có nên máy bay vẫn nằm trên sân bay, mà không được che mưa nắng và như thế là nguy cơ hỏng hóc càng tăng lên.

        Trước tình hình khó khăn như vậy, Hồ Thanh Minh mạnh dạn trình bày suy nghĩ với lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn: Cần phải có ngay một cái ‘"hăng ga"” cho máy bay vào bảo dưỡng, vì máy bay không phải như ô tô, muôn kéo vào đâu cũng được. Hơn nữa MiG-17 có sải cánh dài và đuôi cũng không hề thấp.

        Được cấp trên đồng ý, Hồ Thanh Minh cùng các anh em thợ máy bắt tay ngay vào việc thiết kế, thi công một "hăng ga" đặc biệt. Đó là nơi đủ rộng, to, cao có mái lợp nứa cót, cột trụ chống mái bằng những cột tre chôn trong những thùng phi đầy đất cát (để tránh việc đào phá đường băng).

        “Hăng ga” nằm chình ình ngay trên bãi đỗ đầu phía Tây sân bay, sát cạnh đường lăn và tất nhiên là chẳng có tường che nên bốn bề luôn lộng gió. Mỗi lần đưa máy bay vào là phải làm động tác nâng cột giữa của mái nhà lên cho máy bay chui qua rồi lại hạ cột xuống. Chỉ có phần đầu được ở trong mái, còn phần đuôi phải thò ra ngoài trời.

        Kể từ đó cái "hăng ga" đặc biệt chính thức được gọi là "xưởng bảo dưỡng máy bay" của Đoàn Không quân Sao Đỏ. Ngày 9 tháng 11 năm 1964 "hăng ga" đã được chọn làm nơi tập trung cán bộ chiến sĩ của Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ đón Bác Hồ lần đầu tiên đến thăm Trung đoàn bay của Không quân Việt Nam, cũng là nơi toàn bộ chiến sĩ Không quân được nghe bác căn dặn như lời tiên tri:

        “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên không, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử, trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm đó trước tiên là của các chú. Các chú có làm được không?

        Tất cả những ai có mặt dưới mái "hăng ga" lợp bằng cót lúc đó đều đồng thanh hô: “Có ạ.r

        Sau ngày đáng nhớ đó ít lâu, mùng 3 tháng 4 năm 1965, trận đánh mở màn của Không quân Việt Nam trên bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hóa) Biên đội của các phi công Lan, Túc, Quỳ, Phương đã làm nên một chiến công phi thường bắn rơi liên hai chiếc F-8 của Mỹ. Ngay liền sau đó, ngày 4 tháng 4 năm 1965 Biên đội của các phi công Hanh, Giây, Huân, Năm cũng lập công bắn rơi hai chiếc F-105.

        Thật không thể ngờ được với điều kiện cơ sở vật chất sơ sài chỉ bằng những tranh, tre, nứa lá mà "hăng ga" của Đoàn Không quân Tiêm kích Sao Đỏ đã bảo dưỡng cho những chiếc máy bay làm nên chiến công lẫy lừng. Đó là chiếc máy bay mang số hiệu 2310 do phi công Phạm Ngọc Lan lái, chiếc máy bay số 2318 do phi công Trần Minh Phương lái, chiếc máy bay số 2316 do phi công Trần Hanh lái, hay chiếc máy bay số 2416 do phi công Phạm Giấy lái và chiếc máy bay số 4721 do phi công Lâm Văn Lích lái.

        Chiếc “Hăng ga" có một không hai trên thề giới ấy đã hoàn thành sứ mệnh đầu tiên cao cả của mình sau hơn một năm hoạt động hiệu quả. Lẽ đương nhiên, đồng hành với nó trong khoảng thời gian ấy luôn luôn là cánh thợ kỹ thuật và các Kíp trực chiến...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2019, 11:33:02 PM

        Lắng nghe anh Hồ Thanh Minh kể về chiếc "Hăng ga" đặc biệt đó, tôi cứ nghĩ sao dân tộc Việt Nam nhỏ bé và nghèo nàn đến thế mà có thề làm được những việc tưởng chừng chỉ có ở những câu chuyện “trên trời’’.

        Bằng giọng nói Quảng Bình chậm rãi, rõ ràng, Hồ Thanh Minh khiến cho tất cả chúng tôi bị hút vào câu chuyện của anh, không cưỡng lại được. Có thê chính anh cũng đã là một con người đặc biệt chăng?

        Hồ Thanh Minh sinh ra ở làng Lý Hòa ngay trên đèo Lý Hòa, nơi quanh năm đầy ắp nắng, gió với bốn bề sóng vỗ gần nằm ở vị trí phía nam sông Gianh và đoạn cuối động Phong Nha, gần cửa biển Lý Hòa - Quảng Bình (mà sau này chính cửa biển Lý Hòa đã có nhiều dấu ấn của các trận đánh Không quân).

        Người ta kể rằng ngày xưa những người dân họ Hồ ở Quỳnh Lưu - Nghệ An không theo vua Lê mà đi theo chúa Nguyễn, họ mong muốn sẽ đi xa hơn nhưng vì sóng to gió lớn nên bị dạt vào nơi này sinh cơ lập nghiệp.

        Hồ Thanh Minh được thừa hưởng tính cách của người cha là chủ một chiếc thuyền buôn 60 tấn chở gạo bán cho Nhật Bản di chuyển từ Phan Thiết tới bờ biển Nam Định -  vừa mạnh mẽ vừa phóng khoáng như biển cả và tính chịu thương chịu khó của mẹ.

        Anh lớn lên giữa thiên nhiên đẹp đẽ của ngọn đèo Lý Hòa, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn có dòng sông từ Phong Nha chảy xuống lững lờ ở phía dưới, từ đây nhìn lên có thể thấy những ngọn núi lấn ra sát biển, đúng như người ta thường nói “non nước hữu tình”.

        Nhưng thật không may cha của Minh mất sớm trong một lần đi thuyền vào Phan Thiết vì một cơn đau ruột thừa ở tuổi ba mươi mốt, để lại mẹ anh với năm đứa con trai. Từ khi mất cha, mẹ anh hàng ngày thường phải bắt con tôm, con cá về làm sạch rồi kho lên thật ngon mang lên làng quê đổi thóc về nuôi mấy anh em anh ăn học.

        Khó khăn là thế, nhưng Hồ Thanh Minh vẫn học rất giỏi cho đến năm 1948 anh được nhà nước cho đi học Thiếu sinh quân để từ đây cuộc đời anh - bắt đầu từ lúc anh 23 tuổi gắn liền với máy bay, gắn liền với Không quân Việt Nam, rất tự nhiên như là định mệnh vậy.

        Hồi ấy, sau khóa tốt nghiệp của đồng chí Lê Hồng Phong thì ngôi trường ở Liên Xô đó được chia thành hai trường: một là trường chuyên về Kỹ thuật và một là trường Không quân. Các anh được lựa chọn từ hai trăm người đang học tập ở Trung Quốc, để lấy chỉ có bốn người có khả năng nhất vào học ngành Không quân.

        Bốn người đó là Lê Hãn (con trai Tổng Bí thư Lê Duẩn), Nguyễn Văn Tường, duy chỉ có Nguyễn Văn Soạn và Hồ Thanh Minh là đi từ chiến trường miền Nam và Lào. Mỗi người đi theo một lĩnh vực. Lê Hãn thì học về máy bay, Hồ Thanh Minh học về vũ khí trên máy bay, Nguyễn Văn Soạn thì học về điện trên máy bay, còn Nguyễn Văn Tường thì học về ra-đa.

        Học tập một thời gian, anh Lê Hãn được cấp trên điều về nước làm nhiệm vụ mới, Hồ Thanh Minh phải thay thế Lê Hãn, chuyển sang học chế tạo máy bay.

        Như vậy có thể nói Hồ Thanh Minh chính là một trong ba người hiếm hoi của Việt Nam được học ngành chế tạo máy bay lúc bấy giờ. Và chính anh đã cùng anh Huỳnh Ngọc An đã chế tạo ra cái dù đuôi của máy bay MiG-17F.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2019, 11:34:15 PM

TRẬN “KHÔNG CHIẾN” ĐẦU TIÊN CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM?

        Cuối năm 1963, được Đế quốc Mỳ hậu thuẫn, Ngụy quân Sài Gòn bắt đầu gia tăng các hoạt động khiêu khích phá hoại đôi với miền Bắc Việt Nam.

        Chúng cho máy bay vào trinh sát, thả biệt kích và rải truyền đơn tại nhiều nơi thuộc địa bàn các tỉnh Khu Bốn và đưa tàu chiến vào sâu trong cửa Vịnh Bắc Bộ.

        Trước tình hình đó, hàng loạt các nội dung công tác rất quan trọng đã được các cơ quan đơn vị gấp rút triển khai nhằm thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân là sử dụng không quân đánh máy bay địch.

        Tháng 10 năm 1963, Phòng Máy bay và xưởng Bạch Mai bắt đầu từng bước tìm hiểu nghiên cứu và phục hồi máy bay T-28 - Chiếc máy bay này ban đầu do một phi công hàng binh của Không quân Hoàng gia Lào lái và hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai vào tháng 9 năm 1963.

        Sau một thời gian, đội ngũ kỹ thuật bằng khả năng trí tuệ và tay nghề giỏi đã sửa chữa thành công, đưa chiếc máy bay này chính thức vào "biên chế" của Không quân Việt Nam với số hiệu 963. Chiếc T-28 đủ khả năng đánh mục tiêu trên không bằng 2 khẩu súng 12,7 mm với 200 viên đạn, hệ thống ngắm đáp ứng yêu cầu xạ kích ban đêm, la bàn bị hỏng đã được thay thế bằng la bàn mới (GIK) của máy bay An-2.

        Thượng úy Nguyễn Văn Ba và Trung úy Lê Tiến Phước -  hai phi công đồng thời cũng là giáo viên IAK -18 của Trường Hàng không được Quân chủng điều về trực tiếp bay T-28.

        Công tác huấn luyện chuyến loại được tiến hành rất khẩn trương với cường độ cao. Từ học lý thuyết đến thực hành các bài bay cơ bản và ứng dụng chiến đấu, bay ngày rồi chuyển sang bay đêm ngay. Cùng với việc huấn luyện bay, thì các sỹ quan dẫn đường sở chỉ huy cũng vất vả không kém. Hai anh Trần Quang Kính và Đào Ngọc Ngư cũng lao vào tìm hiểu tính năng kỹ thuật của chiếc T-28 để sử dụng ra-đa dẫn đường 402, cùng huấn luyện với Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước.

        Theo nguyên tắc của ngành Hàng không, thì phi công không được phép bay trên chiếc máy bay không có lý lịch. Vậy mà chiếc T-28 này - như người phi công hàng binh kế lại - nó được sản xuất năm 1950, đại tu năm 1956. Cán bộ kỹ thuật Không quân Việt Nam không có một ai biết chút gì về nó cả.

        Để sử dụng chiếc máy bay trên, Lê Tiến Phước và Nguyễn Văn Ba phải đối diện với rất nhiều khó khăn vì các trang thiết bị trên máy bay đều là tiếng Anh, trong khi ở miền Bắc Việt Nam hồi đó, tìm mỏi mắt cũng không ra một người phiên dịch thuật ngữ chuyên môn kỹ thuật hàng không. T-28 lại phải dùng xăng của phe Tư bản sản xuất mới bay được, hơn nữa các thiết bị ra-đa trên không và mặt đất cũng không có. Phải nhờ ra-đa cảnh giới, tín hiệu lúc được lúc mất dẫn đường. Nhiều lần bay thử ra tận biên giới Việt Lào rồi không xác định được vị trí đành lang thang bay về. Thậm chí có những hôm đang bay thì ống xả nhiên liệu bị rơi, khói mù mịt. Phước và Ba phải mở buồng lái mới thấy đường...

        Thời điểm ấy, người Mỹ thường dùng máy bay thả biệt kích xuống các khu vực gần biên giới Việt - Lào. Phương án đưa T-28 đánh địch trong thời tiết đêm giản đơn, có trăng đã được Quân chủng tính đến và lên kế hoạch tỉ mỉ. Nhưng đã mấy lần xuất kích mà chưa một lần nào hạ được mục tiêu. Lần thì không phát hiện được, lần phát hiện được thì lại không bám theo kịp, lần tiếp cận tốt thì bắn không trúng...

        Hơn nữa ra-đa dẫn đường thường bị ngắt quãng không liên tục. Phía ta, tất cả đều đã sẵn sàng, khí thế đánh địch không hề suy giảm, nhưng thấy địch cứ ngày ngày ngang nhiên quấy rối mà không làm gì được, thì thực sự sốt ruột.

        Cuối cùng thì cơ hội cũng đã đến

        Đúng 23 giờ 30 phút ngày 15 tháng 2 năm 1964, ra-đa vòng ngoài của ta phát hiện có địch. ít phút sau, đường bay của địch được đánh dấu bằng chì xanh trên mạng Bl (mạng ra-đa cảnh giới). Sau đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng nhận được điện báo từ Huyện đội Con Cuông: Có tiếng máy bay qua vùng trời địa phương... Chúng đang bay đến khu vực Hồi Xuân và chuyển hướng lên Tây Bắc.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2019, 11:36:40 PM

        Tại Gia Lâm, tổ bay T-28 số hiệu 963 đã sẵn sàng chờ lệnh. Tới 1 giờ 7 phút trực ban dẫn đường dẫn T-28 bay đúng như phương án đã được bổ sung. Trong buồng lái sau, Lê Tiến Phước tập trung bám sát mục tiêu. Còn ở buồng lái trước Nguyễn Văn Ba tập trung quan sát hành động của đối phương và chịu trách nhiệm xạ kích.

        Sau vài phút cất cánh, tiếng động cơ nổ giòn giã ròi khỏi đường băng vút lên, theo lệnh của sở chỉ huy đến khu vực máy bay địch đang hoạt động. Độ cao tăng dần lên 1.500 mét. Dưới ánh trăng, họ bay xuyên qua lớp mây trắng xốp như chiếc mền bông trải rộng dưới cánh máy bay. Tổ bay chỉ còn cách mục tiêu khoảng 10 ki-lô-mét, bỗng sở Chỉ huy thông báo: “Mục tiêu đã mất, 963 hãy quay về". Lê Tiến Phước nghe vậy thấy tiếc vì cơ hội lần này đã quá gần. Anh nhìn bầu trời xanh trải khắp lớp mây trắng bồng bềnh trong ánh trăng sáng phán đoán: “Khu vực này nhiều núi cao, có lẽ chúng chưa thể thả biệt kích hay vũ khí gì được”. Anh đề nghị Sở Chỉ huy cho thêm vài chục phút nữa tìm kiếm mục tiêu. Sở Chỉ huy đồng ý.

        Lê Tiến Phước cười nói với Nguyễn Văn Ba:

        - Chúng ta phải quyết giương hai đôi mắt trần biến thành hai đôi mắt thần để tìm kiếm.

        Quả như phán đoán, chỉ vài phút sau, vì ngồi ở buồng lái sau dễ quan sát, nên chỉ nhờ ánh trăng sáng mà Lê Tiến Phước đã phát hiện ở phía đỉnh núi cao, hướng 15 độ theo hướng bay một vệt đen đang di động xung quanh mỏm núi. Lê Tiến Phước reo lên:

        - Đúng nó rồi anh Ba ơi! Cái cánh dài thế kia đúng là biệt kích rồi!

        Lê Tiến Phước liền ấn nút thoại, xin sở Chỉ huy cho vào công kích, đồng thời đẩy hết tay ga tăng nhanh tốc độ, rút ngắn cự ly. Cự ly nhanh chóng được rút ngắn còn 500 mét. Chiếc C-123 của Mỹ đang bay chậm chạp và hiện ra như một tòa nhà di động, nằm gọn trong tầm ngắm bắn của 963 mà địch vẫn không hề hay biết đã bị ta bám đuôi. Máy bay địch vẫn tiếp tục lượn quanh đỉnh núi như tìm vị trí thả biệt kích. Ba rướn người ấn mạnh công tắc nạp đạn hỏi Phước:

        - Bắn được chưa Phước?

        - Được rồi đó anh, bĩnh tĩnh nghe! - Phước cố giữ máy bay trong trạng thái ổn định và đáp.

        Nguyễn Văn Ba liền ấn cò súng, hai loạt đạn lửa lao vun vút vào máy bay địch. Nhìn thấy động cơ bên trái của địch bị dính đạn phụt lửa bốc lên, Phước sung sướng buông cần lái vỗ tay vì nghĩ rằng nó sẽ rơi ngay tại chỗ.

        Thế nhưng không, lửa bỗng nhiên tắt phụt. Chiếc C-123 của địch tròng trành, tròng trành lao về phía trước, lúc này thì độ cao và cự ly quá gần nên 963 không thể dùng máy ngắm được nữa. Lê Tiến Phước nhanh trí, kéo ngược máy bay lên nhằm thẳng vào bụng máy bay địch siết cò, đạn bay tới tấp vào con “quái vật”. Nó đã bị thương nặng, cố giảm độ cao, lảo đảo cố bay về phía biên giới Việt Lào...

        Chưa thấy chiếc C-123 rơi, Phước quay sang kiểm tra khẩu súng bên trái bị hóc đạn, nạp lại vẫn không nổ. Ba và Phước hội ý nhanh, định dùng cánh quạt của 963 để cắt đuôi C-123 để nó không thể trốn chạy thêm phút nào. Nhưng cũng lúc ấy, trong nháy mắt khu rừng nơi biên giới Việt Lào đã giữ chân chúng lại, toàn bộ máy bay và biệt kích tan xác giữa rừng già.

        Hoan hỉ với niềm vui lần đầu tiên dùng máy bay địch tiêu diệt địch, Lê Tiến Phước và Nguyễn Văn Ba trở về với sự chào đón bằng những loạt đạn đó trời của dân quân tự vệ như những màn pháo hoa đón Tết (vì họ tưởng các anh là máy bay địch).

        Rất may là 963 không bị dính vết đạn nào và có mặt tại sân bay Gia Lâm đúng 1 giờ 56 phút sáng ngày 16 tháng 2 năm 1964. Sau khi mọi người tối chúc mừng thắng lợi đầu tiên của tổ bay 963, hai anh trở về phòng mà không sao ngủ được, một phần vui vì đã lập nên một chiến công độc đáo cho Không quân Việt Nam, một phần tiếc vì máy bay địch không rơi tại chỗ...

        Nhưng trên tất cả, đánh thắng trận này các anh đã góp phần rất ý nghĩa vô cùng quan trọng để các đơn vị trong Không quân tập dượt và rèn luyện chuẩn bị cho mặt trận mới: Mặt trận trên không! Chưa từng có trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2019, 11:37:37 PM

KHÔNG QUÂN BẮN RƠI MÁY BAY MỸ GHI CÔNG CHO... LỰC LƯỢNG KHÁC

        Thực tế cho thấy, có rất nhiều chuyện tức cười khi trực tiếp tham gia chiến đấu. Tôi vẫn còn nhớ ngày mới thành lập Đoàn Không quân Yên Thế phi công ta xuất kích liên tục, thời gian ấy các anh Nguyễn Văn Lai, Mai Đức Toại và tôi đã bắn rơi được vài chiếc.

        Một lần, theo sự chỉ huy của Trung đoàn, Mai Đức Toại dẫn Biên đội gồm Toại, Hải, Chao, Kỷ xuất kích theo hướng Hòa Bình, chặn đánh một tốp F-105 đang chuẩn bị tấn công kho xăng Đức Giang và cầu Đuống.

        Vừa mới lên độ cao 300 mét thì bất ngờ Sở Chỉ huy gọi về bảo vệ trực tiếp mục tiêu tại khu vực Đức Giang. Chấp hành lệnh trên, Mai Đức Toại cho Biên đội quay lại ngay. Gần đến nơi, anh phát hiện ra một chiếc F-105 đang ném bom bổ nhào vào kho xăng, thế là không một giây do dự, anh xả luôn loạt đoạn đạn khiến chiếc máy bay này rơi luôn xuống địa phận xã Đông Anh...

        Bắn xong, Mai Đức Toại kéo ra ngoài ngay và chỉ kịp thông báo cho chúng tôi “Tao bắn trúng rồi” rồi hạ thấp độ cao đế tránh tầm ngắm của Phòng không ta, vì khi anh được lệnh trở về bảo vệ mục tiêu, sở Chỉ huy chưa kịp báo cho dân quân và phòng không biết.

        Tất nhiên lần ấy Mai Đức Toại đã được nhận Huân chương Chiến công hạng Hai, nhưng Quân chủng vẫn ghi chiếc máy bay đó là do "Pháo cao xạ bảo vệ cầu Đuống bắn rơi". Mai Đức Toại hơi buồn nhưng chẳng phàn nàn gì, tính anh ấy thế. Nhưng tôi thì không chịu, thắc mắc luôn với Tư lệnh Phùng Thế Tài. Tư lệnh cười ha hả nói:

        - Thằng Toại nó bắn được ba chiếc rồi, chiếc thứ tư thì cũng thế thôi. Mà mày cũng vậy, nếu mày bắn rơi cái đó tao cũng tặng cho Phòng không. Mấy năm nay dân quân và phòng không đổ hàng tấn đạn lên trời mà chưa bắn được chiếc nào. Giờ rơi vào trận địa của nó, phải cho nó chứ. Có động viên thì nó mới cố gắng, không thì đến bao giờ mới bắn được?

        Nghe Tư lệnh phân tích thế tôi mới chịu, chứ nếu không tôi còn phải hỏi nữa, cứ phải "ngô ra ngô, khoai là khoai" thì mới yên tâm.

        Nhưng nói vậy chứ, sau này trong một số tư liệu báo chí có nói rằng: Có lần Mai Đức Toại đã hạ chiếc AD6 bằng... bảy lần bắn(!). Điều phi lý ấy thì có lẽ đến chết tôi vẫn không thể chấp nhận được. Bởi trên thực tế mỗi trận không chiến chỉ kéo dài từ ba đến bẩy phút là cùng. Phi công MiG-17 chỉ có thể thực hiện bắn nhiều nhất từ một đến hai lần liên tiếp trong một trận đánh mà thôi. Vì tốc độ tối thiểu cho phép bắn giữa MiG-17 và máy bay Mỹ chênh lệch gần gấp đôi. Có nghĩa là tốc độ tôi thiểu của ta 700 ki-lô-mét/ giờ và của Mỹ là 300 ki-lô-mét/ giờ. Ta chỉ cần vòng một chút là có thể cách mục tiêu rất xa, làm sao có thể thực hiện tiêp mấy loạt đạn được chứ?

        Thời gian đầu mới về nước, phi công ta trực chiến rất căng. Cứ mỗi lần bay về là anh em dùng chung một thùng phuy nước nóng do nhà bếp nấu sẵn, dội ào ào rồi nhanh chóng ăn cơm để còn về đi ngủ. Để ngày mai 3 giờ rưõi sáng phải dậy đánh răng rửa mặt xong, đi ra sân trực chiến sẵn sàng “cân đai bố tử” có lệnh là cất cánh, xuất kích được ngay. Rồi khoảng 5 giờ rưỡi chiều, khi mặt trời lặn là tập trung lại rút ban..

        Hồi ấy, dù phải bay nhiều, nhưng phi công ta vẫn không nản. Bởi vì anh nào cũng đang háo hức, muôn tự mình lập thành tích.

        Biên đội trực chiến có bốn anh. Cứ khi nào pháo hiệu đỏ bắn lên là anh nào cũng mừng rỡ. Nếu chỉ có hai anh được chọn thì hai anh kia thế nào cũng buồn hiu. Nhưng nếu cả bốn mà cùng được chọn thì khí thế lắm.

        Rời khỏi mặt đất là ngay lập tức lên đạn, sẵn sàng hệ thống ngắm bắn và chụp ảnh, để rồi khi trở về phải nhớ mà đóng lại tất cả công tắc mới được hạ cánh.

        Thế mà có lần Lê Hải làm cho cả sân bay một phen hú vía khi Mai Đức Toại về sân bay Gia Lâm hạ cánh trước, Lê Hải từ từ bay đằng sau nhưng quên không đóng công tắc quân giới, bóp cò thế là rầm rầm đạn cày trên đường bảo hiểm. Cả sân bay sợ xanh mắt đổ xô ra xem. May sao Mai Đức Toại đã vào đoạn cuối, anh nhanh trí vòng ngay nếu không thì hôm ấy vừa mất mạng mà cũng mất máy bay luôn.

        Nói chung, đã là phi công chiến đấu trong thời kỳ ấy, tính mạng có thể coi như ngàn cân treo sợi tóc. Bước lên máy bay là xác định cái chết luôn rình rập, cận kề. Nào là lo dính tên lửa, cao xạ của... Phòng không ta, nào là sơ xảy về kỹ thuật, nào là bị địch bắn... cùng rất nhiều lý do “ngớ ngẩn” khác nữa.

        Tôi còn nhớ, có lần một phi công trẻ của ta mới ngồi lên buồng lái. Cậu ta luống cuống thế nào mà mới cất cánh lên, làm động tác lượn vòng quanh sân bay thì bấm nhầm vào nút nhảy dù. Phi công đã tiếp đất an toàn, nhưng chiếc MiG-17 thì vẫn lượn vè vè trên đầu, mà không có người lái, khiến cả sân bay một phen xanh mắt vì không biết chiếc máy bay sẽ rơi vào đâu, hậu quả thế nào. Cũng may, nó chỉ bay thêm chừng 40 phút thì hết xăng rồi rơi xuống một triền đồi và bốc cháy...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2019, 05:36:54 PM

*

        Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1965.

        Hôm ấy, Biên đội dự định xuất kích vẫn là Toại, Lai, Bảy, Hoàng nhưng Lai bất ngờ bị ốm, nên Trung đoàn cử Huyên thay thế Lai. Mọi việc lẽ ra vẫn như dự kiến, bỗng cấp trên thông báo “Không quân hôm nay nghỉ, không xuất kích, để dành bầu trời cho pháo cao xạ”. Kể cũng hơi lạ.

        “Chắc cấp trên có lý do, có lẽ Không quân còn non trẻ, còn pháo cao xạ thì đã có bề dày bao nhiêu năm” - Mai Đức Toại nghĩ thế, không phải riêng anh mà cả Biên đội cũng có chung suy nghĩ như vậy.

        Đùng một cái, đến 9 giờ, hai phát pháo hiệu cấp I nổ ùng ùng. Bốn anh em ra máy bay ngay, vừa cất cánh qua đầu sân bay khoảng 4 ki-lô-mét về phía Cầu Đuống thì bất ngờ đạn 37 ly, 57 ly từ trận địa pháo cao xạ đóng tại địa bàn đó bắn lên như hoa cà, hoa cải. Rồi thì khẩu đội pháo 14 ly 5 từ cầu Long Biên cũng thi nhau dội lại như mưa. Mai Đức Toại hoảng quá hô:

        - Đạp trượt cạnh phải!

        Huyên vội vàng làm theo lệnh của Biên đội trưởng, thế là chỉ một tí tẹo thôi, hai anh em đã dạt sang vùng Đan Phượng.

        Dưới mặt đất liên tiếp hỏi:

        - 45 công tác tốt? 45 công tác tốt?

        - Công tác bình thường - Mai Đức Toại đáp.

        Bấy giờ mới theo dẫn đường của sở chỉ huy, Tọai và Huyên hạ thấp độ cao đi dưới mây ven theo Chương Mỹ, Mỳ Đức vòng tới phía bắc Thanh Hóa để tránh tầm ngắm của pháo cao xạ.

        Vào đến khu vực Hà Trung, lại theo chỉ huy vọt lên độ cao 4 ki-lô-mét bay trên mây vì nghe thông báo địch ở phía bên phải cách 20 ki-lô-mét. Hai anh em bay vòng vòng tới 15 phút mà chẳng làm được gì. Cuối cùng đành trở về, cũng may là hạ cánh an toàn đế cho anh em ở mặt đất có cơ hội ùa ra chúc mừng vì đã "tai qua nạn khỏi”.

        Chiều hôm ấy, nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống thăm Trung đoàn hỏi:

        - Sáng nay Biên đội nào bị pháo cao xạ của ta bắn?

        - Dạ, chúng em ạ - Mai Đức Toại tiến lên thưa.

        - Có sợ không? - Đại tướng hỏi và cười.

        - Dạ không ạ - Anh Toại ngần ngừ.

        - Tốt! Không sợ là tốt - Đại tướng nói tiếp - nhưng phải kỷ luật pháo cao xạ ngay vì không chấp hành lệnh chỉ huy. Thiếu chút nữa thì "quân ta đã chiến thắng quân mình"!

        - Thưa Thủ trưởng, đúng là phải phê bình cao xạ ngay - Tư lệnh Phùng Thê Tài nhanh nhảu lên tiếng - Lần này pháo cao xạ đã bắn lên trời hàng tấn đạn mà vẫn không hạ được chiếc máy bay nào...

        Câu nói hớ hênh của Tư lệnh làm chúng tôi ôm bụng cười.

        Có lẽ tại nói vội quá, nên Tư lệnh Phùng Thế Tài đã nhầm lẫn chăng? Chứ lẽ nào ông lại lại mong pháo cao xạ của ta bắn trúng máy bay của ta?


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2019, 05:38:07 PM

CẢM ƠN THỦ TRƯỞNG NHÉ!

        Năm 1966.

        Khi Không quân Mỹ bắt đầu tập trung đánh Kho Xăng Đức Giang, cấp trên mới điều toàn bộ Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế từ Kép về Gia Lâm. Mai Đức Toại cứ hết trực chiến, lại trực chỉ huy như con thoi, mà chẳng được nghỉ một hôm về thăm vợ và hai cậu con trai.

        Một hôm, Tư lệnh Phùng Thế Tài xuống thăm Trung đoàn, tiện thể theo dõi kế hoạch Trung đoàn đi lấy 12 chiếc máy bay MiG-17 mà Trung Quổc tặng Không quân Việt Nam từ Nam Ninh (Trung Quốc) về do Nguyễn Thành Phương dẫn đầu.

        Chuyến đi này Mai Đức Toại nhận nhiệm vụ trực chỉ huy trong điều kiện khí tượng tại sân bay rất xấu. Tư lệnh Phùng Thế Tài hỏi anh:

        - Thế phương án chỉ huy của cậu thê nào?

        - Báo cáo với Tư lệnh, tôi sẽ cho tới gần sân bay Kép thì xuyên mây xuống, vì hiện nay độ cao mây 6.000 mét đến 8.000   mét sẽ ra khỏi mây. Như vậy từ sân bay Kép tới đây khoảng 60 ki-lô-mét cho xuyên mây, đến Bắc Ninh sẽ ra khỏi mây xuống với tốc độ 5 m/s. Từ đây Biên đội sẽ tìm được đường số một mà về hạ cánh.

        Mai Đức Toại vừa nói xong thì thấy bôn chiếc xuất hiện trên bầu trời Yên Viên. Tư lệnh Phùng Thê Tài cả cười nói:

        - Được lắm, giỏi! Hễ cậu chỉ huy về gọn 12 chiếc, tớ sẽ thưởng cho cậu đưa vợ ra.

        Chỉ ít phút sau, tin báo về sở chỉ huy: 12 chiếc máy bay MiG-17 đã hạ cánh an toàn. Tư lệnh Phùng Thế Tài gọi điện thoại ngay cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Phúc Trạch:

        - Anh cho một cái xe về đón vợ thằng Toại và vợ thằng Chao ra, thưởng cho chúng nó nhé.

        - Về tận Thanh Hóa đón ạ? - Trung đoàn trưởng có vẻ ngạc nhiên.

        - Chứ gì nữa, cho đón ngay không chậm trễ.

        - Báo cáo Tư lệnh: Rõ! - Trung đoàn trưởng Nguyễn Phúc Trạch đáp.

        Đây là chuyện của Đại đội trưởng Mai Đức Toại kể lại. Từ khi vợ Toại sinh thằng cu thứ hai, anh ấy chưa được về, còn tôi thì từ lúc cưới Thêu được gần vợ mấy hôm “trăng mật”, nào đã có đủ thời gian để có cơ hội có con và tôi cũng chưa được về ghé thăm cô ấy.

        Một lần, Chính ủy Đặng Tính hỏi Nguyễn Phúc Trạch:

        - Đại đội của cậu có ai lâu rồi không được gặp vợ?

        Trung đoàn trưởng Nguyễn Phúc Trạch trả lời ngay:

        - Có Mai Đức Toại, Trần Huyền và Lưu Huy Chao; từ lúc về nước tới giờ toàn đánh nhau liên miên, chưa được về lần nào.
   
        - Thế thì cậu bố trí xe cùng một cán bộ về đón ngay các "cô nương" lên cho các cậu ấy.

        - Anh thông cảm, giờ làm sao mà đón được - Nguyễn Phúc Trạch lo lắng.

        - Không được, bằng mọi cách phải đưa các mợ ấy lên, không có xe thì lấy xe của tôi mà đi. - Chính ủy Đặng Tính kiên quyết.

        Thế là lần này, nhờ có các thủ trưởng tâm lý mà tôi và Mai Đức Toại được gặp vợ.

        Riêng có Trần Huyền không đồng ý cho vợ lên và nhất định không báo cho vợ biết vì vợ chồng Trần Huyền vốn lấy nhau là do bố mẹ gả ép. Anh ta vẫn thường nói với chúng tôi: chẳng thích vợ tí nào.

        Còn tôi, sẽ chẳng bao giờ quên được Chính ủy Đặng Tính, vì nhờ có anh giúp mà tôi có cô con gái đầu lòng xinh đẹp Thu Hà, sau lần vợ chồng gặp nhau đáng nhớ ấy.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2019, 05:38:27 PM

PHI CÔNG LAO ĐAO VÌ LÝ LỊCH

        Một lần, phi công Ngô Đoàn Nhung tham gia đánh trận đầu xin hạ cánh bên sân bay Nội Bài, có lẽ để an toàn và cũng vì nhiên liệu đã cạn. Hơn nữa, đánh trận đầu hạ cánh ở sân bay quen thuộc vẫn có cảm giác yên tâm hơn.

        Ngô Đoàn Nhung là học sinh miền Trung tập kết ra Bắc, trông khá to con và có nụ cười rất duyên. Nhiều cô dân công vào làm dường sân bay cứ thích anh chàng phi công hay tủm tỉm cười và nói những câu chuyện dí dỏm. Nhưng đang nói chuyện, anh bất ngờ xin lỗi rồi bỏ đi mất, làm các chị em cứ nhìn theo luyến tiếc mãi. Nhung còn có quyển số tay nhỏ, chép những câu danh ngôn của các danh nhân nổi tiêng thế giới cứ rảnh rỗi là anh thường gọi chúng tôi vào phòng đọc cho tất cả cùng nghe.

        Hôm ấy, Không quân ta hạ được máy bay Mỹ rơi ở vùng đất Phú Thọ. Giặc lái nhảy dù dược, thoát ra ngoài, nên bọn Mỹ cho trực thăng đến cứu. Ban chỉ huy Trung đoàn cử Nhung xuất kích và anh đã nhanh chóng tìm tới nơi có trực thăng theo dẫn đường của Tham mưu.

        Thấy Nhung băn khoăn không biết trực thăng của địch nằm ở đâu dưới vùng trời sáng đẹp quang mây, còn ở dưới một màu xanh của rừng ngút ngát, nên mặt đất lệnh cho Nhung vòng lại quan sát kỹ.

        Ngô Đoàn Nhung vòng lại và anh thốt lên “à, thấy rồi!”. Nhung đã nhìn rõ một chiếc HUlA đang luồn lách qua các khe núi vừa tìm giặc lái vừa tránh MiG của ta, nên bay rất thấp. “Nó ma lanh thật, nhưng làm sao thoát khỏi mắt ta?” - Anh thầm nghĩ và bám sát mục tiêu. Anh đợi cho nó vọt lên ở chỗ địa hình cao rồi anh lao xuống như chim cắt bắn một loạt pháo khiến cho chiếc trực thăng chao đáo xì khói.

        Tin chắc đã bắn trúng mục tiêu, Nhung cho máy bay vọt lên cao quan sát, phía dưới một cột khói đen sì cùng những đám lửa leo lên các cây xanh ngay bên cạnh.

       
*

        Hôm ấy ở sân bay Kép, Đoàn Không quân Yên Thế được tin Nhung bắn rơi trực thăng Mỹ thì phấn khởi vô cùng.

        Nhưng trưa hôm sau, bác sĩ Lê Như Bổng được đồng chí Phiếu, Trung tá Chính ủy Trung đoàn mời lên uống cà phê - có vẻ như báo trước một sự kiện bất thường. Lê Như Bổng hơi ngạc nhiên vì không hiểu tại sao Chính ủy lại mời mình trịnh trọng thế.

        Chính ủy đẩy cốc cà phê về phía bác sĩ nói:

        - Anh uống đi, cà phê ngon đấy!

        - Anh uống đi, tôi có biết uống cà phê đâu, cà phê của anh vừa đặc quánh lại ít đường thế này, chịu thôi - Lê Như Bổng cười nói.

        - Tôi mời ông lên đây là để thực thi một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Ngày mai tôi sẽ cho một máy bay đón Ngô Đoàn Nhung về Kép. Sáng ngày kia anh đưa cậu Nhung về Viện Quân y 108 để giám định lại sức khỏe. Cậu phải chứng minh được cậu Nhung... yếu tim và cắt bay.

        Lê Như Bổng sửng sốt, nhưng vẫn cố gạn hỏi:

        - Hôm qua cậu Nhung vừa mới bắn rơi trực thăng mà hôm nay bác sĩ tuyên bố yếu tim không được bay nữa thì không ai chấp nhận được, nhất là bạn bè của cậu ấy.

        - Trước đây, có một vài phi công vì vấn đề này nọ, cũng đã thông qua bác sĩ cắt bay rồi chuyển xuống làm tham mưu. Vì sự vô lý đó, có người đã bực tức thóa mạ chúng tôi là “Bác sĩ ngu dốt quá’’ đấy.

        Bác sĩ Lê Như Bổng nói một hơi dài rồi lặng thinh. Bỗng nhiên anh bật dậy như lò xo:

        - Anh Phiếu này, anh thử xem có cách khác hay hơn không? Chứ cứ lấy bác sĩ ra làm bình phong như thê này, tôi e không ổn. Tôi biết gia đình Nhung là gia đình cách mạng. вố Nhung là Đại úy Trưởng phòng Tố chức cán bộ của Sư đoàn 305 cơ mà.

        - Tôi cùng quê với nó còn biết rõ hơn anh. Nhưng vào Nam chiến đấu ông ta có vấn đề. Con người đâu phải là bất biến? Ông phải vận dụng vừa hồng, vừa chuyên đây nè. Hồng là phải thắm còn chuyên là phải sâu nhớ chưa?

        - Hồng và chuyên đâu phải ứng dụng như thế này? Các ông cứ bế tắc chính trị thì lại bắt chuyên môn phải gánh chịu. Mệt quá!

        Lê Như Bổng cằn nhằn, nhưng rồi cuối cùng vẫn miễn cưỡng phải tuân lệnh.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2019, 05:38:52 PM

       
*

        Ngồi cùng trên xe com-măng-ca đi bệnh viện 108, phi công Ngô Đoàn Nhung cứ hỏi đi hỏi lại mãi lý do tại sao anh phải đi khám bệnh, mà bác sĩ Lê Như Bổng không sao nói được. Anh bác sĩ chỉ lặp đi lặp lại một câu nói như cái máy:

        - Nguyên tắc không chiến xong là phải đi khám lại.

        Ngô Đoàn Nhung có vẻ như lờ mờ đoán ra việc gì đó. Anh không hỏi nữa, mà im lặng trong suốt quãng đường trở về đơn vị. Còn bác sĩ Bổng thì như có vết cứa vào tim, chỉ biết an ủi Ngô Đoàn Nhung vài câu vô nghĩa.

        Sau này tôi có nghe nói ngày bố Nhung vào miền Nam là được trên bố trí hoạt động trong lòng địch, trong một mạng lưới tình báo bí mật.

        Vậy mà ngoài Bắc không rõ lại cho rằng bố Nhung đầu hàng địch. Tiếc cho Nhung - một phi công vừa mới lập công đầu đã phải từ bỏ bay vì những lí do không đâu, thật tiếc quá.

        (Về sau phi công Ngô Đoàn Nhung không còn được bay tiếp nữa và phải chuyển công tác khác dưới mặt đất. Anh đã bị hi sinh trong một lần máy bay Mỹ ném bom vào đơn vị).

        Nhưng không phải một mình Ngô Đoàn Nhung bị ảnh hưởng bởi “thành phần lý lịch” mà kê cả Phó tư lệnh Quân chủng Mai Đức Toại một thời cũng đã từng phải chịu khốn đốn mất một thời gian dài 8 năm liền “chung thủy” với quân hàm Trung úy được phong từ 20 tháng 11 năm 1957 mà mãi đến tháng 9 năm 1965 mới được phong Thượng úy.

        Nhận quyết định từ tay cấp trên, Mai Đức Toại không vui như các sĩ quan mỗi khi được “lên sao” mà buồn âm thầm. Anh tâm sự với một người bạn:

        - Tôi chẳng hiểu các ông ấy nghĩ sao, chứ mình đi chiến đấu từng ấy năm, mấy lần chết hụt, chẳng vi phạm gì, mà bây giờ mới quyết định thăng cấp Thượng úy thì vui nỗi gì?
         
- Ai bao ông có ba dời là thành phần cai trị? Này nhé: Anh ruột của bố ông làm Lý trưởng, ông chú dượng lấy em gái của bố ông cũng làm Lý trưởng Cửu phường Vân Giang, em ruột bố ông cũng làm Hương bản. Cả làng có ba người “to” nhất thì nhà ông lĩnh hết còn gì? - Chính trị viên cười nói.

        - Ông biết một mà chẳng biết mười. Tôi từ sáu tuổi đã mất cha, sống với mẹ. Sáu mẹ con nhà tôi chỉ thiếu nước đi ăn mày. Mười ba tuổi tôi phải đi cán bông thuê, mười lăm tuổi đi gánh củi, mười bảy tuổi đi gánh thuê từ Thanh Hóa ra Nho Quan. Nhà tôi chả có quan hệ kinh tế gì với họ.

        - Đấy mới là điều đáng nói! Bởi vì cấp trên điều tra lại thấy ông không dính dáng gì, nên mới có cái quyết định này. Ông thấy cải cách ruộng đất còn chết oan bao nhiêu người kia. Ông thế này là may mắn lắm rồi, còn được xét lại kịp thời, ông phải vui mới phải chứ.

        - Vui... vui cái con khỉ! - Mai Đức Toại vẫn chưa nguôi giận.

        - Vui chứ, dù cho tám năm mới lên được một bậc quân hàm nhưng ông vẫn bay giỏi, trình độ chuyên môn vững, trình độ tổ chức tốt, cấp trên có “muốn” kìm hãm ông nữa cũng đâu có được nào?

        - Ừ thì tôi vui, còn bao nhiêu thằng vẫn còn đang chết dí vì lý lịch đấy! Nguyễn Khắc Lộc giờ này vẫn phải chịu tiếng lý lịch gia đình có vấn đề đấy thôi. Ông có cách nào “gỡ” cho hắn đi. Tội quá!

        - Đó là nguyên tắc, tôi làm sao được? Ai sớm sáng tỏ thì may mắn thôi - Chính trị viên khoát tay - Thôi, tôi đi nhé. Chào ông.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2019, 05:39:22 PM

ĐI TỈM PHI CÔNG TA NHẢY DÙ

        Trung úy Nguyễn Khắc Lộc là một tay bay tầm cỡ từ hồi còn ở nước ngoài. Anh là một trong số những người được chọn phong hàm sỹ quan khi còn học bay. Trở về nước, Nguyễn Khắc Lộc thường được sắp xếp là Biên đội trưởng, dẫn đầu Biên đội không chiến với kẻ thù.

        Ngày 26 tháng 4 năm 1966. Bác sĩ, Chủ nhiệm Quân y Đoàn Không quân Yên Thế Lê Như Bổng được nghỉ bù vì đã tám ngày anh trực “thông lèo”. Không được nghỉ đã đành, cũng không được tắm giặt gì hết. Vì đơn vị có ba quân y sĩ thì người trực ở sân bay Kiến An, người trực ở sân bay Gia Lâm, người lại trực ở sân bay Hòa Lạc. Lê Như Bông trực ở Kép, phải nhờ y sỹ hậu cần mặt đất trực hộ đế tranh thủ tắm rửa rồi ra sân bay trực tiếp.

        Bổng vừa mới phơi được cái áo lên dây, thì Chu Tất Bộ, Thượng úy, Trợ lý Tham mưu Đoàn Không quân Yên Thê gọi to:

        - Bác sĩ ơi, phải đi ngay thôi. Nguyễn Khắc Lộc đã nhảy dù rồi!

        - Thế à! Tôi đi ngay đây.

        - Thế bác sĩ đã ăn gì chưa? - Chu Tất Bộ hỏi.

        - Chưa. Đã kịp ăn gì đâu - Bổng đáp.

        - Thôi, thế thì tôi với ông, ta cùng xuống đánh bát cơm nguội rồi đi nhé.

        - Vâng.

        Hai anh em xuống nhà ăn, lùa vội bát cơm nguội rồi tranh thủ lên đường. Chiếc xe com-măng-ca đít vuông của Liên Xô đưa hai người mang theo máy bộ đàm đi ra phố Kép rồi rẽ sang Bố Hạ, Nhã Nam và thẳng tới Trại Cau. Con đường trung du đất đó bụi mù mịt, toàn “ổ trâu” xóc kinh khủng.

        Bổng cứ đinh ninh rằng đi theo Trợ lý Tham mưu, chắc chắn sẽ nắm được tọa độ rơi của Lộc nên cứ ung dung. Nhưng chỉ ít phút sau, Bổng phát hiện ra Chu Tất Bộ đang rất lúng túng. Lê Như Bống quyết định phải vào cuộc ngay. Ở đây toàn người dân tộc Tày, Nùng. Nhiều cụ già không nói được tiếng Kinh. Bổng nhảy xuống xe, nổ một loạt tiếng Tày khiến cho mấy cụ già đang ngậm tẩu thuốc quay sang nhìn Bổng chằm chằm:

        - Mày ở đâu tới à?

        - Con là người Cao Bằng mà.

        - À, dân Cao Bằng có nhiều bộ đội tài giỏi vớ!

        Bổng lân la hỏi chuyện các cụ một hồi mà không có tín hiệu, thông tin gì khả quan. Bộ thấy thế sốt ruột:

        - Đi thôi ông ạ.

        Hai anh em lại lên xe, vừa đi vừa hỏi.

        Xe của họ đi đến thị xã Thái Nguyên, vượt Đồng Bẩm đến Võ Nhãi, La Hiên thì trời đã xẩm tối. Mãi cho tối khi tìm được nhà ông Chủ tịch xã, thì Bộ và Bổng mới bỏ cơm nắm ra ăn. Nhà bếp Trung đoàn đã chuẩn bị sẵn cho hai anh cùng với lái xe và đồng chí liên lạc bốn nắm cơm và một đùm muôi vừng. Cơm nắm, muối vừng cũng là một loại “lương khô cao cấp” hồi đó, lúc nào cũng có để phi công hoặc những người không phải trực chiến lỡ có đi sơ tán cũng có cái mà ăn cho đỡ đói.

        Chủ tịch xã nhìn thấy cả đoàn cán bộ quân đội tìm kiếm phi công ngồi ăn thì cứ lắc đầu. Chu Tất Bộ được dịp phà trò:

        - Cụ Hồ dạy ta phải rèn luyện gian khố để đánh Mỹ mà. Nếu mà mình ăn ngon quá, sướng quen rồi là không đánh được thằng Mỹ đâu lôi - Bộ vốn có tài lé hài hước làm cho tất cả phải cười theo.

        - Đấy là bảo bộ đội chờ một tí đê nấu bát canh măng ăn thêm cho ấm bụng thôi mà - Chủ tịch xã nói chữa cháy.

        - Cảm ơn Chủ tịch xã lắm, thôi đề ngày mai đi vì đã khuya rồi mà - Bộ vẫn bắt chước giọng dân tộc nói khiến cho mấy anh em cứ bấm bụng nhịn cười.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2019, 07:56:02 AM

*

        Sáng hôm sau cả đoàn dậy thật sớm ra xe đi theo hướng ông Chủ tịch chỉ. Đi đến nơi chỉ thấy toàn những lều lán lụp xụp, mái đắp chiếu rách nát của những người dưới xuôi lên khai hoang. Chẳng còn ai ở lại nên giường không có, chỉ còn những ổ nằm lót bằng lá rừng đã mục, hôi hám.

        Xe lại đi tiếp vào thung lũng cụt thì trông thây ba cái nhà sàn. Tấp vào một ngôi nhà sàn gần nhất, may gặp một ông già nói tiếng Kinh rất sõi. Qua câu chuyện thì Bống biết là ông đã từng tham gia ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch xã.

        Óng nói giọng lơ lớ tiếng dân tộc:

        - Hôm qua, thấy có tiếng máy bay ì ầm trên đầu, nhưng không thấy có dù rơi ở đây. Hôm kia ta vừa bắn được con gấu cách đây vài con dao quăng thôi, tiện thế ta sẽ đưa các đồng chí bộ đội đi. Trưa mời các đồng chí bộ đội về nhà ta ăn cơm thịt gấu nhé.

        Nói rồi, ông già đeo khẩu súng hai nòng mà hôm trước đã bắn gấu lên vai. Đến đoạn đường cụt, nhìn xa xa trên đỉnh núi đá vôi có cái gì giống như cái dù trên cây gỗ lớn. Chu Tất Bộ mừng rở chỉ:

        - Hay là kia rồi?

        Thế là không ai bảo ai hú lên thật to vang vọng cả khu rừng. Nhưng càng hú, càng không thấy tín hiệu gì chỉ thấy sự im lặng của rừng đáp lại. Bộ sốt ruột rút súng ngắn ra bắn một phát xem thế nào. Không thấy gì. Bống lại bắn thêm một phát nữa, nhưng tiếng súng như mất hút vào rừng mênh mông. Chu Tất Bộ cáu:

        - Rõ ràng thấy cái dù trăng trắng kia còn gì.

        - Đúng, tôi cũng thấy thế - Bác sĩ Bổng cũng đồng ý.

        - Hay ta lên đó xem sao? - Bộ gợi ý.

        - Lên thôi, chả lẽ đến đây rồi lại chịu quay về? - Bác sĩ Bổng hăng hái quay sang ông cụ dẫn đường.

        - Cụ cùng đi với chúng tôi chứ ạ?

        Ông cụ đáp:

        - Từ đây tới đó bây giờ mà đi thì tối về không kịp, với lại các đồng chí bộ đội chưa ăn gì, ta cũng chưa kịp ăn. Cái bụng bộ đội không thấy đói à?

        - Trông gần thế, có xa lắm đâu hả cụ? - Bổng tò mò.

        - Ấy, các đồng chí nhìn thế thôi mà cũng phải đi nửa ngày à. Mà không có đường đi đâu, toàn núi đá dựng đứng như lưỡi gươm ấy. Vượt qua được lưỡi gươm này lại đến lưỡi gươm khác, chắc gì tối đã quay về được?

        Bổng hỏi tiếp:

        - Thê ở đây có thú rừng không? Có sợ hổ ăn thịt phi công không cụ?

        - Không. Đây là thế giới của con sơn dương, chỉ có sơn dương mới sông được ở nơi này. Cái móng của nó có thể nhảy từ mỏm đá này sang mỏm đá khác. Dưới chân núi đất mới có gấu sinh sông. Mà chả hiểu các đồng chí nhìn thế nào lại nghĩ đó là cái dù trắng nhỉ? Tôi cho rằng không phải. Đó có thế là một cây to, nó đứng trước vách đá trắng, các đồng chí nhìn kỹ mà xem, khi có gió là cả vòm cây dưng đưa nhưng cái vách đá trắng ấy nó vẫn đứng im, nếu cái dù trên cây thì khi cây đung đưa dù cũng phải đung đưa theo chứ?

        Chu Tất Bộ và Lê Như Bống đứng yên quan sát một hồi rồi gật gù:

        - Đúng, đúng. Thôi chúng ta quay ra vậy.

       
*

        Vừa về đến nhà, bỗng cụ bà vợ cựu Chủ tịch xã bảo:

        - Sáng nay đi chợ bên bản Bung, nghe đâu hôm qua máy bay ta và máy bay Mỹ bắn nhau trên trời. Một chiếc bị cháy, khói đen đen là...

        - Thế cụ có thấy người ta nói máy bay ta, hay máy bay Mỹ bị rơi không? - Bổng hỏi như vớ được vàng.

        - Không, họ nói thế thì mình cũng biết thế thôi.

        - Thê bản Bung có xa đây không?

        - Khoảng hai mươi cây số à.

        Bộ quay qua ông cụ hỏi:

        - Đi đường nào hả cụ Chủ tịch?

        Ông cụ cự lại Bộ:

        - Ờ, cái đồng chí bộ đội này, ta có làm Chủ tịch xã nữa đâu mà cứ gọi là “Chủ tịch”?

        - Dạ, cháu gọi quen mồm mà - Bộ cười.

        - Các đồng chí cứ chạy xe độ hai mươi cây số, rồi rồi đế xe đó mà đi bộ vào hỏi dần, chứ tôi nói bây giờ các đồng chí cũng không hiểu đâu, đường rừng mà.

       
*

        Cả đoàn tranh thủ nấu vội nồi cơm, ông cụ cho bát canh măng chua thế là xong bữa. Canh măng chua với ớt gió mọc hoang ở rừng sao mà cay và ngon miệng thế. Cơm nóng, canh nóng, ớt cay, ai cũng vừa ăn vừa xuỵt xoạt thổi. Nước mắt, nước mũi và cả mồ hôi cứ ròng ròng tuôn ra.

        Lê Như Bổng biết tiếng Tày nên nghe được cụ bà nói với cụ ông:

        - Sao bộ đội Không quân, toàn được bay trên trời mà chúng nó khổ vậy! Biết thế này, mình đổi cho chúng nó ít gạo mới để các anh ấy nấu ăn, gạo kia mình để chăn nuôi, đằng nào mình cũng lấy gạo nuôi lợn.

        Ông cụ đáp:

        - Thì mình cũng chưa nghĩ ra thì nó đã nấu rồi. Nước mình còn nghèo, bộ đội cũng còn vất vả, khổ lắm.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2019, 07:57:05 AM

       
*

        Ản cơm xong, cả đoàn chào vợ chồng cụ cựu Chủ tịch xã và đi ngay...

        Bản Bung chỉ có vài ba cái nhà lá lụp xụp, không thấy vườn cây trái quanh nhà. Quanh đó cũng chẳng thấy ruộng lúa. Trong bản vắng ngắt không thấy bóng người. Cả đoàn tìm kiếm đi sâu mãi vào khe suối mới thấy mấy bà già đang giặt quần áo bên suối.

        Lê Như Bống mừng rỡ lại gần hỏi bằng tiếng Tày không cần giữ bí mật gì nữa:

        - Chúng tôi là bộ đội, đi tìm phi công ta bị Mỹ bắn rơi trên vùng đất này, các bà các chị có ai biết không? Chỉ giúp cho chúng tôi.

        Nghe Bống nói, các bà các chị cứ nhìn các anh chằm chằm vẻ ngạc nhiên lắm, chắc họ không thể nào tin được bộ đội có thể nói được tiếng Tày trơn tru đến thế.

        - Chúng tôi không nhìn thấy, có máy bay là chui vào hầm, có dám nhìn đâu lố. Nhưng người ở bản bên kia sáng nay đi chợ qua đây có nói bên đó có máy bay rơi - Một bà trả lời Bổng bằng tiếng Tày.

        Bổng quay qua dịch lại cho Bộ nghe.

        - Cảm ơn các mế nhá. Thế đi có xa không?

        - Ố, xa lắm lố, bây giờ phải đi nhanh thì tôi mới đến nơi. Không có đường mà đi đâu, phải rẽ cây rừng mà đi thôi. Người bản bên này muôn đi chợ phải đi từ ba giờ sáng, phải đốt đuốc mới nhìn thấy đường đi.

        Bộ nghe xong, nhìn Bổng như dò hỏi. Bổng thì không sợ, từ bé Bổng đã đi rừng quen rồi, chỉ sợ lạc thì mất thêm thời gian tìm Lộc.

        Đang loay hoay tìm cách đi thì gặp được một bác dân quân từ xa đi lại. Bổng vội vàng nắm tay bác, trình bày rồi nhờ bác dẫn đường đi qua ngọn núi. Bác đồng ý.

        Thế là cả đoàn lại lên đường.

        - Tao thấy mày là người Tày nên tao mới đưa mày đi đấy - Bác dân quân vỗ vai Bổng nói.

        - Cháu biết mà - Bổng cười, rút bao thuốc lá Trường Sơn đã dùng vài điếu đưa bác dân quân - Bác cầm lấy mà hút.

        Bác dân quân vui vẻ rút một điếu châm lên và hít một hơi thật dài.

        Bổng vừa đi vừa trò chuyện với bác dân quân bằng tiếng Tày, không để ý thấy Bộ đang đó mặt tía tai, thở phì phì mãi chưa lên được dốc.

        Bác dân quân có kinh nghiệm hơn nhiều. Ông thở sâu chứ không gấp như anh em Bộ và Bổng. Bác vẫn cứ ung dung với con dao quắm đeo trên lưng cúi khom người từng bước nhẹ nhàng leo dốc.

        Leo tới đỉnh dốc, Bổng giở gói lương khô ra định ăn, mà chợt nhớ ra không có nước. Nhưng Bổng nghĩ mình không ăn thì làm sao mời bác dân quân ăn được? Với lại bụng đã đói cồn cào. Vừa ăn, Bổng vừa hỏi bác dân quân:

        - Ngọn núi này cao bao nhiêu mét?

        Không biết đâu lố, cao lắm, chẳng ai qua đây đâu. Bên kia là đất Bắc Kạn rồi.

        Bổng không ngờ đoàn công tác của mình đã sang đất Bắc Kạn. Bổng nhìn từ đỉnh núi xuống chỉ thấy mịt mù trời đất, khói lam chiều giăng giăng xa tít tắp.

        Hai bác cháu Bổng đang nói chuyện thì thấy Bộ vừa leo lên tới dốc thì cả người đổ ập xuống đất. Bác du kích cười:

        - Cán bộ này không quen leo núi mệt quá rồi hả, thôi cố ngồi dậy đi, chứ nằm thê này vắt chui vào tai thì nguy to. Chẳng thấy Bộ động đậy gì, Bổng phải đỡ ngồi dậy.

        - Anh ăn tí lương khô cho đỡ mệt đi - Bổng chìa cho Bộ miếng lương khô - Ăn đi lấy sức còn đi tiếp.

        Bác dân quân bảo:

         - Đường còn xa lắm vớ, không đi nhanh thì tối giữa rừng đấy. Cán bộ chú ý đi hết núi đá là đến núi đất rồi rẽ trái, đừng có rẽ phải là lại về đất Thái Nguyên đấy, đường đi vào đó không có bản đâu. Thôi tôi về, hai anh đi nhé.

        Hai anh em chào tạm biệt cảm ơn bác dân quân, rồi lại đi, đi mãi...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2019, 07:57:27 AM

        Vừa khát, vừa thèm cơm tuy bụng không thấy đói, vì đã hai bữa họ không được ăn cơm, chỉ ăn lương khô và uống nước lã. Có lúc xuống dốc mà hai anh em đi như chạy.

        Bộ phải chống gậy đi khỏi ngã, có may dệt đầy hai ống quần lỗ chỗ vệt máu khô do vắt cắn. Lũ vắt này hút no máu người ta rồi lăn ra đất để lại vết cắn máu cứ ri rỉ mãi không thôi.

        Bổng có vẻ kinh nghiệm hơn Bộ, quần sắn cao lên đầu gối, biết vắt cắn là cầm que gạt đi ngay, vì cái giống vắt xanh bám vào người bao giờ cũng lành lạnh như giọt nước búng vào cổ. Nếu ta miết tay thấy nhầy nhầy như cục bùn trong tay là phải bóp chặt vứt đi, chứ nếu bóp nhẹ là nó luồn qua kẽ tay, lẩn vào người hút máu ngay.

        Hai anh em hỏi thăm tìm nhà Trưởng bản kiếm chỗ nghỉ, nhân tiện nhờ báo cáo với Chủ tịch xã và Xã đội trưởng.

        Nghe nói có bộ đội Không quân đến tìm phi công, thì cả mấy vị lãnh đạo xã đến gặp anh em Bộ ngay.

        Biết Bổng là người Cao Bằng nên họ càng quí hóa, cứ quấn lấy hỏi han. Thì ra, họ đều là người Tày Cao Bằng, đã di cư về đây làm ăn từ rất lâu rồi.

        Từ lúc biết đây chính là đất Na Rì có máy bay rơi Bộ sốt ruột đề nghị đi ngay. Hai anh em nhờ Xã đội trưởng dẫn đường.

        Rồi cuối cùng, mọi người cũng tới được nơi cần tới.

        Chỗ máy bay rơi cách bản mấy quả núi. Đập vào mắt Bổng là một khối sắt khổng lồ nằm dài trên khu rừng tan hoang cây cối đổ rạp với những đám lá vàng úa hoặc đen thui thành than. Mùi khét của dầu máy bị cháy cùng kim loại vẫn như đặc quánh bầu không khí. Tất cả những gì trên máy bay bằng nhôm, bằng đồng hay bằng sắt đều văng mất cả. Nhất là nhôm cánh máy bay không còn sót lại tí nào. Có lẽ bà con quanh đây đã tháo hết những gì có thể.

        Bổng cố tìm một vật gì đó đề mang về phòng kỷ vật nhưng thật khó vì những thứ kim loại bị nung chảy đã gắn kết với nhau thành khối không sao gỡ ra được. Anh đành quay lại hỏi ông Chủ tịch xã:

        - Bác có thấy phi công nhảy dù rơi ở đâu không?

        - Mình không thấy, nhưng có cụ già chăn trâu nói có cái dù rơi ở phía sau dẫy núi đá kia kìa - ông Chủ tịch nói.

        Bộ kéo Bống ra sân phơi thóc của nhà sàn nhìn ra phía Tây mà ông Chủ tịch vừa chỉ, thấy dãy núi đá dựng đứng như bức tường thành cao chót vót.

        Bộ buột miệng:

        - Tròi ơi, núi cao như thế kia, dân bản còn không dám trèo làm sao phi công có thể trèo được. Bác sĩ Bống thử bắn súng xem. Nếu Lộc còn sống, nghe thấy tiếng súng ban đêm kêu rất to, anh ấy sẽ đáp lại.

        Nói là làm liền, Bộ giơ súng lên bắn hai phát, tiếng súng nổ vang vọng cả núi rừng.

        Bắn xong Bộ lại bảo:

        - Chủ tịch bắn nữa đi.

        Ông Chủ tịch xã cũng bắn luôn một phát.

        Nghe ngóng chẳng thấy động tĩnh gì, Bổng sốt ruột:

        - Xã đội trưởng! Ông có súng trường thì bắn nữa đi.

        Xã đội trưởng ngượng nghịu nói:

        - Trên chỉ cho ba viên đạn thôi, bắn phải có lệnh mới được bắn à, khi có việc gấp phải lập biên bản có xã, huyện chứng nhận mới được, không được bắn tùy tiện đâu lố!

        Chẳng làm gi được nữa, mấy người đành vào nhà. Đêm ở đây vắng vẻ quá. Dân bản nấu cơm nếp cho hai anh em ăn, mà cơm nát quá Bộ không sao ăn được.

        Đợi cả nhà ngủ hết, Bộ thì thào với Bổng:

        - Mai ta chia nhau đi tìm Lộc nhé, anh sẽ đi từ đầu dãy núi đá đi xuống, còn tôi sẽ đi từ cuối bản leo qua núi. Nếu anh nghe tiếng súng của tôi bắn thì phải quay về ngay. Nói xong hai anh em lăn ngay ra cạnh bếp nhà sàn mà ngủ.

        Sáng hôm sau Bổng và Bộ dậy sớm, mỗi người một nắm cơm theo kế hoạch đã định. Bổng vừa leo lên núi đá tai mèo một lúc thì có tiếng gọi sau lưng:

        - Thấy rồi, thấy rồi các anh ơi!

        - Thấy rồi à? ở đâu?

        - Máy bay thì rơi bên này, nhưng phi công lại sang Thái Nguyên rồi.

        - Ổ, thế thì có khi Lộc lại đến chỗ chúng tôi để xe bên đó cũng nên - Bổng mừng rỡ nói.

        Thôi thế thì chúng tôi đi luôn, cảm ơn các bác đã giúp đỡ.

        Người Xã đội trưởng đưa Bổng qua ngọn núi cao hôm trước rồi chia tay. Thế là Bổng cứ nhằm hướng Đông mà chạy, một mình Bổng băng rừng, lội suối làm sao cho nhanh ra đường quốc lộ, chỗ mà đoàn tìm kiếm Lộc đã giấu xe ở đó. Mồ hôi ròng ròng chảy xuống má, Bống lấy tay vừa quệt, vừa hỏi lái xe:

        - Lộc đâu?

        - Anh Lộc được xe của trên đưa đi rồi.

        - Thế Lộc có bị thương ở đâu không?

        - Em không biết, chỉ thây anh ấy mặt mũi sưng húp, gầy vêu vao.

        -Thế Bộ đâu?

        - Anh Bộ nhờ xe của Tỉnh đội, cũng vừa mới đi xong. Anh ấy dặn em ở lại đón anh về Quân y viện 108 để làm việc với các bác sĩ ở đó.

        - Thế thì tốt quá. Cảm ơn các anh đã hiểu nhiệm vụ của quân y không quân. Ta đi thôi.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:11 AM

NGƯỜI “TỪ CÕI CHẾT TRỞ VỀ”

        Đầu tháng 6 năm 2009, cựu Phi công Nguyễn Khắc Lộc cùng gia đình được đồng đội cũ và một vài phóng viên báo chí động viên, ông quyết định trở lại thăm “chiến trường xưa” nơi mà 43 năm về trước ông đã bị Không quân Mỹ bắn bị thương máy bay, bắt buộc phải nhảy dù xuống địa phận xã Nghinh Tường huyện Võ Nhãi tỉnh Bắc Thái (nay gọi là tỉnh Thái Nguyên).

        Trở về nơi đã sinh ra mình lần thứ hai, cựu Phi công Nguyễn Khắc Lộc xúc động vô cùng. Ông hồi hộp mong được gặp lại những người đã khiêng ông vượt qua bao nhiêu ngọn núi cao, vượt qua bao cái dốc đứng để ông có cơ hội còn sống tới tận ngày hôm nay được bạn bè, người thân đặt cho cái tên trìu mến Lộc “đầu mê ca”.

        Dọc đường đi vào xã Nghinh Tường - cái xã gần như heo hút nhất huyện Võ Nhãi, dù đã phải dùng xe U-oát của Huyện đội thì cả đoàn cũng vẫn phải kêu trời vì phải leo dốc đá nhọn như chông, không cẩn thận bị va đầu vào thành xe như chơi.

        Cô phóng viên trẻ đưa tay rờ lên đầu bác Lộc nói đùa: “Đường ơi, đừng xóc nữa kẻo miếng sọ mê ca trên đầu của bác tôi bung ra mất”.

        Câu nói đùa của cô khiến cho cả đoàn đi cười rộ lên, quên đi nỗi vất vả của chuyến đi. Thế là câu chuyện của 43 năm về trước như những thước phim quay ngược thời gian được bắt đầu kể lại...

        Ra đi là chiến thắng

        Khoảng 15 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1966, Biên đội của chúng tôi gồm Nguyễn Khắc Lộc, Lưu Huy Chao, Nguyễn Văn Bẩy và Trần Triêm đang làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu tại căn cứ sân bay Kép - Hà Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Giang) thì nhận được tin thông báo từ sở Chỉ huy: Địch đã xuất hiện cả hai hướng, một tốp xuất phát từ các căn cứ săn bay Thái Lan, một tốp cất cánh từ Hạm đội Bảy ngoài biển đi vào Sơn Động - Lục Ngạn. Rất nhiều khả năng chúng sẽ đánh vào Khu công nghiệp Thái Nguyên và cầu Gia Bảy. Mũi từ biển vào có thể sẽ khống chế sân bay Kép và đánh phá Hải Dương, Phả Lại, Phú Lương...

        Đúng 15 giờ 10 phút, toàn Biên đội được lệnh vào cấp I (báo động cấp I - tư thế chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu) và cất cánh lúc 15 giờ 15 phút. Chúng tôi lần lượt rời khỏi sân bay, bay theo hướng 20 độ theo đội hình chiến đấu ở độ cao 2.000 mét với tốc độ 700 ki-lô-mét/ giờ.

        Biên đội được thông báo: Địch ở bên phải 10 độ, địch ở bên trái cách 20 ki-lô-mét, độ cao 3500 mét.

        Chúng tôi chỉ kịp báo “nghe rõ” thì đã được lệnh “Lên độ cao 4.000 mét”.

        Ngay lập tức Nguyễn Khắc Lộc, số một và cũng là Biên đội trưởng ra lệnh cho toàn Biên đội vọt lên cao 4.000 mét. Biên đội chúng tôi phải xuyên qua lớp mây mù dày đặc (mù bình lưu) mãi cho đến độ cao 3.800 mét mới ra khỏi mù được, sở Chỉ huy lại thông báo “Chú ý, bên trái 10 độ cách 20 ki-lô-mét, bên phải 30 độ cách 15 ki-lô-mét. Đến chừng 10 độ cách 15 ki-lô- mét thì Biên đội chúng tôi phát hiện ra địch, cả Biên đội quần nhau với địch phải đến một phút thì máy bay của Nguyễn Khắc Lộc bị tên lửa tia hồng ngoại của địch bắn lén ở phía sau trong lúc Lộc đang ép độ nghiêng, cảnh giới cho số hai là Lưu Huy Chao.

        Và sẽ có lúc phải hi sinh

        Nguyễn Khắc Lộc chỉ kịp cảm thấy máy bay rùng một cái rất mạnh, rồi nhận ra từ trên đầu mình, máu chảy xối ra ướt hết cả áo và Lộc ngất đi trong giây lát. Máy bay cứ để trong trạng thái không điều khiển rơi xuống độ cao 1.000 mét thì Lộc mới tỉnh lại. Vừa mở được mắt ra, Lộc đã thấy máy bay của mình đang bay nghiêng, đầu chúc xuống đất, tốc độ tăng nhanh đến phát hoảng.

        Chỉ trong tích tắc, Nguyễn Khắc Lộc nhận ra tình thê vô cùng nguy hiểm, anh dồn hết sức lực còn lại cố gắng điều khiển máy bay, thu hết cửa dầu, giảm tốc độ và làm động tác nhảy dù: thu chân, ấn nút...

        (Do thiết kế của buồng lái MiG-17, các phi công trước khi ấn nút nhảy dù, đều phải thu chân, gập gối lại, nếu không, khi ghế bay nổ bật tung lên cao hàng trăm mét, hai chân họ sẽ bị tiện đứt trong tích tắc và kẹt ở lại buồng lái; chỉ có thân người và từ đầu gối trở lên bay ra ngoài. Vì bị trọng thương cụt cả hai chăn, nên nhiều phi công dù đã thoát được ra bên ngoài, nhưng vẫn bị chết vì mất máu).

        Chiếc dù đã mở ra một lúc lâu Nguyễn Khắc Lộc mới tỉnh lại. Anh biết mình bị thương ở đầu do một mảnh vỡ của nắp buồng lái xuyên lên và vẹt qua thái dương nên mắt trái cũng bị sưng húp. Đang ở trên cao, gặp phải gió đông thổi mạnh nên dù của Lộc cứ thế bị đưa sâu vào trong rừng.

        Lộc có cố gắng mấy cũng không tài nào điều khiển được. Cho tới khi chuẩn bị tiếp đất thì dù của Lộc lại bị vướng vào cành cây. Anh cố gom hết sức đế mở mắt ra nhìn và thấy mình đang bị treo lơ lửng trên độ cao 15-20 mét. Phía trước mặt là vực sâu thăm thẳm, những vỉa đá nhọn như lưỡi gươm thẳng đứng chọc lên trời. Một ý nghĩ lướt qua rất nhanh trong đầu Lộc: May mà dù vướng vào cành cây, chứ nếu rơi xuống mấy vỉa đá nhọn kia thì... !


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:32 AM

        Lộc không dám nghĩ thêm nữa. Máu trên đầu vẫn chảy xuống ròng ròng. Phải mất mấy phút loay hoay tìm cách xuống mà không được. “Chả lẽ cứ chịu lơ lửng trên cây thế này sao?”. Lộc đưa mắt nhìn xung quanh xem có gì có thể dùng làm thang tụt xuống đất được không. Kia rồi! Ở gốc cây cách cái cây mà dù của Lộc mắc phải khoảng chừng 3-4 mét có một cái rễ cây to bằng cổ tay thõng xuống. “Cái rễ này sẽ cứu mạng ta” - Lộc bèn nghĩ ngay ra một kế. ở dưới đít dù có một cái thuyền cao su (thuyền cứu sinh trang bị theo dù), Lộc rút thuyền ra và dùng sức nặng của bình khí thuyền văng ra. Thật là may, thuyền quấn ngay vào rễ cây. Lộc cứ thê lần bám vào rễ cây mà tụt xuống đất.

        Vậy là Lộc đã có thể hi vọng. Nhưng xem lại bộ dạng của Lộc bây giờ thật là tệ quá. Cái áo bay ướt đẫm máu, mùi tanh tanh. Hai tay của Lộc sưng đẫn lên vì điều khiển dù trở nên chậm chạp đến thế, rất khó cử động. Lộc vứt chiếc mũ bay và ngồi phịch xuống đất. Lộc nghĩ: “trong lúc mình còn tỉnh táo, phải cố làm cái gì đó để thoát khỏi nơi này”. Lộc tìm cái la bàn và tấm bản đồ ra xác định phương hướng. Loay hoay mãi mà không làm gì được, ở trong rừng, bóng tối ập xuống rất nhanh, rừng âm u tối sầm lại, chim thú trong rừng kêu, hót giá như bình thường có lẽ Lộc sẽ thấy vui vì những âm thanh ấy, nhưng trong hoàn cảnh này Lộc cảm thấy sợ quá. “Đi để tìm lối ra hay ngồi đây chờ đợi người tới cứu bây giờ”?

        Trời càng tôi sẫm, Lộc càng hoang mang, hoang mang cực độ. Cho đến lúc này, vẫn chưa có tín hiệu hi vọng có người tới cứu. “Không thể chết trong rừng già thế này được. Phải đi thôi.” - Lộc lẩm nhẩm. Lộc quyết định đi, Lộc đi được vài chục mét rỗi nghĩ sao lại quay lại gốc cây mắc dù khi nãy nhưng không thể nào tìm ra cái cây ấy, vì trời quá tối. Không thể làm gì được nữa rồi, hơn nữa Lộc cảm thấy cơ thể rã rới chỉ muốn nằm nghỉ một lát. Giữa rừng thế này, không biết có chỗ nào cho mình không đây? Quanh quẩn mãi, Lộc cũng tìm được một hốc đá, lần đầu tiên trong đời phải ngủ trong hốc đá Lộc chẳng kịp nghĩ gì thêm và thiếp đi. Thế là ngày và đêm thứ nhất đã trôi qua như thế...

        Sáng ngày hôm sau (27 tháng 6 năm 1966). Lộc choàng tỉnh bởi tiếng chim chích chòe hót lảnh lót như đồng hồ báo thức. Thì ra đã rạng sáng rồi. Thực ra cả đêm hôm qua, Lộc có ngủ được đâu, cứ nằm nghĩ miên man làm cách nào để thoát ra khỏi rừng? vả lại, ngủ trong hốc đá, muỗi rừng nhiều tối mức giơ tay ra có thể vơ được cả đống. Muỗi đốt nhiều quá, không chịu nổi Lộc đã phải ngồi dậy, lấy con dao (phi công thường được trang bị dao, bật lửa, lương khô khi nhảy dù) cắt một ông quần rồi đốt lên hun muỗi.

        Lộc gượng ngồi dậy, quên cả đau đi ra khỏi hốc đá. Suốt từ sáng - từ lúc tỉnh dậy cho tối lúc nhìn qua khe lá thấy có mặt trời trên đỉnh đầu biết là đã trưa mà Lộc vẫn cứ loanh quanh ở trong thung lũng. Đi không được mà chui cũng khó vì xung quanh thung lũng toàn núi đá cao vút, còn bên dưới là những cây giang đan ken nhau như một giàn mướp. Đói và khát. Trời lại bắt đầu sẫm lại, chẳng mấy chốc màn đêm lại ập xuống. Thế là lại mất toi thêm một ngày, không ra được khu rừng chết tiệt này.

        Lộc lại phải bẻ lá che hốc đá cho đỡ muỗi. Nhìn những con muỗi to đen gốm ghiếc làm sao. Chúng cứ nhao nhao, rít lên những tiếng vo ve với tần sóng cực lớn, khiến Lộc phải rùng mình. Lộc lại xé nốt ông quần thứ hai ra để hun muỗi mà chúng vẫn không ngớt tấn công Lộc. Đã thế, vết thương trên đầu hôm nay đau nhức nhối. Hôm nay là hôm thứ hai Lộc không được ăn gì vì lúc nhảy dù dại dột vứt hết lương khô đi cho nhẹ nên bây giờ bụng mới đói cồn cào. Bằng đó lý do để đêm nay Lộc lại không tài nào ngủ được. Bỗng dưng Lộc nghĩ đến những đồng chí anh nuôi. Giá như ở sân bay lúc này, các anh chị ấy sẽ không để cho Lộc bị đói. Rồi Lộc lại nghĩ tới anh em trong đơn vị. Trong đầu Lộc chỉ lởn vởn câu hỏi: “Liệu có thể ra đến bìa rừng hay không?”

        Ngày thứ 3, 4 Lộc vẫn cứ quanh quẩn trong thung lũng như vậy. Xung quanh vách núi cứ dựng đứng, nhọn hoắt như trêu ngươi Lộc. Cuối cùng thì Lộc cũng leo lên được một đỉnh núi cao, nhưng trông ra bốn phía Lộc còn thấy nhiều ngọn núi còn cao hơn ngọn núi mình đang đứng. “Chao ôi, ông trời thử thách mình quá đáng quá” - Lộc buột miệng. Vối cái đầu đau nhức cùng cơ thể rã ròi Lộc lần đến một khe núi. Lộc thấy có một cây gỗ to vắt ngang qua, cứ nghĩ cây gỗ ấy chắc chắn lắm nhưng không ngờ vừa cầm cái gậy chọc vào mấy cái mà cây gỗ đã gẫy làm đôi và rơi xuống khe núi sâu tối 45-50 mét. Thật là hú vía!

        Thoát nạn, Lộc phải quay trở lại tìm lối khác. Trời lại bắt đầu tối mà không có thêm một tia hi vọng nào.

        Sang ngày thứ 6, hi vọng ra khỏi rừng đã hoàn toàn bị dập tắt. Bụng đói không thê chịu nổi nữa rồi. Lại còn rét nữa. Những cơn mưa rừng xối xả làm cho Lộc cảm thấy lạnh đến tận xương tủy. Không có nơi tránh mưa nên quần áo ướt sũng cả ngày, rét đến thắt gan, thắt ruột. Cứ tưởng là có mưa thì đỡ khát nhưng hóa ra Lộc không thể kiếm nổi một giọt nước mà uống. Phải bứt từng lá cây, khoanh tròn lại như cái phễu, hứng được chút nước mưa nào uống chừng đó. Thời tiết trong rừng quả là rất đỏng đảnh. Tạnh cơn mưa lại nóng như thiêu như đốt. Vết thương trên đầu may mà có tấm lót mũ bằng nilon bọc che chở chứ không thì cũng bị nhiễm trùng ngay từ ngày đầu bị thương.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2019, 06:21:42 AM

        Hi vọng và tuyệt vọng

        Một chút hi vọng mong manh được ra khỏi khu rừng già “quái ác” này cũng không le lói thêm tí nào. “Chắc chắn mình sẽ bỏ xác ở nơi này thôi” - Lộc nghĩ như vậy khi ngồi nghỉ trên đỉnh núi cheo leo có những cơn gió mát rượi.

        Chợt nỗi nhớ mẹ dâng lên trong lòng, nhớ lắm, nhớ đến quay quắt. Không biết mẹ có bao giờ nghĩ đến con trai mẹ lại ở trong hoàn cảnh này không nhỉ? Có bao giờ mẹ lại nghĩ rằng con trai mẹ bỏ xác ở nơi rừng thiêng nước độc này không? Còn Luận nữa? Lấy nhau chưa được bao lâu, anh đã phải xa em nhận nhiệm vụ chiến đấu. Chưa kịp tặng em đứa con nào. Liệu có thể nào anh trở về với em được không hả Luận?

        Có thể nào mình còn được trở về lại quê hương, về cái làng có bụi tre già cứ rì rầm, lao xao trong gió vào những buổi trưa hè. Cái bến sông rồi đây sẽ chẳng có mặt mình ở đó - Lộc cứ nghĩ miên man như vậy mà không để ý những giọt nước mắt đã tràn ra khóe mắt lăn xuống từ lúc nào. Lộc cứ để nước mắt chảy mãi như thế rồi tự nhủ: “thôi, mặc kệ cho số phận” và mê man đi lúc nào không biết.

        Nhưng giấc ngủ mệt mỏi cũng không kéo dài được bao lâu vì cơn đói lại dày vò. Đã sáu ngày không ăn còn gì nữa? Bình thường với trọng lương cơ thể 70 ki-lô-gam, một ngày Lộc phải ăn tới mấy bữa. Thế mà giờ đây, cũng thật lạ không hiểu sao Lộc có thể nhịn đói bằng ấy ngày trời mà không chết đói.

        Tự nhiên Lộc nhớ đến bài hát “Vì nhân dân quên mình” và cứ nghĩ bài hát đó như một lời nguyện cầu linh thiêng hoặc như một lời thần chú trong chuyện cổ tích. Rồi Lộc lại nhớ đến câu chuyện đã từng nghe về một phi công anh hùng Liên Xô cũng bị thương và bị lạc trong rừng như Lộc bây giờ mà cuối cùng vẫn trở về với đồng đội. Thế là Lộc lấy lại can đảm và quyết tâm tiếp tục tìm cách ra khỏi rừng.

        Lộc vừa đi vừa tìm ăn, nhưng trong khu rừng rậm, vách đá cheo leo này, kiếm đâu ra cái gì mà ăn được chứ? Đi nhiều đói quá, Lộc chẳng có cách gì bèn học tập anh hùng Liên Xô Ma-rê-xép nướng dây lưng lên ăn. Nhưng cho miếng dây lưng nướng lên miệng thì không thể nuốt nổi - dây lưng bị đốt quăn lại, cháy đen thành than, đắng ngắt.

        Lộc lại đi tiếp, mãi cho tới một ngọn núi đất bằng phẳng thì thay một bụi cây to, củ trồi lên mặt đất to bằng bắp ngô. Mừng quá, Lộc hí hửng đào. Lộc đào lên được 3 củ và đốt lửa lên nướng. Cái củ gì mà miếng lên bửa ra bở và thơm phưng phức. “Thế là sống rồi!" - Lộc thầm nghĩ. Lộc đưa lên miệng cắn một miếng, chưa kịp nuốt hết đã thấy ngứa đến rách cả họng. Mồm miệng bỗng chốc sưng vù. Thì ra, Lộc đã đào nhầm phải củ ráy. Nước mắt từ đâu cứ chảy ra, cầm miếng ráy ướt nước mắt trên tay mà Lộc cứ run run, tủi thân quá. Cứ tưởng hôm nay sẽ được ăn một bữa no nê cho bõ bảy ngày liền nhịn đói, thế mà...

        Trồi chiều lại chuyển sang màu tối sẫm. Màn đêm ập xuống nhanh chóng, cũng may Lộc vừa mới tìm được một cái hố do thú rừng đào. Cái hố này ngẫu nhiên nó có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu khoảng 50cm vừa in một người nằm. Lộc chợt nghĩ sao nó giống cái hố chôn người quá vậy? “Thôi cứ nằm tạm, có chết thì coi như đã có sẵn huyệt”.

        Nguyễn Khắc Lộc nghĩ thế, rồi vơ nắm lá ngụy trang phòng thú dữ, tụt xuống hố nằm rồi phủ lá lên. Lộc cứ nằm dưới hố như vậy mà mắt thì chong chong, cả đêm không chợp mắt lúc nào vì bụng thì đói và họng thì khát khô. Lộc đã đốt hết quần áo, thậm chí cả cái bản đồ cũng bị đốt nốt đế hun muỗi rồi. Rờ lên đầu, lên mặt thấy tóc thì bù xù bết hết lại, râu ria dài lởm chởm như râu chuột. Nhưng vẫn còn may, đêm nay lại thêm một đêm an toàn không có con hổ hay con gấu nào rình rập. Lộc sợ nhất là lũ vắt cứ nhằm trận mưa ào xuống là thi nhau bám vào chân, vào đùi thậm chí cả vào mặt Lộc. Lộc cứ kệ cho lũ vắt làm gì thì làm, cứ đi cho đến khi nào nghỉ mới lấy que gạt chúng ra từng chùm, lúc ấy ở những vết vắt cắn máu mới ròng ròng chảy xuống.

        Sang tới ngày thứ tám, sức khỏe Lộc đã yếu lắm rồi. Anh cảm thấy có lẽ mình sẽ không cầm cự với tình trạng này được bao lâu nữa. Khi nghe thấy tiếng chim rừng líu lo hót báo hiệu một ngày mới lại sang, Lộc chậm chạp gờ tung những tán lá ngụy trang và gần như lết bò lên khỏi miệng hố. “Thế là hết. Mình đã ở trong rừng một tuần rồi nhưng có ai biết mà cứu đâu? Sao Việt Nam lại có lắm rừng thế không biết. Rừng rộng mênh mông thăm thẳm, càng đi càng không thấy bóng người” - Bất giác, cảm giác bực bội vì bất lực không thế kìm nén được trong suy nghĩ của Lộc.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2019, 06:22:06 AM

        Nguyễn Khắc Lộc lại lết đi, cái đầu hôm nay chẳng còn cảm giác đau đớn nữa mà tê dại đi. Lộc không dám đưa tay lên rò vào vết thương vì sợ rằng chạm vào đó, nhỡ đâu máu, mủ trào ra. Và đúng lúc những con đom đóm mắt bay vèo vèo trong mắt Lộc thì đằng trước hiện ra một bụi chuối rừng. Chẳng cần nghĩ thêm gì nữa, Lộc lần lấy con dao cứ thế nhằm cây chuối to nhất mà chặt. Chặt một lúc thì cây chuối cũng đổ gục xuống. Lộc bắt đầu moi từng miếng nõn chuôi ăn lấy ăn để. Chẳng biết mất bao nhiêu phút để ăn. Chỉ biết rằng khi ăn xong, nhựa chuôi bám vào tay đen sì, có lẽ cả cái miệng sưng vù vì ăn củ ráy hôm trước chắc cũng đen luôn. Tốt rồi, thế là giải quyết được cái bụng đỡ đói, cái cổ đỡ khát sau tám ngày liền ròng rã và may mắn không phải nộp mạng cho thú dữ.

        Ăn xong, dường như Lộc đã tỉnh táo hơn rất nhiều nên hăng hái đi thêm một đoạn nữa. Đang hăm hở thì phát hiện một cặp lợn rừng đánh nhau dữ dội phía xa xa. Lộc không dám đến gần, chỉ thấy máu trên đầu chúng cũng ròng ròng không khác gì cái đầu của Lộc lúc mới bị thương. “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, Lộc đành phải vòng sang lối khác đi tiếp.

        Không ngờ tránh lũ lợn rừng lại gặp ngay một con suối cạn từ đỉnh núi xuống. Lộc cứ bò men theo con suối cạn đó mà tiến. Cho đến khoảng 3 giờ chiều vì thấy mặt trời chênh chếch đầu núi thì Lộc nghe tiếng nước suối róc rách chảy. Lộc sướng quá, muốn nhảy cẫng lên, muôn hét thật to lên: “Mẹ ơi, con đã sống” cho vang vọng cả núi rừng. Nhưng sức Lộc không còn nữa, nỗi vui mừng chỉ có thể thấy được bằng cánh tay của Lộc giơ lên cao một chút.

        Hy vọng về sự sống của Lộc lại được nhen lên thêm một chút. Biết đâu Lộc sẽ gặp được người dân bản nào đó? Niềm hi vọng nhỏ nhoi tiếp thêm sức mạnh cho Lộc đi tiếp thêm chừng mười phút nữa thì Lộc nhìn thấy một dòng suối trong xanh ngay trước mặt. Lộc kiếm một chỗ có phiến đá bên bờ suối ngồi xuống. Lấy tay vã nước lên mặt, lên người. Nước suối chạm vào đến đâu, Lộc thấy mát rượi đến đó. Lúc này Lộc mới nhận ra khung cảnh bên bờ suối thật đẹp. Nắng vàng đã dịu lại, những bông hoa dại bên bò suối cứ rung rinh theo gió. Nhìn cảnh đẹp, Lộc ước gì mình không bị thương thì tốt biết bao? Lộc muốn vốc một ngụm nước suối để uống quá, nhưng lại chợt nhớ ra bài học chiến đấu nên lại không dám uống vì sợ uống nước nhiều, máu ở vết thương lại xối ra.

        Có nước nên người dễ chịu hẳn, hơn nữa gió lại hiu hiu nên Lộc nằm dài ra phiến đá. Không ngờ chỉ một tí tẹo sau Lộc đã ngủ lúc nào

        Nguyễn Khắc Lộc không nhớ là mình ngủ được bao lâu, tỉnh dậy Lộc lại đi tiếp. Lần này Lộc gặp may, Lộc đã bò đến tận rẫy của bà con dân tộc. Lộc thấy một cô gái dân tộc chừng hai mươi tuổi đang dịu con phía sau lưng, thấy cả một con trâu đang gặm có gần đó. Lộc mừng quá, vẫy tay gọi:

        - Chị ơi! Chị ơi!

        Cho dù tiếng gọi của Lộc rất yếu ớt nhưng cũng đủ gây chú ý cho cô gái mà Lộc đoán cô là người dân tộc Dao. Cô sợ sệt tới gần rồi hỏi Lộc bằng tiếng dân tộc gì đó, Lộc không hiểu nổi, cứ giơ tay ra hiệu. Bỗng nhiên cô gái quay đầu chạy thục mạng. Thằng bé trên lưng khóc ré lên. Lộc không thể ngờ nổi đến giây phút này mà mình vẫn đen đủi đến thế. “Có lẽ cô ta đi tìm người làng đến đánh chết mình đây?”- Lộc mệt mỏi nhắm nghiền mắt lại. Lại một lần nữa, thâm tâm Lộc mặc kệ cho số phận đưa đẩy. Lộc cũng không thèm cố mở mắt ra nhìn xung quanh thêm một lần nào.

        Có tiếng bước chân chạy rầm rập, tiếng gọi khẩn của vài người đàn ông. Rất gần, rất gần. Một giọng đàn ông nói tiếng Kinh không sõi lắm:

        - Mày tên gì? ở đâu đến?

        - Tôi là phi công Việt Nam bị thương vừa nhảy dù, là Bộ đội Cụ Hồ - Nguyễn Khắc Lộc nhổm dậy thều thào.

        - Phi công của Cụ Hồ? Có gì đưa ra làm tin?- Người đàn ông khoác khẩu súng trường, dáng vẻ nghi ngờ tháo khẩu súng ra khỏi vai, vừa tháo vừa lùi lại như thể giữ khoảng cách an toàn với Lộc. Anh ta nói gằn giọng.

        Lộc hoảng quá, rút vội cái la bàn đút trong túi quần đưa cho người đàn ông đó.

        - Cái này là cái gì?

        - Đây là cái la bàn của phi công.

        - Còn gì nữa?

        - Đây nữa này, tôi là phi công Việt Nam thật mà, anh xem này Lộc túm lấy chỗ ngực áo có gắn cờ đó sao vàng chìa ra cho người đàn ông xem. Anh ta ghé mắt nhìn rồi quay lại với mấy người cùng đi ra hiệu lại gần. Họ không còn sợ nữa, xúm lại quanh Lộc.

        - Đúng rồi, đúng rồi. Người mình! Anh ấy là người Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2019, 06:24:08 AM

*

        Lộc he hé mắt ra vì nghe thấy hình như quanh mình có tiếng nói của ai đó. Lộc cứ nghĩ là đang nằm mơ nên choàng tỉnh hẳn thì thấy mình đang nằm trên sàn nhà của người dân tộc, nhưng không rõ là dân tộc nào. Kể ra cũng hơi run, vì trước đây Lộc biết có trường hợp phi công ta nhảy dù, gặp người dân tộc không biết tiếng Kinh cứ tưởng phi công ta là giặc nên đánh đập phi công ta dữ lắm. Lộc đưa mắt nhìn quanh thì thấy trên vách treo một tấm giấy khen có dòng chữ : “Khen thưởng đồng chí A Tiến - tiểu đội trưởng Công an tỉnh Bắc Thái”. Lộc cho rằng chủ nhà này chắc chắn sẽ biết tiếng Kinh liền đánh liều gọi ú ớ:

        - A Tiến! A Tiến!

        A Tiến từ trong buồng chạy ra, mừng rỡ:

        - A! Đúng phi công ta rồi! Sao anh lại biết em?

        Lộc nhanh trí phịa ra nói thều thào:

        - À, vì năm trước mình đi họp tại tỉnh Bắc Thái, thấy họ kế về A Tiến có nhiều thành tích nên được cấp trên khen thưởng có phải không?

        Lộc nói vậy thì thấy khuôn mặt A Tiến giãn ra, vẻ như không còn lo lắng gì nữa.

        Anh đưa súng cho A Tiến giữ cho.

        Lộc ngần ngừ, chỉ sợ đưa súng cho A Tiến, nhõ A Tiến bắn Lộc. Nhưng tình thế không cho phép, nếu không đưa súng cho A Tiến, sợ A Tiến hiểu lầm thì sao? Lộc tháo súng ra và nhanh chóng rút băng đạn nhanh đến nỗi A Tiến không hề biết rồi đưa cho A Tiến. A Tiến cầm khẩu súng treo lên bức vách rồi quay trở lại khe khẽ nhấc đầu Lộc kê lên đùi. Lộc nghe mang máng A Tiến bảo vợ đi nấu cháo cho Lộc ăn, và còn bón mật ong cho Lộc nữa.

        Không biết có phải vì Lộc thấy mình được cứu rồi nên cứ ỳ ra như vậy, Lộc cứ nằm mê man, chân tay có muốn nhúc nhích cũng không thể nhúc nhích nổi.

        Khoảng nửa đêm, Lộc lại giật mình tỉnh dậy lần nữa, lần này Lộc nghe có nhiều tiếng nói hơn. Thì ra A Tiến đã vội vã đi báo Chủ tịch và dân quân xã.

        Lộc nghe loáng thoáng:

        - Bác là Ký - Chủ tịch xã, đúng là bác được nghe thông báo có phi công Lộc nhảy dù 1 tuần nay nhưng chưa tìm thấy. Hiện giờ bác vẫn cho 2 tiểu đội dân quân người Mèo lên núi tìm mà vẫn chưa về - Bác vừa nói, vừa vẫy dân quân có vũ khí đang tập trung dưới nhà sàn:

        - Đúng là phi công Lộc rồi!

        Thê là họ ùa cả lên vây quanh lấy anh phi công đầu tóc rối bù, quần áo rách tơi tả. Họ thi nhau hỏi nào là: Máy bay có to không? Súng ở máy bay có to không? Bay như thế nào.... Dù vết thương có đau đến mấy, người có mệt đến mấy thì lúc này Lộc cũng cố gắng hết sức trả lời vì biết là mình đã thoát chết. Lộc còn kịp nhận ra các cô gái cứ nhìn trộm Lộc rồi tủm tỉm cười, chắc các cô ấy thấy bộ dạng của Lộc với cái quần không ống buồn cười quá.

        Bác Chủ tịch xã cuối cùng ra lệnh:

        - A Long, chạy ngay lên huyện báo cáo. Còn các đồng chí dân quân, lập tức lấy võng thay nhau cáng phi công Lộc về nhà tôi ngay.

        Tổp dân quân nhanh chóng lấy võng (cái võng làm bằng sợi gai) chuyển Lộc vào, khẩn trương khiêng Lộc tối nhà bác Ký Chủ tịch. Trước khi bước lên sàn nhà bác Ký bảo:

        - Cậu phải uống ba ngụm nước lã nhé. Như thế mới trừ tà ma được.

        Lộc nghe nói thê không tin lắm, nhưng cảm động vì sự chu đáo của bác Ký nên dù sợ uống nước máu sẽ chảy, Lộc vẫn uống. Bác Ký bảo vợ nấu cháo cho Lộc ăn, nhưng bụng thì đói mà ăn đâu có được vì cái mồm vẫn sưng tếu vì củ ráy lên kìa.

        Đêm.

        Các nam nữ thanh niên trong bản kéo đến chật nhà sàn. Các cụ già 70 - 80 tuổi râu tóc bạc phơ cũng chống gậy đến để tận mắt nhìn thấy phi công Lộc. Có cụ ông già lắm, cứ rờ hết cái đầu bị thương rồi rờ xuống chân nói:

        - Quân đội ta có phúc lắm, gia đình con có phúc lắm mới ra được khỏi khu rừng đầy cọp beo thú dữ này đây con ạ. Bao nhiêu người lạc vào rừng có vào mà chẳng có ra đâu.

        Nói rồi, cụ lấy tay áo chấm chấm giọt nước mắt trào ra khóe mắt. Các cụ ngồi bên ai cũng rơm rớm nước mắt thương cho phi công Lộc, chẳng khác gì con đẻ rứt ruột của các cụ.

        Lộc nằm yên, trong lòng trào dâng cảm giác sung sướng y như được trở về chính ngôi nhà quê hương của mình.

        Cho tới tận khi bà con đã ai nấy về hết mà Lộc vẫn không thể ngủ được cho dù đã trải qua 7-8 ngày đêm vất vả.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2019, 06:24:42 AM

        Sáng hôm sau, 10 cô gái dân quân thay nhau khiêng Lộc bằng chiếc võng gai lên huyện đội dưới sự chỉ huy của Chủ tịch xã Ký và tiểu đội trưởng dân quân A Tiến. Từ xã lên huyện phải vượt qua mấy ngọn núi và mấy con suối. Đôi khi máy bay địch đánh vào Thái Nguyên cứ quần lượn trên đầu khiến cho bác Ký Chủ tịch phải mấy lần lệnh cho đoàn sơ tán ẩn vào hang núi. Trong lúc tìm chỗ nghỉ ngơi, bác Ký hỏi:

        - Khẩu súng của phi công Lộc bắn có kêu to không? Cho bác bắn một viên?

        Lộc đành chiều lòng và hướng dẫn cho ông bắn. A Tiến nhanh nhẹn ngắt một chiếc lá vông rất to dán vào vách núi. Đứng xa cách 5 mét, Chủ tịch Ký giương súng bóp cò. Một tiếng nổ đanh vang lên... nhưng khi đi tìm vết đạn bắn thì chẳng thây vết nào trên lá cả. Mọi người ồ lên cười. Chủ tịch Ký cũng cười và bảo Lộc:

        - Bây giờ đến lượt phi công Lộc bắn. Để xem phi công bắn súng có tài không nào.

        Lộc xưa nay vẫn tin mình là xạ thủ súng ngắn nên vẫn nằm bắn. Lộc bắn liền 3 viên. Viên thứ nhất vọt lên trên lá, viên thứ 2 lại xuống bên dưới chẳng trúng tí nào. Có lẽ vì sức Lộc lúc này yếu quá mà. Viên thứ 3, Lộc nhổm ngồi dậy, bắn trúng ngay vào chính giữa lá. Mọi người vỗ tay “Ôi, phi công Lộc giỏi quá, giỏi quá!”

        Thấy mọi người vui, Lộc được thể:

        - Ây, phát thứ nhất: bắn trên đầu là cảnh cáo, phát thứ 2: bắn xuống chân cũng vẫn là cảnh cáo, phát thứ 3 không cảnh cáo nữa nên phải bắn trúng tim.

        Câu chuyện vui về bắn súng làm cho mọi người quên đi mệt nhọc.

        Ngoài kia cũng có vẻ yên tĩnh trở lại, không còn nghe thây tiếng động cơ máy bay ì ầm nữa, mọi người lại chuẩn bị lên đường, lại trèo dốc cao, núi cao và lội suối. Lộc nằm trên võng lúc tỉnh, lúc mê không rõ đoàn dân quân khiêng Lộc đã đi mất bao lâu nhưng khi tỉnh lại đã thấy mặt trời đứng bóng. Đoàn dân quân nhanh chóng cùng các bác sỹ quân y chuyển Lộc sang cáng đưa lên xe Hồng thập tự (xe cứu thương) đợi sẵn trước cửa ủy ban Huyện Na Rì.

        Vào khoảng 14 giờ chiều ngày 3-5-1966. Chiếc xe Hồng thập tự của Quân khu Đông Bắc vội vã đỗ xịch trước quân y viện 108. Lộc cố mở mắt ra nhìn mà không được chỉ nghe văng vẳng tiếng chuông báo động cấp cứu.

        Trong phòng hội chẩn khoa cấp cứu Viện quân y 108. Bác sĩ Lê Như Bổng được Thượng tá Phạm Gia Triệu cho người mời đến. Vừa thấy anh, bác sĩ Phạm Gia Triệu nói bằng tiếng Nga:

        - Người quan trọng đã tới! Anh Bổng cho ý kiến xử lý vết thương của cậu Lộc ra sao đây?

        - Tôi chưa xem hết tất cả vết thương của Lộc - Bổng dè dặt.

        - Các vết thương khác thì không có gì đặc biệt, chỉ duy có vết thương ở sọ não bây giờ đã mở rộng, chúng tôi đã hút máu tụ, rửa sạch vết thương rồi đắp gạc chờ ý kiến của anh đấy - Bác sĩ Phạm Gia Triệu nói.

        - Thế thì đề nghị các anh cố gắng giữ được phi công tiếp tục bay, vì Lộc là phi công giỏi, xuất kích nhiều nhưng chưa có may mắn lập công.

        - Làm cách nào được? - Bác sĩ Triệu băn khoăn.

        - Bằng cách anh chống Hernie cervicale - tức là chống thoát vị não cho Lộc hi vọng cậu ấy còn bay được.

        - Ý của cậu hay lắm, tôi sẽ cho đặt một miếng plastique rồi khâu các lớp cân cơ, da đè lên, đồng ý chứ?

        - Vâng, cảm ơn anh - Bác sĩ Bống đứng lên bắt tay bác sĩ Triệu.

        Ai đó bê Lộc xuống cho lên xe, đẩy luôn vào phòng mổ. Y tá cạo đầu cho Lộc và cho Lộc uống sữa. Rồi từ lúc ấy, Lộc không biết gì nữa.

        Khoảng 8 giờ sáng hôm sau.

        Lộc lơ mơ nghe thấy tiếng của rất nhiều người gọi mình: Anh Lộc! Lộc ơi! Anh Lộc ơi, tỉnh dậy nào! Lộc ơi!... Lộc mở mắt ra thấy xung quanh mình toàn các Bác sĩ, y tá. Họ đang theo dõi anh từng cử động. Thấy Lộc mở mắt nhìn mọi người, họ vui mừng reo lên: Sống rồi! Sông rồi!

        - Đồng chí có biết không? Đồng chí đã ngủ thế này 48 tiếng đồng hồ rồi đấy. Ai cũng tưởng đồng chí sẽ chết mất vì chỉ thấy thoi thóp thở . Chúng tôi hết cách nên phải gọi đồng chí như thế, giống như người ta gọi hồn trở lại dương gian ấy - Cô y tá đứng bên cạnh Lộc, vừa nói, vừa cười mà nước mắt tuôn rơi.

        Lộc xúc động quá, thế là mình đã sống, đã sống rồi. Lộc muốn đưa tay nắm lấy bàn tay các bác sĩ, y tá mà cảm ơn nhưng Lộc vẫn chưa đủ sức.

        Mấy ngày sau, đoàn cán bộ cao cấp của Nhà nước trong đó có Thượng tướng Văn Tiến Dũng đến thăm Nguyễn Khắc Lộc - đồng chí phi công thoát khỏi tử thần sau 9 ngày trong rừng già Yên Thế từ nay có một mảnh sọ bằng mê ca lắp trên đầu do chính bác sĩ Triệu (sau này là Bác sĩ - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) phẫu thuật - một kỳ tích về sự sống và kết quả áp dụng khoa học kỹ thuật trong ngành Y của Việt Nam trong thời chiến tranh bom đạn rất đỗi hào hùng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2019, 06:25:37 AM

SỰ RA ĐỜI CỦA BỘ CẨU DÂY MIG-21

        Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Tiến Vĩnh kể...

        Năm 1966, những cuộc oanh tạc bằng không quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc Việt Nam càng về cuối năm càng ác liệt, Bọn Mỹ cho ném bom xuống kho xăng Đức Giang -  Gia Lâm liên tiếp.

        Lúc ấy Tiểu đoàn bộ kỹ thuật đang đóng quân ở nhà 2 tầng khu A cùng với Trung đoàn bộ Trung đoàn 921. Tiểu đoàn bộ phân tán ở xen kẽ trong các nhà dân, riêng chỉ huy Tiểu đoàn được bố trí làm việc trong một căn lán tự tạo ở rìa làng - nơi có giao thông hào, giáp cánh đồng và tiện cho việc cảnh giới máy bay địch, có thể sơ tán khi họp đông người và bảo đảm bí mật quân sự.

        Tháng 11 năm 1966, tôi đang chuẩn bị tài liệu lên lớp chuyển loại cho các cán bộ kỹ thuật thì Tiểu đoàn trưởng - Đại úy Phan Tâm gọi lên giao nhiệm vụ mới. Chẳng đoán biết được nhiệm vụ gì, cứ nghe thấy nhiệm vụ mới là tôi hồi hộp.

        Bước vào lán, tôi thấy Tiểu đoàn trưởng đang chờ sẵn cùng Chuẩn úy Nguyễn Đức Cương, Trợ lý kỹ thuật Tiểu đoàn giao nhiệm vụ. Có lẽ vì tính chất công việc rất khẩn trương nên Đại úy Cương vào đề luôn:

        - Theo nhận định của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, giặc Mỹ thất bại nặng nề ở miền Nam sẽ tiếp tục leo thang đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng... Các trận địa pháo cao xạ và tên lửa phòng không, các sân bay sẽ là mục tiêu cho chúng oanh tạc.

        Do đó, phải có kê hoạch và phương tiện phục vụ sơ tán triệt đề khí tài quân sự, đặc biệt máy bay MiG-21, mối đe dọa đổi với không lực Hoa Kỳ. Bộ Tư lệnh Quân chủng giao cho Đoàn Không quân Sao Đỏ nghiên cứu phương án và thiết bị đưa MiG-21 đi sơ tán bằng đường không. Trước mắt, Tiểu đoàn giao nhiệm vụ này cho đồng chí Vĩnh, sau này tùy tình hình sẽ bổ sung thêm nhân lực, nếu có khó khăn gì Tiểu đoàn sẽ giúp đỡ.

        Cả lúc ngồi nghe nhiệm vụ và lúc trên đường trở về nơi sơ tán, tôi có cảm giác chỉ huy Tiểu đoàn đang nghĩ đến một chuyện không tưởng ở đâu đấy. Sơ tán MiG-21 bằng đường không, thật là một chuyện lạ! Song nhiệm vụ đã cột cho tôi rồi, mừng thì có nhưng lo nhiều hơn, cái lo chiếm hầu hết cảm giác.

        Liệu trình độ kỹ thuật có hạn có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ giải quyết vấn đề hóc búa như vậy không? Mặt khác, tài liệu cơ sở vật chất thiếu thốn, dựa vào đâu để tìm ra lời giải bài toán sơ tán máy bay bằng đường không? Lo là vậy, nhưng tôi suy nghĩ: “Cấp trên phải đánh giá trách nhiệm và năng lực nghiệp vụ của mình thế nào mới chọn giao cho nhiệm vụ thế này”.

        Bây giờ chỉ có một cách duy nhất là tôi phải tìm mọi biện pháp để hoàn thành nhiệm vụ được giao cùng với sự hỗ trợ của rất nhiều đồng đội cùng khóa học. Tôi bắt tay ngay vào công việc bằng việc xem lại kết cấu thân vỏ, thiết bị động lực, các mối ghép chịu lực cơ bản của máy bay để tìm ra phương án thiết kế.

        Tôi được biết, tháng 8 năm 1966 trong một buổi giao ban của Phòng Kỹ thuật Quân chủng, đồng chí Lệ Quỳnh - Trưởng ban Quân giới có nêu vấn đề cẩu máy bay đi sơ tán bằng dây cẩu, Cục Kỹ thuật chấp thuận và giao nhiệm vụ chế thử nhưng chưa triển khai. Vậy thì tôi có thể bắt đầu từ đâu nhỉ?

        Tiếp tục ý tưởng dây cẩu (hay quang treo) tôi tìm được các điểm cố định để treo máy bay bằng bộ cau dây sao cho khi nâng máy bay ở độ cao cần thiết sẽ không bị tác động của gió làm lệch tâm máy bay, gồm hai bu lông có móc treo ở hai mố chốt chính lắp ghép sườn gốc hai bên cánh với thân máy bay, quang treo ở khoang số 6 (mố càng trước) và khoang số 28 (khoang ghép nối thân và đuôi máy bay) được định vị bằng dầm treo.

        Miệt mài khoảng một tuần lễ, bằng các phép tính khí động và độ bền vật liệu cần thiết cho các kết cấu cơ bản của bộ cẩu máy bay MiG-21. Bản thiết kề này được trình lên cơ quan kỹ thuật các cấp của Quân chủng Phòng không -  Không quân sau đó được xưởng A-33 Không quân nghiên cứu chế tạo.

        Trong quá trình chề tạo cẩu, phòng kỹ thuật Quân chủng và cán bộ công nhân xưởng A-33 đã vượt qua rất nhiều khó khăn để thiết kề chi tiết, tìm vật liệu phù hợp về kích thước cũng như thành phần hóa học (ví dụ như phải lên khu gang thép Thái Nguyên tìm dây cáp cẩu đúng kích cỡ thiết kế). Họ phải làm việc trong điều kiện hết sức khó khăn, làm ngày làm đêm giữa các trận oanh tạc của Không quân Mỹ, thậm chí phải làm đêm trong điều kiện thiếu ánh sáng để hoàn thành bộ cẩu đưa vào thí nghiệm trong thời gian sớm nhất.

        Để hỗ trợ theo dõi và phối hợp với Quân chủng chế tạo bộ cẩu đề nghị của Tiểu đoàn kỹ thuật, Đoàn Không quân Sao Đỏ đã tăng cường cho chúng tôi hai người có rất nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác và tháo lắp sửa chữa máy bay ở Đại đội Định kỳ (Đại đội 14) là các đồng chí Hoàng Đình Diễm và Nguyễn Quang Hằng, đồng thời cấp riêng cho một chiếc xe tải GAZ-53 phục vụ việc đi lại và chuyên chở.

        Nhờ sự giúp đỡ kịp thời của Trung đoàn, chúng tôi đã tìm được dầm treo có kích thước phù hợp (đường kính 80 mét, dài 8.000 mét) đưa về xưởng. Cuối tháng 12 năm 1966, bộ cẩu đã hoàn thành và đưa về Trung đoàn chuẩn bị thí nghiệm.

        Sáng sớm một ngày đầu tháng Giêng năm 1967, tranh thủ lúc tạm yên ắng tiếng súng phòng không, dưới sự chứng kiến và chỉ đạo của cán bộ Quân chủng, Trung đoàn, Tiểu đoàn kỹ thuật, nhóm chúng tôi tiến hành lắp ráp bộ dây cẩu lên máy bay thử nghiệm - một máy bay đã bị hỏng càng trước và treo nó lên trực thăng Mi-6 do phi công Nguyễn Xuân Trường lái.

        Giây phút hồi hộp mong chờ nhất đã đến... Mi-6 nâng dần độ cao để căng dây cẩu, nhẹ nhàng nâng MiG-21 khỏi mặt đất, treo trên không khoảng một phút sau đó thực hiện một vòng khép kín vòng quanh sân bay Nội Bài an toàn (từ đầu tây qua rìa làng Nội Bài, vòng qua đầu đông và trở về sân đỗ đầu tây).

*

        Cuộc thử nghiệm thành công đã mở ra khả năng dùng Mi-6 để sơ tán MiG-21 bằng đường không an toàn và nhanh chóng, mặc dù chuyên gia nước bạn không tin là có thể thực hiện được.

        Điều ‘không tưởng’ như tôi nghĩ ban đầu đã trở thành hiện thực bằng trí sáng tạo và lòng quyết tâm của một tập thể cán bộ kỹ thuật Không quân trong Đoàn Không quân Sao Đỏ và trong Quân chủng, trong đó có cán bộ kỹ thuật xưởng A33.

        Ít ngày sau, một chiếc MiG-21 đầu tiên được “không vận” bằng Mi-6 do phi công Nguyễn Văn San lái đến một địa điểm sơ tán trên sườn một quả đồi thuộc dãy núi Thằn Lằn (Vĩnh Phúc). Trong chuyến "không vận" này, tôi trực tiếp ngồi trên Mi-6 để theo dõi hoạt động của bộ cẩu dây và tính ổn định của MiG-21 khi trực thăng bay, thông qua đó đánh giá kết quả của công việc sơ tán.

        Chuyến “không vận” MiG-21 thành công cho phép chúng tôi khẳng định việc sơ tán máy bay bằng đường không có thể thực hiện được.

        Đó chính là tiền đề bảo toàn lực lượng của Không quân ta những ngày chiến tranh ác liệt sau này.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2019, 06:26:08 AM
 
DẪN ĐƯỜNG QUAN TRỌNG LẮM!

        Trong Không quân, mỗi một trận không chiến xảy ra đều phải tập trung ba mũi nhọn được ví như ba chiếc kim đồng hồ, nếu thiếu bất kỳ một chiếc kim nào thì “đồng hồ -  trận chiến” sẽ hoạt động không hiệu quả, thậm chí sẽ không thể thực hiện nổi.

        Kim giờ là toàn bộ tổ chức chỉ huy lãnh đạo - khi chiến đấu thì người chỉ huy phải trực tiếp trong trận chiến từ đầu cho đến phút cuối cùng trận đánh, kim phút chính là người phi công mũi nhọn xung kích, còn kim giây là bộ phận dẫn đường (kể cả dẫn ra-đa lẫn tiêu đồ) ở sở chỉ huy và ra-đa.

        Thường thì sau mỗi chiến công người ta hay nói đến những người phi công, điều đó hoàn toàn không sai, nhưng để có những chiến công đó đã có sự góp phần không nhỏ của bộ phận dẫn đường.

        Ở Đoàn Không quân Yên Thế, người mà tôi nể nhất vì tài dẫn đường đó là anh Nguyễn Văn Chuyên - người đã tham gia dẫn đường tiêu đồ (ở sở chỉ huy) cũng như dẫn hiện sóng ra-đa góp phần cùng những chiếc “kim giờ - chỉ huy” và “kim phút - phi công” bắn rơi 117 chiếc máy bay Mỹ trong suốt thời gian chông Mỹ cứu nước. Riêng cá nhân anh, đã trực tiếp dẫn đường cho phi công bắn rơi 86 chiếc. Đó là một thành tích mà ít ai có thể làm được.

        Mỗi chiến thắng của Không quân phải được gọi là kỳ tích mới đúng vì Mỹ - Ngụy có hàng vạn chiếc máy bay chiến đấu, sẵn sàng xung kích, còn ta chỉ vẻn vẹn bắt đầu từ 40 chiếc MiG-17 tính từ lúc đợt phi công đào tạo lần đầu tiên về Đoàn Không quân Sao Đỏ, trong đó có 4 chiếc huấn luyện và 36 chiếc làm nhiệm vụ tiêm kích chiến đấu.

        Nếu so sánh về tính năng của máy bay Mỹ với của ta thì máy bay Mỹ luôn luôn vượt trội hẳn vì MiG-17 tốc độ lớn nhất khi sử dụng mới chỉ được 1080 ki-lô-mét/ giờ, tốc độ trung bình chỉ là 750 ki-lô-mét/ giờ. Còn tốc độ F-4 của Mỹ là 1.800 ki-lô-mét/ giờ, F-8 gần 2.000 ki-lô-mét/ giờ. Dầu liệu của chúng trữ được nhiều, còn ta mang được rất ít, trong khoảng thời gian nhất định mà chưa đánh được ta cũng bắt buộc phải quay về vì nếu thiếu dầu sẽ rơi giữa đường ngay.

        Ngoài ra, kinh nghiệm bay của phi công Mỹ đều được tính bằng ngàn giờ bay, còn chúng ta hầu như chỉ có khoảng hơn 200 giờ bay, do những phi công trình độ học lớp 5, lớp 6 điều khiển - họ đều là những chiến sĩ bộ đội chống Pháp đầu quân sang Không quân. Nếu được phép so sánh, có thể ví Không quân ta như con chim non mới ra giàng còn Không quân Mỹ là con đại bàng lão luyện, đã trải qua mấy nhiều cuộc chiến tranh.

        Để có được những kinh nghiệm quí giá dẫn đường cho phi công từng ấy trận đánh, Nguyễn Văn Chuyên - một người con Quảng Nam đã không ngừng học hỏi kể từ khi anh là một chiến sĩ thuộc Trung đoàn tham gia cứu đói cho nhân dân Nông Công đến khi học tiếng Trung Quốc. Để tập trung học tốt nghiệp vụ dẫn đường, anh đã phải bán từ chiếc đồng hồ đeo tay đến chiếc xe đạp để mua tạp chí hoặc báo chí Trung Quốc về tự học và luyện tập.

        Khi mới học xong, Nguyễn Văn Chuyên được điều về sân bay Vinh làm nhiệm vụ dẫn đường cho các máy bay vận tải do người Trung Quốc lái chuyên chở Ủy ban Quốc tế từ Ba Lan, Canada đến Việt Nam giám sát hiệp định Giơ-ne-vơ. Cũng trong thời gian ấy, anh có cơ hội học hỏi những người bạn Trung Quốc thêm nhiều và tình bạn quốc tê trở nên keo sơn hơn qua những lần trao đổi vê nghiệp vụ chuyên môn.

        Nguyễn Văn Chuyên làm việc ở sân bay Vinh hơn một năm rồi được điều đi lên sân bay Điện Biên. Ở lại sân bay Điện Biên nằm trong thung lũng lòng chảo quanh năm sương mù thêm một năm nữa, thì cấp trên gọi về cử anh sang Trung Quốc học dẫn đường chỉ huy (mà người ta vẫn hay nôm na gọi là “líng hàng”).

        Nhớ lại hồi ấy, sân bay đang xây dựng nên không có chỗ hạ cánh, anh phải đi lên đó bằng đường bộ, ngồi xe mà mất 5 ngày trời mới đến nơi. Thế mà bây giờ trở về Hà Nội chỉ mất hơn một giờ đồng hồ anh đã có mặt tại sân bay Gia Lâm, sao mà sướng thế.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2019, 06:27:32 AM

*

        Những ngày học dẫn đường bên Trung Quốc mới thực sự là khó khăn. Học sinh các anh không đành lòng ăn uống đầy đủ trong khi dân Trung Quốc không có cơm mà ăn, nên đã yêu cầu Nhà trường cho ăn cháo. Nhưng sức thanh niên, ăn cháo làm sao có đủ sức học? Một thời gian dài như vậy cho đến khi Chủ tịch Mao Trạch Đông biết chuyện lệnh cho nhà trường: phải cho học sinh Việt Nam ăn uống đầy đủ, cho dù dân Trung Quốc có chết đói cũng không được làm sai lệnh!

        - Kỷ niệm đó, chẳng thể nào quên được đến mãi sau này - Nguyễn Văn Chuyên nói vói tôi thế.

        Ngày anh về nước năm 1963 cùng với năm anh em khác. Anh trở về đầu quân cho Đoàn Không quân Yên Thế, kiêm luôn cả hai nhiệm vụ dẫn hiện sóng ra-đa và dẫn đường ở sở chỉ huy, tuy vậy trước trận đầu lịch sử mùng 3, mùng 4 tháng 4 năm 1965 anh chỉ là dẫn đường dự bị.

        Sau trận lịch sử Mỹ bị thất bại vì bất ngờ về cả chiến lược lẫn chiến thuật của Không quân Việt Nam, thì dẫn đường bằng sóng ra-đa trở nên khó khăn rất nhiều. Mỹ bắt đầu tìm hiểu cách đánh của Việt Nam, chúng tìm cách nhử, bày binh bố trận khiến cho ta phải lúng túng. Trong hoàn cảnh ấy Nguyễn Văn Chuyên trăn trở rất nhiều, nếu cứ đánh theo đúng lý thuyết bài bản, thì có lẽ không thể chiến thắng bọn F-8, F-105 hung tợn được. Chỉ có cách dùng mưu mẹo thì mới ăn thua.

        Vì mới về nên chưa dẫn chính lần nào, cấp trên lúc ấy chưa tín nhiệm Nguyễn Văn Chuyên lắm, nên anh luôn phải một mình, tỉ mỉ ghi chép lại những số liệu để nghiên cứu dẫn đường sao cho hiệu quả nhất, vừa đê thử nghiệm kết quả học tập vừa chứng tỏ cho cấp trên biết khả năng của mình. Bởi lúc anh phụ trách dẫn hiện sóng ra-đa thì công việc đơn giản hơn nhiều vì chỉ cần dẫn chính xác giai đoạn cách mục tiêu 3-40 ki-lô-mét là được, nhưng có mặt hạn chế là không thể bày biện ý đồ chiến thuật sáng tạo như dẫn tiêu đồ.

        Còn nhớ lần đầu tiên Nguyễn Văn Chuyên dẫn ở sở chỉ huy là hôm mà đồng chí mọi ngày vẫn dẫn tiêu đồ có việc phải đi sân bay Kép gấp, vì trên đó Mỹ đánh sân bay Kép bị thiệt hại đáng kể. Ở Đoàn Không quân Yên Thế lúc ấy không còn ai, cấp trên liền cho gọi anh lên trực tiếp cùng sở chỉ huy tham gia trận đánh do Biên đội Lan, Chiêu, Trì, Độ thực hiện.

        Theo thường lệ, Mỹ xuất kích từ hạm tàu ngoài biển vào. Cũng có lúc chúng đi nhiều tốp có cả A-6, F-4, F-8, và F-105. Lần này chúng định đánh Kép. Phương án đầu tiên được sở chỉ huy đưa ra: sẽ cho Biên đội cất cánh ở Nội Bài, rồi đánh chặn ở Kép. Xem kỹ phương án một lúc, Nguyễn Văn Chuyên mạnh dạn đưa ra một phương án khác:

        - Mỹ sẽ luôn đề phòng không quân Việt Nam đánh từ sân bay Nội Bài vì biết chỉ có duy nhất một Trung đoàn Không quân ở đây. Nếu cứ cất cánh từ Nội Bài bay thẳng lên Kép, thì chưa lên Bố Hạ, Mỹ đã chặn ta ở đây rồi. Cho nên nếu ta muôn đánh được nó ta phải thay đổi hướng bay và chiến thuật, phải vòng trái từ Trung Giã đi Thái Nguyên, rồi lên Phủ Thông - Bắc Kạn, bất ngờ đánh thọc sườn nó thì mới có khả năng tiêu diệt mục tiêu.

        Sở Chỉ huy hội ý một lát, rồi quyết định theo phương án của Nguyễn Văn Chuyên, lệnh cho Biên đội sẵn sàng vào cấp I xuất kích. Khi lên tới Bắc Kạn, anh dẫn đường cho Biên đội vòng xuống 130 độ đi xuống hướng Kép, phát hiện một tốp F-4 vào Bố Hạ tốc độ 800 ki-lô-mét/ giờ, liền lệnh cho Biên đội vứt thùng dầu phụ, tăng tốc lên 950 ki-lô-mét. Tuy là tốc độ của MiG-17 thấp hơn nhiều so với F-4, nhưng vì ta kịp thời chọn đúng thời điểm tăng tốc nên dù có thấy ta, chúng cũng không kịp trở tay. Chỉ vài phút sau, Nguyễn Văn Chuyên đã dẫn Biên đội tiêu diệt ngay tại chỗ một chiếc F-4.

*

        Sau trận đánh ấy, trước buổi rút kinh nghiệm, Phạm Ngọc Lan - Biên đội trưởng vừa trông thấy Nguyễn Văn Chuyên đã vui mừng bắt tay anh nói:

        - Cảm ơn dẫn đường! Dẫn cừ lắm!

        Câu nói ấy khiến cho Chuyên cảm thấy rất vui, tôi hôm ấy anh đã hầu như không ngủ vì phấn khởi bởi trận đánh đầu tiên anh trực tiếp dẫn đường chỉ huy đã thành công như vậy.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2019, 06:28:12 AM

BẮN ĐỊCH KHI BAY... NGỬA

        Sau trận không chiến ngày 23 tháng 4 năm 1966 bị thất bại vì âm mưu phá cầu Phủ Lạng Thương, Đáp cầu chưa thực hiện được và cho đến các ngày 24 và 25 tháng 4 Mỹ vẫn ôm mộng củng cố hoạt động trên đường số 1 với mục đích duy nhất sẽ phá hoại những mục tiêu trên cho bằng được. Thậm chí, chúng lôi cả Không quân của Hải quân Mỹ vào cuộc.

        Mỹ vẫn sử dụng chiến thuật dùng nhiều tốp nhỏ, chia thành nhiều tầng, có nghi binh, có thu hút, đồng thời có tốp lợi dụng sở hở của Không quân Việt Nam để lẻn vào mục tiêu bắn phá. Những tốp F-105 luôn đi độ cao thấp nhằm tránh ra-đa phía Việt Nam phát hiện. Không quân Mỹ tổ chức đội hình bay rất chặt chẽ, các tốp 2 chiếc, và 4 chiếc đi theo kiểu 2 chiếc này cách 2 chiếc kia khoảng 3-4 ki-lô-mét, đội hình bậc thang hẹp, cự ly giãn cách rất nhỏ chừng 200 mét. Bay ở độ cao 2.000 đến 2.500 mét.

        Tin báo về Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân, địch gồm 30 chiếc có nhiều khả năng cất cánh từ hạm tàu ngoài khơi, chúng sẽ tập trung đánh vào khu Đông Bắc. Đoàn Không quân tiêm kích Yên Thế nhận lệnh liền tập trung cao độ chuẩn bị sẵn sàng cho trận không chiến cam go này. Khi phát hiện địch đang đến gần thì trời đã về chiều. Ban chỉ huy nhận định: Bây giờ mặt trời ở phía Tây Nam,

        chúng sẽ lợi dụng điều kiện thời tiết thuận lợi để đánh, hơn nữa qua trinh sát, một tốp đang ở phía Tiên Yên cửa sông Thái Bình - tốp này chỉ làm nhiệm vụ nghi binh. Còn các tốp khác ở Cao Bằng, Nghĩa Lộ, Lục An Châu chẳng qua nó dờn dứ, thu hút chú ý tiêm kích của ta vào khu vực đó mà thôi. Chắc chắn chúng sẽ dùng một tốp nhỏ ở phía Tây bay thấp để đánh vào các mục tiêu là chủ yếu.

        Phương án tác chiến được khẩn trương đưa ra. Chúng ta sẽ cất cánh 4 chiếc, đánh tốp địch bay về phía Võ Nhai vì tốp này làm nhiệm vụ công kích, còn một Biên đội nữa 2 chiếc sẽ cất cánh đến khu vực Bắc Sơn - Võ Nhãi duy trì độ cao 4.000 mét, không đi xa như những hôm trước, mà sẽ chỉ cách sân bay khoảng 40 - 50 ki-lô-mét. Khi chờ sẽ không bay vòng tròn mà bay theo kiểu rắn bò tạo điều kiện có lợi tiêu diệt địch. Sau khi hội ý, thống nhất phương án, Trung đoàn nhanh chóng cho Biên đội gồm số Một: Hồ Văn Quỳ, số Hai: Lưu Huy Chao, số Ba: Nguyễn Văn Bảy và số Bốn: Trần Triêm cất cánh.

        Vừa khi cất cánh tập hợp xong, bay 360 độ rồi 320 độ - 20 độ - 50 độ - 120 độ - 360 độ... theo kiểu rắn bò ở độ cao 3.500   mét cho đến khi lượn vòng bay 360 độ thì ta phát hiện địch bay về phía bên trái trước mặt, cự ly khoảng 5.000 mét ở độ cao thấp hơn ta khoảng 1.000 - 1.500 mét.

        Số Hai Lưu Huy Chao liền lao xuống công kích, số Một bám theo sau yểm hộ. Số Hai xả một loạt đạn, làm cho một chiếc F-4C rơi ngay tại chỗ. Lưu Huy Chao cảm thấy lửa từ chiếc máy bay đó bùng cháy lên dữ dội, rồi mới tròng trành rơi xuống. Ngay sau khi hạ được chiếc máy bay đó, số Một và số Hai bay vòng trở lại thì gặp hai máy bay F-4C khác, một trong hai chiếc đó thấy các anh thì bay vọt lên. Số Hai nhanh như cắt bám theo và bắn trong tư thế máy bay ngửa. Trong một khoảnh khắc, Lưu Huy Chao bỗng thấy bối rối không biết mình đang ở vị trí nào. Máy bay của anh lao xuống với vận tốc của một mũi tên. Anh đã bị thất tốc. Khi máy bay của anh rơi xuống khoảng 1.800 mét, anh mới bĩnh tĩnh điều khiển máy bay lật lại, rồi lập tức bay vọt lên.

        Lưu Huy Chao kịp liếc nhìn, dường như chiếc số Hai của địch được lệnh bay về nên bay chậm lại định giở trò gì đó, nhưng không thể qua được óc phán đoán của số Một Hồ Văn Quỳ, anh cho máy bay cưỡi lên trên số Hai của Mỹ, xả súng bắn rơi ngay.

        Trong khi đó, số Ba Nguyễn Văn Bảy và số Bốn Trần Triêm được lệnh của Biên đội trưởng Hồ Văn Quỳ công kích tốp máy bay đi trước, được số Bốn yểm hộ nên số Ba mạnh dạn công kích. Bọn Mỹ thay đổi chiến thuật rất nhanh, chúng hết cơ động ngang lại cơ động thẳng đứng. Nhưng số Bốn cũng gan lỳ không kém, anh cứ bám riết chúng khiến chúng lúng túng mất tập trung, cho đến tận khi anh được lệnh của sở chỉ huy quay về mới thôi.

        Ở phía đằng kia, số Ba Nguyễn Văn Bảy cũng vừa tiêu diệt được thêm một chiếc F-4C nữa vừa lúc Mỹ hoảng hốt rút quân. Cả Biên đội hồ hởi trở về khi đã tiêu diệt được 3 chiếc F-4C hiện đại nhất của Mỹ, chỉ với 278 viên đạn lớn nhỏ trong trận không chiến kéo dài đúng 3 phút. Riêng Trần Triêm thì hơi tiếc một chút vì khi được lệnh sở chỉ huy quay về, anh gặp một chiếc F-4C tuy đã truy kích nhưng không đạt kết quả.

        Trận không chiến này, về khía cạnh tinh thần đã là một trận chiến thắng to lớn mang lại niềm vui cho toàn bộ Đoàn Không quân Yên Thế, cả Biên đội có 4 người đi mà không bị bất cứ một tổn thất nào và trở về hạ cánh an toàn. Nhưng về ý đồ của trận đánh thì chưa thực sự đạt như mong muốn. Bởi mục đích của ta là đánh máy bay cường kích, tức là đánh vào tốp máy bay may có nhiệm vụ phá hoại mục tiêu, nhưng rốt cục lại tiêu diệt máy bay tiêm kích (loại máy bay đánh máy bay).

        Tuy nhiên, Đoàn Không quân Yên Thê có quyền tự hào, vì trận không chiến này Biên đội quyết tâm chiến đấu cao, bản lĩnh chiến đấu vững vàng, kể cả trong tình huống phức tạp như số Hai bị "thất tốc", nhưng vẫn xử lý, đưa máy bay trở lại bình thường là một điều ít có phi công làm được.

        Nhiều năm sau này, Kế hoạch đánh phá Bắc Việt Nam trong thời gian từ năm 1965 tới năm 1966 đã được tiết lộ trong cuốn sách “Bí mật những chiến dịch không kích của Mỹ vào Bắc Việt Nam" (Nhà Xuất bản Công an Nhân dân ấn hành tham khảo năm 2008) như sau:

        “Phương pháp tiến hành chiến tranh đối với nguồn cung cấp xăng dầu miền Bắc Việt Nam là dẫn chứng tốt nhất về cuộc tranh luận quanh vấn đề mục tiêu. Thật không hợp lý lắm khi cho rằng trữ lượng khí đốt và dầu lửa lại tự nhiên tăng gần đến đỉnh điểm của bất kỳ một cuộc tấn công nào đã xảy ra.

        Những cuộc tranh luận chung quanh vấn đề tấn công các cơ sở cất giữ xăng dầu Việt Nam đã trở thành vấn đề chủ yếu trong đầu năm 1966. Những nguy cơ về chính trị, quân sự đã được bàn đi tính lại kỹ lưỡng, một số quan chức nói chỉ cần một cuộc tấn công, Nga và Trung Quốc có thể vào cuộc, còn những người khác lại cảnh báo rằng ảnh hưởng chính trị trong nước sẽ trở nên nghiêm trọng. Cuộc tranh luận đó sẽ được phơi bày cho báo chí để rồi vẫn không thể hãm lại kê hoạch giải tán của miền Bắc Việt Nam...

        Tuy nhiên, sau một thời gian những nỗ lực cho chiến thắng của miền Bắc Việt Nam dường như không bị giảm sút bởi cuộc tấn công đó."


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2019, 06:30:34 AM

BẮN RƠI JOHN MC CAIN

        Trong suốt thời gian kể từ khi Mỹ trở lại đánh phá miền Bắc Việt Nam, quân và dân Việt Nam ta đã đánh Mỹ bao nhiêu trận không thể kể hết. Có những trận của các lực lượng bộ binh, hải quân, không quân cho đến tận bây giờ vẫn đi cùng lịch sử. Trong những trận ấy, có cả hi sinh mất mát nhưng cũng có những chiến công thật oai hùng. Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam đã góp phần không nhỏ tiêu diệt bọn đế quốc Mỹ và những trắc thủ là một phần không thể thiếu của Phòng không - Không quân Việt Nam làm nên chiến thắng.

        Sau hơn hai tháng huấn luyện, ngày 11 tháng 08 năm 1965 Tiểu đoàn tên lửa 61 thuộc Trung đoàn 228B (tiền thân của bộ đội tên lửa Việt Nam) hành quân vào trận địa Xích Thổ - Gia Viễn - Ninh Bình. Ngay đêm ấy Tiểu đoàn đã phóng ba quả tên lửa diệt gọn một tốp máy bay của Hải quân Mỹ, trong đó hai chiếc rơi ngay tại chỗ, một chiếc bị thương nặng bay về hạ cánh tại tàu sân bay. Sau trận thắng này, Tiểu đoàn 61 rút về trận địa Phùng - Hà Tây và đã được Bác Hồ về thăm và yêu cầu cho bác được tận mắt xem kíp trực điều khiển tên lửa, Bác xem cả những thao tác mà khấu đội tháo nạp tên lửa ở bệ phóng như thế nào. Lần ấy, trong buổi nói chuyện với toàn thể Tiểu đoàn, Bác khen: “Các chú đánh rất giỏi, bằng ba quả tên lửa mà các chú tiêu diệt cả một tốp máy bay Mỹ. Nhưng nếu đánh tiết kiệm mà rơi được nhiều máy bay Mỹ thì còn tốt hơn.”.

        Nhớ lời căn dặn của Bác, Nguyễn Xuân Đài - sĩ quan trắc thủ cự ly của Tiểu đoàn 61 đồng thời cũng là chỉ huy trưởng xe điều khiển tên lửa đã suy nghĩ rất nhiều bởi lẽ theo lý thuyết nếu phóng ba quả tên lửa vào một máy bay thì xác suất tiêu diệt mới chỉ được khoảng 98%. Vừa rồi, Tiểu đoàn đã bắn ba quả trúng ba máy bay, như vậy đã trên 300% - gần như một kỳ tích rồi. Bác nói như vậy, nhưng làm thế nào để thực hiện đựợc bây giờ?

        Cả Tiểu đoàn trăn trở quyết tâm thực hiện bằng được lời huấn thị của Bác Hồ, và cơ hội đã tới.

        Ngày mùng 7 tháng 3 năm 1966, Tiểu đoàn tên lửa do Trắc thủ cự ly Nguyễn Xuân Đài chỉ huy đã phóng một quả tên lửa trúng liền mục tiêu hai chiếc RF-101 của Mỹ đó chính là chiếc thứ 900 và 901 bị quân và dân miền Bắc bắn rơi - một trận chiến có một không hai trong lịch sử của bộ đội tên lửa. Không những một lần mà sau đó mười một ngày, Tiểu đoàn của anh lại bắn rơi thêm hai chiếc F3D và F3D3 do đúng một quả tên lửa phóng lên.

        Điều đó khẳng định thêm rằng việc bắn trúng hai chiếc máy bay cùng lúc không phải là sự may rủi mà vì khả năng sáng tạo và kỹ thuật giỏi của trắc thủ Việt Nam.

        Sau hai lần bị tên lửa Việt Nam đánh cho tổn thất nặng nề, bọn Mỹ rắp tâm trở lại Thủ đô đánh phá ác liệt. Hưởng ứng lời kêu gọi chông Mỹ cứu nước của Bác Hồ ngày 17 tháng 7 năm 1966, hai ngày sau Tiểu đoàn đã đánh một trận xuất sắc bắn rơi tại chỗ một chiếc F-8U ngay trên vùng trời phía nam Hà Nội.

        Bị tên lửa Việt Nam bắn rơi nhiều, chúng chuyển sang bay thấp, độ cao chỉ giới hạn 1.000 mét làm cho tên lửa Sam- 2 của Tiểu đoàn rất khó khăn trong việc bám mục tiêu, trong khi đó ra-đa chỉ phát hiện mục tiêu ở cự ly gần.

        Nguyễn Xuân Đài với vai trò là chỉ huy trưởng xe điều khiển tên lửa, bắt buộc phải tập hợp anh em nhiều lần rút kinh nghiệm để diệt máy bay thấp.

        Cuối cùng sự cố gắng của các trắc thủ cũng được đền đáp bằng một trận ở Văn Điển, tên lửa bắn rơi tại chỗ một chiếc RF101, một trận đánh mở màn cho bộ đội tên lửa sau này.

        Vì ý nghĩa của trận đánh nên Tiểu đoàn tên lửa 62 đã vinh dự được Bác Hồ gửi tặng lẵng hoa.

*

        Cuối năm 1967, địch đánh phá Hà Nội rất ác liệt, thời gian mỗi đợt đánh phá kéo dài hàng tuần liền. Bọn Mỹ đã “khôn” hơn nhiều, để tránh ra-đa của ta phát hiện, khi còn ở xa mục tiêu chúng bay thật thấp. Chỉ đến khi nào đến gần mục tiêu chúng mới nâng độ cao thực hiện nhiệm vụ. Chính vì lẽ đó mà nhiều đơn vị không phát hiện được máy bay địch, đôi lần phát hiện thì không còn khả năng đánh. Duy nhất chỉ có Tiểu đoàn 61 vẫn đánh ngon lành. Tuy nhiên, đánh thì đánh được nhưng máy bay của địch thường bay vào vùng cấm bắn (vùng cấm bắn là để đảm bảo an toàn cho mặt đất) nên Tiểu đoàn tên lửa gặp nhiều trở ngại mỗi lúc phát hiện mục tiêu.

        Sau một hồi phân tích tình huống, trắc thủ Nguyễn Xuân Đài đưa ra hai phương án: Nếu điều khiển cho tên lửa vọt lên cao để tên lửa tự hủy thì bảo đảm an toàn cho mặt đất nhưng lại không diệt được mục tiêu, như thế sẽ không thực hiện được nhiệm vụ. Còn nếu điều khiển tên lửa tới trực tiếp diệt mục tiêu thì đây là tình huống cực kỳ mạo hiểm.

        Nguyễn Xuân Đài căn cứ vào tình hình thực tế đã chỉ huy kíp trắc thủ, đặc biệt là trắc thủ góc là Trịnh Văn Hưng tiếp tục bám sát mục tiêu. Hồi hộp tới từng giây, chỉ đến khi tên lửa gặp mục tiêu đạn nổ tung khi chúng đã bổ nhào 1.800 mét và mục tiêu bị tiêu diệt thì lúc đó mấy anh em mới reo lên vui mừng. Chiếc máy bay A-4-E của Hải quân Mỹ do thiếu tá phi công John Me Cain lái bị trúng tên lửa rơi xuống ngay bãi xỉ Nhà máy Điện Yên Phụ.

        John Me Cain vội vàng nhảy dù xuống khu vực hồ Trúc Bạch, nhưng vừa chạm mặt đất đã bị dân quân bắt sống. Tay phi công này bị giam ở Hỏa Lò cho đến ngày hòa bình lập lại, thì được trả về Mỹ. (Sau này John Me Cain đã trở thành Thượng nghĩ sĩ, năm 2008 ông ta ra tranh cử Tổng thông Mỹ, nhưng không thành công).

        Trong cuốn Bí mật những cuộc không kích vào Bắc Việt Nam có đoạn viết về bộ đội tên lửa của Việt Nam trong giai đoạn này như sau:

        “Họ đã hết sức cố gắng bảo vệ các cơ sở sản xuất bằng cách đặt vũ khí bảo vệ gần đó. Tuy nhiên tên lửa đất đối không tỏ ra không mấy hiệu quả trong điều kiện bình thường. Đầu năm 1967, tổng số tên lửa đất đối không đã được khai hỏa nhiều nhưng số máy bay (Mỹ) bị hạ chỉ được 31 chiếc. Một phần là do kỹ thuật phá sóng công phu và thủ đoạn né tránh trên không của phi công Mỹ.

        Tuy vậy, trong một số trường hợp, số tên lửa này vẫn có tác dụng. Họ điều khiển phi công Mỹ xuống tầm bắn của vũ khí chống không hạm để bắn có hiệu quả như cái việc bắn súng máy quen thuộc của họ (Việt Nam)... Người miền Bắc Việt Nam phát hiện ra rằng, đặt súng vào vị trí dưới dạng hình tam giác, hình thoi, ngũ giác sẽ tập trung được hỏa lực do đó có thể bắt được máy bay kiểu bổ nhào trong hình chóp nón chết người của mảnh đạn đang cháy nổ...”
(Trang 186).


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2019, 06:31:57 AM

CẦU MỸ ĐỨC ĐƯỢC BẢO VỆ KIÊN CƯỜNG NHƯ THẾ

        Nhà giáo Nhân dân Lê Quang Bửu, Nguyên Hiệu trưởng Học viện Không quân nhớ lại...

        Chiều tối ngày 19 tháng 4 năm 1965, Đại đội trưởng Đại đội 91 được đồng chí Tiểu đoàn trưởng giao nhiệm vụ:

        - Đại đội 91 có nhiệm vụ hành quân cấp tốc lên phía Tây Quảng Bình bố trí trận địa bảo vệ cầu Mỹ Đức trên đường chiến lược số’ 15 (cùng với Đại đội 93). Công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu phải hoàn thành xong trước 5 giờ sáng ngày 20 tháng 4 năm 1965.

        Toàn đơn vị rất phấn khởi, khẩn trương chuẩn bị hành quân, ngụy trang chu đáo sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ mới. Đúng 18 giờ 30 phút Đại đội xuất phát.

        Khi đến khu vực bệnh viện Đồng Hới, Đại đội trưởng hạ lệnh dừng xe để “Kiểm tra xe pháo”. Xong việc, đồng chí chính trị viên chỉ vào dãy nhà đổ nát và nói với toàn Đại đội:

        “Đây là bệnh viện Đồng Hới vừa bị Mỹ ném bom hủy diệt, nhiều bệnh nhân và thầy thuốc của chúng ta đã bị chúng giết hại. Đó là tội ác vô cùng dã man, chúng ta nguyện kiên quyết tiêu diệt nhiều máy bay địch để trả thù cho đồng chí, đồng bào ta!”.

        Đoàn xe pháo của chúng tôi lại tiếp tục lăn bánh tiến lên phía trước. Đi trong đêm tối, chúng tôi không được bật đèn sáng vì lo máy bay trinh sát của địch phát hiện. Mắt lái xe căng ra, có những đoạn đường khó đi phải cho người mặc áo trắng đi trước dẫn đường.

        Đến khoảng 12 giờ đêm thì toàn Đại đội đến được địa điểm quy định vào chiếm lĩnh trận địa. Lúc này bộ phận tiền trạm của Tiểu đoàn đã liên hệ với dân quân địa phương cùng đào công sự với bộ đội. Nam nữ dân quân, cùng bộ đội hồ hởi đào đắp chẳng mấy chốc mà trận địa pháo đã hoàn thành lấy chỗ cho các khẩu đội pháo vào công sự. Đồng chí Đại đội phó Đại đội 93 cũng kịp thời đến Đại đội 91 phổ biến kinh nghiệm và hiệp đồng chiến đấu.

        Đến 10 giờ ngày 20 tháng 4 năm 1965, trinh sát viên báo cáo phát hiện ra hai máy bay AD4 độ cao 4.000 mét, bay qua khu vực cầu Mỹ Đức và trận địa. Đại đội 91 lập tức vào cấp Một, bám sát chiếc đi đầu nhưng không bắn vì độ cao ngoài phạm vi hiệu quả bắn. Tiểu đoàn nhận định đây chính là chiếc máy bay trinh sát trực tiếp trước trận đánh của địch nên lệnh cho các trinh sát viên tăng cường quan sát kỹ.

        Đến 12 giờ 30 phút trinh sát viên lại báo cáo:

        - Một tốp bốn chiếc F-100 độ cao 3.000 mét từ hướng 34 bay lên hướng số Một rồi lượn vòng, 5 tốp gồm 20 chiếc AD6 độ cao 2.500 mét từ hướng 34 vòng lên hướng 12 chuyển thành đội hình hàng dọc, nâng độ cao chuẩn bị bổ nhào.

        Đại đội trưởng Đại đội 91 hạ lệnh:

        - Trinh sát viên theo dõi tốp F-100 đang lượn trên cao! Toàn Đại đội hướng 12 chiếc AD6 đi đầu. Bắn!”

        Chiếc AD6 đi đầu bổ nhào chưa kịp ném bom vào cầu đã bị trúng đạn bốc cháy bay về hướng 34. Đại đội 91 cùng với Đại đội 93 lần lượt chuyển sang bắn những chiếc AD6 còn lại, kiên quyết bảo vệ cầu.

        Trinh sát viên báo cáo:

        - Tốp F-100 chuyển thành đội hình tốp hai tốp nhỏ, mỗi tốp hai chiếc bay so le...

        Đại đội trưởng lại hạ lệnh tiếp:

        - Khẩu đội Ba làm nhiệm vụ khẩu đội tự vệ!

        Trinh sát viên tiếp tục:

        - Hướng số Hai, tốp F-100 đã bổ nhào vào trận địa!

        Khẩu đội trưởng Khẩu đội 3 Phùng Quang Cội lập tức chỉ huy khẩu đội bắn một loạt điểm xạ dài vào chiếc đi đầu tốp F-100 thứ nhất. Đồng thời lúc đó 4 quả bom của địch rơi bên cạnh trận địa của Đại đội. Đại đội trưởng chỉ cờ hướng số Hai, lệnh:

        - Toàn Đại đội nhằm chiếc đi đầu tốp F-100 thứ hai, bắn!

        Bắn được một điểm xạ dài thì máy bay bốc cháy bay về hướng số Bôn, đồng thời 4 quả bom của địch rơi vào trong trận địa của Đại đội 91. Đất cát tung lên khắp trận địa, khói bụi mịt mù.

        Đồng chí Chi - pháo thủ số Bốn của Khẩu đội 4 bị thương ở lưng, máu chảy ướt cả áo pháo thủ số Hai mà vẫn không rồi vị trí chiến đấu. Đồng chí Đoàn và Đổng pháo thủ số 5 của Đại đội 2 và khẩu đội 1 đã kịp thời lấy thân mình che cho máy nạp đạn tự động, không cho đất cát rơi vào máy nên pháo vẫn tiếp tục bắn được.

        Sau gần một giờ chiến đấu quyết liệt với máy bay Mỹ gồm 20 chiếc AD6 lần lượt bổ nhào ném bom vào cầu Mỹ Đức, 4 chiếc F-100 thay nhau từng tốp nhỏ hai chiếc một đánh vào trận địa Đại đội 91. Nhưng hai Đại đội 91 và 93 đã hiệp đồng chặt chẽ, anh dũng cùng với dân quân địa phương tiêu diệt kẻ địch bảo vệ được cầu Mỹ Đức an toàn

        (Trích trong bài viết về Trận đánh của Đại đội 91 cùng Đại đội 93, Tiểu đoàn 9, Trường Sỹ quan Cao xạ (tiền thân của Học viện Không quân) bảo vệ cầu Mỹ Đức trên đường chiến lược số 15, phía tây Quảng Bình từ 20 tháng 4 năm 1965 đến 22 tháng 4 năm 1965).


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:04:56 PM

ĐẠI TÁ KHÔNG QUÂN MỸ NORMAN CAGADICE BỊ BẮT NHƯ THẾ NÀO?

        Ngày 12 tháng 5 năm 1967.

        Sáng hôm ấy, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không -  Không quân nhận được tin trinh sát có 3 tốp máy bay bay từ Lào qua biên giới Lào - Việt đi vào hướng Ba Vì - Hà Tây (cũ).

        Lần này chúng đi gồm 12 chiếc toàn loại tiêm kích F-4 và F-105 mục đích tìm hiểu lý do tại sao gần đây MiG-17 của Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn bao giờ hết, sẽ phá hủy một vài mục tiêu trọng điểm của miền Bắc Việt Nam, đồng thời nếu gặp máy bay Việt Nam, chúng sẽ một trận sống mái, để ít nhất cũng tiêu diệt được vài chiếc sau bao nhiêu trận Không quân Mỹ thất bại nặng nề.

        Nhận định chúng sẽ đánh lớn vào phía tây nam Hà Nội và sân bay Hòa Lạc, Bộ Tư lệnh Quân chủng và Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế nhanh chóng lập phương án cử một Biên đội bay đến Khu vực Hòa Bình, Ba Vì chặn đánh chúng không cho chúng vào phá hủy mục tiêu. Biên đội gồm số Một Tịnh, số Hai Hải, số Ba Ngô Đức Mai, số Bôn Hoàng Văn Kỷ suốt buổi sáng đã tiến hành tập dượt hiệp đồng theo phương án cơ động của Bộ tư lệnh; Xuất kích theo ba hướng: Một là Hòa Bình - Suối Rút, hai là sẽ đánh trên sân bay Hòa Lạc, ba là sẽ về vùng Ân Thi - Thanh Miện.

15 giờ 23 phút.

        Địch đã tới gần, toàn Biên đội Tịnh, Hải, Mai, Kỷ sẵn sàng vào cấp Một và chỉ sau vài phút các anh cho cất cánh về phía Hòa Lạc.

        Biên đội bay cách Hòa Bình được 15 ki-lô-mét thì có tin báo có một tốp địch phía trước đã bỏ bom khu vực sân bay Hòa Lạc, Biên đội ào tới nơi thì tốp này đã kịp ra khỏi khu vực mất rồi. Sở Chỉ huy Hòa Lạc liền chỉ huy cho Biên đội vòng đầu Tây hai vòng quan sát xung quanh. Đang bay vòng cuối thì số Ba Ngô Đức Mai phát hiện 4 chiếc F-4 bay độ cao 1.000 - 1.500 mét, cùng lúc ấy số Một - Biên đội trưởng Cao Thanh Tịnh phát hiện thêm bốn chiếc F-105 từ phía sông Đà đi vào giữa Ba Vì và Tản Viên.

        Ngay lập tức số Một kéo lên bám bốn chiếc, bắn liền hai loạt đạn vào F-105 trong cự ly 600 mét, độ cao 2.500 mét, anh thây thân máy bay của chúng đã dính đạn, chúng vội vã vứt bom để thoát thân. Dường như nhận ra nguy hiểm cận kề, Sở Chỉ huy hô: “Ghìm địch hạ thấp độ cao!”. Số Một nhận lệnh liền vòng qua núi Viên Nam thì gặp số Ba Ngô Đức Mai và số Bốn Hoàng Văn Kỷ đang quần nhau với tốp F-4 của Mỹ phía đầu đông sân bay, số Một bám luôn một chiếc F-4 bắn hai loạt đạn ở cự ly 800 mét, độ cao 1.500 mét. Anh vừa bắn xong quay sang đã thấy hai chiếc F-4 bám theo mình phóng tên lửa. Số 1 vội vã hô: “Tất cả cơ động!”. Toàn Biên đội nghe lệnh Biên đội trưởng.

        Địch thay đổi chiến thuật rất nhanh, chúng cho F-4 bay thấp, độ cao 1.000 - 1.500 mét để cản vì chúng biết số Một của ta đánh thấp. Còn F-105 thì luôn ở độ cao 3.000 - 4.000 mét hòng lướt qua MiG-17 của ta dễ dàng vào mục tiêu. Chúng giữ đội hình F-105 từ 4 chiếc - 8 chiếc cách nhau 1.000 mét nối đuôi nhau. Nhưng chúng không ngờ trong khi đó, số Hai Lê Hải luôn bám theo số Một Cao Thanh Tịnh ở độ cao 1.500 mét thấy F-105 của địch chia thành ba tốp đi vào hướng Hà Nội thì anh đã tách ra, bám theo các tốp ấy đuổi bắn, ta ở độ cao 1.500 mét, còn địch ở độ cao 3.000 mét, anh cứ bắn như vậy uy hiếp chúng trên không trung, khiến chúng hoang mang không tập trung được và như vậy anh đã giúp đồng đội công kích chính xác hơn.

        Còn số Ba Ngô Đức Mai, khi phát hiện có F-4 thì anh lao vào tốp 4 chiếc rồi bám một chiếc xả luôn hai loạt đạn ở cự ly gần 300 mét. Không kịp tránh loạt đạn nhanh như chớp của anh, máy bay địch bốc cháy và rơi ngay tại chỗ. Cách sân bay chỉ 2 ki-lô-mét, anh còn thây phi công địch nhảy dù ra. Sau này được biết tên phi công nhảy dù hôm ấy chính là Norman Gadice - Đại tá, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ nhận nhiệm vụ chỉ huy 12 chiếc máy bay thực hiện chiến dịch tiêu diệt toàn bộ MiG-17 Việt Nam do Tổng thống Mỹ ra lệnh.

        Lại nói đến số Bốn Hoàng Văn Kỷ, khi anh phát hiện F-105 ở độ cao 3.000 mét định kéo lên đánh F-105 nhưng lại thấy số Ba đang xuống đánh F-4 thì anh cũng lao xuống một chiếc F104 gần tầm bắn của mình, xả 4 loạt đạn ở cự ly 400 mét, độ cao 1.500 mét khiến cho máy bay địch lảo đảo bay về phía núi Viên Nam rồi rơi xuống đó.

        Trận đánh hôm ấy, chỉ với 4 chiếc MiG-17 mà Không quân Việt Nam đã cơ động đối phó với những 12 chiếc F-4 và F-105 hiện đại nhất của Mỹ có đầy đủ các loại vũ khí tối tân. Không những thế, chỉ với 4 chiếc MiG-17 vũ khí mang theo rất đơn sơ vỏn vẹn có 160 viên 23 ly và 40 viên 37 ly mà bắn rơi 3 chiếc máy bay của chúng được yểm hộ kỹ càng.

        Cả ngày hôm ấy và những ngày sau nữa, chiến thắng của Biên đội Tịnh, Hải, Mai, Kỷ luôn là đề tài xôn xao cả đơn vị. Chiến thắng của các anh dấy lên lòng phấn khởi, tin tưởng cho các anh em vào ngày mai chiến thắng. Sự kết hợp nhịp nhàng, có yểm hộ, có công kích của toàn Biên đội là một kinh nghiệm quí cho những thiên thần bay đánh các trận sau này.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:06:07 PM

PHI CÔNG TA UỐNG RƯỢU VÀ SAY THUỐC LÀO

        Từ hồi đi bộ đội làm đường, phá đá với những công trình Quốc phòng ở Thanh Hóa, tôi đã hút thuốc lào. Nhưng đến khi sang Trung Quốc học lái, điều kiện không cho phép với lại ở Trung Quốc mua thuốc lá dễ dàng hơn nhiều, nên cả đoàn học bay trong đó tôi đều chuyển sang hút thuốc lá.

        “Nghiện ngập” nhất vẫn là tôi và Trần Triêm, hầu như lúc nào trên tay chúng tôi cũng có điếu thuốc, ngoại trừ lúc nghe giảng hoặc lên máy bay thực hành là không được phép hút thuốc. Đấy là lúc còn bên Trung Quốc, về Việt Nam rồi, điều kiện khó khăn nên năm thì mười họa tôi mới có được một điếu thuốc lá. Mà cái tật nghiện thuốc thì không bỏ được nên tôi lại quay trở lại hút thuốc lào.

        Cả Đoàn Không quân Yên Thế và các Trung đoàn khác chẳng ai không biết chúng tôi “vừa tài vừa tật”. Tài là vì lúc ấy tôi đã bắn rơi tới 4 chiếc máy bay, Bảy 4 chiếc và tật thì không nói ai cũng biết vì chúng tôi uống rượu như nước, lên máy bay không được uông rượu là phải chịu.

        Tôi biết Bác sĩ Lê Như Bổng - Chủ nhiệm Quân y vẫn dặn các y tá, y sĩ phải thường xuyên giám sát hai trường hợp Thiếu tá Trung đoàn phó Đào Công Xưởng và Phi công Lưu Huy Chao. Chắc vì một lần tôi khoe với bác sĩ:

        - Tôi có vò rượu sâm, nhưng không uống đâu chỉ để tối thứ bảy nhấm nháp tí cho hoạt huyết ấy mà.

        Bác sĩ Lê Như Bổng nhìn vò rượu sâm quí của tôi trong lọ thủy tinh có tới 2 lít rượu mà chỉ có một nhánh sâm bé tí bằng cái đũa ăn cơm, ngắn chừng ba đốt ngón tay, chỉ biết cười.

        Củ sâm Cao Ly ấy là do Ban Chính trị phân phôi cho phi công từ đầu năm, nó phải qua bốn, năm lần rượu nên đã trắng bệch như rễ đu đủ. Bác sĩ chỉ nhìn qua là biết ngay.

        Phi công nước nào chả thèm rượu, ở Liên Xô kỷ luật rượu không bằng Trung Quốc, còn Việt Nam thì kỷ luật cao hơn nhiều. Tuy thế tôi vẫn hay uống vào những đêm trước của ngày nghỉ.

        Cái điếu cày của tôi thì đúng là “chẳng giống ai”, vì nó được làm từ cái ống dầu của máy bay đã bỏ đi. Tôi đã nhờ thợ máy thiết kế cho. Các anh ấy lại gò thêm cho tôi một cái thùng để đi đâu cũng có thế bỏ điếu vào thùng xách theo. Hút xong là cho bã thuốc vào thùng luôn, vừa sạch sẽ lại gọn gàng không như Nguyễn Văn Bảy chỉ có mỗi cái điếu nên hút xong là xả luôn xung quanh, hôi lắm.

        Phi công chúng tôi ngoài những trận chiến ra kể cũng có nhiều chuyện buồn cười. Chắc chẳng có nước nào trên thế giới có những anh chàng phi công say thuốc lào như chúng tôi cả. Có lần đã báo động cấp Một, chuẩn bị sẵn sàng cất cánh rồi mà tôi vẫn сố làm thêm một “bi” thuốc lào. Chả hiểu thế nào vừa hút xong đã lăn kềnh ra đất, mấy đứa cùng Biên đội nhìn bộ dạng tôi say thuốc lăn ra đất với cặp mắt thì lò đờ, ôm bụng cười:

        - Chao! Làm thêm một “bi” nữa cho nó đã!

        Tôi chỉ láng máng thấy nó bê lại cái điếu cày, nhưng nào có làm được gì? May mà say thuốc lào nhanh hết, chứ

        không như say rượu, nên chỉ mất một phút tôi lại sốc lại quần áo đứng dậy như chưa hề có chuyện gì.

        Khoác túi bay trên vai ra máy bay, chúng nó trêu tôi:

        - Giá lúc ấy có máy ảnh, chụp cho thằng Chao một kiểu, có khi sau này thế giới lại có một tư liệu quí về phi công Việt Nam ấy chứ!

        - Tao say đã là gì! Chụp thằng Bảy hay thằng Bích mới có ảnh đẹp. Chúng nó mà say thuốc lào thì cứ gọi là chẳng còn biết giời đất là gì nữa - Tôi cười hềnh hệch đánh trông lảng.

        Nhưng đúng là thời kỳ ấy, kể cả những nước Xã hội chủ nghĩa như Nga, Trung Quôc, Triều Tiên hay tư bản là Mỹ thì chúng tôi chưa bao giờ nghe nói phi công nghiện thuốc lào. Hơn nữa lại còn say thuốc lào trước khi bay chắc chỉ có phi công Việt Nam!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:06:55 PM

MỘT "ANH CẢ" CỦA NHỮNG NGƯỜI THỢ MÁY BAY MIG

        Gian nan là thế!

        Còn nhớ những ngày tháng huấn luyện bay của Đoàn Không quân Yên Thế thời kỳ đầu thật gian nan vất vả, nhất là đối với các anh em thợ máy. Thời gian đó, cường độ bay của Trung đoàn rất lớn, có ngày máy bay tham gia huấn luyện và chiến đấu lên tối 20 - 30 chiếc. Bay từ sáng sớm tới 4-5 giờ chiều. Vì vậy Tiểu đoàn Thợ máy cũng phải liên tục làm việc.

        Thời điểm vất vả nhất là mùa hè, trên đầu thì nóng của mặt trời như thiêu đốt, dưới thì nóng từ sân bê tông bốc lên. Mùi xăng dầu của máy bay thổi ra, rồi cát bụi bị thổi tung, lẫn vào tóc. Những lúc ấy, nhiều anh em kể từ Tổ trưởng máy bay cho tới Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn đều mệt lả người, bụng thì đói mà cơm đưa ra cũng chẳng muốn ăn.

        So với các bộ phận khác như dẫn đường hoặc lái máy bay thì thợ sửa máy là bộ phận vất vả hơn cả. Lúc mà các phi công đã hạ cánh về nghỉ ngơi thì thợ sửa máy phải làm nhiệm vụ kiểm tra xem tình trạng máy bay có tốt không để mai còn sẵn sàng huấn luyện, xong rồi mới kéo máy bay về ụ. Thường mỗi khi về tới nhà thì đã 6 - 7 giờ tối, tắm rửa xong nếu đơn vị không sinh hoạt gì thì ngủ ngay vì sáng hôm sau đã phải dậy lúc 3 giờ sáng làm nhiệm vụ. Chẳng may, hôm nào phát hiện máy bay hỏng hóc thì có khi sửa cả đêm ngoài sân bay và ngủ luôn dưới cánh máy bay đợi sáng tham gia bay luôn.

        Cũng chính người thợ máy là những người “thiệt thòi” nhất, càng giỏi càng thiệt thòi. Bởi vì máy bay thì cũ, khí tài hư hỏng nhiều, mà chỉ có những người thợ giỏi như Huỳnh Ngọc Ân, Trần Đình Thọ, Trần Minh, Nguyễn Văn Chương mới xử lý nổi. Do đó, những cơ hội cử đi học sĩ quan hay học hàm thụ các anh đều ít được đi vì nếu đề các anh đi, thì ai sẽ cáng đáng công việc khó khăn như vậy?

        Trần Minh - người mà chúng tôi vẫn gọi đùa là anh cả của thợ máy - thường động viên anh em là dù có mệt mỏi hay gian khổ thức khuya dậy sớm thì vẫn phải quyết tâm bảo đảm máy bay cho tốt, tăng thêm một giờ bay, một ngày bay có nghĩa là giúp phi công có điều kiện trau dồi kỹ thuật để khi máy bay đánh phá miền Bắc có thể sẵn sàng chiến đấu ngay.

        Ngày trước, Trần Minh đã từng tham gia chiến đấu hầu hết các chiến dịch lớn phía Bắc tại Đại đoàn 312. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, anh được cấp trên cho đi học thợ máy Không quân ở Trung Quốc, khi về nước anh được giao nhiệm vụ làm Đại đội trưởng thợ máy Đoàn Không quân Sao Đỏ rồi khi thành lập Đoàn Không quân Yên Thế, anh chính thức nhận vị trí Đại đội trưởng xưởng định kỳ.

        Hà Tình quê anh cách sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân) không xa bao nhiêu, nhưng hầu như anh chưa được một lần về phép nhiều đến ba - bốn ngày, cả ba lần vợ anh sinh con, anh đều không có mặt. Thậm chí có lần trở về đơn vị anh đã phải bật khóc vì biết tin bố anh bị bom Mỹ giêt chết quá muộn không kịp về chịu tang, do anh phải làm nhiệm vụ vào đúng những ngày không chiến ác liệt với Mỹ. (Để nghi binh đánh bất ngờ làm cho địch trở tay không kịp, máy bay phải cơ động đến các sân bay khác như Gia Lâm, Kiến An, Hòa Lạc, Thọ Xuân, Yên Bái phục kích đánh địch, anh là thợ máy giỏi cũng vừa là chỉ huy nên bắt buộc phải đi theo vì vậy cấp trên giấu không cho anh biết bởi Trung đoàn quá cần anh trong thời điểm ấy).

        Trung đoàn chủ trương chỉ để lại rất ít máy bay trong sân bay để đảm bảo bí mật. Số còn lại dùng trực thăng Mi-6 câu ra ngoài rừng sơ tán. Hàng chục chiếc máy bay vừa to, vừa cao màu trắng để trong rừng nếu không ngụy trang sẽ rất nguy hiểm. Nếu bọn Mỹ phát hiện được thì chẳng những máy bay bị bắn cháy mà các anh em canh gác cũng bị hi sinh oan uổng. Hàng ngày các thợ máy phải đi xa khỏi khu vực giấu máy bay từ 4 - 5 giờ sáng tìm cành cây chặt mang về ngụy trang, nhiều lúc trở về anh nào quần áo cũng ướt sũng, lại còn bị muỗi, vắt cắn cho rất khổ.

        Trần Minh nghĩ: “Nếu cứ kéo dài thế này thì anh em khổ và khu rừng chẳng mấy chốc mà tan hoang”. Anh lấy sơn sơn lên loại cây giông như cây thông đất vừa dai, vừa bền đã phơi khô mà anh tìm hôm trước cùng những mảnh vải vụn xin ở chỗ các thợ may làm thành một thứ ngụy trang thay cho lá cây tươi. Nói ra thì buồn cười, sáng kiến ấy, anh nghĩ ra trong lúc anh bị “Tào Tháo đuổi”, thế mà sáng kiến ấy đã giúp cho tổ thợ máy không bị mất ngủ hay bị vắt cắn vì lo canh giữ máy bay nữa, khiến cho ai cũng phấn khởi, trêu anh mãi.

        Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc ngày càng ác liệt khiến cho Tiểu đoàn Thợ máy của Trần Minh liên tục chuyển từ trạng thái huấn luyện sang trạng thái chiến đấu. Phó Tư lệnh Binh chủng giúi vào tay Trần Minh mấy hộp sữa động viên:

        - Bây giờ Tiểu đoàn Thợ máy phải bám sát sân bay phục vụ cho phi công chiến đấu, các cậu sông chết cũng phải cố bám trụ nhé!

        Trần Minh xúc động nhận món quà từ tay Phó Tư lệnh rồi vội vã cùng anh em xuống sân bay Kép. Tới nơi, anh thấy sân bay bị B-52 thả bom tọa độ cắt ngang, dân bị bom, xác nằm la liệt trên sân kho của Hợp tác xã gần đó.

        Trước cảnh tan hoang ấy, Trần Minh phải kìm lòng không dám khóc, khẩn trương chỉ huy Tiểu đoàn bắt tay ngay vào sữa chữa gấp sân bay. Tiểu đoàn chữa sân bay bao nhiêu ngày đêm thì bấy nhiêu ngày đêm Trần Minh có mặt. Có những đêm nghe kẻng báo động có máy bay địch tất cả bộ đội và nhân dân nhanh chóng sơ tán xung quanh, nhưng anh chỉ cần thấy yên ắng vài phút là lại cùng đồng đội lao ra sân làm cho xong để máy bay ta có thể cất cánh đánh địch.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:07:38 PM

        Có lúc bị hiểu nhầm

        Nhằm mục đích đôi phó với âm mưu của địch, Quân chủng Không quân phát lệnh xuống cho Đoàn Không quân Yên Thế cơ động hai chiếc hoặc bốn chiếc. Chuẩn bị bay của thợ máy bao gồm rất nhiều thứ: nào là con người, máy bay, nào là khí tài dự bị đưa đi của các bộ môn cơ giới, quân giới, đặc thiết, vô tuyến.... Những việc đó Tiểu đoàn Thợ máy phải chuẩn bị cả ngày mới có thể báo cáo được cho Trung đoàn để từ đó Trung đoàn có cơ sở báo cáo tiếp cho Quân chủng.

        Nhiều đêm Trần Minh không sao ngủ được vì trằn trọc suy nghĩ cách nào báo cáo nhanh và đủ nhất. Thê rồi anh cũng nghĩ ra, anh cho cắt nhôm làm cái mỏ vịt đóng đinh treo tất cả mô hình thể hiện số máy bay mà Trung đoàn có lên bảng. Máy bay nào bay nhiều giờ nhất thì ở trên đỉnh. Máy bay nào hết giờ thì treo bên kia đỉnh bảng đánh dấu cho vào xưởng định kỳ. Người của các bộ môn cũng lên danh sách sẵn từ các Đại đội báo lên Tiểu đoàn. Khí tài của các bộ môn thì xếp sẵn trong hòm chỉ chờ lệnh. Căn cứ vào danh sách máy bay trên bảng, máy bay nào cơ động thì Tiểu đoàn của anh báo trước cho các Đại đội chủ động chuẩn bị.

        Từ đó trở đi mỗi khi có lệnh từ Quân chủng xuống Trung đoàn, thì Tiểu đoàn Thợ máy của Trần Minh không phải vất vả như trước mà chỉ cần khoảng thời gian 20 - 30 phút là hoàn thành công việc báo cáo, tiết kiệm thời gian cho thợ máy rất nhiều, bởi trong chiến tranh chỉ cần một giờ thôi các anh đã làm được bao nhiêu việc huống chi cả một ngày.

        Một lần, Trần Minh báo cáo với Trung đoàn phó Nguyễn Văn Bảy là có hai chiếc máy bay của Trung Quốc tài trợ chuyên dùng để huấn luyện đã đến thời kỳ nghỉ, không thể sử dụng được nữa. Chẳng biết vì lý do gì, hoặc có thế vì số lượng máy bay của ta còn quá ít ỏi, nên Trung đoàn phó Nguyễn Văn Bảy vẫn cho bay. Nhưng hai chiếc này vừa cất cánh lên trời đã bị Hải quân Mỹ bắn cháy. Việc bị cháy hai chiếc máy bay vì lý do kỹ thuật, làm cho Tư lệnh Quân chủng Không quân Nguyễn Văn Tiên rất giận, nói gần như quát:

        - Cho gọi Trần Minh - Tiểu đoàn trưởng Thợ máy lên ngay!

        Khi liên lạc xuống gọi Trần Minh, anh đã đoán chắc chắn có điều không lành.

        Trần Minh vội vã lấy số liệu báo cáo lần trước mang lên Chỉ huy sở. Ở đây, Phó tư lệnh Đào Đình Luyện đang ngồi bên ấm trà ôn tồn kéo ghế mời Trần Minh ngồi, thái độ ngược hẳn với Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên đang rất bực tức. Tư lệnh quay hẳn người lại không thèm nhìn mà cũng chẳng đáp lại lời chào của anh.

        - Thưa các anh, đây là báo cáo của tôi về hai chiếc máy bay Trung Quốc. Nó đã hết hạn sử dụng. Tôi đã báo cáo cho Trung đoàn biết. Còn đây là lần báo cáo thứ hai, tôi đã cảnh báo nếu Hải quân Mỹ vào đánh cháy, tôi không chịu trách nhiệm - Trần Minh bĩnh tĩnh trình bày, dường như anh hiểu thủ trưởng của mình nóng nảy, cũng chỉ vì xót của, liền một lúc mất hai chiếc máy bay của đơn vị.

        Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên nghe anh nói thế mới chịu quay lại, lúc này khuôn mặt ông không còn căng thẳng, khó chịu như lúc đầu nữa, ông dịu giọng:

        - Thôi được rồi. Cảm ơn cậu, uống nước đi...

        Sau lần ấy, Trung đoàn phó Nguyễn Văn Bảy, đồng thời là Đại biểu Quốc hội, đã phải ngậm ngùi chấp nhận bị cấp trên kỷ luật cảnh cáo.

*

        Sáng kiến của Trần Minh đã thu hút sự quan tâm của tất cả các đơn vị Thợ máy trong Quân chủng, các đơn vị đó đã nhiều lần đến học tập kinh nghiệm người anh cả của Tiểu đoàn Thợ máy thuộc Đoàn Không quân Yên Thế.

        Mỗi một trận đánh của phi công đều có hình ảnh của các thợ máy, các anh cùng chia sẻ vui mừng khi chiến thắng và đau xót mỗi khi ta bị tổn thất...

        Đoàn Không quân Yên Thế được phong đơn vị Anh hùng về thành tích xây dựng huấn luyện và chiến đấu đều có công của Tiểu đoàn Thợ máy. Điều này càng khiến cho tình cảm giữa thợ máy và phi công khăng khít hơn, và đó là lý do tại sao tôi luôn ấn tượng về một Trần Minh — “Người anh cả” của Tiểu đoàn Thợ máy đến như vậy.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2019, 07:08:24 PM
       
VINH DỰ ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ

        Sau một loạt trận đánh đầy ấn tượng của những cánh én bạc Đoàn Không quân Yên Thế. Hè năm 1967, Bộ Tư Lệnh Phòng không - Không quân quyết định dành cho các phi công chiến đấu một vinh dự đặc biệt: được gặp Bác Hồ!

        Chúng tôi hầu hết là cánh lính trẻ độ tuổi từ 22 - 28 tuy một số đã có gia đình, nhưng vẫn còn “ngờ nghệch” lắm, được gặp Bác mà chúng tôi như những đưa trẻ háo hức suốt từ lúc nhận được thông báo. Riêng tôi, sự kiện này chưa bao giờ tôi dám mơ tới một lần, thế mà bây giờ là sự thật, thật quá sức tưởng tượng, vui không tả xiết.

        Ngày 21 tháng 6 năm 1967, Đại biểu phi công đánh giỏi đội bay của chúng tôi được hướng dẫn vào Phủ Chủ tịch. Bước vào hội trường chúng tôi đã thấy các đồng chí Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Phùng Thế Tài, cùng các phi công thuộc Đoàn Không quân B71 ai vào vị trí của người đó.

        Chúng tôi không ai bảo ai, cố gắng hết sức không gây tiếng ồn và lần lượt ngồi vào hàng ghế. Cho dù tôi rất muốn len lên trước để chiếm được vị trí có thế nhìn Bác gần hơn cũng không được, vì chúng nó (anh em phi công) toàn những đứa to con còn tôi thì còm nhom, đành phải chịu khó ngồi ở hàng sau cùng.

         Đúng 8 giờ kém 15 phút, mọi người đang hồi hộp hướng về phía phòng của Bác thì đồng chí Vũ Kỳ - Bí thư riêng của Bác ra thông báo:

        - Các đồng chí chờ Bác một chút, Bác hẹn năm phút nữa Bác sẽ ra.

        Thông báo của đồng chí Vũ Kỳ càng làm chúng tôi thêm hồi hộp, năm phút lúc này sao mà dài thế không biết? Chốc chốc tôi lại liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường, đếm từng bước chiếc kim phút nhích từng bước một.

        Đúng lúc chiếc kim phút chí vào số 12, cửa phòng Bác mở ra, một ông già râu tóc bạc phơ nhanh nhẹn bước ra. Bác đi rất nhanh, hướng về chúng tôi. Mọi người ai cũng thốt lên: Bác, Bác Hồ!

        Tư lệnh Phùng Thê Tài đợi cho phút giây xúc động ban đầu qua đi mới đứng lên thưa:

        - Báo cáo Bác...

        Nhưng chưa nói được gì, Bác đã giơ tay ngăn lại, nói:

        - Chú Tài! Chú là chỉ huy quân sự mà tác phong báo cáo lãnh tụ của chú chẳng quân sự tí nào. Báo cáo Lãnh tụ chú phải làm thế này này - Nói rồi Bác làm luôn động tác hai tay để thẳng chỉ quần, chân đi nghiêm theo nghi thức duyệt binh.

        Tư lệnh nghe Bác Hồ “chỉnh”, cứ ngây người ra như cây gỗ, còn chúng tôi thì nín thở lo, đoán chắc thế nào Tư lệnh cũng bị Bác phê bình. Nhưng không, Bác đi được vài bước rồi dừng lại, quay lại cười với chúng tôi (một nụ cười thật hiền mà tôi còn nhớ mãi):

        - Bác đùa cho vui thế thôi, chứ hôm nay gặp các chú phi công cứ coi Bác như người trong gia đình nhé!

        Thật chẳng có gì vui hơn thế, chúng tôi như được giải tỏa, bao nhiêu căng thẳng, hồi hộp biến đi đâu hết sạch, ùa cả lên vây quanh Bác.

        - Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?

        - Khỏe, Bác khỏe và vui lắm vì được tin các chú đánh rất giỏi. Các chú phải đánh giỏi và xuất hiện nhiều người như chú Cổc (là Nguyễn Văn Cốc khi ấy đã bắn rơi 6 chiếc máy bay, sau này là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) hơn nữa, để nhanh chóng giải phóng miền Nam, Bác sẽ vui hơn nữa.

        Bác Hồ cười và giơ tay ra hiệu:

        - Tất cả các chú ngồi xuống đây đê chụp ảnh chung với Bác.

        Chụp ảnh xong, chúng tôi ngồi vào ghế. Thấy tôi ngồi hàng cuối cùng, Bác chỉ tay về phía tôi và hỏi:

        - Chú kia tên gì?

        - Dạ thưa Bác, cháu là Lưu Huy Chao.

        - Thê chú đã bắn rơi được mấy chiếc rồi?

        - Thưa Bác... cháu mới bắn rơi được bốn chiếc thôi ạ - Tôi sung sướng mà sao chân tay bỗng dưng run lập cập.

        - Giỏi lắm, chú giỏi lắm, nhưng sao chú gầy quá vậy?

        - Dạ, cháu chẳng dám giấu Bác, cháu vừa mới ốm dậy, thời gian vừa qua xuất kích nhiều quá, nên hơi mệt mỏi ạ - Tôi nói vậy và có cảm giác mặt tôi đó bừng.

        - Bác ơi, tại anh Chao đánh nhiều trận quá nên mới gầy thế đấy ạ! - Đồng đội tôi trêu đùa.

        Bác Hồ nhìn tôi cười:

        - Không được, chú phải cố gắng ăn nhiều vào, để lấy sức mà bắn chúng nó chứ!

        - Thưa bác, cháu sẽ cố gắng ạ! - Tôi bỗng cảm thấy ngượng nghịu, chân tay thừa thãi thế nào ấy.

        - Nào, các chú lại đây, Bác chia kẹo nào. Các chú chỉ được chia bánh kẹo thôi nhé, còn nước... để lại cho Bác.

        Bác Hồ nói với chúng tôi như vậy. Lúc mới nghe xong, chúng tôi chẳng hiểu gì, mãi một lúc sau mới ồ lên cười vui vẻ vì câu nói đùa của Bác là có ngụ ý cả. Bánh kẹo thì có thế chia, nhưng đất nước thì Bác chẳng muôn chia...

        Thật đúng như là mơ, tôi chẳng bao giờ dám nghĩ có ngày được gặp Bác Hồ trong khung cảnh thế này. Chúng tôi ăn kẹo, cười đùa bên Bác, gần như chẳng biết thời gian là gì nữa. Người hướng dẫn vào thưa Bác:

        - Mời Bác và các chú phi công vào phòng xem phim ạ.

        Lần này thì tôi phải cố gần Bác mới được, vượt qua các phi công Huyền, Lộc... tôi nhanh nhẹn len chân đến chỗ Bác, chỉ đợi Bác đứng lên là tôi bám lấy vạt áo đằng sau của Bác mà giữ chặt không rời phút nào. Bác đi tới đâu là tôi theo tới đó, chẳng thèm để ý xem các đồng đội của tôi có nhìn thấy tôi như thế hay không.

        Màn hình bắt đầu chiếu phim về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nếu ở hoàn cảnh khác, chắc chắn là tôi sẽ dán mắt vào màn hình và không bỏ qua một đoạn phim nào, nhưng vì tôi đang được ở cạnh Bác, điều đó quan trọng lắm, vinh dự lắm nên tôi chỉ cố lo giữ chỗ. Còn Bác thỉnh thoảng rờ tay xuống túi áo, hình như tìm thuốc lá thì phải, và mỗi lần như vậy Bác lại đưa tay ra đằng sau nắm lấy tay tôi.

        Bác Hồ ơi! Hình ảnh của Người, hơi ấm bàn tay Người sẽ không bao giờ con có thế quên được. Vị Cha già dân tộc mà hiền từ, mắt sáng như sao...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2019, 08:41:19 PM

BÁC SĨ ƠI! NHỚ VỢ QUÁ RỒI

        Đã 6 giờ chiều.

        Điện thoại từ sân bay báo thông báo lệnh của chỉ huy: Hãy cố chờ đến 6 giờ 30 phút sẽ có xe ra đón phi công và bác sĩ về.

        - Không cần xe đón đâu, đê nghị cho phép chúng tôi đi bộ về? - Cả kíp trực cùng nói vọng vào điện thoại.

        - Đồng ý. Cho phép đi bộ - Đầu dây đáp lại.

        Thế là kíp trực được dịp thử đôi chân. Tất cả chạy từ sân bay Kép ngang qua Quốc lộ số 1, vượt mấy thửa ruộng bậc thang đến bản Rộng, rồi men theo đường mòn giữa đồi sim 2 ki-lô-mét thì về tới nhà.

        Bác sĩ Lê Như Bổng đang nghĩ vơ vẩn, thả hồn cùng cây có thì đằng sau có tiếng chân chạy thình thịch, chưa kịp ngoái đầu lại thì có bàn tay bíu vào vai:

        - Bác sĩ ơi, nhớ vợ quá trời!

        Thì ra là Đe. Bổng cười:

        - Ờ, thế ra từ hôm cưới tới giờ mày chưa gặp lại vợ lần nào nhỉ?

        Bổng đang ngẩn người ra nghĩ kế thì Mẫn lại thêm:

        - Bác sĩ cho nó đi Viện Quân y 108 khám bệnh đi, nó đang “bệnh” đấy.

        - Đau bụng khan hả - Bổng nháy mắt ám hiệu cho Đe và Mẫn - Chỉ đau bụng khan thôi, chứ bị ỉa chảy thì anh em ngoài sân bay đã biết hết cả, chẳng cần phải cậu báo cáo tôi đã thay ca trực ngay.

*

        Đe và Tâm cưới nhau đã ba tháng mà chưa gặp lại nhau lần nào mặc dù chỉ cách xa nhau có gần trăm ki-lô-mét. Kể cũng tội, chắc là Đe nhớ vợ lắm rồi.

        Còn nhớ ngày đám cưới Đe, Tâm cũng đúng là ngày đám cưới của ba cặp vợ chồng là tôi với Thêu và cả đám của Triệu Bội Ngọc...

        Trung đoàn Hậu cần cho mượn một phòng khám bệnh của bệnh xá nhà mới lợp lá cọ xong, nền nhà còn ướt với vách bằng liếp đan. Giữa nhà có cái bàn bằng tre, bốn chân chôn xuống đất, mượn một số ghế gấp để xung quanh. Đầu bàn phía tường treo cò đó sao vàng và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ảnh là khẩu hiệu: “Hồ Chủ Tịch muôn năm". Bên trái lá cờ là dòng chữ: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Bên phải là dòng chữ: “Chúc mừng hạnh phúc Đe - Tâm, Chao - Thêu, Ngọc - Huê..." Bàn được phủ một tấm vải trắng mượn của Quân y, có đặt một lọ hoa rừng, mà lọ cắm hoa là lọ đựng thuốc miệng rộng. Tất cả những thứ đó đều tự tay các phi công chuẩn bị cho những cặp tân hôn.

        Người tích cực nhất có lẽ là Võ Văn Mẫn, vì Mẫn và Đe là cặp bài trùng bay giỏi có tiếng ở nước ngoài, là cặp tiền đạo ăn ý lúc đá bóng và cùng là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc học tại Hải Phòng. Ngoài ra còn có Tân, Hoàng, Bảy, Triêm, Síu, Lộc, Trung, Hôn, Mai và Bác sĩ Quân y Lê Như Bổng nữa. Còn tôi và Đe phải trực chiến, đến sát giờ mới về, may mà còn kịp dự lễ kết hôn của chính mình và làm cho các cô dâu được một bữa chờ mỏi mắt.

        Theo Ban Tổ chức hôn lễ thì phải làm đám cưới sớm khoảng 6 giờ chiều, để đề phòng máy bay Mỹ lẻn vào ban đêm “cắn trộm”. Có mời Thủ trưởng đơn vị và cả đại diện Chính quyền địa phương chứng nhận làm giấy đăng ký kết hôn.

        Đồng chí Trưởng Trạm Y tế chuẩn bị cho một cái đèn măng-sông có quây xung quanh lại chỉ để hở một lỗ bằng lòng bằng tay. Ngay bên cạnh là một cái thùng tôn, lúc nào báo động chỉ cần chụp thùng tôn lên là kín mít luôn, không hở tí ánh sáng nào.

        Bác sĩ Bổng trêu chúng tôi:

        - Đám cưới của các cậu quả là rất độc đáo, có một không hai: Phù dâu không có, nhưng phù rể thì rất nhiều; không đủ đại diện nhà trai và đại diện nhà gái; cũng không có dàn nhạc, không có tiệc tùng ca hát. Hì hì. Hay thật, hay thật!

        Khoảng hơn 6 giờ tối. Ngoài kia, đồi núi đã giăng sương tím. Các cô dâu, người thì mặc áo bà ba sẫm màu, người thì mặc màu trắng. Riêng các chú rể thì vẫn mặc đồ bộ đội như anh lính bình thường ngồi cạnh nhau giữa dãy bàn.

        Trước mặt các cô dâu chú rê là một đĩa bánh qui tròn, mấy cái kẹo thời bao cấp được bọc bằng loại giấy rẻ tiền, một bao thuốc lá Tam Đảo bao bạc.

        Sau khi giới thiệu lần lượt các Sĩ quan chỉ huy Trung đoàn có mặt dự đám cưới, Ban tố chức tuyên bố hôn lễ chính thức bắt đầu.

        Vị cán bộ đại diện chính quyền địa phương đứng lên công nhận từ nay cô dâu chú rể chính thức là vợ chồng.

        Trong khi các chú rể đứng lên cảm ơn Ban Tổ chức hôn lễ thì các nàng dâu không giấu nổi bẽn lẽn chỉ e thẹn cười.

        Bỗng có tiếng hét to: Hôn nhau đi! Hôn nhau đi! Làm cho cả hôn phòng cười rộ lên, vỗ tay rào rào cổ vũ.

        Thế rồi hôn lễ kết thúc. Các chú rể đưa cô dâu về phòng cưới ở chiêu đãi sở. Tại đó, đơn vị đã chuẩn bị phòng cưới ở dãy nhà cấp bốn đã dọn dẹp lại khá sạch sẽ. Giường cưới là hai tấm phản cá nhân ghép lại, trên trải chiếu hoa cùng vói đôi gối cưới, còn trên tường cũng chẳng có tranh ảnh nào. Khác hẳn với đám cưới bên Trung Quốc mà tất cả phi công ta học bên đó đã biết và được chứng kiến. Phải nói các cô dâu thật “dũng cảm” mới dám làm đám cưới với các Phi công thời chiến như thế này.

        Còn nhớ, làm đám cưới xong cũng như Đe và Ngọc, tôi được đơn vị ưu tiên cho nghỉ hẳn... hai ngày. Đó là thời gian chúng tôi được phép hưởng “trăng mật” sau ngày cưới, như lớp trẻ bây giờ vẫn gọi.

        Sau hai ngày “trăng mật”, chúng tôi còn được nghỉ thêm một ngày một đêm trọn vẹn đúng theo qui định của quân y. Có nghĩa là hoàn toàn nghỉ ngơi, kể cả việc “yêu vợ” cũng phải “nghỉ” luôn. Vì kỉ luật trong không quân là thế, ngày nghỉ trọn vẹn là ngày để hồi phục sức khỏe cho phi công.

        Trong ngày nghỉ trọn vẹn ấy tôi vẫn được phép cùng ăn với vợ mới cưới. Nhưng ăn xong chỉ cố nói với nhau những lời yêu thương, mà hai ngày trước chẳng kịp nói hết rồi ai phải về phòng người đó.

        Tôi đưa vợ mình về phòng và chờ đến lúc không có ai để ý hôn trộm lên má em một cái. Chúng tôi cứ nắm chặt tay nhau mãi không muốn rời. Tôi không cả dám nhìn thẳng vào mắt vợ, vì sợ rằng sẽ nhìn thấy đôi mắt ấy ngân ngấn nước...

        Tôi biết từ lúc này chúng tôi sẽ rất khó có cơ hội được gần gũi nhau thêm một lần nữa, bởi Bác sĩ Quân y luôn kèm riết, chỉ cần chúng tôi kéo nhau về phòng, là bác sĩ sẽ xuất hiện ngay nhắc khéo ngay.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2019, 08:41:44 PM

*

        Vừa xuất hiện ở Ban tham mưu, Đinh Khắc - Trợ lý Tham mưu đang lập kế hoạch, nhìn Bổng như đọc được ý nghĩ. Có lẽ vì lúc Đe, Mẫn, Bổng cùng về làng Đinh Khắc có nhìn thấy. Mặt cậu ta lạnh tanh:

        - Anh định xin xóa bay cho Đe chứ gì? Kế hoạch bay đã lập rồi, không thay đổi được đâu. Bây giờ mà xóa bay cho Đe thì ảnh hưởng đến Mẫn, Bảy và Huyền.

        Bổng đành lặng thinh đi về. Anh thừa biết tính Bộ hài hước nên chẳng lo lắng gì. Đã thế, Khắc lại còn đi xuống bảo với Đe:

        - Mai thứ Bảy, cậu vẫn phải tiếp tục bay để đảm bảo kế hoạch tuần này đấy.

        Nhìn mặt Đe buồn thiu khi nghe Khắc nói, Bổng không đừng được:

        - Ông Khắc này! Cậu Đe từ trước tối giờ vốn là người nghiêm túc, chưa bỏ kế hoạch bay bao giờ. Mấy hôm nay cậu ấy bị bệnh. Theo tôi, có lẽ ta nên để Đe đi xuống 108 khám.

        - Ô, hóa ra cậu Đe bị ốm à? - Khắc tỏ vẻ ngạc nhiên - Thôi thế thì mai anh đưa Đe đi khám luôn đi. Để tôi làm lại kế hoạch bay vậy.

        Khắc nháy mắt tinh quái, ghé vào tai Bổng:

        - Tôi đi guốc vào trong bụng các ông rồi!

        Để tránh máy bay Mỹ đánh phá cầu Bắc Giang, Thị Cầu, chiếc xe com-măng-ca đít vuông chở bệnh nhân Đe phải xuất phát từ lúc tờ mờ sáng, ưu tiên cho Đe ngồi cạnh lái xe, Bổng ngồi ghế sau, chuyện râm ran.

        Bổng kể cho Đe nghe chuyện Bổng cưới vợ năm 1951, được về phép đúng một tuần, cưới xong phải cuốc bộ từ Cao Bằng đến Sầm Nưa (Lào) đúng một tháng mới kịp đuổi theo đơn vị. Sáu năm sau, ngày giải phóng Thủ đô mới được nghỉ phép 21 ngày, rồi 12 năm sau ngày cưới mới được đoàn tụ và có đứa con trai đầu lòng.

        - Hy vọng vợ chồng cậu không làm ông Ngâu, bà Ngâu như tớ vì chúng tớ cưới nhau đúng Rằm tháng bảy - Bổng vỗ vai Đe nói.

        Đe thán phục:

        - Các bác ngày xưa mẫu mực thật đấy!

        Chẳng mấy chốc xe đã đến cầu phao Thị cầu do bộ đội Trung Quốc làm. Thế rồi cũng đến được nơi bệnh viện 108 an toàn.

        Bổng nhanh chóng làm thủ tục khám bệnh cho Đe để cậu này còn nhanh về nhà với vợ, có lẽ để cho Đe ở nhà tới chủ nhật rồi tự đi tầu hỏa về đơn vị.

        Xong xuôi, Bổng cùng lái xe đi tìm chỗ ăn, tìm khắp mà chẳng có quán nào khả dĩ ăn được. Cuối cùng mỗi người làm một bát phở ‘không người lái” (không có thịt) ở ga Hàng Cỏ, rồi quay lại cổng Bệnh viện Quân y 108 đón mấy người lính hậu cần đi nhờ xe đang đợi ở đó. Nhìn đồng hồ đúng 2 giờ.

        Bổng vô cùng ngạc nhiên vì thấy Đe vẫn đang ở đó, Bổng hốt hoảng:

        - Sự cố hả?

        - Chán quá bác sĩ ơi! - Đồng Văn Đe lắc đầu, chép miệng vẻ buồn bã - Vợ em đi thực tế lấy số’ liệu làm luận văn ra trường rồi.

        - Thế thì gọi điện về, cứ ở lại ngày mai - Bổng nhìn Đe thương hại.

        - Thôi bác sĩ ạ. Anh đã ăn gì chưa?

        - Rồi, thế các cụ đâu? - Bổng hỏi dồn.

        - Ôi, đi vắng hết cả. Có mỗi cô bé ở nhà, có nồi cơm nguội với vò dưa chua, em xơi tất tần tật cả rồi.

        - Cái cậu này, cứ thật thà như cơm nguội vậy.

        Bổng phì cười. Mà đúng, tính cách Đồng Văn Đe là thế, thật thà chất phác đúng kiểu Nam Bộ, không khách sáo, không kiểu cách. Là con trai mà nước da Đe rất trắng, đôi má luôn ửng hồng như con gái, dáng người cao cao với mái tóc bồng bềnh lượn sóng. Nhìn Đe chẳng khác gì thư sinh, chứ không ai bảo phi công cả. “Cô Tâm đúng là khéo chọn”.

        Bổng bứt ra khỏi dòng suy nghĩ:

        - Thế bây giờ tính sao đây hả Đe?

        - Còn tính sao nữa anh, về đơn vị thôi. - Đe nói đầy tiếc nuối - Chả biết đến bao giờ mới được gặp vợ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2019, 08:42:16 PM

KHÔNG CHIẾN KIỂU...DU KÍCH VIỆT NAM

        Một trận không chiến có thời gian dài và gay go ác liệt mà nhắc đến trận ấy ai cũng phải xôn xao. Đó là trận Nguyễn Khắc Lộc cùng với Biên đội của mình gồm: Võ Văn Mẫn số Hai, Lộc số Ba và Đỗ Huy Hoàng số Bốn, do Mai Đức Toại làm Biên đội trưởng quần nhau với địch trên không hơn mười phút đồng hồ ở độ cao 2.000 mét, quyết tâm chiến đấu đến giọt dầu cuối cùng.

        Trước đó Nguyễn Khắc Lộc đã tránh được bốn quả tên lửa và bây giờ thì một mình chọi với 4 chiếc F-4 của Mỹ. cả hai bên đã vờn nhau một khoảng thời gian khá lâu, có lẽ địch cũng cạn dầu nên đã bỏ chạy và máy bay của Nguyễn Khắc Lộc đèn báo dầu cũng đã nhấp nháy sáng.

        Theo dẫn đường của ra-đa mặt đất thông báo chỉ còn cách sân bay 100 ki-lô-mét. Đưa được máy bay về trạng thái bình thường cũng là lúc Lộc vô cùng bối rối vì không xác định được sân bay đang ở hướng nào (vì lúc kéo máy bay quá tải, đồng hồ định hướng không ổn định). Chỉ Huy sở Bộ Tư lệnh Không quân đã rất sốt ruột ra lệnh:

        - 09 nhảy dù! 09 nhảy dù!

        Đồng thời, Lộc nghe tiếng Biên đội trưởng Mai Đức Toại lúc ấy đang vào hạ cánh hô:

        - 09 không được nhảy dù! Vì địa hình rừng núi quá nguy hiểm!

        Trong đầu Lộc có một thoáng phân vân: “có thể dùng tốc độ thừa lên độ cao 4.500 mét, lấy lại đồng hồ định hướng, biết đâu sẽ biết được hướng sân bay?”

        Nghĩ là làm, Lộc kéo lên cao ngay. Đúng như dự đoán, ở độ cao 4.000 mét, Lộc đã nhìn thấy sân bay, anh dùng tốc độ thừa 600 ki-lô-mét/ giờ, hướng về sân bay và từ từ xuống 15 mét/ giây. Khi máy bay đã đôi đài xa cách đường băng 4.000 mét thì anh làm động tác thả càng cánh tà, để hạ cánh.

        Máy bay của Lộc tiếp đất an toàn cũng là lúc động cơ tắt máy vì hết dầu. Anh dùng tốc độ quán tính cho máy bay lăn vào nơi các đồng chí thợ máy đang đứng chống thang chờ đợi.

        Khi biết mình đã thoát khỏi nguy hiểm, Lộc đờ người ra ngồi ngây như tượng gỗ. Quần áo Lộc ướt sũng còn mồ hôi thì vã ra vì quá căng thẳng. Phải đợi các thợ máy lên tận nơi hỗ trợ, thì Lộc mới ra được khỏi buồng lái, trong tiếng reo hò hân hoan mừng anh đã bảo vệ được máy bay, một tài sản quí giá của nhân dân và bảo toàn tính mạng của chính mình, vì phi công cũng là một tài sản vô cùng quí giá của quốc gia.

        Sau lần ấy, Lộc đã nhận được điện biểu dương của Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không -  Không quân, điều đó thật là xứng đáng cho sự quả cảm và quyết đoán của anh.

        Cái tin phi công Lưu Huy Chao vừa bắn rơi F-105, loại máy bay được mệnh danh là “Thần Sấm” của Mỹ không làm ai trong Trung đoàn ngạc nhiên. Bởi theo như bác sĩ Bổng và những anh em phi công nói lại: “Thành tích này chỉ là sớm hay muộn sẽ xảy đối với Chao mà thôi”.

        Tôi thì không nhớ gì nhiều, nhưng sau này Bác sĩ Lê Như Bổng đã giúp tôi nhớ lại, trong cuộc họp mặt của Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng với các phi công MiG-17 bàn về cách đánh máy bay Mỹ hồi đó, tôi đã phát biểu thế này:

        - Ta phải áp dụng chiến thuật đánh “du kích trên không”. Tức là lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh. Giặc Mỹ cậy lắm máy bay ra vào bầu trời của ta 4 chiếc, 8 chiếc, 12 chiếc rồi 16 chiếc, bốn phương, tám hướng chỗ nào cũng có địch. Với những nước giàu có, họ có tiềm lực có thể tung lên trời gấp hai, gấp ba số đó để đánh địch ở các tầm thấp trung cao theo lý thuyết mà ta đã học ở nước ngoài. Nhưng chúng ta không thể áp dụng cách đó được, mà chỉ có thể rút kinh nghiệm từ cách đánh du kích từ ngày chống Pháp để đấu chọi với chúng.

        Tôi xin cống hiến một chiến thuật như sau: “Dùng một MiG-17 xuất kích và chỉ huy mặt đất sẽ bí mật dẫn dắt anh em phi công đến nơi gần địch nhưng ở độ cao cao hơn địch. Khi phi công ta phát hiện trông thấy địch rồi thì lấp tức tăng tốc lao thẳng vào đội hình của địch mà bắn, xong sẽ thoát ra ngoài bằng cách ngoặt phải, ngoặt trái hay bổ nhào. Với tốc độ lớn và ở trên cao như vậy, địch sẽ bị bất ngờ hoang mang tan rã đội hình, mà vội vã trút bom chạy thoát thân ra biển. Nếu được trên cho phép, tôi xin được xuất kích thử nghiệm trước tiên!

        Nghe tôi trình bày xong, Thượng tướng Văn Tiến Dũng gật đầu mỉm cười. Nhưng không phải ai cũng đồng tình với cách đánh này của tôi, vì cho rằng quá mạo hiểm, đòi hỏi phi công phải rất can đảm.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2019, 08:42:36 PM

*

        Chuyện tôi đánh “du kích trên không” người ta bàn tán đã đành, việc tôi trốn vợ đi làm nhiệm vụ, có lẽ bây giờ chính vợ tôi cũng phải ngỡ ngàng. Mỗi lần Thêu của tôi gặp được chồng là phải vượt qua bao nhiêu chặng đường từ Thanh Hóa đến Hàm Rồng, Đò Lèn, Phủ Lý, cầu Giẽ, Hà Nội rồi mới đến được sân bay Đa Phúc dưới mưa bom của giặc Mỹ. Thậm chí đến được Chiêu đãi sở nào đó chắc gì đã gặp được tôi đâu? Vì những người trong doanh trại cho dù biết tôi vẫn còn ở đơn vị vẫn nửa úp nửa mở:

        - Không biết Chao đang ở đâu.

        - Hình như cậu ấy được về thăm vợ rồi mà

        Những câu trả lời như thế làm cho Thêu đứng ngồi không yên. Thêu nằm ở Chiêu đãi sở ba, bốn ngày liền không thấy tin chồng, ban đầu hoài nghi còn giữ trong lòng nhưng mấy ngày sau thì chuyển sang lo lắng bồn chồn ra mặt.

        Giữa lúc đó toàn bộ Đoàn Không quân Yên Thế được lệnh phải chuyển trường sang sân bay Kép. Tất cả MiG-17 đều tách ra từ Nội Bài sang sân bay Kép, còn sân bay Đa Phúc để dành cho MiG-21 đang lắp ráp bay thử, đồng thời là sân bay dự bị cho MiG-17 hạ cánh.

        Đế tránh máy bay địch, các bộ phận Quân y, hành chính phải lên đường thật sớm. Bác sĩ Lê Như Bổng và Thiếu

        úy Oanh ở bộ phận hành chính cùng lên chiếc xe Gát 3 cầu của Liên Xô chở đầy đồ đạc của phi công cùng với bao nhiêu bàn ghế đã yên vị chuẩn bị khỏi hành, thì anh Phiếu Chính ủy Đoàn Không quân Yên Thế ra đập tay vào thành xe nói:

        - Cho tôi gửi ông Bổng và ông Oanh cô Thêu vợ của phi công Lưu Huy Chao sang sân bay Kép với. Ở đây cô ấy khóc quá mà để lại thì không ai chăm sóc được.

        - Được thôi, nhưng liệu cô Thêu có ngồi được giữa đống đồ đạc như các anh được không nhỉ?

        Thêu lên xe với đôi mắt đó hoe, hố mắt trũng sâu do mất ngủ nhiều ngày.

        Thiếu úy Oanh và bác sĩ Bổng nhìn cô ái ngại. Còn cô cứ hỏi dò hết người này lại quay sang người kia:

        - Các anh nói thật đi, nhà em còn hay mất? Các anh cứ nói thật cho em nhờ, em sẽ chịu được mà. Em chỉ cần biết sự thật là em yên tâm, chứ em không làm gì cả

        Thiếu úy Oanh nghe Thêu khẩn cầu lại càng tủm tỉm cười, Oanh càng cười thì Thêu lại càng nghi ngờ... vừa nói, vừa mếu máo khóc.

        Bác sĩ Lê Như Bổng thấy tình hình căng quá nên nghiêm nghị nói:

        - Chao không sao cả, nhưng đang bí mật làm nhiệm vụ... Cô Thêu đừng có nghĩ ngợi lung tung mà ảnh hưởng đến sức khỏe.

        Bác sĩ Bổng ngập ngừng, không dám nói đến nhiệm vụ bí mật mà tôi đang làm là cùng với Nguyễn Khắc Lộc tìm cách mai phục đánh máy bay Mỹ ở tầm thấp.

        Thòi điểm đó Mỹ áp dụng chiến thuật bay thấp, có chỗ nó chỉ bay ở độ cao 100 mét thậm chí nó còn bay thấp 50 mét để tránh ra-đa của ta.

        Thường thì chúng xuất kích từ hạm tàu trong vịnh Bắc Bộ, bay là là mặt nước rồi luồn theo các cửa sông vào đến gần mục tiêu để tấn công. Do đó tôi và Nguyễn Khắc Lộc được giao nhiệm vụ cứ chiều tối đến cất cánh từ sân bay Đa Phúc xuống sân bay Kiến An để nếu phát hiện có địch vào là bất ngờ đánh địch luôn. Chiến thuật này bí mật, bất ngờ và hiệu quả.

        Nếu bác sĩ Lê Như Bống nói ra với Thêu chẳng những không giữ được bí mật mà còn bị kỷ luật nặng. Mà không nói, chỉ động viên thôi thì Thêu chỉ an tâm được một lúc rồi lại sụt sịt khóc.

        Cứ như vậy cho đến hết quãng đường đi, đường thì xấu, ô tô lại vừa to, vừa dài, khiến cho mỗi lần gặp ổ gà là xe lại nghiêng đi một bên dồn cả ba người vào sườn xe như muốn hất tung cả ba người xuống đường, vậy mà Thêu vẫn không kêu ca một lời nào.

        Xe đến sân bay Kép cũng là lúc mà Bác sĩ Bổng và thiếu úy Oanh phải khẩn trương lao vào việc để mặc Thêu ngày nào cũng chờ chồng đó hoe đôi mắt cho đến gần một tuần sau thì tôi mới trở về


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:14:15 PM

*

        Bữa cơm tôi hôm ấy, có đầy đủ tất cả mọi người. Tôi kể lại câu chuyện hôm trước, lúc sáng sớm tôi với Nguyễn Văn Bảy cùng một số anh em khác như kế hoạch, xuống nhà ăn để chuẩn bị bay. Vừa ăn xong, đang chuẩn bị ra xe để ra sân bay, thì trời đổ mưa rất to. Vì điều kiện thời tiết như vậy nên Tham mưu trưởng lệnh cho Biên đội được nghỉ. Chúng tôi phải chấp hành lệnh của thủ trưởng ngay, hơn nữa lâu lắm có được nghỉ bay, nên quay về ngay.

        Trên đường về chúng tôi phải leo dốc sườn núi, hai bên có những bụi cây rậm rạp. Tôi đi trước, tôi phát hiện ra một thứ trong bụi, liền nắm chặt trong tay reo lên:

        - Tôi bắt được con gì đây này!

        Nguyễn Văn Bảy nghe tôi gọi chạy vội lên tò mò. Được thể tôi nói tiếp:

        - Ông lấy đèn pin soi vào xem nào.

        - Con gì mà có hai con mắt tròn tròn như cú mèo ấy nhỉ - Nguyễn Văn Bảy soi đèn pin vào tay tôi thích thú - Nhưng khéo nó cắn cho lại phải đi viện đấy.

        Nguyễn Văn Bảy cứ loanh quanh bên tôi còn tôi thì ngồi mà mông thì cứ nhấp nha nhấp nhổm như thể con vật sắp tuột khỏi tay.

        Sốt ruột quá, Bảy vồ lấy tay tôi làm “con vật” mà tôi đang giữ trong tay tuột ra mất. Lúc ấy Bảy mới biết là bị tôi lừa, chỉ là con thú nhồi bông mà Nguyễn Văn Bảy cứ tưởng là con chim cú mèo thật.

        Bảy tức mình đuổi đánh tôi chạy tí ngã. Chính trị viên Bằng hôm ấy cũng đi cùng, bật cười:

        - Cậu Chao này, chúa là hay đùa dai.

        Câu chuyện vui của tôi làm cả nhà ăn cười rộ lên vui vẻ. Thêu cũng vui nhưng vì còn giận tôi nên chỉ nói:

        - Anh đúng là...

        Tôi biết Thêu chỉ giận tôi chút thôi, chứ tôi về thế này là cô ấy mừng lắm rồi. Đúng là đã đánh “du kích trên không”, về mặt đất còn “du kích” cả với vợ.

        Nói về chiến thuật mới của MiG-17 Việt Nam sử dụng đánh máy bay F-4 và F-8 của Mỹ trong thời gian này, trong cuốn “Bí mật các chiến dịch không chiến của Mỹ vào Bắc Việt Nam” (Tài liệu tham khảo do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2008) có đoạn viết:

        “Từ 14 tháng 2 năm 1967 các hoạt động ném bom tăng lên đáng kể và tiếp đó 10 tháng, Mỹ cố gắng lần lượt đánh phá cơ sở công nghiệp Bắc Việt. Trong một vài trận giao chiến tháng 2, F-4 nhận thấy chiến thuật của MiG-17 có tiến bộ. Ngày 4 tháng 2, 4 F-4 hộ tống F-105 trên khu vực Hà Nội ở độ cao khoảng 3.000 feet phát hiện 2 MiG-17 ở phía trước. Khi họ ngoặt tới tấn công, thì đồng thời F-4 bị tấn công bời 2 MiG-17 từ phía sau. Cuộc tiếp chiến hóa thành đuổi bắt ở độ cao thấp với các cú ngoặt gấp, không bên nào có thể chiếm ưu thế. Cứ lúc nào F-4 tiếp cận được phía sau một MiG-17 thì nó lại bị một MiG-17 phía sau đánh bật.

        Trước kia, MiG-17 sẽ kéo cao theo F-4 rồi bị hụt hơi giữa chừng mà rơi xuống khiến cho sau đó F-4 có thể ngoặt lao theo tư phía sau và phóng tên lửa. Nhưng lần này phi công Bắc Việt đã học được chiến thuật không kéo cao theo mà giữ ở phía dưới, bằng cách đó họ đã làm mất ưu thế chiến thuật của F-4. Những chiếc F-4 trong thất vọng đã bắn 8 tên lửa (3 Sparow và 5 Sidewinder) nhưng không có quả nào gần đích, (trang 214).


        Nhớ về thời gian này, Đại tá Lê Hải, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân kể lại:

        “Mùa hè năm 1967, Không quân Mỹ đánh phá Hà Nội ác liệt, hòng làm nhân dân ta nao núng, chấp nhận điều kiện Mỹ đưa ra. Vào đúng dịp sinh nhật Bác, chúng cho gần 300 lượt/chiếc máy bay cường kích, tiêm kích (khoảng 1.200 máy bay chiến thuật) từ Thái Lan qua, từ miền Nam ra, từ hạm tàu cất cánh lên, thậm chí có đợt chúng tập trung hàng trăm chiếc máy bay các loại đánh một loạt các mục tiêu quan trong và sân bay. Chúng muốn nhân dân Hà Nội, Miền Bắc, Trung ương và Bác Hồ biết thế nào là quân đội Mỹ.

        Các chiến sĩ Phòng không - Không quân cùng nhân dân Hà Nội đã chiến đấu một cách ngoan cường, đánh tan nhiều đợt oanh kích của Không quân Mỹ, bắn rơi hơn chục chiếc máy bay. Riêng các chiến sĩ Không quân Việt Nam bắn hạ 10 chiếc trong đó Đoàn Không quân Yên Thế chuyên sử dụng MiG-17 xuất kích 4 Biên đội mỗi Biên đội 4 chiếc ngăn chặn và đánh tan đội hình của Không quân Mỹ vào phía Đông Nam Hà Nội bắn rơi 5 chiếc.

        Đoàn Không quân Sao Đỏ chuyên sử dụng MiG-21 cũng xuất kích nhiều Biên đội đánh chặn nhiều đợt Không quân Mỹ ồ ạt bay sang từ Thái Lan, hướng này người anh em 921 cũng bắn rơi được 3 đến 5 chiếc, ở Hà Nội, cả một lưới lửa Phòng không tuôn lên trời đón địch bằng đạn 57 ly, 80 ly, 100 ly nổ đầy trời thành những đám lửa thần xé tan nhiều “Thần sấm”, “Con ma”... của địch.

        Nhưng cũng chính những ngày này, các phi công MiG-17 hi sinh nhiều nhất. Chúng ta đã mất 7 chiếc máy bay và 7 chiến sĩ đã ra đi mãi mãi...

        Có thể nói: Những năm chiến tranh nói chung và trong thời điểm này nói riêng, mỗi phút yên tĩnh của bầu trời Hà Nội đã phải đổi bằng xương máu của các chiến sĩ Phòng không - Không quân và nhân dân Hà Nội, nhân dân miền Bắc anh hùng. Thời điểm hè năm 1967, các phi công như Mai Đức Toại, Lưu Huy Chao, Hồ Văn Quỳ, Lê Hải và những phi công khác đã phải xuất kích tới 5 lần trong ngày. Có hôm sáng đánh một trận, chiều lại đánh trận nữa.

        Qua vài năm chiến đấu, số phi công còn lại đến năm 30 tuổi có thế đếm trên đầu ngón tay. Hầu hết họ đã hi sinh vì nhiệm vụ, vì Tổ quốc, khi mới 24 - 25 tuổi đời. Các anh đều là những phi công ưu tú nhất mới được chọn là phi công Tiêm kích...”


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:15:15 PM

TRẮC THỦ VŨ NGỌC DIỆU VÀ NHỮNG ĐIỂU KỲ DIỆU

        Ông cụ thân sinh ra Vũ Ngọc Diệu là người ít nói, nghiêm khắc và biết xem tướng số, ông không chấp nhận những gì làm sai ý ông răn dạy và Vũ Ngọc Diệu ngày bé là đứa trẻ hiếu động và có cá tính, hầu như không ngủ với bố bao giờ mà toàn ngủ với mẹ.

        Cho đến trước ngày nhập ngũ người cha mới bảo Vũ Ngọc Diệu sang ngủ với ông một đêm, mà thực ra đêm ấy hai cha con không chợp mắt tí nào. ông đã nói với Diệu nhiều điều, có cả những điều triết lý âm dương, số phận... nhưng có một điều mà Diệu không bao giờ quên được, đó là số mệnh.

        Ông bảo:

        - Con sinh ra năm Hợi, giờ Tuất, mặc dù là con một nhưng con sẽ không bao giờ ngã trận nơi hòn tên mũi đạn, nên con phải vươn lên bằng anh bằng em. Có thể bố sẽ không gặp con ngày trở về và mẹ con cũng vậy nhưng trong một định mệnh khác.

        Diệu không hiểu gì cả và không nghĩ rằng điều đó sau này là sự thật. Ông cụ đã tiên lượng đúng. (Chỉ trong năm 1968 đã ba lần Diệu may mắn thoát chết rất tình cờ, hình như ai đó đã che chở cho anh)?

        Cuộc đời kể ra thật phũ phàng nhưng dường như số phận đã định trước lại đúng đến kỳ lạ. Bố Diệu mất vào ngày rằm tháng 2 năm Mậu Thân khi anh đang ở Vĩnh Linh, còn mẹ anh mất ngày 12 tháng Giêng năm Kỷ Mùi, khi anh đang học ở Liên Xô (cũ). Những lần Diệu về thăm nhà đều trùng với ngày sang áo cho bố và mẹ. Điều trùng khớp khó tin hơn nữa là toàn bộ tư trang của Diệu gửi về cho mẹ lại đúng vào ngày bố mất.

        Sự đau khổ tột cùng vào thời điểm ấy làm bà mẹ anh suy sụp lâm bệnh, vì khi ấy đã hơn ba tháng Diệu bị mất tích trên đường đi công tác vào Vĩnh Linh, đơn vị không biết còn sống hay đã chết và họ đã làm các thủ tục ban đầu để chuẩn bị báo tử.

*

        Đó là hồi tháng 6 năm 1969, Diệu cùng các trắc thủ Nguyễn Văn Vĩ và Nguyễn Xuân Đài của Đại đội 15 và 16 được cử đi công tác ở Vĩnh Linh để tìm cách phát hiện B-52.

        Trên đường, ba anh em bị lạc nhau, thế là đi bộ gần ba tháng trời mới đến được nơi cần đến. (Hơn ba tháng lạc đường trên vùng đất miền tây Quảng Bình, đến bây giờ nghĩ lại tôi vẫn cảm thấy như là một huyền thoại). Đơn vị tưởng các anh hi sinh, thì được tin các anh đã vào tới Vĩnh Linh.

        Nhóm ba người Nguyễn Văn Vĩ, Vũ Ngọc Diệu, Nguyễn Xuân Đài vinh dự thuộc nhóm những trắc thủ đầu tiên phát hiện ra tín hiệu B-52 thời bấy giờ. Những tư liệu ban đầu về cách nhận dạng B-52 trong nhiễu, từ đội hình bay, quy luật bay, tính chất, hình thái của những siêu pháo đài bay B-52 đã được bộ đội ta lấy làm cơ sở để nghiên cứu sau này cho các trận đánh trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm trên vùng trời miền Bắc.

        Vũ Ngọc Diệu sinh ra ở làng Chùa của huyện Chí Linh. Bà cụ thân sinh ra Vũ Ngọc Diệu kể lại: Diệu sinh ra giờ Tuất và suýt chết bởi vía dữ của một người bà con tới thăm, cả đêm ấy phải đốt vía, vẩy cành dâu có thấm nước giải mới qua khỏi. Cậu bé Diệu biết nói và đi khá sớm, lúc được mười tháng tuổi.

        Những năm học phổ thông, Diệu học rất giỏi, chưa bao giờ xếp thứ 3 trong lớp, trong trường (thời ấy học lực xếp theo thứ tự từ 1 là giỏi nhất). Ở cấp 3 Diệu học giỏi môn toán, đặc biệt là lượng giác, hình học và tiếng Nga, bạn bè bảo Diệu có lối suy diễn độc đáo. Mặc dù luôn được giấy khen và tặng phẩm vì thành tích học tập, nhưng Diệu chỉ là học sinh có hạnh kiểm khá vì rất nghịch và hay bỏ tiết học cuối ngày (nhà nghèo phải về sớm để chiều còn đi làm giúp mẹ).

        Đúng năm Diệu lên đường nhập ngũ, cô giáo An chủ nhiệm bảo Diệu: “Em rất nghịch nhưng khi ra trận em sẽ là người lính dũng cảm”.

        Trong hồ sơ ghi: Vũ Ngọc Diệu nhập ngủ ngày 20 tháng 9 năm 1966. Nhưng chính xác phải là 10 giờ ngày 19 tháng 9 năm 1966 vì lúc ấy anh đã được mặc áo lính.

        Lính mới mà phải đi bộ từ huyện Thanh Trì vào đơn vị (Đại đội 15, huyện Diễn Châu - Nghệ An) mất hơn 20 đêm (ngày nghỉ, đêm đi). Có một điều không may là trên đường đi hành quân chưa vào tới đơn vị thì đã có hai đồng chí phải hi sinh vì một trận ném bom của 4 chiếc A-4 trên đất Hoàng Mai, Quỳnh Lưu. Đó cũng chính là đêm đầu tiên Vũ Ngọc Diệu bắt đầu nghĩ đến cái sống và cái chết sẽ đến bất kể lúc nào.

        Sau lễ truy điệu, Diệu và 14 tân binh được phân về Đại đội 14, Trung đoàn 290 đóng quân trên địa bàn xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

        Ngay trong đêm đầu tiên đến đơn vị mới được phân công ngủ tại trận địa pháo 12 ly 7. Khoảng 1 giờ gì đó thì có 4 chiếc máy bay A-4 đánh vào trận địa. Thật kinh hoàng bởi ánh chớp của bom đạn và súng pháo. Lúc đó có rất nhiều người hoảng loạn và có cả những người sợ quá mà khóc. Tâm trạng đó thật khó tả. Đó cũng là lần thứ hai Diệu ở trong tâm trạng ấy.

        Sau này ông Chính viên mới cho hay: “Hãy thử lửa để biết vàng thật hay giả ngay từ khi mới nhập về, con người cũng vậy”. Ông là người Nam Đàn, rất dũng cảm và sâu sát. Diệu đã học ở ông những triết lý giản đơn nhưng rất thật. Những trận sau này rất ác liệt, cái chết gần mười mươi nhưng không có ai dừng bước và đứng lại.

        Đầu quân vào Đại đội 14, Trung đoàn 290, Sư đoàn 373, Diệu nhanh chóng vượt qua hai tháng huấn luyện tại chỗ với những khó khăn trong việc học cách phát âm cho chuẩn và học cách nhớ hàng trăm sóng cố định trên nền màn huỳnh quang. Những người có trình độ học lớp 9 cấp III như Diệu lúc đó không nhiều. Diệu được phân công về làm trắc thủ ra-đa máy 513K. Trung đội trưởng Quê, người Yên Định - Thanh Hóa động viên Diệu:

        - Tính đến giờ phút này cậu là người có trình độ văn hóa thuộc nhóm cao nhất đơn vị, hãy học tập tốt và làm được điều gì đó khác thường, cậu rất có khiếu đấy.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:15:31 PM

*

        Sáu tháng sau Diệu được chuyến về máy ra-đa P18 (một loại ra-đa cổ nhất thế giới lúc bây giờ vì nó ra đời vào thế chiến thứ 2, nhưng năm 40 của thế kỷ trước do Liên xô chế tạo và viện trợ cho Việt Nam vào đầu những năm 60). Nơi đây và từ loại đài ra-đa này Diệu đã gắn bó cùng nó chiến đấu hơn ba năm trên xứ Nghệ. Nó đã cho Diệu niềm tự hào về sự vượt khó dùng khí tài cũ để cùng kíp trắc thủ dẫn đường cho Không quân đánh thắng nhiều trận trên vùng trời Khu 4 anh hùng. Nhiều chuyện về chiếc ra-đa cổ lỗ sĩ này đã làm nên bản lĩnh của các anh, trong đó có thời kỳ đầu của cuộc chiến đấu vạch nhiễu tìm kẻ thù.

        Những năm đó địch đánh phá rất ác liệt, đơn vị của Diệu phải cơ động liên tục nhiều khi cứ ba, bốn ngày lại phải cơ động để vừa chiến đấu vừa bảo đảm an toàn cho con người và khí tài. Dù vậy thì những hi sinh, mất mát là điều không thể tránh khỏi. Đơn vị lúc ấy mới có vài người lập gia đình còn lại đều là trai trẻ cả. Tuổi còn trẻ, có trận chiến chứng kiến ba người ra đi cùng một lúc ai cũng xót thương, nhưng tuyệt đối không ai nao núng chỉ mong sao trả thù được cho đồng đội.

        Hôm ấy bọn Mỹ đánh vào trận địa thôn Vĩnh Trinh, xã Nghi Thạch. Máy bay địch đánh trúng trận địa nhưng không ai rời máy. Ăng-ten ra-đa sắp bị đổ, mấy anh em xông ra giữa bom đạn để níu giữ, dùng dây kép ăng-ten chạy xung quanh tiếp tục làm nhiệm vụ. Diệu bị thương nhưng quyết không rời vị trí, tiếp tục phát hiện và thông báo về sở Chỉ huy những tin tức trinh sát quan trọng dẫn đường cho Không quân trên vùng trời Đô Lương.

        Trận đánh ngày 17 tháng 11 năm 1968 với Vũ Ngọc Diệu sẽ là một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là ngày Lễ kết nạp Đảng kết nạp Diệu và Nguyễn Văn Cách - người anh em kết nghĩa đang tiến hành thì địch đánh vào thành phố Vinh. Được lệnh các anh nhanh chóng về vị trí chiến đấu.

        Hôm đó các anh đã phát hiện đội hình 12 chiếc máy bay Mỹ, bao gồm cả cường kích và tiêm kích đang tiến vào, chỉ cách sân bay Vinh chừng 70 ki-lô-mét. Kíp trực khẩn trương thông báo về Sở Chỉ huy, cung cấp tọa độ cho Biên đội phi công đang bay chờ trên vùng trời Nam Đàn, giúp cho Biên đội hạ rơi hai chiếc AD4, chiến thắng ấy rơi vào đúng ngày các anh đứng trong hàng ngũ của Đảng - như một món quà thiêng liêng làm Vũ Ngọc Diệu và Nguyễn Văn Cách vui thêm bội phần.

        Hơn bôn năm chiến đấu ở chiến trường Khu 4 là trắc thủ ra-đa, Vũ Ngọc Diệu đã cùng đồng đội phát hiện và thông báo hàng ngàn tốp máy bay các loại. Trong đó có trên 500 tốp đạt hiệu quả cao, góp phần cho hỏa lực Phòng không có thời cơ tiêu diệt địch, anh đã sử dụng thành thạo nhiều loại khí tài từ P8, P12 đến P30, đã cùng đồng đội của Đại đội 14, Trung đoàn 290 đóng góp một thành tích không nhỏ trong thành tích chung của Binh chủng ra-đa. Vì những thành tích ấy, tháng 12 năm 1969 anh đã được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang ở tuổi 21.

        Nhưng niềm tự hào đó vẫn không thể nào làm Vũ Ngọc Diệu quên đi những hình ảnh về sự hi sinh của đồng đội và những người dân dưới mưa bom bão đạn của quân thù. Nó còn đeo bám đến day dứt mãi cho đến những năm tháng sau này khi Vũ Ngọc Diệu làm nhiệm vụ ở cương vị mới...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:16:12 PM

PHI CÔNG MIG-17 ĐÃ HI SINH NHIỀU LẮM!

        Khi chúng tôi mới về nước, tâm lý phi công anh nào cũng muốn được thử sức ngay. Được phân công trực đã mừng nhưng được xuất kích còn được mừng hơn nữa.

        Các phi công trẻ đều có tâm lý rất tốt như Nguyễn Văn Bảy hay Võ Văn Mẫn chẳng hạn, khi lên trời có vẻ lù đù nhưng chỉ cần thoáng thấy bóng mục tiêu các anh này bỗng trở nên sắc sảo và quyết đoán vô cùng. Như lần đi theo dãy núi từ Chương Mỹ về Phủ Lý hai anh này phát hiện thấy F-4 liền bám theo “xử” ngay, lúc xem lại phim thấy nó bị cháy, sướng lắm.

        Nhiều anh em tinh thần chiến đấu thì có thừa, nhưng kinh nghiệm và cách xử lý tình huống lại còn quá ít, hoặc thậm chí là chưa có. Điển hình như trường hợp của Trần Tấn Đức bám theo F-105, vận tốc của nó thì lớn gấp mấy lần mình mà cứ bám theo đường thẳng. Hơn nữa nó lại có ra-đa dẫn địa hình, còn MiG-17 chỉ có ra-đa dẫn mục tiêu. Nó được ra-đa hỗ trợ nên thấy đỉnh núi thì nó vượt qua được, còn Đức mải theo dõi mục tiêu mà quên mất ngọn núi phía trước, nên đã va phải núi, rơi luôn chẳng kịp nhảy dù.

        Trên thực tế, một số phi công ta thời đó đã phải chấp nhận một sự hi sinh vô lý, chỉ vì ham đánh mà quên giữ khoảng cách an toàn khi bám mục tiêu. Ví dụ khi đánh mục tiêu là những chiếc máy bay không người lái của Mỹ, mải bám mục tiêu và bắn mà không hề biết mình đã quá gần mục tiêu, bắn nó nổ bùng xong, thì chính mình cũng bị vạ lây tan xác.

        Điều tất yếu có chiến tranh là có hi sinh, nhưng đôi khi chỉ vì một sự lơ đễnh của Chỉ huy sở không bám sát quân của mình đề điều khiển bay cho an toàn hay cũng có thể do chủ quan của người lái mà thiệt hại không nhỏ. Một vài anh xuất kích xung trận, sau vài phút quần nhau với địch không có kết quả như mong muôn phải quay về khi đã vứt thùng dầu phụ (lúc vứt thùng dầu phụ là lúc cần phải tăng tốc). Và cứ nghĩ rằng địch không đuổi theo nữa nên không đề phòng. Khi gần về đến nơi, lúc cho máy bay thả càng ra, thì địch mới tấn công, nên không kịp trở tay nữa.

        Nhiều anh em phi công ta đã quên mất một kinh nghiệm xương máu trong chiến tranh Triều Tiên đã được phổ biến rồi: máy bay Mỹ đuổi theo máy bay Triều Tiên về đến tận sân bay, nó chỉ chờ lúc phi công Triều Tiên thả càng máy bay chuẩn bị hạ cánh, là nó ào tối tấn công. Phi công Triều Tiên ít kinh nghiệm nên bị dính nhiều trận như vậy. Cũng bởi sự hi sinh quá lớn, mà hồi đó ngoài ba Trung đoàn ra, Triều Tiên còn có thêm một số máy bay do Trung Quốc viện trợ, thế mà cuối chỉ trong vòng ba tháng Không quân Triều Tiên không còn chiếc máy bay nào mà đánh. Tất nhiên trong số những máy bay Triều Tiên bị rơi, không phải cái nào cũng do sơ xuất của phi công như vậy.

*

        Khoảng tháng 5 năm 1967 Mỹ tìm hiểu cách đánh của Không quân Việt Nam và phát hiện được một số điểm yếu của MiG-17. Riêng về độ cao thì MiG-17 chỉ có thể linh hoạt khi đánh ở độ cao 2.500 ki-lô-mét - 4.000 ki-lô-mét... Từ đó, chúng thường xuyên tổ chức đội hình F-8 hai chiếc một vè vè ở độ cao thấp 200 mét trên vùng trời sân bay Hòa Lạc nghi binh, dờn dứ và rình MiG-17. Bất cứ một chiếc MiG-17 nào cất cánh xuất kích hướng Hòa Bình là bị chúng bám theo ngay. (Sau này, người Mỹ gọi đây là Chiến dịch "Săn chim sẻ" của F-8).

        Có hôm Không quân ta xuất kích 8 chiếc thì chỉ còn 4 chiếc trở về. Trong phút chổc lực lượng của ta bị tổn thất nhanh chóng tới 50%. Quả là đau xót không có gì tả nổi!

        Sau mỗi lần đồng đội bị hi sinh như vậy, hầu như chúng tôi - những người còn sống sót không thể nuốt nổi miếng cơm, chỉ cố gắng húp một chút nước canh giữ sức. Chẳng phải chúng tôi sợ chết, mà vì sự hụt hẫng quá lớn, sáng vừa còn bên nhau, nói với nhau những câu bông đùa thế mà đến lúc trưa, tối ngồi ăn, chỗ ngồi của đồng đội trống vắng... đến người quen còn cảm thấy đau lòng, huống gì chúng tôi là đồng đội, bao ngày gắn bó buồn vui cùng nhau?

        Tôi thương nhất thằng Thái, bay số Hai cùng tôi vài lần, nên tôi biết nó bay không được tốt lắm. Có lần bay huấn luyện độ cao thấp, chẳng hiểu Thái bay thế nào mà khi hạ cánh chúng tôi thấy cành phi lao găm vào buồng càng máy bay của nó. Chắc chắn Thái đã không thể xử lý khéo léo để tránh bụi phi lao này. Chính tôi đã hơn một lần nói với Chính ủy Phiếu và Trung đoàn trưởng Trạch:

        - Để cậu ấy trực có lẽ không an toàn đâu. Thiếu kinh nghiệm như vậy, không sớm thì muộn cũng bị bắn.

        Chính ủy Nguyễn Ngọc Phiếu gạt đi:

        - Cậu thì... chỉ quân sự đơn thuần. Chiến đấu phải bằng ý chí chứ! Hay là cậu sợ?

        - Không phải tôi quân sự đơn thuần - Tôi cãi - Các anh ở dưới hầm, bom nguyên tử ném cũng không chết thì biết sợ là gì? Tôi mà ngồi dưới hầm như các anh, xi măng cốt thép dày tới hai mét, cách mặt đất mười mấy mét thì tôi cũng cóc sợ gì! Nhưng nếu chiến đấu mà không có kỹ năng thì chỉ có chết vô ích!

        Ý kiến của tôi thế là bị bỏ xó, có lẽ vì chiến tranh và vì nhiều thứ nữa mà hồi ấy Không quân Việt Nam cần có người, kể cả việc phải dùng những người không có kinh nghiệm.

        Thế rồi trong một lần xuất kích, Biên đội có bốn chiếc mà Thái không bám theo, cứ lững thững bay một mình. Tôi gọi cậu ta mà không thấy trả lời, thì ra Thái đã bị F-4 nã tên lửa...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Một, 2019, 09:16:42 PM

*

        Tối nay, đơn vị triệu tập tất cả số phi công còn lại để làm công tác "Chống tư tưởng hoang mang dao động", lấy lại tinh thần chiến đấu cho anh em.

        Nói thẳng ra tôi chưa bao giờ thích các anh mặt đất làm chính trị cả. Những buổi học tập chính trị thế này cánh lái chúng tôi chẳng mây ai hào hứng, bởi vì họ có bay như chúng tôi đâu mà biết căng thẳng tới mức nào, mà hiểu tâm tư tình cảm của phi công?

        Chính trị viên hỏi:

        - Gần đây chúng ta thương vong nhiều, các đồng chí suy nghĩ thế nào? Có sợ không?

        Hỏi đến mây lần, mà không thấy phi công nào lên tiếng. Tất cả đều im lặng, có người nhìn ra ngoài xa xăm, có anh cúi đầu vờ suy nghĩ...

        Tôi nhìn anh em một lượt, bỗng thấy nóng bừng cả mặt. Tôi đứng lên:

        - Tôi nói thật, không hiểu các anh nghĩ sao chứ là con người theo bản năng ai chẳng sợ chết. Vậy mà gần đây, hầu như ngày nào cũng có anh em phi công ta hi sinh, có ngày lên tới 5 chiếc bị rơi, chỉ có một nhảy dù thoát còn bốn chết. Có hôm nhìn lại cả Trung đoàn chỉ còn tôi và Hồ Văn Quỳ hai người trực ở sân bay Kép một ngày xuất kích năm lần, chỉ với mục đích để "đánh tiếng" cho Không quân Mỹ biết là "MiG- 17 vẫn còn đang hoạt động đấy, chúng mày liệu hồn".

        Chúng tôi đã bay nhiều đến nỗi có lúc làm động tác lớn một chút là đôi mắt tối đen lại. (Bộ phận điều áp của mũ phi công MiG-17 không hiệu quả như của MiG-21, chỉ cần làm động tác mạnh là máu không lưu thông lên não được trong một khoảng khắc, phi công mà không vững tâm lý sẽ hoảng sợ không lái được).

        Lê Hải là tay lái gan nhất mà cũng có lúc đổ máu tai. Tần xuất hoạt động như thế, thử hỏi ai mà không sợ? Tôi nói thật chẳng có anh nào là không sợ, nhưng sợ thì sợ vẫn phải chiến đấu. Tìm cách mà chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, chứ chả lẽ không bay nữa hay sao?

        Tôi nói xong, anh em trong Đại đội ồ cả lên.

        Thực ra, tôi là thằng dám nói suy nghĩ của mình, nên nói vậy thôi chứ tâm tư của anh nào thế nào tôi đọc được hết. Hầu hết đều có suy nghĩ như tôi.

        Tuy nhiên, cũng có vài trường hợp ngay sau cuộc họp này là xin thôi bay ngay lập tức. Những anh này xin thôi bay cũng phải, chứ cái kiểu vừa lên máy bay quần đã ướt sũng thành vũng trước cửa máy bay, nếu có cất cánh thì sớm muộn cũng bị bắn rơi. Thậm chí có anh chưa xin thôi bay nhưng cứ khi nào thời tiết tốt thì viện cớ đau bụng đi ngoài,

        hay ốm để thoái thác, còn khi nào mưa gió thì thôi vì biết thừa Trung đoàn chẳng khi nào cho xuất kích lúc thời tiết xấu cả.

*

        Một số ít Chính trị viên bất đồng quan điểm với các phi công chiến đấu trong đơn vị. Lý do: Chính trị viên không tôn trọng quy luật tự nhiên và vũ khí kỹ thuật, chỉ coi trọng tư tưởng, ý chí, nên thường chụp mũ cho phi công.

        Có những điều mà trong lúc huấn luyện các vị cán bộ tư tưởng này không tìm hiểu xem khi xử lý những động tác nguy hiểm, lúc ấy phi công nghĩ gì hoặc tư tưởng họ thế nào? Tôi nhớ có một vài trường hợp phi công làm động tác không chính xác, Chính trị viên thường nói: “Thằng này thì” làm cho phi công luôn cảm thấy bị ức chế, không thoải mái thậm chí còn ghét Chính trị viên.

        Điều đó hết sức phi lý, tại sao một Trung đoàn của Triều Tiên sang giúp ta có tới mười anh phi công nhảy dù và đứt luôn đôi bàn chân? (Do cấu tạo buồng lái của MiG-17, trước khi nhảy dù, phi công phải nhớ động tác co chân lên, nếu không sẽ bị giữ lại đôi chân) mà phi công ta rất ít khi bị như vậy. Đó chẳng phải phi công ta thông minh, bình tĩnh và can đảm nên mới xử lý được tình huống hay sao?

        Cái chết của Lê Quang Trung không làm chúng tôi ngạc nhiên, tuy vậy cả Trung đoàn vẫn cảm thấy chua xót thế nào và rất thương cậu ấy... Một số nói rằng “Lê Quang Trung chỉ có thể mặc được cái áo nhỏ thôi, nhưng người ta cố khoác cho anh ta cái áo quá rộng”.

        Trong lĩnh vực kỹ thuật không thể chỉ "hô quyết tâm", hoặc “lấy tinh thần công nông binh làm chủ" được. (Thòi gian đó, ở hầu hết các đơn vị cơ quan trên cả nước đều chủ trương đưa những người có lai lịch thuần nông, hoặc có lý lịch bần cố nông đảm nhận những vị trí lãnh đạo hay những ngành kỹ thuật cao...). Chúng tôi cảm thấy thương cho Lê Quang Trung, vì ngay cả việc bay khí tượng phức tạp, bay đồng hồ, cậu ấy cũng chưa hề qua nổi một lần huấn luyện, thì làm sao có thể bay ở sân bay Yên Bái luôn trong tình trạng khí tượng xấu? (Sân bay Yên Bái là một trong những sân bay có khí tượng xấu nhất Việt Nam).

        Khi ở Trung Quốc về, chúng tôi còn được bay huấn luyện nhiều nữa, thậm chí khi chúng tôi đã thành thạo lái MiG-19 thì Lê Quang Trung vẫn còn đang kỳ cạch bài bay đơn giản. Vậy mà, nhờ cái lý lịch bần cố nông, nên Lê Quang Trung đã từ chiến đấu viên rất bình thường “phải” nhận trách nhiệm Trung đoàn trưởng. Lẽ đương nhiên, với vai trò lãnh đạo Lê Quang Trung luôn phải bay thử những trường hợp phức tạp để lấy tinh thần cho các phi công khác. Và lần này, Lê Quang Trung đã không qua nổi vì cảm giác sai, máy bay anh lái đã bị đâm vào núi...

        Những cái chết với những lý do "lãng nhách" đó cũng tệ như khi bị người ta “chụp mũ” vậy. Đôi khi sự “chụp mũ” còn làm cho một vài phi công nào đó khổ sở hơn rất nhiều, vì anh ta vẫn còn sống và phải chịu đựng những nhận xét của cấp trên như muối xát vào lòng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2019, 10:27:59 PM

KIẾP SAU EM CHẲNG LẤY CHỒNG PHI CÔNG NỮA ĐÂU!

        Những năm ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ và ác liệt. Hàng ngày, hàng giờ quân đội ta đã mất đi bao nhiêu người lính phải hi sinh ngoài chiến trường.

        Không quân Mỹ càng ngày càng đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, bởi vậy lực lượng Không quân ta cũng càng phải tích cực đối phó, góp phần cùng lực lượng Phòng không ngăn cản không cho chúng tự do đánh rộng và phá hủy nhiều hơn nữa.

        Nhưng cũng theo quy luật chiến trường, thì càng ra trận chiến đấu nhiều thì hi sinh cũng càng lớn...

        Mỗi lần nghe tin Không quân cất cánh bị hi sinh, là Luận, phụ nữ Hải Dương xinh đẹp - người vợ trẻ của phi công Nguyễn Khắc Lộc lại tất tả một mình với chiếc xe đạp đi khắp các sân bay xem chồng mình có sao không? Nhưng khổ là một người bay trên trời, còn người kia đạp xe dưới đất, chẳng biết đâu mà đoán trước được.

        Nhiều khi một mình Luận đạp xe từ Hải Dương đến sân bay Kép, xa tới bốn năm chục ki-lô-mét thì Lộc lại cơ động về Vĩnh Phúc. Còn khi Luận lóc cóc đạp xe về Vĩnh Phúc, thì Lộc lại đi chiến đấu rồi hạ cánh ở sân bay Hòa Lạc... Cứ như vậy, nhiều lần Luận phải đi tìm mấy sân bay liền mới gặp được chồng...

*

        Một hôm, Luận tới sân bay Nội Bài, vừa bỏ nón ra quệt mồ hôi ròng trên trán xuống thì anh Nguyễn Nhật Chiêu xách va ly của Lộc ra giọng buồn buồn nói:

        - Cô Luận đấy à, đây là va li của cậu Lộc, cô cầm về, cậu ấy đã đi xa...

        - Anh... anh nói thật không? - Luận hốt hoảng tái mặt.

        - Thật! - Nhật Chiêu nghiêm nét mặt lại.

        Chỉ nghe có thế thôi, Luận òa khóc nức nở. Còn Nguyễn Nhật Chiêu hoảng quá, vì không ngờ mình chỉ trêu tí thôi mà Luận khóc nhiều đến thế. Luận khóc nhiều đến nỗi Nhật Chiêu phải vội vàng cải chính ngay:

        - Anh đùa em đấy, Lộc đang đi trực chiến, gớm, thằng Mỹ nào làm gì được nó. Em không phải lo gì hết, thôi để anh đưa em sang Chiêu đãi sở nghỉ ngơi (nơi này thường dành để tiếp đón người thân của phi công). Em cứ chờ ở đó, chiều tối nó về.

        Luận nghỉ ở phòng chiêu đãi sở, chờ Lộc đến tối mà vẫn không thấy Lộc về, trong lòng như có lửa đốt. Mỗi một mình ở đây, cũng không biết hỏi ai. Càng lúc càng sốt ruột. Đến 7 giờ tôi, thì Luận không thể chờ được nữa, cô đi lên Ban Chỉ huy rụt rè hỏi:

        - Các anh cho em hỏi anh Lộc nhà em đã về chưa, mà đến giờ này vẫn chưa thấy ạ?

        Trong phòng chỉ huy, có mấy anh đang chụm đầu vào một cái bản đồ, một anh ngẩng đầu lên bảo:

        - Cô là vợ cậu Lộc à? Cô cứ về nghỉ ngơi đi, Lộc nó chưa về đâu, cô cứ yên tâm mà ngủ.

        - Vậy sao? Lúc chiều em nghe nói tối nay anh ấy sẽ về... - Luận bắt đầu rân rấn nước mắt: “Hình như anh Lộc đã xảy ra chuyện gì, hình như các anh ấy đang giấu mình thì phải” - Trong lòng Luận rối như tơ vò.

        Các anh ở ban chỉ huy thấy cô gái xinh đẹp mắt ngân ngấn nước thì thương, nên cứ dỗ dành Luận về. Nhưng họ càng dỗ dành thì cô lại càng tưởng là Lộc có chuyện. Cuối cùng cô đành lủi thủi về phòng chờ chồng.

        Nhưng tối hôm ấy Nguyễn Khắc Lộc lại không về Nội Bài, vì Biên đội của anh lại được lệnh hạ cánh ở sân bay Hòa Lạc...

        Cả đêm, Luận cứ chong chong mắt nhìn lên trần nhà, lẩm nhẩm: “Cầu mong anh của em không sao, đừng có chuyện gì anh nhé. Nếu anh có bề gì, em làm sao sống nổi?” Luận trằn trọc giở mình hết bên nọ đến bên kia cho đến tận sáng không chợp mắt tí nào.

        Sáng hôm sau, Luận dậy rõ sớm, cô nấu một nồi cháo gà thật ngon để khi nào Lộc vê sẽ rất vui vì được ăn cháo do chính tay vợ mình nấu. Có tiếng chân ai đó... rồi có tiếng gõ cửa. Luận hớn hở:

        - Anh về rồi đấy à, làm người ta chờ mỏi cả mắt!

        Luận vừa nói vừa chạy ra mở cửa. Bao nhiêu nỗi mừng vui vụt tắt lịm vì ngoài cửa không phải là Lộc mà là... anh Chính trị viên.

        Anh chính trị viên cười bảo:

        - Cô Luận à, chú Lộc đi chiến đấu hạ cánh ở sân bay khác rồi. Đơn vị đã có xe cho cô về Hải Dương. Mong cô thông cảm...

        Chiều hôm ấy, đơn vị cho xe đưa Luận về Hải Dương. Thế là mất hai ngày chờ đợi mà không gặp được chồng.

        Lần khác nữa, Luận cũng đạp xe đi thăm chồng ở Yên Bái, lần này may mắn gặp được nhau. Nhưng vừa mới tới hôm truớc, thì sáng hôm sau Luận đã tận mắt chứng kiến hai đổng đội của chồng bị hi sinh. Sự mất mát đau thương làm cho Luận không cầm được nước mắt.

        Đêm ấy nằm cạnh chồng, Luận ôm cổ Lộc thủ thỉ:

        - Kiếp này em đã trót lấy phi công rồi, kiếp sau em sẽ không bao giờ lấy chồng phi công nữa đâu!

        Câu nói hờn mát của Luận làm cho anh thấy thương vợ hơn. Anh ghì chặt Luận, hôn nhẹ lên má cô thầm thì:

        - Kiếp này, em có anh là được rồi, không cần kiếp sau đâu.... Anh hứa nếu có kiếp sau, đất nước hoà bình là đêm nào anh cũng ngủ với em như thê này. Mãi mãi chúng mình không phải xa nhau nữa.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2019, 10:28:34 PM

ĐƯA TRỰC THĂNG HÀNG BINH BAY TỪ LÀO VỀ VIỆT NAM

        Phi công Trần Ngọc Bích được các đồng đội gọi với cái tên trìu mến là "Anh cả của làng trực thăng".

        Không những các phi công vận tải biết đến, mà tất cả những phi công lái máy bay chiến đấu ai cũng biết anh, thường gọi anh bằng biệt danh “Bích rượu”, “Bích thuốc lào” VI thế chất khỏe nên Bích uống được rượu, còn thuốc lào thì Bích nghiện nặng.

        Chả thế, hồi đó, người ta thây trên máy bay của anh hầu như lúc nào cũng sẵn có một can màu vàng 5 lít trong đó đựng đầy rượu và một cái điếu cày rất đẹp. Cứ khi nào thôi bay là anh lại cầm điếu lên rít một hơi dài phả khói mù mịt rồi chiêu ngay một ngụm rượu. Bích còn được gọi là “Bích ngang” vì rất hay tranh cãi với cấp trên.

        Có lần một cán bộ chính trị phê tổ bay của Bích là “Các ông chỉ có chuyên môn kỹ thuật đơn thuần!”

        Bích nóng mặt cãi luôn:

        - Tôi hỏi các anh, các anh làm chính trị phải trau dồi nghề nghiệp từ cách ăn nói, cách truyền đạt nghị quyết, hay là cách chuẩn bị bài giảng chính trị cho chiến sĩ... sao các anh không gọi đó là “ chính trị đơn thuần?”. Chúng tôi cũng là đảng viên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, chấp hành mọi nghị quyết, chỉ thị, chúng tôi là phi công thì phải bay giỏi mới không để xảy ra tai nạn, tại sao các anh cứ chụp cho chúng tôi cái mác “Chuyên môn kỹ thuật đơn thuần”?

        Sự cãi cọ gay gắt ấy xảy ra thường xuyên, nhưng mỗi lần như vậy Bích thường được các bộ phận làm kỹ thuật ủng hộ. Cái tên "Bích ngang" nổi tiếng đến nỗi lớp đàn em sau này Bích chưa biết mặt ai, những người đó cũng có người chưa ai biết mặt Bích nhưng nói đến tên là họ biết ngay Bích có ba biệt danh ngoài tài bay trực thăng...

        Vào một ngày trung tuần tháng 5 năm 1972, Trần Ngọc Bích và một số đồng chí thợ máy nhận lệnh cấp trên sang bản Ban của nước bạn Lào để đưa chiếc máy bay trực thăng H-34 do Mỹ sản xuất, cùng với một phi công hàng binh người Lào tên là Xi-vay về Việt Nam.

        Chiếc máy bay này là của lực lượng đối phương, phi công Xi-vay đưa sang hàng chúng ta, nhưng trên đường từ Viên Chăn đến đó thì hết nhiên liệu phải hạ cánh gần cánh rừng phía Đông Bắc bản Ban.

        Sau khi nhận lệnh, tổ bay của Trần Ngọc Bích khẩn trương hành quân tới binh trạm 11 đóng ở Tương Dương (phía Tây Nghệ An), để ngày hôm sau làm việc với Trạm trưởng và lên kế hoạch thực thi nhiệm vụ.

        Bàn bạc một hồi, khoảng 5 giờ chiều tố bay của Trần Ngọc Bích lên ô tô, chở theo bốn phuy xăng máy bay lên đường, cho đến tận 5 giờ sáng hôm sau mới đến chỗ máy bay của Xi-vay hạ cánh. Có mỗi quãng đường 20 ki-lô-mét tới đó mà phải mất cả đêm vì đường số 7 đêm ấy bị địch đánh phá liên tục.

        Tổ bay quyết định nghỉ ngơi để tôi sẽ bí mật mang xăng ra cho máy bay H-34. Trời tối hẳn, tổ bay mỗi người ôm một can xăng 20 lít ra đường 7, chỗ ô tô đỗ đế lấy xăng tiếp sang máy bay. Cứ làm như vậy, mỗi người đi và về 3 lượt thì thùng xăng của chiếc H-34 cũng đầy.

        Trần Ngọc Bích gỡ hết lá ngụy trang ra rồi mở máy cho chiếc trực thăng cất cánh...

        Nhưng vừa bay được ít phút, khi lên tối độ cao 1.000 mét, thì bỗng đâu trận địa phòng không của ta bắn pháo 37 ly lên trời như mưa.

        Trần Ngọc Bích phải vội vàng đưa máy bay lên độ cao 3.000 mét, nhưng đến đèo đất lại bị pháo phòng không 14 ly 5 bắn lên tới tấp. Tuy nhiên, ở độ cao này, Trần Ngọc Bích yên tâm không phải cơ động nữa cho đến khi nhìn thấy đồn biên phòng Nậm Cắn thì Trần Ngọc Bích hạ thấp độ cao, vì nghĩ rằng khu vực này không phải lo pháo cao xạ nữa. Nào ngờ, họ vẫn không tránh được trận địa pháo 14,5 ly loại 4 nòng.

        Trần Ngọc Bích đành cho cơ động sang phía bên trái đường số 7, phía bên kia dãy núi để tránh hỏa lực của ta, giữ độ cao 500 mét cho tới tận lúc về tới Tương Dương thì trời đã nhá nhem tối.

        Trần Ngọc Bích cho máy bay hạ cánh trong điều kiện không có bộ phận ám hiệu (xi nhan) chỉ đường vì lúc này họ đã về nghỉ hết. Cuổĩ cùng chuyến bay cũng kết thúc bình an, các đồng chí lãnh đạo vui mừng ra đón tổ bay của Trần Ngọc Bích đã mang được chiếc H-34 trở về sau bao nhiêu lần nguy hiểm một cách xuất sắc. Đồng chí Binh trạm trưởng Trạm 11 đi vòng một vòng kiểm tra máy bay thây không bị dính một vết đạn nào, ôm chầm lấy Trần Ngọc Bích thanh minh:

        - Trận địa pháo của Binh trạm vừa mới hành quân tới đó, nên chưa nhận được thông báo kịp thời. Chúc mừng đồng chí nhé!

        Tổ bay của Trần Ngọc Bích ở lại Tương Dương 4 ngày và xin chỉ thị của cấp trên đưa máy bay về Hà Nội. Các anh lấy bùn xoa kín phù hiệu con voi trên máy bay của địch cho an toàn. Dọc đường đi về sân bay Sao Vàng, anh luôn bay ở độ cao 4.000 mét vì ở độ cao này chỉ lo mỗi tên lửa, mà vào khu vực phía Tây Nghệ An và Thanh Hóa toàn rừng rậm nên trận địa tên lửa ở đây rất ít. Chặng này coi như không có gì phải băn khoăn lắm vì chỉ sau 1 giờ bay, tổ bay vận tải đã hạ cánh an toàn. Điều đáng phải suy nghĩ là chặng đường từ sân bay Sao Vàng về đến sân bay Gia Lâm sẽ khó khăn lắm đây.

        Tổ bay phải ngồi cùng với sở chỉ huy Quân chủng bàn phương án bay thế nào tốt nhất: bay cao cao thì lo tên lửa của ta, bay thấp thì có thể bị hỏa lực của dân quân tự vệ, vì lực lượng này rất đông. Dù lực lượng tên lửa và các trận địa pháo cao xạ cũng đã được thông báo về chuyến bay này.

        Đúng 7 giờ sáng hôm sau, các anh lại lấy bùn xoa kín phù hiệu trên máy bay H-34 của địch, dùng một mảnh dù trắng cột chặt vào khúc tre làm cờ hàng và cho một anh đứng ở cửa máy bay cầm giơ hẳn ra ngoài thân máy bay để dân quân có thấy cũng bỏ qua. Tổ bay cứ thế bay về sân bay Gia Lâm mà không bị một sơ sảy nào diễn ra.

        Đưa được chiếc máy bay H-34 về trong niềm vui hân hoan của thủ trưởng và đồng đội, Trần Ngọc Bích thấy mình vui sướng biết bao. Anh cùng đồng đội đã thực hành liên tục trong suốt một tháng trời trên chiếc máy bay này. Sau này, được biết chiếc máy bay ấy đã được đóng thùng gửi sang Liên Xô để phục vụ các nhà khoa học nghiên cứu về máy bay của địch.

        Lái máy bay trực thăng ai cũng tưởng dễ, nhưng thực tế là ngược lại. Đó là nhận xét chung của tất cả những phi công lái may bay phản lực. Giai đoạn đầu mới học lái có thể hình dung máy bay như một quả lắc trong không trung, rất khó điều khiển. Nhưng khi đã nắm chắc kỹ thuật bay quen rồi thì lại lâu quên hơn bay phản lực.

        Bay trực thăng khó nhất vẫn là bay trong mây hoặc bay đêm, về điểm này thì không khác bay phản lực là mấy. Vì vậy những người phi công hầu như phải luyện tập rất gian khổ để có được kinh nghiệm bay.

        Phi công bay trực thăng sướng hơn phi công bay phản lực ở chỗ các anh lúc nào cũng có mấy người trong tổ bay. Tình đồng đội vì thế mà keo sơn hơn, các anh được trang bị gạo muôi, dầu mỡ, thực phẩm trên máy bay để phòng khi đến nơi nào không có điều kiện là có thể tự túc nấu ăn. Ngoài ra, luôn có tổ thợ máy đi cùng để khi thì sửa chữa, khi thì xin lá ngụy trang cho máy bay lúc sơ tán gần dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2019, 10:29:11 PM

TRẦN NGỌC BÍCH VỚI NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN VỀ BÁC HỒ

        Trần Ngọc Bích sinh ngày 20 tháng 7 năm 1934 trong một gia đình nông dân nghèo có năm anh chị em ở xã Trường Sơn - huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh.

        Tháng 10 năm 1955 anh được lệnh từ Trường Văn hóa Kiến An - Hải Phòng về sân bay Gia Lâm để đi sang Trung Quốc học bay cùng một đợt với anh Đào Đình Luyện (sau này là Thượng tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).

        Ban đầu Bích được học lái TU-2, loại máy bay ném bom cùng các anh Đào Đình Luyện, Nguyễn Ái Đồng, Hoàng Ngọc Trung, Nguyễn Xuân Tình, Hoàng Trọng Khai... ở Trường Không quân số Hai tại thành phố Trường Xuân, Đông Bắc Trung Quốc. Nhưng sau khi tốt nghiệp thì lại phải chia thành hai nhóm học chuyển loại. Trần Ngọc Bích và Hoàng Trọng Khai được phân vào nhóm học lái trực thăng Mi-4.

        Năm 1960 Trần Ngọc Bích cùng một số phi công khác về nước và anh được phân công làm giáo viên bay, đồng thời cũng nhận những nhiệm vụ khác nữa tại Đoàn bay 919, Cục Không quân.

        Trần Ngọc Bích đã vinh dự cùng với hai chuyên gia Liên Xô phục vụ bay cho Bác Hồ trên chiếc 50D trong 9 năm liền, bên cạnh đó những chuyến bay phục vụ cho các vị lãnh đạo cao cấp Đảng - Nhà nước - Quân đội của nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào và các đoàn quốc tế sang thăm nước ta.

*

        Một lần, Trần Ngọc Bích được giao nhiệm vụ đưa Bác lên Đá Chông, nhưng khi ra sân bay, sở Chỉ huy lại yêu cầu Bích phải hạ cánh ở sân bay Tông. Vừa mới hạ cánh, tắt máy xong thì thấy anh Vũ Kỳ (Thư ký của Bác) hớt hải chạy lại:

        - Bích! Sao cậu lại hạ cánh ở đây?

        - Dạ, em thấy sở Chỉ huy nói là hạ cánh ở đây mà -  Bích báo cáo, vừa đưa mắt nhìn ra, đã thấy rất đông bộ đội đã đứng quanh máy bay rồi. Thì ra ở đây có một đơn vị bộ đội đang làm nhiệm vụ sửa nhà, thấy máy bay thì tò mò ra xem. Bích ngớ người ra vì biết hạ cánh ở đây là sai lầm.

        - Thôi, cậu bay sang K9 ngay đi - Anh Vũ Kỳ lo ngại.

        Trần Ngọc Bích liền nổ máy cất cánh ngay. Bác Hồ biết chuyện, nhưng vẫn không trách anh lồi nào lại còn nói: “Lần sau chú lại bay cho Bác nhé”.

        Kỷ niệm ấy, anh còn nhớ mãi cho tối tận sau này.

        Một lần khác Trần Ngọc Bích nhận lệnh đưa Bác tới vịnh Hạ Long, cho hạ cánh ở Bãi Cháy, rồi cả đoàn đi tàu Hải quân qua các đảo đến một vịnh phía Tây Hạ Long.

        Ở đó có một bãi cát mịn màng rất đẹp. Đồng chí Ti-tốp (Anh hùng Vũ trụ Liên Xô) đi cùng đoàn, thích quá, bất ngò nhảy từ trên tàu xuống biển bơi vào bờ. Bác Hồ thấy thế cũng định nhảy xuống bơi, nhưng các anh Vũ Kỳ và anh Ninh (bảo vệ Bác) ngăn, không cho Bác nhảy xuống và yêu cầu tàu cập bến luôn. Bãi biển ấy sau này người ta quen gọi là "Bãi Ti-tôp".

*

        Trong những năm Đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc, việc đi lại trên cầu Long Biên rất khó khăn. Những năm này sức khỏe của Bác đã yếu đi rất nhiều nên Bộ Y tế thường phải đưa Bác sang Trung Quốc để theo dõi sức khỏe. Tổ bay của Trần Ngọc Bích thường đưa Bác từ sân vận động Cột Cờ - Quần Ngựa, sân bay Bạch Mai lên sân bay Nội Bài để Bác đi sang nước bạn.

        Hầu hết những chuyến đi như thế đều phải đi lúc chập choạng tối, hay ban đêm để giữ bí mật. Ngay cả đến việc hạ cánh cũng không dám bật đèn chiếu sáng, mà chỉ lợi dụng đèn pha ô tô. Thậm chí không có cả chỉ huy mặt đất điều khiển.

        Vì vậy, tổ bay của Trần Ngọc Bích đã phải tập bay đêm với đèn gầm, chỉ được phép lắp một chiếc đèn nhỏ ở dưới bụng máy bay mà thôi. Còn hạ cánh thì theo tín hiệu đèn pin. Việc tập luyện thường xuyên như vậy đã giúp cho anh điều khiển những chuyên bay trực thăng chuyên cơ rất thành công.

        Ngoài vinh dự lớn lao 9 năm phục vụ Bác Hồ, tổ bay của Trần Ngọc Bích còn thường xuyên phục vụ các đồng chí Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị...

        Trần Ngọc Bích còn bay phục vụ các đồng chí lãnh đạo của nước bạn Lào, phục vụ Hội nghị Na mon Hin Hợp, đưa nhà vua Lào từ Luông Phara Băng về khu giải phóng Na Kay và ngược lại, tham gia nhiệm vụ chuyển thương - tiếp tế cho chiến trường Lào, góp phần giải phóng đất nước Lào.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2019, 10:29:51 PM
   
TÔI BỊ THƯƠNG VÀ HẠ CÁNH KHI MÁY BAY ĐÃ HẾT DẦU

        Ngày 3 tháng 1 năm 1968.

        Không quân Mỹ vừa chấm dứt đợt 7 đánh vào các mục tiêu Hà Nội và chúng bị thất bại nặng nề. Trung đoàn của tôi đã tham gia đánh năm trận, bắn rơi 6 chiếc máy bay và bắt sống một giặc lái Mỹ. Phía Mỹ có ý định qua đợt thời tiết xấu này sẽ tổ chức đánh tiếp đợt 8.

        Đoàn Không quân Yên Thế sau một loạt chiến thắng phấn khởi rút ra những bài học ưu khuyết điểm, quyết định sử dụng Biên đội vững nhất của Đại đội 1 Anh hùng ra quân đầu năm đối phó với chiến dịch đợt 8 của địch.

        Tôi được giao nhiệm vụ là Biên đội trưởng bay số 1, cùng với Lê Sĩ Diệp bay số Hai, Bùi Văn Sưu bay số Ba, và Lê Hải bay số Bốn.

        Theo tin trinh sát, bọn Mỹ đã tập trung 70 lượt chiếc xuất kích trong đó có cả RB-66 thả nhiễu. Chúng bố trí 16 chiếc F-4 trực tiếp tấn công cường kích, nhưng nếu gặp Không quân ta, chúng sẽ không ngại ngần gì mà không phóng tên lửa. Thậm chí có thể tăng cường loại F-4 làm nhiệm vụ cường kích thay loại F-105. Chúng có thế lợi dụng khí tượng đi sát tầm mù để dễ phát hiện ta mà đánh.

        7 giờ 33 phút sáng, Biên đội chúng tôi đã sẵn sàng vào cấp I. Hai phút sau, chúng tôi cất cánh từ sân bay Kép qua vùng Quê Võ, xuyên mây lên độ cao 4.000 mét chúng tôi bay khoảng 20 độ về phía Nhã Nam, nghe chỉ huy thông báo địch đang vào Thái Nguyên, ở đằng sau khoảng 40 ki-lô-mét. Nhưng tôi cảm thấy chúng đang rất gần, lúc chúng tôi vẫn chưa ra khỏi mây.

        Tôi không tin tưởng về độ chính xác của ra-đa P-12 chuyên bắt sóng tầm trung, nên có linh cảm không tốt lắm. Bản đồ thì đã chỉ rõ, nhưng sác xuất chênh lệch khoảng cách của P-12 báo như vậy, rất khó đoán trước được điều gì xảy ra. Nếu căn cứ vào lý thuyết, Biên đội của tôi đang ở trong mây mà địch chỉ cần đằng sau 30 ki-lô-mét là chỉ huy phải cho Biên đội trưởng biết để chỉ huy Biên đội tản sang hai bên rồi sau khi qua mây lại chụm vào, nhưng tôi vẫn không thấy chỉ huy lệnh cho cơ động.

        Tôi đang phân vân thì phát hiện địch ở ngay trên đầu, lúc này độ cao của toàn Biên đội khoang 3.800 mét, đồng thời nghe lệnh chỉ huy về hạ cánh sân bay Kép. Tôi vòng 360 độ một phút thì thấy bên trái 8 chiếc F-4 đang chếch góc với ta 45 độ, cự ly khoảng 6 đến 8 ki-lô-mét, vận tốc lớn.

        Tôi cố bám được một chiếc, góc tiến vào lớn, giảm độ nghiêng quay lại sau quan sát thì thấy địch phóng tên lửa vào số Hai Lê Sĩ Diệp, rồi trong tích tắc, chính mắt tôi thấy lóe sáng lên, rồi nghe rầm một tiếng.

        Tôi cảm thấy tất cả ngừng hoạt động, không biết là 5 giây hay là bao lâu nữa, cho đến lúc tôi tỉnh lại trong trạng thái mắt hoa lên thì thấy máy bay của tôi cứ vòng phải lao xuống tự do với tốc độ rất nhanh.

        “Có lẽ mình đã bị thương” - tôi nghĩ vậy và kịp nhìn thấy cánh phụ bên phải bị thủng một lỗ to chừng 60 cm. Còn đầu tôi, bắt đầu có cảm giác nhức nhối, rất khó chịu. Theo quán tính, tôi lập tức nhìn đồng hồ báo độ cao chỉ còn có 2.500 mét! Các giác quan của tôi lúc đó căng ra để cảm nhận “Tốt rồi, tiếng động cơ vẫn nổ!”.

        Tôi rờ vào cần lái, xem có còn hoạt động nữa hay không? Thật may cần lái vẫn theo sự điều khiển của tôi. Tôi bèn nhích cần lái, thu cửa dầu cho tăng độ cao, máy bay của tôi hơi chòng chành một chút nhưng vẫn lên được. Tôi yên trí, thế này thì không phải nhảy dù nữa. Tôi vòng lại thấy có mấy vệt khói của 4 chiếc F-4 đang vòng trái cắt 1 chiếc bắn 3 loạt đạn, trùm lên thân nó, ánh chớp chớp phun cả màu trắng ra. Trong hỗn loạn âm thanh tôi vẫn nghe thấy số Hai Lê Sĩ Diệp xin phép nhảy dù.

        Tình hình có vẻ không ổn lắm nên tôi loay hoay tự tìm hướng thoát ly về về phía Bắc Ninh. Ra được khỏi mây và ở độ cao 1.200 mét thì đèn báo dầu sáng nháy liên hồi. Nguy hiểm quá! Không biết có về hạ cánh ở sân bay Kép được không?

        Cho dù cái đầu của tôi lúc này máu chảy khá nhiều, nhưng vẫn đủ tỉnh táo phân tích tình hình. Kiểu này thì không thể về Kép hạ cánh được mà phải tìm đường ngắn nhất, có lẽ về Nội Bài là hơn cả. “Nhất định không nhảy dù (mặc dù trong điều kiện này vẫn có thể nhảy dù được), nhưng không thể vứt máy bay” - Tôi quyết định.

        Tôi cố gắng sử dụng chút dầu còn lại để kéo lên, nhằm hướng Nội Bài bay về. Vừa đúng độ cao có thể bay về thì đèn báo hết dầu. Đến lúc này, tôi điều khiển máy bay cho nó bay tự do dần về sân bay, tính toán làm sao cho đến khi vào vòng 4 vừa vặn khoảng 1.000 mét, để từ đây nó tự rơi đến đúng đường băng.

        Khi nhìn thấy sân bay cũng là lúc tôi nghe thấy dưới mặt đất hô: “Tầm cao, tầm cao! Giảm độ cao!”. Có lẽ đài chỉ huy không biết rằng lúc đó máy bay của tôi đã hết dầu và ngừng động cơ từ lâu, họ tưởng tôi vẫn điều khiển máy bay  bình thường mà hạ cánh với độ cao như thế thì nguy hiểm quá nên hốt hoảng cảnh báo.

        Khi tôi cách đường băng 500 mét thì chỉ huy mới biết chắc tôi đang hạ cánh với máy bay không còn dầu. Lúc này anh động viên tôi: “Bình tĩnh hạ cánh nhé”. Và tôi... vẫn còn vòng trái đường băng để lăn vào, tránh đường cho các máy bay khác hạ cánh rồi mới bóp phanh. Máy bay khựng lại.

        Biết là mình đã về hạ cánh an toàn, đúng lúc toàn thân rã ròi và kiệt sức, tôi ngất đi và mê man không còn biết gì nữa...

*

        Tôi tỉnh lại sau ba ngày, thấy mình đang nằm ở Bệnh viện Quân y 108. Xung quanh tôi rất nhiều bác sĩ, trong đó có cả Giáo sư Phạm Gia Triệu, một lần nữa ông đã cứu thêm tính mạng phi công.

        Cái đầu của tôi bị va đập, rạn xương sọ một vệt lớn, có người bảo phải thay mê ca như đã thay cho Nguyễn Khắc Lộc, nhưng ông bảo: “Cứ bĩnh tĩnh, tôi đã có cách không phải thay mê ca”.

        Và quả thật, Giáo sư Phạm Gia Triệu đã rất giỏi trong chuyên môn của mình. Tôi không những không phải ghép một miếng mê ca trên đầu, mà vẫn còn tiếp tục lái và chiến đấu nhiều trận sau này nữa.

        Nhưng tôi thấy hơi tiếc, giá như chỉ huy trận đánh vừa rồi sáng suốt hơn nữa và không bị lúng túng thì có lẽ tôi đã không bị thương, Lê Sĩ Diệp chắc không phải nhảy dù vứt máy bay và có khi Biên đội sẽ bắn thêm được vài chiếc nữa, chứ không chỉ dừng lại ở một chiếc bị bắn bởi phi công Bùi Văn Sưu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Một, 2019, 10:31:03 PM

MỘT CHIẾC MIG ĐÃ DŨNG CẢM ĐÁNH CHẶN ĐƯỢC 36 MÁY BAY MỸ

        Ngày mùng 3 tháng Giêng năm 1968.

        Sáng hôm ấy Biên đội của Kính, Nhu đã bắn rơi một chiếc F-4, và Biên đội của Chao (tôi), Diệp, Sưu, Hải cũng đã hạ được một chiếc ở Bắc Ninh.

        Như vậy là buổi chiều ấy, cả Trung đoàn tôi chỉ còn 4 chiếc MiG-17, nhưng vì lực lượng phi công trực ban buổi sáng đã mệt mỏi vì quần nhau với địch, nên không thể sử dụng tiếp. MiG-21 chỉ còn đúng một chiếc của phi công Chúc. Trong khi ấy, tin trinh sát báo về phải kiểu gì cũng phải cho phi công ta xuất kích, tình thế bắt buộc đành phải để Chúc cất cánh.

        Sở Chỉ huy Binh chủng dẫn đường cho Chúc đến Hòa Bình và để Trung đoàn dẫn tiếp, phát hiện ra 8 Biên đội gồm 36 chiếc máy bay của Không quân Mỹ đang dần tiến vào theo hàng dọc. Chúng có tất cả 32 chiếc F-105 và 4 chiếc F-4 đi sau cùng yểm trợ. MiG-21 của ta bám luôn kiểu "đút đít".

        Thông thường dẫn đường chỉ huy là sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ của Sở Chỉ huy Binh chủng và Sở Chỉ huy Trung đoàn. Sơ Chỉ huy Binh chủng có nhiệm vụ quyết định thời cơ cất cánh và dẫn đường ở giai đoạn đầu, vì ra-đa mở sớm. Còn Sở Chỉ huy Trung đoàn mở ra-đa muộn hơn, sẽ dẫn ở giai đoạn cuối, khi giữa chừng ra-đa bắt tín hiệu tốt hơn.

        Trận đánh này không nằm ngoài cách dẫn thông lệ, khi còn cách địch 50 ki-lô-mét, sở Chỉ huy Đoàn Không quân Sao Đỏ do Trần Mạnh chỉ huy, Tạ Quốc Hưng dẫn tiêu đồ, Lê Thiết Hùng dẫn hiện sóng ra-đa bắt đầu dẫn trực tiếp. Khi cách địch còn khoảng 12 ki-lô-mét thì ra-đa phát hiện có F-4 quay vòng trở lại, Lê Thiết Hùng bị bất ngờ không kịp báo sở chỉ huy bằng điện thoại mà phải báo qua đôi không:

        - F-4 quay lại đấy, đề nghị 36 (số hiệu của phi công Chúc) vòng trái gấp!

        Nguyễn Văn Chuyên phán đoán rất nhanh, anh nói luôn:

        - 36 tiếp tục hướng bay 40!

        Anh quyết định như vậy vì cho rằng nó vòng lại thì không thể đuổi kịp mình với tốc độ 900 ki-lô-mét/giờ, trong khi MiG-21 của mình đang bay với tốc độ 1.200 ki-lô-mét/ giờ.

        Lẽ ra, trợ lý dẫn đường phải báo cáo với chỉ huy trước khi hạ lệnh, nhưng trong trường hợp này không thê đủ thời gian cho Nguyễn Văn Chuyên báo cáo, anh lo sợ cứ làm theo đúng thủ tục thì F-4 kịp hạ máy bay của mình mất. (Hành động đó rất có thể sau này nếu như MiG-21 không hề hấn gì thì chẳng có vấn đề gì, nhưng nếu MiG-21 bị bắn anh sẽ phải chịu trách nhiệm).

        Thế là Chúc điều khiển MiG-21 theo lệnh của Chuyên nhằm hướng 40 độ mà tiến, lần thứ nhất vào không bắn được, lần thứ hai cũng không bắn được, Chuyên kiên nhẫn dẫn Chúc tiếp cận lần thứ ba lúc này và thật không uổng công, gần đến vùng trời Tuyên Quang, Chúc phóng tên lửa bắn trúng một chiếc F-105, khiến cho tên giặc lái của chiếc máy bay này phải nhảy dù, 35 chiếc máy bay còn lại vô cùng hốt hoảng (một vài chiếc trong số đó vội vàng trút bom không đúng mục tiêu đã định) quay đầu bỏ chạy.

        Không ngờ chính tên giặc lái nhảy dù lại là Đại tá Paul (Anh hùng phi công Mỹ, và là phi công bay giỏi số 1 của Không quân Mỹ), chỉ huy trực tiếp 8 Biên đội đó.

        Như tôi đã có lần nói tới, sự sông chết đối với những ngươi lính Không quân chúng tôi đều luôn luôn được xác định trong suy nghĩ, bất kỳ lúc nào cái chết không báo trước cũng có thể đến với bất kỳ ai trong chúng tôi.

        Chúng tôi thường nói vui với nhau: Đời ai củng có một lần chết, hi sinh cho Tổ quốc là cái chết vinh quang, có gì mà phải sợ. Mặc dù đã đả thông tư tưởng cho vợ con và gia đình, nhưng không phải người vợ nào, hay bố mẹ nào cũng bĩnh tĩnh đón nhận tin xấu về người chồng hay đứa con thân yêu của mình.

        Kể cả tôi, hay anh Toại đều nhiều lần khiến cho gia đình phải hoảng hốt lên đơn vị tìm.

        Có hôm vợ anh Mai Đức Toại nghe người ta nói trận đánh ở Hàm Rồng có hai người hi sinh thì vô cùng lo lắng, vì cả hai đứa con đang còn nhỏ nên gia đình không ai cho đi mà phải cử ngay hai ông anh trai vợ lên đơn vị “điều tra thực hư” thế nào. Nhưng may quá, ngày đó anh Toại đang ở Trung Quốc chưa về và chưa hề “sứt mẻ” gì.

        Một buổi chiều hè năm 1967, cái nắng sao mà oi ả, không khí sền sệt đặc quánh đến ngạt thở. Vợ Nguyễn Văn Lai vất vả cùng cái bụng sắp đến ngày sinh từ Nghệ An tìm đến tận Chỉ huy sở sân bay Nội Bài gặp Mai Đức Toại, vừa khóc vừa la lối:

        - Các anh, các anh trả chồng cho tôi! Tại sao các anh để cho chồng tôi chết? Anh Lai ơi là anh Lai, sao người ta lại bắt anh phải chết?

        Mai Đức Toại không bất ngờ, anh hiểu tâm trạng của người đàn bà mất chồng lúc này đang rất đau khổ. Anh kéo ghế mời vợ Lai ngồi, rồi nói:

        - Cô ngồi xuống đây đã. Cô phải bĩnh tĩnh nghe anh nói. Không phải tại các anh xui nó vào chỗ chết, mà đó là do nó nhiệt tình, quyết tâm bắn rơi máy bay địch. Nhưng Lai không biết rằng máy bay của bọn Mỹ có thể linh hoạt với tốc độ nhỏ, luồn lách được trong khi mình đang tốc độ lớn vòng sơ ý một chút đã bị va cánh vào núi, không có cách nào cứu được.

        - Thôi em hiểu rồi, anh không cần phải nói nữa - vợ Lai òa khóc to hơn - Anh Lai ơi, con anh còn chưa biết mặt bố. Em biết sống thế nào khi không còn anh trên đời này? Anh Toại ơi, con em sẽ thế nào đây?

        - Cô ạ, chúng tôi là chỉ huy, không bao giờ muốn cho quân của mình phải chết cả. Nhưng đã là phi công, cất cánh lên trời là phải đối mặt với cái chết, may mắn thì giữ được mạng sống mà thôi.

        Mai Đức Toại tuy miệng thì nói thế, nhưng chính anh cũng cảm thấy cái chết của Lai oan ức quá. Giá như... chẳng thể giá như được nữa. Trước mặt anh người phụ nữ với cái bụng vượt mặt đang run lên nức nở. Nỗi đau khổ quá lớn của chị khiến cho không khí căn phòng trở nên rất nặng nề.

        Bóng một con chim cất tiếng kêu thất thanh từ bụi mía vụt bay lên khiến anh chú ý, bỗng nhiên anh không kìm được cảm xúc của mình... tiếng thơ dài nghèn nghẹn bật ra.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2019, 07:33:53 AM

QUÀ SINH NHẬT MUỘN DÂNG LÊN BÁC HỒ

        Giữa năm 1968 Đế quốc Mỹ đã thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và phá hoại miền Bắc chủ yếu bằng không quân.

        Những năm 1966 - 1967, Không quân Việt Nam đã cho bọn Mỹ biết thế nào là MiG-17, tuy không hiện đại bằng những Thần Sấm (F-105) Con Ma (F-4) nhưng MiG-17 lại làm cho bọn Mỹ sợ hết hồn, khiếp vía. Chẳng khác gì châu chấu đá voi, nhưng châu chấu nhỏ bé mà khôn lanh đã đánh bại voi to lớn.

        Không quân Mỹ đã bị hao tổn lớn về máy bay và người lái, buộc chúng phải tiến hành “ném bom hạn chế” để đánh tập trung, đánh lẻ, đánh liên tục và ác liệt trong phạm vi Khu 4, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Và đặc biệt, chúng muốn gây căng thẳng trong nhân dân, hòng làm cho nhân dân quân Khu 4 hoang mang, lo sợ...

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định đưa lực lượng Không quân vào chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 cùng với các Binh chủng bạn và lực lượng vũ trang địa phương kiên quyết tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, góp phần tích cực đập tan âm mưu “ném bom hạn chế” của Không quân Mỹ.

        Lệnh trên vừa đưa xuống, Ban chỉ huy Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế liền khẩn trương vạch kế hoạch tác chiến ngay. Lần này, phải giao nhiệm vụ cho những phi công dày dạn kinh nghiệm và thông thạo địa hình mới có thể lập chiến công, vì Ban chỉ huy quyết định không sử dụng hệ thống dẫn đường trên không. Chỉ có chỉ huy bổ trợ trực tiếp tại khu vực chiến đấu cho biên đội mà thôi.

        Nhiệm vụ thật khó khăn, tại thời điểm này chỉ có hai phi công Lưu Huy Chao và Lê Hải có thể đáp ứng yêu cầu này.

        Ngày 18 tháng 6 năm 1968, tôi và Lê Hải vô cùng mừng rỡ vì được giao nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu và đánh địch tại vùng núi Thung Nưa - phía bắc tỉnh Nghệ An, quê hương của Bác Hồ.

        Riêng tôi thì vui mừng hơn cả, bởi năm trước có dịp được gặp Bác Hồ trong lần đến thăm Phủ Chủ tịch và được Người tặng lẵng hoa cho Trung đoàn, tôi còn nhớ y nguyên lời của Bác nói với mình lúc đó: “Chú đã bắn được bốn chiếc, thế là rất tốt, nhưng chú phải ăn nhiều nữa, đừng để gầy thế này, có sức khỏe chú sẽ bắn rơi thêm nhiều máy bay hơn...".

        Từ lúc gặp Bác cho đến nay, hầu như hôm nào tôi cũng tự nhủ sẽ cố gắng lập thành tích trên quê hương của Bác Hồ để tỏ lòng biết ơn lời căn dặn của Người. Bây giờ thì đúng là thỏa ước nguyện, chỉ chờ xem có bắn được "Con Ma" hay "Thần Sấm" nào không.

        Đúng 8 giờ 15 phút, chúng tôi chuyển trường từ sân bay Gia Lâm và chỉ một lát sau đã hạ cánh xuống sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân - Thanh Hóa). Tôi và Lê Hải hồi hộp từng giờ, chờ lệnh cất cánh

        Thế rồi, phát súng báo động cấp I đã nổ. Đồng hồ chỉ đúng 14 giờ 27 phút. Tôi cùng Lê Hải nhanh chóng ra máy  bay. Ở sân bay, các anh ở Tổ thợ máy đã hoàn thành việc kiểm tra và đang chờ sẵn hai người. Tất cả đã sẵn sàng. Chúng tôi bước lên máy may, vẫy chào mọi người.

        Bầu trời Sao Vàng không một gợn mây, xanh trong ngút ngát. Tôi dẫn đội, vòng phải hướng 180 độ, giữ độ cao 500 mét và vận tốc 650 ki-lô-mét/ giờ, còn Lê Hải thì bay bên phải, phía sau giữ cự ly giãn cách vừa phải, hai anh em cứ men theo bên phải đường 15 tới Nghĩa Đàn.

        Gần đến Đô Lương thì chúng tôi nâng lên độ cao 700 mét - 1.000 mét. Nghe chỉ huy mặt đất nói:

        - Vòng phải 360 độ!

        Tôi hỏi lại:

        - Có phải bay đến địa điểm công tác không?

        Mặt đất trả lời:

        - Phải!

        - Thế thì tôi tự bay được - Tôi đáp.

        Tôi và Hải lập tức bay thẳng đến Thanh Chương, bay vòng 360 độ chừng một phút thì dưới mặt đất hô:

        - Vòng phải 150 độ!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2019, 07:34:09 AM

        Lúc này thì tôi và Hải đã tăng độ cao tới 1.500 mét và vận tốc 700 ki-lô-mét/giờ liền vòng phải bay chừng một phút nữa thì nghe mặt đất thông báo :

        - Phía trước, bên trái 10 độ 50 ki-lô-mét có địch, sáu chiếc F-4 ở độ cao 3.000 mét.

        Chúng tôi nhanh chóng tăng hết cửa dầu và lên dần độ cao 2.000 mét, vận tốc 750 ki-lô-mét/giờ. Chỉ còn cách địch khoảng chừng 25 ki-lô-mét thì Lê Hải thấy pháo ở đường 1 bắn lên và đồng thời phát hiện địch từ phía biển đi vào hướng 260 độ, chúng bay theo đội hình 2 chiếc hàng dọc kéo dài.

        Lê Hải báo cáo qua điện đàm:

        - Số Một, bên trái có địch, tiếp tục vòng trái đi!

        - Chưa thấy! - Tôi đáp. Lúc này thì máy bay của ta đã ngang địch với góc 90 độ.

        Chiếc F-4 đi sau bỗng phóng ra 2 quả tên lửa ra phía sau máy bay của Lê Hải, khói phụt trắng cả vùng trời.

        Lê Hải hô:

        - Số Một, vòng trái gấp, công kích!

        Tôi vẫn chưa nhìn thấy địch nên trả lời:

        - Tôi vẫn chưa nhìn thấy, số Hai công kích đi, tôi yểm hộ!”

        Tôi và Lê Hải cùng ném thùng dầu phụ cho máy bay bớt nặng và kéo độ cao lên 2.700 mét. Lê Hải vừa vòng trái vừa bắn một loạt đạn vào chiếc F-4 đi đầu, nhằm bắt buộc địch phải cơ động đôi phó, tạo điều kiện thuận lợi cắt bán kính tiêu diệt chúng. Chiếc F-4 đi đầu hốt hoảng vòng phải gấp, vội vàng chạy thoát thân ra hướng biển.

        Đội hình của địch bắt đầu bị phá, chiếc F-4 thứ hai vội vã hạ thấp độ cao. Lê Hải nhanh như cắt đuổi theo cắt bán kính và bắn loạt đạn thứ hai, trúng luôn chiếc F-4 này. Chiếc F-4 bùng cháy rồi rơi ngay tại chỗ.

        Mừng quá, Lê Hải kéo độ cao lên và tiếp tục vòng trái quay lại yểm hộ cho tôi. Anh bay tới vòng thứ 3 thì phát hiện thêm một chiếc F-4 đang ở độ cao 1.000 mét, Lê Hải đuổi theo bắn thêm một loạt đạn nữa nhưng cự ly xa quá, hơn nữa lại hết đạn vì băng đạn bị đứt, chỉ còn có 6 viên 23 ly nên Lê Hải phải vòng phải rút về.

        Trong khi đó, tôi vòng trái yểm hộ cho Lê Hải nhìn thấy địch thì nghĩ “Tại sao địch chỉ có 2 chiếc? Hướng Đông Nam thế nào cũng có địch”, tôi bèn vòng phải chừng một phút thì phát hiện ngay 1 chiếc F-4.

        Tôi liền ép độ nghiêng, nhưng cự ly không thu ngắn lại được, cố xả một loạt đoạn nhưng không trúng. Tôi nôn nóng hạ địch nhưng tình thế không cho phép nên tiếp tục yểm hộ cho Lê Hải.

        Đây rồi, lại phát hiện thêm một chiếc F-4 đang từ phía Đông Nam đi lên, nó cứ lòng vòng rồi lại quay đầu ra biển, chắc là nó đang tìm để yểm hộ cho đồng bọn. Lê Hải nói qua điện đàm:

        - Số Một yên tâm công kích, phía sau đã có tôi.

        Tôi như được tiếp thêm sức mạnh lao vào cắt bán kính và bắn. Loạt đạn đầu tiên trúng vào đuôi máy bay F-4, hai loạt đạn liền sau đó bồi thêm, đã làm cho thân chiếc F-4 thủng to, khiến cho chiếc máy bay này lảo đảo, tròng trành cố bay ra biển rồi cuối cùng cũng rơi xuống biển trong nháy mắt. Vừa lúc đó thì tôi phát hiện thêm một chiếc F-4 nữa, nhưng máy bay của tôi vừa vặn hết đạn. Định gọi cho Lê Hải nhưng thấy Lê Hải còn đang ở xa quá không lên kịp, tôi liền quyết định dừng đánh, gọi Lê Hải trở về căn cứ.

        Chỉ trong vòng 3 phút mà tôi và Lê Hải đã cơ động tiêu diệt được 2 chiếc F-4B, loại máy bay ném bom của Hải quân, hiện đại nhất nhì của Mỹ. Không những thế, những chiếc F-4 đều được lái bởi những phi công xuất sắc của quân đội Mỹ, hầu như phi công Mỹ đã trải qua kinh nghiệm tính bằng hàng nghìn giờ bay. Còn phi công MiG- 17 của ta - tại thời điểm đó - người nào nhiều nhất cũng chỉ được huấn luyện chừng 400 giờ. Các anh chiến đấu mà không có sự hỗ trợ của ra-đa cùng những thiết bị tối tân dẫn đường như của bọn Mỹ mà vẫn tiêu diệt được chúng. Quả là một sự phi thường.

        Trên đường trở về sân bay Sao Vàng, tôi và Lê Hải cùng dâng lên niềm vui vô bờ bến. Thế là ước nguyện đánh địch trên quê Bác của tôi nay đã thành hiện thực “Bác Hồ ơi, chúng con kính yêu Người”.

        Trận đánh trên quê hương Bác Hồ ngày 18 tháng 6 năm 1968 hôm ấy đã là một kỷ niệm không thê nào quên của hai phi công Lưu Huy Chao và Lê Hải. Chúng tôi đã lập một chiến công như một món quà mừng sinh nhật muộn dâng lên Bác Hồ kính yêu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2019, 07:35:03 AM

PHI CÔNG MIG CŨNG CẤY LÚA, NẤU RƯỢU NHƯ NÔNG DÂN

        Tôi đi đến đâu cũng nghe người ta rỉ tai: “Anh Chao có biết khắp Trung đoàn và dân quanh vùng Kép nói gì không”?

        - Không? Họ nói gì? - Tôi tò mò hỏi lại.

        - Là chuyện cấy lúa đó.

        - Họ nói sao?

        - Ôi giòi, ông này chán quá, bây giờ ai chả thuộc câu “Mạ ông Chao, ao ông Bộ, gỗ ông Xưởng, giường ông Châu". (Câu này là tôi mới có tên, trước kia nói "ao ông Bộ" là do Chu Tất Bộ tổ chức cho Cơ quan Tham mưu đào ao thả cá, nhưng không để ý chỗ đó là đất đá ong, nên cứ bơm nước đầy qua một đêm là cạn sạch, cá giống không có nước, chết phơi bụng trắng đáy ao. “Gỗ ông Xưởng” là vì Đào Công Xưởng đi mua gỗ về đóng giường cho Chiêu đãi sở mua phải gỗ mục nên không dùng được, còn "giường ông Châu" là ông Châu hành chính thực hiện nhiệm vụ đóng giường cho Chiêu đãi sở làm từ "gỗ của ông Xưởng" nên giường vừa đóng xong đã sập...). Ồng gieo mạ ở chỗ thấp như thế, chỉ một trận mưa là ngập hết ngay.

        - Kệ, người ta nói là một chuyện, tôi khác. Tôi đã hỏi kinh nghiệm dân rồi - Tôi ra vẻ cứng cỏi, kỳ thực trong lòng hơi lo lo. Có thế sẽ bị mưa ngập nhưng chỉ một lúc sau là rút ngay, vì địa hình vùng này như thế, nước sẽ rút xuống suối ngay.

        Còn nhớ, về Kép được ít lâu, Trung đoàn vận động anh em phi công ngoài những lúc bay, nên tranh thủ tăng gia sản xuất. Mỗi một phi công ít nhất cũng phải có 20 ki-lô-gam lương thực nộp cho đơn vị một năm. Tôi là Đại đội trưởng Đại đội 2 nên phải có trách nhiệm cùng với anh em phi công thực hiện kế hoạch.

        Chúng tôi tận dụng giếng có sẵn để thả cá, còn trên khu đồi thả vài chục con gà, rồi trồng rau cần. Những tay lái chao liệng trên trời khi xung trận, giờ lại sắn quần xuống ruộng chẳng khác gì nông dân chính hiệu, mỗi lúc không phải xuất kích. Chẳng phải trước khi là phi công chúng tôi -  những Chao, Địch, Cống... đều là nông dân thực đó sao!

        Tôi nghĩ mãi, cuối cùng mới xin hợp tác xã hai sào ruộng và quyết định cấy lúa nếp, cày bừa thì đã mượn được trâu của dân làng. Nghe tin tôi định cấy lúa, ai cũng nói: “Cán bộ lái máy bay MiG thì biết gì về nông nghiệp, mà cũng dám làm lúa?”.

        Còn tôi thì gan vì nghĩ là mình đã có kinh nghiệm từ ngày còn ở nhà với mẹ nên tôi cứ làm. Nhưng giờ nghe người ta đọc vè, tôi đâm ra lo quá, chả lẽ bao nhiêu công sức của phi công mất hết cả?

        Mà nghe nói, hình như mấy ông biết tôi gieo mạ trên đám ruộng này còn rủa tôi ngu nữa chứ. Bụng tôi như lửa đốt, chỉ mong cho trời tạnh mưa rồi ra xem đám ruộng mạ thế nào.

        Tôi cứ đi ra, đi vào mãi cho tối 3 giờ chiều mưa mới ngớt hẳn, tôi kéo mấy cậu phi công không phải trực chiến chạy như bay ra đám ruộng. Cứ tưởng ra là thấy nước ngập hết ngọn mạ, nhưng may quá trước mắt tôi nước trong đám ruộng đã rút gần hết. Chúng tôi tìm đủ mọi cách khơi cho nước chảy hết cho đến khi thấy vài đám mạ đã dần dần lộ ngồng mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi cười sung sướng, vỗ vai cậu lính mới:

        - Ông trời thương chúng ta rồi, chả lẽ tôi đã mất công đi hỏi dân, mà lại mất trắng ruộng mạ được sao?

        - Thế là hết sợ người ta giễu nhé - Anh em mỗi người một câu động viên tôi - Giờ thì ai có nói gì cũng mặc anh Chao nhỉ, chúng ta cứ cấy, rồi họ sẽ phải tròn mắt ngạc nhiên vì phi công cũng cấy được lúa cho mà xem.

        Từ hôm ấy, cứ hết giờ trực chiến là chúng tôi lại đáo qua đám ruộng lúa nếp. Cây lúa cứ lớn lên từng ngày cùng với niềm vui của chúng tôi.

*

        Gần đến Tết năm 1968, chúng tôi phấn khởi mượn xe cải tiến của dân đi gặt lúa. Tướng chỉ được vài chục ký, hóa ra gom tất lại chúng tôi cũng được bốn bao tải, chừng 160 ki- lô-gam lúa nếp.

        Lúc ấy có từng đó gạo nếp phải nói là quí lắm. Người thì bảo cứ xay ra rồi biếu mỗi người vài cân ăn Tết. Người thì bảo để dành đúng đến Tết gói bánh chưng...

        Còn tôi, vẫn cái tính ngang tàng, với lại vẫn còn cay cú những lời chế giễu dạo trước, nên tôi quyết định đem xay xát hết tất cả bằng ấy thóc để... nấu rượu, mặc kệ lời mấy người hỏi sao không nộp cho đơn vị ít nào?

        - “Gạo này mà nấu rượu thì ngon phải biết chứ chẳng bỡn” - Tôi hồ hởi nói.

        - Còn chỗ cám này anh tính sao? - Thằng Địch hỏi tôi.

         - Còn sao nữa, cho ông già có xe cải tiến cho mình mượn hết. Đế’ ông ấy nấu cám cho lợn - Tôi dứt khoát - Các cậu khiêng lên xe đi.

        - Đi đâu anh?

        - Đi vào trong xóm nhờ người ta nấu rượu chứ đi đâu nữa. Tôi đã hỏi rồi. Cứ kéo vào xóm đi theo tôi.

        Chúng tôi hì hục kéo mấy bao gạo vào làng đến trước cổng nhà ông Sao, tôi gọi:

        - Bác Sao ơi! Bác Sao có nhà không nhỉ?

        - Tôi đây, các chú đem gạo đến đây à? - ông Sao quần sắn móng lợn tất tả chạy ra.

        - Vâng, như đã nói chuyện với bác hôm trước đấy, nhờ bác nấu cho chúng tôi hết bằng này gạo. Bác nấu xong tôi sẽ biếu bác một ít uống Tết.

        - Các chú yên tâm, ai chứ chú Chao thì tôi ngại gì nữa. Khi nào xong tôi sẽ báo các chú đến nhé.

        Thế là việc nhờ nấu rượu coi như đã xong, chỉ chờ đến ngày mang can đến mà lấy rượu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2019, 07:35:29 AM

*

        Mười ngày sau. Lê Hải ở đâu chạy về thông báo:

        - Anh Chao ơi! Bác Sao gọi đến lấy rượu đấy!

        - Thế à, vậy là cuối tuần có rượu uống rồi. Nhưng bọn mày phải giữ kín đấy, các ông ấy mà biết chúng mày uống rượu là lôi thôi. Nhất là mấy ông bác sĩ quân y ấy. Các ông ấy không muốn cánh lái uống rượu đâu.

        - Anh yên tâm đi, mang về có khi các ông ấy cũng thích ấy chứ. Anh phải chuẩn bị cái can to vào.

        Mấy anh em chúng tôi đi tìm can rồi vào làng. Quả là công sức bỏ ra cho vụ cấy lúa này kể ra cũng không phải ít. Lo từ đầu mạ lên đến khi gặt lúa rồi xát thành gạo rồi đem nhờ người ta nấu thành rượu. Tất nhiên chẳng phải khó khăn to tát gì, nhưng chuyện phi công cấy lúa mà lại cấy lúa nếp người ta bàn ra tán vào khắp nơi. Ông Sao nấu hết chỗ 160 ki-lô-gam mà được nhiều rượu quá. Tôi bảo ông:

        - Nhò có Bác mà chúng tôi có rượu uống. Bác để lại vài lít mà dùng trong dịp Tết sắp tới. Coi như chúng tôi trả công cho bác. Chỗ còn lại, chúng tôi mang về chia cho anh em lái uống dần.

        - Các chú đã cho cám nuôi lợn, bã rượu tôi cũng để nuôi lợn, nay các chú lại cho cả rượu nữa, quí hóa quá, nhà tôi biết lấy gì cảm ơn bây giờ? - Bác Sao mừng rỡ nói.

        - Ấy, bác đừng nói thế, anh Chao với chúng cháu phải cảm ơn bác mới đúng chứ - Mấy cậu lái thấy thế phà trò - Thôi, chúng cháu về đây, sắp tối rồi. Ui, rượu thơm quá.

        Chúng tôi khệ nệ khiêng mấy can rượu nếp về đơn vị không quên chào bác Sao và dặn bác mùa lúa sau nếu còn ở Kép sẽ lại nhờ bác nữa.

        Trồi về chiều đã lãng đãng sương mò. Tôi bảo :

        - Mấy đứa kiếm chai chia rượu, rồi mang biếu mấy thủ trưởng, còn lại các cậu mỗi đứa một bi - đông mang về cất vào tủ mà uống dần!

        Mang rượu tới đúng bữa ăn, các thủ trưởng đơn vị cười, bảo mở luôn ra uống thử xem sao. Anh Phiếu nâng chén rượu đưa lên ngang mũi, rồi hạ xuống bảo:

        - Ngon! Ngon lắm, thế có được nhiều không?

        - Cũng được hơn chục lít thôi anh ạ - Tôi đáp.

        - Ngon thê này, lẽ ra phải cho nhiều nhiều vào chứ - Anh Phiếu cười.

         Câu chuyện xoay quanh món “rượu phi công” xem chừng rôm rả mãi không dứt. Cho đến mấy hôm sau thì cả Trung đoàn đã biết tôi nấu rượu, “mà lại nấu rượu nếp mới ghê”.

       
*

        Bẵng đi một tuần, bỗng dưng Chính ủy Phiếu cho gọi tôi lên. Có người bảo:

        - Chuyến này tay Chao chết rồi! Rồi sẽ bị các thủ trưởng xạc cho một trận tơi bời cho mà xem.

        Tôi nghe xong cười khẩy:

        - Tôi trồng được lúa, thì tôi làm gì là việc của tôi, nấu rượu thì cũng bình thường có sao mà...

        Từ nhà lên đến chỗ Chính ủy, tôi cứ nghĩ chắc là Chính ủy gọi lên để chuẩn bị tinh thần thực hiện kế hoạch đánh Mỹ mới, chứ không phải vì tôi nấu rượu.

        Tôi lò dò vừa vào đến cửa thì anh Phiếu nói luôn, vẻ bực bội:

        - Cậu hay thật, ai cho phép cậu nấu rượu?

        - Sao tự nhiên anh lại hỏi tôi thế? - Tôi ngạc nhiên - Tôi nấu rượu, các anh cũng uống còn khen ngon, giờ lại bảo tôi phải có phép mới được nấu à? Thôi tôi về đây...

        Tôi nói xong về luôn chẳng đê cho Chính ủy Phiếu nói thêm câu nào, vừa đi vừa nghĩ về lời nói của thằng bạn trước khi lên đây: Cái thằng... thế mà đoán như thần.

        Một tuần liền tôi bị Chính ủy đơn vị gọi lên ba lần. Đến lần thứ ba thì tôi bực lắm, nhưng vẫn cố kiềm chế. Thoáng thấy bóng tôi Chính ủy nói vọng ra:

        - Vào đi!

        Tôi vào phòng Chính ủy:

        -Gì ạ?

        Chính ủy nghiêm giọng nói:

        - Cậu ngồi xuống! Yêu cầu cậu nói rõ việc... nấu rượu!

        Tôi quay ngoắt ra, không nói không rằng.

        - Đồng chí Chao đứng lại! - Chính ủy Phiếu nghiêm giọng gọi giật tôi lại.

        - Việc nấu rượu, đồng chí hỏi nhiều lần rồi, chuyện ấy tôi làm đúng chẳng có gì sai. Tôi tưởng là địch đốt phá sân bay, giết hại dân mới phải điều tra kỹ càng thế, chứ tôi nấu rượu cho anh em phi công uống những ngày không phải trực, có phải tôi để anh em say li bì ngày này sang ngày khác đâu mà cứ nói mãi, khoét mãi thế? - Tôi nóng mặt, to tiếng - Tôi nói thật, nếu lần sau gọi tôi lên vì việc này, tôi không lên nữa đâu!

        Tôi vùng vằng bỏ đi, Chính ủy Phiếu tay cầm tờ tài liệu gì đó, còn mắt thì tròn lên nhìn theo tôi ra khỏi phòng rồi lắc đầu.

*

        Tôi bực vì nhiều lý do, hình như người ta nói đúng: “Các ông chính trị ở mặt đất làm sao nói chuyện trên trời”. Mới hôm qua Phó tham mưu trưởng Trung đoàn Chu Tất Bộ yêu cầu ngày nghỉ, phi công phải gác lán (vì sân bay mới, sợ an ninh không đảm bảo) mỗi người một giờ đồng hồ, tôi đã không chịu nổi bảo:

        - Mai còn đi đánh nhau gác gác cái gì? Các ông muôn cắt ai gác thì gác, tôi là Đại đội trưởng, tôi nhất định không để lái gác đêm. Ngày nghỉ phải cho anh em nghỉ chứ. Một tiếng đồng hồ cũng làm cho người ta thấp thỏm cả đêm, còn sức đâu mà bay, mà chiến đấu?

        Cuối cùng Chu Tất Bộ thấy tôi phản đối kịch liệt quá, nên nhượng bộ tôi, cử chính trị viên thay nhau gác. Anh em phi công được nghĩ ngơi để dành sức sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Một, 2019, 07:36:04 AM

BẢO VỆ NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHỤ NHƯ LÀ MỘT KỲ TÍCH!

        Năm 1967. Ngày hôm ấy tin trinh sát báo về Sở Chỉ huy 923 tại sân bay Hòa Lạc sẽ có ít nhất 12 chiếc F-105 đi từ Lào sang, tấn công mục tiêu nóng nhất Hà Nội là Nhà máy điện Yên Phụ.

        Tại Sở Chỉ huy, Tư lệnh Binh chủng Nguyễn Văn Tiên dường như rất lo lắng, có vẻ như không tin lắm về khả năng có địch, ông nói như gắt:

        - Địch ở đâu? Có vào đâu mà đòi đánh?

        Nguyễn Văn Chuyên điềm tĩnh nhận định:

        - Lần này, nếu thực hiện phương án tốt, có thể sẽ ngăn chặn Không quân Mỹ tấn công mục tiêu.

        Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên hầu như không hài lòng về nhận định của Chuyên, không đáp.

        Nguyễn Văn Chuyên vẫn nói:

        - Được sự đồng ý của trên, ta cho Biên đội MiG-21 cất cánh đánh từ Suối Rút trở ra và Biên đội MiG-17 từ Gia Lâm cất cánh sau bốn phút, sẽ đánh từ Hòa Bình trở vào.

        Tư lệnh miễn cưỡng hỏi Chuyên:

        - Anh định dẫn thế nào?

        - Báo cáo thủ trưởng, khi ta ra đến Mai Châu thì địch sẽ xuất hiện ở biên giới Lào Việt - Nguyễn Văn Chuyên khẳng định.

        Tư lệnh lặng thinh theo dõi. Đúng lúc chì đó trên bản đồ đến Mai Châu, ông nói như hét:

        - Anh cho vòng trái đi!

        Chuyên liếc nhìn Tư lệnh, chắc có lẽ ông ấy lo sợ nếu ra xa sẽ bị bọn tiêm kích tấn công?

        Lúc đó chưa có địch nên Chuyên buộc lòng phải ra hiệu cho phi công vòng trái, hướng bay 90 độ. Phi công vừa bẻ cần lái, thì địch ùn ùn kéo vào ba tốp liền, tình thê thật nguy hiểm, trong khi ấy nguyên tắc khi vòng là bắt buộc phải vòng 360 độ, thế là đương nhiên phi công mất hẳn đi một phút, lỡ một cơ hội tấn công.

        Tình thế bắt buộc Nguyễn Văn Chuyên phải hướng cho phi công ta có muốn rút gì cũng phải vòng đến 350 độ, rồi đối đầu với tốp máy bay Mỹ, không thể bám đít được.

        Đúng như dự tính, chiếc máy bay MiG-21 của phi công ta đốì đầu với chiếc F-4, hai bên quần nhau một lúc mà không phân thắng bại, tuy nhiên MiG-21 đã làm được một việc quan trọng là cản F-4 không cho chúng yểm hộ F-105, còn F-105 không thấy F-4 yểm trợ trong lúc bị MiG-17 ra sau săn đuổi ráo riết thì vô cùng hoang mang. Trong lúc đang lúng túng, thì một chiếc bị dính đạn pháo của MiG-17 lảo đảo rơi ngay tại chỗ, khiến cho cả tốp hoảng hốt trút bom quay đầu bỏ chạy.

        Như thế là kế hoạch mang bom tấn công Nhà máy điện Yên Phụ của bọn Mỹ đã chấm dứt sớm ngay từ Suối Rút, do dẫn đường của ta đã dẫn cực kỳ chính xác.

        Tối hôm ấy Nguyễn Văn Chuyên ngồi chỉnh lý những gì đã xảy ra. Anh hơi buồn vì người ta nói rằng, dẫn gì mà bắn được một cái tận ngoài rừng núi... phải dẫn làm sao đế hạ ít nhất vài chiếc mới đáng nói...

        Thấy anh không vui, Chính ủy Binh chủng Phan Hy vỗ vai anh:

        - Chuyên! Cậu bạo phổi thật đấy, hôm nay mà cậu sai thì chết với ông Tiên!

        Hình như chỉ đợi câu nói ấy của Chính ủy đê Nguyễn Văn Chuyên bật khóc mà không phải kiềm chế. Trong thâm tâm anh nghĩ rằng, đường đường một người Chính ủy Binh chủng mà ông Phan Hy bỏ qua hết cả lễ nghi quân đội, giữa lãnh đạo với cấp dưới để nói với anh những lời chân thành như thế, có lẽ ông ấy rất hiểu anh.

        Tuy anh chỉ là Trợ lý dẫn đường, nhưng nếu không dám làm, không dám cả quyết thì liệu có cản được ba tốp máy bay cường kích và tiêm kích kia không? Thà bắn được ít nhưng bảo vệ được mục tiêu còn hơn là bắn được 10 chiếc, mà mục tiêu bị bắn phá.

        Nếu so sánh trận đánh này của Không quân Việt Nam với Không quân những nước mạnh có thế nói đó là một kỳ tích, vì họ có nhiều máy bay sẵn sàng bảo vệ mục tiêu ngay tại chỗ, còn việc có bắn rơi chiếc nào hay không thì coi như thêm thắt vào kết quả trận đánh mà thôi.

        Còn Không quân ta, vừa ít về máy bay, vừa yếu về lực lượng, thế mà đuổi đánh ba tốp hùng mạnh của chúng phải rút chạy, võ mộng tấn công mục tiêu đó là một thành tích rất đáng kể, thử nghĩ xem nếu bằng ấy tốp máy Mỹ vào đến tận nơi và thả bao nhiêu tấn bom vào Nhà máy điện thì khu vực đó sẽ thế nào? Nếu có bắn rơi ngay tại mục tiêu ba, bốn chiếc thì thiệt hại của ta vẫn là vô cùng lớn.

        Nhưng thời điểm ấy, người ta không chú trọng đến mặt tích cực của ngăn chặn, mà thường chỉ tính xem đã bắn được mấy chiếc? Còn tôi lại cho rằng trận đánh bảo vệ mục tiêu Nhà máy điện Yên Phụ quả là một kỳ tích của ngành dẫn đường cũng như của Nguyễn Văn Chuyên!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:34:59 AM

"ĐỘC CHIÊU" ĐÁNH TÀU CHIẾN MỸ

        Do thất bại liên tục các chiến trường, Tổng thống Mỹ Nich-xơn đã phiêu lưu dùng Không quân và Hải quân đánh phá vào Bắc Việt Nam suốt một tuần liền, từ 11 tháng 4 đến 18 tháng 4 năm 1972.

        Các tàu chiến của Hạm đội 7 liên tiếp bắn phá vào đất liền từ vùng biển Đồ Sơn tới Quảng Bình. Nhất là đêm 18 tháng 4, khoảng 23 giờ đến 23 giờ 50 phút, Hải quân Mỹ cho hẳn 4 khu trục bắn vào khu vực Quảng Xá và Lý Nhân dữ dội, cự ly bắn rất gần 10 - 15 ki-lô-mét. Lầu Năm Góc định làm một trận lớn uy hiếp Việt Nam.

        Song song với việc dùng Không quân ném bom miền Bắc, mở rộng đánh phá Hà Nội, Hải Phòng địch còn tăng cường pháo trên các hạm tàu từ ngoài khơi bắn vào đất liền, hòng gây khó khăn trở ngại cho quân và dân ta vận chuyển tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

        Phân tích tình hình, Bộ tư lệnh Không quân Việt Nam quyết định phối hợp với các lực lượng toàn quân, quyết tâm đập tan âm mưu của Mỹ, giao nhiệm vụ cho Đoàn Không quân Yên Thế dùng MiG-17 tham gia trận đánh tàu. Đó là mũi nhọn chủ yếu, kiên quyết đánh chìm tàu chiến của địch, hạn chế chúng pháo kích, đẩy chúng ra xa bờ biển của ta để bảo vệ huyết mạch giao thông cho chiến dịch.

        Đánh hạm tàu là một nhiệm vụ mới, cực kỳ khó khăn, bởi vậy Đại đội 4 anh hùng được Đoàn Không quân Yên Thế nhắm đến đầu tiên vì các phi công ở Đại đội này đều là những người bay giỏi và nhiều kinh nghiệm. Ngay lập tức Trung đoàn tổ chức huấn luyện bay biển cho chúng tôi. Trước mắt, đưa 6 phi công vào cơ động để chuẩn bị bay, chuẩn bị ném bom và các loại ngòi nổ.

        Căn cứ vào hoạt động của địch, nên Trung đoàn quyết định thời cơ chuyển trường vào lúc hoàng hôn là thuận lợi nhất, có thể đảm bảo được yếu tố bí mật bất ngờ cho trận đánh. Đại đội bay đêm cử Biên đội Điệp và Đễ cất cánh từ sân bay Vinh đi sân bay Gát sau hơn 10 phút đã hạ cánh an toàn.

*

        Buổi sáng ngày 19 tháng 4 năm 1972.

        Tất cả chỉ huy cũng như phi công trực chiến đều căng như dây đàn theo dõi diễn biến của Mỹ Ngụy từng phút, từng giờ.

        Tin ra-đa báo về: Phát hiện 3 tốp tàu Khu trục Mỹ, tốp thứ nhất gồm 4 chiếc phía đông Lệ Thủy 40 ki-lô-mét. Tốp thứ 2 gồm 6 chiếc phía đông cửa sông Gianh cách 120 ki-lô- mét, tốp thứ 3 có 3 chiếc phía đông cửa Sót cách 80 ki-lô-mét.

        Sở Chỉ huy luôn trong tình trạng báo động cấp 1, nhưng không đánh được do trời quá mù.

        Buổi chiều, ngoài biển.

        Ra đa 403 vẫn thấy 3 tốp buổi sáng, riêng có tốp ở cửa sông Gianh thì chúng đã triển khai đội hình hàng dọc di chuyển về phía bắc. Nhưng để tiếp tục theo dõi thủ đoạn của địch, ta không chủ trương đánh tốp này.

        Khoảng 4 giờ chiều, Hải quân cung cấp thông tin: 3 chiếc cách 18 ki-lô-mét về phía đông nam Lý Hòa, 2 chiếc cách 25 ki-lô-mét phía đông các cửa sông Gianh, 2 chiếc cách Lý Hòa về phía đông 8 ki-lô-mét đang đi về hướng Nhật Lệ, 2 chiếc cách cửa sông Gianh về phía đông bắc 40 ki-lô-mét, còn 2 chiếc cách Đông Nhật Lệ 12 ki-lô-mét.

        Đồng thời trên đài quan sát phát hiện thêm 3 chiếc phía Đông bò biển Nhật Lệ cách bờ 10 - 12 ki-lô-mét.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:35:23 AM

       
*

        Khoảng 16 giờ ngày 19 tháng 4 năm 1972.

        B8 - Sở Chỉ huy tiền phương Binh chủng do đồng chí Nguyễn Phúc Trạch chỉ huy - điện cho B5 - Sở Chỉ huy tại sân bay Đồng Hới do Trung đoàn phó Lưu Huy Chao chỉ huy - Lệnh cho Biên đội gồm Lê Xuân Dỵ và Nguyễn Văn Bảy в cất cánh đi theo hướng 75 - 80 độ, độ cao 150 - 200 mét, với vận tốc 600 - 700 ki-lô-mét/giờ. Biên đội đi hơi chếch về bên trái cao điểm 280, cách biển 10 ki-lô-mét rồi vòng phải hướng 140 -150 độ, vận tốc 750 ki-lô-mét/giờ.

        Trong khi đó, trên bầu trời, C41 căng mắt dõi theo từng mục tiêu là những chiếc máy bay F-4, F-105 Mỹ yểm hộ cho tàu khu trục. Chúng cơ động thoắt ẩn, thoắt hiện. 16 giờ 10 phút, ta phát hiện 2 chiếc máy bay Mỹ ở độ cao 4.000 mét phía Đông Vĩnh Linh vòng lên sân bay Đồng Hới, ta bám theo được 15 phút thì chúng mất hút.

        Ở phía Đông Vĩnh Linh cách 15 ki-lô-mét đi lên Đông đèo Ngang có 2 chiếc lượn lờ ở độ cao 300 mét nhưng ta bám đến phút thứ 23 thì cũng mất mục tiêu. Còn Trung đoàn 290 lúc 16 giờ 20 phút phát hiện 2 chiếc ở độ cao 3.000 mét, cách Đồng Hới về phía đông 90 ki-lô-mét, vòng lên Mũi Ròn 20 ki-lô-mét rồi vòng phải ra biển. Bám 2 chiếc này đến phút thứ 23 thì mất mục tiêu.

        Tại sở chỉ huy của Hải quân, đã có một tổ theo dõi và chỉ huy bổ trợ, do Trần Văn Trung là chỉ huy trưởng. Ngay tại Cửa Dinh, tổ bổ trợ đã bố trí một đài quan sát dùng TZK để theo dõi địch, đồng thời quan sát cơ động phía ta. Ó Nhật Lệ, bố trí thêm một ra-đa 403 đối hải nhằm thu thập tình hình trên biển cung cấp thông tin thường xuyên cho Sở Chỉ huy sân bay Đồng Hới.

        Lê Xuân Dỵ cho bay thấp, anh báo cáo về B5:

        - Cấp biển liên lạc tốt!

        Và một phút sau thì được B5 thông báo:

        - Bay theo hướng 125 độ, gió cạnh phải 45 độ 5 mét/ giây! Hai tàu địch chếch nam 14 độ.

        Trong lúc Dỵ cùng Bảy bay theo lệnh chỉ huy qua cửa Lý Hòa, anh thấy trong đất liền khói đạn của Mỹ cuồn cuộn bay lên. Dỵ bật công tắc thoại báo cáo:

        - Đã phát hiện 2 tàu, cự ly 10 - 12 ki-lô-mét.

        Nói rồi Dỵ vòng trái khoảng 70 độ tăng lực cải bằng, nâng độ cao ngắm vào chiếc đi sau. Bên tai anh, B5 rành rọt:

        - Bình tĩnh, chính xác, quyết tâm tiêu diệt!

        Tất cả đã sẵn sàng, Dỵ điều khiển điểm ngắm bắn đúng giữa tàu hơi chếch về phía đầu một chút. Xong. Lê Xuân Dỵ cắt bom ở cự ly 750 mét. cắt bom xong, anh lập tức cho ép độ nghiêng trái, thấy cột nước to trắng xóa vọt lên bên kia tàu.

        Có lẽ tàu Mỹ đã bị thương - Dỵ nghĩ vậy và tiếp tục bay theo hướng 250 - 270 độ cơ động vào bờ. B5 nhắc anh đổi đài nên anh đã đối đài về B7 - sở Chỉ huy đảm bảo mặt đất tại sân bay Gát do Nguyễn Văn Tiêu trực tiếp chỉ huy và hạ cánh luôn ở đó.

        Từ lúc Lê Xuân Dỵ vòng trái thì Nguyễn Văn Bảy в tách đội hình, kéo dài cự ly theo hướng 170 độ, nhưng anh vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Bay được khoảng 20 giây theo hướng 90 độ thì anh nghĩ: “Cứ bay ra biển chắc chắn sẽ tìm thấy địch”. Nhưng bay đến Đông Bắc Cửa Dinh vẫn chưa thấy gì, anh lại cố bay thêm một đoạn nữa.

        May mắn làm sao, ngay lúc đó anh phát hiện liền 2 tốp tàu bằng cách quan sát bọt sóng biển. Tốp 2 chiếc ở dưới, còn tốp 4 chiếc ở trên. Anh định đánh chiếc đi đầu của tốp 2 chiếc nhưng cự ly gần quá, các phần tử ngắm chưa chuẩn bị kịp nên anh đã bay thông qua chiếc đi đầu. Bảy kiểm tra công tắc quân giới thấy công tắc nổ chưa bật, anh phải bật lại công tắc nổ rồi mới vòng trở lại. Trong lúc anh vòng lại thì thấy một chiếc tàu đang lừng lững từ ngoài chạy vào.

        “Không kịp rồi. Đành phải bỏ qua để đánh chiếc đi sau thôi” - Bảy В nghĩ vậy và nhanh chóng quyết định.

        Anh vòng trái xong cải ra hướng 260 độ, tăng vận tốc lên 800 ki-lô-mét/giờ, vẫn giữ độ cao 200 mét. Anh nhanh chóng điều khiển phần tử ngắm bắn. Lúc này góc ngắm là 90 độ, điểm ngắm vào 1/3 thân tàu phía sau. Anh làm động tác cắt bom cự ly 750 mét rồi kéo lên ngay. Chỉ kịp nhìn thấy 2 cột nước bên mé tàu. Vừa lúc ấy, Lê Xuân Dỵ hỏi anh:

        - Công tác tốt không?

        Bảy В trả lời:

        - Công tác không tốt lắm!

        Vì anh thấy cột nước vọt lên nên nghĩ mình ném sai vị trí.

        Sau khi hạ cánh an toàn thì Bảy в mới biết khi máy bay của anh vòng trái, đài chỉ huy bổ trợ đã nghe một tiếng nổ lớn, kèm theo một cột khói màu da cam cao tới 20 - 30 mét; đồng thời, trên không ở độ cao 2.000 mét một tiếng nổ của tên lửa cũng dữ dội không kém tiếp theo. Ngay sau đó 2-3 phút 2 chiếc F-4 của Mỹ tụ lại quanh khu vực tàu bị đánh, nơi đó tàu bốc cháy, lửa càng lúc càng lớn.

        Đại đội trưởng Lê Xuân Dỵ và Nguyễn Văn Bảy в là hai phi công ưu tú đã tham gia đánh bị thương tàu khu trục Mỹ HICH -BI ngày 19 tháng 4 năm 1972.

        Thế là lần đầu tiên kê hoạch đánh tàu chiến Mỹ đã thành công. Đó là một sự mở màn cho một loạt kế hoạch đánh tàu được thực hiện sau này, chứng minh rằng không có gì có thể cản trở quyết tâm diệt giặc Mỹ của quân đội Việt Nam bằng mọi hình thức, mọi phương tiện. Trận đánh này, các anh Lê Xuân Dỵ, Nguyễn Văn Bảy в cùng với sự phối hợp nhịp nhàng của các đơn vị đã đánh dấu một sự kiện lịch sử mà từ trước tới giờ không một ai nghĩ đến: Không quân Việt Nam có thê tiêu diệt được tàu chiến Mỹ!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:37:43 AM

PHI CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM BẮN TRÚNG B-52

        Sinh ra trong một làng quê nghèo ở Thái Bình, Vũ Đình Rạng vẫn thường nói đùa rằng: “Chẳng hiểu thế nào, tôi sinh vào đúng năm 1945 - năm có bao nhiêu người chết đói mà tôi vẫn khỏe mạnh và thậm chí còn khỏe mạnh hơn người”.

        Tuy gia đình không phải giàu có gì, nhưng mấy anh em Vũ Đình Rạng vẫn được bố mẹ cho đi học. Vậy mà có lần anh suýt bỏ học, vì thấy người anh cùng đi học với mình bị thầy phạt đánh đòn. Rạng cảm thấy rất nản, coi đi học như là “sự hành xác, chẳng đem lại kết quả gì, rồi cuối cùng củng chỉ cày với cấy mà thôi”. Nhưng rồi cuối cùng sau một năm nghỉ học ở nhà cày cấy bố mẹ động viên Rạng nghĩ lại và anh đi học tiếp.

        Với Vũ Đình Rạng, từ việc đi học tới việc học lái máy bay, tới việc trực tiếp chiến đấu đều là những việc không phải tự anh mơ ước, ấp ủ mà đều là khách quan đưa lại. Năm 18 tuổi, người ta vận động anh đi bộ đội anh bảo:

        - Thưa các anh, không phải tôi không muốn đi, nhưng lúc này cả hai anh trai tôi đều đi bộ đội, chỉ còn cha mẹ già, các anh cho tôi hoãn lại chứ tôi không trốn.

        - Nhưng mặt trận bây giờ rất cần người. Quân số cũng đã chốt. Không thể hoãn được.

        - Thôi được, các anh không cho hoãn thì tôi đi.
 
        Vũ Đình Rạng đã đi bộ đội trong hoàn cảnh như thê và đầu quân vào Sư đoàn Dù 305. Vào Sư đoàn này được hai năm thì năm 1965 trong đợt khám sức khỏe, anh đã trúng tuyển đi học Không quân ba năm bên Liên Xô (cũ) cùng với một số đồng đội... Anh là một trong số rất ít người được lựa chọn ra từ 120 người trong danh sách học sơ cấp ban đầu. (trong số đó có cả Vũ Xuân Thiều, Phạm Phú Thái...).

       
*

        Khi về nước Vũ Đình Rạng được phân công chuyên bay đánh đêm. Anh nhận nhiệm vụ bay đánh đêm với tâm trạng không thích thú lắm vì trên thực tế đánh đêm rất khó, đòi hỏi kỹ năng cao. vả lại người ta đánh ban ngày có nhiều cơ hội lập thành tích, chứ mấy ai lập được thành tích ban đêm. Hơn nữa đánh đêm toàn phải cô đơn một mình... Nhưng nhiệm vụ đã được cấp trên giao, anh vẫn vui vẻ chấp nhận.

        Cấp trên chỉ thị: “Đồng chí có nhiệm vụ vào chiến trường Khu 4, chi viện cho chiến trường trong cuộc chiến tranh hạn chế. Miễn là cậu vào phục kích ở đó. Nếu cất cánh mà không đánh được, thì cũng coi như "dọa" cho B-52 biết rằng vẫn còn có MiG-21 luôn sẵn sàng chiến đấu để cho chúng phải quay đầu lại. B-52 không thể như một nỗi kinh hoàng mãi được”.

        Đặc điểm của sân bay ở Khu 4 thường là ngắn hẹp, nên đòi hỏi kỹ thuật bay của phi công phải rất cao, ở đấy nếu bay cao sẽ bị tên lửa ở Hạm đội của Mỹ ở ngoài biển bắn liền, còn nếu bay thấp thì sẽ bị va vào núi Đại Huệ hoặc dãy núi Trường Sơn, vô cùng nguy hiểm.

        Ở chiến trường Khu 4 còn phải di chuyển liên tục, có lúc không thế phân biệt nổi đâu là địch, đâu là ta. Bay từ ngoài Bắc vào không có chỉ huy, không có liên lạc, bởi vì chỉ cần chúng phát hiện bằng sóng điện từ có máy bay của ta vào là chúng sẽ cho F-105 hoặc F-8 đánh chặn ngay. Vũ Đình Rạng và đồng đội phải tìm đường bằng cách nghĩ xem mình đi được mấy phút rồi, mấy phút là sẽ đến đâu... Kể cả khi mưa, gió cũng vẫn phải cất cánh. Kể cả khi biết trong điều kiện như thế có thể đi sẽ không về... Nhưng nhiệm vụ là trên hết, không nghĩ đến tính mạng của mình, anh đã cùng với Đinh Tôn luôn trong tư thế sẵn sàng như vậy.

        Như thường lệ, 5 giờ hôm ấy (20 tháng 11 năm 1971) Vũ Đình Rạng và Hoàng Biểu được lệnh cất cánh từ Nội Bài vào Khu 4. Hoàng Biểu thì hạ cánh ở sân bay Vinh, còn anh thì ém ở sân bay Anh Sơn. Đến 7 giờ 30 phút tối thì Hoàng Biểu báo động cấp 1. Cất cánh lên được vài phút, thì Hoàng Biểu bị địch phát hiện.

        Chỉ huy lệnh:

        - Kéo cao lên nữa! Để cho địch biết là có MiG đang hoạt động!

        Hoàng Biểu lên được một lúc nhưng sợ không tránh được nên đã quay ra. Bọn Mỹ mất mục tiêu cũng quay lại Thái Lan. Đến lúc 20 giờ 40 phút, bọn chúng cho rằng mới đe dọa với B-52 đã hết nên quay lại.

        Tại Sở Chỉ huy Trung tâm, Tư lệnh Đào Đình Luyện trao đổi nhanh với Phó tư lện Binh chủng Trần Mạnh cho Vũ Đình Rạng xuất kích. Anh cứ theo chế độ đã định sẵn mà bay dọc trên đỉnh Trường Sơn vượt qua Keo Nưa. Lúc này từng tốp B-52 vẫn tiến vào, chiếc MiG-21 của Rạng bay về phía Tây Hà Tĩnh và giãn cách rất tốt. Khi cách mục tiêu 80 ki-lô-mét anh được sĩ quan dẫn đường lệnh cho vứt thùng dầu phụ để máy bay tăng lực, linh hoạt hơn.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:38:18 AM

        Vậy là bây giờ mục tiêu chỉ còn cách 60 ki-lô-mét, anh yên trí cải hướng bám sát mục tiêu. Đường bay của Rạng áp dần vào gần trùng với tốp B-52. Lúc anh kéo lên độ cao 9 ki- lô-mét thì mục tiêu chỉ còn cách 15 ki-lô-mét. Điều kiện để phóng tên lửa rất khả quan. Theo lệnh chỉ huy yêu cầu, anh bật ra-đa. Trên thực tế khi nhận được lệnh xong thì mục tiêu chỉ còn chừng 11 ki-lô-mét. Anh vừa lấy độ cao, vừa phải lấy thăng bằng nhằm vào chiếc số Hai mà bỏ qua chiếc số 1 vì cự ly quá gần không thế nào ngắm bắn kịp. Nhìn vào màn hình, mục tiêu rõ mồn một, hình ảnh lên rất đẹp, còn có 2 ki-lô-mét nữa thôi, Vũ Đình Rạng bóp cò phóng một quả tên lửa. Nó lao vút về phía trước. Một chớp nổ lóe lên, lửa bùng ra từ một bên cánh B-52 rồi tắt ngấm. Anh thoát ly ngay và khẳng định đã trúng mục tiêu, chính xác còn hơn bài huấn luyện rất nhiều.

        Ở độ cao 9 ki-lô-mét, anh nhìn về phía bên phải trên lưng chiếc B-52 có phát đèn tín hiệu gì đó giống như bên hàng không dân dụng. Vì vẫn còn một quả tên lửa nên anh lại chờ tiếp cận gần 2 ki-lô-mét phóng nốt. Nhưng lần này đường bay hơi vòng, anh không chắc có trúng hay không. Bắn xong, anh lập tức lao vun vút trong màn đêm tối đen quay về sân bay Anh Sơn.

        Cách sân bay Anh Sơn 5 ki-lô-mét, Vũ Đình Rạng thả càng hạ cánh, yêu cầu toàn bộ sân bay tắt hết đèn. Đúng như dự đoán của anh, vừa mở cửa buồng lái máy bay bước ra thì đã nghe thấy rất nhiều tiếng máy bay tiêm kích của địch ở trên đầu. Nếu cứ để đèn trên đường băng sáng trưng như lúc đầu, thì e rằng toàn bộ sân bay sẽ bị đánh phá và không còn một mống người.

        Đêm hôm ấy, Vũ Đình Rạng không tài nào ngủ được vì vừa thoát khỏi cái chết trong gang tấc. Anh đã vừa làm được việc vô cùng khó khăn, chưa một phi công Việt Nam nào làm được là đã bắn trúng B-52. Tư lệnh Binh chủng Đào Đình Luyện biết anh chưa ngủ nên đã cho người gọi anh lên để nghe anh kể hết những tình tiết của trận đánh. Ông bảo:

        - Sáng mai, trực thăng sẽ đưa cậu về sở chỉ huy Yên Thành để rút kinh nghiệm với chuyên gia. Chuẩn bị tinh thần nhé!

        Bẵng đi một thời gian, đầu năm 1972 trong một cuộc họp chỉnh đốn Đảng, Chính ủy Chu Duy Kính nói với anh:

        - Các anh ấy đi đánh về có gì đều nói hết, riêng cậu có vấn đề gì khúc mắc, hay dao động, sợ đi đánh thì cứ mạnh dạn trao đổi. Hoặc nếu chưa nói được thì sẽ để thời gian cho cậu suy nghĩ.

        - Tôi nói thật, các anh ấy đi đánh ngày dễ dàng lập công liên tục. Tôi nhận nhiệm vụ đánh đêm cũng rất muốn lập công chứ - Vũ Đình Rạng nói - Nếu đã sợ chết, thì tôi đã không thường xuyên xuất kích kể cả những ngày gió mưa. Đã là phi công được Nhà nước cho đi học, về nước chiến đấu tôi chỉ mong muốn được chiến đấu và lập công, sao lại nói tôi "dao động"?

        - Cậu cứ suy nghĩ cho kỹ, nếu cậu khó nói thì cứ nói với chính trị viên. Còn nếu cậu không nói ra thì nhiệm vụ sắp tới sẽ phải xem xét lại khi giao cho cậu - Chính ủy Chu Duy Kính lạnh lùng.

        - Báo cáo Chính ủy, tôi là phi công, là đảng viên, nhiệm vụ cấp trên giao tôi luôn cố gắng làm tròn. Còn nhiệm vụ sắp tới có giao cho tôi hay không là tùy cấp trên - Vũ Đình Rạng đỏ mặt.

        - Cậu không dao động, sợ chết thì sao trong lần gặp B-52 hồi tháng 11 năm ngoái (1971) cậu chỉ bắn có một quả tên lửa rồi quay về? Sao không bắn liền hai quả?

        - Việc tôi bắn một quả đầu tiên trúng B-52 nhưng chỉ làm nó bị thương đã được rút kinh nghiệm với các chuyên gia. Theo lý thuyết dù có bắn hai quả liền thì hiệu quả cũng chỉ đến thế - Vũ Đình Rạng bắt đầu run lên vì giận.

        - Thôi được. Cậu không phải nói bây giờ. Hãy suy nghĩ thật chắc chắn trong một thời gian nữa - Chính ủy Chu Duy Kính gằn giọng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:39:17 AM

       
*

        Tất cả các phi công hôm đó chỉ biết im lặng trước thái độ của Chính ủy, ngoại trừ tôi. (Vũ Đình Rạng bắn B-52 bị thương chạy về Thái Lan, khi họp Đảng bị Chính trị viên hỏi: “Tại sao người ta đi bắn rơi mà lần nào cậu đi cũng về không? Cậu là... tư tưởng sợ chết, không can đảm...”.

        Mặc dù, hồi đó ở sân bay U-đom (Thái Lan) người Mỹ đã thừa nhận chính chiếc B-52 này đã bị bắn rơi bởi phi công Vũ Đình Rạng của Việt Nam. Thê nhưng Vũ Đình Rạng lần ấy vẫn bị kỷ luật nặng, suýt khai trừ khỏi Đảng. Mãi sau này vào cuối những năm 70, qua rất nhiều lần ý kiến của các Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó... yêu cầu Chính trị viên phải là những phi công bay giỏi, như thế mới có sự thông cảm và có thể lãnh đạo tư tưởng tốt cho phi công. Cũng nhờ đó, tình cảm của phi công với chính trị viên mới dần dần cởi mở hơn).

        Cuộc họp kết thúc đã lâu mà Vũ Đình Rạng vẫn chưa hết buồn, anh không ngờ chỉ vì việc anh không bắn liên tục hai quả tên lửa vào chiếc B-52 hôm ấy mà bây giờ anh phải chịu sự nghi ngờ của cấp trên.

        Vào thời điểm này, phía ta thường nghe tin từ đài BBC, hàng tháng trời nghe ngóng nhưng một tin ngắn về một chiếc B-52 của Mỹ bị rơi hay thậm chí bị thương cũng không thấy gì. Rất có thể người Mỹ vì sĩ diện đã im thin thít không dám nói gì. Nhưng việc Vũ Đình Rạng bắn bị thương B-52 đã khiến cho bọn chúng hoảng sợ phải ném bom ngoài mục tiêu. Những khu vực trọng điểm như Lùm Bùm, Tà-Lê- Phu-Lan-Nhich hay Xê-Pôn một thời gian dài bộ đội vận tải rất vui mừng yên tâm làm nhiệm vụ.

        Về sau này, vào năm 1999, thiếu tá Không quân Mỹ trong lần gặp cựu dẫn đường Lê Thành Chơn để viết về những trận đánh ông đã tham gia ở Việt Nam có kể lại:

        “Vào trung tuần tháng 11 năm 1971, một chiếc B-52 đã bị bắn thủng thùng dầu, cháy nhưng không dập được nên đã hết dầu phải hạ cánh bắt buộc trên sân bay Nathom Phanrom (Thái Lan). Chiếc B-52 bị thương rất nặng sau đó được tháo ra chở về Utapao rồi bỏ đó" .

        Trong cuốn “MiG-21 units of the Vietnam war” (Những chiếc MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam) của Istvan Toperczer cũng có đoạn viết:

        “Air force commanders picked verteran Mig- 21 pilot Dinh Ton to take part in the action, for they believed his vast experience would allow him to cope with the poor weather conditions that plagues the area. On one of his early flight his departed from Noi Bai at 1700 hours then recovered at Dong Hoi to refuel. Taking off again at 1900 hrs, he headed for Roure 9, but the Americans had by then become aware of his flight and pulled all of their AC-130s out of the area for good.

        VPAF missions against the B-52s met with less success in the first half of 1971, however, so several air force officers were sent to Mu Gia Pass to observe B-52 attack pattern both during the day and at night. In September of that year, radar units were sent to Ba Don, in Quang Binh province, and to Vinh Linh to track B-52 activities.

        On 4 October, commanders of 921st sent Dinh Ton to Đong Hoi, from where he would go “hunting” B-52s. The pilot took off after sunset, but the USAF crews were effectively jamming all communications in the area and he had to fly without ground radio contact. Dinh Ton soon found two b-52s in front of him, but judged the situation unsuitable for caombat and diverted to Tho Xuan.

        On 20 November, two more Mig- 21s were sent to Vinh, and another jet to Anh Son. At 2.000 hrs that same day, B- 52s were reported 60 ki-lô-mét to the north ofXam Nua. Pilot Vu Dinh Rang was about to become the first fighter pilot within the VPAF to intercept a B-52s.

        At 2046 hrs he scrambled from Anh son airfield, and once aloft he was informed by groumd control that his three targets were 100 ki-lô-mét away. He dropped his fuel tank and climbed to 10,000 mét, and at a distance of 15 ki-lô-mét, Vu Dinh Rang switched on his radar and applied full throttle. At eight ki-lô-mét he fired an AAM at one of the B- 52s, anf as he brock away from his attack, he spotted another bomber in front of him. Vu Dinh Rang launched his second missile, and at 2115 hrs he landed at Anh Son. There, he was told that the first b-52 had been damaged and had to make an emergency landing in Thailand.

        The attempt to shoot down B-52s, as well as an increased movement of North Vietnamese troops towards the south, prompted President Richard Nixon to warn Ha Noi that bombing strike would re-commence if such activities continued. As part of this threat, fighter-bombers started penetrating North Vietnamese airspace once again, and on 18 December the VPAF struck back then Le Thanh Do and Vo Si Giap downed F-4Ds 66-0241 and 65-0799 of the 432nd TRW.

        The air war in Vietnmese was about to reach a dramatic climax"



Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:42:56 AM

        Bản dịch:

        Chỉ huy lực lượng Không quân Việt Nam chọn MiG-21 thí điểm Đinh Tôn tham gia chiến dịch, vì họ tin rằng kinh nghiệm của anh sẽ cho phép anh ta đối phó với các điều kiện thời tiết xấu trong khu vực hoạt động. Lúc đầu anh này cất cánh từ Nội Bài lúc 17 giờ sau đó hạ cánh tại Đồng Hới để nạp nhiên liệu. Lúc 19 giờ anh cất cánh trở lại. Người Mỹ nhận thấy nguy hiểm khi Đinh Tôn xuất hiện nên đã kéo tất cả những AC-130 của Mỹ ra khỏi khu vực nguy hiểm để bảo toàn lực lượng.

        Trong   thời   gian   nửa đầu năm 1971, Không quân Việt Nam đối phó với B-52 khá thành công, vì vậy một số sĩ quan quăn lực đã được gửi đến Mu Gia Pass để quan sát các kiểu tấn công của B-52 cả ban ngày và ban đêm. Trong tháng chín năm đó, các đơn vị ra-đa được gửi đến Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh để theo dõi B-52 hoạt động.

        Ngày 04 Tháng Mười, chỉ huy của 921 cử Biên đội của Đinh Tôn tới Đồng Hới để các phi công sẽ đi "săn" B-52. Các phi công này đã cất cánh sau lúc hoàng hôn, nhưng quân đội Hoa Kỳ đã gây nhiễu rất hiệu quả tất cả các liên lạc trong khu vực này khiến cho anh ta đã bay mà không liên lạc được với đài phát thanh mặt đất. Đinh Tôn sớm phát hiện ra hai chiếc B-52 ở phía trước, nhưng anh đánh giá tình hình không thích hợp để tấn công liền chuyển hướng đến Thọ Xuân.

        Ngày 20 tháng 11, thêm hai chiếc MiG-21 được gửi đến Vinh, và máy bay phản lực khác tới Anh Sơn. 20 giờ cùng ngày, B-52s đã được phát hiện 60 ki-lô-mét về phía Bắc của Xam Nua. Phi công Vũ Đình Rạng trở thành phi công máy bay chiến đấu đầu tiên của Không quân Việt Nam đánh chặn B-52.

        Lúc 20 giờ 46 phút, Vũ Đình Rạng cất cánh từ sân bay Anh Sơn. ở trên trời, anh được sở chí huy mặt đất thông báo rằng ba mục tiêu cách anh 100 ki-lô-mét. Anh ta vứt thùng dầu phụ và kéo lên độ cao 10.000 mét và ở khoảng cách 15 ki- lô-mét Vũ Đình Rạng bật công tắc ra-đa của minh, chuẩn bị sẵn sàng công kích. Lúc chỉ còn cách 8 ki-lô-mét anh ta bắn một quả tên lửa trúng một trong những chiếc B-52 rồi tìm cách thoát, lúc đó anh đã phát hiện một máy bay ném bom ở phía trước. Vũ Đình Rạng phóng tên lửa thứ hai của mình, và lúc 21 giờ 15 phút anh ta đã hạ cánh tại Anh Sơn. Ở đó, Rạng đã nói rằng lần đầu tiên chiếc máy bay B-52 đã bị bắn trúng, và hư hỏng nặng phải hạ cánh khẩn cấp tại Thái Lan.

        Những nỗ lực bắn hạ B-52, củng như quyết tâm ngày một tăng của quân đội Bắc Việt hướng về phía Nam đã nhắc nhỏ cho Tổng thống Richard Nixon như một cảnh báo, nếu như ông ta cho ném bom Hà Nội sẽ bị Không quân Việt Nam đánh trả một cách tương tự như vậy. Đó sẽ là mới đe dọa lớn khi máy bay Mỹ thâm nhập Không phận Bắc Việt Nam. Quả đúng không sai, ngày 18 tháng 12 năm 1972 Lê Thành Đô và Võ Sĩ Giáp đã bắn hạ hai chiếc F-4D số hiệu 66-0241 và 65- 0799 của TRW.

        Thời điểm này, những cuộc không chiến tại Bắc Việt Nam đã trở nên đầy kịch tính.


        (Bản dịch của Thủy Hướng Dương).


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:44:09 AM

KHÔI PHỤC MÁY BAY CƯỜNG KÍCH A-37 CỦA MỸ

        Thời điểm đầu năm 1975, khắp nơi trên cả nước Việ Nam dồn dập tin chiến thắng. Nào là chiến dịch Tây Nguyên Buôn Ma Thuột được giải phóng, nào là chiến dịch Huế - Đà Nẵng, sân bay Đà Nẵng được giải phóng.

        Ngày 31 tháng 3 năm 1975 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự chắc chắn về chiến lược cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Miền Nam Việt Nam.

        Cũng đúng ngày 31 tháng 3 năm 1975 Tư lệnh Phòng không - Không quân Lê Văn Tri đã cùng Phó Trưởng phòng Máy bay Hồ Thanh Minh trên chiếc máy bay AN-24 bay vào sân bay Đồng Hới để từ đây chuyến sang trực thăng Mi-8 bay theo quốc lộ 1A qua Hồ Xá, Vĩnh Linh, đến cầu Hiền Lương - giới tuyến 17- nơi đã hai mươi năm (từ 1954 đến 1974) chia cắt đất nước thành miền Nam - Bắc. Rồi các anh lại bay qua Cồn Tiên, Dốc Miếu - một phòng tuyến pháo binh của Mỹ, đồng thời cũng là hành lang điện tử Mắc-na-ma-ra rải đến tận chân đường vận tải Trường Sơn.

        Phía xa kia, thành cổ Quảng Trị đã thấp thoáng bóng cờ Mặt trận giải phóng Miền Nam... Trời về chiều hơi có mưa phùn không thấy được đèo Hải Vân nên các anh quyết định hạ cánh ở sân bay Phú Bài- Huế ngủ đêm và nghỉ ngơi tại đây.

        Sáng hôm sau, Hồ Thanh Minh thức dậy bởi những âm thanh là lạ, không đến mức ồn ào nhưng có vẻ như rất khẩn trương vọng lại phía bên ngoài. Anh khẩn trương lên xe quân quản đưa đoàn tiền phương ra quốc lộ 1A, nhập vào dòng người di tản vào Nam.

        Hồ Thanh Minh nhìn theo dòng người đi trong im lặng -  một sự im lặng đáng sợ, chẳng ai nói với ai câu gì, chỉ thấy người và xe cứ thế nối đuôi nhau. Nam, nữ, già, trẻ... cõng, bồng bế nhau lẫn trong những người lính ngụy Sài Gòn đã trút bỏ áo, mũ, súng chạy theo xe Jeep, xe lam, xe Quân giải phóng...

        Đèo Hải Vân ùn tắc. Xe của đoàn quân quản cố vượt lên đến phòng tuyến trên đỉnh đèo. Ở đây, đập vào mắt Hồ Thanh Minh là ba chiếc xe bọc thép nằm nghiêng, với xác lính Sài Gòn nằm la liệt sát mép đường. Xuống đèo qua kho dầu Liên Chiểu, xe chạy dọc theo bãi tha ma trên cồn cát trắng rồi cuối cùng cũng đến được cổng sân bay Đà Nẵng.

        Người của ta đã đợi sẵn đoàn ở cổng sân bay lập tức đưa đoàn vào vào sở Chỉ huy Sư đoàn 3 Không quân (Sở Chỉ huy của Không quân ngụy trước đó là đóng quân ở sân bay Đà Nẵng).

        Trong lúc cùng đoàn kiểm tra thị sát xung quanh Sở Chỉ huy, Hồ Thanh Minh đã tìm được trong đống ngổn ngang các thiết bị vô tuyến, băng từ một số thông tin về thực lực máy bay của địch còn lại. Anh trèo lên đài chỉ huy bay đưa mắt nhìn toàn cảnh sân bay thấy không còn nhiều máy bay ngoài hai chiếc cường kích A-37, một máy bay F-5A cuối đường băng, một chiếc trực thăng UH-1 trong bãi kho xăng dầu.

        Quan sát kỹ, Hồ Thanh Minh thấy chiếc A-37 mang số hiệu 778 bị xịt lớp trái quay nghiêng vào mép trái đường băng cất cánh và gần đó một xác phi công Ngụy trong trang phục bay đã bị bắn chết. Anh đi tiếp vào “hang-ga” ở gần đài chỉ huy thấy chiếc A-37 số hiệu 980 đầu quay hẳn ra đường băng cất cánh, nhưng nắp buồng lái lại đóng và gần ngay đó, ở góc phải “hang-ga” lại có thêm một xác phi công nữa.

        “Chắc hẳn hai viên phi công này bị bắn cùng một lúc khi Sư đoàn 3 Không quân Sài Gòn rút chạy bay vào Biên Hòa hoặc Cần Thơ bị mắc kẹt lại, do quân ta tấn công vào sân bay Đà Nẵng quá nhanh và bất ngờ” - Hồ Thanh Minh nghĩ vậy.

        Một cảm giác thương cảm dâng lên khiến anh cảm giác ớn lạnh, nặng nề, linh cảm hình ảnh này sẽ là một hình ảnh ám ảnh trong đòi mình. Tuy nhiên cảm giác đó nhanh chóng qua đi để nhường chỗ cho những hi vọng về khả năng của những việc sẽ làm khi tiếp quản sân bay Đà Nẵng bùng lên trong đầu.

        Sau khi xử lý hai thi thể phi công địch, thiếu tá Đoàn Đà cùng anh em kỹ thuật của ta và một số nhân viên kỹ thuật của Sư đoàn 3 Không quân Sài Gòn cộng tác đưa máy bay F-5A vào ụ vòm cuối đầu đông. Còn hai chiếc A-37 vẫn trong tình trạng nguyên chiếc thì đưa vào hai ụ vòm xi măng ở gần giữa sân bay để sửa chữa và khôi phục.

        Và đến chiều ngày 12 tháng 4 năm 1975 khi công tác tổng kiểm tra kỹ thuật hoàn tất, thì những động tác lăn thử, cất cánh giả lăn bánh trên đường băng đã được các phi công Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế từ Thọ Xuân, Hà Nội vào luyện bay thực hiện an toàn.

        Hồ Thanh Minh phấn khởi báo cáo Chính ủy Hoàng Phương khẩn trương đưa phi công lái MiG-17 vào Đà Nẵng, tìm hiểu và học chuyển loại máy bay cường kích A-37, chuẩn bị thật tốt cho chiến dịch sắp tới.

        Nhưng đến ngày 20 tháng 4 năm 1975 ta mới chỉ có sửa chữa được hai chiếc A-37, thì làm sao đủ để đối phó với bao nhiêu chiếc khác của Mỹ? Trong khi thời gian đến giờ G của chiến dịch chỉ còn vài ngày. Việc tìm lấy thêm máy bay A-37 trên các sân bay Pleiku, Phan Rang, Phù Cát gặp nhiều khó khăn, khi phòng tuyến Xuân Lộc đã được giải phóng.

        Tình hình đã trở nên gấp gáp, vì thế tối 20 tháng 4 năm 1975 tại nhà ăn của Sư đoàn 3 Không quân ngụy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương đã triệu tập cuộc họp giao cho Tổ Đặc nhiệm, do Thiếu tá Hồ Thanh Minh là tổ trưỏng của ba kỹ sư hàng không Nguyễn Văn Soạn, Nguyễn Đình Thùy và Ngô Anh Tuấn cùng 12 nhân viên kỹ thuật của Không quân Sài Gòn tự nguyện phục vụ quân giải phóng, nhận trọng trách tìm và sửa chữa khôi phục thêm ít nhất từ 6 đến 8 chiếc A-37 nữa - một nhiệm vụ đầy khó khăn và nguy hiểm không lường trước được.

        Trưa ngày 23 tháng 4 năm 1975 trực thăng Mi-6 đưa toàn bộ 16 người trong Tổ Đặc nhiệm vào sân bay Phù Cát (Bình Định). Đây là sân bay nằm trên vùng đồi sim nắng cháy, bọn địch vừa rút chạy nên vắng lặng không có một bóng người. Kể cả đài chỉ huy cũng đứng lặng lẽ ở cuối sân bay, không một tiếng động cơ máy nào hết, còn số máy bay hỏng thì nằm yên trong ụ vòm xi măng.

        Du kích địa phương cho hay: Một số địch còn ở lại trôn dưới hầm ngầm trong các dãy nhà gỗ mái tôn của Mỹ để đợi phản chiến... mặc dù phòng tuyến Xuân Lộc đã bỏ chạy về mạn Long Khánh.

        Cả Tổ Đặc nhiệm vội đếm xem còn bao nhiêu chiếc máy bay trong ụ, tất cả có 14 chiếc nhưng xem ra chỉ có khoảng 9 chiếc còn nguyên chiếc, còn 5 chiếc kia chắc phải sử dụng làm kho phụ tùng.

        Tính từ lúc tìm được máy bay cho đến đêm 24 tháng 4 năm 1975, cả Tổ Đặc nhiệm vẫn lăn ra sửa chữa hết kiểm tra hệ thống dầu khí lại đến thông điện... miệt mài thế mà mới chỉ được thêm có ba chiếc nữa mang số hiệu 921, 950, 394 cộng thêm với 3 chiếc hôm qua mang số hiệu 920, 285, 431 là 6 chiếc.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:44:39 AM
     
*

        Thế là đã 5 ngày Tố Đặc nhiệm của Hồ Thanh Minh không ai được tắm rửa, cho dù trời nắng nóng rất khó chịu. Xê chiều rồi mà trời vẫn nắng, ai cũng khát khô cả cổ. Cả tể hội ý nghỉ một lát ra ngoài sân bay hóng mát và tranh thủ nghe tin chiến thắng thì đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân - người đầu tiên và duy nhất đến thăm Tổ Đặc nhiệm “thầm lặng” đến với gương mặt rạng rỡ thông báo:

        - Chiều mai, 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Bộ Chính trị chính thức đồng ý sử dụng máy bay A-37 thu được của địch để sử dụng ném bom vào sào huyệt địch. Sẽ điện báo để Quân chủng Phòng không - Không quân cho phi công vào Phù Cát bay thử...

        Nghe đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân nói vậy, cả Tổ Đặc nhiệm lại vội vàng quay lại xưởng, cố gắng hoàn thành nốt công việc cho xong cả chín chiếc A-37.

*

        Từ sáng sớm ngày 26 tháng 4 năm 1975, chín chiếc máy bay A-37 được kéo ra đường băng sân bay Phù Cát bên cạnh đài chỉ huy bay. Từng chiếc lần lượt nổ máy để kiểm tra động cơ bay. Chỉ có hai chiếc mang số hiệu 394 và 792 là không đủ công suất để cất cánh, bảy chiếc còn lại được chuẩn bị theo quy trình bay thử... Một chiếc AN-24 chở phi công cùng một chiếc A-37 số hiệu 778 từ Đà Nẵng bay vào Phù Cát làm cho không khí ở Đài chỉ huy và sân bay như sông lại, nhộn nhịp hẳn lên.

        Trong chốc lát, những chiếc A-37 lâu nay nằm yên trong ụ vòm giờ được hồi sinh, lần lượt được Phi công Nguyễn Thành Trung (người đã lái chiếc F-5E của địch ném bom vào Dinh Độc Lập của Chính quyền Sài Gòn) và Từ Đễ (phi công của Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế từ Thọ Xuân - Thanh Hóa vào) cho cất cánh và hạ cánh an toàn ở sân bay Phước Long). Các anh bình tĩnh lên từng chiếc kiểm tra, nổ máy, lăn ra đường băng cát cánh rồi bay vút vào khoảng trời trong xanh rồi vòng liệng về và hạ cánh...

        Cho đến lúc thử bay chiếc cuối cùng trở về an toàn, thì tất cả mọi người trên sân bay lúc đó mới như trút được gánh nặng trên vai. Năm trong số chín chiếc A-37 đã sửa được chọn lựa cho cuộc tống tiến công. Năm chiếc ấy sẽ được giao cho Phi đội Quyết Thắng.

        Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng đã bay vào Phan Rang, chờ lệnh cất cánh làm nhiệm vụ lịch sử có một không hai trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

*

        Sở Chỉ huy chiên dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Phòng không - Không quân, cùng các cộng sự có liên quan đến đặc vụ này đều mừng vui, phấn chấn vì đã có chắc chắn trong tay những chiếc máy bay đã thử tốt cùng sáu phi công của Phi đội Quyết Thắng tiếp thu, sẵn sàng thực hiện trận không kích thần tốc vào sân bay Tân Sơn Nhất.

        Tổ Đặc nhiệm phân công ba vòng canh giữ A-37 đề phòng địch từ đồi sim phía Tây sân bay, hoặc từ các hầm bí mật dưới doanh trại lén vào phá nổ máy bay. Vừa phải kiểm tra các giá mắc bom, đạn, ghế ngồi của phi công, vừa phải nạp bình ắc qui...

        Thực ra, cả tổ đã hết cả gạo, thịt hộp mang theo. Đã hai ngày nay phải ăn lương khô thay cơm rồi. Càng về đêm bầu trời càng trong xanh, những vì sao sáng hơn trên bầu trời miền biển cực nam Trung Bộ - cái nôi của nghệ thuật hát tuồng, hát bài chòi và môn phái võ Tây Sơn - Bình Định, âm vang trông trận của Hoàng đế Quang Trung từ Rạch Gầm - Xoài Mút, sự mường tượng về sự anh dũng oai phong của người anh hùng áo vải mà dân gian vẫn hay gọi là Hồ Thơm cứ dồn dập ùa về trong suy nghĩ của Thiếu tá Hồ Thanh Minh.

        Anh nhìn về nơi tạm nghỉ qua đêm của các phi công MiG-17 từ Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế thầm ước có một điều kỳ diệu nào đó sẽ xảy ra nơi vùng đất “địa linh, nhân kiệt” này. Có lẽ Hoàng đế Quang Trung sẽ phù hộ cho Hồ Thanh Minh cùng các đồng đội làm nên chiến thắng vì anh bỗng cảm thấy có một sợi dây vô hình đang nối quá khứ với hiện tại rất khăng khít

        Hồ Thanh Minh nhớ lại lần anh suýt chết ngày 28 tháng 4, khi ta ném bom xong thì một viên Chuẩn tướng ngụy tên là Hoàng Văn Tuấn định dùng F-5 để đuổi theo nhưng chiếc máy bay này đã hỏng ắc qui không nổ máy được, sau đó có một tay phi công lái một chiếc F-5 khác cất cánh đuổi theo ta mà không kịp vì ta đã về đến sân bay rồi. Tay phi công này bay đến Phan Rang rồi quay về, khi quay trở về không hiểu có phải tay phi công đó hay hai chiếc đi sau phát hiện trên sân bay Tân Sơn Nhất rất nhiều ô tô, người chạy ra nhiều quá, nên đã chột dạ gọi qua bộ đàm về cho Hoàng Anh Tuấn đang trực chỉ huy, hạ cánh ngay ở giữa sân bay rồi vội vã mở cửa máy bay chạy ra.

        Chuẩn tướng Hoàng Anh Tuấn quan sát thấy phi công của quân lực Sài Gòn mở cửa chạy thục mạng, trong khi trên sân bay nhốn nháo xe cộ lại nghĩ là Không quân Bắc Việt Nam đã chiếm trọn sân bay (ông ta không biết rằng lúc đó là các xe muốn thoát ra ngoài sân bay) nên hốt hoảng gọi sang Thái Lan: “Tình huống đã nguy cấp, phi trường Tản Sơn Nhất đã bị phong tỏa, hãy dừng ngay không cho hai chiếc C130 bay sang !" .

        Trên thực tế, trước đó không lâu Mỹ đã nhìn nhận khả năng xấu nhất có thế xảy ra với những quan chức Mỹ đang làm việc tại Việt Nam, nên đã điều hai chiếc C130 bay từ Thái Lan sang để chở những người này di tản. Nhưng không ngờ thông tin mà Chuẩn tướng Ngụy Hoàng Văn Tuấn phát đi, phía Mỹ không để lọt câu nào. Chính vì vậy mà chỉ sau 6 tiếng sau Tổng thổng Mỹ đã quyết định mở một chiến dịch chưa từng có: dùng trực thăng cứu những quan chức Mỹ về nước sáng ngày 30 tháng 4.

        Cũng đêm ngày 28 tháng 4 ấy, Hồ Thanh Minh cùng Nguyễn Đình Thúy lắp kíp vào giá bom để chuẩn bị đánh ở Biên Hòa. Khi đã lắp xong, kiểm tra lại rồi anh mắc màn ngay dưới cánh máy bay tranh thủ ngủ, thì có một chiếc máy bay bay đến ném pháo sáng trước, rồi liền sau đó thả bom luôn. Lúc đó Đại úy Thương (một sĩ quan hàng binh được ta tin tưởng giao cho hợp tác cùng thợ máy của ta làm việc) đang hút thuốc lá gần đó, chỉ kịp lao vào đẩy Hồ Thanh Minh đang ngủ ra chỗ khác.

        Khi đã qua khỏi giây phút tử thần, hai anh em nhìn lại thấy cái màn bị một mảnh bom làm thủng một lỗ to bằng bàn tay, rơi xuyên xuống tấm đệm.

        Đến giờ nghĩ lại, Hồ Thanh Minh vẫn thấy hồi hộp vì may mắn: Chỉ cần nó ném chệch đi một chút nữa, thì chắc chắn 5 chiếc máy bay A-37 đã lắp bom cùng với toàn bộ thợ máy và cả Hồ Thanh Minh sẽ chỉ còn là những mảnh vụn.

        Vậy là anh lại có một đêm không ngủ nghĩ về những chiếc A-37, những sự kiện đã trải qua trong đời lính và về sự kiện trọng đại của đất nước sắp xảy ra mà chính anh và đồng đội sẽ trực tiếp tham gia.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:46:39 AM

TRƯỚC TRẬN ĐÁNH LỊCH SỬ

        Trước giải phóng miền Nam ít ngày, cấp trên giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Thọ - Giáo viên bay kỳ cựu cũng là Phó Trung đoàn trưởng Đoàn Không quân Yên Thế:

        - Ngày mai cậu vào Đà Nẵng, phụ trách chuyển loại F-5 và A-37 thu được của Mỹ, chuẩn bị cho chiến dịch Giải phóng miền Nam nhé.

        - Báo cáo Theo kế hoạch, mai tôi còn hai chuyến bay kèm nữa, thì tính sao đây? - Nguyễn Văn Thọ ngạc nhiên hỏi.

        - Ừ thì sáng cậu xách đồ bay ra kèm chúng nó, trưa cậu nhảy ô tô về Gia Lâm rồi lên máy bay vào Đà Nẵng là được chứ gì mà

        - Rõ, thưa Thủ trưởng! - Thọ chấp hành mệnh lệnh.

        Sáng hôm sau, khi đã kèm xong hai chuyến bay anh xuống nhà bếp nhận 200 đồng làm hành trang “Nam tiến”. Tranh thủ lúc chờ đợi, anh ghé về qua nhà đưa cho vợ 100 đồng rồi mới yên tâm đi làm nhiệm vụ mới, nhiệm vụ này chưa biết được sống chết ra sao.

        Vừa tới sân bay Đà Nẵng, thì Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân Trần Mạnh đã tới gặp anh:

        - Ngày mai cậu cho anh em nó bay nhé!

        - Anh... anh nói gì thế? Anh định đưa tôi ra tòa hả?

        - Sao lại "ra tòa"? Việc có thế, cậu cứ làm đi! Ra tòa đã có tôi - Trần Mạnh có vẻ quả quyết.

        - Xưa tôi đi chuyển loại sang MiG-17 mất một năm, từ MiG-17 sang MiG-21 mất một tháng kìa. Giờ anh bảo tôi chuyển loại sang máy bay của Mỹ, chưa hề biết gì về loại máy bay của các nước tư bản mà bảo chỉ có vài ngày với mấy người. Tôi ra tòa án binh là cái chắc còn gì?

        - Thôi, cậu cứ thế mà làm - anh Mạnh xua tay- Sáng mai cậu cho anh em bay thử. Không còn thời gian nữa đâu.

*

        Tại sân bay Đà Nẵng đã có mặt hai phi công hàng binh là Nguyễn Văn Xanh và Trần Văn On. Xanh đã từng bay rất nhiều giờ, ném bom trên 800 lần vào các mục tiêu trước đây. Còn On người Bến Tre, gốc nông dân có vẻ hiền lành hơn, hai viên phi công này được cấp trên tin tưởng chọn làm nhiệm vụ giúp đỡ Giáo viên bay của ta huấn luyện chuyển loại cho Phi đội Quyết Thắng.

        Nguyễn Văn Thọ nhanh chóng bắt tay vào việc ngay.

        Đến ngày 27 tháng 4 năm 1975. Lệnh ở trên cho bộ phận chuyển loại chuẩn bị đưa máy bay về sân bay Phù Cát tập hợp với năm chiếc A-37 ở trong đó nữa sẵn sàng bay thử. Nguyễn Văn Thọ với vai trò chỉ huy rất phân vân, chưa biết nên phải sắp xếp phi công bay thế nào. Giao hết cho phi công hàng binh thì cũng không được, bởi những phi công này mới được thu nhận, tốt xấu thế nào cũng chưa đánh giá ngay được. Mà giao cho phi công ta thì mới có mấy ngày, không biết có đủ tự tin mà lái?

        Hai phi công Xanh và On đề nghị:

        - Các anh vừa mới học chuyển loại, chưa đủ khả năng điều khiển, rất có thể sẽ xảy ra tai nạn. Xin anh cứ để chúng tôi lái cũng được.

        Nguyễn Văn Thọ ngẫm cũng phải, một lát anh nói:

        - Tôi đồng ý đê cho các anh lái. Nhưng tôi nói trước, hiện nay Nha Trang chưa được giải phóng. Nếu có giải phóng thì tôi nạp dầu rất ít, chỉ đủ bay trong vòng 25 phút, chỉ đủ bay trong vùng chúng tôi đã giải phóng, hết dầu là các anh phải chịu. Hơn nữa phi công của tôi đã từng bắn rơi máy bay Mỹ, nếu các anh ra khỏi vùng kiểm soát của tôi, tôi sẽ cho phi công tôi cất cánh bắn rơi các anh ngay.

        Rất may, sáng ngày hôm đó, mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Bốn chiếc được thử đều hạ cánh an toàn .

        Tối hôm đó Xanh, On hỏi Nguyễn Văn Thọ:

        - Mọi khi ở Đà Nẵng, ăn cơm xong là các anh đưa bọn em về trại ngủ. Hôm nay bọn em ngủ đâu được?

        Nguyễn Văn Thọ cười bảo:

        - Thì ngủ với tôi. Nhưng các cậu phải nhớ một điều này: ở xung quanh đây toàn là du kích cả. Nếu các cậu ra khỏi khu vực cho lái ở, là họ sẽ bắn chết. Các cậu cần phải biết tôi là dân Bình Định, võ nghệ cũng không phải thường đâu. Khẩu súng của tôi để đây - Nguyễn Văn Thọ vỗ tay vào khẩu súng đeo bên sườn - Chỉ cần lục cục một cái là tôi bắn liền. Thôi, các cậu kéo đệm ra đây.

        Xanh, On nghe anh Thọ nói xong im re, chạy đi kéo hai tấm đệm ra cửa phòng ở của phi công ngụy ở cũ. Trời nóng mà chẳng có điện và mùng màn gì cả. Ba con người của hai chiến tuyến cứ thế nằm ngủ. Thực ra vì quá mệt nên Thọ ngủ rất say, sáng hôm sau tỉnh dậy đã bảy giờ sáng mà Xanh và On vẫn nằm nguyên trên đệm chưa dậy. Nguyễn Văn Thọ ngạc nhiên hỏi:
- Sao các cậu không dậy đi?

        - Anh dặn là khi nào anh dậy mới được dậy còn gì? -  On trả lời.

        Nguyễn Văn Thọ suýt phì cười vì câu trả lời của On, nhưng cố kìm lại, giọng nghiêm nghị:

        - Thôi các cậu dậy, làm vệ sinh cá nhân đi rồi ăn sáng, chuẩn bị đưa máy bay về Phan Rang. Tôi sẽ đi trước bằng AN-24.

*

        Khoảng 8 giờ 30 phút ở sân bay Phan Rang cùng ngày đó, Nguyễn Văn Thọ đã tiếp nhận năm chiếc A-37 hạ cánh an toàn. Lúc bấy giờ anh mới thở phào nhẹ nhõm.

        Nguyễn Văn Thọ chỉ huy cho Tổ Đặc nhiệm bảo đảm kỹ thuật bay của Hồ Thanh Minh nhanh chóng lắp bom, nạp dầu đầy đủ, sau đó đi giao nhiệm vụ. Anh có hỏi một tướng Nguy bị bắt làm tù binh xem thử năm chiếc này nên bay thế nào trong trận sắp tới? Ông ta nói:

        - Nếu tôi là quân giải phóng, tôi sẽ cho cất cánh bay thấp từ sân bay Phan Rang đến Vũng Tàu mới kéo cao lên.

        Suy nghĩ hồi lâu về phương án mà viên tướng hàng binh kia gợi ý, Ban chỉ huy quyết định cử Nguyễn Thành Trung dẫn đầu Biên đội gồm Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng và Hoàng Mai Vượng theo đúng ý đồ sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:47:24 AM

TIẾT LỘ SỰ THẬT VỀ TRẬN ĐÁNH SÂN BAY TAN SƠN NHẤT NĂM 1975

        Đại tá Hán Văn Quảng, Nguyên Sư đoàn trưỏng Sư đoàn Không quân 372, một trong năm thành viên của Phi đội Quyết Thắng đã trực tiếp thực hiện cuộc ném bom có một không hai trong lịch sử Không quân Việt Nam vào sân bay Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, làm rung động cả Sài Gòn, vừa tiết lộ những chi tiết còn ít người biết đến

        Vào thời điểm cuối tháng 4 năm 1975, trước sức mạnh tấn công của quân và dân ta, nhất là sau khi đã mất Xuân Lộc, địch vứt bỏ Long Khánh, Trảng Bom để lui về củng cố các tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn nhằm ngăn chặn các mũi tiến công của quân dân ta vào các trung tâm đầu não của chúng.

        Bọn Mỹ đang khẩn trương xúc tiến kế hoạch di tản những quan chức cấp cao của quân đội, Chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn, các chuyên viên kỹ thuật và những người có quan hệ mật thiết với chúng. Đồng thời Mỹ cũng tháo dỡ mang đi hoặc phá hoại các phương tiện chiến tranh của Không quân và Hải quân cùng các thiết bị kỹ thuật hiện đại khác nữa.

        Địch cũng đã chuyển toàn bộ máy bay F-5 từ sân bay Biên Hòa sang Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ cùng với bộ binh cố thủ các tuyến phía bắc Sài Gòn và đánh chặn khi có Không quân của ta hoạt động. Máy bay A-37 tập trung tất cả về sân bay Bình Thủy (Cần Thơ), có nhiệm vụ chi viện trực tiếp cho bộ binh cố thủ các tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn về phía Tây Nam. Lực lượng cao xạ của địch thì tập trung vào bảo vệ Dinh Độc Lập và hướng Sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trước tình hình đó, căn cứ vào chỉ thị của Thường vụ và mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không -  Không quân. Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân quyết định phát huy nỗ lực cao nhất, khắc phục mọi khó khăn, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh của trên, tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam.

        Binh chủng đã chọn được một số phi công ở các Biên đội bay thuộc Đoàn Không quân Yên Thế, Sư đoàn 371, trong đó lấy Đại đội 4 anh hùng làm nòng cốt và lấy “Bí mật, bất ngờ, mưu trí hết sức táo bạo, chủ động tấn công mục tiêu địch” làm phương châm.

        Và điều quan trọng nhất là không được dùng máy bay của ta mà phải dùng máy bay của địch đế đánh địch! Một trong những phi công được chọn trong đợt này, đó là phi công Hán Văn Quảng.

        Trung úy Hán Văn Quảng đang trực bay đêm ở sân bay Đồng Hới (Quảng Bình) phấn khởi lắm, được nhận nhiệm vụ lớn lao như vậy, thật không còn gì vui hơn. Anh được cấp trên cho phép, tranh thủ trở về Hà Nội báo tin cho gia đình biết rồi hối hả quay lại đơn vị thu xếp tư trang đi ngay vào sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa) để chuẩn bị chuyển trường. Tại đây, Đoàn Không quân Yên Thê nhanh chóng đưa anh vào Đại đội 4 anh hùng (mà sau này được gọi là Phi đội Quyết Thắng) cùng với một số phi công khác như Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Văn Lục...

        Hán Văn Quảng dường như có vẻ sốt ruột hơn cả vì anh chỉ mong làm sao được thực thi nhiệm vụ ngay, một phần vì từ trước tới nay hoạt động ngoài miền Bắc, các sân bay đều nhỏ, có nơi vẫn là sân bay đất, ngoại trừ đường băng là bê tông, hơn nữa các sân bay miền Bắc hầu như thiếu thốn phương tiện. Anh nghe nói sân bay trong Nam rộng rãi hoành tráng lắm, vì người Mỹ giàu có đầu tư.

        Hán Văn Quảng chỉ muốn nhanh chóng lên đường để xem sân bay của chúng to lớn chừng nào? Một phần nữa là vì “lần này đi, nhiệm vụ cao cả, tự hào lắm, tham gia một chiến dịch lịch sử lớn nhường này, có phải ai cũng được lựa chọn đâu? Mình phải cố gắng thật nhiều mới được” - Hán Văn Quảng nghĩ thế.

        Ngày 22 tháng 4 năm 1975 anh lại được lệnh chuyển trường vào sân bay Đà Nẵng. Hồi hộp lắm. Vậy là gần đến thời điểm lịch sử rồi. Hôm trước, ngày 20 tháng 4 năm 1975 hai phi công Từ Đễ và Hoàng Mai Vượng đã lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm, hôm nay toàn bộ lực lượng còn lại bao gồm cả phi công cùng tổ thợ máy do Trần Minh làm tổ trưởng di chuyển vào Đà Nẵng bằng máy bay AN-24 cất cánh từ sân bay Gia Lâm. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ, Hán Văn Quảng cùng đồng đội đã có mặt ở sân bay Đà Nẵng, từ trên máy bay nhìn xuống Quảng thấy những mảnh áo, quần, giấy tờ xanh, đó, tím, vàng, trắng khắp nơi trên hàng rào dây thép gai quanh sân bay, trên cành cây, đó là những gì mà mấy người di tản vội vã đã làm rơi, những thứ đó cứ gặp chỗ nào mắc được là mắc luôn vào.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:20:13 AM

        Lúc này Hán Văn Quảng bỗng dâng lên một cảm xúc thấm thìa thế nào là sự điêu tàn của chiến tranh, mặc dù trên bầu trời Đà Nẵng trong xanh đến khó tả và nắng thì vàng ánh lên khác hẳn với ngoài Hà Nội. Những tấm áo quần màu sắc cứ theo gió bay phần phật, dập dàn làm Hán Văn Quảng liên tưởng tới một thành phố bỏ hoang, vừa phải trải qua một trận động đất nào đó. Tự nhiên, anh cảm thấy lòng mình đau nhói...

        Rồi những cảm xúc ban đầu cũng qua đi. Anh lấy lại tinh thần, trước mắt anh và đồng đội còn rất nhiều khó khăn. Phải nhanh chóng ổn định chỗ nghỉ ngơi để chiều nay phải bắt tay ngay vào việc học lái chuyển loại.

        Cấp trên đã ra chỉ thị từ trước, bọn Mỹ Ngụy khi bỏ chạy đã để lại dọc đường rất nhiều trực thăng và máy bay A- 37 - loại máy bay mà phi công Mỹ thường gọi đùa là “máy bay du lịch”, bởi lẽ loại máy bay này có thể chứa hai người, toàn bộ phía trên khoang buồng lái và chỗ ngồi đều là kính trong suốt. Nếu một cặp tân hôn nào đó mà đi “tuần trăng mật” bằng chiếc máy bay này thì tha hồ mà ngắm trời, ngắm đất...

        Nhưng đừng tưởng nó có tính chất du lịch mà coi thường, A-37 có thể mang theo khoảng 4 tấn bom, tức nặng hơn trọng lượng của nó mà vẫn cơ động linh hoạt hơn hẳn các loại máy bay chiến đấu khác.

        Tuy vậy, không phải cứ thế mà bay ngay được, phải sửa chữa và khôi phục lại những máy bay mà địch bỏ lại, rất nhiều chiếc bị hỏng hóc nặng.

        Học lý thuyết tưởng như đơn giản mà hóa ra không phải, vì A-37 là loại máy bay của nước tư bản, tất cả các thiết bị, công tắc, đồng hồ đều bằng tiếng Anh, không giống như của các nước xã hội đều là tiếng Nga mà các phi công ta đã được học qua. Hơn nữa, hệ thông phanh của máy bay MiG-17 là phanh tay, còn A-37 lại là phanh chân. Sự khác biệt giữa hai loại là rất lớn.

        Ngay buổi chiều 22 tháng 4 năm 1975, các giáo viên huấn luyện Nguyễn Văn Xanh, Trần Văn On (trước kia là những phi công quân đội Sài Gòn cũ, vừa được chính Tư lệnh

        Quân chủng Phòng không Không quân trực tiếp tuyển chọn và tiếp nhận về phía ta làm công tác hướng dẫn chuyển loại cho phi công MiG-17 phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh), khẩn trương dạy lý thuyết cho phi công của ta.

        Tất cả anh em phi công đều tập trung cao độ để học cho thuộc, tìm cách nhờ người dịch các nút, đồng hồ... trang bị trên máy bay ra tiếng Việt, thậm chí dán ngay chỉ dẫn bằng tiếng Việt trên khắp các thiết bị để khỏi nhầm.

        Có lúc Hán Văn Quảng cùng Nguyễn Văn Lục truy bài nhau bằng cách chui vào buồng lái giữa cái nắng nóng ngột ngạt, từng người đọc tên loại đồng hồ hay nút công tắc nào, thì người kia phải nói rõ cách xử lý cho đến khi không ai còn nhầm lẫn mới bước ra khỏi máy bay. Có lúc tập hăng quá, Nguyễn Văn Lục bay, thì Hán Văn Quảng cầm sách hướng dẫn, cứ thấy cái đèn nào sáng thì lại hô:

        - Sáng đèn gì vậy mày?

        Hán Văn Quảng lại phải vội vàng lật lật giở từng trang để đọc ngay cách xử lý. Ra khỏi máy bay, hai anh em nhìn nhau phá lên cười.

        Cho đến ngày 24 tháng 4 năm 1975 thì việc học lý thuyết coi như đã xong. Tất cả đều sẵn sàng tâm lý để bay thử chuyên bay đầu tiên máy bay Mỹ. Hán Văn Quảng được phân công bay cùng với Trần Văn On. Trước khi lên buồng lái Quảng nói:

        - Bây giờ anh On để tôi lái thử, anh ở bên hướng dẫn giúp tôi. Nếu xảy ra trường hợp hay tình huống nguy hiểm, anh hãy trực tiếp thao tác nhé.

        - Ông cứ lái đi, thực ra tôi ở bên cạnh để ông bớt cảm giác lo lắng thôi, chứ tôi tin là ông có thể lái một mình được rồi - Trần Văn On cười.

        Hôm sau nữa, Hán Văn Quảng được bố trí bay thử cùng với Nguyễn Văn Lục, lần này hai anh em bay cũng rất là thuận lợi. Có vẻ như phi công MiG-17 tiếp thu học chuyển loại khá tốt. Đến ngày 27 tháng 4 thì việc bay thử kết thúc. Chỉ trong vòng có 5 ngày, mà phi công ta đã hoàn thành việc học chuyến loại. Dường như điều này là không tưởng, chưa từng xảy ra ở một quốc gia nào trên thế giới.

        Đúng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4 năm 1975.

        Hán Văn Quảng cùng đồng đội nhận được lệnh của đồng chí Tư lệnh Binh chủng Không quân chuyển toàn bộ lực lượng vào sân bay Phù Cát.

        Cả phi đội cất cánh ngay, tối chiều 27 thì cũng tại sân bay Phù Cát, phi đội nhận thêm được 4 chiếc A-37 nữa, nên lập tức lao vào luyện tập. Như vậy toàn phi đội đã có 5 chiếc A-37 sẵn sàng làm nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:20:30 AM

        8 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, đồng chí Tư lệnh Quân chủng trực tiếp quyết định lực lượng tham gia chiến đấu. Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On là những phi công được vinh dự lựa chọn nhận nhiệm vụ có tên trong biên đội mang danh hiệu “Phi đội Quyết Thắng” do chính đồng chí Tư lệnh Lê Văn Tri đặt tên.

        9 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng trong đó có Hán Văn Quảng với tinh thần quyết tâm thắng lợi trên 5 chiếc A-37 ròi sân bay Phù Cát (Phan Rang) chuyển đến sân bay Thành Sơn. Tại đây, Ban chỉ huy đã có mặt tại đài chỉ huy hạ cất cánh ở sân bay Thành Sơn vừa giải phóng khẩn trương thảo luận quyết định Phi đội Quyết thắng sẽ đánh vào mục tiêu nào hợp lý nhất Đánh vào mục tiêu quan trọng nào đế trong thời điểm Mỹ đang rút chạy thế này, vẫn để cho Mỹ con đường thoát về làm nó hoang mang. Nếu đánh vào Dinh Độc Lập hoặc Bộ tổng Tham mưu của địch thì nguy cơ Mỹ sẽ quay lại cứu đồng bọn sẽ rất cao và tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều. Còn nếu đánh cắt đường băng hoặc cảng Nhà Bè, nó sẽ không có đường băng mà rút chạy hoặc sẽ không thể lên tàu mà di tản. Trong khi ta đang muốn đuổi chúng đi.

        Cuối cùng, ban chỉ huy nhất trí thực hiện theo lời dạy của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” nên chọn đánh sân bay Tân Sơn Nhất, chỗ mà bọn Mỹ cất giấu rất nhiều máy bay. Ở mục tiêu này, chúng đang cất hàng chục chiếc máy bay các loại, đó cũng là cơ sở, chỗ dựa cuối cùng của địch để chuẩn bị di tản những tên đầu sỏ ác ôn, những tên tay sai có nợ máu với dân, với nước. Sân bay Tân Sơn Nhất lại gần Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn, và điều quan trọng nhất là gần Hội nghị Bốn bên đang diễn ra gần đó (Hội nghị bốn bên gồm có: Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Việt Nam cộng hòa, Mỹ và Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam do Nguyễn Thị Bình đứng đầu). Hơn nữa, sân bay Tân Sơn Nhất là mục tiêu dễ phá hoại, xa khu dân cư và có thể đánh thẳng, đánh táo bạo vào căn cứ nội địa của địch. Đánh mục tiêu này là có thể gây được những đám cháy, tiếng nổ lớn và gây được tác động có ý nghĩa chính trị trong thời điểm lịch sử vô cùng quan trọng.

        Sau khi quyết định phương án tác chiến, 5 chiếc A-37 lập tức cất cánh do phi công Nguyễn Thành Trung làm nhiệm vụ dẫn đội vì có kinh nghiệm và thông thạo địa hình, bay số Một, Từ Đễ bay số Hai, Nguyễn Văn Lục số Ba, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On bay số Bốn và Hán Văn Quảng bay số Năm làm nhiệm vụ quan sát bảo vệ đội hình. Nếu trong trường hợp gặp địch thì số Bốn và số Năm sẽ phải quay lại để đánh chặn địch giúp cho số Một, số Hai, số Ba an toàn đến mục tiêu.

        Trời mây thấp, cả Phi đội đều phải đi dưới mây, giữ độ cao 400 mét, từ Phan Rí, qua Phan Thiết đến cửa sông Sài Gòn rồi lại quay lại bên trái là sân bay Biên Hòa, bên phải là sân bay Tân Sơn Nhất, Biên đội cứ theo đường giữa hai sân bay mà tiến. Đi qua Phan Thiết, Hán Văn Quảng nhìn xuống phía dưới thấy khói lửa ngút trời. Chắc là vừa có trận đánh thì phải. Toàn Phi đội đã thông nhất là chỉ hành động bằng ám hiệu, không sử dụng vô tuyến điện đế tránh địch phát hiện cản trở.

        Lúc còn ở ngoài Phan Thiết, mây nhiều quá nên toàn Phi đội đã phát tín hiệu thống nhất đánh bom bay bằng, nhưng gần đến sân bay Tân Sơn Nhất thì bầu trời lại không còn mây nữa, trời xanh trong veo.

        Nghe tín hiệu của Nguyễn Thành Trung phát ra tạch tạch tạch ba lần liền, cả đội cũng lần lượt phát tín hiệu đáp lại tạch tạch tạch coi như tất cả đã nhìn thấy sân bay. Ngay lập tức toàn Phi đội hội ý nhanh chuyển ngay sang phương án ném bom bổ nhào (ném bom trực tiếp xuống mục tiêu, mục tiêu dễ dàng bị hủy diệt ngay).

        Khi đến sát sân bay cả Phi đội phát hiện có một chiếc AD6 của địch bay hướng ngược lại, Hán Văn Quảng liền rời đội hình quay lại theo dõi chiếc AD6, nhưng hình như chiếc AD6 chỉ lo việc hạ cánh, nên Hán Văn Quảng quyết định quay lại bám đội ngay.

        Số Một Nguyễn Thành Trung lượn vòng rồi ném loạt bom đầu tiên vào mục tiêu ra 4 quả, rồi Từ Đễ vào ném được 4 quả, Nguyễn Văn Lục ném nhưng không ra, Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On cũng ném được 4 quả, đến lượt Hán Văn Quảng ném được hết 4 quả. Hán Văn Quảng ném xong trở ra và bay hẳn lên trên cao quan sát xuống phía dưới sân bay rộng mênh mông như một biển lửa. Cả sân bay chỉ nghe có tiếng rầm rầm, những cột khói đen bốc lên nghi ngút, lửa bốc cháy cao đó rực trời.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:21:03 AM

        Trong khi đợi đồng đội lần lượt vào ném bom đợt hai, Hán Văn Quảng cứ bay ở trên phấn khởi nhìn mục tiêu đã bị phá hủy gần hết rồi anh trở lại ném thêm một đợt cuối cùng 4 quả. Đợt ném bom lần 2 này, Nguyễn Văn Lục đã ném được 2 quả, Vượng. On, Từ Đễ cũng vẫn ném được 4 quả. Riêng Nguyễn Thành Trung lại không ra quả nào.

        Bất chợt Hán Văn Quảng nhớ ra phải xem dầu còn đủ không? Sau 2 lần ném bom, cơ động khá nhiều, nhất là động tác bổ nhào tốn dầu không ít. Phải khẩn trương về căn cứ ngay nếu không sẽ không đủ dầu để hạ cánh.

        Anh bèn hô:

        - Tất cả anh em, hướng 150 thoát ly!

        Nghe tiếng hô của Hán Văn Quảng, cả Phi đội lập tức tập hợp trở quay về luôn. Riêng Nguyễn Thành Trung vì đợt ném lần hai chưa ra quả nào, nên anh vẫn còn muốn tiếp tục đánh thêm lần nữa.

        Vừa kéo sang 150 độ thì Hán Văn Quảng nhìn thấy một đám mây rất lớn từ phía cửa sông Sài Gòn bay lại, chớp nhằng nhằng, máy bay của ta mà đâm vào nó thì chỉ có rơi, nên Hán Văn Quảng nhanh trí hô: “Vòng trái, vòng trái đi". Biên đội tản sang trái ngay. Thế là thoát hiểm.

        Khi về Hán Văn Quảng bay số Một, Từ Đễ bay số Hai, Nguyễn Văn Lục số Ba, và Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On số Bốn. Gần về Phan Thiết, Từ Đễ nhắc:

        - Cẩn thận khi đi qua Phan Thiết nhé!

        Vừa nói dứt lời, từ dưới mặt đất pháo phòng không bắn lên ùng ùng sáng rực bầu trời. Hán Văn Quảng gần như hét vào bộ đàm:

        -Anh em, cơ động bay thấp!

        Lại qua một lần nguy hiểm nữa, thì ra lúc Phi đội bay vào sân bay Tân Sơn Nhất, Phòng không của ta không được biết kế hoạch vì Ban chỉ huy muốn giữ bí mật nên cứ tưởng là máy bay Mỹ, nên chờ trực Phi đội quay về để sẵn sàng tiêu diệt. Hán Văn Quảng liếc nhìn xem đồng đội có ai bị sao không, anh nhắc số Hai Từ Đễ nhìn bên phải, bên trái, đằng sau xem số Ba, số Bốn.

        Từ Đễ nói qua điện đàm:

        - Đã an toàn!

        - An toàn rồi, tập hợp! - Hán Văn Quảng lại ra tiếp mệnh lệnh.

        Chao ôi, lưới lửa phòng không dày đặc, may sao cả đội không bị dính quả pháo nào. Cả đội lại bay dưới mây trở về.

        Sắp về đến sân bay Thành Sơn, Từ Đễ báo cáo:

        - Đèn của báo dầu của tôi đã sáng, cho tôi hạ cánh trước đi!

        Hán Văn Quảng hô:

        - Tất cả thu cửa dầu nhỏ lại, số Hai tắt một máy đi!

        Hán Văn Quảng dạt sang một bên để Từ Đễ có đường hạ cánh.

        Quảng sốt ruột:

        - Số Hai đã nhìn thấy đường băng chưa?

        - Nhìn thấy rồi!

        - Bắt đầu hạ cánh đi!

        Từ Đễ được lệnh cho máy bay khẩn trương đáp xuống. Chạm tới đường băng, thì cũng đúng là lúc đồng hồ báo không còn dầu. Máy bay lăn lộc cộc trên đường băng chậm chạp. Tình thế nguy hiểm quá, Hán Văn Quảng hét lên:

        - Đánh sang một bên đi, đánh sang một bên đi! Để người sau còn vào!

        Từ Đễ đánh lái thật nhanh, chiếc máy bay của Từ Đễ dạt hẳn tới rìa đường băng. Vừa lúc đó thì Nguyễn Thành Trung phát tín hiệu muốn hạ cánh. Nguyễn Thành Trung cố ném thêm đợt 3 quay về đến Phan Thiết thì gặp F-5 của địch nghe tin sân bay bị Không quân Việt Nam đánh nên chúng cho quân từ Tây Ninh đuổi theo. Rất may là chúng đuổi theo được một đoạn thì hết dầu, nên không làm gì được đành quay lại.

        Cuối cùng thì mọi nguy hiểm đã qua hết, cả Biên đội đã lần lượt hạ cánh an toàn. Bước ra khỏi máy bay, Hán Văn Quảng ôm lấy Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Thành Trung, Trần Văn On, Hoàng Mai Vượng hét toáng lên:

        - Chiến thắng rồi! Chiến thắng rồi!

        Ai nấy mừng vui phấn khởi quên mất mình vừa trở về từ một nơi mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc. Vì thực ra không ai có thể tin được, cả Phi đội năm người lại còn sông toàn vẹn trở về. Ai cũng nghĩ rằng đi đánh trận này, ít nhất phải có ba chiếc máy bay bắn bị thương hoặc hi sinh.

        Cả Phi đội đang mải vui thì bỗng nghe đồng chí Tư lệnh đang trực ở Đài chỉ huy nghiêm giọng:

        - Tất cả, giữ kỷ luật chiến trường!

        Cả Phi đội không ai bảo ai, im re đi về phía đài chỉ huy. Không ngờ ở đây, các đồng chỉ chỉ huy, dẫn đường, thợ máy đã đông đủ cả. Đồng chí Tư lệnh, dường như không thể kìm nén niềm vui được nữa chạy ra ôm hôn từng phi công. Rồi mọi người bắt tay nhau, hò hát mừng Phi đội Quyết thắng lập công. Một trận đánh mà có lẽ lịch sử không bao giờ quên được. Có ai đó khóe mắt long lanh giọt nước mắt. Còn gì vui hơn chiến thắng lẫy lừng này!

        Phải nói rằng, với sức mạnh của toàn quân, toàn dân và cùng với các lực lượng khác nữa, Đoàn Không quân Yên Thế, và đặc biệt là Phi đội Quyết thắng đã nỗ lực hết sức bằng sự quyết tâm, bằng ý chí chiến thắng và bằng tinh thần yêu nước chỉ trong vòng 5 ngày học chuyển loại đã có một trận đánh oai hùng góp phần với cả nước giải phóng miền Nam hoàn toàn độc lập.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:22:07 AM
         
ĐOÀN KHÔNG QUÂN B70 VÀ NHỮNG ANH HÙNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

        Đoàn Không quân B70 ra đòi vào ngày 30 tháng 10 năm 1975 sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

        Đơn vị đóng quân ở vùng mới giải phóng khu 5. Đơn vị do Trung tá phi công Lê Oánh được bổ nhiệm làm Tư lệnh; Trung tá Lăng Khánh Văn làm Chính ủy; Trung tá Phạm Thái làm Phó chính ủy; Trung tá Nguyễn Hào Hiệp - quyền tham mưu trưởng, làm nhiệm vụ chính là quản lý các sân bay kho xưởng trong khu vực Khu 5, nhanh chóng củng cố và xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu hiệp đồng với bộ đội Phòng không, Hải quân và lực lượng vũ trang Quân khu 5 bảo vệ vùng trời, biển và lãnh thổ của Tổ quốc.

        Trải qua bao nhiêu nhiệm vụ từ khi mới giải phóng nào là truy quét Ful-rô, rồi những năm cuối thập kỷ 80 tình hình khu vực Đông Nam Á diễn biến phức tạp đơn vị đã bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc.

        Không những thế trong thời kỳ ổn định hòa bình, Đoàn Không quân B70 với sự tham gia lãnh đạo của những phi công anh hùng của Đoàn Không quân Yên Thế, Đoàn Không quân Sao Đỏ năm xưa như Nguyễn Hồng Nhị, Phạm Ngọc Lan, Hồ Văn Quỳ hay những phi công trong thời kỳ đổi mới như Võ Văn Tuấn, Lê Minh Thành, Nguyễn Kim Cách, Lâm Quang Đại... đã và đang luôn cố gắng mọi nỗ lực để cùng với từng thành viên Sư đoàn góp phần làm cho truyền thống anh hùng ngày càng đậm nét.

        Theo tinh thần đó, đã không ít những phi công Đoàn Không quân B70 trong thời kỳ đổi mới đã bằng cả tính mạng và trách nhiệm bảo vệ máy bay, khí tài như đứa con của mình. Đó quả là những con người đáng được trân trọng ngưỡng mộ. Trọng chiến tranh, việc phi công hi sinh đã là một sự giằng co trong suy nghĩ của bao người ra trận, hoặc có thể coi là một sự đương nhiên...

        Nhưng trong thời bình, khi mà mọi người xung quanh đang vui cuộc sông thanh bình và hưởng thụ thì đấu tranh giữa sông và chết còn khó khăn hơn nhiều thế mà các anh phi công Nguyễn Văn Thận, Hoàng Quỳnh, Đào Quốc Kháng, Nguyễn Văn Tỉnh (Trung đoàn 935, thuộc Đoàn Không quân B70) đã không hề tiếc tính mạng cứu những chiếc máy bay SU trị giá hàng chục triệu đô la - tài sản của đơn vị cũng là tài sản chung của đất nước, của nhân dân.

       
*

        Tháng 8 năm 2009, Đại tá Lưu Huy Chao có dịp trở lại trường Sĩ quan Không quân Nha Trang - nơi ông đã từng đảm nhận vị trí Phó Hiệu trưởng Nhà trường, nơi rất nhiều kỷ niệm cuối đời binh nghiệp của người anh hùng. Ông hồi tưởng lại...

        Ngày tôi còn làm việc, trường có nhiệm vụ nhanh chóng tổ chức huấn luyện đáp ứng nhu cầu phát triển của Không quân và đào tạo phi công, sĩ quan các chuyên ngành của Không quân (1978) thì nay có thêm nhiệm vụ mới là đảm nhiệm từ khâu tuyển sinh quân sự (trừ khám tuyển) đến thi tốt nghiệp quốc gia, hướng dẫn các học viên sau khi tốt
nghiệp bay chuyển loại các loại máy bay hiện đại nhất hiện có trong nước.

        Ngoài những thành tích về học tập, văn nghệ, thể thao trong những năm gần đây Trường còn có nhiều thành tích trong huấn luyện cũng như sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Tôi và những đồng đội năm xưa vô cùng xúc động khi được chính Hiệu trưởng Nguyễn Duy Cường kể cho nghe về sự kiện Thượng tá Dương Văn Thanh hi sinh để cứu cho Khu du lịch Hòn Ngọc Việt cùng bao nhiêu du khách và dân thoát khỏi nguy hiểm.

        Thượng tá Dương Văn Thanh là người quê Yên Mô -  Ninh Bình trúng tuyển phi công năm 1976 khi anh vừa tròn 18 tuổi. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc tại trường Sĩ quan Không quân anh được chuyển về làm giáo viên giảng dạy tại Trung đoàn bay 910 - Trường sĩ quan không quân. Đã hai lần Dương Văn Thanh được đơn vị tín nhiệm giao nhiệm vụ bắn đạn thật tại Thọ Xuân - Thanh Hóa, thực hiện đề tài của Quân chủng về sử dụng rocket C5-KO. Cả hai lần anh đều thực hiện xuất sắc. Anh là một phi công giỏi xử lý bất trắc, nhiều lần xử lý hỏng hóc trên không đưa máy bay về hạ cánh an toàn.

        Ngày 29 tháng 4 năm 2005, trong một chuyến bay huấn luyện chiến đấu cùng Biên đội, máy bay của anh đột nhiên chết máy trên không. Với kinh nghiệm của một phi công giảng dạy anh báo cáo về chỉ huy xin được phép nhảy dù. Nhưng cho đến phút chót, không hề nghĩ cho riêng mình, anh động viên cho phi công buồng lái sau nhảy dù thoát hiểm trước.

        Lúc này máy bay đang ở độ cao cực thấp và hướng thẳng tới khu du lịch 5 sao Hòn Ngọc Việt nơi đang có rất nhiều du khách và dân cư cùng rất nhiều tài sản quí giá.  Trong khoảnh khắc rất ngắn anh đã quyết định tận dụng độ cao, độ lướt còn lại để vòng sang trái, hướng ra biển không để máy bay rơi vào khu vực này, cứu hàng trăm du khách và nhân dân thoát khỏi cái chết trong gang tấc. Lúc máy bay của anh tránh được khu vực gây nguy hiểm cũng là lúc hết độ cao, tốc độ, rơi xuống biển. Tuy đã cố gắng hết sức nhưng các đơn vị phối thuộc chỉ kịp cứu phi công buồng lái sau, còn anh... Đồng đội đã tìm thấy anh trong tư thế bàn tay vẫn nắm chặt cần lái.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:23:01 AM

        Gần giống với tình huống của Thượng tá Dương Văn Thanh, Trung úy phi công Ngô Sĩ Minh cũng đã dũng cảm xử lý bất trắc cứu được máy bay, cho dù trong trường hợp ấy anh hoàn toàn có thể nhảy dù để bảo toàn tính mạng của mình...

        Ngày 27 tháng 6 năm 2006, như thường lệ, Trung uý phi công Ngô Sĩ Minh - số hiệu bay 054 (Đoàn không quân C40, Trường sĩ quan Không quân) làm mọi công tác chuẩn bị để tiến hành bay tập sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch của đơn vị. Bầu trời miền Trung trong xanh, nắng vàng trải khắp mọi nơi.

        Chiếc máy bay chiến đấu XY79 của Minh nổ máy giòn giã lấy đà, rồi lao vút lên không trung. Kết thúc bài tập, Biên đội bay về sân bay giải tán vào hạ cánh. Minh bay đến vòng 3, tiến hành thả càng chuẩn bị tiếp đất. Thế nhưng lạ thay, chiếc càng trước của máy bay không sao mở ra được. Biết là máy bay đã gặp sự cố, Minh điện ngay cho chỉ huy bay dưới mặt đất. Vốn là một giáo viên bay kỳ cựu về bay chiến đấu, một chỉ huy bay dạn dày kinh nghiệm, Thượng tá Vũ Văn Sĩ, Đoàn trưởng đoàn bay C40 bình tĩnh lệnh cho Minh tiếp tục điều khiển máy bay lên cao và thả càng bằng cơ học. Chiếc máy bay lại vút lên không trung. Khi cách mặt đất khoảng 800 mét, tốc độ 750 ki-lô-mét giờ, Minh cho chiếc máy bay bổ nhào tạo độ quá tải và thả càng bằng cơ học liên tục ba lần, nhưng cũng không có kết quả. Chiếc càng trước của máy bay như bị gắn chặt vào buồng càng, không chịu nhả ra.

        Lúc này, dưới mặt đất, Thượng tá, chỉ huy bay Vũ Văn Sĩ cùng các cán bộ của Đoàn đã nhận thấy tình thế hết sức nguy hiểm đối với tính mạng phi công và chiếc máy bay. Trong tình huống này, theo sổ tay phi công thì phi công được phép nhảy dù để giữ tính mạng và chấp nhận mất chiếc máy bay. Còn nếu ra lệnh hạ cánh bằng phương pháp trượt bụng thì tính mạng phi công cũng ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, phải là những phi công lão luyện thì mới có thể thực hiện được phương pháp hạ cánh này. Trong lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam củng chỉ có vài trường hợp hạ cánh theo phương pháp này và thành công. Còn đối với phi công Ngô Sĩ Minh thì anh còn quá trẻ, mới có 29 tuổi đời và 7 tuổi bay. Nghĩ thế, Thượng tá Vũ Văn Sĩ hỏi:

        - 054! Có quyết tâm hạ cánh được không? Nếu không chắc chắn, còn phản vân, thì cho phép rời khỏi máy bay.

        Khẩu lệnh được nhắc đi, nhắc lại đến ba lần và lần nào củng nhận được câu trả lời đầy tự tin: Tôi quyết tâm hạ cánh!. Nhận rõ quyết tâm của Minh, chỉ huy bay Vũ Văn Sĩ liền hướng dẫn Minh chuẩn bị hạ cánh bằng phương pháp trượt bụng vào đường băng số Hai.

        Máy bay như một con én bạc lao từ không trung xuống, trượt bụng trên đường băng. Cát bụi bay lên mù mịt. Chiếc máy bay như con ngựa sắt bất kham cày một vệt dài trên đường băng và dừng lại phía dưới đường băng. Mọi người thấy tiếng động cơ tắt hẳn, chiếc dù đuôi của máy bay bung ra. Cửa bật mở, phi công Ngô Sĩ Minh nhanh chóng bước ra khỏi máy bay.

        Mọi người ùa lại mừng vui không kể xiết. Các phương tiện cứu hoả, cấp cứu, ứng cấp nhanh chóng có mặt tại hiện trường, nhưng không phải thực hiện nhiều thao tác, bởi chiếcmáy bay chỉ bị xây xát nhẹ. Lúc này, Thượng tá Vũ Văn Sĩ mới thở phào, rời khỏi đài chỉ huy. Anh lặng lẽ nắm chặt tay Minh, trong mắt anh ánh lên niềm tin yêu, mến phục người đồng đội trẻ.


        (Theo bài đăng trên Báo QĐND ngày 1 tháng 7 năm 2006 và in trong sách “Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” tập V, năm 2006, Nhà xuất bản QĐND của Đặng Thái Sơn -  Ban Tuyên huấn Trường sĩ quan Không quân).

       
*

        Tôi biết chắc chắn trong suy nghĩ của lớp phi công già như tôi, ai cũng phải công nhận là sự hi sinh trong thời chiến đã đáng được biểu dương nhưng sự hi sinh trong thời bình còn giá trị hơn gấp nhiều lần. Trong chiến tranh hầu như ai cũng phải đối diện ít nhất một lần với cái chết hoặc nếu không cũng phải chiến đấu theo kiểu “không đánh nó thì nó cũng đánh mình” - chúng tôi cho đó là lẽ thường. Còn trong thời bình? Việt Nam bây giờ không còn trong bom rơi lửa đạn, người người thi nhau làm giàu, cuộc sông là vui vầy với gia đình, con cái, thậm chí sống để hưởng thụ thế mà những phi công như Dương Văn Thanh, Ngô Sĩ Minh không những chẳng ngại gian khó dấn thân vào con đường binh nghiệp, xung phong làm phi công lái máy bay chiến đấu thường xuyên phải xa nhà (chỉ riêng lúc huấn luyện không thôi đã bao nhiêu bất trắc rủi ro) mà kể cả lúc nguy hiểm nhất cũng chẳng hề nghĩ đến tính mạng của mình để bảo vệ tài sản của Quốc gia (máy bay chính là tài sản của Quốc gia, tính đến thời điểm này mỗi chiếc máy bay bằng cả tấn vàng), bảo vệ tính mạng của nhân dân. Các anh thật xứng đáng là những anh hùng trong thời kỳ đổi mới.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2019, 04:21:25 PM

CHUYỆN CON CHÓ MIG CỦA TÔI

        Tôi muốn dành hẳn một chương để nói về con chó MiG yêu quí của tôi. Bởi nó là con vật mà tôi cưng nhất, gắn liền đời lính phi công của tôi.

        Ngoài những lúc phải trực chiến, hay chỉ huy, tôi vẫn thường dành thời gian cho thú chơi chim thú. Thực ra lúc bấy giờ cũng chẳng có trò giải trí nào hay hơn thế, hơn nữa tôi vốn đã thích trồng cây, nuôi vật từ hồi còn ở nhà với mẹ.

        Bấy giờ miền Nam đã giải phóng, nhiệm vụ chiến đấu không nặng nề như trước nên tôi càng có điều kiện nuôi chim, nuôi thú. Dạo trước có cậu người dân tộc bắt được hai mẹ con khỉ vàng, chẳng may khỉ mẹ bị thương chết, tôi thấy khỉ con mất mẹ tồi tội nên xin mang về, nuôi mãi rồi nó cũng lớn chừng được 4-5 ki-lô-gam. Con khỉ làm bạn với con chào mào hót rất hay. Phải nói, mỗi lúc làm việc xong được về vui với mấy con thú thấy mình cũng phấn chấn hẳn lên, bớt mệt mỏi. Hễ tôi về là chúng lại quấn quít bên chân, đặc biệt con khỉ cái đành hanh rất ghét đàn bà con gái, cứ thấy bóng con gái đến đơn vị là nó lại gờm gờm kêu lên èng ẹc, giằng lấy giấy bút mà xé, nhiều khi quát không được.

        Đã thế con MiG cũng hùa theo, sủa nhặng xị, bởi nó cũng ghét đàn bà con gái chẳng kém gì con khỉ vàng kia. Con MiG này là giông chó Đức, trong một lần lên thăm Đoàn Không quân Sao Đỏ, thấy Đinh Tôn có một đàn chó đẻ, tôi xin về một con đem về đơn vị nuôi cho vui. Con chó quả là rất khôn, tôi đi đâu nó cũng đi theo đó.

        Nhiều lần trực đêm, đi kiểm tra sân bay, mọi người cứ bảo tôi gọi mấy chiến sĩ đi cùng, nhưng tôi bảo: “Các cậu cứ yên tâm, tôi có con MiG này bảo vệ, còn sợ gì nữa".

        - Đi nào MiG\ - tôi quay sang gọi.

        Con MiG ngoáy tít đuôi, rồi dụi dụi mõm vào chân tôi. Hai thầy trò tôi cứ đi vòng quanh sân bay một vòng như thế, thi thoảng nó dỏng tai lên nghe ngóng, rất ít khi nó sủa vu vơ, chỉ khi nào nó phát hiện ra cái gì đó mới lên tiếng. Tôi đã có con MiG đi theo thì yên tâm vô cùng.

        Một bữa, có anh Thanh, cán bộ Công an Thành phố Hải Phòng xuống đơn vị chơi, thấy con MiG khôn quá bèn bảo tôi:

        - Con chó này khôn như vậy, cậu để tôi mang về huấn luyện cho. Đảm bảo cậu sẽ thấy nó hơn cả chó nghiệp vụ.

        - Thế thì tốt quá. Anh huấn luyện nó giúp tôi. Thành công tôi hậu tạ - Tôi cười.

        Nói là vậy, chứ lúc ấy tôi phải nịnh mãi con MiG mới chịu theo anh Thanh về Hải Phòng.

        Mấy tháng sau, tôi ra Hải Phòng xem tình hình con MiG "học hành" đến đâu và cũng định lần này mang nó về luôn vì tôi thấy nhớ nó quá.

        Tôi tìm vào khu vực huấn luyện cho nghiệp vụ, thấy con MiG cùng với một số con chó khác, nhưng tôi chỉ cần nhìn thoáng qua vẫn biết con MiG là con nào, tuy nó có vẻ hơi già dặn hơn so với lúc còn ở nhà với tôi.

        Vừa nhìn thấy tôi, con MiG vội rướn người lên rồi chồm hai chân lên phía trước, có vẻ như nó đã nhận ra chủ cũ.

        Tôi khẽ gọi:

        -MiG

        Nó kêu lên một tiếng trong cổ họng mừng rõ chạy lại với tôi và vẫy đuôi quấn quýt.

        Tôi cúi xuống vuốt ve người nó bảo:

        - Tao tưởng mày quên tao rồi?

        Con chó nghe tôi nói, nó dụi mõm vào tay tôi, rồi nhướng mắt lên nhìn vào mắt tôi như để xem thật hay đùa...

        - Nào, đi với tao!

        Con MiG lập tức đứng dậy rất nhanh nhẹn, đi sát bên tôi. Chúng tôi đang định lên phòng anh Thanh thì gặp mấy chiến sĩ mang sắc phục Công an lại gần:

        - Chào anh! Sao anh lại đưa chó của chúng tôi đi đâu thế?

        Tôi dừng lại, nhìn từ đầu đến chân mấy chiến sĩ công an trẻ, rồi lại nhìn con MiG.

        - Đây là con chó của tôi, mấy tháng trước tôi gửi anh Thanh huấn luyện giúp, nay tôi đến xin về. Lẽ ra tôi lên gặp anh Thanh trước, nhưng qua chỗ huấn luyện thấy con MiG của tôi ở đó, tiện thể dắt nó theo luôn. Bây giờ chúng tôi lên chỗ anh Thanh đây.

        - Anh nhầm rồi, con này không phải chó của anh. Jim, lại đây! - Một chiến sĩ trẻ nói.

        Con MiG nghe cậu ta gọi cứ áp sát vào chân tôi, rồi lùi lại. Tôi chợt linh cảm có một chuyện gì đang xảy ra và cười xuề xòa:

        - Thế hóa ra đây là chó của các các cậu à? Thôi được, nếu không phải của tôi, thì tôi chẳng dám dắt nữa. Tiện đây, các cậu đưa nó về khu huấn luyện giúp tôi nhé.

        Tôi ôm con MiG dúi vào tay anh chiến sĩ Công an trẻ, vờ như là biết lỗi.

        Con MiG lưỡng lự vài giây, rồi đứng yên nhìn theo tôi, còn tôi thản nhiên đi tiếp, mặc cho mấy anh chiến sĩ trẻ dắt theo con MiG của tôi về lại khu huấn luyện chó nghiệp vụ.

        Để cho các câu ấy đi chừng chục mét, tôi mới đưa tay lên miệng huýt sáo rồi gọi giật lại:

        - MiG!

        Con chó MiG hình như chỉ đợi tôi gọi hay sao, mà ngay lập tức giằng dây xích trong tay mấy cậu chiến sĩ trẻ, phi nhanh như gió quay lại với tôi, không cần biết mấy cậu ấy tròn mắt lên sửng sốt...

        Cuối cùng tôi cũng đưa được con MiG về đơn vị sau mấy tháng thầy trò xa cách. Nó với tôi như hình với bóng. Tôi thương nó đến mức nhìn thấy cái mũi đó chót của nó bị muỗi cắn máu chảy ròng ròng tôi không cầm lòng được, đêm nào cũng mắc màn cho nó. Nhiều lần đi săn thỏ, bắn chim sẻ nó cũng đi theo nhặt giúp tôi chiến lợi phẩm mang về.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2019, 04:26:00 PM

*

        Năm 1978, tôi theo lệnh cấp trên vào trường Không quân ở Nha Trang nhận chức Hiệu phó Tham mưu trưởng thì con MiG đã hơi bị “ngớ ngẩn” vì một lần bị sét đánh mà thoát chết.

        Tôi còn nhớ rõ lần ấy tôi và Nguyễn Văn Bảy nằm trong phòng, còn chó MiG nằm ở đầu hè. Hôm ấy, mưa rất to, sấm chớp đùng đùng kéo dài cả tiếng đồng hồ, chớp loằng ngoằng, chằng chịt trên bầu trời.

        MiG bất ngò bị sét đánh trúng, lông cháy khét lẹt mà không chết, thật lạ kỳ. Tuy thế nó vẫn rất khôn ngoại trừ thi thoảng như bị đãng trí.

        Sắp xếp mọi việc để chuẩn bị vào Nam xong, tôi bảo với mọi người:

        - Con MiG này là do tôi xin về, nay tôi phải đi không tiện mang theo nó, tôi xin phép đưa nó về cho ông anh tôi chăm sóc hộ.

        Mọi người ở đơn vị bảo:

        - Anh cứ đi yên tâm, nếu đưa về chỗ ông anh mà nó không chịu thì lại đưa nó về đây. Chúng tôi sẽ chăm nó chu đáo.

        Tôi đưa con MiG về chỗ ông anh vài hôm, nhưng nó không chịu ăn uống gì, cho nó ăn ngon thế nào nó cũng chẳng ăn, nó gầy đi trông thấy. Dường như nó không thể xa được sân bay và các phi công.

        Tôi nhìn thấy nó thế không đành, lại dắt con MiG về đơn vị. Thật ngạc nhiên, về đến đơn vị là nó ăn ngay.

        Tôi đã quyết định để con MiG lại đơn vị, có lẽ nó gắn bó với đơn vị lâu rồi nên khó mà rời được. Kể từ đó tôi và con MiG yêu quí chính thức xa nhau.

*

        Tiếc rằng lúc con chó MiG chết, tôi không được chứng kiến, nhưng hình ảnh những ngày cuốỉ cùng của nó được người ta kể lại đến giờ vẫn ám ảnh trong tôi.

        Tôi vào Nha Trang nhận công tác một thời gian thì nghe nguời ta nói con MiG được mấy cậu phi công Đoàn Không quân Yên Thế đưa vào tận Cần Thơ. Rồi Trung đoàn lại lên sân bay Tân Sơn Nhất nhận nhiệm vụ, cũng mang nó đi theo. Nhưng nó vào đó không hợp hay nhớ nhà sao đó nên nó gầy guộc và rất chậm chạp. Nó đã gần hai mươi tuổi còn gì. Giống chó như thế là là tuổi “cụ” rồi. Cậu phi công trẻ thấy nó không có ích gì nữa định đem giết nó, nhưng mọi người ngăn: “Con chó này của anh Chao nuôi lâu rồi, đừng giết nó mà tội!” .

        Cậu đó bảo:

        - Không giết thì để làm gì, để tôi cho nó phát súng giải thoát cho nó là xong!

        Nói là làm, cậu ta dắt con MiG ra bãi vắng rút súng bắn vào trán nó. Bắn phát đầu tiên, không có một giọt máu nào chảy ra, nó gục đầu xuống rồi lại ngẩng đầu lên mở mắt nhìn. Nhìn thấy nó thế, có lẽ cậu phi công kia quá hoảng sợ, bắn liên tiếp hết cả băng đạn, đến lúc đó con chó mới gục hẳn.

        Có người khuyên cậu ta:

        - Con chó ấy khôn lắm, cậu bắn chết nó, phải kiếm cái gì mà cúng cho linh hồn nó siêu thoát đi.

        Cậu phi công trẻ ấy chẳng biết có nghe lời khuyên của người kia hay không. Nhưng một sự trùng lặp ngẫu nhiên và chuyện đau lòng đã xảy ra: hôm sau đó, cậu phi công ấy nhận đi bay đêm, bị tai nạn ngoài biển...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2019, 04:27:01 PM

ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH YÊN THẾ NGÀY ẤY BÂY GIỜ

        Sau 45 năm thành lập, Đoàn Không quân Yên Thế thân yêu của tôi giờ đã khác xưa rất nhiều. Không còn phải khổ sở vất vả từ chiếc "hăng ga" như năm nào.

        Bây giờ dưới sự lãnh đạo của Đoàn trưởng Lã Đại Phong, cùng Chính ủy Nguyễn Trọng Khiêm, Tham mưu trưởng Phạm Như Xuân, và Phó đoàn trưởng phụ trách quân huấn Tạ Duy Ninh cơ sở vật chất của Trung đoàn ngày càng thêm vững mạnh và phong phú.

        Ngoài việc chăm lo đời sống cho cán bộ nhân viên cũng như các phi công của Đoàn đầy đủ, đời sống tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đơn vị đã có sân bóng chuyền, sân tennis, sân bóng đá để sau mỗi buổi làm việc cán bộ, nhân viên được thỏa sức rèn luyện thể thao, giải trí. Quanh sân bay, trừ những khu vực dành riêng cho chuyên môn, có rất nhiều ao nuôi cá, nuôi tôm rồi cánh đồng mía bạt ngàn - một cách phát triển quỹ của đơn vị rất hiệu quả.

        Ngồi với Đoàn trưởng Lã Đại Phong có thâm niên hơn 20 năm tuổi quân (cho dù tuổi đời còn trẻ) bên chiếc bàn dưới tán lá cây nhãn ngay trước dãy nhà chỉ huy, tôi phóng tầm mắt nhìn bao quát xung quanh và thực sự ngỡ ngàng vì sự đổi thay mà các anh làm được.

        Quả là lớp trẻ các anh có điều kiện học hành hơn chúng tôi ngày xưa, cộng với sự thông minh các anh đã có được một số thành tích đáng kể. Qua câu chuyện mà Đoàn trưởng Lã Đại Phong cởi mở trao đổi, tôi được biết hơn 20 năm qua Đoàn Không quân Yên Thế đã không để xảy ra một tai nạn nào trong huấn luyện.

        Đặc biệt trong 10 năm trở lại đây, đơn vị đã được nhiều Cờ thi đua, Bằng khen do Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đoàn trưởng 372 trao tặng về thành tích xuất sắc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ bắn ném bom giỏi. Huấn luyện chuyển loại vượt cấp thành công từ L-39 của Nga sang luôn Su-22. (Trước kia học viên sau khi tốt nghiệp phải qua từng bước chuyển loại từ L-39 là loại máy bay huấn luyện của Nga rồi sang MiG-21 rồi mới lại đến Su-22). Bên cạnh đó, đơn vị liên tục được cờ thi đua khen thưởng do đã luôn cùng sát cánh với nhân dân, đặc biệt đã cứu hàng trăm dân thoát khỏi nguy hiểm trong cơn bão số 5 năm 2005.

        Vẫn cái tính tò mò cố hữu năm xưa, tôi thân mật hỏi anh:

        - Để có được thành tích như ngày hôm nay, các cậu có lẽ phải “lao tâm khổ tứ” lắm? Phải xa vợ con ngoài Hà Nội để thường xuyên sát cánh cùng anh em trong đơn vị, chấp nhận “xa trung tâm” trong thời bình như thế là quí lắm.

        Thượng tá Lã Đại Phong cười, khiêm tốn trả lời:

        - Chúng cháu có gì đáng kể đâu, anh em trong đơn vị xuất sắc hơn nhiều. Chính những gương mặt như Đại úy Phi công Dương Quốc Thịnh, Đại úy Chính trị viên Nguyễn Huy Tuấn, Trung tá Trưởng tiểu ban Dẫn đường Nguyễn Văn Hải, Đào Văn Dậy các anh ấy đã góp phần làm nên hình ảnh Đoàn Không quân Tiêm kích bom Yên Thế ngày hôm nay.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2019, 04:27:31 PM

*

        Theo lời Đoàn trưởng Lã Đại Phong giới thiệu, tôi lần lượt tìm gặp các anh có tên ở trên để tìm hiểu. Người tôi gặp đầu tiên là Dương Quốc Thịnh, không ngờ con người rất trắng trẻo, đẹp trai đứng trước tôi đây, ngày nhỏ là một chàng trai quê Thái Nguyên gày gò chỉ được 35 ki-lô-gam.

        Hiểu biết đầu tiên về máy bay qua những lần nhìn lên bầu trời thấy những vệt trăng trắng giông như con rắn bò và được biết đó là dấu vết của MiG để lại do bố anh giải thích. Lúc bắt đầu học cấp III cũng là lúc Thịnh không còn được thường xuyên cùng cô bạn hàng xóm có đôi bím tóc rất đẹp cùng chăn trâu nữa. Trường học cách xa nhà tới 14 ki-lô-mét nên nhiều khi Thịnh đã làm mẹ phải lo lắng vì đợi mãi không thấy về dù trời đã tối mù, chỉ sợ đường về phải qua hai con dốc nhiều cây cối rậm rạp nhỡ đâu? Chịu khó đi học như vậy mà đến khi thi đại học lại bị rớt.

        Thời gian phải ở nhà giúp bố mẹ sau khi không thi đỗ làm Thịnh cảm thấy vô cùng bực bội. Thịnh không muốn ở nhà nên anh đã tình nguyện đi bộ đội. Buổi liên hoan chia tay các bạn bè, cô bé có hai bím tóc năm nào cũng có mặt và hát tặng anh: “lúc còn thơ ngắm nhìn anh bộ đội, thấy ngôi sao sáng ngời con thích lắm mẹ ơi”.

        Chẳng ngờ câu hát ấy như một động lực thôi thúc anh, để mỗi một ngày trong quân ngũ là một ngày anh không ngừng phấn đấu. Cấp trên thấy anh nỗ lực như vậy đã đề nghị cho anh đi học sĩ quan. Được cử đi học, anh vừa mừng, vừa lo, ba năm rồi không cầm đến sách vở, không biết có thể theo kịp hay không? Một lần nữa, cô bé có hai bím tóc đẹp lại động viên anh bằng câu nói nửa đùa, nửa thật:

        - Em sẽ cho anh mượn sách mà không phải trả lại nếu như anh thi đỗ! Còn nếu không đỗ, anh phải trả lại em không thiếu một quyển nào! - Cô nhìn anh, ánh mắt thật trìu mến.

        Dương Quốc Thịnh cảm nhận rất rõ qua nụ cười và ánh mắt ấy, cô muốn điều gì. Thịnh tự nhủ sẽ phải thật cố gắng để làm sao không phải trả lại sách. Nhưng khổ nỗi, xa rời “đèn sách” đã lâu nên cứ học được một lúc là mắt anh cứ sụp xuống vì buồn ngủ. Quyết tâm bằng mọi giá phải thi đỗ, mỗi lúc cơn buồn ngủ kéo đến anh lấy một hạt muối cho vào miệng Thế rồi trời đã không phụ công anh, mấy năm sau anh đã thi đỗ vào Trường Sĩ quan Lục quân I.

        Năm 1995 trong đợt khám tuyển phi công của Quân chủng Phòng không - Không quân, Dương Quốc Thịnh đã may mắn trúng tuyển. Từ đó đến năm 2001 anh đã liên tục tham gia các khóa huấn luyện và trực tiếp thực hành lái máy bay chiến đấu MiG-21, hoạt động an toàn trên sân bay Yên Bái - là một sân bay địa hình rừng núi, rất nhiều mây và tầm nhìn hạn chế.

        Với thành tích đó, anh lần lượt được vinh dự nhận danh hiệu Phi công cấp 3, được tặng thưởng giấy khen trong phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị. Năm 2006 Thịnh đã chuyển loại thành công máy bay SU-22M4 tại sân bay Phan Rang, sau đó vì Đoàn 371 không có sân bay tiếp nhận máy bay SU-22M4 nên anh được chính thức điều về Đoàn Không quân Yên Thế nhận nhiệm vụ trực ban chiến đấu.

        Ở đây anh đã luôn cố gắng phát huy tinh thần học hỏi và trau dồi kỹ năng bay vì thế anh đã được Bộ Quốc phòng tặng bằng khen vì “Đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện và thực hành bay từ năm 2003 - 2007. Góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội củng cố quốc phòng và bảo vệ Tô quốc”. Những năm 2008 - 2009 anh được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ bắn ném bom 03 chuyến. Tất cả những lần đó anh đều đạt loại giỏi được Đoàn 372 tặng giấy khen “Đạt thành tích xuất sắc bắn ném”.

        Tính đến thời điểm này, Dương Quốc Thịnh 35 tuổi đời đã có được 448 giờ bay an toàn tuyệt đối, vinh dự được nhận vị trí Phó Phi đội trưởng Phi đội 3 của Đoàn Không quân Yên Thế.

        Tiếp xúc với Trung tá Nguyễn Văn Hải, tôi thực sự rất vui, có cái gì đó rất gần gũi làm tôi liên tưởng đến người bạn Nguyễn Văn Chuyên của tôi cũng thuộc ngành dẫn đường như anh bây giờ.

        Sinh ra và lớn lên trong gia đình dân nghèo thành thị ở thành phố Ninh Bình. Nguyễn Văn Hải ra đòi trong căn hầm trú ẩn của bệnh viên đúng vào ngày Không quân Mỹ đánh phá dữ dội ở Ninh Bình. Đón anh cất tiếng khóc chào đòi được một ngày, mẹ đã phải bế anh cùng các anh chị đi sơ tán trong ánh sáng của lửa đạn súng phòng không và bom đạn Mỹ.

        Cho tới ngày giải phóng Miền Nam, Hải và lũ trẻ cùng nơi sơ tán vẫn sông vô tư trong những ngày ác liệt. Chỉ biết ngày đó là một ngày trọng đại qua niềm vui vỡ òa của người lớn tuy chưa hiểu hết ý nghĩa lớn lao của sự chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Một, 2019, 04:28:20 PM

        Vài tháng sau, bố mẹ anh đưa gia đình rời khỏi nơi sơ tán về lại thành phố. Trước ngày lên đường anh đã không ngủ được vì nhớ lại những đôi mắt của những đứa bạn gái, bạn trai cùng làng sơ tán đó hoe lên vì khóc phải chia tay lúc chiều.

        Xe ô tô tải của Xí nghiệp đá Hệ Dưỡng dừng lại một nơi rất lạ, cảnh vật tiêu điều, anh ngơ ngác hỏi bố:

        - Nhà mình ở đâu hả bố?

        - Bây giờ mình phải tìm nơi ở tạm, nhà cũ của mình bị bom phá nát cả rồi con ạ - Bố anh trả lời.

        Bắt đầu từ đấy, Nguyễn Văn Hải bắt đầu nhận thức được những khó khăn mà gia đình anh phải trải qua chiến tranh. Anh được bố mẹ cho đi học trở lại, và luôn cố gắng học thật tốt để không phụ lòng bố mẹ thầy cô. Cuối năm lớp 12, đang trong giờ học, cô giáo chủ nhiệm của anh đưa một anh bộ độ đeo quân hàm xanh bước vào lớp giới thiệu về Trường Sĩ quan Chỉ huy - Kỹ thuật Không quân. Hôm ấy anh đã lắng nghe thật chăm chú để rồi quyết định sẽ đăng ký thi vào trường.

        Sau ba năm học với sự nỗ lực hết mình, anh đã tốt nghiệp với quân hàm Trung úy và được phân công về Đoàn 372, trực tiếp công tác tại Tiểu ban dẫn đường của Đoàn Không quân Yên Thế. Từ đó đến nay, anh được cấp trên nhiều lần cử đi học chuyển loại Su-22 М3, đặc biệt là có được nhiều kinh nghiệm trong tính toán dầu liệu, chương trình bay tự động, tính toán sử dụng vũ khí, sử dụng tổ hợp máy ngắm dẫn đường của Su-22 M4, rồi học chuyên ngành Tham mưu - Chỉ huy. Trong vai trò là giáo viên chuyển loại dẫn đường cho các đồng chí phi công của Trung đoàn từ MiG-21 sang Su-22, hay từ Su-22 sang S22M3, M4 anh cũng hoàn thành rất xuất sắc. Liên tục được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua và được giấy khen “đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

        Trên cương vị là Trưởng tiểu ban Dẫn đường, anh đã lãnh đạo Tiểu ban hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, vì thế Tiểu ban cũng thường xuyên được Trung đoàn khen thưởng. Nguyễn Văn Hải đã và đang góp phần cùng với những thành viên khác xây dựng Đoàn Không quân Yên Thế ngày càng vững mạnh.

        Khác với thế hệ của Thịnh và Hải, Đào Xuân Dậy sinh ra trong thời chiến và đã từng tham gia bảo vệ phía Tây Nam Tổ Quốc vốn bản chất của người con xứ Thanh chịu thương, chịu khó kết hợp sự tôi luyện trong chiến đấu, anh đã không ngừng học hỏi, áp dụng lý thuyết vào thực tiễn nhanh chóng làm chủ loại máy bay F-5 (loại máy bay hệ 2 thu được của Mỹ). Vì thành tích này, anh đã được cấp trên cử đi học ở Học viện Quân sự, chuyên ngành hàng không. Sau khi đi học về, anh trở lại Đoàn Không quân Yên Thế nhận nhiệm vụ tại Xưởng bảo dưỡng Kỹ thuật, là một trong những kỹ sư trẻ đầu tiên chuyển loại máy bay SU-22M - loại máy bay hiện đại thành công, an toàn.

        Năm 1996, Đào Xuân Dậy được cấp trên giao nhiệm vụ làm trợ lý chuyên ngành máy bay động cơ của Trung đoàn bằng những sáng kiến và kinh nghiệm của bản thân anh đã cùng với anh em Xưởng bảo dưỡng máy bay phát hiện, sửa chữa kịp thời nhiều chiếc máy bay của Trung đoàn đã nhiều năm khai thác sử dụng, tăng hạn nhiều lần thường phát sinh hỏng hóc. Ngoài ra Đào Xuân Dậy còn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho các thành phần bay khác, các kỹ thuật viên và phi công. Nhất là khi có lớp kỹ thuật hoặc phi công mới ra trường về Trung đoàn làm việc. Anh đã được tặng thưởng nhiều bằng khen và phần thưởng cao quí nhất là được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, vì đã có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốíc.

        Cùng trang lứa với Phi công Dương Quốc Thịnh, Đại úy Hà Huy Tuấn đến với Binh chủng Không quân trong hoàn cảnh hơi khác một chút. Anh lớn lên trong một gia đình truyền thông quân nhân nên anh có điều kiện tiếp xúc với Quân đội sớm hơn các bạn.

        Tuy vùng Thanh Hà (Hải Dương) quê Hà Huy Tuấn rất gần với sân bay Kiến An. Ngày nhỏ, anh vẫn thường cùng bạn bè ngước lên bầu trời nhìn theo mỗi khi máy bay bay qua nhưng anh vẫn chưa bao giờ hình dung nổi người phi công là như thế nào...

        Cùng với những lần đến đơn vị của bố, ước muốn được trở thành bộ đội như bố cứ dần nung nấu trong Hà Huy Tuấn. Thế rồi tháng 9 năm 1993 anh được gọi nhập trường dự bị bay văn hóa Không quân, ước mơ thành anh bộ đội đã thành sự thật.

        Cố gắng học thật tốt, nên Hà Huy Tuấn đã lần lượt chuyển qua lái các loại máy bay từ L-39 đến MiG-21 rồi đến Su-22, trình độ bay của anh lên rất nhanh, từng bước làm chủ được các loại máy bay và vũ khí, khí tài trang bị. Không những thế, vì là người trực tiếp lái máy bay nên anh rất hiểu tâm tư tình cảm của những phi công như mình, anh đã được cấp trên giao nhiệm vụ làm Chính trị viên Phi đội I - Đoàn Không quân Yên Thế. ở vai trò này, anh lại càng phát huy được những kinh nghiệm, kiến thức của mình đã trau dồi để chia sẻ với đồng nghiệp, đồng đội.

        Cả bốn nhân vật trên đều có chung một điểm là lớn lên trong hoàn cảnh đất nước mới giải phóng còn khó khăn về mọi mặt, vậy mà bằng ý chí vượt khó các anh đã không ngừng cố gắng học tập, mỗi người một vẻ đều đã và đang hết sức mình đóng góp xây dựng cho Đoàn Không quân Yên Thế cũng có nghĩa là đóng góp cho Quân đội nhân dân Việt Nam những thành tích đáng kể. Với tôi, những con người tuyệt vời ấy thật đáng ngưỡng mộ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2019, 03:21:37 PM

CÓ MỘT TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG NHƯ THẾ!

        Chiến tranh tuy đã lùi dần vào quá khứ, nhưng nó còn để lại nhiều hậu quả nặng nề cho đến tận bây giờ cho dù cả nước ta đã cố gắng khắc phục mà vẫn chưa thể hết.

        Sân bay Pleiku nguyên là căn cứ quân sự hỗn hợp của Mỹ - Ngụy được ta tiếp quản sau chiến thắng năm 1975 có nhiệm vụ bảo đảm bay cho các đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân thực hành chiến đấu ở Biên giới Tây Nam, chiến trường Campuchia, truy quét FULRO, giúp nước bạn Lào, Campuchia, bay huấn luyện chiến đấu, bay phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi thăm hay kiểm tra địa bàn Tây Nguyên, bảo đảm các chuyến bay kinh tế xã hội khác...

        Kể từ khi Phạm Minh Thư tốt nghiệp Trường Sĩ quan Không quân về nhận công tác tại căn cứ sân bay Pleiku từ tháng 4 năm 1979 cho đến năm 2004, anh trải qua các cương vị chỉ huy từ Trung đội lên đến Tiểu đoàn. Phạm Minh Thư đã phải chứng kiến những mất mát quá lớn của bộ đội và nhân dân xung quanh sân bay, vì trong quá trình tiếp nhận lại sân bay từ chế độ cũ, ngoài những khó khăn về an ninh chính trị phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, đơn vị anh còn phải tiếp nhận một kho bom đạn cũ đã bị nổ hai lần (năm 1975 và 1977), bom đạn không nổ hết văng ra trên diện tích 50 héc-ta cùng với một số mìn do chế độ cũ cài lại. Tính từ năm 1977 đến,năm 1992 đã có 9 người chết (trong đó có 5 bộ đội) và 30 người khác bị thương.

        Các đồng chí lãnh đạo chỉ huy Đoàn 372 đã rất lo lắng, tổ chức tiến hành hai đợt thu gom bom mìn mà không thành công, cả hai đợt đều bị nổ gây thương vong cho những người tham gia, nên đành phải dừng lại.

        Là Tiểu đoàn trưởng bảo đảm kỹ thuật bay của cả Sư đoàn, Phạm Minh Thư vô cùng trăn trở: “Muốn cho tiểu đoàn vững mạnh, trước hết phải lo làm sao thu gom, xử lý được hết số bom mìn này (đã bị văng lên, lấp xuống nhiều lần, luôn trong trạng thái sẵn sàng nổ).

        “Làm thế nào bây giờ?”- Câu hỏi ấy lúc nào cũng thường trực trong đầu Phạm Minh Thư. Nếu báo cáo, cấp trên chắc chắn sẽ không đồng ý, vì đơn vị và chính Phạm Minh Thư đều không đủ khả năng chuyên môn để làm việc đó.   v

        Cuối cùng anh tìm gặp được Giám đốc Trung tâm ứng dụng và xử lý vật liệu nổ Nguyễn Anh Tiễu, trình bày với Giám đốc trung tâm về những suy nghĩ của mình. Không ngờ Giám đốc Nguyễn Anh Tiễu vô cùng thông cảm đã hướng dẫn tận tình cho anh cách làm. Được khích lệ, Phạm Minh Thư bàn với đồng chí Phó chính trị “rủ” Trung đội trưởng Kho bom Nguyễn Tiến Đạt (sau là Thiếu tá, Phó Tiểu đoàn trường) cùng thực hiện.

        Thế là hàng ngày Phạm Minh Thư và Nguyễn Tiến Đạt giờ làm việc thì lo giải quyết công việc của đơn vị, giờ nghỉ thì làm việc “riêng” thu gom các loại bom như MK-82, bom BLU/66B (bom cam), bom bi, rocket, đạn cối và các loại mìn bộ binh khác. Đặc biệt các loại bom này đều bị nổ phóng ra từ bom mẹ nên mức độ nguy hiểm rất cao. Có hàng trăm quả đạn M79, các anh phải cho đốt nổ tại chỗ vì không thể vận chuyển về kho tập trung, hoặc có lúc Phạm Minh Thư thấy khát nước, vừa bước đi được chục mét thì đầu đạn nổ nguy hiểm và cái chết luôn rình rập.

        Ban đầu, hai anh em thu gom được 10.005 quả vật liệu nổ, nhưng rồi Nguyễn Tiến Đạt phải chuyển đơn vị công tác nên chỉ còn lại Phạm Minh Thư tiếp tục thực hiện thêm 7.192 quả, sau đó một số đồng chí khác hỗ trợ anh, thu thêm được 352 quả nữa.

        Trong hơn mười năm cần mẫn, kiên trì, Phạm Minh Thư đã cùng các đồng đội của mình thu được 17.549 quả bom mìn các loại, bảo đảm an toàn tuyệt đôi cho người và sân bay Pleiku.

        Việc làm của Phạm Minh Thư đã giúp cho những người dân xung quanh sân bay không ai còn bị thương vong nữa, mảnh đất ấy nay đã được trồng gần 100 héc-ta bạch đàn, phủ lên khu vực sân bay một màu xanh bình yên.

        Có người bảo Phạm Minh Thư là dại dột, liều lĩnh nhưng anh lại nghĩ khác. Phạm Minh Thư chỉ muốn chứng minh rằng đứng trước khó khăn, không nề hà gian khổ và quyết tâm cao là sẽ vượt qua được, vả lại nếu cứ ỷ lại cấp trên, thì hậu quả của bom mìn để lại sẽ còn đến bao giờ?

        Việc làm của Phạm Minh Thư tuy âm thầm lặng lẽ và bản thân anh cho đó là việc bé nhỏ nhưng so với thế hệ chúng tôi thì thật vô cùng ý nghĩa lớn lao.

        Anh đã góp phần làm cho công cuộc đổi mới của đất nước thêm nhiều lạc quan, tạo đà cho đơn vị xây dựng và phát triển những năm sau này.

        Còn tôi đã thật hạnh phúc vì đã biết có một Tiểu đoàn trưởng dám nghĩ, dám làm như thế!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2019, 03:22:15 PM
   
MỘT PHI CÔNG VIỆT NAM CÓ TÊNTRONG 29 NHÂN VẬT XUẤT CHÚNG CỦA BANG KENTUCKY (MỸ)

        Tại bang Kentucky (Mỹ) hiện có một danh sách gồm 29 nhân vật xuất chúng trên cả thế giới được đặt trang trọng ở Tòa thị chính của bang này. Danh sách này ghi tiểu sử những người nổi tiếng như: Tổng thống Lyndon в. Johnson (Mỹ), Thủ tướng Winston Churchil (Anh) hay John Glenn -  người đàn ông Mỹ đầu tiên đi ra khoảng không được chỉ định trong khi di chuyển theo quĩ đạo trái đất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình và đặc biệt, danh sách trên còn có cả một người phi công Việt Nam: Nguyễn Hồng Mỹ! Ông là ai? Tại sao lại có nhiều vinh dự như vậy?

        Nguyễn Hồng Mỹ quê gốc Nghệ An, trong chiến tranh chống Mỹ chàng trai trẻ Nguyễn Hồng Mỹ là phi công lái máy bay chiến đấu MiG-21, thuộc Phi đội 1 anh hùng - Đoàn Không quân Sao Đỏ - Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Nguyễn Hồng Mỹ đi học bay ở Liên Xô (cũ) cùng đợt với Đinh Tôn, Nguyễn Đức Soát, Vũ Đình Rạng... và khi về Đoàn Không quân Sao Đỏ, những đợt bay đêm khó khăn cùng đồng đội săn B-52 anh luôn có mặt.

        Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, anh là một trong 12 phi công xuất sắc được lựa chọn vào đội bay diễu hành qua lễ đài ở Quảng trường Ba Đình lịch sử, đúng lúc Bí thư thứ nhất Lê Duẩn kết thúc bài điếu văn. Dù chỉ lướt qua lễ đài chừng vài chục giây, nhưng đội bay diễu hành bằng máy bay chiến đấu của anh đã phải tập luyện mất mấy ngày kể từ ngày Bác Hồ mất (từ ngày 3 tháng 9 năm 1969, đến ngày 9 tháng 9 năm 1969). Vì thực tế, từ khi về nước các anh chỉ lo hàng ngày xuất kích chiến đấu, chứ chưa được tập duyệt đội hình duyệt binh bao giờ.

        Điều khó khăn nhất lúc bấy giờ là cả đội bay gồm 12 chiếc chia thành ba tốp phải giữ vận tốc 800 ki-lô-mét/giờ, độ cao thấp mà đội hình không bị tách rời đồng thời phải căn sao cho khéo vừa lúc Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dứt lời là bay qua lễ đài...

*

        Đầu năm 1972 Không quân Mỹ chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra miền Bắc sau một thời gian dài ném bom hạn chế. Binh chủng Không quân được giao nhiệm vụ chuẩn bị các phương án đánh trả.

        Bộ Tư lệnh Quân chủng khẩn trương triển khai kế hoạch tác chiến đến từng cán bộ chiến sĩ nhất là các đồng chí phi công trực tiếp chiến đấu, với những khẩu hiệu như:

        Trung thành vô hạn!
        Đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể!
        Tiến công kiên quyết!
        Bắn rơi tại chỗ bắt sống giặc lái!

        Trước khí thế đó, toàn Phi đội của Nguyễn Hồng Mỹ ai ai cũng sẵn sàng chuẩn bị cho những trận Không chiến ác liệt với Không quân Mỹ.

        Ngày 17 tháng 01 năm 1972, Phi đội gồm hai anh Mỹ - Khương được lệnh xuất kích. Cả hai anh đã quần nhau với 12 chiếc F-4 của Không quân Mỹ, bắn hết 8 quả tên lửa, nhưng không rơi chiếc nào. Với sự tiếc nuối cùng với trách nhiệm, Phi đội của anh lại lao vào chuẩn bị cho những trận mới, hi vọng sẽ hiệu quả hơn.

        Hai ngày sau, ngày 19 tháng 1 năm 1972 Phi đội của Mỹ lại được lệnh xuất kích lúc 10 giờ. Bay số hai cho anh lần này là Thượng úy Lê Minh Dương. Vừa lên tới độ cao 3.000 mét thì sở chỉ huy thông báo có địch, nên anh đã chỉ huy số Hai của mình cùng bay về hướng 230 độ đón đánh địch từ Thái Lan vào.

        Đến vùng trời Hòa Bình, Nguyễn Hồng Mỹ phát hiện một tốp 8 chiếc F-4 bên trái khoảng 18 ki-lô-mét liền thông báo cho số Hai tiếp cận mục tiêu và đồng thời tăng tốc phát hiện thêm một chiếc F-4 đang cơ động phía trên.

        Nguyễn Hồng Mỹ nói nhanh vào hộp thoại: “Số Hai cảnh giới cho tôi”! Rồi anh vào công kích luôn vì chiếc này gần hơn. Sau một loạt động tác cơ động, thì chiếc F-4 này lấy độ cao bay về hướng Thanh Hóa. Còn Mỹ không lấy độ cao ngay mà tăng tốc đuổi theo đến lúc cách mục tiêu còn khoảng 8 ki-lô-mét thì đèn trong buồng lái của anh báo dầu đó lên.

        Nguyễn Hồng Mỹ báo cáo về sở Chỉ huy tình hình của mình, nhưng Sở Chỉ huy lệnh cho anh quay về ngay. Tiếc vì mục tiêu đã gần mà nhiên liệu thì hết, anh phán đoán có thể tiếp cận địch nên tiếp tục công kích. Khi cự ly còn khoảng 4 ki-lô-mét anh kéo máy bay lên theo mục tiêu và khi cự ly còn 2.000 mét anh bóp cò, phóng một lúc hai quả tên lửa phụt lao thẳng vào mục tiêu, chiếc F-4 không kịp trở tay bốc cháy và đứt làm hai phần, phần đuôi đánh sang trái, phần đầu, cánh lao xuống bên phải...

        Do cự ly quá gần, máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ lao vào vùng cháy, nên bị tắt máy cứ thế rơi tự do, xuống độ cao 3.500 mét anh mới bĩnh tĩnh khởi động lại động cơ vừa lúc đèn báo dầu nhấp nháy liên hồi. Anh phải khẩn trương về hạ cánh ở sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa, nạp dầu xong mới bay về lại Nội Bài trong niềm vui chào đón của Lãnh đạo Quân chủng và đồng đội.

        Sau trận không chiến đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Nguyên soái Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô Bachisky đã đến rút kinh nghiệm động viên và biểu dương Biên đội anh tại đơn vị. Anh còn được Chủ tịch Nước tặng “Huy hiệu Bác Hồ” - phần thưởng chỉ dành riêng cho những phi công bắn rơi máy bay Mỹ.

        Lại nói về chiếc F-4 mà Nguyễn Hồng Mỹ đã bắn rơi ngày 19 tháng 1 năm 1972, mãi tới năm 2008 anh mới biết rằng hai phi công lái chiếc máy bay đó đã kịp nhảy dù trước khi chiếc máy bay bị bốc cháy hoàn toàn và được trực thăng Mỹ kịp thời đến cứu. Một trong hai phi công đó, sau này là Trung tướng Không quân Dan Cherry (Mỹ) sang thăm Việt Nam tìm gặp người phi công Việt Nam Nguyễn Hồng Mỹ đã bắn trúng máy bay, khiến ông phải nhảy dù trong một trận không chiến giữa hai chiếc MiG-21 của Việt Nam với 24 chiếc F-4, F-105 của Không lực Hoa Kỳ ngày 16 tháng 4 năm 1972 (cuộc gặp gỡ này với tinh thần nhân chứng của hai chiến tuyến gặp nhau trong hòa bình, đã được Đài truyền hình Việt Nam ghi lại).

        Năm 2009, rất nhiều báo chí Mỹ đã đưa tin, viết bài về người phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ năm 1972. Họ cho rằng năm 1972 người Mỹ đã rất tỉ mỉ công phu lập một kế hoạch lớn nhằm thôn tính Bắc Việt. Họ đã rất tự tin và thường sử dụng một số lượng lớn máy bay hiện đại xuất kích, để hòng đàn áp vài chiếc MiG-21 “nhãi nhép” của Việt Nam. Vậy mà chỉ trong vài trận đầu tiên của chiến dịch, Không lực Hoa Kỳ đã bị tiêu diệt bởi Nguyễn Hồng Mỹ. Và việc Nguyễn Hồng Mỹ bắn rơi chiếc F-4 đầu tiên của chiến dịch, làm cho người Mỹ lúc đó vô cùng hoang mang, lo ngại không hiểu Không quân Việt Nam có bí quyết gì?

        Ngưỡng mộ về một con người xuất chúng như thế, tháng 4 năm 2009, Trung tướng Không quân Mỹ Dan Cherry đã mời bằng được Nguyễn Hồng Mỹ sang thăm Mỹ và dưới sự chứng kiến của hàng nghìn người dân bang Kentucky, đích thân Thống đốc bang đã trao quân hàm danh dự Đại tá cho cựu Phi công Nguyễn Hồng Mỹ, cùng anh trồng cây lưu niệm trước tòa nhà Bowling Star - toà nhà lớn nhất bang Kentucky.

        Rồi đích thân Trung tướng Dan Cherry - Giám đốc Bảo tàng Không quân của bang Kentucky đã mời Nguyễn Hồng Mỹ cắt băng khánh thành Bảo tàng Không quân của bang này. Hình ảnh của Nguyễn Hồng Mỹ đã được Bưu điện Mỹ sử dụng làm con tem và báo chí Mỹ nhắc đến nhiều lần.

        Quả thật, Nguyễn Hồng Mỹ đã là một niềm tự hào cho Không quân nhân dân Việt Nam, cùng với anh còn có nhiều phi công xuất sắc như Đặng Ngọc Ngự, Đinh Tôn, Nguyễn Đức Soát... đại diện cho một thế hệ phi công MiG-21 anh hùng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2019, 03:24:00 PM

CỰU PHI CÔNG PHAN VĂN ĐIỆT LUÔN “BAY” CÙNG ĐÔI NẠNG GỖ

        Năm 1961, Phan Văn Điệt đang là một học sinh cấp III Huỳnh Thúc Kháng (Vinh - Nghệ An). Tuy học ở thành phố nhưng Điệt trọn vẹn là con gia đình nông dân nghèo “Chân đất, đầu trần”. Ngày đó nhà Điệt không đủ cung cấp cho con trọ lại ngoài thành phố nên anh phải cuốc bộ sáng đi, trưa về hoặc tối về tùy hôm nào học cả ngày hay một buổi trên con đường dài 8 ki-lô-mét. Cũng may có bốn bạn cùng cảnh nên Điệt thấy vẫn vui. Điệt thấy các anh chị lớp trước học hành giỏi giang nên Điệt quyết tâm lắm.

        Bữa ấy, có Đoàn Quân y về trường Huỳnh Thúc Kháng khám tuyển một số học sinh đi làm “nhiệm vụ đặc biệt”. Có vẻ bí mật là thê nhưng mấy hôm sau, Điệt và các bạn cũng biết đó là khám tuyển Phi công. Họ khám rất cẩn thận tất cả mọi phần trên cơ thể, lại còn xem xét lí lịch ba, bốn đời nhưng Điệt cũng vẫn vượt qua được hết và nhận được giấy mời tập trung tại Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An chỉ hơi chậm hơn so với các học sinh khác nên Phan Văn Điệt phải trực tiếp ra ngay trạm 66 - Hà Nội. Ngày Điệt ra tới Hà Nội, cũng chính là ngày anh chính thức nhập ngũ.

        Khi xuống Hải Phòng vào trường Hàng không, Phan Văn Điệt được học lái máy bay thể thao IaK-18, nhưng dạo ấy trường khó khăn về khí tài, máy bay, nên Điệt phải nghỉ huấn luyện giữa chừng. Sau đó, Điệt lại được điều sang Trung Quốc học bay chụp ảnh hàng không làm bản đồ.

        Thời gian đó ở trong nước, giặc Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội quá, mà lượng phi công tại Việt Nam thì quá ít ỏi. Bởi một số trục trặc về huấn luyện ở nước ngoài, nên Điệt đang học bay chụp ảnh cùng với Phạm Đình Tuân, thì phải nhận lệnh chuyển qua trường lái máy bay chiến đấu ở Trung Quốc, do một số giáo viên của ta và giáo viên Trung Quốc đào tạo gấp lái máy bay chiến đấu.

        Khóa học của Phan Văn Điệt gồm có 17 học viên, tập hợp từ nhiều nguồn đều đang học dang dở cả, hầu hết học viên đều trong trường hợp xét đi, xét lại. Đó là khóa học đầu tiên của Trường Không quân do Việt Nam thành lập, nên khó khăn và thiếu thốn rất nhiều.

        Tiếp thu những kiến thức về khoa học thì còn đỡ vất vả, nhưng về những động tác kỹ thuật thì không có mô hình, học viên phải hình tượng nó ra hình học không gian khó lắm. Tuy vậy, ai cũng mong muốn học đạt kết quả cao nhất, để mau trở về nước chiến đấu, vì biết rằng cả dân tộc Việt Nam đang rầm rập “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

        Năm 1966, tất cả học viên Không quân khóa I về nước và được phân công về các đơn vị Đại đội 1, Đại đội 2, Đoàn Không quân Yên Thế. Đơn vị tổ chức huấn luyện thực tế thêm một thời gian nữa, đồng thời để làm quen với đội hình và địa hình chiến đấu chống máy bay Mỹ ném bom ra Bắc.

        Sau ba tháng huấn luyện thực tế, Phan Văn Điệt chính thức được phân công trực chiến. Anh là một trong những phi công đầu tiên được phân công nhiệm vụ, nhưng Điệt rất tự tin không hề lo lắng gì, tuy biết rằng mỗi lần cất cánh bay là biết trước cái chết đang rình rập.

        Đã có lúc Điệt lấy bút ra ghi vào sổ nhật ký:

        “Tôi đâu phải phi công
        Tôi là chiến sĩ trên không
        Tôi là lưỡi mác
        Tôi là mủi chông
        Tôi là ngọn tầm vông
        Bắn vào tim giặc Mỹ”.


        Những buổi xuất kích qua Hòa Bình, xuyên qua Ba Vì, Điệt mơ màng nhìn ngắm bầu trời trong xanh, ở phía dưới -  hướng Mai Châu những hòn núi như những chiếc bát úp, cái to, cái nhỏ san sát nhau, sao Điệt thấy hùng vĩ vô cùng. Có những hôm mây che kín bầu trời, Điệt bay xuyên qua những tầng mây trắng xóa mênh mông để ngắm những vệt mây màu len lỏi xuyên qua những đụn mây, lảng vảng như những sợ tơ mỏng manh huyền bí lững lờ. Điệt cứ ngỡ là mình lạc vào chốn đào nguyên rồi giật mình nhớ là đang phải đi tìm giặc chứ đâu phải tìm các nàng tiên. Bất giác Điệt mỉm cười, tự giễu mình sao mà lãng mạn...

        Vài ngày trước đó, Vũ Huy Lượng - một phi công trong đoàn mới về, bạn của Điệt - trong một trận không chiến trên bầu trời Hòa Lạc đã hi sinh và không trở về. Lượng đã bị rơi bên đường - nơi mà hàng ngày Điệt và đồng đội vẫn đi từ chỗ ở ra sân bay.

        Trong nghĩa trang liệt sĩ xã Sơn Đồng, Lượng nằm đó dưới một nấm mồ phủ đầy hoa trắng, lọt thỏm giữa vòng

        người - những đồng đội và người thân trong gia đình của anh. Điệt đau đớn nhìn nắm hương trên mộ nghi ngút khói và những giọt nước mắt cứ lặng lẽ lăn xuống gò má anh. Không ai khóc lên thành tiếng. Điệt vẫy tay nói với bạn:

        - Chào nhé, ngày mai mình còn đi chiến đấu!

        Điệt và đồng đội từ biệt Lượng, cố ghìm tiếng nấc nghẹn ngào.

        Một ngày sau, trên nấm mộ của Lượng ngập tràn những bông hồng màu trắng với khói hương. Những bông hồng ấy được chính tay người yêu của Lượng rải lên - cô gái Hà Nội đang là sinh viên của trường Y sơ tán trên Thái Nguyên tìm về, lăn ra ôm nấm mộ Lượng mà khóc. Đích thân Phan Văn Điệt đưa cô gái đến, mà khi thấy cô khóc lóc cổ họng anh cứ cứng lại, đứng không nổi. Điệt không dám đứng bên cạnh cô vì sợ mình sẽ khóc theo. Anh vội chạy ra cổng nghĩa trang để giấu đi những giọt nước mắt không sao dừng được.

        Lần đầu tiên Điệt chứng kiến cảnh cô gái ôm nấm mồ bạn của mình khóc. Anh thấy rõ sự hi sinh khiến cho người thân của các phi công đau đón đến nhường nào. Đây chính là thời điểm tập trung cao độ của những tích lũy giáo dục, tri thức cọ xát với thực tiễn. Sự hi sinh của Vũ Huy Lượng khiến anh đau lòng, nhưng Điệt hiểu rằng chiến tranh là thế, có hi sinh và mất mát.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2019, 03:25:33 PM

        “Ai gây ra cuộc chiến tranh này ? Bọn giặc Mỹ! Ai dẹp bỏ được chiến tranh này ! - Những người lính như ta, sự tồn vong của đất nước phụ thuộc vào lòng can đảm của chính ta! - Điệt cứ tự hỏi và trả lời như thế mỗi lúc đêm về. Anh suy nghĩ như vậy và cuối cùng anh tự nhủ: “Phải chiến đấu và chiến thắng"!

        Những ngày đó, Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam dường như không ngăn nổi sức nóng của chiến trường. Không quân Mỹ ngày càng hung hăng đánh vào Hà Nội, hòng gây sức ép cho cuộc đàm phán. Phan Văn Điệt và đồng đội được lệnh tập trung bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Các anh phải trực chiến nhiều hơn, xuất kích nhiều hơn.

        Chiều 19 tháng 5 năm 1967, Biên đội của Điệt cất cánh lên vùng trời Hà Tây. Vừa cất cánh, Phi đội của anh liền chạm trán với 3 chiếc F-8 bay từ hạm đội 7 của Mỹ ngoài biển theo hướng Phủ Lý vào Chương Mỹ. Đây là cơ hội để toàn Phi đội lập công mừng sinh nhật của Bác.

        Điệt vẫn còn nhớ hôm Bác đến sân bay Đa Phúc thăm phi công hồi đầu năm, Người ân cần dặn: “Không quân chúng ta lực lượng còn ít, nên đã đánh là phải thắng, sau chiến thắng phải còn hùng mạnh”!

        Trên bầu trời Chương Mỹ, Phi đội của Điệt quần đảo với bọn Mỹ một hồi, trong ba phút ấy Điệt đã kịp bắn trúng một chiếc F-8, khiến cho nó phải bốc khói định bay về phía Phủ Lý. Thấy đang còn thuận lợi, Điệt quyết định rượt theo ép vào nó, bắn thêm một loạt 37 ly nữa cho nó phải rơi ngay tại chỗ.

        Nhưng Điệt không để ý thấy bọn chúng quá đông, chỉ đợi anh sơ xuất là tấn công ngay. “Một máy bay của chúng ở phía trước đã bị cháy, chỉ sợ chúng hoảng nên phụt tên lửa ngay” - Một ý nghĩ vừa lướt trong đầu Phan Văn Điệt như vậy thì trong chớp mắt anh đã thấy hình như máy bay của mình bị thương. Điệt vội vàng nhảy dù, cho dù biết đang ở độ cao thấp chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm. Vì rất có thể dù vừa bung ra đã đẩy anh xuống đất ngay, anh sẽ không thể chủ động tiếp đất được.

        Tỉnh lại sau 4 ngày, Điệt mới biết rằng hôm ấy anh đã nhảy dù rơi xuống một cái ao bùn. Hậu quả của lần nhảy dù bất đắc dĩ này là anh bị vỡ liền một lúc mấy đốt xương sống.

        Nằm trên giường bệnh, Điệt ngẫm nghĩ về sự ngây thơ của mình: Máy bay nó đã bốc cháy, đằng nào cũng bị rơi, lẽ ra không cần đuổi theo nữa mà phải đề phòng những chiếc khác tấn công mới phải. Một sai lầm về chiến thuật phải trả bằng một giá quá đắt...

        “Nếu không bị thương, Điệt có thể sẽ còn bắn rơi được nhiều máy bay nữa. Tiếc là sai lầm này không còn cơ hội để sửa chữa nữa rồi”.

*

        Hàng chục tháng Điệt không được rời khỏi giường. May mắn làm sao có cô y tá thương Điệt vừa đẹp trai, dũng cảm lại vừa học thức nên chăm bẵm Điệt không quản ngày đêm. Có những lúc Điệt hai tay hai nạng gỗ lết từng bước đau đớn, mồ hôi nhễ nhại tập đi.

        Lần tập đi thứ hai trong đời này sao mà khó khăn, cực nhọc đến thế, cố lắm cũng chỉ đi được chục mét là cùng. Điệt trở thành một người lính thương binh đáng thương đến nỗi, một lần Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Đinh Đức Thiện đã nắn từ đầu đến chân anh mà nói rằng: “Làm hậu cần phải nuôi được những người lính như thế này mới coi là hoàn thành nhiệm vụ”.

        Phan Văn Điệt nghe mà rưng rưng, không dám khóc mà đau khổ nuốt nước mắt vào trong. Mới hai tư tuổi đời, bỗng dưng phải lê lết như thế này, thê thảm quá. Điệt cảm thấy mình chấp nhận hoàn cảnh mới khó gấp trăm vạn lần những ngày trực chiến xuất kích, căng tròn đôi mắt lùng sục địch trên bầu trời.

        Nhiều khi Điệt ngồi với đôi nạng gỗ, mắt nhìn xa xôi vào cõi vô tận: “Rồi đây mình sẽ ra sao?”. Nhưng sự vò xé trong lòng không còn khốc liệt như thời gian đầu mới ra viện nữa. Phan Văn Điệt lấy lại tinh thần, anh cạo trọc đầu và miệt mài lao vào đống sách vở mà xưa nay anh vẫn yêu thích. Anh nhất định không để tâm hồn mình cô độc và biệt lập.

        Điệt lặng lẽ nhìn đồng đội mình chuẩn bị bay với tâm trạng tiếc nuôi. “Làm gì để sống, khi đất nước vẫn còn chiến tranh chưa có nhiều điều kiện chăm lo cho người tàn tật như mình?”. Năm tháng khắc nghiệt đã dạy cho Phan Văn Điệt một chân lý “Có làm việc mới đưa con người đến cuộc sông có ý nghĩa thực sự” và anh nghĩ về câu nói của Bác Hồ: “Thương binh tàn, nhưng không phế", thế là Phan Văn Điệt quyết định chống nạng dạy bổ túc cho những chị em công nhân chưa tốt nghiệp cấp I, có thêm kiến thức văn hóa...

        Sau gần nửa thế kỷ trên đôi nạng gỗ, Phan Văn Điệt đã trải qua một cuộc sống đa chiều, đa diện, với những gam màu nóng lạnh thay đổi từng ngày; nhưng dường như tâm hồn anh vẫn đang “bay” cùng nghị lực và ước mơ của một Cựu phi công chiến đâu.

        Giò đây thương binh Phan Văn Điệt đã có ba người con trưởng thành, đều tốt nghiệp đại học với người vợ yêu thương người xứ Nghệ quê hương của anh. Phan Văn Điệt - người lính phi công lãng mạn năm xưa vẫn kiên cường trên đôi nạng chống trụ với cuộc đời...


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Một, 2019, 03:26:14 PM

VỚI NHỮNG ĐỒNG ĐỘI ĐÃ RA ĐI THẦM LẶNG

        Nhân dịp đi lấy tư liệu để thực hiện cuốn sách này tôi có ghé thăm Đoàn Không quân Yên Thế và tiện thể tôi lại có cơ hội đi thăm lại những nơi mà ngày xưa tôi có rất nhiều kỷ niệm quanh khu vực Sân bay Sao Vàng.

        Cách Sân bay hơn hai chục cây số, là nhà của Lê Trọng Huyên ở huyện Thiệu Hóa. Nhiều bận sau vài trận đánh căng thẳng, chúng tôi được cấp trên cho nghỉ phép. Nhưng vì chỉ được nghỉ tranh thủ có một, hai ngày nên những đứa quê xa rất ngại về cho dù trong lòng rất nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con. Mỗi lần như thế, mấy đứa bọn tôi thường kéo nhau về nhà Huyên chơi, bắt vịt, bắt cá dưới ao làm thịt rồi đánh chén.

        Gần năm mươi năm tìm về quê cũ của bạn, làng xóm đổi khác đã nhiều, duy chỉ có ngôi nhà của bạn năm xưa vẫn y nguyên. Tôi cố gắng bước thật chậm, nhưng sao bước chân cứ líu ríu thề này. Tôi vào đến sân rồi lại lùi ra xa nhìn lên mái nhà lợp ngói ta qua thời gian đã phủ màu rêu xanh thẫm rồi mới cất tiếng gọi:

        - Anh Bang! Có phải đây nhà anh Bang không nhỉ?

        Nghe tiếng gọi, một người đàn ông gày gò, cỡ tuổi tôi

        từ trong nhà bước ra, vẻ mặt còn nghi ngại hỏi:

        - Ông ông hỏi ai ạ?

        Tôi ngập ngừng giây lát ngắm kỹ ông, rồi buột miệng:

        - Anh Bang! Tôi, Chao đây, không nhận ra tôi sao? Tôi là đồng đội cũ của Huyên đây mà.

        - Trời! Anh Chao! Sao anh lại có thể tìm được nhà tôi? Mấy chục năm rồi. Quý hóa quá anh Chao ơi - Người đàn ông mà tôi gọi là anh Bang cứ ôm chầm lấy tôi xuýt xoa.

        Tôi cười:

        - Nhà anh có gì mà không tìm được? Chúng tôi đã ăn mòn bát, mòn đũa ở đây. Trưa hè còn nằm ngủ trên cái phản này. Thế cả nhà đi đâu hết rồi anh Bang?

        - Bà Kiều ơi! Có anh Chao tới thăm này - Ông Bang gọi với vào nhà trong.

        - Tôi đây, anh Chao à, có phải anh Chao thật không? - Bà Kiều, vợ ông Bang tất tả bước ra - Ôi anh Chao thật ông ạ, thấy anh lại nhớ anh Huyên nhà em! - Bà Kiều vừa nói, vừa lấy tay áo chấm những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, vừa ôm tôi nắn nắn cánh tay tôi xúc động. - Sao anh Huyên nỡ đi sớm, chẳng về mà xem có buổi hôm nay. Cả đời chỉ biết có nhiệm vụ, chẳng kịp lấy vợ con gì.

        Nghe bà Kiều nói, nước mắt tôi chỉ trực trào ra, nhưng tôi cố gắng lảng sang chuyện khác:

        - Hôm nay tôi đưa vợ lên thăm anh chị, xin được thắp nén nhang cho anh Huyên.

        Nói rồi tôi bày ít hoa quả lên ban thờ, ở đó có tấm ảnh Thiếu tá phi công Lê Trọng Huyên cười rất đẹp sau làn khói hương nghi ngút, nụ cười ấy làm cho những kỷ niệm về người đồng đội yêu quí như sống lại trong tôi.

        Những mẩu chuyện về Huyên được ông bà Bang chắp nối thành một câu chuyện như đoạn phim chầm chậm quay về...

        Bố Huyên lấy người vợ đầu tiên sinh được một người con rồi lấy thêm người vợ nữa chính là mẹ đẻ hai em Huyên và Bang. Nhà nghèo, nhưng trời lại phú cho Huyên có một sức khỏe hơn người nên vừa lớn Huyên đã được tuyển đi học phi công bên Trung Quốc cùng đợt với tôi. Huyên hiền lắm, hiền đến nỗi bao nhiêu lần chúng tôi gán ghép Huyên với một cô gái làm việc cùng đơn vị, mà không thành. Giữa trời mưa lạnh, cô gái đứng co ro, còn Huyên thì cứ cầm ô hút thuốc, rồi rọi đèn pin tứ phía chẳng biết nói gì, làm cho cô gái giận bỏ về.

        Ngược lại với chuyện tán gái, trong chiến đấu Lê Trọng Huyên chẳng hề nhút nhát tí nào. Làm Trung đoàn phó đã lâu, tuổi đời cũng khá nhiều, tôi nhớ không nhầm khi ấy Huyên đã ba mươi tám tuổi mà cấp trên giục chuyện vợ con thế nào Huyên cũng ậm ừ, lần lữa. Huyên còn bảo: “Khi nào đất nước thống nhất, lấy vợ cũng chưa muộn”.

        Chúng tôi khi ấy nghe Huyên nói vậy chỉ biết cười, nói đùa: “Thằng Huyên nó phấn đấu khi nào nó bắn rơi được 10 chiếc máy bay nó mới chịu lấy vợ!” .

        Huyên là người xông xáo, việc gì khó khăn đều vơ vào làm. Cũng bởi thế mà, lần đó Huyên trực tiếp bay vào Nam để không may bị bọn Mỹ bắn hi sinh. Tuy không bắn được 10 chiếc như chúng tôi đã trêu, nhưng Huyên cũng kịp hạ rơi 4 chiếc máy bay Mỹ trước khi làm nhiệm vụ cuối cùng.

        Sau khi Huyên hi sinh, bọn chúng tôi một thời gian dài cứ buồn thương Huyên mãi. Và mãi sau này mới biết Huyên đã có một mới tình thật đẹp với cô gái tên Thảo là Giảng viên Trường Chính trị Quốc gia, qua lá thư cô gái gửi về gia đình anh Bang (là em trai của Huyên) sau khi Huyên mất. Có thể đó cũng là lý do tại sao Huyên chẳng yêu ai và lúc nào cũng chỉ lo nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2019, 06:40:00 PM

*

        Vợ chồng tôi cùng vợ chồng ông Bang, bà Kiều cứ thế ngồi ôn lại những câu chuyện từ xửa, từ xưa như vậy.

        Ông Bang chép miệng:

        - Anh Huyên tôi thì thế, ra đi chẳng có vợ, có con gì. Nhưng có khi như thế cũng hay, chứ nhiều anh hi sinh, để lại vợ con lúc chiến tranh khổ cực lắm.

        - Anh nói đúng, lứa chúng tôi đi học ở Trung Quốc về 60 người loại dần đến lúc trở về Việt Nam chiến đấu còn có 18 người. Mà trong số 18 người ấy hiện nay chỉ còn có ba, trong đó có tôi. Đó cũng là điều may mắn hơn các anh ấy. Còn cái đầu là hạnh phúc lắm rồi. Cũng là may rủi mà thôi.

        - Anh Bang còn nhớ Trần Huyền không? Anh Trần Huyền cũng có lần về nhà ta chơi đó. Anh ấy hi sinh nhưng cũng thật tội cho chị Tân - Tôi nói tiếp - một mình với ba con nhỏ, mà chẳng được như người ta, mỗi lần lên thăm anh Huyền đều bị anh ấy trốn, hắt hủi đuổi về.

        - Vậy sao? - Ông Bang ngạc nhiên hỏi: - Hồi đó tôi không có dịp trò chuyện nhiều, nên không được biết.

        - Thế đúng là anh không biết thật rồi, để tôi kể cho nghe..

        Trần Huyền sinh ra trong một gia đình rất đông con, có những chín người, mà Huyền là anh cả. Lúc ấy tuy không phải là gia đình giàu có, nhưng nhà anh nền nếp gia phong theo lối cũ, kiểu “bố mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”.

        Năm Trần Huyền mười sáu tuổi, bố anh đã cưới vợ cho anh, người ấy là chị Tân hơn anh tới bốn tuổi. Vì không được tự do yêu đương, vừa chênh lệch về tuổi tác, lại vin vào việc để răng đen cổ hủ, nên Trần Huyền rất ngại gặp vợ.

        Rất ít khi Trần Huyền được nghỉ phép mà về thăm nhà. Hầu như chị Tân lên đơn vị thăm chồng là chính, mà thời ấy phụ nữ có chồng làm phi công đi tìm chồng đâu có dễ, hết sân bay này tới sân bay khác mới gặp được chồng, hệt như bà Thêu nhà tôi đây. Nhưng bà Thêu lên thì còn hạnh phúc, vì chúng tôi mong muốn được gặp nhau, chứ chị Tân lên gặp chồng lại khác, cứ hễ thấy bóng chị Tân đâu thì Trần Huyền tìm cách lẩn trốn ngay. Nhiều lúc tình cờ gặp vợ tôi cùng lên thăm chồng, chị ấy khóc: “Chẳng biết chị ăn ở kiếp trước thế nào mà kiếp này ông trời bắt tội. Em có cách nào bảo anh ấy (Trần Huyền) gặp chị một lát được không?”.

        Thòi bấy giờ, phi công được tuyển lựa kỹ càng kể từ gốc gác gia đình, lý lịch người ta “săm soi” kỹ lắm. Cứ đúng hai tám tuổi mới được lấy vợ (đó là áp dụng cho những anh chưa lấy vỢ trước khi đi học) còn đã lấy vợ rồi như Trần Huyền nhất định không được bỏ, bỏ là cắt bay ngay.

        Trần Huyền tuy không yêu vợ, nhưng anh cũng rất mực thước không có tính này nọ. Dạo đó có một cô rất thích anh, mặc dù đã biết anh có vợ, mỗi một lần anh đi trực về, bao giờ cũng tìm đến, như hình với bóng. Đang trong hoàn cảnh chán vỢ, lại tự do, rất có thế anh cũng đã từng xiêu lòng, nhưng vì nghĩ đến việc phải nghỉ bay, anh đã từ chối cô gái đó.

        Trần Huyền rất giống Lê Trọng Huyên ở chỗ rất chú trọng nhiệm vụ được giao và bay rất tốt. Nhiều lúc anh tâm sự với tôi:

        - Mình có thể hi sinh chuyện tình cảm, chứ không thể không bay. Nghe nói, đào tạo được một người phi công như mình, Trung Quốc đã phải mất 80 ki-lô-gam vàng cho mỗi người. (Theo tính toán của người Trung Quốc, họ tính tất cả các khoản chi phí từ lúc đưa học sinh từ Việt Nam sang, lo chỗ ăn nghỉ, cho đến học tập, huấn luyện bay, từ lúc 60 học viên cho tới khi được 18 học viên về nước số chi phí lên tới 80 ki-lô-gam vàng ròng/người). Mình không thể lãng phí bao nhiêu công lao đào tạo như vậy để thỏa mãn ham muốn cá nhân được.

        Bạn tôi đấy, mỗi người một vẻ nhưng hầu như ai cũng luôn tự mình phấn đấu, hi sinh những sở thích của riêng mình và hiểu rõ Tổ quốc cần mình thế nào để có trách nhiệm với Tổ quốc.

        Tôi nói điều này, với thời nay hơi có vẻ lý thuyết, nhưng đó là sự thật: Phi công lứa đầu tiên của Binh chủng Không quân như chúng tôi, những người như các anh Trần Huyền, Lê Trọng Huyên và còn bao người khác nữa, mà tôi chưa biết, chưa kịp kể lại trong cuốn sách nhỏ này.

        Họ đã thầm lặng ra đi, tất cả đều xứng đáng là những anh hùng!


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2019, 09:42:41 PM
       
PHỤ LỤC MỘT

CÁC ANH HÙNG CỦA QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG VÀ KHÔNG QUÂN

       
ANH HÙNG TÔ VĨNH DIỆN

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76786427_530915590971659_342909802365583360_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeGJj5JV6ySY4X1-uwKEwca0gmOF-a9za5Xxd-Ega2sgpwH_lbvJVnU9ewWqLpaC9AAHx3IWiRSB9Q2jhy1MyENCS_mANF8VyUSMjYfQZiBfhQ&_nc_oc=AQn5186J_RTtQXMcpcDxUO7QDEWcmc4r7XzTXJ8DgBSCHf8SrFDxYXeNHmd5X_KP6No&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=45498ee2b41f536d2891b9236c73ee47&oe=5E801690)

        Anh hùng Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Khi hi sinh đồng chí là tiểu đội trường pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.

        Năm 1946, Tô Vĩnh Diện tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, xung phong vào bộ đội, đến năm 1953, Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Quá trình đơn vị hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000 ki-lô-mét tối vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu, gánh vác việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội đưa pháo tới đích an toàn. Những lúc gặp chặng đường nguy hiểm, Tô Vĩnh Diện luôn xung phong ở những vị trí khó khăn nhất để đảm bảo an toàn cho pháo. Kéo pháo vào đã gian khổ, khó khăn nhưng kéo pháo ra càng gay go, trắc trở. Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối - một cái dốc nghiêng 70 độ, đường hẹp và cong rất nguy hiểm - Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh bĩnh tĩnh giữ càng, lái cho pháo xuống thẳng đường. Không may, một trong bôn dây kéo lại bị đứt, pháo lao rất nhanh, hất Ty xuống suối. Trước hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo!” và anh buông tay lái chạy lên phía trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh pháo. Pháo bị vướng, nghiêng dựa vào sườn núi, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ được pháo dừng lại. Tấm gương hi sinh vô cùng anh dũng của Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ cho toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

        Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạnh Nhất. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Tô Vĩnh Diện được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 

ANH HÙNG NGUYỄN THÀNH ÚT

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76996302_530915594304992_8158128866506833920_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGCs-GnGPO_At0G_9gzJyZCxXc9WE6O8vLKRAMK3pXb1lJ5KR6NZlS3URvO5iL9vQshW8x4g_3lD3yQCCVeEI7POzpf_lpIivZBTk3jWOvXdQ&_nc_oc=AQns2bxjy5K-DnnzneekRdomZWHukNgoFHKaHbTmLJz27i0GeT5KqS0zvFUviAielz8&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=c9a9906a3c7b3eb5ce3f83703089b12c&oe=5E869A69)

        Anh hùng Nguyễn Thành Út (tức Huỳnh Văn Voi) sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thới, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 570, Đoàn 330.

        Chín năm chiến đấu ở chiến trường Miền Nam, Nguyễn Thành Út đã đánh 42 trận (trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ), 6 lần bị thương. Tháng 8 năm 1948, một Trung đội của địch đi càn lọt vào trận địa phục kích của ta, đồng chí đã diệt được nhiều tên, làm cho chúng khiếp sợ. Trận đánh đồn Bà Lực (tháng 12 năm 1950) địch bắn ra dữ dội, đơn vị xung phong hai đợt vẫn chưa vào được, Nguyễn Thành út xách súng trung liên xông vào sát đồn, kẹp trung liên vào nách bắn chế áp hỏa điểm địch. Cửa được mở, đơn vị tiến vào diệt gọn vị trí này. Tháng 8 năm 1952, trận Bảy Ngàn, Nguyễn Thành út và Trung đội trưởng đi trước, hai người đội bèo ngâm mình dưới nước bí mật lọt vào đồn, chiếm cầu thang gác chẹn địch. Địch phản kích, Trung đội trưởng hi sinh còn mỗi một mình Nguyễn Thành út vẫn dũng cảm, kiên quyết chặn địch cho đến khi xung kích vào tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Tháng 3 năm 1954, đơn vị đồng chí đánh vận động ở An Biên, cả tiểu đội thương vong gần hết, Nguyễn Thành út bị thương vẫn chỉ huy anh em đánh thẳng vào giữa đội hình địch, làm cho chúng rối loạn, tạo điều kiện cho đơn vị diệt gọn Đại đội địch.

        Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Nguyễn Thành út được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2019, 09:47:49 PM

ANH HÙNG TRẦN HANH

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76608811_530915580971660_17914626419195904_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeHn41NlaYwxLGYaoukrTfv6m-FFpvPr3AzloFdZyF3qvzmyrIifQXcJS2Zeag73QH-RfgGZW8Ukn23BQGhWN-NO-lG_yWXzlCh79OEmLTxoFg&_nc_oc=AQlb5wns3GHZCB19Q2Pu8VtO1Tiq29rP_Tvsw2NsxInTOLDHW4R_D-ySVLCPK4CvRHk&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f690d8bc08d6798f71d4c3f34d4e72e5&oe=5E870339)

        Anh hùng Trần Hanh sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở làng Tức Mạc, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên,

        Thiếu tá, Trung đoàn phó Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Trong kháng chiến chống Pháp, Trần Hanh ở Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, chiến đấu 25 trận lớn nhỏ, qua các chiến dịch Hà Nam Ninh, tây nam Ninh Bình và Đông - Xuân 1953 năm 1954. Từ năm 1956 do yêu cầu phát triển quân đội, Trần Hanh được cử ra nước ngoài học lái máy bay phản lực. Ngày 3 tháng 4 năm 1965 Không quân ta lần đầu tiên xuất trận, Phi đội của Trần Hanh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ yểm hộ trên tầng cao cạnh sườn đế Phi đội bạn lập công xuất sắc.

        Ngày 4 tháng 4 năm 1965, Trần Hanh nhận nhiệm vụ chiến đấu trên vùng trời Hàm Rồng - Thanh Hóa. Đồng chí phát hiện 4 chiếc máy bay địch ở bên phải đang lấy độ cao bay lên tránh hỏa lực pháo cao xạ của ta từ dưới bắn lên. Tranh thủ yếu tố bất ngờ, đồng chí cho máy bay tăng hết tốc độ và vòng gấp từ trên cao lao xuống bám sát 1 chiếc F-105. Tới cự ly có hiệu quả, Trần Hanh nổ súng chiếc F-105 bị trúng đạn vào giữa thân, bốc cháy và rơi xuống. Chiến đấu được 4 phút, khi nhận được lệnh quay về, Trần Hanh phát hiện 2 máy bay địch ở thế có lợi, không còn cách nào khác đồng chí dũng cảm quay ngược máy bay lại lao thẳng vào đối đầu với bọn địch. Không chịu nổi lối đánh đó, chúng hốt hoảng bỏ chạy. Khi máy bay hết dầu, được phép nhảy dù nhưng anh vẫn cố gắng tìm cách hạ cánh an toàn.

        Đồng chí Trần Hành đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba và Chiến sĩ Thi đua năm 1954 (trong kháng chiến chông Pháp), 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Trần Hanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BẢY

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74288126_530915624304989_498546128543809536_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEq5EcwBiJ5q8QZcnqdD8ifCgEdkEvCEqpTIoit3foDwEEZlG3OM226JtE1UCfweo_b4yvsZY_yyJOWxnVPe4LD8kaCQfdlhev-jmxDXZJDaQ&_nc_oc=AQkkZ4qt0iHxmmq-0tsox3ulXtVzYYPygbHdCvNClx29GUOeuUpk77j5wVe7SpcSXq0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=6891ad01976e64a5a16ab6059f0d5a92&oe=5E89BF81)

        Anh hùng Nguyễn Văn Bảy sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Thanh, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Đại đội phó Đại đội 1 Không quân, thuộc Đoàn Không quân Yên Thế.

        Từ năm 1954 đến 1959, Nguyễn Văn Bảy ở đơn vị bộ binh. Năm 1960, anh được chuyển sang Không quân đi học lái máy bay phản lực. Tháng 4 năm 1965, anh tốt nghiệp trở về nước. Tính đến ngày được tuyên dương Anh hùng, anh đã chiến đấu bảy trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần cùng Phi đội bắn rơi 12 chiếc máy bay địch. Riêng anh 4 lần nổ súng bắn rơi tại chỗ 4 máy bay phản lực Mỹ (2F-4, 1 F-105 và 1 F-8).

        Ngày 26 tháng 4 năm 1966 trên vùng trời Võ Nhãi (Bắc Thái cũ) Nguyễn Văn Bảy phát hiện máy bay địch, anh bất ngờ lái máy bay xông thẳng vào giữa đội hình máy bay địch, làm cho chúng hốt hoảng tháo chạy. Anh bĩnh tĩnh bám chắc một chiếc, tối cự ly có hiệu quả bằng 2 loạt đạn làm cho nó bốc lửa và rơi ngay tại chỗ.

        Ngày 29 tháng 6 năm 1966 trên vùng trời Việt Trì, Biên đội của anh bị máy bay địch bám đuổi, Nguyễn Văn Bảy quay lại đối đầu, giành thế chủ động bắn rơi 2 chiếc phản lực Mỹ, riêng anh bắn rơi một chiếc.

        Ngày 5 tháng 9 năm 1966, 16 chiếc máy bay địch gồm F-4 và F-105 xâm phạm vùng trời Chí Linh (Hải Dương) anh cùng đồng đội bắn tơi 3 chiếc máy bay F-4 và trở về hạ cánh an toàn, riêng anh bắn rơi một chiếc.

        Nguyễn Văn Bảy được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba và nhiều Bằng khen, giấy khen. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2019, 09:50:14 PM

ANH HÙNG NGUYỄN TUYÊN

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76686393_530915630971655_7555921168243359744_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeErLYTtqIUGfibwr4Yg30W0BVsfpQYLugW2U0UU9CniXJ5xG-KMaLmd0qA4T8z2uUg9LCy8K1j5nNBc6i75zfNyvKj2KotpTH1E0517-rEb8g&_nc_oc=AQlnXw3JBJfz7GT6tpI5_1bkLPrDF70SKRujuFkiGWgt05o1Qihy_1Z6ymI3FAgqfrc&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=2d4454814e58ffac6fc8238761c76569&oe=5E81C39F)
         

        Anh hùng Nguyễn Tuyên sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xá Tân Dân, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thiếu úy, đội trưởng đội kỹ thuật lắp ráp tên lửa, thuộc Tiểu đoàn 65, Trung đoàn 236.

        Từ khi nhập ngũ (tháng 2 năm 1954) qua mười năm Nguyễn Tuyên đã được giao nhiều nhiệm vụ, nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Sau đó Tuyên được cử đi học kỹ thuật ở nước ngoài. Tháng 2 năm 1965, đang học dở, đồng chí được điều về xây dựng một đơn vị tên lửa. Do yêu cầu xây dựng đơn vị và thời gian huấn luyện gấp, Nguyễn Tuyên trực tiếp phụ trách nhóm trung tâm và dây chuyền đột phá để rút kinh nghiệm.

        Tháng 7 năm 1965, đơn vị triển khai sản xuất đạn chiến đấu, Nguyễn Tuyên đã cùng đơn vị khắc phục khó khăn, phát huy nhiều sáng kiến có giá trị. Đồng chí đã nghiên cứu đưa hòm số một vào nhà, giảm được 10 người và thời gian nhanh gấp 3 lần, lắp đầu đạn, bớt được 1 xe đẩy, giảm được hai người thời gian nhanh gấp đôi; đưa đạn hỏng có nhiên liệu vào hòm. Bảo quản tốt nhiên liệu, giải phóng xe nhanh. Đồng chí tích cực tìm tôi nghiên cứu rồi cùng đồng đội chữa được 7 bộ cánh, hàn thân được 5 quả đạn, lắp được 4 quả đạn mới.

        Chiều ngày 7 tháng 11 năm 1965, địch cho nhiều tốp máy bay đến đánh phá khu vực của Tiểu đoàn, Nguyễn Tuyên bị thương, nhưng khi thấy lửa cháy lan gần tới kho chứa 20 quả đạn tên lửa, đồng chí cùng anh em xông vào dập lửa cứu đạn. Bị ba vết thương, nhưng Nguyễn Tuyên xin tình nguyện ở lại cùng đồng đội khắc phục hậu quả của trận bom hạn chế rất nhiều thiệt hại.

        Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạnh Nhất, 2 Bằng khen, là Chiến sĩ thi đua của đơn vị. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Tuyên được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LÂM VĂN LÍCH

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76769633_530915650971653_4342939314737381376_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeH51kip5QWHbxv-aYT529ay2pFPqMBtKl8Bha6mu8kO7MRI1i__bHPvJZxZvUpAFVkfycSswO8yd5uYVkma2gGMAGtjFCftFJYRA0x0pGSmEg&_nc_oc=AQmxxVoB4REZlBCPmFseON8QUlj9iOR-V0CNZSuqOuMCr_fz95_fxRc0jMh0De0mKKE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3e0e441d59542d9fad082c3e6d131383&oe=5E4A6BB1)
         

        Anh hùng Lâm Văn Lích sinh năm 1932 dân tộc Hoa, quê ở xã Định Thành, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đảng viên, Đại úy lái máy bay của Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Tháng 8 năm 1964 sau khi đi học lái máy bay trở về đơn vị, Lâm Văn Lích cùng đồng đội kiên trì học thêm một số khoa mục mà ở trường thời gian học ít như bay xuyên mây. Cả Biên đội bay ngay cả khi thời tiết xấu mà vẫn đạt kết quả tốt. Lâm Văn Lích đã tham gia chiến đấu 3 trận, trận nào đồng chí cũng dũng cảm, mưu trí linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ với đồng đội, luôn giành thế chủ động tiến công. Có lần bị máy bay địch bám đuôi, Lâm Văn Lích đã vòng gấp và đánh trả vào sườn hoặc bám đuôi máy bay địch hoặc nhanh chóng lái máy bay của mình quay lại đối đầu với máy bay địch bắn làm bọn chúng khiếp sợ, đội hình rối loạn.

        Ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lâm Văn Lích đã bắn rơi 1 máy bay địch, Biên đội an toàn. Trận ngày 17 tháng 6 năm 1965, Lâm Văn Lích chỉ huy Biên đội bắn rơi 2 chiếc máy bay địch, bắn bị thương hai chiếc khác, bản thân đồng chí bắn trúng 1 chiếc. Khi trở về, một đồng đội bị nạn phải nhảy dù, đồng chí đã bay cảnh giới để đồng đội được an toàn.

        Trận đánh đêm 3 tháng 2 năm 1966, Lâm Văn Lích đã dũng cảm mưu trí, tranh thủ thời cơ bất ngờ tiếp cận máy bay địch nổ súng chính xác, bắn rơi hai máy bay địch và trở về hạ cánh an toàn. Trận đánh đêm đầu tiên giành thắng lợi đã cổ vũ động viên đồng đội càng thêm tin tưởng về chiến thuật và khả năng đánh đêm của ta.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương chiến công hạng Nhì, 28 Bằng khen và giấy khen. Lâm Văn Lích được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 1 tháng 1 năm 1967.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Một, 2019, 09:52:19 PM

ANH HÙNG NGUYỄN HỒNG NHỊ

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75102842_530915690971649_3735467498397499392_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFBu0j5AeNrsDRCvEKSvOjB6kyC77s1-De4JYiHPn0_4SpRCSxJ46bRTS3pXJgPAS7XrCSemWOknfrA0KjqYHiugzJR2k2B3HuKZgfDVAQ7Pw&_nc_oc=AQl_14UcwpOOB0W_uyvbIr5kKBkro-NqsWzgV_Uan8Lzm8HQe7ytacmQNi7hwbXJcNg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=366280ef13fe2f9226da3177c8399084&oe=5E4B0B4A)
         

        Anh hùng Nguyễn Hồng Nhị (tức Hồng Việt) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy Trung đoàn phó Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Nguyễn Hồng Nhị luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí tích cực tiến công, hạ được nhiều máy bay địch. Từ năm 1966 đến năm 1968, đồng chí đã tham gia chiến đấu 15 trận, 12 lần nổ súng, hạ 8 máy bay địch (gồm 3 chiếc F-4, 3 chiếc F-105, 1 chiếc F-8 và 1 chiếc không người lái). Ngoài ra, Nguyễn Hồng Nhị còn chỉ huy Biên đội bắn rơi hai chiếc máy bay khác.

        Trận ngày 4 tháng 1 năm 1966 trên vùng trời Quảng Ninh, Nguyễn Hồng Nhị là người đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam hạ một máy bay không người lái ở độ cao 18 ki-lô-mét. 

        Trận ngày 9 tháng 9 năm 1967 trên vùng trời Chiêm Hóa (Tuyên Quang) mặc dù thấy địch có tới 16 chiếc F-4, đồng chí vẫn cùng đồng chí bay số 2 yểm hộ nhau chặt chẽ, tạo thế có lợi mưu trí và dũng cảm xông thẳng vào đội hình máy bay địch kịp thời nổ súng, mỗi người hạ một chiếc, làm cho số máy bay địch còn lại phải bỏ chạy tán loạn. Trận ngày 7 tháng 11 năm 1967 trên vùng trời Văn Yên (Nghĩa Lộ), gặp một đội hình máy bay địch có chiến thuật khác lạ, Nguyễn Hồng Nhị bĩnh tĩnh tìm chỗ yếu của chúng, dẫn đầu Biên đội cắt đội hình phía sau của địch. Tốp máy bay F-4 quay lại đối phó, Nguyễn Hồng Nhị phóng một quả tên lửa làm rối loạn đội hình tốp này, rồi xông thẳng vào tốp máy bay F-105 đi đầu, hạ ngay 1 chiếc, khiến cho số còn lại hốt hoảng tháo chạy.

        Đồng chí Nguyễn Hồng Nhị đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 8 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Ngày 18 tháng 6 năm 1969 Nguyễn Hồng Nhị được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG PHẠM THANH NGÂN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75453483_530915680971650_4062254251231936512_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeF1QWVO2ueADrXdJdiUaGNZEjCIn5yO36L5xQW7dDC0YnKBjd1-3BiN8PCJKtiTE-iYtqjF2kwY9MUCikyQFnIMhgV5vwZXJ8loqFLWZqt6pg&_nc_oc=AQlJuv4Qk4VNrPz6V-CHnUM0I64gR7I8-p3iE6q6f87lgvuquxvZ_-tY9W4c4VS3UCU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=546cbac31dfe9f31343beed66d4da81f&oe=5E40BE52)
         

        Anh hùng Phạm Thanh Ngân sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy, Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Cuối năm 1965 đầu năm 1966, Trung đoàn Không quân 921 được trang bị loại máy bay chiến đấu hiện đại MiG-21, Phạm Thanh Ngân đã ra sức học tập nắm vững tính năng kỹ thuật, sử dụng thành thạo loại máy bay này. Từ giữa năm 1966 đến giữa năm 1969, trong những trận không chiến ác liệt với Không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc, Phạm Thanh Ngân đã nêu cao tinh thần quyết chiến, kiên quyết tấn công địch, dũng cảm linh hoạt, mưu trí, sáng tạo nhiều cách đánh hay, chủ động đánh chặn địch từ xa, nêu một tấm gương sáng về tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể. Cùng Biên đội bắn rơi mười sáu máy bay Mỹ. Riêng đồng chí bắn rơi 8 chiếc (3 chiếc F-4, 2 chiếc F-105. một chiếc RF, 1 chiếc F102, và 1 máy bay không người lái. Hầu hết các máy bay trên đều do những giặc lái sừng sỏ
của Không quân Mỹ điều khiển. Phạm Thanh Ngân luôn bảo vệ tốt phương tiện chiến đấu được giao, máy bay của đồng chí chưa một lần nào bị đôi phương bắn hạ. Say mê nghiên cứu, thường xuyên rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chiến đấu, năng lực chỉ huy, khiêm tốn giản dị trong sinh hoạt, Phạm Thanh Ngân luôn được cấp trên tin tưởng và đồng đội mến phục.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, và 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, 8 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người và nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng. Ngày 18 tháng 6 năm 1969, Phạm Thanh Ngân được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2019, 07:55:34 AM

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN CỐC

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75625421_530915704304981_2957569824974176256_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEn7TJpQvmzOQmq36EAbO52TBa3qCvD-0SziEcOH_Xo4F7f0YbvoEbWoHY278HzEMP3F5EunaA6yTLaaSsyGzPzMW4XqAdk5KpOSFhVLDJjgg&_nc_ohc=EcAJVVR7hO0AQk-XIYbfAf2gGe90oOOngeNxkgl3OxD69Hq5gkNCZKqXw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=18cf35f2fb6480023ad5fa2fc2be6413&oe=5E8662BB)

        Anh hùng Nguyễn Văn Cốc sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Bích Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy, lái máy bay phản lực thuộc Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Nguyễn Văn Cốc đã tham gia 10 trận, 7 lần nổ súng, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, gồm 4 chiếc F-105 và 2 chiếc F-4. Ngoài ra anh còn yểm hộ tốt cho số 1, góp phần cùng đồng đội bắn rơi 9 máy bay khác của địch.

        Ngày 23 tháng 8 năm 1967, Nguyễn Văn Cốc tham gia trận chiến đấu với máy bay Mỹ trên bầu trời Tuyên Quang, đồng chí làm nhiệm vụ số 2. Khi phát hiện địch đông tới 36 chiếc, Nguyễn Văn Cốc bĩnh tĩnh quan sát, báo chính xác cho Biên đội trưởng, cùng với Biên đội trưởng công kích, bắn rơi 3 máy bay của địch trở về hạ cánh an toàn.

        Ngày 20 tháng 11 năm 1967, trên bầu trời Phú Thọ, Nguyễn Văn Cốc làm nhiệm vụ số 2 trong Biên đội. Tới khu vực chiến đấu, phát hiện 1 tốp 4 chiếc F-4 của địch đang đối
đầu với Biên đội mình, Nguyễn Văn Cốc dũng cảm vượt lên trên đầu đội hình tốp F-4 rồi công kích tốp F-105 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc, phá vỡ đội hình của chúng, bảo vệ được mục tiêu. Khi trở về, gặp lúc địch đang đánh phá quanh sân bay, Nguyễn Văn Cốc vẫn bĩnh tĩnh hạ cánh an toàn.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba và 1 Bằng khen, được Bác Hồ tặng 6 huy hiệu của Người, nhiều lần là Chiến sĩ thi đua và Chiến sĩ quyết thắng. Ngày 18 tháng 6 năm 1969 Nguyễn Văn Cốc được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN HUY HỒNG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76702306_530915727638312_8853875678257348608_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFNV9Yf0BP8zkwwj7B9lo8F7KWc2UqR5sOZB0VPg28br_16rG6MgQO7tuj052ZE5hQbV6I4B86JVnM4HwNKN1Ss5m0rO9AT0cqStbqRq7z0EQ&_nc_ohc=MdXbOLJ6ynYAQnset38Jj-B3DA_uvLvaNAjz5v7HYsUFkzfPU7vh4fVjA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d22c19bc45e7761420cb69f4feab1e8e&oe=5E81D0E3)
         

        Anh hùng Nguyễn Huy Hồng sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng sĩ Trung đội phó cao xạ, thuộc Đại đội 3, Trung đoàn 233, Đoàn Phòng không 361.

        Chưa tròn 3 tuổi quân, Nguyễn Huy Hồng đã tham gia chiến đấu hơn 100 trận. Trận nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, nhiều lần bị thương nặng vẫn không rời trận địa, chỉ huy phân đội lập công xuất sắc.

        Ngày 21 tháng 7 năm 1966 tại Đáp Cầu (Bắc Ninh), địch cho 24 lần chiếc thay nhau đánh phá và không chế trận địa pháo, Nguyễn Huy Hồng bị nhiều vết thương vào đầu, vào tay, vào mặt, vào bụng vẫn tiếp tục chỉ huy và động viên khẩu đội chiến đấu, cùng các khẩu đội bạn bắn rơi một máy bay.

        Ngày 27 tháng 7 năm 1967 tại cầu Giẽ (Hà Tây) địch cho nhiều lần chiếc máy bay thay nhau ném bom bi, bom phá, bom nổ chậm vào trận địa. Khẩu đội trưởng Nguyễn Huy Hồng vẫn bĩnh tĩnh, dũng cảm cùng các khẩu đội khác trong Đại đội bắn rơi một máy bay Mỹ. Trong lúc đang chiến đấu ác liệt, Nguyễn Huy Hồng bị thương nặng vào đầu, vào ngực máu ra nhiều bị choáng, không đứng vững được, Nguyễn Huy Hồng đề nghị đồng chí số 5 thay mình chỉ huy khẩu đội tiếp tục chiến đấu, còn mình nén chịu đau đứng tựa vào bánh xe pháo, động viên anh em cho đến khi trận chiến đấu kết thúc.

        Ngày 25 tháng 10 năm 1967, trong một trận chiến đấu bảo vệ Hà Nội, máy bay Mỹ ném bom trúng khẩu đội của Nguyễn Huy Hồng làm cho một số chiến sĩ bị thương vong, đồng chí vừa làm nhiệm vụ khẩu đội trưởng chỉ huy phân đội chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ số 5 tiếp đạn, góp phần bắn rơi một máy bay Mỹ.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 huân chương Chiến công hạng Ba, 4 Bằng khen và giấy khen, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 18 tháng 6 năm 1969 Nguyễn Huy Hồng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2019, 07:57:26 AM

ANH HÙNG BÙI XUÂN CHIẾN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75650560_530915747638310_3864404250574454784_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeG_WU_9-rl0LTiO7VRXir7NDMqT6U36S2z0t69Q1rdPu0hiONo1BeEt7aJK_217E3zaxkfcN2GmjrZVjmo-_9qLLywJi5HkjioH47KC9DVEOw&_nc_ohc=pG5i0x9cmucAQm4iHdf1eP7aGL8o2fiaLO6iIg5f-0w7ktjWwmgoaBUBQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b62d18c40ff17debeaf43ae6f84148df&oe=5E885FFD)

        Anh hùng Bùi Xuân Chiến sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê xã Yên Tân, Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, hạ sĩ, Khẩu đội trưởng pháo cao xạ 100 ly, thuộc Đại đội 172, Trung đoàn 240, Đoàn Phòng không 363.

        Từ năm 1964 đến tháng 6 năm 1969, Bùi Xuân Chiến đã tham gia chiến đấu 300 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1966, trong trận chiến đấu bảo vệ thành phố Vinh (Nghệ An) sau khi bắn được hai loạt đạn, bộ phận tông vỏ đạn bị hỏng, làm cho vỏ đạn không văng ra ngoài được, Bùi Xuân Chiến không nề hà nguy hiểm dùng hai tay kéo vỏ đạn ra, nhờ đó khẩu đội tiếp tục nổ súng được ngay, góp phần với trận địa hoàn thành nhiệm vụ.

        Ngày 5 tháng 5 năm 1967 tại Hải Phòng, giữa lúc trận chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt thì Khẩu đội trưởng bị thương. Bùi Xuân Chiến lên thay thế, đồng chí bĩnh tĩnh động viên khẩu đội chiến đấu dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

        Ngày 21 tháng 9 năm 1967 ở Tân Dương (Hải Dương) giữa lúc máy bay địch đang bắn phá, không nề hà nguy hiểm, Bùi Xuân Chiến nhảy ra ngoài công sự múc nước cùng đồng đội dập tắt lửa cứu được hơn một tấn đạn. Bảo đảm an toàn cho cả khẩu đội.

        Ngày 28 năm 11 năm 1967 ở Vĩnh Khê địch oanh tạc dữ dội trận địa làm cho một số anh em bị thương vong và hầm đạn bị cháy. Bùi Xuân Chiến lại dũng cảm cùng đồng đội dập tắt lửa ở hầm đạn, cứu được một tấn đạn và kịp thời chuyển hai đồng chí bị thương ra ngoài. Trở lại trận địa thấy đội trưởng đơn vị bạn bị thương nặng, anh em đang lúng túng, Bùi Xuân Chiến liền tạm thời thay thế chỉ huy chiến đấu, động viên khẩu đội quyết tâm lập công trả thù cho đồng đội.

        Đồng chí được tặng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 lần được danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng, 3 Bằng khen, 3 giấy khen. Ngày 18 năm 6 năm 1969 Bùi Xuân Chiến được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGÔ VĂN TÁC

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76658270_530915764304975_6967522060419465216_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFcIRgVfo9gX5dQC29W0AdGGrq-63UwUwIBabuNMJ3qBEUl42_cHuZgjqZCHp6NSugGt9IMilz783iFSYnSjoYxVD6-_rYKL6BHdRlIn9atMg&_nc_ohc=i5rHSdxQZksAQlrDlP31pFsItzAXrUjVLpOkYF7DHk3-N9HusjktWl2oA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=bc4e8381eefea78485bc100752d023f7&oe=5E48F55A)
         

        Anh hùng Ngô Văn Tác sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Định Hòa, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung úy, trưởng xe kiêm sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 71 tên lửa, Trung đoàn 285, Đoàn Phòng không 369.

        Là sĩ quan điều khiển, Ngô Văn Tác đã chiến đấu 44 trận, góp phần trực tiếp bắn rơi 22 máy bay Mỹ, trong tổng số 26 chiếc đơn vị bắn rơi, có năm chiếc rơi tại chỗ.

        Ngày mùng 3 tháng 3 năm 1966, đơn vị bố trí ở Hòa Bình, do phán đoán đúng thủ đoạn của địch, Ngô Văn Tác mưu trí đón địch, điều khiển tên lửa bắn rơi 2 chiếc F-105 khi chúng vừa ló ra khỏi khe núi, khiến cả bọn còn lại hoảng loạn bỏ chạy, phá tan âm mưu của chúng định đánh phá Hà Nội.

        Ngày 25 tháng 7 năm 1966 ở Bắc Thái, Ngô Văn Tác điều khiển tên lửa hạ một F-105 góp phần cùng đơn vị bạn bảo vệ an toàn mục tiêu được phân công.

        Ngày 23 tháng 8 năm 1966, trong điều kiện địch đã vào gần phải đánh gấp rất ít thời gian để chuẩn bị nhưng Ngô Văn Tác vẫn bình tĩnh, khẩn trương cùng kíp trắc thủ thao tác, điều khiển tên lửa bắn tan xác 1 chiếc F-8 của Hải quân Mỹ.

        Ngày 29 tháng 8 năm 1966, tại Quảng Ninh, Ngô Văn Tác khéo léo điều khiển 3 quả tên lửa, hạ hai máy bay Mỹ định đánh vào mỏ cọc 5 và tàu chở hàng của ta đậu ở Cảng.

        Ngày 9 tháng 9 năm 1966 ở Quảng Yên với tinh thần cảnh giác cao, Ngô Văn Tác cùng đồng đội bắn rơi một F-4 của Mỹ.

        Ngày 16 tháng 11 năm 1967 ở Hải Phòng, Ngô Văn Tác điều khiển tên lửa bắn rơi tại chỗ một máy bay địch. Những thành tích nổi bật nhất củá Ngô Văn Tác là các trận ngày 24, 25, 26 tháng 4 năm 1967 chống lại tên lửa sơ-rai của địch dùng để phá tên lửa của ta.

        Đồng chí được tặng 1 Huân chương chiến công hạng Ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 7 Bằng khen và giấy khen. Ngày 18 tháng 6 năm 1969, Ngô Văn Tác được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2019, 08:00:09 AM

ANH HÙNG LƯU HUY CHAO

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76730669_530915790971639_4375560016552263680_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHQ2t2csEC64gC2_etBLqyxuiUw4DeC_B_59wFcba1YdUwykzm9tkG83m-kkG9MSnSm22tMpd3IEAaLTuxjs4g9zdyxn7NAdY4rMCjx9lAieg&_nc_ohc=YaB556l7C6EAQnA75U6uR24GRjatTqalozONkuUxw21JSp_iIGMqW-hNg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=6ff50c493c72f74f0931b2162f3d9db2&oe=5E87C9E2)
         

        Anh hùng Lưu Huy Chao sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở Đông Anh huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy,

        Đại đội trưởng Đại đội 2, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Trong 4 năm từ 1965 đến 1968, Lưu Huy Chao đã đánh 19 trận, bắn rơi 6 máy bay địch (gồm 2 chiếc F-4, 2 chiếc F-8, 1 chiếc F-105, 1 chiếc C47), ngoài ra anh còn chỉ huy Biên đội đánh và yểm hộ cho đồng đội bắn rơi 11 chiếc khác.

        Ngày 14 tháng 12 năm 1967 trên vùng trời tỉnh Thái Bình, Lưu Huy Chao đã chỉ huy Biên đội 4 chiếc MiG-17B tiến công 16 chiếc F-8 của địch, bắn rơi chiếc F-8 ngay tại chỗ. Cách đánh này nêu kinh nghiệm tốt cho MiG-17 diệt F-8 Mỹ.

        Ngày 3 tháng 1 năm 1968 anh lại chỉ huy Biên đội 4 chiếc, khi vừa rời khỏi khu chờ, Lưu Huy Chao nghe thông báo phía sau có địch còn cách 4.000m và trời mây mù anh quyết định cho Biên đội quay lại, chủ động bất ngờ tiến công. Toàn Biên đội yểm hộ cho số 3 lao thẳng vào công kích bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4. Lúc này máy bay hết dầu, cấp trên cho phép nhảy dù nhưng anh quyết định hạ cánh, bĩnh tĩnh cố gắng điều khiển máy bay hạ dần độ cao. Lái máy bay theo quán tính về sân bay, hạ cánh an toàn. Chiếc MiG-17B hôm ấy đã bị 40 vết mảnh đạn, chỗ thủng to nhất ở cánh phải dài 60 cm, rộng 40 cm.

        Ngày 29 tháng 7 năm 1968 Lưu Huy Chao chỉ huy Biên đội vào Nghệ An chiến đấu, trận này ta 4 chiếc MiG- 17B, địch 4 chiếc F-8 - Lực lượng ngang nhau. Ta lại có kinh nghiệm của những trận đánh trước nên Biên đội của anh làm chủ không phận ngay từ đầu, bắn rơi tại chỗ 2 chiếc F-8, riêng anh bắn rơi 1 chiếc.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, ba Huân chương Chiến công (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), 1 Bằng khen, 1 danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng, 6 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Lưu Huy Chao được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 

ANH HÙNG MAI VĂN CƯƠNG

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74238220_530915817638303_6583861724313550848_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeFH8MxOkUzfF-z_r4RBaagGKThnyIw-6FcxJbfpuB8olCFkZ8Ur3desLt70ThBPaBglO0urP3X_vIGEWFabutuM1B3XlcvUrrYj1uOA0u0kSA&_nc_ohc=qz4FgYEGKL8AQkWM8NapHx8nBO0yCOGYWsyiR9wrI9c2Vx1tmG-H_goGA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6a4d21664fd198fe1f9d9334e9f0ad26&oe=5E842CBE)
         

        Anh hùng Mai Văn Cương sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy, Đại đội phó Đại đội 1, Đoàn Không quân Sao Đỏ...

        Mai Văn Cương đã cất cánh 98 lần, gặp địch 21 lần, nổ súng 15 lần, bắn rơi 8 máy bay phản lực Mỹ (2 chiếc F-4C, 3 chiếc F-105, 3 máy bay không người lái (7 chiếc rơi tại chỗ) và cùng Biên đội bắn rơi 2 chiếc khác.

        Ngày 8 tháng 10 năm 1966, Biên đội Mai Văn Cương được lệnh xuất kích về phía Hà Nội và được thông báo có nhiều máy bay địch đang đánh phá Đông Anh, Mai Văn Cương mưu trí lao vào đội hình địch, bắn yểm hộ cho số 1, uy hiếp tinh thần địch làm cho chúng vội vàng bỏ mục tiêu tháo chạy. Bị lạc đội hình, anh vẫn bĩnh tĩnh bám luôn một tốp 4 chiếc F-105 khác rồi khéo léo sử dụng rocket bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-105 trên vùng trời Tam Đảo.

        Ngày 28 tháng 4 năm 1967, Biên đội Mai Văn Cương cất cánh chặn địch ở vùng trời Nghĩa Lộ. Phát hiện 2 chiếc F-105, số 1 được anh em yểm hộ liền nhanh chóng xông vào công kích địch. Chiếc F-105 vội vàng lao xuống khe núi tháo chạy. Mai Văn Cương dùng kỹ thuật bổ nhào theo, bắn tiếp 1 phát tên lửa nữa, chiếc máy bay trúng đạn bốc cháy, cắm đầu xuống vùng núi Nghĩa Lộ.

        Ngày 7 tháng 10 năm 1967, Biên đội Mai Văn Cương xuất kích về hướng Sơn Tây. Sau khi phóng 1 quả tên lửa hạ 1 chiếc F-4, đồng chí số 1 bị chiếc F-4 bám đuôi phóng liền 2 quả tên lửa. Mai Văn Cương nhanh trí ra lệnh cho đồng đội ngoặt gấp tránh tên lửa rồi tự mình lao vào cắt ngang đội hình địch, bám chắc một chiếc, phóng 1 quả tên lửa khiến cho máy bay địch nổ tung lao đầu xuống đất.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần là Chiến sĩ quyết thắng và 6 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Mai Văn Cương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:45 AM

ANH HÙNG ĐẶNG MINH CHỨC

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74664626_530915824304969_412804579722264576_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEyVXgpiWNrMyDJIG1P9c5bL4yj0P89wdyd-F4IbRdjxaim7x3IlBONwjIgkL5t-ryckY_2_KPb5gyICN65PsgACFiSWaK-yIC0gQld56EGYA&_nc_ohc=4mlAwrE152kAQmD21llgKRQeDHaltnKXsAB-n4O3FQB19azyfFtjgCqDQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=eb31374abc235c62a3baafe24c76d0e2&oe=5E85FE9B)
         

        Anh hùng Đặng Minh Chức sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Hồng Nam, huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, thiếu úy, sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Tiểu đoàn 73, Trung đoàn 285, Đoàn Phòng không 363.

        Đặng Minh Chức tham gia chiến đấu 49 trận, điều khiển tên lửa bắn rơi 18 máy bay Mỹ (có 7 chiếc rơi tại chỗ). Trong những ngày cuối tháng 8 năm 1967, máy bay địch hoạt động nhiều. Sáng ngày 31 tháng 8 năm 1967, 2 tốp máy bay địch từ hướng đông nam 12 chiếc và tây nam 3 chiếc vào đánh phá. Đặng Minh Chức kịp thời phát hiện mục tiêu, xin đánh tốp 12 chiếc. Anh điều khiển phóng hai quả đạn, quả đầu tiên nổ cháy liền cả 2 máy bay Mỹ.

        Ngày 2 tháng 9 năm 1967, anh phát hiện kịp thời máy bay địch bám chắc mục tiêu và khi mục tiêu được lệnh chủ động hiệp đồng với các trắc thủ, phóng đạn về phía địch. Địch tránh xuống thấp, Đặng Minh Chức điều khiển tên lửa hướng trung mục tiêu, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4H của giặc Mỹ.

        Trong trận ngày 11 tháng 9 năm 1967, địch đánh ở Hải Phòng, anh đề nghị được đánh ngay. Địch cho 2 máy bay F-8 không chế trận địa, anh động viên kíp trắc thủ bĩnh tĩnh phóng tên lửa, bắn rơi ngay 1 chiếc. Lập tức trận địa tên lửa bị địch đánh dồn dập. Được lệnh sơ tán, Đặng Minh Chức cho trắc thủ di chuyền trước, còn mình ở lại cùng cán bộ giải quyết hậu quả, bảo vệ khí tài. Là sĩ quan điều khiển đã trải qua nhiều trận chiến đấu, anh học được nhiều kinh nghiệm điều khiển tên lửa bắn máy bay giặc, tích cực nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba 1 lần là chiến sĩ thi đua, nhiều Bằng khen và giấy khen. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Đặng Minh Chức được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG VŨ NGỌC DIỆU

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78601586_530915864304965_9024135178372513792_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHaCIipPE2Pb_EGQ7b0BxBRPkvtC_CmZ_53RgLzI4bl6U4kU3mdMeKmnaEH_rHqHiwM3Hc8tkHWZOm4dxIzyv007X6MAIKqo7z90lWQKl-5vw&_nc_ohc=og--peWuRbMAQlYOvjULbodoaR-QL0nzW6GQfSA_h36OLTjQ_gbmMjZ6Q&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7a5e06e48477203bfb92a6d6be4056af&oe=5E4C9237)
         

        Anh hùng Vũ Ngọc Diệu sinh năm 1948, quê ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Hạ sĩ, Trắc thu ra-đa Đại đội 14, Trung đoàn 290, Đoàn Phòng không B73.

        Trong ba năm chiến đấu ở vị trí trắc thủ ra-đa, Vũ Ngọc Diệu phát hiện 456 tốp máy bay chính xác, góp phần cùng các đơn vị chiến đấu ở Nghệ An bắn rơi trên 300 máy bay Mỹ. Anh có nhiều công nghiên cứu chống nhiễu tổng hợp thành công, có sáng kiến dùng máy cũ phục vụ dẫn đường cho không quân đánh thắng giặc Mỹ.

        Tháng 4 năm l967, cùng Trung đội trưởng phiên ban, Diệu tìm cách khắc phục nhiễu, phát hiện 1 máy bay trinh sát vào Đô Lương, báo kịp cho đơn vị bạn bắn rơi 1 máy bay Mỹ. Tháng 11 năm 1967, dùng F-8 cũ nhưng do rèn luyện thành thạo, anh phát hiện địch từ xa 200 ki-lô-mét, báo kịp thời cho sở chỉ huy, giúp bạn bắn rơi máy bay địch.

        Trong 2 ngày 7 và ngày 8 tháng 5 năm 1968, địch đánh lớn vào Vinh, Bến Thủy, Đô Lương. Từ cự ly 200 ki-lô-mét, tổ Diệu phát hiện địch, báo ngay. Bom làm rung máy, anh chỉnh máy phục vụ bắn rơi 1 máy bay Mỹ.

        Ngày 16 tháng 6 năm 1968, dùng máy F-8 và P15 dẫn đường cho Không quân, Vũ Ngọc Diệu sử dụng máy linh hoạt, đổi số và chống nhiễu tổng hợp góp phần cho Không quân ta hạ 2 máy bay Mỹ tại Nghệ An. Ngày 22 tháng 7 năm 1966, Vũ Ngọc Diệu bị thương vào tay vẫn cõng bạn bị thương nặng ra khỏi trận địa, tiếp tục làm nhiệm vụ suốt cả 10 lần địch đánh trận địa.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua, 1 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 2 Bằng khen, 2 giấy khen. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Vũ Ngọc Diệu được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Một, 2019, 08:03:25 AM

ANH HÙNG LÊ CẤP BẰNG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73086929_530915884304963_2291033128753430528_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFcX1MOR_h4c2J6qoZMlywa7gZy3J4j8TtClieDxXO6RQUzbun904QvaMmwg7cIOwLyRIrD11JP67CQR9kCA1q1EQtDCBRwLnGrh6hk2Y-BRw&_nc_ohc=nctHRbpGXBIAQkARY5CZbm_Rs2RRFwluRBP20QwzvqjQhcJf0PKXab41A&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=849fd73998abf6a5a200b62e142756e5&oe=5E801336)
         

        Anh hùng Lê Cấp Bằng sinh năm 1942, dân tộc Mường quê ở xã Phúc Thịnh, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội phó thuộc Đại đội 11 pháo cao xạ 37 ly, tiểu đoàn 7, Trung đoàn 284, Đoàn Phòng không 367.

        Từ năm 1966 đến năm 1969, Lê Cấp Bằng đã tham gia chiến đấu trên 600 trận chống máy bay Mỹ ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Ngày 14 tháng 8 năm 1967, ở Đất Đỏ (Quảng Bình) nhiều tốp máy bay địch đến oanh tạc trận địa, là pháo thủ số 4, anh dũng cảm đứng thao tác, lấy đường bay chính xác, bảo đảm cho khẩu đội phát huy hỏa lực mạnh mẽ. Bị 5 vết thương nhưng anh vẫn vững vàng ở vị trí chiến đấu đến khi trận đánh kết thúc, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 2 chiếc máy bay F-4 của giặc Mỹ.

        Ngày 11 tháng 9 năm 1967 tại Kỳ Lâm (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) Lê Cấp Bằng vừa làm pháo thủ số 4, vừa chỉ huy khẩu đội góp phần bắn rơi chiếc F-4. Địch đánh bom vào trận địa, anh bị đất vùi lấp, chân bị thương vẫn sát cánh cùng đồng đội đến hết trận đánh. 

        Ngày 28 tháng 2 năm 1969, sau khi bị Đại đội 11 bắn rơi một máy bay trinh sát điện tử OV10, địch cho nhiều tốp máy bay đánh vào trận địa suốt từ 7 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Chúng dùng bom hóa học làm nhiều người ngạt thở, bản thân anh cũng bị ngạt nhưng anh gượng dậy đi lấy khí tài chống hóa học cho anh em đeo, tiếp tục chiến đấu. Ngày 3 tháng 5 năm 1969, tại ki-lô-mét số 50 đường 20, anh bị thương vào chân vẫn chỉ huy phối hợp với đội bạn bắn rơi 2 máy bay F-4.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua và Chiến sĩ quyết thắng. Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Lê Cấp Bằng được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG VŨ NGỌC ĐỈNH

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75640766_530915904304961_8188799524320313344_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEYdycc6GdU5HqLOhTYt9zXR1Wc70leWbIoHej8MjGTPXezWmxY6EGCgCTiHZsfcKsb-X4uktPKHoSNlQZOWYEjrEW42J0FOjBy1UXtnWuXZQ&_nc_ohc=Fq9WxQwILicAQm6VAlkz_mdEZhYGYrxI7cfMvnChAGJ8eKg0evBrb_Hpg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=303830e88683d5bcbb3f99341fc465fc&oe=5E44A214)
         

        Anh hùng Vũ Ngọc Đỉnh sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy lái máy bay chiến đấu, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ tháng 12 năm 1966 đến tháng 2 năm 1970, Vũ Ngọc Đỉnh tham gia chiến đấu 8 trận, bắn 12 quả đạn, hạ được 6 máy bay Mỹ (5 chiếc phản lực và một chiếc máy bay lên thẳng), anh còn chỉ huy Biên đội bắn rơi 5 chiếc khác.

        Trận đánh ngày 30 tháng 4 năm 1967 trên vùng trời tỉnh Phú Thọ, Vũ Ngọc Đỉnh chủ động công kích trước, bắn rơi 1 máy bay và sau đó yểm hộ cho đồng đội bắn rơi chiếc khác, diệt gọn tốp máy bay địch.

        Ngày 19 tháng 11 năm 1967, địch tổ chức đánh lớn vào khu vực Hàm Rồng - Thanh Hóa với nhiều đợt nhiều thủ đoạn xỏa quyệt. Dù Lực lượng địch đông gấp nhiều lần, anh vẫn chọn mục tiêu có lợi chỉ huy Biên đội đánh tan đội hình may bay F-4 và bắn rơi chiếc máy bay RB66 đang gây nhiễu, tạo thuận lợi cho tên lửa và pháo cao xạ của ta ở mặt đất bắn rơi 12 chiếc máy bay địch.

        Ngày 12 tháng 12 năm 1967, trên vùng trời tỉnh Phú Thọ, Vũ Ngọc Đỉnh dẫn đầu Biên đội xông vào đội hình 47 chiếc máy bay địch, bắn 2 quả tên lửa, hạ 2 chiếc F-105, góp phần bẻ gãy mũi tiến công của địch định đánh phá sân bay Nội Bài.

        Ngày 28 tháng 1 năm 1970, máy bay địch từ các tàu hải quân bay vào Hà Tĩnh ồ ạt đánh phá một số mục tiêu, trận địa cao xạ và cứu giặc lái nhảy dù, Vũ Ngọc Đỉnh vừa cơ động tránh hỏa lực vừa chọn mục tiêu lao vào công kích, bắn rơi 1 máy bay F-4.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba và ba Huân chương Chiến công hạn ba. Ngày 25 tháng 8 năm 1970 Vũ Ngọc Đỉnh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2019, 07:03:13 AM

ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC ĐỘ

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78353036_530915927638292_2722367881017819136_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGvHoVQJzYnk-o_ByKj_1zYH9G2nb6mvT5A0DkdTEv8OJC0lP9J4omUChdG0troLI2ZTobFcuL1q-lgzO6gtjgYLXV5vFJHpeXyi-kbRUb_xA&_nc_ohc=5Au7rtyKB18AQk_QJZQ6LqbS1Jj0bQq7omNkvCDU-VO1J-dEUgy7eGWsQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=02501c7a25386856e9bfb21a21b9d175&oe=5E8C8DAD)
         

        Anh hùng Nguyễn Ngọc Độ sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Bình, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Khi được tuyên dương anh hùng đồng chí là đảng viên, Đại úy lái máy bay chiến đấu MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Được vinh dự lái máy bay chiến đấu, Nguyễn Ngọc Độ luôn nung nấu quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay địch, thường giành thế chủ động, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Từ năm 1965 đến tháng 2 năm 1968, anh chiến đấu 6 trận, bắn hạ 6 máy bay Mỹ (gồm 2 chiếc F-105, 3 chiếc F-4 và 1 chiếc RF101). Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Độ còn chỉ huy Biên đội bắn rơi 3 chiếc khác.

        Trận đánh ngày 18 tháng 9 năm 1967 trên vùng trời Sơn La anh cùng Biên đội mưu trí linh hoạt hiệp đồng chặt chẽ, tiến công diệt gọn cả tốp 2 máy bay trinh sát RF101 của địch (mỗi người bắn rơi 1 chiếc).

        Ngày 27 tháng 9 năm 1967 tại Vĩnh Phú, được đồng đội yểm hộ, Nguyễn Ngọc Độ cho máy bay lao thẳng vào đội hình 4 chiếc của địch, nhanh chóng xác định mục tiêu có lợi, bắn rơi 1 máy bay.

        Ngày 5 tháng 2 năm 1968, khi Biên đội bay tới vùng trời tỉnh Thanh Hóa, phát hiện địch từ xa với Lực lượng đông gấp bội, anh nhanh chóng vào sát tổ chức yểm hộ nhau chặt chẽ, chọn thế bất ngờ có lợi, chủ động tiến công địch, bắn rơi 1 quả tên lửa hạ 1 máy bay F-4. Nguyễn Ngọc Độ gương mẫu trong mọi công tác xây dựng đơn vị, hăng say học tập, cùng đồng đội rút kinh nghiệm tìm trời phương án tác chiến hay nhất để diệt địch.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 25 tháng 8 năm 1970 Nguyễn Ngọc Độ được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ PHAN NHƯ CẨN

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75388085_530915947638290_8104578582900113408_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEZqiZ3LSzO6Ls4JLCGaeAkruQbG5JzbJDBVO0_xhgP8eioU8TswWv1gnoYXaKcgHtvlKghbsyIEwmTQACBZgxoAsD7HxZCPB5xeiVCCZH7NA&_nc_ohc=ZTiWc42vD5IAQmKLWmH2vNrvE66k_v51Hdsqf2pwxdYEBUDnWEMDe9lCg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3d237c79d46f02da9de64de254bce700&oe=5E85313A)
         

        Anh hùng Phan Như Cẩn sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Đại úy lái máy bay An-2, Đoàn bay 919.

        Từ năm 1960, Phan Như Cẩn làm nhiệm vụ lái máy bay An-2 vận chuyển hàng tiếp tế cho chiến truồng nước bạn Lào và quân tình nguyện của ta làm nhiệm vụ quốc tế ở các nước bạn.

        Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 1 năm 1968, Phan Như Cẩn nhận nhiệm vụ sử dụng loại máy bay tốc độ chậm tham gia chiến đấu. Tuy chưa có kinh nghiệm thực tế nhưng do dày công luyện tập kỹ thuật, tìm tôi cách đánh tốt nhất trong mọi tình huống phức tạp, anh đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Phan Như Cẩn đánh chìm 2 tàu biệt kích của địch, bắn cháy 1 chiếc khác và chỉ huy Biên đội phá hủy căn cứ quân sự Mỹ trên chiến trường Lào.

        Đêm mùng 8 tháng 3 năm 1966, Phan Như cẩn cùng với đồng đội bay thấp tập kích tàu địch xâm phạm vùng biển của ta ở tỉnh Thanh Hóa trong điều kiện khí tượng không tốt, làm chìm tại chỗ 1 tàu địch.

        Đêm 14 tháng 6 năm 1966, khi đến gần mục tiêu, mặc dù hỏa lực địch ở tàu bắn lên dữ dội, anh vẫn chọn hướng công kích có lợi từ trên cao lao xuống bắn chìm tại chỗ 1 tàu địch.

        Ngày 12 tháng 1 năm 1968, Phan Như Cẩn chỉ huy Biên đội 4 chiếc máy bay AN-2 vượt qua địa hình rừng núi phức tạp, bất ngờ đánh căn cứ ra-đa của địch, diệt gần 200 lính Mỹ và chư hầu, làm cháy 2 máy bay lên thẳng, phá hủy hoàn toàn căn cứ thông tin chỉ huy quân sự quan trọng này. Trên đường về, do máy bay bị tai nạn, Phan Như Cẩn đã anh dũng hy sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Phan Như Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2019, 07:04:57 AM

ANH HÙNG PHAN THU

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75500982_530915974304954_4433208072621522944_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeH2Hak9-wqJU6HWdb-qECmf8mP5YXMs2gdRzApecjn0Isp6PQ6sjdc07Dx7JcWjbxstYiQng-VnHv0PSPptMMVOJQd2aq06uzCpZFh24Vgkqw&_nc_ohc=W-P_6VTUJH8AQkC_rx7LlI_SkEAfCUHec3_5kfOWSY0qqoj1qJqeiQvkg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=776ce4a81311eedf6b8fa02df943c566&oe=5E81CA1F)
         

        Anh hùng Phan Thu sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại úy, Kỹ sư vô tuyến điện, Phó phòng Khoa học quân sự, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu, thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, do yêu cầu phát triển của quân đội, Phan Thu theo học Đại học Bách khoa, tốt nghiệp xuất sắc. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, Phan Thu được giao nhiệm vụ nghiên cứu kỹ thuật ra-đa của pháo và tên lửa phòng không phục vụ chiến đấu. Anh đi thực tế các trận địa phòng không ở những nơi địch bắn phá ác liệt, nghiên cứu các quy luật hoạt động, các thủ đoạn bay và đánh phá của địch, nghiên cứu kỹ thuật, chiến thuật của ta. Từ đó, Phan Thu tổng kết kinh nghiệm, có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học phục vụ chiến đấu của Lực lượng phòng không đạt hiệu quả cao.

        Anh đề xuất nhiều sáng kiến góp phần cải tiến kỹ thuật làm cho rađa của ta nâng cao công suất công tác, phát hiện máy bay kịp thời, chính xác ở nhiều độ cao khác nhau, ở các điều kiện khí tượng phúc tạp, khắc phục những trường hợp địch gây nhiễu nặng. Nhờ đồng đội động viên, giúp đỡ, anh nghiên cứu tại trận địa trong những lúc đánh phá, tìm ra phương pháp đổi phó hiệu quả chống tên lửa sơ-rai của địch phóng từ máy bay xuống, giúp các đơn vị phòng không vận dụng, bảo vệ lực lượng ta, đánh địch có kết quả tốt. Phan Thu sông giản dị, khiêm tôn, luôn đi sát cơ sở, sát thực tiễn, được đồng đội yêu mến, cấp trên tin tưởng.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 9 Bằng khen và Giấy khen, 4 lần là Chiến sĩ Thi đua, 3 lần là Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Phan Thu được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực luợng vũ rang Nhân dân.

ANH HÙNG LÊ HẢI

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73458967_530915987638286_7099527708463333376_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeE-95TyoBcN5Ik1yZLyeoInIa50NjAfMYSrkx4yQvygY_jfEogvT8i7OdS0djvkBMN1bNh8C4TGCP_9TmkHUJl38b7xARhwwnsqpGKxtXogyA&_nc_ohc=Z1co2unfHvkAQn7jH77iqPlpyHgC3fCqFHYIcMyu9ruUA_yzrIel6E_yQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=1cb5adc2c5dfcaf33c5b9cf095be6806&oe=5E882662)
         

        Anh hùng Lê Hải sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi được tuyên dương anh hùng đồng chí là đảng viên, Thượng uý lái máy bay MiG-17, Đoàn Không quân Yên Thế

        Trên mặt trận chiến đấu chống Lực lượng không quân của đế quốc Mỹ ở Miền Bắc, Lê Hải đã tham gia chiến đấu 5 trận, bắn rơi 5 chiếc máy bay Mỹ (1 chiếc F-105, 3 chiếc F-4, 1 chiếc F-8) và chỉ huy Biên đội bắn rơi nhiều chiếc khác.

        Ngày 24 tháng 4 năm 1967, trên vùng trời tỉnh Hoà Bình, Lê Hải chỉ huy Biên đội 4 chiếc MiG-17 tiến công vào đội hình địch gồm 16 chiếc máy bay F-105, khiến chúng phải bỏ chạy. Một chiếc máy bay địch dùng kỹ thuật hạ độ cao lách theo khe núi định chuồn những anh đã phát hiện, đón đầu bắn 1 loạt đạn, chiếc F-105 của địch bốc cháy và rơi ngay tại chỗ.

        Ngày 19 tháng 11 năm 1967, địch dùng 26 máy bay đánh vào Hải Phòng. Khi thấy máy bay ta xuất kích, chúng chuyển đội hình bay vòng tròn, yểm trợ cho nhau khá chặt chẽ, phóng tên lửa về phía máy bay ta. Lê Hải dùng ưu thế đánh gần của máy bay MiG-17 cho Biên đội tấn công, chỉ sau 3 phút, bắn rơi 3 chiếc máy bay, riêng anh bắn rơi 1 chiếc F-4.

        Ngày 14 tháng 6 năm 1968, tại Nghệ An, 4 chiếc máy bay F-4 địch bay về phía 2 chiếc của Biên đội và chuẩn bị phóng tên lửa. Lê Hải áp gần, bắn tan xác 1 máy bay địch. Do cự ly gần, máy bay anh bị thương, anh vẫn bĩnh tĩnh yểm hộ cho đồng đội hạ một chiếc khác.

        Ngày 29 tháng 7 năm 1968 cũng ở Nghệ An, Lê Hải và Biên đội bắn rơi 2 máy bay địch (Lê Hải hạ 1 F-8). Máy bay của anh hết đạn, lại bị bám đuôi, trong tình thế khẩn trương, Lê Hải cho máy bay cơ động lao vào máy bay địch khiến chúng hốt hoảng bỏ chạy.

        Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Lê Hải được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2019, 07:06:37 AM

ANH HÙNG NGUYỄN XUÂN ĐÀI

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78452249_530916020971616_5145381003975458816_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeFj5XwPNHSTazU0I99Q_HkDjpeZnN21bpPnVqbCFCHO6CoI36JCrGeyTiCxOFhh77iyNkuT-hyxgVlMFt_WYkYzfKbxIQkQHW9xazipxmaC6A&_nc_ohc=G4-7rMVQEqoAQm1vCWdyyOxQ6o_ykOGsi4IU3bsEoI0OmKrPXwrbgDK9g&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b07221dfe0f97a969bce7f85ffbb152a&oe=5E8861B2)
         

        Anh hùng Nguyễn Xuân Đài sinh năm 1946 dân tộc Kinh, quê ở xã Dương Quang, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên đã nghỉ hưu.

        Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 3 năm 1969, Nguyễn Xuân Đài cùng đơn vị hoạt động trên các địa bàn thuộc Quân khu 5, là xạ thủ số 1 súng 12,7 ly. Anh đã tham gia chiến đấu, khi không chế địch trên các điểm cao, chi viện cho bộ binh chiến đấu, khi cùng khẩu đội phục kích bắn máy bay địch, nhiệm vụ nào Nguyễn Xuân Đài cũng nêu cao quyết tâm chiến đấu đạt hiệu suất cao, bị thương mà vẫn không rời vị trí. Nguyễn Xuân Đài chịu khó nghiên cứu các thủ đoạn của máy bay địch, tìm ra các cách đánh có hiệu quả cao. Nhiều lần anh đem súng lên điểm cao bất ngờ bắn rơi máy bay địch.

        Trong 3 năm Nguyễn Xuân Đài đã cùng đơn vị bắn rơi 37 chiếc máy bay các loại (C130, C47, CH47, HU1A, HUlB CH06, T28). Từ tháng 3 năm 1969 đến tháng 11 năm 1978 Nguyễn Xuân Đài bị thương nặng (2/4) được chuyển về làm Tài vụ Viện Quân y 7, Quân khu 3. Từ tháng 12 năm 1978, Nguyễn Xuân Đài về nghỉ hưu tại phường Nguyễn Trãi, thị xã Hải Dương.

        Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì và Ba, 1 Huy hiệu Bác Hồ, 4 năm liền là Chiến si Thi đua, 19 Bằng khen, nhiều danh hiệu khác như "Chim đầu đàn", “Kiện tướng Diệt máy bay", "Dũng sĩ Diệt máy bay", "Dũng sĩ Quyết thắng".

        Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Nguyễn Xuân Đài được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN THỰC

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78101204_530916054304946_2413632450526707712_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEr-03azBBZgf_xgOqxEv8us64y1l-98Vvf_R6EqM0WRc-gPBo-Y93AcoGXGal6voTN0AwWDeoBhxMV7z0-2rcv25uQFYIxE7ItCOiNw41vbA&_nc_ohc=C5vezr2fSJgAQmbvEjDAdJ5DRHOfPlgc8q2pX5bFFwd1VYGSKdjUI--DQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=4e89276bfd8467ba418cceba5466ce2c&oe=5E531A99)
         

        Anh hùng Nguyễn Văn Thực sinh năm 1943 dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung uý, Sĩ quan điều khiển tên lửa thuộc Tiểu đoàn 63, Trung đoàn 236, Đoàn 361.

        Từ năm 1965 đến năm 1968, Nguyễn Văn Thực tham dự hơn 100 trận đánh máy bay địch. Anh luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, đi sâu nghiên cứu các thủ đoạn đánh phá của địch, phán đoán nhanh, xử trí khéo, bắn rơi nhiều loại máy bay địch trong nhiều tình huống phức tạp như: địch rải nhiều loại nhiễu khác nhau, mục tiêu bay ở độ cao thấp. Không ngừng rút kinh nghiệm, tìm tôi cách đánh hiệu quả, Nguyễn Văn Thực đã góp phần quan trọng điều khiển tên lửa, bắn rơi 21 máy bay Mỹ các loại.

        Ngày 23 tháng 7 năm 1966, Nguyễn Văn Thực điều khiển 1 quả đạn, bắn rơi 1 máy bay F-105 trong lúc nhiều máy bay địch không chế trên cao đang định phóng tên lửa vào trận địa của đơn vị.

        Trận ngày 12 tháng 8 năm 1967, địch cho nhiều tốp máy bay đánh phá Hà Nội, thả nhiều loại nhiễu khác nhau, anh vẫn tỉnh táo điều khiển tên lửa hạ 1 chiếc máy bay trinh sát RF-5C. Ngày 10 tháng 1 năm 1968, địch thả nhiều loạn nhiễu mới để cho hàng chục tốp máy bay từ nhiều hướng đánh vào Hà Nội, Nguyễn Văn Thực phán đoán chính xác, xử trí nhanh, điều khiển 2 quả đạn, hạ 1 máy bay F-4, nêu kinh nghiệm cho các đơn vị về cách đánh tập trung, dứt điểm.

        Đồng chí Nguyễn Văn Thực đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 4 lần là Chiến sĩ Thi đua. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Nguyễn Văn Thực được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2019, 07:14:39 AM

ANH HÙNG ĐINH VĂN RÌ

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76937541_530916077638277_2679052921089294336_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEnceRTon7W3SQ1oXRAItiJU_7Wsb43mH0Ew87KrJlzXtIYkmvEoTB6ULXe16qKHiLBhcyV8CkaCJrRxTjssqbuzHdLT-F8IApkL-hDd4DZpg&_nc_ohc=BKRN2YXw_SMAQkQRtjybMTnkY6uHxIbonF-FGWz3asBk2zrLrrusrV3GQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=116cac249acd52d4c50b82f453d67f51&oe=5E7E05F7)
         

        Anh hùng Đinh Văn Rì sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xa Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, tỉnh Hải Phòng. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đội trưởng Trung đội pháo cao xạ 37 ly, Đại đội 13, Tiểu đoàn 105, Trung đoàn 209, Đoàn 367.

        Đinh Văn Rì tham gia hơn 400 trận chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ. Tháng 7 năm 1966, trong đợt chống trả máy bay Mỹ bắn phá Vĩnh Lợi (Hải Phòng), mặc dù bị thương anh vẫn tiếp tục chiến đấu, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 1 máy bay Mỹ, bảo vệ được mục tiêu.

        Tại Kỳ Lâm (Hà Tĩnh) tháng 11 năm 1966, địch cho nhiều tốp máy bay bắn vào trận địa pháo cao xạ. Chúng ném bom, bắn rốc két dữ dội hòng diệt hỏa lực phòng không của ta. Giữa khói lửa mù mịt, anh lấy đường bay chính xác cho khẩu đội phát huy hỏa lực. Bị thương vào vai, Đinh Văn Rì vẫn hiệp đồng chặt chẽ cùng khẩu đội bắn máy bay làm chúng phải giạt ra xa. Pháo hỏng, Rì tìm ra chỗ cần sửa, kịp thời để khẩu đội chiến đấu bắn rơi 1 máy bay Mỹ.

        Trận chiến dấu ở Khe Tang ngày 15 tháng 10 năm 1967, khi phát hiện một quả bom rơi gần nơi đặt pháo, Đinh Văn Rì lập tức lấy thân mình che cho bộ phận nạp pháo. Bom nổ trùm lên công sự nhưng pháo được bảo vệ và một khẩu đội vẫn tiếp tục đánh trả quyết liệt. Có lần sau trận đánh, pháo bị gãy móc đóng mà đơn vị lại không có phụ tùng thay thế tại chỗ, anh xung phong dẫn một tổ đến Cà Sòng tháo gờ một số bộ phận pháo hỏng về thay thế, sẵn sàng chiến đấu.

        Đồng chí Đinh Văn Rì được tặng thưởng 5 Giấy khen, 3 Bằng khen, 3 lần được là Chiến sĩ Thi đua, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Đinh Văn Rì được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG ĐỖ VĂN CHUYỀN

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74431001_530916124304939_4615453009688657920_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGh07AiliCFw3WGVZSq9ELPjRtpsCfFdFkrU7heTwKMH9aAbhrxTFVf2xjUTSQYDsFebaVcFwg_kAF_RgmBy3Fh_4IifrbsA3GTM4BP1nKKew&_nc_ohc=3-0QPVF7IfgAQlZJWMU16TpDM2C24x4H0J8Ml9ZyODStO3vOhdEmvvJwQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5d156d169eeb9eb6a514d9dda065417b&oe=5E8AED3B)
         

        Anh hùng Đỗ Văn Chuyền sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xa Đông Minh, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung sĩ, Khẩu đội trưởng Pháo cao xạ 37 ly, Đại đội 3, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 218.

        Năm 1965, Đỗ Văn Chuyền xung phong đi bộ đội, được phân công về đơn vị pháo cao xạ, trực tiếp chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Tham gia 300 trận đánh, anh luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, có lần bị thương vẫn không rời vị trí.

        Ngày 8 tháng 5 năm 1967, nhiều tốp máy bay địch thay nhau đánh trận địa của đơn vị ở Vĩnh Linh - trận này kéo dài 6 tiếng đồng hồ. Một số máy bay địch bị thương rút chạy ra biển, bên ta cũng có một số pháo thủ bị thương. Giữa trận đánh, thấy pháo hỏng, Đỗ Văn Chuyền nhanh chóng sửa pháo, bảo đảm cho khẩu đội tiếp tục phát huy hỏa lực. Thấy đồng đội bị thương, anh lần lượt cõng hai đồng chí ra nơi an toàn.

        Trận địa ngày 3 tháng 6 năm 1968 ở Vĩnh Linh, địch đánh vào trận địa ác liệt. Bom nổ gần công sự làm Đỗ Văn Chuyên ù tai, đất đá văng vào chân bị sưng nhưng anh vẫn vững vàng trên mâm pháo, hiệp đồng động tác trong khẩu đội, dùng chân trái đạp cò, kịp thời nổ súng, góp phần bắn rơi 1 máy bay địch.

        Trận ngày 9 tháng 6 năm 1968, địch sử dụng tới 150 lượt chiếc máy bay đến ném bom và bắn rốc két xuống trận địa đơn vị. Dù tay phải bị thương anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Lần thứ hai, Đỗ Văn Chuyền lại bị thương vào tay, máu ra nhiều, anh tự băng bó rồi quan sát theo dõi máy bay địch theo sự phân công của khẩu đội, góp phần bắn rơi 1 máy bay F-4H của địch, bắn bị thương một số chiếc khác.

        Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, 2 lần là chiến sĩ Quyết tháng. Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Đỗ Văn Chuyền được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Một, 2019, 07:16:30 AM

ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC KHUYẾN

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76919759_530916150971603_8457963707421425664_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHutyAEQ5zLor7FkiOrOEKcFZgzfSg34-rvygNVa34nuQxe7FM67B9EmZJUTdMJU-2sP6pY1CNA0BeML-woQ5quWyLRHobVFHrLp2Um2hz7HA&_nc_ohc=n9u9MjqrwkgAQkJqKT9rVg4fT-rzetEBAACa8K6cAlQijAnYxS3lDK_CQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3acb7b8ab5baa555a9ab71c3d2d5ba8c&oe=5E3ECFCB)
         

        Anh hùng Nguyễn Ngọc Khuyến sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung sĩ, Trung đội phó thuộc Đại đội pháo 5 pháo cao xạ 57, Trung đoàn 230, Đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Từ năm 1966 đến năm 1971, Nguyễn Ngọc Khuyến tham gia 224 trận đánh máy bay Mỹ, góp phần tích cực cùng đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch. Ngày 1 tháng 6 năm 1966 ở Hoàng Mai, máy bay địch bắn phá trận địa ác liệt, bản thân bị thương ở chân, Nguyễn Ngọc Khuyến không thể đứng được, anh nén đau vẫn quỳ nạp đạn cho khẩu đội bắn suốt hai giờ liền - trận này đơn vị bắn rơi 3 máy bay địch.

        Ngày 13 tháng 7 năm 1968, máy bay địch đánh vào trận địa ở Tân Đức. Khẩu đội trưởng bị thương, Nguyễn Ngọc Khuyên thay thế chỉ huy khẩu đội phát huy hỏa lực mạnh mẽ. Người thấp, anh phải đứng trên bánh xe pháo để chỉ huy. Bom nổ gần, Khuyến bị hất ngã ngất đi. Khi tỉnh dậy anh lại tiếp tục chỉ huy đánh địch. Ngày 30 tháng 8 năm 1968 ở La Khê, anh vừa chỉ huy vừa nạp đạn cho khẩu đội bắn suốt 2 giờ liền, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 1 máy địch, bảo vệ mục tiêu.

        Ngày 3 tháng 5 năm 1970 ở Mường Thụ, Nguyễn Ngọc Khuyến chỉ huy Trung đội chiến đấu quyết liệt với máy bay Mỹ. Bị thương cả 2 chân, anh vẫn giữ vững vị trí, góp công cùng Đại đội bắn rơi 2 máy bay địch. Trong chiến đấu cũng như trong huấn luyện, Nguyễn Ngọc Khuyến đều làm giỏi nhiệm vụ của pháo thủ trong khẩu đội, tích cực dìu dắt giúp đỡ đồng đội, sông chân thành, được anh em yêu mến.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 1 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người, 3 lần là Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 1 tháng 10 năm 1970, Nguyễn Ngọc Khuyên được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐẶNG NGỌC NGỰ

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74604727_530916170971601_2937218895536193536_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGs4J9w8V8Ui263yPEgnS8XZLD_kal7U63gV-3plkIqs3_d1yhw3wl98o3yI1LLorQput8HfdcYt4CCfUOTkfOyBeP29S20auEpIBIcrmlARQ&_nc_ohc=k3RVzz_s1KkAQmze_Oy6Qv_So0ep763wLrXMa_Xr-LS8HrSCEWrY4gJrw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0ed69898257f3b9d552b8c67a6474b5d&oe=5E84A18F)
         

        Anh hùng Đặng Ngọc Ngự sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Thủy, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 7 máy bay tiêm kích MiG-21, thuộc Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ tháng 4 năm 1966 đến tháng 7 năm 1972, Đặng Ngọc Ngự đã tham gia chiến đấu 14 trận, lập công xuất sắc. Anh đã trực tiếp bắn rơi 7 máy bay Mỹ (gồm 3 chiếc F-4, 3 máy bay trinh sát không người lái, 1 chiếc F-105). Ngoài ra Đặng Ngọc Ngự chỉ huy và yểm hộ cho Biên đội bắn rơi 8 chiếc khác.

        Trong trận đánh ngày 8 tháng 11 năm 1967 trên vùng trời Hà Bắc, mặc dù địch có đến 12 chiếc (đông hơn ta nhiều) Đặng Ngọc Ngự vẫn chỉ huy Biên đội xông thẳng vào đội hình địch, bắn rơi 2 chiếc F-4, với 1 quả tên lửa, anh bắn rơi một chiếc.

        Ngày 10 tháng 5 năm 1972, địch cho nhiều chiếc máy bay cường kích vào không chế sân bay Kép. Biên đội Đặng Ngọc Ngự vừa cất cánh tốc độ còn chậm, độ cao còn thấp, bị máy bay địch liên tiếp phóng tên lửa vào đội hình. Chiến sĩ lái số 2 đã hi sinh chỉ còn một mình Đặng Ngọc Ngự, anh bình tĩnh nhanh chóng cho máy bay lên cao, mưu trí lừa địch, giành thế chủ động, bám sát, bắn rơi 1 chiếc F-4.

        Trận đánh ngày 8 tháng 7 năm 1972 ở vùng trời Hòa Bình, Đặng Ngọc Ngự chỉ huy Biên đội 2 chiếc xông vào đội hình 8 chiếc máy bay F-4 của địch. Sau khi yểm hộ và tích cực tạo điêu kiện cho số 2 bắn rơi một chiếc, máy bay của Đặng Ngọc Ngự đã bị tên lửa của địch bắn trúng, anh đã anh dũng hi sinh.

        Đồng chí Đặng Ngọc Ngự đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 5 Huân chương Chiến công hạng Ba, 7 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Đặng Ngọc Ngự được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 10:48:40 AM

ANH HÙNG LÊ THANH ĐẠO

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78381574_530916200971598_318461371048001536_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGXr-CSH68zLOOu7bERBXm4M7e7G7HX4K5QENEhXUVOxIbkaTWcLmE3dPB2nWz_y177LN0Ww0EuFXT9dKIR48T2kKiwnZ5Yuc3gTzO1BugDjA&_nc_ohc=KNLIb0tw64UAQl8MPP9eAvJq5QB33pvtf7akELFKS0-pTnUtiNdi2wGBQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=04befe1a24bc9b9b8f9fd54e971ab8e5&oe=5E7DD4C6)

        Anh hùng Lê Thanh Đạo sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung úy, Đại đội trưởng Đại đội 9 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ tháng 12 năm 1971 đến tháng 10 năm 1972, Lê Thanh Đạo đã tham gia đánh 8 trận, hạ 6 chiếc máy bay F-4 Mỹ. Ngoài ra anh đã chỉ huy biên đội bắn rơi 5 chiếc khác. Trận đánh ngày 10 tháng 5 năm 1972, khi 2 chiếc máy bay địch phát hiện thấy máy bay ta, chúng liền tách đội hình, định bám đuôi máy bay ta, Lê Thanh Đạo chỉ huy Biên đội bám sát địch, bắn rơi gọn cả tốp 2 chiếc F-4 (trong đó anh bắn 1 quả đạn, hạ 1 chiếc).

        Ngày 21 tháng 7 năm 1972, vừa phát hiện máy bay ta, 2 máy địch đã tháo chạy, Biên đội Lê Thanh Đạo truy kích chúng đến vùng trời Quảng Ninh thì được lệnh sở chỉ huy gọi về. Thây thời cơ có lợi, Lê Thanh Đạo xin tiếp tục đánh. Biên đội anh đã bắn rơi 2 chiếc F-4. Khi trở về, nhiều tốp máy bay địch đuổi theo và khống chế sân bay Kép. Trong khi đó, máy bay của chiến sĩ lái số 2 gần hết dầu, Lê Thanh Đạn hĩnh tĩnh yểm hộ cho số 2 nhanh chóng hạ cánh an toàn. Ở một số trận khác, với sự mưu trí, ngoan cường, nhanh nhạy, anh đã góp phần cùng đơn vị giành nhiều thắng lợi. Trận nào Lê Thanh Đạo cũng thể hiện sự chủ động, hiệp đồng chặt chẽ, tạo điều kiện cho bạn lập công.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, 5 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Lê Thanh Đạo được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN ĐỨC SOÁT

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75412107_530916230971595_3936671250037866496_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeE1_T9KGzH2iBMpgEWMsLIRJuzjT0yzbxIuYYvS8qqlTn764V2vGhIaIKU-VYcUYGJSiSFgKIUxF2ZVjqqFxnBBIF0HgF_L_kegjt5qPFOYqw&_nc_ohc=9f4g2UlPkjIAQl66IDyV-Y-U6_qDehn_Z33G18R7Eb8F8tRsMthIwMRYA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2cbc53392e71e8b50f08191c0e6ed04e&oe=5E46D2BA)
         

        Anh hùng Nguyễn Đức Soát sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung úy, Đại đội phó Đại đội 3 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Ngày 13 tháng 3 năm 1969, Nguyễn Đức Soát xuất kích trận đầu tiên, hạ 1 máy bay không người lái ở độ cao 300 mét (độ cao rất khó đánh). Trên vùng trời Thái Nguyên ngày 24 tháng 6 năm 1972, anh chỉ huy Biên đội 2 chiếc chiến đấu với 20 chiếc máy bay địch (vừa tiêm kích, vừa cường kích). Với cách đánh thọc sâu, Biên đội của Nguyễn Đức Soát đã bắn rơi 2 chiếc F-4, số máy bay địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy, mục tiêu được bảo vệ an toàn.

        Ba ngày sau, tại vùng trời Sơn La, Nguyễn Đức Soát lại chỉ huy Biên đội đánh vào đội hình máy bay của địch. Thấy địch bỏ chạy, anh tích cực truy kích, khi đến gần biên giới, nhận được lệnh của sở chỉ huy gọi về nhưng thấy thời cơ có lợi anh xin phép tiếp tục công kích. Trận này Biên đội Nguyễn Đức Soát đã bắn rơi 2 chiếc và hiệp đồng chặt chẽ, tạo điều kiện cho Biên đội bạn diệt gọn một tốp 2 chiếc F-4.

        Từ tháng 3 năm 1969 đến tháng 10 năm 1972, Nguyễn Đức Soát đánh 7 trận, bắn 8 quả tên lửa, hạ 6 máy bay Mỹ. Ngoài ra anh còn chỉ huy Biên đội bắn rơi 3 chiếc khác.

        Đồng chí Nguyễn Đức Soát đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 4 Huân chương Chiến công hạng Ba, 5 lần được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người, nhiều lần đạt danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Đức Soát được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 10:50:27 AM

ANH HÙNG ĐỖ VĂN LANH

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75339583_530916234304928_3273328076750061568_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGRiSLTL1d6b0K-UGEv5Ci8KmdhcVjGFWyvqgQ-8o__ffga5t5D9kl3Afv2347wlY78Ada30uvH51kf6kqwagpoyLRWWLUtKqZiQeYpe7EwSA&_nc_ohc=HX_v3LFgIBgAQmEmyOnXHfLxgTUHGHBL0nU1DoxIL-qVGBEubPryijv-w&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6f72e89656dd9a62f9f2b80dc5530185&oe=5E864427)
         

        Anh hùng Đỗ Văn Lanh sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Trung úy, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 7 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, Đỗ Văn Lanh đã tham gia chiến đấu 10 trận, bắn 7 quả tên lửa, hạ 4 máy bay Mỹ. Nhiều lần máy địch đông hơn, anh vẫn mưu trí, dũng cảm tiến công đội hình địch bảo vệ đồng đội, tạo điều kiện thuận lợi cho bạn lập công.

        Trên vùng trời Hòa Bình ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch cho 8 máy bay vào đánh phá. Khi chiến sĩ lái số 1 vào công kích, phát hiện 2 chiếc F-4 của địch bám đuôi, Đỗ Văn Lanh kịp thời báo cho số 1 tránh tên lửa địch, đồng thời chủ động lao vào công kích. Với 1 quả tên lửa, anh đã hạ được 1 chiếc, số máy bay địch còn lại bỏ chạy.

        Ngày 24 tháng 5 năm 1972, sau khi đánh địch trở về, máy bay của Lanh hết dầu, bị tắt máy trên không, sân bay còn cách 50 ki-lô-mét nhưng anh đã bĩnh tĩnh điều khiển máy bay hạ cánh an toàn.

        Trận đánh ngày 21 tháng 6 năm 1972 tại Việt Trì, máy bay của Đỗ Văn Lanh bị địch bắn thủng thùng dầu sau, bánh lái lên xuống bị đứt, máy bay bị chấn động không tăng được tốc độ, anh vẫn kiên quyết lượn vòng hẹp bám sát đội hình, yểm hộ cho số 1 công kích. Sau đó Đỗ Văn Lanh cũng lao vào đánh địch, bắn rơi 1 chiếc F-4. Chỉ trong vòng vài tháng, anh liên tiếp lập công ghi thêm vào thành tích của đơn vị.

        Đồng chí Đỗ Văn Lanh đã được tặng 1 Huân chương Chiên công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, 4 lần được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Đỗ Văn Lanh được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN TIẾN SÂM

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76948670_530916270971591_2303028276626456576_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFO7Oog1UseYOSW-woMuM-OU8vMEQoW_dVM4eyv6MW9KPcwq5G9ep0kJ_FamYgnF5_fzVdgyyLA7WAKE_J7IlrgJgiCixQ8DdUiV4fvkHsiXw&_nc_ohc=NeEX3_pLtzIAQl-IgcdmbQVwVso69pVFKCd307RejYIYYDvvLuqHFPWtA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0a7d9247cb3abcdf9435e6232d427146&oe=5E80CCAF)
         

        Anh hùng Nguyễn Tiến Sâm sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. Khi được tuyên dương Anh hùng., đồng chí là đảng viên, Trung úy, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 3 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ ngày 5 tháng 7 đến ngày 5 tháng 10 năm 1972. Nguyễn Tiến Sâm tham gia đánh 6 trận, bắn 9 quả tên lửa, hạ 5 chiếc máy bay Mỹ. Anh còn yểm hộ cho Biên đội bắn rơi 5 chiếc khác.

        Trên vùng trời Hà Bắc, ngày 5 tháng 7 năm 1972, khi máy bay địch cách 20 ki-lô-mét, Biên đội của anh phát hiện liền nhanh chóng tăng tốc và độ cao tiến đánh địch. Lúc này, địch cũng phát hiện ra máy bay ta, chúng tách đội hình ra nhiều tốp nhỏ để đối phó. Nguyễn Tiến Sâm phân công số 2 đánh một tốp, còn anh tiến công một tốp, bắn 1 quả tên lửa hạ 1 chiếc F-4. Do máy bay địch nổ quá gần, máy bay anh bị rung mạnh và tắt máy. Đây là trường hợp nguy hiểm, thông thường phải nhảy dù những Nguyễn Tiến Sâm bĩnh tĩnh cho động cơ nổ lại và điều khiển máy bay hạ cánh an toàn.

        Ngày 29 tháng 7 năm 1972, địch cho 20 chiếc quấy đảo vùng trời Lạng Sơn, chúng chia làm nhiều hướng, nhiều tầng và ở thế có lợi hơn ta. Nguyễn Tiến Sâm dũng cảm xông thẳng vào đội hình của địch, bắn rơi 1 chiếc. Ngày 12 tháng 9 năm 1972 tại Hà Bắc, anh chỉ huy Biên đội tiến công 8 chiếc F-4 đi theo đội hình yểm hộ cho nhau rất chặt chẽ. Tới tầm bắn, anh và số 2 cùng nổ súng diệt 2 chiếc máy bay địch. Ở các trận đánh khác, anh luôn luôn linh hoạt đánh địch, thu nhiều hiệu quả.

        Đồng chí Nguyễn Tiến Sâm đã được tặng thưởng 1 huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến vcông hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 4 lần được tặng Huy hiệu Bác Hồ. Ngày 11 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Tiến Sâm được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 10:53:04 AM

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGÔ XUÂN QUẢNG

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77233591_530916294304922_6490810081024671744_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEv8LOV1rfaPJqknaMJwpCXsU4rO7oRydUTa-xz88y1asDnMTQM0uO-Cwtcy3WhupBdn5YHLKu_9SwFL7VWZFJi7XB94zJFTG6MMYe_dh1jNQ&_nc_ohc=NizdsJtkRIMAQnOubhpzeEV4LKLctg3cmf_ST47xX-WtqNLlJRNn3tVlw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=9fdff24d1cd62c4e6d834e78afa26447&oe=5E7C3A81)
         

        Anh hùng Ngô Xuân Quảng sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi được tuyên dương Anh hùng, Ngô Xuân Quảng là Thiếu uý, Đại đội phó Đại đội 1 pháo cao xạ, Tiểu đoàn 21, Trung đoàn pháo Phòng không 224, Đoàn 367.

        Từ cuối năm 1965 đến năm 1972 đồng chí Ngô Xuân Quảng đã tham gia chiến đấu hàng trăm trận đánh máy bay Mỹ. Khi làm pháo thủ, đồng chí chiến đấu dũng cảm, trận nào cũng hoàn thành tốt chức trách của mình. Khi ở cương vị chỉ huy, đồng chí chỉ huy linh hoạt, bình tĩnh, mưu trí, góp phần cùng đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch. Trong quá trình chiến đấu, 3 lần đồng chí bị thương nặng, lần nào đồng chí cũng giữ vững vị trí chiến đấu cho tới khi trận đánh kết thúc. Sau mỗi lần đi bệnh viện về, đơn vị cho chuyển về tuyến sau và giao công tác nhẹ, đồng chí đều xin bằng được ở lại đơn vị chiến đấu.

        Trận chiến đấu ngày 14 tháng 6 năm 1967 ở cầu Bắc Giang, địch cho 20 máy bay đánh phá ác liệt vào trận địa, đồng chí Ngô Xuân Quảng bị thương nặng (ruột bị thủng 5 lỗ), giữa lúc tình thế chiến đấu hết sức khẩn trương, đồng chí đã kiên quyết ở lại động viên đồng đội chiến đấu. Sau 2 tháng điều trị, mặc dù vết thương chưa lành hẳn, đồng chí tự nguyện xin trở lại đơn vị chiến đấu.

        Tháng 2 năm 1969, đơn vị đi làm nhiệm vụ quốíc tế ở chiến trường Lào. Mỗi khi xe qua ngầm, đồng chí Ngô Xuân Quảng đều xung phong lội trước, phát hiện bom nổ chậm và dẫn đường cho xe qua ngầm được an toàn.

        Trận đánh ngày 20 tháng 2 năm 1970 trên đường 20, thấy địch tập trung đánh phá ác liệt vào đơn vị bạn, mặc dù hoả lực ít, đồng chí động viên Trung đội nổ súng để thu hút hoả lực địch về phía mình, giảm bớt khó khăn cho đơn vị bạn, bom đang nổ, đồng chí vẫn xông vào dập lửa, cứu pháo, đạn. Toàn đơn vị theo hành động của đồng chí, đã cứu được 1 khẩu pháo, 300 viên đạn, 4 khẩu súng CKC.

        Trận đánh ngày 5 tháng 11 năm 1970 ở đường 20, bị thương nặng vào ngực, Ngô Xuân Quảng vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị đánh trả các đợt đánh phá của máy bay địch, bảo vệ được mục tiêu. Sau khi điều trị vết thương khỏi, đơn vị cho đồng chí về tuyến sau an dưỡng, đồng chí xin bằng được ở lại đơn vị chiến đấu.

        Tháng 1 năm 1971, vết thương cũ ở ruột tái phát, đồng chí được đưa đi cấp cứu, sức khoẻ chưa bình phục hẳn, nhưng biết tin đơn vị sắp lên đường đi chiến đấu, đã nhiều lần xin bệnh viện cho trở về đơn vị. Trên đường hành quân, vì đường trơn, dốc cao, xe bị đổ, đồng chí bị chấn thương cột sống liệt cả hai chân.

        Thời gian nằm điều trị vết thương gây nhiều đau đớn, đồng chí không hề kêu rên, nêu tấm gương dũng cảm chịu đựng cho các đồng chí khác noi theo. Được ăn chế độ đặc biệt, nhưng thấy bệnh viện còn khó khăn, đồng chí đem thức ăn chia sẻ cho anh em thương binh khác. Nhiều lần được tiếp máu, biết không sống được, đồng chí đã nói với y, bác sĩ đế máu tiếp cho các đồng chí khác chóng khoẻ để trở về đơn vị chiến đấu. Vì vết thương quá nặng đồng chí Ngô Xuân Quảng đã hi sinh ngày 7 tháng 5 năm 1972 tại Quân y viện 111 Thanh Hoá.

        Đồng chí Ngô Xuân Quảng đã được tặng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 5 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 3 tháng 9 năm 1973, đồng chí Ngô Xuân Quảng đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG PHẠM TRƯƠNG UY

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77106438_530916304304921_6250865466676346880_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeEvghzN10UACUJje3wKWHpM_NMUgLF_KNgCSVRM7fJBPB2li2r-9BbP6Jy9XyPyEhv16K3sOIuZV8nlB1hCN86J5WC3Kc5H41Hg5bvQqAtc8A&_nc_ohc=6dcK19uTJpwAQnWXTTAMiyPOmcdy-oL3lRjhxJ4n13FXrtkDHuCpz5HfA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=129c41db442b286ca912f0ec22e9cc3c&oe=5E7DF839)
         

        Anh hùng Phạm Trương Uy sinh ngày 26 tháng 2 năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở thôn Tam Lạc, Xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Đại uý, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64, Trung đoàn Tên lửa 236, Đoàn Phòng không 361.

        Từ năm 1965 đến năm 1972, đồng chí Phạm Trương Uy đã tham gia chiến đấu gần 100 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Là một sĩ quan điều khiển, đồng chí đã thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc thủ đoạn hoạt động của địch để xử trí kịp thời. Đồng chí đã góp phần cùng đơn vị bắn rơi 22 máy bay Mỹ. Khi là Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Phạm Trương Uy chỉ huy đơn vị chiến đấu ngoan cường, chọn đúng mục tiêu, hạ lệnh bắn kịp thời, nên đã chỉ huy đơn vị bắn rơi 9 máy bay (có 2 B52).

        Trận đánh ngày 15 tháng 10 năm 1965 ở Phù Ninh (Vĩnh Phú) khi báo động, máy bay đã vào cách trận địa 12 ki-lô-mét, đồng chí bình tĩnh nhanh chóng phát hiện mục tiêu, kịp thời phóng và điều khiển 2 quả đạn, diệt gọn cả tốp 2 máy bay Mỹ.

        Tháng 2 năm 1967, ở trận địa Yên Nghĩa (Hà Đông) đồng chí Phạm Trương Uy đã cùng kíp trắc thủ phát hiện một tốp máy bay F-4 bay thấp ở độ cao 1 ki-lô-mét, xa 22 ki- lô-mét, đồng chí chỉ huy bám sát mục tiêu, nắm chắc thời cơ, phóng 2 quả đạn, hạ tại chỗ 1 máy bay F-4, gây khí thế sổi nổi, hào hứng cho đơn vị.

        4 giờ sáng ngày 2 tháng 4 năm 1972, ở Vĩnh Linh, phát hiện được máy bay B52 từ xa 100 ki-lô-mét, ở độ cao 11 ki-lô-mét, đồng chí theo dõi, bám chắc mục tiêu, cho phóng 3 quả đạn, bắn rơi 1 chiếc B52.

        Ngày 3 tháng 4 năm 1972 tại trận địa Mễ Tre (đường 16) với một bệ phóng đồng chí chỉ huy đơn vị đánh 3 trận, bắn 3 quả đạn hạ 3 máy bay Mỹ (2 F.4 và 1 OV.l0).

        Ngày 20 tháng 8 năm 1972 tại Nông trường Quyết Thắng (Vĩnh Linh) bằng 3 quả đạn đơn vị đồng chí đã bắn rơi 1 máy bay B52.

        Ngày 27 tháng 8 năm 1972 đơn vị bị máy bay địch đánh vào trận địa 7 lần, một số khí tài bị hỏng nặng. Cán bộ Tiểu đoàn chỉ còn 2 người, đồng chí Phạm Trương Uy đã chỉ huy đơn vị cứu chữa thương binh, sửa chữa khí tài, nhanh chóng ổn định và triển khai chiến đấu, đến 0 giờ 40 phút ngày 28 tháng 8 năm 1972 đơn vị đã bắn rơi 1 máy bay B52 của Mỹ.

        Trong quá trình chiến đấu đồng chí Phạm Trương Uy luôn luôn chịu khó nghiên cứu học tập, đúc rút kinh nghiệm vận dụng vào công tác huấn luyện bộ đội, đào tạo được nhiều kíp trắc thủ giỏi để nâng cao hiệu xuất chiến đấu của đơn vị. Là một cán bộ luôn chấp hành tốt mệnh lệnh chiến đấu, tôn trọng và đề cao vai trò tập thể, giữ vững đoàn kết, gần gũi quần chúng, được mọi người tin yêu.

        Đồng chí Phạm Trương Uy đã được tặng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba; 1 Huân chương Quân công hạng Ba; 1 Huân chương Chiến thắng hạng Hai; 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Ngày 3 tháng 9 năm 1973, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 10:53:59 AM
  
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN PHIỆT

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76710711_530916364304915_7751178876964831232_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeF-94Z4cx-YB2p7PUZpH00o1L-JOeu8sNX-VQGU_pyQx1yQc3fjmjzDprXOAZlvf0LK1mipimQ3wOHpGV6q8cmvCO8gmIOrzLyhBYpIpWCOwg&_nc_ohc=OL4wOATTZw4AQkkpHot3UZGS7yV0Lfp4i0EffOppgZEfB93lS_u3CA4fg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=14e7ab5363f7fb9460d0ae9b1de30623&oe=5E4C1310)


        Anh hùng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Vệ Dương, Chiến Thắng (Tân Phúc), Ân Thi, Hưng Yên. Khi được tuyên dương Anh hùng, Nguyễn Văn Phiệt là Thượng uý, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tên lửa 57 Trung đoàn Tên lửa 261, Đoàn Phòng không 361.

        Từ năm 1966 đến năm 1972 đồng chí Nguyễn Văn Phiệt đã trực tiếp tham gia đánh 85 trận. Trong chiến đấu địch dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt như bay ở nhiều độ cao, nhiều hướng, thả nhiễu, phóng tên lửa vào trận địa... đồng chí vẫn bình tĩnh, xử trí tốt các tình huống, chọn đúng tốp, điều khiển đạn chính xác, góp phần cùng kíp trắc thủ bắn rơi 19 máy bay Mỹ.

        Ngày 20 tháng 10 năm 1966, Tiểu đoàn 93, Trung đoàn tên lửa 278 đánh trận đầu, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt điều khiển 1 quả đạn Tên lửa bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F.105, rút được kinh nghiệm cho Trung đoàn chỉ đạo chung.

        Ngày 27 tháng 6 năm 1972, đồng chí vừa nhận nhiệm vụ phụ trách Tiểu đoàn 57 Trung đoàn 261 thì địch đánh Hà Nội, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F-4, (chiếc máy bay thứ 3.700 của giặc Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc). Đây là chiếc máy bay bị bắn rơi tại chỗ đầu tiên tại Hà Nội kể từ khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai. Về chiến thuật đây là lần đầu kíp chiến đấu của đồng chí Nguyễn Văn Phiệt vận dụng thành công sự kết hợp giữa kính quang học A-00 với đài điều khiển tên lửa để khắc phục tình trạng gây nhiễu của địch.

        Ngày 30 tháng 7 năm 1972, Không quân địch huy động một lực lượng lớn vào đánh Hà Nội và đường 1 bắc, trọng tâm là khu cầu Đuống, Yên Viên. Tiểu đoàn 57 ở Mai Hiên dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261 Nguyễn Văn Phiệt bắn rơi 3 máy bay F.4 (trong đó có 1 chiếc rơi tại chỗ).

        Đặc biệt trong đợt chiến đấu chống địch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội từ ngày 18 tháng 12 năm 1972 đến ngày 28 tháng 12 năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn bắn rơi 4 chiếc B52, có 2 chiếc rơi tại chỗ.

        Đêm 20 rạng 21 tháng 12 năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261 hiệp đồng với quân, dân Hà Nội đánh trả các đợt đánh phá chủ yếu bằng máy bay B52 của địch vào Hà Nội. Tại trận địa Đại Đồng, trong điều kiện nhiễu điện tử nặng, có rađa K8-60 bổ trợ, chỉ trong 5 phút (5 giờ 09 phút đến 5 giờ 14 phút) đồng chí Nguyễn Văn Phiệt chỉ huy Tiểu đoàn 57 đánh 2 trận (mỗi trận bắn 1 quả đạn) bắn rơi 2 B52 (có 1 chiếc rơi tại chỗ). Đây là trận đánh điển hình của một Tiểu đoàn tên lửa phòng không đánh máy bay B52 đạt hiệu suất chiến đấu cao, tiết kiệm đạn. Thành công của phương pháp bắn phát một (một đạn diệt một máy bay) của Tiểu đoàn 57 có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong việc bảo đảm đạn cho tên lửa đang gặp khó khăn.

        Ngày 03 tháng 9 năm 1973, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

        Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng:

        - 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất
        - 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì
        - 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba
        - 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN NGHĨA

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74158537_530916414304910_2015488883403259904_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFaZdVG5SrPun0T3z-4jMWNNu9Qgn6nMMVWBxYGmmZl3voyEtyLXYEXC1FVvrcSxcbrL0GCWEhm3imZDPjGfT78PYukfWxxrDVqk74ceQCwsw&_nc_ohc=AVxzjSoDWjQAQlFgUMSynGAa4bvBKCN9PvpeclT14hoLDjx_uHKGyCYtQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7fe62b14fff51ed4de9125363c695168&oe=5E418EED)
       

        Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Đại đội phó Đại đội 11 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân 927.

        Từ 23 tháng 6 đến 23 tháng 12 năm 1972, Nguyễn Văn Nghĩa đã 7 lần xuất kích đạt hiệu quả, lần nào cũng hoàn thành nhiệm vụ. Anh bắn 7 quả tên lửa, hạ 5 chiếc máy bay Mỹ.

        Trong hai ngày 23 và 24 tháng 6 năm 1972 trên vùng trời Bắc Thái, khi phát hiện địch dù chúng đông gấp 5 lần, Nguyễn Văn Nghĩa vẫn bĩnh tĩnh bắn rơi 2 chiếc F-4. Mục tiêu được bảo vệ an toàn.

        Ngày 6 tháng 10 năm 1972 tại không phận Hà Bắc anh chỉ huy Biên đội hai chiếc chiến đấu với 16 chiếc máy bay địch. Lực lượng quá chênh lệch và chúng bay ẩn nhiều hướng ở các độ cao khác nhau, yểm trợ cho nhau khá chặt chẽ, Nguyễn Văn Nghĩa mưu trí dũng cảm chiến đấu, bắn 1 quả tên lửa rất chính xác, hạ 1 chiếc máy bay và chỉ huy đồng đội bắn rơi 1 chiếc máy bay khác. Số máy bay còn lại của địch hoảng hốt bỏ chạy. Giữ vững được mục tiêu. Lúc nào anh cũng sẵn sàng chiến đấu. Ra trận là quyết thắng. Nguyễn Văn Nghĩa luôn chịu khó học hỏi, nghiên cứu tích cực rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật bay, phóng tên lửa thuộc loại giỏi, luôn tích cực nhiệt tình giúp đỡ đồng đội.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 4 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 3 tháng 9 năm 1973, Nguyễn Văn Nghĩa được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Một, 2019, 10:57:02 AM

ANH HÙNG PHẠM TUÂN

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78588681_530916394304912_7544467177659695104_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEnbKap0TLr45YvKy37xNiChtU5x0aaZ8ycIJSdA8yrjfKX6_3xHKi7jy-KPIA_RH8aovw_ik-TEtq9CAH44SQeGdwBOwdCdwGY7Jn6PFNnuQ&_nc_ohc=xpfgLgVlsPcAQmyliB3wX_7Ala8NQqVcSVu20vCXJt4opu8NzpxrXZemQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c340d7a908e4f0cdf50f4713ce9e18e3&oe=5E87D90F)


        Anh hùng Phạm Tuân sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy Trung đội trưởng thuộc Đại đội 5 máy bay tiêm kích MiG-21, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Trong thời gian từ ngày 18 đến 29 tháng 12 năm 1972, máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội. Phạm Tuân xung phong trực chiến liên tục, nhiều khi suốt cả ngày đêm. Đồng chí luôn chủ động xin được cất cánh, đánh máy bay B52 địch.

        Đêm 18 tháng 12 năm 1972, khi được lệnh cất cánh, mặc cho máy bay địch đang bắn phá sân bay, Phạm Tuân nhanh chóng vận động qua hố bom đến nơi để máy để lập tức cất cánh. Địch phóng tên lửa khi phát hiện máy bay của đồng chí bay lên. Bĩnh tĩnh tránh tên lửa địch, Phạm Tuân đến khu vực chiến đấu kịp thời. Khi được lệnh hạ cánh, máy bay địch vẫn đang đánh ở sân bay, hệ thống

        thông tin liên lạc đèn dấu, đường băng sân bay hỏng, đồng chí vẫn hạ cánh an toàn.

        Đêm 27 tháng 12 năm 1972, nhiều tốp B52 bay từ hướng Tây Bắc bay vào đánh phá Hà Nội, được lệnh cất cánh, Phạm Tuân nhanh chóng tiếp cận khu vực có máy bay địch xin công kích. Lúc này máy bay F-4 bay ở nhiều độ cao để bảo vệ B52 rất chặt chẽ. Đồng chí dũng cảm xông thẳng vào tốp B52, bắn hai quả tên lửa, hạ tại chỗ 1 chiếc B52 rồi trở về hạ cánh an toàn. Phạm Tuân luôn nghiên cứu rèn luyện nên đã lái thành thạo hai loại máy bay MiG-17 và MiG-21 trong mọi điều kiện thời tiết.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 3 tháng 9 năm 1973, Phạm Tuân được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN GIẰNG

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75472821_530916427638242_5198031650847457280_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeETXL1Ou7ibGolgkCKw_G6NCzkcSn9B5DRbo_04fh5Zzzg67AYdBNMxWdi6ft5MQgJVUMciktNg8DHrq33WRP2737HSV6lKre_evxQql-vAWg&_nc_ohc=beE-foNT2lgAQmt4VMzAVqPvs6qCu-oMETinjdlv2vsQrfibEnIEvK6Pg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=67453f26c54eca22cb8637627c6fe4f0&oe=5E880662)
         

        Anh hùng Nguyễn Văn Giằng sinh ngày 7 tháng 1 năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Tiên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng sĩ, Trung đội trưởng Rađa, Đại đội 46, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn ra đa 293, Đoàn Phòng không 373).

        Từ năm 1968 đến năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Giằng làm trắc thủ ra đa phục vụ cho các Lực lượng Phòng không và Không quân chiến đấu. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chịu khó nghiên cứu học hỏi, nắm chắc phương tiện, khí tài, nên lần nào máy bay địch bay vào đồng chí cũng phát hiện nhanh, thông báo kịp thời, chính xác.

        Đồng chí Nguyễn Văn Giằng đã cùng kíp chiến đấu phát hiện được 1.500 lần tốp máy bay địch ở độ cao 200 đến 300 mét (độ cao rất khó phát hiện) và rút được nhiều kinh nghiệm tốt cho binh chủng về phát hiện và theo dõi máy bay địch ở độ cao thấp.

        Ngày 6 tháng 8 năm 1969, thời tiết xấu, mây nhiều, 1 máy bay C-130 mang 1 máy bay trinh sát không người lái từ biển vào; đồng chí phát hiện nó từ xa (170 ki-lô-mét) và luôn bám sát hướng, đường đi. Khi cách bờ biển Nam Hà 100 ki-lô-mét, chiếc C-130 thả chiếc máy bay không người lái bay vào. Đồng chí Nguyễn Văn Giằng kịp thời thông báo cho Lực lượng phòng không chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt, bắn rơi chiếc máy bay trinh sát. Từ đó giúp Trung đoàn rút được kinh nghiệm về cách đánh máy bay trinh sát không người lái do máy bay C-130 thả vào.

        Ngày 23 tháng 5 năm 1972, 32 lần chiếc máy bay địch ở nhiều hướng, nhiều độ cao thả nhiễu và vào đánh phá Hải Phòng. Do trình độ kỹ thuật giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, đồng chí đã theo dõi, bám sát mục tiêu từ xa 220 ki-lô-mét, thông báo số lượng, kiểu loại máy bay địch cho các đơn vị phòng không chiến đấu bắn rơi 4 máy bay địch.

        Ngày 11 tháng 7 năm 1972, 32 lần chiếc máy bay địch thả nhiễu dày đặc, vào đánh Hà Bắc, đồng chí theo dõi sát, thông báo kịp thời, chính xác cho các đơn vị chiến đấu tốt.

        Đồng chí Nguyễn Văn Giằng luôn tranh thủ mọi thời gian học tập, đi sâu nghiên cứu kỹ thuật, sử dụng thành thạo khí tài, trang bị, phát hiện, bám sát máy bay địch trong nhiều tình huống phức tạp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

        Ngày 3 tháng 6 năm 1973, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng:

        - 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì
        - 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba
        - 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba;
        - 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng;
        - 1 Huy hiệu Bác Hồ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 10:49:38 PM

ANH HÙNG NGUYỄN CÔNG TƯỜNG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76906865_530916454304906_5931248710771015680_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeEQXbHfGJ-_5dYqs4k7-p4Q7fLorFqLqZf5VFaV7JLjjH7Go9vRWFVF62GGZz_xEFp77MJpOxL7Rb3A644d5L6laQGREfRkntvzI7JfcWrYvA&_nc_ohc=YG2dk9JWOuMAQnKv4ajZIdWOwQiIl-S9tTouCJMdG6i0LXCSGlop3z4LQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3a3da496d42a59c725cf4a2f14ecb05b&oe=5E3FB308)
         

        Anh hùng Nguyễn Công Tường sinh ngày 10 tháng 1 năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở Thôn Tân Bình 1, xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá. Khi được tuyên dương Anh hùng: Thượng sĩ, tiểu đội trưởng lái xe Đại đội 13, Tiểu đoàn 105, Trung đoàn pháo phòng không 280, Đoàn Phòng không 367.

        Từ năm 1964 đến năm 1972 đồng chí lái xe kéo pháo cao xạ cơ động trên nhiều khu vực địch đánh phá ác liệt (đường 12, 15, 16, 20 ...) và nhiều khu vực thuộc tỉnh Quảng Bình (cũ). Trong điều kiện máy bay địch đánh phá ác liệt, đường hẹp, xe phần lớn đã chạy quá thời gian sử dụng, đồng chí vẫn kiên quyết bám xe, bám đường, kéo pháo, bảo đảm cho đơn vị chiến đấu tốt. Đồng chí đã đưa 724 lần khẩu pháo và 29 lần chuyến xe chở đạn vào trận địa an toàn.

        Đồng chí Nguyễn Công Tường luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, sử dụng, bảo quản, giữ gìn xe tốt, có trình độ sửa chữa giỏi. Hàng chục lần đồng chí đến nơi địch hay đánh phá, tháo phụ tùng ở những xe bị hỏng nặng, đưa về thay thế vào những bộ phận hư hỏng ở xe mình và xe đồng đội, 3 lần đồng chí nhận xe hỏng nặng chữa thành xe chạy tốt. Đồng chí đã lái 10 vạn ki-lô-mét an toàn trên nhiều đoạn đường xấu, địch đánh phá ác liệt

        Tháng 11 năm 1968, sau khi kéo pháo phục vụ đơn vị bắn rơi 2 máy bay Mỹ ở đường 20, địch đánh bom vào trận địa, một số pháo thủ bị thương. Mặc cho máy bay địch đang hoạt động, đồng chí dũng cảm lái xe chở thương binh về viện quân y an toàn. Sau đó đồng chí lại đưa xe về trận địa kéo pháo đi nơi khác.

        Tháng 4 năm 1969 khi kéo pháo đến trọng điểm Phu La Nhích (đường 20), địch đánh bom, xe cháy 2 lốp sau, đồng chí bình tĩnh dùng mọi phương tiện dập lửa, cứu xe, cứu pháo.

        Tháng 11 năm 1971, Đồng chí bị đau khớp và sốt rét nặng, đang điều trị ở viện thì được tin đơn vị đi chiến đấu, tuy sức khoẻ chưa hồi phục, đồng chí vẫn xin ra viện sớm. về đơn vị, thấy có một xe cũ, hỏng nhiều bộ phận, đồng chí tích cực tìm phụ tùng thay thế, sửa chữa và chỉ sau 2 ngày đã chữa xong chiếc xe, kịp thời đưa pháo vào chiến trường.

        Ngày 16 tháng 4 năm 1972 ở ấp Ca Lu (Quảng Trị) địch pháo kích làm xe hỏng két nước, cháy lốp xe, đồng chí nhanh chóng đi kiếm phụ tùng về sửa chữa, thay thế. Nhờ chữa được xe, đồng chí đã kéo pháo cho đơn vị cơ động vào trận địa đúng thời gian, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 4 máy bay Mỹ.

        Ngày 15 tháng 5 năm 1972 ở Bến Than (Quảng Trị) trong lúc máy bay địch ném bom cháy vào trận địa, đồng chí dũng cảm xông vào dập lửa cứu pháo. Hành động của đồng chí đã cổ vũ đơn vị làm theo cứu được 2 khẩu pháo. Sau đó tuy mắt bị đau nặng, đồng chí vẫn lái xe liên tục 3 đêm, đưa pháo vào Ái Tử, kịp thời chi viện cho bộ binh chiến đấu.

        Đồng chí Nguyễn Công Tường luôn gương mẫu đi đầu trong mọi công tác, sẵn sàng giúp đỡ đồng đội. Hơn 20 lần đồng chí kéo xe, kéo pháo giúp đơn vị bạn ra khỏi nơi địch hay đánh phá.

        Ngày 31 tháng 12 năm 1973, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng:

        - 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba;
        - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba;
        - 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba;
        - 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng;
        - 4 lần được danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng;
        - 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 10:50:29 PM

ANH HÙNG KIỂU VĂN TỊNH

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77199494_530916487638236_5615841478082297856_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFOUagJIoG4Wb-7qcfRfKI5paJw-2LgF57zXFPst1IPbhtHxhyZA_TY1r5wct_Ktp5ke3RIezwLcJGs1vzarK4th0pYr04xRvsyqkVVjIWLhA&_nc_ohc=Ks37M-a0JKsAQnFBVrm__YBT_LMQbgLM4Ll_vOoEw8yNLvbilcBNKj_uQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=aa1d55e26ef16ff87f865dd68ae29990&oe=5E4DE659)
         

        Anh hùng Kiều Văn Tịnh sinh ngày 20 tháng 2 năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Trung uý, sĩ quan điều khiển tên lửa Tiểu đoàn 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Đoàn Phòng không 363.

        Từ năm 1965 đến năm 1972, đồng chí Kiều Thanh Tịnh tham gia đánh gần 100 trận, bắn máy bay Mỹ ở khu 4 (cũ), Hà Nội, Hải Phòng. Trận nào đồng chí cũng bình tĩnh, dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Khi làm trắc thủ cự ly, đồng chí Kiều Thanh Tịnh đã cung cấp các phần tử, độ cao, độ xa của máy bay địch chính xác, góp phần tích cực cùng kíp trẳc thủ bắn rơi 8 máy bay Mỹ.

        Khi làm sĩ quan điều khiển, đồng chí luôn hăng say chiến đấu, nhiều ngày trực chiến 13-14 giờ liền. Từ tháng 8 năm 1971 đến tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn chỉ có mình đồng chí là sĩ quan điều khiển. Mỗi khi báo động, đồng chí đều có mặt kịp thời ở vị trí chiến đấu. Đồng chí đã điều khiển đạn chính xác trong nhiều tình huống phức tạp như: địch gây nhiễu bằng nhiều loại, thay đổi độ cao, phóng tên lửa vào trận địa, mục tiêu xuất hiện bất ngờ ở hướng đối diện đồng chí đã trực tiếp điều khiển tên lửa bắn rơi 11 máy bay Mỹ (có 2 máy bay B52, 4 máy bay F-4, 1 máy bay AC-130, 2 máy bay AD-6, 2 máy bay trinh sát không người lái); 53 lần đồng chí phát hiện tên lửa địch phóng vào trận địa, lần nào đồng chí cũng bình tĩnh xử trí vô hiệu hoá tên lửa của địch, hạn chế được thiệt hại cho đơn vị.

        Ngày 16 tháng 5 năm 1971, tại Hà Tĩnh, 1 máy bay AC-130 lượn vòng hẹp và thấp chuẩn bị đánh phá vào trận địa. Đồng chí đã điều khiển 1 quả đạn tên lửa bắn rơi máy bay.

        Ngày 16 tháng 4 năm 1972, địch cho nhiều tốp máy bay B52 đánh phá Hải Phòng. Mặc dù địch thả nhiều loại nhiễu, cho nhiều máy bay đi kèm, đồng chí vẫn bám sát mục tiêu chủ yếu, điều khiển đạn chính xác, bắn rơi 1 chiếc B-52. Buổi chiều, 1 máy bay trinh sát không người lái vào trinh sát khu vực vừa đánh phá, đồng chí đã điều khiển 1 quả đạn bắn rơi máy bay.

        Ngày 6 tháng 8 năm 1972, tại Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), địch phát hiện trận địa tên lửa của ta, chúng phóng tên lửa từ máy bay xuống, đồng chí vẫn bình tĩnh bám sát mục tiêu, kịp thời “gạt” tên lửa địch đi chệch ra ngoài trận địa, sau đó tiếp tục điều khiển đạn bắn rơi 1 máy bay A-7 (đây là chiếc máy bay thứ 3.800 bị bắn rơi trên miền Bắc).

        Ngày 16 tháng 8 năm 1972, trong khi đang theo dõi địch ở một hướng, thì bất ngờ địch ở hướng đối diện lẻn vào đánh phá, đồng chí chỉ huy kíp trắc thủ bắt được mục tiêu, phóng 2 quả đạn tên lửa. Địch phát hiện được tên lửa ta, chúng đột nhiên hạ thấp độ cao xuống 600 mét (độ cao khó bắn), nhưng đồng chí vẫn bình tĩnh điều khiển tên lửa cho nổ trúng máy bay địch, hạ 1 chiếc AD-6.

        Đồng chí Kiều Thanh Tịnh luôn chịu khó học tập, nghiên cứu, tích cực hướng dẫn, giúp đỡ kíp trắc thủ có trình độ chuyên môn giỏi, bắt được mục tiêu trong nhiều tình huống.

        Ngày 31 tháng 12 năm 1973, Kiều Thanh Tịnh được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 11:03:58 PM

ANH HÙNG NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78328769_534128790650339_291737809654382592_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeFRH5HFRbMVJsT95S_0Oqg5mqkwZRQgD1LoKxsJyGGV0MiQYn5n1xPsgbjXypqRzVWoSjVuYnVjc2LrfaNE3kJyMjKygHQsUEDXIUDUy-CKzA&_nc_ohc=W3V6wJvz9jYAQlNmb6AXUj5Xw0r0Wu_4uprjH83fE42rPCtHOibHRBt9g&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=baf7e0f499d991773df6c162e23ae50f&oe=5E7C4279)
         

        Anh hùng Nguyễn Trường Xuân sinh ngày 6 tháng 2 năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở thôn Cao Lãm, xã Cao Thành , huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Thượng sĩ, Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn Tên lửa Phòng không 275.

        Từ năm 1966 đến năm 1972, đồng chí Nguyễn Trường Xuân tham gia chiến đấu bắn máy bay Mỹ ở Hà Nội, Tây Bắc, Khu 4... trận đánh nào cũng dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi làm trắc thủ góc tà, đồng chí hiệp đồng chặt chẽ với kíp chiến đấu, tham gia đánh 12 trận, phát hiện mục tiêu và thông báo độ cao kịp thời, bám sát chính xác, xử lý nhiều tình huống phức tạp, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 3 máy bay Mỹ.

        Từ tháng 3 năm 1972, là sĩ quan điều khiển tên lửa, kiêm trưởng xe YA. Đồng chí tích cực học tập, nghiên cứu rút kinh nghiệm, nhanh chóng nắm vững kỹ thuật, sử dụng thành thạo trang bị, khí tài, đánh ngày, đánh đêm đều giỏi. Những tình huống phức tạp như: có nhiều nhiễu, cùng một lúc máy bay địch bay vào nhiều hướng, nhiều loại, đống chí vẫn bình tĩnh chọn đúng hướng, đúng tốp, diệt được mục tiêu quan trọng. Đồng chí đã tham gia đánh 34 trận, trực tiếp điều khiển tên lửa bắn rơi 13 máy bay Mỹ (có 1 chiếc B52).

        Ngày 12 tháng 3 năm 1967, làm nhiệm vụ trắc thủ góc tà, đồng chí hiệp đồng chặt chẽ với kíp trắc thủ, phát hiện địch từ xa, thông báo kịp thời, chính xác, cùng đơn vị bắn rơi 1 máy bay địch.

        Ngày 24 tháng 4 năm 1972, nhiều tốp máy bay phản lực có cả máy bay B52 vào đánh phá thị xã Thanh Hoá, nắm được thủ đoạn hoạt động của máy bay địch, đồng chí kịp thời phát hiện và đã cùng kíp trắc thủ điều khiển tên lửa, hạ 1 máy bay B52 của Mỹ.

        Ngày 6 tháng 8 năm 1972, nhiều máy bay địch vào đánh phá khu vực Hàm Rồng (Thanh Hoá). Đang theo dõi mục tiêu thì máy đo phương vị bị hỏng, đồng chí bình tĩnh, nhanh chóng sửa chữa được máy, bảo đảm khí tài tốt, tiếp tục bám sát mục tiêu, điều khiển 1 quả đạn tên lửa diệt 1 máy bay A7 của Mỹ.

        Ngày 25 tháng 10 năm 1972, bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược ở khu vực Thanh Hoá, đồng chí luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, kíp trắc thủ đã phát hiện mục tiêu từ xa, kịp thời phóng 2 quả đạn tên lửa diệt 1 máy bay A7 của Mỹ, bảo vệ an toàn đoàn tàu chở hàng vào chiến trường.

        Ngày 28 tháng 11 năm 1972, ở trận địa Hoằng Thắng, (Hoằng Hoá, Thanh Hoá), đài 1 phát hiện có nhiều tốp mục tiêu ở hướng Đông Bắc Thanh Hoá. Lệnh chiến đấu vào cấp 1. Trên màn hiện sóng của đồng chí Tiểu đoàn trưởng tốp mục tiêu 1 bay vào cự ly 30 ki-lô-mét, phương vị 040 độ cao 3 ki-lô-mét, khi cự ly còn 24 ki-lô-mét đồng chí Tiểu đoàn
trưởng hạ lệnh phóng, đồng chí Nguyễn Trường Xuân ấn nút phóng. Khi quả tên lửa gần tới mục tiêu thì phát hiện máy bay địch phóng tên lửa Sơrai xuống trận địa tên lửa ta, đồng chí đã bình tĩnh động viên các trắc thủ, đồng thời bằng động tác kỹ thuật thành thục của mình đã gạt được tên lửa địch ra ngoài trận địa và điều khiển đạn chính xác tới mục tiêu, hạ tại chỗ 1 máy bay AD6, bảo đảm an toàn cho đơn vị.

        Đồng chí tích cực học tập, nắm vững khoa học kỹ thuật, sử dụng thành thạo máy móc, trang bị, sửa chữa được nhiều trường hợp khí tài hỏng hóc phức tạp, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, kỷ luật, gương mẫu, đoàn kết, khiêm tốn. Hết lòng giúp đỡ đồng đội.

        Ngày 31 tháng 12 năm 1973, đồng chí đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 11:05:30 PM
   
ANH HÙNG NGUYỄN NHẬT CHIÊU
     
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74916260_534128810650337_8598776744251490304_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFwWvZGVcxXeRSpmQd38XvYJOgVe1l-fOYUW_K3PgZ9KiN3bh2r4VZZ-9WAAHnAMAJxW8ntwfhGOucqKcBS9rm0s-5tUNCrhVEsqkpdxd8iMw&_nc_ohc=jsmkNcs2fpYAQlec8v-KrMFFMRZwGPgpSghs4d8KCQV_zSHwyXTH3FSNA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=14b56522dc6cf916bb5430a3f2e841ce&oe=5E427086)


        Anh hùng Nguyễn Nhật Chiêu sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Quốc Tuấn, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải dương. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thiếu tá, Trung đoàn phó, Đoàn Không quân 927.

        Từ tháng 9 năm 1965 đến tháng 12 năm 1967, Nguyễn Nhật Chiêu xuất kích 13 lần, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, chỉ huy Biên đội bắn rơi 8 chiếc khác.

        Ngày 20 tháng 9 năm 1965 trên vùng trời Hà Bắc, anh lái chiếc MiG-17 xông thẳng vào đội hình 5 máy bay địch, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-105. Khi về đến sân bay thì máy bay hết dầu, Nguyễn Nhật Chiêu bĩnh tĩnh điều khiển máy bay hạ cánh an toàn.

        Ngày 23 tháng 8 năm 1967, từ nhiều hướng, nhiều tầng, 36 chiếc máy bay vào đánh phá Thủ đô Hà Nội Chúng bay đội hình dài, yểm trợ cho nhau khá chặt chẽ. Anh cùng Biên đội nhanh chóng cho máy bay tăng tốc và độ cao rồi lao vào đội hình máy bay địch. Nguyễn Nhật Chiêu bắn 1 quả tên lửa hạ được 1 chiếc và yểm hộ cho Biên đội hạ 1 chiếc khác. Khi đội hình máy bay địch rối loạn bỏ chạy, anh đã bám theo bắn thêm 1 quả tên lửa và hạ thêm 1 chiếc nữa. Trên bầu trời Hưng Yên, 4 chiếc máy bay địch tập trung vây máy bay của Nguyễn Nhật Chiêu, anh bĩnh tĩnh chuyển từ thế bị động sang chủ động tấn công địch, bắn 1 quả tên lửa diệt 1 chiếc F-4, những chiếc khác hoảng sợ tháo chạy.

        Năm 1972, là Trung đoàn phó Nguyễn Nhật Chiêu chỉ huy đơn vị chiến đấu 10 trận, đạt hiệu quả bắn rơi 6 máy bay Mỹ.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 31 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Nhật Chiêu được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN ĐINH TÔN

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77389600_534128893983662_8195943188804927488_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeFdDLFt42eOWqT7MExSNYgDcnxaAg17_sXYTjt-U5JeeD3iK-_xuPdczAppwdmu1cDTLcRZcb_skI7fyMuIYvfoqooMUVl6XYc1elmc3KiwNg&_nc_ohc=rf-heZG51ZkAQmLFtw6p51DEpyv8XVmgaHS31et3wcsMmG9hEs3qJf5mg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=653ec5a3a198e83824382fffbac76058&oe=5E803471)
       

        Anh hùng Nguyễn Đinh Tôn sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trung đoàn phó Đoàn Không quân Yên Thế.

        Từ năm 1968 đến năm 1972, Nguyễn Đinh Tôn đánh nhiều trận, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, hạ 4 máy bay Mỹ bằng 5 quả tên lửa. Có lần đang chiến đấu, máy bay bị hỏng, đáng lẽ phải nhảy dù những Nguyễn Đinh Tôn bĩnh tĩnh điều khiển máy bay hạ cánh an toàn.

        Ngày 15 tháng 4 năm 1968, trên vùng trời tỉnh Ninh Bình, sau khi bắn 1 quả tên lửa hạ 1 máy bay trinh sát không người lái thì máy bay của anh bị tắt máy ở độ cao 14 ki-lô-mét. Được phép nhảy dù, nhưng Nguyễn Đinh Tôn bĩnh tĩnh cho hạ thấp độ cao xuống 4 ki-lô-mét, mở máy 2 lần, máy bay mới nổ máy và điều khiển được máy bay hạ cánh an toàn.

        Ngày 26 tháng 5 năm 1968, trên vùng trời Vĩnh Phú, anh lại bắn hạ một máy bay không người lái bằng 1 quả tên lửa.

        Ngày 16 tháng 6 năm 1968, trên vùng trời Nghệ An, thấy 4 máy bay F-4 của địch đang bay về phía mình, anh cho máy bay tăng tốc độ, lao thẳng vào đội hình địch, bắn 1 quả tên lửa hạ 1 chiếc F-4.

        Tháng 4 năm 1971, tại Quảng Bình tuy địa hình hiểm trở lại gần tối, Nguyễn Đinh Tôn cho hạ thấp độ cao bám sát mục tiêu, bắn 1 quả tên lửa hạ 1 máy bay OVl0 đang bay trên trục đường 20. Anh thường rút kinh nghiệm sau mỗi trận đánh, có nhiều sáng kiến tốt về bắn máy bay B52 ban đêm, Anh là người đầu tiên cho máy bay phản lực hạ cánh xuống sân bay Đồng Hới chật hẹp, rút được kinh nghiệm về hạ và cất cánh trên sân bay dã chiến.

        Đồng chí Đinh Tôn đã được tặng thưởng 2 huân chường Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 2 lần là chiến sĩ Quyết thắng, 7 lần là chiên sĩ Thi đua. Ngày 31 tháng 12 năm 1973, Nguyễn Đinh Tôn được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Một, 2019, 11:08:17 PM
     
ANH HÙNG TRƯƠNG KHÁNH CHÂU

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78261465_534128927316992_7805475338124787712_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGpBmTMXRxQ0nHpfJ8GT4ITXnwPi23-iliCoXw__pIWtRibfqXORcNKmjT8ib2Jhzcl6BF0BM03icjShStHABvMzaKNT61y6S_0D4UsVXqeXA&_nc_ohc=T90OsXg-VHgAQnRaoVNQr6TKuVvgTaWoOhwH2G3vB8XkassIki2uJz0qw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0946917e90e979b90c3a02ad8c0e441d&oe=5E489180)
       

        Anh hùng Trương Khánh Châu sinh năm 1935, dân tộc kinh, quê ở xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Kỹ sư sửa chữa máy bay thuộc Phòng Kỹ thuật Đoàn 371. Từ năm 1966, Trương Khánh Châu làm nhiệm vụ kiểm tra hư hỏng, phân cấp, hướng dẫn và trực tiếp sửa chữa máy bay.

        Tính đến năm 1973, Trương Khánh Châu đã cùng tổ kỹ thuật sữa chữ được 221 lần chiếc máy bay, trong đó có nhiều chiếc hỏng nặng, lẽ ra phải gửi đi sửa chữa ở nước ngoài. Đồng chí làm việc không kể ngày đêm, lúc nào có máy bay hỏng là tới tận nơi kiểm tra và trực tiếp sửa chữa. Trương Khánh Châu luôn chịu khó nghiên cứu kỹ thuật, tích cực học hỏi rút kinh nghiệm, phát huy sáng kiến, cái tiến máy bay phục vụ tốt cho chiến đấu.

        Do yêu cầu nhiệm vụ, Lực lượng không quân phải đưa một số máy bay vào tuyến trong nhưng sân bay hẹp, ngắn, MiG-17 khó hạ cánh, đồng chí đã nghiên cứu thành công lắp dù, hãm đà cho máy bay MiG-17 hạ cánh được xuống các sân bay trên. Có loại máy bay chuyên dùng để trinh sát, Trương Khánh Châu nghiên cứu cải tiến hệ thống mang bom và đã mang được 3.000 ki-lô-gam bom, chiến đấu tốt. Đồng chí tham khảo tài liệu có giá trị như: Quá trình sửa chữa thân cánh Mig-15, MiG-17, MiG-19... nguyên lý bay siêu âm; cơ học kết cấu máy bay... Ngoài ra trương Khánh Châu còn mở nhiều lớp kỹ thuật gò, hàn nâng cao tay nghề cho 27 người.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần là Chiến sĩ Quyết thắng, được tặng 13 Bằng khen và Giấy khen. Ngày 31 tháng 12 năm 1973, Trương Khánh Châu được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ VĂN LẪM

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73244217_534128947316990_4804940438437888000_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeGJVAwM4AsfUMDvLTvocPxCYf736_9l4lRr5pGAEolMCW5g7BEyO0dJBxNN7GN1OhQNYXu0bsd4cA4qKFYkFAjTsHSvPBgzHmej45hjTfB3Zw&_nc_ohc=7hPmZNTX1icAQlp3H9oH7pjJ0UgOQWQWdjAIUPPMSFDX63jos7d8IAV7w&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=887a423c3d4db4dbb9595d58bc99dd4d&oe=5E50371F)
 

        Liệt sĩ Anh hùng Lê Văn Lẫm sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi được tuyên dương Anh hùng Lê Văn Lẫm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo cao xạ 591, Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Nay Trung đoàn pháo cao xạ 591 thuộc Đoàn Phòng không 377.

        Từ năm 1966 đến năm 1972 đồng chí Lê Văn Lẫm tham gia chiến đấu bắn máy bay địch bảo vệ tuyến đường Trường Sơn. Lúc làm phó phòng cao xạ thuộc Bộ tư lệnh, đồng chí thường xuyên đi sát cơ sở chiến đấu, tích cực nghiên cứu những thủ đoạn đánh phá của địch, đề xuất nhiều biện pháp hay giúp cấp trên chỉ đạo các đơn vị pháo cao xạ bắn rơi nhiều máy bay, bảo vệ các đoàn xe vận tải và các đơn vị hành quân vào chiến trường an toàn. Khi làm Trung đoàn trưởng pháo cao xạ 591 (đồng chí là Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn pháo phòng không 591); trong các trận đánh, đồng chí Lê Văn Lẫm luôn luôn nêu cao tinh thần chủ động, mưu trí, linh hoạt, bị thương vẫn không rời vị trí chiến đấu, chỉ huy các đơn vị bắn rơi 120 máy bay địch và góp phần xây dựng Trung đoàn trở thành đơn vị anh hùng.

        Trong chiến dịch đường 9 Nam Lào (năm 1971), mặc cho máy bay địch bắn phá rất ác liệt, đồng chí vẫn luôn có mặt ở trận địa, bình tĩnh, gan dạ chỉ huy Trung đoàn bắn rơi 101 máy bay. Đặc biệt, ngày 5/3 năm 1971, đơn vị bắn rơi tại chỗ 10 máy bay lên thẳng chở đầy lính, bẻ gãy một mũi đổ bộ đường không của địch.

        Trong chiến dịch Quảng Trị (năm 1972), các trận địa của ta đều bị địch đánh phá, đơn vị có thương vong, nhưng đồng chí vẫn động viên các chiến sĩ ngoan cường chiến đấu bắn rơi 13 máy bay phản lực, bảo vệ được mục tiêu.

        Ngày 5 tháng 7 năm 1972, đồng chí đã anh dũng hi sinh sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí Lê Văn Lẫm là một cán bộ chỉ huy mẫu mực, luôn luôn chăm lo đến sự tiến bộ của đơn vị, được các chiến sĩ tin yêu mến phục.

        Ngày 3 tháng 6 năm 1976, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 10:44:33 PM

ANH HÙNG HOÀNG VĂN QUYẾT

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/77411991_534128980650320_849921590622683136_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFYfPDzt3Ja4m1NBUyldM_dhoRyzMvUmLKx_dKyA1kGXGQMjgeMdNcoGSLdwf98dRIh6iXYDjie4KbCR74cynf7osppwQDNoWR5LNSA-nnjCA&_nc_ohc=zufKqdhFpG0AQl2MG-h6OTi2HNlgadglaOmkc8gMp7JHyN7TxPoKfCEYQ&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=27ca701c5931581013414ec38f725025&oe=5E50CC1C)
         

        Anh hùng Hoàng Văn Quyết sinh năm 1952, dân tộc Tày, quê ở xã Y Tịch, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là Chuẩn uý, Trung đội trưởng, Đại đội 3, Tiểu đoàn 172 tên lửa vác vai, Đoàn Phòng không 367.

        Từ năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, Đồng chí Hoàng Văn Quyết tham gia chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Đồng chí đã bắn rơi 14 máy bay địch, gồm 9 kiểu loại khác nhau (F-5, A-37, AD-6, C-130, C-123, C-119, L năm 19, UH-1A, CH-47) trong đó có 12 chiếc rơi tại chỗ. Đồng chí là một trong những chiến sĩ bắn rơi nhiều máy bay nhất trong Quân chủng Phòng không - Không quân bằng Tên lửa vác vai (A-72).

        Ngày 19 tháng 9 năm 1972, Trung đội nhận nhiệm vụ phối thuộc với bộ đội chốt chặn trên đường số 13 (đoạn Lai Khê), tất cả anh em đều bị sốt rét và ốm đi viện, còn lại một mình nhưng đồng chí vẫn xin đi đánh địch. Địch cho 2 máy bay AD-6 đánh phá trận địa chốt. Đồng chí kịp thời bắn rơi tại chỗ 1 chiếc, trong đó có tên thiếu tá nguỵ đi trên máy bay, lập chiến công đầu của Tiểu đoàn tên lửa vác vai.

        Ngày 25 tháng 10 năm 1972, sau 7 ngày đêm hành quân mang vác nặng, đến khu vực Hà Đông (Củ Chi) đồng chí nhanh chóng chỉ huy đơn vị triển khai chiến đấu ngay. Trong suốt cả trận đánh ngày hôm đó, đồng chí đã bắn rơi 2 máy bay địch (1 L19, 1 AD-6) chi viện đắc lực cho bộ binh chiến đấu.

        Ngày 17 tháng 11 năm 1973, tại thị xã Gia Nghĩa, đồng chí cùng đơn vị bắn rơi 1 máy bay C-123.

        Ngày 6 tháng 12 năm 1973, tại Kiến Đức, đồng chí và đơn vị đã bắn rơi tại chỗ máy bay C-130.

        Đầu tháng 12 năm 1973, địch đánh lấn chiếm Bù Bông, mặc dù chúng đánh phá vào trận địa rất ác liệt, nhưng đồng chí vẫn bám trận điạ, chọn đúng thời cơ bắn 2 quả đạn, hạ tại chỗ 2 máy bay (1 C-130, 1 C-123).

        Trong 2 ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1974, đồng chí Hoàng Văn Quyết tham gia chiến đấu ở khu vực Đức Huệ (tỉnh Long An), bắn rơi 2 máy bay địch (1 L19, 1 AD-6).

        Ngày 13 tháng 1 năm 1975, máy bay A-37 của địch đến bắn phá vào đội hình bộ binh của ta và thả quả cầu lửa để chống đạn tên lửa, Đồng chí Hoàng Văn Quyết đã bình tĩnh chọn thời cơ bắn 1 quả đạn, hạ tại chỗ 1 chiếc A-37. Những chiếc khác phải bỏ chạy.

        Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 28 tháng 4 năm 1975, 2 chiếc F-5 của địch đến đánh phá trận địa của ta. Đồng chí kịp thời phóng 1 quả đạn, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay địch. Đây là một trong những chiếc máy bay địch cuối cùng bị quân dân ta bắn rơi trong trận kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

        Ngày 20 tháng 10 năm 1976, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

                Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng

        - Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân;
        - 3 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba;
        - 3 lần được tặng danh hiệu dũng sĩ bắn máy bay.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 10:46:12 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ BÙI ANH TUẤN

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/76661253_534129007316984_8505959193860112384_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeFqdJO9K_fEnX_tmgW6fdVY4d0ByUAVnbjuO_AZYJuweAmlKc4SqsXBWChaqUVhEXjEEGHVeWiJyXYSlF9803xn8S-kFPNOHf5lVSueFmMZiA&_nc_ohc=caCwS4cCEGAAQmK4Sc-6wzS2NTeRXAsiPygkOl8NMYuoE-AOFAA36GLtw&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=795b6ffbe1d50ab29947ad8721d4bd6b&oe=5E3E05E7)
         

        Anh hùng Bùi Anh Tuấn sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vinh Phúc. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Trung sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 172 tên lửa vác vai A-72, Đoàn Phòng không 367.

        Từ năm 1972 đến tháng 3 năm 1973, đồng chí Bùi Anh Tuấn làm nhiệm vụ bắn máy bay địch bằng Tên lửa vác vai (A-72) ở chiến trường Nam Bộ. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần hăng say đánh giặc, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, kiên quyết bắn rơi máy bay địch. Đồng chí đã phóng đạn chính xác, bắn rơi tại chỗ 6 máy bay (có 2 HU-1A, 1 C-130, 1 CH-54) diệt 80 sĩ quan và giặc lái Mỹ - nguy, đồng chí đã cùng Tiểu đội bắn rơi 2 chiếc khác.

        Ngày 25 tháng 5 năm 1972, máy bay và pháo binh địch bắn phá ác liệt vào trận địa đơn vị tại thị xã Xuân Lộc. Đồng chí bình tĩnh ngắm chính xác bắn hạ tại chỗ 1 máy bay C-130, lập công đầu cho Đại đội, gây khí thế phân khởi tin tưởng vào loại vũ khí mới.

        Ngày 9 tháng 9 năm 1972, địch cho 5 máy bay lên thẳng đến đổ quân lần thứ tư ở xã Nhị Bình (huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho cũ) đồng chí đã mưu trí, táo bạo bố trí trận địa ngay giữa cánh đồng trông, bất ngờ phóng một quả đạn, hạ tại chỗ 2 chiếc trực thăng, diệt 30 tên địch trên máy bay, bắt sống 4 tên.

        Ngày 11 tháng 10 năm 1972, do chuẩn bị trận địa tốt, bằng 01 quả đạn, đồng chí bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay CH- 47 chở 41 sĩ quan Mỹ - nguỵ từ Mỹ Tho đi Gò Công (có 1 chuẩn tướng Mỹ, 1 thiếu tướng nguỵ).

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, với tinh thần cảnh giác cao đồng chí Bùi Anh Tuấn phóng một quả đạn, bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay L 19, diệt một tên đại tá nguỵ đang quan sát đường 18 (Cai Lậy - bắc Mỹ Tho) trong cuộc hành quân lấn chiếm của chúng trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1973, đồng chí Bùi Anh Tuấn đã hi sinh trong khi đang chỉ huy đơn vị bắn máy bay địch. Đồng chí đã để lại tấm gương sáng về lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến quyết thắng.

        Đồng chí Bùi Anh Tuân bắn rơi nhiều máy bay, đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất ở Nam Bộ bằng tên lửa phòng không vác vai (A-72).

        Ngày 6 tháng 11 năm 1978, đồng chí được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG DƯƠNG VĂN NGỌ

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/73413121_534129027316982_8925912342919643136_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeF7TzW0-wbn6n3WIjJ_lnYAb-FNbtkpd8AdlJ0tRUrq7XBU4mH9wE7rPivoeRhyszObI83JXsFuWFq3MpEVX1QbrYQjkX8t0plTI4DS_veJgw&_nc_ohc=51vYpSjWqi0AQmR1dJGqAWuJEANsDklNBhPyOUurP6QHt-lD-TiaqPEGg&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=250a53927e24b293f7adca9a414ab50e&oe=5E87FCCE)
         

        Anh hùng Dương Văn Ngọ sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở Thôn Phù Xá Đông, xã Phú Minh, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phú. Khi được tuyên dương Anh hùng, Dương Văn Ngọ là Thiếu uý, Chính trị viên phó Đại đội 14, Tiểu đoàn pháo cao xạ 24, Trung đoàn Pháo cao xạ 591, Bộ Tư lệnh 559. Nay thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân.

        Từ năm 1966 đến năm 1971, đồng chí Dương Văn Ngọ là chiến sĩ lái xe kéo pháo phục vụ đơn vị chiến đấu ở tuyến đường Trường Sơn (Đoàn 559). Đồng chí luôn nêu cao tinh thần vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, kéo pháo vào trận địa nhanh chóng, an toàn, phục vụ tích cực cho đơn vị chiến đấu. Đồng chí đã lái xe kéo pháo đi hơn 5 vạn ki-lô-mét an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Ngày 11 tháng 11 năm 1969, trong lúc đồng chí lái xe Zin 157 chở xăng vượt trọng điểm Tà Lê (Đường 20 Quyết Thắng) thì máy bay địch đến đánh phá. Xe bị trúng đạn, thủng lớp, đồng chí bị 4 vết thương nhưng vẫn cố gắng chịu đựng, dồn hết sực lực lái chiếc xe đã bị xẹp lớp vượt qua trọng điểm, để giải phóng đoàn xe của đơn vị đi sau khỏi bị tắc đường, cả đoàn xe đã vượt qua trọng điểm an toàn. Vì vết thương chảy máu nhiều, đồng chí bị ngất bên tay lái. Tấm gương của đồng chí Dương Văn Ngọ đã được anh em trong đơn vị khen ngợi và học tập.

        Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 2 năm 1971) đồng chí liên tục lái xe, khi kéo pháo di chuyển trận địa, khi chở đạn, chở gạo phục vụ đơn vị chiến đấu, lúc lại chở tù binh. Đặc biệt, có lần đơn vị bị địch bao vây ở trận địa Bản Đông, đồng chí được lệnh cùng một chiến sĩ lái xe khác vượt qua bom đạn lái xe vào cứu pháo quyết không để pháo rơi vào tay quân thù. Đồng chí đã đưa được 4 khẩu pháo và các pháo thủ đến nơi an toàn để tiếp tục triển khai trận địa chiến đấu.

        Từ năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, đồng chí Dương Văn Ngọ là chính trị viên phó Đại đội, luôn gương mẫu trong mọi hành động. Tháng 7 năm 1972, khi đơn vị hành quân di chuyển trận địa về phía Nam sông Ba Lòng (Quảng Trị) phải qua một ngầm nước lũ chảy xiết, với kinh nghiệm nghê nghiệp đồng chí tự mình lái một xe vượt trước để rút kinh nghiệm cho đồng đội và động viên đơn vị vượt qua ngầm an toàn, thoát khỏi trọng điểm địch thường xuyên đánh phá ác liệt đến chiếm lĩnh trận địa đế kịp thời chiến đấu.

        Đồng chí luôn gương mẫu về mọi mặt, khiêm tốn giản dị, được đồng đội tin yêu.

        Ngày 6 tháng 11 năm 1978, đồng chí vinh dự được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng

        - 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất;
        - 2 Huân chương Chiến công hạng Ba;
        - 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất;
        - 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Hai
        - 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba;
        - 1 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 10:47:42 PM

ANH HÙNG VŨ ĐỨC CHÍNH

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/78093350_534129043983647_4957289757425008640_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHg1pFeu2jejfz9dNpTs7ZEurb2lzTCd7VA6qojUvNmeM3Tk8CGCphsu3k-q6DT5SgDwHWEQDhJT9C6FzvUweqkvrcosOES6gflDWrJuA6hoQ&_nc_ohc=eH5siUpPk4YAQnu_vO8VNHZcbtiFjBoMoc5ngaooHBPzsW-cBesEO1CmA&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=2188f1a845d26d83d7d8736681d5f258&oe=5E8AAC92)
         

        Anh hùng Vũ Đức Chính sinh ngày 20 tháng 7 năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở thôn Vân Bối, Xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, thợ sửa chữa ra đa (bậc 5/7), Ban Kỹ thuật Trung đoàn 291, Đoàn Phòng không 373.

        Từ năm 1965 đến năm 1972, đồng chí Vũ Đức Chính làm nhiệm vụ sửa chữa các máy ra đa trên địa bàn từ Thanh Hoá đến Vĩnh Linh. Hoạt động trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn: bom đạn ác liệt, phải đi bộ leo núi tới các trạm, đài, vật liệu thiếu, chuyên môn có hạn..., đồng chí đã nêu cao tinh thần phục vụ, tìm mọi cách sửa chữa các máy ra đa, kịp thời phục vụ chiến đấu. Đồng chí đã sửa chữa được gần 500 lần chiếc các loại máy ra đa khác nhau, đã sửa chữa thành thạo các loại ra-đa sóng mét và ra-đa sóng cm.

        Đồng chí Vũ Đức Chính chịu khó học tập, rút kinh nghiệm trong quá trình sửa chữa. Từ một thợ sửa chữa loại máy trình độ sơ cấp, trở thành thợ sửa chữa bậc 5, có khả năng sửa chữa được nhiều loại máy ra đa khác nhau. Đồng chí tự nghiên cứu và cải tiến nhiều bộ phận thiết bị của máy, trong đó có nhiều sáng kiến và cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn, phục vụ tốt cho chiến đấu. Có những sáng kiến như: Quy trình bảo quản đèn hiện sóng, đế kéo dài thêm 600 giờ sử dụng của đèn; Cải tiến mạch điện trong biến thế động cơ UV- 2 của máy và 513K đảm bảo nâng cao độ tin cậy và tham số chiến đấu, bảo đảm ăng-ten quay bình thường trong điều kiện độ ẩm lớn và cơ động nhiều; Có lần cơ động máy lên núi cao ở Kỳ Sơn (Hà Tĩnh) không có đường cho xe lên, máy phải tháo rời từng khối, dùng sức người đưa lên đỉnh núi để triển khai bảo đảm phục vụ đơn vị chiến đấu, đồng chí đã thiết kế và trực tiếp tổ chức tháo máy đưa lên các đỉnh núi cao lắp ráp lại được an toàn, bảo đảm độ chính xác tạo điều kiện phát hiện tốt mục tiêu bay thấp. Kinh nghiệm này được áp dụng trong toàn binh chủng. Năm 1972 đồng chí đã có sáng kiến hiệu chỉnh các thiết bị đồng bộ của ra-đa phát hiện máy bay B52 từ cự li hơn 240 ki-lô-mét, rút ra quy tắc thao tác ở một số máy ra đa để bắt được mục tiêu B52 ở độ xa mà trước đó không bắt được, đã góp phần quan trọng vào việc phát huy tác dụng của Ra đa chiến đấu cùng với các Lực lượng binh chủng khác trong thời kỳ giặc Mỹ dùng B52 đánh phá Miền Bắc.

        Đồng chí luôn gương mẫu về mọi mặt, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu.

        Ngày 6 tháng 11 năm 1978, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những phần thưởng cao quý đã được trao tặng:

        - Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
        - 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Ba;
        - 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì;
        - 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba;
        - 1 huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

ANH HÙNG TRẦN VĂN XUÂN

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/75446768_534129077316977_5763007785155428352_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFo6jT5Of3QmIoleq9iol9B8g_v6xAgY1aU4ErGlPok1XQKKv_LRHFffi1Rq2QRgNhaAOdvx9ftltE234VM00vvJV-1xRpcvkPehKQb9X6vyg&_nc_ohc=8BNfdejD0aIAQk_o8Q-YC5hb7JNoFOOGNyVm3AdHroQZm5oM3LVZLYx7w&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=1af91417c00559db1d932695cf76f6d0&oe=5E4006CC)
         

        Anh hùng Trần Văn Xuân sinh ngày 26 tháng 11 năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Chính trị viên phó Đại đội 3, Tiểu đoàn 172 tên lửa phòng không vác vai (A72), Đoàn Phòng không 367.

        Từ tháng 2 năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, đồng chí Trần Văn Xuân chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, tham gia chiến đấu 16 trận đánh, trận nào cũng chiến đấu dũng cảm, mưu trí, theo sát bộ binh, bình tĩnh bắt mục tiêu chính xác, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bắn rơi 8 máy bay, gồm 6 kiểu loại: 2 A-37,1 F-4, 1 C-119, 1 AD-6, 2 UH-1A, 1 CH-47 hầu hết rơi tại chỗ. Chỉ huy đơn vị bắn rơi 6 chiếc khác, chi viện cho bộ binh ta chiến đấu.

        Tháng 9 năm 1972 tại sân Bầu Bàng, đồng chí có sáng kiến tạo khung tham số ngắm bắn chính xác máy bay bổ nhào, sử dụng khung điểm đón bắn rơi 1 F-4 .

        Ngày 25 tháng 7 năm 1973, tại Đức Nhuận (Củ Chi, Gia Định) đồng chí Trần Văn Xuân đã bắn rơi 1 máy bay C-119, diệt 14 sĩ quan, có 1 đại tá.

        Tháng 01 năm 1974, tại Sùng Đức, bằng phương pháp bắn đón đồng chí đã bắn rơi 1 máy bay HU-1A; máy bay HU- 1A của Mỹ đồng chí đã cải tiến ống xả, tên lửa vác vai A72 là tên lửa tự dẫn theo nguồn hồng ngoại, bay qua tự huỷ (Đạn không cho tín hiệu đèn còi) nhưng vẫn va chạm vào máy bay và làm rơi máy bay tại chỗ .

        Ngày 5 tháng 12 năm 1974 tại An Lộc, đồng chí Trần Văn Xuân bắn rơi tại chỗ máy bay CH-47 của Mỹ bằng phương pháp bắn đón, diệt 5 sĩ quan, 9 lính nguỵ cùng 2 tấn hàng.

        Đồng chí luôn gương mẫu về mọi mặt, tích cực học tập kinh nghiệm, phát huy sáng kiến, đã tự làm ra khung tham số áp dụng tốt nên đã bắt mục tiêu trên không được nhanh và chính xác. Đồng chí luôn khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu.

        Ngày 6 tháng 11 năm 1978, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 10:49:31 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ TẠ ĐÔNG TRUNG

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/78208308_534129083983643_953524194736340992_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHFuyspmEst0t2_kJ9gjaa014aS3K03eAQA2Z7Z06xgW4RsSpiKF-eCTiXsZ3UeMY9AdQdZxnd0NNAT9shHilvrUwCx9IT7vmtjo9wo5WFqzQ&_nc_ohc=umMKOv-TDsAAQlbTLD6wzSCYblm4P9wGc4-S8pSqs511jYkCEGxiC0CFw&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=fdea6f898676bbd7f15d15d7e8dbd241&oe=5E481864)
         

        Anh hùng Tạ Đông Trung sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở phố Ngọc Lâm, thị trấn Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Thượng úy lái máy bay của Đoàn 937, Đoàn Không quân 372.

        Từ tháng 5 tháng 1975 đến tháng 10 năm 1977, Tạ Đông Trung đánh 11 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Anh cùng đồng đội đánh thiệt hại 2 sở chỉ huy Trung đoàn, 3 trận địa pháo, đánh trúng 2 vị trí hành quân lấn chiếm của địch.

        Trong các ngày 11, 12, 13 tháng 6 năm 1975, Tạ Đông Trung chỉ huy Biên đội đến đánh phá đảo Vai (cách đất liền 250 ki-lô-mét). Địch ở mặt đất đánh lên mạnh, anh vẫn bay thấp, lượn nhiều vòng, thả bom diệt được nhiều mục tiêu trên đảo, đã tạo điều kiện cho hải quân ta diêt hơn 1 Tiểu đoàn địch ở đây.

        Ngày 7 tháng 5 năm 1977, Tạ Đông Trung chỉ huy Biên đội bay thấp, bất ngờ ném bom đanh trúng một số điểm cao ở vùng Khánh Hội (An Giang). Trận đánh này Trung đã cùng Biên đội đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy Trung đoàn địch, phá hủy 2 trận địa pháo.

        Ngày 29 tháng 9 và ngày 1 tháng 10 năm 1977, Tạ Đông Trung chỉ huy Biên đội phá hủy 2 trận địa pháo, bắn cháy kho tàng quân sự, diệt nhiều địch ở khu vực Xa Mát biên giới Tây Ninh. Sau khi cắt một loạt bom trúng vào trận địa của địch, thì máy bay bị trúng đạn hỏng nặng, Tạ Đông Trung buộc phải nhảy dù trên đất đối phương. Vừa đặt chân xuống đất, thấy địch bao vây định bắt sống, anh đã dũng cảm dùng súng ngắn, dao găm diệt được một số tên. Tạ Đông Trung đã hi sinh ngày 1 tháng 10 năm 1977.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1979 Tạ Đông Trung được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN ĐÌNH KHOA

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/78758886_534129110650307_1327933441869611008_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeEjgcaCTjClgJwen6Pt2Rf3mh5C9FaRMyVk7Se4KSS0ENcjOYAc_hPE75MJE5aYh_gudZ-lgPkknsmdCj04qw9t1nj1M51Fm6HALz6eZSBEmA&_nc_ohc=6pWJLr8vDlMAQkcXD6w_gdFjp9dWKsqHRkhTgsRCx70CPkcnVE859Bgwg&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=c3c9da6777f80a93076d062ee949d398&oe=5E8AB9BD)
         

        Anh hùng Nguyễn Đình Khoa sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Xuân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thiếu tá Trung đoàn phó Đoàn Không quân 917.

        Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 4 năm 1979, Nguyễn Đình Khoa tham gia chiến, phục vụ chiến đấu ở chiến trường Tây Nam. Anh đã đánh 22 trận, chỉ huy đơn vị đánh trúng 2 sở chỉ huy Trung đoàn địch, diệt và làm bị thương hàng trăm tên, bắn cháy 3 xe chở đạn, hỗ trợ đắc lực cho bộ binh trong chiến đấu.

        Ngày 6 tháng 12 năm 1977, Nguyễn Đình Khoa chỉ huy một Biên đội bắn chính xác vào đội hình 1 Trung đoàn địch càn quét vùng bến sỏi (Tây Ninh) diệt nhiều tên, bắn cháy nhiều xe, tạo điều kiện cho bộ binh ta đánh thiệt hại nặng Trung đoàn này.

        Ngày 14 tháng 1 năm 1978, mặc dù hỏa lực địch bắn lên mạnh, máy bay bị thương 2 lần, Nguyễn Đình Khoa vẫn bình tĩnh cho máy bay lượn nhiều vòng và bắn trúng vào đội hình địch, diệt thêm một số, sau đó cho máy bay hạ cánh an toàn. Trận này anh đã chỉ huy Biên đội đánh trúng sở chỉ huy Trung đoàn địch, phá hủy một trận địa pháo, diệt nhiều tên, tạo điều kiện cho bộ binh đánh chiếm các điểm cao ở đầm Chít.

        Ngày 4 tháng 2 năm 1978, Nguyễn Đình Khoa chỉ huy một Biên đội hiệp đồng chặt chẽ với máy bay A-37, đánh vào mục tiêu của địch ở biên giới Hà Tiên, phá hủy một sở chỉ huy Trung đoàn địch, tạo điều kiện cho bộ binh diệt ba Tiểu đoàn địch.

        Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Đình Khoa được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Một, 2019, 10:51:14 PM
     
ANH HÙNG LÊ KHƯƠNG

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/76680864_534129143983637_1524892460151472128_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFftgRyKOMxd1lob5Ryam1gQdxeLW_lTdxIMQV9LAzQbc8XoKHHjcfC8dX118tWC7C4pCOd7IkL0368y-psBtoqaV_tchejXJWSq0uWE2w56A&_nc_ohc=5nO24kB-1rQAQnbnd9sVRZJZJVrcXqHsvBWvf2c_dvmBdhcl7CTn2E4Dw&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=ae7ac4d3c740981ecdeca49251c10115&oe=5E47ED17)
       

        Anh hùng Lê Khương sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Tịnh Bình, huyện Tịnh Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Đại đội phó Đoàn Không quân 935.

        Từ tháng 8 năm 1975 đến tháng 2 năm 1979, Lê Khương chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Đánh 38 trận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Anh trực tiếp cùng đơn vị diệt 8 sở chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn địch, 20 lần đánh trúng đội hình bộ binh địch, phá hủy 7 trận địa pháo 22 khẩu từ 82 đến 130 ly, 2 kho quân sự, 23 xe trong đó có 3 xe tăng, đánh chìm và đánh hỏng nặng 5 tàu chiến.

        Ngày 6 tháng 5 năm 1978, Lê Khương chỉ huy Biên đội sử dụng 4 máy bay F-5 ném bom bắn phá vào đội hình của một Tiểu đoàn địch ở khu vực Tà Nốt, Xa Mát (Tây Ninh).

        Trong hai ngày 3 và 4 tháng 7 năm 1978, Lê Khương đã 5 lần chỉ huy ở khu vực điểm cao 62 và 105 biên giới Tây Ninh, phá hủy 15 xe quân sự, diệt nhiều địch chi viện cho bộ binh, diệt và làm bị thương 400 tên địch, thu 10 tấn vũ khí.

        Từ ngày 24 tháng 7 đến 26 tháng 7 năm 1978, Lê Khương đã 4 lần chỉ huy Biên đội ném bom phá hủy 11 khẩu pháo 105 và 130 ly, nhiều xe vận tải chở đồ dùng quân sự và diệt hàng trăm tên địch.

        Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Lê Khương chỉ huy Biên đội bay thâp, bất ngờ đánh phá sân bay Pô chen tông, làm cho địch hốt hoảng bỏ chạy, tạo điều kiện cho bộ binh đánh chiếm sân bay này, thu 19 máy bay và nhiều xe đồ dùng quân sự, tạo thuận lợi cho liên quân Việt Nam - Campuchia tiến vào giải phóng Phnom Penh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Lê Khương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN KHÁNG

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/77068865_534129173983634_6586483621459132416_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHxP-NwvnbnaV2G9eNSehGYr7kgr2ygUj5VllLURLvjM2f7NiJuFzebMoY3i0hnbFaoZxoWITCXLLyk9Y6kdwpzVN6kWng9Zxi0XXGrS31ckg&_nc_ohc=fGnWCggvgHIAQlgM5vTOPGEon2uQaQiZYhN8c0XYwxNqz_pVNho8v3mKQ&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=869c6c9364930d1f591bc4594f85d663&oe=5E8BA36D)
       

        Anh hùng Nguyễn Văn Kháng sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Huy, huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy lái máy bay Phi đội 2, Đoàn Không quân 394.

        Từ tháng 5 năm 1978 đến tháng 1 năm 1979, Nguyễn Văn Kháng đã đánh 45 trận, cùng Biên đội diệt, làm bị thương gần 400 tên địch, phá hủy 6 xe Ml13, 12 súng 12, 7 ly và 2 pháo 40 ly, phá hủy nặng căn cứ hậu cần ở Tây Bắc Xvây-riêng, nhiều trận địa pháo trên cảng Công Pông Xom, diệt nhiều cụm hỏa lực địch trên đảo Cô-công. Riêng Kháng đánh chìm, đánh hỏng nặng ba tàu trên sông Mê Kông (đoạn qua tỉnh Công Pông Chàm), phá hủy 5 xe vận tải, 2 trận địa pháo và diệt nhiều tên địch.

        Ngày 6 tháng 5 năm 1978, Nguyễn Văn Kháng ném bom và bắn nhiều loại đạn vào đội hình một Tiểu đoàn địch, bẻ gãy cuộc càn quét của chúng ở vùng Tà Nốt, Xa Mát (Tây Ninh).

        Ngày 26 tháng 5 năm 1978, một Sư đoàn địch ở khu vực Prây-viêng định đánh sang biên giới nước ta. Nguyễn Văn Kháng đã cùng Biên đội xuất kích ba lần, kết quả anh đã cùng Biên đội diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 1 xe Ml13, 12 súng 12,7 ly, 2 pháo 105 ly.

        Ngày 26 tháng 9 năm 1978, Nguyễn Văn Kháng cùng Biên đội ném bom diệt 3 trận địa pháo và bắn súng cối. Ngày 3 tháng 1 năm 1979, Kháng cùng Biên đội ném bom, bắn phá trúng trận địa pháo, bãi đỗ xe thị trấn Niếc Lương, khi quay về đồng chí đánh trúng 1 phà, 1 tàu địch.

        Ngày 15 tháng 1 năm 1979, trận đánh ở đảo Cô-công, Nguyễn Văn Kháng cùng Biên đội đã phá hủy 3 trận địa pháo, đánh chìm 1 tàu chiến của địch.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Văn Kháng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:31:37 AM
     
ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN PHI HÙNG

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/78582654_534129180650300_3627728024734007296_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGZnhywZz40WgGkdCzujdCYrzFirKmse4k1sqBfFcYOxoLTeDS9KZFA4fZBZ2BekKSbAadasPyxcdmvjHf1W9-RextXW57YDKXQuyASxoHtZA&_nc_ohc=0jdP_-nM50sAQnBFzlGqjp5ctNlEog9OE-fYislpKmZ5WSwxgRA58pm5w&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=af6b5c1033e3d18c40fbd6ce68d1a459&oe=5E79BD5C)
       

        Anh hùng Nguyễn Phi Hùng sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở Thọ Nam, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Trung đội trưởng lái máy bay thuộc Đại đội 2, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Nguyễn Phi Hùng đã tham gia chiến đấu ở các đơn vị 919, 910, 923 cùng đồng đội chiến đấu 26 trận, trực tiếp bắn rơi 5 máy bay Mỹ (gồm 2 chiếc F-4, 2 chiếc F-105, 1 chiếc F-8).

        Ngày 19 tháng 11 năm 1967, Nguyễn Phi Hùng cùng Biên đội bí mật di chuyển đội hình từ sân bay Gia Lâm - Hà Nội, xuống sân bay Kiến An — Hải Phòng phục kích đánh địch. Địch huy động 20 máy bay cường kích A-4 và 6 chiếc tiêm kích F-4 yểm hộ nhau đánh ở Hải Phòng. Biên đội của Hùng 4 chiếc được lệnh xuất kích, chúng hoàn toàn bị bất ngờ khi Biên đội của ta nhử bám được mục tiêu, Nguyễn Phi Hùng công kích và bắn một loạt đạn hạ tại chỗ 1 chiếc F-4 của địch. Trong vòng ba phút cả Biên đội bắn hạ 3 chiếc, làm tan tác đội hình của chúng. Biên đội của Nguyễn Phi Hùng trở về sân bay an toàn. Đây là một trận đánh có hiệu suất cao, bằng chiến thuật cơ động phục kích của Không quân ta.

        Tháng 7 năm 1968, Trung đoàn tranh thủ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, khắc phục khó khăn, cơ động Lực lượng vào các sân bay Quân khu 4 đánh địch đế bảo vệ đường giao thông chiến lược.

        Ngày 9 tháng 7 năm 1968, trong trận chiến đấu với máy bay địch ở vùng trời Hà Tĩnh, sau khi bắn rơi 1 chiếc F-8 của địch, Nguyễn Phi Hùng đã anh dũng hi sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Nguyễn Phi Hùng được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ QUANG TRUNG

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/76717572_534129213983630_8724302961682939904_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeF7repyhg3Pb11g5n9kiihfdp5Tz-n0oB1BcNmVuGrPZEKLoB1CTyeYEmMLOYmZHsJnNwoknnHdShEipau9d7kcYKxq4gEjOB6tJlqazFUO9g&_nc_ohc=79pGV2QgATQAQnoFX8r5cSqTQ837zVmjBGE0n6K-SziyHo779HYdHDzWQ&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=d3446480893aa8454bb8df9e16db1028&oe=5E45C844)
       

        Anh hùng Lê Quang Trung sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Đoàn Không quân 925.

        Lê Quang Trung được tuyển vào Không quân năm 1956. sau đó được cử đi học lái máy bay ở Trung Quốc, anh đã tích cực rèn luyện đạt kết quả tốt.

        Đồng chí Lê Quang Trung đã trực tiếp bắn rơi 5 máy bay Mỹ.

        Năm 1969, Lê Quang Trung được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Đoàn 925 - là Đơn vị Không quân tiêm kích chuyển từ nước bạn về. Trung đoàn được trang bị máy bay Mig-19 và MiG-17.

        Trong khi đó số phi công ít nên số anh em học lái MiG-21 ở Liên Xô và MiG-17 ở Đoàn 910 về phải huấn luyện chuyển loại. Lê Quang Trung đã tổ chức huấn luyện bay kèm, bay trong các điều kiện, đồng thời cho máy bay thực tế theo nhiệm vụ. Trong một thời gian ngắn, Trung đoàn đã nhanh chóng bước vào chiến đấu với 19 phi công Mig l9 và 4 phi công MiG-17, có thể trực ban chiến đấu tốt. Trong một năm xây dựng chiến đấu, Trung đoàn đã bắn rơi 9 máv bay Mỹ.

        Ngày 6 tháng 4 năm 1970, Lê Quang Trung đã hi sinh trong lần bay huấn luyện ở sân bay Yên Bái. Đồng chí là tấm gương tiêu biểu cho bộ đội Không quân, trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến. Lê Quang Trung thể hiện tốt trên cả ba mặt, chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay địch. Phẩm chất và lối sông trong sạch, được đồng đội tin yêu mến phục.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Trung đoàn được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Lê Quang trung được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:35:41 AM

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN BẢY (B)

(https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/78147968_534129250650293_9210304732000681984_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHogAv-g7E35dEATPDmid3eBcCTjBHFC8BUZmBfisAb7b0YVaO1A5DY4ZeIRCQs9SsuYnyjHjFsYHGRWJX6KMxbSVuw1Y1kWaHiwMcTndajnA&_nc_ohc=AenQyOAU6nEAQnXFTG7Q18WQZOA83jVVI1OvFsHilk_7E3ThMj3Am57Vg&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=71c21c61e279bf11f73b8106035ba8d9&oe=5E7E218C)


        Anh hùng Nguyễn Văn Bảy (tức Nguyễn Văn Bảy B) sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở Hưng Mỹ, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Khi hi sinh, đồng chí là đảng viên, Trung úy, chiến sĩ lái máy bay thuộc Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Nguyễn Văn Bảy là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc năm 1965, anh nhập ngũ và được cử đi lái máy bay ở Liên Xô cũ. Năm 1968 về nước, anh được điều về Đoàn Không quân Yên Thế, trước tình hình phải tìm phương án đánh địch trên biển, Trung đoàn đã cơ động vào sân bay Khe Cát, Nguyễn Văn Bảy là một trong số những phi công đầu tiên được cử làm nhiệm vụ dùng máy bay MiG-17 ném bom tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ.

        Sáng ngày 19 tháng 4 năm 1972, Biên đội của Lê Xuân Dỵ số 1 và Nguyễn Văn Bảy số 2 trực ban chiến đấu. 9 giờ 30 phút, phát hiện 3 chiếc tàu địch nhưng do trời mù, tầm nhìn hạn chê nên sở chỉ huy chưa cho cất cánh. 16 giờ 5 phút, Biên đội được lệnh cất cánh, hai máy bay cách bờ biển khoảng 10 ki-lô-mét thì vòng phải. Được sở chỉ huy thông báo tàu địch nằm chếch hướng Nam 15 độ, Biên đội phát hiện được mục tiêu, cắt 4 quả bom làm hai tàu khu trục bốc cháy và hỏng nặng, trong đó tàu Hegbee bị hỏng rất nặng, khiến cho tàu địch phải lùi xa, ngừng pháo kích vào đất liền. Trận đánh có ý nghĩa lớn, lần đầu tiên Không quân tiêm kích của ta đánh bị thương tàu khu trục Mỹ trên biển Đông. Trận đánh đã mở ra khả năng chiến đấu mới của Không quân Nhân dân Việt Nam.

        Ngày 6 tháng 5 năm 1972, trong trận không chiến với Không quân, Hải quân Mỹ tại vùng trời Thanh Hóa, sau khi bắn rơi 1 chiếc A-6 của Mỹ, Nguyễn Văn Bảy đã anh dũng hy sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Bằng khen, 3 Giấy khen. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Nguyễn Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ VŨ XUÂN THIỀU

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74433797_534129247316960_7748049873030610944_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=LlwQiQUlj_UAQl0JxzDTyynmprrF1LBEjCskGgMFnt-KTruoMMNJwB9bQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=4eeef03032a362964c5932848c72847d&oe=5E449890)
         

        Anh hùng Vũ Xuân Thiều sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 9, Đoàn Không quân 937, Đoàn 371.

        Trung tuần tháng 12 năm 1972, Đế quốc Mỹ mở rộng tập kích quy mô lớn bằng máy bay B52 vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B52. Để đánh chắc thắng, anh đề xuất phương án công kích gần mặc dù có khả năng nguy hiểm cho cả máy bay lẫn người lái.

        Ngày 28 tháng 12 năm 1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy - Thanh Hóa, được sở chỉ huy dẫn vòng phía sau đội hình máy bay địch đến vùng trời Sơn La, sau khi vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích, bảo vệ máy bay B52, Vũ Xuân Thiều phát hiện được mục tiêu, anh bắn trúng chiếc B52 của địch bốc cháy. Vì cự ly quá gần, Vũ Xuân Thiều đã không kịp thoát ly và anh dũng hy sinh.

        Chiến công của Vũ Xuân Thiều bắn rơi máy bay B52 đã khích lệ tinh thần chiến đấu của toàn Quân chủng, đồng thời là một kinh nghiệm về cách chỉ huy, dẫn đường máy bay ta đánh lên, ghi một chiến công vào trang sử chiến đấu của bộ đội Không quân.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Vũ Xuân Thiều được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:37:50 AM

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ HỐNG THỊNH

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76751763_534129280650290_1127040989458857984_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=5VKknEOuao0AQlrBUmTXCr5vRMOhwOPDTdEK4ygAl8mxslEE6atxc736w&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8ab9ae0e96bddd59e5669143ef2efaca&oe=5E8B9E12)
         

        Anh hùng Lê Hồng Thịnh sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là Sĩ quan điều khiển kiêm trưởng xe điều khiển Đại đội 1, Tiểu đoàn Tên lửa 81, Trung đoàn Tên lửa 238, Đoàn Phòng không 363.

        Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1965 đến tháng 7 năm 1967 đồng chí Lê Hồng Thịnh là sĩ quan điều khiển, kiêm trưởng xe điều khiển Đại đội 1, Tiểu đoàn Tên lửa 81, Trung đoàn tên lửa 238 Quân chúng Phòng không - Không quân, đã tham gia chiến đấu 23 trận ở nhiều tỉnh trên miền Bắc, cùng kíp chiến đấu bắn rơi 17 máy bay Mỹ (có 13 chiếc rơi tại chỗ).

        Ngày 5 tháng 10 năm 1965, tại La Khê (Quảng Ninh) đồng chí Lê Hồng Thịnh đánh 2 trận, bắn rơi 3 máy bay A-4, bảo vệ Nhà máy điện Uông Bí.

        Ngày 14 tháng 9 năm 1966 tại trận địa xã Hưng Dũng (Nghệ An), đồng chí cùng kíp chiến đấu bắn rơi tại chỗ 2 chiếc máy bay AD-6, đây là chiếc máy bay thứ 99 và 100 của thành phố Vinh (được Bác Hồ gửi thư khen).

        Ngày 10 tháng 5 năm 1967, tại Cồn Tiên (Vĩnh Linh), bằng 4 quả đạn đồng chí cùng kíp trắc thủ bắn rơi 2 máy bay F-4, đây là chiếc máy bay thứ 100 và 101 của Vĩnh Linh.

        Ngày 6 tháng 7 năm 1967, tại Nông Trường Quyết Thắng (Vĩnh Linh), khi đang điều khiển tên lửa, địch đánh vào trận địa, đồng chí Lê Hồng Thịnh bị thương nặng, vẫn bình .tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bám sát địch chính xác bắn rơi 2 máy bay F-105 tại chỗ. Khi trận đánh kết thúc, đồng chí Lê Hồng Thịnh hi sinh bên tay quay điều khiển tên lửa.

        Đồng chí Lê Hồng Thịnh hi sinh là tấm gương tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Thành tích của đồng chí đã góp phần quan trọng trong thành tích chung của Tiểu đoàn. Trong cuộc sống hàng ngày, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ mẫu mực, nhiệt tình, trách nhiệm, luôn nêu cao phẩm chất cách mạng của người đảng viên cộng sản, luôn gần gũi quần chúng, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, giữ gìn tốt mới quan hệ đoàn kết quân dân.

        Lê Hồng Thịnh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20 tháng 12 năm 1994.

ANH HÙNG LIỆT SĨ HÀ VĂN CHÚC

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76776519_534129320650286_4826631852938756096_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=R4bDR_YCMDgAQmyhQ-qzVwCOzH36-pRWp1P_lInOfIDjx_SxbSyg6Gq5g&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=9edfb5a9eb720e998eae46571955ba3a&oe=5E81A303)
         

        Anh hùng Hà Văn Chúc sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Thượng úy, Đại đội phó lái máy bay, thuộc Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Từ một chiến sĩ cao xạ đi học lái máy bay năm 1964, Hà Văn Chúc tốt nghiệp về nhận nhiệm vụ tại Đại đội 1, Đoàn Không quân Sao Đỏ. Được giao nhiệm vụ làm cán bộ Đại đội, anh xây dựng đơn vị vừa làm huấn luyện, vừa trực tiếp chiến đấu và lập công xuất sắc.

        Ngày 3 tháng 1 năm 1968, giặc Mỹ sử dụng 36 chiếc máy bay cường kích và tiêm kích từ Sơn La vào đánh Hà Nội. Hà Văn Chúc được lệnh xuất kích tốp F-105 của địch vòng lại đón đầu, anh nhanh chóng cho máy bay vọt lên, nhìn trái thấy một tốp F-105 khác, Hà Văn Chúc cho máy bay bổ nhào, do động tác quá mạnh, máy bay không bám được mục tiêu. Anh phát hiện 8 chiếc F-105 ở hướng Tam Đảo, được lệnh Hà Văn Chúc cho máy bay hướng thẳng vào chiếc F-105 chính giữa và phóng tên lửa. Chiếc máy bay địch trúng đạn bốc cháy, đội hình máy bay địch bị rối loạn, không thực hiện được ý đồ vào đánh phá khu vực Hà Nội, máy bay của Hà Văn Chúc hạ cánh an toàn.

        Ngày 14 tháng 1 năm 1968, Hà Văn Chúc cùng đồng đội bắn rơi một máy bay F-105 của Không quân Mỹ trên vùng trời huyện Sơn Dương. Trong chiến đấu, máy bay của anh bị trúng đạn, Hà Văn Chúc bị thương nặng phải nhảy dù.

        Ngày 19 tháng 1 năm 1968, anh đã hi sinh tại Quân y viện 108. Anh đã góp phần xây dựng Đại đội 1 Không quân 2 lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

        Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Hà Văn Chúc được Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:39:37 AM

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGÔ ĐỨC MAI

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78269641_534129323983619_5629956832266027008_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=X1_A2Y8vaFAAQkSbYntrN2tjQn-9P2A9Wm6edoJfK37lvUUnjhxRVwtdw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=12cc5e412e9e4bf18721e5ae70a76b9d&oe=5E4EBF7C)

        Anh hùng Ngô Đức Mai sinh năm 1938, quê ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Khi hi sinh, đồng chí là đảng viên, thượng úy Trung đội trưởng thuộc Đại đội 2, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Ngô Đức Mai được chọn đi học lái máy bay. Năm 1965 anh về nước và tham gia chiến đấu. Trong 3 năm từ (1965 năm 1967), Ngô Đức Mai đã lập nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi 3 máy bay của Không quân Mỹ gồm 2 chiếc F-4 và 1 chiếc A-4D.

        Ngày 4 tháng 2 năm 1966, Ngô Đức Mai cùng Biên đội xuất kích trên vùng trời Yên Bái, Phú Thọ với 3 loạt đạn ngắn, anh đã bắn tan xác chiếc F-4 của Không quân Mỹ. Trên đường trở về căn cứ, Biên đội phát hiện máy bay địch bám theo. Được sự yểm hộ của đồng đội, Ngô Đức Mai quay trở lại đánh địch, buộc chúng phải sợ hãi bỏ chạy. Gần đến sân bay, đồng hồ báo hết dầu, anh tìm mọi cách hạ cánh an toàn, bảo vệ máy bay. Đây là trận mang tính truyền thống của Đoàn Không quân Yên Thế — đánh thắng trận đầu và đã ra quân là chiến thắng.

        Ngày 14 tháng 7 năm 1966, Ngô Đức Mai bay trong Biên đội 2 chiếc chiến đấu với 12 máy bay A-4D của Không quân Mỹ trên bầu trời Hải Dương. Anh cùng đồng đội công kích 2 chiếc máy bay địch (có chiếc thứ 1200 bị bắn rơi trên miền Bắc).

        Ngày 12 tháng 5 năm 1967, trong Biên đội 4 chiếc chiến đấu với 20 máy bay địch (gồm cả F-4 và F-105) trên bầu trời Hà Nội, Ngô Đức Mai cùng đồng đội bắn rơi 3 chiếc.

        Ngày 3 tháng 6 năm 1967, trong khi chiến đấu với máy bay địch trên vùng trời Hà Bắc, Ngô Đức Mai đã anh dũng hi sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, hạng Ba. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Ngô Đức Mai được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ MINH HUÂN

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77278505_534129360650282_4482236515874766848_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_ohc=45dgncptBmsAQlY0aFVmXSVNVALb2OIZPI7qzN5wq9R4Q8nMz8K_vc1aA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ba56bb71d5ba96d04661520eef005878&oe=5E4B3DD6)
         

        Anh hùng Lê Minh Huân sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Hải, huyện Tình Gia tỉnh Thanh Hóa. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Trung úy, Trung đội trưởng Đại đội 1, Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Lê Minh Huân vào bộ đội năm 17 tuổi, tham gia kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, do yêu cầu xây dựng Không quân, đồng chí được cử đi học lái máy bay. Mặc dù văn hóa thấp, tiếp xúc với khoa học - kỹ thuật mới nhưng Lê Minh Huân đã khắc phục khó khăn, miệt mài học tập, chịu khó rèn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ, làm chủ được trang bị. Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại bằng Không quân đổi với miền Bắc, đồng chí cùng đơn vị tích cực học tập, xây dựng quyết tâm cao, cùng nhau bàn bạc trao đổi cách đánh trong điều kiện máy bay của ta có tốc độ chậm, so với máy bay địch còn nhiều hạn chế.

        Ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lê Minh Huân được lệnh cùng đồng đội xuất kích đánh địch trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa. Địch vào đông, hỏa lực mạnh, bay nhiều tầng. Nhất là chúng dùng loại F-105 “thần Sấm”. Với ý chí cao, Lê Minh Huân cùng đồng đội bay luồn lách, phá vỡ đội hình của chúng, chủ động và liên tục tiến công địch. được đồng đội yểm hộ, đồng chí đã bắn rơi 1 chiếc F-105, nhưng do địch quá đông, hỏa lực mạnh, máy bay đồng chí bị trúng đạn. Lê Minh Huân đã anh dũng hy sinh. Chiến công bắn rơi chiếc F-105 của Mỹ ngày 4 tháng 4 năm 1965 đã trở thành ngày truyền thống của bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam, góp phần hạ uy thế của Không quân Mỹ những ngày đầu khi chúng xâm phạm bầu trời Tổ quốc.

        Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Minh Huân được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Một, 2019, 06:41:41 AM

ANH HÙNG LIỆT SĨ VÕ VĂN MẪN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74908225_534129403983611_4629939406097088512_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ohc=yYcyiGjw5Z0AQlKBEOrX4chMWeW9wJd-eimIGzpR25TEWvDoI53FjPjcQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3ec580c8f17b6faefa491e16a80c5b1b&oe=5E4E5E83)
         

        Anh hùng Võ Văn Mẫn sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thọ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, Thượng úy, chiến sĩ lái máy bay thuộc Đại đội 1, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Võ Văn Mẫn tập kết ra Bắc, tháng 2 năm 1959 đồng chí nhập ngũ vào Lực lượng Không quân, sau đó đồng chí được cử đi học lái máy bay ở nước ngoài. Tháng 9 năm 1965, đồng chí về nước đúng lúc đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng Không quân đối với miền Bắc. Võ Văn Mẫn luôn thể hiện tinh thần anh dũng, có những trận đánh tác dụng lớn về mặt chiến thuật và tư tưởng. Đồng chí đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ, đồng thời yểm hộ cho đồng đội bắn rơi nhiều chiếc khác.

        Ngày 19 tháng 7 năm 1966, Võ Văn Mãn cùng Biên đội chiến đấu trên vùng trời Vĩnh Phú, bắn rơi 2 máy bay F-105 (riêng đồng chí bắn rơi 1 chiếc).

        Ngày 5 tháng 9 năm 1966, Võ Văn Mẫn chiến đấu trên vùng trời Nam Định, diệt gọn một tốp 2 chiếc F-8 (rơi tại chỗ), riêng đồng chí bắn rơi 1 chiếc.

        Ngày 16 tháng 9 năm 1966, Võ Văn Mẫn cùng Biên đội chiến đấu với 30 máy bay địch, bắn rơi 6 chiếc, riêng đồng chí bắn rơi 2 chiếc. Khi máy bay của đồng đội bị trúng đạn phải nhảy dù, Võ Văn Mẫn quần vòng với địch, bảo vệ đồng đội nhảy dù an toàn. Mặc dù máy bay bị thương, đồng chí vẫn lái về hạ cánh an toàn.

        Ngày 14 tháng 5 năm 1967, Võ Văn Mãn cùng Biên đội đánh chặn địch, do Lực lượng của chúng quá đông, sau khi bắn bị thương 1 chiếc F-4, đồng chí bị trúng đạn, anh dũng hi sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Võ Văn Mãn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ HOÀNG VĂN KỶ

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76677114_534129407316944_9052137171141525504_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=owbDEgYrk_sAQmn__O1RIZYTdew2lQbmT6ypXdjUTHWzbjI7L5j2l0MnA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cdcac404380445026ac9fefd851ec7a4&oe=5E4702E4)
         

        Anh hùng Hoàng Văn Kỷ sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Khi hi sinh, đồng chí là đảng viên, trung úy, chiến sĩ lái máy bay chiến đấu ở Đại đội 1, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Hoàng Văn Kỷ là chiến sĩ lái máy bay chiến đấu, được đào tạo ở Liên Xô từ tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1964 thì về nước. Đồng chí đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, linh hoạt táo bạo, lập công xuất sắc, 4 lần nổ súng là 4 lần rơi máy bay địch. Một số trận tiêu biểu:

        - Ngày 20 tháng 9 năm 1966, Hoàng Văn Kỷ đã cùng Biên đội bắn rơi 2 chiếc F-105 của Mỹ ở vùng trời Thái Nguyên (riêng đồng chí bắn rơi 1 chiếc).

        - Ngày 5 tháng 2 năm 1967, Hoàng Văn Kỷ cùng Biên đội chiến đấu với Không quân Mỹ trên vùng trời Xuân Mai, trong trận này, đồng chí bắn rơi 1 chiếc F-4 của Mỹ.

        - Ngày 25 tháng 4 năm 1967, Hoàng Văn Kỷ cùng Biên đội đánh chặn quân địch trên vùng trời Kiến An - Hải Phòng đã phải đối đầu với 16 máy bay F-105 của Mỹ, đồng chí đã yểm hộ cho đồng đội bắn rơi máy bay địch. Khi máy bay của Kỷ bị thương, đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu bảo vệ Biên đôi bạn cùng trở về hạ cánh an toàn.

        - Đặc biệt là ngày 12 tháng 5 năm 1967, Biên đội Hoàng Văn Kỷ phải đối đầu với 20 máy bay địch, các đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và mưu trí bắn rơi tại chỗ 3 máy bay Mỹ (2 F-4, 1 F-105).

        - Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Hoàng Văn Kỷ đã anh dũng hi sinh trong khi chiến đấu với máy bay Mỹ trên vùng trời Vĩnh Phú.

        Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Hoàng Văn Kỷ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:25:15 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ PHAN VĂN TÚC

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78547657_534128427317042_2653818119914520576_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=5KNL96r9qjQAQkaplztSTxYf9xw68Ew4oJ92StawwdVq_KSb64Im0jhnA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=73318e3c4564fdd334117d23551cf93f&oe=5E7D679E)
         

        Anh hùng Phan Văn Túc sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, Đại úy Đại đội phó Đại đội 1, Đoàn Không quân Yên Thế.

        Phan Văn Túc được đào tạo lái máy bay, chiến đấu ở nước ngoài. Tháng 7 năm 1963, đồng chí về nước lái máy phản lực MiG-17, Phan Văn Túc tích cực học tập làm chủ khoa học kỹ thuật, trong trận chiến đấu ngày 3 tháng 4 năm 1965, Phan Văn Túc đã cùng các đồng chí Phạm Ngọc Lan, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương xuất kích bắn rơi 2 máy bay F-8U của Hải quân Mỹ trên vùng trời Hàm Rồng (Thanh Hóa), riêng đồng chí đã bắn rơi 1 chiếc.

        Phát huy thắng lợi, ngày 4 tháng 4 năm 1965, Phan Văn Túc cùng Biên đội MiG-17 của các đồng chí Trần Hanh, Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Long xuất kích bắn rơi 2 máy bay F-105 của Không quân Mỹ, trên vùng trời Hàm Rồng. Chiến công xuất sắc trong 2 ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 có ý nghĩa to lớn, bộ đội Không quân non trẻ của ta đã đánh thắng Không quân Mỹ, cổ vũ bộ đội Không quân (đã xuất kích là đánh thắng) .

        Trận ngày 21 năm 1966, Phan Văn Túc cùng Biên đội bắn rơi 2 chiếc F-8 tại Kép (Hà Bắc) trong đó đồng chí bắn rơi 1 chiếc. Trận ngày 29 tháng 6 năm 1966, Phan Văn Túc cùng Biên đội đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-105 trên vùng trời Bắc Thái.

        Ngày 21 tháng 12 năm 1967, Phan Văn Túc đã anh dũng hi sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Phan Văn Túc được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN THẾ HÙNG

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76912835_534128430650375_5373217160623554560_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_ohc=NhOMsHLDJukAQnn6nsldeYmFaJ8gezdzesK-16cSeU_cRwVudxn_VA2bg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=10fa9231d5fcfbf24bda0793451f7296&oe=5E877954)
         

        Anh hùng Nguyễn Thế Hùng sinh năm 1945, dân tộc Kinh quê ở xã Bạch Hạc, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, trung úy lái máy bay chiến đấu ở Đại đội 4, Đoàn Không quân 937.

        Nguyễn Thê Hùng là phi công tiêm kích MiG-17. Tháng 2 năm 1975 đồng chí được chuyển loại máy bay A-37 của Mỹ do ta thu được. Chỉ trong một thời gian ngắn, Nguyễn Thế Hùng đã làm chủ được loại máy bay này. Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, đồng chí đã tham gia 9 trận, phá hủy nhiều trận địa pháo, tiêu diệt nhiều sinh lực địch chi viện đắc lực cho bộ binh.

        Trận ngày 29 tháng 9 và 1 tháng 10 năm 1977, Nguyễn Thế Hùng cùng Biên đội xuất kích ném bom bắn phá tiêu diệt hoàn toàn một trận địa pháo, khu kho hậu cần của địch, tạo điều kiện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi.

        Ngày 1 tháng 10 năm 1977, Nguyễn Thế Hùng và Tạ Đông Trung cùng trên một chiếc A-37 (hai người lái) sau khi cắt loạt bom vào đội hình địch , các đồng chí hạ thấp độ cao đế cắt tiếp loạt bom thứ hai thì máy bay trúng đạn bốc cháy, Nguyễn Thế Hùng và Tạ Đông Trung buộc phải nhảy dù trên đất địch, quân địch bao vây định bắt sống, các đồng chí đã dùng súng ngắn và dao găm diệt một số tên và anh dũng hi sinh.

        Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Thế Hùng được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:27:09 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ TRỌNG HUYÊN

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78139485_534128420650376_8808115876915052544_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ohc=HQr4HTTaTOQAQmca6oj6cSpxiFPSU0sUtwymZYydjhLYzWRr9suMRNNOw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=a7454b8def6dc19de8f7c6712d3bac94&oe=5E85A2F0)
         

        Anh hùng Lê Trọng Huyên sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê ở xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, thiếu tá, Trung đoàn phó Đoàn Không quân Sao Đỏ.

        Cuối năm 1953, Lê Trọng Huyên nhập ngữ là chiến sĩ Tiểu đoàn 329, Sư đoàn 320. Sau ngày miền Bắc được giải phóng, anh về Không quân và được cử đi học lái máy bay tại Trung Quốc. Năm 1963 về nước, trong tình hình nhiệm vụ mới, Lê Trọng Huyên cùng anh em nghiên cứu cách đánh mới phù hợp với tính năng tác dụng kỹ thuật chiến thuật của MiG-21. Anh vận dụng tốt phương pháp chủ động đánh chặn từ xa, đánh địch trên đường thẳng không phải quần vòng. Với cách đánh này Lê Trong Huyên đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ, cùng Biên đội bắn rơi nhiều chiếc khác.

        Ngày 21 tháng 9 năm 1966, trên vùng trời Lục Ngạn - Hà Bắc , anh cùng Biên đội bắn rơi 1 chiếc F-105 của Mỹ.

 Ngày 2 tháng 12 năm 1966, trên vùng trời Hà Nội được đồng đội yểm trợ, Lê Trọng Huyên bắn rơi 1 chiếc F-105.

        Tháng 12 năm 1966, Mỹ đánh dồn dập Hà Nội. Cách đánh thọc sâu vào đội hình lớn của địch, đánh nhanh rút nhanh của MiG-21 được hình thành.

        Ngày mùng 5 và 13 tháng 12 năm 1966, trên vùng trời Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Lê Trọng Huyên và Biên đội đánh 2 trận, bắn rơi hai chiếc. Ngày 30 tháng 4 năm 1967, máy bay Mỹ vào khá đông, Biên đội Huyên - Đỉnh xuất kích chỉ sau ít phút, các anh bắn rơi 2 chiếc F-105, phá tan ý định tìm kiếm phi công của chúng.

        Tháng 5 năm 1967, Biên đội Huyên - Song bắn rơi 1 chiếc F-105. Ngày 11 tháng 7 năm 1967, hai anh Huyên -  Song bắn rơi 1 chiếc F-4 của Mỹ.

        Ngày 3 tháng 3 năm 1972, anh đã hi sinh trong một tai nạn tại Nghệ An.

        Đồng chí được tặng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, ngày 28 tháng 4 năm 2000, Lê Trọng Huyên được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN THOA

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76705159_534128477317037_3788045792250429440_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=_fgY0JJJQQkAQlyiKkqApOXpanC7lSCmpEfclx3fG5Q1OJ_6pq96Lcezg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=5707f74ef5c6d30fd12e8886a2f09556&oe=5E854708)
         

        Anh hùng Nguyễn Văn Thoa sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở thôn Cao Xá, xã Cao Đại, huyện Vinh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Thượng sĩ, xạ thủ A.72, Đại đội 3, Tiểu đoàn 172, Đoàn Phòng không 367.

        Hơn 3 năm chiến đấu cực kỳ khó khăn gian khổ ác liệt. Đi phối thuộc bảo vệ bộ binh. Đồng chí Nguyễn Văn Thoa đã tham gia 6 chiến dịch lớn, chiến đấu đạt hiệu xuất cao. Dũng cảm kiên cường, bị thương không ròi trận địa, đồng chí đã lập công xuất sắc: sử dụng 18 quả đạn tên lửa tầm thấp A.72 bắn rơi 13 máy bay các loại của Mỹ - Ngụy (3 máy bay trinh sát L.19; 4 máy bay trực thăng chiến đấu HU.1A; 2 máy bay vận tải đổ quân CH.54; 2 máy bay ném bom AD.6; 2 máy bay vận tải hạng nặng C.130).

        Giữa năm 1972, trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đơn vị của đồng chí có nhiệm vụ bắn máy bay trên không của Mỹ -  ngụy, để bộ binh ta chốt chặn, vây ép không cho địch cứu viện về giải toả thị xã Bình Long. Trên quốc lộ 13 miền Đông Nam Bộ, trong một trận đánh bằng 3 quả đạn đồng chí đã bắn rơi 3 máy bay, trong đó có 2 chiếc máy bay trực thăng HU.1A và 1 máy bay trinh sát L.19, góp phần ngăn chặn được bộ binh địch đến giải toả thị xã Bình Long.

        Trận đánh tháng 1 năm 1973, với tinh thần dũng cảm, mưu trí không sợ hi sinh đồng chí bám sát địch và với 2 quả đạn đã bắn rơi 2 máy bay (1HU.1A, 1L.19) bắt sông 1 phi công, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của đơn vị, không cho địch giành dân, chiếm đất tại chốt Tông Lê Chân.

        Trận đánh tháng 3 năm 1973, tại khu vực suối Đá và núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh, bằng 3 quả đạn đồng chí đã bắn rơi tại chỗ 2 chiếc CH.54 của Mỹ, trên máy bay chở 200 quân tiếp viện cho núi Bà Đen bị tiêu diệt hoàn toàn.

        Trong trận đánh tại chốt Đức Hoà - Đức Huệ, để bảo vệ lực lượng bộ binh tấn công chốt, đồng chí bắn 3 quả đạn diệt 2 máy bay AD.6 đang bổ nhào ném bom vào trận địa bộ binh ta.

        Trong trận chiến đấu tại thị xã Mộc Hoá (tỉnh Kiến Tường) đồng chí đã bắn rơi 2 máy bay (1 C.130, 1 HU.1A) bằng 3 quả đạn A-72. Kết thúc trận đánh, địch cho máy bay trực thăng đến bao vây trận địa và bắn rốc két để trả đũa, đồng chí bị thương vào sọ não đã được đưa đi cấp cứu.

        Mặc dù vết thương chưa ổn định, mảnh đạn còn trong đầu, nhưng do yêu cầu của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí xin tiếp tục trở lại đơn vị chiến đấu và đồng chí cùng với biệt động thành Sài Gòn làm nhiệm vụ luồn sâu, ém sẵn chờ thời cơ nổ súng, để bảo vệ cho bộ binh cơ giới đánh chiếm chốt Tân Thới Hiệp sát quốc lộ 13; đồng thời không chế máy bay địch lên xuống tại sân bay Tân Sơn Nhất. Đặc biệt là trận đánh vào lúc 9 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 đồng chí cùng với đơn vị biệt động thành Sài Gòn luồn sâu, ém sẵn bắn rơi tại chỗ 1 chiếc C.130 trước cửa ngõ Sài Gòn trước giờ giải phóng hoàn toàn Miền Nam.

        Trong suốt quá trình tham gia công tác, dù ở cương vị nào đồng chí cũng luôn khắc phục mọi khó khăn rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, luôn nêu cao và giữ vững được phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên.

        Ngày 8 tháng 11 năm 2000, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:28:43 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ VŨ QUANG TRUNG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74910705_534128483983703_5920681622344040448_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=XgeGT8HToLQAQkI0EANa3zcH9PGmQYuTWmLfonbFFewmRYdK8AsFaZlNg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3a9579eff3d614e1172768ab7aab32e4&oe=5E4447F9)
         

        Anh hùng Vũ Quang Trung sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 86, Trung đoàn Tên lửa 274, Đoàn Phòng không 377.

        Đồng chí Vũ Quang Trung đã liên tục tham gia chiến đấu cùng Tiểu đoàn 86 Trung đoàn 274 Tên lửa Phòng không. Ngay từ ngày Trung đoàn 274 ra quân chiến đấu 6 năm 1966 đến ngày hi sinh 1 tháng 7 năm 1972. Đã cùng Tiểu đoàn 86 bắn rơi 29 máy bay các loại, trong đó có 2B52.

        Khi chiến đấu ở Hà Nội đồng chí Vũ Quang Trung là một cán bộ luôn tích cực học hỏi, suy nghĩ sáng tạo, là một sĩ quan điều khiển giỏi. Vào chiến trường từ giữa năm 1971 với cương vị Tiểu đoàn phó đồng chí tham gia chiến dịch Quảng Trị.

        13 giờ 58’ ngày 4 tháng 4 năm 1972 đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tên lửa 86, chỉ huy đơn vị chiến đấu đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B52. Đây là chiếc B52 đầu tiên do Trung đoàn Tên lửa 274 bắn rơi. Chiến công này đã góp phần vào kho tàng kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội Tên lửa Phòng không trong đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc cuối tháng 12 năm 1972.

        21 giờ 18 phút ngày 19 tháng 6 năm 1972 tại trận địa Vạn Trạch, xã Lệ Ninh, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đồng chí Vũ Quang Trung trực tiếp chỉ huy đơn vị bắn rơi thêm 1 máy bay B52. Sau chiến thắng Vạn Trạch Tiểu đoàn 86 cơ động về phục kích đánh địch ở Ba Dốc gần sân bay Đồng Hới.

        17 giờ 30 phút ngày 1 tháng 7 năm 1972 địch ném bom vào trận địa làm hỏng 1 xe, 1 bệ và 1 đạn, 1 số xe bị hỏng nhẹ. Đồng chí Vũ Quang Trung đã anh dũng hi sinh trong trận chiến đấu này.

        Đồng chí Vũ Quang Trung luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khi ở chiến trường luôn bận rộn và căng thẳng, đồng chí vẫn giữ nề nếp ghi chép nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm qua từng trận đánh. Có tác phong chỉ huy sâu sát tỷ mỷ, tính tình cởi mở, chân thành, luôn được đồng đội yêu mến. Là tấm gương mẫu mực cho toàn Trung đoàn.

        Ngày 8 tháng 11 năm 2000, đồng chí được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG PHẠM MINH THƯ

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78535302_534128490650369_3411353284668030976_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=55OXjIDAY4cAQlr2sZdVZZwYQCJdpUEHmChbNfVJQ3WT-A3AoGVzsiZ7A&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=2b5a7e5dd13c6acd4086e70801a9c830&oe=5E403D26)
         

        Anh hùng Phạm Minh Thư sinh năm 1955, quê ở thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí là đảng viên, trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật bay Sân bay Pleiku, Đoàn Không quân 372.

        Được cấp trên giao nhiệm vụ tham gia chỉ huy Sân bay Pleiku từ những ngày đầu tiên mới tiếp quản sau chiến thắng 1975, Phạm Minh Thư đã cùng Tiểu đoàn của mình thực hiện nhiệm vụ bảo đảm bay cho các đơn vị trong Quân chúng Phòng không - Không quân thực hành chiến đấu ở biên giới Tây Nam, chiến trường Campuchia, bay huấn luyện, bay phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đi thăm kiểm tra địa bàn Tây Nguyên...

        Phạm Minh Thư với trách nhiệm của người chỉ huy, đã vô cùng lo lắng về tình trạng bom mìn còn lại ở sân bay làm chết và bị thương nhiều người (trong đó có cả bộ đội và dân trong những năm 1977 - 1992). Năm 1992, anh cùng đồng đội thu gom, xử lý 10.005 quả, sau đó lại một mình thu được 7.192 quả, và các đồng chí khác thu được 352 quả bao gồm khác loại như bom Mk82, bom Blu/66B, bom bi, rổc két, đại cối và các loại mìn bộ binh khác.

        Trong hơn 10 năm, Phạm Minh Thư đã cùng đồng đội thu gom được 17.549 quả bom mìn các loại bảo đảm an toàn tuyệt đối. Năm 2004 được sự chi viện của trên, số bom mình này đã được hủy nổ an toàn tại sân bay Pleiku. Việc làm này đã giúp cho sân bay và dân cư quanh khu vực không còn bị một tai nạn nào. Sân bay Pleiku từ đó đến nay yên tâm làm rất nhiều nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó.

        Công tác tại đơn vị 26 năm, thì 21 năm Phạm Minh Thư là cán bộ Tiểu đoàn, trong đó có 17 năm là Tiểu đoàn trưởng. Anh luôn tích cực chủ động và chịu khó trong tổ chức chỉ huy và điều hành nhiệm vụ, để cao trách nhiệm, toàn tâm toàn ý xây dựng đơn vị, chăm lo cho bộ đội.

        Đồng chí được tặng thưởng 11 danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, 5 Bằng khen. Ngày 21 tháng 12 năm 2005, Phạm Minh Thư được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:29:49 PM

ANH HÙNG LIỆT SĨ DƯƠNG VĂN THANH

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76759952_534128533983698_8619191204845715456_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=5YRKAsEf0dkAQkOrFf_BfzRz6oBNJX5srw_Wdv4CLysKgDCLEpajoP8Uw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=02f75ac279327d45501acd9bab1f3cc7&oe=5E85A7EB)
         

        Anh hùng Dương Văn Thanh sinh năm 1958, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Khi hi sinh đồng chí là đảng viên, Thượng tá phi công lái máy bay quân sự, thuộc Đoàn Không quân 910 - Trường Sĩ quan Không quân.

        Năm 1976 (18 tuổi) đồng chí trúng tuyển Phi công và được đào tạo lái máy bay tại Trường Sĩ quan Không quân (10 năm 1976- 12 năm 1981). Tốt nghiệp xuất sắc, đồng chí được giữ lại để đào tạo làm giảng viên bay tại Đoàn Không quân 910 - Trường Sĩ quan Không quân.

        Trải qua 29 năm phấn đấu, rèn luyện, đồng chí lần lượt được bổ nhiệm từ chức vụ Giảng viên bay kiêm Biên đội trưởng, đến Phó Phi đội trưởng, Phi đội trưởng, Phó Trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng và Phó Trung đoàn trưởng huấn luyện - Trưởng ban Quân huấn (tháng 10 năm 2003); được thăng quân hàm sĩ quan từ Thiếu uý (1981) đến Thượng tá (9 năm 2003), được đào tạo qua Trường Sĩ quan Không quân và học viện Phòng không - Không quân với học hàm Cử nhân Khoa học Quân sự.

        Sống và làm việc trong môi trường sư phạm quân sự chính quy, mẫu mực, đồng chí Dương Văn Thanh là phi công có trình độ bay giỏi, đồng thời là người thầy gương mẫu, người cán bộ lãnh đạo chỉ huy có năng lực, trách nhiệm. Trên cương vị Phó Trung đoàn trưởng - Trưởng ban Quân huấn, công việc phức tạp, đồng chí có phương pháp làm việc khoa học, góp phần cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Khi được giao chỉ huy Lực lượng cơ động huấn luyện bay trên máy bay L39 tại sân bay Nha Trang (từ tháng 3 năm 2004), đồng chí đã cùng các cán bộ cơ quan, đơn vị tổ chức tốt bay huấn luyện - đào tạo phi công mới, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu theo yêu cầu nhiệm vụ.

        Đặc biệt, ngày 29 tháng 4 năm 2005, là giảng viên trực tiếp kiểm tra, đồng chí đã cùng tập thể giảng viên và đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 100% chỉ tiêu và kế hoạch thả bay đơn cho học viên khoá 30. Nhưng một bất trắc xảy ra vào lúc 15 giờ 25 phút. Trong một chuyến bay huấn luyện chiến đấu cùng Biên đội, thực hiện nhiệm vụ ở độ cao thấp, máy bay của đồng chí đã đột ngột chết máy trên không. Phía trước là đảo Hòn Tre cao gần 500 mét. Đồng chí bình tĩnh quan sát, báo cáo về Sở chỉ huy và được phép nhảy dù thoát hiểm. Là người thầy có bản lĩnh vững vàng, có kinh nghiệm trong xử lý bất trắc, sau khi giữ tốt trạng thái máy bay, đồng chí đã lệnh cho phi công trẻ buồng lái sau nhảy dù. Còn lại một mình trên máy bay, độ cao đã quá thấp, phía trước dưới cánh máy bay là khu nghỉ mát khách sạn 5 sao của công ty du lịch Hòn Ngọc Việt (tỉnh Khánh Hoà) có hàng trăm phòng nghỉ với những dãy nhà cao tầng, hàng nghìn khách du lịch đang vui chơi, giải trí.

        Đồng chí Thượng tá Dương Văn Thanh đã dũng cảm hi sinh ngay trên vùng trời mà ở đó đồng chí gắn bó gần 30 năm với đồng đội, với những học viên phi công thân yêu và trường Sĩ quan Không quân. Đây là tấm gương sáng trong phong trào thi đua yêu nước, xứng đáng cho mọi người học tập và noi theo.

        Đồng chí đã được tặng thưởng: 01 Huân chương Chiến công hạng Nhất; 03 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba); 01 Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; 01 Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục và nhiều Bằng khen, Giấy khen...

        Ngày 9 tháng 1 năm 2007, Dương Văn Thanh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:31:36 PM
       
ANH HÙNG NGUYỄN VÀN BA

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77257390_534128543983697_93098771965018112_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=bzyfGGGN318AQnhH0U1e2hSCQxvPsEb-Xv91RNdAaz7L76ZO-n4jZhXEg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=25ce098037dd1de151e0934868cf844b&oe=5E462D0E)
       

        Anh hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá nghỉ hưu.

        Năm 1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm 1963- 1964 Mỹ Ngụy ráo riết hoạt động đánh phá miền Bắc, kể cả dùng máy bay tung gián điệp. Đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế, Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm ngày 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964, Tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện một chiếc C-123 của địch, bằng ba loạt đạn chính, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C-123 này. Đây là chiếc máy bay đầu của địch bị Không quân ta bắn rơi đêm trên miền Bắc. Nguyễn Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 3 năm 1973, Nguyễn Văn Ba làm đoàn trưởng tiếp nhận sân bay Lộc Ninh - Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, anh làm Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978, Nguyễn Văn Ba làm Giám đốc xưởng A75. Năm 1990, chuyển sang Tổng cục Hàng không Dân dụng. Đến năm 1994, đồng chí nghỉ hưu, quân hàm Đại tá.

        Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Ba. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN TƯỜNG LONG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76904482_534128557317029_3088948373433090048_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=Y0AOFYnAFbIAQn36Nx8K75m9q_FirbFEbT6XG5sLJ_XLdD7r0UNNG5qIg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ebe21573d86b2d897e1d345d77ece7de&oe=5E76C8A5)
       

        Anh hùng Nguyễn Tường Long sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở Quận Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Thượng úy đã nghỉ hưu.

        Năm 1954, Nguyễn Tường Long tập kết ra Bắc, tiếp quản sân bay Gia Lâm, đồng chí được cử đi học sửa chữa máy bay. Ra trường Nguyễn Tường Long được điều về Đoàn Không quân 919, trong những năm chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã cải tiến và lắp ráp các phương tiện trên máy bay vận tải để máy bay vừa vận chuyển vừa có thể đánh địch trên không, mặt đất và trên biển góp phần cho Đoàn 919 lập nên những chiến công vẻ vang.

        Năm 1968, Nguyễn Tường Long cùng anh em thợ máy nghiên cứu và chế tạo thành công giá lắp bom, cối trên máy bay L14 của Liên Xô, mỗi máy bay mang 5 quả bom loại 250 ki-lô-gam, 63 quả cối 120 ly, phi công ta đã sử dụng thành công khi đánh đồn Mang Cá (Huế), đánh căn cứ ra-đa, chỉ huy dẫn đường tiếp dầu cho máy bay Mỹ trên đồi Pa Thí (Lào).

        Tháng 1 năm 1968, Nguyễn Tường Long nghiên cứu sửa chữa kiểm tra máy bay T28 của Mỹ để phi công ta sử dụng bắn rơi C-123 của địch. Vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964.

        Nguyễn Tường Long đã tham gia tháo gỡ vận chuyển và lắp ráp thành công máy bay UH1A, máy bay CA34 từ miền Nam, Lào về sân bay Gia Lâm để làm máy bay huấn luyện cho phi công ta.

        Nguyễn Tường Long còn tham gia sửa chữa, nhiều máy bay phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

        Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Tường Long được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG NGUYỄN THÀNH TRUNG

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78219135_534128593983692_9130832310717906944_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_ohc=qY_XKe7y1YAAQnwvxeQGIYXxodZSloH-to6D0eQy9U3967mmh-_L8dRjA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b0a9cb6ad51f4ea9c87be8042a71cd3e&oe=5E802036)

        Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

        Năm 1969, Nguyễn Thành Trung công tác ở Ban Binh vận Trung ương cục Miền Nam, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong Không quân Nguy.

        Ngày 8 tháng 4 năm 1975, từ căn cứ Không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động, tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích, khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè.

        Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc A-37 lấy được của địch, tập huấn cho anh em phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A-37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom, bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

        Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng Lực lượng Không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A-37, máy bay F-5, trực tiếp lái thử từng chiếc đế xác định chất lượng, đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập Trung đoàn cường kích A-37 và Trung đoàn tiêm kích F-5 - Trung đoàn duy nhất của Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

        Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Một, 2019, 05:20:34 AM

PHỤ LỤC HAI

MỘT SỐ TƯ LIỆU VÀ HÌNH ẢNH “CHÚNG TÔI VÀ MiG-17

        Bạn có biết về MiG-17?

        Mikoyan-Gurevich MiG-17 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-17, МиГ-17 trong ký tự Kirin) (tên ký hiệu của NATO Fresco) là một máy bay phản lực chiến đấu của Liên Xô, được đưa vào sử dụng từ năm 1952.

        MiG-17 đã được Thiết kế và phát triển như thế nào?

        Thiết kế MiG-17 nói chung dựa trên loại máy bay chiến đấu MiG-15 đã thành công trước đó của Mikoyan và Gurevich. Điểm mới là ứng dụng cánh cụp xuôi phía sau với hình dạng: 45 độ gần thân chính, và 42 so với phần bên ngoài của cánh. Nó cũng dùng động cơ VK-1 và những phần khác hoàn toàn tương đương. Mẫu đầu tiên, ký hiệu SI cất cánh lần đầu tiên ngày 14 tháng 1, 1950 do phi công Ivan Ivashchenko điều khiển. Nguyên mẫu thứ hai SP-2 là một máy bay đánh chặn, trang bị một radar. Dù mẫu SI đã lao xuống đất ngày 17 tháng 3 năm 1950, những cuộc thử nghiệm với các mẫu khác như SI-2 và một loạt máy bay thực nghiệm SI-02 và SI-01, năm 1951, nói chung là thành công và vào ngày 1 tháng 9, 1951 loại máy bay này được chấp nhận đưa vào sản xuất. Theo ước tính với động cơ tương tự như của MiG-15, tốc độ tối đa của MiG-17 cao hơn 40-50 km/h, và tính năng cơ động tốt hơn ở độ cao lớn.

        MiG-17 được sản xuất hàng loạt bắt đầu diễn ra từ năm 1951. Trong khi sản xuất, máy bay được cải tiến và sửa đổi nhiều lần. MiG-17 căn bản có nhiệm vụ chiến đấu ban ngày, được trang bị 3 súng máy, được coi là hiệu quả nhất trong hoạt động chống lại máy bay địch. Nó cũng có thể được dùng làm máy bay chiến đấu - ném bom, nhưng trọng lượng bom bị coi là nhỏ so với những loại máy bay chiến đấu khác cùng thời kỳ, và nó thường mang theo thùng dầu phụ thay cho bom.

        Ngay sau đó một số lượng MiG-17P hoạt động mọi thời tiết đã được chế tạo với trang bị radar Izumrud và những sửa đổi cửa nạp khí phía trước.

        Mùa xuân năm 1953 MiG-17F chiến đấu ban ngày bắt đầu được sản xuất. Được trang bị động cơ VK-1F với một bộ phận đốt nhiên liệu lần hai, nên tính năng của nó đã được cải thiện, nó trở thành biến thể được biết đến rộng rãi nhất của MiG-17.

        Biến thể được chế tạo hàng loạt tiếp theo có trạng bị bộ phận tái đốt nhiên liệu và radar là MiG-17PF. Năm 1956 một số chiếc (47) được chuyển đổi thành MiG-17PM (cũng được gọi là PFU) với 4 tên lửa không đối không thế hệ đầu tiên K-5 (NATO: AA-1 'Alkali') đầu tiên.

        Một số lượng nhỏ máy bay MiG-17R trinh sát được chế tạo trang bị động cơ VK-1F (nó đã được thử nghiệm với động cơ VK-5F).

        Tới năm 1958 vài ngàn chiếc MiG-17 đã được chế tạo tại Liên bang Xô Viết.

        Những nước nào từng chế tạo MiG-17 theo giấy phép?

        Năm 1955 Ba Lan nhận được giấy phép chế tạo MiG- 17. Việc sản xuất MiG-17F diễn ra tại WSK-Mielec với tên hiệu là Lim-5. Chiếc Lim-5 hoàn thành ngày 28 tháng 11 năm 1956 và cho đến năm 1960 tổng cộng 477 chiếc đã được chế tạo. Một số chiếc được chế tạo ở kiểu biến thể trinh sát Lim-5R, với máy ảnh AFA-39. Từ 1959-1960, 129 chiếc MiG- 17PF đánh chặn đã được sản xuất với tên hiệu Lim-5P. Sau đó, Ba Lan đã phát triển những chiếc máy bay tấn công dựa trên MiG-17: Lim-5M sản xuất từ 1960, Lim-6bis sản xuất từ 1963 và Lim-6M (đã được chuyển đổi trong thập kỷ 1970) và các biến thể trinh sát: Lim-6R (Lim-6bisR) và MR.

        Tại Trung Quốc, chiếc MiG-17F đầu tiên được lắp ráp từ các bộ phận năm 1956, sau đó từ năm 1957 bắt đầu sản xuất theo giấy phép tại Shenyang. Phiên bản chế tạo của Trung Quốc được gọi là Shenyang J-5 (dùng trong nước) hay F-5 (cho xuất khẩu - không nên nhầm với loại F-5 Freedom Fighter). Theo một số nguồn tin, những chiếc MiG-17 ban đầu, do Liên xô chuyển giao, được gọi là J-4. Từ năm 1964, các biến thể do Trung Quốc sản xuất với một radar, tương tự như MiG-17PF, được gọi là J-5A (F-5A). Người Trung Quốc cũng phát triển một phiên bản huấn luyện hai ghế ngồi JJ-5 (FT-5 cho xuất khẩu), cabin J-5 theo kiểu JJ-2 (sản xuất theo giây phép MiG-15UTI). Nó đã được sản xuất trong giai đoạn 1966-1986, là biến thể cuối cùng và duy nhất có hai ghế ngồi của MiG-17 được sản xuất. Người Xô viết không sản xuất MiG-17 hai chỗ ngồi vì họ cho rằng biến thể huấn luyện của loại MiG-15 vẫn đáp ứng tốt yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Một, 2019, 05:22:39 AM

        Các biến thể của MiG-17

        MiG-17 (Fresco-А): Phiên bản máy bay tiêm kích cơ bản trang bị động cơ VK-1 ("máy bay SI").

        MiG-17A: Phiên bản máy bay tiêm kích trang bị động cơ VK-1A với tuổi thọ dài hơn.

        MiG-17AS: Phiên bản cải tiến để mang tên lửa không dẫn hướng và tên lửa không đôi không K-13.

        MiG-17P (Fresco-В): Phiên bản máy bay tiêm kích mọi thời tiết trang bị radar Izumrud ("máy bay SP").

        MiG-17F (Fresco-С): Phiên bản máy bay tiêm kích cơ bản trang bị động cơ VK-1F với khả năng đốt nhiên liệu phụ trội ("máy bay SF").

        MiG-17PF (Fresco-D): Phiên bản máy bay tiêm kích mọi thời tiết trang bị radar Izumrud và động cơ VK-1F ("máy bay SP-7F").

        MiG-17PM/PFU (Fresco-Е): Phiên bản máy bay tiêm kích trang bị radar và tên lửa không đối không K-5 (NATO: AA-1 'Alkali') ("máy bay SP-9").

        MiG-17R: Phiên bản trinh sát với động cơ VK-1F và camera ("máy bay SR-2s")

        MiG-17SN: Phiên bản thử nghiệm với hai khe hút không khí, không có khe không khí ở giữa, trang bị pháo 23 mm ở phần mũi. Không được sản xuất.

        Shenyang J-5 và Shenyang J-8: Trong số những biến thể thực nghiệm, có một máy bay tấn công 'máy bay SN' năm 1953, với cửa hút gió phía trước được thay thế bằng hai cửa hút gió bên, và hai súng máy 23 mm lắp ở trên cái mũi mới, có thể lao xuống bắn mục tiêu mặt đất. Nó không được chế tạo.

        Một số chiếc không sử dụng nữa được chuyển đổi thành những mục tiêu điều khiển từ xa.

        Vũ khí của MiG-17:

        Các biến thể chiến đấu ban ngày (MiG-17, MiG-17F) được trang bị hai đại bác NR-23 23 mm (80 viên mỗi súng) và một đại bác N-37 37 mm (40 viên), ở giá lắp súng chung bên dưới cửa hút gió trung tâm. Giá lắp súng có thể được tháo ra dễ dàng khi bảo dưỡng. Nhiều biến thể với radar (MiG-17P, PF) được trang bị ba đại bác NR-23 23 mm (100 viên), vì trọng lượng radar. Tất cả các biến thể có thể mang 100kg bom trên hai mấu dưới cánh (một số’ chiếc có thể mang 250 kg bom), nhưng thường thì chúng mang theo thùng dầu phụ 400 lít. MiG-17R chỉ được trang bị hai đại bác 23 mm. Biến thể duy nhất có trang bị tên lửa không đối không là MiG-17PM (PFU), mang 4 tên lửa K-5 (NATO: AA-1). Nó không có pháo, ở nhiều nước, MiG-17 thỉnh thoảng được cải tiến để mang tên lửa không điều khiển hoặc bom ở các mấu treo lắp thêm.

        MiG-17P được trang bị radar Izumrud-1 (RP-1), MiG- 17PF với RP-1 hay sau này với radar Izumrud-5 (RP-5). MiG-17PM cũng được trang bị một radar, dùng để nhắm tên lửa. Các biến thể khác không có radar.

        Lịch sử hoạt động của MiG-17?

        Mục đích chiến lược của MiG-15 cũng giống như những máy bay tiêm kích khác của Liên Xô là bắn hạ những máy bay ném bom của Mỹ, tránh giao chiến dogfight (hỗn chiến). Máy bay tiêm kích dưới tốc độ âm thanh này (0.93 Mach) được sử dụng có hiệu quả nhất trong đối đầu với các máy bay tiêm kích - ném bom nặng nề, bay chậm (0.6-0.8 Mach) của Mỹ, cũng như những máy bay ném bom chiến lược trụ cột của Mỹ (như B-50 hay B-36, cả hai loại máy bay này đều trang bị động cơ piston). Thậm chí khi mục tiêu đã có đủ thời gian cảnh báo trước và thả bớt trọng lượng nhằm tăng tốc độ để tẩu thoát, thì việc đó cũng là đủ để chúng phải từ bỏ nhiệm vụ ném bom của mình. Theo thời gian, Không quân Hoa Kỳ đã đưa vào hoạt động những máy bay ném bom chiến lược có tốc độ hành trình đạt siêu âm như B-58 Hustler và FB-111, tuy nhiên, MiG-17 đã trở thành máy bay lỗi thời trong biên chế của Lực lượng phòng không Xô viết và được thay thế bởi những máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm như MiG-21 và MiG-23.

        Hơn hai mươi quốc gia đã sử dụng MiG-17. MiG-17 đã trở thành một máy bay tiêm kích tiêu chuẩn trong không quân các nước thuộc khối Hiệp ước Vácxava vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. MiG-17 cũng được nhiều nước khác mua, chủ yếu tại châu Phi và châu Á, bao gồm những nước trung lập hay đồng minh với Liên Xô.

        MiG-17 không được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên, nhưng nó đã tham gia chiến đấu trong các cuộc chiến tại eo biển Đài Loan giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), khi những chiếc MiG-17 của Trung Quốc chạm trán với F-86 của Đài Loan vào năm 1958.

        Người Mỹ đã bị bất ngờ, lúng túng vào năm 1965 khi những chiếc MiG-17 cũ, bay chậm hơn nhưng lại bắn hạ được máy bay tiêm kích-ném bom F-105 Thunderchief tốc độ Mach-2 ở miền Bắc Việt Nam. Để khắc phục khả năng không chiến với những máy bay tiêm kích nhỏ và nhanh nhẹn như những máy bay MiG, Mỹ đã thành lập huấn luyện không chiến khác biệt (DACT) trong chương trình huấn luyện của TOPGUN, người Mỹ đã phải sử dụng những máy bay A-4 Skyhawk và F-5 Freedom Fighter bay dưới tốc độ âm thanh để đóng giả làm những máy bay MiG-17. Hải quân Hoa Kỳ cũng thành lập những phi đội trang bị của đối phương (tức là sử dụng máy bay đóng giả làm máy bay đối phương) với những chiếc A-4 nhanh nhẹn để thực hành tấn công những máy bay trong chương trình DACT.

        MiG-17 cũng được sử dụng để chiến đấu chông lại Israel trong các cuộc Xung đột Á Rập-Israel. ít nhất 24 chiếc MiG-17 đã phục vụ trong Không quân Nigeria và được một nhóm gồm các phi công của Nigeria, Đông Đức, Nga, Nam Phi, Vương quốc Anh, Úc lái trong thời gian xảy ra Nội chiến Nigeria 1967-1970. 4 chiếc MiG-17 đã được Liên Xô cung cấp khẩn cấp cho Sri Lanka trong cuộc nổi dậy 1971, và chúng đã được sử dụng để ném bom và tấn công mặt đất trong cuộc xung đột.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:46:17 PM

        Về đặc điểm cánh xuôi sau và nhiệm vụ?

        Không phải chỉ riêng MiG-17 có cánh xuôi. Trong dòng máy bay MiG, ba loại MiG-15, MiG-17 và MiG-19 cùng trong lớp máy bay cánh xuôi sau đuôi ngang treo cao. Chúng ra đời ở giai đoạn các máy bay trên thế giới tăng tốc độ do các nhà kỹ thuật cải tiến động cơ phản lực.

        Trước MiG-15, máy bay MiG-9 được coi là kiểu trung gian giữa phản lực và cánh quạt, step mode. MiG-9 có vị trí động cơ, trọng tâm và các cánh khí động tương tự như các máy bay cánh quạt. Máy bay cánh xuôi sau phát triển tốc độ từ 900km/h đến 1900km/h. Sau đó, các máy bay cánh tam giác và các tứ giác có tốc độ từ xấp xỉ М2 và cao hơn nữa. Các máy bay MiG-15, MiG-17 và MiG-19 chỉ khác nhau một chút về hình dáng cánh. Đuôi ngang càng ngày càng thấp xuống từ MiG-15 đến MiG-19, theo phát triển tốc độ tăng lên.

        MiG-15 và MiG-17 là các máy bay đánh chặn (interceptor). Trong cơ cấu máy bay Liên Xô và Đức hồi thế chiến 2, đây là các máy bay chuyên nghiệp không chiến, nhỏ, linh hoạt và có số lượng lớn. Nó đánh mọi thứ bay trên trời. Ngày đó, chiến đấu trên không cần những máy bay gọn nhẹ để linh hoạt hỗn chiến (dogfight). Cũng vì yêu cầu gọn nhẹ, nên các máy bay đánh chặn kém khả năng mang bom, và cần hai loại máy bay riêng, ném bom bổ nhào và đánh chặn. Chỉ đến khi kỹ thuật điện tử phát triển, việc không chiến cần những máy bay to mang vũ khí khí tài lớn, thì máy bay không chiến và ném bom bổ nhào Liên Xô mới hòa vào nhau, trong dòng MiG là chiếc MiG-23.

        Người Mỹ chế tạo những mẫu máy bay vừa không chiến, vừa tấn công mặt đất được. Từ mẫu ban đầu đó, họ chế tạo những loại đa năng thiên về từng nhiệm vụ, gọi là máy bay chiến đấu fighter. Do đó, cơ cấu máy bay Mỹ rất ít máy bay chiến đấu chuyên nghiệp interceptor. Đừng cho rằng máy bay MiG-17 tốc độ chậm, không thỏa mãn nhiệm vụ chiến đấu với máy bay không chiến. Thực tế, MiG-17 trở thành máy bay không chiến chủ lực của Liên Xô vào thời của nó. Lúc đó là thời kỳ động cơ phản lực tiến bộ rất nhanh, có nhiều loại máy bay nghiên cứu thử nghiệm tốc độ cao hơn, nhưng so sánh với các máy bay chiến đấu được trang bị thực tế lúc đó thì MiG-17 là một trong những máy bay nhanh nhất.

        Tuy nhiên, giống như các máy bay thời kỳ động cơ phát triển chóng mặt, thời của MiG-17 không kéo dài. Cách cơ cấu của Liên Xô và Đức có một nhược điểm là cần đội máy bay rất đông, nhưng số máy bay có khả năng làm một nhiệm vụ cụ thể lại ít. Ưu điểm của cơ cấu này là tính năng của máy bay chiến đấu chuyên nghiệp mạnh và rẻ, nên sản xuất được nhiều. Cơ cấu máy bay này xuất hiện từ những kinh nghiệm chiến trường của chiến tranh Tây Ban Nha, đạt tỷ lệ và số lượng máy bay chiến đấu lớn trong chiến tranh Xô - Đức thuộc thế chiến 2, phục vụ cho những chiến dịch quân sự lớn hồi đó.

        Các máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất đến nay là ba loại máy bay loại không chiến chuyên nghiệp tầm ngắn Liên Xô MiG-15, MiG-17, MiG-21. Máy bay MiG-19 không gặp may, máy bay hai động cơ này dựa vào một loại động cơ phát triển quá chậm, trong thời kỳ kỹ thuật phát triển chóng mặt, khi đủ điều kiện chế tạo hàng loạt thì MiG- 21 đã xuất hiện. Vì vậy, MiG-19 ở Liên Xô không được sản xuất nhiều như các MiG khác, mà được sản xuất nhiều ở Trung Quốc và một vài nước. Việt Nam chỉ có loại MiG-19

        Trung Quốc, có phần kém tính năng so với nguyên bản, cũng tham chiến ở Việt Nam nhưng kết quả chung rất thấp. MiG- 21 là máy bay trung gian còn MiG-15 và MiG-17 là những máy bay hỗn chiến (dogfight) bằng súng điển hình.

        Trong phát triển, MiG-15 và MiG-17 được trang bị radar phục vụ mục tiêu chiến đấu mọi thời tiết, nhưng radar hồi đó yếu. MiG-17 có khả năng ngắm bắn bằng radar nhưng trên tực tế, hầu như phụ thuộc vào mắt phi công.

        Về thử nghiệm chế tạo và phân loại MiG-17?

        Mikoyan chế tạo song song hai loại máy bay, một động cơ và hai động cơ cánh xuôi sau. Máy bay một động cơ bắt đầu từ I-310, chính là MiG-15. Mẫu thử nghiệm SI (hay là I- 330) được đưa vào sản xuất với tên gọi MiG-17 có một động cơ. Ký hiệu SI chỉ rằng máy bay cải tiến thân so với MiG-15 ( các mẫu thử ký hiệu S). Máy bay được thiết kế trong năm 1949, song song với máy bay MiG-15bis (máy bay MiG-15 dùng động cơ mới). I-330 mang động cơ V.Klimov VK-1. Vũ khí tương tự MiG-15, gồm 3 súng, một khẩu 37mm và 2 khẩu 23mm. Mẫu thử nghiệm đầu tiên cất cánh ngày 13 tháng giêng 1950, đây là máy bay chiến đấu đầu tiên của Liên Xô vượt âm thanh, đạt tốc độ 1,03 lần tốc độ âm thanh, rơi tháng 3 năm đó. sản xuất hàng loạt bắt đầu từ tháng 6 năm 1950. Máy bay một động cơ được chọn sản xuất do mẫu thử I-340 hai động cơ AM-5, mà động cơ này rất chậm phát triển. Sau này, I-340 được cải tiến thành I-360 và thành MiG-19. Dòng máy bay hai dòng máy bay hai động cơ bắt đầu từ I-320, bố trí hai động cơ bậc thang theo chiều dọc, cái này trước cái kia, cái trước đặt dưới. Đến I-240 mới lắp hai động cơ ngang nhau.

        Máy bay I-350 (M-l, M-2, MT) dùng động cơ Lyulka TR-3A (AL-5) lực đẩy 4700kg, thiết kế giữa năm 1950, bay năm 1951. Máy bay có ba biến thể, M-l, M-2 và MT. máy bay có cánh xiên sau hơn I-330, đạt 55 độ. Thân dài hơn và có gờ cánh, tăng cường ổn định ở tốc độ cao. Tốc độ cao hơn MiG-17 I-330 một chút, vượt âm khi bay ngang độ cao thấp. Máy bay rỗng nặng 6124kg, trọng lượng cất cánh thông thường 8170kg. M-l dùng radar Izumrud(lắp môi trên cửa hút gió) còn M-2 dùng radar Korshun (lắp giữa cửa hút gió). MT là máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi, nhưng không được chế tạo. Ngày 16-6 năm 1951, máy bay bay chuyến đầu, chuyến thứ 5 kết thúc tháng 8 và chương trình dừng. Nguyên nhân không thể hoàn thiện hệ thống cung cấp nhiên liệu cho động cơ. Ngay lần thử đầu tiên, máy bay đã hỏng động cơ, hệ thống thủy lực dừng theo, phi công thử nghiệm suất sắc Grigory Sedov cứu được máy bay. Do yêu cầu của bác sĩ, A.I.Mikoyan được thông báo là thử nghiệm thành công cho đến khi ông khỏi bệnh. Động cơ được thiết kế lại với tên TR- 3A, nhưng vẫn không đạt yêu cầu.

        SP-2, máy bay sử dụng radar tìm kiếm tiên tiến Korsun (Kite), các biến thể khác chỉ có radar ngắm bắn. Bỏ súng 37mm, năm 1951. sản xuất với số’ lượng hạn chế. MiG- 17PM (PFU) mang tên lửa R-5, đây là loại tên lửa tầm quang, dùng đèn chiếu quan học dẫn đường. Loại tên lửa này chỉ dùng trong thời gian ngắn. Các máy bay MiG-15, MiG-17 và MiG-19 có 3 cấu hình radar. Cấu hình đầu tiên là không radar, loại thứ hai có một radar ngắm bắn giữa cửa hút gió. Loại nữa mang radar tìm kiếm ở môi trên cửa hút gió hoặc mang cả radar tìm kiếm và radar ngắm bắn sử dụng chung một màn hình. Radar của MiG-17 nhỏ và yếu, trong chiến tranh Việt Nam, một phi công chiến đấu đêm đã phải bỏ radar bắn mắt thường theo đèn máy bay địch. Nguyên nhân là hai máy bay địch tiến lại gần nhau rồi tách, làm máy tính tương tự của radar bị treo.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:46:47 PM

        Về động cơ của MiG-17

        Các loại máy bay từ MiG-9 đến MiG-19 sử dụng nhiều loại động cơ. Các động cơ này có ba nguồn gốc. Dòng động cơ đầu tiên được sản xuất lớn là RD-20, RD-21. Đây là động cơ sao chép và cải tiến từ động cơ phản lực Đức trong chiến tranh BMW-003. Động cơ này dễ chế tạo, nhưng lực đẩy nhỏ (dưới một tấn) và tuổi thọ thấp. Loại này có máy nén dọc trục nhiều tầng. Áp suất đốt từ 3atm-4atm, buồng đốt hình trụ có lưới cách nhiên lỗ nghiêng.

        Loại động cơ áp dụng nhiều nhất là RD-45, sau được mở rộng thành VK-1. Ban đầu, Liên Xô đặt hàng nhà thiết kế Nene, hãng Rolls-Royce, Anh Quốc thiết kế và chế tạo động cơ cho máy bay chiến đấu. Hai sản phẩm là Nene-1 và Nene-2. Tiếp sau Liên Xô mua bản quyền chế tạo. Nhưng sau đó, chiến tranh lạnh xuất hiện, buộc Liên Xô phải tự sản xuất theo mẫu Nene và mở rộng. Đây là loại động cơ có một tầng máy nén ly tâm, áp suất đốt 4atm. Buồng đốt ưu việt hơn hẳn các loại động cơ khác.

        Bay lần đầu ở mẫu thử máy bay MiG-15 I-310 S-2, ngày 27 tháng 5 năm 1948. Loại động cơ Liên Xô cải tiến đầu tiên là RD-45F, lực đẩy 2270kg, năm 1948 (thực chất, chỉ là Nene-1 vẽ lại theo các đơn vị đo lường Liên Xô, Nene-2 cũng không khác gì nhiều). I-310 (máy bay thử nghiệm MiG-15) có ba bản, S-l dùng Nene-1, S-2 dùng RD-45 và S-3 dùng Nene-2. Động cơ 2700kg VK-1 được sử dụng cho MiG-15bis để nâng cao tính năng máy bay khi chiến tranh lạnh bắt đầu. Động cơ VK-1A năm 1952 lực đẩy 3.200kg. Động cơ VK-1F năm 1954 có đốt lần hai lực đẩy 3.700kg. VK có áp suất đốt trung bình trên RD một chút.

        Loại động cơ do Liên Xô tự phát triển từ năm 1938 Lyulka TR-1 được trang bị lần đầu cho MiG-9. Động cơ TR-3 trang bị cho máy bay I-350. các loại động cơ này chỉ được sản xuất thử nghiệm, không đạt độ tin cậy. Chỉ đến MiG-25, hậu duệ của chúng là R-15 mới được sản xuất lớn. Loại động cơ này có lượng gió thông qua lớn, máy nén đồng trục số tầng nén thấp và tốc độ vòng quay cao. Sau này, hãng Lyulka là nhà cung cấp chính động cơ cho máy bay chiến đấu Liên Xô và Nga.

        Tất cả các động cơ trên đều là động cơ phản lực tuôc- bin (turbine) một luồng khí Turbojet. Các máy bay cánh xuôi sau Liên Xô gặp nhiều vấn đề về động cơ. Ví dụ như AM-5 ra đời rất chậm là nhiều máy bay sử dụng nó bị đình hoãn, trong đó có các phương án hai động cơ của MiG-17. Điều này thể hiện giới hạn của động cơ kiểu Nene. Sau này, Turmasky chế tạo động cơ hai trục lồng nhau R-ll, máy bay chiến đấu Liên Xô mới có động cơ ổn định, bắt đầu từ MiG-21. Kết cấu này ngày nay thường được dùng làm lõi của các động cơ máy bay chiến đấu.

        Một vấn đề nữa hạn chế dòng máy bay cánh xuôi sau, là hiện tượng chấn động cửa hút gió khi máy bay gần tốc độ âm thanh. Ở tốc độ này của máy bay, gió trong cửa hút có tốc độ cao hơn, đạt tốc độ âm thanh. Sóng âm chuyển động bằng vận tốc của gió, xuất hiện tình trạng tích lũy năng lượng và nổ gây chấn động, làm tắt hoặc hỏng động cơ. Loại MiG-15 đã gặp rất nhiều tai nạn do dừng đột ngột động cơ khi bổ nhào mà mãi sau này mới giải thích được nguyên nhân. Các máy bay trên thế giới sau đó khắc phục bằng cửa hút gió hẹp gấp khúc, như MiG-21, SU-22 hay SR-71. Máy bay MiG-17 cũng gặp trở ngại này nhiều hơn, do vẫn dùng cửa hút gió của MiG-15 và tốc độ cao xấp xỉ tốc độ âm thanh.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:47:31 PM

        Đôi điều về MiG-17 được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam

        Thời kỳ này, MiG-17 đã được coi là "out of date", vì chúng quá cổ. Nói rộng ra một chút, thời kỳ không chiến trên bầu trời miền Bắc Việt Nam đã xuất hiện những mâu thuẫn Liên Xô và Trung Quốc. Trước năm 1960, Liên Xô viện trợ ồ ạt cho Trung Quốc, làm kỹ thuật Trung Quốc phát triển với tốc độ đại nhảy vọt. Đến 1960, người Trung Quốc đã chế tạo được MiG-19 và đang hoàn thiện việc chế tạo MiG-21, máy bay chiến đấu trên không hiện đại nhất của Liên Xô hồi đó. Như vậy, từ một nước hết sức lạc hậu năm 1949, chỉ trong vòng 10 năm, Trung Quốc đã sản xuất được những máy bay chiến đấu hàng đầu thế giới.

        Nhưng do những cuộc đấu tranh giành quyền lực nội bộ, người Trung Quốc đột nhiên quay sang đối đầu với Liên Xô, nhằm đánh bại những thế lực của các nhà kỹ thuật mới xuất hiện. Người Trung Quốc đã thay thời kỳ phát triển nhảy vọt trước 1960 thành kế hoạch "Đại nhảy vọt" và những kế hoạch khác, phá hoại gốc rễ nền tảng kinh tế và kỹ thuật, tạo thời kỳ bế tắc kỹ thuật kéo dài 30 năm. Do mâu thuẫn này, mà Liên Xô không thể viện trợ những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất cho Việt Nam, tránh thất thoát kỹ thuật sang Trung Quốc, vốn rất thân thiện với Việt Nam. Thậm chí, Liên Xô cử chuyên gia sang trực tiếp sử dụng khí tài hiện đại. Có thể lấy ví dụ nhỏ: khi cần hiệu chỉnh tên lửa SAM-2, đích thân Đại sứ Liên Xô phải ra lệnh tháo đầu dẫn đường làm ngay trên Việt Nam, còn chuyên gia yêu cầu mang về Nga, sẽ làm lỡ chiến trận.

        Tuy được Liên Xô viện trợ những kỹ thuật tối tân hồi những năm 1950, nhưng thời kỳ này Trung Quốc tỏ ra chưa có kinh nghiệm chiến đấu bằng máy bay. Những máy bay chiến đấu phản lực Trung Quốc đến 28-10-1958 đại bại trước Đài Loan. Đã bại trong chiến đấu, người Trung Quốc lại tỏ ra không kiên trì dũng cảm phát triển chiến thuật và bế tắc kỹ thuật, không tìm được phương thức chiến đấu hiệu quả. Trước khi những chiến công của Không Quân Việt Nam diễn ra, người Trung Quốc đã vài lần bị Mỹ bắn hạ trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ mà phải bó tay, không trả đòn được gì. Sự thật là do trận đánh ngày 28-10-1958, Đài Loan sử dụng vũ khí mới là tên lửa có điều khiển, loại hướng hồng ngoại AIM-9, đánh các MiG-15 Trung Quốc.

        Để đối phó, một mặt, Trung Quốc đã dừng hoàn toàn các cuộc chiến đấu trên không, mặt khác, họ huy động một lượng người khổng lồ, rà quét từng đề-xi-mét vuông vùng diễn ra trận đánh. Những người được huy động thu thập từng mẩu vũ khí rơi xuống trong một vùng vài trăm ki-lô- mét vuông. Trung Quốc tìm được một vài mảnh đuôi tên lửa và rất may mắn, họ đã tìm được một tên lửa cắm vào máy bay mà không nổ (chiếc máy bay này cố gắng hạ cánh nhưng không được). Các đầu dò và phần điện tử được Trung Quốc tháo ra giữ lại, rồi chuyển tên lửa sang Liên Xô yêu cầu phân tích giúp đõ. Người Liên Xô từ đó chế tạo ra R-13, tên lửa dùng trên MiG-21, rất giống AIM-9. Mãi đến tận cuối thế kỷ 20, giới quân sự phương Tây cũng không biết tại sao thiết kế AIM-9 lại thất thoát. Trung Quổc giữ lại phần điện tử để hy vọng có được tên lửa tốt hơn Liên Xô sau này. Do quá dễ dàng có được kỹ thuật cao, người Trung Quốc nghĩ rằng, dễ dàng sở hữu kỹ thuật đó. Thực tế cho thấy, 30 năm sau họ vẫn chưa thể chế tạo được các đầu dò hồng ngoại tốt.

        MiG-17 đã bắt đầu tham chiến trong bối cảnh như thế. Đó là những máy bay phản lực đầu tiên Không quân Việt Nam sử dụng đánh lại không quân Mỹ. Không quân Việt Nam được rèn luyện hết sức chu đáo, chiến đấu dũng cảm và sáng tạo, ngay từ đầu đã chứng tỏ ưu việt. Máy bay MiG-21 vẫn là máy bay thế hệ sau, thời cuối chiến tranh năm 1970- 1972, các MiG-17 đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình trong không chiến. Tuy nhiên, MiG-17 để lại ấn tượng lớn, do khả năng hết sức linh hoạt của nó và đặc biệt là một loại máy bay cổ lỗ đã chiến thắng nhiều máy bay hiện đại Trung Quốc và Triều Tiên cũng cử những đơn vị không quân chiên đấu tiên tiến nhất sang Việt Nam để học tập kinh nghiệm. Tuy nhiên, họ chiến đấu kém, tổn thất nặng nề, hầu như không giúp gì được cho Không Quân Việt Nam. (Nghĩa trang Liệt sĩ Phi công Triều Tiên ở Bắc Giang là một chứng tích như thế).

        MiG-17 được nhân dân và phi công Việt Nam yêu mến gọi tên là "én bạc". Máy bay cổ đến mức gọi là "out of date" được phi công Việt Nam sử dụng xuất sắc, nhiều lần bắn hạ loại F-4 không chiến, máy bay hiện đại nhất của Mỹ. Họ tìm được những ưu thế của súng, làm cho Mỹ phải cải tiến F-4, trang bị trở lại súng mà trước đây F-4 đã bỏ.

        Cuộc chiến của Không Quân Việt Nam kéo dài, qua nhiều thăng trầm, nhiều thời kỳ khó khăn, nhưng người Việt Nam không ngừng sáng tạo, đưa ra và thử nghiệm nhiều chiến thuật mới. Người Mỹ cũng liên tiếp sáng tạo chiến thuật và vũ khí.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:05:50 AM

        Ngày nay, các trận chiến đấu trên bầu trời Bắc Việt được nghiên cứu kỹ càng, được giảng dạy trong các trường phi công chiến đấu như một cuộc chiến tranh không quân kinh điển. Cùng với nghiên cứu, các phi công Mỹ và Việt Nam cũng để lại nhiều hồi ký. Nhìn chung, các phi công Mỹ rất tôn trọng các phi công Việt Nam, không tiếc lời ca ngợi. Hồi ký phi công Việt Nam cũng kể lại rất nhiều mưu mẹo của phi công Mỹ và những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua. Hồi ký phi công Việt Nam kể lại nhiều giai đoạn thương vong đến vắng cả doanh trại. Đê miêu tả cuộc chiến này cần những quyển sách dầy.

        Hai chiến thuật được phi công Việt Nam sử dụng nhiều khi bay MiG-17 là bay vòng tròn cắt đường kính ở độ cao trung bình thấp và tiến công đối đầu ngoặt gấp. Đây là hai chiến thuật cổ điển hay được dùng trong Thế chiến 2. Chiến thuật bay vòng tròn sử dụng để bảo vệ mục tiêu, các máy bay nối đuôi nhau thành vòng tròn chờ địch đến. Máy bay dịch buộc phải chiến đấu để làm nhiệm vụ tiến công mục tiêu mặt đất. MiG-17 có thể vòrg bán kính rất hẹp, khi một MiG bị truy đuổi, MiG khác phía sau liền ở vào thế thuận lợi để bắn kẻ tiến công.

        Các máy bay Mỹ có bán kính vòng lượn lớn, mất tốc độ nhiều khi đổi hướng, thiếu súng. Chiến thuật tấn công đối đầu là các MiG-17 lao thẳng vào đội hình địch, bắn súng phủ đầu và tránh tên lửa, sử dụng lợi thế ngoặt gấp tạo ưu thế các đợt nổ súng tiếp sau.

        Các cuộc chiến đấu của Không Quân Việt Nam được tính toán kỹ càng, dẫn đường hỗ trợ bằng những chuyên gia rất thiện chiến. Một trong những nhược điểm của MiG-17 và MiG-19 là thời gian bay ngắn và tốc độ, gia tốc thấp. Nếu MiG bỏ trận đánh trước thì dễ dàng bị máy bay Mỹ đuổi theo bắn rụng. Đồng thời, các máy bay Mỹ đông áp đảo nên để thắng lợi, thời điểm giao chiến phải được tính toán kỹ càng.

        Không ai trong số các sỹ quan Mỹ nghĩ rằng MiG-17 có thể đương đầu với máy bay Mỹ, nên MiG-17 đã để lại một ấn tượng sâu sắc sau chiến tranh. MiG-17 thường cất cánh các phi đội nhỏ, thông thường các máy bay Mỹ phải vứt bom đi, bỏ nhiệm vụ để đối phó. Nhìn chung, cả Việt Nam và Mỹ đều nghiêm túc tính toán kỹ càng khi xuất trận và ghi chép báo cáo rất tỷ mỷ diễn biến để rút kinh nghiệm. Các chiến thuật được thảo luận kỹ càng, sâu rộng và cuộc chiến này để lại rất nhiều bài học.

        Tuy nhiên, để có được sự nể trọng của Không quân Mỹ, các loại MiG của Việt Nam đã trả không ít bài học đắt giá: Lúc 11 giờ 30 phút ngày 10 tháng 7 năm 1965, hai chiếc MiG-17 do Phan Thanh Nhạ, Nguyễn Cương lái tuần tiễu rơi ở Phổ Yên, Thái Nguyên, độ cao 7.000 mét, tốc độ 750km/h. Các máy bay tác chiến điện tử E-2A phát hiện MiG tuần tiễu gọi máy bay F-4C. Nhóm máy bay Mỹ do Murphy chỉ huy bay tránh, radar Việt Nam từ căn cứ Udon, Thái Lan. Một MiG trúng 8 tên lửa vỡ tan còn chiếc kia trúng ít nhất 4 quả, nhưng hệ thống theo dõi của Việt Nam không hề phát hiện dấu vết các F-4, chỉ đến khi tiếp xúc với dân vùng xảy ra trận đánh mới khẳng định bị bắn rơi. Trước đó vài ngày, phi công Lai đã bị hai máy bay AD-6 lừa đâm vào núi ở Kim Bôi, Hòa Bình, không kịp nhảy dù.

        Phi công Đào Đình Luyện, (sau được phong hàm Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng) từng chỉ huy những MiG-17 đầu tiên trở về Tổ Quốc sau thời gian huấn luyện. Hồi 10 giờ 35 phút ngày 6 tháng 8 năm 1964, đội bay xuất phát từ sân bay Mông Tự, Vân Nam, Trung Quốc về một sân bay vừa được xây dựng xong ở Nội Bài, nay là sân bay quốc tế của thành phố Hà Nội. Phi đội đầu tiên về nước gồm 4 máy bay, ba phi công khác là Phạm Ngọc Lan, Tào Minh, Lâm Văn Lích.

        Tôi hôm đó, qua tin tình báo, đài BBC đã loan tin này và hôm sau, ngày 7-8, một máy bay do thám U-2 bay qua bầu trời căn cứ không quân mới. Lúc này, không quân Mỹ vẫn còn rất chủ quan khinh địch. Tướng J.Paul, chỉ huy tầu sân bay uss Constellation còn tuyên bố rằng: Cuộc chiến đấu với phi công Việt Nam chỉ là trò chơi. Các máy bay trinh sát cho phép người Mỹ nắm rõ lực lượng không quân non trẻ, một dúm máy bay cổ lỗ trú trong những bức tường bằng đất đắp không mái che.

        Ngược lại với người Mỹ, người Việt Nam hiểu rằng vũ khí của họ rất yếu và ít. Nhưng họ trẻ và được sự giúp đỡ quốc tế to lớn. Ngay khi những trận không chiến đầu tiên sắp xảy ra, một chiếc tầu ngầm lạ đã đến gần tầu sân bay uss Constellation trong vịnh Bắc Bộ, làm tầu này phải báo động. Sau này, các mạng tình báo và kỹ thuật nước ngoài giúp Việt Nam theo dõi được hoạt động của những căn cứ xa xôi như Hawaii và các tầu sân bay trên biển.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:06:25 AM

        Khoảng 5 giờ chiều ngày 2-4-1965, Đoàn trưởng Không quân Đào Đình Luyện nhận được lệnh chuẩn bị đánh chặn máy bay Mỹ sẽ đánh cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) từ các tầu sân bay trên vịnh Bắc Bộ vào ngày hôm sau. 3 giờ 30 sáng ngày 3-4, máy bay đã chuẩn bị xong. Các phi công đánh chặn Phạm Ngọc Lan, Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương ở vị trí trực chiến. Dẫn đường được giao cho Bùi Quang Liên và Trần Quang. Đại úy Trần Hanh và Thiếu úy Phạm Giấy sẽ lái hai máy bay nghi binh, thu hút máy bay hộ tống Mỹ. Các bác sĩ Chính, Hạnh báo cáo tình tình sức khỏe phi công lần cuối cho Đoàn trưởng và Tham mưu trưởng Đại úy Hà Chấp. Họ đã chuẩn bị hoàn toàn xong việc tiến công hơn 60 máy bay Mỹ. Đúng 7 giờ 30, phi đội Phạm Ngọc Lan chuyển sang cấp 2, phi đội Trần Hanh chuyển sang cấp 1. Người Việt Nam chọn được một thời điểm hợp lý, khi tốp đầu của Mỹ ném bom mục tiêu xong quay ra thì phi đội nghi binh Trần Hanh xuất phát, hướng về Nho Quan, Ninh Bình. Crommell chỉ huy đội hộ tống Mỹ đuổi theo Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan được dẫn đường Trần Quang thông báo, cách địch 45 km thì ném thùng dầu phụ chuyển sang trạng thái tấn công. Phạm Ngọc Lan hết dầu phải hạ cánh khẩn cấp xuống một bãi cát, anh bắn hạ chiếc F-8E của Robert (cứu được trên biển), Túc bắn rơi một chiếc nữa. Người Việt Nam không tận hưởng niềm vui của chiến thắng đầu tiên, các phi công báo cáo: chiến đấu không hiệu quả, tiêu tốn nhiều đạn cho hai mục tiêu (686 viên đạn, trong đó, 160 viên 37 ly và 526 viên đạn cỡ 23 ly). Hôm sau, 3 phi công Việt Nam hi sinh: Phạm Giấy, Lê Minh Huân, Trần Nguyên Năm. Trần Hanh bị đuổi về phía Nam, hết dầu hạ cánh xuống bãi làng Ké Tàm. Phía Mỹ cũng mất 2 chiếc F-105D do không chiến (James Magnusson mất tích, Smitty Harris chết). Điều mà người Mỹ sợ hơn là họ phát hiện các phi công Việt Nam tránh tên lửa, nhiều khi hàng chục quả tên lửa cùng lúc bắn trượt. Người Việt nam lần đầu tiên không chiến với F-4C, máy bay không chiến hiện đại nhất của Mỹ lúc đó. Ngày 17-6 năm 1965, lần đầu tiên MiG-17 "out of date" bắn hạ hai chiếc F-4 hộ tống trong trận đánh thứ 3 của Không Quân Việt Nam, Trọng Lê đã bị F-4 lừa va vào núi hi sinh, Nguyễn Nhật cháy nhảy dù.

        Trận đánh MiG-17 các phi công Mỹ nhớ nhất diễn ra ở ven biển, gần Hải Phòng. Đó là ngày 24-4-1967, Nguyễn Văn Bẩy cất cánh từ sân bay Kiến An, chiếc F-8C No 146915 do phi công E.J.Tucker lái bị anh đánh bất ngờ (Tucker bị thương sau đó chết trong trại tù binh). Các F-4 hộ tống lao vào phản công, chứng kiến đẳng cấp của phi công Việt Nam, họ miêu tả: Bẩy lắc mình tránh hai đợt tên lửa, lao thẳng vào chiếc F-4 hộ tống do C.E. Southvvick và Ens. J.w. Land lái, hạ chiếc này. Bẩy bắn ở tầm rất gần đến mức ngòi nổ an toàn của đạn không kích nổ để bảo vệ người bắn, tức chỉ vài chục mét, luồn xuống dưới mục tiêu thoát hiểm (ngòi nổ này đã cứu hai phi công trên), cả hai phi công Mỹ đều không kịp hiểu cái gì bắn rơi họ. Ngày hôm sau, Bẩy lại cùng đồng đội hạ hai A-4C.

        Ngay sau những trận đánh đầu tiên, hai bên đều hiểu rằng, họ đã bắt đầu một cuộc chiến tàn khốc, lâu dài với một đối thủ rất giỏi.

        MiG-17 tiếp tục làm điều không thể tin được trước đây, là đánh chặn và hạ F-4? Ngày 6 tháng 11 năm 1965, MiG-17 bắn rơi một CH-30 cứu hộ, 4 phi công bị bắt làm tù binh. Cuối năm 1965, Đoàn Tiêm kích MiG-21 về nước, ngay lập tức gây những thiệt hại lớn cho Mỹ. Và dần dần, MiG-21 thay thế các MiG-17.

        Một số đặc điểm kỹ thuật của MiG-17F:

        Đội bay: một người;
        Chiều dài: 11.36 m (37 ft 3 in);
        Sải cánh: 9.63 m (31 ft 7 in);
        Chiều cao: 3.80 m (12 ft 6 in);
        Diện tích: 22.6 m (243.2 ft);
        Trọng lượng rỗng: 3.930 kg (8.646 lb);
        Trọng lượng cất cánh: 5.354 kg (11.803 lb);
        Trọng lượng cất cánh tốì đa: 6.286 kg (13.858 lb);
        Động cơ (phản lực): 1 Klimov VK-1F;
        Lực đẩy: 33.1 kN (7.440 lbí) với bộ phận đốt nhiên liệu lần hai;
        Tốc độ tối đa: 1.144 km/h (711 mph) ở độ cao 3.000 m (10.000ft);
        Tầm hoạt động: 1.080 km, 1.670 km (670 mi/1.035 mi) với thùng dầu phụ;
        Trần bay: 16.600 m (54.500 ft);
        Tốic độ lên cao: 65 m/s (12.795 ft/min);
        Lực nâng của cánh: 237 kg/m (48 lb/ft);
        Lực đẩy/trọng lượng: 0.63 (kn/kg);
        Pháo lx 37-mm Nudelman N-37, 40 viên;
        Pháo 2x 23-mm Nudelman-Rikhter NR-23, 80 viên/ súng;
        Lên tới 500 kg (1.100 lb) treo ngoài 2 mấu, gồm 100 kg (220 lb) và 250 kg (550 lb) bom hay thùng dầu phụ.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2019, 12:16:03 PM
    
        Sự khác biệt của MiG-17 với máy bay của Không quân Mỹ:

        MiG-17 đã trở thành máy bay tiêm kích đánh chặn chính của Không quân Nhân dân Việt Nam vào năm 1965, những chiếc MiG-17 đã tham chiến và giành những thắng lợi đáng kể trước máy bay chiến đấu của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, khi chúng kết hợp chiến đấu cùng với máy bay MiG-19 và MiG-21. Một số phi công Việt Nam, thực tế thích MiG-17 hơn MiG-21, nó cơ động hơn, dù không nhanh bằng MiG-21.

        Trên lý thuyết các loại máy bay của Không quân Mỹ cùng thời đều hơn hẳn MiG-17 ở vũ khí và tính năng. Chúng bay nhanh hơn âm thanh, trong khi MiG-17 bay dưới tốc độ âm thanh, dù có thể ngoặt tốt hơn. MiG-17 không có tên lửa không đối không, nên phải dựa vào cannon: hai súng 23 ly và một súng 37 ly. Hai loại này nặng hơn rất nhiều loại dùng trên máy bay của Mỹ nhằm đánh chặn máy bay ném bom và có tốc độ bắn chậm. Một loạt đạn 2 giây của MiG-17 chỉ có 69 viên đạn trong khi USM-61 của F-105 có thể bắn tới 175 viên đạn và Mark 12 của F-8 bắn được 160 viên.

(Tổng hợp và biên soạn từ nguồn Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia)        


(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78891077_539809160082302_3127532727532781568_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=usMjndTO1bsAQk_U_rSd7TgrNgXgAfiPPyIzWHi5mTtF1cDOdpP9hk8yQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=222c807be7c79b472796fbeef3ae8c2f&oe=5E86710C)
Đoàn dại biểu Phi công chụp ảnh với Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mùa xuân năm 1967

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78217933_539809170082301_4964835276229705728_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_ohc=0r2JonRwbIMAQn94W9CpJdcjzEgkN1hSqOAPZSLqpA17w2GzlRlJKKf2Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f6a0efb213ff1372a9307f71168000d7&oe=5E85D404)
Đoàn đại biểu Bạn chiến đấu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Quân chúng Phòng không - Không quân, Cục Hàng không Việt Nam đến thăm và chúc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 2006

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/78888928_539809203415631_361630907678851072_o.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=-bzataPT1NIAQlJXD4-eBW1DD3hZAFR3oeBWcFRIkYf7NU1cp5hF77SZg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=687379c67365bce888731c353f64257a&oe=5E8405C3)
Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Huy Chao (tác giả cuốn sách) và đồng chí Lê Khả Phiêu, Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ảnh chụp năm 2008).


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Hai, 2019, 12:19:43 PM
       
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/78034501_539809226748962_3082748523716804608_o.jpg?_nc_cat=106&_nc_ohc=UD5IZUlvOoQAQnOjusQ9MR5CMLykNE8hfx1wxzXvdzXtmEc9ldLmhtVlw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f5f9f3e6f3bfd712c82b6be7b95aab7d&oe=5E4738C3)
- Niềm vui chiến thắng: Kiểm tra kết quả phim sau trận đánh của 2 phi công Phạm Ngọc Lan và Trần Hanh, tháng 4-1965 (ảnh trên).
- Đôi bạn chiến đấu thân thiết Lưu Huy Chao và Lê Hải sau một lần xuất kích bảo vệ vùng trời miền Bắc (ảnh dưới).


(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/76965667_539809236748961_3986726817540079616_o.jpg?_nc_cat=103&_nc_ohc=9DzpRTFL4asAQmFy1QkMcg-slXyKEKfkxnUSI0btloPCAdqf0S0lBZdSA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b38288b2aaa4e8c451bf8bbc632257f5&oe=5E764401)
- Những phi công trẻ quả cảm của Đoàn Không quân Yên Thế ( Lưu Hu) Chao thư 4 từ trái qua) trước giờ xuất kích (ảnh trên).
- Ngày 29-6-1966, lần đầu tiên Không quân Mỹ đánh vào Hà Nội, tại kho xăng Đức Giang, Biên đội của ta gồm: Huyền, Mẫn, Bảy, Túc đã bắn rơi 1 chiếc F-105 của Mỹ (ảnh dưới).



Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2019, 08:06:53 PM
       
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/78505412_539809310082287_4016688556641615872_o.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=kz1MVZSAj2cAQmdkM-ITDo6AHm5SeAPAciTCofTquSfvwwbheoFS4R8mg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=94317f4ecebd04273ffe5b53e66d2ede&oe=5E738466)
Trên tuyến trực ban chiến đấu, ở các sản bay quân sự dã chiến, trước và sau giờ xuất kích đánh máy bay đích, phi công cùng thợ máy vẫn cất cao tiếng hát át tiếng bom đạn của kẻ thù.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/78276708_539809370082281_6346009519247589376_o.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=wHUvCDvQHq0AQkGhMwgNevR-5Nxhj_Rj0D203kP_xprnmtze_ME993ogA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=183f5f665e3695bb03240c9f4e4b3608&oe=5E7F08B4)
Chào quyết tâm bắn rơi máy bay địch trước khi xuất kích bảo vệ vùng trời Tổ quốc (ảnh trên) và phút giây đón đồng đội chiến thắng trở vể hạ cánh an toàn (ảnh dưới).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78435454_539809330082285_876261684451213312_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=Qki1mC_uSXQAQnZg422wLl__T7mHD37lf6FeLjpiGUKhH-TG1yOydFvGw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=89c3fb13e7be5684f2ee27604c3e1e50&oe=5E727509)
Trận không chiến ngày 12-5-1967, Biên đội Cao Thanh Tinh, Lê Hải, Ngô Đức Mai, Hoàng Văn Kỷ đã bắn rơi 2 máy bay F-4 và một chiếc F-105 trên bầu trời Hoà Bình, bắt sống tên Đại tá Nor-man Ca-ga-di-xơ; cản phá hoàn toàn một mũi tấn công của Không quân Mỹ vào Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2019, 08:12:21 PM
     
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78400488_539809383415613_4405289157404917760_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=594_BPyb7v4AQl--2ztAS5x7-i29I8XfQ8MKGT4e57FuCfkzT4tXznVhA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7db1f1d9a97bf04d08ac0ca36bc82746&oe=5E8B557D)
- Chỉ trong một tháng (từ 24-4 đến 25-5-11967) lực lượng Không quân tiêm kích Việt Nam đã phối hợp tác chiến, bắn rơi 42 máy bay Mỹ, cản phá 222 lần chiếc khác tấn công các mục tiêu (ảnh trên),
- Phi công Lưu Huy Chao (đứng giữa) vinh dự được cùng đồng chí Phó Tư lệnh Binh chúng Không quân Nguyễn Phúc Trạch giao nhiệm vụ cùng một số đồng chí khác trực tiếp lập Sở chỉ huy cho MiG-17 đánh tàu chiến Mỹ tại Quảng Bình, tháng 4 năm 1972 (ảnh dưới).


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/s960x960/78115708_539809446748940_7479769263486533632_o.jpg?_nc_cat=102&_nc_ohc=OgW6JF4jkAkAQmhDKIDkfiWDBHlLSrdceevPzNwrJ5giZlBXSLRn0ptxQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=e2700dc47dc9fc2842254e041a729adc&oe=5E422911)
Đồng chí Tư lệnh Binh chúng Không quân Đào Đình Luyện giới thiệu khí tài mới, nhận kỷ niệm 20 năm ngày truyền thống của Đoàn Không quân tiêm kích Yên Thế anh hùng.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78858365_539809456748939_3619969784789073920_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=rzFr3o76kfgAQluHg4hHby9lSfW90qoEMTWE94Yeuf6RBzeKESvTFf0Ow&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=0cacdce48d422f710ed66ec06b64c69c&oe=5E84A390)
Anh hùng Lưu Huy Chao với Lãnh đạo Đoàn Không quân B70


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2019, 08:17:22 PM
         
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78428611_539809466748938_3884076167157776384_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=cIy4I9gVUmsAQmvEUN9CWIyYiHfIq26d6QJWHUpDBKMAYONavZCO5pRJQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2e8acafb3c780bd6cfc155518a4da825&oe=5E8A13D6)
Anh hùng Lưu Huy Chao với và Lãnh đạo Đoàn Không quân C35 trong chuyến vợ chồng ông đi sưu tầm tư liệu cho cuốn sách "Chúng tôi và MiG-17".

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78613952_539809530082265_470051533090717696_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ohc=BGu5iDOFhgYAQmYPmw19JfaT7nMr045DFIIWkJCOvM0bBo5yGMyDV2SJA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=383ab7b11cd61cad70c2d5ef4764f0fe&oe=5E73B5F8)
- Lực lượng Không quân tiên kích Việt Nam đã làm chủ từ MIG-17 đến MIG-21 và nhiều nhiều loại máy bay hiện đại khác (ảnh trên).
- Trong chiến dịch giải phóng miền Nam năm 1975, Không quân ta còn sử dụng cả máy bay Mỹ tấn công địch. Trong ảnh dưới: Phi đội Quyết Thắng trở về thăm lại chiến trường xưa.




Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2019, 08:24:57 PM
       
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78300695_539809546748930_1381035906416246784_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_ohc=h_ufbfD8zmgAQk2uWuJ2PBinDpE4lAIVG-M26_l6uyDgA7RNFI8RxNoQQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8f4d03fc2943b105c77623cd73f660fc&oe=5E435FA6)
- Từ phải qua: Anh hùng Lê Hải, Anh hùng Lâm Văn Lích, phu nhản Anh hùng Lưu Huy Chao, Anh hùng Lưu Huy Chao, Chính ủy Đoàn 370 Lâm Quang Đại, Anh hùng Nguyễn Thành Út, Thuỷ Hướng Dương và một sĩ quan của Đoàn Không quân B70 (ảnh trên).
- Kỷ niệm với các phi công trẻ của Đoàn Không quân tiêm kích Yên Thế hôm nay. Đứng giữa, từ phải qua: Anh hùng Lưu Huy Chao, tác giả Thủy Hướng Dương và Nhà văn Đặng Vương Hưng (ảnh dưới).


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78936499_539809540082264_5039872478059429888_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_ohc=VkNS7kaepvoAQk9jTp7ZyoErID4AdhSb4ROYigANte-_0gF-4I1pVXNiA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c85cc4a1453d69c9fa6f6d716afaf254&oe=5E8690B5)
(http://Anh hùng Lưu Huy Chao cùng Tác giả Thủy Hướng Dương thay mặt Website Lucbat.com tặng quà cho Chỉ huy Đoàn Không quân tiêm kích bom Yên Thế, cuối năm 2008.)

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/77341176_539809676748917_6951403396049928192_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=Bz-G0a7IE_4AQnyPzYTif4cIDS5OA8Ath2p9l9HDCd1NLxNEoVh39TIrg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=30d9c75ee484edab7b2cfe36ba34625f&oe=5E42322F)
Đại tá Lưu Huy Chao đã trao lại những kỷ vật Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Nhà truyền thống của quê hương gìn giữ giúp.



Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2019, 08:31:20 PM
       
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78426819_539809650082253_6226972271550922752_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_ohc=Y3xNaqX1ZIUAQmSBJowSKWDC_tGGfAIa6bH1V760bq_IIAyPALdrTIH6g&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6bbe4cc5877daaac1b198d57231616a4&oe=5E86776F)
Cựu phi công Nguyễn Khắc Lộc gặp lại người phụ nữ dân tộc đã cứu mình 43 năm trước, khi ông phải nhảy dù xuống rừng già.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78188298_539809660082252_4489185253268652032_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_ohc=FLlh92RSXdIAQn0RleA1r28u8KhVA0RbWBqc9naQhP4xtmcXj5JsWIIkA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=536c949547cbfbac659d9498a3a10f97&oe=5E447577)
Cựu phi công Trần Ngọc Bính vẫn nghiện thuốc lào nặng như khi còn lái MiG-17 chiến đấu với máy bay Mỹ (ảnh dưới).


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/78686747_539809803415571_3010153852608446464_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ohc=3J9THNs5738AQm-4dBP7EUuwqUWaK-CLfpl1yjsAyax931SFffwwQIMMw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=6eafd323cd478ef7512d6d2bdc98397b&oe=5E7A94F2)
Sau bao năm kháng chiến gian khổ, hi sinh tuổi xuân cho sự nghiệp chung, hiện vợ chồng Anh hùng Đại tá Lưu Huy Chao đang sống hạnh phúc bên nhau. (Trong ảnh từ trái qua: Thượng tá CCB Nguyễn Văn Nhâm, vợ chồng Đại tá Lưu Huy Chao và nhà văn Đặng Vương Hưng)


Tiêu đề: Re: Chúng tôi và MiG-17
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2019, 07:35:36 AM

MỤC LỤC

Cảm nhận và bút tích của nguyên Tổng Bí thư Lẻ Khả Phiêu
Chuyện của những anh trai làng tạm xa đồng ruộng
Tuổi thơ không êm ả
Vừa đi học, vừa đi cày, cấy lúa
Hỏi vợ và đi bộ đội
Lần đầu ra Thủ đô Hà Nội
Cho chúng cháu đi theo với
Trúng tuyển phi công
Được đi học lái máy bay MiG
Khi những anh nông dân được ngồi trên buồng lái
Tinh yêu của tôi
Một đơn vị Không quân Anh hùng đã ra đời như thế
“Hăng-ga” kiểu Việt Nam
Trận “không chiến” đầu tiên cùa Không quân Việt Nam
Không quân bắn rơi máy bay Mỹ ghi công cho...
Cảm ơn Thủ trưởng nhé!
Phi công lao đao vì lý lịch
Đi tìm phi công ta nhảy dù
Người từ cõi chết trở về
Sự ra đời của bộ cẩu dây MiG-21
Dẫn đường quan trọng lắm
Bắn địch khi đang bay ngửa
Bắn rơi John Me Cain
Cầu Mỹ Đức được bảo vệ kiên cường như thế
Đại tá Không quân Mỹ Norman Cagadice bị bắt như thế nào
Phi công ta uống rượu và say thuốc lào
Một "anh cả" của những người thợ máy bay MiG
Vinh dự được gặp Bác Hồ,
Bác sĩ ơi! Nhớ vợ quá rồi
Không chiến kiểu du kích Việt Nam
Trắc thủ Vũ Ngọc Diệu và những điều kỳ diệu
Phi công Mig-17 đã hi sinh nhiều lắm
Kiếp sau em chẳng lấy chồng phi công nữa đâu
Đưa trực thăng của hàng binh bay từ Lào về Việt Nam
Trần Ngọc Bích và những kỷ niêm khó quên về Bác Hồ
Tỏi bị thương và hạ cánh khi máy bay hết dầu
Một chiếc MiG đã dũng cảm đánh chặn được máy bay Mỹ
Quà sinh nhật muộn dâng lên Bác Hồ
Phi công MiG cũng cấy lúa, nấu rượu như nông dân
Bảo vệ Nhà máy điện Yên Phụ như là một kỳ tích
“Độc chiêu” đánh tàu chiến Mỳ
Phi công đầu tiên của Việt Nam bắn trúng B-52
Khôi phục máy bay cường kích A-37 của Mỹ
Trước trận đánh lịch sử
Tiết lộ sự thật về trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất năm 1975
Đoàn Không quân B70 và những Anh hùng
Chuyện con chó MiG của tôi
Đoàn Không quân tiêm kích Yên Thế ngày ấy bây giờ
Có một Tiểu đoàn trưởng như thế
Một phi công Việt Nam có tên trong 29 nhân vật xuất chúng
Cưu phi công Phan Văn Điệt luôn “bay” cùng đôi nạng gỗ
Với những đồng đội đã ra đi thầm lặng
Phụ lục Một:
Các Anh hùng của Quân chủng Phòng không và Không quân
Phụ lục Hai:
Một số hình ảnh và tư liệu của “Chúng tôi và MiG-17”