Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2019, 04:08:28 pm



Tiêu đề: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2019, 04:08:28 pm
   
        - Tên sách : MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật

        - Tác giả :  Obert Harvey

                        Biên dịch: Thế Anh

        - Nhà xuất bản Văn hóa thời đại

        - Số hóa : Giangtvx

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72489828_495748391155046_6483669178204028928_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlQj263xvpLBoFYYhDKsMFb8b_QXa6a-x8IE5l-cJ7Hvga_GZTIOYvb_Q_qwBK-XoE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2e1ebda9365a4c620e9b8a8b3c7cf0d7&oe=5E3B4C53)


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:26:32 pm

GIỚI THIỆU

        Có lẽ mối quan hệ giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới chưa bao giờ lại phức tạp như ngày nay. Việc nhiều người nghĩ rằng Mỹ là một siêu cường quốc trên thế giới là đương nhiên. Thế nhưng, họ lại quên mất rằng việc khai sinh nước Mỹ nhằm mục đích tạo ra một phe đối lập để chống lại chủ nghĩa đế quốc. Qua hơn một thế kỷ, nước Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, theo đuổi mục tiêu kinh tế toàn cầu do một số người tôn thờ chủ nghĩa đế quốc khởi xướng vào đầu những năm 1900. Đến cuối những năm 1930, nước Mỹ có nền quân sự được xếp vào thứ 16 trên thế giới.

        Tuy nhiên đã có một điều đặc biệt. Sự khác biệt về chính trị, quân sự và cạnh tranh về kinh tế giữa Mỹ và đối thủ bên kia bờ Thái Binh Dương là Nhật Bản, kéo dài trong nửa đầu thế kỷ 20 đã cho một cái nhìn toàn diện về khả năng của nước Mỹ trong mối quan hệ với các nước có sự khác nhau về tôn giáo, văn hóa, dân tộc và hệ thống chính trị củng như sự lâu đời về lịch sử.

        Đây là một quyển sách lịch sử nói về sự cạnh tranh giữa hai nền kinh tế khổng lồ trên thế giới, được thuật lại thông qua những câu chuyện cá nhân của hai vị lãnh đạo, Nhật hoàng Hirohito và Tướng Douglas MacArthur. Cả hai là những con người đáng chú ý. Với vẻ bề ngoài nhút nhát, thiếu tự tin, Hirohito là Hoàng đế Nhật Bản trong

        hơn sáu thập kỷ. Ông cùng đất nước trải qua các cuộc nội chiến, chiến tranh, bị bại trận và chiếm đóng, sau đó là thành công về kinh tế. Hirohito thừa hưởng quyền lực, chỉ trong vòng hai thập kỷ đã lãnh đạo Nhật Bản trở thành đế quốc mạnh nhất trong các nước châu Á, rồi trở thành như một bang chư hầu của nước Mỹ và đến 1 /4 thế kỷ sau đó đã vươn lên thành quốc gia có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới, sau Mỹ.

        MacArthur độc đoán là người hùng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, sau đó trở thành một nhà quản sự tài ba có quyền lực nhất của nước Mỹ. Với chiến thắng tại Nhật Bản, ông là người có quyền lực tuyệt đối tại nơi này.

        Kinh nghiệm của MacArtliur trong việc chỉ huy sự chiếm đóng của quân đội Mỹ tại Nhật Bản cũng chứa đựng nhiều bài học to lớn cho quá trình tương tự đối với Iraq và Afghanistan, cũng như việc can thiệp vào các nước khác nói chung. Những gì mà ông đã làm để khai sinh ra một “Nhật Bản mới” chắc chắn là những kinh nghiệm quý báu cho các nhà lãnh đạo Mỹ đối với Iraq. Tương tự, những sai lầm và sự ngạo mạn của ông cũng đáng để nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, cũng có những bài học phức tạp được rút ra từ sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa một bèn là nền văn hóa trẻ nhất và bên còn lại là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất trên thế giới với hơn 2000 năm lịch sử. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên mà Mỹ đã cố gắng đưa chế độ dân chủ, tự do về kinh tế và chính trị kiểu Mỹ vào để áp dụng và đã đạt được những kết quả nhất định.

        Mối quan hệ giữa hai nền kinh tế hùng mạnh nhất trên thế giới cũng đáng chú ý, vì Nhật Bản đã thoát khỏi tình trạng trì trệ trong một thời gian dài để phát triển kinh tế, chính trị. Phải mất một thời gian khá lâu, Nhật Bản đóng vai trò như một tay sai của Mỹ để bình ổn và cân bằng sự phát triển kinh tế vốn không mấy ổn định của khu vực Đông Ả. Ngày nay, Nhật Bản đã có vai trò độc lập hơn, cố gắng né tránh chủ nghĩa dân tộc cực đoan để phát triển một cách bền vững.

        Trước đây, chúng ta đã được biết về sự hình thành Nhật Bản hiện đại, nguồn gốc của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản cũng như mức độ tội trạng của Nhật hoàng Hirohito trong việc quyết định tham chiến; về sự thâu tóm quyền hành của MacArthur tại Washington trong tháng 3 năm 1932, chiến lược của ông để thắng lợi trong trận chiến Thái Bình Dương, một trong những điểm son chói lọi của lịch sử quân đội Mỹ, cuộc tranh cãi với Truman về việc thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Các cuộc tranh cãi của ông với Nhật Hoàng Hirohito trong việc cố gắng xây dựng lại Nhật Bản theo mô hình của nước Mỹ trong khi quyền lực của Nhật hoàng bị bỏ qua, những người cố vấn của ông đã ngấm ngầm chống lại ông và tập hợp những người Nhật để lập ra chủ nghĩa dân tộc.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:32:46 pm

PHẦN MỞ ĐẦU

        Chỉ hai tuần rưỡi sau sự kiện lần đầu tiên xuất hiện bom hạt nhân trong chiến tranh, ngày 27-9-1945 đã diễn ra cuộc gặp gỡ đặc biệt nhất trong lịch sử nhân loại giữa Tướng MacArthur và Nhật Hoàng Hirohito. Hai bên tham gia cuộc họp với tâm trạng hoàn toàn trái ngược nhau: một bên là người chiến thắng và bên kia là kẻ chiến bại. Hirohito cũng biết ông sẽ tiếp tục tại vị, dù không ý thức được rằng MacArthur sẽ là người nắm quyền tối cao.

        Có lẽ MacArthur là người đầu tiên thực hiện mối quan hệ công chúng trong lịch sử quân đội Mỹ. Ông đang chuẩn bị làm bẽ mặt Nhật Hoàng một cách công khai để làm tiêu tan ý nghĩ rằng quân đội Mỹ sẽ rút về nước, cũng như thể hiện sự thông cảm cá nhân quá mức trước tình trạng khó khăn của người cai trị, chỉ trên danh nghĩa, của một nước bị xâm chiếm. Kết quả là sự bất đồng về lợi ích trong cuộc gặp gỡ này, giữa người chiến thắng và kẻ chiến bại: Shogun và Nhật Hoàng, kẻ man rợ và sự thần thánh.

        MacArthur biết chắc răng sẽ mời được Nhật Hoàng đến. Để yêu cầu Hirohito gặp mặt, ông đã nói: “Có thể điều này sẽ làm người dân Nhật Bản cảm thấy bị xúc phạm và hình ảnh Nhật Hoàng trong mắt họ bị bôi nhọ. Nhưng không, tôi sẽ đợi, và đến lúc Nhật Hoàng sẽ sẵn sàng đến gặp tôi. Trong trường hợp này, việc sử dụng sự kiên nhẫn của Phương Đông còn hơn sự vội vàng của Phương Tây, sẽ là cách tốt nhất cho mục đích của chúng ta”.

        Trong chuyến thăm đầu tiên, viên đại thần hoàng gia Fujita đã phải đợi ở ngoài tiền sảnh. Đối với người Nhật, đây là một sự sỉ nhục không thể tha thứ. Sau đó ông đã được dẫn vào diện kiến MacArthur và đọc diễn văn theo một nghi lễ khá buồn cười.

        Ngày hôm sau, xe chở Nhật Hoàng cùng 4 chiếc khác rời cung lúc 10 giờ sáng với một đoàn hộ tống nhỏ gồm hai chiếc mô tô dẫn đường. Theo lời kể của một người dân thì vẻ mặt Nhật Hoàng trông rất buồn. Chiếc xe vượt qua cổng thành, chạy ngang qua hào và leo lên ngọn đồi bên cạnh. Đèn giao thông chuyển sang màu đỏ tại giao lộ Toranomon và chiếc xe phải dừng lại, một điều rất lạ thường trong ngày khi toàn bộ giao thông bị ngưng lại 30 phút trước khi xe chở Nhật Hoàng khởi hành và toàn bộ các phương tiện đều không được xuất hiện trên đường Nhật Hoàng đi.

        Hirohito mặc áo choàng, quần sọc và đội mũ có chóp. Tại tòa đại sứ, ông không được đón chào bằng nghi thức long trọng nhất. Về phần mình, MacArthur muốn giữ bí mật cho cuộc gặp gỡ nên không có bất kỳ nhà báo nào được phép đến quay phim, chụp ảnh.

        Khi Hirohito bước ra khỏi xe, ông thấy sự lúng túng đằng sau cái nhìn chằm chằm và không một nụ cười của những người Mỹ đang đợi. Tướng Bonner Fellers đột nhiên bước lên phía trước đưa tay mỉm cười và nói: “Xin chào quý Ngài”. Nhật Hoàng được dẫn lên cầu thang, toàn bộ đoàn tùy tùng của ông kể cả viên trợ lý đều phải đứng đợi bên dưới. Trông họ thật lo lắng. Thiếu tá Faubion Bowers, người phiên dịch cho MacArthur mô tả Hirohito: “Trông rất sợ sệt. Khi cầm chiếc mũ chóp, tôi để ý thấy tay ông đang run lên. Lúc gặp MacArthur ở ngưỡng cửa phòng khách, ông cúi thấp, rất thấp”.

        Viên tướng không mỉm cười và bắt tay một cách trịnh trọng. Người thợ chụp hình chụp cho hai người ba tấm ảnh, nhưng một tấm trong số đó bị hỏng. MacArthur mặc bộ lễ phục: áo sơ mi màu nâu, quần dài và không thắt nơ. Ồng đứng thoải mái, hai chân hơi mở ra, tay đặt lên hông. Nhật Hoàng, người thấp hơn, đứng bên cạnh, đang cố giữ thân mình đứng thẳng trên đôi chân bị yếu: trong một tấm hình, hai chân của ông thẳng và thân mình cố gượng. Trong một tấm khác, cả hai đứng cách ra, một người đứng hơi lên phía trước so với người kia.

        Báo chí Nhật Bản và độc giả của họ hẳn sẽ bị sốc bởi sự xấc xược của MacArthur, ít nhất ông cũng nên mặc bộ quân phục của tướng lĩnh khi đứng trước Nhật Hoàng. Thật không thể hiểu được việc người Mỹ không biết đến ảnh hưởng của tấm ảnh và kiểu ăn mặc của MacArthur gây ra. Toàn bộ thông điệp ẩn phía sau: Người thắng và Kẻ bại. Đó là cách làm bẽ mặt Nhật Hoàng “Thần thánh” một cách có chủ ý. Tư thế chụp ảnh của MacArthur nhằm phục vụ cho dư luận tại quê nhà: vẻ xấc xược đã được tính toán để gây ấn tượng với những người Mỹ đang thất vọng về việc Nhật Hoàng đã không bị truy tố mà còn được tại vị.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:34:06 pm

        Sau đó họ nói chuyện, cùng có mặt lúc này chỉ là người phiên dịch riêng của Hirohito. Nhật Hoàng, đôi bàn tay vẫn còn run, không dùng tách cà phê mà mình đã gọi, chỉ hút điếu thuốc do MacArthur mời. Với một người đã quen với cách cúi rạp mình của bất cứ những ai mà ông gặp, kể cả những người có quyền lực nhất, thì việc phải gây ấn tượng và phải chiều theo một người ngoại quốc chắc hẳn là một điều lạ thường. Cuộc trò chuyện giữa họ chỉ được tiết lộ một số chi tiết.

        Người ta nói rằng, Hirohito vẫn còn lo sẽ bị bắt giữ sau khi Thủ tướng Hideki Tojo bị giam cầm một ngày trước đó, những người cố vấn lo sợ rằng ông sẽ bị đầu độc bởi thói quen thích dùng cà phê. Thế nhưng mọi việc đã không xảy ra và tâm trạng lo lắng của Hirohito cũng tan biến mất. MacArthur kể lại:

        Tôi đã tiếp ông một cách thân mật, điều này làm tôi nhớ lại một lần cha ông ấy cũng gặp tôi khi cuộc chiến tranh Nga - Nhật kết thúc. Ông ấy đã rất lo lắng và sự căng thẳng về những ngày tháng vừa qua vẫn còn hiện rõ trên gương mặt. Tôi cho tất cả mọi người ra ngoài, trừ người phiên dịch riêng của ông, và chúng tôi ngồi xuông, bắt đầu cuộc trò chuyện. Tôi mời ông một điếu xì gà Mỹ. Ông cảm ơn và nhận lấy. Tôi để ý cách ông bắt tay khi tôi châm thuốc cho ông. Tôi cố gắng làm mọi chuyện trở nên dễ chịu bằng tất cả khả năng của mình. Tuy vậy, tôi vẫn hiểu được sự thống khổ của ông ấy sâu đậm đến mức nào.

        Tôi sẽ có cảm giác không thoải mái nếu ông bào chữa cho mình khi bị cáo buộc như một tội ác chiến tranh... thế nhưng sự lo ngại của tôi là vô căn cứ. Những gì ông nói với tôi là: “Tôi đã đến đây, thưa ngài MacArthur. Tôi hoàn toàn nhận sự phán xét cho những quyết định về chính trị và quân sự mà người dân nước tôi đã gây ra trong cuộc chiến”. Một cảm giác lạ thường thoảng qua tôi. Sự dũng cảm nhận lấy trách nhiệm đồng nghĩa với cái chết, một sự chịu trách nhiệm rất rõ ràng khiến tôi cảm phục. Ông ấy vốn là một Nhật Hoàng, nhưng ngay chính lúc đó, tôi biết mình đang đối diện với người đàn ông đảng kính nhất của đất nước Nhật Bản.

        Khi ông ấy rời khỏi, tôi kể chuyện cho vợ minh nghe nhưng cô ấy cười khúc khích và nói: “ô, em đã thấy ông ấy rồi. Arthur (con trai của MacArthur) và em đã lén nhìn từ phía sau tấm rèm đỏ”. Chuyện thật buồn cười nhưng thú vị dù bạn có hình dung nó ra thế nào đi nữa.

        Lời phát biểu có lẽ chân thật và chắc chắn là dũng cảm, Nhật Hoàng không dám chắc răng những người Mỹ có từ chối điều đó hay không. Mục đích thực sự có lẽ là để nhấn mạnh với người Mỹ rằng, nếu ông được miễn truy tố (vì những người cố vấn của ông có lý do để tin rằng ông sẽ được như vậy) thì những nguyên cớ để kết tội người cấp dưới của ông là rất mong manh. Khi ông đứng ra nhận trách nhiệm, có thể ông sẽ bị khởi tố hoặc được tha tội, và cấp dưới của ông cũng vậy. Có lẽ người Mỹ đã vờ như không biết điều này.

        Tướng Mỹ và Nhật Hoàng đã trò chuyện một cách tương đối thoải mái về những vấn đề khác. MacArthur đã tán dương vai trò của Hirohito trong việc kết thúc chiến tranh. “Bên hòa bình không thắng thế cho đến khi bom nổ ở Hiroshima, tạo ra một tình cảnh có thể được soạn thành kịch”, Nhật Hoàng trả lời. Khi được hỏi tại sao ngay từ ban đầu ông không ngăn chặn chiến tranh, bằng thái độ ngoan cố Hirohito trả lời “Thật khó cho rằng đường lối của chúng tôi là phi lý. Ngay cả bây giờ tôi cũng không dám chắc những nhà viết sử sẽ phân chia trách nhiệm của từng cá nhân đối với chiến tranh ra sao”.

        Sau lần đó, Nhật Hoàng thường xuyên ghé thăm tôi. Chúng tôi thường trò chuyện xoay quanh những vấn đề chính trên thế giới. Tôi luôn cẩn thận giải thích những lý do ưu tiên đối với chính sách chiếm đóng, và thấy rằng ông ấy đã nắm vững được các quan niệm về dân chủ hơn bất kỳ một người Nhật nào mà tôi từng nói chuyện. Ồng ấy đóng vai trò chính trong việc phục hồi tinh thần cho Nhật Bản, sự hợp tác trung thành và tầm ảnh hưởng của ông ấy đã tạo nên thành công cho quả trình chiếm đóng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:40:47 pm

PHẦN I

PHÂN CHIA


Chương 1

VIÊN SĨ QUAN PHỤ TÁ TRẺ TUỔI

        Thật khó có thể hiểu hết quá trình hình thành nhân cách một con người trong các nền văn hóa bối cảnh lịch sử, môi trường sống, kinh nghiệm khác nhau hay tính cách hoàn toàn đối lập nhau như hai người đàn ông đã gặp nhau trong ngày tháng 9 định mệnh. Họ khác nhau về dòng giống, quốc tịch, tôn giáo, tuổi tác, thế kỷ sinh ra, giai cấp, lịch sử gia đình, tính cách của cha mẹ, sự giáo dục ở nhà trường, sự giàu có, tình trạng sức khỏe, sở thích, năng khiếu thể thao, trình độ học vấn, hình thức và chiều cao. Một người đại diện cho nền quân chủ lâu đời nhất trên thế giới, trên 2.000 năm lịch sử có nguồn gốc từ Nữ thần Mặt trời, Amaterasu Omikami, và vì thế triều đại tồn tại và được truyền từ thời này sang thời khác. Người kia là con trai của một gia đình quân sự thuộc tầng lớp trung lưu Mỹ với mong muốn trở thành dòng dõi cao quý của một trong những quốc gia trẻ nhất hành tinh. Họ chỉ có một điểm chung đặc biệt duy nhất: có kỷ luật chặt chẽ, một người do sự rèn luyện trong môi trường quân đội và người còn lại do sự giáo dục của chế độ phong kiến hà khắc.

        Douglas MacArthur sinh ngày 26-1-1880 ở tiền đồn biên giới tại Little Rock, bang Arkansas, về sau, MacArthur cố gắng đưa dòng dõi của mình tiến xa hơn, như một câu ngạn ngữ của người Scotland: “Không có gì cổ xưa bằng những ngọn đồi, MacArthur và ma quỷ”. Tổ tiên của MacArthur có nguồn gốc từ Scotland. Vào thế kỷ 14, khi chi MacArthur của thị tộc Campbell liên kết với Robert the Bruce, chống lại chi Argyll đã gặp sự bế tắc cho đến triều đại của James I ở Scotland một thế kỷ sau đó. Sau khi thủ lĩnh của họ bại trận vào năm 1427, họ đã rút lui về vùng bờ biển ở Loch Awe gần Glasgow.

        Gần 400 năm sau, vào năm 1825, một quả phụ bước lên tàu đến vùng đất mới ở châu Mỹ. Bà mang theo đứa con trai Arthur 11 tuổi, là ông nội của Douglas. Vì vậy, trong dòng dõi người Mỹ, MacArthur không có nguồn gốc cách mạng, đúng hơn ông là thế hệ thứ ba trước cách mạng Mỹ. Sống ở Chicope Falls, Massachusetts, Arthur đã học ở ngôi trường Wesleyan danh tiếng trước khi chuyển đến New York vào năm 1840.

        Arthur nhanh chóng có địa vị xã hội. Ông cưới Aurelia, con gái của Sarah Barney Belchior, hậu duệ thuộc dòng dõi quý tộc Franklin Roosevelt và Winston Churchill. Họ có với nhau một con trai, Arthur con. Vào năm 35 tuổi, cũng giống như nhiều người Mỹ đầy khát khao, hy vọng, họ đi về miền Tây, đến Milwaukee, nơi mà chỉ trong vòng hai năm sau, ông đã trở thành luật sư dân biểu. Ba năm sau đó với tư cách là đảng viên đảng Dân chủ, ông được bầu làm phó thống đốc bang Wisconsin. Arthur bước vào dinh thự của ông chỉ năm ngày trước khi ứng cử viên Đảng Cộng hòa được tuyên bố là người chiến thắng.

        Sự thất bại chỉ là tạm thời. Vào năm 1867, ông được bầu làm thẩm phán của tòa án thuộc hàng quan trọng nhất của bang. Sau đó, được sự chú ý của Tổng thống Andrew Johnson, người đã giao nhiệm vụ cho ông dẫn đầu phái đoàn Mỹ đến tham dự cuộc Triển lãm lớn ở Paris năm 1868. Năm 1870, ở vào tuổi 56, MacArthur đã được Johnson bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án tối cao khu vực Columbia. Ông có tiếng là người lạnh lùng, nghiêm khắc nhưng ngay thẳng và làm tốt nhiều việc trong suốt 18 năm tại chức. Lúc nghỉ hưư, đầu óc vẫn còn rất minh mẫn: Ông đã viết 10 quyển sách, một trong số đó là quyển Nữ hoàng Mary của Scotland. Ông mất vào tuổi 82 trong khi nghỉ lễ ở thành phố Atlantic.

        Từ một khởi đầu bình thường, Arthur MacArthur đã đưa gia đình mình từ thành phần thứ hai trong xã hội bước lên giai cấp có quyền cao chức trọng. Gương mặt góc cạnh cũng được di truyền cho đứa cháu nội trai. Một điều mà sau này Douglas cũng thừa hưởng từ ông nội của mình, đó chính là sự hiểu biết sâu rộng và khả năng hài hước.

        Tuy nhiên, chính cha mẹ mới là người có ảnh hưởng đến cuộc sống của Douglas. Arthur MacArthur con cũng có sự hiểu biết sâu rộng như người cha luật sư. Tuy nhiên, ông cũng là người bốc đồng. Dáng thấp, với gương mặt góc cạnh láu lỉnh và mái tóc dài dày bù xù, ông đã cho thấy một niềm say mê mãnh liệt với cuộc sống quân đội khi cuộc nội chiến đến gần chỗ chia nước Mỹ ra từng mảnh. Khi chiến tranh kết thúc ông chỉ mới 16 tuổi; ông đã theo đuổi để trỏ thành tình nguyện viên cho bên hòa hợp dân tộc phe Liên hiệp. Cha ông, thay vì gửi ông đến học viện quân sự địa phương nơi ông hoạt động rất tốt, đã được khuyên nên chọn Học viện Quân sự Mỹ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:42:19 pm

        Một người bạn của cha ông, thượng nghị sĩ Doolittle bang Wisconsin, đã đưa MacArthur đến gặp Tổng thống để tìm người đỡ đầu cho ông. Abraham Lincoln, cao lớn và quyền uy, đã hứa sẽ tuyển chàng trai thấp, khỏe mạnh trong những năm sau. Tuy nhiên ông đã không đợi. Năm 17 tuổi, ông được cử làm trung úy và phụ tá thứ nhất trong đoàn Bộ binh tình nguyện Wisconsin thứ 24. Khi ông đến, giọng nói vẫn còn run và ngắt quãng, viên sĩ quan hét toáng lên: “Tôi sẽ viết thư cho thống đốc và yêu cầu ông gửi cho tôi một nhân viên phụ tá, thay vì một thằng nhóc”. Thế là ngay lập tức, ông được gọi là “Viên sĩ quan phụ tá trẻ tuổi”.

        Xác định phải chứng tỏ năng lực bản thân, chàng thanh niên đã lao vào trận đấu đầu tiên vào tháng 10 năm 1862 tại Perryville. Tại đây, ông đã gây ấn tượng tốt với Tướng Philip Sheridan nên đã được thăng chức lên đại úy. Tại Murereesboro ở Tennessee, trận chiến đẫm máu ba ngày bắt đầu trong cái lạnh thấu xương của ngày đầu năm mới. Ở đây, viên đại úy đã tìm thấy chính mình. Sau này con trai ông mô tả lại hành động:

        Sự tàn sát rất nhẫn tâm. Trung đoàn đã mất di gần 40% sức mạnh. Tướng Sill bị giết. Các viên sĩ quan đều bị kiệt sức ngoại trừ sĩ quan phụ tá. Kết quả là ông trở thành người chỉ huy của đoàn. Ông có mặt khắp mọi nơi, tập hợp lại lực lượng, tổ chức lại các đơn vị, quyết tâm giữ vững trận địa. Lời động viên của Sheridan văng vẳng bèn tai ông. Sheridan cưỡi ngựa đến vào đêm hôm đó, ông đã vỗ vai cậu bé và nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy đoàn thứ 24 đã ở trong chiến hào và nói: “Arthur, cậu bé của ta, giỏi lắm. Anh đã không để mất một tí đất nào”.

        Sau đợt bệnh thương hàn, viên sĩ quan phụ tá trẻ tuổi đã quay trở lại chiến đấu trong trận đánh đỉnh Missionary nổi tiếng. 46 ngàn quân phe Ly khai đã chiếm giữ đỉnh đồi vào tháng 9 đen tối năm 1863, trong khi gần 59 ngàn quân Liên hiệp do Tướng Ulysses Grant chỉ huy bị mất nguồn tiếp tế đang ở thung lũng bên dưới. Trung đoàn Wisconsin thứ 24 được lệnh phải chiếm vị trí đường rãnh ở chân một ngọn núi dốc có nhiều hốc đá, cao gần 300 mét. Khi nhiệm vụ khó khăn này được thực hiện thì làn lửa cháy rực ở phía bên trên, dường như không còn cách nào khác là phải rút lui.

        Tuy nhiên, dù không nhận được lệnh (có thể do hiểu sai hiệu lệnh của Tướng Sheridan) nhưng dưới sự chỉ huy của viên sĩ quan phụ tá 18 tuổi, dẫn đầu là trung sĩ và hai hạ sĩ, 18 ngàn quân đã leo lên phía trên bất chấp sự đe dọa tàn ác của quân thù. Grant nổi đóa với sĩ quan phụ tá của mình và hỏi ai đã ra lệnh cho quân lính thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm đến như vậy.

        Không một ai biết Arthur đã leo lên phía kẻ thù cho đến khi ông cắm được cờ trên đỉnh đồi, trước khi quân đội Liên hiệp tấn công phe Ly khai để chiếm quả đồi.

        Các sĩ quan dồng nghiệp rất tín nhiệm ông. Tại núi Kennesaw, ông tham gia vào một nhiệm vụ nguy hiểm khác là chống lại việc đào hào của quân thù trên đồi, và đã bị bắn trúng tay và ngực. Tuy nhiên, rất may viên đạn không xuyên trúng tim nhờ cái ví da dày cộm. Khi hành quân qua Georgia, ông đã tham gia hơn 13 trận đánh trong thời gian hơn 4 tháng. Lúc này, ông đã được thăng chức đại tá, là một viên sĩ quan 19 tuổi trẻ nhất trong toàn quân đội Liên hiệp. Khi thử ra ứng cử trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1864, ông bị cho là quá trẻ và toàn bộ trung đoàn đã từ chối bỏ phiếu.

        Vào tháng 11 năm 1864, ông lại lập công lớn trong trận chiến dữ dội, trận đánh ở Franklin. Khi Arthur và phụ tá đang ăn tối, phe Ly khai bất ngờ tấn công gần vị trí của họ tại trung tâm trọng yếu của quân Liên hiệp. Con ngựa của Arthur bị trúng đạn và ông bị thương ở vai và ngực.

        Sau khi chữa lành vết thương, Arthur đã đánh trả kẻ thù bằng một trận kinh khủng ở New Orleans, khi hai người phụ nữ cứ nhất định đòi gặp vị tướng mà ông vừa mới ghé thăm. Con trai ông đã kể lại như sau:

        Sự yên tĩnh của văn phòng dơ bẩn đã bị phá vỡ bởi giọng nói của người phụ nữ lớn tuổi hơn: “Tôi sẽ đến đó ngay lập tức. Chúng tôi phải tạm thời dùng các phương tiện giao thông để vận chuyển vải bông. Đất nước ông không muốn gây thù địch với người Anh để đưa miền Nam vào cuộc chiến và hãy tạm thời ngưng lại. Có thể ông sẽ không bằng lòng khi tôi sử dụng các toa xe lửa. Nhưng đổi lại, đây là 250.000 đôla. Và nếu ông cần thèm những vật đút lót khác”. Bà nói và nhoẻn miệng cười, “Người phụ nữ trẻ đẹp này sẽ thuộc về ông”. Họ cúi chào rồi bước ra và để lại trên bàn địa chỉ của người phụ nữ trẻ.

        Cha tôi nói hai đầu gối của ông va mạnh vào nhau, điều mà ông chưa bao giờ gặp trong trận chiến. Tuy nhiên, giọng của viên tướng rất rõ ràng khi ông trở lại và đọc cho viết những dòng chữ gửi đi như sau:

        “Kính gửi Tổng thống Mỹ:

        Tối vừa được tặng 250.000 đôla và một người phụ nữ đẹp nhất mà mình từng gặp. Tôi đang chuyển số tiền này vào Ngân khố của Mỹ và rất mong nhận được chỉ đạo của Ngài”.


        MacArthur lại tiếp tục hành trình để quay trở lại và dẫn dắt trung đoàn đến thắng lợi ở Milwaukee. Trung đoàn đã mất 2/3 sĩ quan và binh lính. Vào năm 1865, viên đại tá trẻ lại xuất ngũ để cố gắng theo học luật. Thế nhưng ông không thu xếp được, và trong vòng vài tháng lại tham gia vào quân đội chính quy, đầu tiên là làm một thiếu úy, sau đó nhanh chóng được thăng cấp lên trung úy và lên đại úy.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:42:46 pm

        Ông được gửi đến một tiền đồn, vùng phía Tây hoang đã. Ông chiến đấu với người da đỏ tại Utah và Wyoming và vài lần bắt gặp Jesse James, Wild Bill Hickock và Buffalo Bill. Ông đứng gác tại tuyến đường sắt liên Thái Bình Dương vì nó di dời để nối với tuyến trung tâm Thái Bình Dương đến từ miền duyên hải phía Tây. ông đã chứng kiến đợt hạn hán lớn trong những năm 1870 khiến hàng ngàn người chăn bò phải vào trong núi tìm kế sinh nhãi.

        Năm 1874, ở vào tuổi 29, trong một lần đến thăm New Orleans, ông đã gặp ý trung nhân tại buổi khiêu vũ Mardi Gras. Mary Pinkney (Pinky) Harding chỉ mới 22 tuổi, cô có một vẻ đẹp đầy lôi cuốn. Cái miệng rộng xinh xắn, chiếc cằm gọn gàng là hai điểm nổi trội. Đôi mắt sắc sảo bên dưới cặp lông mày quyến rũ, chiếc mũi thanh tú nhô cao kiêu hãnh. Cô gái gốc người miền Nam, con gái của một nhà buôn vải giàu có người Virginia. Gia đình cô thuộc đòng dõi khác biệt hơn so với Arthur: Tổ tiên đến dịnh cư ở Jamestown, cùng nơi với Washington và Andrew Jackson, những người anh em của cô đều tham gia vào quân đội phe Ly khai dưới sự lãnh đạo của Tướng Robert Lee. Trong thời nội chiến, cô đã ở ngôi nhà mùa hè của gia dinh tại Nam Carolina.

        Người hùng chiến tranh Yankee bị chê là người phương Bắc giàu lên nhờ những nhà quý tộc miền Nam. Một năm sau, khi họ tổ chức lễ cưới tại biệt thự của gia đình cô, Riveredge, ở Norfolk, Virginia thì những người anh em không đến. Ba đứa trẻ lần lượt ra đời: Arthur III, Malcom và ngày 26-1-1880 là Douglas. Malcom chết vì bệnh sởi khi được 5 tuổi vào năm 1883.

        Những năm sau đó, đại úy MacArthur được lệnh hành quân gần 480km từ Fort Washington đến Fort Selden, 95km từ E1 Paso để tấn công những kẻ cướp Geronimo. Ký ức đầu tiên của cậu bé Douglas chính là những cuộc hành quân. Ba năm tiếp theo, với hai chàng trai nhỏ tuổi và cậu bạn của chúng, William Hughes, con trai trung úy đơn vị thứ nhất, tiền đồn gần như là sa mạc này là một thiên đường, nơi các cậu được hai sĩ quan và 46 quân nhân hết mực yêu thương.

        Khi Douglas lên 6 tuổi, gia đình dời đến nơi nhộn nhịp hơn ở Fort Leavenworth, Kansas. Cậu bé Douglas bây giờ đã đi học. Cha cậu, một đại tá thanh niên anh hùng giờ đã ở tuổi 41. Ông để bộ ria nhỏ, người mập mạp và đeo chiếc kính kẹp mũi khiến có vẻ bề ngoài giống như Tổng thống Theodore Roosevelt. Tinh thần còn rất minh mẫn, ông đọc những quyển sách lịch sử và các vấn đề về hiến pháp cũng như những tác phẩm kinh điển (ông đã để lại cho con trai 4000 quyển sách).

        Pinky, người vợ 34 tuổi của ông có bề ngoài ấn tượng so với các phụ nữ đương thời. Arthur, con trai cả của ông, dáng người cao và đẹp trai đã được 10 tuổi, trong khi cậu bé Douglas 7 tuổi vẫn còn mặc quần áo con gái như một thứ được xem là hợp thời trang trong nhiều gia đình thời bấy giờ. Cả hai đều là những đứa trẻ nhanh nhẹn.

        Vào năm 1889, cuối cùng Arthur MacArthur cũng được công nhận sau những giúp đỡ của cha: Ông được thăng cấp lên thiếu tá và được bổ nhiệm là sĩ quan quản trị cấp cao trong quân đội. Ông nhận được nhiều lời khen ngợi “Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là đại úy tiêu biểu nhất của quân đội Mỹ vì sự can đảm và sự chỉ đạo rất tốt trong chiến tranh”.

        Arthur phục vụ ở đó với nhiều ưu đãi đặc biệt. Ba năm sau, Arthur tham gia vào Viện Hàn lâm Quốc gia ở Annapolis. Một năm sau, thiếu tá được lệnh phải chỉ huy đơn vị đồn trú ở Fort Sam Houston, Texas và một điều đặc biệt là trường Douglas đang học ngay lập tức được chuyển thành Học viện Quân sự Tây Texas. Douglas cũng rất xuất sắc trong các môn thể thao ở trường, trở thành tiền vệ trong đội bóng và vô địch môn tennis của trường. Bốn năm sau, từ năm 13 đến năm 16 tuổi, “Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời tôi”, Douglas nhớ lại.

        Vào năm 1896, cha ông được lệnh đến St Paul, Minnesota để lãnh đạo Cục Dakotas. Douglas sống với mẹ tại khách sạn Plankinton House, hàng ngày đi xe ngựa đến trường cách đó 3km và chỉ gặp cha vào dịp cuối tuần. Dường như có một sợi dây liên kết không thể tách rời giữa bà mẹ đầy ý chí và cậu con trai. Đây chính là điều đã tạo nên tính cách đặc biệt cho Douglas khi bước vào tuổi trưởng thành.

        Đến kỳ thi vào trường West Point, người mẹ đã khuyên nhủ ông bằng sự ước ao xen lẫn ý chí quyết tâm: “Doug, con sẽ chiến thắng nếu không đánh mất ý chí. Con phải tự tin vào bản thân mình, hỡi con trai của mẹ. Hãy tự tin ngay cả khi không có mẹ, con sẽ biết làm thế nào là tốt nhất. Bây giờ, hãy đi đi”. Ông đã thành công mỳ mãn. Điểm của ông là 99,3 so với người xếp kế tiếp là 77,9.

        Douglas bị vẹo xương sống, điều này khiến ông có thể bị loại khỏi Học viện và đây là một trong số ít những điểm tương đồng giữa chàng MacArthur trẻ với vị Hoàng đế chưa ra đời của Nhật Bản. Với sự giúp đỡ của thầy thuốc địa phương, chàng trai trẻ MacArthur đã vượt qua được nhờ những bài tập thường xuyên và kỹ lưỡng. Cậu bé lớn lên trong bộ váy con gái và mái tóc dài cho đến năm 7 tuổi giờ đã thành một chàng thanh niên cao lớn, lực lưỡng. Gương mặt với đôi mắt u sầu, mơ màng thời bé giờ đã trở nên nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Ông đã thừa hưởng những nét từ mẹ, chứ không phải từ cha: cái miệng rộng, chiếc mũi cao hơi khoằm, đôi mắt tinh anh bên dưới đôi lông mày rậm. Mái tóc đen, đôi mắt nhìn xa xăm, vẻ hài hước đã tạo cho ông một dáng vẻ bề ngoài hơi ngông nghênh và ông không gây ấn tượng với các cô gái vì tật hay xấu hổ. Thật ra, ông đã bị con gái của Thượng nghị sĩ John Lendrum Mitchell từ chối, ông đã viết một bài thơ buồn:

        Hỡi cô gái miền Tây xinh đẹp.
        Với sự quay cuồng của tình yêu và sự tự do.
        Chính em là người tôi thương nhớ.
        Nhưng vì sao em lại không yêu tôi?



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:44:06 pm
   
Chương 2

WEST POINT

        Việc thi đỗ vào trường West Point đã đánh dấu một bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời Douglas. Sự kiện thứ hai xảy ra cùng tháng (tháng 6 năm 1898) cũng có tính chất quyết định cho niềm đam mê miền Viễn Đông của ông. Sau thành công thời trai trẻ và gặp thất bại khi trưởng thành, cuối cùng Arthur MacArthur đạt được những vị trí cao nhất trong quân đội Mỹ. Ở vào tuổi 53, bằng tuyên bô chiến tranh với Tây Ban Nha, đại tá MacArthur rất mong muốn được tham gia vào kế hoạch xâm chiếm Cuba. Nhưng thay vào đó, ông được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh lãnh đạo gần 5 ngàn quân tình nguyện làm mũi nhọn dẫn đầu cho 11 ngàn quân viễn chinh tinh nhuệ của tướng Wesley Merritt để giành lấy Philippines từ tay Tây Ban Nha.

        Điều này đã bắt đầu cho thời kỳ gần nửa thế kỷ gia đình ông sống gắn liền với các quần đảo. Con trai 18 tuổi đã rất cố gắng để được thu nhận vào đoàn quân đến Phillippines như cha cậu đã làm trong cuộc nội chiến, nhưng ông lại muốn con mình học ở West Point để trau dồi kiến thức và khả năng chiến đấu. Ảnh hưởng từ sự thăng tiến của cha thời tuổi trẻ chính là động lực để Douglas phấn đấu. Một chút kiêu ngạo, hơi tách biệt, luôn mơ về sự vĩ đại, rất dễ bị tổn thương, hay trầm ngâm và kiên quyết, dường như đó là tính cách thực sự dễ nhận ra của gia đình ông.

        Khi Arthur ra đi nhận nhiệm vụ mới, Pinky tiếp tục ở nhà chăm sóc Douglas. Một năm sau, vào tháng 6 năm 1899, hai mẹ con đã đến Học viện Quân đội Mỹ tại West Point nằm trong những ngọn đồi cây cối rậm rạp, tại đây có thể nhìn thấy dòng sông Hudson. Xa hơn một chút là khách sạn Craney, bà Arthur quyết định ở lại đây để được gần con.

        Bây giờ Douglas mới thực sự trải qua những thử thách đầu tiên của cuộc đời. Là người mới đến nên trong vài tuần đầu, ông bị đưa vào khu doanh trại “Dành cho súc vật” và thường bị bắt nạt. Những học viên lớn tuổi hơn buộc ông phải kể đi kể lại những chiến công của cha ông trong cuộc nội chiến; ông bị bắt đứng yên trong một giờ, bị buộc phải giơ đầu gối qua những mảnh kính vỡ có thể gây thương tích bất kỳ lúc nào nếu ông cảm thấy mệt. Sau này, ở trong lều, theo một số người kể lại, ông bị hoảng loạn và hai chân co giật trên sàn nhà, nhưng ông vẫn nhất định không nói gì mặc dù những người bạn thân cùng lớp biết rõ điều ấy. Ông cũng trải qua những cuộc rèn luyện truyền thống, chẳng hạn như lao vào hơi nước nóng, chạy giữa hai hàng người dội nước lạnh vào hay trần như nhộng lăn trên tấm ván gỗ gồ ghề.

        Một người bạn cùng khóa đã chết vì những nghi thức nhập môn này, và một cuộc thẩm tra đã được tiến hành. Douglas được gọi lên để làm chứng. Điều này đã đẩy ông vào một tình thế khó xử khi phải chọn giữa hai nguyên tắc của mẹ ông, “Không bao giờ nói dối, không bao giờ ba hoa”. Sau này, MacArthur đã kể lại câu chuyện:

        Khi được hỏi, tôi đã giải thích đầy đủ tất cả các sự việc, nhưng từ chối để lộ ra tên những người lớp trên có liên quan. Cha mẹ tôi đã dạy hai nguyền tắc bất di bất dịch: không bao giờ nói dối, không bao giờ ba hoa. Tuy nhiên lúc đó tôi thật liều mạng. Nếu tòa yèu cầu tiết lộ ra những cái tên đó và tôi từ chối chấp hành mệnh lệnh, rất có thể sẽ bị buộc thôi học và mọi giấc mơ, hy vọng của mình sẽ tan biến hết. Thật ra quá dễ và hợp lý để nói tất cả và ai dám khiển trách tôi?

        Mặc dù hơn sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày đó, nhưng tôi vẫn còn cảm nhận được những dòng mồ hôi tuôn ra trên trán, vẫn cảm nhận được đôi chân run và sự kinh tởm khủng khiếp mà tôi đã một lần cảm thấy trước khi đối mặt với sự thẩm tra tại hội trường thành phố ở Milwaukee. Tôi đã cố gắng hết sức né tránh các câu hỏi nhưng vẫn không thoát khỏi những cái đầu khôn ngoan đang ngồi ở vị trí xét xử. Mệnh lệnh ngắn, kiên quyết và dứt khoát được đưa ra, cuối cùng tôi cảm thấy mệt vi bào chữa cho lòng nhân từ của mình: Rằng ước mơ cả đời của tôi là được trở thành sĩ quan; rằng tôi chấp nhận mọi hình phạt nhưng đừng buộc tôi phải thôi học. Và sau đó tôi không nói nữa, nghe người lính già ở vị trí chủ tọa nói: “Phiên tòa tạm ngưng. Hãy đưa anh ta về doanh trại”.

        Khi được Nghị sĩ Edmund H. Driggs của New York hỏi, ông đã thể hiện sự trưởng thành đặc biệt, tư thế đĩnh đạc và khả năng lảng tránh khi mới ỏ tuổi 20:

        DRIGGS: Anh có nghĩ rằng khi anh đến West Point sẽ bị đối xử như thế này không?

        MAC ARTHUR: Không, thưa ngài!

        DRIGGS: Vào lúc đó, anh không cho rằng nó thật tàn bạo sao?

        MACARTHUR: Có lẽ tôi hơi ngạc nhiên về sự đánh giá này!

        DRIGGS: Tôi mong anh có thể trả lời câu hỏi của tôi; anh có cho rằng điều đó là tàn bạo không?

        MACARTHUR: Tôi muốn ngài phải xác định sự tàn bạo!

        DRIGGS: Được thôi! Sẵn sàng chịu đựng sự đau đớn, thờ ơ với sự hiện diện của đau đớn, lòng can đảm, chịu đựng vết thương về tinh thần hay thể xác, gây ra sự đau đớn.

        MACARTHUR: Có lẽ tôi nên nói đó là sự tàn bạo.

        DRIGGS: Anh đã làm nhẹ bớt câu trả lời của mình. Có hay không có sự tàn bạo?

        MACARTHUR: Vâng, thưa ngài!


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:45:41 pm

        Tuy nhiên, khi tòa tạm ngưng, ông đã nhận được lời chỉ bảo từ mẹ:

        Con có biết rằng tâm hồn con là một phần trong tâm hồn của mẹ.
        Rằng con là thớ và lõi trong tim mẹ không?
        Không ai có thể làm mẹ đau đớn bằng con.
        Không ai có thể khiến mẹ vui lòng hay tôn thờ mẹ như con.
        Hãy nhớ rằng thế giới này luôn tồn tại những lời khiển trách.
        Nếu bóng tối hay sự e thẹn che khuất bản thân con.
        Giống như mẹ, giống như con trai, đang nói sự thật.
        Thế giới này sẽ phán xét mẹ thay cho con.
        Hãy thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu như phải làm như vậy.
        Để buộc thế giới này phải kính trọng con.
        Hãy chắc chắn những gì sẽ nói, khi lời phán quyết rằng con đã thắng.
        Mẹ sẽ thu về hạt đã gieo: “Chàng trai ấy chính là con tôi”.


        Sau này, MacArthur xác nhận ông không bao giờ tiết lộ tên những người đã hành hạ mình: Thật ra ông đã nêu tên của những người đã tốt nghiệp hoặc đã thú tội. Đây là một sự thỏa hiệp tinh ranh, thể hiện tính cách của người thực dụng khôn ngoan đằng sau vẻ bề ngoài cứng cỏi. Không ai có thể chỉ trích ông vì tội không ngay thẳng, tuy nhiên ông đã đạt được sự thán phục của bạn bè đồng trang lứa.

        Sự việc xảy ra không chỉ chứng minh sự tính toán nhanh nhẹn cùng khả năng bẻ cong sự thật khi ông muốn mà còn thể hiện sự dũng cảm. Giống như cha ông trong trận chiến đỉnh Missionary, nó thể hiện tính cách không chịu phục tùng. MacArthur không bao giờ tuân lệnh một cách mù quáng, ông luôn xem xét mệnh lệnh và sau đó tự mình đánh giá.

        Sau kinh nghiệm đầu tiên, Douglas đã bước vào tuổi trưởng thành đầy hứa hẹn. 1,8 mét là chiều cao thuộc hàng trên trung bình thời bấy giờ; cân nặng 60kg, dáng người mảnh khảnh, khỏe mạnh. Những người bạn cùng khóa mô tả ông “Đó là học viên đẹp trai nhất từng theo học tại Học viện, cao 1,8 mét, với thân hình cân đối và đôi mắt nâu”, “Một học viên West Point tiêu biểu với làn da hồng hào, khỏe mạnh”, “Gan dạ như sư tử, tinh ranh như quỷ”. Ít tâng bốc hơn, ông “có lẽ kiêu căng từ thuở lên 8”.

        Ông cũng rất chăm chỉ, thỉnh thoảng làm việc cả đêm, che kín cửa sổ và học cho đến sáng. Ông thường tự hỏi, liệu mình có thể trở nên vĩ đại như cha không, người mà ông luôn yêu thương và hãnh diện.

        Trong vòng một năm, khi có được sự tự tin ở West Point, rõ ràng ông được sinh ra để làm người lãnh đạo và ông rất ý thức về điều này cũng như trở nên hơi tự phụ trong mắt các bạn cùng lớp. Ông thể hiện năng lực, trí thông minh cũng như thiên hướng làm việc chăm chỉ. Ổng đã bị khiển trách vì “Vung tay quá nhiều và bước lên trước khi diễu hành”, tuy nhiên, trang phục thì không chê vào đâu được, “Như người mẫu trong tủ kính, với chiếc khăn quàng đỏ và chiếc quần được ủi ly thật sắc”. Mặc dù là vận động viên bóng rổ bình thường và chỉ quản lý đội bóng, nhưng ông rất giỏi dẫn và ném bóng.

        Ông tốt nghiệp với số điểm 98%, đứng dầu trong số 94 học viên của lớp. Đây là sô điểm cao nhất tại trường West Point sau trường hợp Tướng Robert E. Lee. Ông này đã đạt 100% trong môn luật, lịch sử và tiếng Anh. Sau khi phục vụ như một hạ sĩ trong năm đầu tiên, đến trung sĩ thứ nhất trong năm thứ hai và ông ra trường với hàm đại úy thứ nhất như tướng Lee. ông được bầu chọn là học viên xuất sắc nhất.

        MacArthur cũng không hẳn là người hiền lành. Ông được nhắc đến bởi hai trò đùa tinh nghịch với khẩu súng đánh thức. Một lần ông đưa nó lên nóc nhà của Học viện West Point và lần khác là chuyển nó đến cửa trước của phòng giám thị. MacArthur đã nhớ lại kí ức về những hoạt động ngoại khóa thật chi tiết:

        Một khoảnh khắc kinh hoàng khi viên sĩ quan chiến thuật bắt gặp tôi đang hôn một cô gái công khai trên phố Flirtation, và thay vì đánh giá cách cư xử của tôi không thích hợp, họ lại cười và nói, “Xin chúc mừng, MacArthur!”.

        Ngày tôi đến xem đua ngựa ở New York cùng các bạn chung phòng là Charles Severson và Laurson ngớ ngẩn, học viên đại úy của đơn vị E. Chúng tôi đi nghênh ngang vào quán Rector ở Broadway, bắt tay với “Diamond Jim” Brady và gọi chín ly rượu martini. Người phục vụ sửng sốt hỏi “Sáu người khác ở đâu?” và chỉ vào 6 chiếc ly, “Rượu mạnh ở đằng kia”. Sau đó chúng tôi ra ngoài đi xem vở hài kịch. Chúng tôi thích chúng!

        Ngày hôm đó, trong lớp, tiết đầu tiễn chúng tôi được học về mối quan hệ giữa không gian - thời gian của Einstein trong Thuyết tương đối của ông. Bài giảng rất phức tạp và khó hiểu, tôi lật từng trang để nhớ. Khi được gọi lên trả bài, tôi đã đọc lưu loát những gì quyển sách viết. Người hướng dẫn của chúng tôi, đại tá Feiberger, nhìn tôi và hỏi, “Em có hiểu học thuyết này không?”. Đó là thời điểm tồi tệ đối với tôi, tuy nhiên tôi đã không ngần ngại trả lời, “Không, thưa thầy”. Tôi cố đứng vững và chờ đợi. Cuối cùng thầy củng chậm rãi nói: “Tôi cũng không hiểu, em MacArthur. Tiết học dừng tại đây”. Cuối cùng, tôi vẫn không hiểu học thuyết.

        Trong thời gian học tại West Point, ông quen 8 người bạn gái. Tuy nhiên, mẹ ông đã gặp từng người và làm họ tiêu tan hy vọng bằng cách nói rằng ông muốn tập trung vào sự nghiệp. Hầu hết các buổi tối, ông đều gặp mẹ để cùng bà đi dạo hay uống trà.

        Về điểm này có thể chưa rõ ràng, với sự giáo dục ở những đồn trú xa xôi, cuộc sống gần như khép kín tại West Point, liệu ông có thể vạch ra trước được bất cứ thứ gì khác hơn là hình ảnh của một người lính. Ông không hề có sự nhiệt tình và trí tưởng tượng trong các lĩnh vực khác.

        Tuy vậy, tính chất gay go và phân biệt trong cuộc sống ở West Point dường như đã đưa người ta tách ra khỏi hành trình thông thường của cuộc sống thường dân. Như Winston Churchill đã quan sát khi đến thăm West Point, các học viên ít tự do hơn bất kỳ ngôi trường công lập nào trong nước. MacArthur đã thành công rực rỡ khi bước ra từ tu viện quân sự để vào thế giới mà ông thực sự biết rất ít về nó. Khi ông tốt nghiệp, những lời của Ngoại trưởng Elihu Root vang bên tai ông: “Theo tất cả những sự kiện trong lịch sử của chúng ta, trước khi rời học viện, anh sẽ đối mặt với chiến tranh. Nó chắc chắn xảy ra và sẽ xảy ra. Hãy chuẩn bị cho cuộc chiến đó!”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:07:19 pm

PHẦN II

BÌNH MINH CỦA XỨ SỞ MẶT TRỜI MỌC


Chương 3

THỜI HEIAN

        Đúng lúc MacArthur bước vào tuổi trưởng thành và vẫn đang học năm đầu tiên tại West Point, vào ngày 29-4- 1901, cậu bé Michinomiya được sinh ra trong nhung gấm vàng son khác hẳn với tiền đồn mộc mạc nơi Douglas chào đời 21 năm về trước. Sau này, cậu được biết đến với tên gọi Hirohito, và sau đó là Showa.

        Tháng 11 năm 1867, khi Arthur MacArthur thích nghi với cuộc sống sau khi kết thúc cuộc nội chiến Mỹ, một bước ngoặt xảy ra được xem như điểm mở đầu của lịch sử hiện đại Nhật Bản. Sự kiện này có ý nghĩa với Nhật Bản giống như người Anh và cuộc nội chiến Mỹ, người Pháp và cuộc cách mạng Nga hay sự thống nhất của Đức và Italia. Đó chính là sự phế bỏ 250 năm chế độ độc tài quân sự ở Nhật Bản, thời Tướng quân Tokugawa, và việc phục hồi lại quyền lực chính thức cho Nhật Hoàng. Đây được xem là thời điểm mà chế độ phong kiến nhường chỗ cho một Nhật Bản hiện đại.

        Đó không phải là cuộc cách mạng do tầng lớp trung lưu tiến hành mà chỉ là sự chuyển giao quyền lực cho tầng lớp lỗi thời nhất tại Nhật Bản. Tầng lớp Samurai trở nên dư thừa và bị chà đạp. Có vẻ như đây là cuộc cách mạng có tính chất quý tộc. Trong một đất nước được đại diện bởi tầng lớp có ruộng đất theo truyền thống thì Samurai ít quý tộc hơn những giai cấp có đặc quyền, thể hiện qua địa vị lâu đời và những quyền lợi đặc biệt.

        Sự việc tầng lớp hơi hào hiệp này đứng sau sự chuyển đổi của Nhật Bản thành một quốc gia hiện đại đã cho thấy một hướng đi khác thường trong sự phát triển của đất nước Nhật Bản trong thế kỷ này. Nó hơi khác so với tầng lớp địa chủ ở Anh, quý tộc của miền Nam ly khai ở Mỹ, hay tầng lớp quý tộc nhỏ sở hữu ruộng đất ở Nga đã giơ cao khẩu hiệu của cuộc cách mạng xã hội và hiện đại hóa. Để hiểu cách thức tầng lớp lỗi thời nhất của Nhật Bản thâu tóm quyền lực vào năm 1867, thì việc tìm hiểu sơ bộ về xã hội Nhật Bản ngay từ buổi đầu hình thành là rất cần thiết.

        Sau đây là truyền thuyết về sự hình thành đất Nhật Bản. Hãy bắt đầu từ cõi Trời, nơi cư ngụ của các vị thần, trong số họ có Izanagi và Izanami. Hai người đã sinh ra quần đảo Nhật Bản. Izanami đã chết, trong khi Izanagi đang rửa mắt, mũi và sinh ra ba người con là các vị thần Mặt trời, Mặt trăng và Bão tố. Nữ thần Mặt trời là Amaterasu Omikami được trao quyền cai quản cõi Trời. Em trai bà Susanowo-no-Mikoto đã rất tức giận, ông cũng thèm khát chị gái của mình và đã bị ném ra khỏi phòng chị khi tiến lại gần.

        Ông trả thù bằng cách ném phân vào phòng ăn nơi Nữ thần đang tổ chức buổi tiệc mừng cho những thành quả đầu tiên. Ông đã phá hủy dải phân cách của các cánh đồng lúa và cuối cùng là ném một con ngựa thối rữa mà ông đã lột da vào phòng của Nữ thần qua lỗ hổng trên mái nhà. Amaterasu bay vào trong hang và thế giới chìm vào bóng đêm.

         Các vị thần thất kinh đã tập trung bên ngoài hang và dựng một cái cây thiêng. Trên đó họ treo một viên đá quý ở nhánh trên và một cái gương ở nhánh giữa. Sau đó, họ đã mời Ama-no-Uzume, nữ thần báo thức thiên đình, đến để nhảy một vũ điệu hoang dại. Kojiki, người ghi chép các sự kiện vào thời đó, kể lại:

        Nữ thần báo thức thiên đình oai phong, đang treo cây thạch tùng của núi Kagu để đội lên đầu và kết những chiếc lá tre thành chùm cầm trong tay, đặt một chiếc chậu trước của hang và dậm chân cho đến khi nó cất lên tiếng vang. Sau đó trời rung lên và tám trăm vị thần cùng cười.

        Amaterasu nghe thấy sự rung chuyển, nhẹ nhàng ra miệng hang. Bỗng nhiên bà bắt gặp sự phản chiếu của gương. Lo sợ rằng mình đã bị thay thế bởi một sắc đẹp rạng ngời khác, thế là bà ra khỏi hang. Tại đây các vị thần đã giữ bà lại và cuối cùng nữ thần đã quay lại chiếu sáng cho thiên đình. Susanowo bị đuổi ra khỏi thiên đình và bị đày đến vùng đất của bóng đêm, ở đó, ông đã giết chết quái vật và tìm thấy thanh gươm.

        Để giữ cho ý niệm của Nhật Bản rằng không có gì là tốt hay xấu, vị thần hung ác Susanowo vẫn được tôn thờ. Cháu trai bốn đời của Amaterasu trở thành Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản sau khi trận chiến ác liệt kết thúc bằng việc ông cho xây dựng kinh đô ở Yamato, phía nam Kyoto vào năm 660 trước Công nguyên. Vì vậy Nhật Bản được hình thành bởi người thống trị có nguồn gốc từ các vị thần và cứ như thế được truyền từ đời này sang đời khác thành một sự kế vị liên tục để cai trị Nhật Bản cho đến ngày hôm nay. Thần dân là con cháu của thần Susanono. Điều này đã đặt người Nhật lên trên tất cả các chủng tộc khác vì có nguồn gốc trực tiếp từ các vị thần. Đó chính là thần thoại về sự hình thành Nhật Bản.

         Nhật Bản, một nhóm các hòn đảo lớn nằm ngoài bờ biển của châu Á thường xuyên hứng chịu các trận động đất và núi lửa phun trào. Những người đi khai hoang từ lục địa châu Á đã đến đây, có thể là người Triều Tiên, họ đã thay thế người Ainu bản địa. Trong hàng thế kỷ, dân số đã sinh sôi nảy nở trên vùng đất này. Việc thống nhất cả quốc gia cho thấy sự khó khăn trong việc cáng đáng các vùng đất xa xôi, nên các địa phương dựa trên cấu trúc xã hội đã tồn tại: Những lãnh chúa thời xưa thống trị tầng lớp nông dân khốn khổ và cơ cực.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:07:55 pm

        Quan hệ của Nhật Bản với thế giới bên ngoài được mô tả bằng sự nghi ngờ và tính thiển cận. Dưới bản chất có thứ bậc của chế độ phong kiến Nhật Bản tôn thờ đạo Shinto, sự thờ cúng nhiều vị thần trong đó ca ngợi chiến tranh, sự hy sinh và tự sát, trung thành tuyệt đối với Nhật Hoàng, và thiếu truyền thống nhân văn cơ bản. Nhật Bản cũng đạt được một số sự truyền thụ về luân thường đạo lý của đạo Phật, đạo Khổng và cuối cùng là đạo Cơ đốc từ lục địa châu Á. Bên cạnh vẻ độc đoán của xã hội Nhật Bản là truyền thống về nghệ thuật và mỹ học có từ thời Heian vào khoảng thế kỷ thứ 8 đến 12. Đây là thời kỳ vàng son của Nhật Bản với kinh đô là Kyoto dưới triều đại Fujiwara.

        Họ cai trị theo một hệ thống lập dị của chính phủ, “Chính trị hôn nhân”. Những cô dâu của Nhật Hoàng được chọn riêng trong số những thiếu nữ Fujiwara. Đứng đầu gia đình gần như là cha chồng hoặc ông nội (hoặc đôi khi cả hai) với uy quyền tối cao. Vào thế kỷ thứ 10, Fujiwara trao cho Nhật Hoàng toàn bộ quyền lực. Hoàng đế lên ngôi khi còn trẻ và đã cưới một thiếu nữ Fujiwara, con trai của họ sẽ trở thành thái tử. Thông thường, Nhật Hoàng buộc phải thoái vị vào tuổi 30. Con trai sẽ lên kế vị và cứ như vậy tiếp diễn.

         Gia đình Fujiwara lớn nhất, Michinaga được biết đến với ít nhất bốn người con gái của ông được kết hôn cùng các Hoàng đế. Đến cuối cuộc đời mình, Michinaga đã là cha vợ của hai Hoàng đế, ông ngoại của Hoàng đế thứ ba, ông ngoại và ông cô ngoại của Hoàng đế thứ tư, ông ngoại và cha vợ của Hoàng đế thứ năm. Ivan Morris bình luận: “Bản thân các Hoàng đế, mọi quyền lực mà họ có đều mang tính lý thuyết. Tất nhiên họ đều không được hỏi ý kiến về những sắp đặt hôn nhân này. Hoặc mọi người có thể tưởng tượng rằng ít nhất một vài người trong số họ có thể chùn bước trước số phận phải kết hôn với cô, dì của chính mình. Đây là một điều phổ biến trong suốt thời kỳ này”.

        Một nét đặc trưng đáng chú ý khác về chính trị trong thời kỳ Heian là cái chết cũng không làm mất di quyền lực của một người. Hãy xem trường hợp sau:

        Cái chết của Michizane khi bị đi đày cũng chưa kết thúc sự nghiệp của ông. Trong những năm tiếp theo, một loạt các tai họa xảy ra ở kinh đô (hạn hán, lủ lụt và hỏa hoạn) đối phương Fujiwara và thải tử đều yểu mạng. Tất cả điều này đều được cho là sự nguyền rủa của hồn ma Michizane đang tức giận và một số nỗ lực được thực hiện để xoa dịu ông. Những tài liệu liên quan đến cải chết của ông được đốt bỏ, trong khi bản thân ông được phục nguyên chức vụ trước đây và thăng lèn cấp thứ hai. Ngay cả điều này khống đủ để an ủi hồn ma, và 70 năm sau, Michizane được thăng lên chức Thủ tướng tối cao.

        Xã hội Heian, cũng như Nhật Bản hồi đó, bị ám ảnh bởi thứ bậc và địa vị xã hội. Có 10 cấp bậc trong triều, ba cấp đầu tiên được chia thành lớn và nhỏ, nhũng cấp tiếp theo được chia thành cao và thấp. Ngoài ra còn có 30 cấp bậc khác bên cạnh bốn cấp bậc được dành cho các Hoàng thân quốc thích mang trong mình dòng máu hoàng tộc.

         Ranh giới chính là giữa cấp thứ ba và thứ tư. Những người thuộc ba cấp đầu tiên được biết đến như là Kugyo và được hưởng đa số các đặc quyền. Thành viên trong cấp thứ năm và các cấp trên được chỉ định bởi Nhật Hoàng. Những cấp dưới thuộc quyền chỉ định của Đại hội đồng Quốc gia và thiếu nhiều quyền lợi quan trọng, chẳng hạn như xuất hiện tại Điện yết kiến hoàng gia. Đáng chú ý, cấp bậc trong triều được xác định bởi cả chức vụ trong chính phủ lẫn sự giàu có của cá nhân đó.

        Thành viên trong năm cấp bậc đầu tiên được ban ruộng đất, từ diện tích 200 mẫu đối với cấp thứ nhất cho đến khoảng 20 mẫu đối với cấp thứ năm. Con cái của họ được đi học và được phong cấp bậc khi đến tuổi. Bất kể ai thuộc cấp thứ năm trở lên đều có thể mặc quần áo theo nghi thức, có thể tham dự tại Điện yết kiến Hoàng gia, nhận trợ cấp vải vóc và quần áo. Họ cũng được cấp người hầu, cận vệ, cũng như số lượng các hộ gia đình nông dân có trách nhiệm nộp tô thuế theo thứ tự khoảng 4 ngàn hộ cho cấp thứ nhất đến khoảng 900 hộ cho các thành viên ở cấp thứ ba.

        Những quy tắc và sắc lệnh hoàng gia quy định tiêu chuẩn sinh hoạt tương ứng cho mỗi cấp: Chiều cao cột cổng, loại xe ngựa, số lượng người hầu. Trang phục khắt khe được quy định cho từng cấp.

        Ngay cả con mèo của Nhật Hoàng Ichijo cũng được cho hưởng đặc quyền ăn mặc theo kiểu tương ứng với cấp thứ năm, được phong danh Myobu, một danh xưng được áp dụng cho các phụ nữ ở cấp trung.

        Một điều lạ mà Morris kết luận rằng, nếu một du khách Anh đặt chân đến thành phố thời Heian vào thế kỷ 11, “Anh ta sẽ đứng trước một thế giới hoàn toàn khác xa với bất kỳ điều gì anh ta được biết, một thế giới mà về phương diện văn hóa đã tiến xa hơn nền văn hóa của mình, trong đó lòng tin và tổ chức xã hội xa lạ hơn bất kỳ nước nào mà Gulliver đã khám phá trong chuyến hành trình của mình. Đối với Nhật Bản, cách đây một ngàn năm, họ đã phát triển trong một khuôn mẫu mà gần như không liên quan gì đến phương Tây”.

        Trong bản chất của một xã hội tôn kính nghiêm khắc và trong một số trung tâm quyền lực đã tồn tại nguồn gốc của hai đặc điểm tiêu biểu cho một Nhật Bản hiện đại: Sự phục vụ của giới công nhân Nhật Bản ở phía dưới và sự phân tán quyền lực ở bên trên. Nhật Hoàng, với tất cả sự tôn kính vây quanh ông, đã dần trở nên không còn quyền hành, quyền lực chỉ hạn chế trong phạm vi kinh đô của Heian (ngày nay là Kyoto) trong khi shogun có quyền lực thống trị. Vào lúc đó, ảnh hưởng của Nhật Hoàng vẫn còn khá yếu và quyền lực vẫn bị phân tán. Không giống như các Hoàng đế Trung Quốc, thường bị lật đổ tùy theo tiến trình lịch sử, triều đại hoàng gia Nhật Bản vẫn được giữ liên tục qua hai thiên niên kỷ bởi lẽ nó có nguồn gốc “Từ trên thiên đình” - mà không hề có quyền lực thực sự.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:08:57 pm

Chương 4

MẠC PHỦ

        Heian của Nhật Bản được kế tục trong thê kỷ 13 bởi một thời kỳ mà các lãnh chúa các vùng dàn quân ra, mặc dù họ vẫn giữ sự trung thành có tính chất lý thuyết với Nhật Hoàng, cho đến thời của shogun (những kẻ độc tài quân sự tàn nhẫn vào thế kỷ 16). Trong thời đó, xã hội hoàn toàn bị phân tầng dưới đẳng cấp quyền lực của các chiến binh. Theo đó, các kiểu nhà, láng giềng và thu nhập đều bị phân loại theo cấp bậc. Hệ thống giáo dục Nho giáo được biết dưới tên gọi shushigaku dạy rằng, số phận và vận mệnh của một người được xác định từ khi mới sinh ra. Không ai có thể hoặc cố gắng thay đổi được địa vị đã thừa hưởng.

        Vì thế, shogun Nhật Bản đã cho thấy một tình trạng lạc hậu trong quan điểm, khắt khe về hệ thống cấp bậc và từ chối tiếp thu những tác động từ bên ngoài hoặc đổi mới. Do đó, một trong số các du khách đến thăm trước năm 1867 đã cho biết: Nhìn Nhật Bản có nhiều nét tương đồng với châu Âu thời Trung cổ hơn là một xã hội hiện đại.

        Lịch sử của Nhật Bản từ năm 1600 đến 1850 là chuyện kể của hai thành phố, thủ đô danh nghĩa Kyoto, và thủ đô thực Edo (Tokyo thời hiện đại) cách khoảng 320km về phía bắc.Con đường chính nối liền hai thủ đố, Tokaido là một quốc lộ nhộn nhịp. Trên con đường đó, các Hoàng thân Nhật Bản, daimyo, đã di chuyển bằng kiệu, những chỗ ngồi trang trí lộng lẫy được khiêng bởi các người hầu. Lúc nào cũng vậy, các daimyo luôn mang theo một đoàn tùy tùng lớn và samurai với hai thanh kiếm hai bên người, váy ngắn và vai hình cánh bướm, tóc để dài và bện thành một cái đuôi đưa ra phía trước. Những người hành hương đi thăm đền đài Kyoto cũng đi trên con đường này, phần lớn các thương nhân, diễn viên, công nhân (đều phải xin phép vượt qua những rào chắn được lập ra như một bộ máy kiểm soát của Mạc phủ).

        Phải mất một tuần để di chuyển giữa Edo và Kyoto. Sự tương phản giữa hai thành phố có thể cảm nhận một cách rõ ràng. Kyoto là một thành phố giàu có nằm trên một vùng đồng bằng rộng lớn giữa hai ngọn núi. Một dòng sông chảy ngang qua tạo nên một hệ thống kênh rạch (nhưng không đủ rộng để tạo thành một Venice của Nhật Bản). Những ngôi nhà gỗ đơn giản có mặt khắp nơi; ở phía xa bên kia, đặc biệt là bên phía đông, là nơi có các đền đài, chùa miếu của Nhật Bản. Nó là một thành phố nơi những nỗ lực sáng tạo của nghệ sĩ dưới sự bảo trợ của tầng lớp quý tộc phát triển đã tạo ra một số nghệ thuật cách điệu nhất trên thế giới.

        Ukiyo, thế giới nổi, một thế giới của những hoan lạc phù du như rạp hát và nhà hàng với những cư dân của nó như diễn viên, vũ nữ, ca sĩ, người kể chuyện, anh hề, người cung cấp hàng hóa lưu động, lẫn trong đám đông là những đứa con trai trác táng của các thương nhân giàu có, các samurai chơi bời và người học nghề hư đốn... Trong thế giới nổi, tiền thống trị: Nhà buôn khống chế binh lính. Gái mại dâm, bác sĩ, nhà văn và họa sĩ chiếm ưu thế hơn người hầu hoàng gia và cảnh sát.

         Tất nhiên, bên cạnh những cảnh ngoại lai là một thành phố lao động cật lực và phồn thịnh, nơi sự giàu có và nghèo khổ tồn tại khắp nơi. Tuy nhiên không có sự tương phản quá lớn giữa sự trang nghiêm tôn kính của Kyoto quý tộc và sự phóng đãng của Edo tư sản. Tầng lớp samurai vẫn giữ sự coi thường đối với tầng lớp thấp nhất trong bốn tầng lớp truyền thống của Nhật Bản: Chiến binh, nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Trong thực tế, khi nền kinh tế tiền tệ phát triển, rất nhiều samurai, kể cả các Hoàng thân cũng mắc nợ giới thương nhân.

        Vì thế, Edo là một thành phố giàu có mới phất lên. Một vùng rộng lớn của những ngôi nhà gỗ hiện đại, nơi những cuộc hội họp và thủ tục nghi lễ đã thống trị Kyoto và vùng nông thôn không còn tồn tại. Dưới chính thể chuyên chế cứng rắn của shogun Tokugawa, Nhật Bản đã rời khỏi chế độ phong kiến để bước vào thời đại tư sản. Không một ai có thể đoán trước được rằng quốc gia này lại trở về một dạng của chế độ phong kiến trong cuộc khôi phục Minh Trị.

        Mạc phủ là một chế độ độc tài quân sự tàn ác, tuy nhiên nó không tiêu diệt những yếu nhân phong kiến mà nó đã đánh bại. Thời gian trôi qua, shogun sống ngày càng nhiều ở Edo trong một khu đất có tường và hào bao quanh, lớn hơn so với cái ở Kyoto. Vào thời điểm những năm 1590, Edo là một thị trấn nhỏ, nhưng đến năm 1750, nó đã mở rộng trở thành thành phố với hơn 1 triệu người sinh sống. Trong khi các shogun cha truyền con nối mất dần quyền lực sang những người cố vấn, như Nhật Hoàng đã bị trong kỷ nguyên trước đây, chế độ vẫn duy trì sự cai trị hà khắc. Shogun thống nhất vùng bằng các phương cách thô bạo nhất, thuyết phục những người quý tộc đệ trình yêu cầu của họ thể hiện qua một chính sách đã được tính toán để làm bần cùng hóa họ một cách thận trọng, thông qua thuế và các phương pháp khác và bằng cả con tin: Vợ và con của họ bị thuyết phục đến sống ở Edo, nơi các daimyo buộc phải đến thăm họ hai năm một lần. Ngoài ra, giới quý tộc và tùy tùng phải thực hiện phục vụ quân sự.

        Vì thế, qua 250 năm nắm giữ, Mạc phủ Tokugawa đã kiểm soát quyền lực của các Hoàng thân phong kiến, cho đến sau này đã thống trị ở Nhật Bản mà không làm hại họ. Một trong những đặc điểm chính của đất nước chính là địa hình nhiều đồi núi. Điều này đã cho phép có thể chia cắt đất nước thành nhiều vùng đất do daimyo tự trị. Những vùng đất này không có khả năng không thừa nhận sự thống trị ở Edo bởi vì những biện pháp mạnh tay của Edo. Shogun là chủ nhân không bị tranh giành của vùng đất và có quyền thay thế các Hoàng thân không chịu phục tùng bằng người do mình chỉ định. Mô hình tự trị bởi các gia đình lớn được kiểm soát bởi quyền lực phong kiến tàn bạo từ trung ương đã trở thành một nét đặc trưng tiêu biểu của Nhật Bản.

        Ở dưới daimyo là samurai, tầng lớp các chiến binh chiếm khoảng 10% dân số. Địa vị xã hội của họ có thể không quan trọng: Họ được phép mang gươm và khống chế những người bình dân nếu không bày tỏ sự tôn trọng thích đáng. Sau quá trình tập trung quyền lực quanh shogun, cuộc chiến giữa các daimyo là lý do chính khiến giới samurai bị thu hẹp dần. Những ông chủ của họ gia tăng bòn rút bằng các loại thuế của chính phủ trung ương, và nhiều người bị thay thế do tỏ thái độ không phục tùng đối với Mạc phủ. Theo truyền thống, samurai bị ngăn cấm kiếm tiền để trang trải cho cuộc sống và gần như toàn bộ tầng lớp samurai ngày càng trở nên nghèo khổ, khoảng 400 ngàn người trong số họ bị truất quyền sở hữu ronin, phải đi lang thang khắp đất nước tìm một quan chức cao cấp để phục vụ. Họ có thể kiếm sống chỉ bằng cách trở thành người trí thức hoặc quan lại hay những nghề nghiệp không gây hổ thẹn đối với đẳng cấp của họ.

        Vì thế, trong khi shogun cắt xén dần một cách có chủ ý quyền lực của các lãnh chúa phong kiến và samurai, họ vẫn không kiểm soát được quyền lực đang phát triển của tầng lớp thương nhân. Cuối thế kỷ 18, gần 200 ngôi nhà của thương nhân với sự giàu sang tột cùng đã xuất hiện. Trong đầu thế kỷ 17, Mitsui hình thành như một người cho vay nặng lãi, sau đó tách ra bằng cách thành lập một chuỗi cửa hàng vào 100 năm sau đó. Những người giàu mới nổi đều trở thành người cho vay, ông chủ của các tầng lớp cũ, đang đấu tranh để tồn tại dưới sự chèn ép của Mạc phủ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:09:56 pm

Chương 5

CUỘC CÁCH MẠNG QUÝ TỘC

        Vào năm 1850, tầng lớp thành thị mới không chỉ chống lại giới samurai mà còn chất thêm gánh nặng lên đôi vai của người nông dân. Sự thất vọng cũng xuất hiện trong các tầng lớp thấp hơn ở cả thành thị lẫn nông thôn (4/5 trong số 30 triệu dân Nhật Bản sống ở các vùng nông thôn) là một nhân tố đáng lo nhất. Giống như một ngọn núi lửa, Nhật Bản bùng nổ với sự điên cuồng không dự đoán trước được trong suốt những năm cuối cùng của shogun, khi mà sự phát triển kinh tế được dựa trên sự gia tăng bóc lột quần chúng nhân dân. Chỉ một số ít những người đứng đầu của một trong những xã hội có trật tự nhất trên thế giới quan tâm lo lắng đến cảnh nghèo khổ này.

        Phần lớn giai cấp nông dân giữa thế kỷ 19 là người cực khổ không thể tin được. Họ phải chăm sóc cái được mô tả là “Mùa vụ có yêu cầu cao nhất trên thế giới” và bị thống trị bởi hệ thống nô lệ tàn bạo. Đặc điểm nổi bật nhất trong việc trồng trọt của Nhật Bản chính là chủ nghĩa tập thể. Điểm này đã được nêu ra bởi Karl Wittfoegel, tác giả của nghiên cứu cổ điển Chế độ chuyên quyền phương Đông. Điều này là hoàn toàn cần thiết cho các xã hội phương Đông để tạo ra những người theo chính thể chuyên chế, hệ thống xã hội tập thể để quản lý mùa vụ dựa trên những nỗ lực cộng đồng. Thật vậy, với một đất nước mà địa hình toàn đồi núi như Nhật Bản thì lúa chỉ có thể phát triển tốt nhờ sự làm việc cật lực của người lao động. Đầu thế kỷ này, Robertson Scott đã đưa ra những hình ảnh sống động về sự nghèo khổ và công việc vất vả cực nhọc, việc trồng trọt và thu hoạch trên những cánh đồng lúa: “Người nông dân phải lội xuống những cánh đồng đầy bùn. Họ phải dùng trâu kéo cày giúp đất tơi xốp để chuẩn bị cấy mạ”. Lúa được trồng và chăm sóc. Lúa chín sẽ được gặt, đập để lấy thóc, thóc được rê sàng và tách vỏ cho ra gạo. Một điều quan trọng nữa trong việc trồng lúa chính là hệ thống đê điều để điều tiết nước cho ruộng lúa.

        Để giữ giai cấp nông dân trên những cánh đồng lúa trước năm 1867 là một trong số hệ thống có xu hướng đàn áp nhất mà thế giới từng biết đến. Có ít nhất bốn tầng áp bức: Hệ thống tôn ti trong gia đình; Hệ thống cấp bậc trong làng xã; Hệ thống thứ bậc trong nền kinh tế, thường là giữa địa chủ và người làm thuê; Hệ thống thứ bậc của chính quyền trung ương đối với địa phương.

        Trong một gia dinh, vợ phải phục tùng chồng, con phục tùng bố mẹ, đặc biệt là người cha, em phải nghe lời anh, con gái phải tuân theo con trai. Ngay cả những đứa trẻ đã trưởng thành cũng vẫn phải vâng lời bố mẹ, bố mẹ có thể phá vỡ hôn nhân của con cái. Anh trai có toàn quyền đối với em cho đến khi người em có gia đình riêng. Người vợ phải đi sau chồng và có vị thế thấp hơn, ngay cả nếu họ được phép thực hiện các hoạt động như đi mua sắm, điều hoàn toàn bị cấm ở đa số các xã hội châu Á khác.

        Hôn nhân được gia đình sắp xếp và rất hiếm khi có được sự tự nguyện giữa hai người. Gia đình thường tỏ vẻ dân chủ hơn so với những gì nhìn thấy từ bên ngoài: Vì trong bất kỳ gia đình nào, những người mạnh hơn sẽ thống trị những người yếu. Thật ra, nỗi ám ảnh của người Nhật với việc xây dựng sự nhất trí và với cả gia đình đồng ý và hỗ trợ một quyết định có nguồn gốc từ nguyên tắc cai quản cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, về cơ bản, hệ thống gia đình là sự gia trưởng và độc tài.

        Đơn vị cai quản kế tiếp chính là làng xã. Mỗi làng đều có một người đứng đầu và “Những người đại biểu” được xem như là những hạt nhân quan trọng nhất trong đời sống Nhật Bản (một hệ thống của “Nhóm năm người đàn ông”). Người đứng đầu được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương, chịu trách nhiệm ghi lại chính xác tình hình nhân khẩu của làng, thu thuế gạo, chi tiêu cho các công việc chung, hòa giải, thông báo mệnh lệnh và ngăn chặn bạo động. Ông ta là một loại kết hợp giữa thị trưởng và cảnh sát trưởng. Ông được hỗ trợ bởi những người dưới quyền, ba hoặc bốn người từ những gia đình nổi bật trong làng. Các đại biểu này thay mặt cho các dân làng: một dạng hội đồng hành chánh.

        Nhóm năm người đàn ông là một cái hay đặc biệt của Nhật Bản. Nhóm là một thực thể chung mà mỗi thành viên buộc phải chịu trách nhiệm về việc làm có hại của thành viên khác. Mỗi gia đình thành viên một phần của nhóm và là một phần của tập thể làng xã. Cá nhân không tồn tại ngoài nhóm.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:10:48 pm

        Đơn vị chính đề ra các quy định ảnh hưởng đến làng và thực thi sự trừng phạt là hội đồng làng: Sự trừng phạt chính bao gồm sự khai trừ, mura liachibu. Theo đó, gia đình người có lỗi bị cả làng không tiếp xúc ngoại trừ việc giúp chữa cháy hay tham dự đám tang. Tệ hại hơn, họ có thể bị xua đuổi giống như đã phạm các tội ác như trộm cắp, che giấu tội phạm và cố ý gây hỏa hoạn: Bị ruồng bỏ trong một xã hội mà sự phụ thuộc lẫn nhau được đề cao, nơi giá trị của một con người được xác định bởi tư cách thành viên của nhóm, là một nỗi sợ hãi khủng khiếp. Không chỉ những thành viên cùng trong nhóm năm người đàn ông chịu phạt về hành động của họ mà cả hàng xóm láng giềng và ba gia đình trực tiếp ở hai bên và đối diện bên kia con đường đều chịu cùng hình phạt.

        Quyền lực thực sự ở làng xã nằm trong tay của miyaza, bao gồm những gia đình lâu đời nhất và giàu có nhất, từ đó sẽ chọn ra người đứng đầu và những người có quyền cao hơn.

        Cuối cùng, thanh niên của mỗi làng được tổ chức thành “Các nhóm cùng tuổi” trong đó các thanh thiếu niên đều tham gia cho đến khi họ lập gia đình hoặc được 30 tuổi. Các nhóm này được quản lý bởi những thành viên lớn hơn, nhóm nam có quyền lực đối với nhóm nữ. Kể cả trong một số trường hợp, còn được quyền gần gũi với con gái mà cả người con gái đó lẫn gia dinh họ đều không thể từ chối. Các nhóm cùng tuổi có thể khai trừ những thành viên phạm lỗi hoặc tập trung bên ngoài nhà của người phạm lỗi để bêu riếu những việc làm xấu của gia đình họ.

        Cấp độ kiểm soát cao hơn là kinh tế: Vào giai đoạn này trong lịch sử của Nhật Bản, theo một số ước tính thì số người làm thuê nhiều hơn những ông chủ tư nhân. Mặc dù theo tư tưởng của đạo Khổng thì địa chủ buộc phải thể hiện lòng nhân từ và có sự bảo vệ đối với người làm thuê cho mình, trong thực tế điều này còn tùy thuộc vào tính tình của ông chủ; bên dưới hai người này là genin, “Những người hèn mọn”, thường là người lao động không có ruộng đất (cũng cần nhớ rằng tất cả những tầng lớp này đều đứng dưới samurai người có quyền chém đầu bất kỳ người nào trong số họ mà anh ta muốn).

        Sự khuất phục thứ tư chính là bản thân làng xã đối với lãnh chúa phong kiến địa phương. Trong thực tế, làng xã phải nộp thuế. Một số luật lệ nói chung đều được áp dụng đối với tầng lớp nông dân. Như sử gia Nhật Bản Harumi Befu đã viết:

        Thứ nhất, rõ ràng chính quyền tồn tại là vì lợi ích của giai cấp thống trị, vì thế những giai cấp khác, bao gồm cả người nông dân, phải tồn tại để hỗ trợ cho giai cấp thống trị. Vì lý do đó, những biện pháp áp bức được dùng để giữ người nông dân tồn tại ở mức nghèo khổ, lấy đi mọi thứ thặng dư mà họ sản xuất ra. Thứ hai, tầng lớp nông dân bị xem là ngu đần, vì thế họ cần các quy định chi tiết để hướng dẫn. Thứ ba, giai cấp nông dân có một vị trí rõ ràng được xác định bởi giai cấp thống trị: Vi thế rất nhiều các luật lệ nhằm mục đích duy trì và nhấn mạnh mối quan hệ địa vị xã hội của giai cấp nông dân với những tầng lớp khác, đặc biệt là với tầng lớp thống trị. Thứ tư, đối với sự quản lý của Tokugawa, luật và luân lý cả hai đều gắn liền với quan điểm của chính phủ. Do đó, những lời cảnh báo về đạo đức đã hòa lẫn với các quy tắc của pháp luật.

        Một chính phủ vô cùng bảo thủ của những người đầu sỏ chính trị quân đội; một tầng lớp nông dân nghèo khổ; sự di dân về thành phố tăng mạnh và không thể kiểm soát được: Đây chính là ba đặc điểm chính của Tokugawa Nhật Bản vào đầu thế kỷ 19. Đó là một thành tựu khác thường đối với một gia đình đã giữ quyền thống trị cả một quốc gia qua hai thế kỷ rưỡi, đặc biệt khi nó được hình thành từ tính hợp pháp thông qua vũ lực, không phải di truyền hay được chấp thuận phổ biến thông qua bầu cử.

        Ba nhân tố chính bao gồm: Sự nghèo khổ của giai cấp nông dân và giai cấp vô sản thành thị đối với sự bóc lột của tầng lớp thống trị và thương nhân ngày càng trở nên gay gắt, đến nỗi những cuộc nổi dậy đã nổ ra và bị đàn áp một cách tàn nhẫn. Chính sách của shogun về việc ngăn chặn thế giới bên ngoài không còn khả thi nữa (thật ra điều này đã dẫn đất nước đi theo một dạng đánh chiếm thuộc địa như các thế lực Tây Âu đã làm với các nơi khác ở châu Á); tầng lớp samurai bị truất quyền sở hữu và những thủ lĩnh phong kiến bị hất ngã đã nhìn thấy cơ hội trả thù chống lại sự đàn áp từ trung ương.

        Cuộc nổi dậy của tầng lớp nông dân chống lại Tokugawa nổ ra do sự bóc lột của giai cấp tư bản mới mà ngay cả tầng lớp thống trị cũng mắc nợ họ. Ngoài ra, giá gạo lên cơn sốt do nạn dầu cơ tích trữ khi nền kinh tế phát triển phức tạp hơn. Cũng có những năm mất mùa, như nạn đói khủng khiếp vào giữa thế kỷ 19 đã làm 1 triệu người chết. Từ đó một thực tế đối với các gia đình nông dân là họ đã đẩy những đứa bé trai ra khỏi cửa để chịu chết, trong khi những đứa bé gái thường được bán cho các nhà thổ ở Èdo và Osaka.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:11:15 pm

        Trong một trăm năm đầu tiên dưới thời cai trị của Tokugawa, vùng nông thôn khá ổn định: Chỉ có 157 cuộc bạo động trong suốt thời kỳ này. Qua năm mươi năm tiếp theo đến năm 1753 đã có 176 trường hợp. Trong thế kỷ còn lại của thời Mạc phủ, mỗi năm có gần 6 vụ. Những cuộc nổi dậy thường diễn ra dưới hình thức một đám đông tập trung và kéo đến nhà của lãnh chúa phong kiến; hoặc những tòa nhà thuộc sở hữu của những kẻ giàu bị cướp phá. Đôi khi yêu sách của những người nối loạn cũng được chấp thuận. Có lúc họ bị binh lính giải tán một cách tàn bạo. Hầu như những thủ lĩnh nông dân đều bị đối xử tàn nhẫn, bị chặt đầu, hành xác, nấu trong dầu hay bị đày ải.

        Trong các thành phô đã xảy ra các cuộc nổi loạn nhằm vào những người giàu có. Trong 150 năm cuối của thời Tokugawa, có hơn 200 cuộc nổi dậy ở thành thị, khoảng 35 cuộc trong suốt 10 năm cuối. Cuộc nổi loạn nghiêm trọng nhất do nguyên cảnh sát Heihachiro Oshio dẫn đầu xảy ra tại Osaka vào năm 1837. Ông đã lãnh đạo hàng ngàn người dân thành phố, và nông dân trong vài ngày. Trong đó có khoảng 30 samurai tham gia, họ đã sử dụng súng thô sơ và lựu đạn cầm tay. Khi cuộc nổi loạn bị dập tắt trong sự đổ máu, Oshio tự vẫn. Nhiều cuộc nổi loạn khác bày tỏ sự bất mãn ngày càng tăng do các thành viên của tầng lớp thống trị lãnh đạo đã đặt dấu chấm hết cho chế độ độc tài của shogun.

        Một phát súng nhắm ngay vào đầu của chế độ Mạc phủ: Người Nhật theo chủ nghĩa dân tộc mới đã gây ra sự thất bại rõ ràng cho chính sách chính phủ trong việc ngăn chặn người từ bên ngoài và hàng hóa của họ vào đất nước. Đầu năm 1816, đời shogun thứ tám đã nới lỏng sự cấm đoán về một số hàng hóa nhập khẩu; tuy nhiên đa số hoạt động thương mại với nước ngoài đều bị cấm và đạo Cơ đốc bị ngăn chặn hoàn toàn. Những chiếc tàu của Anh, Mỹ và Nga thường xuất hiện trong vùng biển của Nhật Bản. Trong suốt nửa đầu thế kỷ 19, lợi ích của nước ngoài tại Nhật Bản tăng dần. Người Nga đã chiếm Sibêri làm thuộc địa và nhòm ngó Nhật Bản. Người Anh đã chiến thắng Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Thuốc phiện vào năm 1842 và được quyền cai quản Hồng Kông, cũng đang để ý đến Nhật Bản nhằm phục vụ cho thương mại. Vì sự cạnh tranh giữa hai thế lực phát triển, năm 1852, người Nga quyết định đưa 4 chiếc tàu do Đô đốc Putyatin chỉ huy chặn các ngả đường từ châu Âu đến Nhật Bản để bảo vệ hiệp ước đặc quyền thương mại. Khi đội tàu nhỏ của Nga đến cảng phía cực Nam Nagasaki vào năm 1853, họ kinh ngạc khi biết rằng một đội tàu chiến dưới sự lãnh đạo của Thiếu tướng hải quân Matthew Perry do chính phủ Mỹ cử đi để ép buộc Nhật Bản phải mở cửa giao thương, đã đến vịnh Edo.

        Việc Perry đến Nhật Bản đánh dấu cho một thời kỳ mới. Chế độ cũ sắp tàn lụi từ bên trong. Chuyến viếng thăm của 4 “Chiếc tàu đen” (hai trong số đó chạy bằng hơi nước) tại vịnh Edo (sau này là vịnh Tokyo) chính là thông điệp báo hiệu sự sụp đổ của chế độ cũ. Những chiếc tàu hơi nước là biểu tượng của thế giới tiến bộ hơn nhiều so với Nhật Bản. Nó cũng nhấn mạnh đến tính chất dễ bị tấn công của chính Edo. Thực phẩm của thành phố được cung cấp qua đường biển từ phía bắc và phía tây: Nhật Bản, quốc gia có nhiều núi bao gồm các vùng tự trị, phụ thuộc rất lớn vào biển vì dây là đường giao thông huyết mạch.

        Perry là một thủy thủ cứng rắn. Ông hiểu được rằng người Nhật phải bị ấn tượng bởi quyền lực hơn là sư hòa giải. Một sự kiện không may xảy ra năm 1846 khi thiếu tướng hải quân Biddle, người Mỹ đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, đã cố gắng để hòa giải. Bibble bị một người thủy thủ Nhật Bản xô đẩy và ông đã chấp nhận xin lỗi; một nhà ngoại giao Nhật Bản sau này nói với một thượng nghị sĩ Mỹ răng, họ không sợ sự trả thù của người Mỹ sau sự việc đó vì một viên chỉ huy Mỹ đã thất bại trong việc trừng phạt một thủy thủ tầm thường, người đã đối xử với ông một cách bất kính.

        Perry đã xác định sẽ không làm như vậy: Ông đối xử với các sứ thần do Nhật Bản cử lên tàu với một thái độ khinh thường, đưa ra lá thư của Tổng thống mà trong đó là tối hậu thư yêu cầu mở cửa cho các mối quan hệ thương mại và đe dọa sẽ trở lại một năm sau đó với những chiếc tàu lớn hơn. Sau khi đã chuyển thư, viên thiếu tướng cho thuyền nhổ neo rời khỏi vịnh, phớt lờ những lời cảnh báo của Nhật Bản, để đến vị trí mà tại đó ông có thể nã pháo vào các nơi hẻo lánh của thành phố.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:11:33 pm

        Một tháng sau, lực lượng kém hùng dũng hơn của Đô đốc Putyatin đến và đã bị giữ chân tại Nagasaki trong 3 tháng. Hai chuyến viếng thăm đã thuyết phục người Nhật rằng chính sách của họ về sự “Bế quan tỏa cảng” hoàn toàn không còn khả thi nữa. Người Mỹ đến bởi vì nhu cầu tiếp tế cho các tàu đã được dùng vào việc buôn bán có lợi với Trung Quốc; ngoài ra, người Mỹ cũng lấy làm khó chịu khi toàn bộ thủy thủ trên chiếc tàu bị đắm tại Nhật Bản phải chịu sự đối xử tệ bạc trong nhiều tháng trước khi được hồi hương về nước. Cùng với việc mở rộng vùng California và vùng Gold Rush vào năm 1849, nước Mỹ đã trở thành quốc gia có lãnh thổ tiếp giáp với Thái Bình Dương.

        Đằng sau những điều đó chính là cảm nhận rằng Nhật Bản, một quốc gia cô lập và lạc hậu, chính là miếng mồi ngon cho thương mại. Sự tranh giành diễn ra giữa ba thế lực lớn: Mỹ, Anh và Nga, hai trong số đó đã từng chiến tranh với nhau ở Crimea. Trong vòng một tháng, Nhật Bản đã nhận ra tình trạng hoàn toàn không thể tự chủ mà chính sách cô lập với thế giới bên ngoài đã dẫn đến: Nó là một quốc gia không được bảo vệ, không có hải quân, là miếng mồi ngon cho các thế lực xâm chiếm thuộc địa, như nước Trung Quốc đã bị. Nó giống như con dà diều, chỉ biết cắm đầu xuống cát như là một vũ khí tự vệ chống lại các nguy hiểm bên ngoài.

         Câu trả lời của chính phủ Nhật Bản cho thông điệp của Perry là những nỗ lực điên cuồng để vũ trang lại. Các khẩu sủng thần công được dựng dọc theo bờ biển gần Edo, sự phòng vệ được lập ra. Tuy nhiên, khi Perry đến như đã hứa với 7 chiếc tàu vào năm 1854, ông đã chuyển tối hậu thư của mình: Hoặc là người Nhật chấp nhận các điều khoản của ông, hoặc là các hành động quân sự sẽ bắt đầu. Do đã bị hăm dọa bởi sự trở lại của người Nga khi đến Nagasaki một tháng trước, Nhật Bản đã đầu hàng vào tháng 3 năm 1854, và ký hiệp ước Kanagawa, đồng ý mở cửa các cảng ở Hakodate và Shimoda cho việc tiếp tế và thương mại. Người Nhật tự an ủi rằng những cảng này khá xa so với Kyoto và Edo. Tháng 10, một đạo quân Anh do Đô đốc Sterling chỉ huy đã đến Nagasaki và yêu cầu cho cập cảng tại Hakodate.

        Một tháng sau đó, Đô đốc Putyatin không may đã cho tàu vào vịnh Osaka, gần với kinh đô hoàng gia tại Kyoto, gây ra sự kinh hoàng trong dân chúng Nhật Bản. Sau khi đi khỏi, chiếc tàu của Putyatin, tàu Diana, đã bị hư hỏng nặng nề trong vòng nước xoáy gây ra bởi một vụ động đất và gần như bị đắm. Người Nhật lý giải điều đó như biểu thị sự phẫn nộ của thánh thần chống lại sự nhượng bộ của họ đối với những người man rợ. Tuy nhiên, Putyatin và binh lính của ông đã được cứu sống và được đối xử một cách nhã nhặn. Những thương lượng giữa Nhật Bản với quốc gia láng giềng hùng mạnh ở phía bắc (là Nga) đã sớm đạt được thỏa thuận với sự phân chia đảo Kurile và đảo lớn không người ở Sakhalin. Điều này đã làm cả hai bên hài lòng. Hơn thế nữa, người Nga được quyền cập vào bờ tại Shimoda, Nagasaki và Hakodate.

        Đến cuối năm 1855, một hiệp ước chính thức được ký với Hà Lan, và trong năm tiếp theo, Townsend Harris trở thành nhà ngoại giao Mỹ đầu tiên cư trú tại Nhật Bản với vai trò như lãnh sự Mỹ. Ông đã dùng địa vị của mình để mở rộng các điều khoản có lợi cho người Mỹ, đồng thời lợi dụng nỗi sợ hãi của Nhật Bản đối với người Anh, thế lực hải quân lớn mạnh của vùng Viễn Đông. Tháng 12 năm 1857, Townsend Harris mang một bức thư của tổng thống Mỹ đến và trở thành người nước ngoài đầu tiên được đưa vào bộ máy quyền lực; Tokugawa đã nói với ông rằng, “Ông ta rất vui với lá thư được gửi cùng với ngài đại sứ đến một đất nước xa xôi, và cũng hài lòng với bài diễn văn của ông. Mối giao hảo sẽ duy trì mãi mãi”.

        Trong thực tế, quyết định của shogun do trưởng cố vấn Masuhito Abe ban hành. Ông nói với shogun: “Mọi người chỉ ra rằng chúng ta không có hải quân và tranh luận rằng không còn sự chọn lựa nào khác, tuy nhiên nên càng ít nhượng bộ càng tốt”. Người kế nhiệm của Masuhito trong vai trò trưởng cô vấn là Naosuke li, daimyo của Hikone, ông nhận thức rõ hơn về sự nhu nhược trong quan điểm của Nhật Bản. Năm 1858, ông dồng ý với cái gọi là “Thỏa thuận không đồng đều” mà theo đó Edo và các cảng khác được mở cửa cho người nước ngoài, thuế nhập khẩu thấp và 18 quốc gia ký vào hiệp ước được miễn thuế theo luật của Nhật Bản. Những hiệp ước này tương tự với việc Nhật Bản đã trở thành thuộc địa và giới shogun gần như mất hết quyền lực, bất chấp những mong muốn được công khai của Nhật Hoàng. Từ đó, những người Nhật theo chủ nghĩa dân tộc cảm thấy bị xúc phạm đã bắt đầu tập họp. Những hiệp ước đã gây ra sự phản đối và mở đầu cho một cuộc vận động mà mọi người hô to rằng: “Hãy kính trọng Nhật Hoàng! Tống cổ những tên man rợ!” Sau này đã trở thành khẩu hiệu của cuộc khôi phục Minh Trị. Naosuke li phản ứng lại bằng cuộc đàn áp tàn bạo.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:03:52 pm

Chương 6

HOÀNG ĐẾ MINH TRỊ

        Tháng Giêng năm 1860, khi kiệu của Naosuke li đi xuống dốc đồi kế bên hào bao quanh những bức tường kiên cố của lâu đài, nơi shogun ở tại Edo và rẽ vào cổng Sakurada đang bị phủ bởi lớp tuyết dày, ông đã bị tấn công bởi một nhóm người cuồng tín theo chủ nghĩa dân tộc và bị đâm cho đến chết. Đó là vụ ám sát đầu tiên do người theo chủ nghĩa dân tộc thực hiện. Điều này đã gây khó khăn cho các hoạt động chính trị của Nhật Bản trong phần lớn thời gian của 100 năm kế tiếp.

         Với cái chết của li, shogun và chế độ của họ phải kết hợp lại với nhau và họ biết điều đó. Vào năm 1862, họ bị buộc phải từ bỏ quy định bắt daimyo phải ở Edo hai năm một lần; chế độ con tin gia đình cũng kết thúc. Trong lúc đó, thị tộc Choshu của các “Lãnh chúa bên ngoài” bắt dầu cuộc nổi dậy trên quy mô lớn ở phía Tây, thu phục được nông dân và dân thành thị vào hàng ngũ chiến binh, tấn công vào chế độ đẳng cấp cũ đã quy định rằng chỉ samurai mới có thể ra tay. Cuộc nổi dậy chính thức bắt đầu khi Nhật Hoàng Komei ở Kyoto bất ngờ ra chỉ dụ cho phép shogun trục xuất những người nước ngoài khỏi Nhật Bản vào năm sau. Shogun quả quyết với cộng đồng nước ngoài rằng chỉ dụ sẽ không có hiệu lực; tuy nhiên những người quá khích bắt đầu tấn công người nước ngoài và cảm thấy phấn khởi vì nghĩ rằng họ đang thi hành nguyện vọng của Nhật Hoàng tối cao. Ớ Yokohama và Edo, một số người nước ngoài bị đâm chết.

        Tháng 9 năm 1862, một người đàn ông Anh nổi tiếng, ông Richardson, đã bị tấn công mà không có một lời giải thích khi ông đang đi trên quốc lộ Tokaido nối Edo và Kyoto. Thủ phạm là tùy tùng từ Satsuma, họ cũng sắp mở cuộc khởi nghĩa chống lại shogun. Người Anh vô cùng giận dữ, cử một đội tàu chiến đến nã pháo và gần như san bằng thủ phủ của thị tộc Satsuma ở Kagashima. Tháng 6 năm 1863, thời hạn trục xuất “Những người man rợ” đã đến, và Choshu đã dàn súng trên eo biển Shimonoseki bắn vào những chiếc tàu của Mỹ, Pháp và Hà Lan. Người Mỹ và Pháp bắn trả lại. Tháng 9 năm 1864, cuối cùng, các thế lực đế quốc đã mất hết sự kiên nhẫn. Một hạm đội gồm Anh, Hà Lan, Pháp và Mỹ đã phá hủy các khẩu đại pháo của Choshu, mở lại eo biển. Dân chúng Mỹ cũng ủng hộ điều đó vì người Nhật đã gây sự trước.

        Năm 1866, shogun Iemochi chết, người giám hộ của ông, Keiki Tokugawa lên nắm quyền. Cùng năm, những đoàn quân từng là đối thủ trước đây của Satsuma và Choshu đã dàn xếp tạo thành một liên minh, trong đó cả thị tộc Tosa và Hizen tham gia. Một số thương nhân, nổi tiếng nhất là gia đình Mitsui, cũng tham gia vào lực lượng với những người quý tộc này. Một năm sau, Nhật Hoàng Komei qua đời và con trai 15 tuổi của ông, Mutsuhito, Hoàng đế Minh Trị, lên ngôi kế vị và sống trong cung điện ở Kyoto. Giờ đây, ông đã thể hiện niềm hy vọng của rất nhiều người dân khi họ mong muốn tìm cách giải thoát đất nước khỏi chế độ độc tài quân sự.

         Tháng 11 năm 1867, hai đoàn quân của thị tộc Satsuma và Choshu tiến vào Kyoto, để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào dinh thự của shogun ở đó, lâu đài Nijo. Shogun Keiki cũng chính thức nhận được tối hậu thư từ thủ lĩnh của thị tộc Tosa yêu cầu ông phải hoàn trả “Quyền lực thống trị cho Hoàng đế và lập ra tổ chức mà dựa vào đó Nhật Bản có vị thế ngang bằng với tất cả các quốc gia khác”.

        Keiki trốn khỏi dinh thự của ông trong đêm và đến Osaka để thoát khỏi cuộc tấn công mà ông tin rằng sắp xảy ra. Tại đó, những người trung thành thuyết phục ông rằng họ có đủ sức mạnh để mở cuộc phản công nhằm “cứu” Nhật Hoàng từ kinh dô của những người chủ mới. Tháng Giêng năm 1868, quân đội của shogun tiến vào Kyoto, nhưng bị chặn đứng tại thị trấn Toba và Fushimi. Keiki đi thuyền từ Osaka sang Edo - nơi ông đã chịu khuất phục trước điều không thể tránh khỏi và có tính chất quyết định: Lâu đài Edo nên đầu hàng, mặc dù nó vẫn còn khả năng chống đỡ; chỉ ở Ueno, phần phía Đông của thành phố còn vài sự chống cự nhưng không phải với quân nổi loạn mà là lực lượng hoàng gia.

        Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thị tộc trung thành với Tokugawa. Tại Wakamatsu và Hokkaido, trận chiến vẫn tiếp tục kéo dài cho đến năm sau. Bản thân Keiki được tha thứ, có lẽ do ông đã quy phục. Keiki được Nhật Hoàng thừa nhận vào năm 1902.

        Vấn đề cuối cùng ở Nhật Bản là chuyện giữa hai thành phố: Mùa thu năm 1868, một thanh niên được Nhật Bản trang trải chi phí cho chuyến thăm chính thức đến Edo, thủ đô của shogun. Nó là một thành phố tráng lệ, một hình ảnh mới nhất của Nhật Bản cổ xưa. Người thanh niên này đã mô tả lại nó khi chiếc Ho-oren (“Xe phượng hoàng”) đến gần:

         Đó là một chiếc kiệu sơn đen bóng loáng, khoảng nửa mét vuông và với mái dạng vòm; mặt trước được đóng lại chỉ bằng rèm và ở giữa mỗi bền là một cửa sổ lưới mắt cáo, qua cửa sổ này không thể nhìn thấy được người bèn trong. Mikado được cho là đã ngồi vào bên trong nó, tuy nhiên nó thoải mái hơn kiệu... những người khiêng kiệu lèn vai và kiệu nằm trẽn một cái khung cách mặt đất khoảng 6 pút... tất cả đều mặc trang phục lụa màu vàng sáng... Có 60 người trực tiếp vây quanh chiếc Ho-oren. Dưới ánh sáng mặt trời trông mọi thứ thật huy hoàng lấp lánh và kỳ lạ không sao tả được, dường như chưa bao giờ nhìn thấy ở những nơi khác trên thế giới.

        Bây giờ là sự yên lặng bao trùm lấy mọi người. Hai bên đường, dân chúng cúi rạp mình. Khi chiếc “xe phượng hoàng” đến... với vầng hào quang của những người tham dự... không có mệnh lệnh hay dấu hiệu gì, mọi người phải cúi mặt xuống... không ai được di chuyển hay nói chuyện, và tất cả có vẻ như đang nín thở với nỗi sợ hãi khi có sự hiện diện thần bí đi qua và rất ít người được phép nhìn.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:04:11 pm

        Mùa xuân năm sau, triều đình dời về lâu đài của shogun mà sau này ở đó trở thành cung điện hoàng gia mới. Edo được đổi tên thành Tokyo (thủ đô ở phía đông). Quyền lực thần thánh của Nhật Bản giờ đây cũng là quyền lực thế tục của họ.

        Từ đó trở về sau, tất cả quyền lực chính thức của Nhật Bản đều được thu về một mối. Trong khi đó điều này chỉ có trên danh nghĩa trong quá khứ, không một ai có bất kỳ ảo tưởng nào rằng Nhật Hoàng sở hữu quyền lực chính trị thực sự dưới bất kỳ hình thức nào trong thời Mạc phủ. Trật tự mới được thực hiện dựa trên cơ sở của những nền quân chủ lập hiến khác mà người Nhật đã tham khảo trong phần còn lại của thế giới.

        Những quyết định của chính phủ sẽ được chuyển đến Nhật Hoàng và ông ngồi tham dự thảo luận ngay cả khi không có vai trò chủ động. Vị trí của Nhật Hoàng sau cuộc khôi phục hoàn toàn khác xa so với trước đây. Giờ đây, ông ở đỉnh cao chính thức của quyền lực: những bộ trưởng cấp cao phải báo cáo cho ông, ông bổ nhiệm Thủ tướng và giám sát các quyết định quan trọng, ông lãnh đạo mọi người trong tất cả các hoạt động lớn của đất nước. Người ẩn dật của Kyoto giờ đây không còn nữa.

        Không ai cho rằng ông là nhà độc tài của Nhật Bản chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định ảnh hưởng đến Nhật Bản cho đến năm 1945. Sau một thời gian, ngay cả shogun cũng trở thành người cố vấn cho ông. Thật ra, quyền lực của Nhật Hoàng là một cái gì đó hoàn toàn mới: Ông đứng trên đỉnh cao của một chế độ chính thể chuyên chế, được bao quanh bởi những cố vấn. Đây là nét đặc trưng của hoạt động chính trị Nhật Bản kể từ thời xa xưa. Quyền lực thần thánh và trần tục đã hội tụ vào một thanh niên vừa mới qua tuổi dậy thì, người thừa hưởng tinh hoa của thần và quyền lực của vua, điều hành Nhật Bản từ kinh đô duy nhất là Tokyo.

        Hoàng đế Minh Trị người thấp, nhưng là chàng trai trẻ mạnh mẽ với đôi môi trề và nét mặt buồn. Tóc ông dày và đen, sự trưởng thành sớm đã cho ông một vẻ bề ngoài trông dữ tợn. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ ấn tượng hơn là khiến cho người khác sợ. Ông nội của Nhật Hoàng Hirohito sinh vào năm 1852, được đặt tên là Mutsuhito, và ông đã thể hiện vai trò chính trị to lớn hơn so với tổ tiên của mình trong nhiều thế kỷ. Một số nhân chứng dưới quyền nói rằng ông là người thô lỗ, đôi khi tử tế và có thể trạng khỏe mạnh.

        Họ là những người tiếp quản những vùng đất xa xôi, lạc hậu nằm ở vùng ven của một thế giới văn minh trong nửa cuối thế kỷ. Không có gì ấn tượng về quyền lực hay thành công của Nhật Bản vào thời gian đó. Có chăng, đó chỉ là một chuỗi các đảo không mến khách, nằm ở ngoài khơi châu Á, có vai trò như là một nơi nghỉ chân trong việc xâm chiếm đại lục châu Á của các thế lực thực dân. Lý do duy nhất khiến Nhật Bản không bị chiếm làm thuộc địa có lẽ là các thế lực lớn (Anh, Mỹ và Nga) nghĩ rằng nó hầu như không đáng giá cho các nỗ lực xâm chiếm.

        Chỉ trong vòng vài tháng, bản thân những người giải thoát các vùng khỏi sự kiềm kẹp của chế độ độc tài quân sự tàn bạo đã nhận ra rằng, họ phải chiến đấu ít nhất trên ba mặt trận: Trên phương diện quốc tế, họ phát hiện rằng Nhật Bản còn yếu hơn nhiều so với những gì mình nghĩ. Một trong những động cơ chính đằng sau cuộc khôi phục là “Trục xuất những người man rợ”. Những người thống trị mới nhanh chóng nhận ra rằng con đường duy nhất để làm được như vậy là trở nên mạnh hơn “Người man rợ”, và điều này chỉ có thể hoàn thành thông qua việc sao chép các bí quyết và phương pháp của hắn.

        Mặt trận thứ hai là kinh tế: Quốc gia đang đối mặt với sự phá sản về tài chính và chỉ những khởi xướng triệt để nhất mới cho phép nó thoát khỏi nanh vuốt của tầng lớp quan lại sống ăn bám, cùng với những người tùy tùng hám lợi, vắt kiệt máu từ những người sản xuất bị chèn ép ở nông thôn. Thứ ba, tầng lớp thực sự đưa chế độ mới lên nắm quyền (binh lính, samurai) là một trong những tầng lớp lớn nhất làm kiệt quệ nền tài chính quốc gia. Những người thống trị mới của đất nước phải tìm cách xét lại quyền lợi của samurai: Họ không thể được trợ giúp bởi nhà nước như là một người không sản xuất. Chỉ hai giải pháp được xem là có tính khả thi: Hủy bỏ đặc quyền để samurai có thể làm ra tiền giống như những người khác, tuy nhiên điều này có thể gây ra sự oán giận sâu sắc trong số những người gặp thất bại trong việc kiếm tiền và chuyển sinh lực chiến binh của họ ra nước ngoài.

        Giờ đây, Nhật Hoàng đã là trung tâm của nền chính trị. Trước cuộc khôi phục Minh Trị, hoàng gia rất thụ động và huyền bí. Một số ít người nước ngoài từng ở Nhật Bản dưới thời shogun hầu như không bao giờ nghe thấy Nhật Hoàng được đề cập; Nhật Hoàng chỉ thực hiện một số chức năng có tính chất nghi lễ tại Kyoto. “Những lãnh chúa bên ngoài”, người thừa hưởng quyền lực sau năm 1867 đã tìm cách đặt Nhật Hoàng vào đúng vị trí với sự chủ động hơn, không chỉ với tính thần thánh mà còn có quyền lực chính trị tối cao.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:04:36 pm

        Vào năm 1872, Nhật Hoàng đã bắt đầu thực hiện chuyến tuần du đầu tiên trong sáu “Chuyến kinh lý lớn” qua đất nước của mình: Tàu, ngựa, kiệu và đôi bàn chân đã đưa ông đi từ nơi này đến nơi khác, lên những con đường đèo, ngang qua những con sông lớn. Kaoru Inoue, một trong những cố vấn chính của ông, nói rằng: “Việc Nhật Hoàng ghé thăm tất cả các vùng của Nhật Bản không chỉ cho thần dân thấy đức hạnh của ngài, mà còn tạo cơ hội cho mọi người tận mắt nhìn thấy đấng tối cao bằng xương bằng thịt”. Nhật Hoàng trẻ Mutsuhito dễ gần gũi, ông sống trong nhà người dân, trong các khách sạn nhỏ và nhận được sự tôn kính từ hàng ngàn người dân háo hức xem ông ngoài đời. Có lẽ những người sáng lập của thời Minh Trị Nhật Bản ban đầu đã có ý định tạo ông thành một vị vua lập hiến như họ thấy ở Anh: được yêu mến, kính trọng, nhưng quyền lực tối cao nằm trong tay chính phủ, những nhà chính trị và dân tộc.

        Khi Nhật Hoàng đến tuổi trưởng thành, ít nhất ông cũng không bị xem là con rối của các cố vấn lớn tuổi. Các quyết định hằng ngày của Mutsuhito đều nhằm mục đích bảo vệ hoàng gia Nhật Bản. Chính thức thì ông không có quyền can thiệp vào việc ra quyết định, chỉ đơn thuần phê chuẩn các quyết định của hội đồng mà sau đó được chuyển đến nội các của ông. Tuy nhiên, vì tồn tại lâu hơn các cố vấn lớn tuổi, nên các quan điểm của ông ngày càng được chủ ý đến. Mutsuhito đặc biệt quan tâm đến hai lĩnh vực: Giáo dục và chiến tranh.

        Mutsuhito đã chỉ huy hai cuộc chiến lớn: cuộc chiến tranh Trung - Nhật và chiến tranh Nga - Nhật. Khi cuộc chiến thực sự nổ ra vào tháng 9 năm 1894, sở chỉ huy hoàng gia đã di chuyển xuống phía Nam đến cảng tập kết binh lính, Hiroshima. Trong 8 tháng, Hoàng dế Minh Trị được thuật lại rằng, ông đã trải qua cuộc sống của binh lính, sống trong một căn phòng nhỏ, ngồi trên ghế ba chân, mặc đến mòn rách quần áo của mình. “Không lo lắng đến sự bất tiện, Nhật Hoàng làm việc cả ngày lẫn đêm tại văn phòng quân đội, thức dậy vào lúc 6 giờ, nghỉ ngơi vào lúc nửa đêm và ngay cả khi nghỉ ngơi cũng nghe trợ lý của ông nói về các vấn đề quân sự”. Nhật Hoàng đã ban phát cho binh lính hơn 800 ngàn điếu xì gà và 27 ngàn lít rượu sakê.

        Một thập kỷ sau, trong cuộc xung đột Nga - Nhật vào tháng 5 năm 1904, người chỉ huy chiến tranh một lần nữa thể hiện sự xuất chúng. Thay vì nổi tiếng về cuộc sống trong cảnh thiếu thốn, lần này Nhật Hoàng đã được công nhận với đa số những quyết định tác động đến chiến tranh và hòa bình; ông cũng viết tới 7.526 bài thơ trong suốt một năm rưỡi chiến tranh. Trong đó có những câu thơ rất hay, chẳng hạn như “Khi nghĩ về những thứ xảy ra trong cuộc chiến, tôi không còn tâm trạng để ngắm hoa”, cũng như “Hãy tiêu diệt kẻ thù vì rượu sakê của tổ quốc, nhưng không bao giờ quên thể hiện lòng khoan dung”, một cảm xúc mà Tolstoy đã phê bình như một điều tự mâu thuẫn trong cuộc đọ sức tay đôi nổi tiếng về văn chương với nhà văn Nhật Tokutomi Roka. Mặc dù sống tại Tokyo trong suốt thời kỳ chiến tranh, nhưng Nhật Hoàng đã rời khỏi để cử hành lễ mừng chiến thắng tại ngôi đền linh thiêng nhất Nhật Bản Ise.

        Nhật Hoàng không chỉ rời khỏi địa vị “ở bên trên nhũng tầng mây” của mình để giải quyết các vấn đề liên quan tới giáo dục và chiến tranh. Sau khi cuộc nổi loạn của những người theo chủ nghĩa xã hội bùng nổ vào năm 1911, Nhật Hoàng đã ban lệnh cấp phát 1,5 triệu yên tiền thuốc men cho những người nghèo để truyền đạt thông điệp rằng, theo lời của bản tuyên bố chính thức, “Dù điều kiện kinh tế thay đổi, nhưng trái tim của thần dân vẫn không dao động”. Những nỗ lực của Nhật Hoàng không chỉ nằm ở việc tặng vật phẩm cho người nghèo mà còn cổ vũ họ làm việc chăm chỉ, đối xử tốt, sống dơn giản nhằm động viên mọi người vượt lỊua sự gian khổ, thử thách gay go.

        Sự tôn thờ Nhật Hoàng cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến tín ngưỡng của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều đó đã cùng Nhật Bản bước vào thế kỷ 20. Mức độ sùng kính Nhật Hoàng dường như đã khắc sâu vào tâm trí người Nhật. Theo quan niệm truyền thống, mỗi người Nhật khi sinh ra đều nằm trong mối liên hệ với cha mẹ, anh chị em, thầy cô, cộng việc, cũng như xã hội được tượng trưng bởi Nhật Hoàng.

         Trong năm 1880, Hoàng đế Minh Trị sau khi đi thăm dân chúng và chia sẻ những kinh nghiệm của người chiến sĩ, đã bắt đầu trở nên ngày càng xa cách. Điều này có lẽ phản ánh sự độc đoán của ông, một cá tính mạnh mẽ khi ông đã trưởng thành. Đây cũng là một phần trong nỗ lực của những người cầm quyền thời Minh Trị để đưa ông trở lại vai trò như một thánh thần khi mà quyền lực của họ đã được củng cố. Một lần nữa, ông lại trở thành biểu tượng của quốc gia hơn là đại diện cho quyền lực. Những người đầu sỏ chính trị thời Minh Tri càng trở nên tự tin thì Nhật Hoàng càng bớt quan trọng. Địa vị của họ đã được củng cố, quan trọng hơn là việc Nhật Hoàng trở thành một biểu tượng quốc gia mà không hề có quyền lực thực sự.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:04:52 pm

        Sự sùng bái Nhật Hoàng được cường điệu lên rất nhiều, điều chưa từng xảy ra trước đây. Nhật Hoàng trở nên xa cách với thần dân của mình. Hơn 70 trong 100 sắc lệnh chính của hoàng gia được công bố trước năm 1880. Ông chỉ xuất hiện tại các sự kiện lớn như các cuộc gặp gỡ ngoại giao và lễ duyệt binh. Giờ đây, khi ông đi ngang qua vùng nông thôn, mọi con đường đều bị ngừng lưu thông và được quét sạch sẽ. Dân chúng bị bắt phạt nếu mặc quần áo thiếu tôn trọng và hành động quy phục không đúng mực khi ông đi qua. Ông không còn ghé các ngôi nhà của dân thường, chỉ dùng bữa tối tại các nơi trú ngụ của hoàng gia và căn cứ quân đội. Ông chỉ gặp các quan chức địa phương. Quan lại xung quanh ngai vàng ngày càng nhiều. Quản lý nội các hoàng gia, nhà Kunaisho, trở nên có quyền lực. Hai người cai quản bộ trong thời kỳ Minh Trị: Hisamoto Hijikata là bộ trưởng từ năm 1887 đến 1898, và Mitsuaki Tanaka lãnh đạo bộ từ năm 1898 đến 1909. Hai người đàn ông này tự xem mình là bộ trưởng có quyền lực nhất trong vùng. Trên thực tế, quyền lực lớn hơn được nắm giữ bởi Hirobumi Ito, nhà lãnh đạo độc đoán cứng rắn của Nhật Bản (người rất thân cận với Hijikata) và Aritomo Yamagata, một nhà quân sự và là bạn của Tanaka. Bản thân Nhật Hoàng thân với Ito hơn, quý mến vì những nỗ lực của ông để hình thành một cơ cấu lập hiến cùng nghị viện cho chế độ.

        Trái lại, Yamagata là một nhà chuyên quyền quân sự, người trung thành một cách mù quáng với chế độ hoàng gia và tìm mọi cách có thể để tuyên truyền việc nắm hết quyền lực của chế độ trong dân chúng Nhật Bản. Như nhiều thường dân khác, Yamagata, nhà sáng lập ra quân đội Nhật Bản hiện đại, đi lễ hàng ngày tại điện thờ của Nhật Hoàng. Ông chính là người chịu trách nhiệm về khoảng cách ngày càng xa của dân chúng đối với Nhật Hoàng. Ông bị ấn tượng bởi cách mà Nga hoàng được giữ tách biệt và thần bí với dân chúng.

        Yamagata trở thành người đàn ông có quyền lực nhất tại Nhật Bản trong những năm tiếp theo, người sáng lập ra bộ máy quân dội và là một nhà chuyên quyền với tính nghiêm khắc cứng rắn. Người gầy và cứng nhắc, ông rất dè dặt, hay âu lo về bệnh tình ở dạ dày và ruột của mình. Được sinh ra trong tầng lớp samurai, ông có sẵn bản tính của người Nhật là căm ghét người nước ngoài.

        Yamagata, người điều hành đất nước một cách hiệu quả cuối thời kỳ Minh Trị, có cùng quan điểm với tầng lớp quan lại, những người mà ông xem là quan trọng hơn so với những nhà chính trị. Quan niệm của ông là hãy để tầng lớp quan lại tách riêng ra phụng sự Nhật Hoàng, trong khi đó, lực lượng vũ trang không thuộc đảng phái nào dưới sự lãnh đạo của ông sẽ tập trung vào các lợi ích của quốc gia ở nước ngoài. Bên dưới là quốc hội và quyền lực chính trị có nhiệm vụ giải quyết các trở ngại cho chính phủ, đồng thời bảo đảm lòng trung thành của thần dân. Nhưng những lời đồn thổi rằng một ngày nào đó quân đội có thể ganh dua quyết liệt với tầng lớp quan lại đã đến tai Nhật Hoàng, thế là binh lính buộc phải tuân theo những huấn thị về lòng trung thành.

        Mô hình quân đội của Nhật Bản giống như của Đức. Quân đội được tư vấn bởi một viên sĩ quan người Đức, thiếu tá Jacob Meckel, để lập ra một ban tham mưu, mà người đứng đầu có trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho tổng tư lệnh, Nhật Hoàng. Bộ trưởng Chiến tranh cũng tiếp cận trực tiếp với ngai vàng, tuy nhiên vai trò chính của người này là điều hòa nhu cầu của quân đội với những yêu cầu từ chính phủ. Yamagata đã nhấn mạnh tầm quan trọng trong nhiệm vụ của trưởng ban tham mưu bằng cách xin từ chức để đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh vào năm 1878. Lực lượng quân sự có sự ảnh hưởng không cân xứng trong chính phủ cho đến năm 1898, chiếm đa số ghế trong nội các sau đó và về sau chỉ còn dưới một nửa.

        Một chỉ dụ của hoàng gia năm 1900 ra lệnh rằng Bộ trưởng Chiến tranh và Hải quân phải được bổ nhiệm từ các tướng và đô dốc đang còn tại ngũ. Hải quân đã có ban tham mưu vào năm 1891, tiếp cận trực tiếp với Nhật Hoàng sau cuộc chiến tranh Trung - Nhật. Ngay từ đầu, quân đội rất quan tâm đến việc mở rộng lãnh thổ, hải quân cai quản các vùng biển mở ra cho mục dí ch thương mại. Giờ đây, cả hai được xem là rất cần thiết để tạo ra sự phồn thịnh cho Nhật Bản và địa vị thống trị toàn cầu: Nó trở thành cánh “Ôn hòa” của lực lượng vũ trang.

        Yamagata đã dựng lên một lực lượng quân đội với tốc độ ấn tượng. Vào năm 1895, chỉ có khoảng 240 ngàn quân trên mặt trận, một nửa trong số họ là quân dự bị (việc nhập ngũ là bắt buộc thực hiện trong vòng 7 năm và trở thành dự bị sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự). Nòng cốt là 78 ngàn quân được trang bị vũ khí hiện đại và huấn luyện một cách chuyên nghiệp. Các sĩ quan được luyện tập theo một kế hoạch chiến lược, công tác tình báo, khả năng huy động, thông tin liên lạc và tiếp tế. Vào lúc này, hải quân Nhật vẫn còn rất khiêm tốn so với tiêu chuẩn của hải quân các nước khác: 28 tàu hơi nước, tổng trọng tải là 57 ngàn tấn. Sau đó, các xưởng đóng tàu Nhật Bản bắt đầu làm những con tàu chiến lớn hơn, với súng liên thanh và ngư lôi, trong một chương trình bành trướng được đôn đốc bởi Đô đốc thiên tài Heihachiro Togo. Đây được xem như một sự ưu tiên của chính phủ hoàng gia.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:05:53 pm

Chương 7

“GIÀU CÓ VÀ NHÂN ĐỨC’’

        Vào ngày 29-4-1901, công chúa Sadako - vợ thái tử Yoshihito (con trai Hoàng đế Minh Trị), đã hạ sinh một bé trai sau gần một năm kết hôn. Cậu bé được gọi là Hirohito, Hiro nghĩa là giàu có theo tiếng Hán với mong muốn rằng quốc gia được giàu có và nhân dân sống trong hòa bình. Hito là tên theo luật lệ của hoàng triều, mang ý nghĩa là nhân đức hay rộng lượng. Bên cạnh đó, cậu bé còn có tên là hoàng tử Michinomiya. Hoàng tử Yoshihito đã viết tên đầu tiên bằng bút và mực, trong khi Bộ trưởng Nội các hoàng gia viết tên thứ hai. Chúng được đặt một cách trịnh trọng lên gối của đứa trẻ và những cái tên được tuyên bố tại ba điện thờ trong vườn hoàng cung. Hirohito được mẹ và vú nuôi cai sữa tại cung thái tử.

        Mười bảy ngày sau khi sinh, đứa trẻ được gửi cho một gia đình khác nuôi, vì đây là một tục lệ cổ hủ trong gia đình hoàng tộc và tầng lớp quý tộc. Tướng Iwao Oyama, một sĩ quan xuất sắc, được yêu cầu nhận nuôi đứa trẻ. Nhưng ông đã từ chối, vì trách nhiệm quá nặng nề và ông phải chọn cái chết nếu như đứa trẻ bị bệnh và qua đời.

        Quan Sumiyoshi Kawamura, nguyên Bộ trưởng Hải quân là sự lựa chọn tiếp theo. Ông đã đồng ý. Ngày 7-7, đứa trẻ được đưa đến dinh thự của ông ở Azubu, cách cung Thái tử 3 cây số. Vú nuôi, một bác sĩ và một y tá của hoàng cung đều có mặt. Viên cận thần Osanaga Kanroji, người ghi lại những năm đầu đời của Hirohito đã có gần 70 năm tận tụy với công việc. Người đàn ông già quyết định dạy cho đứa trẻ một tinh thần dũng cảm để chịu được mọi gian khổ, thử thách cũng như dẹp bỏ thói kiêu căng, tự phụ. Ông cũng sắp xếp cho một cô giáo người Anh để giúp cậu có tính độc lập, một trái tim nhân ái, và một tấm lòng biết ơn. Hơn một năm sau, cậu bé được gặp người em trai, hoàng tử Chichibu.

        Khi Hirohito chưa được 4 tuổi, Kawamura qua đời, vợ ông xin được giảm bớt trách nhiệm. Hai hoàng tử được đưa về ngôi nhà trong vườn của cung Thái tử. Gần hai năm sau, một nhà trẻ đặc biệt được xây gần đó. Nhà trẻ gồm 3 phòng theo phong cách Nhật Bản truyền thống với những chiếc chiếu tatami và những tấm trượt có thể dịch chuyển được để mở rộng không gian. Năm đứa trẻ, tất cả đều lớn hơn hoàng tử được chọn làm bạn để hoàng tử phát triển các kỹ năng.

        Hirohito sớm là một đứa trẻ nghiêm nghị và có phần hơi vụng về. Kanroji kể lại: “Trông hoàng tử rất nghiêm trang, không mỉm cười cũng như cười lớn tiếng. Hoàng tử ít khi tham gia các hoạt động hay các trò chơi”. Ông ấy rất vụng về. “Phải rất lâu hoàng tử mới cài xong những cái cúc của bộ quần áo kiểu phương Tây. Thật muốn phát cáu khi đứng đợi và nhìn ông ấy, một người đã muốn tiến lại gần để giúp đỡ. Tuy nhiên, tất cả đều chỉ có thể đứng chờ một cách kiên nhẫn, mọi người càng nhìn, hoàng tử càng lóng ngóng, vụng về”.

        Đã vậy, cậu bé còn bị cận thị nên mỗi lần muốn tập trung vào vật ở xa phải mất hàng giờ. Mặc dù đã được chữa trị nhưng vẫn không cải thiện. Ông đi từng bước và cột sống hơi cong trông như bị gù. Ông phải ngồi vào một chiếc ghế được thiết kế đặc biệt để chữa chứng cong cột sống. Hoàng tử gầy còm và ốm yếu. Ông rất quý các bạn. Ông được nâng niu và nuông chiều để bảo vệ khỏi những tổn hại đến cơ thể, người hầu luôn nâng ông dậy khi ngã và đỡ được khi một lần ông nhảy xuống từ bức tường. Hai năm sau, ông được đưa đến trường Peers, nơi dành riêng cho con cái của tầng lớp quý tộc cao nhất của Nhật Bản.

        Hiệu trưởng trường là Tướng Maresuke Nogi, trước đây là thủ lĩnh của Đội quân thứ ba trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật, người đã chiếm Đồi 203, pháo đài được xem là không thể tấn công của quân Nga. Trong trận chiến, ông cũng đã mất hai người con trai. Ông được xem là người có ảnh hưởng chính đến cuộc đời của Hirohito. Trong quá trình bao vây cảng Arthur, Nogi không chỉ lãnh đạo một cuộc chiến tàn khốc nhất trong chiến tranh, ông còn áp dụng những tiêu chuẩn cao nhất về kỷ luật và tính nhân đạo đối với cấp dưới, trừng phạt nghiêm khắc bất kỳ hành động nào xâm phạm cuộc sống người dân. Ông đã cho thấy người Nhật có khả năng lãnh đạo chiến tranh (nửa thế kỷ sau, điều đó đã trở thành sự thật).

        Chiến binh già tóc hoa râm được tiếp kiến Nhật Hoàng, và trở thành hiệu trưởng trường. Vị tướng sống trong một ngôi nhà nhỏ băng gỗ. Nogi đặc biệt chú ý đến nhiệm vụ của mình: Mỗi ngày sau giờ lên lớp, hiệu trưởng sẽ gặp cậu học sinh hoàng gia tại nhà. Một tuần một lần, cậu bé nhận được lời khuyên đặc biệt từ thầy hiệu trưởng. Ngoài ra, Nogi thường ghé thăm lớp của. Hirohito. Điều này khiến chàng hoàng tử lo lắng.

        Tuy nhiên, trong suốt 5 năm tại trường Peer, hoàng tử đã vượt qua được sự gầy còm ốm yếu. Ông bị buộc phải thực hiện những bài tập thể chất khắt khe, gồm tắm nước lạnh, chạy điền kinh, vượt rào và bơi lội - môn thể thao mà sau này ông rất thích. Ông cũng trở thành người chơi gôn thành thạo.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:06:11 pm

        Theo Nogi, sự phụ thuộc quá mức của Hirohito bắt nguồn từ việc thiếu thốn tình cảm gia đình. Điều này là hoàn toàn bình thường trong tầng lớp dòng dõi quý tộc Nhật Bản. Ông nội của Hirohito, Nhật Hoàng Minh Trị cũng rất ân cần với cháu. Ngài hay mỉm cười và khuyến khích ông trong các hoạt động thể thao. Mặc dù dáng vẻ bên ngoài trông cộc cằn và hung dữ, nhưng Nhật Hoàng nổi tiếng là người chiều chuộng các thê thiếp cũng như rất thích thơ ca. Ớ ông là sự phà trộn giữa một tâm hồn vui nhộn và tính cách khắt khe.

        Năm 1906, Nhật Hoàng 53 tuổi, Mutsuhito bắt đầu bị tiểu đường và bị bệnh thận nặng. Ông đã từ chối khám bệnh và điều trị, đồng thời tiếp tục thực đơn ăn kiêng một cách đều đặn trong 6 năm. Vào ngày 12-7-1912, trong khi dự lễ tốt nghiệp tại trường đại học hoàng gia Tokyo, Nhật Hoàng bỗng cảm thấy mệt và khó thở. Ông được đưa đi kiểm tra và kết quả là bị nhiễm trùng nước tiểu. Đây chính là tai họa cho những ngày sau đó.

        Ý kiến thứ hai theo đề xuất của hai chuyên gia ở đại học Tokyo: Vì không được phép kiểm tra sức khỏe Nhật Hoàng nếu không có thẩm quyền nên hai chuyên gia được chính thức bổ nhiệm làm cận thần để tiện cho công việc. Họ không được phép tiêm bất kỳ loại thuốc nào cho Nhật Hoàng. Khi tin Nhật Hoàng lâm bệnh lan truyền ra ngoài, nhiều đám đông đã tụ họp trước cung điện để cầu nguyện. Đến ngày 30-7 thì Nhật Hoàng băng hà.

        Hai nghi lễ long trọng được tiến hành khi Nhật Hoàng qua đời. Đầu tiên là đám tang. Nghi lễ bắt đầu vào lúc 8 giờ tối ngày 13-9-1912. Chuông dền đánh 108 tiếng. Tiếng nhạc truy diệu vang lên. Ánh đuốc sáng rực. Hàng trăm ngàn người xuống đường để xem đám rước gần 20 ngàn người đi qua.

        Hai tiếng sau, đám rước đã đến Aoyama, trước sự chứng kiến của các đại sứ nước ngoài và chức sắc, tiếng kèn trumpet vang lên và Nhật Hoàng mới Taisho, Thủ tướng Saionji và Bộ trưởng Nội các hoàng gia Watanabe lên phát biểu ngắn gọn. Quan tài được đưa lên chuyến tàu tang lễ để đến Kyoto. Tàu chuyển bánh lúc 2 giờ sáng, chạy dọc theo đường ray và thần dân quỳ lạy khi tàu đi ngang. Tàu đến Kyoto cách đấy 550km vào buổi chiều ngày hôm sau, linh cữu được đưa vào lăng hoàng gia ở Momoyama.

        Sáu tuần sau khi Nhật Hoàng Minh Trị qua đời (với Hirohito đây là một sự việc đau lòng) sau một thời gian dài ở nước ngoài, Nogi về nước và đến nơi ở của cậu học trò hoàng gia với bộ râu không gọn gàng, đầu tóc rối bù, đôi mắt mờ và hõm. Ông đưa cho cậu bé 2 quyển sách nói về trách nhiệm của người làm vua và nói: “Sức khỏe của tôi không cho phép ở bên cạnh cùng hoàng tử bàn bạc công việc. Tôi sẽ luôn theo sát ngài và sức khỏe của ngài luôn là sự quan tâm hàng đầu của tôi. Hãy làm việc chăm chỉ vì mục đích của ngài và vì lợi ích của Nhật Bản”. Trước khi đám đưa tang lễ rời khỏi hoàng cung, Tướng Maresuke Nogi và vợ ông Shizuko, cận vệ quân đội tin cậy nhất của Nhật Hoàng và người bảo vệ cho cháu nội của ông, Hirohito, ngồi xuống trước di ảnh của Nhật Hoàng tại ngôi nhà nhỏ của họ cách nơi tổ chức tang lễ ở Aoyama hơn một cây số.

        Người ta kể lại rằng, vị tướng đã dùng thanh kiếm ngắn đâm vào tim người vợ, có lẽ bởi vì bà không thể tự vẫn. Sau đó ông dùng dao rạch bụng và cố cắt đứt đầu của mình.

        Họ để lại những dòng chữ nói về “Việc ủng hộ Hoàng thượng” (một tục lệ phong kiến lâu đời gọi là Junslii), để bảo vệ Nhật Hoàng trong chuyến hành trình sang bên kia thê giới. Tục lệ này đã bị cấm kể từ năm 1663. Trong chúc thư, Nogi cũng nói rằng ông cảm thấy xấu hổ khi để mất lá cờ hoàng gia trong trận chiến chống nổi loạn ở Satsuma năm 1877. Một lý do có thể hiểu ngầm là cái chết của hai con trai Nogi trong chiến tranh Nga - Nhật, sau đó vị tướng mong muốn Nhật Hoàng cho phép ông được chết nhưng Nhật Hoàng đã từ chối. Với sự qua đời của Nhật Hoàng, ông đã được giải thoát khỏi mệnh lệnh phải sống.

        Việc tự vẫn đã gây ra cuộc tranh luận lớn làm lu mờ cả bản thân đám tang. Một bên, bày tỏ sự thán phục rằng truyền thống của Nhật Bản vẫn chưa bị mai một. Hơn mười người đã tự sát theo gương của vị tướng. Mọi người tranh luận rằng không nên ca ngợi cách đó. Như một tờ báo đã viết, cái chết của Tướng Nogi đánh dấu “Một sự hoàn thành của tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản. Trong khi bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn thì cũng lấy làm tiếc rằng chúng ta không thể tán thành việc đó. Chúng ta có thể đánh giá cao ý định của vị tướng; nhưng không được học cách xử sự của ông”.

        Hoàng tử chỉ mới 11 tuổi. Khi nghe tin, ông đón nhận với sự điềm tĩnh lạ thường, hoặc có lẽ chết lặng đi vì sốc, rằng “Nhật Bản đã chịu một mất mát to lớn”. Bây giờ cậu bé không còn người thầy thông thái bên cạnh. Giờ đây cha ông không thể nào thờ ơ. Mẹ ông, xinh đẹp, thông minh, bà đang đau khổ vì hôn nhân của mình cũng như không bao giờ có ảnh hưởng lớn trong cuộc đời ông.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:06:40 pm

        Hoàng tử sống hơn hai năm ở trường Peers trước khi có quyết định xây một ngôi trường đặc biệt dành cho ông. Đã có sự tranh luận rằng có thể ông sẽ bị nguy hại và những rủi ro khác là bị gửi đến một trường học tầm thường. Ngôi trường được xây trong khuôn viên của cung Togu, khá xa so với sự lôi kéo của cung Akasaka - nơi sự suy đồi đang bao trùm lấy Nhật Hoàng mới. Người thầy mới của Hirohito là Đô đốc Togo, anh hùng trong cuộc chiến trên biển với Nga. Ông khác xa so với vẻ khổ hạnh của thầy Nogi.

        Bảy năm ở trường trôi qua, năm học sinh khác được chọn để bầu bạn với Hirohito. Chương trình giảng dạy đúng chuẩn theo các trường trung học: Ông được học nhạc, họa, thủ công và sáng tác, đây là những môn ông học kém; chỉ cưỡi ngựa, khoa học quân sự là hai môn thực sự có ích trong cuộc sống sau này của ông. Môn đạo đức ông được dạy bởi nhà nghiên cứu Shigetake Sugiura nổi tiếng thời đó. Sigigura còn là người tán thành học thuyết của Minh Trị về dòng giống của người Nhật cao quý hơn so với các dân tộc khác, đặc biệt là người Trung Quốc.

        Thái tử cũng được học các môn khoa học: Giáo sư Hattori, thầy dạy sinh vật học, đã truyền sự yêu thích môn học cho ông bằng cách tham gia chuyến sưu tầm các mẫu vật băng thuyền đến Hayama, nơi nghỉ ngơi, thư giãn của gia đình hoàng gia. Khi 17 tuổi, ông đã thực hiện được một trong những niềm mơ ước trong đời là đi bộ xuống bãi biển ở Namazu và câu một con tôm đỏ lớn. Đó là một khám phá mới. Ông xác nhận rằng mình rất thích môn sinh vật biển. Dưới sự hướng dẫn của thầy, ông đã đóng góp thêm cho khoa học băng cách khám phá một số loài động vật có vỏ quý hiếm.

        Hirohito cũng là người quan tâm đến môi trường xung quanh. Ông không lạnh lùng hay lập dị như một số nhà viết tiểu sử mô tả. Sự thích thú của ông đối với khoa học đáng khen ngợi và khác lạ vì chắc chắn rằng không một vị Hoàng đế nào trước đó có những sở thích như vậy. Ông làm việc chăm chỉ và có kỷ luật, nếu không ông sẽ không đạt kết quả tốt trong học tập. Ông là một sinh viên giỏi trong môn lịch sử quân đội. ông không thích các hoạt động ở ngoại thành, tuy nhiên đó không phải là điều bất lợi đối với một Hoàng đế, người từng chỉ huy cuộc đô thị hóa rộng lớn nhất trong lịch sử thế giới. Người nhà cũng tin rằng ông sẽ không giống người cha chơi bời của mình.

        Thời gian tại vị của Yoshihito không dài. Ông từng bị viêm màng não khi còn nhỏ. Đến lúc trưởng thành, ông lại ăn chơi quá độ và bị nghiện rượu. Ồng thích mặc những bộ quân phục kiểu châu Âu, bộ ria mép cong để giống Hoàng đế Wilhelm II, tổ chức những buổi tiệc phung phí tại nơi ở xa hoa rộng lớn, cung Akasaka. Đến năm 1916, ông càng trở nên lập dị. Trong một cuộc duyệt binh, ông đã đấm những binh lính và ôm chầm lấy một viên sĩ quan.

        Tuy nhiên, không phải lúc nào ông cũng luôn say rượu, ăn chơi. Khi còn trẻ, ông đã thể hiện sự độc lập trong suy nghĩ. Ông từng lẻn ra khỏi nhà nghỉ mùa hè hoàng gia ở cung Numazu để thăm một gia đình địa phương, nhà Uematsus, nơi ông được mời trà và dùng bánh. Ông thực sự chán công việc triều chính, mặc dù hoàn toàn có khả năng ra quyết định. Khi các cố vấn đến gặp, ông thường mời họ thuốc lá và nói: “Đây dành cho mọi sự cố gắng của khanh. Nào, hãy hút đi”. Ông thích đọc thơ và hát những bài ca quân đội.

        Mẹ của Hirohito là một phụ nữ thông minh, xinh đẹp. Bà lớn lên trong sự mộc mạc của trang trại. Elizabeth Gray Vining, một trong số ít người Tây Âu được gặp bà đã miêu tả lại:

        Bà là một phụ nữ nhỏ nhắn với đôi mắt sáng, nét mặt nghiêng có vè giống chim ưng, giọng nói ngọt ngào và một tâm hồn bao la. Bà mặc chiếc áo lụa màu đen cổ chữ V, nơi lấp lánh bởi ánh kim cương và những chiếc nút bạch kim. Chắc hẳn bà làm mọi người nhớ đến nữ hoàng Victoria, mặc dù không có tài liệu nào ghi lại rằng nữ hoàng Victoria thon thả hơn hay có tính hài hước, nhưng chắc chắn đây là tính cách của Hoàng hậu Dowager. Duyên dáng, hoạt bát, giọng nói nhỏ nhẹ, bà hỏi các vấn đề trong khi những ngón tay di chuyển trên vạt áo.

        Ngay từ đầu, Hirohito đã cho thấy ông ít quan tâm đến tình dục hơn là cha hay ông nội mình. Vào tuổi 15, ông đã yêu người phụ nữ do cha ông gửi đến. Một năm sau đó, ông bắt đầu chuẩn bị cho việc kết hôn. Theo truyền thống của người Nhật, ông không được chọn người bạn đời. Đây là công việc của những người lớn tuổi hơn trong hoàng tộc. Cô gái đó là công chúa Nagako, con gái 14 tuổi của Hoàng thân Kuniyoshi Kuni, một gia đình có mối quan hệ trong dòng dõi hoàng tộc. Công chúa nhỏ nhắn, đầy gợi cảm, thông minh và vui vẻ.

        Công chúa cũng là con cháu của dòng họ Satsuma, là dòng họ sáng lập có quyền lực của bộ máy quân sự Nhật Bản, và người đứng đầu của dòng họ đối thủ Choshu: Tướng Aritomo Yamagata. Gia đình bên ngoại của Nagako sớm phải hứng chịu bệnh mù màu. Yamagata dưa ra lý lẽ rằng bất kỳ đứa bé trai nào ra đời sau hôn lễ đều phải phục vụ trong lực lượng quân đội, trong khi đó bệnh mù màu mang tính chất di truyền nên đứa bé sẽ thất bại trong đợt kiểm tra của quân đội.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:06:59 pm

        Yamagata và Hoàng thân Fushimi đã gặp và khuyên cha cô dâu nên hủy bỏ cuộc hôn nhân này. Nhưng ông đã từ chối thẳng thừng và ngay lập tức viết một lá thư cho Nhật Hoàng kèm theo lời đe dọa sẽ làm to chuyện và tự vẫn. Ông viết “Chính hoàng gia đã hỏi cưới con gái tôi. Nếu muốn hủy bỏ hôn ước này thì chính hoàng gia phải là người làm chuyện đó và tôi đồng ý nếu việc này xảy ra. Tôi buộc phải đáp trả cho sự tổn thương đến mình và gia đình bằng cách kết liễu Nagako, sau đó tôi sẽ tự vẫn”. Ông cũng chứng minh rằng cả vợ ông và con gái đều không bị mù màu.

        Thủ tướng cũng đứng về phía Yamagata, trả lời một cách giận dữ rằng đó là một hành động phạm thượng và phía hoàng gia không phải là người chịu trách nhiệm. Ông viết thư trả lời lại: “Tất nhiên Hoàng thân Kuni đúng khi muốn hôn ước được thực hiện. Tuy nhiên cũng không nên quên rằng, hôn ước đã được sắp xếp sau lưng chúng tôi. Nếu biết chúng tôi đã ngăn chặn từ trước. Chúng tôi lấy làm tiếc về sự việc này..”. Ngay lập tức, Kuni thông báo cho Hoàng hậu, ông tin chắc rằng Yamagata đang cố gắng phá hoại hôn lễ để đưa người bên ông ấy vào.

        Lúc này, Yamagata đã khuyên Hirohito nên ra nước ngoài, phần để thoát khỏi sự khủng hoảng triều chính, phần để mở mang kiến thức. Chuyến ra nước ngoài của Hirohito chứng tỏ là một sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của ông. Thủ tướng là người tin vào điều đó vì ông cho rằng một Hoàng đế tân tiến nên có kiến thức về thế giới bên ngoài. Việc phái một đoàn quân Nhật theo phò trợ cho Thái tử cũng có dụng ý nhấn mạnh tầm quan trọng của Nhật Bản trên thế giới. Cha ông, Nhật Hoàng đã khó ở và mọi người sợ rằng Hoàng đế có thể qua đời trong khi Hirohito ở nước ngoài. Trong trường hợp sau khi Nhật Hoàng băng hà, một nghi lễ lên ngôi được tiến hành trong đó người kế vị sẽ được trao những biểu trưng của Hoàng đế: thanh gươm, ngọc ấn và chiếc gương; sẽ mất nhiều tuần Hirohito mới trở về từ châu Âu để tiếp tục sự nghiệp của mình. Một số người cho rằng, dầu sao Thái tử cũng nên tôn trọng bằng cách không đi du ngoạn trong khi cha ông đang bệnh. Một số khác lại cho rằng, đó là cách để bảo vệ Thái tử trước những mối đe dọa.

        Ngày 3-3-1921, Hirohito rời Nhật Bản, lên chiếc tàu chiến Katari. Đội tàu chiến nhỏ của ông cập vào các cảng chính, ngoại trừ Okinawa, các thuộc địa của Anh như: Hồng Kông, Singapore, Colombo, Aden, Suez, Port Said, Malta và Gibraltar. Ông cảm nhận được vị thế mới của Nhật Bản trên thế giới, nhưng vẫn có cảm giác kinh sợ về quyền lực của Hoàng gia Anh. Ông cảm nhận sự tự do mà chuyến hành trình mang lại sau những gò bó, kiểu cách của hoàng gia Nhật Bản và những ngày học ở trường.

        Vào ngày 7-5, Hirohito đến Portsmouth, và được hoàng tử 27 tuổi xứ Wales đón tiếp. Hoàng tử Edward đã đi cùng ông trên chuyến tàu hoàng gia đến nhà ga Victoria, nơi vua George V, công tước của Connaught và công tước của York (sau này là George VI) đang đợi. Hirohito trải qua ba ngày tại cung điện Buckingham, nơi ông được hoàng tử xứ Wales đối xử tốt như bạn và tham gia nhiều trò giải trí; kể cả đức vua cũng tiếp đãi ông chu đáo. Ông được mời dự tiệc tối và một bữa trưa thân mật. Đức vua cũng có những lời khuyên chân thành dành cho ông về trách nhiệm của người đứng đầu đất nước.

        Leonard Mosley kể một câu chuyện vui, có lẽ không có thật về việc Hirohito được gọi đến vào một buổi tối. Người Nhật vô cùng ngạc nhiên khi thấy vị vua nước Anh đi dạo dọc theo hành lang cung điện mà không có người hộ tống, chắp tay sau lưng. Đức vua nói: “Này chàng trai, tôi hy vọng mọi người đã cho cậu mọi thứ cậu cần. Tôi sẽ không bao giờ quên sự tiếp đón của ông nội cậu dành cho tôi và em trai khi chúng tôi ở Yokohama”.

        Trong 4 ngày sau, ông là khách của chính phủ tại điện Chasterfield, gặp gỡ Thủ tướng David Lloyd George. Sau đó, ông đến Scotland và đi săn bắn tại vùng đất của công tước Atholl ở Blair Castle, tham dự buổi khiêu vũ với người dân địa phương. Hirohito đã cảm nhận được sự dân chủ thực sự mà không có sự phân biệt giai cấp.

        Vào ngày 30-5, Hirohito trở lại tàu để đến Le Havre. Ông đã ghé thăm các danh thắng ở Paris như điện Elysees, tháp Eiffel và rừng Boulogne. Ông đã di mua sắm, đây là lần đầu tiên cầm tiền và mua bức tượng bán thân của Napoleon để bổ sung vào bộ sưu tập hai người anh hùng khác: Lincoln và Darwin, ông đến thăm Versailles và ngắm chân dung của Macbeth. Ông cũng ghé thăm Verdun và Somme, đi bộ qua những tán cây um tùm và những cây thánh giá bằng gỗ. ông nói: “Chiến tranh thực sự là một điều tàn ác, những ai ngưỡng mộ chiến tranh nên đến và tham quan nơi này”. Sau đó ông sang Bỉ, Hà Lan và Italia.

        Hirohito trở về Yokohama vào ngày 3-9 trong sự vui sướng vô cùng. Cha ông đã không qua đời khi ông vắng mặt, tuy nhiên sức khỏe đã yếu đi thấy rõ. Hirohito và Nhật Hoàng Yoshihito chưa bao giờ thân mật; có nhiều lý do nhỏ để lý giải rằng chàng trai trẻ không có tình cảm với cha, nhất là sau khi ông can thiệp vào việc hôn nhân của chàng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:15:36 am

Chương 8

THÁI TỬ

        Thật ra, triều đại không có gì là nổi bật của Nhật Hoàng Yoshihito là khoảng thời gian mà sự thay đổi trong xã hội Nhật Bản còn lớn hơn cả những gì xảy ra trong thời Minh Trị. Trong vòng một thập kỷ, quá trình tập trung theo chính thể chuyên chế của xã hội Nhật Bản đã bị chuyển đổi cơ bản thành bốn hướng riêng biệt, nhưng không thể tách rời trong toàn bộ cấu trúc của chủ nghĩa độc đoán. Đầu tiên, thời kỳ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Nhật Bản, thu nhỏ lại quá trình công nghiệp hóa ban đầu của thời Minh Trị. Thứ hai, sức mạnh của quân đội Nhật Bản đã được kiểm tra ngay lập tức và sau đó được duy trì như một sự liên kết về lợi ích để chống lại các thế lực bên ngoài. Thứ ba, sự thay đổi về kinh tế, xã hội đã gỡ bỏ áp lực đáng lo ngại hàng đầu về cải cách chính trị tại Nhật Bản. Thứ tư, quyền lực của Nhật Hoàng bị suy yếu dần, mặc dù điều này không ảnh hưởng đến sự tôn sùng Hoàng đế.

        Khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, một cuộc khủng hoảng kinh tế đã xảy ra. Sau đó sự việc trở nên rõ ràng khi sự cạnh tranh giữa các nước sa sút vì các thế lực châu Âu chuyển sự chú ý của họ sang tăng cường sản xuất cho chiến tranh, có nhu cầu lớn về đạn dược và vũ khí mà Nhật Bản có thể cung cấp. Trong vòng 5 năm từ 1914 đến 1919, số xưởng sản xuất ở Nhật Bản đã tăng từ 1,1 triệu lên đến 1,8 triệu, nhiều hơn 3/4 so với thời Minh Trị. Máy phát điện tăng 34%, năng lượng diện tăng không ít hơn 200% và khả năng của ngành công nghiệp đồng táng 44%.

        Mặc dù Nhật Bản phải nhập gần như toàn bộ than đá và sắt, nhưng ngành công nghiệp thép đã phát triển rất mạnh mẽ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Nhật Bản chỉ có 8 nhà máy sản xuất thép với năng suất hơn 500 ngàn tấn vào năm 1914, nhưng đến khi kết thúc chiến tranh, con số này lên đến 14 cùng với 166 nhà máy nhỏ hơn, trong đó có 3 nhà máy lớn được xây tại Triều Tiên và Mãn Châu. Sản lượng sắt tăng từ 240 ngàn tấn lên 580 ngàn tấn thép cuộn, thép hình, thép đúc từ 255 ngàn tấn lên 550 ngàn tấn.

        Cùng với sự tăng trưởng kinh tế là quá trình đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường các nước Đông Nam Á trong khi các nước Tây Âu đã tiến hành từ trước. Để thực hiện điều này, người Nhật đã khéo léo chen chân vào cuộc chiến đứng về phía nước Anh và Pháp: Mục tiêu nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia và mở rộng thuộc địa tại Trung Quốc. Trong vòng 3 tháng từ khi bắt đầu cuộc chiến, người Nhật đã chiếm lấy vị trí của người Đức ở tỉnh Shantung, bắt dầu quá trình xâm lược Tsingtao.

        Thủ tướng mới quyết đoán, Shigenobu Okuma là người theo chủ nghĩa dân tộc và Ngoại trưởng Takaaki Kato đã xác định không bỏ lỡ cơ hội mà Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất mang lại trong việc xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, nhằm biến nước này thành thuộc địa. Sau mùa thu ở Shantung, người Nhật tin rằng họ đã kiểm soát được Trung Quốc và đưa tối hậu thư gồm 21 điều khoản, chống lại mong muốn bảo hộ quyền độc lập của Trung Quốc và những đặc quyền ở đó của đồng minh quan trọng của Nhật Bản lúc đó là người Anh. Có thể đoán trước được rằng, các điều khoản là việc yêu cầu mở rộng quyền lợi của Nhật Bản ở nam Mãn Châu. Tuy nhiên, tối hậu thư lại tiếp tục yêu cầu Trung Quốc nên trục xuất tất cả quân đội nước ngoài và các cố vấn chính trị, rằng cảnh sát Nhật Bản nên được trao quyền hành trên tất cả các vùng của đất nước và rằng Trung Quốc nên mua nhiều hơn nữa các phương tiện chiến tranh từ Nhật Bản. Những điều khoản không có gì ngoài việc cố gắng để khống chế toàn bộ hệ thống cảng ở Trung Quốc và mặc dù cuối cùng là yêu cầu mở rộng đặc quyền của Nhật Bản tại Mãn Châu nhưng nó đã gián tiếp đe dọa đến nỗ lực rút khỏi chiến tranh chống lại Đức. Những lợi ích từ thuộc dịa của nước Anh cũng đang bị đe dọa.

        Trong khi đó, người Nhật cũng di chuyển đến những mục tiêu mới, đánh chiếm các quần đảo mà Đức đã chiếm đóng ở Thái Bình Dương. Mục tiêu chỉ là để mở rộng tầm quản lý chiến lược của hải quân Nhật. Những nơi này bao gồm Marianas, Palau, Carolines và Marshalls.

        Một nhà kinh doanh thân cận với chính phủ cho răng, Nhật Bản phải cố gắng phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận của Trung Quốc và ngành công nghiệp của Nhật Bản bằng cách kết hợp cả hai để dựa vào đó Nhật Bản và Trung Quốc có thể trở thành một thể thống nhất. Những tham vọng của hoàng gia Nhật Bản trong thời kỳ này một lần nữa nhấn mạnh sự kế tục ý đồ của Hoàng đế Minh Trị và người kế nhiệm, Nhật Hoàng Taisho. Lúc này, Triều Tiên đã bị thôn tính và sự sáp nhập của Mãn Châu gần như sắp hoàn thành, tham vọng của Nhật Bản là nhòm ngó vào Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:15:54 am

        “21 điều khoản” ngay lập tức bị phản đối, đặc biệt là ở Mỹ và Anh, nơi lần đầu tiên trên báo chí xuất hiện các bài bình luận về hình ảnh Nhật Bản như là một kẻ bắt nạt sừng sỏ; người Mỹ cũng bị cảnh báo bởi sự di chuyển của Nhật Bản vào khu vực Tây Thái Bình Dương. Ngay cả Yamagata cũng thấy rằng Nhật Bản đã di quá trớn, nên đã thay thế ngoại trưởng.

        Trong khi mục đích của Nhật Bản phát triển trong suốt Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, thì uy tín của quân đội Nhật Bản lại bắt đầu suy giảm. Phải mất một thập kỷ mới có được những chiến thắng quan trọng. Vào năm 1913, quân đội trong tình trạng cố gắng tìm nguồn tài trợ trong khi đó ngân sách phải ưư tiên cho nhiều nhu cầu khác cấp bách hơn cần phải trang trải, chẳng hạn như tiêu dùng xã hội. Với cái chết của Yamagata, lực lượng vũ trang trở nên nản lòng, không tham gia vào cuộc chiến năm 1914 - 1918, họ lo sợ sức mạnh sẽ gặp thách thức cũng như tin rằng Nhật Bản trở thành nước theo chủ nghĩa quân phiệt.

        Một nhân tố khác là phát triển khả năng cạnh tranh của nền công nghiệp. Điều này được hỗ trợ bởi tốc độ công nghiệp hóa gia tăng và những điều kiện túng thiếu mà công nhân đang phải chịu đựng. Để nhanh có lợi nhuận, công nhân bị đối xử như những nô lệ và trong nhiều xưởng sản xuất, công nhân nữ bị nhốt trong các nhà máy không được phép ra ngoài nhiều lần trong một tháng. Công nhân không được phép đình công và có thể bị đánh đập nếu vắng mặt. Họ phải làm việc bất kể ngày hoặc đêm, kể cả thời gian nghỉ ngơi cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Thức ăn đạm bạc, thiếu vệ sinh, nơi ở chật chội, phải ngủ chung giường.

        Trong những hầm mỏ, điều kiện vô cùng tồi tệ. Đàn ông kiếm được 20 đôla một tháng, phụ nữ là 10 đôla. Bình quân khoảng 30 thợ mỏ thiệt mạng trên mỗi triệu tấn than khai thác được (ở Anh con số này là 10).

        Trong những điều kiện như vậy, không có gì ngạc nhiên khi thấy tình hình kinh tế có dấu hiệu di xuống, nhiều cuộc nổi loạn diễn ra năm 1918, bắt đầu là những cuộc tấn công bất ngờ vào kho của các nhà buôn gạo, sau đó là lật đổ chính quyền của lãnh chúa Masatake Terauchi và người thay thế là một thường dân, Takashi Нага. ít nhất 100 người bị giết và hàng ngàn người bị giam cầm trước khi quân dội giành lại quyền kiểm soát. Нага là người kế nhiệm của Hoàng thân Saionji trong vai trò thủ lĩnh của đảng Seiyukai, mặc dù có mối quan hệ tốt với Yamagata. “Người thường dân vĩ đại” hoàn toàn không giống với người cùng thời với ông, David Lloyd George ở Anh.

        Tuy nhiên, Нага là người thành thật. Cuộc ám sát ông năm 1921 đã kết thúc sự nghiệp của một người lãnh đạo xuất thân từ thường dân với vai trò đại diện cho nhân dân, tranh đoạt quyền lực từ ba tầng lớp thống trị đời sống Nhật Bản: quan lại, quân đội và tài phiệt kinh tế. Với ba tầng lớp kể trên, ngai vua đã trải qua một thời kỳ yếu thế đặc biệt: Nhật Hoàng Yoshihito không có mọi quyền lực cá nhân trong khi việc nắm giữ quyền hành của những bộ trưởng đầu sỏ chính trị cũng suy yếu đi thấy rõ: Chỉ Saionji là còn sống và thế hệ quan lại mới cũng mất đi quyền lực so với người tiền nhiệm.

        Vết nứt lớn trong bộ máy quyền lực hùng mạnh được xây dựng bởi chế độ Minh Trị đang bắt đầu lộ rõ. Thông qua lịch sử, có ba thế lực có thể thâu tóm quyền lực trong mắt mọi người: Đầu tiên và phổ biến nhất là sự truyền ngôi; thứ hai là dùng vũ lực; thứ ba, sự đồng thuận thường là vì mọi người có cơ hội thể hiện lựa chọn của mình qua bầu cử. Trong khoảng nửa thế kỷ, Nhật Bản được lãnh đạo bởi sự phối hợp của hai hình thức quyền thừa hưởng và dùng vũ lực. Những người đầu sỏ chính trị bảo vệ được quyền lực của họ đằng sau uy quyền của Nhật Hoàng. Với Hoàng đế yếu kém và quyền lực của họ bị suy sụp, thì một số thành viên thoát khỏi người đầu sỏ chính trị giống như Saionji nhận ra rằng yêu cầu liều lĩnh để có sự hợp pháp lớn hơn là dựa trên sự đồng thuận của mọi người. Mặt khác, nếu như trật tự xã hội bị phá vỡ trên toàn Nhật Bản thì cũng là lúc bắt đầu cho nhóm thứ ba, lực lượng vũ trang can thiệp vào.

        Không có lý do đặc biệt giải thích tại sao lực lượng vũ trang nên thể hiện sự kiềm chế ở Nhật Bản; tầng lớp samurai rất có quyền lực; quyền lực tối cao ở Nhật Bản không nằm trong tay Quốc hội, cũng không phải là nhân dân hay quan lại mà thuộc về cá nhân Hoàng đế, người chỉ huy lực lượng vũ trang, là người mà họ phải trung thành tuyệt đối. Những người đầu sỏ chính trị muốn xây dựng một Nhật Bản hiện đại đã đố kỵ trao quyền lực tối cao cho Hoàng đế thay vì nhân dân để bảo vệ đặc quyền tầng lớp ưu tú trong xã hội của họ. Họ sai lầm khi nghĩ răng bất kỳ ai được lòng Hoàng đế đều có thể thực hiện những chiến công và cai trị thông qua Hoàng đế.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:16:10 am

        Khi bệnh tình của Yoshihito trở nên xấu hơn, trông ông thật thảm thương. Thủ tướng Takashi Нага, người chịu trách nhiệm về vấn đề của vua cùng với hai genro (nhà chính trị lão thành), Hoàng thân Yamagata và Hoàng thân Saionji, lo lắng rằng có mối nguy hại đến ngai vàng. Vì sự tôn kính của Hoàng đế đã đạt đến tầm cao mới, nhân dân không biết gì về bệnh tình của Yoshihito. Một lý do khác là sự tồn tại của một Hoàng đế yếu kém có nghĩa là những cận thần không tận tâm có thể tác động và gây ảnh hưởng đến hoàng hậu.

        Với bản tính chu đáo cẩn thận, Нага đã thuyết phục Nhật Hoàng và sau đó là hoàng hậu cùng hoàng tộc rằng, Nhật Hoàng phải truyền ngôi cho con trai. Vào ngày 4-10, một thời gian ngắn sau khi Hirohito trở về Nhật Bản, nhân dân Nhật Bản lần đầu tiên được biết về bệnh tình của Nhật Hoàng.

        Sự việc này trùng khớp với cái chết của Tướng Yamagata, một trong hai genro còn lại, giữ vai trò quan trọng trong quân đội Nhật Bản. Cái chết của ông có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với quân đội: Trước mắt, mất đi một gương mặt quân đội có quyền lực nhất trong triều, điều này làm cho lực lượng vũ trang lo lắng về khả năng mất ảnh hưởng của họ tại triều đình, nó làm suy yếu hệ thống cấp bậc vốn rất nghiêm ngặt trong quân đội.

        Ngày 4-11, Yamagata bị một kẻ cuồng tín 18 tuổi thuộc cánh hữu ám sát. Vị genro còn lại, Hoàng thân Saionji cùng với Hirohito quyết định tiến hành theo kế hoạch của Нага để đưa chàng trai trẻ lên trị vì Nhật Bản trong nghi lễ tổ chức vào ngày 25-11. Mặc dù Yoshihito, Nhật Hoàng Taisho vẫn còn sống nhưng kể từ thời điểm đó, Hirohito chính thức trị vì Nhật Bản.

        Bất chấp những người xem Hirohito như một chàng trai trẻ khắc khổ với vẻ ngoài già trước tuổi, ông vẫn tự tin nhờ kết quả của chuyến tham quan châu Âu. Ông đã tham dự trận đua ngựa tại Tokyo, đến hộp đêm của tầng lớp quý tộc, dùng thịt hun khói và trứng trong bữa ăn sáng, mặc quần đánh gôn. Vào tháng 12, ông mời một nhóm bạn trẻ cũng như chủ vũ nữ đến dự bữa tiệc gia đình, mở kho chứa rượu whisky do công tước của Atholl gửi tặng. Mọi người nhảy nhót, nghe nhạc và ngưỡng mộ sự tiếp đãi ân cần của Hirohito. “Trong vòng hai giờ tới, vui lòng quên rằng tôi là Thái tử. Mọi người cứ tự nhiên như ở nhà”. Viên thị thần trong cung đã bị sốc bởi những hành động thiếu tôn kính đối với Hirohito. Hoàng thân Saionji, người giám sát chuyến tham quan châu Âu, đã gọi ông đến để giáo huấn nghiêm khắc về cách cư xử của ông.

        Hirohito nhút nhát bị bẽ mặt bởi lời khiển trách và không bao giờ tổ chức những bữa tiệc tương tự nữa. Vượt lên tất cả, ông đứng đầu nền quân chủ độc đoán nhất mà thế giới từng biết đến, đó là sự kết hợp giữa tín ngưỡng tôn giáo và sự kính phục bằng phương pháp hiện đại là sự tuyên truyền và quyền chỉ huy.

        Thực tế, chàng trai trẻ lên ngôi vào năm 1921 nhưng biểu hiện lại trái ngược với vẻ huy hoàng của ngôi vị. Ông sống nội tâm, kín đáo và yếu đuối. Ồng chỉ là người có bản tính ôn hòa. Thời niên thiếu của ông gần như bị ức chế, biết rất ít về điều kiện của đất nước; chuyến du ngoạn nước ngoài được sắp xếp trước giúp ông mở mang tầm hiểu biết khiến ông rất thích thú. Tuy nhiên, ông có một chút kiên định trong tính cách, nét tiêu biểu là việc vượt qua một số khuyết điểm cơ thể. Hai sở thích chính mà ông còn giữ lại là khoa học và lịch sử quân sự trong khi sự dạy dỗ muốn hướng ông đến chủ nghĩa dân tộc và phân biệt chủng tộc, thấm đẫm bởi quan niệm người Nhật là một dân tộc ưu việt. Quan điểm của ông bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng hiện đại của một số nhà cố vấn, nhất là Нага và Saionji, người sau này trở thành người thầy thân cận nhất của ông.

        Hirohito đã tiếp cận quyền lực theo đúng nghi thức, tuy nhiên không có sự khoa trương và bảo thủ, một người có đầu óc tân tiến đang hướng đến việc đưa các quy tắc dân chủ hơn vào xã hội. Trong khi đó, ít người biết được quan điểm của ông về vận mệnh của đế quốc Nhật Bản, chuyến thăm của ông đến chiến trường trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất đã để lại một ấn tượng lớn. Đối với chàng trai trẻ ít nói, biết vâng lời này, thật sự không có gì để yêu cầu nhà viết tiểu sử ghi lại rằng ông là “Người do dự, xảo quyệt và là kẻ cơ hội, người đã dùng bộ máy quân sự của mình để xâm chiếm một nửa địa cầu mà không chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc làm có hại của mình”. Sự bất hạnh và cuộc đấu tranh có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời của hai gương mặt đồng minh đáng căm thù của ông trong giữa thế kỷ 20, Hitler và Mussolini, nhưng thật khó áp dụng trong trường hợp của Hirohito.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:17:48 am

PHẦN III

NGƯỜI ANH HÙNG MỸ


Chương 9

MỘT NƯỚC LỚN

        Nước Mỹ - nơi Douglas MacArthur trưởng thành vào năm 1901 cũng giống như ông: khỏe khoắn, mạnh mẽ, tự tin và đã chuẩn bị để đảm đương vai trò lớn hơn trên thế giới. Sự tổn thương chia cắt của cuộc nội chiến đã bắt đầu lùi dần vào lịch sử. Sự hợp nhất đã hoàn thành, đường biên giới đã giải quyết, ngoại trừ một số ít vùng phía Nam Mexico vẫn chưa thống nhất. Cuộc cách mạng công nghiệp to lớn đã quét qua nước Mỹ, hàn gắn mọi thứ lại với nhau tạo nên một sự thịnh vượng chưa từng xảy ra. Bây giờ, quốc gia trẻ mạnh mẽ đang bắt đầu những bước đi đầu tiên vào thế giới.

        Trước cuộc nội chiến, dân số Mỹ khoảng 31 triệu người, khi chiến tranh kết thúc, dân số tăng lên 40 triệu, đến năm 1880, gần 50 triệu, năm 1890 là 63 triệu và năm 1900 là 75 triệu người, lớn hơn bất kỳ một quốc gia châu Âu nào, ngoại trừ Nga. Việc gia tăng dân số này phần lớn là do nhập cư, chủ yếu từ Anh, Ai-len, Đức và vùng Scandinavia. Hơn 1/4 thế kỷ tiếp theo, gần 15 triệu người đến, chủ yếu từ Đông và Nam Âu.

        Để nuôi sống dân số, ngành nông nghiệp mở rộng theo cấp số nhân, được giúp đỡ bởi hệ thống đường sắt lượn ngoằn ngoèo ngang qua đất nước, đưa sản phẩm từ nông trại đi xuất khẩu. Số lượng trang trại tăng từ 2 triệu vào năm 1860 lên 6 triệu vào năm 1910. Khoảng năm 1900, 50 triệu người Mỹ sống dựa vào trang trại. Gần một nửa dân số trong độ tuổi lao động làm việc trên các cánh đồng vào năm 1880. Công nghệ nông trang đã làm điều này thành hiện thực: phát minh loại dây thép gai rẻ tiền để rào những vùng rộng lớn hẻo lánh của nước Mỹ, cối xay gió giúp bơm nước lên để tưới cho các mảnh đất khô cằn. Những đàn gia súc được chăn thả dàn trải trên các vùng cao nguyên từ những năm 1860 đến 1890, và người Mỹ địa phương sống nhờ vào chúng. Sự phát triển của máy gặt vùng đầm lầy và máy gặt kết hợp, lúc đầu được kéo bởi ngựa, sau đó là máy kéo cũng như các dạng máy mới để cày, bừa và gieo hạt, đã tạo nên cuộc cách mạng nông nghiệp.

        Tuy nhiên, sự phát triển của nông thôn bị lu mờ trước sự công nghiệp hóa và đô thị hóa của nước Mỹ. Đến năm 1910, tỉ lệ người sống dựa vào đất đai giảm xuống chỉ còn 1/3. Giữa năm 1859 và 1919, hàng hóa được sản xuất tăng không dưới 33 lần. Vào năm 1860, Mỹ là nước sản xuất đứng hàng thứ tư trên thế giới, đến năm 1894 thì vươn lên dẫn đầu, sản xuất nhiều hơn gấp ba lần so với Anh, đối thủ cạnh tranh gần nhất, và bằng một nửa tất cả các nước châu Âu gộp lại. Với tiềm lực kinh tế to lớn, tiêu thụ năng lượng của Mỹ đã nhảy từ 1,9 triệu Kw vào năm 1870 lên đến gần 33 triệu Kw trong 60 năm sau.

        Sự mở rộng này có được là nhờ sự phát triển, của thị trường nội địa rộng lớn được bảo hộ bằng các loại thuế và sự hỗ trợ của chính phủ cho hệ thống đường sắt. Chính phủ đã tài trợ trực tiếp cho đường sắt giữa năm 1860 đến 1890 khoảng 350 triệu đôla. Năm 1840, nước Mỹ đã có gần 5.000km đường sắt so với 2.900km trên toàn châu Âu. Con số này tiếp tục tăng gấp 3 lần vào năm 1850 và đạt mức hơn 48.000km vào năm 1860 và 264.000km vào năm 1890, tiếp tục lên đến 410.000km vào năm 1916, chiếm 1/ 3 trên toàn thế giới. Ngành thép cũng theo đó mà phát triển. Năm 1844, một mỏ quặng sắt với trữ lượng lớn được tìm thấy tại vùng Hồ Lớn. Băng cách cắt giảm chi phí trong sản xuất thép, đến năm 1873, sản lượng thép đã đạt 115 ngàn tấn, sau đó là 1,25 triệu tấn vào năm 1880 và 10 triệu tấn vào năm 1900. Giá đường ray thép giảm từ mức 160 đôla một tấn năm 1875 xuống còn 17 đôla một tấn năm 1898 nhờ tăng năng suất.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:18:30 am

        Khi nền kinh tế Mỹ bùng nổ cũng là lúc các thành phố lớn mọc lên khắp nơi. Chicago, chỉ đơn thuần là một pháo đài với vài ngôi nhà khi Arthur MacArthur còn bé, đã trở thành cảng lớn vào năm 1848, và đến năm 1887 nó đã có 800 ngàn người, cũng như những tòa nhà chọc trời đầu tiên của Mỹ cao đến 10 tầng. New York, chỉ có 90 ngàn người vào năm 1810, đã tăng lên đến 800 ngàn người vào năm 1856, rồi vọt lên đến 3,5 triệu người năm 1900. Tòa nhà chọc trời đầu tiên ở New York là Equitable Building, cao 8 tầng, hoàn tất vào năm 1870. Đến năm 1915, những tòa nhà cao 40 tầng được hoàn thành. Sức hút to lớn của nước Mỹ đối với dân nhập cư đã tạo hên một bức tranh đa sắc tộc, đầu tiên là người Anh, rồi người Đức đến, sau đó là người Ai-len, người Italia, Hy Lạp và người Do Thái. Tượng nữ thần Tự Do được xây dựng khi Douglas MacArthur chỉ mới 8 tuổi và Emma Lazarus đã viết những vần thơ nổi tiếng:

        Hãy đưa cho tôi sự mệt mỏi và nghèo đói.
        Nhân dân của bạn sẽ bắt đầu hơi thở tự do.


        Tình hình chính trị sau cuộc nội chiến rất đáng chú ý bởi các vị tổng thống mờ nhạt và triều đại những nhà tư bản khổng lồ chẳng hạn như ông vua thép Andrew Carnegie, nhà đầu tư tài chính J. Pierpoint Morgan và ông trùm dầu lửa John D. Rockefeller. Tuy nhiên, khi Douglas tốt nghiệp, thời đại của xe hơi vẫn chưa đến: Henry Ford làm chiếc Model-T đầu tiên vào năm 1908.

        Khi Arthur MacArthur đến Manila vào năm 1898, một cuộc gặp gỡ của Tổng thống William McKinley với gia đình ông, ông cảm thấy cuối cùng mình cũng nhận được sự công nhận xứng đáng. Nhiệm vụ của ông là giải phóng Philippines khỏi Tây Ban Nha. Thực vậy, ngay từ đầu ông đã chứng tỏ mình là một nhà cầm quân tài giỏi. Quân của ông gần 5 ngàn người tập trung ở Cavite, phía nam Manila, nhằm chống lại lực lượng của Tây Ban Nha: Trong vòng 9 ngày, chỉ huy người Tây Ban Nha ở Manila đã đầu hàng. Một kết quả xứng đáng cho tổn thất 13 người Mỹ thiệt mạng. MacArthur được thăng chức làm tổng chỉ huy của Manila; con trai lớn của ông Arthur III, dang phục vụ trên tàu ở Luzon đã chứng kiến chiến thắng của cha.

        Hòa bình với Tây Ban Nha diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, người Mỹ không trao quyền ngay lập tức cho quân phiến loạn Filipinos, những người đã chiến đấu không ngừng nhằm chống lại thực dân Tây Ban Nha. Dưới sự lãnh đạo của Emilio Aguinaldo, họ đã mở cuộc chiến tranh du kích chống lại người Mỹ. McKinley đã soạn ra một triết lý mới của đế quốc Mỹ mà sau này Douglas MacArthur đã xác nhận:

        Tương lai của quần đảo Philippines hiện nằm trong tay người Mỹ, Hiệp định Paris đã trao sự tự do và dân Filipinos cho người hướng dẫn và những ảnh hưởng mở rộng tự do, sự thông cảm to lớn, sự xúc động không phải của chủ nhân Mỹ mà là sự giải phóng của người Mỹ.

        Không có ỷ đồ đế quốc ẩn nấp trong tăm trí của người Mỹ. Nó hoàn toàn trái ngược với cảm xúc, suy nghĩ và mục tiều của Mỹ. Những nguyên tắc vô giá của chúng tôi củng sẽ không có sự thay đổi khi áp dụng vào đất nước này. Chúng sẽ được thực hiện cùng với sự tán thành: “Tại sao các bạn không tin vào sự thật bất di bất dịch, sự tự do có thể chinh phục nhưng phải giữ gìn?”.


        Arthur MacArthur đã khẳng định được mình: Với chiến lược hai mũi tấn công, ông đã bẻ gãy tuyến phòng thủ ở Manila và đẩy lùi 40 ngàn quân Filopino hùng mạnh, kiềm giữ lực lượng kẻ thù trong vòng một năm, buộc Aguinaldo phải ẩn nấp. Ông được thăng chức làm tổng chỉ huy của Philippines sau khi Tướng Ewell Otis về nước. Ông vẫn tiếp tục đối mặt với các cuộc chiến tranh du kích.

        Cuối cùng, MacArthur cũng theo dõi và bắt được Aguinaldo, tuy nhiên ông đối xử hào hiệp với Filipinos để bảo đảm sự hỗ trợ của họ. Ông đã lập ra hệ thống trường học công tự do, thay thế hệ thống luật pháp hà khắc của người Tây Ban Nha bằng kiểu của người Mỹ, làm đường sá, xây hệ thống kênh rạch và mở rộng đội Macabeke Scouts trung thành làm nền tảng của quân đội quốc gia. Chính sách cũng theo đường lối chủ nghĩa đế quốc rộng lượng. MacArthur trình bày về nó: “Ý tưởng tự do cá nhân cho phép một công dân có quyền làm bất cứ điều gì trong khuôn khổ cho phép để bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Ý tưởng đó chúng tôi đang áp dụng ở phương Đông. Bất kể nơi nào có cờ Mỹ, nơi đó đều có những tư tưởng như vậy. Sự thành công của ý tưởng đó ở Philippines chỉ đơn thuần là vấn đề phát triển. Người Filipinos muốn chính xác những gì chúng tôi có thể cho họ... Duy trì sự tự do, không phải tiền bạc, là những gì chúng tôi tìm kiếm”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:19:24 am

        Trở lại Washington, McKinley trở nên lo lắng về tình hình ở Philippines, nên quyết định gửi một đặc phái viên để kiểm tra xem thống đốc quân sự Mỹ tại đây có cai quản một cách hiệu quả hay không. Phái viên là người đàn ông mập mạp: vị thẩm phán bang Ohio, William Howard Taft nặng hơn 150kg, một luật sư ôn hòa và dễ thương, người đã miêu tả những người Filipinos với giọng điệu kẻ cả như “Những người anh em da màu”. Điều này đã khiến binh lính Mỹ sáng tác một bài hát phân biệt chủng tộc nổi tiếng, “Anh ta có thể là em của William Howard Taft, nhưng không phải là em của tôi”.

        Arthur MacArthur là người dễ nổi nóng: đã nổi giận bởi sự thách thức uy quyền của ông và hàm ý khiển trách. Thế là ông không những không đón tiếp vị thẩm phán khi ông này đến Philippines mà còn cho một căn phòng bé xíu hoàn toàn không phù hợp với thân hình đồ sộ của vị khách. Ông chỉ liên hệ với vị khách qua điện thoại, từ chối gặp ông ta tại dinh thống đốc Malacanan. Taft thật sự điên tiết: “Càng làm việc với MacArthur, tôi càng thấy ông tầm thường. Ông ta không có vẻ là một chính khách có tài và có khả năng. Tất cả chỉ là sự thiếu mềm mỏng của những quy tắc quân đội và kỷ luật, ông tự đưa mình vào tình huống khó khăn hơn..”. Taft đã mô tả MacArthur như một nhà quân sự chặt chẽ, cố gắng kiểm duyệt các bài viết của nhà báo đang “Gây phẫn nộ” và “Hoàn toàn không phải là người Mỹ”.

        Khi quyền lực của MacArthur tại Philippines trở nên độc đoán hơn, Taft đã chộp lấy cơ hội để hành động. MacArthur đã xác nhận rằng quần đảo chỉ thuộc vào loại nhỏ nhất trên thế giới, vị trí chiến lược của nó thì khó có quần đảo nào vượt qua được. Cách lục địa 1.200km lại có biển Đông xung quanh bao bọc tạo nên một hào chắn an toàn. Vì thế nơi đây có vị trí lý tưởng hơn Nhật Bản và cách xa những nơi khác như Ân Độ. Philippines nằm ở trung tâm, nó đủ sức giữ vai trò như một phương tiện để bảo vệ quyền lợi cho nước Mỹ.

        Taft cho rằng cương vị quản lý của nước Mỹ đối với quần đảo nên được hạn chế hoàn toàn cả về thời gian lẫn phạm vi, nên vào tháng 7 năm 1901, ông đã thuyết phục McKinley triệu MacArthur về. Vị tướng trình diện để được bào chữa trong phiên tòa thượng nghị viện; nhưng ông đã tạo ra một kẻ thù nguy hiểm. Mặc dù được thăng chức cao hơn (Bộ quản lý Great Lakes, phía Đông và Thái Bình Dương) nhưng ông không bao giờ được tại ngũ một lần nữa.

        Sau khi McKinley bị ám sát, Theodore Roosevelt trở thành tổng thống Mỹ và thăng chức cho Taft làm Bộ trưởng Chiến tranh. Trong khi đó, Arthur được lệnh thực hiện hành trình đến miền Viễn Đông. Ông dẫn Pinky và hai con đến Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Dương, Miến Điện, Malaysia, Thái Lan, Sri Lanka và An Độ; tuy nhiên ông không được giữ chức trưởng tham mưu mặc dù đã từng là chỉ huy chiến tranh được trao nhiều huân chương nhất của Mỹ.

        Viên thiếu úy đã rất vui mừng khi được gửi đến Philippines, nơi vẫn còn lưu dấu những chiến thắng của cha ông. Đó là lần đầu tiên Douglas rời khỏi quê hương, và trong chuyến hành trình 38 ngày vượt Thái Bình Dương, ông có nhiều thời gian để suy nghĩ về những thử thách lý thú đang ở phía trước: Ồng sẽ giám sát việc xây dựng và cải tạo cảng ở Manila. Trong chuyến du ngoạn đến vùng nhiệt đới, ông đã gặp thử thách đầu tiên:

        Dinh thự đang bị nguy hiểm, kẻ cướp và quân du kích tràn vào đánh phá. Quá lơ đãng, tôi đã bị hai trong số những kẻ liều mạng theo dõi. Giống như tất cả cư dân vùng biên giới, tôi có tài dùng súng lục. Cả hai tên trong bọn chúng đều bị hạ khi một tên bắn liên tục vào tôi bằng khẩu súng lỗi thời. Viên đạn xuyên qua đỉnh nón, gần như cắt đứt cái cây non sau lưng tôi. Một trung sĩ chạy đến. Anh ta nhìn hai người đàn ông đã chết dưới đất, nơi chiếc mũ vẫn còn bốc khói và cái cây bị gãy phía sau. Sau khi cuốn điếu thuốc lá, anh ta rảo bước đi, hai gót chân chạm vào nhau, và chào tôi.

        Ông ở đó một năm, bị bệnh sốt rét. Tuy nhiên ông đã được thăng cấp đại úy trước khi trở về San Francisco và chỉ huy Thái Bình Dương.

        Từ đó, vào tháng 10 năm 1905, cha ông đã xem ông như một sĩ quan phụ tá trong chuyến hành trình chiến lược đến Viễn Đông. Tổng thống Roosevelt trở nên lo lắng về Nhật Bản và vì thế nhiệm vụ tập hợp lực lượng của Arthur MacArthur là rất quan trọng. Khi Roosevelt dự đoán: “Nếu Nhật Bản thận trọng và được lãnh đạo bởi những Hoàng đế tài ba, quốc gia này có thể trở thành một trong những cường quốc dẫn đầu; tuy nhiên nước này nhỏ hẹp và có nhiều đảo, muốn cố giành thêm nhiều thắng lợi từ sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nga -  Nhật, họ sẽ dàn quân ra chống lại tất cả các thế lực lớn. Tuy nhiên, quốc gia này sẽ không thể đối mặt thành công với một liên minh thế giới”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:20:31 am

        Vì thế, ở vào tuổi 25, Douglas MacArthur lần đầu tiên chạm mặt với điều được xem là vận mệnh của ông. Chuyến đi là một cơ hội lớn cho chàng trai trẻ khi chỉ mới bắt đầu sự nghiệp quân sự của mình để gặp gỡ những vị vua lớn nhất trong vùng. Ấn tượng của ông khi đặt chân đến vịnh Edo là 10 ngàn ngôi nhà gỗ nằm dọc hai bên bờ sông và núi Fuji như hình cái nón khổng lồ. Tuy nhiên, chuyến đi đã khơi dậy một cảm xúc thật lãng mạn trong lòng chàng trai trẻ:

        Chúng tôi đi ngang đường đến Afghanistan, gặp “Vua của Kliyber”, ngài BincLon Blood; chúng tôi đi theo đường Grant Trunk ở Kipling’s Kim. Qua hành trình này, chúng tối đã nhìn thấy điểm mạnh và yếu của hệ thống thuộc địa, luật và mệnh lệnh được thực thi như thế nào, tuy nhiên hệ thống này đã thất bại trong việc phát triển cộng đồng kèm theo đó là những thứ thiết yếu về giáo dục và kinh tế chính trị. Chúng tôi đã sát cánh với hàng triệu người bị thiệt thòi về quyền lợi sống, họ khống biết gì về sự khác nhau giữa thế giới tự do và thế giới nô lệ. Điều duy nhất mà họ mong muốn chính là có được một ít thức ăn để no bụng, một cái áo lành lặn hơn để che tấm thân và một mái nhà chắc chắn hơn.

        Đến Nhật Bản, ông “gặp tất cả những nhà chỉ huy đại tài người Nhật: Oyama, Kuroki, Nogi và Đô đốc Heihachiro Togo. Họ đều là những người ít nói và xa cách một tinh thần thép và mục tiêu kiên định. Đó là lần đầu tiên tôi chạm trán với những chiến binh Nhật Bản dũng cảm và gan dạ. Sự tôn thờ sùng kính đối với Nhật Hoàng làm tôi có ấn tượng sâu sắc”.

        Chàng trai trẻ chính thức được diện kiến vị thần sống, Hoàng đế Nhật Bản, Mutsuhito, ông nội của Hirohito. Ông cũng gặp hai nhà chỉ huy tài ba trong cuộc chiến Nga - Nhật, hai người đàn ông đặc biệt, Tướng Maresuke Nogi và Đô đốc Heihachiro Togo, sau này là những người phò tá Hirohito. MacArthur đã không gặp hoàng tử nhỏ.

        Như vậy, viên trung úy đứng đầu lớp tại West Point, con trai một trong những chỉ huy lỗi lạc nhất của quân đội Mỹ giờ đây được ưu ái ra nước ngoài trên những chiếc tàu chiến của Mỹ, đi thăm các quốc gia chính thể chuyên chế và lãnh đạo là các Hoàng đế phương Đông. Trở về Mỹ, tầm hiểu biết của ông được mở rộng rất nhiều, ông được bổ nhiệm làm sĩ quan phụ tá cho Tổng thống.

        Chàng trai trẻ MacArthur đã rất ấn tượng về vị Tổng thống quyền lực nhất này:

        Với một mức độ chưa từng xảy ra, bất chấp đảng, ông có được sự ủng hộ của quần chúng. Sự cường tráng, lòng dũng cảm, tràn trề sinh lực, sự thân mật của ông với mọi loại người, kể cả hành động và cách phát biểu của ông đều rất thuyết phục.

        Ông rất quan tâm đến quan điểm của tôi về vùng Viễn Đông và thường nói chuyện với tôi. Một lần, tôi đã hỏi ông rằng: ông cho là quần chúng yêu mến mình vì điều gì. Ông trả lời: “Hãy tìm hiểu những gì nằm sâu trong tim và trong đầu họ. Anh phải biết lắng nghe quần chúng”. Khi tôi cảm thấy tức giận về sự phê bình hoàn toàn không có căn cứ của ông, ông đã nói: “Tôi thích mọi người nói tốt về tôi, tuy nhiên tôi sẽ thích hơn nếu họ nói xấu, còn hơn là không nói ra tất cả”.

        Một nhân vật khác, người cũng gây sự chú ý cho tôi chính là chủ tịch Hạ viện, Joe Canon. Tôi có thể ngồi và quan sát ông bằng đôi mắt ngưỡng mộ khi ông đe dọa và chi phối các nhà đứng đầu lập pháp. Tuy nhiên, ông cũng là người tử tế, khi tôi nài nỉ sự cân nhắc nhiều hơn đối với những bộ lạc da đỏ. Một tối, tôi đang thi hành nhiệm vụ đặc biệt tại Nhà Trắng trong suốt bữa tối mà Tổng thống dành cho chủ tịch Hạ viện. Trình tự là tập trung khách ở Phòng Đỏ, sau đó đưa họ đến gặp Tổng thống ở Phòng Xanh. Tôi đã đưa Tổng thống đến пơi quen thuộc của ông, sau đó mới chuẩn bị đón khách. Chủ tịch Hạ viện bị vây quanh bởi một nhóm người và ông đang nói hùng hồn. Tôi biết Tổng thống đang đợi và ba lần cố gắng len vào mà không thành công. Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, tôi đã đẩy mạnh hai ngài đại sứ và một thượng nghị sĩ, rồi chạm khuỷu tay ngài chủ tịch Hạ viện và nói: “Thưa ngài, bẫy giờ Tổng thống sẽ tiếp ngài”. Ông nhìn tôi trừng trùng từ trên xuống dưới, sau đó thổi khói từ điếu xì gà đen to tướng luôn ở trên miệng và quát vào mặt tôi: “Ồng ta chết đi”. Trong sự vui sướng của mọi người ngoại trừ tôi, ông tiếp tục bài diễn thuyết của mình.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:48:02 pm

Chương 10

NHỮNG ĐAU KHỔ KHÔNG NGUÔI

        Viên đại úy trẻ cư xử giống như thái tử ở một số vương triều. Kiêu ngạo, ông đã bỏ bê việc học tại trường Kỹ thuật quân sự ở Washington. Sĩ quan giám sát ông nhận xét:

        Tôi xin lỗi khi báo cảo rằng trong suốt thời gian này, đại úy MacArthur dường như không còn hứng thú với việc học tại trường và các bài tập nói chung không bằng những sĩ quan sinh viên khác và không đạt mức tối thiểu để có thể chấp nhận được. Thật ra, qua thời gian đại úy MacArthur còn ở dưới sự giám sát của tôi, nhìn chung, anh ít có lòng hăng say và công việc gần như kém hơn so với thành tích ở West Point.

        Là bạn của một trong bốn tổng thống vĩ đại nhất thế kỷ 20, sánh vai cùng những người đàn ông quyền lực nhất nước Mỹ, ông còn đối thoại với các vị Hoàng đế và vua chúa, cũng như đã tốt nghiệp vào loại giỏi nhất ở West Point sau Tướng Lee. Ông được đề cử một chức vụ nhỏ ở Milwaukee nơi ông cảm tưởng như sự nghiệp của mình đang xuống dốc thảm hại. Ông đã lơ là nhiệm vụ để dành thời gian cho cha mẹ. Cha ông cảm thấy không thật sự thoải mái khi bị về hưu sớm và gia đình không mấy vui vẻ. Đối với MacArthur, ông muốn sớm tìm kiếm một sự thay đổi. Sĩ quan chỉ huy nhận xét rằng ông đã không thực hiện nhiệm vụ với thái độ hài lồng.

        Với một sự nghiệp quân đội không mấy khả quan, mẹ ông đã tìm cho ông một công việc thông thường. Nhưng cuối cùng ông vẫn quyết tâm với ước mơ của mình: được đề bạt làm người chỉ huy đơn vị nhỏ nhất ở Fort Leavenworth, Kansas, cùng đơn vị mà cha ông đã lãnh đạo vào năm 1885. Đây cũng là nơi mà 23 năm trước Douglas bắt đầu di học. Suy cho cùng đây hoàn toàn là sự xuống dốc đối với ông khi nhận nhiệm vụ ở một nơi xa xôi hẻo lánh và gần như bị những người khác từ chối.

        Ở vào tuổi 28, ông không còn là một gương mặt trẻ hứa hẹn nhất trong đội ngũ quân đội Mỹ. Dưới con mắt của những sĩ quan trẻ, ông là một người thích ăn diện, hợm hĩnh. Đại úy Robert Eichelberger nhớ lại lần đầu tiên nhìn thấy ông, “Đứng khá xa mọi người và trông thật ngạo mạn”. Trung úy George Marshall không thể chịu dựng nổi ông, đó là nguyên nhân của sự thù hằn không bao giờ chấm dứt và Marshall đã có những tác động tai hại đến sự nghiệp của MacArthur.

        Bộ trưởng Chiến tranh William Howard Taft đã vượt qua kẻ thù cũ, Arthur MacArthur, để giữ chức vụ Tham mưu trưởng. Năm 1909, người lính dũng cảm, tài năng nhưng nóng tính và kiên quyết này đã xin về hưu. Ông đã gây ra sự náo động bằng cách công bô rộng rãi rằng chiến tranh với Đức là không thể tránh khỏi và rằng lực lượng vũ trang Mỹ không nên chấp nhận tân binh Đức. Ông còn tuyên bố trước răng, “Người Mỹ không thể giữ được lãnh hải nếu không nhanh chóng tấn công vì Nhật Bản đang tổ chức để chống lại chúng ta”. Tổng thống Roosevelt đã khiển trách ông.

        Ông cũng cay đắng nói với vợ rằng mình không muốn những nghi thức trọng thể của quân đội khi chết và không muốn được mai táng tại nghĩa trang quốc gia Arlington. Thật khó phán đoán xem nhà chỉ huy thông minh, tài năng này có bị gạt bỏ vì những lý do chính trị hoặc ông đã có hơi điên rồ, mất trí hay không. Một sự nghiệp quân sự xuất sắc đã kết thúc trong sự thất vọng và khó chịu, điều này đã ảnh hưởng đến đứa con trai dễ bị tổn thương của ông. Cả cha mẹ và bản thân Douglas đều đang đối mặt với sự thất bại đầu tiên trong sự nghiệp.

        Kết quả là sự chia ly đã xảy ra giữa họ và chuyến trở về miền Tây yêu dấu trong thời thơ ấu của Douglas như một cách khiến ông nguôi ngoai phần nào. Từ một kẻ huênh hoang, ông đã trở thành một anh chàng cao bồi miền Tây, với tài cưỡi ngựa, một người chỉ huy và bạn tốt của những sĩ quan khác, ông đã thay đổi, trở thành người chơi pôlô cừ khôi, rất giỏi chơi bài xì phé và là người quản lý tinh ranh của đội bóng chày Fort Leavenworth, gian lận bằng cách mua hai cầu thủ chuyên nghiệp người Texas với giá 20 đôla để giao đấu với Câu lạc bộ thành phố Kansas. Ồng còn là một sĩ quan giỏi thực hiện công việc hậu cần và kỹ thuật đồng thời viết nhật ký chiến trường. Trên hết, ông còn rất tuyệt vời trong việc khai thác các điểm mạnh của binh lính dưới quyền.

        Quả là thời gian dài đối với viên đại úy không còn trẻ, hơn 4 năm, gợi lại những năm tháng ở vùng hoang vu của cha ông. Nó chỉ chấm dứt khi ông thực hiện chuyến đi ngắn đến vùng kênh đào Panama và sau đó là chuyên thăm ngôi nhà thời thơ ấu của mình ở San Antonio, Texas.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:49:54 pm

        Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, ông nhận được tin mẹ bị bệnh nặng. Sau đó thì điều bất hạnh đã xảy ra. MacArthur kể lại câu chuyện cuộc gặp mặt hàng năm lần thứ năm mươi của trung đoàn cũ Wisconsin thứ 24, trung đoàn mà cha ông từng chỉ huy leo lên đỉnh Missionary khi ở tuổi 17. Hôm đó, ngày 9-5-1912 thật oi bức và ngột ngạt, và Arthur MacArthur bị bệnh:

        Có khoảng chín mươi người đến dự, họ ngồi quanh chiếc hàn trong Hội trường lớn kể những câu chuyện chiến tranh củ và hát những bài hát ngày xưa. Sau đó, vị chủ tọa đã ghé thăm cha tôi. vẫn thẳng thắn và oai vệ, ông nhắc lại những ngày đã qua, một lần nữa họ thay đổi trận địa ở Murfreesboro, băng qua nhánh sông Cây Đào ở Atlanta, tiến đến gần trận tuyến bị chọc thủng ở Franklin. “Một trung đoàn bất khuất”, ông tiếp tục, và sau đó ông nói một cách ngập ngừng, gương mặt trở nèn tái mét, cuối cùng ông nằm xuống. William J.Cronyn, sĩ quan quân y của trung đoàn, chạy đến bèn ông.

        “Các bạn, vị Tướng của chúng ta đang hấp hối”, ông nói ngắn gọn.

        Trong giữa căn phòng, đức cha Paul B. Jenkins bắt đầu lặp lại lời cầu nguyện của Chúa. Sau đó, chín mươi binh lính, những người từng theo ông leo lên đỉnh Missionary và xuyên qua làn lửa của mười hai chiến trường, sát cánh cùng vị chỉ huy cũ, đã bước vào. Khi lời cầu nguyện kết thúc, ông đã chết. Viên sĩ quan phụ tá, đại úy Edwin Parsons, lấy lá cờ quấn quanh vị Tướng. Đại úy Parsons đứng im lặng trong chốc lát, nhìn trân trân vị chỉ huy đã chết, sau đó ngã nhào về phía trước và chỉ hai tuần sau, ông cũng qua đời.

        Cả thế giới của tôi đã thay đổi trong đèm hôm đó. Không bao giờ tôi có thể hàn lại vết thương trong tim.


        Douglas đã không thổi phồng quá mức: Sự nghiệp của cha ông là diều duy nhất có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời ông, còn mạnh hơn cả sự tác động của mẹ. Mặc dù Douglas đã cho thấy giá trị của ông ở Fort Leavenworth, nhưng vẫn không thể sống theo những mong muốn của cha. Tình hình của mẹ ông ngày càng trở nên xấu hơn và bà đã đến sống với ông tại Fort. Bệnh tình của mẹ đã khiến ông trở nên mất tập trung hơn.

        Ông được cứu nguy bởi sự thất bại trong bầu cử của kẻ thù Taft, và bất ngờ ông được triệu về thủ đô, được đề bạt làm thành viên của ban tham mưu dưới Tướng Leonard Wood. Khi ông rời Fort Leavenworth, thượng sĩ Corbett đã nói một câu mà có lẽ quý hơn bất kỳ thứ gì khác, “Này chàng trai, hãy là một nhà quân sự có tài”. Ban tham mưu được xem là đầu não của quân đội và Wood chính là Bộ trưởng Chiến tranh dưới thời Tổng thống Mỹ mới, Woodrow Wilson thuộc đảng Dân chủ, người đã được bầu khi Teddy Roosevelt đang thất vọng về tính xoàng xĩnh của người kế nhiệm ông. Kẻ thù cũ của nhà MacArthur, William Howard Taft lại một lần nữa chạy đua cho chức tổng thống, vì thế việc bỏ phiếu của đảng Cộng hòa bị tách làm hai. Giờ đây, Taft đã thất bại, MacArthur đang có một cơ hội khác.

        Washington đã tạo điều kiện phù hợp hơn để Douglas có thể chăm sóc mẹ. Tuy nhiên, trong vòng vài tháng, ông nhận được lệnh từ Tướng Wood làm báo cáo về cuộc khủng hoảng bất ngờ: Người Mỹ đã chiếm thành phố Veracruz ở Mexico vào tháng 4 - 1914 để chống lại việc thâu tóm quyền lực của Tướng Victoriano Huerta, người đã thực hiện cuộc tàn sát chống lại người Mỹ ở phía nam của biên giới... Dường như cuộc chiến tranh với Mexico đã được phát động. Những hướng dẫn bí mật của MacArthur để thăm dò và thu được “tất cả các thông tin có ích cho các hoạt động”, gồm cả cuộc tấn công chính của Mỹ vào Mexico. Rõ ràng dây là một nhiệm vụ được đặt ra để kiểm tra chàng sĩ quan trẻ.

        Trở lại ban tham mưu, ông lại tìm thấy chính mình qua những mệnh lệnh của vị lãnh đạo trẻ tuổi, thông minh và nghiêm chỉnh, phụ tá Bộ trưởng hải quân, Franklin D. Roosevelt, nhằm chuẩn bị kế hoạch động viên trong trường hợp Mỹ bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh đã bùng nổ ở châu Âu. MacArthur được cấp trên khen ngợi như là “Một sĩ quan có tâm hồn cao thượng, tận tâm, có năng lực, là sự lựa chọn hoàn hảo cho những nhiệm vụ yêu cầu tài ngoại giao và cực kỳ thông minh”.

        Ông rất hợp với vị Bộ trưởng Chiến tranh mới, Newton D. Baker, người khen MacArthur có một “Đầu óc nhạy bén và tự do”. Baker giao cho ông “Nhiệm vụ kiểm duyệt báo chí”, sĩ quan quan hệ quần chúng, và ông đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Kinh nghiệm này là một trong những lợi thế lớn nhất của MacArthur trong cuộc sống sau này: Khả năng quan hệ quần chúng. Trước đa số những người cùng thời, ông đã hiểu được tầm quan trọng của hình ảnh, của việc lôi kéo tin tức, và hạn chế những sai lầm trước công chúng. Luôn tạo dáng và chỉn chu khi lên báo, ông thấy đó như một phương tiện để bảo đảm hình ảnh của mình theo hướng có lợi cho cuộc bầu cử. Kể cả sau này ông bị cho rằng chỉ đơn thuần là một người đàn ông PR tài năng. Tuy nhiên, hơn nhiều nhà lãnh đạo quân sự vào thời đó, ông đã nhận ra rằng quan hệ quần chúng là cần thiết để đề cao và phô trương những thành tích của mình trước công chúng. Nó cũng hợp với bản tính kiêu ngạo của ông.

        Vào ngày 6-4-1917, Mỹ tuyên bố tham gia chiến tranh tại Đức, 2 năm sau khi những chiếc tàu buôn của họ bị đánh chìm; chiếc Lusitania là chiếc cuối cùng. MacArthur tham gia một phần trong việc giới thiệu kế hoạch và sau đó được hỏi quan điếm của ông về việc đội quân quốc gia Mỹ có nên tham chiến hay không. Ông đã có cuộc họp kéo dài gần một giờ với Bộ trưởng Chiến tranh Baker và Tổng thống Wilson. Tướng William A. Mann được bổ nhiệm làm chỉ huy sư đoàn và MacArthur được thăng chức đại tá. Ông quyết định tham gia vào bộ binh. Trước khi rời Washington, MacArthur nhận được tin Tướng Frederick Funston, tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Veracruz và được chỉ định làm lãnh đạo lực lượng viễn chinh Mỹ tại Pháp, đã chết, ông phải báo lại tin này cho Bộ trưởng Chiến tranh.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:50:57 pm
   
Chương 11

SƯ ĐOÀN RAINBOW

        Ngày 19-10-1917, ông cho tàu đi ngang qua U-boat, tiến vào Đại Tây Dương với 27 ngàn quân của sư đoàn Rainbow trong nhiệm vụ đầu tiên.

        Cuộc sống trên tàu thật mới lạ và rất dễ làm nản lòng những người chưa quen. Không gian chật hẹp, tù túng và mỗi người chỉ được phép lên boong tàu 45 phút mỗi ngày. Đai cứu đắm bị mòn. Tàu rất tối vào ban đêm, không ai được đốt lửa. Đó là một cảm giác rất thật khi dò dẫm quanh boong tàu trong bóng tối.

        Sau 10 ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi chỉ được ở 4 ngày tại nơi đến, St. Nazaire. Sau đó, tất cả sĩ quan lại tiếp tục công việc của mình. Không khí giống như mùa đông và biển lạnh ngắt. Chúng tôi lại di chuyển vào trong lòng biển. Tất cả các tàu đang đi ngoằn ngoèo, một hải lý mất một giờ. Thuyền trưởng Hasbrouk không bao giờ rời khỏi đài chỉ huy. Ba ngày đã được đánh dấu, những ngày dài dường như một tuần. Chúng tôi có hơn 24 giờ để an toàn khi vô tuyến điện thông bảo rằng, chúng tôi sẽ bị tấn công bởi những chiếc tàu ngầm của kè thù.

        Khi màn đêm buông xuống, tôi lên đài chỉ huy, tuy nhiên không thể nhìn thấy bất kỳ thứ gì cả. Chúng tôi chỉ có thể nghe thấy giọng của hoa tièu trưởng: “Bảnh lái trái, bánh lái phải”. Thật ảm đạm, tuy nhiên tôi đã cảm thấy một ánh sáng rực rỡ trong tim khi biết rằng chiếc Chattanooga, được chỉ huy bởi anh trai tôi, thuyền trưởng Arthur MacArthur, đã ra khỏi đó trong một đoàn hộ tống đang quan sát chúng tôi. Cuối cùng, cảm ơn Chúa, tôi đã nhìn thấy những tia nắng của hòn đảo Belle. Chúng tôi đỗ tại St. Nazaire: một ý nghĩ lờ mờ đầu tiên của chúng tôi về nước Pháp.

        Bằng cách xoay chuyển 45 độ tài tình, chiếc Covington đã tránh khỏi những chiếc tàu ngầm, tuy nhiên khi chạy ra, họ đã làm đắm tàu.


        Họ bị mắc cạn cách St. Nazaire 65km, nhưng nhanh chóng được đưa vào bờ sau đấy trong cơn mưa lạnh, ở độ tuổi 37, sau những vinh quang trong sự nghiệp và sự xuống dốc, số phận đã cho MacArthur một cơ hội thứ hai. Mann, một sĩ quan cấp cao ở sở chỉ huy hiện đang đảm nhận vai trò quan trọng cảm thấy khó ở và nhanh chóng xin từ chức. Người kế nhiệm được nhắm đến là MacArthur. Ông nhất định không vấp ngã lần nữa. Ông có một lợi thế lớn so với người sĩ quan đồng nghiệp: Được thừa hưởng sự gan dạ khác thường từ cha.

        Tuy nhiên, đó là vài tháng trong tâm trạng thất vọng, huấn luyện binh lính đằng sau phòng tuyến trong cái lạnh thấu xương của mùa đông nước Pháp với quần áo và chăn màn không đủ ấm. Phòng tuyến này gần với sở chỉ huy Mỹ ở Chaumont. Ngay lập tức, ông đã nổi tiếng về sự tỉ mỉ và sâu sắc. Trợ lý sau này của ông đã viết:

        Vào buổi sáng, ông làm việc rất sớm. Một mình, ông viết lại các ghi chú trên mảnh giấy và sau đó cùng gặp gỡ ban chỉ huy để bàn luận. Ông hỏi ý kiến chúng tôi, và hầu hết tất cả đều tán thành với ông. Lúc nào cũng vậy, kế hoạch mà ông đưa ra luôn bao gồm điều kiện tốt nhất và những tình huống xấu nhất. Ông rất kỹ trong việc tổ chức và tài giỏi trong việc hoạch định kế hoạch.

        Ông va chạm với viên sĩ quan thông minh nhất làm việc cho Pershing, đối thủ cũ của ông tại Fort Leavenworth, George Marshall.

        Quan tâm đến quan hệ quần chúng, ông đã đưa kinh nghiệm của mình vào thực tế khi được phép đi cùng binh lính trong cuộc giao chiến đầu tiên bên cạnh người Pháp, một cuộc tấn công ban đêm vào phòng tuyến của Đức trong tháng 2 năm 1918. Đó là một trận nhỏ rất phổ biến ở mặt trận Tây Âu, trườn lên phía trước từ những chiến hào lạnh, ngang qua vùng đất không người, tiếng nổ của lựu đạn ném bằng tay là hiệu lệnh tấn công, một cuộc tấn công nhanh vào các chiến hào của địch kết thúc bằng một quả lựu đạn tay được ném vào tiền đồn cuối cùng của người Đức. Đến sáng, ông đã bắt được 600 tù binh, bao gồm cả đại tá người Đức, MacArthur đã được binh sĩ Pháp đón tiếp bằng rượu apxin và cognac. Ông được trao tặng huân chương chiến công Pháp và Sao bạc của Mỹ.

        Ngoại trừ tính can đảm thì việc dẫn đầu những đội quân của ông là khác thường đối với một sĩ quan cấp cao như vậy, và khiến những đồng nghiệp sĩ quan chỉ huy chuyên ngồi bàn giấy của ông rất bực bội. Quần áo khác lạ của ông cũng là điều đáng chú ý nhất về cuộc đột kích: ông mặc một chiếc áo len cổ lọ, quần ống túm và ủng kỵ binh. Trên đầu là chiếc mũ “Trứng” nổi tiếng thay cho mũ sắt, miệng ngậm chiếc tẩu xinh xắn. Trong tay ông, thay vì súng lại là roi da. Bộ trang phục còn có chiếc khăn dài hơn một thước, một món quà từ mẹ ông. Khi ông quay trở lại, với sự ngụy trang cổ lỗ trên mặt và một cái lỗ dưới mông của chiếc quần ống túm bị cào rách do dây thép gai, trông còn lạ thường hơn. Ngay lập tức, ông được báo chí phong tước hiệp sĩ “Beau Brummel của lực lượng viễn chinh Mỹ”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:53:24 pm

        Tất nhiên, sự lựa chọn quần áo như một lời tuyên bố. Băng cách không đội mũ sắt hay mặt nạ phòng độc và kể cả không mang súng, MacArthur muốn cho thấy rằng ông đã chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với những rủi ro lớn hơn, rằng với họ, nguy hiểm cũng không phải là diều kinh hoàng. Ông cũng muốn thể hiện rằng ông là một kỵ binh lãng mạn trong thời đại của chiến tranh hiện đại và thực tế hơn, ông muốn binh lính có thể nhận ra mình từ xa đúng như vai trò của ông là người chỉ huy.

        Đối với đa số sĩ quan trong ban chỉ huy, những người chưa bao giờ đi cùng đội quân của họ ra mặt trận, ông chỉ là một người phô trương, và là một người tạo ra gương xấu bằng cách coi thường các quy định như không đội mũ sắt và mặt nạ phòng dộc. Hơn nữa, những vị chỉ huy cấp trên không nên tự đặt họ vào nguy hiểm. Chắc chắn đây là một yếu tố khác biệt trong cách ăn mặc của MacArthur. Ông thích cho mọi người thấy rằng mình đã cân nhắc kỹ về diều đó; và ông theo kiểu cấp tướng của thế kỷ 18. Tuy nhiên báo chí rất thích thú, họ đặt cho ông biệt danh: “Công tước chiến đấu” và “D’Artagnan”.

        Sau kinh nghiệm đầu tiên nơi mặt trận, ông đã đủ tự tin để chỉ huy sư đoàn Rainbow vào trận chiến trong đêm ngày 9-3. Khi người Đức bắt đầu bằng 40 khẩu đại pháo, ông đã trèo lên thang leo tường pháo đài.

        Đạn nổ bùng ra giống như lò luyện kim nóng hừng hực. Trong chốc lát, tôi cảm thấy bọn chúng không đuổi theo mình nữa. Tuy nhiên tôi đã sai lầm khi nghĩ như vậy. Chúng dang ở quanh tôi và cả phía trước nữa, một loạt tiếng gầm của binh lính. Chúng tôi đã tiếp cận vị trí quân thù.

        MacArthur được trao huân chương cống hiến xuất sắc. Mười ngày sau ông gặp nạn: bị trúng khí độc nặng đến nỗi thị lực bị đe dọa.

        Sau đó, trong cùng tháng, khi ông dần hồi phục, người Đức đã mở cuộc tổng tấn công để đánh chiếm Paris. Sư đoàn Rainbow vội vã đi gấp để giúp người Pháp bảo vệ thành phố. Trong 82 ngày, MacArthur viết “Sư đoàn gần như chìm vào trận chiến liên tục”. Trở lại sở chỉ huy, ban sĩ quan của Pershing nói xấu ông, cuối cùng tổng tư lệnh đã ghé chỗ ông và mắng mỏ một cách công khai những binh lính dưới quyền ông là “Đám tiện dân ô trọc”. Tuy nhiên tại Washington, Newton Baker Bộ trưởng Chiến tranh, là người ủng hộ đã đọc được những kỳ công của MacArthur trên báo và dưới áp lực từ bà Pinky dáng kính, đã công nhận vị đại tá một cách đầy thuyết phục bằng cách thăng cấp cho ông lên thiếu tướng.

        Lúc này, cuộc tấn công của người Đức đã đạt đến đỉnh điểm, sư đoàn Rainbow đã di chuyển sang phía Tây để kết hợp cùng quân đội thứ tư của Pháp bảo vệ con đường đến Chalons. Ngay lập tức, MacArthur bị ấn tượng bởi vị chỉ huy người Pháp, Tướng Henri Gouraud. Ông đã trình bày một mưu kế mới để đánh bại người Đức: Ông sẽ bỏ trống những hầm hào phía trước, sau đó lên đường cùng một nhóm “Các đội cảm tử quân” để làm dấu hiệu kháng cự và cảnh báo sự tiến lên của quân Đức. Sau đó, các tay súng Pháp sẽ bắn từ phía sau, nhắm chính xác vào quân Đức khi họ tiến lên chiếm các hào hầm của Pháp ở phía trước. Vào ngày 15-7, người Đức đã tấn công: Khi họ chiếm các hầm hào, khoảng một ngàn tay súng đã bắn vào họ. Quân Đức buộc phải rút lui và cuộc tấn công lớn cuối cùng của chúng đã thất bại.

        MacArthur lại được trao một huân chương Sao Bạc khác. Tuy nhiên tâm trạng của ông lại khó tả:

        Vài đêm sau đó, nhóm chúng tôi đã nâng cốc chúc mừng chiến thắng ở Chalons. Chúng tôi uống rượu và hát bài “Mademoiselle of Armentieres”. Nhưng tôi cảm thấy thiếu một thứ gi đó. Có thể là do nhìn thấy những thân thể đau quằn quại hay mùi hôi thối của xác chết vẫn còn trong mũi tôi.

        Người Đức đã phải rút lui cùng với sự truy đuổi của quân Đồng minh. Họ bố trí quân ở chỗ dốc và trong các khu rừng, dàn trải súng máy và súng cối sau những bức tường đá.

        MacArthur tả lại quang cảnh chết chóc:

        Không khí chết chóc bao trùm khắp mọi nơi. ít nhất gần hai ngàn xác chết nằm ngổn ngang. Tối nhận ra huy hiệu của 6 sư đoàn hùng mạnh nhất của Đức. Mùi hôi thối bốc lèn ngột ngạt. Không còn một cái cây nào cả. Tiếng than van và kêu la của những người bị thương vang vọng khắp mọi nơi. Tiếng súng bắn tỉa nghe vo vo như đàn ong dữ vỡ tổ. Tôi nhẩm đếm thấy có khoảng một trăm khẩu súng mọi kích cỡ bị gãy và nhiều súng mảy bị bỏ rơi.

        Bỗng một tia sáng lóe lèn rồi vụt tắt. Phía trước chúng tôi là ba tên người Đức đang đứng: tên đại úy đang chỉ trỏ bằng cánh tay băng bó, tèn trung úy nằm vắt qua khẩu súng máy và tên hạ sĩ ngực đeo băng đạn. Ném quả lựu đạn lên trước, không có gì. Đến quả thứ hai cũng vậy. Chúng tôi đã đợi, đợi cho đến khi không thể chờ được nữa. Họ vẫn không di chuyển. Họ không bao giờ di chuyển. Họ đã chết, tất cả đều chết. Chúng tôi để họ ở đó chỉ vì họ là những người đàn ông dũng cảm đã chết trong khi thực hiện nhiệm vụ cho tổ quốc của mình.


        Ông lại được trao tặng huân chương Sao Bạc thứ tư. Sư đoàn Rainbow tiếp tục tiến lên phía trước, bắt 10 ngàn tù binh. MacArthur, người giờ đây đã nhận được Sao Bạc thứ năm, thấy răng thị trấn của Metz không được bảo vệ. Nhờ điều này, ông tin rằng mình có thể cắt ngang đường tiến công của Hindenburg và đánh thẳng vào nước Đức. Ông được lệnh không được hành động. Đấy là lần đầu tiên và chưa phải là lần cuối cùng ông bực tức về việc những người lãnh dạo ở sở chỉ huy rất xa trận địa lại được quyền ra quyết định.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:54:45 pm

        Tạm thời ẩn náu trong một lâu đài gần đó, ông phát hiện nhiều lương thực bị bỏ lại sau khi quân Đức rút lui. Một quả đạn cắm xuyên qua sân cạnh nơi ông ăn trưa, ỏng nói, “Nước Đức không thể chế tạo quả đạn có thể giết chết MacArthur. Mọi người hãy ngồi xuống đây cùng tôi”. Ông bảo những viên sĩ quan đang nằm dài trên sàn.

        Sự tiến công của người Mỹ đã bị chặn đứng bởi lửa từ đỉnh những ngọn đồi Coté de Chatillon. Viên sĩ quan chỉ huy của ông đến: “Hãy chiếm Chatillon cho tôi, hoặc danh sách của 5 ngàn tên tử trận”.. MacArthur nói: “Được thôi, thưa Ngài, chúng tôi sẽ chiếm lấy nó”. Ông đã tiến lên phía trước dưới làn lửa hừng hực. Đoàn quân gồm 1.450 quân và 25 sĩ quan nhưng chỉ còn 300 quân và 10 sĩ quan sống sót khi ngọn đồi được đánh chiếm. Bản thân MacArthur lại bị trúng khí độc trong khi tấn công. Baker đặt cho ông cái tên “Vị tướng tiền tuyến vĩ đại nhất” và đề cử MacArthur nhận huân chương danh dự, thay vì Huân chương Chiến công xuất sắc lần thứ hai.

        Quân đội được lệnh tiến đến Sedan. Chính vì mệnh lệnh khó hiểu từ sở chỉ huy do Colonel Marshall ra lệnh nên một quân đoàn Mỹ đã va chạm với một đội quân khác, suýt nữa thì hai bên đã đánh nhau. Sau bữa ăn ngon miệng trong một quán trọ. “Ông chủ quán ăn không có gì ngoài khoai tây nhưng đó là một bữa yến tiệc mà ông bày ra trước mắt tôi. Mọi người được phục vụ năm món khác nhau: xúp khoai tây, khoai tây hầm, khoai tây nấu kem, salad khoai tây và kết thúc băng món paté khoai tây. Có lẽ tôi đã không ăn trong 36 giờ, nhưng bữa ăn đó là bữa ngon nhất mà mình được thưởng thức”. Nghe đoàn quân đến gần vị trí của mình, MacArthur rời khỏi giường, mặc bộ trang phục thường mặc, và ông gần như bị bắt làm tù binh bởi những người lính do đại úy Black chỉ huy. Tuy nhiên người này đã nhận ra chiến sĩ nổi tiếng nhất của nước Mỹ.

        Gauraud gọi ông là “Sĩ quan tài giỏi nhất mà tôi từng biết”. Tướng Menoher, sĩ quan chỉ huy của ông, nói:

        MacArtliur là một chiến binh dũng cảm nhất trong quân đội này. Tôi e sợ rằng chúng ta sẽ mất ông. Với chiếc mũ và cái roi da, mỗi khi xung trận, MacArthur đều tiến lên phía trước. Ông là nguồn cảm hứng lớn nhất cho binh sĩ của mình, những người luôn tận tụy và hết lòng vì ông.

        Từ việc đề bạt của Menoher, MacArthur được bổ nhiệm làm chỉ huy của 26 ngàn quân khi ông 38 tuổi với cấp bậc thiếu tướng. Tuy nhiên, với tuyên bố đình chiến vào ngày 11-11, mọi sự đề bạt đều bị hoãn lại.

        Sư đoàn Rainbow được lệnh tiến công vào Đức với vai trò của lực lượng chiếm giữ. Tại Rhineland, ông đã chiếm được tòa lâu đài tại Sinzig, cách Bonn 40km về phía nam. Do kiệt sức và hậu quả của khí độc từ trận chiến trước nên ông bị ốm cùng với nhiễm trùng họng và sau đó lại bị bệnh bạch hầu. Nhưng MacArthur cũng đã vượt qua được bệnh tật.

        Tại đó, ông đã tổ chức buổi họp trong bộ trang phục là chiếc áo len màu nâu sờn rách và chiếc quần đùi. Một họa sĩ được gọi đến và vẽ chân dung ông dưới ánh sáng của ngọn nến.

        Chàng trai MacArtliur giống như người hùng điển hình trong truyện anh hùng hiệp sĩ lịch sử. Ông có thể dễ dàng bước ra khỏi những trang sách của quyển “Tù binh của Zenda” hay “Rupert của Hentzau”. Trông ông như người dưới 30 tuổi... Ông gầy, làn da sáng, ngón tay khít và dài, luôn chỉnh tề... Ông là chàng trai thông minh, một người nói giỏi và biết lắng nghe, đã lãnh đạo sư đoàn 42 chiến thắng. Ông rất nhanh nhạy trong động tác lẫn đầu óc.

        Hoàng tử xứ Wales đã ghé thăm và dự đoán rằng quân Đức sẽ tấn công lại. MacArthur cũng có cùng ý kiến. Khi Hiệp ước Versailles được ký kết, ông nói, “Đây là hiệp ước của chiến tranh không dứt chứ không phải của sự hòa bình vĩnh cửu”. Không đầy 3 năm sau, Hoàng gia Anh với vai trò chủ nhà đã đón tiếp Hirohito trong chuyến viếng thăm chính thức của ông đến Anh quốc.

        Vào tháng 3, MacArthur được trao tặng DSM trước toàn thể sư đoàn Rainbow và những tháng sau đó, ông đi tàu đến New York.

        Chúng tôi đã có chuyến du ngoạn tuyệt vời đến Leviathan. Tôi đã ở trong một căn hộ trị giá 5.000 đôla gồm 4 phòng ngủ và 3 phòng tắm. Nó khiến tôi thay đổi phòng vào mỗi tối.

        Chúng tôi đến New York vào ngày 25, tuy nhiên chỗ nào đón tiếp như họ đã nói? Ở đâu có đám đông tụ họp reo hò khi chúng tôi xuất hiện? Không, không có gì giống như thế. Một thằng nhóc hỏi chúng tôi là ai và khi chúng tôi nói là sư đoàn 42 nổi tiếng, nó lại hỏi chúng tôi đến Pháp chưa?

        Trong sự im lặng, chúng tôi đi bộ xuống bến tàu. Không có sự chào đón nào dành cho những người lính chiến đấu; không ai muốn xem chúng tôi duyệt binh; không ai muốn nghe kể về chiến tranh. Và những kẻ trục lợi! Ôi Chúa! Những kẻ trục lợi! Một cuộc sống đắt đỏ! Paris chắc chắn là nơi xa hoa nhất. Tôi củng thấy rằng quần ảo có giả rất cao, rất cao. Nhưng trông chúng thật đẹp.


        Một buổi dạ tiệc được tổ chức với niềm vinh dự của MacArthur tại Waldorf Astoria.

        Tôi mặc bộ quân phục. Tôi đang nhảy và chủ khách sạn bước đến bèn tôi. Ông ta nói ở đây không cho phép mặc như thế này lên sàn nhảy. Tôi nói: “Ông biết tôi là ai không?” Ong ta trả lời: “Biết chứ, thưa ngài”. Vậy là tôi phải dẫn bạn nhảy đi và chúng tôi rời khỏi sàn. Tôi không bao giờ đặt chân đến nơi đó một lần nữa.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:56:10 pm

Chương 12

NGƯỜI QUẢN LÝ ĐA TÌNH

        Không như nhiều sĩ quan đồng nghiệp, phần lớn là những người ít được biết đến, những thành công trên chiến trường của MacArthur đã tạo nhiều thuận lợi cho ông. Tham mưu trưởng mới của quân đội, tướng Peyton c. Mack, giao cho ông một công việc có thanh thế. Đó là quản lý trường West Point với yêu cầu đem lại sức sống mới cho Học viện. Với thái độ ngạc nhiên và vui mừng, MacArthur đã chấp nhận và chính thức nhận nhiệm vụ mới vào tháng 7 năm 1919. Ông và mẹ đã chuyển đến ở trong ngôi biệt thự dành cho người quản lý. Đã 20 năm kể từ lần đầu tiên ông bước chân vào học viện này. Một anh hùng chiến tranh bằng xương bằng thịt, trông ông trẻ hơn nhiều so với tuổi 39.

        Tính cách khác thường của MacArthur đã sớm gây ấn tượng trong cái học viện ngột ngạt này: Ồng rất tự nhiên, thân mật, không câu nệ đối với các nghi thức cũng như những quy định nhỏ nhặt và có một trí thông minh tuyệt vời. Người phụ tá của ông, Thiếu tá William Ganoe, phác họa lại chân dung của MacArthur:

        Tính cách gây ấn tượng nhất chính là sự tự tin kiến định và sự tự chủ đáng ngạc nhiên của ông. Tôi đã gặp những người đàn ông quả yên lặng hoặc dửng dưng như thể họ không hề có cảm xúc. Tuy nhiên, MacArthur không như vậy. Giọng nói, cải nhìn hay đi đứng đều chứa đựng sự mãnh liệt... Dáng đi và thái độ rất thảnh thơi nhưng không hề có sự lơ đễnh. Ông có tố chất của một nhà chỉ huy thiên tài, một nhà chỉ huy khiến bạn ngưỡng mộ từ xa. Với sự động viên của mình, ông khiến mọi người làm việc chăm chỉ hơn trước đây chỉ vi lòng trung thành, sự ngưỡng mộ và sự tôn kính dành cho ông.

        Sự tuân lệnh là điều mà người lãnh đạo có thể chỉ huy được, tuy nhiên lòng trung thành là một điều gì đó rất mơ hồ mà rất khó có được. Tuy nhiên, theo bản năng, MacArthur biết làm thế nào để có được nó. Trong ông có một sự trái ngược. Ông lãnh đạo mà không ra lệnh. Tồn tại trong ông là cả người quý tộc lẫn kẻ bình dàn.


        MacArthur rất thẳng thắn trước yêu cầu cải tổ và cũng nhìn xa trông rộng đối với những việc mà ông đề nghị: “Kỷ luật không còn yêu cầu những biện pháp khắc nghiệt. Nhìn chung, mọi người chỉ cần được biết phải làm gì, hơn là bị ép buộc bởi nỗi sợ về hậu quả của sự thất bại... Sự ứng biến sẽ là khẩu lệnh. Những điều kiện bị thay đổi như vậy sẽ đòi hỏi một sự biến đổi giúp sĩ quan có được những đức tính chủ yếu của quân đội như ngày xưa, ngoài ra con có sự cảm thông chân thành với đồng đội, sự hiểu biết về thế giới và các nhiệm vụ của đất nước, cũng như một sự tổng quát hóa về quan niệm. Tóm lại, tất cả đều nhằm thay đổi tâm lý của anh ta khi ra lệnh”.

        MacArthur đề nghị một loạt các thay đổi cơ bản: Nhiều môn học hơn trong chương trình giảng dạy, nhiều liên hệ với thế giới bên ngoài hơn, bãi bỏ các lề thói phức tạp trong các kỳ cắm trại hè, đưa vào các trò chơi bắt buộc đối với mọi học viên. “Từ việc xung đột, các học viên sẽ hiểu nhau nhiều hơn và đấy chính là những hạt giống cho các mối quan hệ khác và một ngày nào đó, họ sẽ cùng nhau chiến thắng”. Ông đã ghi những dòng chữ này ở cổng.

        Tướng Pershing, viên chỉ huy đáng kính của ông và đa số những sĩ quan cấp cao đều không thể chịu nổi MacArthur. Họ xác định phải tống cổ ông ra trước khi ông phá hủy học viện thân yêu của họ. Trong báo cáo chính thức của mình, Pershing đánh giá MacArthur chỉ đạt mức “trên trung bình” về tính hiệu quả trong quân đội, xếp thứ 38 trong 46 thiếu tướng. “Anh ta tự đánh giá mình quá cao”, ông này nhận xét một cách chủ quan về MacArthur.

        Vào năm 1917, chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ ở châu Âu được tiếp đãi bởi cặp vợ chồng giàu có người Mỹ tại Paris: Walter Brooks, một tỉ phú Baltimore, vợ ông là bà Louise. Brooks, bất chấp sự giàu có, là một người đàn ông vênh vang và nhỏ bé, còn người vợ là con gái một nhà tài phiệt, Oliver E. Cromwell, và bố dượng của bà, Edward Stotesbury là một đối tác của J.P.Morgan với gia sản ước tính khoảng 150 triệu đôla, một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ.

        Louise là tất cả đối với chồng. Bà rất đẹp khi còn là con gái, rất gợi tình với hai má phúng phình, nụ cười lẳng lơ và đôi mắt long lanh, quyến rũ. Bà toát ra vẻ mời mọc. Hơn thế nữa, bà rất thích tình dục và không quan tâm đến việc người khác nghĩ gì.

        Khi gặp Pershing, họ đã trở thành người yêu của nhau. Sau một năm hẹn hò mà Brooks không hề hay biết, Pershing đã bị bắt gặp khi đi cùng một cô gái Rumania 20 tuổi, băng 1/3 tuổi của ông. Bà đã chuyển sự chú ý sang một Đô đốc trẻ người Anh, David Beatty và đã gây ra sự đổ vỡ trong hôn nhân của ông này, sau đó là một thượng nghị sĩ Mỹ.

        Trong một lần gia đình Brook trở về New York, bà gặp gỡ Pershing lần nữa, lần này trong vai trò chủ nhà khi ông tìm kiếm sự bổ nhiệm làm chủ tịch đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, bà có quan hệ bất chính với đại tá John Quekemeyer, cấp dưới của Pershing, người mà ông xem như con trai. Khi biết, Pershing cũng ủng hộ mối quan hệ bất chính này.

        Hoàn toàn là sự tình cờ, bà tham dự vào cuộc hội họp xã hội ở West Point vào tháng 9 năm 1921 và tại đây đã xảy ra mối quan hệ với MacArthur. Thật khó mà tưởng tượng được rằng quý bà Louise giàu có, phù phiếm lại say đắm viên tướng trẻ đẹp trai. Đối với MacArthur, chỉ một lần gặp gỡ mà ông không chỉ xem bà như bạn đồng sàng mà còn là một người có khả năng trở thành vợ. Trong một thời gian dài, MacArthur bị thuyết phục bởi lời khuyên của mẹ rằng ông nên tập trung vào sự nghiệp, điều này sẽ bị ảnh hưởng nếu ông kết hôn. Không có bằng chứng nào cho rằng ông đã có mối quan hệ bất chính với người đàn bà này trong cuộc sống riêng tư của mình. Tuy nhiên, không có gì nghiêm trọng xảy ra.

        Pershing không kiềm chế được cơn giận dữ khi MacArthur cướp Louise từ Quekemeyer. ông đã trả thù bằng cách cắt ngắn thời hạn của MacArthur ở West Point xuống một năm và gửi ông đi nhận nhiệm vụ ở Philippines. Scandal rò rỉ trên mặt báo. Pershing bình luận rằng: tất cả đều là chuyện tầm phào. Nếu cưới tất cả những người phụ nữ mà chuyện ngồi lê đôi mách đã gán ghép cho, tôi sẽ là chàng trai Brigham chuyên nghiệp.

        Tháng 6, MacArthur chính thức rời khỏi West Point, tháng 9 ông đến Manila. MacArthur đảm nhiệm chức vụ chỉ huy sư đoàn quân đội Manila.

        Cuộc vận động chính trị nhỏ tại quê nhà đã cho thấy một sự tụt dốc mới trong sự nghiệp của vị tướng trẻ tuổi này như đã từng xảy ra với cha ông. MacArthur giống như người bị đi đày biệt xứ, và nơi ông đến chính là Philippines, một thuộc địa của Mỹ tại vùng nhiệt đới. Với năng lực và sự cường tráng của mình, ông tự hào sẽ thực hiện tốt hơn những gì trước đây cha ông đã làm tại nơi này.

        Tuy nhiên, bản thân ông tin vào khả năng Philippines trở thành chiến trường trong cuộc chiến tranh tương lai với Nhật Bản. Mệnh lệnh quân đội tối cao đã điều ông đến Bataan với ý định thảo luận tìm cách phòng thủ thích hợp trước sự xâm lược quá mạnh của Nhật Bản trong khi lực lượng bảo vệ Philippines còn mỏng manh cho đến lực lượng trợ cấp được thành lập.

        Viễn cảnh đã được đoán trước vào mùa thu năm 1922. Đối với phía bắc Nhật Bản là một nền dân chủ thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của Нага và quyền lực theo hiến pháp của hoàng tử trẻ nhiếp chính. Hirohito, cùng với cô dâu trẻ xinh đẹp vừa bước vào kỷ nguyên mới đầy hi vọng sau sự thống trị không mấy tin tưởng của người cha.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:57:09 pm

Chương 13

SA ĐỌA VÀ NGÔNG CUỒNG

        Triều đại của hoàng tử trẻ bắt đầu bằng tuổi trẻ, niềm hy vọng và sự lạc quan rằng những hoạt động ngầm đen tối của chính trị không còn đường để bào chữa. Ngày 12-4- 1922, người bạn của Hirohito, hoàng tử xứ Wales, đã đến Nhật Bản trong chuyến viếng thăm chính thức. Ông đã được chàng trai từng gặp tại Cung điện Buckingham đón tiếp rất nồng hậu. Edward được dẫn đến Hakone, Kyoto, Nara và Nagashima.

        Vào thời gian này, dường như chỉ có mỗi viễn cảnh rằng đây sẽ là một triều đại thịnh vượng và khả năng ổn định chính trị, xã hội. Nền tảng công nghiệp của Nhật Bản đã lớn hơn nhiều so với trước đây. Nghệ thuật và xã hội đang trải qua sự thay đổi chưa từng xảy ra. Quyền bầu cử được thực thi. Trên bình diện quốc tế, Nhật Bản dường như có ý định theo đuổi mục tiêu của họ thông qua các biện pháp hòa bình. Hoàng tử Edward đang thăm Nhật Bản, cũng thấy răng người Nhật thể hiện sự tôn kính và lễ phép, ông không hề nhìn thấy ở họ sự đe dọa và nguy hiểm.

        Vẻ bề ngoài của chủ nghĩa lập hiến Nhật Bản mềm yếu, giống như những ngôi nhà gỗ mỏng manh mà người Nhật bản địa đang sống. Khi thời tiết và diều kiện khí hậu tốt, không có gì xảy ra; nhưng khi có những trận cuồng phong, nó sẽ tan tành, giống như các chế độ không có cơ sở vững chắc như Weimar của Đức và Cộng hòa thứ ba ở Pháp.

        Trách nhiệm thực sự nằm ở những người đang vun vén cho đặc quyền riêng của bản thân, đã tạo ra một chế độ không dựa trên quần chúng hay có sự hỗ trợ của tầng lớp trung lưu; thật ra, bản thân zaibatsu, những người trực tiếp gây ra sự bành trướng của chủ nghĩa độc đoán quý tộc vào đời sống công nghiệp và kinh tế, đã làm suy yếu các khả năng để tạo ra một tầng lớp trung lưu có vai trò như bức tường thành vững chắc của bất kỳ xã hội dân chủ nào. Gần như không một quốc gia công nghiệp nào mà quyền lực chính trị và kinh tế chỉ tập trung trong tay một số ít người.

        Như một điềm gở, triều đại của Hirohito bị cảnh báo băng một trận động đất khủng khiếp vào ngày 1-9-1923. Tại Yokohama và Tokyo, cùng với sự tàn phá là những đám cháy dữ dội. Yokohama bị phá hủy hoàn toàn, phân nửa Tokyo bị san bằng. Khoảng 100 ngàn người chết. Truyền thuyết cho rằng con cá trê khổng lồ nằm bên dưới Nhật Bản đã nâng lưng lên một cách giận dữ và gây ra trận động đất.

        Ảnh hưởng của trận động đất phần nào được khuây khỏa bởi một sự kiện của quốc gia: Đám cưới của Hirohito, sau nhiều lần bị hoãn, đầu tiên là sự phản đối của Yamagata, sau đó là trận động đất. Vào ngày 26-1-1924, tại cung điện hoàng gia ở Tokyo, 6 năm sau lễ đính hôn, Hirohito 22 tuổi và cô dâu 19 tuổi đã tổ chức lễ thành hôn, nhưng đến tháng 5, buổi lễ ăn mừng trước toàn dân mới diễn ra để tránh những mất mát đau thương mà trận động đất mang lại. Vào tháng 8, cặp đôi hoàng gia đã di hưởng trăng mật trong một tháng và sau đó, họ dời đến ở tại cung Akasaka, nơi cha của Hirohito từng sống.

        Nàng Nagako giản dị và chàng Hirohito hay xấu hổ sống bên nhau rất hạnh phúc: Nàng chơi đàn piano và hát, cả hai cùng nghe nhạc. Khu vườn với bốn mùa ở phía nam của cung, cây cỏ nở hoa quanh năm, trở thành nơi đi dạo được hai người yêu thích. Hirohito cho xây một phòng thí nghiệm nhỏ trên khu đất của cung, cùng với chuồng để nuôi thú vật và đất để trồng cây. Ông thật sự rất hạnh phúc. Vào ngày 6-12-1925, một bé gái đã cất tiếng khóc chào đời.

        Chỉ 10 ngày sau khi công chúa Teru Shigeko ra đời, Nhật Hoàng Yoshihito bị đột quỵ. Ông không thể đi lại hay nói chuyện một cách bình thường. Một năm sau đó, vào ngày 25-12-1926, ông chết vì bị viêm phổi khi đang ở tuổi 47 trong một đêm mưa dông dữ dội. Cùng đêm đó, Hirohito đã được trao thanh gươm và ngọc ấn (hai trong ba vật tượng trưng cho ngai vàng tương truyền do Nữ thần Mặt trời Amaterasu truyền lại) trong khi một nghi lễ khác được tổ chức tại đền thờ hoàng gia trước khi chiếc gương linh thiêng được trao.

        Tháng 11 năm 1928, lễ lên ngôi của Nhật Hoàng mới đã được tổ chức. Buổi lễ kéo dài cả ngày với sự tham dự của 4 ngàn khách mời. Người dân Nhật Bản bày tỏ sự ưng thuận đối với sư kiện này, bất chấp những khó khăn về kinh tế.

        Dường như mọi người đặc biệt có thiện cảm đối với sự giản dị của cặp đôi hoàng gia. Hirohito đã cho mọi người thấy rằng ông và vợ là một cặp đôi chung thủy, không phải trên danh nghĩa: Nhật Hoàng sẽ không có các thê thiếp như cha và ông nội đã làm trước đây. Thời điểm lên ngôi, ông đang ở tuổi 27, trước đó, mặc dù ông được bí mật chia sẻ những quyết định lớn của đất nước, nhưng sẽ rất vô lý khi cho rằng ông có ảnh hưởng nhiều đến những quyết định đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:57:27 pm

        Trong cùng năm, một sự kiện diễn ra đã đưa vị trí của ông vào một viễn cảnh mới. Đó là sự bộc lộ một tài năng hoàng gia hết lòng vì dân ngay trong buổi duyệt binh ngày lễ lên ngôi 1-12-1928 khi hơn 70 ngàn sinh viên và thanh niên tập trung trước những bức tường đồ sộ của hoàng cung, bên kia hào. Trong cái se lạnh của đêm tháng 12, khi trời mưa, lều hoàng gia bất ngờ bị tháo dỡ. Mọi người được thông báo rằng Nhật Hoàng sẽ xuất hiện mà không cần sự bảo vệ nào “Để đồng cảm với những thanh niên ở đây”. Ngay lập tức, sinh viên bắt đầu cởi bỏ áo mưa để đáp lại hành động của Nhật Hoàng.

        Khi Hirohito đến vào lúc 2 giờ sáng, ông mặc chiếc áo choàng không tay của quân đội. Nhìn thấy những người thanh niên không mặc áo khoác, ngay lập tức ông cởi bỏ chiếc áo của mình và toàn bộ cận thần có mặt đều buộc phải làm theo. Trong gần một tiếng rưỡi đồng hồ, Nhật Hoàng đã đứng đấy, vẫy chào hàng ngàn thanh niên đang duyệt binh mà không có áo khoác.

        Những sự kiện cuối những năm 1920 và 1930 trông giống như bi kịch của Shakespear. Chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản đã bám rễ một cách chắc chắn trong tư tưởng của những người đầu sỏ chính trị thời Meiji. Tuy nhiên, có nhiều bất hòa lớn trong chính sách làm thế nào để tiến hành nhanh và xa.

        Có một sự dồng lòng trong các nhóm thống trị của Nhật Bản: quan lại, lực lượng quân đội và những nhà tài phiệt. Tất cả đều mong muốn bành trướng xa hơn, tuy nhiên vẫn chưa có một ý tưởng rõ ràng nào được xem là cách tốt nhất để hoàn thành điều đó: Chẳng hạn như hải quân và nhiều nhà kinh doanh mong muốn mở rộng về phía nam, lực lượng quân đội lại muốn xâm lược sâu vào Trung Quốc. Trong giai đoạn ngắn của chính phủ nghị viện Nhật Bản, toàn bộ cử tri tầng lớp trung lưu ít có khả năng bị lôi kéo vào chiến tranh. Việc kinh doanh thì thận trọng. Môi trường thế giới không ổn định. Các đồng minh của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất dần trở nên đáng ngờ, và người Anh, người Mỹ vẫn giữ sự vượt trội về hải quân ở châu Á.

        Về mặt chính trị, những người ôn hòa dưới tác động của những nhà tài phiệt đã đứng đầu chính phủ. Sau vụ ám sát Нага vào tháng 11 năm 1921, bốn chính phủ tồn tại trong một thời gian ngắn trước khi hai đảng lớn dẹp những người được chỉ định của bên quan lại thời Meiji trong cuộc tổng tuyển cử vào năm 1924. Đó là đảng Kenseikai của Takaaki Kato và đảng Seiyukai của Нага. Thật ra, mỗi đảng đều bị thống trị bởi zaibatsu: Mitsubishi và Mitsui. Trong cán cân quyền lực tại Nhật Bản, phải nói rằng quyền lực thực sự lần đầu tiên được chuyển cho giới kinh doanh lớn kết hợp cùng tác động nhỏ thuộc về ý kiến quần chúng.

        Giới quan lại trong thế phòng thủ, mặc dù vẫn còn bám chặt vào các bộ và đặc biệt là gia đình hoàng tộc. Tuy nhiên, người đứng đầu của họ, vị genrô còn lại, Hoàng thần Saionji lại đứng về phía cải cách. Dưới ông, các tầng lớp quan lại sôi sục vì bị mất quyền lực. Họ cũng phẫn nộ trước việc xã hội Nhật Bản được đại diện bởi lực lượng đổi mới và “phóng túng”. Quyền lực thứ ba, lực lượng vũ trang, đang trong thời kỳ trung lập, tuy nhiên cũng ẩn chứa một số phần tử phản động trong xã hội Nhật Bản.

        Kato và người kế vị của ông đứng dầu đảng Kenseikai, Rejiro Wakatsuki, quyết tâm theo đuổi mục tiêu nâng tầm ảnh hưởng lớn hơn ra bên ngoài Nhật Bản bằng các biện pháp hòa bình. Kijuro Shidehara, Ngoại trưởng, đã xua tan mọi nghi ngờ bằng Hai mươi mốt điều khoản tại Trung Quốc. Chính sách mới theo chủ nghĩa không can thiệp của Nhật Bản được trợ giúp bởi kinh nghiệm xương máu của cuộc viễn chinh đến Nga trong suốt cuộc nội chiến tại đây vào năm 1918. Trong vai trò đồng minh với Mỹ, lực lượng 70 ngàn quân đã cố gắng bảo vệ lợi ích quốc gia hơn là chống lại lực lượng Xô Viết. Người Nhật đã nhận biết cách tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của chính phủ và người dân đồng thời phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chính điều này đã tăng cường vị trí cạnh tranh của Nhật Bản trong tương lai với các thế lực phương Tây tại Trung Quốc.

        Gặp phải sự chống trả của người Nga, quân đội Mỹ đã rút lui vào năm 1920. Đơn dộc và phải đối mặt với số lượng thương vong quá lớn, người Nhật đã rút khỏi sông Amur vào năm 1922 và Bắc Sakhalin vào năm 1925. Thất bại của quân đội đã góp phần vào sự yếu thế của quân đội Nhật Bản vào thời đó. Bộ trưởng Chiến tranh, Tướng Kazushige Ugaki, được bổ nhiệm vào năm 1924.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:33:34 am

        Trong lúc đó tại Trung Quốc, cuộc xâm lược trước đây của Nhật Bản đã gặp nhiều sự chống trả. Bên cạnh đó, mục tiêu thương mại cũng vấp phải sự xung đột với Mỹ. Người Anh từ chối hồi phục lại liên minh Anh - Nhật tại Trung Quốc, nơi Nhật Bản sẽ còn ít cơ hội để khôi phục ngành công nghiệp nếu không thể kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây, và điều này cũng gây nguy hiểm cho các mục tiêu thương mại của Anh tại nước này. Các sứ thần quốc tế của Nhật Bản nói một cách chua chát về “Âm mưu đàn áp những chủng tộc không phải người Anglo-Saxon, nhất là những chủng tộc da màu, bởi hai quốc gia nói tiếng Anh: Anh quốc và Mỹ”.

        Vào những năm 1920, Nhật Bản đã được cảnh báo bởi sự suy giảm đột ngột về quyền lực. Tổng thống Woodrow Wilson đã làm người Nhật tức điên lên tại Hiệp ước Versailles năm 1919, bằng cách xóa bỏ điều khoản xác nhận sự bình đẳng của dân tộc Nhật Bản đối với các thế lực châu Âu và Mỹ. Hội nghị Washington năm 1922 đã thiết lập sự cân bằng hải quân theo tỉ lệ 5/5/3 giữa Mỹ, Anh và Nhật Bản. Tồi tệ hơn, hiệp định cấm thành lập lực lượng hải quân Anh và Mỹ trên vùng biển từ bắc Singapore đến tây Hawaii. Điều này đã tạo thuận lợi cho Nhật Bản dự định tấn công các nước láng giềng châu Á cũng như Philippines, nơi Mỹ đang chiếm đóng. Hội nghị Hải quân London vào năm 1930 đã thực sự giảm bớt sức mạnh của hải quân Anh ở vùng Viễn Đông. Vi vậy, Nhật Bản mất đi đồng minh có giá trị nhất là Anh, và cảm thấy bị cô lập, không an toàn cũng như trở nên không thân thiện với cả Anh lẫn Mỹ.

        Nhật Bản đã không dám thách thức những kẻ thù như vậy. Ngoại trưởng Shidehara, đã tuyên bố hùng hồn về việc mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản mà không dùng đến quân đội. “Nhật Bản, rất gần Trung Quốc, có lợi thế về chi phí vận chuyển đồng thời có khả năng canh tranh lớn nhất nhờ vào nhân công. Vì thế, ưu tiên hàng đầu đối với Nhật Bản là phải duy trì thị trường lớn ở Trung Quốc”. Iwane Matsù, thành viên trong ban chỉ huy quân đội Nhật Bản, lại muốn áp dụng chính sách “Thay thế xâm lược kinh tế bằng xâm lược quân sự, ảnh hưởng tài chính bằng chỉ huy quân đội và hoàn thành mục tiêu chung dưới khẩu hiệu cùng thịnh vượng và cùng tồn tại”. Khó có thể xem đó là ngôn ngữ của ngoại giao hòa bình, tuy nhiên nó đã đánh dấu sự thận trọng hơn của người Nhật so với trước đây.

        Nền dân chủ nghị viện của Tokyo và sự kềm hãm do nước ngoài đã chứa những nguyên nhân cho sự hủy diệt của nó. Sự phát triển của chủ nghĩa cực đoan cánh tả đã có nguồn gốc lâu đời, kết hợp cùng sự tồn tại của tầng lớp samurai, những người đứng sau cuộc khôi phục của Nhật Hoàng vào năm 1868, và sau đó bị tước đoạt bổng lộc. Vùng đất sản sinh chính là thành phố của Fukuoka, điểm gần nhất để Nhật Bản tiếp cận châu Á, điểm bắt đầu cho sự xâm lược Triều Tiên bởi Nữ hoàng Jingu, cũng như những cuộc tấn công được lãnh đạo bởi Hideyoshi vào năm 1592, và căn cứ hoạt động chính trong suốt chiến tranh Nga - Nhật. Samurai Fukuoka đã rời thành quách của họ để mở cuộc tấn công vào thành phố của các chính khách thời Minh Tri Iwakura mới diễn ra năm 1874.

        Trong năm 1881, phần lớn xã hội bí mật samurai đã kết hợp lại để tạo ra Genyosha, tận tâm sùng bái Nhật Hoàng, để đẩy mạnh các lợi ích của quốc gia, và cho các quyền của nhân dân. Sau thất bại của Saigo vào năm 1877, Genyosha không tin rằng cuộc nổi loạn có vũ trang là một sự chọn lựa: Mục tiêu của xã hội là kết thân những người theo chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt trong giới quan lại và quân đội để xúc tiến các mục đích của nó. Một số lượng lớn những người này và Genyosha đang thúc đẩy các lợi ích kinh tế của các thành viên, tìm kiếm những người trung gian cho quân đội và những người lãnh đạo dân thường.

        Mitsuru Toyama là thủ lĩnh nổi tiếng của Genyosha. Được sinh ra trong một gia đình samurai bị bần cùng hóa, ông trải qua thời trai trẻ trong những ngôi nhà uống trà và nhà thổ. Ngay từ đầu, ông đã thành lập cho mình một quyền tự trị và miễn theo luật rằng ông được phép bảo trợ, không chỉ những người ủng hộ khủng bố tại quê nhà mà còn những nhà cách mạng cánh tả ở nước ngoài. Hai tư tưởng kiên định của ông là chống lại các lợi ích của phương Tây và căm ghét chủ nghĩa cộng sản. Vào năm 1892, ông đã đạt được thỏa thuận với chính phủ, theo đó, được bảo đảm rằng chính phủ sẽ theo đuổi chính sách ngoại giao mạnh tay và tăng chi viện cho quân đội để đổi lại sự hỗ trợ của Genyosha. Những phương cách mạnh tay của Toyama, với sự hỗ trợ của soshi (những tên côn đồ) từ các khu vực lân cận, đã làm tỉnh Fukuoka khiếp SỢ; cuộc bầu cử đẫm máu nhất trong lịch sử Nhật Bản làm nhiều người bị giết và hàng trăm người bị thương.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:33:51 am

        Cảnh sát và Bộ Nội vụ hợp tác chặt chẽ với ông. Ở cấp độ nội các, một sự liên minh không chính thức xuất hiện giữa các bộ trưởng của Bộ Nội vụ, Chiến tranh và Hải quân, những người vui mừng đón nhận sự trợ giúp của Genyosha. Việc tổ chức cũng cho quân đội một hoạt động không chính thức về thu thập tin tức tình báo ở nước ngoài. Những liên hệ với hội chống Manchu, một nhóm những người theo chủ nghĩa dân tộc ở các lãnh thổ thuộc địa và bất đồng quan điểm Hồi giáo ở Trung Á được thành lập và phát triển. Vào năm 1882, Toyama, với sự giúp đỡ của Kumamoto Soaisha, đã gửi 100 binh lính trẻ đến Trung Quốc để thu thập thông tin.

        Song song với sự phát triển của Genyosha (Hội Biển đen) và Kokorykai (Hội Rồng đen) là tập hợp những triết gia quá khích, trong đó người nổi tiếng nhất là Ikki Kita, được xem là cha đẻ của chủ nghĩa phát xít Nhật Bản. Kita là người trí thức. Quyển sách của ông, Kế hoạch hồi sinh Nhật Bản được xuất bản năm 1923 và ngay lập tức bị cấm bởi những quan điểm theo chủ nghĩa quân bình của nó. Ông đưa hai quan niệm, một là sự khao khát bình đẳng, mong muốn quốc gia tự khẳng định mình và gắn kết chúng còn gần hơn so với Hitler và Mussolini đã làm. Ông tìm kiếm sự thành lập một “Đế chế cách mạng Nhật Bản” thông qua cuộc đảo chính của quân đội, điều này tạo ra mối ràng buộc không thể chia cắt giữa Nhật Hoàng với lực lượng vũ trang và nhiệm vụ sẽ là sự bành trướng của Nhật Bản ra nước ngoài.

        Trong nước, chương trình của ông rất triệt để: Những người giàu bị tước đoạt ruộng đất và sự thống trị về tài chính. Nền kinh tế sẽ do nhà nước kiểm soát và đặt chân vào chiến tranh. Cải cách ruộng đất sẽ được ban hành để bảo vệ cho những nông dân làm thuê. Chia sẻ lợi nhuận và ngày làm việc 8 tiếng sẽ được quy định cho công nghiệp; công dân có quyền tự do.

        Quan điểm quốc tế của Kita thể hiện rằng, nước Anh - “Một người giàu đứng trên cả thế giới” và Nga - “Địa chủ lớn nhất của bán cầu phía bắc”, cần bị trục xuất bởi những quốc gia châu Á mà dẫn đầu là Nhật Bản. “Hàng triệu người anh em của chúng ta ở Trung Quốc và Ấn Độ không còn con đường nào khác để giành độc lập nếu không có sự hướng dẫn và bảo vệ của chúng ta”. Nhật Bản nên “Giương cao ngọn cờ của một quốc gia châu Á hàng đầu và giữ vị trí lãnh đạo trong liên đoàn thế giới”. Nhật Bản không hành động ngoài chủ nghĩa vị tha, tất nhiên: Một lý do cho cuộc đấu tranh này là với Nhật Bản, “Những vùng rộng lớn tương xứng để hỗ trợ cho dân số ở mức ít nhất là 244 triệu là hoàn toàn cần thiết trong một trăm năm kể từ bây giờ”. Ngay cả một số người cộng sản không quy phục cũng theo ý nghĩ tương tự: Nhật Bản có nhiệm vụ lãnh đạo “Một cuộc chiến cấp tiến đối với nhân dân châu Á” chống lại chủ nghĩa tư bản Anh và Mỹ.

        Những tư tưởng của Kita có thể được chỉ ra rõ ràng trong hai lời diễn đạt sau. Trong quân đội, Bè phái Con đường Đế quốc được chỉ huy bởi tướng Sadao Araki, người trở thành Bộ trưởng Chiến tranh vào năm 1931. Hoàng thân Konoye của gia đình Fujiwara đáng kính, sau đó trở thành Thủ tướng lắm thị phi, đã tranh luận vào những năm 1920 rằng Anh và Mỹ đang theo đuổi các chính sách để kiềm giữ “Những người nghèo”, chỉ trích Nhật Bản “Để duy trì mãi mãi sự lệ thuộc vào các nước phát triển hơn”. Ông kết luận, “Cần phải phá vỡ tình trạng này nhằm mục đích tự bảo toàn, giống như Đức”. Bè phái Con đường Đế quốc có ảnh hưởng lớn đến các sĩ quan cấp dưới. Nhiều người trung thành với cái trở thành học thuyết của cuộc khôi phục Showa: Sự tranh luận rằng, chỉ sau cuộc khôi phục Minh Trị, các Hoàng thân phong kiến, daimyo, đã phải giao lại ruộng đất của họ cho Nhật Hoàng, vì thế zaibatsu phải giao nộp sự giàu có của họ cho Nhật Hoàng. Tính phổ biến của những quan niệm này đã lan truyền từ tầng lớp samurai truyền thống cho đến sĩ quan quân đội và các tầng lớp mới rằng sắp xảy ra việc trưng thu tài sản.

        Quyền cơ bản (chủ trương bình đẳng xã hội, chủ nghĩa dân tộc, sự thống nhất của nhân dân Nhật Bản dưới bóng của Nhật Hoàng, lòng căm thù chủ nghĩa tư bản, dù trong nước hay nước ngoài, mong muốn lãnh đạo các dân tộc châu Á trong cuộc vận động chống lại phương Tây) đã trở thành lời kêu gọi quần chúng, nhất là những tầng lớp trong xã hội Nhật Bản đang chịu đựng sự tàn phá của công nghiệp hóa và sự khủng hoảng, rất nhiều trẻ em bị buộc phải nhập ngũ.

        Ở Nhật Bản, sự ràng buộc giữa tầng lớp kinh doanh lớn và các đảng phái chính trị là điều không tránh khỏi. Khi nền kinh tế Nhật Bản bùng nổ, những mối ràng buộc này có thể chấp nhận được. Các cuộc bầu cử được tài trợ bởi những món quà lớn từ các zaibatsu, và những nhà chính trị sẽ dùng các món hối lộ này để giúp họ chiến thắng. Từ đó, các zaibatsu sẽ thao túng các chính sách theo hướng có lợi cho hoạt động của mình.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:35:07 am

Chương 14

NUỐT SỐNG MANCHURIA

        Với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng tài chính đến và kết thúc sớm hơn những nơi khác. Vào năm 1927, một ngân hàng nhỏ bị phá sản; tiếp đó là 36 ngân hàng khác. Zaibatsu đã thôn tính nhiều nạn nhân không may. Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ sự thống trị hệ thống ngân hàng của các zaibatsu. Cụ thể hơn là việc mở rộng hệ thống tiền tệ ngay cả khi nó không được bảo đảm bởi sự phát triển kinh tế thực. Chính phủ Nakatsuki sụp đổ, và Tướng Giichi Tanaka thuộc đảng đối lập Seiyukai lên nắm quyền. Trong khi đó, thái độ thù địch và coi thường các zaibatsu không ngừng tăng lên, nhất là trong tầng lớp quân đội và giai cấp nông dân.

        Cuộc khủng hoảng diễn ra trùng với thách thức của Nhật Bản ở nước ngoài. Nhiều sĩ quan quân đội bị hoảng sợ khi chính phủ gần như không can thiệp vào Trung Quốc: Tuy nhiên, cùng năm ấy, lực lượng dân tộc Tưởng Giới Thạch đã nắm quyền chỉ huy tại thung lũng Yangtze và di chuyển lên phía bắc để củng cố việc chiếm giữ trên toàn đất nước. Lần đầu tiên, người Nhật lo sợ Trung Quốc có thể đe dọa lợi ích của họ tại Mãn Châu. Trong tình thế này, nhiều sĩ quan cho rằng nên thực hiện chính sách hòa giải của Shidehara. Chính sách đối ngoại yếu kém, sự mục nát, đời sống chính trị dân chủ, sự bóc lột và khủng hoảng kinh tế bắt đầu trở thành nỗi ám ảnh trong giới quân đội Nhật Bản: Phải làm một điều gì đó. Cuộc chiến ban đầu để giành quyền kiểm soát của Nhật Bản gắn liền với cuộc mưu sát tư lệnh trưởng người Mãn Châu, Chang Tso-lin.

        Chang là người trung thành được Nhật Bản bảo trợ. Ông là một chỉ huy quân đội ghê gớm và không tận tâm tại miền nam Mãn Châu từ năm 1920, cai quản thành phố phía nam của Mukden. Chang được người Nhật hỗ trợ và sẵn sàng hợp tác với Nhật Bản; ông cũng là người kiên quyết chống Nga. Tuy nhiên, ông lại thực sự tham vọng và muốn tiếp quản toàn Trung Quốc. Vào thời đó, chính phủ Nhật Bản đưa ông lên để làm bù nhìn của Mãn Châu, cùng lúc làm nản mục tiêu của ông đối với miền nam. Vì vậy, các nhà cố vấn người Nhật được đưa vào bộ máy quản lý của Chang, một mặt theo dõi và mặt khác hỗ trợ cho ông. Các đoàn quân Nhật sớm đánh trả Chang khi cuộc nổi loạn bị đe dọa. Là đồng minh, nên người Nhật sẽ bảo hộ Mãn Châu từ tháng 12 năm 1925. Với khoảng 100 ngàn người Nhật sinh sống không thể bảo vệ quyền lợi của Nhật Bản ở đó, cùng nhiều lợi ích thường mại đang bị đe dọa, lực lượng Nhật Bản, quân đội Kwantung, đã được đưa đến.

        Với những kềm chế như vậy, Chang vẫn thể hiện sự độc lập bằng cách lập hệ thống giáo dục kiểu Trung Quốc để tranh đua với Nhật Bản, cho phép các công ty Trung Quốc cạnh tranh với các công ty Nhật Bản, tiếp tục mục tiêu của mình đối với phần còn lại của Trung Quốc. Năm 1926, ông tự tin đến nỗi tiến quân từ Mãn Châu đánh chiếm thủ đô Bắc Kinh. Điều này đã cảnh báo người Nhật vì họ không bao giờ muốn đưa Trung Quốc vào cuộc nội chiến trong giai đoạn này và càng không muốn trở thành kẻ thù với tướng Tưởng Giới Thạch.

        Tướng Tanaka, Thủ tướng mới của Nhật Bản, cố gắng liên hệ trực tiếp với Chiang, hứa rằng lực lượng của ông sẽ nhanh chóng ngăn chặn Mãn Châu. Lực lượng của Chiang không ngừng tiến vào Bắc Kinh và Tanaka buộc phải đưa tối hậu thư thông báo răng bằng mọi giá, Nhật Bản sẽ chống lại bất kỳ sự xâm phạm nào đến Mãn Châu. Đồng thời, Chang cũng được lệnh phải rút quân khỏi Bắc Kinh trở về Mãn Châu, hoặc người Nhật sẽ chống lại ông. Sau đó, Nhật Bản thông báo với Chang răng ông không được phép đến miền nam lần nữa. Mục tiêu của họ rõ ràng là muốn giữ Mãn Châu và ngăn nó tham gia vào cuộc nội chiến Trung Quốc.

        Sau đó, tại đây đã diễn ra một sự kiện khó xử nhất trong lịch sử chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản. Khi viên tư lệnh từ Bắc Kinh đến Mukden, một quả bom được cài dưới chuyến tàu của ông theo lệnh của đại tá Daisaku Komoto, một viên sĩ quan lớn tuổi của quân đội Kwantung. Chang bị thương rất nặng và chết ngay sau đó. Lúc đầu Tưởng Giới Thạch bị tố cáo đã làm việc này. Sau đó, vụ nổ đã được giải thích một cách rộng rãi. Sự việc này là một ví dụ điển hình của quân đội Nhật Bản thường hành động một mình mà không tham khảo ý kiến của lãnh đạo cấp cao ở Tokyo, của chính phủ hay Nhật Hoàng.

        Nhật Hoàng Hirohito đã cai trị Nhật Bản được gần 6 năm. Ông vẫn được hỗ trợ bởi Hoàng thân Saionji, người rất ghét chủ nghĩa quân phiệt và đã sống lâu hơn đối thủ Yamagata của mình. Saionji thẳng thắn phê bình sự thiếu dũng cảm của Hirohito. Hoàng thân Kuni, cha vợ của Hirohito cũng nói với con gái mình, cũng là hoàng hậu, “Nhật Hoàng đương triều còn thiếu ý chí. Vì thế ngài cần sự trợ giúp của con. Hãy mạnh mẽ lên!”.

        Hirohito còn trẻ, bốc đồng. Nhật Hoàng cũng nhận định rằng việc mở rộng quân sự vào Mãn Châu sẽ gây ra đối kháng với người Trung Quốc và ông đã phản đối việc đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:35:34 am

        Thủ tướng Giichi Tanaka, được Nhật Hoàng triệu tập sau vụ ám sát và ông hứa sẽ có biện pháp đối với thủ phạm. Hirohito nói với ông rằng, “Bất kể Chang Tso-lin có như thế nào di nữa thì ông cũng là nhà cầm quyền được bồ nhiệm ở Mãn Châu. Việc quân đội nhúng tay vào vụ ám sát là hoàn toàn sai trái”. Tanaka đã chuẩn bị bản báo cáo đầy đủ về sự việc, mà thực ra đó là một bản minh oan. Hirohito rất giận dữ. Ông đã hỏi Thủ tướng “Điều này không có gì mâu thuẫn với những gì khanh đã nói với ta trước đây chứ?” Tanaka trả lời rằng ông có thể đưa ra một số lời giải thích cho điều đó. Sau đó, Nhật Hoàng đã nói một cách rõ ràng, “Ta không muốn nghe những lời giải thích của khanh”, rồi ông rời khỏi phòng. Thủ tướng ngay lập tức từ chức vì không còn lựa chọn nào khác trước sự lạnh nhạt của Hoàng thượng.

        Vài năm sau, Hirohito lấy làm tiếc vì sự giận dữ của mình. “Lúc đó tôi còn quá trẻ”. Hiến pháp Minh Tri đã quy định rằng Nhật Hoàng phải theo lời khuyên của Thủ tướng trong các vấn đề về chính trị. Hirohito đã xử sự như một chàng thanh niên nóng nảy, bất chấp hiến pháp ngăn cản ông. Giờ đây ông đã chế ngự được tính nóng nảy của mình bằng kinh nghiệm.

        Từ việc này, âm mưu của những người theo chủ nghĩa quân phiệt bị thất bại và phản tác dụng đối với lợi ích của Nhật Bản. Không phải quân đội Kwantung cũng không phải tướng lĩnh cấp cao Nhật Bản tạo nên sự thay đổi. Con trai của Chang, Chang Hsueh-Liang, đã tiếp quản quân đội của cha và nhanh chóng bắt đầu theo đuổi chính sách chống lại các lợi ích của Nhật Bản, đạt được thỏa thuận với Tưởng Giới Thạch vào tháng 12. Tại Trung Quốc đã xuất hiện sự tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. Người Nhật bị đặt vào thế phải phòng thủ và vào tháng 6 năm 1929, phải chính thức công nhận Tưởng Giới Thạch là người lãnh đạo hợp pháp của Trung Quốc.

        Trên hết, có vài khả năng mà Komoto đã hành động theo sự chỉ đạo bí mật từ chính phủ: Chang trở thành nhân vật gây lúng túng cho người Nhật và là sự cản trở cho những mối quan hệ bình thường với Trung Quốc; việc diệt trừ ông có thể giúp đạt thỏa thuận với Chiang. Nếu Komoto (người suýt bị đưa ra xét xử ở tòa án quân sự) đang hành động dưới sự chỉ đạo của chính phủ, có thể ông sẽ được giảm nhẹ tội. Trường hợp ngược lại, không những ông mà cả những người trong quân đội nóng nảy sẽ bị trách phạt.

        Lúc này, quân dội chính quy của quốc gia trở nên hùng mạnh hơn nhiều so với trước, bất ngờ thâu tóm các cơ hội để can thiệp và định hướng cho các công việc quốc gia đại sự của Nhật Bản. Nhất là khi quân đội nhìn thấy một vài thuộc địa của Nhật Bản có nguy cơ bị đe dọa bởi người Trung Quốc với sự giúp đỡ của chủ nghĩa Bônsêvíc của Nga cùng chủ nghĩa đế quốc Anh và Mỹ. Bản thân quân đội tin vào khả năng chiến thắng mọi cuộc chiến tranh mà nó đặt chân vào: Những chính trị gia đang chờ đợi điều gì?

        Tại Mãn Châu, nơi rất nhiều người Nhật sinh sống và nhiều lợi ích đang bị đe dọa, vào năm 1930, các nhà chính trị đã cho phép lập ra một bang chống Nhật Bản trung thành với Tưởng Giới Thạch - có lẽ đây là người đàn ông đã hất cẳng Nhật Bản ra. Quân đội được xem như những hậu duệ trực tiếp của thị tộc Choshu. Nó tiếp cận trực tiếp với Nhật Hoàng, vượt qua cả nội các và tự хеш như ở trên những quyết định của chính phủ. Nhật Hoàng là người trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của những nhà cố vấn “Theo tư tưởng chủ bại”; lòng trung thành với ông không bắt buộc phải trung thành với những ảnh hưởng thối nát quanh ngai vàng, như nhiều cuộc nổi loạn của samurai “Trung thành” trong quá khứ đã chứng minh. Sự thanh khiết của samurai Nhật Bản đang bị hủy hoại bởi những tác động của thành thị và thế giới.

        Quan điểm của một số sĩ quan quân đội cấp cao ôn hòa và một số người ủng hộ chủ nghĩa hợp hiến không chỉ bị ảnh hưởng bởi những sĩ quan nóng vội cấp dưới mà còn bởi nhiều thành viên cấp cao trong ban tham mưu. Những gì xảy ra trong vài năm tiếp theo thường được mô tả như những hành động của một số ít người quá khích. Tuy nhiên, tất cả những chứng cứ đều ám chỉ rằng ban tham mưu đã trực tiếp bị lôi kéo vào.

        Hai sự kiện đã phá vỡ những bó buộc còn tồn tại trong quân đội và những người theo chủ nghĩa dân tộc. Vào năm 1930, tại hội nghị giải trừ quân bị hải quân London, đoàn Nhật Bản trong đó có Bộ trưởng Hải quân, đã đồng ý giới hạn số lượng tàu chiến Nhật Bản ở Thái Bình Dương. Điều này ngay lập tức gặp sự tranh cãi trong ban chỉ huy hải quân. Thủ tướng Tanaka đã từ chức sau lời chỉ trích của Nhật Hoàng về thất bại trong việc ngăn chặn vụ ám sát Chang Tso-lin. Kế nhiệm ông là thủ lĩnh của phe đối lập, một ông già nóng nảy, Yuko Hamaguchi. Bộ trưởng Chiến tranh là tướng Ugaki ôn hòa, một trong số những người ủng hộ chủ nghĩa hợp hiến sau cùng. Chính phủ đã bị bại hoại vì quá thân cận với Mitsubishi. Ngoại trưởng Jinnosuke Inouye, là con rể của người đứng đầu gia đình đó, nhưng nổi tiếng là nhà kinh tế tài giỏi và lương thiện.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:35:50 am

        Hamaguchi, người đã từng giữ chức vụ Bộ trưởng Hải quân tại Tokyo, lập tức tán thành hiệp định London. Điều này cũng làm Inouye hài lòng vì ông đang muốn cắt giảm chi phí quân đội. Những người theo chủ nghĩa dân tộc bất bình cho rằng ông đã hành động trái với hiến pháp khi bỏ qua ý kiến của ban tham mưu hải quân (mặc dù chính Bộ trưởng Hải quân cũng đã đến hội nghị). Các sĩ quan quân đội cấp cao đã hoảng sự khi biết rằng dường như hải quân đang mất dần quyền lực tự trị trong việc ra quyết định chính trị vào tay các đại biểu dân thường.

        Sự trì trệ trên toàn thế giới đã đến. Nhật Bản đã nếm trải trước điều này vào năm 1927 và .kết quả là có một vị thế tốt hơn để đối mặt với nó so với đa số các nước khác trong thế giới công nghiệp. Sự khủng hoảng ảnh hưởng đến Nhật Bản thông qua ba lĩnh vực rất cụ thể: Đầu tiên, xuất khẩu của Nhật Bản giảm mạnh từ năm 1929 đến 1931. Thị trường tơ lụa ở Mỹ ế ẩm đã de dọa đến nhiều tá điền nhỏ và nhấn chìm phía bắc Nhật Bản vào cảnh nghèo đói và xa hơn, mùa gạo năm 1932 bị thất bát đã dẫn đến nạn đói lớn. Tá điền buộc phải bán con gái cho những nhà thổ để thoát khỏi cái đói. Đại diện tự phong của quần chúng ở nông thôn là những người theo chủ nghĩa dân tộc đại diện cho khát vọng của tầng lớp nông dân. Họ tố cáo sự ngược đãi của các quan chức địa phương và cả chính phủ.

        Thứ ba, cách tiếp cận hòa bình đối với tự do hóa thương mại và thương lượng giờ đây bị vạch ra như một điều giả dối: Khi các nước dựng lên những rào cản thương mại theo sau cuộc khủng hoảng, Nhật Bản không còn gì để đạt được khi tiếp tục chấp thuận hệ thống “Mở cửa” và “Hiệp ước cản”, những cái mà Nhật Bản luôn nghi ngờ rằng đó chính là những phương sách hèn hạ cho việc khai thác thuộc địa của các thế lực phương Tây. Từ đó về sau, chính sách của Nhật Bản là tạo ra một rào cản thương mại tự cung tự cấp và tống cổ những tên thực dân ra khỏi châu Á. Năm 1931, một nghị viên nổi tiếng lý luận răng, “Chiến tranh kinh tế” đang được lãnh đạo để tạo ra “Những rào cản kinh tế lớn”.

        Quân đội quyết định hành động. Nhật Hoàng phải được giải thoát khỏi những cố vấn mục nát của ông. 'Những người theo chủ nghĩa hành động trên ba mặt trận: Thông qua khủng bố trong nước, qua việc chuẩn bị cho một việc làm táo bạo nhằm đe dọa chính phủ thường dân phải khuất phục thực sự, và qua sự theo đuổi chính sách hung hăng, độc lập ở Mãn Châu.

        Rất khó thổi phồng sự sợ hãi mà Nhật Bản bị nhấn chìm vào đó bởi cơn lốc của những việc làm trong năm 1930. Tháng 11 năm 1930, Hamaguchi bị ám sát bởi một tên khủng bố ngay tại ga Tokyo, chín năm sau vụ ám sát Нага. Shidehara, người đang giữ chức Ngoại trưởng, lên làm Thủ tướng cho đến tháng 4 năm sau, khi Hamaguchi quay lại cương vị bất chấp những vết thương chưa lành. Hamaguchi cũng qua đời sau một thời gian ngắn.

        Chỉ vài tháng sau vụ ám sát, một nhóm sĩ quan quân đội bị phát hiện đang âm mưu đưa Bộ trưởng Chiến tranh, Tướng Ugaki, lên lãnh đạo chính phủ quân đội. Tháng 3 năm 1931, Ugaki biết được âm mưu (“Sự kiện tháng 3”) và đã tố giác. Những người âm mưu bao gồm tướng Kuniaki Koiso, sau đó trở thành Thủ tướng, và phó ban chỉ huy. Trong sự việc này, rất nhiều sĩ quan có liên quan và tất cả đều không bị trừng phạt.

        “Sự kiện tháng 10” xảy ra sau vài tháng: Âm mưu lần này là để quở trách toàn bộ nội các chính phủ và lập ra hội đồng tư vấn quân đội. Các sĩ quan cấp cao lại liên quan một lần nữa và chỉ bị phát giác khi một số cảm thấy sợ hãi. Những người cầm đầu bị bắt sau một hoặc hai ngày, sau đó bị tống ra khỏi thủ đô.

        Không nản lòng, những kẻ ám sát và âm mưu lại sớm hình thành. Đầu năm 1932, Inouye, nguyên Bộ trưởng Tài chính, có liên hệ với Mitsubishi và Baron Dan, lãnh đạo tập đoàn đối thủ, Mitsui, đã bị ám sát bởi những thành viên của một giáo phái cuồng tín cánh tả. Ngày 15-5, Thủ tướng 75 tuổi, Tsuyoshi Inukai, bị bắn chết ngay tại nơi ở bởi 9 sĩ quan trẻ. Những tên giết người bị tuyên án tù. Đầu năm 1934, âm mưu đánh bom nội các của người kế nhiệm Inukai, Đô đốc Saito và lập ra chính phủ do một hoàng tử không được nêu tên trong gia đình hoàng tộc đứng đầu bị phát hiện. Tháng 8 năm sau, quyền Bộ trưởng Chiến tranh, tướng Nagata, bị chết dưới lưỡi gươm của một đại tá. Tất cả những việc này đều phục vụ cho việc làm táo bạo nhất vào tháng 2 năm 1936.

        Những việc kinh hoàng và sự cuồng tín quân sự này cho thấy hoàn cảnh mà những nhà ra quyết định Nhật Bản chịu đựng từ năm 1930 trở về sau. Những tên sát nhân cánh tả được trợ giúp và tiếp tay bởi Bộ Nội vụ, quân đội, quan lại và tòa án. Sự dũng cảm của những người phát hiện ra cũng đáng được tuyên dương. Phải nói rằng, những kẻ cánh tả đã tiếp quản chính phủ vào đầu những năm 1930. Tuy nhiên, hiếm khi những kẻ sát nhân cuồng tín bị ảnh hưởng bởi ý kiến rằng sẽ trao quyền lực cho lực lượng vũ trang xem như là cách duy nhất để khuyên giải và chế ngự họ. Nhiều gương mặt quân đội đã bắt đầu tiếp nhận nhiệm vụ trong những năm 1930. Chắc chắn rằng nhiều sĩ quan quân đội cấp cao đã bắt tay với các nhóm quá khích để nuôi dưỡng những tên sát nhân và những người vạch kế hoạch cho các việc làm táo bạo.

        Như vậy, những hành động dứt khoát chống lại bọn chúng là gần như không thể. Ai sẽ ra lệnh cho những hành động này? Nội các thường dân sắp sụp đố hay chính quyền do quân đội thống trị chịu trách nhiệm? Ai sẽ phá bỏ nó? Bộ Nội vụ, cảnh sát, tòa án hay quân đội? Cánh tả, như đã thấy, đã bị diệt trừ một cách tàn nhẫn, trong khi đó sự đe dọa đến từ cánh hữu và sự phức tạp của những chính sách nội bộ quân đội vào thời đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:36:55 am

Chương 15

LIÊN MINH QUÂN ĐỘI - CÔNG NGHIỆP

        Khi Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất nổ ra, Nhật Bản tham gia rất ít, ngoại trừ với vai trò có lợi là nhà cung cấp vũ khí cho các nước Tây Âu. Điều này đã gây những cảm giác lẫn lộn trong các nước đồng minh của Nhật Bản là Anh và Pháp. Đô đốc Jellicoe, chỉ huy hải quân người Anh, đã chỉ trích một cách gay gắt rằng, “Ngoài việc bán súng và đạn được cho người Nga, chúng tôi, Nhật Bản không tham gia đầy đủ vào chiến tranh”.

        Ngoài ra, quân đội Nhật Bản hoàn toàn không biết quan niệm mới về “Chiến tranh tổng lực” có được nhờ kinh nghiệm chinh chiến ở châu Âu. Không tham chiến và không đổi mới chiến lược cùng trang thiết bị, quân đội Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Aritomo Yamagata đã suy sụp ngay trong cuộc tấn công xâm lược Mãn Châu.

        Ngay sau đó, điều tồi tệ tiếp tục xảy ra đến mức những người theo chủ nghĩa quân phiệt phải lo lắng: Dưới áp lực của cuộc khủng hoảng kinh tế, chi tiêu cho quốc phòng đã giảm nhanh từ gần 1/2 xuống còn khoảng 1/3 ngân sách từ năm 1921 đến năm 1923. Sự can thiệp của người Nhật trong cuộc nội chiến Nga để hỗ trợ cho quân Nga thắng tại Sibêri đã làm vấy bẩn hình ảnh của tầng lớp quân đội. Dân chúng đã nổi dậy khi lực lượng viễn chinh liên kết với tướng Von "Ungem-Stemberg, một “Nam tước tàn ác” lãnh đạo một trong các đội quân Nga, người đã hứa sẽ chia cắt nước Mông cổ rộng lớn, khôi phục đế chế Genghis Khan, và dựng con đường với những giá treo cổ từ Mông Cổ đến Trung Quốc. Ngoài ra, lực lượng của ông này còn treo cổ người Do Thái, chặt tay chân và thiêu những kẻ đào ngũ. Khi Hoàng thân Saionji tiếp quản quyền lực ở Tokyo, ông đã ủng hộ việc kết thúc cạnh tranh quân đội giữa các nước, tán thành các quy định của hiệp ước Versailles, quân đội cảm thấy thật có lỗi với chính bản thân mình và phẫn uất bực bội.

        Trong điều kiện không may mắn như vậy, quân đội bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai. Yamagata, mặc dù vẫn còn sống, cũng không còn đương nhiệm. Người kế nhiệm của ông, tướng Katsura, thì không được ngưỡng mộ và thiếu quyền hành. Một trong những vị tướng mới quan trọng nhất là tướng Ugaki, một Bộ trưởng Chiến tranh ôn hòa và thực tế, người đã lập ra “Cục trang bị” vào tháng 10 năm 1926. Mục tiêu nhằm cung cấp đạn được cho quân đội và chuẩn bị cho Nhật Bản sẵn sàng tham gia cuộc chiến khi có đầy đủ các nguồn lực. Được xem là lực lượng tiên phong của vương triều Nhật Bản, quân đội đã giận dữ khi các lợi ích công nghiệp được đặt lên hàng đầu và không ưu tiên cho việc sản xuất vũ khí đạn được.

        Trong suốt thời kỳ này, sự căng thẳng và cạnh tranh giữa lực lượng quân đội và khối công nghiệp lên đến đỉnh điểm. Quân đội Nhật Bản muốn hiện đại hóa và có khả năng khai thác các nguồn lực kinh tế của quốc gia để có thể tham gia chiến tranh trong nhiều năm. Người đứng đầu cục mới là Tetsugan Nagata, một sĩ quan tài giỏi. Vào năm 1928, chính ông là người đã xuất bản quyển sách định hướng trong suy nghĩ của giới quân đội Nhật Bản qua những thập kỷ tiếp theo. Tổng động viên toàn quốc gia, đã chỉ rõ cách huy động đến nguồn lực cuối cùng của quốc gia trong trường hợp có chiến tranh.

        Cùng lúc, “Cục nguồn lực”, một cơ quan chuyên phối hợp và lập kế hoạch (tương đương với ủy ban Bảo vệ Hoàng gia Anh quốc), cũng được thành lập. Một kế hoạch quốc gia trong trường hợp chiến tranh được lập ra. Vào năm 1929, một loạt các bài tập bắt đầu triển khai cho quân đội Nhật Bản kèm theo đó là các kinh nghiệm cần thiết về chiến tranh: Các phân xưởng sản xuất vũ khí hoạt động hết công suất; máy bay ném bom tập trận quanh vùng Osaka trong khi hỏa lực phòng không xé ngang trên nền trời.

        Tuy nhiên, kế hoạch của Nagata đòi hỏi sự cộng tác với lực lượng có thế lực nhất tại Nhật Bản: Những zaibatsu công nghiệp. Năm 1929, tướng Ugaki đã nói về tầm quan trọng của mối liên hệ giữa lực lượng quân đội và giới công nghiệp. Từ sự trợ giúp của các zaibatsu, đổi lại, quân đội sẽ chuẩn bị thâu tóm quyền lực tại các vùng rộng lớn. Một thỏa hiệp lịch sử đã diễn ra, trong đó tầm nhìn của quân đội là dùng lực lượng vũ trang để bảo vệ các nguồn nguyên liệu và thị trường để đền bù cho những tổn thất về thị trường nước ngoài và việc dựng lên hàng rào thuế quan trong suốt thời kỳ khủng hoảng. Điều này tỏ ra hấp dẫn với cả giới zaibatsu lẫn quan lại. Luật quản lý công nghiệp được soạn thảo nhằm hỗ trợ chính phủ hợp lý hóa một số ngành công nghiệp được xem là quan trọng đối với chiến tranh.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:37:22 am

        Thế là, lần đầu tiên giới quân sự bắt tay với zaibatsu, cả hai giờ đây đều có quyền lực hơn cả giới quan lại hay chính phủ. Các nhà công nghiệp đã nhận ra rằng sự xâm chiếm bằng quân đội là cần thiết để bảo đảm nguồn cung cấp và thị trường; lực lượng quân đội cho rằng giới công nghiệp cùng nền kinh tế sẽ là nền tảng vững chắc cho những kế hoạch chiến tranh.

        Vào lúc đó, nhóm thống trị trong quân đội đã bị những người đối lập đặt cho cái tên là “Nhóm Điều hành”. Nagata là trung tâm; xung quanh, ông đã lập ra một bộ máy không chính thức gọi là Issekikai. Bộ máy này gồm một sĩ quan trẻ Hideki Tôjô, sau này trở thành Thủ tướng thời chiến lừng danh nhất Nhật Bản; Tomoyuki Yamashita, “Con hổ của Malaysia”; Daisaku Komoto - người ám sát Chang Tso-lin và hai sĩ quan Kanji Ishiwara, Seishiro Itagaki - “Kiến trúc sư của sự kiện Mãn Châu”. Tất cả đều có ảnh hưởng và thế lực.

        Quan điểm của họ là đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và sau đó: Trong khi việc những sĩ quan trẻ nóng vội dẫn dắt những sĩ quan bậc đàn anh lạc lối có thể đúng vào thời điểm xảy ra Sự kiện Mãn Châu, rõ ràng không còn phù hợp vào cuối những năm 1930. Chỉ huy cấp cao được thông báo đầy đủ và biết rõ những hành động lớn của quân đội xảy ra sau năm 1936. Issekikai rất thân cận với chỉ huy cấp cao, nên thật khó tin rằng vụ ám sát Chang và Sự kiện Mãn Châu không có sự chuẩn y của những gương mặt cấp cao trong Bộ Chiến tranh.

        Hirohito và tầng lớp quan lại cũng không tin vào những sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, bất chấp chủ nghĩa cực đoan, họ vẫn không muốn chiến tranh với Trung Quốc, cảm thấy thỏa mãn với việc xâm chiếm Mãn Châu và muốn xâm lược vùng Sibêri giàu tài nguyên.

        Vì vậy, các sĩ quan trẻ là mối đe dọa thực sự đối với lợi ích của các lực lượng có quyền lực nhất ở Nhật Bản: các zaibatsu đang ngày càng lớn mạnh do thâu tóm các công ty nhỏ hơn; tầng lớp quan lại và hoàng gia; các tổ chức quân đội cấp cao (không đề cập đến hải quân). Nếu nhóm Con đường Đế quốc thắng thế, Nhật Bản có sẽ chiến tranh với Nga, không phải Trung Quốc, trong tình huống đó, Mỹ hay Anh khó có thể đến giúp Stalin. Hitler có thể quyết định mở mặt trận thứ hai ở phía Đông, thay vì tấn công nước Pháp, như vậy sẽ ngăn chặn được cuộc chiến Thái Bình Dương.

        Bị áp lực từ bên dưới và thái độ thù địch của các nhóm quyền lực nhất Nhật Bản, Araki đã ngã bệnh và buộc phải chấp nhận công việc cấp cao trên danh nghĩa, từ bỏ Bộ Chiến tranh cho tướng Senjuro Hayashi, người của Nhóm Điều hành. Sự cộng tác với zaibatsu trở lại, toàn bộ chương trình chiến tranh được đem ra bàn soạn, và mục tiêu của Nhật Bản thay đổi từ “Tấn công phía bắc” đối chọi với Nga thành “Tấn công phía nam” mở cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Một trung tá đã đột nhập vào văn phòng của Nagata vào ngày 15-8-1935 và bắn chết người đứng đầu quân đội Nhật Bản.

        Ngày 18-9-1931, “Sự kiện Mãn Châu” bắt đầu diễn ra. Đây không phải là hành động tự ý những người lập kế hoạch chủ chốt của quân đội Kwantung nắm rõ quan điểm. Seishiro Itagaki và Kanji Ishiwwara, từng cho rằng sự hiện diện của Nhật Bản ở Mãn Châu đang bị nguy hiểm. Thống chế trẻ, Chang Hsueh-Liang, giờ đây đã chính thức phục tùng Tưởng Giới Thạch và tuyên truyền tư tưởng chống Nhật Bản. Người Trung Quốc cạnh tranh với Nhật Bản vì những lợi ích thương mại và đã thắng lợi. Của cải, nguyên vật liệu và lãnh thổ của Mãn Châu có nguy cơ bị đánh mất nhất bởi những việc làm thận trọng của Shidehara ở Bộ Ngoại giao.

        Suốt mùa hè, những kế hoạch cho chiến dịch đã được phác thảo để tham khảo ý kiến của ban chỉ huy tại Tokyo. Những gương mặt quân đội cấp cao không thể không biết gì về sự chuẩn bị này. Đầu tháng 9, một số chứng cứ cho thấy các nhân viên Nhật Bản ở Mãn Châu cũng như giới chính phủ đang lan truyền tin đồn về sự chuẩn bị quân sự. Thủ tướng Wakatsuki và Ngoại trưởng Shidehara, đều kịch liệt phản đối Bộ trưởng Chiến tranh mới, Tướng Minami cùng Nhật Hoàng. Theo ý kiến của Hoàng thân Saionji, Hirohito đã mời Minami đến và nói thẳng rằng quân đội phải thận trọng.

        Do đó, Minami đã gửi thư cho chỉ huy của quân đội Kwantung yêu cầu từ bỏ các kế hoạch có hành động trực tiếp chống lại người Trung Quốc. Đại tướng Yoshitsugu Tategawa được lệnh đem thông điệp đi. Tuy nhiên, ông đã vướng vào Sự kiện tháng 3 và có quan hệ thân cận với quân đội của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Thay vì đi máy bay, ông đã di chuyển bằng tàu đến Triều Tiên và sau đó đi tàu lửa đến Mukden. Tại đó, ông đã gặp gỡ một người bạn cũng có liên quan đến Sự kiện tháng 3, sau đó hai người đi uống rượu, lá thư vẫn còn bên mình ông.

        Cùng đêm đó, sự kiện Mãn Châu bắt đầu. Chỉ huy quân đội Kwantung, Shigeru Honjo, cho rằng người Trung Quốc đã đánh bom trên tuyến đường sắt Nam Mãn Châu phía bắc của Mukden. Thật ra, người Nhật đã tổ chức một cuộc tấn công trên diện rộng nhằm vào quân Trung Quốc ở Mukden. Trong vòng vài giờ, thành phố đã bị chiếm sau trận chiến ác liệt. Honjo đang đưa quân tiếp viện đến Mukden và yêu cầu quân đội Nhật Bản tại Triều Tiên gửi thêm quân. Cuối cùng, tướng Tategawa cũng chuyển thư đến.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:37:51 am

        Ngày 20-9, Bộ trưởng Chiến tranh đã đến gặp Nhật Hoàng để chuẩn y việc chiếm đóng Mãn Châu và đàn áp cuộc đấu tranh của người Trung Quốc tại đó. Đến cuối năm, gần như toàn bộ lãnh thổ Mãn Châu đã thuộc quyền cai trị của người Nhật: Chang Hsueh-Liang chạy trốn về phía nam Trung Quốc, cuộc xâm lược nước Nga đã không thực hiện được. Sau này, người dưới quyền của Hoàng thân Saionji đã phàn nàn rằng, “Từ đầu đến cuối, chính phủ hoàn toàn bị quân đội lừa bịp”.

        Khi viết tiểu sử về Hirohito, Kawahata đã vẽ một hình ảnh cảm động về Nhật Hoàng vào thời điểm đó:

        Trong suốt tliời gian này, tùy viên quân sự của Hirohito chỉ bước vào phòng của Nhật Hoàng một lần khi ông nghe thấy lời độc thoại buồn bã từ sau cánh cửa. “Một lần nữa, một lần nữa... Họ lại làm một lần nữa. Một lần nữa quân đội đã đi và làm chuyện ngớ ngẩn, và đó là hậu quả! Không phải chỉ đơn giản là trao Mãn Châu trở về cho Chang Hsueh-Liang hay sao?”. Viên tùy tùng rời khỏi với hình ảnh về Hoàng đế đang băn khoăn, cô độc trong căn phòng và lẩm bẩm một mình. Thật ra, đó là thói quen đi lại trong phòng, nói chuyện một mình khi ông gặp bế tắc hoặc lo lắng về điều gì đó”.

        Tất cả các sự kiện đã đưa ra một kết luận rằng, việc chiếm đóng hoàn toàn là âm mưu của các sĩ quan với sự chấp thuận và thông đồng của chỉ huy quân đội cấp cao, đứng đầu là Bộ trưởng Chiến tranh, Tướng Minami: Sự cố của người đưa thư; lập kế hoạch tấn công, chuẩn bị quân tiếp viện, xác nhận của lãnh đạo quân đội tại Tokyo, tất cả đều là sự thông đồng từ trên xuống dưới. Tất nhiên cũng không thể nghi ngờ sự phản đối của Thủ tướng, Ngoại trưởng và Nhật Hoàng đối với việc này.

        Hậu quả của cuộc chiếm đóng Mãn Châu nhanh chóng xuất hiện. Tháng 2 năm 1933, ủy ban Lytton đã điều tra nguyên nhân của sự kiện Mãn Châu một cách thận trọng nhưng kiên quyết chỉ trích Nhật Bản, Đại hội đồng Liên hiệp các quốc gia lên án Nhật Bản với 42 phiếu thuận so với 1 phiếu trống (của Nhật Bản). Phái đoàn Nhật Bản nhanh chóng rời hội nghị. Mãn Châu được đổi tên thành Manchukuo và vị Hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc - Phổ Nghi - được quyền cai quản. Phổ Nghi bị các chỉ huy của quân đội Kwantung, người thực sự nắm quyền hành đối với Mãn Châu, coi như một con rối và bị làm bẽ mặt khi ông một mình đến thăm Tokyo năm 1935. Ông bị tách ra khỏi gia đình và đối xử như một cấp dưới của Hirohito. “Cung” của ông là một nơi đổi muối cũ kỹ.

        Trên bình diện quốc tế, Nhật Bản bị đối xử với thái độ nghi ngờ. Cùng với việc rút khỏi Liên hiệp, quân đội Nhật Bản đã tiến lên các tỉnh Jehol và Hopei với lý do bảo vệ Mãn Châu. Ngày càng lo lắng về chiều hướng này, năm 1932, Hirohito đã yêu cầu Tsuyoshi Inukai, vị Thủ tướng 75 tuổi, bí mật liên lạc với Trung Quốc. Tuy nhiên quân đội đã biết được sự sắp xếp này thông qua viên thư ký nội các.

        Được sự đồng ý của Hirohito, Makato Inukai chuẩn bị một chiếu lệnh hoàng gia để kềm chế lực lượng quân đội tại Mãn Châu và Trung Quốc. Điều đáng lo sợ là một chiếu lệnh như vậy có thể dẫn đến sự nổi dậy của nhiều sĩ quan trẻ trong các doanh trại tại đó; nhiều quan chức miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh trong khi ngay cả Hoàng thân ôn hòa Saionji cũng sợ rằng Nhật Hoàng sẽ bị giảm sự tín nhiệm. Tuy nhiên, Inukai đã bị 9 sĩ quan quân đội và hải quân bắn chết vào ngày 15-5-1932. Từ đó, Hirohito không bao giờ có ý định công bố chiếu lệnh nữa.

        Đô đốc Makato Saito, người kế nhiệm Inukai, là Thủ tướng đầu tiên tin rằng quân đội nên được tiếp thêm sức mạnh hơn là ngăn cản họ. “Mọi việc đều sẽ ổn thôi” Saito nói ngắn gọn sau khi bước vào nhiệm sở, “Chúng ta - những người già đã ở đây quá lâu như một cái phanh hãm”. Tuy nhiên, mục tiêu mà hoàng gia Nhật Bản đang mở rộng hợp tác với mong muốn của quân đội đã bộc lộ vào tháng Mười Hai năm 1934, khi một bản ghi nhớ được quân đội, hải quân, Bộ Ngoại giao soạn thảo gửi cho nội các. Bản ghi nhớ này chỉ rõ phải chiếm lấy Trung Quốc song song với Mãn Châu, xem Nhật Bản như là “Hạt nhân”. Không can thiệp vào công việc nội bộ Trung Quốc, theo tài liệu này, Nhật Bản phải “Khai thác cuộc đấu tranh từ bên trong” để xóa bỏ thái độ chống Nhật Bản của Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch bị buộc phải bổ nhiệm một số người thân Nhật vào các cơ quan trong chính phủ.

        Một năm sau, các tỉnh biên giới của Trung Quốc tiếp giáp với Mãn Châu bị Nhật Bản thôn tính dưới sự lãnh dạo của chính phủ vùng tự trị - Hội đồng chính trị Hopei- Chahar. Đế chế Nhật Bản đã phát triển lớn hơn một chút vì những lý do “Phòng thủ”. Người Nhật biện hộ cho sự bành trướng của họ bằng cách cho rằng không có một chính quyền nào có thể thừa nhận tại Trung Quốc. Việc xâm chiếm Trung Quốc đã được những người lãnh đạo cao nhất của chính phủ chuẩn y, mặc dù miễn cưỡng nhưng Nhật Hoàng cũng đồng ý. Dường như Hirohito đang ở thế đơn độc trong việc cố gắng chống lại bè lũ quân phiệt: Tầng lớp quan lại và các thành viên hoàng gia đều bỏ mặc cho sự bành trướng của đế chế Nhật Bản và sự phát triển của chủ nghĩa cực đoan trong tình hình chính trị của chính Nhật Bản.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 11:58:39 am

Chương 16

MÁU RƠI TRÊN TUYẾT

        Suốt những giờ đầu tiên trong buổi sáng ngày 26-2- 1936, một trận tuyết rơi dày bao kín những bức tường của cung điện hoàng gia. Khung cảnh thật hiu quạnh và yên tĩnh, chỉ có vài người hay xe cộ trên đường. Nhiều thành viên của triều đình còn đang say giấc. Hai gương mặt cấp cao, viên thị thần Kantaro Suzuki, và quan giữ ấn nhỏ, Đô đốc Saito đang tham dự buổi tiệc tối tại tòa đại sứ Mỹ, sau đó họ ở lại thêm chút nữa để xem bộ phim Naughty Marietta.

        Tại bữa ăn tối, họ đã thảo luận về kết quả bầu cử quốc hội diễn ra năm ngày trước. Đây là những điều đáng chú ý. Trước chiến tranh Thái Bình Dương, lượng cử tri hạn chế của Nhật Bản đã bày tỏ sự chọn lựa của họ. Minseito chiến thắng với 205 ghế so với 174 ghế của Seiyukai; những đảng nhỏ hơn chiếm một số ghế còn lại. Nếu người dân Nhật Bản chiếm những ghế này, có lẽ sẽ không xảy ra chiến tranh Thái Bình Dương; tuy nhiên ảnh hưởng của họ rất yếu.

        Khoảng 2 giờ sáng, tại doanh trại vệ sĩ gần hoàng cung, thành viên của sư đoàn quân đội thứ nhất và trung đoàn thứ ba của lực lượng bảo vệ hoàng gia được triệu tập đến. Bốn sĩ quan đang làm nhiệm vụ: Đại úy Teruzo Ando, đại úy Shiro Nonaka, trung úy Yasuhide Kurihara và đại úy Ichitaro Yamaguchi. Ando là người chỉ huy trung đoàn bộ binh thứ ba ngày hôm đó và Yamaguchi chịu trách nhiệm về trung đoàn bộ binh thứ nhất. Các chỉ huy trung đoàn đã về nhà vào buổi tối.

        Phần lớn sư đoàn quân đội thứ nhất đang bất mãn với cánh tả và cả sư đoàn được lệnh chuyển đến Mãn Châu vào tháng 4, để giảm bớt các nguy hiểm từ khu vực này. Đa số binh sĩ đều xuất thân từ thành phần nghèo, con trai của các tá điền mới tham gia vào quân đội. Họ được huấn luyện các kỹ năng cơ bản, được dạy rằng phải chấp hành mệnh lệnh của cấp trên như thể họ đang tuân theo Hoàng đế. Binh lính được ra lệnh phải đến lăng Yasukuni hoặc đến buổi diễn tập đêm. Những thanh niên thất học đã làm theo mệnh lệnh. Gần 1.300 người tụ tập ở các điểm khác nhau xung quanh hoàng cung.

        Vào 4 giờ sáng, trong màn đêm bao trùm, binh lính được chia thành chín đội và bắt tay vào kế hoạch ám sát. Một nhóm đến nơi ở của Bộ trưởng Chiến tranh - tướng Yoshiyuko Kawashima. Họ bị viên sĩ quan bảo vệ chặn lại, anh ta cho biết vị tướng đang bị cảm lạnh. Các sĩ quan trẻ xông thẳng vào phòng ngủ và đọc cho ông nghe bản tuyên ngôn của họ, được gọi là Mục tiêu vĩ đại: “Với lòng tôn kính, chúng tôi thấy rằng nền tảng cho tính thần thánh của đất nước chúng ta nằm ở chỗ quốc gia được dự định sẽ mở rộng dưới Uy quyền Đế quốc cho đến khi nó ôm trọn cả thế giới... Đây là lúc bành trướng và phát triển về mọi phía..”.

        Nhiều người cho rằng Kawashima đã biết trước âm mưu và hỗ trợ nó. Kawashima đã không kháng cự và không công khai đối chọi với âm mưu. Ông trỏ thành một dạng con tin và người hòa giải cho bên nổi loạn.

        Nhóm quân nổi loạn thứ hai đã chiếm trạm cảnh sát trên con đường đến hoàng cung, buộc cảnh sát đang làm nhiệm vụ phải đầu hàng. Nhóm thứ ba đến nơi ở của Đô đốc Suzuki. Ông tỉnh dậy khi có tiếng động và cố chộp lấy thanh gươm, “ông có phải là ngài Suzuki?”. Một binh lính hỏi. Suzuki hỏi lại tại sao họ đến đây.

        Viên trung úy trả lời: “Không có thời gian. Chúng tôi sẽ bắn”. “Đến đây và bắn đi”, Suzuki nói một cách cáu gắt. Ba sĩ quan đã bắn ông, sau đó một người bước đến cho phát súng kết liễu.

        Vợ ông gào lên: “Không được, tôi sẽ làm việc đó!” Họ dừng lại. Sau đó, họ quỳ xuống trước thi thể và cúi chào.

        Đại úy Ando nói với bà Suzuki, “Tôi thành thật xin lỗi về điều này. Tuy nhiên quan điểm của chúng tôi khác với ông nhà, vì vậy chúng tôi buộc phải làm như vậy”. Thật oan nghiệt, Suzuki được cứu sống để trở thành người chịu trách nhiệm về sự đầu hàng của Nhật Bản vào năm 1945.

        Đội quân 300 người khỏe mạnh bao quanh nơi ở của Thủ tướng, giết chết 4 cảnh sát ngay tại cổng. Thủ tướng, Đô đốc Keisuke Okada, trốn vào kho thực phẩm bị bỏ hoang trong khi anh rể của ông, đại tá Matsuo, cố gắng gọi giúp đỡ, sau đó trốn thoát khỏi ngôi nhà. Ông bị binh lính bắt giữ, hiểu lầm là Thủ tướng, bị bắt đứng quay mặt vào tường và bị bắn. Okada ra khỏi nơi ẩn náu và được hai người hầu giấu trong cái tủ bên dưới đống quần áo. Một biệt đội khác của quân phiến loạn đến nhà Ngoại trưởng, tỏ ra ngạc nhiên khi ông đang ngủ trên giường. Họ bắn ba phát, sau đó dùng gươm chém vào người ông.

        Khoảng 200 binh lính bao vây nhà quan giữ ấn nhỏ, Saito. Ông bị bắn trong khi người vợ quẫn trí đang cố dùng thân mình để bảo vệ chồng. Tướng Watanabe, thanh tra huấn luyện quân đội, cũng bị bắn chết tại nhà và bị cắt đứt cổ họng. Bên ngoài Tokyo, quan giữ ấn nhỏ trước đây đã thoát khỏi vụ ám sát khi cháu nội gái báo cho ông biết và dẫn ông leo lên đồi trong đêm tối, bỏ lại những người đuổi theo sau bên dưới. Saionji, người cũng có tên trong danh sách loại trừ, đã tẩu thoát từ trước và trốn trong nhà của cảnh sát trưởng địa phương.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 11:59:07 am

        Nửa giờ sau, Nhật Hoàng bị đánh thức khi nghe về sự tàn sát. Trưởng phụ tá quân sự, tướng Shigeru Honjo đã chứng kiến sự nổi giận hiếm thấy ở ông. Khi Bộ trưởng Chiến tranh, tướng Kawashima, đến hoàng cung, ông được hộ tống bởi nhóm quân phiến loạn bao quanh các cổng. Ông nói với Hirohito, “Tư cách của những sĩ quan này thật đáng hổ thẹn! Nó phát sinh từ sự tận tâm chân thành của họ đối với Bệ hạ và quốc gia. Hy vọng Bệ hạ sẽ hiểu được tình cảm của họ!”. Ông nhất định đọc bản tuyên ngôn của quân phiến loạn cho Nhật Hoàng nghe.

        Hirohito tỏ ra giận dữ: “Họ đã sát hại những cố vấn thân cận của chúng ta. Điều gì có thể bào chữa cho sự tàn ác này, bất kể động cơ là gì đi nữa? Chúng ta cần phải đàn áp quân phiến loạn ngay lập tức”. Honjo đã đề nghị Nhật Hoàng xem lại từ “quân phiến loạn”. “Binh lính hành động không theo mệnh lệnh của chúng ta thì không phải là quân ta. Họ là quân phiến loạn” - Nhật Hoàng bẻ lại. Khi biết chắc Thủ tướng đã bị sát hại, Nhật Hoàng đã bổ nhiệm Bộ trưởng Nội vụ diều hành chính phủ và chấp thuận sự nhường quyền của nội các. Khi tướng Kawashima từ chức, ông đã viết thư cho Nhật Hoàng với ngụ ý ông không biết gì về âm mưư đó. Hirohito tức giận nói: “Bộ trưởng Chiến tranh có ý định viết lá thư này để xin miễn tội? Chính suy nghĩ này đã làm quân đội trở nên tồi tệ!”.

        Trong khi đó, con rể của Okada tìm cách đến hoàng cung để báo cho Nhật Hoàng biết rằng, Thủ tướng vẫn còn sống và đang ẩn nấp. Hirohito tỏ ra vui mừng. Ông đã yêu cầu Kawashima phải “kết thúc việc này càng sớm càng tốt”.

        Mặc dù bộ phận lãnh đạo quân đội cấp cao tỏ ra không biết gì về những việc làm táo bạo này, nhưng sự phản động của họ đã tiếp tay cho điều đó. Kawashima đưa ra một tuyên bố: “Những động cơ đằng sau cuộc nổi loạn đã được làm sáng tỏ cho Nhật Hoàng. Chúng tôi biết hành động của các bạn là biểu hiện lòng trung thành đối với quốc gia”. Đến tối, quân phiến loạn rất hân hoan trước những phản hồi từ mệnh lệnh cấp cao. Các tướng cấp cao không chống lại họ và chấp nhận tình hình; điều này rất quan trọng, vì họ cần giữ vị trí cho đến khi một chính phủ quân đội tiếp quản.

        Hirohito - người cả ngày cằn nhằn tướng Honjo - đã tỏ ra sợ hãi trước mệnh lệnh quân đội cấp cao khi vô tình nói rằng Tokyo bị thay thế dưới quyền hạn của Sư đoàn thứ nhất. Honjo - người có thể liên quan trong việc này, đã không báo cho Nhật Hoàng biết về việc không có hành động nào kiềm chế quân phiến loạn.

        Sáng hôm sau, trung tướng Kashii - người tán thành cuộc nổi loạn, đã công bố điều lệnh quân sự. Ông nhấn mạnh rằng, “Tất cả các đội quân chiếm đóng phải quay trở lại đơn vị chính. Đây là mệnh lệnh của Hoàng thượng”. Không đủ kiên nhẫn, Hirohito đã triệu tập cuộc họp với các hoàng tử. Ông nghi ngờ là ít nhất một người có liên hệ với những kẻ bày mưu, người này cũng sẽ không ngần ngại truất phế hoặc có thể giết ông và lập người kế vị mới. Ông chỉ thẳng vào người em trai, hoàng tử Chichibu, chỉ huy sư đoàn thứ tám tại Hirosaki, cách Tokyo gần 1.600km về phía bắc.

        Chichibu đã đối xử tốt với đại úy Ando, và cả hai đều ngưỡng mộ lời chỉ trích kịch liệt phe cánh tả của Ikki Kita, Kế hoạch chấn hưng Nhật Bản. Tin Chichibu đến Tokyo khiến những người hầu cận của Nhật Hoàng không yên lòng. Giáo sư Hiraizumi, một người thuộc cánh tả nhưng là nhà lý luận trung thành của đại học Tokyo, được cử đến gặp hoàng tử tại ga Minakami. Ông đã đi cùng hoàng tử đến ga Ueno, nơi hai xe tải chở đầy cận vệ hoàng gia đang đợi để bảo đảm rằng ông không có cơ hội nói chuyện với người chỉ huy quân phiến loạn. Không có sự tiếp xúc nào trong suốt chặng đường đến hoàng cung, khi gặp anh trai vào cuối bữa ăn, ông đã quả quyết rằng mình không hề có liên quan đến âm mưu đó. Có ý kiến cho rằng, hoàng tử đã thay đổi ý định khi nghe về tội giết người, một giải thích khác là ông nhận thấy Hirohito vẫn còn đủ sức mạnh để thắng thế. Sau hôm đó, Nhật Hoàng đã gặp các thành viên khác trong gia đình hoàng tộc, yêu cầu mọi người cam kết trung thành.

        Trong khi đó, Honjo liều lĩnh vẫn tiếp tục bào chữa cho động cơ của quân phiến loạn. Ông nói những người nổi dậy “không nhất thiết phải bị trừng phạt... bởi lẽ họ muốn tốt cho đất nước”.

        Hirohito giận dữ đáp lại: “Làm sao chúng ta không thể trừng phạt khi mà những tên sĩ quan tàn ác ấy đã giết chết cận thần của ta. Bây giờ ai sẽ là trung thần của ta? Họ giết những người mà ta tin tưởng nhất, cũng giống như giết chết chính ta”. Theo lệnh Nhật Hoàng, khoảng 25 ngàn quân bao vây xung quanh quân phiến loạn cùng với súng máy và xe tăng trong tư thế sẵn sàng. Hạm đội thứ nhất đã tập kết tại vịnh Tokyo với pháo nhắm vào vị trí quân phiến loạn.

        Đến sáng ngày thứ ba, quân phiến loạn đã mất hết nhuệ khí. Trước lực lượng được dàn ra để chống lại họ và không thể làm xiêu lòng Nhật Hoàng, quân phiến loạn nhận ra mình không còn đường thoát. Qua trung gian, một người cầm đầu mong muốn triều đình cử sứ giả đến để chứng kiến sự tự sát theo nghi lễ của họ. Honjo kể lại: “Bệ hạ thực sự tức giận. Ông nói răng nếu muốn tự sát, họ nên làm việc đó. Nếu chỉ huy sư đoàn không làm gì trước sự kiện này, ông cũng không biết trách nhiệm của mình nằm ở đâu. Tôi chưa bao giờ thấy Bệ hạ nghiêm khắc đến như vậy. Ông đã ra nghiêm lệnh rằng quân phiến loạn phải bị dẹp trừ bằng bất cứ giá nào”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 11:59:48 am

        Tờ rơi được rải xuống vị trí của quân phiến loạn, ghi rõ ràng: “Hãy trở lại đơn vị trước khi quá muộn. Tất cả những ai kháng cự đều là phiến loạn và sẽ bị bắn. Gia đình sẽ khóc khi thấy các người trở thành kẻ phản bội đất nước”. Phát thanh viên nổi tiếng nhất Nhật Bản, Shigeru Nakamura, nhấn mạnh thông điệp: “Các người hãy tin rằng, những mệnh lệnh từ cấp trên là đúng và đáng để tuyệt đối tuân lệnh. Động cơ của các người là ngay thật, tuy nhiên, Bệ hạ ra lệnh cho tất cả mọi người phải trở về đơn vị. Ai không tuân theo Hoàng thượng, sẽ là kẻ phản bội đất nước. Hãy bỏ vũ khí xuống và trở về doanh trại trước khi quá muộn. Như vậy, các người sẽ được ân xá”.

        Xe tăng rầm rầm tiến trên đường. Từng đoàn quân phiến loạn bắt đầu rời khỏi. Đại úy Nonaka, người lớn tuổi nhất đã tự sát bằng súng. Ando cũng cố tự kết liễu, trong khi các sĩ quan khác đầu hàng, họ tin mình sẽ được khoan hồng. Thật ra, những kẻ chủ mưu chính đã chấp hành mệnh lệnh của Nhật Hoàng.

        Nghị lực vững vàng của Hirohito đã góp công lớn vào việc phá vỡ âm mưu. Những ngày sau đó, sự phân nhánh ngày càng rõ ràng hơn: hoàng tử Chichibu có liên quan. Thư ký của Nhật Hoàng, Marquis Kido, đã một mình chống lại âm mưu từ trước, nhưng ông không thông báo cho Nhật Hoàng những gì mình biết. Kawashima và Honjo đều có dính líu. Một cuộc cải tổ lớn trong hàng ngũ cấp cao của quân đội đã diễn ra. Mấy ngàn sĩ quan không thích hợp đã bị khai trừ.

        Sau sự kiện tháng 2, Nhóm Điều hành lên nắm quyền. Một cuộc thanh lọc lớn diễn ra trong quân đội nhằm đưa nó thoát khỏi nhóm Con đường Đế quốc. Bộ trưởng Chiến tranh được trao quyền chỉ định, thăng chức và đày ải các sĩ quan trong quân đội. Từ đây trở về sau, các bộ trưởng quân đội được lựa chọn từ hàng ngũ các tướng lĩnh đang hoạt động. Điều này nhằm ngăn không cho chính phủ chọn các tướng đã về hưu, những người không đồng tình với suy nghĩ của quân đội hiện tại đảm đương công việc. Quân đội không được quá tập trung. Bộ trưởng quân đội thứ nhất sau vụ việc là Hisaichi Terauchi, một người đàn ông cứng rắn. Ngay lập tức, ông đã đề ra ba nhiệm vụ của quân đội là: tôn trọng kỷ luật, bảo vệ quốc gia và cải tổ sự quản lý. Mục tiêu chính của nhiệm vụ cuối cùng là tạo ra nhiều tiền nhằm phục vụ cho sự bành trướng của quân đội.

        Thủ tướng mới, Koki Hirota, nguyên là Ngoại trưởng và người được chỉ định của Hoàng thân Saionji. Khi thành lập nội các, ông thấy Terauchi thực hiện quyền phủ quyết trong mỗi đề bạt của ông. Hirota nói với người bạn: “Quân đội giống như con ngựa bất kham, chưa được thuần phục. Nếu cố gắng ngăn cản, bạn sẽ bị nó đá chết. Hy vọng duy nhất là nhảy lên lưng ngựa và cố gắng khống chế nó. Một người nào đó phải làm điều này. Người đó chính là tôi”. Tuy nhiên, ông cũng đã phải từ chức sau một vài tháng.

        Saionji cố đưa một trong số các tướng theo chủ nghĩa hợp hiến của Nhật Bản - Ugaki - lên làm Thủ tướng. Kempeitai, nhóm cảnh sát tàn ác, đã chặn xe của Ugaki lại khi ông đang trên đường đến gặp Nhật Hoàng và đe dọa. Ugaki thúc giục, tuy nhiên quân đội từ chối chỉ định Bộ trưởng Chiến tranh. Một trong những người bạn thân của Terauchi được đưa lên nắm quyền: Đó là Tướng Senjuro Hayashi, một người cứng rắn nhưng không có khả năng về chính trị, vì ông mà cả hai đảng chính trở nên đối lập. Đối mặt với sự đối lập nhau tại Quốc hội, ông đã từ chức sau vài tháng. Đây là một thất bại của quân đội: Nếu người dân không có ứng viên mà họ ưa thích, ít nhất họ cũng sẽ cản trở sự lộng quyền quân sự.

        Một sự thỏa hiệp là cần thiết: Đó chính là hoàng tử Fumimaro Konoye, chắc chắn đây là một trong những lựa chọn không thích hợp lắm đối với quốc gia đang ở vào cuộc khủng hoảng. Theo quan điểm của quân đội, Konoye là một người theo chủ nghĩa dân tộc và không có sự hỗ trợ trong quốc hội. Có họ hàng với Nhật Hoàng và xuất thân từ gia tộc lâu đời nhất Nhật Bản - dòng họ Fujiwaras - ông có vai trò đáng kể tại triều đình. Tuy vậy, quan niệm của ông nông cạn và thiếu nền tảng quyền lực: Đầu tiên, ông chỉ đơn thuần là người có ích cho quyền lực của quân đội. Sau đó, ông có được sự dũng cảm và kinh nghiệm. Ông đối xử với Nhật Hoàng như người bạn thân. Ông cao ráo, đẹp trai và là người thích phụ nữ.

        Ngài Robert Craigie, đại sứ Anh tại Nhật Bản vào năm 1937, đã miêu tả Konoye như sau:

        Konoye là một người lạnh lùng, thiếu nghị lực và thiếu quyết đoán, bình tĩnh và không bối rối trong mọi hoàn cảnh. Đôi mắt là phần đẹp nhất trên gương mặt, thể hiện sự thông minh và sự nhạy bén về chính trị. Đôi khi, ông cần có hành động như một bậc kỳ tài. Những hành động trong việc quản lý nhà nước rất ấn tượng, tuy nhiên ông lại thiếu sự cứng rắn của một người lãnh đạo. Ông đã thất bại trong việc dùng vị trí cá nhân để kiềm chế những người quả khích. Những người bạn Nhật Bản hoàn toàn bị cản trở bởi nhiều hành động của ông. Họ tự hỏi liệu ông có thực sự đứng về phía những gì mà ông được xem là đại diện hay không.

        Với sự thâu tóm quyền lực của Nhóm Điều hành, quyết tâm với mục tiêu thôn tính Trung Quốc và được hỗ trợ bởi các zaibatsu lớn, các sự việc tiến triển nhanh chóng. Bản tuyên bố các nguyên tắc được soạn thảo, được xem là nền tảng của chính sách quốc gia. Bản tuyên bố này yêu cầu Nhật phải “Loại bỏ các chính sách quyền lực hung tàn ở Đông Á” và thay bằng “Những mối quan hệ thân ái... dựa trên nguyên tắc cùng tồn tại và cùng thịnh vượng”. Sự mở rộng về kinh tế chỉ có thể hoàn thành bằng cách lập ra liên minh hùng mạnh giữa Nhật Bản, Mãn Châu và Trung Quốc.

        Trong khi đó, quan điểm của bè phái Con đường Đế quốc là thúc đẩy chiến tranh chống lại Liên Xô đang bị nghi ngờ, quân đội nhận ra rằng: phải điều quân ở Triều Tiên và Mãn Châu để củng cố lực lượng ngăn chặn sự tấn công của người Nga. Quân đội cũng phải đủ mạnh để gìn giữ “Uy lực ở Thái Bình Dương”. Sự “tự cung cấp” được yêu cầu trong các nguồn lực quan trọng cũng như nguyên vật liệu cần thiết đối với việc bảo vệ quốc gia và các ngành công nghiệp. Quân đội Nhật Bản tại Trung Quốc cũng rất quan tâm, đây chính là lúc để tiến lên và xâm chiếm Trung Quốc; người Trung Quốc cũng cảm nhận được điều đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:00:57 pm

Chương 17

ĐẶT CHÂN VÀO TRUNG QUỐC

        Kết quả là sự xung đột lịch sử tại cầu Marco Polo, phía bắc Bắc Kinh vào ngày 7-7-1937. Đây được xem là ngày bắt đầu cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản với Trung Quốc. Trong tình huống này, rất khó cáo buộc người Nhật đã không dè dặt khi bắt đầu cuộc chiến. Cả hai bên đều quyết định thời gian cho trận đánh. Quá tự tin nhưng cũng nghi ngờ về ý đồ của người Nhật, Tưởng Giới Thạch chỉ muốn đánh nhau, và người Nhật cũng vậy, họ cảm thấy đã đến lúc phải dạy cho Trung Quốc một bài học. Họ tin rằng Trung Quốc sẽ đổ sụp dưới sự công kích dữ dội của người Nhật như một con hổ giấy. Chỉ huy quân Nhật, tướng Sugiyama, quả quyết với Nhật Hoàng rằng trận chiến sẽ kết thúc trong một tháng.

        Giới zaibatsu thích chiến tranh với Trung Quốc để bảo đảm cho các kế hoạch công nghiệp ở phía bắc của đất nước và tàn ác hơn, để phá hủy khả năng của người Trung Quốc nhằm ngăn cản về mặt quân sự và cạnh tranh về mặt kinh tế. Một số vị tướng muốn chiến tranh nhằm mục đích loại trừ mối nguy hại nhỏ ở phía nam trước khi thực hiện nhiệm vụ to lớn hơn là giáp mặt với kẻ thù ở phía bắc: nước Nga. Đối với Nhật Bản, chuyến phiêu lưu tại Trung Quốc là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử.

        Sự kiện cầu Marco Polo không quan trọng, chỉ là phía Trung Quốc bắn vào một nhóm nhỏ quân lính Nhật Bản đang nghỉ ngơi bên bờ sông Yuntung. Tuy nhiên, quân đội Nhật Bản đã lợi dụng điều này yêu cầu Trung Quốc rút khỏi cầu Marco Polo và chiếc cầu dành cho xe lửa bên cạnh. Trung Quốc từ chối và tấn công, quân Nhật phải rút về một thị trấn nhỏ ở cuối chân cầu bên phía họ. Súng nổ và nhiều người bị thương vong.

        Khi nghe về sự việc, Tưởng Giới Thạch tuyên bố: “Đã đến lúc quyết định tấn công”. Ông loan báo rằng đất nước đang trong “Giờ nguy cấp”. Người Nhật cũng sẵn sàng tấn công, vì đây là lúc nên chống lại Trung Quốc khi Liên Xô đang xáo trộn bởi cuộc thanh lọc lớn của Stalin. Tojo, trưởng ban chỉ huy quân đội Kwantung, đã tranh cãi một tháng trước đây, “Đánh giá tình hình hiện tại của Trung Quốc từ quan điểm chuẩn bị quân sự chống lại Liên Xô, tôi tin chắc rằng nếu quân đội được phép, chúng tôi sẽ tấn công để loại bỏ sự đe dọa sau lưng chúng ta. Nếu không, tôi cho rằng chính phủ Trung Quốc sẽ không để yên cho đến khi hệ thống phòng thủ quốc gia của chúng ta hoàn tất”. Tưởng Giới Thạch đã dàn xếp với Cộng sản để đánh người Nhật.

        Một lực lượng bất khả chiến bại đã chạm trán với mục tiêu bất di bất dịch. Trận đánh nhanh chóng lan rộng. Quy mô chuẩn bị chiến tranh của Nhật Bản đã lộ rõ thông qua tốc độ mà các đoàn quân được điều động từ Triều Tiên và Mãn Châu. Tướng Sugiyama, Bộ trưởng Chiến tranh trong chính phủ của hoàng tử Konoye, cho đổ quân vào từ chính quốc. Konoye, với sự hỗ trợ của Bộ trưởng Hải quân và Ngoại trưởng, đã cố gắng phản đối. Hirohito buồn rầu hỏi: “Không phải sự kiện Mãn Châu lại xảy ra lần nữa hay sao?”.

        Sugiyama dọa từ chức, giải tán nội các nếu ông bị loại bỏ. Ông đã chọn con đường của mình, quân đội khó có thể thâu tóm quyền lực nhiều hơn nếu họ chiếm đoạt quyền hành bằng vũ lực. Nhật Hoàng, Thủ tướng và nội các, tất cả đều ít quyền lực hơn quân đội. Nhật Bản đang ở dưới chế độ độc tài quân sự. Chỉ có giới zaibatsu mới có thể làm nản lòng lực lượng quân đội bằng cách từ chối cung cấp những thứ thiết yếu. Tuy nhiên vào giai đoạn này, giới kinh doanh đang có mối quan hệ vững chắc với quân đội. Họ đang tìm cách bảo vệ lợi ích của mình ở phía bắc Trung Quốc cũng như loại bỏ sự cạnh tranh từ người Trung Quốc.

        Dù bản thân sự kiện là đúng hay sai, thì những hành động của Nhật Bản cũng là xâm lược. Cuộc thảo luận giữa hai quốc gia sụp đổ sau vài tuần và chiến tranh nổ ra sau khi lực lượng quân dân Trung Quốc tại Tungchow nổi dậy chống lại binh lính Nhật Bản và tàn sát 200 thường dân. Tháng 8, trận chiến giữa Nhật Bản và Trung Quốc nổ ra ở Thượng Hải và lực lượng quân đội Nhật Bản tiếp viện đã tiến vào thành phố. Trong vòng 3 tháng, lực lượng quân đội Trung Quốc đã bị đánh bật.

        Cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản kéo dài 8 năm, cướp đi mạng sống của gần 3,2 triệu binh lính Trung Quốc và gần 10 triệu dân thường; Nhật Bản mất khoảng 1 triệu quân trong cuộc chiến. Đây là cuộc xung đột lớn nhất trong một quốc gia mà thế giới từng chứng kiến.

        Chiến tranh bắt đầu ở phía bắc và chẳng mấy chốc bao quanh Thượng Hải. Khoảng tháng 11 năm 1937, quân đội Nhật Bản đã xuống Yangtse và tiến về Nam Kinh, một thành phố náo nhiệt nằm trên bờ nam của con sông, với dân số khoảng 250 ngàn người, tuy nhiên dân vãng lai lại nhiều gấp ba lần. Có lẽ Nam Kinh là trung tâm văn hóa của Trung Quốc với một trường đại học và một vài học viện. Tưởng Giới Thạch quyết định cho binh lính của ông cùng với một nửa cư dân thành phố rút lui để tập hợp lại trong nội thành. Ngày 12-12, những biệt đội Trung Quốc cuối cùng rời khỏi. Ngày hôm sau thì quân Nhật tiến vào. Hậu quả là 10 ngàn người bị giết hại và nhiều phụ nữ bị cưỡng hiếp diễn ra trong vài ngày.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:01:53 pm

        Miner Bates - giáo sư người Mỹ tại Đại học Nam Kinh - đưa ra bức ảnh chụp lại cảnh tàn sát đã xảy ra trong thành phố. Những áp phích tuyên truyền được dán lên kêu gọi người Trung Quốc tự nguyện làm công nhân cho các trại lao động của quân đội Nhật Bản. “Nếu trước đây bạn từng là binh lính Trung Quốc hoặc từng làm việc trong quân đội Trung Quốc, tất cả sẽ được tha thứ nếu gia nhập vào quân đoàn lao động”. Theo ông Bates, 200 thanh niên đã tập trung tại sân trường đại học “và đã hành quân ngay trong tối hôm đó”.

        Việc cướp phá tiến hành có hệ thống. “Trong một dịp, tôi thấy đoàn quân kéo dài khoảng hơn một cây số, đang chở theo những đồ dùng cao cấp bằng gỗ đen và gỗ đỏ”. Cửa hàng, nhà thờ, tòa đại sứ, nhà cửa đều bị đốt, ngọn lửa cháy rực cả một khoảng trời trong tiếng súng máy vang rền. “Chúng tôi không thể thấy bất kỳ lý do gì cho việc đó”, ông Bates nói. Quan điểm quốc tế về sự kiện này là thực sự sửng sốt, đặc biệt là nước Mỹ, nơi các công dân đọc những bản tường thuật khủng khiếp trước sự chứng kiến của người Mỹ ở đó.

        Từ ngày đầu tiên, không chỉ báo chí thế giới mà cả văn phòng ngoại giao Nhật Bản cũng tràn ngập bởi sự mô tả về việc cưỡng hiếp và sự phản đối manh mẽ. Không dưới 70 đại diện tập trung trước đại sứ quán Nhật Bản ở Nam Kinh do Úy ban cứu trợ quốc tế kêu gọi. Một thông điệp vào ngày 27-12 trả lời thẳng thắn: “Sự lộn xộn đáng hổ thẹn vẫn tiếp tục và chúng tôi thấy không có những nỗ lực quan trọng nào để ngăn chặn nó. Mỗi ngày, binh lính vẫn làm bị thương hàng trăm người. Chẳng lẽ quân đội Nhật Bản không quan tâm đến tiếng xấu của họ hay sao?” Văn phòng đại sứ quán đón tiếp rất nhiều người nước ngoài và xin lỗi trước những cáo buộc. Miner Bates xác nhận “Những người ấy đã cố gắng hết sức làm những việc có thể trong tình hình rất tồi tệ, tuy nhiên ngay cả bản thân họ cũng bị quân đội làm cho khiếp sợ và không thể làm gì ngoại trừ việc gửi thông tin liên lạc từ Thượng Hải về Tokyo”.

        Những thông điệp chắc chắn đến Tokyo và là điều lo ngại về mặt ngoại giao. Theo ông Bates, đại sứ quán Mỹ tại Nam Kinh đã cho ông xem những bức thư từ đại sứ Mỹ ở Tokyo, Joseph Grew. Theo đó, ông Grew đã xem các báo cáo một cách chi tiết và kể về cuộc trò chuyện giữa ông và văn phòng của Gaimusho, bao gồm cả ông Hirota. Kế bên đại sứ quán Nhật Bản là sân trường đại học - nơi nhiều hành động tàn bạo nhất đã xảy ra, các đại sứ quán Mỹ, Anh và Đức gửi thông điệp đến Tokyo. Cố vấn Hidaka của đại sứ quán Nhật Bản đã phản đối tướng Asaka và gửi báo cáo đến Bộ Ngoại giao. Báo cáo được chuyển tiếp đến Bộ Chiến tranh và ban chỉ huy quân đội.

        Hoàng tử Konoye và các nhà lãnh dạo Nhật Bản khác tin rằng Tưởng Giới Thạch sẽ yêu cầu hòa giải sau khi thủ đô bị sụp đổ đồng thời đưa ra các điều khoản mà một số nhà lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận. Nếu đúng như vậy, “Sự kiện Trung Quốc” đã thắng lợi trong vòng 5 tháng, mặc dù không phải trong một tháng như đã hứa với Nhật Hoàng.

        Yosuku Matsuoka - Ngoại trưởng nổi tiếng của Nhật Bản dưới thời Konoye - đã tóm tắt quan điểm của người Nhật đối với Trung Quốc:

        “Trung Quốc và Nhật Bản là hai anh em được kế thừa một vùng rộng lớn là Đông Á. Nghịch cảnh đã khiến cả hai chìm sâu vào cảnh bần cùng. Người anh (Trung Quốc) trở thành kẻ nghiện ngập và lêu lổng, người em (Nhật Bản) gầy còm nhưng dẻo dai và tham vọng, đã mơ sẽ đem lại sự huy hoàng cho ngôi nhà cũ. Anh ta bán báo tại các góc đường và làm việc chăm chỉ để hỗ trợ cho gia đình. Người anh đã lừa số tiền tiết kiệm ít ỏi của em và bán người em cho kẻ thù chung của họ. Trong cơn thịnh nộ, người em đã truy lùng người anh, cố gắng đánh vào tính hay xấu hổ và đánh thức niềm kiêu hãnh về truyền thống cao quý của một gia đình lớn. Cuối cùng, người em quyết định đánh một trận cuối. Đó chính là trận chiến ác liệt dọc phía bắc Trung Quốc và Thượng Hải”.

        Tuy nhiên, vào tháng Giêng năm 1938, Nhật Bản tuyên bố sẽ không còn bất cứ sự thương lượng nào nữa. Trung Quốc đã đạt được thành công nhỏ tại Shantung vào tháng 4, nhưng quân đội chính của họ gần như bị quân Nhật bao vây tại Hsuchow trên tuyến đường sắt Bắc Kinh - Nam Kinh. Cuộc tấn công của Nhật Bản tiếp tục giành được thắng lợi trong năm đó.

        Tuy nhiên, Nhật Bản đã đạt một cú sốc không mấy dễ chịu. Tự tin trước sự bại trận của Trung Quốc, người Nhật bắt đầu chuyển sự chú ý của họ sang kẻ thù nguy hiểm hơn là Liên Xô. Mùa hè năm đó, người Nhật gần đạt được một thỏa thuận lớn với lực lượng quân Nga tại đồi Changkufeng - biên giới giữa Triều Tiên, Nga và Mãn Châu. Ớ giai đoạn này, quân đội thuộc quyền lãnh đạo của Bộ trưởng Chiến tranh mới - tướng Itagaki - gần như không chịu sự can thiệp của Nội các. Tuy nhiên, Nhật Hoàng vẫn giữ được một số ảnh hưởng. Bị kinh hãi bởi viễn cảnh chiến tranh xảy ra trên cả hai mặt trận với Trung Quốc, Nhật Hoàng đã triệu tập Bộ trưởng Chiến tranh và trưởng ban tham mưu quân đội. Mặc dù quyền lực của Hirohito bị hạn chế nhiều, nhưng với sự tấn công mạnh mẽ của chiến tranh, ông đã chính thức nắm quyền lại như một vị tổng tư lệnh.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:02:37 pm
     
        Kawahara thuật lại chi tiết:

        Đáp lại những viễn cảnh của cuộc xung đột trong thời gian dài, một sở chỉ huy quân đội được lập ra trong hoàng cung, và chắc chắn Nhật Hoàng sẽ rất bận rộn. Ông luôn bị bao vây bởi những lo lắng về hậu quả của hành động quân sự, và bắt đầu trở nên hốc hác. Hirohito là người đàn ông đa cảm. Do thường xuyên phải chịu đựng trong hoàn cảnh như vậy, ông bắt đầu hay tự lẩm bẩm một mình. Đôi lúc, báo cáo từ trận địa là tin tốt, ông củng cảm thấy kiệt sức (có lẽ vì sự căng thẳng được giải thoát một cách đột ngột). Các trợ lý luôn lo lắng và đề nghị ông đến khu hoàng gia ở Hayama hoặc Nasu để nghỉ ngơi. Nhưng sau này, một người trong số họ đã nói: “Bệ hạ rất chú ý đến nhiệm vụ của mình, dù chúng tôi thúc giục ông nghỉ ngơi, ông cũng chỉ miễn cưỡng làm theo”. Có lẽ sự miễn cưỡng của ông bắt nguồn từ sự cố đã xảy ra vào thời điểm bùng phát sự thù địch giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Hirohito đã đi Hayama nghỉ ngơi và thực hiện tìm hiểu về sinh vật biển. Mặc dù nhận được báo cáo về sự cố cầu Marco Polo, ông không trở lại Tokyo ngay lập tức, mà vẫn ở Hayama thèm ba ngày. Điểu này khiến một số bè phái trong quân đội chán ghét.

        Một số người cằn nhằn, mặc dù không có gì trở nên nghiêm trọng hơn, “Hãy tưởng tượng! Nhật Hoàng đã lãng phí thời gian với những con vật bé nhỏ không có giá trị trong thời điểm quyết định như thế này!” và “Nếu ông có nhiều thời gian rảnh, tôi mong ống hãy dùng vào việc học thêm về các vấn đề quân sự”.

        Sau đó, Hirohito miễn cưỡng tham gia cùng quân đội như một sự bất đắc dĩ. Tuy nhiên sau đó, ông gần như bỏ mặc các nghiên cứu và thử nghiệm mà mình từng yêu thích. “Nó chỉ là sở thích riêng của tôi”, ông nói.

        Mặc dù vậy, đôi lúc ông vẫn triệu người thầy sinh vật học thông thái - giáo sư Hattori - vào cung và ít nhất có cơ hội được nghe bài diễn thuyết của thầy.


        Như vậy, Hirohito thiếu tự tin, hay do dự và thiếu khả năng thuyết phục có lẽ đang cố tự tách mình ra khỏi trách nhiệm về cuộc chiến tranh với Trung Quốc.

        Các nhà lãnh đạo quân đội khinh khỉnh gạt bỏ mọi sự chống đối của nội các Konoye, nhưng không thể quá tùy tiện trước sự nóng giận của Nhật Hoàng. “Thật ra, cách xử sự của quân đội quá vô nhân đạo,” ông nói với tướng Itagaki. “Hãy xem tại Lư Câu Kiều vào thời điểm xảy ra sự kiện Mãn Châu, hoặc chỉ mới đây thôi tại cầu Marco Polo, họ đã bỏ ngoài tai những mệnh lệnh của lãnh đạo trung ương, tự làm theo cách của họ, những cách hèn hạ và không thể tha thứ được. Họ là lực lượng của chúng ta. Chúng ta thấy tư cách của họ thật đáng hổ thẹn, nếu không nói là láo xược. Từ nay trở đi, không một binh sĩ nào được phép di chuyển khi không có mệnh lệnh của chúng ta”.

        Itagaki vô cùng ngạc nhiên, ông nói: “Tôi không bao giờ vào diện kiến Bệ hạ một lần nữa. Tôi phải từ chức”. Trưởng ban tham mưu quân đội - hoàng tử Kan’in - cũng tìm cách thoát ra. Hoàng tử Konoye đã thuyết phục họ rút lại việc xin từ chức. Nếu họ không làm như vậy, chính phủ sẽ sụp đổ và những vụ việc quân sự như vậy sẽ tiếp diễn trong khi Nhật Hoàng đã xác định phải tránh nó bằng mọi giá.

        Sự cố này đã dẫn đến tình trạng khó xử và bi kịch về trách nhiệm cá nhân của Hirohito đối với các sự việc. Ít có sự nghi ngờ về sự chống đối của ông đối với việc leo thang của quân đội Nhật Bản can thiệp vào châu Á. Hirohito thường phản đối bằng những lý do thực tế hợp lý. Tuy nhiên, điều này không khiến ông trở thành người cơ hội. Những lời bào chữa như vậy là cách duy nhất có tác dụng với lực lượng vũ trang. Một bản tuyên bố chung có nguyên tắc chống lại các chính sách của chủ nghĩa bành trướng có thể bị gạt sang một bên như là biểu hiện của sự yếu kém.

        Bản thân Nhật Hoàng không thể thoát khỏi việc chia sẻ trách nhiệm đối với những quyết định mà cá nhân ông phản đối, nhưng lại thể hiện sự chấp thuận một cách công khai. Không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Nhật Hoàng dùng uy thế to lớn của mình để chống lại những quyết định quan trọng của quân đội, từ chối việc chuẩn y hành động dưới tên ông, bởi lẽ ông chưa bao giờ thử làm như vậy.

        Thật ra, quân đội đã tuân theo ý muốn của Nhật Hoàng và rút quân về từ cuộc chạm trán với người Nga. Vùng Nomonhan - một đồng bằng rộng nằm trên biên giới giữa Mãn Châu và Mông cổ. Dưới sự hỗ trợ của quân Liên Xô, lực lượng Mông Cổ bắt đầu tiến công ngang qua sông Halha - nơi Nhật Bản đặt đường biên giới của Mãn Châu. Người Nga có lẽ đang kiểm tra quyết tâm của quân Nhật. Quân đội Kwantung tiến lên biên giới, mở trận đánh lớn để cắt đường cung cấp của Mông Cổ - Liên Xô. Trận chiến giữa Liên Xô và Nhật Bản bao gồm cả máy bay, xe tăng và đạn pháo.

        Trận giao chiến không tương xứng ngay từ đầu: quân Nga với lực lượng lớn mạnh và phương tiện chuyên chở tốt hơn, họ đã đẩy quân Nhật trở về sông Halha. Mặc dù, lực lượng không quân đã phá hủy 120 máy bay của Nga tại Tomsk, nhưng quân Nhật vẫn phải chịu thất bại nặng nề. Khoảng 20 ngàn lính Nhật bị chết và khoảng 20 ngàn người bị thương dưới bàn tay của quân Nga được lãnh đạo bởi nhà lãnh đạo quân sự tài ba nhất của Nga - Nguyên soái Zhukov.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:03:55 pm

        Quả là may mắn đối với Nhật Bản khi người Nga không muốn mở rộng cuộc chiến. Người Nhật đã tấn công, nhưng chỉ bằng một cú đánh mạnh của Liên Xô, quân Nhật đã bị đẩy lùi và thiệt hại nặng nề. Sự kiện này đã làm cho lãnh đạo cấp cao của Nhật Bản hiểu rõ rằng nên theo đuổi mục tiêu mềm hơn ở phía nam. Điều đó đã cảnh báo cho giới quân phiệt một sự thật là: khi đối mặt với một lực lượng được tổ chức tốt hơn, thì sự bất khả chiến bại được tán dương của bộ máy chiến tranh Nhật Bản sẽ sớm bị lung lay.

        Tại Trung Quốc, chiến tranh tiếp diễn suốt năm 1938 với hàng loạt chiến thắng của Nhật Bản. Họ đã bắt được Hangkow vào mùa thu và đổ bộ vào vịnh Bias ở phía nam để đánh chiếm Quảng Đông với tốc độ kinh ngạc. Trong giai đoạn này, Chiang một lần nữa yêu cầu hòa giải và người Nhật gợi ý rằng họ cũng sẵn sàng thỏa thuận. Trong suốt cuộc chiến, Nhật Bản cho thấy họ không muốn chiếm toàn bộ Trung Quốc (đó là một mục tiêu không thể) mà chỉ đơn thuần muốn biến Trung Quốc thành bang chư hầu. Sau này, từ thủ đô mới tại Trùng Khánh, Chiang đã từ chối các điều khoản. Chiến tranh bước vào giai đoạn dài hơn và chậm hơn với sự tiến công của Nhật Bản và rút lui của quân Trung Quốc. ít có những chiến thắng hơn, và lực lượng quân Nhật tiếp tục bị quấy rầy bởi quân du kích cộng sản. Quân Nhật luôn ở thế tay trên, tuy nhiên chiến thắng cuối cùng vẫn rất khó nắm được.

        Ba đặc điểm đáng chú ý của chiến tranh:

        Trước tiên, về kinh tế, chiến tranh không phân phối của cải. Trong nhiều thập kỷ, Nhóm Điều hành của quân đội Nhật Bản đã thúc ép việc hình thành “Khối cùng thịnh vượng” với Trung Quốc như là một nền tảng chắc chắn cho sự phát triển của Đông Á. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã đóng cửa các thị trường quốc tế, giới zaibatsu tin rằng Trung Quốc có thể cung cấp các nguồn lực cần thiết để tiếp tục tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chính sự trục trặc của chiến tranh và thái độ thù địch của người Trung Quốc đã ngăn cản kế hoạch của thị trường mới cho xuất khẩu ở đại lục. Ngay cả việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực Nhật Bản kiểm soát cũng đáng thất vọng, các công xưởng và hầm mỏ thường xuyên không có việc làm. Điều này khiến zaibatsu xem xét kỹ về đề xuất của hải quân và một số người trong quân đội rằng Đông Nam Á là nơi hứa hẹn hơn cho sự xâm nhập kinh tế, cả về nguồn dầu lửa và nguyên vật liệu thô phong phú lẫn thị trường. Có điều tranh luận rằng, Nhật Bản sẽ dễ dàng tạo được uy thế thông qua sự thống trị các nước trong khu vực này hơn là thắng lợi trong cuộc chiến tranh trên đất nước rộng lớn Trung Quốc. Vì thế, sự dòm ngó của Nhật Bản đã đổi từ Nga sang Trung Quốc và sau đó chuyển sang vùng Đông Nam Á.

        Thứ hai, ngay cả năm 1940 cũng không có lý do gì để nghĩ rằng Nhật Bản tiến hành chiến tranh với Mỹ và các nước Tây Âu khác. Chắc chắn quân đội và hải quân Nhật đã được củng cố để đối phó với sự tình cờ này. Xâm chiếm Trung Quốc là một việc làm cơ hội. Chiến tranh chỉ kích động những cơn giận dữ, bất bình từ các nước Tây Âu và báo chí, ngoài ra không còn một hành động nào khác. Không một nước lớn nào có ý định tham chiến tại Trung Quốc mặc cho sự tàn sát diễn ra khắp nơi vạ ngày càng khủng khiếp. Nếu Nhật Bản chỉ tập trung vào Trung Quốc, có lẽ về lâu dài họ đã thắng thế và tạo ra một đế chế châu Á hùng mạnh.

        Thứ ba, vẻ bề ngoài của chiến tranh Trung - Nhật chính là hành động tàn ác có hệ thống. Thần chết đã đi ngang qua Trung Quốc. Thị trấn Pingting đã trở thành căn cứ điểm gửi quân giữa bắc và nam, đông và tây... Những người đến từ mặt trận sẽ nghỉ một ngày hoặc hơn, ăn chơi trụy lạc và cướp phá... Bất kỳ ai mặc y phục có dấu hiệu quân sự sẽ bị giết ngay tại chỗ mà không cần hỏi han gì. “Tại Wuhu, trong suốt tuần đầu tiên xâm chiếm, theo lời một nhân chứng, "cách đối xử của họ thật nhẫn tâm. Họ tàn sát dân thường, cướp phá và hủy hoại các công trình của thành phố hay bất cứ thứ gì mà họ thấy... Binh lính dường như chỉ muốn tìm phụ nữ Trung Quốc để làm nhục”.

        Tại Kaifeng, “phụ nữ bị tấn công ngay cả vào ban ngày tại nhà của họ. Tôi không thể tưởng tượng được rằng mình lại nhìn thấy những tội ác đồi bại đến như vậy và nó diễn ra từ ngày này sang ngày khác. Còn cả hàng ngàn điều khác nữa, như những bé trai bị bắt cóc cùng với thiếu nữ bị đưa lên tàu đến phía đông..”.

        Tại Kihrien, hai ngàn thường dân bị sát hại. “Tôi không hề muốn chứng kiến những đau khổ đó”. Ở Hangchow: “Hangchow tuyệt đẹp của chúng ta sớm trở thành nơi dơ dáy, tục tĩu... một thành phố của sự kinh hãi... cướp bóc, giết người, hãm hiếp và thiêu đốt... Cảnh sát quân đội Nhật Bản đã giúp đỡ chúng tôi nhiệt tình, những người nước ngoài, nhưng với những cư dân thành phố thì không có một sự trợ giúp nào cả”.

        Sự kinh hãi trong thị trấn và làng xóm của Yangtse còn gắn liền với việc tàn phá nhà cửa, kho dự trữ lương thực, các phương tiện kiếm sống. Khoảng 3/4 trong số 1 triệu người ở Nam Kinh lẩn trốn trước quân đội hoàng gia. Có lẽ khoảng 20 triệu người Trung Quốc bị ép phải tìm một nơi khác và không một ai biết có bao nhiêu người chết.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:04:31 pm

        Một số người tham gia vào sự kiện Nam Kinh đã viện dẫn rằng họ buộc phải hành động theo mệnh lệnh. Một trong các khái niệm nền tảng trong “Sự kiện Trung Quốc” là tư tưởng của người Nhật về “Cuộc chiến tranh trừng phạt”, gây ra một hành động tàn bạo quy mô lớn, có tổ chức. Bất kể điều gì góp phần đẩy nhanh thắng lợi đều được phép, hành động tàn ác có tính toán được cho là một thủ đoạn làm tăng mức độ sợ hãi để đối phương chấp nhận đầu hàng.

        Với tính cách của người Trung Quốc thì đó là một sai lầm nghiêm trọng. Hành động tàn ác đã cho người Trung Quốc thấy rằng đầu hàng người Nhật số mệnh sẽ khủng khiếp hơn là tiếp tục chiến đấu, và sự kháng cự càng được củng cố thêm. Chắc chắn, ngay cả sau khi Nhóm Điều hành thanh lọc quân phiến loạn của Con đường Đế quốc và tập trung quyền ra quyết định thì quân đội Nhật Bản vẫn thiên về cách bị dẫn dắt từ bên dưới hơn là từ cấp trên.

        Không rõ ai là người ra mệnh lệnh trong cuộc tàn sát Nam Kinh, cướp đoạt với quy mô lớn nhấn chìm cả thành phố sau khi lực lượng dân tộc Trung Quốc tháo chạy. Trong cuộc điều tra vào thời hậu chiến, các tướng lĩnh Nhật Bản đã ngụ ý rằng cuộc tàn sát diễn ra trên quy mô nhỏ hơn nhiều so với diều mọi người thường nghĩ, hoặc đó là hành động của những nhóm nhỏ trong dân chúng. Đó chính là những binh lính bình thường? Là nhóm hạ sĩ quan và sĩ quan cấp trung? Là các chỉ huy sư đoàn, tướng Nakajima, trung tướng Heisuke Yanagawa và Hoàng thân Asaka (chú bên vợ của Hirohito)? Có phải là tướng Matsui, tổng tư lệnh tại Trung Quốc? Hay chỉ huy quân đội cấp cao tại Tokyo? Chính phủ và Nhật Hoàng biết được những gì?

        Dựa trên những quy định phổ biến về kỷ luật vào thời đó, hơn nữa Nam Kinh lại bị chiếm trước khi xảy ra sự suy đồi của quân đội Nhật Bản và áp lực quân sự dữ dội trong vài năm tiếp theo, cho thấy binh lính đã không hành động một cách chủ động. Quy mô cướp bóc, thời gian cùng việc thiếu các hành động kỷ luật nhằm ngăn chặn sự việc đã cho thấy mọi thứ đều có cùng định hướng. Tương tự, không nơi nào có mặt hạ sĩ quan và sĩ quan Nhật Bản cấp trung cho đến khi binh lính của họ thoải mái hoành hành. Sau chiến tranh, binh nhì, Shiro Asuma và một cựu chiến binh Nhật Bản khác khăng khăng rằng họ đã hành động theo mệnh lệnh của cấp trên.

        Các chỉ huy của ba sư đoàn chính chắc chắn biết được những gì đang xảy ra, và bị cho rằng đã ban hành các mệnh lệnh cụ thể. Tướng Matsui - người bị kết án tử hình tại Tòa án Tội phạm Chiến tranh Tokyo vì một phần trách nhiệm của ông trong sự kiện Nam Kinh, dưới cái nhìn của một trong những người viết tiểu sử của Hirohito - Edward Behr thì Matsui “là một tướng Nhật Bản đã kinh hãi bởi những hành động tàn bạo ở Nam Kinh và đã cố gắng hết sức để ngăn chặn vụ việc đó”. Thật ra, vai trò của Matsui rất mơ hồ. Không phải là chỉ huy sư đoàn, ông thiếu quyền lực cần thiết để kềm chế các tướng của minh. Thật vậy, Nakajima, Tanagawa và Asaka, tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với Nhóm Điều hành và Issekikai, trong đó thành viên nổi bật nhất là tướng Tojo. Rất có thể Matsui không có quyền hành và rất sợ va chạm với ông chú của Nhật Hoàng. Matsui đã phủ nhận về sự cướp đoạt từng xảy ra.

        Sự tàn sát không phải là sự việc bất ngờ, tuy nhiên nó đã kéo dài ít nhất hai tuần. Trong suốt thời gian đó, không hề có một mệnh lệnh nào được phát đi từ Tokyo nhằm ngăn chặn sự việc. Chắc chắn Nhật Hoàng phải biết về vụ tàn sát Nam Kinh. Ngoại trưởng Hirota và Thủ tướng Konoye đã được thông báo, nhưng không đủ quyền hành để ngăn chặn nó.

        Nhà viết sử của Hirohito - Kawahara đã lờ đi vụ tàn sát mà không bình luận gì, tuy nhiên ông không phủ nhận rằng Nhật Hoàng đã biết. Kawahara khẳng định rằng, “Khi Hirohito nghe báo cáo, ông tỏ ra rất giận dữ. Ông đã đến gặp Bộ trưởng Chiến tranh Sugiyama để phản đối và yêu cầu ông này ngay lập tức siết chặt kỷ luật trong quân đội. Cùng thời gian đó, cố vấn Hidaka và những người khác ở Nam Kinh đã ghé thăm các chỉ huy quân đội địa phương nhằm thúc họ làm một điều gì đó. Tướng Matsui - tổng tư lệnh - thừa nhận rằng những người dưới ông đã hành sự một cách vô nhân đạo. Khi Hidaka hỏi ông có khi nào binh sĩ cấp dưới không tuân theo mệnh lệnh của cấp trên, ông lẩm nhẩm rằng chính cấp trên cũng phải nhận trách nhiệm”.

        Từ chứng cứ nói ra ở đây, và những quan tâm trái ngược của một số nhà sử học, có vẻ như vụ tàn sát Nam Kinh là do Nhóm Điều hành tại Tokyo ra lệnh, giờ đang quyết tâm chiến thắng trong cuộc tấn công Trung Quốc với thời gian càng ngắn càng tốt thông qua chiêu bài “Chiến tranh trừng phạt”. Các chỉ huy sư đoàn trực tiếp thi hành các mệnh lệnh đó. Matsui không có quyền hành, phải làm ra vẻ như không' thấy, và sau đó im lặng bằng cách phủ nhận về vụ tàn sát (vì thế mà ông phải nhận trách nhiệm lớn nhất). Nhiều khả năng Nhật Hoàng và Thủ tướng phản đối quyết liệt đến nỗi diễn ra một cuộc diều tra chính thức, nhưng đã quá trẽ và trách nhiệm của những người dứng đầu bị xóa sạch trong khi họ vẫn yên vị với chức vụ của mình.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:05:19 pm

        Tuy nhiên, chính sách không hề thay đổi kể từ cuộc “chiến tranh trừng phạt”. Sự tàn ác vẫn tiếp diễn ở Trung Quốc, mặc dù không có sự kiện riêng lẻ nào thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tê và được báo cáo một cách độc lập như vụ tàn sát Nam Kinh. Thật ra, quy mô của sự tàn ác nằm ở chính sách của nhóm quân đội thống trị được bộc lộ khi có sự thay đổi đáng chú ý của cấp dưới Matsui, Tướng Akita Muto. Sau này, Muto phục vụ với tư cách là chỉ huy Cục Nội vụ quân đội, là người đứng đầu quân đội Nhật Bản trong suốt cuộc xâm chiếm Sumatra, và là trưởng ban điều hành trong vụ tàn sát tại Manila. Muto phác thảo cho những người chất vấn rằng chính sách của Nhật Bản là không bắt bất kỳ tù binh nào.

        "... Tất nhiên, ông đã bắt tù binh từ quân đội Trung Quốc?”

        “Không! Câu hỏi về những người Trung Quốc bị bắt giữ có phải là tù nhân chiến tranh hay không hoàn toàn là một vấn đề, và điều đó cuối cùng đã được quyết định vào năm 1938, bởi vì trận xung đột ở Trung Quốc được chính thức biết đến như một việc xô xát, nên những người Trung Quốc bị bắt giữ không thể bị xem là tù nhân chiến tranh”.

        “Vậy theo thực tế, Vụ xô xát Trung Quốc có phải là một cuộc chiến tranh hay không?”.

        “Trên thực tế đúng là như vậy, tụy nhiên chính phủ Nhật Bản chỉ xem đó là một vụ xô xát!”.

        “Vì vậy ông đã tiếp tục với chính sách không đối xử với những người Trung Quốc bị bắt giữ như là tù nhân chiến tranh?”.

        “Vâng!”. Thực tế, một số lượng lớn tù nhân đã bị bắt, và đa số bị xử tử hoặc trở thành người lao động bị ép buộc. Điều này hoàn toàn hợp lý đối với suy nghĩ của quân đội Nhật Bản. Tù nhân bị khinh rẻ, chỉ đáng tội chết. Bên cạnh đó, quân đội đang thiếu tiền để nuôi sống toàn bộ lực lượng. Tuy nhiên, quyết định gọi chiến tranh là một vụ xô xát là lời bào chữa cho sự vi phạm trắng trợn về quyền con người và Hiệp định Geneva. Trách nhiệm này phải mở rộng đến tận chính phủ tại Tokyo và cả bản thân Nhật Hoàng.

        Hai hành động tàn bạo nữa của cuộc chiến tranh Trung -  Nhật (chiến trường lớn nhất của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai và là cuộc xung đột lớn nhất của mọi thời đại) được nêu ra. Thứ nhất là đơn vị 731 nổi tiếng của Nhật Bản, được thành lập bởi quyết định hoàng gia như là một “Đơn vị cung cấp làm sạch nước và ngăn ngừa dịch bệnh” dưới sự chỉ huy của tướng Shiro Ishii. Mục tiêu thực sự của đơn vị này là phát triển các vũ khí khoa học, hóa học, vi khuẩn học, thử nghiệm những thứ ấy trên cơ thể con người. Từ 3 đến 10 ngàn người bị chết trong các cuộc thử nghiệm của dơn vị này. Brackman đã tóm tắt những hoạt động của Đơn vị 731:

        Các cuộc thử nghiệm của người Nhật trong cuộc chiến tranh vi khuẩn, bao gồm việc làm lạnh các phần cơ thể của các tù nhân bị nhiễm bệnh và những điều tàn ác khác. Phụ nữ Trung Quốc bị cho nhiễm giang mai để phát triển vaccine. Tù nhân bị cho nhiễm bệnh dịch, sốt, thương hàn, sốt xuất huyết, dịch tả, bệnh than, đậu mùa và bệnh lỵ. Tù nhân còn bị cho uống máu ngựa và lấy người sống ra để phá hủy bằng tia X. Các virút độc hại được phóng ra xung quanh trong khi những kỹ thuật viên quân đội Nhật Bản được mặc quần ảo bảo vệ, họ giữ đồng hồ và tính xem bao lâu thì những virút này giết tù nhân chết. Các cuộc thủ nghiệm được thực hiện tại Mãn Châu và ngoại ô của Nam Kinh, bao gồm cả việc ném bom kèm theo bệnh dịch đối với các thành phố Trung Quốc.

        Những cuộc thử nghiệm khủng khiếp này tương tự như các cuộc thử nghiệm tại Đức, số nạn nhân bị ảnh hưởng không quan trọng đối với nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản. Một cuộc tập kích trên không của người Nhật thả xuống những con chuột nhiễm bệnh đã giết chết gần hai ngàn người. Có vẻ như Hirohito ủng hộ Đơn vị này, mặc dù không có bằng chứng rõ ràng rằng ông biết về việc thử nghiệm trên người ở đó.

        Hành động đáng ghê tởm khác của chiến tranh là quyết tâm kiếm tiền của quân đội Nhật Bản thông qua số lượng lớn thuốc phiện. Ban Sự vụ Trung Quốc được thành lập bởi hoàng tử Konoye, đã giám sát vụ thương mại thuốc phiện trị giá 300 triệu đôla Mỹ tại Trung Quốc do quân đội Nhật Bản thực hiện, xem như là một cách thức kiếm tiền và làm băng hoại đạo đức dân chúng Trung Quốc. Mặc dù ma túy gần như bị xóa bỏ khỏi trung tâm Trung Quốc vào năm 1917, người Nhật tại Mãn Châu vẫn tiếp tục ngành kinh doanh thuốc phiện sinh lợi này. Họ đã lập ra những vườn cây anh túc rộng lớn và bán ma tủy (chỉ riêng Bắc Kinh đã có gần 600 điểm bán).

        Đa số các hành động tàn bạo cùng với cuộc chiến tranh của Nhật Bản tại Trung Quốc đều được Nhóm Điều hành tại Tokyo chấp thuận. Cả ở Tokyo và chiến trường, “Cuộc chiến tranh trừng phạt” là chính sách đã được suy tính kỹ. Làm giàu cho quân đội thông qua buôn bán thuốc phiện cũng đã được tính toán. “Gái giải khuây” Triều Tiên và nhà thổ đều là chính sách chính thức. Cố gắng thôn tính toàn Trung Quốc đã được cân nhắc. Tất cả những quyết định đều được bàn bạc tại cấp cao nhất của quân đội. Nhật Hoàng, đã miễn cưỡng chấp thuận bởi vì ông không thể phủ quyết, và cũng có thể tin vào sự cần thiết của một trong số những quyết định đó. Chắc chắn ông đã chấp thuận quyết định chiến tranh với Trung Quốc, với một sự dè dặt thường thấy. Ông cũng tỏ rõ quan điểm rằng cuộc chiến phải nhanh chóng kết thúc, mặc dù cuối cùng đó là điều không thể.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:18:04 am
     
Chương 18

ĐẠI BÀNG TUNG CÁNH

        Nếu cho thêm thời gian và sức lực, Nhật Bản có thể chiếm được toàn bộ Trung Quốc. Tuy nhiên, sự sa lầy của quân đội Nhật Bản tại Trung Quốc và nền kinh tế yếu kém khiến zaibatsu không còn đủ kiên nhẫn. Họ quay lại với những đồng minh thân cận hơn, sự suy yếu trong lực lượng quân đội Nhật Bản hiện rõ. Cuối năm 1939, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương hoàn toàn có thể tránh được: Nước Mỹ không sẵn sàng chiến đấu giúp Trung Quốc, dù cho trận chiến đang ác liệt với quy mô lớn. Với quyết định của zaibatsu đứng về phía thiểu số trong quân đội và phần lớn là hải quân trong mục tiêu lớn là “Tấn công về phía nam” vào Đông Nam Á thì chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Trớ trêu thay, những người chỉ huy quân đội tham chiến tại Trung Quốc cùng dân chúng và Nhật Hoàng tỏ ra thật sự lo lắng về những hậu quả của việc mở rộng chiến tranh. Vì vậy, trách nhiệm đầu tiên đối với việc xâm lược Đông Nam Á (chính điều này đã gây ra chiến tranh Thái Bình Dương) thuộc về hải quân và zaibatsu.

        Nhật Hoàng bất lực do ông buộc phải theo sau những quyết định của chính phủ, nên trách nhiệm thuộc về một thế lực lớn khác trong những năm 1930 ở Nhật Bản: zaibatsu - giới duy nhất đủ quyền lực ngăn cản việc gây ra chiến tranh của Nhật Bản. Như chúng ta đã thấy, các zaibatsu không thể chấp nhận các đề xuất, mà còn chủ động khuyến khích. Những lợi ích kinh tế thu được từ các thị trường nước ngoài được xác định là để tìm và bảo vệ việc cung ứng các nguyên vật liệu chiến lược cho các zaibatsu dưới sự giúp đỡ của quân đội.

        Zaibatsu đã cứu sống đồng minh của họ và cùng Nhóm Điều hành triệt hạ những người nóng nảy đáng ghét theo Con đường Đế quốc trong quân đội của họ. Đa số quân đội đã bắt tay với zaibatsu, quyết định chiến tranh và dùng những biện pháp ghê tởm. Zaibatsu điều hành lực lượng lao động bị ép buộc trong các hầm mỏ và các phân xưởng tại Trung Quốc (cùng với hoạt động mua bán thuốc phiện: Mitsubishi điều hành việc cung cấp và phân phối thuốc phiện tại Mãn Châu, trong khi Mitsui quản lý hoạt động này tại Nam Trung Quốc; cả hai đã tranh cãi về địa bàn của mình trong phần còn lại của Trung Quốc).

        Năm 1939, khi cuộc chiến tranh nổ ra ở châu Âu, kết quả của chiến tranh tại Trung Quốc đã chứng minh sự thất vọng của cả quân đội lẫn zaibatsu. “Báu vật” tìm được ở Trung Quốc nhỏ hơn nhiều so với những gì mà zaibatsu mong đợi: Nguyên vật liệu chỉ có sẵn ở bên ngoài Mãn Châu. Thị trường Trung Quốc ngoại trừ thuốc phiện thì thật nghèo nàn: Nền tảng sản xuất thích đáng đang bị thiếu, xã hội bị bần cùng hóa, tiêu dùng rất thấp. Chiến tranh đã khiến Mãn Châu túng quẫn, đa số các phân xưởng của Mukden đều trong tình trạng thường xuyên không có việc. Gần 500 ngàn người Nhật đã chết trong 2 năm giao chiến.

        Chất xúc tác cho sự liều lĩnh đầy tai hại của Nhật Bản vào Đông Nam Á là khuynh hướng của các sự kiện tại châu Âu. Quan điểm của Nhật Bản đối với châu Âu hoàn toàn là chủ nghĩa cơ hội. Sự liên minh quân đội với nước Anh đã tan rã sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, đồng thời, việc ra đi khỏi Liên hiệp các quốc gia khiến mối quan hệ giữa các nước Phương Tây và Nhật Bản chỉ còn là sự cảnh giác và nghi ngờ. Điều này khuyến khích người Nhật tạo động cơ giống với Đức và Italia, thế lực phát xít cũng gặp sự cạnh tranh quyết liệt với Anh, Pháp, Mỹ và cùng chia sẻ sự nghi ngờ của Nhật Bản đối với Liên Xô. Người Nhật tự thuyết phục rằng họ có những lý do giống với Đức và Italia để đối đầu với “Đế quốc” Anh và Mỹ. Năm 1936, cả ba ký Hiệp ước chống chủ nghĩa cộng sản, trực tiếp chống lại Liên Xô.

        Tùy viên quân đội Nhật Bản tại Berlin - trung tướng Hiroshi Oshima - theo đuổi chính sách hữu nghị với Hitler - người ông vô cùng ngưỡng mộ, kể cả việc đưa ra đề nghị răng Nhật Bản sẽ cùng Đức chống lại Anh và Mỹ. “Có lẽ chúng tôi sẽ gặp Bộ trưởng Chiến tranh để khiển trách ông,” Hirohito bực tức nói. Ông không nhiệt tình về sự liên minh với Đức. Trong một dịp khác, Nhật Hoàng đã giữ Bộ trưởng Chiến tranh lại để nói chuyện được lâu hơn. “Với tư cách tùy viên quân đội, không phải là chiếm quyền của hoàng gia để hứa hẹn răng quân đội chúng ta sẽ hợp tác với Đức chứ? Ta thực sự lúng túng khi mà quân đội dường như đã hỗ trợ cho anh ta để làm việc này, và ta rất khó chịu khi khanh đã không đưa vấn đề này ra trong các cuộc họp nội các”. Tuy nhiên, Đức và Nhật Bản có vẻ gần gũi nhau hơn bao giờ hết.

        Tháng 8 năm 1939, Hitler đã ký hiệp ước không xâm lược Liên xô - kẻ thù trước đây của Nhật Bản. Điều này giúp Nga có thể củng cố quân đội của họ ở phương Đông để đối phó với Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản Baron Hiranuma đã bị sốc và từ chức. Hirohito - người không tin nước Đức -  đã tranh luận: “Trong việc ngoại giao, mục tiêu của chúng ta là nên duy trì mối quan hệ hòa hợp với Anh và Mỹ. Hơn nữa, Ngoại trưởng nên hành động theo cách rõ ràng hơn, phù hợp với quy định của hiến pháp”. Vào lúc này, Ngoại trưởng Yosuke Matsuoka là một nhà dân tộc chủ nghĩa lắm lời. Ông cũng là người đề nghị thăng chức cho một trong những bạn đồng minh quân đội của mình - tướng Hata - làm Bộ trưởng Chiến tranh mới. Mối quan hệ giữa Đức và Nhật Bản giờ đây trở nên căng thẳng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:18:39 am

        Tuy nhiên, đầu mùa hè năm 1940, khi quân đội Hitler tràn vào lục địa châu Âu, Nhật Bản đã tìm cách tham gia vào lực lượng bên chiến thắng. Ngay lập tức có hai kết quả: Đầu tiên, chiến thắng của Nazis ở châu Âu đã ám chỉ cho người Nhật rằng bề ngoài của nền dân chủ lập hiến đã lỗi thời. Chủ nghĩa phát xít được xem như một làn sóng mới. Hoàng tử Konoye một lần nữa làm Thủ tướng, chính thức giải tán các đảng phái chính trị và lập ra một cuộc vận động lớn “Để hỗ trợ cho ngai vàng hoàng gia”. Thật ra, các đảng từ lâu đã giá trị và Nhật Bản đã thực sự theo chế độ độc tài quân sự kể từ năm 1936.

        Thứ hai, tháng 9 năm 1940, Hiệp ước Trục ba bên được ký kết. Thực chất của hiệp ước này đối với Nhật Bản là sẽ hết lòng hỗ trợ cho Đức trong trường hợp có sự tấn công từ phía Mỹ. Thất bại tại Pháp gần như hất cẳng Anh - đối thủ khác của Nhật Bản tại Đông Á. Cùng lúc, Anh đã nhượng bộ các yêu cầu của Nhật Bản để đóng một trong những đường tiếp tế chính cho quân đội bị bao vây của Tưởng Giới Thạch tại Trung Quốc: con đường Miến Điện.

        Hirohito không mấy hài lòng với Hiệp ước Trục. Ông nhận xét răng: “Dù là chúng ta đợi xem những gì xảy ra giữa Đức và Nga, thì vẫn còn thời gian cho sự liên minh”, và nhấn mạnh: “Chắc chắn Mỹ sẽ trả đũa bằng cách cấm vận nhập khẩu dầu và quặng sắt từ Nhật Bản. Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?”. Một lúc khác, ông nói một cách giận dữ: “Bất kể các người nhìn nhận vấn đề như thế nào, thì điều này vẫn có hại cho quân đội. Họ sẽ không thức tỉnh được cho đến khi Mãn Châu và Triều Tiên bị mất”. Với nước Anh bị thất bại và nước Mỹ trung lập, Nhật Bản bắt đầu xem xét tính khả thi của việc xâm chiếm nhiều thuộc địa khác.

        Tháng 7 năm 1941, Đức - quốc gia từng thúc ép Nhật Bản tấn công vào các lợi ích của Anh và Pháp tại châu Á - đã xâm lược Liên Xô. Người Nhật rất vui mừng: Anh, Pháp và Hà Lan giờ đã yếu thế, đây là thời cơ chín muồi để tấn công các lợi ích của họ tại châu Á, vì Liên Xô hoàn toàn tập trung vào châu Âu. Mỹ sẽ không liều lĩnh gây chiến với Đức bằng cách ngăn chặn các mục tiêu của Nhật Bản tại Đông Dương và Thái Bình Dương. Đây là cơ hội hiếm hoi để hình thành một đế chế to lớn thực sự tại Nam Á. Một vùng đất có dầu lửa, thiếc, bô-xít, niken và gạo (tất cả mọi thứ đều rất cần thiết cho lực lượng viễn chinh Nhật Bản tại Trung Quốc). Quan trọng hơn là zaibatsu - người biết rõ rằng với doanh thu xuất khẩu của Nhật Bản rất thấp trong thời kỳ khó khăn và không có sẵn tiền để mua nguyên vật liệu - có thể sẽ bị thôn tính.

        Trong khi đó, quân đội và hải quân đã liên kết cùng zaibatsu trong một liên minh gần như không thể ngăn lại được. Cục Chỉ đạo Chiến tranh của hải quân từ lâu đã biện hộ cho việc tấn công xuống phía nam. Họ tuyên bố: “Cuối cùng thời cơ cũng đã đến. Là một quốc gia gần biển, giờ đây Nhật Bản nên bắt đầu tiến về vịnh Bengal, thực hiện chiến lược lớn của hải quân”. Như một lời tiên tri, Đô đốc Yamamoto đã nói trước với Konoye vào giữa năm 1941 rằng: “Nếu tôi nói là phải chiến đấu thì bất chấp mọi hậu quả, tôi sẽ hoạt động hết sức để hoàn thành trong 6 tháng hoặc một năm. Tuy nhiên tôi hoàn toàn không tự tin vào năm thứ hai và thứ ba. Giờ đây tình hình đã trở nên khó khăn hơn, tôi mong rằng ông sẽ làm tất cả để tránh cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Nhật”.

        Một tháng sau khi bắt đầu cuộc hành quân Barbarossa của Hitler tấn công vào Liên Xô, người Nhật đã tiến vào Đông Dương mà không nhìn thấy trước rằng, diều đó chắc chắn sẽ gây ra chiến tranh với Mỹ Hirohito đã nói với quan giữ ấn nhỏ Marquis Kido - người được xem như cố vấn chính của ông: “Tôi không hoàn toàn hài lòng khi chúng ta tự hành động và lợi dụng điểm yếu của bên khác giống như kẻ cướp tại đám cháy. Tuy nhiên, để dối phó với tình hình không ổn định như hiện nay, chúng ta không được nản chí... Tôi hy vọng rằng ông sẽ tỏ rõ sự thận trọng khi tiến hành những kê hoạch của mình”.

        Giống như người Anh ở Miến Điện, chính phủ Vichy tại Pháp cũng bị buộc phải cắt đường tiếp tế ngang qua Đông Dương cho lực lượng của Chiang. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1941, lực lượng quân Nhật đã chiếm các căn cứ của Pháp ở phía nam Đông Dương. Dường như việc xâm chiếm chỉ là màn mở đầu cho sự xâm lược Malaysia, Philippines và Ấn Độ. Người Anh đáp trả bằng cách nhanh chóng mở lại Miến Điện để bày tỏ thiện chí chống lại sự bành trướng vô cớ của Nhật Bản. Sau đó, người Nhật tuyên bố chính điều này đã làm cho việc xâm lược Malaysia và Ấn Độ của họ là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, họ không có lý do để xâm chiếm Đông Dương của Pháp bởi vì những đường tiếp tế của cả Anh và Pháp cho Chiang đều đã bị cắt.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:19:06 am

        Mỹ, Anh và Hà Lan đáp trả băng cách ban hành lệnh cấm vận việc cung cấp dầu, sắt và thép từ bất kỳ lãnh thố hay quốc gia lệ thuộc nào cho Nhật Bản. Tài sản của Nhật Bản tại Mỹ cũng bị đóng băng.

        Phải mất một thời gian để người Nhật nhận ra rằng Mỹ là đối thủ không thể xem thường: Phản ứng của họ sau đó được kết luận rằng chiến tranh với Mỹ là điều không tránh khỏi, và chính người Mỹ đã muốn điều đó. Đô đốc Nagano - trưởng chỉ huy hải quân - đã tóm tắt quan điểm của Nhật Bản tại hội nghị nội các lịch sử vào ngày 3-9: Hiện tại, với tình trạng đất nước bị thiếu dầu, quân Đồng minh có thể mạnh hơn và Nhật Bản yếu đi. “Mặc dù ngay lúc này đây tôi tự tin rằng chúng ta có cơ hội chiến thắng trong cuộc chiến này, nhưng tôi cảm thấy cơ hội này sẽ biến mất cùng với thời gian” - Tojo tin rằng thắng lợi không có nghĩa là chắc chắn, nhưng Nhật Bản không còn sự lựa chọn nào khác. Nhật Hoàng thúc giục Konoye hãy cố gắng đến phút cuối cùng để hòa giải với người Mỹ.

        Tuy nhiên, người Nhật chí ít cũng đủng một điểm: Giờ đây hòa bình là không thể vì người Mỹ quyết tâm tham chiến, ngoại trừ việc Nhật Bản đầu hàng cùng với các điều khoản bẽ mặt. Khi xâm lược Đông Dương của Pháp, người Nhật đã tính toán sai lầm một cách thảm hại (mặc dù họ bào chữa rằng không hề có một tín hiệu rõ ràng nào từ Washington đế dừng lại). Hành động đơn lẻ này đã nhận được sự đồng thuận của các trung tâm quyền lực chính của Nhật Bản là Nhật Hoàng và hoàng gia (dù là miễn cưỡng), hoàng tử Konoye, nội các, quân đội, hải quân, zaibatsu, quan lại - được xem như bước quyết định.

        Tại sao nước Mỹ lại phản ứng một cách sốt sắng và kiên quyết đối với việc xâm chiếm Đông Dương của Nhật Bản, trong khi trước đây lại phản đối một cách thụ động lúc Nhật Bản tiến hành chiến tranh chống lại Trung Quốc? Hai lời giải thích sau đây đều có lý:

        Với việc tấn công vào Đông Dương, Nhật Bản đã thực sự đe dọa Đông Nam Á, điều này chắc chắn chống lại lợi ích chiến lược của Mỹ: Nhật Bản nên có sự thống trị rõ ràng đối với phía Tây Thái Bình Dương; Mỹ có thể tận dụng nguồn cung cấp các nguyên vật liệu chiến lược từ các thuộc địa.

        Lý do thứ hai: Roosevelt cảm thấy lo lắng nếu tham gia vào chiến tranh châu Âu, do ông bị thuyết phục bởi Churchill về những nguy hiểm khi nước Đức thực hiện quyền bá chủ trên toàn châu Âu. Điều này phần nào giải thích tại sao người Mỹ chấp nhận bỏ qua cuộc chiến tranh của Nhật Bản với Trung Quốc, mà không bỏ qua việc xâm lược Đông Dương. Roosevelt thừa biết rằng việc chống lại Nhật Bản tất yếu sẽ dẫn đến chiến tranh; và người Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, cùng lúc với tuyên bố của Hitler về chiến tranh tại châu Mỹ. Lúc này Mỹ mới nhanh chóng tham gia vào cuộc chiến tranh ở châu Âu.

        Roosevelt muốn lực lượng của Mỹ được phân công tham chiến tại châu Âu chứ không phải vùng Viễn Đông. Roosevelt xem chiến tranh với Nhật Bản gần như là công việc phụ. Ông tự tin rằng cuối cùng sẽ chiếm ưu thế ở đó, những chú ý ban đầu của Tổng thống Mỹ đã đi vượt qua châu Á.

        Bốn tháng sau khi lệnh cấm vận ban hành, Đô đốc Nagano đã nói với Hirohito rằng: “Thật ra, ngay cả chúng tôi cũng không chắc về chiến thắng”. Vào ngày 6-9, kế hoạch phác thảo cho chiến tranh được chấp thuận trước Nhật Hoàng. Tuy nhiên ông vẫn yêu cầu phải tiến hành mọi nỗ lực ngoại giao. Ông nói với Konoye trong bản tường thuật của Kawahara:

        “Đánh giá từ những kế hoạch này, ưu tiên việc chuẩn bị cho chiến tranh, những thương lượng ngoại giao bị đẩy xuống vị trí thứ hai. Tôi có cảm giác chiến tranh là ông chủ, còn việc ngoại giao là kẻ nô lệ!”. Ông đã yêu cầu dứt khoát “Việc chuẩn bị chiến tranh và ngoại giao không thể đặt ngang bằng nhau, những nỗ lực ngoại giao phải được thực hiện trước”. Sau đó, ông đã triệu Sugiyama đến, hỏi về chiến dịch phía nam và viễn cảnh của nó. Sugiyama trả lời: “Chỉ là Đông Nam Á. Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này trong khoảng 3 tháng”.

        Nhật Hoàng trả lời một cách sắc sảo: “Ông là Bộ trưởng Chiến tranh khi sự kiện Trung Quốc xảy ra và ông trả lời tôi nó sẽ được giải quyết trong vòng một tháng. Giờ đã 4 năm mà nó vẫn còn tiếp tục phải không?”. Sugiyama bào chữa rằng Trung Quốc quá rộng lớn, nhưng Nhật Hoàng đã chặn ngay: “Ồng nói Trung Quốc quá rộng? Không phải Thái Bình Dương còn lớn hơn hay sao? Điều gì khiến ông chắc rằng chỉ cần 3 tháng?” Sugiyama chỉ còn biết im lặng. Thế nhưng Nhật Hoàng lại chưa muốn kết thúc. Ông muốn biết nhiều hơn về những kế hoạch của quân đội, ông hỏi tiếp: “Ông chắc rằng mình có thể chiến thắng?”.

        “Tôi không thể khẳng định, nhưng có thể nói rằng trong mọi khả năng chúng ta sẽ chiến thắng. Tuy nhiên không thể chắc chắn về điều đó,” Sugiyama nói lập lờ nước đôi.

        “Tôi hiểu!” Nhật Hoàng nói lớn tiếng khác hẳn mọi khi.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:19:34 am

        Những ngày tiếp theo, Nội các chấp thuận hai cách giải quyết có tính chất quyết định. Đầu tiên, “Để gìn giữ sự độc lập và tự chủ của Nhật Hoàng, Nhật Bản nhất định không được thua cuộc trong trận chiến với Mỹ, Anh và Hà Lan, do đó, việc chuẩn bị chiến tranh phải được hoàn tất trước cuối tháng 10”. Thứ hai, “Song song với điều trên, trong nỗ lực để thỏa mãn những yêu cầu của Nhật Hoàng, Nhật Bản sẽ cố gắng áp dụng tất cả các biện pháp ngoại giao đối với Mỹ và Anh”.

        Người đứng đầu hội đồng - đại diện cho Nhật Hoàng -  đã gửi một số câu hỏi đến Bộ trưởng Hải quân. Nhật Hoàng khuyên không đặt câu hỏi với ông. Sau khi mọi người kết thúc, ông giận dữ viết ra một bài thơ của Hoàng đế Minh Trị:

        Tôi tin rằng đây là một thế giới.
        Trong đó tất cả mọi người đều là anh em.
        Ngang qua bốn biển.
        Tại sao lại làm sóng và gió.
        Để giờ sinh ra sự hỗn loạn này?


        Các lãnh đạo quân đội an ủi ông rằng họ sẽ cố gắng hết sức để dàn hòa. Hoàng tử Konoye đang bị thúc giục tiến hành cuộc gặp thượng đỉnh với Roosevelt. Tuy nhiên, người Mỹ cũng đang đánh giá việc chuẩn bị cho chiến tranh của Nhật Bản thông qua MAGIC - tên mật cho việc chọc thủng phòng tuyến bằng cách giải mã các thông tin liên lạc của Nhật Bản được phục vụ trong suốt chiến tranh Thái Bình Dương. Vào tháng 9, Roosevelt đã thảo ra các điều khoản cho việc hòa giải nhưng người Nhật không chấp nhận. Người Mỹ nhấn mạnh rằng họ yêu cầu không những rút lui khỏi Đông Dương mà phải rút khỏi cả Trung Quốc nữa. Đây được xem như một hành động không thể chấp nhận được trong việc mở rộng, dường như còn là cách trêu tức người Nhật. Đổi lại, lệnh cấm vận sẽ được xóa bỏ. Thủ tướng đã có cuộc gặp bí mật với đại sứ Mỹ tại Tokyo - Joseph Grew - để thúc đẩy cuộc gặp thượng đỉnh.

        Vào ngày 12-10, Konoye đã gặp Tojo - Bộ trưởng Chiến tranh và hiện tại được biết đến với cương vị thủ lĩnh của Nhóm Điều hành trong quân đội, cố thuyết phục ông rút “một số” đội quân khỏi Trung Quốc. Tojo thẳng thừng từ chối và chắc chắn rằng người Mỹ cũng sẽ từ chối như vậy. Sau đó, bản thân Hirohito cũng chấp nhận rằng chiến tranh là không thể tránh được, ông đã nói với Kido rằng:

        “Trong hoàn cảnh hiện tại, tôi nghĩ việc thương lượng giữa Mỹ - Nhật ít có hy vọng thành công”.

        Ngày 14-10, Tojo đã gửi tối hậu thư cho Konoye, ép buộc ông từ chức vì ông đã không báo cáo rằng có một số sự chia rẽ nghiêm trọng trong nội bộ hải quân (Konoye đề nghị toàn bộ hải quân tham gia chống lại chiến tranh, điều này gây tranh cãi với Tojo). Đối mặt với viễn cảnh chính phủ sụp đổ, Konoye đã yêu cầu một người ôn hòa -  hoàng tử Hikashikuni - lên thay thế ông. về sau, người họ hàng này của Nhật Hoàng xác nhận rằng ông đã khuyên Konoye hãy tiến lên và lập ra chính phủ khác, sa thải Tojo. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến một việc làm táo bạo của quân đội mà Nhật Hoàng lo sợ rằng mức độ sẽ nặng nề hơn. Để thay thế, Hirohito đã bổ nhiệm Tojo làm Thủ tướng cùng với một việc đáng chú ý là Kido được đề bạt làm Bộ trưởng Chiến tranh”.

        Hideki Tojo là con trai của một vị tướng nổi tiếng dưới thời Hoàng đế Minh Trị. Ông có vẻ bề ngoài thấp bé, cách ăn mặc không mấy thiện cảm như binh lính Nhật Bản thông thường: Giày không bóng láng, quần rộng thùng thình, đồng phục không ủi. ông hoàn toàn tương phản với người tiền nhiệm trước - tướng Araki - một nhà hùng biện xuất sắc. Tojo nói ngắn gọn và chính xác vào thẳng vấn đề. Ồng vừa là nhà quản lý tài năng vừa là tướng chỉ huy hiệu quả trên chiến trường. Đầu tiên, ông giữ chức chỉ huy cảnh sát quân sự trong quân đội Kwantung ở Mãn Châu, tiếp đó trở thành chỉ huy lực lượng cơ giới hóa của Nhật Bản tại Trung Quốc và sau đó được bổ nhiệm làm phó Bộ trưởng Chiến tranh trong nội các nhiệm kỳ thứ nhất của Konoye. Tài năng của ông đã làm Konoye chú ý, ông được đề bạt làm chỉ huy lực lượng không quân. Konoye cũng đã bổ nhiệm ông vào chức vụ Bộ trưởng Chiến tranh trong nội các nhiệm kỳ thứ hai và thứ ba, dưới áp lực của những quân nhân cực đoan.

        Tojo là người có ảnh hưởng lớn. Ông đã thiết lập lại kỷ luật trong quân đội, giải tán các sư đoàn bộ binh, kỵ binh và pháo binh riêng lẻ cũng như cục quân nhu hàng không để quân đội trở nên thống nhất hơn và những sĩ quan có năng lực có thể được chuyển từ một nhánh của quân đội đến các nhánh khác một cách nhanh chóng. Kinh nghiệm của Tojo tại Trung Quốc đã dạy ông giá trị của sức mạnh không quân, sự cơ giới hóa và chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng và ông đã lập bộ phận “Vũ khí hiện đại” trong quân đội. Ồng sở hữu một trí tuệ quân sự lỗi lạc và là nhà chiến lược tài giỏi. Ông mạnh mẽ, kiên quyết, trung thành tuyệt đối với Nhật Bản và Nhật Hoàng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:20:19 am

        Sau này, Konoye buồn bã nói với phụ tá của mình rằng ông đã bị Hirohito cách chức.

        Khi tôi nói với Nhật Hoàng rằng sẽ thật tồi tệ nếu bắt đầu chiến tranh; ông ấy cũng đồng ý với tôi. Nhưng sau đó, ông đã nghe những người khác và bảo tôi không nên quả lo lắng. Sau này ông trở nên nghiêng về chiến tranh nhiều hơn. Cuối cùng, ông bắt đầu tin rằng tôi không thành thạo trong chiến lược hay các vấn đề quân sự nói chung. Là Thủ tướng, tôi không có quyển hành gì đối với quân đội và chỉ có một người tôi có thể thỉnh cầu là Nhật Hoàng. Tuy nhiên, Nhật Hoàng lại chịu sự tác động quá nhiều của quân đội rằng tôi không thể làm bất cứ việc gì.

        Sự nhận định của Konoye bị chê trách. Thực sự là trong giai đoạn đó, Hirohito bị thuyết phục và nhất trí với chiến tranh: Đôi lúc bản thân ông cũng bày tỏ sự nghi ngờ về tính táo bạo của quân đội và ông đã đồng ý, bởi vì Mỹ từ chối nghị hòa, đất nước ông không thể chịu thua và phải giữ thể diện. Trong vấn đề này, ông bị ảnh hưởng bởi quan điểm của hầu hết mọi người trừ Konoye, người từng chủ trì cả hai quyết định của Nhật Bản trong việc xâm lược Trung Quốc và đánh chiếm Đông Dương.

        Nhật Bản đã chuẩn bị cho chiến tranh trước khá lâu so với thời điểm xảy ra trận Trân Châu Cảng vào tháng 7 năm 1940, khi việc sản xuất các mặt hàng xa xỉ bị nghiêm cấm. Không một ngành công nghiệp thiết yếu nào được chuẩn bị cho sự thay đổi nhanh chóng để sản xuất phục vụ chiến tranh. Mười tám tháng trước trận Trân Châu Cảng, lái xe đi dạo bị cấm. Giữa năm 1941, ô tô bị buộc ngưng sử dụng. Tabui đế cao su biến mất khỏi các cửa hàng 2 năm trước chiến tranh đế tích lũy dự trữ cao su, dầu lửa và quặng sắt cũng được dự trữ.

        Trong vài năm, những vật liệu có ích như các vật dụng bằng kim loại đều bị trưng thu. Đinh, nắp chai, khung hình và đinh ghim đều bị thu. Hai tuần trước trận Trân Châu Cảng, các thành viên của Quốc hội Nhật Bản bị buộc phải đi xe buýt đến dự họp. Những dấu hiệu khác của việc chuẩn bị cho chiến tranh là sự vắng mặt của cà phê, tắt đèn neon tại Ginza, đưa ra “Ngày công ích cho sự phát triển của châu Á”. Năm 1940, gạo, muối, đường, diêm và các vật dụng cần thiết hàng ngày khác bị hạn chế, ngay cả chiến tranh với Trung Quốc cũng có điều này. Phụ nữ bị cấm mặc quần áo diêm dúa hay để tóc theo kiểu cầu kỳ.

        Ngày 2-11, Hirohito gặp gỡ các tướng lĩnh bàn về kế hoạch hành động cho chiến tranh và cho ý kiến về ngày và địa điểm mà hải quân tấn công Trân Châu Cảng. Khi các nhà thương thuyết Nhật Bản gặp người Mỹ vào ngày 7-11, yêu cầu của họ đã cứng rắn hơn. Ngày 26-11, người Mỹ lặp lại yêu cầu của họ là quân Nhật phải rút lui khỏi Trung Quốc và Đông Dương. Roosevelt đã nhắc nhở các Đô đốc chuẩn bị chiến tranh. Stimson - thư ký chiến tranh của Mỹ - nhắc lại lời Roosevelt: “Chúng ta gần như sắp bị tấn công vào khoảng thứ Hai tới (ngày 1-12). Đối với quân Nhật điều đó là hiển nhiên mà không cần báo trước. Roosevelt tin răng điều này sớm xảy ra ở Nam Thái Bình Dương vì tàu Nhật Bản đang tập trung tại Thượng Hải”.

        Tại cuộc họp quyết định của các chính khách cấp cao vào ngày 29-11, Konoye tỏ ra lập lờ khó hiểu.

        Tôi thực sự lấy làm tiếc vì không thể làm bất kỳ điều gì cho việc dàn xếp mối quan hệ Nhật-Mỹ. Tôi đánh giả cao nội các hiện tại đang cố gắng hết sức để đạt được điều đó. Dựa trên những giải thích của chính phủ vào sảng nay, thật đáng tiếc khi tôi buộc phải kết luận rằng, việc tiếp tục xa hơn những cuộc thương lượng ngoại giao đã không còn hy vọng... Mặc dù vậy, có cần thiết phải tiến hành chiến tranh ngay lập tức cho dù những thương lượng ngoại giao đã thất bại hay không? Tôi tự hỏi, trong khi các vấn đề vẫn đang tiếp diễn, tại sao không thể tìm một cách khác ngoài sự đình trệ hoàn toàn bằng cách kiên trì đến mức tối đa, bất chấp những khó khăn?

        Tất cả những chính khách cấp cao khác đều chống lại chiến tranh, trong đó có Đô đốc Yonai, các Thủ tướng trước đây như Hirota, Hiyashi, Abe và Wakatsuki.

        Đến giờ chót, Hirohito càng nghi ngờ hơn khi hoàng tử Takamatsu, em trai của Hirohito - đã báo cáo với ông rằng hải quân “sẽ rất hài lòng nếu chiến tranh có thể được ngăn chặn”. Nhật Hoàng ngay lập tức triệu tập Bộ trưởng Hải quân, trưởng ban lãnh đạo cùng Tojo và được trấn an rằng họ không có nghi ngại gì. Kido thuật lại: “Khi Nhật Hoàng hỏi, họ trả lời đầy tự tin, vì vậy ông đã nói với tôi hãy để Thủ tướng tiến hành như kế hoạch”.

        Khoảng giữa đầu tháng 9 và cuối tháng 11, Nhật Hoàng kiên quyết ngăn chặn chiến tranh, có lẽ ông bị thuyết phục bởi những gì chính mắt ông nhìn thấy, chảng hạn như sự bướng bỉnh của người Mỹ. Ngoại trừ một số ít quan lại lớn tuổi và một phần nhỏ trong hải quân, tất cả các thế lực của Nhật Bản đều buộc phải nhất trí với điều không thể tránh được là chiến tranh. Quyết định là của cả một quốc gia, không phải của riêng bọn quân phiệt. Tất nhiên, những người dân thường không được bày tỏ ý kiến mà chỉ đơn thuần là phải ủng hộ. Dư luận tại Mỹ có ít ý kiến cho rằng chiến tranh sắp xảy ra hoặc tương tự như vậy.

        Tại cuộc họp vào ngày 2-12, Nagano và Sugiyama đã nói với Hirohito rằng, đêm ngày 8-12 sẽ là cơ hội tốt nhất, vì đó là ngày Chủ nhật, quân Mỹ nghỉ ngơi và tàu của họ đang neo tại cảng. Ngày 8-12 là thứ Hai ở Tokyo và phần còn lại của châu Á, và là Chủ nhật ở Hawaii. Hiện nay, một số nhà lịch sử Nhật Bản nói rằng Nagano đã thông báo với Hirohito rằng cuộc tấn công sẽ diễn ra vào ngày thứ Hai, khi quân Mỹ rất mệt sau một ngày Chủ nhật vui chơi, chè chén, điều này có vẻ không chắc chắn.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:20:51 am

        Vào ngày 2-12-1941, Đô đốc Yamamoto - chỉ huy hạm đội Nhật Bản - đã gửi đi mệnh lệnh được mã hóa: “Leo lên núi Nitaka! 1298”, có nghĩa là việc tấn công Trân Châu Cảng nên tiến hành vào ngày 8-12. Hạm đội Nhật Bản rời khỏi Kuniles và đến phía Bắc Thái Bình Dương. Vào lúc 6 giờ chiều giờ Washington, tổng thống Roosevelt đã gửi một bức thư cho riêng Hirohito yêu cầu rút khỏi Đông Dương và không nhắc gì đến việc rút quân khỏi Trung Quốc. Bức thư này đã bị lực lượng kiểm duyệt quân đội Nhật Bản giữ lại và chuyển cho đại sứ Mỹ ở Tokyo -  Joshep Grew - 12 giờ sau đó. Nửa đêm ngày 8-12 - giờ Tokyo - ông đã cố chuyển bức thư cho Nhật Bản, tuy nhiên, Ngoại trưởng Nhật đã nói với ông rằng: Hirohito sẽ không lúng túng.

        Tuyên bố của Nhật Bản về thái độ thù địch chống lại nước Mỹ đã được chuyển đến đại sứ quán Nhật Bản tại Washington, và được chuyển di tiếp vào lúc 1 giờ chiều ngày tiếp theo. Đô dốc Nomura - đại sứ Nhật Bản - đã chuyển thông điệp cho Cordell Hull vào lúc 2g20 chiều. Trước đó nửa giờ, Hull cùng với Roosevelt và Bộ trưởng Hải quân đã đánh giá khả năng tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng.

        Vào tuổi 41, Hirohito đã đạt đến bước ngoặt trong cả cuộc đời với quyết định mở cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Quyết định này đã gây ra cái chết của 10 triệu người và làm thay đổi cuộc sống của hàng trăm triệu người.

        Giờ đây, một người đàn ông mạnh mẽ hơn, tự tin hơn, có vẻ ngạo mạn, trở nên bướng bỉnh với sự bợ đỡ của cả một bộ máy quân sự to lớn và sự tuân lệnh tuyệt đối của hàng triệu thần dân, phớt lờ những cố vấn thông thái, ông ở đỉnh cao của quyền lực cá nhân. Cậu bé vụng về, nhút nhát, suýt bị tàn tật, một sinh viên môn sinh vật biển kín đáo đã hoàn toàn thay đổi. Ỏng là người cai trị của một dân tộc thống nhất.

        Đối với quyết định tiến hành chiến tranh, lịch sử phán xét ông cay nghiệt như thế nào? Herbert Bix đã cho thấy điều đó thông qua quyển sách Hirohito và việc tạo ra một Nhật Bản hiện đại. Ông nêu ra Thủ tướng sắp mãn nhiệm, hoàng tử Konoye, để nói về trách nhiệm của Nhật Hoàng:

        Đối mặt với việc bị quân đội bóp nghẹt do lệnh cấm vận dầu lửa và lựa chọn chấp nhận thua cuộc tại Trung Quốc, ông phải từ bỏ một phần lớn đế chế của mình và có thể phải thiết lập lại nền quân chủ mà ông đã kế thừa, Hirohito đã chọn cách thứ ba: Chiến tranh chống lại Mỹ và Anh. Giống như đa số tướng lĩnh của mình, ông tin rằng Đức sẽ chiến thắng Anh vì họ đã thống trị toàn châu Âu. Nếu kế hoạch chiến lược đó nhanh chóng hoàn thành, Nhật Bản có thể chiến thắng người Mỹ hay ít nhất là đạt được thế cân bằng. Từ sự chọn lựa này, Hirohito dốc hết sức để lãnh đạo chiến tranh đến thắng lợi bằng mọi giá. Đó là vai trò đòi hỏi khắt khe nhất và hoàn toàn độc đoán.

        Nhiều vấn đề phức tạp cần được gỡ rối. Trong tiến trình quân đội Nhật Bản thống trị và việc hình thành một đế chế Viễn Đông, Hirohito đã phản kháng, bào chữa cho sự miễn cưỡng chấp thuận đầu tiên là ông cần phải tiếp tục hành động như một sự ảnh hưởng ôn hòa, thứ hai là giữ hiện thân tối cao cũng như biểu tượng thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông.

        Việc kết thúc chiến tranh trước trận Trân Châu Cảng cũng không có gì khác biệt. Trong tháng 9, ông đã phản đối trước sự thay đổi của các sự kiện: Việc chiếm đóng của Nhật Bản tại Đông Dương đã dẫn đến sự bóp nghẹt kinh tế của Mỹ. Đối mặt với quyết định rút lui, từ bỏ Đông Dương và Trung Quốc, hay chiến tranh chống lại Mỹ và Anh, ông đã chọn cách thứ hai. Không thể phủ nhận rằng, với những gì xảy ra, trước dây, thì sự lựa chọn của ông không những hợp lý mà còn là điều duy nhất mà ông có thể làm.

        Với sự thất bại của Konoye, phe ủng hộ chiến tranh đang lên. Với ông, việc ngăn chặn chiến tranh là điều không thể và nếu không ông có thể phải đánh đổi bằng ngai vàng của mình. Bất kỳ sự cố gắng nào để làm điều đó đều đòi hỏi tài năng của nhà chính trị và lòng can đảm: Nhưng với Hirohito, chắc chắn ông không phải là khuôn mẫu của một anh hùng.

        Hirohito đã theo đuổi chiến tranh, mong muốn chiến tranh hoặc chắc thắng trong cuộc chiến với Mỹ và Anh. Thật ra, ông đã liều lĩnh muốn tránh diều đó, nhất là nỗi lo sợ Nhật Bản sẽ bại trận. Sự phê chuẩn miễn cưỡng nhưng có tính chất quyết định của ông đối với chính sách mở rộng của Nhật Bản sang các nước láng giềng châu Á, đã đặt ông và đất nước Nhật Bản vào thế hoặc là phải rút lui một cách nhục nhã, hoặc là bắt đầu chiến tranh với các thế lực Tây Âu. Kết luận mà ông rút ra là chiến tranh với Mỹ là điều không thể tránh được.

        Thế là trò chơi lớn đã bắt đầu giữa hai đối thủ hùng mạnh nằm hai bên bờ Thái Bình Dương, không phải do thèm muốn lãnh thổ của cả hai mà là chiến đấu vì sự thống trị trong khu vực. Hai đối thủ hoàn toàn khác biệt. Một bên là nền dân chủ trẻ trung sôi nổi với nền công nghiệp lớn mạnh cùng vị trí quân đội nhỏ bé hiện đang mở rộng bằng cách tuyển mộ hàng trăm ngàn binh lính. Bên kia là quốc gia đang trong cơn lốc công nghiệp hóa, dưới chế độ độc tài quân sự với truyền thống chiến binh lâu đời của một lực lượng quân đội có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với biểu tượng sống của quốc gia -  Nhật Hoàng. Nhật Bản đã từng đánh thắng một thế lực lớn - nước Nga, cùng với lực lượng dày dạn kinh nghiệm trận mạc đã thống trị Đài Loan, Triều Tiên, Mãn Châu và phần lớn Trung Quốc. Phong kiến và Tân thế giới đã gặp nhau trong trận đánh lớn để giành quyền kiểm soát đại dương lớn nhất và vùng đất rộng lớn của thế giới cũng như phần lớn dân số thế giới hiện đang trú ngụ ở châu Á.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:09:31 am

PHẦN IV

ÔNG GIÀ Ở ĐẢO CORREGIDOR


Chương 19

TỔNG TƯ LỆNH CỦA WASHINGTON

        Trong khi vị quốc vương trẻ tuổi Hirohito đem tên tuổi đặt trong canh bạc định mệnh nhất trong lịch sử quốc gia mình, cách vài trăm cây số về phía nam, một vị tướng già người Mỹ lớn hơn ông 21 tuổi làm lính đánh thuê cho một thế lực nước ngoài hạng xoàng.

        Tại sao người hùng chiến tranh mà chúng ta bỏ rơi vào mùa thu năm 1922 lại rơi vào tình huống khó khăn này? Phải thừa nhận là sự nghiệp của Douglas MacArthur lúc đó đang trong giai đoạn đi xuống. Là nạn nhân của bản tính lãng tử khờ dại (các bậc vai vế có thâm niên trong quân đội Mỹ không tán thành về chủ trương cải cách của ông, Tướng Pershing không tán thành vị hôn thê mà ông chọn lựa), ông đã bị bỏ rơi trong cánh rừng rậm đầy muỗi ở bán đảo Bataan - nơi mà ông không ngờ rằng mình sẽ đóng một vai trò định mệnh.

        Trong phạm vi xã hội của cuộc sống kiều dân Mỹ ở tỉnh lẻ Manila, đáng lẽ ông phải nhận thức được rằng, giấc mơ về hạnh phúc vợ chồng sẽ nhanh chóng tan biến thành tro bụi. Cô Louise sành diệu, khiêu gợi, thích tiệc tùng, sôi nổi đã quen với nhịp sống hối hả ở New York và Paris cảm thấy cuộc đời của một quân nhân ở nước ngoài nhạt nhẽo hơn những gì mình đã mường tượng. Mặc dù Vịnh Manila rộng lớn có khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, khu nhà lộn xộn một tầng nghèo nàn của thành phố đối lập hẳn với khu nhà chính phủ, khách sạn và các biệt thự sang trọng.

        Cô nhanh chóng chán nản. Đất nước Philippines như trong thư cô viết về nhà là nơi “Cực kỳ buồn chán”. Cô cũng không được chơi với hai đứa con nhỏ. MacArthur thích chơi với chúng bất cứ khi nào ông có thời gian rảnh trong khu vườn rộng rãi của ngôi nhà đẹp. Vị tướng dạy cho bé Walter đạp xe và cũng rất thương bé Louise từng bị sốt rét khi còn nhỏ.

        Vợ ông cố gắng tạo ra không khí nhộn nhịp, sôi nổi mà cô muốn. Cô đã làm nữ cảnh sát bán thời gian và có lần bắt giữ một người đàn ông vì đã đánh con ngựa của ông. Cô tìm cách chọc vui MacArthur bằng cách gọi ông là Ngài Galahad. Bản thân MacArthur không thích giao thiệp vui chơi nơi đông người. Trong lúc Louise đắm chìm trong các cuộc vui chơi phù phiếm trên các đảo, ông chỉ đến các buổi tiệc tối đặc biệt với Toàn quyền Philippines Leonard Wood, ông chủ cũ của MacArthur và là người mà Louise thường tìm đến đế than phiền về quyết định của tướng Pershing đày ải chồng cô sang đây.

        Đầu năm 1923, MacArthur được gọi trở về Mỹ sau khi nhận được cuộc điện thoại thông báo mẹ ông đang bệnh nặng. Louise không hề che giấu sự vui sướng khi được quay trở về. Sau khi về Mỹ, Mac Arthur đã tìm đến Bộ trưởng Chiến tranh John Weeks để xin về nhà hẳn, tuy nhiên Weeks không muốn chống lại tướng Pershing đầy quyền lực. Louise tìm đến người cha dượng giàu có Edward T. Stotesbury nhờ ông đặt vấn đề trực tiếp với Tổng thống Calvin Coolidge. Nhưng tất cả đều không có kết quả. MacArthur phải quay trở lại Philippines sau khi mẹ ông đỡ bệnh.

        Trở lại Philippines, ông và Wood bắt đầu thảo một chiến lược phòng vệ cho các hòn đảo, sử dụng ý tưởng lực lượng dân quân kiểu Thụy Sỹ. Ông nắm quyền chỉ huy sư đoàn Philippines bao gồm lực lượng trinh sát Philippines và trung đoàn quân sự 31 của Mỹ. MacArthur không có thái độ phân biệt chủng tộc và dễ dàng quan hệ với các sĩ quan người Philippines cũng như nối lại quan hệ thân thiết với người bạn cũ Manuel Quezon. Sự khoan dung như vậy không phải là diều thường thấy đối với một chỉ huy người Mỹ vào thời đó.

        Thành công của ông trong công việc khiến Wood đề nghị Washington đề bạt ông. Weeks trả lời rằng: Lượt đề bạt ông sẽ đến trong thời gian sớm. Trong khi đó bà Pinky - mẹ của MacArthur đã bình phục và trực tiếp gửi thư cho Pershing. Trong lá thư này, bà đã có lời lẽ hạ cố đối với vị tướng nổi tiếng nhất trong quân đội Mỹ mà nếu MacArthur biết được chắc ông sẽ hết sức xấu hổ:

        Tôi rất vui khi được gặp ông vào ngày thứ Bảy. Ông trông còn trẻ và mới đẹp trai làm sao! Tôi nghĩ rằng ông sẽ không bao giờ già... Tôi tin vào mối quan hệ bằng hữu trung thành đối với ông để tha thiết xin cho con trai của tôi, không biết ông có cảm thấy phiền lòng khi để bạt cho con trai tôi trong nhiệm kỳ Tham mưu trưởng của ông hay không? Ông là người đầy uy quyền trong quân đội và chỉ cần một vài chữ viết của ông, con trai tôi sẽ được thăng chức. Ông chưa bao giờ quèn tôi và tôi tin rằng ông cũng sẽ không quên lời khẩn cầu này... Ông vẫn là ông bạn già Jack yèu dấu tốt bụng và ngọt ngào xưa kia và bảo đảm với tôi ràng ông sẽ đề bạt con trai tôi trước khi ông rời quân đội. Chúa phù hộ cho ông và ban thưởng cho cuộc đời sáng giá của ông bằng cách đưa ông vào Nhà Trắng. Người bạn trung thành của ông - Mary p. MacArthur.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:10:06 am

        Người lính già cuối cùng đã đề bạt MacArthur lên thiếu tướng hai sao, vị tướng trẻ nhất trong quân đội Mỹ. Đây là cấp hàm quá cao cấp, không phù hợp với việc phục vụ một nơi tù đọng như Philippines.

        Tháng Giêng năm 1925, vợ chồng MacArthur đã trở về Mỹ. Quan hệ giữa hai vợ chồng căng thẳng đến mức cả hai đều đề phòng nhau. Louise muốn cuộc sống sung sướng và không nghe lời chồng. MacArthur đã mất kiên nhẫn về tính hay trễ giờ của cô. Khi trở về lại xảy ra một thất vọng lớn hơn: Ông được đưa đến chỉ huy Quân đoàn số 4 ở Atlanta, bang Georgia - một vùng tù đọng khác.

        Đến nhà thờ, Douglas cảm thấy nhục nhã khi thấy ba phần tư giáo đoàn ra đường biểu tình phản đối. Ngay lập tức, ông yêu cầu được thuyên chuyển công tác và đã được gửi đến chỉ huy quân đoàn số 3 ở Baltimore, bang Maryland - một vùng nước tù đọng dễ chịu hơn.

        Bi kịch gia đình đã che khuất những cải thiện không đáng kể trong vận may của MacArthur. Anh trai Arthur đang thành công trong binh nghiệp hải quân đã chết vì bệnh viêm ruột thừa.

        Một trong những nhiệm vụ đầu tiên và không vừa ý nhất của MacArthur là phải ra tòa án quân sự xét xử một người bạn cũ, một người tiên phong của không quân Mỹ -  Billy Mitchell. Mitchell là cháu một người bạn của ông nội MacArthur, con của một sĩ quan từng phục vụ cùng cha ông trong quân đội và là bạn của Douglas thuở nhỏ. Mitchell có tính cách giống MacArthur ở chỗ tin rằng có thể chống đối các quy định và đưa niềm tin này đi quá xa. Ông công khai chỉ trích các sĩ quan cao cấp vì tắc trách để xảy ra hàng loạt tai họa không quân và dự đoán rằng: “Bất cứ phản công nào nhằm vào Nhật Bản phải có sự yểm trợ của không lực... Trong tương lai, các chiến dịch trên biển sẽ được thực hiện từ căn cứ mặt đất này đến căn cứ mặt đất khác dưới sự yểm trợ của không quân”. Ông ta đã chứng minh diều này đúng qua nhiều sự kiện.

        MacArthur ngồi ở tòa án quân sự trong suốt 7 tuần không nói một tiếng nào mà chỉ trao đổi ánh mắt với Louise, trong khi đó Mitchell đưa ra các quan điểm của mình.

        Không hiểu MacArthur đã bỏ phiếu như thế nào nhưng Mitchell suýt nữa bị kết tội. Sau đó, MacArthur bị nhiều sĩ quan không quân dưới quyền (vốn xem Mitchell là người hùng) nghi ngờ, mặc dù Mitchell không hận thù gì MacArthur.

        Dường như các luật sư với sự thận trọng chuyên nghiệp đã thắng được tính bốc đồng dễ thương thường lệ của MacArthur, mặc dù ít người tin rằng Mitchell xứng đáng được tha bổng về thái độ bất tuân thượng lệnh. Sau này, MacArthur cho biết ông chỉ đóng vài trò vừa phải ở hậu trường tòa án.

        Trong khi đó ông miễn cưỡng tham gia cuộc sống giao thiệp rộng rãi ở quận Baltimore - nơi Louise sở hữu một điền trang gọi là Đồi cầu vồng. Tuy nhiên, công việc của ông cứ lặp đi lặp lại thường xuyên và chán ngắt khi quân đội phải chịu áp lực giảm ngân sách. Mặc dù còn trẻ so với chức vụ, ông đã tôi luyện chuẩn bị cho một vai trò có nhiều thử thách hơn. Điều này bất ngờ xảy ra vào tháng 9 năm 1927 khi ông được đề nghị đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ủy ban Olympic Mỹ nhằm thi tài ở Hà Lan vào năm sau, vì vị chủ tịch đương nhiệm đột ngột qua đời. Vốn dam mê thể thao, ông lập tức nhận nhiệm vụ.

        Tuy nhiên, đây là giai đoạn không mấy suôn sẻ cho cuộc hôn nhân đã kéo dài 5 năm của ông. Khi Quekemeyer chết (người mà Louise có lẽ đã tiếc nuối vì không cưới được), Louise viết một lá thư bày tỏ sự đau khổ với Pershing. Cô trở nên chán ngấy cuộc sống quân đội và cố gắng thuyết phục chồng chuyển qua cuộc sống dân sự với một công việc được trả lương cao trong công ty của người cha dượng J. p. Morgan. MacArthur từ chối và trong một bài phát biểu ông đã đề cập đến “Sự ngu dốt của lối sống tráng lệ khoa trương”, một sự ví von tinh tế về xuất thân của Louise. Cô đã cố gắng đưa MacArthur ra khỏi cuộc đời binh nghiệp mà ông dam mê trên tất cả. Đối mặt với sự lựa chọn giữa hai tình yêu, ông đã chọn cuộc đời binh nghiệp. Cũng không thể nói hôn nhân của họ không có ý nghĩa gì. Mặc dù không hòa hợp nhưng hôn nhân giữa họ đã tồn tại trong thời gian khá lâu vì cả hai đều có thiện chí muốn cải thiện tình cảm. Tuy nhiên giờ đây Louise đã chán ngấy cảnh làm người đàn bà có chồng ở Baltimore và quyết định rời bỏ để đến New York tráng lệ.

        Chẳng bao lâu sau, MacArthur lên đường di Hà Lan mà không có vợ đi cùng. Sau này, nhà báo nổi tiếng William L. Shirer đã viết rằng, anh ấn tượng về tướng MacArthur hơn:

        Ồng ấy dường như cao cấp hơn quân hàm mà tôi hình dung về những người lính chuyên nghiệp của chúng ta. Ồng mạnh mẽ, nói năng lưu loát, sâu sắc, thậm chí có cả một chút triết lý và chứng tỏ là người nghiên cứu nhiều. Chỉ có thái độ kiêu căng của ông làm tôi lo ngại.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:04 am

        MacArthur say mê làm nhiệm vụ như thể ông đang lâm chiến và buộc phải chiến thắng. “Chúng ta ở đây để đại diện cho đất nước vĩ đại của mình trên trái đất này. Chúng ta không thể thua trận nhục nhã, phải chiến thắng và chiến thắng một cách thuyết phục”.

        Ông đã điều hành công việc hăng say như lời ông nói. Đội tuyển Mỹ đã giành nhiều huy chương hơn số huy chương hai nước đứng phía sau cộng lại và lập 7 kỷ lục thế giới cũng như 17 kỷ lục Olympic.

        Khi trở về Mỹ, ông viết một bản báo cáo long trọng thái quá về cuộc tranh tài Olympic cho Tổng thống Coolidge. Bản báo cáo kết thúc với những cảm xúc lãng mạn như thể MacArthur đang bay bổng trên cung trăng:

        Đặt sự nghiệp trên danh tiếng.
        Yẽu cuộc chơi hơn giải thưởng.
        Tôn trọng đối thủ dù đánh bại họ.
        Đối diện kẻ thù với ánh mắt can đảm.
        Xem cuộc đời như một trận đánh hay.
        Mặt đất yêu dấu nơi bạn sinh ra và cả tình huynh đệ thắm thiết.
        Két nối lòng dũng cảm của tất cả trái đất.


        Suy nghĩ của vị Tổng thống ít nói Coolidge về những dòng văn này có thể dễ dàng đoán được, vì ông không thích hoa mỳ dài dòng. (Có một câu chuyện kể rằng, trong một bữa ăn, một trong hai quý bà đang ngồi chung với Coolidge nói rằng: “Thưa Tổng thống, chúng tôi đã cá cược rằng có thể khiến ông nói hơn ba từ trong bữa ăn này”. Ông đã trả lời: “Bạn thua!”) Điểm khác nhau giữa cách hành văn hoa mỹ của MacArthur và những vần thơ ngắn gọn của Hoàng đế Hirohito rất rõ ràng.

        Bây giờ, MacArthur phải thể hiện một tính cách khác không bình thường đối với một người phục vụ quân đội: Quan tâm trực tiếp về chính trị. Sự phân biệt giữa quân sự và chính trị ở Mỹ theo truyền thống đã dần phai nhạt hơn trong các nền dân chủ. Kể từ thời George Washington đã có truyền thống những người phục vụ quân đội sau một thời gian dài và có thành công thường quan tâm đến chính trị. Tướng Pershing tranh cử chức tổng thống là một ví dụ. MacArthur quyết định không ủng hộ đảng phái nào ở Mỹ nhưng phê phán những mối nguy hiểm đe dọa Mỹ và thế giới. MacArthur đã viết như sau:

        Trở về Baltimore, tôi đã bày tỏ công khai những lo sợ về chủ nghĩa hòa hoãn và các luồng ý thức hệ nước ngoài khác đang làm cho nước Mỹ lặp lại những sai lầm trong quá khứ.

        Trong khi Hồng quân ở Nga đang là mối đe dọa, Ba Lan đang gây hỗn loạn, Rumani đòi ly khai, Pháp lâm chiến ở Marốc, Nicaragua đang diễn ra cuộc cách mạng, Mexico trong tình thế hỗn loạn và nội chiến xảy ra ở Trung Quốc, dường như đường phố của chúng ta sẽ một lần nữa tràn ngập những người tuần hành biểu tình và đất nước chúng ta lại cần đến nghĩa vụ quân sự. Tôi tin chắc là cần thiết phải có sự chuẩn bị đầy đủ về quân đội cho tôi trong những thảng ngày khó khăn của thập kỷ 20 và đầu những năm 30. Kẻ thù lâu dài của chúng ta ở Mỹ là những người theo chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa hòa hoãn.


        Đối với vị tư lệnh của quân đoàn số 3, những quan điểm như vậy là không bình thường. Thật thú vị là MacArthur từng lo ngại về khả năng chiến tranh với Nhật Bản khi còn ở Philippines lại có nguy cơ xảy ra nhiều hơn về mối đe dọa từ phe tả ở nước Mỹ. Cuối cùng, ở độ tuổi 50, MacArthur đã ra khỏi “tu viện quân đội” và nếm trải mùi vị chính trị hấp dẫn. Cũng giống như Hirohito, ông xác định kẻ thù là những người theo chủ nghĩa hòa hoãn và chủ nghĩa Cộng sản thuộc phe tả.

        Đáng chú ý là thực tế, ông nêu ra những quan điểm này trước khi thị trường chứng khoán Phố Wall sụp đổ và nhấn chìm nước Mỹ vào nhiều năm suy thoái kinh tế.
         
        Trong khi đó, Louise từ chối di theo ông đến Hà Lan và cặp kè với nhiều đàn ông ở New York. Dường như nguy cơ hôn nhân tan vỡ là căn nguyên khiến MacArthur thất vọng rất nhiều, vì ông khao khát có tình cảm vợ chồng. Ông cũng ngày càng gắn bó với hai đứa con nhỏ. Chẳng bao lâu sau, ông được lệnh quay trở lại Philippines để chỉ huy tất cả các lực lượng ở đó, Louise không chịu đi cùng ông.

        Sáu tháng sau đó, cô nộp đơn xin ly dị sau khi hai bên đã đồng ý nhưng với lý do kỳ cục: Ông không nuôi cô, mặc dù cô là một trong những người phụ nữ giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ! Tuy nhiên, cô cũng tuyên bố với báo chí: “Tôi rất ngưỡng mộ và tôn trọng Tướng MacArthur!”.

        Với nhiệm vụ mới, MacArthur đã gặp khó khăn với ông Henry L. Stimson - vị Toàn quyền của Philippines có dòng dõi quý tộc và học thức uyên thâm. Tuy nhiên, MacArthur cũng nối lại quan hệ bằng hữu với Manuel Quezon. Mối bận tâm chính của ông là làm thế nào bảo vệ các hòn đảo trước mối đe dọa của người Nhật.

        Quân đội của ông bao gồm 17 ngàn quân Mỹ và Philippines chưa được huấn luyện bài bản và trang bị đầy đủ cùng với vỏn vẹn 18 chiếc máy bay.

        MacArthur gọi đây là “Sự thiếu thốn tội nghiệp”. Stimson được Tổng thống mới đắc cử Herbert Hoover triệu hồi về nước để nhậm chức Ngoại trưởng vào tháng 2 năm 1929. Vị tổng thống này đã chú ý đến ngôi sao đang lên, vị tướng trẻ thông minh và chống cộng MacArthur.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:34 am

        Mùa thu năm 1929, vụ sụp đổ thị trường chứng khoán Phố Wall đã dự báo sự chấm dứt thời kỳ thịnh vượng của thập niên 20. Hoover đối mặt với một viễn cảnh: Kinh tế suy thoái và số người thất nghiệp đang tăng dần. Không bao lâu, MacArthur được gọi về Mỹ. Mùa hè năm 1930,

        ông được giao chức vụ tổng công trình sư, sự tôn kính cao nhất của Hoover dành cho MacArthur vì bản thân Hoover từng là kỹ sư. Nhiệm vụ của MacArthur là bắt tay vào các dự án công trình công cộng để giải quyết nạn thất nghiệp do sụp đổ thị trường gây ra.

        Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người, MacArthur từ chối chức vụ này. Ông đang nắm chắc trong tay về chức vụ Tham mưu trưởng. Ông đã viết một lá thư tâng bốc mùi mẫn cho Bộ trưởng Chiến tranh mới Patrick J. Hurley. Tháng 8 năm 1930, Hoover và Hurley đã đồng ý giao cho ông chức vụ này. MacArthur nhận thức được các khó khăn khi nắm chức vụ này trong thời kỳ suy thoái và đã bày tỏ sự nhũn nhặn bất ngờ:

        Tôi biết những thử thách kinh khủng mà Tham mưu trưởng phải đối mặt. Tôi ao ước từ đáy lòng được ở với quân lính để chỉ huy chiến trường. Tuy nhiên, mẹ tôi ở Washington cảm nhận được những gì tôi đang nghĩ và đánh điện cho tôi đề nghị tôi nhận chức vụ này. Bà ấy nói rằng cha tôi sẽ rất xấu hổ nếu tôi sợ hãi không dám đảm nhận chức vụ. Điều này đã giải tỏa được sự phân vân của tòi.

        Ông lại được báo chí yêu mến và gọi là chàng lính ngự lâm d’Artagnan của quân đội. Ông cư ngụ ở Quarters Number Ope, thành phố Fort Myers phía bên kia sông Potomac. Ông không còn phải sống một mình nữa khi bà Pinky -  người mẹ 77 tuổi dọn đến ở cùng.

        Có một sự hiện diện khác ở nơi đây mà mẹ ông không biết. Trong một trận đấu quyền Anh ở Manila, ông đã để ý đến một bóng hồng ngây thơ xinh đẹp: Cô gái Isabel Rosario Cooper 16 tuổi - con gái một doanh nhân người Scotland với người vợ Philippines. MacArthur ngay lập tức bị tác động mạnh. Cũng giống như với Louise, ông khao khát tình cảm lãng mạn mãnh liệt và đầy ham muốn với Isabel. Cô gọi ông là “Bố” và ông gọi Isabel là “Cô gái bé bỏng của bố”, “Con thân yêu”.

        Ông đã liều lĩnh viết thư bày tỏ rằng ông khao khát “Đôi môi bí ẩn” và “Thân thể mềm mại” của cô. Ông nói sẽ chết nếu thiếu cô trong cuộc đời. Khi rời khỏi Manila để nhận chức vụ chỉ huy mới, ông đã bí mật mua một vé để Isabel theo cùng và tưởng tượng rằng cô sẽ tan chảy trong những chốn sang trọng ở Thượng Hải trên đường trở về.

        Khi Isabel đến, ông đã xây cho cô một căn hộ xinh xắn và một con chó xù để làm bạn. Ớ đó, ông đến thăm cô bất cứ khi nào có thể. Cô ấy xinh đẹp! Một người ngoài khách quan đã mô tả như vậy:

        Tôi nghĩ mình chưa từng thấy ai thanh tú như vậy. Cô ấy mặc chiếc áo dài màu xanh đắt tiền và dễ thương. Cô trông như được tạc ra từ mảnh đá quý trang nhã nhất, tóc tết thành bím thả sau lưng.

        Nói một cách nghiêm túc, MacArthur không làm điều gì sai trái. Ông đã ly dị và cô cũng đã đến tuổi trưởng thành hợp pháp. Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi đã xảy ra. Isabel ngày càng chán cuộc sống trong căn hộ chỉ để vui thú với ông mỗi lần MacArthur tình cờ ghé thăm. Cô bắt đầu đi ra ngoài chơi và có những mối quan hệ riêng. Cô đã đi nghỉ mát ở Havana, nơi có nhịp sống sôi động và những ánh đèn rực rỡ. Sau đó, cô phải lòng một sinh viên trường luật. MacArthur không còn thích thú cô và tháng Giêng năm 1934, ông đã mua vé cho cô trở về Manila. Ông dứt khoát từ bỏ cuộc tình này. Tuy nhiên, cô muốn ông cho thêm tiền. Lúc đó, MacArthur trở thành một trong những nhân vật gây tranh cãi và dáng ghét nhất ở Washington.

        Từ lúc trở thành Tham mưu trưởng quân đội, ông đã chứng tỏ bản thân. Xung quanh ông là những sĩ quan trẻ bao gồm Dwight Eisenhower và George Patton đang ngày càng thể hiện tài năng nổi bật. Ông dễ tính, nói nhiều và thích đối đầu với khó khăn cân não. Ông không còn khắt khe đối với quy ước trong quân sự. Đôi khi ông mặc áo kimono của Nhật Bản ngồi làm việc và thỉnh thoảng dùng cái tẩu thuốc lá nạm ngọc. Một số sĩ quan không thích cách thể hiện này của MacArthur đã chỉ trích ông là người màu mè. Tuy nhiên, những sở thích này chỉ là một phần trong con người thích thế hiện của MacArthur. Vị tướng thích quan hệ công chúng này nhận ra rằng, xã hội hiện đại thích cái gì đó vượt ra khỏi mức bình thường, hay phép tắc của một diễn viên, dù ông biết điều này là không thể chấp nhận được đối với một người đàn ông kém tài.

        Ông nhậm chức vào thời điểm khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Trong khi bóng dáng mấy cuộc chiến tranh đang xuất hiện ở nước ngoài, người ta kêu gọi lực lượng quân đội Mỹ, vốn đang nhỏ, phải giảm xuống nữa. Lực lượng quân đội chỉ có 132 ngàn người, ít hơn so với lực lượng quân đội của Hy Lạp hay Bồ Đào Nha. Ngân sách quốc phòng mỗi năm chỉ chi hơn 300 triệu đôla. Trang thiết bị quân sự chỉ có 12 chiếc xe tăng, pháo cỡ nòng 50 và một số súng cối từ thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:59 am

        Tiềm lực quân sự của Mỹ chỉ xếp vào hàng thứ 16 trên thế giới. Tổng thống Hoover đã tìm cách cắt giảm quân số và ngân sách quốc phòng hơn nữa để cân đối ngân sách, tập trung chi nhiều ngân sách cho vấn đề giải quyết việc làm. MacArthur đã từ chối tham dự hội nghị giải trừ quân bị của 51 quốc gia ở Geneva và tuyên bố rằng: “Cách kết thúc chiến tranh là phải đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật chứ không phải giải trừ quân bị”. Ông đã đi thăm Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani, Hungary, Ba Lan và Áo - những nơi đang cười khinh thế lực quân sự nhỏ bé của Mỹ.

        MacArthur cuốn mình vào các hoạt động. Ông phác thảo ra chiến lược riêng có tầm nhìn quá xa vời vào thời điểm đó:

        Điều dễ hiểu là chiến tranh hiện đại là chiến tranh sử dụng sức mạnh tấn công ồ ạt, chiến tranh di chuyển chớp nhoáng, một cuộc chiến có sử dụng nhiều máy móc, tuy nhiên là cuộc chiến nằm trong tay của một số ít người thợ máy tài năng. Chúng ta đã học được bài học đắt giá về cuộc chiến tranh vừa qua rằng, một sự đổi mới làm súng máy hoàn hảo hơn đã đánh bại các kế hoạch và những người đề ra kế hoạch, đẩy các lực lượng quân đội lớn mạnh vào thế bế tắc. Một đầu óc chuyên nghiệp dễ dàng biết trước lực lượng thiết giáp như mảy bay ném bom, xe tăng và các đơn vị cơ giới hỗ trợ sẽ làm hồi sinh cuộc chiến tranh cơ động.

        MacArthur đã thông qua kế hoạch huy động ngành công nghiệp quốc gia và kế hoạch tổng động viên nguồn nhân lực nếu chiến tranh xảy ra. Ông đặt nền tảng phòng vệ cho nước Mỹ dựa trên Kế hoạch bốn khu vực quân đội. Ông xây dựng một lực lượng không quân độc lập mà sau này trở thành Không lực Mỹ. Ông cũng thành lập trường độc lập dành cho lực lượng bộ binh, bước đầu hình thành các phân bộ thiết giáp của Mỹ. Đối với người lãng mạn từng đi qua các chiến trường chết chóc của thế chiến thứ nhất bằng giày kỵ binh và roi ngựa, tất cả các thay đổi này là một sự nhìn xa trông rộng và hiện đại sau nhiều năm nền quốc phòng đình trệ dưới sự lãnh đạo của các vị tướng nói nhiều nhưng kém trí tưởng tượng. Ông đã đặt nền móng cho cỗ máy quân sự khổng lồ để dẫn đến chiến thắng Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

        Tuy nhiên, ông là một vị tướng thích chính trị nên đã gây ra một tác động nhiều tranh cãi nhất. Như Eisenhower mô tả:

        Hầu hết các sĩ quan cấp cao tôi quen biết luôn có một sự phân biệt rạch ròi giữa chính trị và quân sự. Khi thôi giữ chức vụ, họ có thể lên tiếng phê phán mạnh mẽ mọi thứ mà họ nghĩ là sai với Washington và thế giới, đồng thời để xuất phương án để khắc phục các sai sót này. Khi còn giữ chức vụ, không điều gì có thể khiến họ bước qua ranh giới mà họ và truyền thống giới quân sự đã định hình xưa nay. Tuy nhiên, dù tướng MacArthur có nhận thức được sự tồn tại của ranh giới này hay không, ông cũng thường không để ý đến nó.

        Nước Mỹ đang trong cơn quằn quại và có lẽ là cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ thời kỳ nội chiến. Thời kỳ Đại suy thoái không chỉ khiến hàng triệu người Mỹ rơi vào cảnh bần hàn mà còn khiến họ nghi ngờ về giấc mơ làm giàu ở Mỹ. Niềm tin tuyệt đối trong giới kinh doanh và niềm tin về sự thịnh vượng, cuộc sống phồn hoa của thập kỷ 20 đang chịu thách thức khốc liệt từ hàng triệu người Mỹ bị tước mất kế sinh nhãi và các khoản tiết kiệm. Sự ủng hộ giới kinh doanh của các tổng thống như Coolidge và Hoover đã tạo ra dường như vô nghĩa. Ở nước ngoài, logic của chủ nghĩa Cộng sản cộng hưởng với những người tuyên truyền ở Mỹ dường như đã được chứng minh là đúng: Cơn Đại suy thoái, khủng hoảng cuối cùng của chủ nghĩa Tư bản theo tiên đoán của Các Mác dường như đang diễn ra. Cuộc cách mạng toàn cầu có thể diễn ra vì sự không ổn định lan rộng toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế.

        Ở Mỹ, nhà chính trị tự do Franklin Roosevelt đang tập hợp những người theo chủ nghĩa Xã hội để tìm kiếm quyền lực trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1932.

        Trong hoàn cảnh này, khi nền chính trị đang có bước ngoặt nguy hiểm và với một vị tổng thống tài năng hạn chế, MacArthur thấy bản thân mình là một chỗ dựa quan trọng cho các lực lượng cầm quyền, thậm chí là người có thể được trao trọng trách bảo vệ nước Mỹ. Sự sống còn của nền cộng hòa dường như đang nằm trong tình thế hiểm nguy. Lực lượng quân đội nhỏ của MacArthur là một trong số ít lực lượng đứng giữa quốc gia và chủ nghĩa Cộng sản hoặc tình trạng vô chính phủ. Tuy nhiên, những người chống đối xem ông là người có nguy cơ trở thành kẻ độc tài, “Một trong hai người đàn ông nguy hiểm nhất nước Mỹ” như Roosevelt nhận xét về ông (người thứ hai là thống đốc bang Louisiana ông Huey Long). Thậm chí, ông được coi là kẻ có thể đảo chính quân sự. Dù vậy các quan điểm này cũng không xóa đi được ấn tượng rằng ông cũng là người mà vận mệnh sẽ trao thời cơ.

        Một đoàn người biểu tình gọi mình là “lực lượng viễn chinh đòi tiền thưởng” đã dựng các lều trại tạm thời trên mảnh đất bên ngoài Potomac gọi là Anacostia Flats. Họ cũng tụ tập ở một số tòa nhà vô chủ dọc theo Đại lộ Pennsylvania và bị chỉ trích chiếm lối di của các tòa nhà chính quyền mới. Những người tuần hành ngày càng đông, lên đến 25 ngàn người, và không có ý định bỏ về. Đó là một cuộc biểu tình lớn nhất ở Washington cho đến thời điểm đó. Lãnh đạo cuộc biểu tình là một cựu trung sĩ có tài hùng biện từng phục vụ các chiến trường ở Pháp: Walter Waters ở bang Oregon. Những người biểu tình tuần hành hàng ngày qua đồi Capitol, Nhà Trắng và các cơ quan chính phủ khác.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:13:20 am

        Khi thời tiết ngày càng nóng, những người biểu tình và gia đình họ sống cạnh cống thoát nước ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn. Mặc dù được cung cấp một lượng tối thiểu thức ăn và thuốc men, nhưng hoàn cảnh khó khăn của họ ngày càng nguy ngập. Cuối cùng, Hạ viện đã thông qua dự luật, nhưng Thượng viện lại phản bác vì tức giận trước áp lực dọa dẫm của người biểu tình.

        Sau đó, Quốc hội đã nghỉ họp vào mùa hè. Tổng thống kêu gọi đoàn người biểu tình về nhà và hứa lo cho họ chi phí ra về.

        MacArthur quyết định đi một bước xa hơn. Ông cùng Hurley đến gặp Tổng thống Hoover đề nghị nhanh chóng áp dụng thiết quân luật. Lúc này rõ ràng MacArthur nhận thức bản thân là người xuất hiện đúng lúc. MacArthur đã quyết định nắm quyền chỉ huy chủ động trên chiến trường. “Có một cuộc cách mạng vừa chớm nở đang lan ra”, ông tuyên bố với một trong những phụ tá của mình. Ông tin rằng có một cuộc cách mạng chủ nghĩa Cộng sản đang nhen nhóm và Hoover - người đàn ông mềm yếu không được yêu thích trong Nhà Trắng - bị MacArthur ngấm ngầm coi thường và cho là không hợp trong tình thế này. Thiết quân luật sẽ giúp MacArthur kiểm soát hiệu quả thủ đô và chính phủ với một vị Tổng thống không có năng lực và Quốc hội đang nghỉ họp. Nếu phải lâm vào cuộc chiến với những người cực đoan chủ nghĩa Cộng sản, ông sẽ chiến thắng.

        Tuy nhiên, MacArthur đã giận dữ khi Hoover không đồng ý ban bố thiết quân luật và nhất quyết yêu cầu quân đội phải “hỗ trợ cảnh sát” phục hồi trật tự ở thủ đô và đẩy người biểu tình trở lại Anacostia Flats. MacArthur nôn nóng nhưng không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tuân lệnh Tổng thống. Ông ra lệnh Lữ đoàn bộ binh số 16 từ Fort Myers vượt qua cầu Memorial. Viên chỉ huy trẻ George Patton dẫn đầu đoàn xe tăng. Đáng ngạc nhiên là MacArthur quyết định phụ trách cuộc hành quân này. Đối với một vị Tham mưu trưởng, việc trực tiếp giám sát chiến dịch giữ trật tự trong nước là điều chưa có tiền lệ. Eisenhower - phụ tá chính trị của MacArthur đã mất hết tinh thần. MacArthur ra lệnh cho người phụ tá tìm một bộ đồng phục áo choàng dài cho thời điểm này. Chẳng bao lâu, lệnh trên đã ban xuống băng văn bản:

        Tổng thống vừa thông báo rằng chính quyền dân sự của quận Columbia đã báo cáo với ông là không thể duy trì luật pháp và trật tự ở quận này.

        Ông được phép điều động bính lính tiến ngay đến nơi mất trật tư, phối hợp với lực lượng cảnh sát quận Columbia đang làm nhiệm vụ. Bao vây khu vực bị ảnh hưởng và giải phóng khu vực đó không được trì hoãn.

        Chuyển giao tất cả tù nhăn cho nhà chức trách dân sự.

        Ông phải ra lệnh bảo đảm rằng: bất cứ phụ nữ hoặc trẻ em nào trong khu vực ảnh hưởng phải được quan tâm và đối xử tử tế. Sử dụng tất cả lòng nhân đạo phù hợp với việc thực thi đúng mệnh lệnh.

        Tướng Percy L. Miles phụ trách Lữ đoàn bộ binh số 16 đã tự đưa ra các mệnh lệnh riêng:

        Lực lượng kỵ binh phải di chuyển xuống Đại lộ Pennsylvania. Bộ binh sẽ được triển khai theo hàng phía sau kỵ binh. Các bạn sẽ bao vây khu vực và trục xuất những người đang chiếm giữ ở đó. Quan tăm và chăm sóc đối với tất cả phụ nữ và trẻ em trong khu vực.

        Ông quá phẫn nộ về việc MacArthur nhất quyết phụ trách chiến dịch. Hai sĩ quan quân đội này đã làm cảnh sát Glassford - người đang chỉ huy thất vọng. Họ không hề “Hợp tác với lực lượng cảnh sát quận Columbia đang làm nhiệm vụ” như lệnh của Hoover mà đã tự đảm trách nhiệm vụ.

        MacArthur đã sắp đặt việc này. Ông nói: “Sẽ đẩy các cựu chiến binh ra khỏi thành phố. Chúng tôi sắp phá vỡ phía sau của Lực lượng viễn chinh đòi tiền thưởng”. Ông nói như thể đang ám chỉ đến một kẻ thù, chứ không phải là một nhóm người biểu tình tả tơi, không có vũ trang. Ông trích dẫn các mệnh lệnh từ Hoover để làm chỗ dựa nhưng chưa có lệnh nào như vậy được ban hành.

        Kỵ binh tiến vào đoàn người biểu tình với những cây kiếm cong, bộ binh theo sau với động tác giương lưỡi lê. Hơi cay xịt vào đám người biểu tình và ngay lập tức họ chống trả bằng các trận mưa gạch đá. MacArthur thấy bất ngờ: Cách mạng cộng sản không xảy ra. Ông cho rằng 9/10 những người biểu tình tuyệt vọng này không phải là cựu chiến binh mà là cộng sản, 1/5 trong số họ có tiền án, đã không chống trả mà đứng một chỗ để bị triệt hạ. Thất vọng chán nản, họ đã rút lui sớm trước khi quân đội phô trương toàn bộ sức mạnh. Chỉ một vài người bị thương, không ai thiệt mạng. Điều đó cho thấy họ không có ý đồ bạo lực nào trước sự kỷ luật tuyệt vời của quân đội.

        Hậu quả của toàn bộ sự việc hoàn toàn trái ngược với điều mà MacArthur dự kiến. Dư luận kinh hoảng. Hoover cho thấy ông không có khả năng giải quyết các thách thức lớn nảy sinh từ thời kỳ Đại suy thoái. Ông cho thấy rõ rằng mình sẽ sử dụng đến biện pháp trấn áp thô bạo nếu thấy cần thiết. Người Mỹ đổ xô đi bỏ phiếu để loại những người phe Cộng hòa ra khỏi Nhà Trắng và đưa nhân vật xuất sắc Franklin D. Roosevelt lên cầm quyền.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:14:11 am
           
Chương 20

HAI NGƯỜI ĐÀN ÔNG QUYỀN LỰC

        MacArthur cảm thấy lo ngại khi Roosevelt lên nắm quyền với 23 triệu phiếu bầu so với hơn 16 triệu phiếu bầu của Hoover. Phe Dân chủ đã kiểm soát hai viện của Quốc hội. Đối với MacArthur, dường như chính lực lượng cộng sản và cách mạng đã thắng ở thùng phiếu.

        Roosevelt, người có dòng dõi quý tộc từng làm việc với MacArthur trước đây, mưu mô đến độ ông giành được sự ủng hộ và tôn trọng các nhà môi giới quyền lực ở bộ máy chính trị phe Dân chủ Tammany Hall của New York. Tuy nhiên, xung quanh ông là các nhà cố vấn cực kỳ trẻ và cấp tiến. Ông đã thắng cử tổng thống bằng tất cả mọi kỹ năng của một kẻ mị dân giỏi nhất thế giới: Có sức lôi cuốn mạnh mẽ, luôn biểu hiện lạc quan và có một nụ cười phóng khoáng. Ông tuyên bố chính sách kinh tế xã hội mới cho nước Mỹ và sử dụng bài hát vận động tranh cử “Những ngày hạnh phúc lại diễn ra nơi đây một lần nữa”. Quyền lực chính trị và quyền kiểm soát Quốc hội đã tạo cho ông sự độc tài và ngay lập tức ông yêu cầu thêm về các quyền lực trong tình huống khẩn cấp nếu bị kẻ thù nước ngoài xâm lược.

        Ông cũng mở rộng các chính sách can thiệp của Hoover đối với các chương trình lớn như Doanh nghiệp quốc doanh Tennessee Valley Authority. Tuy nhiên, bước đi quan trọng nhất là đóng cửa các ngân hàng, rồi cho mở cửa ngân hàng lại theo Luật tái tổ chức ngân hàng khẩn cấp sau khi thanh lý một ngàn ngân hàng thua lỗ và hứa sẽ hỗ trợ những ngân hàng còn lại, nhằm trao đổi việc nắm cổ phiếu trong ngân hàng. Thực tế mà nói, hệ thống ngân hàng đã được quốc hữư hóa. Điều này đã giúp phục hồi niềm tin. Roosevelt cũng đặt ra các nền tảng cho một nhà nước phúc lợi vốn còn eo hẹp trong nhiệm kỳ tổng thống của ông do không có nguồn quỹ dự trữ. Ông liên tục phê phán cộng đồng giới doanh nhân, thậm chí sử dụng quyền lực của tổng thống để phá rối những đối thủ chính trị.

        Trong cuộc bầu cử Tổng thống tiếp theo, ông giành thắng lợi dễ dàng với 28 triệu phiếu ủng hộ so với 17 triệu của đối thủ. Mặc dù phục hồi kinh tế diễn ra chậm, đến năm 1940, ông lại giành thắng lợi vang dội với 27 triệu phiếu so với 22 triệu phiếu của đối thủ Wendell Willkie của phe Cộng hòa. Giờ đây, những người phe Cộng hòa chỉ biết bất lực ngồi nhìn chứ không thể hành động khi kẻ độc tài này giành được quyền lực chưa từng có (phe Dân chủ nắm đa số trong Hạ viện, 334 ghế so với 89 và cả Thượng viện 75 ghế so với 17 ghế của phe Cộng hòa vào năm 1936). Tổng thống cũng mở rộng vai trò của chính phủ ở châu Mỹ theo chiều hướng mới. Mặc dù nhiều người coi Roosevelt còn hơn một người theo chủ nghĩa phát xít hoặc người theo cộng sản, nhưng thành tựu lớn nhất của ông là tháo gỡ được nguy cơ về chủ nghĩa cực đoan ở Mỹ.

        Ông luôn thiếu thận trọng, thậm chí là hung bạo, nhưng là một người ôn hòa và theo chủ nghĩa hợp hiến. Tuy nhiên, ông khiến nhân dân Mỹ đang vật lộn kiếm sống cảm thấy rằng họ có được một người lãnh đạo đúng nghĩa trong Nhà Trắng. Các kỹ năng quan hệ công chúng tuyệt vời của

        Roosevelt đã khiến quần chúng nhân dân Mỹ đi theo ông, thậm chí cả khi quá trình khôi phục kinh tế diễn ra chậm chạp. Nếu không có các kỹ năng đó của Tổng thống, áp lực cách mạng, mất trật tự trên đường phố, thậm chí nguy cơ về giải pháp quân sự có thể thắng thế.

        Về quan hệ với MacArthur, Roosevelt đã sử dụng các kỹ năng chính trị tài giỏi của mình. Ông thực sự là một trong những người thực hành kỹ năng chính trị giỏi nhất thế giới. Thay vì cách chức vị tướng phe Cộng hòa cứng rắn này - người lãnh đạo xuất chúng của phe hữu từng dẹp tan đoàn người biểu tình đòi tiền thưởng (MacArthur vẫn còn một năm nhiệm kỳ Tham mưu trưởng), Roosevelt vẫn đế MacArthur phục vụ trong quân ngũ, kêu gọi lòng yêu nước và nghĩa vụ của ông. Trong khi đó, điều này giống như vòng siết của một con trăn, vắt kiệt niềm tin của những người ủng hộ ông khiến MacArthur chỉ còn là một vỏ sò không có sự sống. Đầu tiên là ông thôi miên và sau đó nuốt chửng vị tướng. Thái độ đối với Roosevelt cho thấy MacArthur đang lúng túng trong quan hệ với bậc thầy chính trị này:

        Ông trở thành người theo chủ nghĩa tự do hàng đầu của thời đại. Tầm nhìn về kinh tế và tự do chính trị của ông có gặt hái được thành quả hay không thì chỉ có lịch sử sau này mới biết. Các biện pháp do ông đề xướng đã giúp Roosevelt có được sự cống hiến tận tụy của những người ủng hộ là điều ai cũng biết. Các biện pháp này củng gợi nỗi cay đắng và sự oán hận của người khác. Trong trường hợp của tôi, cho dù bất cứ khác biệt nào nảy sinh giữa chúng tôi, nó củng không hề làm hoen ố tình cảm nồng ấm của cả nhân tôi dành cho ông ấy.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2019, 04:15:14 am

        Roosevelt dường như đã xem MacArthur ngang tầm, thậm chí là người cao cấp hơn mình. Động thái đầu tiên của Tổng thống là đề nghị quân đội quản lý Quân đoàn bảo tồn dân sự, một chương trình tạo việc làm cho những thanh niên thất nghiệp nhằm tuyển dụng được 300 ngàn người trong 6 tháng.

        MacArthur đã bị thuyết phục mặc dù nhiều sĩ quan anh em nghi ngờ. Ông nói: “Thời gian tôi phụ trách Quân đoàn bảo tồn dân sự là một nguồn cảm hứng thật sự đối với mình. Đó là một hình thức tái thiết nhân sự làm tôi thích thú”. Tuy nhiên, nhiều người trong chính quyền mới đang gầm ghè MacArthur. Harold Ickes - Bộ trưởng Nội vụ hay cáu gắt - ghét cay ghét đắng ông cũng như nhiều nhân vật khác trong chính quyền.

        Lúc bấy giờ, tin tức lộ ra cho biết một chuyên gia tài chính Phố Wall có âm mưu dựng một cuộc biểu tình đòi tiền thưởng mới với sự tham gia của khoảng nửa triệu cựu chiến binh, với mục đích là đưa MacArthur vào Nhà Trắng theo kiểu một cuộc đảo chính quân sự. Tuy nhiên, MacArthur đã cười chế nhạo khi nghe tin này vì chưa có ai đến thăm dò ý kiến ông về việc đó.

        Ickes và các kẻ thù của quân đội muốn Roosevelt cắt giảm ngân sách quân sự với lý lẽ: chính quyền phải giảm số sĩ quan cao cấp từ 105 người xuống chỉ còn 15 người. Cục Ngân sách đã đề xuất ngân sách quân sự cho năm 1934 chỉ là 190 triệu đôla, chỉ bằng 1/3 so với con số đề xuất của chính quyền Hoover trước đó. MacArthur lo lắng và tìm gặp Roosevelt:

        Tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải lên tiếng về điều này. Sự an toàn của đất nước đang bị đe dọa. Tổng thống đổ tất cả lời chế nhạo lèn đầu tôi. Ông cáu gắt khi bị kích động và bắt đầu căng thẳng. Đó là lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng trong cuộc đời, sự kinh tởm làm tôi rùng mình. Đã quá mệt mỏi nên tôi nói liều về một hậu quả chung chung khi chúng tôi thua trong cuộc chiến tiếp theo: Cậu bé Mỹ nằm trong vũng bùn, bị kè thù kè súng bazôka lèn bụng và đạp chân lên cổ họng đang buông lời chửi rủa cuối cùng. Tôi muốn cải tên bị nguyền rủa không phải là MacArthur mà là Roosevelt. Tổng thống giận tím tái và gầm lên: “Ông không được nói năng kiểu đó với Tổng thống”. Tất nhiên, ông ấy đúng và tôi biết ông sê nổi nóng như thế trước khi mình nói chuyện này với ông. Tôi đã xin lỗi. Nhưng tôi cảm thấy binh nghiệp của mình đã chấm dứt. Tôi xin từ chức Tham mưu trưởng. Khi tôi tiến gần cửa, ông ấy cất giọng với vẻ thờ ơ điềm tĩnh cho thấy ông đang tự kiểm soát rất tốt: “Đừng có ngốc, Douglas, ông sẽ có được số ngân sách mà ông muốn!”.

        Chảng bao lâu, Dern - Bộ trưởng Quốc phòng tìm đến tôi và nói với giọng hân hoan: “Ông đã cứu quân đội!”.

        Kết quả chính phủ duyệt chi ngân sách quốc phòng 278 triệu đôla, một con số quá nhỏ so với tiên đoán của MacArthur. Tuy nhiên, ông đã bị Roosevelt chinh phục và thường xuyên đến gặp riêng Tổng thống. Khi các cuộc diều trần Quốc hội thảo luận về ngân sách quốc phòng dành cho năm sau, MacArthur đã phá bỏ mọi tiền lệ hiến pháp yêu cầu Quốc hội chấp thuận khoản ngân sách 305 triệu đôla nhiều hơn con số 289 triệu đôla mà Cục Ngân sách đề xuất. Ông chỉ ra rằng, quân đội chỉ có 12 chiếc xe tăng hiện dại và quân số chỉ nhiều gấp 6 lần cảnh sát New York. Trong một cuộc tranh cãi dữ dội, một nghị sĩ đã đọc to phần chi phí cho giấy vệ sinh trong các khoản chi tiêu ngân sách quốc phòng và hỏi: “Thưa tướng quân, ông nghĩ sẽ có một cơn đại dịch nghiêm trọng về bệnh lỵ xảy ra trong quân đội?”.

        MacArthur trả lời: “Tôi cảm thấy bị sỉ nhục. Tôi đã liếm gót một số quý ông để có được các khoản tiền giúp cơ giới hóa và cơ khí hóa quân đội. Bây giờ, thưa quý ông, ông đã xúc phạm tôi. Tôi cũng có lòng tự trọng nghề nghiệp cao như ông. Nếu ông sẵn sàng xin lỗi, tôi sẽ đề cập trở lại vấn đề này”.

        Nhưng kết quả là con số không. Năm 1935, Quốc hội chỉ duyệt chi cho quân đội 284 triệu đôla, gần bằng con số mà Cục Ngân sách đã đề xuất mặc dù MacArthur đã sử dụng chiến thuật nhằm ngăn ngừa con số này bị cắt bớt.

        Sau vụ này, MacArthur bị sỉ nhục trong một vụ công kích mới vào mùa hè năm 1934. Ông đã bị cây bút bình luận độc miệng Drew Pearson châm chích, mô tả là “Độc tài, không chịu phục tùng, không trung thành, nổi loạn và không tôn trọng các thượng cấp trong Bộ Chiến tranh”. MacArthur đã kiện Pearson. Tuy nhiên Pearson đã phát hiện ra mối quan hệ yêu đương giữa ông với Isabel - người mà vị tướng này mới chia tay. Isabel đã bán cho Pearson 23 bức thư tình cảm mà MacArthur gửi cho cô. Isabel cũng đồng ý đứng ra làm chứng mối quan hệ yêu đương này. Cô cũng chuẩn bị nói cho mọi người biết MacArthur có thói quen ám chỉ Roosevelt là “Tên què trong Nhà Trắng” và nhận xét về Hoover là “Một người yếu đuối nhưng cuối cùng anh đã đặt một ít xương sống vào cho ông”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:00:57 am

        MacArthur không làm gì trái pháp luật nhưng sợ dư luận sẽ nhạo báng ông. Tệ hơn, người mẹ già của ông sẽ biết về mối quan hệ này. ông đã phải trả cho Isabel 15.000 đôla để cô giữ yên lặng. Ông cũng rút đơn kiện phỉ báng đối với Pearson. Cô đã cưới bạn trai và chuyển đến Hollywood. Ickes và Pearson tin rằng, MacArthur sẽ thuê người giết cô. Thực tế, vì giấc mộng trở thành ngôi sao điện ảnh thất bại và nghèo túng nên cô đã tự tử vào năm 1960 khi mới chỉ 47 tuổi.

        Roosevelt giữ thái độ trung lập với MacArthur mặc dù đáng lẽ ông có thể chớp lấy cơ hội để sa thải MacArthur khi nhiệm kỳ Tham mưu trưởng 4 năm đã hết. Tuy nhiên, ông vẫn để MacArthur phục vụ một năm nữa vì những lý do còn chưa rõ, có lẽ ông muốn làm lu mờ tiếng tăm của MacArthur trong phe hữu, hoặc muốn bổ nhiệm một người của mình kế nhiệm MacArthur.

        Tham mưu trưởng lại cãi nhau với Quốc hội khi Đức và Nhật Bản đang hiện đại hóa vũ khí. Tĩnh thế nguy hiểm của lực lượng quân đội Mỹ đã quá rõ ràng. MacArthur muốn có khoản ngân sách 361 triệu đô la và tăng quân số lên mức 40 ngàn người nhưng Cục Ngân sách đã giảm xuống còn 331 triệu đôla. Trước sự ngạc nhiên của ông, chính phủ đồng ý cấp ngân sách cho Bộ Quốc phòng đến 363 triệu đôla và đủ 40 ngàn quân nhân.

        “Cuối cùng đã có bước ngoặt!” ông thốt lên vui sướng. Ông đã có bài diễn văn từ biệt những cựu chiến binh Sư đoàn Cầu vồng mến yêu của mình:

        Họ đã chết mà không kêu ca, đòi hỏi với niềm tin trong tim rằng họ sẽ tiếp tục chiến thắng... Họ đã vượt qua màn sương mù che mắt chúng ta ở đầy và trà thành một phần của vẻ đẹp tinh thần của người lính vô danh. Trong những ngôi đền im lặng, tinh thần dũng cảm họ yên nghỉ, chờ đợi tòa án Thiên đàng ban phán quyết cuối cùng trong Ngày phán quyết. Chỉ những người xứng đáng sống thì không sợ chết.

        Roosevelt cho ông một món quà tuyệt vời để ông về hưu sớm (ông chỉ mới 54 tuổi và là một vị tướng tương đối trẻ, có khả năng gây nguy hiểm trong quân đội). MacArthur được giao chức vụ Toàn quyền Philippines. Manuel Quezon - ông bạn cũ người Philippines cũng vừa được bầu làm tổng thống Philippines. Chức vụ này đưa MacArthur vào một cái lồng vàng và ngăn cản ông can thiệp phiền hà vào chuyện chính trị.

        MacArthur cũng được đề nghị vào hai chức vụ khác: Điều hành quân đội Trung Hoa đang dưới quyền nhà độc tài Tưởng Giới Thạch và điều hành quân đội Philippines mà người Mỹ vẫn đang lãnh đạo dưới quyền của Quezon. Với lời đề nghị thứ nhất, ông thấy không thể thực hiện nhiệm vụ đưa các lực lượng quân đội của các chúa đất về làm việc dưới quyền của Tưởng Giới Thạch - người nổi tiếng có tính cách thất thường. Đề nghị thứ hai hứa hẹn một công việc ổn định cho đến lúc về hưu ở đất nước Phillippines mến yêu.

        Ông chấp nhận lời đề nghị thứ hai nhưng nói với Roosevelt rằng, ông không thể từ chức với tư cách là một quân nhân. Roosevelt đã nổi điên. MacArthur - vị tướng nổi tiếng nhất trong quân đội vẫn còn phục vụ quân ngũ và vẫn là một mục tiêu tấn công của các đối thủ chính trị.

        Tổng thống nói lời tạm biệt rất trang trọng nhưng không dùng từ ngữ nào thể hiện điều đó: “Douglas, nếu chiến tranh đột ngột xảy ra, đừng đợi lệnh để quay về nhà. Hãy lên ngay chuyến đi đầu tiên. Tôi muốn anh lãnh đạo quân đội!”.

        Tổng thống đã có một hành động nhỏ nhen độc ác ở thời điểm MacArthur rời Washington bằng tàu hỏa để đến San Francisco lên đường bằng tàu thủy, đó là bãi bỏ chức vụ Tham mưu trưởng hai tháng trước khi ông hứa và đưa người ông đề cử - tướng Malin Craig. MacArthur bị tước quyền danh dự được tiễn đưa đến Philippines với tư cách là Tham mưu trưởng và là một tướng 4 sao. Theo Eisenhower, khi nghe tin này, MacArthur đã lên án dữ dội đối với chính trị, thái độ cư xử tồi, đánh giá kém, không giữ lời hứa, kiêu ngạo, vô cảm.

        Khi đến Manila, MacArthur có nhiều thời gian để hồi tưởng về những khúc quanh của số phận. Ông đã say mê một tròng những nghề nghiệp danh giá nhất trong lịch sử và trở thành một vị Tham mưu trưởng ở độ tuổi 50. Còn bây giờ, ông đã về hưu sớm ở độ tuổi 55, khi đang ở đỉnh cao quyền lực với sự thông minh và tràn đầy khí lực để làm lính đánh thuê cho chính phủ nước ngoài (ông được hứa sẽ được trả khoản tiền thưởng hoàn thành nhiệm vụ 250.000 đôla, so với mức lương thực tế là 15.000 đôla cộng với 15.000 đôla tiền chi tiêu mỗi năm, thì đây là mức tăng nhảy vọt khi ông đang nhận mức lương 7.500 đôla mỗi năm và đó là một số tiền lớn vào thời điểm đó. Khoản tiền này sẽ mang lại cho ông một tương lai giàu có chứ không phải như cuộc sống không dư dả của MacArthur trước đây).


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:01:40 am

        Hơn nữa, trong khi đang thích thú với cảm giác được những người dưới quyền tôn trọng và tin rằng mình sẽ cứu được quân đội Mỹ thoát khỏi món nợ trong những năm Đại suy thoái, giờ đây danh tiếng nghề nghiệp của MacArthur đã suy sụp. Ông bị các đối thủ phỉ báng trước người dân Mỹ rằng: ông là “Người đàn ông trên lưng ngựa trắng” với thanh kiếm nhuốm máu đã trấn áp những cựư chiến binh nghèo khổ. Ông đã lãnh đạo quân đội trong những năm tồi tệ nhất của quân đội Mỹ với khoản ngân sách eo hẹp cho đến bước ngoặt năm 1936. Dường như ông không đủ dũng cảm để chống lại Roosevelt và những người bạn của mình nên phải từ chức. Ông biết dư luận xem mình là một trong những Tham mưu trưởng trẻ nhất quân đội Mỹ, nhưng cũng là một Tham mưu trưởng tồi nhất.

        Cho đến đoạn cuối sự nghiệp, MacArthur dường như là một nhân vật có hai mặt rõ rệt: Một mặt là người có tố chất lãnh đạo và trí tuệ, mặt khác, cũng là người có tầm nhìn hẹp. Một người lính có thừa dũng cảm và tài năng, nhưng cũng không làm được gì.

        Sự khoa trương, thế hiện vị thế trong chiến trận, sự lãnh đạo quân đội của ông trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất đã tạo ra hình ảnh người lính quả cảm lôi cuốn, nhưng không cho thấy được chiều sâu thực sự của con người ông. Những cải cách của MacArthur ở Học viện Quân sự West Point được phần lớn những người lính trẻ hơn thời đó ưa thích. Khả năng quan hệ công chúng tài ba cũng khiến MacArthur trở thành một nhân vật bắt kịp thời đại, nhưng lại cho thấy tính thiển cận trong tư cách của ông.

        Chức vụ Tham mưu trưởng gây tranh cãi đã đưa ông vào tình thế bị nhiều người ghét bỏ. Thái độ chống cộng vào thời điểm Đại suy thoái cho thấy ông là một người mới tập tễnh bước vào con đường chính trị. Đồng thời, hình ảnh của ông xấu đi vì cách giải quyết thô bạo, vô cảm đối với những cựu chiến binh đang khiếu nại hợp pháp và cả những người Mỹ theo chủ nghĩa tự do cũng như những người đang chịu tác động ghê gớm của thời kỳ suy thoái.

        Nỗ lực cứu vớt ngân sách quốc phòng của ông trong điều kiện bất lợi của thời kỳ nước Mỹ Đại suy thoái là đáng khâm phục và ông đáng được tin cậy vì nhận thức được các đám mây giông bão quốc tế lấp ló phía chân trời. Khi đến Philippines để nắm chức Toàn quyền, vị quân nhân kỷ luật và cố hơi hướng cực hữu đang ở giai đoạn cuối sự nghiệp này mang theo một cảm giác lố bịch.

        Đây là lúc sự nghiệp của ông đi xuống, mặc dù dưới hình thức an ủi đặc biệt là một nhà tổ chức lực lượng quân đội non trẻ ở một nước Mỹ bảo hộ. Vượt quá thành công của cha mình, ông là một trong những vị tướng trẻ nhất trong lịch sử quân đội Mỹ.

        Có lẽ, chỉ có khả năng tiên đoán của ông về cuộc chiến tranh sắp diễn ra là điều khiến ông thích thú. Vì thế mà ông đã dấn mình vào chiến tuyến của bất cứ cuộc chiến tranh nào có thể xảy ra với Nhật Bản - nơi mà vào đầu năm đó, trong một cuộc chuyển giao quyền lực đầy định mệnh, quân đội đã siết chặt ngai vàng của Hoàng đế Hirohito. Chín tháng sau khi MacArthur đến Manila, Nhật Bản xâm lược Trung Quốc.

        Các vấn đề cá nhân vẫn đang còn là nỗi đau lớn nhất khi MacArthur vượt hành trình dài băng qua Thái Bình Dương. Người mẹ 84 tuổi vốn trải qua nhiều lần đau ốm nay lại bị ốm nặng và gãy tay. Bà giam mình trong căn buồng trên tàu và được Mary - người chị dâu góa chồng của MacArthur tận tình chăm sóc. MacArthur phải đối mặt với sự cô đơn cùng với sự lãng quên nghề nghiệp. Tuy nhiên trong chuyến đi đó, ông đã được giới thiệu làm quen với một người phụ nữ 35 tuổi chưa từng lập gia đình - Jean Faircloth - quê ở bang Tennessee.

        Jean Faircloth không có những nét quyến rũ ấn tượng. Cô nhỏ con, cao chỉ gần 1,6 mét, gầy guộc và miệng cười quá rộng trông như một người không bình thường. Gò má cao và xương xẩu khiến vẻ mặt cô không có hồn. Tuy nhiên, cô sống động và vui vẻ. Ngay từ đầu, cô đã tỏ ra cực kỳ hòa hợp với MacArthur. Jean Faircloth là người thông minh nhạy bén và sẵn sàng thích nghi với mọi ý nghĩ nảy ra tức thời của ông, diều mà hai người phụ nữ trước không có được. Khác hẳn với tính cách độc lập và cố chấp của Louise, cô sẵn sàng hiến dâng cho MacArthur. Khác với Isabel, cô chín chắn và thông minh, chứ không phải là một đối tượng hấp dẫn về thể xác. Cô quyến rũ, tình cảm, không hề tỏ ra lấn lướt MacArthur. Cô luôn hành động như một người phụ tá quân đội của ông.

        Bản thân cô cũng thích thú cuộc đời quân ngũ và MacArthur - một cựu Tham mưu trưởng đã khiến Jean

        Faircloth có cảm giác kính nể ngay từ ban đầu. Cô cũng có một khoản tài sản độc lập đáng kể từ số tiền thừa kế 200.000 đôla từ cha, một doanh nghiệp giàu có ở Tennessee. Jean Faircloth cũng có quan điểm chính trị bảo thủ như MacArthur.

        Có lẽ MacArthur đang cảm nhận được và sợ nỗi cô đơn ở phía trước, nên đã gặp cô thường xuyên, cùng ăn sáng trong suốt cuộc hành trình trước khi quay trở lại căn buồng người mẹ đau bệnh và ở đó cho đến hết ngày. Một tháng sau khi đến Manila, bà Pinky chết vì bị tụ huyết não. MacArthur chìm trong đau đớn và chán chường cả năm trời.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:02:42 am

        Bây giờ, ông cần có mối quan hệ với một người đứng đắn, và người đó đang đợi ông ở một khách sạn tại Manila. Jean Faircloth là một phụ nữ có vẻ đẹp của người đàn bà tự tin, thông minh và ngưỡng mộ MacArthur. Cô tạo cho ông cảm giác được sự quan tâm, tận tình của một người con gái hoặc một người mẹ. Trong tiệc cưới ở New York vào tháng 4 năm 1937, MacArthur tuyên bố: Hôn nhân lận này sẽ kéo dài mãi mãi.

        Ông đã nói đúng. 10 tháng sau, một đứa con ra đời và được đặt tên là Arthur.

        Hai vợ chồng xây dựng tổ ấm tại tầng trên cùng của khách sạn Manila, một tòa nhà bằng gỗ tráng lệ nhìn ra Vịnh Manila.

        Cuối cùng, MacArthur cũng đã tìm thấy niềm hạnh phúc vợ chồng và Jean vui thích hòa nhập với tập quán của Manila chứ không giống như Louise. Cô cũng có khả năng chịu đựng các thói quen tâm lý của MacArthur. Ông thích thú với tư cách làm cha và nuông chiều đứa trẻ quá sức.

        Ông thả mình trong lối sống xa hoa, thích uống rượu, hút thuốc bằng những cái ống điếu được trang trí tinh tế cũng như nhiều loại tẩu bao gồm tẩu làm bằng cùi ngô nổi tiếng của mình và một điếu xì gà vào buổi tối. Đại úy hải quân Sidney Huff mô tả một hình ảnh sống động về ông:

        Đại tướng đốt một điếu thuốc, đặt xuống bàn và bắt đầu đi lui đi tới trong căn phòng. Ồng thọc tay vào túi khi bước đi, quai hàm nhô ra và bắt đầu nói với giọng rền vang. Thỉnh thoảng, ông dừng lại bèn cạnh cái bàn rộng làm bằng gỗ dái ngựa và đẩy điếu thuốc gọn gàng bèn mé cái gạt tàn, đưa mắt nhìn qua tôi. ‘‘Ông sẽ theo tôi chứ Sid?”. Ông hỏi rồi lại sải bước đi lại trong căn phòng. Có khi ông dừng lại bèn cái bàn, sắp lại hàng chục cây bút chì vẫn đang nằm gọn gàng hoặc quay ngược chúng lại và đẩy mủi bút cẩn thận vào hàng ngay ngắn. Nhưng rồi ông lại bước đi và nói to những suy nghĩ của mình.

        MacArthur nhiệt tình, tận tâm trong một nhóm ít người nhưng lại tách rời và không xã giao với người ngoài. Người Philippines tôn trọng ông, nhưng cộng đồng người Mỹ ở đây khó chịu với MacArthur vì tính không thích đàn đúm và không niềm nở với họ. Ông tỏ ra hống hách và phù phiếm. Với thời tiết oi bức của Philippines, ông thay đồ ba lần mỗi ngày để luôn trong trạng thái tươm tất. Tuy nhiên, ông cũng thể hiện tài năng quan hệ công chúng hơn bất kỳ quân nhân nào vào thời điểm đó.

        MacArthur tỏ ra tốt với bất kỳ ai có ích đối với ông, đó là những đại úy hải quân gần gũi hoặc là các nhà báo. Đối với những người khác, ông tỏ ra ghẻ lạnh mà ông tin đó là tố chất phù hợp với một người lãnh đạo tự nhiên và có trí tuệ như ông.

        Tuy nhiên, vị cựu Tham mưu trưởng gây tranh cãi vẫn chưa hết vận xui. Vì yêu thích các hòn đảo và thích thú với viễn cảnh trở thành người giàu có, MacArthur đã đặt ra cho bản thân một nhiệm vụ bất khả thi. Philippines không có khả năng phòng vệ. Khi đến Philippines, MacArthur đã nói dối Quezon về các ưu điểm của Kế hoạch Cam cũ rích. Kế hoạch này mở đường rút lui bán đảo Bataan trong trường hợp có một cuộc xâm lược có sức mạnh áp đảo với hy vọng quân tiếp viện từ Mỹ sẽ qua hỗ trợ trong vòng 6 tháng.

        Tôi hoàn toàn không đồng ỷ với Kế hoạch Cam khi lên nắm chức Tham mưu trưởng, nhưng ngay lập tức nhận ra rằng, chỉ phí thời gian thuyết phục người khác theo quan điểm của mình. Vì vậy, tôi đã đi đường tắt bằng cách tìm gặp riêng Tổng thống và nói, nếu lệnh huy động quân đội là cần thiết trong nhiệm kỳ của tôi thì bước đầu tiên là gửi hai sư đoàn từ bờ biển Đại Tây Dương qua tăng viện cho Philippines... đồng thời, tôi định bảo vệ từng tấc đất đang nắm giữ và sẽ bảo vệ thành công. Nhưng vấn đề ở đây là Kế hoạch Cam hoàn toàn là một bản tài liệu vô dụng... Người nắm quyền chỉ huy vào thời điểm này sẽ là người quyết định được các vấn đề quan trọng của chiến dịch quân sự. Nếu anh ta là một người vĩ đại, sẽ không chú ỷ đến các kế hoạch rập khuôn mà có thể bị xếp vào ngăn kéo phủ bụi ở Bộ Chiến tranh.

        Về điểm này, MacArthur đang ngớ ngẩn. Toàn bộ quân đội Mỹ chỉ có ba sư đoàn, cho nên sẽ không có chuyện tiếp viện. Tuy nhiên, kế hoạch thứ hai của ông lại có tính thực tế. Cùng với Eisenhower, ông bắt đầu thực hiện kế hoạch này. Hai người có trí tuệ thông minh nhất trong quân đội Mỹ có lẽ đã di đến quyết định thành lập một lực lượng quân đội chính quy gồm 920 sĩ quan và 100 ngàn tân binh cùng một lực lượng dân quân khoảng 40 ngàn người được huấn luyện mỗi năm, Ý tưởng này nhằm thành lập đội quân dự bị khổng lồ. Nếu các hòn đảo bị xâm lược, lực lượng này sẽ trở thành lực lượng du kích có thể quấy nhiễu kẻ thù chiếm đóng, đuổi họ ra khỏi đất nước.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:03:37 am

        Vấn đề là lấy tiền từ đâu? Kế hoạch này tốn 80 triệu đôla, một khoản tiền vô cùng lớn đối với đất nước Philippines nghèo túng, trong khi đó Mỹ không sẵn lòng bỏ ra chi phí này. Một năm sau, chi phí đã tăng lèn 105 triệu đôla. Một khó khăn nữa là chưa có tổ chức nào để sẵn sàng bắt đầu công việc huấn luyện dân quân cho đến năm 1937. Khó khăn cuối cùng là người Philippines nói đến 8 ngôn ngữ khác nhau với 87 thổ ngữ. Những ý tưởng của MacArthur và Eisenhower không sai, nhưng dơn giản là không có khả năng thực hiện.

        Họ chỉ sai lầm ở chỗ cho rằng, quần đảo Philippines có thể được bảo vệ từ trên biển với 50 tàu ngư lôi và một nhúm máy bay cũ kỹ. Họ nhận định sai lầm không chỉ là vì không có thêm sự lựa chọn nào hơn mà còn vì đánh giá quá thấp người Nhật. Cả MacArthur và Eisenhower đều còn nhớ bài học về trận Gallipoli trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, và họ biết là các chiến dịch quân sự trên bộ và trên biển không thể tổ chức thành công.

        Họ tin rằng không thể đánh bại chiến tranh du kích. Theo các sách giáo khoa quân sự, cần phải có 100 ngàn tân binh để đánh bại 20 ngàn du kích nổi loạn, và họ xem lực lượng quân đội Nhật Bản như một trò đùa. Họ không tin là Nhật Bản sẽ phát động chiến tranh. MacArthur tuyên bố vào mùa hè năm 1937: “Tôi không đồng ý với những ai dự đoán rằng chiến tranh sắp xảy ra. Tình trạng sẵn sàng chiến đấu của tất cả các quốc gia là yếu tố vững chắc nhất để phòng ngừa chiến tranh”. Đây là lần MacArthur dự đoán dở nhất.

        Ông ta chỉ đúng khi coi Philippines có vị trí quan trọng về chiến lược. Quan điểm này của ông bị Washington bài bác khi MacArthur ngày càng trở nên gắn bó ở Philippines. Vì cha ông từng phục vụ ở đây và ông đang có chuyến công cán lần thứ tư tới nơi này, nên ông có thể bị công kích chỉ vì bảo vệ các hòn đảo này. Tuy nhiên, ông lập luận:

        Những gì tôi đang làm không chỉ đơn giản là bảo đảm an ninh cho các hòn đảo Philippines. Chúng ta đang thực sự củng cố cánh trải quá yếu kém trong hệ thống phòng thủ Thải Bình Dương của mình. Chúng ta chưa bao giờ củng cố căn cứ hải quân Mỹ ở đây và thực sự hải quân chưa thể tập trung tại nơi này. Tất cả những điều này phải thay đổi ngay. Phòng tuyến Thái Bình Dương pliởi mở rộng từ Alaska cho đến Philippines. Điều này đòi hỏi phải có một căn cứ hải quân ở Alaska. Khi việc này được thực hiện, tuyến phòng thủ Alaska - Philippines sẽ nằm trải ngang qua mọi tuyến giao thương ở Thái Bình Dương và giúp chúng ta kiểm soát những vấn đề ở khu vực Thải Bình Dương. Theo tôi, chiến tuyến cũ Alaska, Hawaii và Panama có khiếm khuyết chết người... Nó dựng nên các khu vực chiến sự tiềm tàng ở bờ biển của chúng ta và phá hủy tiềm năng sức mạnh của hạm đội.

        Bộ Tổng tham mưu Mỹ không đồng ý. Họ không xem Philippines có tính chất đặc biệt quan trọng. Nó quá xa bờ biển nước Mỹ so với Nhật Bản. Họ luôn cho rằng, quần đảo này không có khả năng phòng thủ vì có đến hơn 7 ngàn hòn đảo và có bờ biển dài hơn cả bờ biển nước Mỹ. Chỉ riêng Luzon đã có 400km bờ biển có thể đổ bộ.

        Tuy nhiên, họ cũng đã bỏ qua điểm quan trọng: Các hòn đảo của Philippines là một con ngựa thành Troa tiềm tàng trong bối cảnh Nhật Bản có thể thống trị Thái Bình Dương. Người Nhật buộc phải chiếm giữ Philippines để bảo đảm thắng lợi ở châu Á vì các quần đảo này đứng giữa những tuyến thông tin liên lạc với phía nam. Các quần đảo này cũng có thể là nơi máy bay Mỹ xuất kích để tấn công vào Nhật. Nếu Philippines rơi vào tay kẻ thù, Nhật Bản sẽ không thể phòng thủ được, về điểm này, MacArthur hoàn toàn đúng, nhưng tranh cãi về diều này vẫn kéo dài gần cả thập kỷ.

        MacArthur đơn dộc trong việc thành lập quân đội du kích trước những khó khăn do thiếu nguồn tài chính từ Washington. Ông đã tìm chỗ dựa ở ông chủ Manuel Quezon - cha đỡ đầu của bé Arthur. Ông nhận chức vụ đặc biệt thống chế từ Quezon mà chưa có quân nhân Mỹ nào từng nắm giữ trước đây (thực tế Quezon chỉ mới đề xuất). Ông mặc quần đồng phục màu đen tự thiết kế, áo trắng với dải viền vàng gắn nhiều huy chương và chiếc mũ lưỡi trai có viền vàng xung quanh hình ảnh con đại bàng. Những hình ảnh này làm nhiều người Mỹ cười nhạo MacArthur. Thậm chí, một số người nghĩ ông bị khùng. Tuy nhiên, nó lại làm cho Quezon có ấn tượng về ông.

        Tổng thống Philippines Quezon cùng với MacArthur trở về thăm Mỹ vào tháng Giêng năm 1937. Trên đường về, họ đã dừng lại ở Tokyo. Hoàng đế Hirohito đã tiếp đón Quezon với sự tham dự của MacArthur. Cuộc gặp này giống như một nghi thức ngoại giao nhưng ít được biết đến. Đây là lần đầu tiên MacArthur và Hirohito gặp gỡ nhau.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:04:49 am
       
        Vị Hoàng đế 37 tuổi đang ở đỉnh cao quyền lực tối thượng, mặc dù phe quân đội đang nắm giữ quyền lực thực sự trong gần một năm nay. Vào thời điểm đó, Hirohito là một biểu tượng của sự kính trọng, bí hiểm, kỷ luật, với một chút vẻ trịch thượng qua tác phong nhã nhặn, hoàn hảo của ông. Chắc chắn Hoàng đế Nhật Bản coi thường Quezon vì trong mắt ông, Quezon chỉ là người đàn ông đam mê cờ bạc và sắc dục.

        MacArthur cao to, trịnh trọng, mộc mạc có thể gây nhiều ấn tượng tốt hơn, nhưng ông đã gần 60 tuổi và đã qua thời kỳ đỉnh cao của mình, không thể là một mối đe dọa đối với Nhật Bản vô địch. Trong con mắt của MacArthur, vị Hoàng đế chỉ đơn giản là một đối tượng gây tò mò, không hơn không kém. Ông xem vị Hoàng đế tối thượng này là một vị vua theo chế độ quân chủ lập hiến và Nhật Bản chỉ là một con hổ giấy về quân sự. Tuy nhiên, ông biết Nhật Bản là nước duy nhất có thể áp đặt đe dọa đối với Philippines. Sau này, ông đã viết về chuyến thăm như sau:

       Bị bao bọc trong các mảnh đất của 4 hòn đảo lớn, Nhật Bản không có khả năng nuôi số dân đang tăng trưởng nhanh. Mặc dù có một lực lượng lao động hùng hậu nhưng Nhật Bản lại thiếu nguyên liệu thô cần thiết để tăng sản lượng, năng suất. Họ thiếu đường cho nên phải chiếm Đài Loan. Họ thiếu sắt nên chiếm giữ Mãn Châu. Họ thiếu than atraxlt và gỗ nẽn xâm lược Trung Quốc. Họ chiếm giữ Triều Tiền nhằm bảo đảm an ninh. Nếu không có những sản phẩm từ các nước này, nền công nghiệp của Nhật Bản sẽ bị kìm hãm, và hàng triệu người lao động bị mất việc. Đến lúc đó, khủng hoảng kinh tể có thể xảy ra và dễ dàng dẫn đến một cuộc cách mạng.

        Họ vẫn thiếu niken và các khoáng sản của Malaysia, dầu và cao su của Đông Ấn Độ thuộc Hà Lan, thiếu gạo và bông từ Miến Điện và Thái Lan. Người ta dễ dàng đoán được ý định của Nhật Bản. Nhật Bản sẵn sàng sử dụng vũ lực nếu cần thiết để thiết lập một nền kinh tế toàn cầu hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của họ. Philippines chẳng có thứ tài nguyên nào khiến họ thèm muốn ngoại trừ vị trí chiến lược quan trọng. Điều mà Quezon hy vọng là đất nước của ông sẽ tránh được sự tấn công của người Nhật. Ông được tiếp đón nồng hậu ở Tokyo nhưng mối quan hệ bằng hữu với tôi được thay bằng thải độ thù địch kín đáo.


        Hai người tiếp tục đến Los Angeles. Ngay lập tức, Quezon tận hưởng vui chơi ở New York và phớt lờ vị Tổng thống Mỹ đang giận dữ. Khi MacArthur yêu cầu phải có lời mời chính thức đối với ông và ông chủ gặp Tổng thống Roosevelt. Nhưng cuộc gặp chỉ diễn ra năm phút. Tại đó, Quezon yêu cầu trao cho Philippines nền độc lập hoàn toàn vào năm 1938. Tổng thống Mỹ nổi nóng và từ chối. Ông cho rằng, các trò hề của MacArthur ở Philippines không những buồn cười mà còn nguy hiểm và gây kích động cho người Nhật.

        Ông ra lệnh MacArthur phải từ bỏ chức chỉ huy ở Philippines và quay trở về Mỹ. MacArthur nhận được lệnh này khi trở về Manila. Ông cảm thấy sốc:

        Bức thư của ông làm tôi quá sửng sốt. Việc tôi nhận lời làm thống chế chỉ làm mình vui trong chốc lát. Xét chức vụ và vị trí của tôi, việc này chỉ đáng bị ở mức kỷ luật... Tên tuổi và danh tiếng sự nghiệp của tôi bị đe dọa chỉ vì việc này. Gần 40 năm trung thành và phục vụ tận tụy trong quân đội cũng đáng cho tôi được hưởng sự đối xử công bang và sự cân nhắc hợp lý mà quân đội chúng ta đã tuân thủ khắt khe xưa nay, ngay cả đối với tân binh.

        Ông nộp đơn xin ra khỏi quân đội vào ngày 31-12. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục phục vụ Quezon với tư cách cá nhân. Cuối cùng, Tổng thống đã để cho MacArthur từ chức và vô hiệu hóa ảnh hưởng của ông trong quân đội. Ông có thể không thừa nhận bất cứ hành động nào của MacArthur ở Philippines.

        Tuy nhiên, vào lúc MacArthur nhận được lệnh của Roosevelt, tình thế chiến lược ở vùng Viễn Đông đã xấu đi rất nhiều. Nhật Bản đã xâm lược Trung Quốc, MacArthur tin Nhật Bản còn có ý định tấn công quần đảo Philippines.

        Cuộc tấn công có hai liên can lớn khác. Quezon đang lo sợ theo dõi tình hình khi lực lượng quân đội hùng mạnh của Trung Quốc đã sụp đổ trước sức mạnh tấn công của Nhật Bản. Ông nhận thấy một sự thật ác nghiệt: Quân dự bị Philippines không phải là đối thủ của Nhật Bản vì họ không được huấn luyện tốt và trả lương thấp. Nước Mỹ không sẵn lòng chi tiền cho nền quốc phòng Philippines và đã thực sự từ bỏ các hòn đảo này. Cuối cùng, nếu muốn độc lập, Quezon chỉ có thể trông chờ vào sức mạnh phòng vệ của chính Philippines. Ông quyết định: Philippines không nên chống cự và trông cậy vào MacArthur - một người đã không còn đại diện cho nước Mỹ.

        Quezon đến Tokyo một lần nữa và đề nghị Nhật Bản cho quần đảo Philippines một vị trí trung lập. Ông phản đối chiến lược dân quân du kích của MacArthur, cho rằng điều đó chỉ chuốc lấy sự thù hận của người Nhật. Có một lần, ông từ chối gặp MacArthur. Khi được thông báo điều này, MacArthur đã nói với thư ký của Tổng thống Philippines rằng: “Một ngày nào đó, ông chủ của ông sẽ muốn gặp tôi nhiều hơn là tôi muốn gặp ông ấy”.

        Eisenhower có thể nhận biết tình thế suy tàn đang bủa vây thủ trưởng của mình. Dù luôn là một người lạc quan, ông cũng không có ý định ở lại với người bạn đang ở trên con thuyền sắp chìm. Sự nghiệp của ông sẽ bị ảnh hưởng tệ hại nếu ông ở lại với vị tướng già với chất hào hiệp viển vông, không còn phục vụ cho quân đội Mỹ và đang ở một đất nước có thể thua trận bất cứ khi nào trước Nhật Bản. Cuối năm 1939, ông rời bỏ MacArthur. Ông đã quyết định việc này từ lâu. Điều này thể hiện trong một lời nhận xét không che giấu về MacArthur:

        Không có “Con người vĩ đại” nào vì chúng ta hiểu rằng, thành ngữ đó chỉ có ý nghĩa khi chúng ta còn là những đứa trẻ. Một con người có đầu óc nắm bắt các sự kiện chính xác và nhanh nhạy, đưa ra quyết định hoàn hảo chỉ là một điều bịa đặt của trí tưởng tượng.

        MacArthur đã giận dữ trước hành động phản bội này trong suốt cuộc đời còn lại. Ông mô tả Eisenhower là “Người thư ký giỏi nhất của tôi”. Cả hai vẫn là những người bạn trên phương diện nghề nghiệp và thường xuyên trao đổi thư từ. Khi MacArthur không còn được xem là người trong quân đội ở Washington nữa, nhiều sĩ quan Mỹ đang có cơ hội được biệt phái sang tiếp quản quân đội Philippines thay thế ông, nhưng tài năng của bọn họ quá tầm thường. MacArthur vẫn chỉ huy quân đội Philippines trong nhiều năm xáo trộn sau đó.

        MacArthur dùng những người khác làm cánh tay mặt thay thế Eisenhower. Đó là trung tá Richard Sutherland - một người Mỹ có dòng dõi quý tộc nhưng cộc cằn và cứng rắn; Sidney Huff - cựu trung úy hải quân đã được thăng chức lên trung tá; đại tá Charles Willoughby - người Mỹ gốc Đức với cái tên trước đây là Karl Weidenbach -  ông nói giọng Đức đặc sệt và là người ngưỡng mộ chế độ độc tài. Những người này là các ủy viên ban chấp hành có ích, rất hiệu quả khi thực hiện lệnh của người chủ nhưng trí tuệ của họ không thể sánh bằng MacArthur. Mặc dù đã về hưu nhưng MacArthur vẫn tin rằng ông luôn đúng và hơn nữa, ông là đứa con của định mệnh. Ông từng nói với phóng viên trẻ Theodore White của tạp chí Time rằng: “Vận mệnh đã đưa chúng tôi đến đây, White ạ, đó là vận mệnh! Chúa đã đưa tôi đến đây!”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:08:24 am

Chương 21

ĐẢO CORREGIDOR VÀ BATAAN

        Khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu vào tháng 9 năm 1939, MacArthur và Washington lẽ ra phải cảm nhận được mối nguy hiểm đang cận kề. Tuy nhiên, khi MacArthur liên tục yêu cầu Washington hỗ trợ quân sự, ông đã bị từ chối thẳng thừng. Một phần vì MacArthur không còn là tướng của quân đội, một phần là vì người Mỹ thấy rõ rằng Philippines không thể bảo vệ được, đồng thời muốn tập trung cho cuộc chiến tranh ở châu Âu.

        Thêm một năm rưỡi trôi qua. Vào tháng 5 năm 1941, MacArthur viết thư cho Geonga c. Marshall - Tham mưu trưởng mới, nói rằng ông sẽ quay về nước nếu không ai chịu giúp đỡ ông.

        Gqorge c. Marshall không khác gì những đối thủ trước đây của MacArthur từ những ngày bè phái Chaumont và Fort Leavenworth tụ tập quanh Tướng Pershing vào thời điểm Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất.

        Trước nguy cơ phải đối đầu với Nhật Bản, quân đội rõ ràng không thể bỏ qua tài năng lãnh đạo quân đội của MacArthur. Một tháng sau đó, Marshall trả lời:

        Với năng lực nổi bật và những kinh nghiệm quý giá ở Philippines, ông là sự lựa chọn hợp lý cho quân đội ở vùng Viễn Đông khi tình hình đang có xu hướng dẫn đến một cuộc khủng hoảng. Bộ trưởng đã hoãn việc giới thiệu bổ nhiệm MacArtliur vì ông nhận thấy chưa đến lúc cẩn thiết. Tuy nhiên, ông ấy ủy quyển cho tôi nói với MacArthur rằng, vào một thời điểm thích hợp, ông ấy sẽ đề xuất với Tổng thống bổ nhiệm ông. Tôi có cảm giác là Tổng thống sẽ chấp thuận đề xuất này.

        Một tháng sau đó, MacArthur đã được bổ nhiệm. MacArthur được trở lại với chức vụ trung tướng quân đội Mỹ. Cũng trong tháng đó, Nhật Bản đã đánh chiếm một phần bán đảo Đông Dương sau khi gây áp lực buộc chính quyền Vichy ở Pháp cho phép họ dẫn quân vào. Bây giờ, họ đe dọa tất cả bán đảo Đông Dương. Phản ứng của Roosevelt sau khi giao cho MacArthur phụ trách nền quốc phòng thống nhất của Philippines là: đóng băng tất cả tài sản Nhật Bản ở Mỹ và tuyên bố cấm vận đối với các mặt hàng xuất khẩu dầu hỏa, sắt và cao su vào Nhật Bản. Anh và Hà Lan cũng cấm vận đối với Nhật Bản. Người Nhật ngạc nhiên trước sự phản ứng mạnh mẽ của Mỹ. Nhật Bản chỉ còn hai lựa chọn là chấp nhận rút lui nhục nhã hoặc xâm chiếm Malaysia và Đông Ấn Độ thuộc Hà Lan để chiếm các nguồn tài nguyên này.

        Philippines đang sẵn sàng. Khi nghe tin được bổ nhiệm, MacArthur nói với Tham mưu trưởng rằng: “Tôi cảm thấy mình giống một con chó già mặc bộ quân phục mới”. Sutherland nói với ông: “Ông biết đó, bây giờ người ta lại trao thêm một nhiệm vụ bất khả thi!”.

        Tuy nhiên, Quezon rất vui mừng trước tin MacArthur được bổ nhiệm và cho rằng, Philippines cuối cùng đã có được sự ủng hộ tích cực của Mỹ. MacArthur tiên đoán Nhật Bản sẽ xâm lược vào tháng 4 năm 1942 - sau mùa mưa. Ông có 9 tháng để chuẩn bị. Tuy nhiên, quân tiếp viện của Mỹ đến quá chậm. Chỉ có 6 ngàn binh lính mới đến trong tháng 12 so với con số hứa hẹn 50 ngàn binh lính cùng với một ít đạn súng cối vô dụng và một vài xe tăng. Còn máy bay hỗ trợ như đã hứa hẹn thì không hề được đưa đến.

        Tuy nhiên, MacArthur đang tràn đầy lạc quan sau nhiều năm bị Washigton bỏ rơi, tin tưởng đến mùa xuân mọi sự chuẩn bị sẽ êm xuôi. Kế hoạch của ông táo bạo như thường lệ. Ông không hề đếm xỉa đến Kế hoạch Cam cũ rích đề xuất đường rút lui về đảo Bataan. Ông đề xuất tấn công khi kẻ thù đổ bộ xuống các bờ biển. Kho chứa hàng tiếp tế cho quân đội phải đặt ở trung tâm đồng bằng Luzon, bên ngoài Manila. Nhiều người Nhật nhập cư (thực chất là lính Nhật Bản đến do thám mảnh đất này) đã rời khỏi đây khi chiến tranh đến gần. Trong khi đó, các đoàn tàu hùng hậu của Nhật Bản vượt qua các hòn đảo và bắt đầu dàn chiến trận.

        MacArthur thận trọng cho di chuyển 35 máy bay B- 17s đang ở căn cứ không quân Clark, cách Manila 110km về phía bắc xuống căn cứ không quân Del Monte trên đảo Mindanao - nơi năm ngoài tầm oanh tạc của máy bay Nhật. Tuy nhiên, tư lệnh không quân Lewis Brereton hiểu rằng, các phi công của ông không thích sự di chuyển này vì ở đó không có nơi nghỉ ngơi. Ông đã phớt lờ mệnh lệnh cho đến khi Sutherland giận dữ mắng ông vào ngày 4-12. Brereton chỉ đưa 16 máy bay xuống phía nam.

        4 giờ sáng ngày 8-12 (tức ngày 9-12 ở Hawaii), MacArthur bị đánh thức với tin Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Ông nhận được tin Trân Châu Cảng bị “thiệt hại lớn” và việc Nhật Bản xâm chiếm Philippines trong “tương lai gần” là một khả năng rất lớn. MacArthur đọc Kinh Thánh một lúc vì quá sốc. Cũng giống như những tư lệnh quân đội khác, ông tin Hawaii không thể đánh chiếm được. Người Nhật không thể liều mạng tấn công ở đây và không thể vượt qua Thái Bình Dương mà không bị phát hiện.

        Khi các sĩ quan đang tụ tập chết lặng trong văn phòng MacArthur, Brereton cho biết ông có ý định tấn công Đài Loan bằng không quân. MacArthur chưa đến nhưng Sutherland bảo vị tư lệnh không quân hãy chờ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:09:11 am

        Brereton là người nhút nhát nên không thực sự cố gắng thuyết phục MacArthur. “Nhiệm vụ của chúng ta là phòng thủ nhưng phải tuân theo mệnh lệnh”, MacArthur nói với ông. Trong khi đó, tin tức báo về cho biết không quân Nhật đã tấn công tàu biển và 2 tàu tuần tra ở Davao. Máy bay chiến đấu của Nhật Bản cũng bắn phá đài truyền thanh ở phía bắc Luzon. Tuy nhiên, đến 10 giờ sáng - ba tiếng sau -MacArthur mới biết tin về các vụ tấn công này.

        Brereton đã cho máy bay B-17s cất cánh để phòng ngừa một cuộc tấn công lúc bình minh, nhưng giờ đây máy bay đã hết nhiên liệu và phải hạ cánh. Điều khó hiểu là tại sao Nhật Bản lại chưa tấn công. Cuối cùng, vào lúc 10 giờ sáng MacArthur đã ra lệnh không quân tấn công đảo Đài Loan.

        Trong khi các máy bay B-17s đang tiếp nhiên liệu, Brereton cũng đã ra lệnh tất cả các máy bay chiến đấu P-40 phải hạ cánh tiếp nhiên liệu ở sân bay Iba trong khi đáng ra nên thận trọng để một nửa số máy bay hoạt động trên bầu trời và số còn lại tiếp nhiên liệu hoặc hạ cánh ở miền nam, để tránh tầm bắn của Nhật. Tại sao MacArthur lại trì hoãn khá lâu trước khi ra lệnh tấn công? về sau, ông giải thích:

        Khi biết tin tức này, tôi vẫn có cảm tưởng là Nhật Bản đã bị đẩy lùi ở Trân Châu Cảng. Vậy nên tôi suy tính đưa một máy bay do thám lên phía bắc cùng với các máy bay ném bom có yểm trợ để nắm chắc tình hình và khai thác bất kỳ sơ hở nào ở mặt trận phía kẻ thù.

        Cũng có thể ông nghĩ Nhật Bản sẽ ban cho Philippines quy chế trung lập cho nên sẽ không tấn công Philippines. Mệnh lệnh ông ban ra đã rõ ràng: Không được phát động tấn công chống Nhật Bản từ Philippines. Nhưng điều không ai ngờ được là những mệnh lệnh này đã được soạn ra trước khi vụ Trân Châu Cảng nổ ra. Ông không cho rằng Nhật Bản và Mỹ đang đối đầu với nhau. Cũng có thể vào sáng hôm đó Quezon gọi điện yêu cầu ông không được tấn công. Tuy nhiên, bây giờ ông là một tướng của Mỹ chứ không phải là “con chó” phục vụ cho Quezon nữa. Sau đó, MacArthur cho rằng, ông chưa bao giờ có ý nghĩ tấn công đảo Đài Loan:

        Vào buổi sáng ngày 8-12 trước vụ tấn công căn cứ không quản Clark Field xảy ra, Tướng Brereton đề nghị Tướng Sutherland đột kích vào Đài Loan. Tôi không hề biết về cuộc nói chuyện giữa hai người và Brereton chưa bao giờ đề nghị hoặc gợi ý tấn công Đài Loan với tôi. Lần đầu tiền biết về chuyện này là khi tôi đọc bản tin trên một tờ báo một tháng sau đó. Nếu có đề nghị như vậy cho một vị Tham mưu trưởng, thì đó là một đề nghị quá lờ mờ và hời hợt. Nếu ông đề nghị nghiêm tức, phải gặp trực tiếp tôi. Ông ta chưa bao giờ trao đổi vấn đề này với tôi cả trước và sau khi xảy ra vụ tấn công căn cứ không quân Clark. Tập trung hỏa lực không quân tấn công đảo Đài Loan là điều không thể và là hành động tự sát, vì chúng ta chỉ có lực lượng máy bay ném bom quá mỏng, không có máy bay chiến đấu yểm trợ, khoảng cách giữa Philippines và Đài Loan không phải là gần. Trái lại, máy bay ném bom của quân địch từ Đài Loan có được sự yểm trợ từ các tàu sân bay của họ, hoàn toàn khác với tình thế của chúng ta.

        Tấn công Đài Loan không phải là một quyết định dễ dàng. Máy bay Nhật đông hơn rất nhiều so với máy bay Mỹ trong trường hợp tấn công vào Đài Loan. Chắc chắn MacArthur phải ngần ngừ suy tính rất lâu.

        Việc Nhật Bản không tấn công vào bình minh hóa ra là do sương mù bao phủ các căn cứ không quân ở đảo Đài Loan. Tuy nhiên MacArthur không biết điều này.

        Đánh giá sai lầm đã dẫn đến thảm kịch. Khi sương mù tan và máy bay Nhật cất cánh, họ kịp thời phát hiện các máy bay B-17 và P-40 đang nằm theo hàng. Khoảng 110 máy bay Nhật đã đến sân bay Iba và đánh phá 16 chiếc P-40 đang nằm trơ trọi. Ngay sau 12 giờ, 82 máy bay khác của Nhật Bản bay về phía căn cứ không quân Clark khi các phi công của Mỹ đang nghỉ trưa. Một phát thanh viên đài truyền thanh đưa các tin tức chưa kiểm chứng về việc máy bay Nhật Bản tấn công căn cứ không quân Clark làm các phi công cười ồ. Đột nhiên trên bầu trời xanh, máy bay Nhật xuất hiện giống như một cơn sấm sét. Hầu như toàn bộ phi đội B-17s đã bị bắn cháy ngay trên mặt đất. Chỉ có 2 chiếc may mắn cất cánh thoát ra Vịnh Manila. Đó là một đòn đánh choáng váng loại bỏ khả năng hoạt động của các căn cứ không quân ở phía bắc của đảo.

        Ngay sau đó, Brereton ra lệnh tất cả máy bay còn lại phải bay sang Australia và Java. Các máy bay chiến đấu còn lại đã chiến đấu chống lại lực lượng không quân hùng hậu, vượt trội của Nhật Bản. Không còn không quân bảo vệ, Phillippines như con vịt đang ngồi để không quân Nhật mặc sức tấn công. Ba ngày sau, căn cứ hải quân khổng lồ của Mỹ ở Cavite cũng nổ tung. Vào ngày 16-12, đến lượt các bến tàu Manila cùng chung số phận.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:29:12 am

        Trong khi tin tức cho biết 2 chiếc tàu lớn nhất của quân Đồng minh ở phía tây Thái Bình Dương là tàu chiến Prince of Wales và tàu tuần dương Repulse của Anh đã bị không quân Nhật đánh đắm. Các tàu chiến quy ước không thể hoạt động nếu không có không quân bảo vệ. Tư lệnh hải quân Mỹ ở Philippines Tom Hart đã quyết định rút hết các lực lượng hải quân còn lại rời khỏi Philippines. MacArthur cảm thấy nhục nhã. Kế hoạch phòng thủ Philippines trước đây đã vô dụng vì sau khi thảm họa xảy ra ở Trân Châu Cảng, hải quân thấy rằng, không thể duy trì tuyến đường tiếp tế cho Philippines. Vậy nên quân đội ở Philippines đã cạn kiệt hàng tiếp tế.

        MacArthur nổi khùng cho rằng, hải quân phải gửi các tàu sân bay còn hoạt động ở Trân Châu Cảng đến trợ giúp Philippines. Trong bức điện tín, ông hối thúc phải tấn công trực tiếp vào Nhật Bản:

        Sức mạnh của đại bộ phận không quân và hải quăn của đối phương đang tham gia ở các mặt trận từ Singapore cho đến Philippines và phía đông cho nên Nhật Bản đã để lộ sơ hở ở chính nước họ. Thông tin chính xác ở đây cho thấy nỗi lo sợ của Nhật Bản lúc này là sự xâm nhập của Liên Xô. Cơ hội tốt nhất đã xuất hiện. Tấn công ngay lập tức Nhật Bản từ phía bắc không chỉ gây thiệt hại nặng cho Nhật Bản mà còn giúp giảm áp lực mà Nhật Bản đang dồn vào các mục tiêu ở phía nam. Tấn công không quân vào các mục tiêu ở Nhật Bản không chỉ giúp tập trung sức mạnh không quân đang bị phân tán rộng mà còn có thể phá hủy các tuyến cung cấp dầu của Nhật Bản. Đây là cơ hội vàng để thực hiện một đòn đánh thông minh vì đối phương đang dính vào các chiến dịch không quân ban đầu trải rộng.

        Đây là chiến thuật thông minh, nhưng hải quân đã làm ngơ. Sau cú sốc Trân Châu Cảng, Washington không dám mạo hiểm sử dụng các tàu sân bay quý giá và quyết định bỏ mặc Philippines. Sau khi bị phá hủy một phần lực lượng không quân, MacArthur đã bị cho về hưu chứ không còn là vị tướng oai nghiêm nữa.

        Trong khi chờ đợi Nhật Bản đổ bộ xâm lược Philippines, MacArthur đã khảo sát tất cả lực lượng đổ nát còn lại. Các hệ thống phòng không đã bị phá hủy. Các hòn đảo bị phong tỏa đường biển và hải quân đã bỏ chạy. Ông đã phải bỏ ra hơn 6 năm để xây dựng lực lượng phòng thủ Philippines, nhưng lực lượng dân quân vẫn chưa được huấn luyện đầy đủ. Bây giờ lực lượng này đã mất hết tinh thần.

        Ông không tránh khỏi trách nhiệm đã để xảy ra các thảm họa ở các căn cứ không quân Iba và Clark, khả năng kém cỏi của Brereton và vận xui cũng là những yếu tô góp phần gây ra các thảm họa này. Nguyên nhân chính là từ các nhà hoạch định quân sự của Mỹ, vì họ đã tiếp viện quá ít và quá chậm mặc dù MacArthur đã nhiều lần khẩn nài.

        Thất bại của Philippines đang hình thành một Trân Châu Cảng hoặc một Singapore thứ hai. MacArthur đã 61 tuổi và chứng kiến thất bại lớn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

        Ngay lập tức, MacArthur đánh giá mối nguy hiểm đang đe dọa các lực lượng của ông. Nếu Nhật Bản đổ bộ ở Luzon thì lực lượng quân đội 70 ngàn người của ông - quân số vượt trội nhưng khó có thể ngăn chặn cuộc đố bộ này. Nhật Bản có xe tăng và máy bay. Bây giờ MacArthur không còn máy bay lẫn tàu chiến có thể ngăn chặn cuộc đổ bộ. Ông không có gì hơn ngoài những tân binh. Hai tuần sau vụ Trân Châu Cảng, Philippines chờ đợi bị “thi hành án” trong khi Nhật Bản thực hiện một số vụ đổ bộ nghi binh. MacArthur cho rằng Nhật Bản thực hiện các cuộc đổ bộ này nhằm chia cắt lực lượng của ông. Xui xẻo hơn, 12 tàu ngầm còn lại trên các đảo không làm ảnh hưởng gì tới các tàu chiến Nhật Bản ở vịnh Manila, vì các thủy lôi và ngư lôi không nổ.

        Vào ngày 22-12, 80 tàu Nhật Bản chở 20 ngàn lính đổ bộ xuống bãi biển ở Vịnh Lingayen - phía bắc Manila. Hai ngày sau đó, thêm 7 ngàn quân Nhật đổ bộ ở Vịnh Lamon. Quân Nhật định sử dụng chiến thuật gọng kìm để bóp chặt Manila.

        Giờ đây, thời gian chờ đợi đã hết và MacArthur phải đưa ra quyết định sáng suốt nhất. Từ lâu ông đã nhận thấy rằng, đưa những dân quân chưa có kinh nghiệm vào một trận chiến mở ở đồng bằng Luzon là hành động điên rồ. Quân của ông sẽ bị xe tăng và máy bay Nhật nghiền nát. Phía Nhật Bản nghĩ là MacArthur sẽ đào chiến hào để bảo vệ Manila. Tuy nhiên, MacArthur đã không làm như vậy vì thấy biện pháp này cũng vô ích.

        Ông ra lệnh cho hai cánh quân ở phía bắc và phía nam Luzon phải rút lui về bán đảo Bataan để cầm cự cho đến khi quân tiếp viện đến. Kế hoạch Cam cũ rích và không được đánh giá cao đã được áp dụng. Vào khoảng 2 giờ chiều của ngày ll Giáng sinh, MacArthur ra lệnh cho Quezon phải rút đi ngay lập tức về pháo dài Corregidor, một hòn đảo nằm cách mũi bán đảo Bataan khoảng 3 cây số.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:29:56 am

        Ông và gia đình đã lặng lẽ tổ chức đón lễ Giáng sinh sớm cho bé Arthur. Sau đó, họ đã thực hiện hành trình kéo dài 5 tiếng băng qua gần 50 cây số trên Vịnh Manila. Khi đi trên biển lặng, họ có thể nhìn thấy khói của hàng trăm ngọn lửa đang thiêu rụi các kho đạn được và đồ tiếp tế. Kho chứa dầu lớn ở Cavite cũng đang cháy phừng phực, bốc lên những ngọn khói dày đặc. Họ đã chủ động thiêu hủy chúng để tránh rơi vào tay quân Nhật.

        Đó là một mùa lễ Giáng sinh khác thường. Khi đến Corregidor, MacArthur đã đặt bản doanh ở Topside, căn nhà dành cho sĩ quan nằm trên ngọn đồi Malinta.

        Từ đó, ông đã chỉ đạo qua điện thoại một trong những cuộc rút lui tuyệt diệu nhất trong lịch sử từ trước đến nay. Khó khăn lớn nhất là các lực lượng của ông đã được chia thành hai cánh quân. Nếu cánh quân phía bắc rút lui quá nhanh, quân Nhật đang tiến vào có thể chặn và cắt đứt cánh quân phía nam, không cho cánh quân này đến được Bataan. MacArthur đã chỉ đạo Tướng Jonathan Wainwright vị chỉ huy cánh quân phía bắc xây dựng một phòng tuyến, đợi quân Nhật đến đông rồi tấn công chúng. Sau đó, cánh quân phía bắc rút lui 16km và xây dựng một phòng tuyến khác. Bằng cách này, họ có thể làm chậm bước tiến quân của Nhật Bản mà không tốn nhiều thương vong. Trên đường rút lui, khoảng 180 chiếc cầu đã bị cho nổ phá hủy.

        Tướng Masaharu Homma, tư lệnh quân đội Nhật Bản đã tiến quân vào như MacArthur dự tính nhưng bị các phòng tuyến chặn của cánh quân phía bắc chặn lại. Chỉ chờ có vậy, cánh quân nhỏ hơn ở phía nam đã tranh thủ rút về Bataan.

        Ngay cả người hay chỉ trích gay gắt MacArthur - Tướng Jack Pershing cũng phải khâm phục ông và gọi đây là một kiệt tác: một trong những cuộc di chuyển quân vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự của mọi thời đại.

        Hai cánh quân bao gồm cánh quân phía bắc 28 ngàn người và cánh quân phía nam 15 ngàn người, cách xa nhau hơn 250km đã gặp nhau tại cầu Calumpit. Họ đã mất hai ngày để vượt sông sau đó cho nổ cây cầu này. Sau đó, họ tiếp tục băng qua một con sông khác ở Layao và cũng đã cho nổ cây cầu nơi đây vào ngày 6-1-1942. Lúc này, 80 ngàn quân đã rút về an toàn ở bán đảo Bataan, bao gồm 5 ngàn quân Mỹ và 65 ngàn quân Philippines. Ngoài ra, còn có 26 ngàn người dân chạy nạn. Manila trở thành một thành phố bỏ ngỏ.

        Người Nhật quá sửng sốt. Họ tưởng phải chiến đấu để chiếm Manila. Bộ tham mưu Nhật Bản ở Tokyo đã cho rằng “Các tư lệnh quân đội Nhật Bản đã không thể điều chỉnh để thích nghi tình thế mới”. Đây là cuộc rút quân chiến lược vĩ đại của MacArthur. Nhiều người nằm trong cuộc rút quân xuất sắc này không nhận biết được rằng, đáng ra họ đã phải bỏ mạng nếu như chờ quân Nhật đến để chiến đấu.

        Mặc dù vậy, MacArthur có thể bị chỉ trích thậm tệ về việc: Hai tuần lễ trước khi quân Nhật đổ bộ, thay vì cho chuyển hàng hóa và lương thực dự trữ về bán đảo Bataan, ông đã mặc kệ để theo đuổi chiến lược của mình. Khi đó ông vẫn còn có không quân trong tay và sẵn sàng tấn công quân Nhật khi họ đổ bộ. Do đó buộc phải rút lui, ông đã không thể mang theo hết được hàng hóa và lương thực dự trữ. Giờ đây, người cư trú trên bán đảo Bataan quá đông đúc nhưng lương thực thiếu hụt trầm trọng, chỉ đáp ứng được một nửa.

        Ba ngày sau đó, Nhật Bản thực hiện vụ không kích đầu tiên xuống Topside gần 4 tiếng đồng hồ. MacArthur đội chiếc mũ quân sự vải mềm bình tĩnh quan sát tình hình cho đến khi một anh lính liên lạc cầm mũ sắt chụp lên đầu ông và kéo MacArthur nằm xuống bên cạnh một hàng rào. Một mảnh bom xé nát bàn tay của người lính và một mảnh khác làm mẻ chiếc mũ sắt.

        Khi căn nhà của ông bị phá hủy, MacArthur buộc phải ẩn nấp dưới đường hầm sâu ở Malina do chính mình xây dựng. Mỗi lúc có máy bay không kích, đường hầm này trở nên quá đông đúc, mất vệ sinh và rất bất tiện. MacArthur kiên quyết dành phần lớn thời gian ở trong một căn nhà bên ngoài đường hầm.

        Người thích nghi với hoàn cảnh mới giỏi nhất lại là bé Arthur, 3 tuổi. Những người lính trêu đùa gọi cậu bé là “Trung sĩ”. Cậu bé cứ vui vẻ đi lên đi xuống hầm và hát bài “Khúc quân hành của nền Cộng hòa” hoặc ré vang: “Máy bay ném bom, máy bay ném bom!”.

        Trong khi đó, trận chiến thực sự diễn ra ở mặt trận phòng thủ của Bataan. Quân Nhật đã đánh sứt mẻ lực lượng quân Philippines và quân Mỹ.

        Đó là một cuộc chiến ác liệt, nhưng những người phòng thủ vẫn cầm cự được. Lực lượng đồng minh được phân tán ra ở bán đảo thành Quân đoàn số 1 dưới quyền chỉ huy của Wainwright và Quân đoàn số hai dưới quyền chỉ huy của Tướng George Parker. Có một khoảng trống giữa các sườn núi chính của Bataan mà Wainwright nghĩ là đối phương không thể xuyên qua được. Tuy nhiên, 500 quân Nhật đã vượt qua và Tham mưu trưỏng Sutherland đã sai lầm khi ra lệnh cho Wainwright rút lui bỏ lại pháo binh phía sau. Quân Nhật đã đổ bộ đằng sau lưng cả hai cánh quân. Wainwright đã thực hiện các cuộc tấn công vào hai vị trí đổ bộ của quân Nhật.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:40:03 am

        Trong suốt những ngày nằm trong vòng vây, MacArthur vẫn chứng tỏ sự dũng cảm khác thường. Trợ lý Huff của ông đã viết về chuyện này:

        Mọi người cố gắng thuyết phục tướng MacArthur tránh xa lối vào cửa hầm hoặc ít nhất phải mang mũ sắt khi mảy bay không kích. Ông ấy chẳng thèm quan tâm đến lời khuyên của chúng tôi. Chúng tôi dựng các cột điện lớn và cột lại với nhau bằng dây cáp dọc theo lối vào hầm để ngăn ngừa quân Nhật lao mảy bay tự sát đàm xuống lối vào. Chúng tôi cũng dựng các bức tường ở một góc cửa hầm để ngăn ngừa bom lọt vào trong hầm làm kích nổ kho đạn và nổ tung toàn bộ hầm. Tuy nhiên, MacArthur vẫn bước ra bên ngoài quan sát với vẻ đôi lúc tức giận, đôi lúc khinh bỉ những chiếc mảy bay quân địch dang bay trên đầu.

        Ông cũng làm quân lính rất khó chịu với những tuyên bố nghe rất kêu. Ông vẫn tiếp tục điệp khúc chiến thắng sai lầm:

        Tướng MacArthur nhận được những báo cáo liên tục từ nhiều nguồn tin đáng tin cậy cho biết trung tướng Masaharu Нотта, tư lệnh quân đội Nhật Bản ở Philippines đã rạch bụng tự sát theo nghi thức Harakiri. Theo tin tức đưa về, tang lễ của vị tướng quá cố sẽ tổ chức vào ngày 26-2 ở Manila. Một chi tiết buồn cười và thú vị là sự kiện tự tử và tổ chức tang lễ đều diễn ra ở cùng một địa điểm tại khách sạn Manila - nơi tướng Mac Arthur từng ở trước khi sơ tán khỏi Manila. Quân và đồ tiếp tế từ Mỹ đang trên đường đến. Hàng ngàn binh lính và hàng trăm máy bay được gửi sang. Thời gian chính xác lực lượng tiếp viện đến chưa xác định được, vì họ phải chiến đấu trên đường đi để vượt qua các chiến tuyến của Nhật Bản. Điểu cấp bách là quân đội của chúng ta phải cầm cự cho đến khi quân tiếp viện đến nơi.

        MacArthur lo lắng Homma đã xáo tung căn hộ của ông ở khách sạn. Điều gây tranh cãi nhất là ông từ chối đến thăm Bataan nhiều lần. Vào ngày 10-1, bất kỳ ai hỏi ông về quân tiếp viện, ông đều trả lời: “Quân tiếp viện chắc chắn đang đến. Chúng ta phải cầm cự cho đến lúc đó”.

        MacArthur không quay trở về Bataan chắc chắn không phải vì thiếu cam đảm, mà vì không thể chịu nổi khi phải nói với quân lính đang âu lo rằng, ông đã sai lầm. Quân tiếp viện vẫn chưa lên đường. MacArthur không nói dối về việc tiếp viện mà chính là đối thủ của ông, Tổng thống Franklin Roosevelt.

        Khả năng nói dối của Roosevelt lần này quá xuất sắc. Tham mưu trưởng - Tướng George Marshall bảo đảm với MacArthur vào tháng Giêng rằng:

        “(Roosevelt và Churchill) đang muốn triển khai sức mạnh nhanh chóng ở Viễn Đông để phá vỡ ưu thế của quân địch ở Philippines... Hy vọng lớn nhất của chúng ta là việc triển khai không lực vượt trội ở Malaysia Barrier sẽ cắt đứt hệ thống liến lạc của quân Nhật ở phía nam Borneo và cho phép mở một cuộc tấn công vào phía nam Philippines. Các máy bay ném bom 4 động cơ trước đày bị kìm hãm do thời tiết xấu đang lên đường. Hôm nay, một nhóm mảy bay ném bom khác sẽ xuất phát từ Hawaii để tổ chức tấn công ở các chiến trường mới trên đảo. Hai nhóm mảy bay ném bom hạng trung tầm xa và hạng nặng sẽ xuất phát vào tuần sau. Các máy bay cường kích cũng đang đến trên những tàu sân bay mà chúng ta có thể sử dụng. Không quân tiếp viện của ta và của Anh sẽ giúp chúng ta sớm nắm ưu thế ở vùng tây nam Thái Bình Dương. Chúng ta phải tập trung sức mạnh để tạo ra sức tác động quyết định đối với hải quân Nhật và buộc họ phải rút lui về hướng bắc... Mỗi chiến thắng là mỗi bước đi quan trọng giúp tập trung sức mạnh áp đảo cần thiết để đạt mục đích của chúng ta. Hơn nữa, các cuộc hội nghị hiện tại ở Washington... được khuyến khích tăng tốc giành thắng lợi cuối cùng.

        Thực tế, một số tàu tìm cách vượt qua sự phong tỏa của quân Nhật để đưa hàng hóa tiếp tế đến Bataan. Có ba chiếc tàu vượt qua được nhưng cũng chỉ tiến được vào phía nam Philippines. Không một tàu và máy bay của Mỹ nào có thể đến được Bataan. Chỉ có một ít tàu ngầm vượt qua mặc dù các tàu chiến của Mỹ lúc nào cũng có thể vượt qua được vòng phong tỏa Đại Tây Dương của Hitler.

        Washington cho rằng, bỏ rơi Bataan là đúng và chấp nhận sự thất bại. Tuy nhiên, hải quân Mỹ quá thận trọng nên chưa bao giờ thử vượt qua vòng phong tỏa của Nhật Bàn.

        Nếu đồ tiếp tế đến được đảo Bataan, quân của MacArthur có thể cầm cự lâu dài. Họ chưa bao giờ bị đánh bại trong chiến tranh. Quyết định của Mỹ bỏ rơi 80 ngàn quân là một sai lầm nghiêm trọng. Bộ Chiến tranh chắc chắn đã không quyết định đúng dù dựa trên các cơ sở quân sự. Sau khi nhận ra đã bị bỏ rơi, Quezon điên tiết nói về Roosevelt: “Hãy đến nghe tên vô lại này đi! Đồ khốn kiếp! Nước Mỹ đau đớn quằn quại trước số phận của người anh em xa ở châu Âu nhưng đứa con gái của nước Mỹ là Philippines lại bị hãm hiếp ngay ở phòng phía sau!”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:42:33 am
   
        MacArthur cố gắng xua đi ý nghĩ đầu hàng người Nhật. Ông đã gửi điện tín cho Roosevelt nhờ giúp đỡ. Tổng thống trả lời cho Quezon với sự dối trá hoàn hảo nhất.

        Tôi bảo đảm với ông rằng, mọi con tàu đang sẵn sàng mang đến sức mạnh có thể đè bẹp kẻ thù và giải phóng mảnh đất của ông. Người dân Mỹ sẽ không bao giờ quên những gì người dân Philippines đang trải qua những ngày hôm nay và những ngày sắp tới. Tôi gửi đến người dân Philippines lời cam kết long trọng rằng, họ sẽ có được tự do và nền độc lập. Tất cả nhân lực và khí tài của Mỹ sẽ bảo đảm cho cam kết đó.

        Chỉ một tuần sau đó, ông buộc phải thừa nhận không thể làm gì ở giai đoạn này. Quezon tức tối đe dọa sẽ đề nghị Nhật Bản ký thỏa thuận cho Philippines hưởng quy chế trung lập giống như chính phủ Vichy của nước Pháp, đổi lại Nhật Bản có quyền đi qua Philippines như lãnh địa đã được xâm chiếm nhưng chỉ trên danh nghĩa. MacArthur làm Washington tức giận khi ông tỏ ra chấp nhận điều này.

        Từ khi tôi không có hải quân và không quân bảo vệ, ông có thể hình dung ra được bộ chỉ huy này sắp bị tiêu diệt. Ông phải cân nhắc và nhận định xem cầm chân kẻ thù theo kế hoạch của Quezon tốt hơn hay là nỗ lực tiếp tục chiến đấu của ông tốt hơn. Xét theo quan điểm quân sự, kế hoạch của Tổng thống Quezon có thể đưa ra giải pháp tốt hơn để cứu vãn một thất bại sắp diễn ra.

        Roosevelt trả lời nhẹ nhàng:

       Mặc dù vào thời điểm này, tôi không thể khẳng định cụ thể ngày nào quân tiếp viện sẽ đến Philippines nhưng các con tàu đã được chất đầy hàng tiếp tế cần thiết và đã lên đường đến Manila. Vũ khí của chúng ta cùng với của quân Đồng Minh có thể giáng những đòn nặng cho các tàu hải quân và tàu vận tải của quân địch... Một nhóm máy bay cường kích và máy bay chiến đấu đang bay qua Thái Bình Dương. Cần phải có các yếu tố bảo vệ đầy đủ từ hải quân chúng ta để bảo vệ cho quân tiếp viện.

        Ngày hôm sau, Quezon bằng lòng qua Australia. Roosevelt truyền mệnh lệnh khủng khiếp cho MacArthur là phải chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng.

        Các lực lượng Mỹ sẽ tiếp tục giữ ngọn cờ Mỹ bay ở Philippines cho đến khả năng khảng cự cuối cùng. Tôi ra những quyết định như vậy trên cơ sở nắm rõ số lượng ước đoán quân lính của ông kèm trong bức điện tín của Tổng thống Quezon gửi cho tôi. Nghĩa vụ và sự cần thiết phải kháng cự sự xâm lược của người Nhật quan trọng hơn bất cứ nhiệm vụ nào mà chúng ta đang đối mặt ở Philippines.

        Vậy nên tôi giao cho ông sứ mệnh khó khăn nhất này với sự thấu hiểu rằng, ông có thể bớt liều mạng.


        MacArthur khẳng khái trước thách thức này: “Tôi không mảy may có ý định từ bỏ hoặc cho quân lính Philippines dưới quyền chỉ huy của tôi đầu hàng. Tôi định chiến đấu đến cùng ở Bataan và sau đó là Corregidor”.

        Bản thân ông kết luận đau xót: “Chưa bao giờ trong lịch sử, một lực lượng quân đội to lớn và dũng cảm lại bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn như vậy”.

        Vị tướng đã sẵn sàng tử thủ với binh lính của mình. Thậm chí ông đã nghĩ đến chuyện bắn cả bà vợ Jean và bé Arthur nếu họ không chịu rời hòn đảo mà không có ông. Cả Roosevelt và Eisenhower tin về một kết cục không thể tránh khỏi mặc dù Marshall không tin như vậy. Khả năng dâng nộp Bataan không bao giờ xảy ra đối với MacArthur. Không phải vì ông biết quân Nhật đối xử tệ hại như thế nào với tù binh. Ông sẵn sàng tử thủ nhưng vẫn ngẩng cao đầu với vinh quang sau tất cả những nỗi nhục nhã mà người Nhật đã gây ra cho người Mỹ, người Anh và người Hà Lan ở châu Á.

        MacArthur viết:

        Tim tôi đau nhói khi thấy binh lính của mình đang hao mòn dần. Áo quần của họ giống như mớ giẻ rách. Bàn chân trần của họ đang kìm nén căm phẫn. Mái tóc dài của họ phủ lèn khuôn mặt hốc hác không một giọt máu. Cổ họng của họ phát ra tiếng cười hoang dại, khàn đục để tán thưởng những câu chuyện đùa tục tĩu. Họ nguyền rủa nước Mỹ như nguyền rủa kẻ thù, họ vỗ tay khi chế nhạo Hải quân Mỹ.

        Tuy nhiên mắt họ sáng lên và vui mừng khi thấy tôi. Họ tụ tập xung quanh và vỗ vào lưng tôi. Họ nhe răng cười giống như nụ cười của bộ xương sau khi đồng ca: “Chúng ta là những đứa con hoang đang chiến đấu của Bataan. Không cha, không mẹ và không có nước Mỹ”.

        Họ không đòi hỏi xu nào và họ củng không có xu nào để cho. Họ rất ngoan cường. Những con người hoang dại ở vịnh này không êm ái giống như con bồ câu rũ cánh chết, mà giống như con chó sói bị thương đang rụt lưỡi đe dọa và bàn tay tìm kiếm một cây dao nhọn dài mà từ lâu đã được thay thế bằng súng bazooka. Khi chôn họ, chúng ta sẽ thấy quanh cổ của họ có sợi dây bẩn thỉu đeo hình thập ác lủng lẳng. Họ dơ dảy, hôi hám, đầy rận, nhưng tôi mến họ.

        Lúc này, nhiều sự kiện xảy ra, và có bước ngoặt to lớn. Chính phủ Australia không có khả năng phòng ngự trước quân Nhật đã tranh cãi với Churchill khi họ yêu cầu cho triệu hồi sư đoàn quân Australia đang chiến đấu ở E1 Alamein, Bắc Phi. Churchill thẳng thừng từ chối. Thủ tướng Australia John Curtis tuyệt vọng đánh điện cho người Mỹ kêu cứu. Churchill đã nảy ra một ý tưởng, ông viết trong cuốn hồi ký:

        Khi đến thăm Nhà Trắng vào cuối thảng 12 năm 1941, qua tổng thống Mỹ và ông Stimson, tôi biết về số phận trước mắt của tướng MacArthur và đơn vị quân sự của Mỹ đồn trú ở Corregidor. Tôi đã cho họ biết cách chúng tôi xử lý với vị trí của một Tổng tư lệnh khi lực lượng của ông đã giảm xuống chỉ còn một đội quân nhỏ so với ban đầu. Chúng tôi đã ra lệnh cho Gort rời bỏ Dunkirk và không cho người Đức có một chiến thắng không cần thiết.

        Tổng thống và ông Stimsom đọc bức điện tín với sự tập trung cao độ, và tôi cảm thấy ấn tượng trước mức tác động của bức điện tín đến họ. Vào ngày hôm đó, ông Stimson trở lại và hỏi xin bản sao bức điện, tôi lập tức đưa ngay cho ông.


        Như vậy, Churchill đã cứu MacArthur.

        Trước khi Quezon rời bỏ Philippines, ông đồng ý trả lương cho MacArthur để phục vụ cho Philippines cũng như tiền thưởng cho 7 vị tư lệnh tổng cộng là 500.000 đôla. MacArthur đã nhận số tiền mặc dù ông tin ông sẽ chết trước khi hưởng số tiền này. Ông dành số tiền này cho Mary và Arthur.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:45:34 am
       
Chương 22

“TÔI SẼ QUAY TRỞ LẠI”

        Vào ngày 23-2, Roosevelt ra lệnh cho MacArthur di chuyển đến Mindanao rồi sau đó qua Melbourne. MacArthur cảm thấy suy sụp, ông đe dọa sẽ từ chức và làm binh nhì ở Bataan. Nhưng ngày hôm sau, MacArthur nói vì quyền lợi của quân lính, ông không có sự lựa chọn nào khác mà buộc phải tuân lệnh tổng thống. MacArthur tự thuyết phục mình là Roosevelt không nói dối khi cam kết cho ông quay trở lại để cứu quân lính của mình.

        Vào đêm 11-3, ông giao phó quyền chỉ huy cho tướng Wain wright.

        Jonathan, tôi muốn ông hiểu hoàn cảnh của tôi một cách rõ ràng. Tôi đi qua Australia theo lệnh hối thúc liên tục của Tổng thống. Tình hình đã lên đến điểm hoặc là tôi phải tuân lệnh hoặc là phải ra khỏi quân đội Mỹ. Tôi muốn ông phổ biến cho mọi người biết mọi chuyện rằng, tòi ra đi mà trong lòng không muốn như vậy. Nếu tôi đến được Australia thì ông biết tòi sẽ trở lại đây trong thời gian sớm nhất có thể. Trong lúc này, ông phải cầm cự. Tạm biệt, Jonathan. Khi trở lại, tôi sẽ phong chức trung tướng cho ông.

        MacArthur mô tả cảnh tượng trên boong tàu:

        Bây giờ màn đèm đã buông xuống và làn gió nhẹ làm nước biển bắt đầu gợn sóng. Hỏa lực quân địch đã ngưng và một sự im lặng chết chóc đang bao trùm. Dường như có mùi thối rữa của người chết, càng lúc càng nặng trong khí trời đêm. Tôi giơ mũ lèn chào tạm biệt và có thể cảm thấy mặt mình đang tái nhợt đi, cảm thấy ca mặt đột nhiên co giật. Tôi nghe thấy tiếng ai hỏi: “Sarge, anh ta có qua khỏi không?” Một tiếng trả lời cộc lốc: “Dunno, anh ta vẫn còn may mắn, nhưng có lẽ chỉ một phần năm cơ hội thôi”.

        Đoàn tàu bao gồm 4 chiếc thuyền cao tốc P.T. cao 23 mét, chỉ một số trong một ít tàu còn lại ở Bataan. Lo sợ bị bắt, MacArthur không đi bằng tàu ngầm mặc dù nó nhanh hơn và an toàn hơn. Ông không muốn rời bỏ quân của mình trong cơn rối loạn, muốn ở lại và chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, và ông không tin tướng Wainwright làm được điều đó vì ông này rất dũng cảm nhưng lại nghiện rượu. Tuy nhiên, ông tin rằng, chỉ có cách ra đi là giải pháp để cầu xin sự giúp đỡ cần thiết cho đơn vị đồn trú ở đây sống sót.

        Nhóm nhỏ này đã thực hiện chuyến đi cực kỳ nguy hiểm, vượt qua phòng tuyến quân Nhật để đến đảo Cuyon và sau đó tiếp tục đến Del Monte ở Mindanao. Sau một thời gian dài chờ đợi, người Australia đưa đến một chiếc máy bay ầm ĩ và đưa MacArthur cùng gia đình đáp xuống gần Darwin (quân Nhật đang không kích xuống bãi đáp máy hay ở thành phố khi ông đến nơi). Mặc dù Jean phản đối nhưng ông vẫn bay đến Alice Springs, một nơi hẻo lánh ở miền trung Australia và sau đó đáp chuyến tàu đến Melbourne.

        Tại Darwin, sự tiếp đón nhiệt tình đã khiến ông suy sụp tinh thần ít nhất là lần thứ tư trong những tháng gần đây (Lần đầu tiên là tin tức về Trân Châu Cảng, lần thứ hai sau khi ông đến Cọrregidor và lần thứ ba là lúc Roosevelt ra lệnh ông phải rời khỏi Corregidor). Ông tiếp tục thất vọng khi ở Melbourne. Ông phát hiện ra rằng, Roosevelt đã nói dối ông thêm một lần nữa. Không có quân đội nào ở Australia chờ đợi để đưa ông trở lại Bataan. Chỉ có tổng cộng 32 ngàn lính bao gồm bộ đội Australia. Không có hải quân, không có xe tăng và chỉ có khoảng hơn 100 máy bay. “Chúa rủ lòng thương chúng con”. MacArthur nói khi ông nhận ra điều dự đoán trước đây là chính xác.

        Khi đến lãnh thổ Australia, ông nói:

        Tổng thống Mỹ ra lệnh cho tôi vượt qua phòng tuyến quàn Nhật, tiến từ Corregidor đến Australia với mục đích như tôi hiểu là tổ chức cuộc tấn công của người Mỹ nhằm vào người Nhật để cứu người Philippines. Tôi đã đến và tôi sẽ quay trở lại.

        Ba từ cuối cùng này trở thành một dấu ấn của tướng MacArthur huyền thoại, một trong những lời phát biểu nổi tiếng nhất của một vị tướng trong lịch sử.

        Ngạc nhiên thứ hai khi đến Australia khác hẳn với sự ngạc nhiên thứ nhất là ông nhận ra rằng: ông, người đã bị mắc lừa để bỏ rơi hàng chục ngàn quân lính, đã thực hiện một chuyến rút lui ngoạn mục khỏi vòng vây của người Nhật đã trở thành một anh hùng. Có lẽ ông là người anh hùng vĩ đại nhất trong chiến tranh cho đến nay, một biểu tượng của sự kháng cự.

        Không giống như tướng Perceval của Anh đã dâng nộp Singapore, ông cầm cự không nao núng từ tháng này qua tháng khác chống lại một lực lượng tưởng như không thể chống lại được. Ông là chiếc gậy duy nhất chọc vào bánh xe tiến quân tàn bạo của người Nhật. Vị tướng 62 tuổi đã trở thành biểu tượng của sự kháng cự trước sự xâm lược của Nhật Bản ở vùng Viễn Đông. Ở Australia, ông đang là minh chứng sống cho cam kết của Mỹ bảo vệ lục địa, là lý do Roosevelt đã đưa ông sang đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:48:19 am

        Đó là một trải nghiệm ngọt ngào phà lẫn vị đắng. Vì trong lúc quân lính Philippines đã tôn kính ông, nhiều lính Mỹ càu nhàu chửi rủa ông vì sự vắng mặt của vị tư lệnh ở đảo Corregidor (mặc dù ông đang chia sẻ cảm giác của họ). Một bài thơ con cóc nổi tiếng (với điệp khúc của Khúc quân hành của nền Cộng hòa) nhằm vào MacArthur và mỉa mai ông gay gắt:

        Dugout Doug MacArtliur nằm trên đá
        An toàn tránh mảy bay ném bom và bất cứ cú sốc nào
        Dugout Doug ăn thức ăn ngon nhất trên đảo Bataan...
        Còn lính của ông đang chết đói
        Dugout Doug chạy thoát khỏi chỗ nấp
        Dugout Doug, chạy thoát khỏi chỗ nấp
        Gửi cho Franklin những tin tức vui mừng
        Rằng lính của ông đang chết đói!
        Chúng tôi là những đứa con hoang ở Bataan đang vật lộn:
        Không cha, không mẹ, không nước Mỹ,
        Không dì, không chú, không cháu
        Không súng, không máy bay hay một khẩu pháo,
        Và không ai nguyền rủa lời nào.

        MacArthur kết thân với một người bạn quan trọng ở Australia - Lord Gowrie - viên Toàn quyền người Anh hiểu biết và có tài. Ông ấy cũng là một người hùng chiến tranh và là người được trao huân chương cao quý nhất của Anh Victoria Cross. Cùng với vị Thủ tướng Australia chân thật và mạnh mẽ John Curtin, Gowrie là một trong những nhân vật quan trọng trọng công cuộc bảo vệ Australia trước sự tấn công của người Nhật đang sắp diễn ra khi Nhật Bản thường xuyên tổ chức các trận oanh tạc. Gowrie viết răng, “Khi quân địch đang tiến về mọi phía”, ông có ấn tượng mạnh về vị tướng này. Ông coi ông ta như là “Một con người thực sự dũng cảm, đầy năng lượng, truyền được cảm hứng về tinh thần chiến đấu và là một người lãnh đạo vĩ đại... Nghệ thuật quảng cáo bản thân đặc biệt của ông đã thu hút quần chúng” là điều mà Gowrie đánh giá là cực kỳ quan trọng. Gowrie có vai trò đặc biệt: Là một kênh thông tin trực tiếp cho Winston Churchill, người đã rất ngưỡng mộ MacArthur và đã nói về sự ấn tượng này với Tổng thống Roosevelt đầy hoài nghi.

        Cuối cùng, MacArthur cũng được trao Huân chương danh dự. Với chức vụ mới là tư lệnh của vùng Viễn Đông, ông hối thúc Wainwright phá vòng vây vượt khỏi Bataan và gia nhập lực lượng du kích đang hoạt động ở Luzon. Tuy nhiên, những binh lính rệu rã của Wainwright không thể làm điều đó. Ông ta chỉ có đủ lương thực để cầm cự đến ngày 15-4. Họ đã đầu hàng vào ngày 9-4. Trong 27 ngày sau, Corregidor đã cầm cự trước hỏa lực dữ dội của không quân và pháo binh Nhật Bản. Vào ngày 5-5, quân Nhật đổ bộ và bị đẩy lùi, nhưng đã đưa được 5 chiếc xe tăng lên bờ và đang đe dọa bắn thẳng vào đường hầm, nơi ẩn nấp của một ngàn dân quân bị thương.

        Ngày 6-5, 11 ngàn dân quân và binh lính ở đảo Corregidor đầu hàng. Giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương chấm dứt. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của những người lính trên đảo Bataan và Corregidor đã phá vỡ mạch chiến thắng liên tục của quân Nhật. Bây giờ, quân Nhật trả thù tù binh bằng “Cuộc di hành tử thần” khiến cho 5 ngàn người thiệt mạng.

        Theo số liệu của tòa án xét xử tội ác chiến tranh ở Tokyo sau này, Nhật Bản đã giết ít nhất 13.100 người ở Philippines trong suốt thời gian chiếm đóng từ năm 1942 cho đến năm 1945. Con số thực sự chắc chắn cao gấp nhiều lần. Tại phiên tòa, trong bài phát biểu mở đầu, Pedro Lopez, luật sư đại diện cho Philippines đã phát biểu rằng, vì “Hàng trăm người đã phải chết dần dần trong đau đớn ở các nhà tù tối tăm, hôi hám và đầy rận. Biện pháp hủy diệt hàng loạt nhanh chóng là đưa tù nhân vào các phòng hơi độc ở Trại tù Dachau được quân Nhật hoan nghênh”.

        Lopez liệt kê danh sách những người bị hành hình kinh hoàng: Lucas Doctolero bị đóng đinh vào thập tự, đinh đóng vào tay vào chân và vào đầu ông vào ngày 18- 9-1943. Một người phụ nữ mù bị kéo ra khỏi nhà và bị cởi hết áo quần và treo cổ vào ngày 17-11. Ớ Manila, 800 người đàn ông, đàn bà và trẻ em ở Đại học St. Paul đã bị bắn chết, ở Calamba, 2.500 người bị đâm bằng lưỡi lê hoặc bị bắn chết. Ớ Ponson ở miền nam, trong một nhà thờ, 100 người bị đâm giết bằng lưỡi lê, trong khi đó 200 người bên ngoài bị truy đuổi và bắn hạ giống như một trò chơi tìm và diệt, ơ Matina Pangi, quân Nhật đưa 169 người dân làng ra xếp hàng sau đó đâm và bắn chết họ. Một chỉ thị của quân Nhật ra lệnh: “Khi giết người Philippines, tìm mọi cách có thể để tập hợp họ lại một chỗ, để giúp tiết kiệm đạn và sức người”. Vứt bỏ những xác người là công việc khá mệt nhọc. Hai giải pháp đề xuất là ném xác xuống sông hoặc dặt họ trong căn nhà và cho nổ tung.

        Trong bảy ngày tháng 4 và tháng 5 năm 1942, 76 ngàn lính quân đội Philippines và Mỹ từ Bataan và Corregidor bị bắt đi bộ ròng rã quãng đường 120km đến các trại tù binh chiến tranh. Khoảng 15 ngàn người đã bị chết trên dường đi.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:48:53 am

        Trung sĩ người Mỹ Samuel Moody cho biết, thức ăn duy nhất họ có được trong chuyến di bộ này là những cây mía mà họ nhổ bên đường hoặc các mẩu thức ăn mà người dân Philippines ném cho. Họ uống nước đái của súc vật và từ các mương rãnh. “Chúng tôi bị đánh đập. Nhiều người bị đâm, bị quân Nhật đá bằng giày dinh... Nếu người nào đi chậm phía sau hoặc ngã gục trên đường, ngay lập tức bị đâm và bị đánh”. Xác người rải rác trên đường đi. “Tôi nhìn thấy nhiều xác người chết, trong đó có nhiều người bạn của tôi. Tôi cũng thấy hai người phụ nữ chết, trong đó có một người đang có bầu. Nhiều lần tôi nhìn lên phía trước và thấy bạn của mình bị đâm và bị đánh. Tôi thường xuyên nghe tiếng rên rỉ của những người đằng sau do bị đánh khi họ bị tụt lại”.

        Trong vài tháng đầu của cuộc chiến, mọi thứ đều đi theo ý muốn của Nhật Bản. Sau trận Trân Châu Cảng, hai chiến hạm của Anh là Prince of Wales và Repulse cùng với các tàu khu trục khác đã khởi hành hướng về Singapore để chặn quân Nhật đổ bộ lên bán đảo Kra, mảnh đất nhỏ giữa Thái Lan và Malaysia. Các máy bay ném bom của Nhật Bản đã phát hiện ra những con tàu này và đánh chìm chúng chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ. Sau này Churchill thừa nhận: “Trong suốt cuộc chiến, tôi chưa bao giờ nhận một cú sốc nào hơn thế”. Trong khi đó, đảo Guam đã rơi vào tay quân Nhật. Những binh lính của Wake đã chiến đấu chống trả một cách anh dũng, nhưng chỉ trong 2 tuần lễ, hòn đảo đã đổ gục khi đồ tiếp tế không thể đến được. Đơn vị đồn trú ở Hồng Kông đã tổ chức một cuộc chiến đấu quả cảm kéo dài cho đến Giáng sinh. Các đảo Gilbert cũng rơi vào tay quân Nhật.

        Chỉ 4 ngày sau vụ tấn công Trân Châu Cảng, quân Nhật đã tiến hành hai cuộc tấn công lớn nhất từ trước đến nay nhăm vào Malaysia và Philippines. Quân Nhật đã triển khai một cách thần tốc, dũng cảm với chiến thuật thông minh trong cuộc tấn công Malaysia. Nhật đã cho quân đổ bộ ở hàng loạt địa điểm dọc theo bờ biển không được phòng thủ. Những người lính phòng vệ, hầu hết là lính Ấn Độ  thiếu huấn luyện, dưới quyền chỉ huy của người Anh mất hết tinh thần khi biết rằng quân Nhật đã tấn công mạnh vào giữa họ và căn cứ hậu cần tiếp tế của họ ở Singapore, đe dọa cắt nguồn tiếp tế hậu cần. Hầu hết quân lính phải tháo chạy hỗn loạn về phía nam để tránh rơi vào tình cảnh như vậy. Thực tế họ có thế kháng cự bằng cách rút sâu vào bán đảo và đánh vào sườn của các lực lượng quân Nhật nhỏ hơn. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 5 tuần, đến ngày 15-1, đơn vị quân đội số 25 của Nhật Bản đã tiến sâu vào gần 650km và chỉ còn khoảng 160km nữa là đến pháo đài vững chắc của người Anh ở Singapore.

        Ngày 31-1, những người lính cuối cùng ở Malaysia rút lui dọc theo con đường giữa Singapore và lục địa này. Lực lượng Anh trên đảo Singapore hùng hậu với khoảng 45 tiểu đoàn, vượt xa 31 tiểu đoàn quân Nhật, dưới quyền chỉ huy của tướng Arthur Percival. Tuy nhiên, đơn vị đồn trú của Singapore các khẩu pháo dọc bờ biển Malaysia không thể hoạt động vì sử dụng đạn hư. Các khẩu pháo ấn tượng ở biển trở thành thừa thãi vô ích vì mối đe dọa đến từ bờ biển Johore, chỉ cách bờ biển Malaysia l,5km về phía bắc.

        Ngày 8-2, với sức mạnh vượt trội, quân Nhật tấn công vào các lực lượng của Percival đang dàn trải ở 50km dọc bờ biển. Lực lượng dàn trải ở bờ biển tây bắc đã bị quân đội Nhật Bản lấn át và phải sụp đổ. Một tuần sau đó, quân Nhật tiến vào và nắm giữ quyền kiểm soát các hồ chứa nước cung cấp cho gần 1 triệu người dân thành phố và người tị nạn. Ngày hôm sau, Percival đầu hàng và bị chụp ảnh cầm cờ Liên hiệp nhằm biểu thị đó là thảm họa dữ dội nhất trong lịch sử quân sự của nước Anh.

        Đó chắc chắn là một thất bại. 130 ngàn binh lính phải chịu thua một lực lượng chỉ bằng nửa. Tuy nhiên, Percival cũng khó có thể làm gì hơn. Tiếp tục chiến đấu sẽ khiến quân đội của ông phải chịu một kết cục bi thảm mà không có hy vọng sẽ được giải vây. Chỉ có cách thực hiện cuộc phản công chớp nhoáng khi quân Nhật đổ bộ hoặc trước khi tình trạng thiếu nước đến lúc nghiêm trọng mới có thể chống lại quân Nhật ít hơn về lực lượng. Tuy nhiên, quân Nhật có thuận lợi là nhuệ khí chiến đấu cao hơn và đà tấn công mạnh hơn.

        Bài học thực sự từ thất bại này là sự nguy hiểm khi phải phụ thuộc vào các căn cứ pháo đài, đặc biệt là pháo đài ở Singapore. Một pháo đài bất khả xâm phạm sẽ dễ bị tấn công một khi các đường tiếp tế bị cắt đứt so với một loạt căn cứ. Đây là một bài học mà chính người Nhật cũng đã rút ra được sau đó trong cuộc chiến.

        Lực lượng phòng vệ của Percival trên hòn đảo có thể được coi như là hùng dũng hay như trong mơ. Tuy nhiên với sự quyết tâm, sự di chuyển quân, hỏa lực và sinh lực cao hơn của quân Nhật đã phá vỡ thế cân bằng của quân phòng ngự, như thủ thuật tấn công ồ ạt của Hitler đã sử dụng ở châu Âu.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:21:43 am

        Nhưng bỏ rơi Dunkirk là một thất bại mặc dù cuộc sơ tán lực lượng viễn chinh được xem là một hành động quả cảm. Còn đối với những người lính bảo vệ Singapore thì không có được sự an ủi như vậy, mà chỉ có sự nhục nhã và sợ hãi khi trở thành tù binh của quân Nhật (nhiều người lính Ấn Độ ở Singapore đã bỏ chạy về phía quân Nhật).

        Cuộc xâm lược quần đảo Đông Ấn bắt đầu diễn ra vào ngày 16-12. Thủ thuật của quân Nhật là đổ bộ băng đường thủy và đường bộ dọc theo chiều dài 3.200km của quần đảo Đông Ấn. Đảo Borneo và Celebes bị tấn công vào tháng giêng sau đó là Timor và Sumatra vào tháng 2 và Java vào tháng 3. Ngay từ đầu, cuộc chiến đã hoàn toàn không cân sức. Quân Hà Lan trang bị quá nghèo nàn và quá ít so với số quân Nhật, và không được người dân địa phương ủng hộ.

        Các cánh quân nhỏ quân đội Australia đang phải vật lộn. Đa số quân Australia đang chiến đấu cùng quân Anh ở Trung Đông và Malaysia. Thực tế, bây giờ chỉ còn các tuyến phòng vệ mỏng giữa quân đội Nhật Bản xâm lược và Australia.

        Vào ngày 27-2, hạm đội Nhật xuất hiện ở Java với ý đồ đổ bộ lên đó. Các lực lượng hải quân còn lại của quân Đồng minh trong khu vực được tập hợp lại dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Doorman để tấn công hạm đội Nhật Bản. Hai hạm đội gặp nhau trong trận chiến trên biển Java diễn ra vào buổi chiều ngày hôm đó. 2 tàu tuần dương lớn và 3 tàu tuần dương nhỏ cùng 9 tàu khu trục của phe Đồng minh đối đầu với 2 tàu tuần dương lớn, 2 tàu tuần dương nhỏ và 14 tàu khu trục của Nhật Bản. Sau khi hai bên bắn nhau hỗn loạn, quân Nhật sử dụng ngư lôi tầm xa buộc hạm đội của quân Đồng minh phải bỏ chạy.

        Trong đêm tối, Doorman phải đưa một nửa hạm đội đi tiếp nhiên liệu nhưng một nửa còn lại phải nỗ lực tấn công quân Nhật và ngăn cản Nhật Bản đổ bộ. Quân Nhật đã phục kích, phóng ngư lôi vào đoàn tàu của ông. Lúc này dường như không thể ngăn chặn quân Nhật trên biển cũng như trên bộ. Cả hai bên không nhận thức được “Trận chiến trên biển Java” là chiến thắng hải quân quyết định duy nhất trong suốt cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.

        Chỉ trong vòng hai tuần, Java đầu hàng. Chẳng bao lâu sau đó, Sumatra cũng đầu hàng, ở Miến Điện, quân đội Anh cũng bị đe dọa và có thể sụp đổ dễ dàng, nhưng tướng Alexander quyết định đánh trả. Tuy nhiên, trước ưu thế vượt trội của quân Nhật, ông không còn sự lựa chọn nào khác và buộc phải thực hiện cuộc rút chạy trên quãng đường 950km (một cuộc rút chạy xa nhất trong lịch sử quân đội Anh) xuyên qua Miến Điện. Quân Nhật vẫn đuổi theo ông đến Ấn Độ, và chỉ dừng lại lúc mùa mưa đến.

        Các chiến công ngoạn mục của Nhật Bản diễn ra chỉ trong 4 tháng là điều dễ hiểu. Quân Nhật có lợi thế là tấn công bất ngờ, có tính kỷ luật cao, có binh lính thiện chiến, sẵn sàng chịu khổ ải và sử dụng chiến thuật đổ bộ vừa bằng đường thủy vừa băng đường bộ, được thực hiện rất khéo léo.

        Ngoại trừ dơn vị đồn trú ở Singapore, các đối thủ của họ đều thiếu huấn luyện, thiếu trang bị, không được dân cư địa phương ủng hộ và phải dàn trải ra ở nhiều căn cứ nhỏ. Bằng quyết tâm cao độ, họ có thể lần lượt tiêu diệt các căn cứ này. Quân Đồng minh không được không quân hỗ trợ nhiều. Sau khi Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bị hủy diệt, Nhật Bản hoàn toàn có thể di chuyển thoải mái qua các đảo tuyệt đẹp nằm ở khu vực Nam Hải mà chẳng bao lâu sau đó, chúng trở thành những địa ngục trần gian.

        Thất bại của Doorman đánh dấu sự kháng cự chống lại Nhật Bản cuối cùng của lực lượng hải quân quan trọng cuối cùng trong khu vực. Nhật Bản đã kiểm soát được Penang, Hồng Kông, Singapore, Bataan, Rangoon, Malaysia và đang đe dọa Ấn Độ cùng Australia. Họ đã có tất cả dầu, cao su, thiếc, bôxít mă họ cần và đã khiến Anh và Mỹ phải chuốc lấy nhục nhã. Chiến thắng của người Nhật là một chiến thắng kỳ vĩ trong lịch sử chiến tranh.

        Trong bước tiến quân mạnh như vũ bão, họ vấp phải một sự kháng cự duy nhất: đó là Philippines. Mặc dù ở đó, sự thiếu chuẩn bị của đối phương và sức mạnh tấn công dữ dội của họ ban đầu tưởng như giúp họ lặp lại kịch bản ở Trân Châu Cảng và Singapore. Sức mạnh tấn công dữ dội của họ chỉ bị ảnh hưởng chút ít trong cuộc chiến ở Philippines. Tuy nhiên, sự kháng cự của Philippines đã trở thành một huyền thoại tác động đến tiến trình của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và lịch sử Nhật Bản thời hậu chiến.

        Tháng 5 năm 1942, quân Nhật đã đạt được các mục tiêu một cách thành công. Quân Mỹ và quân Anh đã bị đánh tan tác. Đồng minh của Nhật Bản ở châu Âu cũng giành thắng lợi. Quân Nhật đang là người chiến thắng. 1/ 4 thế giới đã bị xâm lược trong vòng chưa đến 6 tháng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:22:12 am

        Khi những người bị bao vây cuối cùng ở Philippines đầu hàng, dấu hiện đầu tiên cho thấy quân Nhật không hẳn là vô địch về quân sự. Một trong số những hàng không mẫu hạm đầu tiên Mỹ, Uss Homet đã thành công khi mang một số máy bay ném bom в -17s đến đột kích Tokyo. Cuộc đột kích Doolittle ngoạn mục đã gây sốc cho bộ chỉ huy tối cao của Nhật Bản. Tuy nhiên, hầu hết các máy bay của Mỹ hết nhiên liệu và hạ cánh gấp xuống Trung Quốc.

        Vào ngày 7-5, hai hàng không mẫu hạm Yorktown và Lexington được đưa đến để chặn đứng quân Nhật xâm lược đang ở gần cảng Moresby. Trong trận chiến Biển San hô, 2 hàng không mẫu hạm của Nhật Bản Shoho và Shokaku đã bị hư hại nặng, trong khi hàng không mẫu hạm Lexington cũng bị bỏ xác. Nỗ lực chiếm giữ cảng Moresby của người Nhật bị ngăn chặn. Giờ đây, Yamamoto quyết định khiêu khích một trận chiến hải quân để phá hủy hàng không mẫu hạm của Mỹ. Hạm đội của Nhật Bản chạy đến đảo Midway gần Hawaii với ý định khiêu khích Mỹ tấn công.

        Vào lúc này, quân Mỹ đã tập hợp một hạm đội, dù nhỏ hơn so với hạm đội của Nhật Bản nhưng cũng đáng gờm. Hạm đội gồm có 3 hàng không mẫu hạm, khoảng 180 máy bay, với sự hộ tống của tàu tuần dương và tàu khu trục. Quân Nhật có 5 hàng không mẫu hạm, với sự hộ tống của chiến hạm lớn và khoảng 272 máy bay. Tuy nhiên, quân Mỹ có máy bay ném bom hạng nặng, những Pháo đài bay đóng ở Midway. Trận đánh bắt đầu khi quân Nhật không kích ở Midway khiến 2/3 máy bay chiến đấu đậu tại đó bị phá hủy. Quân Mỹ đáp trả bằng chiến thuật hoãn binh khi họ ngưng hoạt động hạm đội hàng không mẫu hạm và chỉ sử dụng vài máy bay còn lại tại Midway để phát động các cuộc tấn công vào hạm đội Nhật Bản. Nghĩ rằng họ đã ru ngủ được quân Nhật, máy bay ném ngư lôi của Mỹ đã tấn công trực diện vào quân Nhật và bị các máy bay chiến đấu Zero của Nhật Bản bắn hạ. Hầu hết hạm đội Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn.

        Trong đợt ném bom lần thứ hai của quân Mỹ, do tình cờ hàng không mẫu hạm uss Enterprise chở 37 máy bay ném bom kiểu bổ nhào vô tình đi vào nơi cuộc chiến đang xảy ra, và thấy các máy bay chiến đấu Zero đang đánh các máy bay ném ngư lôi của Mỹ. Thiếu tá hải quân của hàng không mẫu hạm Wade McClusky đã đích thân đưa máy bay của ông tấn công bất ngờ vào các hàng không mẫu hạm sơ hở của quân Nhật. Trong vòng 5 phút, 3 hàng không mẫu hạm của Nhật Bản bị phá hủy. Chiếc thứ tư bỏ chạy và bị chìm vào chiều hôm đó.

        Trận chiến Midway đánh dấu bước ngoặt trong trận chiến hải quân. Với cỗ máy sản xuất công cụ chiến tranh khổng lồ, Mỹ đã có thể kéo dài cuộc chiến chống quân Nhật. Mỹ sản xuất 20 hàng không mẫu hạm so với 6 hàng không mẫu hạm của người Nhật trong 2 năm sau đó. Trận chiến Midway là một thắng lợi ngẫu nhiên. Tuy nhiên, nó báo hiệu cho người Mỹ rằng, họ có thể giành thắng lợi ở Thái Bình Dương. Vào giai đoạn đó, quân Mỹ đưa ra nhiều quyết định quan trọng làm thay dổi tiến trình cuộc chiến ở Thái Bình Dương.

        Đầu tiên là Mỹ quyết định tấn công nhằm vào Nhật Bản, và xem đây như là một mục tiêu chiến lược trung tâm. Mỹ không có ý định quay lại xâm lược Nhật Bản, mà chỉ nhằm đánh vào các hòn đảo của Nhật và buộc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện như Roosevelt đã trình bày rõ với Churchill tại cuộc hội nghị thượng đỉnh Casablanca vào đầu năm 1943. Chiến lược của ông là bỏ qua các mục tiêu vây cánh của Nhật và đánh thẳng vào trung tâm của Nhật Bản.

        Điều này dẫn đến sự chọn lựa quan trọng thứ hai. Làm thế nào để đến đó? Băng cách đi dọc theo các đảo san hô bị tàn phá tan hoang ở bắc Thái Bình Dương hay băng cách chiếm lại một số đảo chính ở quần đảo Đông Ấn đang bị quân Nhật nắm giữ.

        Cuối cùng, Roosevelt chấp thuận chiến lược còn gây nhiều tranh cãi nhằm tập trung quân đội Mỹ ở châu Âu, mặc dù cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng là nguyên nhân chính khiến Mỹ dính líu vào chiến tranh và đe dọa trực tiếp hầu hết quyền lợi của người Mỹ.

        Sự lựa chọn đầu tiên là tấn công nhằm vào chính Nhật Bản đã giành được sự ủng hộ mạnh mẽ. Sự lựa chọn thứ hai đã tạo một cuộc tranh cãi nội bộ trong quân đội Mỹ đe dọa làm tổn hại đến nỗ lực chiến tranh của quân Mỹ ở Thái Bình Dương. Tâm điểm của quyết định này đưa cho MacArthur Thái Bình Dương chỉ một nửa miếng bánh trong lúc ông đang hy vọng được trao quyền chỉ huy toàn bộ các chiến dịch ở khu vực Thái Bình Dương. Tham mưu trưởng hải quân - Đô đốc King kiên quyết thành lập một bộ chỉ huy khu vực Thái Bình Dương dưới quyền chỉ đạo của Đô đốc Chester Nimitz.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:22:48 am

        MacArthur đã giận dữ khi viết về việc này:

        Trong tất cả các quyết định sai lầm của cuộc chiến, quyết định khó hiểu nhất là chia rẽ quyền chỉ huy ở Thải Bình Dương... Điều này không thể bào chữa theo logic, theo giả thiết hoặc thậm chí theo lẽ thường. Trong chuyện này, phải có các động cơ khác. Nó khiến nỗ lực chiến tranh bị chia nhỏ, gây ra sự lãng phí, chia rẽ lực lượng, cuộc chiến dàn trải, thương vong và chi phí tăng. Sự hợp tác ăn ý giữa hai bộ chỉ huy ở Thái Bình Dương, dù với thiện chí, năng lực giỏi của nhiều người liên quan, không thay thế được cho sự cần thiết phải có quyền lực chỉ huy trung tâm thống nhất. Chính vì vậy, các yếu tố bất lợi và các mối nguy hại không cần thiết đã xảy ra rất nhiều. Nhiều người đang nằm xuống trong nghĩa địa hôm nay đảng ra đã được bảo toàn tính mạng.

        MacArthur tình nguyện nắm chức vụ chỉ huy dưới quyền mặc dù nếu các bộ chỉ huy thống nhất lại, chức vụ của ông sẽ cao hơn. Trận chiến quyết định ở Vịnh Leyte gần như thất bại do sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa hai bộ chỉ huy. Trong khi Nimitz và hải quân kêu gọi thực hiện chiến lược nhảy cóc qua từng đảo san hô ở phía bắc để đến Nhật Bản, Mac Arthur vẫn tiến hành tiến quân theo con đường phía nam dẫn đến Philippines, nơi ông từng gắn bó và thề sẽ quay trở lại. Sau đó, MacArthur buộc tội hải quân đã không hỗ trợ, không cung cấp tàu khi ông cần và đã thực hiện các cuộc tấn công lãng phí nhằm vào các đảo nhỏ nơi mà quân Nhật đã bám trụ vững chắc. Trong khi đó hải quân cho rằng, con đường nhảy cóc qua các đảo này dẫn đến Nhật Bản trực tiếp hơn và chỉ phải đánh nhau với các đơn vị đồn trú nhỏ hơn so với các đơn vị đồn trú mà MacArthur gặp phải.

        Cuối cùng đã có sự thỏa hiệp giữa chiến lược tiến theo tuyến đường phía bắc và phía nam. MacArthur đã có lý lẽ thuyết phục hơn nên thuyết phục được Tham mưu trưởng liên quân rằng, không thể chiến thắng Nhật Bản nếu không chấm dứt quyền kiểm soát của các hòn đảo quan trọng dọc theo sườn Thái Bình Dương. Chiến lược nhảy cóc qua từng đảo khiến Mỹ phải dàn trải lực lượng quá nhiều. Điều này sẽ tạo sơ hở giúp quân Nhật đang chiếm đóng ở phía nam tấn công quân Mỹ.

        Hơn nữa, lực lượng quân đội Mỹ cần thiết để chiếm đóng Nhật Bản không thể an toàn nếu họ không kiểm soát được các lãnh thổ quan trọng khác để hỗ trợ cho họ. Quân đội không thể sống trên mảnh đất cằn cỗi. Cả Nimitz và MacArthur đã có sự thỏa thuận cam kết đặc biệt. Tuy nhiên, trong khi tấn công dọc phòng tuyến của Nhật Bản theo gợi ý của MacArthur là cần thiết, thực tế, chiến lược tiến quân theo tuyến đường phía bắc là không cần thiết mặc dù cuộc tấn công từ hai hướng cuối cùng đã được chấp thuận (chiến lược khiến Nhật Bản mất cân bằng lực lượng và làm họ hỗn loạn. Họ có thể không biết phải tập trung lực lượng vào đâu).

        Hải quân được giao nhiệm vụ thực hiện bước tiến quân đầu tiên trong cuộc chiến là tấn công vào Guadalcanal, một đơn vị tiền đồn vững mạnh của Nhật Bản nằm ngoài phía đông New Guinea, trong khi MacArthur được giao nhiệm vụ tấn công vào New Guinea và tấn công trung tâm chỉ huy Nhật Bản phía nam tại Rabaul.

        Khi MacArthur bắt đầu lên kế hoạch cho chiến dịch, các chiến thuật của quân Mỹ đã bị gây xáo trộn, vi quân Nhật đổ bộ ở Buna nhằm băng ngang khu rừng núi rậm rạp khó xuyên qua ở miền nam New Guinea để chiếm thủ đô Port Moresby. Đồng thời, quân Nhật cũng đáp trả dữ dội khi quân Mỹ đổ bộ vào Guadalcanal. Người Nhật xem đây như là bài kiểm tra sức mạnh của họ, nên đã tấn công bằng mọi thứ có thể.

        Việc chiếm giữ Port Moresby sẽ giúp quân Nhật tiến gần hơn tới Australia và có trong tay các căn cứ không quân để giúp họ tấn công vào vùng lãnh thổ Bắc Australia. MacArthur quyết định phải tránh khả năng này xảy ra bằng mọi giá. Người Nhật đã không thể vượt qua được rặng núi Owen Stanley gồ ghề hiểm trở. Một lực lượng của tướng Blarney được phái băng qua khu núi rừng rậm rạp nằm ở phía ngược lại nhằm cắt đường tiếp tế của những kẻ xâm lược. Gần như đồng thời lúc đó, quân Nhật được ra lệnh quay trở về Buna khi quân đội đang dồn sức đổ vào trận chiến Guadalcanal.

        Quân Nhật đã phải quay nhanh trở lại Buna để tránh bị các lực lượng của Blaney tấn công vào sườn. Họ đã đột phá để co cụm dọc theo bờ biển. Với khó khăn không thể tin được, cuối cùng quân Mỹ đã áp đảo và thắng quân Nhật ở trận chiến đầu tiên trên bộ với tổn thất khoảng 3 ngàn binh sĩ thiệt mạng và hơn 5 ngàn người bị thương.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:23:43 am

        Trong khi đó Guadalcanal đã trở thành một thiên anh hùng ca. Sau khi xác lập được vị trí đổ bộ, lính thủy quân lục chiến phải đi xuống một eo biển nguy hiểm vì ở nơi đây, các tàu phải hứng chịu hỏa lực từ ba phía. Ngày 8-8, quân Nhật đánh úp đội tàu nhỏ của Mỹ, làm chìm 4 tàu tuần dương và phá hủy một chiếc khác. Quân Mỹ đánh trả vào ngày 24-8 làm chìm một hàng không mẫu hạm, 1 tàu tuần dương và 1 tàu khu trục. Quân tiếp viện của Nhật Bản được đưa tới khi cuộc chiến trải dài trên đảo và trở nên ác liệt đẫm máu hơn. Vào tháng 10, quân Mỹ đột kích một trong những đoàn tàu hàng không mẫu hạm Tokyo Express của Nhật Bản. Hai ngày sau đó, quân Nhật giành chiến thắng trong trận chiến Santa Cruz.

        Trong trận chiến Guadalcanal vào tháng 11, quân Nhật đã bị thiệt hại nặng nề. Hai tuần sau đó, quân Nhật thất bại khi thực hiện ý đồ ngăn chặn đoàn tàu tiếp tế đến Guadalcanal. Đến tháng 2 năm sau, quân Nhật mở một cuộc chiến điên cuồng và quả cảm để rút khỏi đây.

        Tình thế đã thay đổi theo hướng có lợi cho quân Đồng minh. Tuy nhiên, quán Đồng minh cũng bị chỉ trích dữ dội về quyết định chiến đấu bảo vệ Guadalcanal với một cái giá kinh hoàng như vậy. Nhưng vào giai đoạn đó, một trận chiến ác liệt và phải tiêu hao nhiều sinh lực để chống quân Nhật hầu như không thể tránh khỏi. Trận chiến này đã chuyển một thông điệp về cho nước Mỹ rằng, quân Nhật không phải lực lượng vô địch. Sau trận chiến Guadalcanal, quân đội Thiên hoàng không thực hiện một cuộc tấn công nào nữa ở Thái Bình Dương, mà chỉ chiến đấu để gìn giữ những vị trí họ đã chiếm được.

        Bây giờ, MacArthur vạch ra những chiến thuật mới và đã được chấp thuận:

        Các tuyến máy bay ném bom sẽ tiến lên phía trước bằng cách chiếm giữ các căn cử ở phía trước, nghĩa là một lực lượng máy bay ném bom tương đối nhỏ hoạt động ở tầm ngắn và tầm trung có thể tấn công dưới sự yểm trợ của lực lượng máy bay chiến đấu tương đương. Mỗi giai đoạn tiến lèn phải chiếm giữ được mục tiêu, chẳng hạn một sân bay, để có thể dùng làm bàn đạp cho bước tiên tiếp theo. Ngoài ra, khi tuyến không quân này tiến về phía trước, hải quân dưới sự yểm trợ của không quàn bắt đầu lấy lại các tuyến đường biển, vốn là các huyết mạch giao thông dẫn đến các cứ điểm quân sự xa xôi của quân địch. Các chiến dịch trên biển, trên không và trên mặt đất phải phối hợp đồng bộ. Đó là một kiểu chiến dịch mới: Chiến tranh từ ba chiều.

        Áp dụng kiểu chiến tranh này để tránh cuộc tấn công trực tiếp (có thể gây thiệt hại nhiều về nhân mạng). Kiểu chiến đấu này cũng giúp đi vòng tránh những cứ điểm mạnh của quân Nhật và cô lập các cứ điểm này bằng cách cắt đứt các tuyến tiếp tế. Như vậy, sẽ cô lập được quân đội của họ và khiến Nhật chết đói trên chiến trường.

        Việc thiếu hàng không mẫu hạm đã ảnh hưởng và cản trở nghiêm trọng các cuộc hành quân ở tây nam Thái Bình Dương... Tính cốt lõi của phương pháp tiến quân theo kiểu nhảy cóc qua từng đảo phụ thuộc vào việc giành lại quyền kiểm soát không quân ở khu vực nằm trên mọi bước tiến. Trong chiến tranh hiện đại, không có cuộc di chuyển quàn nào bằng đường biển, đường bộ là an toàn nếu không có không quân yểm trợ. Trong trường hợp của chúng ta, hạn chế của sự yểm trợ đó chính là bán kính hoạt động của các máy bay chiến đấu còn hạn hẹp. Điều này đòi hỏi chúng ta phải chiếm giữ hoặc xây dựng các căn cứ mới ở mỗi bước tiến quân.


        Mục tiêu tiếp theo là Rabaul, bao gồm căn cứ không quân lớn, các sân bay và các kho hàng dự trữ. MacArthur quyết định đụng chạm quân địch càng ít càng tốt khi ông tiến lên phía bờ biển của New Guinea. Quân của ông chiếm giữ đến sân bay tiếp theo, đánh vào sườn quân Nhật và cát đường tiếp tế của họ. Thực tế, chiến dịch diễn ra chậm và khó khăn hơn nhiều so với dự kiến. Nó đòi hỏi tiến hành hàng loạt cuộc đổ bộ và hành quân khó khăn. Tuy nhiên, các mục tiêu của ông đã bị tiêu diệt từng cái một. Quân của MacArthur đã chiếm giữ Woodlark, Kiriwina và Vịnh Nassau mà không có thương vong nào cả. Sau đó, quân của MacArthur hành quân đến Salamanua, một căn cứ quân sự quan trọng mà Nhật Bản đã phải bỏ rơi. Nhờ di chuyển quân di đường vòng thông minh, MacArthur buộc quân Nhật phải rút khỏi Lae. Quân đội Nhật Bản tổ chức kháng cự quyết liệt ở Finschhafen, nhưng đến ngày 10-2 thì sụp đổ. Các phần lãnh thổ quan trọng của New Guinea giờ đã rơi vào tay quân Đồng minh.

        Trong khi đó, lực lượng hải quân cũng tiến hành một cuộc tấn công song song dọc theo chuỗi đảo Solomon. Các đảo Russell đổ gục vào tháng 2, New Georgia vào tháng 6 và Vella Cavele vào tháng 8. Các cuộc phản công của quân Nhật đều không thành. Đến tháng 10, các lực lượng phía bắc đã sẵn sàng tấn công Bougainville, bàn đạp cuối cùng để tiến đến Rabaul. Hải quân Mỹ đã sẵn sàng tạo thành một gọng kìm, lực lượng của Mac Arthur hình thành gọng kìm còn lại trong chiến dịch Cartwheel nhằm bao vây pháo đài quân Nhật.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:24:08 am

        Bây giờ, không quân Mỹ đang giành được những thắng lợi nhờ kế sách mới là ném bom tầm thấp. Trong trận chiến biển Bismarck, các pháo đài bay B-29 đã đánh chìm 4 tàu khu trục và một đoàn tàu vận tải. Trong một cuộc không chiến khác vào tháng 4, Đô đốc Yamamoto của Nhật Bản đã bị bắn chết. Lúc đó, tốc độ tiến quân của MacArthur đã chậm lại vì ông đã thực hiện cuộc đổ bộ không cần thiết ở miền nam New Britain. Những người lính Australia của ông đã sa lầy trong cuộc chiến dấu cam go ở bán đảo Huon.

        Tại Teheran, vào cuối năm 1943, Stalin, Roosevelt và Churchill đã đồng ý chiến lược mới cho phép phân bổ các lực lượng lớn hơn cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và thuyết phục Đô đốc Nimitz tiếp tục tấn công ở phía bắc Thái Bình Dương trong khi quân của MacArthur tấn công ở phía nam. Tướng MacArthur được giao các nhiệm vụ cụ thể: Chiếm giữ Kavieng, New Ireland và Manus nhằm bao vây Rabaul. Trong khi đó Nimitz phải nhanh chóng đổ bộ lên Marshall Islands vào tháng Giêng năm 1944 và chiếm giữ cứ điểm phía tây Eniwetok sau một trận chiến đẫm máu vào tháng 2.

        MacArthur quyết định đi đường vòng tránh Kavieng và chiếm giữ Manus với tổn thất không dáng kể. Vào lúc này, hàng chục ngàn quân Nhật đã bị giết chết trong khi đó khoảng 100 ngàn quân bị bỏ lại phía sau bước tiến của quân Đồng minh. Sau đó, các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ cho rằng, Rabaul dang bị bao vây nên không cần thiết phải tấn công ngay lập tức, có thể cô lập Rabaul bằng các chiến dịch ném bom và để Rabaul phía sau bước tiến của quân Đồng minh. MacArthur được chỉ đạo phải chiếm Admiral Islands và tiến 950km đến Hollandia nằm ở dọc bờ biển phía bắc New Guinea. Không quân của ông phát hiện không quân Nhật đang sơ hở ở Hollandia vào cuối tháng 3, nên đã tấn công phá hủy 300 máv bay Nhật. Sau đó, quân Đồng minh với một hạm đội lớn đã đổ bộ lên đó khiến quân Nhật không kịp trở tay, và phải bỏ chạy lên các ngọn đồi.

        Bị thất kinh trước cuộc tấn công thế hai gọng kìm, quân Nhật quyết tâm chơi một canh bạc lớn: Dụ hải quân Mỹ vào một cái bẫy, nơi mà họ có ưu thê kiểm soát không phận và có sự yểm trợ hỏa lực từ bờ biển. Kế hoạch này được gọi là “Chiến dịch А-go”. Tuy nhiên, hải quân Mỹ đã không tiếp cận hạm đội Nhật Bản mà chỉ tập trung chiến lược nhảy băng qua từng đảo ở phía bắc.

        Từ ngày 19-6 đến ngày 21-6, hạm đội Nhật Bản quyết định truy đuổi quân Mỹ, và hai bên đã đánh nhau. Trận chiến Biển Philippines hay còn gọi là “Trận chiến Bắn Gà tây Marianas” đã khiến 3 hàng không mẫu hạm của Nhật Bản bị chìm, 2 chiếc khác bị hư hại nặng nề. Khoảng 330 máy bay Nhật Bản bị mất tích.

        Ngay sau đó, Saipan cũng được quân Mỹ chiếm giữ sau một trận chiến ác liệt. Tháng 7, Guam và Timor cũng rơi vào tay quân Mỹ sau trận chiến dữ dội khiến 60 ngàn quân Nhật và ít nhất 5 ngàn quân Mỹ bị thiệt mạng. Bây giờ hạm đội Nhật Bản không còn là mối đe dọa nữa, ít nhất là trong vài tháng tới. Quân của MacArthur tiến lên phía trước nhanh hơn và lần lượt chiếm giữ Biak, Noemfoor Island và Sansapor. Quân Mỹ đã kiểm soát toàn bộ New Guinea, và chỉ còn cách 800km nữa là đến Phillipines.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:26:11 am

PHẦN V

PHẢN CÔNG


Chương 23

TIẾN ĐẾN PHILIPPINES

        Tham mưu trưởng liên quân đánh giá lại tình hình. Theo họ, chiếm giữ Marianas giúp không quân Mỹ có thể ném bom chiến lược Nhật Bản, do đó không cần thiết phải sa lầy trong một chiến dịch kéo dài để giải phóng Philippines. Sẽ tốt hơn nếu để cho lực lượng bộ binh của MacArthur đặt dưới quyền kiểm soát của Nimitz nhằm chiếm giữ đảo Đài Loan và lên kế hoạch xâm chiếm Nhật Bản đúng đắn. Vào ngày 26-1, Roosevelt đến Trân Châu Cảng để gặp MacArthur, vị tư lệnh cao cấp duy nhất đề nghị đổ bộ vào Philippines.

        MacArthur bây giờ đã là một nhân vật huyền thoại ở Mỹ, người đã thực hiện chiến dịch đổ bộ Bataan dưới làn hỏa lực của địch. MacArthur đi vào dọc theo mạn tàu tuần đương Baltimore đang chở Tổng thống. Ông đến bằng chiếc limousine mui trần với đoàn cảnh sát hộ tống, mang áo vét tông da nâu, kính đen và chiếc mũ mềm. Các thủy thủ vỗ tay chào đón khi ông lên boong tàu để gặp Roosevelt lần đầu tiên trong 7 năm qua. MacArthur sửng sốt trước sự thay dổi về bề ngoài của Tổng thống.

        Đô đốc Nimitz cũng đã có mặt ở đó. Ồng không mấy mặn mà với chiến lược hải quân chiếm giữ đảo Đài Loan trong lúc MacArthur rất muốn chiếm giữ Philippines. MacArthur khẳng định sẽ giải phóng Philippines, nhưng ông cũng đưa ra các lập luận có lý và quan trọng hơn:

        Tôi hoàn toàn không đồng ý với kế hoạch đề xuất này, không chỉ về mặt chiến lược mà còn về mặt tâm lý. về mặt quân sự, tôi thấy ràng, nếu chiếm giữ Philippines, chúng ta sẽ siết chặt sự phong tỏa bang hải quản và không quân đối với hàng tiếp tế từ phía nam đến Nhật Bản, vì vậy sẽ làm tê liệt các ngành công nghiệp ở Nhật Bản và buộc nước này phải đầu hàng sớm.

        Tôi phản đối kế hoạch của hải quân tấn công trực diện nhằm vào các cứ điểm trên đảo Iwo Jima hay Okinawa. Theo tôi, chúng ta sẽ thiệt hại nặng nề không tương xứng so với những lợi ích đạt được nếu chiếm giữ các tiền đồn này.

        Các vị trí này không phải là các vị trí yếu điểm để khiến quân địch thất bại. Cắt đường tiếp tế đến các đảo này, họ sẽ dễ dàng đầu hàng. Chúng ta có thể vô hiệu hóa hoàn toàn sức mạnh của các vị trí này với thiệt hại không đáng kể. Các vị trí này không nắm giữ các nguồn lực giúp tạo dựng các căn cứ quân sự chính trên bước tiến của chúng ta. Bỏ qua các hòn đảo hẻo lảnh là một chuyện nhưng nếu bỏ lại đằng sau một nơi tập trung đông quân địch như Philippines sẽ tạo ra những rủi ro nghiêm trọng không cần thiết.


        Lý lẽ của MacArthur đã giành được sự thuyết phục. Các mệnh lệnh trong tháng 9 đều chỉ huy quân Mỹ nhằm vào Philippines. Cho đến sau này, MacArthur vẫn tin răng, Iwo Jima, Okinawa và một cuộc xâm lược trực tiếp Nhật Bản là không cần thiết. Nếu Philippines rơi vào tay người Mỹ trong khi hạm đội Nhật Bản đang phải lo phòng thủ, ông cho rằng Nhật Bản có thể bị bóp nghẹt về mặt kinh tế. Đây chính là ví dụ hùng hồn nhất cho triết lý vắt kiệt cho chết héo và buộc Nhật Bản phải kêu gọi hòa bình.

        Khi quân Mỹ chuẩn bị đổ bộ Philippines, quân Nhật bao vây các lực lượng hải quân còn lại của Mỹ nhằm ngăn chặn cuộc xâm lấn. Một hạm đội lớn của Nhật Bản giao chiến với hạm đội của Mỹ ở Vịnh Leyte vào tháng 10. Trận chiến này được coi là trận chiến hải quân lớn nhất trong lịch sử hải quân thế giới, diễn ra ác liệt trong vài ngày và suýt gây nguy hại cho sự sống còn của hạm đội Mỹ, một phần là do hải quân Mỹ đã nhầm lẫn nhau khi rượt đuổi các hàng không mẫu hạm của Nhật Bản. Sự nhầm lẫn này chủ yếu là do sự phối hợp quá kém giữa lực lượng của Nimitz và MacArthur. Cuối cùng, hạm đội Nhật Bản bị mất 4 hàng không mẫu hạm, tàu đô đốc, 3 tàu chiến, 6 tàu tuần dương hạng nặng, 3 tàu tuần dương hạng nhẹ và 10 tàu khu trục. Hạm đội Nhật Bản coi như đã bị hủy diệt.

        Lúc này, con đường đổ bộ lên đảo Leyte đã mở ra, coi như đã hoàn thành 2/3 con đường xuống quần đảo Philippines. MacArthur mô tả cảnh tượng này như sau:

        Các con tàu hiện diện khắp nơi phía trước, phía sau, bên trái, bên phải và bất cứ nơi đâu trong tầm mắt. Các thân tàu vững chắc rẽ nước lúc hiện ra phần đầu, lúc hiện ra phần đuôi khi chúng đang thực hiện chiến thuật xâm lược theo hình chữ chi.

        Chúng tôi đến Leyte chi trước nửa đêm vào một buổi tối không trăng, trời đen như mực. Dòng nước đen thẫm phía dưới kết hợp bầu trải đen kịt ở phía trên phủ lên chúng tôi một tấm áo choàng vô hình khi nằm chờ bình minh trước lúc tiến vào Vịnh Leyte. Giai đoạn một của kế hoạch đã hoàn thành mà không gặp phải sự kháng cự đảng kể nào. Thỉnh thoảng, một con tàu ma lặng lẽ chạy ngang qua, lộ ra từ màn đêm và biến mất vào bóng tối trước khi chúng tôi định dạng được hình dáng chúng. Tôi biết rằng, trên mọi con tàu, mọi binh lính nằm dọc tay vịn hoặc đi lại trên boong tàu nhìn soi vào đèm tối và tự hỏi cái gì sẽ xuất hiện sau một đêm chờ bỉnh minh.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:07:58 am

        Sáng hôm sau, MacArthur lội vào bờ như thói quen thường lệ của ông. Cuộc đổ bộ đã thực hiện thành công xuất sắc nhưng quân Nhật đã theo sát, tổ chức 4 cuộc phản công và tung nhiều máy bay vào cuộc chiến khiến tầm kiểm soát không quân của Mỹ rơi vào tình trạng nguy hiểm. Cuộc tấn công ngưng lại một lúc cho đến khi máy bay Mỹ đánh chìm một đoàn tàu Nhật Bản mang quân tiếp viện đến Leyte vào tháng 11. Dù vậy, quân Mỹ đã sa lầy trong cuộc chiến suốt vài tuần cho đến lúc MacArthur nghĩ ra kế hoạch táo bạo là thực hiện thêm một cuộc đổ bộ vào tháng 12 ở Ormoc phía sau các phòng tuyến của quân Nhật. Cuộc đổ bộ thành công và làm quân Nhật hoảng vía. Thế bế tắc đã được phá vỡ.

        Trong cùng tháng, quân Mỹ đã tấn công và chiếm giữ đơn vị tiền đồn nhỏ ở Mindoro nhưng phải chịu số thương vong lớn. 200 ngàn quân xâm chiếm đã tập hợp để di chuyển vào Luzon, đảo chính của Philippines. Quân Nhật đang chiến đấu vất vả để ngăn chặn sự xâm lấn của Mỹ tại các hòn đảo ở quê nhà. Hạm đội quân Mỹ hỗ trợ cho MacArthur dưới quyền chỉ huy của Đô đốc William Halsey đã phải chịu nhiều tổn thất. Một cơn bão làm hư hại nhiều con tàu. Vụ tấn công vào các sân bay ở đảo Đài Loan cũng bị thất bại vì thời tiết. Trong tháng Giêng, Nhật Bản tổ chức hàng loạt vụ tấn công bằng máy bay cảm tử làm chìm 1 tàu chiến, 2 tàu tuần dương và 1 tàu khu trục. Tuy nhiên, toàn bộ lực lượng hải quân đã đổ bộ mà không gặp phải sự chống cự nào. Đơn vị đồn trú khoảng 27.500 quân Nhật đã rút lui. vào khu rừng núi ở trung tâm của hòn đảo. Mặc dù chỉ gặp sự kháng cự nhỏ, quân Mỹ tiến khá chậm vì tướng Krueger, tư lệnh của quân Mỹ đổ bộ lo sợ Nhật Bản sẽ thực hiện một cuộc tấn công dữ dội bất ngờ từ khu rừng núi, làm chia cắt lực lượng ông với đoàn quân phía sau. MacArthur ra lệnh Krueger phải di chuyển nhanh về Manila, nơi hàng ngàn tù binh chiến tranh đang sắp bị hành quyết.

        Quân Mỹ thực hiện hai cuộc đổ bộ nữa để bao vây hoàn toàn thủ đô. Trong cuộc đột kích ngoạn mục, một đạo quân của MacArthur đã tấn công thẳng vào trung tâm Manila làm quân Nhật chạy tán loạn và giải phóng được 5 ngàn tù binh.

        Tuy nhiên, cuộc chiến đấu để giải thoát 20 ngàn quân Mỹ, tái chiếm Corregidor và Bataan và nỗ lực xua đuổi Nhật Bản ra khỏi các ngọn núi ở miền trung phải mất hàng tháng trời và tốn nhiều xương máu.

        Tỷ lệ thương vong rất cao: khoảng 80 ngàn quân Nhật bỏ mạng ở Luzon so với 7.300 quân Mỹ và quân Đồng minh khi miền nam Philippines được giải phóng, Borneo cũng vậy.

        Sau khi trận chiến thiên anh hùng ca ở Thái Bình Dương kết thúc, cuộc đấu tranh Nhật Bản ở phía tây của đế chế Nhật Bản chỉ là thứ yếu. Tháng 4 năm 1944, Nhật Bản phát động “Chiến dịch Ichi-go” để giành lại thế chủ động ở Trung Quốc. Chiến dịch này đã thành công khi các lực lượng của Tưởng Giới Thạch cuối cùng đã bị áp đảo, mặc dù họ chỉ tìm cách để tự cầm cự đến cuối cuộc chiến.

        Nhật Bản thực hiện một chiến dịch tấn công khác mang tên “U-go” nhằm giáng một đòn mạnh từ Miến Điện vào Ấn Độ, cũng như nhằm tấn công phủ đầu để chống lại cuộc tấn công không thể tránh khỏi của quân Anh sau cuộc xâm nhập thành công của lực lượng đặc nhiệm Chindit của tướng Orde Wingate. Vào ngày 6-3, tướng Mutaguchi dẫn một đội quân lớn băng qua sông Chindwin để tiến vào hai thành phố Imphal và Kohima của Ấn Độ. Hai thành phố này là cửa ngõ tiếp cận vùng đồng bằng Ấn Độ. Tướng William Slim, tư lệnh quân Anh đã dự đoán được cuộc tấn công này và ông đã cho đào hào phòng thủ ở hai thành phố. Trong một cuộc chiến ác liệt và xáp lá cà nhiều nhất, dù đã cố gắng hết sức, quân Nhật cũng không thể chiếm được hai thành phố này. Cuối cùng khi mùa mưa đến, vào ngày 22-6, Mutaguchi đã chấp nhận thất bại và dẫn quân băng qua những con dường sình lầy để trở về Miến Điện, trước khi các con đường này không thể vượt qua được. Chỉ 20 ngàn trong số 85 ngàn quân Nhật còn sống sót.

        Tàu chiến Yamato với sự hộ tống của 1 tàu tuần dương và 8 tàu khu trục chuẩn bị lên đường thực hiện sứ mệnh cảm tử để trì hoãn quân Mỹ đổ bộ. Ngày 7-4, tàu Yamato đã bị máy bay Mỹ phát hiện và đánh bom không thương tiếc trước khi bị lật úp cùng với 2.300 thủy thủ trên tàu. Tàu tuần dương và 5 tàu khu trục cũng bị đánh chìm. Đây là cuộc chiến hải quân cuối cùng ở Thái Bình Dương. Nhật Bản đã cho khoảng 900 máy bay Thần phong thực hiện các cuộc tấn công cảm tử làm 3 tàu khu trục, 2 tàu chở đạn của Mỹ bị chìm. Trong 5 tháng tiếp theo, quân Mỹ mất 14 tàu khu trục và 5 ngàn lính thiệt mạng.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:08:31 am
             
        Tháng 2 năm 1945, quân Mỹ tấn công Iwo lima, một hòn đảo có diện tích khoảng 13km vuông, cách Tokyo 1.450km. Đây là một cứ điểm quan trọng có thể giúp các máy bay Mỹ bị hỏng hạ cánh khẩn cấp. Số phận của các phi công Mỹ bị Nhật Bản bắt giữ không được nêu ra nhằm tăng cường nhuệ khí cho các phi công ném bom. 23 ngàn quân Nhật đang trên đảo này đã chiến đấu đến người cuối cùng khiến số thương vong của Mỹ lên đến 20 ngàn người. Quân Nhật đã cầm giữ bước tiến của quân Mỹ trong một tháng.

        Tại Okinawa, sự kháng cự của quân Nhật Bản còn ác liệt hơn. Hòn đảo này có tầm quan trọng ở chỗ có thể sử dụng làm căn cứ bàn đạp lý tưởng để tiến đến Nhật Bản. Trong số nhóm đảo Ryukyo, chỉ có đảo Okinawa có đủ sân bay và các vị trí neo đậu tàu giúp tập trung lực lượng bộ binh cần thiết để đánh chiếm đại lục. Okinawa có 3 sân bay ở Naha, Yontan và Kadena và 2 sân bay nhỏ ở Yonabaru và Machinato. Ở phía đông hòn đảo, có hai vị trí neo đậu tàu tốt. Quân Nhật quyết định không từ bỏ một nơi quan trọng như vậy. Mặc dù cuối cùng họ đã thất bại trước sức mạnh vượt trội của quân Mỹ, nhưng Mỹ đã phải chịu tổn thất nặng nề mà quân Nhật có thể xem đó như là một thắng lợi.

        Đến lúc này, mục đích của các tư lệnh quân đội Nhật là buộc người Mỹ phải từ bỏ mục tiêu buộc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện và bước vào thương lượng một hiệp ước hòa bình. Theo quan điểm của các vị tư lệnh, nếu Mỹ thôn tính Nhật Bản, số quân của họ sẽ bị tàn sát rất lớn, và buộc người Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Các lãnh đạo quân sự Nhật Bản được miêu tả là những người cuồng tín quyết tâm chiến đấu đến cùng. Tuy nhiên, mục tiêu tàn sát quân đội Mỹ của họ không phải là hoàn toàn không hiện thực. Mỹ có thể phải thỏa hiệp nếu quân Mỹ không muốn bị thương vong.

        Trận chiến Okinawa đã diễn ra và đưa một thông tin buồn về cho nước Mỹ. Tổng cộng 20 ngàn quân Mỹ thiệt mạng, 53 ngàn người bị thương, 26 ngàn người mất tích. Ngoài ra, 763 máy bay của Mỹ cũng bị mất tích và 368 tàu chiến bị loại khỏi vòng chiến đấu (trong đó 38 chiếc bị chìm). Thiệt hại của quân Nhật tất nhiên còn lớn hơn, hơn 100 ngàn người chết, 7.800 máy bay các loại và 16 tàu chiến bị tiêu diệt.

        Nhiều máy bay của Nhật Bản bị mất tích trong các cuộc tấn công của máy bay Thần phong nhằm vào tàu Mỹ. Nhật Bản đã thực hiện hơn 1.900 cuộc tấn công cảm tử. Phần lớn đều thất bại. Một số phi công hèn nhát rút lại ý định, nhiều phi công bị bắn hạ, nhiều phi công tấn công ngay những con tàu đầu tiên mà họ phát hiện, nhưng đó thường là các tàu nhỏ.

        Máy bay ném bom điều khiển Ohka cũng không mang lại thành công vì bị quân Mỹ phát hiện và tấn công quá dễ dàng. Quân Mỹ cũng dễ dàng đánh chặn các tàu cao tốc cảm tử Shinyo. Các chiến thuật bộ binh của quân Nhật được phối hợp thông minh. Lãnh thổ gồ ghề, nhiều đá của Okinawa đã tạo ra một thế trận phòng ngự lý tưởng. Quân Nhật đã tận dụng địa hình này để tập trung sức mạnh pháo binh lớn nhất trong suốt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương để tấn công Mỹ.

        Một mạng lưới hang động khổng lồ và đường hầm dưới mặt đất được dùng làm nơi ẩn nấp trước sự bắn phá của không quân và hải quân Đồng minh, tạo cho quân Nhật tính cơ động và bất ngờ trong các cuộc tấn công. Quân Nhật ẩn nấp dưới hầm để tránh bom và tổ chức tấn công pháo binh vào quân Mỹ đang tiến vào đảo. Sau đó, khi quân bộ binh Mỹ tiến qua các dải đất trống, quân Nhật sẽ xuất hiện từ các hang động và đường hầm rồi tung hỏa lực từ các cứ điểm vững chắc.

        Cuộc chiến đấu giành Okinawa chắc chắn sẽ gây tổn thất lớn hơn cho quân Mỹ nếu như quân Nhật không mắc phải hai sai lầm ngớ ngẩn.

        Do Tokyo gây sức ép phải giành chiến thắng, tư lệnh quân Nhật, tướng Ushijima đã phát động một cuộc phản công nhằm vào lực lượng mạnh hơn khiến lực lượng số 32 của ông bị suy yếu. Tham mưu trưởng của ông, Trung tướng Cho đã thực hiện cuộc phản công thứ hai vì ông tin rằng, nhuệ khí mạnh mẽ của quân Nhật sẽ khiến sức kháng cự của Mỹ sụp đổ. Tuy nhiên, cuộc phản công này lại làm cho quân Nhật suy yếu thêm. Vào giữa tháng 6, lần đầu tiên quân Nhật đầu hàng với số lượng đông. Ushijima và Cho đã tự tử theo cách truyền thống của người Nhật.

        MacArthur thấy rằng, tổng số người thiệt mạng trên cả hai hòn đảo cao hơn nhiều với số thiệt mạng tổng cộng trong chiến dịch của ông từ Papua New Guinea cho đến Philippines. Như chúng ta đã biết, MacArthur đã phản đối các cuộc tấn công trực diện lên các hòn đảo này vì cho rằng chúng không cần thiết đối với kế hoạch siết chặt bóp nghẹt Nhật Bản của ông. Các tư lệnh khác của Mỹ nhất quyết sử dụng các hòn đảo ở Okinawa làm bàn dạp xâm lấn Nhật Bản.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:09:34 am

        Tháng 3 năm 1945, Nhật Bản đã chuẩn bị phòng thủ đất nước với “Chiến dịch Ketsu-go”.

        Nhật Bản cho rằng, quân Mỹ sẽ xâm lược đảo phía nam là Kyushu với 15 sư đoàn vào tháng 10 (thực tế “Chiến dịch Olympic” theo kế hoạch của Mỹ chỉ huy động 10 sư đoàn đến vào tháng 11). Chiến dịch Ketsu-go sẽ tập hơn 58 sư đoàn bộ binh, tập hợp 2,6 triệu quân đội chính quy được hỗ trợ 3,65 triệu lính dự bị và lực lượng dân quân tình nguyện khoảng 28 triệu người.

        Rõ ràng, không chỉ lính dự bị và dân quân mà quân đội chính quy của Nhật Bản cũng thiếu huấn luyện và trang bị tốt. Tuy nhiên, sau khi 110 ngàn quân Nhật trên đảo Okinawa thể hiện những gì họ có thể, cuộc xâm lấn Nhật Bản sắp tới của Mỹ chắc chắn sẽ gặp phải sự kháng cự và thương vong khủng khiếp.

        Lúc 9g30 sáng ngày 16-6, các tham mưu trưởng liên quân đến Nhà Trắng để đưa cho Tổng thống Truman kết quả đánh giá về kế hoạch xâm lấn Nhật Bản sau hai ngày suy nghĩ. Tướng George Marshall đã vạch kế hoạch cho cuộc tấn công đầu tiên với tên gọi “Chiến dịch Olympic” thực hiện vào ngày 1-11-1945 với sự tham gia của 816 ngàn quân. Sau đó, vào ngày 1-3-1946, 1.172.000 ngàn quân sẽ tấn công Honshu ở khu vực quanh Tokyo. Stimson nói với Truman rằng: “Chiến dịch dổ bộ sẽ là một cuộc chiến to lớn, cam go, tốn kém đối với chúng ta... Tôi đã đến thăm vùng này nhiều lần. Nó tạo cho tôi ấn tượng rằng, nơi đây có thể chống chọi và phòng ngự đến cùng.

        Các Tham mưu trưởng liên quân đưa ra lời cảnh báo rợn người rằng, khoảng 1 triệu quân Mỹ có thể mất mạng trong chiến dịch này. Một tháng sau đó, Truman nhận được một bức thư tín của MacArthur, người đang đứng đầu lực lượng Mỹ ở vùng Viễn Đông với thông điệp còn kinh khủng hơn. Ông cảnh báo rằng, Nhật Bản có thể tiến hành chiến tranh du kích trong trường hợp bị xâm chiếm và cuộc chiến có thể kéo dài 10 năm. Ông không đưa ra con số ước đoán về mức độ thương vong của quân Mỹ cũng như của quân Nhật. Tuy nhiên, các cuộc không kích của quân Mỹ vào các thành phố Nhật Bản trước tháng 8 năm 1945 đã lấy đi mạng sống 700 ngàn người. Thương vong quân sự có thể lên đến hơn 1 triệu người trong khi đó thương vong dân thường sẽ gấp bội.

        Thất bại của Nhật Bản trong cuộc chiến Thái Bình Dương là điều không thể tránh khỏi. Thất bại này vốn tiềm ẩn trong những thành công của quân đội Nhật Bản vào các giai đoạn đầu của chiến tranh. Quân Nhật đã quyết định chơi canh bạc táo bạo. Với việc phá hủy hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng, họ đã bảo đảm rằng sẽ chiến đấu đến cùng trong cuộc chiến này. Họ đánh giá thấp ý chí kháng cự của quân Mỹ và tin rằng động lực mạnh mẽ của họ sẽ chiến thắng tinh thần yếu hơn của người Mỹ. Họ cũng đã đánh giá thấp sức mạnh ngành công nghiệp sản xuất vũ khí của Mỹ. Mỹ đã sản xuất với tốc độ nhanh hơn người Nhật. Chỉ là một cụm đảo ngoài biển, Nhật Bản dễ trở thành mục tiêu tấn công của hải quân Mỹ nhằm cắt đứt các tuyến đường tiếp tế. Một khi cuộc chiến tranh trên biển đã thay đổi tình thế, thất bại của Nhật Bản chỉ còn là vấn đề thời gian. Các thành công ban đầu của quân Nhật có được nhờ các chiến thuật đánh bất ngờ, nhanh chóng và cuồng tín và hơn hết là do các mục tiêu của họ quá nhu nhược.

        Họ đã làm quân Mỹ không kịp trở tay. Họ đã thấy được điểm yếu của quân Anh ở châu Á vì phần lớn Anh đang tập trung nỗ lực chiến tranh ở châu Âu. Nhật Bản cũng đã thắng quân Hà Lan dễ dàng. Chỉ có quân Australia tổ chức kháng cự đáng gờm. Dân cư địa phương nhiều khu vực Nhật Bản chiếm đóng không ủng hộ các ông chủ thuộc địa cũ, căm thù và không quan tâm đến họ ngoại trừ ở Philippines (thực tế sự chiếm đóng của Nhật Bản đã làm suy yếu sự nắm giữ quyền lực thuộc địa Philippines sau thời kỳ hậu chiến). Việc thắng lợi khá dễ dàng ở nhiều nơi giúp Nhật Bản hình thành một đế chế dàn trải rộng gấp một lần rưỡi đế chế của Đức quốc xã. Sự dàn trải này khiến Nhật Bản có nguy cơ dễ bị tấn công. Nhờ sự tàn bạo và tính quả quyết của quân Nhật mới giúp ngăn ngừa đế chế Nhật Bản sụp đồ nhanh hơn nhiều so với thực lực của nó.

        Cả MacArthur và Nimitz đã thực hiện các chiến dịch thông minh đẩy lùi sự chiếm đóng của quân Nhật, nhanh hơn những gì Washington kỳ vọng. Sáu tháng tuyệt vời của Nhật Bản sẽ chấm dứt nhanh hơn nếu như quân Mỹ ưu tiên tập trung cho chiến dịch Thái Bình Dương. Thay vì vậy, Roosevelt đã dành ưu tiên cho mối đe dọa ở châu Âu, mặc dù tấn công của quân Nhật mới là lý do khiến Mỹ nhảy vào cuộc chiến. Vì vậy, 29 sư đoàn với khoảng một nửa triệu quân phải phục vụ bất cứ thời điểm nào ở chiến trường Thái Bình Dương, chỉ 1/3 trong số này có đầy đủ là các sư đoàn chiến đấu được trang bị đầy đủ.

        Nhật Bản cũng có cùng quân số đang tham chiến ở Thái Bình Dương và 2 triệu quân đang ở Trung Quốc. Trái lại, ở Châu Âu, Mỹ có đến 4 triệu binh lính. Số quân Anh cũng có tương đương 4 triệu người và khoảng 12 triệu quân Liên Xô chống lại 10 triệu quân của Đức.

        Tình thế ở châu Âu quá dữ dội và nghiêm trọng nên Roosevelt quyết định ưu tiên như vậy cũng là điều dễ hiểu. Nhìn lại thì dù quân Mỹ bị phân ra ở hai chiến trường, thành công của Mỹ ở Thái Bình Dương đáng lẽ vẫn có thể đến nhanh hơn nhiều. Đáng ấn tượng là MacArthur và Nimitz đã giành được nhiều thành công mà rất ít khi phải chạm trán với quân Nhật chiếm đóng trong cuộc chiến đấu cân bằng. Mặc dù hỏa lực vượt trội của quân Mỹ đóng vai trò quan trọng trong các giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến với Nhật Bản, nhưng ngay từ đầu thì không phải như vậy. Người Mỹ đã giành thắng trong cuộc chiến đấu cam go và cân sức. Hai vấn đề quan trọng có liên quan đến chiến lược của quân Mỹ là có thể giành được thành công nhờ thực hiện các cuộc tiến quân cận kẻ thù hay liệu kế sách siết chặt vòng vây kinh tế sẽ mang lại hiệu quả.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:10:38 am

Chương 24

VŨ ĐIỆU THẦN CHẾT

        Trong khi chiến tranh đang tiến triển, các thế lực chính ở Nhật Bản bao gồm bộ máy công chức, Hoàng gia và bản thân Hoàng đế đang suy giảm quyền lực. Thái độ miễn cưỡng tán thành của Hoàng đế khi bước vào cuộc chiến tranh đã từng được chú ý. Sau khi quyết định tham chiến, dường như ông xem đó là nghĩa vụ của bản thân phải theo đuổi nỗ lực chiến tranh càng mạnh mẽ càng tốt. Nhiều người quan sát Nhật Bản đã thấy rằng, điều này giống như tính chủ nghĩa quốc gia khi Hoàng đế không còn khả năng thúc bách tiến trình hành động, ông đã theo đuổi tiến trình ngược lại. Hoàng đế có tính cách này mà thực tế cũng là tính cách yếu đuối, không có được sự thiên phú thông minh xuất chúng.

        Trong quá trình cuộc chiến, cả Konoye và Kido tức giận Hirohito khi Hoàng đế bày tỏ các mối nghi ngại của ông về việc tham chiến ở những thời điểm phải phục tùng sự nhiệt tình của Tojo.

        Kawahara, người viết tiểu sử của Hirohito viết:

        Hirohito đã ký tuyên bố chiến tranh vào ngày 8-12 dưới áp lực từ phe quân sự mặc dù ông không hoàn toàn tán thành. Sau khi chiến tranh xảy ra, ông cảm thấy phải có nghĩa vụ ủng hộ nỗ lực chiến tranh. Ông gạt qua các mối nghi ngại trước đây và cùng với quốc gia tập trung vào nhiệm vụ đánh bại quân Đồng minh. Sau khi chiến tranh Trung Quốc bùng nổ, Hirohito từ bỏ chơi gôn, sau đó ông cũng bỏ thú cưỡi ngựa. Ngoài chuyến thăm đến Đền thờ Lớn ở Ise và một chuyến thăm đến Cung điện tách biệt Nasu, Hirohito không rời khỏi Tokyo cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông bị sụt bảy, tám cân khi phải sống theo khẩu phần thời chiến. Đến giai đoạn cuối của chiến tranh, khi nghe tin tức xấu báo về, ông đã bị suy nhược thần kinh. Ông không nhớ đã tưới cây nến tưới xong rồi lại tưới tiếp. Ông cứ đi lên đi xuống trong căn phòng của mình và lầm bầm chửi bới quân đội trước sự tuyệt vọng của các phụ tá.

        Hirohito đã cố hết sức cho nỗ lực chiến tranh và thích các lễ mừng chiến thắng của quân Nhật. Đó là sự thật chắc chắn. Tuy nhiên chẳng thể mong chờ gì nhiều từ người đứng đầu quốc gia này, khi đất nước ông đang có chiến tranh và quân lính đang chết, cho dù ông tin rằng xung đột là hậu quả của các chính sách lạc lối.

        Nếu không thoái vị, Hirohito không thể tự do chỉ trích công khai và thể hiện buồn bã trước chiến thắng của quân Nhật. Kido, trưởng cố vấn của ông thấy: Ông “Bình lặng và điềm đạm” và tôi không phát hiện ra chút lo lắng nào trong thái độ của Hirohito sau vụ Trân Châu Cảng. Hoàng dế “rất vui sau khi Singapore sụp đổ là do chiến dịch đang mang lại những thành công cho kế hoạch tiến quân”. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 1942, chỉ 3 tháng sau khi chiến tranh bùng nổ, Hirohito đã nói về hòa bình, mặc dù là hòa bình theo kiểu áp đặt cho quân Đồng minh chứ không phải thông qua kết quả đàm phán. Trong bầu không khí hiếu chiến thì thật là bất ngờ khi Hoàng đế nói về hòa bình. Ông nói với Kido: “Chúng ta đừng bỏ qua cơ hội nào kết thúc chiến tranh. Không tốt cho nhân loại nếu chiến tranh kéo dài và thảm kịch lan rộng. Nếu chiến tranh tiếp tục tiếp diễn, quân đội ngày sẽ càng tệ hơn. Chúng ta phải xem xét tình thế kỹ càng và rồi lên kế hoạch”.

        Thái độ không tán thành chiến tranh đầu tiên của Hirohito là vì ông nghi ngờ khả năng chiến thắng chứ không phải nghĩ đến khía cạnh đạo đức của cuộc chiến. Không có ghi chép nào về việc Hoàng đế có biết các tội ác mà quân đội Nhật Bản gây ra ở Trung Quốc, Malaysia và Philippines hay không, mặc dù ông đã tỏ ra vô cảm với Kido khi được thông báo về cuộc hành quân chết chóc ở Bataan.

        Với trận chiến Midway, lần đầu tiên tình thế bắt đầu ngả theo hướng mà Hirohito luôn cảm thấy sợ hãi, nhưng ông vẫn tỏ ra điềm tĩnh. “Thực sự đáng tiếc. Đó là một sự nhục nhã. Nhưng tôi đã ra lệnh cho các tham mưu trưởng không được mất tinh thần chiến đấu, không trở nên bị động trong các chiến dịch”.

        Đầu năm 1943, Buna thất thủ. Hirohito nhận xét rằng, chiến dịch đó “Phải xem như một thất bại nhưng nếu nó là nền tảng cho thắng lợi trong tương lai thì nó lại là một bài học bổ ích”. Vào tháng 4 năm 1943, Hirohito gây sự chú ý với một công hàm than phiền buồn bã:

        Ông đưa ra mọi kiểu lý do giải thích giống như màn sương mù dày đặc và v.v... Tuy nhiên, điều này đáng lẽ ra phải được cân nhắc sớm hơn. Tôi tự hỏi liệu quân đội và hải quân có bàn bạc với nhau hay không? Chúng ta không thể thắng với cái kiểu thiếu sự hợp tác này. Nếu tiếp tục chiến đấu giống cách này, chúng ta chỉ làm Trung Quốc vui mừng, làm các nước trung lập lúng túng, làm đồng minh chúng ta mất tinh thần và làm yếu Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Chẳng lẽ không có cách nào, ở một nơi nào đó giáp mặt sát với quân Mỹ và hủy diệt họ?


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:11:17 am

        Hai tháng sau đó, ông gay gắt với Tojo: “Ông luôn nói rằng, quân đội Thiên hoàng là vô địch. Nhưng bất cứ khi nào quân địch đổ bộ, ông cũng thua. Ồng chưa bao giờ có thể đẩy lùi một cuộc đổ bộ của quân địch. Tôi hỏi ông: Nếu chúng ta không ngăn chặn được họ, rồi mọi chuyện sẽ kết thúc ở đâu?”.

        Sau khi Nhật Bản rút lui khỏi Guadalcanal, Hoàng đế chửi rủa: “Quân đội (Nhật Bản) đã đánh giá thấp quân Đồng minh, sự hy sinh của họ đã trở nên phí uổng”. Hirohito đã phản ảnh quan điểm rõ ràng của bộ máy công chức và hoàng gia. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, các bộ trưởng tập đoàn tài phiệt trong chính phủ không hề có sự chỉ trích nào về nỗ lực chiến tranh. Liên minh giữa các tập đoàn tài phiệt và quân đội vẫn không hề sứt mẻ cho dù thất bại nối tiếp thất bại.

        Dưới thời Thủ tướng Hideki Tojo, đã có ảo tưởng là Nhật Bản dang trở thành chế độ độc tài quân sự. Thực tế, ngoại trừ việc bổ nhiệm Tojo, chính phủ vẫn như trước đây: Là một sự kết hợp của các nhóm quyền lợi, các lực lượng quân đội, các siêu ông chủ kinh tế và các công chức.

        Tojo vẫn nắm vị trí lèo lái, nhưng các tập đoàn tài phiệt luôn ngăn cản các quyết định của chính phủ. Tojo phụ thuộc vào các tập đoàn tài phiệt vì họ cung ứng các nhu cầu to lớn cho cuộc chiến tranh hiện đại. Ba tháng trước khi trận Trân Châu Cảng diễn ra, sau một năm tranh luận căng thẳng, các tập đoàn tài phiệt đã thắng được nỗ lực của các nhà lãnh đạo quân đội muốn đặt họ dưới sự kiểm soát của bộ máy công chức thời chiến.

        Sắc lệnh về Hiệp hội các ngành công nghiệp quan trọng được soạn ra để phân bổ quyền lực thích hợp cho Các Hiệp hội kiểm soát ngành công nghiệp, trao cho các hiệp hội này quyền kiểm soát hoàn toàn về vốn, nhân công và nguyên liệu chiến tranh trong các ngành công nghiệp của họ, với các chỉ đạo cắt giảm các công ty nhỏ hơn. Điều này cũng giống như giao cho một con chó sói chăm sóc đàn cừu.

        Tuy nhiên, khi chiến tranh mở rộng, Tojo và các chỉ huy quân sự khác bắt đầu tìm kiếm một hệ thống trung tâm kiểm soát sản lượng nhằm giảm quyền tự trị đầu cơ và tích trữ của các tập đoàn tài phiệt. Các tập đoàn tài phiệt đã đáp trả quyết liệt để giành lại phần chia chiến lợi phẩm ngày một tăng của họ. Đầu năm 1943, Tojo tìm kiếm một biện pháp giúp ông có “Các quyền lực đặc biệt” đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, ông buộc phải chấp nhận hàng loạt cải cách trao cho các tập đoàn tài phiệt quyền lực lớn mạnh hơn bao giờ hết. Đầu tiên, nội các của ông buộc phải mở rộng để nhận thêm các đại diện của giới doanh nghiệp. Thứ hai, ông đã thành lập một hội đồng cố vấn bao gồm 7 đại diện hàng đầu của các tập đoàn tài phiệt. Thứ ba, các tập đoàn tài phiệt được trao quyền kiểm soát công việc điều hành một bộ mới là Bộ đạn được. Trên danh nghĩa, Tojo đứng đầu bộ này nhưng thực tế thì phó Thủ tướng Nobusuke Kishi (người trở thành Thủ tướng thời hậu chiến) mới là người điều hành. Thứ tư, một ủy viên điều hành của tập đoàn Mitsui, ông Ginjiro Fujihara được bổ nhiệm vào nội các vào tháng 11 năm 1943 nhằm trông coi các tập đoàn tài phiệt cho Tojo.

        Vào đầu năm 1944, Nhật Bản tìm con đường thoát ra khỏi cuộc chiến. Việc này liên quan đến Kido và nhân vật hoàn toàn bị thất sủng Konoye vì đã có lúc họ ủng hộ hòa bình sớm đạt được. Hoàng đế không muốn tin rằng cuộc chiến đã dứt khoát thất bại. ông thuyết phục Tojo nhận chức Ngoại trưởng và Bộ trưởng Chiến tranh để tổ chức tốt hơn nỗ lực chiến tranh.

        Là người quản lý bộ máy công chức khổng lồ, Tojo không có cớ để bào chữa khi lực lượng của Nimitz chiếm Saipan vào giữa năm 1944 và làm Nhật Bản bàng hoàng.

        Quân Mỹ giờ đây đã có thể ném bom tầm xa vào Nhật Bản. Theo Hoàng đế, quân đội Nhật Bản đã mắc một sai lầm nghiêm trọng khi dưa quân chiến đấu bảo vệ Rabaul ở phía nam xa xôi, trong khi đó lại phòng thủ sơ hở Saipan, một nơi năm gần đại lục và có ý nghĩa chiến lược quan trọng hơn Rabaul nhiều. Tojo phải từ chức sau khi Saipan thất thủ vì các đối thủ của ông trong nội các kết hợp với đại diện các tập đoàn tài phiệt buộc ông phải ra di.

        Vào giai đoạn này, Kido và Konoye đang thảo luận về các phương án để khởi động đàm phán hòa bình và thậm chí buộc Hirohito thoái vị để đưa người em là hoàng tử Takamatsu lên ngôi. Không giống như hoàng tử Chichibu hiếu chiến, hoàng tử Takamatsu ngả về phe chủ trương hòa bình. Tuy nhiên, phe chủ trương hòa bình chỉ đại diện một thiểu số nhỏ trong chính phủ.

        Tướng Koiso, người có quan điểm ôn hòa đã được bổ nhiệm thay thế Tojo. Khi chiến dịch giải phóng Philippines và ném bom dữ dội ở Tokyo của quân Đồng minh bắt đầu, tất cả hy vọng thay đổi tình thế đã bốc hơi.

        Vấn đề đặt ra cho lực lượng quân đội Nhật Bản và đồng minh của họ, các tập đoàn tài phiệt và bộ máy công chức là làm thế nào để giành được các điều khoản hòa bình tốt nhất.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:11:54 am

        Vào tháng Giêng năm 1945, dường như Hirohito cũng bắt đầu muốn đàm phán. Ông nói: “Giờ đây, trận chiến quyết định sẽ là trận chiến trên đảo Leyte vì Luzon đã thất thủ... Chúng ta sẽ che dấu điều này với người dân... Có tin cho rằng, quân đội Mỹ dự tính đổ bộ ở Luzon. Tình thế chiến tranh ở Philippines đã cực kỳ nghiêm trọng”.

        Tháng 3, cuộc không kích dồn dập của Mỹ xuống Tokyo được thực hiện làm 100 ngàn người thiệt mạng (hơn số người chết ban đầu ở Hiroshima và Nagasaki). Tám ngày sau đó, Hirohito đi thăm thành phố và buồn bã nói với Kido: “Sau vụ động đất Đại Kanto vào năm 1923, mọi thứ hoàn toàn bị phá hủy và cháy sạch đến nỗi mọi người không kịp có cảm giác sốc. Tuy nhiên, vụ đánh bom này còn bi kịch hơn. Nó làm tôi đau đớn. Tokyo chỉ còn là mảnh đất khô cháy”.

        Tháng 5, một phần lớn của cung điện Hoàng gia cũng bị cháy rụi mặc dù đền thờ tấm gương thiêng không bị hề hấn gì. Đền thờ Minh Trị bị phá hủy trong cùng đêm hôm đó. Giờ đây, chính phủ Nhật Bản phải đối diện với hiện thực. Tojo và quân đội tiếp tục hô hào kháng cự và cho rằng, quân Mỹ có thể bị cuốn vào một cuộc xâm chiếm đẫm máu như đảo Đài Loan và họ buộc phải đàm phán. Tojo cũng cố gắng tìm cách bổ nhiệm Tướng Hata, Bộ trưởng Chiến tranh vào ghế Thủ tướng để kế nhiệm Thủ tướng tạm quyền Koiso. Hirohito hiểu rằng vị Thủ tướng mới sẽ gánh vác trách nhiệm đưa Nhật Bản đầu hàng. Ông đã thúc ép nhà chính khách lão luyện là Đô đốc Kantaro Suzuki, người sống sót trong vụ tử hình những kẻ gây ra vụ đảo chính tháng 2 năm 1936, nhận chiếc ghế Thủ tướng. Giờ dây quân đội cũng đã cảm nhận được thất bại là điều không thể tránh khỏi.

        Trong những ngày tháng đen tối này, một bộ phận những người thượng lưu vẫn đang bảo vệ cẩn thận quyền lợi của họ. Các tập đoàn tài phiệt quay sang phản đối chiến tranh. Đối với họ, nguy hiểm bắt đầu xuất hiện khi Tojo tìm cách giành quyền kiểm soát tình hình ở thời kỳ đỉnh điếm của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Bây giờ, họ kinh hoàng trước sự hủy diệt mà máy bay B-29 gây ra cho tài sản của mình và lo sợ rằng công nhân sẽ bắt đầu nổi loạn. Họ hối thúc quốc hữu hóa công nghiệp và thành lập một lực lượng quân đội công nghiệp nằm trong lực lượng lao động, buộc người lao động phải tuân thủ kỷ luật quân đội, cấm biểu tình hay đình công.

        Lúc này, Nhật Bản mất hầu hết đế chế và bị chia cắt với các đội quân ở nhiều vùng bị bỏ rơi đằng sau. Bấy giờ Nhật Bản đang chịu sự trừng phạt kinh hoàng và tàn bạo nhất. Máy bay từ các hàng không mẫu hạm của Anh và Mỹ đã ném bom tập trung vào Tokyo cũng như Marianas, Iwo Jima và Okinawa, khiến gần một nửa khu đô thị ở khoảng 60 thành phố bị phá hủy.

        Dải đô thị trải dài từ Tokyo đến Yokohama đã đổ nát, Osaka, Nagoya và Iwaki bị tàn phá. Nhật Bản không có một chút cơ hội nào để phá vỡ vòng vây. Các ngành công nghiệp quan trọng đã hoàn toàn ngưng hoạt động. Hạm đội của Nhật Bản bị giam hãm tại cảng và đang thiếu hụt nghiêm trọng đồ tiếp tế cũng như các phụ kiện để thay thế bộ phận hỏng. Trong khi các đống đổ nát nằm rải khắp đất nước, các tướng lĩnh quân đội vẫn không thừa nhận thất bại với người dân.

        Thủ tướng mới Suzuki không phải là bạn của những người theo chủ nghĩa quân phiệt, nhưng ông cũng cảm thấy không thể chấp nhận điều không thể tránh khỏi và ngay lập tức chộp lấy cơ hội yếu ớt cuối cùng. Cơ hội đó là đề nghị Liên Xô đàm phán thay mặt Nhật Bản. Đó là một hy vọng lố bịch. Người Nga là kẻ thù truyền thống lớn nhất của Nhật Bản. Suzuki đề nghị giao nộp Sakhalin ở miền nam, Kuriles và Mãn Châu ở miền bắc cho Liên Xô cũng như đưa cho họ một vài tàu tuần dương và nguyên liệu thô ở phía nam. Đổi lại, người Nhật hy vọng thuyết phục được Stalin làm trung gian hòa giải với phương Tây cũng như cung cấp dầu cho Nhật Bản, vì Nhật Bản đang rất cần dầu để phục vụ cho cuộc chiến cuối cùng mà họ tin sẽ buộc Mỹ chấp nhận thương lượng hòa bình.

        Đề xuất của Suzuki đã không thể đáp ứng được. Người Nga từ lâu đã rất nghi ngờ Nhật Bản. Họ đã tuyên chiến với Nhật Bản sau khi Hitler thất bại, họ sẽ giành được nhiều quyền lợi trong một cuộc chiến với Nhật Bản. Khi Suzuki nhậm chức, người Nga nói với ông là họ sẽ không gia hạn hiệp ước trung lập với Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản đã khẩn nài Liên Xô xem xét lại mặc họ đã liên tục từ chối và đại sứ Nhật Bản ở Mátxcơva đã khuyên không khẩn nài Nga. Trong tháng 7, khi Okinawa thất thủ, chính phủ cố gắng gửi hoàng tử Konoye, một trong những chính khách lớn tuổi của họ đến Mátxcơva để nhờ Liên Xô đứng ra giảng hòa với người Mỹ. Người Nga gạt bỏ thẳng thừng đề xuất này mặc dù Stalin có đề cập đến việc này với người Mỹ ở Potsdam.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:29:04 am
         
(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74377564_506808940048991_5748709169012146176_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQksndNBHZLkLP5zDX4Y4mvisE_XvIj_3SWEe-dTa2U0SQD_Z1wZaY8xD1fOGPilnb8&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=d43552e386129da5f7a89a88490b7502&oe=5E5D62F7)


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73388344_506808920048993_7356116338990907392_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlxiq7KgtTI6u5HrvQ00Nph9ci5Y_TlCnTtxz7qnvkrDXWldsHvLPqXXNKM5dOs834&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=3e9ce7e4e7f938a6fc08f2f42c22da9c&oe=5E2A76D7)
Douglas MacArthur trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, vị tướng Mỹ được thưởng nhiều huy chương nhất trong chiếc khăn choàng và chiếc mũ đặc thù của ông.


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72676628_506808933382325_1182035915380359168_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnCv9ayaUo8ygaJibPxv5OWQedM_V7fLMhGSB1NKdh43-p39eardcttuWeYwNQtdpk&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=f2280d9dcacb78acb80ade23168cd4cf&oe=5E197499)
MacArthur với gương mặt căng thẳng qua chiến trận khi ông được Pershing tặng huân chương. Đây là người chẳng bao lâu sau đó chỉ trích ông gay gắt.


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72532127_506808970048988_2768042079366938624_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQki4E5EkRC4_L_r-sH3f-gfNbEpfZjAg7sS2yl6INBq6UY3NGKUZ5tlglNZhOJqFSs&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=d2a5da43fcfdb4632df19c2614ba62d0&oe=5E22EECD)
Một bức ảnh thân mật hiếm hoi giữa Hirohito và Nagato


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:34:03 am
           
(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72742145_506808996715652_3559321758488068096_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlygCsbdDWFLVDWwX7_bBvk86kn3d6CfDxHifOZtZ__XUPqvQnbGichAYAPjeUWDSQ&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=43e369957eaff47432966b10d88d17c3&oe=5E22B838)
MacArthur và người vợ đầu giàu sụ Louise, ở Cromwell Brooks năm 1925.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74794294_506809010048984_1885849822469029888_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnPyooyaN98__sQg3rCS4x-JdmqaRttaUWuzCSPWe7l3GSfFBh9Wrgi5_V8ObKtIlQ&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=9ca234194e395edbfb5536c417921231&oe=5E301D95)
Hirohito (người cưỡi ngựa trắng) tại cuộc diễn tập quân sự vào năm 1931.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74664513_506809033382315_5226904521250177024_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnHdY_tF_mCFF2kYUASeMF0enwl9bPSu4keu6zyrQYmoIrlbWM9dHcr7gsbEONJ6t0&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=9d5c280fd490baa0efa842a0e02b5dfa&oe=5E27EA94)
MacArthur, người được giao nhiệm vụ dẹp những người tuần hành đòi tiền thưởng đang chỉ đạo quân lính của ông ở Washington vào tháng 7 năm 1931.


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72440389_506809080048977_4150663687708868608_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnZyZaQW5xJsLiSIxk4FkRu-b49nwjIxgRGbFUCXZdhb4KXNa-Zt2UV2h3bsveh4AA&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=4e0abca5186cf43640b6312eba1d277e&oe=5E25E9BE)
Giai đoạn định mệnh đầu tiên vào năm 1931 khi quân Nhật chiếm đóng Mãn Châu.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:39:48 am
       
(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75035313_506809103382308_627180884390313984_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQlN6csiUEVrf6xAR5lFdvLYUWvQXiZfEFX4y-dyFy-Td8Y4QcG_M_A9uo18xofRg7s&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=2a830e10c1ecb0b512ba541feb818eda&oe=5E18D8A2)
Máu đổ trẽn tuyết, cuộc đảo chính ở Tokyo năm 1936.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72665854_506809130048972_1864517183766265856_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmARFw8RW0B5K31N4m3WxmRGVg36BY7f145LiE5Rape8Rh9DVwihwbqlmrRvNEoJYI&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=1c2a27d11734c19374e1023e5b947d92&oe=5E16C1AD)
Sau khi quân Nhật ném bom Kweilin, Trung Quốc, 1940.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73089277_506809143382304_3947956933738102784_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQl2BDuhONn42P5OzqBnkcdmMMJbUMKWXKf_1hwmvAJzHC4iLCfw7_souusWivws62E&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=1083f88e6d8b6467037700354a7b4582&oe=5E2581DF)
Yamamoto, người lẽn kế hoạch vụ tấn công Trân Châu Cảng thông minh. Cả thế giới nằm trong tay ông nhưng ông biết không nám giữ được lâu.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72553961_506809163382302_3440577878532554752_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQks85lf-pmCRvUXZf4GtfnSKeWIfPHOAdmzvmPr3RWzJAx8imfwusSwVSm_a-mvBkE&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=94754b153723065ed2e23e425445d00f&oe=5E5B05CC)
Trôi vào chiến tranh, Thủ tướng không quyết đoán Konoye, Ngoai trưởng hung dữ Matsuoka, Bộ trướng Hải quăn thực dụng Yoshida va Bô trưởng Chiến tranh cuồng tín Tojo vào năm 1940.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:44:00 am
       
(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72442776_506809266715625_2168513714846695424_o.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmoNgzvjGhc7F9dzrnj4uyQGHyMC0OudIUEtRwrRaAVTLybn7rKpwPdva2piA2ey2k&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=3ab1f5e31431105539ea701f48dcdb05&oe=5E5E8688)


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72879376_506809203382298_1336019267560144896_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQm9Da_hgSibQ9VfJCgBNJctwJbronvJBA3RLNyt7SGLZ_0-OpvQDgXuHsqDM8Ggnho&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=36528ac9590e3402e4c30b818e8274fe&oe=5E63117F)
Boongke của MacArthur à Đường hầm Malinta trên đảo Corregidor.


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73058854_506809236715628_4035990917058920448_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnmKarIIcItQCkOPo7qGLJhKd5GzQsiksbzyYoki_HVqk8k2Kq373rYq9kUIX82_C4&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=cd7db70ad2721ea0538834d0f1f6bff1&oe=5E5C26F9)
Quyết định dập tắt tranh cãi: Roosevelt (giữa) tán thành cả hai kế hoạch đối nghịch của MacArthur (trải) và Nimitz (phải).


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73504705_506809256715626_8649295133134553088_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQljRw6DMA0knpWzjvYXv5Qw3_2mxLSUZVZp6DyGfZ4bPHEePHELgRhDjn6ZGSLEoX8&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=d7d0344718f3cde3a750476c3073cbb6&oe=5E1C89ED)
Ông ấy đã quay trở về. MacArthur sau khi đổ bộ vào Leyte ở Philippines năm 1944.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:16:42 am
             
(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72438894_506809283382290_2471723970559213568_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQnqKaf3lEAkOvDsU7t14Xcu7mbu_6b-hoJZ9eaMmWvKwnLACynTfrHRuTYpuxXaA98&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=53e4a07f8110fcee26431a4151ab013b&oe=5E60A75D)
Đánh bom Tokyo. 100 ngàn người thiệt mạng trong khi thủ đô Nhật Bản chỉ còn là đống tro tàn.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75044177_506809320048953_6277216353757691904_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlQGMukMoRmZgot2PGjtVTwTXONAgit8uUh5o-4EoyhiztYz04e6m8ou32S7PTNkYw&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=4e248522d25d07f6f918d9d11972d4e3&oe=5E19DCF6)
Nagasaki, vụ thả bom nguyên tử thứ hai. Theo quan điểm MacArthur, cả hai vụ ném bom nguyên tử đều không cần thiết.


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73041612_506809333382285_6259891164355231744_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnqnUYg6jwaHJ0QSI24eKxSq0bdJIRE20HrLvsl07NJQGy_ahNoPz7Hg_30Qj4zmPc&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=6c31b266a0ee6ef8a8b8eaf0cfda5510&oe=5E29B667)
Vào hang cọp. MacArthur đổ bộ ở Atsugi, đứng sau là Sutherland (thứ hai từ trái sang).


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74431995_506809343382284_4844154490577747968_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQkMHhzHknc_73Is7qpUiVTMSDD4ABCKGAsuOjmkpwcSnrigmmbrj7bHHrIbh4oxZR0&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=046a7f5cb3bbfcb8f7876ce2fe608f6f&oe=5E1D20CA)
Đầu hàng trên biển. Shigemitsu ký đầu hàng khi MacArthur đứng quan sát trên chiến hạm uss Missouri.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:22:14 am
     
(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74282094_506809373382281_8084488113163862016_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQm0JQK7Uo1QHC5kxyNB1CMFSomEnZBxIJxWJmiq3zfgjwIZwvqRchm246qJdd0n7mo&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=6a0e9464faabedf3b527c5122a36e07b&oe=5E275DB7)
Cố tình xấc láo. Tướng MacArthur thõng người khi Hoàng đế Hirohito nghiêm trang.


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73064939_506809390048946_2904504816837328896_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQkHzrui4ONTwDB7OurS8q6bEesNkf79T9vf2nAoyLCQMSkM4ip3-DOPpkYbCyJi4Sg&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=66da7ae2417aa3dc368386d925078aac&oe=5E198326)
Vị chúa xuống với người dân. Hirohito đi thăm vòng quanh Nhật Bản năm 1946.


(https://scontent.fsgn8-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72608203_506809403382278_3970977026436759552_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmoU0_H3G0UEnQt3eAg9F2U6O9boFOFQi5u3v9kJdKQ_d2zFFKg3IBoF274w77VW4E&_nc_ht=scontent.fsgn8-1.fna&oh=8210035e72ca12ff5a43e6292e47ac8f&oe=5E5AB354)
Thời gian thú vị nhất của ông, MacArthur quan sát trận pháo kích ở Inchon cùng với người bạn trung thành Whitney (trái) và Tướng Mark Almond năm 1950.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72468731_506809440048941_6646837485450035200_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnzrQvcXg7QYjGMsM4rns-M7mbzC9joxtLg_Wbr7FBnInla9lpHOGrY_ASoJnUyh-E&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=e1bede97b0fbde9d97cc5e286d5606f1&oe=5E5F8BD7)
Ngắm nghía và khinh miệt nhau. Truman và MacArthur ở đảo Wake


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:26:54 am
           
(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73395283_506809453382273_5475902437032198144_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQl2HQuJ9tVLsyn2StFk7uKUQEoZOt3KzMLYe2eaFDUoWkaji_cR1grL0xgQ37do_M0&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=07dd3e5d57f626b221e881ad054ea25d&oe=5E1A894F)  
Lòng biết ơn của New York. MacArthur được chào đón bằng hoa giấy trong một cuộc diếu hành, nhưng sau đó cuộc vận động tranh cử của ông đã thất bại.


(https://scontent.fsgn3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73278156_506809466715605_3970455385478791168_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQlHMisP93e4fgchbFDVud8fXJpjbtvD2V1Kdaj4xFFN3pX9f3kNgm4NbCq-nwN2BoE&_nc_ht=scontent.fsgn3-1.fna&oh=5eab97d772231a16c31a8681292b6785&oe=5E629976)
“Đừng bị hút uào Việt Nam, chàng trai trẻ”, MacArthur khuyên Kennedy vào năm 1961 trong những năm tháng cuối đời.


(https://scontent.fsgn4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/75079865_506809506715601_6522923749065359360_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnpjHDHFflZZs4i6n3ZAaljccJpsjwqucLRtOkNA4UwhnvcG30tAAKpcCFdnZJ0r_Q&_nc_ht=scontent.fsgn4-1.fna&oh=e9aef4a47c4688cdad53b871bdbb1572&oe=5E204995)
Vượt lên các đám mây. Hirohito yên bình lúc 77 tuổi, năm 1978.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:29:43 am
   
Chương 25

THẰNG NHỎ VÀ GÃ BÉO

        Vào ngày 12-4-1945, phó tổng thống Harry S. Truman chủ trì cuộc họp ở Thượng viện. Khi phiên họp kết thúc, ông ghé qua văn phòng người phát ngôn Hạ viện Sam Rayburn để dùng rượu whisky ngô và nước thì thư ký Tổng thống Roosevelt gọi diện mời qua. Khi đã có mặt ở đó, ông được dẫn đến phòng đọc sách của Eleanor Roosevelt, vợ tổng thống. Bà thông báo ngay lập tức với ông là chồng bà đã chết.

        Hai tiếng sau, vào khoảng 7 giờ, Truman nhậm chức Tổng thống. Khi các thành viên nội các nối đuôi ra đi, Stimson được giữ lại. “Thưa Tổng thống, tôi phải nói cho ông về một vấn đề hết sức khẩn cấp”, ông nói. “Tôi muốn thông báo với ông về một dự án lớn đang tiến hành: dự án phát triển một chất nổ mới với sức tàn phá không thể tin nổi”. Sau khi nói những lời bí ẩn này, người đàn ông già bỏ đi, để lại đằng sau vị Tổng thống mệt mỏi và bối rối trong những giờ phút đầu tiên đảm nhận chức vụ.

        Vài tuần sau, Truman đã biết được nhiều hơn nữa. Ngày 25-4, Stimson và tướng Groves yêu cầu gặp riêng Tổng thống để nói chuyện về một “Vấn đề tối mật”. Stimson đi thẳng vào vấn đề và nói với Truman rằng, ông muốn thảo luận về một quả bom có sức mạnh tương đương tất cả pháo binh đã sử dụng trong hai cuộc Chiến tranh Thế giới. Ông nói tiếp: “Trong vòng 4 tháng, chúng ta sẽ có khả năng chế tạo xong một vũ khí khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Đó là một quả bom có thể phá hủy toàn bộ một thành phố. Mặc dù chúng ta chia sẻ việc phát triển quả bom với nước Anh nhưng hiện tại Mỹ đang ở vị thế kiểm soát các nguồn lực để chế tạo và sử dụng nó và không một quốc gia nào khác có thể đạt được trình độ này trong vài năm. Tuy nhiên, chắc chắn chúng ta không thể duy trì vị thế này mãi mãi”.

        Theo quan điểm của Stimson, Mỹ sẽ giành thắng lợi trong cuộc chạy đua chế tạo quả bom này là điều rất cần thiết về mặt đạo đức. “Chúng ta có thể thấy vào một thời điểm nào đó, vũ khí này được chế tạo bí mật, được sử dụng bất ngờ và hiệu quả... với sự hỗ trợ của loại bom này, một quốc gia hùng mạnh có thể bị một quốc gia nhỏ hơn xâm chiếm trong vài ngày. Thế giới trong tình trạng tiến bộ đạo đức hiện tại cùng với sự phát triển kỹ thuật cuối cùng phó mặc số phận cho một quả bom như vậy. Nói cách khác, nền văn minh hiện đại có thể bị tiêu hủy hoàn toàn”. Ông kết luận rằng, mặc dù hậu quả của loại bom này kéo lùi nền văn minh nhưng ông vẫn thích sử dụng nó để chống Nhật Bản. Truman ngay lập tức đồng ý phải tiếp tục dự án này nhưng để ngỏ quyết định cuối cùng về sử dụng loại bom này để nhằm vào một mục tiêu cho đến khi ông buộc phải làm như vậy.

        Vào ngày 6-7, Truman đi Postdam. Cùng vợ là Bess và con gái Margaret, ông đã dự buổi hòa nhạc ở thảm cỏ Nhà Trắng mà ban nhạc quân đội chơi. Khi buổi hòa nhạc kết thúc, ông đi ra cửa nói lời tạm biệt họ và lên đường ra trạm xe lửa Union. Bảy tiếng sau, chuyến tàu đặc biệt chở tổng thống đi đến Newport News, bang Virginia - nơi mà chiếc tàu tuần dương hạng nặng Augusta đang neo đậu.

        Trên hành trình vượt Đại Tây Dương với sự đe dọa tấn công của tàu ngầm, ông đã có nhiều giờ suy ngẫm về báo cáo của Stimson 4 ngày trước về việc phát triển quả bom và đề xuất cho Nhật Bản một cơ hội cuối cùng trước khi Mỹ thả bom.

        Thành phố Potsdam nằm ngoài Berlin là thành phố nhỏ, dễ chịu và trưỏng giả, có một biệt thự hoa mỹ tráng lệ là cung điện Sans-Souci và một trung tâm hội nghị tiện nghi và yên tĩnh. Vào tháng 7, thời tiết đã ấm và dễ chịu. Khi những chiếc limousine liên tục lui tới căn biệt thự ba tầng của Harry Truman, căn nhà tiện nghi của Winston Churchill và căn biệt thự đẹp của Josef Stalin, không thể tin được một cuộc chiến ác liệt cướp đi hàng triệu sinh mạng đã xảy ra xung quanh họ vừa mới kết thúc hai tháng trước đây.

        Vào sáng ngày 17-7-1945, lúc Truman thưởng thức buổi sáng thịnh soạn tại nơi ở, một đoàn xe chạy đến. Đó là gương mặt có lẽ đang nổi tiếng nhất trên thế giới: Winston Churchill, vị Thủ tướng 69 tuổi của nước Anh, lùn, mập, vui vẻ và hiếu động như đứa trẻ. Đây là lần đầu tiên Winston Churchill đến chào xã giao vị tổng thống mới của Mỹ.

        Các cố vấn Tổng thống Truman đã được nhắc nhở ông là phải tiếp đãi Churchill một cách thận trọng vì vị lãnh đạo này là một người có sức cuốn hút mạnh nhưng là một kẻ phản động cứng đầu, đang có âm mưu khôi phục Đế chế Anh. Truman nghe các nhân viên của mình chỉ trích Churchill nhiều hơn Stalin. Người Mỹ coi Stalin là một người khó chơi nhưng không phải là nhân vật hiểm ác. Các cố vấn Tổng thống quan tâm nhiều đến việc phá vỡ thế bóp chặt của chủ nghĩa đế quốc Anh hơn bất kỳ mối đe dọa nào đến từ Liên bang Xô Viết.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:30:45 am

        Thật ngạc nhiên, vị Tổng thống người Missouri ăn nói thẳng thắn lại rất hòa hợp với kẻ theo chủ nghĩa đế quốc dòng dõi quý tộc này. Churchill cũng nói chuyện thẳng thừng chứ không sử dụng kinh nghiệm của một kẻ tham chiến để ra vẻ bề trên với vị tổng thống người Mỹ còn thiếu kinh nghiệm đang tìm kiếm sự chia sẻ quan điểm với ông. Churchill từng rất thất vọng về thái độ phớt lờ của Roosevelt đối với những lo ngại của ông về Stalin ở cuộc gặp tại Yalta nhưng lại rất vui khi vị tổng thống mới của Mỹ có cùng quan điểm với ông.

        Kể từ sau cuộc gặp mặt ở Yalta, Mỹ mới bắt đầu nghĩ đến các mối đe dọa từ Liên Xô. Truman cảm thấy vui khi Churchill chăm chú lắng nghe ông. Stalin mới trải qua một cơn đau tim nhẹ nên đến hội nghị muộn một ngày.

        Sau khi Thủ tướng Anh ra về, Truman đã đi thăm đống đổ nát ở Berlin, một thành phố đã hoàn toàn thành đống gạch vụn. Ông cho rằng đây là “Một minh chứng về những gì có thể xảy ra khi một con người cố làm điều gì đó vượt quá tầm với của mình”. Khi Tổng thống trở lại căn biệt thự, Bộ trưởng Chiến tranh Stimson đang đợi ông để đưa cho ông một bức điện tín từ Lầu Năm Góc. Bức điện viết bằng mật mã có nội dung: “Đã được tiến hành sáng nay. Chưa chẩn đoán xong nhưng kết quả dường như đã vượt quá sự mong đợi. Báo chí địa phương đã đưa những tin cần thiết vì nhiều người rất quan tâm. Tiến sĩ Groves hài lòng. Ông trở lại vào ngày mai. Tôi sẽ tiếp tục thông báo tin mới nhất cho ông”.

        Truman trả lời, “Tôi xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt đến tiến sĩ và cố vấn của ông”.

        Bốn ngày sau, ông nhận được bản báo cáo từ giám đốc Dự án Manhattan, tướng Groves. Vụ thử bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới đã được thực hiện trước bình minh vào ngày 16-7 ở Alamogordo, New Mexico, một trong những địa điểm sa mạc hẻo lánh nhất. Những tia sáng đã làm bừng sáng nơi heo hút không có dấu chân người. Có hơn 400 người đứng cách đó khoảng hơn 30km. Lúc 5g25 sáng, những người quan sát đã phải úp mặt xuống hầm. Groves đứng gần J. Robert Oppenheimer, giám đốc khoa học của dự án.

        Mười giây từ vụ nổ như dự kiến, một ngọn lửa xanh bắn lên. Năm giây sau đó, thêm một ngọn lửa bùng lên. 5g30 trong đầu của Oppenheimer vang lên từng từ: “Tôi đã trở thành thần chết, kẻ hủy diệt thế giới”, khi ông chứng kiến vụ nổ bom nguyên tử lần đầu tiên trong lịch sử.

        Báo New York Times mô tả cảnh tượng này sau đó: “Một thứ ánh sáng không phải của thế giới này, ánh sáng của nhiều mặt trời tụ thành một” đã tỏa lên các ngọn đồi xung quanh.

        Đó là một bình minh mà thế giới này chưa bao giờ nhìn thấy, một siêu mặt trời sáng xanh vĩ đại đã bùng lên cao gần 2.500m trong một phần nhỏ của tích tắc, vươn lên cao mãi cho đến khi chạm những đám mây, thắp sáng cả trái đất, cả bầu trời và tất cả mọi thứ xung quanh với độ sáng lóa mắt. Khi nó đang bùng lèn, một quả cầu lửa khổng lồ có đường kính khoảng l,5km bốc lên và liến tục thay đổi màu từ màu tím sang màu cam. Rồi nó bùng ra to hơn nữa, bốc lên cao nữa. Một sức mạnh mãnh liệt giải phóng mọi dây trói sau khi đã bị bó buộc hàng tỷ năm trời.

        Chỉ trong chốc lát, quả cầu lửa đã chuyển sang màu xanh bí hiểm giống như màu xanh ở quầng hào quang mặt trời lúc nhật thực toàn phần. Nó giống như trái đất đã mở toang và bầu trời bị nứt ra. Người ta cảm thấy như thể đang được vinh dự chứng kiến sự khai sinh thế giới vào thời điểm nó lùnh thành khi Thiên Chúa nói: “Ánh sáng hãy hiện ra ở đó!”.


        Sau đó, nhiều người còn tranh luận rằng, những gi họ chứng kiến là những biểu hiện đầu tiên của ngày tận thế. Vụ nổ đã sản sinh ra nhiệt lượng 100 triệu độ Fahrenheit, nóng gấp ba lần nhiệt độ ở trung tâm mặt trời và gấp 10 ngàn lần nhiệt độ bề mặt của mặt trời. Ánh sáng đó còn sáng hơn cả một ngàn mặt trời. Tất cả sự sống trong vòng l,5km của trung tâm vụ nổ đều bị hủy hoại. Mặt đất ở nơi đó trở thành một tấm đĩa nóng trắng bạch có đường kính 500m.

        Tất cả vật liệu làm giàn giáo chống đỡ quả bom đã bốc hơi. Các đám mây hạt nhân cuồn cuộn bốc lên 12.000m vào không trung. 30 giây sau vụ nổ, một cơn gió có sức mạnh như cơn băo xé toạc lều trại của người quan sát và tiếp sau đó là một tiếng ầm đinh tai. Khi bầu không khí yên tĩnh trở lại, các nhà khoa học chạy ra khỏi boongke trú ẩn, nhảy múa reo hò sung sướng.

        Khi Stimson đọc xong bản báo cáo cho Truman, vị Tổng thống cười khoái trá. Sau đó, ông nói là mình có “Cảm giác tự tin hoàn toàn mới”. Ngày hôm sau, người ta báo cáo cho ông biết quả bom đã sẵn sàng đưa vào sử dụng vào đầu tháng 8. Truman vui mừng và yên tâm sau những ngày bồn chồn vì nghe “Những cuộc tranh luận bất tận về những vấn đề không thể dàn xếp giữa Churchill và Stalin”. Stimson cũng cho Thủ tướng Anh xem bản báo cáo này và nói với ông rằng, Stalin sẽ được thông báo về sự tồn tại của quả bom nhưng không cho biết chi tiết.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:32:11 am
       
        Cũng vào ngày hôm đó, Churchill và Truman gặp nhau. Nhà lãnh đạo nước Anh nói với Tổng thống Mỹ rằng theo quan điểm của ông, quả bom là “Phép màu giải thoát”. Ông ta nêu ra 4 lý do: Nó giúp cho việc chiếm Nhật Bản không cần thiết nữa. Nó có thể giúp kết thúc chiến tranh bằng “Một hoặc hai cú sốc dữ dội”. Nó cũng có thể cứu vãn danh dự người Nhật, và giúp Mỹ không cần phải nhờ Stalin giúp đỡ để đánh bại Nhật Bản.

        Quan điểm của Churchill đã bổ sung cho quan điểm của Truman. Điều không thể tránh khỏi có thể dừng lại ngay bây giờ, nếu lương tri của chính phủ Nhật Bản xuất hiện.

        Chỉ có Winston Churchill với sự thông minh đặc trưng mới có thể đưa ra một lời nhận xét thích hợp và sắc sảo về quả bom. Khi Stimson đưa cho ông bản báo cáo về vụ thử nghiệm, vị Thủ tướng Anh thoáng chút e sợ trước lúc bầu cử mà ông tin mình sẽ giành thắng lợi (nhưng ông đã không thắng). Ông đã đọc bản báo cáo một cách buồn bã. “Stimson, thuốc súng là gì? Tầm thường. Điện là gì? Vô nghĩa. Quả bom nguyên tử này là sự trở lại của Chúa Jesus trong cơn phẫn nộ”.

        Thực ra, Churchill biết nhiều về dự án này vì các nhà khoa học Anh cũng có một đóng góp quan trọng trong đó. Tuy nhiên, lời nhận xét của ông cho dù được chuẩn bị cũng đã nói lên được một loạt sự thật. Sau đó, lời nhận xét thứ hai của Churchill tóm lược những gì ông đã đồng ý tại Potsdam về quả bom. Thủ tướng Anh khẳng định rằng, trong khi quyết định cuối cùng chủ yếu năm trong tay của Tổng thống mới của nước Mỹ Harry s. Truman, ông hoàn toàn ủng hộ diều này. “Những tàn tích sự thật lịch sử sẽ được đánh giá về sau này rằng, quyết định sử dụng hay không sử dụng bom nguyên tử để buộc Nhật Bản đầu hàng không bao giờ là một vấn đề. Đó là một thỏa thuận đồng lòng, tất yếu và không nghi ngờ”. Ngày 27-6-1945, Nhật Bản được cho cơ hội cuối cùng. Nhân danh Tổng thống Truman, chính phủ Trung Quốc và Anh, tuyên bố Potsdam được đưa ra. Các điểm chính của tuyên bố này, trước hết là một sự đe dọa:

       Kết quả của sự kháng cự vô ích, vô nghĩa của Đức đối với sức mạnh đã được nhận thức bởi nhân dân tự do của thế giới là một ví dụ cho người Nhật. Bây giờ sức mạnh đó đang hội tụ về Nhật Bản và mạnh hơn nhiều so với sức mạnh chống lại Đức Quốc xã (đã tàn phá đất đai, ngành công nghiệp và cuộc sống của toàn bộ người dân Đức). Sử dụng toàn bộ sức mạnh quân sự của chúng tôi với quyết tâm cao có nghĩa là việc quăn đội Nhật Bản sẽ bị hủy diệt hoàn toàn là không thể tránh khỏi, cũng như sự tàn phả hoàn toàn không thể tránh khỏi đối với Nhật Bản.

        Thứ hai, tuyên bố này là một lời đề nghị:

        Đây là lúc cho Nhật Bản quyết định tiếp tục chịu sự kiểm soát của những nhà cố vấn quản sự cứng đầu, mà những tính toán ngu ngốc của họ đã đưa Đế chế Nhật Bản đến ngưỡng cửa của sự hủy diệt, hay là Nhật Bản sẽ đi theo con đường có lý trí.

        Các điều kiện được đưa ra:

        Sau đây là các điều kiện của chúng tôi. Chúng tôi sẽ giữ vững các điều kiện này. Không có sự lựa chọn nào khác. Chúng tôi sẽ không chấp nhận sự trì hoãn hào nữa.

        Phải xóa bỏ toàn bộ quyền lực và ảnh hưởng của những người lừa dối và dẫn người dân Nhật Bản lầm lạc vào một cuộc xâm chiếm thế giới vì chúng tôi nhất quyết tin rằng, không thể có một trật tự mới về hòa bình, an ninh và công lý cho đến khi chủ nghĩa quân phiệt vô trách nhiệm bị xua đuổi khỏi thế giới này.

        Cho đến khi trật tự mới đó được thành lập và cho đến khi có bằng chứng thuyết phục cho thấy quyền lực tạo ra chiến tranh của Nhật Bản bị hủy diệt, quân Đồng minh sẽ chiếm đóng các nơi trên lãnh thổ Nhật Bản theo chỉ định để bảo đảm đạt được những mục tiêu cơ bản mà chúng tôi đặt ra ở đây.

        Chúng tôi không có ý định bắt người Nhật làm một chủng tộc nô lệ hoặc bị hủy diệt quốc gia Nhật Bản, nhưng muốn công lý nghiêm khắc đối với tất cả tội phạm chiến tranh, gồm cả những người đã gieo rắc sự tàn bạo đối với tù binh của chúng tôi. Chính phủ Nhật Bản phải tháo dỡ tất cả những trở lực đang chặn đứng sự hồi sinh và củng cố các xu hướng dân chủ của người dân Nhật Bản. Tự do ngôn luận, tôn giáo và tư tưởng củng như tôn trọng các quyền ca bản của con người phải được thiết lập.

        Lực lượng chiếm đóng của quân Đồng minh sẽ rút khỏi Nhật Bản chừng nào mà các mục tiêu này được hoàn thành và một chính phủ có trách nhiệm, có xu hướng hòa bình đã được thiết lập theo ý chí tự do của người dân Nhật Bản.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:33:27 am
   
        Để xúc tiến các mục tiêu này, tuyên bố đã kêu gọi các lực lượng vũ trang của Nhật Bản phải ngay lập tức đầu hàng: “Nhật Bản phải chọn lựa đầu hàng ngay lập tức hoặc bị hủy diệt hoàn toàn”. Bản tuyền bố phản ảnh một số đấu tranh nội bộ giữa cựu Bộ trưởng Chiến tranh Stimson (đang cảm thấy là quan điểm của ông bị phớt lờ) và vị Bộ trưởng Chiến tranh mới James F. Bymes, một người môi giới quyền lực của đảng Dân chủ có ít kinh nghiệm ngoại giao.

        Tài liệu này có những chỗ sơ hở chết người. Bản tuyên bố không dề cập đến điều kiện thiết yếu để Nhật Bản đầu hàng: “Duy trì hệ thống Hoàng đế. Stimson thích điều kiện này nhưng Byrnes chống đối vì muốn chiều theo công luận người Mỹ. Theo cuộc thăm dò của Viện Gallup, 2/3 người Mỹ muốn bắt giữ Hirohito hoặc xử tử ông. Stimson cùng phụ tá của ông, đại sứ Averell Harriman và Ngoại trưởng mới của Công đảng nước Anh Ernest Bevin, tất cả đều tin rằng, Hoàng đế là nơi mà thông qua đó có thể kiểm soát hiệu quả Nhật Bản”.

        Truman suy nghĩ đơn giản hơn. Tại một bữa tiệc trên tàu trên hành trình trở về, ông rất vui về vụ thử nghiệm bom nguyên tử. Ông nói rằng, nước Mỹ đã “Phát triển một loại vũ khí mới mang tính cách mạng mà với sức mạnh và đặc tính của nó, chúng ta không cần người Nga hay bất cứ quốc gia nào khác nữa”.

        Quả bom là một xung lượng không thể ngăn cản. Tuy nhiên, đối với những người Nhật không nhân nhượng, không nhắc đến Hoàng đế trong bản tuyên bố ám chỉ rằng, quyền lực của ông đã bị xóa bỏ mặc dù những người nhậy cảm hơn có thể nhận thức rằng, việc đề cập đến “Tự do bày tỏ nguyện vọng của người Nhật” là một dấu hiệu cho thấy Hirohito có thể được tiếp tục giữ ngôi vị Hoàng đế.

        Điểm sơ hở thứ hai là thái độ phớt lờ đối với Liên Xô. Người Mỹ có thể chứng kiến thất bại của Nhật Bản mà không cần nhờ Nga mở một mặt trận thứ hai để tấn công Nhật Bản từ phía Bắc. Tuy nhiên, Mỹ cũng đã âm thầm khuyến khích Nga chuẩn bị phương án can thiệp có thể xảy га trong trường hợp phương án ném bom nguyên tử chưa sẵn sàng. Nga có thể bực bội và nghi ngờ với cách hành xử của Mỹ, có thể Stalin xứng đáng bị như vậy vì thái độ bề trên của ông ở hội nghị Yalta.

        Cuối cùng, Bản tuyên bố đã không đề cập đến quả bom nguyên tử. Một phần là do người Mỹ quá lo nghĩ về an ninh. Một phần nữa, Mỹ cũng lo sợ quả bom không hoạt động. Mỹ cũng lo ngại rằng, Nhật Bản sẽ không tin nếu như họ cảnh báo về bom nguyên tử. Tuy nhiên, tình báo Nhật Bản đã lờ mờ nhận biết rằng, người Mỹ đang nghiên cứu về một loại bom. Trong khi Nhật Bản công khai bác bỏ sự tồn tại loại bom này, nhưng trong thâm tâm họ cũng lo nghĩ về nó. Cụm từ “Hủy diệt hoàn toàn và ngay lập tức” là một cụm từ lờ mờ, không ám chỉ được sự tồn tại của quả bom mà chỉ ám chỉ đến việc ném bom tập trung Tokyo và các thành phố khác.

        Vì vậy, Tổng thống Truman đã phạm những sai lầm mà đã tạo ra thảm kịch sau đó. Tuy vậy, tất cả chỉ trích phải đổ cho Nhật Bản. Họ đã bỏ lỡ cơ hội. Khi Bản tuyên bố đến Tokyo, Ngoại trưởng Shigenori Togo đã ngay lập tức trao nó cho Hoàng đế.

        Hirohito đọc bản Tuyên bố chậm rãi và đưa ra nhiều câu hỏi. Togo đồng ý với Hoàng đế về một số điểm mà Bản tuyên bố đưa ra đã có xuống nước so với đề nghị phải “Đầu hàng vô điều kiện” như yêu cầu trong Tuyên bố Cairo của Tổng thống Roosevelt. Hirohito hỏi liệu các điều khoản này có “Phải là hợp lý nhất trong mọi tình huống?” Togo đồng ý các điều kiện này, “Về cơ bản, có thể chấp nhận”. Nếu mọi chuyện kết thúc như thế, hòa bình chắc chắn sẽ đạt được và hai vụ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, Nagasaki đã không xảy ra. Tuy nhiên vào thời điểm đó, Hoàng đế không phải là người có quyền lực quyết định. Nội các đã họp trước đó và Thủ tướng Kantaro Suzuki, một thành viên của nhóm thượng lưu hoàng gia đã quyết định trả lời lập lờ. Có lẽ ông vẫn còn níu kéo hy vọng Liên Xô sẽ giúp Nhật Bản đứng ra đàm phán với Mỹ. Một ngày sau đó tại một cuộc họp báo, Suzuki nói, chính phủ Nhật Bản sẽ mokusatsu tuyên bố này (nghĩa là họ sẽ “Bỏ qua nó”, “Im lặng bác bỏ nó”). Suzuki đã trả lời chính thức cho một câu hỏi của một nhà báo và đọc câu trả lời từ một giấy đã chuẩn bị sẵn. Ông đã dại dột tuyên bố bản án tử cho Hiroshima và Nagasaki.

        Stimson ở Postdam đã đưa ra câu trả lời của quân Đồng minh: “Trước sự bác bỏ này, chúng ta chỉ có thể tiến lên để chứng tỏ đây là bản tối hậu thư chính xác như những gì nó đã nói. Để hoàn thành mục tiêu này, bom nguyên tử là một vũ khí cực kỳ thích hợp”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:45:23 am

        Vào sáng sớm ngày 6-8-1945, thiếu úy Morris Jeppson của Không lực Mỹ bước dọc theo lối đi hẹp trong chiếc máy bay ném bom B-29 đang bay ở độ cao 2.750m và tốc độ 330km/g. Ông đang ở trong khoang chứa bom của máy bay. Khoang này đang trống để dành chỗ chứa cho một khối kim loại lớn. Lúc đó trời dễ chịu, nhiệt độ là 8 độ c (66 độ F). Jeppson với tay đến vỏ bom và cẩn thận tháo ba nút an toàn màu xanh và thay bằng ba nút màu đỏ. Không có vướng mắc nào cả. Quả bom nguyên tử đầu tiên của thế giới được sử dụng trong chiến tranh đã sẵn sàng.

        Anh ta quay trở lại và báo cáo cho Đại úy William Parsons, viên sĩ quan hải quân, một trong những người hoạch định có tầm ảnh hưởng nhất của Dự án Manhattan. Parsons thấy nhẹ nhõm rất nhiều. Việc thay thế nút an toàn đã hoàn thành công việc miệt mài của ông suốt cả đêm. Chưa đầy 4 giờ trước đó, ông cùng với Jeppson cầm đèn pin xuống khoang chứa bom của máy bay. Parsons đã chèn một khối thuốc súng chất lượng cao được nối với một kíp nổ băng điện vào trong bộ phận khóa nòng đằng sau “Viên đạn”, là một khối chứa uranium hình trụ có hình dạng giống như hộp xúp dài khoảng 15cm.

        Kíp nổ đã được gài chương trình để kích nổ thuốc súng và sẽ đẩy viên đạn xuống một nòng súng cỡ 130cm với tốc độ 275m/giây vào trung tâm khối uranium và một thiết bị làm bằng plutonium-239 bắt đầu tỏa ra các nơtron và kích một phản ứng dây chuyền. Sau 2 phút chuẩn bị, Parsons đã sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi sự khéo léo cao độ. Anh phải tập hợp bốn phần chất nổ với nhau sau đó nối chúng với kíp nổ. Anh thắt chặt đĩa khóa nòng phía trước và phía sau. Các nút an toàn vẫn đang ở màu xanh nhăm bảo đảm là quả bom không thể bị nổ do một sự cố điện.

        Đến lượt Parsons thông báo cho chỉ huy sứ mệnh và phi công của máy bay Enola Gay, Đại tá Paul w. Tibbets. Đại tá Paul w. Tibbets đang nhìn chằm chằm vào bầu trời sáng sớm với dải màu xanh bất tận của Thái Bình Dương. Mặt trời đã ló lên hai tiếng trước và đang tỏa ra ánh sáng hồng. Tibbets chính là người chịu trách nhiệm sau cùng về thành công hoặc thất bại trong sứ mệnh quan trọng nhất của máy bay Mỹ từ trước đến nay.

        Hai giờ trước đây, Tibbets đã đi vòng quanh máy bay kiểm tra và giao quyền kiểm soát cho người phi công đồng hành, đại úy Robert Lewis. Chỉ huy sứ mệnh đã gặp trung sĩ phụ trách kỹ thuật George (Bob) Caron, một người bạn cũ mà ông quen từ những ngày tham dự chương trình huấn luyện máy bay B-29. Sau gần một năm huấn luyện tích cực về dự án này, lần đầu tiên, Tibbets trực tiếp đề cập đến nội dung của sứ mệnh này. ông hỏi Caron liệu ông có hình dung được những gì đang xảy ra. “Thưa Đại tá, tôi không muốn bị gí vào tường và bị bắn”, Caron trả lời với vẻ mỉa mai.

        “Bob, chúng ta đang trên cùng một con đường. Ông có thể nói chuyện”.

        Caron hỏi lại rằng, liệu có phải họ đang chở “Một siêu chất nổ mới... cơn ác mộng đến từ một nhà hóa học”.

        Tibbets lắc đầu. Caron chất vấn rằng, liệu đó có phải một “Cơn ác mộng đến từ nhà vật lý”.

        “Đúng”. Tibbets trả lời anh.

        “Chúng ta đang di rải bom nguyên tử?”, Caron hỏi khi nhớ một bài viết trên một tạp chí khoa học nổi tiếng mà ông từng đọc. Tibbets không nói gì.

        Giờ đây, quả bom đã được đặt trong trạng thái hoàn toàn sẵn sàng. Ông bật hệ thống liên lạc và nói với phi hành đoàn đồng thời trả lời cho câu hỏi của Caron: “Chúng ta đang chở quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới”. Ông ngừng lại một lúc. “Khi quả bom được thả xuống, trung úy Beser (sĩ quan phụ trách thu thanh) sẽ ghi âm lại những phản ứng của chúng ta trước những gì chúng ta thấy. Bản ghi âm này sẽ phục vụ cho lịch sử. Hãy chú ý lời ăn tiếng nói của các bạn và đừng làm ồn hệ thống liên lạc”. “Bob, anh nói đúng. Chúng ta đi rải bom nguyên tử. Bây giờ hãy trở lại tháp pháo của anh. Chúng ta chuẩn bị bay lên cao”.

        Mấy phút sau, lúc 7 giờ kém 20 phút, máy bay chở bom nguyên tử Enola Gay (đặt theo tên của mẹ Tibbets) bắt đầu bay lên độ cao ném bom là 9.000m.

        Trước đó giây lát, Trung úy Jacob Beser đã tê cứng người khi anh thấy các tín hiệu cảnh báo ban đầu của Nhật Bản trên radar. Cảnh báo một lần, hai lần và sau đó là liên tục. Beser đã gây ra lo lắng không cần thiết khi thông báo điều này cho phi hành đoàn và cả cơ trưởng. Nhưng không có chuyện gì xảy ra cả.

        Vào lúc này, Tibbets cũng chưa xác định chắc chắn về mục tiêu tấn công của họ. Có thể một trong ba thành phố: Hiroshima, Kokura, hoặc Nagasaki.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:46:25 am

        Gần đây vào ngày 12-5, danh sách trên dài thêm với hai mục tiêu nữa là thành phố Yokohama và Kyoto, trong khi đó Nagasaki bị loại trừ. Vào ngày 2-8-1945, tướng Curtis Lemay, Tham mưu trưởng lực lượng không quân chiến lược không tán thành mục tiêu Kyoto. “Đó không phải là mục tiêu quân sự, chỉ có nhiều đền thờ và nhiều thứ đại loại như vậy. Dù sao, chọc giận người dân chẳng được gì cả”.

        Phá hủy Hoàng thành thiêng liêng của Nhật Bản sẽ gây ra một mối thù truyền kiếp cho các thế hệ sau này. Lemay nói với Tibbets rằng, vì phần lớn của quân lính và vũ khí Nhật Bản tập trung ở Hiroshima nên mục tiêu chính là Hiroshima. Tibbets nhẹ nhõm và nói với Lemay là ông cũng thích mục tiêu này hơn cả. Ngày hôm sau, danh sách đã được chốt lại. Mục tiêu chính: Hiroshima, mục tiêu thứ hai Kokura và mục tiêu thứ ba Nagasaki. Vấn đề quyết định mục tiêu nào để. thả bom phụ thuộc vào điều kiện thời tiết ở nơi nào thuận lợi hơn.

        Đại úy Claude Eatherly, một người Texas nói nhiều, đẹp trai chịu trách nhiệm lái chiếc máy bay Straight Flush để do thám kiểm tra điều kiện thời tiết ở Hiroshima. Máy bay đã lên đến điểm đầu tiên của độ cao cắt bom 9.000m và đang bay với tốc độ 380km/g. Không có gì ngoài đám mây dày đặc. Sau đó, một khoảng trống khổng lồ rộng khoảng 16km xuất hiện trên thành phô Hiroshima. Máy bay do thám đang bay qua Kokura và Nagasaki, báo cáo thời tiết cũng thuận lợi. Straight Flush đã gửi một điện tín mật mã đến cho Tibbets: Thời tiết cho phép chọn mục tiêu đầu tiên Hiroshima.

        Khi đang được lệnh quay về căn cứ ở Tinian Atoll, Eatherly hỏi phi hành đoàn răng họ có muốn chờ Enola Gay đến “Rồi theo trở lại để thấy những gì xảy ra khi quả bom nổ” hay không. Phi hành đoàn đã tranh luận sôi nổi về vấn đề này. Eatherly chợt nhớ nếu họ không quay trở lại Tinian vào lúc 2 giờ đúng, họ sẽ bỏ lỡ ván bài xì phé vào buổi chiều. Kỹ sư chuyến bay nói với chỉ huy rằng, họ có thể không đủ nhiên liệu để chờ và buộc phải hạ cánh xuống Iwo Jima. Dù sao, thấy bom rơi thì có gì hay? “Chúng ta sẽ thấy gì?” Eatherly hỏi. Vì không muốn để lỡ ván bài xì phé, phi hành đoàn của máy bay do thám quyết định không xem cảnh thả bom nguyên tử đầu tiên xuống mục tiêu thật.

        Enola Gay đã đạt đến độ cao 9.000m nơi máy bay Straight Flush đã bay qua. Lúc này Tibbets đang lái. Ông biết rằng, họ chỉ có 3 phút để nhắm mục tiêu. Phần việc dễ dàng của họ là tránh hỏa lực phòng không của Nhật Bản, tìm kiếm mục tiêu và thả bom. Nhưng làm thế nào để sống sót sau khi thả bom là một việc khó. Không ai có thể tiên đoán được cú sốc sau khi thả “Thăng Nhỏ” ở độ cao 9.000m dữ dội như thế nào. Trong máy bay, chỉ một mình Tibbets biết được chuyện này vì ông đã từng trao đổi với Oppenheimer, cha đẻ của quả bom cách đây gần một năm. Nhà khoa học này nói với ông: “Đại tá ạ, vấn đề lớn nhất mà ông có thể gặp phải là sau khi quả bom được thả. Các cơn sốc từ vụ nổ có thể làm tiêu tan máy bay của ông. Tôi không dám bảo đảm ông sẽ sống sót”.

        Tibbets đã tập luyện rất nhiều lần cú quay máy bay cần thiết để có thể thoát chạy nhanh. Sau một phút trôi qua, Tibbets ra lệnh “Mang kính vào”. Chín thành viên trong số 12 thành viên phi hành đoàn mang những chiếc kính Polaroid dày cộp để bảo vệ mắt họ khỏi ánh sáng của bom nguyên tử. Tibbets, thiếu tá Thomas Ferebee, chỉ huy cắt bom, và Jacob Beser, sĩ quan thu thanh không mang kính để làm nhiệm vụ. Họ đang bay qua Hiroshima.

        Người sắp bom tập trung ngắm xuống mục tiêu cây cầu Aioi. “Tôi đã thấy rồi”, người cắt bom nói và bật nút khởi động bộ tự động để thả “Thằng Nhỏ”.

        Bây giờ không thể dừng quả bom lại được nữa. Lúc 8 giờ 15 phút 7 giây, cánh cửa khoang chứa bom mở ra và quả bom đã rời khỏi móc giữ. Máy bay nhấc bổng lên thêm 3m sau khi trút được quả bom 9.000 pound. Ferebee la lớn: “Thả bom” và nhìn nó rơi. Tibbets ngoặt Enola Gay sang tay phải như ông đã nhiều lần thực tập. Phi hành đoàn giữ vịn chặt ghế vì máy bay chuyển động dữ dội. 40 giây sau đó vào lúc khoảng 8 giờ 16 phút, “Thăng Nhỏ” đã nổ trên mặt đất, cách mục tiêu là chiếc cầu 250m, ngay trên một bệnh viện.

        Ngay đúng lúc tiếng nổ đầu tiên, một quả cầu lửa kích cỡ 25m hình thành quanh một điểm trung tâm có sức nóng hàng triệu độ. Đang ở tháp pháo đuôi máy bay, Bob Caron chớp mắt rồi mở mắt ra để “Nhìn rõ địa ngục” như lời anh ta nói. Anh quan sát thấy một đám không khí cô đặc khổng lồ đang tỏa ra và phun lên nhanh như tốc độ âm thanh và vươn về phía máy bay.

        Nó giống như “Chiếc nhẫn bao bọc của một hành tinh xa xôi nào đó đang bị nới lỏng ra và hướng đến chúng ta”. Khối không khí va chạm vào máy bay gây ra một tiếng nổ lớn mà Tibbets ngỡ là máy bay bị dính hỏa lực pháo binh phòng không của Nhật Bản. Máy bay chao đảo dữ dội.

        Caron la lên khi anh thấy một đám không khí quay tròn nữa đang hướng nhanh đến máy bay. “Có thêm một khối không khí nữa đang đến!” Máy bay lại chao đảo mạnh một lần nữa.

        Tibbets đang cố hết sức điều khiển máy bay. Ông đã trấn tĩnh và biết chuyện gì xảy ra. “Đó là một dư chấn bức xạ, dội từ mặt đất”, ông nói với phi hành đoàn. “Không còn dư chấn nào nữa đâu”. Máy bay đã yên ổn và Tibbets nhận ra rằng họ đã sống sót qua các lực chạm mà các nhà khoa học không thể bảo đảm là nó có phá hủy chiếc máy bay hay không.

        Caron mô tả cảnh tượng hãi hùng từ tháp pháo đằng sau máy bay khi máy bay bay đi. Anh thấy:

        Một cột khói đang bốc lèn nhanh. Ở giữa cột khói là màu đỏ rực. Một khối màu tím sẫm nằm ở bèn trong lõi đỏ đó. Tỉnh hình rất hỗn loạn. Lửa bùng cháy khắp mọi nơi giống như những đốm lửa bẳn ra từ đống than đỏ rực khổng lồ. Tôi bắt đầu đếm các đám cháy. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu... mười bốn, mười lăm... Không đếm xuể. Có quá nhiều đám cháy nên không đếm hết được. Đây rồi. Hình dạng quả nấm mà Đại úy Parsons đã nói trước đó. Nó giống như khối chất đặc đường mật dang sôi sùng sục. Cây nấm đang trải rộng ra. Có thể rộng một hay hai cây số và cao khoảng gần một cây số. Nó vươn cao lên, cao lên. Có lẽ nó cao ngang với chúng ta và đang vươn cao nữa. Nó đen thui nhưng có một màu tía đỏ khi chạm đến đám mây. Dưới chân nấm là thành phố. Các ngọn lửa và khói vẫn đang dâng lèn cuồn cuộn và lao nhanh vào các ngọn đồi thấp. Các ngọn đồi biến mất dưới các lăn khói này. Bây giờ, tất cả những gì tôi có thể thấy ở thành phố là sân bay. Có các máy bay đang đậu ở dưới đó.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:47:18 am
         
Chương 26

KHI TIẾNG HÁT VỤT TẮT

        Vào buổi sáng đẹp trời ngày 6-8-1945, cậu bé Yoshitaka Kawamoto 13 tuổi, mặc bộ đồng phục nhà trường màu đen tươm tất, đội chiếc mũ dẹt và bộ áo gài nút kín đến cổ áo theo kiểu Phổ. Cậu bé là đứa trẻ vui vẻ, nhạy cảm và hơi thẹn thùng, có chiều cao trung bình. Cha chết sớm nên cậu là cục cưng của mẹ. Bà hiểu rằng, phải được tuân thủ tiêu chuẩn đồng phục hoàn hảo và diện mạo bề ngoài theo quy định kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường. Tóc của cậu bé hớt húi cua sát trông gần như hói, gương mặt được rửa sạch, còn giày của cậu thì đen nhánh.

        Khi Yoshitaka hôn tạm biệt mẹ và chạy vụt ra khỏi căn nhà gỗ thấp, niềm tự hào của bà Kawamoto mới lắng xuống như bất kỳ bà mẹ nào vào thế hệ của bà. Bà buồn khi cậu bé đi học, mặc dù như vậy mới có thể rảnh tay làm các công việc vặt khác. Bà cũng lo lắng và mong không có điều gì xảy ra với con trên đoạn dường dài đến trường, nhưng bây giờ Yoshitaka đã lớn và không còn là dứa trẻ ngu ngốc. Bà cũng lo sợ về tương lai con mình. Khi đến 15 tuổi, mọi thiếu niên phải đi làm việc trong các nhà máy sản xuất đạn ở các vùng ngoại ô thành phố. Hai năm sau đó, chúng sẽ đủ tuổi đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, người ta đang đồn đại chiến tranh sắp kết thúc. Chắc chắn nó không thể tiếp tục kéo dài thêm 4 năm nữa? Vào một buổi sáng ấm áp của ngày tháng 8 thanh bình này, bà không thể không nghĩ ngợi về hòa bình. Một lần vào đêm hôm trước, bà đã nghe âm thanh tiếng còi báo động có máy bay ném bom từ Hiroshima, nhưng gia đình bà sống xa trung tâm nên không cần phải trú ẩn dưới hầm. Hai giờ sau đó, tín hiệu cho biết mối nguy hiểm đã qua.

        Dù sao, Hiroshima cũng chưa bao giờ bị đánh bom.

        Học sinh chia thành hai nhóm. Các học sinh số lẻ tham gia các đội đào hào làm vành đai phòng hỏa còn học sinh số chẵn thì đi vào trường. Có 49 học sinh trong lớp học của Yoshitaka trong một căn phòng dài, thấp và chỉ có độc nhất một cửa sổ. Bàn giáo viên và bảng đen nằm ở phía cuối phòng. Cậu ngồi vào bàn gần bàn giáo viên cho đến khi nghe thầy giáo bảo ngồi gần một học sinh lớn tuổi hơn, người đang phụ trách lớp học. Cậu lớp trưởng này là một người đáng ghét vì quá nghiêm khắc. Cậu ta đã đánh hầu hết mọi học sinh trong lớp trong cơn tức giận xảy ra ít nhất một lần mỗi ngày. Cậu ta chờ các học sinh khác phạm lỗi hoặc bày tỏ thái độ vô lễ nhỏ nhặt không thể tránh khỏi để ra tay.

        Cậu ta ra lệnh các học sinh phải bày tỏ lòng tôn kính Thầm đạo trước mỗi tiết học mỗi ngày. Yoshitaka nhắm mắt cùng với các bạn cùng lớp để cầu nguyện nhưng tự hỏi diều gì đã xảy ra với cái máy bay do thám bay qua đầu họ lúc nãy.

        Cậu nghĩ rằng, cậu đã nghe một tiếng ồn, tiếng kêu rền lên xuống của một chiếc máy bay. Cậu cảm thấy căng thẳng. Cậu đã nghe lớp trưởng bảo rằng, phải nhắm mắt cho đến khi cậu ta quay lại và nghe tiếng ghế xô khi lớp trưởng đứng dậy đi khỏi phòng học. Chắc chắn, lớp trưởng đi đến phòng rửa mặt. Bàn của Yoshitaka nằm ngay ở giữa lớp học. Cửa sổ nằm ở phía trước. Cậu mở mắt mặc dù bị cấm. Nếu lớp trưởng quay lại, hắn có thể phát hiện thấy, Yoshitaka chắc chắn sẽ bị đánh thậm tệ. Một người bạn ngồi gần cửa sổ khẽ gọi cậu cho biết vừa thấy một chiếc B-29. Yoshitaka tò mò nhướng đầu để nhìn ra bầu trời từ cửa sổ. Các học sinh khác cũng nhìn ra. Cậu đứng dậy khỏi ghế để nhìn rõ hơn.

        Khi Yoshitaka Kawamoto bật dậy khỏi bàn để nhìn chiếc máy bay B-29, các bạn của cậu vẫn đang nhắm mắt cầu nguyện vì sợ tên lớp trưởng thô bạo có thể quay trở về bất cứ lúc nào. Một lát sau, nhìn ra ngoài cửa sổ, Yoshitaka thấy một ánh sáng rực màu xanh. Cậu chỉ nhớ thấy như vậy trong hai hoặc ba giây. Sau đó, Yoshitaka không còn nghe gì nữa. Sức ép của quả bom đã ném cậu xuống sàn. Khi tỉnh dậy, Yoshitaka không thể thấy gì cả. Cậu thấy đau và cảm giác có gì đó rất nặng đè lên người khiến cậu không nhấc mình lên được. Cậu bắt đầu nhận thấy âm thanh tiếng hát của những người bạn bị thương. Cậu cũng hát theo. Họ bị cấm la những từ như “Giúp tôi” hay “Cứu tôi” trong tình trạng khẩn cấp nên phải hát bài hát của nhà trường. Họ muốn đánh động cho những người bên ngoài tòa nhà sập biết rằng, họ vẫn còn sống. Yoshitaka nghĩ rằng, chắc đã xảy ra một vụ nổ khí gas.

        Giọng hát từng người một lần lượt ngưng lại. Không khí càng trở nên tĩnh mịch cho đến khi chỉ còn một giọng hát. “Khi tôi nhận ra rằng, tôi là người duy nhất hát bài hát của trường học, bạn không biết tôi sợ như thế nào đâu”. (Anh nói với tôi, tác giả cuốn sách này).


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:52:55 am

        Khói dường như dang từ từ luồn vào khoảng trống chật hẹp nơi cậu đang bị kẹt trong đống đổ nát của nhà trường. Lúc này, Yoshitaka cảm thấy tê cứng người. Cậu biết rằng, tòa nhà đã bị san bằng và bản thân cậu đang trong nguy hiểm. Lấy hết sức bình sinh, cậu cố gắng nhấc mình ra khỏi đống đổ nát và đẩy đống gạch vụn sang một bên. Cậu đã ra được bên ngoài. Khi đứng lên, cậu thấy sự tàn phá khủng khiếp ở xung quanh. Phía trên, có đám mây khổng lồ treo qua bầu trời.

        Giống như các học sinh khác, Yoshitaka đã từng được dạy các bài tập trong tình huống khẩn cấp. Đừng bỏ chạy mà trước hết hãy coi độ nghiêm trọng của các vết thương. Cậu thấy một mảnh gỗ găm ở cánh tay trái của mình khiến máu chảy. Cậu cố gắng cầm máu bằng mảnh garô xé từ chiếc áo sơ mi đang mặc. Răng cửa của cậu cũng đang chảy máu và 4 chiếc đã gãy. Cậu bị rộp khắp toàn thân.

        Cậu nhìn kỹ các căn nhà gỗ bên cạnh và nhận thấy nhiều căn cũng đã bị xô ngã như trường của mình. Lửa đang cháy ở xung quanh và lan nhanh đến các mảnh đổ vỡ gần đó, đốt cháy những cây hạt dẻ. Yoshitaka muốn chạy, nhưng cậu đã được dạy không được chạy một mình mà phải mang ai đó theo. Cậu nhìn xung quanh. Cậu bắt đầu tìm kiếm ở đống đổ nát của ngôi trường để xem có ai còn sống không?

        Ngạy từ đầu, cậu đã tìm thấy người bạn Wada. Sọ của Wada bị nứt toang ra và một con mắt đã lồi ra khỏi hốc mắt. Cậu ta không nói được mặc dù đang cố mấp máy môi. Giống như các học sinh khác, Wada có một miếng thẻ tùy thân màu đen. Wada cố gắng hất căm tới ra hiệu muốn Yoshitaka đưa nó cho mẹ mình. Yoshitaka đã lấy tấm thẻ. Wada vẫy tay yếu ớt và Yoshitaka nghĩ rằng, Wada đang ra hiệu muốn cậu phải rời đây ngay lập tức. Bây giờ các đám cháy đang tiến tới. Yoshitaka không biết phải chạy đi đâu nhưng cậu hướng đến những chỗ xa ngọn lửa. Cậu nhìn lui và thấy một con mắt của Wada vẫn còn nhìn cậu. Cho đến bây giờ Yoshitaka vẫn còn nhớ lại cảnh tượng hãi hùng này.

        Yoshitaka đang chứng kiến cơn ác mộng, một cảnh địa ngục sống động. Các đám cháy đang trải rộng ra xung quanh. Giữa làn khói và khung cảnh bị tàn phá, mọi người đang di dật dờ. Một số bị lột da và máu rỉ ra từ các vết thương trên cánh tay của họ. Xung quanh Yoshitaka là những con người đang lưỡng lự. Họ la to rằng, phải chạy hướng về hướng gió ngay lập tức. Cậu không biết tại sao. Khi bọn trẻ bắt đầu chạy, những người đang quằn quại trên mặt đất chụp lấy chân họ một cách yếu ớt. Yoshitaka phải đá họ sang một bên để tiếp tục chạy. Đột nhiên, cậu thấy ai đó quen quen qua làn khói. Đó là thầy hiệu phó. Ông đang đẩy một chiếc xe bò chất nhiều người bị thương. Cậu chạy theo xe cho đến khi chiếc xe khuất trong làn khói.

        Cổ họng của Yoshitaka dang khô cháy trong bầu nhiệt độ nóng hừng hực. Cậu cần phải uống nước. Cậu tiến đến sông Hiroshima. Cậu phóng xuống dòng nước đang tràn ngập “một đống xác người đang trôi”. Tuy nhiên, cậu đã vượt qua sự kinh tởm, đẩy họ qua một bên để vốc nước uống. Cậu leo lên khỏi sông và đổ vật trên bờ. Cậu đang nằm ở gần một cây cầu cách ngôi trường khoảng 3km.

        Khi tỉnh dậy, cậu thấy những nhóm người còn sống và các nhân viên cứu hộ đang loạng choạng đi trong làn khói và giúp đỡ những người bị thương. Họ đi ngang qua cậu do không để ý cậu. Cậu nhìn những vết thương khủng khiếp của những người còn sống. Da của nhiều người bị rộp lên. Một chiếc xe bò chở người bị thương đi ngang qua cậu. Cậu cố gắng ngồi dậy và kêu cứu nhưng quá yếu. Cậu lại bất tỉnh một lần nữa.

        Cậu tỉnh dậy lúc 7 giờ tối trong một bệnh viện đã chiến, nơi người bị thương nằm xếp hàng la liệt trên sàn nhà. Sau đó, cậu biết rằng các xe tải quân đội đã đến thành phố ngay sau khi cậu bất tỉnh. Một người lính tên là Haijan có nhiệm vụ tìm những người sống từ những người chết thấy mạch của cậu còn dập nên đã đưa cậu lên xe tải chất đầy những cơ thể đang chuyển động. Cảm giác đầu tiên của Yoshitaka Kawamoto là cậu thấy may mắn cực kỳ vì còn sống. Haijan, người đã cứu sống cậu đi ngang qua giường cậu và vỗ nhẹ vào má cậu. Cậu vẫn còn đau buốt và khát cháy. Cổ họng và miệng đều khô khốc. Cuối cùng, một người hộ lý đã xuống chỗ họ. Mọi người xung quanh đang kêu gào đòi nước. Khi người hộ lý đi từ giường này qua giường khác, ông đã gật hoặc lắc đầu để ra hiệu có cho phép bệnh nhân uống nước hay không. Sau đó, Yoshitaka mới hiểu rằng, những người mà các bác sĩ nghĩ rằng, họ sắp chết được phép uống nước. Những người có thể sống thì không được cho nước. Cậu không hiểu tại sao mặc dù nước làm mọi người nôn mửa và làm lả người họ. Một người lính cảm thấy thương cậu nên đi đến một cái thùng đá gần đó, tìm một miếng đá cho cậu mút.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:53:34 am

        Vào lúc 8 giờ, Yoshitaka được khám một lần nữa và được chuyển đi cùng với những nạn nhân bị thương nặng khác đến một hòn đảo không có người sinh sống ở Vịnh Hiroshima. Cậu ngạc nhiên và không hiểu gì cả khi bị mang ra bờ biển đến một thành phô lều trại ảm đạm, đầy người bị thương và đang hấp hối. Cậu nằm đó mấy ngày và yếu dần do chỉ được cấp khẩu phần thức ăn và nước ít ỏi. Xung quanh cậu, hàng ngàn người đã chết. Cậu nghĩ là mình sắp chết. Nhiều tuần sau đó, mẹ cậu đã tìm thấy cậu. Sống cách xa trung tâm vụ nổ, bà đã không hề bị gì và ngay lập tức đi tìm con trai mình. Bà đi khắp các bệnh viện trong nhiều ngày và cuối cùng, bà nghe về những trại trên những hòn đảo ở vịnh và thuê một chiếc thuyền cá đi xem từng đảo một.

        Khi phát hiện ra cậu, bà mang cậu đến một căn nhà ở khu vực đồi nằm ngoài Hiroshima. Cậu thật đáng thương. 10 ngày sau vụ nổ, tóc của cậu đã rụng hết. Mặt và cơ thể cậu đen ngòm trong 3 tháng, máu từ mũi và miệng cứ chảy ra liên tục. Cậu nôn mửa không ngừng.

        Khoảng một năm sau, Yoshitaka nằm bên ngưỡng cửa thần chết. Không có thuốc thang và thực phẩm thì đang thiếu. Mẹ cậu tìm cách cứu chữa con bằng thảo được và cao nấu từ rễ cây. Sau đó, cậu nói rằng tình thương của mẹ chính là một “liều thuốc”. Cậu là người cực kỳ may mắn khi vẫn còn sống mặc dù ở cách trung tâm vụ nổ của bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới chỉ có 800m. Cậu là người duy nhất trong số 40 học sinh lớp cậu còn sống 45 năm sau đó và là một trong 4 người duy nhất sống sót trong số 280 học sinh trường cậu.

        Khoảng 80 ngàn người, 1/4 dân số Hiroshima, trong đó 1/3 là lính đã bị thiệt mạng hoặc bị thương nặng. Bệnh viện nằm dưới vụ nổ đã bị san phẳng và những người trong bệnh viện đã bốc hơi. Hầu hết những người nằm trong bán kính l km đều chết ngay lập tức hoặc vài ngày sau đó. Da của họ bị rách nát và cơ quan nội tạng bị tổn thương nghiêm trọng. Hầu hết những người trong vòng bán kính 2 km đều bị bỏng nặng. Phần lớn những người nằm trong vòng bán kính 3 đến 4 km bị cháy da.

        Nhiệt độ lớn đến nỗi bề mặt đá granit trong vòng l.000 m từ trung tâm vụ nổ cũng tan chảy. Trên bãi đất của Lâu đài Hiroshima, thân thể của hàng ngàn binh lính bị đốt cháy rụi. Nhiều người bị đốt cháy chỉ còn lại dấu in trên mặt đất hoặc trong các căn nhà. Mũ bị đốt cháy trên đầu mọi người và quần áo kimono in dấu trên thân thể họ. Tại trung tâm vụ nổ, sức ép lên đến 35 tấn/l m vuông. Cơn chấn động đi 440m mỗi giây và có đủ sức mạnh để hất chiếc máy bay ở độ cao 9.000m lắc lư như chiếc lá. Khi cột khói vụ nổ dâng lên, nó hút không khí nóng vào trong một cơn gió hạt nhân gầm rú qua thành phố của những căn nhà gỗ. Hầu như mọi căn nhà gỗ trong vòng bán kính 3km đều bị thiêu rụi.

        Bất cứ ai ở trong vòng 870m của vụ nổ đều nhận một liều lượng 700 đơn vị phóng xạ, gấp 1.500 lần mức phóng xạ an toàn. Những người ở xa thêm 90m nữa thì nhận được liều lượng 400 đơn vị phóng xạ, khiến khoảng một nửa trong số họ chết. 3/5 số người chết ở Hiroshima là do bỏng, 1/5 là do các vết thương và 1/5 do phóng xạ. Các nhân viên cứu hộ cũng nhiễm phóng xạ. Một cơn mưa rào kéo dài 2 giờ đã trút xuống một khu vực rộng 30km.

        Nước mưa cũng bị nhiễm độc và đen ngòm. Nhiều người dân bị đau ốm do nhiễm phóng xạ trong vòng 5 tháng sau đó, thường là các triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy, mất ngủ, mê sảng, rụng tóc, chảy máu ngoài và trong, viêm và các căn bệnh về máu hoặc các cơ quan khác không hoạt động. Sẹo lồi bắt đầu phát triển từ một đến 4 tháng sau vụ nổ. Sau năm 1947, bệnh bạch cầu trở nên phổ biến và lên đến đỉnh điểm vào thập niên 1950. Sau năm 1960, khi tác động của bệnh bạch cầu giảm xuống, các căn bệnh ung thư khác của những người may mắn sống sót tăng lên.

        Một năm sau vụ nổ, ước tính 119 ngàn người đã chết, 31 ngàn người bị thương nghiêm trọng và 48 ngàn người bị thương nhẹ, 4 ngàn người mất tích. Khoảng 55 ngàn căn nhà hoàn toàn bị thiêu rụi và 7 ngàn nhà bị phá hủy do vụ nổ. Hơn 4/5 nhà cửa ở trung tâm Hiroshima bị tàn phá thành một sa mạc nguyên tử đầy vết sẹo.

        Quả bom thứ hai cũng có sức tàn phá tương đương. Vào lúc 1 giờ 56 phút sáng ngày 9-8-1945, một chiếc máy bay B-29 khác mang tên Bock’s Car cất cánh từ Tinian Atoll mang một quả bom có chứa plutonium có sức hủy diệt hơn quả bom đã thả ở Hiroshima một chút.

        Phi công máy bay Bock’s Car này là Fred Воск. Nhưng hôm nay, anh bay chiếc máy bay trinh thám ở bên dưới. Thế chỗ của anh trên chiếc Bock’s Car là thiếu tá Chuck Sweeney, người Boston Irishman vui tính và người cắt bom là đại úy Kermit Beahan. Quả bom có biệt danh là Gã béo nhằm vào mục tiêu là thành phố Kokura.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:55:01 am

        Số phận đã loại bỏ thành phố này ra khỏi mục tiêu ném bom. Khi cánh cửa khoang chứa bom mở ra ở độ cao 9.450m, Beahan đã xác định được mục tiêu là kho vũ khí của thành phố. Tuy nhiên, bụi từ các nhà máy công nghiệp và khói từ một ngọn lửa đã che mờ mục tiêu này. “Không thả!” Anh la lớn.

        Họ lượn qua khu vực mục tiêu một lần nữa, và tầm nhìn vẫn bị hạn chế. Hỏa lực phòng không nhả đạn. Máy bay lượn qua mục tiêu lần thứ ba nhưng các máy bay chiến đấu của Nhật Bản đã cất cánh lên bầu trời. Beahan vẫn không thể thấy kho vũ khí ở dưới làn khói bụi. “Không thả!” Anh nói một lần nữa.

        Sweeney quyết định lựa chọn mục tiêu thứ hai: Nagasaki, trung tâm lịch sử đạo Cơ đốc giáo. Sweeney chỉ có đủ nhiên liệu để bay qua thành phố một lần trước khi anh quay trở về đáp xuống Okinawa. Các đám mây trắng choán ngang thành phố Nagasaki nhưng một khoảng trống cho thấy một sân vận động bên dưới.

        Beahan nhắm quả bom vào đó. Gã béo rơi khoảng 40 giây trước khi nổ vào lúc llg20 sáng hôm đó.

        Trung tâm vụ nổ là chi nhánh Urakami của nhà tù Nagasaki. 134 tù nhân và cai ngục ở nơi đây đã bốc hơi khi bom phát nổ. Khoảng 30 ngàn người chết ngay lập tức và tổng cộng sau này có 120 ngàn người chết. Không giống như Hiroshima, chỉ có 16% nạn nhân có tham gia đóng góp cho cuộc chiến tranh của Nhật Bản và trong số này chỉ có 3% là lính. Thực tế, Nagasaki là thành phố công ty của Mitsubishi. Khoảng một ngàn người trong số 1.700 người trong các xưởng luyện thép của Mitsubishi đã thiệt mạng.

        Lời kể sống động nhất từ các nhân chứng sống sau vụ nổ là của bác sĩ địa phương, Tatsuichiro Akizuki:

        Bầu trời tối như hắc ín và bị che phủ bởi những đảm khói dày đặc. Dưới màn trời đen kịt đó và trên mặt đất là một làn sương mù màu nâu vàng. Mặt đất hiện dần ra và quang cảnh làm tôi khiếp sợ đứng chôn chân tại chỗ.

        Tất cả những gi tôi có thể thấy đều đang cháy. Các đám cháy lớn, các đám cháy nhỏ và những áám cháy trên mái nhà rơm lá. Xa hơn nữa dọc theo thung lũng Urakami, nhà thờ lớn nhất ở phương Đông củng đang bốc cháy. Ngôi trường kỹ thuật hai tầng bằng gỗ cũng như nhiều căn nhà và nhà mảy sản xuất quân nhu cũng nằm trong màn lửa. Các cột điện cũng cháy phừng giống như nhiều cây củi đang cháy. Cây cối và các cánh đồng khoai lang ở các ngọn đồi gần đó cũng đang bốc khói. Nói tất cả mọi thứ đều cháy thì củng chưa diễn tả hết. Dường như ngay cả mặt đất cũng đang nhả khói lửa, những ngọn lửa phun trào lên từ dưới lòng đất. Bầu trời tối mịt còn mặt đất thì đỏ rực giữa các đám khói màu đỏ vàng. Ba loại màu sắc: đen, vàng và đỏ đang vây quanh mọi người. Họ đã chạy tìm chỗ thoát giống như những con kiến. Chuyện gì đã xảy ra? Bệnh viện Urakami không bị ném bom. Tôi biết điều đó nhưng giữa biển lửa và bầu trời đầy khói, có cảm giác như ngày tận thế đã đến.


        Cảnh ngộ của các nạn thân thật đáng thương:

        Khoảng 10 hay 20 phút sau khi khói đã tan, mọi người từ thành phố bắt đầu chạy lên ngọn đồi kều la và rèn rỉ: “Cứu tôi, cứu!” Những người kèu khóc và rèn rỉ dường như không còn thốt ra giọng người. Tiếng kêu của họ nghe rất khủng khiếp và kinh dị. Khoảng 10 phút sau vụ nổ, một người đàn ông to lớn, gần như khỏa thân ôm đầu và chạy vào khu vực sân hướng về phía tôi và kêu lên những âm thanh dường như từ tàn lực còn lại của anh ta. “Bị thương rồi thưa ngài”, anh ta rên rỉ. Anh ra rùng mình như thể anh đang bị ớn lạnh. “Tôi bị thương”.

        Tôi chăm chú nhìn vào người đàn ông. Sau đó tôi thấy chính là ông Kenjiro Tsujimoro, người trồng rau bán và người hàng xóm tốt bụng của tôi và cả bệnh viện này. Tôi tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với Kenjiro to lớn... Đầu và mặt của ông trắng nhợt, tóc bị cháy xém, lông mi cũng đã bị cháy và dường như ông chỉ còn nhìn được lờ mờ. Ông trong tình trạng gần như khỏa thân vì áo sơ mi đã bị cháy ở lưng.

        Sau khi ông Tsụịimoro làm tôi kinh hoàng, một người khác giống như vậy đi loạng choạng vào sân. Tôi không biết anh ta là ai và đến từ đâu. “Cứu tôi”, anh ta rên rĩ ôm đầu trong tình trạng áo quần cháy xém. Anh ta ngồi xuống, thì thào: “Nước, nước..”.

        Hai phút, hai mươi phút và một tiếng sau vụ nổ, mỗi lúc càng có nhiều người trong tình cảnh khốn đốn tương tự đến bệnh viện. Tất cả đều có bộ dạng giống nhau và kều lèn cùng một câu: “Tôi bị thương, bị thương! Tôi đang bị bỏng! Nước!” Tất cả họ đều rèn rỉ cùng một lời than. Tôi rùng mình. Dù trần truồng khỏa thần, họ đều bước đi với những bước chậm chạp lạ lùng và thều thào bên trong cổ họng như thể vừa trở về từ địa ngục. Mặt họ trắng nhợt như những cái mặt nạ. Tôi cảm thấy như thể mình đang mơ, và nhìn thấy những con ma xanh xao đang tiến chậm chạp về một hướng như trong một giấc mơ mà mình từng gặp vào thời thơ ấu.

        Những con ma này đi bằng chân về phía bệnh viện từ hướng thành phố đang cháy và từ một nhà máy sản xuất quân nhu từ hướng đông. Công nhân hay học sinh, phụ nữ hay đàn ông, họ đều đi chậm chạp và đều có khuôn mặt như đang đeo mặt nạ. Mọi người đều kèu rên và xin giúp đỡ. Tiếng kêu khóc của họ ngày càng mạnh và nghe giống tiếng kinh Phật, dội lại từ mọi nơi như thể cả trái đất đang chìm ngập trong nỗi đau.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:55:30 am

        Phán quyết tính mạng con người đó là công việc của Chúa chứ không phải con người. Tuy nhiên vì mục tiêu là phải đưa ra một quyết định trong chiến tranh, con người luôn phải đưa ra nhưng lời phán quyết như vậy.

        Cho nên con người đã đưa ra quyết định ném bom. Ở một khía cạnh nhất định, bất cứ người nào đã chế tạo ra quả bom có khả năng hủy diệt thế giới và nghĩ về việc hủy diệt 120 ngàn người bằng một cú thả bom là coi thường mọi giới hạn nhân tính. Tuy nhiên, nếu có lý do tin rằng, mạng sống của vô số người sẽ được bảo vệ nhờ những hành động như vậy thì có rất ít sự lựa chọn khác.

        Những tính toán tàn bạo như vậy là điều cốt lõi khi đưa ra quyết định trong cuộc chiến tranh, mặc dù có thể không có một quyết định riêng lẻ nào dẫn đến một kết quả dữ dội như vậy chỉ trong một thời gian ngắn, giống như quyết định thả bom nguyên tử. Các nhà chính trị và các tướng lĩnh trong chiến tranh cảm thấy rằng, khó có thể quy gán những giá trị đạo đức khác nhau cho những loại vũ khí khác nhau. Mặc dù những quả bom này đã gây ra nhiều cái chết kinh khủng cho nhiều người, thật khó cho rằng, những người bị thương này đau đớn hơn so với những vết thương do các loại vũ khí thông thường hay bom cháy gây ra trong tiến trình cuộc chiến bình thường.

        Các nhà khoa học giúp hoàn thiện công nghệ mới này cũng có nhiều lo ngại về việc sử dụng bom nguyên tử chống lại một nước chưa có kỹ thuật chế tạo bom nguyên tử tương tự. Tuy nhiên chiến thắng qua mọi thời đại đều thuộc về các quốc gia có vũ khí hiện đại hơn. Quan điểm của Washington là sự phát triển bom nguyên tử là không thể tránh được. Tốt hơn là hãy để cho những bàn tay của người dân chủ và có trách nhiệm sử dụng bom nguyên tử trước. Công nghệ chế tạo bom nguyên tử không thể ngăn chặn nhưng những người muốn sử dụng nó một cách vô trách nhiệm có thể bị ngăn chặn.

        Khi phải đưa ra quyết định thả hay không thả bom nguyên tử, Truman cũng rơi vào một trong những tình huống khó khăn nhất của một thế giới đang có chiến tranh. Tuy nhiên, khi trăn trở về quyết định này, thật khó tìm ra một lý do căn bản rõ ràng nào hơn tình huống mà Tổng thống Mỹ đang đối đầu. Nhiệm vụ số một của ông trong cuộc chiến là phải nhanh chóng giành thắng lợi với cái giá thấp nhất có thể cho người lính và người dân của chính nước mình. Tất nhiên, đó không phải là nhiệm vụ duy nhất. Ngay cả trong cuộc xung đột vũ trang, các quy định nhất định phải được tôn trọng (chẳng hạn về đối xử với người dân và tù binh chiến tranh) và một nhà lãnh đạo dân chủ phải có nghĩa vụ tiến hành chiến tranh ở mức nhân đạo có thể.

        Bản chất của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là quyết định ném bom nguyên tử khiến người dân chết hàng loạt đã được báo trước từ lúc chiến dịch ném bom bắt đầu trở thành nhân tố quan trọng trong cuộc chiến. Trên phương diện con số, hậu quả của ném bom nguyên tử cũng ngang bằng như hậu quả những cuộc ném bom khác. Vụ ném bom tập trung Tokyo đã làm 100 ngàn người thiệt mạng và làm ít ra 412 ngàn người bị thương và 2 triệu nhà ở bị phá hủy cũng như khiến 9 đến 13 triệu người vô gia cư. Những con số này cao hơn tổng số thiệt hại ở Hiroshima và Nagasaki.

        Tình huống mà Truman đã cân nhắc dường như đã rõ ràng. Không có lý do nào để chờ đợi ngoài sự kháng cự ác liệt đến cùng của Nhật Bản trước bất cứ sự xâm lược nào. Người Mỹ có thể phải chịu thiệt hại cả triệu nhân mạng nếu chiếm Nhật Bản. Lúc đó, thương vong của Nhật Bản cũng có thể còn cao hơn nhiều. Trận chiến Okinawa đã cho thấy sự kháng cự dữ dội mà Mỹ phải đối đầu trong cuộc xâm lược. Các vụ ném bom tập trung sau này dường như cướp đi nhiều sinh mạng hơn các cuộc ném bom trước. Người Nhật đã được đề nghị đầu hàng nhưng họ đã bác bỏ cơ hội cuối cùng để điều đình cuộc chiến mặc dù có những sai sót nghiêm trọng trong bản chất của lời đề nghị.

        Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là, Nhật Bản đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược khiến hàng triệu người đã chết trong các cuộc xung đột và khiến hàng triệu người khác chết do những chính sách chiếm đóng tàn ác.

        Điểm liên kết yếu nhất trong chuỗi lập luận này là liệu cố gắng để có hòa bình với Nhật Bản qua đàm phán có mang lại kết quả không khác gì nhiều so với các điều khoản của đầu hàng và chiếm đóng cuối cùng? Sau này, Tướng MacArthur quả quyết rằng, chỉ cần phong tỏa hải quân, Nhật Bản sẽ dầu hàng.

        Truman đã được trao cho một công cụ kết thúc chiến tranh. Ông tin rằng, sử dụng bom nguyên tử sẽ gây ra nỗi đau cũng giống như nỗi đau do cuộc đổ bộ hỗn loạn gây ra. Mặc dù sau khi bom đã thả, quân đội Nhật Bản vẫn muốn chiến đấu nhưng Hoàng đế Nhật đã bác bỏ. Truman cảm thấy ràng, ông phải trả lời cho người dân Mỹ, tại sao không thả quả bom sớm để 1 triệu quân Mỹ và hàng triệu người Nhật khỏi phải chết trong một cuộc xâm lược như vậy. Trong những hoàn cảnh đó, dường như không có quyết định này khả dĩ hơn. Những gì Truman không thể đoán được nhưng Churchill đã nắm là bằng việc thả quả bom nguyên tử, Truman cũng đã thực hiện một sự giúp đỡ không tính trước cho các thành phần nắm quyền lực ở Nhật Bản, những người phải chịu trách nhiệm cho cơn lốc tàn sát do cuộc chiến tranh Thái Bình Dương gây ra.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 12:52:22 am

Chương 27

ĐẦU HÀNG

        Khi Hirohito nghe các báo cáo về sự phá hủy thành phố Hiroshima, lần đầu tiên kể từ tháng 2 năm 1936, ông nhanh chóng hành động quyết liệt. Ông bác bỏ mọi quan điểm của cố vấn, quân đội và nội các.

        Cho dù chuyện gì xảy ra với sự an toàn của tôi, chúng ta phải chấm dứt cuộc chiến này càng nhanh càng tốt để bi kịch này không lặp lại một lần nữa... Vì đã đến lúc vũ khí như vậy sử dụng, chúng ta không thể tiếp tục đẩy cuộc chiến này đi xa thèm nữa. Đó là điều không thể. Chúng ta không phải chờ đợi lãng phí thời điểm cơ hội để bắt đầu đàm phản. Chúng ta phải tập trung nỗ lực kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng.

        Vào ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Các lực lượng quân đội Liên Xô đã tràn vào Mãn Châu và nhanh chóng kiểm soát toàn bộ nơi này. Quân đội Quang Đông đã tan rã trước sức mạnh của họ. Ngày hôm sau, “Gã béo” được thả xuống Nagasaki. Thật ngạc nhiên là mặc dù Nhật Bản bị bao vây tứ phía bởi Liên Xô, Mỹ, Anh, và đã mất Mãn Châu, thậm chí nhiều thành phố chính đã bị ném bom thành đống đổ nát, mặc dù hai quả bom nguyên tử đã thả, Nhật Bản vẫn chưa chịu buông súng đầu hàng. Nhiều sĩ quan cao cấp dường như tin rằng, một sự hủy diệt tốt hơn là phải đầu hàng. Ít giờ sau đó là thời khắc minh mẫn nhất của Hoàng đế sau cuộc chiến tồi tệ và là thời khắc loạn trí nhất của quân đội.

        Người đóng vai chính của sứ mệnh hòa bình là Ngoại trưởng Shigenori Togo, một người trực tính và can đảm. Ồng ngạo mạn, tự tin, thông minh, mới 62 tuổi, một độ tuổi còn non trẻ trong nền chính trị Nhật Bản. Thủ tướng Suzuki, một người có quan điểm ôn hòa từ tầng lớp thượng lưu hoàng gia cũng đã 77 tuổi lại là người lắm lời, ngớ ngẩn, lờ mờ và thường do dự. Họ chỉ là hai nhân vật phái dân sự của cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của Nhật Bản vào lúc bấy giờ - đó là Hội đồng chiến tranh tối cao Nhật Bản. Thật ngạc nhiên, ngày trước khi Nagasaki bị ném bom, nhóm này đã không họp vì một thành viên có công việc cần kíp hơn vấn đề chiến tranh và hòa bình.

        Vào ngày thứ năm, 9-8, lúc 8 giờ sáng, Togo đến nhà Suzuki.

        Suzuki đồng ý Hội đồng chiến tranh tối cao phải họp và Togo đến gọi người đồng minh quân sự duy nhất của ông, Bộ trưởng Hải quân - cựu Thủ tướng - Đô đốc Yonai. Hội đồng họp lúc 11 giờ, chỉ nửa tiếng trước khi quả bom ở Nagasaki nổ. Suzuki mở đầu cuộc họp với đề xuất chính phủ chấp nhận các diều khoản trong hòa ước Potsdam. Yonai, nhân vật ôn hòa mà nhiều năm trước đó đã bị buộc phải từ chức Thủ tướng vì phản đối việc Nhật Bản đồng minh với Đức và Italia cũng đề nghị chấp nhận hòa ước này. Quan điểm của Togo đã rõ. Điều kiện duy nhất mà những người ôn hòa tìm kiếm từ quân Đồng minh là một số tái cam kết về vị trí của Hoàng đế.

        Ba người khác phản đối thẳng thừng về việc đầu hàng trừ khi một số điều kiện cũng phải được đáp ứng, chẳng hạn: Lực lượng chiếm đóng chỉ là một số nhỏ, Nhật Bản có quyền xét xử tội phạm chiến tranh và chính các sĩ quan Nhật Bản sẽ giải ngũ lính Nhật Bản. Rõ ràng, họ muốn nuôi ảo tưởng cho quân đội Nhật Bản và người dân rằng, đất nước không thực sự đầu hàng. Giữ thể diện vẫn là tất cả cho dù phải chiến đấu đến chết để giữ nó. Lãnh đạo của phe cứng rắn này là Bộ trưởng Chiến tranh, tướng Anami, một người lãnh đạm, không sôi nổi như Tojo nhưng được quân lính tôn trọng. Tham mưu trưởng lục quân, tướng Umezu và Tham mưu trưởng hải quân Đô đốc Toyoda cũng không đồng ý đầu hàng.

        Togo tức giận phản đối Anami và nói quân Đồng minh từ chối thương lượng với những điều kiện như vậy. Umezu bắt bẻ lại rằng, Nhật Bản chưa thua và vẫn có thể gây tổn thất lớn cho kẻ thù. Togo trả lời, Nhật Bản chắc chắn không thể trụ được trong một cuộc tấn công thứ hai. Lúc 1 giờ chiều, hội đồng hoãn họp trong bế tắc. Lúc 2g30 chiều, toàn thể nội các bắt đầu họp. Togo một lần nữa kêu gọi phải chấp nhận đầu hàng để có hòa bình. Anami trả lời với ảo tưởng cố chấp:

        Quân lính của chúng ta sẽ không gác súng. Vì họ biết rằng họ không được phép đầu hàng. Vì họ biết rằng, đối với một người đàn ông chiến đấu, việc đầu hàng phải chịu hình phạt nặng nề. Thực sự không có sự lựa chọn nào khác cho chúng ta ngoài con đường tiếp tục chiến đấu... Chúng ta phải chiến đấu đến cùng cho dù lợi thế của kẻ thù đối với chúng ta lớn thế nào đi nữa.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 12:52:52 am

        Bộ trưởng Nội vụ bảo thủ Genki Abe ủng hộ Anami và nói ông không thể bảo đảm tình hình dân sự ổn định nếu lệnh đầu hàng được đưa ra. Tuy nhiên, các bộ trưởng đại diện cho các tập đoàn tài phiệt đồng lòng ủng hộ hòa bình. Bộ trưởng Nông nghiệp, Thương mại, Giao thông và Đạn được đều cho rằng, đất nước đang suy kiệt. Lúc 10 giờ tối, nội các hoãn họp, không giải quyết được những bất đồng và không đạt được một sự nhất trí hoàn toàn.

        Togo và Suzuki thấy rằng, phải để Hoàng đế can thiệp mặc dù không có điều khoản nào trong Hiến pháp cho phép ông làm như vậy. Khoảng lúc 24 giờ kém 10 (lúc nửa đêm), Hoàng đế tham dự một cuộc họp nữa của Hội đồng chiến tranh tối cao. Lúc này, Bộ trưởng Nội các Hisatsune Sakomizu và Chủ tịch Hội đồng cơ mật Baron Kiichiro Hiranuma cũng tham dự.

        Họ họp dưới một boongke có diện tích 5,5 X 9m, rất nóng và ngột ngạt trong bộ đồng phục vét tông buổi sáng. Một lần nữa, Togo đưa ra các lý lẽ để đầu hàng và Anami lại phản đối. Hiranuma, một lão già ngu ngốc đứng về phe những người cứng rắn mặc dù ông không có lá phiếu chính thức. Anami giành lại ưu thế. Phía ủng hộ chiến tranh bắt đầu chiếm ưu thế.

        Đột nhiên Suzuki lên tiếng: “Phải cần đến quyết định của Bệ hạ để phân xử xem đề xuất nào được chấp thuận”. Anami đã mất cảnh giác. Như đã suy nghĩ trước, Hoàng đế tuyên bố rằng, tiếp tục chiến tranh chỉ gây hủy diệt cho người Nhật và mở rộng nỗi đau nhân loại. Rõ ràng Nhật Bản không thể chiến đấu nữa và khả năng bảo vệ bờ biển của họ không chắc chắn.

        “Tôi không thể chịu đựng khi thấy quân đội Thiên hoàng bị giải giới mà không nói lời nào... Nhưng thời khắc đã đến lúc phải chịu đựng điều không thể chịu đựng. Tôi đồng ý đề xuất chấp nhận Tuyên bố của quân Đồng minh về căn bản như Ngoại trưởng đã vạch ra”.

        Sau đó, ông rời bỏ phòng họp. Suzuki đề nghị hội đồng phải thông qua quyết định của Hoàng đế. Anami không còn phản đối nữa.

        Khoảng 2 giờ sáng, Nội các họp và quyết định chấp nhận Tuyên bố Potsdam “Với điều kiện rằng, tuyên bố này không bao gồm bất kỳ yêu cầu nào làm tổn hại đến các đặc quyền của Hoàng đế với tư cách là người cai trị chủ quyền”. Sáng hôm đó, Anami triệu tập các sĩ quan cao cấp. “Chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác ngoài tuân theo quyết định của Hoàng đế. Bây giờ, chúng ta tiếp tục chiến đấu hay đầu hàng phụ thuộc vào câu trả lời của kẻ thù đối với công hàm của chúng ta. Cho dù làm gì, các bạn phải nhớ rằng là người lính, các bạn phải tuân lệnh và không được xa rời kỷ luật nghiêm khắc của quân đội. Trong cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang đối mặt, những hành động không kiểm soát của một người có thể khiến toàn bộ đất nước bị hủy hoại”. Một sĩ quan hỏi liệu Bộ trưởng Chiến tranh có thực sự suy tính đầu hàng. Anami phang cây gậy chỉ huy xuống bàn. “Bất cứ ai không muốn tuân lệnh phải bước qua xác tôi!” Ông nói với các sĩ quan. Nhật Bản đợi cầu trả lời của quân Đồng minh trong suốt ngày hôm sau và buổi sáng ngày 11-8-1945.

        Sáng hôm đó, một nhóm sĩ quan theo quan điểm cứng rắn đã gặp nhau để bàn bạc bước tiếp theo. Trung tá Masuhiko Takeshita, anh rể của tướng Anami chủ trì cuộc họp. Một trong số các sĩ quan có mặt là thiếu tá Kenji Hatanaka, một người cuồng tín mặt mỏng và nhợt nhạt. Họ quyết định phải chiếm giữ cung diện Hoàng đế và đặt Hoàng đế dưới “sự bảo vệ” của người theo quan điểm cứng rắn. Suzuki và Togo cũng như cố vấn trưởng Hoàng đế -  ông Marquis Kido sẽ bị ám sát. Kịch bản giống như cuộc đảo chính tháng 2 năm 1936 tái hiện.

        Qua nửa đêm ngày 12-8, quân Đồng minh phúc đáp cho biết họ đồng ý chấp nhận đầu hàng của Nhật Bản với điều kiện chính phủ Nhật Bản và quyền lực của Hoàng đế phải “Thấp hơn” quyền của Tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh. Ngay lập tức sau đó, Anami và Hiranuma gặp Suzuki và thuyết phục ông rằng, dề nghị này không thể chấp nhận và Nhật Bản phải tiếp tục chiến đấu. Ngoại trưởng Togo hoảng hốt khi nghe tin Thủ tướng đã thay đổi quyết định và nhờ Kido mời Suzuki để nói rằng, đầu hàng là ước nguyện rõ ràng của Hoàng đế. Suzuki vâng mệnh quyền lực Hoàng đế và thay đổi quyết dinh một lần nữa.

        Trong khi đó, Anami, người đang chịu sức ép mạnh từ những sĩ quan cuồng tín cấp dưới, đang tự hỏi liệu có yêu cầu các sĩ quan cấp cao cùng đứng ra kêu gọi Hoàng đế không đầu hàng và bác bỏ điều khoản của Đồng minh. Anami bất ngờ khi tướng Umezu, Tham mưu trưởng quân đội sau đó nói, ông đã thay đổi quyết định và giờ đây muốn đầu hàng. Tuy nhiên vào ngày hôm sau, ngày 13-8, Umezu đã quay trở về lập trường cứng rắn ban đầu. Hội đồng chiến tranh tối cao lại bị chia rẽ một lần nữa, 3 chống 3 về việc chấp nhận điều khoản quân Đồng minh đưa ra hay không? Nội các cũng chia rẽ như dự đoán. Dân thường Nhật Bản không được tham khảo ý kiến nhưng họ cũng không biết nên tìm kiếm hòa bình để phải chịu cảm giác nhục nhã hoặc phải chiến dấu, hoặc cả hai giải pháp lẫn lộn?


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 12:54:06 am

        Suốt ngày hôm đó, nhóm sĩ quan nổi loạn bắt đầu tổ chức. Một số sĩ quan đến gặp tướng Ạnami yêu cầu phải ban bố thiết quân luật và bác bỏ các điều khoản quân Đồng minh đưa ra. Bộ trưởng Chiến tranh không bày tỏ thái độ dứt khoát.

        Khoảng 10g30 sáng hôm sau, Hội đồng chiến tranh tối cao lại được triệu tập một lần nữa. vẫn lại là hai phe 3 chống 3. Bây giờ Hoàng đế lên tiếng trong khi những người hiện diện lặng lẽ nức nở. Đó là một tuyên bố chuyên quyền mà người Nhật gọi là Tiếng của con sếu (mệnh lệnh Hoàng đế giống như tiếng con sếu có thể nghe trên bầu trời sau khi con chim sếu đã bay qua).

        Mặc dù các ông lo lắng về việc bảo vệ thể chế quốc gia, nhưng tôi tin rằng phúc đáp của Đồng minh là bằng chứng cho những thiện chí của kẻ thù. Sự tin tưởng và sự quyết tâm của người dân Nhật Bản là cân nhắc quan trọng nhất. Đó là lý do tại sao tôi muốn chấp nhận thư phúc đáp. Nếu chúng ta tiếp tục duy trì chiến tranh, Nhật Bản sẽ bị hủy diệt hoàn toàn. Mặc dù một số các ông có ý kiến rằng, chúng ta không thể hoàn toàn tin tưởng quân Đồng minh nhưng tôi cho là một kết cục hòa bình ngay lập tức đối với chiến tranh tốt hơn là phải chứng kiến Nhật Bản bị hủy diệt. Với mọi thứ đang trong tình trạng hiện tại, quốc gia sẽ có cơ hội khôi phục.

        Tôi cũng nhớ lại nỗi thống khổ mà Hoàng đế Minh Trị trải qua ở thời điểm xảy ra Sự can thiệp ba nước. Giống như ông ấy, tôi cũng phải chịu đựng điều không thể chịu đựng và tôi hy vọng sẽ khôi phục đất nước trong tương lai.

        Khi người dân Nhật Bản không nhận thức được tinh hình hiện tại, tôi biết họ sẽ sốc nặng khi nghe quyết định của chúng ta. Nếu mọi người nghĩ thích hợp cho tôi giải thích vấn đề này với họ trên phương diện cá nhân, tôi sẵn sàng nói trước micro. Đặc biệt, quân đội cũng mất tinh thần khi biết quyết định của chúng ta. Bộ trưởng Chiến tranh và Bộ trưởng Hải quân có thể không dễ dàng thuyết phục bản thân họ chấp nhận quyết định này. Tôi sẵn sàng đi bất cứ nơi nào cần thiết để giải thích hành động của chúng ta. Tôi muốn Nội các phải chuẩn bị càng sớm càng tốt Huấn lệnh Hoàng dế tuyên bố chấm dứt chiến tranh.


        Sau cuộc họp, Anami thông báo với anh rể Takeshita rằng, ông sẽ tuân lệnh Hoàng đế. Ngoài ra, ông sẽ không từ chức và do đó ông sẽ chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quân đội chấp nhận quyết định của Hoàng đế. Nếu ông từ chức, chính phủ sẽ sụp đổ và đất nước sẽ rơi vào cảnh hỗn loạn. Việc Anami ngấm ngầm chấp nhận thay mặt quân đội nói lời đầu hàng hay là ông cảm thấy phải tuân lệnh trực tiếp của Hoàng đế chỉ có thể phỏng đoán. Bộ trưởng Chiến tranh triệu tập một cuộc họp khác với sự góp mặt các sĩ quan cấp cao của ông. Không khí trong phòng náo động. Ông nói với họ rằng:

        Một trong những đức tính quan trọng của người lính là tuân lệnh. Tương lai Nhật Bản đã rõ ràng, nhưng đó không phải là một tương lai dễ dàng. Các ông là những sĩ quan nèn phải nhận thức rằng, cái chết không thể miễn trừ bạn khỏi nghĩa vụ. Nghĩa vụ của ông là phải sống và nỗ lực hết sức để giúp đất nước hồi phục cho dù là phải gặm cỏ, ăn đất và ngủ trẽn những cánh đồng!

        Trong khi đó, thiếu tá cuồng tín Hatanaka cũng đang vận động người đứng đầu Lực lượng quân đội quận Đông, tướng Tanaka, một con người quyết đoán và đáng kính trọng, người chỉ huy lực lượng quân sự chính ở Tokyo. Tanaka ngạc nhiên khi anh sĩ quan trẻ đâm sầm vào phòng với trạng thái căng thẳng. Người phụ tá của Tanaka nắm lấy kiếm vì sợ rằng, Hatanaka có thể chuẩn bị giết Tanaka. Tanaka tức tối quát viên thiếu tá khi anh ta bước vào. “Tại sao anh đến đây? Tôi biết anh đang nghĩ gì. Tôi không muốn nghe! Đi khỏi đây ngay lập tức! Xéo ngay!” Sau giây phút sững sờ, Hatanaka bỏ đi và tìm một sĩ quan cứng rắn khác, trung tá Masataka Ida.

        Cả hai đã có cuộc trò chuyện căng thẳng. Ida nói với Hatanaka rằng, ông định mổ bụng tự sát. Hatanaka la lên. “Đúng! Đây thực sự là một điều đúng và tốt đẹp để làm”.

        Ida đáp trả: “Đây là điều đúng phải làm”. Sau đó, Hatanaka thông báo cho Ida biết ông đang lên kế hoạch đảo chính. “Ông không nghĩ rằng, đó là một điều tốt đẹp hơn là mổ bụng?”.

        “Thành công thì sẽ tốt đẹp hơn. Tuy nhiên Bộ trưởng Chiến tranh nói không có cơ hội thành công. Hoàng đế đã quyết định chấm dứt chiến tranh. Một ngọn lửa đã bị tưới sẽ không bao giờ cháy một lần nữa”. Nội các dành nhiều thời gian trong ngày để tranh luận về từ ngữ chính xác của huấn lệnh đầu hàng nhưng không có kết quả. Họ tranh cãi về câu: “Tình hình chiến tranh ngày càng bất lợi cho chúng tôi”. Bộ trưởng Hải quân Đô đốc Yanai thích câu này nhưng tướng Anami thích câu: “Tình hình chiến tranh đã không tiến triển cần thiết theo chiều hướng thuận lợi cho Nhật Bản”. Cả hai câu đều nhằm làm nhẹ vấn đề đầu hàng. Cuối cùng, câu của Anami đã được chọn.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 12:55:16 am
         
        Đêm hôm đó, vào khoảng 23 giờ, Hirohito hai lần tự ghi âm huấn lệnh tuyên bố đầu hàng. Chưa có Hoàng đế nào lên nói trên đài phát thanh trước đây. Không một người dân Nhật Bản nào từng nghe giọng nói của vị thánh sống của họ. Bằng cách này, ông muốn người lính bình thường không thể nói rằng, họ không nhận được lệnh đầu hàng trực tiếp từ ông. Quân lính cũng không thể cho là các cố vấn “phản bội” đã nhân danh ông để tuyên bố lệnh đầu hàng. Thông điệp này gây sửng sốt. Đây là lần dầu tiên trong hàng ngàn năm lịch sử của Nhật Bản, một quốc gia chưa từng bị đánh bại và chiếm đóng phải đầu hàng trong nhục nhã. Tuy nhiên nếu Hoàng đế ra lệnh, cho dù là điều không thể nghĩ đến, dân thường phải có nghĩa vụ tuân theo.

        Tuyên bố được soạn cẩn thận để giữ gìn lòng tự trọng của đất nước. Hơn nữa, huyền thoại Nhật Bản không bại trận bắt đầu được tuyên truyền. Năm 1945, có luận cứ cho răng, quân đội Nhật Bản chưa từng thất bại mà chỉ buộc phải đầu hàng do bị thả bom nguyên tử, “Loại bom mới và tàn bạo nhất” được sử dụng trong lời tuyên bố dầu hàng qua đài phát thanh của Hoàng đế:

        Chúng tôi đã tuyên bố chiến tranh với Mỹ và Anh vì thành tâm mong muốn bảo đảm khả năng sinh tồn tự nhiên của Nhật Bản củng như sự ổn định ở Đông Á. Chúng tôi không có ý nghĩ xâm phạm chủ quyền quốc gia khác hay muốn mở rộng lãnh địa.

        Tuy nhiên chiến tranh đã kéo dài gần 4 năm. Mặc dù mọi người đã cố gắng hết sức, sự chiến đấu dũng cảm của quân đội và hải quân, sự siêng năng và chuyên cần của công chức nhà nước và sự phục vụ tận tâm của một trăm triệu người, tình hình chiến tranh đã không tiến triển cần thiết theo hướng thuận lợi cho Nhật Bản, trong khi đó xu hướng chung của thế giới đều chống lại lợi ích của Nhật Bản.

        Нơn nữa, kẻ thù bắt đầu sử dụng một loại bom mới và tàn bạo nhất, một sức mạnh gây tổn hại không lường trước được và cướp đi nhiều mạng người vô tội. Việc chúng ta tiếp tục chiến đấu không chỉ khiến quốc gia Nhật Bản sụp đổ và bị tiêu hủy hoàn toàn mà nó còn dẫn đến tiêu hủy toàn bộ văn minh con người.

        Nếu như vậy, chúng ra làm thế nào để bảo vệ hàng triệu thần dân của chúng ta và chuộc lỗi trước anh linh của tổ tiên Hoàng đế. Đây là lý do tại sao chúng ta phải ra lệnh chấp nhận các điều khoản của quân Đồng minh về tuyên bố chung.

        Chúng ta không thể không bày tỏ lòng tiếc nuối sâu sắc đến các nước đồng minh của mình ở Đông Ả vì họ đã hợp tác kiên định với Đế chế để giải phóng Đông Á...


        Tất nhiên, chính phủ chứ không phải là Hoàng đế là người chịu trách nhiệm cho nội dung của bản phát sóng. Tuy nhiên, bản tuyên bố có nhiều điểm nổi bật. Thứ nhất, nó không đề cập đến việc đầu hàng. Thực tế, bản tuyên bố nói rằng, Nhật Bản đưa ra sáng kiến “Thực hiện một sự dàn xếp tình hình hiện tại bằng cách sử dụng một biện pháp đặc biệt”. Đối với dân Nhật Bản bình thường vốn tin vào những lời nói dối cũng như lời tuyên truyền thông tin của chính quyền, họ sẽ kết luận rằng, Nhật Bản đã tự đề xuất tìm giải pháp hòa bình vì nhân đạo.

        Hơn nữa, Hoàng đế chỉ đơn thuần chấp nhận các điều khoản trong Tuyên bố chung của phe Đồng minh. Đối với người dàn Nhật Bản muốn tự dối lòng mình, đây không phải là đầu hàng. Thứ hai, Nhật Bản dứt khoát không thừa nhận cũng như không chính thức thừa nhận cho đến ngày nay rằng, họ đã không làm bất cứ điều gì sai. Trái lại, Nhật Bản tuyên chiến với Anh và Mỹ vì “Thành tâm mong muốn bảo đảm khả năng sinh tồn tự nhiên của Nhật Bản cũng như sự ổn định ở Đông Á. Chúng tôi không có ý nghĩ xâm phạm chủ quyền quốc gia khác hay muốn mở rộng lãnh địa”.

        Cho dù người nào đó đồng ý cách giải thích các sự kiện của Nhật Bản rằng, sự mở rộng thuộc địa hợp pháp của nước này đã vô tình khiêu khích thái quá các thế lực phương Tây, lời khẳng định này là một sự giải thích vô liêm sỉ đáng ngạc nhiên cho những gì đã xảy ra trong 15 năm trước dây. Không thể coi việc thành lập một đế chế có lẽ là lớn nhất và tồn tại trong thời gian ngắn nhất trong lịch sử loài người không xâm phạm chủ quyền quốc gia khác hay mở rộng lãnh địa. Đối với Nhật Bản, để bày tỏ hối tiếc đối với phe “Đồng minh” của mình ở Đông Á vì đã đầu hàng chính các nước này và phương Tây sau nhiều năm cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp nơi đây và khiến hàng triệu người chết là quá trơ tráo. Nhật Bản xin lỗi vì họ rút chân ra khỏi cổ các nước thuộc địa!

        Thứ ba, Nhật Bản không thừa nhận thất bại quân sự mà chỉ cho rằng, chiến tranh “Không tiến triển cần thiết” theo hướng “Có lợi cho Nhật Bản” trong khi đó các xu hướng của thế giới đang chống lại lợi ích của Nhật Bản. Hàng loạt tình thế đảo ngược ở hai mặt trận Thái Bình Dương và 1/3 mặt trận ở Ấn Độ và Miến Điện dường như chưa bao giờ xảy ra. Những gì đã xảy ra là một “Quả bom mới và tàn bạo nhất” đã được sử dụng có thể khiến Nhật Bản bị hủy hoại. Không thất bại trên chiến trường và đứng về lẽ phải trên phương diện đạo đức, Nhật Bản phải đầu hàng trước sự xảo trá vô nhân đạo của kẻ thù. Nước Nhật có cớ để giải thích vì sao họ không thất bại.

        Cuối cùng, người Nhật đã được kêu gọi phải ngẩng cao đầu với “Niềm hãnh diện tất yếu của quốc gia quân chủ lập hiến”, hệ thống cai trị đã đưa họ vào tình cảnh nhục nhã và hủy diệt hiện tại. Vậy nên, người Nhật bình thường không nhận ra hiện thực vì thông tin tuyên truyền chiến tranh. Lúc bấy giờ họ tin rằng, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương là hậu quả của thái độ thù dịch phương Tây đối với Nhật Bản lý tưởng, thanh bình và có thiện ý giải phóng các dân tộc ở châu Á. Nước Nhật đã yêu cầu hòa bình vì muốn tránh nỗi thống khổ quá lớn của con người sau các cuộc tấn công bom nguyên tử kinh hoàng xuống Hiroshima và Nagasaki. Sự kiện ném bom này đã làm lu mờ tất cả những tội ác của quân Nhật trong quá khứ.

        Tất nhiên, theo lối giải thích của Nhật Bản, rõ ràng họ không thất bại. Các vụ thả bom nguyên tử giúp Nhật Bản tẩy rửa cả sự nhục nhã bại trận lẫn tội lỗi gây chiến và các tội ác chiến tranh vô kể mà trước đây chưa từng có.

        Xuyên suốt bản tin đài phát thanh, nội dung của lời tuyên bố không mảy may đề cập đến tội lỗi, hối tiếc, hối hận hay thừa nhận sai lầm. Nhật Bản không chịu nhận lỗi về cuộc chiến mà thanh minh rằng, diễn tiến cuộc chiến đã gặp một sai lầm nhỏ và bom nguyên tử đe dọa hủy diệt quốc gia. Vậy nên, Nhật Bản đã chấp nhận hòa bình dựa trên lý do đó. Tất cả chỉ có vậy. Các quả bom nguyên tử đã giũ sạch trách nhiệm. Các quả bom giống như thuốc tẩy, thuốc xổ sự nhục nhã và tội lỗi cho một quốc gia có truyền thống tự sát là cách để một cá nhân người Nhật trốn chạy sự nhục nhã và tội lỗi này. Những ánh sáng trắng xanh lóe lên của bom nguyên tử và sự đau khổ lớn lao mà bom nguyên tử gây ra là một phương pháp “Đẹp” làm sạch và xá tội cho một quốc gia, nơi một chiến 'binh thất bại hay nhục nhã sẵn sàng tự tử theo nghi thức mổ bụng.

        Các băng ghi âm đã được cất giữ kỹ càng. Hoàng đế rời phòng thu âm phát thanh với dòng lệ trên mắt. Tuy nhiên, rõ ràng ông không có gì để phải khóc. Nhật Bản đã không thừa nhận đầu hàng.

        Sự giả vờ trắng trợn này không chỉ cần thiết để giữ thể diện cho một dân tộc được nhồi nhét học thuyết xem việc mất lòng kiêu hãnh là mất tất cả, hay đa số người dân Nhật Bản biết thất bại là gì nhưng thích muốn đón nhận với lòng tự trọng, giống như một doanh nhân bị khánh kiệt vẫn mặc bộ quần áo đẹp đi làm việc nghiêm túc vào mỗi sáng.

        Chắc chắn có yếu tố này trong người dân Nhật Bản. Tuy nhiên, mức độ nói dối quá rõ ràng dẫn đến việc phần lớn người Nhật tự nhủ mình rằng, khẩu hiệu tuyên truyền thực sự đúng. Nhật Bản có thể tiếp tục chiến đấu nếu như Mỹ không thả bom nguyên tử.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 12:55:52 am

PHẦN VI

TƯỚNG QUÂN ĐẾN TỪ NƯỚC MỸ


Chương 28

NGƯỜI CHIẾN THẮNG

        Khi chiến tranh kết thúc, Hirohito nhỏ nhắn bị cuốn vào nhiệm vụ quan trọng mà ông mới đảm nhiệm. Trong khi đó, một người đàn ông khác đang ngẫm nghĩ về các nhiệm vụ phía trước. Chiến tranh là một điều đặc biệt trong sự nghiệp của Douglas MacArthur. Khi chiến tranh bắt đầu, ông đã về hưu và là nhân vật bé nhỏ bị nhạo báng trên vũ đài chính trị Mỹ. Bây giờ, ở độ tuổi 65, ông là một trong những người nổi tiếng của thế giới, một nhân vật đại diện cho chủ nghĩa anh hùng cuối cùng đã sống cuộc đời như ông mơ ước. Sau khi cầm cự ở Bataan, ông đã tổ chức thành công tuyệt vời một cuộc chiến đấu mở đường rút lui qua hàng ngàn cây số đảo với số thương vong không nhiều mặc dù ông liên tục cãi nhau với thượng cấp ở Mỹ trên đường rút lui.

        Bây giờ ông lại điên tiết lên với họ. Ông chỉ trích quyết định thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. MacArthur cho rằng, Nhật Bản đã sẵn sàng chấp nhận đầu hàng dự kiến khoảng vào ngày 1-9-1945. George Kenney ghi chép lại rằng: “Mọi người trong Bộ Chiến tranh mà tôi đã nói chuyện và thậm chí những người chỉ huy không quân đều không đồng ý với quan điểm của MacArthur cho rằng, chiến tranh sẽ kết thúc sớm. Tất cả đều nhất trí Nhật Bản có khả năng cầm cự đến 2 năm nữa”.

        Khi Tokyo chỉ còn là đống đổ nát, hầu hết các nhà máy đạn được bị xóa sổ và Nhật Bản đang khan hiếm nguyên liệu thô, không thể tin được việc mọi người cho rằng, chiến tranh có thể kéo dài. Harry Hopkins, đặc sứ đáng tin cậy của Roosevelt báo cáo từ Manila rằng: “Nhật Bản đã chết và người Nhật biết điều này”. Các nhà tư bản công nghiệp Nhật Bản đã nói cho chính phủ Nhật Bản biết rằng, nguyên liệu chiến tranh chỉ còn để cung cấp cho khoảng “thêm vài ngày nữa”.

        Vào cuối tháng 7, MacArthur được thông báo cho biết về vụ thử nghiệm thành công bom nguyên tử. Ông cảm thấy kinh hoàng. Ồng cảm thấy nó “Hoàn toàn không cần thiết nhìn từ quan điểm quân sự". Dù vậy, ông vẫn được lệnh tiến về phía trước để chuẩn bị cho một cuộc xâm chiếm Nhật Bản với sự tham gia khoảng 1,4 triệu lính Mỹ ở Philippines và thêm 1 triệu lính Mỹ nữa đang tới. Theo báo cáo, Nhật Bản đã chuẩn bị 5 ngàn máy bay Thần phong và để chiếm được Kyushu, 250 ngàn quân Mỹ sẽ phải bỏ mạng.

        “Chiến dịch Olympic” dự định sẽ đưa 750 ngàn quân đổ bộ xuống đảo Kyushu vào tháng 11 năm 1945 và Chiến dịch Coronet sẽ được tiến hành sau đó. Tuy nhiên, vào giữa mùa hè năm 1945, MacArthur nói với Tham mưu trưởng Sutherland rằng: “Này Dick, đừng tốn quá nhiều thời gian để chuẩn bị cho Chiến dịch Olympic và Coronet vì chúng ta sẽ không đánh chiếm Nhật Bản”. MacArthur nói điều này trước khi ông biết về sự tồn tại của hai quả bom nguyên tử.

        Khi Liên Xô bước vào cuộc chiến và Nhật Bản đã tuyệt vọng, MacArthur chắc chắn rằng cuộc chiến sắp kết thúc. Trong khi đó, ông đã được bổ nhiệm làm Tư lệnh tối cao của lực lượng Đồng minh (SCAP), vậy nên ông sẽ là người đứng đầu của lực lượng quân đội chiếm đóng Nhật Bản theo dự kiến. Gần như chắc chắn ông đúng khi tin rằng, kế hoạch xâm chiếm và thả bom xuống Hiroshima và Nagasaki là không cần thiết mặc dù Washington nghĩ việc thả bom nguyên tử sẽ giúp chiến tranh kết thúc nhanh chóng, và cứu hàng trăm ngàn sinh mạng của quân Đồng minh.

        Khi Nhật Bản quyết định đầu hàng, ông đã chuẩn bị gánh một nhiệm vụ to lớn nhất trong cuộc đời, một nhiệm vụ mà chưa từng một người Mỹ nào đảm nhiệm trước đây: Thống lĩnh một quốc gia bại trận, một quốc gia độc tài quân sự với 75 triệu dân. Đây là một sự bổ nhiệm chính trị. Việc bổ nhiệm một người đàn ông có toàn bộ sự nghiệp dành cho quân đội, một người bảo thủ trong chính trường không phải là một sự lựa chọn chắc chắn đúng. Tuy nhiên, Roosevelt lại thích MacArthur hơn Chester Nimitz, một người thiển cận và không có tính sáng tạo.

        Vào thời điểm đó Washington vẫn tin rằng một cuộc xâm lược toàn diện là điều cần thiết, và phải có một người quân nhân đảm nhận vai trò chỉ huy. Khi Harry Truman nhậm chức, ông thiếu kinh nghiệm nên không thể đưa ra quyết định nào thay đổi về cơ cấu chỉ huy. Vậy nên Douglas MacArthur đã trở thành kẻ thống trị nước ngoài đầu tiên trong 2.000 năm lịch sử Nhật Bản.

        Người đàn ông sẽ lãnh đạo hàng triệu quân lính trên đất Nhật và trừng phạt những tên lính tàn bạo trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai nay đang thực hiện một trong những công việc bất ngờ đặc biệt nhất của cuộc đời phong phú của ông. Ông quyết định một mình đến Nhật Bản, nơi cỗ máy quân sự vừa đầu hàng và vẫn còn âm ỉ cháy. Vị tướng quân người Mỹ đã đổ bộ xuống Nhật Bản gần một thế kỷ sau sự sụp đổ tướng quân cuối cùng của Nhật Bản Tokugawa.

        Vào ngày 30-8-1945, chỉ một tháng sau khi “Thằng nhỏ” được ném xuống, chiếc máy bay C-54 có tên gọi là “Bataan” cất cánh từ Okinawa mang theo vị tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông, tướng Douglas MacArthur và các phụ tá bay lên bầu trời trong xanh.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 01:00:09 am

        Ông cố gắng che giấu vẻ lo lắng, ông đi tới đi lui trong máy bay, nói về các ưu tiên của ông khi thực hiện quyền lực to lớn của mình. Ồng đưa ra những ý nghĩ ngẫu nhiên:

        Trước hết phải xóa quyền lực quân sự... Sau đó xây dựng một cơ cấu chính phủ đại diện... Cho phụ nữ quyền bỏ phiếu... Thả tự do các tù chính trị... Giải phóng những người nông dân... Thành lập một phong trào lao động tự do... Khuyến khích nền kinh tế tự do... Xóa bỏ sự đàn áp của cảnh sát... phát triển một nền báo chí tự do và có trách nhiệm... phân tán quyền lực chính trị...

        Có thể ông là người đầu tiên trong lịch sử hiện đại thực hiện một sự việc phi thường: Chiếm đóng thành công một quốc gia bại trận? Đó chính là bản kế hoạch định hình lại toàn bộ xã hội châu Á. Thực tế, các nhiệm vụ ưu tiên đã được Washington chuyển đến cho MacArthur từ ngày trước với tiêu đề “Ưu tiên ban đầu cho thời kỳ sau khi đầu hàng của Nhật Bản”. Bản kế hoạch này cho thấy ở các lãnh đạo cấp cao ở Mỹ đã nhiều năm lên kế hoạch này. Kế hoạch này cũng có con dấu đồng ý của Tổng thống Truman.

        Hành động hạ cánh máy bay của MacArthur xuống căn cứ không quân Atsugi là một trong những việc làm quá liều lĩnh. Tướng Eichelberger phụ trách lực lượng tiền trạm ở Atsugi và là một trong những đồng nghiệp không thân thiết với MacArthur liên tục thuyết phục ông từ bỏ kế hoạch hạ cánh liều lĩnh này.

        Các mối nguy hiểm quá rõ ràng khi hạ cánh xuống đây, vi nơi đây chỉ có sự bảo vệ ít ỏi ở trung tâm tây nam đồng bằng Kanto của Tokyo, nơi 300 ngàn lính Nhật Bản được trang bị đầy đủ đang đóng quân và nơi mà những hành động bất phục tùng và không chịu thừa nhận thất bại diễn ra thường xuyên. Atsugi đã trở thành căn cứ huấn luyện cho các phi công máy bay Thần phong. Nhiều phi công ở đây không chấp nhận đầu hàng. Một cuộc nổi dậy đã xảy ra nhiều ngày sau khi bản tin tuyên bố đầu hàng của Hoàng đế Nhật Bản phát sóng. Tuy nhiên, MacArthur ra lệnh quân lính của ông phải hạ súng trước khi máy bay hạ cánh. Ông tin rằng, chuyến đi đến của những người Mỹ không vũ trang sẽ khiến họ ít bị tấn công hơn. Hơn nữa, nó cũng tác động vào tâm trạng của người phương Đông rằng, Nhật Bản đã thất bại. MacArthur trở thành một kẻ chiến thắng chứ không phải là một chiến binh. Tướng Whitney kể lại câu chuyện như sau:

        Chúng tôi bay vòng ở độ cao hơn ngọn cây một chút, khi nhìn ra cánh đồng và dải đất phẳng trải dài ở đồng bằng Kanto, tôi có thể thấy vô số ụ súng phòng không. Thật khó có thể quèn đi những hành động gần đây của Nhật Bản. Chiến tranh đã nổ ra mà không có lời tuyên bố chính thức nào. Hầu như mọi nơi quân Nhật không chịu buông súng ngoại trừ bị tiêu diệt. Các luật lệ thông thường của chiến tranh đã không được tuân thủ, những cái bẫy chết người thường xuyên được giăng ra. Đây là cơ hội vĩ đại nhất cho quân Nhật thực hiện một hành động cuối cùng và đỉnh cao nhất. Súng phòng không không thể bắn trượt khi mảy bay đang ở tầm thấp này. Liệu thần chết đã bỏ qua cho ông trên cả ngàn chiến trường chỉ để sát hại ông vào thời điểm cuối cùng của cuộc chiến? Tôi nín thở. Tôi nghĩ rằng, toàn thế giới củng đang nín thở. Tuy nhiên như thường lệ, ông ấy đã đúng, ông ấy hiểu người phương Đông, biết tính cách cơ bản của người Nhật quả rõ nên mới dám chơi canh bạc chết người này. Ông ta biết và tin vào tinh thần phong cách hiệp sĩ quốc gia gọi là “Võ sĩ đạo”.

        Máy bay hạ cánh xuống sân bay và MacArthur bước ra. Ông dừng lại một giây để chỉnh đốn lại trang phục. Bầu trời xanh ngắt với những đám mây trắng nhẹ trôi. Mặt trời đang thiêu đốt sân bay khiến cho các đường băng bêtông và thềm dế máy bay sáng choang vì sức nóng. Có vài chiếc máy bay của Mỹ trên sân bay và một vài binh sĩ Đồng minh trong khu vực, nhưng đó chỉ là một lực lượng nhỏ. Một vài sĩ quan đợi chào đón ông. Sĩ quan cao cấp nhất là tướng Eichelberger bước tới trước MacArthur. Họ bắt tay và MacArthur nói với giọng nhỏ nhẹ: “Này Bob, từ Melbourne đến Tokyo là một quãng đường dài, nhưng dường như cũng đã kết thúc đoạn đường này rồi”.

        Mang kính đen, ngậm tẩu cùi ngô, Mac Arthur bước xuống máy bay và đặt chân lên đất kẻ thù. Đợi ông ở sân bay theo Whitney là một “Đoàn xe hư hại thảm thương nhất mà tôi chưa từng thấy. Đó là phương tiện vận chuyển tốt nhất của Nhật Bản mà người Nhật có thể tập hợp cho chuyến thăm đến Yokohama”. MacArthur được trao vinh dự ngồi vào chiếc Lincoln cổ của Mỹ; các sĩ quan khác lên những chiếc xe đằng sau. Khoảng 20 lính Mỹ khác đã tham gia phái đoàn hộ tống Tổng tư lệnh.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 01:01:39 am

        “Một cảnh tượng như trong mơ”. Theo lời của Eichelberger: Một đoàn xe cộ kêu loảng xoảng chạy chậm trên quãng đường 30km tới Yokohama. Dọc theo quãng đường đó là hàng binh sĩ của hai sư đoàn khoảng 30 ngàn lính Nhật Bản đứng xoay lưng lại với đoàn xe.

        Các quan chức Nhật Bản tháp tùng phái đoàn Mỹ giải thích rằng, đây là hành động biểu thị sự tôn trọng. Họ bảo vệ MacArthur giống như kiểu cách mà họ bảo vệ Hoàng đế. Mục đích là bảo vệ ông tránh bất cứ lực lượng phản bội nào hoặc tránh bất cứ hành động bất kính nào. Từ lúc đổ bộ cho đến lúc hộ tống diễu hành, Whitney không được biết là cảnh kỳ lạ này không phải thể hiện sự thù địch.

        “Tôi không thể không tự hỏi, có phải người Nhật hành động như thế để biểu thị cho sự chống đối, hay liệu họ có thực sự thấy cần thiết phải bảo vệ bằng một đội quân hùng hậu như vậy, hay liệu có một động cơ sâu kín, bí hiểm nào khác?” Đoàn xe tiếp tục lăn bánh trên đường và những người Mỹ trên đoàn xe là mục tiêu rất dễ bị tấn công. Eichelberger thở phào nhẹ nhõm khi hành trình kết thúc. Họ nhanh chóng phát hiện Yokohama là một thành phố ma, hoang vắng và có nhiều nhà trọ. Tại khách sạn New Grand lộng lẫy của thành phố, nhân viên khách sạn phủ phục trước MacArthur. Buổi tối, Whitney cảnh báo MacArthur rằng, món thịt nướng của ông có thể bị bỏ độc. MacArthur cười lớn và trả lời: “Chẳng ai sống mãi mãi”.

        Sau này, Churchill cho rằng, “Thành tích xuất sắc” của vị tư lệnh trong cuộc chiến này chính là việc tướng MacArthur dám đổ bộ với một lực lượng nhỏ ngay trước mũi của mấy triệu lính Nhật Bản chưa bị giải giáp. Sau đó, ông viết:

        “Trong số những chiến công ngoạn mục của lòng dũng cảm trong cuộc chiến, tôi cho rằng việc MacArthur đổ bộ ở Atsugi là chiến tích vĩ đại nhất”. Theo quan điểm một số người khác, hành động dũng cảm này là không cần thiết đối với một vị tướng trong lúc cuộc chiếm đóng bắt đầu thực hiện với lời giải thích tốt đẹp nhấn mạnh rằng, người Mỹ mang đến đây một thông điệp hòa bình và hòa giải chứ không phải là lòng thù hận như người Nhật lo ngại, sau những gì người Nhật đã đối xử với các dân tộc bị chiếm đóng và với những người Mỹ bị bắt làm tù binh.

        Nhà sử học người Nhật Kazuo Kawai sau đó viết:

        Đó là một hành động biểu thị sự dũng cảm cá nhân. Nó cũng là một hành động biểu thị sự tin tưởng thiện chí của Nhật Bản. Đó là một đòn tâm lý tước hoàn toàn sự e sợ của Nhật Bản. Từ thời điểm đó, bất cứ nguy hiểm nào hay một dự định tấn công nào vào người Mỹ đều biến mất nhờ làn sóng ngưỡng mộ và biết ơn của người Nhật.

        Sau này, lễ đầu hàng thực sự của Nhật Bản chỉ là một trò hề mặc dù MacArthur đã cố gắng sắp đặt một đoạn kết hoành tráng. Ông mời tướng Jonathan Wainwright, người đã đầu hàng Nhật Bản tại Corregidor sau khi MacArthur rời hòn đảo này và tướng Arthur Percival, vị cựu tư lệnh người Anh ở Singapore đến gặp ông và sau đó chứng kiến lễ đầu hàng.

        Cuỡc hội ngộ với Wainwright rất cảm động. Phóng viên hãng tin CBS kể:

        Khi xe của Wainwright đến ngoài khách sạn New Grand, tướng MacArthur ra khỏi phòng và chạy qua hành lang để chào đón một người gầy đói và ăn mặc tả tơi đang tiến vào. Khống chờ đợi đến thủ tục chào hỏi, tướng MacArthur cầm tay Wainwright và khoác tay lên vai ông... Tướng MacArthur biểu thị nhiều tình cảm hơn tôi đã từng thấy ở con người thường của ông.

        MacArthur sửng sốt với sự xuất hiện của người đồng nghiệp lâu năm:

        Ông ta hốc hác và già nua. Ông phải chống cày gậy bước đi một cách khó khăn. Mắt ông hõm sâu và má cũng hõm sâu. Tóc của ông đã bạc trắng và da thì giống như da giày cũ nát. Ông phải cố gắng cười khi tôi ôm ông ấy, nhưng khi nói chuyện thì giọng ông không phát ra nổi. Trong 3 năm qua, ông đã phải sống trong ô nhục vì đã dâng nộp Corregidor. Ông tin rằng mình sẽ không bao giờ được trao quyền chỉ huy một lần nữa. Việc này làm tôi kinh ngạc. Tôi hỏi: “Tại sao vậy Jim? Quân đoàn cũ vẫn là của ông nếu ông muốn”.

        Hai ngày sau, vào một buổi sáng nhiều mây ngày 2-9- 1945, đối thủ của MacArthur là Đô đốc Nimitz trèo lên chiến hạm USS Missouri khổng lồ nặng 45 ngàn tấn đang neo đậu cách Vịnh Tokyo gần 30 cây số. Dưới lá cờ Mỹ khổng lồ, phái đoàn của Nhật Bản tập trung đông đúc người trên boong tàu. Hàng ngàn thủy thủ nhìn họ trong khi phóng viên truyền hình đang tìm mọi góc có thể đứng ở phần trên boong tàu.

        Phái đoàn của Nhật Bản không ấn tượng như MacArthur chờ đợi. Tất nhiên, Hoàng đế không có mặt. Thủ tướng - hoàng tử Higashikuni, chú của Hoàng đế - đã cử đại diện huyết thống hoàng gia để lấy cớ vắng mặt. Người đại diện ông, một người thực sự mạnh mẽ trong chính phủ, hoàng tử Konoye cũng vắng mặt. Người dẫn đầu phái đoàn Nhật Bản là Ngoại trưởng Mamoru Shigemitsu, một người duy tâm cứng đầu và đã mất một chân trong một vụ không kích 15 năm trước đây. Tuy nhiên, ông là người chống chủ nghĩa quân phiệt mạnh mẽ. Về phía quân đội có tướng Yoshijiro Umezu, tổng Tham mưu trưởng quân đội, người đã do dự và sau đó kêu gọi Nhật Bản tiếp tục chiến đấu. Ông ta được lệnh phải tham dự.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:33:02 am

        Phái đoàn Nhật Bản mặc đồng phục, đội mũ nồi. Họ trông dữ tợn nhưng nhỏ bé. Họ đứng cứng đơ và tập trung chú ý khi một viên sĩ quan tuyên úy cầu nguyện và máy hát nhỏ, trầy xước xướng lên bản Cờ sao lấp lánh, quốc ca của Mỹ.

        MacArthur, Nimitz, Halsey, Wainwright và Percival cùng đứng bên phái đoàn Nhật Bản. Một trong những đại diện Nhật Bản đã ghi lại giây phút đó:

        Họ tụ tập đông đúc và chật chội đến nghẹt thở bao gồm các đại diện, các nhà báo, những người đứng xem. Khi chúng tôi xuất hiện, tôi cảm thấy như bị giàn gông hành hạ. Có một triệu con mắt đập vào chúng tôi như một cơn bão tên lửa rào rào lao đến. Tôi cảm thấy sự sắc bén của chúng đâm vào cơ thể với một cơn đau buốt. Tôi chưa bao giờ hiểu được ràng, cái nhìn của những con mắt trừng trừng có thể gây tổn thương đến như vậy. Chúng tôi đợi vài phút, đứng ở giữa rừng ánh mắt giống như những học sinh hối lỗi đang chờ thầy hiệu trưởng đáng sợ. Tôi cố giữ điềm tĩnh tối đa và giữ sự tự trọng về thất bại, nhưng thật khó và mỗi phút trôi qua giống như cả thế kỷ. Tôi nhìn lên và thấy trên bức tường có vài lá cờ của Nhật Bản được biểu hiện bằng những con số, tương ứng với máy bay và tàu ngầm bị chiến hạm này bắn rơi hay đánh chìm. Khi đếm các lá cờ đánh dấu này, cổ tôi thấy nghẹn lại và nước mắt trào dâng trên khóe mắt.

        MacArthur bước đến chỗ đặt micro. Ông đã chuẩn bị bài diễn văn kỹ càng:

        Khi chuẩn bị tiếp nhận sự đầu hàng của các tư lệnh hùng mạnh của Viễn Đông, tôi ước rằng ngòi bút của mình có thể viết ra những ngôn từ bất tử mà theo tiếng gọi của tôi, chúng sẽ chuyển tải được các cảm giác làm thỏa mãn các nguồn lẽ phải cuối cùng, lịch sử và lời giải thích. Vì tôi biết rằng, trong sự hiện lên của thời khắc bất hủ này, có các lẽ phải mà cuối cùng sẽ được đưa vào thiên anh hùng ca và thơ ca, và những ngôn từ ngợi ca mà chúng ta tìm trên môi của những nhà tiên tri vĩ đại nhất.

        MacArthur đã nói ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Ông không nhận được nhiều ủng hộ từ phía trên bầu trời để phối hợp đưa buổi lễ lên đỉnh cao. Mặt trời chiếu xuyên qua đám mây khi ông kết thúc bài phát biểu và tiếng kêu o o vang lên. Đó là tiếng gầm đinh tai của 400 siêu Pháo đài bay B-29 và 1.500 máy bay chiến đấu trên đầu. Bản phát thanh của MacArthur cho người Mỹ nói rằng, ngày hôm đó, trời đất dường như cảm động và u ám:

        Hôm nay, tiếng súng đã im lặng. Bi kịch lớn đã chấm dứt. Một chiến thắng vĩ dại đã đến... Một kỷ nguyên mới đón chào chúng ta. Bài học chiến thắng củng mang lại âu lo cho cả an ninh trong tương lai lẫn sự tồn tại của nền văn minh chúng ta. Thực tế, sự tàn phá tiềm tàng của chiến tranh, thông qua những tiến bộ trong phát minh khoa học đã đạt đến điểm phải xem xét lại các khái niệm truyền thống của chiến tranh. Loài người kể từ khi bắt đầu mới xuất hiện đã tìm kiếm hòa bình... Tất cả các liên minh quân sự, sự cân bằng quyền lực, liên minh các quốc gia đều lần lượt thất bại và chỉ còn một con đường duy nhất là con đường chiến tranh đầy thử thách. Chúng ta có cơ hội cuối cùng. Nếu bây giờ không thiết kế một số hệ thống công bằng và to lớn hơn, chúng ta phải giáp mặt với trận chiến một mất một còn. Vấn đề này về cơ bản mang tính thần học và đòi hỏi sự cải thiện tính cách con người. Sự cải thiện này sẽ tiến hành đồng bộ với những tiến bộ vô địch của chúng ta trong khoa học, nghệ thuật, văn học và tất cả những bước phát triển văn hóa và vật chất trong hai ngàn năm qua. Phải giữ gìn tâm hồn nếu chúng ta muốn bảo vệ thể xác.

        Các quan chức Nhật Bản nghĩ gì về tướng Douglas MacArthur khi ở Atsugi và sau đó là tại buổi lễ đầu hàng? Họ lần đầu gặp ông, một người hói, dáng cao, đang ở ngưỡng cửa tuổi già với những nét đặc trưng của ông như đội mũ vải mềm, ngậm chiếc tẩu cùi ngô, mang kính đen với tính cách trận mạc phong trần, thoải mái, hiếm khi mang cà-vạt hay áo vét, ăn nói cực kỳ lưu loát và thu hút đến nỗi khó kết thúc cuộc gặp nói chuyện đúng giờ. Ấn tượng đầu tiên là một người chỉ huy chiến thắng và sẽ trả thù. Ấn tượng thứ hai xuất phát từ thái độ hòa giải của MacArthur, là một con người cởi mở, thận trọng phà lẫn với nét kính sợ.

        Nhà ngoại giao Nhật Bản Toshikazu Kase đã mô tả:

        Ông ta là một con người hùng biện sôi nổi và có tầm nhìn cao thượng! Đây là một người chiến thắng tuyên bố phán quyết đối với kè thù đang quy phục. Ông ta có thể áp đặt một hình phạt làm ô nhục Nhật Bản nếu muốn như vậy. Tuy nhiên, người ta cam kết tự do, khoan dung và công lý. Đối với tôi, là người đang chờ đợi đón nhận sự nhục nhã tệ hại nhất thì điều này thực sự kinh ngạc. Tôi cảm động vi những lời lẽ mê hoặc và có sức lay động mạnh. “Đối với những anh hùng đang sống và những chiến binh tử vì đạo của cuộc chiến, bài diễn văn là một vòng hoa bất tử”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:34:57 am

        Cảnh vĩ đại thứ ba sau chuyến đổ bộ ở Atsugi của MacArthur và lễ đầu hàng là buổi gặp của vị tướng này với Hoàng đế. Mối quan hệ của ông với Hirohito sẽ tác động đến kết quả của sự chiếm đóng ở Nhật Bản. Để xây dựng kế hoạch chiếm đóng này, chính MacArthur chứ không phải các ông chủ chính trị ở Washington đóng vai trò chủ yếu. Vào thời điểm đó Washington vẫn nằm trong sự kiểm soát của những người ủng hộ chính sách kinh tế xã hội mới thế hệ thứ hai. Washington có bốn mục tiêu chủ yếu đối với việc chiếm đóng: Thứ nhất là ngăn ngừa sự phân rã Nhật Bản, và đáng ngại hơn là khả năng chủ nghĩa cộng sản sẽ vươn lên nắm quyền lực. Thứ hai là phải nhổ hết nanh vuốt của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản để họ không thể đe dọa châu Á và Mỹ một lần nữa. Thứ ba là phải phá vỡ thế lực các tập đoàn tài phiệt độc quyền, vốn được coi là nơi dựa dẫm của chủ nghĩa quân phiệt. Thứ tư là giải phóng xã hội phong kiến và xây dựng dân chủ.

        Đây là những chỉ đạo đối với MacArthur, nhưng ông không thể chấp nhận được tất cả mặc dù là một người Cộng hòa bảo thủ. Giống như tính cách chống độc quyền và gia trưởng của Teddy Roosevelt, ông muốn phá vỡ độc quyền tư bản theo kiểu bán chủ nghĩa xã hội để cho phép các doanh nghiệp tư nhân nhỏ phát triển. Ông tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa tự do và mang tư tưởng của phe Dân chủ về mặt chính trị. Một sĩ quan đã mô tả một chi tiết tại buổi ăn tối ở Manila trước chiến tranh khi Tham mưu trưởng Sutherland cho rằng, nước Mỹ đáng lẽ nên là một chế độ độc tài trong chiến tranh.

        Tướng MacArthur lắng nghe một lúc và sau đó nói với Sutherland là ông ta sai. Ông nói rằng, dân chủ sẽ sống và luôn sống bởi vì người dân được phép suy nghĩ, nói chuyện và suy nghĩ tự do, thoải mái. Ông nói, trong khi nhà nước độc tài có thể lên kế hoạch cho một cuộc chiến kỹ càng đến chi tiết cuối cùng, phát động tấn công và khởi đầu rất tốt thì cuối cùng kế hoạch củng sẽ có sai sót. Có điều gì đó phá vỡ kế hoạch. Lúc đó, đầu óc tổ chức của bộ chỉ huy độc tài không đủ linh động để giải quyết nhanh khi tinh thế thay đổi. Họ đã cố gắng tính toán chiến tranh như một môn khoa học trong khi đó chiến tranh thực sự là một nghệ thuật.

        Ông nói rằng mặt khác, nền dân chủ sẽ sản sinh ra hàng trăm hàng ngàn những lãnh đạo suy nghĩ tự do và linh động. Những người này sẽ tận dụng các sai lầm và khó khăn của kẻ độc tài, nghĩ ra hàng chục cách thông minh hơn để đánh bại kẻ độc tài. Nếu dân chủ có thể đứng vững trước đợt tấn công ban đầu, nó sẽ tìm ra phương cách phản công và cuối cùng sẽ chiến thắng. Dân chủ gây tốn kém tiền bạc và đôi lúc có vẻ không có hiệu quả, nhưng theo phân tích cuối cùng, dân chủ chúng ta có được ở Mỹ là hình thái chính phủ tốt nhất mà con người từng có cho đến nay. Ông dừng lại và nói, “Dick, vấn đề là ở ông! Tôi e rằng, ông là người chuyên quyền bẩm sinh”. Tuy nhiên, có nhiều người ở Washington cho rằng nên phế truất Hoàng đế Nhật Bản và đưa ông ra xét xử vì trách nhiệm liên quan trong cuộc chiến này. Họ đại diện cho công luận đa số trong nước cũng như đại diện cho quan điểm của hầu hết đồng minh của Mỹ.

        Tuy nhiên, MacArthur phản đối kịch liệt. Ông tin rằng, Hoàng đế là yếu tố cần thiết để duy trì sự ổn định ở Nhật Bản. Ông cho rằng, việc chiếm đóng không thể thống trị chống lại Hoàng dế mà chỉ có thể thống trị thông qua Hoàng đế. Nguồn gốc của quan điểm này đến từ các cố vấn của Thiếu tướng Bonner Feller, thư ký quân sự của MacArthur, một nhà nghiên cứu Nhật Bản và có người em họ Gwen cưới nhà ngoại giao người Nhật Hidenari Terasaki. Fellers giữ quan điểm rõ ràng vào thời điểm đó. Ông phê phán việc ném bom tập trung Tokyo và coi đó là “Một trong những hành động tàn sát man rợ và tàn nhẫn nhất đối với những người không trực tiếp chiến đấu trong lịch sử”. Chỉ một tuần trước khi Nhật Bản đầu hàng, ông viết:

        Chiến tranh ở châu Âu là có tính chất chính trị lẫn xã hội, trong khi đó cuộc chiến ở Thái Bình Dương là có tính chất chủng tộc... Người da trắng là chúa tể của người phương Đông... Vị trí nước Mỹ ở phương Đông không thể xác lập trên giả thuyết về uy quyền tối cao của người da trắng. Người phương Đông phải được đặt ngang bằng với người dân chúng ta... Không có sự cấm đoán nào vì yếu tố chủng tộc.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:36:44 am

        Trong một tài liệu viết trước thời điểm đầu hàng, ông lập luận rằng:

        Thất bại vô điều kiện và hoàn toàn của Nhật Bản là yếu tố cần thiết giúp duy trì hòa bình lâu dài ở phương Đông. Chỉ thông qua thất bại quân sự hoàn toàn và trải qua các cơn hỗn loạn, người dân Nhật Bản mới có thể hết ảo tưởng về sự truyền bá cuồng tín tự cho rằng mình là dân tộc tối thượng có sứ mệnh làm chúa tể châu Á. Chỉ thông qua thất bại đau đớn và những mất mát to lớn mới chứng minh cho mọi người thấy rằng, cỗ máy quân sự không phải là vô địch và bộ máy lãnh đạo cuồng tín của họ đã đưa dân tộc Nhật Bản vào con đường tai họa...

        Các điều khoản hòa bình phải vững chắc. Tuy nhiên, việc phế truất hoặc treo cổ Hoàng đế sẽ gây ra một phản ứng dữ dội và mãnh liệt của tất cả người Nhật. Treo cổ Hoàng đế đối với họ củng như đưa Chúa đóng đinh trên cây thập tự đối với chúng ta. Tất cả sẽ chiến đấu để rồi chết như những con kiến. Vị thế của những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt sẽ được củng cố mạnh mẽ khôn lường. Cuộc chiến sẽ kéo dài quá mức. Thiệt hại của chúng ta sẽ nặng nề hơn mức cần thiết. Việc quân đội độc lập của Nhật Bản chỉ chịu trách nhiệm trước Hoàng đế là một mối đe dọa thường trực đối với hòa bình. Tuy nhiên, con người thần thánh của Hoàng đế trong con mắt người dân và sức mạnh tinh thần của tín ngưỡng Thần đạo được định hướng đúng đắn thì sẽ không nguy hiểm. Hoàng đế có thể tạo ra một lực lượng hòa bình và thiện chí, miễn là Nhật Bản hoàn toàn thất bại và bè phái quân sự bị hủy diệt.

        Chính phủ phải có một hệ thống kiểm soát và cân bằng. Một đội ngũ lãnh đạo dân sự theo chủ nghĩa tự do phải tập hợp quanh Hoàng đế. Phe quân sự phải bị hạn chế và hoạt động dưới dạng cảnh sát nội địa, chịu trách nhiệm về quyển lực dân sự.


        Điều này trở thành bản kế hoạch cho những gì tiếp theo với một ngoại lệ quan trọng: Người Nhật không chịu “Thất bại vô điều kiện và hoàn toàn”. Họ bị thất bại vì hai quả bom nguyên tử không thể kháng cự như Hoàng đế đã nói rõ.

        Trong một lần nói chuyện với Kennan, MacArthur cho rằng, thành quả ngoạn mục nhất của việc chiếm đóng “Nằm ở thực tế rằng, nó mang lại cho người Nhật hai nhận thức to lớn mà họ chưa bao giờ cảm nhận được trước đó và đã làm thay đổi cách suy nghĩ của họ, đó là dân chủ và đạo Cơ đốc giáo”.

        Đối với ông, Nhật Bản đã “Hình thành một tiền đồn phòng ngự của phương Tây, được Cơ đốc giáo và quyền lực quân sự bảo vệ”. Ông tin rằng, “Một con số đáng ngạc nhiên, dân Nhật Bản ước tính khoảng hơn 2 triệu người” đã đi theo “Tín ngưỡng Cơ đốc giáo như là phương tiện để bù đắp khoảng trống tinh thần trong đời sống người dân Nhật Bản sau sự sụp đổ của tín ngưỡng trước đây của họ”. “Tổ xung kích của Cơ đốc giáo” sẽ làm biến đổi “Hàng trăm triệu người dân lạc hậu”. Đối với MacArthur, lý do để bảo vệ Hoàng đế đã quá rõ ràng. Ông tin rằng mình không có sự lựa chọn nào khác, và ông có thể đúng.

        Có nhiều tiếng nói phản đối đáng kể từ một số nước Đồng minh, đặc biệt là Liên Xô và Anh muốn đưa Hoàng đế Nhật Bản ra xét xử như là một tội phạm chiến tranh... Khi Washington nghiêng về quan điểm của Anh, tôi sẽ cần ít nhất 1 triệu quân tiếp viện nếu hành động đó xảy ra. Tôi tin rằng, nếu Hoàng đế bị truy tố và có lẽ là bị treo cổ như tội phạm chiến tranh, chính quyền quân sự sẽ thành lập khắp Nhật Bản và cuộc chiến tranh du kích sẽ bùng nổ.

        Trong lời khuyên chuyển đến cho các Tham mưu trưởng Liên quân thông qua bức điện tín tối mật vào ngày 25-7, ông đề cập rõ hơn:

        Hủy diệt ông (Hirohito), quốc gia sẽ bị phân rã... Các hoạt động truyền bá văn minh sẽ bị ngưng lại và viễn cảnh về sự hỗn loạn và xáo trộn ngầm sẽ dẫn đến chiến tranh du kích trong các vùng núi và vùng sâu. Tôi tin rằng, tất cả hy vọng về việc giới thiệu nền dân chủ hiện đại sẽ biến mất và khi sự kiểm soát quân đội chấm dứt, một số hình thái tổ chức có thể là theo đường lối cộng sản sẽ xuất hiện từ quần chúng... Có thể chúng ta cần tối thiểu 1 triệu binh sĩ có mặt ở nơi đây trong nhiều năm trời, chưa thể xác định là bao lâu. Ngoài ra, dịch vụ dân sự có thể được phục hồi và có thể điều hành ở quy mô vài trăm ngàn người. Tôi có cảm nhận chắc chắn rằng, mối liên hệ của Hoàng dế với công việc quốc gia cho đến thời điểm kết thúc chiến tranh, phần lớn chỉ là có tính chất phúc đáp tự động đối với lời khuyên từ các cố vấn của ông.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:37:15 am

        Mặc dù, quan điểm của MacArthur rất mạnh mẽ và nhất quyết là ông phải chịu trách nhiệm chính cho quyết định này, nhung ông vẫn đang tìm kiếm sự ủng hộ. Công luận đang muốn lấy đầu của Hirohito. Vào tháng 6 năm 1945, theo khảo sát có 33% người Mỹ muốn tử hình Hirohito (mặc dù chỉ một nửa số người này biết tên ông; có những người nghĩ ông là Tojo, Hara-Kiri, Tio, Tưởng Giới Thạch và Yoko Hama). Truman phải chịu sức ép từ những người của Bộ Ngoại giao không muốn trừng phạt Nhật Bản mà phải bảo tồn chế độ Hoàng đế Nhật Bản trước nguy cơ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

        Bộ Quốc phòng cũng chia sẻ quan điểm này. Đứng trước tình thế như vậy, Tổng thống buộc phải không chiều theo ý muốn của người dân Mỹ, những người đã chứng kiến tội ác của Nhật Bản trong nhiều năm qua. Ai có thể nói rằng, tất cả họ đều sai? Nếu Hirohito bị buộc phải ra đi, Nhật Bản có thể bị lún sâu vào cảnh đổ máu tràn lan và sự phân rã xã hội.

        Một vấn đề đang đặt ra là, Hoàng đế thoái vị khác với bị phế truất, hay đưa Hoàng đế ra xét xử, xử tử hoặc xóa bỏ hệ thống Hoàng đế. Chưa chắc có bất kỳ sự biến động nghiêm trọng nào xảy ra nếu Hoàng đế thoái vị và nhường ngôi cho con trai nhỏ. Có bằng chứng cho thấy Hirohito đã tính đến chuyện này. Vào ngày 29-8, Hirohito nói với người cố vấn thân cận nhất Marquis Kido rằng, ông sẵn sàng nhường ngôi báu để bảo vệ các thuộc cấp khỏi bị truy tố. Vị cận thần Kido lo sợ rằng điều này sẽ làm tổn hại hệ thống Hoàng đế và nuôi dưỡng “Xu hướng của chủ nghĩa cộng hòa và dân chủ”. Cả hai anh em của Hoàng đế là hoàng tử Chichibu và Takamatsu đều đưa ra những đề xuất úp mở là họ sẽ cân nhắc việc làm quan nhiếp chính nếu Hirohito thoái vị nhường ngôi cho đứa con trai nhỏ Akihito.

        Nếu ông thoái vị, các lợi ích chính của quyết định giữ Hoàng đế và ngai vàng sẽ vẫn không có gì thay đổi như Homer Dubs, chuyên gia nghiên cứu Nhật Bản tư vấn chính phủ Mỹ viết vào thời điểm đó. “Không có gì khác biệt cho dù ông ngả về xu hướng hòa bình hay chiến tranh. Người Nhật xem trọng nhiệm vụ của Hoàng đế hơn là cá nhân ông. Vấn đề cần thiết là phải xóa bỏ tâm trí người Nhật về niềm tin thần thánh về Hoàng đế. Điều này không thể thực hiện, trừ khi quân Đồng minh chứng minh với họ rằng, họ có thể nhổ tận gốc những kẻ thống trị thần thánh. Hiện tại Mỹ hạn chế chỉ trích và đụng chạm Hoàng đế Nhật Bản để tránh sự lợi dụng của người Nhật theo chủ nghĩa quốc gia. Họ có thể tuyên bố với người dân của họ: ngay cả người Mỹ cũng tôn trọng và kính sợ, Thiên hoàng bất khả xâm phạm”.

        Những hậu quả của quyết định bảo tồn chế độ Hoàng đế lẫn chức vụ Hoàng đế là sâu hơn nhiều so với những gì MacArthur và các thượng cấp của ông dự định hay tiên liệu. Giữ lại ngôi vị Hoàng đế là tín hiệu đối với người Nhật rằng, người Mỹ họ sẽ khoan nhượng để hệ thống Hoàng đế tồn tại, dù họ cam kết mạnh mẽ thay dổi diện mạo đất nước này. Ngai vàng là hiện thân thực sự của cuộc đấu tranh quyền lực, là đỉnh cao của quyền lực chính thức trong một thể chế chính trị có thứ bậc từ cao xuống thấp. Giữ lại ngôi vị Hoàng đế nghĩa là giữ lại các khái niệm quyền lực, sự tôn trọng và sự lệ thuộc.

        MacArthur đã sải bước mạnh mẽ đưa Hirohito vào chế độ quân chủ lập hiến. Người Nhật có lịch sử lâu đời xưng tụng Hoàng đế “Trên mây” vẫn xem ông là yếu tố cố kết quan trọng của chủ nghĩa độc đoán và sự tôn kính, mặc dù ông rời xa chính trị. Hoàn toàn không có gì khó khăn để đưa Hoàng đế xa rời chính trị, một sự đổi mới gần đây của thời kỳ Minh Trị.

        Thực tế như chúng ta đã thấy, thực quyền của Hirohito bị giới hạn rất nhiều. Xuyên suốt hai thập kỷ trước, vai trò của ông đối với những người chủ nghĩa quân phiệt chỉ là tính biểu tượng. Điều này quan trọng hơn rất nhiều so với việc ông can thiệp sử dụng quyền lực thực sự. Tước quyền lực của Hirohito trong khi vẫn giữ ông như là một biểu tượng cũng không gây ra khác biệt nhiều so với cấu trúc thực sự của bộ máy quyền lực của Nhật Bản. Phía dưới ông, hệ thống vẫn tiếp tục vận hành.

        Một chế độ quân chủ lập hiến là một chế độ mà chủ quyền đã được bén rễ trong nhân dân và nền quân chủ chỉ thống trị chừng nào Hoàng đế còn được người dân tôn trọng. Thực sự, sự tồn tại của nền quân chủ lập hiến hiện đại phụ thuộc vào khả năng duy trì sự yêu mến của nhân dân cũng như Hoàng đế phải khôn ngoan hơn các đối thủ cộng hòa. Ớ Nhật Bản, sau sự phát triển rực rỡ của cánh tả đối chọi với Hoàng đế trong thời gian ngắn của thời kỳ hậu chiến ban đầu, có một sự đồng thuận bảo vệ đã hình thành bao bọc quanh ông. Nền quân chủ chỉ ít quyền lực hơn trước đây một chút, nhưng quyền lực của ông vẫn luôn nằm ở biểu tượng ngai vàng như là đỉnh cao của cấu trúc kinh tế, chính trị, xã hội, chứ không nằm ở con người.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:37:43 am

        Dường như có một nhận thức lờ mờ của MacArthur và các thượng cấp về sự khác nhau giữa việc đưa Hoàng đế Nhật Bản ra xét xử và việc buộc ông thoái vị. Đưa ông ra xét xử sẽ dẫn đến nhiều hậu quả to lớn hơn là việc buộc ông thoái vị. Điểm thuận lợi dành cho Hirohito là có hồ sơ ghi chép về việc ông lưỡng lự ủng hộ những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt. Người Mỹ tin rằng, ông là một công cụ có ích chứ không đến nỗi phải vứt bỏ. Bất cứ xung đột trực tiếp nào với Hoàng đế Nhật Bản cũng sẽ dẫn đến nguy cơ nội chiến với những cuộc tấn công cuồng tín nhằm vào người Mỹ. Tuy nhiên nếu Hirohito đồng ý cho Mỹ chiếm đóng, tinh thần chủ nghĩa quốc gia sẽ được trung hòa một cách hiệu quả. Người dân vẫn có cảm giác rằng đất nước không bị chiếm đóng, Hoàng đế vẫn trị vì. Người Mỹ chỉ làm chức năng cố vấn cho ông cũng giống như các vị Hoàng đế trước đây trong nhiều thế kỷ đã nhận được sự cố vấn từ các tướng quân Nhật, những người thực sự cai quản đất nước.

        Quyết định giữ lại Hirohito và chức vụ của ông bị một số dồng minh của Mỹ phản đối kịch liệt. Mặc dù người Anh hiểu và thậm chí ngấm ngầm đồng ý nhưng Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin từ chối giúp người Mỹ. Ông nói: “Tôi không muốn chúng tôi đề nghị với người Mỹ là nên giữ Hoàng đế lại, Chắc chắn họ sẽ thích lời đề nghị như vậy và sau đó họ nói rằng là miễn cưỡng đồng ý với chúng tôi”. Trung Quốc muốn đưa Hoàng đế ra xét xử. Ngoại trưởng Australia cũng đã đặt Hoàng đế Hirohito vào danh sách tội phạm chiến tranh mà ông muốn phải bị xét xử. New Zealand cũng muốn như vậy.

        Ngoại trưởng Mỹ Joseph Grew đã quyết định thẳng thừng đứng về phía MacArthur. Cuối cùng, Truman đã phê chuẩn lệnh theo quan điểm của MacArthur.

        Trước cuộc gặp với MacArthur, Hirohito canh cánh lo sợ về hai sự cân nhắc trên, cũng như nỗi sợ về an toàn bản thân.

        Một sân khấu đã dàn dựng cho buổi gặp gỡ đầu tiên đặc biệt giữa Thiên hoàng và vị tướng quân người Mỹ. Tính biểu tượng của cuộc gặp giữa Hoàng đế và người chiến thắng nước ngoài đầu tiên ở đất nước ông rất lớn. Một thế lực dân chủ gần 170 năm tuổi đang tiếm quyền một chế độ chuyên quyền cổ nhất của thế giới. Một bên là con người đang lấn át quyền lực và một bên là thần thánh. Tuy nhiên, xét trên phương diện mối quan hệ con người, cuộc gặp gỡ này không kém phần chua chát, về bề ngoài, sự khác biệt giữa hai người đàn ông rất lớn. Một người yếu đuối, què quặt, được nuông chiều và hưởng quyền lực tối thượng trong gần hai thập kỷ gặp một con người có cả cuộc đời hành động, đã chiến đấu xuyên qua 1/4 thế giới trước sự chống lại của các lực lượng của Hoàng đế Nhật Bản. Hirohito chưa bao giờ chứng kiến một hành động quân sự như vậy. MacArthur có kinh nghiệm trận mạc, xông pha đạn lửa từ Pháp đến Corregidor cho đến nam Thái Bình Dương và gặp nguy hiểm tính mạng vô số lần.

        Hirohito không phải ở một lãnh thổ xa lạ khi ông bước ra từ xe để vào đại sứ quán Mỹ vào ngày 27-9-1945. Trong ba thế kỷ, tổ tiên của ông đã từng làm đồ trang trí tinh thần cho quyền lực thực sự do các tướng quân Tokugawa và những kẻ độc tài quân sự nắm giữ. Suốt một thập kỷ trước chiến tranh, đặc biệt là trong 5 năm sau vụ đàn áp cuộc đảo chính tháng 2 năm 1936, đánh dấu bước leo lên quyền lực cuối cùng của chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật Bản thời kỳ trước chiến tranh, Hirohito đã được trao quyền lực chính thức, nhưng lại có ít sự lựa chọn ngoài việc tán thành và thỉnh thoảng chất vấn các quyết định do các lãnh đạo quân sự đưa ra. Liệu sự quy phục của ông trước một nhân vật quân sự khác (mà lần này là người Mỹ) có khác hơn không?

        Sự nghiệp của MacArthur cũng gặp nhiều gập ghềnh từ chiến tích vào năm 1919 cho đến khi bị đày ải năm 1924 rồi thành công lại năm 1930, rồi ô nhục vào năm 1932, rồi lại nhục nhã năm 1941 và năm tiếp sau đó ông nhanh chóng chuộc lại lỗi lầm. Cả hai người đàn ông này đều trải qua nhiều lần đảo ngược vận may. Họ cũng có sự tương đồng đáng ngạc nhiên về tính khí. Cả hai đều được nuôi dưỡng trong môi trường chính thống đến lố bịch. Hirohito được những người kỷ luật của cung điện nuôi dạy trong khi đó MacArthur lại lớn lên giữa tiền đồn và doanh trại khắc nghiệt. Tuy nhiên, dưới bề mặt không tì vết của cả hai người là những bản chất nội tâm tìm những con đường trốn thoát cho riêng mình. MacArthur hướng đến phụ nữ và tình yêu thơ ca như một chàng trai trẻ tuổi. Hoàng đế thì thích nghiên cứu khoa học. Thật ngạc nhiên nếu vị lãnh chúa cai trị được nuông chiều, khiêm nhường, nhỏ nhắn này có thể hòa hợp với một người đàn ông cao to, phù phiếm, phô trương, độc đoán và là người hành động.

        Họ sẽ không hợp nhau, và đó chỉ là cuộc gặp của hai kiểu lãnh chúa hoàn toàn khác nhau.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:38:53 am
         
Chương 29

NGƯỜI NHÌN XA TRÔNG RỘNG

        MacArthur đã thất bại ở vai trò của người cải cách xã hội và chính trị, nhưng không phải là tất cả. Tất nhiên chính trị là nghệ thuật và để chuyển đổi toàn bộ nền tảng của trật tự kinh tế và xã hội phong kiến Nhật Bản, MacArthur đã đặt ông vào nhiệm vụ của một siêu nhân. Ông cho rằng, cải cách đạt được một nửa hoặc không hoàn toàn thành công cũng đã là những chiến thắng vĩ đại vì ông nhận ra không thể làm gì hơn được nữa. Hơn nữa, bầu không khí tranh luận của các ông chủ chính trị ở Washington thay đổi mạnh trong vòng 3 năm khiến một vài chương trình cải cách của MacArthur vừa mới hoạt động đã phải ngưng lại.

        Bởi vì ông có tính cách màu mè, thẳng thắn và thích làm nhục các lãnh đạo chính trị đặc biệt là Tổng thống nên ông như một con sói lẻ loi. Trong thực tế mặc dù ông thỉnh thoảng chơi khăm chính trị với Washington và thường xuyên làm trái và phớt lờ các chỉ đạo nhỏ từ thủ đô Mỹ, xuyên suốt quá trình chiếm đóng, không có lần nào ông phản kháng một mệnh lệnh trực tiếp từ Washington. Ông đang đóng trên một miền đất hoang và tận dụng sự thiếu quan tâm của chính quyền Truman đối với Nhật Bản trong suốt 2 năm đầu chiếm đóng. Tuy nhiên, ông không bao giờ phá vỡ mối liên hệ với chính quyền Truman.

        Dù ông hài lòng trong những điệu bộ màu mè khi phản đối một mệnh lệnh trực tiếp từ Truman tham dự một buổi tiếp tân tôn vinh ông ở Mỹ. Ông quá bận, ông đánh điện nói rằng, tình thế ở Nhật Bản quá nguy kịch. Không chỉ điều này xúc phạm Tổng thống, người mà MacArthur coi thường ngay từ đầu, mà còn nhằm thể hiện tính uy quyền của ông hơn các tướng khác. Những kẻ chỉ trích MacArthur cho rằng, trong quá trình chiếm đóng, ông chủ yếu muốn sử dụng Nhật Bản như là một bàn đạp để tranh cử Tổng thống khi quay về Mỹ.

        MacArthur sống trong dinh thự của Đại sứ Mỹ hay còn gọi là Nhà Lớn cùng với Jean và Arthur. Ông dậy vào 7 giờ sáng, ăn sáng với họ và tập thể dục. Ông đọc báo và sau đó gửi thư, trả lời những lá thư hoặc ký tắt vào sau đó cho thuộc cấp của ông xử lý. Whitney sẽ gọi điện từ Tòa nhà Dai-Ichi, trụ sở của SCAP để báo cáo vắn tắt cho ông những sự việc quan trọng.

        Đến 10g30 hoặc 11 giờ, MacArthur sẽ đến văn phòng bằng chiếc xe Cadillac đời 1941 với hai người lính hộ tống đi trên một chiếc xe jeep. Trong thời gian chiếc Cadillac vận hành 5 phút mỗi buổi sáng, giao thông ngưng hoạt động và đèn giao thông đổi thành màu xanh. Các đám đông người Nhật và Mỹ thường tụ tập quanh lối vào ở tòa nhà Dai-Ichi để ngắm nhìn MacArthur tiến vào và rời khỏi đây. Trong một văn phòng không có trang bị điện thoại, MacArthur trao đổi với Whitney và sẽ đọc cho người khác viết những lá thư và báo cáo nhanh như tính cách ăn nói trôi chảy của ông. Nhà văn John Gunther nói về phong cách của MacArthur: “Thật ngạc nhiên người ăn nói giỏi như MacArthur lại viết quá tệ... Điều này không chỉ cho thấy phong cách phô trương của ông. Nó còn tệ hơn vậy nữa”.Sau đó, MacArthur gặp mọi người, đốt tẩu thuốc và đi lui di tới, nói chuyện tràng giang đại hải trước sự chán nản của các thuộc cấp.

        Khoảng 2 giờ chiều, ông quay về ăn bữa trưa muộn. Đây là lúc duy nhất trong ngày ông thư giãn. Jean vợ ông chào ông với vẻ hân hoan khi bà đứng đợi với những người khách: “Xin chào, tướng quân”. Họ ăn mà đồ ăn không có sự sắp đặt trước, một điều khiến các quan chức và nhà ngoại giao nghiêm nghị cảm thấy sốc. Gunther đã tham dự một bữa ăn như thế:

        Điều mà làm tôi ấn tượng nhất là tính hài hước, nhanh nhẹn và khoan dung của ông. Chính sự bí ẩn về một vị tư lệnh vĩ đại bao quanh MacArthur khiến cho mọi người không nghĩ đến tính cách rất con người của ông. Tôi cũng nghĩ ông là người bí ẩn, sôi nổi và nói chuyện dông dài. Ông có tất cả tính cách này, nhưng có điều gì đó không hẳn như vậy. Ông cười nhiều, thích những câu chuyện đùa và nói nhiều, cho phép ngắt lời và lắng nghe tốt... MacArthur ăn hầu hết mọi thứ nhưng chỉ uống vài tách cà phê với nhiều đường. Đôi lúc, ông nhìn chúng tôi hoặc vợ ông; đôi lúc ông nói chuyện với gương mặt nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ bèn phải. Ông đang nhìn cái gì hay tìm kiếm cái gì?”.

        Giống như Churchill, sau bữa trưa, MacArthur sẽ ngủ khoảng một tiếng sau đó thư giãn bằng cách đọc báo và nói chuyện với vợ. Vào lúc khoảng 5 giờ, ông sẽ quay trở lại văn phòng và cùng với các nhân viên đang lầm bầm khó chịu làm việc thêm 3 hoặc 4 giờ nữa (họ đã làm nguyên ngày). Khi một ai đó phàn nàn rằng, ông giết nhân viên, ông trả lời với thái độ nhẫn tâm của người Nhật, “Số phận tốt nhất đối với một con người là chết khi đang thực hiện nhiệm vụ”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:39:52 am

        Ông sẽ quay trở về nhà vào lúc 8g30 hoặc 9 giờ tối, sau đó ăn bữa tối nhẹ, xem phim cùng với bất cứ nhân viên nào của SCAP. Ông thích coi chương trình thời sự, các hài kịch và các phim cao bồi. Sau đó ông sẽ đi lại dọc theo tầng một của tòa đại sứ, tiếp tục nói chuyện với người nghe bất đắc dĩ là bà vợ của mình cho đến 1 giờ sáng, lúc vợ ông đã buồn ngủ.

        Thật khó biết những gì MacArthur thực sự suy nghĩ trong một thời điểm, vì ông thay đổi quan điểm tùy thuộc vào thính giả ông đang nói chuyện là ai. Tuy nhiên, có ít nhất ba tính cách rõ ràng trong chính sách của ông. Ông là người sôi nổi và người theo phái cộng hòa tuân thủ hiến pháp. Chính điều này thúc đẩy ông cải cách bản chất chuyên chế của xã hội Nhật Bản.

        Trong khuôn hình đó, ông là một người Mỹ cực hữu. Trong quân đội Mỹ, ông được xem là người theo chủ nghĩa tự do nhưng không ủng hộ những từ vựng chính trị của bất cứ ai khác. Ông không tin những người ủng hộ chính sách kinh tế xã hội mới và ghét những người theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng thừa nhận mình đôi khi phải làm việc với những người thuộc trường phái khác như Franklin Roosevelt. Ông đã không leo lên được chức vụ cao nhất trong bộ máy quân đội vì không thỏa hiệp khi cần thiết. Cuối cùng, ông là một người Cơ đốc giáo sôi nổi. Điều này củng cố cho cả sứ mệnh lẫn thái độ chống cộng của ông.

        Ông tìm cách thay đổi tinh thần của người Nhật và đặt ông vào vị trí đối lập với những người bảo thủ khuyển nho trong bộ máy nhân viên của mình. MacArthur rất say mê trong những quyết tâm cải cách ban đầu. Quá trình cải cách đã đạt được gì trong 3 năm ngắn ngủi này và các thành tựu đạt được duy trì được bao lâu? Câu trả lời là MacArthur và những người cải cách đã cố gắng hết sức và đạt được một khối lượng thành quả đáng ngạc nhiên nhưng vẫn chưa đủ. MacArthur chưa bao giờ ảo tưởng về quy mô công việc mà ông đặt ra cho ông trong khi cố gắng thay đổi đặc tính cơ bản của xã hội Nhật Bản. Những người chỉ trích ông hoàn toàn sai khi cho rằng, ông không hết lòng cho công việc mạo hiểm này. Sau này, ông viết:

        Người Nhật thuộc một nền văn minh của thế kỷ 20 nhưng thực tế, Nhật Bản gần giống một xã hội phong kiến mà các quốc gia phương Tây đã loại bỏ từ 4 thế kỷ trước. Có những khía cạnh đời sống Nhật Bản thậm chí còn xưa cũ hơn thế nữa. Mặc dù chính trị thần quyền là một hệ thống chính phủ đã không còn được tin cậy trong 3.000 năm tiến bộ ở thế giới phương Tây, nó vẫn còn tồn tại ở Nhật Bản. Hoàng đế được coi là một vị thánh sống và người Nhật bình thường không dám đưa mắt nhìn kẻ cai trị mình. Hoàng đế là tối thượng. Lời của ông là cuối cùng. Ông được ủng hộ quyền lực từ một nhóm nhỏ kiểm soát quân đội, bộ máy chính phủ và nền kinh tế. Không có bất cứ cái gì gọi là quyền dân sự. Thậm chí không có nhân quyền. Tài sản và những gì người dân Nhật Bản làm ra có thể bị tước toàn bộ hoặc một phần để cung cấp cho những kẻ thống trị. Giữa năm 1937 và năm 1940, cảnh sát mật đã tống giam hơn 60 ngàn người vì “Suy nghĩ nguy hiểm”. Thực tế, người Mỹ xem Nhật Bản gần giống như là Sparta cổ xưa chứ không phải là một. quốc gia hiện đại.

        Khi tôi chuyển trụ sở chỉ huy của mình sang tòa nhà Dai Ichi, tôi đã tuyên bố rằng, “SCAP không quan tâm đến việc làm cách nào đế kiềm chế Nhật Bản mà là bằng cách nào để giúp Nhật Bản đứng vững trên đôi chân mình một lần nữa”. Tôi nhấn mạnh nhiều lần là chúng ta có một số sứ mệnh. Đúng là chúng ta đã dự định hủy diệt Nhật Bản và quyền lực quân phiệt. Đúng là chúng ta dự định áp đặt những sự trừng phạt vì những việc làm sai của Nhật Bản trong quá khứ. Những điều này đã được nêu ra trong điều khoản đầu hàng. Tuy nhiên, chúng ta cảm thấy rằng, chúng ta có thể hoàn thành tốt mục tiêu của mình bằng cách xây dựng một Nhật Bản kiểu mới, một Nhật Bản cho người Nhật tự do, công lý và an ninh. Tôi cho rằng, các nguyên tắc của chúng ta trong thời kỳ chiếm đóng cũng là các nguyên tắc mà quân lính chúng ta đã vì nó mà chiến đấu trên chiến trường.

        Ý tưởng cải cách đúng đắn của MacArthur đáng lẽ không bao giờ bị đánh giá thấp. Kết quả có thể thẩm định được khi nhìn vào những thành tựu mà mỗi khu vực và mỗi mục tiêu như chính quyền Truman ra lệnh vào ngày trước đó, và các mục tiêu mà SCAP đặt ra trên chuyến bay chở MacArthur đến Nhật Bản với tư cách là tư lệnh tối cao lần đầu tiên.

        Trước hết là phải triệt tiêu quyền lực quân sự (của Nhật Bản). Trừng phạt tội phạm chiến tranh. Xây dựng bộ máy chính quyền đại nghị. Đổi mới hiến pháp. Tổ chức bầu cử tự do. Ban quyền bỏ phiếu cho phụ nữ. Khuyến khích kinh tế tự do. Xóa bỏ sự đàn áp của cảnh sát. Phát triển một nền báo chí tự do và có trách nhiệm. Mở rộng tự do giáo dục. Phân tán quyền lực chính trị. Tách nhà thờ ra khỏi nhà nước.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:27:07 am

        Các nhiệm vụ này lấn chiếm tâm trí tôi trong 5 năm sau và lâu hơn nữa. Cuối cùng tôi đã hoàn thành tất cả nhiệm vụ này với cả thuận lợi lẫn khó khăn. Khi các cải cách tiến triển và nhân dân Nhật Bản có sự tự do, giữa người dân Nhật và Tư lệnh tối cao đã phát triển một mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau. Khi cảm nhận được quyết tâm đối xử công băng của tôi đối với họ, thậm chí đôi lúc chống lại những nước lớn mà tôi đại diện để bảo vệ sự công bằng này, họ không xem tôi là kẻ xâm lược mà là người bảo vệ.

        Công việc đầu tiên trong chương trình cải cách của ông là trừng phạt. Tư lệnh tối cao cũng bày tỏ chẳng ưa gì về chuyện bồi thường thiệt hại chiến tranh, mà nhiều nhà kinh tế trong đó có nhà kinh tế Keynes cho rằng đó là một nguyên nhân chính của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

        Năm 1945, Truman đã bổ nhiệm Edwin Pauley, cựu trùm tư bản dầu mỏ vùng Vịnh và là người góp quỹ ủng hộ Đảng Dân chủ để tính toán các khoản bồi thường và cải cách hệ thống công nghiệp Đức và Nhật Bản. Pauley đã vạch ra các kế hoạch tham vọng nhằm chuyển các ngành công nghiệp cơ bản từ Nhật Bản sang Đông Nam Á. Ông ta cho rằng, “Khi Nhật Bản bắt đầu khôi phục, phải có sức mạnh địa phương” để ngăn ngừa sự xâm lược vì động cơ kinh tế. Ý tưởng lập dị này nhằm cải thiện sự chênh lệch giữa sức mạnh công nghiệp Nhật Bản và sức mạnh công nghiệp của đại lục châu Á. Ông ta định chuyển các nhà máy thép và sắt từ Nhật Bản sang Mãn Châu (đã có nguyên liệu thô của than và quặng sắt). Điều này sẽ giúp Trung Quốc có được một loại hình sản xuất công nghiệp mà Nhật Bản buộc phải tôn trọng.

        Pauley và cố vấn trưởng của ông là Owen Lattimore chuyên gia về châu Á, cho rằng MacArthur đang bực bội vì họ xâm phạm vào lãnh địa của mình nên không sẵn lòng giúp đỡ. Tháng 12 năm 1945, Pauley đề xuất chương trình tịch thu “Năng suất thừa mứa của Nhật Bản”, một yếu tố có thể góp sức cho sự phát triển chủ nghĩa đế quốc kinh tế. Ông ta kêu gọi tịch thu 27 nhà máy sản xuất dụng cụ công nghiệp quan trọng nhất, sản xuất gần một nửa sản lượng của Nhật Bản, cũng như cơ cấu lại các ngành công nghiệp đóng tàu, ổ bi, không gian vũ trụ và giảm sản lượng của ngành thép từ 11 triệu tấn xuống còn 2,5 triệu tấn. Ngay lập tức Truman phê duyệt chương trình cải cách này và nói, “Các cải cách này phải được thực hiện ngay khi các chi tiết cần thiết được vạch ra”.

        Chương trình này rõ ràng mang tính chất trừng phạt và hầu như không thể có kết quả, vì áp đặt các hạn chế đối với sự phát triển công nghiệp là điều mà không một nước nào chấp nhận về lâu dài. MacArthur đã cực lực phản đối các cải cách này ngay từ đầu. Cuối cùng, do bị cưỡng ép, ông đã đồng ý chuyển 1 triệu dụng cụ máy móc qua châu Á đại lục, nhưng không tiếp tục thực hiện gói bồi thường chiến tranh do Pauley đưa ra. Các nước nhận sự viện trợ rộng lượng của Pauley bắt đầu tranh cãi với nhau dữ dội.

        Sau đó MacArthur cho rằng, ông đã xem việc thanh trừng là một sai lầm ngay từ đầu. Ông nghi ngờ tính khôn ngoan của việc này. Tuy nhiên, mệnh lệnh SCAPIN 550 do ông và các nhân viên ban ra vào tháng giêng năm 1946 cam kết mạnh mẽ sẽ loại trừ những kẻ có tội trong hàng ngũ các nhà chính trị, công chức, sĩ quan quân đội, các giám đốc điều hành doanh nghiệp, quan chức chính quyền địa phương, giáo viên, nhà sản xuất phim ảnh, nhà giáo dục, giáo sư đại học và các giám đốc cảnh sát. Cuộc thanh trừng đã gây ảnh hưởng cho khoảng 2,5 triệu người. Những người bị thanh trừng bị buộc tội là đã ‘Tham gia, ủng hộ sự xâm lược quân sự và chủ nghĩa đế quốc ở nước ngoài. Tuyên truyền chủ nghĩa quốc gia cực đoan. Tự do là dân tộc có uy quyền và hành động với suy nghĩ họ là lãnh đạo của các chủng tộc châu Á khác hoặc bài trừ người nước ngoài ra khỏi thương mại và kinh doanh, ủng hộ chế độ độc quyền. Sử dụng bạo lực và khủng bố để tiêu diệt chính trị và chống đối chế độ. Ủng hộ tình trạng đặc biệt và các đặc quyền của người lính”. MacArthur cũng cho kiểm soát quan điểm của người dân về các chủ đề trong thời kỳ bành trướng của Nhật Bản vào thập niên 1930 và có một thời điểm vào năm 1931 và vào Biến cố Mãn Châu, cũng như trong suốt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.

        Một mục tiêu nữa của sự thanh trừng là xóa bỏ các hội cực hữu có tiếng và cấm các thành viên các hội này làm việc cho chính quyền. Các hội này không chỉ là Hội Rồng đen (Hiệp hội sông Amaru) mà còn Hiệp hội Xúc tiến Thực hành súng Bazooka, Liên đoàn Hạt máu trắng, Hiệp hội Tinh thần đồng dạng chống Người nước ngoài. Hiệp hội Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Mãn Châu và Tổ chức chiến tranh Máu dân tộc.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:27:43 am

        Trọng tâm của chiến dịch thanh trừng là yêu cầu mọi người ở Nhật Bản trong các cơ quan có dính dáng đến các hội này điền vào bản điều tra, kê khai cụ thể về nghĩa vụ quân sự, về tư cách thành viên của các tổ chức chính trị và các nghề nghiệp trước đây. Một ủy ban kiểm tra trung tâm sẽ kiểm tra những người này. Tuy nhiên, hình phạt đối với việc che dấu các việc làm sai trái trước đây không nghiêm trọng. Năm 1947-1948 chính quyền chiếm đóng không sử dụng bản điều tra này nữa, và chỉ có chứng cứ khác mới khiến một người bị loại khỏi văn phòng làm việc.

        SCAP tìm cách bảo đảm rằng, những người bị sa thải không thể trở lại làm việc, không cho họ làm các công việc khác và cấm bà con họ giữ các chức vụ tương tự để hoạt động thay mặt họ. Người Nhật cho rằng điều này chẳng khác gì vì lỗi lầm của người cha mà bắt người con phải gánh chịu.

        Các tác động của đợt thanh trừng ban đầu khá nghiêm trọng. Bộ Nội vụ mất 34 quan chức cấp cao, Hoàng gia bị mất 118 người, 170 thượng nghị sĩ bị sa thải khỏi Thượng viện trong khi chỉ có 10% hạ nghị sĩ có đủ tư cách được bầu lại vào tháng 4 năm 1946. Chính quyền chiếm đóng thanh trừng gắt gao đối với quân đội, cựu kẻ thù của nhiều bộ dân sự đang có nhiệm vụ thực hiện các sắc lệnh của SCAP. Tuy nhiên, tác động chỉ hạn chế ở những người lớn tuổi sắp về hưu. Trong vòng một hoặc hai năm, nhiều người đã lẩn tránh cuộc thanh trừng.

        Lực lượng quân đội là đối tượng được cải cách thành công và triệt để nhất. Cải cách về lực lượng quân đội có ba dạng: Quy định trong hiến pháp một điều khoản cụ thể khẳng định Nhật Bản đã từ bỏ chiến tranh, giải thể quân đội Thiên hoàng và chuyển lực lượng quốc phòng Nhật Bản thành một tổ chức thụ động thấm nhuần các giá trị dân chủ. Việc chèn điều khoản “Không chiến tranh” vào hiến pháp Nhật Bản là một trong những thành công quan trọng của MacArthur. Tuy nhiên, ông phủ nhận trách nhiệm này là của mình mà cho đó là sáng kiến của Thủ tướng Shidehara. MacArtthur nhớ lại rằng, Thủ tướng Shidehara đã đến cảm ơn ông vì đã sản xuất penicillin, một loại thuốc mới ở Nhật Bản để giúp Shidehara bình phục khỏi một căn bệnh nghiêm trọng.

        Sau đó ông đề xuất Hiến pháp mới khi soạn thảo xong sẽ bao gồm điều khoản gọi là “Không chiến tranh”. Ông ta cũng muốn hiến pháp cấm bất cứ sự thành lập quân sự nào đối với Nhật Bản. Hai điều khoản này sẽ được thực hiện. Bè phái quân sự trước đây sẽ bị tước bỏ bất cứ công cụ nào có thể giúp họ một ngày nào đó nắm quyền lực trở lại, và toàn bộ thế giới sẽ biết rằng Nhật Bản không bao giờ có ý định sẽ phát động chiến tranh một lần nữa. Ông nói thêm, Nhật Bản là một nước nghèo và thực sự không đủ tiền để rót vào lực lượng vũ trang nữa. Bất cứ nguồn lực còn lại nào của Nhật Bản sẽ tập trung để củng cố nền kinh tế.

        Tôi đã nghĩ là nhiều năm kinh nghiệm của mình đã giúp tôi không bày tỏ ngạc nhiên hay phấn khởi quá mức, nhưng điều này làm tôi chết lặng. Tôi chấp nhận dề xuất này liền. Trong nhiều năm qua, tôi tin răng nên xóa bỏ chiến tranh vì đó một phương pháp lỗi thời để giải quyết xung đột giữa các quốc gia. Có thể có người nào đã từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh và sự tàn phá của nó nhiều như tôi. Là một người tham gia và quan sát trong 6 cuộc chiến tranh, một cựu chiến binh trong 20 chiến dịch quân sự, là người sống sót qua hàng trăm trận đánh, tôi đã chiến đấu kề vai sát cánh hoặc chống lại những người lính từ mọi đất nước trên thế giới. Sự ghê tởm của tôi đối với chiến tranh lên đến đỉnh đỉểm khi quả bom nguyên tử đạt được hiệu quả hoàn mỹ.

        Khi tôi nói về tâm trạng này, đến lượt Shidehara ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên của ông lớn đến mức dường như ông bị choáng khi rời khỏi văn phòng. Nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt và ông quay trở lại nói với tôi: “Thế giới sẽ cười và chế nhạo chúng ta vì dự báo những điều không tưởng. Nhưng một trăm năm sau, chúng ta sẽ được gọi là những nhà tiên tri”.

        Sự giải thích trên không mâu thuẫn nghiêm trọng, mặc dù Shidehara là người biết trước được các nguyện vọng của MacArthur. Đối với người Mỹ, Nhật Bản cần phải tự nguyện đề xuất điều khoản này ngay từ đầu nếu không điều khoản này có thể bị hủy bỏ sau khi sự chiếm đóng chấm dứt. Shidehara và một số người thuộc phe ủng hộ hòa bình của ông có thể đã nghĩ rằng, điều khoản này được mọi người mong muốn và được công luận ở Nhật Bản ủng hộ vì họ đang chán ngấy chiến tranh và thù hận lực lượng quân đội đàn áp.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:28:08 am

        Điều khoản “Không chiến tranh” là một điều khoản rất đáng chú ý trong bất cứ bản hiến pháp nào, nhất là trong hiến pháp Nhật Bản thì lại càng đáng chú ý hơn.

        Nội dung của điều khoản như sau:

        Với khát khao thực sự về hòa bình quốc tế dựa trên công lý và trật tự, người dân Nhật Bản mãi mãi không coi chiến tranh như là quyền tối thượng của quốc gia và đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Để hoàn thành mục tiêu của đoạn văn trên, các lực lượng không quân, hải quân, lục quân cũng như các lực lượng chiến tranh tiềm ẩn khác sẽ không bao giờ được duy trì nữa.

        Việc giải trừ quân bị Nhật Bản được thực hiện thông qua tổ chức đồ sộ của các lực lượng MacArthur. Các chương trình hồi hương và giải ngũ cho 8 triệu người Nhật đã được thực hiện xong. Ngoài ra, tất cả kho chứa vũ khí và đạn được và các kho chứa hàng đã được định vị. Hầu hết những kho hàng này chỉ được che dấu sơ sài để chống lại sự xâm chiếm của quân Mỹ. Các kho đạn thường xuyên bị nổ, và có một lần cả kho thuốc nổ nổ tung làm thiệt mạng hàng chục công nhân Nhật Bản. Một vụ nổ kho đạn khác cũng xảy ra ở sân bay Tatayama.

        Xe tăng, súng, các vũ khí phòng không và máy bay đều bị cắt nhỏ. Tàu được chia cho các nước chiến thắng và một số bị đánh đắm, hoặc sử dụng trong các vụ thử nghiệm bom nguyên tử. Người Mỹ thu giữ 120 ngàn súng bazooka. 81 ngàn súng trường và 2.200 vũ khí tự động cùng tất cả hệ thống phòng không của Nhật Bản và máy bay chiến đấu đều bị phá hủy. Các sân bay được chuyển qua sử dụng cho mục đích nông nghiệp và không người Nhật nào được phép lái máy bay, dù chỉ là máy bay dân sự. Kho trang thiết bị khổng lồ của lực lượng phòng vệ dân sự cũng bị tịch thu bao gồm súng, mũi tên gây nổ, gậy bóng chày, ống nước cũng bị tịch thu. Tuy nhiên, hai tuần giữa lúc Nhật Bản đầu hàng và Mỹ bắt đầu chiếm đóng, các khối lượng lớn đạn được nhanh chóng chuyển đến những kho hàng bí mật ở các ngọn đồi với dụng ý cung cấp đạn được cho một lực lượng quân đội bí mật sau này giống như điều xảy ra ở Đức sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất.

        SCAP cũng tìm cách thực thi chính sách nhằm ngăn ngừa Nhật Bản tái vũ trang: Không cho phép Nhật Bản dự trữ, nhập khẩu và sản xuất vũ khí. Trang thiết bị sản xuất năng lượng nguyên tử bị tịch thu. Các nhà khoa học nghiên cứu về hạt nhân bị bắt giữ và tất cả các tài liệu liên quan đến vũ khí hạt nhân cũng bị tịch thu. Bốn cyclotroh của Nhật Bản bị phá hủy theo lệnh của Washington khiến MacArthur tức giận. Lệnh cấm cũng được áp đặt đối với các hoạt động công nghiệp gần gũi với chiến tranh và một mức trần giới hạn cũng được đặt ra đối với sản lượng thép, dầu, trang biết bị đường sắt, bạc đạn và các công cụ máy móc. Các mức giới hạn nàỵ chỉ bằng 1/10 chương trình sản xuất vũ khí của Nhật Bản vào thập niên 1930. Cuối cùng, người Mỹ chính thức giải thể không quân, hải quân và lục quân của Nhật Bản.

        Tất cả ba cuộc tấn công từ xa nhằm vào những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt phần nào cho thấy không thực tế, mặc dù sẽ sai lầm nếu cho rằng các cuộc tấn công này không có hiệu quả. Lệnh cấm tham chiến của hiến pháp hóa ra không phải cấm chi tiêu quốc phòng. Phó Tổng thống Richard Nixon gọi nó là “Một sai lầm thật thà” vào đầu năm 1943. MacArthur giải thích điều đó như sau:

        Nếu tiến trình các sự kiện thế giới đòi hỏi tất cả loài người cầm vũ khí để bảo vệ tự do con người, và Nhật Bản nằm trong sự đe dọa tấn công ngay lập tức, thì lúc đó người Nhật nên có quyền lực tự vệ cao nhất mà các nguồn lực của họ cho phép. Điều 9 dựa trên các lý tưởng đạo đức cao nhất nhưng không thể diễn giải đây là một sự phủ định hoàn toàn quyền tự vệ chống lại các cuộc tấn công vô cớ.

        MacArthur nhanh chóng đề xuất thành lập lực lượng quốc phòng 10 sư đoàn với các đơn vị không quân và hải quân tương ứng. Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của điều 9 được soạn ra để cản trở con đường tái vũ trang của Nhật Bản. Các cuộc đấu tranh đường phố và dấu tranh chính trị cay đắng nhất của thời kỳ hậu chiến chủ yếu xoay quanh vấn đề này và vấn đề quan hệ với Mỹ. Điều này đã khiến xã hội Nhật Bản bị chia rẽ, xé toang cái bề ngoài gọi là “Xã hội đồng tâm” trong một thời gian.

        Sự hủy diệt nguyên liệu chiến tranh là điều không thể tránh. Tuy nhiên, một số nguyên liệu vẫn được bảo vệ. Vào cuối thời kỳ chiếm đóng, để phục vụ về vũ khí cho cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã phớt lờ lệnh cấm lâu dài về dự trữ, nhập khẩu và sản xuất đạn được, vũ khí, thậm chí cả một số khía cạnh hạn chế về các mục đích về năng lượng nguyên tử. Các lệnh cấm này đã không thể tiếp tục áp dụng sau thời kỳ chiếm đóng ở Nhật Bản. Mỹ cũng phớt lờ các giới hạn về sản lượng của ngành công nghiệp nặng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:28:34 am

        Hơn nữa, ở đằng sau hậu trường, ít nhất một phần của lực lượng chiếm đóng đã an tâm là việc phân rã cỗ máy chiến tranh của Nhật Bản đã thành công phần nào. Người đạt được thành công này là tướng Charles Willoughby, giám dốc lực lượng tình báo quân sự G2 và là tư lệnh quân sự có quyền lực nhất chỉ sau MacArthur. Willoughby sinh ra trong một gia đình quân nhân nước Phổ là Charles Von Tscheppe-Weidenback. Ông cao lớn đẹp trai, độc đoán và có một tính khí mạnh mẽ. Sau khi Nhật Bản thất bại, đối với Willoughby thì nhiệm vụ chính là phải chống chủ nghĩa cộng sản. Ông coi các quy định chống chủ nghĩa quân phiệt của lực lượng chiếm đóng là lãng phí. Ồng dành thiện cảm cho chủ nghĩa phát xít, cho rằng Mussolini đã đúng khi xâm lược Ethiopia vì như thế là đã “Xóa sạch một ký ức thất bại trước khi tái thành lập uy quyền tối cao quân sự truyền thống của chủng tộc da trắng”. Sau khi về hưu vào thập niên 1950, ông làm cố vấn cho tướng Franco của Tây Ban Nha mà ông coi là “Vị tướng vĩ đại thứ hai trên thế giới”.

        Sự tấn công của MacArthur vào các thành phần chống dân chủ của bộ máy an ninh nội bộ Nhật Bản (tức các lực lượng cảnh sát khác nhau) không hoàn toàn thất bại, mặc dù cuộc tấn công này bị chỉnh sửa nhiều qua tiến trình thời gian.

        Thậm chí MacArthur còn thừa nhận bản chất cực kỳ khó khăn của vấn đề. Cảnh sát tư tưởng chịu trách nhiệm cho sự trấn áp nội bộ và giam giữ hơn 60 ngàn người bất đồng chính kiến đã bám sâu trong Bộ Nội vụ. Cảnh sát dân sự đã từng trấn áp thô bạo các cuộc biểu tình và làm việc liên kết với các hiệp hội cánh hữu bí mật.

        Lực lượng hiến binh Nhật Bản Kempeitai là một tổ chức giống như cơ quan mật vụ Đức quốc xã Gestapo, đã thẳng tay đàn áp tàn độc đối với những người bất đồng chính kiến.

        Một trong những hành động đầu tiên của MacArthur là thả các tù nhân chính trị của Nhật Bản, vốn bị giam giữ trong các điều kiện hết sức kinh hoàng. Mục tiêu thứ hai của ông là phá vỡ sự kìm kẹp tập trung của Bộ Nội vụ và củng cố quyền lực địa phương. Ông yêu cầu phân tán các lực lượng cảnh sát cũng như xóa bỏ ngay lực lượng hiến binh Kempeitai và Cảnh sát tư tưởng.

        Mọi thành phố có dân số hơn 5 ngàn người được trao quyền thành lập một lực lượng cảnh sát riêng và không chịu trách nhiệm với chính quyền trung ương.

        Điều này tạo ra hàng loạt vấn đề. Một số thành phố không có tiền để cung cấp cho một lực lượng cảnh sát đàng hoàng và trả lương cho cảnh sát thấp dẫn đến nạn tham nhũng. Hơn nữa, rất khó khi muốn phối hợp hai lực lượng cảnh sát đối dịch. Thực tế, sau khi thời kỳ chiếm đóng chấm dứt, chính phủ Nhật Bản nhanh chóng tái tạo lực lượng cảnh sát quốc gia có trách nhiệm nhiều hơn các lực lượng trước đây, mặc dù không hoàn toàn loại bỏ được các đặc điểm của thời kỳ trước chiến tranh. Quyền tự chủ địa phương được MacArthur ban hành trong một số khía cạnh điều hành là thành công hơn trước đây. Quyền tự chủ này được xây dựng dựa trên đơn vị truyền thống của Nhật Bản là “làng”. Tuy nhiên Bộ Nội vụ đã giành lại một mức kiểm soát đáng kể sau khi thời kỳ chiếm đóng chấm dứt.

        Mức độ tấn công của MacArthur đối với các quyền lợi chính trị thống trị Nhật Bản cực kỳ hạn chế. Bộ máy công chức bị thanh lọc, mặc dù sau đó hầu hết những người bị thanh lọc đều được phép trở về chức vụ của họ. Cảnh sát bị chế ngự và Bộ Nội vụ bị phân giảm xuống còn một quy mô hạn chế, mặc dù sau này phần lớn đã được trở về như cũ. Tuy nhiên, trong hầu hết các bộ phận, quân chiếm đóng hoạt động thông qua bộ máy công chức trước chiến tranh. Bộ máy công chức này đổ lỗi chiến tranh cho những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt và đóng vai là một đồng minh dĩ nhiên của người Mỹ. về hành chính thì không có cải cách đáng kể nào.

        Nỗ lực của MacArthur nhằm ràng buộc bộ máy công chức chỉ hạn chế ở mức cải cách hiến pháp nhằm bảo đảm bộ máy công chức phải có trách nhiệm giải trình với quốc hội. Điều này chỉ thành công một phần mặc dù những thay dổi dạt được có ý nghĩa quan trọng. Nhìn chung, quyền lực của bộ máy công chức khó bị giảm xuống vi sự chiếm đóng. Trong một số mặt, bộ máy công chức được củng cố và giành lại được vị trị đứng đầu trong các lực lượng ưu tú của Nhật Bản. Quân đội giờ đây đã bị người dân nghi ngờ, và các tập đoàn tài phiệt đang trải qua sự tàn phá chiến tranh cũng đang bị đè đầu xuống.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:29:39 am

Chương 30

CÁC PHIỀN TÒA TOKYO

        Có lẽ khía cạnh bất đồng lớn nhất về tướng quân MacArthur (như bản thân ông đã nói rõ) là sự áp đặt công lý đối với các tội phạm chiến tranh. Hirohito đã đúng một điều: Tha tội cho ông đã làm suy yếu nền tảng toàn bộ trò hề pháp lý là Phiên tòa Tội ác Chiến tranh Tokyo. Đây có lẽ là thành tựu kém cỏi nhất và hổ thẹn nhất của lực lượng Mỹ chiếm đóng.

        Cần phải nhấn mạnh ngay từ đầu rằng, ý định ban đầu về việc tổ chức một phiên tòa như vậy (giống như phiên tòa vùng Viễn Đông của tòa án Nuremberg) là không có gì đê tiện hay sai lầm. Người Anh muốn xử tử nhanh chóng các tội phạm chiến tranh chủ chốt cho dù trái pháp luật. Người Mỹ có các mục tiêu lớn hơn là phải xây dựng một trật tự tương lai thế giới, trong đó có một mô hình để xét xử và phê phán các tội phạm quốc tế và những kẻ xâm lược. Có nhiều động cơ đằng sau các phiên tòa này. Phiên tòa phải làm thỏa mãn công luận rằng, những con quỷ từng gây ra tội ác ở Nam Kinh, Bataan và Miến Điện phải nhận hình phạt thích đáng. Theo quan điểm mềm dẻo của chính sách chiếm đóng, hoàn toàn dễ hiểu khi người dân ở các nước đồng minh, và đặc biệt ở Mỹ, yêu cầu phải trừng phạt. Căn cứ pháp lý cho phiên tòa này không có. Henry Stimsom, một trong những lực lượng chỉ huy đằng sau các phiên tòa Tokyo và những người theo chủ nghĩa tự do khác chỉ ra rằng, Công ước về Liên minh các quốc gia năm 1919 và Hiệp ước Kellog -  Briand vào năm 1928 cấm sử dụng chiến tranh làm chính sách quốc gia để ủng hộ cho luận điểm đặt “Cuộc chiến tranh xâm lược” ra ngoài vòng pháp luật. Vấn đề là ở chỗ trước đó phát động cuộc chiến tranh xâm lược chưa bao giờ là một tội ác. Có phải kẻ chiến thắng có thể xét xử ai là người chịu trách nhiệm trong bất cứ cuộc chiến tranh nào? Ngoài ra, làm sao các cá nhân có thể bị xét xử phải chịu trách nhiệm cho những hành động của một quốc gia?

        Luận điểm cuối cùng này trở thành yếu tố mấu chốt trong quan hệ với Hoàng đế. Sự khác biệt giữa hành động của một quốc gia hay toàn bộ một thể chế với tư cách như một lượng quân đội và hành động của cá nhân không chỉ ở chỗ hành động của quốc gia thường là quyết định tập thể mà còn ỏ chỗ không thể quyết định ai thực sự chịu trách nhiệm cho các hành động và ai chống đối các hành động này. Vị trí của Hoàng đế đã minh họa đầy đủ điều đó: Ông phản đối việc Nhật Bản tham chiến và sau đó chỉ chấp nhận một cách miễn cưỡng. Dù vậy, tất cả các hành động của Nhật Bản trong chiến tranh đều nhân danh ông. Nếu Hoàng đế được xá tội, lực lượng chiếm đóng phải có những tính toán phức tạp hơn để quyết định tội của những người dưới quyền của ông.

        Thật dễ dàng để chỉ điểm tướng Tojo, Thủ tướng theo chủ nghĩa quân phiệt chịu trách nhiệm phát động cuộc chiến tranh xâm lược thông qua những tuyên bố công khai của ông. (Thậm chí nếu như vậy, Tojo có thể bào chữa rằng, ông phát động cuộc chiến tranh phòng vệ). Nhiều tội phạm chiến tranh theo dự kiến khác như tướng Matsui, chịu trách nhiệm lãnh đạo các lực lượng quân đội Nhật Bản trong vụ Thảm sát Nam Kinh có thể không chịu trách nhiệm trực tiếp vì đã gây ra vụ tàn sát hoặc vì không ngăn cản được các vụ tàn sát này. Tuy nhiên, họ bị đổ tội vì họ là những người chỉ huy. Khi các tội ác xảy ra thì đó là một sự phân bổ trách nhiệm công bằng hoàn hảo, cho dù có ít bằng chứng cho thấy họ liên quan trực tiếp đến các vụ thảm sát. Tuy nhiên nếu nguyên tắc trách nhiệm của người đứng đầu được áp dụng đối với họ, vậy tại sao không áp dụng cho Hoàng đế? Nếu ông được xá tội, tại sao họ lại không được như vậy?

        Một vụ truy tố chua xót là nhằm vào hoàng tử Konoye, người đóng vai trò trung tâm trong các sự kiện dẫn đến chiến tranh và những gì sau đó. Như chúng ta đã thấy, mặc dù quan điểm của ông về cuộc chiến có nhiều mâu thuẫn và ông không được MacArthur và các quan chức SCAP tin tưởng, nhưng có nhiều chứng cứ cho thấy rằng, ông đã dành nhiều tháng trước chiến tranh để ngăn ngừa cuộc chiến. Thực sự ông tin rằng, người Mỹ sẽ coi ông là lãnh đạo của phe hòa bình trong suốt cuộc chiến tranh, cũng như tin là họ sẽ giao phó cho ông một vai trò chính trong việc tái thiết Nhật Bản thời hậu chiến.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:31:14 am

        Tuy nhiên chẳng bao lâu sau, MacArthur đã lánh xa hoàng tử. Vào ngày 6-12, người ta yêu cầu ông đến nhà tù Sugamo như là nghi phạm chiến tranh. Ngày trước khi ông đến nhà tù này, ông đã uống một viên thuốc độc cyanide. Cựư quan chức SCAP Robert Fearey mô tả suy nghĩ đằng sau bản cáo trạng dành cho Konoye:

        Atcheson (người đại diện dân sự của MacArtliur) gọi tôi vào văn phòng và nói: “Tôi đã nhận được cuộc gọi từ tướng MacArthur thông báo rằng, tất cả các tội phạm chiến tranh chủ chốt này đã bị bắt và bị xét xử hoặc chuẩn bị đưa ra xét xử ở Đức. Ở đây chúng ta chưa bắt bất cứ tội phạm chiến tranh chủ chốt nào ở Nhật Bản, họ vẫn còn nhởn nhơ trên đường phố. Điều này không chấp nhận được. Ông vui lòng đưa cho tôi một danh sách 10 đến 12 người hay bao nhiêu cũng được, những người đáng bị bắt, và sau đó bắt họ”. Cùng với Herb Norman, một người Canada làm việc cho chi nhánh tình báo của SCAP, chúng tôi soạn ra danh sách 10 người mà chúng tôi đề nghị bắt để đưa ra xét xử như tội phạm chiến tranh chủ chốt, và đưa danh sách này cho Atcheson. Rồi Atcheson trao lại cho MacArthur và ngày hôm sau họ đã bị bắt. Báo chí đưa tin trang nhất về sự kiện này.

        Khoảng một tuần sau, MacArthur nói, “Phải hơn 10 người”, cho nên tôi soạn một danh sách khác và trong đó có tên hoàng tử Konoye. Không phải vì chúng tôi thấy ông là một tội phạm chiến tranh đang bị xét xử và kết tội mà bởi vì ông từng là Thủ tướng ở những giai đoạn quan trọng trong nhiều năm khi Nhật Bản tiến vào bắc Trung Quốc và sự dính líu của ông có tầm quan trọng về quân sự. Chúng tôi sẽ nói với hoàng tử Konoye rằng, không coi ông là tội phạm chiến tranh giống như những người khác mà chỉ muốn coi ông như là một nhân chứng. Chúng tôi thấy phải làm điều này vì các chức vụ mà ông nắm giữ... Tôi e sợ lời nói này không đến tai hoàng tử Konoye kịp thời. Người nào đó đã quên nói với ông ấy.

        Người ta đã dựa trên bản tóm tắt pháp lý lỏng lẻo, phần lớn là vì quyết định không truy tố Hoàng đế, công lý ban ra từ Tòa án quân sự quốc tế vùng Viễn Đông (IMTFE) mang tính độc đoán, và dựa trên bằng chứng chưa bao giờ được xem xét kỹ lưỡng theo đúng tiến trình đúng đắn của một phiên tòa xét xử theo pháp luật..

        Arnold Brackman, một phóng viên trẻ của hãng tin UPI đã viết rất rõ phiên tòa này: Vấn đề đã rõ ràng: Vô số tội ác đã xảy ra, và sau đó một ai đó phải trả giá. Những người ở trên cao phải chịu trách nhiệm gây ra tội ác. Chỉ điều đó cũng đủ để biện minh cho phiên tòa này. Phiên tòa được biện hộ theo lẽ quyền lợi và sự trừng phạt tự nhiên. Hoàn toàn đúng khi những kẻ chiến thắng áp đặt công lý cho những kẻ thất bại, và rõ ràng đối với hầu hết quốc gia, ngoại trừ người Nhật từng là kẻ xâm lược trong chiến tranh và đã thực hiện sự xâm lược bằng hành vi độc ác quá mức.

        Tuy nhiên về tính pháp lý, phải có các quy định rõ ràng. Phải xây dựng một khung pháp lý rõ ràng cho phiên tòa này. Lực lượng chiếm đóng đã không làm điều này. Có một điều không thể tranh cãi là, phát động chiến tranh xâm lược và giết người hàng loạt trong cuộc chiến là tội ác và thực sự là hình thức độc ác nhất của tội ác. Tuy nhiên, cả hai đều không bị đặt ra ngoài vòng pháp luật vào thời điểm đó. Thậm chí công ước Geneva về đối xử tù binh chiến tranh cũng không có quyền lực trên phương diện luật quốc tế. Hơn nữa, bằng chứng phải được chọn lọc và phía bào chữa phải được cho cơ hội để phản đối bằng chứng đó. Thay vì như thế, quy trình phiên tòa lại quá thô vụng. Chẳng hạn, vào cuối giai đoạn hai năm công việc phiên tòa, phía công tố đã tìm thấy nhiều bằng chứng buộc tội mới và yêu cầu cho họ phản bác lại lý lẽ băng chứng của bên bào chữa. Phía bào chữa cho rằng, phải mở một phiên tòa xét xử lại. Tuy nhiên, tòa đã chấp nhận lý lẽ phản bác của phía công tố và phía bào chữa chỉ có 10 ngày để phản bác ngược lại bằng chứng mới do phía công tố đưa ra.

        Meirion và Susie Harries cũng chỉ ra rằng, những khó khăn dịch thuật cũng khiến bên bào chữa chịu thiệt:

        Trong số toàn thể nhân viên 70 người vào tháng giêng năm 1946, chỉ có 5 người có thể đọc tiếng Nhật. Keenan (trưởng công tố vièn) không có sự lựa chọn nào khác là phải yêu cầu chính phủ Nhật Bản cung cấp 50 người Nhật nói tiếng Anh. Cuối cùng, Văn phòng của Bộ Công tố quốc tế đã sử dụng khoảng 200 người Nhật. Những người này đã gây nhiều vi phạm an toàn ở phiên tòa. Chẳng hạn, chẳng bao lâu sau khi được thông báo cho Keenan, danh sách các bị cáo theo đề xuất của người Anh đã bị rò rỉ cho báo chí.

        Khó khăn trong việc dịch thuật đã gây tốn nhiều công sức của phía công tố và phía bào chữa. Dịch tiếng Nhật sang tiếng Anh và ngược lại với độ chính xác về sắc thái mà các luật sư đòi hỏi là điều hoàn toàn không thể. Tiếng Nhật là ngôn ngữ không có dính dáng gì đến tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào khác. Quá trình dịch tiếng Nhật cũng như mô tả một bức hình bằng từ ngữ chỉ tạo ra cái tương tự chứ không thể là một bản sao. Tiếng Nhật không chỉ dịch khó mà còn mất nhiều thời gian. Giám đốc dịch thuật Bộ Công tố quốc tế tuyệt vọng sau khi cố giải thích cho các luật sư tại sao một nhà ngôn ngữ phải mất hai ngày dịch chính xác một trang giấy in khổ lớn hai mặt, và kết thúc bằng câu cảnh báo: “Trừ khi có thời gian hợp lý để dịch (nhiều ngày hoặc tuần chứ không phải giờ), bộ phận ngôn ngữ buộc phải trì hoãn tiến trình phiên tòa hoặc hoàn thành gấp gáp khiến công tố ở tòa lúng túng vì bản dịch không chính xác”.

        Trước những khó khăn như vậy, công tố viên hỗ trợ từ Anh, Arthur Comyns Carr, КС đã phải thất vọng trong mấy tuần đầu tiên ở Tokyo. Ông viết cho Chưởng lý Sir Hartley Shawcross mà ông là người đại diện: “Đây là một công việc khủng khiếp. Tôi đã ở đây chờ đến khi ông nói toàn bộ hành trình bắt đầu, nhưng không có dấu hiệu công việc tố tụng chuẩn bị bắt đầu. Khi đến, tôi thấy người Mỹ với một số lượng nhân viên lớn tham gia một công việc nghiên cứu đồ sộ với đống tài liệu chưa bao giờ được dịch”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:33:22 am

        Không có sân chơi công bằng dành cho phía công tố và phía bào chữa.

        Chẳng bao lâu sau khi giai đoạn khởi tố kết thúc, tòa án triệu tập hội nghị ba bên với công tố và phía luật sư bào chữa thảo luận các cách đẩy nhanh xét xử. Webb gợi ý rằng, thời gian dành cho bên bào chữa của mỗi cá nhân bị buộc tội là hai ngày.

        Tòa án không cảm tình với phía bào chữa và đã tìm nhiều cách để tiết kiệm thời gian. Rõ ràng nhất là việc tòa siết chặt các quy định về bản chất của bằng chứng mà tòa chấp nhận. Quy định “Bằng chứng tốt nhất” đã được giới thiệu. Điều này có nghĩa là, bằng chứng mơ hồ giống như kiểu bằng chứng đã được chấp nhận trong giai đoạn khởi tố bị gạt ra khi phía bào chữa nộp cho tòa.

        Tòa án có quyền bác bỏ bằng chứng mà tòa cho là không liên quan đến vụ án. Phiến tòa thế kỷ đã diễn ra ở Ichigaya. Trụ sở phiên tòa nằm trên ngọn đồi của quân đội Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh nhưng bây giờ đã chuyển thành phòng xử án cực kỳ hiện đại. Đó là phòng xử án có kích thước rộng rãi. Phiên tòa kéo dài hai năm rưỡi. Thẩm phán từ 11 nước đồng minh đã tham gia xét xử. Khoảng 200 ngàn người đến dự phiến tòa. Hơn 400 nhân chứng được triệu tập và 770 tài liệu được đưa ra làm bằng chứng. Có khoảng một ngàn người ở tòa trong bất cứ thời điểm nào. Thẩm phán chủ tọa người Australia, Ngài William Webb đã chứng tỏ sự công bằng mà ông có thể thực hiện trong hoàn cảnh này.

        Trưởng công tố viên người Mỹ Joseph Keenan, một luật sư chống mafia danh tiếng, người từng truy tố trùm mafia Al Capone đã ở tuổi xế chiều trong nghề nghiệp, là một người uống rượu như hũ chìm và không hiểu biết gì về Nhật Bản. Phó công tố viên người Anh Ngài Willim Comyns Cari là một người chú ý kỹ đến pháp lý nhưng lại soạn ra bản cáo trạng quá kỹ càng và phức tạp khiến cho phiến tòa kéo dài. Quy trình pháp lý diễn ra hỗn loạn khiến các quan chức chiếm đóng lúng túng và chán nản.

        Mặc dù về mặt chính trị, có bằng chứng cho thấy công luận phương Tây hài lòng vì các yêu cầu trừng phạt của họ đã được đáp ứng thông qua việc tổ chức phiên tòa, mặc dù các quốc gia bị chiếm đóng ở vùng Viễn Đông (đặc biệt Trung Quốc và Philippines) nghĩ rằng bản án còn chưa đủ nặng. Xét về phía Nhật Bản, phiên tòa hầu như chắc chắn không hữu ích, vì nó bôi nhọ hình ảnh không hận thù của quân chiếm đóng Mỹ: MacArthur quá tốt trong khi tạo diễn đàn cho những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt của Nhật Bản trình bày lý lẽ bào chữa gượng gạo nhưng đáng tin cậy về hành động của họ.


        Người bào chữa thành công nhất trong mắt người dân Nhật Bản là kẻ tội phạm chiến tranh tội lỗi nhất, người đứng đầu bè phái chủ nghĩa quân phiệt: Hideki Tojo, Thủ tướng Nhật Bản suốt những năm quan trọng của chiến tranh. Bằng chứng của ông được nêu rộng rãi vì trong nhiều khía cạnh, nó hình thành các quan điểm tiếp theo không chỉ của những người theo chủ nghĩa quốc gia Nhật Bản mà còn những nhà lãnh đạo chính trị chỉ đạo bảo vệ vai trò của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.

        Tojo được quyền chuẩn bị bản khai tuyên thệ chính thức mà phải mất đến ba ngày mới đọc xong. Đó là lý lẽ bào chữa rất giỏi cho sự nghiệp của những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt. Sau đó, ông trải qua ba ngày đối chất không chỉ với John Filhelly, một luật sư hình sự kinh nghiệm đã chuẩn bị kỹ cho cuộc thẩm vấn mà còn với Keenan, người không đảm trách công việc này nhưng đã gạt Filhelly vào phút cuối. Filhelly điên tiết đi ra khỏi phòng xử án và không bao giờ quay lại. Keenan có lẽ hành động vì thái độ ghen tị sau nhiều tháng chẳng làm trò trống gì ở tòa hoặc đơn giản ông cảm thấy rằng, công việc của công tố viên trưởng là phải thẩm vấn bị cáo đứng đầu.

        Tojo hỉ mũi trước khi tiến vào bục nhân chứng, một sự lăng nhục lớn ở Nhật Bản vì bài tiết ở mũi cũng được coi giống như bài tiết ở những nơi khác. Ichiro Kiyose, luật sư của Tojo đọc bản tuyên bố khẳng định rằng, Nhật Bản đã “Không lên kế hoạch cũng không chuẩn bị trước cho cuộc chiến tranh chống lại Mỹ, Anh và Hà Lan”. Nhật Bản “Không có tham vọng bành trướng lãnh thổ cũng như không có ý nghĩ độc quyền kinh tế” ở Trung Quốc. Các quốc gia đồng minh đã khiêu khích Nhật Bản tấn công vào lực lượng Anh - Mỹ. Trước cuộc tấn công, Nhật Bản “Đã chuẩn bị tỉ mỉ” để ra thông báo hợp pháp về cuộc chiến tranh đối với Mỹ trước khi bắt đầu hành động chiến tranh. Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á được thành lập để “Bảo đảm tự do chính trị cho tất cả các dân tộc ở Đại Đông Á”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 12:05:05 pm
       
        Thật là một sự tưởng tượng hoàn toàn vô căn cứ khi cho rằng, phe phái chủ nghĩa quân phiệt thống trị Nhật Bản. Bản thân Tojo “Không ra lệnh hoặc không làm ngơ bất kỳ hành động vô nhân đạo nào”. Bài bào chữa 60 ngàn từ của Tojo khẳng định, “Hoàn toàn không có cơ sở” cho rằng ông có kế hoạch xâm lược hoặc có ý niệm xâm lược từ trước và “Theo như tôi biết thì không có thành viên nào của nội các tin như vậy”. Nhật Bản đã bị khiêu khích vào một cuộc chiến không phải do tự chọn lựa mà vì sự ngoan cố của kẻ khác: Người Mỹ đã không đếm xỉa gì đến sáng kiến hòa bình của Konoye vào năm 1941, Liên Xô đã phá vỡ Hiệp ước trung lập. Nhật Bản chưa từng có hành động thiếu thân thiện nào chống lại Liên Xô mặc dù chịu sức ép của người Đức.

        Trái lại, chính quân Đồng minh đã tham gia “Bao vây quân sự” Nhật Bản, “Rõ ràng Mỹ đã vội vã mở rộng quân sự” và Nhật Bản đã bị dẩy vào cuộc chiến tranh do bị bóp nghẹt kinh tế, một hành động gây hấn xảy ra trước trận Trân Châu Cảng. Hành động đó theo Tojo là một tuyên bố không chính thức cho cuộc chiến tranh. Nếu Nhật Bản chịu thua, quyền lợi của Nhật Bản sẽ bị tiêu diệt. “Nhật Bản dựa vào Anh và Mỹ đã nhập khẩu một lượng nguyên liệu cần thiết. Một khi các nguyên liệu này'bị cắt, sự tồn tại của quốc gia cũng bị đe dọa”. Đối với Tojo, mục đích của các biện pháp trừng phạt là buộc Nhật Bản phải rút quân khỏi Trung Quốc. “Nếu chúng tôi chấp nhận yêu cầu của Mỹ, dâng hoàn toàn các đồn binh quân đội của mình ở Trung Quốc và rút về toàn bộ, điều gì sẽ bảo đảm sau đó? Không chỉ Nhật Bản đã hy sinh vô nghĩa và phí hoài những nỗ lực trả giá cho tiến trình Biến cố Trung Quốc hơn 4 năm trời mà còn thái độ khinh thường của Trung Quốc đối với Nhật sẽ mở rộng, nếu chúng tôi rút khỏi Trung Quốc vô điều kiện dưới sự cưỡng ép của Mỹ, quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ trở nên tệ hại cùng với sự kháng cự chống Nhật Bản triệt để của những người theo chủ nghĩa cộng sản. Hậu quả và mất uy thế sẽ lan rộng đến Mãn Châu và Triều Tiên”.

        Theo khía cạnh này, thỏa hiệp với Mỹ sẽ không thể thực hiện được. Nhật Bản đã nhượng bộ Mỹ đến mức không thể chịu được nữa. Tuy nhiên Mỹ không cho thấy biểu hiện dáp trả lại và chính phủ Mỹ đã không nhúc nhích một chút nào... Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh kinh tế chống lại Nhật Bản trong khi cùng thời gian đó gặt hái những thành quả chiến thắng của Nhật Bản mà không cần gây chiến tranh.

        Vào mùa thu năm 1941, theo quan điểm Tojo, vị trí của Nhật Bản chỉ có thể cứu vãn bằng các biện pháp cực đoan bởi vì Nhật Bản đã bước vào đường cùng.

        Nếu Nhật Bản không giải quyết tình thế chết chóc bằng con đường ngoại giao thì không còn cách nào khác là phải cầm vũ khí và phả vỡ rào chắn quân sự và kinh tế đang phong tỏa Nhật... Nhật Bản đối mặt với mối nguy cạn kiệt nhiên liệu lỏng và mặt khác, trong suốt nửa năm của năm sau, sức mạnh hải quân Mỹ đã tăng mạnh lên... Bộ chỉ huy tối cao thấy rằng, thảng 11 là thời điểm thuận lại nhất để thực hiện một chiến dịch thành công. Tháng 12 cũng có thể nhưng khó khăn và tháng giêng thì hoàn toàn không thể thực hiện được.

        Tojo cho rằng, Nhật Bản không còn sự lựa chọn nào khác là phải chiến đấu, vậy nên phải nắm thế chủ động. Tuy nhiên ông cho là quân đội luôn nhận thức được về khả năng thất bại.

        Rõ ràng chúng tôi không quá hy vọng về chiến thắng hai thế lực hùng mạnh nhất thế giới. Nhật Bản không có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường phải tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương để chiếm giữ các vị trí quan trọng, chiếm giữ các vùng để khai thác các nguồn lực quân sự và đẩy lui bất cứ cuộc tấn công của kẻ thù bằng tất cả khả năng và tinh thần chiến đấu đến cùng của chúng tôi.

        Về vấn đề vai trò của Hirohito trong quyết định phát động cuộc chiến, Tojo nhớ lại về việc ông đưa quyết định đi đến chiến tranh cho Hoàng đế vào ngày 2-11-1941.

        "Trong khi trình bày quyết định, tôi có thể nhận thấy Hoàng đế đang phải chịu đựng một cảm giác đau đớn xuất phát từ niềm tin yêu chuộng hòa bình của ông. Khi Hoàng đế lắng nghe những gì tôi trình bày, ông tỏ ra nghiêm nghị và trầm tư rồi sau đó tuyền bố: “Chẳng lẽ không cách пào khác ngoài con đường trái ngược với mong muốn của chúng ta là phát động chiến tranh chống Mỹ và Anh nếu như nỗ lực đàm phán Mỹ - Nhật không thể phá vỡ thế bế tắc?”.

        Sau đó, ông nói tiếp: “Nếu tình lùnh như ông đã nói, không có cách nào khác là phải chuẩn bị chiến tranh, nhưng tôi vẫn hy vọng ông sẽ chấp nhận mọi phương cách có thể để vượt qua những khó khăn trong các cuộc thương lượng Mỹ - Nhật”. Tôi vẫn nhớ như in những lời đó, thậm chí hôm nay chúng tôi còn xúc động khi nghe những lời lẽ đó.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 12:06:24 pm

        Tojo chịu trách nhiệm hoàn toàn không phải vì đã phát động chiến tranh mà vì đã thất bại trong cuộc chiến tranh. “Tôi cảm thấy trách nhiệm thuộc về bản thân mình với tư cách là Thủ tướng. Trách nhiệm này tôi không chỉ sẵn lòng đón nhận mà còn thành thực muốn chấp nhận hoàn toàn”. Cuộc đối chất với Keenan, có thể đoán trước là rất lộn xộn. Ông ta bắt đầu với kiểu đánh phủ đầu: “Bị cáo Tojo, tôi sẽ không xưng hô ông là vị tướng vì như ông biết, quân đội Nhật Bản không còn tồn tại nữa”.

        Một loạt các cuộc đối đáp buồn cười diễn ra sau đó, nhưng đều nằm trong sự kiểm soát của Tojo. Tojo được hỏi liệu ông có cảm thấy nhục nhã về việc Nhật Bản làm đồng minh với Đức Quốc xã hay không? “Không, tôi không nuôi dưỡng bất cứ quan điểm nào nhút nhát như vậy”, ông đáp trả. Keenan hỏi liệu có phải chính phủ Vichy ở Pháp rõ ràng đã “Nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Hitler”. Tojo đáp lại sắc sảo: ‘Tôi nhận thức rõ sự thật là chính quyền Vichy đang hoạt động dưới sự chiếm đóng của quân đội Đức. Nhưng tôi cho rằng, chính phủ Vichy là một chính phủ hợp pháp của Pháp. Cũng giống như chính phủ Nhật Bản hiện tại, hoạt động dưới quyền của chính phủ Mỹ, là một chính phủ hợp pháp của Nhật Bản”.

        Sau đó họ tranh luận về công tội của một Hoàng đế Nhật Bản so với công tội của một Tổng thống được bầu cử.

        Thẩm phán Webb bực tức hỏi: “Có gì liên quan trong điều này hả ông công tố viên trưởng?”.

        Keenan trả lời: “Thưa chủ tọa, nếu ông cảm thấy phiền vì mất ít giây phút trong căn phòng xử án tại phiên tòa lịch sử này để người dân ở đây biết được quyền lực của chính phủ Mỹ, tôi sẽ không nhấn mạnh vấn đề này nữa. Tôi sẽ đi trực tiếp vào điều khác theo chỉ dẫn của tòa”.

        Webb đáp trả: “Hãy đi thẳng vào vấn đề”. “Tôi tin tòa muốn tôi làm như vậy nhưng đó không phải là một mệnh lệnh”.

        Webb trả lời cộc lốc: “Đó là chấp nhận lời mời của ông. Chúng tôi không muốn nghe thêm bất cứ câu hỏi nào đại loại như vậy”.

        Sau đó, nhiều đối đáp khôi hài như vậy lại diễn ra. Keenan hỏi: “Chiến tranh xâm lược là tội ác. Ông sẽ đồng ý với tôi chứ, ông Tojo?”

        Webb điên tiết nói: “Chúng tôi thấy chẳng ích gì khi nghe kiểu đối chất như vậy”. Keenan trả lời rằng, ông không ngu khi tin rằng câu trả lời của Tojo sẽ giúp giải quyết vấn đề nhưng chính Webb muốn ngăn cản phía công tố buộc Tojo phải thừa nhận ông tội xâm lược.

        Webb giải thích là ông hiểu rõ những điều này:

        “Ông ta không được mời tới đây để nhận tội. Bây giờ quan điểm của tôi là như thế này: Niềm tin trung thực của ông ta là có lý, mặc dù sai lầm của ông ta nêu ra khẳng định thực tế là một lý lẽ bào chữa, về mặt pháp luật, ý kiến hoặc niềm tin ông ta không phải là một lý lẽ bào chữa và không thích hợp, ngoại trừ liên quan đến vấn đề giảm tội nếu ông ta có tội. Phó lãnh tụ Đức quốc xã Rudolf Hess, người duy nhất có tội trong cuộc chiến tranh xâm lược tại phiến tòa xét xử tội ác chiến tranh Nuremberg, không bị kết án tử hình cho nên phiên tòa Nuremberg có thể cho rằng, niềm tin đó về mặt pháp luật là một niềm tin sai lầm, là một tình tiết giảm tội, nhưng họ đã không nói rõ như vậy. Tôi chỉ khẳng định sự thật. Nếu như có người nào hỏi tôi rằng, chiến tranh xâm lược có phải là một tội ác không, thì tôi sẽ nói tôi không nghĩ đó là tội ác, và tôi có tội gì?” Câu hỏi của Keenan bị gạt bỏ.

        Thậm chí không phải lúc nào công tố viên cũng có thể điều khiển Tojo dễ dàng giống như quả bóng. Những câu trả lời của cựu Thủ tướng có ít nhất ba lần không làm công tố viên hài lòng. Khi được hỏi về vụ Trân Châu Cảng, ông ta trả lời, “Thực sự hoàn toàn không biết” là hạm đội Nhật Bản đã đến Hawaii vào tháng 11. Ông ta đã gặp Hirohito vài lần trong suốt tuần đầu tiên của tháng 12 nhưng không thảo luận về vụ tấn cống sắp diễn ra ở Trân Châu Cảng. “Tôi nói với ông ấy về những vấn đề lớn hơn, về tổng thể cuộc chiến tranh, trong đó có vấn đề đó”.

        Hirohito không biết chi tiết về việc Trân Châu Cảng sẽ bị tấn cống mà chỉ được thông báo quyết định chung là phát động chiến tranh. Thực tế, Tojo thừa nhận Hoàng đế đã “Đồng ý phát động chiến tranh mặc dù với thái độ dè dặt... Khòng có ai trong số chúng tôi dám có hành động chống đối ý chỉ của Hoàng đế”.


        Đây là quả bom gây xôn xao dư luận. Nó cho thấy chỉ cần Hirohito đơn giản nói “Không” thì cuộc chiến tranh có thể đã được ngăn chặn.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 12:08:49 pm

        Điều này trái ngược với lý lẽ bào chữa của hầu hết tất cả bị cáo là Hoàng đế không thể ngăn cản quyết định phát động chiến tranh, thậm chí nếu ông nhận thức được nó không thể tránh khỏi. Keenan đã bất ngờ suy ngẫm các chỉ đạo của MacArthur không để Hirohito bị kéo vào quy trình tố tụng. Ông đã sử dụng một người trung gian, Marquis Kido, nhờ ông này tư vấn kích động Tojo sửa chữa lời nhận xét của ông ta và tránh đưa Hoàng đế vào để đổ tội, điều mà cựu Thủ tướng vốn trung thành sẽ vui vẻ làm.

        Điều này đã được chấp nhận trong cuộc đối chất sau đó vào ngày 6-1 khi Keenan đột ngột nêu ra vấn đề:

        “Trong khi chúng ta thảo luận về chủ đề các Hoàng đế, đây có lẽ là lúc thích hợp để hỏi ông một số câu hỏi về vị trí liên quan giữa bản thân ông và Hoàng đế Nhật Bản về vấn đề phát động chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Ông đã nói với chúng tôi nhiều lần rằng, Hoàng đế là người ủng hộ hòa bình và không muốn chiến tranh, điều này đúng không?”.

        “Tôi nói với ông tình cảm của tôi đối với Hoàng đế như là một thần dân. Đó là vấn đề hoàn toàn khác với vấn đề trách nhiệm, trách nhiệm của Hoàng đế”.

        “Vảng, ông đã phát động chiến tranh chống Mỹ, Anh và Hà Lan. Đúng không?”

        “Nội các quyết định chiến tranh”.

        “Còn ý chỉ Hoàng đế của Hirohito đã xác lập chiến tranh thì sao?”.

        “Đó có lẽ không phải là ý chỉ của Hoàng đế mà thực tế là vì lời khuyên của tôi, và vì là lời khuyên của chỉ huy cao nhất nên Hoàng đế đã đồng ý một cách dè dặt”.

        Người phiên dịch nói: “Phần đầu tiên phải sửa lại: Phát động chiến tranh có thể trái với ý chỉ của Hoàng đế”.

        Tojo tiếp tục nói: “Tình yêu của Hoàng đế và khát vọng hòa bình vẫn tồn tại ngay cả lúc hành động chiến tranh bắt đầu và thậm chí trong suốt cuộc chiến tranh. Cảm giác của Hoàng đế về khía cạnh này có thể được xác nhận rõ ràng qua Huấn lệnh Hoàng đế ban hành vào ngày 8-12-1941, tuyền bố chiến tranh...

        Điều tôi muốn nói là huấn lệnh Hoàng đế có những từ ngữ xác nhận điều này: Chiến tranh là không thể tránh được và trái với mong ước của bản thân tôi”.


        Thật khó tin là phía công tố và các quan chức Mỹ đã cấu kết với kẻ tội phạm chiến tranh đầu sỏ của Nhật Bản loại bỏ bằng chứng bất lợi cho Hoàng đế ra khỏi phiên tòa và tránh làm suy yếu thêm nền tảng pháp lý không vững vàng vốn có của phiên tòa.

        Tojo chỉ không giữ được bình tĩnh một lần duy nhất về vấn đề đối xử tù binh chiến tranh. “Tôi không nhớ mệnh lệnh nào đã được ban ra vào thời điểm đó, và tôi không thể trả lời chính xác” Ông nổi nóng. Ông đã từng là Bộ trưởng Chiến tranh vào thời điểm đó. Thái độ của ông hoàn toàn không thuyết phục. Có phải Bộ tham mưu Hoàng đế đã không thảo luận vấn đề tù binh chiến tranh? Ông ta bị hỏi ép. “Tôi không nhớ rõ”, ông trả lời như vậy. Brackman tóm lược các dối chất sau đó như sau:

        Chẳng hạn cuộc hành quân chết chóc Bataan có được bàn bạc không? “Tôi không nhớ”. Với tư cách là Thủ tướng và Bộ trưởng Chiến tranh, Tojo đã đi khắp Philippines. “Đó là tin đồn?” “Đó là tin đồn!” Ai chịu trách nhiệm cho cuộc hành quân này? “Tướng Нотта sẽ phải chịu trách nhiệm”. Liệu Tojo hoặc bất kỳ ai khác trong chính phủ từng thảo luận về vấn đề này? “Tôi không biết chuyện này có được thảo luận hay không”. (Người Mỹ đã xét xử Нотта như là tội phạm chiến tranh chẳng bao lâu sau khi Nhật Bản đầu hàng, ông bị kết án và tử hình ở Philippines). Có phải tất cả các bản sao về các tài liệu của Đồng minh phản đối sự ngược đãi tù nhân được gửi đến cho Hoàng đế, hay Hoàng đế có được thông báo về những khiếu nại của quân Đồng minh về tính tàn bạo của quân Nhật đối với tù bỉnh và những người khác? “Không, ông ấy không được biết”, Tojo trả lời chắc chắn.

        Tại sao không? Chẳng lẽ Hoàng đế Nhật không phải là Tổng tư lệnh của quân đội Hoàng đế Nhật Bản? “Hoàng đế quá bận rộn và có nhiều việc phải làm nên tôi tự xử lý các đơn khiếu nại của quân Đồng minh. Vậy nên Hoàng đế không có trách nhiệm nào trong vấn đề này”, ông trả lời.

        Tojo chịu trách nhiệm với tư cách Thủ tướng và Bộ trưởng Chiến tranh về vấn đề đối xử tù binh chiến tranh ? Ông trả lời dứt khoát: “Đúng, tôi chịu trách nhiệm cho việc đối xử này”. Văn phòng tù binh chiến tranh của Bộ Chiến tranh được thành lập khi nào? “Ngay sau khi chiến tranh bùng nổ”, Tojo khẳng định. Cuộc chiến tranh nào? “Cuộc chiến tranh Đại Đông Á (Thải Bình Dương)”, ông nói. Tại sao nó được thành lập? “Theo luật quốc tế”. Vậy thì tại sao không có Văn phòng Tù binh Chiến tranh trong suốt cuộc chiến Trung Quốc? “Nó chưa cần thiết trong suốt Biến cố Trung Quốc”, ông trả lời.

        Văn phòng nào được thành lập để xử lý vấn đề tù binh Trung Quốc? “Không có văn phòng nào cả”. Tojo giải thích về hành vi độc ác của quân đội Nhật Bản và hải quân Nhật như thế nào? Ông nói: “Tôi kinh hoàng trước sự thật về những hành động tàn bạo mà báo chí đã phơi bày. Nếu người Nhật tuân theo chỉ thị của Hoàng đế, các hành vi tàn bạo này sẽ không bao giờ xảy ra”.



Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 12:10:19 pm

        Tojo ngưng lại ở đây và ngày hôm sau, ngày 24-3-1946, ông nói với người thẩm vấn Sugamo răng muốn nói thêm về các nhận xét. Ông quay lại chủ đề hành động tàn ác. “Chúng tôi không nghi ngờ về việc những hành động như vậy đã xảy ra. Đặc biệt, Hoàng đế vì lòng nhân từ sẽ có một cảm xúc trái ngược. Các hành động như vậy không được phép ở Nhật Bản. Tính cách của người Nhật khiến họ tin rằng, trời đất không cho phép làm những điều như vậy”. Tojo nói ông ta lo ngại “Thế giới sẽ tin rằng, các hành động tàn bạo này là kết quả của tính cách người Nhật”.

        Keenan sau đó đã khen ngợi Tojo vì ông đã không đề nghị truy tố Hoàng đế. Webb phản đối việc áp dặt án tử hình dựa trên cơ sở rằng, tất cả các bị cáo chỉ đồng lõa với người lãnh đạo thực hiện hành vi tội ác là Hoàng đế. Vị quan tòa thẳng tính người Australia chỉ ra điểm yếu của toàn bộ quy trình tố tụng: Hoặc là người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cùng với các bộ trưởng, cho dù ông có nhận biết về chi tiết các tội ác hay không, hoặc họ phải được xá tội tất cả, ngoại trừ một số trường hợp cụ thể mà họ đã thừa nhận là đồng ý, xúi giục hoặc phạm tội ác (số này rất ít).

        Vào tháng 11 năm 1948, 45 tội danh trong số 55 tội danh buộc tội bị cáo bị hủy bỏ. Tuy nhiên, 10 tội danh còn lại cũng vi phạm luật quốc tế vào lúc đó. Về các tội danh quan trọng, phiên tòa kết luận: “Âm mưu phát động cuộc chiến tranh xâm lược đã được thực hiện (và các hành động này là phạm tội ở mức cao nhất)”, về vấn đề các hành vi tàn bạo và tội ác chống lại loài người, tòa án khẳng định rõ:

        Suốt mấy tháng phiên tòa xem xét chứng cứ, bằng lời khai và bằng các bản khai từ các nhân chứng, về các chi tiết tội ác chiến tranh vi phạm trong các cuộc chiến tranh trên một phạm vi rộng lớn. Tuy nhiên, theo một khuôn mẫu trong tất cả, chỉ có một kết luận: Các hành vi tàn bạo hoặc được bí mật ra lệnh hoặc được chính phủ Nhật Bản hoặc cá nhân các lãnh đạo quân đội cho phép.

        Quân Nhật thực hiện các vụ tàn sát thoải mái và xem đó là biện pháp để khủng bố người dàn, và buộc họ phải phục tùng sự thống trị của Nhật Bản.

        Tuy nhiên, tòa án nhấn mạnh không chỉ quân đội Nhật phải chịu trách nhiệm cho mọi tội ác của một cuộc chiến tranh thông lệ và các tội ác chống lại loài người.

        “Chính phủ Nhật Bản đã ngược đãi tù binh chiến tranh và những tù nhân dân sự (bao gồm những người lao động châu Á bị cưỡng bức) bằng cách không trừng phạt những người đối xử ngược đãi họ, hoặc áp đặt các hình phạt không đầy đủ và quá nhẹ cho hành vi phạm tội”. Bản tuyên án khẳng định: “Chính phủ (Nhật Bản) cũng đã cố gắng che giấu sự ngược đãi và sát hại tù nhân và những người dân bị giam giữ”. Tóm lại, bản phán quyết tổng kết quan điểm của đa số Tòa án quân sự quốc tế vùng Viễn Đông như sau:

        Kế hoạch phát động các cuộc chiến tranh xâm lược, sự chuẩn bị lâu dài và kỹ càng cho việc phát động chiến tranh xâm lược không phải là công việc của một người. Đó là công việc của nhiều lãnh đạo hành động theo một kế hoạch chung nhằm dạt một mục tiêu chung. Mục tiêu chung đó là họ phải bảo đảm sự thống trị của Nhật Bản bằng cách chuẩn bị và phát động các cuộc chiến tranh xâm lược. Đó là một mục tiêu phạm tội. Thực tế, không có tội ác nào ghê gớm như phát động chiến tranh xâm lược hoặc âm mưu đó phát động chiến tranh xâm lược, vì âm mưu đe dọa sự an toàn của các dân tộc trên thế giới và việc phát động chiến tranh đã phá vỡ sự an toàn đó... Tòa án thấy rằng, sự tồn tại âm mưu phạm tội phát động chiến tranh xâm lược... đã được chứng minh rõ.

        Vậy phiên tòa này có gì tốt đẹp? Phiên tòa đã tích lũy hàng loạt bằng chứng về trách nhiệm của Nhật Bản cho cuộc chiến tranh này, cho thấy nhiều sự phủ nhận không thuyết phục của những người tìm cách lẩn tránh trách nhiệm về hàng loạt các hành vi độc ác của chiến tranh. Phiên tòa đã làm hài lòng, thậm chí không còn các tiếng kêu gọi đòi trả thù sau khi chiến tranh kết thúc ở hầu hết các nước Đồng minh, nếu không phải là kẻ chiến thắng người Mỹ. Tuy nhiên, phiên tòa này đã không gây ấn tượng mạnh cho người dân Nhật Bản. Đối với họ thì tòa án này đã sắp xếp sẵn. Đó là công lý tất yếu của người chiến thắng áp đặt cho kẻ thất bại, mặc dù nhiều người Nhật ấn tượng vì mức độ trừng phạt hạn chế.

        Một số các nhân vật cấp cao đã vui mừng tại phiên tòa và tin rằng, phiên tòa đã xác định được trách nhiệm gây ra chiến tranh thuộc về những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt.

        Tuy nhiên, nhiều người dân thường Nhật Bản khâm phục thái độ và phẩm giá của bị cáo. Đó là một Tojo đáng tôn trọng về tính cách thẳng thắn. Đại sứ Anh, Ngài Alvary Gascoigne cho rằng, Tojo đã đứng trước những người buộc tội ông “Như một người Nhật thực thụ” và ít nhất một nửa người dân đã chấp nhận lời bào chữa mà các bị cáo đưa ra về quyết định phát động chiến tranh. Cũng đúng như vậy khi nói rằng, một thiểu số thấy nhục nhã khi phiên tòa phơi bày những hành vi độc ác của quân đội Nhật Bản tại các lãnh thổ mà họ chiếm đóng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 12:11:25 pm
         
        Bản thân MacArthur tức giận về việc Tojo không được đối chất kỹ càng và sau đó buồn bã thừa nhận lời khai của Tojo đã tác động đến công chúng Nhật Bản rất sâu sắc.

        Bảy bị cáo bị kết án tử hình, tất nhiên là bao gồm cả Tojo. Những người khác gồm tướng Kenji Doihara, một người ủng hộ chủ nghĩa khủng bố và hoạt động tình báo ở nước ngoài. Ông ta từng là chỉ huy của quân đội Kwantung ở Mãn Châu và Singapore và sau đó là chỉ huy nhiều trại tù binh chiến tranh. Baron Koki Hirota, một tín đồ của Toyama, người thành lập Hội Rồng đen, là Ngoại trưởng trong thời kỳ xảy ra vụ Thảm sát Nam Kinh và là Thủ tướng trong khi Nhật Bản lên kế hoạch xâm lược Đông Nam Á. Tướng Seishiro Itagaki, cựu Bộ trưởng Chiến tranh phụ trách nhiều trại tù binh chiến tranh tồi tệ nhất. Tướng Heitaro Kimura, cựu tư lệnh quân đội chịu trách nhiệm trong thời kỳ xây dựng tuyến đường sắt ở Miến Điện. Tướng Iwana Matsui chịu trách nhiệm chính trong vụ Thảm sát Nam Kinh mặc dù không trực tiếp liên quan. Và tướng Akira Muto, người đóng vai trò quan trọng trong cả vụ Thảm sát Nam Kinh cùng vụ thảm sát ở Manila cũng như điều hành các trại tù binh ở Sumatra. Tất cả những người còn lại đều bị kết án. Tất cả những người còn sống đã được ân xá sau 6 hoặc 7 năm ngồi tù, ngoại trừ tướng Kenryo Sato độc ác phải chịu ngồi tù thêm một năm nữa.

        Một bị cáo khác là Mamoru Shigemitsu chẳng bao lâu sau đã trở thành Ngoại trưởng Nhật. Bảy người đã bị tử hình vào ngày 22-12-1948, tức 6 năm 1 tháng sau vụ tấn công Trân Châu Cảng. Người Nhật cay đắng khi Mỹ từ chối cho họ chết trong danh dự bằng cách chém đầu mà lại bị treo cổ một cách sỉ nhục.

        Tướng Sato phàn nàn: “Không nói vấn đề đúng hay sai khi kết án tử hình 6 vị tướng và một Thủ tướng, tại sao họ không bị xử tử bằng cách bắn? Thậm chí nếu tòa án kết án treo cổ họ, MacArthur có quyền để xem xét lại các bản án... MacArthur không có một chút gọi là tình cảm của chiến binh”. Brackman mô tả sự kiện tàn nhẫn này như sau:

        Ngày 22-12 là một ngày lạnh lẽo và những chiếc lá vàng cây paulownia bay qua khu sân trống ngăn cách nhà tù với nhà dành tử hình. Từ xa, những người tù khác có thể thấy 7 tử tù ở nhà tù Sugamo lê bước chậm chạp qua mặt đất giá lạnh của sân tập thể dục lần cuối. Mỗi người đều bị công tay vào một người lính. Yoshio Kodama viết trong nhật ký: “Không có ý như vậy, tôi ngoảnh mặt không nhìn họ..”. Những kể bị kết án đã sử dụng ngày cuối cùng, viết thư tạm biệt vào buổi tối và cầu nguyện khi Hanayama chuẩn bị đưa họ đi treo cổ. Chỉ một mình Muto thừa nhận rằng, ông “tràn ngập nỗi sợ” và giãi bày với Hanayama rằng, “Những người khác cũng sợ”.

        Lúc 11g30, 4 tù nhản Doiliara, Matsui, Tojo và Muto theo thứ tự mỗi người bị công tay vào hai lính gác tiến đến một nhà thờ tạm, thắp nến đốt hương và thì thầm tụng Kinh Phật. Họ cầm tay nhau, nói từ tạm biệt và đi cùng Hanayama băng qua sân nhỏ đến nơi triệu tập. Matsui, 70 tuổi, người già nhất trong 4 người bây giờ chấp nhận số phận cất tiếng thét nhẫn nhục và thách thức: “Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn tuế!” Những người khác thét theo ông.

        Hanayama rời cánh của của phòng tử hình có ánh đèn chiếu sáng. Dọc theo một bức tường có hai người đàn ông mặc đồ đen và hai vị tướng mặc đồng phục. Đó là các thành viên người Nga, Trung Quốc, Mỹ, Australia của ủy ban Viễn Đông, những người được MacArthur triệu tập đến để chứng kiến. Không có người Nhật nào có mặt ngoài những người bị kết án. Không giống như các quan chức ở Nuremberg, MacArthur cấm tất cả các phóng viên chụp ảnh và thậm chí cấm cả việc chụp ảnh làm bằng chứng tài liệu chứng minh các vụ hành hình đã được thực hiện... MacArthur không muốn sỉ nhục họ bằng các bức ảnh tử hình trên các trang nhất của bảo chí thế giới.

        Nhân chứng có ghi chép lại các vụ hành hình là hồi ký của Sebald. “Họ bước đi nặng nề, và gương mặt vô hồn khi đi ngang qua tôi”, ông viết. Một tiếng cộc lốc từ người lính gác vang lèn đanh gọn: “Tiến lên!” Các cảnh cửa lật mạnh ra. Các vụ hành hình diễn ra nhanh chóng, chỉ khoảng một phút rưỡi. Khi Hanayama quay lại sản trở về nhà thờ nhỏ của ông để tiến hành những nghi thức cuối cùng cho nlióm thứ hai, bao gồm Itagaki, Hirota và Kimura, tiếng đổ ầm khiến ông quay lại nhìn. Đối với Sebald, các cánh cửa lật “Nghe giống như một loạt súng trường”.

        Số phận của những người già chỉ gợi lên lòng thương tiếc và khâm phục của những người dân thường Nhật Bản. Nếu họ bị bắn nhanh chóng vào năm 1945 như yêu cầu của người Anh thì sẽ tốt hơn. Bản thân MacArthur đã chấp nhận tính cần thiết khó chịu của phiên tòa và tin rằng, việc bảo vệ ngôi vị của Hirohito phải dựa vào đó.

        Ông bác bỏ lý lẽ thẩm phán chủ tọa người Australia Webb cho rằng, Hirohito chắc chắn có tội. Tuy nhiên, Tư lệnh tối cao cũng chán ngấy quy trình tố tụng và chán nản trước tác động của phiên tòa đối với công luận Nhật Bản. Nói chung, phiên tòa đã phản tác dụng vì công luận dành thiện cảm và ủng hộ cho các bị cáo trong khi không thuyết phục được nhiều người Nhật rằng, họ đã làm điều phạm tội. Tuy nhiên, những người bị tử hình và bị tù (chỉ ngoại trừ một, hai trường hợp) đều là những người có tội thực sự.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:03:22 am

PHẦN VII

SỰ SỤP ĐỔ CỦA TƯỚNG QUÂN


Chương 31

PHẢN CÔNG

        Vào cuối năm 1947, một làn gió mới bắt đầu thổi từ Washington. Khi MacArthur đến Nhật Bản, rõ ràng ông có tham vọng chuyển đổi xã hội này. ông bắt tay thực hiện đợt cải cách sâu rộng với niềm đam mê nhiệt huyết. Trong 2 năm, các cải cách bắt đầu đổ vỡ do sự phản kháng tinh tế của chính phủ Nhật Bản, cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện các cải cách này. Một năm hoặc hai năm sau đó, những người phản đối chủ chốt đã nắm giữ các vị trí trong chính quyền chiếm đóng.

        MacArthur có khả năng quan hệ công chúng tài giỏi nên đến năm 1950 đã có một số ít cải cách ban đầu được chấp nhận, thậm chí được chấp nhận một cách sâu rộng. Thật công bằng khi nói là, Mỹ đã thắng trong cuộc chiến tranh và Nhật Bản lại thắng lực lượng chiếm đóng. Trước khi bắt đầu nhìn nhận lại các lĩnh vực cải cách thất bại, cần xem lại thái độ của các ông chủ của MacArthur ở Washington về cải cách đã thay đổi triệt để như thế nào trong nhiều năm qua, và thay đổi theo cách ảnh hưởng chính sách ngoại giao của Mỹ trong nhiều thập niên tới.

        Tháng 5 năm 1946, sau chuyến viếng thăm Tokyo, Hoover đã quyết định công kích các chính sách của SCAP, trong khi đó thận trọng gỡ trách nhiệm cho người bạn cũ MacArthur. Tháng giêng năm 1947, tạp chí Newsweek đã phát động cuộc vận động phản đối quyết liệt chính sách cải cách ở Nhật Bản và cáo buộc SCAP đang bị Liên Xô giật dây. Tạp chí này dẫn lời của một doanh nhân Nhật Bản khi hỏi tại sao “Khi Nhật Bản đang phục vụ các quyền lợi riêng của Mỹ, thì Mỹ lại làm suy yếu Nhật Bản, để rốt cục nước này thành phần thưởng cho người Nga?”

        Mặc dù là anh hùng của người Mỹ và được bảo vệ trước những công kích này, nhưng MacArthur đã tức giận bác bỏ các cáo buộc của Newsweek và đáp trả thay mặt những người cải cách cấp dưới.

        Tháng 9 năm 1947, Ban Hoạch định Chính sách ở Washington ban hành một tài liệu tối mật dài 37 trang nhằm xem xét lại chính sách đối với Nhật Bản. Nội dung của nó có thể tóm tắt như sau:

        Một thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản đã được bí mật thảo luận. Ý tưởng diệt trừ quyền lực quân sự Nhật Bản bất cứ lúc nào cũng có thể thay đổi. Bây giờ vì hành động của Nga, nền xu hướng phát triển các hòn đảo của Hirohito phải như là một quốc gia trung lập. Hiệp định hòa bình đang được soạn thảo sẽ phải theo xu hướng thay đổi này.

        Một quan chức của Văn phòng trợ lý Ngoại trưởng của các khu vực chiếm đóng đã đưa ra lập luận bác bỏ rằng, cách tiếp cận mới giống như “Phục hồi của Schacht, các giám đốc của Farban và Ruhr trên cơ sở so sánh với lực lượng mật vụ ss. Họ là lực lượng mạnh nhất ở Đức bảo đảm sự ổn định và điều tiết”. Quân chiếm đóng đã tìm cách phát huy dân chủ và thực hiện cải cách kinh tế có mức độ trong khi cố gắng khống chế sự ảnh hưởng của Liên Xô. Tuy nhiên, để đạt được mục đích thứ hai phải từ bỏ mục đích thứ nhất.

        Kennan đã tranh luận thẳng thắn với MacArthur, người mà ông cáo buộc đang khuyến khích chủ nghĩa cộng sản xâm nhập vào Nhật, ông lập luận răng, vào tháng 10 năm 1947 Nhật Bản phải đối mặt với vấn đề kinh tế rất nghiêm trọng vì sự tàn phá của chiến tranh và bị “Mất các thị trường và các nguồn nguyên liệu thô trong các phần lục địa mà Liên Xô thống trị cộng thêm với các điều kiện không ổn định phổ biến ở Trung Quốc, Indonesia, bán đảo Đông Dương và An Độ, không chắc chắn sẽ nối lại xuất khẩu truyền thống đến các khu vực đôla”.

        Những người theo quan điểm cải cách của MacArthur nhận thức được nguy cơ Washington sẽ loại bỏ chương trình của họ, nên bắt đầu tranh luận thẳng thừng về một hiệp định hòa bình cho phép Mỹ rút khỏi Nhật Bản trước khi các cải cách đi theo chiều ngược lại. Kennan quyết liệt cho rằng, nếu đất nước này (Nhật Bản) được trao lại cho người Nhật sớm, sẽ có nguy cơ về thảm họa kinh tế, lạm phát, tình trạng vô chính phủ đúng như những gì những người cộng sản muốn. Tháng sau đó, Ngoại trưởng George Marshall đã tán thành các quan điểm của Kennan. Ông tuyên bố sự tồn tại của thế giới phi cộng sản phụ thuộc vào nỗ lực tái thiết “Hai quốc gia chúng ta vừa hủy diệt”. Các đối thủ của MacArthur ở Washington bắt đầu hợp nhất vào năm 1947.

        Phát súng đầu tiên là của Harry Kem, biên tập tin nước ngoài của báo Newsweek, người ủng hộ Nhật Bản trong suốt thập niên 1930 và đổ lỗi Tưởng Giới Thạch đã dẫn dắt Roosevelt sử dụng vũ lực từ vụ Trân Châu Cảng chống lại người Nhật. Kem là một người cánh hữu có đầu óc hẹp hòi. Ông ta tin là những cải cách của MacArthur sẽ khiến Nhật Bản rơi vào tay của những người cộng sản. Tháng giêng năm 1947, Newsweek phát động cuộc vận động chỉ trích chính sách thanh trừng kinh tế khiến 30 ngàn giám đốc có văn hóa, hiệu quả, năng động phải rời bỏ chức vụ và phá hủy toàn bộ cấu trúc kinh tê Nhật Bản. Điều này sẽ khiến người Nga tận dụng cơ hội. “Chúng ta, người Mỹ, có tất cả Nhật Bản đang hoạt động vì quyền lợi của chúng ta” nhưng thay vì thế, bây giờ chúng ta đang tàn phá đất nước này để rốt cục nó trở thành một phần thưởng cho người Nga.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:04:43 am

        Đồng minh chủ chốt của Kem là James Kauffman, một luật sư New York, người vào năm 1947 được giới kinh doanh Mỹ ở Tokyo ủy quyền viết một báo cáo phản đối kịch liệt MacArthur. Kauffman đã lấy được bản sao của chính sách FEC 230, trong đó có các cải cách chống các tập đoàn tài phiệt do MacArthur vạch ra. Ông ta chỉ trích những cải cách này mang “Tính xã hội chủ nghĩa và không có chất Mỹ”.

        Nước Nhật sẽ chìm sâu trong khủng hoảng “Trước sự vui mừng quan chức Nga đang làm việc ở Đại sứ quán Liên Xô ở Tokyo”. Với các lời lẽ thô kệch như vậy, Kauffman viết: “Chỉ huy tối cao ở Nhật Bản đã không tận dụng được ưu thế của các doanh nhân có kinh nghiệm. Chỉ huy tối cao chỉ chấp nhận lời khuyên của những con người tầm thường và lắng nghe bài hát quyến rũ của nhiều kẻ lập dị... Không chỉ là các tổ chức tài chính mà còn tất cả giới kinh doanh đều nằm dưới sự kìm kẹp của người bất tài về kinh tế”. Một bản sao của báo cáo này đã rò rỉ cho tờ Newsweek đang muốn bút chiến với nội dung tương tự.

        Kẻ thù quan trọng thứ ba của MacArthur là Thứ trưởng Bộ Chiến tranh, tướng William Draper, người mà Kem đã cố gắng đề bạt làm Tư lệnh tối cao thay thế cho MacArthur. Draper đã gửi một bản sao báo cáo mật về chính sách chống tập đoàn tài phiệt cho Thượng nghị sĩ William Knowland, người đã chỉ trích chính sách này tại Thượng- viện. Ông ta cũng cho phổ biến một bản ghi nhớ có nguồn gốc từ SCAP công kích MacArthur là kiêu ngạo, ngu ngốc và chỉ xem Nhật Bản như là bàn đạp để ông vận động tranh cử chức tổng thống Mỹ sau này.

        MacArthur đã trả lời mạnh mẽ và thông minh. Ông nói răng, đối với mình, tập đoàn tài phiệt là đối thủ của các doanh nghiệp tự do. Xung đột thực sự ở Nhật Bản nằm “Giữa một hệ thống doanh nghiệp tự do cạnh tranh...”, và những người xã hội chủ nghĩa. Những kẻ tư bản độc quyền là một hình thức của “Chủ nghĩa xã hội trong bàn tay của tư nhân”. Vậy nên ông đã gán mác chủ nghĩa tập thể cho những nhóm tư bản kinh doanh lớn mà Kem ủng hộ.

        Draper đã thuyết phục ông chủ là Bộ trưởng Chiến tranh Kenneth Royall đọc diễn văn chào mừng ở San Francisco vào ngày 1-6-1948 nói rằng, các cải cách phải được tiến hành ngược lại và cần phải chấm dứt tấn công giới doanh nghiệp.

        Ông nói, “Những người tích cực nhất trong việc xây dựng và điều hành cỗ máy chiến tranh của Nhật Bản về mặt quân sự và công nghiệp thường là những người có năng lực, và là những lãnh đạo kinh doanh thành công nhất của nước đó. Sự phục vụ của những người này trong nhiều trường hợp đã đóng góp vào sự khôi phục kinh tế của Nhật Bản”. Điều này cũng giống như cho rằng, Đức Quốc xã và Wehmachr là những con người phù hợp nhất với vai trò tái thiết Đức sau chiến tranh. Royall cho rằng lợi ích của Mỹ là phải xây dựng một Nhật Bản “Đủ mạnh mẽ và ổn định để có thể tự chống dỡ và đồng thời... đóng vai trò làm vật cản chống lại bất cứ mối đe dọa chiến tranh chuyên chê nào khác có thể xuất hiện ở Viễn Đông”.

        Quân đội đã quyết định dứt khoát là chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản phải được thay đổi ngược lại vì các lợi ích của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Người ta cho rằng, Tổng thống Truman đã biết trước nội dung chính bài diễn văn này.

        Tuy nhiên, MacArthur kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình:

        Theo truyền thống, là một dân tộc bị biến thành nô lệ của hệ thống chính trị đầu sỏ của chế độ phong kiến kinh tế (mà chỉ một số ít các gia đinh trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát tất cả ngành thương mại, công nghiệp và nguyên liệu thô của Nhật Bản) người Nhật nhanh chóng giải thoát họ ra khỏi hệ thống này để dọn đường thành lập một loại hình doanh nghiệp cạnh tranh hơn, giúp giải phóng các nguồn năng lượng bị đè nén lâu nay của người dân, tiến tới việc xây dựng sản lượng cao hơn của một xã hội tự do.

        “Các bước tiến kinh ngạc”, đó là những lời mà MacArthur nói về sự khôi phục ngành công nghiệp Nhật Bản. Tuy nhiên, vào năm 1948, một thành viên có tiếng của Bộ Ngoại giao ông w. w. Buttenvorth đã gia nhập phe quân đội phản đối cải cách của SCAP. Ông ta cho rằng, Nhật Bản sẽ khôi phục “Thông qua hoạt động bình thường của giới thương gia tham gia chứ không phải thông qua các cải cách lý tưởng”. Vào tháng 2, MacArthur đã phản ứng về vụ công kích nhằm vào ông của quân đội, Bộ Chiến tranh, giới truyền thông Mỹ và Thượng viện bằng cách tấn công hình thái kinh tế “hình chóp” truyền thống. Ông cho rằng trừ khi tập đoàn tài phiệt được cải cách, nếu không việc dọn dẹp các tập đoàn này rốt cuộc được thực hiện thông qua một trận tắm máu do “bạo lực cách mạng”. Luật về phân quyền cũng đã được chuyển qua Hạ viện: Khoảng 300 công ty kiểm soát hơn 50% ngành thương mại và công nghiệp đang bị đưa vào kế hoạch giải thể. Các đối thủ của MacArthur đã phản ứng giận dữ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:05:17 am

        George Kennan cũng đồng ý với họ. Ông đã thăm Nhật Bản và phát hành bài bình luận dài 42 trang chỉ trích rằng, SCAP đang sống ký sinh vào Nhật Bản và nuốt mất 1/3 ngân sách của đất nước này. Kennan đã đưa ra những lý lẽ chống chính sách cải cách triệt để. Draper và Percy Johnson, Chủ tịch Ngân hàng Hóa chất đã dẫn đầu một đoàn đại biểu viếng thăm Nhật Bản vào tháng 3. Johnson cho rằng, Nhật Bản phải tự lực về kinh tế càng sớm càng tốt, cần phải chấm dứt các cải cách và luật chống các tập đoàn tài phiệt, cũng như chính sách thanh trừng.

        MacArthur vẫn có thái độ thách thức và không lay chuyển. Ông nói với Ngài Alvary Gascoigne, trưởng phái đoàn của nước Anh rằng, các ông trùm của nước Mỹ chẳng như Royall và Draper chống luật bài trừ tập đoàn tài phiệt, vì họ nghĩ rằng nó sẽ gây tổn hại đến quyền lợi kinh doanh của họ. MacArthur nhất quyết không tuân lệnh từ một người “chỉ là thứ trưởng”. Tuy nhiên, chức Tư lệnh tối cao cũng đang bị lung lay không phải vì sai lầm của ông. Nền kinh tế Nhật Bản đang trong tình cảnh hỗn loạn, và tính chiến đấu của công đoàn đang phát triển đến mức nghiêm trọng như là một mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản.

        MacArthur đã phản ứng chậm trước vấn đề công đoàn. Vào mùa xuân năm 1946, chính sách “Kiểm soát sản xuất”: tịch biên các nhà máy và hầm mỏ và sau đó giao cho các hợp tác xã công nhân quản lý, đang được tiến hành. Vào tháng 4 và tháng 5 cùng năm đó, nhiều cuộc biểu tình rầm rộ đã diễn ra. Công nhân yêu cầu phải tăng định lượng nhiên liệu, tăng lương và đòi chính quyền từ chức. Vào ngày 19-5, một đám đông biểu tình bên ngoài dinh thự của Thủ tướng và trước cung điện Hoàng đế, đã báo động các nhà chức trách.

        MacArthur đã ban hành một trong những tuyên bố khắc nghiệt nhất trong thời gian ông nắm quyền ở Nhật Bản. Đó là một cảnh báo chống lại các cuộc phá rối trật tự hoặc bạo lực “Có các yếu tố vô kỷ luật” de dọa đến trật tự của Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Ông cảnh báo chính phủ Nhật Bản phải hành động, nếu không SCAP sẽ ra tay. Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện các biện pháp chống những người cánh tả. Sau đó, MacArthur lên án “Các cuộc đình công, bãi công và các hình thức nghỉ việc khác có hại cho các mục tiêu của quân chiếm đóng”.

        Quyền lực của MacArthur bắt đầu rạn nứt vào mùa xuân và mùa hè năm 1948 khi vội vàng chạy đua giành vị trí ứng cử viên của đảng Cộng hòa ra tranh cử Tổng thống. Ông đã tổ chức vận động tranh cử quá hời hợt. Vào lúc hội nghị tuyển chọn ứng cử viên diễn ra ở bang Wisconsin, ngôi sao đang lên - Thượng nghị sĩ Joe McCarthy tấn công MacArthur, coi ông chẳng khác gì một lão già đang vô vọng mơ đến nền chính trị Mỹ.

        Tại hội nghị đảng Cộng hòa, MacArthur chỉ giành được 7 phiếu trong vòng bỏ phiếu thứ nhất. Nhiều kẻ thù của MacArthur đã vui mừng ra mặt, vì đây là lần đầu tiên tinh thần chiến đấu của ông bị suy sụp. MacArthur chỉ còn nổi tiếng trên phương diện cá nhân với tư cách là người hùng ở nước Mỹ, nhưng trong con mắt của các chuyên gia ông chỉ là một nhà chính trị nhẹ ký.

        Vào cùng thời điểm đó, rõ ràng MacArthur gần như sụp đổ tinh thần vì các kế hoạch của ông đã bị cắt xén và quyền lực của ông bị kiềm chế lại. Ông đã hết sức cố gắng chứng minh các quan điểm chống cộng của mình bằng cách bắt đầu “Cuộc săn lùng phù thủy... cuồng loạn” (theo như cách mô tả của một người quan sát ở Đại sứ quán Anh). Báo chí đều rộ lên giọng điệu chống cộng và chống người lao động.

        Tướng Willoughby là động lực đứng phía sau cuộc vận động này thông qua các quân đoàn phản gián của ông. Các quân đoàn phản gián cho rằng, những người đình công đều có động cơ lý tưởng. Sự thật là điều kiện kinh tế bấp bênh của Nhật Bản cũng như giá cả tăng và lương thực thiếu hụt đã dẫn đến nhiều cuộc đình công và biểu tình. Tuy nhiên, MacArthur đã phản ứng dứt khoát. Công nhân khu vực nhà nước cuối cùng bị tước quyền đình công và thương lượng tập thể vì các nhà chức trách cho rằng, nó sẽ dẫn đến mối đe dọa về “Tình trạng vô chính phủ, nổi dậy và tàn phá”.

        Khi chính phủ Nhật Bản thực hiện các biện pháp này, đã có nhiều cuộc bãi công diễn ra khắp cả nước. SCAP đã chỉ đạo chính phủ Nhật Bản bắt những người đình công, những người hoạt động công đoàn và những người cộng sản. Thậm chí người Anh, các đồng minh của Mỹ trong Ủy ban Viễn Đông cũng đã kinh hoàng trước việc sử dụng quyền lực độc đoán một cách thẳng thừng này.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:05:47 am

        Cú đấm kết liễu được đưa ra vào tháng 11 năm 1948 khi Ủy ban An ninh quốc gia ban hành chỉ thị NSC 13/2 ra lệnh MacArthur không được thúc đẩy chính phủ Nhật Bản thực hiện các cải cách nữa, và nới lỏng các biện pháp đang gây sức ép cho nền kinh tế. Bây giờ, chính sách cải cách Nhật Bản chỉ còn là dĩ vãng. Nước Nhật sẽ được Mỹ đối xử như là một đồng minh quan trọng. Một trong các phụ tá của MacArthur đã phàn nàn cay đắng: “ít khi một quốc gia thua trận có thể được giao cho giữ một vai trò quan trọng như vậy chẳng bao lâu sau thất bại”. Chỉ 3 năm sau, nỗ lực chuyển đổi nền tảng xã hội chuyên chế và có tôn ti trật tự của Nhật Bản thành một xã hội dân chủ hiện đại đã chính thức ngưng lại. Như chúng ta đã thấy, việc thả hai quả bom nguyên tử, quyết định cải cách Nhật Bản thông qua các cơ quan đang tồn tại và quyết định giữ lại chế độ Hoàng đế đã đặt nhiều điều cản trở cho nỗ lực cải cách ngay từ đầu.

        Nhiều người đổ lỗi thất bại cho MacArthur. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, ông đã sử dụng hết lòng nhiệt tình và sức mạnh cho quá trình cải cách mặc dù có những sự hạn chế.

        MacArthur đã nỗ lực trung lập Nhật Bản, đưa nước này trở thành “Thụy Sỹ của châu Á”, như ông đã từng gọi. Các nỗ lực này tan thành mây khói chỉ sau 3 năm MacArthur rời khỏi Tokyo. Tuy nhiên, các cố gắng của ông không phải hoàn toàn vô ích. Nhật Bản vẫn chưa giải giáp hoàn toàn và là một thế lực quân sự không chắc chắn trong những thập kỷ tới. Sự phản đối hoàn toàn về việc tái vũ trang Nhật Bản của MacArthur là đúng, phản ánh lập trường và đánh giá của ông về đất nước này cũng như các mối đe dọa từ việc tái vũ trang. Ông hoàn toàn đơn độc ở phía cánh hữu chống cộng ở Mỹ khi đưa ra quan điểm này. Ông đã bị lép vế trước một liên minh không thể cản lại của những người chống cộng đang thống trị ở Washington và những người ủng hộ họ đang nằm dưới quyền chỉ huy của mình, nhóm người cầm quyền ở Nhật Bản và các quyền lợi tư bản công nghiệp. Về vấn đề này ông đã xuống nước, rút lại một số mục tiêu ban đầu.

        Sự chao đảo của SCAP nghiêng về phía cánh hữu diễn ra cùng lúc với sự biến động trong nền chính trị Nhật Bản, nhằm xác định cục diện chính trị của đất nước cho hơn 40 năm sau. Sự xuất hiện của mối đe dọa chủ nghĩa cộng sản, có thực ở châu Á nhưng rất mơ hồ ở Nhật Bản. Sự thay đổi sâu sắc về hướng đi ở Washington đã khiến chủ nghĩa bảo thủ ở Nhật Bản tái xác lập. Đảng Dân chủ Xã hội dù nắm quyền lực trong một thời gian ngắn trong thời kỳ chiếm đóng đã bị chia rẽ và không bao giờ quay trở về quyền lực một lần nữa. Nội các đứng giữa dòng của Ashida sụp đổ và đảng Dân chủ tự do, được thành lập từ một liên minh của hai đảng cánh hữu chính, lên nắm quyền dưới sự lãnh đạo cứng rắn của Shigeru Yoshida.

        Mảnh đất chính trị của Nhật Bản đã chuẩn bị cho nhiều thập niên kế tiếp. MacArthur đã lấy lại lòng tin quá muộn trong ít tháng sau đó: Ông đã triệt hạ chủ nghĩa cộng sản, phá vỡ quyền lực của các công đoàn và chia rẽ những đảng viên đảng Xã hội. Thực tế, Washington đã buộc ông phải làm như vậy. Nhật Bản trở về kiểu thống trị chính thể đầu sỏ thời Minh Trị khi quyền lực của MacArthur hoàn toàn sụp đổ. Từ năm 1948 trở di, ông chỉ còn là kẻ bù nhìn giống như vai trò của Hoàng đế Nhật Bản trong 2 năm trước đây. Vị tướng quân mới luôn sử dụng quyền lực thận trọng trong suốt thời kỳ chiếm đóng là Yoshida. MacArthur có thể tự nhủ lòng mình rằng, sự chuyển đổi sang cánh hữư là điều thực sự cần thiết trong bối cảnh Nhật Bản đang đối mặt với nhiều thách thức.

        Ông có thể đã không tin điều này: MacArthur đã chiến đấu ngoan cường và trong thời gian dài để thay đổi thực sự Nhật Bản trong thời kỳ ông là người có quyền lực nhất ở Nhật. Sự cay đắng tột độ mà ông cảm nhận vào thời điểm các sự kiện thay đổi được phản ánh trong những hồi tưởng của ông. Hồi tưởng của MacArthur hoàn toàn không nhắc đến con đường cải cách gập ghềnh và bị cắt xén. Giống như lý tưởng cơ bản mà mình theo đuổi, MacArthur kiêu hãnh về chương trình thay đổi của ông như thể nó thực sự đã được thực hiện xong.

        MacArthur, con người đã từng giành chiến thắng trong nhiều trận chiến, đã phải chịu thất bại trước liên minh mạnh mẽ và to lớn giữa các đối thủ là phe quân sự và phe bảo thủ ở Washington, trước mạng lưới gián điệp của Willoughby trong hệ thống cấp bậc của SCAP và sau cùng là trước sức mạnh dữ dội nhất: tầng lớp thống trị Nhật Bản, vì họ đã quyết định chống lại bất cứ thay đổi nào trong hệ thống chính phủ được thành lập bởi chính thể đầu sỏ Minh Tri.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:06:08 am

        Tầng lớp thượng lưu của Nhật Bản cũng đã cản trở hầu hết tất cả những cải cách quan trọng. Cho đến cuối thời kỳ chiếm đóng, vấn đề quan trọng nhất là giải thể các tập đoàn tài phiệt, đã hoàn toàn không đạt được tiến bộ rõ ràng nào. Nền kinh tế Nhật Bản và cấu trúc công nghiệp vẫn hoàn toàn như trong thời kỳ cuộc chiến tranh Thái Bình Dương khi các tập đoàn tài phiệt là thế lực mạnh hơn cả vào thời kỳ thập niên 1920. Nền kinh tế Nhật Bản vẫn năm dưới thống trị bởi một số ít các tập đoàn kinh tế khổng lồ hợp tác, canh tranh với nhau. Sự thống trị này kiểm soát tất cả thành công kinh tế và sự mở rộng của kinh tế Nhật Bản trong suốt những năm hậu chiến.

        Về các trung tâm quyền lực ở Nhật Bản, bộ máy công chức vẫn tồn tại không hề sứt mẻ và đã bắt đầu lại một thời đại sự thống trị vàng son mang tính chất chính thể đầu sỏ. Trong khi đó, những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt dù đã bị ghìm quyền lực xuống ở một vị trí thấp hơn nhiều trên nấc thang quyền lực, nhưng chưa bị loại trừ hoàn toàn như ý định ban đầu.

        Đẳng cấp thứ tư đã bước vào bộ máy quyền lực đó là tầng lớp chính trị. Mặc dù tầng lớp chính trị này có vai trò ý nghĩa hơn so với trước chiến tranh, nhưng vẫn chưa thực sự có quyền lực tối cao. Trong bất kỳ nền dân chủ nào, các nhà chính trị được bầu cử là người đứng đầu trong số những tầng lớp ngang hàng là bộ máy công chức, tầng lớp doanh nhân, công đoàn và lực lượng vũ trang (và các cơ quan an ninh) và báo chí.

        Ớ Nhật Bản, mô hình này đã bị méo mó dù MacArthur đã nỗ lực rất nhiều để cải cách nó. Các tập đoàn tài phiệt với quyền lực kinh tế và bộ máy công chức rõ ràng là hai thế lực cao cấp hơn hết, đứng thứ hai là tầng lớp chính trị còn lực lượng vũ trang chỉ đứng thứ tư. Cả công đoàn lẫn báo chí không được kể đến.

        MacArthur xuất thân từ nền tảng bảo thủ là quân đội Mỹ. Ông đã chiến đấu ngoan cường và thông minh với người Nhật. Tuy nhiên, ở cương vị quản gia, ông không chỉ là người chống lại nỗ lực của nhiều người dân Mỹ muốn Nhật Bản phải nếm mùi vị báo thù mà còn là người duy nhất trong lịch sử đất nước Mỹ thành lập loại hình chính quyền dân chủ với giá trị đại chúng, ngăn chặn sự duy trì cơ cấu quyền lực truyền thống.

        Trong hơn 2 năm, ông đã đại diện cho những người theo chủ nghĩa duy tâm dưới quyền chiến đấu với sức mạnh to lớn. Tuy nhiên, một liên minh lớn mạnh giữa khu vực tư nhân Nhật Bản và bộ máy công chức, những người chống cộng trong bộ máy điều hành của ông và phe công nghiệp cùng với quân đội ở Mỹ đã đè bẹp MacArthur. Giống như ở Bataan, ông đã thua vì sức mạnh áp đảo của kẻ dịch. Tuy nhiên, những gì ông đã làm được trong cuộc tranh đấu này cũng không phải là nhỏ. Ông đã giảm quyền lực quân đội xuống còn vị trí thấp và đặc biệt khai mở nền dân chủ ở Nhật Bản.

        Một bước ngoặt khác xảy ra vào đầu năm 1949 khi Joseph Dodge, một nhà kinh tế bảo thủ, đến Nhật Bản. Ông đã soạn thảo “Chín Chỉ dẫn” để giới thiệu nền kinh tế thị trường vào chính sách kinh tế xã hội mới của Nhật Bản. Ngân sách đã được cân bằng. Vào tháng 4 năm 1949, tỷ lệ hối đoái cố định được giới thiệu là 360 yên ăn một đôla nhằm làm giảm giá trị đồng yên để kích thích xuất khẩu. Bộ Thương mại và Uy ban Thương mại đã được hợp nhất để tạo ra Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp (MITI) giúp kiểm soát và tăng trưởng kinh tế Nhật Bản suốt thập niên 1950.

        Luật chống tập đoàn tài phiệt được nới lỏng và các quyền lực chính quyền gia tăng. Chi tiêu chính phủ được kiểm soát. Kết quả có thể dự đoán được: Nền kinh tế hướng về sự suy thoái cũng như dự trữ phúc lợi đã bị siết chặt và hàng loạt vụ phá sản diễn ra, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

        Tạp chí ủng hộ chủ nghĩa bảo thủ Mỹ Tin Mỹ và thế giới đã gọi chính sách này là “Tự sát kinh tế” và nói rằng, Nhật Bản đang “Trên bờ vực của suy thoái kinh tế”. Nền kinh tế Nhật Bản được cứu vãn nhờ nhu cầu về các sản phẩm của Nhật Bản tăng vọt khi cuộc chiến tranh Triều Tiên xảy ra. Nhờ vậy, 2,3 tỷ đôla đã được rót vào nền kinh tế Nhật trong 3 năm, bằng khoản viện trợ mà Nhật Bản nhận được trong cả thời kỳ bị chiếm đóng.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:07:47 am

Chương 32

NHÂN TÍNH HOÀNG ĐẾ

        Sue nhận chức tư lệnh tối cao, MacArthur đã tiên đoán khi cho rằng, nếu thời gian chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản kéo dài hơn 3 năm, công việc sẽ không hoàn thành. Trên phạm vi rộng, ông đã chứng tỏ điều này đúng. Hai năm cuối cùng là thời gian khó khăn đối với những cải cách của MacArthur. Trong thời gian này, chiều hướng cải cách đang bị đảo ngược vì liên minh xấu xa giữa nhóm quyền lợi doanh nghiệp và phe cánh hữu Nhật Bản.

        Tuy nhiên, sự chuyển đổi đáng chú ý nhất trong thời kỳ chiếm đóng là mối quan hệ giữa MacArthur với Hoàng đế Nhật. Ông đến nước này với tư cách là người chiến thắng. Ông hào hiệp chìa tay giúp đỡ kẻ thù bị đánh bại và chứng kiến ngôi sao Hirohito đang lên, còn sự nghiệp của mình thì đi xuống mặc dù bản thân ông không nhận thấy điều này. Vị Thiên hoàng nhỏ bé lê bước trong chiếc áo bành tô màu đen, đã chứng minh cho thấy ông ta là một nhà chính trị sắc sảo hơn vị tướng đầy quyền lực MacArthur. Xóa bỏ tội ác chiến tranh cho Hirohito để giữ gìn một chính phủ đang hoạt động mà thông qua nó ông có thể điều hành Nhật Bản, MacArthur đã cho thấy tất cả đều quá thành công. Ông ủng hộ Hirohito suy yếu trong thời kỳ hậu chiến vì tin rằng mình có thể kiểm soát được ông ta.

        Vị tướng quân người Mỹ đã tìm cách bảo vệ Hirohito tránh khỏi bị truy tố như là tội phạm chiến tranh. Tuy nhiên, sự ủng hộ của ông đối với Hoàng đế thực sự còn nhiều hơn thế nữa. Như ta đã thấy, không chỉ trong Hoàng gia mà còn ở khắp Nhật Bản vào năm 1946 mọi người đều cảm thấy khả năng Hirohito thoái vị để nhường ngôi cho con trai rất cao. Thậm chí vào cuối cuộc chiến Nội các Nhật Bản đã tính đến chuyện này, không phải vì họ tin Hirohito là tội phạm gây ra chiến tranh mà đơn giản chỉ là để ông phải gánh trách nhiệm cho những gì đã xảy ra. Trước đây đã có những tiền lệ thoái vị như vậy. Hoàng đế Uda, người đã trị vì vào thế kỷ 9 đã thoái vị. Ngay chính vua cha của Hirohito cũng đã nhường ngôi khi ông bất lực. Hoàng tử Higashikuni, chú của Hoàng đế và là Thủ tướng đầu tiên sau khi Nhật Bản đầu hàng đã kêu gọi Hoàng đế thoái vị. Một số các nhân vật cấp cao có trách nhiệm, trong đó có nhà nghiên cứu hiến pháp Soichi Sosaki và nhà hiền triết đạo Phật nổi tiếng Hajime Tanabe, cũng hối thúc Hirohito nhường ngôi.

        Tháng 6 năm 1946, nhà thơ Miyoshi Tatsuji đã buộc tội Hoàng đế không phải vì ông đã tuyên chiến, cũng không phải vì ông không chịu trách nhiệm cho thất bại của Nhật Bản trong chiến tranh, mà vì Hoàng đế phản bội những người lính trung thành đã hy sinh tính mạng trong cuộc chiến vì Hoàng đế.

        Tuy nhiên, tướng Fellers đã nói rõ ràng với những người Nhật này rằng, đây không phải là vấn đề. ông đã thông báo cho các quan chức cấp cao Nhật Bản:

        Sẽ thuận tiện nhất nếu phía Nhật Bản có thể chứng minh với chúng tôi rằng, Hoàng đế Hirohito hoàn toàn không có trách nhiệm. Tôi nghĩ rằng các phiên tòa sắp tới là cơ hội tốt nhất để làm điều này. Đặc biệt Tojo phải gánh tất cả trách nhiệm tại phiền tòa xét xử ông ta. Nói cách khác, tôi muốn các ông phải buộc Tojo nói như sau: “Tại Hội nghị Hoàng đế diễn ra trước khi chiến tranh bắt đầu, tôi đã quyết định dẫn Nhật Bản vào chiến tranh cho dù Hoàng đế chống lại quyết định gây chiến với Mỹ”.

        Thiếu tướng Elliott Thorpe, cố vấn tình báo của MacArthur giải thích suy nghĩ đăng sau quyết định này:

        Nếu làm khác, chúng ta sẽ rơi vào tình cảnh hỗn loạn. Tôn giáo cũng mất, chính phủ cũng mất vì ông là biểu tượng duy nhất của sự kiểm soát. Bây giờ tôi biết ông ấy có tội nhưng ông ấy cũng có ích rất nhiều đối với chúng tôi, và đó là cơ sở để tôi đề nghị MacArthur giữ ông ấy lại.

        Vấn đề này rộ lên một lần nữa vào năm 1948 khi phiên tòa xét xử ở Tokyo kết thúc. Lúc bấy giờ nhiều người Nhật cho rằng, việc thoái vị sẽ không khiến Hirohito bị đưa ra tòa xét xử mà chỉ là một hình thức trừng phạt ông, trong khi một số bộ trưởng trung thành nhất của ông bị xử tử. Fellers đã tính đến điều nguy hiểm này. Ông cho rằng, thoái vị sẽ là một chiến thắng cho tất cả những người cộng sản và Liên Xô. Đó sẽ là một cú đấm đối với sự chiếm đóng của MacArthur, vì sự thành công của ông là đã tận dụng tốt danh tiếng và mối quan hệ cá nhân của Hoàng đế. Theo Fellers:

        ... Sự thoái vị của ông, đặc biệt nếu diễn ra cùng lúc với bản tuyên án tội phạm chiến tranh, sẽ khiến thế giới xem Hoàng đế như là một trong những người thuộc phe phái chủ nghĩa quân phiệt. Điều này tất nhiên là không hoàn toàn đúng. Nó sẽ đảo ngược công luận ở Mỹ đang có nhận định rằng, Hoàng đế Nhật Bản không có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này. Thoái vị sẽ khiến Hoàng đế được khắc tên trong lịch sử là người đã có thiện cảm với những tội phạm chiến tranh. Vì thiện cảm với họ nên ông đã thoái vị.

        Ngày nay, Nhật Bản đang hấp thu tác động mãnh liệt của nền văn minh phương Tây. Nhật Bản cần một tác động ổn định mà chỉ có Hoàng đế có thể tạo ra. Ông phải là một phần của Nhật Bản mới. Ông phải giúp nước Nhật tái hòa nhập với cộng đồng các quốc gia khác.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:46:20 pm

        Vào cuối thời kỳ chiếm đóng, Marquis Kido, cựu trưởng nhóm cố vấn của Hirohito đã kêu gọi Hoàng đế thoái vị “để phục tùng sự thật”. Sự can thiệp của Kido có ý nghĩa rất lớn. Ông ta đã tham dự tất cả các cuộc họp của Hoàng đế thời chiến. Không nghi ngờ gì nữa, ít nhất ông ấy đã nghĩ rằng, Hoàng đế có vai trò chủ động khi theo đuổi chiến tranh. Tuy nhiên Hirohito từ chối thoái vị, thậm chí từ chối đưa ra lời xin lỗi lúc ông chính thức nhận lại quyền lực tối cao sau khi MacArthur ra đi.

        Thoái vị nghĩa là Hirohito đã hành động vị tha và chính thức chấp nhận tất cả trách nhiệm cho các sự kiện dẫn đến chiến tranh. Tất nhiên, ông sẽ không phải chịu hy sinh tột cùng giống những người bị xử tử như là tội phạm chiến tranh. Cho dù ông không thoái vị, nhiều người cho rằng, Hirohito cũng phải chính thức ban bố huấn lệnh nhận trách nhiệm cho cuộc chiến tranh.

        Tranh luận về vấn đề này trở nên công khai vào tháng 5 năm 1948 khi Chánh án tòa tối cao Shigeru Mibuchi nói rằng: “Nếu vào cuối cuộc chiến, Hoàng đế chấp nhận ban bố bản công bố nhận trách nhiệm, người dân Nhật Bản sẽ rất cảm động”. Hirohito đã bảo vệ quyết định không thoái vị với một viên chức hoàng gia: “Tôi giống như con chim hoàng yến đang ở trong một cái lồng đã được mở và một người nào đó nói: Hãy bay đi! Tôi phải đi đâu? Nếu tôi có một bài hát để hát, tại sao phải uổng phí bài hát này ở những nơi mà cơn gió có thể thổi nó đi?”.

        Một tháng sau đó, Chủ tịch Đại học Tokyo, Shigeru Nanbara nói thẳng thắn hơn:

        Tôi cho rằng Hoàng đế nên thoái vị. Và tôi không phải là người duy nhất muốn như vậy. Đây là ý kiến mà các nhà giáo dục khắp Nhật Bản đều đồng tình từ các giáo viên tiểu học cho đến các giáo sư đại học. Điều duy nhất là ông cần cân nhắc tác động của việc thoái vị đối với người dân Nhật Bản và cẩn thận lựa chọn thời gian công bố thoái vị. Ông phải tự nguyện thoái vị chứ không phải vì sức ép của người dân và các nhà chính trị.

        Thậm chí một người trung thành và ủng hộ Hirohito như Kawahara cũng kết luận:

        Hirohito là trường hợp duy nhất thoát khỏi phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Viễn Đông bởi vì điều này có lợi về mặt chính trị cho người Mỹ và các thế lực chiếm đóng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đã xá tội cho ông. Như đã lưu ý trước đày, nếu ông xin lỗi và công khai nhận trách nhiệm sau khi chiến tranh kết thúc, vấn đề này không còn gây tranh cãi ở Nhật Bản... Tôi không tin sau khi đã cân nhắc tất cả, các nhà lịch sử sẽ nói về Hoàng đế Hirohito rằng: Ông ta có thể có tính cách cao quý và thanh khiết, nhưng vì một lý do nào đó, bản thân ông không bao giờ chấp nhận trách nhiệm cho cuộc chiến này.

        Việc Hirohito tiếp tục tại vị nhấn mạnh một cách sinh động về sự từ chối nhận trách nhiệm chiến tranh của Nhật Bản giống như nội dung bản tin phát thanh tuyên bố đầu hàng, và báo hiệu mọi sự từ chối xin lỗi tiếp theo. Quyết định không thoái vị của Hirohito không chỉ là trách nhiệm mà còn là lời khẳng định quả quyết rằng, Nhật Bản cảm thấy không làm sai điều gì về nguyên tắc. Với các tiền lệ trong lịch sử và thái độ sẵn sàng chấp nhận Hoàng đế thoái vị của người dân Nhật Bản thì những cảnh báo của MacArthur về mối nguy hiểm của các cuộc nổi dậy và chủ nghĩa cộng sản có thể xem là đã quá cường điệu.

        Phe cánh hữu có thế cho rằng, chiến tranh đã không làm thay đổi điều gì cả. Hoàng đế Hirohito vẫn thống trị và thực sự có ưu thế so với những kẻ chiếm đóng đất nước.

        Nếu Hoàng đế Nhật Bản công khai nhận trách nhiệm và từ bỏ ngai vàng chứ không chỉ nhận trách nhiệm với tư cách cá nhân trong văn phòng của MacArthur, người Nhật sẽ có được một luận chứng thực tế không thể chối cãi rằng, Nhật Bản đã sai khi phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Thực tế cũng giống như trong nội dung bản tin phát thanh tuyên bố đầu hàng, ông đã không công khai thừa nhận tội cũng như Nhật Bản không công khai nhận lỗi.

        Đối với người Mỹ chiếm đóng, việc người đàn ông này có trách nhiệm trên danh nghĩa trong cuộc chiến tranh được phép tiếp tục tại vị là điều khác thường. Điều này không chỉ phá vỡ tiền lệ lúc sụp đổ của Kaiser và Hoàng đế Áo-Hung sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất cũng như sự thất bại của Hitler và Mussolini trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, mà còn phá vỡ tiền lệ về việc đối xử với các kẻ thù bại trận trong xuyên suốt lịch sử con người.

        Việc Hirohito được tại vị có một tác động nữa sâu sắc và tinh tế hơn. Nó khiến nhiều người trong hệ thống chính quyền có cấp bậc ở Nhật Bản cảm thấy rằng, mặc dù hình thức chính quyền đã thay đổi, nhưng căn bản nội dung của chính quyền là kiểu quyền lực hình chóp có thứ bậc chứ không thay đổi. Hiến pháp Nhật Bản (được Mỹ góp ý soạn ra) khẳng định rằng, quyền lực của Hirohito phải xuất phát từ ý nguyện của nhân dân. Tuy nhiên, chiếc áo giáp to lớn bảo vệ chủ nghĩa chuyên chế và sự tôn kính theo truyền thống phụ thuộc rất ít vào những lời lẽ được viết ra trong Hiến pháp vốn do người ngoài áp đặt.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:46:53 pm

        Nếu đa số dân chúng tiếp tục tin rằng địa vị của Hoàng đế là quyền lực cao nhất ở Nhật Bản, lúc đó tình huống cũng không khác gì trước đây. Quyền lực Hoàng đế luôn là biểu tượng như một thác nước lớn chinh phục tất cả hệ thống bên dưới ông. Bây giờ ông không có quyền lực thực sự, nhưng nếu biểu tượng đó vẫn còn trong lòng người dân thì hệ thống quyền lực có thứ bậc cũng còn tồn tại. Tất nhiên, bây giờ chính phủ có thể bị sa thải qua bầu cử nhưng nền dân chủ của Nhật Bản đã bị điều chỉnh một cách thầm lặng để bảo đảm là các lực lượng bảo thủ vẫn còn tồn tại vĩnh cửu trong chính quyền. Hirohito đã từng là một nhân vật bù nhìn trước cuộc chiến tranh mặc dù ông nắm giữ một số quyền lực về quân dự bị mà ông rất ngại sử dụng.

        Sau chiến tranh, ông chính thức được coi như là một kẻ bù nhìn và bị tước hết tất cả quyền lực này. Tuy nhiên đằng sau hậu trường, khó mà tin được là ông không hành động nhiều như trước đây. Tức là, ông chi phối ảnh hưởng của mình thông qua các cố vấn và đôi khi bày tỏ ý kiến cá nhân mà chắc chắn có quyền lực rất lớn. Tuy nhiên, chính quyền và các cố vấn của ông bây giờ sẽ cực kỳ cẩn trọng chứ không để lộ ra sự tồn tại những quan điểm và ý kiến như vậy.

        Tại sao MacArthur vẫn liều lĩnh ủng hộ Hoàng đế Nhật Bản chống lại các lời kêu gọi ông thoái vị? Ông không thể nói rằng nếu chế độ Hoàng đế bị đe dọa, sự gắn kết của Nhật Bản sẽ bị tác động xấu. Một Hoàng đế nhỏ tuổi và một Hoàng thân nhiếp chính sẽ tiếp tục bảo tồn truyền thống như đã từng xảy ra vào thập niên 1920. Câu trả lời là MacArthur tin rằng nếu giữ Hirohito ở lại, ông có thể rảnh tay trong suốt thời kỳ chiếm đóng.

        Hoàng đế quyết định chống lại việc này. Để cảm ơn vì được cho phép ở lại, ông đã tìm cách giành sự ủng hộ rộng rãi của người dân bằng cách di thăm viếng khắp đất nước. Một vị thánh xa cách đã thực hiện chuyến đi nổi tiếng giống như việc mà Hoàng đế Minh Trị từng làm khi ông đi khắp Nhật Bản vào năm 1872. Chuyến đi này có hai mục đích: Gạt bỏ trong lòng người dân sự căm thù ông vì kết quả thất bại của cuộc chiến, và bắt đầu xuất hiện như là một nhân vật độc lập từ dưới cái bóng của MacArthur.

        Đó là một thủ thuật xuất sắc trong chính trị và quan hệ công chúng. Ban đầu các quan chức tòa án phản đối quyết liệt chuyến đi này, nhưng MacArthur đã nhiệt thành ủng hộ vì ông không nhận ra được ẩn ý đầy đủ dằng sau chuyến đi của Hirohito.

        Hoàng dế đã làm tốt vai trò lãnh đạo người dân Nhật Bản phản kháng sự chiếm đóng. Đã có một sự hoán đổi lạ thường: Trong khi MacArthur đang cư xử như thể là một vị vua chuyên quyền và xa dân của phương Đông thì Hirohito lại hoạt động như một nhà chính trị người Mỹ khi vận động tranh cử.

        Với việc từ bỏ khái niệm oai nghiêm của hoàng gia, Hoàng đế bị các đối thủ cánh tả công kích dữ dội cũng như bị các nhà báo nước ngoài chế nhạo cay độc. Nhưng tất cả những điều này đều đã có tác dụng có lợi cho ông.

        Mark Gayn, phóng viên của tờ Chicago Sun mô tả Hirohito “Là một người đàn ông nhỏ bé thảm hại, bị buộc phải làm một công việc khó chịu và đang cố gắng một cách tuyệt vọng để kiểm soát thân thể, khuôn mặt và giọng nói bất phục tùng của mình”. Hoàng đế chỉ “Cao

        khoảng l,6m và mặc bộ đồ vét tông vằn xám được may xấu với hai ống quần quá ngắn. Khi bước đi, ông vung chân phải sang một bên như thể không kiểm soát được nó. Ông rõ ràng dễ bị kích động và đau ốm. Và không biết chắc chắn ông sẽ làm gì với bàn tay và cánh tay của mình”. Tuy nhiên sự mô tả này đã trượt ra khỏi trọng tâm. Đối với dân chúng Nhật Bản, việc Hoàng đế từ “trên mây” hạ cố xuống tìm kiếm sự ủng hộ đã là quá đủ. Vào những thời điểm tuyệt vọng sau chiến tranh, việc Hoàng đế xuất hiện với lối ăn mặc xoàng xĩnh và tính cách khiêm nhường rất phù hợp với hoàn cảnh lúc đó, phản ánh được nỗi đau của người dân.

        Hirohito và các cố vấn thừa nhận rằng, bây giờ Hoàng đế phải lộ diện ra cho người dân thấy bằng hàng loạt chuyến đi xung quanh các thành phố và nhà máy trên cả nước. Đối với một người đàn ông trạc tứ tuần chưa bao giờ có bất cứ tiếp xúc nào với thường dân, quyết định của ông là rất dũng cảm và chắc chắn có cảm giác đau đớn lúc đầu. Ông vẫn còn có khoảng cách với mọi người vì họ thích cúi chào. Cách trò chuyện của ông vẫn cứng nhắc khiến ông phải dùng nhiều từ đệm: “À”, “Vậy”,... Câu trả lời kèm từ “Thực sự" đã trỏ thành thương hiệu của ông. Các đám đông đổ xô đi nhìn ông ở Kawasaki, Osaka, Nagoya. Mọi người tụ tập đông đúc giẫm lên chân ông, túm lấy áo ông như thể ông là một ứng cử viên tổng thống Mỹ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:48:01 pm

        Hirohito và những người tùy tùng thường xuyên hạ trại ở các văn phòng chính quyền, lớp học và trên các toa xe lửa. Ông làm như thể mình đang vận động để được tái cử. Việc Hirohito khám phá ra các khía cạnh bình thường của cuộc sống hàng ngày đã làm cho cách trò chuyện của ông vui hơn. Khi đi khảo sát tàn tích ở Hiroshima sau vụ ném bom nguyên tử, ông đã nói rằng, “Dường như có sự thiệt hại to lớn ở đây”. Tuy nhiên, lời nhận xét của ông về điều kiện sống của tầng lớp nông dân là điển hình của sự vô cảm của hoàng gia:

        Nông dân có cuộc sống hạnh phúc theo cách riêng của họ. Người ta không thể nói rằng, các thành viên của tầng lớp quý tộc luôn hạnh phúc. Tôi hưởng sự tự do khi thực hiện chuyến đi thăm châu Au. Đó là thời gian duy nhất tôi cảm thấy vui vì có thể trải nghiệm một cảm giác tự do tương tự... Những người nông dân nên nghĩ về sự thú vị của thiên nhiên dành cho họ để tận hưởng chứ không chỉ chú ý vào các khía cạnh bất tiện trong cuộc sống của mình.

        Các chuyến đi bắt đầu vào tháng 2 năm 1946. ông đã đến hầu hết mọi nơi khắp Nhật Bản. Ông thu hút sự nhạo báng của các nhà báo Mỹ, những người hoàn toàn không nhận ra trọng tâm trong cuộc vận động của ông là tranh thủ sự ủng hộ của dân thường, những người đang chứng kiến chuyến đi qua một lần duy nhất của một vị thánh có phong cách mộc mạc và vụng về không giống như họ đã mường tượng. Thời báo Nippon viết một cách trìu mến:

        Nỗ lực hiện tại của Hoàng đế nhằm nhân tính hóa bản thân may mắn đã không gặp thất bại vì bất cứ rủi ro nào... Không phải ai cũng có thể cầm một cái quạt bằng các ngón chân để tự quạt. Hoàng đế Hirohito không chỉ có thể diễn trò này mà còn có thể làm như vậy khi đang bơi. Ông có thể bơi trong mưa mà vẫn cầm một cái dù đã mở bằng một tay.

        Vào cuối năm 1947, khi Hirohito đến thăm Osaka, ông được tiếp đón rất hoành tráng. Hàng ngàn người cầm cờ vẫy chào. Rõ ràng là họ coi Hirohito như biểu tượng của niềm tự hào quốc gia trong suốt thời kỳ bị chiếm đóng, mặc dù họ không thể tự do biểu lộ điều này. Chuyên thăm của Hirohito đến Hiroshima vào ngày 7-12-1947 thực sự có tính biểu tượng vì nó diễn ra đúng vào lúc kỷ niệm 6 năm trận đánh Trân Châu Cảng. Nó nhắc người Nhật nhớ lại người Mỹ đã đối xử với Nhật Bản tệ như thế nào hơn là người Nhật đã đối xử với Mỹ vào Ngày ô nhục của nước Mỹ:

        Biểu hiện rõ ràng nhất của tinh thần dân tộc chống Mỹ là hình ảnh các trẻ em đang đứng bên cạnh mẹ chúng. Trên gương mặt các bà mẹ là những thớ sẹo nổi lèn đỏ tấy trong khi đó gương mặt những đứa con của họ củng bị biến dạng. Trong khi máy ảnh chớp liên tục và đảm đông đang sấn tới, Hoàng đế tay cầm mũ lắng nghe người ta phát biểu giải thích những gì đã xảy ra với những bà mẹ và những đứa con này. Ông thỉ thầm những câu thán, “Thật như vậy sao?”. Như thể ống đang nói trước một chiếc micro. Sau đó, môi ông run lèn bần bật và ông cúi đầu chào rồi quay trở lại xe. Lúc này, đám đông trở nên kích động. Họ hét lớn những tiếng vạn tuế. Mọi người đổ xô tới trước với ánh mắt long lanh và khống che giấu cảm xúc. Các quan chức Hoàng gia và cảnh sát bị xô đẩy trước khi Hoàng đế lên xe. Không ai đụng được Hoàng đế nhưng nhiều người cảm thấy hạnh phúc khi chạm được vào chiếc xe ông.

        Đoàn của Hoàng đế tiếp tục hành trình đến nơi viếng thăm tiếp theo. Đó là một quảng trường tạm thời nơi thị trưởng và các quan chức thành phố và đám đông 50 ngàn người, khoảng 15% dân số thành phố đang đứng chào đón ông... Tại đây một lần nữa, bạn có thể thấy mọi người khóc xúc động... Hoàng đế lên bục cao... và máy ảnh chụp ông liên tục ở mọi góc độ. Rút một tờ giấy từ túi ra, ông đọc một bài phát biểu ngắn gọn... Tại thị sảnh thành phố, ông đã trèo lèn mái nhà nơi thị trưởng đang cầm bản đồ thành phố chỉ cho ông thấy quang cảnh thành phố và dự kiến quy hoạch thành phố như thế nào... Người ta đã chuẩn bị một ống nhòm đặt trên chiếc khăn tay màu tím để phục vụ Hoàng đế nhưng ông không dùng. Đây là lần đầu tiên trong ngày hôm đó, ông đã vượt qua sự hồi hộp và lo lắng.


        Với sự nhạy bén chính trị tuyệt vời, Hirohito đã trở thành trung tâm trong cuộc chống đối sự thống trị của Mỹ. Đó là cuộc chiến giữa vị tướng quân người Mỹ cứng rắn, nghiêm khắc, xa cách đang thống trị Nhật và Thiên hoàng Nhật Bản đã hiện thân là con người trong con mắt người dân Nhật Bản. Thực tế, MacArthur đã trả tự do cho người dân Nhật Bản. Bây giờ ông được coi như là kẻ chuyên quyền. Hirohito chưa bao giờ là một người dân chủ trước đây nay đã trở thành một sự hiện thân cho người dân Nhật Bản. Đó là một điều trớ trêu lớn của lịch sử. Một vị Hoàng đế cha truyền con nối lại có kỹ năng chính trị giỏi hơn người đại diện dân chủ tài năng của nước Mỹ. Nếu MacArthur thắng hiệp một, thì Hirohito đã thắng tuyệt đối ở hiệp hai.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:48:52 pm

        Tuy nhiên, sẽ là một nhầm lẫn lịch sử khi cho rằng những công việc tướng quân MacArthur thực hiện là một sự thất bại. Trái lại, đó là một trong những thử nghiệm chính trị bạo gan nhất mà một người đơn độc dám làm. Thực tế, thành công ở mức độ 3/4 hoặc thậm chí một nửa cũng đã đạt được ý nghĩa quan trọng và cho thấy là MacArthur không quá tệ. Trong chưa đầy 6 năm, ông đã cố gắng thực hiện một cuộc cách mạng hòa bình ở một đất nước 80 triệu dân, nơi người dân đang sống trong nền chính trị và văn hóa kiểu thời Trung cổ mặc dù có nhiều thành tựu khọa học và công nghiệp trong suốt thế kỷ 20.

        Ông đang tìm cách thay đổi lịch sử 2.000 năm của một đất nước trong một khoảnh khắc. Ông đã phục hồi dân chủ và sự tự do báo chí vốn chỉ xuất hiện thoáng qua suốt thập niên 1920. Ông đã cố gắng xóa bỏ địa vị thần thánh của Hoàng đế Nhật Bản và đưa ông ấy xuống vị trí của quân chủ lập hiến. Ông đã giới thiệu cải cách đất đai có ảnh hưởng sâu rộng, làm gãy sống lưng của các gia đình phong kiến kiểu cũ đứng đằng sau thời kỳ Duy tân Minh Tri. Cải cách đất đai cũng đã tạo ra một tầng lớp bảo thủ tiểu chủ nông nghiệp, những người đi đầu ủng hộ nền dân chủ mới.

        Ông cũng đã tấn công mạnh vào bức tường của đời sống kinh tế Nhật Bản, là các tập đoàn độc quyền thống trị nền kinh tế công nghiệp và giúp những kẻ chủ nghĩa quân phiệt ngoi lên nắm quyền lực trong thời kỳ trước chiến tranh. Ông đã cố gắng đập gãy sống lưng của chủ nghĩa quân phiệt, phân rã bộ máy chiến tranh và phá hủy vũ khí của họ. ông đã cố gắng thanh lọc những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt và những người ủng hộ họ ra khỏi những vị trí nắm giữ quyền lực. Tất cả những điều này đã được thực hiện trong tình cảnh nhạy cảm của một người chiến thắng vĩ đại trong lịch sử. Trong khi các nạn nhân của quân xâm lược Nhật Bản đang gào thét đòi báo thù, ông đã đối xử hạn chế, khoan dung và tôn trọng các truyền thống và các cơ quan tổ chức của Nhật.

        Sau những tội ác kinh hoàng do quân Nhật gây ra cho người dân ở những nước đang bị họ thống trị, quân Mỹ chiếm đóng đáng lẽ có thể trả thù và đối xử tàn bạo (và khiến người dân Nhật Bản căm thù). Thay vì như vậy, mặc dù người Mỹ có những việc làm thái quá và thô bạo ở Nhật, nhưng MacArthur đã để lại một di sản là sự kính trọng bản thân ông như là một tướng quân.

        Ông đến với tư cách là người chiến thắng và đã đối xử như là một người giải phóng. Đó chính là một thành tựu cao quý. Thực tế, ông đã không thực hiện cải cách thành công trong nhiều lĩnh vực và cuối cùng đã bị các cơ quan, tổ chức của Nhật Bản và các nhóm quyền lợi kinh doanh ở Mỹ đánh úp. Nhưng những điều này không làm giảm đi sự vĩ đại của các cải cách mà ông nỗ lực thực hiện. Có lẽ ông là kẻ chinh phục khoan dung và anh minh nhất trong lịch sử nước Mỹ.

        Vào đầu tháng 3 năm 1947, MacArthur đã gặp gỡ một số nhà báo và nói cho họ biết đã đến lúc sự chiếm đóng kết thúc:

        Bây giờ đã đến lúc chúng ta đàm phán hòa bình với Nhật Bản. Tôi nghĩ mục đích quân sự của quân chiếm đóng đã được hoàn thành. Dưới sự chỉ huy của chính quyền chiếm đóng, giai đoạn chính trị cũng đang hoàn thành... Giai đoạn thứ ba là kinh tế... Tuy nhiên đây không phải là giai đoạn mà chính quyền chiếm đóng giải quyết. Chúng ta chỉ có thể thực hiện các biện pháp bóp nghẹt kinh té của các tập đoàn tài phiệt.

        Sự thật là ông đã tuyệt vọng và muốn rời khỏi Nhật Bản trước khi các cải cách của mình bị cắt xén. Lúc này, MacArthur không còn được toàn quyền ở Nhật Bản nữa. Trước liên minh Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Tổng thống Truman, giờ đây MacArthur chỉ là một con vịt què sắp đến lúc phải thoái trào. Rõ ràng Kerman và Ngoại trưởng Dean Acheson, một người thuộc dòng dõi quý tộc ghét cay ghét đắng MacArthur, muốn đưa tướng Maxwell Taylor thay thế chức tư lệnh tối cao của MacArthur, nhưng không thành.

        Khi quyền lực của ông bị suy giảm và các biện pháp mà Dodge giới thiệu đã khiến nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng bế tắc, MacArthur đã nổi giận vì không thể kiên nhẫn chờ một hiệp định hòa bình để kết thúc chiếm đóng trước khi các cải cách của mình bị dỡ bỏ. Ông đã quan sát các diễn biến ở Washington với tâm trạng chán chường. Ông phê phán nước Mỹ về sự sụp đổ của sự chống cự của chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc chống lại những người cộng sản của Mao Trạch Đông.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:49:43 pm

        Mac Arthur đã thông báo với Washington rằng, Mỹ không thể bảo vệ miền nam với một lực lượng nhỏ như vậy và ông đề nghị rút toàn bộ quân.

        Trong trường hợp có bất kỳ mối đe dọa nghiêm trọng nào đối với an ninh của Triều Tiên, các tính toán quân sự và chiến lược buộc Mỹ phải từ bỏ các đòi hỏi hỗ trợ quân sự... Chúng ta nhất định phải tăng sức mạnh của Quân đoàn 24 hoặc đưa vấn đề về quyền lợi trong việc chiếm đóng ở Triều Tiền cho Bộ Ngoại giao xử lý.

        Vào tháng 6 năm 1949, tất cả lực lượng Mỹ đã rời Triều Tiên, ngoại trừ 500 cố vấn quân sự. Vào tháng giêng năm 1950, Acheson dứt khoát cho rằng:

        Triều Tièn đã nằm ngoài tuyến phòng thủ của Mỹ chạy dọc các đảo Aleutian cho đến Nhật Bản và trở ra quần đảo Ryukyus (chủ yếu là đảo Okinawa). Chúng ta đã giữ các vị trí phòng vệ quan trọng ở quần đảo Ryukyus và sẽ tiếp tục nắm giữ... Vành đai phòng vệ chạy từ Ryukyus đến các quần đảo Philippines... về vấn đề an ninh của nước Mỹ, không ai có thể bảo đảm rằng, các khu vực này (nằm ngoài phòng tuyến) chống cự lại được các cuộc tấn công quàn sự. Nếu có tấn công quân sự xảy ra... việc phòng vệ trước hết phải dựa vào người dân ở nơi bị tấn công.

        Mac Arthur đã nói điều tương tự cách đây một năm:

        Các vị trí phòng vệ của chúng ta chống lại sự xâm lược đến từ châu Á từng phải dựa vào bờ biển phía tây của lục địa châu Mỹ. Thái Bình Dương được xem như là con đường mà kẻ thù có thể tiếp cận. Bây giờ... tuyến phòng vệ của chúng ta chạy xuyên qua các chuỗi đảo viền quanh bờ biển châu Á. Tuyến phòng vệ này bắt đầu từ Philippines và kéo dài cho đến quần đảo Ryukyu bao gồm pháo đài chính là đảo Okinawa. Sau đó, tuyến phòng vệ ngoặt trở lại xuyên qua Nhật Bản và chuỗi đảo Aleutian thuộc bang Alaska.

        Tuy nhiên đó là tuyến phòng vệ trước khi Cộng sản Trung Quốc thắng thế. Khi Quốc Dân Đảng tháo chạy đến đảo Đài Loan, Mac Arthur có thể đã thay đổi suy nghĩ mặc dù ông không công khai nói ra. Tất nhiên, người Mỹ ít quan tâm đến sự sống còn của Rhee. Tầm quan trọng chiến lược của Triều Tiên nằm ở chỗ nó chỉ nằm cách bờ biển Nhật Bản 150km. Điều này đúng vào năm 1949 và năm 1950. MacArthur đáng lẽ ra phải lên tiếng bày tỏ mối lo lắng của ông vào lúc đó. Có lẽ ông cảm thấy không có hy vọng thuyết phục Acheson và thấy rằng, bảo vệ Nhật Bản dễ hơn là bảo vệ các eo biển ở Triều Tiên.

        Sự thất bại của Trung Hoa đã làm xáo động công luận Mỹ. Acheson phái luật sư John Foster Dulles của Bộ ngoại giao làm đại diện của ông để theo dõi tình hình cho mình. Dulles làm MacArthur hoảng hốt khi nói ông tin Hàn Quốc có thể phòng vệ và rồi tuyên bố Mỹ sẽ bảo vệ Hàn Quốc nếu nước này bị tấn công. Rõ ràng không thể bảo vệ Hàn Quốc nếu không đóng quân ở bán đảo này. Tuy nhiên, MacArthur không quan tâm nhiều đến điều này. Chỉ một tháng trước đó, ông tuyên bố “Tôi không tin chiến tranh sắp xảy ra”.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:26:47 am

Chương 33

TRIỀU TIỀN

        Chỉ ít ngày sau chuyến thăm của Dulles, vào ngày Chủ nhật, 25-6, điện thoại ở phòng ngủ reng lên. Ông kể lại câu chuyện này như sau:

        Điện thoại đổ chuông với âm thanh gấp gáp trong một căn phòng tối tĩnh lặng. Lúc này có một viên sĩ quan trực ở trụ sở chỉ huy. Anh ta nói: “Thưa ông, chúng ta vừa nhận được một bản thông báo từ Seoul báo cho biết rằng, quân Bắc Triều Tiến đã tấn công tổng lực ở miền nam dọc vĩ tuyến 38 vào lúc 4 giờ sáng nay”. Hàng ngàn quân cộng sản đã tràn qua biên giới, chiếm các tiền đồn của Hàn Quốc và đang di chuyển xuống phía nam với tốc độ và sức mạnh có thể đánh bạt tất cả mọi sự chống cự.

        Tôi có một cảm giác lạ thường như đang trong cơn ác mộng. Chín năm trước, vào một buổi sảng Chủ nhật, củng vào giờ này, chuông điện thoại đổ với âm thanh gấp gảp đã đánh thức tôi khi tôi đang ở tầng trên cùng của khách sạn Manila. Ám thanh dữ dội của tiếng hô xung trận một lần nữa vẳng bển tai tôi. Không thể như thế, tôi tự nhủ. Không thể một lần nữa! Chắc là tôi đang buồn ngủ và đang mơ. Không thể một lần nữa! Rồi tôi nghe giọng khô khốc, điềm tĩnh của vị Tham mưu trưởng của tôi, tướng Ned Almond: “Ông có ra lệnh gì không, thưa tướng quân?”.


        Vào ngày 27-6, xe tăng và 150 ngàn quân chủ lực Bắc Triều Tiên đã đến bên ngoài Seoul. MacArthur tuyệt vọng báo cáo về Washington cho biết “Sắp sụp đổ hoàn toàn” và đề nghị sơ tán những người Mỹ ở Hàn Quốc. Ồng sửng sốt khi Truman quyết định đánh trả. MacArthur là tổng tư lệnh Viễn Đông được lệnh phải đưa các đơn vị hải quân và không quân Mỹ đến Triều Tiên trong khi đó lực lượng 13 quốc gia đang tập hợp dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc, dù Liên Xô đã tẩy chay lực lượng này.

        MacArthur đã kêu lên: “Tôi không tin được”. Sau đó, ông viết về sự kiện này như sau:

        Từng bước ngập ngừng, Mỹ đã bước vào cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Tôi không thể tin được quyết định vĩ đại này đã được ban ra. Quyết định đã đưa ra mà không cần thông qua Quốc hội là cơ quan có quyền tuyên bố chiến tranh, và thậm chí không tư vấn tư lệnh chiến trường liên quan cũng như các thành viên của cơ quan hành pháp của chính phủ có đồng ý tiến hành tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên hay không. Tất cả các rủi ro có trong quyết định này, gồm khả năng Liên Xô và Trung Quốc nhảy vào, có thể xảy ra lúc đó cũng như xảy ra sau này.

        Không phải ông phản đối quyết định này. Đơn giản ông không bao giờ tin rằng, Truman tuyên bố chiến tranh và ông sợ các khó khăn trong cuộc chiến bây giờ là việc người Mỹ sơ tán khỏi Triều Tiên.

        Tuy nhiên, ông không phải là người từ chối lời kêu gọi chiến đấu. Khi cái chức tướng quân của ông ở Nhật Bản sắp chấm dứt, ông đã nhìn lại 71 năm cuộc đời mình. Tất cả mọi hy vọng cao cả của vị thống đốc vĩ đại nhất nước Mỹ vào tháng 9 năm 1946 đã dần dần bị các kẻ thù bóp nghẹt: đó là Dogde, Dulls, Kennan, Willoughby, các đồng minh người Nhật và cả Hoàng đế ở hậu trường mặc dù ông ta sẽ không thừa nhận điều này.

        Phía trước ông là nỗi thất vọng và tuổi hưu khi thời kỳ cai quản ở Nhật Bản sắp kết thúc. Bây giờ thật ngẫu nhiên cũng giống như lúc ở Phillipines, ông lại cảm thấy được vui sống. Ông thấy mình đang ở tiền tuyến của trận chiến đầu tiên của Chiến tranh lạnh. Nhiệm vụ khó khăn phía trước rất thú vị: Vị tướng nổi tiếng nhất của Mỹ, người hùng của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đã được quốc gia của mình đưa trở lại trong giờ phút cần kíp. Ông đã được hồi sinh. Truman, người đang chịu áp lực ở Mỹ vì đã nhân nhượng những người Cộng sản đã phải cần đến vị tướng mà mình ghét nhất. MacArthur tình cờ xuất hiện tại hiện trường, nhưng hầu hết người Mỹ tin rằng ông là người duy nhất có thể đối phó tình huống khó khăn này. Ông đã thực hiện điều này một cách vẻ vang. Trong vòng hai ngày, một lần nữa ông đã thể hiện sự dũng cảm khi bay bằng chiếc máy bay Bataan không có vũ trang đến sân bay Suwon, cách Seoul 110km - nơi ông gặp Rhee. Ớ đó, ông đã trưng dụng chiếc Dodge màu đen và vài chiếc xe jeep để thị sát mặt trận trong 8 tiếng đồng hồ. Một trong những nhà báo đi cùng với ông đã đưa tin rằng?

        Chúng tôi lái qua nơi quân đội Hàn Quốc bại trận đóng quân và nhiều người dân tị nạn thảm hại để quan sát trực tiếp mặt trận... Suốt hành trình, đoàn xe luôn đối mặt với rủi ro từ hỏa lực không quân của quân địch do không được bảo vệ đầy đủ... Tiếng đạn súng cối nổ to và rõ, người Bắc Triều Tiên đáng lẽ có thể gây nguy hiểm cho đoàn xe bằng cách sử dụng hỏa lực pháo binh hạng nặng ở mức độ vừa phải.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:28:18 am

        MacArthur viết:

        Seoul đã rơi vào tay kẻ thù. Tôi có thể nhìn thấy các cột khói tỏa ra từ đống đổ nát của thành phố có tuổi đời 14 thế kỷ này từ cách đó một cây số rưỡi. Tôi tiên lên phía một quả đồi phía trước đó một chút và đã chứng kiến một quang cảnh bi thương. Bèn kia sông Hàn, Seoul đã bị thiêu cháy và bốc khói trong nỗi đau bị tàn phá. Tiếng súng cối của quân Cộng sản nổ liên tục vì kẻ thù đã đột kích xuống phía các cây cầu. Phía dưới tôi, túa ra hai phía của ngọn đồi là các đoàn quân hỗn loạn đang rút lui gấp gáp. Đó đây là những đoàn xe cứu thương chở đầy những người lính bị gãy tay chân đang rèn rỉ. Bầu trời vang rền tiếng của các tên lửa chết chóc và mọi nơi đều có mùi khó chịu, đều là cảnh tan hoang của chiến trường ác liệt. Những người tị nạn đau khổ và bụi bặm làm tắc nghẽn các con đường. Tuy nhiên họ không bị cuồng loạn hay kêu la. Đây là dòng dõi của một chủng tộc vững chắc và đảng tự hào trong nhiều thế kỷ, họ đã đón nhận tai họa mà không hề nao núng. Khi họ lê bước một cách đau đớn xuống phía nam mang theo tất cả tài sản của họ trển lưng và dắt các đứa con không khóc, mắt mở to sợ hãi, tôi quan sát khoảng một tiếng đồng hồ về những chứng cứ đầy bi thương của thảm họa mà tôi đã thừa kế.

        Tôi đã định hình các kế hoạch. Đó là các kế hoạch liều lĩnh, nhưng tôi không tìm ra được cách nào khác ngoại trừ việc chấp nhận một thất bại không chỉ ở Triều Tiến mà có thể cả lục địa châu Á.


        Ưu tiên trước hết là phải cho quân từ Nhật Bản đổ bộ vào Triều Tiên. Truman đã ra lệnh cho ông phải làm như vậy trong vòng 48 tiếng. MacArthur đã vội vã đưa ba sư đoàn của Quân đội số 8 của Mỹ đến Triều Tiên và chỉ đạo nhóm tiền trạm phải tìm cách cầm chân lính Bắc Triều Tiên trong một thời gian cần thiết để quân tiếp viện đổ bộ an toàn. Việc này đã được thực hiện thành công và vào cuối tháng 7. Quân Bắc Triều Tiên buộc phải dừng lại phía ngoài phòng tuyến cách cảng Pusan 25km. MacArthur đã siết chặt nốt chặn kịp thời khi quân đội của 12 nước đồng minh đổ vào Triều Tiên.

        Tuy nhiên, MacArthur không có ý định phòng vệ mãi. Khi Averell Harriman, một người bạn cũ của MacArthur và là phái viên đặc biệt của Truman gởi đến, MacArthur yêu cầu phải gửi Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 qua:

        Tôi không thể tin rằng, một quốc gia to lớn như Mỹ lại không thể tăng một ít quân tiếp viện theo yêu cầu của mình. Tôi nói với Tổng thống rằng, nếu ông đưa viện binh qua, vào lúc thủy triều lên vào ngày 15-9, tôi sẽ đưa quân đổ bộ ở Inchon và sẽ đánh tan và hủy diệt quân Bắc Triều Tiên.

        Vào ngày 23-8, ông thuyết phục các tư lệnh cao cấp về kế hoạch của mình. Ông hứa “Tôi biết rằng, đây là canh bạc 5.000 ăn 1. Tuy nhiên tôi đã từng trải qua những canh bạc chênh lệch như vậy... Chúng ta sẽ đổ bộ ở Inchon và tôi sẽ dẹp tan họ!”

        Đó là một sự mạo hiểm điên rồ vì Inchon không có bãi biển và lực lượng tấn công sẽ phải đổ bộ trên các cầu tàu trong khi kẻ thù đang đào hào ẩn nấp. Thủy triều sẽ lên cao gần 10m, một trong những mức cao nhất trên thế giới và chỉ có hai ngày thủy triều lên đủ cao để đổ bộ. Một khi đã đổ bộ rồi thì hầu như không thể rút lui được nữa. Trong đợt thủy triều thứ nhất, quân lính sẽ chiếm giữ một hòn đảo nhỏ ngoài khơi và trong đợt thủy triều thứ  hai, quân lính sẽ đổ bộ. “Chúng ta đã vạch ra một danh sách mọi bất lợi về địa hình và tự nhiên, và Inchon có tất cả”, một sĩ quan cho biết. MacArthur cho răng, yếu tố bất ngờ chính là tất cả những gì ông muốn.

        Tranh luận của các bạn về những điều bất khả thi liên quan càng làm vững chắc lòng tin của tôi đối với kế hoạch này, vì tư lệnh đối phương sẽ suy luận rằng, không ai dại dột để thực hiện một kế hoạch như vậy. Bất ngờ là yếu tố quan trọng nhất để thành công trong cuộc chiến... Vào năm 1759, Marquis de Montcalm đã tin rằng, không có lực lượng quân đội nào có thể leo trèo vượt qua các bờ sông lởm chởm vách đá ở phía nam của thành phố Quebec, cho nên ông đã tập trung các lực lượng phòng ngự lớn dọc theo bờ bắc dễ bị tấn công của thành phố. Tuy nhiên Tướng James Wolfe và một lực lượng nhỏ đã đến sông St. Lawrence và leo qua các vách đá này. Trên các đồng bằng Abraham, Wolfe đã giành được một chiến thắng tuyệt vời nhờ yếu tố bất ngờ. Vậy nên ông đã chiếm giữ được Quebec và đã chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Pháp và người da đỏ. Cũng như Wolfe, tôi có thể thắng họ bằng yếu tố bất ngờ.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:29:33 am

        MacArthur tin rằng, ông sẽ tận dụng được thuận lợi này bởi vì người Bắc Triều Tiên sẽ không dự liệu về một cuộc tấn công như vậy. Inchon chỉ cách Seoul gần 50km. MacArthur đang đề xuất một hành động quân sự khó khăn nhất: Thực hiện một cuộc đổ bộ để cắt đường tiếp tế của đối phương và làm cho quân đội của đối phương bị mắc kẹt ở Triều Tiên.

        Vào ngày 15-9, vụ đổ bộ đã được thực hiện. MacArthur đứng trên một trong những con tàu để quan sát. Hai ngày sau, ông lên bờ và vô cùng mừng rỡ khi căng thẳng đã qua đi và ông được khen ngợi là đã thực hiện vụ đổ bộ thành công. Ông liều lĩnh thực hiện cuộc đổ bộ lộ liễu trước hỏa lực của đối phương. Geoffrey Perret, một trong những nhà viết tiểu sử ông đã đúng khi viết răng:

        Chỉ có một ngày trong cuộc đời của MacArthur khi ông đúng là một thiên tài về quân sự: Ngày 15-9-1950. Trong cuộc đời của mọi vị tư lệnh vĩ dại, luôn có một trận đánh nổi trội. Thủ thách cao độ của tài chỉ huy quân sự đã đưa vị tư lệnh đó vào hàng ngũ những con người bất tử về tài thao lược quân sự khác. Với MacArthur, trận đánh đó là Inchon. Cuộc đổ bộ đã đem lại những kết quả như ông đã tiên liệu. Vào cuối tháng 9, Seoul đã được tái chiếm. Quân đội số 8 đã bung ra từ vành đai Pusan và Inmun Gun đã bị phá hủy. Những người sống sót đã chạy qua vĩ tuyến 38 trong khi các lực lượng quân của Liên Hợp Quốc đang đuổi theo sau lưng. Đoạn kết hợp lý nhất với cuộc đời MacArthur sẽ là ông sẽ chết như một người lính ở trên biển Inchon vào đỉnh cao của vinh quang chiến thắng. Huyền thoại về ông sẽ không thay đổi và sẽ rực rỡ vượt cả những hình tượng phong phú của ông.

        Chỉ hơn 500 người Mỹ đã bị thiệt mạng và 2.500 người bị thương so với thương vong gấp bội của đối phương. Vào ngày 26-9, Seoul đã bị sụp đổ. Các lực lượng binh lính Mỹ bung ra từ cầu đổ bộ Pusan và đã chặn thêm 50 ngàn binh sĩ Bắc Triều Tiên giữa hai gọng kìm, 50 ngàn binh sĩ Bắc Triều Tiên còn lại phải rút lui về phía bắc. Chẳng bao lâu, tổng số bị bắt giữ đã lên đến 130 ngàn người. Đó là một trong những chiến thắng quân sự dũng cảm nhất, nhanh nhất và mang tính quyết định nhất trong lịch sử của một vị tướng 71 tuổi đã không chiến đấu trong 6 năm qua. Trong số tất cả những chiến thắng của huyền thoại MacArthur thì chiến thắng này là vĩ đại nhất.

        Bây giờ MacArthur được lệnh phải phá hủy các lực lượng quân đội Bắc Triều Tiên:

        Mục tiêu quân sự của ông là phải phá hủy các lực lượng vũ trang của Bắc Triều Tiên. Để đạt được mục tiêu này, ông được quyền thực hiện các chiến dịch quân sự ở phía bắc của vĩ tuyến 38 ở Triều Tiên. Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cho dù các lực lượng của ông bao gồm hải quân, không quân, lục quân băng qua Mãn Châu hoặc các biên giới Liên Xô với Triều Tiên, ông không được sử dụng bất kỳ lực lượng lục quân nào không phải là người Triều Tiên ở các tỉnh phía bắc sát với biên giới Lièn Xô hay ở các khu vực dọc theo bièn giới Mãn Châu. Hơn nữa, những hỗ trợ cho các chiến dịch của ông ở phía bắc hay phía nam vĩ tuyến 38 sẽ không bao gồm chiến dịch hải quân hay không quân để chống lại Mãn Châu hay lãnh thổ Lièn Xô.

        Điều này đã rõ ràng. MacArthur đã chia quân ra làm hai bởi vì không thể thâm nhập lãnh địa đầy núi đá. Họ hành quân lên phía bắc và sẽ gặp nhau ở phần hẹp nhất của bán đảo phía trên thủ đô Bình Nhưỡng.

        Đang đối mặt với cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đầy khó khăn vào tháng 11, Truman vẫn sắp xếp bay qua và gặp MacArthur ở đảo san hô Wake Island ở Thái Bình Dương để tận hưởng niềm vui chiến thắng. Hai con người này rõ ràng đã ghét nhau từ lâu. Truman coi MacArthur là một người Cộng hòa theo phe hữu mồm miệng huênh hoang, trong khi đó MacArthur lại xem Truman như một nhà chính trị tỉnh lẻ tầm thường không đáng giá gì so với Roosevelt, người mà ông miễn cưỡng tôn trọng.

        Vào ngày 15-10, họ gặp nhau. Không chịu thể hiện mình là cấp dưới Tổng thống, MacArthur đã lệnh cho máy bay của ông bay vòng để Truman hạ cánh xuống trước và phải chào đón ông như một khách VIP. Ông quyết định không chào mà chỉ bắt tay Truman với một thái độ xấc láo cố tình, giống như những nguyên thủ quốc gia gặp nhau.

        Truman chẳng đưa ra thông diệp nào và cũng chẳng tìm cách ra mệnh lệnh cho MacArthur. Ông chỉ hỏi han vài câu trong khi các phóng viên của Washington xúm lại chụp hình.


Tiêu đề: Re: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:31:16 am

        Câu hỏi quan trọng duy nhất mà Truman đặt ra là liệu MacArthur cảm thấy có nguy cơ Trung Quốc hay Liên Xô can thiệp vào Triều Tiên. MacArthur trả lời:

        Rất ít khả năng họ sẽ can thiệp. Nếu quyết định can thiệp, họ đã can thiệp trong tháng đầu tiên hay tháng thứ hai của cuộc chiến... Chúng ta không còn phải sợ họ can thiệp... Chỉ 50 ngàn hoặc 60 ngàn quân có thể vượt qua sông Áp Lục. Họ không có không quân. Bây giờ chúng ta đã có các căn cứ không quân ở Triều Tiên, nếu người Trung Quốc muốn đến Bình Nhưỡng, họ sẽ chịu sự tổn thất rất lớn.

        Truman không bình luận gì cả. ông không có thông tin để đối chất lại.

        Cũng chẳng người nào đả động đến mối bất đồng duy nhất của họ cho đến nay. Cách đó vài tuần, MacArthur đã bay đến Đài Loan để lần đầu tiên gặp Tưởng Giới Thạch, ở đó,