Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2019, 04:06:20 PM



Tiêu đề: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười, 2019, 04:06:20 PM
     
        - Tên sách : Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur

        - Tác giả : Bernard Michal với sự cộng tác của : ERICDE Goutel Jean Renald và Brigitte Friang

        - Bản Việt ngữ : Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên với sự cộng tác của Hồ Tâm Huân

        - Nhà xuất bản Sông Kiên

        - Năm xuất bản : 1974

        - Số hóa : Giangtvx

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/71280903_495748397821712_1646436611539337216_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmqw-Mb3GFo5BwpxByBjqEWp0allH9o5dXrdxOhN7tqKHXrwjT0i-StCoW_YSMrghI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=e6e557b9279cd6b651443f3a50e39c16&oe=5E3B6307)


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:47:48 PM

MỞ ĐẦU

        Trong suốt cuộc đời ông, Douglas Mac Arthur là một con người ngoại hạng. Cao ngạo, ưa tranh biện, bị ghét bỏ hay trái lại, được xiểm nịnh, nhưng luôn luôn là người thích sự phô trương và sự trình diễn.

        Вinh nghiệp của ông là cả một tấm gương. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống quân sự, một gia đình trong đó người ta không thể làm gì khác hơn là nhà binh, Mac Arthur tốt nghiệp thủ khoa tại West Point với một tổng số điểm 100 trên 100. Ông sẽ là vị thiếu tướng trẻ nhất trong quân đội Mỹ, lúc 38 tuổi, trước khi trở thành Thống chế... của quân đội Phi luật tân.

        Trong thời Đệ nhị Thế chiến, sau cuộc bại trận và sự rời bỏ Phi luật tân ra đi của ông, những lời nói sau cùng của ông trở nên là những lời lịch sử : «Tôi sẽ trở lại.» Và quả nhiên ông đã trở lại và kết thúc cuộc chiến trong tư cách Tư lệnh tối cao Quân lực Đồng minh tại Thái Bình Dương. Chính ông là người đã nhận cuộc đầu hàng của Nhật, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên thiết giáp hạm Missouri.

        Vào thời kỳ này, lúc đó, một giai đoạn mới lại bắt đau trong cuộc đời binh nghiệp lâu dài và đầy vinh quang của Mac Arthur. Làm Cao-ủy Toàn-quyền tại Đông kinh, ông cai trị xứ Nhật một mình. Nhưng chẳng bao lâu sau, vào tháng 6 năm 1950, ông trở lại vai trò lãnh tụ chiến tranh : tại Cao ly, đối diện với các quân đội Cộng sản. Những sáng kiến của ông, mà một số người xét đoán ít nhất cũng là nguy hiểm và không hợp thời, hiển nhiên là sẽ đặt thế giới bên bờ vực thẳm thế chiến thứ ba. Lần này là một cuộc chiến tranh nguyên tử !

        Sau cùng, MacArthur bị Tổng thống Truman bãi chức và, cùng lúc mất cả chức Nhiếp chánh tại Nhật lẫn Tổng tư lệnh Quân lực tại Cao ly. Khi trở về nước, cả Mỹ quốc hoan hỉ tiếp đón ông như một vị anh hùng. Song le, những sự chỉ trích ông cũng rất nhiều và ít ra cũng rất là chua cay. Người hùng chiến thắng tại Thái Bình Dương chết trong quên lãng năm 1964.



Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:48:31 PM

TỪ MIỀN VIỄN TÂY ĐẾN THẾ CHIẾN

        Douglas Mac Arthur sinh ngày 26 tháng 1 năm 1880 tại Little Rock, trong tiểu bang Arkansas. Thân phụ ông là sĩ quan.

        Dòng họ Mac Arthur phát nguyên từ Tô Cách Lan. Họ thuộc thị tộc Campbell và, như ông Tướng từng nói một cách khiêm nhường, «những truyền thống của gia đình trùng hợp với những truyện truyền kỳ oanh liệt của vua Arthur và của các Hiệp sĩ Bàn tròn...» Một câu tục ngữ cổ xưa, vẫn lan truyền ở Tô Cách Lan, khẳng quyết :

        « Không có gì kỳ cựu hơn — nếu không phải là núi non — dòng họ Mac Arthur và Quỷ vương ».

        Kỳ hiệu bằng vải ca-rô màu lục, đen và vàng : «Màu lục tượng trưng cho những cây thông sáng ngời. Màu đen cho những kẻm núi ghê rợn. Màu vàng cho những cây kim tước vui tươi. Đấy : Kỳ hiệu của dòng họ Mac Arthur !»

        Huy hiệu của dòng họ là cây sim rừng. Tiếng thét lâm chiến của họ là «Nghe ! Hãy nghe ! »

        Và MacArthur trích dẫn trong Hồi ký của ông: «Tiếng kèn bị của người Tô Cách Lan vang lên bên bờ hồ Loch Au, một giọng nổi trên Cruschau kêu gọi âm vang từ dưới kia lên đến trên này : Hỡi Mac Arthur, trong bụi sim hãy nhảy chồm tới, hỡi những người kiêu hùng, hãy nai nịt, cầm lấy binh khí và Nghe ! Hãy nghe !... »

        Sau đó ông giải thích :

        «Trong những năm dài phục vụ, cũng như những người ở Loch Au, tôi đã thường phải nghe theo lời hô hào cầm binh khí...»

        Con người sẽ đánh bại nước Nhật tự cao tự đại của các võ sĩ đạo sống một thời ấu thơ được dỗ dành bằng những công nghiệp vĩ đại của Geronimo. Nhưng vào thời đó, vị lãnh tụ da đỏ trứ danh không phải là biểu tượng của một nền văn minh bị áp chế đang chiến đấu chống lại chủ nghĩa tư bản, mà là một thực tại hiển nhiên, một nhân vật đáng sợ sẵn sàng lột da đầu người Mỹ da trắng nào dẫn xác đến. Đối với ông, những người viễn tây, chính là đời sống. Cũng như những chiếc xe mui vải chạy lộc cộc trên những con đường mòn dịu vợi, cũng như mùi da va mùi phân ngựa, cũng như những tân binh và những dây choàng móc giữ vào quần của họ, cũng như tiếng kèn đồng chát chúa vang lên mỗi buổi sớm mai. Những người bạn đâu tiên của ông là các trung sĩ già tái đăng bên cạnh họ là những gã bé con kéo lê chân bước theo, những binh sĩ khoác lác hay cầu nhàu, những người mà Đại úy MacArthur, ông cha, biết dùng một giọng nói nữa dịu dàng, nữa hách dịch :

        «Chú có thể phản đối, nhưng chú vẫn phải đi...» Bởi với Douglas và anh cả của ông, Arthur, đó là một thời kỳ tuyệt vời. Trong ba năm liền họ sống tại Fort Selden. Tại đó, đại đội «K» có hai sĩ quan và 45 binh sĩ và hạ sĩ quan. Chỗ đóng quan được giới hạn bởi các trại binh. Hai cậu bé học cưỡi ngựa và bắn súng trường, trước khi biết đọc và viết. Chính bà mẹ là người đã dạy cho hai anh em những bài học thô sơ vỡ lòng. Bà cũng khắc ghi vào đầu óc họ ý nghĩa sâu xa của nghĩa vụ :

        «Phải làm điều phải, dầu cho chúng ta phải trả giá đắt. Tổ quốc phải đứng đầu trước tất thảy mọi sự ràng buộc và nghĩa vụ khác. Co hai điều mà chung ta không bao giờ nên làm : nói láo và mách lẻo...» Cuộc sống lúc đó rất phấn khích và hấp dẫn. Cũng như những cuốn sách trong thư viện của vị Đại úy gợi ra những giờ phút lịch sử vĩ đại của Hoa Kỳ và của gia đình MacArthur. Hai cậu bé đều biết rõ về tổ tiên vốn đã từng là «vua» nước Ý, rồi bi ám sát chết. Về người đã từng đi theo vua Jacques Ier. Về những vị từng tham dự các đoàn quân Thập tự viễn chinh, đã từng chiến đấu chống người Anh, từng sống lưu vong tại Úc... Trong huyết quản của hai anh em, nó trộn lẫn dòng máu Tô Cách Lan, Pháp, Ái Nhĩ Lan...Anh.

        «Chúng tôi không thiếu trò giải trí. Có những cuộc viẽng thăm của các sĩ quan và các đoàn tuần tiễu từ Fort Stanton đến từ phía đông trong nhiệm vụ canh giữ trước khu vực dành riêng cho ngươi da đó tại Mescalero. Chúng tôi cưỡi lừa đi theo toán tạp dịch lấy nước, ngày nào cũng đến sông Rio Grande, cách đồn binh nhiều dặm đường. Và đêm nào chúng tôi cũng dự lễ chào cờ, thẳng người cứng nhắc trong thể đứng nghiêm, trong lúc tiếng kèn đồng vang lên».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười, 2019, 05:49:29 PM
 
*

*      *

        Họ mài mòn đùng quần trên ghế các nhà trường do quân đội xây dựng. Sau đó gia đình MacArthur dời đến Sam Houston, thuộc Texas, và các cậu bé tiếp tục việc học ở đấy một cách nghiêm chỉnh hơn;

        «Tôi vui sướng nhiều ở miền Texas, Douglas kể lại. Tại đấy tôi thích học toán, ngôn ngữ Hy Lap và La Tinh và, trong tiểu bang mênh mông khoáng đãng và có đôi chút hung bạo này, tôi có thể chơi các trò thể thao dữ dội mà đối với các thanh niên trưởng thành luôn luôn là một sự hấp dẫn lớn lao...»

        Người đầu tiên trong họ MacArthur đến Hoa kỳ là Arthur, ông nội của ông Tướng. Ông đến cùng với bà mẹ là Sarah Mac Arthur - MacArthur, vào khoảng năm 1825. Họ định cư trong tiểu bang Massachusetts, tại Ghicoppee Fall, gần Springfield. Arthur, ông nội sinh năm 1815 tai Glasgow. Theo học ở Uxbridge, tại học viện Wesleyan Academy, rồi tại đại học Amherst, tiểu bang Nouvetle - Angleterre. Sau đó ông theo học luật tại Nữu ước, tình nguyên đầu quân, chiến đấu chống người da đỏ và đen năm 35 tuổi, di cư đến vùng Grands Lacs. Ông trở thành biện lý của thành phố Milwaukee. Ông lập gia đình lần đầu nhưng chỉ kéo dài được một thời gian ngắn. Trong cuộc hôn nhân thứ hai, ông cưới cô Aurelia Belcher, bà nầy sinh với ông hai người con trai, Arthur và Frank. Aurelia thuộc về một gia đình kỳ cựu gồm những luật gia, chiến binh và y sĩ. Bà lại có liên hệ thân thuộc với dòng họ Churchill và dòng họ Roosevelt. Do đó cậu bé Douglas sẽ là anh em họ xa với «con sư tử già» Anh quốc và với Tổng Thống Roosevelt. Năm 1885 Arthur ông được bầu làm Phó Thống đốc tiểu bang Wisconsin. Ông Thống Đốc, một người tên Barstow bị kết án có hành vi gian trá và phải từ chức. MacArthur trở thành Thống Đốc. Trong một thời gian không lâu: Năm ngày. Ông từ chối thảo luận tính cách hợp pháp của cuộc bầu cử cá nhân ông và từ chối dựa vào vệ binh để được ngồi nguyên vị:

        «Trong cái thế giới này, ông giải thích, chỉ có hai cách để cai trị, bằng sức mạnh mà không cần luật pháp, và bằng luật pháp mà không cần sức manh». Ông chọn cách thứ hai và đến phiên ông lại từ chức. Tiếp theo đó ông trở thành chánh án quận tại Milwaukee, và giữ chức vụ này trong mười ba năm. Ông giao thiệp liên kết với Lincoln và sau đó với Tướng Grant, và được ông này gọi về Hoa Thịnh Đốn làm chánh án dự khuyết quận Columbia. Ông cáo hưu lúc 73 tuổi và dành thì giờ để viết nhiều loại sách khác nhau. Một trong các tác phẩm ấy là một bảng biện mình cho nữ hoàng Tô Cách Lan, Marie Stuart, một cuốn khác cổ nhan đề là The Biography of the English Language. Ông mất năm 1896, lúc 81 tuổi tại Atlantic City...

        Trong suốt đời ông, MacArthur vẫn giữ niềm tôn sùng thân phụ. Khi là sinh viên sĩ quan tại Trường Võ bị West Point, một hôm ông nói :

        «Tôi hy vọng trở thành một con người vĩ đạ như thân phụ tôi ! »

        Năm mươi năm sau, sau vụ Cao Ly, lúc ông được mời ra làm nhân chứng trước Thượng Viện, ông đã gợi ra kỷ niệm của vị thân sinh này với rất nhiều nhiệt tình. Và một thượng nghị sĩ bình luận lời ông bằng cách nói:

        «Thật cha nào, con nấy...

        — Xin cám ơn ông, ông tướng đáp, không có một lời khen tặng nào của ông có thể làm cho tồi vui thích hơn...»

        Binh nghiệp của hai người giống nhau đến mức có nhiều điểm trùng hợp nhau nhất là cả hai đều đã nắm vai trò chỉ huy trong một thời gian rất lâu tại Viễn Đông.

        Quả thật Arthur Mac Arthur không phải là một ngươi thường. Khi cuộc nội chiến Nam Bắc phân tranh (1860-1865) bùng nổ ông mới có mười sáu tuổi. Vào thời đó chàng thanh niên đã biểu lộ ngưỡng mộ vô bờ đối với Abraham Lincoln, và ông xin thân phụ, ông chánh án, cho phép tình nguyện đầu quân. Thỉnh nguyện bị từ chối :

        «Con ráng chờ thêm một năm nữa. Ba sẽ gởi con vào một quân trường ; sau đó, xin Chúa che chở cho con...»

        Ngày 4 tháng 8 năm 1862 — một năm sau cuộc nói chuyện trên — nhờ sự giao thiệp của thân phụ, Arthur đươc bổ nhiệm làm Chuẩn úy tại trung đoàn 24 của Tiểu bang Wisconsin. Đây chỉ là một cậu bé con, vai so, má hồng... Và khi ông ra những mệnh lệnh đầu tiên, giọng của ông vỡ toang, nó có những âm thanh ồ ồ của một thanh niên vừa trổ mã. Binh sĩ phá ra cười rũ rượi. Ông Đại tá nổi sùng và cầu nhàu :

        «Tôi cần một ông Chuẩn úy chứ không phải là một anh bé con hỉ mũi chưa sạch...»

        Ông ta yêu cầu trả ông về nhà. Chàng thanh niên Mac Arthur phản đối :

        «Tôi là một quân nhân, tôi sẽ chứng tỏ điều này trên chiến trường... Tôi biết bổn phận của tôi...»

        Ông Đại tá đành để cho bị thuyết phục.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:12:58 PM

*

*       *

        Trận đánh đầu tiên xảy ra tại Chaplin Hill, trong tiểu bang Kentucky, tháng 10 năm 1862. Ông Chuẩn úy «bé con» đã chiến đấu anh dũng và không những chỉ được bằng cấp Bại úy mà còn được sự khen thưởng và lòng quý chuộng của chính Tướng Philip Sheridan

        Cuối mùa thu là thời gian huấn luyện và một lần nữa, vào tháng giêng, Arthur Mac Arthur lại có măt ở tiền tuyến, lần này thì tại tiểu bang Tennessee,

        Trận chiến cực kỳ đẫm máu và hỗn độn. Bắc quân phải di chuyển xoay chung quanh chính vị trí của mình để khỏi bị bao vây. Cuối ngày, sau một cuộc chém giết ghê rợn, đoàn quân lại có mặt gần như tại cùng các cứ điểm của buổi sáng :

        «Hoan hô, Arthur, Tướng Sheridan khen lớn, chú không để mất một tấc đất nào cả.»

        Ông bị bệnh thương hàn. Vừa khỏi bệnh, ông liền trở lại để tham dự trận đánh nổi tiếng tại Missionnary Ridge. Ở đấy cũng vậy, cảnh hỗn độn nhất đã xảy ra trên chiến trường. Đột nhiên hiệu kỳ của trung đoàn 24 Wisconsin được mang tiến về phía trước. Hai hạ sĩ và ông Đại úy trẻ tiến theo. Viên trung sĩ mang cờ bị bắn ha. Một hạ sĩ lên thay và cũng bị giết chết. MacArthur chiếm lấy cây cờ và thét lên bằng giọng yếu ớt của ông :

        «Tiến lên, Wisconsin !...»

        Ông bị Nam quân vây bọc tứ phía. Một Đại tá xả cho ông một lát gươm, nhưng một viên đạn bắn trung lưỡi gươm đẩy nó dạt ra. Chàng thiếu, niên dù bị thương ở vai, vẫn tiếp tục tiễn tới. Tướng Grant đang theo dõi trận đánh chẳng hiểu gì cả :

        «Chuyện gì xảy ra cho họ vậy, ai bảo họ tiến cách đó ? Bảo họ trở về vị trí ngay...

        — Không có gì có thể chặn họ lại được đâu một sĩ quan kiểu cách tuyên bố...

        — Hy vọng rằng chuyện đó không chuyển thành thảm họa, Grant bẻ lại.»

        Arthur biết cách khích động binh sĩ. Họ chiến thắng sự sợ hãi bằng cuộc chiến đấu cao cả. Cậu bé ngã gục, kiệt sức, sau khi cầm cây cờ,

        Sau đó, Tướng Sheridan đến thăm ông trong bệnh xá :

        «Hãy săn sóc ông ta cần thận, ông gởi gắm vị y sĩ, ông ta vừa được danh dự bội tinh đấy...»

        Chiếc huy chương chỉ được trao gắn cho ông... 27 năm sau, ngày 30 tháng 6 năm 1890, Trong khi chờ đợi, ông Đại úy nhỏ bé trở thành Đại tá chỉ huy trung đoàn của mình. Các sĩ quan dưới quyền đều tuân lệnh ông, nhưng ông trẻ đến nỗi các viên chức dân sự đặc trách cuộc bầu cử trong quân đội nhân dịp cuộc tái cử của Lincoln, đã từ chối không cho ông bỏ phiếu... Điều này cũng không ngăn được ông tham dự các trận đánh mới. Một lần nữa, ông thoát chết. Viên đạn lẽ ra đã giết chết ông lại bị chặn đứng bởi một cuốn thánh kinh mà ông luôn luôn bỏ trong túi áo. Trong dịp này, ông được tuyên dương như sau :

        «Trong suốt dòng lịch sử, hiếm khi ta có thể nói một đơn vị nào đó đã cứu thoát cả một quân đội. Tuy vậy đó là trường hợp đã xảy ra tại Franklin, khi trung đoàn 24 Wisconsin, dầu không được mệnh lệnh nào của thượng cấp, đã cấp thời hành động để đẩy lui quân địch và lập lại phòng tuyến của ta. Trung đoàn đã được điều khiển một cách sáng chói bởi Đại tá trẻ tuổi Arthur MacArthur.»

        Khi lành bệnh, chàng thanh niên kết thúc chiến tranh tại tiểu bang Tân Orléans. Khi hòa bình đã được vãn hồi, trung đoàn diễn hành trên các đường phố tại Milwaukee và được giải tán. Viên Đại tá trẻ nhất quân đội Mỹ trở về đời sống dân sự.

        Trong vòng một năm, chàng thanh niên, vừa mới thành niên, theo học luật và sử. Rồi ông trở lại với tình mê say ban đầu và được ủy nhiệm làm thiếu úy trong một đơn vị thuộc quân đội chính qui, đại đội 17. Cùng ngày hôm đó, ông được thăng cấp trung úy và bốn tháng sau thăng cấp đại úy thuộc đại đội 28. Lúc đó, binh nghiệp sấm sét của ông bị ngưng lại một lúc, một thời kỳ ngưng trệ những hai mươi ba năm. Ông trải qua bảy năm để săn đuổi người da đỏ. Ông trở thành một nhân vật của Miền Tây.

        Trong khi sống qua suốt mùa đông 1874-1875 tại tiểu ban Tân-Orleans, nhân một hôm lễ Mardi Gros, ông giúp một cô gái miền Virginie, 22 tuổi rất xinh đẹp, Магу Pinkey Hardy. Ông yêu nàng. Hôn lễ được cử hành vài tháng sau, ngày 19 tháng 5 năm 1875 tại Norfolk. Ái nữ của một y sĩ, bà MacArthur có bảy anh chị em. Bà thuộc về một gia đình kỳ cựu tại miền Nam. Vài bạn hữu сủа bà không chấp nhận cuộc hôn nhân với một sĩ quan bắc quân này.

        Từ đó là bắt đầu đời sống doanh trai. Nhất là các doanh trai tại Miền Tây. Năm 1876 bà sanh cậu con đầu lòng, Arthur, rồi một cậu thứ hai, Malcolm nhưng lại bị chết sớm và sau cùng Douglas, năm 1880. MacArthur có về Hoa Thinh Đốn làm việc môt thời gian, rồi trở lại Texas.

        Năm 1898, Đại tá MacArthur định cư gia đình tại Milwaukee, và xuống tàu đi Phi luật tân.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:14:00 PM

*

*       *

        Trong cùng năm 1898 ấy, Douglas MacArthur thi đậu số 1 vào khóa sĩ quan West Point. Ông đã theo học tại Viện quân sự Texas để chuẩn bị thi vào West Point và trong kỳ thi nhập học ông được chấm đậu với số điểm phi thường là 931/з trên 100.

        Thật ra, nếu không bao giờ ông nhắm làm một nghề nào khác hơn là theo đuổi binh nghiệp thì chàng thanh niên tuổi trẻ, thời đó, lại thích đầu quân hơn, để tham dự cuộc chiến tranh vừa mới bắt đầu tai Cu ba, nhưng ý muốn này đã bị thân phụ chính thức chống lại.

        Trong thời kỳ này, thời kỳ thân phụ thì ở Phi luật tân và anh cả, vừa tốt nghiệp trường Annapolis và đang bắt đầu học nghề thủy thủ, chàng sinh viên sĩ quan trẻ tuồi sống dưới ảnh hưởng gần như là độc nhất của bà mẹ. Mẹ ông lại rất yêu quí các con và nuôi dưỡng những tham vọng lớn lao nơi các con cái, đặc biệt là nơi Douglas. Chính bà đã khắc ghi vào tâm não ông rằng ông được thiên ân kêu gọi đề đảm trách những vận mệnh cao cả. Bà Mary MacArthur có một nhân cách rất mạnh mẽ. Là một thiếu phụ xinh đẹp, thanh lịch, nhưng đồng thời bà cũng rất cứng đầu và chuyên đoán. Bà thay đổi quan điểm một cách khó khăn, tỏ ra rất trung thành với bằng hữu nhưng lại nuôi dưỡng những niềm thù hận chắc nịch và khó thể quên.

        Chỉ đến tháng 6 năm 1899, sau vài tháng trở ngại vì một cơn bệnh nhẹ, Douglas MacArthur mới bước qua cổng trường võ bị West Point. Ông có một nhân dáng đầy kiêu hãnh với khổ người dong dỏng cao, nước da sẫm, tóc đen, cái nhìn như xoáy vào người khác, khi ông khoát bộ đồng phục sinh viên sĩ quan. Nhân cách của ông hết sức minh bạch, trí thông minh của ông, khuynh hướng lãnh đạo của ông làm cho bạn bè ông ngưỡng mộ và sợ hãi. Một người bạn quả quyết :

        «Đâу chính là sự ngạo mạn được nhân cách hóa...» Những người khác nói về ông:

        «Can đảm như một con mãnh sư, tinh ranh như quỷ, một bộ óc như là một miếng bọt biển.»

        Nghĩa là một đầu óc tiêu hóa được tất cả, ngay lập tức, và có khả năng xử dung ngay tức khắc những kiến thức mới vừa thâu thập được của mình.

        Sự kiện được là con trai của một danh tướng cũng đã đóng góp thêm cho uy tín của con người trẻ tuổi. Một điểm khác phân biệt ông với các bạn ông là người sinh viên sĩ quan đầu tiên có bà mẹ đến ở gần bên. Thật vậy, bà Mary không còn lý do gì để ở lại Milwaukee nữa, chồng bà thì ở Manille, con cả thì đang tạo các chiến oông đầu tiên trên chiến hạm, đo đó bà đã quyết định đến ở tại khách sạn Craney Hotel» ngay tại West Point. Người ta nói rằng bà đã có quyết định này khi được biết rằng bà mẹ của một sinh viên sĩ quan khác, Ulysse Grant, cháu nội của Đại Tướng Grant sẽ đến ở tại West Point. Hình như điều này không đúng và người ta đã nói quá đáng về sự tranh chấp để chiếm chỗ danh dự giữa hai thanh niên Grant và MacArthur. Trong thực tế, đối thủ của ông đúng hơn là một sinh viên tên Fiskes nào đó, và Grant chỉ sẽ có một binh nghiệp khiêm nhường trong quân đội. Vinh dự chính yếu của ông ta là đã được chọn làm kiều mẫu cho một bức tượng biểu trưng cho quân trường.

*

*       *

        «Những năm trải qua tại West Point là những năm sung sướng. Tôi học hành rất cực nhọc nhưng cũng vui chơi hết mình, về sau ông Tướng kể lại. Tôi tự do buông thả cho ý thích về toán học, cho các môn thể thao và...các cô gái xinh đẹp !»

        Là một sinh viên sáng chói, ông rất tự tin. Ông dẫn đầu khóa trong suốt bốn năm của khóa học và tốt nghiệp «thủ khoa» của khóa, ông được sổ điểm trung bình cao nhất — 98,14 — mà chưa một sinh viên sĩ quan nào đạt được, trong suốt một trăm năm lịch sử quân trường. Điểm xấu nhất của ông là 90,4 về môn hội hoạ.

        «Trong quân đội không có sĩ quan nào kỷ luật hơn tôi» khoảng năm mươi năm sau MaoArthur tuyên bố.

        Thật vậy tại West Point hình như ông chỉ bị chỉnh về kỷ luật có bốn mươi hai lần trong suốt bốn năm. Vả chăng đó là những trường hợp vì lỗi nhẹ như chậm trễ, tóc quá dài, «kéo lê kiếm trên lối đi, để đùa bỡn», «đã đánh tay thái quá trong khi diễn hành»,v.v..

        Rất hiếm khi ông «trèo tường ra ngoài», và nếu có thì thông thường là đề ra thăm mẹ. Vả chấng có một lần ông suýt bị bắt gặp và phải chui qua hầm than của khách sạn Craney để thoát thân. Chính ông vào thời đó cũng tự chứng tỏ là đã thành công không ít trong tình trường Nhưng người bạn đồng phòng của ông quả quyết rằng ông chẳng bao giờ nhận hay viết một lá thư tình nào, lẫn đề cập đến chuyện trai gái. Vậy thì chàng đẹp trai Douglas rất kín đáo. Trong những dạ hội tổ chức tại West Point, ông tỏ ra là một người nhảy giỏi. Và chỉ thế thôi, ông là một người có khoa ăn nói, nói được tất cả mọi vấn đề và với tất cả mọi người, và chứng tỏ có một óc phê bình thực tế.

        Ông chơi mọi trò thể thao và môn nào cũng xuẩt sắc. Tuy vậy tại West Point ông chọn lựa để chuyên tập môn đá cầu.

        Ngày 11 tháng 6 năm 1903, ông nhận được văn bằng tốt nghiệp Thiếu úy công binh. Ngày lễ mãn khóa, trong bài nói chuyện với các sinh viên sĩ quan của khóa học, ông Tổng Trưởng chiến tranh tuyên bố với họ ;

        « Hay tiến tới, cho một quân đội xứng đáng với các truyền thống quốc gia. Chính các anh là những người dẫn đạo quân đội trong cuộc chiến tranh sắp đến. Chẳng bao lâu nữa nó sẽ xảy ra. Không thể nào tránh được. Hãy chuẩn bị xứ sở cho cuộc chiến tranh này... »


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười, 2019, 11:14:58 PM

*

*       *

        Trong khi con trai được nhận vào trường West Point và theo đuổi công việc học hành sáng chói tại đấy, thì Tướng Arthur MacArthur ở tại Phi luật tân. Năm 1898, tiếp theo nhiều biến cố xảy ra giữa người Cuba và những người Tây ban nha cai trị họ, những biến cố có ảnh hưởng đến một số kiều dân Mỹ, Hoa Kỳ toan tính, bằng đường lối ngoại giao trước, đạt cho bằng được nếu không phải là nền độc lập hoàn toàn cho hòn đảo này thì ít ra cũng rа một sự nới rộng chế độ giám hộ của Tây ban nha. Khi Tổng Thống, Mckinley đã sắp đạt đến một kết quả tích cực thì chiếc thiết giáp hạm Maine lại bị nổ trong vinh La Havane. Lập tức công luận, lúc đó rất sôi động, lên án người Tây ban nha đã chủ mưu trong vụ phá hoại này. Không có gì chứng tỏ lời buộc tôi này là đúng cả. Rất có thể đó là một tai nạn thật sự. Dầu sao Hoa Kỳ cũng đã tuyên chiến với Tây ban nha. Ngay tại Cuba, cùng lúc quân Mỹ mở màn trận chiến trên biển và trên Hạm đội tiêu diệt hạm đội Tây ban nha. Một đoàn quân viễn chinh chiếm đảo và cũng nhân dip này chiếm luôn đảo kế cận Porto Rico. Cuộc chinh phục được thực hiện ngay như «một cuộc cắm trại» vĩ đại hay một cuộc du ngoan dưới ánh trăng. Theodore Roosevelt lúc đó là Tổng trưởng Hải quân cũng có tham dự cuộc viễn chinh nầy, ông dẫn đầu một đoàn ky binh, đơn vị Rough Riders.

        Trong cùng thời gian đó, một hạm đội Mỹ do đô đốc Dewey chỉ huy rời Hồng Kông tiến về Phi luật tân. Hạm đội Mỹ tiêu diệt hạm đội của Đô đốc Montojo. Lúc đó Dewey yêu cầu một lực lượng yểm trợ trên bộ để chiếm quần đảo. Tướng Otis đươc gởi đến, và phụ tá của ông là tướng Arthur MacArthur.

        Một hiệp ước hòa bình được ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1898 tại Ba Lê. Tây ban nha từ bỏ chủ quyền trên đảo Cuba và Porto Rico và nhượng lại quyền trên quần đảo Phi luật Tân với giá 20 triệu Mỹ kim. Quân Mỹ rút khỏi Cuba nam 1902, vấn đề sáp nhập đảo nầy không được đặt ra, do đó Cuba được độc lập nam 1909. Porto Rico liên kết với Hoa Kỳ nhưng với một qui chế tự do. Dân Porto Rico trở thành công dân Hoa Kỳ nằm 1916.

        Tình trạng xảy ra khác hẳn tại Phi luật tân. Qnân đội của Tướng Otis — một con người rụt rè và xung đột thường xuyên với người phụ tá — chiếm Manille. Được thoát khỏi tay người Tây ban nha, dân Phi luật tân và lãnh tụ quân nổi loạn Emilio Aguinaldo rất muốn thấy «những người giải phóng» cho họ ra đi.

        Tổng Thống Mckinley không chịu. Được công luận hậu thuẫn, ông muốn thoát ra khỏi chủ trương cô lập hóa rất quen thuộc của Monroe và áp dụng một chính sách bành trướng về phía Nam Mỹ cũng như về phía Thái Bình Dương. Năm 1898) ông được quốc hội chấp thuận cho điều mà năm năm trước bị từ chối : Sự sáp nhập quần đảo Hạ-uy-di. Ông quyết định duy trì hiện diện của quân đội Mỹ tai Phi luật tân.

        «Tương lai của Phi luật tân nằm trong tay Hoa Kỳ», ông tuyên bố, hiệp ước Ba Lê giao cho chúng ta dân chúng Phi luật tân được giải phóng và tự do để hướng dẫn họ và để giúp họ hưởng thụ ảnh hưởng của tự do, những tình cảm quảng đại, tình yêu sự tiến bộ, không phải của các ông chủ Mỹ mà của những nhà giải phóng Hoa Kỳ...

        «Không có một sự ham muốn đế quốc nào được che đậy để ảnh hưởng đến tinh thần người Mỹ. Lòng ham muốn đó trái ngược với tình cảm, tư tưởng, với mục tiêu của người Mỹ. Những nguyên tắc quảng đại của ta sẽ được tôn trọng. Những người tự do có thể chinh phục nhưng là để cứu vớt...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:07:52 PM

*

*      *

        Đối với Aguinaldo và các bạn hữu ông ta, rõ rệt là cả một sự thất vọng lớn lao. Họ cầm lại vũ khí. Cuộc tranh đấu kéo dài ba năm và đòi hỏi Hoa kỳ phải gởi đến một đoàn quân viễn chinh đến 70.000 người. Chính Arthur MacArthur, sau khi thoát khỏi sự giám hộ của Otis, là người điều khiển cuộc chiến. Các trận đánh rất gay go và ác liệt. Sau cùng Aguinaldo bị bắt tại Ludon và được đưa đến tổng hành dinh quân Mỹ đặt tại Điện Malacanan. Thoạt tiên quân du kích không tin lãnh tụ của họ bị bắt. Họ nghĩ rằng người Mỹ đã cố ý tung ra tin giả để gây ra một thứ «tác động tâm lý» nào đó. Tướng Mascarđơ của quân nổi loạn lúc đó yêu cầu viên Thiếu tá trẻ Manuel Quezon ra hàng quân Mỹ để phối kiểm lại coi có phải là Aguinaldo đã bị bắt cầm tù thật hay không.

        Quezon thi hành sứ mạng. Ông nạp mình cho trung úy Miller tại Mariveles. Ông trung úy này đối xử với ông rất tử tế. Vẫn để cho ông mang súng lục và dao gâm. Để tỏ lòng biết ơn, Quezon biếu ông trung úy cây dao găm tại chỗ. Ba mươi lăm năm sau đích thân Miller đã hoàn lại cây dao này cho ông lúc đó đã trở thành Tổng Thống Cộng Hòa Phi luật tân.

        Tù nhân được đưa đến Manille :

        «Tôi được đưa vào Điện Malaranan, ông kề lại, tư dinh đầy huyền hoặc của các Toàn Quyền Tây ban nha mà tôi chưa bao giờ được thấy, và được dẫn đến văn phòng của Tướng MacArthur... ông này đứng trong phòng, vóc dáng khổng lồ trấn áp tôi và không nói một lời nào, chỉ cho tôi một gian phòng ăn thông về phía bên kia với văn phòng của ông. Run rẩy vì xúc động tôi chầm chậm tiến vào đấy, còn muốn hy vọng rằng tôi sẽ không gặp người tôi định tìm trong đó. Ngoài cửa phòng có hai lính canh tay mang găng, lưỡi lê cắm đầu súng. Tôi nhìn thấy, một mình trong phòng, là tù nhân chiến tranh, con người tượng trưng cho tổ quốc. Ông ta nói với tôi là đã tuyên thệ phục tòng và do đó không thể khuyên chúng tôi tiếp tục công cuộc kháng chiến.

        Cuộc chiến du kích chấm dứt.

        Trong thời gian đó, Tổng Thống Mckinley, không muốn để cho một nhà quân sự cai trị quần đảo, nên đã bổ nhiệm một toàn quyền dân sự, thẩm phán William Howard Taft.

        Ông này đến Manille, trong óc đầy ảo tưởng. Đấy là một con người khổng lồ tóc hoe vàng, trong thâm sâu, là một người khá can đảm đã hăng say chấp nhận hoàn tất công cuộc bình định và muốn chiếm được tình thân hữu của «những người anh em nhỏ bé sắc da nâu». Ông rất ngạc nhiên trước sự tiếp đón lạnh nhạt mà quân đội và các sĩ quan dành cho ông, Chẳng có ai đến đón ông ở bến tàu. MacArthur tỏ ra lịch thĩệp nhưng xa cách. Vào thời kỳ nầy, chúng ta đang ở vào năm 1.900, Aguinaldo chưa bị bắt và ông tướng đã làm cho ông Toàn quyền hiểu rằng ông ta chỉ là một người phá đám. Ông dành cho ông ta những căn nhà chật chội và yêu cầu ông ta để ông yên.

        Taft không hiểu. Ông nhấn mạnh với MacArthur đến thiện chí của ông và đoán xác rằng dầu trong trường hợp nào đi nữa ông ta cũng là tổng tư lệnh.

        Ông tướng đáp :

        « Điều đó sẽ rất hoàn toàn nếu cho đến nay tôi không hành xử những quyền hạn rộng hơn nhiều...*

        Thật vậy kể từ khi tướng Otis ra đi, ông là vị chủ tể độc nhất cả về dân sự lẫn quân sự của dân Phi luật tân. Trong khi thi hành nhiệm vụ, ông chứng tỏ có một khuynh hướng tự do nào đó và một ý thức thật sự về chính trị.

        Taft than phiền với Hoa thinh đốn. ông ta còn mô tả cả với ông Tổng trưởng chiến tranh một bức chân dung của Tướng MacArthur mà về sau có thể áp dụng cho người con trai của ông :

        «Một con người rất lịch thiệp và nhã nhặn, thiếu một đôi chút hài hước và hay có khuynh hướng ngã theo những sự tổng quát hóa sâu xa về tâm lý của con người. Tính hay ngờ vực một cách lễ phép và hoàn toàn không chú ý gì đến quan điểm của một người vốn chỉ là một viên chức dân sự vừa mới đặt chân lên bờ. Tin tưởng mãnh liệt là phải duy trì các biện pháp quân sự trong guồng máy chính quyền và trong mọi sự vụ liên quan đến quần đảo».

        Tuy nhiên, tòa Bạch ốс vẫn nhiệt liệt hậu thuần Taft. Môt khi các cuộc hành quân chấm dứt, nghĩa là ít lâu sau khi bắt được Aguinaldo, ông Tướng được gọi về Mỹ. Một buổi lễ lớn được tổ chức tại Vương Cung Thánh đường Manille, ngày 4 tháng 7 năm 1901

        tiễn đưa ông. Taft có đến tham dự. Người ta đã ngỡ rằng hai người đã giải hòa với nhau. Thật ra không phải thế. Và vài năm sau, khi trở thành Tổng Trưởng Chiến tranh, Taft đã từ chối bổ nhiệm MacArthur làm Tổng Tham Mưu Trưởng, một chức vụ đúng ra phải là của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười, 2019, 07:09:00 PM

*

*      *

        Từ khi trở về Mỹ, MacArthur nắm quyền tư lệnh khu vực bờ biển Thái Bình Dương; bản doanh của ông đặt tại Cựu Kim Sơn. Ông đã chứng tỏ hết sức nhiệt thành trong nhiệm vụ mới này.

        Năm 1903 ông tiếp đón con trai đến thăm, khi đến lượt người con được bổ nhiệm đến Phi luật tân. Trong thời gian đến thăm cha, chàng thanh niên được nổi tiếng nhờ đã bắt giữ một tên cướp ngay giữa đường phố.

        Sau đó Douglas đi Manille và đến nơi sau một cuộc hành trình lâu ba mươi tám ngày. Ông bị xứ sở và dân chúng địa phương quyến rũ ngay tức khắc. Suốt đời, ông trở thành «kẻ yêu đảo», ông ở lại đó một năm và hành nghề sĩ quan công binh, ông bắc cầu, xây cất hải cảng, đập ngăn nước, đường sá, công sự kiên cố. Ông cũng tổ chức một sở cứu hỏa.

        Một biến cố đánh dấu thời kỳ này. Trong khi bận rộn đắp một con đê và bến tàu trên đảo Guimaris, trên cửa vịnh Iloilo, ông cùng vài binh sĩ vào rừng chặt cây. Toán quân bị hai tên cướp tấn công. Ông thiếu úy với phản ứng sấm sét, rút súng lục và hạ cả hai theo kiểu thuần túy miền Viễn Tây. Nhưng một trong hai tên cướp cũng có thì giờ nổ súng vào ông. Viên đạn xuyên qua nón và cắt ngang một cành cây nhỏ phía sau. Ông không bi thương, nhưng quả thật đã gặp rất nhiều may mắn. Điều này khiến cho viên trung sĩ già đi theo phải nói :

        «Xin Thiếu úy cho phép tôi nói rằng phần còn lại của cuộc đời ông là thời gian dư thừa...»

        Douglas mặt tái ngắt, hai chân hơi run. gật đầu chấp nhận.

        Sau đó ông được giao cho nhiệm vụ đào tạo vài kỹ sư được chọn lựa trong số các sĩ quan hiến binh bản xứ. Lực lượng này do Đai úy J.G. Harbord chỉ huy. Một đêm, ông này mời ông đến ăn cơm tối. Trong số thực khách có Manuel Quezon, người mà ông thiếu úy kết tình thân hữu ngay lập tức.

*

*      *

        Năm 1904 được thăng cấp Trung úy, Douglas MacArthur trở về Hoa Kỳ vài tháng. Đến tháng 10 năm đó ông nhận được lệnh đến gấp thân phụ tại Đông Kinh và cũng tham dự một sứ mạng quan sát tại Mãn châu. Chiến tranh giữa Nhật và Nga vừa bùng nổ. Quân Nga đóng tại Mãn Châu và cố ở lại đó. Chính quyền Nhật phản đối và đến phiên họ đưa quân tiến vào Mãn Châu, dựa vào một hậu thuẫn ngoại giao mơ hồ của Anh. Tại Trung Hoa, là cả một tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ. Các cường quốc Âu châu như Pháp, Đức thì không can thiệp. Cuộc xung đột chuyển hướng tai biến về phía Nga. Họ mất Port-Arthur, bị đánh bại tại Moukden, hạm đội bị tiêu diệt. Một hiệp ước hòa bình được ký kết tại Portsmouth, tiếp theo một nỗ lực trung gian hòa giải của Theodore Roosevelt.

        Trong nhiều tháng trời Douglas được ngồi ở các chỗ thuận tiện nhất để quan sát quân đội Nhật và để nghiên cứu các phương pháp của họ. Ông rất lấy làm cảm khích :

        «Tôi đã có cơ hội gặp tất cả các đại lãnh tụ quân sự của Nhật : Ovama, Kuroki, Nogi và vi đô đốc trứ danh Togo, ông kể lai. Đấy là những con ngươi nghiêm khắc, trầm mặc, xa cách, mà ta có thể đoán là có ý chí và tinh thần sắt thép. Tôi cũng có thể biết được sự can đảm và lòng tận tụy đến cuồng nhiệt của người binh sĩ Nhật đối với Thiên hoàng của họ.

        Tôi cũng học hỏi để hiểu biết các đức tính của dân tộc Nhật nhỏ bé, sự kiên nhẫn, ý thích làm việc và sự phục tòng dưới một giới quí phái kiêu căng, khắc nghiệt và tham lam. Tất cả những điều đó về sau rất có ích cho tôi...»

        Những phúc trình của Tướng MacArthur rất được nhiều người đọc tại Hoa thịnh đốn, nơi mà ai cũng bắt đầu hiểu mới nguy cơ đe đọa hòa bình do bởi một chiến thắng của Nhật trước một quốc gia tây phương, nơi mà người ta cũng lo ngại sự bành trương kinh tế của Nhật, nơi mà, sau cùng người ta lo âu trước làn sóng di cư của công nhân Nhật vào Californie.

        Vào thời đó tất cả gia đình MacArthur đều ở Viễn Dống. Douglas và thân phụ thì ở Đông Kinh và Mãn Châu, người con cả, Arthur, Sĩ quan hải quân thì ở tại Manilla ông ta mới vừa lập gia đình vớí ái nữ Đô Đốс Mccalla và vừa có một con trai.

        Sứ mạng của họ tại Mãn Châu và Nhật Bản coi như là một thành công, hai cha con MacArthur Ịại nhận được một sứ mạng mới. Họ thực hiện một vòng quan sát tại Xiêm La, Java, tại Mã Lai và Ấn Độ. Sau cuộc hành trình này họ thảo một phúc trình quan trọng mà kết luận là: chìa khỏa của tất cả mọi vấn đề sẽ được đặt ra trong thế kỷ XX hiện nằm tại Á châu và số phận của thế giới lệ thuộc vào sự nâng cao mức sống của những tập thể quân chúng lớn lao người Châu Á


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:22:26 AM
 
*

*       *

        Năm 1906 gia đình MacArthur lại trở về Mỹ. Chính trong thời kỳ này Arthur được bổ nhiệm cấp Trung Tướng với điều kiện là cấp bậc sẽ bị hủy bỏ — về sau lại được phục hồi — khi ông hồi hưu. Lúc đó ông là sĩ quan thâm niên nhất trong cấp bậc cao nhất của quân đội Mỹ và có thể hy vọng được ghế Tổng Tham Mưu trưởng một cách chính đáng. Sở dĩ người ta nghĩ như vậy là vì đã không chú ý đến mối hiềm thù của Taft đổi với ông, thật thế sau khi trở thành Tổng trưởng Chiến tranh, Taft đã chống lại sự bổ nhiệm này. Bấy giờ, ông Tương ở Milwaukee, và được đặt dưới quyền của Tổng Thống Roosevelt. Tổng Thống tỏ ra rất thân ái với ông — mặc dầu không phải lúc nào cũng đồng ý với ông — và giải thích với ông rằng sự truy đoạt chức vụ của ông là do nơi một công cuộc cải tổ quân đội hơn là do lòng thù oán của ông Tổng trưởng Chiến tranh.

        Roosevelt dùng con trai vị lão tướng làm tùy viên sau khi Douglas trải qua một giai đoạn tu nghiệp ngắn tại trường công binh ở Hoa thịnh đốn.

        Sau đó Douglas trải qua thời gian chỉ huy của ông trong chức vụ đại đội trưởng một đại đội công binh tai Panama. Ông rất được thuộc cấp ngưỡng mộ và khi ông rời họ, trung sĩ Cobette, một chiến binh kỳ cựu đã tỏ lòng tôn kính một cách lạ lùng đối với ông. Quay về phía các binh sĩ dàn hàng đứng nghiêm, ông ta nói :

        «Này các cậu bé, hãy nhìn kỹ, đây chính là một quân nhân đích thực, sắp rời chúng ta...»

*

*       *

        Lão tướng MacArthur vĩnh viễn về hưu năm 1909. Ngày 5 tháng 9 năm 1912, ông chủ tọa một buổi hội của các cựu chiến sĩ trung đoàn 24 Wisconsin. Đấy là lễ kỷ niệm lần thứ 50 của Trung đoàn này. Họ gồm có 90 lính già tề tựu chung quanh vị cựu Đại Tá của mình. Họ luôn miệng kể lai các chiến công. Và rồi đến lúc ông tướng đứng lên để nói lời chức tụng :

        «Chính trong trận chiến tại Peach Tree Creak... Lòng can đảm bất khuất của các anh...»

        Giọng của ông lạc đi, ông đưa tay lên ngực, thì thầm :

        «Tôi mệt quá không tiếp tục được nữa...»

        Ông ngã sụm xuống. Tắt thở.

        Tang lễ của ông được tổ chức tại Milwaukee, Theo ý muốn của ông, vị lão tướng được chôn cất như một thường dân :

        «Suốt đời tôi mang quân phục khá đủ rồi, ông đã từng nói với vợ, hãy để tôi yên nghỉ như một công dân Mỹ bình dị. »

*

*       *

        Sau cái chết của thân phụ, Douglas được bô nhiệm chỉ huy cơ quan công binh tại Hoa thịnh đốn. Mẹ ông đến ở với ông trong thủ đô Liên bang. Sau đó ông được gọi đến phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền Tướng Leonard Wood.

        Mùa xuân năm 1914, Tướng này phái ông đến quan sát tại Vera Cruz. Mọi chuyện đang xảy ra bê bối tại Mễ tây cơ. Chế độ của Tướng Huerta, người đã lật đổ chính quyền dân chủ của Madero, đã có cung cách độc tài và không được Hoa Kỳ thừa nhận. Vả chăng Huerta đã bắt cầm tù và đưa ra xử tội các công dân Mỹ. Wilson, tân Tổng Thống Mỹ tức giận phái hạm đội đến phong tỏa hải cảng Vera Cruz. Thủy quân lục chiến đổ bộ cùng tướng Funston. Khi đến nơi, MacArthur nhận thấy tình trạng thiếu thốn phương tiện chuyển vận có thể làm tê liệt cuộc viễn chinh. Không có súc vật kéo xe và nếu có đường xe lửa thì các toa xe lại bị nằm một chỗ, không làm sao để có được một đầu máy xe lửa cả. Nhờ một người Mễ tây cơ say rượu, viên sĩ quan trẻ tuổi biết được rằng các đầu may xe lửa giấu xa tại một nơi phía sau phòng tuyến địch. Ngược lại với ý kiến của Bộ Tư lệnh Mỹ và nhờ sự đồng lõa của một nhà ngoại giao Đức trẻ tuổi Fritz Von Papen, tiếp theo nhiều cuộc mạo hiềm đầy huyền hoặc, sau cả một vòng đi ngựa và đi thuyền, sau khi hạ bốn địch quân và suýt chút nữa bị giết chết, ông thu hồi lại được ba đầu máy xe lửa.

        Tướng Wood đề nghị cho ông huy chương danh dự. Đề nghi bị từ chối vì chiến tranh không được tuyên.

        Được thăng cấp thiếu tá, Douglas trở về Hoa thịnh đốn. Một năm trôi qua. Năm 1916, Tổng trưởng Chiến tranh Garrissou từ chức tiếp theo sau một cuộc bất đồng ý kiến với Tổng thống Wilson. Người thay thế là N.D.Baker, «một người nhỏ con, với tấm lòng quảng đại mênh mang». Baker rất quý chuộng MacArthur, tương đối ông ít hiểu biết về các vấn đề quân sự và nhất là rất ghét tiếp xúc với báo chí. Do đó ông sáng tạo ra cho viên Thiếu tá trẻ tuổi một chức vụ mà cho đến lúc ấy chưa từng có, đó là chức vụ trưởng phòng thông tin.

        Chính như thế Douglas trở thành sĩ quan báo chí đầu tiên của Lịch sử Mỹ quốc và chắc chắn cũng là của cả lịch sử thế giới :

        «Tôi có nhiệm vụ giải thích chính sách của chúng tôi và triệt tiêu các ảo tưởng của những người khăng khăng quan niệm rằng chúng tôi ở ngoài tầm mọi nguy cơ đe doa...»

        Ông cũng tỏ ra là một luật sư đầy nhiệt tình của lực lượng vệ binh mà ông muốn thấy được xử dụng trong khi chiến tranh sắp xảy ra :

        «Cũng như phụ thân tôi, tôi tin nơi người công dân — chiến sĩ...»

        Nhưng đấy không phải là quan điểm của bộ tham mưu. Một hôm, một Tướng lãnh nói với McArthur. «Nếu anh quyết chí tạo dựng binh nghiệp, tốt hơn là anh đừng nên truyền bá loại ý tưởng đó...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười, 2019, 11:23:29 AM

*

*       *

        Từ lâu Tổng Thống Wilson tin là. có thể giữ cho Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc chiến tranh đã bùng nổ tại Âu châu năm 1914. Ông tuyên cáo ý muốn giữ trung lập. Vào thời đó công luận ngả theo ông. Trong số những người di cư có dân Ái Nhĩ Lan thù ghét Anh quốc, nhiều người Đức ủng hộ xứ sở nguồn gốc của họ. Toàn thể dân Mỹ cho rằng không cần dính dáng đến công chuyện của Âu châu. Thật ra Mỹ quốc cũng không phải ít bị ràng buộc bởi hàng ngàn dây liên hệ với Anh quốc và trung lập là một vị thế rất khó duy trì.

        Đồng minh lại tuyên cáo phong tỏa đường biển, điều này làm trở ngại cho hoạt động thương mại của Hoa Kỳ. Sự phiền hà này được bù trừ mau lẹ nhờ vô số cơ hội buôn bán cho Mỹ quốc khi mà Âu châu đang làm cảnh chiến tranh. Hoa kỳ trở thành nhà cung cấp vĩ đai cho Đồng minh và, từ là con nợ Hoa Kỳ trở thành chủ nợ của Pháp và Anh quốc. Một kỷ nguyên thính vượng vĩ đại mở màn. Cũng phải thừa nhận rằng qua trung gian một số quốc gia trung lập người Hoa kỳ tiếp tục buôn bán với Đức và Áo - Hung. Hoạt động của tàu ngầm Đức làm rối loạn thế qnân bình này. Chúng tấn công mà không phân biệt tàu của Đồng minh và của các xứ trung lập. Vào tháng 5 nàm 1915, vụ phóng thủy lôi vào chiếc Lusitania —  1200 nạn nhân trong đó có 124 người Mỹ — đã gây ra những xáo động trong công luận và một sự phẫn nộ toàn diện. Chủ nghĩa hòa bình của Wilson bi đánh tan từng mảnh bởi Roosevelt và cũng bởi Tướng Wood, người đã bắt đầu huấn luyện người tình nguyện đầu quân. Trong số những người này có các thành phần của tiểu hạm đội trứ danh «Lafayette».

        Tuy vậy Wilson giữ vững lập trường và được tái cử năm 1916 như là một nhà bênh vực hòa hình. Bất chấp áp lực ngoai giao của Hoa Kỳ, tàu ngầm Đức tiếp tục làm cho các đai dương dậy sóng. Trong tháng giêng năm 1917, bá tước Bernstoff, Đại sứ Đức tại Hoa thinh đốn thông báo cho chính phủ Mỹ rõ Đức sẽ tung ra một chiến dịch tàu ngầm vĩ đai bắt đầu vào ngày mùng 1 tháng hai. Lúc đó, người Đức cảm thấy rất mạnh. Họ tin là nắm chắc chiến thắng. Trận đánh Verdun đã làm quân Đồng minh kiệt quệ. Nếu nhờ hoạt động của tiềm thủy đỉnh mà Guillaume II làm cho Anh và Pháp quốc bị đói, thì thành công kể như là đã được bảo đảm. Wilson thì còn tin có thể có «một nền hòa bình không có chiến thắng, một nền hòa bình giữa các phe đồng đẳng, không có sát nhập lãnh thổ lẫn tiền bồi thường chiến tranh».

        Nhưng công luận ngày càng thiên về phía Đồng minh và ngay cả chính Tổng Thống cũng bắt đầu do dự. Ông cho phép võ trang các thương thuyền. Ngày mùng 1 tháng ba qua trung gian cơ quan tình báo сủа Anh, ông được biết người Đức đã đề nghị một liên minh với Mễ tây cơ, một liên minh chống Hoa Kỳ. Đổi lại sự hồ trợ, người Mễ tây cơ, sau khi chiến cuộc kết thúc, sẽ được các tiểu bang Texas và Tân-Mexique.

        Chính quyền Bá linh đã đi quá xa. Sự tự ý khiêu khích này đã làm đổ nhào niềm tin của Wilson. Hoa Kỳ đứng về phía Đồng minh tuyên chiến ngày 6 tháng 4 năm 1917.

*

*       *

        Thật đúng lúc, bởi vì quân Đồng minh đang mòn hơi. Lập tức guồng máy khổng lồ của Hoa Kỳ biến thành nền kinh tế chiến tranh. Một hạm đội vĩ đại được thành lập, biện pháp động viên được quyết định, nhiều trung tâm huấn luyện được tổ chức. Hỏa xa được đặt dưới quyền kiềm soát của chính quyền. Bernard Baruch cầm đầu cơ quan War Industries Board và tạo dựng một nền kỷ nghệ chiến tranh. Ngày 4 tháng 7 năm 1917, những binh sĩ Hoa Kỳ đầu tiên diễn hành tại Ba lê. Cuối năm đó, tổng số quân Mỹ lên đến 200.000, một năm sau lên hai triệu. Những đoàn quân mới mẽ ấy đến đúng lúc. Tuy vậy mãi đến mùa xuân 1918, Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ American Expeditionary Force (AEF) đặt dưới quyền tư lệnh của Tướng Pershing mới thật sự hành động. Thật vậy khi vừa đến Pháp quân Mỹ đã trải qua một thời kỳ huấn luyện thứ hai. Ngày 21 tháng 3, Hindenburg và Ludendorff tung ra cuộc tấn công vĩ đại và trực tiếp đe dọa Ba lê. Foch liền được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh quân Đồng Minh. Pershing tự đặt mình dưới quyền ông. Quân Mỹ xung trận trong vùng Château - Thierry. Chính đấy là nơi đã diễn ra các trận đánh danh tiếng làm cho thủy quân lục chiến Mỹ vang danh.

        Trong mùa hè, các sư đoàn của Mỹ được tập họp trong khu vực Saint - Mihiel và chiếm được khu vực danh tiếng nầy.

        Sau đó là trận sông Meuse - Argoune, với hơn một triệu quân Mỹ tham dự. Họ chiến đấu xuất sắc và bẻ gãy được nỗ lực chống cự của Đức. Tổn thất rất nặng nề nhưng cuộc tiến quân vẫn mạnh mẽ không có gì cản trở được. Đến đầu tháng 11, quân Mỹ đã có măt tai ngưỡng cửa Sedan.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 07:59:41 PM

*

*       *

        Ngay từ đầu cuộc chiến, Thiếu tá MacArthur đã cảm thấy kiến bò trong chân. Tại văn phòng Tổng trưởng Chiến tranh, ông chu toàn một nhiệm vụ nặng nề, nhưng ông mơ màng chuyện khác. Ông trở lại ý tưởng thành lập một sư đoàn với các thành phần vệ binh. Ông thuyểt phục được ông Tổng trưởng Chiến tranh Newton Baker, ông này liền trình bày với Tổng thống Wilson, Tổng thống đòi gặp MacArthur và đến lượt ông đề cho sự hùng biện và niềm tin tưởng mãnh liệt của ông Thiếu tá thuyết phục.

        Chỉ còn lại vẫn đề tìm một cái tên cho Sư đoàn thứ 42 nãy của quân đội Hoa Kỳ. Nó sẽ là Sư đoàn «Mống trời». Tư lệnh là lão tướng Mann. Tham mưu trưởng được chỉ định là Douglas MacArthur, lúc đó nhân nhiệm vụ mới, đã được thăng cấp Đại tá.

        Nếu tin vào lời người sĩ quan trẻ thì ảnh hưởng của ông đối với Wilson là có thật. Chính ông đã kể lại rằng một hôm, được tháp tùng Baker đến gặp Tổng Thống, cuộc thảo luận đưa đến vấn đề kế nhiệm Tướng Funston, người lẽ ra phải nắm quyền Tư lệnh Đoàn quân Viễn chinh Mỹ AEF nhưng lại bị từ trần đột ngột. Chính MacArthur lúc đó đã gợi ý trong việc chọn lựa Tướng Pershing.

        Sư đoàn «Mống trời» gồm 27.000 người từ 26 tiểu bang hợp lại, được huấn luyện tại trung tâm Al- bert-Mill, gần Garden City, Long Island. Bộ binh thì từ New York, từ Ohio hay từ Alabama đến, kỵ binh thì từ Virginie hay từ Louisiane, pháo thủ thì từ Illinois... Gồm có những người Ái Nhĩ Lan, người Đức, người Ý... Có người là tín đồ Công giáo, người thì theo đạo Tin lành. Tẩt cả những điều đó không phải là đã không gây ra những vụ đánh lộn dữ dội giữa nhiều đơn vị khác nhau. Nhiều sĩ quan cũng xuất thân từ vệ binh như binh sĩ và điều đó cũng đã góp phần tạo cho Sư đoàn một tinh thần đặc biệt.

        Công cuộc huấn luyện, rất được đẩy mạnh và rất hoàn hảo, kéo dài cho đến tháng 10. Lúc đó, Sư đoàn xuống tàu qua Âu Châu và đến Saint - Nazaire suông sẻ. Sau đó lại một thời gian huấn luyện mới được đánh dấu bằng những khó khăn với bộ tham mưu vốn muốn «đỡ nhẹ» các sĩ quan ưu tú và phân tán mỏng sư đoàn. Sau một thời gian đồn trú ngắn tại Vaucouleurs. Sư đoàn được phái đến Haute - Marne, rồi đến vùng Lune - ville - Baccarat.

        Đại Tá MacArthur tự tạo ra một huyền thoại. Ngày 26 tháng giêng 1918, ông được Tướng Bazelaire (một vài trung đoàn được huấn luyện chiến đấu cạnh quân Pháp) chấp thuận cho tham dự một vụ đột kích. Một trận đụng độ gay go nhưng kết thúc thắng lợi. Đoàn tuần tiễu trở về với nhiều tù binh. MacArthur được gắn anh dũng bội tinh và huy chương Silver Star.

        Ông cũng tự tạo nên khuôn mặt của một nhân vật. Chính trong thời kỳ này ông đã khai mào cho chiếc nón kết trứ danh làm ông nổi tiếng cũng như chiếc nón bê-rê của Montgomery1, chiếc nón sắt của Patton và quả lựu đạn của Ridgway. Chiếc nón kết về sau, tại Cao ly, chỉ bớt hoe vàng một chút mà thôi. Quân phục của ông được cắt khéo léo, giày ống bóng loáng. Ông không mang vũ khí, chỉ một chiếc roi ngựa. Ông cũng mở đầu, dầu không được dự liệu trong qui tắc, kiểu áo len choàng đầu, cổ rất cao và thường lại có chưng thêm một chiếc khăn quàng ka ki dài. Ông bị yếu nơi cổ họng nên ông quyết che chở nó một cách hữu hiệu. Sự thanh lịch, sự can đảm của ông khiến ông được mệnh danh là «d’Artagnan Hoa kỳ» hoăc là «Brummel của AEF».

        Một hôm trong khi ngồi ăn sáng với các bạn trong sân một nông trại, một quả lựu đạn nổ cách ông vài thước. Một sĩ quan trẻ chạy trốn, những người khác chay đi ẩn nấp, phần ông thì ngồi lại, không có gì lay chuyển được và tuyên bố :

        «Cả nước Đức không thể nào chế tạo nổi một quả lựu đạn để giết được MacArthur, thế thì, thưa quí ông, xin mời quí ông ngồi xuống...»

        MacArthur được gắn nhiều huy chương như cả một bộ sưu tập, anh dũng bội tinh, anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, DSC (Distinguished Seruicc Cross), Silver Star... ông bị thương hai lần, bị hơi độc hai lần... Ông không chịu mang mặt nạ phòng hơi ngạt... Sự bất cẩn này khiển ông phải bị mù mắt cả chục ngày.

        Ông đòi hỏi rất nhiều ở thuộc cấp.

        «Cái tên con nhà điếm ấy bộ tưởng chúng ta có mười hai chân chắc», một hôm, một viên trung sĩ già đã lầm bầm như thế.

        Ông cũng đòi hỏi rất nhiều nơi chính bản thân. Vai trò của ông là chủ yếu. Tướng Mann được Tướng Menoher thay thế và chính ông này đã để cho viên tham mưu trưởng của mình có toàn quyền. Douglas lợi dụng ngay. Nhưng ông cũng biết làm cho binh sĩ thuộc quyền thương mến. Ông biết cách nói với họ, để thì giờ nghe họ, ông tranh đấu để họ có đủ y phục và lương thực, luôn luôn chững chạc, đường như chẳng bao giờ ông biết mệt mỏi. Ông không uống rượu mạnh — chỉ uống chút ít rượu chát — không bao giờ hát chung những bài ca vui, ông rất thường viết thư cho mẹ.

------------------
        1. Đọc : «Cuộc đời và binh nghiệp của Thống Chế Anh quốc Montgomery » — Sông Kiên xuất bản.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2019, 08:00:09 PM

        Sư đoàn «Mống trời» nổi danh nhân cuộc vượt sông Ourq và khi đụng với các đạo quân tinh nhuệ của Đức, đã đẩy lui địch 15 cây số. Lúc cuộc tổng tấn công năm 1918 mở màn, sư đoàn được đặt dưới quyền Tướng Gouraud, người được MacArthur rất ngưỡng mộ.

        «Những chiến công сủа ông tại Algérĩe xứng đáng để mệnh danh ông là con «mãnh sư Phi Châu» và trận chiến của ông tại Gallipoli là gần như một trường hợp điền hình của quân sự. Tuy nhiên tôi không ngờ được trình diện trước một nhân vật anh hùng. Với một cánh tay bị cưa cụt và một chân què, hàm râu rậm của ông lấp loáng dưới ánh mặt trời, chiếc nón kê-pi sụp xuống mang tai, giọng nói âm vang và cách nói chuyện sáng chói, ông áp đặt một nhân cách gây xúc động. Người ta đã nói rằng ông là hóa nhân của nhân dáng anh hùng và lịch sử của Henri De Navarre. Và ông giữ đúng tất cả những điều đã hứa. Tôi đã gặp tất cả các lãnh tụ quân sự hiện đại của Pháp, rất nhiều người trong số đó quả là nhân vật lớn, nhưng chính ônơ mới là con người vĩ đại. Pétain và Foch là hai trong số các nhân vật ưu tú của mọi thời đại, nhưng Pétain luôn luôn ước đoán quá đáng tiềm lực của địch và vì lẽ đó thường do dự không khai thác triệt để chiến thắng của ông, và Foch thì quá cứng rắn một khi kế hoạch đã được vạch ra. Từ sự kiệu này, ông để lỡ nhiều cơ hội. Nhưng đổi với Gouraud, người ta không thể trách cứ ông điều gì...»

        Ông Tướng cụt tay đường như đã gây nhiều ấn tượng nơi MacArthur còn hơn cả «ông chủ» của ông, tướng Pershing, nữa. Chắc chắn là ông thường «ăn nói thẳng thừng» với ông này hơn là với Gouraud. Tuy vậy có lần ông phải trở lại vị trí của mình. Một hôm ông đã phản đổi kịch liệt — và có lý — vì nhiều nguyên nhân : người ta muốn phân tán sư đoàn «Mống trời», quân nhu phát áo quần rách rưới, binh sĩ không nhận được các bưu phẩm do gia đình gởi cho, ông tư lệnh đành trả lời :

        «Này chú, tôi không ưa thái độ của chú...»

        Nhưng điều này không ngăn Pershing đích thân gắn huy chương cho ông.

        Douglas không bao giờ bỏ rơi sư đoàn của ông. Nếu có lúc ông rời bộ tham mưu của sư đoàn, ấy là để chỉ huy một trong các lữ đoàn, lữ đoàn 84 với cấp bậc tướng lãnh. Ông chiến đấu tai Chateau Thierry, ông chiến đấu tại La Fère, ông chiến đấu tai Saint -  Mihiel. Trong túi quần, khi chiến trận sôi động nhất ông thích mân mê một hộp thuốc bằng vàng do các bạn tặng, trên nắp có khắc câu : «Tặng con người can đảm nhất trong số những người can đảm»...

        Chính vì lý do là bị bộ tham mưu và đích thân Foch chính thức chống đối mà Tướng Mar Arthur và bạn thân của ông, thiếu tá George Patton lỡ mất cơ hội chiếm thành phố Metz. Đối với ông, không hành động cũng tựa như cột chặt con ngựa của một kỵ binh vào cọc ngay bên cạnh một cánh đồng cỏ non. Ông cho rằng người ta đã phạm lầm lẫn lớn ở đấy và lẽ ra có thể tránh được, bằng cách chiếm ngay Metz, biết bao nhiều là tổn thất nhân mạng... Nhưng chắc chắn người ta ưa dành vinh dự là những người đầu tiên tiến vào thủ phủ vùng Lorraine cho người Pháp hơn là người Mỹ. Hai mươi lăm năm sau Leclerc rơi đúng vào tình trạng tương tự trước Strask bourg. Bộ tư lệnh tối cao lúc đó là Hoa kỳ. Leclerc không hề do dự. Quả thật De Gaulle đã che chở ông ta...

        Người Đức đã hiểu ra nguy cơ đe dọa. Họ tăng viện quân trú phòng tại Metz. Ông Tân thiếu tướng MacArthur nuốt giận mà chịu. Ông tham dự vào cuộc tấn công Meuse - Argonne và xung phong vào ngọn đồi Châtillon. Hai sư đoàn đã thất bại trước cứ điểm nầy khi Tướng Sumerall nói với MaeArthur :

        «Hãy cho tôi Châtillon hay là một danh sách 5.000 người chết ...»

        MacArthur đáp lại .

        «OK ! nếu tôi không lấy được Châtillon, tên tôi sẽ đứng đầu danh sách».

        Chính ông đã kể lại trận đánh :

        «Khi thực hiện một cuộc thám sát mới, tôi bị thương, nhưng không đến nỗi phải nằm một chỗ. Tôi hiểu rằng như thường lệ, chính trung tâm điểm của cuộc phòng thủ Đức mới là điểm bất khả chiếm hữu và trước điểm đó, hai sư đoàn đầu tiên đã bị tàn sát. Tôi liền quyết định tung những người trồng bông vải tại Alabama của tôi vào cánh trái và các nông dân của tiểu bang Iowa vào cánh phải. Tôi cũng muốn được che chở bởi hỏa lực của tất cả đại bác và liên thanh của sư đoàn.

         «Chúng tôi tiến tới bằng cách bò sát trong sương mù buổi sáng. Thỉnh thoảng chúng tôi lập thành tiểu đội hoặc ngay cả từng trung đội để mau lẹ bao vây và tiêu diệt một pháo đài nhỏ. Mỗi lần như vậy phải trả giá đắt. Đạn gieo rắc chết chóc không ngớt rít lên veo véo và soi sáng hàng ngũ chúng tôi, nhưng ngay đêm đó cao điểm 288 lọt vào tay những anh chàng сủа tiểu bang Iowa. Tiếp tục, họ bao vây và lấy được nông trại Thuillières, tại cao điểm 205. Những quân phòng thủ cuối cùng сủа Châtillon vẫn còn ở trước mặt chúng tôi, nhưng bên cánh phải, một lát sau, hai tiểu đoàn siết chặt gọng kềm. Châtillon đã lọt vào tay chúng tôi, nhưng tổn thất lên nặng.»

        McArthur được thăng cấp Trung tướng.

        Sau đó quân Mỹ thọc sâu vào Sedan. Chắc phải là do một sự trùng hợp bất lợi của các cơ hội và do một sự lầm lẫn nào đó trong sự lãnh đao các cuộc hành quân — những lầm lẫn mà MacArthur gán cho là những xét đoán sai lầm nơi kẻ thù kỳ cựu của ông, Đại tá George Marshall, trưởng phòng 3 của đệ I lộ quân — để binh sĩ của sư đoàn «Mống trời» không được là những người đầu tiên tiến vào thành Phố

        Vinh dự này được dành cho quân Pháp.

        Ngày 11 tháng 11, cuộc đình chiến được ký kết.

        MacArthur tạo ra nhiều ganh tị trong quân đội. Người ta chỉ trích bộ quân phục bay bướm của ông, khuynh hướng ưa phô diễn của ông, sự từ chối không chịu mang một vũ khí nào khác hơn là chiếc roi ngựa của ông, sự từ chối đội nón sắt hay mang mặt nạ phòng hơi độc của ông, thói quen nắm quyền chỉ huy ngay tại tuyến đầu của ông. Mặc dầu thâm tâm rất yêu quí ông, nhưng lúc ấy Tướng Pershing cũng tuyên bố :

        «Nên chấm dứt với những trò ngu ngốc của ông ta. MacArthur là con người lãnh đạo binh sĩ vĩ đại nhất mà chúng ta có được...»

        Tiếp theo đó là một cơn bệnh ngặt nghèo — cổ họng bị nhiễm độc — và sáu tháng chiêm đóng tại Đức quốc. Sự bổ nhiệm lên cấp trung Tướng không được Hoa thịnh đốn chuẩn nhận, nhưng Douglas vẫn được giữ cấp bậc thiếu tướng. Ông là vị tướng lãnh trẻ tuổi nhất, ông vừa mới ba mươi tám tuổi.

        Ông trở về Hca kỳ trên chiến hạm Leviathan.

        Một nhiệm sở mới đang chờ đợi ông thiếu tướng trẻ. Ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường võ bị West Point.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:40:50 AM
         
WEST POINT VÀ PHI LUẬT TÂN

        Khi đến West Point, MacArthur thấy một quân trường hoàn toàn rối loạn. Do chiến tranh, học trình giảm xuống từ bốn năm còn lại một năm.

        «Lúc giao sứ mạng cho tôi, ông nói. Tướng Peyton March, tham mưu trưởng, nói với vẻ hung bạo : «West Point thoái bộ những bốn mươi năm » ông nói với tôi. Tinh thần tập thể đầy kiêu hãnh của chính quân trường cũng gần như đã biến mất. Phải làm sống lại moi ngànht nghiên cứu thiết lập lại toàn thể chương trình giảng dạy...»

        Không khí xung quanh không có vẻ gì được như vậy cả. Một số người còn nghĩ đến ngay cả việc giải tán luôn quân trường, Những người khác chỉ nghĩ đến việc cắt xén chi tiêu của quân trường.

        MarArthur đến Hoa thịnh đốn, thảo luận với các dân biểu, nghị sĩ, biện hộ cho lý lẽ của ông. Ông giải thích rằng đồng tiền bảo hiểm hàng năm và bằng một phương cách tương đối khiêm nhường còn hơn là chịu đe dọa bởi một tai biến lúc nào cũng có thể xảy ra. Ông thảo một phúc trình dài và gặp hàng ngàn khó khăn.

        Tuy vậy West Point vẫn còn lại nhiều nền móng vững chắc : các kiến trúc doanh trại, trang cụ, các truyền thống và các cán bộ.

        «Với tất cả những thứ đó, ông Tướng giải thích, phải xây dựng lại một West Point mới, một West Point duy trì được những truyền thống tốt đẹp nhất, nhưng có thể đào tạo một sinh viên sĩ quan cởi mở hơn nhiều đối với các tư tưởng dân chủ và với một kiến thức và thế giới không thể nào có được dưới chế độ cũ gần như là chế độ tu viện của quân trường trước đây».

        Dưới quyền ông, West Point không còn là một trường trung học lớn nữa và sinh viên sĩ quan phải xúc tiếp với quân sĩ trong những thời kỳ thực tập được tổ chức trong mùa hè. ông cũng dành mọt chỗ quan trọng cho công cuộc huấn luyện thể dục và thể thao.

        Trong số sinh viên của ông có Leminter Max- Well Taylor, Vandenberg...

        Năm 1922, MacArthur rời West Point, ông được bồ nhiệm đến Phi luật tân.

*

*     *

        Trong thời gian chỉ huy trường Võ bị West Pointy ông Tướng lập gia đình. Vào lúc 42 tuổi, ông cưới một thiếu phụ ly dị chồng giàu có, mới 26 tuổi, Henrietta Louise Cromwell Brooks. Ông gặp bà trong một dạ vũ tai West Point năm 1920. Người thiếu phụ trẻ là con gái của Edward Cromwell (sau đó ông đổi tên là Stotesbury) và đã từng sống rất lâu tại Ba lê. Bà đã lập gia đình 6 năm với Walter Brooks, một nhân vật giàu có tại Baltimore và có hai con. Tại Ba lê bà và người em, Jimmy — về sau cưới Doris Duke — là khách thường xuyên của Tướng Pershing. Henrietta còn trở thành cả tình nhân của ông Tướng nữa và vẫn còn như thế khi «ông chủ» của đoàn quân viễn chinh Mỹ trở về Hoa kỳ. Khi bà báo tin lấy Mac Arthur cho Pershing rõ, vị lão tương trả lời bà :

        «Em yêu, hãy từ bỏ dự tính này, hoặc em sẽ lại phải đến Phi luật tân ở đấy...»

        Vậy thì sự bổ nhiệm Douglas đến Manille là một cuộc lưu đày hơn là một sự thăng chức.

        Hôn lễ cử hành tại Palm Beach. Henrietta đeo một xâu chuồi hột xoàn và một chiếc áo màu trái mơ. Ông thì mặc quân phục đại lễ với tất cả huy chương trên ngực.

*

*     *

        Tại Manille nếu bà MacArthur trẻ trung không lấy gì làm vui thú lắm thì phần ông Tướng lại hoàn toàn vui sướng, ông gặp lại người ban cũ, Manuel Quezon. Thoạt tiên ông chỉ huy một lữ đoàn thám sát Phi, rồi bắt đầu xây dựng hệ thống bố phòng kiên cố tại Bataan và tại Corrègidor.

        Vợ ông lo lắng cho binh nghiệp của chồng. Trong một lần về thăm xứ sở tại Hoa thịnh đốn, bà gặp một bạn cũ của Douglas thuộc sư đoàn «Mống trời» xưa, nay đã trở thành một nhà lập pháp có ảnh hưởng lớn, Manning Marcus.

        «Douglas là thiếu tướng từ sáu năm nay rồi, bà giải thích; quá lâu, phải gắn cho ông ấy một sao nữa...»

        Marcus hứa sẽ làm những gì có thể. Ông gặp Tổng trưởng Chiến tranh Weeks, và được trả lời :

        «MacArthur còn nhiều thì giờ, ông ta còn trẻ quá...»

        Khi những lời này đến tai ông tướng, ông nỗi trận lôi đình :

        «Quá trẻ, trong lúc mà Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo bộ lạc lúc mười ba tuổi, và chỉ huy đạo quân lớn nhất thế giới lúc bốn mươi tám tuổi, trong lúc mà Nã phá luân chỉ huy quân đội Ý lúc hai mươi tám tuổi và Mustapha Kemal lãnh đạo quân đội xứ ông lúc ba mươi tám tuổi...»

        Nhờ sự can thiệp của người em vợ với một nghị sĩ quan trọng, Douglas đã được gắn ngôi sau thứ hai ấy.

        Thời gian phục vụ ở Manille chấm dứt. Gia đình MacArthur dọn về ở tai Baltimore. Rồi là đời sống đều đều của trại binh, bị ngắt quãng bởi hai biến cố : vụ án Mitchell và chủ tich ủy ban Thế vận.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2019, 04:45:48 AM
        
*

*     *

        Thiếu tướng Billy Mitchell là một trong những «tay cự phách» сủа không quân Mỹ. Ông đưa ra nhiều lý thuyết tân kỳ vào thời đó và trở thành một bậc sư của cuộc chiến tranh trên không. Để chứng minh tính cách chân xác của lý thuyết do ông đưa ra, ông tổ chức các cuộc thực tập trong đó nhiều chiến hạm cũ của hải quân bị đánh chìm. Tất cả chuyện đó đã diễn ra mà không phải là không gặp những sự đụng chạm với thượng cấp nhất là sau vụ tổn thất chiếc khí cầu máy Shenandoah. Mitchell quy lỗi, bêu riếu «sự bất tài, sự chểnh mảng trong tôi, sự phản bội gần như quá tệ lậu của tổ chức quốc phòng...»

        Ông bị đưa ra tòa. Trong số các hội thẩm, có Tướng MacArthur. Song le, đó lại là một người bạn nối khố của Mitchell, và vẫn còn giao du thân mật với ông ta, Mitchell lại mới vừa gặp ông tại Manille. Sự chọn lựa viên cựu tham mưu trưởng sư đoàn «Mống trời» làm hội thẩm, do đó, không mấy thích đáng.

        Đấy là một trong các mệnh lệnh khó chịu nhất mà tôi phải tuân hành, về sau ông Tướng kể lại. Tôi đồng ý với Mitchell về sự cần thiết phải phát triền ồ ạt binh chúng không quân. Chính tôi cũng đã từng công khai tuyên bố rằng «cả trên bộ lẫn trên biển, quân lực ta sẽ không thể an toàn hành động được nếu không có sự hỗ trợ của không lực». Mặt khác, tôi luôn luôn nghĩ rằng một sĩ quan cao cấp không nên bị khóa miệng nếu ông ta bất đồng ý kiến với thượng cấp hay với lý thuyết từng được chấp nhận rộng rãi, Tôi luôn luôn cho rằng quyền lợi của Quốc gia phải được đặt lên hàng đầu và khi một sĩ quan cao cấp vì bị khích động bởi những nguyên nhân thuần túy ái quốc, mà binh nghiệp bị đe dọa vì biểu thị sự chống đối này, thì ông ta cũng không nên bị bịt miêng một cách độc đoán».

        Trong suốt bảy tuần lễ xử án, MacArthur câm lặng, khó hiểu. Tuy vậy, mọi người đều hướng cái nhìn về phía ông. Vẻ mặt ông như tạc bằng đá. Ông không nói một lời nào.

        Mitchell bị kết án tạm bãi chức năm năm. Sau đó ông từ chức, đoạn, sau khi chết, ông sẽ được Franklin Roosevelt phục hồi.

        Trong một thời gian rất lâu — và cho mãi đến nay — người ta vẫn tự hỏi về ý nghĩa lá phiếu của MacArthur. Chính ông cũng không bao giờ tiết lộ, nhưng phải xem đấy chỉ là sự tôn trọng một toà án mà ông là một phần tử.

        Rất có thể là Douglas đã bỏ phiếu tha bổng.

        Một ký giả đã lục soát cả chiếc giỏ đựng giấy vụng sau phiên xử và khám phá được một lá phiếu bị xé rách mang nét chữ của ông Tướng, viết các chữ : Not guilty (không có tội)...

        Một vài người đã tranh biện rất lâu về sự kiện này.

        Hai mươi năm sau, MacArthur tâm sự với thượng nghị sĩ Alexander Willey của tiểu bang Wisconsin :

        «Vai trò của tôi đã được biết rõ hoàn toàn. Mitchell biết rất rõ điều đó. Không bao giờ ông ấy ngừng tỏ lòng biết ơn tôi. Tôi vẫn luôn luôn là một trong những người bạn thân nhất và trung thành nhất của ông ấy. Gia đình chúng tôi quen nhau từ rất nhiều năm và vẫn luôn luôn liên kết chặt chẽ với nhau...»

        Phần Mitchell, sau vụ án, đã tuyên bố với sử gia George Kenney :

        «MacArthur à ? Một người rất tốt bụng và một người bạn tuyệt vời. Một ngày nào đó người ta sẽ biết ông ấy đã trung thành với tôi như thế nào hồi năm 1925...»

        Tuy nhiên, nhiều năm sau, Mitchell lại lên án một cách gián tiếp là MacArthur đã góp phần bẻ gãy binh nghiệp của ông ta.

        Trong tập hồi ký của ông, ông Tướng chỉ bình luận như sau :

        «Tôi đã làm những gì có thể làm được cho ông ấy và tôi đã vận động để tránh cho ông khỏi bị ngưng chức vĩnh viễn. Hiển nhiên là ông ta sai lầm khi thốt rа những lời chửi bới, nhưng cũng hiển nhiên là chủ trương của ông rất chính xác, không thể bài bác được...»
        
*

*     *

        Năm 1927 tiếp theo cái chết của William Prout, Tướng MacArthur được giao cho nhiệm vụ tổ chức Thế vận hội.

        «Chúng ta không có nhiều may mắn lắm...»

        Tuy vậy ông được coi như có đủ tư cách chu toàn nhiệm vụ này. Chính ông là người đã đưa thể thao vào bộ môn quân sự khi ông chỉ huy trường võ bị West Point và giờ đây các phương pháp của ông được noi theo ở mọi cấp.

        Ông kể lại :

        «Tôi hết sức cương quyểt thu đoạt thắng lợi tại Amsterdam. Tôi đặt các lực sĩ dưới một chế độ huấn luyện gắt gao. Các lực sĩ là những người rất nóng nảy và nhạy cảm, tôi phải xử dụng sự tức giận, dỗ dành và năn nỉ. Tôi nói với họ rằng chúng ta là một quốc gia lớn nhất thế giới, rằng chúng ta không thể đi năm ngàn cây số để chấp nhận một sự thất bại mà vẫn cười cợt được. Rằng chúng ta có mặt ở đó để đoạt thắng lợi và thắng lợi hoàn toàn. Rốt cuộc chung tôi dẫn dầu, Đức quốc theo sát...»

        Vả chăng đoàn đại biểu Mỹ được tiếp đón rất nồng hậu tại Hòa Lan. MarArthur rất lấy làm hoan hỉ. Nữ hoàng Wilhelmiue mở dạ tiệc khoản đãi ông. Bà đã lưu ý trang trí bàn tiệc với những đóa hoa hồng MacArthur, được gọi như thế để tôn vinh thân phu ông. Ông đã thảo luận với bà về các vấn đề thuộc Viễn Đông.

        Ngày về thắng lợi của chúng tôi đã khiến chung tôi được tiếp đón một cách cuồng nhiệt.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2019, 12:06:07 PM

       
*

*     *

        Cuộc sống tiếp tục, đều đều buồn tẻ, tại Bantimore. MacArthur công khai bày tỏ những sự thật không được ai ưa. Ông tự biến thành nhà tiên tri của điều bất hạnh, ông phản đối một chính sách đơn phương giải giới trong khi hiểm họa cộng sản xuất hiện tại Âu châu, trong khi Nga Sô, theo ông, dường như trở nên mối đe dọa lớn lao, còn các quốc gia Trung Âu thì đang hoàn toàn tan rã...

        Khi lại được phái qua Manille, ông không phàn nàn gì. Trái lại, vợ ông thì có vẻ không thích mấy»

        Những tiếng xì xầm khó chịu về cặp vợ chồng này đã lan tràn tại Phi luật tân. Tình thế không thể kéo dài thêm. Năm 1928, hai ông bà đưa nhau đến Reno để ly dị.

        Sau đó bà Henrietta trẻ đẹp tái giá với tài tử Lionel Atwill, rồi lại thành hôn một lần thứ tư nữa với Đại tá Heiberg.

        Tuy vậy bà vẫn còn là một người bạn của ông tướng và luôn luôn từ chối nói với báo chí về thời kỳ bà sống với ông :

        «Đỏ là một nhân vật quá quan trọng khiến tôi không thể nói công khai những chuyện ấy...»

        Ông tướng trải qua hai năm dễ chịu tại Phi luật tân. Ông cảm thấy thoải mái tại đó đến nỗi đã từ chối chức vụ tư lệnh ngành công binh mà người ta dành cho ông năm 1929 :

        «Tôi không còn là một kỹ sư nữa, tôi đã trở thành một bộ binh...» ông tuyên bố.

        Năm 1930, cả một sự ngạc nhiên đối với ông, ông cho là như vậy, ông được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng, thay thế tướng Summerall.

        «Tôi ngần ngại, mặc dầu chức vụ ấy sẽ đi liền với bốn ngôi sao. Tôi quá rõ những gì sẽ là trách nhiệm khủng khiếp của tôi, ông viết, nhưng do lời khuyên của mẹ tôi, rốt cuộc tôi đã chấp nhận. Ngày 21 tháng 11 tôi tuyên thệ nhậm chức Tổng tham mưu trưởng. Tôi đã nhận mệnh lệnh từ ba mươi năm nay. Giờ đây đến lượt tôi ra lệnh...»

        Trong thực tế vụ thăng chức này không quá bất ngờ như ông tưởng. MacArthur phân lớn là nhờ ảnh hưởng của người cha vợ cũ, Edward T. Stotesburỵ, người đảm trách vận động tuyển cử của Tổng Thống Hoover vừa mới kế vị Coolidge. Tuy vậy nội vụ cũng không phải dễ dàn xếp. Ai cũng biết rành rành rằng Tướng Pershing ủng hộ sự bổ nhiệm Fox Conner hơn. Không ai quên những sự bất bình của vị cựu Tổng tư lệnh AEF đối với MacArthur.

        Ông Tổng trưởng Chiến tranh, Patrick J. Hurley, bênh vực sự đề cử MacArthur. Ông ta không do dự gì trong việc chọc tức Pershing, người mà ông từng phục vụ dưới quyền tại Pháp, một vố. ông thuyết phục được Hoover. Khi trở về, Pershing phản đối dữ dội và cố gắng làm cho Hoover đổi lại quyết định. Nhưng, đột nhiên, ông thay đổi ý kiến. Vỗ vào vai Hurley, ông tuyên bố ;

        «Suy cho cùng đấy là một trong những cậu «đệ tử» của tôi... Hãy để cho ông ta làm những trò bậy hạ của ông ta...»

        Bốn năm sau, vị lão tướng khẳng quyết:

        «Tôi luôn luôn ủng hộ sự đề cử MacArthur. Ông ta có khả năng lấy những quyết định cần thiết để cải tổ và làm cho quân đội ta hữu hiệu. Đó là một con người tiến bộ mà không cục bộ. ông ta rất can đảm trước uy quyền và các quan niệm của ông rất tuyệt vời. Công nghiệp của ông ta rất được đề cao và ông biết chinh phục sư kính nể của quân đội và của xứ sở...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:22:07 AM

       
*

*     *

        Ngay từ khi được bổ nhiệm, Douglas MacArthur đến ở tại Fort Myers với mẫu thân, ông bắt tay ngay vào việc. Cải tổ lại một quân đội lúc mà không một ai còn muốn nghĩ đến chiến tranh nữa, là một công việc không dễ dàng gì. Ông bị tấn công từ mọi phía, và đã nhận thức được một sự cay đắng thật sự, nhưng không hề chán nản. Ông có dưới quyền những thành phần tốt, ông có nhiều ý tưởng và đạt được ít nhiều thành công:

        «Chúng tôi đã hoàn tất, ông giải thích, một kế hoạch động viên kỹ nghệ và một kế hoạch tổng động viên bao gồm mọi công dân, một kế hoạch mà nay vẫn còn áp dụng. Chúng tôi làm lại kế hoạch phòng thủ Hoa Kỳ, «kế hoach Bốn Đạo quân» mà những đường nét chính yếu vẫn còn tồn tại. Tinh thần của quân đội đã thay đổi. Quân đội thức tỉnh khỏi tinh thần uề oải của mình. Chúng tôi vận động đánh bại được một đạo luật nhằm giảm thiểu ồ ạt tập thể sĩ quan...»

        Năm 1932 đã có một thời kỳ bi thảm, có lẽ bi thảm nhất trong cuộc đời binh nghiệp của MacArthur. Đó là vụ được gọi là vụ the Bonus March.

        Vào thời đó, xứ sở lâm vào tình trang khủng hoảng toàn diện. Số người thất nghiệp lên đến nhiều triệu người. Trong tháng 5, hàng ngàn cựu chiến sĩ với vợ con đi theo đã đến cắm trại tại Anacostia Flats, gần điện Capitole. Họ yêu sách điều chỉnh bonus (trợ cấp) của họ. Phong trào đã được một người tên là Walter Waters đứng ra điều hướng. Ban đầu công chuyện xảy ra không có gì tệ hại. Quân đội cho dựng lều vải và đặt các nhà bếp lưu động, MacArthur phân phát vài đô la cho các cựu chiến sĩ sư đoàn «Mống trời». Một vài dân biểu phản đối. Các nhà bểp lưu động bị rút lại. Đám đông gia tăng thêm, trở thành náo động. Những «người diễn hành» tỏ ra không phải là không nhạy cảm trước hoạt động tuyên truyền của công sản.

        Thống đốc Nữu Ước, Franklin D. Roosevelt đề nghị thành phố ông chịu phí tổn đề hồi hương họ. Hoover chấp thuận các lệ phí để họ có thể trở về nhà. Nhưng những người gan lì nhất vẫn ở tại chỗ. Các cuộc biểu tình nối tiếp nhau trước tòa Bạch ốc và điện Capitole. Những cán bộ dẫn đạo cộng sản ngày càng tỏ ra ít hoạt động.

        Cảnh sát bất lực. Người ta đề cập đến sự can thiệp của quân đội. MacArthur hai lần từ chối. Nhưng tình thế không thể kéo dài mãi. Ngày 28 tháng 7, năm ngàn người biểu tình tràn ngập lực lượng giữ trật tự. Hoover yêu cầu MacArthur giải tán họ. Ông này đòi phải có một lệnh viết.

        Ông thi hành mệnh lệnh này. Theo cách của ông. Thay vì phái một thuộc viên đến «quét sạch» Anacostia Flats, đích thân ông đến đó. Để làm công việc này ông mặc bộ quân phục đẹp nhất, mang tất cả huy chương, đeo kiếm bên hông. Đi theo ông có Tướng Miles, thiếu tá Eisenhower và thiểu tá Patton. Quân sĩ tái lập trật tự một cách hung bạo, tung lựu đạn cay, đồng thời cũng đánh đập bằng kiếm và báng súng. Còn có cả chiến xa chạy vòng quanh khu đất. Sự biểu dương lực lượng này quá đáng với hành động phải làm. Người ta tự hỏi động lực nào đã thúc đẩy MacArthur làm như vậy. Rõ rằng là ông chỉ thi hành các thượng lệnh và thi hành một cách bực bội. Nhưng cũng rất chắc chắn rằng ông muốn gánh hoàn toàn trách nhiệm của hành động, muốn phô trương sức mạnh của ông để khỏi phải xử dụng quá nhiều sức mạnh. Về một phương diện nào đó có lẽ ông muốn hạn chế những thiệt hại.

        Chính từ lúc đó ông từ bỏ không mang lớp huy chương của ông trên ngực áo nữa.

        Chỉ trong vài giờ đồng hồ, ông trở thành con người bị ghét nhất Mỹ quốc. Các cuộc tấn công của báo chí thật dữ dội, hung bạo, bất công... Không phải là ông không biết xúc động. Và đã có lúc ông nghĩ đến việc kiện hai ký giả Drew Pearson và Robert Allen. Ông đòi 1.750 000 Mỹ kim bồi thường thiệt hại. Thế rồi ông hiểu ngay tính cách lố bịch của tình thế. Ông từ bỏ ý điịnh. Nhưng sự thù hận của ông thì vẫn còn đó. Hai mươi năm sau có người thật thà hỏi ông rằng ông có chú ý đến một bài báo của Pearson không, ông khô khan đáp : «Tôi chẳng có đọc cái gì do cái ông này viết cả...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:22:24 AM

       
*

*     *

        Trong thời kỳ làm Tổng tham mưu trưởng, MacArthur viếng Âu châu hai lần. Một lần vào tháng 9 năm 1931, ông đến Pháp tham dự cuộc thao diễn lớn lao tại Champagne và gặp André Maginot và các Tướng lãnh Gamelin và Weygand.

        Năm sau ông trở lại Pháp và rất thích thú trước các nỗ lực — rất khiêm nhường — nhằm cơ giới hóa quân đội. Ông cũng tìm hiểu các sách viết tại Đức về vấn đề này và về vấn đề vận dụng không quân. Khi trở về nước ông tuyên bố :

        «Trận chiến sắp đến là một trận chiến tranh cơ động. Chính ngay cả Chúa cũng không thể cứu vớt kẻ nào không hành động mau lẹ. Dân tộc nào không làm chủ không trung sẽ bị đe dọa bởi nguy cơ chết người, bộ binh và hải quân cần sự che chở của không quân».

        Ngay từ lúc đó, ông gia tăng nỗ lực để tổ chức một quân đội vững chắc. Công việc thật khó khăn. Đôi khi Tổng Thống, các Tổng trưởng đồng ý. Nhưng không phải luôn luôn như vậy. Quốc Hội lại hiếm khi đồng ý hơn nữa.

        «Tôi tranh đấu, van xin, cằn nhằn, la hét. Gần như tôi đã phải liếm gót giày vài chính trị gia đề kiếm kinh phí cho nỗ lực cơ động hóa quân đội và gia tăng không lực.»

        Đối với Hoover, nỗ lực nầy đã không gặp dễ dàng rồi. Khi Roosevelt bước vào tòa Bạch ốc , cuộc vận động lại còn phức tạp hơn. Chính sách của Tân Tổng Thống, chính sách Neow Deal, là một chính sách kinh tế chỉ huy và kế hoạch hóa. Nó dựa vào sự mất giá của đồng đô la nên phải gây ra một phong trào phát triền và sự nâng cao mãi lực. Vấn đề số một là chiến đấu chống thất nghiệp, tổ chức kiểm soát tài chánh và tạo ra những tài nguyên mới. Nhưng đồng thời cũng phải tiết kiệm. Quốc phòng bị rớt xuống hàng thứ yếu. Ngân sách của bộ bị cắt giảm một cách mờ ám. Tổng trưởng Chiến tranh Dern không bênh vực hữu hiệu cho ngân sách. MacArthur đích thân bào chữa cho quân đội. Ông trình bày với Tổng Thống Roosevelt những nguy cơ đe dọa hòa bình thế giới do sự bành trướng của Nhật và sự tái sanh của chủ nghĩa quân phiệt Đức. Ông say sưa đến nỗi để cho lời nói vượt quá ý tưởng. Ông buông lời thô bạo : «Khi chúng ta thảm bại trong trận chiến tranh sắp đến và một thanh niên Mỹ, nằm ngửa trong bùn với chiếc lưỡi lê địch chĩa ngay nơi bụng và một gót giày địch chặn nơi cổ, thốt ra lời nguyền rủa cuối cùng, thì đó sẽ là để nguyền rủa Roosevelt chớ không phải MacArthur này...»

        Roosevelt tức giận đến xanh mặt :

        «Ông không có quyền ăn nói như vạy...»

        Ông Tướng hiểu rằng mình đã đi quá trớn. Ông xin lỗi và xin từ chức.

        Tổng thống tự chủ lại trước, ông biết MacArthur từ rất lâu. Ông rất quí chuộng ông Tướng : «Đừng cư xử một cách u mê như vậy, Douglas, ông nói. Ông sẽ thảo luận những chuyện này một cách bình tĩnh với ông Tổng trưởng Tài chánh...»

        Sau cuộc hội kiến nầy khi bước ra, ông Tổng tham mưu trương đã bị xúc động, rối loạn đến nỗi, ông kể lại ;

        «Tôi nôn mữa thốc tháo ngay trên hàng cột trước mặt tiền tòa Bạch ốс...»

        Tiếp theo đó tương quan giữa hai người vẫn tốt đẹp. Đến mức độ Tổng Thống hỏi cả ý kiến MacArthur về những vấn đề chẳng có liên hệ gì đến công việc Quốc phòng ;

«Douglas, đối với tôi, ông là biểu tượng của lương trì một người Mỹ trung bình...»

        Đoạn, một sự kiện đặc biệt, ông yêu cầu ông Tướng nắm giữ chức Tổng Tham mưu trường thêm một năm lâu hơn thời hạn bình thường. Ông hiểu rõ là hòa bình thế giới bị đe dọa và không bao giờ ngần ngại trước một vài sự hy sinh. Đến nỗi năm 1935 MacArthur có thể nói :

        Kể từ năm 1922, đây là lần đầu tiên, lục quân bước vào một tài khóa mới với viễn ảnh hữu lý là sẽ được phát triển cho đến mức trở thành một dụng cụ Quốc phòng mà hiệu năng tương xứng với các nhu cầu sống còn của xứ sở...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:22:43 AM

       
*

*     *

        Môt Tổng tham mưu trưởng tốt, chắc chắn MacArthur là như thế rồi. Ông đã chứng tỏ không phải là một con người mộng tưởng, và đã tận tâm chu toàn công việc của mình. Ông đã hiểu vai trò mà thiết giáp sẽ có thể đóng, song le không phải vì vậy mà ông tiến tới chỗ chấp nhận việc tạo dựng các đại đơn vị thiết kỵ hoạt động độc lập như đã được Đại tá Chaffee của Hoa Kỳ và Đại tá Charles de Gaulle của Pháp thời đó cổ xuy. Ông cũng không muốn để cho không quân có toàn quyền thật sự, mà thích giữ không lực trong lòng lục quân hơn.

        Một cách mâu thuẫn, ông chống lại sự sáng lập một Tổng Bộ Quốc phòng, bao gồm các Bộ Lục quân, Hải quân và Không quân.

        Đôi khi ông tỏ ra quá tỉ mỉ, kiềm soát rất ngặt nghèo các đợt thăng cấp sĩ quan và biết cách lánh xa những kẻ ông không ưa. Chính như thế mà ông đã phái «kẻ thù trong thâm tâm» Marshall của ông đến chỉ huy vệ binh tại tiểu bang Illinois, ở Chicago.

        Tuy vậy ông buồn chán. Ông đã năm mươi lăm tuổi, cơ thể đầy sinh lực và hiểu rõ rằng chẳng bao lâu nữa ông sẽ phải rời bỏ chức vụ. Ông không thích về hưu chơi đồ cổ chút nào. Ông thường nhắc lại các kỷ niệm vinh quang. Ông thích gợi chúng ra trước các Cựu đồng đội thuộc sư đoàn «Mống trời» Những người này đã họp nhau lại tại Hoa thịnh đốn năm 1935 và ông đã đọc trước họ một bài diễn văn bay bướm :

        «Đã cách đây mười bảy năm rồi... Những ngày ấy đã mất rồi và cả màu sắc, cả âm thanh. Như ngọn lửa leo lét rung rinh, họ đã đến với những mọng mơ của dĩ vãng. Kỷ niệm của họ là một khu vườn trong đó muôn hoa đẹp lạ lùng giao nhau, với màu sắc bất tận, được tưới bằng nước mắt và ngây ngất dưới sự vuốt ve của những nụ cười xưa cũ. Không còn tiếng hát nào của vương quốc của sự lãng quên ấy vút lên cao để rồi rơi hẳn xuống nữa. Vành tai âu lo chờ đợi vô hiệu tiếng vang dội đầy say đắm của những hòa khúc du dương đã mất... Những bóng ma diễn qua trước những cặp mắt khép hở của chúng ta, y phục màu vàng, màu xanh da trời hay màu feldgrau. Những giọng nói này chìm ngập trong tiếng vang động của chiến trận, không còn ai nghe chúng nữa. Tiếng thì thầm mỏng manh của những lời bị lãng quên không còn lướt trên không trung. Tuồi trẻ... sức mạnh... hy vọng... trận chiến... vinh quang... thất vọng... gió thổi mạnh... hỏa châu xé rách bóng tối thăm thẳm... di chuyển... sống... chói lọi... bóng tối... tiếng kèn đồng báo thức yếu ớt... tiếng trống tống tử xa xa... tiếng nổ chát chúa của đại bác... tiếng liên thanh nổ dòn... thập tự trắng ngút ngàn trên mộ chí... Và, giờ đây, chúng ta đây, tập họp tại nơi này đề tôn thờ kỷ niệm dĩ vãng...»

        MacArthur không phải là người tự để cho bị ru ngủ lâu dài trong niềm hồi tưởng quá khứ đây lãng mạn này. Ông cảm thấy tràn đầy sinh lực phục vụ. Ông cũng cảm thấy ngày càng khó chịu tại Hoa thịnh đốn. Người ta tiếp tục chỉ trích ông. Kỷ niệm của vụ Bonus March chưa xóa nhòa được.

        Một lần nữa giải pháp được đưa đến từ Phi luật tân.

        Manuel Quezon trở thành Tổng thống của nền Cộng hòa trẻ trung. Nước này sẽ được độc lập vào năm 1946... Và hiển nhiên là Hoa Kỳ sẽ không để cho xứ nầy rơi ngay vào vòng ảnh hưởng của một quốc gia khác. Nước Nhật chẳng hạn, một xứ vừa lao vào vòng chiến với Trung Hoa và không hề che giấu dự tính bành trướng của mình. Do đó ngươi Phi luật tân phải có khả năng để tự vệ.

        — Liệu có thể được không ? Quezon hỏi người ban vong niên...

        — Được, MacArthur trả lời và nói tiếp ngay : được, nếu chịu chi khá tiền : 5 triệu mỹ kim mỗi năm chẳng hạn...»

        Ông viết tiếp ;

        «Và lúc đó chẳng ai tấn công ông nữa vì như thế sẽ làm họ phải trả giá đắt hơn là những lợi lộc rút ra được, ông thấy đó, Manuel thân mến, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được cho xứ sở của tôi. Nếu vạn nhất có một cuộc chiến tranh sắp xảy ra, tôi chưa biết xứ sở và dân tộc tôi sẽ giao cho tôi vai trò gì... Phi luật tân là tổ quốc thứ hai của tôi... Và tôi muốn giúp ông. Nhưng sẽ không có điều gì nghiêm chỉnh được hoàn tất mà không có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Nếu không phải là quá chậm thì ta có thừa thì giờ tổ chức hệ thống quốc phòng của ông. Nếu ông Tổng trưởng Chiến tranh và Tổng Thống muốn thì tôi sẵn sàng qua bên ấy giúp ông...»

        Quezon chụp lấy cơ hội. Roosevelt chấp thuận.

        Trước khi quyết định, theo thói quen, MacArthur hỏi ý kiến mẹ, lúc đó bà đã 82 tuổi. Bà rất lấy làm hoan hỉ. Bà chỉ đặt một điều kiện :

        «Đưa mẹ đi theo với con... Mẹ có cảm giác mọi chuyện sẽ suông sẻ và con sẽ nắm giữ một vai trò quan trọng...»

        Được ve vuốt tự ái, ông Tướng bằng lòng.

        Khi rời Hoa Kỳ vào mùa thu năm 1935, ông còn mang bốn ngôi sao của chức vụ Tổng Tham mưu trưởng. Trong số các công sự viên đi theo ông, có thiếu tá Dwight D.Eisenhower.

        Trên tàu, MacArthur thảo chương trình phòng thủ Phi luật tân, bản văn trở thành đạo luật số một của quốc gia nhỏ bé ấy. Ông ý thức những gì là khó khăn trong việc tạo lập một cái gì vững chắc tại một xứ nghèo và không được kỹ nghệ hóa, nhưng ông rất vui sướng vì cuộc tiẽp đón đành cho ông. Một cuộc tiếp tân diễn ra tai Manila Gridiron Club. Hai binb sĩ dáng điệu kém hùng dũng bồng hai khẩu súng cũ kỹ đứng dàn chào :

        «Tôi ủy thác quân đội Phi luật tân vào tay ông, Quezon nói một cách hoa mỹ.

        — Xin cám ơn, nhưng để bắt đầu mà chỉ có hai binh sĩ thì hơi ít...»

        Ông bắt tay vào việc ngay.

        Về chỗ ở, ông Tướng chọn Manila Hotel, ông ở với mẹ tại đấy. Bà mẹ lâm bệnh. Thuốc men được cho người về mua tại Hoa Kỳ đến quá trễ. Bà mất ngày 3 tháng 12 nam 1935. Đối với ông Tướng, đây là một vố nặng. Ông luôn luôn liên kết với mẹ, bà là người bạn đồng hành quí nhất của ông và vị cố vấn khôn ngoan nhất của ông. Nay chỉ còn một mình ông đại diện cho gia đình : thân phụ ông mất năm 1912, anh ông năm 1923, mẹ ông năm 1935... ông chỉ còn lại một người cháu, ông đã nghĩ đến việc tục huyền nhưng điều này ông không tâm sự với mẹ sợ làm cho bà phải bận tâm trong những giờ phút sau cùng.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2019, 07:23:04 AM

       
*

*     *

        «Ngày 30 tháng 4 năm 1937, MacArthur kể lại, lúc ấy ông đã 57 tuổi, tôi cưới Marie Faircloth tại tòa thị chính Nữu Ướ'c. Có lẽ đây là hành động thông minh nhất đời tôi. Từ ngày ấy, Jean vĩnh viễn là ngươi bạn chắc thực nhất, người vợ dịu dàng nhất, và người đồng chí trung thành nhất. Trong suốt những năm ấy, làm sao nàng có thể chịu đựng nổi tính gàn của tôi và tính buồn vui bất chợt của tôi được, thật tôi không làm sao hiểu nổi... Con trai chúng tôi, Arthur ra đời ngày 21 tháng 2 năm 1938 và từ đó không bao giờ tôi còn cảm thấy đơn độc nữa...»

        Đó là một lời ca ngợi đẹp đẽ nhất mà một trong những người kiêu căng nhất thế giới dành cho một người đàn bà biết tìm hiểu ông và yêu thương ông.

        Neu Douglas sinh ra để làm một lãnh tụ quân sự vĩ đại thì, theo lời một trong những người viết về tiểu sử ông, đường như Jean cũng được sinh ra để làm vợ một ông Tướng. Ngay từ tuổi ấu thơ, tại Murfreesboro, Tennessee, bà đã tỏ ra có ý thích chắc nịch về bộ quân phục và nhạc quân hành. Khi trở thành thiếu nữ, hội viên nhiều hiệp hội khác nhau, trong do có hiệp hội quí phái nhất Mỹ quốc, hội các Ái nữ Cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, bà từng đảm trách công cuộc tổ chức ngày lễ Độc lập 4 tháng 7.

        Chính trên chiến hạm SS President Hoover là nơi Douglas MacArthur gặp Jean lần đầu tiên. Bà rất đẹp? ba mươi tám tuổi và sau một lần tình yêu đổ vỡ, bà qua Thượng Hải, nơi gia đình đang ở. Phần ông thì đến nhậm chức tại Manille. Ông được giới thiệu với bà nhân một buổi tiệc trà. Họ chuyện trò với nhau trong bữa ăn tối — cả hai đều được hạm trưởng mời ngồi cùng bàn — Và, đêm đó, khi trở về phòng, Jean thấy một bó hoa thật đẹp...

        Họ ý thức mau lẹ tình yêu dành cho nhau Jean thu ngắn thời gian ở lại Thượng Hải và một buổi sáng đẹp trời, lấy máy bay đi Manille.

        Người thiếu phụ sinh năm 1898 tại Nashville. Thời thơ ấu bà có đôi phần giao động giữa một bà mẹ chướng kỳ và một ông cha phóng đảng ít nhiều, đến ly dị nhau khi bà còn rất nhỏ. Do đó phần lớn bà đã trưởng thành tại Murfreesboro nhờ sự giáo dục của ông ngoại, đại úy Richard Beard. Một chi tiết thú vị, ông ngoại bà, cũng như Arthur MacArthur, thân phụ ông Tướng, đã từng chiến đấu tại Missionary Ridges và tại Stones River, trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc phân tranh... nhưng ông ta lại thuộc phe miền Nam.

        Edward, thân phụ Jean gốc người Gia nã đại. Sau một thời gian lập nghiệp khá phiêu lưu, ông tu tỉnh và trở thành chủ ngân hàng giàu có. Mẹ bà, được mệnh danh là «MissSallie» trong thành phố nhỏ bé của họ, là một người quảng đại và xung động. Bà tái giá với Frederick Smith và có nhiều con cái. Mùa hè, bà biến ngôi nhà của gia đình trong vùng núi lân cận Murfreesboro, thành khách sạn. Trong một thời gian ngắn, bà hoạt động kịch trường và đóng kịch tại Nữu Ước. Chẳng bao lâu sau, bà trở về nhà và bắt đầu lập đoàn kịch riêng tai Murfreesboro. Trong thời gian này Frederick Smith tỏ ra là một triết gia và chu du khắp nơi vừa viết bài cho nhiều tờ báo.

        Bà mẹ khá độc đáo ấy cũng là một người đàu bà xuất chúng. Bà tốt bụng và phóng khoáng và nhất là có nhiều bạn thân trong giới da màu. Ba biết trừ tận gốc thiên kiến kỳ thị chủng tộc trong trí óc có con gái, điều này vào thời đó tại miền Nam là cả một thành tích. Và về sau Jean đã nói rằng một trong những điểm quyễn rủ bà nhiều nhất nơi MacArthut chính là tình thân thiện của ông đối với dân da màu, Người ta có thể trách ông tướng nhiều điều, nhưng chắc chắn không phải là vì ông có đầu óc kỳ thị chủng tộc bất cứ vào một lúc nào đó trong cuộc đời binh nghiệp của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 06:53:36 AM
       
*

*     *

        Khi đại chiến bùng nổ, Jean mười chín tuổi. Bà trở thành y tá tình nguyện tại một bệnh viện thành phố... Sau cuộc đình chiến, bà sống cuộc đời một thiếu nữ đương thời, khá tự do, thích mọi chuyện... Thân phụ bà mất năm 1929. Ông để lại cho con gái hai trăm ngàn Mỹ kim. Với số tiền này, bà giúp mẹ sơn lại nhà cửa, tặng quà cho tất cả các bạn bè, giúp cho một cô người giúp việc da đen, bằng tuổi bà và rất được bà yêu mến, ghi tên vào trường đại học...

        Và rồi bà bắt đầu du lịch. Bà đi du lịch một minh cùng với cô em khác cha, Angela Smith, mà bà đưa đến Nam Mỹ. Bà cũng du lịch với cậu em khác cha, Harvard Smith, cùng với cậu, bà đã thực hiện một chuyến du hành quanh thế giới năm 1933.

        Bà chỉ thôi không du lịch nữa khi bà đến gặp Tướng MacArthur tại Manille.

        Ổng tướng lúc đó sống với mẹ tại Manila Hotel. Ông vẫn liên kết chặt chẽ với mẹ, kể cho bà nghe tất cả những gì xảy xa, tất cả những gì ông làm. Nhưng vì tuổi tác quá lớn của bà, vì căn bệnh của bà, và có lẽ vì sự bà cảm thấy một sự ganh tị nào đó nên ông không tâm sự gì với mẹ về mối tình của ông với Jean. Tuy vậy ông gặp Jean rất thường. Bà MacArthur mất giữa lúc ấy, và con trai bà để tang rất lâu Chắc chắn vì cuộc tang chế này mà ông đã đợi những mười lăm tháng trước khi làm lễ thành hôn với Jean. Mùa xuân năm 1937, họ rời Manille riêng rẽ.

        Jean đi tàu thủy về Sna Francisco và bắt đầu viếng thăm tất cả các thân nhân. Như thế bà đi qua Nashville, Murfreesboro, Louisville. Tại đó bà loan tin lễ thành hôn với bà dì Marie ;

        «Thế thì, bà dì già nhận xét, dân chung Mỹ sẽ rất ngạc nhiên khi biết cháu lấy Tướng Mao Arthur...

        — Và cả dân chung ở Manilie nữa chứ !» thiếu phụ đáp.

        Ông tướng rời Phi luật tân bằng phi cơ. Ông cũng vậy, rất kín đáo. Ông chỉ tâm sự với một trong các tùy viên, đại tá T,J. Davis :

        «Bạn thân mến, đứng trước mắt anh là người vui sướng nhất, tôi sắp cưới vợ...»

        Tân lang và tân nương có mặt tại Nữu Ước. Hôn lễ thế tục cử hành tại tòa thị chính, lễ nghi tôn giáo diễn ra trong một giáo đường nằm trong cùng một toà nhà... Lúc đó ông không mặc quân phục. Bà mặc một chiếc áo thanh lịch màu sậm. Họ thuê một phòng khách san có phòng tiếp khách tại khách sạn Astor trong vài hôm.

        Ngay sau đó vợ chồng MacArthur trở về Manille. Họ chiếm nguyên một tầng của khách sạn Manila Hotel. Cửa sổ mở trông ra vịnh Corregidor. Bên trong đầy đủ tiện nghi và thanh lịch. Không khí được điều hòa giữ một nhiệt độ dễ chịu.

        Đời sống trầm lặng và bình thản. Đôi vợ chồng mới đều rất sung sướng. Khi ông Tướng có giờ rảnh, họ đi dạo với nhau hay là cùng tắm trong hồ tắm của khách san... Buổi tối khi không có dạ tiệc hoặc tiếp tân, họ ngồi trong thư viện, mà Douglas đã thu thập được khoảng bảy ngàn quyển sách.

        Khi câu bé Arthur ra đời, bà nuôi một người vú xẩm. Tiếp theo đó khi các biến cố dồn dập đến và khi người ta thấy chiến tranh thấp thoáng ở chân trời, trong khi chính quyền lo hồi hương các gia đình quân nhân hoặc công chức, bà vẫn không chịu rời Manille. Trong suốt cuộc chiến tranh, bà cùng cậu con trai nhỏ vẫn ở bên cạnh chồng, đi theo ông cho đến tận Tân-Guinée và trở lại Phi luật tân với ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 06:57:16 AM
             
*

*     *

        Người ta ngờ rằng trong suốt thời kỳ trước chiến tranh ấy, MacArthur còn có nhiều bận tâm khác hơn là chạy theo mới tình tuyệt hảo.

        Sứ mạng của ông mà Tổng Thống Roosevelt và Tổng Thống Qjezon giao phó, rất là minh bạch : tổ chức quân đội và hệ thống phòng thủ Phi luật tân để cho xứ này một khi được hoàn toàn độc lập, sẵn sàng đảm trách lấy số phận của mình. Nhất là để xứ ấy không trở thành một miếng mồi ngon cho Nhật Bản.

        MacArthur rất coi trọng sứ mạng của ông.

        «Tôi phục vụ cho hai chủ nhân...»

        Thế mà giữa hai ông chủ này, những liên hệ nhiều khi rất căng thẳng. Đã có lúc Roosevelt nghĩ đến việc giao cho MacArthur quyền tư lệnh Hạ uy di và bờ biển phía tây. ông Tướng tránh khéo bằng cách xin từ chức ra khỏi quân đội Mỹ.

         Lúc đó Manuel Quezon phong ông làm Thống chế của Cộng Hòa Phi luật tân. Nhân dịp này, người vừa được phong chức vốn chưa mất ý thích phô diễn và sự hùng đại, đã tự sáng chế ra một bộ quân phục xưng hợp với tước vị mới của ông. Tờ Nhật báo của Lục quân và Hải quân mô tả một cuộc diễn binh tại Manille như sau :

        «Đứng bên cạnh Tổng Thống là Tướng MacArthur,* mặc một bộ quân phục sackin trắng theo kiểu do ông sáng chế với bốn ngôi sao trên vai và một dải băng đỏ làm nổi bật ve áo và huy hiệu Tổng Tham Mưu trưởng trên ngực phía trái...»

        Sự hoa mỹ, sự phô trương mà ông vẫn đặt vào tất cả những gì ông làm, không phải đơn thuần là sự kiện chứng tỏ tánh tư cao tư đại của ông. Ông muốn và chắc chắn là không có gì sai lầm, khi hiện thân ra như vậy trước người Phi luật tân, tạo cho họ niềm kiêu hãnh về Tồ quốc của ho và lòng ham muốn có một đạo quân xứng hợp với một lãnh tụ như thế. Thật sự, mỗi ngày nhân vật mỗi trở nên siêu phàm và như viên cao ủy Mỹ Paul V. Macnutt đã tâm sự : Người ta không thích gọi ông là «ông Dong... thân mến...»

*

*     *

        Trái với các đoán ngôn сủа nhiều chuyên gia quân| sự, MacArthur đoán chắc rằng Phi luật tân có thể được bảo vệ. Và ông tin tưởng điều đó. Năm 1936 ông trình cho Tổng Thống Quezon một kế hoạch rất hoàn hảo và sau đó tuyên bố :

        «Tôi chắc rằng không có một chính phủ nào trên thế giới, nếu biết nghe theo ý kiến của bộ tham mưu lục quân và hải quân của mình, lại sẽ làm một cố gắng bé nhỏ nào để tăn công Phỉ luật tân sau khi kế hoạch này được thưc thi toàn diện...»

        Ta có thể nghĩ rằng một ngôn ngữ như vậy là quá tự phụ, nhưng ta không nên quên rằng hạn kỳ được ấn định cho Phi luật tân được hoàn toàn độc lập là năm 1946, và điều kiện bó buộc là sự thi hành toàn vẹn kế hoạch.

        Vả chăng MacArthur nói rất dài về vấn đề này : «Theo ý tôi cuộc đổ bộ xâm lăng sẽ bắt địch quân trả giá ít nhất là nửa triệu quân và hưn năm tỷ mỹ kim để hành động với một vài cơ may thành công. Liệu có đáng để trả một giá quá mắc như thế không ?»

        Kế hoạch gồm có việc tạo một đạo quân trừ bị huấn luyện binh sĩ, tạo một không lực và tổ chức công cuộc phòng thủ «từng tấc đất các bờ biển những đảo có người ở thuộc quần đảo nhờ vào một hạm đội khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi. Chỉ cần «một tiểu hạm đội tương đối không quan trọng lắm gồm những tàu bè như thế được trang bị các thủy thủ đoàn hoàn toàn quen thuộc với từng bờ biển và hải phận kể cận và nhờ thủy lôi sẽ tạo thành một mối đe doa nghiêm trọng đổi với các đại chiến hạm. Hiệu quả của hạm đội là bắt buộc các lực lượng thù nghịch phải tiến vào theo một đội hình thận trọng và phân tán...»

        Người ta đã nói hoặc viết rất nhiều rằng không bao giờ MacArthur tin là Nhật có thể mở cuộc xâm lăng. Thật khó tin rằng một người biết quá rõ các vấn đề đông phương như ông mà lại tin như thế. Từ rất nhiều năm qua ông đã thấy Nhật Bản tiến hóa gần như trước mắt ông. Ông đã ý thức rằng xứ này muốn xâm chiếm tất cả Á Châu. Ông bị bắt buộc nhận chân rằng quả là bi thảm nếu đến lượt Phi luật tân trở thành đối tượng của sự tham lam của Nhật Bản... Nhưng ông còn tự ru ngủ bằng các ảo tưởng trì hoãn lại kỳ nhật này — ông không nghĩ là sẽ xảy ra trước năm 1942 — nhưng ông không lơ là với viễn tượng đó.

        Tuy nhiên không phải ông không biết gì về các dự tính của Đông Kinh, nhưng ông tin vào sức mạnh kháng cự mà Phi luật tân có thể đưa ra để chống lại. Để biện minh cho quan điểm này, về sau ông dẫn chứng Tướng Akira Muto, giám đốc Quân sự vụ của Bộ Chiến tranh Nhật, ông này từng nói :

        «... Một thừa số quan trong khiến Nhật Bản quyết định xâm chiếm Phi luật tân là nỗi sợ hãi mà sự thi hành kế hoạch mười năm tổ chức phòng thủ quần đảo đã gợi ra cho bộ Tổng tham mưu. Kế hoạch đang ở vào năm thứ sáu, và có thể tạo thành một sự đe doa đối với tham vọng của Nhật. Chúng ta phải can thiệp trước khi quá trễ...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:11:08 AM
        
*

*     *

        Cùng với ngày tháng trôi qua và mối đe dọa gia tăng mãi, MacArthur bắt đầu tỏ dấu lo ngại, Ông luôn luôn đòi hỏi Hoa thịnh đốn cấp nhiều viện trợ hơn. Sau cùng tiếng kêu của ông có tiếng vang tại tòa Bạch Ốc và Bộ Chiến tranh.

        Ngày 27 tháng 7 năm 1941, Tướng Marshall, ltíc đó trở thành Tổng Tham Mưu trưởng quyết định sáng lập một bộ tư lệnh tại Viễn-Dông và giao cho MacArthur. Ta đã biết, hai người vẫn ghét nhau một cách thân hữu. Trong thời kỳ ông ngự trị tại Hoa thịnh đốn, MacArthur đã chặn đứng con đường tiến thủ của Marshall rất lâu. Ông này không chối bỏ công lao của ông, nhưng chỉ thuận cho ông trở lại quân đội với cấp bậc Đại Tướng ba sao, trong khi trước đó MacArthur đã có bốn sao...

        «Lúc đó chúng tôi bắt đầu một nỗ lực vào giờ thứ mười một», Douglas ghi chú.

        Quân đội của ông không có gì đáng kể và có thể nói, không có pháo binh. Vũ khí của ông chủ yếu là gồm có loại súng cổ «Enfield»

        Hải quân không có vẻ gì sáng giá. Gồm có ba tuần dương hạm, mười ba khu trục hạm, mười tám tàu ngầm và sáu khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi. Riêng phần không quân thì lại còn yếu hơn nữa.

        Nỗ lực chủ yếu của Mỹ được đặt trên chính lực lương không quân này. Vào thời đó quân Anh đã bắt đầu có pháo đài bay và loại phi cơ này hoạt động rất hữu hiệu tại Âu châu. Tại sao lại không dùng chúng tại Á châu ? Quyết đinh cung cấp pháo đài bay trang bị cho Phi luật tân được ban hành trong tháng 10.

        «Phải mất ba tháng chung tôi mới đảm bảo được các vị trí trên quần đảo, ông Tổng trưởng Chiến tranh Stimson nói. Theo MacArthur không những chúng tôi có ba tháng đó mà có thể có thời gian lâu hơn nữa...»

        Vả chăng ông Tướng còn muốn đi xa hơn là bố trí các cứ điểm. Ý muốn của ông là tạo ra cả một dãy phi trường trên 1300 cây số phân cách Mindanao và phía bắc Lugon. Ông dự tính kéo dài dãy phi trường này cho đến tận Úc châu qua các thuộc địa Hòa Lan tại Ấn độ dương.

        Những pháo đài bay B-17 đầu tiên đến phi trường Clark Field ngày 6 tháng 10. Năm mươi khu trục đến tiếp liền ngay sau đó... Lực lượng này do Tướng Lewis H. Bereton chỉ huy, ông này có mặt tại đơn vị vào tháng 11.

        Ông Tướng này ít lạc quan hơn MacArthur. Theo ông cuộc tấn công sắp xảy ra cấp kỳ. Thế mà ông Tổng tư lệnh cứ khăng khăng đoán là từ tháng 4 trở đi mới có thể có cuộc tấn công.

        Chính Bereton có lý.

        Một sĩ quan khác, Tướng Jonathan M. Wain, wright, ông này sẽ là một anh hùng tại Bataan, tuyên bố tiếp sau đó :

        «Khi nhắc lại lời tiên đoán này (không có tấn công trước tháng 4) và khi ý thức, một cách hơi cổ, rằng cũng giờ đó quân Nhật đang tập trung để đánh chúng tôi, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh điểm này. MacArthur đã xác tín rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra trước tháng 4...»

        Chẳng bao lâu, ông Tướng ý thức rằng ông đã lầm lẫn nặng nề, rằng mối đe dọa Nhật bản gần hơn là ông tưởng, rằng sức kháng cự mà ông có thể đưa ra để chống lại còn rất thiếu sót...

        Làm sao đây ?

        «Bộ tham mưu của tôi không thể nào giỏi hơn», ông viết.

        Ngày 2 tháng 12, các đài ra-đa Mỹ khám phá được vài phi cơ thám thính của Nhật trên không phận đảo Ludon. Nhiều chiếc khác trở lại hôm sau.

        Ngày 6, MacArthur ra lệnh :

        «Báo động tất cả các căn cứ không quân. Phân tán phi cơ và phải được gìn giữ từng chiếc một...»

        Mệnh lệnh này chỉ được thi hành có một phần.

        Thì giờ đã bị mất nhiều. MacArthur lên án «những tên phi công ngu ngốc, không có khả năng và vụng về...» Các phi công thì cho rằng MacArthur quá do dự, tin chắc rằng quân Nhật sẽ không tấn công.

        Chúng ta đang ở vào hôm trước ngày Trân Chậu Cảng bị tấn công1.

---------------------
        1. Đọc : «Sấm sét Thái Bình Dương» — Sông Kiên xuất bản, sách đã phát hành.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:12:49 AM
         
«TÔI SẼ TRỞ LẠI...»

        Trân Châu cảng; ngày 6 tháng 12.

        Ngày thứ ba trăm ba mươi mốt của năm 1941 vừa tàn. Đô đốc Kimmel một mình ngồi vào chiếc bàn đã giữ trước tại sân thượng khách san Halekulani để ăn tối. Vị Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Pacific Fleet đã quyết định đi ngủ sớm để bình minh hôm sau có thể hạ Tướng Short, người chịu trách nhiệm công cuộc phòng thủ đảo Oahu, trên sân Golf. Cùng lúc đó Tướng Short ở lại Schoffield Officer’s Club trễ hơn, ông gọi một ly rượu cốc-tai thứ nhì để nhận thức dễ dàng hơn tin tức vừa được một sĩ quan phòng nhì thông báo cho ông : viên lãnh sự Nhật không ngừng điện thoại về Đông Kinh ; trong những câu chuyện của y, nhiều từ ngữ lạ có thể là

        mật mã, được lặp lại thường xuyên. Tướng Short không tìm thấy trong báo cáo này một lý do nào để báo động, Chiến tranh chắc chắn không xảy ra vào ngày mai. Lương tâm của ông rất bình thản. Điều cần yếu đã được làm ; trên các phi trường, theo mệnh lệnh, các phi cơ được xếp đậu vào bãi chiếc này sát cánh chiếc kia để cho việc canh chừng được dễ dàng hơn, các đợt đi tuần được thực hiện mỗi giờ, theo thói quen quân sự ; trong cảng, trên các thiết giáp hạm bỏ neo từng cặp ngay hàng thẳng lối, các thủy thủ canh tàu mở lớn mắt.

        Tân gia ba, cùng ngày. Đô đốc Philips, Tư lệnh Hạm đội Anh từ cửa sổ văn phòng ông, đang ngắm với đôi chút hãnh diện bóng dáng hùng mạnh của hai trong số các chiến hạm đẹp nhất của Hạm đội Hoàng gia nổi bật trên mặt biển xám. Chiếc Prince of Wales và chiếc Repulse sẵn sàng nhổ neo ngay khi có lệnh báo động đầu tiên. Saigon, nơi bị quân Nhật chiếm đóng không phải nằm ngay ngưỡng cửa Mã Lai. Nhưng quân Nhật thì lại rất táo tợn.

        Hoa thịnh đốn. Tướng Marshall và Đô đốc Stark biết rằng chiến tranh sắp xảy ra cấp kỳ. Trong một điện văn mới nhất gửi cho các nhà hữu trách liên hệ đến cuộc phòng thủ của Mỹ tại Thái Bình Dương, họ đã nói đến một cuộc tấn công có thể xảy ra tại Phi luật tân và tại các quần đảo Indes của Hòa Lan. Họ vẫn giữ im lặng về tình hình quần đảo Ha uy di. Một điện văn từ Đông Kinh gởi cho Đại sứ Nhật tại Hoa thịnh đốn được cơ quan giải mặt mã dịch ra bạch văn. Đông Kinh yêu cầu người đại diện của họ báo cho Ngoại trương Mỹ biết rằng tình trạng chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật sẽ bắt đầu vào lúc 13 giờ, ngày hôm sau (khi tại Hoa thịnh đốn đồng hồ chỉ 13 giờ thì tại Trân Châu Cảng là 7 giờ 50).

        Manille, chiều tối. Một chiếc xe Jeep dừng lại trước lối ra vào sang trọng của Manila Hotel. Tướng MacArthur bước xuống. Nhanh nhẹn, ông trèo lên các bậc thềm đưa vào phòng đợi rộng lớn và mau lẹ trở về nhà riêng trên tầng chót, nơi bà vợ và cậu con nhỏ đang chờ ông. Từ ngày 15 tháng 11, quân đảo Phi luật tân được đặt trong tình trạng báo động. Ông Tướng đã ấn định thời hạn mười năm để cung ứng cho quần đảo một đạo quân hùng hậu. Quân Nhật, nôn nóng, và đã khởi sự cuộc chinh phục Á châu, và không chờ cho công trình của ông hoàn tất. Họ không thể cho phép sự hiện hữu một pháo đài địch có thể bất cứ lức nào cũng đụng đến được chiến hạm và thương thuyền Nhật trên đường đi chuyển của chúng. Ông Tướng âu lo. Ông chỉ có 18.000 quân Mỹ thiện chiến, 13.000 «hướng đạo Phi luật tân mới được hội nhập vào quân đội Mỹ ít lâu nay và chừng 100.000 người của quân đội quốc gia Phi luật tân, có kỷ luật nhưng thiếu huấn luyện. Roosevelt đã không đáp ứng các phúc trình của ông như ông mong ước. Tổng Thống Mỹ đã từ chối gởi cho ông đại bác, súng phòng không, chiến xa và xe vận tải. Chiến tranh tại Âu Châu là đối tượng duy nhất của sự yểm trợ của Mỹ... Theo tin tức mới nhất thì một toán phi cơ tuần đêm đã đụng độ với một đoàn oanh tạc cơ Nhật cách bờ biển Lugon 80 cây số. Oanh tac Cơ địch quay trở lại. Tại sao ? Chứng đến oanh tạc Manille chăng ? MacArthur có một không lực gồm 180 phi cơ : những khu trục cơ có tầm hoạt động ngắn, nhiều pháo đài bay và các thủy phi cơ thám thính. Thật ít.

        Hiroshima, nửa đêm. Đô đốc Yamamoto biết rằng các cuộc thương thuyết với Mỹ sẽ tan vỡ và ngày 7 tháng 12 Nhật Bản sẽ lâm chiến. Hệ I Không đoàn (hay hạm đội hàng không mẫu hạm) do Phó đô đốc Nagumo chỉ huy phải chu toàn sứ mạng ngay cả trong trường hợp sự hiện diện của không đoàn trong Thái Bình Hương bị phi cơ Mỹ khám phá thấy.

        Đâu đó trên Thái Bình Dương, cách Trân Châu Cảng khoảng 350 hải lý. Không đoàn của Phó đô đốc Nagumo rời khỏi khu vực trời xấu. Điện văn «hãy leo lên núi Niitaka» đã được nhận rồi. Nó có ý nghĩa là không còn một hy vọng hòa bình nào với Mỹ và cuộc tấn công phải được thực hiện vào giờ đã được ấn định. Từ lúc khởi hành từ đảo Etorolu, đệ I không đoàn hải hành tập trung, im lặng, ngay giữa các thành phần cuồng nhiệt. Phó đô đốc có dưới quyền hai thiết giáp hạm, chiếc Hiyei và chiếc Kirishima : sáu hàng không mẫu hạm, Kaga, Akagi, Kiryu, Soryu, Zuikaku và Shokaku ,hai tuần dương hạm nặng : Tone và Chikuma ; mười sáu ngư lôi hạm và mười một chiến hạm phụ dịch. Cuộc tiếp tế sau cùng trên mặt biển đã thực hiện xong. Từ đây không còn gì có thể ngăn chặn sự thực hiện kế hoạch đã được hoàn tất một cách tỉ mỉ từ sáu tháng trước.

        Ngoài khơi bờ biển Mã Lai. Một phân hạm đội thuộc Hạm đội Miền Nam của Nhật do Phó đô đốc Kondo chỉ huy, tiến gần đến Singora, Patani và Khota-Baru. Phần hạm đội này gồm có hai tuần dương hạm nặng, Atago và Chokai; hai thiết giáp hạm Hunna và Kongo ; hai mẫu hạm Ryujo và Sunyo và nhiều ngư lôi hạm và tàu đổ bộ.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2019, 07:15:36 AM
   
*

*      *

        Manille. Ngày 7 tháng 12, lúc hơn bốn giờ sáng cô điện thoại viên gác tổng đài khách sạn Manila Hotel đánh thức Tướng MucArthur dậy. Chuyện gấp. Có điện thoại từ Hoa thịnh đốn gọi. Không lực Nhật bất thần tấn công căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng.

        Ông Tướng thức dậy, chầm rãi làm vệ sinh hàng ngày, mặc bộ quân phục mới vừa được giặt ủi. Trên mũi nhọn chiếc cổ áo gắn ba ngôi sao cấp đại tướng, Ba ngôi sao vàng này là vật chưng diện duy nhất của ông Tướng. Những huy chương ghi lại những thành tích trong suốt binh nghiệp lâu dài сủа ông — ông đã 61 tuổi, được xếp đống trong hộc tủ. Ông coi chúng không quan trọng bằng chiếc nếp quần thật thẳng và bằng cách thắt nút chiếc cà vạt đen mà đôi khi ông vẫn giữ trên cổ ngay cả vào những giờ phút nóng nực nhất.

        Một lát sau, trên những đường phố của Minillô mà hai bên các cao ốc trắng và dân cư trong đó còn ngủ say, chiếc xe Jeep của ông Tướng chạy thật lẹ. Xe ra ngoại ô, vượt qua sông Passig, dừng lại trước một tòa nhà kiểu tòa Bạch ốc trên đó là cờ sao sọc bay phất phới,

        Ngạc nhiên vì sư xuất hiện bất ngờ của ông Tổng Tư lệnh, người lính gác bồng súng chào. MacArthur vẻ trang trọng, mặt lạnh lùng, dửng dưng với sự bất ngờ do ông gây ra, chào lại và tiến mau về phía văn phòng ông.

        Ngay lúc đó, ông tin rằng không lực Nhật phải gánh chịu một sự thất bại đau đớn. Trân Châu Cảng là pháo đài được phòng thủ vững chắc nhất tại Thái Bình Dương. Ý tưởng đầu tiên của ông Tướng là tìm ngay lập tức đâu là chỗ yếu có thể đánh được nhất của địch, đâu là chỗ phải đánh vào địch thủ. Ông nghĩ đến việc ra lệnh cho các pháo đài bay cất cánh và càn quét vùng phía bẳc Ludon. Thay vì mở cuộc tấn công như tướng Lewis H.Bereton đề nghị, ông này muốn đánh Đài Loan là nơi tập trung các đoàn phi cơ đông đảo của Nhật. MacArthur bị ràng buộc bởi nhiều lý do chính trị. Ông không có quyền đưa ra các sáng kiến gây chiến mặc dầu Phi luật tân là «sở hữu của Hoa Kỳ». Về phương diện quốc tế, Phi luật tân có một Chính phủ Quốc Gia và nhiều đại biểu của Chính phủ này vẫn còn hy vọng rằng quần đảo sẽ được để yên. Điều làm cho người Nhật chú tâm, họ bảo là sự phong phú về hầm mỏ và dầu lửa của Mã Lai và các quần đảo Indes thuộc địa của Hòa Lan.

        Một bác luận thứ nhì đối với cuộc oanh tạc Đài Loan lại có tính cách hoàn toàn quân sự. MacArthur chỉ có tổng cộng 36 pháo đài bay B-17 và các khu trục cơ phải hộ tống chúng lại không có tầm hoạt động có thể cho phép bay đi và về. Thêm vào đó là không lực Mỹ không thể mạo hiềm đưa số ít phi cơ có trong tay đến một lãnh thồ thù nghịch mà nó không biết rõ. Không lực thiếu những tin báo sơ đẳng về các mục tiêu. Như thế thì mạo hiểm trong một cuộc chinh phạt có thể quay ngược trở lại làm hại kẻ tấn công là việc làm không mấy hữu lý. Trong buổi sáng các đoàn oanh tạc cơ và khu trọc cơ tuần tiễu mà không có kết quả, rồi quay trở về căn cứ. Đến 11 giờ 45, Hoa thịnh đốn lại gọi MacArthur. Giọng nói bên kia Thái Bình Dương không có gì là say sưa nồng nhiệt, báo cho vị tư lệnh các lực lượng tại Phi luật tân tầm mức thiệt hại rộng lớn. Không phải là thiệt hại của Nhật như ông Tướng mong đợi, mà là sự thiệt hại của Mỹ.

*

*     *

        Ngàv 7 tháng 12, 7 giờ 40, hạm độỉ сủа Phó đô đốc Nagumo chỉ còn cách bờ biển đảo Oahu 200 hải lý, nơi đây Hạm đội Thái Bình Dương đang bỏ neo nghỉ ngơi trong cảnh bình lặng thiên đường. Năm mươi oanh tạc cơ bay cao và bốn mươi phi cơ phóng thủy lôi, năm mươi oanh tạc cơ đâm bổ, bốn mươi khu trục cơ Zero cất cánh và bay thành đội hình chặt chẽ hướng về hòn đảo đang ngủ say Một làn sương mỏng buổi sớm bao phủ đoàn phi cơ. Nó chỉ có thể trông thấy được vào lúc được chia làm ba toán. Các oanh tac cơ bay cao giữ cao độ 3.000 thước phía trên mây, bay vòng quanh đảo về phía tây, Các phi cơ phóng thủy lôi bay thấp, cắt ngang đảo để xuẩt hiện đột ngột ở phía tây Trân Châu Cảng trong khi các khu trục cơ và oanh tạc cơ đâm bổ bay ngang qua và bắn phá các phi trường Wheeler Field và Kanehoe. Bất ngờ hoàn toàn. Trong hai mươi phui, đợtxuug kích đầu tiên đã tiêu diệt hạm đội I Thái Bình Dương bất chấp phản ứng kich liệt nhưng quá chậm trễ của súng phòng không trên đảo. Nhiều ổ súng không được tiếp tế đạn, bị hủy diệt ngay sau những phát đầu tiên.

        Quân Mỹ trả đũa hữu hiệu hơn trong đạt xung kích thứ nhì. Đến 8 giờ 50, 54 oanh tạc cơ bay cao 81 oanh tạc cơ đâm bổ và 36 khu trục cơ sẽ hoàn tất công trình phá hoại đã được bắt đầu một giờ trước đó. Chúng từ phía đông tiến đến căn cứ hải quân Mỹ, chia thành hai toán. Các thiết giáp hạm toan tính chạy ra khơi liền bị đánh thẳng cánh. Chiếc thì bị hư hại, chiếc thì bị đánh chìm, một số còn nổi trên mặt nước, sóng tàu hướng lên trời(l).

        Đến 9 giờ 45, phi cơ Nhật trở về đến hạm đội của đô đốc Nagumo, và lập tức hạm đội lên đường trở lại Nhật Bản. Tổn thất của Mỹ không kể xiết. Các thiết giáp hạm hoặc đã bị vĩnh viễn hủy diệt, hoăc bị loại ra khỏi vòng chiến rất lâu : chiếc Arizona không còn nữa, chiếc Oklahoma chổng sống lên trời, những chiếc California, West Virginia, Nevada bị hư nặng . Các tuần dương hạm Helena, Honolulu và Raleigh đều bị hư hại ; cũng như chiếc tàu rà mìn Oglala và hai cơ xưởng hạm Curtiss và Vestal. Trên các phi trường, hơn 180 phi cơ bị bắn thủng hay bị đạn trọng pháo và bị cháy tiêu. Số người chết và bị thương lên đến 3.455. Riêng phần tổn thất của Nhật thì tương đối nhẹ : 29 phi cơ bi hạ trên tổng số 360 tham chiến, 50 phi công tử trận ; riêng 5 tiềm thủy đĩnh bỏ túi được chỉ định để giăng đồn tấn công cuối cùng thì không trở về căn cứ, những tàu ngầm mẹ vẫn còn ở ngoài khơi. Đô đốc Nagamo đã có thể điện cho Yamamoto chiến thắng định trước : Тога, có nghĩa là Cọp.

        Tin về tai biến chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ này sẽ giúp cho chính sách can thiệp của Tổng Thống Roosevelt. Cho đến lúc đó, dư luận Mỹ rất chia rẽ, bất định, hơn nữa lại có vẻ không ưa chiến tranh. Trân Châu Cảng là ngọn roi đánh thức lương tri xứ sở. Sự đồng lòng toàn diện đã thể hiện. Tất cả nhiệt tâm và ý chí đều hướng vào sự báo thù. Ngày nay vài tài liệu văn khố tiết lộ cho thấy Roosevelt, Tướng Marshall và đô đốc Stark đã có biết rõ ý đồ của Nhật và đã không báo động cho đô đốс Kimmel trong mục đích gây ra sự giật mình thức tỉnh của lòng ái quốc nơi dân chúng Mỹ bằng một cuộc bại trận bất ngờ. Mỗi công dân Mỹ tự mình dự phần vào nỗi nhục nhã chung. Sự im lặng của Tổng Thống đã đưa đến sự thất sủng đô đốc Kimmel, triệt hạ Нạm đội Thái Bình Dương, nhưng đã giúp đưa cường quốc Mỹ đến chiến thắng toàn diện sau cùng.

----------------------
        1. Về tất cả những trận đánh khủng kiếр trên Thái Bình Dương, xin đọc: «Sấm sét Thái Bình Dương» — Sông Kiên xuất bản — Sách đã phát hành,


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:50:04 AM

*

*     *

        Tại Manille, tướng MacArthur không có thì giờ suy nghĩ hậu quả tức thời của sự táo bạo thắng lợi của Đông Kinh. Đến lượt ông, lại phải đương đầu với sáng kiến chủ động của địch. Khi trở về căn cứ sau một sứ mạng tuần thám mà không có gì xảy ra, các pháo đài bay B-17 được đưa về ụ và lập tức được đồ đầy xăng như thường lệ. Phi cơ được xếр thành hàng, dâng hiến cho sự hy sinh, trên các căn cứ Clark Field và Nichols Field, khi các oanh tạc cơ Nhật xuất phát từ Đài Loan xuất hiện trên đầu chúng, Trong vòng 90 phút, các phi cơ mang phù hiệu mặt trời mọc gieo xuống chúng hàng loạt khối chất nổ giết người. Bom và đạn đại liên hạng nặng rơi xuống như mưa, xé rách, cưa ngang, làm tan rã từng mảnh các phi cơ Hoa Kỳ bị cột chặt dưới đất. Một vài chiếc cất cánh được và một vài khu trục cơ cũng tiếp nối theo. Sự chống trả yếu ớt, cũng như tại Trân Châu Cảng. Gần một nữa oanh tạc cơ B-17 bị hủy diệt. Hơn 50 khu trục cơ bị hư hại nặng. Các phi cơ có tầm hoạt động xa thoát được cuộc tàn sát bèn rời Phi luật tân để đến Java hay Úc châu. Các khu trục cơ còn lại vẫn tham dự vào công cuộc phòng thủ đảo Ludon cho đến phút chót.

        MacArthur nghiên cứu tình hình. Ít được che chở hơn là Kimmel và Short tại Trân Châu Cảng, ông chờ đợi một cuộc tấn công xuất phát từ Takao, thuộc Đài Loan, nơi địch quân cho tập trung hơn 700 phi cơ và một hạm đội đổ bộ hùng mạnh. Từ khi có sự loan báo cuộc oanh tạc căn cứ tại Hạ uy di hồi sáng sớm, ông có gần tám tiếng đồng hồ để bố trí che chở Ông đã có thể hoặc đánh bất ngờ các oanh tạc cơ Nhật khi chúng còn dưới đất, tại Takao, hoặc di tản các oanh tạc cơ của mình về Mindanao như ông đã ra lệnh vài hôm trước, hoặc gia tăng các cuộc tuần tiễu của khu trục cơ trên không phận Ludon, sẵn sàng can thiệp. Thế mà ông vẫn chờ đợi đầy tin tưởng. Giải pháp thứ nhất, như ta đã thấy, chắc sẽ đưa tới thảm họa. Tám mươi phì cơ B-17 sẽ gây ra được thiệt hai nào cho một phi trường được trang bị nhiều phi đạo và được bảo vệ bởi một đoàn khu trục cơ dày đặc, mau le, được huấn luyện kỹ, và bởi một hệ thống phòng không được bổ trí một cách khôn ngoan ? Giải pháp thứ hai không được noi theo một cách có hệ thống, giải pháp thứ ba cũng không hơn gì, tại vì MacArthur đã tin tưởng một cách ngây thơ vào sự thất bại của Nhật tại Trân Châu Cảng cho đến khi Hoa thịnh  đốn báo tin cho ông với nhiều tin tức chính xác ít lâu sau 11 giờ. Ảo tưởng của ông cũng dựa trên một sự kiện là một phi đoàn oanh tạc cơ Nhật, xuất phát từ Đài Loan, đã từ chối đánh nhau khi các khu trục cơ Mỹ bay lên chặn đánh.

        Thời gian tám giờ yên tĩnh mà ông có được và không biết lợi dụng, vốn chỉ là một cống hiến của sự tình cờ. Sáng hôm ấy một màn sương mù dày đặc bao phủ căn cứ Takao. Các phi cơ được chỉ định bay đến oanh tạc các phi trường Mỹ trên đảo Ludon đã không thể cất cánh. Tại Manille, không thể nào tiên liệu được tình trạng này.

*

*     *

        Cầm đầu một đạo quân nhỏ bé hơn về số lượng và trang bị, một không lực bị giảm thiểu còn số không trước khi chiến đấu, và một hải lực gầy còm (đô đốc Hart đã cho di tản chiếc tuần dương hạm nặng Houston, các tuần dương hạm hạng nhẹ Marblehead và Boise, và chừng mười hai phóng ngư lôi hạm cùng vài tiềm thủy đỉnh về phía nam Phi luật tân, rồi đến Borneo để tránh khỏi bị phi cơ Nhật oanh tạc), tướng MacArthur không hề hy vọng có thể  đẩy được quân Nhật ra biển. Ông rút mình trong thế thủ. Kế hoạch của ông tiên liệu hai điểm kháng cự. Một điểm nằm trong bán đảo Bataan, điểm kia trên đảo Corregidor chế ngự lối ra vào vịnh Manille. Cần phải cầm chân các sư đoàn địch để chúng không thể được phái đến các chiến trường khác. Cùng với thời gian, ông Tướng tin tưởng rằng Hạm đôi Thái Bình Dương của Mỹ sẽ can thiệp và đến cứu giúp ông. Vào ngày đó, điều ông không biết chính là Hoa thịnh đốn chính thức xem Phi luật tân là một chiến trường phụ thuộc và Đô đốc Ernest J.King, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đã viết trong một phúc trình;

        «Không phải vì các tổn thất phải chịu đựng tại Trân Châu Cảng mà hạm đội của ta không thể đến Manille, như nhiều người đã tưởng (MacArthur) để giúp đỡ các lực lượng của ta đang bị áp lực nặng nề tại đấy. Một hành động như thế vào thời kỳ ấy và với các phương tiện mà chúng ta sẵn có để thi hành và theo đuổi nó, chỉ có thể đưa đến thảm họa... Lúc khởi đầu cuộc chiến chống Nhật, chúng ta bị dồn ngay vào thế thủ...»

        Tinh thần giữ thế thủ ấy đã có từ trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Chính lược về Viễn Đông do các bộ tham mưu Anh - Mỹ quyết định dự phòng trước hết việc phòng thủ Mã Lai, sau đó là phòng thủ Phi luật tân, vừa phải luôn luôn bảo vệ thường xuyên các đường giao thông hàng hải chủ yếu. Đấy là lý do khiến Đô Đốc Hart được lệnh đưa phần lớn hải lực của Asiatic Fleet tìm chỗ ẩn nấp và chỉ để lại cảng Cavite, trong vịnh Manilla, vài tàu ngầm, chín khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi và các chiến hạm phụ dịch.

        Ta sẽ thấy quân Nhật sẽ lợi dụng quyền làm chủ mặt biển và không phận dành cho họ như thế nào, chiến lược của Đồng minh sụp đổ như thế nào và MacArthur, bị cô lập, sẽ trở thành một nhân vật huyền hoặc như thế nào.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:51:13 AM

*

*      *

        Lợi điểm của lục quân, hải quân và không quân Nhật là chúng được tập trung dưới một thầm quyền duy nhất và chúng hành động theo một kế hoạch chinh phục được nghiên cứu rất nghiêm chỉnh, chống lại một kẻ thù không được chuẩn bị, võ trang yếu và không thể tổ chức được một hệ thống phòng thủ toàn diện đặt dưới một bộ tư lệnh duy nhất như MacArthur sắp khẩn khoản đòi hỏi Hoa thịnh đốn.

        Hai ngày sau cuộc oanh tạc các phi trường tại đảo Ludon, quân Nhật tấn công đồng thời cả Phi luật tân lẫn Mã Lai.

        Ngày 8 tháng 12 các lực lượng đổ bộ xuất phát từ Takao chiếm đảo Bataan nằm giữa Đài Loan và Ludon. Ngày 19, quân Nhật đặt chân lên đảo Caminguin trong lúc các lực lượng khác phát xuất từ quần đảo Pescadores, thiết lập được hai đầu cầu, một tại Aparri (phía bắc Ludon), và một tại Vigan (phía tây bắc), Ngày 12 tháng 12, một hạm đội hùng mạnh tập họp tại đảo Palan phía đông Mindanao, đổ bộ lên Legaspi phía nam Ludon với ý định tiến ngược lên phía bắc hương về Manille. Mười ngày sau các cuộc hành quân thủy bộ chiếm ở phía tây Vigan, Aringay, Agoo, Damrtis, rồi Linguayen trong khi ở phía đông nam vịnh Lamon xuất hiện các đoàn quân đổ bô khác xâm chiếm Mauban, Altimonan và Siain.

        Vẫn trong ngày 8 tháng 12, hạm đội Miền Nam của Nhật đến ngang với Singora nằm về phía đông bắc Mã Lai, oanh tạc khu vực này và tung ra các xuồng đổ bộ xung phong lên Singora. Patani và Khota - Burư đô đốc Philips, tư lệnh Hạm đội Anh đang bỏ neo tại Tân Gia Ba, muốn lợi dụng cơ hội trước mắt. Các lực lượng hải quân Nhật bị tách rời : một nhóm tấn công Mã Lai, nhóm kia còn đậu ngoài khơi Sàigòn. Hải đoàn tại Mã Lai bị yếu thế hơn chắc sẽ phải chiu khuất phục trước các đợt hải pháo của chiếc Prince of Wales và chiếc Repulse. Đô đốc cho nhổ neo ngay chiều hôm đó, lúc 17 giờ, và hướng mũi về Singora. Trời đầy mây bao phủ và giúp quân Anh cơ may thoát khỏi sự theo dõi của phi cơ thám sát địch. Nhưng cơ may đã trở chiều. Từ khi chiến tranh khởi đầu, may mắn cứ đứng về phía quân Nhật. Tại Trân Châu Cảng rồi tại Phi luật tân. Môt lần nữa, may mắn lai tán trợ quân Nhật tại Mã Lai. Chiều ngày 9 tháng 12, trời trở lại trong sáng. Đô đốc Philips thấy có thể bị tấn công nên ra lệnh rút lui. Các chiến hạm quay trở về, nhưng các tàu ngầm địch đã định được vị trí. Phi đoàn Nhật đồn trú tai Sàigòn nhận được phản lệnh. Những trái bom gắn sẵn dươi cánh phi cơ được vội vàng thay thế bằng thủy lôi. Mục tiêu của sứ mạng mới đã làm cho các phi công say sưa phấn khởi. Không có gì vinh dự hơn đối với họ bằng sự ra đi tiêu diệt Hạm đội Anh quốc. Tuy nhiên, tối ngày 9 ấy các oanh tạc cơ Nhật trở lại căn cứ mà không ném được một quả thủy lôi nào. Chúng lại cất cánh vào sáng hôm sau. Đúng 12 giờ, chiến hạm của đô đốc Philips bị xác định vị trí và bị tấn công. Năm thủy lôi bắn trúng chiếc Repulse, bốn trái trúng chiếc Prince of WaleSy vốn nổi tiếng là không thể bị đánh bại được. Hai chiến hạm chìm lỉm. Đó là một đòn kinh khủng giáng xuống lực lượng hải quân Đồng minh. Cuộc chiếm đóng Hồng Kông và đảo Guam tiếp theo sau đó ít lâu, liên lạc giữa quần đảo Hạ uy di và quần đảo Phi luật tân bị cắt đứt. Từ MacArthur chỉ còn có thể trông cậy vào lòng can đảm của binh sĩ thuộc quyền mà thôi.

*

*      *

        Và đây, MacArthur đơn độc đương đầu với số phận. Trong văn phòng bộ tham mưu quân đội Quốc Gia Phi luật tân đặt trên thành lũy Manille, trong một pháo đài xưa cũ, ông giải thích kế hoạch phòng thủ cho các sĩ quan, một bản đồ đảo Ludon trải ra dưới mắt họ. Manille tầm thường, nằm trong gọng kềm quân Nhật từ phía bắc đổ xuống, dọc theo bờ biển phía tây và trong rừng sâu và một cánh quân từ phía đông nam đổ lên. Mũi kềm xiết lại quanh thủ đô mục tiêu duy nhất của quân Nhật. Họ ước tính rằng sự chiếm đóng thành phố sẽ là dấu hiệu toàn thắng tại Phi luật tân. Họ tin chắc rằng viên tướng Mỹ sẽ bắt họ trả giá thật đắt trước khi kéo lá cờ trắng đầu hàng và rằng Maniile sẽ được bảo vệ cho đến hòn đá cuối cùng. Bộ tư lệnh Nhật đâu có ngờ rằng chiến thuật của MacArthur sẽ làm đảo lộn hết các tính toán của họ.

        « Manille sẽ không được bảo vệ, ông Tướng nói, Tôi sẽ tuyên bố thành phố được bỏ ngõ ngay lúc địch quân sắp tiến vào đấy ».

        Có hai lý do khiến ông làm như vậy. Lý do đầu tiên phát xuất từ lòng nhân đạo của người chiến sĩ lão thành. Ở tuổi 61, ông này còn mang những ảo tưởng về lòng cao thượng của địch thủ. Ông tưởng tượng rằng quân Nhật sẽ không oanh tạc thành phố và dân chung sẽ được thoát nạn. Lý do thứ hai có tính cách chiến lược. Mauille là một nơi không thể phòng thủ được với các phương tiện thô sơ mà ông có trong tay. Nếu MacArthur muốn cầm chân quân Nhật càng lâu càng tốt, ông phải tập họp quân sĩ vào một địa điểm kiên cố tự nhiên trên đó các cuộc tấn công của địch sẽ bị bẻ gãy : tuy nhiên phải là một địa điểm giữ được liên lạc với bên ngoài bằng đường biển, một lối ra vào mà lực lượng tăng viện đòi hỏi có thể đồ bộ lên được.

        Địa điểm lý tưởng ấy đã được MacArthur tìm thấy từ nhiều tháng trước. Ông bí mật tích tụ lương thực, nước và đạn được. Không phải là không suy nghĩ nhiều khi ông cho mở những con đường trong rừng và xuyên qua các núi đá mà cho đến lúc đó vẫn được coi như là không thể vượt qua được. Ông Tướng đưa ngón tay chỉ trên bản đồ : ngọn núi Bataan, cao độ 4.700 thước, đỉnh núi chế ngự trường sơn Mariveles (4.400 thước). Từ vịnh Manille, khối đá không người lai vãng và hiểm trở, thường chìm khuất trong sương mù ẩm thấp của gió mùa ấy, có thể được trông rất rõ. Nó tiến thẳng ra biển như một chiếc mốc khổng lồ, che chở cửa biển. Cuối bán đảo - pháo đài ấy, một hòn đảo nhô ra, một núi đá khổng lồ đã tách ra, thời tiền sử, rồi trôi giạt vào cách bờ biển vài trăm thước. Hòn đảo mang tên Corregidor. Rất kiên cố. Một đạo quân trú phòng đã đóng chắc và sâu trong đó : ngọn núi đá được đào xới thành nhiều hành lang, trong ấy lương thực và đạn được đã được tích lũy. Một đường xe lửa điện đảm trách sự giao thông từ điểm này đến điểm kia và, dưới ánh mặt trời, tạo cho pháo đài một vẻ đẹp của khung cảnh du lịch.

        « Nỗ lực, MacArthur giải thích, gồm có trì hoãn cuộc tiến quân của các đạo binh Nhật bằng mọi phương tiện, trong khi các tiểu đoàn có nhiệm vụ phòng thủ Manille sẽ đến bố trí tai Bataan. Để được thế, phải giữ cây cầu Calumpit cho đến phút, chót... »

        Ngón tay của MacArthur rà dọc theo con lộ độc đạo chạy từ Manille đến Bataan ngang qua đồng ruộng và đầm lầy. Móng tay được cắt khéo léo, móng tay của một ngươi đàn ông được săn sóc, vạch một nét dưới chữ Calumpit. Công cuộc bảo vệ cây cầu là chủ yếu. Nó là thừa số căn bản cho sự thành công của cuộc điều quân. «Riêng phần các toán quân chặn đứng bước tiến của quân xâm lăng thì phải tìm cách rút về Bataan trú ẩn bằng cách nhảy lùi từng bước liên tiếp».

        Quân Nhật chỉ chủ tâm đến Manille, đã để cho bị lừa. Họ không một lúc nào ngờ đến chiếc bẫy mà MacArthur đã giăng ra trước mặt họ.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2019, 06:52:37 AM
        
*

*     *

        Ông Tướng Mỹ còn nhìn xa hơn, còn vượt quá cả cuộc điều quân tại chỗ. Điều đã chứng tỏ tài năng của một chiến lược gia nơi ông. Ngày 13 tháng 12, trong những ngày đầu tiên của cuộc tấn công do quân Nhật tung ra, ông đã điện cho ông TổngTrưởng chiến tranh Henry Stimson, đề nghị can thiệp với Staline để Nga Sô tuyên chiến với Nhật : «Nga vừa đẩy lui quân Đức trước Mạc tư khoa, Staline vừa đạt được các chiến thắng lớn. Đã đến lúc thuận tiện để Nga gây áp lực phía đông bắc và cứu vãn Thái Bình Dương». Đấy là ý tưởng của ông. Đấy là ngôn ngữ của chính ông. Nhưng Hoa thịnh đốn giả như điếc. Chiến tranh với Nhật Bản là một công việc hoàn toàn thuộc quyền người Mỹ. Phải nói ngay rằng khi quân Nga sẵn sàng tuyên chiến với Nhật thì quân lực Mỹ đã thắng cuộc chiến tại Thái Bình Dương rồi, và MacArthur sẽ chống lại, với sự cuồng nộ đặc thù của ông, quyết định quá chậm trễ của Nga Sô.

        Không chờ đợi Hoa thịnh đốn đi những quân cờ thắng thế trên bàn cờ chiến tranh vĩ đại, MacArtnur di tản chiến thuật về Bataan. Để cho cuộc di tản được mau chóng, ông trưng dụng xe buýt tại thủ đô và xe vận tải của các công ty tư nhân. Đoàn công voa dài tiến về bán đảo, tiếp sau đó là đám đông thường dân Phi luật tân hỗn loạn bỏ lại nhà cửa và của cải với niềm hy vọng điên rồ là sẽ được an toàn sau các đoàn quân chiến đấu. MacArthur đã tiên liệu việc tiếp tế cho quân đội trong nhiều tháng, chớ không hề dự trù việc tiếp tế cho thường dân. Tuy vậy ông không xô đuổi họ trở lại. Ông còn đón tiếp cả những người bệnh tật và bị thương và săn sóc họ, ông Tướng hoàn toàn bị ràng buộc với dân tộc Phi luật tân. Ông đã dâng hiến cho họ tất cả tài ba quân sự của ông và cùng lúc một tấm lòng thân ái rộng rãi bao la.

        Ngày 22 tháng 12 đến lượt MacArthur rời khỏi bản doanh tại pháo đài cổ Calle Victoria vì quá lộ liễu trước bom đạn của phi cơ Nhật và căn hhà sừng sững giữa trời của ông tại tầng chót khách sạn Minilla Hotel. Ông bỏ lại đấy những kỷ vật cá nhân và của thân phụ, nhất là các độc bình cổ hiếm có, tặng phẩm của Thiên hoàng Nhật Bản có thể nhận ra được nhờ dấu hiệu hoàng gia : 16 cánh hoa cúc vàng mỏng. Vợ và con ông đi theo ông. Lúc nào bà Douglas MacArthur cũng có vẻ mặt tươi cười dễ mến. Sự hiện diện của bà giữa các quân sĩ trong khung cảnh cuồng nộ và hỗn loạn của trận chiến là một thứ an ủi cho họ. Cũng không khác gì chồng, bà không để lộ vẻ kinh hoàng hay tỏ ra ngạo mạn. Вà vẫn bình dị trong mỗi hành động. Và, ngoài ra, bà vẫn thanh lịch, trau chuốt. Như là cả một phép lạ không làm ai ngạc nhiên và sẽ tái diễn, mỗi ngày, dưới các trận mưa bom.

        MacArthur di tản đến Corregidor, ông đặt bản doanh tại địa điểm lộ liễu nhất của đẩo, do đó dễ bị tấn công nhất. Trên đỉnh. Tại đó có một trại binh cũ ba tầng lầu nằm suốt chiều dọc đỉnh núi. Người ta gọi đấy là «Topside». Ông Tướng cho kéo cờ Mỹ lên như để thách thức các oanh tạc cơ Nhật. Hành động tự tại ấy là chứng cớ của chính bản chất con người ông Tổng tư lệnh, một vị tư lệnh không biết sợ là gì, không ngần ngại rời khỏi chỗ ẩn nấp để đến quan sát hiệu quả phá hoại của bom đạn khi chúng đang rơi xuống, và dùng ống dòm nhìn các đội hình tam giác sáng bạc của những phi cơ đang gieo rắc sự chết chóc. Những hoàn cảnh mà sự điềm tĩnh, thản nhiên thể hiện cũng là những hoàn cảnh mà các nhà chức trách Phi luật tân sống qua, những người không làm sao hiểu được rằng HoaKỳ, quốc gia đồng minh, quốc gia bạn, đã làm tất cả đề nghiền nát Hitler1 và dùng đài phát thanh ca ngợi vinh quang chiến thắng ấy, lại hoàn toàn bỏ rơi quần đảo này cho Nhật Bản. Khi Tổng Thống Quezon nghe giọng nói của Đại tá Knox loan báo rằng công cuộc sản xuất phi cơ không ngừng gia tăng bên kia Thái bình Dương, và MacArthur nói rằng ông chỉ còn có bốn chiếc phi cơ để bảo vệ Ludon, ông ta bừng bừng nồi giận một cách chính đáng. Bằng quyền uy của mình, bằng thái độ trầm tĩnh, bằng niềm tin và quan năng chiến đấu phi phàm của ông, MacArthur trấn an ông Tổng Thống. Ông lại phục hồi lòng can đảm nơi chính các chiến sĩ vốn không phải không biết rằng ông Tướng đã chọn lựa chỗ xấu nhất trên đảo Corregidor để làm nơi trú ẩn của mình.

-----------------------
        1. Đọc bộ sách «HITLER» của nhà xuất bản Sông Kiên.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:28:38 AM

        Vị trí ngạo mạn của ông tại Topside lôi kéo ngay các oanh tạc cơ cuồng nộ của Nhật đến đỉnh hòn đảo. Các cuộc oanh tạc bắt đầu ngày 22 tháng 12. Bom, đại liên do các phi cơ đâm bổ tác xạ đã bắt buộc ông Tướng phải rời ngôi nhà trắng nơi ông để gia đình trú ngụ. đoạn phải rời trại binh vẫn còn lộ lên trên đỉnh hòn đảo, rồi một căn hầm dưới sâu năm thước cách mặt đất để rồi sau cùng xuống ẩn dưới đường hầm xe điện đục trong núi đá. Từ đó đâm nhánh ra những hành lang khác nơi đặt bệnh xá và các cơ sở phụ thuộc, bộ tham mưu, cơ quan hành chánh và truyền tin, chỗ ẩn của các xạ thủ súng cao xạ D.C.A. Cuộc sống ra bên ngoài hoàn toàn bị cấm chỉ. Các chiến sĩ phòng vệ đảo chỉ ăn một bữa ăn nóng mỗi ngày. Rồi họ chấp nhận đồ hộp theo khẩu phần, cơm và thịt bò, sáng và chiều. Sau vụ nổ hồ dự trữ nước, cái khát là một cơn thống khổ hàng ngày.

        Chung quanh MarArthur là những con người sẽ cùng ông về sau mở cuộc tấn công và đẩy quân Nhật ra khỏi Thái Bình Dương ; Sutherland, một con người lạnh lùng sắt đá không được mấy ai ưa nhưng đã tạo ra sự ngưỡng mộ ; Marshall, người nắm giữ ngành quân nhu ; Pat Casey. Sĩ quan công binh, người sẽ được sở cậy để xây cất các doanh trai tạm thời tại Úc và các phi trường «tiền phương» ngay giữa rừng rậm ; Márgnat, chuyên viên pháo binh phòng không và phòng thủ duyên hải ; Willoughby, trưởng phòng nhì, người mà mỗi phúc trình là cả một bài học về lịch sử, điều làm cho ông Tướng cực kỳ thích thú. Nhiều khi ngay những lúc cuộc oanh tạc dữ dội nhất, ông tướng cùng với viên tùy viên người Phi luật tân rời khỏi đường hầm. Ông muốn đi xem những «sự khởi hành» của các dàn cao xạ phòng không và những «sự đến nơi» của các tràng bom đạn từ trên không tuôn xuống. Thật là hoàn toàn điên rồ. Ngay cả bà Douglas McArthur, luôn luôn tươi cười, luôn luôn ăn mặc chải chuốt, luôn luôn niềm nở trong khung cảnh bùn lầy, máu lửa, và đổ vỡ cũng không lên tiếng để trình bày với ông rằng mọi sự can đảm vô ích đều là trọng tội. Không những đối với chính mình mà còn đối với các chiến sĩ sở dĩ còn chiến đầu là vì ông tư lệnh có hiện diện, bên cạnh họ, tin tưởng và vui thích khi gieo sự hỗn loạn cho phe địch.

        Tại Bataan, nơi được biến thành doanh trại dưới hầm hố, tình thế cũng không sáng sủa hơn. Phòng tuyến Bingac - Orion sẽ còn được giữ vững cho đến tháng 4 đối diện với sư đoàn 4 của Tướng Homma, một quân nhân độc đoán, kiêu căng, hung bạo, không chấp nhận một sự kháng cự nào, nhất là của địch thủ. Pnương tiện của quân phòng thủ đâu yếu kém, cả về số lượng lẫn phẩm chất, hơn của quân tấn công nhiều. Tướng Wainwright biết cách bổ trí tuyệt diệu các dàn trọng pháo. Những vụ phản pháo của ông rất hữu hiệu và bẻ gãy nhiều cuộc xung phong của bộ binh thường điên cuồng tràn lên các cứ điểm được quân Mỹ cố thủ một cách tuyệt vọng.

        Homma nhận thấy rằng trên chiến trường, căn cứ vào ưu thế về số quân số và về không lực của ông, cuộc tấn công của ông đã thất bại. Hồng Kông đã bị thất thủ trong hai ngày. Tân Gia Ba sẽ thất thủ sau hai tháng. Tại đây ông đụng đầu với những cứ điểm quá vững chắc, trong đó hùng khí đã thế chỗ cho sức mạnh hỏa lực. Trong tháng giêng, các lực lượng đổ bộxuất phát từ Moran, trên bờ biển tây bắc Ludon cố đặt chân lên các địa điểm khác nhau trên bán đảo sau lưng quân đội Mỹ-Phi. Những toán hành quân thị uy nhỏ này đều lần lượt bị tiêu diệt.

        Ông Tướng Nhật xin thêm tăng viện. Người ta gửi đến cho ông : bộ binh từ Hồng Kông, pháo binh từ Trung Hoa, không quân từ Miến Điện. Tướng Guyana, Tổng Tham mưu trưởng của Thiên hoàng đến thị sát tại chỗ. Tại Đông Kinh, người ta lo âu. Làm sao mà những con người tả tơi, ngất ngư vì đói khát, bị mưa gió quật ngã, bị bom đạn quần nhừ tử, lại có thể cản trở guồng máy chiến tranh của Nhật được ? Có tin đồn là Homma đã mỗ bụng tự sát. Thật hay giả ? Đấу chỉ là một biến cố trong tấn thảm kịch, mà rốt cuộc người ta không còn biết ai chết ai sống nữa. Sự kiện cụ thể là ông tướng Nhật bị thay thế, điều này đối với một sĩ quan làm tư lệnh, trước quân địch , có ý nghĩa tương đương với một vụ chém đầu.

        Sự giận dữ của Đông Kinh được biểu hiện qua giọng nói của người nữ xướng ngôn viên trứ danh, Hoa Hồng của Đông Kinh, cô hăm MacArthur rằng ông sẽ bị treo cổ tại quảng trường trước Hoàng cung, nơi mà các pháo đài thuộc tòa nhà chính phủ chế ngự và là nơi tổ chức các cuộc diễn hành của vệ binh trong những giờ phút trọng đại của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2019, 02:30:40 AM

        Cay đắng thay, trong những lời đe dọa của Nhật lại có xen lẫn những lời khen tặng của Tổng thống Roosevelt, lời khen tặng của Anh hoàng, lời khích lệ của ông Tổng trưởng Chiến tranh, Stimson, và của các Tướng Pershing và Marshall. Những điện văn được gửi đến mau hơn là quân tăng viện : «Những lời khen ngợi chính thức và nồng nhiệt nhất của cá nhân tôi trước sự chống cự đẹp đẽ của ông. Ông vẫn luôn luôn hiện diện trong tâm tưởng chúng tôi. Hãy tiếp tục chiến đấu hăng say», ký tên Roosevelt.

        Marshall tìm những từ ngữ nói với tất cả các chiến binh : «Trận đánh mà ông và binh sĩ dưới quyền đang đương đầu, trên bộ và trên không, đã gây ra một niềm xúc động sâu xa nơi dân tộc Hoa Kỳ và xác nhận niềm tin mà chúng tôi đã đặt nơi ông trong tư cách một vị tư lệnh».

        Thật ra dân chúng Mỹ đều biết rõ sự can đảm của những chiến sĩ tại Bataan và tại Corregidor. MacArthur trở thành anh hùng quốc gia. Ông nhận được ngôi sao thứ tư trong khi ông chờ đợi sự yểm trợ của không và hải quân. Đô Đốc Hart đã đưa hạm đội của ông đến trú ẩn trong hải phận Nam Dương để rồi để cho bị tiêu diệt ở đấy, hoàn toàn thảm bại. Hải quân không còn đảm bảo được sự giao thông giữa Ludon và các lãnh thổ không bị Nhật chiếm đóng nữa.«Chúng tôi không còn nước uống, Trung sĩ Ripley một trong những người thân cận của ông Tướng nói, nhưng chúng tôi vẫn có tinh thần.» Phẵn ứng của những kẻ sống sót không phải bao giờ cũng cao quí như vậy. Tình hình càng bi thảm, ngôn ngữ của họ càng tục tằn. Nhưng họ dứt khoát chấp nhận thà chết hơn là đầu hàng.

        Một trận cười chua chát vang lên để trả lời một bức thư do quân Nhật gởi cho ông Tướng ít lâu trước khi một trong các cuộc đại tấn công của họ bắt đầu: «Thưa ông, ông biết rất rõ rằng ông đã thất trận. Giờ phút cuối cùng đã kề cận. Chỉ còn vấn đề là xem ông còn có thể chống giữ bao lâu nữa. Ông đã phải áp dụng chế độ nửa khẩu phần rồi. Tôi rất khâm phục tinh thần chiến đấu của ông... Song le, để tránh các tổn thất vô ích về nhân mạng... chúng tôi khuyên ông nên đầu hàng».

        MacArthur không thèm trả lời. Phi cơ địch rải tràn ngập xuống Bataan và hòn đảo bảo vệ vịnh Manille nhiều truyền đơn khó chịu. Một trong các truyền đơn in hình ba binh sĩ Mỹ sắp chết đói bị bao vây bởi một rừng lương thực, gà quay, trái cây, phó mát, cà phê, rượu chát, rượu ngọt, và bên dưới có lời ghi chú : «What are you fighting for1

        Tướng MacArthur tính rằng sẽ có lúc ông có thể  lợi dụng một sự nao núng trong các đợt xung phong của quân Nhật để mở cuộc phản công và chọc thủng phòng tuyến địch. Mục đích của ông là tiêu diệt đối phương không phải ở chính diện, ông không có đủ lực lượng để làm như thế, mà là làm hao mòn, quấy phá, dệt chung quanh địch một vòng đai bất an ninh khiến cho địch bị đặt trong tình trạng báo động và bị áp lực thường trực. Người Phi luật tân phải giữ chặt trên lãnh thổ của họ các đạo quân Nhật mà các chiến trường khác rất cần sử dụng. Phương cách, chính là du kích chiến. MacArthur biết rành xứ này hơn là quân chiếm đóng, ông muốn khai thác sự hiểu biết địa thế này. Tướng Marshall không tán thành kế hoạch này, Ông ta trách cứ ông là bất động hóa cho các thành quả không đáng kể, một vị tổng tư lệnh mà vị thế, vào giờ phút ấy, là tai Úc, một nơi mà hiện đến phiên bị đe dọa. Không thể sở cậy vào sự giúp đỡ của Anh quốc nữa, Úc châu ràng buộc số phận của mình vào số phận của Mỹ quốc, đặt các lực lượng hải quân, không quân và lục quân dưới quyền sử dụng của Hoa Kỳ và khẩn nài Hoa thịnh đốn chỉ định một vị tư lệnh duy nhất. Do đó đã có lệnh cho MacArthur phải bỏ con đường hầm của g tại Corregidor và phải đến Úc châu càng sớm càng tốt.

        Ông Tướng phản đối. Ông có ý định từ chức» rồi tình nguyện làm một binh sĩ thường tai Bataan, Ông xin Marshall cho ông một thời hạn thời gian đủ để tổ chức du kích chiến. Để tỏ thiện chí nhưng với thái độ miễn cưỡng, ông từ bỏ ý định đi đến miền bắc Ludon, nơi mà một vài thành phần quân đội Phi luật tân vẫn còn tiếp tục chiến đấu sau khi bị sức tiến quân của Nhật tràn ngập, bị cô lập hóa và bị bỏ mặc cho một kết cuộc bi thảm, không có đạn dược và lương thực

----------------------
        1. «Tại sao anh lại chiền đấu ?»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:48:05 AM

        Roosevelt cho MacArthur một thời hạn, nhưng đổi lại yêu cầu ông đưa vợ con đi lánh nạn Họ sẽ lên một tiềm thủy đĩnh sẽ đưa Tổng Thống Phi luật tân, Quezon, đến Hoa Kỳ. Bà MacArthur cảm thấy phiền lòng vì sự mặc cả này. Bà từ chối rời chồng. Bà từ chối làm cho các chiến sĩ thiếu mất sự an ủi mà sự hiện diện của bà mang lại cho họ. Một phụ nữ trong cơn biển động, thanh lịch và tươi cười, chính là chứng cớ sống động cho thấy rằng niềm hy vọng chưa bị mất hẳn. Tuy nhiên sau cùng MacArthur phải tuân theo lý lẽ của Hoa thịnh đốn. Ngày 1l tháng 3 năm 1942, bộ tham mưu của ông được thành lập, bộ tham mưu phục hận. Sutherland, Casey, Akin, Marquat, Willoughby đều được chỉ định. Cùng đi với ông tướng còn có trưởng phòng mật mã, Đại tá Shern, người mà quân Nhật không ngần ngại tra tấn nếu ông bị rơi vào tay họ, và Joseph Mc Micking, người biết rõ về quần đảo còn hơn là chính MacArthur nữa. Chỉ còn việc giao lại quyền chỉ huy Bataan và Corregidor cho Tướng Wainwright, MacArthur hy sinh ông ta một cách bất đắc dĩ. Chưa bao giờ một quyết định lại đau đớn đến như vậy đối với người chiến thắng trong tương lai tại Thái Bình Dương.

        Trong hoàn cảnh hiện tại, sự ra đi của ông Tướng mang tính cách một cuộc đào tẩu. MacArthur không đi đến Úc châu, ông trốn khỏi Phi luật tân. Tùy viên hải quân của ông, Trung úy John Bulkely sẽ kiềm soát lại tình trạng сủа bốn chiếc khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi (PT. Boats) thuộc hải đoàn thứ 3, còn sót lại sau vô số các cuộc oanh tạc xuống hải cảng. Đấy là những chiếc thuyền gỗ mong manh được trang bị các động cơ Packard cực mạnh. MacArthur đã chọn chúng vì nhẹ và chạy mau. Chúng được chế tạo để đánh bất ngờ địch quân, phóng ra bốn thủy lôi vào địch và mau lẹ biến mất cũng như khi đến. Khốn thay, chúng ở trong tình trang rất tệ. Động cơ đã qua mệt mỏi. Chúng không còn quay được hết sức nữa. MacArthur nhún vai, dửng dưng, Corregidor hay các khinh tốc đỉnh kiệt quệ !

        Kế hoạch trốn thoát được thông báo cho Tướng Brett, tư lệnh căn cứ đồng minh được thiết lập phía bắc Úc châu. Giai đoạn một MacArthur phải dùng đường biển để đến phi trường Del Monte, vẫn còn nằm trong tay quân Mỹ tại phía nam Mindanao. Giai đoạn hai Ba pháo đài bay do Brett gởi đến sẽ chở ông và đoàn tùy tùng đến Darwin : Brett xin sự giúp đỡ của Đô Doc Herbert Fairfax Leary, ông này vừa mới nhận được nửa tá pháo đài bay mới. Đô đốc không chịu rời xa các phi cơ của ông. Ông cần chúng cho hải quân. Brett khẩn nài. Ông nại ra tầm quan trọng của sứ mạng phải hoàn thành. Sau cùng Leary nhượng bộ. Ông cho mượn một pháo đài bay không thể được giao cho sứ mạng nào nữa và trong tình trạng cũ kỹ sắp sửa được quăng vào đống sắt vụn.

        Trong đêm 11 tháng 3. MacArthur đi về phía hải cảng nhỏ bé tại Corregidor, không còn được xử dụng nữa từ nhiều tuần lễ rồi. Bốn chiếc khinh tổc đỉnh bỏ neo giữa đống đá hỗn độn của chiếc đập bị vỡ tan. Thời tiết thuận lợi. Những đám mây dày bao phủ bầu trời làm cho bóng đêm đen tối hơn. Nhiều bạn bè hộ tống ông Tướng và bộ tham mưu của ông. Họ giữ im lặng. Giữa đám dông ấy Jean và cậu con trai Arthur (lúc đó được bốn tuổi) bước đi, cậu bé không hề đặt câu hỏi về các biến cố. Cậu đã trông thấy nhiều đến mức không còn biết sự sợ hãi, nỗi âu lo bắt đầu và kết thúc tại đâu. Cậu chỉ biết có một điều, đó là người ta đang rời khỏi địa ngục. Ông Tướng ra những mệnh lệnh cuối cùng cho Wainwright. Cuôc chiến đấu phải tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng ! Giọng ông vẫn giữ vẻ điềm tĩnh thường lệ. Bao nhiều là ngang tàng trấn áp những người chung quanh cũng không dấu được nỗi lo âu về cơ may thành tựu của chuyến hành trình sắp được bắt đầu. Mặt biển đầy tàu bè của Nhật. Trung úy Bulkely dự liệu chạy theo đội hình sát cận để ít bị lộ liễu hơn. Trong trường hợp có báo động nguyên tắc là mạnh ai nấy lo.

        MacArthur để cho bộ tham mưu của ông bươc lên tàu trước tiên. Sau cùng giờ chia tay đã đến. Ông Tướng siết tay Wainwright thật lâu. Ông này không giấu được niềm xúc động. Ông biết mình bị hy sinh. Ông bị giao cho sự thù hận ngày càng lớn lao của một đối phương tin chắc rằng sự chống cự của các vị anh hùng sẽ chấm dứt và lúc đó những người này sẽ trả giá bằng những khổ đau được đo lường một cách khôn ngoan cho lòng can đảm và sự hy sinh quên mình của họ. Nỗi thống khổ của họ được ghi vào lịch sử chiến tranh dưới nhan đề «cuộc hành trình của thần chết1

-------------------
        1. Về những nối khổ của tù binh chiến tranh đồng minh và sự tàn ác vô tiền khoáng hậu của Nhật, xin đọc : «TUYỀN ÚY MIỀN ĐỊA NGỤC NHẶT BẢN...» Sông Kiên sẽ xuất bản.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2019, 06:48:36 AM

        Wainwright lộ vẻ nóng nảy trong thoáng chốc. Cái bắt tay kéo dài là thời giờ quí báu đã trôi qua. Và rồi, ông chẳng phải là vị tư lệnh hiện tại đó sao ? Những xúc động quá mạnh làm cùn nhục các quyết định. MacArthur cầm lại tay ông :«Tôi sẽ trở lại», ông nói. Đấy không phải là một lời hứa mà là một lời thề. Ông Tổng tư lệnh Quân lực Đồng minh tương lai tại Thái Bình Dương, từ nay chỉ có lời thề này trong đầu óc. Lời thề ấy sẽ dẫn đạo tất cả chiến lược của ông. Sự chu toàn lời thề ấy bất chấp các chống đối hay sự diên trì của Hoa thịnh đốn, sẽ đưa ông đến Đông Kinh trong tư cách người chiến thắng.

        MacArthur bước lên chiếc khinh tốc đỉnh số 3. Máy đã nổ. Với tốc độ 30 hải lý một giờ, đoàn tàu hướng về phía đảo Mindora, ở phía nam. Mây rất thấp. Biển động. Hải hành theo đội hình sát cận thật khó khăn và nhọc nhằn. Trước khi thấy một nhóm đảo hoang ít lâu, nhóm đảo Cuya, bóng các tuần dương hạm Nhật hiện ra giữa trời và biển. Lệnh quay về bên phải được ban ra. Sự điều động đổi hướng đã giúp cho đoàn tàu tránh xa lộ trình của chiến hạm địch, nhưng cũng làm các khinh tốc đỉnh rời xa nhau. Chiếc số 2 liền đụng đầu ngay với một khu trục hạm lạ. Một chiến hạm Nhật, không còn ngờ gì nữa. Thủy lôi sẵn sàng. Lệnh khai hỏa sắp được ban hành thì phần phía trước của cái được gọi là «khu trục hạm» ấy xuất hiện, trên chân trời lúc đó bắt đầu ửng sáng, vóc dáng MacArthur nổi bật, đồ sộ. Tại nhóm đảo Cuya, đoàn tàu tập họp lại. Người ta chờ đợi vô hiệu một tàu ngầm bạn đến, với nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn người đào thoát trong hải phận Mindanao. Chiếc tàu ngầm không đến nơi hẹn. Họ lại khởi hành. Biển mỗi lúc một động dữ. «Ta có cảm tưởng như đang ở trong một bình lắc rượu cốc tai», ông tướng nói, không muốn làm mất vẻ trầm tĩnh và óc hài hước của mình.

        Một lần báo động thứ hai đã làm đoàn tàu đứng sững bất động. Động cơ được tắt. Lần này nữa, những người trốn thoát Corregidor lại qua được mà không bị nhận thấy. Những thủy thủ canh đêm của Nhật chắc lầm tưởng họ là những ngư phủ Phi luật tân. Mindanao đây rồi ! Hai khinh tốc đỉnh trong số bốn chiếc đến được mục tiêu. Một chiếc bị bỏ rơi bởi vì hết xăng. Chiếc chở Willoughby lạc đường, hoa tiêu không biết rành lắm về các bờ biển những quần đảo phía nam. Sau cùng tất cả đều quây quần chung quanh MacArthur tại Del Monte. Họ thấy chiếc pháo đài bay cũ rích của Tướng Brett đáp xuống, MacArthur gởi trả nó lại về căn cứ ngay lập tức. Người can thiệp với Đô Doc Leary không còn là tướng Brett nữa mà là Hoa thịnh đốn, đô đốc phải nhượng bộ. Ông ta phải miễn cưỡng phái ba pháo đài bay rời khỏi không đoàn của ông với lệnh đến Mindanao để chở các vi anh hùng tại Phi luật tân về.

        Thời gian chờ đợi các pháo đài bay của hải quân kéo dài ba ngày. Ba ngày trong đó các khu trục cơ Nhật được báo động, đã gia tăng gấp bội các cuộc không thám với hy vọng chặn bắt được các phi cơ Mỹ. Phải nói rằng, trong rừng rậm, tin tức lan truyền thật nhanh. Bộ tư lệnh tối cao Nhật không phải là không biết có sự hiện diện сủа MacArthur. Mọi chuyện đều được làm để bắt ông cho được. Một sợi dây treo cổ đã sẵn sàng ở Đông Kinh để chờ đợi người lãnh đạo công cuộc phòng thủ Phi luật tân.

        Ngày MacArthur đặt chân lên lãnh thổ Úc châu tại Batchellor, gần Darwiti, phi cơ địch đã tưới bom 250 kí lô lên thành phố. Đấy là một lời cảnh cáo Úc châu. Quân Nhật muốn tiẽp tục theo đuổi cuộc tấn công tận bên kia Tân-Guinée, mà họ đã chiếm phần phía bắc để cắt đứt đường giao thông giữa Úc châu và Hoa Kỳ và sau đó để tấn công vào Úc trong tình trạng gần như không được bảo vệ ngỏ hầu xứ này không thể trở thành một căn cứ của Mỹ có thể xuất phát các cuộc tấn công vào những cứ điểm của Nhật tại miền Nam.

        Vừa mới đặt chân xuống Darwin, MacArthur quyết định đi Melbourne để tiếp xúc với chính phủ Úc. Mục tiêu cấp thời của ông là tập họp ngay một sư đoàn, nắm quyền chỉ huy và trở lại Phi luật tân. Ông đã hứa với Wainwright là sẽ trở lại giúp ông ta. Lời hứa của người quân nhân nơi ông sẽ được giữ đúng. Suy cho cùng, công cuộc phòng thủ Úc châu chính là nằm tại Bataan và Corregidor. Ông tin chắc như thế.

        Trong chuyến hành trình bằng xe lửa dài 2500 cây số qua sa mạc và rừng rậm miền trung Úc châu, ông được Tướng Marshall viếng thăm, ông này nói thẳng hết sự thực. Ông ta thắng bớt sự bồng bột của ông Tướng. Để tự vệ, Úc châu chỉ có độc một sư đoàn. Không lực thì gồm các phi cơ lỗi thời, được vá víu qua loa bằng «kẹo cao su và dây nhợ». Mọi hy vọng tiếp cứu 25.000 người đang cố thủ ngọn núi đá Corregiđor và dãy núi Bataan đều bay bổng, tiêu tan. Ngoài ra, MacArthur thấy mình đang đứng trước một kế hoạch phòng thủ Úc châu vô vọng. Một phòng tuyến từ Brisbane đến Adelaide giới hạn vùng phải được bảo vệ. Vùng này là một thứ quả tim của xứ sở với các thành phố lớn Melbourne, Sydney, và Canberra. Phần còn lại, Nam Úc châu, Tây Úc và Queensland sẽ biến thành tiêu thổ và bỏ lại cho quân xâm lăng.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:35:38 AM

        MacArthur nhìn vấn đề với sự táo bạo hơn và chắc chắn là với óc thực tiên hơn. ông sẽ bảo vệ Úc châu từ bên ngoài biên giới của nó. Mục tiêu của ông là đập vỡ guồng máy xâm lăng khổng lồ của Đông Kinh. Không những chỉ là giữ vững cứ điểm mà còn tấn công, ngay cả với các lực lượng yếu kém hơn. Ông sẽ cho xây dựng một căn cứ xuất phát vững chắc trong vùng đông nam Tân-Guinée tại Port Moresby trên bờ Biển San Hô. Nằm giữa đoàn quân viễn chinh của ông và của quân Nhật là dãy trường sơn kinh khủng «Owen Stanley» (cao 4000 thước) mà quân Nhật chỉ có thể vượt qua với giá các nỗ lực và tồn thất quan trọng. Tại Melbourne, MacArthur được dân chúng tiếp đón như một quốc trưởng. Người ta hoan hô ông, ném hoa vào ông. Tất cả hy vọng của xứ này đều hướng vào ông. Kể hoạch của ông được chấp thuận. Nước Úc sẽ hoàn toàn giúp đỡ ông. Khốn thay, một tin tức bi thảm, không làm ai giật mình, đã làm ông Tướng bối rối xúc động Bataan đầu hàng ngày 9 tháng 4, Corregidor một tháng sau, ngày 6 tháng 5 năm 1943. Phải bắt đầu lại từ số không. Ngày 8 tháng 5, ông viết cho Tổng Thống Roosevelt. «Sự thất thủ Corregidor và sự sụp đồ của công cuộc kháng cự của người Phi luât tân, cũng như sự thảm bại tại Miến Điện, đã tạo nên một tình thế mới. Ít ra là hai sư đoàn địch và tất cả không lực cho đến nay vẫn bị cầm chân tại Phi luật tân, nay được rảnh tay để thực hiện các sứ mạng khác, Quân chiếm đóng tại Mã Lai và Nam Dương có thể được tập hợp lại do sự kiện là cảm tình của dân bản xứ dành cho quân Nhật khiến cho việc duy trì những đoàn quân lớn trở nên vô ích. Hạm đội Nhật chưa xung trận và sẵn sàng tham dự cuộc tấn công mới. Một hành động sơ khởi của địch đã được bộc lộ về phía Tân-Guinée và trên các trục giao thông giữa Hoa Kỳ và Úc châu. Các biến cố đã tung ra trong vùng tây Thái Bình Dương một tiềm lực quân sự địch kinh khủng và nguy hiểm. Ít có hy vọng cho thấy tình thế sẽ vẫn bất động.

        Tôi không nghĩ rằng quân Nhật sẽ tung ra cuộc tấn công qui mô nhằm vào Ấn Bộ, vào lúc này (đây chính là mối ưu tư của Churchill). Chắc chắn là địch có khả năng làm điều đó, nhưng họ sẽ có lợi hơn nếu hoãn lại một hành đông như thế. Trái lại, một cuộc tấn công về phía nam có thể tựa vào một loạt các căn cứ mà họ đã sửa soạn. Nó cho phép tập hợp tất thảy hải lực và không lực, đây không phải là trường hợp một cuộc tấn công về phía Ấn Độ .

        MacArthur giải thích rằng Nhật Bản không có lợi gì mà chia hai hạm đội của họ. Họ phải hoàn tất công cuộc chiếm Tân-Guinée. Họ sẽ tìm cách đánh Port Moresby. Chính tại đó, trên một chiến trường do ông chọn lựa, mà MacArthur phải chờ đợi quân Nhật. Quyết định của MacArlhur tối quan trọng. Nó sẽ ảnh hưởng đến toàn thể cuộc chiến tranh trên Thái Bình Dương.

        Cũng như đối với các quyết định quan trọng khác, quyết định này cũng bị nhiều tiếng chỉ trích gièm pha. Họ nhận xét rằng ông Tổng Tư lệnh không có đủ phương tiện chặn đứng cuộc tiến quân của Nhật. Thiếu hàng không mẫu hạm, thiếu đạn dược, thiếu địa điểm huấn luyện du kích chiến, thiếu phi trường cho các phi cơ có tầm hoạt động xa và trung bình mà ông sẵn có trong tay. Nhất là thiếu bộ binh ! Người Úc vừa phái một sư đoàn qua Phi châu. Sư đoàn đang tham chiến tại Tobrouk1. Phải là có phép lạ thì hải quân Anh mới có thể đưa sư đoàn nầy ra khỏi trận đánh và mau lẹ gởi trả về Úc châu.

        Với riêng Tổng Thống Roosevelt, MacArthur xin tăng viện.

        «... Lãnh thồ phải phòng thủ rộng lớn, và phương tiện giao thông ở đấy lại quá bất ổn, đến nỗi địch quân vốn đã hoàn toàn có tự do di chuyển trên mặt biển, nay lại ở trong tình trang hết sức lợi thế. Do đó tôi ước tính rằng điều quan trọng chủ yếu cho công cuộc phòng thủ xứ này là tăng cường hạm đội bằng cách gởi đến hai hàng không mẫu hạm, tăng cường không lực bằng số lượng từ 800 đến 1.000 phi cơ chiến đấu, tăng cường lục quân bằng một quân đoàn quân Mỹ gồm ba sư đoàn có khả năng mở các cuộc hành quân thế công. Chúng ta phải lo nghĩ đến tương lai nếu không chúng ta sẽ lại bị vượt trội thêm một lần nữa.»

        Ông tướng có uy tín rất lớn đối với tòa Bạch Ốc. Khốn thay, thật khó cho ông trong việc thuyết phục Tổng Thống Hoa Kỳ rằng công cuộc tái chinh phục Thái Bình Dương không nên bị xem thường và không thể đến sau sự chiến thẳng nước Đức.

        Trong tháng 7, không lực của ông được thành lập. Roosevelt phái đến cho ông nhiều cộng sự viên quí giá. Một tướng lãnh Anh quốc, Sir Thomas Blamey chỉ huy lục quân. Stephen Chamberhn cầm đầu phòng 3. Và tướng George C. Kenney, tư lệnh không lực. Ngay khi mới đến, ông này thanh sát các không đoàn. Trong tổng số sáu mươi hai chiếc B-17 của ông chỉ có năm chiếc là ở trong tình trang có thể cất cánh được. Những chiếc khác bị hư hỏng vì thiếu phụ tùng. Chỉ trong vòng vài tuần lễ, Kenney đã thành công trong việc sữa chữa lại tất cả. Cuộc không tập đầu tiên nhằm vào căn cứ Nhặt Bản tai Rabaul trong tháng 8 đã gây cho địch một nỗi kinh ngạc lớn lao.

-------------------
        1. Đọc : «ROMMEL, CON CÁO GIÀ SA MẠC». Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:36:08 AM

        Ta có thể nói về MacArthur rằng ông là một nhà chuyên chế giàu có tham chiến trong khung cảnh sang trọng. Nếu ông luôn luôn ăn mặc giản dị và sạch sẽ, thì đấy là chỉ sự làm đỏm của một ông lãnh tụ trong bất cứ trường hợp nào cũng muốn bảo đảm giá trị của con người. Cuộc chiến tranh của ông, trái lại được gọi là «cuộc chiến tranh hủy diệt», «những trận đánh của Cendrillon». Tổng hành dinh của ông tại Brisbane được đặt trong một dãy nhà cây. Bản doanh tại Moresby lúc đầu đặt dưới một căn lều vải. Port Moresby là gì với những căn nhà sàn nhỏ bé, với vài nhà công quán hiểm hoi, với ngư cảng tả tơi và các cảnh sát viên quấn xà-rong đó ? Người ta gọi đó là hảỉ cảng của những người thất lạc. Khi ông Tướng quyết định đến đóng bản doanh tại đó dường như ông không có vẻ hoàn toàn hợp lý. Đấy mà là điểm xuất phát của cuộc tấn công của Mỹ với mục tiêu sắp đến là Phi luật tân và xa hơn nữa, Nhật Bản đó sao ?

        Chính đó, thật vậy, là nơi mà MacArthur, ảo thuật gia, sẽ chứng tỏ những điều ông biết cách làm trong một tình trạng kinh tế khủng hoảng. Pat Casev đúng là con người ông cần đến. «Pat» sẽ xây cất các phi trường, ở phía bắc Úc châu, trong vùng gần bờ biển phía nam Tân-Guinée nhất, tại đầu mũi bán đảo Cap York để hỗ trợ Port Moresby. Ông ta đã thành công, trái với mọi sự mong đợi, trong việc mở bốn phi trường chung quanh Port Moresby, một dành cho các oanh tạc cơ có tầm hoạt động xa, một cho các oanh tạc cơ tầm trung hình và hai dành cho khu trục cơ. Sư phân tán này rất cần thiềt để tránh bị không quân Nhật đến tiêu diệt các không đoàn vừa được tổ chức lại một cách vột vã.

        Ngay 19 tháng 8, lại còn có thêm các phi đạo dự bị. Pat cũng đào các hải cảng, các hải cảng tại bán đảo Cap York và hải cảng Port Moresby để có thể tiếp nhận các chiến hạm Liberty-Ships.

        Nếu MacArthur là một «Đức ông» như người ta gán cho, thì chiến lược của ông, ngay từ đầu, đã sẽ không có những đặc điểm mà nó đã có và ngày nay người ta vẫn trích dẫn như là bài học kinh nghiệm. Với các phương tiện yếu kém của ông, một ông tướng đầy phương tiện, giàu có, sẽ không bao giờ chuyển qua thế tấn công. Ông thì dám. Ông dám làm và để tiết kiệm, ông sẽ cho tấn công bằng những bước nhảy, đánh bất ngờ địch quân những nơi nào địch không đề phòng. Các bước nhảy phát sinh bởi nguyên nhân là nhu cầu luôn luôn giữ cho quân đội được ở dưới sự che chở của không lực. Lục quân không bao giờ tiến xa hơn giới hạn tầm hoạt động của phi cơ và khi chiếm được một lãnh thổ, các phi đạo tạm thời lập tức được thiết lập kế bên. Đánh địch những nơi không có địch, đấy là một chủ thuyết được gợi ra từ sự quý trọng mạng sống binh sĩ của ông tướng. Ông kính trọng mạng sống vì bản chất của nó nhưng đồng thời cũng vì ông có ít quân quá. Ta sẽ thấy các cuộc tấn công của ông sẽ ít đắt giá về nhân mạng nhất trong cuộc chiến tranh trên Thái Bình Dương. Chiến thuật «nhảy ếch» như chính ông Tướng đã gọi, gồm có việc đặt chân dễ dàng lên một hòn đảo mà cuộc phòng thủ của địch có thể nói là không có gì cả. MacArthur bọc vòng trung tâm phòng thủ của đối phương, ông cắt đường giao thông của nó, ông cô lập nó và đặt nó vào tình trang hoăc tự đi đến chỗ kiệt sức bằng các cuộc phản công vô vọng, chống lại các lực lượng tổ chức chặt chê, hoặc chết dần mòn tại chỗ, hoặc đầu hàng vô điều kiện.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2019, 03:41:15 AM

NGÀY TRỞ LẠI VÀ CHIẾN THẮNG VINH QUANG

        Ngay khi đến Úc châu, MacArthur đã phải chiến đấu. Như ông tiên cảm, quân Nhật cũng muốn đến đóng tại Port Moresby, một điểm chiến lược từ đó họ có thể, ngoài những việc khác, tấn công Úc châu hay ít ra cũng là kiềm soát sự ra vào lục địa này.

        Trong những ngày đầu tháng 5, nhiều dương vận hạm, được mẫu hạm nhẹ Soho, nhiều tuần dương hạm nặng và tiềm thủy đĩnh hộ tống, khởi hành từ Rabaul, căn cứ Nhật mạnh nhất tại nam Thái Bình Dương, và từ Bougainville, vừa mới được chiếm đóng. Chúng hướng về mũi đất xa nhất của Tân-Guinée gần tiếp giáp với quần đảo Salomon, các điểm chuẩn đã được chỉ định sẵn cho không quân Nhật. Vả chăng trên đường đi qua, quân Nhật đã đổ bộ lên đảo Tulagi với sứ mạng xây cất một phi đạo trong lúc chủ lực của hạm đội tiếp tục con đường hướng về Port Moresby.

        Chính tại Tulagi, hạm đội Mỹ, do đô đốc Fletcher chỉ huy, ông này đã cho thượng kỳ hiệu lên đỉnh tháp chỉ huy của hàng không mẫu hạm YortktoĩVĩii đã tự chứng tỏ sự hiện diện của mìn4 Him đội Mỹ gồm có một mẫu hạm khác nữa, chiếc Lexington, bảy tuần dương hạm nặng và các chiến hạm nhẹ. Phi cơ của mẫu hạm Yorktown tấn công tàu bè của Nhặt đang bỏ neo trong cửa biển Tulagi. Phóng ngư lôi hạm Kikusukì bị đánh chìm, nhiều hải vận hạm bị hư hahi, một tàu rà mìn trôi giạt đi mất. Phản ứng của Nhật đến ngay. Hải đoàn được phái đi chinh phục Port Moresby được yểm trở từ xa bằng một Hạm đội hùng hậu từ căn cứ Truk đổ xuống gồm có hai mẫu hạm nhe, Shokaku và Zuikaku, nhiều tuần dương hạm nặng và nhiều tàu phóng ngư lôi. Lần đầu tiên kể từ vụ Trân Châu Cảng, Nhật Bản và Hoa Kỳ đối mặt nhau. Một cuộc đối mặt vĩ đại trên những khoảng cách kinh khủng. Trận đánh xảy ra mà hai đối thủ không nhìn thấy nhau. Không lực hải quân lập tức lấn bước hải quân đích thực, phi cơ lấn bước chiến hạm. Trận thư hùng đầu tiên này hình dung trước những trận đánh sẽ xảy ra trong các tháng sắp tới.

        Các oanh tạc cơ của MacArthur đặt căn cứ tại Port Moresby cất cánh và bay đi tìm hạm đội Nhật. Ông tướng là người chủ xướng sự phối hợp. Không cần thỏa hiệp trước do linh tính, ta có thể nổi như vậy, ông yểm trợ không lực của hải quân. Các phi cơ của mẫu hạm Lexington cũng tuần tiễu dò kiếm nhưng không có kết quả. Hạm đội Nhặt biến mất. Tuy nhiên phía hạm đội Nhật, họ cũng cho phi cơ cất cánh đi tìm chiến hạm Mỹ. Sau cùng chiếc Soho bị tìm ra, bị tấn công và bị đánh chìm. Các phi công Nhật trả thù bằng cách tấn công một phóng ngư lôi hạm, chiếc Sims, và một tàu chở dầu, chiếc Neoshs. Nhưng, sáng ngày 7 tháng 5, các phi cư tụần thám Nhật và Mỹ đụng đầu nhau trên vùng biển bình yên của Thái Bình Dương. Rốt cuộc, phi cơ Mỹ khám phá ra vị trí hạm đội Nhật trong lúc người Nhật cũng tìm thấy hạm đội Mỹ. Kết quả của trận đánh đem lại đôi chút lợi thế cho phe Nhật : mẫu hạm Shokaku bị hư hại nhưng mẫu hạm Lexington bị đánh chìm và mẫu hạm Yorktown bị hư nặng. Số phi cư Mỹ bị mất lên đều 66 chiếc, của Nhật là 80. Bên Mỹ có 543 tử thương, Nhật 900 tử thương.

        Tại Đông Kinh Nhật tự cho là đã chiến thắng vẻ vang. Tại Hoa thịnh đốn người ta biểu dương sự vui vẻ. Thật ra trận đánh trên biển San Hô đã chấm dứt sự vững tin của Nhật vào sự bách chiến bách thắng vốn đi liền với các đoàn quân đổ bộ của họ trong mỗi cuộc chinh phục. Trên bình diện chiến thuật, quân Mỹ có thể ước tính rằng chiến thắng đã trở lại với họ bởi vì trong thực tế quân Nhật đã từ bỏ dự định chiếm Port Moresby bằng đường biển. Nhưng họ cho rằng có thể vượt qua trường sơn Owen Stanley. Cuộc hành quân do Tướng Horii cầm đầu, ông tướng Nhật đã đến một địa điểm xa nhất trên bộ trong cuộc chinh phục Thái Bình Dương. Dưới trời mưa, trong bùn lầy, bất chấp bệnh sốt rét và những khó khăn trong việc tiếp tế, không được yểm trợ bằng phương tiện cơ giới, binh sĩ của ông ta, gập người vì sức nặng của vũ khí, của đạn dược và lương thực mang theo, bi phi cơ đuổi bắn liên tục, ông ta thành công leo lên được đỉnh núi Imita. Từ đó Horii thấy biển. Ông ở trên cao chế ngự Port Moresby chỉ còn cách 32 cây số nhưng là nơi MacArthur đã cho bố trí một hệ thống phòng thủ vững chắc. Quân Úc chỉ còn chờ cuộc xung phong cuộc xung phong cuối cùng, «một đòn kinh khủng», đối thủ của MacArthur tuyên bố. Tướng Horii biết rằng không thể nào thắng trận được nữa. Mặc dầu vậy, ông đưa ra một thách thức với toàn thế giới mà giọng chua chát và giận dữ gia tăng gấp đôi.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:56:42 AM

        «... Chúng tôi chiếm giữ vững chắc đỉnh trường sơn... Từ ba tuần lễ nay, các đơn vị của chúng tôi đã vạch một lối đi ngang qua rừng rậm và các hẻm núi sâu thẳm và trèo lên không biết bao nhiều là núi non... Không có ngọn bút nào lẫn lời nói nào có thể mô tả đúng những gì chúng tôi phải chịu đựng... Chúng tôi sẽ giáng một đòn búa bổ kinh khủng xuống cứ điểm Port Moresby... Song le nhiều binh sĩ của chúng tôi chưa phục hồi được sức khỏe...»

        Quân Nhật vừa đánh vừa lùi nhưng không bị đánh bại. Tuy nhiên, họ toan đánh một đòn trong vịnh Milne, tại mũi đất xa nhất của Tân-Guinée. Họ đổ bộ với chiến xa nhẹ, hy vọng đi ngược lên phía tây bắc, dọc theo bờ biển, cho đến Port Moresby. Một sự ngạc nhiên tàn khốc đang chờ đợi họ. Trong sự bí mật hoàn toàn, vài ngày trước, MacArthur đã phái đến vịnh Milne lữ đoàn 7 và 8 quân Úc. Một trận đánh tiêu diệt được tung ra. Thật hung bạo. Quân Úc chỉ bắt được có ba tù binh. Phần quân Nhật thì họ thanh toán các thương binh hơn là đưa họ trở lại tàu đổ bộ.

        Bất chấp các cuộc khuấy rối và oanh tạc liên tục của địch, MacAnhur cũng tổ chức và tập họp được lực lượng để chuyển qua thế công. Cuối tháng 10, sáu tháng sau khi rời khỏi Corregidor, ông có 100.000 quân tại Tân-Guinée. Không lực của ông vừa mới được cải thiện nhưng vẫn do Kenney chỉ huy cũng không nằm yên bất động. Tướng MacArthur lợi dụng được bài học tại Manille. Ông không muốn phi cơ đậu dưới đất phơi bày cho các cuộc đột kích của địch. Ông bắt chúng bay. Ông phái chúng đến oanh tạc Rabaul, tại Tân-Bretagne, nơi tập trung chiến hạm (180.000 tấn thường trực) và phi cơ Nhật (2.000 chiếc đủ loại). Kenney và phụ tá của ông, Whitehead, làm việc không biết mệt. Không một khó khăn nào làm họ ngán được. Chế tạo một phi cơ mới bằng ba chiếc cũ đổi với họ, đã trở thành một công việc thường lệ. Từ lâu MacArthur đã phàn nàn về tình trạng nghèo nàn của không, hải quân dưới quyền ông. Hoa thịnh đốn vẫn giả điếc trước lời kêu gọi của ông mãi cho đen mùa xuân năm 1942. Các pháo đài bay được gởi đến mặt trận ưu tiên, mặt trận Âu châu. Tin rằng các quần đảo Salomon, Bismarck, đảo Tân-Guinée, nơi sẽ thử thách số phận của trận chiến Thái Bình Dương vào cuối năm 1942 ấy, đều là các vị trí không đáng kể. MacArthur đòi hỏi mẫu hạm, Hàng không mẫu hạm đã trở thành Vua của trận đánh loại chiến trận nữa trên biển nửa trên bộ, loại chiến trận từ đảo này qua đảo kia, theo một kiều cách hoàn toàn mới lạ. «Chiến tranh ba chiều» MacArthur nói. Nó đòi hỏi sư điều hợp chặt chẻ ba binh chủng. Nó đòi hỏi sự bổ nhiệm một tư lệnh duy nhất. MacArthur là người có chủ trương đó, không chịu đặt mình dưới quyền một quân nhân hải quân.

        Tai đây ta chạm phải một vấn đề tế nhị. Kề từ vụ «hổ nhục» Trân Châu Cảng, đô đốc Nimitz, Tư lệnh hải quân tại Thái Bình Dương, quyết tâm trả thù hải quân Nhật bản. Đó là cuộc trả hận của hải quân đối với Nhật chứ không phải của Hoa Kỳ. Chiến lược của Nimitz và của đô đốc King, tổng tư lệnh tối cao hải quân không phải là quan niệm chiến lược của MacArthur. Đối với các vị đô đốc, MacArthur phải tái chiếm Tân-Guinée từ Port Moresby, nhưng bằng cách đi ngược trở lên dọc theo bờ biển phía nam. Rồi ông phải đẩy cuộc tấn công xa hơn về phía tây, về phía các thuộc địa Hòa Lan, quần đảo Celebes, Borneo và Mã lai.

        Hoa thịnh đốn yêu cầu MacArthur cho biết các lý do chống đối kế hoach của hải quân : «Một cuộc tiến quân về phía thuộc địa Hòa Lan, theo bờ biển phía nam Tân-Guinée, ông nhấn mạnh, sẽ tạo ra một sự gián đoạn giữa lực lượng của tôi và lực lương hải quân tại Thái Bình Dương và đẩy tôi giạt xa mục tiêu chính yếu : Nhật Bản. Nếu chúng ta không tương trợ lẫn nhau, sức mạnh của ta sẽ không đủ. Với quân số đầy đủ, tất nhiên tôi sẽ có lợi thế để khai triển mặt trận về cả hai phía : phía nam và phía bắc. Nhưng lực lượng của tôi không đủ. Do đó tôi chọn lựa để hậu thuẫn cho kế hoạch nào có thể giúp thực hiện được sự hợp tác hỗ tương với khu vực do đô đốc Nimitz chỉ huy».

        Đối với MacArthur, con đường đưa đến Phi luật tân rồi đến Nhật Bản không thề cô lập hóa với con đường được dành cho hải quân, biển và các quần đảo. Nó phải liên hợp với nhau, Đã nối kết được ba lực lượng chiến đấu thì không nên tách rời chúng ra nữa. Kế hoạch của ông gồm có tái chiếm Tân-Guinée dọc theo bờ biển phía bắc Chiến trường của ông do đó sát cận với chiến trường của hải quân hơn. Khi cần hoặc là các mẫu hạm có thể giúp ông một tay hoặc là không lực của ông (của Kenney) có thể yềm trợ hành động của hải quân. Về sau ta sẽ thấy, luận cứ ông dùng để thuyết phục Nimitz là luận cứ sau :« Không lực có tầm hoạt động xa của tôi là một phần đóng góp hữu hiệu không phải là không đáng kể, để giúp hạm đội chiếm lại quyền chủ động trên mặt biển».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:57:34 AM

        Sau cùng Hoa thịnh đốn bỏ rơi kế hoạch của hải quân, nhưng không chịu giải quyết dứt khoát vấn đề chỉ huy thống nhất. Quả thật không thể để cho MacArthur làm phụ tá cho Nimitz. Ngoài các quan niệm chiến lược và chiến thuật, hải quân vẫn nuôi dưỡng phần nào sư hiềm khích đối với MacArthur từ khi ông nầy trách cứ họ không yểm trợ Bataan và Corregidor. Quả thật là hải quân đã tỏ ra ít có khuynh hướng chiến đấu khi không chắc chắn là có ưu thế về số lượng- Họ sợ mất từng chiến hạm nhỏ, MacArthur hòa giải với hải quân năm 1943 khi ông có dưới quyền hải lực của đô đốc Halsey và vì ông biết rõ con người của biển cả này, một chiến sĩ hải quân rốt cuộc chịu tấn công địch và chịu theo ông, Halsey là một MacArthur thứ hai, một «người anh em» chiến đấu thật sự của ông tướng.

        Lúc ấy là tháng 7 năm 1942. Quân Nhật thất bại trước Port Moresby. Họ không bị đánh bại (trong tháng 5) trên biển San Hô, nhưng họ đã nhận được một lời cảnh cáo nghiêm trọng. Riêng phần đô đốc Yamamoto thì vào lúc đó, ông vẫn còn bị ảnh hưửng của sự thất bại thảm khổc tại Midway (tháng 6). Trận đánh Midway xứng đáng được ta mở dấu ngoặc tai đây. Nhờ cơ sở giải tin mật mã có được khóa mật mã của Nhật, đô đốc King đã biết rằng hải lực Nhật, coi thường biển San Hô, đang chuẩn bị cùng lúc tấn công đảo Midway và quần đảo Aléoutiennes. Lập tức Midway được bố trí phòng vệ. Phi cơ và thủy quân lục chiến được gởi đến tăng viện. Các mẫu hạm Enterprise5 Hometvà Yorktown được hộ tống bởi bảy tuần dương hạm nặng và nhiều loại chiến hạm khác dàn ra bố trí khi hạm đội Nhật xuất hiện. Hải lực Nhật chia thành ba nhóm : một lực lượng xung kích do đô đốc Nagumo chỉ huy, một lực lượng đổ bộ chiếm đóng và một lực lượng yểm trợ dưới quyền chỉ huy của đô đốc Yamamoto. Cuộc đụng độ xảy ra dữ dội không ngờ. Đô đốc Nhật mất bốn mẫu hạm Akagi, Kaja, Hiryu, và chiếc Soryu, một tuần dương hạm nặng và hơn 250 phi cơ. Đô đốc Spruance của Mỹ thì bị thiệt mất chiếc Yorktown vốn may mắn hơn tại vùng biển San Hô và 150 phi cơ.

        Đòn chặn đứng tại Midway làm cho Yamamoto thất vọng không muốn bám chặt vào quân đảo Aiéoutiennes nữa. Ông vừa đánh vừa lùi.

        Ngày 5 tháng 7 một phi cơ thám thính Mỹ báo cáo rằng quân Nhật đang xây cất một phi trường trên đảo Tulagi và trên đảo Guadalcanal kế cận. Tin tức này đã đặt khu vực của MacArthur lên tâm quan trong hàng đầu. Đô đốc King quyết định đuổi quân Nhật ra khỏi Tulagi và Guadalcanal càng sớm càng tốt. Hoa thịnh đốn chấp thuận. Tướng Marshall muốn giao quyền điều khiển các cuộc hành quân cho MacArthur. King chống lại : «Đấy là việc của hải quân, ông nói, Nimitz sẽ thừa sức làm !»

        Kể hoạch của King tiên liệu :

        1)   Một cuộc hành quân lên các đảo Tulagi và Guadalcanal do Nimitz chỉ huy.

        2)   Một cuộc tấn công vào bờ biển phía bắc Tân- Guinée và phải đưa tới việc chiếm Rabaul.

        Như vậy kế hoạch của MacArthur, nhập vào trong kế hoạch của hải quân, đã được chấp nhận. Rủi thay, MacArthur ước tính rằng kế hoạch của King chưa được chín mùi. Đô đốc Ghormley, tư lệnh hải đoàn, được chỉ định cho cuộc tấn công Tulagi cũng cùng có ý kiến đó. King cứng rắn : «Phẳi chặn địch tại chỗ nầy và vào lúc này», ông cương quyết giữ ý định. Ông nói thêm rằng Tulagi và Guadalcanal còn phải được chiếm trước cả bờ biển phía bắc Tân-Guinée và Rabaul nữa. Ngày khởi sự tấn công đã được ấn định : 1 tháng Ghormlev lùi lại sáu ngày. Ngày 7, thủy quân lục chiến đổ bộ lên hai đảo, được nhiều mẫu hạm yểm trợ.

        Cuôc «xâm chiếm» này của Mỹ làm quân Nhật bị bất ngờ, nhưng không đánh thức ngay tất cả sức mạnh phản ứng của họ. Họ đánh giá thấp giá tri chiến lược của hai đảo này. Họ chống cự yếu ớt. Thế rồi nội vụ ngày càng trở nên quan trong. Trận chiến lan rộng trở nên nghiêm trọng. Quân Nhật gởi tăng viện đến không phải nhiều tiểu đoàn mà là nhiều sư đoàn toàn vẹn và các chiến cụ manh mẽ. Rabaul nuôi dưỡng trận đánh bằng chiến hạm và phi cư, làm như số phận của chiến tranh được giải quyết tại đây. Cuộc chinh phục nhỏ bé do các Đô Đốc mơ tưởng trở thành một lò tàn sát khốc liệt.

        Nhiều lần thủy quân lục chiến của Ghormley suýt bị đẩy bật ra biển. MacArthur phái lực lượng đến tiếp cứu. Các phi cơ có tầm hoạt động xa đến bố trí tại Bougainville và Tân-Bretagne và oanh tạc hủy diệt các hậu cứ của Nhật. Tại Tân-Guinée, để yểm trở cho bộ binh, chỉ còn khu trục cơ và các phi đoàn oanh tạc cơ trên đất liền.

        Trong thời gian xảy ra trận đánh tại Guadalcanal mà người ta goi ngay là trận Verdun của Thái Bình Dương. MacArthur muốn chiếm một pháo đài kiên cố khác của Nhật, Buna, nằm trên bờ biển phía bắc Tân-Guinée, nơi điều khiển tất cả mọi chuyển động trên vùng biển Salomon. Buna sẽ được đồng hóa với một Verdun khác. Vào thời kỳ này, Hoa Kỳ cần một chiến thắng, một chiến thắng rõ ràng, không thể chối cãi, báo hiệu cuộc rút lui của Nhật, nếu không phải là sự bỏ rơi vĩnh viễn các căn cứ tiền phương của họ ; một chiến thắng chứng tỏ rõ ràng rằng rốt cuộc địch bắt đầu phải thoái lui trước sức mạnh của Mỹ và cuộc hành trình đi đến chiến thắng cuối cùng sẽ không dừng lại nữa.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2019, 01:58:15 AM

        Lúc này, chỉ có MacArthur là người duy nhất có khả năng thỏa mãn tham vọng quốc gia nầy. Ông sắp đóng vai trò của Foch, một cách lu mờ hơn một chút vì, dưới mắt người Mỹ, chỉ có Âu châu là đáng kể, nơi quân Đức đang tiến sâu về phía sông Volga. Cuộc tấn công Buna do ba lực lượng thực hiện : hai đoàn quân phát xuất từ Port Moresby, một đoàn mượn con đường mòn Kokoda, nơi viên Tướng Nhật Bản Horii đã từng chịu đựng biết bao nhiêu là đắng cay nhục nhã trước sự thù nghịch của thiên nhiên hơn là trước hệ thống bố phòng của quân Mỹ. Đoàn quân kia vạch một lối đi theo con đường mòn Кара-Кара, cũng không ít rùng rợn hơn con đường thứ nhất. Đoàn quân thứ ba xuất phát từ căn cứ đặt trong vinh Milne, áp dụng những «bước nhảy ếch» dưới sự che chở của oanh tạc cơ hạng nhẹ và khu trục cơ. Ưu tư đầu tiên của ông Tướng tư lệnh là đảm bảo sự liên lac với hậu cứ bằng đường biển. Một ưu tư trầm trọng, vì hải quân Nhật vẫn làm chủ mặt biển, nếu không phải là bầu trời. Để đề phòng một cuộc tấn công của địch vào các đường giao thông liên lạc, ông phái các lực lượng phát xuất từ vịnh Mibnie đến chiếm đảo Goodenought. ông muốn biến đấy thành một pháo đài mà các oanh tạc cơ nhẹ có thể cất cánh mau lẹ và bay lên ngăn chặn chiến hạm Nhật Bản.

        Chính MacArthur kể lại công việc chuẩn bị cho trận đánh Buna diễn tiến như thế nào: «Cuối tháng 10 năm 1942, tôi đã đưa các lực lượng dưới quyền đến Pa-Pouasỉe (Tân-Guinée) gần năm sư đoàn cả thảy. Ba cánh quân khởi đánh cùng một lúc và sau nhiều trận đánh dữ dội, địch quân chỉ còn giữ được, vào cuối tháng 11, một dãy duyên hải mỏng mà Buna là tâm điểm. Trong các cuộc hành quân của quân Úc trên con đường mòn Kokoda, viên tướng Nhật bị nhận chết chìm khi cố sức thoát khỏi vòng vây. »

        Chiến thắng vẻ vang đường như không thể thoát khỏi tầm tay MacArthur nữa. Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến, một cầu không vận đã chở từ Úc đến chiến trường hai trung đoàn, sư đoàn 32 nhảy vào tham chiến. Sáng kiến của MacArthur sau đó sẽ được dùng làm kiểu mẫu cho những cuộc điều quân khác kiểu nầy, hoặc tại Thái Bình Dương, hoặc tại Âu Châu. Sáng kiến này đã thêm vào các phát minh chiến thuật mà ông là người đề ra với sự khiêm cung hiếm có. Khi người ta nói với ông về các cuộc tấn công nhảy ếch, ông bảo : «Chiến thuật này cũng xưa cũ như chính chiến tranh. Đấy chỉ là một tên mới được mệnh danh vì các điều kiện mới, cho nguyên tắc bao vây xưa cũ. Đây là lần đầu tiên mà một chiến trường cùng lúc bao gồm những diện tích rộng lớn trên bộ và trên biển như thế. Cho đến nay hoặc các cuộc hành quân trên bộ hoặc trên biển lấn áp lẫn nhau trong một trận chiến. Nhưng trong khu vực này sự hiện diện đồng thời của công cuộc chuyển vận quân lực trên bộ cũng như bằng đường biển dường như đã che đậy sự kiện chẳng qua đó cũng chỉ là sự bao vây được áp dụng cho một loại chiến trường mới. Hệ thống nầy cho thấy là phương cách chắc ăn nhất để thành công với các lực lượng yếu hơn về quân số, nhưng lưu động hơn các lực lượng của đối phương... Một kế hoạch hành động như thế đối với tôi là cơ may duy nhất để hoàn thành, sứ mạng của tôi».

        Đại tá Matsuiehi Ino, thuộc bộ tham mưu quân đoàn VIII Nhật Bản, về sau thừa nhận rằng chiến thuật «được canh tân» của MacArthur rất tai hại cho toàn bộ lực lượng Nhật Bản :«Đấy chính là loại chiến lược mà chúng tôi ghê sợ nhất ! Quân Mỹ tấn công và chiếm đóng, với tồn thất tối thiểu, một khu vực được phòng thủ tương đối yếu, xây cất phi trường tại đấy, rồi được giao cho phận sự cắt đường liên lạc tiếp tễ của hậu cứ cho quân đội chúng tôi. Trong các trung tâm kháng cự mà họ còn giữ, binh sĩ của chúng tôi kiệt sức và chết đói dần. Quân đội Nhật thích các cuộc tấn công chính diện trực tiếp kiểu quân Đức hơn...»

        Bị kẹp giữa gọng kềm quân Mỹ, nhưng Buna còn đứng vững lâu hơn là MacArthur tưởng. Tháng 11 trôi qua mà không có kết quả gì. Quân Nhật bám chặt vào chiến trường một cách tuyệt vọng. Một cuộc đua tranh hào hùng kích thích một bên là thủy quân lục chiến đang chiến đấu tai Guadalcanal và bên kia là các sư đoàn của Tướng MacArthur. Bên nào sẽ mang lại chiến thắng đầu tiên mà Hoa Kỳ cần thiết MacArthur hay Ghormley ?

        MacArthur giao quyền chỉ huy quân đội Mỹ trước Buna cho Eichelberger với sư mạng là phải lấy được cứ điểm này bằng mọi giá vào đầu tháng 12. Sư đoàn 32 được tập hợp lại, Nhiều lực lượng mới mẻ được gởi ra chiến trường. Nhiều lần MacArthur ra sát tiền tuyến để đích thân nhận thức các khó khăn còn cưỡng chống lại quyết định của ông và đề an ủi, qua sư hiện diện của ông, các binh sĩ mà cuộc chiến đấu trong rừng rậm, dưới trời mưa, qua đầm lầy và giữa các đám cỏ lá sắc như dao cạo), đã làm cho họ kiệt sức. Trong những cuộc di chuyển ấy, thường là những cuộc di chuyển nguy hiểm nhất, MacArthur bắt nhiều sĩ quan khác nhau của bộ tham mưu đi theo. MacArthur muốn rằng các tướng lãnh và đại tá của ông biết rõ chiến tranh từ vị thế sát cận chiến tranh, rằng họ phải nhìn chiến tranh dưới hình ảnh trung thực của nó chứ không phải theo hình ảnh họ tưởng tượng trong đầu.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 01:02:42 AM

        Trong số các khó khăn gặp phải, và là các khó khăn mà Hoa thịnh đốn không biết bởi vì chúng vượt khỏi sự hiểu biết của các tướng lãnh ở cách các biến cố quá xa và không bao giờ ngờ rằng binh thuyết học đượс tại West Point là một chuyện, còn thực tế lại là một chuyện khác, có hai khó khăn mà MacArthur phải giải quyết tại chỗ và với các phương tiện sẵn có. Trước hết là sự thiếu sót các bản đồ tham mưu thuộc những vùng đang hành quân. Sau đó là sự bất lực rõ rệt trong việc hiểu tiếng Nhật, hoặc nghe hoặc nói, hoặc đọc dưới hình thức viết tháu cũng như dưới hình thức chữ tượng hình. MacArthur ra lệnh cho phòng nhì sáng lập bốn ban có khả năng lượm lặt tin tức và gỉai nghĩa chúng thành bạch vấn đề cho bộ tham mưu xử dụng. Ban đầu tiên ATIS (Allied Translator And Interpreter Section) có nhiệm vụ thầm vẩn tù binh và phiên dịch các tài liệu bắt được. Ban thứ hai, AIB (Allied Information Bureau) chỉ huy các cảm tử quân làm gián điệp sau phòng tuyến Nhật. Ban thứ ba AGS, (Allied Geographical Section) phát hiện các tin tức địa hình. Riêng về ban thứ tư, CB (Central Bureau) thì có nhiệm vụ dịch hoặc giải các điện văn được mã hóa.

        «Quân Nhật, МаcArthur viết, ý thức được rằng họ có thể chỉ rõ vị trí các bãi mìn, giữ các nhật ký hành quân, dùng ngôn ngữ của họ với nhau mà không cần phải, áp dụng biện pháp đề phòng tối thiều và ngay cả chuyển các tài liệu quân sự mà không cần lo ngại những tiết lậu có thể xảy ra».

        MacArthur dùng các người Mỹ gốc Nhật, ông cho người đến kiếm họ tại các trại giam ở Hạ uy di và biến họ thành thông dịch viên hoặc điệp viên. Họ được gọi là Nisei. Phủ nhận những suy đoán mà Hoa thịnh  đốn gán cho họ, những ngưỉri Nisei rất tận tuy cho chính nghĩa Hoa Kỳ. Nhờ họ, MacArthur có thể đọc các bản đồ của Nhặt, đoán ra trạng thái tinh thần của đối phương giữa các dòng nhật ký hành quân thâm nhập vào các bí mật của công cuộc tiếp tế lương thực; và đạn dược, phân tách tinh thần dân chúng tại các khu vực bị chiếm đóng. Nhiều cuộc hành quân bị hủy bỏ tiếp theo các khám phá đã đạt được bằng cách đó, những cuộc hành quân khác được nghiên cứu lại, chỉ cần trì hoãn lại hay tung ra sớm hơn MacArthur ra lệnh trình cho ông một bản tin tức do những Nisei mang lại. Như thế ông chiếm được một ưu thế đối với quân Nhật vốn không có các điệp viên như Nisei để xử dụng.

        Cuộc tấn công của Eichelberger rất cay nghiệt, mạnh mẽ và hung bạo. Nhưng sau nhiều toan tính chọc thủng phòng tuyến địch, đoàn quân Warren kiệt lực mà không đạt được kết quả. Cánh quân Urbana chiến đấu hăng hơn. Đơn vị 126 bộ binh đầy lui được quân trú phòng và tiến ra tới biển.

        Quân Nhật phản công ngay. Quân Mỹ chống cự. MacArthur gửi thêm tăng viện đến khoảng hở vừa được mở ra trên phòng tuyến đối phương. Ngày 14 tháng 12 một cuộc tấn công mãnh liệt giúp ông chiếm được làng Buna. Nhiều đơn vị mới được đưa đến bằng đường biển. Thế là gần như đã toàn thắng. Ông Tướng ý thức được điều đó qua lời phát biểu : «Làng Buna vừa được chiếm. Quân đội ta đã chiếm đóng lúc 10 giờ sáng nay, ngày 14 tháng 12. Một lần nữa cố tăng cường lực lượng cho khu vực Buna với sự giúp đỡ của hải quân, địch đã phái một đoàn công voa được hộ tống bởi hai tuần dương hạm và ba khu trục hạm để thực hiện một cuộc đổ bộ lên cửa sông Mambrac và Kurnusi. Không lực của ta đã chặn đánh đoàn công voa này. Bị oanh tạc và không kích dữ dội, chúng ta đã đánh chìm và làm hư nặng, các tàu đổ bộ và các binh sĩ địch còn sống sót toan lội vào bờ đã bị tồn thất nặng nề». MacArthur không có thứ văn thức khoa trương dài dòng của các tướng lãnh mơ mộng. Những từ ngữ ông dùng đều là trực tiếp, không hề được các hình ảnh mơ hồ làm phong phú thêm. Người ta có thể trách cứ là ông đã quá khô khan trong trường hợp không phải là viết văn thư. Cứ nhìn ông, đứng thẳng bằng như một chữ «i» giữa trận đánh, đầu ngước cao, mắt nhìn chăm chăm vào đối phương, kiêu ngao trong sự thử thách hoặc sự bình thản, thì ta có thể còn e rằng những câu nói của ông cũng chưa biểu hiện hết tác phong của ông. Không, niềm kiêu hãnh của ông, lòng tư ái của ông chỉ được biểu hiện qua nghệ thuật lãnh đao chiến tranh chứ không phải qua cách nói về chiến tranh. Ông tiếp tục bản báo cáo : «Nhiều chiến hạm chở đạn được và tiếp liệu bị bắn cháy. Các chiến hạm ít nhiều đều bị bắn trúng nhiều lần. Không lực địch cố gắng vô hiệu để can thiệp... Tất cả diễn biến cho ta tin rằng từ nay địch quân không thể nào thực hiện được một nỗ lực lớn lao trong khu vực này nữa.»

        Tuy vậy trận đánh còn kéo dài mãi đến tháng giêng năm 1943. Ngày 2, quân Nhật đầu hàng, MacArthui viết: «Đấy là phần thưởng xứng đáng của một năm nỗ lực gay go và là một sự khởi đầu đầy hứa hẹn cho năm mới. Chiến thắng tại Buna là một yếu tố kích thích mạnh mẽ đối với Đồng minh.»

        Vậy là MacArthur đã thắng Ghormley !


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 01:03:05 AM

        Nhân dịp này ông nhận được chiếc huy chương DSM thứ ba. Tuy nhiên kế hoạch chiến đấu của ông Tướng cho năm 1943 đã làm cho các cộng sự viên của ông lo ngại. Cho đến lúc đó, MacArthur chỉ đánh nhau bằng các phương tiện tạm bợ. Để bứng quân Nhật ra khỏi quần đảo Salomon, khỏi Tân-Guinée, Bougainville và làm tê liệt Rabaul, căn cứ phòng thủ kiên cố từ đó phát xuất mọi cuộc tấn công của địch, ông cần phải có đầy đủ chiến cụ, pháo binh, chiến xa, bộ binh. MacArthur đã chiến đấu với không đầy một trăm ngàn người. Và rồi còn phải hoàn tất cuộc giải phóng Tân-Guinée. Mục tiêu sắp đến là Lea và Salamaua. Một lần nữa, ông Tướng phải giải thích chiến thuật riêng không biết mệt : bọc kín và cô lập hóa vị trí đối phương chiếm đóng. Hoa thịnh đốn đưa ra một cố gắng ủng hộ ông. Nhiều đơn vị quân đôi mới mẻ được đưa đến và cùng với quân số, một vị tư lệnh rất lôi cuốn, Trung tướng Krueger. МаcArthur nói về ông : «Lịch sử không công bằng với ông ta. Theo ý tôi, đấy là vị tướng lãnh bộ binh giỏi nhất của Hoa Kỳ». Krueger và Kenney, chỉ riêng hai ông thôi cũng đáng giá trị một trung đoàn và một phi đoàn khu trục cơ.

        Tháng 3 năm 1943, MacArthur sớm biết rằng đô đốc Ghormley được Phó Đô Đốc Halsey, tư lệnh hạm đội thứ III thay thế. Hơn thế nữa, Nimitz lại đặt hạm đội thứ III dưới quyền MacArthur. Lực lượng đặt dưới quyền điều động của ông nhưng vẫn lệ thuộc Nimitz về mặt quản trị. Rốt cuộc ông Tướng đã «có» mẫu hạm ít ra cũng là để chinh phục quần đảo Salomon. Halsey vừa kết thúc trận đánh tại Guadalcanal. Trong đêm 7 rạng ngày 8 tháng 2, sáu tháng sau cuộc đổ bộ đầu tiên của quân Mỹ, quân Nhật bỏ rơi đảo này. Cuộc chiến đấu để giành quyền làm chủ căn cứ này thật phi thường. Sáu trận hải chiến đã xảy ra, trận đánh tại đảo Savo ngày 8 tháng 8 năm 1942, trận đánh phía đông quần đảo Salomon ngày 25 tháng 8, trận đánh tại mũi Esperance ngày 11 tháng 10, trận Santa Cruz ngày 25 và 25 tháng 10, trận Guadalcanal ngày 13 và 15 tháng 11. sau cung trận Таssafaronga ngày 30 tháng 11. Cho đến lúc đó, quân Nhật không muốn bỏ Guadalcanal mà họ phải tiếp tế một cách khó khăn vì lý do là nếu bỏ rơi nó tức Ià mở cửa cho quân Mỹ chiếm quân đảo Salomon và sự tập trung quân lực Mỹ quanh đảo đã trở nên một miếng mồi ngon có thể giúp cho hạm đội Nhật tiêu diệt chúng. Phải nhận rằng cả hai bên đối phương đều không thận trọng. Nếu lợi thế thường quay lại phía quân Mỹ thì chính là nhờ họ có ra đa, quân Nhật thì chưa Ra đa báo động, phi cơ cất cánh kịp thời đề chặn đánh quân tấn công. Trong tháng giêng lực lượng của Halhey có vẻ trội hơn lực lượng Nhật : hai đại mẫu hạm, ba mẫu hạm hộ tống, nhiều tuần dương hạm và vô số phóng ngư lôi hạm. MacArthur nhìn tương lai với sự lạc quan hơn nhưng vẫn luôn luôn quấy động Hoa thịnh đốn để có được một bộ tư lệnh duy nhất.

        Không bao giờ ông được thỏa mãn. Trong số người thân cận với Roosevelt, MacArthur có những đối thủ cương quyết. Knox, Tổng trưởng Hải quân, King, Tham mưu trưởng Hải quân và Tướng Arnold, Tư lệnh Không lực. Riêng phần đô đốc Nimitz, người có trách nhiệm đặc biệt về các hạm đội tại Thái Bình Dương, thì ông vẫn khăng khăng nhân danh Hải quân đòi quyền trả thù Vụ Trân Châu Cảng. Thêm vào đó trên bình diện chính trị, MacArthur xuất hiện trước. Tổng Thống Roosevelt như là một ứng cử viên kế vị ông, được nhiều Thượng nghị sĩ ủng hộ công khai. Không có gì rắc rối hơn trong mối tương quan giữa hai người. Sự nổi tiếng của ông Tướng trong dân chúng có thể biến ông thành một đối thủ của Roosevelt. Chính trong cái không khí chống đối, nghi ngờ và đố kỵ nhau đó mà cuộc chinh phục Tân-Guinée vẫu được tiếp diễn.

        Lea bị chiếm đóng do quân lực Úc được Tương Blarney chỉ huy trong khi đó vào tháng 10, Đô Đốc Halsey chiếm đóng Tân-Géorgie. Trong vòng cực kỳ bí mật, MacArthur chuẩn bị tấn công bất ngờ vào một trong hai căn cứ quan trọng của Nhật trong khư vực, Rabaul và Wewak (trên bờ biển phía bắc Tân-Guinée). Để chắc ăn, phải oanh tạc đồng thời cả hai căn cứ, trong một cuộc hành quân phối hợp đại qui mô. Một lần nữa MacAithur bị bắt buộc chọn lựa giải pháp nửa vời. Không lực của ông không đầy đủ. Kenney chọn lựa Wewak, một chốt khóa ngăn chân con đường quân Mỹ tiến lên phía bắc. Hơn 100 máy bay Nhật bị tiêu diệt dưới đất. Kể từ cuộc đột kích này, không lực Nhật ghi dấu nao núng rõ rệt. Không chần chờ, 350 oanh tạc cơ của Kenney lại cất cánh và đánh bất ngờ vào địch tại Rabaul. Trong những tuần lễ kế tiếp, các cuộc oanh tạc xuống hai điểm chiến lược nối tiếp nhau với nhịp độ ngày càng mau. Cuối năm 1943, tình thế rõ ràng  là đã đảo ngược. MacArthur làm chủ trên bộ, trên biển và trên không. Hai trăm tàu chở hàng của Nhật bị đánh chìm, ba mươi chiến hạm lớn, hơn năm trăm xuồng đổ bộ và bốn tiềm thủy đĩnh. Riêng phần quân Nhật vì đã bị mất thế chủ động vĩnh viễn, họ bắt đầu thấy khổ sở vì ở cách hậu cứ của họ quá xa và những khó khăn trong hệ thống giao thông liên lac.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2019, 01:03:53 AM

*

*      *

        Khi từ Teheran (Ba Tư) trở về vào cuối tháng 12 Tướng Marshall thình lình đổi hướng.ghé thăm MacAithur tại bản doanh của ôrg. Hai người nói chuyện cởi mở với nhau mà không hy vọng cải thiện gì cho điều kiện chiến đấu. MacArthur nại cớ rằng tất cả tai biến mà nước Mỹ phải chịu đựng cho đến nay tại Thái Bình Dương đều là tác phẩm của các vị Đô đốc. Ông bắt đầu bằng cách kể Corregidor và Bataan, nơi mà lẽ ra ông còn giữ được nếu hải quân tỏ ra táo bạo hơn, rồi Trân châu Cảng, Macassar, một loại trận đánh tại Guadalcanal. Ông cũng không quên nhắc lại rằng trận đánh Midway đã cho Yamamoto một bài học nghiêm trọng.

        Đối với đô đốc King, không bao giờ có vấn đề đặt các đơn vị hải quân dưới quyền kiểm soát của sĩ quan lục quân. Riêng phần thủy quân lục chiến thì họ có ưu thế hơn «bộ binh» là có thể chỉ huy các đoàn quân trên bộ như lục quân, gồm có cả «lực lượng không quân» nửa. đô đốc King ganh tị công khai với MacArthur. Ông này phải phản đối chống lại những sự xung đột trong công vụ vốn đóng vai trò tai hại cho công cuộc điều khiển chiến tranh. Tướng Marshall, chuyển trình lên Tổng Thống Roosevelt những lời than phiền của MacArthur. Ông sẽ là vị luật sư giỏi. Kể từ cuộc gặp gỡ nay, Tổng thống Roosevelt có vẻ như đã dành nỗ lực hậu thuẫn cho mặt trận Thái Bình Dương.

        Thủ tướng Úc, Curtin, người trở thành bạn thân của MacArthur, đến Hoa Kỳ. Ông được Tổng Thống Roosevelt tiếp kiến và không ngần ngại đề cao tinh thần quân sự thuần túy của ông Tướng. Ít lâu sau, Curtin có thể nói với MacArthur : «Tôi tin chắc rằng mỗi đêm, trước khi đi ngủ, Tổng Thống nhìn xuống dưới giường để được chắc chắn là không có ông ở đẫy*.

        Vào đầu năm 1944, MacArthur quyết định khai thác triệt để các lợi thế đã thủ đắc được. Đối phương đã bị tổn thương, mất tinh thần. Có dấu hiệu cho thấy họ mệt mỏi, nếu không phải là kiệt lực. Họ đã mất ý niệm chiến lược với tinh thần tấn công. Bộ điệu cao ngạo còn lại chỉ là một sự nhấn mạnh của tinh thần tuyệt vọng, một cơn giật mình của sự cuồng tín khô cạn trong luật Bushido, bộ luật danh dự của các Samourai. Nimitz và MacArthur phối hợp hành động. Hải lực đè bẹp đảo Truk nơi mà một năm trước hạm đội của Yamamoto vẫn xuất phát. MacArthur cô lập hóa Rabaul. Tám mươi ngàn quân Nhật bị vô hiệu hóa trong vùng biển Bismarck. Giữa Wewak và Hollandia, nơi mà các bước nhảy ếch dọc theo bờ biển phía bắc Tân-Guỉnée hướng dẫn họ, các đơn vị quân Mỹ và Úc bất động hóa 40.000 quân Nhật, bị thu hẹp lại, bị cắt đứt khỏi moi cuộc tiếp cứu, bị thảm bại vì thiếu đạn được và khí hậu. Những bước nhảy ếch tiếp diễn trong hiện tại và được thực hiện trên các khoảng cách ngày càng xa. Sau một bước nhảy 800 cây số, MacArthur chiếm Hollanđia bằng bộ binh và hải quân từ phía bắc lẫn phía nam. Quân đoàn VIII của Nhật bị tiêu diệt. Tổn thất của đồng minh không đáng kể. Tướng Marshall điện cho MacArthur : «Những vụ đột kích liên tục và tổn thất nhỏ của ta, tầm rộng lớn của lãnh thổ chiếm được, tầm quan trong của tổn thất địch, tất cả đều được phối hợp để khiến cho các cuộc hành quân của ông trở thành các kiểu mẫu điều quân chiến thuật cũng như chiến lược.» Chiến thắng tại Hollanđia giúp MacArthur đẩy mạnh cuộc tấn công theo nhịp độ mau hơn. Ông nóng lòng chiếm đảo Wake, Biak, Noemfer, Sansapor. ông quyết định trở lại Phi luật tân ngay từ tháng 12. Chính ngay giữa cuộc điều quân rộng lớn và nóng nảy hướng về quần đảo Phi luật tân này, đô đốc Nimitz lại rút mất của ông lực lương yểm trở quan yếu nhất, các đơn vị do Đô Đốc Halsey chỉ huy. Hai ngươi rời nhau với tất cả tiếc nuối. Tình bạn của Đô đốc được diễn tả trong một bức thư rất cảm động trong đó ông viết : «ông và tôi đã trải qua những lúc gay go. Những liên hệ cá nhân của tôi với ông thỏa đáng đến nỗi tôi vẫn còn giữ cảm tình nồng nhiệt và kính phục cộng thêm vào với sự ngưỡng mộ về phương diện chuyên nghiệp của tôi».

        Tuy nhiên vào tháng 6 năm 1944, Hoa thịnh đốn gửi thêm tăng viện cho MacArthur : một tiểu hạm đội gồm ba tuần dương hạm nhẹ, hai mươi bảy khu trục hạm, ba mươi tàu ngầm, một số lớp khinh tốc đỉnh và vài tàu rà mìn, năm sư đoàn Mỹ, hai trung đoàn Phi luật tân và không đoàn 13. Quần đảo Phi luật tân chỉ còn cách lực lượng xung kích Mỹ một ngàn cây số,

        Một lần nữa chiến lược của MacArthur lại bị đô đốc King, bác luận với hậu thuẫn của Knox. Kế hoạch bắt Nhât đầu hàng của King đã được Roosevelt chấp thuận trước. Tuy nhiên tổng Thống Mỹ không bật đèn xanh khi chưa nghe MacArthur khai triển kế hoạch của ông, kế họach không thay đổi từ khi ông đến Úc châu.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:41:26 AM
     
*

*      *

        Cuối tháng 7, tướng Marshall triệu dụng MacArthur đến Hạ uy di. ông này không chịu đưa ra lời giải thích nào lẫn mục đích của hội nghị sẽ diễn ra tại đấy, cả các nhân vật sẽ hiện diện. MacArthur không hề ngờ rằng đây là một buổi họp quan trong. Ông đến đấy mà không có sĩ quan tham mưu đi theo, không có tài liệu, hồ sơ lẫn bản đồ. Ngay khi đến ông được đích thân Roosevelt tiếp kiến và nồng nhiệt khen ngợi các chiến thắng của ông, Roosevelt có đô đốc Leahy phụ tá. Đô đốc King đã rời Trân Châu Cảng vài giờ trước khi MacArthur đến. Mọi người đi vào đề tài chính ngay. Hải quân đã chuẩn bị kỹ. Bản đồ cắm cờ tua tủa, thống kê, máy chiếu ảnh, mô hình các đảo và vị trí phòng thủ kiên cố của địch đều được nghiên cứu, phân tách.

        Số tài liệu phong phú này được dùng làm điểm tựa cho sự chứng minh của hải quân nhằm hướng cuộc chiến tranh trên Thái Bình Dương về mục tiêu sau cùng : xâm chiếm Nhật Bản. Luật sư của Hải quân là chính Đô đốc Nimitz. ông tung hứng một cách tài tình với những con số, với các khoảng cách, với quân số. Mùa hè năm 1945, hạm đội sẽ chiếm Đài Loan, rồi từ đó hạm đội sẽ nhảy về phía bắc, lên quần đảo Nhật Bẳn.

        MacArthur khám phá ra, qua kế hoạch này, kế hoach của Đô Đốc King, qua giọng nói của người bênh vực, giọng điệu của đô đốc King, ông hỏi Bộ Tổng  Tham Mưu nghĩ sẽ làm gì cho quần đảo Phi luật tân. Nimitz không đếm xỉa gì đến quần đảo này « Ông ta sẽ bọc vòng quanh nó» ! «Ông tính với lực lượng nào để có thể điều hướng trận đánh trực diện nầy ?» MacArthur hỏi. Nimitz lạnh lùng trả lời : «Với các lực lượng hiện đang đặt dưới quyền chỉ huy của ông, ngoại trừ hai sư đoàn và vài phi cư mà chúng tôi sẽ để lại cho ông».

        Nếu Roosevelt cho mời MacArthur đến Trân Châu Cảng, chính là để biết quan điểm của ông về kế hoạch của Hải quân. Roosevelt há chẳng đã hoàn toàn hài lòng đó sao ? MacArthur không mặc cả từng lời, nhưng không lúc nào ông để cho bị đạo diễn, lẫn để cho lộ sự chua cay của mình. Thái độ lạnh nhạt, gan lì của ông càng làm nổi bật thêm lý luận của ông mà thôi. Ông chống lại kế hoạch bằng hai lý do : lý do thứ nhất có tính cách chiến lược, thứ hai, có tính cách tâm lý.

        Cuộc giải phóng Phi luật tân, mà không bao giờ nên từ bỏ, là một điều thiết yếu để dồn Nhật Bản vào đường cùng. Đó là một pháo đài điều khiển vùng tây nam Thái Bình Dưung và từ đó ta có thể cắt đứt mọi đường giao thông của Đông Kinh với Borneo, với thuộc địa của Hòa Lan, với Mã Lai ; nói cách khác, với dầu lửa, cao su, gạo, thiếc. Nắm giữ vịnh Manille là điều chủ yếu... Quan trọng khác hẳn các đảo Iwo-Jima và Okinawa.

        Tổng thống Roosevelt ngắt lời MacArthur. Ông lo ngại các tổn thất khổng lồ mà công cuộc tái chiếm Phi luật tân phải trả giá : «hơn mức chúng ta có thể chịu đựng», ông nói. Ông tướng cười. Trận đánh tại Phi luật tân sẽ không tốn kém về nhân mạng hơn tại Tân-Guinée. Một lần nữa ông nhấu mạnh rằng các bước «nhảy ếch», căn bản chiến thuật của ông, hữu hiệu hơn và ít «đắt giá» hơn các cuộc tấn công trực diện. Ông nhắc lại rằng địch quân tại Đài Loan, tại Iwo-Jima, tại Okinawa đã đóng đô vững chãi và các cứ điểm phòng thủ trên đó đều được bảo vệ bằng lực lượng pháo binh manh mẽ và nguy hiểm giết ngươi : «Chỉ có các cấp chí huy dở mới phô bày quân sĩ của mình trước mối hiểm nguy như vậy, những tướng lãnh tài ba không bao giờ để bị tồn thất quá lớn».

        Câu này đập thẳng vào đô đốc Nimiz từ lâu vẫn là người chủ trương các cuộc tấn công trực diện và người phải biết Thủy quân lục chiến đã trả giá nào khi đổ bộ lên Guadalcanal. Iwo-Jima và Okinawa đều là các pháo đài quá mạnh không thể chiếm mà không phải tung ra các cuộc chiến đấu nghiêm trọng. Phải cô lập hóa chúng. Phải để cho quân trú phòng Nhật lâm vào cảnh không được tiếp cứu, không được tiếp tế, không có một liên lạc nào với các căn cứ của họ. MacArthuí không chờ phản ứng của Tổng Thống Roosevelt, ông tiếp tục trình bày phần thuyết trình bẵng cách lưu ý rằng Hoa Kỳ sẽ phạm lỗi lầm khó tha thứ nếu không quan tâm đến Phi luật tân, nơi đang được tập trung gần ba trăm ngàn quân Nhật. Và sẽ là phi nhân quái gở nếu bỏ rơi mười bảy triệu dân Phi luật tân vẫn còn là bạn của Hoa Kỳ bất chấp các sự thiếu thốn bần cùng vì cuộc chiếm đóng của Nhật. Cảm thấy đã thuyết phục được cử tọa, MacArthur nêu tên ông Tổng trưởng Chiến tranh, tướng Marshall, người mà ông biết rõ tư tưởng và có thể tựa vào: «Tôi ngạc nhiên là tại sao không ai hỏi ý kiến ông ta về kế hoạch của Đô đốc King! Cho đến nay chẳng ai quan tâm và viện dẫn đến ý kiến của ông cả».

        Roosevelt muốn biết kế hoạch tấn công vào quần đảo Phi luật tân của Tướng MaeArthur và kế hoạch hành quân về sau. Ông Tướng vạch ngay những nét chính. Tấn công trên một trục duy nhất, phối hợp các lực lượng không, hải và lục quân trong mục tiêu cắt lực lượng địch ra làm hai rồi cô lập hóa chung cho đến cuộc đầu hàng sau cùng. Mục tiêu số một là đảo Mindanao rồi tiến ngay qua vịnh Leyte nằm giữa đường Mindanao và Ludon. Mục tiêu kế tiếp là tấn công Ludon ngay tại trung tâm với sự yểm trợ của hạm đội Thái Bình Dương được tái lặp. Thoạt tiên kế hoạch được mệnh danh là «Reno». Hiện tại kế hoạch có vài sự thay đổi và mang tên «Musketeer II». Cuộc tái kiểm soát Phi luật tân bởi quân lực Mỹ sau đó sẽ giúp mở các cuộc hành quân tại các thuộc địa Hòa Lau và đẩy quân Nhật khắp nơi trên Thái Bình Dương vào thế bị tấn công cả hai mặt.

        Đô Đốc Leahy tán thành kế hoạch của MacArthur. Roosevelt muốn để một đêm để suy nghĩ. Hôm sau cuộc hội kiến cực kỳ xúc động nay, Roosevelt chấp thuận. King và Nimitz nhượng bộ. Họ sẽ điều khiển cuộc chiến theo ý họ. Cũng như Tướng Arnold điều khiển cuộc chiến của ông với lực lượng không quân hoàn toàn độc lập; mà không cần quan tâm đền một chiến lược tổng quát. Ta sẽ thấy bằng cách nào các phi cơ của Arnold, tại Hiroshima và tại Nagasaki góp phần kết thúc một cuộc chiến tranh vốn đã thất bại đối với Đông Kinh rồi.

        Cuộc hội kiến Roosevelt — MacArthur đưa đến hậu quả là trấn an Tổng Thống về diễu tiến của cuộc chiến và về những điều được coi là tham vọng chính trị của ông Tướng. Ông này cam kết với Roosevelt rằng ông sẽ không mưu đồ chức vụ cao nhất nước Mỹ. Nay khi trở về Mỹ Tổng Thống Roosevelt đã có thể viết thư cho MacArthur :

        «Cá nhân tôi, tôi muốn chúng ta có thể đổi chỗ cho nhau, nhưng tôi tin chắc rằng ông sẽ là một Tổng Thống lỗi lạc hơn là tôi làm một ông Tướng được giao phó cho công cuộc tái chinh phục Phi luật tân».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:43:20 AM

*

*      *

        Ngày 12 và 13 tháng 9 phi cơ của hạm đội thứ 3 do Đô Đốc Halsey chỉ huy tấn công các căn cứ không quân tại Mindanao ; quân Nhật chỉ chống cự yếu ớt. MacArthur quyết định gấp thực hiện kế hoạch và đốt giai đoạn. Mặc dầu quyết định của ông rất táo bạo, ông ra lệnh bắt đầu cuộc tấn công bằng cách chiếm Leyte để cho Mindanao tự suy sụp. Không phải vì MacArthur thiếu suy đoán. Ông ý thức rằng quân Nhật sẽ tập trung tất cả lực lượng để phòng vệ điểm chiến lược này, một địa điểm mà nếu không có nó tất cả công cuộc chiếm giữ quần đảo sẽ mau lẹ trở thành bấp bênh. Họ có lợi điểm là có thể dễ dàng đưa quân đội và tiếp liệu tai chỗ đến chiến trường. Trái lại quân Mỹ phải hành quân cách hậu cứ 800 cây số. Nhưng mối đe dọa xứng đáng được chấp nhận. Khi được tham khảo, Hoa thịnh đốn chấp thuận đồng thời ra lệnh cho tất cả hạm đội Thái Bình Dương phải tham chiến. Trong thâm tâm MacArthur rất hài lòng được nắm quyền tư lệnh mà luôn luôn ông mơ ước (dầu không phải là quyền tư lệnh của một bộ chỉ huy duy nhất) và có cơ hội thực hiện lời hứa trả thù cho những người đã chết tại Corregidor và Bataan. Rốt cuộc thời khắc đã đến để đối đầu với quân Nhật trong tình trang gần như ngang sức nhau trên một lãnh thổ mà ông yêu mến nhất đời.

        Ngày 16 tháng 10 ông bước lên chiến hạm Nashville và hướng về vinh Leyte. Bảy trăm chiến hạm theo sau ông. Lực lượng của ông lên đến 180.000 người chống 300.000 quân Nhật, nhưng là 180.000 người được ông luyện qua những ngày tháng chiếu đấu trong rừng rậm, không bao giờ biết lùi bước ngay cả trong các trường hợp khó khăn nhất.

        Bình minh hôm sau, cuộc tấn công bắt đầu. Hàng trăm đại bác tưới đạn lên các bãi biển và các khu rừng dọc theo bờ biển. Hàng trăm phi cơ bay đặc bầu trời mang chất nổ giết người dưới cánh. Cuộc oanh tạc thật khốc liệt. Cả một hỏa ngục bị những cột khói và đám cháy chế ngự ngay và đầy hỏa châu soi sáng. MacArthur quyết định đổ bộ theo đợt thứ ba. Sau cùng ông đã đặt chân lên mặt đất của lãnh thổ mà ông quyết tâm mang trở lại cho phe Đồng Minh. Cách không đầy hai trăm thước, đại liên của Nhật nổ dòn : «Tôi đã trở lại !» ông nói. Không phải là không thỏa mãn — sự thỏa mãn của một lãnh tụ quân sự hơn là một con người — được nhìn bãi biển với xác địch nằm sóng sượt rải rác mà trên quân phục mang dấu hiệu sư đoàn 16 của Tướng Homma, người đã đánh bại ông tại Bataan.

        Ngay giữa trận đánh, MacArthur đưa ra lời kêu gọi dân chúng Phi luật tân :«Tôi trở lại đây. Nhờ ân sủng của Đấng Tối cao, quân đội tôi đã ở trên đất Phi luật tân, trên mảnh đất nhuộm đầy máu các dân tộc chúng ta. Chúng tôi đây, cương quyết tiêu diệt cho đến vết tích cuồi cùng của sự kiểm soát mà địch đã đặt lên đời sống của chúng ta. Bên cạnh tôi có Tổng Thống Sergio Osmêna, người kế vị xứng đáng của nhà đại ái quốc Manuel Quezon... (chết cách đó vài tháng)». Ông Tướng khích động các lực lượng kháng chiến hãy khởi cuộc tấn công : «Hãy đến hợp với tôi. Ngay khỉ chiến tuyến tiến đến gần quí vị, hãy đứng lên và đánh, đánh mạnh», ông vừa cho ghi âm xong lời tuyên cáo của ông thì một ông già, hai tay đưa lên trời, từ trong rừng chạy ra ngay giữa lưới đạn giết người đang giao nhau, hấp tấp nói : «Thưa Thống Chế, rất vui được gặp lại ông — Thật lâu quá, rất lâu».

        Trận đánh Leyte đã bắt đầu. Đối với kết quả chiến tranh Thái Bình Dương, nó cũng quan trọng như cuộc đổ bộ lên Normandie1. Nhưng tại đây mọi chuyện suýt kết thức bằng một tai họa. Mười ngày sau khi lập được vùng đầu cầu, một trận hải chiến, trận quan trong nhất trong suốt Đệ nhị Thế chiến suýt làm hỏng cuộc tấn công của MacArthur. Đô đốc Nhật Toyoda, người kế vị Yamamoto, ngay khi được tin về cuộc đổ bộ của Mỹ lên Leyte đã giải quyết bằng lối được ăn cả ngã về không. Ông tập trung tất cả hạm đội Nhật và tiến lên chặn đánh hạm đội đối phương. Mặc kệ nguy hiểm ! Hoặc là ông sẽ giáng một vố Trân Châu Cảng mới cho hạm đội Mỹ và Phi luật tân sẽ thoát trong nhiều tháng, hoặc trong nhiều năm, hoặc là ông sẽ bị tiêu diệt. Trong trường hợp này cũng chẳng có gì thay đổi. Nếu quân Mỹ bám chắc được vào Phi luật tân «con đường biển» đi về phía nam, ông viết, sẽ bị đóng kín vĩnh viễn và hạm đội Nhật đang lẩn tránh trong hải phận Nhật Bản sẽ không có nhiên liệu. Nếu trái lại hạm đội đến nấp trong hải phận miền Nam, nó sẽ có nhiên liệu, nhưng sẽ lại không được tái tiếp tế cả vũ khí lẫn đạn dược quân nhu.

---------------------
        1. Đọc : «Hitier và trận đánh Normandie» — Sông Kiên xuất bản — Sách đã phát hành.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2019, 02:44:41 AM

        Đô đốc chia các đơn vị của ông ra làm ba nhóm. Một từ bắc xuống dưới quyền Đô đốc Ozawa có sứ mạng dụ các chiến hạm Mỹ bảo vệ vịnh Leyte, chạy ra khỏi vòng chiến, trong khi đó lực lượng ở giữa do đô đốc Kurita chỉ huy sẽ tiến về Leyte qua eo biển San-Beruardioo và lực lượng phía nam gồm có hai hải đoàn, một do đô đốc Nishimura chỉ huy, và một do đô đốc Shima chỉ huy, xâm nhập hải phận Mindanao và qua eo biển Surigao. Cuộc điều quân rất công khai. Nó sẽ thành công trong việc đánh lừa viên tư lệnh hạm đội Mỹ, đô đốc Halsey, dưới quyền đô đốc Nimitz cách đó 5.000 hải lý, tại Trân Châu Cảng. Ở phía Bắc. Đô đốc Ozawa gởi hết điện văn nầy đến điện văn khác mà không cần mã hóa cho đô đốc Shima, để dụ Halsey và phần lớn chiến hạm đang che chở bờ vịnh, về phía ông ta. Kurita tiến qua eo biển San Bérnardino. Ông bị phi cơ của hạm đội thứ 3 tấn công liên miên. Chiếc Musaski, chiếc thiết giáp hạm mới nhất và đẹp nhất của Nhật bị đánh chìm. Chiếc Yamato bị hư nặng, Kurita tháo chạy. Nhưng Nishimura lại xuất hiện trước eo biển Surigao. đô đốc Kinkaid, người chỉ huy hạm đội đổ bộ dưới quyền MacArthur, đưa các khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi, các khu trục hạm và thiết giáp hạm với một hỏa lực cực mạnh ra chống cự. Nishimurabi tiêu diệt.

        Yên tâm với chiến thắng của Kinkaid và sự rút lui của Kurita, đô đốc Halsey đưa các mẫu hạm và thiết giáp hạm tiến lên chặn đánh hạm đội gài bẫy của Ozawa bỏ lại một phần của hạm đội đổ bộ của MacArthur (Kinkaid). Đấy là tất cả những gì quân Nhật mong ước. Đô đốc Kurita quay trở lại và thành công một trong những cuộc điều động phi thường nhất trong các trận hải chiến; ông vượt qua eo biển San Bernardino, nơi đây Kinkaid chỉ có thể đưa ra mười sáu hàng không mẫu hạm hộ tống và mười khu trục hạm ra chống cự. Phi cơ của ông cất cánh tấn công các đơn vị Nhật Bản. Nhưng khi thi hành xong nhiệm vụ trở về, phi cơ không thấy các mẫu hạm đâu cả. Chúng đã bị tiêu diệt phần lớn dưới cơn mưa hải pháo 457 ly — khẩu kính lớn nhất thế giới — của chiếc Yamato. Hết đường xoay sở, các phí cơ của hạm đội thứ ba phải đáp xuống các phi trường tạm bợ vừa được thiết lập trên bộ. Nhiều phi cơ bị vỡ tan ngoài các phi đạo. Nhiều chiếc khác trốn ra biển. Thật kinh hoàng. Kinkaid gọi Halsey tiếp cứu. Nhưng các điện văn không đến nơi được. MacArthur đứng trước một tình thế mới, bất ngờ. Ông nổi khùng giận dữ vì bị chạm phải hệ cấp chỉ huy. Chỉ có Nimitz, tại Trân Châu Cảng, mới có thể ra lệnh cho Halsey. Phải qua trung gian của ông ta. Sai lầm của Hoa thịnh đốn, luôn luôn cho rằng không cần bổ nhiệm một vị tư lệnh duy nhất. Hai hải đoàn trong cùng một trận đánh mà không có cùng một cấp chỉ huy ! Nhưng trời đã đứng về phe quân Mỹ. Đột nhiên, Kurita quay lui và vượt qua lại eo biển San Bernardino. Khi Halsey, sau cùng đã được báo động, quay trở lại với các chiến hạm to lớn của ông ta thì địch đã biến mất.

        Tuy nhiên trên bộ, quân Nhật chống cự bằng tất cả mọi phương tiện. Quân tăng viện được liên miên đưa đến. Phi cơ Nhật tấn công không ngừng nghỉ. Lần đầu tiên các phi cơ tự sát của các «phi công Thần Phong Kamikaze 1» xuất hiện. Cho đến khi chiến tranh chấm dứt, chung làm cho hạm đội của Nimitz khốn đốn không ít. Tướng Yamashita, Rommel Nhật Bản, người chiến thắng tại Tân Gia Ba có trách nhiệm phòng thủ Leyte, cho phổ biến một nhật lệnh chứng tỏ ý chí không nhượng bộ của Đông Kinh :«Nhật sẽ đánh trận quyết định số phận của quần đảo Phi luật tân tại Leyte».

        Ngày 26 tháng 12 năm 1944, Yamashita phải đầu hàng. Rất nhiều quân nhân thuộc quyền ông thích tự sát tại chỗ hơn là hàng phục. Trận đánh này đã để lại trên chiến trường Leyte 80.557 xác quân Nhật thối rữa dưới trời mưa và côn trùng đục khoét.

        Sau Leyte, MacArthur chiếm đảo Minđoro. Ông muốn dùng đảo này làm bàn đạp để sau đó tấn công Ludon nơi địch quân còn để dành lại các lực lượng cuối cùng. Marshall điện cho MacArtbur : «Hành động của ông tại Leyte và tại Mindoro là những hành động lão luyện của các bậc sư. Trận đánh tái chiếm Manille cũng không kém phần ngoạn mục. MacArthur không muốn để cho địch một phút nghĩ ngơi nào. Ông bắt đầu bằng cách thao túng địch mà không tung ra trận đánh. Các cuộc không tập, các cuộc đổ bộ giả trên các bãi biển khác nhau phía nam Ludon, các cuộc tập trung quân tại phía nam, các hoạt động của hải quân giữa Mindanao và Mindoro đã đánh lừa được sự cẩn trọng của tướng Yamashita. Ông này chờ đợi mot cuộc tấn công từ phía nam. Ông ta dàn quân sẵn sàng xung trận ở phía nam. Thế nhưng MacArthur lại đổ từ phía bắc tại Lingayen.

----------------
        1. Đọc : «Sấm Sét Thái Bình Dương» — Sông Kiên xuất bản — Sách đã phát hành.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:35:23 AM

        Ngàv 4 tháng 1 năm 1945 ông bước lên tuần dương hạm Boise. Chiến hạm chở ông bị phi công Thần phong Kamikaze và tàu ngầm tấn công liên miên làm như là quân Nhật biết có ông trên tàu Giả thiết rằng Yamashita biết như thế và ngờ vực ý định của MacArthur, thì cũng đã quá chậm để phản ứng. Đêm hôm trước ngày đổ bộ tại Lingayen ông tướng Có thể gợi ra lại hình ảnh một đêm khác, đêm ông thoát khỏi Corregidor. Trong suốt nhiều giờ, ông đứng sững trên đài chỉ huy, mắt nhìn chăm chú vào một đường vô hình nơi bầu trời tối đen như mực tiếp giáp với mặt biển. Đằng kia, bình minh ngày 9 tháng 1, bờ biển phía nam Ludon dần dần hiện rõ. Một lần nữa, MacArthur đồ bộ với đợt xung phong thứ ba. Quân Nhật hoàn toàn bị bất ngờ. Họ bị đẩy lui mau lẹ. Họ lùi nữa, bị tấn công từ hậu tuyển bởi các lực lượng du kích từ nhiều tháng qua đã sửa soạn bắt tay hành động. Người ta có thể nói đến sự tháo chạy tán loạn của Nhật Bản cho đến tận Tarla. Nhưng tại đấy, địch quân phản ứng. Một cuộc phản công vào cạnh sườn sư đoàn 161 bộ binh chút xíu nữa là phá vỡ sự thuần nhất của quân Mỹ. Đích thân MacArthur đến chỗ chiến trận sôi bỏng này. Sau cùng quân Nhật hụt hơi rồi để bị tiêu diệt tại chỗ.

        Trận chiến tại Ludon đột nhiên bị đe dọa vì một quyết định bất ngờ của Hoa thịnh đốn. Bảy mươi dương vận hạm chở quân của MacArthur phải được gọi về Cựu Kim Sơn. Chúng được chỉ định đến yểm trợ quân Nga vốn đang chuẩn bị tuyên chiến với Nhật và tham dự vào giai đoạn chót của cuộc chiến trên Thái Bình Dương : đổ bộ xâm chiếm lãnh thổ địch. MacArthur phản đối vì công cuộc tiếp liệu cho Lingayen bị đe dọa. Do đó ông quyết định tấn công gấp mặt nam. Ông đổ bộ lên Olongapo, trên bờ biển phía nam của bán đảo Bataan và lên Nasugbu, phía nam vịnh Manille. Thủ đô bị kẹp giữa hai gọng kềm sẽ phải mau lẹ nhường bước. Ngày 4 tbáng 2, MacArthur  tiến vào thành phố. Ông phải chiến đẩu trên các đường phố cho đến cổng khách sạn Manila Hotel. Ông phải chiến đấu trong phòng khách, trên cầu thang, tại mỗi tầng lầu. Khi lên đến chiếc sân thượng của ông, vào các căn phòng nhà ông, ông tìm thấy xác một đại tá Nhật tự mổ bụng chết. Bàn ghế tủ giường, vật dụng trang trí, đồ kỷ niệm, các độc bình hoàng gia do Thiên hoàng Nhật Bản tặng thân phu ông đều làm mồi cho ngọn lửa. Thư viện của ông, trong đó có rất nhiều tác phẩm quí giá về nghệ thuật chiến tranh, đã biến thành tro bụi.

        Trong thành phố Manille được giải phóng, MacArthur  được hoan hô nồng nhiệt. Đám đông vĩ đại nhào theo bước chân ông, hò hét «Mabuhay ! Mabuhay!» tên ông đọc theo tiếng Mã Lai. Ngày 18 tháng 2, Bataan và Corregidor được tái chiếm. MacArthur chiến thắng trở về như ông đã hứa, Ngày 28 tháng 6, ông có thể viết : «Các đoàn quân phía bắc và phía nam của chúng tôi đã tiếp giáp nhau. Phần còn lại của các đơn vị địch bị kiệt sức đã bị đẩy lùi vào rừng núi hoang vu, bị cắt đứt hẳn với mọi đường giao thông và với mọi khả năng tiếp tế. Ngoại trừ vài cuộc hành quân đơn độc, trận đánh tai Ludon đã kết thúc. Toàn diện hòn đảo, với tám triệu dân, đã được giải phóng.»

        Cuộc chinh phục vùng phía nam Phi luật tân hoàn tất, MacArthur bị lấy mất một phần của hạm đội được đặt dưới quyền chỉ huy của ông, và hiện sắp yểm trợ các cuộc tấn công của Nimitz tại Okinawa và tại Iwo-Jima. Nhưng ngược lại, ông thừa hưởng lộ quân X đồn trú tại Hạ uy di. Ông mau lẹ thi hành kế hoạch hành quân chót, tái chiếm Borneo và toàn bộ các đảo Indes thuộc địa của Hòa Lan (quần đảo Nam Dương). Các đơn vị quân Úc dưới quyền chỉ huy của Tướng Blarney càn quét Borneo. Sự chống đối của người Anh về quyền tư lệnh tối cao của MacArthur khiến cho ông bỏ mặc cho các thuộc địa Hòa Lan ung thối tại chỗ và tán trợ, mặc dầu ý ông không muốn, cho sự nắm quyên của lãnh tụ cộng sản Soekarno.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:36:44 AM
           
*

*      *

        Nhật Bản đang ở bên bờ vực thẳm. Đại sứ Nhật tại Mạc tư khoa nhờ «nước Nga trung lập» xin Hoa Kỳ cho biết điều kiện ngưng bắn và hòa bình. Molotov cho Đồng Minh biết rằng Nhật đang chuẩn bị lãnh phát súng thi ân. Đã đến lúc Mạc tư khoa can thiệp nhưng với võ khí trong tay và đứng về phe Đồng Minh chiến thắng, điều này đã làm cho MacArthur nổi cơn lôi đình mà từ bắc chí nam Thái Bình Dương, đâu đâu cũng nghe nói đến. Ông viết; «Không có một tí lý do nào cho phép Nga Sô len lỏi vào cuộc chiến tranh vào phút chót... và đưa ra những yêu sách vô lý...» Một phái bộ Nga Sô do Tướng Derevyanko đến đóng tại Manille, nơi MacArthur hấp tấp chuẩn bị cho cuộc tấn công tối hậu vào Nhật-Bản. Ông chủ xướng một cuộc đồ bộ khổng lồ lên đảo Kiou-Siou.

        Ngày đổ bộ đã được ấn định : 1 tháng 11. Tên của kế hoạch hành quân là «Olympic».

        Cùng trong thời kỳ đó, một hội nghị giữa các quốc trưởng Đồng minh được tổ chức tại Potsdam. Truman và Atlee — kế vị Roosevelt và Churchill — đưa cho Nhật một tối hậu thư : «Đây là những điều kiện của chúng tôi... Chủ quyền của Nhật sẽ được giới hạn vào bốn đảo Hondo, Hokkaido, Kiou-Siou và Shikok..» quân lực Nhật bị giải giới... các tội phạm chiến tranh, sẽ bị xét xử và trừng phạt theo luật chiến tranh...»

        Bản tuyên bố kết thúc bằng những từ ngữ kinh hồn, chtra bao giờ con cháu của Thái Dương Thần Nữ được nghe nói : «Điều khác đề chọn lựa không có gì khác hơn là sự hủy diệt toàn bộ và mau lẹ nước Nhật.» Vậy thì Nhật Bản phải lựa chọn : hoặc là đầu hàng vô điều kiện, hoăc là bị san bằng.

        Tại Potsdam người kế vị Roosevelt tìm cách làm cho lương tâm mình thoải mái. Trong tầm mức tuyệt đại bí mật, ông muốn được sự đồng ý của Đồng mình để xử dụng quả bom nguyên tử mà sự thí nghiệm cho nổ thử tai Alamogordo đã hoàn toàn thành công. Thứ võ khí mới này, do Robert Oppenheimer chế tạo theo các công trình tách rời nhân nguyên tử của Joliot- Curie, có khả năng chấm dứt cuộc chiến tranh ngay lập tức, các nhà bác học bảo, và cứu thoát được một số sinh mang đáng kể. Môt ủy ban được giao cho viêc nghiên cứu sự xử dụng quả bom đã trả lời :

        — Phải xử dụng quả bom càng sớm càng tốt.

        — Tốt hơn là đánh các đại trung tâm sản xuất cho chiến tranh.

        — Không nên ra tối hậu thư cho Nhật về sự xẻ dụng một võ khí mới và có hiệu quả giết người khủng khiếp.

        Dường như MacArthur không được tham khảo về việc xử dụng quả bom nguyên tử. Ông vẫu ôm kế họach đổ bộ của mình. Ông tính rằng ưu thế về quân số và chiến cụ của quân lực Mỹ sẽ chiến thắng những cơn chồi dậy cuối cùng của sự điên cuồng Nhật Bản. Niềm tin của ông càng lớn lao hơn khi mà Hoa thịnh đốn đã tăng cường quyền uy của ông và Nimitz không còn có thể tiếp tục cuộc chiến của riêng ông mà không đếm xỉa gì đến người ban láng giềng nữa. Nhưng một lần nữa, MacArthur chỉ trích Hải quân. Kế hoạch chiếm đóng Nhật do Nimitz đề nghị mong rằng sự kiềm soát của Đồng minh sẽ do Hải quân đảm trách : kiểm soát các hải cảng, kiểm soát các «phi trường có thể hoạt động nằm không xa các địa điểm chiến hạm bỏ neo».

        MacArthur đập tan kế hoạch được gọi là «Campus» này ra từng mảnh :«Lực lượng hải quân hình như không được chỉ định để thực hiện các cuộc hành quân chiếm đóng sơ khởi trong một xứ thù nghịch mà các sư đoàn bộ chiến còn chưa bi suy xuyển. Công cuộc chiếm đóng các lãnh thổ rộng lớn bao gồm các cuộc hành quân đặt nền tảng chủ yếu trên sứ mạng của lục quân. Công cuộc chiếm đóng phải được đặt trên các căn bản chiến thuật lành mạnh, mỗi binh chủng phải chu toàn sứ mạng thích nghi của mình. Tôi tin tưởng vững chắc rằng một chủ thuyết quân sự lành mạnh bởi công cuộc chiếm đóng phải được thi hành bằng sức mạnh, để ta có thể áp đặt ý chí và tranh các biến cố có thể phải đưa đến các biện pháp tương ứng nghiêm trọng.» Không quan tâm đến những rắc rối dây dưa mãi giữa Hải quân và Lục quân, Tướng Không quân Arnold, lệ thuộc trực tiếp Hoa thịnh đốn, tiếp tục công trình phá hủy của ông. Những trái bom của ông «hòa tấu» nhịp nhàng và bi thảm với các từ ngữ trong tối hậu thư tại Potsdam. Các pháo đài bay B29 đặt căn cứ trên quần đảo Mariannes đã thẹc hiện hơn một ngàn hai trăm phi xuất mỗi tuần : chúng oanh lạc các thành phố, hải cảng, đường giao thông. Đảo Kiou-Siou bị cày nát thật sự. Nó phải chịu đựng hơn sáu ngàn cuộc không tập.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2019, 03:37:27 AM

        Nhưng tại Đông Kinh, các quân nhân, bị cuồng tín hóa, không chịu buông vũ khí. Họ thích chết hơn là đầu hàng. Tuy nhiên Thiên hoàng đã cho biết rằng xin đình chiến mới là khôn ngoan. Dân tộc Nhật đau khổ đã đủ rồi. Khung cảnh hỗn loạn ngày càng gia tăng hơn tại Đông Kinh lúc đó đã bị hủy diệt hơn hai phần ba. Một quân đội không có phi cơ, một vài chiếc hiếm hoi còn bay được thì đã lỗi thời, và không có hải quân, vừa bị mất tại Okinawa chiếc thiết giáp hạm lớn nhất và cuối cùng, chiếc Yamato, của hạm đội ? Tại mặt trận Vân Nam và Miến Điện tướng Umezu đang dậm chân tại chỗ. Cuộc tấn công của ông bị chặn đứng và lâm vào thế kẹt. Thiên hoàng đã thuyết phục được ông Tổng trưởng Chiến tranh, Yonai, và Ngoại trưởng Togo, về tính cácb tuyệt đối cần thiết phải xin hòa bình.

        Tổng Thống Truman đã quyết định. Trái bom sẽ nổ. Mục tiêu : Hiroshima, Kokura, Niigata hay Nagasaki. Mệnh lệnh đã được chuyển đến cho không quân tại Thái Bình Dương, cho Tướng Arnold:

        «Không đoàn 509 thuộc lực lượng Air force thứ 20 sẽ ném quả bom đặc biệt đầu tiên ngay khi thời tiết cho phép thực hiện cuộc oanh tạc bằng mắt thường, kể từ ngày 3 tháng 8 năm 1945, xuống một trong các mực tiêu đã được lựa chọn...»

        Chỉ huy trưởng không đoàn 509, chính là Đại tá Paul Tibbets. Phần ông thì được biết tính chất của trái bom và sứ mạng chính xác của ông. Các sĩ quan khác, phi công và cơ khí riêng thì không biết. Họ tin rằng quả bom chỉ lớn hơn loại thường lệ đôi chút hay mạnh hơn đôi chút... Nội vụ được bao phủ bởi màn bí mật tuyệt đối cho đến ngày «J».

        Ngày 6 tháng 8 năm 1945 trên chiếc oanh tạc cơ B-29 mang tên Enola Gay, Đại tá Paul W.Tibbets, cất cánh lúc bình minh từ phi trường trên đảo Tinian, trong quần đảo Marshall, ông hướng về phía Nhật Bản. Lúc đó là 8 giờ. Chiếc В 29 bay ở cao độ 8000 thước. Trong vài phút nữa, ông sẽ đạt đến cao độ thả bom thuận lợi, mục tiêu, cũng rất thuận lợi : Hiroshima.

        Nằm trên đảo Hondo, đảo lớn nhất của quần đảo Nhật Bản, Hiroshima là thành phố thứ tám của Nhật Bản. Trong thời kỳ bình thường, dân số của thành phố lên đến 365.000 người, Vì các cuộc di tản, 240.000 người còn sống tại đó. Thành phố nầy được chỉ định bởi vì đó là thành phố sau cùng mà kỹ nghệ còn làm việc với năng xuất toàn diện cho chiến tranh và bởi vì bản doanh của đệ II lộ quân Nhật, có nhiệm vụ phòng vệ miền Nam, được đặt tại đây.

        Đến 9 giờ 15 đoàn trưởng phi hành đoàn mở nắp hầm bom và nhấn chiếc nút thả bom. Trái bom được thả đúng ngay xuống thành phố. Chiếc Enola Gay có một phút để tránh xa. Lúc bom nổ, toàn thể sinh vật và nhà cửa nằm dưới trung tâm chấn động sẽ bị xóa bỏ trên một diện tích năm cây số đường bán kính. Còn vài giây nữa và đây rồi, một quả cầu lửa vĩ đại tiếp theo là đám mây ghê rợn hình chiếc nấm bốc lên lóe lên cao trên bầu trời trong sáng. Nó lên cao đến 20.000 thước và đứng trên khoảng cách xa 500 cây số cũng còn thấy.

        Hiroshima, đó là cả một địa ngục.

        Trên phần lớn thành phố Hiroshima, sự sống đã dừng lại. Ngoài chu vi bất hạnh, hàng ngàn đàn ông, đàn bà, con nít, đang hấp hối. Họ bị phỏng da tàn khốc. Nhiều người bị hành hạ khủng khiếp đến chết. Những kẻ sống sót mặt mày méo mó, què quặt, điếc tai, mù mắt hay nổi điên. Tại Đông Kinh và trên thế giới, không ai hiểu được ngay tức khắc tầm rộng lớn của thảm họa. Lương tâm thế giới bị lay động. Sự sững sờ nhường chỗ cho sự phẫn nộ và kinh hoàng.

        Chính lúc đó Truman mới ngỏ lời với thế giới qua đài phát thanh : «Cách đây 16 giờ, một phi cư Mỹ đã ném một quả bom xuống Hiroshima. Chỉ riêng trái bom này cũng đã mạnh hơn 20.000 tấn chất nổ. Đó là một quả bom nguyên tử. Đấy là sự thể hiện sức mạnh của vũ trụ. Giờ đây chúng tôi có khả năng tiêu diệt mau lẹ và hoàn toàn tất cả mọi xí nghiệp sản xuất mà Nhật Bản có trên mặt đất, tại bất cứ thành phố nào.»

        Nhật Bản còn do dự chưa chịu đầu hàng. Ngay từ ngày 7 tháng 8, ngày hôm sau Hiroshima, Nga Sô tuyên chiến với Đông Kinh, trong khi đo người ta lập bản kết toán đầu tiên của thảm trạng. Các con số thống kê thật ghê rợn : trên tổng số 240.000 đến, 200.000 người chết tức là hơn bốn phần năm, đấy là vụ thảm sát tập thể vĩ đại nhất trong Lịch sử Nhân loại.

        Ba ngày sau, một vố thứ hai được giáng xuống : trái bom thứ hai được chỉ định thả xuống trung tâm kỹ nghệ Kokura. Điều kiện thời tiết xấu đã cứu thoát Kokura. Chiếc phi cơ tử thần đánh xuống, xa hơn, khu gia cư Utakami thuộc ngoại ô Nagasaki. Mục tiêu thật nhỏ, nhưng các cơ xưởng Mitsubishi đã bị hủy diệt, Trung tâm thành phố được một dãy đồi như một thành lũy che chở. Bảng kết toán tuy vậy cũng rất ghê rợn : 74.000 người chết.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 01:52:03 PM
         
(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73513761_511805626215989_8202450317661437952_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQk6e0P6N7IHr4Q89wYU-69DdFmEvr_s_8L--cFgs9fJpKtJICrYjZK214IVbNnkiNk&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=b7a21085f4f61295bff8d0a8beff854b&oe=5E17417E)
MacArthur ở trường Võ bị West Point năm 1903


(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74426906_511805629549322_7678458883005743104_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmGhpTd6zV-bCNVPVAkI6u9OXnLZnoWysTAdmS6Wn5JgWG24ZVmE-6yE4IPBZi69ak&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=f6c039fdc37a31b56eb49740f221fa9a&oe=5E64971B)
MacArthur với tổng thống Roosevel (trái)


(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/72631704_511805636215988_949110170946895872_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmJSRAABdzJ8J_PZjFBoXwB0DsV0Q5wZeSbmY-M4HqyKXxhCVLmuXigKnPy-j5hm3I&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=1f2e18312a1dc2f33f2f37111cb61f90&oe=5E253818)
Với các lực lượng Mỹ trong cuộc tái chiếm Thái Bình Dương


(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/76679408_511805679549317_3666114501100437504_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQllHDsPb2c-d_ueWrMCMVDWk1_Eo3mVN5biy9n56JXKT7Mpstvm_xm2GwlvG-vYsmo&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=64f90fa8076c11f16b23bf4dec3c0f20&oe=5E17721F)
- Tôi sẽ trở lại, MacArthur trở lại Phi Luật Tân.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 01:59:07 PM
       
(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74352083_511805686215983_3875449566429970432_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQm2Het-nHJm4XstGnq2m4BlGBaZf7NEaHwz5PR8Ehb753g6EeRJfkuhuitsfxmz6vM&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=90fa84258672e33bcb5e00e0fcdd6929&oe=5E282E4E)
Phái đoàn Nhật đến soái hạm Missoul ký hiệp ước đầu hàng với MacArthur


(https://scontent.fdad1-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/74627121_511805692882649_8253598232785977344_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQl8QgaCe9Di2KLxS1sYqUAWqGauDpbjg1flR15cjJbR4TbDmGusEv4xI1aOYyEeGcE&_nc_ht=scontent.fdad1-1.fna&oh=32de2a1bfc7e52761d3cede646bee373&oe=5E284CCA)
Cao ủy toàn quyền MacArthur với Hoàng đế Nhật Hiro Hito


(https://scontent.fdad2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73357293_511805736215978_1965435459089727488_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQk9ehLnTP5yOdVIdvAsa5pRnc9e1asHcgJLVp61AOK7O0FfFi4uDlzxOdRmtfZmYrw&_nc_ht=scontent.fdad2-1.fna&oh=8c637e99c86db46843cb203b15e12e23&oe=5E1CB2C1)
Cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Truman và thống tướng MacArthur, tổng tư lệnh Cao ly


(https://scontent.fdad1-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/73127476_511805742882644_8745331667025002496_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnPNzD8cfdc3Ptu5s2VYIyvKvhTgiOAppopY0eK5z5CYycm7QqkGYcvRiFR36PTdog&_nc_ht=scontent.fdad1-1.fna&oh=aa64e1763acc2f3f8d3fc522dd728803&oe=5E571AFA)
Một nét đặc biệt của MacArthurtrước nhiếp ảnh viên.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 02:05:11 PM

*

*      *

        Từ tổng hành dinh tại Manille, MacArthur chứng kiến cuộc tiến quân của Nga vào Mãn Châu.

        Tướng Nhật Yamada có 780.000 quân. Đấy không phải là các binh sĩ tinh nhuệ : phần đông là lính trừ bị hay là tân binh trẻ được đào tạo cấp tốc. Hơn nữa họ được trang bị rất yếu kém. Quân dụng được gửi cho các mặt trận khác. Chỉ còn lại vài cao xạ phòng không D.C.A và rất ít chiến xa hạng nặng. Quá yếu thế hơn quân Nga, quân Nhật rút lui và đó là cả một cuộc tháo chạy. Thường dân bị quân đội bỏ lại dọc đường,

        Đằng sau quân Nga, quân cướp Mãn Châu và Mông Cổ gieo rắc kinh hoàng. Họ trả thù quân chiếm đóng Nhật Bản. Ho hãm hiếp đàn bà con gái. Giết đàn ông và chiếm lấy tất cả những gì rơi vào tay họ. Quả thật là cả một cuộc tắm máu. Trong số 100.000 người Nhật chạy trốn, 80.000 người bị giết. Hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn làm cho danh tiếng khủng khiếp của tổ tiên họ tồn tại mãi mãi.

        Mười ngày sau khi mở cuộc tấn công, Tướng Yamada ký hiệp ước đình chiến. Một phần quân đội Nhật có thể chạy trốn qua Cao Ly sau khi vượt qua sông Áp Lục. Tù binh và số chiến lợi phẩm mà Nga đã bắt được thật đông đảo và to lớn. 1.000 phi cơ, 400 chiến xa xung kích, 2.500 xe vận tải, 1.300 đại bác, 300.000 súng cá nhân. Số tù binh lên đến 600.000 trong đó có 150 tướng lãnh. Quân Nga vượt sông Áp- Lục, chiếm đóng Cao Ly cho đến vĩ tuyển 38. Vào thời kéo theo đó, không ai biết rằng biến cổ này, vài năm sau, sẽ một cuộc chiến tranh thảm khốc sẽ làm cho binh nghiệp của MacArthur cáo chung.

        Ngày 22 tháng 8 quân Nga chiếm quần đảo Kouriles nằm về phía đông bắc đảo Hokkaido, một trong các đảo lớn của quần đảo Nhật Bản. Quân sĩ của tướng Mogưshi nhận được lệnh buông võ khí. Mệnh lệnh này xuất phát từ MacArthur vì từ Manille, ông đã bắt đầu điều khiển công cuộc đầu hàng của Nhât.

        Ngày 14 tháng 8, trong một hội nghị do Thiên hoàng triệu tập, một lần nữa Nhật hoàng tuyên bố tán thành hòa bình, ông đương đầu trực tiếp với chủ trương ái quốc cực đoan của các cố vấn quân sự của mình. Ông còn vượt khỏi cả giới hạn thẩm quyền bằng cách ra lệnh chấp nhận ngay các điều kiện của hội nghi Potsdam. Các cuộc chiến đấu dã man phải được chấm dứt.

        Buổi hội được tổ chức trong đêm tối, tại căn hầm trú ẩn сủа Hoàng cung. Tất cả các quân nhân đều mặc đai lễ huy hoàng, các nhân viên dân chính mặc lễ phục. Sự thanh lịch của y phục ấy không được tìm thấy trong giọng nói khi thảo luận. Cả một cuộc quần thảo thật sự đã xảy ra. Ai cũng cố la to hơn người bên canh. Thản nhiên, Thiên hoàng chờ đợi. Bế tắc. Thủ tướng Suzuki lên tiếng, ra lệnh giữ im lặng và tuyên bố : «Vì không ai đồng ý với ai cả, chúng ta hãy đặt mình dưới lời phán bảo thiêng liêng của Hoàng đế». Nhà vua mở lời. Tất cả nhân viên chính phủ và quân nhân đều quỳ mọp. «Tình hình của Đế quốc rất hiểm nguy từ bên trong cũng như bên ngoài. Thật là vô nhân đạo nếu còn bắt dân chúng chịu thêm nhiều đau khổ vô ích. Đã có nhiều sự khác biệt quá lớn lao giữa các kế hoạch do quân đội vạch ra để chinh phục Á châu và những gì đã xảy ra trong thực tế. Tôi đòi hỏi sự hợp tác của tất cả mọi người để làm cho chiến tranh chấm dứt bằng cách chấp nhận, nếu cần, các đề nghị do Đồng minh đưa ra ».

        Phiên họp kết thúc. Nội các rút lui trong thái độ câm lặng hoàn toàn. Tin tức được lan truyền trong giới quân sự cao cấp. Sự kích xúc được cảm nhận thật khó nhọc. Các sĩ quan tin rằng đã bị bỏ rơi, họ không hiểu được. Nước Nhật bại trận, hạ vũ khí trước kẻ thù trong khi vẫn còn hàng ngàn chiến sĩ còn sống và được võ trang đầy đủ. Họ không muốn tin điều đó. Một số không chịu tuân phục quyết định của Thiên hoàng. Đô đố Oniski, Tư lệnh phó Hải quân, tỏ ra gần như muốn nổi loạn công khai. Những lời ông phát biểu đều thật cay đắng và đầy vẻ đe dọa.

        Giữa Đông Kinh và Manille, trong lúc ấy, các điện văn vẫn được trao đổi. Suzuki bàn cải. Ông toan tính làm chuyện bất khả : xin được các điều kiện ít khắc khe hơn ; quân lực Nhật còn trên các lãnh thổ chiếm đóng xin rút về ngay và tự giải giới, để khỏi mất mặt trước các dân tộc Á Châu, các dân tộc mà Nhật Bản đã dạy cho biết rằng Á Châu của người Á Châu ; các tội phạm chiến tranh sẽ không bị truy tố và quân Đồng minh không chiếm đóng toàn thể lãnh thổ Nhật.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 02:05:46 PM

        MacArthur có vẻ cứng rắn không thể nào thương nghị được. Suzuki chịu đựng áp lực của các tướng lãnh vốn cho rằng chưa bị thua trận. Tại Nhật Bản còn có hai triệu người sẵn sàng chiến đấu và mười ngàn phi cơ. «Hãy triệu dung toàn thể thanh niên Thần Phong, họ bảo, một, hai hay mười triệu nếu cần. Mỗi người được chỉ định một mục tiêu chính xác và Nhật Bản còn có thể cứu vãn và lật ngược tình thế». Đô đốс Yonai và tướng Anami thuộc trong số người «cuồng tín nhất. Khi được thỉnh ý lại, Thiên hoàng vẫn giữ nguyên ý định. Quyết định của ông đã được ban hành, không có gì có thể làm ông thay đổi được nữa. Ông lên án các quân nhân đã thất trận. Нọ chịu trách nhiệm về cuộc thất trận đầu tiên của Nhật từ hơn hai ngàn năm qua. Ông muốn chặn đứng sự thù nghịch trước khi Nhật Bản biến thành sa mac. Thiên hoàng nghĩ rằng đó sẽ là điều xảy ra nếu ông để họ các Tướng lãnh tiếp tục chấp nê.

        Đột nhiên, Hirohito, Hoàng đế Nhật Bản khóc nức nở. Ông biện minh cho sự cương quyết của mình bằng cách tóm lược tình hình: kể từ khi quân Mỹ chiếm Iwo-Jima và Okinawa, xử dụng như các căn cứ không quân, các cuộc không tập của phi cơ B-29 đã tiêu diệt hơn một trăm thành phố, giết hại nhiều trăm ; ngàn người. Hai quả bom với sức mạnh phi thường đã tiêu diệt hai trong các thị trấn đẹp nhất của Nhật Bản. Ta có muốn danh sách đó kéo dài thêm hay không ?

        Thiên hoàng quyết định ngỏ lời với quốc dân qua làn sóng điện, lời tuyên bố đã được thu băng. Nó phải được loan đi từ đây đến mười hai giờ nữa. Tất cả thần dân Nhật cần nên nghe giọng nói thần thánh. Xe lửa sẽ ngưng chạy, công nhân sẽ ngưng làm việc, nông dân, học sinh và phụ nữ phải chắp tay kính cẩn.

        Môt âm mưu do một nhóm quân nhân cầm đầu toan tính bắt Нirohito thay đổi quyết định, Những người thông mưu muốn dùng sức mạnh chiếm lấy cuốn băng và tiêu hủy nó. Tướng Mori, tư lệnh Vệ binh trong hoàng cung đã bị giết khi cố thử can thiệp

        Giữa trưa hôm sau, tất cả các ốc hụ tại Nhật đều vang rền. Chúng không báo động mà là báo tử. Người người tụ tập chung quanh các máy thu thanh, Đây là lần đầu tiên Thiên hoàng trực tiếp ngỏ lời với dân chúng. Giọng của ông không được bình tĩnh, ngập ngừng và run run...

        «Hỡi các thần dân trung kiên... Chúng tôi đã giao cho chính phủ nhiệm vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, Anh quốc, Trung Hoa và Nga Sô biết rằng Đế quốc sẵn sàng chấp nhận các điều kiện trong bản tuyên cáo chung... Hãy kết hợp tất cả sức mạnh của đồng bào để xây dựng tương lai. Hãy đào luyện tính ngay thẳng và tinh thần quảng đại và làm việc với một nhiệt tình mạnh mẽ để nâng cao trở lại lịch sử Đế quốc bằng cách đặt mình theo đà tiễn bộ của vũ trụ.»

        Lời kêu gọi hòa bình này kết thúc trong tiếng nhạc của bài Kimigayo, quốc ca Nhật Bản. Toàn dân Nhật chết điếng. Họ không dám hiểu1.

        <2) Đọc : «Sấm Sét Thái Bình Dương» — Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành.

        Xứ sở sẽ bị xâm chiếm bởi «bọn rừng rú dã man Mỹ». «Tên Tướng MacArthur gớm ghiếc» sắp lãnh đạo Đế quốc Mặt Trời Mọc ! Quân đội đã bị đánh bại. Hàng đại đội nguyên vẹn, hàng tiểu đoàn nguyên vẹn khó tin hướng về Hoàng cung. Nhiều binh sĩ dùng gươm mổ bụng tự sát. Họ hấp hối hàng giờ mới chết. Nhiều người khác tự bắn một viên đạn vào đầu hay vào ngực.

        Số phận đã an bài. Một người bà con gần với Thiên hoàng, Hoàng thân Nigashikuni Maruhiko thành lập một nội các mà nhiệm vụ nặng nề sẽ là ký kết văn kiện đầu hàng của Đế quốc Nhật.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2019, 02:06:48 PM

*

*     *

        Ngày 17 tháng 8 MacArthur yêu cầu một phái bộ Nhật đến Маnillе để thảo luận với ông về thủ tục đổ bộ quân Mỹ lên lãnh thổ Nhật Bản. Từ ngày 15, chiến tranh coi như đã chấm dứt và MacArthur trở thành tư lệnh tối cao quân lực Đồng minh và được giao cho toàn quyền để áp dụng các điều kiện của sự đầu hàng. Ông đã yêu cầu Đông Kinh phái đến ông «một sứ giả khéo léo và có thẩm quyền, để nhân danh Thiên hoàng, chính phủ và Bộ Tổng tham mưu, nhận một vài chỉ thị». Người này là Trung Tướng Torashiro Kawabe. Phái bộ của ông gồm mười sáu thành viên. Ba giờ sau khi đến Manille, tướng Willoughby đưa họ vào Tổng hành dinh Mỹ. MacArthur không đích thân tiếp họ. Ông để cho tướng Sutherland, tham mưu trưởng của ông, đại diện bên cạnh phái đoàn Nhật. Trong suốt một đêm, các tài liệu được phiên dịch, bản đồ và hình ảnh được vận dụng, nghiên cứu, ghi chú và làm phóng ảnh. Ngày 20 tháng 8, Kawabe và mười sáu cộng sự viên của ông ta lên đường trở về Đông Kinh, được thông báo kỹ càng về các điều kiện phải tôn trọng.

        MacArthur tức khắc tập trung tại Okinawa một hạm đội hơn bốn trăm chiến hạm và chừng một ngàn năm trăm phi cơ để đi chiếm đóng Nhật Bản. Một lần nữa, ông Tướng lại liều mạng. Ông quyết định đến tại chỗ, không võ khí và không hộ tống. Ông đáp xuống cánh đồng Kwanto, nơi vẫn còn có hai mươi hai sư đoàn địch, tức là hơn 300.000 binh sĩ vẫn được võ trang và sẵn sàng chiến đấu. Đó là một hiểm nguy phải chấp nhận. MacArthur khẳng định. Mối nguy lại càng có thật khi mà phi trường Atsuzi, nơi ông Tướng quyết định đáp xuống, lại là căn cứ của phi công Thần phong của Không lực hải quân. Những phi công này nổi điên chống lại Thiên hoàng. Họ rải truyền đơn tại Đông Kinh để kêu gọi dân chúng nổi dậy và lật đổ ngai vàng. Họ bị chế phục hai ngày trước khi MacArthur đến.

        Ngày 28 tháng 8, vài chuyên viên công binh và truyền tin đáp xuống Atauzi. Họ đến chuẩn bị cho Sư đoàn 11 không vận sẽ được đưa đến với nhiệm vụ chiếm đóng các điểm chiến lược. Hai ngay sau, từ bình minh cho đến tối, cứ cách ba phút là một phi cơ Mỹ lại hạ cánh. Trong không đầy mười hai tiếng đồng hồ, bốn ngàn hai trăm người đã bố trí tại chỗ. Họ được chỉ huy bởi tướng Eichelberger. Hôm đó, một phản lực cơ bốn máy mang bên hông tên Bataan bay vòng chung quanh tượng Phật khổng lồ tại Kamakura và đáp xuống phi đao. MacArthur, tươi cuời áo sơ mi hở cổ, chiếc ống vố cùi bắp đầy huyền thoại nơi miệng, cao lớn ngoại khổ, nhảy xuống đất, ôm lấy Eichelbsrger. «Bob, MacArthur nói, những nỗi nhọc nhằn của ta đã được đền bù».

        Không chần chừ, ông Toàn Quyền quyết định đến Yokohama, nơi ông muốn đặt tổng hành dinh đầu tiêu. Một chiếc xe hơi chở ông. Con đường từ Atsuzi đi Yokohama có 30.000 binh sĩ Nhật Bản, đứng thẳng, người lặng yên, bồng súng chào. Vốn đặc biệt không ưa MacArthur, nhưng về sau Winston Churchill vẫn phải nói : «Trong số các hành động dũng cảm đã được thực hiện trong suốt cuộc chiến tranh, tôi cho rằng vụ đáp phi cơ xuống Atsuzi của MacArthur là phi thường nhất».

        Tướng Whitney, người tháp tùng MacArthur trong chuyến mạo hiềm cuối cùng này kể lại:

        «... Một đoàn xe trong số những chiếc tơi tả nhất mà tôi chưa từng thấy... đấy là những gì tốt đẹp nhất mà người Nhật có thể tìm thấy để chở chúng tôi đến Yokohama. MacArthur bước lên một chiếc Lincoln của Mỹ không biết được chế tạo năm nào, các sĩ quan khác thì leo lên các chiếc xe cũ rách bươm. Một chiếc xe chữa lửa mở máy nổ ầm ĩ một loạt khiến chúng tôi giật mình, và dẫn đầu đoàn xe. Lúc đó, lần đầu tiền tôi thấy quân đội mang võ khí trên đất Nhật. Họ đứng thành hàng dọc hai bên đường, lưng quay về phía MacArthur tỏ dấu kính trọng. Họ canh gác trước vị Tư lệnh Tối cao đúng y như họ đã quen làm trước Thiên hoàng, có cả thảy hai sư đoàn ở đó. Tôi phải thú nhận rằng tôi đã nhìn các đoàn quân kinh khủng đó bằng con mắt nghi ngờ.»

        Hôm sau ngày đến đóng bản doanh tại khách san Nouveau Grand Hotel của Yokohama, sau cùng MacArthur được gặp lai các chiến hữu của Bataan và Corregidor, tướng Wainwright và người phòng vệ Tân Gia Ba, tướng Percival. Wainwright thất thần và già sụ, về sau MacArthur nói : «Bộ quân phục củа ông được treo vào một thân mình cao nghệu gàv gò. Ông ta đi đứng khó nhọc phải chống gậy. Mắt ông hõm sâu vào hố mắt và nổi bật các quần mắt thâm sì1. Wainwright không nói một lời nào. Ông bị đau yếu nhưng trong ba năm trời ông mang trong đầu niềm hối tiếc là đã đầu hàng tại Bataan, Ông tin rằng ông sẽ không bao giờ có được một chức vụ chỉ huy nào nữa. MacArthur nói với ông :

        «Jim, quân đoàn cũ của ông đang chờ ông đấy !» Chính trên chiến hạm Missouri, ngày 2 tháng 9, mà người ta thấy lại tướng Wainwringht để dự kiến lễ ký bản văn đầu hàng.

----------------------
        1. Về những sự tàn ác khủng khiếp của Nhật đối với tù binh chiến tranh xin đọc«Tuyên úy miền địa ngục Nhật Bản» — Sông Kiên sẽ xuất bản.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:10:50 AM

*

*       *

        Lúc đó là 8 giờ, sáng hôm ấy. Trời một màu xám và lạnh. Ngoại trưởng Nhật Shigemitsu và Tổng trưởng Chiến tranh, tướng Umedzu tiến về phía khu trục hạm Lansdown sẽ đưa họ đến chiến ham Missouri, cách chừng hai mươi hải lý. Họ phải mất một giờ để đến nơi. Các vị đại diện toàn quyền được nhiều tổng trưởng và sĩ quan khác tháp tùng. Người thì mặc đại lễ, áo đuôi tôm, quần soóc và nón cối cối, người thì mặc quân phục đại lễ với tất cả huy chương. Khi bước lên tàu, họ giữ vẻ cứng cỏi, nhìn thẳng, không nhúc nhích lẫn nói câu nào. Họ cố gắng không để lộ chút nào tình trạng bối rối bên trong. Chung quanh bọn thủy thủ và bộ binh Mỹ chờ đợi và nhìn họ trong im lặng. Nhiều nụ cười chế riễu hiện lên khoé miệng. Các sĩ quan hải quân mặc quân phục trắng, sĩ quan lục quân, y phục kaki. Người ta có cảm tưởng dự cuộc diễu binh với một vẻ lễ lược tưng bừng và hung dữ nào đó, đặc điểm của các cuộc đấu bò.

        MacArthur bắt chờ đợi. Trong phòng hạm trưởng, ông hội kiến với đô đốс Nimitz và Đô đốс Halsey. Trên trời, hàng trăm phi cơ gầm thét. Chung quanh chiếc uss Missouri, xúm xít hơn bốn trăm chiến hạm Mỹ, đàng xa sư đoàn 8 không vận bắt đầu đổ bộ. Sau cùng MacArthur xuất hiện, ông đứng trước máy vi âm và nói :

        «Chúng ta tập hợp tại đây, trong tư cách đại diện các cường quốc tham chiến chính yếu, đề ký kết một thỏa ước long trọng nhờ đó hòa bình sẽ có thể được tái lập. Các vấn đề xung đột lý tưởng và ý thức hệ đã được giải quyết trên các chiến trường của thế giới; do đó chúng ta không thảo luận đến các vấn đề ấy nữa. Đối với chúng ta, đại diện các dân tộc lớn trên thế giới, đây không phải là vấn đề đương đầu nhau trong tinh thân nghi ngờ, đố kỵ và thù hận. Vấn đề, dầu cho là kẻ chiến thắng hay người chiến bại, là chung ta hãy tự nâng cao mình cho đến mức độ phẩm giá cao quý nhất, điều duy nhất có lợi cho những dự tính thiêng liêng mà chung ta muốn phục vụ». Ông im lặng một lát đề tăng cường tính cách trình diễn của bài diễn văn của ông, rồi kết luận : «Niềm hy vọng vững chắc nhất của tôi, và thật ra là niềm hy vọng của toàn thề nhân loại, chính là máu lửa và sự tàn sát trong những ngay qua, sẽ phát hiện, nhân dịp trọng dại này, một thế giới tốt đeo hơn.»

        Rồi ông chỉ chiếc bàn trên đó đặt các tài liệu : «Các điều khoản và điều kiện liên hệ đến cuộc đầu hàng của quân đội hoàng gia Nhật sẽ phải được chấp nhận ở đây, đều đã được ghi trong các văn kiện đầu hàng hiện có trước mặt quí ông».

        Shigemitsu và Umedzu ký trước. Họ không chịu ngồi để thi hành sứ mạng ô nhục. Họ viết trong thế đưang khom mình. Chưa bao giờ trong đời một cây viềt máy tầm thường đối với họ lại có vẻ nặng nề đến thế; chưa bao giờ một chữ ký lại khó vạch đến thế, lâu dài và nhọc nhằn đến thế. Họ giữ đúng phẩm hạnh hoàn toàn. Không khí căng thẳng của quang cảnh thật là phi thường. Tất cả những người chứng kiến đều nín thở.

        Sau cùng MacArthur ra hiệu cho Wainwrght và Percival đến gần. Ông muốn họ đứng sau lưng khi đến phiên ông áp chữ ký vào văn kiện đầu hàng. Năm cây viết máy bằng bạc được dùng để chấm hết trận chiến Thái Bình Dương. Môt cây được tặng cho Wainwright, một tăng cho Percival, cây thứ ba sẽ được gởi về cho Tổng Thống Truman. Cây thứ tư để lại trên chiến hạm Missouri. Riêng cây thứ năm thì sẽ trở thành vật sở hữu của MacArthur. Đến lượt đô đốc Nimitzky tên, rồi đến tướng Hsu Yung-Chang đại diện Trung Hoa, Sir Bruce Fraser đại diện Anh quốc, Tướng Derevyanko đại diện Nga sô, Tướng Blarney đại diện Úc châu, đại Tá L. Moore Cosgrave đại diện Gia nã đại, Tướng Leclerc đại diện Pháp, đô đốc Halfrich đại diện Pays-Bas, Phó Thống chế Không quân Leonard ỉsih đại diện Tân tây lan.

        Tướng MacArthur kết thúc buổi lễ bằng các lời sau : «Chúng ta hãy cầu xin Thượng đế cho hòa bình từ nay được tái lập trên thế giới và xin Chúa bảo vệ hòa bình mãi mãi. Buổi lễ giờ đây đã kết thúc. Vài giờ sau ông Tướng ngỏ lời với toàn thể thế giới:

         «Hôm nay tiếng súng đã im bặt. Một tấn đại thảm kịch đã chấm dứt. Khi tôi liếc nhìn về sau trên con đường chông gai dằng dặc mà chúng tôi đã theo đuổi từ sau những ngày chiến đấu tại Bataan và Corregbdor, tôi cảm tạ Đức Chúa Trời bao dung đã cho chúng tôi niềm tin, lòng can đảm và sức mạnh nhờ đó chúng tôi có thể đạt được chiến thắng.

        Một kỷ nguyên mới mở rộng trước mắt ta. Nhưng ngay cả những bài học chiến thắng cũng mang theo chúng đôi điều lo ngại sâu xa cho những gì liên quan đến nền an ninh trong tương lai của chúng ta cũng như sự sống còn của nền văn minh. Những khả năng hủy diệt của tiềm lực quân sự có được nhờ những khám phá khoa học đã đạt đến điểm bắt buộc chúng ta phải xét lai quan niệm cổ điển của chúng ta về chiến tranh. Chúng ta đã có cơ may cuối cùng. Nếu chúng ta không quan niệm được một hệ thống rộng rãi hơn và quân bình hơn để duy trì hòa bình, thì Armageddon (cơn hỗn mang vĩ đại của các dân tộc trong Apocalypse (quyển sách nói về vận số của nhân loại) sẽ đến vào ngày mai... Trừ ra tinh thần chiến thắng, nếu không tất cả sẽ đều mất hết, ngay cả xác thân !»

        Lúc đó, MacArthur trở thành vị chỉ huy tối cao của Nhật Bản. Hoa thịnh đốn ban cho ông tất cảquyền hành : «Kể từ lúc đầu hàng, quyền uy của Thiên hoàng và của Chính phủ Nhật để điều khiển quốc gia, đều lệ thuộc vào ông và ông sẽ quyết định các biện pháp mà ông cho là cần thiết để làm cho các điều kiện đầu hàng có hiệu lực. Vì quyền uy của ông là tuyệt đối, ông sẽ không thể dung thứ nếu bên phía Nhật muốn đặt lại vấn đề phạm vi thẩm quyền của ông».

        Sự kết thúc Đệ II Thế chiến và chức vụ Cao ủy Toàn quyền tại Nhật sẽ khai sinh rа một MacArthur mới. Nhận vật ngoại hạng, luôn luôn là đầu đề ban cãi của mọi thời đại này sẽ còn được bàn cãi nhiều hơn nữa với cuộc chiến tranh Cao Ly. Vài tài liệu được công bố thời đó sẽ soi chiếu dưới một ánh sáng mới — và thường ít thiện cảm — nhân cách của người chiến thắng cuộc chiến Thái Bình Dương trong thời gian đánh lại Nhật Bản. Sau cùng, rất nhiều người — nhất là trong số chính khách và một vài nhà quân sự — trách ông đã đặt thế giới bên bờ vực thảm chiến tranh nguyên tử tại Cao Ly. Chính nhân vật này là người giờ đây ta sẽ khám phá.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:12:10 AM

PHỦ CAO ỦY TOÀN QUYỀN VÀ CAO LY

        Sáu ngay sau cuộc lễ trên chiến hạm Missouri, MacArthur rời Grand Hotel tại Yokohama để đến tòa đại sứ Mỹ tại Đông Kinh. Ông sẽ trú ngụ tại đấy với bà Jean, vợ ông, vốn không bao giờ rời xa ông, trong suốt cuộc chiến tranh, từ Corregidor cho đến Manille (giai đoan thứ hai). Các văn phòng của ông, — Tổng hành dinh — sẽ được đặt tại cao ốc Đai Ichi cách đấy hai cây số, đối diện với hào nước chảy vòng chung quanh hoàng cung.

        Chính trong cao ốc Đai Ichi này, khép mình trong một địa điểm quá khéo chọn ấy mà MacArthur, với sự phò tá của triều thần sĩ quan thuộc quyền, sẽ tạo nên huyền thoại về triều đại «Mikado da trắng» của ông, nắm giữ tất cả mọi quyền hành và gần như vô hình, như Thiên hoàng ngày xưa. Gần như không bao giờ ông bước chân ra khỏi hai pháo đài đó, chỉ tiếp tại đấy Nhật Hoàng Hiro Hito và một nhóm nhỏ công chức cao cấp (nhiều người xấu tánh đã tính rằng từ tháng 9 năm 1945 cho đến tháng 6 năm 1950, có lẽ «Doug» không lên tiếng với hơn một chục viên chức chính thức của Nhật). Trong năm năm ấy, ông chỉ rời Đông Kinh có hai lần, không hề đặt chân đến Hiroshima hay Nagasaki, không bao giờ đến thanh sát một đơn vị Mỹ đồn trú tại Nhật thuộc lục quân, không quân hay hải quân. Ngày nào mà ông rời xa khỏi lộ trình (bất di dịch) giữa tòa Hai sứ Hoa Kỳ và cao ốc Đai jchi là ngày rất đặc biệt..

        Song le, ẩn kín mình trong sự cô độc thần thánh (không chấp nhận cả việc đặt điện thoại trong văn phòng, ông sẽ làm cho báo chí trên toàn thế giới phải nói và lặp đi lặp lại đến chán chê rằng ông là «người vĩ đại nhất còn tại thế» (Trung tướng Edward M. Almond) hoặc là «người vĩ đại nhất từ sau Jesus Christ, vị Tướng lãnh vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại và có lẽ là con người vĩ đại nhất của nhân loại» (Đại Tướng Georges E. Statemeyer). Từ ngày 1 tháng 1 năm 1946 và do chính ý chí của ông, người Nhật, thiếu mất thần tính của Hoàng đế Hiro-Hito, thường đưa ra một sự thay thế rất quyến rũ. «MacArthur là một Jesus Christ thứ hai» là một câu nói rất phổ thông nơi cửa miệng mọi người dân Nhật Bản.

        Điều này cũng không ngăn cản được MacArthur chu tất một công trình đáng kể.

        Thật là tầm thường khi nhắc lại rằng mỗi người đều được ban cấp cho một nhân cách kép. Nhưng thật hiếm khi ta có thể tìm thấy những nét chống đối nhau như thế nơi một con người như nơi MacArthur. Vả chăng có lẽ đây là một trong những sự quyến rũ cốt yếu của nhân vật này — hiểu theo nghĩa kịch trường của danh từ. Một nhân vật trước hết được thúc đẩy bởi những tính tình tự nhiên, nhưng sau đó được đào tạo và củng cố bởi đời sống quân ngũ đặt nền tảng trên vai trò cần đến sự đối phó và sự đạo diễn liên tục, rồi được tự ý trui luyện bởi MacArthur. Vì thế cho nên ông đã gợi ra biết bao là đam mê, bởi vì ông không thể nào không say mê hay điên tiết — nếu không phải là kinh tởm. Và chính ở điều đó — chỉ ở điều đó thôi — mà ông có thể được đem so sánh với Napoléon. Ông đã được ngưởng phục ngang với một ông thánh hoặc bị ghét bỏ bởi hàng ngàn sĩ quan và binh sĩ, bởi hàng triệu cá nhân tại Hoa Kỳ và cả trên thế giới nữa. Một người có thể hẹp hòi đến mức đã yêu cầu truy tố ngay lập tức ra trước tòa án quân sự một sĩ quan thuộc ban quân sự không quân vì đã dám công bố một trong muôn vàn sự gian trá trong các thông cáo chiến tranh của MacArthur — lần này liên quan đến trận đánh trên biển Bismarck — và viết rằng các phi cơ của không lực đặt dưới quyền xử dụng của MacArthur đã không hề đánh chìm, bắn hạ hay giết chết 22 chiến hạm, 55 phi cơ và 12.000 quân địch, mà chỉ có (và đây đã là một thành tích quá đẹp cho một trận đụng độ duy nhất rồi) 12 chiến hạm, từ 20 đến 30 phi cơ và chừng 3.000 quân Nhật; một con người có thể cứng đầu đến mức, sau khi bản phúc trình đã được công bố, tiếp tục cho rằng (ngày 3 tháng 9 năm 1945) trận đánh trên biển Bismarck «trong đó quân Nhật đã bị tổn thất một đoàn công voa 22 chiến hạm, là một trận đánh quyết định» ; con người có khả năng lừa gạt chính mình và người khác đến mức bắt tiêu hủy (ngày 19 tháng 10 năm 1945) bản phúc trình này mà sau đó đã được bổ túc bằng những bằng cớ của các nhân chứng Nhật và từ các tài liệu văn khố của Bộ Tư lệnh hải quân Nhật vốn xác nhận chỉ có sự hủy diệt 12 chiến hạm, con người ấy lại sẽ chứng tỏ một tấm lòng quảng đai lạ lùng đối với kẻ cựu thù Nhật Bản, một sự thanh liêm trí thức đáng ngưỡng mộ, bắt buộc phải quên và ra lệnh cho các thuộc viên phải quên mọi hành động bạo tàn mà quân Nhật đã phạm phải, đặc biệt là đối với các bạn hữu bị bắt làm tù binh chiến tranh của họ.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:12:35 AM

        Nhiệm vụ của MacArthur rõ ràng là vĩ đai. Xứng hợp với con người phi thường này. Là chiến sĩ, sự kiện đó sẽ là nét cao quí chính yếu của ông vì ông đã nhiệt tình chuyên chú vào một công nghiệp hòa bình. Và đã chu toàn tốt đẹp gần như toàn diện, công nghiệp ấy.

        Có một lần, MacArthur không bị thảm hóa tình hình trước mắt khi ông viết trong tập Hồi ký của ông:

        «Tôi phải xây dựng lại một quốc gia hoàn toàn bị chiến tranh hủy diệt».

        Không những chỉ bị hủy diệt, nói về phương diện vật thể . Nhưng còn bị rã rời về mặt tinh thần. Và đó không phải là một sứ mạng trả thù mà Hoa thịnh đốn đã giao phó cho ông. Các chỉ thị nhận được rất chính xác. Ông hiểu và chấp nhận với tất cả nhiệt tâm.

        «Tôi đã công khai tuyên bố rằng bộ tư lệnh tối cao liên đồng minh không có mặt ở đấy đề nghiền nát Nhật Bản, nhưng là để giúp Nhật Bàn hồi phục».

        Các niềm tín ngưỡng, nền móng kiên cố của quốc gia, đã bị thiêu ra tro trong các đám cháy khổng lồ gây ra bởi bom lân tinh của Mỹ, các đám cháy này đã tiêu hủy ba phần tư các thành phố bằng cây và giấy bồ của Nhật (hơn một phần tư thể kỷ sau người Nhật còn nhắc lại biển lửa của ba «đêm Đông Kinh» với một giọng điệu khiếp hãi còn hơn là khi nói đến bốn trăm ngàn người bị bom nguyên tử thiêu sống ở Hiroshima và Nagasaki. Sự vô địch của Nhật, tính cách siêu đẳng của chúng tộc Nhật, tính cách không thể bị vi phạm của hệ cấp đều bị sụp đổ cùng với tro bụi cháy tiêu của các đền đài Thần đạo. Thiên giới chỉ còn là một đống gạch vụn. MacArthur cảm thức rằng ông phải «lấp đầy khoảng trống tâm linh của cả một dân tộc bằng các quan niệm về danh dự, về công lý và về lòng trắc ẩn». Và sau này nhấn mạnh trong tập Hồi ký của ông:

        «Vấn đề không phải là đất Nhật Bản ngoài tình trạng có thể làm hại, điều đó chỉ là nhất thời, tất cả lịch sử vẫn còn đó để chứng minh, mà vấn đề là tìm cách để giải thoát cả một dân tộc và chính phủ của họ ra khỏi vòng ảnh hưởng của triết lý và tập quán độc tài.»

        Quả vậy, chính sách thông minh này đã được thiết lập tại Hoa thịnh đốn. Chung quanh Tổng Thống Roosevelt rồi người kế vị của ông, Tổng Thống Truman. Nhắc lại điều này tưởng không phải là điều vô ích. Người ta vẫn thường muốn gắn cho MacArthur là cha đẻ độc quyền của chính sách đó. Quả thật ông này đã làm mọi cách để làm cho người ta tin lầm, về sau qua tập Hồi ký, và lúc đó qua «hệ thống đặc biệt các ký giả đeo sát tổng hành dinh của ông, các dân biểu nghị sĩ đi kinh lý và nhiều nhân vật quan hệ khác mà Roosevelt đã nêu ra trong thời gian chiến tranh còn tiếp diễn, khi Tổng Thống than phiền với một viên chức cao cấp về thói quen kỳ hoặc của MacArthur trong việc ông ta chổng đối qua các đệ tam nhân chính sách dành ưu tiên cho chiến trường Âu châu của Tổng Thống. «Thà rằng ông ta trực tiếp nói thẳng với tôi về những chuyện đó...» Nhưng điều này lại liên hệ đến một đường nét khác của tánh tình nhân vật này, không phải 1à một trong số những nét dễ ưa nhất, mà cuộc chiến tranh Cao Ly sẽ cho ta cơ hội trở lại. Tại đây, ta chỉ đề cập đến vấn đề sáng kiến của chánh sách chiếm đóng Nhật Bản. Vì đó là một thành công to lớn cho nên MacArthur lớn tiếng dành công lao về phần mình. Ông có thể viết trong Hồi ký:

        «Ngay ngày đầu tiên, tôi đã xác định chính sách mà tôi phải theo vừa bắt Nhật Hoàng và guồng máy chính phủ áp dụng.»

        Thật ra, các chỉ thị này đã được gởi cho MacArthur  hồi cuối tháng 8 năm 1945, ngay khi Tổng Thống Truman quyết định giao phó sứ mạng cho ông. Cũng quả thật là MacArthur đã đặt hết sức nặng của mình vào các cuộc thảo luận vốn đã gây ra các vụ đấu khẩu dữ dội giữa người ủng hộ và kẻ chống đối một chính sách chiếm đóng phóng khoáng tại Hoa thịnh  đốn. Trong những tháng sau cùng của cuộc chiến đó, ông không ngừng viết những phức trình cáo giác chống lại mổi nguy cơ áp đặt một ảnh hưởng của Мỹ «theo lối thực dân đế quốc và trong mục tiêu duy nhất là thủ đắc các quyền lợi thương mại, không ngừng báo động các viên chức dân sự và quân sự ghé ngang qua bộ tham mưu của ông. «Ảnh hưởng của ta và sức mạnh của ta, ông lặp lại, phải được diễn tả một cách cốt yếu bằng các từ ngữ của chủ nghĩa tự do nếu chúng ta muốn giữ lại tình hữu nghị của các dân tộc Á châu». Chiến dịch này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc làm cho ông được chỉ định đã thực thi chính sách tự do, khi được quyết định tại Hoa thịnh đốn hay không, điều này cũng không làm vẩn đục được sự tinh tế trong nhãn quan của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2019, 09:12:59 AM
     
        Trong tập Hồi ký, ông cho rằng đấy không phải là vấn đề đặt Nhật Bản ngoài tình trạng có thể làm hại. Tuy nhiên, trái hẳn lại, đấy mới chính là vấn đề và chỉ có vấn đề đó. Nhưng hoàn toàn giản dị là không qua phương pháp phá hoại sơ đẳng nền kỹ nghệ và hạ tầng kinh tế, động cơ sinh ra thất nghiệp và thù hận, vốn đã đem lại các kết quả mà người ta đã được biết với nước Đức năm 1918.

        «Tôi có một sự hiểu biết rất sâu sắc về nền hành chánh Nhật Bản, về những điểm tốt và các điểm thiếu sót của nó», MacArthur viết, mặc dầu ông không đặt chân lên đất Nhật từ năm 1905 và từ khi cuộc chiến tranh Nga-Nhật kết thúc, «và tôi tin chắc rằng những cải cách mà tôi định đưa và sẽ đặt Nhật Bản vào con đường tiến bộ vật chất và tinh thần». Và liệt kê những gì ông «có ý định làm». Một sự tình cờ kỳ lạ muốn rằng đấy chính là các chỉ thị mà Hoa thịnh đốn ban cho ông. Đó là :«Để khởi đầu hủy bỏ quyền lực của giới quân nhân ; xét xử các tội phạm chiến tranh, tổ chức cơ cấu của một chính quyền đại nghị ; canh tân bản Hiến Pháp ; tổ chức các cuộc bầu cử tự do ; ban cấp cho phụ nữ các quyền chính trị ; phóng thích các tù nhân chính trị ; khuyến khích một nền kinh tế tự do ; hủy bỏ sự áp chế của cảnh sát ; làm dễ dàng cho công cuộc phát triền một nền báo chí tự do và có trách nhiệm ; phổ biến giáo dục ; phân quyền chính trị ; tách rời giáo hội và Quốc Gia».

        Tuy nhiên lúc khởi đầu việc khẩn cấp nhất phải chu toàn là nuôi sống một số dân chúng cực kỳ thiếu thốn do hiệu quả của cuộc phong tỏa của Mỹ, và trong một một vài khu vực bị oanh tạc, đang bị đói thật sự. Ngay khi được báo cho biết tình trạng này, Mar Arthur cấm quân đội chiếm đóng mua thực phẩm địa phương và yêu cầu Hoa thịnh đốn gởi gấp lương thực cứu trợ.

        Biện pháp nhân đạo này đã làm cho Nhật Bản rơi từ một thái độ nghiêm chỉnh giản dị vào một trạng thái nồng nàn, càng nồng nàn hơn trước sự ngạc nhiên không thấy quân Mỹ chém giết, hãm hiếp, đốt phá như các lãnh tụ trước khi đầu hàng đã luôn miệng nói trước. Tuy nhiên chỉ một mình MacArthur là tin — hay thử làm cho tin — rằng vấn đề tiếp tế đã được giải quyết nhờ quyết định của ông. Trong thực tế, nếu nạn đói đã tránh được thì nạn thiếu ăn sẽ còn hoành hành rất lâu.

        Sự việc đã không được dàn xếp bằng cách cho giải ngũ một đạo quân gần bảy triệu người mà vài chiến hạm còn sót lại phải đi tìm kiếm từ Mãn Châu cho đến quần đảo Salomon, ngang qua Trung Hoa, Đông Dương và trên tất cả các đảo ở khu vực trung ương và miền Tây Nam Thái Bình Dương. Điều đó lại gia tăng thêm nhiều miệng ăn phải nuôi cơm nữa» Nhưng đấy là biện pháp tối thiết trước mọi sự cải cách.

        Sự thi hành cả một loạt quyết định toàn diện có khả năng biến đổi xã hội Nhật Bản sẽ được làm cho dễ dàng thêm nhờ một biến cố quan trọng — ít ra là dưới mắt dân tộc Nhật Bản. Nhật Hoàng Hiro-Hito xin một cuộc hội kiến với MacArthur, Ông này đã tránh không mời nhà vua đến. Sự truất phế Thiên hoàng được một vài giới tại Hoa Kỳ đòi hỏi một cách gay gắt, đối với ông dường như là một biện pháp vô ích và còn nguy hiểm nữa. Đưa Hiro Hito vào danh sách các tội phạm chiến tranh, như người Nga và người Anh đặc biệt đòi hỏi và do đó gần như chắc chắn phải đưa ông ra cột treo cổ, đối với MacArthur chính là một hành động làm phát khởi du kích chiến. Lúc đó tôi sẽ phải cần đến một triệu quân tăng viện, ông đã doa Hoa thịnh đốn như thế.
Hiro-Hito không bị đặt lên đầu danh sách tội phạm chiến tranh. Tất nhiên MacArthur tự gán cho mỗi mình ông công lao đã cứu Nhặt Bản và Hoa Kỳ thoát khỏi «những hậu quả bi thảm của một hành động như vậy.»

        Song le, điều còn lại, chính là Thiên hoàng đã đến thăm MacArthur. Cuộc gặp gỡ này sẽ xác định không khí hợp tác sẽ được thiết lập giữa người thắng trận và kẻ bại trận và trong nhiều năm trời, sẽ mang màu sắc của một liên minh quốc gia. Cho đến ngày, trong thập niên 1970, mà sức mạnh kinh tế Nhật, được xây dựng lại nhờ viện trợ Mỹ — và cũng nhờ sự tận tuy lam việc không tưởng tượmg được của tập thể công nhân Nhật Bản — sẽ trực tiếp đe dọa nền kỹ nghệ Hoa Kỳ. Đấy sẽ là lúc, như cả một sự tình cờ, người ta thấy Tổng Thống Hoa Kỳ trên đường đi Bắc Kinh...


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:36:44 PM

        Trong khi chờ đợi, và trước các cuộc viếng thăm rất khác thường của Nhật Hoàng, vốn là người vì rất tha thiết với công cuộc dân chủ hóa xứ sở mà đến gặp MacArthur, ông này, sau khi công cuộc giải ngũ đã hoàn tất, liền công bố «Một huấn lệnh liên quan đến các quyền tự do công cộng». Huấn lệnh qui định sự hủy bỏ mọi hạn chế đối với quyền chính trị» dân quyền hay quyền tín ngưỡng, quyền tự do báo chí. Tổ chức cảnh sát của nhà nước — tổ chức Kempetai vốn đã để lại trên toàn cõi Viễn Đông nhiều kỷ niệm cũng không kém phần kinh tởm hơn của tổ chức Gestapo tại Âu châu1 — sẽ bị giải tán và tất cả những người bị giam cầm vì lý do chính trị sẽ được phóng thích.

        Một thủ tướng mới là điều bắt buộc trước một sự thay đổi chính sách tận gốc rễ như thế. Nhật Hoàng kêu gọi đến Nam tước Shidehara. Nhà ngoại giao lão thành từng xúc tiếp với các tập tục tây phương hăng say chấp thuận ngay và bắt đầu các cải cách. Ngay từ tháng 10, ông bổ nhiệm một ủy ban có trách nhiệm duyệt lại Hiến Pháp. Dự án để nạp cho Thủ Tướng trong tháng giêng năm 1946 chỉ là một bản văn tu chỉnh lại bản Hiến Pháp Minh Trị cũ. Người Mỹ đề nghị một bản văn khác, rất tự do, được Nhật Hoàng và Thủ Tướng chấp thuận. MacArthur muốn để cho toàn dân phê chuẩn. Đây là lần đầu tiên, ngày 10 tháng 4 năm 1946, mười ba triệu phụ nữ Nhật đi bầu. Đây là cả một cuộc trưng cầu ý kiến thật sự đối với bản tân Hiến Pháp. Ngày 3 tháng 11 năm 1946, viện quí tộc cũng chấp thuận. Nhật Hoàng ban hành. Hiến pháp có hiệu lực từ tháng 5 năm 1947. Chế độ độc đoán kế truyền Nhật Bản cáo chung. Từ nay quyền hạn và bổn phận của tất cả từ một công dân thường cho đến ông Quốc trưởng đều được ghi vào các văn kiện thành văn và không còn lệ thuộc vào ý muốn của đấng quan vương nữa.

        Do ý chí của nhân dân Nhật và do đề nghị của Thủ tướng Shiđébura, bản văn Hiến Pháp do người Mỹ điều hướng có thêm một điều khoản (điều 9 chương II) sẽ làm cho thế giới ngạc nhiên. Điều khoản này xứng đáng được trích dẫn.

        «Chân thành mong ước thiết lập một nền hòa bình quốc tế đặt nền tảng trên trật tự và công lý, nhân dân Nhật Bản vĩnh viễn chối bỏ chiến tranh như là quyền tối thượng của dân tộc và từ bỏ xử dụng sự đe dọa hoặc xử dụng sức mạnh như là phương tiện giải quyết tranh chấp giữa các dân tộc. Để chu toàn đối tượng ghi trong khoản trên, sẽ không còn một lực lượng quân sự nào được duy trì, cả trên bộ, trên biển lẫn trên không. Quyền gây chiến của Quốc Gia sẽ không được thừa nhận»,

        «Thế giới sẽ coi chúng tôi như là những người ảo tưởng, nhưng trong vòng một trăm năm, người ta sẽ coi chung tôi là những nhà tiên tri», Thủ tướng Shidehara bình luận khi thông báo cho MaoArthur dự định của ông. Nhà ngoại giao đáng thương biến thành chính khách đâu có ngờ rằng bốn năm sau, chính người Mỹ sẽ yêu cầu Nhật Bản tăng gia đáng kề «lực lượng cảnh sát» khi tất cả quân lực Mỹ có sẵn được đưa từ Nhật sang Cao Ly và họ e sợ một cuộc xâm lăng của Nga Sô vào đất Nhật. Và rồi được cải biến mau lẹ thành «lực lượng tự vệ», hai mươi năm sau lực lượng cảnh sát hãnh diện với những hỏa tiễn oai vệ, với tàu ngầm, với nhiều không đoàn oanh tạc cơ phản lực... trong khi chờ đợi quả bom nguyên tử mà kỷ nghệ Nhật Bản sẽ sẵn sàng chế tạo ngày một ngày hai.

        Hiến pháp mới của Nhật phù hợp với những mong ước được đưa ra tại hội nghị Potsdam trong tháng 7 năm 1945, giữa Nga sô, Anh quốc và Hoa Kỳ.

        Nhưng một trong những điểm mà các người chiến thắng Đức quốc nhấn mạnh là sự kết án các tội phạm chiến tranh Nhật Bản.

        MacArthur phải nhượng bộ. Vì những áp lực cá nhân, Tướng Yamashita và Tướng Homma, những người có trách nhiệm về các cuộc tế được thiết lập tại Đông Kinh xét xử các tội phạm do Hoa Kỳ truy tố trong khi đó các Đồng minh khác xét xử các trường hợp khác do tòa án riéng của mỗi quốc gia.

        Một điều khoản khác của thỏa ước Potsdam thì không được thi hành như thế. Trong bản văn này có qui định rằng tất cả những người Nhật đã có các hoạt động quốc gia cực đoan hay theo chủ trương quân phiệt phải bị trục xuất ra khỏi các chức vụ công quyền. MacArthur cho rằng sự thanh trừng này là trái với quyền lợi của Nhật Bản. Ông chỉ thị hành mệnh lệnh này một cách hết sức mềm dẻo. Vả chăng dân chúng cũng không theo. Và ngay khi hiệp ước hòa bình được ký năm 1951, tất cả các biện pháp này đều bị hủy bỏ trong khi các cải cách khác sẽ không bị xét lại.

        Một trong các cải cách chính trong số đó có lẽ vẫn là cuộc cải cách điền địa vốn đã giúp cho tá điền Nhật, những nông nô chính cống của các lãnh chúa trung cổ, được quyền tư hữu đất đai, và đó là thành công to lớn nhất của MacArthur.

        Bởi vì sự bình đẳng về quyền hạn của phụ nữ và sự bình đẳng lương bổng giữa nam nữ mà ông đã tự khoe là đã thực hiện được dưới thời ông làm Tổng Toàn Quyền vẫn chưa thể được trở thành một thực tại như ngày nay. Nhưng làm thế nào mong mỏi ở MacArthur điều đó khi mà các quốc gia tiến bộ nhất — hay tự cho là tiến bộ nhất — của Tây phương vẫn còn chưa thực hiện được ?

        Lãnh vực mà ông hoàn toàn thất bại là công cuộc cải cách đại kỹ nghệ và hệ thống ngân hàng. Song le vì không thể bắt MacArthur chiu trách nhiệm tất cả diễn biến kỳ diệu của Nhật Bản trên con đường dân chủ hóa, ta cũng không thể nào trách ông về Sự thất bại này. Ông vẫn lệ thuộc một cách chủ yếu vào các huấn thị nay thế này mai thế khác của Hoa thịnh đốn, nơi mà thoạt tiên chủ trương triệt hạ, đến mức vô lý, tất cả các công ty quan trọng, rồi khi cuộc chiến tranh lạnh thành hình, lại thúc đẩy tái lập các trust (tổ hợp doanh nghiệp). Lúc chiến tranh Cao Ly bùng nổ, guồng máy lãnh đạo sản xuất lại lọt vào tay những người đã từng phục vụ chính phủ quân phiệt trước vụ Trân Châu Cảng.

-------------------------
        1. Đọc bộ sách HITLER của nhà xuất bản SÔNG KIÊN


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:38:15 PM
         
*

*      *

        Trong khi MacArthur lãnh đạo xứ Nhật, sự việc diễn biến mau lẹ trên thế giới. Ngay hôm sau ngày ký kết văn kiện đình chiến tai Ba Linh ngày 8 tháng 5 năm 1945, các cường quốc Đồng minh chiến thắng Đức quốc — và trước hết là Hoa Kỳ và Nga sô —  bắt đầu đứng dậy chống lẫn nhau. Như trường hợp đã xảy ra tại Ba Tư trong tháng 11 cùng năm 1945 ấy, khi Nga Sô cho rằng đã kiểm soát phần tây bắc xứ này và Hoa Kỳ phải can thiệp vào. Như trường hợp xảy ra trong mùa hè kế đó, khi Nga số đòi hỏi Thổ nhĩ kỳ — được Hoa Kỳ ủng hộ — xét lại qui ước về các eo biển. Như trường hợp đã xảy ra vào cuối năm 1946 ấy. Khi đảng Cộng sản Hy Lap, được Staline và Tito, thời còn khắn khít với nhau, hỗ trợ, nổi dậy chống chính quyền được Anh quốc giúp đỡ và sau đó trên thực tế được Hoa Kỳ thay thể yểm trợ. Như vụ Nga Sô phong tỏa Bá Lĩnh tháng 3 năm 1948 trong mười bốn tháng và được Hoa Kỳ trả lời bằng một cầu không vận phi thường nhất lịch sử. Đấy là biến cố quan trọng nhất đánh dấu sự khởi đầu chính thức của cuộc chiến tranh lạnh1. Hình thái chiến tranh này không có khuynh hướng giảm thiểu khi Staline chết năm 1953. Lúc đó Nga Sô đã cưỡng bức Đông Âu chấp nhận quyền bá chủ của mình. Sau Lỗ ma ni, Bảo gia lợi, Hung gia lợi và Ba lan, đến lượt Tiệp khắc rơi vào màn lưới Nga Sô do bởi «vụ nổi dậy tại Prague» trong tháng hai 1948. Quốc tế cộng sản được tái lập vào tháng 10 năm 1947, không còn dưới danh hiệu Komintern mà đệ tam quốc tẽ nhận được từ Lénine năm 1919, mà là dưới danh hiệu Kaminform vốn sẽ tồn tại cho đến tháng 4 năm 1956 và nỗ lực thử hòa giải giữa Mạc tư khoa và Belgrade sau khi bị gián đoạn từ năm 1948.

        Được Hoa Kỳ dẫn đạo, các Đồng minh tây phương tự kết hợp về mặt quân sự trong Tổ chức Minh ước Bắc Đại tây dương (OTAN). Các quốc gia thuộc khối công sản chỉ sẽ trả lời liên minh này sáu năm sau bằng Minh ước Varsovie, vì lý do đơn giản là trước đây một hiệp ước như thế có vẻ vô ích đối với Nga Sô khi quyền bá chủ của Nga vẫn còn tuyệt đối.

        Tất nhiên, cùng với thời gian trôi qua, người ta sẽ hiểu rằng những toan tính của Staline tai Ba tư, tại Thổ nhĩ kỳ, tại Hy Lạp, tại Bá Linh chỉ là những đòn thăm dò. Mỗi lần như thế rổt cuộc Staline lùi bước trước sự trả đũa của tây phương, như Krouchtchey sẽ thoái lui với các hỏa tiễn của ông ta tại Cuba trong tháng 10 năm 1962. Tuy nhiên mỗi lần như vậy các diễn viên và khán giá đứng nhìn biến cố có lý do để sợ hãi một cuộc đụng độ. Càng đáng sợ hơn nữa khi mà vụ nổ nguyên tử thí nghiệm đầu tiên của Nga sô sau năm 1949, một tình trạng quân bình của sự khủng khiếp có khuynh hướng được thiết lập để rồi được củng cố sau năm 1953 khi Nga sô thử quả bom khinh khí đầu tiên chỉ với một năm trễ hơn Hoa Kỳ. Năm 1950, sự quân bình nguyên tử này chưa đạt được. Thế giới không ngớt run sợ với ý tưởng một trận đại chiến thứ ba mặc dầu trong mùa xuân, Nga Sô, với guồng máy tuyên truyền hướng về hòa bình, ầm ĩ tung ra phong trào «chiến sĩ của hòa bình». Đền nỗi đối với công luận cũng như đối với các thủ đô tây phương, tia lửa châm ngòi chiến tranh, nếu nó xảy ra, phải bùng nổ tại Âu Châu, đang bị che phủ bởi một biến cố có tầm quan trong đáng kể giữa hai phe đối nghịch. Vả chăng, ngày 1 tháng 10 năm 1949, trước khi toàn thể xứ sở rơi vào tay họ, cộng sản Trung Hoa tuyên cáo thành lập nền Cộng Hòa nhân dân. Mặc dầu đã không giúp đỡ họ chiếm quyền (Mạc tư khoa chưa bao giờ hoàn toàn thay đổi các khuyến cáo liên minh với Tưởng Giới Thạch năm 1927, và không muốn tin vào khả năng thiết lập một chế độ cộng sản mà không có giai cấp vô sản công nhân và với độc có hậu thuẫn của khối nông dân), Nga Sô sẽ trung thực thừa nhận việc đã rồi. Ngay cả nếu «người chị em vĩ đại» cũng giống như những người Mỹ tự do, vẫn còn tin tưởng là chỉ còn phải đương đầu với những nhà cải cách nông nghiệp đơn giản, thì gần như cả toàn diện một lục địa đã ngã về phe mác xít. Quả vậy vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xứ này bị đặt dưới quyền giải quyết của Âu châu, của người Anh, người Pháp, người Nga, người Đức và chẳng bao lâu sau người Mỹ, chưa kể đến người Bỉ, Hòa Lan v.v... — một xứ bị xâu xé bởi các cuộc đấu tranh giữa Quốc dân Đảng và Công Sản, bị cuộc xâm lăng của Nhật tàn phá năm 1937, lâm vào một tình thế rất đáng buồn trong sự tìm kiếm một sức nâng đặt nền tảng trên nền kinh tế, trong khung cảnh quốc tế. Vấn đề của Mao Trach Đông là ngăn chặn nạn đói và nạn lụt.

------------------
        1. Đọc «Máu đẫm Bức Tường Bá Linh», Tủ Sách Bìa Đen. Sông Kiên xuất bản tháng 12 — 1974,


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:39:54 PM
         
        Nhưng Trung Hoa vẫn có sức nặng như thường do bởi chừng 700 triệu dân ngay lúc bấy giờ, điều này đưa đến khả năng tổ chức một đạo quân một trăm năm mươi triệu nam nhân, trong một xứ gần như không sợ gì các phương tiện hủy hoại tân kỳ, trong trường hợp có chiến tranh. Như một con vật tiền sử mà tế bào chưa bị phân hóa và với thể chất được thần kỉinh điều khiền một cách thô sơ, quả thật         Trung Hoa có thể chứng kiến một thành phố hay một vùng bị nghiền nát hay bị cắt đứt mà không quá bị thiệt hại. Những trung tâm đầu não của xứ sở không thể nào bị chạm đến được. Vì xứ ấy không có trung tâm đầu não nào cả. Ngoài ra lãnh thồ ấy rộng mênh mông đến nỗi nó hấp thụ rồi sáp nhập hay tiêu hóa luôn kẻ xâm lăng mà không có vẻ gì bị rối loạn nguy hiểm. Những bộ lạc du mục đã mang đồ xuống các đồng cỏ mênh mông từ thế kỷ thứ III, cho đến người Nhật trong thế kỷ XX đã phải mất mát rất nhiều để học hỏi được điều đó. Dân cư đông đúc đền nỗi sự tiêu diệt hàng triệu hay hàng chục triệu người cũng không thể làm thương tổn đến sự hiện hữu của dân tộc. Đơn vị megadeath của Mỹ, đượcT các chuyên gia xử dụng để tính khả năng giết từng triệu người của các phương tiện hủy diệt, cũng không thể được xử dụng trên lãnh thổ ấy.

        Chủ trương chống cộng cuồng nhiệt dựa trên một chủ nghĩa Thiên chúa giáo hành động đã làm cho MacArthur cảm thức với sự sáng suốt mà không phải lúc nào cũng có, mối đe dọa, đối với Hoa Kỳ, của một nước Trung Hoa giờ đây được cai trị bởi những kẻ thù có tiềm lực trong một thời kỳ bành trướng của chủ nghĩa mác xít trên thế giới. Nếu ông lớn tiếng tuyên bố rằng «bất cứ ai khuyến cáo đưa quân đội Mỹ vào một cuộc xung đột trên lục địa Trung Hoa đều cần phải được khám nghiệm thần kinh», thì ông cũng thống mạ không kém phần dữ dội — về sau, trong tập Hồi ký — Tướng Marshall, người đại diện Hoa Kỳ bên cạnh Tưởng Giới Thạch từ 1945 đến 1946 và ông lên án, rất hữu lý, Marshall là kẻ chịu trách nhiệm về sự «buông trôi» của Hoa Kỳ. Khi ông ta ghé ngang qua Đông Kinh, MacArthur thấy vị cựu Tổng tham mưu trưởng trong thời chiến của Hoa Kỳ «già nua về mặt tinh thần một cách không tưởng tượng được». «Cung cách và tác phong vốn rất hùng tráng và sắc bén của ông ta, đã biến mất, về sau ông viết, và chiến tranh có vẻ đã làm ông hao mòn đến độ chỉ còn để lại chiếc bóng của con người ông thời trước của ông ta...» Quả thật người ta tự hỏi làm sao mà Tổng Thống Truman lại dùng ông làm Ngoại trưởng, làm sao mà Marshall lại có thể quan niệm và thực thi kế họach viện trợ Âu châu danh tiếng của ông ta. Và tại sao, ít lâu sau khi chiến tranh Cao Ly bắt đầu vào tháng 9 năm 1950, Tổng Thống Truman lại gọi ông trở lại nằm giữ Bộ Quốc Phòng. Lúc ấy MacArthur tin chắc rằng Tưởng gần toàn thắng Мao khi chính quyền Truman quyết định bỏ rơi ông ta và thúc đẩy ông ta ký văn kiện đình chiến vốn thật sự giúp cho cộng sản hồi phục lại để rồi sau cùng tống ông ta ra khỏi cửa.

        Không còn gì đáng ngờ nữa rằng sự bỏ rơi chính nghĩa của Tưởng bởi Hoa Kỳ, vốn bị chán nản vì sự tắc trách, vì nạn tham nhũng và vì thái dộ không mang chiến đấu của Quốc dân Đảng, đã thúc đầy mau lẹ thêm sự cáo chung của chế độ ông. Vài tháng sau, có lẽ vài năm sau, số phận của Trung Hoa đã được củng cố chặt chẽ. Hoặc giả là Hoa Kỳ phải bỏ mặc Âu Châu, vốn cũng bị đe dọa rơi vào tay Cộng sản, trong tình trạng khốn khó và điêu tàn mà chiến tranh đã để lại và dưới sự thúc đẩy của Nga Sô. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ bắt buộc phải phạm vào điều mà MacArthur lúc đó coi như một sự điên rồ thuần túy: đẩy người binh sĩ Hoa Kỳ đầu tiên vào guồng máy Trung Hoa.

        Từ Trung Hoa trở về, Tướng Marshall rất dứl khoát. Canh bài đã thua. Hoa Kỳ sẽ tung tiền để cứu vãn Âu Châu mà họ cần hơn trong trường hợp có xung đột với Nga Sô.

        Điều nay, MacArthur — người đã từng than phiền, trong suốt thời gian chiến trận tại Phi luật tân, về ưu tiên mà Tổng thống Roosevelt dành cho cuộc chiến tại Âu châu — không làm sao hiểu được. Vì ông xét đoán theo chính con người của ông, ông thấy ở đó chẳng biết sự báo phục nào, chẳng biết âm mưu nào do các đối thủ chính trị tổ chức chống lại ông. Không bao giờ ông chấp nhận được điều đó. Và trước hết bởi vì, theo ông, những gì liên quan đến ông đều là quan trọng nhất. Mà những gì liên quan đến ông, chính là Á châu.

        Sự từ chối này của MacArthur không chịu làm theo chính sách toàn bộ của Hoa thịnh đốn là nguồn gốc của những sự xung đột sẽ mau lẹ xảy ra giữa ông và chính phủ của Tổng Thống Truman. Bởi vì sự việc Xảy đến dồn dập.

        Đoàn quân cuối cùng của Tưởng Giới Thạch xuống tàu chạy ra Đài Loan ngày 9 tháng 12 năm 1949.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:41:02 PM

        Ngày 12 tháng giêng 1950, trong một cuộc họp báo tại câu lạc bộ báo chí tại Hoa thịnh đốn, Ngoại trưởng Dean Acheson tuyên bố rằng Đài Loan «nằm ngoài chu vi phòng thủ Mỹ cũng như là Nam Cao Ly».

        Năm tháng sau, ngày 25 tháng 6 năm 1950 quân Bắc Hàn vượt vĩ tuyến 38 để xâm lăng Nam Hàn.

        Vĩ tuyến 38, đường chia «ngang» bán đảo Cao Ly — một lưỡi đất từ Mãn Châu phóng ra biển về phía quân đảo Nhật — là một đường ranh ngưng bắn có đôi phần nhân tạo, và thường được dùng đến luôn. Do đó nó trở nên có tính cách lịch sử. Quân Nga đã dừng lại tại đó trong tháng 5 năm 1945 theo các quyết định chung với Mỹ và Anh tại hội nghị Potsdam (17 tháng 7 đến 2 tháng 8 năm. 1945), nơi các cường quốc chiến thắng Đức quốc vạch các kế hoạch chiến đấu của họ để bắn phát súng ân huệ vào Nhật Bản — và bổ túc bản đồ thế giới  được về lại tại hội nghị Yalta (từ 4 đến 11 tháng 2 năm 1945). Trên mặt biển, cũng chính vĩ tuyến 38 này đã được dùng làm giới hạn phạm vi hành quân của hạm đội Nga Sô và Hoa Kỳ. Nó lại được dùng làm đường phân cách giữa các Đồng minh để giải giới quân Nhật đang chiếm đóng bán đảo. Nhưng ngay từ đầu thế kỷ, sau cuộc chiến tranh năm 1905, Nga và Nhật đã ấn định vĩ tuyến ấy là giới hạn xa nhất của ảnh hưởng mọi bên trên xứ sở bị hiến dâng cho công cuộc chiếm đóng, khai thác, cắt xé, ngay từ năm 108 trước kỷ nguyên Thiên chúa này. Trong tháng 10 năm 1945, ngay khi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc được áp dụng, một ủy ban được chỉ định để trông coi công cuộc thống nhất Cao-Ly mà độc lập đã được ấn định từ cuộc hội nghị tại Le Caire tháng 11 năm 1943, lúc xứ này đang còn bị quân Nhật chiếm đóng. Ngày 10 tháng 5 năm 1948, các cuộc bầu cử phải được tổ chức. Liệu Nga Sô có sợ một sự thống nhất sẽ có hậu quả chống lại họ không ? Họ phá bĩnh. Chỉ có miền Nam đi bầu. Trong tháng 8 của năm 1948 ấy, xác nhận một sự kiện đã rồi, Nam Hàn tự tuyên bố độc lập, và được Bắc Hàn theo sau ngày, vào tháng 9.

        Tại miền Nam, và để khỏi phạm vào một thói quen mà họ quí chuộng, người Mỹ hậu thuẫn cho người được Tây phương hóa nhiều nhất. Lý thừa Vãn là một tín đồ chính thống giáo từng theo học tại Princeton. Theo đạo chúa tin lành và được Mỹ đào tạo, làm sao mà Lý thừa Vãn lại không làm Hoa thịnh đến vừa lòng cho được? Khốn thay, có lẽ chính vì các lý do này mà ông bị dân chúng ghét thậm tệ. Hoàn toàn là người theo đạo Chúa và được bú thứ sữa dân chủ từ vú bà mẹ Mỹ, Lý thừa Vãn thiết lập ngay một chế độ độc tài cảnh sát trị do nhu cầu, nếu không phải có lẽ là do tánh khí của riêng ông. Và, lẽ tất nhiên, ông tuyên bố công khai rằng nếu người ta cho ông (người ta = Hoa Kỳ) mọi phương tiện (phương tiện = vũ khí), ông sẽ nhảy một bước giải phóng những người anh em đáng thương ở miền Bắc, bị đặt dưới ách độc tài mác-xít.

        Người Mỹ không muốn nghe ông nói đến chuyện đó. Đổi với Mỹ, không có vấn đề mở màn một điểm nóng bỏng trong tình trạng tràn ngập không khí chiến tranh lạnh. Và rồi còn nhà tiên tri ở Viễn Đông nữa, ông ta há chẳng đã dạy rằng cần phải đưa đi khám thần kinh kẻ nào tính chuyện tung quân Mỹ vào lãnh thổ Trung Hoa, đó hay sao ? Quả thật người ta có thể chơi chữ lắm. Lãnh thổ Trung Hoa có thể là lãnh thổ của nước Trung Hoa đích danh hay là lãnh thồ của lục địa mà Cao Ly là một phần. Thế mà, trong loại xung đột quân sự này,giữa hai dân tộc nhỏ, được các cường quốc hỗ trợ sau lưng, chống đối nhau vì ý thức hệ — và do đó vì quyền lợi — người ta biết chuyện đó bắt đầu như thế nào nhưng không bao giờ biết nó kết thúc như thế nào. Để chắc ăn hơn, người Mỹ cung cấp cho quân Nam Hàn một số lượng vũ khí vừa khít với nhu cầu. Và không có một chiến xa nào vì bốn trăm chuyên gia của phái bộ quân sự Mỹ đều quả quyết rằng địa hình núi non của Cao Ly không thuận lợi cho sự xử dụng chiến xa. Do đó, với một luân lý quân sự khó bắt bẻ được, họ cũng không cho đưa Súng chống chiến xa đến. Nếu quân đội Nam Hàn không có cả không quân lẫn hải quân, ấy chính là vì để tránh trường hợp xứ này đưa chiến tranh lên vùng Вắс Cao. Vài tháng trước khi cuộc xung đột bắt đầu, Lý thừa Vãn chẳng đã từng tuyên bố rằng Cộng Hòa Nam Cao Ly «đủ mạnh để lấy Bình Nhưỡng (thủ đô Bắc Hàn) trong ba ngày», và nói thêm : «Nếu chúng ta có đủ tự do hành động, tôi chắc rằng chúng ta đã bắt đầu rồi».

        «Khá mạnh ?» ngoài vấn đề huấn luyện, chỉ huy và võ trang ra, lời đoan xác này biểu lộ một sự lạc quan đáng ngạc nhiên. Quân đội của họ lý đếm được 100.000 kể cả nữ trợ tá. Ngay sau khi săn đuổi người chiến sĩ Quốc dân đảng cuối cùng ra khỏi Trung Hoa, Mao Trach Đông đã phái về Bắc cao 20.000 quân Cao Ly được huấn luyện tại Mãn Châu nâng cao quân số của Bẳc Cao lên đến 200.000. Và người chỉ huy đạo quân này là một tay kỳ cựu của quân đội tại Mãn Châu.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2019, 12:44:20 PM
       
        Quả thật trong hồi ký của ông, MacArthur đã biện minh rằng các sư đoàn Nam Cao «được huấn luyện kỹ, đầy đởm lược và lòng yêu nước nhưng lại không được võ trang đầy đủ. Ta sẽ thấy họ hành động trong chốc lát đây. Không phải một mình MacArthur là có ảo tưởng. Trước cuộc xâm lãng ít lâu, Thiếu Tướng William Roberts, sau khi mãn nhiệm chức vụ chỉ huy phái bộ quân sự Mỹ tại Cao Ly trở về đã tuyên bố một cách hết sức giản dị rằng quân đội Nam Cao «là đạo quận tinh nhuệ nhất thế giới, tất nhiên là «ngoài quân đội Mỹ ra». Tờ Times ngày 5 tháng 6 năm 1950 (ba tuần lễ trước khi cuộc xung đột mở màn) viết : «giờ đây các quan sát viên đều cho rằng đạo quân 100.000 người này là quân đội tinh nhuệ nhất trong số các quân đội cùng loại tại Á châu... quên rằng chiến tranh không phải là một trận quyền Anh trong đó người ta có thể đưa hạng trung bình đấu với hạng nặng, ngay cả nếu điều đó «không chơi được» như trẻ con vẫn nói. Và người ta có cảm tưởng rõ ràng rằng đây chính là trẻ con.

        Riêng phần người Mỹ, thì bất chấp những lời khuyến cáo của Ngoại trưởng Dean Acheson — tuy bị MacArthur và nhiều đảng viên Cộng Hòa coi như một cán bộ Cộng Sản nằm vùng — đã quyết định rút hết quân đội về năm 1948. Sau nhiều lần can thiệp với Quốc Hội, Ạchcson thành công trong việc duy trì lại một lữ đoàn. Nhưng đơn vị này cũng bị rút đi ngày 29 tháng 6 năm 1949 Một lần nữa, trong một phiên họp bàn về ngân sách năm 1950, ông ngoại trưởng, viên chức duy nhất sáng suốt, đã đoan quyết rằng nếu không có viện trợ được gia tăng, «cộng hòa Nam Cao Ly sẽ có thể sụp đổ trong ba tháng.» Phần ông, «chuyên viên «lớn» nhất của Mỹ về Á châu», «người Mỹ duy nhất hiểu rõ tâm hồn Á châu, thì chẳng thấy động tĩnh gì. Chẳng thấy có lần nào nhà chống cộng vô địch tại Á châu lên tiếng đòi duy trì hay tăng cường cho quân Mỹ, mà sự có được duy trì hay không chỉ tùy thuộc thật sự vào một mình ông.

        Cũng quả thật là lúc đó MacArthur khoe khoang có trong tay «cơ sở tình báo giỏi nhất thế giới» nhất là khi ông đến hội kiến với Tổng Thống Truman tại đảo Wake, tháng 10 năm 1950 và trong Hồi ký của ông. Một cơ sở như thế, mạnh hơn cả KGB, CIA hay là IS1 chỉ có thể làm cho mọi người yên tâm về thế quân bình lực lượng đương thời và về các ý định hòa bình của Bắc Cao.

        Vào cuối tháng ba 1950, Trung tướng Willoughby chỉ huy trưởng tình báo của MacArthur đã viết trong một phúc trình cho Hoa thịnh đốn : «Ở dây (Đông- Kinh) mọi người đều nghĩ rằng sẽ không có nội chiến tại Cao Ly vào mùa xuân hay mùa hè này.» Thế mà bộ tham mưu của Tướng MacArthur, trong tư thế là bộ tư lệnh tối cao đồng minh, là nơi nhận các tin tức tình báo của các cơ sở tình báo Hoa Kỳ chính thức và được các cơ quan tình báo Nam Cao thông báo cho biết kết quả việc làm của họ. Sáu tháng trước cuộc xâm lăng, các cơ sở này nhấn mạnh đến một cuộc tập trung quân lực của Bắc Cao dọc theo vĩ tuyển 38. 185.000 quân, 173 chiến xa, 32 chiến hạm và 197 phi cơ đang được ồ ạt dồn về đấy (những con số này phản ảnh một cách đáng kể, với đôi chút sai biệt nhỏ, quân số của đạo quân xâm lăng ngày 25 tháng 6 tiếp theo đó.) Ngày 12 tháng 5, tướng Huberts cho các con số này là đúng và trấn an viên Tổng trưởng Quốc Phòng Nam Cao bằng cách quả qưyết rằng ông không nghĩ là một cuộc tấn công có thể xảy ra. Vả chăng ông nói thêm rằng nếu vạn nhất cuộc tấn công xảy ra, «Quân đội Nam Cao sẽ có khả năng đẩy lui địch».

        Hơn thế nữa : ngày 10 tháng 3, Tổng hành dinh сủа MacArthur chuyển về cho Hoa thịnh đốn một bản tin tình báo theo đó «quân đội nhân dân sẽ tấn công Nam Cao vào tháng 6 năm 1950» (do Ngoại trưởng trích dẫn khi ra làm chứng trước một ủy ban các tham mưu trưởng). Bản giải đoán đính kèm (cũng được trích dẫn) , mà ta có thể coi như là của Tướng Willoughby, kết luận rằng cần giải thích bản phúc trình theo chiều hướng «quân đội nhân dân sẵn sàng xâm chiếm Nam Cao từ mùa thu». Vả chăng, người giải đoán tin tình báo thuộc bộ tham mưu của MacArihur viết thêm, ngay cả với nhiều bản tin báo động mới được đưa đến, cũng sẽ không có báo động quá mức, bởi vì «rất có thể quân Cộng Sản còn chờ đợi ít lâu nữa để cho Nam Cao thật chín mùi trước khi gặt hái». Điều đó không ngăn MacArthur sẽ viết trong tập Hồi ký :

        «... Cơ sở tình báo của tôi không ngừng cho tôi biết một sự đe dọa tấn công сủа quân Bắc Cao vốn có vẻ như sẽ thành sự thật trong mùa hè 1950...»

------------------
        1. KGB = tình báo Nga, CIA = tình báo Mỹ, I.S = tình báo Anh.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:19:57 AM

*

*       *

        Chủ nhật 25 tháng 6 năm 1950 lúc 4 giờ sáng, quân Bắc Cao tràn xuống Nam Cao.

        Và những binh sĩ tuyệt vời của Nam Cao — mà báo chí Mỹ sẽ mệnh danh là «Rok» (các chữ đầu của các tiếng «Republic of Korea») — thuộc đạo quân tinh nhuệ nhất thế giới (ngoài quân đội Mỹ) nhào lăn lông lốc như tuyết lở về phía nam trước đoàn quân xâm lăng cộng sản.

        Nhờ ơn các múi giờ, tại Hoa thịnh đốn người ta còn ở vào ngay hôm trước, thứ bảy 24 tháng 6. Lúc 22 giờ, một tin điện của hãng thông tấn tư va một điện văn của Đại Sứ Mỹ tại Đài Bắc, Muccio, tiếp theo ngay, được đưa đến bộ Ngoại Giao. Dean Acheson có ở đấy. Con người lịch sự bảnh bao của chính giới này, như các địch thủ của ông vẫn gọi ông, «người đã gài vào bộ Ngoại giao vô số cộng sản nằm vùng» — họ phải tuyên thệ trên thánh kinh — và ngoài ra còn là người để râu mép kiểu Ăng-Lê và mặc y phục kiểu Tô cách lan, hôm đó không đi nghỉ cuối tuần như tất cả mọi người. Dean Acheson điện thoại cho Tổng Thống Truman đang ở cách đó 1.600 cây số về phía tây bắc, nơi tiểu bang Wisconsin sinh quán của ông, chung quanh bao bọc bởi những hồ nước lớn của Gia nã đại. Rồi ông triệu tập các cố vấn. Đến 8 giờ sáng, qua trung gian của đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, ông ra lệnh yêu cầu ông Trygve Lie, tổng thư ký của tổ chức vui lòng triệu tập Hội đồng Bảo An. Đến 8 giờ, Acheson gọi lại Tổng Thống Truman. Cần phải xác định lập trường của Hoa Kỳ trước cuộc xâm lăng trước khi cuộc họp tại Lake- Success bắt đầu. Harry Truman không có ở nhà. Ông đã đi thăm người em Vivian và cô em gái Mary-Jane tại trang trại Grand View của họ. Rốt cuộc đến 11 giờ 30, ông Ngoại trưởng mới nói chuyện được với Tổng Thống bên kia đầu dây, tổng Thống quyết định sẽ trở về Hoa thịnh đốn, nhưng sau khi ăn trưa xong. Xế chiều, Tổng Thống đã có mặt tại Blair House một ngôi nhà nhỏ xinh đẹp kiểu «Early American -  nằm cách tòa Bạch Ốc một con đường trong vườn và thường dành cho thượng khách khi đến viếng thăm Hoa Kỳ. Tòa nhà lớn của Tổng Thống đang được sửa chửa.

        Trong thời gian chiếc Independence, phi cơ của Tổng Thống, bay về Hoa thịnh đốn, với Tổng Thống bên trong, tại Lake Success gần Nữu ước, Hội đồng Bảo an đang nhóm họp. Không có măt ông Joseph Malik. Song le Nga sẽ nắm quyền phủ quyết cùng với bốn hội viên thường trực khác. Do đó Hội đồng yêu cầu rút các lực lượng Bắc Cao về vĩ tuyến 38 và chấm dứt hành đông thù nghịch bằng chín phiếu, Nam Tư bỏ phiếu trắng và Nga Sô thì... vắng mặt

        Tại Hoa thịnh đốn, sau bữa ăn tối, tổng Thống Truman tham khảo ý kiến các cố vấn dân sự và quân sự. Đây là lần đầu tiên ngoại trưởng Dean Acheson có cùng một ý kiến với Tổng trưởng Quốc phòng Louie Johnson. Nếu Hoa Kỳ để cho cộng sản mua gậy vườn hoang tại Cao Ly, thì đấy là mở cánh cửa cho cộng sản xâm lăng Đài Loan, có lẽ cả Phi luật tân cũng không chừng. Và cả Nhật Bản, tại sao không ? Tại Đông Dương người Pháp đã khốn đốn với Việt Minh từ lâu. Dầu cho quân đội của Mao từ nay đã đóng tại biên giới phía bắc thì cũng chẳng dàn xếp được việc gì giữa đôi bên. Chỉ có một người tỏ vẻ ngần ngại trước sự can dự của Mỹ. Lạ lùng thay đấy lại là một quân nhân. Tướng Omar Bradley, chủ tịch ủy ban các tham mưu trưởng, thấy rằng chiến trường Cao Ly không mấy thuận lợi cho một cuộc đụng độ với Nga Sô.

        Bởi vì đối với tất cả, đó mới chính là vấn đề.

        Truman quyết định can thiệp. Thật ra, chỉ can thiệp giới hạn thôi. Để hậu thuẫn cho công cuộc kháng cự của Nam Cao, chỉ cần gửi hải quân và không quân đến đấy. Đây chính là điều được minh xác trong bản tuyên cáo của Tổng Thống được công bố lúc 12 giờ trưa hôm sau. thứ ba 27 tháng 6 năm 1950.

        Ngày này sẽ được ghi trong sử sách. Hoa Kỳ vừa lao vào cuộc chiến đấu võ trang chống cộng sản tại Á châu.

        Đối với MacArthur, không bao giờ cạn những công thức sang sảng, thì Hoa Kỳ đã nhận sự thách thức mà đế quốc cộng sản tung ra cho thế giới tự do. Ông sắp được dùng ngay lập tức cho sự chấp nhận thách thức như vậy

        Phải thừa nhận là guồng máy đã quay. Đối với Hoa Kỳ không thể nào chỉ ủng hộ quân Nam Cao bằng không quân và hải pháo mà thôi. Vì lý do đơn giản là chỉ trong vài giờ nữa, sẽ chẳng còn quân đội nào để mà hỗ trợ. Quyết định can thiệp nhất thiết phải kéo theo sự can dự của lực lượng bộ chiến.

        Đấy chính là điều MacArthur đòi hỏi, ngay sau khi thực hiện một vòng quan sát tại mặt trận Cao Ly trở về, nếu ta có thể dùng danh từ này để nói về một đạo quân đang tan rã tháo chạy. Với sự táo bạo quen thuộc, ông cho đáp chiếc phi cơ riêng, chiếc Bataan, xuống cách Đài Bắc 35 cây số. Rồi dùng xe Jeep tiến thằng về thủ đô «dưới một cơn oanh tạc liên tục của không quân địch, đi ngược lên dòng người ghê gớm của một đạo quân đang tháo chạy» ông kể lại trong tập Hồi ký. Ông dừng xe lại bên bờ sông Han để ngắm thủ đô Nam Cao đang ở trong tay địch quân. «Tôi quan sát trong vòng một giờ quang cảnh tai biến mà tôi sẽ thừa hưởng...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:20:53 AM

        MacArthur là một chiến thuật gia tuyệt vời mặc dầu đôi khi là một chiến lược gia đáng phàn nàn. Trong lúc ông nhìn các cột khói bốc lên cao từ một thủ đô, đã được xây đựng từ sáu thế kỷ, ông đã vạch ra kế hoạch đầu tiên để can thiệp trên bộ, với các lực lượng chiếm đóng dưới quyền tại Nhật, sao cho mệnh lệnh được chặt chẽ. Sợ rằng một cuộc xâm lăng của Nga Sô có thể xảy ra, nền an ninh của Nhật không được để cho bị đem ra suy xét hơn thiệt. Và một khi tình thế đã ổn định, ông nghĩ đến việc phản công. Trong trí ông — ít ra là về sau ông xác định như thế — đã phác lộ cuộc hành quân Inchon «cuộc hành quân duy nhất có thể chuyển bại thành thắng «và nó vẫn còn là một trong những thành công về quân sự đáng được ngưỡng phục nhất của ông nếu không phải là phi thường nhất. Điều chắc chắn là, quả thật, ông sẽ cho các vi tham mưu trưởng biết ngay ý chí của ông muốn tấn công vào sau quân Bắc Cao bằng các cuộc điều quân thủy bộ.

        Khi trở lại Đông Kinh, MacArthur điện cho Hoa thịnh đốn : « Hy vọng duy nhất để giữ phòng tuyến hiện nay và tái chiếm sau này lãnh thổ đã mất, ông nói, nằm trong sự can thiệp của lục quân Hoa Kỳ...» Sau khi tham khảo các cố vấn, Truman chấp thuận.

        Song le, Tổng Thống từ chối đề nghị tham chiến của 33.000 người trong số các «chiến sĩ thiện chiến nhất» của Tướng Giới Thạch. Cả cuộc biểu dương tại xứ họ lẫn vũ khí của họ đều không có gì đáng tin tưởng, và nhất là các phản ứng quốc tế rất bất định. Bóng đen Nga Sô, giờ đây là thần hộ mạng của Trung Cộng, kẻ thù của Đài Loan, đè nặng lên Cao Ly cũng như lên Nhật Bản, Ba Tư, Âu châu v.v... Vả chăng, trong dịp viếng thăm Đông Kinh của họ vào đầu tháng 7, MacArthur đã khuyên các Tướng Collins và Vandenberg «phải mạnh mẽ từ chối sự cung hiến 33.000 quốc quân của Tưởng Giới Thạch», Truman đã nhấn mạnh trong Hồi ký của ông. Điểm này rất quan trọng. Ta sẽ thấy tại sao sau này. Nếu hai ông Tướng đến gặp MacArthur, chính là để xác định ý nghĩa chính xác của các chỉ thị đã được gửi đến cho ông. Tổng Thống Truman biết quá nhiều về ông Tổng Tư lệnh tại Viễn Đông của ông, nên đã không khỏi sợ những hành động bốc đồng của ông này. Nhất là ông chưa bao giờ được gặp ông Tướng. Thật quá kỳ lạ, con người không ngừng tự cho phép chống đối công khai chính sách của Mỹ tại Âu châu và Á châu («Hoa Kỳ không có chính sách về Á châu», ông vẫn thường lặp đi lặp lại như thế cho những người nào muốn nghe ông nói), lại không có đặt chân trở lại lục địa Mỹ một lần nào nữa kể từ khi khởi hành đi Manille năm 1935, ngoài chuyến tháp tùng Tổng Thống Quezon của Phi luật tân năm 1937 trong một chuyến công du chính thức. Do đó, từ mười lăm năm qua, sự xáo trộn vĩ đại của Đệ II Thế chiến vốn đã ban cấp cho Hoa Kỳ tư cách lãnh đạo của thế giới tây phương bằng cách hạ đo ván hai đế quốc Anh và Pháp, và đã xác nhận trên bình diện ngoại giao những gì đã xảy ra trên binh diện kinh tế, tức là cường quốc mạnh nhất thế giới, trong suốt thời gian đó MacArthur không cho rằng tìm hiểu tiến bộ của xứ sở mình về mặt kỹ nghệ cũng như về mặt tinh thần là điều hữu ích. Cá nhân ông chỉ được biết tình hình qua các nhà lãnh đạo đến thăm ông. Thế mà chính ông, người cho rằng mình đã nói nhân danh dân tộc Mỹ, lại làm vang dội những phản ứng giả định của ông.

        Nhân chuyến khới hành đi Đông Kinh của hai trong số các cố vấn quân sự của ông, Harry Truman cay đắng ghi chú rằng riêng ông, ông thấy rằng, «trong một lúc như vậy, các vị tham mưu trưởng có mặt tại thủ đô có ích hơn». Tuy nhiên. Tổng Thống nói thêm:

        «Tôi hoàn toàn hiểu biết sự cần thiết phải tránh hiểu lầm giữa Hoa thịnh đốn và Đông Kinh và tôi rất lấy làm tiếc là Tướng MacArthur vẫn luôn luôn từ chối mọi lời mời về Hoa thịnh đốn được chuyển đến cho ông, dầu cho chỉ là một chuyến thăm viếng ngắn hạn.» Điều mà Truman muốn MacArthur hiểu rõ chính là hành động của Mỹ tại Cao Ly chỉ nhằm mục đích «tái lập hòa bình tại đó và đường ranh ngừng bắn cũ». Ông đã cho thay đổi đoạn chót của chỉ thị gởi cho MacArthur, bởi vì bản văn này «cho phép giả định rằng chúng tôi đang chuẩn bị chiến tranh với Nga Sô. «Tôi tuyên bố một cách quả quyết, Tổng Thống nhớ lại trong Hồi ký của ông, rằng bằng bất cứ giá nào tôi cũng không muốn thấy một dấu hiệu cỏn con nào trong ý nghĩa đó. Tôi chỉ thuận làm mọi chuyện cần thiết để đẩy quân Bắc Cao lui về vĩ tuyến 38, nhưng tôi giữ vững lập trường chủ yếu là chúng ta không can dự quá sâu vào xứ này để đến nỗi không còn có thể sẵn sàng đương đầu với một tình thế khác cùng loại có thể xuất hiện ở nơi khác.»

        MacArthur có hoàn toàn thực thi chính sách này không — một chính sách mà ông vẫn cho là không hề có vì nó ngược lại với quan điểm riêng của ông và cuộc viễn chinh sẽ đưa Hoa Kỳ vào thế chống lại Cộng sản tại Á Châu — sự tiếp diễn của các biến cồ đã không cho thấy rõ lắm...,

        Điều đó cũng không ngăn được MacArthur chứng tỏ tài tổ chức của ông ở Đông Kinh.

        Ông trưng dụng tất thảy các phương tiện chuyên chở dân sự và quân sự — phi cơ, xe lửa, thuyền bè — đề tập họp quân đội dưới quyền tại Nhật Bản bốn Sư đoàn của đệ VIII lộ quân, nhưng chỉ với 70% cấp số thời chiến, ông không có thì giờ chờ cho đến khi tập họp đủ quân số, mà tung ngay lực lượng đã được tập trung vào trận đánh trước khi quân Bắc Cao chiếm toàn diện Cao Ly. Ông sẽ chấp nhận nguy cơ là đưa vào chiến trường từng đoàn quân nhỏ, khai thác nỗi lo âu của địch trước sự can thiệp của Mỹ và sự thiếu hiểu biết rất có thể của địch về số lượng của lực lượng can thiệp. Chiến lược này thành công. Thay vì tiếp tục dồn gấp các đơn vị thiết giáp về phía trước (vì các chuyên viên Nga Sô thì lại không cho là chiến trường Cao Ly không thích dụng cho chiến xa), theo một trục xâm nhập duy nhất của bán đảo — con đường dọc chính giữa — quân Bắc Cao lại lập một phòng tuyến. Sự do dự này đã giúp cho MacArthur có mười ngày cần thiết đề đưa tất cả quân số của ông ta đến. Nhưng không phải là sư đoàn 24 — sư đoàn đầu tiên của đệ VIII lộ quân tham chiến — đã không bị đánh tả tơi thật sự trong các trận đánh trì hoãn hào hùng trong đó vị tư lệnh, Tướng Dean, đã tử trận, ông này đươc nhìn thấy lần cuối cùng, một khẩu Bazoka cầm tay, trong một trận đánh dã man chống lại chiến xa trên đường phố ở Taejon.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:21:34 AM

*

*      *

        Từ ngày 7 tháng 7, do đề nghị của Hoa Kỳ, Tướng MacArthur được Liên Hiệp Quốc chỉ định như là Tổng tư lệnh các đoàn quân mà tổ chức đề nghị gởi qua cứu Nam Cao. Đấy là lần đầu tiên trong lịch sử the giới, một bộ tư lệí.h như thế được thành lập. Các đoàn quân sẽ chiến đấu dưới lá cờ xanh của Liên Hiệp Quốc.

        Đoàn quân đổ bộ đầu tiên — quân Anh — chỉ đặt chân lên đất Cao Ly vào ngày 31 tháng 8. Tiếp ngay sau đó là các thành phần quân Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Thổ nhĩ kỳ, Úc, Phi luật tân. Tất cả đều đồ bộ lên một vùng đầu cầu nhỏ hẹp, rộng khoảng một ngàn cây số vuông chung quanh hải cảng Pusan, trên bờ phía đông nam đối diện với Nhật Bản. Đấy là tất cả lãnh thổ còn lại trong tay «quân Liên Hiệp Quốc», đoàn quân này sẽ phải trả giá đắt về sinh mạng để bảo vệ mãnh đất ấy trong một tháng chiến đấu khốc liệt.

        Tất nhiên là sư viện trợ quốc tế không phải là không đáng kể nhất là về mặt tinh thần, nhưng rõ ràng  rằng nỗ lực chủ yếu phải do Hoa Kỳ cáng đáng cả. Cùng ngày 7 tháng 7 ấy, MacArthur xin Hoa thịnh đốn tăng viện. Không phải dễ dàng gì. Theo quan điểm của ông, một lực lượng tối thiều gồm năm sư đoàn sẵn sàng chiến đấu và ba tiểu đoàn chiến xa với pháo binh và các cơ sở phụ dịch tương ứng, rất cần cho ông, bổ túc cho bốn sư đoàn Mỹ mà ông hiện có sẵn. Thật vậy ông ước tính trước mắt có sáu sư đoàn quân Bắc Cao và ba lữ đoàn cảnh bị được yểm trợ bằng hai trăm chiến xa và một sự che chở bằng không quân.

        Quả thật tình hình chiến trường không có gì đáng khích lệ. Lại còn thật hơn nữa là MacArthur có lẽ chưa hoàn toàn nắm hết ý nghĩa các chỉ thị của Hoa thịnh đốn. Trong tập Hồi ký, ông chẳng đã viết :«Thà là Hoa Kỳ đã nhận sự thách đố. Nguy cơ can thiệp của Trưng Cộng và của Nga Sô hoàn toàn được hiểu rõ và được chấp nhận

        «Truyền thống của Mỹ, MacArthur viết tiếp, luôn luôn là một khi quân đội đã can dự vào, thì tất cả sức mạnh và tất cả phương tiện của Quốc Gia phải được động viên cho cuộc chiến đấu cho đến khi toàn thắng chứ không phải cho đến khi huề hay đến sự thỏa hiệp (nói rõ ra là phải hiểu rằng cho đến khi đưa quân Bắc Cao trở lại vĩ tuyến 38). Chính vì thế  mà tôi đã nghiên cứu các phương tiện có thể mang lại chiến thắng này. Không một lúc nào tôi tưởng tượng được rằng chúng ta lại đoạn tuyệt với truyền thống của chung ta.» Câu sau cùng này đã giải thích sự thiếu thiện ý bề ngoài của tác giả, bằng lời nói và chữ viết, muốn làm sai lạc ý định chính xác của chính phủ mình.

        Sự «hiểu lầm» hoàn toàn cố ý này sẽ gây ra nơi MacArthur một loạt «ngạc nhiên», «bất ngờ» và «ngẩn ngơ» được nhét đầy trong tập Hồi ký của ông và làm cho đọc giả hết sức kinh ngạc.

        Chẳng hạn như, một trong muôn vàn ví dụ, MacArthur «ngẩn ngơ vì sự đón tiếp lạnh nhạt dành cho bức điện văn này (ngày 7 tháng 7), điện văn báo hiệu các nhu cầu cực kỳ khẩn bách (của ông) ». Trước «sự ngạc nhiên vô cùng» của ông, cuộc viếng thăm Đài Loan của ông đã đưa đến một «cơn thịnh nộ nổ bùng»; sự ngạc nhiên của ông sẽ đến mức toàn diện, khi Tổng Thống Truman yêu cầu ông rút. lại chúc từ của ông gởi cho các cựu chiến sĩ Mỹ trong đó ông công khai tán dương cho Đài Loan một chính sách đối nghịch với chính sách của chính phủ.

        Và tuy nhiên... người ta cũng mong muốn có một phút thành thật khi MacArthur không gặp được, tại Ngũ giác đài, tất cả những sự thông cảm mà ông, mong ước, dành cho các lời yêu cầu tăng viện của ông. Thế nhưng ông lại thấy những phản ứng đối với những «màn» trình diễn của ông về Đài Loan và về lá thư gởi cho các cựu chiến sĩ đưa đến việc tự đặt các câu hỏi, đều là bất thường cả.

        Vì rốt cuộc, với vụ Đài Loan và nhất là với vụ cựu chiến sĩ, có lẽ người ta mới thấy đối diện với hành động có tính cách nổi loạn đầu tiên của một người vốn đã từng viết vào một trong các phác trình năm 1932 :

        «Chiến lược quốc gia trong bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải được chính quốc trưởng xác định... và không thể ủy quyền cho bất cứ một cộng sự viên nào».

        Quả thật là vài ngày sau vụ Đài Loan và trước vụ cựu chiến sĩ, chính ông MacArthur ấy đã tâm sự với đại sứ lưu động Averell Harriman được Tổng Thống Truman phái đến gặp ông để cố giải quyết êm đẹp nhất vụ Đài Loan và để báo cho ông biết chiều hướng các kế hoạch chính trị được thiết lập tại Hoa thịnh đốn, «rằng ông thấy chủ thuyết Truman thật phi thường»... Thật là cách xa một trời một vực với «Một lần nữa tôi tự hỏi: đâu là chính sách của Hoa Kỳ về Á Châu»? Và câu trả lời kinh khủng đưa ra là :«không có chính sách Mỹ về Á châu nào cả». Nhưng Tổng Thống Roosevelt chẳng từng than phiền rằng MacArthur không có khả năng nói sự việc thẳng trước mắt là gì ?


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:22:06 AM

        Vậy thì chuyện gì đã liên quan đến Đài Loan ? Ngày 31 tháng 7 năm 1950 MacArthur đã đến hòn đảo nơi Tưởng Giới Thạch và đoàn quân quốc gia của ông đến ẩn náu. Trong tư cách tư lệnh tối cao quân đội Đồng minh tại Viễn đông hiệp ước hòa bình với Nhật chưa được ký kết công cuộc phòng thủ Đài Loan lệ thuộc vào MacArthur. Nhân đây cũng nên ghi lại rằng, vì không tiên liệu được tình trạng bị đuổi ra khỏi Trung Hoa bằng võ lực, Tưởng đã ký tại Le Caire ngày 1 tháng 9 năm 1943 một văn kiện theo đó Đồng minh cam kết hoàn lại cho Cộng Hòa Trung Hoa tất cả các lãnh thổ mà Nhật Ban đã cướp của Trung Hoa, nhất là Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Pescadores... Cũng nên ghi thêm rằng Đồng minh được ưu đãi nhất của Hoa Kỳ là Anh quốc, nước duy nhất trong số các đại công quốc không cộng sản, đã thừa nhận chính phủ của Mao trạch Đông như là chính phủ hợp pháp của Тrung Hoa. Lập trường của Hoa Kỳ, vốn vẫn khăng khăng cho rằng nước Trung Hoa hợp pháp chính là Đài Loan, vừa không hợp lý vừa không chính đáng. Ít ra họ cũng nghĩ rằng, để cám ơn, Tưởng không tạo ra cho họ những phiền phức với điều mà có lẽ không phải là một nước Trung Hoa trong ngôn ngữ Mỹ, nhưng cũng không phải kém là một quốc gia đông dân nhất thế giới trên đó 1 phần tư dân số hoàn cầu đang sinh sống.

        Ngày 27 tháng 6 năm 1950 hai ngày sau cuộc tấn công của quân Bắc Cao xuống Nam Cao, khi tuyên cáo cuộc can thiệp của Hoa Kỳ trên biển và trên không, Tổng Thống Truman cũng nhấn mạnh đến mệnh lệnh của ông cho «đệ thất hạm đội là ngăn chặn mọi cuộc tấn công vào Đài Loan» mà ông đã minh xác dưới hình thức báo trước, «sự chiếm đóng của quân cộng sản sẽ tạo nên một đe dọa trực tiếp cho nền an ninh của khu vực Thái Bình Dương và của các đoàn quân đang theo đuổi một hành động hợp pháp tối cần thiết». Dựa trên hệ luận của sự cam kết này dành cho Tưởng Giới Thạch, Harry Truman đã «đưa ra một lời kêu gọi chính phủ Trung Hoa tại Đài Loan để ngưng lại tất cả mọi cuộc hành quân trên biển và trên không nhằm chống lại lục địa», Và Hoa Kỳ thân ái từ chối sự cung hiến ba mươi ba ngàn binh sĩ để tham chiến ở Cao Ly do họ Tưởng đề nghị.

        Khi gặp nhau tại Đài Bắc, hai nhân vật đã thật sự nói với nhau những gì, người nhân danh 700 triệu dân và đang cai trị 10 triệu, và người tin tưởng một cách có ý thức ít nhiều là được Chúa chỉ định để tuyệt diệt cộng sản tại Á châu ? Bốn ngày trước Hoa Kỳ đã quyết định gia tăng viện trợ cho Đài Loan (trong tháng giêng 1950 Tổng Thống Truman đã cắt hết mọi viện trợ) cũng như quyết định một sự canh chừng bằng không quân tích cực hơn trên vùng bờ biển của lục địa để khám phá ra các sự chuẩn bị sẽ xảy ra của cộng sản nhằm tấn công «hòn đảo» mà Trung Cộng yêu sách như là một phần bất khả phân của lãnh thổ quốc gia. Liệu có phải MacArthur quyết tâm áp dụng các biện pháp cụ thể do những quyết định trên đòi hỏi và một lần nữa ghi nhận «sự đề cung quảng đại» quân lực cho Cao Ly hay không ?

        «Vào thời đó, mọi người đều nghĩ rằng một hành động như thế có thể đe dọa làm giảm thiểu một cách nguy hiểm tiềm lực phòng thủ Đài Loan», MacArthur bình luận trong tập Hồi ký của ông. Làm như thế, ông «quên» rằng mấy ngày trước, ông đã khuyến cáo các Tướng Collins và Vaudenberg đừng có nhận đề nghị này và rằng an ninh của Đài Loan ít thành vấn đề hơn là ảnh hưởng chính trị quốc tế của một sự tham dự như thế. Do đó, như ông viết, ông đành chỉ «đề cập đến một sự phổi hợp phòng thủ tốt đẹp» với «người bạn vong niên Tưởng Giới Thạch» (mà không một ai xác nhận rằng ông đã từng gặp trước đó ?) Dẫu sao khi chiếc phi cơ Baiaan cất cánh, ông Tổng tư lệnh cũng tuyên bố rằng «các căn bản của một sự hợp tác quân sự Mỹ-Ноа đã được thiết lập» và gợi ra niềm tin nồng nhiệt của ông vào «chiến thắng cuối cùng trong cuộc đấu tranh chung chống công sản».

        Trên thế giới, nhất là tại Âu châu, nơi mà thần kinh rất căng thẳng vì chiến tranh lạnh và vì sự sợ hãi một cuộc xung đột lan rộng, thì lời tuyên bố của ông là cả một sự phản đổi kịch liệt. Các chính phủ tới tấp yêu cầu Hoa thịnh đốn giải thích. Có phải MacArthur đã ký kết một liên minh quân sự nhằm xâm lăng Trung Cộng hay không ? Hoa thịnh đốn làm cho mọi người yên tâm và cố sức trấn an báo giới cho mọi người yên tâm và cố sức trấn an báo giới cuồng nộ. Riêng phần MacАrthur, ta đã nói rồi, ông ngạc nhiên.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2019, 01:22:29 AM
     
        Tình hình tại Cao Ly quá trầm trọng khiến Truman không thể xem thường nội vụ được. Vả lại, ông là người được phủ cho một đức bình tĩnh không chê trách được và một khuynh hướng bén nhạy về quyền lợi tối thượng của dân tộc. Ông phái Averell Harriman đến Đông Kinh để thăm dò MacArthur. Ông này cam đoan với vị đại sứ rằng «trong tư cách quân nhân, ông vẫn tuân hành tất cả mọi mệnh lệnh của Tổng Thống» và rằng «ông chỉ đề cập đến các vấn đề quân sự với Tướng Tổng Tài trong chuyến thăm viếng Đài Loan». Tin vào các lời cam kết ấy, «tôi thấy rất an tâm, Truman viết, và tôi công bố cho báo chí biết rằng chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhau về vấn đề Đài Loan». «Sau đó, Tổng thống viết tiếp trong Hồi ký của ông» tôi giả định rằng nội vụ đã được giải quyết và Tướng MacArthur vẫn chấp nhận đường lối hành động do vị Tổng tư lệnh của ông ta vạch ra đối với Đài Loan của ông. Vị Tổng tư lệnh của ông ta, chính là Harry Truman, theo Hiến Pháp. Tổng thống thường ưa nhấn mạnh đến điểm nay khi ông gợi ra câu chuyện về mối tương quan giữa ông và Tướng MacArthur. Chắc chắn là lối nhắc nhở này đã gây cho ông Tướng một ảnh hưởng đau đớn như thanh sắt nung đó áp vào vết thương ông, một người từ trên vóc dáng cao lớn, biểu diện đáng ngưỡng mộ của một lãnh tụ lão thành của dân tộc Sioux miền Bắc Mỹ. Các ngôi sao Tướng lãnh và hào quang của kẻ «chiến thắng Nhật Bản», vẫn khinh thường «anh chàng buôn bán dải đeo quần» nhỏ con của tiểu đang Wisconsin đã leo được lên chiếc ghế Tổng Thống không biết qua ngõ ngách chính trị nào.

        Tất cả những cam kết và thề thốt của MacArthur cũng không ngăn được ông khiêu khích Hoa thịnh đốn một lần nữa vào ba tuần sau có lẽ đó không phải là một hành động hoàn toàn cố ý. Ta phải hiểu rằng có lẽ MacArthur không phán xét điều đó dưới góc cạnh của một sự khiêu khích. Mà chính là dưới một khía cạnh cao quý hơn. Và trầm trọng hơn. Có lẽ Douglas MacArthur rất tin tưởng vào câu chuyện truyền kỳ mà ông đã góp phần xây dựng bằng cách giữ bên cạnh cả một triều đình nho nhỏ gồm các sĩ quan. Dường như ông chân thật tin chắc rằng ông là người duy nhất nắm giữ Đường lối Chính trị Tốt đẹp nhất cho Hoa Kỳ. Hiển nhiên ông là người Mỹ duy nhất hiểu rành tâm lý đông phương.

        Môt hôm, sau khi bị Tổng Thống Truman goi trở về Mỹ, vì ông Tướng đến chậm trong một cuộc hẹn gặp, một ký giả cù không cười đã gợi ý rằng có lẽ người ta đã gặp khó khăn khi gỡ ông xuống khỏi thập tự dá của ông chăng, mà không tạo ra một cơn cười nôn ruột toàn diện. Do đó thái độ phản kháng của ông đối với chính phủ không phải bị thúc đầy bởi một ý chí thấp hèn của con người Tổng Thống muốn đặt Truman vào một vị thế khó khăn đã chiếm quyền trong cuộc bầu cử sắp đến mà, theo nhiều quan sát viên, thái độ phản kháng ấy bị thúc đẩy bởi ý thức cao xa của một nhà tiên tri được Trời ủy cho sứ mạng dìu dắt Quân đội Của ông và phanh thây quân thù Của ông.

        Hội cựu chiến sĩ trong các cuộc chiến tranh hải ngoại đã yêu cầu MacArthur cho một thông điệp nhân đại hội thường niên ngày 28 tháng 8 năm 1950. Tổng Thống Truman được biết bản văn này vào ngày 26 do sở báo chí tòa Bạch ốc đệ trình. Vì lý do đơn giản dễ hiểu là cơ quan báo chí riêng của MacArthur tại Đông Kinh, ngay từ ngay 19 đã phát nó cho báo chí và một tuần báo có đăng bản văn ấy đang được phân phối đến cho những độc giả dài hạn. Bản văn của chúc từ này. Tổng Thống Truman nhận xét, «kết cuộc chỉ là một sự chỉ trích chính đường lối hành động mà ông ta từng tuyên bố sẵn sàng noi theo mới trước đây ít lâu». Thật vậy, MacArthur đoan xác rằng «tâm lý đông phương» (quyết nhiên là giỏi chịu đựng) đòi hỏi «một đường lối hành động gây hấn, quả quyết và sinh động»; và đoan xác thêm rằng «không có gì giả dối hơn là những luận cứ nhàm chán của những kẻ tán dương sự hòa dịu và chủ bại trong khu vực Thái Bình Dương bằng cách cho rằng nếu chúng ta bảo vệ Đài Loan, chúng ta sẽ gây thù chuốc oán với lục địa Á châu». Bằng lời lẽ rõ ràng, MacArthur đề nghị một chính sách gây hấn từ Bài Loan phát đi. Và để chống ai ? Bắt buộc là chống lại kẻ đang chống Đài Loan, chính là Trung Cộng. Nhưng, ngày 14 tháng 8, Tổng Thống Truman vừa cho chuyển đến MacArthur một chỉ thị, liên quan đến chính vấn đề phòng thủ Đài Loan. Chỉ thị qui định là phải giới hạn hành động của Hoa Kỳ trong khu vực này vào các hành động yểm trợ độc nhất có thể được thực hiện mà không cần phải đưa quân Mỹ đồ bộ lên chính đảo Đài Loan. Cũng không có một cuộc can dự nào có thể được thỏa thuận với chính phủ Quốc Gia để tổ chức một không đoàn săn giặc tại Đài Loan, và không có bất cứ đơn vị nào của Mỹ bất kỳ thuộc loại nào được đồn trú trên đất liền mà không có phép minh thị của hội đồng liên quân.

        Phải nói rằng, kề từ cuộc viếng thăm của MacArthur tại Đài Loan, ngày 31 tháng 7, thế giới rất chú tâm đến những gì đang xảy ra tại xứ của Tưởng Giới Thạch. Vấn đề đã được đặt ra tại Hội đồng Bảo An. Người Mỹ đề nghị Liên Hiệp Quốc mở cuộc thanh sát. Nhưng Nga Sô cho rằng sự kiện đặt đệ thất hạm đội giữa lúc địa và đảo ấy đem lại hậu quả là hội nhập đảo Đài Loan vào chu vi ảnh hưởng của Mỹ. Ngày 25 tháng 8, một hôm trước ngày khám phá ra bản chúc từ của MacArthur, Tổng Thống Truman vừa minh xác chính sách của Hoa thịnh đốn cho tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Trygve Lie, trong một bức thư dài.

        Vậy thì sự bối rối lại được tạo ra trong tâm trí mọi người, trên toàn thế giới, vì chính sách do MacArthur đề nghị là tuyệt đối mâu thuẫn với sự xác định lập trường này.

        Nhưng, Hiến Pháp Hoa Kỳ rất là minh bạch. Nếu ai cũng có quyền nghĩ những điều mình muốn, kể cả sĩ quan, thì chính Tổng Thống, chỉ một mình Tổng Thống thôi, mới có quyền chính thức xác định lập trường nhân danh xứ sở, về các vấn đề đổi ngoại.

        Truman nghiêm chỉnh nghĩ đến việc cách chức MacArthur khỏi chức vụ Tổng Tư lệnh quân Mỹ tại Viễn Đông và đưa Tướng Bradley thay thế, nhưng vẫn để lại cho ông chức vụ lãnh đạo công cuộc chiếm đóng Nhật Bản. Nhưng ông giải thích trong Hồi ký những năm làm Tổng Thống, sau khi suy nghĩ chính chắn, tôi quyết định không áp dụng biện pháp này, một biện pháp khó tránh khỏi vẻ bề ngoài của một sự thất sủng, vì về phương diện cá nhân tôi không bề có một ý muốn nào làm hại đến ông Tướng. Mối ưu tư duy nhất của tôi là làm sao cho thế giới biết rằng lời tuyến bố của ông không phù hợp lập trường chính thức của chúng tôi.

        Cùng ngày 26 tháng 8 ấy, sau một cuộc họp với các viên chức hữu trách Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc Phòng và các Tham mưu trưởng, Tổng Thống Truman cho lệnh yêu cầu MacArthur rút lại bản chúc từ.

        Phản ứng của ông Tướng rất đáng phục. Ông vâng theo ngay lập tức, tất nhiên, nhưng ông lại có thể viết một cách không ngượng nghịu : «Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Sau khi yêu cầu người ta gởi cho tôi một ban sao chúc từ này (!), tôi xem xét nó lại và không thấy chẳng có câu nào lại không phù hợp với các lời tuyên bố của Tổng Thống...»


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2019, 06:15:18 AM
         
*

*     *

        Trong khi người ta gây gổ nhau, giữa Đông Kinh và Hoa thịnh đốn, hai bên tiếp tục đánh nhau tại Cao Ly. Và bên phe Mỹ - Nam Cao, để khỏi bị đẩy bật ra biển. Các trận đánh chống lại mười ba sư đoàn Bắc Cao thật là dã man.

        Song le, trên chiến trường, từ đầu tháng 8, tình thế tỏ ra khá hơn. Bằng cách vét hết quân số tại Hoa Kỳ, tại Hạ uy di, tại Porto Rico và tận Địa Trung Hải (vì không nên quên rằng ngay sau Đệ II Thế chiến, trái với ý muốn của Tổng Thống Truman và của vị Tổng tham mưu trưởng, Tướng Lisenhower, nhưng dưới áp lực của báo chí, Quốc Hội Mỹ đã nhận chìm sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ), lực lượng Mỹ đã lên đến 65.000 người. Hai sư đoàn bổ sung sẽ được đổ bộ vào 25 tháng 9, và quân Nam Cao được tổ chức lại thành năm sư đoàn,

        MacArthur cho rằng đã đến lúc tung ra cuộc phản công. Hành động rất táo bạo. Đây không phải là gỡ áp lực của chiếc kẹp xiết chặt vùng đầu cầu Pusan mà là đánh bọc hậu địch bằng một cuộc đồ bộ lên bờ biển phía tây bán đảo, tại Inchon, không quá xa Hán Thành và dưới vĩ tuyến 38 một chút.

        Kế hoạch này của MacArthur đã được các tham mưu trưởng nghiên cứu từ ba tuần qua khi, ngày 19 tháng 8, Truman gửi tướng Collins, tham mưu trưởng Lục quân, và đô đốc Sherman, tham mưu trưởng Hải quân, đến gặp ông, Kế hoạch táo bạo đến nỗi hai vị sĩ quan cố gắng khuyên MacArthur từ bỏ ý định thực hiện, nhất là khi hai người lại có được quan điểm của ông Tổng tham mưu trưửng Omar Bradley, vốn cho rằng loại hành quân đổ bộ nầy đã hoàn toàn lỗi thời. Lần này giọng kẻ cả và bóng bảy của MacArthur - đã lập được kỳ công. Ông thuyết phục được những người đối thoại. Về phần ông, Tổng Thống rất lấy làm phấn khởi.

         Hoàn loàn tư tin, ngày 1 tháng 9, Tổng thống đọc thông điệp truyền thanh nhắc lại những điều kiện can thiệp và lập trường của Mỹ đối với Á châu. Đặс biệt là ý chí của Hoa Kỳ không muốn thấy cuộc xung đột bành trướng và hy vọng rằng Trung Cộng sẽ không để bị lôi kéo vào đấy. Ông xác nhận rằng Hoa Kỳ không có chủ trương chiếm đóng lãnh thổ nào, cả Đài Loan lẫn những nơi khác, để rồi kết luận rằng người Mỹ không chủ trương «cả sự xâm lăng, lẫn hình thái chiến trạnh phòng ngừa».

        Tuy nhiên sợ rằng các phương tiện mới được đặt dưới quyền MacArthur và các dự tính phân công của ông khiến cho ông quá khích động chăng, Tổng Thống triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia. Ngày 11 tháng 9 năm 1950 ông soan thảo một lời tuyên bố và đến ngày 15 nó biến thành chỉ thị cho MacArthur.

        «Thống tướng MacArthur, Truman viết, phải lãnh đạo các cuộc hành quân cần thiết, hoặc để đầy lui quân Bắc Cao về bên kia vĩ tuyến 38, hoặc để tiêu diệt lực lượng Bắc Cao. Nếu không có chỉ dẫn nào hay sự đe dọa nào cho phép tiên liệu sự can dự bằng sức mạnh của các thành phần quân đội Nga Sô hay Trung Cộng, Hội đồng khuyến cáo rằng Tướng MacArthur nên nới rộng các cuộc hành quân qua khỏi bên kia vĩ tuyến và chuẩn bị các kế hoạch chiếm đống Bắc Cao. Song le, không một cuộc hành quân nào trên bộ được phép vượt quá vĩ tuyến 38 trong trường hợp có sự xâm nhập của quân Nga hay quân Trung Cộng».

        Tài liệu không thiếu phần thú vị. Đây là lần đầu tiền người ta thấy xuất hiện viễn ảnh của một cuộc vượt vĩ tuyến 38. Do đó ngay cả trước khi Liên Hiệp Quốc cho phép, Tướng MacArthur đã được khuyến dụ chuẩn bị kế hoạch xâm chiếm Bắc Cao rồi.

        Ngày 15 tháng 9, chính là ngày MacArthur chọn lựa để mở cuộc phản công tại Inchon.

        Inchon là một hải cảng nằm trên cửa sông Han phát nguồn từ điểm không xa bờ biển phía đông bao nhiều. Cách Hán thành ba mươi lăm cây số về phía tây, đấy là hải cảng thứ nhì của Cao Ly. Hải lộ dẫn vào hải cảng rất hẹp, quanh co và hơn nữa đầy bùn. Thủy triều ở đấy được kể như là một trong những nơi mạnh nhất thế giới. Tuy được kể là một ngày trời đẹp nhất, nhưng nước triều cũng cao tới cả mười thước. Hải lưu mạnh đến nỗi khó lòng mà tin vào các đồ đáy biển để tránh những bãi nổi ngầm dưới nước, luôn luôn biến đổi. Do đó phải kể như là sẽ có nhiều tàu bè mắc cạn. Cũng rất có thể là với cả sự chặn bản kẹt luôn hải lộ nếu một chiến hạm trúng mìn ngay tại đấy. Trong trường hợp thời tiết xấu và mặc dầu có ưu thế mãnh liệt của không quân Mỹ (cũng như Hải quân), cũng sẽ không có yểm trợ của không lực.

        Song le không có một sự chống đối nào do hải quân rồi do lúc quân trình lên cho MacArthur đã làm ông chịu thua. Sự say mê điên cuồng của ông, sự cứng rắn trước các chống đối và các lời cảnh cáo đã tạo nên đồng thời là yếu điểm lẫn sức mạnh của ông. Ông Tổng tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc đã chứng tỏ rằng nắm giữ Inchon và Hán thành tức là cắt ngang đường giao thông nhỏ hẹp của địch và cấm chỉ mọi liên lạc với miền Nam. Rồi trước Collins và Sherman, ông tuồn ra hàng tràng danh từ hoa mỹ — và đôi khi cảm động — mà ông biết rõ bí quyết. Ông kêu gọi uy tín của thế giới tây phương, nêu rõ ràng Âu châu sẽ mất nếu Á châu rơi vào tay Cộng sản. Rồi ông tình nguyện đem «Danh tiếng cá nhân ông, binh nghiệp ông» ra làm vật hy sinh trong trường hợp thất bại.

        Ít ai có thể cưỡng lại được các diễn từ đẹp đẽ. Đô Đốc siết chặt tay MacArthur «Một tiếng nói vĩ đại cho một chính nghĩa vĩ đại», ông ta thì thầm, cảm động.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2019, 06:20:43 AM

SỰ SỤP ĐỔ CỦA MỘT "CON NGƯỜI VĨ ĐẠI"

        Ngày 12 tháng 9 năm 1950, MacArthur bước lên chiếu hạm Mount Mckinleỵ tại Sasebo Ông đến chỗ hẹn gấp với hạm đội. Bốn mươi ngàn người của sư đoàn 7 bộ binh và sư đoàn 1 Thủy quân lục chiến tạo thành quân đoàn 10 — «sẽ lao mình vào một hành động táo bao để cứu 100.000 người đang ichiến đấu tại miền Nam», MacArthur viết, và nhận xét : «Trong cuộc đời binh nghiệp, tôĩ thường vạch các dự án chiến lược loại này, nhưng không có dự án nào lại mạo hiểm hơn lẫn hứa hẹn để thành công hơn».

        Bình minh ngày 15 tháng 9, sau một đợt chuẩn bị pháo binh, các phi cơ khu trục oanh tạc Corsair tấn công hòn đảo nhỏ bé Wolmi-Do án ngữ hải cảng Inchon. Những đợt xung phong đầu tiên сủа Thủy quân lục chiến bắt đâu đổ bộ. Đến 8 giờ một đầu cầu đã được thiết lập. Phải mất mười một giờ mới chiếm được Inchon.

        MacArtbur mừng điên lên. Đối với ông, đấy không những chỉ là một thành quả quân sự mà còn là một lá bài tẩy chính tri. Ông vui mừng đến mức gởi một điện văn khen thưởng Hải quân và Thủy quân lục chiến «chưa bao giờ tỏ ra sáng chói đến thế...» nhưng chưa hề được quen thuộc với cách đãi ngộ dễ thương như thế trong thời chiến đấu trên Thái Bình Dương. Ngày trước hôm ông bước lên khỉnh tốc đỉnh rời khỏi pháo đài Corregiđor trong lúc ông để quân sĩ lại để đương đầu với quân Nhật trong những trận đánh tối hậu, MacArthur đi bỏ quên Thủy quân lục chiến và Hải quân trong lần ban gắn huy chương sau cùng. Năm 1945, khi chiến tranh chấm dứt, Holland Smith, tướng tư lệnh Thủy quân lục chiến đã có thể viết : «ông có thể lục hết trong các thông cáo của MacArthur nói về các cuộc hành quân tại Phi luật tân mà không tìm thấy một chữ Thủy quân lục chiến nào». Và cũng chính ông Smith nầy đã kể lại rằng có một lần, một thủy quân lục chiến trẻ, bị thương ghê rợn nơi chân tại Leyte đã tâm sự với ông : «Mất một chân tôi cũng cóc cần, thưa thiếu tướng, nhưng giá như ông «Doug» rủ lòng thừa nhận rằng chúng ta, thủy quân lục chiến, chúng ta cũng chiến đấu như ai !»

        Chúng ta không còn ở Leytè thuộc Phi luật tân nữa, chúng ta đang ở Inchon, thuộc Cao Ly và Hải quân cũng như Thủy quân lục chiến vừa chứng tỏ rằng MacArlhur đã có lý, ngược lại với quan điểm của tất cả các đại lãnh tụ quân sự trong nước. Điều đó xứng đáng gởi một điện văn khen thưởng trong khi không tổ chức được một lễ tạ ơn.

        Inchon bị chiếm đóng, quân đoàn 10 thọc sâu về phía đông và Hán thành. Ngày 28 tháng 9, thủ đô miền nam được quét sạch. Quân địch hỗn loạn.

        Ông Tổng tư lệnh đề nghị đưa Lý thừa Vãn lại thủ đô của ông ta. Hoa thịnh đốn tỏ ra chưa vội. MacArthur nhận được một công điện lạ lùng (lại lạ lùng nữa !) của Hội đồng liên quân, «chắc chắn là do Bộ Ngoai giao gợi ý» ông nghĩ. Các tham mưu trưởng yêu cầu ông đừng thi hành kế hoạch của ông. Như vậy là pháo đài chống cộng mà Lý thừa Vãn là tượng trưng đã bị tấn công bởi quân cộng sản nằm vùng mà MacArthur tin chắc là đang thống trị Bộ Ngoại giao.

        MacArthur quyết định bất chấp các chỉ thị nhận được. Ông ra lệnh chính thức bắt đầu đặt lại chính phủ, ngày 29 tháng 9. Hoa thịnh đốn chịu trận, không động tĩnh gì.

        Buỗi lễ được tổ chức đúng ngày đã định. Thật rực rỡ. Người ta cùng nhau đọc kinh cầu nguyện. Không còn nghi ngừ gì nữa, chính sức mạnh thiên chúa giáo đã đánh bại cộng sản vô thần. Lý thừa Vân khóc sụt sùi.

        «Chúng tôi yêu ông, ông la lớn với MacArthur trong khi thổn thức. Chúng tôi yêu ông như người bảo trợ cho chủng tộc chúng tôi». Chính MacArtbur kể lại câu này trong tập Hồi ký của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2019, 06:21:12 AM

*

*       *

        Ngày 1 tháng 10, không còn một binh sĩ Bắc Cao nào dưới vĩ tuyến 38 nữa. Tất cả đều chứng tỏ rằng lực lượng của Bình Nhưỡng đã kiệt quệ về mặt vật chất cũng như tinh thăn. Trong vòng ba tháng lực lượng ấy bị mất 335.000 người trong đó 135.000 bị bắt làm tù binh. Theo con số của MacArthur, những thành quả có lẽ cần một sự điều chỉnh nghiêm túc hơn.

        Cùng ngày 1 tháng 10 ấy, phù hợp với các chỉ thị đã nhận được và cùng với kế hoạch đã được chấp thuận ngày 29 tháng 9 bởi Hội đồng các tham mưu trưởng, sư đoàn 3 Nam Cao vượt vĩ tuyến 38. MacArthur đã lập kế hoạch tung ra khắp thế giới một lời tuyên bố bi hùng để đánh dấu biến cố này. Lần này ông lại thông báo các ý định riêng cho Hội-đồng liên-quân. Các tham mưu trưởng liền lập tức yêu cầu ông ngưng ngay ý định đó. Làm cho thế giới hướng sự chú ý vào cuộc vượt tuyến này là điều vô ích.

        Nam quân tiến mau lẹ, mà không gặp sức kháng cự thật sự nào. Nhưng ngày 3 tháng 10, bộ Ngoại giao bị tấn công bởi vô số điện văn phát xuất từ Mạc tư khoa, từ Stockholm (Thụy điển), từ Delhi (Ấn độ). Lập tức chúng được chuyển cho MacArthur vì chúng liên hệ đến ông Tổng tư lênh. Tại Bắc Kinh, Thủ Tướng Chu ân Lai mời đại sứ Ấn Độ đến. Ông ta báo trước cho ông Pannikkar rằng nếu lực lượng Liên Hiệp Quốc vượt vĩ tuyến 38, Trung Cộng sẽ bị bắt buộc phải gởi quân cứu viện Bắc Cao. Ngược !ại nếu chỉ có quân Nam Cao vượt tuyến thì Trung Cộng sẽ không động dụng. Điều đáng buồn trong nội vụ, và điều làm cho vẫn đục lòng «thành tín» của ông, là ông Pannikkar vốn nồi tiếng là một người thân Trang Cộng và đây không phải là lần đầu tiên ông làm vang dội lại những lời cảnh cáo báo động chẳng bao giờ mang lại tác dụng. Đấy há chẳng phải chỉ là một cuộc vận động dọa nạt vào ngay lúc Liên Hiệp Quốc sắp biểu quyết một quyết nghị cho phép đoàn quân của tổ chức tiến lên Bắc Cao là gì ?

        Dầu sao chăng nữa, vì sự can thiệp của Trung Hoa chưa hề bị gạt bỏ, ông Tổng Trưởng Quốc phòng mới, Tướng Marshall ngày 9 tháng 10 nhắc nhở MacArthur  rằng trong trường hợp có «sự xử dụng công khai hay được ngụy trang» các đơn vị Trung Cộng, ông phải theo đuổi tiếp hành động «lâu bao nhiều cũng được tùy theo sự xét đoán (của ông), các lực lượng được đặt dưới quyền (của ông), lúc đó sẽ có cơ may rất hữu lý để thành công». Nhưng «trong mọi trường hợp», ông muốn «được phép rõ ràng của Hoa thịnh đốn trước khi bắt đầu một hành động quân sự bé nhỏ nào để chống lại các mục tiêu trên lãnh thổ Trung Cộng».

        Tuy nhiên, ngay trước khi gởi chỉ thị bổ túc này, Tổng Thống Truman quyết định đích thân tiếp xúc với MacArthur. Sự việc đã trở nên quá trầm trọng trong sự dây dưa trên tầm mức quốc tế đến nỗi người nắm vận mạng Hoa Kỳ trong tay (và cũng là vận mạng của cả thế giới nữa) không thể không biết rõ dụng cụ truyền đạt đầu tiên Của mình trong cuộc đấu tranh.

        Hơn nữa, từ tháng 6, các biến có đã chứng tỏ với Truman rằng thời gian mười bốn năm trời ẩn mình tại Đông phương, từ chối đặt chân lên đất Mỹ dầu cho là chỉ trong 48 giờ thôi, đã làm cho MacArthur không những mất hẳn sự xúc tiếp với xứ sở mà còn mất hẳn khă năng ước tính lành mạnh đứng đắn các vấn đề quốc tế khác nhau.

        «... tất cả tư tưởng của ông ta đều bị các vấn đề trong khu vực này của thế giới thu hút», Tổng Thống nhận xét trong các tài liệu viết của ông, để rồi thêm: sau khi tiếc là một lần nữa MacArthur lại từ chối lời mời về Hoa thịnh đốn «Tôi đã thực hiện nhiều nỗ lực, qua trung gian của Harriman và những người khác để trình bày cho ông ta hiểu hình ảnh toàn diện của tình hình thế giới như chung tôi thấy tại Hoa thịnh đon, nhưng tôi có cam tưởng rằng chúng tôi không thành công và đường như là có lẽ ông ta sẽ thích ứng với việc đó dễ dàng hơn nếu chính bản thân tôi trực tiếp trình bày với ông ta».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2019, 06:22:15 AM

*

*     *

        Cuộc gặp gỡ diễn ra tại đảo Wake, một hòn đảo tí hon của Hoa Kỳ chìm khuất cô quạnh trong Thái Bình Dương nằm trên hai phần ba con đường nối liền từ bờ biển phía Tây Hoa Kỳ và Trung Hoa. Người ta nghĩ rằng đó là một vùng đất trung lập, một thứ bãi đấu Pré-Aux-Clercs vào lúc bình minh, dành cho một trận thư hùng kỳ lạ. Và có lẽ là như thế thật dầu cho Tổng Thống Truman có nghĩ như thế không khi ông phải vượt ba phần tư con đường vì đã khởi hành từ Hoa thịnh đốn và từ bờ biển phía đông Hoa Kỳ. Nhưng con người của sự khiêm nhường đó không muốn phân cách quá lâu vị Tổng Tư lệnh với đoàn quân của ông ta đang chiến đấu tại Cao Ly. Riêng phần MacArthur, như vẫn thường tỏ ra rất âm hiểm, sực nhớ các cuộc bầu cử Quốc hội sắp tổ chức đến nơi, thì nghĩ rằng «Nếu để cho rằng cuộc vận động chính trị ấy là mục tiêu duy nhất của chuyến hành trình của ông Truman thì đó sẽ là làm thương tổn đến ông ta». «Tổng Thống, ông Tướng nói thêm, bằng cách đó sẽ mang về cho đảng của ông mỗi lợi của chiến công tại Inchon».

        Đâу là lần thứ hai tướng MacArthur được một Tổng Thống Hoa Kỳ triệu dung. Lần đầu ông trở về tận Hạ uy di để gap Franklin Roosevelt năm 1944, và ông chiến thắng bước ra khỏi cuộc hội kiến.

        Lần này sự việc cho thấy không thuận lợi lắm cho MacArthur. Điều làm ông điên tiết không phải là vì cuộc hội kiến được tổ chức trong một doanh trại quân sự khắc khổ, lợp tôn dợn sóng, mà là vì đoàn ký giả trung kiên của ông không được phép lên phi cơ của ông, trong lúc Tổng Thống Truman di chuyển với ba mươi lăm đại diện báo chí.

        Để bày tỏ nỗi bực dọc, MacArthur không thèm chăm sóc bộ mã bên ngoài. Khi ông đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ dưới chân thang máy bay, Tổng Thống không thể không nhận thấy sự xềnh xoàng nơi y phục của ông Tướng. «Quân phục của ông ta hở nút và ông ta mang một chiếc nón hiển nhiên đã được dùng quá nhiều, Harry Truman ghi lại. Cũng rất có thể để tỏ rõ ràng ông, MacArthur, cũng là một quân nhân đang đánh giặc chớ không phải là một chính khách mất thì giờ trong những câu chuyện vô bổ. Khi ông bênh vực cho cuộc hành quân Inchon trước mặt Tướng Collins và Đô Đổc Sherman, ông đã từng lưu ý :«Ở đây, chúng ta đánh trận chiến của Âu Châu nhưng chúng ta chiến đấu bằng vũ khí, trong khi tại đấy người ta chiến đấu với danh từ». Vả chăng đấy là một trong những luận cứ ưa thích của ông. Ông đã dùng nó trong bức thư gởi cho dân biểu Joe Martin, người sẽ làm tràn bình nước đã đầy và sẽ làm cho ông bị gọi về Hoa Kỳ. Và để nhấn mạnh cho thấy những giờ phút của ông quý báu như thế nào và Tổng Thống đã quấy rầy ông biết bao nhiều khi triệu dụng ông đến, mỗi lần một ký giả chớp đèn chụp hình, là MacArthur lại công khai xem đồng hồ.

        Song le, khi tránh khỏi được ánh đèn của các phóng viên, MacArthur tỏ ra lịch sự. «Cuộc đàm luận của chúng tôi rất thân mật, Tổng Thống Truman ghi lại, thân mật nhiều hơn là tôi chờ đợi, tôi phải nói lên điều đó». Thời gian nói chuyện tay đôi kéo dài một giờ rưỡi trước khi được tiếp nối bằng một hội nghị có sự tham dự của Thứ trưởng Lục quân Pace, Tướng Bradley, Phụ tá Ngoại trưởng Dean Rusk, đại sứ lưu động Averell Harriman v.v...

        Dĩ nhiên là người ta nêu ra hiệp ước hòa bình với Nhật Bản mà Hoa Kỳ quyết định sẽ ký kết dầu cho Nga Sô từ chối. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là Cac Ly. MacArthur xác nhận trước các chứng nhân những gì ông đã nói riêng với Tổng Thống trong cuộc hội kiến đặc biệt. Đó là «cuộc chiến trên bán đảo sẽ toàn thắng và ít có thể xảy ra một sự can thiệp của Trung Cộng», Tổng Thống Truman ghi lại. ông còn cam đoan cả rằng «ông có thể gởi một sư đoàn tại Cao Ly sang Âu châu trong tháng giêng 1951». Thật vậy, Tổng Thống Truman viết tiếp, «MacArthur tuyên bố tin chắc rằng mọi sự kháng cự cả ở Bắc Cao lẫn ở Nam Cao sẽ chấm dứt vào ngày lễ Thanksgiving (lễ tạ ơn của Mỹ thường rơi vào ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11), điều nay sẽ cho phép ông đưa đệ VIII lộ quân trở về Nhật đúng dịp Giáng Sinh. Và khi ông Thứ trưởng lục quân Pace hỏi MacArthur rằng quân đội và cơ quan hợp tác kinh tế có thể làm điều gì đề giúp ông, thì (ông trả lời không do dự rằng ông không thấy một vị tư lệnh nào, trong suốt lịch sử chiến tranh, lại đã được yểm trợ toàn diện và hữu hiệu hơn ông bởi tất cả các cơ quan tại Hoa thịnh đốn».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2019, 06:22:59 AM

        Tổng Thống Truman không biết rằng trong căn phòng kề bên mà cửa để mở hé, cô Vernice Andersonr thư ký của Đại Sứ Philipp Jessup, đại diện Bộ Ngoại giao, đang ghi bằng tốc ký tất cả những gì được phát biểu trong hội nghị. Vả lại không bao giờ có ai biết được là cô đã lãnh lệnh của người nào. Một giả thuyết không bị loại bỏ là Jessup, ít tốt bụng hơn Tổng Thống đã xét đoán rằng vết tích của cuộc hội kiến còn lại là điều có ích. Lịch sử sẽ xác nhận rằng sự thận trong sẽ không vô ích chút nào. Thật vậy, vì chúng sẽ bị cải chính bởi sự kiện hiển nhiên — và bằng cách không thể chối cãi ! — Tướng MacArthur lại sẽ cao giọng phủ nhận những lời đoan chắc của ông ta. Vì không biết có sự ghi chép này, Tổng Thống Truman nghĩ là cần phẳi bắt MacArthur trình bày chính xác thêm một lần nữa tư tưởng của ông liên quan đến những nguy cơ do một sự can thiệp của Trung Hoa hay Nga Sô. Câu trả lời của ông ta thật sự gồm có hai phần. Ông ta nói đến Trung Hoa trước tiên va tuyên bố rằng theo ông rất ít có cơ hội là họ sẽ can thiệp. Họ có khả năng gởi khoảng năm mươi hay sáu mươi ngàn quân qua Cao Ly, nhưng vì họ không có không quân, nếu họ cố tràn xuống tận Bình Nhưỡng (thủ đô Bắc Cao, nữa đường từ biên giới Mạn châu và vĩ tuyến 38), thì sẽ là một cuộc tàn sát chưa từng có.

        Tiếp đó ông ta chuyển qua khả năng một sự can thiệp của Nga sô, ám chỉ đến sức mạnh Không quân Nga, nhưng để kết luận rằng phi cơ và phi công của họ thua xa của chúng ta. ông ta không thấy bằng cách nào Nga sô cổ thể chở đến được một số bộ binh đầy đủ trước khi mùa đông đến. Còn lại là khả năng một sự can thiệp phối hợp Nga-Hoa, phi cơ Nga hỗ trợ bộ binh Trung cộng, nhưng theo ông ta, sự phối hợp này không nguy hiểm. «Điều đó sẽ không êm xuôi đâu, ông ta nói thêm, Trung Cộng dưới đất, Nga Sô trên trời, không thể được».

        Đấy những gì được đề cập mau lẹ. Bởi vì rằng quả thật sẽ không có sự can thiệp của Nga, không ai có thể xác định được liệu về phương diện này chỗ thuyết của MacArthur có đúng hay không.

        Về phần sự can thiệp của Trung Cộng thì khác. Mặc dầu có nhiều người làm chứng cho Tổng Thống Truman và những bản ghi tốc ký, MacArthur nổi khùng chống lại thuyết này. «Câu chuyện đã được công bổ, về sau và một cách sai lạc, trong một phúc trình làm biến đổi bản chất lập trường mà tôi chủ trương, ông kể lại trong Hồi ký. Người ta đã khéo léo cố làm cho tôi nói rằng tôi đã đoán trước, một cách rõ ràng và quả quyết, rằng Trung Cộng sẽ không bao giờ tham dự vào cuộc chiến tranh Cao Ly. Đó là chuyện láo».

        Và đoan quyết rằng chính tướng Bradley là người «đã đi xa đến mức tiên liệu việc rút hai sư đoàn trước Giáng Sinh». Riêng về sự can thiệp của Trung Cộng : «Tôi được hỏi ý kiến về vấn đề này. Tôi trả lời rằng tất nhiên đây chỉ là những giả thuyết, rằng tôi chỉ có thể theo sự hướng dẫn của ý kiến do CIA và Bộ Ngoai giao đưa ra (trong lúc ông cho rằng Bộ Ngoại giao chứa đầy Cộng Sản nằm vùng), nhưng cơ sở tình báo của tôi, mà tôi coi như thuộc loại tài ba nhất thế giới đã báo hiệu cho tôi những sự tập trung quân đội mạnh mẽ gần sông Áp Lục, tại Mãn Châu mà những sự di chuyển chưa được xác định rõ; rằng về phương diện cá nhân tôi ước tính, là thế chủ động trên không của chúng ta, khả năng tiêu diệt các căn cứ không quân phía bắc và phía nam sông Áp Lục của chúng ta (con sông làm biên giới giữa Cao Ly và Mãn Châu) sẽ ngăn trở cấp lãnh đạo Trung Cộng đưa những đoàn quân lớn vào bán đảo Cao Ly. Nguy cơ bị tiêu diệt vì thiếu tiếp tế sẽ quá lớn lao». Thật thú vị để ghi nhận rằng bất kể các nỗ lực của ông nhằm giảm bớt sự xác định lập trường, MacArthur bị bắt buộc thừa nhận rằng ông không tin là có thể có một sự can thiệp qui mô của Trung Cộng. Đối với nhà tiên tri của Á Châu được ban cấp cho một cơ sở tình báo tài ba nhất thế giới, thì đây thật là một điều đáng tiếc. Ngay sau đó, 200.000 quân Trung Cộng — theo ông — sẽ mau lẹ đẩy lui quân Liên Hiệp Quốc. Nhưng lúc đó ông Tổng tư lệnh, một người, trong suốt quá trình lịch sử, sẽ không bao giờ được Hoa thịnh đốn hậu thuẫn như ông đã từng được hậu thuẫn trong nỗ lực của ông, sẽ lên án Hoa thịnh đốn là đã trói tay ông, ngăn không cho ông tấn công thẳng vào Trung Cộng,


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 05:25:26 AM

        Ta chưa đến thời kỳ ấy, vào ngày 15 tháng 10 năm 1950 này tại đảo Wake. Hoàn toàn yên tâm với quan điểm của một đại chuyên gia về Á Châu sự vụ, Tổng Thống Truman từ biệt ông Tổng tư lệnh tại Cao Ly mà không quên gắn thêm một lá sồi thứ tư cho huy chương Distinguished Service Medal của ông. Bề ngoài, Tổng thống Truman có vẻ hài lòng vì sự hối tiếc mà MacArthur bày tỏ liên quan đến ý tưởng theo đó lời tuyên bố của ông về Đài Loan và chúc thư gửi cho hội cựu chiến sĩ đã có thể gây ra «một sự bực mình nhỏ» nào cho Tổng Thống. Và khi Tổng Thống dò dẫm tìm hiểu ý định chính trị của người đối thoại thì MacArthur cam đoan với ông rằng, nhân các cuộc bầu cử Tổng Thống sắp đến ông sẽ không để cho các chính khách «dụ phỉnh» như hồi năm 1948, năm mà những thành tích ông đạt được tại đại Hội đảng cộng hòa thành thật mà nói, không có gì xứng với «người chiến thắng Nhật Bản » cả.

        Năm ngày sau, ngay 20 tháng 10 năm 1950, đệ VIII lộ quân tới Bình Nhưỡng. Một cuộc hành quân nhảy dù đã giúp nó chiếm thủ đô Bắc Cao gần Hoàng Hải trên bờ phía tây bán đảo. Các đơn vị Bắc Cao không còn kháng cự nữa. Quân Bắc Cao kéo vào ẩn nấp trong vùng núi non dọc theo biên giới Mãn Châu - Trung Hoa và biên giới Nga Sô về phía Bắc. Về phần quân tấn công, sư đoàn 3 Rok và sư đoàn «Capitole» miền Nam thì chiếm đóng hải cảng Wonson của Bắc Cao nằm trên bờ biển phía đông gần trên cùng một vĩ tuyến với Bình Nhướrng. Chính sư đoàn 1 thủy quân lục chiến là đơn vị tiến xa nhất lên phía Bắc. Sư đoàn tiến mạnh về phía các kho chứa tại Chongjin, cách biên giới Nga Sô không đầy 100 cây số, về phía bắc, và cách biên giới Truug Hoa không đầy 70 cây số về phía tây.

        Tuy nhiên ngày 27 tháng 10 năm 1950, sau hội nghị Wake 12 ngày, lần đầu tiên quân Rok đụng đầu với các thành phần quân Trung Cộng không xa Mãn Chân bao nhiêu. Ba ngày sau, ngày 30 tháng 10, một trung úy của sư đoàn 1 thủy quân lúc chiến thẩm vấn mười sáu tù binh bị bắt giữ tại phía bắc thành phố kỹ nghệ Hamhung. Viên sĩ quan vốn gốc Trung Hoa. Thật không còn chối cãi gì nữa. Các tù binh đều là người Trung Hoa. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, tin quân báo cho hay một trung đoàn quân Trung Cộng đang dàn ra chung quanh Chongjin và vùng kho chứa Pujon. Đơn vị này vượt qua sông Áp Lục bằng xe lửa ngày 16 tháng 10, ngay sau hội nghị Wake một hôm. «Cơ sở tình báo của tôi mà tôi coi như là một trong các cơ quan tài ba nhất thế giới... MacArthur tuyên bố ngày 15 tháng 10... Ngày 1 tháng 11, nhiều khu trục cơ phản lực Mig 15, do Nga Sô chế tạo, xuất phát từ Mãn Châu đã xâm nhập không phận miền nam sông Áp Lục. Ngày 2 tháng 11, hai toán quân của sư đoàn First Cav, sư đoàn 1 kỵ binh bị đánh tan. Trước mặt chúng ta là quân Trung Cộng, vị tư lệnh của họ xác nhận.

        Ngày 3 tháng 11, sư đoàn 24 của Mỹ vừa nhận được một nhật lệnh vừa vắn tắt vừa rõ ràng : «Tiến hết tốc lực về phía sông Áp Lục». Quả đúng là sư đoàn đã hành động nhanh hết tốc lực, nhưng theo chiền ngược lại chiều mà bộ tư lênh đã dư liệu. Sư đoàn bị đẩy lui hai mươi cây số. Ngày 4, sư đoàn First Cav đối diện với năm sư đoàn Trung Cộng. Thủy quân lục chiến của sư đoàn 1 tại biên giới phía Bắc thì đối diện với ba sư đoàn.

        Tuy nhiên cùng ngày hôm ấy, ngày 3 tháng 11, bất chấp các báo cáo từ mặt trận gởi về, bất chấp mọi sự thật hiển nhiên, tổng hành dinh của MacArthur thản nhiên loan báo rằng «không có đủ chứng cớ để đảm bảo cho thực tại về một sự can thiệp của Trung Cộng được coi như có thể xảy ra». Tại sao ? Chỉ tại vì nhà tiên tri tại Đông Kinh đã đưa ra sấm ngữ theo đó thì có lẽ Trung Cộng sẽ không can thiệp nên người ta không thể nào chấp nhận các sự kiện trái ngược được.

        15 tháng 10 : quân Trung Cộng không can thiệp. 27 táeng 10: những binh sĩ Trung Cộng đầu tiên được nhận diện. 3 tháng 11 : tám sư đoàn Trung Cộng bị quân Mỹ xác định được vị trí. Phải chờ đền ngày 6 tháng 11 trong một thông cáo toan tinh dàn xếp một cách lố bịch một sự chuyển hướng, MacArthur mới nhận thấy sự hiện diện của «một đạo quân tươi rói và mới mẻ» đang đối đầu với ông, «được hỗ trợ bởi những lực lượng trừ bị quan trọng của ngoại quốc... ngoài giới hạn khu vực hành động hiện nay (của ông)». Thật là những lời nói lúng túng đối với một người nổi tiếng vì các tài năng văn chương (nếu không nói là sự chính xác) trong các thông cáo chiến tranh ! MacArthur còn mưu toan làm cho mọi người tin rằng ông đang đối đầu với một đạo quân Bắc Cao được chỉnh đốn lại và được hỗ trợ từ bên kia biên giới bởi quân Trung Cộng. Hay là quân Nga không ai biết.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 05:26:45 AM

        Đàng sau thông cáo khó hiểu đầy những danh từ được cân nhắc đúng mức này, đã hiện lên cuộc «chống đỡ hiển nhiên trong tương lai của MacArthur trước những vố quật ngược mà ông cảm thấy đang được chuẩn bị — bởi vì ông đã từ chối không chịu chuẩn bị gì cho một cuộc can thiệp của Trung Cộng. Những bất hạnh trong tương lai của ông sẽ xuất phát từ những «đoàn quân trừ bi ngoại quốc» đã bám rất chặt đàng sau biên giới vốn đã trở nên bất khả xâm phạm vì chỉ do ý chí của Hoa thịnh đốn. Không bao giờ ông thừa nhận, tất nhiên, rằng ông đã để cho bị kéo vào một chiếc bẫy, như một «tay mơ» của Trung Cộng giương ra khi họ để cho ông tiến quá sâu vào Bắc Cao và trải các đường giao thông liên lạc ra quá dài trong một xứ núi non trùng điệp và để rồi sẽ tấn công ông «với sự tráo trở», bằng cách «coi thường mọi luật lệ chiến tranh», mà không tuyên chiến !

        Song le, trong phúc trình ông gửi cho Liên Hiệp Quốc và trong phúc trình ông gửi cho ủy ban các Tham mưu trưởng ngày 6 tháng 11, thì những sự thận trọng có tính cách hùng biện được dùng để nói với công chúng qua trung gian các ký giả, đã không được xử dụng. Ông gọi quân Trung Cộng là quân Trung Cộng. Nhưng trong khi ông trấn an Liên Hiệp Quốc bằng cách đảm bảo rằng «không thể nào có những sự lật ngược lớn lao về mặt quân sự» thì ông báo trước cho ủy ban các Tham mưu trưởng rằng các lực lượng được Trung Cộng tập trung «có tính chất đe dọa một sự tiêu diệt toàn diện» các lực lượng của ông. Người ta không thể nào rành mạch hơn... trong sự mâu thuẫn.

        Những tin tức này của người được Liên Hiệp Quốc ủy nhiệm đã gây ra trong tổ chức một câu chuyện vốn bị bỏ quên một cách lạ lùng trong cuộc chiến tranh Cao Ly. Trái với những điều được viết và nói rất nhiều và thường vẫn được nhiều người tin tướmg, không phải Bắc Kinh đã bước vào Liên Hiệp Quốc lần đầu tiên ngay 25 tháng 10 năm 1971.

        Thật vậy, hai mươi mốt năm trước đó, ngày 8 tháng 11 năm 1950, do đề nghị của đại diện Anh quốc sir Gladwin Jebb. Bắc Kinh đã được mời gửi đại diện đến đẩy mặc dầu không có ghế đại diện tại Lake Sucess, Chính Tưởng Giới Thach, đang ẩn náu tại Đài Loan, là người đại diện toàn diện nước Trung Hoa và nắm giữ một quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo An. Hai ngày sau. các thành phần của mười một sư đoàn Trung cộng được nhận diện tại Bắc Cao.

        Nhưng không vì thế mà Bắc Kinh không nhận lời mời của Liên Hiệp Quốc. Ngày 14 tháng 11, mười bốn đại biểu Trung Cộng rời thủ đô Bắc Kinh. Họ đi bằng phi cơ. Tuy nhiên, cứ bằng vào vẻ bề ngoài thì họ chẳng có vẻ gì là vội vã lắm trong việc chu toàn nhiệm vụ. Họ tự cho là bị bắt buộc phải dò ý Mạc tư Khoa, trên đường đi Liên Hiệp Quốc. Vào thời đó chuyện này chẳng có gì bất bình thường. Người ta đang ở vào năm 1950 năm trước khi xảy ra việc đoạn giao giữa hai nước. Nhưng người Tiệp khắc nghĩ như thế nào về tất cả các chuyện đó ? Người ta dừng lại tại Prague để tìm hiểu. Và người Anh, những người Âu Châu đầu tiên thừa nhận Trung Cộng thì sao ? Người ta lại ghé Luân Đôn để hỏi thăm.

        Để nói chuyện với tất cả các nơi, phái đoàn Trung Cộng đã nhởn nhơ đến mức chỉ đặt chân lên lãnh thổ Hoa Kỳ ngày 24 tháng 11, mười ngày sau khi họ rời Bẳc Kinh. Mà, quả là do sự tình cờ lạ lùng nhất, ngày 24 tháng 11 ấy đúng là ngày cuộc thảo luận về Đài Loan lại được khai mạc tại Lake Succese. Tại sao ta lại ngạc nhiên vì sự kiện ấy ? Ngoại trưởng của Bắc Kinh, Chu-ân-Lai, khi chấp nhận lời mời của Liên Hiệp Quốc, chẳng đã từng minh xác rằng vấn đề quan trọng cần được thảo luận, không phải là do những vấn đề nhỏ nhặt của MacArthur đang đương đầu với các đoàn quân «ngoại quốc» tại Cao Ly tạo nên mà chính là cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ tại Đài Loan và Cao Ly, đó hay sao ?

        Trong lịch sử cuộc chiến tranh Cao Ly, thực sự, ngày 24 tháng 11 không phải là ngày đánh dấu phái đoàn Trung Cộng đến Liên Hiệp Quốc. Cũng không phải là ngày đánh dấu cuộc thảo luận của Đại hội đồng. Ngày 24 tháng 11 năm 1950, là một ngày khác hẳn. Đó là ngay khởi đầu cuộc tấn công qui mô của MacArthur. Một cuộc tấn công sẽ được kết thúc bằng một sự thảm bại đẫm máu.

        Một lần nữa, thật khó mà hiểu những động lực trí thức nào đã thúc đẩy MacArthur phát khởi một hành động như thếe. Bởi vì rốt cuộc ngay 10 tháng 11 Ông phải biết là có sự hiện diện của mười một Sư đoàn quân Trung Cộng tại Cao Ly rồi. Bổn ngày trước, ông đã báo cho ủy ban các Tham mưu trương, tính cách khả dĩ của một «sự tiêu diệt hoàn toàn» các lực lượng của ông do bởi «quân trừ bị ngoai quốc» được tập trung đông đảo tại Mãn Châu. Các nguồn tin tình báo của Tướng Willoughby đã ước tính số quân này lên đến 850.000 người. Và ngày 24 tháng 11, Mac- Arthur tung ra cuộc tổng tấn công. Vả chăng hôm ấy đúng là một ngày sau ngày lễ tạ ơn, ngày mà ông đã loan báo với Truman, nhân cuộc gặp gỡ tại đảo Wake ngày 15 tháng 10, là moi cuộc chống đối tại Cao Ly sẽ phải kết thúc và báo hiệu sự trở về Nhật Bản của đệ VIII lộ quân.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 05:27:09 AM

        Quả thật là sau những cuộc đụng độ dữ dội cuối tháng 10 và đầu tháng 11, áp lực của địch đột nhiên chậm lại. Sự kiện này lẽ ra đã có thể có vẻ đáng nghi đối với một chuyên viên về Đông phương không siêu việt bằng MacArthur rồi. Dầu sao cũng ít có trường hợp nào mà Tướng Lâm Bưu mang 850.000 quân đến sông Áp Lục để câu cá chơi. Vậy thì mười một sư đoàn đã tiến vào Cao Ly rồi, đã trải qua những đụng độ đầu tiên rồi, có thể làm những gì nếu không phải là chỉnh đốn lại hàng ngũ, chuẩn bị chiến trường ? Nhằm một cuộc phản công, tất nhiên» Đấy chính là giả thuyết phải hiện ra trong trí.

        Cuộc phản công mà quân Trung Cộng sẽ tung ra, sau một thời gian chuẩn bị rất lâu, hai hôm sau ngày MacArtbur khởi cuộc tấn công, ông nầy không ngờ đến sự thế đó. Không có gì được chuẩn bị cả.

        Tuy vậy, một vài người cũng đánh hơi được có điều gì khác lạ. Tỷ như «một sĩ quan có cấp bậc rất cao» tại Đông Kinh, người không muốn nêu tên trên mặt báo đã phát biểu ý kiến với ký giả của tờ us News and World Report : «Điều khả quan nhất mà quân Liên Hiệp Quốc có thể hy vọng là giữ vững phòng tuyến đánh dấu «phần giữa» xứ Cao Ly, nhưng nếu Trung Cộng quyết định đưa quân vào, họ có thể bắt quân Liên Hiệp Quốc phải di tản». Riêng phần một sĩ quan hải quân thì tâm sự với chính ký giả này rằng ông ta «đang chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp xảy ra một cuộc phản công cực mạnh của Trung Cộng mà về phương diện cá nhân ông ta thấy không thể tránh được».

        Cũng như những kẻ ưa bịa chuyện hoang đường vẫn tin chắc rằng những cơn mơ của mình đều là thực tại, hay những kẻ chuyên nói dối tin vào tính cách có thật của những lời dối trá được đưa ra, dường như MacArthur đã buông trôi theo biện chứng сủа chính ông. Ông tự tin vào tính cách vững chắc của quan điểm mà ông đã bày tỏ và theo đó «nguyên tắc căn bản của tâm lý đông phương là tôn trọng và đi theo một sự hướng đạo có tính cách gây hấn, cương quyết và sinh động». Từ đó, liệu ông có kết luận rằng nguy cơ mà lực lượng dưới quyền đang bị đe dọa vì sự kiện địch tập trung mạnh mẽ sẽ trầm trọng hơn nếu như ông do dự không dám đương đầu hay không ? Phải chăng ông ước tính rằng một sự rút lui sẽ mời gọi quân Trung Cộng khởi cuộc tấn công ? Có phải ông xét đoán rằng một cuộc tấn công sinh động và cương quyết sẽ làm cho quân Trung Cộng chưng hửng hay không ? Ai mà biết được ? Sự kiện thực tế là trước bình minh ngày 24 tháng 11, quân thật Liên Hiệp Quốc tiến mạnh lên phía Bắc. Đến tảng sáng, quân của MacArthur đặt chân lên một chiến địa xa, kế cận Sinanjru. Hướng về các ký giả hiện diện để cùng ông chứng kiến ngọn triều dâng lên rồi sẽ lan tràn khắp Bắc Cao và nghiền nát quân Trung Cộng, ông tuyên bố với họ rằng ông đang nhìn ngắm «cuộc tổng tấn công» sẽ «mang lại chiến thắng kết thúc cuộc chiến». Đêm trước, 23 tháng 11, thay món quà tặng nhân ngày lễ Thanksgiving, ông đã ra lệnh cho Tướng Coulter ghi vào trong nhật lệnh gởi cho binh sĩ :«Các anh sẽ dự bữa ăn của đêm lễ Giáng Sinh cùng với gia đình».

        Nếu MacArthur tỏ ra rất phấn khới, thì các tham mưu trưởng lại ít phấn khởi hơn. Hay đúng hơn là Uỷ ban các Tham mưu trưởng đã cho ông biết về «nỗi lo âu ngày càng lớn của các Quốc gia hội viên khác tại Liên Hiệp Quốc trước tính cách khả dĩ của sự khởi động một cuộc chiến toàn diện nếu lực lượng của Liên Hiệp Quốc tiến chiếm toàn diện lãnh thổ Bắc Cao trong vùng biên giới với Mãn Châu và Nga Sô.» Tương tự như vậy Hội đồng Liên quân cũng đề nghị với ông Tướng Tư lệnh «rút quân trấn giữ các đường lui tới thung lũng sông điểm chế ngự các con sông Áp Lục. Các đoàn quân đi đầu chính yếu phải là quân Rok, trong khi quân của các nước khác phải được tập trung ở phía sau, sẵn sàng can thiệp.»

        MacArthur trả lời rằng hành động như vậy tức là đi ngược với mục tiêu được đề nghị. Để bắt quân Trung Cộng rút đi, ông sẽ phải trấn đóng đúng trên dòng sông Áp Lục. Với khả năng cơ hữu một khi củng cố xong tại đấy, ông mới chịu đưa quân Nam Cao thay thế quân Mỹ. Không thể làm trước được. Đấy là cách duy nhất «để kêu gọi sự hiểu biết của Trung Cộng». Và ông chỉ làm theo ý ông.

        Vụ xử dụng duy nhất độc có lực lượng Nam Cao dọc theo biên giới không phải là mới mẻ gì. Lệnh này đã được chuyển đến cho MacArthur trong huấn thị ngày 27 tháng 9 năm 1950, ngày tái chiếm Hán thành. Thế mà sau một tháng, ngày 24 tháng 10, MacArthur. cho phép các Tướng lãnh của ông xử dụng các lực lượng của mình «mà không cần phân biệt... để chiếm đóng toàn diện Bắc Cao», nại cớ rằng ông không có đủ quân Nam Cao. Hành động vô kỷ luật này đã khiến ông bị ủy ban các tham mưu trưởng quở trách một lần. Bất kể những lý do chính đáng của ông, các tham mưu trưởng yêu cầu MacArthur thông báo sáng kiến của ông trước khi cho áp dụng. Thật vậy các sáng kiến này, đối với họ, tạo thành «cả một vấn đề ưu tư trầm trọng», họ nói với ông như thế.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2019, 05:27:32 AM

        Thoạt tiên MacArthur tuân theo. Nhưng rồi bắt đầu trở lại. Cuộc chiến nho nhỏ này đang dừng lại tại đó, ngay đêm trước ngày cuộc tấn công được tung ra, ngày 24 tháng 11. Nhiều đoàn quân không phải của Nam Cao có mặt tại các mũi tấn công ngay cả tại bờ sông Áp Lục, con sông ngoằn ngòèo có bờ dốc đứng xác định biên giới với Mãn Châu thuộc Trung Cộng.

        MacArthur tung ra cuộc tấn công trên một mặt trận rộng 480 cây số. Rồi một báo cáo gởi cho Liên Hiệp Quốc dưới hình thức một tuyên cáo, bằng văn thức đặc tính chất MacArthur, về một thái độ lạc quan điên cuồng, gây ra niềm lo ngại tiếp theo cho tổ chức.

        Ngày 6 tháng 11 năm 1950, lực lượng của ông lâm vào nguy cơ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngày 24 tháng 11, ông tung các đoàn quân của mình ra trước 850.000 quân trừ bị ngoại quốc mà ba tuần lễ trước đó, đã có thể tiêu diệt quân của ông. «Gọng kềm vĩ đai của các lực lượng Liên Hiệp Quốc, ông viết, bắt đầu hành động phù hợp với chương trình. Không lực đầy đủ đã bảo vệ hoàn toàn cho hậu quân và các cuộc không thám đàng sau phòng tuyến địch và trên suốt chiều dài của biên giới theo sông Áр-Lục đã phát hiện rất ít dấu hiệu hoạt động của địch. Cánh trái của lực lượng bố trí để bao vây đã tiến lên bất chấp một sự kháng cự hung bạo nhưng yếu ớt của địch. Cánh quân bên phải, được yểm trợ hữu hiệu bằng pháo binh trên bộ và hải pháo, tiếp tục khai thác vị thế ưu thắng của mình. Tổn thẩt của chúng tôi rất nhẹ. Hệ thống tiếp liệu hoàn toàn có khả năng yểm trợ các cuộc hành quân tấn công. Chính nghĩa của chúng tôi và viễn ảnh của sự kết thúc sắp đến của sứ mạng đã phản chiếu qua tinh thần quân sĩ cũng như các cấp chỉ huy».

        Tất cả đều tuyệt vời: một cuộc điều quân vĩ đại, ít có hoạt động được chuẩn bị của một địch thủ rõ rệt là bị đánh bất ngờ, một vị thế ưu thắng, tồn thất nhẹ, tiếp liệu hoàn hảo, một chính nghĩa, và một trạng thái tinh thần đáng ngưỡng phục. Vậy thì Lâm Bưu quả thật đã đưa hàng trăm ngàn quân đến sông Áp-Lục để chỉ tổ chức cuộc canh gác. Và đây là lần MacArthur không bị lầm lẫn trong một lời tiên tri, khi ông tuyên bổ với Tổng Thống Truman cách năm tuần lễ trước đó, rằng «nếu quân Trung Cộng tràn xuống Bình Nhưỡng, thì đó là cả một cuộc tàn sát thật sự».

        Trong thực tế, tại Bình Nhưỡng quả đã có một cuộc tàn sát thật sự. Điều đáng buồn duy nhất cho MacArthur, chính là kẻ bị tàn sát không phải là quân Trung Cộng mà lại là quân của ông.

        Chuyện đó xảy ra như một ánh chớp. Quân Trung Cộng để cho quân Liên Hiệp Quốc tiến thật sâu trong hai ngày. Cửa của chiếc bẫy liền sập xuống. Rồi họ phản công. Với hai trăm ngàn quân. Nỗ lực chính của họ tất nhiên là nhắm vào quân Nam Cao ngay chính giữa lực lượng bố trí. Quân đoàn 2 Rok tan rã tháo chạy. Người ta bít khoảng hở bằng hai lữ đoàn quân Anh, một lữ đoàn quân Thổ Nhĩ Kỳ và sư đoàn l kỵ binh Mỹ. Tất nhiên là các đơn vị này không bị tan rã tháo chạy, nhưng rút lui mau lẹ trong khả năng của xe cộ, hơn 60 cây số từ Tokcton cho đến phía nam Sinchang. Hết đạn» quân Thổ phải chiến đấu với lưỡi lê, dao găm. Chính lúc đó quân Trung Cộng tách mũi tấn công trung ương ra làm hai và    khép chặt hai mũi tấn công mới về phía bờ biển phía đông và phía tây. Quân đoàn 10 Hoa Kỳ ở phía đông bị cắt đứt với lộ quân VIII ở phía tây. Và quân Trung Cộng sau khi tiếp nối với quân du kích Bắc Cao liền cô lập hóa quân đoàn 10, trong khi đó họ thọc sâu một cách nguy hiểm vào cạnh sườn phải của lộ quân VIII.

        Khi quân Trung Cộng phản công, chính sư đoàn 1 thủy quân lục chiến Mỹ đang ở vào đầu mối tấn công xa nhất. Lướt qua biên giới Mãn Châu,_sư đoàn tiến gần đến biên giới vùng Tây Bá Lợi Á của Nga Sô ven biển các kho chứa Chongjin. Bằng cách quay trở lui, thủy quân lục chiến hy vọng đánh bọc hậu vào quân Trung Cộng. Nhưng Lâm Bưu — Tướng Willou. hby, người có trách nhiệm về tình báo tại Viễn Đông đã thấy ông ta rõ ràng — không bị khó khăn vì thiếu quân số. Ông ta tung ra một cuộc phản công thứ hai, ngày 27 tháng 11. Lần nầy thành công không mấy sáng chói. Quân Trung Cộng không tiêu diệt được thủy quân lục chiến trong túi phía bắc. Không phải vì sáu sư đoàn Trung Cộng dồn ép quân Mỹ đã không đưa ra những nỗ lực tàn bạo dã man để cô lập hóa hoàn toàn sư đoàn 1. Mà vì các binh sĩ của sư đoàn 1 đã tỏ ra xứng đáng với những người anh em của họ tại Iwo-Jima. Trong mười ngày chiến đấu liên tục, đôi khi bằng lưỡi lê, thủy quân lục chiến mở được đường đến tiếp hợp với sư đoàn 7 bộ binh được yểm trợ bởi sư đoàn 3 bộ binh Rok và sư đoàn Capitole. Giờ đây vấn đề là làm sao đến được một hải cảng trên bờ biển phía đông từ đó đệ thất hạm đội có thể đưa cả quân đoàn 10 lên tàu trước khi bị bao vây. Hải cảng được chọn lựa chính là Hungnam. Đó là lúc bắt đầu một cuộc rút lui dễ sợ suốt một trăm cây số trong vùng núi non dưới cái lạnh buốt xương của vùng Tây Bá Lợi Á. Quân đoàn 10 đến được Hungnam nhờ sức chiến đấu anh dũng của các binh sĩ lấy một chống sáu. Và cũng nhờ sự yểm trợ chu đáo của không quân nữa. Và đệ thất hạm đội cũng đã đến được chỗ hẹn.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:40:18 AM

        Khi ngọn gió đổi chiều quật ngược lại ông, MacArthur có sẵn hai thái độ mà ông nhớ kỹ. ông sụp đổ hay ông phủ nhận điều hiển nhiên. Lần nầy ông lựa chọn thái độ thứ hai, Tờ New York Herald Tribune (chưa bao giờ bị coi là một nhật báo ưa đùa bỡn) có thể viết, dưới chữ ký của người đặc phái viên tại Cao Ly : «Sự kiện tàn bạo và không thể phủ nhận được đang chế ngự chiến trận tại Cao Ly là : một đạo quân Mỹ hùng mạnh được yểm trợ vững chắc bởi không và hải lực, lại có thể bị đánh bại bởi một kẻ địch gần như không có không quân và gần như không có pháo binh và thiết giáp. Sự thảm bại này đã do các khối bộ binh đông đảo của Trung Cộng gây ra, những đạo quân được trang bị nhẹ nhàng đến nỗi có thể vượt qua các trường sơn tại Bắc Cao để tấn công bất thần vào các cạnh sườn trống trải của quân Liên Hiệp Quốc... Hệ thống bố trí nguy hiểm các lực lượng Liên Hiệp Quốc và một «sự vụng dại» to lớn của Tướng MacArthur đã giúp đảm bảo cho sự thành công chiến thuật của địch». Nhưng phần MacArthur thì thật ra ngay từ ngày 27 tháng 10, mặc dầu sự hiện diện của quân Trung Cộng, đã được phát hiện, nhưng ông đã đợi cho đến ngày 23 tháng 11, hai ngày sau khi cuộc phản công của Trung Cộng bắt đầu mới nhấn mạnh đến một «trận chiến hoàn toàn mới» đã «làm tiêu tan mọi hy vọng mà chúng ta (lần này không còn vấn đề «tôi» nữa) nuôi dưỡng về phần bản chất tượng trưng của một cuộc can thiệp của Trung Cộng», và vài tháng sau, ông lại còn mặt chai mầy đá quả quyết trong các buổi điều trần trước Thượng viện :

        «Sự tin tưởng theo đó, các lực lượng của chúng tôi đã rút lui vô trật tự hoặc bị đánh một cách nghiêm khốc là một trong những nỗ lực lớn lao nhất để làm sai lạc sự thật chưa từng bao giờ được thấy... Đấy là một cuộc di tản chiến thuật được kế hoạch hóa ngay từ đầu (chắc chắn lúc khởi đầu này là ngay hôm sau ngày tổng tấn công «vốn sẽ kết thúc chiến tranh về phương diện vật thể» và «cho phép rút hẳn quân lực- đồng minh ra khỏi Cao Ly»)... Lực lượng của chung tôi đã rút lui trong vòng trật tự và theo hình thức tuyệt vời (chính vì thế mà toàn diện quân đoàn 10 suýt bị bao vây và đệ thất hạm đội đã phải bị bắt buộc đưa đoàn quân lên tàu lại)... Từ đầu đến cuối, sự đảo ngược cuộc điều quân là một hành động chiến lược tự ý.»

        Vậy thì tại đây MacArthur đã giải thích một cách lạ lùng rằng cuộc rút lui toàn diện là nằm trong chiến thuật, hơn thế nữa, nằm trong chiến lược của một cuộc tổng tấn công nhất định phải mang lại chiến thắng.

        Song le, sự kiện vẫn là sự kiện. Phải mất mười hai ngày từ 12 đến 24 tháng 12 năm 1950, đệ thất hạm đội mới di tản hết túi Hungnam, 193 chiến hạm chở 105.000 người, và khoảng một trăm ngàn thường dân Cao Ly trong khi pháo binh của hải quân và không quân liên tục che chở ngày đêm cho cuộc di tản.

        Ngay khi được đổ xuống ở phía nam, quân đoàn 10 được sáp nhập với lộ quân VIII. Chính Tướng Ridway — người mang lựu đạn trong túi thay vì khăn tay — sẽ cầm quyền tư lệnh lực lượng này vào ngày 22 tháng 12 năm 1950. Thật vậy vị chỉ huy của ông, tướng Walker vừa bị tử nạn trong một tai nạn xe Jeep, Những sáng kiến đầu tiên của vị chỉ huy mới của lực lượng bộ chiến đã tạo ra những hiệu quả tốt đẹp do tinh thần quân sĩ lúc đó thật sự đang xuống thấp. Đối với quân sĩ, không còn vấn đề để cho bị vướng víu bằng mọi giá với một quân dụng quá nặng đối với các đường mòn trên núi nữa. Và nhất là Midway đã đoan quyết với họ rằng «nắm vững chiến địa tại đây hoàn toàn là việc phụ». Những câu nói ông đưa ra, không ai còn mong gì hơn. Lần thứ nhì quân sĩ đi xuyên qua Cao Ly theo chiều Bắc Nam sau lần theo chiều Nam Bắc. Họ không được chuẩn bị kỹ để bắt đầu lại cho một cuộc hành trình ngược lên phía sông Áp Lục.

        Quân Trung Cộng hiểu danh từ tấn công theo nghĩa khác với MacArthur. Theo họ, cả hành động lẫn từ ngữ đều không có nghĩa là rút lui, Họ tiếp tục hiểu theo nghĩa của họ và với những đoàn quân tăng viện ồ ạt của Bắc Cao được tổ chức lại và từ nay được sĩ quan cán bộ Trung Cộng lãnh đạo từ 1 tháng 1 năm 1951. Họ vượt qua vĩ tuyến 38. Ngày 4 họ chiếm Hán Thành, thủ đô Nam Hàn. Lúc đó McArthur cố gắng lập một mặt trận phía nam sông Han, uốn khúc gần như suốt theo chiều ngang của bán đảo để đồ ra bờ biển phía tây, trong Hoàng Hải. Áp lực của quân Lâm Bưu mạnh đến nỗi lực lượng Liên Hiệp Quốc phải lui quân từng bước. Sau cùng đến ngày 24 tháng 1, mặt trận được ổn định trên một phòng tuyến gần liên tục.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:42:23 AM

        Thế là chấm dứt giai đoạn 3 của cuộc chiến tranh Cao Ly. Đối với một số bình luận gia báo chí Mỹ và quốc tế, thì tại đây, Hoa Kỳ đã bị một trong những cuộc thảm bại nhục nhã nhất trong lịch sử củа họ. Nói thế là quá đáng. Hoa Kỳ bị bại, đúng vậy, vì lỗi của một người chỉ huy quá bị thâm nhiễm bởi chính cá nhân mình. Nhưng quân sĩ Mỹ thì đã chiến đấu với tinh thần can đảm 1ớn lao ngay cả khi vũ khí của họ không được thích nghi hóa với các điều kiện địa phương.

        Trên thế giới tình trạng căng thẳng thần kinh lên đến tột độ. Nhiều người nhìn thấy trong cuộc chiến Cao Ly những bước đầu đưa đến thể chiến thứ ba. Và bởi vì MacArthur bị bại trận nên người ta bắt đầu trách ông là đã vượt qua vĩ tuyến 38. Thế là thiếu ngay thẳng. Bởi vì lần này vị Tổng Tư lệnh quân lực Liên Hiệp Ọuốc chỉ làm theo huấn thị của Lake

        Success ngày 7 tháng 10 năm 1950 tiếp theo sau huấn thị của chính phủ Mỹ ngày 27 tháng 9 năm 1950. Chắc chắn là thoạt tiên các tham mưu trưởng muốn rằng chỉ có quân Nam Cao vượt vĩ tuyến 38 thôi. Tiếp đó họ chỉ yêu cầu MacArthur đừng xử dụng quân Mỹ dọc theo biên giới Trung Cộng và Nga Sô (vả chăng khi mệnh lệnh này không được tuân theo, ông cũng chẳng bị trừng phạt gì). Vậy thì họ hoàn toàn chấp nhận cuộc vượt qua khu vực phân giới, của các đoàn quân Mỹ và ngoại quốc. Không bao giờ người ta có thể gán tôi cho MacArthur là đã nhân cương vị Tổng tư lệnh của ông mà khiêu khích sự can thiệp của Trung Cộng bằng cách vượt vĩ tuyến.

        Vả chăng, nếu ta chuyên chú nghiên cứu các ngày tháng của giai đoan 3 của cuộc chiến, ta sẽ thấy rằng không chắc là cuộc vượt vĩ tuyến 38 của lực lượng ngoại quốc tại Cao Ly là nguyên nhân đưa đến sự can thiệp của Trung Cộng, theo lời đe dọa của Ngoại trưởng Bắc Kinh, Chu Ân Lai được chuyển đi qua trung gian Đại Sứ Pannikkar của Ấn Bộ ngày 3 tháng 10 năm 1950. Thật vậy quân Trung Cộng chỉ bắt đầu tham chiến trong khoảng 25 tháng 10. Những tù binh Trung Cộng đầu tiên bị nhận diện ngày 27. Thế mà lực lượng Liên Hiệp Quốc đã vượt vĩ tuyến 38 ngay khi có nghị quyết ngày 7 tháng 10, sau khi quân Nam Cao tiến vào Bắc Cao. Nếu ta nhớ lại rằng lộ quân VIII chỉ lấy Bình Nhướmg ngày 20 tháng 10 và rằng trong những ngày kế tiếp sự chống cự của Bắc quân gần như không có gì, thì ta có thể kết luận mà không sợ phiêu lưu quá đáng rằng không phải là cuộc vượt làn ranh đình chiến mà chắc là sự bó tay khuất phục của các đồng chí Bắc Cao đã quyết định sự can thiệp của Bẳc Kinh.

        Ngược lại, chính «tinh thần phiêu lưu — như chính người Trung Cộng đã nói — là điều phải bị bài xích nơi MacArthur. Thật vậy ta không thề nào không ngạc nhiên khi thấy ông chẳng chuẩn bị gì cho sự đụng chạm với quân Trung Cộng từ khi được phát hiện trên chiến trường từ ngày 27 tháng 10 và lại đi tung ra một cuộc tổng tấn công ngày 24 tháng 11 trên một mặt trận 480 cây số với 150.000 quân cơ hữu, trong lúc mà ngày 3 tháng 11 chính ông đã thừa nhận là đã biết «lệnh chiến đấu của cộng sản tại Mãn Châu với danh sách chi tiết các đơn vị, địa điểm đóng quân và quân số», Lúc đó ông đã ước tính quân đội chính qui Trung Cộng lên đến 56 sư đoàn tức là 498.000người, ngoài 370.000 dân quân địa phương bị động viên, khiến cho khả năng quân số của Lâm Bưu lên đến 868.000 người. Và mãi đến ngày 6 tháng 11 ông mới thừa nhận chính thức sự can thiệp của Trung Cộng bằng cách đi từ con số 60.000 — con số được thừa nhận trước các ký giả hôm phát động cuộc «tổng tấn công» ngày 24 tháng 11 — đến con số 200.000 vào thứ ba kế tiếp, ngày 28 tháng 11.

        Đối với những người trách ông về cuộc tấn công ngày 24 tháng 11 năm 1950, MacArthur đưa ra tiếp theo đó hai cực bào chữa. Một mặt ông cho «cuộc tiến là cách điều quân quân chắc ăn nhất». Mặt khác ông bị lâm vào thế như một võ sĩ quyền anh bị trói cánh tay ra mặt sau lưng, do sự kiện «hàng mớ hạn chế» được Hoa thịnh đốn áp đặt xuống hành động quân sự của ông.

        Đối với một Tổng tư lệnh, luôn luôn là một điều đáng lo khi thấy một kẻ thù công nhiên hoặc tiềm ẩn, được che chở kỹ bởi các biên giới được ngay cả chính phủ của ông ta hoặc công luận thế giới coi là bất khả xâm phạm, khinh ông ta. Khi ông Tổng Tư lệnh nói đây nhận thấy ông ta bị sẩy chân, thì điều đó làm ông ta trở nên dễ điên tiết và không còn chịu đựng được nữa khuynh hướng tự nhiên không cưỡng lại được là lên án thẳng vào những điều bất hạnh của ông ta và, rất thường tình, muốn giảm thiểu chúng. Quả chắc rằng công trạng vĩ đại và khó khăn của những nhà hữu trách tại Hoa thịnh đốn, cả dân sự lẫn quân sự, trong suốt cuộc chiến tranh Cao Ly, là đã tự chế không chịu nghe theo những lời thuyết phục bóng bẩy và không chịu để cho MacArthur oanh tạc Мãn Châu. Phải nhận rằng nguy cơ của một sự vi phạm biên giới như thế — vốn là nguy cơ của một trận thế chiến — đã là một cái thắng cực mạnh.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:44:50 AM
 
        Về điểm này, lời chứng của Tổng Thống Truman rất là minh bạch và đáng để được trích dẫn :

        Nếu chúng ta mở rộng chiến tranh sang tận Trung Hoa, chúng ta phải chờ đợi những sự trả đũa. Bắc Kinh và Mạc tư khoa bị ràng buộc với nhau cả về ý thức hệ lẫn do các hiệp ước ; vậy thì nếu chúng ta bắt đầu tấn công Trung Cộng, phải tiên liệu rằng Nga Sô sẽ can thiệp. Tất nhiên là chúng ta không muốn chiến tranh cả giới hạn lẫn vô giới hạn, nhưng cả chúng ta lẫn phần còn lại của thế giới cũng không muốn làm nô lệ cộng sản. Từ nay tất cả vấn đề là làm sao để biết liệu chúng ta đã đạt đến một giai đoạn mà sự nô lệ này đe dọa chúng ta đến mức cưỡng chế chúng ta đến chỗ tiêu hủy các thành phố, tàn sát đàn bà và trẻ con hay chưa.

        «Tôi không thể giả thiết rằng Tướng MacArthur có cùng quan điểm này, cùng với những người muốn thấy các kế hoạch của ông được mang ra thi hành. Chắc chắn là Trung Hoa sẽ tung tất cả các lực lượng của họ vào cuộc xung đột nếu chúng ta oanh tạc các căn cứ tại Mãn Châu và tôi tin rằng Nga Sô cũng sẽ can thiệp». Và, xa hơn : «Nếu chung ta oanh tạc các căn cứ tại Mãn Châu, chúng ta sẽ lâm chiến công khai với Trung Hoa đỏ và rất có thể là với cả Nga sô. Thế chiến thứ ba rất có thể sẽ bùng nổ».

        Ngay từ ngày 6 tháng 11 năm 1950 khi ông quyết định thừa nhận một cuộc can thiệp của Trung Cộng mà ông không còn có thể chối cãi nữa, MacArthur đã lôi cuốn sự chú ý của các tham mưu trưởng về tính cách trầm trọng của tình hình do sự kiện «các đoàn quân trừ bị ngoại quốc đang được tập trung đông đảo trong vùng «chính diện có ưu thế» của Mãn Châu. Từ lâu, sự cấm đoán không cho tấn công vào Mãn Châu, phát xuất từ tất cả các huấn thị nhận được từ trước, đã có tính cách của «một mớ hạn chế lộn xộn», đối với ông. Do đó hôm sau ngày 7 tháng 11, ông quyết định phái 90 pháo đài bay B-29 đến phá hủy những chiếc cầu trên sông Áp Lục và cắt những đường giao thông dẫn đến Bắc Cao. Lập tức, ông nhận được lệnh của Tướng Marshall bắt phải bỏ cuộc hành quân này. Điều này chứng tỏ Hoa thịnh đốn, biết minh bạch cấm đoán những gì làm họ không thích thật sự. Ông Tổng trưởng Quốc phòng minh thị từ chối không cho phép ông thực hiện một vài cuộc oanh tạc dầu cho bên trong lãnh thổ Cao Ly cách biên giới Mãn Châu dưới tám cây số. MacArthur tuân theo. Nhưng «với tất cả những lời phản kháng dữ dội nhất». Ông nhấn mạnh rằng một mệnh lệnh như thế có thể làm phát sanh ra những tai biến tệ hại nhất. Để rồi sau cùng được phép oanh tạc «các đầu cầu trên sông Ấp Lục nằm về phía lãnh thổ Cao Ly.» Phải nhận chân rằng việc này giống như một trò đùa có thể mang màu sắc của một sự lẩn tránh trước trách nhiệm về một biến cố sắp xảy ra. Bởi vì về phương diện thực hành, oanh tạc một đầu của chiếc cầu bắc qua một con sông mà hai bờ là vách đá dựng đứng như thế và quanh co như con sông Áp Lục thì quả là một thành tích quá đẹp. Nhưng mà các phi công Mỹ lại gặp phải một hệ thống cao xạ D.C.A quá hữu hiệu của Trung Cộng chỉ chực nổ ngay khi họ bất hạnh phải phá sập một trong vô số khuỷu sông quanh co, với những phi cơ bay quá nhanh không thể nào nhào lộn như họ được yêu cầu. Một hôm, một phi công bị thương gần chết đã thì thầm vào tai MacArthur lúc ông đến thanh sát : «Thưa Thống Tướng, ta thuộc phe nào, Hoa thịnh đốn hay Liên Hiệp Quốc ?» Cảm tưởng này của một người hấp hối, hợp cùng với những ưu tư và những nghi ngờ của ông đã làm cho MacArthur xúc động «đến tận sâu thẳm của tâm hồn», ông viết. Ông quyết định từ chức. Bộ tham mưu của ông nhấn mạnh cho ông thấy rằng quân đội sẽ không hiểu được sự ra đi của ông «trong một thời khắc nguy hiểm như the này». «Chính lúc đó MacArthur quyết định mở cuộc tổng tấn công.

        Biện minh cho quyết định của ông ư? Ông giải thích rằng nếu ông tiến tới, thì «có một cơ may là Trung Công sẽ không can thiệp và chiến tranh sẽ kết thúc» (một cơ may rất mong manh, ta phải nhận chân điều đó, bởi vì quân Trung Cộng đã cất công đến chỗ hẹn). Ngược lại, nếu ông tiến tới và gặp quân Trung Cộng, ông sẽ lùi, sẽ trải dài đường giao thông của địch mà không quân sẽ chiến thắng mau lẹ (thế thì tại sao lại không chuẩn bị cho cuộc rút lui gọi là được dự liệu trước đó ?) Nhưng, ông nói tiếp, nếu ông ở tại chỗ, ông phải chọn lựa một tuyến chống cự liên tục và đào hào đắp lũy cổ thủ tại đấy. Nhưng những lực lượng yếu kém của ông không cho phép ông tổ chức một hệ thống phòng thủ theo chiều sâu có khả năng chặn đứng những đoàn quân Trung Cộng quá đông». Theo ý ông, chiến thuật này đòi hỏi những phương tiện «gấp ba». Thật là một lý luận quá lạ lùng, Như thế, cuộc xâm chiếm Bắc Cao nơi mà quân Trung Cộng đến để bảo vệ, lại khiến cho họ dửng dưng và bất động. Và, hoàn toàn ngược lại, sự chặn đứng cuộc xâm chiếm này, lại khiến cho quân Trung Cộng tung ra về phía trước những «đoàn quân đông đảo сủa họ!

        Vả chăng cũng không cần phải nhấn mạnh rằng sự chứng minh đẹp đẽ này đã hoàn toàn được xây dựng về sau nầy.

        Đứng đầu một phần ba quân số được coi như cần thiết cho một cuộc bố phòng tại chỗ, MacArthur lại đi ước tính rằng «tiến tới là cách điều quân chắc ăn nhất» mặc dầu «sự khiếp nhược của Hoa thịnh đốn»r như ông sẽ viết trong Hồi ký, ban cấp cho Trung Cộng một bức màn che chở của sông Áp Lục.

        Trong thực tế, lý luận của MacArthur sẽ hoàn toàn có thể bênh vực được đối với một chỉ huy trưởng một toán cảm tử quân. Nhưng ít ra nó cũng quá bất ngờ nơi «vị tướng soái vĩ đại nhất của mọi thời đại».

        Vả lại, lập luận ấy sẽ gây ra «tai họa MacArthur» như tờ New York Herald Tribune đã nêu ra trong số ngày 6 tháug 12 năm 1950. Tuy tờ đại nhật báo của đảng Cộng hòa ấy là một người bạn đương nhiên của MacArthur, nhưng cây viết bình luận của tờ báo đã không ngần ngai bêu rêu «điều sai lầm khổng lồ của MacArthur». Ông này còn mặc thị đòi hỏi phải giải nhiệm ông nữa. Thật vậy nhà bình luận đã cho rằng càng ngày càng khó giữ niềm tin về khả năng chiến thuật của một vị Tổng tư lệnh vốn đã kết hợp sự lầm lẫn và sự rối loạn một cách hết sức trầm trọng».

        Và người ký giả đã kết luận bằng những lời lẽ như sau : « MacArthur không còn được thừa nhận như là một giới chức tối cao về mặt chiến lược nữa.»

        Điều mỉa mai là «giới chức tối cao ấy» lại do báo chí — và chính báo của đảng Cộng Hòa — và do ngòi bút của những ký giả bị mê say lạ lùng bởi vẽ khinh khoái của ông ta và bị đầu độc bởi huyền thoại chính do họ sáng tạo, ban cấp cho MacArthur, cho đến mức đẩy ông lên chiếc ngai do chính họ dựng lên.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:48:35 AM

*

*      *

        Bất chấp sự biện minh mà ông đã tìm ra được sau vố khởi cuộc tấn công của ông mà trong thực tế đã hất ông nhục nhã rơi vào cái bẫy của quân Trung Cộng, MacArthur cũng không cắt được đường giao thông của địch. Trái lại chúng lại còn được kéo dài thêm một cách huy hoàng xuống tận Nam Cao nhờ cuộc phản công của địch. Lỗi tai ai nếu không phải là Hoa thịnh đốn ? Và nếu không quân Mỹ không thể cắt được đường giao thông tại Cao Ly, ấy cũng chính là vì Hoa thịnh đốn đã cấm oanh tạc xuống các căn cứ tiếp liệu tại Mãn Châu «một cách không thể quan niệm được». Luận lý trong cách lập luận chẳng đã vô cùng chói sáng đó sao ? Có lẽ không đến mức không cần đến một sự hậu thuẫn mạnh mẽ của báo chí.

        Ngay từ ngày 26 tháng 11 năm 1950, hai ngày sau khi khởi đầu điều mà Tổng Thống Truman gọi là «cuộc tấn công định mạng» của ông khi các đoàn quân được tung ra để tấn công bắt đầu... tháo lui, về phần MacArthur thì dấn thân vào những lời tuyên bố được lặp đi lặp lại nhằm, một măt, «khích động nhiều người ngoai quốc tin rằng chính phủ chúng tôi sắp thay đổi đường lối hành động», Harry Truman viết, và mặt khác, cáo tri «trước thế giới rằng lẽ ra ông ta đã thắng trận nếu chúng tôi không thọc gậy vào bánh xe của ông ta. Nhưng, điều này hoàn toàn không đúng ».

        Thật vậy, bộ tham mưu сủа MacArthur đã tổ chức một chiến dịch báo chí chưa từng có theo một đường lối rất phong phú về mặt thực chất. Ông Tổng tư lệnh chấp nhận hết cuộc phỏng vấn này đến các cuộc phỏng vấn khác, tất nhiên tất cả đều được tuyên bố là «phỏng vẫn độc quyền». Ông trả lời bằng điện tín cả cho một ký giả ít tên tuổi nhất của một tờ báo riêng tư nhãi, vốn có yêu cầu ông cho một lời tuyên bố.

        Sau cùng, Câu hỏi được đặt ra cho ông. Câu hỏi ám ảnh mọi tâm trí trên hoàn cầu, cung cấp chất liệu cho mọi cuộc chuyện trò ngoài đường phố cũng như trong khách sảnh, tạo thành đề tài chính của mọi cuộc thảo luận của các bộ Tham Mưu, các bộ, các phủ Tổng Thống trên thế giới. Câu hỏi mà MacArthur có lẽ rất nóng lòng chờ đợi. Câu hỏi làm nóng bỏng đầu môi mọi công dân Mỹ :

        «Theo ý ông, có căn phải xử dựng bom nguyên tử không ?»

        Không có sự xác định đây là sự xử dụng vũ khí nguyên tử một cách tổng quát (trước hết Trung Hoa bị nhắm đến, việc ấy сố nhiên) hay là nhắm vào các điểm tập trung quân địch bên trong các biên giới Cao Ly.

        «Trong hiện tai, mọi lời bình luận của tôi sẽ bị xoay chiều», MacArthur trả lời ngày 3 tháng 12 năm 1950 bằng điện tín cho một cuộc phỏng vấn — tất nhiên là độc quyền — mà ông được hỏi, bằng điện tín, bởi tạp chí rất nghiêm chỉnh US, Neus and World Report, không hẳn là đã được nổi tiếng nhờ các quan điểm cấp tiến.

        Câu trả lời thật là giảo quyệt. Nó làm cho tất cả mọi ý nghĩa đều có thể được giả định. Và trước hết — Truman có lý — là một sự thay đổi toàn diện về chính sách đang được «tiêu hóa» tại tòa Bạch ốc.

        «Lẽ ra tôi đã phải cách chức ông ta ngay lập tức, Tổng Thống viết, và nếu tôi không làm như vậy, ấy chính là vì tôi không muốn rằng người ta có thể tưởng là ông ta bị chế tài vì cuộc tấn công bị thất bại».

        Tuy vậy, hai hôm sau, Tổng Thống Truman ban hành hai quyết định nếu bề ngoài có vẻ là để áp dụng tổng quát nhưng không kém phần rõ rệt là muốn nhắm thẳng vào MacArthur :

        «Cho đến khi có lệnh viết mới, do Tổng Thống đưa ra, không một diễn văn, thông báo cho báo chí» hay sự xác định lập trường nào, liên quan đều chính sách đối ngoại, còn có thể được công bố mà «không được phép của Bộ Ngoại giao», đây là nội đang huấn thị đầu tiên gởi cho tất cả công chức. Theo huấn thị thứ nhì, mà ủy ban các Tham mưu trưởng đã chuyển để thông báo riêng cho MacArthur, thì «tất cả các viên chức phục vụ tại hải ngoại kể cả các tư lệnh quân đội lẫn các đại diện ngoai giao cần nhận chỉ thị này như là mệnh lệnh bó buộc phải giữ gìn hết sức thận trọng trong các lời tuyên bố công cộng, phải tự giới hạn trong việc thông tin thường nhật liên quan đến công việc của mình và từ chối mọi sự thông báo trực tiếp» dính dáng đến chính sách đối ngoại hay chính sách quân sự, cho báo chí, tập san định kỳ hay các phương tiện truyền thông khác tại Hoa Kỳ».

        Đề tài thật trầm trọng. Nhưng MacArthur có vẻ không thấu đáo lắm. Vốn là người không được nổi tiếng là có óc khôi hài lắm, nhưng ông đã đáp ứng Hoa thịnh đốn bằng lối xoay như vụ. Hôm sau, ông gọi về Mỹ xin Hội đồng Liên quân phê chuẩn bản thông cáo về chiến sự hàng ngày của ông.

        Và cũng bằng cách để tay lên mũi chế nhạo nữa. Ngày 8 tháng 12 năm 1950, ông gởi một điện tín «cảm tạ sâu xa» ông chủ tịch hội Cựu chiến sĩ Mỹ, người vừa nhân danh bốn hội đoàn cựu chiến binh yêu cầu Tổng Thống Truman cho phép oanh tạc Mãn Châu. Tất nhiên là báo chí; mà bức điện tín không được gởi đến cho biết ngay lập tức và chiếm lấy ngay lời tuyên bố này.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:50:53 AM

*

*      *

        Và cuối tháng 12 này, thời kỳ chứng kiến cuộc lui binh — nhưng ngày càng trật tự — của các lực lượng Liên Hiệp Quốc và không phải là đã không giáng cho địch những tổn thất nặng nề, ủy ban các Tham mưu trưởng hỏi MacArthur biện pháp nào ông nhắm phải làm trong trường hợp quân Trung Cộng dồn ông ra biển. Căn cứ theo lời trần tình của Tướng Marshall trước ủy ban điều tra của Thượng viện, dựa vào tài liệu của Bộ Quốc phòng, thì MacArthur đề nghị :

        + Phong tỏa bờ biển Trung Hoa.

        + Tiêu diệt bằng không quân và hải pháo, tiềm lực kỹ nghệ của Trung Hoa nhờ đó mà xứ này có thể theo đuổi chiến tranh.

        + Hội nhập quân của Tưởng Giới Thạch vào lực lượng Liên Hiệp Quốc.

        + Cho phép Tưởng Tổng Tài tổ chức các cuộc tấn công thanh đông kích tây vào các khu vực yếu kém của lục địa Trung Hoa.

        Trí nhớ của Tướng MacArthur thật tuyệt diệu. Song le nó đã phản lại ông, lúc ông ra điều trần trước ủy ban điều tra của Thượng viện tháng 6 năm 1951 về vấn đề này, một vấn đề không kém phần thú vị bởi vì đó là vấn đề mang chiến tranh vào lãnh thổ Trung Hoa không hơn không kém. Lúc đó MacArthur không nhớ rằng đã nhẹ nhàng khuyến cáo các cuộc không thám trên bờ biển Trung Hoa và trên lãnh thổ Mãn Châu. Một sự bắt bẻ ngược trở lại ít hữu hiệu một cách kỳ lạ, được đề nghị do một người mà khẩu hiệu được ưa thích là «không có gì có thể thay thế được chiến thắng». Một người, ngoài ra lại lên án công khai Hoa thịnh đốn là khiếp nhược. Và là người cũng nhân dịp đó, sẽ quên là đã đề nghị kêu gọi đến quân của Đài Loan làm tăng viện... nhưng sau khi đã cấm kỵ việc đó sáu tháng trước thật thế.

        Ngày 9 tháng 1 năm 1951, Hoa thịnh đốn quyết định không cho phép thực hiện các biện pháp đề nghị. Điều này khiến cho MacArthur vặn lại rằng lực lượng của ông «không đủ đề giữ vững các cứ điểm tại Cao Ly». Câu trả lời được đưa đến ngay. MacArthur phải tiếp tục cuộc rút lui trong khi vẫn phải chiến đấu mà không được quên «ưu tiên tuyệt đổi là an ninh của các đơn vị thuộc quyền» và «sứ mạng chính yếu của ông chính là sự bảo vệ Nhật Bản». Nói cách khác : nếu tình thế không xong, ông hãy rút về Nhật!

        Vả chăng cuộc di tản là mối ưu tư chính yếu nơi các Tham mưu trưởng vào giờ khắc đó. Một kế hoạch được thiết lập gồm mười sáu điểm. Được chuyền đến cho MacArthur ngay 12 tháng giêng, kế hoạch gồm có các biện pháp báo thù về kinh tế và ngoại giao chống lại Trung cộng. Hai ngày trước, ông tung ra một lời cảnh giác Đại đồng Liên quân : «Căn cứ vào các hạn chế kỳ lạ mà Tổng Tư lệnh quân lực tại Cao Ly bị áp đặt, cũng như tôi đã nhấn mạnh với quí ông, tình hình quân sự của chúng tôi không còn có thể giữ được nữa. Tuy vậy chúng tôi sẽ giữ, nếu những nhận định chinh trị cấp cao bắt buộc, trong thời gian cần phải giữ và cho đến lúc bị tiêu diệt hoàn toàn». Đấу là một dự tính hoàn toàn trái ngược với các huấn thi nhận được hôm trước. Điều nay cũng không ngăn được, năm tháng sau, nhân khi ra trước Thượng viện làm chứng, MacArthur không hề ngần ngại một chút nào đã quả quyết: «Uỷ ban các Tham mưu trưởng đã không tin chắc rằng chúng tôi có thể giữ vững vị trí tại Cao Ly. Cá nhân tôi thì nghĩ rằng điều đó có thể được...»

        Nhưng những câu dũng cảm của MacArthur đã làm cho Tổng Thống Truman lo âu, dầu niềm tin của ông nơi ông Tham mưu trưởng có lẽ đã giảm bớt. Ngày 13 tháng 1 năm 1951, trong một thông điệp gửi quốc dân, ông xác định các mục tiêu của Hoa Kỳ tại Cao Ly. Rồi ông nêu ra nhu cầu sống còn mà Hoa Kỳ cần nơi các Đồng minh trong trường hợp có cuộc gây hấn của Nga sô. Thật vậy vấn đề đã bắt đầu được đặt ra trong mối tương quan giữa Hoa Kỳ và các Đồng minh Âu Châu. Những nước này lo âu về vấn đề vị trí của Mỹ tại Cao Ly. Dầu cho Truman muốn hay không muốn, vị thế ấy cũng được tượng trưng bởi sự kiện và cử chỉ — và nhất là những lời bình luận — của MacArthur. Chính vì vậy Tổng Thống mới nêu ra «mối hiểm nguy của một số biện pháp có thể có vẻ được biện minh hay có bản chất giúp đỡ cho chiến trận tại Cao Ly» nhưng lại không được «tốt nếu chúng đe dọa lôi kéo Nhật Bản và Tây Ấu vào các sự thù nghịch quá lớn rộng». Điều này nhằm mục đích làm dịu bớt thái độ chủ chiến nhiệt thành quá nơi một phần quan trọng của công luận Mỹ và một thiểu số công luận Âu châu. Thật vậy cánh hữu tại Âu châu cảm thấy bị lòng can đảm hiếu chiến tuyệt vời rằng buộc. Lý do rất đơn giản, nếu không phải là rất có tính cách thiên chúa giáo. Bộ không nên lợi dụng điều mà Hoa Kỳ đang còn một mình gây sấm sét, để tận diệt chủ nghĩa cộng sản dưới hình thái vài triệu người Trung Hoa sao? Nhưng ai là người có thể khẳng quyết là Nga Sô, với quả bom A nổ lần đầu tiên ngày 23 tháng 9 năm 1949 và với các vũ khí nguyên tử chưa đến trình độ có thể mang ra xử dụng — người ta ước tính như thế — nên cũng phải sợ bị đặt dưới một cuộc oanh tạc nguyên tử, sẽ dám xâm chiếm Âu châu mà rõ ràng là Nga đang ngấp nghé ? Маy thay cho thế giới, nhờ sự phò tá của các cố vấn quân sự, Harry Truman nhìn xa hơn là đầu mũi của ông. Và nhìn cao hơn. Ông khuyến cáo «sự cực kỳ thận trọng» tại Cao Ly, «trong khi chờ đợi tái lập lại sức mạnh quân sự quốc gia». Ông nhận rằng ở đấy «một cuộc chống cự kéo dài không thể nào duy trì được, về mặt quân sự, với những lực lượng giới hạn mà MacArthur có trong tay để chặn đứng những đạo quân đông đảo của Trung Cộng». Chính vì vậy Tổng Thống Hoa Kỳ đề nghị tiếp tục «công cuộc kháng cự trên các đảo thuộc duyên hải Cao Ly». Song le ông lớn tiếng khẳng quyết rằng nếu Hoa Kỳ phải rời khỏi Cao Ly thì thế giới phải biết rằng «biện pháp này» là «do tình hình quân sự gợi ra» cho họ và rằng họ sẽ «không bao giờ chấp nhận kết quả, cả về phương diện chính trị lẫn quân sự, khi nào mà cuộc xâm lăng chưa chấm dứt tại Cao Ly.»

        Lời tuyên bố này rơi xuống như một tai vạ bất ngờ cho dân Mỹ, một dân tộc mạnh nhất thế giới về mặt kinh tế và là một dân tộc cách đó không đầy sáu năm đã chiến thẳng vẻ vang trong một cuộc đương đầu thảm khốc nhất chưa từng thấy trên địa cầu. Đoạn cuối của bản tuyên bố đã không được soạn thảo để làm cho dân Mỹ yên lòng. Bốn mươi tám ngày sau sự thất bại vang dội của MacArthur, Tổng Thống Truman đã phủ đầy hoa lên ông Tướng. Nhưng hoa có mùi nghĩa địa. Ông cam đoan rằng «toàn thể dân tộc biết ơn ông ta về cung cách tuyệt mỹ của ông ta trong khi nắm quyền Tổng tư lệnh ngay giữa trận đánh khó khăn ấy». Rồi ông kết thúc bằng một sự giã từ vũ khí thật sự khi «cám ơn quân đội đã chu toàn những chiến công đáng kể trong những hoàn cảnh đặc biệt tế nhị».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:51:57 AM

*

*       *

        Ngay tại Cao Ly, lực lượng Liên hiệp Quốc tiếp tục tháo lui, chắc chắn rồi, nhưng vẫn chiến đấu trên từng thước đất. Nói thật ra, cuộc tấn công ngày 1 tháng giêng năm 1951 của Trung Cộng đã giảm bớt phần gay gắt. Nếu phòng tuyến liên tục được chuẩn bị tại phía nam sông Han không thể giữ được, thì ngay lúc đó quân Trung Cộng cũng không thể tiến xa hơn. Đường giao thông của họ đã bị kéo dài quá. Ngày 24 tháng giêng (hai ngày trước sinh nhật thứ 71 của MacArthur), ngọn triều quân Trung Cộng rốt cuộc tan biến.

        Tình trang hụt hơi này đã được hai vị Tham mưu trưởng Collins và Vandenberg với sự tháp tùng của tướng Walter Bedell Smith, chỉ huy trưởng cơ quan CIA, nhận thấy khi họ đến thanh sát mặt trận trong 15 ngày đầu của tháng giêng. Tình trạng đó đã làm sững sờ ba nhân vật vốn đến Cao Ly để chuẩn bị cuộc di tản. Thật ra, vị tư lệnh lộ quân VIII chẳng lạ gì tình trạng ấy. Matthew в. Ridgway đã nắm vững lại đạo quân một cách đáng ngạc nhiên. Ông còn thành công cả trong một vài trận đánh địa phương. Rồi đến ngày 25 tháng 1, ông tung ra một loạt tấn công ở phía đông, trong khi phía tây, các đạo quân của ông tiến được 80 cây số và lại vượt qua vĩ tuyến 38. Ngày 14 tháng 3 năm 1951, Hán thành, thủ đô Nam Cao, được quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm lần thứ hai và ngày 3 tháng 4, tất cả lực lượng lại đặt chân lên Bắc Cao.

         Ridgway không xử dụng cùng chiến thuật của MacArthur. Những cuộc tấn công ngắn và liên tục của ông đã làm địch quân mệt lử và ngăn không cho địch chuẩn bị một cuộc tấn công qui mô. Quả là ít ngoạn mục hơn một cuộc tấn công ồ ạt kiểu MacArthur. Nhưng lại thành công bất kể sức mạnh chống cự của Trung Cộng có sẵn một lực lượng pháo binh hùng mạnh. Vì càng ngày tình trạng càng rõ ràng rằng chính Ridgway là kẻ cầm dây cương chủ động. Từ đó ủy ban các Tham mưu trưởng rất thường chuyền chỉ thị thẳng cho ông. Chẳng phải ông là người chỉ huy đạo quân Mỹ duy nhất tham chiến, lộ quân VIII, vì quân đoàn 10 từ Bắc Cao rút về hồi cuối tháng 12 đã sáp nhập vào lực lượng của ông rồi là gì ? Đấу cũng là hậu quả của sự nghi ngại ngày càng lớn lao của ông Tổng trưởng Quốc phòng, Tướng Marshall và của ông Tổng Tham mưu trưởng, Tướng Omar Bradley, đối với MacArthur.

        Nếu tình thế đã trở nên rõ rệt rằng khi được chỉ huy đúng đắn, lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không bị hất ra biển — trừ phi có một nỗ lựa mới mà dường như quân Trung Cộng không sẵn sàng đề đưa ra —  thì một chiến thắng hoàn toàn không còn được nghĩ đến nữa. Tại Hoa thịnh đốn cũng như tại Lake Success, từ đó, một trận đánh thủ huề có vẻ như làm cho tất cả mọi người hài lòng. Nhiều cuộc thương thuyết ngưng chiến đã bắt đầu ám ảnh tâm trí và các câu chuyện của nhiều người. Chúng được cụ thể hóa ngày 10 tháng 7 năm 1951. Các cuộc thương nghị được mở ra tại Kaeson. Mãi hai năm sau hòa đàm mới đạt kết quả, ngày 20 tháng 7 năm 1953 tại Bàn Môn Điếm».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2019, 09:53:02 AM
       
*

*      *

        Ta chưa đến lúc đó, vào đầu tháng 3 năm 1951 khi các sư đoàn của Tướng Ridgway tỉa dần hết cứ điểm này đến cứ điểm khác của quân Trung Cộng tại Nam Cao. Và không phải là vì quân của Lâm Bưu bắt đầu nao núng đôi chút mà Tổng Thống Truman và các cố vấn quân sự của ông sẽ thay đổi ý kiến để tin rằng việc nới rộng chiến tranh lên lãnh thổ Trung Hoa sẽ mang lại chiến thắng vốn không thể nào đạt được ngay trên đất Cao Ly, Marshall thì chống lại. Bradley cũng thế. Và khi Quốc hội nhóm họp để nghe bài diễn văn hồi hương của ông ngày 19 tháng 4 năm 1951, rồi nhân khi ra làm chứng trước Uỷ ban hỗn hợp Thượng viện trong tháng 5, MacArthur sẽ khẳng quyết với sự chắc nịch mà cuộc bại trận ông phải gánh chịu đã không làm ông chối bỏ trách nhiệm rằng quan điểm của ông được chia xẻ «bởi hầu hết các lãnh tụ quân sự có dính líu đến cuộc chiến tranh Cao Ly, kể cả uỷ ban các Tham mưu trưởng» ông đã đụng đầu phải một sự cải chính minh thị của Hội đồng Liên quân.

        Trong tâm trí MacArthur, chỉ có các chính khách — và do đó, vì các lý do nội tại thấp hèn —  mới có thể từ chối giải pháp của ông. Tức là tấn công con giao long Cộng Sản Á Châu vào ngay sức mạnh chính yếu của nó, nói cách khác là tấn công vào Trung Cộng. Như thế, không thể chiến thắng với một đoàn cảm tử quân bên ngoài, ông muốu lôi kéo toàn thể quân đội vào vòng chiến. Với các phương tiện khác, thật thế. Dầu cho ông chưa có can đảm nói rõ tư tưởng của mình ra. Chưa một lần nào ông ám chỉ thẳng đến việc dùng vũ khí nguyên tử. Ông đành dẫn ý vậy.

        Đối với ông, đây là cả một âm mưu chống lại dân tộc. Do đó cần phải làm cho dân Mỹ hiểu rằng, những người lãnh đạo của họ, bị quân cộng sản nằm vùng cho vào bẫy, sẽ đưa họ đến chỗ chễt. Bị rung chuyển mạnh mẽ bởi các cuộc điều tra về hoạt động của chính phủ do hai thượng nghị sĩ Kefauver và Fullbright chủ xướng, chính phủ của Truman chắc chắn không dại gì chuốc lấy sự giận ghét của thêm một phần công luận nữa bằng cách nghiêm trị MacArthur.

        Để thuyết giảng cho cuộc vận động kịch liệt mới của mình, ông liền đăng đàn ngày 7 tháng 3 năm 1951. Nói cách khác, ông ngỏ lời với người đối thoại được ưa thích nhất : báo chí. Sau một cuộc thanh sát mặt trận Cao Ly, ông tiên liệu « một cuộc tàn sát dã man» các đơn vị của ông bởi một đoàn quân vốn đã từng «xảo quyệt tấn công không báo trước, trái với mọi quân lệ chiến tranh» một đoàn quân đã chứng tỏ cho thấy «hoàn toàn khinh thường tính cách thiêng liêng của mạng sống con người, nếu các quyết định khẩn cấp, trên tầm mức quốc tế cao cấp nhất, không được ban hành». Nói cách khác (nhưng luônluôn hiểu ngầm), nếu chiến tranh không được mang vào lãnh thổ Trung Cộng. Và nhân  danh, điều đó hẳn nhiên, tính cách thiêng liêng của mạng sống con người.

        Một tuần lễ sau những lời tiên tri kinh khủng đó... lực lượng Liên Hiệp Quốc tái chiếm Hán thành.

        Ngày 8 tháng 3 năm 1951, hôm sau ngày MacArthur công bố cho báo chí những điều tiên đoán bi thảm của ông, lãnh tụ thiểu số tại Hạ viện gởi cho ông một bản sao bài diễn văn trong đó ông ta «đề nghị dùng lực lượng của Tướng Tổng Tài để mở một mặt trận thứ hai tại Á châu nhằm làm giảm áp lực đang đè nặng lên quân Mỹ tại Cao Ly». Trước khi lập lại đề tài này trong một diễn văn truyền thanh, Joe Martin muốn có ý kiến «hoặc dưới hình thức mật, hoặc dưới hình thức khác» của con người mà «số lượng những kẻ ngưỡng mộ là đông vô kể».

        Vị dân biểu cộng hòa là một người ủng hộ trung thành của MacArthur. Trong suốt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, hai người đã trao đồi với nhau những thư từ đề cập đến các vấn đề chính trị chiến lược rất được nhiều người theo dõi.

        Sau hơn một tuần lễ suy nghĩ, ngày 20 tháng 3, MacArthur trả lời cho Joseph Marttin :«Quan điểm và những khuyến cáo của tôi liên quan đến tình thế gây ra do sự tham chiến của Trung Hoa đó chống lại chúng ta tại Cao Lỵ, đã được trình về cho Hoa thịnh đốn với rất nhiều chi tiết. Vả chăng, về toàn bộ, chúng cũng được biết và được nhiều người hiểu rõ, bởi vì chúng được gợi ra từ nguyên tắc cổ điển theo đó ta phải trả đũa sự xử dụng sức mạnh bằng một một sức mạnh chống lại tối đa, như chúng ta đã không quên thực hiện trong quá khứ. Ý kiến của ông liên hệ đến sự xử dụng các đơn vị Trung Hoa của Đài Loan không phải là không tương hợp với cả luận lý ẩn nguyên tắc này.

        «Một số người có vẻ ý thức một cách khó khăn lạ lùng rằng tại đây, tại Á châu, những âm mưu của cộng sản đã quyết định chơi xả láng để chinh phục toàn thế giới và chúng ta đã chấp nhận thách đố bằng cách lao vào cuộc chiến; rằng tại đây chúng ta đang tung ra trận chiến tranh của Âu châu bằng vũ khí thật sự trong khi các nhà ngoại giao vẫn còn đánh đấm với những danh từ và rằng nếu chúng ta thua, thì sự sụp đổ của Âu Châu sẽ không tránh khỏi, trong lúc đó nếu chúng ta thắng, thì cựu lục địa chắc chắn sẽ tránh được sự khởi đầu các hành động thù nghịch mà vẫn giữ nguyên được từ do. Như ông đã nhấn mạnh rất đúng, chúng ta phải thắng. Không có gì có thể thay thế được chiến thắng».

        Trong bức thư gởi cho một vị dân biểu này, mà bề ngoài quên mất rằng mới 8 tháng trước ông đã khuyên các Tham mưu trưởng đến thăm Đông Kinh đừng nhận đề nghị cung cấp 33.000 quân của Tưởng Giới Thạch, MacArthur tấn công trực tiếp vào Tổng Thống Truman và các cố vấn của ông. Tất nhiên chính họ là những người cảm thấy khó khăn lạ lùng để hiểu biết. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ lại bị đặt thành vấn đề. Đấy là cả «một sự thách đố thật sự đối với chính sách quốc gia», Truman viết. Tại Cao Ly đối với MacArthur, vấn đề không còn là bảo vệ Cộng hòa Nam Cao bị Bắc Cao tấn công nữa. Cũng không còn có vấn đề áp đặt sự thống nhất Cao Ly và các cuộc bầu cử tự do nữa. Lại cũng không còn có vấn đề tránh một cuộc xâm lăng mới của Cộng sản tại nơi khác trên thế giới bằng cách chứng minh cho những dân tộc bị xâm lăng rằng họ có thể sở cậy vào sự che chở của Hoa Kỳ nữa. Giờ đây vấn đề là thắng trận trước toàn bộ khối cộng sản tại Á Châu. Mà tại Á châu, chắc chắn là trước hết cộng sản được tượng trưng bằng Trung Cộng. Nhưng Nga Sô cũng là một cường quốc Châu Á. Biên giới tại Tây Bá Lợi Á của Nga chạy viền theo lãnh thổ Mãn Châu và Cao Ly. Do đó, chiến thắng «những tên cộng sản âm mưu» tại Á châu tức là nghiền nát Trung Cộng và Nga Sô. Để mở một dấu ngoặc, dự án này không thiếu phần tham vọng quá đối với những người đã không thắng được xứ Bắc Cao tí hon chỉ được hậu thuẫn bởi một đoàn đại diện quân đội Trung Cộng tương đối khiêm nhường.

        Vậy là dễ tiêu diệt cộng sản tại Á châu, MacArthur không thấy rằng cơ nguy của một trận thế chiến thứ ba là quá đáng.

        Thông điệp trên đây của MacArthur gởi cho Joseph Martin không mang một bày tỏ nào liên quan đến tính cách riêng tư nào. Vị dân biểu của tiểu bang Massachusetts giữ chặt nó một cách quí giá trong tủ sắt của ông.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2019, 02:49:50 PM

*

*      *

        Trong lúc Joseph Martin khóa kỹ chiếc tủ sắt và bỏ chìa khóa vào túi thì các Tham mưu trưởng cảnh giác MacArthur, ngày 21 tháng 3 năm 1951, rằng «giờ đây Nam Cao đã được giải phóng, Liên Hiệp Quốc sẵn sàng thảo luận các điều khoản của một sự dàn xếp». Hội đồng Liên quân tiên liệu rằng «các nỗ lực ngoại giao mới phải được toan tính trước mọi cuộc tiến quân vượt khỏi vĩ tuyến 38*. Hội đồng cũng nhấn mạnh rằng «cần phải có thời gian trước khi biết được phản ứng của các nhà ngoại giao và trước khi các cuộc thương thuyết có thể bắt đầu».

        MacArthur bất chấp. Ông sẽ không để cho các nhà ngoại giao có thì giờ rảnh rỗi để chiến đấu chống cộng bằng lời nói. Bốn ngày sau, ngày 25 tháng 3, một quả bom mới của ông lại nổ bùng ngay giữa Hoa thịnh đốn. Dưới hình thức một «thông cáo thường lệ» ông gọi một cách trân tráo như thế. Một thứ thường lệ lạ lùng. Dưới sự đe dọa mang chiến tranh vào lãnh thổ Trung Cộng, MacArthur đòi hỏi riêng cho mình sự đầu hàng của Trung Cộng tại Cao Ly : «Bất chấp các sự giới hạn áp đặt lên hoạt động của lực lượng Liên Hiệp Quốc, ông tuyên bố, và lợi thế mà Trung Hoa có thể rút ra từ đó, xứ này đã chứng tỏ không có khả năng chinh phục Cao Ly bằng sức mạnh. Trong những điều kiện này, địch phải tin tưởng một cách nhọc nhằn rằng nếu Liên Hiệp Quốc bỏ thái độ quảng đại được tổ chức chấp thuận để giới hạn chiến tranh trên lãnh thổ Cao Ly và quyết định nới rộng các cuộc hành quân đến vùng duyên hải và vùng nội địa kế đó của Trung Hoa đó, xứ này sẽ lâm vào nguy cơ bị sụp đổ hoàn toàn về mặt quân sự. Một khi đã xác định các sự kiện căn bản đó rồi thì chẳng phải khó khăn gì mà không lay được các quyết định liên quan đến vấn đề Cao Ly, bằng cách giả định các cuộc thảo luận được giới hạn chỉ trong các yếu tố ấy mà không để lẫn lộn vào các vấn đề ngoại lai, như vấn đề Đài Loan và chiếc ghế của Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc.

        «... Ngoài khía cạnh quân sự của vấn đề vốn có thể  tìm thấy câu trả lời qua các trận đánh, các vấn đề căn bản vẫn tiếp tục mang tính chất chính trị và phải tìm thấy các giải đáp trong các giới ngoại giao, trong những giới hạn liên hệ đến chức vụ Tổng Tư lệnh của tôi (sic), cũng chẳng cần phải nói rằng tôi luôn luôn sẵn sàng hội họp với Tổng tư lệnh quân lực địch để tìm kiếm và khám phá ra các phương tiện quân sự có thể đạt tới những mục tiêu chính trị (!) mà Liên Hiệp Quốc nhắm đến tại Cao Ly, theo đó không một xứ nào có thể chống lại một cách đúng đắn mà không kéo dài cuộc đổ máu.

        Khi đọc «bản thông cáo thường lệ, lúc sắp sửa ra mặt trận» này, ta có cảm tưởng là đang có chuyện với một vị Quốc trưởng hơn là một Tư lệnh quân sự đơn thuần, với quyền hành hạn chế. Và quả chính là trong cái cảm tưởng do toàn thế giới cảm thấy đó mà cả một loạt những lời phản đối hòa điệu dâng cao. Riêng phần Tổng Thống Truman, thì uy quyền của ông bị công khai thách đố bởi một thứ đảo chính quân sự kiểu Nam Mỹ, Pronuncíamiento — như ông mệnh danh — của một quân nhân trong tình trạng bất tuân thượng lệnh trước vị Tổng tư lệnh của mình (Tổng Thống Hoa Kỳ) và đang nhạo báng tính cách tối thượng của quyền hành thuộc cơ quan dân sự do Hiến Pháp qui định. Harry Truman cảm thấy «bị đụng chạm dữ dội». Vả lại không tìm thấy một lời giải thích nào về các lời tuyên bố của MacArthur kể từ tháng 11 và từ khi Trung Cộng nhảy vào vòng chiến tại Cao Ly. khác hơn là «trong nhãn hiệu của một con người đang đóng tuồng để triển lãm» và «chủ tâm cho thấy không có một ai ngoài ông ta lại có thể thấy được ban cấp cho công lao chấm dứt cuộc chiến», nên Tổng Thống quyết định cách chức quyền Tổng Tư lệnh của MacArthur.

        Song le, ông vẫn còn giữ im lặng, mặc dầu về sau ông thú nhận : «Nếu chúng tôi có lỗi, ấy là vì đã quá nể trọng danh tiếng về quân sự của ông ta». Chỉ có một ban văn đanh thép được gởi đến Đông Kinh. Hội đồng liên quân nhắc lại cho ông Tổng Tư lệnh nhớ rằng các lời tuyên bố của ông phải được đệ trình cho chính phủ, và nếu vì ngẫu nhiên ông nhận được đề nghị đình chiến của đối phương, ông cũng sẽ phải «báo cáo về» và phải «chừ chỉ thị».

        Người ta nói rằng ông Tổng Thống Hoa Kỳ đáng thương, quá tế nhị với một người công khai chế nhạo ông, chức vụ của ông, sẽ ngậm đắng nuốt cay chịu đựng đến cùng. Không đầy hai tuần lễ từ khi «bản thông cáo thường lệ» được công bố, dân biểu Joseph Martin lên diễn đàn Hạ viện. Nại cứ rằng «nhân dân Mỹ phải được thông báo các tin tức mà ông có, phát xuất từ một nguồn tin rất cao cấp và rất đáng tin cậy», ông dân biểu của tiểu bang Missachusetts đọc bức thir mà MacArthur gửi cho ông ngày 20 tháng 3.


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2019, 02:50:14 PM

        Tổng Thống Truman triệu dụng các Bộ trưởng và các cố vấn dân sự cũng như quân sự. Trước hết là vào ngày hôm sau, thứ sáu 6 tháng 4. Mọi người Acheson, Marshall, Bradley, Harriman, đều được hội ý kiến. Harriman nghĩ rằng MacArthur lẽ ra phải bị cách chức từ hai năm trước vì đã chấp nhận một đạo luật của Quốc hội Nhật trái ngược với các chỉ thị về kinh tế mà ông đã nhận được. Marshall thì xin được suy nghĩ. Ông Tổng trưởng Quốc phòng sợ rằng sự cách chức MacArthur sẽ gây khó khăn trong việc biểu quyết kinh phí quân sự tại Quốc hội. Đồng ý trên sự kiện là một thái độ vô kỷ luật đặc biệt nlur vậy đòi hỏi phải thay thế chức vụ Tổng tư lệnh, nhưng Bradley muốn tham khảo ý kiến Hội đồng Liên quân, Acheson. người xét đoán rằng sự cách chức tự nó là một điều cần thiết, lưu ý Tổng thống về các khó khăn chính trị từ chuyện nảy phát sinh ra đối với ông. «Nếu Tổng Thống cách chức MacArthur, ông Ngoại trưởng lưu ý thì cả nhiệm kỳ của Tổng Thống sẽ là một cơn lộn xộn dài».

        Sáng hôm sau, ngày thứ bảy 7 tháng 4, mọi người gặp nhau lại. Truman vẫn không đã cho thấy là ông đã quyết định. Tướng Marshall tuyên bố ủng hộ quyết định triệu hồi, một quyết định mà, ông nói thêm, sau khi tham khảo hồ sơ, lẽ ra phải được áp dụng hai năm trước. Ông Tổng tham mưu trưởng, tướng Bradley còn xin thêm thời hạn để suy nghĩ cho đến sáng thứ hai.

        Tổng Thống Truman dành suốt ngày chúa nhật để suy nghĩ và để đàm luận với Acheson và Snyder.

        Sáng thứ hai 9 tháng 4, Tướng Bradley mang câu trả lời đến Blair House. Toàn thể các thành phần của hội đồng liên quân đều thầm định rằng Tướng MacArthur phải bị cách chức. Những người khác có tham dự cuộc họp ngày 6 tháng 4 xác nhận rằng họ đều ủng hộ quyết định triệu hồi. Chính lúc đó Tổng Thống Truman mới loan báo với họ rằng ông đi quyết định — quyết định của họ — ngay từ lời tuyên bố của MacArthur, ngay 24 tháng 3. Bradley được giao cho nhiệm vụ thảo mệnh lệnh cùng với Acheson, bởi vì MacArthur cũng đồng thời chỉ huy các đoàn quân Đồng minh. Lúc 15 giờ 15, chiều thứ hai 9 tháng 4, trước cùng một nhóm người đó, Truman ký các mệnh lệnh.

        Chính ông Thứ trưởng Lục quân Pace, đang đi thanh tra tại Cao Ly là người nhận các mệnh lệnh đó qua trung gian của đại sứ Mỹ Muccio và phải tống đạt cho MacArthur tại Đông Kinh. Về phần Acneson thì bắt đầu báo cho lãnh tụ các nhóm tại Quốc Hội Nhưng Pace thì đang cùng với Ridgway ở ngoài mặt trận. Việc chuyển các mệnh lệnh bị trễ khi Bradley rời Blair House trong đêm 10 tháng 4. Nội vụ bị tiết lộ ra ngoài. Một tờ báo tại Chicago đang in nội dung các mệnh lệnh ấy. Bất cần các hình thức.

        Lúc 1 giờ sáng đêm thứ hai ngày 9 rạng thứ ba 10 tháng 4, Tổng Thống Truman mở cuộc họp báo được triệu tập vội vàng, ông chuyển cho họ ba tài liệu. 

        «Cuộc thảo luận ngay thẳng và mạnh dạn những vấn đề về chính sách quốc gia của chúng ta tất nhiên là một yếu tố sống động thuộc hệ thống hiến pháp của nền dân chủ tự do của chúng ta, Tổng Thống nói. Tuy nhiên, điều quan trọng chủ yếu là các lãnh tụ quân sự phải khép mình vào các huấn thị và chỉ thị gởi cho họ theo luật lệ và hiến pháp. Trong thời kỳ khủng hoảng, nhu cầu này lại đặc biệt có tính cách quan trọng.

        Chỗ đứng của Tướng MacArthur trong lịch sử hoàn toàn được xác định rồi. Dân tộc có một món nợ tri ân đối với ông về những công lao đặc biệt và cao quí mà ông đã phục vụ Hoa Kỳ trong những chức vụ có trách nhiệm nặng nề. Vì lý do này, tôi lặp lại một lần nữa niềm tiếc hận về phần quyết định mà tôi bị bắt buộc phải chọn đối với ông ta».

        Tài liệu thứ hai là mệnh lệnh chuyển cho MacArthur. «Lệnh của Tổng Thống cho Tướng MacArthur. Tôi rất lấy làm tiếc là bổn phận của Tổng Thống và của Tổng Tư Lệnh tối cao Quân lực Hoa Kỳ bắt buộc tôi phải giải nhiệm ông trong các chức vụ Tổng tư lệnh tối cao Quân lực Đồng Minh, Tổng tư lệnh quân lực Liên Hiệp Quốc, Tổng tư lệnh ở Viễn Đông và Tư lệnh các lực lượng bộ chiến của Hoa Kỳ tại Viễn Đông.

        Ông phải bàn giao ngay lập tức thẩm quyền cho Đại Tướng Matthew B.Ridgway. Tuy nhiên ông được phép ban hành những mệnh lệnh cần thiết cho cuộc hành trình đến một nơi nào mà ông chọn lựa.

        Các lý do của sự thay thế ông sẽ được công bố ngay lúc ông nhận được mệnh lệnh này.»

        Riêng trong tài liệu thứ ba, thì Tổng Thống chính thức giao các trách nhiệm mới cho Tướng Ridgway.

        Tối thứ ba 10 tháng 4, Tổng Thống Truman đọc thông điệp trước quốc dân để giải thích quyết định của ông. Ông kết luận :

        «Các dân tộc tự do đã thống nhất sức mạng trong một nỗ lực để tránh một trận thế. chiến thứ ba. Chiến tranh có thể xảy ra nếu các lãnh tụ cộng sản muốn thế. Nhưng dân tộc ta và các Đồng Minh sẽ không gánh lấy trách nhiệm khai mào chiến tranh».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2019, 02:52:32 PM

*

*       *

        Nơi đầu tiên mà MacArthur chọn lựa để chính là Hoa thịnh đốn. Với một tinh thần Fair-Play còn hơn cả người Anh nữa, Tổng thống Truman cho ông biết rằng ông ta sẵn lòng để ông nói chuyện với Quốc Hội Mỹ ngay khi ông trở về.

        Vinh dự này, vốn được dành cho rất ít người tại Mỹ và trên thế giới, đã băng bó lại vết thương hở miệng, không những chỉ vì sự cách chức mà còn vì phương thức thi hành sự cách chức ấy nữa. Sau năm mươi hai năm phục vụ xứ sở — những sai lầm to lớn của ông, to lớn ngang tầm vóc con người khổng lồ này, trong trường hợp này không được kể đến — quả thật MacArthur đã bị «đuổi về theo kiểu chưa bao giờ một nữ quản gia nào hay một nữ gia nhân nào bị như thế, bất kể những hình thức sơ đẳng nhất, của phép lịch sự», ông than phiền. Và ông có lý, mặc dù chính ông cũng có đôi phần quên mất những qui tắc của phép lịch sự sơ đẳng này, và đối với Tổng Thống Hoa Kỳ từ một năm nay. Bởi vì không phải do chính cửa miệng của ông Thứ Trưởng Lục quân Расе mà MacArthur được biết quyết định cách chức ông.

        Ngày 11 tháng 4 lúc 15 giờ, giờ Đông Kinh, Thống tướng MacArthur vừa ăn trưa xong cùng với bà vợ, trong chỗ cư ngụ tại toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Jeannie Faircloth được điện thoại vốn không bao giờ xen vào công chuyện của chồng, mặc dầu bà không hề rời ông nữa bước trong suốt thời kỳ chiến tranh, mà không phải là ôngTướng?

        Khi Jean-Marie trở lại phòng khách, mặt bà tái mét. Người tùy viên của ông Tướng vừa chuyển đến cho bà một điệp văn bắt được trên một trong những làn sóng phát thanh tại Hoa Kỳ, một điệp văn được tất cả các đài phát thanh ngưng ngang chương trình thường lệ để truyền đi : «Tổng Thống Truman vừa giải nhiệm Tướng MacArthur trong các chức vụ Tư lệnh tại Viễn kêu. Đại tá Hurt muốn nói chuyện với bà, người lính hậu cận nói rõ như thế. Tại sao lại bà, Bông và Cao Ly cũng như chức vụ lãnh đạo tại Nhật Bản».

        Vị chúa tề bị trích giang của chiến tranh Thái Bình Dương đã chịu đựng thử thách với sự hào nhoáng bóng bẩy thường lệ của ông: «Jeannie, ông bảo, rốt cuộc chúng ta lại trở về nhà!»

        Tuy nhiên đã mười bốn năm trời ông cương quyềt từ chối đặt chân lên mặt đất xứ sở của ông.

*

*      *

        Năm ngày sau, binh mình ngày 16 tháng 4 năm 1951, MacArthur rời khách sạn Dai-Ichi để đến phi trường Atsuji-Tokio. Dọc theo hai bên đường, hai triệu người Nhật vẫy tay ra dấu từ biệt và khóc cho sự ra đi của một người mà Nhật Hoàng Hiro-Hito sắp trao choàng giải huy chương cao quí mặt trời mọc với cành hoa paulownia, huy chương cao quí nhất của Nhật chỉ dành cho các vị Quốc trưởng.

        Và chính một cuộc tiếp đón một quốc trưửng đã được dành cho ống trước hết tại Cựu Kim Sơn đang trong không khí cuồng loạn. Một vị quốc trưởng vừa thương thuyết hòa bình thế giới. Chứ không phải là một Tướng lãnh bị cách chức vì đã lăng mạ Hiến pháp và vì suýt làm cho xứ sở cũng như thế giới bị xô đẩy vào một cuộc chiến tranh khốc liệt.

        Cả nước Mỹ trở nên quay cuồng. Toàn xứ sắp trải qua những tuần lễ điên cuồng trong đó những tình cảm đam mê bị quên lãng từ cuộc Nội chiến bắt đầu sôi sục trở lại. Dường như giai tầng người Mỹ trung bình, bị chìm khuất và quên lãng trong những vấn đề trả nợ cơm áo hàng ngày, đã thực hiện một sự chuyển vị những cơn mơ thầm kín về sức mạnh và quang vinh của mình vào MacArthur.

        Trong vòng mười hai ngày, 27.363 thư từ và điện tín, phần lớn gồm những lời chửi bới, đã được gởi đến Hoa thịnh đốn. Hàng ngàn thư tín khác được gởi đến các dân biểu nghị sĩ. Những thư tín này đòi hỏi «truy tố tên ngu xuần» hay tên «Judas của tòa Bạch ốc vốn đã chễ nhạo chúng ta và bán chúng ta cho phe tả và cho Liên hiệp Quốc» hay tên «khả ố tự xưng là Tổng Thống ấy». Nhiều thư tín khác đề nghị «lật đồ cái con cá mòi xông khói ấy khỏi chiếc ghế Tổng Thống» hoặc «tỉm một cái chuông khác cho tòa Bạch ốc».

        Về phần ông, MacArthur tự cho mình trở thành «một thứ biểu tượng của thế giới tự do». Quả thật là chính 150.000 bức thư và 20.000 điện tín tràn đầy hăng say đã ảnh hưởng mạnh đến ông.

        Ngày 19 tháng 4 năm 1951, ngày tiếp đến MacArthur  tại Quốc Hội, các sân đấu bóng bầu dục tại Hoa Kỳ đều vắng hoe. Chưa bao giờ người ta thấy cảnh đó. Riêng phần các khán giả lác đác đến dự khán các trận cầu, thì ai nấy áp máy thu thanh transistor vào tai, họ nghe chăm chú bài diễn từ được truyền thanh đi khắp nơi. Để bắt đầu thời kỳ về sống trên đất Mỹ, MacArthur đã chọn lựa khách sạn Waldorf Astoria tại Nữu ước cho một vài ngày tạm trú. Thành phố vĩ đại ấy nhầy cỡn lên vì vui sướng được vinh dự này. Trong vòng có vài giờ, tòa thị chính đã tổ chức một cuộc tiếp đón khổng lồ vào ngày 20 tháng 4. Có lẽ cũng có đôi phần hăng say. Cảnh sát đoan quyết rằng sẽ có bảy triệu rưỡi người tung hô chào đón đoàn xe chiến thắng diễu hành. MacArthur đã nhân gấp 4 lần kỷ lục trước đó : những phu quét đường phải dọn sạch trong thị xã 8.300.000 kilô hoa giấy được ném xuống khi vị anh hùng đi qua. Các nhà xuất bản niên giám điện thoại rất hài lòng. Họ có thể in chúng lại, không còn một cuốn nào trong thành phố 40.000 đoàn viên của nghiệp đoàn phu bến tàu rất mạnh đã đình công để tham dự cuộc diễu hành. Mười tám người đã bị ngất xỉu vì xúc động.

        Trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ, người ta đốt hình nộm Tổng Thống Truman. Người ta hò hét phản đối ngay khi ông vừa xuất hiện nơi công cộng, trong một trận đấu bóng bầu dục. Những lời xỉ vả thậm tệ nhất đã được ngươi ta dùng với ông... Người ta gán cho ông là tên sát nhân giết hại những thanh niên Mỹ (sic), là kẻ bán mình cho quỉ đỏ, người ta gán cho ông tên của tất cả thú vật ôn huyết cũng như lãnh huyết, là kẻ ngu đần, là tên phản phúc, v.v... Joe Ma Carthy — người sẽ miệt mài trong cuộc săn đuổi bon phù thủy Cộng Sản — trước sự hoan nghênh của đám đông quần chúng tại Milwaukee, đã gọi Tổng Thống là «đồ chó đẻ» và tố cáo đồ đảng của tòa Bach ốc «bị u mê vì bọn quỉ dữ» đã thắng thần thánh. Thượng nghị sĩ Jenuer, thuộc tiểu bang Indiana, đoan quvết rằng «Hoa Kỳ đang nằm trong tay một bụn Mafia bị gián điệp Nga Sô điều khiền».

        Trong các gia đình, người ta chứng kiến những cảnh có thể nhắc nhở cho người Pháp thời kỳ xảy ra vụ Drevfus. Tại Los Angeles, một ông chồng đã đập vỡ một chiếc máy thu thanh trên đầu bà vợ để dạy cho bà ta biết tôn vinh MacArthur. Hội đồng thành phố này nghỉ họp «để tỏ dấu hiệu để tang cho vụ ám sát chính trị Tướng MacArthur». Nhiều thành phố khác treo cờ rủ. Quốc hội tiểu bang Michigan tuyên cáo rằng «cộng sản quốc tế đã thâu đạt chiến thắng lớn lao nhất trong vòng mười năm trở lại đây». Và gán cho «một âm mưu đen tối là nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của một vĩ nhân và sự tập diệt các binh sĩ tại Cao Ly (sic)».

        Thế là bằng cách ngăn không cho nới rộng chiến tranh, và rất có thể là không cho một trận đại chiến thế giới thứ ba bùng nổ, mà Tổng Thống Truman đã bị trở thành một kẻ sát nhân giết hại các binh sĩ Mỹ và bằng cách giải nhiệm kẻ đã tung ra một cuộc tổng tấn công ngu xuẩn và đẫm máu, ông lại trở thành người gây ra sự tận diệt các binh sĩ Mỹ...

        Lúc 12 giờ 30 ngày thứ năm 19 tháng 4 năm 1951, khi Tướng MacArthur — đến Hoa thịnh đốn trên chiếc phi cơ riêng — đọc diễn từ trước Thượng và Hạ nghị viện trong phiên họp đặc biệt, toàn thể xứ Mỹ đã khóc ròng khi nghe những lời trứ danh của ông gợi lại một đoạn thi ca của Mỹ trong thời chiến tranh giành Độc lập : «Những chiến binh già không bao giờ chết. Họ chỉ nép mình đi mà thôi».


Tiêu đề: Re: Đời tình ái và binh nghiệp của thống tướng Mac Arthur
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2019, 09:01:41 AM
        
*

*      *

        Tuy thế người chiến binh già sẽ chết, bởi vì ông đã từ giã cõi đời trong một bầu không khí dửng dưng gần như toàn diện, ngày 5 tháng 4 năm 1964.

        Năm 1952, một năm sau ngày từ Đông Kinh trở về, ông đã ngồi vào chiếc ghế chủ tịch của công ty quan trong Remington-Rand. Người ta còn nói đôi chút về ông năm 1953 khi ông ủng hộ cho ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ Tướng Eisenhower, cộng sự viên cũ của ông tại Phi luật tân, mà ông đã xa cách từ năm 1939 «bởi vì ông tin rằng tôi đánh cắp mẵt sự nổi tiếng của ông», vị tư lệnh tương lai của quân Đồng minh tại Âu Châu và vị Tổng Thống tương lai của Hoa Kỳ đã bình luận

        Thế là con người suýt lôi kéo thế giới vào trận đại chiến thứ ba trong vòng nửa thế kỷ, đã nhắm mẵt lìa đời, không kèn không trống vào năm tám mươi bốn tuổi. Điều đó cũng không ngăn cản người ta còn thảo luận về chủ thuyết tấn công Trung Cộng vào năm 1951 của ông, trước khi nó trở thành một mối nguy cơ thật sự cho Hoa Kỳ.

        Ta có thể mang lại một yếu tố trả lời nếu chú ý đến hai thừa số. Thừa số hiệu năng và thừa số luân lý (vẫn thường tỏ ra là một hiệu năng rất đáng ngạc nhiên).

        Trên bình diện tinh thần, thật khó cho Hoa Kỳ, một xứ chịu ảnh hưởng Thiên chúa giáo và muốn là xứ đảm bảo cho nhân quyền, lại đi tung ra một cuộc chiến tranh phòng ngừa chống lại một xứ khác mà khối dân đặc biệt có thể một ngày nào đó trở thành nền tảng của một sự đe dọa. Và chỉ vì cái cớ này mà thôi. Hơn thế nữa vì cái cớ theo đó ý thức hệ của Hoa Kỳ cho phép giả định một cuộc đụng độ lâu dài. Những tiền lệ đáng bực của một thái độ như vậy vẫn còn phần nào quá tươi trong ký ức nhiều người. «Có hai loại chiến thắng, hay và dở, đúng y như là có những cuộc chiến tranh vì chính nghĩa và những cuộc chiến tranh khác xấu xa về mọi phương diện», Tổng Thống Truman đã viết, tiếp theo sau bức thư ngày 20 tháng 3 của MacArthur gởi cho Joseph Martin về vấn đề một cuộc chiến tranh tại Trung Hoa.

        Trên bình diện quân sự, Trung Cộng của thập niên 1950 không phải là một mục tiêu của các oanh tạc cơ mang võ khí qui ước hay cả vũ khí hạch tâm. Các khu vực kỹ nghệ tập trung đường như không có, điều mà chính MacArthur cũng đã thừa nhận. Oanh tạc Trung Cộng, ngay cả bằng bom nguyên tử, trừ phi là rải bom nguyên từ xuống 9 triệu 240 ngàn cây số vuông, nếu không thì chỉ như là muối bỏ biển «Không có gì có thể thay thế chiến thắng», là một trong những chủ đề căn bản thuộc quan niệm chiến lược của MacArthur, người đã không nhắm đến quan niệm đó mà không dùng một «lực lượng chống lại tối đa». Trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội sau khi bị giải chức, ông còn nói : «Không thể có thỏa hiệp với chủ nghĩa vô thần Cộng Sản, cũng không thể có biện pháp nửa chừng trong sự bảo vệ tự do và tôn giáo. Vấn đề là tất cả hay không có gì cả». Thế là ông đã quên — như ông vẫn thường quên — những lời tuyên bố trong quá khứ và đề nghị của ông là đưa đến bệnh viện thần kinh để khám bệnh kẻ nào nói đến một cuộc giao phong của Mỹ trên đất Trung Hoa, và lúc nói câu trên, cuộc giao phong này có vẻ như không thể nào tránh được đối với ông. Hơn nữa, bị ám ảnh bởi thời gian ở tại Viễn Đông liên tục, nơi mà cá nhân ông tin rằng mình là người che chở, MacArthur đã không hiểu «rằng cộng sản có khả năng tấn công không những tại Á châu mà còn tại cả Âu châu và rằng đấy là một trong các lý do khiển cho chúng ta không thể nào tự cho phép nới rộng cuộc xung đột tại Cao Ly», Tổng Thống Truman lưu ý.

        «Vì vậy để kết luận ta nên ghi nhận quan điểm của các Tướng lãnh Marshall và Bradley ;

        «Sau trận đánh thủ huề tại Cao Ly, ông Tổng trưởng Quốc phòng Marshall ước tính rằng tấn công Trung Cộng chắc lại chỉ đưa chung ta đến chỗ thủ huề nữa, nhưng với một giá phải trả cao hơn nhiều».

        Riêng phần Tướng Bradley, Tổng Tham mưu trưởng, thì lúc đó ông lưu ý : «Trong trường hợp ta xem Nga Sô như là đối phương chính, và Đông Âu là ván cờ chính, chiến lược do MacArthur đề nghị sẽ đưa ta vào một cuộc chiến tranh xấu tại một địa điểm xấu, vào một lúc xấu và chống lại một kẻ thù xấu.

HẾT