Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:44:02 am



Tiêu đề: Dòng đời - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:44:02 am
Tập I

DÒNG XOÁY


1.


Cuốn theo dòng đời cùng năm tháng
Một mảnh tình riêng ta trong ta…
Trung tá Phạm Trung Nghĩa vóc người cao lớn, thời thanh xuân vốn nổi tiếng là đẹp trai và có duyên. Trong đám nữ sinh cùng học ngày xưa, trong đám bè bạn con gái trên đường đời sau này, không biết đã bao nhiêu người yêu thầm nhớ vụng Nghĩa trong lòng. Đám bè bạn con trai tị nạnh về hình dáng ưa nhìn của anh phần nào, nhưng nhiều người thực sự vừa ghen vừa mến dáng điệu nói năng hiền từ và hình như không bao giờ vội vã của Nghĩa.

Bây giờ tóc ông đã ngả sang màu muối tiêu, đuôi mắt nheo lại sâu hơn nữa sau cặp kính trắng. Những gì còn lại của nét mặt thanh tú thuở xưa hình như chỉ tăng thêm sự đôn hậu cho giọng nói tiếng cười của ông.

Đám bè bạn đồng chí thân thuộc thời chinh chiến gọi ông là công tử bột. Vì lính tráng gì mà to lớn, trắng như Tây, mặt mũi chẳng một chút dấu vết phong sương hay khói lửa của chiến trường.

   ...

   Cha mẹ sinh ra thế, da dẻ mình không bắt nắng mà...

   Béo tốt thế này, thủ trưởng cắt bớt khẩu phần của anh Nghĩa giành cho thương binh đi!

   ...

   Anh Nghĩa, cho em xin một đứa con làm giống!

   ...

   Đừng cho nó! Cho mình em thôi!

   Không, em cũng xin một đứa, nhỡ anh hy sinh mất thì hoài...

   ...

Những giai thoại, những khoảnh khắc như thế nhiều lắm. Nghĩa nhớ không xuể.

Nhiều lúc thiếu ăn hay sốt rét trong rừng, hoặc sau những chiến dịch dài ngày, Phạm Trung Nghĩa gầy rộc đi rất nhanh, xanh như tàu lá, chứ không sạm nắng. Được chăm sóc, anh cũng lại người rất nhanh.

Nghĩa còn được đồng đội và cấp trên tặng cho danh hiệu “lính tạch tạch xè”(Tạch tạch xè: “tts” = tiểu tư sản), vì học thức và cách sống nho nhã phần nào, con nhà giáo nòi mà. Song điều mọi người đều thấy là Nghĩa rất thích âm nhạc, như một niềm đam mê, đam mê đến lãng mạn.

Những lúc cùng đơn vị nằm ém quân hàng ngày, hàng tuần trong vùng đường 9 Nam Lào hay vùng rừng núi Quảng Trị – Thừa Thiên, những lúc nằm im chịu phi pháo địch đánh cầm chừng hoặc cấp tập dội xuống từng đợt, từng đợt, mặc... Những lúc trận đánh lắng xuống, những đợt đơn vị nghỉ xả hơi và củng cố lại sau mùa chiến dịch, những khoảnh khắc thư giãn chờ lệnh cấp trên giữa những buổi họp hành. Nghĩa là khi nào được rỗi rãi, thích thú nhất đối với Nghĩa là bật cái bán dẫn National lên, dí sát vào tai để khỏi làm phiền những người chung
 

quanh, dò dò tìm tìm. Để tâm hồn trầm bổng theo âm nhạc.., nhất là đôi khi Nghĩa bắt được đài tiếng nói Việt Nam phát đi một bản giao hưởng nào đó... Ôi, đấy là những lúc thế giới riêng của Nghĩa trở nên bất khả xâm phạm. Cũng vì thói quen này, đối với Nghĩa quà thưởng của cấp trên, hoặc những thứ nhân dân địa phương tiếp tế cho, không gì quý bằng mấy cục pin. Ba-lô Nghĩa nặng đến mấy, lúc nào cũng phải có vài cục pin Văn Điển dự trữ.

Trong những giây phút như thế, nằm giữa chiến trường, có lúc Nghĩa thả những suy tư của mình bay đi đâu đó, có lúc như đang tâm sự với Nguyệt, vui đùa với hai con mình, nhớ đến bố mẹ, gia đình, những bước đường đời ... Đấy là cách Nghĩa cố quên đi những nỗi nhớ thương da diết. Những lần như thế, không hiếm trường hợp anh phải chuốc lấy nhiều điều day dứt hơn, về thân phận biết bao nhiêu con người anh đã giáp mặt giữa sống và chết trong chiến tranh, về đất nước...
... Từng đôi chim bay đi tiếng ca rộn ràng cánh chim xao xuyến gió mùa xuân...

Gửi lời chim yêu thương...

Từ thời còn là học sinh, Nghĩa đã tìm đọc nhiều, hiểu biết nhiều về âm nhạc, say mê tiểu thuyết. Cuộc đời và tình yêu càng dẫn dắt Nghĩa vào thế giới tâm hồn. Có khi cao hứng, Nghĩa thầm hát trong đầu một giai điệu nào đó. Nhưng Nghĩa không bao giờ cầm đến cây đàn hoặc bất kỳ một nhạc cụ nào. Bạn bè hay đồng đội truy hỏi, thường được Nghĩa trả lời:

   Tớ chỉ là kẻ hưởng thụ. Một thế giới tâm hồn như thế không hưởng thụ sao được! - Một nụ cười sau khoé mắt cố thanh minh cho sự đam mê của mình.

   Ông coi bộ tâm sự với âm nhạc hay nhớ nhà? Thực lòng đi! – một lần chỉ huy trưởng của Nghĩa gạn hỏi như vậy.

   Cả hai, nhưng lúc này là tâm sự.
   Với ai?
   Với mình. Với những người anh em không bao giờ trở về nữa cậu ạ... Không bao giờ nữa...-Giàu triết lý quá ta. Mở to cái đài lên, cho nghe nhờ một tý - chỉ huy trưởng mắc võng lại sát võng của Nghĩa ngay trước cửa địa đạo. Cả hai đều ngước nhìn lên những tán cây trơ trụi in thẫm trên nền trời, lửa của bom đạn đã làm cho chúng trở thành những bộ xương cháy rụi..

Giây phút ấy xẩy ra vào giờ nghỉ đổi ca trực chiến, khoảng một tuần sau trận tấn công ác liệt kéo dài liên tiếp 3 ngày cuối tháng ba năm 1967 của Mỹ - ngụy vào khu hậu cứ của ta tại vùng A Sao - A Vương, nơi giáp ranh hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam. Trận địa trong tuần lễ ấy lặng ngắt như một bãi chết, có lúc nghe rõ cả tiếng cây đổ răng rắc. Hì hục đào bới, tìm kiếm sáu bẩy ngày liền không nghỉ, đơn vị Nghĩa vẫn không sao thu gom đủ thi thể những chiến sỹ đã hy sinh. So với danh sách và quân số thì còn thiếu nhiều quá ... Cũng may là trên kịp thời tổ chức ngay nhiều đợt tấn công mới vào các cứ điểm ngoại vi thành Quảng Trị để giảm sức ép cho A Sao – A Vương. Đơn vị Nghĩa được dịp củng cố lại trận địa, nhận thêm quân tiếp viện, rà soát lại bản đồ đánh dấu nơi chôn cất các tử sĩ, kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh, kiểm tra và huấn luyện các chiến sĩ mới được bổ sung...

Tất bật, thầm lặng...

Trận huyết chiến đó là lần đầu tiên đơn vị Nghĩa được nếm mùi thế nào là ăn miếng trả miếng với chiến thuật “bão lửa” của Mỹ - ngụy.

Đánh trận này vào A Sao – A Vương, Mỹ - ngụy muốn triệt hạ khu căn cứ địa của ta, đồng thời muốn trả đũa cuộc tấn công của ta vào sân bay Đà Nẵng tháng trước. Đó cũng là mục tiêu chính của chiến dịch “Mini Junction City” trải rộng khắp miền Trung. Chiến dịch này được tiến hành đồng thời với chiến dịch Junction City phía Tây bắc Sài Gòn và dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Vào thời điểm này cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bắt đầu leo thang ác liệt trên cả hai miền đất nước.

... Trước khi xảy ra trận đánh, nhiều tuần liền chất độc da cam đã làm cho khu rừng trú quân của đơn vị Nghĩa trụi lá. Nghĩa hiểu đây là một tín hiệu báo trước, sớm muộn sẽ đụng độ nẩy lửa. Tình báo quân sự cũng dự đoán như vậy. Toàn đơn vị Nghĩa dốc sức chạy thi với thời gian. Ban chỉ huy vắt óc suy nghĩ ăn miếng trả miếng như thế nào để địch không thể nhổ bật ta ra khỏi khu rừng quan trọng này.
 

   thời kỳ chuẩn bị, vũ khí chiến đấu chủ yếu là cuốc xẻng. Toàn đơn vị lao động cật lực, làm tất cả mọi việc để chìm sâu hơn nữa vào lòng đất, sắp đặt trận địa sao cho có thể vô hiệu hoá tối đa ưu thế của giặc về phi pháo.

Không biết đây là cuộc chiến bằng cuốc xẻng lần thứ bao nhiêu. Nhưng lần nào cũng thế, các chiến sĩ trong đơn vị Nghĩa đều cảm thấy cuộc chiến không súng ống này vất vả gấp mấy lần so với lúc xung trận. Mọi người đều hiểu muốn ít thương vong thì phải tốn mồ hôi. Điều khác trước là bây giờ hậu cần sung túc, cho phép làm được nhiều việc mà trước đây chỉ là mơ ước, nhất là nhờ vào mấy cái máy đào đất dã chiến chạy bằng diesel. Nhờ có chúng hỗ trợ, tiến độ công việc nhanh hẳn lên, việc bố trí địa đạo, hoả điểm thuận lợi hơn nhiều.

Điện mật của trên gọn lỏn: “Chốt giữ bằng được A Sao!”

Đơn vị Nghĩa hiểu đấy là nhiệm vụ bảo vệ đến cùng cửa ngõ đi vào khu hậu cứ của ta dọc biên giới Việt - Lào.

Ngày đêm Mỹ cho máy bay trinh sát khuấy động bầu trời khu rừng, tầm bay mỗi ngày một thấp dần. Quân ta vẫn im ắng. Thế rồi đột nhiên B52 từng đợt, từng đợt ném bom rải thảm suốt từ A Lưới đến A Sao. Xen giữa là các đợt hoạt động của trọng pháo đặt trên đường 14. Rồi đến các đợt ném bom na- pam (napalm), bom bi loại 250 kg ... Đấy là những loại vũ khí vô cùng lợi hại, buộc quân ta phải lặn sâu hơn nữa vào lòng đồi núi. Toàn trận địa lúc này chỉ còn là một vùng đất đầy khói lửa, loang lổ các hố bom, hố pháo. Sau cùng là các đợt ném bom Daisy Cutter loại bảy tấn rưỡi(*) [(*) Loại bom này có sức công phá rất mạnh, lần đầu tiên Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, lần thứ hai Mỹ bắt đầu dùng loại bom này từ ngày 10 tháng 12 năm 2001, ném xuống địa phương Tora Bara có địa hình hiểm trở ở Đông Afghanistan trong khi truy quét tàn quân Taliban (của Osama Bin Laden).], nhằm tạo mặt bằng cho trực thăng thả các xe tăng và đổ quân.

Lúc này quân ta mới từ dưới đất ngoi lên phản công.

Khi điện đài khu cửa rừng im bặt tín hiệu, tiếng súng của quân ta ở phía này tắt hẳn, Nghĩa xin trung đoàn trưởng cho phép rời vị trí chỉ huy, lấy theo hai trung đội gần đấy, lần theo chiến hào ra quan sát tại chỗ. Tới nơi, trước mặt Nghĩa các chiến sỹ nằm ngổn ngang, nhiều người thân hình nguyên vẹn, nhưng không còn ai sống sót. Trọng pháo và bom áp lực sát thương bằng sức ép đã giết chết họ.

Từ xa, xe tăng của giặc bắt đầu xuất hiện. Được sự yểm trợ chính xác của trọng pháo, chúng dàn hàng ngang ầm ầm gầm rú lao tới như vào chỗ không người. Núp sau xe tăng là lính thuỷ đánh bộ Mỹ và quân ngụy, vừa chạy vừa hò hét. Mọi cỡ súng của giặc xối xả, hỏa lực vượt quá mọi dự tính của ta.

Không còn cách nào khác, chưa kịp giáp mặt địch đã phải thực hiện phương án tác chiến cuối cùng: đánh giáp lá cà!

Nghĩa giao cho các chiến sĩ phụ trách hai khẩu đại liên làm nhiệm vụ yểm trợ, những chiến sỹ còn lại đi gom tất cả B40 trên tuyến này, chọn địa hình và một số công sự cho phép tập trung hai trung đội thành một hoả điểm mạnh nhưng có thể di động được. Tất cả chịu nằm im cho trọng pháo đấm lưng, chờ giặc tiến gần. Khi từng loạt, từng loạt trọng pháo của giặc dọt xuống ngày một xa về phía sau lưng mình, các chiến sĩõ hiểu giờ quyết định đang tới gần.

Hai xe tăng đầu tiên của giặc đi thẳng vào hoả điểm của Nghĩa. Khi chúng lao qua chiến hào cuối cùng, B40 của ta mới đội đất đứng lên phát hoả. Cả hai xe tăng đứng khựng và bốc thành hai đám lửa lớn. Đội hình bộ binh giặc rối loạn, đại liên của ta bắt đầu hoạt động. Giặc lùi lại, nhường chỗ cho trọng pháo dập tới, rồi lại tiến lên. Giữa những khoảnh khắc chỉ được tính bằng giây phút khi giặc tạm lùi lại, hoả điểm của Nghĩa phải rút xuống địa đạo, nhanh chóng di chuyển sang vị trí khác để tránh pháo giặc nện xuống. Một cuộc chạy thi để cướp lấy cái sống...

Cứ thế, từng đợt, từng đợt các đơn vị phục kích của Nghĩa lại xông lên giáp lá cà với giặc... Cánh quân của trung đoàn trưởng đánh vào ngang sườn đội hình địch bắt đầu giành lại thế chủ động, chia lửa cho hoả điểm của Nghĩa.

Vật lộn nhau chán chê đến trưa ngày thứ ba, giặc để cho B52 một lần nữa ném bom đào xới đất cát cả khu rừng rồi mới chịu bỏ cuộc. Các chiến sĩ bới địa đạo ngoi lên mặt đất ...
 

Sáng ngày thứ tư, trong lúc Nghĩa đang họp ban chỉ huy tiểu đoàn của mình để rút kinh nghiệm trận đánh và điểm lại lực lượng còn mất thế nào, thì thiếu úy đại đội trưởng đại đội 3 dắt một chiến sĩ trẻ măng đến gặp Nghĩa:

   Báo cáo tiểu đoàn trưởng, đây là binh nhất Nguyễn Đăng Bảo, phạm tội đào ngũ, bị chúng tôi bắt về. Đề nghị xử nghiêm theo quân luật!
   Em không đào ngũ! Báo cáo, em chỉ bỏ trốn thôi ạ!

   Bỏ trốn là đào ngũ! Thế mà còn cãi! – giọng đại đội trưởng gay gắt.

   Không, oan cho em quá! Nhất định không phải em đào ngũ!

   Không được cãi. Nghiêm! - đại đội trưởng quát to.

Người chiến sĩ trẻ đứng nghiêm, không dám nói năng gì nữa. Đại đội trưởng báo cáo với Nghĩa việc đơn vị mình đã bắt được Bảo như thế nào ở trong rừng trong lúc đi tìm kiếm thi thể những chiến sỹ đã hy sinh.

Đại đội trưởng vừa dứt lời, Bảo lại kêu ầm lên:

- Không, oan cho em quá các anh ơi! Em không đào ngũ!

Nghĩa không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, liền nói với đại đội trưởng:

   Tôi đang bận họp. Anh để Bảo ở lại đây. Đưa cậu ta xuống hầm kia kìa. Dặn cậu ta chờ tôi ở đấy. – tay Nghĩa chỉ vào một cái hầm phụ của ban chỉ huy tiểu đoàn, rồi quay vào họp tiếp.

Gần hai giờ đồng hồ sau, làm xong báo cáo gửi lên trung đoàn, Nghĩa đi lại chỗ Bảo. Thoạt nhìn thấy Nghĩa, Bảo đã vọt ra khỏi hầm, hai tay ôm chặt lấy cánh tay Nghĩa:

   Oan cho em quá! Anh cứu em với, em không đào ngũ!.

   Cậu mấy ngày vắng mặt ở đơn vị rồi?

   Báo cáo, không kể hôm nay ba ngày ạ.

   Nghĩa là ngay lúc giặc bắt đầu đánh? – Nghĩa rất ngạc nhiên.

   Báo cáo, không ạ. Hết loạt bom đầu tiên, đến loạt bom thứ hai em vẫn ở vị trí của mình ạ. Đến loạt bom thứ ba em cũng không chạy, em run lắm những vẫn cố cắn răng xem lại tiểu liên của mình, kiểm tra lại các băng đạn... Nhưng bỗng nhiên có một anh người trần như nhộng, trên lưng là một mảng lửa to tướng vì na-pam, vừa chạy vừa hét, đến chỗ em thì anh ấy ngã lăn ra không chạy được nữa! Cứ vừa quằn quại vừa kêu rống lên! Trời ơi em hãi quá liền bỏ chạy. Được vài chục bước em rơi xuống một cái hố mối to ạ. Thế là em ngồi thụp xuống đấy.

   Suốt cả 3 ngày?

   Vâng. Nhưng em không đào ngũ! Em chỉ quá sợ thôi ạ.

   Nếu tôi không tin thì sao?

   Báo cáo, nếu em định đào ngũ thì từ chiều hôm qua em có thể chạy ra khỏi khu rừng này được một hai chục cây số rồi ạ!
   Sao cậu không chạy?

   Đã bảo em không đào ngũ mà! Nói đến thế mà không hiểu! Em chỉ quá sợ thôi!

   Thế sao chiều hôm qua không về điểm danh?

   Báo cáo.., em xấu hổ quá!

   Có ai biết cậu rơi xuống tổ mối đâu mà xấu hổ?

   Nhưng em thì em biết chứ!

Suýt nữa thì Nghĩa bật cười. Nghĩa động viên Bảo tả lại hết nỗi sợ và sự xấu hổ của mình, hỏi thêm về gia cảnh của Bảo. Thì ra anh ta là nhà con một, được bố mẹ chiều như chiều vong, lẽ ra được miễn nhưng vẫn tình nguyện đi bộ đội, vừa mới từ Thái Bình vào. Bảo đã dự một vài trận, nhưng đây là lần đầu tiên Bảo giáp mặt với cái chết thảm khốc như vậy. Ngồi nghe, Nghĩa tái tê, trong lòng gần như thốt lên: Chẳng ai quen được với cái chết!
 

Nghĩa lấy mảnh giấy ghi mấy chữ đưa cho Bảo:

   Đưa cho đại đội trưởng. Tự phê bình trong tiểu đội đi, không có chuyện bỏ trốn lần thứ hai đâu nhé!

Bảo ôm chầm lấy Nghĩa:

   Em cảm ơn thủ trưởng! Nhất định không có lần thứ hai đâu ạ!

   Bảo ơi, mình yêu cậu lắm! Cố lên nhé! – Nghĩa ôm xiết mãi rồi mới rời người chiến sĩ trẻ.

Trận ấy đơn vị Nghĩa thương vong nhiều. Tiểu đoàn của Nghĩa có 3 trung đội bị xoá sổ hoàn toàn vì không thực hiện được kế hoạch tác chiến bám sát thắt lưng giặc. Suýt nữa cả bộ chỉ huy của đơn vị Nghĩa bị tóm. Sau này nhớ lại, Nghĩa thấy trận chạm trán với giặc trong chiến dịch Lê Lợi năm 1970 cũng tại vùng này không vất vả bằng, có lẽ nhờ kinh nghiệm đánh bại chiến dịch Mini Junction City. Chiến dịch Lê Lợi của giặc quy mô hơn nhiều, nằm trong ý đồ chiến lược giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường miền Trung.

Hình như chiến tranh chỉ rèn luyện thêm những phẩm chất vốn có của Nghĩa. Từ con người này và chung quanh anh bao giờ cũng là bầu không khí nhẹ nhàng, là hoà bình – vốn cha mẹ sinh ra tính nói năng nhỏ nhẹ, không hề to tiếng với ai, lúc nào cũng sẵn sàng một ý kiến bình tĩnh, một lời phân tích có đầu có đuôi, đôi khi là một sự nhường nhịn, một lời khuyên giải. Trong những lúc xảy ra việc gay cấn, kể cả những lúc tranh luận căng thẳng đến cực điểm giữa cái sống và cái chết trước trận đánh. Nghĩa luôn giữ được sự điềm đạm trời phú cho. Tuy là nhà binh, con người này hầu như không biết vội vàng. Trong phong cách bẩm sinh ấy, ý kiến của anh đôi khi chứa đựng những ý tưởng quyết liệt, có lúc làm cho các đồng chí của mình trong ban chỉ huy ngỡ ngàng.

   ... Dứt khoát không xuất đầu lộ diện. Chỉ phối hợp với lực lượng cơ sở, mở đường đưa một tiểu đội đặc công đánh thẳng vào bộ chỉ huy chúng nó. Còn lại cả tiểu đoàn chủ lực chỉ ém sẵn chung quanh. Nếu chúng rối loạn, không kịp gọi phi pháo chi viện, thì xông lên san phẳng luôn, rút ngay. Nếu đặc công không đạt mục đích, ta lại chờ. Phải có gan giấu quân cho kỹ và chịu để giặc đấm lưng...

Một lần khác:

   ... Địch càn đi quét lại vùng Gio Linh – Cửa Việt dữ quá, cơ sở mất trắng mấy năm liền không có cách gì gây dựng lại được. Hỗ trợ theo kiểu đánh tỉa không ăn thua. Dồn lực đánh cấp tập từ Khe Sanh, tiến sang tấn công chớp nhoáng vào Đông Hà, sau rút nhanh về đất Lào. Đánh cho địch phải co rúm lại mới giữ được cơ sở... –

Trong cả hai cuộc tranh luận gay gắt này, ý kiến của Nghĩa được chấp nhận.

Hơn một năm sau, không ngờ trận đánh bại chiến dịch Mini Junction City được coi như một khảo nghiệm đầu tiên của chiến dịch hạ thành Quảng Trị.

Phạm Trung Nghĩa là như vậy. Tuổi tác thời gian áp đặt cho mọi người chỉ làm cho ông chậm rãi hơn, ôn tồn hơn.

Từ ngày về Học viện Nghiên cứu quân sự, người ta thấy Phạm Trung Nghĩa có thói quen mặc quân phục. Đi làm mặc quân phục. Đi họp khu phố mặc quân phục. Đi đưa ma, dự đám cưới, thăm họ hàng ... – mùa đông thì bộ quân phục dạ, mùa hè thì bộ quân phục vải, là ủi phẳng phiu, đầu tóc chải nghiêm túc. Lúc nào cũng giày da đen lau chùi sạch sẽ. Trời mưa thì ông đi ủng cao su. Tất cả toát lên một vẻ khoan thai, chỉnh tề. Người cao cao, dáng ông đi hơi khập khiễng do phải mang chân giả. Chân phải ông bị cưa bên dưới đầu gối. Xa xa, dù là nhìn từ phía sau lưng, vẫn có thể dễ dàng nhận ra ông.

Sau hoà bình lập lại, từ ngày có điều lệnh quân nhân phải ăn mặc chính quy lúc làm nhiệm vụ, ông có cái tật thường hay quên đeo quân hàm và nhiều lần bị phê bình về việc này. Ông phân trần: thích quân phục vì nó tiện lợi, nhưng không thích đeo quân hàm vì mỗi lần rời cơ quan, về đến nhà lại mất thời giờ tháo tháo gỡ gỡ, muốn đi làm một việc gì, hay có lúc tạt ra chợ, hoặc giả đi thăm ai đó – nhất là khi ngồi hàn huyên với đám bạn bè cũ, thấy nó bất tiện, rất bất tiện. Nể ông là thương binh 2/4, mọi người bỏ qua chuyện này.

- Chào anh Nghĩa. Về rất đúng hẹn. Hôm nay có việc gì mà đòi gặp tôi sớm thế. Ngồi xuống
 

đây, làm điếu thuốc đã... - thiếu tướng Lê Hải - quyền giám đốc Học viện Nghiên cứu quân sự vừa đưa thuốc lá ra mời, vừa rời bàn làm việc kéo Nghĩa ra chỗ sa-lông.

Thiếu tướng tự tay pha trà. Khách chưa kịp trả lời, thiếu tướng đã nói tiếp:

   Trong những ngày anh đi vắng, tôi đã đọc xong “Báo cáo tổng kết chiến dịch Quảng Trị” của anh. Được lắm.
   Tôi có may mắn là tham gia chiến dịch này từ đầu cho đến khi kết thúc.

   Nhân chứng sống có khác. Công trình nghiên cứu này có phương pháp khoa học, phân tích khách quan, có sức thuyết phục. Có một điều nằm ngoài nội dung của công trình nghiên cứu này...

   Điều gì thế ạ?

   Anh đã làm được việc tổng kết với đúng nghĩa của nó. Cụ thể là không để khoe thành tích, không minh hoạ những quan điểm cho sẵn, mà là để tiếp tục tìm đường tiến lên phía trước.
   Có lẽ chỉ vì tôi có điều kiện kiểm nghiệm bằng người thực việc thực. Nói thấp chỗ này một chút là đánh giá thấp cơ hội, quá tự tô vẽ mình. Nói quá chỗ kia một chút là trong tương lai sẽ phải trả giá thêm nhiều sinh mạng, nhiều tổn thất.

   Đúng thế. Nói đơn giản, anh có tư cách làm công việc tổng kết.

   Tôi chỉ cố gắng làm công việc chắt lọc thôi ạ.

   Tôi phải cảm ơn anh là đã không làm công việc biên tập lại các tư liệu và không sáng tạo lịch sử.
   Thưa anh, làm ra lịch sử là sự nghiệp của nhân dân, đâu phải của ngòi bút ạ.

   Đọc tổng kết của anh, tôi thích nhất điều này... Anh cất hết các tư liệu gốc vào chỗ cũ rồi chứ?
   Báo cáo, rồi ạ. Tôi đã niêm phong lại các két sắt và lập hồ sơ trao trả đầy đủ cho lưu trữ.

   Tốt lắm. Anh có thời giờ đi được nhiều nơi trong ấy không?

   Dạ, tôi chỉ loanh quanh ở Sài Gòn.

   Thua tôi rồi. Tôi vào trước anh một tháng, cũng chỉ có 4 ngày như anh. Thế mà tôi dành được trọn vẹn một ngày ở Cần Giờ.
   Anh may hơn tôi là gặp được má Sáu và đông đủ gia đình các anh của chị Thạnh. Tôi không gặp được một ai trong họ hàng ruột thịt của mình.
   Tôi già mất rồi, không còn nước mắt để khóc... Nhưng thôi, không nhắc lại chuyện cũ nữa. Bây giờ tôi muốn được nghe chuyện của anh.
   Thưa thiếu tướng...

   Ông nội ơi, sao bỗng dưng trịnh trọng? Có cái giọng này từ bao giờ thế?

   Vâng, thưa đồng chí thiếu tướng, trước hết xin rất cảm ơn đồng chí. Không có bức thư giới thiệu của đồng chí với Ban Quân quản thành phố, chuyến đi Sài Gòn của tôi chắc sẽ công cốc. Tôi mới về tối hôm qua... – Nghĩa cầm tách chè lên, cố giấu sự lưỡng lự.

   Anh nói tiếp đi!

   Có việc quan trọng đối với gia đình, nên hôm nay tôi xin đến báo cáo ngay với đồng chí.

   Lại còn thế nữa? Học viện của chúng ta toàn công việc nghiên cứu dài hạn, có gì mà gấp gáp như vậy?

Trung tá Nghĩa chủ động rót nước đưa cho tướng Lê Hải. Ông muốn chuẩn bị cho thiếu tướng sự bình tĩnh cần thiết để nghe mình trình bày.

Sự việc là nhờ bức thư của tướng Lê Hải, sau 3 tháng liên hệ các nơi và nhờ được một số bạn bè trong Ban Quân quản thành phố giúp đỡ, cách đây bốn hôm trung tá Nghĩa xin đi ké máy bay quân sự vào Sài Gòn, mới trở về Hà Nội tối hôm qua. Trung tá đã tìm được địa chỉ em trai mình: Phạm Trung Lễ, đại tá quân đội nguỵ, hiện đang cải tạo ở trại B7. Ban Quân quản thành
 
phố giúp đỡ Nghĩa liên hệ với Ban chỉ huy B7 qua điện thoại. Cán bộ trực ban của trại cho Nghĩa biết: Lễ đã tự khai báo với chính quyền và là một trong những người đầu tiên vào trại, thái độ học tập tỏ ra nghiêm chỉnh. Nghĩa định tới trại tìm em, nhưng người trực ban cho biết lúc này đang thời gian các trại viên học tập và tự khai báo, không ai được vào thăm, trừ khi có chỉ thị đặc biệt của trên. Ban Quân quản thành phố cũng khuyên Nghĩa nên chờ thêm cho qua đợt học tập đặc biệt này, chắc không lâu đâu...

Trại cải tạo B7 dành cho các sĩ quan ngụy cấp tá. Cơ sở của trại cải tạo B7 vốn là trường huấn luyện hạ sĩõ quan ngụy, tại Bảo Lộc.

Nghĩa kết thúc phần trình bày của mình:

   Anh Hải ạ, họ hàng thân thiết của tôi trong Nam hiện nay còn một số người. Gia đình lớn của chúng tôi ở Hà Nội bị xé lẻ ngay từ ngày Nam Bộ kháng chiến. Bố mẹ tôi đã mất liên lạc với hai đứa em sau tôi là Phạm Trung Lễ và Phạm Thị Thu Hoài ngay từ hồi đó. Tất cả những điều này tôi đã khai rõ trong lý lịch quân nhân và lý lịch đảng viên. Bây giờ sau hơn ba mươi năm, tôi mới có những tin tức đầu tiên về hai em mình...

Tuy là người từng trải, nhưng khuôn mặt thiếu tướng cũng không giấu nổi sự đăm chiêu của những suy tư đang lướt đi rất nhanh trong tâm trí. Ông hình dung được cảnh ngộ éo le của Nghĩa, cũng như ông đã từng cảm thông nhiều hoàn cảnh khác trong đồng chí đồng đội của mình. Cuộc chiến tranh này thật ác nghiệt và có nhiều điều vô cùng trớ trêu. Cùng một cha mẹ sinh ra, hai anh em, hai trận tuyến đối đầu quyết liệt...

Mãi một lúc sau ông mới hỏi Nghĩa:

   Anh định sẽ làm gì?

   Thiếu tướng tin vào sự trình bày của tôi chứ?

   Anh Nghĩa, sao bỗng dưng lại hỏi thế?

   Đồng chí đang tránh câu trả lời.

   Không phải như vậy. Có gì mà tin hay không tin?

   Ý tôi muốn hỏi anh có tin vào những điều tôi đã khai trong lý lịch không ạ?

   Sao lại không? Nhưng anh đặt ra câu hỏi này để làm gì?

   Để xin anh anh hai việc: Thứ nhất, đề nghị thiếu tướng giúp tôi đến thăm em trai tôi trong trại cải tạo. Nếu được, tôi xin đi ngay trong tháng này. Mẹ tôi chắc sẽ mừng lắm, cụ bây giờ ngày một yếu đi. Việc thứ hai: tôi xin được giải ngũ.



Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:45:01 am
Thiếu tướng quá bất ngờ trước đề nghị thứ hai của Nghĩa. Một quân nhân cách mạng, mấy chục năm tuổi quân, chiến công đầy người, một đảng viên kiên cường.., đột nhiên xin giải ngũ? Mãi thiếu tướng mới trả lời nhát gừng, có những câu bỏ lửng, gần như ông đang nói với chính mình:

   Thu xếp cho đi gặp em trai trong trại cải tạo? ... Được... Có thể nhờ làm được. Trong tháng này, tức là còn 10 ngày... Tạm đủ thời gian... Quyết ngay được... Giải ngũ? Sao lại xin giải ngũ? Tôi bất ngờ quá. Anh nói rõ hơn nữa xem nào.

   Thực lòng không phải vì tư tưởng nghỉ ngơi. Tôi muốn có nhiều thời giờ chăm sóc mẹ già và bù đắp những tổn thất của gia đình mình. Chiến tranh kết thúc rồi, tôi khao khát hàn gắn vết thương chiến tranh ngay trong gia đình mình. Anh có hình dung được không, một gia đình ba thế hệ, bị một chiến tuyến đẫm máu xé đôi...

   Cả nước ta bị đẩy vào hoàn cảnh như vậy...

   Vâng ạ. Nhưng sức chịu đựng của tôi có hạn. Tôi không có gì khao khát hơn là làm cho gia đình tôi đoàn tụ lại. Tôi đã nhiều lần nhìn thấy mẹ tôi khóc thầm một mình như thế nào... Tôi vừa mong mỏi, vừa cảm thấy mình bây giờ có quyền dành mọi tâm trí làm dịu nỗi đau của mẹ tôi!

   Tôi hiểu... Thế còn nghĩa vụ người đảng viên, nghĩa vụ một quân nhân?

   Tôi đã cân nhắc rồi anh ạ. Hơn nữa gia cảnh tôi như vậy mà lại làm việc tại Viện ta? Trước
 

sau chắc sẽ khó tránh được điều này điều khác phiền toái. Rồi anh xem, kinh nghiệm bản thân đấy. Tôi tự nguyện tránh những điều phiền toái ấy trước khi xảy ra. Ngoài những điều vừa trình bày với anh, tôi không có lý do nào khác.

   Tôi khâm phục sự thẳng thắn của anh. – tướng Lê Hải lưỡng lự. - Nhưng bây giờ chưa thể nói gì. Tôi sẽ giúp anh đi Sài Gòn chuyến nữa, rồi về tính sau. Được không? Tôi thấy...
   Vâng. Xin cảm ơn anh. - Nghĩa cắt ngang lời thiếu tướng, đột ngột đứng dậy bắt tay và cáo
lui.

Tướng Lê Hải ngơ ngác. Ông đoán Nghĩa muốn dồn mình sớm quyết định.

Nghĩa đã ra khuất sau cửa rồi, thiếu tướng vẫn đứng sững nhìn theo.

Một cử chỉ kỳ lạ mình chưa hề thấy ở con người điềm đạm này...

Dụi tắt điếu thuốc đã cháy gần hết, thiếu tướng đi đi lại lại giữa phòng làm việc.

... Xưa nay Nghĩa vốn là người điềm đạm, bình tĩnh... - Thiếu tướng cố hình dung lại câu chuyện. Xin đi gặp em ngay, cả em gái anh ta nữa.., còn nhiều người thân khác sống ở Mỹ... Tất cả những điều này mình thông cảm được. Nhưng xin giải ngũ? Nghĩa sợ mình hỏi han dài dòng nên rút lui ngay?...

... Tránh những điều phiền toái trước khi chúng có thể xảy ra! Mình hiểu chứ, hiểu cách suy nghĩ này của Nghĩa. Một cơ quan có nhiều chuyện cơ mật, họ hàng ruột thịt như thế, hiển nhiên là bất tiện rồi. Nhưng Nghĩa có chọn được họ hàng ruột thịt của mình đâu, hơn nữa đã từng suốt đời đứng trong quân ngũ cho đến nay! Không ít người có công lao chức tước thì quay ra đòi đãi ngộ, tư tưởng công thần từ chân đến tóc. Nhưng anh chàng này lại xin giải ngũ. Lời cầu xin của một người có nhân cách?.

Châm điếu thuốc mới, thiếu tướng tự nêu ra cho mình những câu hỏi khác. Ông biết Nghĩa hơn chục năm nay, đã từng là cấp trên trực tiếp của Nghĩa tại mặt trận miền Trung, rồi cấp trên cao hơn nữa của Nghĩa. Ông hơn Nghĩa đúng một giáp, nên cũng có thể coi Nghĩa vừa là bạn chiến đấu, vừa là bạn vong niên... Càng hiểu con người này, Lê Hải càng không thể chấp thuận đề nghị giải ngũ. Giữa ông và Nghĩa có nhiều điều rất hợp nhau, bổ sung cho nhau. Chỉ có hành trình cuộc đời quân ngũ của hai người trong kháng chiến chống Mỹ là trái chiều nhau. Ông từ Nam đi dần dần ra Bắc, còn Nghĩa từ Bắc vào Nam.

Ông Lê Hải đi từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp trong đoàn quân Nam tiến - hành quân từ chiến khu Thái Nguyên về Hà Nội tham gia Tổng khởi nghĩa, rồi đi thẳng vào tận Nam Bộ. Thử thách lớn đầu tiên đối với ông là tổ chức du kích ngay trong nội thành Sài Gòn.

Đây là một vị tướng của một quân đội cách mạng, bắt đầu binh nghiệp từ một chiến sĩ chân đất trên núi rừng Việt Bắc. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954 ông tình nguyện không tập kết. Cuộc vũ trang chiến đấu chống Mỹ - ngụy ở miền Nam càng phát triển, ông càng được điều dần lên phía Bắc để phục vụ yêu cầu nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm, phát triển quy mô kháng chiến. Nhờ vào nghị lực kiên trì và khả năng học hỏi phi thường, ông sớm trở thành một người chỉ huy giỏi. Đặc biệt là nhờ có kinh nghiệm tổ chức chiến đấu, sự dày dạn trong mọi hình thái chiến tranh qua các thời kỳ khác nhau, dần dần ông trở thành một nhà quân sự nổi tiếng cả vùng. Vào những năm từ 1966 trở đi, cục diện quân sự cho phép tính đến khả năng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ quyết định. Năm 1969 ông được lệnh rời chiến trường miền Trung về tăng cường cho Học viện Nghiên cứu quân sự. Ông trở về Hà Nội, nơi trước đó một phần tư thế kỷ ông đã ra đi.

Vì đã từng chỉ huy nhiều năm chiến trường miền Trung, ông Lê Hải biết khá rõ về Nghĩa. Chính ông là người trực tiếp xin thiếu tá thương binh Phạm Trung Nghĩa từ Quân y viện 108 về đơn vị mình, đưa lên quân hàm trung tá.

Là người từng trải những đau thương của chính bản thân mình, ông Lê Hải vừa nhạy cảm, vừa có cái nhìn riêng sâu sắc về cuộc sống và con người. Sinh ra từ một gia đình nông dân vùng thuốc lào Vĩnh Bảo, cố gắng tột bực của gia đình là lo cho ông học xong trường làng, hồi đó chỉ có đến lớp 3 (cour élémentaire)... Đường đời của ông đến đây đi vào ngõ cụt đầu tiên. Bố mẹ ông sinh hạ bảy người con, nhưng chỉ có bốn sống sót, ông là con trưởng. Gia sản chưa đầy một
 

sào ruộng trồng thuốc lào và mấy miếng đất thổ cư do tổ tiên để lại, nhưng với sáu miệng ăn mẹ ông dù tần tảo đến mấy, quanh năm giật gấu vá vai mà vẫn không xong.

Tròn 17 tuổi, người thanh niên nông dân Lê Đình Hải xin phép bố mẹ ra Cẩm Phả làm phu đào than, nhờ chú ruột ông ngoài ấy là thợ đi lò giúp đỡ. Bố mẹ ông chấp thuận, nhưng với điều kiện trước khi đi ông phải lấy vợ để có người đỡ đần cha mẹ. Cô Tấm, người con gái xóm trên, trở thành con dâu cả họ Lê. Cô hơn chồng hai tuổi. Lê Đình Hải ra mỏ đúng vào lúc phu than ngoài Cẩm Phả nổi dậy đấu tranh đòi tăng lương. Vào thời điểm này chính phủ xã hội của Léon Blum ở Pháp đổ, bọn thực dân ở Việt Nam thẳng tay đàn áp công nhân. Một số công nhân mỏ bị bắn chết, một số bị bắt đi tù vì bị tình nghi là cộng sản, trong đó có người chú ruột của Lê Đình Hải. Rất may Hải được mấy người bạn của chú cưu mang. Hai năm sau vụ đàn áp đẫm máu, năm 1939, ông chú và mấy người cùng bị bắt được tha vì không đủ chứng cớ. Ông chú quay về Cẩm Phả, bảo ông bỏ nghề đi mỏ, về quê chào gia đình, rồi cả hai đi biệt tăm...

Ông đã tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng Tám. Hai tháng sau, ông về chào gia đình để gia nhập đội quân Nam tiến, với cái tên mới là Lê Hải. Lúc này Sơn, đứa con trai đầu lòng đã năm tuổi ... Kẻ ở người đi đều không hay biết đấy cũng là lần vĩnh biệt không hẹn trước. Cả gia đình ông và một số khá đông người trong làng bị giặc Pháp sát hại trong trận càn năm 1950. Giặc Pháp cho rằng làng này là nơi quân ta xuất phát tấn công sân bay Cát Bi. Ông biết tin này khi hiệp định Giơ -ne -vơ (Genève) 1954 được ký kết, và đấy là một trong những lý do khiến ông khăng khăng xin ở lại không tập kết. Cuộc đời ông đi vào một thời kỳ chiến đấu mới ác liệt gấp bội...

Mình hiểu rất rõ con người này... - tướng Lê Hải ngẫm nghĩ. Gia đình Nghĩa ở Hà Nội mình biết như trong lòng bàn tay. Phần họ hàng ruột thịt trong Nam Nghĩa ghi tỷ mỷ trong lý lịch, điều này mình nắm chắc. Gần ba mươi năm tuổi quân, đi từ chiến trường giải phóng Nghĩa Lộ, Sơn La, Lai Châu rồi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng đơn vị hành quân vào mặt trận miền Trung từ 1966... Thế nhưng tại sao bây giờ lại xin giải ngũ? Cái gì nằm trong đầu người sĩ quan từng trải và được nhiều người mến mộ này?.. Hay là có điều gì khiến anh ta phải tự đặt vấn đề như vậy? Một quyết định của người từng trải? Một cú sốc lớn về tinh thần?

... Mới cách đây khoảng bốn năm, nhà giáo nhân dân Phạm Trung Tuyên, cha của Phạm Trung Nghĩa, cùng với vợ chồng người con trai út Phạm Trung Minh và đứa cháu nội lên ba tuổi bị trận bom B52 huỷ diệt phố Khâm Thiên giết chết. Đúng vào hôm vợ chồng Minh tổ chức sinh nhật cho con trai, một tuần sau khi gia đình lớn của nhà giáo Phạm Trung Tuyên tổ chức ăn mừng cụ thượng thọ 70. Lúc này cụ Tuyên bà tuổi ta là 67.

Trong trận bom hôm ấy, cụ Tuyên bà bị hơi bom hất vào bên dưới gầm cầu thang, rất may là được tự vệ phố moi lên kịp thời nên cứu được.

Phạm Trung Minh là nhà vật lý trẻ đang có nhiều triển vọng. Minh tham gia nhóm công tác đặc biệt của của Viện khoa học Vật Lý. Sau hơn một năm trời nghiên cứu, nhóm của Minh lặn lội khu vực cảng Hải Phòng mấy tháng ròng không nghỉ, áp dụng những sáng kiến kỹ thuật về kích nổ bằng ứng dụng những công nghệ sử dụng vi sóng, sóng từ... để phá thuỷ lôi và bom nổ chậm. Công lao của cỗ máy tính điện tử J2 duy nhất của Viện do Liên Xô giúp thật đáng ghi nhớ. Nhờ nó việc giải những bài toán, những phương trình đặt ra cho việc thiết kế các công nghệ kích nổ tiết kiệm rất nhiều thời gian và cho phép đi tới ba, bốn phương án tối ưu để lựa chọn. Việc phá thuỷ lôi và bom nổ chậm vừa kịp thời, vừa đạt hiệu quả cao làm cho Mỹ bất ngờ. Một vài tạp chí quân sự nước ngoài xôn xao về việc này. Nhóm của Minh được trên thưởng cho mười ngày nghỉ phép. Thế rồi cuộc ném bom huỷ diệt ập xuống. Lúc này Minh vừa tròn 30 tuổi, giữa lúc đang ôm mộng trở thành nhà vật lý hạt nhân. Minh đã có tên trong danh sách được cử đi nghiên cứu ở Viện Đúp-na.

Tuy đang thời sơ tán, nhưng nhân dân đi đưa đám cụ Phạm Trung Tuyên và gia đình Minh đông lắm, trong đó có nhiều thế hệ học trò của cụ. Mọi người còn nhớ thầy giáo Phạm Trung Tuyên là một trong những người có công lớn xây dựng nền trung học phổ thông của Liên khu Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp. Về dậy học ở Hà Nội sau hoà bình 1954, cụ hai lần được Bộ Giáo dục khen thưởng, một lần là chiến sĩ thi đua toàn quốc, trước khi nghỉ hưu cụ được tặng Huân chương Lao động hạng nhất ...
 

Đúng vào lúc B52 Mỹ ném bom rải thảm xuống phố Khâm Thiên, Phạm Trung Nghĩa vừa mới bị cưa ống chân phải, sau lần mổ thứ tư không thành công tại trạm quân y trong rừng Lao Bảo. Trung đoàn của Nghĩa thuộc cánh quân đầu tiên tham gia hạ thành Quảng Trị và sau này cũng là trung đoàn chốt giữ nội thành đến giờ phút cuối cùng.

Cuộc tiến công vũ bão hạ thành Quảng Trị rất quyết liệt. Sau 40 ngày chiến đấu, các sư đoàn của quân ta đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của giặc từ Cửa Việt đến Hải Lăng. Mỹ ngụy đã từng gọi hệ thống phòng ngự này cái lá chắn thép bảo vệ toàn bộ Cộng hòa Việt Nam. Lúc này là giai đoạn cao điểm của thời kỳ Mỹ hoá cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và là thời kỳ không quân Mỹ đánh phá dã man nhất trong chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Ngày 2 tháng 5 quân ta hoàn toàn giải phóng tỉnh Quảng Trị. Tư lệnh trưởng quân khu I chạy thoát nhưng sau đó bị cách chức. Sài Gòn phải điều tư lệnh trưởng quân khu 4 là tướng Ngô Quang Trưởng lên thay.

Sau này, ai cũng biết khối lượng bom đạn Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam gấp hai lần chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng mật độ bom đạn trong khu vực nội thành Quảng Trị có lẽ là cao nhất trong toàn bộ lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ. Yếu tố bất ngờ qua đi, trong khi đó các mũi tiến công tiếp theo của ta tiến sâu vào Thừa Thiên Huế bị chặn lại. Mỹ ngụy có đủ thời giờ huy động tổng lực phản công chiếm lại Quảng Trị. Việc chốt giữ thành gian khổ và đẫm máu gấp bội so với lúc hạ thành. Ta và giặc giành giật nhau từng thước đất trong nội thành dưới bom đạn ác liệt.

Có trận đánh ban đêm trong nội thành mới được vài giờ, trung đoàn của Nghĩa hy sinh gần hai đại đội. Nửa đêm phải đưa quân mới vào bổ sung. Nhưng chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau đó, lực lượng bổ sung cho đơn vị Nghĩa lại hy sinh gần hết. Những trận đánh đẫm máu như thế diễn đi diễn lại nhiều lần. Ban chỉ huy trung đoàn của Nghĩa cũng chỉ còn lại một mình Nghĩa! Ngày đêm các loạt mưa bom của B52 và trọng pháo giặc từ các cao điểm phía Nam nội thành giặc chiếm lại được đã biến trận địa thành một cái cối xay thịt. Nghĩa ghi trong nhật ký chiến đấu của mình: Ngày 28 tháng sáu không quên... Đó cũng là ngày lực lượng chốt thành được lệnh rút khỏi nội thành.

Đến ngày thứ 116 kể từ thời điểm hạ thành, đơn vị Nghĩa rút về vành đai cuối cùng bao vây nội thành ở phía Bắc Thạch Hãn. Một quả đạn pháo giặc nổ sát ngay công sự chỉ huy của trung đoàn, người và đất cát chung quanh Nghĩa bị tung lên. Thiếu tá trung đoàn trưởng Phạm Trung Nghĩa chỉ còn là một cái xác thoi thóp. Đồng đội chung quanh kéo lê Nghĩa dưới chiến hào lui ra phía sau, rồi chọn một người khoẻ nhất cõng anh chạy tiếp dưới bom đạn về phía hậu tuyến. Số còn lại phải quay về vị trí chiến đấu, vì lực lượng ta ngày càng mỏng.

Không biết phải cõng Nghĩa chạy như thế trong bao nhiêu lâu, khi giao được Nghĩa cho trạm cứu thương đầu tiên, người chiến sĩ cõng Nghĩa nhét vội vào túi áo ngực của Nghĩa một thứ gì đó rồi chạy trở lại. Lúc này Nghĩa hoàn toàn bị điếc, cả chân phải chỉ thấy những cục máu đen sẫm bám vào những mảnh thịt như bị các thanh nứa cứa nát, bàn chân phải không còn nữa. Nghĩa ngất đi nhiều lần vì đau và mất nhiều máu.

Thiếu tá Phạm Trung Nghĩa là người duy nhất còn sống của trung đoàn mình ban đầu khi ra quân.

Đầu tháng 9 năm 1972, quân ta rút khỏi Quảng Trị.

Khi chuyển được Nghĩa ra tới Quân y viện 108 cuối tháng giêng năm 1973, lúc đó người ta mới cho Nghĩa biết tin bố và gia đình em út bị B52 giết chết. Thiếu tá thương binh Phạm Trung Nghĩa chịu đựng những mất mát lớn lao này với tất cả nghị lực của một chiến sĩ đã không biết bao nhiêu lần đối mặt với cái chết. Nghĩa có người anh cả, Phạm Trung Chính, kỹ sư xây dựng giao thông nổi tiếng, tác giả của biết bao nhiêu loại cầu ngầm, đường ngầm, cầu treo, đường ống dẫn dầu..., được ứng dụng trên tuyến đường Hồ Chí Minh.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình như thế, một chiến sĩ, một sĩ quan như thế... bây giờ xin giải ngũ? Thiếu tướng Lê Hải đi đi lại lại trong phòng, tự hỏi, tự trả lời. Đến điếu thuốc thứ ba, cuộc đối thoại với chính mình vẫn tiếp diễn...
 

Sau bữa cơm tối ở nhà ngày hôm ấy, Nghĩa lấy cái Babetta – xe máy tiêu chuẩn nhà nước cấp cho thương binh cấp tá, đi đến nhà anh trai Phạm Trung Chính ở phố Hai Bà Trưng. Nghe tiếng xe máy quen thuộc, hai con của Chính nhao ra:

   Bà ơi, chú Nghĩa đến. Chú Nghĩa. Cháu chào chú ạ...

   Cháu chào chú ạ.

   Chào hai cháu. Nhà ăn cơm chưa?

   Rồi ạ, mẹ cháu đang rửa bát. – Loan, đứa cháu gái lanh chanh, hai tay bíu lấy cánh tay Nghĩa. Nam, đứa cháu trai dắt xe cho chú.
   Con gái lớn thế này mà để mẹ rửa bát à?

   Mẹ cháu chỉ phân công cháu xếp hàng mua rau và thổi cơm chiều thôi ạ. Chắc mẹ cháu muốn cháu trở thành kỹ sư cấp dưỡng.
   Sinh viên con gái biết làm bếp giỏi, sau này chồng con được nhờ. Nhưng đừng bắt chước em Mai nhà chú. Nó vừa để mất cả ba tháng tem phiếu đấy, không biết là đánh rơi hay bị mất cắp.

   Thôi chết, thế lấy cái gì mà ăn hả chú?

   Thím Nguyệt sẽ phải chia khẩu phần mọi người nhỏ đi!

   Chú đừng lo, ở nhà cháu tem phiếu mẹ cháu quản hết. Nhưng anh Nam cháu lại được mẹ cháu ưu tiên không phải làm gì. Anh ấy còn có biết bao nhiêu thời giờ để vẽ. Con gái bao giờ cũng thiệt.

   Chú đừng nghe cái Loan. Mẹ cháu chỉ ưu tiên cho cháu học kỳ này thôi ạ. Nhưng ngày nào cháu cũng dán tương trợ cho em Loan cháu 10 hộp các-tông.
   Anh đã bảo là tương trợ thì không tính kia mà. Chú ơi, mẹ cháu lúc nào cũng bênh ông hoạ sỹ vô danh này chằm chặp.
   Chú xem, em Loan lúc nào cũng tức vì không biết vẽ như cháu.

   Chú Nghĩa ơi, Phạm Trung Picasso, hay Phạm Trung Van Gogh, đặt tên cho anh cháu như thế nào là hợp ạ?
   Ê, ê. Đấy là hai hoạ sĩ thuộc hai trường phái hoàn toàn khác nhau, thế mà lại đem gán vào cho một mình anh thì đúng là em không bao giờ học vẽ được! – Tuy vẫn phải một tay dắt xe cho chú Nghĩa, Nam vẫn lấy tay khác quệt lên má Loan một quệt dài.

   Thôi thôi, chú không dại gì dây vào chuyện của hai anh em cháu. Mậu dịch hồi này có giao đều gia công dán hộp cho nhà mình không?
   Hồi này thất thường lắm chú ạ. – Loan không để anh trả lời.

   Nam thi tốt nghiệp năm nay phải không cháu?

   Vâng ạ...

   Mẹ là bác sĩ, con sẽ đậu thủ khoa chứ?

   Cháu không dám mơ. Nhưng bác sĩ quân y thời bình chắc không có cơ hội chứng tỏ sự dũng cảm của mình như chú đâu ạ.
   Ví dụ bằng cách nào?

   Ví dụ như... băng bó chân cho chú ngoài chiến trường.

   A, chàng trai này bẻm mép.

Nghĩa bước vào đến nhà mọi người đã có mặt đông đủ ở phòng khách. Ai cũng nóng lòng về cuộc đến thăm này.

   Con chào mợ. Em chào anh chị. - Nghĩa vừa chào vừa chạy lại phía mẹ.

   Mong con suốt cả ngày hôm nay. – bà cụ giơ hai tay khẳng khiu ôm lấy Nghĩa. Cụ vừa đi vừa dựa vào Nghĩa - Ngồi xuống đây con. Mợ biết con về tối qua, Chính đã kể sơ sơ. Con kể đi.
 

Ai còn sống? Ai chết? Khổ thân cho cháu Mạnh. Biết những gì kể đi. Có đúng Lễ và Hoài còn sống không? Chú thím Học đi Mỹ thật rồi à? Những mất mát trong gia đình chúng ta lớn quá. Bây giờ thêm sự chia ly... Mỗi người một phương...

   Sau khi nói chuyện điện thoại với em tối hôm qua, sáng nay anh đã kể với mợ. - Ông Chính xen vào, vừa nói vừa pha chè, rồi loay hoay đẩy các chồng hộp các-tông gia công cho mậu dịch sang một bên để kiếm chỗ kê cái quạt. Tiếng cánh quạt tai voi kêu vè vè... Cụ Tuyên bà xoay người né sang một bên vì không chịu được gió.

   Như thế là anh Chính đã kể cho mợ nghe hết rồi đấy ạ. Máy bay cất cánh chậm mất hai tiếng, mãi đến tám giờ tối hôm qua con mới tới Nội Bài. Về đến nhà khá muộn, con đành chỉ gọi điện thoại cho anh Chính thôi ạ. - Nghĩa quay ra nhận tách nước ông Chính đưa cho - Sáng nay em đã báo cáo với Học viện rồi. Có lẽ chỉ khoảng một hai tuần sau em lại bay vào trong ấy, anh Lê Hải đồng ý giúp rồi anh Chính ạ. Lễ còn sống, Hoài còn sống. Chắc chắn như vậy mợ ạ. Nhưng con chưa gặp được ai cả. Vào lần sau, nếu lại đi nhờ được máy bay quân sự thì đỡ mất tiền vé. Không nhờ được thì chạy tiền mua vé hàng không dân dụng. Chỉ có điều các chuyến bay của hàng không dân dụng thất thường lắm.

   Lễ và Hoài còn sống sao con không cố tìm đến chỗ các em? Trời ơi mấy chục năm nay rồi...

   Con muốn lắm mợ ạ. Lễ đang ở trại cải tạo, khá xa thành phố. Ban Quân quản cho con địa chỉ rồi, con đã liên hệ được với trại cải tạo bằng điện thoại. Nhưng ban chỉ huy trại cho biết tất cả sĩ quan nguỵ lúc này chưa được phép tiếp xúc với người nhà - vì đang là thời gian học tập để tự khai báo.

   Lễ làm gì mà phải vào trại cải tạo hả con? Có sớm được ra không?

   Đại tá ngụy mẹ ạ, đại tá lục quân, nghe đâu những năm gần đây làm việc gì đó trong Bộ Quốc phòng hay trong Bộ Tổng tham mưu của quân đội ngụy.

Ngoài ông Chính ra, cả nhà ngơ ngác. Bà Hương – vợ ông Chính, Loan và Nam ngồi im kiên nhẫn chờ đợi nghe tiếp. Cụ Tuyên bà hai tay run run bám vào vai ông Nghĩa:

   Chết, nó làm to như thế cho Mỹ ngụy liệu có phải tù lâu không con? Nếu có nợ máu nữa thì sao? Cả nhà mình ngoài này theo cách mạng... Chắc nhà mình trong đó còn nhiều người khác làm cho Mỹ nguỵ. Ông trời sao mà tai ác thế.

   Có khi quân chú Nghĩa và quân chú Lễ đã bắn nhau tơi bời trong trận nào đó rồi cũng nên.
– Nam nói chen vào lời than vãn của bà nội.

   Trời ơi là trời! – cụ Tuyên bà rú lên, hai tay ôm chặt lấy ngực, đầu gục xuống.

Bà Hương và ông Chính vội lao thẳng đến chỗ cụ. Bà ngoái lại mắng con:

   Nam, sao con nói năng linh tinh thế!

   Chết, cháu xin lỗi bà ạ. Con xin lỗi cả nhà ạ!..

   Mợ, cháu Nam tưởng tượng ra như vậy thôi, mọi chuyện đã qua rồi. Làm gì có chuyện chúng con bắn nhau bây giờ nữa ạ!
   Ông Nghĩa cố tìm cách làm cho câu chuyện nhẹ nhõm đi, nhưng chính ông cũng thấy lòng mình thắt lại. – Để con kể tiếp mợ nghe. Đúng như anh Chính nói, ngày xưa chú Học làm cho chi nhánh nhà in IDEO (Imprimerie d’Extrême Orient) của Pháp ở Sài Gòn, con nhớ lời dặn này nên mới lần ra đầu mối. Con nhờ một anh bạn trong Ban Quân quản Sài Gòn tìm tòi trong giới kinh doanh ngành in xem có tăm tích gì không. Lục lọi mãi, họ thấy chủ nhà in Ánh Sáng có tên là Phạm Trung Học... Anh ấy đoán đấy có thể là người chúng ta định tìm nên tìm thêm cho con một vài điều về nhà in này. Vào tới Sài Gòn, trước tiên con tìm địa chỉ mợ và anh Chính dặn. Hỏi thăm mãi mới biết tên phố mới do chính quyền ngụy đặt là đường Phát Diệm. Đến nơi, chủ nhà cho biết: ngày xưa có Ông Phạm Trung Học ở đây, không biết là Học nào, nhưng chuyển đi nơi khác lâu lắm rồi. Sau đó con mới tìm đến địa chỉ ông chủ nhà in Ánh Sáng, ở phố Gia Long...

Sài Gòn rộng quá, loay hoay mãi mới tìm được cái xích lô. Đến nơi, trời đã gần tối. Nhà riêng của ông chủ nhà in này khá to và đẹp. Con sợ đây có thể là một ông Học khác. ...Thiếu gì người trùng cả tên lẫn họ, nhưng đã cất công vào đến đây chẳng nhẽ về không. Con phân vân quá, cứ đứng mãi trên vỉa hè. Bấm chuông mấy lần mới có một ông đã khá cao tuổi ra mở cổng. Đó là
 

ông quản gia. Trong nhà chỉ còn lại mỗi gia đình ông này. Hỏi ướm con đủ mọi chuyện, biết con là cháu chú Học, họ giữ con ở lại ăn cơm. Con nhận lời để muốn nghe thật nhiều chuyện. Càng hỏi ra, càng đúng là chú Học nhà mình thật mợ ạ. Con trả lời trôi chảy nhiều câu của ông già để gợi chuyện. Hoá ra ông quản gia biết cậu là nhà giáo, nói rõ tên họ cậu mợ, chú Tuấn, chú Phương, tên anh Chính, tên con, và em Minh, biết tên một số các cô các chú khác nữa ngoài này. Nhưng ông ấy không biết chú Tuấn, chú Phương đã hy sinh, không biết cậu và gia đình em Minh bị bom Mỹ giết chết, mà con cũng chưa muốn kể vội. Như thế chứng tỏ chú thím Học và các em chưa hay biết tý gì về ai còn ai mất ngoài này mợ ạ. Ông quản gia nói đích xác Lễ đã vào trại cải tạo, gia đình Lễ vẫn ở Sài Gòn.
   Tại sao nhà chú Học chỉ còn mỗi gia đình ông quản gia? – bà Hương thắc mắc.

   Ông quản gia cho biết: tháng giêng 1973 thấy Hội nghị Paris nhúc nhích, chú Học vội đưa tất cả gia đình và con cháu sang sinh sống tại California, đem theo cả gia đình Hoài. Bốn tháng sau Mạnh chết trong trận đánh vào Củ Chi, từ đấy chú Học bỏ hẳn việc làm ăn ở Sài Gòn. Nhà cửa và công việc kinh doanh của nhà in chú giao hết cho ông quản gia. Nghe nói một năm sau chú chuyển hẳn sang kinh doanh địa ốc và chứng khoán ở Mỹ. Theo lời ông quản gia, chú Học là một nhà kinh doanh giỏi.

   Chú thím Học vẫn có mỗi mình Mạnh thôi hả con?

   Vâng, chú thím cảnh nhà con một mợ ạ. Mợ còn nhớ không ạ, năm ấy nó là một thằng bé hiếu động, không lúc nào đứng ngồi yên một chỗ.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:45:58 am
   Con nhớ rõ lắm mợ ạ. - ông Chính xen vào - Khi chú thím Học và Mạnh ra thăm chúng ta ngoài này, Mạnh lúc nào cũng quấn quít với Lễ và Hoài. Ba đứa nghịch phá như quỷ sứ. Mạnh nhất định không chịu về trong ấy cùng chú thím. Lúc sắp ra ga, Mạnh nước mắt ròng ròng, mếu máo, chân tay vùng vằng: ...Con không về, con không về, con thích chơi với anh Lễ chị Hoài...

Trong ấy con không có bạn. Dỗ thế nào cũng không được, chú thím Học đành xin cho Lễ và Hoài vào Sài Gòn chơi ít hôm...
   Mợ nhớ lắm chứ... - cả một quá khứ sống lại trong tâm trí cụ Tuyên bà.

   Vâng. Thế là cái ít hôm ngày ấy đã trở thành hơn ba chục năm, mợ ạ. Khó mà tưởng tượng nổi! – Nghĩa nói tiếp. - Ông quản gia kể Mạnh tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt sau Lễ 3 năm, khi chết là thiếu tá. Mạnh đã lập gia đình, có một con trai. Ông bà Học tuy chỉ có Mạnh, nhưng thực ra là có ba con, vì Lễ và Hoài ông bà quý như con đẻ, chăm lo cho đến lúc lập nghiệp, có gia đình riêng. Con nghĩ rằng chú thím Học rất tin cẩn ông quản gia...

   Chồng con của Hoài ra sao hả con?

   Chồng Hoài tên là Nhân, bác sĩ nha khoa mợ ạ. Nhà có tiền chạy, nên thoát được quân dịch. Vợ chồng Hoài có ba gái một trai. Theo ông quản gia thì cuộc sống nề nếp, sung túc. Ông quản gia kể: Nhân là con ông giáo Nguyễn Hiểu, một nhà Hán học nổi tiếng, hiện còn ở lại thành phố. Ông quản gia nói là bác sĩ nha khoa mà sang California thì đời sống kinh tế sung túc lắm.

   Vợ con của Lễ thế nào? Con có tìm đến nhà Lễ không?

   Vợ Lễ tốt nghiệp đại học luật mợ ạ, nhưng ở nhà làm nội trợ. Vợ chồng Lễ có một gái, một trai. Chắc chắn tất cả vẫn đang ở Sài Gòn. Ông quản gia cho con địa chỉ. Theo những điều ông quản gia kể thì có lẽ gia đình Lễ rất khó khăn. Vào đúng lúc Sài Gòn bắt đầu nhốn nháo, Lễ bị Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh tống giam, không biết vì lý do gì. Khoảng một tháng trước khi Sài Gòn giải phóng Lễ mới được thả, được phong lên đại tá. Theo ông quản gia đấy chỉ là phong miệng thôi, chẳng thấy Lễ đeo lon mới. Hơn nữa lúc này Sài Gòn nhốn nháo lắm rồi... Khi tướng tá và quân ngụy xô nhau di tản, Lễ cũng chạy ngược chạy xuôi tìm cách đưa cả gia đình đi. Nhưng hình như không kịp. Từ khi Lễ vào trại cải tạo, vợ Lễ hoang mang lắm, không tin ai cả, không dám tiếp người lạ. Chính vì thế con định tìm cách đi thăm Lễ sớm rồi mới đến thăm cô ấy và hai cháu. Con nghĩ phải tìm cách đi thăm Lễ càng sớm càng tốt. Lúc này gia đình Lễ rất cần chúng ta.
   Giá mà chú cứ ghé thăm thím Lễ một tý thì hơn. – bà Hương vợ ông Chính thốt lên.- Em cân nhắc kỹ rồi, chắc mươi hôm nữa em lại vào lại mà...
 

   Con có lấy được địa chỉ của chú Học và Hoài ở bên Mỹ không?

   Dạ có ạ. Anh Chính và con đã bàn với nhau sẽ viết thư sớm cho vợ chồng Lễ, chú thím Học và Hoài.
   Thế còn nhà bác Sương?

   Về họ hàng nhà mình trong ấy ông quản gia biết ít thôi, nhưng có biết bác Sương. Theo ông quản gia, bác mất có lẽ đến chục năm nay rồi mợ ạ... Các chị con bác Sương đều có gia đình, nhưng di tản hết rồi.

Câu chuyện dần dà biến thành cuộc hỏi và trả lời giữa cụ Tuyên bà và ông Nghĩa. Cả một quá khứ hơn ba chục năm về trước sống lại, bị chiến tranh ngắt quãng nhiều đoạn, nhưng cụ còn minh mẫn và đặt ra những câu hỏi rành rẽ ... Có thể lòng thương yêu vô bờ bến dành cho chồng con và những người ruột thịt đem lại cho cụ nghị lực bền bỉ và sự minh mẫn lạ thường, mặc dù cụ chỉ còn như một tàu lá khô, lìa cành bất kỳ lúc nào. Ông Chính là con cả trong nhà, nên hiểu nhiều nhất tâm trạng mẹ mình trong những câu hỏi đặt ra.

Cả nhà đồng ý Nghĩa phải quay vào Sài Gòn sớm, và mọi người sẽ góp sức thực hiện việc này. Nếu không đi nhờ được máy bay quân sự thì đành bán những gì có thể bán được hoặc đi vay loanh quanh đâu đó mua vé hàng không dân dụng, cùng lắm là đi nhờ ô- tô.

Tiễn Nghĩa ra đến cổng khu tập thể. ông Chính còn đứng lại nói chuyện với em một hồi lâu nữa.

   Anh vừa mừng Lễ và Hoài còn sống, vừa bàng hoàng về việc Lễ vào trại cải tạo và cái chết của Mạnh. Sau khi nói chuyện điện thoại với em, cả đêm hôm qua anh không ngủ được. Chú Tuấn, chú Phương là liệt sĩ. Cậu không còn nữa, gia đình Minh không còn nữa, em là thương binh. Không thể so với những tổn thất của đất nước, song chiến tranh đã cướp đi của gia đình chúng ta nhiều quá...

   Cuộc chiến tranh này ác nghiệt quá anh ạ.

   Mong sao... - ông Chính dừng lại không dám nói tiếp ý nghĩ của mình. Ông đang nghĩ đến
mẹ.

   Mọi điều lành dữ sau chiến tranh đều có thể, anh ạ. Nhưng bây giờ hãy còn quá sớm để ngẫm nghĩ điều gì.
   Chúng ta có đủ lý trí, thế mà vẫn phải gắng gượng vượt lên sự tan nát trong lòng... Huống chi mợ... Anh rất lo cho mợ... Nhất là bây giờ cậu không còn nữa... Cháu Nam suy diễn đúng đấy, chỉ còn thiếu cảnh ngộ em và Lễ bắn vào đầu nhau nữa thôi! Cùng sinh ra từ một nhà...

   Ruột gan em thắt lại khi thấy mợ rú lên vì câu nói của Nam! Ngồi trên máy bay trở về Hà Nội, em cố gạt hết mọi lý lẽ để tìm câu trả lời: Giả thử đụng độ với nhau trên chiến trường, em và Lễ có dám nhìn thẳng vào mặt nhau mà bắn không?.

   Chiến tranh đã kết thúc, nhưng câu trả lời không dễ, có phải không?

   Em thực lòng không có câu trả lời. Dù đấy chỉ là câu hỏi duy lý!

   Đành chịu số phận sắp đặt?

   Vâng ạ.

   Ôi thân phận con người chúng ta!

   Anh ạ, trong chiến tranh em đã chứng kiến nhiều cảnh gia đình bị chia thành hai chiến tuyến... Nhưng đến khi chính mình phải đối mặt với cảnh ngộ này... Ôi, không tưởng tượng nổi anh ạ! Anh cũng không thể bắn vào đầu em được, có phải thế không anh Chính? Anh có thể nhằm vào em mà bắn được không?

   Nghĩa! Anh hiểu. Thấy người đứt tay, hoàn toàn khác với chính mình bị đứt tay!

   Từ vài hôm nay, lúc nào nghĩ đến điều này, người em cứ bừng bừng như phát sốt.

   Mợ quá mong em. Suốt từ sáng, cứ chốc chốc mợ lại nói một mình điều gì lầm rầm, đứng ngồi không yên, chân tay lẩy bảy. Có lúc mợ còn khóc nữa làm anh sợ quá. Sáng nay anh đành phải gọi điện thoại đến cơ quan xin phép vắng mặt, không dám để mợ ở nhà một mình như thế
 

này.

   Gần như suốt cả chuyến bay, em cố hình dung Lễ và Hoài bây giờ như thế nào, cuộc sống của Lễ trong trại cải tạo. Ngày xưa có biết bao nhiêu kỷ niệm giữa anh em chúng mình, rồi cả Mạnh nữa...

   Anh vẫn thường chế giễu Lễ là công tử nhõng nhẽo, còn Hoài là công chúa bà già.

   Anh còn nhớ hôm ba anh em chúng mình được cậu mợ cho phép dắt nhau đi chơi bằng tầu điện đến Cầu Giấy không? Lần đầu tiên em được ra ngoại thành! Hoài bé quá không được đi cùng, khóc mãi. Ba đứa chúng mình suýt lạc nhau trong rừng nứa ở đền Voi Phục, sau đó đi bộ đến chùa Láng. Lúc trở về, Lễ vừa khóc vừa bò ra đường, anh và em phải thay nhau cõng nó từ chùa đến bến tầu điện...

   Nhớ. Hôm đó tụi mình bị mắng vì về nhà quá muộn.

   Còn bây giờ? Có lúc em nghĩ, Lễ sống sót vào trại cải tạo là nhà mình vẫn còn có phúc lớn! Thà như thế còn hơn...
   Đúng thế. Vẫn hơn là anh em nhằm vào nhau mà bắn...

   Tự tay em đã có những lần bắn Mỹ, bắn dữ dội. Có lần em đã cầm lấy AK của một chiến sĩ vừa ngã xuống, trút cả băng vào tên lính Mỹ trước mặt, lẽ ra chỉ cần một viên là đủ. Nhưng khi nhằm vào những lính ngụy, em vẫn thấy có gì đó gợn gợn trong lòng mình... Bây giờ em càng hiểu rõ hơn điều này.

   Chuyện gì xảy ra đã xảy ra rồi.

   Em lo chưa biết chúng mình sẽ còn phải gánh chịu thêm những hậu quả gì nữa sau chiến tranh anh ạ. Sau khi cậu và gia đình em Minh mất, sức khoẻ và tinh thần mợ sa sút rõ rệt. Bây giờ mợ lại phải chịu thêm sự giày vò mới... Anh Chính ạ...

   Gì vậy em?

   Em lo thời gian của mợ không còn nhiều.

   Chính vì thế em đã quyết định xin giải ngũ?

   Vâng. Em tự cho mình là đã làm trọn phận sự với đất nước, bây giờ em muốn sống tất cả vì mợ, vì gia đình. Gia đình lớn của chúng ta tan vỡ, mất mát quá nhiều, bây giờ là lúc tự chúng ta phải lo hàn gắn lại.

   Anh sẽ hiệp lực cùng em. Đêm nay anh sẽ làm ngay việc viết thư đi Mỹ, mai gửi sớm. Chiều mai đi làm về, anh sẽ đạp xe xuống Bạch Mai báo tin thím Tuấn biết. Thím hồi này bắt đầu hay quên rồi.

   Ở tuổi thím, di tật tai biến mạch máu não như thế, trời để cho sống ngày nào biết ngày ấy thôi anh ạ.
   Thím có sự chịu đựng quá sức tưởng tượng, nếu không còn gay nữa. Cũng may là thím có Cúc bên cạnh.
   Chỉ khổ cho Cúc là chuyện chồng con lận đận quá Nghĩa ạ.

   Cuộc sống oái oăm là thế, em rất thương Cúc.

   Cúc lo được cho mọi người, nhưng lại lo cho mình không xong, có phải không Nghĩa?

   Còn anh em mình bây giờ phải lo chạy thi với thời gian. - ông Nghĩa xiết mãi tay anh trong tay mình.

Nghĩa ra về đã lâu. Nén hương trên bàn thờ cụ Tuyên bà thắp sau khi Nghĩa về đã cháy gần một nửa. Cụ thường thắp hương như thế khi xúc động trong lòng - không kể rằm, mùng một hay giỗ chạp gì cả. Cụ ngồi yên trên giường trước bàn thờ, hai tay chắp vào nhau, mắt ngước nhìn đâu đâu. Suy nghĩ của cụ hình như đang chờn vờn đuổi theo làn khói nhang mảnh mai bay lên không dứt. Ông Chính rất hiểu tâm trạng của mẹ trong những phút như thế. Ngồi nhìn mẹ một lúc, ông lặng lẽ rút sang phòng bên. Bà Hương, Nam, Loan thu dọn các việc đang làm rồi cũng đứng lên đi theo.

Ông ơi, ông sống khôn thác thiêng hãy phù hộ cho Lễ chóng được tha... Minh ơi, Thu ơi hãy
 

phù hộ cho anh con... Các chú ơi hãy giúp các cháu... Lạy trời lạy phật cho tôi sức khoẻ để được gặp mặt các con các cháu tôi. Đất nước thống nhất rồi nhưng bây giờ gia đình tôi kẻ còn người mất. Lễ ơi, Hoài ơi bao giờ mẹ được gặp các con các cháu của mẹ... Trăm lạy thánh mẫu, ngàn lạy thánh mẫu, hãy phù hộ cho, các con các cháu tôi... Mạnh ơi, cháu còn nhớ bác không?
Cụ Tuyên bà ngồi yên, nhưng thỉnh thoảng vẫn lấy khăn tay lên thấm thấm nước mắt. Từng
mảng đời xô dạt, va đập vào nhau, vỡ tung toé trong ký ức cụ. Không biết bao nhiêu đêm cụ
khóc thầm vì nhớ Lễ và Hoài. Thời gian, sự vất vả của những năm tháng tản cư ra kháng chiến.
Bom đạn, bệnh tật doạ sống doạ chết hàng ngày. Rồi lại đến những năm tháng sơ tán khỏi Hà
Nội thời đánh Mỹ. Nhiều lúc nỗi nhớ héo hắt về hai đứa con lưu lạc làm cho ruột gan cụ khô
quắt. Lại thêm những năm tháng canh cánh nỗi lo cho Nghĩa ngoài mặt trận, sống chết không
biết thế nào. Những năm tháng đánh Mỹ, ông bà giáo sống chung với vợ Nghĩa để an ủi con dâu
và đỡ đần thêm, vì vợ Nghĩa một nách hai con nhỏ. Mỗi lần có thư xa từ đâu về, dù là của ai, bà
giáo Tuyên đều tìm một chỗ, khoanh tay ôm ngực ngồi chờ đợi. Không bao giờ bà giáo dám tự
tay bóc thư đọc, vì trong lòng nơm nớp không biết lành dữ ra sao, miệmg lẩm nhẩm cầu trời
cầu Phật. Chờ ông Giáo hay vợ Nghĩa đọc cho nghe xong rồi, bà mới thở phào buông tay xuống,
lúc này mới tự mình cầm thư đọc lại... Cứ thế những lời tụng niệm nhiều lúc tự nó cứ vọng lên
trong lòng... Năm năm, tháng tháng, ngày ngày, tích góp từng điều thiện nhỏ, từ trong ý nghĩ
đến trong việc làm, cụ chỉ mong sao ở hiền gặp lành, mong đức từ bi thấu hiểu và độ trì cho hai
đứa con lưu lạc và đứa con trên chiến trường...

Tất cả đành trao gửi cho số phận...

Trong nỗi đau mất mát những người thân thương, những tin tức trung tá Nghĩa mang về cho cụ tối nay làm cho các mảng dĩ vãng của mấy chục năm trời bừng lên trong tâm trí cụ... Nhiều lúc bom đạn nổ đùng đùng, khói lửa mù mịt át đi hết cả...

   Chúng con chào cậu mợ ạ, chúng em chào hai anh... - cả Lễ và Hoài bảo nhau khoanh tay đồng thanh cúi chào.
   Cháu chào hai bác ạ, em chào hai anh a. - Mạnh cũng khoanh tay cúi chào theo.

   Mạnh phải chào cả anh Minh nữa chứ.

   Ứ ừ, anh Minh còn ngậm ti, cháu không chào...

   Anh chị yên tâm, bây giờ đang loạn lạc thế này, trường học ngoài này đằng nào cũng nghỉ. Mỹ ném bom Nhật dữ thế này, ngay cả trường Thăng Long của anh Tuyên đâu có tìm được chỗ chạy loạn... - ông Học rất muốn mời hai cháu cùng đi với con mình. Ông là con thứ hai trong nhà, sau ông Tuyên, vào Sài Gòn lập thân từ khi ông Tuyên chưa lập gia đình.

   Ừ, Nhật đã hất cẳng Pháp(*)[(*) Cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945 cướp Đông Dương ra khỏi tay Pháp.]. Đánh nhau to đến nơi rồi. Mỹ ném bom Sáu Kho ở Hải Phòng cháy to quá. Nhất định Mỹ không chịu để Nhật độc chiếm Đông Dương đâu...

   Anh chị cứ cho hai cháu vào trong đó ở chơi với chúng em ít lâu. - ông Học nài nỉ.

   Hay là mợ cùng đi với chúng con đi. Mợ bảo thế nào cũng vào thăm nhà chú thím Học cơ mà... - Hoài giật giật tay mẹ...
   Thế ai trông em Minh?

   Bế cả em Minh đi, được không mợ?

Hoài rất thích có em gái và nói điều này với mẹ không biết bao nhiêu lần. Ông bà giáo Tuyên chỉ cười và hứa: Thế nào mẹ cũng đẻ cho con một em gái. Tuy nhiên ông bà giáo đinh ninh Hoài sẽ là con út. Nhưng cuối cùng Hoài lại có em Minh, kém Hoài những 7 tuổi.

Cụ Tuyên bà cảm thấy những tiếng nói ấy hình như lẩn quất đâu đây. Bất giác cụ buông tay quờ quờ ra chung quanh...

   Mình ơi, em đem cái kiềng đi cúng vào Tuần lễ vàng nhé?

   Nên lắm. Nên lắm, mình đem cả cái nhẫn cưới của tôi đi. Cách mạng đang cần tiền sắm vũ khí đánh Tây... Chúng ta cũng phải sửa soạn cùng cả nước đánh giặc. Đac-giăng-li-ơ (d’Argenlieu)(*) [(*) Georges Thirrry d’Argenlieu 1884 - 1964, thủy sư đô đốc hải quân Pháp.]
 

đã đưa tàu chiến đổ quân vào nước ta rồi. Không thể cho giặc cướp nước ta một lần nữa...

...Ôi cái nhẫn cưới chính tự tay mình đánh cho chồng. Lũ bạn gái cùng làm trong hiệu kim hoàn Quảng Lợi cứ ra sức bắt nọn và trêu chọc mình mãi trước ngày cưới. Có đứa nói toang toác giữa nhà: “Ê, eo ơi, tiểu thư Bảo Khanh tự tay đánh nhẫn để cưới chồng!” – Thời còn con gái, bà Tuyên là hoa khôi trong đám thợ bạc và rất khéo tay của cái cửa hàng vàng nổi tiếng này ở phố Hàng Bạc.

Những giờ phút Hà Nội sục sôi. Bàn, ghế, giường, tủ, bao cát ... được dựng lên thành các ụ chiến đấu trên vỉa hè các ngã ba ngã tư. Nhiều nơi các ụ lấn sâu xuống lòng đường. Tại nhiều phố tự vệ đã đục tường nhà nọ thông sang nhà kia để dễ liên lạc với nhau. Các xe GMC của lính Pháp vô cớ gầm rú chạy xé dọc xé ngang thành phố ...Tại phố hàng Đậu, ga Hàng Cỏ, chợ Đồng Xuân, dốc Hàng Than, phố Hang Bún... các khẩu đại liên mười ba ly hai trên nóc xe của chúng hung hăng bắn thị uy bất kể vào chỗ có người hay không có người.

   ... Nội nhật hôm nay phải đưa chị, các cháu và gia đình em ra khỏi Hà Nội anh Tuyên ạ. Mang theo được cái gì thì mang, còn bỏ lại hết!
   Gấp thế à?

   Giặc đánh to đến nơi rồi. Anh đưa cả nhà về Châu Khê, rồi sẽ tính sau. Họ hàng chúng ta ở quê ngoại đông hơn. Hôm nay hãy còn xe ca Hà Nội đi Hải Dương đấy anh ạ.
   Chú không đi cùng?

   Em được lệnh ở lại chỉ huy tự vệ chiến đấu. Anh Tiêu cho bọn em biết chỉ ngày một ngày hai giặc sẽ đánh ta thực sự thôi và cũng dặn em lại giục anh chị và các cháu phải tản cư ngay. Anh Tiêu cho biết Phương được trên cử đi công tác đặc biệt vùng Cao Bằng gần một tháng nay rồi...

   Thảo nào mấy tuần nay không thấy Tiêu và Phương về thăm nhà. Hai người gần như không lúc nào rời nhau.

Bà giáo Tuyên đứng nghe hai người nói chuyện với nhau rồi quay sang than thở với em chồng:

   Trời đất ơi, không biết gia đình chú thím Học với Lễ và Hoài trong Sài Gòn sống thế nào. Giặc Pháp chiếm Nam Bộ đã hơn năm nay rồi còn gì chú Tuấn nhỉ...

Hà Nội trước những giờ phút đi tới quyết định lịch sử Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh! là như thế.

Cụ Tuyên bà nhớ rõ lắm... Buổi sáng hôm ấy, chú Tuấn chưa nói dứt lời, thím Tuấn, cháu Kiệt và cháu Cúc - hai con của chú thím - đã tay xách nách mang bước vào nhà. Chính ở tuổi 15, Nghĩa ở tuổi 14 nên giúp bố mẹ thu xếp được nhiều thứ. Vú Minh được giao cho mỗi việc lo đầy đủ quần áo và các thứ khác dành riêng cho bé Minh. Trời lúc này đã trở rét. Công việc sửa soạn rất nhanh. Hai giờ sau tất cả đã ngồi lên xích- lô ra Bến Nứa, mua vé xe chuyến đi về hướng đường 5. Chú Tuấn đi xe đạp theo ra tận bến xe ...

Rồi đến lúc nồi súp- de phía đuôi cái xe ca nổ bành bạch, phun lên trời từng đám khói đen sặc sụa mùi dầu và than. Xe giật giật rú rú mấy lần như con ngựa già hí lên những tiếng hụt hơi trước khi cất vó... Tiếng động cơ nổ to mãi lên, át hết những lời tiễn biệt nhau giữa kẻ ở người đi, xe bắt đầu lăn bánh, bỏ lại phía sau quang cảnh phố xá tất bật, nháo nhác...

Chờ xe đi xa hẳn, chú Tuấn mới quay lại...

Những năm tháng chạy giặc đánh chiếm vùng tự do. Những đoạn trường cả gia đình phiêu dạt, chạy hết nơi này đến nơi khác. Phần lớn là chạy bộ, túi đeo, tay nải. Riêng bé Minh, lúc này đã gần bốn tuổi, có lúc được vú Minh gánh trong một cái thúng để bé dễ ngủ, đầu đòn gánh bên kia là bọc chăn và túi gạo. Có lúc các anh thay nhau cõng. Đi mãi, đi mãi, giặc đuổi phía sau... Cứ thế cả nhà bồng bế nhau lên đến tận phủ Yên Bình, trên Tây Bắc. Hồi ấy đấy còn là nơi rừng thiêng nước độc. Đêm đêm, nếu không có tiếng beo gầm, thì lại có tiếng chim kêu thủ thỉ thù thì. nghe rợn người. Sáng chưa bảnh mắt, rừng núi đã vang vang tiếng gà rừng gáy, tiếng chim bắt cô trói cột!.

Có những tối, ông bà Tuyên và thím Tuấn ngồi thì thầm với nhau bên bếp lửa lách tách, vừa để sưởi ấm, vừa để hun muỗi. Họ ôn lại những chuyện cũ, không một lời kêu khổ. Nhưng nhiều
 

lúc bà Tuyên và thím Tuấn nước mắt ngắn, nước mắt dài, vì gia đình chia ly, mỗi người mỗi ngả, không biết sống chết thế nào... Trong khi đó bọn trẻ chụm đầu vào nhau... Chung quanh đĩa đèn thắp bằng dầu sở(*)[(*) Dầu ép từ cây sở, đổ lên đĩa và được thắp bằng ruột cỏ bấc.] trên chiếc bàn tre, chúng hí hoáy làm các bài tập... Chính, cậu con trai lớn nhất của cả nhà, vừa là thầy giáo của các em mình, bản thân cũng ngồi học thuộc lòng từng trang tất cả những cuốn sách nào mang theo được từ Hà Nội...

Có những bận trời rả rích mưa hàng tuần, thối đất thối cát. Không thể đi rừng lấy củi hay hái măng được, cả nhà quây quần bên bếp lửa, nướng sắn, nướng khoai... Có khi để ăn cho vui, cũng có khi để ăn trừ bữa – vì hết gạo. Sắn luộc, măng luộc ăn mãi cũng chán... Có hôm muối cũng thiếu. Đã có lúc dân làng mách đốt nứa lên lấy than giã ra làm muối để chấm, nhưng không ai dám thử. Bà Tuyên và thím Tuấn không giấu được nước mắt trước mặt bọn trẻ. Hôm nào có phiên chợ mua được ống mật mía(*) [(*) Mật mía, đựng trong ống nứa.] để ăn với sắn luộc hoặc sắn nướng, hoặc giả mua được cái chân giò, hôm ấy được coi là có đại tiệc ...

Cuối năm 1947, giữa lúc ông giáo Tuyên cùng với các con trai nhờ vào dân địa phương bày cho cách phát nương, dựng nhà, trồng khoai trồng sắn, nuôi gà... có người mang công văn đến gặp ông giáo. Trên yêu cầu ông thu xếp việc gia đình để sang ngay An toàn khu bên Chiêm Hoá nhận công tác. Người mang công văn này cũng chuyển cho ông giáo thư của ông Tiêu báo tin ông Tuấn đã hy sinh giữa năm 1947 trong vùng địch hậu. Bà Tuấn chết đi sống lại nhiều lần...

Vừa thương xót em, vừa hiểu rằng gánh nặng của hai gia đình bây giờ dồn lên vai ông, biết làm thế nào đây? Lập bàn thờ ông Tuấn xong, cả hai bà đều khuyên ông Tuyên yên tâm đi nhận chỉ thị công tác của trên.

   Mình cứ yên tâm cùng với các chú nhà mình đi gánh vác việc nước. Dám bỏ Hà Nội lên đây thì em, thím Tuấn và các con, các cháu cũng tự lo cho nhau được. Nhắn chú Tiêu có dịp đi công tác qua ghé thăm bên này.

Trên đường đi, câu nói ấy của bà giáo làm cho ông Tuyên vững lòng. Sang đến Chiêm Hoá ông mới hiểu, trong thời gian hoạt động ở Liên khu I ông Tuấn đã đề nghị ông Tiêu yêu cầu ông Tuyên tham gia xây dựng ngành giáo dục trong kháng chiến. Ở Chiêm Hoá ít lâu, làm xong các việc trên giao cho để triển khai hệ thống giáo dục trong kháng chiến, ông được cử đi làm thầy giáo, làm hiệu trưởng ở nhiều tỉnh trong Liên khu Việt Bắc... Hai gia đình chị em bà Tuyên, vú Minh và đám trẻ ở lại tăng gia sản xuất tự nuôi nhau. Dân làng Khuân Phúc ở huyện Yên Bình chăm sóc họ như họ hàng ruột thịt... Mỗi năm đôi lần, đi bộ vài ba ngày đường về thăm nhà, nhìn cảnh hai bà, vú Minh, các con cháu chân tay rộp lên, người quắt lại đen xạm, lòng dạ ông giáo quặn lại. Nhất là Kiệt và Cúc bây giờ không còn bố nữa... Hai bà và cô Minh – chẳng biết từ bao giờ cả nhà không ai gọi cô là vú Minh nữa - kể cho ông nghe những lúc cả nhà muốn ngã gục. Giữa cuộc sống thành thị nhàn hạ của gia đình công chức cũ và cuộc sống tăng gia sản xuất trên núi rừng để tự túc, để tồn tại, để tham gia kháng chiến... thật là một khoảng cách đổi đời...

“Quân chủ lực” của cả nhà là Chính, Nghĩa, Kiệt – ông giáo Tuyên vẫn gọi ba chàng trai của mình như thế. Ba thiếu niên đang sức ăn, sức lớn, tháo vát, việc gì cũng làm được. Cô Minh lại thạo việc trồng trọt, làm tương, nuôi lợn gà.., cuộc sống dần dần tạm ổn. Khi chạy khỏi Hà Nội, Chính đang học lớp thành chung năm thứ hai, Nghĩa năm thứ nhất, cả hai anh em đều học giỏi và nhảy cóc được một năm. Kiệt đang học dở dang élémentaire, Cúc - préparatoire. Tiếc phải bỏ dở học, Chính và Nghĩa cố nhồi vào bọc quần áo mấy quyển sách chuẩn bị cho hết thành chung (diplome) do ông giáo Tuyên từ lâu đã mua sẵn cho các con mình. Không ngờ mấy thứ đó lại rất được việc. Tối tối không có gì làm, Chính tự ôn bài và dạy các em học tiếp. Ông trưởng thôn Khuân Phúc thấy hay hay, nhờ anh em Chính mở các lớp xoá nạn mù chữ và dạy học cho đám trẻ trong làng. Anh em Chính hăm hở nhận lời. Thấy cả nhà trụ được, ông giáo vững lòng.

Sau này khi kháng chiến thành công trở về Hà Nội, cả nhà còn kể đi kể lại không biết bao nhiêu lần những kỷ niệm đẹp đẽ của những năm tháng ở làng Khuân Phúc, trong thâm tâm mỗi người đều không sao hiểu nổi tìm đâu ra nghị lực để tạo ra được cho mình những ngày tháng rực sáng như vậy...

Cả một phần đời gian lao đằng đẵng, bắt đầu thật đơn giản không thể tưởng tượng được:
 
   Phải đưa chị, các cháu và gia đình em ra khỏi Hà Nội, ngay trong hôm nay anh ạ...

Thế là bỏ nhà bỏ cửa, bỏ tất cả, bồng bế nhau đi!

... Song cũng có những trận cả nhà nằm rên hừ hừ vì sốt rét, không có lấy một người có thể ngồi dậy để đun ấm nước, nấu nồi cháo... Lợn gà trong chuồng ngoài sân nháo nhác, có mấy con gà đã vào bới ỉa ngay trên nền nhà, có khi cả vào chiếu đang có người nằm rên hừ hừ... Mấy ông bà nông dân hàng xóm phải sang lo cho mọi việc. Thổi đỡ cho nồi cháo, băm chuối cho lợn ăn... Rồi đến cái ngày cả nhà, ông trưởng thôn và nhiều người trong làng xúm xít tiễn Chính, Nghĩa và Kiệt vào trường thiếu sinh quân. Một năm sau, trường trung học phổ thông tỉnh Yên Bái khai giảng, đến lượt “cô giáo Cúc” từ biệt hai mẹ, cô Minh và dân làng để nhập học.

Hơn một năm sau, ông giáo về thăm nhà, đem theo tin buồn: Phương, người em trai út của ông giáo, đã hy sinh trong chiến dịch biên giới 1950, giải phóng Cao Bằng và Lạng Sơn. Bà giáo Tuyên lại khóc...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:47:00 am
Từ khi về nhà chồng, bà Tuyên làm việc miệt mài trong hiệu vàng Quảng Lợi để có nguồn thu trang trải mọi việc trong gia đình chồng. Được bố mẹ cho ít vốn chung với cửa hàng, lại chơi họ, nên cuộc sống gia đình vợ chồng bà tạm coi là đủ ăn, cũng có thể nói là sung túc chút ít. Bà hết lòng chăm lo cho ba em chồng là Học, Tuấn và Phương được học hành nên người, vì bố mẹ ông Tuyên mất sớm. Tình nghĩa chị em gắn bó ... Riêng Học đã tự quyết định đi làm sớm, để đỡ gánh nặng cho anh chị mình. Bây giờ Tuấn và Phương không còn nữa. Khi chưa lấy vợ, ông Tuyên đi dạy học, một mình tự kiếm sống và nuôi ba em ... Bà còn nhớ vào khoảng năm bốn mươi, bốn mốt, Tiêu – em con chú con bác với ông Tuyên – và Phương bỗng nhiên rủ nhau đi đâu biệt tăm. Giữa năm bốn nhăm cả hai cùng về Hà Nội, bí mật vận động cho Việt Minh.

... Ngồi nhìn mãi làn khói mảnh mai của nén nhang trên bàn thờ, nhiều lúc cụ Tuyên bà cảm thấy những kỷ niệm trong dĩ vãng cứ đứt quãng, bị những bóng đen xua đuổi, nuốt chửng. Những bóng đen ấy lớn lên rất nhanh, trở thành những quả bom to tướng, đùng đùng nổ tung, giết chết không biết bao nhiêu người, tàn phá nhà cửa, vùi lấp không biết bao nhiêu năm tháng... Những người sống sót bị hất tung toé đi tứ phương ...

Trời ơi, Hoài, gia đình chú Học bắn mãi sang tận bên Mỹ, Lễ bị ném vào trại cải tạo. Rồi cụ thấy nhiều khuôn mặt thân thương, nghe rõ cả giọng nói tiếng cười, cứ chờn vờn lúc gần lúc xa... Ôi ông ơi, các chú ơi... Minh ơi, Thu... Ôi các cháu tôi... Cụ Tuyên bà hai tay ôm chặt lấy ngực.

... Lễ là người đầu tiên vào trại cải tạo mợ ạ, vợ Lễ học luật... Vợ chồng Hoài có ba gái một trai... Cuộc sống của chú thím Học và các em các cháu bên ấy tạm ổn, nhưng Mạnh không còn nữa... Con chưa đến thăm vợ Lễ được, vì ông quản gia cho biết cô ấy dát lắm, không tin ai cả...

Lễ và Hoài sẽ về thăm mẹ chứ? Hai con về thăm mẹ chứ, chiến tranh hết rồi mà... Mẹ muốn biết mặt các cháu... Cho mẹ biết mặt các cháu đi!..

Đoán là nén hương đã cháy hết, ông Chính nhè nhẹ mở cửa phòng bước vào:

   Đã khuya rồi, mợ đi nghỉ đi ạ. Để con mắc màn cho mợ.

   Mợ không mong gì hơn là sớm được gặp vợ chồng Lễ, vợ chồng Hoài, chú thím Học, các cháu...
   Chỉ cần mợ mạnh khoẻ, nhất định mợ sẽ gặp được ạ...

Mắc màn xong cho mẹ, ông Chính sang phòng bên, nhìn đồng hồ rồi giục Nam:

   Đã đến giờ nhà mình đi lấy nước đấy. Đêm nay cố xách đầy cả hai phuy, đừng bỏ dở như đêm qua con nhé.
   Hoà bình rồi mà điện nước cứ mất luôn.

   Con ơi, chiến tranh vừa mới kết thúc.

2.
 
Khác với mọi hôm, sáng nay dậy Lễ không tập thể dục.
 

Gập chăn màn và làm vệ sinh cá nhân xong, Lễ trải lại cái chiếu cho ngay ngắn rồi lặng lẽ ngồi trên tấm phản cá nhân của mình, hai tay ôm đầu, mặt gục lên hai đầu gối. Đại tá ngụy Tôn Thất Loan đi rửa mặt về, thấy Lễ vẫn ngồi ủ rũ, gạn hỏi:

   Anh không chuẩn bị đi ăn sáng à? Chắc thư anh nhận tối hôm qua có chuyện chẳng lành? Lễ như không nghe thấy gì.

   Khuya lắm mới thấy anh trở vào mắc màn đi ngủ. Hình như đêm qua anh khóc? - Loan tỏ vẻ ái ngại cho bạn. Loan là hàng xóm của Lễ, đơn giản vì giường ngủ của họ cạnh nhau và cũng là người thường tâm sự với Lễ.

   Đúng. Mình khóc vì bức thư ấy, thao thức đến sáng. Thư từ ngoài Bắc gửi vào... Anh cáo ốm với cán bộ phụ trách hộ tôi được không?.
   ...

Khi mọi người lục tục kéo nhau đi hết sang nhà ăn, sự huyên náo trong khu lán tắt hẳn. Trơ trọi một mình giữa lán, thỉnh thoảng Lễ ngửng lên, hai tay chống cằm, mắt đăm đăm dán nhìn vào cái mái tôn trên đầu. Nhìn chán rồi lại gục xuống. Có lúc Lễ lấy ra từ túi áo ngực lá thư, đưa ra trước mặt, nâng niu, để ngắm nhìn, chứ không phải để đọc. Có lúc anh xoay đi xoay lại lá thư trong tay như đang nói chuyện với lá thư ấy, vẻ mặt ngây dại. Hai quầng mắt của Lễ từ nhiều ngày nay thâm sẫm vì biết bao nhiêu chuyện ngổn ngang từ khi bước chân vào trại, bây giờ lại trũng sâu hẳn xuống. Ngắm nhìn bức thư mãi, Lễ lại cẩn thận gập lại, nhẹ nhàng cho vào túi áo ngực, không nén nổi những tiếng nấc khan nghẹn ngào. Lễ cố gắng không khóc thành lời.

Tối hôm qua, sau buổi sinh hoạt văn hoá của trại – xem phim Vỹ tuyến 17 - ngày và đêm, cán bộ phụ trách lán của Lễ yêu cầu Lễ lên ngay Văn phòng Ban chỉ huy trại.

   Chào ông Lễ, ông có thư của gia đình từ Hà Nội gửi vào.

   Dạ, thư của tôi ạ?

   Phải.

   Thật đúng là tôi có thư ạ? Từ ngoài Hà Nội?

   Xem dấu bưu điện thì thư gửi từ Hà Nội.

   Chắc là thư của cậu mợ tôi và các anh em tôi!.. - Lễ quá mừng, hỏi dồn, quên mất cả chào đáp lại người cán bộ Văn phòng trại.
   Đúng thế. Ban chỉ huy trại nhận được thư của ông Phạm Trung Chính. Trong thư ấy có gửi kèm bức thư này và nhờ chúng tôi chuyển cho ông. Thư ông Chính viết cho Ban chỉ huy trại kể rõ tình hình gia đình ông ngoài Hà Nội. Xin gửi lời chia buồn với ông, dù chuyện đau buồn xảy ra đã lâu rồi. Đây là thư của ông...

Tai Lễ ù lên, hai tay giật lấy bức thư, không kịp cảm ơn, cắm đầu cắm cổ chạy về lán.

... Lễ không nhớ đã ngồi ngoài hiên đọc bức thư này lần thứ bao nhiêu. Trong lán đã tắt đèn đi ngủ từ lâu. Lễ vẫn ngồi đọc. Anh nhớ từng dấu phẩy, dấu chấm, từng con chữ nghiêng ngả, nhưng vẫn đọc. Lễ nghĩ mình đang nói chuyện với mẹ, anh Chính, anh Nghĩa... Trời ơi, cậu không còn nữa, gia đình em Minh... Lễ ngồi khóc thầm một mình, mãi tới lúc anh bộ đội trực đêm kiên quyết yêu cầu Lễ trở vào lán.

Một đêm dài thổn thức...

Tiếng kẻng đợt đầu báo hiệu hết giờ ăn sáng, sắp đến giờ lên lớp. Lễ bị dứt ra khỏi những suy nghĩ miên man của mình. Anh gấp lá thư cho vào túi áo ngực với những cử chỉ như đang nâng niu những người thân. Mọi người đi ăn sáng trở về lán chuẩn bị tập họp, điểm danh để đi lên hội trường.

- Nghe nói đêm qua anh đọc cái gì mà thờ thẫn ngây đơ ra thế? Thư của vợ hay thư từ Mỹ? - đại tá ngụy Ngô Quang Uông, một sĩ quan bị Thiệu tống giam cùng với Lễ và được thả sau Lễ một tuần, hỏi thăm bạn.

   Thư của gia đình ngoài Bắc.

   Ủa, có thư ngoài Bắc hả? Chắc là làm cách mạng mới gởi thư được vô trại. Có làm to không?
 

Có xin cho ra trại sớm được không?

   Không biết.

   Hình như anh là người thứ hai hay thứ ba trong lán mình được nhận thư đấy. Mới có bốn tháng vào trại, mình có cảm tưởng đã bước một chân sang thế giới bên kia rồi. Vợ con họ hàng bặt vô âm tín.

Lễ ngồi im.

Thấy bạn buồn rầu, Uông không hỏi thêm gì nữa.

Một lát sau Tôn Thất Loan đi tới:

- Tôi đã cáo ốm cho anh rồi đấy. Cán bộ phụ trách đồng ý.

Ít phút sau, cái lán thênh thang lại lặng như tờ. Ngoài hiên nắng sớm lấp loáng xiên chếch các lùm cây. Chim sẻ líu ríu từng đàn sà xuống kiếm ăn. Thỉnh thoảng có đàn đột ngột đập cánh vù vù bay đi. Xa xa tiếng chim gáy cúc cu ru... cúc cu ru... vọng lại từng hồi ... Giữa không gian của núi rừng tĩnh mịch, Lễ ôm đầu co quắp nằm xuống cánh phản, hai mắt nhắm nghiền. Một lúc sau, những tiếng khóc không thành tiếng nhưng không dồn nén được nữa...

...Mặc dù cuộc sống đã diễn ra như đã diễn ra, nhưng Lễ vẫn không sao tưởng tượng nổi từ một chuyến hai anh em Lễ đi chơi với chú thím Học và Mạnh, gia đình Lễ bỗng nhiên kẻ Nam người Bắc, mỗi bên một chiến tuyến quyết liệt, kẻ mất người còn. Tình thương bố mẹ, thương anh em máu mủ ruột thịt trỗi dậy, giằng xé Lễ, vật lộn với những lẽ sống Lễ đã lựa chọn... Ôi mình còn nhớ rõ lắm: Phải mất đến hai, ba năm mình và chú thím Học thay nhau dỗ Hoài! Nó cũng bỏ không chơi với Mạnh nữa. Lúc nào con bé cũng nằng nặc đòi ra Hà Nội vì nhớ nhà, hết khóc lại ngồi buồn thiu một chỗ, người gầy đét không chịu ăn uống vì khóc quá nhiều. Có lúc cả mình và Hoài cùng khóc... Bỗng dưng gia đình xé lẻ! Song là con trai, lớn lên, Lễ dần dần hiểu được, chịu đựng được, dồn nén mọi thương nhớ vào hy vọng, vào khát khao tiến thủ của tuổi trẻ...

...Thư anh Chính nói rõ ai còn ai mất, kể biết bao nhiêu chuyện từ ngày Lễ và Hoài vào đây với Mạnh và chú thím Học ... cho tới lúc anh Nghĩa đã liên hệ được với trại, đã đến thăm gia đình ông quản gia... Ba mươi năm đằng đẵng... Chỉ một chút may mắn nhỏ nữa là anh Nghĩa đã có thể gặp mình tại trại này, trời ơi... Chắc anh Chính thế nào cũng viết thư cho Thảo, hy vọng Thảo sẽ bớt lo và sẽ không làm điều gì đường đột lúc này. Từ ngày vào đây vẫn chưa có thư từ tin tức gì của Thảo và hai con... Ngày ngày những điều xì xào giữa các sĩ quan cải tạo trong các lán về những làn sóng di tản, về hải tặc... Lễ lúc nào cũng như có lửa đốt trong lòng. Hy vọng anh Chính sẽ sớm viết thư cho Thảo...

Hết dằn vặt về gia đình lớn của mình ngoài Bắc, âu lo lại dồn dập vào gia đình riêng, tâm trạng Lễ rối bời càng rối bời ... Vào những lúc bế tắc nhất, ý nghĩ bỏ trốn tưởng như không cưỡng nổi. Đã mấy lần hết giờ lao động, Lễ kiếm cớ không về lán ngay, khi thì lần chần bên ngoài miệt vườn tăng gia, khi thì quanh co trên đường về trại, trong đầu tính toán kế đào tẩu... Có lần Lễ đã cố ý cuốc vào chân, tìm cách nán lại một mình bên lề đường, ngó trước ngó sau...

Thế rồi lần nào cũng vậy, một lực vô hình nào đó lại dựng thân thể Lễ đứng lên, hai chân tự lê bước về trại như người vô hồn. Mới chưa đầy bốn tháng...

...Cầu trời khấn Phật Thảo sớm nhận được thư của anh Chính...

Nhờ bức thư của anh, Lễ cảm thấy đỡ lo hơn, nhưng lại tự cật vấn mình quyết liệt hơn. Về cuộc sống, về lẽ sống, về tất cả...

Chẳng lẽ phải chờ đến lúc thất trận mới nhận biết được mình là kẻ phản quốc? Cái triết lý được làm vua, thua làm giặc là thế này sao? Nếu Mỹ thắng, Nguyễn Văn Thiệu thắng, mình sẽ nổ sâm banh tung trời? Cuộc chiến tranh này là của ai? Vì ai? Chống ai? Chẳng lẽ Mỹ tự dưng đi một nửa trái đất, bỏ hàng trăm tỷ đô la, chuốc lấy cái chết của hàng vạn lính Mỹ chỉ để chiếm lấy mảnh đất nghèo khổ, không bằng một bang của nước Mỹ? Trong các buổi học chính trị, các ông cán bộ cộng sản nói lên cái lý lẽ của các ông ấy về cuộc chiến tranh này. Lô gích lắm, nhưng vẫn là lý lẽ của các ông ấy...

...Còn mình, chính bản thân mình, tại sao lại tham gia vào cuộc chiến này? Tự nguyện? Bị
 

lừa? Hoàn cảnh xô đẩy? Bị cám dỗ? Số phận?

Không phải bây giờ, từ lâu lắm rồi, có biết bao nhiêu sự kiện, hoàn cảnh làm bật dậy những câu hỏi, những điều nghi hoặc. Những ý nghĩ này lúc ẩn hiện lờ mờ, lúc nện chát chúa trong đầu.

...Tại trận càn Quảng Ngãi, đã có lần mình phải quay mặt đi, vì tận mắt nhìn thấy bọn lính Mỹ cắt tai những du kích Việt Cộng chúng giết được, xâu những cái tai bị cắt làm thành vòng đeo cổ, đếm thi nhau xem đứa nào giết được nhiều, cá cược với nhau lấy các lon bia... Chúng bắn như đổ đạn, hãm hiếp bất kỳ phụ nữ nào chúng bắt được, trẻ em chạy trốn nơi chúng đóng quân trở thành những mục tiêu bắn thử để tiêu khiển. Rồi đến Sơn Mỹ, Mỹ Lai ... Ôi giả thử mình muốn trốn cuộc chiến tranh này. Mình có trốn được không? Có dám trốn không? Có gan đứng về phía bên kia không?

... Ngay tại Sài Gòn này, suốt cuộc chiến, từ những ngày đầu tiên còn thời Pháp và Bảo Đại, cho đến lúc hàng rào Dinh Độc Lập bị xe tăng Việt Cộng húc đổ, không có lấy một ngày nào thiếu vắng sự hoạt động của các lực lượng phe cộng sản. Lúc đầu là Việt Minh, rồi đến Việt Cộng, bất chấp tất cả. Không ít thanh niên, sinh viên Sài Gòn đứng về phía họ. Đại sứ quán Mỹ gần như thất thủ nhiều giờ trong Tết Mậu Thân 1968. Đến nỗi tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan chĩa súng bắn vào đầu một Việt Cộng bị trói ngay trên đường phố... Cả thế giới phỉ nhổ cái nước Cộng hòa này – chính mình cũng thấy ghê ghê thế nào ấy... Các phong trào đồng khởi, phong trào Phật giáo, Hoà Hảo, Cao Đài... chống Mỹ, chống chính quyền Sài Gòn... Bùng lên hết nơi này đến nơi khác, lan ra khắp miền Nam. Đám bạn bè cùng học Luật với Thảo có nhiều người tham gia, nhưng chính mình lại đứng trong hàng ngũ những người thực hiện kế hoạch làm xẹp các phong trào này.

Dân chúng bốn phương - trước hết từ các “trại dinh điền”, các “ấp chiến lược” thời Ngô tổng thống, sau đó từ hầu hết các vùng nông thôn... chạy loạn dồn ứ vào thành phố, nheo nhóc...

...Các khu nhà ổ chuột la liệt bám theo các kênh rạch, lan ra các bến bãi. Cả Sài Gòn dần dần trở thành cái nhà thổ khổng lồ của quân Mỹ và quân Cộng hòa. Các chợ trời, các phố nhan nhản các cửa hàng P.X. dành cho lính Mỹ – có thể mua từ bao cao su, thuốc chống bệnh hoa liễu, viên chống thụ thai, nước hoa, đồ lót phụ nữ, đến rượu mạnh, ảnh tổng thống Johnson, quân phục, lon nhà binh Mỹ... Ôi, chẳng lẽ đấy là những thay đổi lớn lao nhất của Hòn ngọc Viễn Đông mình được chứng kiến kể từ khi theo chú thím Học vào trong này? Tất cả diễn ra hàng ngày sờ sờ trước mắt. Mình biết rất rõ, nhưng vẫn đứng trên phía chiến tuyến bên này, không có gan suy nghĩ về những điều tai nghe mắt thấy?

Hay đấy là sự lựa chọn của chính mình?..

Lễ khổ sở ôm đầu vật vã, chốc chốc oằn người lên, lật đi lật lại trên tấm phản như đang hứng chịu những ngọn roi vô hình. Nằm co quắp trên tấm phản tại cái trại cải tạo này, Lễ dượt đi dượt lại cả cuộc đời đứng trong quân ngũ Sài Gòn, kể từ khi đặt chân vào trường sỹ quan Đà Lạt ... cho đến lúc này. Đôi khi Lễ không tránh khỏi rùng mình vì cái lạnh buốt khắp cơ thể, có lúc xói lên óc... Những sự việc chính tay Lễ đã tham gia, những sự kiện chính Lễ là nhân chứng, những con mắt chọc thủng con người Lễ ...

   Việt Cộng và những người dân theo họ lấy ở đâu ra ý chí như vậy?

   Họ chiến đấu vì cái gì?..

   Đấy là lý tưởng hay là một thứ cuồng tín?

Lễ không tìm được bất kỳ câu trả lời nào mình chấp nhận được.

... Mình đã từng tháp tùng một số tướng tá Mỹ và Sài Gòn đến thị sát trường Hạ sỹ quan Bảo Lộc này. Còn bây giờ, chính mình lại nằm trên tấm phản này... Chẳng lẽ đấy là chặng đường đời mình đã lựa chọn?

... Nếu Mỹ thắng, Thiệu thắng, mình có tự truy bức lương tâm như thế không? Những gì cha chú mình và anh em mình ngoài ấy theo đuổi không thuyết phục được mình, nhưng khó có thể nói là sai được… Cùng một dòng máu sinh ra, nhưng trong con mắt những người ruột thịt mình trở thành người phản nghịch mất rồi à? Phản nghịch chống lại chính gia đình mình, đất nước,
 

tổ tiên mình!? Mình làm sao chấp nhận được điều này?

... Không thích cộng sản thì bắt buộc phải chống cộng, cũng có nghĩa là bắt buộc phải chống lại gia đình, đất nước, tổ tiên mình? Chẳng lẽ gia đình, đất nước tổ tiên và cộng sản chỉ là một? Vô lý! Vô lý quá đáng!.. Làm sao có thể có sự đồng nghĩa kỳ quặc đến mức như thế được? Hay là hoàn cảnh lịch sử trớ trêu của nước mình sản sinh ra sự đồng nghĩa quái đản này? Chẳng lẽ mình không có cái bản chất làm người ư? Mình chẳng đang khốn khổ về Thảo, về Huệ, về Tín và chú Thành đấy sao? Không biết sức khoẻ của Thảo bây giờ thế nào? Chẳng lẽ mình không phải là người? Các bài giảng của cán bộ trại không đem lại cho mình câu trả lời nào thuyết phục...

Người cộng sản yêu nước theo kiểu cộng sản. Người chống cộng yêu nước theo kiểu chống cộng. Nói người chống cộng không có tổ quốc thì không thể chấp nhận được. Cũng không thể chấp nhận xã hội chỉ có công hữu và cái chế độ đằng sau bức màn thép. Mình đã đọc biết bao nhiêu bài báo về Bắc Việt, Nga Xô, Trung Cộng ... Chính vì những điều này chú thím Học đã dắt díu nhau cao chạy xa bay từ năm bẩy ba (1973), khi trời mới chuyển gió. Nhưng mình cũng không làm sao phủ nhận được sự đồng nghĩa kỳ quặc.

... Mình yêu nước theo cách của người chống cộng? Nghĩa là trong mình cũng có ý thức về yêu nước, về chiến đấu cho đất nước theo cách suy nghĩ của mình? Nhưng đất nước nào? Đất nước của ai? Của cần lao nhân vị như họ hàng Ngô tổng thống đề xướng? Các ấp chiến lược, các “trại dinh điền”, máy chém lê đi khắp nơi... Anh em Ngô tổng thống đã quyết tâm nhổ cỏ nhổ cả rễ... Ngô tổng thống từng giảng giải yêu nước không thể không kính chúa và không chống cộng ... Nhưng rồi chính ông ấy bị Mỹ hạ lệnh giết. Ở Sài Gòn ai không biết chuyện này? Thế là thế nào?..

Lễ cảm thấy có cái gì lùng bùng trong đầu, hai bên thái dương giật mạnh.

... Thế nhưng trừ một số thành thị lớn, tại sao hầu như khắp miền Nam đều nổi dậy chống Ngô Đình Diệm? Vì sao Mỹ cử Ca- bốt Lốt-giơ (Cabot Lodge) sang thay Nôn-tinh (Nolting) để thực hiện kế hoạch loại anh em họ Ngô(*)•[(*) Tháng 10 năm 1963.

...Mình nhớ lắm, từ lúc anh em họ Ngô bị giết cho đến lúc quyền lực rơi hẳn vào tay nhóm Thiệu – Kỳ, cả thảy lớn nhỏ có đến bảy, tám cuộc đảo chính. Báo chí phanh phui: để ai, loại ai, đều do CIA đạo diễn tuốt luột. Đấy là quốc gia Đại Việt của mình? Đấy là nền Cộng hòa, là nhà nước mình mong muốn?..

Mỗi sự việc của dĩ vãng là một câu hỏi...

Do làm nhiệm vụ trực tiếp chuyển những công văn mật của thượng cấp - phần lớn từ chỗ Nguyễn Văn Thiệu, đến Bộ Tổng tham mưu và các tướng - một nghề “loong toong”(**) [(**) Planton.? ] cao cấp, Lễ có dịp tiếp xúc với nhiều tướng của quân đội Sài Gòn. Bây giờ Lễ càng hiểu vì sao trong buổi chiêu đãi ngày Quốc khánh Hoa Kỳ năm ngoái, Tac-gác (Taggart), viên lãnh sự Mỹ ở Biên Hòa, bỗng dưng lôi Lễ ra một góc vườn kể chuyện cổ tích:

   Chuyện nhà họ Ngô năm nào bi thảm quá, phải không trung tá Lễ?

   Vâng, thật là bi thảm. Có thể đây là một sự hiểu lầm đáng tiếc không, ngài lãnh sự?

   Sao trung tá lại hỏi thế?

   Vì có lần đại sứ của ngài than phiền với Bộ trưởng của tôi rằng vụ việc này tốn nhiều máu quá.
   Quả có thế. Mong các vị hãy nhìn lại bi kịch nhà họ Ngô để tránh những điều đáng tiếc!

Tai Lễ nhiều lúc còn ong ong cái tiếng Mỹ éo éo của Tac-gac. Lão cứ như là vừa nhai vừa nói, để nhả ra những lời nước đôi.

... Mình không thể quên được quai hàm nó lúc trẹo sang trái, lúc ngoặt sang phải, mắt nhìn không động đậy, thái độ tỉnh bơ đến mức người ta tưởng trong mồm nó có một máy ghi âm phát ra những lời đã thu sẵn...

Lễ hiểu đấy là lời ngầm nhắn cho các tướng Minh lớn, Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ... Ngay tối hôm đó Lễ đã báo cáo đầy đủ câu chuyện với thượng cấp, tình hình chiến sự lúc này ngày càng bi đát.
 

Như vậy mà gọi là quốc gia, là đất nước của mình? Mình yêu quốc gia này, đứng về phía quốc gia này, chiến đấu vì nó? Mỹ đã rút quân rồi, đây là cuộc chiến tranh của mình hay của Mỹ? Đất nước này là của mình hay của Mỹ? Là đất nước làm việc cho Mỹ? Sứ mệnh của Hoa Kỳ đối với thế giới tự do...

... Người ta cũng bảo Hà Nội là tay sai của Nga Xô và Trung Cộng. Tất cả mọi thứ của Việt Cộng để đánh nhau là Nga Xô, là Trung Cộng tiếp tế. Cộng sản mà chiếm được Sài Gòn, cả thế giới tự do sẽ theo nhau đổ ụp như các con bài domino... Báo chí ra rả hàng ngày: Trung Cộng quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng... Hoa Kỳ quyết thực hiện đến cùng cuộc chiến tranh qua tay người khác... Mãi cho đến khi Nixon đi Bắc Kinh năm 1972... Thế là thế nào? Cái gì là thật, cái gì là giả? Điều gì đúng, điều gì sai? Lấy gì làm chuẩn mực?.. Domino thì mặc mẹ domino, sao lại ngoặc vào nước mình?

Lễ vò đầu bứt tai, đối chiếu với nhau những suy nghĩ không biết tự đâu cứ ùn ùn đổ về trong đầu. Những ý nghĩ va đập chan chát với những bài giảng của cán bộ trại cải tạo...

   ... Thắng to rồi! Thắng to rồi! Whisky. Lấy nhiều Whisky ra đây uống cho đã. B52 đập tan sào huyệt cộng sản ngay trong lòng Hà Nội...
   Quà lễ Giáng sinh của Nixon tặng Hà Nội!

   Ý nghĩa lắm, đòn chí mạng!

   Bây giờ khỏi cần Ba-di Ba-dung(*) [(*) Hội nghị Paris, đàm phán giữa ta và Mỹ.] gì hết. Vứt cha cái hội nghị vớ vẩn này đi! Quân sư Kít (Kissinger) như thế mới đáng mặt quân sư...
   Phản công! Đến thẳng Hà Nội!..

Giữa mấy cái mồm như chợ vỡ, tướng Ngô Quang Trưởng đứng thẳng lên oang oang:

   Tất cả đứng lên, nâng cốc!

   Phản công đến thẳng Hà Nội!..

Các tướng Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Toàn, Lý Tòng Bá, Ngô Du, Phạm Quốc Thuần và nhiều tướng khác ... cùng đứng dậy. Tất cả bọn họ từ các quân khu khác nhau đang có mặt tại trụ sở Bộ Tư lệnh quân khu IV để bàn kế hoạch tiếp tục cuộc chiến tranh, quy mô lớn hơn, có nhiều vũ khí Mỹ nhưng sẽ không còn lính Mỹ... Một số sĩ quan trẻ giúp việc trong Bộ Tham mưu như đại tá Lê Minh Đạo, Mạch Văn Thành... cũng được tham dự.

“Loong toong” cao cấp Phạm Trung Lễ, với cái lon trung tá, là sĩ quan tép riu nhất trong tiệc rượu mừng B52 đại thắng này.

Quả thực là tin chiến thắng B52 ném bom Hà Nội đến sớm quá, Ngô Quang Trưởng đã bật nút rượu liên hoan khi Nguyễn Cao Kỳ, đại sứ Mác-tin (Martin) và tướng tình báo CIA Pôn-ga (Polgar) là những nhân vật chủ chốt cuộc họp này chưa kịp tới.

Cái chợ con tiếp tục ồn ào:

   Có thể ví như Mỹ đã san phẳng Đrê-sđen (Dresden), dẫn tới Hít-le (Hitler) phải đầu hàng. – giọng Ngô Du đầy hưng phấn.
   Đrê-sđen chết sáu mươi nghìn, nhưng Hà Nội chỉ cần chết mười sáu nghìn mà đã đạt mục tiêu. Kỹ thuật B52 rải thảm là số dzách! Số dzách!

Tướng Ngô Du rời chỗ ngồi tại bàn họp giữa phòng, chạy đến cái bàn con góc cuối phòng kéo Lễ ra:

   Trung tá Lễ, thưởng cho ông ly rượu B52 này. Cạn chén!

   Xin cảm ơn thiếu tướng!

   Uống hết đi, rồi chịu khó đi đi về về mang đến Văn phòng này toàn những tin hên thôi! Lễ còn đang ngỡ ngàng, tướng Du đã quay ra giục những người chung quanh:

   Uống thưởng người chiến sĩ liên lạc mẫn cán này đi!

Lễ ngửa mặt uống một hơi hết ly rượu, một chút dư vị mạnh, một chút dư vị đắng đọng lại trong cổ. Ly rượu thưởng công làm nổi bật vị trí thấp hèn của Lễ trước mặt mọi người.
 

Các chiêu đãi viên uốn éo luôn tay rót đầy rượu cho các tướng. Huyên náo càng huyên náo...

Lễ cũng không đếm được mình đã uống bao nhiêu ly.

... Có nghĩa đang lúc mình uống chúc mừng, thì ngoài kia bom đạn B52 giết cha mình và gia đình em Minh?

Trời ơi những ly rượu B52!

Chẳng lẽ đấy là sự thật sao? Thư anh Chính kể lại rất tỉ mỉ... Mợ cũng suýt chết trong trận ném bom này... Làm sao bây giờ có thể nôn ra được những ly rượu đắng này! Chẳng lẽ cuộc chiến tranh như thế là của mình hay sao? Trong khi đó chính người Mỹ ở nước Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này ngày càng đông. Những người trong quốc hội Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này chiếm đa số, khiến Ních- xơn (Nixon) phải ra đi sau khi đã gây ra vụ Oat- tơ -ghêt (Watergate)! Thế nhưng mình, cái thằng Lễ ngu hèn này, ở ngay trong lòng cuộc chiến tranh này, lại coi cuộc chiến tranh giết cha mình và những người thân trong gia đình là chiến tranh của mình?

...Đấy là sự mù quáng? Hay cái chất của bản thân mình nó như vậy? Thế mà gọi là trên đời này có Chúa à?!..

Lễ rùng người vì những câu hỏi này...

Hai tay ôm bức thư trên ngực, trong đầu Lễ hồi tưởng về những năm tháng đã qua tiếp tục nổi loạn...

... Đầu tháng 3 năm 1975, đúng vào lúc Ban Mê Thuột rơi vào tay cộng sản, Lễ bị tống lao vào trại giam quân sự đặc biệt ở Thủ Đức.

Lễ không bao giờ có thể quên: Giữa phòng làm việc, Lễ chết đứng như Từ Hải, hai tay lật bật nhận lệnh bị tống giam. Tội danh: Nghi vấn tham gia âm mưu đảo chính. Chờ toà án quân sự xét xử... Lệnh này do tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh số một của Thiệu ký. Mắt Lễ đọc đi đọc lại mà vẫn không tin vào những điều ghi trên mảnh giấy chết người này.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:47:50 am
Những năm giữ cái chân “loong toong” cao cấp, Lễ đã nhiều lần được nghe trực tiếp những lời từ miệng tướng này nói về tướng kia. Gom lại, Lễ suy ra Quang rất được Thiệu tin cậy và là tác giả của nhiều vụ án ghê sợ. Cứ nhìn đôi lông mày như hai con sâu róm đen to bằng ngón tay rúc đầu vào nhau trên khuôn mặt choắt như mặt chuột của hắn, người yếu bóng vía đủ chết khiếp. Trong đầu con người này lúc nào cũng sẵn mưu sâu kế cao, sẵn vài chưởng độc chiêu, để loại đối thủ khi cần, để kiếm tiền, để tâng công với Thiệu và CIA... Đến nay Lễ còn rùng mình nhớ lại vụ tướng Quang đồng mưu với CIA cài bẫy nhử luật sư Trần Ngọc Châu hợp tác với Việt cộng để có lý do “phăng teo” Châu năm 1970. Trần Ngọc Châu có uy tín lớn, được nhiều người mến mộ. Thiệu rất sợ Châu - vì ông này không an toàn cho cái ghế tổng thống của Thiệu, Quang được lệnh phải ra tay... Chính vụ này mách bảo Lễ: Việc đột nhiên tống mình vào đây ắt hẳn phải là một trò chơi khăm. Nhưng tại sao Quang lại giáng vào đầu con tốt đen như mình?

Một đòn gió?

Nhằm vào ai?

Nằm trong nhà lao đến ngày thứ mười bốn, ngoài đôi ba điều nghe lỏm bọn lính gác tù kháo nhau, Lễ hoàn toàn mù tịt với thế sự bên ngoài, càng không hiểu mô tê vì sao phải vào tù.

Bọn lính gác tù, đứa tỏ lòng khâm phục Ngô Quang Trưởng, đứa diễu cợt. Qua loa phát thanh của trại giam Lễ biết Trưởng tuyên bố tử thủ bảo vệ Huế, một sự việc được các phương tiện truyền thông của chính quyền Sài Gòn vinh thăng như một hành động anh hùng. Lễ cố vắt óc đặt ra mọi tình huống: Trong cái Ban thư ký Bộ Tổng tham mưu này, mình không bằng một cái đinh gỉ. Thế mà bị gán cho tội tham gia âm mưu đảo chính? Nghĩa là không bị bắn thì cũng tù rũ xương? Rõ ràng đây là một đòn cảnh báo. Nhưng nhằm vào ai? Mình chỉ là kẻ hứng đòn, là vật xúc tác? Cảnh trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết? Chẳng lẽ cứ trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi phải chết? Ruồi muỗi đây là một con người, một nhóm người, một phe phái, một quốc gia... Hễ cứ là ruồi muỗi thì phải chết khi trâu bò húc nhau? Trên đời này có loại số phận oan nghiệt đến mức như vậy sao?..
 

Song phận ruồi muỗi thì cứ phải bám vào trâu bò để sống. Thật trớ trêu!.. Điều này giờ đây làm cho Lễ đau quặn từng khúc ruột.

... Khi chú Học hỏi mình nên định hướng lập thân ra sao, trong đầu óc mình lúc ấy choang choang những lời của Trần Thiện Khiêm. Viên tướng này khoa chân múa tay trước giới báo chí nước ngoài. “...Các ngài cần hiểu, ở cái nước Cộng hòa này quyền lực mạnh nhất là quân đội, đảng mạnh nhất là quân đội. Quân đội muôn năm! Các ngài không thể thiếu chúng tôi!” Trong đám bạn cùng học của Lễ nhiều người chung nhau ý nghĩ: Muốn giàu có vợ đẹp con khôn phải vào quân đội! Quân đội là số một...

Thế là lại bỏ dở học Luật sau khi đã bỏ học kinh tế... Vài năm sau Mạnh cũng theo đi Đà Lạt!.. Để rồi đến cái kết cục thân ruồi muỗi như thế này! Biết vậy cứ học tiếp kinh tế ngay từ đầu có khi cuộc đời mình lại đi theo một ngả khác!..

... Hay thà chết như Mạnh lại yên thân!

Lễ nhớ, Thảo ở nhà phải chạy các cửa, đút lót không biết bao nhiêu tiền cho bọn tay chân của Lý Lương Thân. Cuối cùng, tiền bạc giúp Thảo dò ra: Đúng là Lễ bị tình nghi tham gia nhóm chuẩn bị đảo chính của Nguyễn Cao Kỳ...

   Lại cái nhà ông Kỳ này? - Lễ thốt lên vào tai Thảo qua chấn song nhà giam. - Tướng Kỳ chưa thèm bắt tay anh lấy một lần, chứ đừng nói đến chuyện bè nhóm với ổng! Vô lý đến thế là cùng!

   Anh ơi, bị khép vào tội này thì cái chết mười phần, cầm chín phần trong tay rồi!

Trong tầng lớp sĩ quan cao cấp ở Sài Gòn không ai mách bảo ai, nhưng đều có chung một thông tin ngầm: Hễ có đại sự nguy khốn, bất kể thuộc loại việc gì - từ làm áp-phe (affairs) đổ bể, biển thủ, giết người, đến làm gián điệp, làm đảo chính... – bất kể bị khép vào tội nào, cách thoát tội cuối cùng là đút lót cánh Lý Lương Thân. Lòng nhân ái ra tay độ thế của cánh Lý Lương Thân được đo bằng đô -la. Sự việc mà đến mức Lý Lương Thân không cứu, không thèm cứu hoặc không cứu nổi nữa thì coi như bị xoá sổ Thiên Tào ... Lễ bàn với Thảo, bao nhiêu tiền của kiếm được trong các áp- phe mấy năm gần đây dốc ra hết, nhờ cánh Lý Lương Thân minh oan. Chỉ còn cách ấy. Bố mẹ Thảo, chú thím Học và vợ chồng Hoài đã sang California mấy năm nay rồi, cậy đâu ra tiền. Cứu mạng sống là số một, rồi làm lại từ đầu vậy... Nếu thoát chết thì kỳ này là cháy nhà đợt hai! Sẽ không còn gì nữa để mà lo cháy...

... Ngày ấy, từ chiến trường quân khu I, lo lót mãi mới chuồn được đi học bồi dưỡng lớp sĩ quan cao cấp 18 tháng ở trường Cao đẳng quân sự. Tiền lót tay có hạn, lại chỉ là lớp bồi dưỡng, nên mãn khoá Lễ chỉ được thêm cái lon trung tá. Lon chưa kịp nhận, đã có giấy gọi quay trở lại quân khu I. Lập tức Lễ phải đâm bổ ngay về nhà, của cải kiếm được trong các áp-phe bao nhiêu năm trời phải nướng hết cho các đấng bề trên để chạy cho bằng được cái chân chuyên viên, nói thực là loong toong cao cấp, trong Văn phòng Bộ Quốc phòng, rồi sau này chuyển sang Ban thư ký Bộ Tổng tham mưu... Lúc ấy chú Học cũng phải phụ thêm vào khá nhiều mới đủ. Thế là trắng tay, nhưng dù sao cũng còn hơn đi ăn đạn của Việt cộng ngoài mặt trận... Đấy là trận cháy nhà đợt một!..

Lý Lương Thân chỉ là một thương nhân Hoa kiều, giàu có đầu bảng ở Sài Gòn, đồng thời là trùm sỏ cánh thương nhân người Hoa, nắm giữ huyết mạch kinh tế Sài Gòn. Điều đặc biệt quan trọng là một trong những người tình của Lý Lương Thân là chị ruột vợ tổng thống. Bản thân Lý Lương Thân là thượng khách của Bộ chỉ huy CIA ở Sài Gòn, không hiểu sao được đặc cách có hộ chiếu Mỹ.

Nằm thêm hai tuần nữa tại trại giam đặc biệt ở Thủ Đức, Lễ được thả. Nhưng lần này do một bức thư ngắn:

“Thượng cấp đã xem xét lại, ông bị oan. Đền bù cho sự thương tổn này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân nói với tôi sẽ thăng cấp cho ông lên đại tá. Chúc may mắn. Tướng Đặng Văn Quang.”

Một mảnh giấy suýt làm mình toi mạng. Một mảnh giấy khác đưa mình ra khỏi tù và thăng cấp, nhưng làm cho mình khánh kiệt! Cả hai mảnh giấy đều bằng cái lá đa! Đời ơi là đời!
 

- Trung tá, ấy chết, xin lỗi, đại tá, xin đại tá nhanh chân lên. Huế thất thủ ngày hôm qua rồi. - Người chỉ huy trại giam đặc biệt cố giữ vẻ bình tĩnh trong khi tiễn Lễ ra đến cổng.

   Tướng Ngô Quang Trưởng tử thủ ở Huế có sao không?

   Tướng Ngô Quang Trưởng đã bình an về Sài Gòn cách đây một tuần rồi ạ. - Người chỉ huy trại bắt tay Lễ rồi quay trở vào.

Lon, mũ, quân phục chỉnh tề, chờ mãi ở cổng trại giam đặc biệt, chẳng có xe nào của Ban đến đón. Lại nóng ruột về nhà, Lễ lao ra giữa đường, giang tay chặn một xe tải đi nhờ về thành phố. Qua cầu Phan Thanh Giản xe đi hướng khác, Lễ đành nhảy xuống đi bộ.

Thất thểu bước đi trên hè, mấy lần suýt bị những người vội vã xô ngã. Mắt Lễ chăm chú nghiêng nghiêng ngó ngó xuống mặt đường hỗn loạn, cố tìm cái tắc- xi. Mấy lần giơ tay ra hiệu, chẳng có tắc- xi nào thèm đỗ, vì tất cả đều đầy khách. Mới có bốn tuần trong trại giam đặc biệt, Lễ thấy mình đang bước đi trong một Sài Gòn khác. Phố xá có nhiều nhà đóng cửa. Hỏi thăm được biết hồi này thường xảy ra tống tiền, cướp phá cửa hàng. Cuốc bộ thêm một quãng nữa, tới cửa hàng uốn tóc nữ Kim Hoa trên đường Phạm Đăng Hưng, tiếng gào thét dữ dội cùng với tiếng quát chửi làm cho Lễ đứng sững lại. Nhìn vào trong cửa hiệu, Lễ thấy một tốp có tới sáu, bảy tên lính Cộng hòa mặt mũi đỏ gay. Chúng điên cuồng hành hung, cướp phá như những con quỷ - vì chán chường, vì tuyệt vọng... Một thằng trong bọn đứng án ngữ cửa ra vào, bàn tay trái bị cụt, bàn tay phải cầm tiểu liên chĩa thẳng vào ngực Lễ:

   Đ... mẹ cái thằng này! Sĩ quan mà lại không chịu ra trận! Thích đứng đây ăn đạn của tụi tao phải không!

Lễ lùi được vài bước theo bản năng, mồm há hốc và cứng đơ như bị đóng hàm thiếc. Một tràng tiểu liên chói chang. Mọi người chung quanh chạy tán loạn. Riêng mình Lễ chết đứng. Tên lính khoác súng vào người rồi bước đến trước mặt Lễ, bồi cho Lễ mấy cái bạt tai ngã dụi xuống đất:

- Muốn sống thì cút mẹ mày đi!

Lễ đã chồm dậy định xé xác tên lính cụt tay, nhưng ngay lập tức họng súng đen ngòm nhìn thẳng vào mặt Lễ. Thêm một cái tát nữa này đom đóm mắt giúi Lễ ngã chúi mặt xuống đất… Một tràng súng thứ hai đanh sát bên tai, đất cát tung lên thành một vệt dài trên mặt hè sát bên người Lễ. Lễ lồm cồm đứng dạy theo bản năng, máu me be bét đầy mặt. Lễ vừa tự sờ đầu, sờ ngực, đến lúc này mới biết là mình còn sống. Tên lính say chỉ bắn doạ. Lễ bỏ đi một quãng ba bốn nhà rồi mới quay đầu nhìn lại... Một người trong nhà cạnh nơi Lễ đứng chạy ra kéo tay Lễ lôi tuột đi. Người này nói sát vào tai Lễ:

   Chạy nhanh đi! Mặt trận An Lộc vỡ rồi. Mấy ngày nay bọn lính thoát chết đổ dồn về đây đông lắm. Hung hăng như chó điên.
   Gọi giúp tôi quân cảnh!

   Quân cảnh cũng chịu thua. Ông đeo lon sĩ quan, lại tay không. Tránh xa chúng ra...

Mãi cho đến khi leo lên được cái xích- lô, Lễ mới có thời giờ lấy khăn tay lau máu trên mặt. Mấy lần tay Lễ bị hất ra khỏi mũi, có lần suýt rơi cả khăn tay, vì lúc thì xe ô tô, lúc thì xe máy quệt vào bên hông xe xích-lô, cầu hàng không ầm ầm trên đầu. Người đạp xe xích lô phải nói như hét vào tai Lễ: ngoài sân bay Tân Sơn Nhất ra, trong thành phố có tới cả chục địa điểm di tản bằng trực thăng cho các gia đình nhân viên quân sự Mỹ, các ông bà lớn và những người nhiều tiền...

Những người đi trên đường phần đông tay xách nách mang, chỉ mải miết chạy loạn, bỏ mặc mọi chuyện xảy ra. Sài Gòn phảng phất cái không khí 24 giờ quân hồi vô phèng(*) [(*) vingtquatre heures sans lois] của các đội quân lê dương thất trận trước khi tháo chạy khỏi một thành phố. Lễ đã từng được đọc cảnh tượng này trong mấy quyển sách nào đó nói về chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Trên đường phố, tướng tá mang quân phục và còn đeo nguyên lon, các quan chức cao cấp, người giàu có... ngồi trên các loại xe, hở mui, kín mui, xe tải, các xe gắn máy Honda, Vespa... thi nhau chạy ngược chạy xuôi...
 

Càng vào sâu trong thành phố, càng kẹt đường. Cũng may Lễ gặp được người đạp xích lô nhanh nhẹn, lách rất giỏi và có sức dẻo dai kỳ lạ. Nhưng khi qua đường Mạc Đĩnh Chi ngoặt vào đại lộ Thống Nhất, xích lô thỉnh thoảng mới nhích được từng bước một. Tới ngã tư gần đại sứ quán Mỹ, các rào chắn được đẩy ra đến tận giữa lòng đường, chỉ để lại lối đi một chiều ngược lại. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ và quân cảnh Cộng hòa, tiểu liên AR15 trên vai, luôn mồm thổi còi, vung dùi cui bắt các xe quay lại. Lễ đành trả tiền cho người đạp xích lô, nhảy xuống đi bộ. Hơn một giờ sau Lễ mới len lách được về đến chỗ ngoặt trái sang đường Pasteur để lần mò về nhà mình ở ngã tư Hàn Thuyên. Quãng đường này lúc dạo bộ thường ngày Lễ chỉ cần khoảng mươi phút.
Bước vào nhà: Thảo đang nằm liệt giường, hai mắt nhắm nghiền. Kết quả của một tháng chạy tiền, bán của cải, lo lót các cửa để cứu Lễ ra khỏi trại giam đặc biệt Thủ Đức.
   Ông Thành nghi rằng má có lẽ bị tai biến nhẹ mạch máu não, vì huyết áp tăng đột ngột, ba

   – Huệ nói cho Lễ hiểu. Ông Thành là chú ruột của Thảo, sống độc thân, làm nghề bác sĩ tư, chỗ dựa của gia đình Lễ về mặt sức khoẻ.

Hôm sau, đến phòng làm việc ở Bộ Quốc phòng, Lễ thấy đồng nghiệp của mình vãn quá nửa. Những cái bắt tay hờ hững. Chẳng ai ngạc nhiên hay vui mừng việc Lễ được tha về.

Đọc xong mảnh giấy có chữ ký của Đặng Văn Quang do Lễ đưa cho, Lê Minh Đạo, “sếp” trực tiếp của Lễ trong Ban thư ký Bộ tổng tham mưu, lúc này đã lên cấp tướng, bĩu môi quẳng mảnh giấy xuống bàn:

   Lon giấy. Đại tá giấy. Tổng thống bây giờ đang bận chỉ huy quân gia đóng gói của cải đưa lên máy bay, làm gì có thời giờ ký quyết định phong đại tá!

Lễ thấy mình như bị nhét giẻ vào mồm, vì uất ức, vì không còn gì để nói.

   Các ông biết chưa, tướng Phạm Văn Phú vừa mới bị Tổng thống cho người hốt đi tối qua, lại cũng có chuyện gì đó loanh quanh với ông Kỳ.
   Tổng thống bây giờ đa nghi hơn Tào Tháo.

   Hình như năm nay là năm đại hạn của các tướng sĩ có họ Phạm! - đại tá Quách Minh Châu, sĩ quan trực chiến của Ban đang ghi ghi chép chép cũng bô bô góp chuyện.
   Tính “Tào Tháo” này có cái lý của nó đấy.

   Phải đấy. Đại sứ Mác-tin thích cái phong thái yêng hùng của ông Kỳ, nhưng đánh giá cao hơn tính mưu lược của ông Thiệu. Ông Thiệu chúa ghét những lời chê bai của ông Kỳ...
   Ổng lại càng không yên tâm về năm sáu lần mưu mô đảo chính!

   Thế giằng co mà các vị! Thẳng tay loại ông Kỳ, ông Thiệu cũng trắng tay luôn.

   Thẳng tay thì không biết ai loại ai. Chỉ có Mác-tin loại ai thì chắc chắn kẻ đó bị gạch bỏ, ba đầu sáu tay cũng thế thôi.

Trố mắt đứng nghe, chưa bao giờ Lễ thấy trong Ban ngôn từ thẳng thừng đến như vậy. Trước khi Lễ bị tống giam, những tin tức hay câu chuyện đại loại như vậy có thể sẽ làm cả Bộ Quốc phòng, thậm chí cả thành phố Sài Gòn náo loạn. Nhưng bây giờ những câu chuyện như vậy chỉ tạo ra được vài phút không khí rôm rả cho các ly rượu trên bàn. Lễ cũng không biết từ bao giờ mọi người trong Ban uống rượu mạnh ngay từ buổi sáng.

Sau vài ba câu chuyện chiếu lệ về công việc, mấy đồng nghiệp còn lại lơ thơ của Lễ trong Ban chỉ bàn bạc với nhau mỗi việc duy nhất: Mách nước nhau chạy giấy phép đặc biệt giành chỗ máy bay đưa gia đình đi di tản! Đại tá Mạch Văn Thành còn đưa ra ý kiến xin Nguyễn Cao Kỳ đặc cách cho thuê một trực thăng riêng.

Không ai nói ra, nhưng tất cả đều hiểu: Phải có nhiều tiền! Lễ toan hé miệng xin một xuất cho gia đình mình, nhưng lưỡi cứng đơ. Vừa ở nhà lao ra, gia sản khánh kiệt, Lê Minh Đạo còn nói xỏ xiên về chức đại tá giấy, Lễ hiểu mình không có gì để tham gia cuộc đổi chác này. ...Có quỳ xuống chắp tay lạy xin chúng nó cũng bằng thừa! Một lát sau Lễ đứng dậy, không chào không hỏi, lẳng lặng cắp cặp ra về. Không một con mắt nào thèm nhìn theo.

Đấy cũng là ngày cuối cùng Lễ đến nhiệm sở.
 

Trong khi cả Sài Gòn hoảng loạn huyên náo bao nhiêu, trong căn nhà Lễ càng yên ắng bấy nhiêu, gần như một căn nhà chết. Sức khoẻ Thảo đã khá hơn, song vẫn phải nằm nghỉ trong phòng riêng và phải hạn chế đi lại. Huệ và Tín giúp mẹ và ông Thành một số việc lặt vặt. Từ một tuần nay Huệ phải kiêm việc đi chợ thổi cơm, vì người bếp sợ chiến tranh ập tới Sài Gòn nên đã tự ý bỏ việc.

Thỉnh thoảng tạt sang thăm Thảo, an ủi đôi lời, Lễ lại trở về buồng mình nằm thượt trên giường. Nhiều lúc hàng giờ liền Lễ không nói không rằng, mắt lúc nhắm nghiền, lúc trâng trâng không động đậy. Nằm chán lại ngồi lên bật radio nghe tin chiến sự, rồi lại nằm... Từ radio, tiếng Tổng thống Thiệu quyết liệt ban lệnh cố thủ phòng tuyến Xuân Lộc...

Ôi giá có một liều thuốc tiên cho cả nhà cùng uống và cùng vĩnh biệt cuộc đời này một cách êm ả!.. Việt cộng vào cũng chết, lúc này dắt díu nhau đi di tản thì cũng giẫm lên nhau mà chết, nhất là Thảo đang yếu như thế này...

Có lúc cả ông Thành, Huệ và Tín cùng nhau giục Lễ phải tính toán thế nào, vì cả Sài Gòn đang tan vỡ, điên loạn.

   Ba nghĩ cách đưa má và cả nhà trốn đi! Ba xem, chết đến nơi rồi đây này! - Huệ mếu máo, dúi vào tay Lễ một cuộn to tướng báo chí các loại, đăng tải những bài và những hình ảnh đốt phá, cướp bóc, giết tróc, những thân thể bị chặt đầu, những bàn tay phụ nữ bị rút móng tay...

Những hàng tít lớn: Việt Cộng tắm máu Ban Mê Thuột!.. Hành động tàn sát dã man của Việt Cộng...

Lễ cầm lên ngó qua rồi quẳng xuống đất, vẫn nằm thượt không nói không rằng. Nhiều khi đến bữa ăn, giục mãi Lễ cũng không buồn dậy... Ông Thành khẩn khoản thế nào, Lễ vẫn cứ nằm yên như người không hồn, thỉnh thoảng mồm vẫn lẩm nhẩm: Giá mà có một liều thuốc tiên...

Ông Thành không hiểu Lễ nói cái gì, càng bối rối. Huệ đứng ngồi không yên, phần vì cảnh nhà lúc này, phần vì người yêu của Huệ đã theo gia đình di tản cách đây mươi ngày. Riêng Tín cảm thấy thoải mái, vì nhìn thấy chắc không phải thi kết thúc niên học.

Dần dà Lễ bỏ cả việc thỉnh thoảng tạt sang buồng bên hỏi thăm Thảo... Hai ngày, ba ngày, bốn ngày... Mãi đến lúc Thảo nhờ hai con xốc nách lết sang buồng Lễ, trong tay tập báo Huệ mang về hôm nào. Ông Thành cũng đi theo. Đến lúc này Lễ mới nhỏm dậy đỡ vợ ngồi xuống cạnh mình:

   Em cần nằm yên tĩnh dưỡng, sao vội đứng dậy đi lại làm gì! – tay lần lần các tờ báo một lúc, Lễ nói tiếp: - Vứt các tờ báo này đi!
   Chết đến nơi rồi anh ơi. Anh xem đây, Việt Cộng tàn sát Buôn Mê Thuột dã man lắm.

   Toàn là hù doạ! Lên gân mọi người đánh lại Việt cộng... – Lễ giải thích, tay vẫn gạt nắm báo. - Những cái trong ảnh là thật. Nhưng đấy là những ảnh các cuộc càn quét của lính thuỷ đánh bộ Mỹ và quân Cộng hòa trong chiến dịch “tìm diệt”, lưu trữ của Ban anh có cả đống!

   Trời, lại còn có chuyện như thế nữa! - ông Thành kêu lên.

   Anh ơi, theo binh tình này Việt Cộng vào Sài Gòn đến nơi rồi. Hiếu thắng như tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng đã cho vợ con, tài sản đi hết. Cánh họ Lý gọi điện thoại nói với em như vậy.

   Bọn họ có rủ em đi không?

   Có, nhưng phải nhiều tiền. Chắc tốn không kém việc chạy cho anh ra khỏi trại giam đặc biệt. – giọng Thảo lạc hẳn đi.
   Nằm đây cũng chết. Tiền không, quyền không, ...chạy bộ thì cũng bị giẫm bẹp mà chết.

   Thế thì nằm đây chờ chết còn hơn, ba nói có lý đấy... - Tín xen ngang.

   Hàng chục nghìn người chạy được, anh là đại tá mà không lo được cho gia đình chạy thoát thì còn làm gì nữa! – Thảo chì chiết, giọng nói run bắn.
   Anh nhận lỗi với em, với cả nhà. Nhưng đến nông nỗi này thì hết đường rồi.

Sau khi mọi người trở ra giữa những tiếng khóc não nuột của Thảo và Huệ, Lễ lại nằm thượt.
 

Tối 21 tháng tư đài phát thanh Sài Gòn phát đi diễn văn từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Lễ lắng nghe nhưng vẫn nằm bất động trên giường. Diễn văn hết, radio đã chuyển sang những tin tức khác từ lâu, Lễ cũng chẳng buồn ngồi dậy tắt đài. Chỉ có những tiếng thở dài kéo dài hơn trước ... Vài giờ sau đột nhiên Lễ cười rống lên một cách điên dại: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân nói với tôi sẽ thăng cấp cho ông lên đại tá...”. Cả nhà cuống cuồng chạy vào phòng Lễ.

Cũng lúc này ông quản gia nhà in của ông Phạm Trung Học, chạy tới nhà Lễ:

   Cậu Hai tính thu xếp cho gia đình chạy đi! Tổng thống Thiệu đã từ chức rồi. Tiền đây, lo cho cho cả nhà chạy nhanh lên. – dứt lời, ông quản gia rút ra từ trong người một gói đô-la và vàng dúi vào tay Lễ.

   Cảm ơn chú Tư. - Lễ xưa nay vẫn gọi ông quản gia như vậy. - Chú giữ lại đi. Chú còn phải lo cho gia đình chú nữa. Bây giờ có bán cả nhà in cũng không đủ tiền để chạy thoát ra nước ngoài... Có bán cũng không ai mua lúc này. - Lễ dứt khoát đẩy cái gói lại.

   Cậu Hai không cầm thì mợ Hai cầm lấy, dù ít dù nhiều chắc chắn có khi phải dùng tới. Tôi đã giữ lại một phần cho gia đình tôi rồi. - Ông quản gia đưa gói tiền cho Thảo, hỏi tiếp: Cần bao nhiêu tiền thì đủ cho đi di tản hả mợ Hai?

   Vô ích, chú Tư ạ, cánh họ Lý nói phải tương đương với số tiền như đã chạy cho anh Lễ ra khỏi trại giam Thủ Đức.
   Vô phương. Thế thì vô phương thật rồi.

   Nghĩa là đành ngồi chờ chết, hả ông Tư?

   Trông chờ vào số phận thôi, ông Thành ạ! Dắt lấy vài đồng vào người... Đóng chặt cửa ngồi yên trong nhà. Tôi khuyên cả nhà không nên đi đâu lúc này. Xin chào tất cả... - ông quản gia vừa từ biệt mọi người, vừa tự tay mở cửa ra về.

Vào một ngày, lúc chiều chạng vạng, Huệ đi nghe ngóng động tĩnh bên cánh họ Lý, hớt hải chạy về nhà, mang đến cho Lễ tin Nguyễn Văn Thiệu và gia đình đã ra nước ngoài một hai hôm nay rồi. Lễ đang nghe con kể, đột nhiên có nhiều loạt tiếng nổ dữ dội. Thành phố rung chuyển . Những tiếng nổ ấy hất Lễ ra khỏi giường. Hoàn toàn theo bản năng, Lễ đi vội đôi giầy, không nói không rằng kéo ông Thành xuống vườn mở cổng cho mình. Chạy ra ngoài cổng Lễ còn quay lại hét vào tai ông Thành:

- Khoá chặt cổng! Không ai được ra khỏi nhà!

Ra đến ngoài đường Lễ có cảm giác mặt đất rùng rùng dưới chân. Chưa kịp định thần, dòng người đã cuốn phăng Lễ đi. Lúc này Lễ thấy thành phố rung chuyển ngày càng mạnh, vì cả một biển người và xe ầm ầm, điên loạn. Tiếng còi rú, tiếng kêu thét, la ó từ mọi ngả phố vang vọng va đập vào nhau liên hồi nghe như tiếng thác nước đổ ào ào. Tất cả đều hướng về phía đại sứ quán Mỹ. Chạy được một quãng, những người cùng chạy cho Lễ biết những tiếng nổ vừa rồi là do không quân và trọng pháo của Hà Nội đã tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Đến cách đại sứ quán Mỹ chừng gần một trăm thước, thác người và xe tắc nghẽn hoàn toàn. Nhìn về phía đại sứ quán, Lễ thấy nhiều người đang leo lên tường rào, lính thuỷ đánh bộ Mỹ đứng trên tường dùng báng súng, dùi cui quật họ rơi xuống đất, có lúc phải đưa tiểu liên ra bắn chỉ thiên. Mấy cái loa phóng thanh của đại sứ quán mở hết cỡ kêu gọi mọi người giữ trật tự, nước Mỹ sẽ không bỏ rơi những người bạn của mình... Tiếng chửi rủa, tiếng kêu khóc ầm ĩ. Cách Lễ vài người, những tiếng hét thất thanh của mấy em nhỏ nào đó bị biển người chen lấn giẫm bẹp... Đứng ngây dại, ngày càng khó cử động trong biển người mỗi lúc một đặc cứng, Lễ chợt hiểu: Không thể đứng đây chờ chết. Phải chạy ra khỏi cái biển người này. Lễ đem hết sức lực đấm đá, giẫm đạp, tìm đường chạy ngược trở lại.

Về đến nhà, mặt mũi thân thể Lễ nhiều vết tím bầm, quần áo rách bươm, cánh tay phải bị một vết đâm sâu hoắm. Lễ hoàn hồn biết mình thoát chết bẹp. Thấy vẫn đủ mọi người trong nhà, Lễ thở phào.

Gần trưa hôm sau, Huệ khóc khóc mếu mếu chạy sang lôi Lễ ngồi dậy:

- Ba ơi bây giờ có muốn chạy cũng không được rồi! Chết đến nơi rồi! Con vừa ở bên chỗ
 

cánh họ Lý về. Mọi người nói với nhau ngay cả máy bay của ông Thiệu định chở đô-la và vàng của chính phủ ra nước ngoài cũng bị kẹt rồi. Hết đường chạy rồi ba ơi...

- Đừng khóc nữa con... Chết thì cả nhà cùng chết... - Lễ ôm con gái vào lòng.

Gần trưa ngày 30 tháng Tư, nghe tin trên đài phát thanh tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, Lễ giấu hết quân phục, giấy tờ liên quan đến quân đội Cộng hòa, rồi chạy ra đường. Huệ và Tín cũng chạy theo. Ông Thành cũng muốn đi lắm để xem binh tình ra sao, nhưng Lễ đẩy ông về nhà trông Thảo. Trước mặt Lễ là một Sài Gòn đầy người, cờ hoa, tiếng cười. Bộ đội Giải phóng trẻ măng, niềm nở, áo quần giản dị, hoà đồng vào mọi người dân hai bên đường như đã quen biết nhau từ lâu.

Cách đây vài hôm thôi là một biển người hỗn loạn, đặc cứng những người tìm đường chạy trốn. Mình suýt chết bẹp trong cái biển đen này, thế mà hôm nay...

Bố con Lễ đứng xen lẫn vào mọi người trên hè phố. Sau các đoàn quân cơ giới là các đoàn quân đi bộ toả vào các đường phố. Các chiến sỹ chào hỏi, bắt tay mọi người. Bố con Lễ cũng được chào, Lễ được bắt tay...

Thật khó có thể hình dung những con người này đã đánh bại cả một bộ máy chiến tranh hiện đại khổng lồ, và bây giờ làm chủ Sài Gòn, làm chủ cả miền Nam... Cái Sài Gòn biển đen hỗn loạn hôm nào lặn đi đâu mất... Bầu trời trong xanh thanh bình một cách kỳ lạ.

Lễ nhớ lại băng đạn tiểu liên chói chang của đám tàn quân chạy từ An Lộc bắn qua đầu mình, cảnh giữa ban ngày bọn lính hung hãn xé quần xé áo hiếp các cô gái trong tiệm uốn tóc đầu phố Phạm Đăng Hưng ...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:48:40 am
Càng đứng nhìn một Sài Gòn mới đang hiện dần ra trước mắt, thời gian trong ký ức Lễ càng lùi dần vào quá khứ, như để đối chiếu, để so sánh. Lễ thấy mình đang trở lại những chiến trường mình đã có mặt, đang nhìn cảnh binh lính Mỹ và lính các quốc tịch khác cùng với lính Việt tàn sát dân chúng.., những làng mạc cháy thui vì khói lửa, những vùng sự sống bị huỷ diệt, mặt đất trở thành bình địa xác xơ với hàng trăm, hàng trăm hố lớn hố nhỏ.., trong tiếng bom đạn ầm ầm văng vẳng đâu đó câu hỏi đầy ai oán của Mạnh: “Chẳng lẽ đây là cái đích ta sinh ra để đi tới!?.” Lễ nhớ lại việc đại uý Lãnh trong trận càn vào Cần Giờ lấy xe ủi đất ủi cả xác đồng đội, xác các chiến sĩ Việt Cộng và xác dân thường xuống các hố đại bác để kịp mở đường đón ban chỉ huy liên quân Mỹ Việt từ Sài Gòn xuống kiểm tra trận đánh... Ngồi trong xe đoàn tuỳ tùng đi theo sau, có chỗ Lễ nhìn thấy một cái chân có giầy nhà binh bị cán nát... Một đoạn khác Lễ thấy cả một cánh tay trồi lên mặt đường... Cảnh tượng đại uý Lãnh vừa mới báo cáo xong, viên tướng Mỹ đã mắng té tát vào mặt vì tội để mất trận địa và tội mở đường chậm...

Năm tháng trôi đi, nhưng hình ảnh đại úy Lãnh vẫn gậm nhấm, cào xé mãi lương tri của Lễ.

Lễ còn nhớ rõ lắm: Không chịu được nhục, lúc ấy Lãnh đã vung tiểu liên tự bắn nát hai chân mình... Lễ không thể nhớ được bao nhiêu năm sau Lễ đã tự hỏi mình không biết bao nhiêu lần: Tại sao lúc ấy Lãnh không bắn vỡ mồm cái thằng tướng Mỹ lắm lời mà lại tự làm khổ mình như vậy? Có đến hàng trăm cách trả lời, nhưng Lễ vẫn không lý giải được cách nào. ...Nhục nhã hơn nữa, sau băng tiểu liên ấy Lãnh bị hai sĩ quan hộ vệ của viên tướng Mỹ này bắn chết ngay tại chỗ, không khác gì người ta bắn bỏ một con chó dại.

Trời đất ơi, trước mặt mọi người, Lãnh buông thõng hai tay, mắt trân trân nhìn hai viên sỹ quan Mỹ cầm súng lục nhằm thẳng vào đầu mình...

Mãi về sau này nhiều lúc Lễ vẫn còn tưởng rằng hai con mắt đó đang trân trân nhìn thẳng vào mặt mình.

Còn hôm cùng với hai con chạy ra đường xem đội quân chiến thắng kéo vào Thành phố. Ôi gần như không thể tin được vào mắt mình.

Ngày hôm sau Lễ lại ra đường, nhưng quyết định đi một mình…Ngày hôm sau nữa, lại một ngày hôm sau nữa…

Lúc đi lang thang, lúc chạy, ngó ngó nghiêng nghiêng không biết bao nhiêu đường phố, có khi vấp cả vào người đi đường, Lễ căng mắt cố nhìn mọi thứ trong tầm mắt có thể nhìn được... Nhiều lúc ráng hết sức mà Lễ vẫn không làm sao hít cả bầu không khí thanh bình của Thành
 

phố vào lồng ngực mình... Có lúc Lễ phải tự cấu vào người mình, vì chỉ lo mình đang trong tâm trạng hoang tưởng ...

Ôi không làm sao tin nổi Sài Gòn giải phóng lại có thể có được bầu không khí thanh bình đến như vậy... Không bù cho cách đây vài ngày... Bao nhiêu hy vọng loé sáng trong tâm trí Lễ...

Lễ đi tới quyết định tự khai báo và tự đến trại cải tạo.., theo sự chỉ dẫn của chính quyền mới của khu phố.

... Có thể không có tắm máu. Song có chắc chắn như vậy không?... Sau cải tạo là cái gì? Hay cải tạo cũng chỉ là một sự chuyển giao vỗ về ban đầu – một bước quá độ dẫn đến hành hình thực sự? ...Cải tạo bao nhiêu lâu? Có hạn định, hay suốt đời? Có thể sống được trong chế độ này không? Mình, rồi các con mình... Tất cả sẽ có chỗ đứng trong cái xã hội cộng sản chứ? Với cả một quá khứ của một người lính đã từng cầm súng đi qua biết bao nhiêu chặng đường giết chóc?.. Chiến tranh nào mà không có giết chóc?.. Và hôm nay người chiến thắng gọi đấy là tội ác hay đồng loã với tội ác!.. Với cái chức đại tá trong quân đội chống lại cách mạng, chống lại chính gia đình mình?

Hàng trăm câu hỏi về quá khứ, về tương lai làm cho cả bầu trời tối đen, đổ ụp xuống, nuốt chửng tất cả... Cái mái tôn của lán như sập xuống mặt Lễ, quay cuồng, đè nghiến...

Lễ quằn quại trên tấm phản...

... Chú Thành! Chú Thành đừng cõng Thảo chạy nữa! Bỏ Thảo xuống đi! Thảo xuống đi! Huệ, Tín kéo mẹ và ông lại! Kéo lại... Lễ càng gào lên, ông Thành càng chạy xa hơn, trên lưng cõng Thảo. Huệ và Tín bám chạy theo hai bên. Rồi tất cả chìm dần trong biển người. Lễ càng hét lớn: Đừng chạy nữa! Quay lại! Chạy nữa là chết! Quay lại!.. Không ai nghe theo lời Lễ gọi. Hay là họ không nghe được nữa. Hình ảnh họ xa mãi, nhỏ dần, rồi chìm nghỉm trong biển người đen đặc... Lễ ôm mặt khóc thảm thiết...

   Anh Lễ! Anh Lễ, tỉnh dậy đi. Mê man ú ớ cái gì vậy? Chết thật, sao bỗng dưng sốt cao thế này? – Tôn Thất Loan cố lay bạn dạy: ...Tỉnh dậy đi, tôi mang cháo về cho anh đây này!..

Mọi người khác xúm xít quanh tấm phản Lễ nằm.

Mãi Lễ mới rên lên được thành tiếng:

   Làm ơn cho tôi xin ngụm nước! Khủng khiếp quá. Khủng khiếp quá. Tôi cứ nghĩ là...

   Ăn trưa xong về đến lán, chúng tôi thấy anh co quắp trên phản và mê sảng. Sờ lên trán, thấy nóng như hòn than. Lay mãi anh mới tỉnh. Cố ăn tí cháo rồi ngủ đi. Đầu giờ chiều chúng tôi mời y sĩ lên thăm bệnh cho.

   Vâng. Cảm ơn. Tôi bị sốt đột ngột...

3.
Sáng sáng cụ Tuyên bà bóc tờ lịch rồi để lên bàn thờ, miệng khấn lầm rầm. Cụ đếm từng ngày, mong sao ông Nghĩa có thể sớm bay vào thăm em tại trại cải tạo Bảo Lộc. Đã hơn bốn tuần rồi, nhưng cái ngày ấy vẫn chưa đến.
Chỉ dăm ngày sau khi đề đạt với tướng Lê Hải, ông Nghĩa đã có đủ các giấy tờ cần thiết, kể cả giấy phép ngoại lệ cho phép ông vào thăm trại. Song vài tuần nữa may ra mới có máy bay ông có thể đi nhờ. Cả gia đình lớn của cụ Tuyên đều thấy nên gắng chờ, đỡ được tốn kém bao nhiêu tiền cho cả một chuyến bay khứ hồi.

   Đằng nào ngoài này cũng đã viết mấy thư cho Lễ và Thảo rồi, bớt chi tiêu đồng nào hay đồng nấy các con ạ. Nhà ai cũng chỉ có mấy đồng lương, đi vay đi mượn làm gì cho thêm khó ra... - Cụ Tuyên bà nói vậy, nên cả nhà mới dám kiên nhẫn chờ.

Ngày ngày đến cơ quan, ông Nghĩa vừa nóng ruột chờ máy bay, vừa đứng ngồi không yên vì chẳng thấy tướng Lê Hải đả động gì đến nguyện vọng xin nghỉ hưu của mình. Ông hiểu thủ trưởng mình cũng như thủ trưởng rất hiểu ông vậy. Nghĩa chưa bao giờ thấy Lê Hải quên điều gì trong công việc, hơn nữa đây là một đề đạt quan trọng: một thương binh 2/4, có tuổi quân quá nửa tuổi đời, hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, xin giải ngũ... Sự yên lặng của Lê Hải ắt
 

phải có lý do, chỉ có điều là lý do gì thì Nghĩa chưa đoán ra. Chẳng lẽ trong thời bình, một thương binh xin nghỉ hưu cũng phải cân nhắc lâu đến thế hay sao?

Vốn tính thận trọng, ông Nghĩa chỉ cặm cụi làm việc. Gần đây lại có thêm một số vấn đề mới liên quan đến Campuchia, trên yêu cầu Viện góp ý kiến phân tích. Tướng Lê Hải gặp trung tá Nghĩa mấy lần, nhưng chỉ rặt nói về công việc. Trung tá đành im lặng chờ đợi...

Một hôm trong giờ làm việc buổi sáng, sau khi nộp báo cáo công việc, trung tá Nghĩa được tướng Lê Hải giữ lại trong phòng:

   Anh ngồi lại uống nước chờ tôi một lát. Có chuyện cần nói với nhau. Vừa mới có người cho thuốc lá và chè Thái móc câu. Tự phục vụ đi.

Ông Nghĩa tráng ấm chén, pha chè mới, ngắm nghía bao thuốc Thăng Long một lúc rồi mới bóc, thường ngày cả tướng và tá chỉ có Tam Đảo hoặc Điện Biên. Ông rút ra một điếu, ngồi gõ gõ xuống mặt bàn, đưa lên mũi hít hít, nhưng chưa châm thuốc ngay. Trong lòng khấp khởi điểm lại những dự tính cho chuyến đi Sài Gòn sắp tới...

Một lúc sau, gập tập hồ sơ trước mặt, thiếu tướng bỏ kính xuống bàn, cầm theo một tệp giấy mỏng, rồi ngồi xuống đối diện với Nghĩa:

   Chè uống được không?

   Tôi đã pha rồi, thơm lắm. Chờ anh cùng uống mới ngon.

   Để tôi rót nước cho, cầm lấy cái này đọc đi, Tôi chờ ý kiến của anh. – Thiếu tướng đưa cho trung tá một báo cáo dài 5 trang - Trên vừa mới chuyển đến cho tôi lúc đầu giờ. Uống nước đã, kẻo nguội thì mất thú.

Thiếu tướng châm thuốc cho trung tá và cho mình, rồi ngả người trong ghế, chăm chú theo dõi gương mặt trung tá thay đổi theo các dòng chữ. Chốc chốc trung tá lại rít rất sâu một hơi thuốc như đang tìm kiếm điều gì trong không khí...

   Như vậy là thế nào, anh Hải?

   Tôi đang chờ ý kiến anh.

   Thâm độc quá! Cực kỳ thâm độc và trắng trợn anh ạ!

   Đấy là tổng hợp các báo cáo của Ban chỉ huy quân sự hai tỉnh Gia Lai và Kontum. Trên gửi cho một số cơ quan để nghiên cứu.
   Tôi biết, ngay sau ngày 30 tháng Tư Khmer đỏ đã quấy nhiễu biên giới nước ta rồi. Tôi hiểu vì lý do ngoại giao, nên ta tìm cách nói chuyện với Khmer đỏ, không đưa ra dư luận quốc tế công khai. Bây giờ chúng đưa cỡ cả trung đoàn vượt quá vùng Sa Thầy, đánh sâu vào nội địa ta, tàn sát dân thường thế này thì thật là quá quắt. Nhưng...

   Nhưng làm sao?

   Nhưng phần tóm tắt các tài liệu mật của Khmer đỏ làm tôi lo ngại hơn anh ạ. Tôi e rằng đây mới chỉ là màn dạo đầu của một trò chơi lớn nào đó...
   Uống nước đi. – Thiếu tướng châm cho trung tá và cho mình điếu thuốc mới. - Nếu đây mới chỉ là màn dạo đầu...
   Vâng. Khmer đỏ không thèm giấu diếm ý đồ phát động một cuộc chiến tranh lớn. Vũ khí cầm tay khá hiện đại, toàn loại mới nhất của Trung Quốc.
   Thông thường ý đồ một cuộc chiến tranh không ai nói trắng trợn ra đằng miệng như Khmer đỏ - ngẫm nghĩ một lúc, Nghĩa nói tiếp: - Tôi thấy Khmer đỏ rõ ràng vừa tự cổ vũ, vừa muốn uy hiếp chúng ta. Thoạt nghĩ, tôi tưởng họ liều lĩnh... Song nghĩ kỹ, người chủ mưu việc này đi một nước cờ nham hiểm anh Hải ạ. Đánh ta vào lúc dễ tập hợp lực lượng nhất, vào lúc ta dễ bị chấn thương nhất!

   Chẳng lẽ CIA thính mũi đến thế? Trước khi chiến tranh kết thúc CIA vẫn cho rằng Trung Quốc, Mỹ và nhiều thế lực khác không thể chấp nhận Hà Nội toàn thắng!
   Bao giờ chẳng thế, chiến thắng của người này là thất bại của người khác. Họ không để chúng ta yên đâu. Rõ ràng đang có một tập hợp lực lượng mới, chung nhau chủ đề ngăn chặn
 

ảnh hưởng Việt Nam. Họ không thể chấp nhận một Việt Nam làm đảo lộn so sánh lực lượng khu vực, tạo lợi thế riêng cho một bên nào.

   Sao? Việt Nam là kết tinh của độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Xu thế thời đại là quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới cơ mà!
   Lúc này mà anh còn thử thách tôi. – giọng Nghĩa có vẻ bực bội.

   Đừng giận. Anh có lý. Sau 30 tháng Tư, các nước ASEAN muốn bình thường hoá quan hệ với nước ta thật nhanh, ta không thèm để ý tới. Nhưng bây giờ họ trở mặt.
   Như thế là hoàn toàn lô-gích về phía họ. Chỉ có ta chậm hiểu thôi anh ạ. Làm cho Việt Nam lúc này gặp khó khăn hay bị lên án thì Mỹ đỡ mất mặt, Trung Quốc cũng có lợi, họ được chia phần. Lập trường nguyên tắc của các nước ASEAN không phải là đi với ai vĩnh viễn, mà chỉ muốn vĩnh viễn thực hiện lợi ích quốc gia của họ... Rõ ràng là trong quan hệ quốc tế họ trung thành với quan điểm của Palmerston(*) [(*) Henry John Temple Palmerston (1784 - 1815), ngoại trưởng và Thủ tướng Anh, có câu nói nổi tiếng về quan hệ đối ngoại: “Không có bạn vĩnh viễn, không có kẻ thù mãi mãi, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh cửu”.] như đã có lần tôi báo cáo với anh.

Nhận xét của Nghĩa khiến tướng Lê Hải băn khoăn:

   Quả là lâu nay tôi chỉ mải mê đánh giặc, cho rằng những loại chuyện tọa sơn quan hổ đấu lỗi thời rồi... Khi bàn về thời kỳ hậu chiến, tôi thật sự không chú ý chuyện này lắm. Đầu óc hầu như bị hút hết vào câu hỏi: Làm thế nào mau chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy nhanh xây dựng lại đất nước?

   Bây giờ cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng.

   Để Khmer đỏ quậy phá liên miên thì nước ta không ổn định. Ta trừng phạt đích đáng Khmer đỏ thì nhiều kẻ sẽ lu loa nước lớn ăn hiếp nước bé. Không trừng phạt đích đáng thì cái họa Khmer đỏ đối với nước ta không lường được. Mưu đồ thâm ác quá anh Nghĩa ạ.

   Anh phán đoán gì về các chương hồi tiếp theo?

   Đừng quên là nếu phải chiến đấu ở chiến trường Campuchia, sẽ hoàn toàn không đơn giản cho bộ đội ta.
   Anh đúng là ông tướng thiện chiến!

   ...

Phòng làm việc của tướng Lê Hải mịt mù khói thuốc. Ông Hải và Nghĩa có thói quen giống nhau là khi bàn bạc hay viết lách gì là đốt thuốc liên tục. Ông rót tách nước chè mới đưa cho Nghĩa, rồi nói tiếp:

   Tôi không biết nhiều lắm về Pôn-pốt và Yêng-sa-ry, nhưng cách đây một vài năm tôi được đọc một vài bài giảng chính trị của Khiêu-sam-phan cho Khmer đỏ, sặc mùi xô-vanh chống Việt Nam.

   Tung đòn Khmer đỏ, họ đánh một lúc bốn, năm mục tiêu!

   Phải thừa nhận đây là một tính toán chiến lược cao thủ. - Tướng Lê Hải đặt điếu thuốc xuống cái gạt tàn, hai tay ôm chén trà, suy tư.
   Xưa nay chúng ta vận dụng lập trường giai cấp, thực chất là dựa vào ý thức hệ để xem xét mọi vấn đề đối ngoại. Bây giờ anh thử điểm danh từng thành viên của tập hợp lực lượng chống ta trong vấn đề Campuchia. Có lẽ đây là điều chúng ta nghĩ chưa tới tầm. Tôi ngờ là như vậy.

   Nói như anh thì vụ Ussuri(*) [(*) Xung đột vũ trang lớn trên biên giới Xô - Trung tại vùng sông Ussuri 1969.] đã xảy ra được trong quan hệ Xô - Trung, thì chẳng có gì bảo đảm những sự việc tương tự như thế không xảy ra với nước ta?

   Vâng. Có thể lắm anh Hải ạ. Anh hiểu đúng ý tôi.

   Chà chà... Sau Thông cáo chung Thượng Hải(**) [(**) Ký kết năm 1972, mở ra bước ngoặt hòa hoãn Mỹ - Trung, tác động nặng nề vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam.], đến Hoàng Sa(***)[(***) Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, ngay sau khi
 

hiệp định Paris được ký kết.]... Nếu tấn công của Khmer đỏ chỉ là dạo đầu một chương hồi mới thì toàn bộ câu chuyện sẽ là một thảm kịch đấy!...

   Vâng. Chính đây là một thứ diễn biến tình hình chúng ta không chịu làm quen anh ạ.

   Trong đánh giặc, lúc nào tôi cũng tự nhắc mình phải biết ta, biết địch. Qua câu chuyện hôm nay, thú thật tôi chưa dám nói chúng ta biết mình, biết người trong cái bàn cờ thế giới hôm nay!

   Sau mấy năm tham gia tổng kết hai cuộc kháng chiến, nói chúng ta mặt này mặt khác còn ấu trĩ thì cũng không oan anh Hải ạ. Trong cái thế giới ranh ma này có điểm này điểm khác chúng ta ngu hơi lâu.

   Nói cái gì thế anh Nghĩa? Ngồi trong phòng này với nhau thì được. Nhưng ở nơi khác thì phải giữ mồm giữ miệng đấy.
   Tất nhiên. Tất nhiên. Chỉ nói với anh thôi! – Nghĩa nhích lại ngồi sát vào Lê Hải rồi mới nói tiếp: - Đã lâu rồi, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử lại với nhau, tự nhiên tôi bật ra câu hỏi tại sao suốt hơn một thế kỷ nay, dân tộc ta cứ phải luôn luôn đương đầu với mọi tham vọng của các thế lực lớn nhỏ đủ loại. Hết thực dân Pháp, lại phát xít Nhật, Tàu Tưởng, rồi đế quốc Pháp trở lại, rồi đến đế quốc Mỹ, rồi cả những kẻ theo đóm ăn tàn... Đến Khmer đỏ cũng đánh ta nữa thì thật là quá quắt. Người Trung Quốc muốn gì? Chẳng lẽ kẻ lớn, người bé, ai muốn làm gì với đất nước ta cũng được hay sao hả anh Hải?

   Câu hỏi quá thể đấy anh Nghĩa ạ!

   Câu hỏi không thể trốn tránh được anh ạ. Chẳng lẽ dân tộc mình sinh ra chỉ là để hứng chịu chiến tranh?
   Phải, phải... Sự việc lặp đi lặp lại dưới dạng này dạng khác, khiến tôi nhớ đến câu chửi đổng của các bà mẹ của chúng ta: “Chém cha cái thằng lịch sử! Mày là cái thá gì mà cứ đến bắt mãi con cháu bà đi như thế, hết đứa này đến đứa khác!..” Tôi đã được nghe các chiến sĩ ta kể câu chửi này không biết bao nhiêu lần. Họ biến câu chửi thành chuyện cười ra nước mắt!

   Trí tuệ dân gian mà anh! Thâm thuý vô cùng. Anh xem, trong lịch sử hiện đại có dân tộc nào trên thế giới phải đương đầu với những thách thức ghê gớm suốt thời gian dài như thế không?

   Trong vòng ba, bốn tháng Khmer đỏ đã quét sạch hết dân chúng ra khỏi Phnôm-pênh, giết chóc vô cùng dã man. Báo chí nhiều nước tố cáo Khmer đỏ phạm tội ác diệt chủng, nhưng lại chỉ nói qua loa các vụ đánh phá biên giới tàn sát dân ta.

   Tin mới nhất cho biết Khmer đỏ đã quản thúc Sihanouk, giết một số con cháu ông ta. Thế nhưng họ vẫn một cánh với nhau anh Hải ạ!
   Nhìn theo con mắt quân sự, tôi không lo ngại lắm chuyện đánh đấm của Khmer đỏ. Nhìn theo con mắt chiến lược, tôi thực sự lo ngại mối câu kết trong tập hợp lực lượng này. Bây giờ anh về viết lại những điều chúng ta vừa trao đổi thành bản nhận định của Viện ta để trình lên trên đi. Nói thẳng, nói hết.

   Vâng, tôi sẽ làm. Tôi có điều này không biết có nên nói ra không, anh Hải...

Tướng Lê Hải chăm chăm nhìn vào gương mặt chợt hiện lên đôi nét dè dặt của Nghĩa. Ông không nói ngay, mà muốn đoán xem sự dè dặt này nói lên điều gì. Khi đặt vấn đề xin giải ngũ, Nghĩa cũng không giấu được sự dè dặt như thế. Chẳng lẽ lại chuyện này...

Mãi rồi Lê Hải mới đặt chén nước chè đã uống hết từ lâu xuống bàn:

   Anh nói đi.

   Đây mới chỉ là một ý nghĩ ám ảnh trong đầu tôi thôi...

   Là lính sao mà quanh co thế?

   Từ rất lâu rồi, dài dòng và khó diễn đạt lắm...
Nghĩa châm điếu thuốc mới, lặng lẽ rót nước cho cả hai, rít liền mấy hơi nhưng vẫn ngồi im.

Lê Hải cũng rít thuốc, chờ đợi. Ông hiểu câu chuyện Nghĩa muốn nói hẳn là khó nói...
 

   Anh Hải ạ, tôi sẽ làm bản đánh giá tình hình theo tinh thần anh vừa nói. Ôn lại chuyện cũ, tôi đắn đo lắm... Lâu nay chúng ta mới chỉ nhấn mạnh một phía.

   Phía nào?

   Chúng ta thường nhấn mạnh đến khía cạnh cuộc đấu tranh giàu chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc ta. Nhưng hình như đó chưa phải là tất cả những thách thức nước ta phải đối phó.

   Anh nói rõ hơn nữa xem nào.

   Phải chăng về đại cục nước ta thắng lớn các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng vẫn ở trong thế bị động về chiến lược? Hình như chính suy nghĩ của anh cũng đang lần mò theo hướng này.
   Bị động chiến lược như thế nào?

   Bị động chiến lược trong cái bàn cờ lớn của thế giới!

   Nói cái gì thế? – Lê Hải như bị điện giật.

   Lùi thật xa mọi sự vật để nhìn lại cho rõ thì câu chuyện có lẽ là như thế...

Lê Hải đứng dậy, đi đi lại lại, một lúc sau mới quay về phía Nghĩa:

   Có thể... Có thể... Nếu đúng như vậy, cái gì là nguyên nhân gốc hả Nghĩa?

   Tính chi li ra là gần hai thế kỷ, cái thằng lịch sử các bà mẹ của chúng ta vẫn nguyền rủa là như thế đấy!..
   Anh nói ta bị động chiến lược gần hai thế kỷ? - Lê Hải lúc này không giấu nổi sự ngạc nhiên của mình.
   Vâng, hai thế kỷ bị đánh mất, bị cướp mất! Đầu tiên là dẫn đến việc mất nước vào tay thực dân Pháp. Vì mất nước nên mới rơi vào cái thế bị động liên miên cho đến ngày hôm nay! Hết phải đối mặt với kẻ thù này lại phải đối mặt với kẻ thù khác, hầu như không dứt... Từ hai năm nay tôi vật lộn với điều nghi vấn này...

   Anh nói tiếp đi. Cho đến nay chúng ta chỉ mổ xẻ mọi tội ác của thực dân đế quốc, quả thực chưa nhìn kỹ lại những yếu kém của chính nước mình suốt gần hai thế kỷ vừa qua, trước hai thế kỷ vừa qua...

   Vâng, đúng thế. Lịch sử hình như đang cung cấp thêm cho chúng ta một phương pháp luận khác, một cách nhìn khác nữa anh Hải ạ.
   Nói đi!

   Lúc nãy anh chẳng nói Việt Nam thời hậu chiến phải đối phó với những vấn đề hoàn toàn khác trước là gì! Câu chuyện thời sự bây giờ là chúng ta chậm ý thức được điều này. Tầm nhìn của chúng ta về những vấn đề thời hậu chiến có chuyện, anh Hải ạ...

   Nói đi!

   Muốn nhìn rõ thời hậu chiến có lẽ phải bắt đầu từ câu hỏi vì sao để mất nước anh ạ... Nêu lên suy nghĩ này tôi phân vân lắm.
   Vì sao phân vân?

   Ai lại giữa lúc vừa mới đánh thắng hai đế quốc lớn, được cả thiên hạ coi là lương tri của thời đại, là ngọn cờ của phong trào độc lập dân tộc, là tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa.., là đủ mọi thứ vân vân... Tôi kể thế đã hết chưa anh?

   Anh rất thuộc các bài giảng chính trị.

   Vâng, trong một bối cảnh đầy không khí hào hùng như vậy, mà lại dám nhận xét nước ta về cơ bản chưa thoát khỏi cái thế bị động chiến lược, thì có phải là nói ngược không? Là mất đảng tính, mất lập trường không?

   Thì ra phải nhìn lại từ khi mất nước là thế hả? Nói tiếp đi, đã ai quy chụp anh đâu.

   Trách nhiệm người đảng viên thúc giục tôi phải nói ra với anh suy nghĩ này. Chúng ta đã giành hết tâm trí cho chiến đấu để chiến thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng có lẽ nghĩ
 

chưa hết tầm vì sao hai cuộc chiến tranh xâm lược ấy kéo dài và phức tạp như vậy?

- Nghĩa là cũng chưa thấy hết tương lai phía trước vô cùng phức tạp?

Nghĩa rót nước cho cả hai rồi ngồi rít thuốc, sẵn sàng chờ đợi những lời phê phán trời giáng:
   Lời tôi nói bay ra mất rồi, không nhốt lại được nữa anh Hải ạ... Nhưng hy vọng anh đã hiểu

tôi.

   Anh Nghĩa, vấn đề anh nêu phức tạp quá. Lẽ ra tôi phải cạo cho anh một trận, nhưng hãy để đấy đã...
   Cảm ơn, như thế là anh động viên tôi đấy.

Tướng Lê Hải gần như tự sự một mình:
   Anh làm tôi nhớ lại một chuyện cũ đầu năm 1973, vài tuần trước khi tôi đón anh ở Viện
8(*) [(*) Quân Y viện 108.] về. Hôm ấy tôi lên chỗ cơ quan sơ tán ở Cây đa bảy rễ huyện ứng Hoà để phổ biến cho anh em Viện ta việc ký kết hiệp định Paris. Cả Viện hoan hô rầm rầm. Ngay trưa hôm đó có bữa liên hoan mừng thắng lợi. Tôi vừa mới nâng chén rượu quốc lủi chúc mừng mấy câu, thì cụ chủ nhà ngồi cạnh tôi, một ông già nông dân gần 90 tuổi, chống gậy đứng lên giữa chiếu, tay giơ cao chén rượu: “Chúc mừng thắng lợi! Mỹ cút rồi, còn làm cho nguỵ nhào nữa là thực hiện đúng lời Cụ Hồ! Nhưng các anh không được quên nước ta còn có nhiều đối tượng nguy hiểm khác! Từ giờ trở đi phải biết lo liệu chung sống với nước Tàu!”

   Trời ơi, nhận xét của ông già sắc sảo quá!

   Đúng thế. Anh biết không, tất cả chúng tôi sững ra, sau đó mới nhao nhao chúc rượu ông cụ, vừa kinh ngạc, vừa kính phục. Nhưng hôm nay, nghĩa là gần 3 năm sau, có lẽ tôi mới hiểu rõ câu nói của cụ già nông dân này.

   Anh xem, nhân dân ta là như vậy.

   Anh có thể tưởng tượng được không, cụ già này có sáu con và cháu lúc ấy đang tại ngũ. Tất cả đều ra trận hết, không một ai là lính cậu. Có một con và một cháu là liệt sĩ, cả thảy là tám người! Lần nào lên thăm anh em chỗ sơ tán, tôi cũng thấy cụ suốt ngày ngồi ôm cái bán dẫn, nghe hết chương trình phát thanh này đến chương trình khác... Cụ khoe với tôi, cái bán dẫn của cụ là do đứa cháu đích tôn mang từ Liên Xô về biếu cụ, anh ta là tiểu đoàn trưởng bộ đội tên lửa. Cụ nói: Cái tăng-dít-to này đưa tôi đi khắp cả nước, khắp thế giới, dù rằng từ gần hai chục năm nay tôi không bước chân ra khỏi làng mình nữa! Trước đó chỉ có cái ga-len, nghe câu được câu chăng, bực cả mình...

   Anh thấy chưa... Một cụ già không chống nổi gậy ra khỏi làng mình nữa còn nghĩ như vậy, huống chi chúng ta!
   Suốt bữa cơm liên hoan hôm ấy, tôi ngồi bên cụ, ướm hỏi vì sao cụ lại nảy ra ý nghĩ cảnh báo chúng tôi như vậy. Cụ tợp một ngụm rượu nhỏ, rồi giảng giải: Ông tính, kẻ thì muốn đưa chúng ta trở về thời kỳ đồ đá, kẻ thì muốn ta đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ ác thế thì thắng bận này làm sao yên hàn ngay được? Ngồi nghe, tôi cứ ớ ra...

   Chúng ta phải tôn cụ già Cây đa bảy rễ lên làm thầy! Thực quả có lúc tôi đã mang máng những suy nghĩ ấy. – Nghĩa đồng tình. - Nhưng chưa bao giờ đi xa tới mức đặt thành vấn đề nghiêm túc như anh vừa nêu ra anh Hải ạ.

   Tôi định...

   Lịch sử không làm lại được, nhưng bài học có thể rút ra được. - Nghĩa chen ngang câu nói của tướng Lê Hải, với dụng ý dồn Lê Hải suy nghĩ đến cùng.

Lê Hải đi về bàn làm việc của mình, trầm ngâm. Thấy nóng tay, ông dụi vội điếu thuốc đã cháy gần hết vào cái gạt tàn:


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:49:31 am
   Rõ ràng cuộc sống cả nước ở phía trước không cho phép tránh né bất kể điều gì... Cái mong muốn, cái bất cập, điều kiện khách quan, điều kiện chủ quan... Mấy thập kỷ liên tiếp từ trong chiến tranh bước ra, làm sao tránh được bao điều ngỡ ngàng. Phải xem lại tất cả. Chẳng có ai là thần thánh, cũng không thể có chuyện đoán mò, bói toán.
 
   Anh Hải ạ, - Nghĩa đứng dậy đi tới chỗ Lê Hải ngồi, nắm lấy cánh tay ông, giọng nói đầy xúc động: - Suốt cuộc đời chinh chiến, cả anh và tôi đều có thể nói với chính mình: Chúng ta đã chiến đấu không một giây phút dao động... Có phải thế không anh Hải?
   Chúng ta không phải hổ thẹn về điều này.

   Anh hơn tôi hẳn một giáp. Trận mạc anh xông pha nhiều hơn tôi. Khác chăng là anh thấu hiểu hơn tôi cái giá đất nước ta phải trả. Chiến đấu không phải chỉ nhằm đánh bại kẻ thù, mà cuối cùng là để tìm đường xây dựng cho đất nước có thể ngẩng mặt với thiên hạ.

   Ôi Nghĩa. Cách suy nghĩ của anh chạm vào bài học đau đớn của tôi trong cuộc đời binh nghiệp.
   Anh đã từng phải chịu thảm bại?

   Tôi đã phải trả giá đắt.

   Trận mạc tất nhiên có lúc thắng lúc bại.

   Chuyện này khác, lâu rồi, nhưng chưa một lần nào tôi chạy trốn được chính mình.

   Đời người ta ai không có lúc phải tự phán xét mình hả anh Hải!

   Vâng... Đó là lần tôi quyết xoá sổ chi khu Cái Nước của giặc. Không dè là sau trận thắng ngoạn mục này, cơ sở toàn vùng Cà Mau – Năm Căn bị lộ nên bị xoá trắng. Một năm sau ta chưa giành lại được thế trận đã mất, tốn bao nhiêu xương máu mà kể. Tôi ân hận mãi... Lúc ấy lẽ ra tôi có thể đề xuất một quyết định khác. Nhưng tôi đã ham thắng lớn một trận nhỏ để tự khẳng định mình. Kết cục tôi để thua một trận lớn! Thú thực với anh, cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa nói với ai điều cắn rứt này...

   Suy cho cùng dân tộc ta chiến đấu là để chặt đứt cái vòng luẩn quẩn đến phi lý của định mệnh, của cái thằng lịch sử các bà mẹ chúng ta vẫn chửi đấy anh Hải ạ.
   Nghĩ lại bây giờ tôi vẫn còn đau về chiến thắng thảm bại của mình hồi ấy. Cái cá nhân của con người ta ranh ma và khó lường lắm Nghĩa ạ. Nhất là vào lúc đất nước có những vấn đề cực kỳ nhạy cảm.

   Tôi hiểu được anh đang nghĩ gì.

   Tôi cảm thấy anh đang tiếp tục luồng tư duy rút ra từ tổng kết chiến dịch Quảng Trị. Cứ làm như thế đi.
   Vận may và vận mệnh của đất nước thường gắn với dấu ấn của con người anh Hải ạ...
Nhiều khi tôi phải trở lại mổ xẻ những sự kiện từ Cách mạng tháng Tám và trước nữa...

   Thôi được, chúng ta không phải thuyết nhau nữa. Anh đừng quên tôi vào loại nhớ dai đấy. Hãy lấy danh dự mà hứa là anh còn nợ tôi việc tổng kết này.
   Vâng, tôi hứa. Nghĩ dần được điều gì tôi sẽ nói cho anh nghe điều đó.

   Hay lắm, có một câu hỏi khác tôi tự trả lời được rồi.– Tướng Lê Hải dừng lại.

   Câu hỏi gì đấy ạ? – Nghĩa giương to mắt.

   Nêu lên những vấn đề hệ trọng như vậy về tương lai đất nước, chính anh đã tự bác bỏ đề nghị xin giải ngũ của mình rồi, chứ không phải tôi.
   Không, anh Hải! Đấy là hai chuyện khác nhau... – Nghĩa giãy nảy lên.

   Thôi! Nhân danh chủ toạ, tôi tuyên bố bế mạc. Hết! Không nói thêm gì nữa. – Lê Hải cười oang oang không cho Nghĩa nói.

Thiếu tướng chủ động đứng dậy bắt tay, gần như muốn Nghĩa cũng phải đứng dậy. Nghĩa đành lắc đầu, cùng cười và đứng dậy theo...

Ngoài hành lang cán bộ chiến sĩ đi ăn trưa lục tục trở về, ầm ĩ tiếng nói cười. Lúc này đã quá mười hai giờ lâu rồi...
 
♦ ♦ ♦
 

Ít lâu sau, ngày 22 tháng 12 năm 1978, Pônpốt đưa 19 trong tổng số 23 sư đoàn của Khmer đỏ mở chiến dịch lớn, có xe tăng và pháo binh yểm trợ. Từ Mỏ Vẹt và Lưỡi Câu thuộc tỉnh Xoài-riêng và Kông-pông-chàm, chúng ào ạt tấn công vùng Bến Sỏi của ta, với mục đích đánh chiếm chớp nhoáng tỉnh Tây Ninh. Cánh quân đi đầu tiến sâu vào trong lãnh thổ ta, cách Sài Gòn khoảng hơn 100 cây số.
♦ ♦ ♦

Trong bữa cơm trưa ở nhà ngày hôm đó, đầu óc Nghĩa không dứt ra khỏi cuộc nói chuyện với tướng Lê Hải. Lời răn của cụ già cây đa bẩy rễ thu hút hết tâm trí anh. Bà Nguyệt rất ngạc nhiên thấy chồng chẳng nói chẳng rằng, thậm chí lơ đễnh như một người máy, ngồi ăn mà không biết nghe, không biết nói...

- Hôm nay ăn muộn, chắc anh đói lắm.

Bà ướm mấy câu bâng quơ nữa, không thấy ông Nghĩa đáp lại. Bà đoán là chồng mình đang lo nghĩ điều gì.

Gần cuối bữa, bà gạn hỏi một câu về bữa cơm, đấy là lần thứ hai thứ ba gì đó. Lần này bà vừa nói vừa khẽ đụng vào tay chồng:

   Cá nục hôm nay kho hơi mặn, phải không anh? Trung tá Nghĩa như trên trời rơi xuống đất.

   Em nói gì? Cơm hôm nay rất ngon mà.

   Không, em hỏi cá có mặn quá không.

   Không, Không. Rất ngon mà. Độn mỳ ăn quen rồi. Mấy hôm nọ hết mỳ, cơm không ăn khô không khốc!

Bà Nguyệt buông đũa bát, gục mặt xuống bàn mà cười:

   Em hỏi một đằng, anh trả lời một nẻo. Chắc anh đang lo chuyện gì rồi. Ngồi ăn mà chẳng nghĩ gì về ăn.
   Anh chịu em về tài bắt nọn. Quả là như vậy... – ngẫm nghĩ một lúc ông Nghĩa nói - Việc anh xin giải ngũ phải tạm gác lại thôi Nguyệt ạ.
   Vì anh là nhân tài không ai thay thế được! Em rất lấy làm vinh dự.

Ông Nghĩa vỗ nhẹ nhẹ lên vai vợ, cười ngất, song vẫn là những tiếng cười hiền hậu của một người có giọng nói nhỏ nhẻ:

   Em truy kích anh đúng hướng. Cứ cho là như thế đi.

   Lại một lần nữa anh nói dối không giỏi. Nhưng thôi, chỉ cần biết anh ăn vẫn ngon miệng là được rồi. Nếu không em sẽ mắc khuyết điểm nhân dân không biết chăm sóc thương binh.

Ông Nghĩa chỉ cười:

   Đối thoại với em bao giờ anh cũng thua. Nghề dạy văn của em quả có nhiều biệt tài lợi hại.

   Ít nhất là để anh khó bắt nạt.

   Đúng là anh đang có nhiều việc phải lo thật em ạ. À mà sao hai con trưa nay không về ăn cơm?
   Anh thấy chưa, lơ đãng đến nỗi ăn cơm mà quên cả các con, rõ là ông bố ăn tham!

   Quy kết cho anh thế nào cũng được. Vì em sinh ra là để truy kích anh mà. Năm nảo năm nào chân ướt chân ráo về đến Hà Nội, chưa kịp đặt balô xuống đã bị em tóm gọn. Bị tóm rồi mà vẫn còn bị truy kích suốt đời...

   Thôi đi, lại âm mưu chuyển bại thành thắng! – Bà Nguyệt cười, vì câu này khiến bà hết cách trêu chọc ông. - Hai con hôm nay tập trung ở nhà bạn để chia tổ, nhận lớp, bắt đầu niên học mới rồi. Ngoài tội thờ ơ cả với con ra, xem ra anh còn thua xa chú Kiệt về nhiều mặt khác.
 

   Thua Kiệt là cái chắc rồi. Chú ấy có thể thay mặt cả nước đối đáp với nước ngoài. Còn anh chỉ là một chiến sĩ cầm súng. Nhưng hôm nay em định nói anh thua điểm gì?

   Chú Kiệt là nhà ngoại giao nhưng rất thực tế. Còn anh là nhà lính nhưng lại mộng mơ. Không mộng mơ thì làm sao nằm trên rừng cũng nhìn thấy em?

   Chú cho mình và cho anh Chính mỗi nhà một nồi áp suất Liên Xô. Thứ này được việc lắm anh ạ. Nếu không hôm nay anh làm gì được thưởng thức món cá kho ngon thế này! Rất rục, ăn được cả xương.

   Như thế có đỡ tốn thức ăn không em? Em chọn cho anh toàn những khúc ngon.

   Đỡ nhiều chứ anh. Kiểu gì thì các loại tem phiếu thực phẩm cả tháng cũng phải chia đều cho sáu mươi bữa! Đã lâu lâu rồi căng-tin mới có cá biển bán theo sổ ngon như vậy.

Nghĩa buông bát đũa đứng dậy tập tễnh đi mở nồi cá kho:

   Sao lại nhiều cá con và đầu cá thế này?

   Em và hai con thế nào cũng xong, cái chính là anh không được ốm!

Nghĩa lặng người đi không biết nói gì. Đậy nồi cá lại, về chỗ ngồi, mãi Nghĩa mới thốt lên:

   Đúng, Kiệt là người chu đáo. Kinh tế cả nước chắc sẽ còn ì ạch kéo dài em ạ.

   May quá, Mai tìm lại được số tem phiếu đánh mất rồi. Hoá ra cô nàng kẹp vào trong quyển sách toán cho bạn mượn.
   Làm sao tìm được?

   Hôm qua cái Lý mang cả sách và tem phiếu đến trả đầy đủ.

   Thế là con bị mắng oan!

   Tiêu chuẩn tem phiếu nhà mình là vào loại khá, những nhà khác ít hơn nhiều. Khối gia đình ở nông thôn không tem phiếu và không cả tiền. Nhà mình còn chưa phải ăn độn bo bo như trong Nam đấy!

   Lo cho cái ăn của dân thật là đại sự của chính phủ. Còn tiếp tục khó khăn nhiều em ạ, chuẩn bị tinh thần đi là vừa.
   Sao cứ suốt đời phải chuẩn bị tinh thần thế hả anh? Hàng chục năm nay lúc nào cũng chuẩn bị tinh thần!.. Chỉ nghe anh nói câu này em đã sởn gai ốc.
   Em vẫn chưa hết sợ?

   Hết làm sao được anh? Từ khi lớn lên, gần như em chỉ sống với lo và sợ!

   À ra thế. Nghĩa là không còn tâm trí đâu nữa mà sống vì yêu anh?

   Buồn quá phải không anh?!..

   Phải.

   Biết làm thế nào được... Anh ăn quả cam này đi. Cam nông trường Đông Hiếu anh ạ, cũng bán theo sổ...
   May quá, nói đến cam làm anh nhớ đến một việc quan trọng. Vài hôm nữa đến ngày giỗ cậu Lâm rồi. Sẽ là cái giỗ thứ ba, theo phong tục gọi là giỗ hết, em chuẩn bị cho anh một cái lễ nhé.

Cuối năm nay cũng giỗ hết cậu và gia đình em Minh...

Nghĩa định nói thêm với vợ vài câu chuyện nữa, song mắt ông đụng phải cái túi vải ở gần chỗ ngồi ăn cơm, có một mớ len đỏ và hai chiếc kim đan thò ra. Thương vợ vất vả, ông ăn cho nhanh rồi cùng vợ dọn dẹp, vì giờ nghỉ trưa rất ngắn. Bây giờ Nguyệt và con gái thường phải nhận len về đan áo cho mậu dịch để có thêm đồng ra đồng vào chi cho những thứ ngoài tem phiếu.

...Vợ chồng ông Nghĩa cưới nhau năm 1957, ngay sau khi ông kết thúc lớp học đặc biệt hai năm bồi dưỡng lý luận quân sự tại trường đại học Phrunde ở Matxcơva về. Ông Nghĩa không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ ra nước ngoài, lại càng không nghĩ đến chuyện được đi học ở nước ngoài.
 

Kể từ ngày học xong trường thiếu sinh quân năm 1951, ba anh em Chính, Nghĩa, Kiệt được phân công mỗi người đi mỗi ngả. Chính được cử sang học ở trường đại học Thanh Hoa, ngành xây dựng giao thông, chuẩn bị cho hoà bình xây dựng đất nước sau này. Suýt nữa nhà trường giữ Chính lại làm trợ giáo cho các lớp thiếu sinh quân tiếp theo. Nhưng một đồng chí lãnh đạo cao cấp gạt đi: Phải ráng chuẩn bị cho tương lai, kháng chiến thắng lợi sẽ có nhiều việc không chuẩn bị kịp... Kiệt được cử đi học ở Học viện ngoại ngữ, sẽ phục vụ cho ngoại giao. Thế là Chính và Kiệt cùng lên đường đi Bắc Kinh. Riêng Nghĩa, vì nhiệt tình yêu nước của tuổi trẻ, và còn vì tính lãng mạn yêu đời, một mực trước sau đòi xung vào bộ đội, mặc dù tổ chức thấy Nghĩa có năng khiếu ngoại ngữ hơn Kiệt. Sau 4 tháng huấn luyện tại trường sĩ quan lục quân Liên khu Việt Bắc, Nghĩa ra trận, tham gia mấy chiến dịch Đông – Xuân, từ Liên khu 3, lên Tây Bắc, đi Điện Biên Phủ...

Cuộc đời học tập có lý luận cơ bản của Nghĩa để trở thành sĩ quan của Quân đội Nhân dân Việt Nam thực ra bắt đầu từ những bài giảng ở trường đại học quân sự Phrun-de, sau đó được rèn luyện qua kinh nghiệm thực tiễn của những năm tháng quyết liệt trên chiến trường chống Mỹ ở miền Trung.

Sau này ông Nghĩa thường nói với bạn bè và trong gia đình: Hai năm ở đại học Phrun-de đối với ông không phải chỉ là học thêm những kiến thức mới về lý luận quân sự. Đấy còn là những năm tháng bắt đầu mở mắt nhìn ra thế giới, và cũng là những năm tháng dấn sâu vào thế giới tâm hồn con người.

Song ngoài cái tính lãng mạn từ trong máu ra, dấu ấn đầu tiên góp phần hình thành nhân cách suốt đời Nghĩa có lẽ là những năm học tại trường Thiếu sinh quân. Thầy dạy là các nhà giáo chiến sĩ, các cán bộ lớp cha anh, các văn nghệ sĩ có tên tuổi... Mỗi thày mức độ thông tuệ khác nhau, một tài riêng, một cá tính, làm cho học trò khó quên. Nhưng tất cả các thầy cùng chung một tâm hồn làm rung động tâm hồn các học trò của mình. Một vài cuốn sách kinh điển bằng tiếng Pháp viết về triết học, mỹ học không biết từ đâu được gửi đến trường, Nghĩa đọc ngấu nghiến. Một vài thầy chỉ đến giảng một vài tuần. Có thầy chỉ đến giảng có một bài, trong đó có tướng Nguyễn Sơn... Nghĩa đã có lần phải thốt lên với anh mình:

   Em không biết sau này ai có thể bình về số phận của Kiều và Từ Hải, về tình yêu giữa giữa hai người sâu sắc hơn tướng Nguyễn Sơn không...
   Có khi chính Nguyễn Sơn đã trải qua những long đong như thế!

Lòng ham hiểu biết và cái chất lãng mạn gần như bẩm sinh trong người lính Phạm Trung Nghĩa được nuôi dưỡng từ các thầy như vậy trong những năm tháng ở trường Thiếu sinh quân, đến Matxcơva lại được tiếp thêm nguồn sống mới.

Bước vào nhà trường đã đào tạo biết bao nhiêu tướng sĩõ tài giỏi của Liên Xô này, Nghĩa vừa tròn 23 tuổi, tràn đầy sức sống ... Những năm tháng chiến đấu trên các chiến trường Tây Bắc cất cánh cho tâm hồn anh. Sang đến Matxcơva, nhờ có vốn tiếng Pháp, anh học tiếng Nga khá thuận lợi, học rất chăm và tiếp thu nhanh, tính yêu thích văn học, nghệ thuật từ hồi học sinh trỗi dạy một cách mãnh liệt. Đại tá Vatsili Kôtôyepski (Vassily Kotojevsky), một ông già anh hùng quân đội Xô - viết trong chiến tranh Thế giới lần thứ hai, là người phụ trách lớp của Nghĩa. Ông rất thích nói chuyện với Nghĩa. Một lần trong giờ nghỉ giữa buổi giảng môn triết, ngồi với Nghĩa bên cốc nước tràø chanh trong căng-tin, ông nhận xét:

   Anh Nghĩa, tôi cảm thấy anh là một người mơ mộng nhiều hơn là một chiến sĩ. Khi tranh luận về mỹ học, tôi không thấy bóng dáng hay gân guốc của chiến tranh toát ra trong tâm hồn anh. Hay nói cho đúng hơn, chiến tranh bị tâm hồn anh át đi.

   Có lẽ vì tôi từ chiến tranh bước ra nên khao khát hoà bình quá đấy ạ.

   Những ý kiến anh phát biểu đầy lãng mạn. Câu chuyện anh kể ngồi giữa chiến trường Tây Bắc Việt Nam nhờ dân địa phương dạy mình học các bài hát của các dân tộc miền núi, tình yêu của anh đối với dân ca các địa phương, anh tìm thấy lẽ sống trong các bài hát ấy... Nghe anh nói cảm nghĩ của mình về Yepgiêni Ônêghin (Yevgeny Oneghin)(*)[(*) của Pu-skin.(*) của Pu-skin.], về bài hát Tôi yêu cuộc sống(**)•[(**) Bài hát Nga nổi tiếng “Cuộc sống ơi, tôi mãi yêu người”.] rung động tâm hồn anh như thế nào... Tất cả làm tôi xúc động...
 

   Thưa đại tá, thực quả là tâm hồn Nga đã chinh phục tôi. Còn trước sau tôi vẫn là một người lính thực thụ đấy chứ ạ... Hay là... đại tá cho tôi là lính cậu?

   Cầm súng mà yêu cái đẹp thì càng xứng đáng là một chiến sĩ. Tôi yêu người chiến sĩ biết yêu như vậy.
   Như vậy là tôi được đại tá thông cảm có phải không ạ?

   Anh biết không, khi tiễn tôi ra Hồng trường để từ đấy bắt đầu cuộc hành quân ra thẳng mặt trận phía Đông, vợ mới cưới của tôi tặng tôi cuốn Yevgeny Oneghin. Cuốn tiểu thuyết bằng thơ ấy chiến đấu cùng tôi trong mọi trận đánh, chịu thương tích cùng tôi, cùng chiến thắng, nhưng khi cả hai chúng tôi trở về, nàng không còn nữa... – giọng người lính già trầm lắng, mắt nhìn về đâu đâu như đang cố tìm dõi ai nơi xa xăm. Bàn tay Nghĩa nắm chặt bàn tay đại tá...

Có lẽ những cuộc trao đổi tâm tình như thế khiến ông già Vatsili có cảm tình đặc biệt với Nghĩa. Vợ chồng ông đại tá thường giữ Nghĩa ở lại nói chuyện rất lâu trong những buổi Nghĩa đến thăm.

Hơn thế, Natasa, con gái ông bà, ở tuổi đang đi đến tình yêu, học tại nhạc viện Tchaikovsky, yêu Nghĩa với tất cả tình yêu của mối tình đầu. Hai người biết nhau vì cả lớp Nghĩa – vẻn vẹn có 12 người - tuần nào cũng được ông bà Kôtôyepski mời về gia đình ăn cơm tối thứ bẩy. Tình yêu của Natasa đối với Nghĩa là tình yêu dành cho cái chân chất của người bộ đội Việt Nam. Hơn nữa, đó còn tình yêu của hai tâm hồn gặp nhau... Chính Natasa, nhất là tình yêu tha thiết giữa hai người, là kẻ dẫn đường cho Nghĩa thực sự bước sâu vào thế giới tâm hồn. Hầu như tuần nào Natasa cũng đưa Nghĩa đi nghe nhạc giao hưởng, các buổi biểu diễn dân ca các dân tộc Liên Xô, hoặc dắt Nghĩa đi xem các viện bảo tàng ...

Có một lần, buổi biểu diễn hoà nhạc kết thúc đã lâu, đèn lại bật lên sáng trưng. Dàn nhạc và thính giả đã ra về hết. Giữa phòng hoà nhạc vẫn còn ngồi lại một đôi trai gái, tay trong tay lặng ngước nhìn lên bục biểu diễn của các nhạc công. Họ cứ ngồi yên như thế mãi, tâm hồn như vẫn còn đang bay bổng theo tiếng nhạc vương đọng đâu đó trong không trung. Người phụ trách phòng nhạc trân trọng những giây phút ấy, không nỡ làm bất kể điều gì đụng chạm đến sự yên lặng thiêng liêng này nên chỉ kiên nhẫn đứng chờ...

Đó là buổi biểu diễn bản concert cho đàn dương cầm số 1. cung Fa thứ, opus 21 của Fryderyk Chopin. Cả Natasa và Nghĩa đều hiểu tâm hồn của họ thuộc về nhau.

Âm nhạc có lúc đưa họ đi suốt chiều dài những đêm tuyết sáng trắng dòng sông Mátxcơva... Vào một buổi tối vài ngày trước hôm làm lễ tiễn nhóm học viên sỹ quan Việt Nam về nước, Natasa mời Nghĩa đi nghe bản concert duy nhất của Beethoven viết cho đàn violin cung Rê trưởng, opus 61, người biểu diễn là David Ostrak, nhạc công vỹ cầm người Nga nổi tiếng thế giới.

Trên đường tiễn Natasa về nhà, Nghĩa cảm thấy chân không muốn bước. Tim anh thổn thức như đang ứa máu...

Nghĩa hiểu, bản nhạc nói thay cho tất cả nỗi lòng Natasa. Cả hai tay trong tay lặng lẽ bước bên nhau.

Khi chia tay, Natasa nắm lấy cả hai bàn tay Nghĩa:

   Mẹ em đã từng tiễn bố đẻ của em ra trận. Bố đẻ em không bao giờ trở về nữa. ...Không bao giờ nữa, anh ạ... Tổ Quốc anh vẫn còn một nửa chưa được giải phóng. Hãy giữ mãi nụ hôn này cho em...

Nghĩa định nói điều gì, thì cửa sổ nhà ai đó phía trên chỗ hai người đang đứng chợt hé mở. Từ khung cửa sổ này lời ca thiết tha của bài hát Đôi bờ vang vọng xao xuyến trong không trung. Nghĩa chưa kịp hé lời, Natasa đã lấy ngón tay chỏ bé nhỏ của mình đặt lên môi Nghĩa. Cả hai đứng lặng. Khi bài hát dứt, Natasa khóc nức nở vùng chạy vào trong nhà. Còn Nghĩa hai chân bị chôn chặt trong tuyết...

Đấy là nụ hôn đầu tiên và cũng là nụ hôn vĩnh biệt...

Nghĩa chết lặng, và hiểu thế nào là yêu.

Đặt chân về đến Hà Nội đầu năm 1957, sắp vào Tết, tiết trời năm ấy rét như cắt, nhưng
 

Nghĩa vẫn thấy mình nóng bừng bừng. Đôi lúc Nghĩa tự nói với mình trong lòng ...Không bao giờ nữa... Nghĩa cố hết sức che giấu những nỗi niềm ngổn ngang đằng sau vẻ mặt hân hoan của mình khi trở về sống với bố mẹ.

... Không bao giờ trở về nữa... những đồng đội của mình đã ngã xuống trên các chiến trường Tây Bắc... Không bao giờ nữa... những gì chỉ đến có một lần và chỉ một lần trong cả đời mình mà thôi... Ôi Natasa!

Đơn vị chưa kịp nói gì về công tác và nhiệm vụ sắp tới, Nghĩa đã phải lo toan một việc trọng đại. Cả nhà đều giục Nghĩa lấy vợ. Một bất ngờ lớn - Nghĩa chưa kịp nghĩ tới, cũng chưa hoàn hồn sau mối tình đầu để có thể đủ tâm trí nghĩ tới ... Nhưng nhà đã chuẩn bị xong cả cô dâu rồi!

Rốt ráo nhất là ý của mẹ Nghĩa và Cúc. Hình như phụ nữ có những suy nghĩ và mối lo chung.

Bà giáo Tuyên:

   Học xong, về nước là để chiến đấu tiếp, có phải thế không con?

   Nhất định là thế rồi mợ ạ.

   Thế thì lập gia đình đi. Như thế dù con có đi đến cùng trời cuối đất mợ vẫn yên tâm.

   Bác còn phải có cháu nội ở nhà, anh đi xa bác mới đỡ nhớ...

Bà giáo Tuyên nói một câu. Cúc lại thêm vào một câu.

Vào những ngày này, gần như sau mỗi buổi dạy học, Cúc lại đến nhà bác mình, có hôm đèo cả mẹ đến. Chị Hương vợ anh Chính cũng có lúc góp phần. Bây giờ hình như phụ nữ của cả họ Phạm quyết tâm thuyết phục Nghĩa bằng được việc lấy vợ. Bà giáo Tuyên khi nói chuyện với Nghĩa, hết nắm tay, nắm vai lại ôm đầu con. Bà chỉ sợ sẽ tuột mất con trai mình nếu Nghĩa nói “Không!”.

Ông giáo Tuyên thủng thỉnh:

   Con đi hết chiến trường này đến chiến trường khác. Sẽ còn đi xa nữa. Con nên chiều ý mợ, vì mợ thương con chịu đựng gian khổ vất vả nhất trong tất cả mấy anh em...

Nghĩa không tìm ra được lý lẽ nào để trì hoãn. ...Anh Chính đã cưới chị Hương trước khi rời trường Thiếu sinh quân sang học ở Bắc Kinh. Bây giờ đến lượt mình thì đúng quá rồi còn gì nữa...

Hai tuần lễ sau khi đặt chân về đến Hà Nội, Nghĩa nhận được lệnh chuẩn bị đi làm nhiệm vụ đặc biệt, trong vòng vài tuần tới sẽ lên đường. Sau này được hiểu đấy là nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến trường B. Lệnh đặc biệt này đưa Nghĩa tới quyết định dứt khoát: Thực hiện mong muốn của mẹ.

Đám cưới năm ấy ngoài tiệc trà, bà giáo Tuyên và Cúc cố xoay sở làm mấy mâm cơm ở nhà dành riêng cho việc mời những người thân thiết nhất trong hai họ. Sự giản dị của cô dâu, chú rể, chủ nhà và khách đến dự cưới hình như chỉ làm nổi rõ thêm sự ấm cúng của tình người. Đúng lúc đón dâu về nhà Nghĩa, cơn mưa ập xuống, trút nước ngập lụt đường phố. Không còn cách nào khác...

Mưa to như thế mà gần như cả ngõ nhà Nghĩa ngó ra đường xem chú rể cõng cô dâu về nhà!
Cuộc sống của một nửa đất nước đang lo cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thật đạm bạc.
Thiếu tá đoàn trưởng của Nghĩa ở học viện Phrun-de được mời làm chủ buổi lễ thành hôn.

Trước khi ra về, đoàn trưởng kéo Nghĩa ra góc vắng:

   Một lần nữa chúc mừng vợ chồng cậu hạnh phúc. Mình thành thật xin lỗi cậu.

   Có chuyện gì thế anh?

   Thực lòng khi cùng với cậu bước chân xuống ga Hàng Cỏ mình mới yên tâm.

   Anh nói gì em không hiểu.

   Mình cứ sợ cô Natasa buộc chân cậu ở lại Mátxcơva. Thậm chí mình đã phải báo cáo tổ chức nỗi lo này. Cậu thông cảm, bộ đội thời chiến mà.
   Có lúc nào em quên nhiệm vụ không anh?
 

   Bây giờ thì mình có thể nói được cậu là học viên xuất sắc nhất của đoàn!

   Cảm ơn anh nhiều lắm. – Nghĩa ôm chầm lấy trưởng đoàn.

   Thực ra chi ủy đã mấy lần định đưa cậu ra kiểm điểm, hoặc đề nghị cho về nước để phòng ngừa những hệ quả xấu. Mọi người rất sợ cậu làm ảnh hưởng thanh danh quân đội ta.
   Em biết.

   Biết sao vẫn cứ dính với Natasa, làm người ta thót tim. Họp lên họp xuống mất bao nhiêu thời giờ!
   Các anh yếu tim thế à?

   Đồ quỷ!

Nhưng em cũng biết Natasa và em yêu nhau thiêng liêng vô cùng. Chẳng biết cắt nghĩa như thế nào cho anh hiểu nhỉ... Lúc nào hai đứa tụi em cũng như sống trên mây... Có phải em lãng mạn quá không anh?

   Có bao giờ em có ý định ở lại hay cưới Natasa làm vợ không hả Nghĩa? Phải nói thực!

   Vâng. Cả Natasa và em say mê nhiều chuyện quá, thú thực tụi em chưa đủ thời giờ để nghĩ đến điều đó anh ạ. Chúng em lúc ấy có quá nhiều điều để yêu trong lẽ sống của mình. Từng hơi thở, từng ý nghĩ, lúc nào cũng như đang bay cao trên trời. Người ngoài cuộc như anh không hình dung được đâu! Chúng em triết lý với nhau rất nhiều về những gì tụi em cảm nhận được. Âm nhạc, nghệ thuật... Đúng là có một thế giới khác thật anh ạ! Chúng em chắp cánh cho nhau...

   Thế này mà cô Nguyệt nghe được thì cậu toi!

   Nguyệt biết hết cả rồi mà!

   Cái gì?

   Em không nói đùa đâu. Đầu thú trước khi làm lễ cưới!

   Được khoan hồng?

   Được tha bổng!

   Thật thế hả?

   Vâng, thật mà.

   Thôi thôi, tôi vái cậu. Cậu thật là hạnh phúc!

Cô dâu Trần Bích Nguyệt kém Cúc một tuổi, cũng con nhà giáo, gốc Hà Nội, cháu ngoại một nhà Nho, một nhà thư pháp nổi tiếng, cụ Trần Thư Điền ở phố Hàng Nón. Nguyệt là bạn cùng học sư phạm trung cấp với Cúc trong kháng chiến. Bố mẹ Nguyệt đều tham gia kháng chiến, làm trong ngành ngân hàng. Năm 1951 mẹ Nguyệt bị chết trong trận giặc Pháp ném bom bến đò Âu Lâu ở Yên Bái, giữa lúc bà làm nhiệm vụ chuyển tiền từ an toàn khu ở Chiêm Hoá sang để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc.

Về Hà Nội, Cúc dạy tiếng Nga và Nguyệt dạy văn, cùng một trường. Cúc và bà giáo Tuyên “dấm” Nguyệt cho Nghĩa từ lâu. Nguyệt không có vẻ đẹp gì đặc sắc, nhưng được cái da trắng, cao ráo, có cặp mắt thông minh, nói chung dễ nhìn. Còn bà giáo Tuyên ưa nhất cái tính nết na lễ phép của Nguyệt. Đám cưới được cả hai họ thu xếp nhanh gọn theo kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, vài ngày trước khi Nghĩa lên đường.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:50:31 am
Tình yêu giữa Nghĩa và Nguyệt thực sự nảy nở và đâm bông kết trái trong những năm sau đó. Đấy là những ngày tháng Nghĩa được huấn luyện gian khổ tại vùng Hoà Bình - Ba Vì - Vĩnh Phú, rồi sau đó chính Nghĩa lại tham gia việc huấn luyện hết đợt này đến đợt khác, chuẩn bị cho các đơn vị bộ đội đi B. Những buổi học chính trị, những ngày học những thao tác chiến đấu và sử dụng vũ khí, khí tài mới. Kết thúc một đợt huấn luyện thường là những ngày đeo đá, leo núi, đi bộ triền miên... bất kể thời tiết nào, ngày hoặc đêm, tập nhịn đói, tập chịu khát. Những cuộc tập trận, lúc chiến đấu cá nhân, lúc chiến đấu theo các đơn vị lớn nhỏ khác nhau. bất kể địa hình nào, tình huống nào... Một vài tuần, có khi hai ba tháng Nghĩa mới có dịp về thăm nhà một lần. Khi Nghĩa từ biệt mọi người thân yêu ruột thịt của mình để cùng đơn vị lên đường vào Nam, bé gái Mai lên bốn tuổi, cún Tân lên hai.
 

Những năm tháng quyết liệt và khắc khoải, cho đến khi cô giáo Nguyệt đón thiếu tá thương binh Phạm Trung Nghĩa từ Quân y viện 108 về nhà.

Cuộc sống tiếp tục có trăm nghìn điều phải lo toan, công việc đuổi theo ngày tháng. Thế nhưng vẫn có đêm Nghĩa ôm xiết vợ:

   Em ạ, không biết bao nhiêu lần, cho đến bây giờ, có lúc anh vẫn cứ sờ sợ trong tay mình chỉ là một giấc mơ... Về nhà mấy năm rồi mà nhiều lúc cứ ngỡ là anh đã mất em và các con, nghĩa là vẫn còn ngờ ngợ mình không bao giờ trở về nữa... Còn sống rành rành thế này mà cứ ngờ ngợ là mình đã chết, thật kỳ lạ!

   Bây giờ thì em chắc chắn là em còn anh! – Nguyệt ghì chặt lấy chồng.

   Anh là một người lính sợ chết, phải không em nhỉ? Không bao giờ trở về nữa. Không bao giờ nữa - chính Nghĩa cũng không hiểu mấy tiếng cuối cùng là mình nghĩ trong đầu hay đã nói ra thành lời.

   Không phải như vậy. Còn hơn cả giấc mơ anh ạ. Em vẫn nghĩ chúng ta không thể chết! Bây giờ thì em càng tin như vậy.
   Đúng là chúng ta sống nhờ vào niềm tin mãnh liệt.

   Có những đêm vò võ chấm bài, có lúc đang đạp xe trên đường, từ nhà đến trường hoặc đi sơ tán... Thỉnh thoảng em phải nắm chặt tay lại, tự nói với mình: Chúng ta không thể chết! Không được chết! Anh nhất định sẽ về! Khi là đào hầm cho hai con nơi sơ tán, khi là cún Tân qua khỏi bệnh sởi, khi thoát một trận bom... Vượt qua được một khó khăn, em lại tự nắm chặt tay, tự nói với mình những câu như thế. Thật là những năm tháng khó tin anh ạ...

   Chúng ta trở thành bất tử?

   Không bất tử, nhưng không thể chết. Đến ngày đón anh ở Quân y viện 108, chỉ kém sáu ngày là đúng 11 năm đằng đẵng!
   Ôi Nguyệt!.. Chúng mình còn sống, anh càng thương những anh em đã hy sinh.

   Trong cả nước mình có gia đình nào không mất mát hả anh?

   Khổ nhất vẫn là nông dân em ạ. Anh thấm thía nhất điều này trong những ngày ở Quảng Trị. Riêng các đơn vị anh phụ trách, theo dõi quân số anh thấy cứ mười chiến sĩ hy sinh thì phải có đến bẩy hay tám người là từ nông thôn.

Hình như nông dân thời nào cũng khổ hơn những người khác, có phải không anh?

   Có lẽ như vậy. Không biết cho đến bao giờ... Sinh viên tốt nghiệp hay chưa tốt nghiệp hy sinh ở Quảng Trị cũng nhiều. Anh vừa mới tổng kết xong phần tình hình thương vong của chiến dịch Quảng Trị.

   Đúng ra mỗi ngày em phải nhận được của anh ít nhất một thư. Nhưng em hiểu, đấy chỉ là mơ ước. Thư anh gửi về không nhiều, kể cả những lá thư viết dở. Có những thư em đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, nhất là các thư anh viết sau khi kết thúc chiến dịch... Những lá thư ấy là chỗ dựa của em...

   Đến bây giờ anh vẫn không hiểu nổi trong hàng trăm, hàng trăm đồng đội thuộc đơn vị anh trên chiến trường Quảng Trị, anh là người duy nhất còn lại trong cái cối xay thịt!.. Người chiến đấu vô cùng ngoan cường hy sinh đã đành, người sợ chết cũng không sống sót được, thật là khủng khiếp. Lính sợ chết cũng nhiều lắm em ạ, nhất là các lính bổ sung...

   Tất cả chúng ta là người chứ đâu có phải là sắt đá.

   Đành là thế, em ạ. Còn sống trơ trơ thế này mà nhiều lúc anh không tin là mình còn sống! Đến nỗi thỉnh thoảng anh phải tự véo vào da thịt mình, hay tự lấy tay đập đập vào người mình để xoá đi sự ám ảnh của mọi cảm giác ngờ vực, để biết mình thực sự còn sống...

Nguyệt ôm chặt lấy chồng, hôn rất lâu:

- Cái hôn này có là thật không anh?

Cả một quá khứ rực sáng trong ký ức của Nguyệt. ...Tiếng đàn vỹ cầm nỉ non réo rắt năm nào Nguyệt chưa hề được nghe nhưng được Nghĩa thuật lại cho nghe từ con tim mình... Những lúc
 

ngồi hầm cố ôm chặt lấy hai con để che chắn bom đạn cho chúng ... Loáng thoáng câu chuyện về Natasa... Một chút ghen... Những lá thư đọc đi đọc lại đầy nước mắt mà vẫn chưa thấy Nghĩa về...

Có một đêm khuya, một đêm khuya duy nhất, Nguyệt thủ thỉ hỏi chồng:

   Anh quên Natasa rồi hay sao?

   Không!.. Em ghen à? thượng tá thương binh Phạm Trung Nghĩa đắn đo hỏi lại vợ.

   Không!

   Thật không?

   Thật, có lúc ghen nhưng thực ra là không.

   Vì sao ghen lại là không hả em?

   Vì Phạm Trung Nghĩa của em phần nào có công lao tác thành của Natasa!

   Trời ơi, Nguyệt của anh!

Trong cái giây phút duy nhất ấy, lần đầu tiên Nguyệt cảm nhận được sâu sắc nhất tất cả những gì không thể nói thành lời trong tình yêu của chồng dành cho mình... Câu chuyện này không bao giờ diễn lại nữa, nhưng tình cảm này thường bừng sáng lên trong ký ức Nguỵệt, vào những giây phút Nguyệt xúc động nhất. Tình cảm này giờ đây cũng làm cho bà xúc động như vậy:

-Anh nói đi, cái hôn này là có thật không anh!

Nghĩa ghì riết vợ, mãi mới nói được:

   Cái hôn tự nó trả lời rồi...

   Có lẽ sống chết cũng phần nào có số thật anh nhỉ?

   Anh nhớ như in, tỉnh lại sau khi bị cưa mất bàn chân phải, bác sỹ trạm xá kể cho anh nghe: Mấy thương binh mới đến cho biết người cõng anh về hậu tuyến đã hy sinh ngay sau khi trở lại vị trí chiến đấu. Vì chiều hôm đó toàn bộ khu công sự đơn vị anh chi chít các hố bom của B52...
Anh đã kể cho em nghe rồi.

   Em biết...

   Trí nhớ của anh nhiều khi cứ bị đứt quãng, chiến tranh là thế em ạ. Bây giờ anh nhớ lại còn một chi tiết anh chưa kể: Ngay sau đó có một việc làm anh khóc, khóc thảm thiết.
   Cầu mong người anh hùng của em cũng biết khóc vì sợ!

   Không đến nỗi thế, em ạ. Hôm ấy, sau khi kể cho anh nghe về những thương vong mới ngoài hoả tuyến, bác sĩ đưa lại cho anh các giấy tờ còn sót lại trong bộ quần áo rách bươm của anh khi đến trạm. Dở ra xem, thấy trong đó có bức thư lạ, những dòng chữ đứt đoạn, vội vàng...

Đọc xong, anh hiểu đấy là thư của người cõng anh muốn gửi về cho gia đình. Lúc này hỏi ra anh mới biết là của cậu ta, trung uý Lâm. Anh cầm chặt lá thư trong tay, thật ra đấy là hai mảnh giấy, những hàng chữ không đầu không đuôi, tự nhiên anh bật lên khóc, khóc xé ngực, vì mình còn sống, mà người cứu mình và nhiều đồng đội khác trong trận này không còn nữa...Đó là lần đầu tiên trong đời lính anh khóc.

   Lâm chắc không nghĩ rằng đấy là lá thư cuối cùng viết cho gia đình mình ở Hà Nội...

   Chắc thế. Trong những tuần cuối của chiến dịch Quảng Trị, quân số đơn vị anh phải bổ sung thường xuyên. Đến nỗi nhiều cán bộ, nhiều chiến sĩ anh chưa kịp biết mặt biết tên đã hy sinh... Trên vừa giao cho anh đại đội của Lâm lúc tảng sáng, nhưng mới đến xế trưa đại đội này đã thương vong gần hết, trên lại phải bổ sung lính mới… Khi được ra viện Tám, đến nhà thắp hương cho Lâm, lúc nhìn lên ảnh trên bàn thờ anh mới biết rõ mặt người đã cứu sống mình. Ôi, Lâm còn trẻ quá...

   Lúc em mang thư đến nhà Lâm, gia đình đã nhận được giấy báo tử. Cậu ấy tốt nghiệp kỹ sư Bách khoa, làm trợ giảng được ít lâu là ra trận ngay. Lúc này cả nước đang thực hiện “3 sẵn sàng”, nhất là trong thanh niên. Lá thư là thứ duy nhất Lâm để lại cho gia đình trước khi hy
 
sinh. Vợ Lâm ôm lấy em mà khóc. Em kể Lâm là người cứu anh, thế là cô ấy cứ đòi đến thăm anh ngay trong bệnh viện, rồi cả em và cô ấy cùng khóc. Em nhớ con gái Lâm năm ấy vừa học xong lớp mẫu giáo...

   Từ chiến trường trở về, anh mới càng hiểu mẹ, hiểu em, hiểu tất cả các bà mẹ của đất nước ta. Những người phải chịu đựng nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất. Phải từ chiến trường trở về mới hiểu được thấu đáo điều này em ạ.

Anh còn nhớ hôm tiễn anh chứ? Cậu mợ, bố em, thím Tuấn, tất cả các anh chị em, các cháu có mặt đông đủ. Lúc anh đi, cả nhà đi theo. Em ngồi lại và ôm chặt hai con vào lòng mình. Trong đầu chỉ một ý nghĩ duy nhất: Chúng ta không thể chết! Trong nhà chỉ còn lại ba mẹ con. Hai con còn bé quá, Mai cứ hỏi tại sao mẹ khóc, còn Tân thì giãy ra đòi chạy theo ông bà...

   Anh nhớ và anh hiểu... Anh bế mãi bé Tân rồi đưa cho cậu mợ...

   Ý nghĩ không thể chết giúp em vượt qua tất cả. Cũng may là cậu mợ giúp em rất nhiều, nhất là những năm sơ tán...

Không gian tịch mịch trong đêm khuya tiếp tục lắng nghe câu chuyện thủ thỉ bên nhau giữa một người từ cõi chết trở về và một người với niềm tin không thể chết...
 

4.

Bản đánh giá cuộc chiến tranh Khmer đỏ trên biên giới nước ta do tướng Lê Hải ký gây ra cho ông Đoàn Danh Tiến những ý nghĩ trái ngược nhau. Ban Tuyên huấn, nơi ông mới được chuyển đến từ chưa đầy một năm nay, thường được trên cung cấp những tài liệu quan trọng như vậy để tham khảo cho việc soạn viết bài giảng cho các lớp chính trị. Là vụ trưởng Vụ Biên tập của Ban, ông Tiến là người duy nhất trong Vụ được Ban cho phép tiếp cận những tài liệu ở cấp độ này. Cũng có lúc ông được thay mặt Ban dự những cuộc họp liên tịch nhiều cơ quan về các chủ trương chính sách mới. Song tại những cuộc họp này ông nghe là chính. Ông tự biện hộ: Nhiệm vụ của mình bắt đầu sau khi những cuộc họp này kết thúc ...
Nghề làm báo lâu năm trước đây của ông tạo cho ông cơ hội quen biết nhiều nhân vật quan trọng, nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội. Cuộc sống đào luyện cho ông cách đối nhân xử thế thích hợp. Ông biết nhiều, đi nhiều và viết cũng nhiều. Sự lão luyện đã làm ông nổi danh trên nhiều tờ báo. Chính điều này khiến cấp trên bứt ông ra khỏi công tác làm báo để tăng cường cho công tác tuyên huấn, nhất là từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đi vào thời kỳ kết thúc, đất nước đứng trước nhiều vấn đề mới...
Phân tích của Lê Hải về tình hình trong khu vực và âm mưu của Khmer đỏ có cơ sở xác đáng

   ông Tiến thừa nhận Nhưng sao Lê Hải bi quan thế? – một quân nhân đã đi từ Bắc vào Nam rồi lại từ Nam ra Bắc... Đất nước là tuyến đầu chống chủ nghĩa đế quốc, là người đi tiên phong trong cao trào cách mạng thế giới, ai sẽ dám đụng đến ta nữa? Trong chiến tranh, cái đáng sợ nhất là tư tưởng hữu khuynh. Sau chiến tranh, cái đáng sợ nhất cũng là tư tưởng hữu khuynh. Bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội lại càng phải chống hữu khuynh... Là một quân nhân từng trải, sao Lê Hải lại có thể đưa ra những nhận xét bi đát như vậy?

Hay là Lê Hải ăn phải đũa Phạm Trung Nghĩa? Mình đã mấy lần tranh luận với tay này tại các hội nghị bàn về công tác tư tưởng trong thời bình. Anh chàng thương binh này hình như cũng bị chiến tranh làm bị thương cả ý chí chiến đấu. Anh ta lo lắng quá nhiều về các vấn đề sau chiến tranh.

Qua nhiều lần tiếp xúc với ông Lê Hải, ông Tiến còn biết việc Nghĩa đang xin giải ngũ. Nghiên cứu xử lý cuộc chiến tranh biên giới của Khmer đỏ, lại do một người bị thương về tinh thần chiến đấu chấp bút, thì làm sao có được tư tưởng tiến công? Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là tối thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Lại còn hoạ diệt chủng nữa, mỗi ngày hàng trăm hàng nghìn người dân Campuchia vô tội bị Khmer đỏ giết hại, ta khoanh tay ngồi nhìn được sao? Đã thắng Mỹ, chẳng lẽ không thắng được Khmer đỏ? Phải thừa thắng xông lên mới đúng chứ!

Bài chính luận của ông nhằm bác bỏ những quan điểm của ông Lê Hải mà không nêu đích danh Lê Hải ra đời trong bối cảnh như vậy.

Cả nước đang bừng bừng khí thế, bài báo tạo thêm hưng phấn lòng người và gây tiếng vang lớn. Nhưng trước hết bài báo đã đánh trúng lòng tự ái của một dân tộc vừa mới chiến thắng vẻ vang! Ông Tiến hoàn toàn bị bất ngờ về điều này, cảm thấy mình đang bay vút lên trời cao ...

Ông tự rút ra cho mình một kinh nghiệm mới: Thì ra dư luận là một cái gì đó khá mong manh, dễ tác động nếu biết lựa chiều thích hợp! Từ ngày chuyển hẳn về Ban, ngót nghét một năm nay, qua bài báo này ông mới có dịp lại xuất hiện trở lại trên diễn đàn báo chí. Vốn là dân cầm bút viết chuyên mục chính luận, việc bác bỏ những ý kiến của Lê Hải và Phạm Trung Nghĩa đối với ông không khó. Đồng thời nghề viết lách của ông cũng dạy cho ông sự khôn ngoan cần phải có. Ông tránh đụng chạm đến hướng xử lý vấn đề, chỉ đưa ra những lập luận đanh thép về toàn vẹn lãnh thổ, về chủ quyền quốc gia, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, giương cao ngọn cờ chiến thắng và nhiều lời bình luận cứng rắn khác.

Sự ra đời đúng lúc của bài báo, lại được nhiều báo chí đăng tải, trở thành một sự kiện báo chí. Những lập luận vững chắc tính lập trường nguyên tắc, tinh thần yêu nước cháy rừng rực trong bài báo, người đọc không bác bỏ vào đâu được... Sự tán thưởng làm cho danh ông Tiến nổi như cồn, tên tuổi ông trong Ban thêm rạng rỡ.
 

Khmer đỏ tiếp tục leo thang chiến tranh biên giới Tây Nam, cứ như là để tiếp tục thừa nhận những nhận định thôi thúc đầy tính chiến đấu của ông Tiến là đúng đắn. Ông càng cảm thấy hãnh diện, càng cảm thấy được cổ vũ đi sâu hơn nữa vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác mới nổi lên sau chiến tranh... Không biết tự bao giờ ông đưa ra ngày càng nhiều ý kiến về những lĩnh vực quan trọng như cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới, cải cách giáo dục, con đường đi tắt đón đầu của đất nước công nghiệp hoá lên chủ nghĩa xã hội. Ông viết nhiều bài và được in thành tập “tài liệu tham khảo, lưu hành nội bộ, không phổ biến” ... Ngôi sao Đoàn Danh Tiến chói sáng trong làng lý luận.

Công việc sau chiến tranh bộn bề, người làm được việc vô cùng thiếu. Đột nhiên Ban chỉ đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam xin ông Tiến vào hỗ trợ công tác tuyên truyền. Đây là nhiệm vụ kinh tế và chính trị rất phức tạp. Có lẽ ánh sáng lấp lánh của ngòi bút lý luận Đoàn Danh Tiến đã thu hút sự chú ý của Ban cải tạo.

Mình ngồi chưa ấm chỗ mà đã có chỉ thị lên đường nhận nhiệm vụ mới! Tuyệt quá, thời cơ lớn đang đến với mình!..

Ông nhâm nhi niềm kiêu hãnh, đón tờ quyết định trên tay với tất cả lòng hăm hở.

   Tôi đến chào anh trước khi vào Thành phố nhận nhiệm vụ mới. Thưa anh, tôi đã sẵn sàng ra trận. - Ông Tiến đến chia tay ông trưởng Ban, thủ trưởng của mình.
   Mời anh ngồi. Thời bình mà anh rất khẩn trương.

   Quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách mà anh.

   Đành là như thế... Rất tiếc đang lúc bận rộn nên cơ quan không liên hoan tiễn anh được. - Ông trưởng Ban vồn vã.
   Bày vẽ làm gì anh.

   Anh thông cảm thế là tốt. Tạm coi việc biệt phái này là chuyến đi công tác dài ngày. Tuỳ tình hình rồi sẽ liệu.
   Xin anh đừng quá bận tâm về tôi.

   Anh Tiến ạ, nếu công việc đòi hỏi, tôi sẽ giao cho tổ chức chuyển anh vào biên chế của Ban cải tạo, hoặc biên chế của Văn phòng Ban ta trong ấy. Lúc đó sẽ phải tính đến việc chuyển cả gia đình anh ngoài này vào.

   Được Ban quan tâm như vậy, tôi xin cảm ơn. Thật là một vinh dự lớn. Tôi cũng làm xong việc chuẩn bị tư tưởng cho gia đình. Bản thân tôi không đặt ra điều kiện gì.
   Nếu ai cũng nghĩ như anh thì công tác tổ chức cán bộ của Ban nhẹ biết mấy. Để anh đi bọn tôi trống vắng lắm, thiếu một cây bút lý luận dày dạn.
   Tre già măng mọc, lo gì anh.

   Hiển nhiên là vậy. Nhưng giữa lúc tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa tình hình trở nên phức tạp quá. Tự dưng nổ ra vấn đề “nạn kiều”(*)•[(*) Vấn đề người Việt gốc Hoa bỏ chạy ra nước ngoài, Trung Quốc gọi đấy là vấn đề nạn kiều.] . Cộng đồng người Việt gốc Hoa lũ lượt bỏ trốn ra nước ngoài. Vấn đề “thuyền nhân” ngày càng nóng bỏng. Khmer đỏ càng leo thang, càng nhiều nước công khai giúp nó chống ta.

   Ông bạn láng giềng lớn là người đỡ đầu số một. - Ông Tiến muốn tỏ ra mình nắm vững vấn
đề.

   Thế mà Núi liền núi, sông liền sông... đấy! Mỹ đã quyết định cấm vận. Thái Lan ngoắt một cái bây giờ tự phong là nước tuyến đầu của ASEAN chống ta. Anh xem, công tác chính trị tư tưởng lúc này càng không đơn giản.

   Nhưng uy tín của nước ta sau khi thắng Mỹ lớn lắm anh ạ, không kẻ nào làm gì được đâu. Đụng vào Việt Nam bây giờ là đụng vào lương tri của thời đại!
   Cứ cho là thế...

   Anh ạ, đã thắng nổi Mỹ thì ta làm gì cũng được. Vì thế tôi cho đánh giá bên chỗ các anh Lê Hải và Phạm Trung Nghĩa là bi quan, là mất tính chiến đấu. Trái với cả với nhận định cơ bản
 
của Đảng ta về nội dung thời đại chúng ta đang sống. Anh có nhận xét như vậy không? - trong khi nói hăm hở, ông Tiến vẫn nhìn thẳng vào ông trưởng Ban, cố tìm sự đồng tình.

Ngẫm nghĩ mãi ông trưởng Ban mới đáp lại:

   Diễn biến tình hình hiện nay phức tạp hơn cả nhận định của bên Viện anh Hải. Lúc Ban nhận được bản đánh giá của Viện anh Hải, tình hình chưa căng thẳng như bây giờ đâu... Báo chí xấu của nhiều nước đang rộ lên chiến dịch chống Việt Nam.

Đoàn Danh Tiến ngắt lời trưởng Ban:

   Xưa nay anh vẫn thích câu ngạn ngữ: “Chó cứ sủa, lạc đà cứ đi!”. Bây giờ anh chán câu này rồi à?
   Bây giờ tôi muốn thận trọng hơn. Hình như họ đang hùa nhau, thành một chiến dịch hẳn hoi. Người thì nói Cộng sản Việt Nam thắng trong chiến tranh nhưng sẽ bại trong hoà bình. Kẻ thì gọi ta là tiểu bá. Tệ hơn nữa là có kẻ còn nói Việt Nam đã từng giương cao ngọn cờ chống xâm lược, bây giờ là kẻ xâm lược...

   Chính vì thế phải chủ động phản công. Phải lên tiếng mạnh mẽ hơn nữa với thế giới. Hàng ngũ trong nước phải xiết chặt hơn nữa, không được một giây phút hữu khuynh... - ông Tiến sôi nổi.

   Không được hữu khuynh, kể cả trong đối nội. Tôi đồng ý với anh điểm này. Đây là lúc càng phải đẩy mạnh chuyên chính vô sản và tăng cường chế độ xã hội chủ nghĩa. Về phương diện này anh hoàn toàn có lý. Chỉ có một điều là...

   Tôi cho rằng mọi việc phải bắt đầu từ nâng cao ý chí chiến đấu. Phải muôn người như một, tập trung dân chủ cao độ. Có cái chất này đã rồi mới bàn được mọi việc... Bây giờ là lúc dễ hữu khuynh hơn thời chiến... - ông Tiến vào cuộc ngay.

   Tôi thừa nhận anh có một tài năng bẩm sinh. Nói ra là thành văn một cách tự nhiên, cứ như là đọc chính luận... - ông trưởng Ban rót thêm nước cho ông Tiến. - Hùng biện lắm. Song đừng quên cánh tuyên huấn chúng ta thường yếu khi bàn về những chủ trương, biện pháp. Thiên hạ vẫn giễu chúng ta là “nói được nhưng không làm được”. Họ còn đặt nhiều chuyện tiếu lâm về chúng ta nữa.

   Kệ họ anh ạ. Có quyết tâm, không hữu khuynh. Như thế sẽ có tất cả. Đây mới là gốc của vấn đề. Anh thử hình dung, nếu hai cuộc kháng chiến vừa qua thiếu cái gốc này?
   Được lắm. Còn điều này suýt nữa tôi quên. Anh em trong đó nhiệt tình cách mạng rất cao, nhưng lý luận bài vở có hạn thôi. Phần đông là những người trưởng thành trong thực tế chiến đấu. Anh cần chú ý điều này. Nếu không sẽ dễ va chạm. Nhất là cần tránh việc lên lớp người ta, đừng để sinh ra mặc cảm...
Tiễn Đoàn Danh Tiến đi rồi, trưởng Ban không khỏi phân vân: ...Tiến hồi này hiếu thắng quá.

Lúc nào đó phải kìm cương cậu ta lại một chút! Con ngựa này háu đá!..

Ra về, Đoàn Danh Tiến hỉ hả về những đánh giá cao của trưởng ban dành cho mình, song không khỏi băn khoăn về mấy câu dặn dò cuối cùng. Tuy nhiên ông đủ tỉnh táo để nhận ra yếu điểm kinh niên của mình là tính hiếu thắng. Nó đã từng đưa ông lên cao, nhưng cũng làm ông mất khối bạn.

Suy cho cùng nhận xét của trưởng Ban không sai, chứng tỏ ông ta thiện chí với mình...

Ông Tiến cảm thấy yên tâm.

Về đến phòng làm việc, hãy còn nhiều thời giờ. Ông Tiến điện thoại muốn đến chào tướng Lê Hải. Thiếu tướng vui vẻ nhận lời. Xe đưa ông Tiến đánh loáng đã tới nơi.

Câu chuyện giữa hai người loanh quanh thế nào lại đụng chạm đến bài báo nổi tiếng của ông Tiến ngầm phê phán quan điểm của Viện.

   Anh Tiến vào trong đó, tôi thiếu vắng một người luôn luôn gây cho tôi nhiều cảm hứng để tranh luận.
   Có như thế mới vỡ vạc ra anh Hải ạ.
 

   Nói thế nào nhỉ? Đứng về mặt cổ vũ phong trào, tôi thấy bài báo của anh tốt lắm. Song tôi tự hỏi cuộc sống ngày nay quá rắc rối, chúng ta có nên giữ mãi cách tuyên truyền giản lược như thế không? Khi đất nước phải đối mặt với thực tế phức tạp hơn nữa thì sẽ tính sao?..
   Anh nói thế thì tôi yên tâm, nghĩa là không có chuyện hiểu lầm nhau. - Ông Tiến cố giấu sự không hài lòng của mình.
   Anh Tiến ạ, báo cáo của Viện tôi là để sử dụng cho công tác nghiên cứu, nhất là đối với những người tham gia hoạch định các chủ trương chính sách trong thời bình. Nhưng dù sao nội dung báo cáo cũng chỉ là những đánh giá chủ quan của Viện tôi thôi. Còn phải chờ thực tế kiểm nghiệm.

   Theo tôi điều cực kỳ quan trọng lúc này là phải nắm vững tư tưởng chủ động tiến công, thừa thắng xông lên anh Hải ạ. Phải lấy cái đà thắng này át hết mọi chuyện. Tinh thần lúc nào cũng phải được lên dây cót, để chùng xuống là sinh chuyện ngay!

   Về mặt tư tưởng, anh cố chủ động như vậy là điều hiểu được. Nhưng mới có mấy tuần thôi, tình hình phức tạp nhanh hơn so với khi chúng tôi gửi báo cáo. Anh Nghĩa và tôi vẫn e rằng còn nhiều điều chưa lường hết.

   Cứ cho là như thế đi. Dĩ bất biến ứng vạn biến là phải giữ vững tư tưởng chủ động tiến công. Nghe nói anh Nghĩa xin giải ngũ, có phải thế không anh?
   Có chuyện ấy.

   Không thể tin được!

   Hoàn cảnh gia đình anh Nghĩa có nhiều chuyện éo le quá, bản thân lại là thương binh nữa anh Tiến ạ...
   Khó khăn thì không bao giờ hết. Nhưng đã thắng được Mỹ thì việc gì ta cũng làm được. Nói lên điều này với một vị tướng như anh là thừa. Điều tôi quan tâm bây giờ là giữ vững tư tưởng chủ động tiến công trong thời bình như thế nào?

   Vâng. Đây là vấn đề thời sự.

   Trong các nghị quyết của Đảng về công tác chính trị tư tưởng cũng nhấn mạnh điều này. Thời bình điều này mới khó, anh Hải ạ. Không biết anh có hay trao đổi với anh Nghĩa không?

- Nhiệm vụ người lính chúng tôi làm xong rồi, chúng tôi có quyền nghỉ ngơi. Bây giờ cờ đến tay những người như anh đấy. – tướng Lê Hải cười vui, đẩy quả bóng trở lại phía ông Tiến.

   Chúng tôi đâu dám thoái thác. Nhưng chắc chắn bọn cầm bút chúng tôi còn phải trông chờ nhiều vào kho tàng kinh nghiệm chiến đấu của những chiến sỹ cách mạng cầm súng như các anh.

   Thế là anh chia chúng ta thành hai phe rồi đấy nhé!

   Người khơi mào là anh. Nhờ anh cho tôi gửi lời chào anh Nghĩa... Có lẽ anh cũng nên.

   Nên gì nữa hả anh Tiến?

   Chỗ anh em với nhau nói thật, anh nên có vài lời khuyên giải anh Nghĩa.

   Có chuyện gì hệ trọng không anh? – mắt ông Lê Hải rạn vỡ ra sau cặp kính.

   Anh nên khuyên anh Nghĩa xem lại ý định xin giải ngũ. Dư luận sẽ đánh giá không hay đâu.

   Thuần tuý vì lý do gia đình thôi mà. Có gì mà phải xem lại? - ông Hải thực bụng không hiểu.

   Quá trình trong quân đội của anh Nghĩa hiển hách như vậy, chiến công đầy người, thế mà lúc này xin giải ngũ thì uổng lắm. Sẽ bị mang tiếng là nhụt ý chí phấn đấu đấy. Thế là rơi vào thoái hoá, là khờ dại! Tôi không muốn dạy khôn anh Nghĩa, nhưng không nghe tôi, sẽ mất cả chì lẫn chài cho mà xem. Như thế thì tiếc cho anh Nghĩa lắm...

   Nhụt ý chí phấn đấu, thoái hoá... có khác gì đào ngũ không? Sao anh không nói thẳng ra như thế?
   Thế là anh hiểu đúng ý tôi. Đối với quân nhân cách mạng những khái niệm ấy là một, anh Hải ạ.
 


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:52:01 am
   Xin anh đừng quên, anh Nghĩa là thương binh nặng. Thà xin giải ngũ còn hơn là mang tư tưởng công thần chứ? Tôi lại cho đấy là một cử chỉ cao quý.

   Nhưng anh Nghĩa còn là đảng viên. Mà đảng viên thì phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Anh và tôi, tất cả các đảng viên đều được học như vậy, đều tuyên thệ như vậy trước khi xin vào Đảng.

   Vâng, nói thế thì chịu. Tôi sẽ nhắn lại Nghĩa.

   Anh nên ngăn cản anh Nghĩa.

   Gặp anh, lúc nào tôi cũng thấy một không khí sôi nổi. Bao giờ anh lên đường?

   Theo kế hoạch là đầu tuần tới.

   Cấp tốc thế? Hòa bình rồi mà cứ như thời chiến vậy!

   Tôi phải mượn câu nói nhà binh của các anh: Quân lệnh như sơn!

   Anh đúng là con người rất nguyên tắc! Xin anh chờ tôi một chút. – tướng Lê Hải rời sa-lông tiếp khách, đi ra chỗ bàn làm việc nhấc điện thoại nói chuyện với người thư ký của mình mấy câu rồi quay trở lại: - Anh nhận công tác mới đột xuất quá, anh Nghĩa và tôi chưa kịp trang trải với anh một món nợ lớn.

   Nợ nần gì thế?

-Để tôi châm thuốc cho anh đã rồi xin nói chuyện tiếp.

Tướng Lê Hải đánh diêm châm thuốc cho ông Tiến, rót tách chè mới, hỏi thăm ông Tiến về việc chuẩn bị cho công tác mới. Một lát sau người thư ký mang đến cho tướng Lê Hải một chồng sách mới in. Tướng Lê Hải ngó lại một lượt nữa rồi mới đưa cho ông Tiến:

   Xin biếu anh tập truyện ngắn mà anh đã vui lòng tìm giúp nơi xuất bản và viết bài giới thiệu. Công anh lớn lắm. Tôi phát hiện ra anh còn là một nhà bình luận văn chương nữa!..

Ông Tiến đỡ lấy chồng sách, đếm được năm quyển:

   Tiền nhuận bút cho bài giới thiệu của tôi đáng giá 5 quyển, có phải không? - ông Tiến cười vui, giơ một quyển lên ngắm nghía rồi đọc to: - ...Truyện kể giữa những trận đánh – những giai thoại khi chiến trường im tiếng súng... Sách in trình bày trông cũng được đấy chứ. Tôi quên bẵng việc in ấn này.

   Công lao anh lớn lắm. Thực ra anh Nghĩa và tôi có biết gì về văn chương đâu. Cả hai chúng tôi chỉ là người kể truyện, viết thành truyện lại là một nhà văn trong Viện tôi. Anh ta nằng nặc đòi in thành sách, vì để thời gian lãng quên thì hoài, nhưng anh ta vác bản thảo đi mấy nơi mà không được in, chẳng nơi nào còn kinh phí.

   Thời buổi khó khăn mà.

   Vâng, nếu anh không giúp cho thì...

   Nhưng tác giả vẫn là tên anh và anh Nghĩa đây này. - Ông Tiến chỉ lên bìa tập truyện.

   Vâng, anh ta chỉ chịu ghi tên mình là người chép truyện thôi. Anh ta nói bài giới thiệu của người có tên tuổi như anh sẽ làm cho tập truyện gây được tiếng vang.
   Cũng như hai anh, văn chương đâu có phải là chuyện của tôi. Nhưng khi đọc bản thảo tôi thấy nhiều giai thoại rất lý thú và cảm động nên nhận lời giúp. Nhất là các truyện như Mất mũ cối, Cu Tý, Võng em bên võng anh, Cho em xin tý giống...

Có lẽ anh rất trung thực với cảm xúc của mình, nên bài giới thiệu của anh rất cảm động! Hiếm khi tôi được thấy một Đoàn Danh Tiến là của chính anh như thế. Anh Nghĩa và tôi đều sửng sốt. Phải cảm ơn anh nhiều lắm.

   Khi đọc xong bản thảo, tôi cứ tự nói mãi với mình: Đúng là bộ đội Cụ Hồ! Chỉ bộ đội Cụ Hồ mới có thể lạc quan yêu đời đến như vậy... Thế là tôi dựa vào cảm nghĩ đó viết bài giới thiệu. Cảm hứng mãnh liệt, nên viết một mạch, nhanh lắm! Tập truyện này là món quà quý anh và anh Nghĩa tặng tôi trước khi tôi vào Nam.

   Qua bài giới thiệu này, chúng tôi khám phá ra một anh Tiến mới! Chân thật với sự rung
 

cảm của chính mình! Anh Nghĩa và tôi đọc đi đọc lại mãi. Cố giữ liên hệ với nhau thường xuyên nhé... – tướng Lê Hải chân tình.

Ngồi trong chiếc Lada trên đường về nhà, niềm vui về tập sách được biếu như đang nâng ông Tiến lên tầm cao mới.

Ông Tiến đọc nhanh lại một lượt bài giới thiệu do chính ông viết cho tập truyện. Bản thân ông cũng không ngờ mình đã có thể viết được một bài giới thiệu xúc động đến thế... Đầu óc ông lâng lâng những lời ca ngợi của Lê Hải.

Ôi Lê Hải đã phát hiện ra chính ta! Trong ta còn có một con người rung động được lòng người...

Lời khen chân thành của Lê Hải làm cho ông Tiến càng tự tin vào mình. Niềm vui vì sắp được tung hoành trên miền đất mới được nhân lên nhiều lần trong lòng ông Tiến.

Tuy nhiên vẫn óc điều gì vương vướng. Trong thâm tâm ông Tiến có một điều không vui nho nhỏ: ông không thể chia sẻ với nhận xét ít nhiều có tính phê phán của trưởng Ban. Người làm chính trị phải luôn luôn nắm cái gốc của vấn đề, còn chủ trương biện pháp cụ thể là nhiệm vụ chiến đấu của giới chuyên môn, chỗ này trưởng Ban lấn sân người khác, mình nhất quyết không nhảy vào...

Ngẫm nghĩ kỹ, ông Tiến ngạc nhiên thấy trong suy nghĩ của tướng Lê Hải cũng có cái gì na ná như của đồng chí trưởng Ban, na ná như của Nghĩa.

...Những vị này nhìn xa trông rộng hơn ta?

...Hay là các đồng chí này đã có những dấu hiệu mệt mỏi, còn ta vẫn tỉnh táo, sung mãn?

...Chính tướng Lê Hải đã phải nói Nghĩa xin giải ngũ vì có liên quan đến hoàn cảnh gia đình éo le, đấy không phải là biểu hiện của mệt mỏi hay sao?..

Trong thâm tâm, ông Tiến không muốn trực diện chê bai hay lên lớp những người như Lê Hải, Nghĩa, đồng chí trưởng Ban. Ông thừa biết họ hơn mình mấy cái đầu, nên tự nhủ phải cố tỉnh táo để khỏi thất thố, song kiềm chế cái thói quen luận chiến sao mà khó thế!

Hình như mình chỉ vừa mấp máy cái mồm là cái tật khẩu chiến xổng ra liền!

... Nếu họ nhìn xa trông rộng hơn ta, thì ta phải động não nhiều hơn. Nhưng nếu đấy là dấu hiệu của sự mệt mỏi thì ta không được bỏ lỡ thời cơ. Ai cũng có thời của mình, bây giờ là đến thời của ta. Có cách gì khẳng định được điều này không nhỉ?

Xe đỗ xịch trước nhà.

Lúc này ông Tiến mới bước ra khỏi những suy tư lan man.

Ông bước vào đến giữa nhà mà cứ như là đi vào chỗ không người, mặc dù vào giờ này mọi người đều ở nhà. Sau mấy câu chào hỏi chiếu lệ, mọi người ai làm việc nấy. Ngó quanh một lúc, ông đi tìm dây và giấy báo buộc tập truyện lại thành một gói gọn ghẽ, định bụng sáng mai sẽ trao cho thư viện của Ban.

Truyện thì mình đọc rồi, nhà này có ai ngó ngàng đến sách vở đâu!..

Ngắm lại bọc truyện thấy gọn ghẽ, ông mới quay ra cất cặp, thay quần áo, chuẩn bị đi tắm...

...Cái lão Lê Hải này tinh tướng, chỉ được cái nói đúng... Chân thật, đầy cảm nghĩ xúc động! Chính mình cũng không ngờ có thể viết nên bài giới thiệu rung cảm lòng người như vậy... Thế là ít nhiều trong con người mình cũng có cái máu văn chương, có một tâm hồn, có một con người khác nữa - những suy nghĩ trong cái tắm mát rượi làm cho ông Tiến khoan khoái hẳn lên, quên mọi bực dọc trong phút chốc về sự lạnh nhạt trong gia đình.

Khi dội đến gáo nước cuối cùng trong nhà tắm, cái nóng ẩm ẩm oi oi chung quanh lại dần dần chiếm lấy con người ông. Lời khen của Lê Hải về tài văn chương của ông lúc này vẫn còn đủ mạnh níu lại những cảm giác dễ chịu trong con người ông thêm đôi ba phút nữa. Song khoảnh khắc này chẳng được lâu bền cho lắm...

Không hiểu sao, những so sánh ông nghĩ ra cho mình tự bao giở bao giờ, những điều ông đem thân phận ông ra đối chiếu với Lê Hải, với Phạm Trung Nghĩa, với trưởng Ban, với bao nhiêu người khác, giờ đây lại bị cái nóng oi ả kéo về thức tỉnh ông. Trong thâm tâm lúc này lúc
 

khác ông đã ấm ức khi nhiều khi ít về những điều tự mình so sánh với người như thế. Ông cố tìm cách quên đi, nhưng hình như lần nào cũng chỉ làm cho những ấm ức tự mình gây ra cho mình hằn sâu thêm, càng nung nấu thêm trong tâm can ông một điều gì đó...

Có lúc ông tặc lưỡi: Cái máu tiến thủ trong người mình nó hay so đo như thế!..

Sau cái tắm mát rượi, những cái ấm ức không gọi mà về ấy lại bỗng dưng ập tới... Lần này nhanh quá, ông chưa kịp mặc xong quần áo, một chuyện nhức nhối khác đã xâm chiếm đầu óc ông. Khi cài xong khuy áo cuối cùng, cái dư vị ngọt ngào lâng lâng của lời Lê Hải khen bỗng dưng trở nên đắng ớ trong miệng. Miệng ông Tiến làu bàu, cứ tự nó buột ra thành lời:

- Vợ với chẳng con! Bố tiên sư khỉ, thật là cái nợ đời!

Chuyện đã xảy ra đã từ mấy tuần nay, công việc cuốn đi thì thôi, nghĩ đến ông lại nẫu ruột nẫu gan. Đúng là thế, ông thấy mình không lầm vào đâu được.

Đến giờ phút này mà vợ ông vẫn chưa hé răng nói nửa lời về việc ông sắp vào Nam nhận công tác mới. Hai đứa con ông thăm hỏi ông đôi câu chiếu lệ, trong bụng hình như chúng nó cũng thờ ơ chẳng kém gì mẹ chúng.

Tắm xong rồi, nhìn trước nhìn sau không thấy ai bắt chuyện, ông giậm chân giậm tay giữa nhà, buông thả sự bực dọc của mình trong giây lát cho đỡ ấm ức:

   Thật là kỳ lạ! Cái nhà này vợ con quái gì mà như thế này! – lần này ông chủ ý nói to giữa trời.

Không một ai đáp lại.

Suốt bữa cơm tối, bà Hà, vợ ông, cũng không hỏi ông lấy một câu về chuyện mấy ngày nay ông đi chào bạn bè, càng không nhắc gì đến công việc mới của ông sắp tới. Ông chủ động kể lại đôi ba ý về các buổi đi chào, về sự lưu luyến của người này người khác. Bà Hà cứ ngồi yên ăn cơm, chẳng biết có nghe hay không. Hôm nay, mãi đến khi buông đũa buông bát, bà mới lần đầu tiên nói mỗi một câu cụt lủn:
   Ông nhớ mang giấy cắt lương thực đi. Vào trong ấy chẳng ai người ta cho ông ăn không
đâu.

Câu nói của bà Hà làm ông Tiến nghẹn ứ.

Thắng, con trai ông, đang học đại học Kinh tế quốc dân năm thứ 3, hạ một câu:

   Nghe nói trong Sài Gòn hiện nay xe Honda và quạt Nhật rẻ lắm. Nhà mình đang cần. Lợi, con gái ông, năm thứ nhất đại học Ngân hàng, phản đối:

   Không, bố vào trong ấy gửi ra một cái tủ lạnh. Vừa giữ được thức ăn, mùa hè có đá uống nước chanh.

Ông Tiến chan thêm mấy muôi canh vào bát cơm để nuốt trôi sự lạnh nhạt của vợ và những suy nghĩ quá thực dụng của hai con.

... Sắp đi xa mà câu chuyện trong bữa cơm nhấm nha nhấm nhẳng. Chưa chi đã mua cái nọ, sắm cái kia ... Đồ chết giẫm!

Thực ra gần như bữa cơm nào ở nhà ông Tiến cũng diễn đi diễn lại cái cảnh ngồi chung mâm, nhưng không nghĩ chung hướng. Hôm nào ngoại lệ thì nổ ra tranh luận – thường là chỉ giữa mấy bố con với nhau, bà Hà chỉ ngồi nghe hoặc bỏ đi chỗ khác. Hoạ hoằn khi nào có những việc gì thật là đại sự, tỷ như bàn tính làm thêm cái gác xép, nới thêm chỗ nấu bếp... Bữa ăn mới mang bầu không khí gia đình. Nhưng làm gì có nhà nào ngày này qua ngày khác chỉ bàn mỗi chuyện làm gác xép hoặc cơi nới thêm cái bếp...

Một hôm đã lâu, cũng vào lúc chung quanh bữa cơm tối như thế này, tự dưng Thắng đưa ra ý kiến muốn bỏ nhà xin vào ở nội trú trong trường – với lý do để tập trung mọi suy nghĩ cho học tập. Để Thắng vào nội trú có nghĩa mọi chi tiêu trong nhà đột nhiên tăng nhiều, đào đâu ra? Bà Hà lo như vậy, mặc dù ông Tiến hưởng lương cấp vụ. Nhưng nỗi lo của ông Tiến lại đi theo hướng khác: Đã sẵn lông bông rồi, bây giờ lại nội trú nữa sẽ tha hồ mà đua đòi! Gớm thật!

Tưởng rằng câu chuyện này êm êm dần, vì bốn năm ngày liền không thấy Thắng nhắc lại
 

nữa. Không dè trong bữa cơm tối hôm qua con gái ông, cũng răn đe cả nhà:

   Anh Thắng được vào ký túc xá, con cũng xin vào. Ở nhà với ông bà bô khô như gỗ, làm sao chịu nổi. – Lợi thường gọi bố mẹ như vậy khi có điều gì không bằng lòng.

Điều làm cho bà Hà ngao ngán nhất là ông Tiến lúc nào cũng chỉ say mê nói chuyện chính trị. Thói quen này bắt đầu phát triển từ lúc học sinh Đoàn Danh Tiến làm cán bộ chi đoàn hồi học trung học phổ thông ở Văn Bán, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Phú Thọ. Thói quen ấy phát triển thành một khả năng nổi trội, đám con trai trong xã là bạn đồng niên với ông nhiều khi phát ghen. Rồi chính nhờ khả năng nổi trội ấy, Tiến trở thành cán bộ thanh niên tỉnh đoàn sau khi học xong trung học phổ thông, Cái lý lịch thành phần trung nông lớp dưới và khả năng nhạy bén về lý luận của ông tạo cho ông nhiều thuận lợi. Hà Nội được giải phóng ngày 10- 10-1954, cán bộ tỉnh đoàn Đoàn Danh Tiến được trên cử về tham gia tiếp quản thủ đô, làm công tác vận đông thanh niên. Sau đó ông trở thành cán bộ thanh vận của Hà Nội. Thỉnh thoảng Tiến về thăm bố mẹ, đám trai làng ngày xưa xúm lại xuýt xoa:

   Nông dân sệt từ đầu đến chân như mày, thế mà vừa được công tác ở Hà Nội, vừa lấy được vợ áo dài tóc phi-dê hẳn hoi. Sướng thế!
   Tao biết tỏng gia phả họ tộc mày làm ruộng từ đời ông bành tổ. Thế là mày được đổi đời
rồi!

   Chúng tao phục mày chuyển hướng chiếm lĩnh trận địa mới. Cứ như chúng tao thì không ra khỏi luỹ tre làng.
   Thêm vài thằng cu cái đĩ nữa như bọn tao là chấm dứt chương trình!

   Thỉnh thoảng chịu khó về làng dậy khôn chúng tao một tý!

   Cả cái xã Vũ Yển này, cả cái huyện Lâm Thao này, mày xem có thằng nào cùng lớp tụi mình mà lại tốt số như mày không?

Ông Tiến nghe không biết chán và nhớ rất lâu những câu nói dễ chịu ấy. Thỉnh thoảng nhâm nhi những câu ấy trong đầu, ông tủm tỉm cười một mình.

Các lớp bổ túc nghiệp vụ báo chí và bồi dưỡng chính trị làm cho ông trở thành cây lý luận thực thụ. Được đề bạt làm vụ trưởng ở tuổi ngoài bốn mươi trong Ban là chuyện hiếm hoi đương thời, có thể là quá trẻ so với nhiều vụ trưởng đương chức trong Ban, nhưng đúng là ông đang có sức bật. Thỉnh thoảng ông được mời tham gia một số đề tài nghiên cứu chính trị tầm cỡ quốc gia.

Bà Hà, vợ ông, là con một gia đình thương nhân phố Hàng Đường, tương đối khá giả, nhưng do một điều may ngẫu nhiên nên chưa đến mức thuộc diện cải tạo tư sản sau 1954. Nhà của bố mẹ bà cũng không thuộc diện cải tạo nhà cửa. Trước giải phóng Thủ đô ít lâu, bố mẹ bà Hà không buôn bán gì nữa, đơn giản là muốn nghỉ ngơi. Cửa hàng biến thành chỗ ở chứ không cho thuê, tài sản chỉ có mỗi cái nhà. Hai anh lớn của bà Hà là công chức lưu dung, đã có gia đình riêng, được bố mẹ chia cho mỗi gia đình một phòng. Như thế là nhà cửa cũng chẳng có gì để mà cải. Nếu cứ giữ nguyên cái cửa hàng như trước khi giải phóng chắc sẽ gay go với cải tạo. Đã thế lại có cô con gái tích cực tham gia công tác khu phố, đó là bà Hà.

Phố hàng Đường nằm trong khu vực ông Tiến phụ trách lúc tiếp quản Hà Nội.

Vì lý lịch gia đình không thuộc diện cải tạo, nên bà Hà được chính quyền khu phố giao cho nhiều việc. Chính bà Hà lúc ấy đã từng trầm trồ ca ngợi những buổi thuyết giảng của ông Tiến về tiền đồ của thanh niên và đất nước, thán phục cái tài của ông vận động thanh niên trong khu phố mình tham gia vào đủ loại công việc thành phố giao cho: làm vệ sinh khu phố, trang trí trụ sở, treo khẩu hiệu, treo cờ hoa trên đường phố nhân các dịp lễ Tết, xây dựng phong trào văn hoá, tổ chức cho thanh niên học khiêu vũ.

Bản thân bà Hà cũng được ông Tiến thuyết phục và đã tự phấn đấu trở thành hạt nhân của phong trào thanh niên khu phố lúc bấy giờ, đã mấy lần được đi hự hội nghị Thanh niên Thủ đô. Từ thán phục đi tới yêu lúc nào không biết, cuối cùng hai người nên duyên vợ chồng. Ông Tiến còn giúp cho bà theo học lớp kế toán trung cấp và trở thành nhân viên sở Tài chính của thành phố.
 
Sức bền của tình yêu bồng bột có hạn, thời gian của sự chiều chuộng nhau khi mới cưới qua đi nhanh quá, gánh nặng của những lo toan trong cuộc sống hàng ngày cứ chồng chất lên nhau... Tất cả những thứ này chỉ làm cho những nếp nghĩ trái chiều nhau giữa hai người dần dà bộc lộ ngày một rõ, không sao đổi hướng được. Thật khó nói cái gì là nguyên nhân chính của những câu chuyện nhấm nhẳng trong những bữa cơm ở gia đình ông Tiến.

Có thể bà Hà bây giờ có biết bao nhiêu nỗi lo cho cuộc sống hàng ngày mà ông Tiến không chia sẻ cùng bà. Cũng có thể do sự thông minh vốn cha mẹ cho, do bây giờ quá hiểu chồng, hoặc những chuyện ông Tiến nói chẳng mấy liên quan đến cuộc sống gia đình, nên bà ngày càng dửng dưng với mọi chuyện của chồng. Đến mức nhiều khi ông Tiến cảm thấy nói chuyện với bà mà cứ như là đang nói chuyện một mình. Có lúc ông chưa nói xong câu đang nói, bà Hà đã đoán trước được câu tiếp theo, lảng đi tìm cách làm một việc gì đó. Ngày qua ngày lại, bà nhiễm phải thói quen chỉ nói với chồng khi có điều gì thật cần thiết.

Đôi lúc bà Hà rơi tõm vào một luồng suy nghĩ đến mức làm cho bà lơ đễnh, có khoảnh khắc quên cả việc mình đang làm. Vốn là người có nghị lực, bà làm chủ được tình cảm của mình. Nhưng cái khoảnh khắc rơi vào lơ đễnh ấy không chỉ xảy ra một lần. Bà tự hỏi trong cái khoảnh khắc khó tả ấy: Tại sao mình có thể lấy cái ông này làm chồng được nhỉ? Rồi chính bà lại chối phắt, hay lại xoá ngay câu hỏi ấy, chịu để cho sự lơ đễnh xâm chiếm tâm hồn mình. Bà thường tự an ủi: Tại lúc bấy giờ người dân Hà Nội mình khát khao chiến thắng quá! Lúc bấy giờ nhìn những con người chiến thắng trở về thấy ai cũng đẹp! Cách bà Hà tự an ủi như thế khá hiệu nghiệm.

Một lần, lâu rồi, trong buổi đoàn tụ liên hoan đại gia đình nhân dịp tất niên, ông anh cả của bà Hà đứng giữa nhà, nửa vui nửa thật, cao giọng:

   Kể ra chú Tiến chia đều cái tính “bôn-xê-vích” của mình cho mỗi người trong nhà thì chúng ta thuộc loại gia đình cách mạng tiên tiến nhất cả nước này.

Tiếng cười rộ lên vui vẻ.

Lạ thay, đấy là lúc bà Hà chuyện như pháo ran, nhiều chuyện bà làm cho mọi người phải bật cười. Cả ông Tiến cũng phải cười theo... Câu chuyện vui nhất hôm ấy bà kể cho mọi người là một lần ông Tiến đi họp về, ngồi vào bàn ăn cơm. Khi mở lồng bàn ra, ông chỉ thấy mấy quyển sách, mấy tập chỉ thị, nghị quyết ... Tất cả xếp rất ngay ngắn. Ông Tiến ngao ngán đậy lồng bàn trở lại.

   Sao, ông mà còn chê mấy thứ này à? -Thôi bà ơi, tôi lạy bà rồi...

Bà Hà nhại lại lời nói và cử chỉ của ông Tiến, cả nhà được một trận cười không thể mua được... Nguyên do của cái mâm đầy giấy và sách hôm ấy là cửa hàng lương thực của khu phố nhà ông Tiến gần 10 ngày liền chưa có gạo và bột mỳ để bán theo sổ. Song đấy cũng chỉ là cái cớ bà Hà vin vào để ông Tiến không bắt bẻ được. Bà Hà đâu đến nỗi không làm được cái việc mua lại của con phe đâu đó mấy cân gạo để nấu cơm. Quan trọng hơn là bà muốn nhân dịp này nhắc ông Tiến trong bữa cơm người ta ăn cơm chứ không ăn giấy, ăn sách, nghĩa là nói chuyện chính trị ít thôi.

Còn trong bữa cơm tối nay:
Chưa hết chuyện tủ lạnh với quạt máy, hai đứa đã chuyển sang chuyện mốt quần, mốt áo...

Rõ thật là chán! - ông Tiến làu bàu ở bàn uống nước, chỉ vừa đủ mình nghe.

Đang rót dở dang chén nước, ông sực nhớ ra điều gì, đặt ấm chè xuống, với lấy cái cặp da mở ra xem, lật lật các giấy tờ, rồi tự lẩm bẩm:

- Đây rồi, giấy cắt lương thực cũng có rồi. Yên chí...

Cái ấm ức hằn sâu lại trỗi dậy mỗi khi đầu óc chán trường, trống vắng. Không được vợ con động viên về chuyến đi công tác dài hạn săp tới, ông được cái ấm ức so đo thôi thúc, giục giã...

Rồi các người sẽ biết tay ta!

Câu chuyện ông Tiến đến chào từ biệt để lại nhiều tâm tư trong đầu tướng Lê Hải:
 

... Đấy là nhiệt tình cách mạng của lớp người nối tiếp mình? Hay là trong ta nhiệt tình hăng say nhiệm vụ giảm dần? Ta già cỗi mệt mỏi rồi chăng? Đoàn Danh Tiến chẳng đã nói những lời đầy hàm ý về việc Nghĩa xin giải ngũ đó sao? Đấy là nhiệt tình cách mạng hay cơ hội? Chụp mũ cho Tiến thì dễ, nhưng phải tự cảnh tỉnh xem lại mình thì chẳng dễ chút nào. Thời bình có nhiều chuyện thật đáng lo quá.

... Hay là mình bắt đầu tụt hậu rồi?.. Phạm Trung Nghĩa xin giải ngũ cũng là dấu hiệu tụt hậu? Phi lý lắm. Thậm phi lý... Những mất mát phải chịu đựng trong chiến tranh tạo ra cho mình cách nhìn khác chăng? Hay là cầm súng chiến đấu là một chuyện, ngồi nhà hô xung phong lại là một chuyện khác ...

Tướng Lê Hải đã lên giường, tắt đèn đi ngủ. Nhưng những suy nghĩ mung lung như thế cứ chờn vờn trong đầu. Lúc này bà Hậu, vợ ông, còn đang lục cục làm nốt mấy việc cuối cùng trong gian bếp để chuẩn bị cho ngày mai. Thấy chồng lại bật đèn, ra bàn ngồi, bà lấy làm lạ:

   Anh đi tìm thuốc ngủ đấy à? Em thấy anh thôi dùng seduxen đến cả tuần nay rồi cơ mà?

   Không không. Nằm nghĩ vẩn vơ nên chưa ngủ được.

   Anh yêu đời lắm nhỉ, là ông lão rồi mà còn nghĩ vẩn vơ được.

   Chẳng nhẽ anh đã già đến thế rồi hả Hậu ơi?.. Hừm... Nhưng đúng là hôm nay anh hơi khó chịu.
   Em đã nói rồi, phải bỏ thuốc lá đi anh mới hết viêm họng được.

   Anh không bỏ em được thì cũng không bỏ thuốc lá được.

   Thế em bỏ anh để anh cai thuốc lá nhé?

   Ấy chết, anh không nghĩ thế. Anh khó chịu là vì hôm nay bị ông Tiến lên lớp.

   Lại cái ông Tiến tuyên huấn thỉnh thoảng anh vẫn gặp chứ gì?

   Vẫn ông ấy thôi, lần này anh cảm thấy lợm giọng quá. Nghĩ kỹ lại thấy lo nhiều hơn.

   Nhưng Đảng và Nhà nước cần dùng những người như ông ta, thì cớ gì lại trách ông ta? Rồi lại còn khó chịu với ông ta?
   Ôi Hậu, em hỏi gì mà tai ác thế?

Bà Hậu không trả lời ngay, mà chỉ nhanh tay làm vội mấy việc rồi lại ngồi bên cạnh chồng, vuốt ve mái tóc bạc trắng trước tuổi của ông:

   Em không muốn làm anh phật lòng, nhưng hồi này ông lão của em hay nghĩ quanh nghĩ quẩn...
   Anh già và sinh ra lẩm cẩm rồi có phải không em?

   Khuya rồi, anh đi ngủ đi.

   Chúng mình vẫn cứ anh anh em em như thế này thì không thể gọi anh là ông lão được, em phải cải chính đi?
   Cải chính như thế nào?

   Cải chính trên tivi cho cả nước biết!

   Em gọi anh như vậy để anh bớt già và để em trẻ thêm. Cố níu lại cuộc đời mà... – bà Hậu âu yếm nhìn chồng.
   Anh tự cho mình không bao giờ già, nhất là bây giờ có em bên cạnh.

   Thật thế ư?

Để xua đuổi câu chuyện với ông Tiến trong đầu, ông Lê Hải ôm xiết vợ vào lòng. Ông hiểu rõ nỗi cô đơn của cặp vợ chồng mình, còn rất trẻ về tình, nhưng không còn trẻ về tuổi tác. Cả nhà bây giờ chỉ có hai vợ chồng lộc cộc, với cả một dĩ vãng đầy thử thách đau thương.

Hồi ấy, vào cuối năm 1969, cùng một lúc, khi nhận được lệnh từ giã chiến trường miền Trung để ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, đường dây từ trong Nam ra mang đến cho đại tá Lê Hải tin dữ: Vợ ông và đứa con gái duy nhất của hai người đã bị địch giết chết ở Cần Giờ. Không có
 

cách gì có thể đếm được bao nhiêu người đã bị giết như vậy trong đợt truy quét liên miên của địch kéo dài hơn một năm trời kể từ sau đợt tấn công của ta Tết Mậu Thân. Chưa bao giờ nhiều vùng ở trong và chung quanh Sài Gòn cơ sở của ta bị bóc trắng và tiêu diệt tàn bạo như vậy. Nguyên nhân cũng dễ hiểu, sau đợt tấn công Tết Mậu Thân phần lớn những cơ sở này và nhiều đường dây liên lạc của ta bên trong và chung quanh Sài Gòn bị lộ không có cách gì cứu vãn được. Chỉ có một điều an ủi nhỏ nhoi, tin nhắn ra cho biết: sau khi giặc rút, những người còn lại đã bằng mọi cách tìm được thi hài vợ con ông và chôn cất chu đáo.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:53:12 am
Vợ ông là con một gia đình giàu có là cơ sở cách mạng bên trong Sài Gòn ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp. Ông được tổ chức đưa về ẩn náu ở cơ sở này từ năm 1956, sau khi ông chạy thoát sự truy lùng của chính quyền Diệm tỉnh An Giang. Mẹ vợ ông, bà Sáu Nhơn, chồng chết sớm, nhưng nổi danh là một người ăn nên làm ra. Trong năm người con của bà, thì một là chủ xưởng dệt thun Liccy, một là đại lý bán xe hơi của hãng Peugeot, một là chủ khách sạn Eden. Bà Sáu Nhơn là chủ hãng xe đò Cánh nhạn, có 15 xe khách chuyên chạy các tuyến đường đi các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Hai Phong, người con trai lớn nhất của bà tham gia cướp chính quyền Sài Gòn trong Cách mạng tháng Tám, lúc đầu là tỉnh uỷ viên tỉnh Vĩnh Long trong kháng chiến chống Pháp, rồi làm bí thư tỉnh uỷ. Vợ chồng hai Phong tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève 1954. Sống với bà ở nhà chỉ còn lại cô con gái út. Do biết cách làm ăn, luồn lách được cánh Lý Lương Thân và mua chuộc được bọn quan chức, nên công việc kinh doanh của năm mẹ con bà sáu Nhơn tạo ra được tấm bình phong tin cậy, đồng thời cũng là một trong những nguồn thông tin và nguồn tài chính có ý nghĩa cho nhiều cơ sở của ta trong nội thành.

Một ngày, má Sáu nói với Lê Hải:

   Má thương con như Hai Phong của má. Nó nói đi tập kết hai năm ra Bắc rồi vợ chồng nó sẽ dắt nhau về. Quá hai năm lâu rồi, tình hình này hai đứa về sao được! Ngoài Bắc bây giờ là quê của hai đứa, ở đây má là má của con. Ba Tước, Tư Quang và Năm Thịnh ai nấy đã lập nghiệp riêng của mình. Chỉ còn Út Thạnh sống với má. Nếu hai con ưng thuận với nhau, thì nên thành vợ thành chồng. Cung cách Mỹ Diệm đàn áp thế này chắc phải lo kháng chiến lâu dài con à...

Gần một năm sau, gia đình má Sáu có lễ cưới để Lê Hải chính thức trở thành con cháu trong dòng họ. Nhưng từ năm 1960 anh phải thường xuyên đi đi về các tỉnh miền Đông Nam bộ, làm nhiệm vụ bí mật tổ chức các lực lượng vũ trang địa phương. Việc kinh doanh của má Sáu rất thuận tiện cho anh thực hiện nhiệm vụ này. Năm 1962 tổ chức quyết định phải rút Lê Hải ra khỏi thành phố để tránh bị lộ, khuyên đem cả vợ con đi cùng, lấy cớ là ra ở riêng đi làm ăn ở tỉnh khác để che mắt mọi người. Má Sáu chấp thuận, cho Út Thạnh ít vốn để liệu bề tự kiếm sống.

Sau những tháng ngày nay đây mai đó ở nhiều tỉnh dưới hình thức làm nghề buôn chuyến, cuối năm 1963 tổ chức bố trí cho gia đình Lê Hải vào nằm vùng ở Cần Giờ. Trong những năm tháng lặn lội chuyển sang hoạt động tại các tỉnh miền Tây Nam bộ, thỉnh thoảng Lê Hải vẫn có dịp ghé về thăm vợ con. Cũng may Thạnh là người tháo vát, anh hoàn toàn không phải lo cho đời sống kinh tế của gia đình. Thỉnh thoảng anh còn được má Nhơn và vợ cho tiền, cho ít thuốc men, mua giúp thứ này thứ khác các đồng chí của anh đang cần.

Giữa năm 1964 anh được trên điều động ra chiến trường Tây Nguyên, lúc này bé Thơ đã bắt đầu võ vẽ học chữ, do mẹ dạy. Từ đây, Lê Hải sống bằng những tin tức gia đình chuyển qua đường dây liên lạc, hoạ hoằn kèm theo mảnh giấy với những dòng chữ non nớt, ngây thơ và đầy yêu thương của bé Thơ... Từ 1965 các trận đánh của quân ta trên chiến trường miền Trung có quy mô ngày càng lớn. Lê Hải được điều ra tham gia bộ chỉ huy mặt trận Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế – Quảng Nam. Đó là các tỉnh thuộc quân khu I của nguỵ quyền và cũng là vùng chiến tranh ác liệt nhất trong thời gian này, nhất là từ khi có quân Mỹ, Hàn Quốc, Úc và Niu Di-lân trực tiếp tham chiến.

Kể từ khi Nam tiến, chưa bao giờ Lê Hải vấp phải những vấn đề quân sự nan giải như thời kỳ này: cường độ hoả lực của địch cực kỳ ác liệt, tốc độ cơ động nhanh, kỹ thuật quân sự hiện đại nhất, lối đánh “tìm – diệt” và đánh dứt điểm... Mặc dù ở bộ chỉ huy mặt trận miền Trung, nhưng anh tham gia trực tiếp nhiều trận đánh, với mục đích phải cùng nhau sớm tìm ra cách đánh phù hợp. Báo cáo đi, báo cáo về, báo cáo ra Quân uỷ Trung ương... Không ít những trận ta “mất
 
trắng”. Chiến tranh với kẻ giấu mạnh nhất thế giới là như vậy! Cuối cùng tư tưởng “nắm lấy thắt lưng địch mà đánh” được Quân ủy Trung ương đúc kết thành tư tưởng chiến lược. Đấy là một phương thức tác chiến bám sát rất quan trọng, cự ly giữa ta và giặc được rút ngắn tới mức làm giảm thiểu đáng kể nhiều ưu thế lợi hại của giặc về phi pháo và tính cơ động. Lê Hải tiếp tục lặn lội trên mọi chiến trường, đúc kết ra bao nhiêu kinh nghiệm tổ chức chiến đấu và tác chiến... Cho tới khi nhận chỉ thị mới trong tay, cùng với tin dữ đến từ Cần Giờ... Lê Hải đột nhiên gầy rộc đi, tóc bạc nhanh, gần như câm lặng.

Trên đường ông ra Bắc, các đồng chí đi hộ tống cứ ngỡ là mình đang chuyển một bệnh binh ốm nặng về hậu phương...

   Hậu, sao tự nhiên em khóc? - Lê Hải sững sờ, hai bàn tay ôm ấp má vợ.

   Không, em có khóc đâu.

   Em giấu anh thôi, nước mắt đang lăn trên má em đây này.

   Em không khóc thật. Mỗi khi nhìn anh như thế này nước mắt tự nhiên trào ra thôi. Anh đang ưu tư điều gì? Em đã nhiều lần nhìn thấy cả cuộc đời anh trong mắt anh... Ôi nếu anh được gặp bố em thì hay biết mấy, người em xót thương nhất trên đời này!..

   Em... – Lê Hải định hỏi điều gì, song kịp dừng lại không dám hỏi.

   Làm sao có thể nhầm lẫn đến mức như vậy hả anh?

   Ôi Hậu! – Lê Hải ôm xiết lấy vợ vì không trả lời được.

Hai vợ chồng ông thì thầm mãi không ngủ. Trong câu chuyện đêm khuya, hai người cùng dắt tay nhau trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình...

   Thấm thoắt chúng mình cưới nhau được gần 4 năm rồi. Thế mà thỉnh thoảng anh vẫn tự hỏi nhờ ai chúng mình nên vợ nên chồng?
   Đúng ra phải hỏi nhờ ai chúng mình bây giờ mới có cuộc sống cho chúng mình anh ạ...
Thành vợ thành chồng rồi, dần dà em mới hiểu, rồi mới bắt đầu yêu anh... Em càng thương chị Tấm, chị Thạnh...
   Như thế em phải yêu anh bằng cả Tấm, Thạnh và em cộng lại?

   Còn hơn thế anh ạ. Vì nếu thím anh, các bác các cô chú bên em, nói cho đúng hơn là nếu cả làng ta không hết lòng tác thành cho chúng ta...
   Thì em nhất định không lấy anh?

   Thì em nhất định không đi lấy chồng. Vì em quyết thế từ lâu rồi.

   Thật vậy sao?

   Đời thuở nhà ai phụ nữ, nông hội, các bà mẹ chiến sĩ... đều đến làm công tác tư tưởng cho em. Lại cả bí thư chi bộ thôn ta cũng đến thuyết phục em lấy anh. Đi vận động em lấy chồng mà lời lẽ cứ như là xã đội trưởng giao nhiệm vụ tác chiến cho dân quân du kích trong xã. Lúc đầu em vừa tức mình, vừa buồn cười.

   À, xã đội trưởng Tịch phải không?

   Nghe đâu chú ấy cùng họ với anh?

   Ừ, nhưng chi khác, phải gọi anh bằng ông trẻ đấy.

   Thảo nào. Cháu không vun vào cho ông trẻ thì còn vun vào cho ai nữa?

   Cậu ấy nói những gì?

   Nhiều lắm, làm sao em nhớ được... Nào là: Đây là tình nghĩa quân dân, là nhiệm vụ của hậu phương. Nào là: Chị thoái thác là trốn tránh nhiệm vụ, là có tội với cách mạng!.. Em cãi lại: Chú hãy về mang tất cả chỉ thị nghị quyết chú có trong tay ra đây, chỉ cho tôi xem có chỗ nào bắt tôi phải đi lấy chồng không nào!

   Em nói thế thì anh cũng bí, chứ đừng nói đến cậu Tịch!..

   Anh Hải à...
 

   Gì em?

   Anh cố mời thím Mão ra sống với chúng mình đi. Thử lần nữa xem sao.

   Lần nào về quê anh cũng nói chuyện này. Thím đều gạt đi, chê ngoài thành phố ồn ào. Anh đang tính một kế khác.
   Kế gì hả anh?

   Bây giờ thế này, em về quê mời thím ra. Nếu thím không ra em nhất định không ra, cho đến bao giờ thím chịu mới thôi.
   Có lẽ ráo riết như thế may ra được đấy. Em sẽ cố...

   Nếu không có má Sáu, nếu không có thím...

   Các bà mẹ của chúng ta... Em có thể được làm mẹ không anh?

   Ôi nếu được như vậy...

...Hôm ấy, tới Hà Nội, đại tá Lê Hải xin miễn việc đưa ông đi an dưỡng. Ông xin được về thăm quê ngay tức khắc, mặc dù lúc này đường 5 và khu vực Hải Phòng ngày đêm bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt.

Về đến làng trời gần tối. Chào ông đầu tiên là ngôi mộ lớn trên mảnh ruộng đầu làng, được xây một cách trang trọng và có hàng tường hoa thấp bao quanh. Sau này hỏi ra mới biết đó là nơi chôn cất những người trong làng bị giặc Pháp sát hại trong trận càn quét sau vụ sân bay Cát Bi bị bộ đội ta tập kích. Bố mẹ, vợ con Lê Hải và một người em trai của ông cũng yên nghỉ trong đó. Trong trận càn quét này, giặc bắt dân làng gom tất cả những người bị giết lại một chỗ rồi tưới xăng vào đốt... Đứng trong khu đất cũ của nhà mình, mãi ông vẫn không nhận ra được làng mình. Không tìm đâu được nhà cửa vườn tược xưa kia nữa. Họ hàng ruột thịt của ông hiện sống trong làng chỉ còn mỗi thím Mão, vợ người em trai út của bố ông. Những người họ hàng ruột thịt khác, hoặc phiêu dạt đi bốn phương, hoặc không còn nữa.

Làng xóm vắng tanh vì nơi này là trận địa phòng không, nhiều người phải đi sơ tán. Ngày đầu, sáng chưa rõ mặt người, thím Mão đưa ông ra ngôi mộ lớn. Thắp hương xong, ông nằm phủ phục, mặt gục vào ngôi mộ. Không khóc thành lời, nhưng nước mắt đầm đìa. Sau đó trở về nhà. Cả ngày ông không bước chân ra khỏi cửa. Thậm chí mấy lần báo động ông cũng chẳng buồn chạy ra vườn để xuống hầm. Ngày hôm sau cũng vậy. Nỗi đau về mất mát và niềm xúc động vì được trở về quê cha đất tổ quá lớn đối với sức chịu đựng của ông. Nhiều chi tiết ông cứ hỏi mãi, bắt thím mình kể đi kể lại, trong lòng đứt từng khúc ruột. Song cũng có chỗ ông van thím Mão thôi đừng kể nữa, nhất là lúc Sơn bị giặc giật khỏi tay mẹ, Tấm bị giặc hãm hiếp trước mặt dân làng rồi bị bắn chết ... Sáng sớm ngày thứ ba ông mới đi chào những người ở lại trong làng. Lúc này cả làng mới biết ông là người con của làng sau 25 năm xa cách bây giờ trở về. Từ hôm đó, tối tối gần như cả làng thay nhau đến thăm ông, kể cho ông nghe không biết bao nhiêu chuyện.

Rồi chuyến về thăm làng lần thứ hai.

Chuyến về thăm làng lần thứ ba...

Ông rất năng về thăm quê khi thời gian cho phép, để làm dịu bớt nỗi đau của mình.

Không hiểu thím Mão đã nói những gì với cả làng, trong chuyến về thăm lần thứ tư, và từ đó trở đi, thím Mão và cả làng chỉ bàn mỗi một việc là khuyên ông lập gia đình. Cô dâu làng sẽ gả cho là cô giáo Hậu. Đấy là người con gái đã chiếm được sự mến mộ của cả làng vì lòng hiếu thảo với mẹ.

Gia đình Hậu là một gia đình nền nếp, vốn được tiếng cả vùng quê Vĩnh Bảo. Ông nội Hậu là một cụ đồ Nho có uy tín, sau chuyển thành thầy giáo làng dạy chữ quốc ngữ. Bà nội Hậu làm ruộng, nhưng khi tháng ba ngày tám lại biết chạy chợ, nhờ vậy cuộc sống tạm ổn. Trong cái làng hầu hết là nhà tranh vách đất, ngôi nhà xây ba gian hai trái ở cái mức tạm gọi là nhà ngói cây mít của ông bà nội Hậu làm nổi bật sự phong lưu của gia đình - với nghĩa là đủ bát ăn. Bố Hậu là bí thư chi bộ của xã, lãnh đạo xã mình kháng chiến chống Pháp trong những năm toàn huyện bị giặc Pháp chiếm đóng. Không may trong cải cách ruộng đất, gia đình bố mẹ Hậu bị quy oan là địa chủ. Ông nội Hậu bị bức tử, vì không chịu khai báo theo mớm cung của đội cải
 
cách. Bố Hậu còn bị tố oan là “quốc dân đảng”, là tề chỉ điểm, làm tay sai cho giặc thời tạm chiếm. Ông bị xử tử cuối năm 1956, lúc đó Hậu 16 tuổi.

Hậu kể cho Lê Hải: khi bố Hậu được dắt vào bãi bắn, dân làng đông lắm. Cả làng thấy ông đã bị nhục hình đến mức chỉ còn là một bộ xương lê lết, mặt mũi thân thể nhiều chỗ sưng tím, xây xát nặng. Hậu nhìn thấy bố như vậy oà lên khóc, bà mẹ Hậu phải vội vã đưa hai tay bịt miệng con. Hậu nhớ rất rõ, khi thấy bố Hậu bị bịt mắt và trói gô vào cọc bắn, bà vội ôm chặt lấy Hậu rồi kéo úp mặt cả hai mẹ con xuống đất. Tai Hậu vẫn nghe thấy ông đĩnh đạc nói với mọi người: Tôi bị oan! Tôi bị oan! Cả làng hãy minh oan cho tôi!.. Rồi ông hô to: Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!.. Mấy tiếng súng đanh đanh xé trời ...

Ngay sau khi hành quyết, đội cải cách giải thích cho dân làng:

   Tên này cực kỳ xảo quyệt. Trước khi chết vẫn còn tìm cách lung lạc tinh thần đấu tranh của bà con nông dân chống địa chủ cường hào ác bá!

Về sau gia đình được sửa sai và minh oan. Mẹ Hậu ở vậy nuôi con. Hậu đang học đại học sư phạm năm thứ 3 ở Hà Nội thì mẹ ở nhà bị tai biến mạch máu não tới mức độ hiểm nghèo, không tự ngồi dậy được nữa. Hậu bỏ học về nhà chăm sóc mẹ và xin làm cô giáo làng để kiếm sống. Thỉnh thoảng Hậu lại giở quyển Tam tự kinh và một vài quyển “ký” của ông nội tự viết đọc lại cho hai mẹ con cùng nghe. Hậu chỉ sợ quên mất ít vốn liếng chữ Nho ông nội truyền lại cho. Sau gần 9 năm ròng nằm liệt giường, mẹ Hậu qua đời.

Khoảng một năm sau kể từ khi Lê Hải trở về làng, năm 1971, ưng thuận lời khuyên của thím Mão và gần như của cả làng, cô giáo làng lúc này đã 31 tuổi. Ở làng quê ta, con gái đến cỡ tuổi ấy thường được coi là người luống tuổi... Trong những lúc tâm tình với nhau, Lê Hải thấy người thường được Hậu nhắc đến nhiều nhất là ông bố Hậu. Có một lần, vào ngày giỗ bố, nửa đêm Hậu sụt sịt nước mắt hỏi chồng:

   Anh ơi, làm sao có thể nhầm lẫn đến mức như vậy?

   Anh chịu, không trả lời được.

   Có phải tại đội cải cách bắt phải rễ thối không anh? Cái người mà đội cải cách dựa vào rồi đưa lên làm cốt cán vốn dĩ là tên lưu manh nhất làng này anh ạ. Ngày xưa nó đã bị đánh què rồi bị cắt gót chân phải vì cái tội đi ăn trộm.

   Có nhiều nguyên nhân lắm, anh nghĩ mãi mà vẫn phải tiếp tục tìm câu trả lời.

   Khi tiến hành sửa sai thì tên cốt cán này bỏ vợ con, bỏ làng, trốn biệt tăm. Chẳng ai biết nó bây giờ ở đâu nữa anh ạ.
   Ra Bắc anh mới biết ngoài này có chuyện cải cách ruộng đất như vậy.

   Bây giờ người ta đang sưu tầm thành tích của bố để xét truy tặng huân chương!.. Nhưng huân chương gì thì bố cũng không sống lại được!

Lê Hải chỉ biết lau nước mắt cho vợ, mãi mới nói được:

   Anh là bần nông từ làng mình ra đi. Anh hiểu rõ thực hiện chủ trương người cày có ruộng quan trọng như thế nào cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đây là một động lực vô cùng quan trọng của kháng chiến em ạ, kể cả ở miền Nam, anh biết rất rõ điều này. Cải cách ruộng đất là việc nhất thiết phải làm em ạ. Còn làm như thế nào thì đúng là có chuyện... - Lê Hải bỏ lửng, không chủ định nói hết với Hậu. Mãi một lúc sau, ông mới nói tiếp - Việc thực hiện có nhiều sai lầm lớn, thậm chí đổ nhiều máu... Thật là những sai lầm đau xót, vô cùng đau xót! Em cố hiểu như vậy để tự vượt qua...

   Thế nhưng tại sao nhằm cả vào những người nuôi cách mạng mà bắn? Bà Nguyễn Thị Năm là người bị bắn đầu tiên trong cải cách ruộng đất. Dù có là địa chủ đi nữa, cả miền Bắc này biết gia đình bà ta là cơ sở nuôi cách mạng, con trai bà cũng là bộ đội... Cơ quan chỉ huy quan trọng của kháng chiến đặt tại nhà bà. Anh thử đặt mình vào địa vị gia đình nhà người ta xem! Ngày hôm trước còn ăn cơm nhà người ta, ngày hôm sau lôi người ta ra mà bắn! – bà Hậu gần như phát khóc, nước mắt giàn giụa.

   Sai lầm đẫm máu em ạ. – Lê Hải quanh co, một tay xoa nước mắt trên má Hậu, một tay ôm
 

chặt lấy bà như muốn chẹn những cơn nấc của vợ mình.

   Em không đồng ý. Phải nói cả sai lầm và tội lỗi.

   Anh hiểu.

   Tội lỗi lớn nhất là không dám nói vì sao mắc sai lầm! Lần nào cũng vậy, cứ đụng chạm đến chuyện này, là em lại cảm thấy như chính mình đang bị dẫn vào bãi bắn... - bà Hậu càng nói càng gay gắt.

Lê Hải lựa lời:

   Anh đã được nghe giải thích...

   Em biết. Hồi ấy không ai nói ra, nhưng sau này cả nước ai cũng hiểu là ông Trường Chinh, ông Hoàng Quốc Việt và nhiều ông to nữa mất chức...
   Câu chuyện còn nhiều khúc mắc lắm em ạ... Cuộc kháng chiến của ta lúc bấy giờ có nhiều chuyện bên ngoài khó xử lắm, mà lực lượng đế quốc thì cứ nhâu nhâu vào chống ta... Em đừng quên mấy năm cuối cùng Pháp đánh ta bằng tiền Mỹ, vũ khí Mỹ!

   Đành là thế, nhưng giải thích cho dân thì lại nói rất chung chung. Không nói công khai cho rõ ngành ngọn.
   Phải chờ đợi em ạ...

   Còn xuê xoa với nhau như thế thì sau này không biết đường nào mà tránh. Sẽ còn chết nữa. Rồi đấy anh xem!

Lê Hải tắc nghẹn...

Đã lâu, ai đó có lần loáng thoáng nói với Lê Hải là Hồ Chủ tịch không tán thành cải cách ruộng đất, mà chủ trương chỉ thực hiện giảm tô và hiến điền thôi, không thể làm đấu tố theo kiểu của Trung Quốc được, cũng không thể tiến hành cải tạo tư sản theo cách của họ. Việc gì cũng vậy, mỗi nước có hoàn cảnh riêng của mình, phải sáng tạo, phải độc lập tự chủ... Nhưng ta chịu nhiều sức ép quá, mâu thuẫn Xô – Trung bắt đầu bùng nổ, mà cuộc kháng chiến đang đi vào giai đoạn quyết định... Cho đến nay vẫn chưa có một lời giải thích công khai nào của Đảng, ông biết nói gì với Hậu bây giờ. Làm cách nào để Hậu hiểu rõ những uẩn khúc éo le của lịch sử?

Thấy chồng không nói gì, một lát sau bà Hậu nói tiếp:

   Hôm ấy chỉ suýt nữa là em cãi nhau với cán bộ đến tìm hiểu khôi phục đảng tịch cho bố để xét thưởng huân chương. Gần năm năm sau khi bố bị bắn anh ạ! Anh ấy càng giải thích, em nghe càng không ổn. Nào là do chủ quan, duy ý chí, nào là do quan liêu giáo điều... Giải thích như thế cho sai lầm nào mà chẳng được! Có thể vì anh ấy là người ngoài cuộc, cho nên đi sửa sai những hậu quả trong cải cách ruộng đất, mà thái độ lại cứ dửng dưng như không! Đến bây giờ em vẫn chưa thấy bà Nguyễn Thị Năm được giải oan.

   Sao em quan tâm đến bà Năm thế?

   Vì người bị bắn oan đầu tiên trong cải cách ruộng đất lại là phụ nữ! Rõ là đi theo cách mạng rồi mà vẫn không thoát!
   Ôi Hậu! – Lê Hải thốt lên như bị điện giật.

Vết thương về bài học đời, sự giày vò của những câu hỏi do Nghĩa đặt ra hôm nào, cùng với những câu hỏi xé ruột xé gan của Hậu, nỗi lo về những hiểm hoạ mới chờ đợi đất nước ở phía trước.., tất cả đang thi nhau cật vấn ông...

   Em đồng ý với anh là phải thực hiện người cày có ruộng, thế nhưng tại sao lại bắt buộc tất cả nông dân vào hợp tác xã, lại còn phải chuyển nhanh lên hợp tác xã bậc cao nữa?

Lê Hải toàn thân chết cứng, mắt trân trân nhìn vào đêm tối.
   Anh không ở quê nên không hiểu hết. Chuyện ngược đời nhất là đất năm phần trăm (5%)
   [(*) 5% tổng diện tích canh tác của hợp tác xã được đánh lại chia đều cho gia đình xã viên để làm kinh tế hộ.] lại là nguồn sống chính của các hộ nông dân xã viên! Mọi khốn khó bây giờ từ hợp tác xã cấp cao mà ra!
 

- Hậu!.. Thú thực còn nhiều điều anh chưa trả lời được... - Lê Hải não nuột.

Nằm bên cạnh vợ, nửa tỉnh nửa mơ, ông Lê Hải thấy đám trẻ, đứa cõng, đứa bế, đứa chạy lon ton, tất cả nhao nhao bâu theo tiễn anh Việt Minh Lê Hải lên đường Nam tiến. Tới quá giếng đầu làng chúng mới dừng lại. Xa xa phía sau là Tấm đang bế Sơn trên tay ... Ông đoán trong đám trẻ ấy chắc không có Hậu. Hồi ấy quê còn nghèo lắm, bọn trẻ chạy theo tất cả đều lấm lem, chân đất, một số khá đông không quần, không váy...

Cả cuộc đời ông từ lúc lọt lòng mẹ đến nay hiện lên dần dần trong ký ức. Ông nghĩ đến số phận của biết bao nhiêu người, của chính mình. Trong tâm thức ông, niềm lo lắng về điều gì đó lại chuyển mình, lại bắt đầu cựa quậy, nhức nhối ...

Càng về đêm khuya tịch mịch, sóng dữ càng ào ào cuộn lên trong đầu Lê Hải.

Ôi, làm sao những uẩn khúc của lịch sử có thể đến được với lương tri con người – Lê Hải quằn quại cứ như người thở hắt ra.

- Làm sao vật vã thế anh Hải? Em đi lấy thuốc ngủ cho anh nhé?

5.
Lại một lần nữa cán bộ Hai Hân báo ông già Tư Cương lên trụ sở Uỷ ban để họp về cải tạo. Lần này hai Hân đến tận nhà, nhắc đi nhắc lại ông già cần có mặt đúng giờ, vì có cán bộ cấp trên đến dự.

Ông già điểm lại trong trí nhớ:

...Gọi là họp, nhưng mình cứ như là bị cáo ngồi trước vành móng ngựa. Cả thảy năm cuộc họp như thế rồi, kể từ khi chính quyền bắt đầu tiến hành việc cải tạo xã hội chủ nghĩa cách đây đúng một tháng. Những gì cán bộ Hân và một số người khác thay mặt chính quyền cần hỏi, mình đã trả lời hết trọi. Còn có gì để nói nữa mà phải họp nhỉ? Họ cứ nói toạc hết ra mình còn phải làm gì nữa... Thế có phải là dễ cho mình bao nhiêu không, đỡ lôi thôi. Họp lên họp xuống thế này sợ lắm... Không nhớ cho rành rọt mà nói năng tiền hậu bất nhất thì khốn. Lại còn biết bao nhiêu câu hỏi chẳng có liên quan gì đến cái nhà in và cái biệt thự của ông Học nữa! Không biết họ hỏi những câu ấy để làm gì? Mà làm sao người như Hai Hân có thể trở thành cán bộ cải tạo được nhỉ? Mình cứ nghĩ anh ta chỉ là một thợ in, có chút tay nghề, thạo đời và thạo nhiều việc vặt... Tính tình lông bông, tuy sau này có khá hơn... Anh ta phạm không ít điều bất tín. Khi nể lời Ba Khang nhận anh chàng này vào làm, thấy là người tháo vát, mình hết lòng giúp đỡ. Thế nhưng mới được dăm tháng anh này đã chơi mình một vố khiến mình không biết nên ăn nói với ông Học như thế nào. Để lộ chuyện, danh dự của mình và tín nhiệm bao nhiêu năm làm cho ông Học sẽ tiêu ma hết. Thế là để cứu mình, mình cũng đành phải cứu cả anh ta. Tháng tháng đến chỗ mình lĩnh lương, anh chàng này xun xoe bác bác, cháu cháu... Có những tháng phải đến mình xin ứng tiền trước trừ dần vào lương - vì chơi gái như ranh, lại còn nhậu nhẹt cả với đám cảnh sát... Thế mà...

Bây giờ tất cả thành chuyện cổ tích rồi!..

Bây giờ nói với mình, anh ta một điều: ...Ông nên nhớ rằng... Hai điều: Ông cần phải biết tỉnh ngộ...... Hình như một thời hai Hân có quan hệ đi lại gì đó cả với bọn “Ma-ác”(*) [(*)MAAG:

Military Advisory & Assistance Group: Nhóm cố vấn quân sự và viện trợ Mỹ, có mặt ở Sài Gòn từ đầu những năm 1950 - khi Pháp không còn đủ lực một mình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ tiến hành. MAAG lúc đầu là bộ phận tiền thân và trá hình thuộc Bộ chỉ huy quân đội Mỹ, làm cả một số việc của CIA.] ... Thế mà bây giờ là cán bộ cải tạo mới ghê chứ!.. Hay Hà Văn Hân là Việt cộng nằm vùng? Ai mà biết được! Tổ chức bí mật của cách mạng trong lòng Sài Gòn giỏi lắm, điều này ai cũng phải thừa nhận... Sau ngày 30 tháng Tư ông thấy trong chính quyền mới có nhiều khuôn mặt quen thuộc thật không ngờ.

...Sao Hai Hân chỉ đáng tuổi con cháu, mà bây giờ lên mặt, ăn nói với mình cứ như là người trên nói với kẻ dưới? Ngay cả ông bà Học cũng không bao giờ nói trống không với mình... Nhưng thôi, điều quan trọng nhất là còn bắt phải nói hay kê khai những gì nữa đây? Thật là cá
 

nằm trên thớt không bằng!.. Đã mắc cái tội làm thuê cho tư bản mại bản rồi, nếu lại thêm cái phận tay sai nữa thì chết đứt ...

Tư Cương lạnh toát người khi bước vào phòng họp thấy người được mời đến chỉ có mỗi mình ông ta, còn lại toàn cán bộ. Thế này thì nghiêm trọng thật rồi... - ông nghĩ thầm.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:54:27 am
   Xin giới thiệu với ông Trần Ngọc Cương, hôm nay ngoài tiểu ban chỉ đạo ra, có ông Đoàn Danh Tiến, thay mặt cho Trung ương xuống làm việc với khu phố, nhằm giúp khu phố xử lý dứt điểm trường hợp nhà tư sản mại bản Phạm Trung Học. Khu phố chúng ta đang phấn đấu trở thành lá cờ đầu của thành phố hoàn thành nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Vì đây là trường hợp điển hình của khu phố ta, nên Trung ương về tận nơi làm việc... – giọng Hân nghiêm trang, dằn từng đoạn để nhấn mạnh.

Tai Tư Cương ù lên, chân tay run lẩy bẩy. Ông lắp bắp và nói nhịu mấy lần trong khi báo cáo lại một lần nữa từ đầu tới đuôi về nhà in Tia Sáng. Ông nhẩm trong bụng: Đây là lần báo cáo thứ sáu...

Ông già Tư Cương thuộc mặt hết các thành viên trong tiểu ban chỉ đạo cải tạo của khu phố. Ban có năm người thì ông Tư đã biết ba từ trước ngày 30 Tháng Tư. Nghĩa là ngoài Hai Hân ra ông còn biết Ba Khang, nguyên là kế toán hãng xe đò đường dài “Cánh Nhạn”, và Bảy Dự vốn là giáo viên trường trung học tư thục Nguyễn Trãi. Sự quen biết Ba Khang hoàn toàn tình cờ, vì tháng tháng chạm mặt nhau lúc chờ đợi ở Sở Tài chính để nộp thuế. Dần dà Ba Khang tôn Tư Cương lên làm thầy, vì được Tư Cương bày cho cách làm sổ sách đúng luật lệ để cánh chi cục thuế không hạch sách được. Sau đó bà sáu Nhơn còn nhờ Tư Cương làm cố vấn về kế toán trong nhiều năm, vì tay nghề của Ba Khang giỏi về tháo vát chứ không giỏi về sổ sách và các chứng từ. Còn thầy giáo Bảy Dự là người ông đã đến gặp mấy lần tại nhà riêng để lo việc dạy học thêm cho con trai Mạnh. Thằng bé này bị đuổi học mấy lần vì tội trốn học nhiều quá. Bảy Dự là cán bộ nằm vùng được Ba Khang che chở. Bộ ba này quen nhau từ lâu.

   Ông Trần Ngọc Cương, một lần nữa tôi yêu cầu ông nghĩ lại, còn điều gì quên chưa khai báo không? Tôi thấy ông không nói được điều gì mới – Hai Hân hỏi gặng, sau khi Tư Cương dứt lời.

   Dạ thưa không, nhà in có vậy thôi. Năm lần trước tôi cũng báo cáo chính xác như vậy. Cả thảy có 78 người vừa nhân viên kỹ thuật, vừa công nhân và tạp vụ, trừ tôi ra là quản lý chung quán xuyến mọi việc. Toàn bộ thiết bị là 3 cỗ máy in cho các loại công việc in khác nhau, một máy đóng sách. Các máy chi tiết, nguyên vật liệu còn lại, máy điện thoại, máy teletif, 4 cái xe đạp, 3 ô tô tải mini tôi đều ghi rõ trong bản kiểm kê. Không thiếu đến một cái bàn, một cái ghế đẩu. Các quạt trần trong xưởng còn đầy đủ. Sổ sách tôi đã nộp không thiếu quyển nào kể từ khi ông Học đi Mỹ cho đến ngày giải phóng. Báo cáo kết toán thu chi và chứng từ hoàn toàn khớp với sổ cái. Kiểm toán của Sở Tài chính hàng năm xác nhận đầy đủ. Gia sản ông Học ngoài cái nhà in ra chỉ có mỗi cái nhà tôi đang vừa ở vừa trông coi hộ.

   Ông Tư, tôi cảm thấy ông vẫn chưa giác ngộ vai trò kẻ làm thuê của mình. Hình như ông đang nhầm lẫn với vai trò đại diện cho chủ mình. Nếu tự cho mình là đại diện cho chủ thì ông cũng bị cải tạo đấy. – Hai Hân dồn ông Tư.

   Chết, chết. Tôi thực sự được ông Học thuê ạ. Làm công ăn lương, sổ lương rành rành năm này qua năm khác, không họ hàng liên quan gì cả. Chẳng qua tôi làm ăn cẩn thận, thực thà, nên ông Học phó thác cho mọi công việc mà thôi, kể cả giữ quỹ. Không phải tôi muốn leo cao lên địa vị gì ngoài cái việc làm quản gia của mình đâu ạ. Trước đây tháng tháng ông ấy chỉ xem báo cáo công việc, sổ sách kết toán, đối chiếu các chứng từ, rồi quyết định bảo tôi làm thêm việc này, bớt việc kia. Từ ngày ông Học sang Mỹ công việc của tôi vẫn như lúc ông ấy còn ở nhà, chỉ khác một điều là bây giờ ông ấy đọc các bản sao, giao việc mới bằng thư hay điện thoại, đôi lúc có việc gì gấp thì gửi telex. Tiền nong thì qua chuyển khoản, chứng từ giao dịch tổng hợp cụ thể hàng tháng liên tục cho đến ngày giải phóng. Tất cả tôi đã nộp đầy đủ cho Ban cải tạo...

Hai Hân thấy bí. ...Tư Cương còn nói nhiều điều chi tiết hơn mình biết về cái nhà in này, không thể bắt bẻ vào đâu được. Hai Hân chuyển hướng:

   Tại sao dự trữ giấy in cho xí nghiệp chỉ còn đủ dùng cho khoảng hai tháng? Một nhà máy in không lý gì chỉ có ngần ấy giấy! Ông nhớ kỹ xem có còn cất giấu của cải ở đâu không? Bây giờ
 

khai ra thì không bị coi là ngoan cố.

   Thưa như thế là quá nhiều chứ ạ. Vì thực tế từ đầu năm 1975 cho đến ngày 30 tháng Tư hầu như không có nơi nào thuê in nữa. Các ông xem sổ kết toán cũng sẽ thấy. Trong thời gian này cả thành phố có còn ai lo đến làm ăn nữa đâu. Lúc bình thường xí nghiệp cũng chỉ duy trì mức dự trữ giấy, mực in và các phụ tùng khác cho máy móc tối đa hai đến ba tháng là cùng. Có khi chỉ một tháng thôi ạ. Để kho nhiều hơn nữa, sẽ nhiều vốn chết và phải trả thêm nhiều lãi cho ngân hàng. Làm ăn như thế có thể lỗ to. Kinh doanh là phải tính toán chi li từng xu ạ.

   Ông quả là rất trung thành với ông Học. – Hai Hân chộp ngay câu nói cuối cùng của Tư Cương. - ...Thảo nào toàn bộ quyền sinh quyền sát của xí nghiệp này nằm hết trong tay ông.
   Chết, xin các cán bộ đừng hiểu lầm. Ông Học trả lương cho tôi là để làm tất cả những việc như vậy. Nếu không, ông Học sẽ thuê người khác ạ. – vừa nói ông già Tư Cương vừa vuốt mấy giọt mồ hôi lăn trên mặt.

Hai Hân lại bí, đưa mắt nhìn các cán bộ khác, hàm ý nói rằng các anh tranh thủ hỏi đi. Nhưng các cán bộ khác, kể cả ông trung ương, vẫn ngồi yên, vẻ mặt chăm chú, đầy suy nghĩ. Có người còn mím chặt môi, chắc nghĩ ngợi điều gì căng thẳng lắm. Ông Tư Cương trộm đảo mắt quan sát tất cả để còn định liệu, trong lòng chỉ lo lỡ miệng thì khốn.

   Ông Học tham gia tổ chức chính trị nào? - Ông trung ương Đoàn Danh Tiến đĩnh đạc.

Tư Cương bật đứng dậy như bị điện giật, hai tay vê vê hai bên ống quần cho đỡ run. Trời ơi, hỏi thế bố ai trả lời được! Đích thân cái ông trung ương hỏi câu này thì gay to rồi!.. Lưỡi Tư Cương cứng đơ.

   Nói đi, ông Học có mối quan hệ gì với Mỹ và nguỵ quyền? Hôm nay có đại biểu Trung ương dự, ông phải nói hết. – Hai Hân tìm cách phá vỡ sự im lặng.

Tư Cương choáng váng.

   Ông cứ ngồi xuống mà nói. Câu hỏi khó quá phải không ông Tư? – Hai Hân tra khảo.

   Quả thực tôi không biết gì để trả lời câu hỏi này. – Tư Cương lúng búng.

   Con trai làm đến thiếu tá mà lại không có quan hệ chính trị gì với Mỹ - nguỵ sao được? Mà ông lúc nào cũng kè kè bên cạnh ông chủ. Tôi còn lạ gì nữa.
   Tôi chỉ gặp ông chủ khi công việc bắt buộc thôi ạ. Ông Hai cũng làm việc ở xí nghiệp này, có quan hệ rộng hơn tôi, lại hoạt động bí mật, ông Hai biết rất rõ quan hệ giữa ông Học và tôi ạ.

Thôi được, ông không muốn nói thì tôi nói cho ông nghe, rồi về suy nghĩ cho kỹ. Bây giờ ông chỉ trả lời có hay không thôi.

   Xin vâng. – Tư Cương lật bật như đứng trên lửa, lúc này vẫn chưa dám ngồi xuống.

   Thời còn Ngô Đình Diệm ông Học có tiếp một số khách của Cần Lao Nhân Vị tại nhà, có đúng không?
   Đúng ạ, nhưng đấy là...

   Tôi đã nói là ông chỉ cần nói đúng hay không thôi mà. Người của Hội đồng Quân lực Sài Gòn vẫn thường đến gặp trung tá Lễ và thiếu tá Mạnh tại nhà này, có đúng không?
   Vâng đúng, điều này có gì là lạ ạ?

   Ngày ông Học ra đi còn có nhiều người của Quốc hội Sài Gòn đến đây tiễn có đúng không.

   Vâng, đúng, nhưng khổ quá...

   Tôi gợi ra sơ sơ như vậy thôi. – Hai Hân gạt phắt đi. - ...Ông về suy nghĩ xem những quan hệ ấy là quan hệ gì! Nghĩ thật kỹ hãy trả lời, không nói đi nói lại được đâu. Tôi không hỏi ông về các cuộc tiếp khách thương nhân của ông Học. Bây giờ ông nói cho tôi biết tài sản của ông Học còn những gì nữa?

   Tôi đã trình hết trong tờ khai rồi ạ.

   Không, ý tôi muốn hỏi ngoài xí nghiệp in ra, ông Học còn tài sản hay bất động sản nào khác nữa không?
 

   Theo các văn tự tôi đã giao cho ban cải tạo, theo các khoản thuế hàng năm tôi phải đi nộp cho ông Học, tôi nghĩ rằng ông Học không còn tài sản hay bất động sản nào khác. Nhưng...

   Nhưng gì nữa?

   Dạ, nhưng... - để phòng xa chữ ngờ, Tư Cương nghĩ một lát rồi nói thêm: Nhưng xin thưa với các cán bộ, đấy là tôi dựa vào những việc tôi được giao, những sổ sách giấy tờ tôi được giữ mà báo cáo như vậy ạ. Còn nếu cán bộ nắm được sổ sách giấy tờ hay tin tức gì khác thì tôi chịu không biết được. Tôi không thể nói điều gì tôi không biết...

   Hôm nay ông vẫn không nói lên được điều gì mới so với năm lần trước. Tôi cho phép ông có thêm thời giờ để tiếp tục suy nghĩ. Hoặc là nói hết sự thật, hoặc là tự chuốc lấy mọi hậu quả.

Tư Cương hiểu là đã bị dồn đến đường cùng rồi.

...Con giun xéo mãi cũng quằn, đến nước này thì phải liều thôi, nếu không mình còn chết nữa! ...Tư Cương ráng tự trấn tĩnh rồi mới nói rõ to:

   Ông Hai Hân, tôi đã khai hết rồi. Xin ông cho phép tôi nhắc lại lời thề này: “Ông biết tính tôi rồi đấy. Lời thề đọi máu, có trời đất chứng giám!” – ông Tư cố dằn từng tiếng, tay giơ cao, ngón tay trỏ chỉ lên trời.

Câu nói của Tư Cương làm cho Hai Hân bỗng dưng nhũn ra trong khoảnh khắc, muốn đổ nhào xuống đất. Hai Hân phải nắm chặt lấy thành bàn để lên gân cho chính mình, cố lấy lại giọng nói cứng rắn:

   Ông Tư, ông đã làm xong việc bàn giao xí nghiệp. Quyết định tịch biên ngôi nhà ông đang ở đã trao cho ông tuần trước. Ông còn đúng bảy ngày nữa để hoàn thành công việc này. Nhưng ngay ngày mai sẽ có người đến cùng ông làm biên bản bàn giao nhà...

Tư Cương hiểu câu nói của mình đã đánh trúng huyệt, song vẫn dạ dạ vâng vâng rồi mới ngồi xuống, hồi hộp chờ đợi. Lời thề nói trên thực ra là của Hai Hân, thề thốt với Tư Cương chuộc lại một trọng tội mà Hai Hân mắc phải trong năm đầu khi mới về làm tại xưởng in của ông Học. Ông Đoàn Danh Tiến không hiểu được tình tiết này nên không hay biết gì, cũng không phán quyết thêm điều gì. Mọi người vẫn ngồi im chờ đợi. Mãi mới thấy Hai Hân quay ra đề nghị với Tiến:

   Xin anh cho phép hôm nay tạm dừng tại đây. Ban chúng tôi sẽ báo cáo anh kế hoạch tiếp theo.

Ông Tiến đồng ý. Cuộc họp giải tán.

Tư Cương chào mọi người. Nhưng không rõ vì ông nói quá lí nhí, hoặc vì mọi người không để ý, chẳng có lời chào đáp lại.

Tư Cương bước ra khỏi phòng họp rồi mà chưa hết băn khoăn. Mình chào, họ không thèm chào lại. Kế hoạch tiếp theo là cái gì đây? Hai Hân chẳng nói mình đang nhầm lẫn vai trò làm thuê với vai trò đại diện cho chủ là gì?.. Họ còn muốn moi thêm gì nữa? Hay là họ muốn mình phải tố ông Học? Bị quy kết là tay sai của tư sản mại bản thì bỏ mẹ! Nhưng làm sao có thể tự dưng tố khống ông Học được? Các ông các bà nhớ cho kỹ, đế quốc và tư sản mại bản là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc Việt Nam ta ... Những buổi giảng giải không thể nào quên được của Hai Hân cho lớp học cải tạo xã hội chủ nghĩa ...

Tư Cương nhớ lại, trong tất cả các cuộc họp từ khi tiến hành cải tạo đến giờ, Ba Khang và bảy Dự cứ như là người xa lạ. Cả hai, ngoài những câu chào hỏi đúng mực, đều không nói chuyện riêng, cũng không hé răng chất vấn ông điều gì. Ông hiểu là họ phải giữ ý. Ông Tư phân vân không biết nên đánh giá cái Ban cải tạo này như thế nào. Khi nghe đến kế hoạch tịch thu nhà ông Học, ông yên chí là mọi chuyện đã an bài, suôn sẻ, không ngờ lại còn đẻ thêm ra cái kế hoạch tiếp theo ...

Hôm ấy trên đường về, Đoàn Danh Tiến mấy lần nói với Hai Hân:

   Đồng chí cừ lắm! Đúng là nắm tận thắt lưng địch mà đánh!

   Em thấm nhuần tinh thần truy kích đến cùng.

   ...
 

Dăm hôm trước đấy, bà Sáu Nhơn mời Ba Khang và Bảy Dự đến ăn cơm đón vợ chồng Hai Phong ngoài Bắc vào thăm. Tư Cương cũng được mời. Nếu đúng như Hai Phong giải thích, Tư Cương thấy mình đã làm đúng và làm hết bổn phận công dân. Làm gì có chuyện nhầm lẫn giữa vai trò làm thuê và vai trò đại diện như Hai Hân riếc móc. Cả Ba Khang và Bảy Dự đều tán thành cách giải thích của Hai Phong.

   Thế hãng xe Cánh Nhạn của bà Sáu nhà ta đã bị bị tịch thu để cải tạo rồi thì ông tính sao? Ai bây giờ mà không biết bà Sáu là cơ sở của Cách Mạng? – Tư Cương băn khoăn.
   Thầy Tư vốn sáng suốt, thế mà bây giờ quá lo lắng, nói sai danh từ rồi. Phải nói là quốc hữu hoá hãng xe Cánh Nhạn mới đúng danh từ chứ. – Ba Khang đế lại Tư Cương.
   Không mua lại, không đền bù một cắc, thế không là tịch thu thì là cái gì? – Tư Cương chưa chịu.
   Cải tạo là chính sách áp dụng chung cho cả nước, thì cả nước cứ phải theo thế mà làm thôi, còn tính gì nữa, bác Tư? – Hai Phong giải thích.
   Nhưng thật tình em không hiểu tại sao lại làm đúng như ở miền Bắc những năm đầu sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 hả anh Hai? – Bảy Dự hỏi.
   Làm đúng như ở miền Bắc sau 1954 thì làm sao? – Hai Phong hỏi lại.

   Hầu như em thấy chỗ nào được cải tạo thì cuối cùng cũng chỉ thấy xuất hiện những mậu dịch quốc doanh, hợp tác xã mua bán, tổ phục vụ, nghĩa là nơi bán nước sôi ấy mà... Tóm lại các cơ sở sản xuất kinh doanh cũ lần lượt biến hết. Báo chí trong này chứng minh bằng những chứng cứ và số liệu rành rọt mà anh Hai, có cả ảnh chụp nữa!

-Hay là tình hình chiến tranh và chính sách kinh tế tem phiếu đưa đến kết quả như vậy? – Tư Cương hỏi chen vào.

   Bác Tư và chú Bảy ạ, tôi không phải là nhà kinh tế nên không giải thích cặn kẽ được. Điều chắc chắn là các cơ sở công nghiệp của tư sản miền Bắc hồi đó rất nhỏ hoặc không đáng kể. Cải tạo xã hội chủ nghĩa lúc đó gần như là cải tạo công thương. Nói sát hơn nữa cải tạo nhà đất là chính. Sau đó chỉ phát triển kinh tế quốc doanh và hợp tác xã cho phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Từ 1964 trở đi là những năm tháng tập trung mọi nỗ lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, tất cả cho tiền tuyến.

   Anh Hai ạ, em thấy cánh nhà giàu có hạng ở trong này nhạy bén còn hơn cả Nguyễn Văn Thiệu. Qua đám học trò của em, em thấy khi ký hiệp định Pa-ri là họ đã bảo nhau chuẩn bị rút ra nước ngoài. Không phải chỉ riêng mình nhà ông Học đâu.

   Một số người đã bỏ đi ngay sau khi ký.

   Thật ra các tư sản cỡ lớn như cánh người Hoa kết bè kết phái với Lý Lương Thân, cánh làm ăn với hậu cần quân đội Mỹ, cánh nhà thầu cho quân đội Cộng hòa đã cao chạy xa bay và mang hết của nổi đi rồi. Còn lại là loại tàng tàng thôi. – Ba Khang nhận xét.

   Phải đấy. Ông Học bây giờ đâm ra nổi tiếng, vì được báo đài nêu đích danh trong chiến dịch cải tạo, chứ trước ngày giải phóng, cả Sài Gòn này đâu thèm để ý đến cái nhà in cổ lỗ sĩ của ông Học. – Tư Cương đồng tình.

   Anh Hai ạ, chính sách thì phải thi hành, đúng sai tính sau vậy. – Ba Khang chen vào. -
...Nhưng thái độ của Hai Hân làm Năm Thịnh nhà ta tức nổ ruột. Giữa cuộc họp để khai báo, Năm Thịnh chỉ thẳng vào mặt Hai Hân: “Ông đừng có giở cái trò truy ép ra đây, chuyện nọ xọ chuyện kia. Chẳng có quan hệ gì hết với Lý Lương Thân! Hay là ông muốn lấp liếm chuyện vì sao ông bị mật vụ Sài Gòn bắt?”. Ngồi nghe mà tôi toát mồ hôi hột, chỉ sợ Năm Thịnh tức quá hoá điên, lộ hết mọi chuyện cũ...

   Phải nói thế này anh Hai mới hiểu được... – Bảy Dự giải thích: Cơ sở nhờ anh Năm cứu Hai Hân. Ảnh mất khá nhiều tiền và phải lấy tính mạng mình ra cược... Lẽ ra Hai Hân phải vận động, phải giải thích chính sách cho anh Năm, nhưng lại đe nẹt đao to búa lớn, thế là anh Năm khùng lên: Chính sách dạy anh ăn nói với dân như vậy hả? Không phải chỉ mình anh biết cách mạng đâu nhé! Đây còn nuôi cách mạng đấy, sẵn sàng mất cả cơ nghiệp đấy. Nhưng cách mạng như anh thì đừng hòng tôi bỏ ra một xu! Hiểu chưa...
 
   Thôi, ta nói chuyện khác đi. – Bà Sáu Nhơn cắt ngang. -...Hôm nay mời ông Tư và các anh đến chơi với vợ chồng Hai Phong, chứ có phải mở lớp cải tạo trong cái nhà này đâu! Ai mà chẳng của đau con xót. Cơ nghiệp là cả một đời vất vả gây dựng, chứ có phải là của đi cướp không được về đâu... Ông Tư ạ, Năm Thịnh nhà tôi nói đúng đấy. Giặc chà đi xát lại, tính mạng tôi, tính mạng cả năm gia đình các con tôi, tôi còn không tiếc cho cách mạng, hãng xe Cánh nhạn nghĩa lý gì? Nếu đổi bất kể cái gì làm cho mẹ con Út Thạnh sống lại được, bây giờ tôi đổi hết, kể cả nếu tôi phải chết!

Ông Tư nhớ mãi bữa cơm hôm đó và lời nói cắt ngang của bà Sáu. Thế nhưng câu nói của Hai Hân nói với ông Trung ương cứ đeo đuổi ông lẵng nhẵng trong đầu: Sẽ báo cáo kế hoạch tiếp theo...

Vì biết bữa cơm hôm ấy có mặt Ba Khang và Bảy Dự, nên Ba Tước, Tư Quang, Năm Thịnh - ba con trai bà Sáu đều bảo nhau lánh mặt. Cả ba đều trong diện tư sản phải cải tạo. Họ nói thẳng thừng là không thể ngồi chung đũa chung bát với cái bọn trong Ban cải tạo...

Song lạ thay, từ bữa ấy trở đi không ai thấy bà Sáu than thở một lời nào về hãng xe Cánh nhạn nữa, như thể là nó chưa bao giờ tồn tại. Ba Khang đã giúp bà trao gọn ghẽ cho Ban cải tạo cái ga -ra (garage) hai nghìn thước vuông đất – trong đó có một phân xưởng sửa chữa, mười một xe đò(*) [(*) Các loại xe bus và mini bus chở khách.] lớn nhỏ chạy tốt – nói chính xác là mười một xe hoàn chỉnh và bốn xe nát đã bị mổ ra để lấy phụ tùng thế vào cho những xe đang chạy. Khác với những nhà tư sản khác trong thành phố bị cải tạo, má Sáu bắt đại tu lại hết mọi xe cộ, sửa sang lại nhà xưởng trước khi trao cho Ban cải tạo:

   Xe cộ liên quan đến an toàn tính mạng của hành khách, ông Ba đích thân kiểm tra dùm từng cái trước khi bàn giao. – má Sáu nói với ông Ba với giọng người ra lệnh.

Nhưng đã mấy lần bà nói với bốn con trai bà:

   Má muốn các con phải tránh bằng được cái cảnh huynh đệ tương tàn... Tình máu mủ ruột thịt là thiêng liêng, các con gắng giữ lấy. Đừng bao giờ phụ lòng dạy dỗ của ba các con. Hoà bình rồi, đất nước thống nhất rồi, má chỉ còn thiếu mẹ con út Thạnh thôi...

Sau cuộc họp khai báo hôm ấy, cuộc khai báo lần thứ sáu với Ban cải tạo, ông Tư Cương về đến nhà đã vào giữa trưa. Cơm nước xong, ông bỏ cả nghỉ trưa, làm ngay công việc chụp ảnh từng gian phòng, những đồ dùng và tiện nghi nội thất và toàn bộ ngôi nhà của ông Học, ghi ghi chép chép. Mãi đến xẩm tối việc chụp ảnh và ghi chép mới xong. Ông lẩm bẩm một mình lấy làm tiếc là ông Học không có mặt ở nhà để tự tay trao ngôi nhà này cho Ban cải tạo.

...Thôi thì đành rửa ra mỗi ảnh hai kiểu vậy. Một kiểu sẽ gửi ông Học, để ông Học thấy rõ mình không tơ hào một chút gì đồ đạc nhà cửa, thấy rõ ngôi nhà được trao cho Ban cải tạo trong trạng thái thế nào. Một kiểu giữ riêng cho mình, biết đâu có khi lại cần đến, ít nhất cũng là để giữ làm kỷ niệm...

Khẩn trương là thế mà vẫn chậm. Làm xong mọi việc hôm trước, hôm sau hai Hân đã đưa người đến tiếp quản. Hai Hân nói ông có hai ngày để ra khỏi ngôi nhà này, kể cả việc tìm nơi ở mới. Ba Khang ngầm mách nước cho ông Tư nên lấy tư cách người làm thuê kèo nèo giữ lại một phòng hoặc cả tầng dưới cho gia đình mình để ở, vì ông Tư không có nhà trong thành phố. Nhưng cái câu Sẽ báo cáo kế hoạch tiếp theo ... của Hai Hân ong ong trong đầu, làm cho ông dứt khoát gạt lời khuyên của ba Khang sang một bên. ...Đừng có dại gì mà dây vào. Nhỡ bị quy kết là tay sai của tư sản mại bản thì chỉ có sống mà ăn cám ...

   Hai cán bộ thấy biên bản làm như thế này đã được chưa ạ? - ông Tư nói với Hai Hân và người đi cùng. Người này làm về công tác nhà đất của thành phố.
   Anh Ba coi dùm hộ. Biên bản có khớp với số của văn tự gốc đã nộp không. – Hai Hân đưa biên bản cho người cán bộ nhà đất.

Ông Tư rất đỗi ngạc nhiên, người cán bộ nhà đất chỉ đọc đánh loáng một cái, chẳng nói chẳng rằng bóc tách phần phụ lục ghi chi tiết đồ dùng và các tiện nghi nội thất trong nhà ra khỏi hồ sơ bàn giao rồi lại trả lại tập hồ sơ đã bị chia thành hai tệp cho Hai Hân:

- Đây là phần cải tạo về nhà đất, không cần bản phụ lục này.
 

Hai Hân ghi bổ sung thêm mấy chữ rồi đưa cho tư Cương, ngón tay chỉ vào chỗ vừa điền thêm:

   Ông ký vào đây.

   Không. Không, thế này thì tôi không ký được, hai cán bộ thông cảm cho. - Ông Tư giãy nảy lên. -...Tôi có được ông Học uỷ quyền đâu mà ghi là đại diện cho ông Phạm Trung Học.
   Thế thì ông muốn ký như thế nào?

   Anh Hai ạ, anh thừa biết là ông Học không uỷ quyền cho tôi thay mặt ổng giao nhà cho chính quyền Cách mạng. Tôi đã làm đúng chỉ thị của Ban cải tạo là lập giúp hồ sơ ngôi nhà. Tôi hoàn toàn không có tư cách đại diện cho ông Học để ký vào biên bản giao nhà.

   Người ta yêu cầu ông ký là để hợp thể thức. Coi bộ ông có vẻ ngoan cố! – hai Hân biểu thị rõ sự bất bình trên mặt.
   Không phải thế ạ. Ngoài tư cách làm thuê, tôi chỉ là người ở nhờ trong cái nhà này, tiền nhà cũng không phải trả. Sau đây Ban cho gia đình tôi tiếp tục trú tại đây hay bảo phải dọn đi nơi khác, xin tuỳ Ban quyết định.

Hai Hân đọc lại biên bản một lần nữa, ngẫm nghĩ một lát, thừa nhận ông Tư có lý:

   Thôi thế cũng được.

   Ông Trần Ngọc Cương có nguyện vọng xin tạm trú trong ngôi nhà này hay xin cấp nơi ở mới không? Nếu có thì ghi vào đây. – Người cán bộ nhà đất hỏi ông Tư.
   Ký thì không chịu, nhưng gợi ý này chắc không chê, có phải thế không ông Tư? – Hai Hân cười nửa miệng.
   Mong anh Hai hiểu cho. Còn gia đình chúng tôi ở đâu xin tuỳ Ban quyết định.

   Về chỗ ở của ông, Ban sẽ tính sau. Trước mắt ông thu xếp giao nhà đúng như lịch ghi trong biên bản. – Hai Hân đứng dậy kéo người cán bộ nhà đất về cùng.

Ông Tư ngăn hai người lại:

   Đề nghị một trong hai anh, hay là cả hai anh ký vào phần phụ lục ạ. Nếu không sau này xảy ra suy suyển gì thì rất khó cho tôi.
   Ô hay, cái nhà ông này học mãi mà không thông.

   Chậm hiểu hay là cố tình không hiểu hả? Đã bảo đây là cải tạo nhà đất của tư sản mại bản, không phải là chuyện tịch thu các tài sản trong nhà. Cái phụ lục này là thừa, ông hiểu chưa?. – Hai Hân dồn Tư Cương một thôi một hồi.

   Tôi hiểu ạ. Nhưng khi Ban cho người đến nhận nhà thì sẽ nhận luôn cả đồ đạc trong nhà. Không có phần phụ lục này thì không có gì làm bằng là tôi không hề biển thủ bất kể đồ đạc gì của ông Học ạ.

   Thì ra ông vẫn lo thanh minh cho phần ông, vun vén cho ông Học. Hay là ông còn có ý đồ gì khác? Bọn các ông là lắm âm mưu thâm độc lắm.
   Anh Hai quy kết như thế thì đời tôi hết đường rồi, trời đất ơi... Thực tình là từ khi biết làm người, tôi toàn sống với hoá đơn, chứng từ, sổ sách. Đi theo ông Học từ mấy chục năm nay, chưa bao giờ tôi bị khiển trách vì một sai sót nào... – Trong khi nói, hai tay ông Tư ngửa ngửa lên trời như thể tăng thêm sức minh oan cho việc mình làm.

   Ông đừng quá lo. Khi có người đến nhận nhà, ông giao nhà theo nguyên trạng là được rồi. – Người cán bộ nhà đất nói xong kéo Hai Hân ra về.

Ông Tư ngơ ngác nhìn theo, quên cả chào hai cán bộ . ...Khi đến, Hai Hân ghi tên mình là đại diện cho ông Học, khi về Hai Hân nhập mình với ông Học thành cùng một bọn... Không biết Hai Hân hiềm thù mình nỗi gì mà cứ xiết mình vào chỗ chết thế này?..


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:55:44 am
Hai hôm sau Ban đã cử một tốp người đến nhận nhà. Ông Tư không thấy họ nói gì đến chỗ ở của mình. Lệnh chỉ ghi tiếp quản toàn bộ ngôi nhà. Lệnh có hiệu lực ngay tức khắc.
 

6.

Thân cô thế cô giữa cái thành phố mênh mông này, vợ chồng tư Cương đành cuốn gói đến nhà Lễ cùng ngày, chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi ba bác cháu Nghĩa vừa mới lên đường đi Bảo Lộc thăm Lễ.

- Nhà của em liệu có bị cải tạo không, anh Nghĩa?

Chờ cho mọi người đi ngủ hết, Lễ mới đem việc này ra hỏi.

Thoắt một cái đã hết hai ngày rồi. Sáng mai phải trở lại trại, nên Lễ dự định ngồi tâm sự trắng đêm với anh mình cho đến lúc chia tay. Thảo đã sai Huệ chuẩn bị cho hai người cà phê, bánh ngọt và ấm nước chè.

   Theo anh biết, chỉ có chủ trương cải tạo nhà cửa của tư sản, ví dụ như nhà của chú Học. Nếu chú thím Học không đi Mỹ chẳng hạn, nhà hoàn toàn dùng để ở, không cho ai thuê cùng, thì theo chính sách hiện hành chỉ cải tạo xã hội chủ nghĩa phần nhà máy in thôi. Đáng lo hơn là anh chưa hình dung nổi gia đình em rồi đây sẽ sống bằng gì.

   Em cũng lo lắm. Đành trời sinh voi thì trời sinh cỏ vậy... Tối hôm qua vợ chồng em tâm sự với nhau gần đến sáng. Càng bàn mọi chuyện, càng lo. Sống ở đâu, đối với tụi em không thành chuyện gì cả, miễn là sống được. Nhưng sống thế nào, thì chúng em bế tắc.

   Thế sao em lại lo mất nhà? – Nghĩa cảm thấy câu chuyện nghiêm trọng hơn mình nghĩ.

   Cái nhà này đối với tụi em không nghĩa lý gì. Riêng cái đoạn Thảo chạy chọt các cửa lo cho em khỏi chết, lo lót cánh Lý Lương Thân, tụi em có thể đủ tiền mua hai cái nhà như thế này. Anh xem, tiền bạc có giữ được đâu, nằm trong túi rồi còn mất! Tất cả là có số hết! Nếu dựa vào bố mẹ Thảo, thì chúng em không phải lo kiếm sống. Papa của Thảo không thiếu gì tiền và cưng Thảo lắm. Bây giờ nghề luật sư của ổng ở bên Mỹ hái ra tiền.

   Tụi em có ý định bán nhà?

   Không ạ. Nếu cái nhà này không phải cải tạo, sau này em sẽ cho đứt ông Tư Cương. Coi như đền đáp công lao của ông Tư. Anh ạ, không có ông Tư, chú Học chắc không thể có cơ nghiệp như ngày nay, bọn em cũng khó được nuôi nấng ăn học như thế này.

   Em nói sau này là thế nào? Tụi em định đi đâu?

   Trước mắt phải chờ em hết cải tạo đã, rồi mới tính được. Tôn Thất Loan nói thật lòng đấy anh ạ. Sắp tới, em có lẽ vẫn đành chịu bất hiếu với cậu mợ, đi ngược lại chí hướng anh em trong nhà mình, nhưng em không thể đi theo con đường của các anh được. Em chỉ cầu mong từ nay bản thân mình đừng làm gì phản lại lợi ích của đất nước. Tâm của em, lực của em chỉ đi được tới đấy. Cũng là nhờ có anh, em mới khẳng định được như vậy. Mà sự khẳng định này đã có gì là chắc chắn đâu!

   Kết quả học tập ở trại chỉ có thế thôi à?

   Anh hiểu thế cũng được. Em không thể...

   Sao em bi quan thế?

   Không, đấy là sự thật, anh Nghĩa ạ. Cuộc sống đã nhào nặn em thành con người như vậy mất rồi. Cũng giống như đại tá Loan đã nói với anh, cậu mợ có sinh ra em một lần nữa, có lẽ em vẫn không dám chọn con đường cậu mợ, anh Chính, anh và Minh đã đi, đang đi... Sáng nay em lại thắp hương cầu khấn cậu và em Minh tha thứ cho em. Tôn Thất Loan đã nói thật cho mình và nói đúng tâm trạng em anh ạ. Con đường đã đi gần hết cuộc đời...

   Chiến tranh đã qua đi trên đất nước, nhưng chưa kết thúc trong em?

   Còn hơn thế, anh Nghĩa ạ. Ở trại em được giảng chiến tranh đã kết thúc ở Việt Nam, nhưng chưa kết thúc ở nước Mỹ. Điều này đúng một vế. Chắc chắn là nước Mỹ còn nhức nhối về cuộc chiến tranh này. Nhưng cũng với nghĩa như vậy, còn phải nói là cuộc chiến này chưa chấm dứt trong lòng nước ta anh ạ. Nhất là trận địa của cuộc chiến tranh này lại diễn ra ngay trên nước ta!
 

   Em nghĩ đến nợ máu trong cộng đồng dân tộc? Đến những vết thương không thể hàn gắn được trên đất nước? – Nghĩa đi thẳng vào vấn đề tế nhị nhất, cố gợi cho Lễ nói hết tâm trạng mình.
   Chúng em được học tập nhiều về chính sách khoan hồng của Cách mạng. Chúng em tin điều này, đang được hưởng điều này. Anh chắc khó đoán nổi các trại viên phấn khởi như thế nào về việc em được đi theo anh về thăm nhà ba ngày. Tôn Thất Loan ôm chầm lấy em khi biết chuyện này: - “Đúng là cải tạo thật rồi! Ông Lễ, mình bắt đầu tin là cải tạo thật!”

   Vậy mà em vẫn bi quan?

   Vâng. Những điều em đang nghĩ nằm ngoài sự khoan hồng của Cách mạng. Có lẽ nằm ngoài cả sự chất vấn của lương tâm. Em đang dần dà ý thức được điều này, nhưng chưa nghĩ cho rạch ròi được.

   Em hãy thử đứng ra làm người tự phán xét chính mình xem nào. Như thế may ra em có thể
   niệm được rõ ràng suy nghĩ của em.

   Những điều em thực sự học được ở trong trại không nhiều lắm. Hình như các giảng viên, kể cả người chăm sóc đời sống tinh thần của tụi em là ông thiếu tá chỉ huy trại, đều không biết rằng có nhiều thứ tụi em học được lại nằm ngoài các bài giảng.

   Xưa nay anh chưa bao giờ coi sách vở, giáo trình và những bài giảng là trí tuệ vô song, là chân lý cuối cùng.
   Anh vẫn chưa hiểu ý em. Có lẽ mọi suy nghĩ của em vẫn đang tiếp tục hình thành. Ý em muốn nói tụi em học một đằng, nhưng lại hiểu một nẻo. Ví dụ những bài giảng về chính sách khoan hồng đưa ra rất nhiều lý lẽ, nhưng thực lòng đa phần học viên trong trại tâm sự với nhau là chưa thấy lý lẽ nào thuyết phục. Tuy vậy, rành rành là tụi em đang được hưởng quy chế cải tạo.

   Như Tôn Thất Loan đã nói với em?

   Vâng. Việc em được ngồi ở nhà mấy ngày nay giá trị hơn tất cả các bài giảng về chính sách khoan hồng cộng lại anh ạ. Song tụi em cũng mới chỉ học được đến đấy thôi. Em nói học với nghĩa là nhận biết cái điều trước đây mình chưa biết, chấp nhận cái điều trước đây mình chưa chấp nhận hay không chấp nhận.

   Đến đấy là thế nào? Tại sao lại chỉ đến đấy thôi hả Lễ?

   Chắc anh còn nhớ chứ, Tôn Thất Loan nói công khai giữa hội trường là ông ta rất sợ cái vô định. Chỗ này thì các bài giảng về chính sách khoan hồng không với tới. Tâm lý nghi ngờ ấy là tâm lý chung của tụi em trong trại. Có người đã hỏi thẳng anh rồi đấy...

   Anh hiểu. Em nói tiếp đi! – Giọng Nghĩa hơi lạc đi.

Ông có cảm giác như đang đối thoại với một người đứng bên kia chiến tuyến, trong lòng cay đắng. ...Phải chăng vì thế chiến tranh chưa kết thúc trong lòng đất nước chúng ta?

   Em nói rồi, tâm và lực của em bây giờ là từ nay cố đừng làm điều gì hại cho đất nước. Nhưng ngay cả ý nghĩ này cũng không làm em thanh thản.
   Nghĩ được như thế là tốt. Em còn băn khoăn điều gì nữa chứ?

   Nghĩ đến tinh thần cách mạng của cậu mợ, đến con đường gia đình mình đã lựa chọn, nhất là nghĩ đến tất cả những gì em tự thân mình đã trải qua trong chế độ Cộng hòa Việt Nam, đến sự thật lịch sử là Cách mạng đã giải phóng và thống nhất đất nước, em thấy phải tự xác định cho mình như vậy. Nhưng khốn nỗi ngay lập tức em lại phải tự dằn vặt mình: Tại sao chỉ nghĩ đến đấy? Tại sao không nghĩ đến đền bù tội lỗi cũ của mình? Tại sao không nghĩ đến bổn phận đền đáp đất nước? Hay là em mất tinh thần yêu nước rồi? Em sẽ mãi mãi là kẻ phản bội tổ quốc mình và dân tộc mình, là kẻ mất nước?

   Em cố tự trả lời đi.

   Mấy tháng trời chờ anh đến thăm, ngoại trừ nỗi lo về gia đình, hầu như em chỉ loay hoay với những câu hỏi đại loại như vậy. Em tranh luận với Tôn Thất Loan, chán rồi quay ra tự mình tranh luận với mình: Nhất thiết phải cố từ nay trở đi đừng làm điều gì hại cho đất nước!
 

...Nhưng em bị vấp ngã ngay tức khắc: Đất nước nào? Đất nước này từ nay trở đi là của ai? Mình còn được quyền coi đất nước đã sinh thành ra mình là của mình nữa không? Với tất cả lỗi lầm mình đã làm?.. Em đã tự đặt ra biết bao nhiêu câu trả lời. Nhưng đến nay vẫn không câu trả lời nào thuyết phục được em.

   Hay là vì em không tán thành chế độ chính trị của nước ta?

   Anh lại nêu thêm một vấn đề khác tụi em học không vô được. Nghĩa là học nhưng không nhập tâm được.
   Em có biết cậu lúc còn đi dạy học thường nói về trường hợp này như thế nào không?

   Em không biết ạ. Vì khi vào đây em còn bé quá.

   Đúng là em thiệt thòi quá. Cậu gọi đó là nước đổ đầu vịt. Đôi ba lần anh bị cậu mắng như thế...
   Đối với em, nếu được cậu mắng như vậy, thì quả là không oan anh ạ. Em thừa nhận một chế độ chính trị đủ khả năng huy động mọi lực lượng đánh bại cuộc chiến tranh của Mỹ và chế độ Cộng hòa, dứt khoát phải là một chế độ giỏi hơn, ưu việt hơn...

   Đấy là nhận thức em thu hoạch được trong học tập ở trại?

   Không anh ạ. Đấy là kết luận tự em rút ra trong những ngày nằm ở trại. Có thấy được Mỹ đã huy động tổng lực như thế nào, kể cả khoa học, kỹ thuật, trí tuệ và văn hoá Mỹ, chỉ còn thiếu có bom nguyên tử thôi, có thấy được Mỹ đã dựng lên ở miền Nam cả một chế độ chính trị có lực lượng quân sự mạnh hơn bất kể đồng minh nào của Mỹ ở châu Á, với ý thức hệ chống cộng quyết liệt, có thấy được như thế mới hiểu được tầm vóc đối thủ đã đánh bại cuộc chiến tranh này. Các bài giảng ở trại chưa đạt tới tầm này anh ạ. ...Em nghĩ cũng không thể trách những người giảng được, vì họ không thể hiểu Mỹ và chế độ Cộng hoà bằng tụi em... Và thực lòng trình độ họ cũng thấp quá... Nhưng khi nghĩ về chế độ chính trị của một quốc gia nói chung, về con đường đi lên của một quốc gia.., em và nhiều người trong trại lại có cách nhìn khác. Rất khác so với những bài giảng... Em vẫn loay hoay tìm cách xác định cho mình...

Lễ hình như chật vật trong việc sắp xếp các suy nghĩ của mình, dừng lại một lúc lâu rồi mới nói tiếp được:

   Nói theo danh từ hay cách nghĩ của phía anh, có thể dòng máu phản động trong con người em quá nhiều. Cũng có thể cuộc đời của những người như tụi em được nuôi dưỡng bằng thứ máu khác... Tụi em có cách nhìn khác về chế độ chính trị.

   Anh không chờ đợi sau một thời gian học tập em sẽ có ngay một quan điểm chính trị khác.

   Thực là khi học, bọn em không nói ra nhưng hay so sánh. Các bài giảng nói về cái thiện, cái mỹ, cái nhân bản của chế độ chính trị nước ta, em thấy về mặt lý thuyết còn thua xa những tư tưởng tiến bộ và nhân đạo của Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), còn thô sơ rất nhiều so với hệ thống xã hội và nhà nước của Rút-sô (Jean Jacques Rousseau), không bằng Tuyên ngôn Độc lập của Jép-phơ-sơn (Thomas Jefferson)... Kém xa Tuyên ngôn Độc lập mồng Hai tháng Chín của Cụ Hồ.

   Trong trại cũng giảng về Tuyên ngôn Độc lập mùng Hai tháng Chín à?

   Không anh ạ, khi ở Ban tham mưu Bộ Quốc phòng Sài Gòn, em được giao cho nghiên cứu chế độ chính trị của Bắc Việt. Em tìm hiểu Tuyên ngôn này và thấy rất thích. Nó đúng với ý nguyện của mình. Nhưng đấy là nói về lý thuyết. Còn cuộc sống thực của thế giới đồng tiền, thì dù là ở Mỹ, ở Pháp, ở Cộng hòa Việt Nam, ở khắp quả đất này, em tin chắc hiểu biết như anh thì cũng có thể hình dung được. Nhưng anh cũng đừng nên hình dung theo những điều như người ta đã viết trong các bài giảng ở trại!

   Trại giảng đề tài này dở lắm hả em?

   Em không có quyền cho điểm. Em đã nói rồi, tụi em thực sự là có cách nhìn hoàn toàn khác. Các bài giảng nói nhiều đến chủ nghĩa Mác, đến Chủ nghĩa xã hội. Cả anh và em đều chưa có điều kiện để xem xét rồi đây chúng ta có xây dựng được đất nước đúng như nói trong chủ nghĩa Mác hay không.
 

   Đừng quên đây là lý tưởng, là ước mơ cần hướng tới.

   Vâng, em hiểu chứ. Chiến tranh vừa mới kết thúc thôi mà. Còn nói một đằng làm một nẻo, hay muốn định nghĩa chính trị là gì, thì Cộng hòa Việt Nam là một trong những ví dụ mẫu mực. Em có thể bảo vệ thành công quan điểm này bất kỳ tại đâu. Chế độ chính trị sắp tới của nước ta liệu có thể tránh được nguy cơ này không anh? Anh còn nhớ câu hỏi của Quách Minh Châu?

   Nhớ.

Hôm ấy Quách Minh Châu chỉ hỏi anh về khía cạnh tham nhũng, nhưng trong bụng hiểu là hỏi về tất cả. Đúng là bữa ấy anh đã nói thật. Nghĩa là chính anh cũng nghĩ rằng phải chờ thực tế trả lời câu hỏi ấy. Trước đây em cũng tò mò tìm hiểu chủ nghĩa Mác, vì thần tượng Mác dù sao đã có lúc ảnh hưởng hay chinh phục tới một phần ba nhân loại.

   Ít nhiều chủ nghĩa Mác cũng hấp dẫn em hay sao?

   Đúng ra là sự tò mò kích thích em... Vả lại muốn chống Mác thì phải hiểu Mác...- Em hiểu Mác như thế nào?
   Lại thêm một vấn đề nữa trong các bài giảng ở trại không nhập vô tụi em. – Lễ đứng dậy đi đi lại lại, vừa nói vừa tìm các ý nghĩ. - Không có các bài giảng chuyên đề về chủ nghĩa Mác, nhưng hầu hết các bài giảng đều nói là dựa vào Mác. Các bài giảng về con đường phát triển của Việt Nam, về chế độ chính trị nước ta là dính sâu nhất đến chủ nghĩa Mác. Nhưng thành thực là tụi em nghe vì phải nghe thôi.

   Bởi vì quan điểm của em chống Mác?

   Không hoàn toàn như vậy anh Nghĩa ạ. Em cố khách quan. Chính vì thế em không muốn lấy những gì đã làm trong thời chiến để làm thước đo cho thời bình. Em đã nói rồi, cả hai anh em ta hiện nay đều chưa có điều kiện để đánh giá mô hình kinh tế và chính trị rồi đây đất nước ta sẽ xây dựng lên trong hoà bình. Tất cả còn ở phía trước, chúng ta phải chờ. Còn tin thì em không tin. Trong này tụi em nhiều thông tin về cộng sản lắm.

   Em được nuôi bằng máu thực dụng và hít thở bằng không khí hoài nghi!

Lễ cười:

   Em biết ngay mà, nói thế là anh đã tự bộc lộ chính mình. Anh với các cán bộ giảng dạy ở trại cải tạo đúng là chỉ là một! Cùng một giuộc mà ra!
   Thế hả? Nghĩa là anh cũng giáo điều? – thật khó mà nói được nét mặt của Nghĩa lúc này đang nhăn nhó hay là cười, nhưng câu hỏi câu hỏi của Nghĩa là chân thành.
   Anh hiểu em chưa đúng. Em phục Mác với tư cách là một nhà khoa học kiệt xuất, một triết gia vĩ đại, một nhà tư tưởng dám đảo lộn nhiều cái cũ, một nhà văn hoá cả gan xem xét lại nhiều giá trị đã được coi như khuôn vàng thước ngọc, một đầu óc phê phán, nhà bút chiến sắc sảo... Em tôn vinh Mác như thế đủ chưa anh?

   Cứ nói đi, để xem em thực lòng với Mác đến mức độ nào!

   Thế này nhé, phân tích về kinh tế tư bản thời của Mác đến nay em thấy hình như chưa ai vượt được Mác.
   Em nói nghiêm túc?

   Anh chắc không tin, nhưng em hiểu được cái cốt lõi bên trong của đồng tiền, của chủ nghĩa tư bản, sự gắn kết giữa tư bản và quyền lực, những lý tưởng mỹ miều bọc gói hay nguỵ trang cho sự gắn kết này.., tất cả là em nhờ đọc Mác. Trước đây em cứ tưởng là có một sức mạnh huyền bí nào đó như là sự chi phối của định mệnh, nhưng Mác đã phanh phui ra tất cả.

   Thế mà em vẫn chống Mác?

   Anh cho em nói hết đã. Mác tuyệt vời về điểm gốc này, nhờ đó em đỡ bị mắc lừa. Em thích Mác nhất với tính cách là một con người đã dám đề ra những ý tưởng mới về giải phóng con người, đã nhiệt thành chiến đấu hết mình cho ý tưởng ấy theo chính kiến của ông ta. Oái oăm ở chỗ là đấy chính là điểm em không theo Mác được... Đã có lần em thuyết trình những điều này hay đến mức có ý kiến tiến cử em vô Hội đồng chiến tranh tâm lý...
 

   Em không nhận lời?

   Em đã đến làm việc thử mấy tháng, song mấy cha lãnh đạo ở đấy võ biền quá, không ngồi chung với nhau được... Nhưng quan trọng hơn là em không tin Mác.
   Đến mức ấy cơ à? Vì sao? – ông Nghĩa nhìn sát tận mặt em mình vì quá ngạc nhiên.

   Đơn giản là em chỉ tin vào ma lực của đồng tiền, không tin con đường ông ta vạch ra cho tương lai của nhân loại. Tính em lại ích kỷ, chỉ thích sống cho mình, không muốn phấn đấu hy sinh như những người cộng sản các anh.

   Có ai bắt em phải trở thành người cộng sản đâu!

   Không theo thì làm sao bắt được hả anh? Chú Học cũng có nhiều phẩm chất tốt, em kính phục nhưng em cũng không theo chú Học được. Anh Nghĩa ạ, em đọc được một vài quyển sách có những bài viết rất hay của các học giả Anh và Mỹ viết về sự nghiệp, về cuộc sống của Mác cho đến khi ông qua đời. Tuy thế, cái xã hội cần phải tạo ra, cần phải có để thực hiện ý tưởng giải phóng của Mác, nói cụ thể hơn nữa là cái mô hình kinh tế cộng sản Mác tưởng tượng ra thì em không tin. Dứt khoát không tin! Nó có thể xảy ra ở một hành tinh lý trí và đạo đức thuần khiết nào khác của những robot chứ không thể ở trên quả đất đầy rẩy những chuyện trần tục hỗn độn của con người chúng ta! Mác phê phán Kant và Hegel là duy lý, nhưng chỗ này chính Mác cũng duy lý đến mức duy ý chí! Không biết ai duy tâm hơn ai!?.

   Anh thực không ngờ... – trong lòng Nghĩa không sao hình dung nổi Lễ đã tìm hiểu khá sâu về Mác như vậy. Cũng may là Nghĩa đọc nhiều, nếu không thì cũng khó nói chuyện với Lễ. Nghĩ một lúc, Nghĩa gợi ý: - Xã hội Mác nói tới còn xa lắm mà em?

   Vâng, phải nói là xa vời lắm! Nhưng em cho đó chỉ là một giả định, rất duy lý. Một phác đồ, một mơ ước.., nghĩa là cũng rất mơ hồ, nếu có đúng thì cũng còn quá quá xa vời đối với loài người bằng xương bằng thịt và còn không ít thú tính như chúng ta!

   Em chỉ muốn sống hôm nay mà không cần nghĩ đến ngày mai?

   Không phải thế anh ạ. Anh xem, từ ngàn đời nay con người làm sao sống được không có mơ ước? Nhiều nhà trí thức có tầm cỡ trên thế giới cho rằng tác giả của Tuyên ngôn Cộng sản và tác giả của Tư bản là hai ông Mác khác nhau. Họ cho đấy là một trẻ một già, một nhà thơ lãng mạn đến duy lý và một nhà khoa học lô gích đến triệt để... Từng chặng trên con đường đi lên của mình, nhân loại cần có những vĩ nhân như thế khai phá, đào bới, cổ vũ mình đi tiếp...

Em thấy nhận xét này của họ đáng suy nghĩ, em tán thành cách giải thích Mác như vậy, không như các bài giảng ở trại...
Bây giờ Nghĩa bị bất ngờ và lúng túng thật sự:

   Chẳng trách gì cán bộ ở trại không thể giảng chủ nghĩa Mác cho em được! Họ không phải là những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp...
   Tụi chúng em bị nhồi sọ đấy chứ! Tụi em có tự nguyện xin học môn này đâu!

   Thôi được rồi, hãy tạm đặt ông Mác của các nhà phê bình trên thế giới sang một bên, chúng ta nói chuyện của chúng ta. Em nói là em thích Mác, anh nói là anh theo Mác. Ông Mác của em và ông Mác của anh khác nhau thế nào? Chẳng lẽ đấy là hai ông Mác?

   Anh hỏi lý sự quá, em chưa biết nói thế nào cho “lọn” ý mình nghĩ. Nhưng mà ...hình như anh nói đúng, có lẽ có hai ông Mác thật anh ạ... Đại thể là Mác của em giúp em hiểu được nhiều điều trần tục. Ông Mác của anh lại là nhà hiền triết, là nhà tiên tri, thậm chí là một đấng chí tôn như Phật Thích Ca, Jésus hay Alah... nhưng vô thần!

   Em nói cái gì! – Nghĩa buột mồm gần như một phản xạ tự nhiên, đang ngồi mà bật đứng dậy, hai tai nóng bừng, tay nắm chặt tách cà phê, cố tự kiềm chế.
   Anh cho là em bị nhồi sọ nên mới nói năng như thế, có phải không? – Lễ tìm cách đấu dịu với anh mình.
   Có thể là cậu đã bị nhồi sọ đến mức không biết là mình bị nhồi sọ, nhưng từ trước đó rồi, không phải ở trong trại!
   Tùy anh. Anh nghĩ về em thế nào cũng được. Em nói thật chân thành như thế này. Mác của
 

em là một trong các ông thầy dậy các môn em học, đại thể như Newton, Einstein, Smith... Còn Mác của anh là ông... Em thực khó nói quá.

– Lễ bỏ dở câu nói một lúc để tìm ý. – Thôi, cho em nói thế này: Mác đối với anh là chân lý cuối cùng, là giai đoạn phát triển tột cùng của nhân loại. Nghĩa là ông Mác của anh đã tuyên ngôn về sự cáo chung của lịch sử!

   Trời ơi, Lễ ơi là Lễ! Anh phân biệt được giữa tín ngưỡng và tôn giáo, giữa lý tưởng và tà đạo chứ...
   Em biết.

   Suy cho cùng, Phật Thích Ca, Chúa Jésus, các vị thần thánh của những tôn giáo khác, biết bao nhiêu các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại đã nói lên những mơ ước có thể nói là vĩnh cửu của con người. Mác cũng có những ý tưởng cao đẹp như họ... Chính em cũng thừa nhận như thế có phải không?

   Vâng ạ. Nhưng...

   Chỉ có một chỗ khác nhau thôi Lễ ạ. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức. Vì nó chỉ có than thở và cầu nguyện nên trở thành nha phiến của con người... Còn Mác có lý luận khoa học, có lý tưởng đấu tranh. Mác muốn thức tỉnh con người tự tại đấu tranh cho con người vì mình, ngay trên trần thế này! Em không thấy đó là sự khác biệt lớn nhất à?

   Đấy là anh nghĩ.

   Chỉ vì thụ động và cầu nguyện, chứ không hành động, nên tôn giáo trở thành phương tiện ru ngủ con người! Thế mà không hiểu à?

Lễ bật lại:

   Anh nói thế thì trái với ý kiến chú Học rồi. Trái xa rồi! Em đã có lần tranh luận với chú rất lâu về tôn giáo. Chú Học giữ lại phần tín ngưỡng trong tôn giáo, không thừa nhận phần mê tín dị đoan, nhưng kịch liệt bác bỏ quan điểm vô thần.

   Anh cứ tưởng là chú Học chỉ quan tâm đến kinh doanh.

   Không anh ạ, chú ấy là con người của cuộc sống thực tiễn. Trong cuộc tranh luận hồi ấy em thua. Cãi lý với chú mấy ngày liền, em thua đơn thua kép. Em thử đứng về phái vô thần chống lại chú Học đến cùng. Chú cãi lại rất ghê, trước sau chỉ một niềm tin bất di bất dịch: nhận thức càng thông tuệ, lẽ của đạo càng tỏa sáng!.. Chú viện cả Einstein ra để cãi lại em. Chú còn cho rằng người cộng sản coi tôn giáo chỉ là một thứ thuốc phiện là một quan điểm phiến diện, nghĩa là mới chỉ đúng một phần, và vì thế sai lầm! Nhưng mãi cho đến khi chú hỏi em mấy câu hỏi đơn giản nhất, lúc ấy em mới chịu treo cờ trắng!

   Chú hỏi thế nào?

   Chú hỏi mấy câu hay lắm, nhưng lâu quá rồi, từ ngày em mới xong đại học, chưa vào Đà Lạt đi lính! Em chỉ còn nhớ loáng thoáng vài ý thôi. Nhất là khi chú hỏi em: Cha mẹ hiền lành để đức cho con, đấy là cái gì? Em trả lời: Đấy là một nhân sinh quan tốt ạ! Chú nói: Đúng mà chưa thật đầy đủ. Đấy là sắc thái tinh tuý nhất hàm chứa trong đạo Phật riêng ở nước ta đấy cháu ạ! Dân dã vô cùng, và trở thành đức tin nhân bản vô cùng!

   Sao có thể nói như thế được nhỉ?

   Anh thấy chưa, chỗ này em cũng nghĩ như anh. Em cãi lại chú là đạo Phật chỉ dạy người ta sống thì diệt dục để mong kiếp sau lên cõi niết bàn, mong thoát khỏi vòng luân hồi. Chú bảo nói như thế là hiểu một mà không hiểu hai. Cốt lõi của đạo Phật là tu thân tích đức để làm tốt bổn phận với đời.

   Chú có cắt nghĩa tại sao không Lễ?

   Anh không thể tưởng tượng được chú nói với em mấy ngày liền về cái triết lý này. Mấy ngày liền, chứ không phải mấy giờ anh ạ! Chú nhấn mạnh đạo Phật ở nước ta trước hết là đức tin, là con thuyền chuyển tải đến các thế hệ sau những giá trị cao đẹp nhất của tổ tiên, chứ không phải là một hệ tư tưởng như nhiều tôn giáo ở các nước khác... Mà cha mẹ hiền lành để đức cho con là một trong những giá trị cao quý nhất của dân tộc mình để chuyển tải cho đời
 

sau... Em thấy nhận xét này chí lý quá.

   Ôi chú Học hiểu đạo Phật theo cách nghĩ riêng của mình! Các giá trị được gìn giữ đến mức như một tín ngưỡng!..
   Thế là chiến sĩ vô thần như anh cũng bị chú Học đánh gục rồi có phải không?

   ... – Nghĩa muốn nghe tiếp nên ngồi im.

   Điều còn đọng lại trong em đến bây giờ là câu hỏi của chú: Có thể tìm được trên đời này cái triết lý nào về cuộc sống cao đẹp hơn thế không?!. Cha mẹ hiền lành để đức cho con...

-Chú Học đi chùa hay học đạo Phật ở đâu hả em?


Tiêu đề: Re: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 10:57:25 am
   Chú cả đời không đi lễ bái chùa nào anh ạ, nhưng đi thăm các chùa và đọc sách Phật giáo thì có. Chú mê nhất các bài viết về đạo Phật của Tuệ Trung Thượng Sỹ Trần Tung, của vua Trần Thái Tông, vua Trần Nhân Tông... Giảng giải mãi, để kết luận chú kể lại: Khi vua Trần Thái Tông bỏ cung điện lên chùa Yên Tử, Quốc sư đại sa môn, nói với nhà vua: Trong núi không có Phật. Nhưng Bệ hạ đã có tâm, Bệ hạ lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, Bệ hạ lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình, chính Bệ hạ đã thành Phật... Như thế không phải là tu thân tích đức để làm tốt bổn phận với đời hay sao?! Anh xem, có chí lý không.

   Anh có biết tích này. Đúng là tông Trúc Lâm được sáng lập tại chùa Yên Tử, và bây giờ anh hiểu thêm vì sao Trần Tung lại khuyên vua như vậy.
   Anh thấy chưa, đức tin và ý thức hệ khác nhau như nước với lửa!

   Trời ơi, Lễ!

   Chú Học giảng cho em về Trần Tung: ...Theo Phật thì phải kiến tính, kiến tính là để lập tâm, tâm là Phật, khi có tâm là Phật ở trong ta!.. Tóm tắt lại cho em hiểu, chú Học nhắc lại vẻn vẹn có bốn chữ của vua Trần Nhân Tông: Tức tâm, tức Phật! Anh thấy không, đơn giản vô cùng, xán lạn vô cùng! Chẳng có gì là mê tín dị đoan cả...

   Tuy vậy anh vẫn nghĩ, cái gốc của đạo Phật xưa nay vẫn là quan niệm đời là bể khổ, là kiếp luân hồi, sống cũng chỉ là sống gửi sống nhờ, tu thân diệt dục là cách chấm dứt vòng luân hồi để lên cõi niết bàn. Người cộng sản thì lại muốn có một cuộc sống tốt đẹp ngay trên mặt đất này. Em không nhận ra sự khác biệt này à? Có mấy người nghĩ như chú Học!

   Em lại nghĩ khác, anh ạ. Chỗ này chúng ta cần tranh luận với nhau. Trước người cộng sản, theo em nhân loại đã có không biết bao nhiêu vĩ nhân sống và phấn đấu cho ý tưởng này. Đấy là ước vọng ngàn đời của nhân loại. Ước vọng này nằm cả trong tín ngưỡng, và cao hơn nữa là tôn giáo với nghĩa nguyên thuỷ của nó, nghĩa là khi tôn giáo chưa dính mùi thần quyền và quyền lực.

   Sao em không nói là khi tôn giáo chưa dính mùi chính trị?

Anh muốn nói thế cũng được. Con đường đi tới ước vọng này đến nay cũng là nỗi trăn trở ngàn đời của nhân loại, chân lý quả là không dễ dãi với con người! Mãi mãi sẽ như vậy thôi anh

   Cũng may, điều này chính là hạnh phúc của con người, nếu không cuộc sống chẳng còn gì đáng sống và con người sẽ tự diệt vong trong trạng thái thỏa mãn của mình anh ạ, nghĩa là một trạng thái mông muội khác...
   Thế mà em vẫn đầy rẫy tư tưởng hoài nghi!
   Chú Học nhìn nhận đạo Phật là một con đường trong biết bao nhiêu con đường mà nhân loại đang ra sức khai phá, kể từ khi nhân loại ý thức được về mình. Đạo Phật của chú Học lại chú trọng đến chuyển tải các giá trị từ bi bác ái, đến vị tha, đến tu thân tích đức để phúc cho đời sau nhiều hơn là đến cõi niết bàn.

   Anh nghĩ phải nói đấy là đạo Phật của Việt Nam chứ?

   Vâng. Chú Học còn nói đó là đạo Phật của sống hiện tại vì tương lai. Tư tưởng này chú Học học được từ suy nghĩ ngàn đời của tổ tiên ta: ...Cha mẹ hiền lành để đức hay là để phúc cho con! Càng nghĩ càng thấy chí lý có phải không anh? Chú nhìn đạo Phật là cái tâm chuyền đạt cái chất như vậy. Chú Học say sưa với điều này lắm anh ạ, giảng đi giảng lại mãi. Có thể nói là em hiểu được chú, nhưng không theo chú được, hay là đến nay vẫn chưa học chú được anh ạ! Chú Học
 

khác hẳn em và Mạnh là ở chỗ này. Tranh luận với anh, hôm nay em lại vỡ lẽ ra thế này: Con đường của chú Học là một con đường của từng cá thể con người trong cộng đồng xã hội. Con đường của anh chọn là một con đường của cộng đồng xã hội. Có lẽ đấy là sự khác biệt anh đang muốn tìm hay là anh tìm không thấy đấy...

   Thế em có nghĩ rằng đạo Phật hướng thiện, nhưng lại thủ tiêu đấu tranh không?

   Em lại nghĩ người theo đạo Phật đấu tranh theo phương thức của đạo Phật. Anh khó hình dung được cuộc đấu tranh của phong trào phật giáo chống Diệm năm 1963 quyết liệt như thế nào. Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu đã làm chấn động dư luận cả thế giới và làm cho chế độ Diệm đổ nhanh hơn. Năm 1967, bà Phan Thị Mai, nhà giáo Phật học tự thiêu ở chùa Từ Nghiêm là một đòn sét đánh nữa giáng vào chế độ Thiệu và tác động mạnh vào phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ...

   Anh biết hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, nhưng thực quả anh không biết bà Phan Thị Mai tự thiêu...
   Em nghĩ rằng những công trình nghiên cứu của ông Mai Thọ Truyền đã thức tỉnh sự quan tâm của chú Học đối với đạo Phật...
   Thật là điều làm anh bất ngờ về chú mình!

   Nhưng không có máu lạnh và giàu như chú Học không theo Phật được, anh Nghĩa ạ. – Lễ vừa nói vừa chép miệng, ngao ngán.
   Em nói cái gì mà lạ hoắc thế? – Nghĩa chau mày lại vì ngạc nhiên. - Lúc nãy em nói chữ tâm, bây giờ em nói đến máu lạnh!
   Vâng, cuộc sống trong này nó như vậy đấy anh ạ. Nhút nhát và nghèo như tụi em không giữ được tâm cho mình để tin theo Phật đâu. Có thực và có lực mới vực được đạo!
   Trời, sao ngôn ngữ của em trần trụi thế!

   Anh ơi, phải chờ đến những ngày nằm vắt tay lên trán ở B7, nhớ lại những tội ác man rợ em đã tham gia, đã chứng kiến suốt chiều dài chiến tranh, những thủ đoạn bẩn thỉu ăn thịt nhau trong nội bộ chính quyền Sài Gòn mà có lúc chính em cũng là nạn nhân... Qua những chặng đường như thế em mới ngày một hiểu rõ hơn những lời giảng giải về đạo Phật của chú Học.

   Anh thú thực là hôm nay em làm cho anh quan tâm đến đạo Phật, mặc dù cả nhà ta xưa nay theo đạo Phật...
   Anh không tưởng tượng nổi đâu, một khi con thú trong con người không còn một bàn tay linh hồn nào nữa kiềm giữ, thì cái con trong con người kinh khủng lắm anh Nghĩa ạ! Nhìn sang một khía cạnh khác, trong những năm chiến tranh em còn thấy đi thấy lại cảnh những người dân bị giết chết, tay vẫn giữ tràng hạt hoặc nắm chặt cây thánh giá đeo ở ngực... Anh thử nghĩ xem, không có một niềm tin nào đó, dù là niềm tin tuyệt vọng, những cái chết của những người này sẽ còn khủng khiếp hơn đến mức nào!

   Anh thừa nhận em có lý điểm này.

   Anh ơi, cả cái chế độ Sài Gòn này sụp đổ, có nhiều nguyên nhân lắm... Song trong đó có những nguyên nhân tự nó, và vì thế nếu không bị miền Bắc đánh bại thì về lâu dài nó cũng phải sụp đổ, vì những tha hoá không thể cứu vãn được anh ạ. Trước hết đó là vì nó có quá nhiều bom đạn tiền bạc nhưng lại không có ý thức hay lý tưởng sống cho ngày mai. Nó tôn thờ một cách bệnh hoạn cái mặt tiêu cực nhất của chủ nghĩa hiện sinh và muốn tiếp thu trọn vẹn những điều bệnh hoạn này, nhưng nó lại xa lạ với cái triết lý sâu xa “cha mẹ hiền lành để đức cho con” theo cách nhìn đời của chú Học! Cái khái niệm “cha mẹ hiền lành...” chú Học luận ra rộng lắm anh ạ, gần như là chân lý phấn đấu làm người, em thật không ngờ! Bản thân cái khái niệm “hiền lành”, rồi đến cái khái niệm “để đức cho con” đã vô cùng phong phú, vô cùng cao xa! Con đường đi từ “hiền lành” đến “để đức cho con” vô cùng trí tuệ và nhân bản anh ạ! Tuy nhiên chính chú Học cũng thú nhận rằng cố giữ đức tin như thế để luôn luôn sửa mình thôi, còn thực hiện nó trong đời thì còn gian truân lắm, xa vời lắm...

   Chú có nói với em là phải có máu lạnh và phải giàu không?
 

- Không, đấy là điều em tự rút ra cho mình.

Nói đến đây Lễ như đang bị cuốn hút vào một điều gì khác, bỏ dở những điều đang nói, nhìn đi đâu đâu một lúc rồi mới quay lại với Nghĩa:

- Anh ạ, có một điều ngẫm lại em thấy kỳ quá, nhưng anh đừng giận.

Nghĩa vẫn chưa ra khỏi sự bất ngờ về triết lý của chú mình, về suy nghĩ của Lễ, nên động viên Lễ nói tiếp:

   Kỳ cục thế nào? Em cứ nói đi.

   Nằm ở B7, học được điều gì thì ít, nhưng lại hiểu chú mình nhiều hơn, thật là kỳ! Bây giờ nói chuyện với anh, em lại phát hiện ra một sai lầm lớn của người cộng sản các anh.
   Nghe thú vị quá nhỉ. Sai lầm gì vậy? – giọng Nghĩa đượm vẻ bực bội.

   Trong khi tôn giáo đang cố gắng đưa những vấn đề từ trên trời xuống đất, nào là thức tỉnh tâm linh con người để cứu vãn đạo đức, nào là cố làm nơi nương tựa cho con người dưới đất này.., thì các anh lại dùng chủ nghĩa của mình đưa những vấn đề của dưới đất lên trời, bằng những lý tưởng viển vông của mình!

   Lễ, như thế nghĩa là em không tin vào chủ nghĩa xã hội khoa học?

   Bao giờ có chủ nghĩa xã hội khoa học? Nó là gì thế anh? Anh nói rõ cho em nghe xem nào?

   Nghĩa là em không tin cái cốt lõi nhất trong chủ nghĩa Mác: Gắn giải phóng cá nhân với giải phóng giai cấp, với giải phóng cộng đồng dân tộc. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là như vậy. Học thuyết Mác nhằm vào mục tiêu giải phóng cá nhân như vậy, chứ không phải là phủ nhận cá nhân.

   Nói đến như anh mà em thực lòng vẫn không tin, thế có chết không! Ha... Ha... Ha... – Lễ chua chát cười phá lên.

Vì sao em không tin? – Nghĩa châng hẩng, mặt đỏ bừng, thận trọng ướm từng câu hỏi với Lễ: - Hay là em cho anh là cả tin, còn em thì quá thực dụng? Em nói rõ ý em xem nào! – Nghĩa thúc giục.

Ngẫm nghĩ một lúc, Lễ đáp lại:

   Anh Nghĩa ạ, đơn giản là làm sao thực hiện được cái việc gắn như anh nói! Thời nào mà chẳng có sự thống trị của cái tầng lớp thuộc về thời ấy, nói rộng ra là của cái chế độ ấy! Ngay cả cái gọi là chuyên chính giai cấp em cũng cho là tào lao, là dụng ý. Nếu coi đó là một khái niệm để tư duy, một công cụ quyền lực được nguỵ tạo ra cho mục đích như mọi công cụ khác thì em chấp nhận. Khi mổ xẻ đến tận cùng bản chất của quyền lực, anh cứ thử tách bóc mọi thứ người ta đắp điếm lên hai chữ giai cấp mà xem!.. - Lễ càng nói càng sôi nổi, nhấn mạnh vào các từ ngữ xưa nay Lễ vẫn thường tranh cãi với nhiều người kể từ khi còn đang ở đại học, ở các buổi hội thảo do cơ quan nghiên cứu chiến tranh tâm lý tổ chức...

Khó khăn lắm Nghĩa mới chen ngang vào được:

   Nói như em thì xã hội không có giai cấp à?

   Có chứ ạ. Giai cấp và nhân danh giai cấp là hai chuyện khác nhau.

   Em cũng nghiên cứu về giai cấp à?

   Vâng. Nhưng em đi sâu vào cái gọi là nhân danh giai cấp, điều này mới thực sự quan trọng anh ạ. Đây không phải là lần đầu tiên! Chuyện này trong Sài Gòn những người có ý thức một tý không thể dửng dưng được. Ngô Đình Diệm đã nhân danh giai cấp cần lao nhân vị lê máy chém đi khắp nơi. Đúng ra phải nói đó là giai cấp mấy anh em nhà họ Ngô, chuyên chính của mấy anh em nhà họ Ngô, của chế độ họ Ngô!.. Anh đã thấy rõ sự lừa bịp chưa? Đến Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ cũng à la mode kêu gọi hữu ái giai cấp thì thật là không còn gì để nói nữa! Anh đã biết Thiệu – Kỳ hữu ái giai cấp với em như thế nào rồi!

   Như thế theo em là không có chuyên chính giai cấp?

   Dứt khoát không. Chuyên chính vô sản như tụi em được học ở B7 về chủ nghĩa xã hội khoa học cũng không! Chỉ có cái chuyên chính của nhân danh giai cấp!
 

Đến lúc này Nghĩa không giữ được bình tĩnh nữa, một điều hiếm khi xảy ra đối với Nghĩa.

Ông hỏi dồn:

   Theo cậu là không có giai cấp hay chuyên chính gì hết? Lễ đáp lại ngay:

   Có chứ anh. Tên gọi chuẩn xác là chuyên chính của cai trị đối với bị cai trị!

   Nhưng ít nhất cậu cũng phải hiểu mỗi nền chính trị có một chủ thuyết của giai cấp nó đại diện chứ!
   Chủ thuyết cũng chỉ là thứ người ta đưa ra để để bám lấy, nếu không thì chỉ để biện hộ thôi anh ạ. Chế độ nào cũng thế, em chưa thấy cái gì hơn ngoài cái cai trị và cái bị cai trị! May ra thì có sự khác nhau giữa cai trị tốt và cai trị xấu! Còn cái gọi là chủ thuyết của giai cấp như anh đang nghĩ trên thực tế nó luôn luôn trở thành chủ thuyết của cái nhân danh giai cấp!

   Cậu thực dụng hết chỗ nói. Phải cải tạo một trăm lần, một nghìn lần! – tay Nghĩa nắm lại, hết miết miết lại rồi đấm đấm trên mặt bàn. Cái giọng nhỏ nhẹ lúc đầu câu chuyện không còn nữa.

Trong ánh điện mờ mờ ban đêm, Lễ vẫn thấy mặt anh mình đỏ lên như người say rượu. Lễ biết anh mình đang giận lắm. Câu chuyện không còn anh anh em em nữa. Cách xưng hô của Nghĩa chuyển sang tôi tôi cậu cậu từ lúc nào không biết! Tự nhiên Lễ cũng thấy không muốn nhượng bộ anh mình:

   Anh cáu em đấy à?

   Tôi muốn tranh luận với cậu cho ra nhẽ!

   Nếu thế anh phải bình tĩnh. Chung quy lại em và anh đều kính phục Mác. Nhưng em thì hoài nghi và không chịu hy sinh. Anh thì lại dám hy sinh vì đã trở thành tín đồ!
   Ai cho phép cậu quy kết tôi như vậy?! – Nghĩa cáu thực sự.

   Chính câu hỏi của anh vừa nói đang chứng minh điều em nghĩ!

   Cậu thông tục hoá và hiểu sai Mác hết chỗ nói! Cậu không hiểu cái tinh tuý nhất của Mác là giải phóng con người à?! Giải phóng đến mức coi tự do của mỗi người là điều kiện cho tự do cho mọi người! Cậu đã thủng ra chưa!.. Tự do của mỗi người ở đây khác hẳn với cái tính ích kỷ của cậu!.. - Nghĩa bực dọc bắn ra một tràng, bàn lại tay nắm lại, gõ gõ xuống mặt bàn.

Lễ ít nhiều thất vọng, nhưng vẫn kiên nhẫn chờ cho anh mình nói xong, mới lựa lời:

   Anh mắng em thế nào cũng được... Em muốn bộc bạch suy nghĩ của mình, nhưng anh đang từ cục đất bỗng dưng trở thành ông Trương Phi! Thế thì tâm sự với nhau làm sao được! – Lễ gần như rên lên, nhích ghế ra xa, muốn đứng dậy bỏ dở câu chuyện.

   Anh xin lỗi... Nói đi!.. Em nói tiếp đi!.. – chính Nghĩa cũng không hiểu bây giờ mình đang ra lệnh hay đang thúc giục, dỗ dành Lễ.
   Còn chuyện này em chưa kể anh nghe, nếu có thói quen tin vào chủ thuyết, thì có lẽ em đã không chọn con đường rốt cuộc đã dẫn đến trại cải tạo B7 ở Bảo Lộc. – Lễ vừa nói vừa kéo ghế trở về ngồi chỗ cũ.

Nghĩa ngồi im. Lễ không biết anh mình đang nghe mình nói hay đang ngồi nuốt giận. Lễ cố lấy lại không khí anh em:

   Anh ạ, câu chuyện là thế này. ...Trước khi vào trường sĩ quan Đà Lạt, em đã đi học đại học kinh tế. Nhưng nghe giảng được gần hết học kỳ đầu, em nuốt không nổi, liền bỏ đi học cái khác.
   Cậu ghét môn này?

   Đơn giản là không nuốt nổi anh ạ. Người ta giảng cho em, nếu có cạnh tranh hoàn hảo, nếu có thông tin hoàn hảo, thị trường sẽ là bàn tay vô hình toàn năng đến kỳ diệu... Nếu nếu nếu...

Nhưng anh ơi, trên đời này làm gì có chữ nếu và vì thế làm sao có được sự hoàn hảo ấy! Sở dĩ các mô hình kinh tế thường đi tới đổ vỡ, là vì khi thiết kế nó người ta phải đơn giản hoá nhiều điều, để dễ lập mô hình, dễ tính toán...
 
   Trời ơi Lễ, cậu phản khoa học đến mức đố kỵ với khoa học!

   Anh giải thích dùm em, sự hoàn hảo dựa trên chữ nếu không bao giờ có thì làm sao có mô hình kinh tế đúng được! Em thì không bao giờ tin vào chữ nếu ấy. Lại càng làm gì có khả năng thoả mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần ngày một tăng của mọi người như bài giảng nói về chủ nghĩa cộng sản của các anh! Trong trại người ta giảng thô thiển lắm. Thô thiển đến mức em cảm thấy mình bị xúc phạm, bị coi là đồ con nít! Thế mà còn gọi là hoài bão, là tiêu chí cao nhất của chủ nghĩa cộng sản mà nước ta đang mở đường đi tới... tụi em nuốt không được!

   Nhưng hiện nay chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa cộng sản đâu?

   Tụi em hiểu chứ. Đấy là phần giảng trong bài học “độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội”. Nhưng cái đích mơ hồ thì làm sao có con đường đúng? Sự thoả mãn ấy là không tưởng! Giả thử một khi đạt được sự thoả mãn ấy thì loài người sẽ tự huỷ diệt, nghĩa là không còn lý do để sống, vì chẳng còn điều gì để ham muốn, để hào hứng.

Càng nghe, Nghĩa càng thấy bứt rứt trong người. Nghĩa cướp lời của Lễ:

   Đã bảo là chúng ta mới còn đang ở bước đi ban đầu của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Học thế mà không hiểu à?

Lễ cố cười để bớt gay gắt với anh mình:

   Khổ quá, em hiểu chứ. Nội dung cốt lõi của chế độ xã hội chủ nghĩa là chuyên chính vô sản dựa trên liên minh công nông và trí thức, là quan hệ sản xuất chủ yếu dựa trên sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể và nhờ vậy xoá bỏ được bóc lột, là đoàn kết dân tộc, là dân chủ của chế độ nước ta gấp vạn lần dân chủ phương Tây... Anh không thể nói em không thuộc bài!

   Lễ, cậu giễu tôi hay cậu nói nghiêm túc đấy!

   Em xin lỗi đang làm anh giận, nhưng em nói thực lòng những điều được nghe giảng đấy.

   Giảng với giải gì mà toàn là khẩu hiệu thế! – Nghĩa cố ôn tồn giải thích lại cho Lễ. - Có thể ngày xưa, đã lâu rồi, đúng là giới nghiên cứu nước nào đó trong phe xã hội chủ nghĩa có đề ra một số tiêu chí cho lý luận về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Nhưng bây giờ đã thay đổi rồi. Bài giảng phải đi vào những vấn đề thiết thực đất nước phải giải quyết sau chiến tranh chứ!

   Không phải chỉ trong lý luận. Trong cuộc sống thực em cũng thấy có cái gì không ổn so với cách nghĩ của em anh ạ. Trong này tụi em trước đây đã được nghe đến đấu tố trong cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc, rồi đến phong trào hợp tác xã, đến cải tạo xã hội chủ nghĩa. Bây giờ thì em được biết loáng thoáng cải tạo xã hội chủ nghĩa ở trong này, đến sự vận hành của bộ máy chính quyền thành phố... Hai hôm nay ông Tư đã kể cho em nghe hết cả.

   Hay là vì nhà in của chú Học bị cải tạo mà cậu đặt ra cho mình câu hỏi đất nước này có còn là của mình hay không?

Lễ ướm đi ướm lại trong đầu ba, bốn câu trả lời, để xem câu trả lời nào đích thực là suy nghĩ trong tâm can mình. Lễ hiểu ngoài anh mình ra, không thể tìm được ai giúp mình đi tới những câu trả lời tin cậy cho những câu hỏi chính cuộc sống của Lễ đang đặt ra cho Lễ. Tách cà phê trong tay Lễ cứ xoay đi xoay lại mãi.

   Câu hỏi của anh làm em lúng túng phải không? – giọng Nghĩa đã dịu lại.

   Không phải thế anh ạ. Chữ nếu người ta dạy em ngày xưa ở nhà trường và chữ gắn anh vừa giảng cho em lúc nãy đều là hoang tưởng. Tất cả chỉ làm em thêm bế tắc. Em sợ là vấn đề còn nghiêm trọng hơn cái nhà in của chú Học. Em đã nói rồi, khi có dịp em sẽ cho ông Tư cái nhà này. Em không phải là người hẹp hòi. Vả lại cái nhà in của chú Học đâu có phải là của em!

   Thế cái gì là nghiêm trọng hơn hả Lễ? – Nghĩa cảm thấy lo vô cùng cho em mình.

   Nếu so sánh một bên là những gì đất nước chúng ta phải chịu đựng vì cuộc chiến tranh này và một bên là những cái gì chú Học mất mát, thì những người như chú Học, như em, phải nợ đất nước này nhiều lắm. Nợ không thể trả được. Em nghĩ như vậy, anh có chấp nhận không?

   Anh đồng ý với suy nghĩ này.
 

   Thế là xong một điều anh nhé. Điều nghiêm trọng hơn đối với em vẫn là còn nhiều câu hỏi không trả lời được, hay là trả lời đằng nào em cũng thấy bế tắc... – Lễ dừng lại, hai tay nắm lấy tay Nghĩa lắc mạnh như người cầu cứu: - Anh Nghĩa, anh nói thật đi! Em là một kẻ tội lỗi hay là một kẻ thua trận? Anh nói đi! Nói thật lòng!

   Anh hiểu tâm trạng em. Nhưng em phải tự trả lời những câu hỏi như vậy của mình, không ai làm thay được.
   Anh trốn tránh!

   Có chuyện đó. Nhưng anh muốn tự em phải làm quan toà của em!

   Trả lời như thế nào, em vẫn là kẻ tuyệt vọng, anh hiểu không? Em không thể nào chấp nhận lý tưởng của anh làm lẽ sống cho em được! Điều này là dứt khoát!..
   Cũng có nghĩa là không chấp nhận chế độ này?

   Không thể!.. Anh đã hiểu đúng... Hay là trong hoàn cảnh của em, kẻ tội lỗi và kẻ thua trận chỉ là một?.. Anh trả lời thế nào em cũng chịu được.
   Đấy chính là câu hỏi cậu phải tự trả lời!

   Thôi được... Anh Nghĩa ạ, điều sống chết đối với em là từ nay trở đi em còn chỗ đứng trong đất nước này không? Bây giờ thì anh phải trả lời, không được né tránh nữa!
   Em cần có thời gian trấn tĩnh lại. Trừ phi em tự mình cố ý, đất nước không bao giờ đánh mất ai cả.
   Không, đấy là anh nói lý! Anh vẫn tránh né câu hỏi của em! Chỗ này anh lại quên mất vấn đề giai cấp đích thực. Lại vẫn lẫn lộn cả với vấn đề nhân danh giai cấp nữa!
   Con người em đầy mâu thuẫn. Nói chuyện với em khó quá!

   Anh phải hiểu cho em. Chiến tranh khốc liệt và kéo dài, lại sống trong cái xã hội cá lớn nuốt cá bé, dần dần em trở thành con người không cần nghĩ đến ai trên đời này, em thú nhận như vậy. Đấy là chuyện của em. Cũng như anh theo cộng sản, đấy là chuyện của anh. Nhưng mọi đảo lộn vừa xảy ra thức tỉnh trong em người một con người khác, nhất là từ khi em được trở về cội nguồn gia đình của mình! Song ngay lập tức, chính sự ràng buộc của cội nguồn không gì phá vỡ nổi này buộc em phải tự hỏi mình em là ai. Cũng có nghĩa là ngay tức khắc con người mới trỗi dậy trong em tự hỏi: Đất nước sinh thành ra mình bây giờ còn là của mình không?! Anh hiểu không, đấy là câu hỏi em không trốn tránh được! Nếu anh là em, anh có thể trốn tránh được câu hỏi này không?

   Sao em lại hỏi như vậy? Nếu anh lại nói rằng đất nước này không tự mình đánh mất ai thì em nghĩ sao?
   Anh trả lời như thế thì đất nước này chưa hẳn là của em, nhưng cũng sẽ không thể là của
anh.

   Lễ! Thế đất nước này là của ai? - Nghĩa gằn lên gần như hét lớn.

   Đất nước này là của ai? Ha ha ha! Trời ơi câu hỏi hay quá!.. – lại giọng cười đầy chua chát của Lễ. - Anh ạ, xin anh nghe kỹ những lời em nói... Ngay lúc này, ngồi đối diện với anh, trong thâm tâm em vẫn tôn sùng Tuyên ngôn mùng Hai tháng Chín của Cụ Hồ. Ngồi trong trại B7, tự mình cật vấn lương tâm mình, em hiểu được một điều: Việt Nam ta không cần gì hơn bản Tuyên ngôn này, nhưng em không tin nó thực hiện được. Em không tin vào cái giai cấp, không tin vào cái gắn như anh nêu ra. Cái nếu và cái gắn chúng ta đang mường tượng tới thực ra chỉ là cái gì đó hư vô không bao giờ có trên đời này... Tốt thì đó là một khát vọng khó thực hiện, xấu thì đó chỉ là một chiêu bài. Em không có lòng tin này, nên theo em giữa xấu và tốt ở đây không xác định được ranh giới. Vì thế em không trả lời anh được.

   Chúng ta vẫn mỗi người một bên trận tuyến hay sao hả Lễ?

   Trận tuyến không tự nó mất đi được anh ạ. Em đã nói rồi, chỉ có cai trị và bị cai trị. Anh thuộc về bên chiến thắng. Hay chính vì lẽ này anh nghĩ rằng anh không cần đếm xỉa đến các câu hỏi như em đang phải tự hỏi mình?!. Bây giờ anh có tiếc là đã không bắn vào đầu em nữa không, dù chỉ là trong ý nghĩ?
 

- Lễ!

Tách chén rung lên. Một cốc nước trắng té nghiêng đổ nước xuống mặt bàn. Nghĩa hiểu phải tự kiềm chế mình, cố bình tĩnh:

- Anh chiến đấu là để giành lại đất nước này cơ mà!

Lễ nắm lấy cả hai tay Nghĩa, giọng chua xót, gần như hét lên:

   Chẳng lẽ đến nỗi là hai anh em như chúng mình mà cũng không làm nổi việc hoán vị cho nhau, dù chỉ là giây lát thôi, để hiểu hết lòng nhau? Chúng ta bị chia lìa khỏi nhau đến thế là cùng hả anh Nghĩa?!

   Anh cũng cần có thời gian!

   Cái khổ của em là thiếu đức tin, nhưng anh thì lại sùng bái ý thức hệ của mình như một tôn giáo. Anh em ta nhìn thấy nhau, tay trong tay đứng bên nhau, thế mà vẫn mỗi người một phía! Thế là thế nào hả anh Nghĩa? Trời ơi là trời! – Lễ gần như rít lên, lắc mạnh cả hai tay Nghĩa, mặt nhìn thẳng vào mặt Nghĩa.

Mãi Nghĩa mới nói được thành lời, nghẹn ngào:


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 11:00:58 am
   Lễ, anh muốn hiểu em và hiểu anh kỹ hơn nữa... Trong tình anh em ruột thịt, anh đã từng hỏi anh là ai? Anh đã từng nghĩ dù anh là ai thì cũng không thể cầm súng bắn vào em được...

Anh đã quyết đem hết sức mình hàn gắn lại gia đình tan vỡ của chúng ta, em hiểu chưa! Anh không thể mất em được, Lễ ơi... Trời ơi, nếu em nhìn thấy mợ thỉnh thoảng ngồi khóc một mình! Dù tội lỗi thế nào, em vẫn là hòn máu của đại gia đình chúng ta!..

Nỗi đau quá lớn trong mỗi người làm câu chuyện chết lặng. Mãi một lúc sau Lễ mới nói tiếp:

   Những gì em được nghe ông Tư kể lại, phản bác sạch trơn những lời anh giảng giải cho em về lý tưởng của anh. Nỗi đau của gia đình mình càng giày vò em. Nghĩa là càng làm cho em hoang mang... Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, thời nào cũng có sự thống trị của những người giành được địa vị thống trị. Phải nói em thực sự hoang mang! Trong lòng em không muốn bào chữa bất kể điều gì cho mình. Em sẵn sàng chịu sự phán xét và nhận mọi hình phạt em đáng được nhận. Nỗi đau của gia đình ta quá lớn. Nhưng em không thể chấp nhận bất kể điều gì em thấy không thể chấp nhận được...

   Chiến tranh đã qua rồi, và bây giờ em muốn đoạn tuyệt với tương lai của dân tộc?

   Không! Anh Nghĩa! Dù là người chiến thắng, nhưng anh không có quyền và không được phép nghĩ như thế! – Lễ gần như quát lại anh mình.

Nghĩa ngạc nhiên nhìn em chằm chằm. Ông không thể hiểu nổi là mình đã xúc phạm Lễ, hay là nỗi đau quá lớn của Lễ biến thành giận dữ.

Nghĩa đứng yên, nhưng Lễ nhìn thấy trong mắt anh mình tất cả. Lễ tìm cách giải thích cho anh mình:

   Anh phải cố hiểu. Trong trại cải tạo người ta giảng giải cho bọn em chỉ thô thiển hơn anh một chút thôi, còn cốt lõi của suy nghĩ thì hệt như nhau: Đó là cách nghĩ của người chiến thắng anh ạ! Bản thân cách giảng giải như vậy đã giải phẫu cắt loại bọn em ra khỏi đất nước này! Thế mà em cứ tưởng...

   Người ta không giảng cho em về hòa hợp dân tộc?

   Vô ích anh ạ... – giọng Lễ đầy thất vọng. - Có giảng gì đi nữa thì cách nghĩ như vậy cũng xóa đi tất cả!..
   Hay là chỗ này giảng chưa thủng? – Nghĩa phân vân.

   Tụi em, hay ít nhất là em không cần giảng, anh ạ. Em tôn trọng chính kiến của người chiến thắng, có nghĩa là cả của anh nữa. Em chấp nhận luật pháp của người cầm quyền cai trị đất nước, vì thế em đã tự nguyện đến trại cải tạo. Song em không thể chấp nhận nhồi sọ cho em giáo lý của người chiến thắng, càng không thể chấp nhận chính kiến của người chiến thắng làm của mình, cho đến bây giờ là như vậy...

   Anh hiểu được... Cần có thời gian em ạ.
 

   Không phải thế! Em không thể chấp nhận được nhục hình về tinh thần, mặc dù chưa một lần nào em kêu ca những khổ sở thiếu thốn của cuộc sống vật chất! Khổ thế này, chứ khổ nữa em vẫn cam lòng chấp nhận. Nhưng làm nhục bọn em về tin thần, có lúc họ giảng giải cho tụi em mà cứ như là người lớn nói chuyện với con nít... Rồi còn dạy khôn bọn em nữa.., thì hoàn toàn quá sức chịu đựng của bọn em... Giảng như thế cũng có nghĩa là các anh đã tự xóa đi những gì người cộng sản các anh đã làm đúng!..

   Giữa học viên và giảng viên không bao giờ trao đổi với nhau đánh giá việc giảng, việc học à? – Nghĩa ngạc nhiên.
   Một lần nữa anh lại tự chứng minh mình là người chiến thắng! – Lễ cười gằn. - Anh tin là tụi sĩõ quan gọi là ngụy như chúng em có thể trao đổi thẳng thắn với các giảng viên à? Đừng quên tụi em là sỹ quan ngụy! – Lễ nhấn mạnh mấy từ này. - Thậm chí khó mà có một câu hỏi nào của bọn em được trả lời thẳng thắn, dứt khoát?

   Em định nhắc lại câu hỏi thời gian cải tạo sẽ là bao lâu?

   Đấy chỉ là một trong nhiều câu hỏi thôi anh ạ. Tại hội trường, học viên sợ bóng sợ vía ban chỉ huy trại nên mới chỉ nói như anh đã được nghe thôi. Còn nói với nhau thì tụi em cho rằng cải tạo không có thời hạn thế này chẳng khác tù chung thân bao nhiêu. Trong này tụi em từ lâu đã biết ngoài Bắc có những người phải đi cải tạo từ thời sau 1954 mãi đến gần đây mới được thả về!..

   Anh không muốn làm công việc nhồi sọ. Em cần có thời gian tự tìm lấy những câu trả lời cho mình... – Nghĩa hiểu là phải kiên nhẫn với Lễ nhiều hơn nữa.
   Em chỉ là một trong hàng triệu, hàng triệu chất liệu dựng lên bi kịch của nước ta mà thôi anh ạ. Trong mỗi chất liệu ấy là một phạm nhân và hai lần nạn nhân, anh biết không? Một phạm nhân là vì đã gây ra ra hoặc dính líu vào các tội ác chống lại đất nước. Hai lần nạn nhân, vì một là của chiến tranh và một là của sự chia lìa về cách nghĩ, lối nghĩ...

   Sự chia lìa về ý thức hệ?

   Anh nói thế cũng được. Một lần phạm nhận và hai lần nạn nhân.., tất cả trong một nhân cách, anh biết không?!
   Thế còn những kẻ chỉ tôn thờ một con đường chống lại đất nước thì sao? – Nghĩa vặn lại.

   Anh không biết những người như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang... đã từng ăn gỏi chính bản thân em hay sao? Ít nhất trong con mắt em họ là như thế... Khi xảy ra các vụ nhà sư tự thiêu của phong trào Phật giáo, Lệ Xuân thản nhiên nói bằng tiếng Anh trước các nhà báo nước ngoài: Có thêm vài nhà sư tự nướng chả mình cũng chẳng hề hấn gì! Chắc phải uống máu người không tanh mới nói được câu như thế. Lệ Xuân đã nói lên được tính cách của nhóm người mà chính Lệ Xuân đại diện... Thế nhưng những người như Ngô Đình Diệm, Đỗ Mậu... lại là một một tuýp người khác. Họ có lý tưởng yêu nước theo cách nghĩ của họ và chống cộng từ trong xương tuỷ. Chẳng lẽ anh cho tất cả bọn họ, rồi cả em nữa vào chung một rọ với Lệ Xuân? Anh nghĩ như thế à?

   Em nói thế là rõ đấy.

   Nếu không có mấy chục năm chiến tranh và chia ly như vậy, biết đâu lẽ sống của anh và của em có thể chỉ là một! – Lễ dừng lại, nắm lấy tay anh lắc mạnh: - Bất kể thế nào, trời đất đổi dời thế nào, gia đình ta chỉ là một! Anh có hiểu không, anh Nghĩa!.. Anh không thể tưởng được chú thím Học, tất cả tụi em trong này phải chụm lại với nhau như thế nào để bảo vệ bằng được gia đình của mình, một cuộc chiến khác trong lòng chế độ xã hội Sài Gòn!.. Tất cả bố mẹ anh chị em con cháu chúng ta là của nhau! Chắc anh không thể nào hình dung nổi xã hội trong này khi các phố xá Sài Gòn nhan nhản các lính Mỹ, nhân viên quân sự Mỹ, nhân viên dân sự Mỹ!.. Thành phố là một cái nhà thổ khổng lồ với tất cả dịch bệnh lây lan của nó, anh hiểu không! – Lễ nói dằn từng tiếng vào mặt Nghĩa.

   Đã có một lần anh được nghe một nhà văn Nhật ví nước Nhật là cô gái điếm của lính Mỹ. Ông ta bị cả nước Nhật phê phán, nhưng rồi cả nước Nhật nhận ra đấy là lời cảnh cáo đúng đắn... Hôm nay anh hiểu thêm điều em vừa nói...
 

Nghĩa lặng người đi một lúc, mãi mới nói tiếp được:

   Đất nước bị chà đạp đến thế mà anh em chúng ta vẫn hai đường, hai ngả!.. Có lẽ em nói đúng, em đã được nhào nặn thành một con người như em hiện nay. Chẳng lẽ gia đình ta bị cướp mất em thật rồi hả Lễ?..

   Không! Phải nói cả nước ta bị cướp đi nhiều quá, anh ạ. Là em của anh, về phương diện này em có quyền nói em bị cướp đi nhiều hơn anh! Vì cậu mợ, các anh, họ hàng chúng ta... Tất cả cũng là của em chứ! Chính bản thân em cũng bị cướp đi rồi anh ơi! Tất cả chúng ta là của nhau!

   Trời ơi! – Nghĩa thốt lên.

Còn một điều nữa, ngồi trong trại bây giờ em mới tỉnh ngộ ra ... Cuộc chiến tranh của Mỹ trên đất nước ta tuy đã qua rồi, nhưng dư chấn của nó vẫn sẽ tiếp tục cướp đi những gì nó còn có thể cướp, sẽ còn phá đi những gì nó có thể phá! Không có cách gì cưỡng lại được đâu! Cuộc chiến tranh này ác quá anh ạ! Ai mà không ham sống hả anh? Thế mà nhiều lúc em mong thà chết như Mạnh còn hơn!.. Chắc chắn gia đình chúng ta không phải là nạn nhân duy nhất của sự cướp bóc còn tiếp diễn sau chiến tranh. Ngay từ bây giờ em đã linh cảm thấy như vậy. Rồi đấy anh xem! Cuộc chiến tranh này ác quá...

Hai anh em nắm lấy tay nhau, mãi không ai nói được gì nữa. Mãi một lúc sau, Nghĩa mới cất được lời hỏi Lễ:

- Điều gì làm em lo lắng đến như vậy?

Câu hỏi rơi thỏm vào tĩnh mịch của đêm khuya. Lễ hít một hơi thở mạnh như để lấy sức, rồi từ từ bỏ hai tay ôm đầu xuống:

   Ông trời tai ác quá anh Nghĩa ạ... Em vừa kính phục anh, vừa thương hại anh. Em vừa bác bỏ em, vừa không chịu khuất phục những điều anh tôn thờ! Em thật không biết mình phải sống như thế nào! Từ ngày vào trại cải tạo, nhiều lúc thực sự em không thiết sống, dù em xưa nay ích kỷ, nhút nhát và rất sợ chết! Bao nhiêu lần em trốn ra trận vì rất sợ chết! Anh chưa nhìn thấy hết hậu quả của cuộc chiến tranh này đâu! Nhất là từ phía em...

   Sao em lại dám cả quyết như vậy?

   Vì anh là người chiến thắng!.. Còn nhiều điều thuộc phần em buộc em phải suy nghĩ tiếp. Còn nhiều điều thuộc phần anh, anh cũng chưa thấy hết đâu.
   Em nói gì lạ thế?

Lễ không trả lời ngay, cố trấn tĩnh những sóng gió về những ngày trước và sau 30 Tháng Tư đang nổi loạn trong đầu rồi mới nói được:

   Anh ơi, có thấy cảnh Sài Gòn giãy chết trong những ngày cuối cùng trước giờ tận thế... Ôi có được chứng kiến những ngày này, mới có thể hiểu đúng được sự hồ hởi nồng nhiệt của dân Sài Gòn, mới hiểu được không khí thanh bình không thể tưởng tượng nổi sau đó anh ạ! Tiếc quá anh không được là nhân chứng của hai cảnh đời trái nghịch này! Chính sự trái nghịch này nói lên nhiều điều lắm, có lẽ người cộng sản các anh chưa thể hiểu hết đâu!.. – Lễ dừng lại, cảm nghĩ hôm nào đến giờ phút này vẫn còn choáng ngợp tâm trạng mình.

Nghĩa chăm chú nghe.

   ...Anh ạ, chính sự trái nghịch này làm bật lóe lên trong em cảm nhận mãnh liệt, dù chỉ là trong khoảnh khắc: ...Cuối cùng thì đất nước đã chiến thắng cuộc chiến tranh này!.. Ôi anh Nghĩa, chính cảm nhận này giục giã em tự trình diện và em tự nguyện xin vào trại cải tạo... Đất nước đã chiến thắng cuộc chiến tranh này! Thế mà...

   Ôi Lễ!

   Nhưng đến giờ phút này anh vẫn chưa thuyết phục được em. Nghĩa là đến hôm nay anh vẫn chưa chiến thắng được em, có phải thế không? – Lễ cố làm cho không khí anh em dịu lại.

Nghĩa lặng đi hồi lâu, cuối cùng rên rỉ:

   Hai anh em chúng ta cùng nhau hàn gắn vết thương dân tộc ngay trong gia đình mình, được không em?
 
   Vâng, em sẽ cố... Nhưng đừng làm cuộc chiến cưỡng ép chính kiến của anh nhé?

   Anh hứa...

   Tháng mười hai tới này là bốc mộ cho cậu và gia đình em Minh, sẽ đưa về quê.

   Sẽ đưa về quê nào hả anh?

   Về quê nội, Hoàng Đôi, Hưng Yên, nay là Hải Hưng em ạ.

   Em chưa biết quê mình thế nào, mặc dù chú Học thỉnh thoảng có kể cho nghe.

   Còn ở trong trại thế này, chắc em không ra kịp rồi.

   Anh thay mặt cho chúng em trong này thắp nén hương cúng cậu và gia đình em Minh. Nhưng...
   Nhưng gì nữa em?

   Chừng nào em còn sống, việc đầu tiên khi được ra khỏi trại là em sẽ đi thăm mợ và anh chị em chúng ta ngoài Bắc. Em cầu mong mợ khoẻ mạnh, cố chịu đựng. Sẽ có ngày em ra lạy mợ và thắp hương cho cậu và gia đình Minh...

Câu chuyện kéo dài mãi cho đến khi Huệ lên gác mời bác Nghĩa và ba Lễ xuống ăn sáng. Tín đã sửa soạn xong xe máy, buộc xong hành lý để đưa ba Lễ ra bến xe.
Trên đường bay trở ra Hà Nội, Nghĩa nhớ như in câu nói cuối cùng trước khi Lễ quay ra chào mọi người để trở về B7, từ giọng nói, đến vẻ mặt đau khổ, dáng điệu chán trường:

   Anh Nghĩa ạ, hiểu cho em... Em không thể... – Lễ thì thào vào tai Nghĩa, gần như mắc nghẹn. Ôi không biết chuyến đi này mình đã tìm được Lễ hay là mình đang mất Lễ thật rồi!

Tiếng bom đạn nổ ầm ầm, từng lúc xen vào những tiếng nổ cực lớn. Có lúc Nghĩa bị hất tung lên khỏi mặt đất. Lấy tay sờ đầu, sờ người, bàn tay ướt đẫm. Nghĩa cố giơ bàn tay lên gần mắt, nhưng chẳng nhìn thấy gì. Nghĩa liếm đi liếm lại bàn tay mình, chỉ thấy lạo xạo trong miệng và một mùi vị gì đó chát xít. Lại sờ hai chân, lại ráng hết sức bò tiếp trong mù mịt. Những tiếng nổ vùi Nghĩa sâu xuống đất, Nghĩa lại bới, lại gắng gượng lê lết. Một tiếng nổ lớn khác, nhưng lần này gần quá. Nghĩa thấy rõ thân thể mình bị chảy tan ra trong lửa. Nghĩa hiểu không thể bò tiếp được nữa, cố níu nhìn chân tay và thân thể mình đang bị biển lửa uống dần... Lại một tiếng nổ lớn nữa, trời đất tối sầm...

Choàng tỉnh dậy, Nghĩa chỉ thấy một màu tối xịt chung quanh mình.

Máy bay đang lao vào đám mây lớn, lắc dữ dội.

...Đất nước cuối cùng đã chiến thắng được cuộc chiến tranh này, nhưng anh vẫn chưa thắng được em!.. – Nghĩa cảm thấy các vết thương cũ lại tái phát dữ dội trên thân thể, miệng khô đắng. Nghĩa cố quờ quờ tay tìm nút ấn để yêu cầu tiếp viên mang đến cho mình cốc nước ...
 
7.

Ngày 24 tháng Hai năm 1979 xe ô- tô chở ông Đoàn Danh Tiến từ trong Nam ra đến Phủ Lý lại phải dừng. Những lần dừng trước vì chờ phà, vì tắc đường.., xe chỉ phải chờ vài ba tiếng đồng hồ là cùng. Nhưng lần này đến địa phận Phủ Lý, còn cách mấy cây số nữa mới tới cầu, xe của ông Tiến đã bị quân cảnh hạ lệnh tìm chỗ trú tạm bên đường một ngày. Tất cả các xe cộ dân sự đều bị cấm, nhường đường cho bộ binh, cơ giới, pháo binh... Tổng lực đang được điều lên mặt trận biên giới phía Bắc.
Không còn cách nào khác, khi người lái xe tìm được chỗ đỗ xe tại một làng ven đường, ông
Tiến xuống xe, tìm một nhà dân nghỉ nhờ. Đã ba ngày ròng rã lắc lư trong xe rồi còn gì nữa.
Người lái xe và chị nhân viên xí nghiệp in quốc doanh Tự Lực đi áp tải hàng cũng khuyên ông

Tiến như vậy.

Đi xe dường dài, chuyện phiếm chống buồn ngủ nhiều khi bỗ bã lắm. Cái thế giới trong cabin xe chỉ có ba người chẳng khác cái thế giới hồng hoang bao nhiêu, mọi chuyện đều là tự nhiên, chẳng có điều gì là kiêng cấm... Cái thế giới chỉ có ba người này thế mà có lúc tiếng cười tưởng như vỡ xe. Cậu lái xe thật là tài kể chuyện, cách nói dí dỏm, cùng với chị nhân viên bẻm mép ngồi giữa làm thành một cặp kẻ tung người hứng thật tuyệt vời.

Ông Tiến mô phạm là thế mà cũng bị hút vào các trận cười. Chuyến đi này làm cho ông lần đầu tiên trong đời tin rằng câu chuyện Một nghìn lẻ một đêm ông được xem trên tivi là có thật, ít nhất ông có cảm tưởng là nó có thật. Bởi vì ông tin rằng xe có ra tới Hà Nội, rồi lại quay về, rồi lại quay ra... cặp bài trùng này chắc không bao giờ hết chuyện tiếu lâm để nói! Chuyện gì thì chuyện, vẫn không thể vượt ra ngoài cái chuyện giữa đàn ông và đàn bà. Có khi cùng một chuyện thôi, thế mà cậu lái xe lại kể ra, dẫn dắt nó, mô phỏng lại nó, bố cục lại nó, thêm đầu bớt đuôi thành những chuyện mới. Có lúc cậu lái xe còn đi xa tới mức vận câu chuyện cả vào ông Tiến: “Bác ơi, theo em bác chịu khó rút kinh nghiệm nhé. Về đến Hà Nội bác nhớ dặn bác gái em mua cho bác năm hào rượu thôi, đừng mua một đồng. Năm hào là dứt khoát hay hơn một đồng đấy bác ạ!.. Năm hào như thế mà đi cho giống thì phải biết! Nói thật với bác nhé, đẻ ra chỉ có từ tiến sĩ hay giám đốc trở lên!..” – một ngón tay cái của người lái xe giơ lên trời. “Thế nhỡ chỉ là phó tiến sĩ thì sao?” – chị nhân viên vặn lại. “Thì đền thêm một tiến sĩ dự phòng nữa!...” tay người lái xe lại độp một cái vào cái chỗ kín của cô nhân viên...

Chuyện cứ thế không dứt. Có lúc người lái xe đặt tay lên đùi chị nhân viên áp tải một cách tự nhiên, di chuyển bàn tay trên đùi chị ta một cách tự nhiên, bất kể là ông Tiến đang lim dim hay đang thức...

Thật là chướng mắt quá!

...Ông Tiến mấy lần định cho anh chàng lái xe hư tay lắm mồm này một bài học về phép lịch sự tối thiểu, thậm chí có lần ông đã buột miệng mở đầu câu chuyện:

   Này tôi thấy anh có nhiều cử chỉ...

   Bác nói em có nhiều cái gì hả bác? – người lái xe bộp ngay, giọng đang vui mà gằn hẳn lên.

   À... - ông Tiến luống cuống một chút vì hoảng - ...Tôi thấy hình như anh có nhiều cử nhân rơi vãi trên mọi nẻo đường xe anh đi qua.
   Ôi, bác thế mà văn nghệ quá!..

...Chẳng gì nó cũng đang chở một đống hàng cho mình, để nó giở quẻ thì khốn đốn dọc đường với nó . ...Mặc xác chúng nó, mất quái gì của mình. Không nghe, không nhìn, không thấy là xong hết. Càng ngày mới thấy chỉ có mỗi Hai Hân là con người chí tình...

Ông Tiến lắc lư, mơ mơ ảo ảo nhớ lại:

- Trời ơi, sao anh mua ở đâu về lắm thứ cho tôi thế này! Tôi không mua đâu, làm gì có tiền. - ông giãy nảy lên khi Hai Hân đưa ông Tiến đến xem người ta xếp ra trước cửa kho xí nghiệp cho ông một đống hàng.

- Anh ơi, làm gì có chuyện mua bán ở đây. Biết anh kỳ này ra hẳn ngoài Bắc, chúng em với tư
 

cách là học trò của anh bảo nhau đi kiếm mấy thứ mà gia đình nào ngoài đó cũng cần. Em đã kiểm tra kỹ rồi, tuy cũ, nhưng tất cả còn tốt.

   Tôi đã bảo là không mua. Mà làm sao tôi khuân được hàng mấy tạ hàng thế này!..

   Chuyện vặt. Anh khỏi lo. Người lớn như anh để tâm trí lo việc lớn...

Cũng có lúc ông Tiến đầu lật bên nọ, lật bên kia trong xe, tuy không ngủ nhưng cũng giả vờ lim dim, hoặc nhìn thật xa về phía trước cho đỡ ngứa ngáy khó chịu trong người. Có lần ông tự nhiên ho sặc sụa, làm cho anh lái xe đang bá cổ cô bạn mà cũng phải giật mình rụt tay ra khỏi ngực cô...

Nhưng chuyện tiếu lâm trong xe rôm rả đến đâu chăng nữa cũng vẫn là cười trong chốc lát. Có là thánh thì cũng không thể cười suốt từ Sài Gòn ra đến Hà Nội không nghỉ được. Ông Tiến liên hệ đến những băng hình tạp hý “non stop program”, “gala program” của thời Mỹ- nguỵ ông được xem tại Ban nghiên cứu văn hoá của thành phố. Cả những băng hình này cũng không thể làm cho người ta cười mãi được ... Nhiều việc, nhiều suy nghĩ khác vẫn có thừa thời giờ rỉa rói, cấu xé ông Tiến trên đường trường ra Bắc.

Tối đến, dừng xe ngủ lại đâu là cặp bài trùng thu xếp cho ông Tiến xong rồi lại mất hút cho đến tận sáng hôm sau. Ông Tiến thừa biết họ đi làm cái chuyện tiếu lâm của họ, nhưng ông cũng chẳng còn tâm trí nào mà bận lòng. Hôm nay, giữa ban ngày ban mặt ở Phủ Lý cũng vậy, tìm được chỗ đỗ xe họ biến luôn.

- Sao mà nhanh như chớp thế!.. - ông Tiến thốt lên nhìn theo họ biến dần...

Chủ nhà cho ông Tiến nghỉ nhờ trên cái giường khá sạch sẽ, nhắc ông cố ngủ đi một giấc cho lại người. Ông Tiến cũng định bụng như vậy. Đặt lưng xuống, duỗi chân duỗi tay để thư giãn, song cái cảm giác khoan khoái quá ngắn ngủi, chưa chi mắt ông đã trân trân nhìn lên các kèo nhà và xà nhà ... Lúc đầu chính ông cũng tự lừa mình, cố nghĩ rằng kiểu làm nhà nông thôn ở vùng này đang thu hút mình. Khi ông phải tự thú nhận nó chẳng khác gì các nhà gỗ mái rạ vùng đồng bằng Bắc Bộ, thì ngay lập tức các điều ông lo nghĩ lại ập tới. Trên đường đi mấy hôm trước, càng về gần Hà Nội ông càng cảm thấy khó ngủ.

Thật là trái ngược...

...Ông tính nhẩm, như thế là cách đây khoảng hơn một năm, ông phải xin nghỉ đột xuất để ra Hà Nội tổ chức lễ cưới hoả tốc cho Thắng, bây giờ con của Thắng đã gần một tuổi. Thư bà Hà kể thằng bé khá cứng cáp, lẫm chẫm biết đi rồi, vợ Thắng có bầu mới ... Thế mà hai đứa đang nhất quyết ly dị! Lửa tình bùng to tắt nhanh, người nọ đang ra sức đổ lỗi cho người kia không chung thuỷ. Còn Lợi, con gái ông, nhất quyết đòi lấy anh thương binh cụt một chân, là cán bộ quản lý của trường. Lợi báo cáo anh ta hơn mình đúng một giáp. Nhưng bà Hà xem mặt thì nghĩ bụng là già hơn, thư bà kể rành rọt như vậy. Ông Tiến thư đi thư về mà không sao cản được Lợi. Cô ta còn đòi cưới sớm nữa!..

Để tự giải toả, ông Tiến lại chuyển sang nghĩ chuyện của đất nước. Chưa kịp đón tin quân ta giải phóng Phnômpênh, tin chiến tranh đánh biên giới phía Bắc ập đến. Ngoài những điều được nghe trên phổ biến, ông Tiến chưa kip định thần để tự mình đánh giá các sự kiện. Nhất là đối với ông những sự kiện này xảy ra nhanh quá, bàng hoàng quá.

...Thế là mọi suy luận của mình về thời cuộc hoá ra chẳng đâu vào đâu! ...Cứ tưởng rằng đã thắng Mỹ rồi thì từ nay trở đi không ai dám đụng đến ta nữa!.. Còn hay không còn tình đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa anh em!?. Chẳng lẽ Lê Hải đúng và Phạm Trung Nghĩa không hữu khuynh?.. Cái tư tưởng cách mạng là tiến công liên tục bây giờ đặt nó vào đâu cho ổn? Cái chủ thuyết hai phe bốn mâu thuẫn phải cắt nghĩa ra sao đây?.. Đã bao nhiêu lần mình đi giảng như vậy ngoài Bắc trong Nam, lý lẽ chắc như cua gạch...

Hết tự đánh giá mình về lập trường tư tưởng, ông quay ra điểm lại các môn đệ của mình. Ông vẫn thường coi đấy là một trong những thước đo tin cậy đánh giá năng lực bản thân. Bởi lẽ vào lúc trăm mối tơ vò như thế này, ông cần có một cái gương để soi lại mình. Người mà ông có thể coi là môn đệ thực thụ cho đến nay chẳng lẽ độc nhất có anh chàng thất học nhưng ranh ma Hà Văn Hân?..
 

Ông đã đến chơi và ăn cơm với vợ chồng hai Hân mấy lần, đã ăn một Tết với vợ chồng Hai Hân vì lỡ Tết - chuyện tàu xe cuối năm quá tải. Vợ chồng Hai Hân cưới nhau đã lâu, nhưng chưa có con. Nhà cửa tuềnh toàng trong hẻm. Được cái cả vợ lẫn chồng đều là người hoạt bát. Càng sống với Hai Hân ông càng thấy đấy là loại người nghe một, hiểu hai, ba. Ông thừa nhận Hân quả là một tay có đầu óc, chỉ cần bồi dưỡng thêm lý luận và một ít văn hoá là có thể trở thành cán bộ có hạng. Loại này mà được học hành đến đầu đến đũa thì phải biết ... Vợ Hân, công nhân nhà máy sữa Nestlé, cũng tỏ ra xuất sắc trong khi tiến hành cải tạo nhà máy, tiếp thu nhanh những vấn đề chính trị ông trao đổi với hai Hân. Trong đời mình ông được học, được nghiên cứu, được đi thực tế để tìm hiểu giai cấp công nhân. Ông tự hào là đã tích luỹ được cho mình khá nhiều. Chính sự tích luỹ này là cái vốn căn bản cho quan điểm và lập trường giai cấp của ông. Nhưng phải chờ đến khi quen biết vợ chồng Hai Hân, ông mới hiểu rằng quan điểm và lập trường giai cấp mình có trong người không chỉ là một ý thức, một nhận thức trừu tượng, mà nó còn có một mối liên hệ với những người thật, cuộc sống thật. Dựa vào những điều đã tích luỹ được trong cả cuộc đời, ông nuôi tham vọng lúc nào đó sẽ viết một chuyên đề lớn về giai cấp công nhân Việt Nam, có những ví dụ thực, hình mẫu thực ...
...Một con người có năng lực tự thân như Hai Hân ca ngợi mình, suy tôn mình lên bậc thầy, thì hẳn chính mình cũng phải là một cái thá gì chứ! Anh ta hoàn toàn không phải loại người ăn theo nói leo, không phải là thiên lôi chỉ đâu đánh đấy!..

   ...Lý luận của anh em nghe sáng ra. Cứ chỗ nào bí là em lại dựa vào những điều anh giảng. Đúng là kim chỉ nam của hành động.
   Tôi thì lại phải dựa vào hành động thực tiễn của cậu để kiểm nghiệm, để phát huy thêm lý luận.
   Đã nhiều lần, vận lý của anh ra thế nào em cũng thắng! Hôm em nói cải tạo xã hội chủ nghĩa không phải chỉ là đánh đổ giai cấp tư sản, mà còn phải nhằm đưa giai cấp công nhân lên nắm quyền lãnh đạo xí nghiệp. Hội nghị hoan hô rầm rầm! Anh và em không thể thiếu nhau được, có phải thế không anh?

...Thực là những lời tâm huyết của Hai Hân trong buổi tâm sự với mình đêm ba mươi Tết năm rồi!..


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 11:01:58 am
Khi ông nhận được lệnh trở lại miền Bắc công tác, Hai Hân lo cho ông từng ly từng tý, lại bố trí một chuyến xe đưa ấn phẩm ra Bắc và nhận vật tư đem về cho xí nghiệp, để kết hợp đưa ông Tiến ra Hà Nội. Hai Hân đi thu thập các nơi đem về biếu ông Tiến một tủ lạnh Sanyo, một tivi National 21 inches, hai cây quạt Nhật và một xe Honda nam cũ. Tất cả đều là hàng tầm tầm nhưng còn dùng tốt - đây là lý do chính Hai Hân bố trí chuyến xe tải này.

“...Mong anh coi em như đệ tử ruột. Đường đời còn dài, chắc em còn phải nhờ anh giúp đỡ nhiều...” Lời chia tay của hai Hân đầy tình nghĩa. Tuy nhiên ông Tiến cũng hơi chột dạ khi Hai Hân nói:

   Bây giờ trong này xong cải tạo rồi. Sắp tới chủ yếu sẽ là các nhiệm vụ kinh tế. Trên điều anh ra ngoài Hà Nội em nghĩ cũng phải thôi.

Nghĩa là Hai Hân biết lý do vì sao trên điều mình ra Bắc?

... Thằng cha này ở sát lãnh đạo thành phố nên nhiều thông tin lắm. Khi Khmer đỏ đánh Tây Ninh lần thứ nhất, nó biết trước mình. Lần thứ hai nó cũng biết trước mình... Bây giờ nếu đúng như hắn nói thì có vấn đề ... Luận ra sẽ có nghĩa là trên cho rằng cái khả năng chính trị vạn năng của mình không còn vạn năng cho lắm! Vì thế phải trở ra Hà Nội?.. Nếu thế thì gay rồi, đại sự rồi...

... Hay là mình cả nghĩ quá thôi, sự thực có thể không đến nỗi bi đát như thế. Ngày 17 tháng Hai Trung Quốc đánh ta, ngày 19 tháng Hai ngoài Bắc điện mình ra gấp. Như thế chắc là ngoài Bắc cần mình là do tình hình mới? Làm gì có đại sự nào khác! Lập luận này có lý hơn. Ai không biết công tác tuyên huấn vào lúc nước sôi lửa bỏng này là cực kỳ quan trọng! Phải thấy rõ điều này để kịp thời chiếm lĩnh trận địa!.. Nghĩ theo hướng này, ông Tiến lục lọi trong trí nhớ mọi lời đồn đại về trưởng Ban. Sắp xếp lại các lời đồn đại với nhau, đo đếm, cân nhắc, ông thấy trưởng Ban hồi này bị chê nhiều hơn là được khen. Đáng chú ý là những lời đồn thay trưởng
 
Ban chẳng những ngày càng nhiều, có lời đồn còn nêu rõ ai sẽ được giao cho cái ghế này – chỉ có điều hơi lạ là cái tên Đoàn Danh Tiến tuyệt nhiên không một ai nhắc đến!..

...Dù có tên mình hay không có tên mình thì đồn đại cũng chỉ là đồn đại! Hai năm rõ mười là sức khoẻ của trưởng Ban đã quá Giáp Bát gần Văn Điển rồi! Lao hay ung thư, khu A hay khu B trong Văn Điển cũng thế thôi! Cỡ như ông ta có vào được Mai Dịch không nhỉ? Chưa hẳn, ông ta chỉ hơn mình có vài bước chân...
...Tôi đã bảo mà, ông thì đi dạy được thiên hạ, nhưng đối với hai con mình thì ông bất lực...

Không phải thế, tất cả là tại bà thôi. Ai bảo bà chiều chúng nó quá nên mới đổ đốn ra thế này...

Cuối cùng thì ông Tiến cũng thiếp đi được một giấc.

Tỉnh dậy, trời đã quá trưa. Ông Tiến tìm đường lững thững leo lên quốc lộ 1, vừa để tìm chỗ ăn trưa, vừa muốn quan sát tình hình. Ngồi trong một quán nhỏ, ăn xong hai bát bún riêu cua, ông Tiến mới quay ra nhìn ra nhìn lên đường. Các đoàn xe bộ đội ùn ùn nối đuôi nhau không dứt từ phía Nam kéo ra. Xen vào giữa những đoàn xe chở bộ đội là những đoàn xe kéo pháo, kéo tên lửa, các đoàn xe thiết giáp, các đoàn xe quân nhu, các đoàn xe chuyên dụng. Tiếng động cơ vang dền bất tận. Tiết trời đông sang xuân ẩm ướt, khói bụi của đoàn xe bất tận bị nén xuống thành một dải mây dài phủ kín con đường. Đây là lần đầu tiên trong đời ông Tiến được mục kích bộ đội ta hành quân ra chiến trường. Chưa bao giờ ông được thấy một cảnh tượng đầy khí thế lẫm liệt như vậy. Cách nửa tiếng, một tiếng, ông lại thấy một chuyến tàu hoả lúc chạy ngược lúc chạy xuôi trên tuyến đường sắt đi song song với quốc lộ 1. Tàu vào chở người đi sơ tán, các toa chật như nêm, thậm chí người người già trẻ lớn bé ngồi kín cả các toa đen chở hàng. Tàu ra toàn bộ đội, các toa chở xe tăng và các toa bọc bạt kín mít – chắc là hàng quân sự...

...Thế này thì chiến tranh to rồi, không nhầm vào đâu được. Quân đội mình hùng dũng quá! Hùng dũng quá!.

Ông Tiến cảm thấy bừng bừng trong người, bàn tay nọ đấm vào lòng bàn tay kia.

Tuy nhiên, khi nhìn các chuyến tàu hoả chở người đi sơ tán vào phía Nam, ông Tiến không thể tránh được cảm giác ngây dại - nỗi chua xót cho vận mệnh của đất nước. Cảm giác day dứt ấy làm cho ông Tiến phải thú thực trong thâm tâm: ...Hình như cho đến giờ phút này mình chỉ là người quan sát! Là người reo hò và đứng ngoài cuộc!..

...Nhưng mình đâu có trốn tránh nhiệm vụ nào? Số mệnh, hay là cuộc đời dun dủi thế nào đấy thôi, mình toàn lọt vào những vị trí trung gian, những thời điểm trung gian nằm giữa những hiểm nguy của đất nước. Hình như cả cuộc đời mình lọt vào các khoảng trống an toàn nằm giữa những vận động, nằm giữa những giai đoạn quyết liệt đất nước phải trải qua! Khi thanh niên cả nước ào ào lên đường chống Mỹ theo phong trào “ba sẵn sàng” thì mình đã là cán bộ. Những năm tháng đất nước chìm đắm trong chiến tranh mình ngồi trên mặt trận chính trị! Mình đâu có trực tiếp cầm súng hay đứng ở mặt trận như Lê Hải, như Phạm Trung Nghĩa...

Hay là chính vì thế mình hiểu cuộc sống của đất nước bằng con mắt và cách nghĩ của người quan sát?.. Mình không có những nỗi đau như họ, nên có lẽ mình tỉnh táo hơn họ. Đúng là biết tách mình ra khỏi sự vật luôn luôn là một lợi thế! Từ ngày rời ghế nhà trường mình đã hiểu ra điều này. Chính nhờ điều này mình luôn chiếm lĩnh được trận địa mới, luôn luôn mới! Từ ngày còn học trường làng cho đến con đường trưởng thành bây giờ là nhờ luôn luôn chiếm lĩnh được trận địa mới! Phạm Trung Nghĩa và Lê Hải chẳng qua sống quá sâu, bị đúc tạc quá sâu vào chính cuộc sống của các ông ấy, nên không dứt ra được, nó thành nếp mất rồi ... Họ không thay đổi được họ nữa. Họ thuộc về quá khứ, như một phương tiện, một công cụ đã làm xong chức năng được giao ... Họ không thể nhận biết diễn biến khách quan như ta, không thể như ta luôn luôn biết chiếm lĩnh những trận địa mới, không thể là người trong cuộc... Không bao giờ họ có thể là người trong cuộc...

...Còn ta? Ta quan sát? Hay ta đứng ngoài cuộc?.. Không! Số phận đưa đẩy như thế cơ mà!.. Ta đâu có phải là họ? Ta không quan sát! Ta không đứng ngoài! Lẽ sống của ta là phải trở thành người trong cuộc ... Sẽ như trưởng Ban... Như những người quyết định số phận những kẻ khác!..

Những cuộc tranh luận gay gắt với Lê Hải, với Phạm Trung Nghĩa bỗng nhiên sống lại dữ dội
 

trong tâm trí ông Tiến. ...Chỉ có một lần duy nhất Lê Hải thực sự khen ngợi mình. Một lần duy nhất mà thôi. Đấy là những lời khen mình thật lòng... Mình biết tỏng đi chứ!..

Một ngọn gió buốt ở đâu ập tới. Trong khoảnh khắc ông Tiến đột nhiên có cảm tưởng những gì mình đang thấy trước mắt là hiện thực sống của tất cả những gì đã được nói tới trong những cuộc tranh luận này. Song ông lại tự trấn an mình ngay: Phải biết tách mình ra khỏi sự vật, phải nhận biết diễn biến của nó để chiếm lĩnh trận địa mới!.. Cuộc đời là luôn luôn đi tiên phong chiếm lĩnh trận địa mới...

...Ừ, cứ cho là như thế đi... Thế thì chân lý là ở chỗ nào?.. - Một cảm nghĩ gì đó khó tả luồn lách vào tâm tư sâu kín nhất của ông Tiến. Ông lờ mờ như thoáng tự hỏi mình điều gì đấy, song lại phải tự mình át đi ngay. Ông nghiệm thấy bảo vệ cái chân lý phải luôn luôn đi tiên phong chiếm lĩnh trận địa mới nhiều lúc thật không đơn giản...

...Lẽ đời khôn sống mống chết! Đi tiên phong cũng có phải tuân thủ cái lẽ đời này. Thế mà mình đã trót một lần lỡ bút ca ngợi hai tay này hết lời. Ôi cái dại chết người!.. – ông Tiến nhớ đến bài viết của ông giới thiệu tập truyện ngắn của Lê Hải và Nghĩa... Trái hẳn với hôm chia tay Lê Hải, cách suy nghĩ này giờ đây đột nhiên dấy lên trong ông nỗi lo bút sa gà chết, nhất là vào thời buổi đất nước lại có chiến tranh như thế này... Chính ông cũng tự vặn vẹo mình: Tại sao mình lại có thể dại dột như thế được nhỉ? Xưa nay mình đâu có ham hố gì chuyện văn chương!.. Không biết việc mình bị gọi ra Bắc thế này có liên quan gì đến bài giới thiệu này không?.. Bằng này tuổi đầu rồi mà cuộc đời vẫn có lắm chỗ không biết đằng nào mà lường...

Tiếng loa của xe công an thông báo lệnh cấm đường chấm dứt. Tiếng loa của xe công an kéo ông Tiến trở về thực tại. Ông chạy vội về nhà nghỉ nhờ để cảm ơn gia chủ và để tìm cặp bài trùng tiếu lâm.

Nhưng tìm hai con người ôn vật này ở đâu bây giờ?..

Ông chạy loăng quăng một lúc rồi về đứng bên xe tải của mình:

- Đứng đây là chắc ăn nhất, đi tìm làm gì cho mệt xác!

Ông Tiến tự nói với mình như vậy, trong lòng cảm ơn trời Phật đã cho ông chút thời giờ ngẫm nghĩ sự đời trong khi đứng chờ cặp bài trùng. Cái quyết tâm trở thành người trong cuộc được nung nấu thêm, những nỗi lo mây lo gió về cái chuyện bị gọi ra Hà Nội lắng dịu đi...

Quả nhiên chỉ nửa giờ sau cặp bài trùng cũng đưa nhau về. Lại lên đường. Lại rôm rả. Trên chặng đường cuối cùng này riêng mình ông Tiến là người không biết nói.

Tối hôm đầu tiên nhà ông Tiến vui như hội. Nhà bây giờ thêm hai nhân khẩu là vợ và đứa con trai đầu lòng của Thắng. Anh con rể tương lai cũng đến chào ông Tiến mới đi công tác xa về. Cả nhà - trừ bà Hà - tự dưng biến thành các máy nói. Ai cũng vui vì đột nhiên ông Tiến mang về lắm thứ như vậy, mà toàn là những thứ được việc, được tiền, rất cần. Cô Lợi thì khen hàng Nhật cũ rồi mà vẫn còn đẹp, hiện đại hơn hàng Liên Xô, so sánh từng chi tiết cái tủ lạnh Sanyo với cái tủ lạnh Xa-ra-tốp, thạo đến mức người yêu cô Lợi phải ngạc nhiên.

   Nhà ta đã có tủ lạnh bao giờ chưa mà em cứ nói vanh vách từng chi tiết một như thế?

   Việc gì phải có mới biết! Thế mới tài chứ...

Vợ Thắng hết tham gia đề tài tủ lạnh lại tham gia đề tài quạt Nhật. Còn Thắng từ đầu đến cuối chỉ quan tâm đến cái xe Honda nam mầu đen, lôi cả em rể tương lai vào đàm luận. Gọi là em rể, nhưng hơn Thắng phải ngoài chục tuổi hoặc hơn nữa. Mô- kích, Pơ - giô, Vespa, Xolex, Minsk, Java... được đem ra so sánh tuốt. Thắng hết ngồi lên lại nhảy xuống, lăn thử xe trong nhà, bật đèn, bóp còi, nhấn phanh... Mấy lần Thắng định lôi xe ra đi thử nhưng không có xăng. Hai Hân cẩn thận đã bắt vặn hết xăng trước khi khuân lên xe tải. Động cơ chỉ bạch bạch một tý rồi im luôn, thế mà mùi khói xăng đã nồng nặc cả nhà. Bà Hà ngồi nguyên một chỗ mà cũng phải kêu toáng lên, vội vã lấy khăn tay bịt mũi cho cháu nội. Thắng định lôi xe ra đường đổ xăng của con phe, ông Tiến nhất định không cho:

   Không được, phải tập hẳn hoi. Chuyện vợ chồng cậu công an hộ tịch khu phố mình năm ngoái bị ô tô cán chết vì mới tập đi xe máy còn sờ sờ ra đấy!

Về tới Ban, ông Tiến thấy cấp trên và đồng nghiệp tuyệt nhiên không có một lời xì xèo nào
 

về khả năng chính trị vạn năng của mình. Những nỗi lo mây lo gió của ông qua đi nhanh chóng, nhường chỗ cho tâm trạng đầy phấn chấn. Trong khi đó ông đạt thêm một chiến tích lớn: công trình tổng kết về cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam và nhiều bài bình luận khác do ông là tác giả được in thành sách, với cái tên nổi bật “Tổng kết kinh nghiệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. ...Thật là bõ công mình vận động, lại được chính Nhà xuất bản của Ban ấn hành, thế mới oách chứ! Từ nay trong tay ta đã có những công trình được công bố! Rất xứng đáng kiếm một học vị nào đó cho có tên tuổi ... Hôm đến chào, ông trưởng Ban còn khen ông Tiến có những tìm tòi mới trong nghiên cứu lý luận, cho là những cố gắng của ông Tiến rất đáng khích lệ. Ông trưởng Ban cho biết mô hình của thời kỳ quá độ đang là vấn đề thời sự nóng hổi của cả nước, còn phải động não nhiều...

   Thưa anh, với công trình này tôi nghĩ rằng cơ bản lý luận khoa học về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã định hình... Các nước Liên Xô - Đông Âu đang lao đao là vì họ làm trái lý luận này!

   Nhưng vẫn phải tiếp tục động não.

   Mô hình này là chắt lọc từ cuộc sống đấy ạ!

   Tôi thừa nhận hai năm qua công tác trên lĩnh vực mới, anh tỏ ra rất nhạy cảm, cố bắt kịp nhịp thở của đất nước. Tuy nhiên nên đi sâu hơn nữa vào các giải pháp... Tôi hy vọng nhiều ở anh đấy...

Trừ cái câu Tuy nhiên... ra, còn lại những câu khác ông trưởng Ban làm cho ông Tiến thật là được lời như cởi tấm lòng...

Những câu chuyện hư hư thật thật ở hành lang còn cho ông Tiến biết trưởng Ban hồi này sức khoẻ gay go lắm. Có tin đồn trưởng Ban đang xin về hưu, trên đang lo người thay... Loáng thoáng chỗ này chỗ khác thì thào ông đã được coi như người kế vị trưởng Ban trên thực tế... Khấp khởi càng thêm khấp khởi...

Vốn là người nhanh nhạy với thời cơ, ngay lập tức ông Tiến ngầm góp phần mình làm cho cái tin đồn thay trưởng Ban loang rộng ra. Ông không quên thêu dệt thêm đôi ba điều để dư luận hiểu rằng người xứng đáng thay thế trưởng Ban là ông, chấm phá vài lời dèm pha khi cần... Cũng có khi ông bạo gan bắn tin, đại thể là cấp trên đã chọn mặt gửi vàng nhắm vào ông...

Không ít những giây phút ông lâng lâng bay bổng trong trí tưởng tượng của mình. Tất bật càng thêm tất bật, vì có khối việc để làm ...

...Bằng mọi giá, ta phải trở thành người trong cuộc!

Nhưng các buổi tối ở nhà, trong những bữa cơm chiều, không khí căng thẳng dần dần lại quen mui dồn về đầy ắp căn nhà ông Tiến. Lại vẫn những chuyện cũ rích...

...Chán bỏ mẹ, thà đi khuất cho rảnh mắt! Có lúc ông buột miệng nói ra như vậy, nhưng chỉ vừa đủ cho mình nghe.

Không có cách gì ngăn cản vợ chồng Thắng nằng nặc đòi ly hôn. Đêm đêm vợ Thắng đuổi chồng quầy quầy, bắt phải ra ngủ riêng trên cái giường bạt Liên Xô. ...Nghe vợ chồng chúng nó vặc nhau mà nẫu cả người! Đã thế cái con Lợi ranh con tối nào cũng dẫn xác cái thằng thương binh dê cụ về nhà, ngồi dai như đỉa đói. Sao chúng mày rỗi hơi thế!..

Tối tối ông bà Tiến thường chẳng còn chuyện gì để nói, nên ai làm việc nấy. Đến lúc cả nhà bắt đầu lục tục đi ngủ, anh thương binh mới đứng dậy đưa Lợi về ký túc xá. Khi ông Tiến tắt đèn, leo lên giường nằm cạnh bà Hà, lúc này không khí căng thẳng giữa hai ông bà bắt đầu. Ông Tiến để ý từ hôm về chưa thấy bà Hà hé một lời nào về các thứ mình khuân từ trong Nam ra. Mà chuyện trò với nhau thì câu trước câu sau đã ông chẳng bà chuộc.

...Hoá ra những năm tháng mình sống độc thân ở Sài Gòn lại là tuyệt trần đời!

Một đêm:

   ...Thì bà cũng nên lựa lời nói con vợ thằng Thắng một vừa hai phải cho êm cửa êm nhà một chút chứ.

Bà Hà nằm yên. Cái tâm trạng lơ đễnh đôi khi bất chợt len lỏi vào tình cảm của bà thường thường mang lại cho bà một cảm giác trống rỗng, bằng lặng. Nhưng giờ đây nó biến thành
 

những đợt sóng thần dữ dội trong lòng. Bà Hà môi mím chặt, hai bàn tay nắm lại. Bà cố nằm yên không nhúc nhích.

   Con nhà cán bộ có danh tiếng như nhà mình, mà nào là cưới chạy, nào là ly dị. Bà xem, thế còn ra cái thể thống gì nữa. Thiên hạ người ta cười vào mũi.

Bà Hà vẫn nằm yên.

   Ô hay, bà ngủ rồi à?

   Không tôi vẫn thức.

   Thế thì bà nghe tôi nói đây. Ngoài chuyện vợ chồng chúng nó, bà cũng nên tỉnh táo xem có chuyện mẹ chồng nàng dâu không? Lập trường của tôi là phải khách quan xem xét cả hai bên.

Lúc này bà Hà không kiềm chế mình được nữa. Tuy thế, bà cố hít vào thật sâu, lựa lời:

   Ông không ở nhà mà xem, lúc nào cũng khách quan với lại lập trường! Tôi hầu mẹ đẻ của tôi ngày trước cũng chưa bằng tôi hầu nó bây giờ. Còn ông muốn hầu nó nhiều hơn nữa thì xắn tay áo lên. Xin mời! Nhà này là nuôi cả hai mẹ con nó. Có cái gì bán được, tôi câm lặng bán hết rồi. Ông liệu xem bán đỡ hai cái quạt hay cái tivi đi mà trả nợ.

   Không được! Nếu thế thành chuyện tôi vào Nam đi buôn à! - Ông Tiến giãy lên. Song cũng chính lúc này ông mới chợt hiểu vì sao từ hôm về ông không thấy chiếc xe đạp pơ-giô cũ của bà Hà đâu nữa. Lúc vui vẻ, bà Hà thường kể chiếc xe đạp mẹ cho ấy là của hồi môn của bà khi về với cán bộ Tiến.

   Ông còn muốn lo cho gia đình thì hãy nghe lời tôi... – Bà Hà cố điềm đạm: - Tốt nhất là ông bán tất cả các thứ ông mang về đi, rồi cho vợ chồng nó ra ở riêng. Chúng nó chưa có nhà thì cho chúng nó hẳn một phòng riêng biệt trong căn nhà này. Cả hai đứa vừa mới ra trường, may là đã có công tác. Tự lập chúng nó sẽ nên người. Như thế còn hy vọng cứu được gia đình chúng nó khỏi tan vỡ. Để chúng nó mỗi đứa một nơi thì chỉ khổ cho các cháu nội của ông thôi. Ông nghe thủng chưa?

Ông Tiến im lặng, có lẽ đang cân nhắc những ý kiến của bà Hà.

   Nếu hai vợ chồng chúng nó còn son rỗi, tôi sẽ xử sự theo cách khác. Nhưng gia đình vợ chồng nó sắp sửa hai thành bốn rồi, nhất thiết phải bán các thứ đi, tạo dựng một gia đình nghiêm túc cho hai đứa cháu ông.

   Bà điên à? Như thế danh dự của tôi còn gì nữa!

Bà Hà không đáp lại, chỉ kéo gối ra xa chồng thêm chút nữa.

   Hỏi thật bà, có thể tôi nhầm. Bà xem cái Lợi đã to bụng chưa? Tôi thấy khang khác thế nào ấy. Nếu nó chưa làm sao cả, thì nhà mình vẫn còn tìm cách từ chối được. Thật chẳng khác gì hai bố con, rõ là ê mặt. Rồi trăm cái mồm của thiên hạ sẽ chõ vào!

Bà Hà lại nhích xa ra chút nữa, nằm yên. Ông Tiến quàng tay lên bà Hà, tay ông bị hất ra, bà Hà cũng nhích ra xa thêm. Ông Tiến biết là mình đã đi quá phần lãnh thổ của mình rồi, chỉ muốn biến thành một quả bom nổ tung cái nhà này lên.

...Chẳng lẽ vợ bây giờ cũng không còn là vợ nữa? Trời với đất!

Ông Tiến vùng vằng làm mình làm mẩy có dụng ý, mảnh giát giường cót két dưới lưng ông làm reo phản đối, thanh ở giữa giường trồi lên, cọ cọ vào xống lưng ông đau nhói. Ông Tiến hiểu bà Hà đã xê ra sát mép giường rồi, nhưng sự quẫn bách vẫn không buông tha ông. Ông rên hừ hừ, từng lúc thở dài thật to, cố cho bà Hà nghe thấy. Nhưng ông chỉ cảm thấy sự tĩnh lặng xa lắc xa lơ, ông cố nghe mà không thấy cả tiếng bà Hà thở nữa.
... Thế này thì chẳng còn ra cái thể thống gì! Đã thế ta phải dùng sức mạnh!
Như một bản năng, ông Tiến vung tay vồ lấy ngực bà Hà, kéo toạc áo bà ra. Ngay lập tức ông bị bà Hà du bắn trả lại:

- Ông có để cho tôi yên không?

Dứt lời, bà Hà rút ngay cái chiếu dưới chân giường, trải xuống đất nằm một mình.

Đêm khuya trở lại với yên tĩnh. Cái đồng hồ quả lắc trên tường tích tắc đều đều rồi điểm hai
 

giờ. Ông Tiến đối thoại trong đầu với những tiếng tích tắc và quyết không để cho bà Hà trút hết mọi trách nhiệm lên ông. Đắn đo mãi và dồn nén mọi nghị lực, đột nhiên ông gào lên:

- Chung quy chỉ tại cái giống nhà bà thôi!

Quả bom nổ tung lại là bà Hà. Bà bật đèn đứng sững giữa nhà, hay tay chống háng:

   Trời ơi!.. Ông nói cái giống nào? Ông có quyền gì mà xúc phạm gia đình tôi? Sao ông ăn nói thiếu học thức thế! Người không có học cũng không đến nỗi ăn nói như ông. Ơn nghĩa là như thế à?! Ông ơi là ông! Thế mà lại còn lên mặt đi dạy người khác! Cái giống ấy là giống nào hả? Ông nói đi! Là cái giống nào! – bà Hà rít lên vì giận.

   Thì cái giống nhà bà ấy, chứ còn giống nào nữa! Đừng có mà lăng loàn! - ông Tiến cũng không vừa, nhưng chỉ nằm giữa giường, không thèm ngồi dậy.
   Cái giống nhà tôi là cái giống nào hả? Giống công chức lưu dung à? Giống tiểu tư sản à? Biết thế sao còn rúc đầu vào? Thế còn cái giống nhà ông thì làm sao? Tôi nói cái giống nhà quê ra tỉnh ấy. Tôi nói cái giống lúc nào cũng lên mặt đạo đức, nhưng rỗng tuếch! Ông hiểu chưa?.. Ông lo gì cho con cho cháu ông nào? Ông cứ ngẫm lại xem đã lo gì cho con cho cháu ông? Ông chỉ lo cho danh giá của chính mình thì có. Một điều xưng xưng là cán bộ trung ương, hai điều xưng xưng là phải giữ thể diện cán bộ trung ương! Đấy là cái giống trưởng giả học làm sang! Ông đã biết rõ thân phận ông chưa? Thật ra ông chỉ là đạo đức giả. Đạo đức giả, ông có biết không!

Một sức mạnh nào đó dựng đứng ông Tiến lên giữa giường, tay ông chỉ vào mặt bà Hà:

   Bà đừng có quá quắt! Chỉ mình bà lo cho con cháu thôi à? Tôi mà không lo cho con trai bà thì bây giờ thằng Thắng không phải đi bộ đội đánh nhau trên biên giới thì cũng rũ xương ở Campuchia! Không thư từ chạy đủ các cửa thì vợ chồng thằng Thắng bây giờ cứ là đứng đường đứng chợ, là thất nghiệp, bà hiểu chưa? Như thế mà còn bảo là không lo gì cho con cháu à!

   À cái tài chạy vạy của ông thì tôi thua rồi, thua xa rồi!

   Này tôi cấm bà ăn nói lung tung! Tôi là tôi cấm! Tôi cấm!

   Bộ đội người ta vào Sài Gòn đánh giặc. Còn ông thì vào Sài Gòn dạy người và khuân về chiến lợi phẩm! Thế không là đạo đức giả thì là cái gì!? Bây giờ phải bổ sung thêm cái tài chạy vạy nữa! Vẽ ông lên như thế đẹp chưa?..

Đến đây ông Tiến cảm thấy thân thể ngay đơ như bị bấm huyệt! Cái miệng bị đóng hàm thiếc không nói được nữa. Cái đầu cũng bị một thứ gì đóng vào ù cả tai, không làm sao nghĩ ra được lý sự nào để trả đũa lại bà Hà.

Ức lắm!

Trong bụng nghĩ như vậy, ông Tiến thò tay tắt đèn rồi đổ vật xuống giường.

Đêm đen nặng nề đến nghẹt thở, ông Tiến vật vã, nhưng lần này là cho chính mình.

...Những ngày sau, chờ không khí giận dỗi giữa hai ông bà nhạt dần, bà Hà lại kiên trì thuyết phục ông Tiến phải tìm mọi cách ngăn cản mối nguy xảy đàn tan nghé trong cái gia đình con con của Thắng. Bà vẫn nuôi hy vọng: Có một gia đình riêng nghiêm túc, vợ chồng Thắng sẽ biết lo và sẽ gắn bó với nhau. Sở dĩ bà kiên trì chịu đựng mọi điều chướng tai gai mắt trong cách sống của vợ chồng Thắng là muốn chờ ông Tiến về giúp thêm một tay răn bảo chúng nó, không dè ông Tiến lại trút hết mọi ngang trái lên bà. Lại thêm vài ba trận ông bà cãi nhau. Lại căng thẳng. Lại dịu đi. Lại căng thẳng ...

Cực chẳng đã, bà Hà nhất quyết hành động một mình.

Một hôm bà nói đầy đủ ngọn ngành nhưng cực kỳ gay gắt với vợ chồng Thắng: Hoặc là tự lập xây dựng thành một gia đình riêng nghiêm túc, bà sẽ giúp đến cùng. Bằng không cuốn gói mang nhau đi đâu thì đi, muốn sống với nhau ra sao thì sống, phải ra khỏi nhà và coi như không có bà trên đời này.

May thay, sự quyết liệt của bà khiến vợ chồng Thắng xin bà giúp đỡ đến cùng. Ngay ngày hôm sau bà bảo Thắng đem bán cái xe máy và đôi quạt cây để trang trải nợ nần, phần còn lại lo cho vợ chồng Thắng một cuộc sống riêng. Cái tủ lạnh và cái tivi bà giữ lại cho cả nhà.
 

Khi thấy người lạ đến nhà dắt cái Honda và chất đôi quạt cây lên xích-lô, ông Tiến làm ầm lên. Nhưng bà Hà cứ lầm lỳ làm theo ý mình. Cái nhìn của bà như sẵn sàng nhai ông vụn ra. Ông Tiến chột dạ. Chợt nhớ đến lời đồn đại trên đang tìm người thay ông trưởng Ban, ông Tiến tự làm nguôi cơn thịnh nộ của mình: ...Trời, tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa! Không thể khinh xuất được! Một ly một tý cũng không được!..

Cuộc hành trình của gia đình Tôn Thất Loan từ Thành phố Hồ Chí Minh đến California mất ngót nghét sáu tháng. Trước hết là qua các loại trại tập kết ở Bangkok, rồi đến các trại thẩm tra, thẩm định các nấc khác nhau ở Philippines, và gần 3 tháng trong các trại khác trên đảo Guam, vừa để chờ nhau, vừa để làm thủ tục nhập cư vào Mỹ. Sau đó cả gia đình Tôn Thất Loan được đưa vào trại Camp Dalton ở phía Bắc California, một trong những nơi tập trung những người di cư từ Việt mới sang.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 01:57:08 pm
Vào trại Camp Dalton được vài tuần, viên sĩ quan Mỹ phụ trách nhập cảnh Mai- cơn Fốc (Michael Fox) mời gia đình Loan đến ăn cơm tối tại nhà riêng.

Bang California phát triển nhất nước Mỹ, nhưng trại Camp Dalton lại là vùng hoang vắng, vì chung quanh nó chỉ có rừng và núi bát ngát. Tiệc tùng mời mọc nhau là một thú vui thực sự của những bậc trưởng giả nửa tỉnh nửa quê ở vùng hoang vắng này. Đấy là dịp để thưởng thức rượu và thức ăn, để có dịp gặp nhau tán gẫu. Cũng có người lại coi Camp Dalton là thiên đường của tự nhiên vì môi trường thiên nhiên trong lành của nó. Vì quá hoang vắng, nên người ta thích bịa ra lý do này lý do khác để được cắt lượt mời mọc nhau, để thay đổi không khí trong nhà và sớm được đến lượt mình. Trong bữa cơm hôm ấy Fốc nói cho riêng mình Loan biết: Chiến tranh ngày một ngày hai sẽ lại đến thăm đất nước ông đấy!

Loan hiểu ngay Fốc nói gì.

Fốc cho Loan biết tin này, một phần vì để trả ơn sự giúp đỡ tận tình của Loan khi Fốc làm việc ở phái đoàn MAAG đầu những năm 1960, một phần vì muốn nói cho hả nỗi đau Mỹ thất trận ở Việt Nam. Nhưng còn một lý do khác thường nữa: Fốc muốn chứng tỏ với Loan mình bây giờ là nhân vật quan trọng, muốn vây vo chức vụ mới. Làm nghề này Fốc hiện vẫn mặc thường phục, nhưng bây giờ có học hàm tiến sĩ và quân hàm đại tá. Khi làm ở phái đoàn MAAG Fốc mới chỉ là một nhân viên quèn, còn Loan lúc bấy giờ đã là sĩ quan liên lạc, được Sài Gòn cử ra để làm việc với MAAG.

   Ngài muốn khoe với tôi một chiến công mới của CIA, có phải thế không ngài đại tá Fốc?

   Không, thưa đại tá Loan. Đây không phải là tin của CIA, càng không phải là nhận định của giới ngoại giao. Đó là tin được thông báo chính thức.
   Thời buổi hiện đại ngày nay làm chiến tranh không cần yếu tố bất ngờ hả ông Fốc?

   Có chứ, nhưng chỉ cần bất ngờ với Hà Nội thôi.

   Quả là sự bất ngờ này vượt quá trí tưởng tượng của tôi. - Loan thốt lên rồi im bặt.

Fốc nhìn bộ mặt ngây dại của Loan, rồi đổ cười ngặt nghẽo, mãi mới trả lời:

   Đại tá Loan, ông đúng là một con cáo già. Tôi phải tặng cái tên của họ tôi cho ông mới đúng. Ông có tài bắt tôi đã nói một thì phải nói hai. Đã đến lúc ai cũng phải cùng chúng tôi gánh vác trách nhiệm chứ!

   Tôi trả lại cái tên con cáo cho ông. Hình như ông bây giờ còn vất vả hơn thời chiến? - Loan trả đũa câu nói ẵm ờ của Fốc.
   Ông Loan tinh lắm. Chịu ông đấy. Con số người Việt nhập cư vào Mỹ lúc này gần một triệu rồi. Không may là số thuyền nhân bị chết vì gặp nạn và vì hải tặc không ít. Sao ở nước các ông có nhiều người không biết quý trọng mạng sống của mình thế, cứ đua nhau đến Mỹ.

   Loan nghĩ bụng: Thà rằng mày tát tao một cái còn hơn!

Xế trưa hôm sau Fốc đích thân đến tận nơi ở của Loan, cho biết quân Trung Quốc đã tấn công Lạng Sơn và các tỉnh biên giới khác của Việt Nam. Nói một thôi một hồi rồi mà Fốc vẫn còn hớt hải:

- Tôi thật không ngờ, mọi việc lại xảy ra theo tốc độ ánh sáng! Tối hôm qua tôi cho anh biết
 

tin này. Thế mà lời nói vừa mới bay ra khỏi miệng, súng đã nổ rồi!..

Tôn Thất Loan lúc này như bị điện giật.
   Nói chính xác, như thế phía Mỹ được báo trước mấy ngày? – Tôn Thất Loan kinh ngạc hỏi
lại.

   Khoảng 3 đến 4 ngày.

   Ngày nay làm chiến tranh không cần chuẩn bị?

   Đại tá Loan, ông luôn đưa ra những câu hỏi thông minh. Sao lại không? Phải vận động sắp xếp cả một thế giới đấy.

Tôn Thất Loan lặng người, điếu thuốc lá rơi khỏi tay xuống sàn nhà mà không biết, Fốc nhặt giúp lên đưa cho Loan.

Ngay lập tức đại tá Loan nhớ lại những ý kiến tiên đoán của trung tá Phạm Trung Nghĩa hôm nói chuyện tại trại cải tạo B7 về những khó khăn thách thức thời kỳ hậu chiến , nghĩ đến Lễ, em của Nghĩa, trong lòng ông lại rối lên những điều Lễ nhờ cậy. Đại tá Loan thừa nhận:

...Tình hình diễn ra thật là phức tạp gấp hàng chục hàng trăm lần so với những lo lắng của Nghĩa lúc bấy giờ. ...Dù sao trung tá Nghĩa quả là người nhìn xa trông rộng. Những điều ông ta nói ở trại B7 là chân thực.

...Tình hình gay cấn thế này thì lại thêm khó cho những người còn đang mắc lại trong trại cải tạo đây...

Khi ra về, Fốc nói vài câu xã giao:

   Tại bang California này, đại tá có thể gặp được nhiều bạn bè cũ đấy.

   Vâng tôi sẽ tính.

   Có lẽ bang này đông người Việt nhất nước Mỹ.

   Tôi sẽ nghĩ đến sau.

Câu trả lời vu vơ làm cho Fốc biết Loan chưa định thần, Fốc vỗ nhè nhẹ vào vai Loan:

   Lần trước đại tá là khách của tôi đêm Nô-en B52 dành cho Hà Nội, lần này đại tá là khách của tôi cũng đúng lúc, có phải không?. Chúng ta gặp nhau toàn vào những dịp xảy ra những sự kiện đáng ghi nhớ.

   ???...

Ngay từ khi còn chưa rời Guam để định cư ở California, Tôn Thất Loan nhiều lần làm việc với Mai- cơn Fốc về trường hợp của Lễ, khẩn khoản yêu cầu Fốc giải quyết dứt điểm. Mai -cơn Fốc thừa nhận có sai sót, hứa sẽ đích thân đôn đốc việc này. Fốc còn cho Loan biết là hình như đã có lần gặp sĩ quan Phạm Trung Lễ ở đâu đó trong tổng hành dinh Sài Gòn năm nào...

Chân ướt chân ráo đến California, Tôn Thất Loan đi tìm ngay ông bà Phạm Trung Học và vợ chồng Hoài- Nhân, theo địa chỉ Lễ cho. Họ ở chung trong một khu biệt thự giản dị nhưng sang trọng ở San Jose. Riêng vợ Mạnh đã đi bước nữa, hiện đang sống ở Canada . Tuy tâm trạng còn đang ngổn ngang nhiều điều, song Tôn Thất Loan vẫn nhận thấy ngay ông già Học có vóc người cao lớn như anh em Lễ, chủ nhà có cuộc sống khá giả. Gặp người trong nước ra, lại là bạn thân của Lễ, thật là một dịp quý hiếm. Cả khách và chủ đều cởi mở. Riêng Tôn Thất Loan còn hy vọng cuộc gặp này sẽ thiết thực chuẩn bị cho cuộc sống lưu vong của mình ở đây.

Khi đại tá Tôn Thất Loan hỏi tin tức về Huệ, con của gái Lễ, trả lời của chủ nhà làm ông ta rụng rời: Huệ đã bị hải tặc giết trong khi vượt biển từ trại di tản ở Bangkok chạy sang đảo Guam. Hoài đã viết thư báo cho Lễ biết, nhưng chưa thấy hồi âm.

Tôn Thất Loan nhớ rất kỹ: Khi chia tay ở Bảo Lộc, Phạm Trung Lễ dặn đi dặn lại cố tìm bằng được tin tức về Huệ.

Chính người yêu của Huệ, đã tìm đến nhà Hoài để kể cho nghe thảm hoạ đã xảy ra.

   ...Cháu khổ quá, đau đớn cho Huệ quá, cô Hoài ơi... Tất cả là tại cháu cô ạ. Chúng cháu không chờ đợi lâu hơn nữa được...
 

Hoài thuật lại cho đại tá Tôn Thất Loan tỷ mỉ từng chi tiết những gì người em họ sống sót trong chuyến đi này đã kể cho mọi người...

...Đúng ra khó nhất phải là đoạn chạy từ Sài Gòn sang Bangkok, thế nhưng Huệ và người em họ lại đi lọt một cách dễ dàng. Đơn giản là hai người được đưa trốn xuống khoang hầm một tầu buôn lớn, qua một đêm đã tới Bangkok. Từ đây họ có thể đi công khai, miễn là có tiền. Huệ và người em họ sống lang thang hết trại này sang trại khác, mục đích là tìm cách nhập vào một đoàn lớn để vượt đại dương. Nhiều người bị đánh lừa, mất hết cả tiền nong, lại bị tống vào trại tỵ nạn để xét trả về Việt Nam! Cuối cùng thì Huệ và người em họ cũng ghi tên vào được một đoàn, được bảo đảm là có sự bảo lãnh của những người đáng tin cậy...

Tất cả chung tiền mua một thuyền lớn đủ sức chở khoảng một trăm người, mua luôn cả tốp thuỷ thủ. Phải chuẩn bị mất gần một tháng mới xong mọi việc. Thế nhưng vừa mới lênh đênh trên biển được một ngày một đêm, thuyền đã bị hai thuyền con của hải tặc áp sát, khoảng mười lăm mười sáu tên hải tặc nhảy lên thuyền di tản. Mọi chuyện xảy ra cứ như là được sắp xếp từ trước, đến mức nhiều người nghi rằng đám thuỷ thủ và các hải tặc cướp thuyền là cùng một bọn! ...Chuyện xảy ra đau lòng quá ... Huệ cũng nằm trong số các phụ nữ bị hiếp. Trước cảnh tượng này một số đông nam giới có đến khoảng hai chục người xông ra ngăn cản, bọn giặc xả tiểu liên bắn chết luôn một lúc sáu người. Số nam giới còn lại chạy dạt ra, mặt cắt không còn giọt máu... Khi bọn chúng buông Huệ ra, ném một mớ quần áo vào mặt Huệ, thì Huệ đã chết ngất. Hải tặc cướp tất cả tiền bạc của mọi người, đập phá động cơ, gỡ điện đài của thuyền, rồi bắt cả tốp thuỷ thủ đem đi. Còn lại tám chín chục con người già trẻ lớn bé lênh đênh giữa biển, trên một con thuyền chết, sàn thuyền đầy máu... Mọi người sợ hãi đến mức bọn cướp biển đã đi xa rồi mà ai chỗ nào vẫn ngồi nguyên chỗ nấy, không dám nhúc nhích! ...Khi Huệ tỉnh lại trên sàn thuyền, người em họ chạy đến cố dìu Huệ vào khoang, nhưng Huệ kiên quyết gạt đi, tự mặc lấy quần áo, rồi đưa hai tay bám lấy mạn thuyền, cố đứng dậy. Huệ tự trèo lên ngồi trên đống buồm, hết nhìn thuyền lại nhìn nước rất lâu, rồi đột nhiên nhảy xuống biển...

Hai ngày trôi dạt, mãi đến ngày thứ ba mới có một tàu buôn Australia đi ngang qua ứng cứu cái thuyền chết...

Bà Học lần nào ngồi nghe kể lại cũng sụt sùi nước mắt. Khi còn ở Sài Gòn bà Học rất quý Huệ, vì Huệ là đứa cháu nội đầu tiên của ông bà, lại rất mến bà. Có những lúc cả Lễ và Thảo đều quá bận, hai vợ chồng phải đem Huệ và Tín gửi bà hàng mấy tháng liền...

Ông Học trầm ngâm, tìm cách chuyển câu chuyện ra khỏi nỗi đau đớn về Huệ:

   Dân mình khổ quá, có phải không đại tá Loan? Chiến tranh liên miên đời này sang đời khác chẳng bao giờ dứt. Hạnh phúc của người dân bị huỷ diệt bằng mọi cách. Bây giờ lại phải đánh nhau với Khmer đỏ ở Campuchia, phải đánh cả Trung Cộng phía Bắc. Theo tôi đấy chỉ là đánh nhau với một địch thủ trên hai chiến trường mà thôi.

Cho đến giờ phút này ông bà Học và gia đình Hoài vẫn chưa biết Nam đang chiến đấu trên mặt trận Campuchia.

   Trời đất, sao bác có thể đi tới nhận xét táo bạo như vậy?

   Tôi dựa vào những hiểu biết của tôi về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, các tin báo chí, rồi luận ra như thế. Ông Loan ạ, tại đất nước tự do này có nhiều lời bình nghe nổi da gà luôn, không thể bỏ qua được.

   Tôi thật không ngờ bác lại quan tâm đến chính trị.

Nhận xét của Tôn Thất Loan làm ông già Học phải cải chính:

   Không phải thế đâu. Sài Gòn làm gì có chỉ số Dow Jones, làm gì có thị trường chứng khoán.., cho nên doanh nhân chúng tôi phải có cái mũi thính thay thế. Cứ làm miết như vậy, quan tâm đến thời cuộc trở thành thói quen từ đấy.

   Cung cách nói năng của bác cứ như là chính trị gia có hạng!

   Tôi nói gì thì cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ thôi. Đại tá thừa biết hơn tôi thế nào là Việt Nam hoá chiến tranh. Đại tá không xa lạ gì với các nhận định của ông Kít-xinh-giơ (Kissinger(*))[(*) Cố vấn của đối ngoại của Tổng thống Mỹ Nixon.] , của biết bao nhiêu người
 

chi tiền cho cuộc chiến tranh này: Người Trung quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng... Từ đấy mới có câu chuyện Thượng Hải, chuyện tổng thống Nixon, rồi đến câu chuyện Oát- tơ Ghết (Watergate) ... Còn tôi thì đi đến cái quyết định chạy bán sới khỏi Sài Gòn trước khi quá muộn, vả lại lúc ấy tôi đã ngửi thấy... - ông già Học bỏ lửng câu nói của mình.

   Bác Học ạ, thực quả tôi không biết mình đang được nói chuyện với một doanh nhân hay một chính khách!- Thưa đại tá, sống ở Sài Gòn đối với tôi hai thứ người ấy chỉ là một. Khác chăng nghề của tôi chủ yếu là kiếm tiền, người làm chính trị kiếm cả quyền lẫn tiền! Nói chung họ ăn bẩn hơn cánh thương gia chúng tôi. Mỗi khi đứng ngồi một mình, tôi lại băn khoăn không sao cắt nghĩa được: Tại sao dân nước mình cứ bị dồn vào cái thế sinh ra hình như chỉ là để hứng chịu chiến tranh? Chẳng lẽ cái thế ấy là trời bắt thế hả đại tá Loan? Lại còn thêm cái chuyện giằng xé nhau không biết chán nữa chứ! Tại sao như thế, thưa đại tá?

   Thực tình là ông Nghĩa gợi ra cho tôi một cách nhìn về chiến tranh trên đất nước ta. Hôm nay bác lại cho tôi cách nhìn chiến tranh từ một khía cạnh khác nữa. Hoá ra cho đến nay tôi sống vô tâm đến mức không khác gì một con rối? Bác đang làm tôi quẩn trí.

   Thưa đại tá, tôi nói theo cách hiểu của tôi, mong đại tá đừng để bụng làm gì.

   Hiện nay tôi đang hoang mang bác ạ, không nghĩ được điều gì ra hồn. – Tôn Thất Loan giãi bày tâm trạng mình.
   Cảm nghĩ của tôi có thể sai. Có thể vì tôi xưa nay vốn bàng quan với thế sự, với nghĩa là chỉ thích tiền và ghét chính trị.
   Bác rất ghét chính trị ạ?

   Vâng, quả là như vậy. Nhưng bây giờ không bàng quan được nữa. Con tôi chết trong chiến tranh. Ba anh em trai tôi và ba cháu tôi ngoài Bắc chết trong chiến tranh. Gần đây lại thêm cháu tôi chết trong dư chấn của chiến tranh... Rồi tôi nhìn ra cả nước ta, suốt gần nửa thế kỷ nay, kể từ khi Lễ và Hoài mắc kẹt trong Sài Gòn không trở về được với cha mẹ mình... Vì thế tôi đánh vật một mình: Chẳng lẽ tất cả những diễn biến ấy là định mệnh, là dòng lũ lớn cuốn phăng tất cả... Thực tình bao nhiêu năm nay tôi cố tìm một chỗ đứng ngoài cuộc mà cũng không được...

   Gia đình bác mất mát nhiều quá. Nhờ trời đất phù hộ, gia đình tôi toàn vẹn. Đành rằng thất trận thì có cái nhục của thất trận bác ạ.
   Đa tạ sự thông cảm của đại tá. Đại tá nghĩ như vậy cũng được.

   Bác nói thế là bác nghĩ khác tôi ạ?

   Thưa vâng.

   Thôi chết, tôi làm bác phật lòng?

   Không đâu. Đại tá chỉ nghĩ khác tôi thôi. Tạm gạt chuyện Tây Tàu sang một bên, tôi muốn diễn đạt thế này: Chiến tranh của các anh các cháu tôi, tôi cũng mất. Chiến tranh của đại tá, của con tôi, của Lễ – cứ tạm gọi như thế đi, tôi cũng mất! Hay là đại tá không mất mát gì nên nghĩ khác tôi? Cũng có thể đại tá đứng hẳn về một bên nên chỉ nghĩ đến chuyện thất trận? Phía bên kia chắc cũng có cách nghĩ một bên như vậy, bên của người thắng trận.

   Vâng, có lẽ bác có lý.

   Có thể tôi là người cố tình đứng ngoài cuộc, hoặc chỉ là dân, nên tôi nghĩ khác đại tá? Cảm nhận của tôi về mất mát cũng khác với cảm nhận của đại tá? Nhìn theo phía nào tôi cũng mất! Đại tá có thấu hiểu điều này không?

   Trời ơi, bác Học!

   Đại tá ơi, là thị dân, nói nôm na là dân buôn, tôi còn nghĩ rằng nhiều nước loanh quanh làm giàu là nhờ chiến tranh trên đất Việt ta!

- Bác đã bộc bạch như vậy, tôi cũng xin thưa: Ngoài năm mươi tuổi rồi, nghĩa là đã quá nửa đời người, nhiều khi tôi vẫn phải tự hỏi mình còn là người Việt không?.. Tôi luôn cố tìm cách khẳng định điều này, nhất là trên đường chạy sang đây...
 

   Tôi ngoài bảy mươi mà nhiều lúc vẫn còn phải tự hỏi mình câu ấy, đâu riêng mình đại tá. Cuộc đời người dân Việt ta mỗi người mỗi cảnh, nhưng có lẽ đa phần là nhiều nỗi gian truân. Chiến tranh đâu có biệt đãi vùng cấm nào...
   Đấy là lời an ủi quý hoá của bác đối với tôi.

   Ông xem, cả hai cuộc chiến tranh, thực lòng là tôi tìm cách đứng ngoài. Nhưng đến cuộc chiến tranh của Mỹ thì tôi không thoát. Cuộc đời lăn lộn trong kinh doanh rèn luyện cho tôi có cái mũi thính. Tôi đã nhìn thấy trước kết cục cuộc chiến tranh này sẽ như thế nào, dứt khoát bỏ cơ nghiệp, bỏ Sài Gòn sang đây từ đầu năm 1973. Bạn bè gọi tôi là thỏ đế, mặc. Tôi nghĩ và tôi làm theo suy nghĩ của tôi. Bình sinh tôi vốn ương ngạnh như vậy, cho nên học xong thành chung tôi bỏ ra đi buôn. Bắt đầu từ đi làm thuê cho các hãng buôn.

   Bác có tin vào số mệnh không?

   Thực lòng tôi không biết. Tôi chỉ tin vào đồng tiền tôi làm ra và tin vào đức Phật. Khi đã có được đồng tiền trong tay thì cầm chắc nó là của mình. Tôi tâm tâm niệm niệm không bao giờ làm điều gì ác, chỉ mong ở hiền gặp lành. Thế mà tai hoạ vẫn giáng vào gia đình tôi. Đất nước không yên, khác nào chạy trời sao khỏi nắng... Tôi ghét chế độ Sài Gòn, nhưng không thể chấp nhận cộng sản. Vì vậy tôi quay lưng lại với đất nước mình, cốt mong được yên thân! Thế mà vẫn phải chịu đựng bao nhiêu mất mát!

   Bác có ở lại Sài Gòn thì vài năm sau bác cũng phải chạy sang đây thôi! Xin chịu con mắt nhìn đời của bác. – Tôn Thất Loan thán phục.
   Đời tôi đã chứng kiến cuộc giáo dân di cư từ Bắc vào Nam. Bây giờ chúng tôi phiêu dạt sang đây, trước tiên là từ đây nhận tin con trai tôi chết trận, rồi ngồi đây chứng kiến các dòng người di tản nước ta đổ vào Mỹ... Rồi đến các tin đau đớn từ miền Bắc, đến cái chết của cháu gái tôi!.. Tất cả càng làm cho tôi xót xa về câu hỏi có hay không có định mệnh! Ông còn chưa biết cái mùi tha hương là gì đâu, ông đại tá ạ.

   Vâng, thú thật là tôi vẫn chưa ra khỏi cái trớn của cuộc tháo chạy trước ngày 30 tháng Tư.

   Tôi sống ở đây bảy năm rồi. Có thể nói cuộc sống của chúng tôi sung túc. Nhưng càng về già tôi mới càng hiểu câu nói cáo chết ba năm quay đầu về núi! Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào hiểu nổi là tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh chị em con cháu tôi ở Hà Nội được nữa! Cha mẹ tôi sinh hạ ra bốn anh em tôi, nhưng giờ chỉ còn một mình tôi sống sót, đang sống cuộc đời tha hương ở Mỹ! Ông có thể hình dung nổi không? Thật là số phận trôi giạt...

   Nhưng dù sao bác cũng làm chủ được đời mình và thành đạt lớn trong kinh doanh.

   Không hẳn như thế đâu ông Loan ạ. Đời tôi cũng phong ba bão táp nhiều lắm. Tôi nghiệm ra là cả nước bị nạn thì không ai được yên lành! Chính vì thế tôi cố bám lấy hai đức tin: Tin vào đồng tiền tôi làm ra và tin vào lẽ sống trong đạo Phật!

   Thưa bác, tôi bây giờ hoàn toàn bế tắc. Cũng chẳng có cái gì để mà tin. Nếu ai hỏi tôi bây giờ phải làm gì, tôi xin chịu, bác ạ. Không thể tìm được câu trả lời nào cả! Những điều bác nói làm tôi nhớ đến ông Phạm Trung Nghĩa, dù là tôi chỉ gặp ông ấy một lần.

   Cháu tôi là cộng sản, còn ông thì chống cộng. Ông tâm đắc với cháu tôi điều gì? Ông và cháu tôi là bất cộng đới thiên cơ mà!
   Đúng là bất cộng đới thiên như bác nói. Thực tình là như vậy.

   Chúng tôi có quan hệ máu mủ ràng buộc, nhưng ông với cháu tôi lại là người dưng nước
lã...

   Vâng chính vì thế mà tôi càng suy nghĩ bác ạ. Có điều gì đó tôi tán thành ông Nghĩa, khâm phục ông Nghĩa, rồi cùng một lúc tôi lại không chấp nhận những điều tôi hiểu được qua tiếp xúc với ông Nghĩa! Tôi đã nói với ông Nghĩa, dù có được đổi đời tôi vẫn không chọn con đường của ông ấy. Con đường tôi đi, tôi đã đi gần hết cuộc đời...

   Các ông khá thẳng thắn với nhau đấy.

   Đúng thế ạ. Ấy thế mà nhiều lần tôi còn nghi vấn mình đến mức phải tự hỏi: Hay là trong trại cải tạo tôi chơi thân với Lễ nên chịu ảnh hưởng của ông Nghĩa.
 
   Ông là bạn thân của Lễ. Xin coi chúng tôi như chỗ thân quen, ông cứ nói đi. Chẳng mấy khi được hầu chuyện ông.

   Thưa bác tôi không dám. Tôi nghĩ... Có lẽ tâm trạng lo lắng hiện nay ở mỗi người là cái gì đó chung nhất còn có được trong mỗi chúng ta. Đây là cái gì đó để còn có thể bấu víu vào nhau, cho dù bác, anh Lễ, tôi và ông Nghĩa mỗi người lo một điều khác nhau, vì những lý do khác nhau. Mong là như thế...

   Lạy trời tất cả chúng ta còn có chút chút tâm trạng lo lắng chung này thật. Mong manh quá có phải không đại tá?
   Vâng, rất mong manh. Thưa bác, bà con người Việt mình sống với nhau ở đây thế nào ạ?

   Tha hương đã buồn, nhìn vào cộng đồng người Việt ta, tôi càng buồn. Vì thế tôi tìm cách lẩn tránh tất cả...
   Tại người Việt mình vốn có truyền thống đố kỵ nhau, có phải thế không bác?

   Người Việt sống với nhau ở Sài Gòn như thế nào, sang đây vẫn y nguyên thế! Kỳ lạ đến như vậy là cùng! Bây giờ còn thêm một chuyện nữa để cãi vã nhau: Người nọ đổ tội cho người kia đã gây nên thất bại trong chiến tranh chống Việt cộng!

   Có lẽ vì còn thiếu cái chút chút lo chung như bác nói. Bác có cho là như vậy không ạ?

   Rồi ra sống ở đây ông sẽ tự đánh giá lấy. Tôi không muốn áp đặt nhận xét của mình...

   Những gia đình ở đây có bà con họ hàng ruột thịt là Việt cộng có bị làm rầy rà gì không ạ?

   Về phía Mỹ đến nay tôi chưa thấy, nhưng ta làm rầy rà ta thì nhiều đấy.

   Thế nhà ta có làm sao không ạ?

   Con trai tôi Việt cộng giết, nhà in của tôi Việt cộng tịch thu. Tôi lại chơi thân với mấy ông đương kim nghị sĩ ở bang này từ khi họ chưa được bầu. Bây giờ thân thế gia đình tôi lại ghi thêm việc đau buồn nữa là cháu nội tôi bị hải tặc giết trên biển trong khi bỏ trốn khỏi chế độ Việt cộng! Tôi hỏi ngay vào mặt những người đến vận động tôi: Có ai trong các anh đây dám đứng ra so sánh với tôi xem ai mất mát nhiều hơn ai vì Việt cộng không? Thế là bọn họ chào tôi lễ phép rồi lủi đi! - Ông Học nói đên đây dừng lại, chợt nhớ ra điều gì: -...Cách đây ít hôm họ đến chỗ chúng tôi quyên tiền lập nghĩa binh cứu quốc, cử về nước đánh Việt cộng. Họ cho rằng đánh Hà Nội lúc này là tốt nhất, cần lập Mặt trận cứu quốc.... Thế nào họ cũng mời ông tham gia đấy. Ông định thế nào? Họ nói rõ với tôi là ai không tham gia sẽ bị ghi sổ!

   Thế bác trả lời họ ra sao ạ?

   Là một đại tá, ông có nghĩ rằng việc làm ấy có một ý tưởng nghiêm túc không? – Cho dù người mưu đồ việc này điên cuồng chống Hà Nội đến thế nào chăng nữa...

Tôn Thất Loan suy nghĩ một lúc:

   Bác đặt câu hỏi như vậy là bác đã nhìn thấu câu chuyện. Tôi xin bái phục. Nhưng dù sao bác cũng phải nói với họ oui hay non chứ ạ?
   Tôi không cần oui, mà cũng chẳng cần non với họ. Tôi diễn lại cái trò lấy thân thế mình ra doạ lại như tôi vừa mới kể cho ông nghe. Họ yên và cút mất!
   Rõ thật là tôi đang nói chuyện với một con hổ. – Tôn Thất Loan chắp cả hai tay lên vái ông già Học. - ...Bác có lời khuyên nào cho tôi không ạ?
   Chết chết, xin ông đừng làm thế. - ông già Học xua tay, - Xin đừng làm tôi mang tiếng là nhồi sọ cho đại tá. Ông có thể gặp tướng Minh lớn, tướng Mậu... Nhà binh các ông bảo nhau dễ hơn. Nhưng... có lẽ đại tá cũng nên có một lời cảm ơn big Minh... - ông Học bỏ lửng câu nói.

   Thưa bác vì lẽ gì ạ?

   Tôi nghĩ... - ông Học ngập ngừng: ...Dù sao đi nữa quyết định đầu hàng của ông ta đã tránh cho Sài Gòn khỏi tan nát và tránh được đổ máu lớn cho bao nhiêu sinh mạng, trong đó có gia đình ông, có gia đình con cháu tôi...

   Vâng, bác có lý lắm.
 
   Thực ra trong tình thế đó, đấy là một quyết định đầy khó khăn, khó khăn lắm! Dù cho là ông ta có vì sợ chết đi chăng nữa, ông ta đã làm đúng. Đất nước nên ghi nhận cho ông ta điều này!
   Ôi bác Học!

Câu chuyện gián đoạn một lúc. Tôn Thất Loan trầm ngâm vì phân vân: ...Không hiểu ông già này còn dè chừng điều gì với mình hay là người rất có bản lĩnh? Một con người như thế chắc là có thừa chín chắn thì đúng hơn... Tôn Thất Loan kể lại tỉ mỉ tình hình gia đình Lễ và mình đã làm việc với Mai-cơn Fốc về chuyện của Lễ như thế nào.

   Thưa đại tá, ông có chắc gia đình anh Lễ tôi sẽ được nhập cư vào đây không ạ? – Hoài yên lặng ngồi nghe suốt buổi, chỉ chờ dịp hỏi câu này.
   Vợ chồng tôi coi Lễ là con trưởng trong nhà, mong Lễ lắm. Cả nhà vẫn gọi lui là Hai Lễ.., Thảo - con dâu tôi ốm đau đã khổ, bây giờ lại càng khổ... – giọng nói ông già Học thấp hẳn xuống, gần như nói chỉ để cho mình nghe.

Trên đường trở về nhà, một ý nghĩ hầu như chẳng có liên quan gì đến buổi gặp gỡ gia đình ông Học xâm chiếm tâm trạng Tôn Thất Loan: Mình làm mọi việc để mong đến California sớm ngày nào hay ngày ấy. Bây giờ đến nơi rồi lại thấy ngán ngẩm ...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 01:57:45 pm
8.

Cả nước rục rịch bước vào Tết Canh Thân(*) [(*) 1980] , thời tiết rất thuận. Song những nỗi lo chồng chất hàng ngày của mỗi gia đình và của cả đất nước khiến cho nhiều người cảm thấy Tết này chỉ còn lại một ý niệm thời gian để tưởng nhớ đến tổ tiên nhiều hơn là dịp hân hoan đón mừng năm mới. Có người còn nói, năm Thân là năm khỉ, nghĩa là cả năm sẽ có nhiều điều nhăn nhó...

Tuy vậy, thời kỳ hung dữ của chiến tranh Campuchia và chiến tranh trên biên giới phía Bắc hình như đã qua, để chuyển sang thời kỳ giành giật căng thẳng kéo dài. Dù sao thì chiến sự cũng lắng đi nhiều. Tại Campuchia hầu như không còn những trận đánh lớn, trừ một số cuộc phản công của Khmer đỏ ở Kôkông, Battambang, Siêmriệp... do tổng hành dinh đóng ở Pailin chỉ huy. Nhưng chiến tranh du kích của Khmer đỏ vẫn giữ nguyên cường độ và gây cho quân ta nhiều thương vong. Đến thời điểm này lực lượng vũ trang của Campuchia Nhân dân vẫn còn non yếu lắm. Trên mặt trận phía Bắc, những tháng gần Tết chiến sự ác liệt thêm vài tuần nữa rồi quân đội Trung Quốc rút về chốt giữ các điểm cao chiếm được trên đường biên giới hoặc nằm sâu bên trong lãnh thổ nước ta. Ngày 5 tháng 3 năm 1979 Trung Quốc tuyên bố rút quân. Không còn có các cuộc tấn công ào ạt của Giải phóng quân Trung Quốc, nhưng thay vào đó là các trận nã pháo như mưa tầm tã vào trận địa quân ta, có trận kéo dài hết đêm. Có tin nói Trung Quốc muốn thải hết cơ số đạn cũ. Từ cuối tháng 4-1979 hai bên bắt đầu thương lượng, phập phù lúc thông lúc tắc. Các cuộc đánh nhau lẻ tẻ, các sự việc nhổ cột mốc rồi cắm lấn sang đất phía ta, bên ta đưa người ra cắm lại, giành lại đất... trở thành những chuyện cơm bữa quanh năm...

Dù sao kể từ khi khi rục rịch vào Tết Canh Thân, không khí cũng dễ thở hơn một chút.

Hẹn đi hẹn lại mãi, cuối cùng thì bà già Mão, thím của Lê Hải, năm nay chịu ra ăn Tết với vợ chồng Lê Hải. Bà già đem từ quê ra cho một đôi gà. Bà Hậu bàn với chồng đem một con biếu gia đình Nghĩa, tướng Lê Hải ôm chầm lấy vợ:

   Anh chỉ muốn bế bổng em lên hoan hô.

   Không biết xấu hổ! Cứ làm như là còn trai tráng ở tuổi hai mươi ấy!..

   Hôm nay không có gà thì anh vẫn phải đi gặp anh Nghĩa. Anh đang có nhiều chuyện gay cấn quá.
   Buông em ra đi, thím Mão nhìn thấy thế này thì chết!

   Không chết đâu!..

   Anh làm sao mà mấy tuần nay lúc nào cũng đứng ngồi không yên thế?
 

- Chuyện dài lắm em ạ...

Chiều 23 Tết vợ chồng tướng Lê Hải xách gà đến thăm gia đình Nghĩa. Đây cũng là dịp để bà Hậu hỏi thêm bà Nguyệt về một vài vấn đề sư phạm, dạy học sinh Hà Nội có nhiều điều khác với ở quê. Rời Vĩnh Bảo ra Hà Nội sống với chồng được ít lâu, bà Hậu dạy học theo hợp đồng và học bổ túc để thi tuyển thành giáo viên chính thức. Từ niên học trước bà là giáo viên chính thức của trường trung học phổ thông cơ sở “10 Tháng 10”, dạy cấp II, các môn toán - lý - hoá.

Sau một lúc chuyện trò, bà Nguyệt và bà Hậu kéo nhau sang phòng bên, vì biết các ông chồng của mình hễ gặp nhau thì không thể không bàn những chuyện thế gian đại sự, nghe mệt cả người...

Chờ hai bà sang phòng bên rồi, Lê Hải vào chuyện luôn:

   Anh Nghĩa ơi, hôm qua chúng tôi có cuộc chia tay lớn. Vợ chồng anh Hai Phong chuyển hẳn vào Sài Gòn ở với má Sáu Nhơn. Cả hai anh chị ấy đều nhận sổ hưu từ lâu rồi. Anh chị tôi còn nói thu xếp xong mọi việc trong ấy sẽ đưa nốt hai gia đình con trai và con gái vào. –

   Chắc là khí hậu ngoài này không hợp với bệnh hen của anh Hai Phong?

   Không phải. Đấy là hồi kết của cuộc đấu tranh gay gắt một năm ròng giữa bốn anh em trai, tôi là con rể nên không được lôi vào cuộc.
   Anh vẫn còn bị phân biệt đối xử à?

   Không. Tại câu chuyện quá tế nhị thôi. Má tôi bây giờ sống một mình. Giữa năm ngoái gia đình các anh vợ tôi là Ba Tước, Tư Quang và Năm Thịnh đi di tản hết rồi. Đi trót lọt mới kinh chứ!

   Chết, lại có chuyện ấy nữa à?– Nghĩa sửng sốt.

   Anh Hai Phong và tôi ra sức can mà không được. Nghe tin là đã đến Mỹ ngót nghét tháng nay rồi!
   Nhưng gia đình các anh ấy đều là cơ sở cách mạng cũ của ta cơ mà?

   Thấy chưa, ngay anh cũng phải hỏi câu này! Anh em Năm Thịnh ra đi cái chính lại là cay cú với Hai Hân, thế mới tệ hại chứ. Bảy Dự đã kể cho anh Hai Phong nghe hết mọi chuyện. Lúc đầu chính Bảy Dự ra sức cản ba anh em Năm Thịnh mà không ăn thua. Sau đó Bảy Dự mời anh Hai Phong mấy lần vào tiếp sức nhưng cũng không buộc chân họ lại được. Tôi phụ vào cũng chẳng ăn thua! Không ngờ Hai Hân ngày càng tệ quá!

   Mọi chuyện khác sẽ hay. Nhưng dứt khoát không thể để bác Sáu sống một mình. Anh Hai Phong đã làm đúng!
   Vâng, chính vì thế vợ chồng anh Hai Phong bây giờ phải vào sống với má tôi. Bà già nhất định không chịu ra Hà Nội.
   Các anh phải thông cảm với bác Sáu.

   Vợ chồng tôi mời bà mãi cũng không được. Các anh ấy muốn cả má tôi đi cùng. Nhưng bà già khăng khăng: “Còn mộ ba các con, mộ hai mẹ con út Thạnh ở đây, má không đi đâu hết. Đây là đất nước của má, sống ở đây, chết ở đây!..” Nhưng các anh ấy vẫn quyết đi.

   Vì tức bị cải tạo tư sản? Hay là đoạn tuyệt với chế độ hả anh Hải?

   Còn hơn thế anh Nghĩa ạ. Anh Năm Thịnh đã mắng thẳng vào mặt anh Hai Phong: “Em bị lừa có mấy năm mà chịu không nổi! Anh bị lừa suốt cả một đời mà không tỉnh ra! Sao mà ngu lâu thế hả anh Hai!..” Sự thể đến nỗi má tôi phải quát lên: “Năm Thịnh, con không được nói anh Hai con như thế!”

Ông Nghĩa ngồi yên nhăn nhó, khiến tướng Lê Hải cũng phải dừng câu chuyện. Sau khoảnh khắc, giọng ông Nghĩa đầy tư lự:

   Ôi anh Hải, tôi nghĩ rằng câu nói ấy tát thẳng vào mặt chúng ta!

   Trời đất, cảm ơn sự chân thật của anh! – Lê Hải nắm lấy tay Nghĩa lắc mạnh. - ...Tôi đang tâm trạng lúng túng khó tả... Anh nói ra được như vậy làm tôi nhẹ cả người. Thế là anh thông cảm với tôi... Nhiều lúc tôi nghĩ cứ như là chính mình đã phản bội lại họ hàng ruột thịt của
 
mình có chết không anh...

   Tôi đã được đọc công trình tổng kết của anh Tiến về cải tạo xã hội chủ nghĩa. Những chuyện đại loại như của anh Năm Thịnh có thể xếp vào cái mà anh Tiến gọi là phản ứng giai cấp.

   Cứ cho là thế đi. Có lẽ anh và tôi đều có họ hàng thân thiết là tư sản, nên tình cảm và cách nhìn của chúng ta bệnh hoạn. Mất lập trường sạch trơn rồi phải không?
   Đừng vội tự quy chụp thế, anh Hải.

   Mấy tháng nay tôi tự nhủ phải trung thực suy xét câu Năm Thịnh mắng anh Hai Phong. Tự nhủ như thế nhưng chưa dám thổ lộ với ai, kể cả với Hậu.
   Câu mắng ấy thẳng thắn và thực lòng. Cảm nghĩ đầu tiên của tôi là như vậy. Anh có nghĩ thế không hả anh Hải?
   Thật không ngờ, mình đánh Đông dẹp Bắc cả đời không sao. Nhưng chỉ một câu nói tự bật ra trong hoàn cảnh như thế buộc mình day dứt... thế mới chết người chứ anh Nghĩa!
   Tôi hiểu được anh Hải ạ, ...Hơn nữa anh Hai Phong lại là người có uy tín cao nhất bên nhà.

   Hay là tôi không vững vàng? Một câu nói mình chỉ được nghe thuật lại, đâu có phải là câu nói trực tiếp với mình, thế mà xáo động tình cảm và lý trí của mình!
   Anh trung thực với chính mình như thế là phải. Cũng như tôi đã có lần phải tự hỏi: Giả thử đụng độ với nhau trên chiến trường, liệu có dám nhằm vào đầu em mình mà bắn không!? Lễ kêu lên: Đất nước đã chiến thắng cuộc chiến tranh này, nhưng anh chưa thắng được em!.. Thế có đau lòng không, anh Hải?

   Hai chúng ta lâm vào cảnh ngộ trớ trêu, có phải không anh Nghĩa?

   Hình như còn nhiều chuyện chúng ta chưa tỉnh ra anh ạ. Những băn khoăn của Lễ khi đụng chạm đến chuyện cải tạo tư sản, tôi đã kể anh nghe rồi. Nhưng qua câu chuyện bên nhà, tôi thấy phản ứng của anh Năm Thịnh quyết liệt hơn nhiều.

   Tôi biết không ít những người tham gia cách mạng rồi phản bội, những người tham gia nửa chừng rồi bỏ dở... Tôi biết những người chỉ có thể đi với chúng ta một đoạn đường nào thôi, không chống chúng ta, nhưng không theo đến cùng được... Nhưng đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy bị tát vào mặt như anh cũng thú nhận...

   Anh Hải ơi, khi tâm tình với Lễ, em trai tôi cũng hỏi tôi những câu hỏi buộc tôi phải nhìn nhận lại nhiều điều, nhìn lại bản thân, kể cả sự cả tin và ngộ nhận.
   Anh đã đi đến cùng của câu chuyện rồi đấy...

   Tôi cho là không thể nói anh Hai Phong, anh, hay tôi bị lầm lạc hay bị lừa được anh Hải ạ. Cũng không có chuyện chúng ta phản bội lại những người đứng về phía chúng ta. Nhưng nếu để cho những người cùng đi với chúng ta cảm thấy là họ bị chúng ta lừa gạt, thì ắt hẳn đã xảy ra điều gì đại sự.

Mặt mày Lê Hải vui vẻ hẳn lên vì trút được gánh nặng tâm tư:

   Tốt lắm, như thế là cảm nghĩ của tôi không chỉ được anh thông cảm, mà còn được kiểm nghiệm qua tính trung thực của anh!
   Một phản xạ tự nhiên thôi, anh Hải ạ... Tôi không thể nào nghĩ khác được về câu mắng của anh Năm Thịnh.
   Ai không muốn đưa cách mạng tiếp tục tiến lên! Ai không muốn thiết lập những quan hệ sản xuất ngày một tiến bộ hơn. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng quyết sách của chúng ta có gì đó chưa ổn. Trong trường hợp này chí ít cũng nên có cách đối xử dành riêng cho một số tư sản có công với cách mạng.

   Đây lại đánh tuốt đồng loạt. Ông chú Học bên nhà tôi và gia đình bác Sáu bên nhà anh rõ ràng là hai trường hợp khác nhau.
   Tôi nghe nói hình như ở miền Bắc sau 1954 đã có chuyện này rồi, sao lại để tái diễn nhỉ?
 

   Anh và tôi đều dốt về kinh tế, nên chúng ta hiểu vấn đề này lơ mơ quá. Cũng có thể vì chúng ta không nghiêm túc tổng kết. Việc thì khó, cái đích tổng kết không đúng thì tổng kết lại cũng sai nốt.
   Đúng thế, cái khó có lẽ là chỗ này anh Nghĩa ạ. Cả về tâm, về tri thức, về nhận thức. Tôi lại nhớ đến các công trình tổng kết của anh, mặc dù còn điều này điều khác anh chưa thuyết phục được tôi. Có gan khách quan trong tổng kết thật là khó anh ạ.

   Rõ ràng cải tạo để thiết lập quan hệ sản xuất mới là việc có thể làm được. Vì nói cho cùng quyền lực trong tay làm gì cũng được. Pôn-pốt còn xoá được cả tiền, cả chợ búa cơ mà. Nhưng sau đó làm sao đạt được năng suất lao động cao hơn và đưa kinh tế đi lên thì ta đang mò chưa ra.

   Tôi đang lo bị cái lăng kính của tình cảm làm thiên lệch cách nhìn của mình. Nhưng anh đã cất hộ tôi nỗi lo này. - Lê Hải thở phào nhẹ nhõm.

-Anh khôn quá, anh chỉ lợi dụng tôi để giải toả bế tắc trong tâm tư anh thôi. Nhưng đừng tưởng bở. Tôi chưa nói hết suy nghĩ của tôi đâu.

   Tuỳ anh thôi, tôi không quan tâm. Câu chuyện của chúng ta dẫn tôi đi đến một vấn đề khác.

   Anh đã tự khai ra như thế thì anh nói trước đi. - Nghĩa rót thêm chè vào chén của Lê Hải.

   Tôi xin giả thiết như thế này nhé. Cứ tạm coi việc di tản của anh em NĂM Thịnh là phản ứng giai cấp đi, việc này chúng ta bàn sau. Cũng tạm cho là chính sách cải tạo tư sản là hoàn toàn đúng đi. Vậy sự yếu kém trong thực hiện chính sách cải tạo tội lỗi đâu đến đâu? Sự hư hỏng của cán bộ tác hại đến mức nào?.. Tôi nghĩ rằng tách bóc ra như thế không dễ dàng.

   Anh muốn nói sai lầm và hư hỏng dễ đồng loã với nhau làm một?

   Thế anh không thường được nghe giải thích, đại thể: Chủ trương chính sách này đúng, chỉ sai sót trong thực hiện! Cán bộ A kia phẩm chất rất tốt, chỉ có năng lực yếu kém một chút, hoàn cảnh không cho phép anh ta được đào tạo đến đầu đến đũa!.. Anh không được nghe những loại giải thích như thế bao giờ hả anh Nghĩa?

   Có chứ. Đấy là cách giải thích thông dụng đưa trâu qua rào mà.

   Thế mà anh bàng quan. Chuyện của thế giới bên kia chắc?

   Tôi bàng quan hay không, rồi anh sẽ biết. Nhưng tôi muốn hỏi anh trước: Tại sao anh không bàng quan?
   Tại sao à? Tại vì cái sai sẽ được một cái sai khác biện hộ thành tốt. Tại vì cái xấu, cái bất cập sẽ được một cái yếu kém khác thanh minh cho nhẹ bớt đi!
   Vâng, nói thế thì tôi đồng tình. Và chung cuộc là có nguy cơ cái sai, cái xấu sẽ được bỏ qua, thậm chí sẽ lấn lướt mọi thứ khác! Anh có đi tới cái lô-gích này không, anh Hải?
   Nói về xu thế hay nguy cơ, thì đúng là như anh đang mường tượng đấy anh Nghĩa ạ. Trong chiến tranh tôi nhớ lại một nguyên tắc: Được phép mắc sai lầm trong những nhiệm vụ mới mẻ phức tạp, nhưng trước sau phải minh bạch rõ ràng. Còn đúng sai biện hộ lẫn lộn cho nhau thì dứt khoát không được!

   Tôi cảm thấy câu chuyện Năm Thịnh có khía cạnh nghiêm trọng hơn chúng ta nghĩ anh Hải
ạ.

   Hình như những chuyện éo le trong gia đình anh và gia đình tôi khiến chúng ta sống không hời hợt được.
   Muốn hời hợt cũng không được anh Hải ạ.

   Chuyện của Năm Thịnh làm cho tôi gần đây hay nghĩ đến cái chết của ông bố Hậu trong cải cách ruộng đất. Hậu truy hỏi tôi nhiều lần, có những lần gay gắt lắm. Hậu thương xót bố mình quá, có đêm sụt sùi khóc một mình.

   Nhân dân ta độ lượng quá, phải không anh?

   Bây giờ đảng viên chúng ta ai cũng có nỗi lo riêng của mình, nên ít nhiều quên nghĩ đến trách nhiệm đối với những niềm tin đã được gửi gắm vào Đảng. Nhất là niềm tin của những
 

người đã khuất... Tính hay quên đang dần dần trở thành sự vô cảm...

   Hình như hôm nay anh hơi ác khẩu, có phải thế không anh Hải? Hai chữ vô cảm của anh xói vào óc tôi!
   Đúng là những chuyện nhức nhối làm tôi xúc động. Những hy sinh của dân tộc ta lớn lao quá, tôi không thể chịu đựng nổi một sự phản bội nào, dù là nhỏ nhất!
   Anh nói thế nhưng mà là nói ai mới được chứ?

   Đương nhiên không có chuyện dân lại tự phản bội lại dân được.

   Trời anh Hải, anh làm tôi bi quan đấy. Chẳng lẽ đấu tranh và phản bội cứ luân phiên nhau chiến thắng trong bất kỳ một chế độ xã hội nào? Một thứ biện chứng hay một chu kỳ luẩn quẩn ma quái không một hệ thống chính trị nào thoát được à?

   Tôi nghĩ câu chuyện của chúng ta là thế này, khi còn chiến tranh thì trận tuyến khá rõ ràng, những mầm mống xấu khó có đất sống, xuất hiện là bị diệt ngay tức khắc.
   Nói như anh thì phải đề phòng mối nguy chiến sỹ cách mạng trở thành quan cách mạng, người giải phóng trở thành kẻ cai trị?
   Hẳn là thế!

   Quả là khi chiến tranh kết thúc thì trận tuyến rạch ròi giữa đúng và sai chỉ còn là cái biên giới mong manh, dễ bị vi phạm, dễ bị xoá bỏ.
   Hồ Chủ tịch từ lâu đã nói đến nguy cơ “quan cách mạng”.

   Vâng, Bác là người đầu tiên cảnh cáo chúng ta nguy cơ này.

   Anh Nghĩa ơi, mối lo này không phải do tôi tưởng tượng ra trong đầu. Cuộc sống tự nó đặt ra như thế từ ngàn đời nay. Nó trở thành quán tính của lịch sử. Đâu phải chỉ là những gì xảy ra riêng trong gia đình anh và gia đình tôi! Quán tính của lịch sử, anh hiểu không? Đừng mù với nó.

   Vâng, tôi hiểu. Anh nói năng thế nào mà làm tôi lại nhớ đến câu hỏi của đại tá nguỵ Quách Minh Châu.
   Này, ông cho tôi vào một rọ với đại tá nguỵ từ bao giờ thế? Ăn nói với thủ trưởng mà lộn xộn thế hả? – Lê Hải cười, nhưng lại cố làm ra vẻ giận dữ, khiến Nghĩa cũng phải cười theo.
   Tôi kể cho anh nghe rồi đấy, hôm ấy Châu hỏi tôi chế độ lý tưởng của chúng ta liệu có thoát khỏi tham nhũng không. Anh thử đối chiếu câu hỏi của Quách Minh Châu với mối lo bây giờ của anh về cái quán tính của lịch sử xem sao.

   Có lý. Có lý... Theo tôi, trong cuộc sống đã bắt đầu lấp ló các hiện tượng bệnh hoạn. – giọng Lê Hải đầy ưu tư. - Anh không thấy những kiểu người như Đoàn Danh Tiến, Hai Hân... bắt đầu lên sân khấu rồi à?

   Bên cạnh tính danh của anh là nhà lý luận quân sự, có cần tôi phải tặng thêm cho anh tính danh là nhà đạo đức học nữa không anh Hải?
   Đừng có nhà với cửa gì cả. Anh dửng dưng với mối nguy này hay sao?

   Không. Tôi thừa nhận trong thời bình, lại giành được quyền lực, hiển nhiên chúng ta đang cần những giá trị mới đủ sức chống lại cái mà anh gọi là quán tính của lịch sử.
   Tôi nói rồi, tôi không thể chịu đựng được sự phản bội, dù là nhỏ nhất. Do đó tôi không muốn niềm tin của những người thân thiết của tôi bị phản bội. Lại càng không muốn những điều tốt đẹp nhất tạo ra niềm tin này cuối cùng hoá thân thành những công cụ thực hiện sự phản bội. Anh có hiểu tôi không anh Nghĩa?

   Vâng, tôi thông cảm sự day dứt của anh. Đó cũng là tâm trạng của tôi.

   Kháng chiến thành công rồi, đây là cái điều đáng lo nhất trong thời bình. Anh không thấy vậy à?
   Khi chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến, có ai bàn thấu đáo chuyện này không anh Hải nhỉ?

   Không rõ. Hiện nay là cái sảy nảy cái ung. Sài Gòn vẫn chưa hết xôn xao vì một hai năm nay
 

nhiều người đi di tản quá. Những người ra đi vì miếng sống thì không nói làm gì. Nguồn gốc gây ra xôn xao lại là một số người theo ta hoặc đã từng tham gia kháng chiến cũng bỏ đi di tản. Một vài người trong số này trước đây là các nhân vật có tên tuổi trong lực lượng thứ ba, đã từng tham gia Mặt trận Giải phóng của ta. Ba gia đình anh em Năm Thịnh nhà tôi cũng góp phần vào không khí xôn xao này.

   Thực tình là tôi không hình dung nổi một thời kỳ hậu chiến phức tạp như thế này, mặc dù tôi đã tự chuẩn bị tư tưởng, đã tự răn đe mình rất nhiều.
   Lúc nãy anh nói còn giấu tôi điều gì chưa khai báo ra hết. Nói đi anh Nghĩa!

   Anh muốn nghe thì tôi sẵn sàng. Nhưng nói thế nào cho anh dễ hiểu nhỉ... Thôi được, tôi diễn đạt thế này: Suy cho cùng trong mỗi chúng ta đều có một một Lê Hải, một Năm Thịnh, một Đoàn Danh Tiến, một Hai Hân, một vân vân...

   Anh là môn đệ của cái lý thuyết chiết trung từ bao giờ thế?

   Không chiết trung đâu. Tội lỗi chỉ tại vì cái biên giới mong manh trong mỗi con người chúng ta thôi anh Hải ạ. Hôm nay tôi là Lê Hải, mai tôi có thể biến thành Đoàn Danh Tiến, ngày kia tôi có thể là một ông quan thực sự, nghĩa là kẻ phản bội thực sự.., hay là vào một thời điểm nào đó tôi biến thành Năm Thịnh...

   Nhưng cái gì thôi thúc hay xô đẩy con người đổi vai như thế?

   Anh Hải ạ, chúng ta học phép biện chứng, học Mác, nhưng đây là điểm chúng ta thích quên nhất: Sự tha hoá! Sự tha hoá ngay trong mỗi con người. Anh gọi nó là quán tính của lịch sử thì hơi đao to búa lớn, nhưng nội dung sự vật thì na ná như vậy.

   Tôi hỏi nhé, một khi tha hoá vượt ra khỏi một con người riêng lẻ, trở thành một hiện tượng, một xu thế dịch bệnh trong xã hội, một sự vận động trong một chế độ chính trị, thì anh gọi nó là cái gì?

   Anh quả là con người cảnh giác. Vâng, đó là hứa hẹn sự tiêu vong những thành quả cách mạng của dân tộc ta!
   Có thế chứ, không thì anh cứ quanh co mơn trớn tôi mãi! Như vậy con người chẳng lẽ chỉ có một số phận là chịu để cho tha hoá khuất phục?

Tôi không đến nỗi bi quan như thế, ít nhất cho đến giờ phút này. Con người có khả năng chống tha hoá chứ! Tuỳ lúc nó có thể còn có cả khả năng phủ định chính nó nữa cơ mà. Điều chắc chắn là tha hoá tự nó không bao giờ buông tha con người. Tha hoá cầm chắc chiến thắng trong tay khi nó không được nhận dạng anh Hải ạ.

   A ha, thấy chưa! Như thế là cái tính bi quan nằm sẵn trong máu anh rồi, thế mà lại đổ riệt cho tôi!
   Nó nằm ngủ trong máu tôi, nhưng anh đánh thức nó!

   Vậy hả? Nếu thế phải nghe thêm chuyện này nữa cho tỉnh ra. Tại cuộc họp liên tịch vừa rồi bàn về an ninh, di tản trở thành vấn đề chính. Ông Tiến thay mặt ngành tuyên huấn phát biểu găng lắm. Nêu đích danh cả ba gia đình anh em Năm Thịnh làm ví dụ, phê phán lãnh đạo địa phương là hữu khuynh. Quan điểm của ông Tiến được nhiều người trong hội nghị hoan nghênh. Ông Tiến còn biết tôi và anh đều có họ hàng là tư sản bị cải tạo.

   Thế tại cuộc họp anh Tiến có quy kết chúng mình là những phần tử có liên quan không anh?
   Chưa đến mức ấy, nhưng khi gặp riêng tôi, ông Tiến tỏ ý tiếc là ảnh hưởng của chúng ta đối với họ hàng ít quá. Tiến đem đến hội nghị một báo cáo mật của Ban dân vận thành phố để làm tài liệu tham khảo, do Hà Văn Hân ký tên. Báo cáo sặc mùi tính cách của anh ta, đúng như ông Tư Cương kể cho tôi nghe trong những lần tôi vào thăm má Sáu. Anh Hai Phong, rồi đến tôi, rồi đến anh được lần lượt nêu đích danh trong báo cáo này, bằng chứng rất thuyết phục về vai trò yếu kém của đảng viên chúng ta đối với những vấn đề hệ trọng trong gia đình họ mạc của mình.

   Biết làm thế nào được, anh Hải. Cháu gái tôi, con của Lễ, cũng đi di tản, cả nhà tôi muốn giữ
 
cháu ở lại lắm chứ. Chúng tôi mới nhận được thư báo từ Mỹ là cháu bị hải tặc giết rồi, thật đau lòng quá. Vợ chồng Lễ sống dở chết dở! Tất cả chúng tôi đều giấu mẹ tôi chuyện này.

   Chết, lại đến nông nỗi ấy cơ à? Sao không thấy anh nói gì với tôi. – Tướng Lê Hải ngơ ngác.

   Chúng tôi muốn giữ kín với mọi người. Chuyện xảy ra rồi, biết làm thế nào được nữa...

   Người như Đoàn Danh Tiến cần phải biết cả chuyện này nữa mới phải, để xem ông ta sẽ phê phán như thế nào! – giọng Lê Hải đầy chì chiết. - Tiến còn nhắc lại cả cuộc nói chuyện của anh năm nảo năm nào ở trại B7, chuyện anh xin giải ngũ. Sao lại có con người cái gì cũng biết và nhớ dai đến thế! Chỉ còn thiếu một điều là ông ta chưa đứng lên giữa hội trường vạch mặt chúng ta là những kẻ bạc nhược, những kẻ thoái hoá mất tính Đảng...

   Nói cho công bằng hai chúng ta ít nhất đã được ông ấy một lần ca ngợi tít lên mây xanh đấy chứ.
   Vâng, tôi nhớ. Một lần duy nhất nhưng không thể nào quên! Anh định lấy chuyện đó làm dẫn chứng cho cái lý thuyết biên giới mong manh có phải không anh Nghĩa? Hay ông ta là con người hai mặt?

Thôi, càng nói càng bực mình, quên ông ta đi anh Hải ạ. Tôi đang lo canh cánh Nhà nước năm nào cũng đề ra chỉ tiêu kế hoạch năm nay cố phấn đấu bằng năm trước! Anh nhìn kia kìa, toàn là thùng, can, chai, túi, lọ... Nhà biến thành cái kho. – Nghĩa chỉ tay vào các gầm bàn, gầm tủ. - ...Anh tính, lĩnh lương về là nhà tôi đem tiền và tem phiếu mua bằng hết. Cái gì tem phiếu được mua là mua tuốt. Dùng đến hay không dùng đến không thành vấn đề! Chuyện này mới đáng lo hơn!

   Bao cấp mà. Nhà nước thu mua để phân phối thì như cướp, đem bán theo tem phiếu thì như cho. Dân người ta nói toạc ra như thế đấy. Một Phó thủ tướng dám nhắc lại nguyên xi như thế trong cuộc họp Chính phủ.

   Chúng ta rất cần những lời nói thẳng như thế.

   Nhưng ông ấy bị phang đến nơi đến chốn vì tội này. Kể ra không oan và oan anh Nghĩa ạ! Nhờ tem phiếu mà ta thắng Mỹ. Bây giờ thay tem phiếu bằng cái gì thì chúng ta chưa biết! Ngẫm nghĩ mãi, tôi thấy bên cạnh cái nghèo còn có cái khó của tư tưởng bình quân, một di sản lâu bền của chiến tranh.

   Về nhiều phương diện anh đúng là người trung thành với cái thuyết quán tính của lịch sử.

   Nếu giỏi thì bác bỏ đi! – Lê Hải thách.

   Hãy đợi đấy. Tuy nhiên, tôi có lãng mạn đến mấy cũng phải đồng tình với Xuân Diệu thôi. Chuyện cơm áo không đùa với tất cả chúng ta•(*) [(*) Ý thơ của Xuân Diệu, trong câu: “Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt, Cơm áo không đùa với khách thơ”...].

-Tưởng là người đã từng viết được cái đơn xin giải ngũ thì chỉ cần sống bằng hương hoa thôi chứ?

   Anh muốn rủa tôi chóng chết có phải không?..

   ...

   Trời ơi, hai ông định hun chết hai chị em tôi hay sao thế này. – Bà Hậu không chờ được nữa, một tay vừa kéo bà Nguyệt, một tay xua khói thuốc lá từ buồng bên bước vào nơi hai ông đang ngồi nói chuyện.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 01:58:33 pm
   Chết thật, có hai người mà nghi ngút như khói tàu hoả thế này! Chị em chúng tôi vào giải thoát cho hai ông đây. – bà Nguyệt nói theo bà Hậu.
   Chúng ta phải tạ ơn các bà đi. - ông Hải hiểu là phải dừng câu chuyện ở đây. - Chị Nguyệt năm nay có cần xông đất cho nhà ta không ạ, phải đăng ký từ bây giờ đấy!
   Vâng xin đăng ký ngay ạ.

   Nhưng tôi có rơ-moóc, không đi xông đất một mình được.

   Anh Hải ơi, em không biết là ai “rơ-moóc” ai. – bà Hậu phản ứng ngay.
 

   Anh anh em em dịu dàng thế này thì cả hai ông bà “rơ-moóc” nhau vậy. – Nghĩa đỡ lời cho Lê Hải.

   Mời cả chị Hậu đi cùng càng vui chứ sao ạ. Anh chị đi hái lộc rồi đem lộc về cho gia đình tôi thì còn gì bằng!
   Chị Nguyệt rất hiện đại, không kiêng phụ nữ đến xông nhà. – Bà Hậu khen.

   Năm nay nhà chúng tôi được anh chị xông đất, chắc sẽ có nhiều tin vui. Chúng tôi đang rất nóng tin về cháu Nam...
   Có phải là Nam bác sỹ quân y đang ở Campuchia không chị?

   Vâng. Thấm thoắt đã hơn một năm rồi đấy chị Hậu ạ. Bà cháu và anh chị Chính tôi mong ngày mong đêm. Trong số các cháu nhà họ Phạm chúng tôi, cháu Nam là chững chạc nhất...

Tuy đang không khí vào Tết, nhưng khi chia tay vợ chồng Nghĩa, tướng Lê Hải thấy trong lòng nặng trĩu. Gửi xong xe đạp để vào chợ hoa, Lê Hải lẽo đẽo đi theo vợ, đi giữa rừng hoa nhưng chẳng nhìn thấy gì cả. Nỗi lo của ông về cái quán tính của lịch sử càng trĩu xuống vì cái biên giới mong manh mà Nghĩa đã nêu và cả “cái tát” nhoéng lửa của Năm Thịnh nữa.

- Năm nay không cắm bích đào, mà cắm đào phai. Em chọn mãi... Cành này được không anh?

Hậu nói xong nhưng ngoảnh lại chẳng thấy chồng mình đâu cả. Tõi mãi bốn chung quanh bà mới nhìn thấy ông đang đứng xa đến cả chục bước.

Trong tay vợ kéo đi, Lê Hải thanh minh:

   Chợ hoa đông quá, bộ đội không dám chen bật nhân dân!

   Mau lên anh, không có người ta mua mất cành đào phai em đã chọn!

...Thật là cầu được ước thấy. Hay là nhờ đêm giao thừa cả hai vợ chồng ông Hải đến xông đất.., trung uý quân y Phạm Trung Nam được nghỉ phép mười ngày. Nam phải lo trực đêm ba mươi và ngày mùng một Tết. Nam về đến nhà mùng bốn Tết, trong sự vui mừng đến ngỡ ngàng của mọi người. Điều này có nghĩa các gia đình họ Phạm có một cái Tết kéo dài đến giữa tháng giêng và vui gấp nhiều nhiều lần các Tết khác!

   Cháu ở nhà ngày nào là bà có Tết ngày ấy. – cụ Tuyên bà nói đi nói lại với Nam câu này không biết chán.

Rõ ràng là có Nam, cụ lanh lẹn hẳn lên, đã bắt đầu đi bộ được loanh quanh các phòng trong nhà. Mỗi bữa cụ ăn được một bát cháo, thỉnh thoảng dùng một muôi cơm. Quà của Nam đem từ Campuchia về biếu bà là hai hộp sữa đặc Liên Xô. Bận gì thì bận, Nam luôn luôn có chuyện này chuyện khác hay một câu nói gì đó làm bà vui, có lúc nhắc lại những chuyện cũ quấn quít giữa hai bà cháu...

Tối mùng sáu Tết, ông bà Chính đến xin bố mẹ Yến cho tổ chức lễ cưới. Lời cầu xin được chấp thuận ngay, vì đấy cũng là nguyện vọng của bố mẹ Yến.

Tại Siêmriệp, khi nhận được lệnh trên cho về nghỉ phép, thủ trưởng và anh em trong đơn vị vừa khuyên vừa trêu trọc Nam:

   Được nghỉ những mười ngày, cưới vợ quách đi cho xong!

   Ra tiền tuyến phải có một du kích ở nhà giữ người yêu cho yên tâm chứ!

   Có một ngày tớ còn lấy được vợ, cậu những mười ngày!..

Nam nghĩ rất nhiều đến chuyện cưới, trong lòng khao khát lắm. Ấy thế mà khi đeo ba-lô lên vai chia tay mọi người trong đơn vị, Nam vẫn chưa dám đi đến quyết định dứt khoát. Suốt một năm qua Nam chưa có một lá thư nào dám đề cập đến chuyện này, dù là thư viết cho Yến, viết cho bố mẹ, hoặc là cho em gái. Đấy là sự do dự có thể hiểu được, vì hạnh phúc phía trước lớn quá, gắn với thân phận quá mong manh của người lính trên chiến trường ma quỷ này. Càng thấy tình yêu của mình thiết tha bao nhiêu, Nam càng cảm thấy mình hạnh phúc bấy nhiêu, song lo lắng.. – hay là nỗi do dự khó tả xiết – càng tăng lên theo...

Ai lường trước được điều gì trên cái chiến trường ma quỷ này?..

Cứ mỗi khi nghĩ đến Yến, Nam lại vấp phải ngay câu hỏi này... Chẳng bao giờ nhìn thấy kẻ
 

thù, nhưng kẻ thù có ở khắp mọi nơi, ngay trước mặt, ngay bên cạnh... Kẻ thù đến thăm bất kỳ giờ phút nào, kẻ thù làm bất kỳ điều gì nó thích!.. Nam thừa nhận đối phó với chiến tranh du kích Khmer đỏ hoàn toàn không đơn giản, mặc dù trạm xá của Nam bây giờ được đặt trong vùng hậu cứ an toàn, có lực lượng bảo vệ khá mạnh. Khi ở cái thế phải bỏ sử dụng chiến thuật du kích thì dù quân đội ta có là bậc thầy của chiến tranh du kích cũng thế thôi ...

Song cuối cùng, Yến mới là người thực sự xua tan mọi do dự cuối cùng của Nam, ngay buổi tối đầu tiên Nam đến chào bố mẹ Yến:

   Anh đã giữ được lời hứa chờ đến khi em tốt nghiệp. Bây giờ em đã là cán bộ dự bị của nhà nước rồi! Anh xem em có oai không?
   Oai.

   Oai thật chứ?

   Thật mà. Có bao giờ anh nói dối em đâu.

   Thế anh chê không tiếp nhận cán bộ dự bị à?

   Em bảo anh tiếp nhận thế nào?

   Chúng mình xin hai bên bố mẹ cho làm lễ cưới.

Dù là mong đợi điều này, Nam vẫn như trên trời rơi xuống đất:

   Ôi! Nên bao giờ hả em?

   Ngay bây giờ.

   Ngay trong lúc chúng mình đang ngồi ăn kem với nhau như thế này, có phải không? – Nam cố lấy lại bình tĩnh.
   Anh hiểu như thế cũng được. – cùng với cốc kem, Nam được ăn thêm một cái béo tai.

   ...

Rời tiệm kem Bốn Mùa tối hôm ấy, đôi trai gái về thưa với các bậc bố mẹ của mình nguyện vọng xin làm lễ cưới.

Tối mùng sáu Tết ông bà Chính sang nhà Yến.

Trong một ngày không thể kiếm đâu ra trầu cau để chia cho hai họ, nhất là vào thời buổi mọi thứ của cuộc sống chỉ tập trung vào những gì có liên quan đến tem phiếu. Hơn nữa bây giờ là ngoài Tết. Nhờ bao nhiêu người giúp sức, cuối cùng thím Cúc cũng mua được một buồng cau đẹp và mấy tệp trầu không để tượng trưng cho lễ cưới. Thím Cúc nổi tiếng là đảm đang trong cả họ, buồng cau và một gói trầu không rất khó kiếm này lại càng làm cho thím nổi tiếng.

Ông Chính thưa với bố mẹ Yến:

   Mong anh chị thông cảm cho, may quá là thím Cúc cháu còn kịp tìm được buồng cau và những tệp trầu không này.
   Phải nhờ đến các học trò của các thầy cô giáo cùng dạy học với thím Cúc cháu đấy ạ. – bà Chính nói thêm vào.
   Chúng tôi xin nhận, có được lá trầu quả cau làm tượng trưng là chúng tôi mãn nguyện rồi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh chị. Xin anh chị chuyển lời cảm ơn của chúng tôi đến chị Cúc...

Câu chuyện trầu cau mau chóng chuyển thành cuộc bàn bạc giữa hai bên bố mẹ về những việc cụ thể cho lễ cưới, ấn định ngày mùng tám.

Người có công nhất trong đám cưới của Nam và Yến lại là bộ phận hậu cần của K8, đơn vị cử trạm quân y dã chiến của Nam đi chiến trường Campuchia. Nói là K8 tổ chức đám cưới cho Nam cũng không có gì là quá lời. Cũng phải lâu lâu rồi bây giờ mọi người mới thấy một đám cưới tiệc trà đẹp và nhiều bánh kẹo ngon như vậy.

Trong tiệc cưới, điều làm mọi người trầm trồ là cô dâu có cái áo dài đẹp quá. Thời tem phiếu áo dài hiếm lắm, đúng là chỉ thấy nhiều nhất trong ngày tết và trong các đám cưới. Áo dài cưới của Yến đã đẹp vì thế lại càng đẹp.
 

Mấy chị bác sĩ, y tá khéo tay của K8 mất trọn một ngày may bằng xong cho Yến cái áo dài rất mốt, chắc chắn cả Hà Nội không ai có. Cổ áo được may cao và cắt lượn sâu rất đẹp, cánh tay áo xoè dưới cổ tay đính theo đăng -ten thành hai bông hoa sang trọng, thân áo lưng ong cao hẳn lên, hai tà áo thướt tha một cách trang nghiêm, tà áo sau hơi xoè ra một chút ... Không biết các chị ấy tìm được ở đâu ra mảnh gấm trắng ánh bạc đẹp quá, tự sáng tạo ra mẫu áo, do hoạ sỹ nghiệp dư Phạm Trung Nam – nghĩa là chính chú rể – vẽ kiểu. Yến cũng bị “nhốt” trọn một ngày, đứng cho các chị đo áo, đi đi lại lại trong các tư thế để cho các chị ngắm nghía từ mọi phía, sửa đi sửa lại mấy lần... Đấy là công việc duy nhất và bận nhất của Yến trước lễ cưới. Mọi việc khác của Yến đã có mẹ Yến, Loan, các bạn của Yến và hậu cần của K8 lo hết.
Nam vốn đẹp trai, nhờ cái gien đẹp trai của họ Phạm, trong tiệc cưới lại càng bảnh bao. Ngày thường giản dị trong bộ quân phục, tại lễ cưới trong bộ xi-mô - kinh (smoking) đen rất đúng mốt của chú Kiệt tặng, thắt nơ bạc, nhiều người ngỡ ngàng không nhận ra Nam nữa.

Hội trường của K8 được trọn làm phòng cưới, hoa và đèn lộng lẫy. Hoa ở Hà Nội về mùa này đẹp nhất trong năm. Từ màu sắc cho đến dáng hoa, mỗi hoa mỗi vẻ, hình như cái hoa nào cũng biết cười biết nói! Do hoa đẹp hay do biệt tài của những bàn tay cắm hoa, đến phòng cưới mọi người có cảm tưởng đang từ cuộc sống nhiều chuyện cam go hàng ngày bước vào một thế giới thanh thản và đầy ắp yêu thương. Ai cũng cảm thấy ấm lòng, vì vui mừng cô dâu chú rể đẹp đôi, vì tình cảm ruột thịt chan hoà, vì sự thương yêu nhau giữa những con người quý trọng yêu thương...

Cuối tiệc cưới, bố của Yến được ông Chính mời thay mặt hai họ nói mấy lời cảm ơn. Ông nói mấy câu ngắn gọn, giọng ông đầy xúc động.

   Hai cháu có hạnh phúc lớn, là ngoài tình yêu thương của gia đình hai bên bố mẹ, hai cháu còn được K8 yêu thương hết lòng. Sự chăm sóc của tất cả các bác, các cô các chú, các anh các chị trong K8 dành cho hai cháu nói lên điều này. Chúng tôi xin ghi lòng tạc dạ... Xin cảm ơn tất cả...

Tiếng vỗ tay rào rào...

   Thật ra đơn vị chúng tôi mới phải là người đứng ra cảm ơn hai họ. – đại tá thủ trưởng đơn vị K8 lên bục mi-crô đáp lời. - ...Nhất là chúng tôi phải cảm ơn bố mẹ cô dâu, bố mẹ chú rể đã cho đơn vị chúng tôi một đôi trai gái tuyệt vời. Hôm nay là ngày cưới của hai cháu, song cũng coi như là ngày đơn vị K8 chúng tôi làm lễ nhận Nguyễn Thị Bạch Yến và Phạm Trung Nam là con của đơn vị chúng tôi. Đại gia đình K8 chúng tôi nhiều năm liền là lá cờ đầu của ngành quân y. Tôi mong hai cháu sẽ góp sức cùng chúng tôi phát huy truyền thống của đơn vị. Xin cho phép tôi nhân cơ hội có mặt đông đủ như thế này, trân trọng công bố quyết định của Cục Quân Y do thiếu tướng Cục trưởng ký, nội dung như sau...

Hội trường im phắc, ngỡ ngàng, mọi người không hiểu quyết định gì mà lại đem ra công bố giữa lễ cưới như thế này. Đại tá thủ trưởng K8 dừng thêm một chút nữa, rồi lấy giọng:
   Tôi xin đọc: Xét đơn xin nhập ngũ của dược sĩ Nguyễn Thị Bạch Yến và kết quả thực tập tại

K8 từ khi ra trường, xét kiến nghị của tập thể ban chỉ huy K8, Cục Quân Y quyết định, điều 1: tuyển dược sĩ Nguyễn Thị Bạch Yến vào đơn vị K8, phong quân hàm thiếu uý; điều 2: Ban chỉ huy K8 và thiếu uý Nguyễn Thị Bạch Yến chịu trách nhiệm thi hành quyết định này... Xin thưa với tất cả, ngày ký quyết định cũng là ngày cưới hôm nay của hai cháu Yến Nam đấy ạ!

Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô, niềm hân hoan, những lời chúc mừng... Cả hội trường hướng về phía cô dâu chú rể. Nhiều bà, trong đó có bà Chính, mẹ Yến, thím Cúc, bà Nguyệt..., nước mắt vòng quanh, vì quá cảm kích về quyết định đầy tình nghĩa yêu thương của Quân đội dành cho con cháu mình, vì thấy mình hạnh phúc lây hạnh phúc của Yến và Nam...

Sau khi tạm biệt cô dâu chú rể, tướng Lê Hải và nhiều bạn bè thân thiết khác là quân nhân chụm lại một chỗ để chuyện trò thêm một lúc nữa với đại tá Nghĩa. Niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt từng người.

   Quyết định của thiếu tướng cục trưởng tuyệt vời quá, đúng lúc quá! Ôi, Quân đội ta! – bố Yến là người đầu tiên thốt lên.
 

   Một đám cưới đẹp. Cô dâu chú rể thật là đẹp đôi! Ôi... - bà Hậu xúc động ôm lấy bà Nguyệt, bỏ dở câu nói.

   Nhờ anh Nghĩa chuyển lời chúc mừng nhiệt liệt của chúng tôi đến hai họ.

...

Nhìn thấy tướng Lê Hải, ông Chính chạy đi kéo bố Yến đến chỗ đám quân nhân già:

   Xin giới thiệu với anh Lê Hải, đây là bố của cô dâu ạ.

   Hai họ chúng tôi, trước hết là tôi, xin có lời cảm ơn anh đã giới thiệu cháu Yến với Cục Quân Y, vì vậy mới có cái quyết định đầy thương yêu đối với cả hai họ chúng tôi.
   Hai anh chu đáo quá, có gì đâu mà cảm ơn... – tướng Lê Hải đáp lại. - ...Đúng ra hai anh phải cảm ơn anh Nghĩa. Chủ mưu việc này là anh Nghĩa, tôi chỉ là người thực hiện thôi ạ.

Anh Hải khiêm tốn quá.

   Thực là như vậy. Tôi không biết cháu Yến lắm, nhưng qua anh Nghĩa tôi tin rằng họ Phạm không nhầm khi chọn con dâu cho mình!
   Anh Hải cho họ Phạm chúng tôi vinh dự lớn quá! Xin cảm ơn anh. – Cả hai tay ông Chính nắm lấy bàn tay ông Lê Hải.

Đại tá Nghĩa tập tễnh rảo bước, loáng một cái biến đâu mất nhưng rồi quay lại ngay, đi theo ông là một thiếu phụ và một cháu gái quàng khăn đỏ. Mẹ cháu đón cháu ở trường rồi đến thẳng đám cưới.

   Xin giới thiệu với các anh, đây là cô Trang, vợ liệt sỹ Lâm, người đã cứu sống tôi ở mặt trận Quảng Trị. Đây là con gái anh chị Lâm.
   Em chào các anh ạ. Con chào các bác đi... – Trang, vợ liệt sĩ Lâm, kìm nước mắt, cố gượng cười. -...Em thấy cô dâu chú rể đẹp đôi quá các anh ạ. Hai cháu hạnh phúc quá, em mừng cho hai cháu...

Mọi người xúm xít hỏi thăm cuộc sống của gia đình chị Lâm hiện nay, về học hành của con chị.

   Anh chị Chính, anh chị Nghĩa coi em như em ruột trong nhà. Kỳ giỗ bác Tuyên em năm nào các anh các chị cũng mời mẹ con em đến dự... Các anh các chị an ủi em nhiều...

Câu nói của chị Lâm làm tướng Lê Hải nhẹ lòng.
Khách ra về đã vãn. Các chiến sĩ trực ban đã bắt đầu vào thu dọn các bàn tiệc. Vợ chồng

Nghĩa và vợ chồng Lê Hải đứng với nhau một lúc nữa. Bà giáo Hậu thốt lên:

   Hôm nay thật ấm tình người, ôi làm sao giữ mãi được niềm hạnh phúc này...

Nhiều ngày sau, đám cưới này còn là chủ đề của biết bao nhiêu câu chuyện.

Trong những ngày ngọt ngào của tuần trăng mật hầu như không bước chân ra khỏi nhà, vợ chồng Nam không rời nhau lấy nửa bước. Mãi đến lúc này họ mới có chút thời giờ giành cho nghệ thuật, niềm đam mê lớn nhất của họ.

...Nam kéo rèm cửa sổ sang hai bên cho phòng sáng thêm rồi ngồi bình tiếp với Yến các sáng tác trong thời gian ở Campuchia, chủ yếu là ở Siêmriệp. Cuối cùng Nam lấy từ đáy ba-lô ra một quyển sổ to bìa cứng. Ông Chính cho Nam quyển sổ này hôm Nam lên đường.

   Tất cả các tranh em vừa xem anh không thích bằng quyển sổ này. – Nam chỉ cho Yến xem các mô-típ mình ghi lại bằng bất kể thứ bút gì vớ được trong tay...

Yến lật các trang trong quyển sổ. Có những trang xem đi xem lại, vừa xem vừa nói với Nam:

   Anh viết nhật ký bằng tranh? Trong những tranh em vừa xem có một số mô-típ hình như lấy từ trong quyển sổ này?
   Em nói đúng. Anh dồn tất cả nỗi nhớ nhung vào quyển sổ này. Chưa bao giờ anh vẽ nhiều về cái chết đến như vậy... Có lẽ những dãy phố chết, những cái chợ xiêu vẹo, những dãy phố cháy trụi, những con đường chết, những cánh đồng chết... đã gây cho anh những ấn tượng sâu sắc... Em xem, nói cho đúng hơn anh vẽ cuộc sống bị giết như thế nào... Càng nhớ em, nhớ nhà
 
vô cùng ... Xem tiếp trang này nữa... Đây là một phụ nữ bị giết, không thể biết là bao nhiêu tuổi, xác quắt khô, không biết bị giết từ bao giờ, chỉ còn vài sợi tóc dài chưa rụng hết bên cạnh một cái lõm đen trên đầu, quần áo đã tan lả tả, trên ngực hai vú khô đét chảy dài kiệt sức sống ... hai cánh tay chới với như còn đang cố giữ lấy cái gì đó chưa chịu buông ra hay như đang van xin điều gì, hai chân vừa như quỳ cầu nguyện vừa như đang co quắp giãy giụa ... Em xem kỹ đôi mắt: ...hai hố mắt lõm sâu hẳn như đang cố giấu cả thế giới vào bên trong, hay là đang cố níu kéo lấy cuộc sống bằng cái nhìn vô tận... Anh loay hoay mất mấy tuần chỉ để vẽ đôi mắt này, đôi mắt của người còn sống nhưng đã bị giết ... Từ miệng người phụ nữ vang xa lời gào thét hay lời cầu cứu thảm thiết... Em xem cái cuốc đen này vấy đầy máu, không biết từ đâu rơi xuống rồi nằm lại bên bờ sông Xtungxtreng, con sông vẫn chảy hiền hoà, phía trên... đây là những núi xương người những cây thốt nốt giang tay nhau bảo vệ bầu trời đầy nắng... Nhìn kỹ, em thấy xa xăm mờ mờ ảo ảo đền Angkor Vat ...

   Trời ơi! Một tiếng kêu gào khác của Guernica?..

   Có lẽ như vậy em ạ. Anh vốn hâm mộ Picasso, nhưng có lẽ qua những cảnh tượng đối nghịch nhau như nước với lửa ở Campuchia, cái sống và cái chết không đội trời chung với nhau, anh mới hiểu thêm Guernica!..

   Trang này nữa... Sao anh đang vẽ lại bỏ giở?

   Đây là một bàn tay gầy guộc, bị chặt rời khỏi cánh tay nhưng vẫn còn trong tư thế như đang nâng niu một cái gì đó... Đây nữa... Trang này... Trang này nữa... Anh vẽ bằng bột mầu, bút chì, hết bút chì thì bằng bút dạ, có khi bằng cả bút bi đang có trong tay, bằng những đêm trực ban mà cái chết lúc nào cũng đang đánh vật với các thương binh... Cái chết lúc nào cũng rình mò chung quanh... Anh vẽ cả bằng nỗi nhớ xé lòng... Yến ạ, chưa bao giờ anh có một ước ao mãnh liệt đến thế, ước ao khi hoàn thành nghĩa vụ ở Campuchia về anh sẽ đi khắp mọi nơi, chỉ để vẽ...

Ôi nếu được như thế! Đến lúc ấy em sẽ địu con đi theo anh cùng trời cuối đất...

   Không còn khát khao nào bằng em ạ. Tình yêu của em đem lại cho anh đấy...

   Em hiểu, đúng là không thể lời nào nói lên hết được cảm xúc của những trang sổ này! Anh để quyển sổ này ở nhà cho em nhé. Em sẽ tặng nó một cái tên xứng đáng.
   Tên gì vậy em?

   Nhật ký tình yêu cuộc sống!

Nam ôm hôn vợ tha thiết. Trong vòng tay mình, Nam nói với Yến:

   Cảm ơn em...

   ...Cậu mợ vừa mua cho anh một quyển sổ mới. Quyển này đẹp hơn, giấy tốt hơn và khổ cũng rộng hơn. Anh sẽ mang quyển mới đi... Không hiểu cậu mợ lùng đâu ra được một quyển sổ chuyên nghiệp đẹp quá em ạ. Em xem đây này...

   ...Vâng, đúng là quyển sổ để các thợ vẽ ghi lại các phác hoạ và cảm xúc của mình... Anh ơi, nhưng quyển sổ này không phải là loại bán sẵn. Có lẽ cậu mợ đi mua giấy vẽ rồi đưa đi thuê đóng thành sổ nên mới đẹp như thế này... Đúng rồi! ...Cửa hàng đóng sách 35 Cửa Nam... Đây này, có cả dấu của cửa hàng nữa anh ạ... Em hiểu thêm tấm lòng của cậu mợ...

   Em biết không, ra đi lần trước nếu cậu không chuẩn bị cho anh ít đồ vẽ thì có lẽ không có những tranh này, không có Nhật ký Tình yêu cuộc sống.
   Em hiểu. Lần ấy anh còn không có cả thời giờ để buồn khi chia tay em cơ mà!

   Em thù anh dai quá! Chúng mình còn hai ngày nữa để em tha hồ trả thù anh chuyện cũ!

   Thù anh thì không bao giờ hết được, hơn một năm đằng đẵng chờ đợi! Mấy ngày nay chúng mình nói với nhau bao nhiêu chuyện mà vẫn không hết. Còn bao nhiêu chuyện phải lo sẽ tính dần.

   Thời gian sao cứ đi vùn vụt!

   Em xấu hổ quá, ai lại ngày nào cũng để cho cả nhà chờ cơm! Hàng xóm mà biết người ta
 

cười cho.

   Về cái tội mấy ngày liền chúng mình không ra khỏi phòng?

   Chứ còn gì nữa!

   Anh mong mọi người sẽ thông cảm. Chỉ khổ Loan mấy ngày nay phải leo gác giục chúng mình xuống nhà ăn cơm. Anh vẫn thích nhất chuyện em xin nhập ngũ.
   Anh đã cảm ơn chú Nghĩa chưa? Sáng kiến của chú Nghĩa đấy.

   Em yêu Quân đội đến thế à?

   Anh hiểu thế cũng được. Em chỉ có một nguyện vọng duy nhất là được gần anh thôi. Chú Nghĩa khuyên: Nếu thế thì nên xin vào K8. Em thực hiện ngay.

Chú Nghĩa của chúng mình thật tuyệt vời em ạ. Khi ấy nhờ chú, anh vững dạ lên đường. Không đơn giản chút nào khi phải xa tất cả những người thân thương của mình để đi vào nơi lửa đạn, nhất là trong thời bình. Là bộ đội, anh rất tự hào về chú mình.

   Thì anh vẫn ra đi đấy thôi!..

   Hôm ấy ngồi trên tàu, khi mọi sự hối hả lắng xuống trên đường dài, anh mới có thời giờ tự hỏi mình nhiều điều... Nhiều lúc tâm trạng thật khó tả em ạ. Có lúc anh cảm thấy bừng bừng giận dữ, có lúc lại không thiết sống, nhưng ngay sau đó lại ham muốn cuộc sống da diết!.. Chỗ bấu víu còn lại cho anh là em và những lời dặn dò của chú Nghĩa.

   Anh !..

   Cứu vớt anh lúc ấy là một chút lãng mạn, một chút ý thức... Chính chú Nghĩa đã giúp anh rất nhiều. Chú nói đơn giản: Hãy chân thành thử thách mình đi...
   Thú thực là nhiều lúc em rất sợ...

   Anh cũng thế, đến bây giờ vẫn chưa hết sợ! Sợ đến nỗi khi đã đặt chân về đến Hà Nội rồi mà vẫn chưa dám dứt khoát việc xin cưới em!
   Được ăn béo tai là đáng lắm!

   Không oan em ạ! Trong khi đó chung quanh anh lúc này lúc khác vẫn xảy ra chuyện đào ngũ. Ngay trong đơn vị anh cũng có một chuẩn uý y sĩ đào ngũ. Cậu này được giao nhiệm vụ đưa một cán bộ quân sự bị thương nặng về Sài Gòn. Xong việc cậu ta bỏ trốn luôn.

Anh có phỉ báng họ không?

   Có lẽ... thông cảm và thương nhiều hơn là thương hại. Phỉ báng thì không... Hình như phải nằm ở chiến trường Campuchia thì mới có được tình cảm này em ạ, ngồi nhà không hình dung nổi đâu! Trên chiến trường nước người, xót thương đồng đội mình lắm...

   Anh đi rồi, về nhà em khóc mãi. Trước sau chỉ một khát khao đơn giản vô cùng: Không được sống bên anh thì làm sao được ở gần anh nhất vậy.
   Điều kỳ lạ là mỗi khi cầm bút vẽ, nhất là mỗi khi vẽ được cái gì đó, anh hiểu được sâu sắc hơn cuộc sống chung quanh mình. Anh thấy những việc mình phải làm dần dần trở nên có ý nghĩa hơn.

   Xem nhật ký vẽ của anh, em cũng cảm thấy anh được cất cánh, từ nỗi buồn cô quạnh ban đầu dần dần đi tới những cảm xúc lớn, quyết liệt... Anh không yếu đuối, nên em thấy mình cứng cáp lên đôi chút.

   Người ta bảo nghệ thuật là sự sống. Có lẽ là như thế. Vì những ngày tháng vừa qua anh sống bằng chính sự sống ấy!
   Lần này ra đi có vững dạ không anh?

   Lần này thì anh có đủ thời giờ để buồn khi chia tay em!

   Em không chơi thế! Chỉ được cái tài đánh trống lảng!

   Vững dạ, nhưng lo nhiều hơn, day dứt nhiều hơn.

   Hãy giữ anh cho em!.. - Yến ôm ghì lấy chồng, nước mắt rưng rức...
 

Nam đi được ít hôm, nỗi buồn vắng cháu của cụ Tuyên bà được đền đáp bằng một sự việc hệ trọng khác trong gia đình họ Phạm: Vợ chồng Lễ và cháu Tín từ trong Nam ra thăm cụ trước khi sang Mỹ nhập cư. Mặc dù tiền ông Học gửi về khá dư dật, vợ chồng Lễ vẫn quyết định đi tàu hoả, vừa là để biết đất nước bây giờ ra sao, vừa là để từ biệt đất nước.

Không sao tả xiết những ấn tượng xô đẩy nhau dồn dập vào tâm trí Lễ suốt chiều dài đất nước. Ngồi bên khung cửa sổ toa tàu, nhiều lúc những cảm xúc ập tới làm cho Lễ tức thở. Những cảnh quan hai bên đường đập vào mắt, những chặng đường đã đi qua, ký ức mấy chục năm xa xưa bật sống trở lại.

Mình đang đi ngược trở lại dòng đời của chính mình?

...Mình đang trên đường trở về tuổi ấu thơ? Đang lặn ngụp qua bao nhiêu quá khứ đau khổ? ...Chính con đường này - nhưng khác chiều, đã bứt mình ra khỏi cái nôi sinh thành, đã xô đẩy mình vào một thế giới đối nghịch với thế giới nơi mình sinh ra. Con đường này giờ đây lại đưa mình trở về cội nguồn... Cậu mất rồi, Minh không còn nữa... Huệ ơi, sao con không đi cùng ba má về thăm bà, các bác, các anh chị... Trời ơi đất nước mình đẹp quá, nhưng xơ xác quá!.. Đôi lúc Lễ đưa tay gạt vội giọt nước mắt ở đâu tự dưng lăn xuống trên má. Năm sáu năm chiến tranh đã đi qua rồi mà vẫn nham nhở các dấu vết bom đạn... Cũng có lúc Lễ cố xua đuổi cảm giác như nhìn thấy dấu ấn chính tay mình trên các mảng nham nhở ấy... Lúc nấc lên, lúc nghẹn ngào, có lúc rít lên xuýt xoa… Lễ khóc thầm và không hiểu vì sao mình khóc…


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 01:59:41 pm
Tiếng bánh xe đoàn tàu xiết trên đường ray đều đều, xen giữa là những tiếng va đập đều đều theo nhịp, nhưng đanh và mạnh. Đôi khi Lễ cảm thấy mình như đang luồn chạy giữa muôn vàn tiếng nổ của bom đạn. Có lúc Lễ lại thấy như chính thân thể mình, số phận mình đang bị nghiền cán không thương tiếc trên con đường này. Cũng có lúc Lễ thấy thân phận mình bị xô giạt, ném sang bên này, quăng sang bên kia theo ý thích của con tàu. Ký ức những năm tháng chiến tranh sống lại. Những năm tháng cỗ máy chiến tranh tác yêu tác quái trỗi dậy, những quãng đời nhục nhã ... Những ngày trong trại giam đặc biệt ở Thủ Đức... Những cơn dằn vặt trong trại cải tạo B7... Đêm tranh luận vô tận với anh trai... Những lúc vật lộn với bệnh tật của Thảo ... Tâm trạng nghi vấn trong những ngày bị bỏ rơi ở Bảo Lộc... Bao nhiêu nỗi đau càng làm cho nỗi đau mất Huệ khía mãi vào ruột gan...

Đến nước Mỹ rồi đây mình sẽ sống ra sao? Lại bắt đầu một chu kỳ mới của cái vòng luẩn quẩn?

Thảo và Tín cũng có lúc bỡ ngỡ, xuýt xoa trước những cảnh quan chưa bao giờ được thấy. Riêng Thảo đôi lúc còn ngắm nhìn Lễ, hiểu rất rõ tâm trạng của Lễ ... Có lúc Thảo kéo Tín sang ngồi với mình, cùng xem phong cảnh, cùng trò chuyện, để cho Lễ được hoàn toàn một mình trong cái thế giới riêng của mình. Câu chuyện nào với con Thảo cũng kéo Huệ vào, trong lòng vừa nóng ruột đến Hà Nội, lại vừa mong sớm đến Mỹ để hiểu tường tận về cái chết của con gái mình.

Có lúc cả hai mẹ con Thảo hoàn toàn bị những cảm xúc chưa hề biết đến bao giờ xâm chiếm.

Cuộc sống thanh bình của đất nước ngay trước mặt, lòng dạ xốn xang lần đầu tiên sẽ được gặp những người thân thương, ao ước được đến thăm thủ đô của nước mình, cảm nghĩ rồi đây sẽ phải xa những người thân, xa đất nước, những câu hỏi về tương lai...

Không hiếm những lúc cả khoang tàu của gia đình Lễ yên lặng, vì mỗi người theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình, trong lúc con tàu cứ dập dình lắc lư theo nhịp riêng của nó... Tuy vô tư hơn cha mẹ mình, song Tín hiểu được và biết tôn trọng tâm trạng của cha mẹ.

Thảo đôi lúc cảm thấy ngực đau nhói, phần nào vì bệnh tim cố hữu trong chuyến đi dài, nhưng phần nhiều hơn vì câu hỏi xé lòng: Vì sao một nước, một nhà rồi mà vẫn người còn người mất, vẫn sẽ phải mỗi người một nơi một ngả?..

Cùng với những năm tháng nặng nề vì cảnh ngộ gia đình mình, Thảo đã bao lần trả lời câu hỏi này mỗi lúc một cách khác nhau, nhưng cùng chung kết cục là không trả lời được!... Hay là chính bản thân mình đã trở thành sợi dây của trận kéo co bất tận không phân thắng bại?.. Con tàu chạy ra Hà Nội, nhưng không ít giây phút ý nghĩ của Thảo hướng về ba má anh chị em mình tại phương xa nơi nước người...
 

Thảo cố giữ trong lòng câu hỏi không trả lời được cho riêng mình...

...Bước xuống ga Hàng Cỏ, Lễ nghẹn ngào nấc lên không thành lời trong vòng tay của Chính:

   ...Anh ơi, trên sân ga này, cậu mợ, anh, anh Nghĩa đã tiễn chú thím Học, tiễn Mạnh, em và Hoài. Bây giờ cậu không còn nữa, Minh không còn nữa, Mạnh không còn nữa...

Niềm vui đoàn tụ bắt đầu bằng nước mắt.

Sự ân cần của ông bà Chính, ông bà Nghĩa, các cháu Mai và Tân ngay lập tức làm cho Thảo và Tín cảm thấy mình đang trở về nhà. Nỗi xúc động ban đầu lắng dần. Đi được vài bước ra đến cửa nhà ga, Lễ nhìn quanh rồi kêu lên:

   Ôi! Nhà ga ngày xưa không còn nữa các anh các chị ạ!..

   Nhà ga cũ bị bom Mỹ phá hỏng rồi em ạ...

Mấy cái xích lô đưa anh em con cháu họ Phạm về nhà. Thảo và Tín ngơ ngác nhìn đường phố đã đành. Mắt Lễ cũng như dán vào hai bên đường, nói nói chỉ chỉ, lúc nói một mình, lúc nói với người đạp xích lô, gần như suốt dọc đường:

   ...Bên này là nhà của Công ty đường sắt Vân Nam thì đây phải là khu nhà Đấu xảo, sao lại khác thế này nhỉ? Cái nhà lớn này hồi đó không có...

Phố Hàng Bông Nhuộm đằng kia kìa!
Bên kia là Toà án này, mình hãy còn nhận ra, đã có lần ra tận đây bắn chim, pô-lít thu mất

súng cao su...

Đường này ra Tràng Thi, đến Thư Viện Quốc Gia...
Đường này đi đến cửa hiệu Gô-đa(*)[(*) Godar - siêu thị Hà Nội Plaza ngày nay.], thỉnh

thoảng mình được cậu mợ dắt đến đấy... Đúng lối này ra Nhà hát Lớn, Nhà hát Lớn đằng kia...

   Bác ngày xưa chắc đẻ ở Hà Nội... – người đạp xích lô vừa bắt chuyện, vừa nói thêm cho Lễ biết nhiều tên phố đã thay đổi, bắt đầu từ nhà ga là phố Hàng Lọng...

Ngó nghiêng mấy lần, thấy đoàn xe xích lô đến cổng, Loan chạy vào đỡ bà. Cụ Tuyên bà nhờ cháu đưa ra tận bậc thềm nhà để đón con cháu. Yến phải trực ban, đến tối mới về, nên không được chứng kiến những giây phút đáng ghi nhớ này.

Nhìn thấy cụ, Lễ nhảy bổ từ xe xích lô xuống, chạy lại ôm chầm lấy mẹ, ông Chính và Nghĩa cũng chạy vội lên đỡ lấy hai người.

Cả hai mẹ con Lễ lặng đi hồi lâu, nước mắt sụt sùi, chẳng ai nói được câu nào, mọi người chung quanh nín lặng, trời đất như tụt xuống…

Một lúc sau bỗng dưng Lễ quỳ thụp xuống ôm lấy chân mẹ, nức nở, trước sau chỉ một điều:

- Con lạy mợ! Con lạy mợ… Con xin mợ tha tội…

Ông bà Chính, Thảo, Loan và Tín đều lặng đi. Bao nhiêu xót thương thầm kín lâu nay như bùng lên xâm chiếm nỗi lòng mọi người. Thảo thấy người mình hẫng hụt lảo đảo, phải bám vào Loan và Tín để khỏi ngã và cũng bật lên khóc theo chồng...

   ...Ôi mợ già đi nhiều quá, nhưng con vẫn nhận ra mợ. Mợ ơi, mợ có nhận ra con không mợ? Mợ nhận ra con chứ ạ? Cậu mợ tha thứ cho con chứ ạ?.. Con lạy cậu mợ…

Cụ Tuyên bà nghẹn ngào không nói được, Lễ càng giục:

   Mợ nhận ra con chứ ạ? Con của mợ! Con là Lễ của mợ đây ạ!

   Ôi Lễ con!.. – mãi cụ Tuyên bà mới thều thào được, nước mắt ròng ròng...

Ông Chính phải dìu cụ Tuyên bà ngồi vào ghế, Lễ bước theo vào quỳ dưới chân mẹ. Cụ Tuyên bà rẽ hai mái tóc của Lễ, vừa gạt nước mắt trên mặt Lễ vừa rên rỉ:

-...Ôi Lễ! Sao trông con lại già hơn cả anh Nghĩa con?

Chờ cho mẹ mình nguôi đi, Lễ mới đứng dậy dắt Thảo và Tín ra trước mặt:

   Thưa mợ, đây là Thảo ạ, con dâu của mợ ạ. Cháu là Tín, cháu nội của mợ đấy ạ. Em và con chào bà đi.
 

   Con lạy mợ ạ. – Thảo quỳ phục xuống chân cụ Tuyên.

   Cháu lạy bà ạ. – Tín cũng quỳ theo mẹ.

   Thế Huệ đâu? Sao lại không thấy Huệ? – cụ Tuyên bà ngó kỹ xem còn sót ai rồi mới hỏi. Chưa ai nói được câu gì, tiếng khóc tự bật ra. Thảo chắp hay tay trước ngực nức nở:

   Chúng con lạy mợ. Chúng con có lỗi với mợ. Chúng con đã không giữ được cháu... – Thảo gần như ngã rụi xuống, Tín phải đỡ vội lấy mẹ.
   Mợ ơi, Huệ mất rồi, chúng con khổ quá mợ ơi!..

Cụ Tuyên bà hai tay phải bám lấy Lễ để ngồi cho vững, giọng run lên, nói không ra hơi:

   Trời ơi! Thế là thế nào? Cả nhà nói đi! Thế là thế nào?! Sao không ai nói gì với mợ?.. Trời đất ơi, cháu tôi...

Nói đến đây hai tay cụ Tuyên bà buông thõng, đầu ngoẹo sang một bên. Ông Chính bà Hương phải đỡ vội lấy cụ.

   Con có lỗi với mợ. - ông Chính tìm cách an ủi cụ Tuyên bà. - Lẽ ra con phải kể cho mợ biết từ lâu, nhưng hồi này mợ yếu quá... Chúng con sẽ kể mợ nghe... - ông Chính quay sang bà Hương: - Em đỡ mợ đi nghỉ đi. Kiếm ghế cho Thảo ngồi nghỉ tạm một lúc...

Mọi người làm theo lời ông Chính, rồi tất cả lại quây quần chung quanh cụ Tuyên bà. Lúc này ông Chính mới kể lại cho mẹ nghe mấy bức thư của chú thím Học và của Hoài về cái chết thê thảm của Huệ. Mọi người thấy rõ cụ Tuyên bà cố gắng chịu đựng. Cụ không hỏi nhiều, không tự nói điều gì, nhưng thỉnh thoảng thở dài, tay gạt nước mắt ...

- …Trời đất ơi… Khổ thân cháu tôi!

Khi Thảo kể lại trước khi ra đi Huệ nhờ bố mẹ chào bà, chào các bác các anh chị ngoài này, cụ Tuyên bà nấc lên.

... Tối hôm ấy các gia đình họ Phạm có mặt đông đủ tại nhà ông Chính. Có không biết bao nhiêu chuyện để nói, để khóc, để hỏi thâu đêm... Thời gian và không gian hầu như không giữ được cái trật tự vốn có. Quá khứ và hiện tại hòa quyện vào nhau, đuổi bắt nhau... Câu chuyện cứ tự nó dẫn dắt mọi người đi suốt từ Bắc vào Nam rồi lại từ Nam ra Bắc, khắp các chiến trường, các vùng quê thời tản cư, thời sơ tán, hết chuyện Hà Nội lại đến chuyện Sài Gòn, sang cả Mỹ, cả Pháp... Nhưng mỗi khi câu chuyện mon men đến gần trại cải tạo Bảo Lộc thì Lễ là người đầu tiên lái nó đi hướng khác ... Có lúc câu chuyện vô tình đụng chạm đến trại cải tạo, thậm chí có khi chỉ đụng chạm đến chuyện cải tạo nói chung, Lễ không làm sao chịu nổi sự dị ứng nhức nhối, phải khẩn khoản xin mọi người nói chuyện khác...

Bao trùm lên tất cả là Lễ, Thảo, Tín đều chung một cảm nghĩ: Đây thực sự là đại gia đình của mình, được đối xử nồng ấm như những đứa con lưu lạc đâu xa mới về... Đó là gia đình của mình!.. Nỗi đau đớn mất Huệ được bù đắp phần nào...

Ngay tối hôm ấy, Lễ,Thảo,Tín thắp hương vái cụ giáo Tuyên và gia đình Minh. Trong lời khấn Thảo cũng nhắc đến Huệ...

Theo nguyện vọng của Lễ đã báo trước ra ngoài này, ngày hôm sau vợ chồng ông Chính và vợ chồng ông Nghĩa đưa gia đình Lễ về quê viếng mộ cha và các mộ của gia đình Minh.

Đây là lần đầu tiên trong đời Lễ được đặt chân lên vùng đất sinh thành ra họ tộc mình, trong lòng xốn xang một cảm nghĩ khó tả.

...Anh Nghĩa đã cố nhồi nhét hết nhẽ cho mình, thế nhưng mình không tài nào xua đuổi được tâm trạng ghẻ lạnh lẩn quất đâu đó trong tâm khảm. ...Con đường mình đi đã đi gần hết đời người... Hay là trên đời này vẫn tồn tại một bức tường chắn, mình không bao giờ có thể vượt qua? Hình như chỉ có tình cảm máu mủ ruột thịt từng lúc, từng lúc xua đuổi được sự ghẻ lạnh này trong con người mình. Từng lúc từng lúc xoay ngược được tất cả... Từ ngày hôm qua lại càng như thế. Ta có thể thắng, có thể khuất phục được sự ghẻ lạnh này không?.. Ôi những kỷ niệm xa xưa mẹ kể lại đêm qua, những lời dạy dỗ của cha, cái áo mẹ đưa anh Nghĩa cầm vào...

Chân bước đi, nhưng Lễ không làm sao phân biệt được mình đang trên đường về quê hay đang trở lại quá khứ thời thơ ấu bị đánh mất... Phong cảnh đồng quê ngoài Bắc hàm chứa một
 

điều gì đó sao mà thân thương hiền hoà, sao mà sâu lặng! Mỗi bước đi một ngỡ ngàng...

- Làng ta kia kìa, chỗ cây gạo đỏ ấy!

Lễ, Thảo và Tín hướng nhìn theo cánh tay của ông Chính.

Lễ nhận ra ngay cây hoa gạo chói lên mầu đỏ rực rỡ xa xa trước mặt. Mầu đỏ ấy hướng mắt Lễ vào một cổng tam quan lừng lững giữa rặng tre xanh thẫm. Dưới cây đa như kín cả mảng trời là một mái đình lấp ló...

...Anh Chính nói đúng, từ xa cũng có thể nhận ra làng mình...

   Đến đời ông nội chúng ta là cụ Phạm Trung Trực là đời thứ năm làm ăn sinh sống ở quê. Cậu là thế hệ đầu tiên rời quê nhà ra sống ở thành thị, cái chính là vì nghề dạy học...

Lễ nhớ từng lời ông Phạm Trung Chính ngày hôm qua giảng giải về gia phả họ tộc của mình. Họ Phạm Trung ở làng Hoàng Đôi có một người vào kinh làm đô uý là Phạm Trung Trực. Khi theo Tôn Thất Thuyết đánh Tây để phò vua Hàm Nghi bị bại, đô úy Phạm Trung Trực phải bỏ trốn nhiều năm mới chạy về được tới quê nhà. Cụ giáo Tuyên vẫn thường kể cho con cháu nghe: khi đô uý Phạm Trung Trực trở về ẩn náu ở làng, được dân làng che giấu, nuôi nấng, sau này làng cấp đất cho và giúp việc gây lập gia đình... Lúc đầu đô uý được dân làng thu xếp ở tạm trong đình, giao cho giữ chân trương tuần để tránh né mọi truy nã... Cổng tam quan, đình làng, cây đa, cây gạo đầu làng đã có ít nhất từ thời đó...

Lễ nhớ lại những lời ông Chính kể. ...Những ngày u ám, những ngày làng quê rực nắng, rồi mưa gió, dông bão, cảnh làng tiêu điều trong trận đói năm 1945, rồi chiến tranh, lại chiến tranh... Tất cả đã đến. Tất cả đã đi... Nhưng làng mình, cổng tam quan kia, mái đình kia, rặng tre kia và cả cây đa cây gạo kia vẫn đứng mãi, nhẫn nại chịu đựng mọi biến cố, nhẫn nại đo đếm mọi thời gian...

Mỗi bước đi càng gần đến làng, Lễ cảm thấy mình như đang thức tỉnh điều gì...

Khi đi qua con đường dẫn vào cổng tam quan trước đình làng, Lễ dừng lại, thốt lên:

   Ôi cội nguồn là đây! – một luồng sinh khí ập vào, lan tỏa, chiếm ngự tâm hồn Lễ. Mọi người dừng lại theo. Một lát sau ông Chính mới giục:

   Chúng ta đi thăm mộ trước rồi vào làng cho thuận đường.

Đến khi đứng trước mộ cha và ba ngôi mộ gia đình Minh, Lễ cảm thấy một điều gì thiêng liêng vô cùng.

Thắp xong nén hương cắm lên mộ cha, Lễ quỳ phục mặt xuống đất, lặng đi hồi lâu, nước mắt giàn giụa.

Chỉ có tiếng gió thì thào nhẹ lướt trên ngọn cỏ.

Ông Chính và tất cả mọi người cùng đi đứng yên chờ đợi. Họ thông cảm với tâm trạng của Lễ lúc này.

Mãi cho đến lúc Lễ ngồi dậy, Chính và Nghĩa mới chạy lại đỡ Lễ đứng lên. Lúc này Lễ không cầm lòng được nữa, ôm lấy hai anh, mặt hướng về tấm bia trên mộ cha, nghẹn ngào:

- Con lạy cậu! Con muôn vàn lần lạy cậu! Xin cậu tha thứ cho con!

Khi đi thắp hương cho ba ngôi mộ của gia đình Minh, Lễ vẫn nước mắt ròng ròng...

Sau viếng mộ, gia đình Lễ được dắt trở về thắp hương trong đình, đi chào họ hàng ... Hai vợ chồng Lễ và Tín đều không ngờ đến đâu cũng được chào đón chân tình, dù là mới gặp nhau lần đầu. Con cháu họ Phạm Trung hiện là chi đông nhất làng... Nhưng điều làm cho Lễ ngạc nhiên nhất là không ai hỏi Lễ về chiến tranh, về quá khứ...

Tại nhà thờ tổ của họ Phạm, Lễ gặp một cụ mà tất cả các anh chị mình đều phải gọi bằng chú. Chính tự tay cụ thắp cả một bó hương, tẽ ra ba thẻ rồi đưa cho Lễ trước:

   Con đi xa về, hôm nay là lần đầu tiên đến nhà thờ Tổ, con lễ các cụ trước đi. – nói đoạn, ông cụ ra hiệu cho mọi người lui lại một bước, để một mình Lễ lễ trước.

Sau khi Lễ sụt sùi khấn vái xong, ông cụ mới chia hương tiếp cho mọi người làm lễ.
 

Khi ngồi vào bàn uống nước, câu đầu tiên ông cụ hỏi cũng nhằm vào Lễ:

   Mộ cháu Mạnh trong ấy có được ai trong gia đình thỉnh thoảng đến sửa sang hương khói không? Cũng nên tính chuyện lâu dài các cháu ạ…

Lễ không tin vào tai mình, chỉ muốn quỳ xuống đất lạy cụ, trong lòng vừa chết lặng vì áy náy, vừa tràn đầy ơn nghĩa về sự bao dung máu mủ ruột thịt mà Lễ quá bất ngờ.

   Thưa chú... Dạ thưa… – Lễ ấp úng không nói nên lời.

   Cháu còn điều gì ngại ngần phải không? – ông cụ điềm tĩnh hỏi lại.

   Dạ… - Lễ tắc nghẹn, mặt cúi gằm xuống đất, hai tay buông thõng...

Ông bà Chính, ông bà Nghĩa hết ngỡ ngàng lại phân vân, đưa mắt nhìn ông cụ rồi lại nhìn Lễ, trong lòng không biết nên nói gì lúc này, lại càng lo cho sự lúng túng của Lễ. Cả gian nhà rơi vào chân không của sự im lặng. Câu chuyện gián đoạn mất một lúc mãi tới khi ông cụ lại chậm rãi nói tiếp:

   Chú hiểu được sự phân vân của các cháu… Ngay từ sau Bảy nhăm (1975), khi đất nước đã hòa bình thống nhất, các cụ làng này hàng năm cứ đến ngày rằm tháng bảy lại mời sư về chùa làng làm lễ cầu siêu cho mọi vong linh… Mấy chục năm chiến tranh dân mình chết nhiều quá… Dân mình phải hy sinh nhiều quá có phải không các cháu?!. … Con cháu làng này người chết cho cả hai bên không ít đâu… Nhưng… Nhưng dù sao thì vẫn là giọt máu đào hơn ao nước lã các cháu ạ… Để chú sẽ có lời thưa thốt với làng… Cháu Mạnh không phải là trường hợp đầu tiên

   làng này…

   Cháu xin tạ ơn chú. – ông Chính chắp hai tay lại trước ngực, rồi cả hai tay nắm lấy tay cụ. Ông cúi gập người xuống gần như quỳ bên cạnh cụ.

Lễ lảo đảo, không tin vào tai mình, mãi mới nói được mấy câu không đâu vào đâu:

   Dạ thưa chú… ...Cháu thì đi cải tạo ạ, vợ cháu ốm ạ... Hôm anh Nghĩa đến thăm cháu, xin phép cho cháu được về thăm nhà mấy hôm… Trên đường đi Anh Nghĩa bảo cháu đưa đi thăm mộ của em Mạnh, đấy là lần đầu tiên sau chiến tranh mộ em Mạnh mới được thắp hương ạ...

   Cho đến hôm nay chúng cháu vẫn chưa đi thăm lại được ạ... – bà Chính đỡ lời cho Lễ.

   Ông cụ ngồi im, chỉ nghe, không nói.

   …

Ông Chính tìm cách chuyển câu chuyện bằng cách giảng giải cho Lễ nghe về gia phả họ Phạm. Lần lần Lễ hiểu ra ông cụ là chú họ rất gần. Bố của ông cụ và ông nội của anh em Lễ là hai anh em ruột... Bây giờ ông cụ là trưởng tộc họ Phạm nhà... Thi thoảng ông cụ mới thêm một hai câu giúp cho ông Chính giải thích được mạch lạc các chi trong họ...

Khi ông Chính đứng dậy thay mặt mọi người xin phép ra về, ông cụ nói gọn lỏn:

   Các cháu cố thu xếp... Chú cũng sẽ cố… Thế nào rồi cũng phải đưa mộ cháu Mạnh về quê nhà...
   Vâng chúng cháu xin hứa ạ.

   ...

Khi rời làng, Lễ thốt lên với hai anh:

   Ôi các anh các chị ơi… Giọt máu đào hơn ao nước lã!.. - Lễ phải vịn vào vai hai anh mình đi hai bên, cả hai chân chùn lại nơi đầu làng như không muốn bước tiếp.
   Anh bây giờ vẫn chưa hết bàng hoàng hai em ạ… - ông Chính gần như chỉ nói cho mình.

   Hôm nay em lại càng hiểu thêm thế nào là quê cha đất tổ… - ông Nghĩa chia sẻ suy nghĩ của mình.

Cả ba anh em đi bên nhau trong tâm tư như vậy, mọi người khác lặng lẽ theo sau. Khi ra khỏi làng được một quãng khá xa, Lễ mới nói tiếp được:
   Từ nhà về quê, dọc đường em thấy làng nào cũng có nghĩa trang liệt sĩ. Họ hàng nhà mình

   quê mất mát trong cuộc chiến tranh này nhiều quá hai anh ạ.
 

   Vào trong các nhà, cứ vài nhà cháu lại thấy bàn thờ liệt sĩ các bác ạ! - Tín cùng chung ý nghĩ với bố mình.

   Em thấy công lao nhân dân miền Bắc hy sinh cho đất nước độc lập thống nhất to lớn quá...
– Lễ tiếp tục nói lên những cảm xúc của mình suốt đường về.

... Những hôm sau, ngoài việc đi chào họ hàng, gia đình Lễ được Chính và Nghĩa bố trí đi thăm một vài nơi: Hạ Long, Lạng Sơn, Bắc Ninh... Riêng Tín rất thiết tha đi thăm chùa Hương. Nguyện vọng được đáp ứng ngay, vả lại đám thanh niên họ Phạm cũng đã lâu chưa có một cuộc đi chơi dã ngoại. Tốp đi chùa Hương do Yến chỉ huy, rất đúng với vai trò chị dâu trưởng họ! Thường ngày từ kinh nghiệm của bản thân mình, Chính, Nghĩa, Kiệt và Cúc rất quan tâm làm cho bọn trẻ không phải chỉ coi trọng tình máu mủ, mà còn làm cho chúng chơi thân với nhau. Riêng ông Chính, vào những dịp thích hợp, thường chủ tâm dùng những cụm từ: Họ Phạm chúng ta.., anh chị em nhà họ Phạm.., con cháu ông bà Phạm Trung Tuyên chúng ta... Trong những ngày ở Hà Nội, đã có lần Lễ nói với anh cả mình:

   Anh Chính ạ, anh thật xứng đáng là con cả của cậu mợ và đầu tàu của dòng họ ở ngoài này.

   Gia đình là gốc rễ, phải gìn giữ em ạ.

Nước mắt và những buồn tủi của biết bao nhiêu đau khổ mất mát rồi cũng nguôi ngoai đi, dần dần nhường chỗ cho niềm hân hoan sum vầy. Cuộc sống trong các gia đình họ Phạm lại chan hoà niềm vui, tiếng cười. Thảo, Lễ và Tín ít nhiều gạt sang được một bên những tâm tư dày vò trong lòng. Yến được bố chồng giao cho nhiệm vụ “điều khiển” toàn bộ chương trình trong thời gian ở Hà Nội của gia đình chú thím Lễ. Thời giờ thì ít, chương trình lại tham, còn phải chiếu cố sức khoẻ của thím Lễ... – có thể nói Yến khá bận rộn. Nào là sắp đặt cho chú thím đi thăm ba bốn nơi để biết thêm đất nước, nào là đi lễ các chùa chiền, thăm các phố phường Hà Nội, các chú thím khác mời cơm, rồi còn phải dành đủ thời giờ cho chú thím Lễ kể mọi chuyện cho bà nghe. Bà có trí nhớ tốt nên hỏi nhiều ơi là nhiều... Cả họ Phạm, nhất là Lễ và Thảo khen lấy khen để tài sắp xếp và sự chu tất của Yến.

   Thím thấy cháu có năng khiếu một nhà quản lý rồi đấy, Yến ạ. Trước khi thi đi làm luật sư, thím đã tốt nghiệp về môn này, nên rất để ý đến cách làm việc của cháu. - Đấy là nhận xét của Thảo.

Hai thím cháu hợp nhau, nên Thảo cảm thấy rất gắn bó với Yến. Có lúc hai thím cháu ngồi nói chuyện với nhau hàng giờ về đủ các thứ chuyện. Tuy không có Nam ở nhà, nhưng qua đứa cháu dâu của mình, xem các tranh Nam vẽ, Thảo có thể hình dung và hiểu rất rõ đứa cháu đích tôn của họ Phạm, trong lòng vừa mừng, vừa âm thầm mối lo khó tả dành cho cặp vợ chồng trẻ này.

   Hai cháu rất xứng đáng với nhau, rất xứng đáng với hạnh phúc của hai cháu, thím mừng lắm. Ba Chính và mẹ Hương dạy các con giỏi quá. Trời ơi, nếu còn em Huệ, cháu sẽ là tấm gương tốt cho em Huệ về nhiều mặt...

Một hôm khác, Lễ nói với anh cả:

   Anh Chính ạ, em thấy Nam và Yến chọn nghề chưa ổn. Nam phải quăng ống nghe, dao kéo, ống tiêm đi để tập trung vào vẽ. Còn Yến phải đi làm thêm cái master về quản trị kinh doanh để về làm quản lý ngành mình học. Đấy mới là thực tài của hai cháu! – Lễ nói với anh trai như vậy.

Ông Chính thừa nhận Lễ có lý.
Một việc bất ngờ xảy ra đối với anh em ba gia đình họ Phạm: Nhân sinh nhật của Hậu, đồng
thời cũng là kỷ niệm 9 năm ngày cưới, vợ chồng tướng Lê Hải mời vợ chồng Chính, vợ chồng
Nghĩa và vợ chồng Thảo đến ăn cơm tối.
Nhận được lời mời, Nghĩa rất thận trọng:

   Rất cảm ơn nhã ý của anh chị. Xin hỏi kỹ một chút, ở cương vị anh mời cả vợ chồng Lễ dự có tiện cho anh không?
   Trước anh, Hậu đã hỏi tôi câu này. Vì Hậu là chủ tiệc mà! Chúng ta chỉ góp miệng ăn và tán gẫu thôi.
 

   Tôi hy vọng không bị anh đánh giá thấp vì câu hỏi bị ế vừa rồi.

   Không. Ngược lại! Hỏi như thế mới là Nghĩa!

Ông Nghĩa chỉ còn cách bắt tay cảm ơn bạn...

Vợ chồng Lễ rất ngạc nhiên khi Nghĩa chuyển lời mời của Lê Hải. Nghĩa nói cho vợ chồng Lễ biết qua về chủ nhà và cũng thuật lại câu hỏi ế của mình.

   Thôi, anh Nghĩa nói với anh chị Lê Hải cho tụi em ở nhà đi. Trong Sài Gòn em đã hiểu sự cách biệt giữa nguỵ và không nguỵ lắm. Nói là sự cách biệt giữa cách mạng và phản cách mạng thì nghe nặng nề quá. Sống trong Sài Gòn tụi em biết... Tụi em đến dự sẽ phiền cho anh chị Lê Hải sau này đó. – Thảo năn nỉ.

   Thảo nói đúng đấy anh Nghĩa ạ. Anh nên làm theo ý Thảo. – Lễ tán thành ý kiến vợ. - ...Tụi em ở nhà không sao đâu, lại được thêm thời giờ kể chuyện mợ nghe.
   Nếu thế em và Thảo làm phiền anh Chính và tôi nhiều hơn. Nói như vậy hai em nghe được không?
   Anh sai rồi ạ, chúng mình là anh em một nhà thì câu chuyện lại khác. Đằng này tướng Lê Hải không họ hàng, lại giữ cương vị cao nữa! Câu chuyện khác lắm... – Thảo phản bác lại.
   Nhờ có anh Lê Hải giúp, anh mới đựơc đến thăm Lễ trong trại cải tạo. Hai em từ chối lời mời này, anh Lê Hải sẽ cho hai em là vô ơn đấy!.. Thôi.., cho anh quyết định nhé: Tất cả chúng ta nhận lời mời!

Lễ và Thảo không còn gì để nói.

...Thảo được vinh dự cầm bó hoa của ba gia đình anh em họ Phạm tặng Hậu:

   Tôi được các anh các chị tôi trao cho vinh dự thay mặt các anh các chị tôi chúc mừng sinh nhật chị, chúc mừng ngày cưới của anh chị. Riêng vợ chồng tôi xin chân thành cảm ơn anh chị, nhất là cảm ơn anh Lê Hải đã giúp đỡ rất nhiều cho sự đoàn tụ trong gia đình lớn của chúng tôi...

Hậu đỡ bó hoa, ôm Thảo thắm thiết.

   Cảm ơn chị Thảo. Xin cảm ơn tất cả các anh các chị! Vợ chồng tôi biết thế nào các anh các chị cũng đến đông đủ, thế mà cả buổi chiều nay tôi cứ thấp thỏm...

Cả chủ và khách là tám người. Tám mảnh đời đi từ những chặng đời riêng khác nhau, ràng bện với nhau bằng những lẽ sống hoà đồng được với nhau, bằng tình cảm anh em, tình cảm vợ chồng, tình cảm bạn hữu... Xúc động nhất là vợ chồng Lễ, vì lần đầu tiên trong đời được sống trong một khung cảnh khó tả như vậy: vừa là gia đình anh em, vừa là bạn hữu quen biết, vừa là đồng sự cấp trên cấp dưới, vừa là xa lạ mới gặp lần đầu, song chân thật, không có gì khuôn sáo...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:01:09 pm
Mọi người chuyện trò thăm hỏi nhau khá lâu rồi mới ngồi vào bàn ăn. Thảo và Lễ được chú

   nhất.

   Xin mời nâng cốc khai vị, chúc người đẹp nhất trong ngày là cô giáo của tôi! – Lê Hải mời mọi người. – ...Xin chúc mừng chị Thảo anh Lễ lần đầu tiên cả hai vợ chồng ra Hà Nội. Xin chúc sức khoẻ anh chị Chính, anh chị Nghĩa!.. Hôm nay chúng ta được thưởng thức rượu mơ do bàn tay khéo léo nhất Vĩnh Bảo làm đấy ạ!

   Xin chúc mừng...

   Xin chúc mừng... Rượu vừa thơm vừa dịu. Chị Hậu vừa khéo tay ngâm rượu, vừa giỏi tay buộc chặt anh Lê Hải vào quê mình. Cả nhà có đồng ý nhận xét này không ạ? – ông Chính nâng cốc rượu về phía mọi người.

   Phải thưởng anh cốc này thật đầy... – Lê Hải đáp lại.

Mấy ông mày râu không tiếc lời xuýt xoa khen rượu thơm và uống được quá. Riêng Lễ vô cùng ngạc nhiên lại có thứ rượu ngon đến như vậy. Lễ cảm nhận ngay được điều này, vì xưa nay vốn là người sành rượu trong văn phòng Bộ tổng tham mưu.., hay là vì lâu quá rồi không có rượu ngon để uống...
 

   Xin bái phục chị Hậu đấy! Thực tình lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức một ly rượu ngon như thế này!.. – Lễ chân thật.

   Tất cả chỉ là cây nhà lá vườn thôi anh Lễ ạ. – Hậu vui vẻ đáp lại.

Khi chúc tụng xong, mọi người bắt đầu vừa thưởng thức vừa bình các món ăn, Hậu lên tiếng:

   Anh Hải ơi, lúc nãy anh nói hôm nay em đẹp nhất, chắc ngày mai em đẹp nhì, ngày kia em chỉ còn đẹp thứ ba... Vậy ai là người đẹp nhất của anh trong những ngày sắp tới này?
   Các anh các chị xem, cô giáo của tôi xét nét lắm. Vì tế nhị tôi không dùng chữ ghen thôi! Hậu ơi, em thừa biết ngày nào đối với anh em cũng là đẹp nhất mà! – cả bàn cùng cười.
   Chị Hậu, hôm nay tôi thừa nhận thủ trưởng của tôi có biệt tài vừa đấu vừa xoa, chị phải cảnh giác đấy...
   ...Các anh các chị ạ, - giọng Lê Hải vẫn ấm áp, nhưng thấp xuống - Nhà chúng tôi, đi làm về chỉ có hai vợ chồng lộc cộc, lúc nào cũng phải trêu chọc nhau một tý cho vui. Ngày nào cũng thế, thành thói quen... Vài hôm trước còn có bà thím tôi. Hết Tết bà cụ nhất định về quê, giữ thế nào cũng không được!

Câu chuyện trên bàn ăn chẳng có một chủ đề nào cả, tự nó đi đây đi đó, lúc đầu là cách ngâm rượu mơ, rồi đến chùa Hương, ra Quảng Ninh, vào Sài Gòn... sang cả Mỹ...

Khi đụng vào đề tài chiến tranh.

- Một đất nước kỳ lạ. Bao nhiêu kẻ nhòm ngó, hơn một thế kỷ nay chẳng lúc nào được yên. - Bà Hương thốt lên, ruột gan như thắt lại vì nhớ con.

   Các anh các chị xem Suisse và Luxemburg (Thảo không quen nói tên tiếng Việt) là hai nước nhỏ, thậm chí Luxemburg nhỏ xíu. Những nước lớn kề bên cạnh đều là sư tử, là hổ, là sói, thế mà không đụng vào được mấy anh tý hon này.

   Thảo nhớ là hai anh tý hon này cũng phải giữ quan hệ láng giềng tốt với các hàng xóm hổ sói của mình! – Lễ nói thêm vào ý kiến của vợ cho rõ nhẽ.
   Vâng, em tán thành. Hồi học ở Sorbonne em vẫn sang Genève, đi đi về về dễ như đi chợ. Gần nước ta có Thái Lan, chưa một lần bị làm thuộc địa! Các anh các chị cắt nghĩa thế nào ạ. Chỉ có một điều hơi khó là...

Mọi người không tránh khỏi ngạc nhiên về câu hỏi của Thảo.
   Những điều em nêu ra đáng suy nghĩ lắm Thảo ạ. – Nghĩa chỉ chăm chú nghe, bây giờ mới
nói.

Thảo nghĩ kỹ xem, anh thấy so sánh các nước tý hon châu Âu với nước ta khó lắm... – ông Chính muốn nghe Thảo giải thích. - Trình độ phát triển kinh tế của họ nếu không hơn thì cũng không kém các con hổ con sói chung quanh họ.

   Em thấy như thế thì nêu lên như thế. Có nhiều lý do chính trị, lý do lịch sử, văn hóa... em chưa lý giải được các anh các chị ạ. Nhưng việc này rất đáng để chúng ta ngẫm nghĩ..
   Mấy con hùm con sói loanh quanh chờn vờn mấy con cừu tý hon mà không ăn thịt thì thật là kỳ lạ! Theo tôi, dù Thảo chưa lý giải được, nhưng cũng là một gợi ý, cả nhà có thấy như vậy không ạ. – Nghĩa đồng tình với suy nghĩ của Thảo.

   Hay đấy là cái thế các hùm sói muốn ăn thịt cũng không ăn nổi, dù đấy chỉ là nước trung lập bé tẹo, có phải thế không hả chị Thảo? – Lê Hải băn khoăn.
   Vâng, có lẽ câu chuyện là như vậy ạ. Đơn giản là không có con thú nào chê mồi cả. – Thảo đáp lại.

Câu trả lời của Thảo làm cho Lê Hải và Nghĩa nhìn nhau hồi lâu. Một lúc sau Lê Hải mới nói tiếp:

   Tôi cho rằng cái khác lớn nhất, khó nhất so với Thuỵ Sĩ và Luxemburg, là nước ta có trình độ kinh tế chậm phát triển, quá lạc hậu, nên dễ bị bắt nạt. Có lẽ đây là gốc gác nguyên thuỷ nhất của mọi chuyện... Hơn nữa ngày nay địa chính trị và địa kinh tế châu Âu rất khác so với châu Á, lịch sử và văn hóa lại càng khác. Nhưng dù sao vẫn có nhiều điều phải suy nghĩ tiếp...
 

   Anh Hải có lý đấy. – Nghĩa đồng tình. - ...Vì thế khi nói đến giàu hay nghèo, yếu hay mạnh là phải luôn luôn so sánh hàng ngang, đặt mình trong mối tương quan với chung quanh... Rất đáng phải nghĩ về cái thế này để thiên hạ dù có muốn ăn thịt mình cũng không được có phải thế không ạ? Có lẽ đấy mới thật là cái gốc của mọi câu chuyện.

   Chú Nghĩa cứ nghĩ tiếp đi. – bà Chính xen vào - ...Từ hôm cháu Nam ra mặt trận, hơn một năm trời nay tôi ngày đêm cứ tự căn vặn mình: Tại sao dân ta phải khổ mãi như vậy? Là mẹ, tôi chẳng bao giờ thích đưa con mình ra trận cả! Ruột đứt từng khúc... – ông Chính phải nắm lấy tay bà Hương trên bàn để giữ cho vợ mình đừng xúc động quá.

   Chị Hương ơi, so với hiểu biết của chúng ta, vấn đề Campuchia phức tạp hơn nhiều. – Nghĩa cũng tìm cách làm vợi nỗi đau của chị dâu.

Không khí vui vẻ trong bữa cơm bỗng tụt hẳn xuống.

Nỗi xót xa của chị dâu đưa Nghĩa trở lại buổi tâm sự hôm nào với Nam trước ngày lên đường. Nghĩa còn nhớ rất rõ cảm giác tim mình thót lại, đất dưới chân mình bỗng dưng sụt hẫng đi đâu mất khi Nam cho biết được lệnh đi chiến đấu ở Campuchia. Nghĩa vừa phải động viên cháu lên đường, vừa xót cháu mình. ... Mình cả đời lăn lộn với bom đạn như thế vẫn chưa đủ ư? Bây giờ lại đến lượt cháu mình, những người thuộc thế hệ cháu mình nữa... Mọi thương đau như lại tấy lên, như lại ứa máu... Những thương đau Nghĩa trải qua, những thương đau Nghĩa là nhân chứng trên đường chinh chiến, những thương đau ngay trong đại gia đình của mình... Ôi đất nước tôi!.. Nghĩa nắm chặt ly rượu để không thốt ra lời...

Khi mọi người ra xa-lông ngồi ăn tráng miệng, câu chuyện chuyển sang hỏi thăm dự định cho cuộc sống tương lai của gia đình Lễ ở Mỹ.

   Mệt mỏi, chị ạ. Tâm trạng bọn tôi bây giờ là mệt mỏi, là không thiết gì nữa, nhưng có lẽ bây giờ le lói hy vọng... – Thảo trả lời Hậu.
   Nhà tôi còn có thêm chuyện sức khoẻ nữa anh Hải chị Hậu ạ. – Lễ bổ sung cho ý của Thảo. - Đã có lần nhà tôi nghĩ đến lập một ngôi chùa nhỏ trong nhà để tu tại gia. Tôi gạt đi. Nhưng cả hai chúng tôi muốn an phận thủ thường, may ra có được những ngày thanh thản cuối đời.

   Nhưng anh chị cũng nên thỉnh thoảng về Việt Nam thăm gia đình lớn của mình chứ. Tôi nghĩ rằng rồi chuyện đi đi về về sẽ dễ dàng chứ không như bây giờ. Rồi còn để cho cháu Tín không quên anh chị em của cháu... - Lê Hải ngồi cạnh cùng góp chuyện.

   Vâng, lúc nãy Thảo nói bắt đầu hy vọng là như vậy anh Hải ạ. Ra ngoài này vợ chồng tôi cứ khen mãi anh Chính trong việc dạy dỗ các cháu giữ nề nếp họ Phạm. Tôi hy vọng đấy là sợi dây liên kết bền chặt.

   Anh Lễ ạ, trong cuộc đời người ta, có điều ý thức được, có điều không ý thức được, lại có cả những điều số phận đưa đẩy không cưỡng lại được. Bây giờ anh chị khát khao sự thanh thản, tôi hiểu được và thông cảm. Tôi thấy cũng nên như vậy. Tôi còn hy vọng trong thanh thản anh chị sẽ tìm lại được mình. ...Rồi thời gian có thể sẽ đem lại nhiều ý nghĩa hơn cho cuộc sống...

Anh em họ Phạm nhà anh chị là những người nhiều nghị lực...

Lễ đặt tay mình lên tay Lê Hải:

   Vợ chồng tôi rất cảm ơn lời động viên chí tình của anh. Anh nói đúng, có những điều không sao cưỡng lại được, có lẽ số phận gia đình tôi là như vậy. Anh làm cho tôi hy vọng vào thời gian.

   Tôi hiểu, tôi đã được nghe anh Nghĩa thuật lại cho nghe tất cả, ...cả câu chuyện tâm sự bất tận giữa anh và anh Nghĩa đêm nào...
   Chuyến đi Hà Nội lần này là chuyến trở về nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Nhờ chuyến đi này, rồi buổi tối hôm nay ở nhà anh chị nữa, gia đình chúng tôi sẽ ra đi trong ít nhiều hy vọng.
   Sự thông cảm của các anh các chị tôi, của anh chị hôm nay, làm chúng tôi cảm thấy nhẹ lòng... – Thảo nói thêm vào. - Năm sáu năm trời nay, bây giờ chúng tôi mới được sống với cảm giác nhẹ nhõm thế này...

Vợ chồng Chính và vợ chồng Nghĩa ngồi nghe, trong lòng thầm cảm ơn Lê Hải. Không thể tìm đâu được những lời động viên vợ chồng Lễ hiệu quả hơn thế...
 
Nhân lúc mọi người xúm lại chỗ tủ chè để nghe bà Hậu giới thiệu cách ngâm rượu mơ rất độc đáo, chỉ còn Lê Hải và Lễ ngồi lại với nhau chỗ xa-lông vì đang dở dang câu chuyện, Lê Hải ghé sát vào tai Lễ:

   Tôi hỏi anh thực lòng, trong trại cải tạo các anh có được đối xử tốt không? Đang vui vẻ mà mặt Lễ bốc lên đỏ dừ, chết lặng.

Lê Hải hiểu được. Ngồi im chờ một lúc, Lê Hải lựa lời:

   Anh không muốn trả lời là tôi đã hiểu câu trả lời của anh rồi... Trời đất! Biết làm thế nào!.. – mấy tiếng cuối cùng Lê Hải nói gần như rên lên.

Như là người được thoát nạn, Lễ vồ lấy tay Lê Hải, nắm chặt:

   Xin chân thành cảm ơn sự thông cảm của anh. Nhưng tôi cảm ơn anh gấp nhiều lần vì đã không ép tôi phải nói ra những điều tôi không muốn nói, những điều tôi đang muốn quên...
   Chiến tranh đã qua rồi mà cái bóng của nó vẫn tiếp tục cướp bóc chúng ta nhiều quá anh Lễ ạ... Không biết đến bao giờ...

Từ hôm vợ chồng Lễ ra ngoài này, cụ Tuyên bà nhanh nhẹn thêm một chút. Song cũng chỉ được vài ngày. Cái yếu của tuổi già và bệnh tật, nhất là bệnh huyết áp cao, vẫn ngày một lấn át mọi cố gắng của cụ. Mấy ngày gần đây cụ không đi lại được nữa. Thảo giành lấy mọi việc nâng đỡ chăm sóc vệ sinh cho cụ, trong thâm tâm nhói lên ý nghĩ không biết rồi đây mình có còn cơ hội thực hiện bổn phận con dâu đối với mẹ chồng nữa hay không…

   Sang bên ấy hai con cố nài chú thím Học về chơi, cho cả gia đình Hoài về.

   Cầu trời được như vậy mợ ạ.

   Mợ sẽ cố sống để chào đón chú thím, vợ chồng Hoài, các cháu...

   Có dịp, chúng con cũng sẽ cố gắng về thăm mợ.

   Nhớ đưa cho Hoài cái áo len mặc hồi còn bé.

   Dạ, nhà con đã gói cẩn thận và cho vào va-li rồi ạ. ...Mợ nghỉ một lúc đi cho đỡ mệt. Con bóp chân cho mợ nhé.
   Ừ, hai chân hôm nay làm sao đau lắm, lại trở trời rồi, bắt đầu đau lên hai vai... Kể chuyện tiếp đi... Sao Huệ đã thế mà hai con không làm lễ cưới sớm cho cháu?..
   ...

Thảo vừa lau nước mắt, vừa kể lại chuyện cũ cho mẹ chồng nghe.

Một ngày trước hôm bay trở vào Sài Gòn, vợ chồng Lễ không đi đâu nữa, suốt ngày chỉ luẩn quẩn bên cụ Tuyên bà. Không dám nói ra, nhưng vợ chồng Lễ lo lắng không biết có còn dịp nào được gặp lại mẹ nữa không. Một điều biết trước dường như là cầm chắc như thế mà không sao chịu đựng nổi!..

Nhân lúc cả nhà đi vắng hết, Thảo đang bận bịu dưới bếp, Lễ ngồi tâm sự với mẹ về tâm trạng chán chường của mình, được vài câu Lễ gục vào lòng mẹ, nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa:

   Mợ ơi, con khổ quá! Con được sống với cậu mợ ít quá. Cả như bây giờ con cũng không ở lại với mợ được nữa!.. Khi con chờ anh Nghĩa vào trại cải tạo thăm con, đã có lúc con hy vọng chiến tranh qua rồi, gia đình mình sẽ đoàn tụ... Con đã bao phen đắm chìm để bảo vệ bằng được gia đình bé nhỏ của mình... Nhưng rồi con đã không giữ được Huệ, rồi cuối cùng gia đình con sẽ phải ra đi không sao cưỡng lại được, con lại bắt đầu phải sống xa mợ!.. Con là như thế...

Con không tự thay đổi được mình nữa! Con khổ quá mợ ơi...
 

9.

Hai Hân ghi thêm một chiến tích mới: Nêu gương tiến công vào tâm lý hữu khuynh của một số cán bộ trong thành phố. Người bị Hai Hân nêu ra làm tiêu biểu là Bảy Dự. Hai Hân bỏ qua Ba Khang, vì đằng nào Ba Khang cũng xếp vào loại xế chiều về tuổi tác. Còn trình độ mọi mặt thì lại càng kém, không thể so với Bảy Dự. Gần đây chính Ba Khang có đơn xin nghỉ công tác, với lý do trình độ hạn chế.

...Bây giờ mình phải làm cho mọi người tâm phục khẩu phục bác bỏ Bảy Dự, nhất là bác bỏ sự mê tín vào cái trí thức quèn của anh ta... Giáo viên trung học, chứ có là cái gì ghê gớm đâu...

Dân trong thành phố không ít người cứ chê bai cán bộ này là nông dân, cán bộ kia là công nhân nông trường... Họ còn nói điều hành công việc của thành phố thời bình phải là những người có học, có văn hoá... Ta sẽ chứng minh đấy không phải là lãnh địa riêng, là đặc quyền của các người!..

Sự bận rộn ngày đêm hình như chỉ mang lại cho hai Hân nhiều điều phấn khích. Cuộc đời phấn đấu từ một công nhân lam lũ trở thành giám đốc, lại phó Ban Dân vận, rồi đây chắc sẽ còn tiến xa nữa.., Hai Hân rút ra chân lý: Càng ngày mình càng hiểu, đời là nối tiếp các cuộc chinh phục không ngừng! Khi mình phiêu bạt giang hồ cũng thế, bây giờ cũng thế. Cảm ơn trời đất, mấy năm gần đây bệnh tật cũng êm êm, mình không biết mệt mỏi là gì...

Trong Thành phố: ...Nào là vấn đề nuôi sống mấy triệu người. Nào là yêu cầu trật tự trị an. Ngay trước mắt cần trấn áp cả một thiên la địa võng các băng đảng ác ôn du thử du thực chăng rải khắp Thành phố – không ít các băng đảng này trước đây là những móc xích của CIA, của nguỵ quyền và của các tổ chức chính trị phản động. Nào là các tệ nạn văn hoá, xã hội khác. Nào là vấn đề chi viện cho Campuchia ... Chưa nói gì đến những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố, chuyện học hành của học sinh...

Bây giờ lại thêm những hậu quả tích tụ ngày một nhiều của tình hình di tản. Lác đác có một số hiện tượng đáng ngại về an ninh chính trị. Lãnh đạo Thành phố đòi hỏi phải thận trọng trong xử lý mọi công việc, không thể lẫn lộn các sự việc hình sự, kinh tế và chính trị...

Phụ trách công việc giữ gìn trật tự trị an cho dân cư của quận mình, Bảy Dự ý thức được yêu cầu nghiêm ngặt này. Mong muốn thì đúng đắn như vậy, song cuộc sống nhiều khi là con ngựa bất kham. Cách đây hơn một năm trong thành phố xảy ra vụ một số cán bộ ăn tiền của người di tản, móc ngoặc với bên ngoài tổ chức một mẻ di tản lớn trót lọt. Mẻ di tản lớn này cho đến nay vẫn gây xôn xao trong Thành phố, vì trong những người ra đi có ba gia đình anh em Năm Thịnh và một số người trước đây đã tham gia lực lượng thứ ba trong Mặt Trận. Quận của Bảy Dự có hai người tham gia vào vụ bê bối này. Hai Hân đặt tên cho vụ này là vụ Năm Thịnh. Sau vụ này số người trong quận của Bảy Dự di tản không thành tốp lớn nữa, nhưng số lượng không giảm…

Trong việc truy tìm những đầu mối của các mẻ di tản sau, người ta tìm thấy khá nhiều tài liệu thật giả lẫn lộn, đủ mọi loại nguồn gốc, hầu hết là photo copy. Nào là bản hướng dẫn làm thủ tục khai báo với cơ quan nhập cư Mỹ, mẫu đơn xin tị nạn chính trị, bản tôn chỉ mục đích của Hội đoàn tụ gia đình - địa chỉ ...CA- USA, địa chỉ liên lạc của Hội cựu chiến binh Báo đen -

...Texas - USA, lời kêu gọi của hội này gây bạo loạn lật đổ chế độ Hà Nội, thủ tục thỉnh cầu sự can thiệp của Cao uỷ tị nạn quốc tế UNHCR, đường dây dịch vụ chuyển tiền, “10 điều khuyên trong thời gian sống ở trại tị nạn”, địa chỉ các thành viên Uỷ ban Nhân quyền phụ trách Việt Nam, Điều lệ Việt Nam Cứu Quốc Hội – các địa chỉ liên lạc tại Mỹ, Philippines, Thái Lan, Campuchia.., hiệp hội “Những người Mỹ vì Việt Nam tự do” – trong danh sách lãnh đạo của tổ chức này người ta thấy tên một số nhân viên CIA loại trùm sỏ ở Sài Gòn trước đây như J. Polgarier, M. Colbie ... Tại quận của Bảy Dự người ta còn tìm được hai bản photo copy gồm các đoạn trích trong những bài báo tiếng Việt và tiếng Anh ở nước ngoài. Những đoạn trích này lấy ra từ các bài báo có chủ đề chính cho rằng sự đàn áp ở Việt Nam làm bùng nổ các làn sóng di tản; những bài này in chung dưới tiêu đề lớn “Tố cáo chế độ Hà Nội vi phạm nhân quyền...”. Ngoài ra có bốn thư tay của người di tản sống ở Mỹ gửi về cho gia đình. Trong các thư có một thư nêu địa chỉ liên lạc với thiếu tá nguỵ Lý Lam. Một thư khác là của đại tá nguỵ Quách Minh
 

Châu gửi cho em vợ, thư về đến nơi thì người nhận đã đi di tản trước đó một tháng. Thư này kể nhiều chuyện về cộng đồng người Việt ở California. Châu không ngờ đến đây gặp lại một số bạn cũ trong Ban thư ký Tổng tham mưu ngày xưa, lại có thêm bạn mới. Trong thư người ta đọc được một số tên như Tôn Thất Loan, Phạm Trung Lễ, Năm Lửa – tức Năm Thịnh.., trước đây là chủ khách sạn Eden ở Sài Gòn...

Bảy Dự không một chút nghi ngờ các hoạt động vừa ăn cướp vừa la làng trong việc lôi kéo di tản, gây hoang mang và tạo cơ hội diễn biến hoà bình, lật đổ chính quyền cách mạng. Song nếu coi tất cả mọi người đi di tản là vì động cơ chính trị thì không thể chấp nhận được. Bảy Dự và Hai Hân đã nhiều lần tranh luận với nhau tới số, song chưa ai chịu ai. Cho đến nay các cuộc họp đều nhấn mạnh không thể coi thường sự can thiệp ngày càng trắng trợn từ bên ngoài, phê phán quyết liệt các nhận thức mơ hồ, hữu khuynh...

Cuộc họp hôm nay bàn về đối sách với những người đã đi di tản trong quận của Bảy Dự. Hai Hân tham gia với tư cách là đại diện ban dân vận của thành phố, ngầm hiểu là trên Bảy Dự một cấp.

Bảy Dự trình bày, giải thích khá dài, nhưng tựu trung lại có hai điểm mấu chốt nhất: Một là đối sử với gia đình hay thân nhân của những người di tản còn ở lại theo pháp luật, bình đẳng như các công dân khác, hai là nếu những người di tản có tài sản để lại, nhất là bất động sản, thì nhất thiết không được đụng đến. Lập luận của Bảy Dự là phải bám vào quan điểm chỉ đạo của thành phố là không nên làm cho tình hình rối rắm thêm.

Người nổ phát súng đầu tiên vẫn là Hai Hân:

   Quan điểm của lãnh đạo Thành phố là để chỉ đạo, còn đi vào thực hiện phải cụ thể hoá từng trường hợp. Theo anh Bảy thì sự ra đi của Năm Thịnh có phải là phản động không.
   Tôi cho là không.

   Nếu không hiểu hành động của Năm Thịnh là chống đối cải tạo tư sản, là chống đối đường lối chính sách của Đảng, thì hiểu nó là cái gì?
   Trước sau vẫn là bất mãn. Chúng ta không nên đã mất người lại còn biến họ thành thù.

   Bất mãn, bỏ cách mạng, bây giờ sống trong lòng địch và bè lũ phản động người Việt ở nước ngoài, thế không phải là phản động à? Bất mãn bỏ nước ra đi có khác gì lắm với chống chế độ? Anh có chắc rồi đây Năm Thịnh không quay về chống ta không?

   Hỏi thế làm sao trả lời được, nhưng Năm Thịnh ra đi là vì bất mãn.

Anh Bảy chỉ xem xét Năm Thịnh lúc ra đi, không nhìn vào diễn biến của sự việc, lại càng không để ý đến những tài liệu ta bắt được. Sao lại có thể nhìn nhận sự việc tĩnh tại thế, cũng không để ý đến môi trường Năm Thịnh đang sống bây giờ!

   Tôi không tán thành cách suy diễn như vậy. – Bảy Dự kiên quyết bác lại.

   Sai lầm là ở chỗ này! Cả hội nghị nghĩ xem, tình hình di tản trước khi ba anh em nhà Năm Thịnh ra đi như thế nào, bây giờ như thế nào? Tình hình chung trước đây phức tạp hơn, hay là sau vụ Năm Thịnh phức tạp hơn? Đối phó với tình hình hiện nay bằng cách suy nghĩ cầu an như của anh Bảy có được không?..

Cuộc tranh luận tay đôi chuyển sang cuộc thảo luận của cả hội nghị. Nhiều ý kiến thừa nhận điều rành rành là tình hình bây giờ phức tạp hơn nhiều. Nhiều ý kiến đồng tình không thể nhìn sự việc tách rời với những diễn biến chung quanh đang xảy ra. Một số ý kiến còn đi xa hơn, phê phán Bảy Dự là mơ hồ, mất cảnh giác...

Sau khi đa số dự hội nghị tán thành ý kiến của Hai Hân, cuộc thảo luận vấp phải vấn đề khó hơn: Các biện pháp xử lý. Quan điểm chỉ đạo của Thành phố luôn được nhắc đến, nhưng đi vào các trường hợp cụ thể của quận thì không dễ chút nào.

Trường hợp di tản của em vợ Quách Minh Châu dính dáng đến việc cuỗm một số tiền khá lớn của những người muốn di tản đang bị kẹt lại. Có những chứng cứ cho thấy chính hắn ta đứng ra tổ chức đường dây này và dụ dỗ nhiều người tham gia. Chỉ có khoảng một phần ba số người đóng tiền đi được trót lọt. Nhà của hắn ta lại là nhà đi thuê, do người vợ cả và một đứa
 

con trai cả đang ở, những tài sản khác hắn bán tống bán tháo hết trước khi bỏ trốn ra nước ngoài, nghĩa là chẳng có gì để bồi hoàn cho những người bị lừa... Dựa vào thế lực hay tổ chức chính trị nào hắn ta làm được việc này? Xử lý thế nào đây? Không xử lý được thì vô hình chung khuyến khích các đường dây mới...

Đã thế có một số người không đi được trót lọt, quá tiếc của… Một số người trong đám họ vốn là họ hàng ruột thịt với Bảy Dự, nhờ ảnh giúp tìm cách đòi lại tiền. Bảy Dự không sao thoái thác được. Có lúc Bảy Dự hết cả kiên nhẫn:

   Bác làm việc phạm pháp như thế lẽ ra phải bắt giam đấy!

   Thôi… Bỏ qua đi… Bác nghe người ta xui dại mà…

   Tại sao khi đóng tiền đi di tản bác không đến báo cho chính quyền biết. Bây giờ mất tiền bác lại nhờ chính quyền đứng ra đòi hộ?
   Thì có tin chính quyền mới nhờ chính quyền đứng ra đòi chớ! Thế chính quyền không bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân à?.. Cháu giúp bác đi…
   Đành là thế, nhưng bây giờ người nhận tiền của bác cao chạy xa bay rồi. Vì sao hồi ấy bác lại phải tìm cách cho gia đình di cư bất hợp pháp như thế. Nhà ta có làm điều gì sai không mà phải đi lén?

   Chỉ có buôn bán thôi mà, có làm gì đâu… Cháu biết quá đi rồi. Chính phủ ta thì không có chủ trương cho đi, mà nơi đến cũng dứt khoát không nhận. Vậy không đi lén thì đi bằng cách nào?

   Biết thế mà bác vẫn liều?..

   Người thì nói bây giờ cái gì cũng quốc doanh hết, sống thế nào được! Người khác lại nói bên ấy làm ăn dễ lắm, thế thì tội gì không đi! Ai biết đâu bị mắc lừa như thế này!..

Bảy Dự hiểu thêm ra nhiều điều.

Trong quận của Bảy Dự có hai người tham gia vào vụ bê bối Năm Thịnh, một cán bộ phường và một cán bộ quận, hơn một năm rồi vẫn chưa giải quyết xong. Hai cán bộ này đã buộc phải thôi việc và bị xử lý theo pháp luật về tội tham nhũng. Nhưng câu hỏi chưa làm rõ được là: Vụ bê bối này chỉ đơn thuần là chuyện sa đoạ của cán bộ hay còn nguyên do gì khác? Nếu có vấn đề chính trị thì càng không đơn giản chút nào. Bảy Dự vẫn còn nợ trên câu trả lời và cũng tự cảm thấy tín nhiệm của mình ngày một giảm sút. Ngay trong cuộc họp này Bảy Dự cũng thấy ý kiến của mình không được coi trọng như trước nữa... Trong khi đó ý kiến của Hai Hân ngày càng được vì nể, nhất là khi Hai Hân phê phán quan điểm hữu khuynh của Bảy Dự...

Hai Hân toàn thắng trong việc bác bỏ ý kiến Bảy Dự, nhưng hội nghị không toàn thắng trong việc thông qua những giải pháp ổn định tình hình và kiểm soát tình trạng di tản. Đại thể vẫn là những quyết sách chung chung: nắm vững phương châm chỉ đạo của Thành phố, tăng cường giải thích chính sách và học tập chính trị trong các cụm dân cư, phổ biến những thông tin về tội ác dã man của hải tặc để răn đe...

Là phó Ban Dân vận của Thành phố, trong thâm tâm Hai Hân thừa nhận những biện pháp đã thông qua không tác động được bao nhiêu vào những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề di tản.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:02:04 pm
Hai Hân tặc lưỡi trong đầu: ...Làm gì giữ được di tản ở lại mới tài, chung chung thế này không nước mẹ gì! Trí tuệ của cả hội nghị cũng chỉ tìm ra được ngần ấy giải pháp, chứ đâu có phải riêng mình mà băn khoăn!.. Cái chính là hội nghị tâm phục khẩu phục về cái bệnh hữu khuynh của Bảy Dự!..

Một tháng sau, với lý do phải tăng cường chất lượng giảng dạy của trường phổ thông trung học Quang Trung trong quận, Bảy Dự được cử về đấy tham gia ban giám hiệu...

Hai Hân nhận được tin trên trong lúc ăn tối tại xí nghiệp in quốc doanh Tự Lực, chân muốn nhảy cẫng lên nhưng không tiện. Quanh bàn ăn không có ai có thể chia sẻ tin vui này... Gần đây Hai Hân có thói quen những ngày không phải đi công tác thì thường tham gia đánh bóng chuyền với công nhân sau giờ làm việc, ở lại tắm rửa, ăn cơm tối xong mới về nhà. Vợ Hai Hân đã quen cái cảnh ăn cơm một mình. Hôm nào phải họp hành, hoặc giả có việc gì vui thì Hai Hân
 
ngủ lại trong xí nghiệp. Tối nay có một số việc phải bàn thêm, nhưng Hai Hân đang cuồng lên, quyết định về nhà.

   Anh nói tối nay họp nên ngủ lại trong xí nghiệp cơ mà? – vợ Hai Hân ngạc nhiên khi thấy chồng về.
   Đột xuất!

   Anh nói cái gì? Về nhà ngủ đột xuất? – hai mắt vợ hai Hân mở to, mải nhìn chồng, tay suýt gạt rơi mấy cái bát đĩa đang rửa. Chị vừa mới ăn cơm tối xong.
   Cưng ơi, phải đi học chính trị nâng cao trình độ đi. Người ta nói công tác đột xuất, chứ không ai nói ngủ đột xuất!
   Ở nhà làm gì có gì mà công tác đột xuất. Thế về không ngủ đột xuất thì làm cái gì?

Hai Hân ớ ra một lúc và cũng cảm thấy tức cười, định chọc vợ một câu nữa thì bị chẹn luôn:

   Đột xuất là tự anh nói ra, chứ không phải em đâu nhé!

   Thôi được, không có công tác đột xuất thì ngủ đột xuất càng thích chứ sao. Hôm nay chúng ta ngủ đột xuất đi! - Hai Hân luồn ra phía sau, ôm kín cả người vợ, hai tay thộp lấy vú vợ, bóp mạnh: - Ngủ đột xuất! Dùng từ rất chuẩn!

   Đồ quỷ, vỡ hết cả bát đĩa bây giờ!

   Có chút gì nhậu không?

   Anh chưa ăn cơm sao?

   Rồi, nhưng muốn nhậu đột xuất ở nhà một chút!

   Rượu trắng má đem ra cho vẫn còn nguyên trong can đấy, cả gói cá chỉ vàng nữa. Em đi nướng cá cho anh nghen?
   Tuyệt!

Loáng một cái mâm bát, cút rượu, đĩa cá nướng, đĩa lạc rang đã dọn ra trên bàn. Vợ Hai Hân vặn cái quạt trần tăng thêm một nấc nữa rồi lại ngồi cạnh chồng:

   Sao tự nhiên hôm nay lại nảy ra cái chuyện đột xuất?

   Chuyện này khác, dài lắm. Làm một chút lai rai với anh đi.

   Một chút thôi nghen.

Hai Hân rót cho vợ đầy ly rượu, bị vợ đổ trả lại quá nửa vào cái ly bự của mình:

   Đằng nào cũng đi ngủ, lo gì.

   Đừng. Mai em phải đi làm sớm. Uống nhiều mai không dậy được thì chết!

   Uống ít cũng được, nhưng ngồi tiếp anh chứ? Nhậu một mình buồn chết luôn.

   Ngồi nghe anh kể chuyện đột xuất đây.

   Từ từ. Đã bảo là chuyện dài dài mà.

   Chắc anh quyết định chuyển nhà rồi phải không?

Hai Hân nhâm nhi, vừa nghe vợ nói, vừa theo đuổi các suy nghĩ của mình.

   Em đã đoán là không thể sai. Mà cũng đã đến lúc rồi. Ai lại giám đốc bao nhiêu năm mà vẫn cứ chui rúc mãi cái chuồng heo trong hẻm cụt này. Thỉnh thoảng anh phải đi công tác xa, lái xe đến đón anh cũng cực.

   Anh nói mãi rồi, chuyện nhà cửa cứ thong thả mà em. Phải nghĩ xa hơn. Ngay đến cái xe máy đi làm anh vẫn giữ cái Honda tòng tọc kia, quăng nó đi lúc nào chẳng được. Phải nghĩ đến cái lớn hơn.

   Thế thì chịu, không đoán được cái chuyện đột xuất hôm nay là gì.

   Anh thắng to. Con đường chính trị của Bảy Dự hết rồi, bây giờ lại trở về nghề thầy giáo.

   Em không hiểu. Dạy học là nghề chính của ảnh, có gì mà thắng to với thắng nhỏ?
 

   Thế mới bảo là chuyện dài dài mà. Anh quyết định đi học dài ngày. Em chịu khó ở nhà một mình, hoặc mời má ra sống với em cũng được.

   Chị Hai một nách mấy con nhỏ, má không bỏ chị ấy một mình được đâu.

   Nếu vậy em chịu khó ở nhà một mình.

   Em thế nào cũng được. Nhưng từ ngày bác Tiến ra Hà Nội, em thấy anh quên đứt cái chuyện đi học rồi cơ mà.
   Khác rồi. Bây giờ nhìn xa nên lại muốn đi học.

   Cá em nướng hơi ỉu ỉu một tý thế này mới ngon. Tối hôm qua chúng nó nướng hơi cháy, ăn đắng thấy bà. – Hai Hân vừa ăn vừa nói, đầu óc đang có nhiều tính toán chạy qua.
   Em lấy thêm tương ớt cho anh nghen?

   Em bảo sao, má bận với chị Hai hả? Thì em cũng là con gái của bả.

   Phải thông cảm với chị Hai, cặp nách một bầy con mọn, đừng bì với chị ấy.

   Thế cũng được. Miễn là em tán thành anh đi học.

   Đã bảo em thế nào cũng xong mà.- Biết không cưng, uy tín anh đang lên! Thêm cái bằng chính trị nữa là thiên hạ miễn eo sèo. Một mình anh đánh đổ 5 tư sản đấy!
   Công tác anh xông pha ngày đêm như vậy, hết ý. Ai nói gì được?

   Thế mà vẫn có người cứ hay so sánh anh với Bảy Dự. Nhưng bây giờ thì miễn! Miễn hẳn! Có thêm cái bằng chính trị nữa thì một Bảy Dự chứ ba bốn BảY Dự cũng phải ngước nhìn lên!
   Sao cứ nhằm vào anh Bảy?

   Bênh hả?

   Anh có xích mích gì với ảnh không?

   Xích mích thì không.

   Thế thì vì cái gì vậy?

   Họ cứ hay lấy Bảy Dự ra để đo anh!

   Chỉ vì thế mà tối nay anh về nhà?

   Đại sự như thế còn gì nữa!

   Coi bộ về nhà tối nay chỉ là vì đại sự.

   Cái chính là để em động viên anh đi học.

   Đừng móc ngoặc lung tung thôi, chứ đi học thì tha hồ!

   Em nói cái gì?

   Đã bảo là cứ liệu, đừng móc ngoặc lung tung.

   Em hiểu móc ngoặc là gì?

   Là trai móc với gái rồi ngoặc với nhau, anh cứ vờ vĩnh mãi!

   Thế tối nay anh với em cũng là móc ngoặc à?

   Chứ còn gì nữa, đừng có rỡn hoài!

Hai Hân ôm bụng cười ngặt nghẽo, miếng cá chỉ vàng đang ăn dở văng xuống sàn nhà.

   Anh hôm nay sao trơ tráo thế, người ta mắng cho mà vẫn còn cười!

   Không, em làm anh buồn cười quá!

   Buồn cười cái gì mới được chứ? Hôm nay em làm sao?

   Em không làm sao cả. – Hai Hân vẫn cười. - ...Em sai rồi!

   Nhưng mà sai cái gì? – vợ Hai Hân không giữ được kiên nhẫn nữa.

   Em dùng từ sai rồi. Người ta không nói móc ngoặc để chỉ chuyện trai gái. Anh Tiến đã có
 

lần giải thích móc ngoặc, con phe, cưa đôi ... là từ ngữ kinh tế ngoài Bắc từ khi có chế độ tem phiếu, trước kia không có trong đời sống hàng ngày. Móc ngoặc là chuyện làm ăn móc nối, thông đồng với nhau để moi hàng theo giá bao cấp, rồi tuồn ra bán ngoài thị trường với giá chợ đen! Sau giải phóng từ này mới được du nhập vô trong này, nhưng hiểu có khác đi đôi chút.

   Em có ra ngoài Bắc bao giờ đâu mà biết. Mấy lần anh Tiến đến ăn cơm nhà ta, thấy anh và anh Tiến thỉnh thoảng lại thì thào với nhau chuyện móc ngoặc thì cứ ngỡ là...
   Bù lại ngoài Bắc nhập từ bồ bịch của miền Nam từ sau giải phóng...

   Thôi, đã thế em nói lại: Đi học thì đồng ý, còn bồ bịch lung tung thì không được! Nói thế rõ chưa?
   Lại bắt đầu ghen rồi phải không?

   Em đi nướng thêm cá cho anh nghen?

Câu chuyện cứ dóng một thế mà lai rai sang đĩa cá nướng thứ hai. Tiếp rượu cho chồng, thỉnh thoảng vợ Hân mới cầm lên một con cá nhỏ, nhưng ly rượu một nửa chồng rót cho thì vẫn còn nguyên. Câu chuyện có vẻ như đứt làm nhiều đoạn, bởi vì Hai Hân vừa thưởng thức món nhậu, vừa xắp xếp trong đầu những việc sẽ làm, lại vừa tiếp chuyện vợ. Tuy vậy vợ Hai Hân hiểu rõ chồng mình rất quyết tâm đi học. Nói chuyện với chồng trong bữa nhậu đột xuất này, mỗi câu cộc lốc của chồng lại làm cho bao nhiêu ý nghĩ về chồng quay cuồng trong đầu chị.

...Bây giờ là vợ giám đốc rồi, ảnh đi học về mình sẽ là gì nữa đây? Mình đâu có cần chức tước gì của ảnh? ...Đời là tiếp nối các cuộc chinh phục không ngừng!.. Hình như có lúc ngủ mơ ảnh cũng nói câu này. Sao đàn ông họ thích theo đuổi những chuyện hão huyền vậy! Đến nỗi nhà được phân rồi mà còn giữ kẽ chưa nhận. Không biết còn cam chịu ở cái xó này cho đến bao giờ!..

...Khi tắt đèn leo lên giường đi ngủ, vợ chồng Hai Hân lại đụng ngay phải cái chuyện bàn đi bàn lại mãi xưa nay: Cưới nhau đã gần 5 năm rồi mà chưa có con. Cúng, lễ, đi bệnh viện, xem tướng... đều chưa hiệu quả.

Có lúc vợ bảo lỗi tại chồng, dẫn chứng là chị gái mình một nách bốn đứa con, năm một sàn sàn nhau. Chồng bảo lỗi tại vợ:

- Đừng ăn nói lung tung nhé, trước đây con rơi con vãi vô thiên ổng!

Hai vợ chồng mấy lần dắt nhau đi xem bói, xem tử vi. Có lần ông thầy nói: Thế nào cũng có con, con trai hẳn hoi, nhưng muộn...

Được cái hai vợ chồng biết chịu đựng nhau, an ủi được nhau.

Lần này cũng vậy, vợ Hai Hân né đầu sang một bên rồi ghì đầu chồng mình xuống ngực để nói thật sát vào tai chồng:

   Ông trời bắt vậy, anh có đủ kiên trì không?

   Kiên trì. Nhân định thắng thiên cơ mà.

   Đột xuất hôm nay là vì đại sự này hay là quyết nhân định thắng thiên?

   Hỏi hay nhỉ. Thế nhân định thắng thiên không phải là đại sự à?

   Ừ, ừ. Nhưng đột xuất mãi chứ?

   Mãi. Đột xuất chưa?

   Đang đột xuất…

   Đại sự chứ?

   Ừ, ừ… Đại sự lắm...

Bỗng nhiên Hai Hân đẩy hất vợ ra, nằm vật sang bên, thở gấp, mồ hôi vã ra, nhột nhạt – dư chấn của căn bệnh cũ... Đụng đến phụ nữ thỉnh thoảng Hai Hân vẫn còn bị như vậy, nhất là khi quá phấn khích... Vài năm trước đây có lần còn ôm xống áo ù té chạy, nhờ trời gần đây đã khá lên nhiều... Lần này cái cảm giác toàn thân nhột nhạt chỉ thoảng qua thôi, Hai Hân tự an ủi
 

trong bụng: ...May nhờ bóng tối nên vợ không nhìn thấy cái mặt nhăn như khỉ của mình...

Vợ chồng ông già Học tổ chức một bữa cơm tối tại khách sạn La Cigale. Đây là một trong những khách sạn có bếp Pháp nổi tiếng ở thành phố San Jose. Lý do đơn giản là khách được mời đều chuộng cơm Tây. Cặp vợ chồng Lễ-Thảo phải đi khoảng 300 dặm từ thành phố Bakerfield, Tôn Thất Loan và vợ phải đi gần 200 dặm từ thành phố Chico. Nói là ăn bát cháo chạy ba quãng đồng thì cũng đúng đối với hoàn cảnh của họ. Riêng cặp vợ chồng Hoài – Nhân sống cùng với vợ chồng ông già Học trong cùng một khu biệt thự Santa Monica Hill giáp ranh với thành phố San Jose là gần nhất. Mang tiếng là ở cùng một bang, song đây là lần đầu tiên họ gặp nhau đông đủ như thế này kể từ khi gia đình Lễ đến California từ gần một năm nay. Trường hợp chậm trễ của Lễ cơ quan nhập cư thanh minh có chuyện trục trặc. Giấy tờ ngược xuôi mất gần một năm nữa từ hôm đi thăm Hà Nội về gia đình Lễ mới ra đi được. Lễ vẫn thường gặp Tôn Thất Loan nhờ giúp việc này việc khác. Loan cũng năng đi lại nơi ông già Học. Song mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi cảnh, vợ chồng ông già Học phải sắp lịch trước từ mấy tuần lễ mới hẹn được cuộc gặp cả khách và chủ chỉ vẻn vẹn tám người. Sau bữa cơm hôm nay, họ sẽ có hai ngày nghỉ cuối tuần ở nhà ông già Học.

Nằm tại bìa rừng National Forest Park nổi tiếng, khách sạn được trang trí theo kiểu nhà ăn trong các trang trại của vùng Bordeaux ở Pháp. Bước ra khỏi xe, đám khách của ông già Học thốt lên:

- Ôi yên tĩnh quá!

-Không khí ở đây trong lành quá...

Màu xanh bao la của cỏ cây làm dịu con mắt mọi người. Xa xa mấy con thiên nga thong thả trườn trên mặt hồ. Không ai bảo ai, mọi người cố đi chậm lại để thưởng thức cảnh thanh bình hiếm có này, nhất là họ đều từ những nơi huyên náo đến đây.

Bước vào trong khách sạn, chỉ dạo xem một lượt tranh, ảnh, các đồ trang trí, mọi người có thể hình dung phong cảnh vùng Bordeaux ra sao, vang Bordeaux được sản xuất như thế nào. Ai sành rượu còn có thể tìm thấy tập liệt kê đóng thành sách vàng, ghi những năm vùng Bordeaux có mùa nho làm rượu vang ngon nhất, loại rượu đặc biệt từng năm này khách sạn bán được bao nhiêu chai, hiện còn lại bao nhiêu chai... Đương nhiên trong các đồ trang trí nội thất không thể thiếu được cái bánh xe cổ đã hỏng, một cái yên ngựa nằm trên bãi sỏi rất đẹp, một thanh kiếm gãy rơi bên cạnh... Người ta liên tưởng đến con suối trong lành thời của “3 người lính ngự lâm”(*) [(*) Tiểu thuyết “3 người lính ngự lâm” của Alexandre Dumas, nhà văn Pháp thế kỷ 18.] đầy lãng mạn thế kỷ thứ 17. Mấy thùng rượu vang đứng nằm bên các luống nho, những chai Bordeaux các thời đại kể từ khi có đầu máy hơi nước bầy cạnh những tảng pho-mát, cái bánh mỳ cắt dở. Những dụng cụ làm rượu, làm bếp... Những bộ trang phục dân tộc đặc sắc của nam nữ nông dân vùng Bordeaux... Tất cả được bài trí rất đồng nội nhưng cũng rất tinh xảo. Mấy cô chiêu đãi viên người Pháp trẻ, mảnh mai và khá đẹp, niềm nở theo duyên dáng Pháp, xiêm áo rất Pháp, nói tiếng Anh sệt giọng Pháp hoặc nói tiếng Pháp như chim hót ... Trong giây lát khách ẩm thực có thể nghĩ mình đang sống ở một nơi đồng nội êm ả nào đó vùng Bordeaux, cây cỏ thì thầm trong làn gió nhẹ, không tiếng ồn ào của xe cộ, không sự náo nhiệt, không bầu không khí sặc mùi công nghiệp... Cả đến thực đơn cũng rất Bordeaux, ghi bằng tiếng Pháp cổ, tiếng Anh chỉ làm chú thích.

Đi dạo chán trong khách sạn, ngồi vào bàn, câu chuyện của tám người khách Việt còn quanh quẩn mãi ở vùng Bordeaux. Ông già Học và Thảo bất đắc dĩ trở thành hướng dẫn viên du lịch Bordeaux cho những người còn lại, họ hỏi khá nhiều.

   Chọn khách sạn này, ba đáng được thưởng quá! Từ khi tốt nghiệp con chưa có dịp nào trở lại vùng Bordeaux. – Thảo nắm lấy tay ông già Học. Xưa nay Thảo vẫn thường gọi ông như vậy, vì ông rất quý Thảo. Bố Thảo hiện giờ là luật sư cố vấn cho ông già Học.

   Chọn La Cigale thoạt đầu chỉ là vì chúng ta thích gu Pháp thôi. Không ngờ nó lại có xuất xứ là Bordeaux, đến đây ba mới biết.
   Ba con cố tình chọn La Cigale để được khen đấy. – bà già Học trêu ông già.

   Khi Sài Gòn thất thủ thì ba đang thương lượng mấy cái affairs về tài chính ở Paris. Trong
 

chuyến đi năm ấy ba kết hợp đi chơi, có đến thăm Bordeaux.

   Hôm ấy ở Pháp bác có hồi hộp không ạ? – Tôn Thất Loan hỏi.

   Thú thực Sài Gòn còn hay mất có can hệ gì với tôi đâu. Hôm ấy tôi chỉ nghĩ và lo cho gia đình Lễ, gia đình Tư Cương và một số họ hàng bạn bè khác. Cái bệnh muốn đứng ngoài cuộc của tôi nó thâm căn cố đế như vậy đấy. Khi bỏ Sài Gòn ra đi, tôi hiểu là đã vứt lại phía sau tất cả!

Lúc này một người hầu bàn nam đến phục vụ, trong tay quyển sách vàng về rượu. Người này trình bày, trả lời một số điều với ông già Học, rồi mở trang ông già Học định chọn trong cuốn sách vàng. Ông già Học ngẩng lên hỏi ý kiến mọi người:

   Hôm nay chúng ta uống rượu gì? Chọn rượu xong, chúng ta sẽ chọn thức ăn theo rượu. Có dòng Bordeaux, dòng Grenace. Hay là dòng Monteverdi của Ý? Vang Mỹ ở đây có dòng California. Hay là chọn dòng Tokay của Hung?..

   Chú chọn cái gì khác Bordeaux đi, thứ này chúng ta dùng mãi rồi. Cháu muốn xem thế giới của chúng ta đáng sống đến mức nào. – Lễ có ý kiến.
   Được, chúng ta cố làm cho anh Hai này yêu đời thêm một chút. - ông Học vừa nói vừa chỉ tay về phía Lễ, rồi quay ra bàn nói tiếp với người bồi bàn. - ...Được rồi, năm 1975 Breziers(*) [(*) Vùng trồng nho miền Nam nước Pháp.] có mùa vang ngon vì nắng nhiều, chúng ta chọn Voutenay Grenache 1975, tất cả đồng ý chứ?

   Chú uống mừng chiến thắng của Việt cộng ạ? – Lễ vừa cười vừa hỏi.

   Và nuối tiếc Sài Gòn thất thủ nữa, có phải thế không thưa bác? – Tôn Thất Loan muốn thử xem ông già này sẽ trả lời như thế nào.
   Hay đấy... - ông già Học cười hà hà. - Ông và Lễ trả lời hộ tôi rồi. Họ Phạm chúng tôi có tư cách để nâng cốc với cả hai lý do này! Chúng ta nhất trí chứ?

Vợ Tôn Thất Loan khẽ khẽ vỗ tay tán thưởng, cả bàn đồng tình. Câu chuyện trên bàn râm ran hẳn lên. Loan lắc đầu tỏ ý chịu phục cách đối đáp của ông già Học. Sau khi người hầu bàn đi rồi, câu chuyên vẫn còn ít nhiều dính dáng đến vùng Bordeaux.

   Nhà hàng này biết làm marketing đấy. – ông già Học nhận xét. - Tại bang này có khá nhiều cửa hàng ăn Việt Nam, nhưng chưa có một khách sạn nào có được tên tuổi cỡ như La Cigale.
   Bác ạ, nhà hàng Hoa kiều như thế cũng chưa có, huống chi là ta. Chỉ cần nhìn bãi đỗ xe của khách sạn này thì rõ. – Tôn Thất Loan nêu nhận xét của mình.
   Về vốn liếng, công nghệ, kỹ thuật, tôi nghĩ rằng trong cộng đồng người Việt ta ở đây có không ít người thừa sức làm việc này. Nhưng cái mà chúng ta thật sự thiếu là đầu óc và văn hoá kinh doanh cần thiết cho một nhà hàng như thế này. Tiếc rằng tôi già rồi, phải nghỉ ngơi bây giờ đã là quá muộn.

   Cháu chịu chú. Nhìn vào bất kể thứ gì, ngồi trong khung cảnh nào, chú cũng đều nhìn thấy khả năng làm ra tiền! – bác sĩ Nhân, chồng Hoài, vốn ít nói, bây giờ mới lên tiếng. – Thưa ông bà Loan và anh chị Lễ, cái bệnh viện nha khoa của em là ý tưởng của chú Học em đấy ạ: khai thác triệt để đặc thù hệ thống bảo hiểm rất cạnh tranh và phân tán của Mỹ! Nếu ở Canada hay

   Tây Đức kiểu bệnh viện như của em không sống được, chứ đừng nói đến cạnh tranh.

   Nhìn thế này thôi, nhưng không đơn giản đâu. - ông già Học nói thêm cho Nhân hiểu. - Ý tưởng kinh doanh cốt lõi của nhà hàng này, cháu quan sát kỹ mà xem, đó là chọn lọc đối tượng và phục vụ tốt đối tượng chọn lọc. Nhà hàng đã chọn đúng thị trường và làm mọi việc để đáp ứng tốt thị trường họ chọn.

   Nhìn giá trên thực đơn cháu thấy nhà hàng này rất mắc, chú ạ. – Lễ hỏi ông già.

   Đúng thế Lễ ạ, nhưng vì khẩu vị và sở thích của mình chúng ta tự nguyện tìm đến đây cơ mà! Đến đây một lần, sẽ có một kỷ niệm đáng nhớ, rồi chắc sẽ phải đến lại, rồi người nọ truyền miệng cho người kia, rồi quảng cáo... Nguyên lý sơ đẳng của kinh doanh chỉ có một câu đơn giản thôi: Trước hết là phải có con mắt và cái đầu chọn đúng thị trường cho mình, rồi mới tính đến những cái khác.
 
   Tôi thì lại cứ tưởng rằng định làm ăn thì phải có vốn, vốn đến đâu thì làm đến đấy, bác Học

   – Tôn Thất Loan nêu ý kiến của mình.

   Ông Loan ơi, khi mới bước vào nghề kinh doanh, tôi cũng nghĩ như ông vừa nói. Nhưng rồi sạt nghiệp hai ba phen, cũng có nghĩa là mất ăn hai ba phen, tôi mới vỡ lẽ ra là không phải như vậy. Bây giờ thì tôi có thể nói là cả đời mình tôi chỉ tìm cách học một câu đơn giản ấy thôi mà vẫn chưa dám nói là thuộc.

   Bác viết thành sách đi.

   Nếu thế quyển sách của tôi chỉ có độc một câu ấy, ông Loan ạ! – mọi người đều cười, ông già Học chờ một chút rồi nói tiếp: - Người đi buôn, một doanh nghiệp, một công ty, một quốc gia.., tất cả đều phải tuân thủ nguyên lý dễ hiểu nhưng khó thực hiện này. Đó là: Phải có con mắt và cái đầu chọn đúng thị trường cho mình.

Vợ Tôn Thất Loan nghĩ mãi vẫn chưa hiểu ra, mạnh dạn hỏi:

   Thưa bác, đắt như ở đây thì làm sao cạnh tranh được ạ? Lựa chọn kiểu gì mà lại toàn chọn làm của đắt để bán hả bác?
   Tôi xin cắt nghĩa thế này bà Loan ạ. Nhà hàng này chọn cho mình loại khách thích cơm Pháp, yêu văn hoá Pháp. Đối với loại khách này đạt được sở thích và được thưởng thức mới là điều quan trọng. Chất lượng là quyết định, hưởng cái gu Pháp là quyết định, tiền nong đối với loại khách này chỉ là chuyện phụ. Lựa chọn khách hàng như thế những kẻ kinh doanh khác khó với tới được. Mà phải thật giỏi mới dám lựa chọn thị trường này! Bà xem, từ thành phố ra đây gần 30 dặm, thế mà khách muốn có một bàn riêng như chúng ta là phải đặt trước vài ngày, có khi một tuần!

   Ba phải nói thêm con đi hơn ba trăm dặm mới tới đây! – Thảo chen vào.

   Chú ạ, thế sao chủ nhân ở đây không bành trướng cái La Cigale này, hoặc mở thêm vài cái mới? – Lễ hỏi.
   Như thế nó sẽ phải là La Grande Cigale, hay Les Cigales, và sẽ không còn là La Cigale nữa, nghĩa là không còn các khách chọn lọc, người kinh doanh hạng bét nào cũng làm được, như thế thì thua thiệt và sẽ mất hết! Nếu chú là chủ nhân nhà hàng này, chú sẽ làm mọi việc để chỉ có La Cigale duy nhất này mà thôi. Nếu kẻ có gan nào tìm cách bắt chước cho ra đời một nhà hàng tương tự thì phải cạnh tranh không thương tiếc đánh đổ liền! Hoặc chấp nhận bị đánh đổ!

   Chịu bác. Bái phục bác. – Tôn Thất Loan kêu lên.

Lúc này người hầu bàn nam mang rượu đến cho ông già Học nhấp thử. Câu chuyện tạm gián đoạn, vì mọi người đều chăm chú nghe người hầu bàn giới thiệu thêm vài nét về chai rượu năm 1975 anh ta đang có trong tay. Anh ta gắn thêm vào lời giới thiệu một huyền thoại ngắn về tình yêu của xứ sở Bordeaux, nói chuyện rất có duyên và có phong cách một nghệ sĩ rót rượu. Anh ta kết thúc việc rót rượu bằng một câu đầy triết lý: Thưa quý bà, quý ông, Tình yêu! Chỉ có tình yêu giữ bạn mãi trong vĩnh hằng!..

Đợi người hầu rót xong rượu, ông già Học nâng cốc:

   Một lần nữa nhà tôi và tôi xin cảm ơn ông bà Loan. Chú thím cảm ơn các cháu. Xin chúc tất cả chúng ta hôm nay có một bữa cơm vui vẻ. Loanh quanh nửa vòng trái đất rồi lại cùng ngồi với nhau ở đây... – nét mặt ông Học thoáng một chút vấn vương gì đó.

Câu nói cuối cùng của ông già Học làm cho mọi người rời bỏ vùng Bordeaux và kiểu kinh doanh của La Cigale lúc nào không biết. Quả thật đoạn trường từ năm 1973 đối với gia đình ông già Học và từ ngày 30 tháng Tư đối với gia đình Loan và gia đình Lễ đến cuộc gặp mặt ở La Cigale bây giờ vẫn còn nóng hổi những ấn tượng của bao nhiêu sự việc như trong ác mộng.

Mọi người cảm ơn ông già Học về nhiều điều, thực sự thán phục cách nhìn đời và những quyết định dứt khoát của ông. Rượu ngon, bàn tiệc đầm ấm không khí gia đình, mặc dù có vợ chồng Tôn Thất Loan là người ngoài họ. Mọi người được giờ phút cởi mở tình cảm, tạm thời quên mọi âu lo.

- Chú ạ, cháu và Thảo nhiều lúc hỏi nhau, nếu không có chú, tụi cháu sẽ ra sao đây, ít nhất là
 

cũng không có cái chuyện ngồi đây uống chai Grenache năm 75. – nói đến đây Lễ dừng lại, quay ra quàng tay lên vai vợ rồi nói tiếp: - ... Thật không thể tưởng tượng nổi, có phải không em ...

   Bác Học ạ, từ hôm được gặp bác lần đầu tiên đến hôm nay là gần hai năm rồi đấy ạ. Mỗi lần gặp bác tôi lại học thêm được nhiều điều. Nhưng tôi phục nhất cái tính quyết đoán của bác. Xin tỏ lòng ngưỡng mộ. – Tôn Thất Loan nâng cốc.

   Xin cảm ơn ông Loan quá khen. Có lẽ tôi phải bổ sung thêm một chút sự thật vào lời khen của ông. Xin ông hiểu cho đằng sau mỗi quyết đoán như vậy là những nỗi đau xé lòng. Nhờ trời, vào những lúc ấy tôi không mềm yếu. Thật không dễ dàng gì năm Bảy ba (1973) tôi bỏ cả cơ nghiệp đi sang đây, gần như tay không!

   Ông ơi, nhà in của ông bị quốc hữu hoá rồi. – bà già Học nhắc chồng.

   Bà nhầm rồi, tôi đã vứt bỏ nó đầu năm Bảy ba (1973), mãi đến... năm bao nhiêu đó sau này mới cải tạo xong cơ mà! Vứt nó đi tôi mới có gan bước vào kinh doanh tài chính như bây giờ! Thế là mất hay được hả bà?

   Tôi biết là ông vẫn tiếc lắm. – bà Học không chịu thua chồng.

   Vậy bác ra đi năm Bảy ba không phải vì sợ Việt cộng à? – bà Loan hỏi.

   Có sợ Việt Cộng, nhưng cái nhốn nháo còn đáng sợ hơn. Song cái chính là lúc bấy giờ tôi đã ngửi thấy trên thế giới đi vào kinh doanh tiền tệ là chóng giàu nhất. Thế là không gì có thể giữ chân tôi ở lại Sài Gòn được nữa! Cụ Nguyễn Du nói đúng ý tôi đấy: Máu tham hễ thấy hơi tiền là đi!

   Chú luôn luôn được đền bù là quyết định đúng, có phải thế không ạ? Cháu sống với chú từ bé nên nghiệm được điều này. – Hoài hỏi chú mình.
   Tạm nói thế này Hoài ạ: Chú vẫn cho là trời có mắt. Bõ công chú chấp nhận rủi ro! Cũng phải tạ ơn trời Phật cháu ạ, vì ít nhiều phải có chút may mắn thì mới thắng được. Chú cầu mong ở hiền gặp lành, nhưng mọi người cứ gán cho chú là kẻ vô thần.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:02:47 pm
   Chú ạ, xem ra cả dòng họ Phạm, cháu là loại bét. – Lễ so sánh. - ... Cháu không biết cậu cháu nhiều lắm, nhưng mấy tuần ở Hà Nội sống với anh Chính, anh Nghĩa, cháu thấy hai anh cháu cũng là những người nhiều nghị lực như chú, mặc dù các anh ấy đi con đường khác. Hệt như chú, anh Chính cháu cũng có đầu óc rất họ Phạm. Một điều hai điều đều dạy con cháu phải giữ truyền thống họ Phạm!

Trên mặt ông già Học thoáng một nụ cười rạng rỡ.

   Ba có thể tưởng tượng nổi không, hôm tụi con được tướng Lê Hải mời cơm, trong buổi đó tướng Lê Hải cũng thừa nhận truyền thống họ Phạm. Con phục ông ấy là người có tâm và có tầm nhìn sâu sắc. Anh Loan chắc chưa biết, tướng Lê Hải là cấp trên của anh Nghĩa tôi.

   Ôi, anh Lễ có lẽ là sĩ quan duy nhất của quân đội Cộng Hoà được là khách của tướng Việt cộng đó! – Tôn Thất Loan kêu lên.
   Ông Loan thấy cháu tôi chưa, chỉ có người họ Phạm mới được như vậy! – bà già Học cổ vũ cho Lễ.
   Ông tướng này hiểu biết rộng chú ạ. Anh Loan mà tiếp chuyện ông ấy thì rất lý thú. ... Ông ta xử sự tế nhị và rất hiểu người. Thật là có cách suy nghĩ khoáng đạt! Có lẽ ông ta là một trí thức dòng dõi. – Lễ nhận xét.

   Anh Lễ khen phò mã tốt áo! Tướng Lê Hải còn là cấp trên của ông Nghĩa thì nhất định phải là người thế nào rồi!.. Đã có lần tôi kể cho bác Học nghe về ông Nghĩa.
   Ba má có biết không, những ngày ở Hà Nội tụi con thấy dễ thở nhất kể từ sau 30 tháng Tư và từ đó bắt đầu le lói hy vọng. – Thảo tham gia ý kiến.
   Các cháu đang thôi thúc chú thím về thăm mẹ cháu, thăm thím Tuấn và các con cháu trong nhà họ Phạm... Có thể làm được việc này không các cháu nhỉ? - ông già Học dừng lại, trong lòng nghĩ đến người chị dâu của mình: ...Chị cả ơi, thế hệ chúng ta bây giờ chỉ còn lại chị, vợ chồng em, thím Tuấn...
 

   Có thể được đấy ba ạ. Chính tướng Lê Hải khuyên tụi con phải giữ lấy cội nguồn và dạy bảo cháu Tín gìn giữ mối dây liên hệ giữa anh em con cháu họ Phạm.

Gần như suốt bữa ăn chính, câu chuyện cứ hết bắc cầu về Sài Gòn, lại ra Hà Nội, lại đến La Cigale... Đôi lần câu chuyện bị thức ăn ngon chuyển đề tài, nhất là khi mọi người dùng đến món bít -tết nai rừng nổi tiếng của La Cigale. Ông già Học kể cho mọi người nghe: Chính vì nhớ đến món này nên ông già mới tìm đến La Cigale. Bít - tết nai rừng thì nhiều nhà hàng có, song thật là Pháp, thật là La Cigale, từ cách ướp, cách rán, cho đến nước sốt, rau, gia vị, cách phục vụ thì chỉ có ở La Cigale... Ông già Học giải thích – Nó rất thích hợp cho các chai vang năm 75 của chúng ta!..

   ...Thôi được, chú thím sẽ trù tính về thăm Hà Nội khi có cơ hội, cũng gần bốn chục năm rồi còn gì... Chú thấy giữ lấy mối quan hệ ruột thịt là điều quan trọng nhất của mỗi chúng ta ngồi đây. Tiền nong chúng ta đâu có đến nỗi thiếu, dù rằng người làm ăn thì tiền không bao giờ được coi là đủ... Xin lỗi ông bà Loan, tôi nói chuyện riêng của nhà trong buổi gặp mặt chung này. Mấy anh em trai tôi hồi còn thiếu thời chịu ơn anh chị cả chúng tôi nhiều lắm!..

   Dạ không sao ạ. Hôm gặp bác lần đầu tiên, bác gửi gắm nhiều vào điều mọi người có thể chia sẻ chung được. Hôm nay bác quan tâm nhiều đến mối quan hệ ruột thịt. Tôi thấy như vậy rất phải. Mấy năm nay tiếp xúc với cộng đồng người Việt, đúng là mối quan hệ hiệp đồng gắn bó là điều thiếu nhất, yếu nhất.

   Anh Loan ạ, anh đến đây lâu hơn tôi, có thể anh có lý. – Lễ nêu ý kiến của mình. - ...Tôi thì bi quan hơn anh nhiều. Tôi cho rằng nhiều người Việt ta thích phá nhau, khó mà nói đến hiệp đồng, đến gắn bó được! Chưa chi đã bốn năm nhóm khác nhau đến gặp tôi và Thảo, nhóm thì ép, nhóm dụ dỗ, nhóm hù doạ các kiểu. Kẻ thì xưng là môn đệ của Nguyễn Văn Thiệu, người thì xưng là Phục quốc, đám khác là Cứu quốc hội.., chẳng làm sao biết được ai vào với ai.

   Cháu phải tập làm quen với họ đi.

   Hỏi đi hỏi lại, họ thực ra chỉ đòi hai việc thôi chú ạ. Đòi góp tiền và ép vào tổ chức! Có đám nói do Quách Minh Châu và Lý Lam giới thiệu. Cháu hỏi lại Quách Minh Châu, thì ông ta thề là không xui ai làm việc này!

   Thế là rõ rồi đấy. Chú thì mọi người kiềng mặt rồi. Còn cháu là ma mới, dễ hiểu thôi.

   Ba à, con khiếp nhất là cái hôm đám này đến tận nhà nói thẳng với con: Nhà bà là quan hệ ruột thịt với Việt cộng ở Hà Nội, hoặc là hợp tác với chúng tôi, hoặc là xin ông bà coi chừng! Gã này vừa nói, vừa lấy cái tay giả xỉa vào mặt con... – Thảo kể cho mọi người nghe đám này bắt ép việc lấy chữ ký và lập quỹ cứu nước của Phục quốc. - ...Nhiều lúc con thấy mệt quá đi. Con phải giở luật pháp của nước Mỹ ra, họ mới chịu yên, nhưng không biết được bao lâu.

   Anh Lễ chị Thảo phải đến học kinh nghiệm của bác Học. Hình như tình hình chiến sự trong nước trên biên giới Việt-Trung và trên mặt trận Campuchia đang kích thích các phe nhóm ở đây hoạt động chống Hà Nội. Trên báo chí tôi cũng thấy rộ lên những bài không thân thiện.

   Có người còn nói bóng nói gió với tôi là quen biết cả anh và Mai-cơn Fốc, anh Loan ạ.

   Thảo và Lễ ơi, các con nên nhớ ở đây cũng có quy luật mềm nắn rắn buông! Ông Loan nhận xét có lý đấy, tình hình chiến sự trong nước mình bây giờ, rồi sự nhộn nhạo của công đoàn Đoàn kết ở Ba-lan từ mấy năm nay, tình trạng lục đục Xô - Trung, nội bộ các nước cộng sản Đông Âu theo nhau bất an... Ở bên này hết Phục quốc, lại đến Cứu quốc, rồi Quốc dân đảng, tất cả đang hy vọng lắm đấy. Đây là lúc chú thấy rõ được ai đi với ai, làm việc cho ai...

   Anh Lễ ơi, bọn em núp dưới bóng chú Học, nên êm ru. Hay là anh chị dọn quách về đây ở với tụi em đi, để cháu Tín cũng gần bọn trẻ nhà em. – Hoài gợi ý Lễ và Thảo.
   Chưa chi đã bàn lùi thì không được, Hoài ạ. Chị sẽ tính kỹ.

   Chú ạ, cháu thấy hơi lạ, những người đi vận động phần lớn rất trẻ, gần như mặt vẫn còn búng ra sữa. Đám trẻ này thì dính dáng gì đến chiến tranh vừa qua? Hoạ hoằn mới thấy có một người tự xưng là sĩ quan hay nhân viên cũ của Sài gòn. Có thể có sự chỉ huy từ đâu đấy… Mỹ có ủng hộ các hội hè này không chú? – Lễ hỏi ông già Học.

   Cháu hỏi khó quá. Mỹ ở đây có nhiều loại lắm. Mỹ định ném bom nguyên tử xuống Việt
 

Nam, Mỹ phản chiến, Mỹ lật Nixon... Cháu định hỏi Mỹ nào? Chỉ có thể suy đoán thế này, cánh Mai-cơn Fốc không thất nghiệp thì rõ ràng là họ còn việc làm!

Câu trả lời của ông già Học làm mọi người phì cười. Bà già Học bình luận:

   Ông già ơi, ông lẩm cẩm rồi. Không thất nghiệp thì đương nhiên là còn làm việc, thế mà ông cũng trả lời được!
   Câu chuyện nó ly kỳ ở chỗ đương nhiên đấy bà ạ. - ông già giải thích lại cho vợ.

   Anh Lễ có để ý không, tôi thấy cánh Lý Lam và Quách Minh Châu chơi thân với Mai-cơn Fốc đấy. Châu khoe với tôi là thỉnh thoảng họ vẫn gặp nhau.
   Vâng, Châu cũng khoe với tôi như vậy, anh Loan ạ. Chú ơi, cháu có một điều cháu không tiện hỏi trên điện thoại. Nhân thể tôi cũng xin tham khảo ý kiến anh Loan. Thảo và cháu mệt mỏi lắm rồi chú ạ, nhất là gia cảnh chúng cháu bây giờ. Thảo và cháu dứt khoát không tham gia một phe nhóm nào, chỉ muốn được yên thân sống dưỡng già. Như vậy có được không, thưa chú?

   Được. Và cũng nên như vậy. Cứ vin vào tình trạng sức khoẻ của Thảo. Song hai con thỉnh thoảng cũng phải cắn lại một miếng thì những người gây sự mới để cho yên. - Ông già Học trả lời.

   Chúng con định chờ đến khi tâm trạng hoàn toàn trở lại thăng bằng, chúng con sẽ kiếm một việc làm gì đó thích hợp, để cho vui thôi, chứ không phải để làm giàu. Nhưng làm chính trị thì dứt khoát không! Anh Lễ con biết rút kinh nghiệm rồi, tiền thì bao nhiêu anh phá cũng hết để chui vào túi kẻ khác. Tụi con nhất định không nghĩ đến chuyện làm giàu nữa!

   Đối với chính trị, bao giờ ba cũng đứng ngoài cuộc. Đấy là nguyên tắc cuộc sống của ba rồi, Thảo à. Muốn thế phải thật lỳ lợm và không bao giờ được mù tịt về chính trị. Hai con đừng quên điều này!

   Ý kiến của bác Học thế là rõ đấy, anh Lễ ạ. Ngay khi chân ướt chân ráo đến California, bác Học đã dạy tôi bài đầu tiên: Muốn sống ở đây theo ý mình phải biết lỳ lợm!
   Vâng. Chú Học ạ, cháu sẽ làm theo ý chú. Có cách nào đưa chú Thành và vợ chồng ông Tư Cương sang đây không hả chú?
   Phải, chúng ta sẽ tính. Đấy là những người chí cốt với gia đình ta.

   Ba ạ, sau 30 tháng Tư không có ông Tư Cương tụi con gay go to.

   Ông Tư thực sự là một giám đốc giỏi. Mấy năm trời ông ấy gần như toàn quyền quyết định mọi việc. Các việc chú điện từ bên này về không một việc làm sai, sổ sách phân minh như cái máy tính. Chú không nhầm khi chọn người...

Câu chuyện đang dở, hai cô tiếp viên xinh đẹp người Pháp bước vào. Đấy là hai cô trẻ nhất và đẹp nhất trong mấy cô đến phục vụ bàn ăn. Hai cô này trịnh trọng mời mọi người ra sa -lông thưởng thức món tráng miệng.

Trên xe đựng thức ăn tráng miệng, ngoài hoa quả và các loại bánh ngọt xếp trong từng ngăn, khay pho- mát để ở trên cùng, bày rất đẹp, có đến vài chục loại khác nhau, cùng với năm, sáu loại bánh mỳ đã được cắt thành từng miếng nhỏ. Bên cạnh đó, một xe rượu mang hình một xe tứ mã thu nhỏ của vua Louis XIV, trên xe có đủ các loại rượu mùi để dùng sau khi uống trà hoặc cà-phê.

Hai cô tiếp viên xinh đẹp đang líu lo mời từng người chọn hoa quả hay pho-mát, một người phục vụ khách sạn cầm một khay nhỏ, trên đựng một phong thư, lễ phép đưa cho ông già Học:

- Thưa ngài, Văn phòng của ngài yêu cầu chuyển gấp fax này đến tay ngài.

Mọi người chăm chú nhìn ông già Học mở thư ra xem. Ông già đọc đi đọc lại mảnh giấy cầm trong tay, mặt mày chau lại rồi sững người ra.

Thấy vậy, Hoài vội vàng bảo hai cô tiếp viên tạm lui. Mọi người gần như nín thở, các con mắt dồn về phía ông già Học, chờ đợi.

Mãi ông già Học mới nói:
 
   Tin dữ. Tôi không biết nói thế nào... Tin dữ! Đọc to lên! Ông già đưa bức thư cho Thảo, rồi ngồi như rơi xuống ghế.

   “...Chúng cháu vô cùng đau đớn báo tin để chú thím và các em biết cháu Nam đã hy sinh trên chiến trường Campuchia ngày... tháng... năm...”

Thảo đọc xong, tay buông thõng. Gần như cùng một lúc, cả Thảo và Lễ cùng kêu lên:

- Trời ơi, cháu Nam!..

May có Hoài đứng bên cạnh kịp thời đỡ Thảo ngồi xuống.

...

Thượng uý uý bác sỹ quân y Phạm Trung Nam bị du kích Khmer Đỏ giết chết trên địa bàn tỉnh Siêmriệp là một sự kiện bi thảm. Nhân dân Campuchia ở cả vùng này xao xuyến. Tổn thất này còn là một đòn nặng đánh vào trạm quân y dã chiến của quân đội ta ở đây.

Mấy năm liên tiếp nạn sốt rét hoành hành cả vùng Siêm riệp, nhân dân địa phương và bộ đội ta là nạn nhân khốn khổ. Nhiều người dân, nhất là các trẻ em, chết một cách thê thảm trong những cơn sốt rét ác tính. Một số chiến sĩ ta đã chết vì không kịp cấp cứu. Ngay trạm quân y dã chiến của Nam bệnh binh sốt rét ngày một nhiều. Có hôm trạm của Nam phải lấy thêm bộ đội vào phục vụ, vì một số bác sĩ và y tá của trạm bị sốt rét quật ngã, nằm đắp chăn rên hừ hừ. Đã thế thiếu tá thủ trưởng đơn vị bị thương nặng, phải đưa về Sài Gòn, mãi trên chưa cử người thay. Nam tạm thời giữ quyền thủ trưởng đơn vị, mọi việc đã rối lại thêm rối.

...Trong một cuộc họp chi bộ của trạm căng thẳng và kéo dài hơn thường lệ, bàn mãi không kết luận được, cuối cùng Nam đứng lên, phát biểu rất gay gắt:

   Không thể khoanh tay nhìn dân ở đây, nhìn bộ đội ta chết vì sốt rét được! Nhân danh bí thư chi bộ, tôi hỏi: Tất cả các đồng chí ngồi đây có nhớ mình là người đảng viên không? Có còn lương tâm người thầy thuốc nữa hay không?

Chỉ có sự im lặng đáp lại. Chủ toạ thúc mãi, mới có người giơ tay:

   Thuốc chữa cho bộ đội ta còn chưa đủ, nói gì đến chữa cho dân địa phương?

   Quân nhân nào sốt rét thì đưa về trạm điều trị, người đâu mà đi xuống tận các đơn vị! Ý kiến quyết liệt của Nam lại một lần nữa thổi bùng sự phản bác:

   Bảo vệ cái trạm xá chết tiệt này chưa xong, sao lại còn đi vào dân vận động? Để ăn đạn Khmer đỏ à? Đồng chí bí thư có điên không?!
   Thượng uý Nam muốn thăng vượt cấp thì cứ việc đi xuống các đơn vị, đi vận động dân. Nhiệm vụ của tôi là ở cái trạm này, tôi không đi đâu hết!

Đúng như dự kiến của chi uỷ, Nam hiểu là bàn mãi với cái tâm lý đầu hàng này là mất thời giờ vô ích. Trước cuộc họp này, ngay trong chi uỷ ý kiến vẫn còn dùng dằng chưa dứt khoát. Nam cố bình tĩnh gạn hỏi một lần nữa:

- Còn đồng chí nào có ý kiến khác không?

Cuộc họp im phắc. Chỉ có tiếng con mọt đang kèn kẹt nghiến tre nghiến gỗ đâu đó. Nam bình tĩnh cân nhắc lại một lần nữa quyết định của mình, kiên nhẫn chờ thêm một lúc rồi đứng dậy, giọng nghiêm trang:

- Tất cả các đồng chí đứng dậy!

Cuộc họp ngơ ngác. Chi uỷ ngoài Nam ra còn hai người nữa, nhưng chỉ có một đứng lên. Những người khác kẻ thì lục tục nửa đứng nửa ngồi, người thì nhổm nhổm chờ xem... Hình như phần đông không hiểu lệnh phát ra. Vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ làm gì có chuyện đang họp chi bộ bỗng nhiên bí thư chi bộ nhân danh thủ trưởng đơn vị hô lệnh đứng dậy.

Chờ một lúc, Nam lại nghiêm mặt, quát to:

- Tôi hạ lệnh tất cả các đồng chí đứng dậy!
 

Mọi người bật lên như các lò xo. Nam hô to:

   Tất cả đứng...

   Nghiêm!

   Nhân danh thủ trưởng đơn vị, tôi hạ lệnh: Tất cả cán bộ và chiến sĩ trong trạm phải triệt để thi hành lệnh phòng chống sốt rét theo kế hoạch tác chiến của ban chỉ huy trạm. Đồng chí nào trái lệnh sẽ bị đưa ra toà án quân sự xử theo quân luật. Là đảng viên, các đồng chí phải gương mẫu chấp hành lệnh này.

Mời các đồng chí ngồi xuống.

Chờ một lúc cho mọi người ngồi xuống và có đủ thời giờ trấn tĩnh nhận thức được lệnh phát ra, Nam tuyên bố bế mạc cuộc họp chi bộ...

Lời bàn lào rào về cái lệnh chưa từng có này lan ra mãi vào các lán trong đêm khuya...

Rời khỏi phòng họp, Nam không về lán ngủ của ban chỉ huy trạm, mà đứng lại một mình giữa sân. Trên trời sao Thần nông đã lên đến gần đỉnh đầu, lòng Nam nặng trĩu. ...Rồi đây lại có nhiều thương vong mới vì cái quyết định xé ruột xé gan của mình?..

   Khuya rồi, cậu về đi ngủ đi. – Bân, chỉ huy phó của trạm, cũng là bạn thân của Nam ở đây, giục Nam.
   Mình nghiêm khắc với anh em quá có phải không Bân?

   Tình hình rất quyết liệt, không còn cách nào khác Nam ạ.

Không chỉ quyết liệt. Ai nói trước được sẽ lại có thêm bao nhiêu thương vong nữa vì quyết định này của mình?!

   Mình chia sẻ sự dằn vặt của cậu.

   Bân ơi, trong vòng 3 năm trạm mình phải hai lần thay thủ trưởng và đã có 19 liệt sĩ rồi! Như thế còn chưa đủ à?

Nam đi loanh quanh trong sân như kẻ vô hồn. Vốn hiểu bạn, Bân không nói gì thêm nữa mà để cho Nam sống với tâm tư riêng của mình. Cứ thế, anh lặng lẽ theo sau Nam không rời một bước. Khi về tới lán của ban chỉ huy, Bân thấy Nam không chuẩn bị đi ngủ mà lại ầm ầm kéo bàn kéo ghế dịch sang một bên...

   Cậu định làm gì thế này?

   ...
Nam hình như không nghe thấy câu hỏi của Bân. Cũng có thể Nam không còn tâm trí nào để

   đến chung quanh. Bân ngây người đứng nhìn. Nam lục cục lôi giá vẽ ra đặt dưới chỗ sáng nhất của ngọn đèn điện vàng quệch, mở hộp mầu ra rồi đặt lên bàn. Những nét bút và những gam mầu dữ dội của Nam dồn nén biết bao điều day dứt lên bức tranh vẽ dở từ mấy tuần nay. Đêm khuya mát dịu, nhưng mồ hôi vẫn lăn từng cục trên mặt Nam...

Bân đứng cạnh Nam như vậy cho đến khi tiếng kẻng tập họp chào cờ buổi sáng của trực ban vang lên lanh lảnh...

Sau cuộc họp ấy Nam triển khai ngay chiến dịch phòng chống sốt rét được cả ban chỉ huy trạm và chi uỷ chuẩn bị chu đáo. Trung đoàn Z của bộ đội ta chốt giữ địa bàn Siêmriệp phối hợp và hậu thuẫn cho đơn vị Nam.

Bốn năm tháng sau, nhờ việc phòng chống tốt hơn, nạn sốt rét lui dần, riêng trong dân địa phương có thể nói là đạt kết quả trông thấy. Hầu như giúp nhân dân địa phương phòng chống sốt rét trở thành nhiệm vụ chính trong công tác dân vận của chiến sĩ ta. Du kích Khmer đỏ tiếp tục bắn lén quyết phá chiến dịch này. Tại mấy xã đã có bộ đội ta bị bắn chết trong khi tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh và giúp cứu chữa những bệnh nhân sốt rét. Nhưng trạm quân y và trung đoàn Z quyết không chùn bước. Vì trạm xá quá tải, Nam còn chia địa bàn Siêmriệp thành từng vùng, yêu cầu tập kết những bệnh nhân nặng nhất và sắp xếp lịch đến chữa tại chỗ cho bộ đội và cho dân, kết hợp với kiểm tra tình hình.

Một lần trên đường đi đến làng Sămrakong gần đền Ăng-co-vát, xe của Nam bị Khmer đỏ
 

phục kích...

Cuộc họp chi bộ của trạm về quyết định chống sốt rét hôm ấy được ghi lại vào quyển Lịch Sử Truyền Thống của K8, đại tá thủ trưởng K8 dành cho những trang trang trọng nhất.

Lúc này đứa con trai đầu lòng của Nam vừa tròn một tuổi.

Yến gần như chế đi sống lại nhiều lần sau khi đại tá thủ trưởng K8 đến tận nhà báo tin Nam đã hy sinh. Ngoài giấy báo tử ra, ông đại tá mang đến cho Yến một ba -lô quần áo của Nam, một va-li nhỏ đựng đầy sách và đồ vẽ, một bọc vải bạt lớn, bên trong là một hòm to làm bằng gỗ dán. Hòm đựng các tranh của Nam, nhiều tranh đã vẽ xong, một số tranh đang vẽ dở, những bản ghi phác hoạ các mô -típ...

...Ôm chặt đứa con trong lòng, nước mắt đầm đìa nhìn những kỷ vật còn lại, trong lòng Yến bao lần hét lên: Không! Không! Lẽ nào? Ôi, anh...

Đứa con trong tay giữ cho Yến không chết được và không được chết trong cuộc sống này!..

...Hôm lập bàn thờ cho Nam, vợ chồng tướng Lê Hải đến thắp hương và chia buồn với ông bà Chính, với bố mẹ Yến và vợ chồng Nghĩa. Vợ liệt sĩ Lâm và con gái cũng đến thắp hương chia buồn. Cô Minh, người giúp việc ngày xưa, bây giờ đã gần bảy mươi, cũng lặn lội từ Mọc Xá ra đây san sẻ bớt nỗi đau của nhà họ Phạm. Hai vợ chồng ông già Tư Cương nhờ ông Thành coi nhà để ra Hà Nội chia buồn với gia đình Nam...

Cái chết của Nam làm cho cụ Tuyên bà không thiết sống nữa. Cụ không khóc. Ai hỏi gì cụ cũng không nói. Nài ép cụ ăn uống một chút gì rất khó. Thỉnh thoảng cụ chỉ rên lên thảm thiết:

- Ôi Nam ơi, cháu ơi...

Nỗi lo của cả nhà bây giờ là làm sao níu kéo cụ lại sống cùng con cháu.

Tướng Lê Hải và bà Hậu ngồi bên cụ hồi lâu, lòng ngậm ngùi không biết nói gì. Bà Hậu nước mắt chảy quanh.

Một lát sau Lê Hải gọi Nghĩa riêng ra một chỗ:

   Thật là hoạ vô đơn chí, lúc này tôi phải nói cho anh biết một tin không vui nữa. Nghĩa im lặng chờ đợi.

   Sáng nay tôi được tổ chức mời lên để thông báo quyết định của trên cho tôi nghỉ hưu. Tôi có ba tháng để bàn giao công việc.
   Anh làm đơn xin nghỉ hưu từ bao giờ?

   Tôi chưa bao giờ làm đơn xin hưu, nhưng tuổi tác thì cũng đáng nghỉ rồi.

   Như thế là anh buộc phải nghỉ hưu?

   Đúng thế.

   Anh được giải thích như thế nào?

   Dài lắm. Tóm lại thế này. Lý do một: Tuổi tác. Lý do hai: tình hình mới, công việc không thích hợp với tôi nữa.
   Anh im?

   Tôi chỉ hỏi lại một điểm thôi: Có vấn đề chính trị hay vấn đề lập trường quan điểm gì trong chuyện này không? Trước sau người ta chỉ nhắc lại: tình hình mới, công việc mới, tôi không còn thích hợp.

   Người ta nói rõ là anh không còn thích hợp?

Có nhận xét ấy.

   Nếu vậy các báo cáo tổng kết những bài học quân sự của Viện ta lâu nay có vấn đề! - ông Nghĩa cả quyết.
   Nhưng mà chúng ta luôn luôn làm việc với tất cả tinh thần trách nhiệm, khách quan, thực sự cầu thị!
 

   Nghĩa là đến bây giờ anh vẫn bỏ ngoài tai mọi điều xì xèo về quan điểm lập trường của Viện ta hả anh Hải?

   Nhiệm vụ của chúng ta là nghiên cứu, tổng kết, chứ không phải là nghe ngóng dư luận, cũng không phải là ghi công chấm điểm cho người này, làm vừa lòng người khác.
   Câu chuyện như thế là rõ đấy, anh Hải ạ. Anh định thế nào?

   Chấp nhận nghỉ hưu, nhưng rồi sẽ làm rõ ngọn ngành.

Nghĩa thừ người ra một lúc, rồi bỗng dưng như người câm, tay run lên trong tay Lê Hải.

   Anh Nghĩa, anh làm sao thế?

   Tôi thiết tha yêu cầu anh chuyển ngay kiến nghị đã thảo xong của chúng ta về vấn đề Campuchia lên cấp lãnh đạo cao nhất.
   Anh ý thức được tính nghiêm trọng của kiến nghị này chứ?

   Nghĩa im lặng.

   Đừng quên quyết định phong hàm đại tá cho anh chưa ráo mực đâu!

   Tôi vô cùng đau đớn, nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Tình thế đất nước đến lúc này tôi không cầm lòng được nữa.
   Nghĩ lại một lần nữa đi, có phải vì quá xót thương cháu mình chết không?

   Anh Hải, tôi hiểu tôi đang nói gì với anh. Chúng ta không còn nhiều thời gian!.. Nhất thiết nó phải được trình lên trên trước khi anh nghỉ hưu!
   Hơn một năm nay chúng ta đã mất trắng nhiều đêm vì kiến nghị này rồi!

   Với quyết định cho anh nghỉ hưu, chúng ta sẽ không còn cơ hội trực tiếp trình bày kiến nghị của chúng ta. Chậm một ngày là thêm thương vong một ngày anh ơi!
   Đang lúc binh lửa đùng đùng thế này mà lại đề nghị tìm giải pháp chính trị và sớm rút quân? Dễ bị khép tội phản nghịch lắm đấy!
   Anh Hải ạ, bị khép tội gì cũng cam lòng! Ta đã làm trọn nghĩa vụ cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi diệt chủng rồi. Bây giờ họ phải tự làm lấy công việc của họ. Ta phải tự cứu lấy dân tộc mình!

   Anh có thể sẽ phải cùng đi với tôi lên đoạn đầu đài vì kiến nghị này. Anh có ý thức được như vậy không?
   Tôi chấp nhận. Đằng sau Khmer đỏ là Trung Quốc, ta phải nhanh chóng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và khôi phục lại tình hữu nghị. Không thể làm khác được! Đừng chần chừ nữa, anh Lê Hải!

Lê Hải ngẫm nghĩ, tính quyết đoán sự mất còn được rèn luyện suốt cả đời người đưa ông đến kết luận dứt khoát, ông nắm chặt lấy tay Nghĩa:

   Đúng là không còn thời gian để trì hoãn nữa, ngay sáng mai anh và tôi cùng lên xin gặp Quân uỷ Trung ương. Được không? Một hai tuần nữa sẽ có quyết định chính thức về việc cho tôi nghỉ hưu. Vì thế đây sẽ là lần xuất quân cuối cùng của tôi, cũng có nghĩa là lần ra quân chung cuối cùng của hai chúng ta.

Nghĩa xúc động, ôm chầm lấy Lê Hải, mãi mới nói thành lời:

- Vâng, sẽ là lần ra quân chung cuối cùng của hai chúng ta anh ạ...

Ánh điện ban đêm rọi lên hai khuôn mặt hai người lính già. Họ nhìn nhau trong cái nhìn thấu hiểu tình đồng chí, tình đồng đội của nhau lúc này.

Họ nhìn nhau trong cái nhìn của người chiến sĩ sẵn sàng để lại phía sau tất cả trước khi bước vào trận đánh, nhưng lần này là cuộc chiến khác hẳn mọi cuộc chiến, trong suốt cuộc đời chinh chiến của mình họ chưa một lần bước vào...

Mọi người đến chia buồn với ông Chính bà Hương, nhưng chỉ có ông Chính tiếp khách. Hai ngày nay bà Hương khóc lóc vật vã trong buồng, bỏ cả ăn uống. Ngoài việc tiếp khách, chốc
 
chốc ông Chính và Loan phải thay nhau chạy vào an ủi bà Hương rồi lại quay sang an ủi Yến ở buồng bên cạnh.

Thím Tuấn và cô Minh quyết định ở lại với cụ Tuyên bà trong những ngày khó khăn này.

Chiều đến, khách về hết. Yến cố trấn tĩnh bế cháu sang chơi với bà Hương để mong bà khuây khoả. Giữa nước mắt của mọi người, bé bi bô gọi bà, gọi ba... Bé càng vui đùa, nước mắt mọi người chung quanh càng nhiều.

Đến giờ ăn của bé, cô Loan mang lên cho cháu bát bột để mẹ Yến cho ăn. Bé ăn ngon lành, cười đùa, khoa chân múa tay. Một thìa bột của bé là lã chã nước mắt của mẹ, có lúc Yến nấc lên. Cuối cùng Yến ngã vật xuống nức nở, thìa bột văng ra bên cạnh. Cô Loan phải thay mẹ cho cháu ăn...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:03:36 pm
TẬP II

NƯỚC ĐỨNG
 

10.

Giáo sư Đoàn Danh Tiến cầm trong tay hai mảnh giấy đẹp, ít chữ, nhưng vô cùng quan trọng: Bằng giáo sư, giấy chứng nhận.

Ông đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần mấy hàng chữ ít ỏi này. Đứng lên, ngồi xuống, đi đi lại lại trong phòng làm việc, có lúc ông định phi về nhà báo cho bà Hà biết tin vui này rồi quay lại cơ quan ngay, nhưng không chắc vào giờ này bà có nhà, lại sắp có cuộc hẹn nữa ...

À giữa buổi thế này mà xin xe thì khó đấy!..

Đọc hết từng chữ trên hai mảnh giấy đẹp ấy, ông Tiến quay ra nâng niu quyển sách của ông.

   Thành quả trí tuệ một đời người lao động mẫn tiệp! Mình thì nhận bằng giáo sư, còn Lê Hải thì bước ra khỏi vũ đài cuộc đời. Ta đang bước vào vũ đài của những người trong cuộc...

Hay vô cùng! Cái mình có, Lê Hải không bao giờ có thể có... - Ông tự lẩm bẩm thành lời với mình như vậy rồi thả mọi suy nghĩ của mình bồng bềnh theo thời gian.

... Con đường tới vinh quang này sao mà gian truân đến thế! Từ những ngày còn chân đất đánh khăng, thả diều trên cánh đồng Vũ Yển, đến tỉnh đoàn, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh...

Giáo sư... Ôi, những người đã đi cùng ta, đã chiến đấu cùng ta trên con đường vạn dặm này, những ân nhân, những đối thủ... Cả nước mày mò, tranh luận mãi về định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng rõ ràng cho đến nay không ai vượt qua được cái công thức của ta nêu ra:
“Đảng + chính quyền + xí nghiệp quốc doanh = 1”
Sự thống nhất đến tuyệt đối! Tính chất triệt để đến hoàn hảo!

Vận dụng cái công thức này vào hoàn cảnh nào cũng được! Giải thích về định hướng xã hội chủ nghĩa như vậy kín kẽ vô cùng! Khoa học vô cùng! Rất giàu tính chiến đấu! Rất lập trường! Tạo ra sự thống nhất đến bằng 1 thì không còn chệch hướng vào đâu được nữa! Ai dám phản bác lại sự thống nhất này? ...Ôi cảm ơn vô vàn cái công thức do chính bàn tay ta lao động miệt mài tổng hợp nên! Công thức vô địch này hôm nay đã đưa ta đến đỉnh cao vinh quang của trí tuệ! Tất cả những bài viết của ta đều toát lên tinh thần của công thức này. Còn ai có thể giảng giải về định hướng xã hội chủ nghĩa một cách mạch lạc và quán triệt hơn ta được cơ chứ!? Cả thiên hạ sẽ phải mài quần ra ghế mà học thế nào là cách mạng triệt để! Thiên hạ từ nay cứ phải theo ta mà làm! Ta bắt đầu có đủ tư chất trở thành người trong cuộc... Ta không còn gì phải tự ti, phải e dè với những Lê Hải, Phạm Trung Nghĩa... Cả ánh hào quang của vị trưởng Ban đáng kính cũng sẽ mở nhạt dần vì ta là ngôi sao đang lên. Chỉ riêng công thức này thôi ta đã đủ sức thâu tóm, khái quát hoá tất cả các luận án luận văn tiến sĩ, giáo sư về chủ nghĩa xã hội khoa học được viết ra trên đất nước này!.. Không có gì chứng minh rõ hơn chủ nghĩa xã hội là phòng chờ của chủ nghĩa cộng sản bằng công thức của ta.

Ông Tiến cảm thấy hình như mỗi chặng đường của cuộc trường chinh này đều gắn với một hay một vài hình ảnh nào đó liên quan đến cuộc đời ông. Nhưng lạ thay những hình ảnh không bao giờ mất đi ấy, dù là bạn đồng khoá đồng niên, dù là ai đó ông thoáng yêu thầm nhớ vụng.., hiện lên rồi mờ nhạt ngay, nhường chỗ cho hình ảnh những con người mà ông cảm thấy nếu không có họ thì ông cũng không tồn tại. Đó là bà Hà, đỉnh cao và thắng lợi đầu tiên của ông trên con đường lập nghiệp và lập thân. Là Hai Hân, đệ tử tâm đắc, người đồng tâm đồng chí giàu tinh thần chiến đấu. Là ông trưởng Ban và những người đỡ đầu khác – thiếu họ, không thể nào có vinh quang hôm nay... Là các đối thủ để ông cọ xát cho mình sáng hơn, nổi bật hơn – những kẻ đáng thương ...

... Đúng thế, Hai Hân là chất liệu cuộc sống của ta. Những Lê Hải, những Phạm Trung Nghĩa là thứ thuốc đánh bóng cho ta nổi bật lên. Đám quân nhân này có chiều dày cuộc sống, có bản lĩnh và quá trình chiến đấu. Nhưng họ thiếu hẳn tri thức về cách sống, nên không thoát khỏi số phận làm vật liệu đánh bóng. Họ chỉ biết lấy nguyên tắc làm chuẩn, còn ta biết kết hợp cả với thời thế. Đúng là họ hơn ta nhiều thứ. Nhưng họ kém hẳn ta tri thức về cách sống, nên dù có đạt tới vinh quang nào thì họ cũng chỉ là những kẻ đáng thương. Nguyên tắc của họ là lý tưởng, là niềm tin cố định. Còn nguyên tắc của ta là anh hùng chọn thời thế. Có lẽ đây là điểm khác
 
nhau cơ bản nhất giữa ta và họ. Thiếu tri thức này thì họ làm đe, ta có tri thức này thì ta làm búa. Với tri thức này ta đã ra khỏi sự lẩn quẩn ai tạo ra ai giữa thời thế và anh hùng. Tấm bằng này, quyển sách này là mốc son đầu tiên khẳng định tiền đồ vinh quang của ta. Trên đời này nếu không muốn làm đe thì phải chịu khó làm búa! ... Ta không muốn làm phương tiện, làm quân cờ, nên nhất thiết ta phải trở thành người trong cuộc ... Bằng mọi giá phải trở thành người trong cuộc! Ôi sức mạnh của tư duy lý luận, của học thuật... Ai hình dung được sức mạnh vô hình này?!.. Nó sẽ sai khiến tất cả, chi phối tất cả!.. Kinh nghiệm lịch sử bao quốc gia muôn đời nay...

Ông Tiến hai tay chắp đít, trịnh trọng từng bước đi từ đầu này đến đầu kia cái tủ kính rất đẹp trong phòng làm việc của ông. Tủ kê giữa phòng, đập ngay vào mắt mọi người đến thăm, đầy ắp những cuốn sách xếp hàng ngay ngắn, đúng số thứ tự và thành từng bộ. Theo bước chân, mắt ông lúc nhìn xéo lên các hàng sách, chốc chốc lại cúi đầu gật gật như ông đang truyện trò với chúng… Đi hết một lượt ông lại quay lại, lại nhìn xéo, lại gật gật… Bên cạnh cái tủ kính là một hộp các-tông lớn đựng những quyển sách Ban mua cho hoặc ai biếu tặng, ông làm thế vì sợ nó lai tạp các hàng sách trong tủ kính. Khi nào hộp các- tông đầy, ông lại bảo thư viện đến bới đem đi, tùy nghi xử lý...

   Cảm ơn! Cảm ơn! Thiên hạ chỉ cần liếc nhìn thấy đội quân sách hàng ngũ chỉnh tề như thế này trong tủ kính thì đủ biết ta là ai…

Nghĩ đến đây ông Tiến đi tìm cái ghế đẩu, kê sát tường rồi trèo lên, với tay lên tường sửa lại cái khung treo giấy chứng nhận Huân chương kháng chiến hạng II của ông cho ngay ngắn. Bên dưới huân chương, ông treo các ảnh hai người, chụp ông và người nào đó đỡ đầu ông trong mỗi thời kỳ đại hội Đảng khác nhau. Mỗi ảnh chụp đứng ngồi mỗi kiểu, có vẻ rất tự nhiên và không bài trí, phông cảnh không ảnh nào giống ảnh nào, song các ảnh đều một kiểu khung rất đẹp. Ông đi xem lại từng ảnh, tâm đắc, tự hào.

Có được những bức ảnh chụp đôi này là cả một kỳ tích. Nhiều lúc chính ông cũng ngạc nhiên vì sao mình có thể có một sưu tầm trọn bộ như thế này! Còn khách đến phòng làm việc của ông, liếc xong tủ sách rồi thì chỉ cần để mắt lên tường nhìn các ảnh là cũng đủ thót người lại...

Ông thừa nhận cái danh hiệu nhà báo quả là rất được việc trong đời.

Bây giờ phải kiếm cái khung đờ-luých-xờ cho cái bằng giáo sư. Treo chỗ nào đây nhỉ?... Hay là chạy đi mua cái khung? - Ông Tiến xem đồng hồ rồi lắc đầu: Vội vàng chỉ được khung rởm, phải thửa một cái chứ không mua sẵn được!

   Chào anh Tiến. Nhiệt liệt hoan hô người chiến sĩ mẫn cán! Bằng giáo sư trong tay cầm mãi chưa chán à?

Ông Tiến giật mình ngửng lên:

   Chào anh ạ. Thôi chết, đã đến giờ đi gặp anh mà tôi quên khuấy mất. Xin lỗi anh!

   Không sao... Không sao...

   Trời ơi, hồi này trông anh... - Đoàn Danh Tiến còn kịp ngậm lại câu nói đã trót buột miệng nói ra một nửa. Ông quá ngạc nhiên vì thấy trưởng Ban vàng vọt, người gầy đét như bộ xương người biết đi...
Ông trưởng Ban cười xoà, cố lấp đi câu nói đã nói ra một nửa của Tiến. Ông đau điếng vì biết
Tiến định nói gì, nhưng vẫn cố giữ vẻ mặt hiền lành như mọi khi:

   Tôi không sao đâu... Anh rủa tôi chết mãi rồi mà tôi vẫn sống nhăn răng ra đây này! Mà lại còn định đem tôi đi chôn nữa...! - ông trưởng Ban cười không thành tiếng.
   Ối, ối không... Chết, không!... Anh đừng nói thế... - ông Tiến ấp úng, trong đầu không sao nhớ nổi đây là lần thứ hai hay thứ ba gì đó bị trưởng Ban quại lại như vậy, trực diện nhưng rất nhẹ nhàng.

   Theo hẹn, tôi chờ mãi không thấy anh tới, nên chủ động sang bên này. Rõ ràng là đối với anh bây giờ tôi đã xuống giá!..
   Dạ thưa... Không... - ông Tiến không làm sao định thần lại được.
 

   Có định chiếm chỗ của tôi cũng phải kín võ một chút. Đường đi nước bước của anh đối xử với tôi như thế người ta gọi là lộ cờ đấy!

   Dạ... Không!.. Đừng anh... - ông Tiến chết điếng, lưỡi líu lại, vì lần đầu tiên thấy trưởng Ban nói toẹt ra như vậy.
   Chơi cờ với nhau anh có hiểu thế nào là lộ cờ không? - giọng ông trưởng Ban vẫn nhỏ nhẻ, hiền lành, có phần thều thào nữa, nhưng hai mắt ông ranh mãnh nheo lại rất sắc, khiến ông Tiến phải lùi lại một bước.

   Hai mắt ông Tiến trân trân nhìn trưởng Ban, cổ ngắc ngứ.

   Trong Ban mọi người nói vanh vách anh bình phẩm về tôi như thế nào, đi gặp ai, vận động những gì...
   Chết chết!.. Xin anh đừng tin! Miệng đời tam sao thất bản...

   Nhắc nhở tý chút thôi... Không nói chuyện cũ... Ngồi bên này nói chuyện với anh thế mà tiện... Thế nào, đã chọn được chỗ treo bằng chưa?

Ông Tiến lại giật thót người, vì thấy trưởng Ban đọc được ý nghĩ của mình:

   Anh thật tâm lý quá... - ông Tiến loay hoay rót nước, mời thuốc, kéo lại ghế... với nhiều động tác thừa, nhưng vẫn chưa ra khỏi cơn choáng. – Mời anh uống nước ạ.
   Cũng may họ nể tôi nên xét phong đặc cách cho anh. Lúc đầu họ cứ khăng khăng đòi anh phải có công trình nghiên cứu khoa học theo đề tài có đăng ký, có một số giờ đứng trên bục giảng... - trưởng Ban nhận tách nước ông Tiến mời. - Tôi nói đại là có sách được in thì cũng kể như là có công trình...

   Thưa anh sách này là... Hàng chục năm đấy ạ... - ông Tiến đã dần dần lấy lại được bình tĩnh.

   Nói như tôi cũng là nói ẩu thôi...

   Thưa anh sách tôi viết đúng là kết quả hàng chục năm lăn lộn xông pha nghiên cứu đấy ạ. Có kém gì công trình khoa học đâu? Hơn nữa nó đã được cuộc sống chấp nhận.
   Làm gì có Hội đồng nghiệm thu nào cao hơn cuộc sống. Có phải anh định so sánh như vậy không?
   Thật là anh đi guốc trong bụng tôi. Giấu anh điều gì rất khó.

   Khoa học là khoa học, không nhập nhèm được đâu. Họ chịu cấp bằng cho anh, chẳng qua là nể tôi thôi... - ông trưởng Ban vừa uống nước vừa lựa lời: - Dù sao bằng đã cấp rồi, bây giờ anh phải chứng minh năng lực của mình để không làm tôi mất uy tín.

   Anh yên tâm, tôi xin cố gắng. – trong bụng ông Tiến càng lo lắng. Xưa nay chưa bao giờ ông thấy trưởng Ban nói với mình bằng cái giọng phân chia đẳng cấp trên dưới rõ rệt như vậy.
   Thực ra tôi cũng không hoàn toàn vô tư trong việc giúp anh đâu.

   Dạ thưa.., những bài báo vừa rồi anh giao cho tôi viết toàn là những công việc của Đảng đấy chứ ạ?
   Anh chưa hiểu ý tôi. Ban ta có thêm một số giáo sư, tiến sỹ thì bộ mặt của Ban ta càng đẹp, có phải thế không? Tôi thừa nhận đi vào chính quy hiện đại tôi hơi chậm quan tâm đến chuyện bằng cấp... Lẽ ra tôi phải nghĩ chuyện này sớm hơn cho Ban.

   Đúng là anh nghĩ gì, làm gì cũng đều là vì Ban!

   Các bài báo phân tích những quan điểm sai trái của Lê Hải anh đặt dưới cái mũ chung “chống tư tưởng hữu khuynh” tôi thấy hợp lắm. Bõ công tôi chọn mặt gửi vàng. Không nêu đích danh Lê Hải, song những bài báo này tạo không khí thuận lợi cho việc giải quyết loại đề tài Lê Hải.

   Thưa anh sao lại gọi là loại đề tài Lê Hải ạ? Xuất hiện một thứ nhân văn giai phẩm mới ạ?

   Không phải thế. Tình hình khó khăn phức tạp hiện nay khiến một số người suy nghĩ lệch lạc. Chuyện này cũng thường tình thôi... Trên bảo phải uốn nắn.
   Giá mà tôi nắm được ý này ngay từ đầu thì các bài viết vừa rồi còn mang nhiều tính khái
 
quát hoá hơn và thuyết phục hơn. Những biểu hiện tôi nêu lên trong những bài này ít nhiều còn hơi cá biệt, vì quá chú ý đến Lê Hải. Rồi còn Phạm Trung Nghĩa, còn cái viện của hai người này nữa ...

   Có lẽ tại tôi giao việc chưa kỹ. Anh phải nhân đà những bài báo vừa rồi dấn tới, phục vụ trực tiếp yêu cầu của Ban.
   Xin anh cho ý kiến chỉ đạo ạ. – hai tay ông Tiến xoa vào nhau.

   Đề tài sắp tới quan trọng hơn loại đề tài Lê Hải nhiều... Lượng sức xem có thể viết một loạt bài mới được không?
   Xin anh cứ nói ạ.

   Lần này tập trung phê phán những vấn đề lớn: tâm lý bi quan về tình hình kinh tế đất nước,
   thức cảnh giác lỏng lẻo đối với thù trong giặc ngoài, sự hoài nghi vô nguyên tắc đối với đường lối của Đảng, những biểu hiện dao động trước những diễn biến phức tạp đang xảy ra tại các nước Liên Xô - Đông Âu. Bốn chủ đề lớn như thế, liệu có kham nổi không?

Đoàn Danh Tiến suy nghĩ một lúc rồi trả lời:

   Dạ... những bốn vấn đề một lúc cơ ạ?

   Phải.

   Nhiều quá. Nếu mỗi vấn đề làm một bài riêng thì được anh ạ, tôi đã có sẵn các tư liệu. Mà nên nói thành từng bài riêng anh ạ. Như thế thì ý sẽ tập trung và phân tích sâu được.
   Ờ... Có lẽ nên như thế... Anh đã có ý niệm sơ bộ gì trong đầu chưa?

   Chính anh đã nói ra rồi ạ: Từ các bài báo chung quanh đề tài Lê Hải tiếp tục dấn tới.

Ông trưởng Ban cân nhắc một lúc rồi mới nói:

   Anh có đức tính mà Lê Hải không có. Anh luôn bắt đầu nhiệm vụ được giao bằng ý thức quán triệt, nghĩa là rất nhạy. Còn cái mạnh của Lê Hải là có đầu óc phê phán. Chỉ mỗi tội là gần đây Lê Hải hay phê phán lung tung, hết kiến nghị này đến kiến nghị nọ, toàn một giọng điệu trái khoáy với chỉ đạo...

   Xin anh cho ý kiến có nên nhân kỳ này xử lý triệt để luôn cái hiện tượng Kim Ngọc không ạ? Hiện tượng này bây giờ ngày càng rộ lên, vượt quá những gì chỉ thị 100(*) [(*) Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, ban hành tháng 10-1981, cho phép hợp tác xã nông nghiệp khoán sản phẩm đến từng nông dân xã viên và ổn định mức Nhà nước thu mua lương thực.] cho phép.

Câu hỏi của Tiến làm ông trưởng Ban ngỡ ngàng.

   Đang chuyện nọ xọ chuyện kia! Anh hiểu thế nào là hiện tượng Kim Ngọc?

   Là cái hiện tượng muốn làm rã đám hợp tác xã nông nghiệp đang nhan nhản khắp nơi. Thành phong trào rồi đấy ạ.
   Nói thế là anh chẳng hiểu cái gì cả. Kim Ngọc đã trở thành chuyện cổ tích từ đời tám hoánh
rồi!

Tiến hoảng quá, vội chống chế:

   Anh ạ, báo chí cả nước bây giờ đang phê phán tình trạng rệu rã của hợp tác xã nông nghiệp. Đầu têu chuyện này không phải là Kim Ngọc thì là ai? Phải đả tận gốc, sao lại tránh né?
   Thế tại sao lại có chuyện rệu rã?

   Anh còn lạ gì cái tính tự phát của nông dân nữa.., Lênin đã nói rồi.

   Chỉ có thế thôi à?

   Có một số chuyện khác nữa anh ạ. Có nơi đã thành hò vè. Nào là: “Mỗi người làm việc bằng hai, Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe!” Nào là: “Mỗi người làm việc chuyên cần, Để cho chủ nhiệm xây sân xây nhà!”... vân vân... Tôi nghĩ chủ nhiệm sai thì sửa chủ nhiệm, còn hợp tác xã thì phải giữ!

   Rất lập trường! Nhưng anh không biết nơi này nơi khác trong nông thôn đã xuất hiện một
 

loại cường hào mới rồi à? Đó là tình trạng ngày càng có nhiều cán bộ cơ sở vừa bất cập, vừa thoái hoá nghiêm trọng.

   Chết, anh dùng danh từ cường hào mới làm tôi khiếp quá. Có đao to búa lớn quá không anh? Địch mà nó bám lấy để xuyên tạc thì chết chế độ!
   Viết lên giấy trắng mực đen thì không nên, nhưng tôi và anh nói chuyện với nhau thì sự việc thì phải gọi thẳng tên ra như thế... - Đến đây ông trưởng Ban đã tìm ra được ý kiến dứt khoát: - Thế này nhé, nếu trong khi viết bài phê phán những quan điểm đi ngược lại với đường lối kinh tế của Đảng mà anh đụng phải vấn đề đại loại như chuyện Kim Ngọc, thì anh chỉ nên viết một câu rất chung, đại ý: Cần chấm dứt tình trạng làm ăn trái với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp. Anh nhớ là viết đúng một câu chung chung như thế thôi, đừng dại gì mà đi vào chi tiết! Không cẩn thận là chết đấy!

   Vâng ạ. Cách nói khái quát hoá của anh rất lập trường mà lại bao hàm hết cả. Người đọc tha hồ rộng đường suy luận.
   Nếu phải viết, tôi cũng đành không đi vào thực chất của sự việc. Vì những vấn đề loại này khó lắm, chính tôi cũng chưa lý giải nổi... – giọng ông trưởng ban trở nên tư lự: - Anh xem, nguồn sống của người nông dân chủ yếu dựa vào mảnh đất 5%... Thật không sao hiểu được!.. Mà anh thì chưa hiểu thế nào là hiện tượng Kim Ngọc, lại càng không hiểu vì sao nó xảy ra.

   Anh ạ, nhưng ông Kim Ngọc mất chức rồi, có nghĩa là đã được bật đèn xanh để phê phán, cần gì phải dè dặt nữa anh? Nếu không thì ông ấy bây giờ làm to phải biết.
   Trước đây chừng mươi mười hai năm gì đó, nghĩa là vào khoảng sáu sáu sáu bẩy (1966, 1967), bí thư tỉnh uỷ Kim Ngọc tự tiện cho Vĩnh Phúc làm “khoán chui”, tất nhiên là thí điểm tại một số huyện thôi... Đầu óc bây giờ loãng rồi, tôi nhớ mang máng như vậy.

   Nghĩa là trên không cho phép ạ?

   Đã gọi là chui thì còn phép với tắc gì! Tội lỗi chỉ là ở chỗ ban chủ nhiệm hợp tác xã được phép bỏ cái lối đánh kẻng ghi công chấm điểm(*) [(*) Ghi ngày công, hoặc cho điểm các việc rồi quy ra ngày công của nông dân xã viên để chia thu hoạch từ sản xuất.] , chuyển sang “khoán” cho nông dân xã viên. Cái gì vượt “khoán” là được hưởng tất! Hiệu nghiệm lắm. Càng cấm đoán, càng chỉ làm cho kiểu “khoán” này biến tướng đi thôi. Chính vì thế năm Tám mốt mới (1981) phải chính thức ra cái “khoán 100”(**) [(**) Tháng 10-1981] , nói gọn là khoán sản phẩm.

   Nếu vậy thì càng nghiêm trọng, càng đáng phê phán chứ ạ?

   Mỗi lần về quê anh có thấy kẻng đánh rồi mà bảy tám giờ sáng nông dân mới lục tục ra ruộng không? Mặt trời mới cao hơn con sào đã nghỉ trưa? Trái hẳn với truyền thống hai sương một nắng của người nông dân ta... Điều này không đập vào mắt anh à?

   Vâng, nông dân đời mới quả không chuyên cần như trước.

   Có khoán 100 rồi mà hợp tác xã vẫn chưa ổn, nông nghiệp không phát triển lên được bao nhiêu. Chính tôi cũng không cắt nghĩa nổi...
   Vâng, đúng là chưa rõ đúng sai thì cứ nói theo đường lối là đắc sách nhất anh ạ.

   Anh vẫn chưa hiểu việc tôi định giao. Vào thời điểm sắp Đại hội thế này mà tự dưng mình tung ra một loạt bài trực tiếp ca ngợi Ban mình thì lộ liễu quá, thô thiển quá, có phải không? Viết những bài nổi bật để gián tiếp đề cao Ban ta mới là cái đích trong loạt bài báo sắp tới... Nói thế đã rõ chưa?

   Bây giờ tôi hiểu ý anh rồi ạ. Xưa nay tôi vẫn phục anh về tầm nhìn chiến lược, bây giờ tôi được thêm bài học về phương pháp luận.
   Thế thì cái bằng giáo sư của anh phải nhường lại cho tôi.

   Chỉ sợ anh không nhận thôi ạ... Tiếc là chưa ai phát minh ra cái bằng gì để phong hàm cho những người chế tạo ra giáo sư!

Ông trưởng Ban phì cười vì câu nói của Tiến, hai má hóp bạnh lên khiến bộ mặt xương xẩu của ông cao nhọn hẳn sang hai bên.
 

   Ờ nhỉ. Không có cái loại bằng này thật!.. Câu nói vui của anh hoá ra chí lý... Sớm bắt tay vào việc đi, không thì lại lỡ cơ hội.

   Dạ thưa...

   Còn chuyện gì nữa?

   Xin anh đừng giận...

   Trượng phu với nhau cả mà!

   Vâng... Nhưng anh cho là tôi lộ cờ mà vẫn giúp tôi có bằng giáo sư?

   Chuyện nhỏ. Tôi nói thẳng ra là để từ nay anh không bao giờ phản thùng tôi thôi! – lần này ông trưởng Ban cười thành tiếng, thoải mái.

Ông Tiến cười theo, song nấn ná trong đầu một lúc nữa, rồi đột nhiên quyết liệt:

   Anh ạ. Tôi nghĩ phải dứt khoát.

   Đánh tiếp Kim Ngọc à?

   Không phải thế ạ. Dứt khoát ở đây nghĩa là giữa anh và tôi... Anh trong bụng còn nghĩ cho tôi là lộ cờ thì không bền với nhau được ạ.

Ông trưởng Ban không tin vào tai mình, mắt giương to, nhìn sát vào tận mặt Tiến:

   Sao? Tôi mà anh còn phải đặt vấn đề như thế à?

   Anh thì hay nghi ngờ, mà tôi thì muốn ăn chắc, anh biết tính tôi từ bao nhiêu năm nay rồi đấy. Hôm nay anh bảo tôi lộ cờ, không biết ngày mai anh sẽ nghi tôi chuyện gì nữa?

Ông trưởng Ban ngả người ra phía sau mà cười, nhưng do bị hen nặng, tiếng cười của ông vẫn rè rè làm sao ấy:

- Thôi được, anh muốn dứt khoát thế nào? Mới tậu được mảnh bằng mà đã đòi lên giá hả? - ông trưởng Ban nói vui để thăm dò.

   Thưa anh đơn giản thôi ạ. Nhảy vào lửa vì anh tôi cũng sẵn sàng. Đề tài khó mấy tôi cũng cố gặm. Ngược xuôi tôi xoay được tất. Chưa vừa ý, anh cứ mặc sức chữa, tôi không tự ái... Miễn sao anh đạt mục đích...

   Xưa nay anh vẫn thế, nhắc lại để đòi thêm gì nữa?

   Tôi phù anh hết lòng, nhưng cũng xin anh hiểu hết giá trị khoa học cái công thức Đoàn Danh Tiến và tác phẩm đã xuất bản của tôi!

Ông trưởng Ban lại cười to, nhưng lần này tiếng cười rè hơn, cổ ông bắt đầu khản xịt, bụng bảo dạ ...mình nhượng bộ ngay lập tức với cái lão này thì chưa nên. Ông cố giữ nét mặt tỉnh bơ:

   Tôi cho tương lên báo nhiều lần như thế mà vẫn chưa thỏa mãn à?

   Hỏi như thế là anh vẫn đánh giá thấp tôi!

   Thế anh tự đánh giá thế nào thì nói ra để tôi theo cho kịp.

   Xin anh nhớ cho cái công thức của tôi có thể ví như cái la bàn để giữ vững định hướng. Tác phẩm đã xuất bản của tôi làm rõ lẽ phải của chúng ta... Đấy là nền tảng khoa học trong lý luận và tư duy xây dựng và bảo vệ đất nước...

   Được... Nói tiếp đi!

   Xin anh nhìn xem có công trình khoa học nào đã xuất bản có được tầm cao như thế không? Anh cứ so sánh thẳng cánh đi ạ!

Ông trưởng Ban cảm thấy không thể chơi tiếp cái trò nhún nhường với tay này:

   Anh Tiến... Tự khen như thế có quá lời không? - ông trưởng Ban nói thật thong thả.

   Anh ơi, mọi tác phẩm của Ban là do tôi chấp bút! Hiển nhiên làm sáng tỏ lẽ phải của chúng

ta!

   Vậy hả? Thế thì viết một quyển mới đi! Lấy câu anh vừa nói làm tựa đề!

   Anh đặt hàng nhé? – ông Tiến vồ lấy ngay.
 

   Cá phàm ăn không kén mồi! – giọng ông trưởng Ban bắt đầu khàn khàn.

   Anh lại riếc móc tôi! Xin anh hiểu cho, bao nhiêu công lao đổ vào đấy! Sách của tôi đúc kết những điều tinh túy ấy, anh không nghĩ vậy sao?.. - ông Tiến nhăn nhó.
   Nhưng đọc các bài của anh tôi thấy có quá nhiều những điều đã biết, trích dẫn rặt những câu mà cả chữ lẫn nghĩa đã mòn vẹt hết cả.
   Nói có sách, mách có chứng! Xin anh hiểu cho, làm khoa học thì phải thế chứ ạ? – ông Tiến bác lại ngay.
   Thế anh không sợ miệng đời chê bai đấy là lẽ phải của quyền lực, là nói lấy được à?

   Anh mà còn sợ miệng thế gian ạ?

   Bia miệng để đời đấy!

   Chết mất thôi!.. Anh mà cũng lung lay thế ạ? – ông Tiến kêu lên, vẻ mặt đầy lo lắng, cảm thấy mình nói chưa đủ liều đối với ông già này.
   Anh vẫn nghi ngờ tôi à? – ông trưởng Ban cười cười hỏi lại.

   Anh chưa đánh giá hết ý chí tiến công không mệt mỏi của tôi ạ.

   Không phải thế... - ông trưởng Ban vừa nói vừa nhếch môi cười một cách thích thú, bỏ lửng câu nói. Ông vui vui thấy mình thân thể yếu đuối thế này mà vẫn có thể điều khiển Đoàn Danh Tiến lực lưỡng trước mặt theo ý muốn của mình suốt buổi nói chuyện.., chẳng khác gì người làm xiếc dạy hổ...

   Nếu anh còn chưa được thuyết phục, xin anh chờ cho một lát. - ông Tiến chạy về bàn làm việc của mình rồi cầm tờ báo đã đọc đi đọc lại mấy hôm nay đưa cho ông trưởng Ban: - Xin anh đọc đi!

Ông trưởng Ban liếc qua rồi đưa trả lại ngay:

   Đưa cho mình tờ báo cũ mấy ngày thế này để làm gì?

   Anh không thấy mình vừa mới ra một chủ trương rất mới đấy ạ.

   Mới thế nào?.. – ông trưởng Ban thủng thỉnh.

   Mới chưa từng có ạ! Phải đẩy mạnh xây dựng văn hóa Đảng!

   Tivi báo chí nói cả mấy tháng nay rồi mà mới à?

   Thưa anh, nhưng bây giờ mới có một định nghĩa hoàn chỉnh.

   Vậy hả, đọc to lên nghe xem nào!


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:04:31 pm
   Vâng ạ, tôi xin đọc: “...Văn hóa Đảng là đỉnh cao những giá trị văn hóa của nhân loại, của dân tộc, của giai cấp, được thấm sâu và kết tinh trong mỗi cán bộ, đảng viên và trong tổ chức của Đảng!..” Thưa anh định nghĩa này vô cùng phong phú. Trong đầu tôi đã hình hài sẵn một loạt bài... Anh xem, tư duy của tôi không một lúc nào nhỡ dịp, có phải thế không ạ? – mắt ông Tiến chằm chằm săn đón câu trả lời ông đang mong đợi.

   Muốn luôn luôn sắm vai lá cờ đầu có phải không?

   Ôi, thế là anh hiểu đúng chí hướng của tôi rồi đấy ạ! Cảm ơn anh nhiều lắm!.. – ông Tiến hân hoan ra mặt, song lại nghệt ra ngay tức khắc, vì ông trưởng Ban ngồi lặng thinh.

Cái đồng hồ trên tường cứ tích tắc hoài, mãi mới thấy ông trưởng Ban hắng giọng:

   Ừ hừm.., tôi vẫn coi anh là lính chiến! Lính chiến tốt.., nhưng không phải là lính nghĩ!.. Dụng nhân như dụng mộc... Yên tâm đi, nói như thế để anh hiểu là tôi không phung phí tài năng của anh đâu!..

   Ôi, lính chiến! Lá cờ đầu!.. Vâng, miễn là anh đừng phung phí... – ông Tiến thốt lên, trong lòng không rõ là mình đang vui hay buồn...

Ông trưởng Ban đã ngửi thấy cái mùi mất thời giờ vô ích, quyết định kết thúc:

   Thôi được, còn nhiều chuyện đàm đạo khác bàn sau... Phải để lúc nào có thời giờ. Trước mắt anh thích tôi làm gì?
 

   Thỉnh thoảng anh nên có đôi lời bình về... nó..., công khai trên dư luận cho mọi người chú ý đến nó... Tiếng nói của anh có giá lắm ạ... – ông Tiến rụt rè.

   Anh định nói về quyển sách của anh?

   Vâng. Cả về cái công thức độc đáo nữa!

   Ông trưởng Ban vẫn đăm chiêu im lặng.

   Anh xem, sáu hay bảy tiêu chí thì lằng nhà lằng nhằng, bố ai nhớ được! Còn cái công thức của tôi chỉ cần nghe một lần là thuộc ngay, dễ quán triệt lắm!
   Đại chủ quan!

   Không ạ!.. Nó còn đơn giản hơn cả cái công thức nổi tiếng của Trung Quốc anh ạ...

   Anh định nói công thức nào?

   Anh còn lạ gì cái công thức một hòn đá, hai con mèo, ba con cá, bốn con gà(*)[(*) Cách nói dân gian của Trung Quốc những quan điểm cải cách của Đặng Tiểu Bình: một hòn đá = dò đá qua sông, hai con mèo = mèo trắng mèo đen, miễn là bắt được chuột... ba con cá (úy) = ba điều có lợi; bốn con gà (chỉ chuẩn) = 4 nguyên tắc cơ bản... Những từ con cá, con gà là lối chơi chữ theo cách phát âm. ]... nữa ạ... Nghe quê bỏ mẹ!...

Ông trưởng Ban im lặng, trầm ngâm một lúc rồi mới nói:

   Anh có đủ tai nghe lời nói thật của tôi về anh không? Ông Tiến lưỡng lự một lúc rồi đánh bạo hỏi:

-Anh định ra đòn ạ?

-Phải! Đòn thứ nhất!... Cho hôm nay...

   Xin... Xin cứ mạnh tay ạ... – ông Tiến hai tay xoa vào nhau, lúng túng không biết nên nói thế nào cho phải nhất lúc này.
   Để làm công tác lý luận, anh phải có ba điều kiện... Chí ít là như vậy...

   Xin... Xin... anh cứ nói ạ...

   Một là anh phải có tri thức mẫn tiệp...

   Ông Tiến giật mình đánh tách một cái trong đầu, chớp mắt mấy cái liền.

   Anh có cái này không?

   Ông Tiến đứng im, hai tay xoa vào nhau, mặt nheo lại như đang suy nghĩ...

   Hai là anh phải có ý chí nhận thức đúng đắn sự vật... – hai con mắt của ông trưởng Ban soi mói trên khuôn mặt ông Tiến.
   Ông Tiến tự dưng lùi một bước về phía sau.

   Ba là khi đã nhận thức được rồi, anh phải có cái tâm theo đuổi cái mục đích chân chính của mình. Có bị chém đầu cũng chỉ nói theo cái tâm của mình... – tay ông trưởng Ban run run là thế mà vẫn chém được đánh phăng một cái trong không khí.

   Ông Tiến vẫn lặng lẽ như hến, chỉ có cái tay tự nó đưa lên sờ sờ ở cổ...

   Nói thật lòng cho tôi nghe, cả ba thứ này anh có không? Có đến mức nào?..

   Ông Tiến cố tìm câu trả lời trên trần nhà và chung quanh...

   Sao? Phòng thi này hôm nay không có ai phao câu trả lời cho anh có phải không?

Mãi một lúc sau ông Tiến mới nói được:

   Xin anh thông cảm cho... Tôi là con người của hành động!

   Nói được như thế là khá lắm! Tôi không mong đợi hơn...

   Anh biết người biết của ạ. – ông Tiến nịnh.

   Không phải, tôi là con người thực tế. Yên tâm đi... Sắp tới tôi sẽ hào phóng hơn nữa đối với anh. Được chưa? Nhưng...
 

   Thưa anh, nhảy vào lửa tôi cũng sẵn sàng ạ...

   Tôi biết, tôi biết... Người như anh quả là hiếm, tôi đã không giấu anh điều này. Nhưng tôi đòi hỏi cao hơn nhiều...
   Xin anh cứ nói ạ.

   Anh phải chịu khó tự học nâng cao trình độ hơn nữa thì mới bớt được cái máu võ biền, ngòi bút của anh mới mang thêm tính học thuật, tính chiến đấu...
   Anh muốn nói đến tính khoa học, tính hàn lâm?

   Phải. Nhất là không được làm cho Ban ta có điều gì bị hố!.. Anh vẫn có nhiều cái hố lắm đấy! Cái hố tệ hại nhất của anh là cái gì cũng bốc nước ta lên nhất thế giới!..

Hai tay ông Tiến nắm lấy cánh ta ông trưởng Ban lắc lắc:

   Trời ơi, anh quả là bậc tinh anh! Tôi không thể cãi vào đâu được!

   Nói thẳng với nhau thế này, tôi đặt cọc vào anh đấy...

   Anh có thể hoàn toàn yên tâm ạ... Anh uyên thâm như thế, xin anh cứ chủ động giao thật nhiều đề tài cho tôi ạ!
   Không được! Không được đâu! Giao gì cho anh cũng phải do trên có yêu cầu! Tôi không tự
   được... Tất cả phải theo đơn đặt hàng!

   Vâng, xưa nay tôi vẫn hiểu thế ạ... Nhưng xin anh cứ giao cho thật nhiều, tôi không dám nề hà ạ.
   Được... Chừng nào anh còn tin tôi, chắc chắn anh sẽ không phải thất vọng đâu. - ông trưởng Ban chủ động bắt tay Tiến, quay về phòng làm việc của mình.

Trưởng Ban lê chân loẹt quẹt, hai tay thõng xuống. Tấm thân mảnh khảnh bước đi quá nhẹ, gần như chỉ lướt trên mặt đất. Đoàn Danh Tiến nhìn ông với những cảm nghĩ khó tả, phần vì dư âm của choáng đòn, phần vì ngạc nhiên về cách xử sự thẳng thắn, bề trên, nhưng cũng rất cao thượng của trưởng Ban đối với mình, lâng lâng những hy vọng mới.., song cũng một thoáng ái ngại vì thấy trưởng Ban ốm yếu quá ...

Giá mình kiên nhẫn một chút thì không cần phải lộ cờ!... Ông Tiến tiếc rẻ...

Tiễn ông trưởng Ban ra đến cửa phòng, đột nhiên khách không bước đi tiếp nữa. Ông Tiến cũng phải dừng lại theo, trong lòng đầy lo lắng.

...Ông già này còn chắc lép điều gì với mình chăng? – nghĩ bụng như thế, nhưng ông Tiến đành đứng yên chờ đợi, chỉ lo lúc này nói câu gì lỡ miệng thì bỏ mẹ...

Vốn người từng trải, ông trưởng Ban hiểu những điều vừa hứa với ông Tiến là đang dắt ông Tiến vào lửa, trong thâm tâm ông không muốn thế. Ông trưởng Ban lẩm bẩm trong đầu:... Thì chính mình cũng đang chơi với lửa đấy thôi!...

...Làm thế nào được? Cả đời mình đã bao phen vỡ mặt vì cái chuyện lý luận một đằng mà cuộc sống cứ đi một nẻo, càng sáng tạo lắm cuộc sống càng bất kham doãng ra!.. Bố láo!.. Làm gì có thứ lý luận nào đẻ ra cuộc sống! ... Bao nhiêu đổ vỡ rồi mà cứ tiếp tục mãi thế này? Chẳng lẽ sau ta là cơn đại hồng thủy? Ôi lẫn cẫn mất rồi, không sao nhớ được chỗ nào trong Kinh thánh nói câu này...

Ông trưởng Ban đứng im, hai mắt như đang đào bới cái gì dưới lòng đất...

...Ôi sống cái nghề biện minh này sao nó bạc bẽo thế! Bao phen mình ăn no những tiếng eo sèo nhức óc.., từ trên trời xuống, từ dưới lên, từ mọi phía ... Có được quyết sách gì đúng thì phải ra sức bốc thơm, dán cho nó cái nhãn mác tầm cao lý luận! Nhưng thực ra đâu có phải là công lao của lý luận! Thế mà vẫn bị ăn đòn vì nó chưa đủ cao!.. Nhiều lúc cảm thấy hổ thẹn với chính mình... Điều gì không cưỡng lại được, buộc phải viết chạy theo cuộc sống, thì lại được trang điểm bằng cái tên gọi là sự sáng tạo của lý luận... Vơ vào được cái gì để chứng minh sự sáng tạo này là vơ tuốt!.. Ấy thế mà vẫn cứ bị phê bình là công tác lý luận còn tụt hậu... Có điều gì bảo phải làm, thì vô luận thực hư sai đúng mơ hồ viển vông thế nào ... lý luận cũng phải gò vào lấy được!.. Công kênh cái dốt, xéo lên lương tâm mà gò vào lấy được!.. Tất cả đều phải theo đơn đặt
 
hàng... Chết một nỗi càng gò vào bao nhiêu thì chính cái mặt mình càng trâng tráo bấy nhiêu, cho cái miệng đời tha hồ phỉ nhổ! Thế mới khổ cho cái thân hạc này!..

...Ôi bao phen ta phải ra đi đến nơi rồi! Bao phen lại phải cố dấn lên, không thế ta đâu còn là ta hôm nay...

Trưởng Ban đứng mãi như cây chết giữa đường thế này làm ông Tiến lo lắm, có đến năm sáu bảy mối lo, không biết nên câm lặng hay nên nói gì... Chẳng lẽ cứ đứng đực ra mà nhìn lão ta à? Mày phải thăm dò xem lão ta còn định giở chứng cái gì nữa chứ!.. Một thằng người nào đó trong ông Tiến giục giã cái mồm ông Tiến mấp máy:

   Anh có mệt không ạ? Hay là mời anh ngồi nghỉ lại phòng tôi một lát đã ạ! Để tôi pha cho anh chén sâm... – ông Tiến lựa lời.
   Không rõ ông trưởng Ban nghễnh ngãng hay cố ý không nghe thấy lời mời của ông Tiến.

   Ở vào tuổi của anh nên rất thận trọng ạ... Nhất là hồi này anh gầy đi nhiều quá... – ông Tiến tỏ vẻ ái ngại.
   Thôi cũng đành liều!.. – ông trưởng Ban bâng quơ như người vừa mới bừng tỉnh.

   Chết, đừng, đừng anh ạ... Ở tuổi anh, sức khỏe như thế này, mà còn định liều gì nữa ạ? – ông Tiến giật thót người.
   ...Cũng liều nhắm mắt đưa chân!.. – ông trưởng Ban như chỉ nói với chính mình, lúc này đôi chân mới lê tiếp loẹt quẹt trên sàn nhà như một hình nộm biết đi... Ông không hề để ý có ông Tiến đi bên cạnh...

Tiễn ông trưởng Ban về đến phòng làm việc, dắt ông ta ngồi vào ghế hẳn hoi, ông Tiến cố ý chào thật to:

- Chào anh tôi về ạ.

Ông trưởng Ban lúc này mới gật gật cái đầu, tay khua khua ra hiệu cho ông Tiến về đi.

Trên đường về phòng làm việc của mình có mấy bước chân, thế mà trong đầu ông Tiến bao nhiêu ý nghĩ nhảy múa quay cuồng, về những lời hứa của trưởng Ban, về tương lai, về cái câu nói khó hiểu khi chia tay...

Ngồi vào bàn làm việc rồi, mà ông Tiến cứ hỏi đi hỏi lại mãi trong đầu:

... Cũng liều nhắm mắt đưa chân? Già quắt ra như thế mà còn liều liều cái gì nữa? Chắc còn muốn leo cao? Tham vọng hết chỗ nói... Thế mà vẫn đối xử keo kiệt với người ta!..

... Đúng là đã có quyết định cho ông ta nghỉ hưu rồi cơ mà? Nhưng ông ta cao thượng hay cao thủ nhỉ?.. Lần này là tin thật chứ không phải là tin đồn nữa! Hay chính vì thế mà ông ta phải liều nhắm mắt đưa chân!?..

... Vẫn còn chăm lo đến tăng cường thanh thế của Ban? Người thay ông ta sẽ là ai đây? Mình trót lộ cờ rồi, ông ta thật tinh quái... Như thế liệu có đến lượt mình không? Nhưng ông ta đã hứa như đinh đóng cột...

... Đáng về vườn lắm rồi ông anh ơi! Cái công thức quán triệt của người ta là một kiệt tác như thế mà đến giờ này vẫn chưa mở mồm có được một lời khen cho ra hồn. Rõ thật là đồ hẹp hòi! Đồ bủn xỉn!.. Thật là may... Mình mặc cả sát sườn như thế hóa ra lại được việc...

...Nhưng mà giao việc cho người ta mà lại nói cũng liều nhắm mắt đưa chân. Thế là thế nào? Còn định giở trò gì nữa?.. - nghĩ đến đây ông Tiến thấy mặt mình nóng bừng bừng, hai bên thái dương giật mạnh, toàn thân bắt đầu dấp dấp mồ hôi...

Ông Tiến không sao biết được dứt khoát mình đang lo sợ mối lo gì...

Tiếng chuông reo làm đứt đoạn mọi luồng suy nghĩ, lúc này ông Tiến mới biết là hết giờ làm việc. Vội thu dọn mấy thứ trên bàn giấy của mình, ông quyết định bảo lái xe đưa đi thửa cái khung trước đã rồi mới về nhà.

Một tuần sau khi cùng với Nghĩa kiến nghị lên trên giải pháp cho vấn đề Campuchia, Lê Hải
 

được mời đến gặp người phụ trách công tác tổ chức có thẩm quyền để làm thủ tục nghỉ hưu. Trong mấy ngày này, ngày cũng như đêm, đi đứng ngồi trên mặt đất mà Lê Hải cứ tưởng mình đang lơ lửng ở đâu đó, trong đầu gần như chỉ có một cảm giác bàng hoàng, bàng hoàng đến tê dại... Có lúc Lê Hải phải tự tay cấu vào người mình để xua đi sự bàng hoàng này...

   Kiến nghị của mình là đúng hay sai? – Lê Hải tự hỏi mình như vậy, lại đưa tay cấu má mình...

Ngồi trên xe đi đến cuộc gặp này, Lê Hải sắp xếp lại các sự việc, cân nhắc ý kiến định nói. Mình sẽ nói thật ngắn gọn thôi, nhưng dứt khoát... Ông liên tưởng đến những ý kiến trao đổi với Nghĩa suốt cả tuần qua về mọi câu hỏi có thể đặt ra trong cuộc gặp này.

   Những bài báo của Đoàn Danh Tiến là bối cảnh rất tốt cho việc ra quyết định để anh nghỉ hưu. Sự trùng khớp ngẫu nhiên thật hoàn hảo anh ạ!
   Bối cảnh với lại hoàn hảo?.. Anh vẫn tin vào kiến nghị của chúng ta chứ, anh Nghĩa?

   Dứt khoát như vậy.

   Tôi cũng nghĩ thế.

   Nếu tòa án binh có khép tôi vào tội tử hình, tôi vẫn giữ đến cùng kiến nghị này. Chúng ta có thể đúng, có thể sai, nhưng chúng ta không phản bội!
   Bối cảnh! Nhận xét gì mà lạ hoắc?! Mà có lẽ đúng là để tạo bối cảnh thật cũng nên! Nhưng...
Nhưng chẳng lẽ cho một người về hưu như mình mà cần phải dọn đường bằng một loạt bài báo? Tôi quan trọng đến thế cơ à?
   Anh chưa đủ tiêu chuẩn một mình độc hưởng loạt bài báo này đâu! Chuyện là thế này, thông thường để cán bộ như cỡ anh nghỉ hưu, suôn sẻ cũng phải mất hàng năm. Mấy bài báo kia rút ngắn khoảng thời gian này xuống còn vài tuần. Như thế tiện lợi quá còn gì? Chắc chắn nhờ loạt bài báo này việc phong tặng danh hiệu đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ cho một loạt chiến sĩ đại loại như anh thuận lợi hơn nhiều.

   Đại loại như tôi hả? Bỏ cái lối vòng vo tam quốc đi anh Nghĩa! Sao anh không nói toạc ra là để loại tôi dễ hơn... Nói thế có phải là đỡ chối tai không?
   Tôi hiểu. Sự cương trực của anh đã đủ sức góp phần loại chính anh thì nó cũng sẽ đủ sức giúp anh tự tìm lấy một từ thích hợp! Cần gì phải đến tôi gà cho anh việc chữ nghĩa.
   Không khiến. - Hai tai Lê Hải nóng bừng bừng...

Lê Hải nhớ lại tỷ mỷ những ý kiến đã trao đổi với Nghĩa. Ông lấy việc Nghĩa trước đây viết đơn xin giải ngũ ra làm gương cho mình và tự nhủ phải giữ vững phẩm chất người bộ đội Cụ Hồ. Nghĩ miên man, ông thấy xe chóng đến nơi quá.

Sau mấy lời chào hỏi xã giao và một vài câu hỏi thăm dò, người tiếp khách đi thẳng vào câu chuyện.

   Tôi muốn nói rõ để đồng chí yên tâm là tổ chức yêu cầu đồng chí nghỉ hưu với lý do duy nhất là tuổi tác và sự cống hiến xứng đáng của đồng chí.
   Ngoài ra còn lý do nào khác nữa không?

   Về cá nhân đồng chí thì không.

   Cả về kiến nghị mới đây nhất của Viện tôi vừa mới trình lên trên?

   Về công tác... – chủ nhà dừng lại khá lâu, như để chỉnh đốn từ ngữ chặt chẽ, rồi mới nói tiếp: - Viện của đồng chí đã làm xong nhiệm vụ của nó, nay trên đã quyết định chuyển Viện của đồng chí sang làm chức năng một học viện, nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo lý luận. Làm nghiên cứu như vừa rồi Viện của đồng chí không còn thích hợp nữa.

   Rõ. – Lê Hải phải đưa hai tay bám lấy thành ghế, có cảm tưởng như đang có động đất.

   Vấn đề cuối cùng, chuyện này không liên quan gì đến việc đồng chí nghỉ hưu, nhưng mong đồng chí lưu ý: Gần đây đồng chí có nhiều phát biểu, nhiều kiến nghị. Sắp tới mong đồng chí thận trọng hơn, cân nhắc kỹ hơn... Nói chung nên bám sát đường lối chính sách của Đảng. Nghỉ hưu rồi, đồng chí vẫn nên chú ý điểm này, vì đây là nghĩa vụ làm gương cho các thế hệ tiếp
 

theo.

Lê Hải hiểu ngay ý kiến này là lời phê bình nghiêm khắc đối với một người làm tướng, liên quan đến quyết định cho mình nghỉ hưu.

Đường đời dày dạn đủ tôi luyện cho Lê Hải sự bình tĩnh cần thiết. Ông thở sâu một lúc, rồi đáp lại thong thả, dứt khoát:

   Tôi hiểu, và tôi nghĩ là tôi hiểu đúng ý kiến của đồng chí. Tôi xin nói lại thế này. Một là tôi chấp hành nghiêm túc quyết định cho tôi nghỉ hưu. Hai là nhận xét cuối cùng của đồng chí thực chất là một lời phê bình nghiêm khắc. Nhưng tôi nghĩ hoàn toàn khác và không chấp nhận. Đồng chí tự nghĩ xem lời phê bình này có dính dáng đến việc tôi nghỉ hưu không? Còn sau khi tôi nhận quyết định nghỉ hưu, nếu các đồng chí thấy cần thảo luận về lời phê bình này, tôi sẵn sàng. Cảm ơn đồng chí đã dành thời giờ tiếp tôi. Cảm ơn sự thẳng thắn của đồng chí.

Câu nói cuối cùng của Lê Hải làm cho người tiếp ông nhăn mặt, nhưng chỉ một loáng thôi:

   Như thế là chúng ta đã nói được hết mọi chuyện với nhau?

   Vâng.

Cả khách và chủ cùng đứng dậy chúc sức khỏe, chào nhau ra về. Cuộc gặp vẻn vẹn chưa đầy mười phút.

Lúc nói chuyện bình tĩnh là thế, nhưng khi ngồi lên xe ra về Lê Hải cảm thấy nhịp thở rối loạn, mạch đập nhanh... Ông cố tự nhủ mình phải tỉnh táo, nhưng vẫn không làm sao tự cắt nghĩa được tâm trạng này.

...Cuộc đời binh nghiệp của mình đến đây kết thúc!..

Trên đường về, tướng Lê Hải bảo người lái xe đưa ông tạt vào một quầy hoa, sau đó đưa ông đến Quảng trường Ba Đình. Ông dặn chiến sĩ lái xe chờ ông ở đầu đại lộ Hùng Vương rồi ông đi bộ đến lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh...

Tại đây ông đặt bó hoa đầu tiên xuống chân Lăng rồi đứng lặng yên hồi lâu. ...Chính tại nơi đây, từ chiến khu cách mạng trở về, ông đã từng cùng đồng chí đồng bào tham gia Tổng khởi nghĩa, cùng đồng chí đồng bào nghe vị Cha già dân tộc đọc Tuyên ngôn Độc lập của đất nước. ...Chính từ nơi đây ông bắt đầu cuộc trường chinh Nam Tiến cho đến ngày toàn thắng ...

Ai biết người lính già này giờ đây đang nghĩ gì?

Tầm mắt nhìn về nơi xa xăm, mái tóc bạc trắng nhẹ bay trong gió, thời gian và muôn vàn đau thương gian khổ khắc sâu trên gương mặt, người lính già đứng mãi ở đấy dưới bầu trời đầy nắng.

Trăm ngàn cảm nghĩ lúc đầy khí thế tự hào, lúc đắm chìm bao điều xót xa trên mọi nẻo đường đời dồn lại trong tâm trí ông lúc này... Lê Hải cứ đứng mãi như thế, dưới bầu trời đầy nắng...

Sau những phút trầm ngâm như vậy, Lê Hải đi đến Đài Liệt Sĩ. Tại đây ông trịnh trọng đặt hoa, đốt hương, cúi đầu mặc niệm trong giây lát rồi đứng yên. Lời chào cuối cùng của ông với tư cách là một quân nhân gửi đến các đồng đội đồng chí đã ngã xuống? Cột mốc cuối cùng kết thúc con đường binh nghiệp để trở về cuộc sống dân dã?..

Ai biết được người lính già này đang nghĩ gì? Ai đọc được những gì đã khắc sâu vào tâm khảm con người này? Từ nơi đồng ruộng bùn lầy, từ đất mỏ lầm than đầy máu và nước mắt, con người này đã đi hết chiều dài của đất nước, đã cùng với cả nước chiến đấu cho đến ngày toàn thắng...

Người lính già này đang nghĩ đến máu và nước mắt của dân tộc đã thấm sâu trên từng tấc đất của Tổ quốc để có Độc lập và Thống nhất hôm nay? Người lính già này đang đăm chiêu nỗi lo về muôn vàn nỗi lo đang thách thức đất nước ở phía trước?

Ai biết được người lính già này giờ đây đang nghĩ gì?

Về nhà, tối hôm ấy tướng Lê Hải thắp hương trên bàn thờ ở nhà. Ông quỳ xuống lễ, rồi phủ
 

phục trước bàn thờ hồi lâu. Bà Hậu đứng xa phía sau, lặng im nhìn chồng, không dám nói năng gì. Sau đó ông đứng dậy, bước lại cầm tay vợ:

   Hậu ạ, ngày hôm nay kể như anh đã hoàn thành nhiệm vụ người lính. Sáng nay anh đã đến đặt hoa ở Lăng Bác, báo cáo với Bác anh đã làm tròn nhiệm vụ người lính của Bác, sau đó anh đã đến viếng các đồng chí đồng đội đã hy sinh. Nén hương anh thắp trên bàn thờ tối nay là để tưởng nhớ đến bố mẹ anh, bố mẹ em, đến các cô chú và các anh em đã hy sinh, đến Tấm, đến Thạnh và các con... – Ông cố nói chậm rãi, nhưng giọng ông vẫn run lên.

Cả đêm hôm ấy hai vợ chồng bàn bạc với nhau về cái quyết định cho nghỉ hưu đột ngột này.

   Hậu ơi, cuộc sống sau chiến thắng mới là điều quan trọng em ạ. Nhìn quá khứ như thế, mới sống được cho hiện tại và tương lai!
   Ôi anh Hải của em...

   ...

   Mãi mãi anh vẫn là anh bộ đội Cụ Hồ!, là người chồng yêu quý của em!.. – bà Hậu ôm xiết chồng mình, nước mắt trào ra trên má...
Mười ngày sau, với lý do đẩy nhanh việc chuyển Viện thành Học Viện, người được cử thay Lê Hải đã đến nhận nhiệm sở và nhiệm vụ mới. Công việc bàn giao diễn ra thun thút đến ngạc nhiên. Lê Hải không sao hiểu nổi: giao gì nhận nấy, ngoài mấy lời cảm ơn, lúc chiếu lệ, lúc xã giao, người kế nhiệm Lê Hải không hé miệng có lấy một câu hỏi.

...Người kế nhiệm mình thuộc loại siêu việt? Hay là cấp trên cần mình ra đi nhanh?.. Hay là anh ta làm ăn qua loa?.. Hay là cái Viện của mình thực sự hết thời rồi? – Nghĩ vậy, đến phần bàn giao các hồ sơ, có tủ Lê Hải chủ định giao nguyên cả tủ. Ngoài việc đọc tên của tủ ra, Lê Hải lặng lẽ đưa chìa khóa, không nói thêm nửa lời. Nhưng lạ quá, người kế nhiệm vẫn không thèm hỏi lấy một từ!

...Ngay cả ngồi họp bàn giao cũng không có lấy một câu hỏi lại! Biên bản bàn giao công việc mình đưa cho cũng phóng tay ký, không thèm hỏi lại mình lấy một chữ! Hay là những công việc mình đã làm bây giờ trở thành lỗi thời thật rồi? Đáng xếp xó lắm rồi?..

Cho đến khi bắt tay nhau ra về, Lê Hải vẫn không dám chắc người kế nhiệm mình liệu có hiểu rõ đã nhận được từ tay mình những việc gì, những thứ gì. Nhưng Lê Hải ngậm tăm, tự bản thân cũng thấy không tiện hỏi.

...Nghĩa là chính mình cũng đáng được xếp xó một cách nhanh nhất?

Theo chế độ dành cho người có nhiều công lao, tướng Lê Hải được mời đi an dưỡng ở Cửa Lò bốn tuần lễ, kết hợp với việc tổng kiểm tra sức khoẻ để đưa vào hồ sơ hưu. Bà Hậu được mời đi cùng chồng, nhưng vì bận dạy học, nên bà chỉ nhận đi một tuần.

Trong bữa cơm vợ chồng Nghĩa tiễn vợ chồng Lê Hải đi nghỉ, câu chuyện “Tướng về hưu”(*) [(*) Lúc này truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp từ lâu đã trở thành câu chuyện cửa miệng ngoài đời. ] của chính bản thân Lê Hải hầu như không dứt.

- Anh Hải ạ, tướng về hưu dễ trở thành kẻ lạc lõng trong đời, anh có lo không?
   người khác, câu hỏi này của bà Nguyệt có thể hiểu là diếc móc, và người nghe có thể phật
   Song trong ngữ cảnh ở đây nó lại là câu hỏi đầy nỗi day dứt của sự đồng cảm. Bà thấy trong chuyện này có cái gì đó không ổn, mặc dù bà đã được ông Nghĩa nói rất rõ lý do của trên về việc cho tướng Lê Hải nghỉ hưu.

   Kìa anh Hải, chị Nguyệt đang hỏi anh đấy. - Bà Hậu giục chồng.

   Cô giáo dạy văn hỏi khó quá, học trò Lê Hải đang bí. - Lê Hải vừa cười vừa ăn, cố ra vẻ tự nhiên.

Thực ra câu hỏi của bà Nguyệt lại dấy lên bão tố trong đầu Lê Hải.

Ngay cả những lúc ông nghĩ rằng hoàn toàn làm chủ được mình, mà ông vẫn thấy mình như
 
đang lơ lửng ở đâu trong không trung, biết bao nhiêu ý nghĩ trái chiều nhau va đập nhau dữ dội trong tâm thức. ...Tự hào, mãn nguyện, tê tái, lo lắng.., đôi lúc ông cảm thấy người lúc nào cũng như sắp lên cơn sốt giống như những năm tháng ở bưng biền. Cái cảm giác bàng hoàng hôm nào lại bừng bừng ...Nghỉ hưu là chuyện đương nhiên, có gì nên chuyện? Nhưng nhập nhằng nghỉ hưu với bị loại làm một thì thà là thẳng thừng bị loại đứt đuôi con nòng nọc vẫn còn dễ chịu hơn! Lại còn thêm cái chuyện chuyển đổi chức năng của Viện thành Học viện nữa chứ! Có khác gì bị trói chân trói tay, bịt miệng, rồi mới bị đá sang bên đường, muốn cựa quậy gì cũng không được!?.

Có lúc Lê Hải phải cố giấu mình đang bị nghẹn.

   Trường tôi có mấy cụ về hưu bị hụt hẫng một cách khổ sở, không ai có thể giúp được gì. Có cụ ngày ngày đến trường như lúc còn đang đi dạy, lang thang ngoài sân, kể cả ngày mưa gió, can ngăn không được. – giọng bà Nguyệt đầy ái ngại.

   Không biết anh có như vậy không, anh Hải? – bà Hậu hỏi chồng.

   Anh hy vọng là không, Hậu ạ.

   Tôi tin là anh Hải nói thật đấy, chị Hậu đừng lo. Chúng tôi đã nói chuyện với nhau suốt cả một tuần nay chỉ về đề tài này! – Nghĩa tìm cách an ủi Hậu.
   Em rất lo. Anh sẽ không được yên thân nghỉ hưu đâu. Chung quy cũng là tại anh! – Giọng bà Hậu ít nhiều hờn trách.
   Ô hay, sao lại tại anh? - ông Hải hỏi lại.

   Em đã nói cho anh nghe nhiều lần rồi. Trước tiên là tại thành quả tổng kết của anh! Anh sắc sảo quá, nhiệt huyết quá, nhưng không biết giữ mồm miệng!


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:05:22 pm
Lê Hải đặt đũa bát xuống, nắm lấy tay vợ:

   Hậu ạ, đây không phải là lần đầu tiên trong đời anh phải đối mặt với loại chuyện này. Chẳng lẽ anh phải sống khác với con người anh hay sao? – Lê Hải quay ra bà Nguyệt - Bây giờ tôi có thể trả lời được câu hỏi của chị lúc nãy, chị Nguyệt ạ. Cả anh chị cũng phải tin vào tôi...

   Anh chị Nghĩa xem nhé... – bà Hậu không để cho chồng nói dứt lời, hai tay vung ra trước ngực, sôi nổi. - Loại bỏ được một kẻ lắm ý kiến trái ngược, trả công cho kẻ dọn đường, cài cắm người mới, nếu không là cái đích của nhập cục ba việc làm một thì là cái gì? Nhập cục ba việc làm một như thế mới là cái đáng nói! Chỉ có anh Hải em còn đang bị choáng nên chưa nhận ra thôi!

   Hoá ra đến bây giờ thực lòng em vẫn không chịu anh là cuộc sống sau chiến thắng mới là điều quan trọng? Nói thật đi, có phải thế không Hậu?
   Em hiểu anh, em tán thành suy nghĩ này chứ. Nhưng ở đây em không nói về anh, em nói về ngoài đời cư xử với anh! Đấy là hai chuyện khác nhau anh Hải ạ! Ba việc nhập cục làm một!..

Ông bà Nghĩa buông đũa bát, ngớ ra nhìn vợ chồng Lê Hải, nhất là nhìn bà Hậu. Cả hai chưa bao giờ thấy bà Hậu có giọng nói lạ thường như vậy - đôi mắt bà Hậu long lanh, xếch ngược lên trong khi nói.

Tiễn vợ chồng Lê Hải đi nghỉ được ba hôm, đại tá Phạm Trung Nghĩa bị bắt.

Sáng hôm ấy, Nghĩa đột nhiên được mời lên phòng thủ trưởng mới. Trong phòng, ngoài thủ trưởng mới, Nghĩa thấy hai cán bộ ăn mặc thường phục. Thủ trưởng chủ động giới thiệu với Nghĩa hai người này. Một trong hai người mặc thường phục giải thích một số điều. Sau đó tự tay người thủ trưởng mới đưa cho Nghĩa một quân lệnh.

Chờ Nghĩa đọc xong, người mặc thường phục thứ hai nói:

   Đồng chí đã đọc lệnh?

   Tôi đã đọc xong.

   Rất tiếc phải mời đồng chí đi cùng chúng tôi ngay.
 

   Có nghĩa là tôi bị bắt? – Nghĩa cố trấn tĩnh hỏi lại.

   Đồng chí nên hiểu là bị tạm giữ để điều tra, vì lý do an ninh.

   Đồng chí đã nghe rõ câu hỏi của tôi chưa? – Nghĩa hỏi lại.

   Rất rõ.

   Thế thì phải giải thích lý do chứ?

   Rất tiếc là chúng tôi chỉ có một mệnh lệnh là đưa đồng chí về chỗ tạm giữ. Nghĩa đứng yên suy nghĩ hồi lâu.

   Tôi khuyên anh trước mắt hãy thi hành lệnh, đến chỗ tạm giữ chắc anh sẽ có dịp làm rõ mọi chuyện. – người thủ trưởng mới khuyên Nghĩa.
   Tôi có được phép tạt qua nhà lấy mấy thứ đồ dùng cá nhân không?

   Không cần, đồng chí ạ.

   Cho tôi gọi điện thoại cho vợ tôi được không?

   Mọi việc đồng chí cứ để chúng tôi lo, bây giờ xin mời đồng chí ra xe.

Vốn là quân nhân từng trải, Nghĩa rất hiểu quân lệnh và tình huống của mình lúc này. Nghĩa giữ được bình tĩnh, anh bắt tay chào người thủ trưởng mới rồi tập tễnh đi theo hai người thường phục, hai môi mím chặt.

...Hơn 3 giờ đồng hồ sau Nghĩa đến khu biệt giam. Ngồi nhìn đường đi, Nghĩa nhận ra ngay đây là nơi ráp ranh hai tỉnh 3 huyện nằm trong địa phận Thạch Thất. Năm nào trước khi đi B, Nghĩa đã hàng tuần lễ liền đeo quân trang tập đi bộ khắp vùng này. Nghĩa được ở một mình trong một túp nhà nhỏ, mái ngói, trên phủ lá cọ, có buồng vệ sinh riêng, tiện nghi sơ sài nhưng đầy đủ. Đang nhận nhà, một người thường phục thứ ba đến. Anh ta trạc tuổi như Nghĩa, cũng vóc người vạm vỡ, da bánh mật, khuôn mặt đầy đặn hiền hậu, nhưng trên đầu chưa điểm xuyết sợi tóc bạc nào.

   Đồng chí là đại tá Phạm Trung Nghĩa? – người này không bắt tay Nghĩa, nhưng hỏi Nghĩa với giọng từ tốn, hơi đượm vẻ lành lạnh.
   Vâng, tôi là Nghĩa.

   Hôm nay đồng chí nghỉ để tĩnh tâm. Sáng mai chúng ta bắt đầu làm việc. Yêu cầu đồng chí nghiêm chỉnh chấp hành nội quy rất đơn giản ở đây: Không ra khỏi nhà và không tiếp xúc bất kỳ ai ngoài tôi. Tạm gọi tôi là Thạch.

Nghĩa còn đang suy nghĩ điều gì, Thạch đã hỏi tiếp:

   Đồng chí nghe rõ những điều tôi nói không?

   Rõ.

   Đồng chí đồng ý chứ?

   Tôi đồng ý.

   Sáng mai chúng ta gặp nhau. Chào đồng chí. - Thạch chào, vẫn không bắt tay Nghĩa. Từ khi tới đến tới lúc về, Thạch vẫn giữ vẻ lành lạnh, nói không thừa một từ nào. Hai người thường phục dẫn độ Nghĩa cùng về theo.

Đường lên Thạch Thất nhiều chỗ rất xóc nên Nghĩa hơi mỏi. Lại không có việc gì làm, Nghĩa tháo chân giả ra rồi lò cò trong nhà. Lúc này Nghĩa mới có thời giờ quan sát ngôi nhà và chung quanh. Chỗ ở không tồi, các tiện nghi rất sơ sài, nhưng sạch sẽ. Trên cái giường bằng ván ghép có một bộ quần áo ngủ, chăn màn cá nhân. Tủ là một thùng gỗ có cánh, bên trong treo một bộ đồ bộ đội, quần áo lót. Trên bàn có một tệp giấy trắng và một cái bút bi. Trong phòng vệ sinh có khăn mặt, xà phòng, bàn chải đánh răng, một chậu rửa mặt và một phuy nước, góc trong là hố xí bệt, giấy vệ sinh là các mẩu báo cắt. Đúng, đây chỉ là chỗ tạm giữ, song điều này không hề giảm bớt mức gay gắt của không biết bao nhiêu câu hỏi Nghĩa tự đặt ra cho mình từ lúc ngồi lên xe đến đây, bắt đầu từ cái kiến nghị sống còn về vấn đề Campuchia cùng đi trình bày với Lê Hải cách đây ít hôm...
 

...Thạch vẫn còn gọi đầy đủ quân hàm của mình, chứ không gọi trống không, như thế là còn đang ở quá trình điều tra? Nghĩa là còn cơ hội làm rõ mọi chuyện?.. Câu hỏi này làm cho Nghĩa vững tâm đôi chút, nhưng ngay lập tức nó lại bị những câu hỏi khác dập vùi. Ngôi nhà đứng một mình trên một vạt chè rộng, xanh biếc. Cách xa độ hơn trăm thước là một chòi canh, có bộ đội đứng gác. Ngoài ra chung quanh không có gì khác. Theo thói quen gần như bản năng trong suốt cuộc đời chinh chiến, Nghĩa bước ra sân toan lò cò vòng quanh nhà để quan sát, nhưng nhớ ngay đến yêu cầu của Thạch, Nghĩa quay lại.

Nghĩa còn đang loay hoay với những câu hỏi khác, một chiến sĩ mang cơm đến, kèm theo một phích nước, lễ phép:

   Mời đồng chí xơi cơm. Theo nội quy, đề nghị đồng chí ăn xong để bát đĩa ra đầu hè, không rửa bát, nhà bếp sẽ làm việc này.

Đến quá nửa bữa cơm, Nghĩa ăn mà không biết mình đang ăn, vì có quá nhiều câu hỏi không trả lời được. Nghĩa hiểu tiếp tục tình trạng này thì nguy hiểm quá, cố lấy hết nghị lực tập trung mọi ý nghĩ vào ăn rồi phải đi ngủ. Cả chiều nay nữa cũng phải làm bằng được hai việc này, sức khoẻ và sự minh mẫn mới là thứ bây giờ mình cần... Nghĩa quyết định như vậy và cố không tự tra tấn mình bằng các câu hỏi và các câu trả lời tự mình đặt ra nữa. Loay hoay một lúc rồi Nghĩa cũng ngủ được. Sự khắc nghiệt của bao nhiêu năm chiến tranh cũng để lại cho Nghĩa một thói quen có ích. Trong chiến tranh, Nghĩa đã tập được một việc là bắt mình phải ngủ khi nào cần ngủ, mươi phút, nửa tiếng vào bất kỳ lúc nào điều kiện cho phép để lấy lại sức.

Sáng hôm sau, Thạch hỏi Nghĩa nhiều điều, nghe Nghĩa trả lời, hỏi đi hỏi lại một số điểm. Cuối cùng Thạch yêu cầu Nghĩa viết lại tất cả những gì đã nói, viết được mạch lạc thành từng vấn đề đã hỏi thì tốt, không có khả năng viết như vậy thì nhớ gì viết nấy cũng được, không câu nệ. Trước khi ăn cơm chiều, Nghĩa thực hiện xong yêu cầu của Thạch. Lòng dạ cồn cào như lửa đốt, Nghĩa lại nghĩ đến mẹ đang hấp hối ở nhà...

Sáng hôm sau nữa, Thạch lại đến rất đúng giờ như sáng hôm trước, cầm theo bản tự khai của Nghĩa, yêu cầu Nghĩa bổ sung, đưa thêm cho Nghĩa một số câu hỏi nữa.

Ngày thứ ba, ngày thứ tư và ngày thứ năm, đều một lịch làm việc như vậy. Tiếp theo đó là 3 ngày chất vấn liên tục. Trong quá trình chất vấn, Nghĩa được xem một số tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ Nghĩa để Nghĩa lý giải, tự thanh minh hoặc tự biện hộ. Song càng về cuối, không khí giữa Thạch và Nghĩa càng cởi mở hơn, nhờ vậy đã đi đến những giải đáp chặt chẽ và thuyết phục.

Có nhiều vấn đề, nhiều câu hỏi thoạt nghe Nghĩa đã thấy rùng mình vì tính chất cực kỳ nghiêm trọng của chúng. Khi được Thạch đưa cho đọc một số tài liệu có liên quan và yêu cầu trả lời, Nghĩa càng thấy rõ tính chất nghiêm trọng của những vấn đề, những câu hỏi ấy. Mất nhiều thời giờ nhất là những câu hỏi nghi vấn Nghĩa và Lê Hải có mối quan hệ gì với Quách Minh Châu, Lý Lam, Michael Fox, tại sao lại có tên Nghĩa và Lê Hải trong tài liệu dân vận của bọn Phục quốc, kế hoạch gây bạo loạn tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày n giờ g.., trong danh sách góp tiền cho bọn “báo đen” có tên gia đình ông Học, gia đình Lễ.., tài liệu Bàn về sự kiện đại tá quân đội Cộng hòa Phạm Trung Lễ được tướng Việt cộng Lê Hải mời cơm trước khi đi Mỹ nhập cư...

Trong nhiều buổi thẩm vấn, những câu hỏi liên quan đến công việc của Nghĩa ở Viện chỉ thoảng qua, có lúc bất chợt, có lúc gần như ngẫu nhiên, lúc gián tiếp... Nhưng Nghĩa vẫn đủ tỉnh táo cảm thấy những câu hỏi này có cái gì đó lạnh buốt, có cái gì đó rất hệ trọng, được ngụy trang rất tinh vi... Bằng cách này hay cách khác những câu hỏi như vậy còn tạo ra mối liên hệ với những câu hỏi hình như muốn truy tìm xem Nghĩa và Lê Hải có thể đã bàn bạc với Lễ những gì trước Lễ khi đi Mỹ... Nghĩa luôn luôn tự nhủ phải tự trung thực với chính mình, không được một giây phút nao núng để tránh tiền hậu bất nhất, tránh mắc bẫy... Có lần Nghĩa căn vặn với chính mình gần như trắng đêm về một số báo cáo lên cấp trên của Viện do Nghĩa và Lê Hải trực tiếp chuẩn bị. Những báo cáo này không thiếu gì những điểm ngược dòng, rồi đến cái kiến nghị có thể mất đầu như không hôm nào... Nhưng bút sa gà chết rồi, giấy trắng mực đen hẳn hoi, lời nói bay ra rồi... Nghĩa không ân hận về những công việc mình đã làm ở Viện, nhưng chẳng lẽ số phận dành cho những người làm tổng kết là như thế hay sao?.. Đôi lúc Nghĩa liên hệ
 
đến thân phận bi thương của một vài sử quan ngày xưa...

Có một câu chuyện Thạch hỏi đi hỏi lại không biết bao nhiêu lần trong suốt những ngày thẩm vấn, lúc bất ngờ, lúc có sắp đặt như chỉ để dồn đến một câu trả lời tất định từ trước, lúc vu vơ không đâu vào đâu... Hình như toàn bộ câu chuyện này chỉ xoay quanh câu hỏi:

Ai là chủ xướng đề nghị giải pháp hòa bình giữa lúc chiến tranh đang ác liệt ở Campuchia?...

Nghĩa vặn lại Thạch nhiều lần:

   Truy người chủ xướng để làm gì?

   Xin lỗi, nhiệm vụ của đồng chí là trả lời, không được hỏi. – Thạch mặt lạnh tanh.

   Không rõ câu hỏi tôi không trả lời.

   Đồng chí phải trả lời.

   Nếu là để kết tội người chủ xướng thì tôi nhận mình là người chủ xướng!

   Trả lời có chữ nếu như thế là không đúng sự thật rồi!

   Không rõ câu hỏi thì tôi trả lời như vậy! Đó là quyền của tôi.

   Tôi chấp nhận câu trả lời, nhưng bỏ chữ nếu đi được không?

   Tôi không thay đổi câu trả lời đã nói ra!

   Đã nhận rồi nhưng tại sao lại phải có chữ nếu?

   Xin hỏi lại, truy người chủ xướng để làm gì?

   Tôi đã nói đồng chí không có quyền hỏi!

   Tôi xin nhắc lại: Nếu để kết tội, thì người chủ xướng là tôi.

   Đồng chí đã cân nhắc kỹ chưa?

   Rất kỹ.

   Đồng chí không thay đổi ý kiến của mình chứ?

   Không!

   Đồng chí có biết hệ quả câu trả lời đã nói ra của mình không?

   Tôi hoàn toàn ý thức được.

   Thế thì đồng chí rút chữ nếu lại đi!

   Không bao giờ!

-...

Thạch nghĩ ra không biết bao nhiêu cách hỏi khác, nhưng vẫn xoay quanh việc tìm cách yêu cầu Nghĩa phải tự mình rút lại chữ nếu, nhưng đều thất bại. Thạch đành chờ dịp cho keo khác...

Sau nhiều keo, không ai chịu lùi một ly.

Trong thâm tâm Nghĩa không tránh khỏi rùng mình...

Trong quá trình chất vấn, Thạch giữ được nguyên tắc không mớm cung, không truy ép... Song Nghĩa phải thừa nhận Thạch có những câu hỏi thông minh, lợi hại.., nhất là những câu hỏi về chính bản thân Nghĩa và Lê Hải. Đây thực sự là một người có trình độ nghiệp vụ đáng khâm phục. Càng về cuối, Nghĩa càng nhận rõ Thạch cố gắng làm sáng tỏ mọi vấn đề với tinh thần trách nhiệm cao.

... Thế nhưng Thạch đóng kịch thì sao? Hay đột nhiên vì lý do nào đấy Thạch thay đổi ý kiến? Hay là cách hỏi cung của Thạch tinh vi quá, xô lùa mình vào bẫy từ lâu rồi mà mình không biết? Càng trả lời những câu hỏi, càng hiểu những tình huống Thạch đặt ra, mình càng đi gần đến chỗ chết? Có lúc Thạch còn để cho mình tự nói, tự bình luận các tình huống, các chi tiết mới chết chứ! Hy vọng này vừa được nhen nhúm lên, ngờ vực khác làm cho tắt ngấm! Cứ thế, ngày cũng như đêm, Nghĩa biết là mình không ốm mà vẫn lúc nào cũng như là đang lên cơn sốt...

Không! ...Sống thì sống, chết thì chết, phải giữ đúng sự thực, không hoang mang nao núng,
 

không tự phản bội mình!..

Nghĩa tự nhủ như vậy không biết bao nhiêu lần. Cuộc đời từng trải gợi ra cho Nghĩa không biết bao nhiêu giả thiết... Song chính cuộc đời từng trải luôn luôn giữ cho Nghĩa khả năng và bản lĩnh tự tìm ra cho mình cách xử thế mà lý trí đòi hỏi, bất chấp mọi dày vò.

Nếu mình cứ bị kết tội là phản bội hay phản động thì sao? Ra sống vào chết cả một đời người để hứng chịu lấy nỗi oan khiên này? Bàn tay nào có thể dấy lên nỗi oan khiên này?.. Không!.. Không!.. Không!..

Sau những ngày và đêm như thế, Nghĩa được Thạch yêu cầu nghỉ hai ngày. Trong hai ngày nghỉ này, Nghĩa vẫn có thể nói thêm những điều cần nói.

   Thậm chí anh thấy có bất kể điều gì đã nói ra nhưng cần phản cung hay cần phủ nhận thì vẫn còn kịp! – Thạch nhắc đi nhắc lại hai ba lần câu này.

Nghĩa tự hỏi mình trong đầu không biết bao nhiêu lần: Thế nào là vẫn “còn kịp”? ...Thà rằng anh ta đừng dặn dò gì cả, thì mình chỉ lo một, câu dặn dò này làm mình lo mười! Sao không làm luôn đi cho rồi mà lại phải nghỉ hai ngày? Thủ đoạn gì đây? ...Nhưng mà lạ quá, đến giờ phút này vẫn chưa thấy Thạch hé ra một câu nào trực tiếp liên quan đến công việc của mình ở Viện, thế là thế nào? Đòn cân não? Tay này cao thủ?..

... Chẳng có gì là còn kịp hay không kịp cả! Phải trung thành với chính mình!

Hai ngày này đằng đẵng bằng hai mươi năm.

Hai ngày dài vô tận ấy đối với Nghĩa càng đen ngòm sâu thẳm, vì ngoài trời những trận mưa như trút nước đuổi nhau không chán.

Nước, nước và nước! Tiếng mưa ào ào như thác đổ có lúc làm cho Nghĩa có cảm giác mình đang bị chìm nghỉm trong muôn vàn sự giày vò về thân phận mình, về bao nỗi lo chết người không sao lường hết được ... Những chuyện đau thương Lê Hải rỉ tai cho nghe hôm nào ... Những chuyện đời Nghĩa đã từng trải... Nhiều lúc Nghĩa cảm thấy cái chết còn nhẹ nhõm, dễ chịu hơn rất nhiều so với ý chí phải sống ... Nhiều lúc Nghĩa thấy thân thể mình mềm nhũn, dính chặt vào tấm phản mình nằm, tê dại, bất động...

Mẹ ơi, nếu mẹ biết chuyện này!.. Con sẽ được gặp lại mẹ nữa không?...

Trời đất sụt sùi giữa mùa mưa bão trái thời.

   ... Cây ngay không sợ chết đứng!

   ... Chết đứng thì cũng vẫn là cái chết đầy oan khiên!

   ... Mợ ơi! Con chỉ lo lúc về không được gặp mợ! Mợ ơi...

Hai ngày của dằn vặt! Hai ngày của độc thoại!

Trong hai ngày này, điều an ủi duy nhất là mưa gió là thế mà tối đến bắt đầu có một hai người đến thăm kể từ hôm Nghĩa tới đây. Đó là các lính gác chòi, viện cớ trú mưa, nhưng chuyện trò cởi mở, hỏi thăm nhau về nhiều chuyện gia đình... Nghĩa thấp thỏm hy vọng cuộc điều tra có bước ngoặt chăng? Hay là họ đến chỉ vì trú mưa? Hay là một lối đòn cân não?..

Sáng ngày thứ mười một, trời mọng nước, nhưng mưa lúc này tạm dứt. Thạch đến gặp Nghĩa rất đúng giờ.

Thoạt nhìn thấy Thạch, Nghĩa chớp mắt mấy cái liền rồi bất giác kêu lên trước:

- Ôi, anh làm sao mà hốc hác thế này?

Thạch sững lại một lúc, không trả lời câu hỏi của Nghĩa, cố gắng lấy lại bình tĩnh, rồi nói một cách trang nghiêm:

   Trước hết chân thành cảm ơn anh về tinh thần hợp tác.

   Anh ốm hay sao mà tự nhiên gầy rộc đi thế? – Nghĩa vẫn chưa hết ngạc nhiên về sự thay đổi của Thạch.
   Có lẽ tại hai ngày nay tôi mất ngủ... – Thạch chống chế.

   Thôi, tôi vẫn là người không có quyền hỏi, có phải không?
 
   Anh Nghĩa ạ, anh đã cùng với tôi làm rõ những chuyện mà anh và tôi trong 10 ngày qua cùng phải làm rõ. Quan trọng hơn nữa là cho phép tôi bày tỏ lòng khâm phục đối với sự trung thực và tinh thần dũng cảm của anh. Thiếu hai yếu tố này mọi điều sẽ bị nhiễu và nguy hiểm vô cùng.

   Tôi tưởng nguy hiểm chỉ nằm về phía tôi? – Nghĩa hỏi lại.

Thạch không trả lời ngay, nhìn trời nhìn đất một lúc rồi nói:

   ... Thực ra chúng tôi đã dự kiến phải vài tháng mới xong vụ này, song nhờ hai đức tính này của anh, tôi chỉ cần mười ngày...
   Sao nữa ạ?

   Xin anh đừng hỏi!.. Tôi được lệnh của đồng chí phụ trách việc này chuyển lời xin lỗi về những phiền phức đã gây ra cho anh, chuyển lời cảm ơn của đồng chí ấy về sự hợp tác của anh. Tôi cũng xin truyền đạt kết luận của đồng chí ấy là vụ việc này đã kết thúc, anh và anh Lê Hải hoàn toàn minh bạch.

   Sao, liên quan cả đến anh Lê Hải nữa? – Nghĩa giật nảy người.

   Xin lỗi... đề nghị đừng hỏi. – giọng Thạch vẫn lành lạnh, đều đều: - ...Cơ quan chúng tôi sẽ báo cáo lên trên bằng văn bản và đồng thời sẽ chính thức thông báo cho thủ trưởng của anh tinh thần văn bản này. Chiều hôm qua thủ trưởng đơn vị anh đã được thông báo sơ bộ những điều tôi vừa nói với anh. Anh Lê Hải cũng sẽ được thông báo đầy đủ. Anh có điều gì cần hỏi thêm về anh nữa không?

Nghĩa đứng im, không tin vào tai mình.

   Trả lời tôi đi anh Nghĩa! – Thạch giục.

   Tôi muốn nghe anh nói nữa.

   Chúng tôi muốn mời anh nghỉ lại đây vài hôm lấy lại sức trước khi đưa anh trở về Hà Nội...
Nhưng... chưa mời tôi đã biết là anh sẽ không nhận lời.

Nghĩa đã đủ thời giờ định thần trở lại, bắt tay Thạch, giọng điềm đạm:

   Vâng, tôi đã nghe rõ.

   Anh nhận lời mời của chúng tôi chứ?

   Tôi chân thành cảm ơn anh. Tôi hiểu được tất cả. Tôi nghĩ vậy... Anh nói đúng, rất cảm ơn thịnh tình của anh muốn giữ tôi lại nghỉ ngơi vài hôm. Nếu được, tôi muốn về nhà. Ngay bây giờ ạ!

   Tôi biết mà, có bày ra bao nhiêu yến tiệc ở đây cũng vô nghĩa... Thú thực với anh chúng tôi có gì đâu mà mời, cả vùng này hiện đang mất mùa và đói lắm anh ạ. – giọng nói của Thạch bắt đầu trở nên thân mật.

   Vâng, tôi biết. Hai tối qua chuyện trò với các chiến sĩ đến trú mưa, tôi được nghe khá rõ tình hình ở đây. Trước khi đi B tôi đã tập hành quân dã chiến hàng tháng ròng khắp vùng này. Mấy huyện quanh đây tôi thuộc như trong lòng bàn tay...

   Mời anh sang chỗ tôi, chúng ta uống với nhau một chén rượu nhạt trước khi chia tay.

   Cảm ơn.

   Anh nhận lời chứ? Tôi xin bảo đảm trưa nay anh ăn cơm ở nhà!

Nghĩa vui vẻ nhận lời.

Trong khi mọi người chuẩn bị xe cộ, ngồi cầm chén rượu trước mặt Thạch, Nghĩa cân nhắc kỹ rồi mới gạn hỏi:

   Anh Thạch, anh có thể trả lời, có thể không. Tại sao lại xảy ra chuyện tôi bị bắt?

   Anh đã nghĩ đúng, bây giờ tôi không thể trả lời cặn kẽ, sau hai mươi năm sự việc có thể được công bố công khai. Nghề nghiệp đòi hỏi thế, mặc dù tôi không muốn như vậy.
   Nghĩa là anh không còn gì để nói nữa? – Nghĩa vẫn cố nài.
 

   Tôi chỉ có thể nói một chút thế này để anh yên tâm: Khởi sự là một nhóm biệt kích bị bắt, trong các tài liệu của chúng có mấy tờ rơi tôi đã đưa anh đọc. Một số chuyện cũ dấy lên... Thế là nhiều rồi đấy, tôi muốn dừng ở đây.
   Nghĩa là còn nhiều điều anh không muốn nói?

   Chỉ xin nhắc lại là: Bây giờ chúng ta có thể yên tâm chia tay nhau. Chúc anh và gia đình mạnh khoẻ. – Thạch cố tình điếc với câu hỏi của Nghĩa.
   Xin hỏi một câu nữa. – Nghĩa đắn đo rồi mới nói tiếp: - ...Giả thử vì lý do nào đấy tôi bị xử trí oan thì sao?
   Tôi hiểu câu hỏi của anh.

   Tôi có nhiều lý do để hỏi anh như thế.

   Tôi hiểu. Nhưng bây giờ tôi chỉ muốn cảm ơn, cảm ơn anh nhiều lắm.

   Anh cảm ơn tôi? Vì lẽ gì?

   Vì anh rất ngoan cố sống. Không lung lạc giây phút nào cả.

   Làm sao có thể nhận xét như vậy hả anh Thạch?

   Nghề nghiệp của tôi anh ạ. Thực ra chỉ cần anh dao động một chút, sẽ dễ dàng cho tôi nhiều.
   Để kết tội tôi?

   Vâng. Chứng minh anh vô tội mới khó cho tôi... Khó rất nhiều.

   Có lẽ vì thế hai ngày qua anh già sọp hẳn đi? – Nghĩa hỏi.

Thạch chớp mắt như bị điện giật, nhưng bản lĩnh và nghề nghiệp giúp Thạch giữ được thăng bằng, tay nâng thẳng chén rượu, cố tình không trả lời câu hỏi của Nghĩa:

   Chúc anh ngoan cố sống!

   Xin chúc sức khỏe anh! – Nghĩa cụng lại.

Nghĩa tập tễnh bước quay ra, Thạch đỡ tay dìu Nghĩa tiễn biệt.

   Nếu vậy tôi còn độc một việc: Chân thành cảm ơn anh, anh Thạch! – Nghĩa xiết chặt tay người đối thoại với mình, nhìn Thạch hồi lâu, rồi vin tay vào cửa xe.
   Để tôi đỡ anh lên xe, chân anh thế kia... Xe này hơi cao anh ạ.

   Không sao đâu, tôi tự bước lên được.

   Anh hoàn toàn có thể yên tâm. Mọi chuyện chúng ta nói với nhau mười ngày qua là những chuyện phụ, để làm sáng tỏ một chuyện nghiêm trọng hơn nhiều... – lúc này Thạch mới ghé vào cửa xe khẽ nói với Nghĩa.

   Trời đất!.. – Nghĩa đã giơ tay định bắt tay mà tự nhiên rụt phắt lại.

   Phải ngoan cố sống! Hãy nhớ lấy, phải ngoan cố sống!..

   Cảm ơn anh... – lúc này Nghĩa mới lấy lại được bình tĩnh, đưa hai tay ra níu lấy tay Thạch: -
...Nhưng mà... Thụ lý vụ việc này nếu là một người khác, liệu kết cục có như thế này không, anh Thạch?

Lần này Thạch buộc phải quay mặt nhìn vào quyển sổ trong tay mình, lật lật mấy trang như đang muốn tìm cái gì trong đó, nhưng vẫn điếc...

Xe đã nổ máy mà anh vẫn đứng yên tại chỗ, mắt chỉ dán vào quyển sổ đang lật bật trong gió...

Nghĩa cảm thấy lạnh toát người, ngoái hẳn đầu ra khỏi cửa xe để ghé sát vào tai Thạch:

   Anh nghe rõ câu hỏi của tôi chứ, anh Thạch?

   Nghe rất rõ. Có lẽ mấy ngày qua tôi hỏi anh nhiều quá, bây giờ anh hỏi trả thù có phải không? – Thạch tránh né.

Cả hai tay Nghĩa nắm lấy vai Thạch:
 

   Tôi hiểu... Một lần nữa chân thành cảm ơn anh.

   Làm người phải thế anh Nghĩa ạ! Chúc anh tiếp tục ngoan cố sống!

   Cảm ơn.

Xe đã từ từ chuyển bánh, Thạch bước theo vài bước, tay vẫn chưa muốn dời tay Nghĩa, nói với theo sát vào tai Nghĩa:

   Chúng ta đang đứng cùng một chiến tuyến...

   ??? – Nghĩa ngoái đầu ra hẳn ngoài cửa xe, ngơ ngác nhìn lại...

Xe chở Nghĩa đã đi khuất, Thạch vẫn còn đứng lại một mình giữa sân trại hồi lâu trong mưa nặng hạt...

... Trời ơi, một con người.., một đảng viên.., một thương binh... Con người này đã tiếp thêm sức sống cho mình... Thực ra mình phải cảm ơn Nghĩa rất nhiều mới đúng!

... Chính tôi mới là người phải cảm ơn anh, anh Nghĩa ạ ... Anh đã giữ cho tôi niềm tin tôi đang ra sức bảo vệ ... Anh hỏi đúng lắm... Câu hỏi đau thắt tim tôi ... Thông cảm cho tôi.. Chắc chắn anh hiểu vì sao tôi không trả lời ... Phải, nếu... Nếu người thụ lý vụ án này không phải là tôi, có trời biết tai họa gì sẽ xảy ra!.. Hỏi tôi như thế là hiểu đời lắm anh Nghĩa ạ ... Thật không ngờ cuộc sống có thể thử thách mình theo cách kỳ cục như vậy. Số phận nào run rủi mình vào một nghề nghiệp biết bao tự hào nhưng cũng bao nhiêu cay đắng này!.. Mình và Nghĩa là duyên phận, còn mình và đời là sự thách đố nhau ác nghiệt giữa nhân cách và nghề nghiệp!.. Bây giờ đến lượt mình phải gồng lên bảo vệ kết luận của mình...

Các suy nghĩ trong đầu nóng như than đốt giữa bầu trời mưa như trút nước, Thạch vẫn cứ đứng mãi như cây giữa đồng...

Khi trở về với thực tại, Thạch ướt sũng từ đầu đến chân. Đội mưa trở về phòng làm việc của mình, trong đầu Thạch nhớ lại bao phen phải đối mặt với những vụ án không án...

Thạch rùng mình, không rõ vì cái lạnh ngấm nước mưa hay vì nhận thức ra có một điều gì đó khiến Thạch đến nay vẫn đứng được trên đôi chân của mình...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:06:10 pm
Lại vẫn hai người sĩ quan mặc thường phục hôm nào đưa Nghĩa về Hà Nội. Họ là những con người có nguyên tắc, hơn nữa ở vào nhiệm vụ và cương vị công tác, họ không thể hay biết một chút nào về những gì đã xảy ra với Nghĩa trong những ngày tạm giam. Suốt cả mấy giờ đồng hồ trên đường về, thỉnh thoảng họ mới nói với Nghĩa đôi ba câu, chủ yếu để giữ phép lịch sự.

Chúc anh ngoan cố sống!..

Nghĩa không rõ toàn thân mình đang lắc lư theo xe hay thân phận mình, chính con người mình đang bị treo lơ lửng ở đâu đó...

... Sự trung thực và tinh thần dũng cảm đã nhiều lần cứu mình khỏi cái chết trong những năm chiến trận ác liệt, bây giờ hai thứ này đang giữ lại cuộc sống cho mình!.. Nghĩ thế, nhưng Nghĩa vẫn không tài nào tránh khỏi nỗi sợ rùng mình: ...Nếu người xử lý vụ này không phải là Thạch thì mọi chuyện sẽ ra sao? Cuộc chiến tranh vừa qua vẫn tiếp tục cướp đi của ta những gì nó còn có thể cướp, tiếp tục tìm cách huỷ diệt những gì nó còn có thể huỷ diệt! Nó đang được tiếp nối bằng những cuộc chiến tranh khác?.. Đang gây mầm cho cuộc chiến tranh khác?..

... Thời bình, trong vòng chưa đầy ba năm ta mất cháu Huệ, cháu Nam, gia đình ly tán... Mợ ơi, mợ còn đủ sức chịu đựng những mất mát này không mợ? Con về có được gặp mợ không, mợ ơi... Nếu Thạch non kém một chút thôi!.. Ôi mợ nghĩ xem, nếu Thạch chỉ sai lầm một chút thôi, tắc trách một chút, thiếu chí công vô tư một chút ... Ai hình dung được thảm hoạ gì sẽ xảy ra với con, với gia đình ta?...

Tất cả những chuyện phụ này chỉ để làm rõ một chuyện khác!..

Ngồi trên xe nhưng đầu óc Nghĩa tiếp tục bị kéo căng, ngực cồn lên, răng cắn chặt, cố nén sự căm giận trào đến cổ. Oán ai đây? Đoán già đoán non thì nhiều, nhưng Nghĩa vẫn chưa có chứng cứ hẳn hoi để lật mặt kẻ đã gây ra tai hoạ cho mình.
 

Nghĩa rít lên: “Ôi, nếu tìm được kẻ ném đá giấu tay, chắc ta sẽ băm vằm hắn ra hàng trăm mảnh.

Trong giây phút kéo căng này, ông cảm nhận sâu sắc một khía cạnh khác của cái biên giới mong manh, quá mong manh, mà ông đã từng nêu ra với Lê Hải. Lần này, một bên là cuộc sống đau thương của đất nước, của chính gia đình ông mà ông đang dồn hết mọi nghị lực cố làm cho nó hồi sức, cố vun đắp, cố nâng niu ấp ủ nó. Một bên là sự huỷ diệt đang lăm le, hăm doạ, trước hết là sự huỷ diệt ngay chính bản thân ông, danh dự ông, mọi ước vọng của ông. Làm sao có thể giữ được cái biên giới mong manh này?..

Xa xa đâu đó trong tâm thức Nghĩa những ý kiến của Lễ trong buổi hai anh em tranh luận với nhau hôm nào đọng lại những dư âm thoáng qua nhưng sắc buốt, rồi những lời đối đáp giữa Thạch và ông cứ lởn vởn bên tai:

   Anh phải cảm ơn tính trung thực và sự dũng cảm của chính mình, anh Nghĩa ạ!

   Tôi cứ tưởng nghề nghiệp của anh chỉ cần sống bằng các chứng cứ xác minh được.

   Anh tin như thế?

   Hoá ra không phải là thế hả anh Thạch?

   Không phải chỉ như vậy, anh Nghĩa ạ. Tôi sống bằng chứng cứ, nhưng tôi còn phải hiểu rõ cái chất của con người anh để hiểu rõ hơn những chứng cứ tôi có trong tay.

... Ôi, tất cả sao mong manh thế! Nếu Thạch thiếu công tâm một chút!..

Trời lại bắt đầu mưa trận mới. Cứ như nước từ trên thác đổ xuống.

Hai người đi áp tải Nghĩa ngồi nói chuyện với nhau về thời tiết thất thường, lụt lội triền miên.

Chỉ có những vạt mưa nặng hạt đập dữ dội vào cửa kính đáp lại những câu hỏi đau đớn của Nghĩa. Mưa xối xả như đang gõ trên đầu, trên mặt Nghĩa, cửa kính xe mịt mù. Nghĩa bất giác đưa tay sờ lên mặt, lên ngực mình: ...Hay là ta đang ngồi trong một nhà mồ có bánh xe đang chạy?..

Nghĩa vẫn đưa mắt nhìn ra ngoài trời, dường như ông không thấy mưa rơi, gió cuốn. Nghĩa hoàn toàn trở về với chính mình. Trong ông bão dậy:

“Ôi trừng phạt! Ôi nếu ta được làm công việc trừng phạt những tội phạm và tội ác đang rắp tâm xoá bỏ cái biên giới mong manh này! Các người vừa tiếp tay cho chiến tranh vừa gây tội ác! Các người phản bội người còn sống và cả những người đã ngã xuống! Nếu Thạch chỉ non tay một chút! Trời ơi thật khủng khiếp! Trắng đen sẽ lẫn lộn! Oan khiên và hiểm hoạ!.. Chắc chắn ta sẽ trừng phạt các người không kém trừng phạt những kẻ đã bắn ngã đồng đội của ta! Các người sẽ bị nổ tung, sẽ bị tiêu tan, để không bao giờ có thể ngóc đầu quay lại quấy phá, ăn cắp, chà đạp lên những người đã hy sinh, huỷ hoại cuộc sống của những người khác. Ước gì ta được trực tiếp làm công việc trừng phạt này! Ta đã từng thú nhận, thà ta chịu chết để giặc bắn chứ không bắn vào đầu em trai mình, dù nó theo giặc. Nhưng các người! Ta nhắc lại: Các người không thể biết ta sẽ trừng phạt các người quyết liệt như thế nào! Các người xấu xa hơn bất kỳ bọn tội phạm nào! Các người còn đểu cáng hơn mọi bọn đểu cáng!..

... Nhưng mình có quyền và có khả năng thực hiện sự trừng phạt đáng phải ra tay này? Mà trừng phạt ai mới được chứ? Nếu tội phạm là một người cụ thể thì có thể bắt được nó đưa ra xử phạt? Nếu tội phạm là con người trong mỗi người thì trừng phạt thế nào? ...Anh Lê Hải ạ, trong anh, trong tôi đều có một Lê Hải, một Hai Hân, một Đoàn Danh Tiến, một Năm Thịnh, một... vân vân... tất cả chỉ cách nhau một biên giới mong manh! Nếu tội phạm lại là một cái mớ bòng bong những dây rợ vô hình và hữu hình giữa những con người này thì trừng phạt thế nào? Cái mớ bòng bong ấy đang ngày đêm móc nối biết bao nhiêu con người như thế, ở mọi ngóc ngách, mọi đẳng cấp trong xã hội. ...Kẻ địch ở bên kia giới tuyến, kẻ phản bội ở bên này giới tuyến, sự tiếp tay không tự giác của những yếu kém.., tất cả trong cái mớ bòng bong bao trùm lên toàn xã hội ... Công lý à? Ngươi có đủ quyền lực bóc gỡ nổi cái mớ bòng bong này? Quyền lực của ngươi không cần đến một chút may rủi? Không cần đến một chút ma thuật? Mà như thế ngươi còn mang danh là công lý?..
 

Phạm Trung Nghĩa cố tìm mọi cách xua đuổi câu hỏi sâu kín trong lòng: ...Chẳng lẽ mình đành chịu để cho cái mớ bòng bong này trói chặt chân tay, rồi để cho dòng đời cuốn đi?..

Các trận mưa lớn khoét trên lòng đường những ổ gà ổ trâu to tướng. Xe chở Nghĩa có lúc không tránh được, dồi lên dồi xuống. Có lúc Nghĩa như người mộng du đang cheo leo trong suy nghĩ miên man. Có lúc Nghĩa quằn quại trong chỗ ngồi của mình như thể đang có những cái roi vô hình nào đó quất vào người. Thỉnh thoảng Nghĩa rên rỉ trong lòng.

- ... Về đến nhà con có được gặp lại mẹ không mẹ ơi?!

Trong ký ức Nghĩa nhớ lại những chịu đựng vô bờ bến của người mẹ già thân hạc, về những đau thương của cả gia đình...

- Ôi các anh các chị ơi, các em ơi, mẹ của chúng ta!

Từ Cầu Phùng, mưa bắt đầu ngớt. Làng quê và những vùng đất quen thuộc loang loáng bên cạnh xe. Mỗi nghĩa trang liệt sĩ lướt qua là một dấu chấm hết một địa phận và báo hiệu một địa phận mới. Có giây phút Nghĩa nghĩ rằng mình đang đi tìm gặp các đồng đội đã ngã xuống trên các miền đất của Tổ quốc, như đang nghe thấy các đồng đội thét lên:

... Không được phản bội chúng tôi! Không được phản bội!..

Hai người đi áp giải vẫn thấy Nghĩa hai tay nắm lấy thành ghế trước. Họ nhìn thấy rõ các đầu ngón tay bợt ra vì Nghĩa nắm quá chặt vào thành ghế, như thể xe đang bị xóc mạnh, mặt Nghĩa lúc đỏ, lúc trắng bệïch. Bỗng nhiên họ thấy Nghĩa nước mắt rơi lã chã, gào lên một tiếng rất lớn rồi bật đứng dậy. Nhưng mui xe đẩy dúi Nghĩa xuống ghế, hai hàm răng anh xiết lại. Họ cố theo dõi từng chi tiết các cử chỉ của Nghĩa, nhưng không thể hiểu được tại sao Nghĩa lại có tâm trạng như vậy.

Từ Nhổn trở đi, họ thấy Nghĩa ngồi im như một xác chết bị dựng vào thành xe, mắt mở to nhìn đâu đâu!..

Xuống xe, chia tay hai người dẫn độ, Nghĩa dò dẫm, ngó trước ngó sau, ngập ngừng chưa dám bước chân ngay vào nhà.

Khi đi qua cổng, ngó nhìn vào cửa thấy Nguyệt và hai con đang ngồi ăn cơm một cách bình thường. Nghĩa thở phào. Lúc này Nghĩa mới dám mạnh dạn bước vào.

   Bố về! Bố về!

   Anh! Sao đi công tác dài ngày thế mà không cho nhà biết trước? Anh đi rồi cơ quan mới cử người đến báo.
   Mợ ở nhà có khoẻ không em?

   Mợ mong anh lắm, ngay từ sau hôm anh đi mợ mệt nặng lắm anh ạ. Gần như ngày nào mợ cũng lẩm bẩm nói một mình: Nghĩa đi công tác đột xuất gì mà lâu thế. Có lúc mợ còn hỏi đi hỏi lại sắp đến ngày giỗ cậu và gia đình em Minh chưa. Anh chị Chính và em trả lời mấy lần mà mợ vẫn cứ hỏi.

   Mợ không được tỉnh lắm hay sao mà không tính được ngày?

   Không mợ tỉnh lắm anh ạ. Em hỏi thử chuyện này chuyện khác mợ vẫn nhớ. Mợ nhắc nhiều đến Nam, đến Huệ... Có lần em nói: cún Nam lên hai rồi đấy mợ ạ. Mợ chữa lại: Nói sang tuổi lên hai hay tính cả tuổi mụ thì được, nhưng cún Nam mới được có mười lăm tháng thôi.

   Như thế là mợ rất tỉnh táo.

   Vâng ạ. Có lẽ chỉ vì mợ rất mong anh về và mong đến ngày giỗ...

Chưa nghe hết câu, ông Nghĩa bảo mọi người cứ ăn cơm tiếp đi, ông quay ra lấy xe đạp của Tân, nhào đến nhà ông Chính để gặp mẹ.
Hai Hân được ông Tiến giới thiệu đi học khoá học đặc biệt bồi dưỡng và nâng cao cho cán bộ trình độ cấp cơ sở, tổ chức ở Hà Nội, chương trình 1 năm. Tuy học ở Hà Nội, nhưng hai người thỉnh thoảng mới gặp nhau. Về phía Hai Hân thì chương trình học khá nặng, còn ông Tiến hồi này quá bận. Được cái là không có chuyện miễn cưỡng thăm hỏi nhau. Mỗi lần họ gặp
 

nhau nếu không công kia thì cũng việc nọ. Ông Tiến thực sự quan tâm đến việc học của Hân và thỉnh thoảng cũng có việc phải nhờ. Lúc thì ông ví Hai Hân là chân rết quan trọng nhất của ông bám vào thực tiễn cuộc sống, lúc thì ông gọi Hân là cái ăng-ten nắm bắt thực tiễn... Còn Hân thì muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập của mình, ông Tiến xứng đáng được coi là một phụ đạo có hạng. Lần này Hai Hân đến thăm ông Tiến sau kỳ nghỉ giữa khoá, có chủ định rõ ràng.

   Em chào anh chị ạ. - Hai Hân để nguyên áo mưa, mỗi tay một túi xách, bước vào nhà. Cả ông Tiến và bà Hà cùng rời mâm cơm đứng dậy:

   A, Hân! Chắc vừa mới xuống tàu, có phải không?

   Cậu Hân ăn cơm với chúng tôi luôn thể nhé.

   Vâng ạ. Xuống ga em đi thẳng lại đây, vì mai em lại bắt đầu vào học rồi. Ra khỏi ga thì bắt đầu mưa to, trời thế mới ác chứ. May quá em tìm được cái xích-lô.

Ông Tiến cất áo mưa cho Hân, bà Hà vừa làm thêm thức ăn vừa dọn thêm bát đũa:

   Cậu Hân rửa mặt cho tỉnh táo đi, may quá vừa đúng bữa.

   Trời thì tối, em loay hoay mãi không có tiền trả ông xích-lô, vì tiền mới to quá, ông ấy không có tiền trả lại.
   Tiền mới một ăn một nghìn thì không thể có tiền trả lại thật, thế sao cậu không vào nhà gọi tôi?
   Tìm mãi em mới nhớ ra là cô thư ký có đưa cho em một nắm tiền cũ để tiêu vặt, thật là may.
   Cơ quan của chị cũng thế, hôm đầu tiên nhận lương bằng tiền mới, có mấy tờ bạc không làm sao chia nhau được, đành phải người tiêu trước, người tiêu sau vậy.
   Chắc cũng phải mất ít tháng nữa mọi người mới quen được. Hình như đây là lần đổi tiền thứ hai hay thứ ba gì đó bà nhỉ.

Bà Hà như không để ý đến câu hỏi của ông Tiến:

   Em Hân ạ, tiền lẻ hơn thẻ thương binh đấy! – bà Hà kể.

   Ô hay, em cứ tưởng là chỉ trong Sài Gòn mới có câu vè này, ai dè...

   Cả nước chắc đâu đâu cũng thế thôi, đi mua cái gì cứ có tiền lẻ là không phải xếp hàng, được ưu tiên cho mua ngay.
   Hệt như trong Sài Gòn!

   Mậu dịch ở đâu cũng cần tiền lẻ để có tiền trả lại, em ạ.

   Lại có chuyện như thế nữa hả bà? - ông Tiến ngơ ngác hỏi vợ.

   ...

Câu chuyện quanh bữa cơm bắt đầu từ việc đổi tiền và tình hình kinh tế đất nước. Sự khan hiếm hàng hoá trong đời sống hàng ngày cùng với nạn lạm phát phi mã hình như làm cho mỗi người dân trở thành một nhà kinh tế với một nghĩa nào đó. Ít nhất là chẳng ai dám bàng quan với chuyện giá cả cứ lên vùn vụt. Có được đồng nào thì phải tính xem mua ngay cái gì, lúc nào cần tiền tiêu thì bán đi, không ai dám cất giữ tiền mặt. Chỗ này chỗ khác, tiền mất giá tạo ra cho người ta thói quen tính toán mua hay bán một thứ gì đó bằng hiện vật, cái này giá bằng một yến gạo, thứ kia giá ba cân thịt heo.., rồi mới tính xem thứ định mua là đắt hay rẻ, đáng mua hay không đáng mua... Cũng có người làm việc này một cách đơn giản, ví dụ đem đổi hai chiếc may-ô lấy một cân đường...

   Em đi có bốn năm tháng thôi, thế mà tình hình xí nghiệp in của em gay quá. Vì thiếu vật tư thay thế, thiếu việc. Đã thế trên vừa mới giao cho em cõng thêm hai nhà in nữa. Cộng lại bây giờ em có 3 xưởng in. Mô hình liên hiệp xí nghiệp mà! Đất đai nhà cửa mênh mông, người thừa, có phân xưởng em đành cho đắp chiếu.

   Chị thấy ở Hà Nội cũng khối xí nghiệp đắp chiếu!
 

   Tại sao cậu không phát triển căng-tin, công tác công đoàn..? Ngoài này phải nhờ vào những việc này để cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên chức.

   Có chứ ạ, tụi em làm mạnh là khác, từ vài năm nay rồi. Không có cái 25CP(*)[(*) Quyết định 25CP của Chính phủ ngày 21-1-1981, cho phép xí nghiệp quốc doanh thực hiện 3 phần kế hoạch, nhằm khai thác các nguồn vật tư theo giá thỏa thuận để tận dụng tốt hơn năng lực sản xuất, đồng thời cải thiện thu nhập cho cán bộ công nhân viên chức. ] tụi em chết liền. Mang tiếng là được nghỉ hai tuần, nhưng em mất 6 ngày cả đi và về, dành trọn một tuần cho việc nhận thêm hai xưởng mới, tổ chức lại công tác đời sống trong các xưởng, thế là hết phép.

   Cậu làm những gì?

   Đa dạng lắm anh. Nơi nào nhận thêm được bất kể việc gì có thể làm được thì nhận về cho anh em. Nơi rộng rãi thì cho thuê một phần nhà đất, nơi thì làm thêm dịch vụ... Trước đây những việc này là lén lút, nhưng bây giờ có chủ trương chỉ đạo của Thành phố hẳn hoi, cũng dựa vào 25CP thôi, nhưng địa phương phải sáng tạo thêm vào. Đói thì đầu gối phải bò. Thành phố không tự cứu được mình thì gay go đó anh.

   Không trách anh Tiến cứ khen cậu là năng nổ tháo vát. – Bà Hà khen.

   Đi học khoá này em học được thêm nhiều cách làm 25CP của ngoài Bắc, phải nói là hay tuyệt.
   Sao? Cái này có trong chương trình học của cậu hả? - ông Tiến rất ngạc nhiên, vì chưa bao giờ thấy Hai Hân hé miệng hỏi mình về 25CP. Trong thâm tâm ông Tiến thú nhận chưa hề đọc cái chỉ thị được nhiều người nhắc đến này, hiểu về nó càng đại lơ mơ.

   Chương trình chính thức thì không, anh Tiến ạ. Em tự học lấy trong các buổi đi tham quan, trong quan sát thực tế và trong mạn đàm riêng với nhau giữa các học viên. Nếu làm kinh tế như trong các bài giảng thì các xí nghiệp của tụi em ăn cám!

   Cậu mất lập trường rồi đấy. Nếu thế thì ra đây học làm gì?

   Với anh em mới dám thổ lộ ra như thế. Cái chính đối với riêng em đi học là để có được cái giấy chứng nhận tốt nghiệp chính trị trung cấp.
   Nghĩa là cậu không quan tâm những điều giảng dạy trong trường?

   Có chứ ạ, nhưng chỉ là để biết cách nói năng cho đúng lập trường chính sách thôi. Nếu nói năng cho có lý luận vững chãi được như anh thì càng tốt. Cái này thì em lại rất cần cho riêng mình anh ạ.

   Thế mà cậu lại dám nói là làm theo sách dạy thì ăn cám!

   Dạ, hoàn toàn đúng thế. Phải ở trong chăn mới biết chăn có rận. Anh không làm giám đốc như em, anh không hiểu được đâu.
   Sao cậu tự phụ thế?

   Anh ơi, xí nghiệp của em có biết bao nhiêu chuyện cha chung không ai khóc. Em cho là cứ rời cái vòi bao cấp của nhà nước ra là chết liền! Đã thế chỗ nào cũng như cái thùng không đáy...
   Này, được đi học mà loạn ngôn thế hả?

   Anh có thể tưởng tượng được không, một lần em thử kiểm tra trên sổ sách tình hình tiêu dùng vật tư của xí nghiệp, em thấy lạ quá. Sờ vào một phân xưởng, tổng số bóng đèn điện dùng tại đây tính ra bình quân một năm mỗi đèn dùng tới 14 cái bóng đèn! Cứ cho là mỗi cái đèn trong phân xưởng này một năm phải xài là 6 bóng đi, thì riêng phân xưởng này mỗi năm bốc hơi mất 120 bóng đèn. Đấy chỉ là chuyện mất cái kim trong xí nghiệp em thôi.

   Cái kim của xí nghiệp cậu to nhỉ! – bà Hà vừa bình vừa tủm tỉm cười.

   Anh Tiến à, thường thường ở nhà ta bao lâu thì anh chị thay bóng đèn một lần?

   Cậu hỏi gì mà vớ vẩn thế...

Ông Tiến chịu không trả lời được câu hỏi của Hân. Điện thì phập phù, nhà phải dùng ổn áp, lâu lắm rồi – không biết là mấy tháng hay có khi cả năm nay ông có thấy nhà mình thay bóng đèn bao giờ đâu! Đã khó chịu về cái tội nói năng linh tinh của Hân, lại thêm khó chịu về cái kiểu
 

vừa thỉnh thoảng chêm một câu vừa tủm tỉm cười của bà Hà, ông càng tìm cách dồn Hai Hân:

   Đã làm đến giám đốc như cậu mà chỉ toàn đi vào những chuyện vặt vãnh. Ngoài này trên công trường, buổi sáng thì công nhân mang cặp lồng cơm đi làm, buổi chiều ra về thì cặp lồng đầy xi-măng. Cô văn thư thỉnh thoảng cũng phải thó cái bút chì hoặc thếp giấy để cho con đi học. Dầu đun hết, điện không công tơ, lúc có lúc mất, thỉnh thoảng phải đun ấm nước uống bằng tàu ngầm(*) [(*) Tên gọi dụng cụ đun nước tự làm lấy khá thông dụng thời bấy giờ: lấy một đoạn dây mai-so nối vào hai đầu dây điện rồi thả trực tiếp đun trong nước. ]... Chẳng lẽ những chuyện cả nước đâu đâu cũng có như vậy mà cậu không thể thông cảm được à?

   Ông ơi, hàng xóm nhà ta hàng ngày còn đun bằng tầu ngầm cả một nồi cám lợn to đùng cơ. Đồng chí cùng cơ quan với ông đấy! - bà Hà xỉa vào.

Hai Hân thấy bí, vì hiểu rằng tiếp tục câu chuyện như thế này chỉ làm cho sư phụ thêm bực mình. Còn ông Tiến thì bị cái nồi cám lợn của ông hàng xóm làm cho ngắc ngứ. Bà Hà phải tìm cách lấp chỗ trống:

   Thế hai vợ chồng cậu Hân vẫn quyết tâm son rỗi mãi thế này à?

   Tại số cả, chị ạ. Tụi em chẳng biết làm thế nào.

Khi ra bàn ngồi uống nước, Hai Hân mở túi quà ra:

   Em không biết mua gì biếu anh chị, vợ em bảo biếu hai bác yến gạo nếp và ký lạp xưởng là thiết thực nhất.
   Phụ nữ bao giờ cũng chí lý. - Ông Tiến khen.

   Sao cậu cho anh chị nhiều thế? Cô Hai rất tình cảm. Anh chị cảm ơn. – BÀ HÀ chân thành.

   Vợ chồng Lợi đã đi Đức chưa ạ. Em nghe nói chuẩn bị từ mấy tháng nay rồi cơ mà.

   Vợ chồng em nó đi được gần một tháng rồi cậu ạ, có lẽ đã bắt đầu làm việc.

   Rất may là gần đến ngày đi, thì chồng cũng xin được cho vợ đi cùng, có thể là thương binh nên được trên chiếu cố. - Ông Tiến kể cho Hân nghe.
   Chồng làm quản lý lao động, vợ đi lao động, thế là hợp lý hoá số một, có phải không anh
chị?

   Cũng may là chúng nó chưa vướng víu gì con cái nên cũng gọn nhẹ.

   Không biết là vợ chồng Lợi kế hoạch như vậy, hay là... – bà Hà buột mồm, nói đến đấy rồi dừng lại, đổi hướng - ...Một nách hai con sòn sòn năm một như vợ chồng Thắng thì gay lắm.
   Gia đình em Thắng hôm nay đi vắng ạ?

   Chúng nó tối nay ăn giỗ bên ngoại, chắc sắp về. Hôm nay là ngày giỗ ông nội của vợ Thắng.

Qua câu chuyện, Hai Hân biết gia đình nhỏ của Thắng lủng củng hết khó khăn này đến khó khăn khác. Chuyện ghen tuông nhau và đòi ly dị vượt qua được rồi, ít nhất cho đến lúc này là như vậy. Cái lo cơm áo gạo tiền của hai người lớn phải tự lập và hàng trăm thứ lo khác cho hai đứa trẻ - đứa lên hai, đứa lên ba - đủ sức đánh bạt biết bao nhiêu chuyện huyễn hoặc, viển vông. Ông bà Tiến cũng phải phụ trợ nhiều cho vợ chồng Thắng. Cũng may là những nhu cầu thiết yếu nhất cho đời sống hàng ngày thì đã được bảo đảm bằng tem phiếu. Đây là điểm sáng vô cùng quan trọng, ông Tiến dựa vào, phát triển thêm, viết thành những luận cứ sắc bén phê phán những người hoài nghi đường lối kinh tế của Đảng. Trong loạt bài đả Lê Hải có những luận cứ này. Nếu vợ chồng Thắng không một nách hai con nhỏ thì ông Tiến cũng sẽ tìm mọi cách xin cho đi lao động ở Cộng hoà Dân chủ Đức. Cả bốn anh chị em cùng một chỗ như vậy thì còn gì bằng. Đã có lúc bà Hà bảo vợ chồng Thắng để bà nuôi hai cháu ở nhà, hai vợ chồng cứ làm đơn xin đi xuất khẩu lao động để kiếm tý gì về thay đổi cuộc đời, sống mãi thế này khổ lắm. Vợ chồng Thắng nghe ra, nhưng vợ Thắng không chịu nổi cảnh xa con, nên đơn đã gởi đi lại rút về!

   Thật ra đơn không rút thì chắc cũng bị bác thôi, cậu Hân ạ. Không thể ưu đãi một lúc cho bốn người trong một gia đình đi xuất khẩu lao động được. Còn phải dành phần cho những gia đình khác chứ! – bà Hà giải thích.
 

   Hay là anh chị cho vợ chồng Thắng vào Thành phố làm chỗ em đi. Nhà ở em lo được, nên vấn đề hộ khẩu không có gì khó khăn. Em mới nảy ra kế hoạch đột xuất: Em cần người giúp em quản lý mảng kế hoạch 3. Thắng có bằng đại học kinh tế, xin với Thành phố chắc cũng dễ thôi.
   Cậu thì lúc nào cũng đột xuất. Có cái gì trong đầu? Phát minh trong kỳ nghỉ phép này đấy à?
   ông Tiến chưa đi thẳng vào đề nghị của Hai Hân.

   Lúc nào cũng đột xuất! Anh nói hay quá! Rất đúng với cái chất trong con người em. Em đã nói rồi, để nuôi một lúc thực ra bây giờ là 3 xí nghiệp in, em cần phải mở ra một loạt hoạt động kinh tế khác. Em đang thiếu người giúp việc này. – Hai Hân gần như vừa nói vừa cười một mình.

   Cậu nói đùa đấy à? Sao vừa nói vừa tủm tỉm thế?

   Dạ không, em nói nghiêm chỉnh đấy ạ. Em cười chuyện khác. Chuyện riêng của em thôi.

   Mình khó tin lắm.

   Em nói thật mà. Hai chữ đột xuất của anh làm em nhớ đến chuyện hai vợ chồng em trêu chọc nhau. Việc em ra học ngoài này khởi đầu bằng hai chữ ấy đấy ạ! - Hai Hân lại tủm tỉm cười mặc dù đã cố nhịn, vì không sao quên được cái bữa hôm ấy với vợ...

   Đồ khỉ, cậu nói câu chuyện nghiêm túc như thế mà lại vừa nói vừa cười được.

   Khổ quá, anh thông cảm cho em.

   Phải xem lại đi, ý kiến của cậu có thực tế không? - ông Tiến giữ kẽ, vẫn chưa chịu trả lời đề nghị của Hai Hân.
   Hoàn toàn thực tế ạ. Tất cả trong tầm tay của em mà.

   Ôi thế thì may quá! Cậu giúp anh chị đi. – bà Hà không kiên nhẫn được nữa, nói phăng suy nghĩ của mình.
   Cậu tiến hành sớm đi, anh chị rất mang ơn. Vào trong ấy thay đổi không khí biết đâu chúng nó có thể mở mày mở mặt. – thấy bà Hà nói tuột ra rồi ông Tiến mới chịu nói thêm vào.
   Chắc chắn là em không để cho Thắng ăn mãi cái lương tập sự tốt nghiệp đại học rồi! Anh chị yên tâm đi.

Hai Hân đề nghị ông bà Tiến cố thu xếp mọi thủ tục, sao cho khi Hai Hân mãn khoá trở về thì việc chuyển gia đình Thắng vào Thành phố cũng hoàn tất. Mọi việc liên quan đến Thành phố Hai Hân lo, mọi việc liên quan đến thủ tục ngoài này thì ngoài này lo. Hai Hân cũng cho biết thêm là hai loạt bài báo của ông Tiến, một chống tư tưởng hữu khuynh, một uốn nắn những quan điểm lệch lạc về một số vấn đề lớn, gây tiếng vang trong Thành phố, một số bài được đọc hoặc trích đọc trên đài phát thanh trong mục “Học tập nâng cao ý chí chiến đấu”, nêu rõ tác giả là giáo sư Đoàn Danh Tiến.

Lúc Hai Hân đứng dậy ra về, thì vợ chồng Thắng và hai con cũng vừa ở bên ngoại về. Ngay lập tức bà Hà bàn việc chuyển vào trong Nam công tác của vợ chồng Thắng, ông Tiến thỉnh thoảng mới thêm một câu. Tuy đã hai con, nhưng cặp vợ chồng này vẫn nhảy cẫng lên như hai đứa trẻ, vì mừng quá.

- Chúng em đang khao khát thay đổi không khí !


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:06:48 pm
Ngay tối hôm đó, sau khi ở nhà ông Tiến về, Hai Hân gọi điện thoại đường dài với người phó của mình giục làm nhanh hai việc: triển khai các hoạt động đã bàn của xí nghiệp và làm các thủ tục xin Thành phố cho phép tuyển Đoàn Danh Thắng. Hai Hân dặn kỹ phương châm xử thế và mục tiêu của xí nghiệp: kế hoạch 1 Trung ương giao gì nhận nấy, miễn là có kinh phí và vật tư đi kèm; kế hoạch 2 thì ăn cây nào rào cây ấy, cố phục vụ yêu cầu của thành phố trong phạm vi cho phép; mọi khả năng khác phải dồn hết cho kế hoạch 3 của xí nghiệp trên cơ sở giá thoả thuận. Hai Hân nhấn mạnh phải cố làm sao hàng tháng có thêm một tháng lương tối thiểu cho từng người trong biên chế. Hai Hân tin tưởng sẽ thắng trong việc phân chia mọi hoạt động của xí nghiệp thành 3 kế hoạch theo những kinh nghiệm mới đã học được gần như trong khắp cả nước. Đấy là kết quả có ý nghĩa nhất, mặc dù không có trong chương trình của những tháng học tập ở ngoài này. Đã thế còn biết bao nhiêu kinh nghiệm sống trong các cuộc đi tham quan thực
 

tế tại một số xí nghiệp Hà Nội, nơi thì gọi là “3 kế hoạch”, nơi thì gọi là “kế hoạch 3”. ...Thì ra mỗi nơi thực hiện 25CP một khác, chắt lọc lấy cái hay nhất, thích hợp nhất mang về cho xí nghiệp mình thế nào cũng trúng!.. Nhất là Hai Hân thấy những báo cáo tổng kết về công tác căng - tin, công tác công đoàn và công tác đời sống của nhiều doanh nghiệp trong Nam ngoài Bắc rất bổ ích. Trước khi về nghỉ giữa khoá, Hai Hân còn được nghe một số báo cáo ngoại khoá về các hiện tượng “xé rào” trong công nghiệp, trong thương nghiệp, trong khoán quỹ lương, nhất là phần tổng kết việc bù giá vào lương của Long An... Ngay lập tức trong đầu Hai Hân hình thành những ý tưởng mới cho xí nghiệp lớn của mình. Thời gian ngồi tàu hơn hai ngày từ Hà Nội vào Thành phố cho phép Hai Hân phác hoạ chi tiết từng kế hoạch và kết nối 3 kế hoạch với nhau. Hai Hân để ý thấy hiện tượng “xé rào” ngày càng nhiều, song không thấy các bài giảng trong lớp học này phê phán gay gắt như cách đây một, hai năm . ...Như thế là Trung ương đang “bật đèn vàng” hay đang xét lại vấn đề này? Bây giờ chương trình “3 kế hoạch” của mình đã bắt đầu khởi động rồi, cần làm mọi việc để tăng tốc!..

Hai Hân cảm thấy được cổ vũ mãnh liệt. Mấy ngày nghỉ vừa qua thật là những ngày có ích. Hai Hân thừa nhận không có dịp đi học này chắc không đủ nhạy cảm để với tới những vấn đề như vậy. ...Tất cả những mới mẻ này bắt đầu từ cái tối đột xuất hôm nào! Mục tiêu mới bây giờ là phụ cấp hàng tháng một tháng lương tối thiểu cho toàn bộ biên chế xí nghiệp! Ca dao ba miền thế mà chí lý(*) [(*) Bài vè này có 3 đoạn, đại ý: Miền Bắc học chỉ thị nghị quyết rất giỏi nhưng không làm; miền Trung thuộc nghị quyết làu làu nhưng chỉ vận dụng những điểm mình thích; miền Nam không thuộc chỉ thị nghị quyết, chỉ chú trọng đến làm ăn và ăn chơi. ]. Học thì ra Bắc, làm thì vô Nam ...Cái sáng tạo là chỉ thị nghị quyết chỉ cần vận dụng những chỗ mình cần...

...Hai Hân đánh gục tư sản! Hai Hân thực hiện quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân! Hai Hân sẽ là người đầu tiên hàng tháng mang lại phụ cấp một tháng lương tối thiểu cho mọi người!.. Mình sẽ đột xuất trở thành anh hùng?..

Thanh toán tiền điện thoại cho người thường trực, Hai Hân trở về phòng làm nốt mấy việc lặt vặt rồi leo lên giường ngủ. Đèn đã tắt, nằm trong tối Hai Hân cười một mình khi nhớ lại bộ mặt có một chút thảm hại, một chút ngồ ngộ của ông Tiến: “Đồ khỉ, cậu nói câu chuyện nghiêm túc như thế... mà lại vừa nói vừa tủm tỉm ...” ...Rồi mình sẽ vượt qua sư huynh của mình!..

Nằm nghĩ ngợi linh tinh một lúc, đột nhiên Hai Hân nhớ ra: ...Ờ, sao không thấy anh Tiến nói gì về các tài liệu anh ấy nhờ Ban dân vận sưu tầm giúp nhỉ? Hay là những tài liệu ấy không dùng được?..

Hai Hân đã ngồi nhỏm dậy, toan đi xuống thường trực gọi điện thoại cho ông Tiến, nhưng chần chừ một lúc rồi nằm xuống: ...Thôi! Anh ấy cần thì tự khắc anh ấy sẽ hỏi mình. Những tài liệu như thế thiếu cha gì! Ban dân vận của mình có hàng đống! Không cần nữa thì thôi...

...Rồi một ngày gần đây thôi, mình sẽ vượt qua sư huynh của mình!.. ...Bảy Dự, Ba Khang... không còn là cái mốc gì cho mình để ý đến nữa. Mấy cái bằng văn hoá của họ chỉ vừa đủ cho họ đóng vai anh giáo quèn hay anh cạo giấy mà thôi, từ nay họ không có gì có thể so đo với mình nữa... Cái trường đời của mình rõ ràng là bằng vạn các trường học của họ ... Bây giờ ta chẳng có điều gì phải phàn nàn về gia cảnh nghèo túng trước đây của bố mẹ. Không có cái trường đời này, làm sao mình vươn lên được như bây giờ...

Con đường cho ta trở thành chính khách đang mở ra?..

Bố mẹ Hai Hân người gốc Cần Thơ, bị giặc Pháp giết trong trận càn lấn chiếm vùng tự do ở Phụng Hiệp cuối năm 1953, lúc đó Hai Hân vừa học xong tiểu học. Hai bên họ hàng bố mẹ đều nghèo, đi ở giúp hết gia đình này đến gia đình khác Hai Hân thấy vừa gò bó, vừa lúc nào cũng phải mang ơn Huệ. Đủ 18 tuổi, tiếp tục ở lại Phụng Hiệp sẽ có nguy cơ bị bắt đi lính, Hai Hân quyết định bỏ vào Sài Gòn kiếm sống. Cuộc đời tự lập bắt đầu từ đấy. Hai Hân đi khắp thành phố và làm đủ mọi nghề, bắt đầu từ thằng nhỏ, đạp xích lô, khuân vác, chữa xe đạp, gánh nước thuê, nấu bếp, rửa bát cho tiệm ăn, quảng cáo, rao vặt.., đã một lần đánh thuê cho băng “răng hổ” chuyên lũng đoạn chợ rau quả của Thành phố... Hai Hân có một triết lý làm cho anh ta trở
 

nên bất khả xâm phạm trong thế giới của mình: không có nghề nào là xấu, và do đó không đồng tiền nào kiếm được là bẩn!.. Cái nghề không cần nghề này ngày một ngày hai rèn luyện cho Hai Hân cái tính không khoan nhượng khi cần đạt mục đích, nhưng vay trả sòng phẳng. Trong suy nghĩ và ngôn ngữ của Hai Hân không có từ ơn Huệ, khả năng tháo vát và tài chơi được với ọi hạng người – kẻ cắp, gái điếm, lính tẩy, ác ôn, viên chức quèn, mấy bà nạ dòng ... Có lẽ một phần còn nhờ sự thông minh bẩm sinh, lại có sức khoẻ, bất kể việc gì mới, Hai Hân học rất nhanh, đang làm nghề này khi cần phải chuyển sang nghề khác rất dễ dàng. Hai Hân uống được rượu nhưng không nghiện. Rất ghét ma tuý vì biết nó hại cho sức khỏe, nhưng lại mê đánh bạc và thích gái. Kiếm tiền hàng nắm, nhưng sống vô lo với đồng tiền của mình. Chặng cuối cùng trên con đường giang hồ lang thang là vào làm tại nhà in của ông Học. Chính Tư Cương là người tuyển Hai Hân, theo lời khuyên của Ba Khang. Tư Cương thừa nhận Hai Hân rất hợp cho hàng trăm công việc không tên của nhà in. Việc được giao khó dần lên, Hai Hân đều làm tốt. Tư Cương định bụng thử thách một vài lần nữa rồi sẽ giao cho Hai Hân một việc xứng đáng trong nhà in. Nhưng máu gái và ham mê cờ bạc đã quật đổ Hai Hân: Chưa đầy một ngày một đêm Hai Hân nướng hết bay toàn bộ số tiền thanh toán một lô hàng tương đương với 24 tháng lương của mình. Hai Hân được giao cho việc đi nhận số tiền này từ một khách hàng trong thành phố, nhưng lại để nó bốc hơi theo kiểu “nhất dạ đế vương” với lũ đàn em và bồ nhí tại “Đại Thế Giới” ở Chợ Lớn. Cho đến bây giờ Hai Hân vẫn chưa hiểu tại sao mình không bị đuổi, mà còn được ông Tư Cương cho cơ hội cuối cùng, với điều kiện mình cam đoan sẽ trả đủ số tiền này trong vòng hai tuần lễ . ...Hay là nếu đuổi mình thì ông ta sẽ mất cả chì lẫn chài!?. Chuyện đã quá xưa rồi, ít khi Hai Hân nghĩ đến nữa.
Mãi cho đến hôm ông Tư Cương đá xịa vào chuyện này, trong tình thế tại cuộc họp “cải tạo” Tư Cương bị dồn vào cảnh chó cùng cắn dậu.

...Ông biết tính tôi rồi đấy. Lời thề đọi máu, có trời đất chứng giám...

Việc Tư Cương nhắc lại lời thề độc của Hai Hân năm nào làm cho Hai Hân choáng váng, trong cổ lại ứ lên cảm giác nhơ nhớp.

...Hồi ấy, trong khoảng một tuần lễ, vừa đi làm cho nhà in của ông Học, vừa đi làm đĩ đực cho mấy mụ xề rất giàu và nhiều quyền lực, Hai Hân nộp đủ số tiền phải đền cho Tư Cương trước thời hạn mấy ngày.

Cái giá phải trả là Hai Hân mắc bệnh giang mai, nhưng có tiền chữa được, vẫn còn thừa ít nhiều. Cái giá phải trả không thể trả được là sự ghê sợ không thể vượt qua được mỗi lần bất giác nghĩ đến mấy con lợn xề mắc dịch là người thật, nhất là nghĩ đến cái đá của con mụ xề Bảy Quới nổi tiếng là Võ Tắc Thiên.

...Hôm ấy mụ Bảy Quới làm tất cả những gì một người cuồng dâm bệnh hoạn có thể làm được. Hai Hân đã thấy người mình bã ra, nhàu nát, mềm oặt như mở giẻ rách, nhưng mụ Bảy Quới vẫn liên hồi gào rú, ghì nghiến, xoay vặn thân thể Hai Hân như thể đang vắt xoắn cái khăn bố! Nhiều lúc mụ ta như muốn nhai ngấu nghiến từng bộ phận trên cơ thể Hai Hân để thoả mãn dục vọng của mình sau khi đã được kích thích đến cao độ. Trong đời mình, Hai Hân đã nhiều lần hiểu thế nào là cuồng loạn của đàn bà, Hai Hân đánh đổ tất cả. Nhưng Bảy Quới là người đầu tiên cho Hai Hân bài học thế nào là sự bạo dâm của đàn bà và đành chịu nhục,... gần như suốt đời!

...Càng vào cuối trận, mụ ta càng điên cuồng. Cuối cùng, hình như đã thấy được cái giới hạn của Hai Hân và để tự kiềm chế chính mình không đi xa hơn nữa, Võ Tắc Thiên Bảy Quới đẩy Hai Hân lăn ra khỏi bụng, đứng vùng dậy phóng chân đá bật Hai Hân từ trên giường xuống đất như người ta hất một bao gạo, đoạn mụ nhảy ra khỏi giường, thọc hai tay vào ngăn kéo vơ một nắm tiền lớn ném vào mặt Hai Hân:

   Liệu cắp đít xéo ngay! Nấn ná ở đây thì bà nhai nghiến mất, không có đường trở về dương thế đâu chú em ạ!

Hai Hân nuốt nhục, lồm cồm bò dậy. Một luồng khí lạnh ở đâu ập tới, vật ngã Hai Hân xuống mặt sàn, lập tức mồ hôi vã ra như tắm, lăn thành cục khắp người, Hai Hân lấy tay vuốt không kịp, đành úp mặt xuống đất thở dốc.
 

- Muốn bỏ xác ở đây hả?

Tiếng mụ Bảy Quới the thé xiên vào óc, Hai Hân lấy hết sức bình sinh đứng lên nhưng không nổi, đành lết đi bằng cả hai chân hai tay, vừa vơ tiền, vừa vơ áo xống áo của mình rồi bò sang phòng bên. Phải nằm thở một lúc nữa Hai Hân mới đủ sức mặc quần áo, lúc này mới để ý đến những vết răng cắn tím bầm phủ khắp người, nơi hạ bộ...

... Nhưng cho đến nhiều năm sau này, cái cảm giác rã rời, ghê ghê nhặm nhặm như đang bị các miếng bì sống mới chỉ được cạo lông nhôm nhoam chà sát khắp người, những miếng nhai miếng cắn trên cơ thể mình, những cấu véo.., tất cả những thứ đó đeo đẳng hình như không bao giờ buông tha Hai Hân... Chỉ nghĩ đến là đổ mồ hôi hột...

Ngoài bệnh giang mai ra, từ đó Hai Hân mắc một chứng bệnh kỳ lạ về tâm thần, phải đi tìm thầy tìm thuốc... Đến hôm nay Hai Hân vẫn không làm sao quên được cái đá và cảm giác nhơ nhớp ấy, cổ vẫn lờm lợm buồn nôn, đầu óc có lúc choáng buốt không sao chịu nổi... Sự nhơ nhớp này đeo đẳng mình cho đến chết chắc!?.

   Tôi không dám chắc tâm thần anh sau này có thể hoàn toàn bình phục. Trong y học không thiếu gì chuyện đàn bà có những cơn hysterie gây ra án mạng! Đồ điếc không sợ súng, hãy cảm ơn trời phật cho anh còn sống! – bác sĩ vừa mắng vừa an ủi Hai Hân như vậy!

Nhưng khi bác sĩ lôi cả khoa tâm lý học, thần kinh học, viện dẫn cả Freud và Jung(*) [(*) Sigmund Freud (1856 - 1939), Karl Gustav Jung (1875 - 1963), cả hai là bác sĩ và là nhà khoa học nổi tiếng về khoa tâm lý học. Hai nhà khoa học này đã đưa ra nhiều lý giải quan trọng về mối liên quan bệnh lý giữa tâm lý và sinh lý của con người. ] ra để giảng giải bệnh lý, thì Hai Hân thấy mình cứ như vịt nghe sấm, càng bi quan về bệnh tật ...

Hai Hân thấy mấy ông thầy thuốc ta nói dễ hiểu hơn nhiều: “Cậu bị trúng phong hiểm! Nhiễm sâu vào can tỳ rồi, không đẩy ra ngoài được đâu! Phải chịu mang bệnh suốt đời, về già may ra sẽ thuyên giảm. Nhưng để hỏa bốc đột biến có thể chết bất đắc kỳ tử!..”

... Sau này, mỗi lần nghe trong thiên hạ nhắc đến mụ goá Bảy Quới Gia Định, Hai Hân vẫn còn thấy nhức buốt trong đầu hình ảnh một dã thú ghê sợ, nửa đười ươi, nửa lợn xề, tiếng nói the thé của nó xiên óc... Toàn thân Hai Hân lại sởn da gà, vì nỗi nhục hai lần của mình - phải quỳ gối trước đồng tiền và bị con mụ cuồng loạn này đánh gục cả về mặt tính dục! Lại còn kéo theo bệnh tật không biết bao nhiêu năm nữa! Mãi cho đến ngày nghe theo lời khuyên của Ba Khang, Hai Hân mới lấy vợ, cố gắng thay đổi cách sống của mình, uống thuốc nam, chịu khó tập luyện, nuôi hy vọng khỏi bệnh. Cảm giác nhơ nhớp khắp người và trong cổ họng đỡ dần, có thời kỳ bệnh dứt hẳn được mấy năm liền, khấp khởi hy vọng...

Ba Khang thỉnh thoảng còn giao cho Hai Hân việc này việc khác ngoài công việc của nhà in... Dần dà Hai Hân trở thành một mắt xích tin cậy trong đường dây hoạt động bí mật của Ba Khang.

...Tổ cha lão cái lão mắc dịch này! Người ta đã thoát cái cảm giác khốn nạn ấy được bấy lâu rồi, thế mà bây giờ lại chọc cái đống thối này ra làm khổ người ta!

Trong buổi đấu tố bế tắc hôm ấy, Tư Cương đành lôi câu thề độc của Hai Hân ra để chống chế lại. Hai Hân người nhũn ra, trong bụng chửi thầm lại Tư Cương như vậy!

Bây giờ nửa đêm nằm giữa Hà Nội, đầu óc bề bộn là thế, nào là các đề tài sắp sửa phải làm bài kiểm tra, các dự kiến công việc... Thế nhưng cảm giác ớn bệnh lại đánh thức trong đầu Hai Hân ý nghĩ thâm thù Tư Cương ngày nào. Hai Hân xoay trở cựa mình mãi, hai hàm răng nghiến vào nhau kèn kẹt, mồ hôi bắt đầu tự dưng vã ra...

...Ôi nhiều lúc chính mình cũng chẳng hiểu đấy là thâm thù hay là tại vì mình vẫn chưa thực sự khỏi bệnh?

...Hay là cái khổ có lẽ ở chỗ trước một vinh quang đang tới, con người ta có thói quen nhớ lại thuở hàn vi?.. May mắn sao thời kỳ bệnh hoạn quyết liệt nhất hình như tự nó đã qua đi. So với hồi ấy, bây giờ nhờ trời mình đã khá nhiều rồi... Lạy trời cho bệnh khỏi hẳn!..

...Vào thời kỳ ấy, vài năm trước khi giải phóng, thì kinh hãi lắm... Cứ định ngủ với người đàn bà nào thì việc đầu tiên là Hai Hân phải làm sao chiến thắng được cái cảm giác bầy hầy nhột
 
nhạt ở cổ họng, ở khắp người, phải tìm chỗ ngồi thiền hít thở thật sâu vài chục phút để giúp cho đầu óc có thể xoá được hình ảnh một dã thú nửa đười ươi nửa lợn xề nhưng là người thật đang rống lên, mõm nó hít hít, lưỡi nó liếm liếm khắp mặt mình, răng nó nhai nhai cắn cắn khắp thân thể mình, da nó bì bì ráp ráp... Thời kỳ bệnh phát nặng, đã có lúc Hai Hân nghĩ đến treo cổ, vì không tài nào chịu đựng mãi cái cảm giác nhột nhạt tái đi tái lại như thế, trong lúc toàn thân ớn lạnh nổi da gà, mà mồ hôi vẫn vã ra từng cục ... Thậm chí đêm tân hôn ngủ với vợ, Hai Hân cũng bị Võ Tắc Thiên Bảy Quới trong đầu hành hạ tra tấn như vậy... Hai Hân đã từng được nghe, được biết những chuyện phụ nữ mắc bệnh tâm thần do bị hiếp dâm ...

...Nhưng mình thật không ngờ cái nghề đĩ đực có khi phải trả giá thật khủng khiếp! Hình như sức chịu đựng của đàn ông thua đàn bà. Ôi nếu không thoát được sự ám ảnh ma quỷ này thì còn gì là đời! Chết quách đi còn hơn!..

...Bây giờ có đến hàng trăm chuyện khác để lo, để nghĩ. May ra đủ sức xoá nhoà vĩnh viễn ảo ảnh và cảm giác choáng váng nhớp nhơ này? Có thể như vậy được không? Cái đêm đột xuất hôm nào vẫn rụt rè trước câu hỏi mới đặt ra này...

Hai Hân tìm câu trả lời trong hy vọng. Đêm nay trằn trọc không ngủ, lại cố đi tìm hy vọng, cố bấu víu vào những toan tính mới...

...Từ cuộc đời lang thang, ta sẽ có thể vượt lên trên sư huynh của ta? Sẽ đột xuất trở thành người hùng!

Những dư chấn của bệnh tật rồi cũng dịu đi, những ước vọng trong tầm tay đưa đẩy, dần dà đêm khuya cũng mang lại cảm giác dịu ngọt, đưa Hai Hân vào giấc ngủ, nâng Hai Hân lên tầng cao vời vợi...
Cũng tối hôm Hai Dân đến thăm, nhà ông Tiến lâu lắm mới lại có một buổi tối đầm ấm vui
vẻ. Ai nói câu gì ra cũng hợp, mọi lời đều bàn vào chứ không bàn ra. Hoàn toàn không có câu
nào ông chẳng bà chuộc. Thật hiếm khi nhà ông Tiến có được tiếng cười rộn rã như trong buổi
tối này...

Riêng ông Tiến một mình vui vui một niềm tự hào thầm kín...

Vài tuần sau khi Nghĩa ở Thạch Thất về là đến ngày giỗ cụ Tuyên ông và gia đình Minh. Lại đúng vào chủ nhật, nên tất cả tề tựu đông đủ. Thím Tuấn đi xích-lô đến nhà ông Chính từ sáng sớm. Giỗ nào thím cũng là người cầm chịch, lần này cũng vậy. Sau khi thăm hỏi cụ Tuyên bà mấy câu, thím xuống bếp cùng với bà Hương cắt đặt mọi việc, xong lại lên ngồi đầu giường nói chuyện và chăm sóc cụ Tuyên bà.

   Em thấy chị hôm nay lại có sắc hơn mọi hôm. Tuần trước chị xanh quá. – Thím Tuấn vừa nói chuyện, vừa xoa bóp cho cụ Tuyên.

Cụ Tuyên bà nằm yên không nói, nhịp thở rất yếu, hai mắt nhắm lại. Song thím Tuấn thấy cụ Tuyên bà hình như hơi lắc đầu. Chứng tỏ cụ vẫn tỉnh.

- Em xoa bóp cho chị đỡ mỏi nhé.

Cụ Tuyên bà có vẻ gật đầu hoặc thím Tuấn cảm thấy như vậy. Thím nâng cụ Tuyên bà vào lòng mình rồi xoa bóp nhẹ nhẹ hai vai, sống lưng...

Cả nhà đều mừng là sáng hôm qua cụ Tuyên bà tự nhiên lại đòi ăn sữa. Nhưng bà Hương mới xúc cho cụ được nửa cái chén con con, cụ lại kêu mệt, không nuốt được... Chén sữa đành bỏ dở. Mấy ngày trước cụ luôn luôn kêu khó chịu và đầy bụng lắm, nhất định không ăn uống gì, kể cả uống nước. Ông Chính mấy lần nài ép cụ uống tý sâm mà cũng không được.

Cơm cúng làm xong, ông Chính thắp hương khấn bố và gia đình em Minh rồi vào đỡ mẹ để thím Tuấn ra lễ. Khi nâng được cụ lên tay mình, ông Chính thấy cụ thở gấp.

- Thím ơi, mẹ cháu làm sao ấy! Ôi mẹ...

Ông chưa nói dứt lời, cụ Tuyên bà đã nấc lên mấy tiếng và đi xa...
 

   Ôi chị cả! Chị cả ơi! Chị cả!... – thím Tuấn vừa gào vừa lay cụ Tuyên bà. Tiếng khóc oà lên.
Lúc ấy là vào giờ Ngọ.

Mọi người trong gia đình, trong họ tộc ngồi quây quần bên nhau cho đến sáng, để thay hương cho cụ Tuyên bà, để cụ khỏi bị lạnh lẽo một mình trong đêm thâu, để cùng nhau ôn lại những ngày đã qua, những năm qua... Cụ Tuyên ông, cụ Tuyên bà, chú Tuấn, chú Phương, gia đình Minh, Huệ, Nam, âm dương hầu như không còn cách biệt, tất cả như đang về đây cùng nhau sum họp, trò chuyện, cùng nhau ôn lại những chặng đường đã qua, những kỷ niệm xưa ...

Ngay sau khi cụ Tuyên bà mất, cả nhà họ Phạm họp bàn nên báo cho cánh họ Phạm bên Mỹ như thế nào. Bàn đi bàn lại, mọi người nghiêng về ý kiến nên tổ chức xong lễ tang rồi mới báo, vì như thế mọi người bên ấy đỡ ân hận về việc không thể về nước chịu tang được. Sở dĩ có ý kiến này, vì nghĩ rằng đường sá cách trở, thủ tục bên Mỹ bên ta đều không đơn giản, càng khổ cho mọi người bên ấy. Song bàn nữa, lại thấy sợ bị trách. Cuối cùng ông Chính quyết định: Điện báo ngay, song khuyên mọi người bên ấy thắp cho cụ Tuyên bà nén hương là đủ, vì đường sá cách trở ... Cả nhà họ Phạm chấp thuận.

Tướng Lê Hải tiếp khách gần hết cả buổi chiều tại nơi an dưỡng. Khách là người được trên cử đến thông báo cho ông về sự việc Nghĩa bị tạm giữ ở Thạch Thất. Ông hỏi nhiều và được trả lời nhiều. Ông rùng mình nhớ đến một vụ án chính trị xảy ra đã lâu, hình như từ cuối những năm 1960, nghĩa là vào khoảng thời gian ông đang tham gia tổ chức phong trào đồng khởi ở miền Tây Nam bộ... Mãi cho đến khi ra Bắc ông mới nghe thấy loáng thoáng đâu đó về vụ án này, và cũng chỉ là dư luận xì xèo loanh quanh một số cán bộ cao cấp. Giải thích của trên cho cán bộ loại cấp tướng như ông cũng gọn lỏn, chỉ mang tính chất trấn an tư tưởng: “Có một sự việc đáng tiếc đã xảy ra, nhưng mọi việc đã chấm hết.” Nghĩ lan man, ông Lê Hải lo không biết chuyện của Nghĩa có dính dáng gì đến chuyện xa xưa này không. Lịch sử liệu có lặp lại không?.. Sau này còn xảy ra một số chuyện mới ...

Những suy nghĩ miên man giống như một cơn gió nào đó từ đâu ập tới, ông rùng mình ớn lạnh...

Chưa hết bàng hoàng về cuộc gặp này thì ngay tối hôm đó ông nhận được điện thoại của Nghĩa báo tin cụ Tuyên bà mất. Một giờ sau ông đã ngồi trên xe lên đường về Hà Nội, vì tình bạn hữu với Nghĩa, song còn vì ông hiểu Nghĩa đã chạy thi với thời gian như thế nào, bắt đầu từ cái đơn xin giải ngũ mà ông đã cố tình cho xếp xó vào tập hồ sơ lý lịch cá nhân của Nghĩa ...

Thoạt đầu tại nhà nghỉ, sau khi tiễn khách về, ông Hải cảm thấy nhẹ hẳn người khi được báo Nghĩa đích thân gọi điện thoại. Ông vui mừng cuống cuồng vồ lấy máy, nhưng điều trớ trêu là để nghe Nghĩa báo tin cụ Tuyên bà mất!

Về đến Hà Nội đã quá nửa đêm, ông bảo lái xe đưa đến thẳng nhà ông Chính. Đến nơi, thấy nhà ông Chính đèn còn sáng. Ông vừa bước xuống xe thì thấy bố mẹ Yến trong nhà đi ra. Bố mẹ Yến sang nhà ông Chính viếng cụ Tuyên bà. Hỏi thăm bố mẹ Yến mấy câu, tướng Lê Hải bước vào nhà.

Mọi người vô cùng cảm động về ân tình của ông Lê Hải. Cả họ Phạm ra đứng bên cạnh linh cữu cụ Tuyên bà. Tướng Lê Hải thắp hương vái cụ, đứng yên lặng hồi lâu...

Chuyện thăm hỏi một lúc về những ngày cuối cùng trước khi cụ Tuyên bà ra đi, tướng Lê Hải đứng dậy cáo lui. Ông Chính và Nghĩa đi tiễn Lê Hải.

Ra đến cổng, Nghĩa nói với anh:

- Anh chào anh Hải đi, em xin nói chuyện riêng một lúc với anh Hải.

Trong đêm khuya tịch mịch, hai người đứng lại với nhau đến gần một giờ đồng hồ ở cổng. Những điều Lê Hải vừa mới được thông báo buổi chiều hoàn toàn khớp với những gì Nghĩa biết.

   Như thế là Thạch làm đúng như đã nói đấy anh Nghĩa ạ. Câu chuyện Thạch Thất đã rõ ràng?
 

   Kết luận là rõ ràng. Chỉ có như vậy thôi.

   Theo anh những gì dẫn dắt đến câu chuyện Thạch Thất là chưa rõ ràng? – Nghĩa hỏi.

   Cũng rõ cả thôi. Chỉ có điều là chúng ta phải tự hiểu lấy!.. – Lê Hải ngẫm nghĩ một lúc rồi nói tiếp - Tôi cho là Thạch đã trả lời rất chuẩn xác câu anh hỏi cuối cùng trước khi anh lên xe rời Thạch Thất về Hà Nội.

   Đúng thế, anh ạ. Thạch là một tay cự phách về nghiệp vụ và đầy tinh thần trách nhiệm.

   Thôi được, anh và tôi có đủ thông minh để hiểu những điều phải tự hiểu. Bây giờ anh quyết định thế nào?
   Lo xong công việc cho mẹ tôi, tôi xin nghỉ hưu. Anh có ba đầu sáu tay thì cũng không phá đám tôi được nữa.
   Tướng về hưu dĩ nhiên là bất lực rồi!

   Tôi đã cố hết sức, nhưng có nhiều việc hoàn toàn ngoài tầm với của tôi anh ạ. Nếu còn tại chức, anh cũng không cản được tôi nữa!
   Tôi hiểu, anh Nghĩa ạ. Có lẽ... tôi phải xin lỗi anh. Nếu tôi để anh giải ngũ hồi đó thì có khi không xảy ra câu chuyện Thạch Thất.
   Cũng không thay đổi được gì nhiều, anh đừng bận tâm. Trên đời không có chữ nếu này lại có chữ nếu khác anh ạ. Ví dụ nếu anh không đi Cửa Lò, chưa hẳn tôi đã phải đi Thạch Thất! Cuộc đời cứ nếu như thế thì không phải là cuộc đời nữa!

   Bây giờ thì tôi ủng hộ việc anh xin giải ngũ, dù hơi chậm một chút...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:07:57 pm
Ngày hôm sau, tuy cùng với mọi người trong nhà bận rộn lo các việc tang lễ cho mẹ, đôi lúc Nghĩa lê chân đi tìm một góc vắng ngồi thừ một mình, vì đau xót gánh nặng mất mát đổ xuống gia đình lớn của mình, vì điên giận những điều trớ trêu, vì có lúc cảm thấy không thể chịu đựng nổi những điều đang phải chịu đựng, vì thú nhận sự bất lực của chính mình. ...Trời ơi, mình sẽ ân hận như thế nào nếu mẹ phải ra đi không được nhìn mặt mình! Chỉ cần Thạch có một sai sót nhỏ, điều gì sẽ xảy ra? Hiểm hoạ gì sẽ xẩy ra!?. Lúc này Nghĩa hiểu rõ hơn bao giờ hết: Sức chịu đựng của mình thực là có hạn. Sức chịu đựng ấy có thể gần như vô nghĩa nếu... Lại giống như người bí thư chi bộ là bố Hậu à? Thà rằng viên đạn đại bác ở Quảng Trị hôm nào không phải là nổ bên cạnh, mà là nổ ngay vào đầu mình còn hơn! Không! Không! Nếu hiểm hoạ Thạch Thất xảy ra thực thì còn tồi tệ hơn thế ngàn vạn lần! Mình - thể xác, tinh thần và danh dự của mình, tình yêu của mình, tình yêu của mọi người yêu thương mình, tất cả những gì mình cống hiến cho cuộc sống này, tất cả những gì cuộc sống này ban cho mình... tất cả sẽ bị hiểm hoạ này diệt và huỷ diệt cùng với con người mình! - Như người ta khi diệt một tên phản quốc và tất cả những gì thuộc về nó trước đó và sau đó, tất cả những gì cuộc sống đã ban cho nó trước đó và những gì còn dư lại sau đó! Ai lường hết được hiểm hoạ này? Dù sau hiểm hoạ này, mình tồn tại hay không tồn tại... Mà như thế cũng chưa đủ, tất cả những người yêu thương nó cũng phải gánh chịu lây một nỗi nhục, một gánh nặng tinh thần không sao rũ bỏ được! Mọi sự minh oan vinh dự nhất có thể có được – cứ giả thiết là như thế đi, như việc người ta khôi phục lại danh dự cho bố Hậu... – sẽ có nghĩa lý gì đối với con người đã bị diệt và bị huỷ diệt này? Cùng lắm điều này có thể có ý nghĩa nào đó cho hậu thế ... Nhưng con người đã bị diệt và bị huỷ diệt này cùng với những “kẻ liên quan” với nó có thể chờ đợi gì vào sự minh oan của hậu thế!?.. Trong những ngày ở Thạch Thất ta đã nghĩ nát óc rồi, hiển nhiên hiểm hoạ còn đẻ ra hiểm hoạ, giáng lên đầu nhiều người vô tội khác... Ta không yếu bóng vía đến nỗi hoang tưởng... Song còn những điều gì khác nữa có thể xảy ra nếu Thạch chỉ vô lương tâm một chút, sai lầm một chút, yếu kém một chút!? Ôi sức chịu đựng của mình như thế sẽ trở nên vô nghĩa... Mẹ ơi, xin mẹ dắt con đứng dậy! Mẹ hãy giữ cho con đừng ngã lòng!..

Sự mềm yếu trong thâm tâm khiến Nghĩa cầu mong mọi thách thức trong đời đừng vượt quá khả năng chịu đựng của mình. Vào lúc này Nghĩa hiểu mình đang cầu mong vào số mệnh!..

Không biết ta nên cảm ơn Thạch hay nên cảm ơn trời Phật!.. Đến giờ phút này ta vẫn chưa hoàn hồn...
 
Ngồi thừ một mình, Nghĩa mong có ai đi qua đánh thức mình ra khỏi sự mềm yếu này. Có lúc Nghĩa phải gắng gượng, loạng choạng tự đứng dậy...

Bức điện báo tin cụ Tuyên bà mất gây xúc động lớn cho vợ chồng ông già Học, gia đình Lễ và gia đình Hoài. Mọi người đều cảm ơn sự thông cảm của họ Phạm ở Hà Nội về chuyện xa xôi cách trở. Tuy vậy vợ chồng ông già Học vẫn muốn đi Hà Nội, vì tình chị em, nghĩa tử là nghĩa tận.

   Các cháu ơi, chú chịu ơn mẹ các cháu nhiều lắm, tần tảo giúp chồng nuôi các em... Các chú nhà ta đều xứng đáng với công lao của mẹ các cháu và không ai phải hổ thẹn với đời... – ông Học rên lên với chính mình...

Song cả gia đình Lễ và gia đình Hoài đều khuyên ông bà đã cao tuổi, định đi thì phải chuẩn bị kỹ về sức khoẻ, không thể đùng một cái là đi ngay được. Lễ thì long sòng sọc chạy hết nơi này đến nơi khác để xin giấy tờ xuất cảnh đi Việt Nam chịu tang mẹ. Nơi nào Lễ cũng nhận được một câu trả lời giống nhau đến gần từng chữ, còn mức độ lạnh lùng thì không nơi nào thua nơi nào:

   Xin tuỳ ông, trong vòng 24 giờ có thể cấp giấy cho ông ra khỏi nước Mỹ, vì đây là đất nước tự do. Còn với quy chế nhập cư dành cho ông, nếu ông không đợi được đến khi có thẻ xanh hoặc xong việc quốc tịch, việc xin nhập cảnh trở lại vào Mỹ sẽ hoàn toàn là việc của riêng ông.

   Khổ quá, tôi chỉ xin về chịu tang mẹ tôi rồi quay trở lại ngay.

   Xin đừng quên ông chưa đến thời kỳ được xét cho cư trú vĩnh viễn.

   ???

Vài ngày sau Lễ gửi về Hà Nội ảnh bàn thờ bố mẹ, ảnh từng người họ Phạm mặc tang phục thắp hương cúng cụ Tuyên bà.
 

11.

Bước vào năm 1983 kinh tế trong nước ngày càng khó khăn, lạm phát phi mã trở thành siêu lạm phát. Tại chiến trường Campuchia, Khmer đỏ vẫn ngoan cố tiến hành chiến tranh du kích. Hễ có bất kỳ một cố gắng nào được đưa ra cho việc tìm kiếm một giải pháp hoà bình thì hoạt động du kích của Khmer đỏ lại rộ lên để át đi. Một lãnh tụ quân sự của Khmer đỏ tuyên bố: Khmer đỏ có thừa tiền bạc súng đạn để chiến tranh du kích 10 năm, 20 năm, 50 năm cho đến khi diệt hết Duôn(*)![(*) Từ miệt thị, chỉ người Việt.] Đàm phán Việt- Trung về biên giới phía Bắc tiếp tục bế tắc. Các chiến dịch tuyên truyền báo chí trên thế giới chống Việt Nam tiếp nối nhau hết đợt này đến đợt khác. Các biện pháp bao vây cấm vận của Mỹ được tăng cường. Sau sự kiện “Công đoàn Đoàn kết” ở Ba Lan, sự nhộn nhạo trong tất cả các nước Liên Xô - Đông Âu ngày càng gia tăng, tác động sâu sắc vào sự tồn vong của nước ta. Tất cả tình hình này đè nặng lên tâm trí bất kỳ người dân nào, người cán bộ nào có ý thức. Tình hình nhức nhối đến mức Nghĩa cảm thấy việc xin giải ngũ lúc này cắn rứt ý thức người đảng viên và lương tâm người công dân của mình.

... Nhưng làm thế nào được? Không xin giải ngũ thì còn làm được gì ở cái Viện này? Mà bây giờ đang trên đường trở thành học viện... Về hưu sẽ làm gì? Đương nhiên không ai nghĩ đến chuyện chết đói, nhưng chắc chắn mình không thể là con người ăn không ngồi rồi được! Câu hỏi Nguyệt nêu ra cho Lê Hải trong bữa cơm hôm nào thật đáng sợ. Thân phận hẫng hụt của người về hưu... Hay là tiếp tục ở lại cái Viện này, mọi chuyện cứ mũ ni che tai, thiên lôi chỉ đâu đánh đấy?..

... Ta đã không còn khả năng cầm vũ khí trên chiến trường, thì đành chịu vậy. Nhưng bây giờ ta chịu hạ vũ khí trong lương tâm? Một cuộc đời như thế hay là một cuộc đời vật lộn với sự ăn không ngồi rồi của chính mình? Ăn cơm chúa múa tối ngày, cần quái gì! Cái việc dễ ợt như thế sao không chọn lấy nhỉ?..

Tâm trạng ngổn ngang muôn nẻo trên đoạn đường từ Thạch Thất trở về nhà hôm nào lại trỗi dậy trong Nghĩa.

... Nam ơi, chẳng lẽ chú đã cổ vũ cháu đi vào chỗ chết, bây giờ chú lại phản bội cháu? Chú đã chẳng hết lời khuyên bảo cháu dũng cảm nhận nhiệm vụ là gì!?.. Lẽ đời làm sao có thể như thế được hả cháu? Ôi, giá mà lúc ấy chú bớt là chú đi một chút, có khi cháu không phải ra trận!.. Giá mà chú có thể đi thay cháu... Trời đất ơi ... Chẳng lẽ chính tôi đã khuyên cháu tôi đi vào chỗ chết?..

Nghĩa không rõ những suy nghĩ như thế mấy tuần nay đã đánh vật với nhau bao nhiêu lần trong đầu mình. Hôm nay thủ trưởng mới lại mời lên gặp riêng, không nói rõ lý do. Mở đầu một chuyện “Thạch Thất 2” chăng? Nghĩa sắp xếp lại giấy tờ trên bàn làm việc, đồng thời cũng sắp xếp các suy nghĩ của mình: Đây là cơ hội rất tốt để giải quyết dứt khoát việc mình xin về hưu!
Bước vào phòng của thủ trưởng mới, Nghĩa thấy cả Lê Hải.

   Xin chào các đồng chí. Hôm nay có cả thiếu tướng dự nữa, chắc lại có chuyện dữ rồi! – Nghĩa cố cười chào mọi người, nhưng không giấu được vẻ lạnh nhạt.
   Chào lại đi, tôi là tướng về hưu. – Lê Hải trêu Nghĩa.

   Nghĩa lặng thinh.

   Tôi mời anh Hải đến, vì anh Hải cũng đóng vai chính trong câu chuyện chúng ta sẽ nói tới.
– Người thủ trưởng mới trịnh trọng rót nước mời khách.

Đây là lần đầu tiên người thủ trưởng mới có dịp cùng một lúc gặp cả Lê Hải và Nghĩa. Ông được nghe nói nhiều về mối quan hệ tốt đẹp giữa hai người này, hy vọng cuộc gặp tay ba hôm nay sẽ giúp ông thực hiện được ý định của mình. Ông đứng dậy, nói thẳng vào việc:

   Tôi được chỉ thị truyền đạt đến đồng chí thiếu tướng Lê Hải và đồng chí đại tá Phạm Trung Nghĩa thông báo chính thức của trên về sự việc đã xảy ra với đồng chí đại tá Phạm Trung Nghĩa. Sự việc đã được kết luận như đồng chí thiếu tướng và đồng chí đại tá đã được nghe thông báo trực tiếp. Hai đồng chí hoàn toàn minh bạch, sự việc này đã kết thúc. Đấy là toàn bộ
 
nội dung chỉ thị số.., ngày.., người ký tên Nguyễn.., chức vụ... . Vì là chỉ thị tuyệt mật, nên chỉ cần các đồng chí ghi lại số chỉ thị, ngày ban hành và người ký tên là đủ. - Đến đây người thủ trưởng mới ngồi xuống, gấp quyển sổ tay lại, rồi nói tiếp: - Tôi đã làm xong phận sự truyền đạt chỉ thị của trên. Tôi được trên yêu cầu nói thêm hai điểm nữa. Thứ nhất là cơ quan phụ trách vấn đề này xin lỗi đồng chí Nghĩa về những phiền phức đã xảy ra. Vì lợi ích an ninh của đất nước, mong đồng chí Nghĩa thông cảm. Thứ hai là trong Viện ta chỉ có tướng Lê Hải, đồng chí đại tá Phạm Trung Nghĩa và tôi biết sự việc này. Bây giờ sự việc đã kết thúc và đã được kết luận, coi như nó không xảy ra.

   Có phải đồng chí định nói là cần giữ bí mật tuyệt đối, không để ai biết, có phải thế không? – tướng Lê Hải hỏi lại.
   Vâng, hoàn toàn đúng như vậy. Coi như không xảy ra. Đấy là mục đích chính tôi mời hai đồng chí đến hôm nay. Hai đồng chí có hỏi gì thêm về vấn đề này khôngï?

Lê Hải và Nghĩa nhìn nhau rồi nhìn người thủ trưởng mới. Nhưng cả hai đều không nói gì. Riêng Nghĩa hai tai nóng dần lên, hai bàn tay đặt trên bàn tự nhiên nắm chặt lại, mặt đỏ nhừ rồi trắng nhợt. Coi như không xảy ra!.. Nói nghe dễ quá! Ta thì không thể coi như không xảy ra được! – Nghĩa rít lên không thành lời qua khe răng.

- Hai đồng chí không hỏi gì thêm?

Không có câu trả lời, chỉ có các con mắt nhìn nhau.

   Như thế là xong mục này. – người thủ trưởng mới tự kết luận rồi nói tiếp: - Bây giờ tôi xin nói ý định riêng. Tôi đã cân nhắc rất kỹ đề nghị xin giải ngũ của anh Nghĩa. Tôi cũng đã trao đổi với anh Lê Hải việc này. Nói gọn lại là tôi đề nghị anh Nghĩa tiếp tục công việc của Viện ta.

   Lá đơn anh có trong tay là lá đơn thứ hai của tôi xin nghỉ hưu. Tôi không những mong anh chấp thuận mà còn mong anh ủng hộ. Xin anh đừng để cho tôi phải viết lá đơn thứ ba. – Giọng Nghĩa lạnh lùng.

   Anh Hải... – người thủ trưởng mới nhìn chằm chằm vào Lê Hải.

   Tôi đã nung nấu ý nghĩ này từ nhiều năm nay rồi, không phải là câu chuyện bồng bột một ngày, hai ngày gì. Đừng ai cản tôi nữa!.. – Nghĩa quay ra năn nỉ.
   Xin anh Hải nói giúp cho một câu đi. – Người thủ trưởng mới mong được Lê Hải chi viện cho đề nghị của mình.

Tướng Lê Hải đắn đo một lúc:

   Thực là khó cho tôi. Song tôi cũng đứng về phía anh Nghĩa và mong anh ủng hộ ý kiến của anh Nghĩa. Tôi là người đã từng xếp xó đơn xin giải ngũ của anh Nghĩa, có chủ định, bây giờ tôi xin lỗi anh Nghĩa và sửa sai.

Người thủ trưởng mới rót thêm nước cho khách, ngẫm nghĩ một lúc:

   Anh Hải nói thế thì tôi thất bại rồi! Nhưng mong anh Nghĩa thông cảm, cũng như anh Hải, trường hợp của anh là do trên quyết định. Cấp bậc của hai anh thuộc diện quản lý của cấp trên.
   Vì thế tôi mới đề nghị anh chẳng những đồng ý mà còn ủng hộ tôi! Là giám đốc Viện, xin lỗi, là giám đốc Học viện, nếu đồng chí đích thân ủng hộ, trên nhất định chấp thuận. – Nghĩa cố nài, lúc này Nghĩa đã bình tĩnh trở lại.

   Hôm nay gặp hai anh tôi định làm hai việc, nhưng chỉ thực hiện được một, còn một đành chịu thất bại. Càng chú ý đến các báo cáo tổng kết và những kiến nghị của Viện ta trước đây, tôi thực tình càng muốn giữ anh Nghĩa. Nhưng anh Nghĩa đã quyết như vậy, anh Hải lại về hùa với anh Nghĩa nữa hai chọi một, tôi chịu thua vậy...

Từ lúc nào không biết, bầu không khí chính quy giữa chủ và khách nhường chỗ cho sự thân mật bạn bè.

   Anh yên tâm, chúng tôi không bao giờ đứng ngoài cuộc. Khi nào Viện cần giúp sức việc gì, chắc chắn cả anh Hải và tôi đều sẵn sàng.
   Xin cảm ơn anh Nghĩa. Giao ban kỳ trước tôi được trên phổ biến là đề xuất của Viện ta về
 

giải pháp chính trị và rút quân khỏi Campuchia rất khớp với nhận định của Bộ Tổng tham mưu, kiến nghị của bên đối ngoại và của một số nơi khác. Phải nói đây là một vấn đề cực kỳ gay cấn, nhưng đề xuất của hai anh thật là dũng cảm.

   Ôi, thế thì hay quá! Ta chủ động như vậy là rất tốt. Cốt lõi của vấn đề là ta chủ động!.. – Lê Hải kêu lên.
   Chỉ có một điều là Viện ta đưa kiến nghị lên cấp trên vào thời điểm sớm quá. Thật là bạo phổi đấy. Vì thế mới có chuyện nơi này nơi khác cho Viện ta là hữu khuynh, phê phán khá gay gắt... Nhưng chắc bây giờ cũng dịu đi rồi.

   Ý thức trách nhiệm buộc chúng tôi lúc ấy phải làm như vậy. – Nghĩa thanh minh.

   Thế hai anh không biết chuyện Viện ta bị chiếu tướng từ lâu rồi à? Nhất là từ khi Viện ta tổng kết chiến dịch Quảng Trị, không nói hết được khí thế chiến thắng oanh liệt của quân ta, không đề cao đúng mức mưu lược của lãnh đạo... – người thủ trưởng mới giảng giải.

   Tôi biết, tổng kết này có điều này điều nọ không hợp khẩu vị lắm, song... – Lê Hải phân bua.

   Tôi hiểu chứ. – Người thủ trưởng mới chen ngang - ...Phải nói là may cho hai anh đấy. Đúng vào thời điểm hai anh kiến nghị lên, lãnh đạo vừa mới ra chỉ thị cho một số nơi nghiên cứu phương án giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Nếu không thì hai anh đi đứt rồi. Vấn đề Campuchia cam go lắm.

   Hai chúng tôi đã nói với nhau là sẵn sàng cùng nhau lên đoạn đầu đài, nhưng không thể chậm trễ được! – Lê Hải kể lại.
   Dũng cảm và liều mạng là hai chuyện khác nhau đấy hai anh ạ...

Không bảo nhau, nhưng cả Lê Hải và Nghĩa cùng đỏ mặt lên, môi bặm lại. Nhưng ông viện trưởng mới tỉnh bơ, dõng dạc nói tiếp:

   Nếu là tôi, tôi sẽ xử sự khác. Phải biết chờ đợi hai anh ạ. Lại càng phải hiểu trong việc quân cơ Viện ta chỉ là một mắt xích phụ, rất phụ nữa là khác! Đề xuất ý kiến tới phạm vi nào thôi, đi quá là ra ngoài lĩnh vực của mình, là tự chuốc tội vào mình. Suýt nữa hai anh làm cho cả Viện ta mắc vào dây oan đấy.

Cả Lê Hải và Nghĩa trợn tròn mắt, cùng đưa mắt nhìn nhau rồi lại nhìn người thủ trưởng mới. Không ai nói với ai, nhưng cả hai đều liên tưởng đến cái quyết định cho nghỉ hưu đột ngột và câu chuyện Thạch Thất...

   Mong hai anh đừng suy diễn... – người thủ trưởng mới dường như đoán được ý nghĩ của hai người.
   Nghiên cứu thì phải sớm đưa ra các dự đoán, các kiến giải, nói hậu thì còn ý nghĩa gì nữa chứ. Có phải như thế không ạ? – Nghĩa cố nén lòng mình, nhưng giọng nói vẫn toát lên sự đay nghiến. Trong bụng thầm nghĩ: ... Hoá ra trước mặt mình là kẻ ngậm miệng ăn tiền, còn mình thì lại phải câm miệng để sống, coi như không có chuyện gì xảy ra!..

   Tôi đồng ý với anh Nghĩa. – Lê Hải nói rõ thêm. - Có lẽ anh chưa biết, chúng tôi mất khoảng một năm trời phản bác nhau. Vấn đề quá hệ trọng, nên về sau chúng tôi phải xé ra thành một số vấn đề riêng biệt để tham khảo các ngành, nhất là hai vấn đề an ninh và đối ngoại. Thú thực khi cùng nhau kiến nghị lên trên chúng tôi run lắm, nhưng không đừng được!

   Cái khó cho chúng tôi là chính quyền của nhân dân Campuchia còn yếu quá, để Khmer đỏ thống trị trở lại là một tội ác! Trong khi đó thiên hạ nhâu nhâu vào chống ta, nhiều bạn bè của ta cũng không hiểu ta. Tôi biết, trong tình thế như vậy đề nghị của chúng tôi dễ bị hiểu lầm lắm anh ạ. – Nghĩa nói thêm vào.

   Nói theo các cụ ngày xưa, hai anh có thể bị khép tội xử trảm đấy! Không ai đang lúc đánh thắng ầm ầm mà lại điên rồ bàn lui, như thế cũng là thiếu chính trị! Phải biết lựa chọn đưa ra lúc nào chứ... Lẽ ABC ở đời mà!

Lần này Nghĩa cố dằn lòng trước kẻ dạy khôn mình, cố giữ cho giọng nói thực từ tốn:

   Thực quả anh Hải và tôi đều lo điều này! Chẳng có gì bảo đảm là ý kiến của chúng tôi một trăm phần trăm không sai. Trước khi trình bày kiến nghị lên trên, anh Lê Hải và tôi rủ nhau đi
 

viếng Bác, nhờ Bác phù hộ, và nếu phải ra đi thì trong lòng cũng thanh thản!

   Cái khổ của công việc nghiên cứu là như thế đấy anh ạ. – Lê Hải nói thêm vào.

   Bây giờ hai anh trút cái khổ này lên đầu tôi có phải không? – người thủ trưởng mới nói vui.

   Có gan đứng mũi, có gan chịu sào anh ạ. Anh Nghĩa và tôi thở phào. Bây giờ thì yên chí là đầu mình vẫn còn! Nhưng lúc này đất nước vẫn còn quá nhiều kẻ thù.
   Cái khó là ở chỗ ấy. Thế nhưng anh Hải về hùa với anh Nghĩa bác lại đề nghị của tôi giữ anh Nghĩa thì cả hai anh đều sai đấy...

Về cuối Lê Hải hầu như để một mình Nghĩa nói chuyện với người thủ trưởng mới. Trong đầu người lính già này bây giờ chỉ còn vang vọng những câu nói chì chiết của vợ hôm nào.

...Chung quy chỉ tại anh thôi! Anh sắc sảo quá, nhiệt huyết quá, nhưng không biết giữ mồm miệng, không bù cho những kẻ ngậm miệng ăn tiền!.. ...Hai anh có thể bị khép tội xử trảm nữa, không ai đang đánh mà lại bàn lui... ...Ôi từ miệng vị tân quan này hôm nay mình mới lường hết được những lo lắng của Hậu...

... Chúng con lạy Bác, Bác đã phù hộ chúng con trong trận ra quân cuối cùng!..

Ra đến cổng cơ quan, Nghĩa đề nghị Lê Hải cùng với mình đến nhà ông Chính thắp hương cho Nam để giải tỏa những bứt rứt trong lòng.

   Tiện có xe của tôi, chúng ta đi ngay bây giờ được không?

   Vâng, tôi muốn đi ngay bây giờ.

Ngồi trên xe, hai người lính già tâm sự với nhau:

   Số phận làm cho anh và tôi dính líu quá nhiều vào vấn đề Campuchia, có phải không, anh Nghĩa?
   Làm sao kể được anh nghe tâm trạng tôi khi cháu Nam hỏi ý kiến tôi về nhiệm vụ đi Campuchia. Tôi không dám nghĩ đến, nhưng tôi đoán biết được những gì sẽ có thể chờ đợi cháu tôi ở đấy. Mấy năm qua ngày đêm thấp thỏm! Nếu lúc nào quên đi thì thôi, nếu không thì lại canh cánh nỗi lo về cháu tôi. Thế rồi...

   Tôi hiểu được.

   Mỗi lời tôi nói ra với cháu khi ấy, cứ như là một nhát dao chính tôi đang tự cắt vào da thịt mình. Tôi biết hiểm nguy nào sẽ dành cho cháu mình, nhưng tôi vẫn phải khuyên cháu mình lao vào! Đất nước ta ở vào tình thế nguy kịch quá, tôi không thể làm khác được anh ạ!.. Vì đau đớn quá, tiễn cháu đi rồi mà không biết bao nhiêu lần tôi cứ tự hỏi mình: Tại sao tôi lại khuyên cháu tôi đi vào chỗ chết?.. Ôi nếu lúc đó tôi có thể đi thay cho cháu!..

Lê Hải thông cảm, quàng tay lên vai Nghĩa, xiết chặt lấy người bạn chiến đấu của mình...

   Giả thử tôi không hiểu biết chiến tranh là gì thì đi một nhẽ! Giả thử trong nhà tôi chưa một ai chết vì chiến tranh, ít nhiều nhìn chiến tranh như đi xem phim... thì không nói làm gì! Hay là gia đình tôi chết cho chiến tranh như thế chưa đủ! Như thế vẫn là chưa đủ hả anh Hải?

   Bình tĩnh lại Nghĩa. – Lê Hải an ủi bạn.

   Tôi nhớ, tối hôm ấy chân tôi khuỵu xuống, khi cháu cho biết đang chuẩn bị lên đường ra trận...
   Thú thực, đến bây giờ tôi vẫn chưa dám nói được là mình đã hiểu hết thế nào là chiến tranh, anh Nghĩa ạ...
   Đành là thế... Nhưng nhìn ông viện trưởng mới, nghĩ đến cái chết của cháu tôi, tự nhiên tôi muốn nổ tung... Tôi cay đắng tự hỏi mình trong lòng ...cháu tôi có đáng hy sinh như thế không? Cháu tôi hy sinh để cho những viện trưởng này sống và xử sự như vậy?

Lê Hải nắm lấy tay Nghĩa:

- Tôi hiểu và chia sẻ nỗi đau đớn của anh

Xe đỗ xịch đến nơi, cô Minh ra mở cửa cho hai người vào nhà. Kể từ khi cụ Tuyên bà mất,
 

ông bà Chính đã nài nỉ được cô Minh ở lại Hà Nội trông giúp cháu bé Phạm Nguyễn Trung Nam một thời gian. Ông bà Chính chưa thể gửi cháu đi nhà trẻ vì cháu còn nhỏ quá. Bà Chính và mẹ Yến đang cùng nhau làm thủ tục xin nghỉ hưu để ở nhà trông cháu.

Ông Nghĩa bồng cún Nam lên tay rồi đưa cho tướng Lê Hải:

   Con của Nam đấy anh Hải ạ.

   Ôi cháu tôi ngoan quá. Hôm nay ông đến thắp hương cho bố cháu đây!

   Cháu ạ ông đi!

   Cháu ạ ông đi!

Cún Nam cười toe toét, tay khoanh lại đầu gật gật: ạ... ạ.., đáng yêu vô cùng.

Thắp hương cho Nam xong, hai người ngồi lại với nhau trước bàn thờ.

Pha xong ấm chè mời bạn, Nghĩa cảm thấy dần dần lấy lại được bình tĩnh:

   Anh Hải ạ, tôi nhớ hãy còn nợ anh một vấn đề mà tôi hứa sẽ nói. Đấy mới là lý do tôi mời anh tôi về đây thắp hương cho Nam hôm nay?
   Cứ cho là như thế đi. Đã đến lúc phải điểm lại tất cả những gì chúng ta đã làm sau 30 tháng Tư anh ạ. Hình như có nhiều việc chúng ta đã phạm chung một sai lầm lớn: Có lẽ chúng ta quá tin vào ý nghĩa của thời đại chúng ta đang sống là sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, nên tin rằng dư luận tiến bộ của nhân dân thế giới đủ sức khuất phục các giới cầm quyền trong cái thế giới đang nhâu nhâu chống lại nước ta.

   Anh muốn nói chúng ta đã phạm sai lầm là nhìn bàn cờ thế giới theo ý thức hệ?

   Anh muốn nói thế cũng được. Sự thực là chúng ta nhìn thế giới qua lăng kính cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta chống đế quốc xâm lược, suy nghĩ về thế giới bằng hơi thở của phong trào nhân dân thế giới chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, nhìn nhận thế giới bằng những tình cảm của nhân loại tiến bộ coi việc ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống xâm lược là lương tri của thời đại...

   Bây giờ anh hoài nghi những điều này?

   Không phải thế anh Hải ạ. Song thế giới không phải chỉ có chiến tranh Việt Nam! Thế giới còn rất rất nhiều chuyện khác anh ạ. Tôi nghĩ là chúng ta xem nhẹ tính chất phức tạp của các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau.

   Có thật như thế không?

   Chính trong điều cốt tử này, chúng ta đã không hiểu hết chính mình, không biết rõ người, lại càng không biết chuẩn xác nước ta đang đứng ở đâu trong cái thế giới hỗn độn này anh Hải ạ.

   Hai phe bốn mâu thuẫn, trận tuyến rạch ròi thế sao lại nói là thế giới hỗn độn?

   Câu chuyện nằm ở đấy anh Hải ạ. Chúng ta đo nhìn thế giới bằng con mắt của người chiến sĩ giầu lý tưởng cao đẹp và đang chiến thắng, bằng các giá trị đạo đức của riêng mình.
   Anh định nói là chúng ta quá duy tâm?

   Không phải thế!.. Tôi nghĩ mãi rồi… Toác mặt ra bây giờ mới vỡ lẽ… Chúng ta không thấy hết bốn, năm cuộc chiến tranh khác trong cuộc chiến tranh của chúng ta chống Mỹ xâm lược! Gốc gác câu chuyện là ở chỗ này!

Lê Hải trợn tròn mắt vì kinh ngạc, sau đó lại nhìn Nghĩa chằm chằm.

   Anh không tin? – Nghĩa hỏi lại.

   Tôi hiểu các mặt phức tạp của cuộc kháng chiến của chúng ta, nhưng chưa đi đến suy nghĩ dứt khóat như anh nói.
   Anh Hải ạ, trước hết đấy là cuộc chiến tranh của chúng ta chống Mỹ xâm lược, nó còn là cuộc chiến tranh đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, dưới góc độ nhất định đây còn là một cuộc nội chiến…
 

   Trời đất ơi!.. – Lê Hải thốt lên, nhưng Nghĩa hình như đang bị cuốn hút mạnh mẽ vào những điều mình đang nói nên không để ý thấy.

   Đây còn là cuộc chiến tranh giữa những giá trị khác nhau… Còn là một cuộc chiến tranh “chui” của bên ngoài, như báo chí phương Tây hồi ấy vẫn nói: Có kẻ quyết đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng!... Đã thế cuộc kháng chiến của chúng ta vừa là đỉnh cao của ba dòng thác cách mạng lúc đó, vừa là một trong những đỉnh cao của chiến tranh lạnh giữa hai phe nhưng ba bên Mỹ - Xô – Trung vô cùng rắm rối…

   Ý anh muốn nói khi ra khỏi chiến tranh chúng ta đã bỏ qua hết mọi hệ quả của bốn, năm hay sáu cuộc chiến tranh khác trong cuộc kháng chiến của chúng mình và chỉ nhìn thế giới bằng con mắt của người chiến thắng?


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:08:48 pm
   Vâng… - nghĩ một lúc rồi Nghĩa cả quyết: - Tôi e là như thế! Chính vì hiểu thế giới đơn giản như thế, nên sau 30 tháng Tư chúng ta chậm hiểu nỗi mừng của người này là nỗi lo của người kia, niềm vui của người này là sự căm giận của kẻ khác, thuận lợi đối với anh là thách thức đối với tôi... Cả ở trong nước cũng như trên thế giới... Chính vì những điều oái oăm này, lại thêm niềm vui lâng lâng được thiên hạ coi là lương tri của thời đại, nên chúng ta đã chậm nhìn thấy một sự tập hợp lực lượng mới, phức tạp vô cùng, diễn ra gần như trong một đêm... đã nhâu nhâu chống lại nước ta, ngay sau ngày 30 tháng Tư...

   Sao anh không nói luôn là còn có những quan điểm định thừa thắng xông lên nữa chứ! – Lê Hải nêu lại một nhận định mà cả ông và Nghĩa đã nhiều lần phê phán trong các báo cáo tổng kết của Viện mình.

   Tôi van anh, xin đừng nói giễu nữa!.. Câu chuyện nghiêm trọng lắm, Việt Nam chẳng đang được chụp cho cái mũ tiểu bá là gì!
   Nhưng mà anh Nghĩa, ngay từ đầu Đảng ta vẫn nói cuộc đấu tranh cho độc lập của nhân dân ta gắn liền với đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội cơ mà.
   Ta nói gì cho nước ta thì tha hồ, đấy là việc của riêng nước ta anh ạ. Nhưng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và quan hệ giữa các quốc gia lại là hai chuyện khác nhau. Anh hãy nhìn lại quan hệ Xô – Trung, nhìn lại quan hệ từng cặp trong bộ ba Mỹ - Xô – Trung, nhìn vào bản đồ cả thế giới mà xem...

   Nhầm lẫn là ở chỗ này?

   Còn hơn thế, anh Hải ạ. Từ đỉnh cao vinh quang của một dân tộc đã chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, hầu như trong một đêm chúng ta bị họ biến thành cái bia hứng đạn của biết bao nhiêu là vấn đề thời hậu chiến như anh đã thấy đấy.

   Chẳng lẽ cái thế giới nhâu nhâu này đã thực hiện được ý đồ của họ hả anh Nghĩa? – lúc này Lê Hải mới thực sự lắng nghe những ý kiến của Nghĩa, thôi không nói giễu những chuyện cũ nữa.

   Vâng, ở mức độ đáng kể anh ạ. Chúng ta bị động rơi vào một trận đồ bát quái đã được cài đặt sẵn đúng vào lúc ta vừa mới bước ra khỏi chiến tranh.
   Anh định đổ lỗi cho chiến thắng khiến chúng ta chỉ còn nhìn thấy mình mà không hiểu hết người?
   Có chuyện này, song nghĩ thế vẫn còn hời hợt lắm...

Nghĩa đứng dậy, bỏ dở câu nói, đi đi lại lại một lúc rồi mới nói tiếp:

   Càng ngày tôi mới càng hiểu nỗi đau của Bác viết trong Di chúc về phong trào cộng sản thế giới!
   Tôi hiểu chứ anh Nghĩa! – Lê Hải nói nhưng ngồi không động đậy, mắt nhìn thẳng như đang tìm kiếm cái gì ở phía trước: - Anh không thể tưởng tượng nổi đâu, những năm tháng ấy tôi ở miền Nam... Tôi thấy rất rõ đồng bào ta có nhiều điều ngậm đắng nuốt cay, bặm môi đến tím ruột tím gan.., nhưng vẫn tin vào thắng lợi cuối cùng, vẫn một lòng một dạ gửi gắm niềm tin và lòng biết ơn vào phe xã hội chủ nghĩa... Không tưởng tượng nổi đâu anh Nghĩa ạ.

   Tôi thừa nhận... Hình như khúc quanh co nào của lịch sử cũng đòi cái giá của nó anh ạ...
 

Cho đến lúc tiễn Lê Hải ra về trời đã xế chiều. Tiếng xe ô tô của Lê Hải đi xa rồi, nhưng Nghĩa vẫn bần thần một mình ngoài sân trước nhà.

Văng vẳng đâu đó tiếng rên rỉ của Lễ ...Anh Nghĩa ơi, xin anh hiểu cho em... Con đường em đi đã đi quá nửa cuộc đời, em không thể... Đất nước đã chiến thắng cuộc chiến tranh này, nhưng anh chưa thắng được em...

Gần một tuần sau cái ngày của Lê Hải và Nghĩa gặp viện trưởng mới, báo chí đưa tin Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương chủ động đưa ra sáng kiến bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tại hội nghị này Việt Nam có một tuyên bố riêng về việc rút quân khỏi Campuchia. Dư luận tiến bộ trên thế giới đánh giá đây là cống hiến quan trọng của Việt Nam cho một giải pháp hoà bình vấn đề Campuchia.

Cầm tờ báo có tin trên trong tay, Nghĩa rời phòng làm việc, lấy cái Babetta lọc xọc phóng thẳng đến chỗ Lê Hải:

   Đọc đi! Đọc đi! Ước gì anh và tôi có thể trực tiếp cảm ơn người đã đưa ra quyết định dũng cảm và sáng suốt này!
   Ta thì bao giờ cũng là quyết định tập thể. Có người nói với tôi đi đầu trong việc đề xuất rút quân và tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia là bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ đấy.
   Thật thế không anh Hải?

   Có lẽ thế.

   Ôi nếu tôi được chạy đến bắt tay ông ta!

Vợ chồng Mai-cơn Fốc tổ chức một tiệc nhỏ mừng nhà mới tại ngoại ô San Francisco.

Vợ chồng Lễ và vợ chồng Loan trao đổi với nhau qua điện thoại, cuối cùng đều quyết định nhận lời mời của gia đình Fốc. Loan là chỗ quen biết cũ, không đi không tiện. Còn Lễ lại là người chịu ơn Fốc đã trực tiếp xử lý những trục trặc liên quan đến việc nhập cư vào Mỹ. Buổi liên hoan mang tính chất bạn hữu, nên giấy mời ghi rõ mặc thường phục. Điều này cũng rất thuận tiện, vì đang giữa mùa hè.

Vợ chồng Lễ và vợ chồng Loan hẹn nhau cùng đến một lúc. Họ vốn là người có thói quen đúng giờ, nên mọi việc đều suôn sẻ như đã bàn.

Đến nơi, người giúp việc của nhà Fốc xem giấy mời rồi đưa khách đến chỗ đón tiếp. Đầu tiên khách ngạc nhiên là nhà của vợ chồng Fốc đẹp quá. Đấy là một biệt thự nhỏ, kiểu cách, nằm giữa một khu vườn rộng. Thoáng nhìn người ta biết ngay vườn còn là một sân golf mini. Biệt thự phù hợp cho một cặp vợ chồng quý phái mới cưới nhau hơn là cho một gia đình đông người. Hàng rào là những rặng hoa nhiều màu sắc được tỉa tót chu đáo. Thảm cỏ xanh mướt càng làm cho màu sắc của ngôi nhà nổi lên như tranh vẽ. Cuối vườn là một bể bơi hình bầu dục được cách điệu, bài trí nhã nhặn. Tìm được một biệt thự như vậy ở ngoại ô cái thành phố là thủ đô bang California này thật không dễ, lại phải nhiều tiền nữa ... Trời đã về chiều, ánh nắng vàng nhạt đầy gió biển càng tăng thêm cảm giác dễ chịu cho khách đi dạo trong vườn.

Vợ chồng Lễ và vợ chồng Loan còn đang chưa hết ngạc nhiên về vẻ đẹp của nhà cửa vườn tược ở đây, thì lại ngạc nhiên vì khách đến dự toàn là người Việt, đếm vội đã được hơn ba chục người cả nam lẫn nữ. Lúc này khách vẫn đang tiếp tục đến. Đi dạo, chào hỏi nhau, dần dần Loan và Lễ nhận ra một số khá đông đã cùng sống với nhau tại trại cải tạo B7. Trừ Quách Minh Châu ra, đây là lần đầu tiên Lễ và Loan gặp lại số trại viên B7 cũ kể từ khi nhập cư vào Mỹ. Không biết bao nhiêu điều để hỏi, để kể.

Tiệc đứng được tổ chức ngoài trời.

Diễn văn chào mừng khách được Mai-cơn Fốc đọc bằng thứ tiếng Việt rất sõi và phong phú, chỉ chưa thật chuẩn lắm về phát âm các dấu.

   ... Một lần nữa xin cảm ơn quý bà quý ông đã không tiếc thời giờ vàng ngọc đến thăm tệ xá. Vợ chồng tôi coi đấy là một ân huệ lớn. Các chương trình nhập cư cho quân nhân Việt Nam đã
 

hoàn tất, công việc của tôi ở Camp Dalton kết thúc, tôi quyết định chọn một nghề tự do. Sự có mặt đông đủ của quý bà quý ông càng làm cho vợ chồng tôi tin vào quyết định của mình là chuyển từ Guam về Camp Dalton, rồi bây giờ lại chuyển về làm ăn ở San Francisco. Vợ chồng chúng tôi không phải là tỷ phú, vốn quý nhất của chúng tôi là mối quan hệ bằng hữu với quý bà quý ông và một chút chút tiếng Việt. Giúp đỡ phần nào quý bà quý ông trong đời sống hàng ngày ở đây, trong công việc làm ăn, có lẽ đấy là cách sử dụng tốt nhất bằng tiến sĩ luật của tôi. California là quê hương lớn nhất của cộng đồng người Việt tại Mỹ. Vì thế chúng tôi chọn San Francisco là quê hương cho mình. Tôi hiểu luật pháp và thực tiễn ở nước Mỹ hoàn toàn không giống như ở Việt Nam Cộng hòa của các bạn trước kia. Dân Mỹ chúng tôi có thói quen từ đánh đổ cốc cà phê vào tay nhau cũng có thể mang ra toà đi kiện! Quý bà quý ông lúc này lúc khác không tránh khỏi những vấp váp, những bỡ ngỡ, những điều cần tư vấn. Trong những trường hợp như vậy, xin quý bà quý ông hãy trao niềm tin của mình cho Văn phòng luật sư Mai - cơn Fốc! Ngày mừng tân gia của chúng tôi hôm nay, cũng là ngày khai chương Văn phòng luật sư Mai- cơn Fốc. Xin nâng cốc chúc sức khoẻ quý bà quý ông! Xin nâng cốc cho sự hợp tác và tình bằng hữu giữa chúng ta!
Tiếng vỗ tay. Tiếng chúc mừng.

Không biết do ai cử, Lý Lam, nguyên là thiếu tá, trại viên trại cải tạo B7, cầm lấy micrô thay mặt khách nói mấy lời cảm ơn.

Vợ chồng Fốc đi chúc rượu khắp lượt. Người giúp việc của Fốc bưng theo một khay các quyển sách nhỏ, nội dung giới thiệu các lĩnh vực văn phòng luật của Mai - cơn Fốc có thể tư vấn, môi giới – gần như là thượng vàng hạ cám, từ ly hôn đến khai sinh, khai tử, bảo hiểm, cách tính thuế, kiện cáo dân sự... Cuốn sách nhỏ còn có một số thông tin đáng chú ý, đăng tải một số hoạt động và lĩnh vực kinh tế đang nổi lên ở nước Mỹ, mục quảng cáo giới thiệu một số trường học, hiệp hội ... Sách in đẹp, công phu, như một quyển tự vị con, dễ sử dụng, nội dung phong phú. Mai- cơn Fốc tận tay trao cho từng khách quyển sách nhỏ ấy, nói vài câu xã giao, giới thiệu đôi điều... và cứ thế đi lần lượt khắp vườn.

Đến chỗ vợ chồng Lễ và vợ chồng Loan, vợ chồng Fốc dừng lại khá lâu. Sau trao đổi mấy câu thăm hỏi xã giao, nữ tụ lại đứng thành một nhóm, nam thành một nhóm.

   Từ ngày ông Lễ đến Guam hôm nay tôi mới được hân hạnh gặp lại.

   Vâng, xin cảm ơn đại tá Fốc, nếu không có buổi hôm nay tôi sẽ không có dịp trực tiếp cảm ơn sự giúp đỡ của đại tá.
   Có gì đâu mà cảm ơn. Bây giờ tôi là người dân sự(*)• [(*) Fốc định nói là “dân thường” (civil man). ] rồi. Xin ông gọi tôi là tiến sĩ Fốc.
   Tiếng Việt của ông giỏi quá, ước gì tôi nói được tiếng Anh như ông nói tiếng Việt. – Lễ khen.
   Đấy là nguyên nhân quan trọng nhất khiến ông chuyển về San Francisco? – Loan hỏi.

   Nói chuẩn xác thì không phải là chuyển về, ông Loan ạ. Tôi đã hoàn thành hợp đồng làm việc cũ. Bây giờ tôi làm nghề tự do. Nói chuyện với ông Loan tôi không bao giờ được phép ngủ gật.

   Tại sao thế tiến sĩ Fốc?

   Về đối thoại, ông là bậc thầy của tôi, đại tá Loan ạ. – Fốc vừa nói vừa cười rất ranh mãnh.

   Xin cảm ơn lời khen ngợi của ông. Cả ông Lễ và tôi còn phải cảm ơn ông về một chuyện khác.
   Về chuyện gì thế, thưa hai ông?

   Ông Loan và tôi không ngờ gặp lại nhiều bạn cũ trong trại B7. Nhiều người từ khi chia tay với họ ở Bảo Lộc, hôm nay chúng tôi mới gặp lại.
   Chúng ta vẫn thường nói quả đất tròn mà. Riêng ông Loan và tôi rất có duyên với nhau, đây là lần thứ ba ông Loan là khách của tôi. Có phải thế không đại tá Loan?
   Ông nhớ giỏi quá.
 

   Vì mỗi lần được gặp ông đều có một sự kiện trọng đại khó quên.

   Là những sự kiện gì vậy, tiến sĩ Fốc? – Lễ hỏi.

   Lần đầu tiên là đêm Nô-en B52, lần thứ hai là Trung quốc đánh Việt Nam, và hôm nay là dịp khai trương Văn phòng tư vấn, ông Lễ ạ!

Tai Lễ ù lên, suýt nữa ly rượu buột khỏi tay. Lễ cố thở hít vào thật sâu, cố trấn áp cảm giác nôn nao đến nghẹt thở đang rộn lên. Trong đầu quay cuồng ly rượu B52 của Ngô Du ban cho năm nào… Nghĩ lại, bao nhiêu lần Lễ muốn nôn ra mà không được. Tiếp đến là ký ức về những nỗi lo sợ và thất vọng không sao tả xiết ập vào trại B7 khi nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc.

Lễ nhìn thấy Fốc mồm lắp bắp điều gì đó, nhưng đành đứng yên, không phản ứng gì được.

Câu chuyện bị ngắt quãng đột ngột, Loan phải lấp chỗ trống:

   Gặp nhau ở đây chúng tôi mừng lắm. Tôi còn một số bạn hữu cánh tướng Minh và cánh tướng Mậu tìm hoài không được, cũng không liên hệ được.
   Tôi sẽ để ý giúp ông chuyện này, ông Loan ạ. Ông gợi cho tôi một ý hay đấy, Văn phòng tư vấn của tôi phải tìm cách với tới được những khách hàng này. Một lần nữa cảm ơn hai ông đã tới dự. Mong hai ông coi Văn phòng này là cánh tay nối dài của mình...- Fốc tạm biệt Lễ và Loan rồi quay ra chào Thảo và vợ Loan, tiếp tục cùng với vợ đi chào các đám khác.

Chờ cho vợ chồng Fốc đi khỏi, Loan hỏi Lễ:

   Sức khoẻ anh hôm nay có chuyện à?

   Tôi bị choáng váng một chút, nhưng qua rồi, không sao.

   Ông già Học của anh có con mắt tinh đời.

   Sao tự dưng anh lại nhắc đến chú tôi?

   Anh còn nhớ câu chuyện trong bữa cơm ở nhà hàng La Cigale không? Ông già nói Fốc không thất nghiệp, nghĩa là Fốc vẫn còn làm việc!
   Y tiếp tục công việc với một danh phận mới, hình thức mới?

   Tôi chỉ mới hỏi ướm có phải y chuyển từ Guam về đây không, y đã giãy nảy lên như đỉa phải vôi. Sự nhạy cảm quá mức của y làm cho cách hoá trang của y giảm tác dụng. Y cũng chưa thu phục được cánh tướng Minh và tướng Mậu, mới đụng đến chuyện này là y chuồn luôn.

   Hôm ấy anh nhắc đến Quách Minh Châu và Lý Lam, chú tôi nói ngay: Như thế là biết ai làm việc cho ai rồi!
   Anh Lễ ạ, trí nhớ của anh không đến nỗi tồi lắm. Bây giờ thì chúng ta biết tại sao Lý Lam được cắt cử thay mặt các khách người Việt ta đứng ra phát biểu cảm ơn chủ nhà.
   Chúng ta nói với hai quý phu nhân tạm thả lỏng chúng ta trên bãi cỏ này đi. Anh và tôi sẽ la cà vào các nhóm xem họ nói những chuyện gì.

Loan đồng tình với ý kiến của Lễ. Họ chọn đám đông nhất và huyên náo nhất ở phía góc vườn bên trái, rồi bảo nhau cùng đi tới.

Giữa đường, một người đàn ông lùn mập bắt tay chào Loan:

   Chào đại tá, tôi nghe loáng thoáng biết đại tá ở bang này nhưng không có địa chỉ nên không sao tìm gặp được.
   Trời ơi ông Năm, xin chào ông. Ông sang đây từ bao giờ thế này?

   Được vài năm rồi đại tá ạ, may là tụi tôi đi đường Hongkong sang đây nên tất cả vẹn toàn.

   Ôi, thế thì phải mất nhiều tiền lắm lắm đấy!

   Đúng thế ông Loan ạ.

Loan quay sang Lễ:

   Giới thiệu với anh Hai Lễ, đây là ông Năm Thịnh, chủ khách sạn Eden. Trong khách sạn này có tiệm ăn Trung Quốc nổi tiếng nhất Sài Gòn. Gia đình tôi là khách ẩm thực truyền thống của tiệm ăn này nên trở thành bạn của ông Năm.
 

   Đại tá phải nói suýt nữa thì chúng ta là thông gia với nhau chứ. Xin chào ông Lễ.

   Vâng, đúng thế. Tiếc là con gái ông kén phò mã kiêu kỳ quá.

   Chào ông Năm. Xin lỗi... ông là con má Sáu Nhơn có phải không ạ?

   Ối, ông quen biết gia đình má tôi?

   Dạ, biết sơ sơ thôi ạ. Ông Tư Cương là người giúp việc cho chú tôi cũng là người giúp má Sáu. Trong gia đình má Sáu cho đến nay tôi mới chỉ được hân hạnh làm quen với người con rể thôi.

   Có phải tướng Lê Hải của Việt cộng không ông Hai? - Năm Thịnh hỏi.

   Thưa vâng. – Lễ trả lời.

   Tướng Việt cộng mà lại để cho anh vợ đi lưu vong à? – Loan ngơ ngác hỏi Năm Thịnh.

   Phải đi thôi, không chơi được với họ! – Sự giận dỗi vẫn còn vương đọng trong giọng nói của Năm Thịnh.
   Ông ác cảm với ông Lê Hải? – Loan hỏi.

   Với Lê Hải thì không, nhưng không chơi được với cách đối xử của Việt cộng.

   ...

Ba người này còn đứng hỏi thăm nhau một lúc về tình hình gia đình của nhau, về đời sống hiện tại và hẹn sớm gặp lại. Năm Thịnh cho Lễ và Loan biết đang chạy vốn và tìm người để mở một quán cơm Á. Năm Thịnh còn cho biết đang khổ sở vì bị hai ông anh mình oán trách rủ rê đi di tản. Ba Tước, nguyên là chủ đại lý xe ô- tô Peugeot, không quen với nghề đi làm thuê, nên chọn mấy nghề rồi đều không hợp, gia đình hiện nay sống còm cõi bằng các khoản cứu tế xã hội. Tư Quang, nguyên là chủ hãng dệt thun Liccy, thì cứ đay nghiến Năm Thịnh: Mất cái xí nghiệp dệt thun thì tìm cách khác mà sống, ở nhà thiếu gì cách làm ra tiền, sang đây lạ nước lạ cái, suốt ngày nghe tiếng Mỹ éo éo sốt cả ruột!.. Qua câu chuyện, bây giờ cả Lễ và Loan mới hiểu, cánh Năm Thịnh đi di tản trót lọt là nhờ đường dây của Quách Minh Châu, và nhờ Fốc nên việc nhập cư suôn sẻ.

   Chịu ơn ông Châu, nên tôi tham gia tý chút việc này việc khác và cũng là để được yên thân làm ăn. Nói riêng với hai ông là cánh đàn em của ông Châu nhốn nháo lắm. Ra đây nhiều người cũng chỉ có mỗi cái nghề đánh thuê... – Năm Thịnh tiếng nhỏ tiếng to trước khi chia tay Loan và Lễ.

Chào Năm Thịnh, hai người đi tiếp đến khu vườn bên trái.

Những người ở đây khá ồn ào, không ai để ý đến sự có mặt của Lễ và Loan. Nghe một lúc, Lễ và Loan hiểu đấy là nhóm Phục quốc và nhóm Kháng chiến đang cãi nhau. Nhóm Phục quốc chủ trương đưa người về nước tổ chức phong trào, gây cơ sở, hoạt động phá rối nội bộ cộng sản Hà Nội, chờ thời cơ gây bạo loạn lật đổ. Nhóm này phê phán nhóm Kháng chiến là manh động và chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Nhóm Kháng chiến cho nhóm Phục quốc là nhát gan, bây giờ là lúc tốt nhất xây dựng lực lượng vũ trang đưa về nước chiến đấu, vì cộng sản Hà Nội đang sa lầy trên chiến trường Campuchia và chiến trường biên giới phía Bắc... Đã thế kinh tế Việt cộng kiệt quệ, Nga Xô và cộng sản Đông Âu đổ đến nơi... Nhóm này cho rằng cứ lừng chừng cãi vã nhau thế này, để xảy ra giải pháp hoà bình cho vấn đề Campuchia thì mất cơ hội. Lúc này là lúc dễ đánh đổ Hà Nội nhất!

Càng nghe, Lễ và Loan càng bị đám đông này giữ chân lại. Đám những người này bàn đến những vấn đề quá hệ trọng, oang oang ngay trong vườn nhà người ta mà không cần giữ ý tứ gì cả. Trong đám này chỉ có Lý Lam là người của trại B7 cũ, nhưng Lý lại chỉ đứng nhìn, giữ một khoảng cách nhất định chứ không nhảy vào tranh luận. Điều này càng làm cho Lễ và Loan để ý. Khi các từ ngữ nhiếc mắng nhau được tung ra từ giữa đám người này, thì lập tức một số nắm đấm vung lên. Lý Lam phải xông vào giữa, nói gần như quát:

   Các bậc đàn anh và những người anh em, xin giữ hoà khí! Nếu có ai quá lời một tý thì chẳng qua cũng là do nhiệt huyết chống cộng sản Hà Nội thôi, xin các vị thể tất cho nhau. Các vị cố kiềm chế để đồng tâm hiệp lực chiến đấu!
 

Sự ồn ào lắng xuống, có một người lợi dụng ngay cơ hội này nói rõ to, cái tay giả chém chém trong không khí:

   Tôi nói cho các vị biết, đừng có chê thằng này là nhát gan. Các vị thì biết gì về chiến tranh mà cứ hô hào đánh với đấm!.. Tôi đây này, suýt nữa thì toi mạng ở An Lộc, tôi mới là người có quyền nói chúng ta nên làm gì. Các vị chưa hề biết thế nào là trận mạc, đưa người về đánh đấm như các vị nói ấy à, xin lỗi, chưa kịp đặt chân xuống đất là bị tóm gọn rồi! Các vị chưa biết thế nào là đánh nhau với Việt cộng!..

   Này, đừng có huênh hoang, ở đây không phải chỉ có mình anh là người duy nhất ra trận đâu nhé!..

Sự ồn ào dần dần trở lại. Nhưng sự can gián của Lý Lam phần nào làm cho bầu không khí bớt nóng.

Lễ giật mình khi nghe nói tới An Lộc. Địa danh này gợi đến băng tiểu liên chói tai và cái tát nổ đom đóm mắt của tên lính cụt tay giáng vào Lễ trên đường phố Phạm Đăng Hưng năm nào...

Để ý kỹ, Lễ nhớ lại hình như chính cái gã có tay giả này đã đến nhà ép Thảo và Lễ ký vào lời kêu gọi chống Hà Nội, góp tiền lập quỹ cho cánh Phục quốc... – Lễ rùng mình: Không biết cái tên lính cụt tay tát mình trên đường Phạm Đăng Hưng và tên cụt hung hăng này có phải là một không?.. Bỗng dưng Lễ muốn túm lấy cổ tên này tống một trận cho hả giận, máu như sôi lên trong người. Lễ đã bước lên một bước, bàn tay đã nắm lại.., nhưng rồi buông thõng.

   Bên Tàu ngày xưa có chuyện đào viên kết nghĩa, còn chúng mình ở đây có chuyện vườn cỏ đánh golf tranh hùng!.. - Loan giật giật tay Lễ. Câu nói của Loan nhằm vào đám người đang cãi nhau, nhưng vô tình đụng chạm vào tâm tư Lễ lúc này.

Lễ vẫn đứng yên, không nói không rằng.

   Mọi chuyện của cái đám này như thế là rõ. - Loan kéo Lễ đi tìm đám khác. Trước khi bỏ đi hẳn, Loan khều Lý Lam ra:

   Lại phải có lời khen ngợi ông Lý. Lúc nãy ông thay mặt khách cảm ơn chủ nhà, nói rất mùi, thế mà trong cuộc tranh luận sôi nổi ở đây lại chỉ thấy ông Lý đứng ra giữ hoà khí.

Hồi còn ở trại B7 mọi người vẫn dành cho Lý Lam cái tên ông Lý với hàm ý thân mật và trào phúng.

   Chủ kiến thì có rồi, điều quan trọng là mọi người phải một chí hướng, đại tá Loan ạ. Cứ để cho mọi người tranh luận với nhau cho ra lẽ. – Lý Lam đáp.
   Tôi thấy cái anh đeo tay giả nói hùng hồn lắm. – Lễ nhận xét.

   Một trong những cốt cán của phong trào đó ông Lễ ạ. Anh ta là trung uý Túc, mất một tay khi phòng tuyến An Lộc bị vỡ.
   Đi dạo tôi thấy có khá nhiều anh em ở B7 cũ về dự hôm nay, nhưng trong số những người hăng hái này sao chỉ thấy có mỗi ông Lý?
   Cánh B7 cũ phần lớn trạc vào tuổi ông hay tuổi ông Lễ, có lẽ phần đông họ cũng mắc bệnh cầu an như hai quý ông.
   Những người chí cốt này đã có kế sinh nhai ổn định chưa ông Lý? – Lễ hỏi.

   Đấy là khó khăn lớn nhất của họ ông Lễ à, vì họ ít học quá, không có nghề chuyên môn. Văn phòng tư vấn của chúng tôi sẽ phải chú ý chuyện này, như vậy mới nuôi được phong trào.
   Ông Lý có lý đó, nên như vậy... - Loan tỏ ra thông cảm với câu trả lời của Lý Lam. - ...Thỉnh thoảng có việc gì nhờ chỗ này làm nơi hội họp hay địa điểm liên lạc thì tiện quá phải không ông Ly?

   Chúng tôi rất sẵn sàng, thưa hai ông. Trong sách giới thiệu Văn phòng tư vấn, chúng tôi ghi rõ sự giúp đỡ như vậy là miễn phí đấy.
   Tôi đi tìm khắp vườn mà không thấy ông Quách Minh Châu. Ông Lý chuyển giùm chúng tôi lời hỏi thăm nhé.
   Đại tá Loan thật chu đáo. Anh Châu tôi hôm nay có chút việc phải đi Oa-sinh- tơn. Tôi thấy
 

hai quý ông cầu an quá đó, lẽ ra hai quý ông phải là chỗ dựa cho phong trào.

   Nói thật với ông Lý, tôi chịu ơn ông Fốc rất nhiều, nên mới cố lê cái thân tàn đến đây. Ngoài ra từ ngày đến Cali vợ chồng tôi chưa đi đâu cả. Tôi thì chán đời, nhà tôi thì mang bịnh, chúng tôi chỉ ngày ngày đi chợ mua đồ ăn, rồi vợ chồng ru rú ngồi nhìn nhau ở nhà. – Lễ thanh minh rồi đưa tay ghé sát vào tai Lý Lam: - ...Xin hỏi riêng ông Lý một câu: Cái anh Túc cụt kia đã tìm được việc làm chưa?

   Rồi, thưa ông. Nghề cắt cỏ dọn vườn trong công viên, lương tính theo giờ, tạm sống được. – Lý Lam trả lời.
   Ông Lý ơi, ông định cắt chân tôi để tặng cho trung tá cộng sản Phạm Trung Nghĩa, nên bọn tôi lười đi lại thăm viếng nhau lắm. - Đại tá Loan cũng tìm cách thoái thác.
   Bây giờ anh Nghĩa tôi là đại tá rồi anh Loan ạ. - Lễ bổ sung.

   Nếu thế chúng tôi chịu khó đến thăm hai ông vậy.

Lễ nghĩ trong bụng: ...Thằng cha này xạo quá.

Xe buýt đường dài chạy bon bon trên đường về nhà, nhưng trong tâm trạng Lễ lúc này chồm lên chồm xuống những cảm giác đeo đẳng Lễ suốt buổi tiệc ở nhà Fốc. ...Ly rượu B52, cái tay giả chém chém trong không khí, “chúng tôi sẽ năng đến chỗ hai ông ...” Tai Lễ ong ong tiếng cãi nhau chát chúa sặc mùi sát khí của những người thuộc nhóm Phục Quốc trong vườn nhà Mai-cơn Fốc ... Lễ hai tay ôm đầu, cứ một lúc lại thở dài. Trong tâm trạng chán chường, Lễ thấy hình như hai con mắt của Lãnh trước khi bị bắn chết đang trân trân nhìn mình, có lúc hai con mắt ấy lại hiện lên thành hình ảnh của Mạnh, tai Lễ còn văng vẳng câu hỏi đầy ai oán của Mạnh năm nào... “...Chẳng lẽ đây là cái đích ta sinh ra để đi tới!?.”

... Không mục đích. Không ham muốn. Sống nhờ sống gửi. Sang đến bên này vẫn không thoát khỏi sự quậy phá của bọn ác ôn nhãi nhép... Không thể được! Huệ ơi lúc này con ở đâu! Ba có lỗi với con...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:09:46 pm
Xe bon bon lăn bánh trên đường. Mở mắt ra Lễ đón nhận quang cảnh chung quanh với tâm trạng ghẻ lạnh. Lễ đưa tay kéo cổ áo lên đến mang tai... Cảm giác ghẻ lạnh vẫn nguyên vẹn. Một lúc sau, Lễ cài hết tất cả các khuy áo vét, ngồi ép sát hơn nữa vào Thảo, tay ôm quàng lấy Thảo, mong sao hơi ấm của Thảo có thể bớt được cảm giác ớn lạnh trong người mình... Cùng với năm tháng, tâm trạng ghẻ lạnh này cứ u uất dai dẳng hoài ... Phải sống ở đây, không còn cách nào khác, nhưng sao Lễ thấy xứ sở này vẫn có những gì đó xa lạ, có những cái gì đó không phải là của mình, thiếu những thứ là của mình... Xa xa đâu đó trong ký ức, Lễ đang nói chuyện với mẹ mình, con gái mình, với các anh các chị mình, các cháu, những lời tranh luận bất tận với anh Nghĩa, tâm trạng ghẻ lạnh, bứt rứt trước khi từ giã đất nước... Nhắm mắt lại, tai Lễ lại văng vẳng câu hỏi ai oán năm nào của Mạnh... Nhiều lúc Lễ không phân biệt được đó là câu hỏi của Mạnh hay của bản thân mình, xen lẫn nỗi đau dội lên từng cơn vì mất Huệ... Nhiều lúc Lễ có cảm giác mình đang đi trên con đường dài vô vọng để tìm kiếm con mình, tìm kiếm chính cuộc đời mình... Rồi đến lượt Lễ tự hỏi mình “ ...Sự vô vọng này chẳng lẽ là cái đích ta sinh ra để đi tới?” ...Lễ không thể phân biệt được Mạnh đang hỏi Lễ, hay chính Lễ đang tự hỏi mình...

   ... Anh Nghĩa ơi... Em không thể... - Lễ thốt lên thành tiếng: - ...Anh ơi, ở đây em cũng không thể...
   Coi bộ hôm nay anh bịnh sao? – Thảo lo lắng hỏi chồng.

   Không, anh chỉ thấy trong người bứt rứt làm sao ấy. Có lẽ anh phải đi gặp chú Học sớm...
Anh khổ quá em ơi... Anh không thể...

Thảo một tay ôm xiết lấy chồng, một tay đặt lên ngực chồng, như muốn đỡ cho chồng mình khỏi ngã gục.
Vợ chồng ông Hai Phong vào sống với má Sáu Nhơn khoảng gần một năm thì cũng thu xếp xong cho gia đình con trai mình là Huỳnh Thái Vũ và gia đình con gái mình là Huỳnh Thái Bảo Vân vào sinh sống trong thành phố. Lẽ đơn giản là con cháu không thích sống xa bà nội và bố mẹ. Cái giá phải trả cho việc chuyển vùng là trong số bốn công dân mới này của Thành phố chỉ
 

có một mình Vũ xin được việc làm tại chi nhánh của Artexport – Công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Bộ Ngoại thương(*) [(*) Về sau này đổi thành Bộ Thương mại.] . Chi nhánh đang cần người biết tiếng Anh để tìm thị trường mới, Vũ đáp ứng tốt yêu cầu này. Ba người còn lại chấp nhận tình trạng vừa không có hộ tịch – nghĩa là phải thường xuyên đăng ký tạm trú, vừa phải tìm cách sống bằng nghề tự do, một danh từ với nghĩa là không bị ràng buộc vào tem phiếu, đơn giản là không được cấp. Cái tên nghề tự do là do Bảo Vân tự chọn cho vợ chồng mình và cho chị dâu.

Vợ chồng Vũ có một con trai, lên bốn. Vợ chồng Vân hiếm hoi chưa có con. Tất cả chung sống dưới một mái nhà với má Sáu Nhơn. Cũng may là nhờ có thành tích tham gia cách mạng, nên nhà của má Sáu không bị cải tạo. Ngôi nhà là một biệt thự khá rộng và đẹp, đủ chỗ ở cho cả 4 thế hệ nhà má Sáu.

Điều mà thế hệ trẻ nhà họ Huỳnh khi vào trong này không ngờ tới là cuộc đời bà nội mình có cả một thế giới tuy đã thuộc về quá khứ nhưng chưa được khám phá. Ngoài Bắc, Hai Phong thỉnh thoảng vẫn kể cho các con mình các chuyện về ông bà nội, về gia thế họ Huỳnh. Song khi vào ở hẳn với bà, có lần Vũ đã phải thốt lên với bố mẹ:

   Hình như con thấy chính ba má cũng chưa hiểu biết hết về bà nội!

   Ba thú nhận điều này, vì lúc còn sống ở nhà, ba chưa có ý thức quan tâm đến mọi chuyện ở nhà. Ngày 25 tháng Tám năm Bốn nhăm, Tổng khởi nghĩa thành công ở Sài Gòn, thì ngày 23 tháng Chín bố đã đi vào bưng biền tham gia kháng chiến!..

Đám trẻ ngạc nhiên thấy nhà ông bà nội mình có cả một thư viện nhỏ, có nhiều sách quý. Hầu hết là sách văn học, lịch sử và triết học, một số tạp chí, báo hàng ngày, một số in vào những năm ba mươi (1930) . Một ngăn riêng là chồng đĩa hát cải lương, chữ đã mờ hết nhưng còn rõ nhãn hiệu là cái ảnh con chó ngồi cạnh cái máy hát có cái loa to tướng, bên cạnh là cái máy hát đúng như ảnh in trên các đĩa hát. Các sách báo đều bằng tiếng Việt hoặc tiếng Pháp, tất cả đều in từ năm 1945 trở về trước, được đánh số... Các đầu sách được phân loại và ghi vào fiche. Các fiches được sắp xếp theo danh mục, đặt trong hai ô kéo, một cho tiếng Việt, một cho tiếng Pháp. Lật thử một danh mục, đám trẻ tìm thấy các tên tuổi như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Huy Chú, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Trãi, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Huy Tự, Phan Châu Trinh... Tất cả mọi thứ được đặt trong ba tủ kính, chiếm vừa hết chiều dài của bức tường trong phòng khách. Giữa bức tường bên cạnh là bức hoạ chân dung ông SÁU Nhơn, do một hoạ sĩ bạn ông Sáu vẽ tặng. Bức tranh được vẽ vào thời điểm hãng sơn Geko phá sản, mộng làm báo của ông Sáu tan ra mây khói... Má Sáu thường nói với mọi người đây là kỷ niệm quý nhất của ông Sáu để lại cho bà. Thỉnh thoảng bọn trẻ vẫn thấy má Sáu đọc lại một vài truyện cũ như Chinh Phụ ngâm, Kiều, Tố Tâm, Bướm Trắng.., song cũng có khi thấy má đọc Madame Bovary của Flaubert, Le Rouge et le Noir của Stendhal, Le Père Goriot của Balzac.., mặc dù bọn trẻ không bao giờ thấy má nói một câu tiếng Tây nào với bất kỳ ai. Bọn trẻ càng ngạc nhiên hơn thấy tủ sách của ông nội có gần như trọn bộ La comédie humaine với hơn 90 tác phẩm của Balzac... Trong một tủ kính khác bọn trẻ thấy các sách tiếng Pháp mang tên tuổi các đại văn hào Nga như Tolstoi, Dotojevski, Chekhov...

   Nội hình như rất mê những truyện nội đang đọc? – có lần Bảo Vân hỏi bà.

   Đấy là những truyện ngày xưa ông bà đọc chung với nhau, không chỉ một lần... Thỉnh thoảng nội muốn nhớ lại những kỷ niệm cũ...
   Đọc lại bây giờ nội có thấy hay không ạ?

   Hình như càng về già, đọc lại nội càng thấy hay hơn...

Nhiều lần Vũ hết nhìn mấy tủ sách lại ra đứng ngắm chân dung ông nội mình, cố hình dung những gì được nghe từ bà nội mình kể về ông nội. Có lúc Vũ nghĩ như đang nói chuyện với ông nội mình về một điều thầm kín gì đó.., trong lòng quyết tâm tự học bằng được tiếng Pháp để đọc các sách của ông nội, mặc dù mấy tháng trước khi chuyển hẳn vào trong này Vũ đã theo lớp dạy tự học tiếng Đức.

Có lúc bọn trẻ bắt gặp má Sáu ngồi một mình trầm ngâm hồi lâu trước chân dung ông nội
 

trong phòng khách. Những lúc như thế, chúng lặng lẽ quay trở ra, chân đi rón rén, như thể chỉ sợ đụng vào bầu không khí thuỷ tinh dễ vỡ...

Đôi ba lần, những lúc má Sáu đi vắng, đám anh em Vũ rủ nhau lại ngắm nghía thật kỹ bức tranh ông nội, cố tìm hiểu xem những lúc ngồi một mình như thế bà nội mình nghĩ gì... Mấy anh em đoán già đoán non với nhau chắc bà nội thương nhớ ông nội lắm, ngày xưa chắc ông bà nội phải có mối tình đẹp lắm... Nghĩ thế, nhưng anh chị em Vũ chẳng bao giờ dám hé răng hỏi điều này... Má Sáu kể lại nhiều chuyện xưa, nhưng anh chị em Vũ tuyệt nhiên chưa hề thấy bà nội mình kể về thời son trẻ, nên càng không dám hỏi han gì về chuyện này...

Má Sáu đôi lúc chủ động kể lại những chuyện ngày xưa cho bọn trẻ, nhưng hình như má chỉ làm việc này khi có điều gì đó muốn giảng giải cho chúng dễ hiểu hoặc thấy cần động viên chúng trong một công việc gì khó trong cuộc sống hiện tại...

Năm này qua năm khác ngước nhìn bức tranh mỗi lúc đi ngang qua, đột nhiên Bảo Vân kêu lên:
- Các anh chị ơi, kính của tranh bị nứt vỡ lớn thế này, chúng ta đi kiếm miếng kính khác thay

đi!

- Không được tự tiện!.. Phải xin phép nội trước đã! – Vũ ngăn lại.

Bốn anh chị em Vũ đem việc này ra nói với má Sáu, liền bị má Sáu nói lại gần như gắt lên:

   Các con tuyệt đối không được đụng chạm vào bức tranh này.

   Chúng con chỉ xin thay kính đã bị nứt vỡ thôi ạ! Để thế trông xấu lắm... – Bảo Vân thưa lại.

   Nội đã nói là không được!

   Nhưng kính bị nứt lớn như thế thì tranh dễ bị hư lắm ạ... – Vũ năn nỉ.

   Đấy là một kỷ niệm buồn!.. Các con dứt khoát không được đụng vào bức tranh này!.. – nghĩ một lúc má Sáu nói tiếp: - Ngay cả việc thỉnh thoảng quét bụi, từ nay chỉ một mình mẹ Ngân của các con được phép làm thôi!

Đám anh em Vũ ngơ ngác nhìn nhau... Nhưng lời của má Sáu là mệnh lệnh nghiêm khắc nhất trong nhà...

Má Sáu không thích xem ti-vi, không thích đọc báo, nhưng có thói quen bắt Vũ trong bữa cơm tối phải nói cho má nghe một vài tin tức hay sự việc quan trọng trong ngày.

Một lần, ngồi quây quần chung quanh bàn vào bữa cơm tối, Bảo Vân vô tình kêu lên:

   Nội ơi, ở với nội chúng con thích lắm, nhưng vô công rồi nghề như thế này tụi con sẽ hư mất!
   Làm sữa chua bỏ cho các nhà hàng đâu có phải là một nghề, ai làm mà chẳng được, nội à! – Bích Ngọc hỗ trợ cho em chồng.
   Vân nói chưa thật đâu nội ạ. Không có việc đúng với khả năng mình chúng con khổ lắm! Làm thêm các việc khác thì nội không cho. – Quân, chồng của Bảo Vân thêm vào.

Má sáu Nhơn chỉ ngồi im. Một lúc sau má mới quay ra hỏi đám trẻ:

   Khi nào các cháu xong chương trình đại học Luật và đại học Anh ngữ?

   Cứ theo đà này, chúng cháu dự kiến học một năm nữa là cùng thôi ạ. Nhưng học hàm thụ cho mình, lại không cần bằng, thì xong lúc nào chẳng được ạ? - Quân đáp lại.
   Quân, thời gian quý hơn vàng, nhưng thời cơ nào cũng chỉ có một lần! Đừng bao giờ quên điều này! Như vậy ít nhất các con còn phải đi bỏ sữa chua một năm nữa! Các con nghe rõ cả chưa? – giọng má Sáu nghiêm nghị hẳn lên.

   Eo ơi, nội cưỡng bức tụi con lao động khổ sai mà không có án! – Bảo Vân kêu lên.

   Các con đừng vội đao to búa lớn với nội.

   Nhưng thưa nội, bằng ấy năm đi bỏ sữa chua mà nội vẫn chưa cho là đủ ạ? – Bảo Vân không chịu.
 

   Đừng sợ khổ trước mắt, các con ạ. Khi nào đủ lông đủ cánh, nội sẽ trao cho các con cái gậy thần. Nội sẽ không bao giờ chịu để con cháu mình phải hổ thẹn với mọi người! – má Sáu dịu giọng, cười hiền hoà.
   Ôi, thế thì ngay bây giờ nội vung cái gậy thần lên đi! Chúng con xin nội!..

   Rồi các con sẽ làm không hết các việc đáng làm hơn nhiều!

Không hiểu sao, câu nói vui của má Sáu vừa làm vợi nỗi lo của cả nhà, vừa làm cho không khí bữa cơm nhẹ nhõm hẳn đi. Câu chuyện cơm bữa của cả nhà vẫn là bàn ngược bàn xuôi tính chuyện làm ăn thế nào để có thể sống được trong thành phố đắt đỏ này, nhất là quá nửa số nhân khẩu trong nhà không có tem phiếu vì chưa đủ điều kiện để được nhập hộ tịch.

   ... Miệng ăn sông băng núi lở! Đừng bao giờ ỷ lại vào dành dụm mà ăn không ngồi rồi! - má Sáu thường xuyên nhắc nhở bọn trẻ nhà mình như vậy.

Cuối bữa cơm, Vân sực nhớ ra một việc:

   Ngày mai nhà ta phải nộp bản đăng ký gia đình văn hoá cho phường, trong đó có mục khai học lực từng người, con nghĩ mãi mà không biết nên khai như thế nào!
   Bọn mình chưa hộ tịch cũng phải khai hả em? – Bích Ngọc, vợ Vũ, hỏi lại em chồng.

   Người ta bảo khai tuốt chị ạ. Hộ tịch lại là chuyện khác!

   Đem ra đây đọc cho cả nhà nghe, có gì mà lúng túng thế con? – ông Hai Phong giục Vân. Vân rút ngăn kéo dưới bàn, cầm lên một cuộn giấy, vừa mở ra vừa nói:

   Con khai như thế này, con xin đọc ạ:

Anh Vũ, Huỳnh Thái Vũ, đại học ngoại thương, đại học ngoại ngữ, mở ngoặc, tiếng Anh, đóng ngoặc.

Chị Ngọc, Lưu Bích Ngọc, đại học nông nghiệp.

Anh Quân, Phạm Đình Quân, đại học bách khoa, mở ngoặc, chế tạo cơ khí, đóng ngoặc.

Con, Huỳnh Thái Bảo Vân, đại học xây dựng.

Má, Lương Thị Ngân, đại học dược, đã nghỉ hưu.

Ba, Huỳnh Thái Phong, đại học chính trị, đã nghỉ hưu...

Ông Hai Phong ngắt lời Vân:

   Không được, sao lại ghi thế Vân?

   Nhưng ba có học trường đại học nào đâu ạ, mà cả nhà này ai cũng đại học cả. Ba chỉ có giấy chứng nhận học chính trị tại trường Nguyễn Ái Quốc, con cứ cho là tương đương với đại học đi, nên con ghi đại như vậy ạ.

   Người ta đòi ghi học lực cơ mà, chứ có đòi ghi trình độ chính trị đâu! Không ổn! Dứt khoát không ổn!.. - ông Hai lắc đầu nguây nguẩy. - ...Đọc tiếp đi!
   Vâng, con xin đọc tiếp. Nội Sáu Nhơn. Học lực của nội: bà của đại học ạ!

Đến đây cả nhà phá lên cười.

   Vân con, sao lại giễu nội như vậy? – má Sáu Nhơn cũng cười theo.

   Con không biết ghi như thế nào, nhưng một mình nội đã dựng lên bao nhiêu cơ nghiệp như vậy thì rất đáng là bậc bà của đại học ạ!
   Út Vân nói có lý đấy má. - ông Hai Phong nói với má Sáu. - ...Má xem đại học mẹ đại học con, cả bốn năm cái bằng đại học của nhà này cộng lại có địch nổi má không!

Cả nhà nhao nhao đồng tình với ông Hai Phong. Bà Hai Phong rất thích cách ví von này, cứ nói đi nói lại:

   Phải phong cho má cái bằng bà của đại học mới đúng! Con thông minh lắm, Bảo Vân ạ...

Vũ hưởng ứng ý kiến của mẹ:

   Ngôn ngữ ta phong phú thật má ạ. Về học lực chúng ta có các cấp bậc: tốt nghiệp đại học,
 

trên đại học, sau đại học, bà của đại học!

   Em sẽ đi đăng ký bản quyền tác giả về học vị “bà của đại học”, nghĩa là trên cả master, trên cả “Ph. D”. - chồng của Vân tham gia ý kiến.
   Nhưng bản quyền đăng ký phải đứng tên Huỳnh Thái Bảo Vân! Không được đứng tên anh, anh Quân nhé!
   Nội của chúng ta thật là tuyệt vời, có phải thế không các con...

   Nhưng con đề nghị hôm nào nội trao cho chúng con cái gậy thần thì chúng con mới trao bằng cho nội ạ! – Vân chưa chịu ngay ý kiến của mẹ.

Bữa cơm tối thường là giờ phút vui vẻ nhất trong ngày ở nhà bà Sáu. Cả nhà đoàn tụ, nói về không biết bao nhiêu thứ chuyện trên đời. Cũng có thể giàu trí tưởng tượng và tính hài hước, chuyện gì chung quanh bàn ăn cũng rôm rả và nhiều tiếng cười. Tối hôm nào con của vợ chồng Vũ không đi ngủ sớm, thì mọi câu chuyện lại tập trung vào chú công dân tý hon này.

Riêng ông Hai Phong đôi lúc vẫn đượm một vẻ buồn khó giấu diếm, mặc dù ông rất có ý thức gìn giữ không khí lạc quan trong nhà.

Đã có lần bà Hai Phong hỏi chồng:

   Anh bớt hen so với hồi còn ở Hà Nội mà sao vẫn ốm thế.

   Về già không mập càng tốt chứ sao.

   Anh cũng không chịu khó ăn nữa! Hay là hàng ngày em nấu gì thêm để anh bồi dưỡng nhé?

   Khỏi cần em ạ. Anh cảm thấy trong người vẫn bình thường.

   Nhưng hồi này anh buồn buồn thế nào ấy.

   Không có chuyện gì đâu, em đừng lo...

Một lần chỉ có hai mẹ con ở nhà, má Sáu hỏi Hai Phong:

- Con vẫn còn tâm tư vì câu nói của em Năm con, có phải không? Nói thiệt cho má nghe đi!

Hai Phong lúng túng như người làm điều gì vụng trộm bị bắt quả tang, ngẫm nghĩ một lúc mới nói được với mẹ:

   Má rất hiểu con.

   Sao con để bụng lâu thế?

   Con vẫn thương yêu tất cả các em các cháu. Con có giận gì Năm Thịnh đâu ạ.

   Thế sao con buồn?

   Má ạ, so với cả nước gia đình ta vẫn là có nhiều may mắn lớn. Nếu má so với những mất mát của gia đình Lê Hải!.. Trong chiến tranh má đã mất Út Thạnh và bé Thơ. Kháng chiến thắng lợi, ai cũng mong các thương đau sẽ se dần lại. Thế mà nhà ta bây giờ kẻ ở người đi, bỏ nhau nửa vòng trái đất!..

   Nhiều đêm má nhớ chúng hoài, nhưng chẳng biết làm thế nào! Má đã khóc rất nhiều về mẹ con Út Thạnh. Má không muốn khóc nữa! Hôm ba gia đình chúng nó dắt díu nhau đến chào má, tất cả quỳ xuống lạy sống má. Má dắt từng đứa đứng dậy. Đứa nào cũng khóc. Má hiểu tất cả, nhưng lúc ấy má cố không khóc. Trong lòng má vừa khấn trời Phật có cách gì giữ chúng lại, vừa cầu mong cho chúng thoát mọi hiểm nguy dọc đường...

   Con rất thương Năm Thịnh, vì nó bị giày vò nhiều nhất.

   Năm Thịnh là con người hào hiệp nhất trong số anh em con. Nó đã vì ai thì không nề hà bất cứ điều gì. Chỉ có điều nó rất trực tính và lúc nào cũng đùng đùng như lửa. Chống ai là nó đốp chát liền! Nó giống ba con như đúc cái tính này!

   Chính vì thế con càng bứt rứt...

   Má hiểu! Cắn răng lại mà chịu đựng. Rồi má sẽ nói cho con rõ thêm về cái lẽ mất còn ở đời này. Bây giờ là sống cho lũ trẻ, con hiểu không? Con chịu đựng như thế ăn nhằm gì so với má?!

Ông Hai Phong chết lặng.
 

...Câu chuyện đã mấy năm rồi, thế mà ông Hai Phong cứ tưởng như vừa mới xảy ra, cách đây vài giờ, vài phút ... Thực ra lúc nào đó nguôi ngoai được chốc lát thì thôi, hầu như ngày đêm ông đang sống với bao chuyện đau lòng trong gia đình mình... Ngay trong ông là một cuộc đấu tranh không dứt, giữa cái phải và cái ông không tài nào coi được là phải, giữa cái ông cho là đúng và cái ông dứt khoát coi là sai, giữa những điều mình tin và những điều mình không tin, giữa một bên là chân lý mình đã gửi gắm cả tâm hồn và cuộc đời mình và một bên là những điều ông không bác bỏ được nhưng không thể nào chấp nhận được... Lại thêm sự hành hạ của bệnh tật.

Điều lạ lùng là người mà ông dám bộc bạch được nỗi lòng mình lại chính ông Ba Khang, người giúp việc của má Sáu, và ông Tư Cương -- cũng kể như người nhà... Ngoài ra ông Hai Phong không dám thổ lộ với ai tâm trạng mình, ngay cả đối với mẹ mình. Có thể mọi người ruột thịt trong nhà đều có cách nghĩ khác ông...

... Ôi, có lẽ tất cả chỉ vì bao nhiêu năm trời xa cách!.. Lại sống dưới hai chế độ khác nhau!.. - ông Hai Phong nhiều lần tự than vãn với mình như thế và ôm nặng cho riêng mình nỗi bế tắc trong lòng...

Nhưng ông Ba Khang và ông Tư Cương lại bày tỏ sự thông cảm nào đó với ông, lúc này lúc khác cố giúp ông hiểu những điều ông chưa thể hiểu được về má Sáu, về các em trai mình...

Ông Ba Khang kể lại rành rọt lắm, bộc bạch rõ cả nỗi chua xót của lòng mình... Ông Hai Phong nhớ hết cả...
...Khi được Ba Khang và Bảy Dự báo cho biết hãng xe đò Cánh Nhạn của má Sáu sẽ bị cải tạo theo chính sách của nhà nước, má Sáu trở về phòng riêng của mình, đóng cửa suốt gần một ngày, không cho ai bén mảng tới ... Đến giờ ăn, người giúp việc mời má Sáu sang phòng ăn, cũng bị má Sáu đuổi phắt đi. Ông Ba Khang sợ quá, chạy về nhà bảo vợ mình sang tìm cách hỏi thăm, an ủi má Sáu... Bà Ba Khang cũng bị má Sáu đuổi đi, một chuyện chưa hề xảy ra kể từ khi ông bà Ba Khang làm việc và thân quen với nhà này...

Không còn cách nào khác, vợ chồng ông Ba Khang và Bảy Dự ngồi chờ suốt buổi ngay trước cửa phòng má Sáu... Điều oái oăm và khổ tâm nhất cho Ba Khang và Bảy Dự là cả hai đều dựa vào gia đình bà Sáu Nhơn để hoạt động bí mật khi Sài Gòn chưa được giải phóng, cả hai lại đều là thành viên trong ban cải tạo xã hội chủ nghĩa của thành phố, cả hai quá biết gia đình bà Sáu là như thế nào... Nhưng đây là chính sách chung của cả nước, biết làm sao bây giờ...

Khi trời tối hẳn, mọi người thấy má Sáu mở cửa bước ra.

Dưới ánh đèn điện má Sáu trông phờ phạc như vừa phải trải qua một chuyến đi xa rất vất vả, nhưng vẫn giữ được dáng đi khoan thai... Má không nói không rằng, chỉ giơ tay ra hiệu mời mọi người vào phòng làm việc.

Khi mọi người ngồi vào bàn, má nói ngay:

   Ông Ba và cậu Bảy nói thế là tôi rõ cả rồi. Giải phóng muốn như vậy thì hãy để cho Giải phóng thử làm như vậy!.. Để rồi xem sao... Tôi giao mọi việc cho ông Ba. – má Sáu có thói quen gọi chính quyền mới là Giải phóng.

   ???...

   Mọi người vẫn chưa hiểu ý tôi? - má Sáu hỏi lại.

   Xin bà Sáu nói rõ ra... - ông Ba Khang thận trọng.

   Tôi nhắc lại, từ hôm nay trở đi ông Ba không còn là người làm thuê cho tôi nữa! Tôi giao cho ông Ba thay mặt tôi giúp Giải phóng thực hiện tốt cải tạo xã hội chủ nghĩa hãng xe đò của nhà này!.. Tôi đã dám đem tính mạng mẹ con bà cháu chúng tôi che chở cho cách mạng, cái hãng xe đò Cánh Nhạn này sá gì... Như thế rõ chưa? – má Sáu cố ý nói rành rọt, có phần nào đay nghiến mấy từ cải tạo xã hội chủ nghĩa.

   Dạ, rõ rồi ạ. - ông Ba Khang run run đáp lại, trong câu nói của ông hình như rơm rớm nước
 

mắt.

   Nhưng - bà nói với Ba Khang và Bảy Dự - chắc chắn các con trai tôi thì khác đấy!

   ...

Điều may mắn duy nhất là má Sáu không phải dự một buổi họp nào để học tập về chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ba Khang và Bảy Dự đã dốc hết sức can thiệp bằng được với Thành phố tránh cho má Sáu cực hình này, đến mức có lúc cả hai phải cùng lên tiếng: nếu yêu cầu này không được đáp ứng, cả hai sẽ xin ra khỏi Ban cải tạo, bị kỷ luật thế nào cũng sẵn sàng chịu...
Tuy nhiên, cũng có một sự cố xảy ra: Một hôm Hai Hân, vốn là công nhân xưởng in tham gia hoạt động bí mật, cũng là thành viên trong Ban cải tạo, cùng với hai người nữa đùng đùng kéo đến nhà má Sáu đòi khai báo tài sản... Má Sáu thẳng thừng:

   Các ông không có tư cách gì vào nhà chúng tôi, mời các ông về cho. Còn muốn nói chuyện cải tạo xã hội chủ nghĩa thì nhờ các ông mời giùm ông nào to nhất của Thành phố hay của cải tạo đến đây. Tôi không muốn nói chuyện với các ông!

   Bà không được hỗn láo với chính quyền cách mạng!

   Xin chào các ông. – dứt lời má Sáu bước vào nhà trong.

Nhưng cả ba không chịu về, còn nặng lời hăm dọa...

Má Sáu bỏ mặc họ ngồi một mình và sai người nhà đi tìm bằng được Ba Khang và Bảy Dự về...

... Rồi câu chuyện xảy ra khoảng ba năm sau còn gay cấn hơn...

Thời kỳ ấy ông Hai Phong vào lúc đang ốm nặng, thế mà cũng phải khẩn cấp thu xếp mọi việc thuốc men xin ra viện để vào Thành phố. Bà Ngân vợ ông phải đi cùng chồng, vì không dám để ông một mình đường trường mấy ngày liền. Mọi công việc ở Hà Nội ông bà Hai Phong phải giao hết lại cho các con mình là vợ chồng Vũ và vợ chồng Bảo Vân...

...Ông Hai Phong nghĩ bụng sống thì nhớ đời, chết mang theo, chứ không làm sao có thể quên được những buổi tranh luận lúc day dứt, lúc gay gắt mấy ngày liền giữa bốn anh em ông, có má Sáu cùng dự. Bà Ngân và ba người con dâu khác đều không được can dự vào câu chuyện...

Câu chuyện bấy giờ chỉ xoay quanh vấn đề đi hay ở của ba gia đình các em trai ông là Ba Tước, Tư Quang và Năm Thịnh... Thỉnh thoảng câu chuyện mới đụng đến vấn đề cải tạo, cũng chỉ là để làm rõ chuyện đi hay ở...

... Ông Hai Phong mấy ngày liền tìm mọi lý lẽ thuyết phục các em mình nên ở lại, nhưng vô ích. Ông càng giải thích, cả ba em ông càng bác bỏ quyết liệt hơn. Gay gắt nhất vẫn là Năm lửa – cả nhà gọi ông Năm Thịnh bằng cái tên nói lên đúng tư chất của ông này.

   Anh hãy nghĩ cho kỹ đi anh Hai! Em xin anh đấy... Nhà này có con đi làm cách mạng là chính anh đấy! Nhà này còn nuôi cách mạng mà vẫn bị đối xử như vậy... Thế còn những gia đình thường dân khác thì sao? Những gia đình trước đây đứng về phía chính quyền Sài Gòn thì sao?

   Chiến tranh mới kết thúc mà.. Rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó... – ông Hai Phong đã cạn hết lý lẽ...
   Không phải là chuyện mới kết thúc! Mà là chuyện ăn cháo đá bát! Anh có hiểu không? – ông Năm Thịnh bốp chát lại ngay tức khắc.
   Không được nói xấu cách mạng! – Hai Phong vung tay, giận giữ.

   ...
Có những lúc câu chuyện tắc nghẽn hàng giờ, vì ông Hai Phong không biết giải thích sao cho
thủng, còn các em trai ông chán không buồn nói chuyện với ông nữa, xoay ra chụm lại bàn với

nhau quyết tâm ra đi... Họ tính toán bây giờ còn đủ tiền làm việc này...

Mấy ngày liền má Sáu ngồi yên. Má chỉ lẳng lặng nghe các con mình bàn cãi, không hé răng nói một lời, nhưng đau khổ và sự căng thẳng lộ rõ trên nét mặt má...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:10:49 pm
Rồi sau khi lắng nghe các con cãi vã suy tính đến hết lẽ, má Sáu đứng dậy, tự tay đi rót nước cho các con mình, rồi chậm rãi nói:

- Các con uống nước đi – má Sáu cũng uống một ngụm.

Cả gian phòng vẫn im lặng, nhưng bây giờ là sự im lặng căng thẳng trong chờ đợi.

   Các con à... Lý lẽ bàn với nhau như thế là hết nước hết cái rồi đấy. Bây giờ các con nghe ý kiến của má... Hai Phong này, má nói với con trước, như thế là cầm chắc các em con không thể sống được ở đây, giữ các em con lại chẳng khác nào đem lửa dìm trong nước. Bà quay sang Năm Thịnh. Con không được hỗn với anh Hai, nghe chưa?

   Dạ, con xin má! Em xin lỗi anh Hai!.. – trong khi nói Năm Thịnh hai tay đưa ra trước mặt, chắp vào nhau, mặt gần như mếu.
   Ba Tước, Tư Quang, Năm Thịnh, má hiểu lòng các con... Má đẻ các con rứt ruột ra, chiến tranh đã mấy chục năm rồi... Không có người mẹ nào lại còn muốn xa con cháu mình nữa... Má cũng vậy... Nhưng má rất hiểu các con khó có thể sống trong chế độ này... Không thể ở lại với má, – má Sáu nghẹn ngào, không nói tiếp được nữa...

Má cố đứng dậy, đi chung quanh bàn, nhìn kỹ từng người, ôm từng người vào ngực mình.., như thể lâu lắm má mới gặp lại các con mình.., cũng như thể má cảm thấy có lẽ sẽ sắp mất các con mình...

- Bây giờ đi hay ở, má cho phép các con tự quyết định!

Ông Hai Phong giật nảy người như sét đánh ngang tai... Ông định nói điều gì, nhưng chỉ ú ớ được mấy tiếng gì đó, hai mắt mở to nhìn mẹ mình...

   ... Má cho phép, và má bắt các con phải tự quyết định! Ba Tước, Tư Quang, Năm Thịnh, nghe rõ chưa? – Má Sáu gọi tên con mình.
   Chúng con rõ rồi ạ...

   Chúng con rõ rồi ạ...

   Các con phải tự quyết định, vì các con phải sống cuộc sống của mình để làm tròn trách nhiệm làm cha làm mẹ... Đi hay ở thế nào cũng được, nhưng phải bảo toàn tính mạng và phải lo cho tương lai đám trẻ!..

   Thưa má, chính vì thế...

Má Sáu không để cho Năm Thịnh nói hết câu:

   Trách nhiệm của các con đối với mười một đứa cháu của má đấy! Má giao tụi nó cho các con... Các con nghĩ kỹ đi... Má đã mất Út Thạnh, má đã mất bé Thơ rồi, má không muốn mất thêm ai nữa!.. Các con hiểu không?.. Các con phải tự quyết định!.. Trời đất ơi... các con phải tự quyết định!.. – má Sáu vừa nói vừa nấc lên.

   Trời ơi má! – ông Hai Phong kêu lên.

   Các con hãy cố hiểu lòng má!

Tất cả bốn anh em ông Hai Phong chạy lại ôm lấy mẹ, cùng nhau dìu mẹ mình về phòng nghỉ...

Ngay ngày hôm sau ông Hai Phong bảo vợ thu xếp cho mình trở ra Hà Nội, phần vì không chịu nổi gánh nặng tinh thần như vậy, phần vì bệnh hen lại lên cơn nặng, không thể xa bệnh viện mãi được ... Nhưng trong thâm tâm ông Hai Phong hy vọng các em mình sẽ không dám bỏ mẹ ở lại một mình... Bước đường còn lại duy nhất, với hy vọng mong manh có thể níu kéo không cho các em mình đi di tản...

Những ngày tiếp theo, đại gia đình họ Huỳnh tại Sài Gòn cũng như ngoài Hà Nội cứ như là những ngày có đại tang trong nhà ...

Bẵng đi một thời gian, rồi một hôm ông Ba Khang được má Sáu phái đi Hà Nội để nói cho ông Hai Phong biết các gia đình ba em trai ông đã ra đi, sống chết thế nào không rõ...

Ông Hai Phong vật vã, ốm lên ốm xuống mất mấy ngày.
 

.

..Cả mấy tháng nay, có những buổi sáng má Sáu như có việc gì vội vã. Má chỉ ăn sáng qua quít xong là gọi ngay xích lô đi nơi này nơi khác, thường đến bữa trưa mới về nhà. Đôi khi má đi đến tận chiều, những hôm như vậy má đều dặn trước bà Ngân, vợ Hai Phong. Có hôm má còn kêu cả ông Ba Khang và ông Tư Cương đi cùng, bàn với hai ông nhiều việc nhưng cả nhà vẫn chưa rõ má bàn những việc gì.

Vốn hiểu tính mẹ, ông bà Hai Phong không bao giờ dám hỏi má đi đâu hay làm gì. Còn vợ chồng Vũ và chồng Vân rúc rích với nhau:

   Chắc chắn nội của chúng ta đang đi tìm chiếc gậy thần...

   Nhưng hình như nội chưa tìm thấy!..

Riêng đám trẻ, mới vào Thành phố được ít lâu, má Sáu đã giao cho nhiều loại việc đặc biệt, dưới cái tên chung là thâm nhập thị trường và tìm hiểu cách làm ăn ở Sài Gòn. Cách thực hiện là cả nhà xoay trần ra làm sữa chua đem bán cho các nhà hàng, các bếp ăn, nhà trẻ, bệnh viện, rải ra một số quận.., công việc vừa khó, vừa mệt nhọc. Riêng Vũ vì đi làm ở cơ quan, nên hàng ngày phải đi sớm hơn nửa giờ và về muộn hơn nửa giờ để bỏ sữa cho các nhà hàng, lượm các hũ không về, còn mọi việc khác đều được miễn. Lâu lâu má Sáu lại tìm hiểu xem đám trẻ đã thành thạo đến mức độ nào, bảo chúng nên làm quen thêm nơi này nơi khác, bắt tìm hiểu thêm chuyện này chuyện khác... Hầu như tuần nào má Sáu cũng truy hỏi bọn trẻ, xem chúng đã học thêm hay biết thêm được điều gì trong khi đi bỏ sữa chua ... Điều bọn trẻ hơi lạ là chẳng bao giờ thấy má Sáu hỏi chúng sữa chua bán được nhiều hay ít...

Má Sáu quy định: Bốn buổi tối trong một tuần tất cả đều phải học, theo chương trình riêng của mỗi người, nhưng tất cả đều phải học thêm tiếng Anh. Các buổi tối khác được nghỉ. Vũ được giao nhiệm vụ tổ chức, quán xuyến việc học tập của cả nhà. Quân được giao nhiệm vụ chăm lo cho gia đình có một thư viện riêng thiết thực phục vụ yêu cầu kinh doanh lớn sau này, má Sáu không bao giờ tiếc tiền cho việc này. Quân không ngờ bà mình vẫn còn nhiều tiền và có cách chi tiền khác người như vậy. Sự hiểu biết của bà nội về kinh tế, nhất là về thương mại còn làm cho Quân ngạc nhiên hơn nữa. Có quyển sách hay tạp chí nào mới, bà thường bảo Quân đọc lướt thật nhanh rồi thuật lại cho bà nghe. Có lúc nghe xong, bà biểu đọc thật kỹ rồi kể lại. Má Sáu là tổng chỉ huy của tất cả những việc này. Nhiều lúc bọn trẻ há hốc mồm thán phục những nhận xét, những phán đoán của má Sáu về những gì diễn ra trong Thành phố...

Nhờ trời, bà Ngân là người khoẻ mạnh và tháo vát. Một tay bà trông nom trông nom cháu nội để bớt công việc cho vợ chồng Vũ, một tay chợ búa cơm nước cho cả nhà, còn chăm lo sức khoẻ má Sáu và cho chồng. Có lúc ông Hai Phong phải nói với bà:

   Ngân ạ, trong nhà mình bây giờ giỏi lắm thì anh cũng chỉ làm được cái chân sai vặt!

   Cứ mong anh đừng ốm, là mẹ con bà cháu em mừng lắm rồi! – bà Ngân đáp lại.

Người bất ngờ nhất về tài sắp xếp công việc và khả năng nhạy bén với thị trường của má Sáu không phải ai khác mà là Hai Phong. Ông không thể ngờ mẹ mình ở tuổi ngoài bảy mươi mà nhận xét về kinh tế thật sắc sảo, lúc giảng giải cho Hai Phong nghe vì sao khan hiếm mặt hàng này, lúc cắt nghĩa cung cách làm ăn hiện nay khiến tiền càng đuổi theo hàng, tiền càng mất giá...

Má Sáu mất hết cả cơ ngơi, lại phải xa các gia đình Ba Tước, Tư Quang, Năm Thịnh, nhưng được bù lại là bây giờ má có vợ chồng con cháu gia đình Hai Phong ngay trong ngôi nhà do chính tay vợ chồng má gây dựng nên. Cũng có thể vì quen với thăng trầm trong cuộc đời kinh doanh, cũng có thể là nhờ bản lĩnh được thử thách, má Sáu vẫn giữ được tâm trạng bình tĩnh trong những năm sau cải tạo tư sản, sớm tìm được niềm vui mới trong việc giúp đỡ gia đình các cháu nội của mình, gia đình ông Tư Cương, gia đình ông Ba Khang và nhiều người khác. Má còn tham gia đều các hoạt động xã hội khác.

Bản thân má Sáu là bà mẹ nuôi cách mạng hiểu theo bất kỳ khía cạnh nào của danh hiệu cao quý này. Con gái má, Út Thạnh, được công nhận là liệt sĩ. Con trai má, Hai Phong, trước khi tập kết ra Bắc đã là bí thư tỉnh uỷ. Con rể má là tướng Lê Hải. Sau giải phóng, vào những dịp kỷ
 

niệm trọng thể ngày 30 tháng Tư, má vẫn được mời lên ngồi hàng ghế danh dự trong buổi mit-tinh của thành phố. Có buổi lễ, người lên phát biểu còn kể lại những chuyện năm sáu năm ròng các xe ca chở khách Cánh Nhạn là những con thoi tin cậy đưa tin đi tin về, đưa cán bộ ra vào thành phố, tiếp tế thứ này thứ khác cho cách mạng ... Hồi đó mỗi ngày có đến một vài trăm lượt khách đi về trên các xe ca của hãng Cánh Nhạn. Tuyến dài đi từ thành phố đến các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ. Tuyến ngắn đi từ thành phố đến một số vùng lân cận phía Bắc. Mạng lưới mật vụ của Sài gòn gần như chìm nghỉm trên các tuyến xe đông người này. Trong những ngày 28, 29 và sáng 30 tháng Tư năm 1975, toàn bộ xe ca của hãng Cánh Nhạn trên các tuyến Long Thành, Trảng Bom, Đồng Dù được huy động để tham gia vào một việc duy nhất: Chuyển quân ta trên đường tiến về Sài Gòn...

Một lần, vào buổi sáng, có chiếc xe ô -tô đỗ xịch trước nhà má Sáu. Từ trong xe bước ra là một người cao lớn, quắc thước. Đi cùng là một người trẻ, mặc thường phục, chắc anh ta là sĩ quan bảo vệ, vì ở thắt lưng có bao súng nhô lên dưới áo sơ - mi. Ngoài ra còn một người nữa, mảnh khảnh, trông có vẻ trí thức, chắc anh này là thư ký hay trợ lý gì đó.

Người sĩ quan bảo vệ giới thiệu với má Sáu:

   Thưa má Sáu, con xin giới thiệu đây là chú Tám Việt. Chú hỏi thăm mãi mới biết má ở đây. Hôm nay chú tám đến thăm má.
   Xin chào bà. Bà là má Sáu Nhơn ạ?

   Vâng, Sáu Nhơn là tôi. Rước ông vào nhà. Chào hai anh.

Qua nước nôi, chuyện trò thăm hỏi một lúc, chủ và khách mới hiểu biết thêm về nhau. Má Sáu từ lâu đã từng nghe đến tên tuổi ông này, song má vẫn coi như mình không biết.

Ông Tám Việt là cán bộ lãnh đạo cao cấp, nhiều người ở miền Nam biết tiếng suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Vì lý do bảo mật để dễ đi lại hoạt động, ông có nhiều tên gọi hay bí danh khác nhau. Có cơ sở biết ông là Tám Vinh, có vùng lại biết ông là Năm Vượng, địa phương Vũng Lái lại gọi ông là Chín Vân... Ông Tám Việt tìm đến nhà má Sáu Nhơn để cảm ơn về việc một chiếc xe đò của má đã cứu ông thoát nạn.

Ông kể lại, hôm ấy mật vụ Sài Gòn ập đến chỗ náu của ông ở Gò Vấp. Đi họp về còn cách một phố nữa thì đến nhà, cơ sở báo cho ông phải trốn đi ngay. Ông đổi hướng đi, gọi xích lô ra thẳng bến xe miền Tây, nhảy lên một chiếc xe đò đông nhất. Đó là chiếc xe của hãng Cánh Nhạn chạy tuyến Sài Gòn – Cao Lãnh. Ông đủ thời giờ cải trang ngay trong xe, nhưng ngặt nỗi xe vẫn phải chờ trong bến, vì chưa đến giờ chạy. Ông chỉ lên khăn tang trên đầu ông vừa mới đội lên ở trong xe, van nài người lái xe cho chạy sớm để còn kịp về đưa ma ở quê. Nhưng người lái xe nhất định từ chối. Ông càng vật nài to tiếng hơn. Anh ta nhận ngay ra cách chít khăn tang của khách, nói rõ to cho cả xe nghe thấy:

   Không được bố già ạ. Xe hãy còn chỗ và chưa đến giờ chạy, làm sai con không đủ lương đền đâu!

Ông Việt càng năn nỉ, người lái xe càng giận giữ, càng to tiếng, có lúc gần như muốn đánh nhau với ông Việt. Anh ta loay hoay ngó nghiêng tìm kiếm vật gì, mồm doạ dẫm đánh đòn. Chờ lúc thuận tiện, người lái xe nói thầm rất nhanh sát vào tai ông Việt:

- Chú cứ ngồi xuống cuối xe, mọi việc con lo.

Xe đã rú ga, bắt đầu lăn bánh, một hành khách không biết từ đâu chạy đến đấm cửa rồi nhảy vọt lên. Người này rất ngang ngược, hết chiếm chỗ ngồi của người bên cạnh anh ta, ngó ngó nghiêng nghiêng lại bỏ đi chiếm chỗ của người khác. Ai không chịu, anh ta to tiếng, thậm chí còn bạt tai người ta. Ngồi chỗ nào y cũng dòm ngó từng người chung quanh. Cứ lần lần như thế, xe chưa ra khỏi bến được bao lâu mà y đã chiếm được một chỗ ngồi gần giữa xe.

Tự nhiên xe đổi hướng, đi sát vào một trạm cảnh sát dọc đường rồi đỗ hẳn. Người lái xe bỏ chỗ ngồi, đi lại chỗ người hành khách hung hăng, đột nhiên tống cho anh ta một đấm trời giáng vào giữa mặt, rồi túm ngực lôi anh ta xềnh xệch xuống giao cho bốt cảnh sát:

- Xin nhờ mấy ông xử lý tên ác ôn này cho. Hắn ta hành hung khách trên xe, không biết là vì
 

tranh chỗ hay định giở trò cướp bóc.

Hơn một chục hành khác bị tên ác ôn gây sự cũng xuống xe làm chứng cho lời khai của người lái xe.

Tên ác ôn cãi rất hăng, nói rằng đang săn một tên Việt Cộng nguy hiểm, đưa ra bao nhiêu thứ giấy tờ, thậm chí chửi cả cảnh sát. Thế là hắn ta bị khám người, trong đó có một tờ giấy gì đó rất lạ, kiểu như một truyền đơn. Y bị còng tay luôn.

   Lắm giấy tờ thế mà sao lại có truyền đơn của Việt cộng? – người cảnh sát vừa còng tay tên ác ôn vừa hỏi.

Tên ác ôn giãy lên như đỉa phải vôi. Y kêu là phải có ai đó trong xe nhét vào túi y...

Sau đó cái xe đò có người hành khách đội khăn tang lại tiếp tục hành trình của nó.

Nghe xong câu chuyện, má Sáu lắc đầu:

   Tôi hoàn toàn không hay biết chuyện này. Có lẽ ông nhầm chăng? Lái xe cũng thay đổi luôn. Tôi không hề biết mặt hay biết tên một người lái xe nào trong hãng của tôi, mặc dù tôi là chủ. Việc thợ thuyền tôi giao hết cho người giúp việc là ông Ba Khang.

   Bà cố nhớ lại một chút xem. - ông Tám nài nỉ.

   Chịu, tôi không biết ai vào với ai. Hãng Cánh Nhạn bây giờ cũng không còn nữa, lại càng không có quan hệ gì với những người đã làm việc cho hãng!..
   Hôm ấy tôi không thể nhầm được. Không nhờ người lái xe đó, thì tôi có lẽ đã bị tên mật vụ đóng vai ác ôn bắt ngay trên xe rồi.
   Thực tình tôi không thể giúp ông được gì, mong ông thông cảm.

Tiễn ông Tám Việt ra đến tận cổng, má Sáu Nhơn còn thanh minh:

   Mong ông hiểu cho. Để ông đi mất công thế này, tôi áy náy quá.

   Xin hỏi bà thêm một câu: Trong những người giúp việc cho bà, ai có thể giúp tôi hỏi rõ chuyện này?
   Tôi có hai người giúp việc, một là Ba Khang tôi đã nói rồi. Người còn lại là Bảy Dự. Người thứ ba nữa cũng có thể biết khá nhiều về công việc của tôi là ông Tư Cương.
   Phiền bà cho tôi gặp cả ba người này được không ạ? Ngay trong tối nay thì càng tốt.

   Tôi bây giờ là tư sản cải tạo, trong nhà lại có người đi di tản. Nếu ông không cảm thấy phiền toái, xin trân trọng mời ông tối nay đến dùng cơm với gia đình chúng tôi. Tôi sẽ mời bằng được những người ông muốn gặp. Còn nếu ông thấy không tiện, tôi sẽ thu xếp cho ông gặp họ vào dịp khác.

Ông Tám Việt đắn đo một lúc:

- Vâng, xin cảm ơn bà, tôi nhận lời.

Bữa cơm tối hôm ấy đông đủ các khách mời. Riêng nhà má Sáu thiếu ông Hai Phong, vì ngày hôm đó ông được trung tá Võ Sang và chính quyền huyện Cần Giờ mời về dự lễ khánh thành nghĩa trang liệt sĩ, trong đó có mộ Út Thạnh và bé Thơ.

Ông Tám Việt ngạc nhiên thấy bữa cơm khá thịnh soạn, lại có cả hai chai rượu vang đỏ Bordeaux. Đã thế má Sáu và bà Hai là hai đầu bếp cự phách, lại có vợ ông Ba Khang phụ bếp nữa. Vân, Ngọc và Quân chỉ làm được những việc sai vặt, Vũ phải đi làm nên được miễn mọi việc.

   Tôi lâu lắm mới được ăn một bữa cơm nấu ngon như vậy, nhất là món canh chua Nam bộ!

   Cảm ơn ông quá khen. Tôi là người gốc An Giang thứ thiệt mà. – má Sáu đáp lời.

Ông Tám Việt thấy má Sáu nói chuyện cởi mở như vậy nên rất vui:

   Tôi không ngờ bà Sáu vào thời buổi này mà kiếm được nhiều loại thực phẩm quý như vậy trong thành phố, lại cả rượu nữa.
   Thực phẩm là nhờ cô Ba, vợ chú Ba đây. Cô ấy tháo vát lắm. Còn rượu là nhờ ông Tư kiếm
 

cho, ngoài chợ làm gì có bán. – má Sáu giải thích.

   Thưa ông Tám, thực thà là hai chai rượu này tôi đi xin mấy người quen. Tôi nói là má Sáu có khách quan trọng. Cứ nói đến má Sáu thì xin được ngay. Họ hỏi có cần cô-nhắc không, nhưng tôi chỉ nhận hai chai vang thôi. - ông Tư Cương giải thích nguồn gốc hai chai rượu.

   Thưa ông Tám, chú Tư đây là bợm rượu đấy ạ.

   Bảy Dự, đừng bêu xấu chú. - Ông Tư quay ra ông Tám: - ...Ông Tám nên cảnh giác với chú này. Tôi không uống được rượu theo kiểu nhậu nhẹt lai rai ở trong này. Nhờ thế mà anh Ba và chú Bảy đây ngoan hẳn lên, không nhiễm phải cái bệnh suốt ngày lè nhè be bét.

   Trong này vãn đi một thời gian, bây giờ lại trở thành nạn dịch đấy, ông Tám ạ - BA KHANG CHÊM VÀO.
   Sao lại có nạn dịch này ông Ba?

   Tôi không rõ lắm. Có thể là do vô công rồi nghề.

   Vô công rồi nghề không phải là nguyên nhân, chú Ba ạ.

   Chú Bảy này lắm lý sự quá. Chú để ông Tư tiếp chuyện ông Tám đi. – Ba Khang ngăn bảy Dự. -...Anh Tư tôi đúng là người sành rượu thật ông Tám ạ, nhưng ổng không ghiền.

Ông Tám định hỏi tiếp về câu chuyện nạn dịch nhậu nhẹt, nhưng ông Tư Cương đã tiếp lời ông Ba:

   Vâng, thưa ông Tám, tôi có một số người quen thân không nghiện rượu, nhưng rất thích rượu ngon. Cái tính này tôi lây ông chủ cũ của tôi là ông Học. Nói cho sang thế thôi, thật ra là ông Học dạy cho. Vì khi đi chơi với các bạn mình, ông Học cũng thích kéo tôi đi cùng. Năm 1973 trước khi đi Mỹ, ông Học kêu tôi lên tặng hai chai Château Fort Lignac năm 1950, một đỏ một trắng. ổng nói với tôi: “Ông Tư, đây là tấm lòng của tôi!”.

   Họ chơi với nhau thành hội ạ? – anh trợ lý của ông Tám chỉ ngồi im, bây giờ mới hé miệng.

   Anh ạ, đấy là những người thích chơi với nhau, có phần lập dị. Hình như họ giống nhau cái tính khinh đời... Ta cứ quen miệng gọi là hội thế thôi. Họ ngồi với nhau mà nói về chính quyền Sài Gòn thì không ra cái gì...

   Tiêu chuẩn vào hội là thế nào hả chú Tư? – người sĩ quan bảo vệ của ông Tám tham gia vào câu chuyện.
   Chẳng biết họ lấy cái gì làm tiêu chuẩn. Tuổi tác họ rất khác nhau. Đã thế người thì rất giàu, người thì chỉ phong lưu một chút thôi, người thì có học cao... Song đại thể là toàn những người chí hướng kiểu như ông Học. Nếu xếp hạng thì có lẽ ông Học mới đứng hàng thứ ba thứ tư gì đó.

Người sĩ quan bảo vệ của ông Tám quên mất cả cương vị của mình trong bữa tiệc, hỏi luôn:

   Đứng đầu là ai ạ?

   Không thấy có đầu, mà cũng chẳng có đuôi, song người nổi nhất đám này có lẽ là luật sư Trần Ngọc Châu. Ông ta bị hạ thủ năm 1970 rồi. Chính quyền Thiệu, nhất là tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan(*) [(*) Viên tướng này đã bắn ngay trên hè phố không xét xử 1 chiến sĩ của MTGPMNVN bị cảnh sát Sài Gòn bắt được trong Tết Mậu Thân.] , rất ngán cái nhà ông Châu này.

   Không tiêu chuẩn, không tôn chỉ mục đích, thì cũng phải có điều kiện thế nào chớ? – vẫn cái nhà anh sỹ quan bảo vệ mau miệng.

Ông Tám Việt tai đỏ bừng vì ngượng và vì giận anh chàng sĩ quan bảo vệ của mình, trong lòng hối hận quên không dặn anh này ngồi chờ ngoài xe. Ông đang cố nghĩ cách xoay chuyển câu chuyện thì ông Tư đã trả lời tiếp:

   Hình như có điều kiện anh à. Để ý, tôi thấy họ thích bình luận mọi chuyện nhân tình thế thái và không thích làm quan. Ngoài ra hay bình với nhau về rượu. Chẳng thế mà tôi biết họ đã lâu nhưng vẫn chỉ được liệt vào hàng ăn theo thôi!

   Tìm gặp được những người trong họ còn ở lại cũng thích thú đấy ông Tư nhỉ. - ông Tám
 

Việt bây giờ mới nói len vào được.

   Không còn đông lắm đâu ông Tám à, di tản đi nhiều nước rồi. Nhưng nếu cụng tất cả những người còn ở lại với nhau, rượu của họ bây giờ vẫn còn hàng két. Chỉ để thỉnh thoảng thay tua mời nhau bật nút một chai khi có chuyện gì đáng uống. Toàn là vang hoặc cô-nhắc những năm 1950, 1960, 1970. Có khi lâu không gặp, nhớ nhau quá, cũng kêu nhau đến, nhấm nháp mấy câu chuyện tào lao. Còn đi xin thì chỉ cho nhau loại 1970 thôi.

   Lâu thế mà không thành dấm à? – anh sĩ quan bảo vệ lại lộp chộp.

   Không. Họ biết cách giữ, nhất là phải để chai rượu nằm ngang để nút chai không bao giờ bị khô thì vô tư.
   Họ biết má Sáu Nhơn hay sao mà chú Tư kiếm được rượu của họ? – Lại một câu hỏi nữa của người sĩ quan bảo vệ.

Lần này ông Tám Việt đưa mắt lườm anh ta hẳn hoi. Cũng may, hình như không ai để ý, hoặc cố tình không để ý.

   Bà Sáu chúng tôi đây một tay dựng lên 3 cơ đồ cho 3 con trai. Một thời bà đã nổi tiếng với cái tên chị Hai Nhà Bè. Bà buôn bán lớn với phong cách chị Hai.
   Ông Tư có say không đó, sao lại lôi cả tên cúng cơm của tôi ra đây mà nói vậy? – má Sáu không muốn để ông Tư quá trớn.
   Tôi thường nghe nói đến tác phong anh Hai. Nhưng chưa nghe thấy nói tác phong chị Hai!
   ông Tám thắc mắc.

   Xin lỗi bà Sáu, tôi đã lỡ miệng. Xin cho tôi nói có đầu có đuôi. - Đoạn ông Tư quay sang ông Tám: - Ông Tám à, giới kinh doanh ở cảng Nhà Bè rất kính nể cách làm ăn xởi lởi của bà Sáu, nên tôn bà lên làm chị Hai. Cái tên chị Hai Nhà Bè từ đấy mà ra ông Tám à. Nghĩa là cách làm ăn rất thảo, không so đo, sẵn sàng chín bỏ làm mười, giúp được ai việc gì bà đều hết lòng. Họ một điều gọi bà là “chị Hai”, hai điều gọi bà là “chị Hai”. Nếu tôi hỏi mua rượu của họ, thì chắc chắn lúc này một cây vàng một chai họ cũng không bán! Nói là để đãi khách cán bộ quan trọng thì lại càng không!

Câu nói cuối cùng của ông Tư làm cho ông Tám suy nghĩ. Má Sáu rất tế nhị, nói át đi:

   Ông Tư lại quá lời rồi. Tôi giúp một người, thì mười người quay lại giúp tôi. Tôi cho người mua hàng chịu một, nhưng người bán hàng cho tôi thấy tôi bán chạy lại cho tôi chịu mười, có gì đâu mà sởi lởi. Còn người duy tâm thì nói là tôi mát tay!

   Cô Sáu ạ, hôm nay cháu thấy cô tự khai ra cách làm ăn thả con săn sắt bắt con cá rô! Cách làm ăn của tư sản thời chưa cải tạo đấy ạ! Cô tự nói ra, chứ không phải cháu mớm cung đâu nhé. Xin cả nhà làm chứng cho ạ! - Bảy Dự trêu má.

   Bảy Dự, cậu có định tố tôi trước mặt ông Tám đây không? Tôi quên chưa giới thiệu với ông Tám, cậu Bảy đây là nguyên uỷ viên Ủy ban cải tạo xã hội chủ nghĩa đấy, khét tiếng chống tư sản đó! - câu nói vui của bà Sáu làm cả nhà đều cười.

   Thưa cô Sáu, cô lại nói sai rồi ạ. Đấy là Ủy ban cải tạo công thương nghiệp. - Bảy Dự vẫn tìm cách trêu bà.
   Đúng là con người ta có nhiều thú vui, người thì thích cây kiểng, người lại thích bình về rượu. Hai chai rượu này năm nào ông Tư? - Ông Tám muốn lái câu chuyện đi một hướng khác.

Ông Tư Cương đeo kính rồi cầm hai chai rượu lên:

   Hai chai cùng năm ông Tám ạ, 1974.

   Thế là đúng 10 năm? - ông Tám nhấp thử mấy nhấp. - ...Uống được quá!

   Vâng, 10 năm cũng là con số đẹp.

   Thưa ông Tám, ông đừng nghe chú Tư tôi tán tụng về rượu. Chẳng qua hết cái thời bình rượu túi thơ của Lý Bạch bên Tàu ngày xưa, mấy ông ngông cuồng hiện đại Sài Gòn ngày nay xoay ra chuộng rượu Tây và bàn chuyện thế giới! Còn chuyện của nước mình thì để đâu quên đó.
 

   Cậu Bảy lại lên lớp tôi rồi. Tôi bây giờ nghèo lắm. Không có gì bán để trả tiền học cho thầy giáo đâu! Nhường cho cậu đĩa đậu phụng rang này vậy. - Ông Tư vặn vẹo lại Bảy Dự. Ông vừa nói vừa cười, tay đẩy đĩa lạc rang về phía Bảy Dự.
   Thật ra tôi phải cảm ơn ông Tám và hai anh đây. – má Sáu muốn lái câu chuyện hướng vào mục đích chính của bữa cơm hôm nay. - ...Mời được ông Tám đến ăn cơm, tôi mới có lý do quan trọng mời ông bà Tư, cô chú Ba, em Bảy đến ăn cơm với chúng tôi. Chúng tôi vẫn ăn cơm với nhau luôn, nhưng có lý do quan trọng như thế này mới được dịp thực hiện thú vui nấu nướng món này món khác. Chỉ tiếc là bà Tư hôm nay mệt không đến được.

Câu chuyện trong bữa cơm rất đời thường và tự nhiên như những người quen biết nhau từ lâu. Song má Sáu rất chủ động và tự bà không nói một tý gì về thân thế gia đình mình.


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:11:40 pm
Khi ông Tám Việt nêu lại chuyện người lái xe năm nào, Ba Khang, Bảy Dự và Tư Cương đều lắc đầu. Chuyện xảy ra năm 1972, đã hai mươi ba năm nay rồi, không ai nhớ nữa. Ba Khang hỏi gặng mãi các chi tiết, nhưng các câu trả lời của ông Tám Việt đều quá chung chung. Ông Ba cho biết vào khoảng năm này có đến bốn xe của hãng chạy trên tuyến Sài Gòn - Cao Lãnh. Gặng mãi, cuối cùng ông Tám Việt nhớ được số biển xe SG 1908.

   Ông Tám có chắc số biển xe là như thế không?

   Chắc, ông Ba ạ. Vì khi chạy đến bến, số biển xe này đập ngay vào mắt tôi. Thấy xe đông khách, tôi liền nhảy lên ngay. Tình cờ những con số đó trùng với các số ngày sinh nhật tôi. Không thể nhầm được!

   Ông Tám lấy ngày Tổng khởi nghĩa làm sinh nhật của mình, có phải thế không ạ? - Ba Khang vừa hỏi, vừa lục lọi hồi lâu trong trí nhớ của mình. Ông Tư Cương định nói câu gì, nhưng Ba Khang liền giơ tay ra hiệu im lặng. Mọi người hồi hộp chờ đợi, không dám ho he gì, vì sợ rằng sự ồn ào có thể gây nhiễu loạn trí nhớ của ông Ba.

Mọi con mắt dồn về phía Ba Khang.

   ... Năm 1972... xe SG 1908... do Ba Chiểu lái... Đúng là Ba Chiểu... Nhưng cậu này bị giết gần gần cuối năm ấy rồi. - Đến đây ông Ba ngồi thừ ra, không nói gì nữa.
   Ông nói tiếp đi ông Ba. Cậu ấy bị giết rồi làm sao nữa? - ông Tám Việt giục.

   Cảnh sát gọi tôi lên nhận diện cậu ta.. Rồi còn gọi lên mấy lần khai báo các chuyện. ...Hai năm. ...Đúng là hai năm liền cảnh sát điều tra mà không ra vụ án mạng này.
   Cảnh sát có nghi cho ai không?

   Người ta nghi là một băng đảng bí mật nào đó hoặc cánh mật vụ đã ra tay trừ khử Ba Chiểu.
   Vụ án mạng này cuối cùng ra sao ông Ba? - ông Tám lại hỏi dồn.

   Hai năm không ăn thua gì, cảnh sát bỏ cuộc.

   Chiểu có thù oán gì với ai không ông Ba?

   Không. Chiểu chưa vợ con, là một trong những lái xe trẻ ngoan nhất của chúng tôi. Cậu ta bị giết ngày mùng năm tháng Mười năm đó.
   Ngày tôi chạy trốn lên xe này về Cao Lãnh là mùng một tháng Mười. Hay là bọn mật vụ đã giết cậu ta?

Cùng một lúc cả Ba Khang, Tư Cương và Bảy Dự đều tán thành suy đoán của ông Tám Việt. Vì Chiểu là người do chính Ba Khang tuyển vào, lại rất ngoan, thỉnh thoảng giúp Ba Khang việc này việc khác, nên Ba Khang mô tả được khá chi tiết hình dáng, giọng nói của Chiểu cho ông Tám Việt nghe. Càng nghe, ông Tám càng tin ân nhân của mình nhất định là Chiểu, nhất là khi Ba Khang kể Chiểu có thói quen khi đứng nói bao giờ cũng co tay trái khòng khòng lên gần giữa ngực.

... Đúng là dáng điệu của Chiểu hôm đứng nói với đám cảnh sát, không thể nhầm vào đâu được! - ông Tám nghĩ như vậy.

Ba Khang và Bảy Dự hứa với ông Tám sẽ xác minh và tin rằng sẽ xác minh được mọi chi tiết
 
cần thiết. Ông Tám trầm ngâm một lát, rồi nói:

   Mấy năm nay, nhờ bao nhiêu nơi tôi mới tìm được đến nhà má Sáu. Tôi xin chân thành cảm ơn bà Sáu và tất cả nhà ta ngồi đây. Bây giờ mười phần tôi tin đến chín phần là đã tìm được ân nhân của mình. Nhờ ông Ba và anh Bảy xác minh sớm giùm. Tôi mong được đến tận nhà anh Chiểu tạ ơn và ra mộ thắp hương cho ảnh. Tôi không ngờ trong chuyến đi công tác vào Thành phố lần này lại làm được một việc riêng quan trọng quá.

   Lâu lâu không vào đây, ông Tám có thấy Thành phố thay đổi gì không? - ông Tư hỏi.

   Tôi có cảm tưởng thành phố ngày một nghèo đi, nhất là so với một hai năm đầu sau giải phóng. Ông Tư có nghĩ vậy không?
   Đúng thế ạ.

   Theo ông Tư nguyên nhân vì đâu?

   Hậu quả chiến tranh, có phải thế không ông?

   Đổ lỗi cho hậu quả chiến tranh thì đến năm 2000 cũng không hết. Tôi muốn được nghe cụ thể hơn, ông Tư ạ. - ông Tám trả lời.

Không khí thân mật bữa cơm tự nhiên chùng xuống, mọi người có vẻ ngại ngùng đưa ra câu trả lời.

Má Sáu lên tiếng:

   Chưa ai nói thì tôi xin nói trước vậy. Xin hỏi ông Tám thích nghe câu trả lời như thế nào ạ?

   Bà Sáu Nhơn có những câu trả lời nào vậy?

   Thưa ông Tám, ông thích trả lời theo cách nào, tôi xin nói theo cách đó.

   Bà có thể kể ra có những cách trả lời nào được không ạ?

Bao nhiêu con mắt trong bữa cơm dồn hết về má Sáu. Nhưng má Sáu vẫn thản nhiên:

   Được chớ. Ví dụ tôi trả lời với tư cách là người dân tiên tiến của Thành phố, là người dân lạc hậu, là nhà tư sản được cải tạo, là thân nhân của người đi di tản... Đấy là tôi trả lời cho tôi. Nếu trả lời hộ những người khác thì tôi còn nhiều cách lắm: là người Hoa, là binh lính Cộng hòa cũ, là mấy ông tướng nguỵ Sài Gòn bại trận... Nhưng đến bây giờ chắc mấy ông tướng này đi Mỹ hết rồi... Tôi sống ở cái thành phố này như thế là đã quá nửa thế kỷ...

Sự chú ý của mọi người càng dồn về má Sáu. Riêng đám trẻ Vũ, Ngọc, Vân, Quân mặt như ngây dại. Đám trẻ này không thể tưởng tượng được nội của mình lại đối đáp như vậy.

Ông Tám Việt thận trọng lựa lời:

   Bà Sáu Nhơn ạ, tôi thực chưa bao giờ được nghe ai có cách nói như bà. Điều này làm tôi rất kính phục bà. Nếu bà tự lựa chọn cách trả lời, bà sẽ chọn cách nào?

Má Sáu ngẫm nghĩ một lúc:

   Ông đúng là một nhà chính trị cao thủ. Tôi muốn chọn tư cách là chủ nhân của Sài Gòn trả lời ông. Như thế có được không?

Ông Tám Việt gần như không tin vào tai mình... Cần phải lắng nghe những tiếng nói như thế!.. Ông Tám Việt không ngờ trong đời lại có được một cuộc đối thoại kỳ lạ như vậy. Ông cả quyết:

- Xin mời bà cứ nói theo ý bà là chủ nhân của Sài Gòn.

Má Sáu Nhơn ngẫm nghĩ, tay vân vê chiếc khăn ăn trên bàn:

   Có hai điều tôi muốn thưa chuyện với ông Tám. Nhìn vào cuộc sống Thành phố, tôi nghĩ rằng kẻ xấu bụng nhất cũng không thể ngờ được là trật tự trị an của Thành phố bây giờ tốt như thế này! Thời thịnh trị nhất của chế độ Sài Gòn thành phố cũng không được bình yên như vầy đâu. Cán bộ giải phóng mà cứ quản lý trật tự công cộng Thành phố như thế này dân được nhờ lắm đó ông Tám!

   Bà Sáu chỉ nói về trật tự công cộng thôi sao? – ông Tám Việt gạn hỏi.
 

   Dạ vâng, còn những chuyện khác xin thưa sau. Đấy là điều thứ nhất, song tôi nghĩ ông Tám không phải là người đến đây tìm nghe điều ngọt ngào như vậy. Có phải thế không?

Mọi người ồ lên vì ngạc nhiên, ông Tám Việt cũng thấy tai mình nóng lên, nhưng cố trấn tĩnh:

   Vâng, xin bà nói điều thứ hai.

   Ông Tám cho phép tôi ví guồng máy kinh tế Sài Gòn sau ngày 30 tháng Tư như chiếc xe đò của tôi. Nó vẫn chạy theo tuyến đường này.., - tay má Sáu vạch vạch trên bàn. -...Nếu tình hình đòi hỏi nó phải chạy theo tuyến khác, thì tôi sẽ ra lệnh cho Ba Khang bắt xe đổi tuyến. Tôi hiểu đây là việc khó lắm, nhưng không thể không làm, nhất là từ thời chiến chuyển sang thời bình, từ chế độ này chuyển sang chế độ khác! Nhưng là chủ, tôi sẽ không bao giờ cho phép Ba Khang gỡ cái xe đò của tôi ra làm mấy mảnh rồi giao cho mỗi người giữ một mảnh! Nhất là lại giao vào tay những người chẳng hiểu gì về xe cộ. Tôi vốn là dân làm ăn, chỉ nói gọn thế thôi ông Tám à. Nói dài quá sợ làm mất thời giờ của ông. - giọng nói của má Sáu rất tự nhiên và nhiệt thành, chẳng khác gì như má vẫn thường nói chuyện với những người bạn thân thuộc của má.

Má Sáu dứt lời, sự im lặng đột ngột ập tới. Mọi chú ý trong cuộc đàm thoại này bây giờ dồn về ông Tám Việt.

   Cảm ơn bà Sáu. Xin thú thực, bà làm tôi bất ngờ… - ông Tám Việt cân nhắc thêm một chút rồi cả quyết: - Xin hỏi thật lòng, vì sao bà lại chọn cách trả lời như vừa rồi?

Má Sáu cười để có thời giờ lựa lời:

   Tôi trân trọng sự chân thật của ông… Nói chuyện với nhau thì phải thế…Suy nghĩ của tôi đơn giản như vầy, mong ông đừng giận: Tôi bây giờ là người dân của một dân tộc được giải phóng, dân tộc tự do, chủ nhân của một quốc gia độc lập. Có phải, vậy không ông Tám? – má Sáu dừng lại chờ câu trả lời.

   Rất đúng ạ.

   Nguyên do sự lựa chọn của tôi là thế. - Má Sáu nhìn thẳng vào mặt ông Tám trong khi nói.

   Trời đất! – ông Tám buột miệng kêu lên như vậy, rồi ngồi yên, tư lự.

Mọi người chung quanh im phắc, vì trong đời họ chưa bao giờ được chứng kiến một cuộc đối thoại như thế.

…Phải rồi! Tất cả mọi chuyện khác hẳn ngày xưa và bắt đầu từ chỗ này! Trời đất, sao hôm nay ta mới tỉnh ngộ ra điều này… Là người dân tự do của một quốc gia độc lập! Đó là mục tiêu của cách mạng cơ mà…
Biết bao nhiêu suy nghĩ lướt đi rất nhanh trong đầu ông Tám. …Bài học đời! Bài học đời!..
Ông tự nhủ với mình như vậy, rồi tiếp tục câu chuyện:

   Vâng, người dân tự do của một quốc gia độc lập! Bà đã nhắc nhở tôi điều hệ trọng nhất mà tôi lại chậm hiểu nhất! Tôi không giấu bà sự chậm trễ đầy yếu kém này của chính mình… Tôi tin là những điều bà vừa nói ra, chắc chắn bà đã ngẫm nghĩ từ lâu. Thành thực cảm ơn bà… - đến đây ông Tám dừng lại, quay sang ông Tư Cương: - Tôi xin hỏi thêm, nếu ông Tư Cương là chủ, ông có xử sự giống như bà Sáu đây không ạ?

Ông Tư Cương chần chừ một lúc rồi mới mạnh dạn trả lời:

   Thực tình tôi đã nín thở, chỉ muốn nghe, không muốn nói. Nhưng bây giờ ông Tám đã hỏi thì tôi xin thưa: Tôi nghĩ còn nhiều cách làm chủ khác nữa ạ. Nhưng cách nào thì cũng giống cách nghĩ của bà Sáu đây ít nhất là hai điểm. Một là không gỡ cái xe đò ra từng mảnh trao vào tay những người không hiểu gì xe cộ, hai là nhất thiết không có chuyện đi xe không phải trả tiền!

   Cũng có thể sau chiến tranh cái cỗ xe đò kinh tế này bị hư chỗ này, hư chỗ kia, có khi phải làm thịt một vài xe quá rách nát để có phụ tùng thế vào cho nó chạy... Nhưng sẽ là một quyết định đầy khó khăn đấy, ông Tám à. Khi hãng xe Cánh Nhạn có nguy cơ chết non vì không cạnh tranh được, tôi đã phải bán tống bán tháo hai cửa hàng vải của mình lấy tiền đập vào, rồi quay vòng, rồi vay thêm. Trong vòng một năm, 3 xe lớn nhỏ trở thành 11 xe, từ đó tôi mới trụ được...
 
– má Sáu giải thích thêm.

Ông Tám Việt ngẫm nghĩ một lúc:

   Phải chăng bà Sáu và ông Tư phê phán cán bộ cách mạng không biết làm kinh tế? Tôi hiểu thế có đúng không?
   Ông Tám à, trước khi về làm cho bà sáu Nhơn, bản thân tôi đã nhiều năm làm tài xế xe đò.
– Ba Khang đỡ lời. - Thế mà ngồi lên cái xe đò đầu tiên bà Sáu giao cho, tôi vẫn phải học, vì nó khác mấy cái xe tôi lái trước đấy. Lúc đó chưa có hãng xe Cánh Nhạn đâu. Tôi vừa phải học làm chủ cái xe mới, lại phải học cách đi thế nào là hay nhất trên tuyến đường mới. Tưởng thế là xong, bà Sáu hỏi tôi: Làm thế nào xe có được nhiều giờ chở khách nhất, nghĩa là ít giờ chạy xe không, làm thế nào cạnh tranh được với những xe khác mà vẫn lãi, ít sự cố... Thế là tôi lại phải mò mẫm kế này kế khác mất gần hai năm trời...

   Chú Ba đang kể công với tôi về việc sáng lập ra hãng xe Cánh Nhạn đó! – má Sáu nói chêm
vào.

   Tôi xin lỗi bà Sáu trước về sự thiếu tế nhị của tôi. - ông Tám Việt lựa lời. - Thực lòng tôi muốn biết tại sao bà có thể ví kinh tế Sài Gòn sau giải phóng giống chiếc xe bị thương? Thật là cách ví von sinh động.

Bà Sáu Nhơn cân nhắc thận trọng, nhưng câu trả lời hình như có sẵn ở trong đầu từ lâu rồi:

   Nghề kinh doanh của tôi ba chìm bảy nổi, chín long đong. Thành đạt nhiều, đổ vỡ cũng nhiều. Tôi đã một vài phen trắng tay. Đã thế có lúc tôi còn phải gánh đỡ cho các con tôi chuyện này chuyện khác. Ba đứa, ba nghề kinh doanh khác nhau! Tóm lại là sự bắt buộc của nghề nghiệp thôi. Sơ ý một chút thị trường diệt mình chết liền. Còn chuyện lừa đảo nhau trong làm ăn, rồi chuyện nhiễu nhương của quan chức, chuyện cánh nọ dựa vào quan thầy của mình táng cánh kia... Mấy chục năm qua tôi đã phải học cách chung sống với ma quỷ, giống như như người ta thường nói phải biết cách chung sống với bệnh phong! Tôi hiểu ý tốt của cách mạng là muốn làm các việc xoá bỏ thị trường để không còn mầm mống cho cái bệnh phong hủi này, song có phải là liều thuốc đúng không? Có làm được không!?.

   Bà Sáu phải nói thêm là xoá bóc lột của tư sản nữa chớ. - ông Tư nhắc nhở.

Bà Sáu chỉ cười, không đáp lại.

Ông Tám Việt nghe rất chăm chú, trong đầu ông tự nhủ mình nhiều điều. Một chuỗi những cuộc tranh luận không dứt suốt từ năm 1979 đến hết năm 1980 sống lại trong ký ức ông. Những cuộc tranh luận gay gắt, không phân thắng bại. Tất cả xoay quanh tình hình kinh tế đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình và tìm đường ra khỏi tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Mỹ thì đẩy mạnh bao vây cấm vận, Trung Quốc đánh chặn đầu chặn đuôi, viện trợ Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức chỉ còn nhỏ giọt vì hai nước này đang suy kiệt, các nước xã hội chủ nghĩa gần như không còn sức để giúp đỡ bất kể điều gì... Có những cuộc tranh luận thâu đêm, có những lần hai ba ngày liền ông Tám không về nhà...

Bà Sáu Nhơn dứt lời lâu rồi mà ông vẫn còn đang bận rộn với những điều ông rút ra được từ cuộc đối thoại hiếm có này. Ông gần như đang tự nói với mình nhiều điều.

Má Sáu Nhơn đoán biết được tâm trạng lo âu của ông Tám, má hiểu có thể bộc bạch nỗi lo canh cánh trong lòng với con người này:

   Ông Tám ạ, nếu ông không cho là tôi làm ông phật lòng, tôi xin đề nghị ông quan tâm đến câu chuyện lâu nay có quá nhiều người vượt biên di tản, gần như bất chấp cả tính mạng của mình có thể nguy hại! – má Sáu Nhơn cố tránh không nói những sự việc cụ thể đã xảy ra trên biển, trên biên giới...

Mặc dù đã tự chuẩn bị tinh thần cho mình trước khi đến dự bữa cơm tối này, trong đó có chuyện di tản, ông Tám vẫn không tránh khỏi giật mình – vì tính thẳng thắn của má Sáu Nhơn và vì tính nghiêm trọng của câu chuyện nêu ra, nhất là di tản đang là câu chuyện thời sự nóng bỏng kéo dài từ nhiều năm nay.

- Xin bà cứ nói hết suy nghĩ của mình, tôi nghĩ tôi đủ sức lắng nghe ạ.
 

   Dạ, tôi cũng đoán như vậy nên mới thưa chuyện này. Ông là chính khách, còn tôi là một bà mẹ, nhưng tôi chắc ông thông cảm được. Không phải ai khác, một trong những con tôi đã phải thốt lên với tôi: “...Má ơi, ở Thành phố này bây giờ nếu cái cột điện mà biết đi chắc nó cũng phải bỏ đất nước ra đi thôi!..” Nói thế chắc ông đủ hiểu…Trước khi ra đi, tất cả con cháu tôi quỳ xuống tế sống tôi... Ông không thể hình dung được giây phút xé lòng này... – mặt má Sáu hình như bỗng dưng quắt đanh lại, không một giọt nước mắt trên mặt, nhưng giọng má tụt hẳn xuống, hụt hơi. Nghỉ một lúc má nói tiếp: - ...Anh Hai chúng can ngăn chúng thế nào cũng hổng được. Tôi cũng hết lời... Nói ra, ông đau một, tôi đau hai ba lần ông Tám à!

Tất cả mọi người trên bàn ăn hình như không ai dám nhúc nhích, gần như nín thở, cứ như thể một cử chỉ nhỏ cũng sẽ làm cho vết thương lòng trong mỗi người tóe máu.

Mãi ông Tám Việt mới nói được:

   Thưa, bà nói đúng. Tôi đau một, bà phải đau hai ba lần. Tôi không thể nói khác được. Thú thực với bà là có nhiều vấn đề sau chiến tranh chính tôi cũng không lường hết, lần lần mới hiểu rõ thêm.

   Đó mới chỉ là một lẽ thôi, ông Tám à. Theo tôi còn một điều quan trọng hơn thế nữa.

   Xin bà cứ nói.

   Sống trong Thành phố này mà có nhiều chuyện chính tôi cũng không lường được. Sau chiến tranh có nhiều cái sai đã đành, tôi hiểu được. Song tôi không ngờ là sau chiến tranh nhiều cán bộ, đảng viên hư hỏng nhanh quá! Mong đợi và thất vọng xung khắc nhau dữ quá! Chỗ này mới là cái chết ông Tám à!

Lại một luồng điện giật mạnh, ông Tám chết sững trong lòng.

   Nói thật lòng với ông Tám, có người còn nói mua chuộc cán bộ Việt Cộng rẻ hơn nhiều so với thời còn chế độ Sài Gòn. Còn chất lượng công việc và sự hống hách với dân thì không được chê!.. - ông Tư Cương thêm vào, muốn nói rõ ý má Sáu Nhơn.

   Vâng, những điều bà và ông Tư nói tôi biết lắm.

Những cái sai trong chính sách, cộng với sự hư hỏng của cán bộ đã dẫn đến thực trạng đau lòng này. Xin ông đừng giận, thằng Năm Thịnh nhà tôi hồi ấy có lúc gần như đánh nhau với cán bộ! Tôi biểu nó thế nào cũng hổng được!

   Vâng, quả là thế. Sự hư hỏng của cán bộ còn đáng sợ hơn nhiều lần so với những sai lầm trong chính sách. – ông Tám đáp lại.
   Nói như thế, tôi thấy ông Tám hiểu được câu chuyện và tôi không lo làm ông mếch lòng. Thật không sao hiểu nổi họ có thể hư nhanh đến thế! Cũng may là dân vẫn còn tin cách mạng lắm.

   Tôi thấy không được lạm dụng điều này, bà Sáu ạ. Kéo dài sẽ vô cùng nguy hiểm… Trước khi đến thăm bà, tôi đã hỏi kỹ chuyện ra đi của các gia đình nhà ta. Thực lòng tôi cũng không tưởng tượng được sự tình đến mức như thế, rồi nhìn cả vào thành phố, cả nước...

   Ông Tám thử coi, gia đình tôi còn như vậy, những gia đình khác sẽ như thế nào!.. – ngẫm nghĩ một lúc, má Sáu Nhơn nói tiếp: - ...Tôi nói ra là để chia sẻ với ông Tám nỗi lo của mình, chuyện này không thể một sớm một chiều dịu đi ngay đâu. Thôi chúng ta nói chuyện khác đi.

Má Sáu Nhơn chủ động chuyển hướng câu chuyện, khiến ông Tám Việt càng phục... Thật là một người có bản lĩnh! Trong bụng ông Tám nghĩ như thế, định nói thêm một vài ý tâm tư mình, song ông hiểu ngay có những điều ông không thể vượt qua được vì không được phép vượt qua... Ông cũng quyết định chuyển hướng câu chuyện:

   Tôi làm kinh tế, nên xin được nghe tiếp câu chuyện làm ăn trong này, nhất là về những người làm giỏi kinh tế.
   Ông Tám à, ông Ba chỉ có một chủ là má Sáu. Tôi may mắn hơn là có hai chủ, là ông Học rồi mới đến má Sáu. Tôi học được ở hai chủ của mình nhiều điều. Song có một điều tôi học mãi không nổi, bây giờ thì quá muộn rồi. Đấy là cái tài nhìn được cái gì làm ra tiền. - ông Tư Cương nói trước.
 

   Nói nôm na là phải có cái máu làm ăn ông Tám ạ. – Ba Khang chen vào.

   Còn thực hiện công việc làm ra tiền thì đã có chúng tôi. - Tư Cương nói tiếp. - Tôi cũng muốn làm ông chủ lắm chứ, nhưng quả thật là không đơn giản.
   Nếu những cán bộ của tôi cũng nắm biết được tình hình và làm được cho tôi những báo cáo phân tích sâu sắc như cách nói của bà Sáu đây, của ông Tư, ông Ba thì hay quá! Tôi rất cảm ơn bà và hai ông...

   Dạ thưa ông Tám, báo cáo sâu sắc và trung thực hình như ở đâu cũng có. Nhưng câu chuyện là những thức ăn này thường không hợp khẩu vị người nghe báo cáo! Tôi là đảng viên Bảy Dự, tôi có thể nói thẳng thắn với đồng chí Tám Việt như vậy. Tôi tính định làm lại lý lịch của mình đấy ạ.

Không khí đã dịu lại, đột ngột trở nên căng thẳng. Mọi người chẳng hiểu BảY Dự trong đầu định mần mò cái trò gì, lại càng không hiểu tại sao Bảy Dự đột nhiên giở chứng nói găng đến thế.

Mắt ông Tám Việt mở to vì quá ngạc nhiên. Ông bỏ kính ra, nhìn vào tận mặt Bảy Dự:

   Anh Bảy định làm lại lý lịch của mình như thế nào?

   Thưa ông Tám...

   Sao không thưa đồng chí Tám Việt?

Bảy Dự cười:

   Vâng, thưa đồng chí ông Tám, tôi sẽ khai thêm một nghề mới trong lý lịch: cấp dưỡng, chuyên gia nấu các món ăn không hợp khẩu vị!

Không khí trở lại vui vẻ. Ông Tám hỏi:

- Anh có thể nói rõ hơn được không? Tôi định thử sức khoe khoang của anh.

Bảy Dự không đắn đo, kể ra cho ông Tám nghe một số vấn đề chung quanh việc cải tạo tư sản, việc xử lý di tản, tình hình làm ăn của những xí nghiệp đã cải tạo.., dẫn chứng người thật việc thật, nhưng không nêu tên riêng của từng người. Ông Tám giữ ý nên cũng không gạn hỏi.

Khi kết thúc, Bảy Dự khiêu khích:

   ... Tiện thể đồng chí Tám hỏi thì kêu cho đã, nhưng mà thông cảm.

   Thông cảm cái gì? - Ông Tám vặn lại.

   Một lúc đồng chí Tám phải lo cho những bốn trăm nước cộng hòa thì chịu sao thấu!

   Bốn trăm cái gì? - Ông Tám dựng đứng.

   Còn giữ mãi cái kiểu ngăn sông cấm chợ như thế này thì bốn trăm huyện trong cả nước là bốn trăm nền cộng hòa chứ còn sao nữa. - Bảy Dự tỉnh queo.

Ông Tám phát nhẹ vào vai Bảy Dự:
   Đảng viên mà ăn nói thế à? - Nhưng rồi ông Tám cũng bật cười vì cái lối nói quạu của Bảy
Dự.

Nhìn đồng hồ thấy đã gần mười một giờ rồi, ông Tám đợi Bảy Dự nói xong, rồi tìm cách kết thúc câu chuyện:

   Tôi hiểu ý anh Bảy. Rất xây dựng. Những vấn đề anh Bảy nêu ra tôi cho là bổ ích. Tôi hôm nay được ăn một bữa cơm ngon và được nói chuyện với những người thẳng thắn, nhất là bà Sáu. Hy vọng bà Sáu và cả nhà ta đây sẽ không tiếc công, tiếc thời giờ đã mời chúng tôi. Xin chân thành cảm ơn...

Ông Tám vừa nói, vừa đứng dậy để chuẩn bị ra về. Đúng lúc này Hai Phong từ Cần Giờ trở về. Vì không biết nhà có khách quan trọng, mới bước vào phòng ăn, chưa kịp nhìn ai, ông đã oang oang:

   Nhà hôm nay ăn món gì mà thơm thế! - Sau khi bước hẳn vào trong phòng, ông Hai đột nhiên kêu lên: - Ôi anh Tám! Sao anh biết gia đình tôi ở đây mà đến thăm?
 

   Trời, Hai Phong? Hoá ra anh trốn về đây hả? Mấy năm nay hỏi thăm, bảo Hai Phong về vườn rồi, nhưng không biết vườn nào!

   Về vườn thật mà anh Tám. Cái bệnh hen làm khổ tôi quá xá!..

   Chỉ tại bệnh hen thôi à?

   Dạ không, chuyện nhà cũng cần phải thu xếp chút ít... Với lại cũng đáng tuổi rồi... Anh có thể còn nhớ một người bạn cũ nữa.
   Ai đấy?

   Trung đội trưởng du kích Võ Sang ở Vĩnh Long, đơn vị bảo vệ cơ quan anh sau trận càn quét Zéphyr giữa năm 1952.
   Trận càn Zéphyr dữ lắm, mình quên sao được. Giặc Pháp định tóm gọn cơ quan mình ở Rồng Giềng, nhưng tụi mình đã kịp chia thành nhiều bộ phận sơ tán đi các ngả. Tôi dẫn một bộ phận chạy về Vĩnh Long, vì địa phương này tôi thuộc như trong lòng bàn tay. Tỉnh uỷ Vĩnh Long lúc bấy giờ cử một trung đội du kích làm nhiệm vụ bảo vệ... – ông Tám nói một mạch, từng sự việc lúc này vẫn còn như in trong trí nhớ của ông.

   Thế thì đúng Võ Sang này đấy anh Tám ạ, người cao to, trắng lốp, ăn nói oang oang.

   Nhớ. Nhớ ra rồi. Chính anh ta bắt nọn tôi phải khai ra là người cùng quê Cao Lãnh. Võ Sang bây giờ làm gì?
   Võ Sang bây giờ là trung tá, trưởng Phòng Chính trị Quân khu Miền Tây Nam bộ. Anh ấy hôm nay làm lễ khánh thành nghĩa trang liệt sĩ ở Cần Giờ và đưa mộ em gái và cháu gái tôi vào nghĩa trang này.

   Thế còn em rể anh, tướng Lê Hải của chúng ta bây giờ đâu?

   Cũng về vườn rồi. Lê Hải là con rể của má tôi! Mộ Út Thạnh và cháu tôi ở Cần Giờ chính là mộ vợ và con Lê Hải đấy! Vợ chồng Lê Hải vừa mới vào đây tuần trước để đi Cần Giờ, đã trở ra Hà Nội rồi.

   Ủa? - ông Tám Việt chỉ kêu lên được một tiếng như vậy, hết nhìn má Sáu lại nhìn Hai Phong, rồi ông quay ra nói với mọi người. – Tôi thật vô tâm quá, không biết ai với ai!.. Quê tôi hồi chống Pháp là chịu ơn cái ông ôm ốm này nhiều lắm! Đánh Pháp tài vô kể. Lúc ấy anh này là chủ tịch tỉnh. Có phải thế không, Hai Phong?

   Dạ không, lúc ấy tôi là bí thơ tỉnh.

   Võ Sang bây giờ sống thế nào?

   Thời chống Mỹ Võ Sang hoạt động ở vùng Cần Thơ, lập gia đình ở đấy. Song cả gia đình bị giặc giết chết trong trận bình định Chương Thiện năm 1973. Võ Sang đến bây giờ vẫn sống một mình anh ạ. Trong khi đó anh ta chắp nối cho bao nhiêu gia đình khác tan vỡ trong chiến tranh!

   Ngoài Hà Nội, anh cứ nói má anh là bà Sáu Nhơn, mà cả Nam bộ này có biết bao nhiêu má Sáu Nhơn. Hoá ra là bà nhà...
   Đúng thế anh Tám, má tôi lại trong diện cải tạo tư sản nữa nên tôi cũng giữ mồm giữ miệng một chút...


Tiêu đề: DÒNG ĐỜI - Nguyễn Trung
Gửi bởi: trachvandung trong 23 Tháng Tám, 2019, 02:12:39 pm
   Má ạ, vợ anh Tám và con gái cũng bị giặc giết chết trong trận Mỹ nguỵ càn quét Củ Chi. – Hai Phong nói với mẹ.

Nỗi đau năm nào quặn lên, nhưng ông Tám cố làm như không nghe thấy lời Hai Phong. Ông tiếp tục câu chuyện của mình:

   Thế hoá ra Ba Tước, Tư Quang, Năm Thịnh là em ruột anh?

   Dạ vâng.

   Thảo nào người ta cứ gàn không cho tôi đến thăm đây... - ông Tám Việt biết mình lỡ lời, không nói tiếp ý đang nói nữa. – Mấy năm nay rồi, tôi không có thời giờ dự các cuộc họp đồng hương Vĩnh Long nên lạc hậu quá chừng... Thế này tôi càng có nhiều lý do đến thăm gia đình ta
 

   đây. Tôi cũng không... - ông Tám Việt bỏ dở ý đang nói, chuyển sang ý khác: - Thế nào tôi cũng đến thăm lại gia đình ta, hôm nay coi như cuộc thăm đầu tiên, tôi sẽ nhớ mãi...

Không khí chia tay giữa chủ và khách ấm cúng như giữa những người thân trong một gia đình. Má Sáu cũng đi cùng với cả nhà ra tận cửa tiễn khách, ông Tám ân cần chào đi chào lại mấy lần…

Trước khi bước lên xe, ông Tám Việt còn bắt tay ông Tư Cương thêm một lần nữa:

   Ông Tư, buổi gặp mặt hôm nay có đáng để các ông sẽ gặp nhau bật nút một chai không?

   Đáng lắm, ông Tám. Nhất là tôi được ông mời nói với tư cách là chủ nhân của Sài Gòn! Không gì vinh dự hơn cho tôi, kể từ ngày Sài Gòn giải phóng đấy...

Ông Tám Việt xiết chặt tay ông Tư Cương, sau đó quay ra nói với Hai Phong:

   Cho tôi gửi lời hỏi thăm Võ Sang. Anh tính xem lúc nào ta tổ chức cuộc gặp mặt các chiến hữu cũ...
   ...

Ngồi trong xe, ông Tám Việt nói với người trợ lý của mình:

   Bà Sáu Nhơn là con người sắc sảo. Nhưng câu chuyện rượu của ông Tư Cương khiến tôi càng nghĩ rằng đang tồn tại một Sài Gòn khác!..
   Dạ vâng…

   Người dân tự do của một quốc gia độc lập!.. Đảng viên chúng ta bây giờ phải ráng mà hiểu điều cốt tử này các cậu ạ!.. – ông Tám thổ lộ tâm sự của mình.
   Anh ạ, nhưng mà bà Sáu Nhơn nói như vậy ý đích thực là gì? Là dân đòi quyền của mình hay là Đảng trao quyền cho dân? Suốt bữa cơm em cứ nghĩ quẩn quanh mãi về câu nói của bà. - Người trợ lý của ông Tám hỏi lại.

Ông Tám cười, vì rất thích câu hỏi người trợ lý đặt ra:

   Tôi chịu cậu là người hay vặn vẹo.

   Nghề trợ lý của em giúp anh chỉ có thế thôi mà!

   Theo cậu thì thế nào?

   Bây giờ thì chính anh vặn vẹo lại em đấy ạ.

   Chịu rồi, nói đi!

   Tất nhiên là để xảy ra tình trạng dân đòi quyền hay trao quyền cho dân đều không ổn, không đúng với tôn chỉ mục đích của cách mạng anh ạ. Chính anh chẳng nói về một sự chậm trễ nào đó là gì!

   Sao cậu lại đặt vấn đề như thế?

   Em nghĩ bà Sáu Nhơn cảnh tỉnh chúng ta đích đáng lắm ạ!.. Chẳng thế mà bà ấy muốn lấy tư cách là chủ nhân ông của Sài Gòn nói chuyện với anh!
   Chịu bả.

   Chịu như thế là anh đã thú nhận một điều gì đó hệ trọng lắm!

   Sao hôm nay cậu xoay ra truy mình dữ thế?

   Anh Tám ạ, Đảng đã lãnh đạo dân tộc mình đấu tranh để tự giải phóng mình khỏi kiếp nô lệ và mối nhục mất nước. Dân bây giờ là chủ đất nước. Rõ ràng không thể có chuyện đòi hay trao
   đây! Quyền là của dân cơ mà! Theo em, giác ngộ vai trò lãnh đạo có lẽ là Đảng phải giúp dân thực hiện được quyền của mình! Đấy là phương án tốt nhất!
   Thế phương án tồi nhất?

   Hình như bà Sáu Nhơn và anh đã nói ra rồi ạ…

   Cậu nói cái gì?

   Hỏi thế là anh hiểu ý em rồi đấy ạ. Em còn đang suy nghĩ tiếp…
 
Ông Tám Việt im lặng mất một lúc:

   Có thể… Có thể… Câu chuyện là thực hiện, chứ không phải là nói lý… Vấn đề hệ trọng quá… Cậu thu xếp thời giờ lúc nào đó ta vần nhau vấn đề này được không? Kéo ai có đầu óc cùng tham gia cho vỡ lẽ…

   …

Tám Việt ra về, nhưng ở nhà bà Sáu Nhơn, câu chuyện giữa mẹ con và bà cháu rôm rả mãi. Đặc biệt, đề tài sữa chua trở thành công cụ khám phá ra một đời sống kinh tế rất tự nhiên của Thành phố, khác hẳn với đời sống tem phiếu đang làm cho ông Tám Việt lo lắng. Ngồi nghe các cháu kể người dân tự mua bán, đổi chác với nhau để giải quyết nhu cầu hàng ngày của cuộc sống, má Sáu nhận thấy các cháu mình đã thông thạo hơn nhiều, đã hiểu biết ít nhiều thế nào là làm ăn, má rất vui. Bà Ngân và con dâu con gái làm xong việc dọn dẹp, rửa bát cũng ra góp chuyện. Cuối cùng má Sáu phải đứng dậy giục con cháu mình đi ngủ, để còn tiếp tục công việc ngày mai. Bích Ngọc đã trở về buồng với con từ lúc nãy...

Riêng má Sáu còn ngồi lại một mình hồi lâu. Hôm nay má cảm thấy rất vui, vì có dịp nói cho người có chức có quyền hiểu suy nghĩ của mình, vì thấy các cháu mình khôn ngoan lên nhiều...

Trước khi trở về phòng riêng, má Sáu ngồi nán lại một mình hồi lâu trước bức hoạ chân dung ông Sáu Nhơn, được vẽ vào cái năm hãng sơn Geko phá sản... Từ đó đến nay bao nhiêu cuộc bể dâu... Đã bao nhiêu lần má ngồi một mình như thế trước bức chân dung này, mỗi khi quá xúc động ...

Cái tấm kính của tranh bị nứt làm đôi, bụi bặm và thời gian làm cho vết nứt thành một vết đen lớn, khiến bức tranh trông cứ như bị xé. Đôi ba lần Bảo Vân còn nàn nỉ tiếp với má cho thay tấm kính vỡ này, nhưng lần nào má Sáu cũng một mực:

- Con không được đụng tới... Đó là một kỷ niệm buồn...

Ai biết được dòng suy nghĩ của người mẹ già này bắt nguồn từ đâu, hôm nay đang hướng về đâu…
 

12.

Vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, xí nghiệp in Tự Lực được Thành phố tặng cờ thi đua quyết thắng. Xí nghiệp đã có nhiều sáng kiến huy động các nguồn bên ngoài kế hoạch chỉ tiêu để bảo đảm nhiệm vụ in ấn theo kế hoạch trên giao cho, đồng thời còn tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho tất cả mọi người trong xí nghiệp. Hôm nay Đoàn Danh Thắng báo cáo với giám đốc Hai Hân sơ kết tình hình 6 tháng đầu năm 1985 về thực hiện toàn bộ mảng “kế hoạch 3” của xí nghiệp in quốc doanh Tự Lực.

Đoàn Danh Thắng là con Đoàn Danh Tiến. Với sự tháo vát của Hai Hân, ý tưởng chuyển cả gia đình Thắng từ Hà Nội vào trong này sinh sống được thực hiện mỹ mãn, có hộ tịch đàng hoàng. Đáp lại, Thắng luôn luôn cố gắng tỏ ra là một trợ thủ xứng đáng.

Làm gì thì Hai Hân quyết, nhưng thực hiện mọi hoạt động của “kế hoạch 3” theo cái CP25 thì Hai Hân giao hết cho Thắng, vì là chỗ tin cậy được, hơn nữa đúng là Thắng có sở trường cho loại công việc “tạp- pí- lù”. Về biên chế Hai Hân giao cho một người khác phụ trách. Hai Hân muốn tách bạch ra như vậy để dễ quản lý. Anh ta học lỏm được bí mật này từ Tư Cương trong những năm vẫn còn nhà in của ông Học. Ngoài nhiệm vụ chính của xí nghiệp là làm các sản phẩm in ấn theo kế hoạch Nhà nước trung ương hay Thành phố giao, tính ra xí nghiệp quốc doanh in Tự Lực bây giờ có tới 16 sản phẩm, nghĩa là 16 loại việc, cơ sở hay dịch vụ làm các nghề khác nhau trong “kế hoạch 3”.

Báo cáo xong kết toán thu chi, Thắng lắc đầu bái phục Hai Hân:

   Em chịu anh đấy, Anh kiếm đâu ra bằng ấy công việc để nuôi bây giờ là gần bốn trăm con người, cũng có nghĩa là già nửa số bốn trăm gia đình!
   Cậu nói cái gì, đã lên đến con số 400 rồi à? Sao dắt díu nhau vào nhanh thế?!.

   Nhanh hay chậm thì em không biết. Nhưng cứ tính sổ phụ cấp mà em phải chia vào sổ lương hàng tháng thì con số chuẩn xác là 397 suất.
   Mức phụ cấp bình quân một tháng lương tối thiểu còn giữ được chứ?

   Được ạ.

   Đà này một năm nữa thì lên đến một nghìn chắc? Cậu có biết khi tôi mới dựng lên xí nghiệp Tự Lực, biên chế này có bao nhiêu người không?
   Em đoán cỡ một nửa hiện nay ạ.

   Làm gì! Có hơn sáu chục thôi, sau đó tuyển thêm, rồi lại sáp nhập thêm 2 xưởng in nhỏ nữa, tất cả cũng chưa đầy một trăm hai mươi người! Cứ thế này thì lấy gì mà nuôi cả một huyện người? – nỗi lo hàng ngày của Hai Hân lại bục ra.

   Có như thế mới cần đến CP25 chứ ạ.

Hai Hân ngồi im, hai tay chống cằm, nhìn gục xuống bàn. Thắng thấy thủ trưởng như vậy cũng không dám nói tiếp nữa.

Trong đầu Hai Hân lại vật lộn quyết liệt với những ý kiến của các cuộc họp đảng ủy và ban giám đốc xí nghiệp. Lúc thì Hai Hân là đối tượng bị đả kích, lúc thì Hai Hân là người tấn công tới tấp. Loại ý kiến đả kích thì cho là Hai Hân lộng quyền, dám ngồi lên trên đảng uỷ và ban giám đốc, làm chệch hướng nhiệm vụ chính trị của xí nghiệp... Hai Hân phản công lại bằng cách vạch ra sự bất lực và những công việc vô tích sự của đảng uỷ và ban giám đốc trước những vấn đề nóng bỏng của xí nghiệp và của cuộc sống sáu bảy trăm con người! Vì ai đi làm mà không có gia đình...

Thu nhập thực tế giảm nhanh hàng ngày so với tốc độ lạm phát, đồng thời khả năng cung ứng các nhu yếu phẩm của nhà nước ngày càng hạn chế. Thực tế này làm cho tâm trạng nhiều người trong xí nghiệp bất ổn, có lúc từ trạng thái lo lắng, chán nản, chuyển sang bất bình.

Đứng trước tình hình này, đã ba bốn lần đảng uỷ đề nghị phải tăng thêm số buổi đọc báo trong giờ làm việc, để giữ vững tinh thần và củng cố lập trường tư tưởng!.. Hai Hân như muốn phát điên trước những đề nghị như vậy, nhưng phải ngậm miệng. Hai Hân tính toán: ...phê
 
phán toạc ra chắc chắn sẽ bị chụp mũ, mà như thế sẽ đi đứt hết... Nhiều khi ấm ức quá, Hai Hân dằn lòng, nói lầu bầu trong bụng: “Mẹ kiếp, không biết ở đâu ra lắm cái thứ Đoàn Danh Tiến nữa vời thế! Muốn sống bằng không khí với nhau thì tha hồ nói xuông. Còn muốn có gạo, có thịt, có phụ cấp chia nhau, xin các vị yên đi cho Hai Hân này nhờ! ...”.

Rủa thầm như thế làm cho Hai Hân như đi nhẹ đôi phần... Cương vị đứng mũi chịu sào cả một con thuyền mang nguồn sống của mấy trăm gia đình ngày một ngày hai đã làm phai mờ thần tượng Đoàn Danh Tiến trong đầu Hai Hân từ lúc nào không biết. Hai Hân cũng tự xỉ vả mình: “...Cái thứ khoe mẽ bên ngoài học được từ Đoàn Danh Tiến cho khởi nghiệp mình đã xài hết rồi. Cái thời cần mấy thứ lý luận trang trí để giễu võ giương oai cũng chấm dứt rồi. Học được xong là thấy chán ngấy! Cuộc sống xí nghiệp này đã mấy lần cho ta ăn những cú đấm vỡ mặt!.. Bây giờ cứ mài mãi những thứ võ mồm ấy ra xài tiếp thì cả cái xí nghiệp quốc doanh to đùng này đi tong mất! ...”.

Sự cọ sát của cuộc sống, sự chai sạn trước những lời hùng biện tăng lên, rốt cuộc những điều học được từ Đoàn Danh Tiến chỉ còn vương đọng lại trong đầu Hai Hân sự khinh ghét cái thói ba hoa chích choè lý thuyết suông của bất kỳ ai.

... Hay là bây giờ mình mới thực sự trưởng thành? – Hai Hân tự hỏi mình. Nhưng rồi những chuyện cơm áo gạo tiền cho cả một huyện người như thế nhiều lúc không cho Hai Hân thở nữa, nói chi đến những câu hỏi triết lý vớ vẩn!

Số người tham gia kháng chiến nhưng sau giải phóng không có việc làm được tổ chức đưa về xí nghiệp ngày một nhiều, khó từ chối lấy một người!.. Xí nghiệp cứ thế đông mãi lên, những người không nghề nghiệp chuyên môn trong xí nghiệp cũng tăng theo. Song cái khó lớn hơn nhiều cho Hai Hân là trong số này có những người là bậc đàn anh của Hai Hân về nhiều phương diện: tuổi Đảng, quá trình tham gia kháng chiến, chức vụ đã giữ trong Đảng, huân chương, thương binh... Họ chỉ thua Hai Hân là chưa bao giờ làm việc trong một xí nghiệp, ít hiểu biết về kinh tế, lại càng không hiểu được những gì Hai Hân muốn làm theo Tư Cương. Những người này khá đông, không dễ gì lấn át được họ. Trong suy nghĩ của những người này khuôn vàng thước ngọc rất rõ ràng: Xí nghiệp là của Nhà nước, Nhà nước trả lương nuôi cán bộ công nhân viên chức, xí nghiệp làm nhiệm vụ Nhà nước giao, không có “kế hoạch 3, kế hoạch 4” gì hết, như thế mới là xã hội chủ nghĩa!..

Bí thư chi bộ của Hai Hân trong xí nghiệp là đại úy phục viên. Hai Hân trực tiếp xin anh ta về làm công tác Đảng khi xí nghiệp Tự Lực mới thành lập. Song cũng chính người bí thư này đã có lần đề nghị khai trừ Hai Hân ra khỏi Đảng, vì cho Hai Hân là con ngựa bất kham, là độc đoán, vi phạm đường lối chính sách của Đảng. Từ ngày xí nghiệp có thêm mấy chi bộ, ông này trở thành bí thư đảng uỷ, càng ghen ăn tức ở với Hai Hân...

Cuộc đời phiêu dạt thời niên thiếu rèn cho Hai Hân cái tính lì. Hai Hân không mảy may nghĩ đến đầu hàng trước những đòn đả kích như thế. Tranh luận không ngã ngũ được trong những cuộc họp hẹp, Hai Hân tìm cách hoãn binh, rồi chờ dịp đưa những vấn đề gay cấn ra các kỳ hội nghị cán bộ công nhân viên chức, với những câu hỏi dứt khoát:

   ... Một bên là mở thêm cho mỗi phân xưởng một căng tin nữa thì may ra có thể giữ nguyên hoặc tăng thêm chút ít thu nhập phụ. Một bên là không căng tin thì giảm nữa thu nhập phụ, vì biên chế ngày càng đông. Xin tuỳ toàn thể hội nghị lựa chọn...

   ... Hoặc mở thêm căng tin, hoặc giảm ba chục phần trăm biên chế! Phương án nào tôi cũng xin thi hành nghiêm túc!..

Với những ý kiến như thế trong hội nghị số đông, thường thường là Hai Hân thắng. Thắng áp đảo! Xì xèo trong xí nghiệp và trong giới lãnh đạo đả kích Hai Hân xẹp đi sau đó. Ông bí thư đảng ủy lặng thinh, chờ cho đến khi bắt đầu có chuyện ỉû eo mới...

Ba bốn lần “kế hoạch 3” chẳng đem lại kết quả mong đợi, phụ cấp cho cán bộ công nhân viên chức trong xí nghiệp tụt trông thấy, Hai Hân ngay lập tức lại trở thành bia hứng đạn.

Bị bắn đi bắn lại, người Hai Hân chai ra.

Cái mạnh của Hai Hân hình như không viên đạn nào bắn gục được. Bởi cho đến nay Hai Hân
 

không tham ô một xu, không vụ lợi riêng tư. Ngay cả đến việc phân nhà mới cho phù hợp với cương vị giám đốc - Hai Hân cũng chưa nhận. Không ít người cho là Hai Hân làm cao, chê nhà xấu, có ý đồ muốn đòi nhà oách hơn!.. Mặc!

   nhà, vợ Hai Hân kèo nhèo với chồng đến đâu cũng thế thôi... Hai Hân còn muốn tiến xa hơn. Cái tính đã quyết là làm gây ra cho Hai Hân không ít kẻ thù trong xí nghiệp. Song hình như cũng cái tính này làm cho Hai Hân thắng nhiều hơn bại, cho đến nay là bất khả chiến bại!

... Kiểu gì thì cũng phải tìm cách nuôi sống mấy trăm con người, đã thế lại còn phải giúp chỗ này chỗ khác trong Thành phố nữa chứ! Giật gấu vá vai thế này thì cũng tạm được, không chết đói. Nhưng mệt lắm rồi. Chẳng lẽ cái thành phố này cứ chèo chống mãi hay sao, còn phải đi lên, còn phải phát triển nữa chứ! Có cho mình làm đến chức chủ tịch của cái thành phố này thì chắc mình cũng chết chìm luôn trong không biết cơ man nào là vấn đề!..

   Thưa anh, em báo cáo xong rồi. Anh còn hỏi gì nữa không ạ. Nếu không em xin phép...

Đến lúc này Hai Hân mới ngửng mặt lên nhìn Thắng:

   Trong số này có bao nhiêu người tạm tuyển?

   Anh hỏi những người chưa có lương và mới ch