Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:52:42 PM



Tiêu đề: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:52:42 PM

        P-12, đài rađa cảnh giới trên không, tự hành, sóng mét do LX chế tạo dùng để phát hiện, nhận biết, xác định và chỉ thị tọa độ mục tiêu (phương vị, cự li, độ cao) cho tên lửa phòng không và pháo phòng không, bổ trợ dẫn đường cho máy bay. Các bộ phận chính: hệ thống an ten, xe an ten, xe đài, máy hỏi NRZ-12, nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện theo phương vị 360°, theo góc tà 1,5-30°; cự li phát hiện (khi diện tích phản xạ hiệu dụng của mục tiêu lm2) 45.000m với mục tiêu ở độ cao 500m và 165.000m với mục tiêu ở độ cao l0.000m; khả năng phân biệt: phương vị 11°, cự li 2.000m; độ rộng cánh sóng: ngang 11°, đứng 30°; góc che khuất (hướng chính) <=30’. Có 4 tần số làm việc để chống nhiễu tích cực; chống nhiễu tiêu cực theo nguyên lí hiệu ứng Đôple và tách mục tiêu di động trên đèn tích nhớ...; thời gian mở máy 6ph; thu hồi, triển khai lh30ph; tốc độ quay anten 0,5-6 vg/ph. P-12 thường làm việc cùng các đài P-35. đài đo cao ở các trạm rađa và trang bị cho các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa  phòng không. Các biến thể: P-12NA, P-12NP.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67444762_459262844803601_1905832862188306432_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEDBz1Xlyo1y9z-GitfDEfsIyg34asJUw2ZF7D7yxOpYXynS4m3XfQ0RRO5VjOanqxBz0ATO_fY95cctLJdHup7pm78MxC8ovcT3pYqOVb5RA&_nc_oc=AQnXaY2xBw7fGZCBTIOhdYDlQ7o2uJnldxA2vd78OyOVekGmFi_K5pyIfznZHZqoYKk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6df602285f6bdc2422d85c243bd6d955&oe=5DAEECC8)


        P-14, đài rađa cành giới trên không tầm xa. sóng mét do LX chế tạo dùng để phát hiện, nhận biết, xác định phương vị, cự li mục tiêu ở cả ba tầng: thấp, trung, cao. Các bộ phận chính: hệ thống anten, moóc đài, máy tăng tần, máy hỏi NRZ-14, nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện: theo phương vị 360°, theo góc tà 12°40’; cự li phát hiện (khi diện tích phân xạ hiệu dụng của mục tiêu lm2): 80.000m với mục tiêu ở độ cao 500m, 320.000m với mục tiêu ở độ cao 10.000m; khả năng phân biệt: phương vị 8°, cự li 3.500m; độ rộng cánh sóng: ngang 6-8°, đứng 15-17°; góc che khuất (hướng chính) <15’. Có 4 tần số làm việc để chống nhiễu tích cực; chống nhiễu tiêu cực và địa vật bằng phương pháp chọn mục tiêu di động trên thiết bị trừ; chống tên lửa tự dẫn bằng ngắt xung khởi động của hệ thống phát. Thời gian mở máy 4ph, triển khai 24h; tốc độ quay anten: 2, 4, 6 vg/ph. P-14 thường cùng làm việc với đài rađa đo cao ở các trạm rađa.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67755190_459262938136925_8607581495927767040_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGCJtOeL50-ZQY8_7DILtJrI0XvZspDKqJsxHQ1-HnyLf7rDqPldVTH40w7RVqNCqvXMQ5tI_lccZXfTxOvww7Q8RJv44V3VUBRZza4CNFP9w&_nc_oc=AQnvxkgo_7vlNCwBsygE6OLXEi2dM-7vfqn9_r9U9BlNpb5EcOvZo7VWbP2osgCbUds&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5530e3435c773bedac0f1ce2b950aa85&oe=5DAA1FAC)


        P-15, đài rađa cảnh giới trên không, tự hành, sóng đềximét do LX chê tạo dùng để phát hiện, nhận biết, xác định phương vị, cự li, độ cao mục tiêu ở tầng thấp và tầng trung; chỉ thị mục tiêu cho phân đội hỏa lực tên lửa phòng không, bổ trợ dẫn đường cho máy bay... Các bộ phận chính: hệ thống anten, xe đài, máy hỏi NRZ-15, nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện theo phương vị 360°, góc tà 20°; cự li phát hiện (khi diện tích phản xạ hiệu dụng của mục tiêu lm2): 26.000m với mục tiêu ở độ cao 50m. 170.000m với mục tiêu ở độ cao 4.000m; khả năng phân biệt: phương vị 8°, cự li 2.500m; độ rộng cánh sóng ngang 4°30, đứng 20°; góc che khuất (hướng chính) <10’. Có 3 chương trình, mỗi chương trình có 3 tần số làm việc để chống nhiễu tích cực; chống nhiễu tiêu cực theo nguyên lí hiệu ứng Đôple. Thời gian mở máy khẩn cấp 2ph. Có 4 chế độ thu: biên độ, tích lũy, kết hợp, hỗn hợp. Chống tên lửa tự dẫn bằng cách phát sóng ngắt quãng, phát sóng trong dải quạt. Thời gian triển khai, thu hồi l0ph: tốc độ quay anten 6 vg/ph. P-15 có khả năng cơ động cao, phát hiện tốt các mục tiêu bay thấp, thường cùng làm việc với các đài rađa sóng mét ở các trạm rađa hoặc trang bị cho tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67524508_459262851470267_8697870616251858944_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGdvlxl0PxPQycALrIVnysKQMO3qjWXbdCx0erfEGP2TTLed9GRWUrJBQZy2G3_pwD0Ub8GDAjMoSrktOL6v84up24mwOeReNykXOk5fNaG6Q&_nc_oc=AQndfBbTMiY2RFmv6dBPrNgnXhUca1zCk7HfNOUtk_PZE5jWT7tBSS43KVKhXKNpgRM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=cafecd388ca5f0dd3e52bdaab2edbe44&oe=5DE63ADD)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:54:19 PM

        P-18. đài rađa cánh giới trên không, tự hành, sóng mét do LX chế tạo dùng để phát hiện, nhận biết, xác định phương vị, cự li và chỉ thị mục tiêu cho tên lửa và pháo phòng không, bổ trợ dẫn đường cho máy bay... Các bộ phận chính: hệ thống anten. xe anten, xe đài, máy hỏi NRZ-18, nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện: theo phương vị 360°, theo góc tà cự li phát hiện (khi diện tích phản xạ hiệu dụng của mục tiêu lm2): 44.000m với mục tiêu ở độ cao 500m, 170.000m với mục tiêu ở độ cao l0.000m: khả năng phân biệt: phương vị 6°, cự li 2.000m; độ rộng cánh sóng: ngang 6°, đứng 0,5°; : góc che khuất (hướng chính) <= 15'. Có 4 tần số làm việc để chống nhiễu tích cực; chống nhiễu địa vật và chống nhiễu tiêu cực bằng phương pháp chọn mục tiêu di động; chống tên lửa tự dẫn bằng cách phát sóng ngắt quãng hoặc trong dải quạt; thời gian mở máy 3ph. thu hồi lh30ph: tốc độ quay anten: 2,4, 6 vg/ph. P-18 thường làm việc cùng các đài P-35, đài rađa đo cao ở các trạm rađa. P-18 còn được trang bị cho các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa phòng không.

        P-35, đài rađa cảnh giới trên không, sóng centimét do LX chế tạo dùng để phát hiện, nhận biết, xác định phương vị, cự li và chỉ thị tọa độ mục tiêu cho tên lửa và pháo phòng không, dẫn đường cho máy bay... Các bộ phận chính: hệ thống anten, moóc thu phát, xe hiện sóng, máy tăng tần, máy hỏi NRZ-20, nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện theo phương vị 360°, theo góc tà 0,5-30°; cự li phát hiện (khi diện tích phản xạ hiệu dụng của mục tiêu lm2): 50.000m với mục tiêu ở độ cao 500m. 180.000m với mục tiêu ở độ cao 10.000m; khả năng phân biệt phương vị 1°, cự li 500m; độ rộng cánh sóng ngang 0,7-1,7°, đứng 30°; góc che khuất (hướng chính) <= 15°. Có 6 máy phát, 6 máy thu làm việc ở các tần số khác nhau, chống iu tích cực bằng cách chúc ngẩng anten, phát hiện, tắt máy thu bị nhiễu và cơ động cánh sóng để bù lấp khe hở. Chống nhiễu không đồng bộ bằng phương pháp lọc theo chu kì bằng đèn tích nhớ. Chống nhiễu địa vật ở cự li gần bằng phương pháp chắn tín hiệu... Thời gian mở máy 5ph, triển khai 6h, thu hồi 5h. Tốc độ quay anten 3 và 6 vg/ph. P-35 thường làm việc cùng đài rađa sóng mét P-12 (P-18) và đài rađa đo cao PRV-11 (PRV- 16). Trong KCCM, bộ đội rađa dùng P-35 phát hiện máy bay Mĩ và dẫn đường cho máy bay ta đạt hiệu quả cao.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67476427_459262868136932_3181853098775674880_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEvtOoZa3z1cq4iPMD2Q5TkIAq7O3knGlh79I_3_njdL7nPumH5bhG76njI4aeZG_127F_7QuryhicjVb281Vmh-1hU4U_H_niC2PrkykfO3Q&_nc_oc=AQn08BRjYC3tNm1N9C-pAx_oeNj9um0ZS93xthDyIMObClUsDSYwRJxUMEZ57tUUDlk&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a485b7c2237d6eeb731f210dd88812c1&oe=5DDAC72F)


        PAKIXTAN (Cộng hòa hồi giáo Pakixtan; Islam-i Jamhuriya-e Pakistan, A. Islamic Republic of Pakistan), quốc gia ở Nam Á. Dt 796.095km2; ds 150,694 triệu người (2003); 44% người Pungiáp, còn lại là người Xinh, Pastu, Baluchi, Muhagia. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Uốcđu, Anh. Tôn giáo: 92% đạo Hồi dòng Sunni. Thủ đô Ixlamabat. Chính thể cộng hòa hồi giáo liên bang, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng nghị viện và hội đồng dân tộc). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Đông và đông nam là đồng bằng châu thổ Sông Ấn; bắc và tây bắc là triền núi của dãy Himalaya, Hindu Cúc, đỉnh cao nhất 7.690m; tây và tây nam là núi và cao nguyên; một phần lãnh thổ ở đông nam thuộc sa mạc Tarơ. Khí hậu cận nhiệt đới lục địa. Sông chính: Sông Ấn. Nước nông nghiệp (52% lao động). Bông xuất khẩu là nguồn thu ngoại tệ chính. Giàu khoáng sản than, đồng, vàng và dầu khí. Công nghiệp luyện kim, hóa chất, thực phẩm, dệt, xi măng... GDP 58,668 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 410 USD. Thành viên LHQ (30.9.1947). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.1972. LLVT: lực lượng thường trực 620.000 (lục quân 510.000, hải quân 25.000, không quân 45.000...), lực lượng dự bị 513.000. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 2.357 xe tăng, 1.181 xe thiết giáp chở quân, 1.467 pháo mặt đất, 240 pháo tự hành, 800 tên lửa chống tăng, 725 súng cối, 2.000 pháo phòng không, 1.400 tên lửa phòng không, 122 tên lửa đất đối đất, 10 tàu ngầm, 8 tàu frigat, 5 tàu tên lửa, 3 tàu tuần tiễu, 3 tàu quét mìn, 9 tàu hộ tống, 342 máy bay chiến đấu, 5 máy bay trực thăng vũ trang... Có vũ khí hạt nhân. Căn cứ QS: cảng biển và sân bay quốc tế Carachi. Ngân sách quốc phòng 2,6 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67778906_459262878136931_4187816688122593280_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHC5tJjGMmDJYrK2wKfOfijIbmUzs_LcQIA1o9TmjtC2pSvSmVAJ2uaX1n-WGaqoai4_IvkjfixcmMJs6XaXVz_A3MRNhTHaZKIyxwQtsdBIA&_nc_oc=AQnTxZIEDKZVV6kML-Y4zEmj_azG4Ecji7AVy5ArSl-fb0TBSY62TYV--rGlGYMd604&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6fcc5390e861dd2371256d0474654ed1&oe=5DE22573)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:56:06 PM

        PALAO (Cộng hòa Palao; Belu’u er a Belau, A. Republic of Palau), quốc gia thuộc quần đảo Micrônêxia ở tây Thái Bình Dương; đông Philippin 885km, bắc Niu Ghinê 720km. Dt 488 km2; ds 20 nghìn người (2003). Ngôn ngữ: tiếng Palau, tiếng Anh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Thủ đô: Côro. Chính thể cộng hòa liên minh tự do với Mĩ, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Lãnh thổ gồm khoảng 340 đảo đá san hô và đảo núi lừa. xung quanh có đá ngầm, trai dài bắc - nam 160km, rộng đông - tây 30km. Khí hậu đại dương ẩm, chịu tác động của dòng hải lưu bắc xích đạo, lượng mưa lớn. Sản xuất nông nghiệp và đánh cá là ngành kinh tế chính. Du lịch đang phát triển. Buôn bán thương mại chủ yếu với Mĩ. Xuất khẩu: sản phẩm biển, cùi dừa, hàng thủ công mĩ nghệ. GDP 122 triệu USD (2002), bình quân đầu người 6.280 USD. Thành viên LHQ (15.12.1994).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67359498_459262891470263_1250962766022311936_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeHnP_PysMs6GfjWr0aiaclBLeCk6R5rYc-vNa0PobwPUu0y9iFp5RbDQIrwl9QjdcGAVqRwevNtZjfct5gSqUGE-mEjQgubcZZEqsMMYMo2_A&_nc_oc=AQnCvYRhPRNxWP0-U0TsHfSg0XTkzI4ME7LgTaXV4z2UQh9zv9B1IVR69Xss2Y_xyyA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8ddcb1e865d2334c4dc0c6862a4db527&oe=5DAD3981)


        PALEXTIN (Falastin; A. Palestine), vùng đất lịch sử ở Tây Á, thuộc khu vực Trung Đông; nằm trên bờ đông nam Địa Trung Hải. giữa Libăng, Xiri, Gioocđani và Ai Cập. Dt 26.000km2. Địa hình chủ yếu là cao nguyên. Ven Địa Trung Hải là dải đồng bằng hẹp, vùng núi trọc Giuđa ở trung tâm, thung lũng sông Gioocđan ở đông bắc, phía nam là sa mạc Nêgêp. Đầu tkl6- 1919 bị đế quốc Ottoman thống trị. 1920-47 là đất ủy trị của Anh. 20.11.1947 Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết chấm dứt quyền ủy trị của Anh, thành lập hai quốc gia độc lập: một của người Arập Palextin, một của người Ixraen; tách Giêruxalem thành đơn vị hành chính do LHQ kiểm soát. Sau khi nhà nước Ixraen thành lập (14.5.1948), nổ ra các cuộc chiến tranh Ixraen - Arập. 1948- 49 Ixraen chiếm hơn 1/2 diện tích lãnh thổ của người Arập Palextin và phần tây Giêruxalem; đuổi hơn 900.000 người P (2 triệu người, 1985) ra khỏi vùng chiếm đóng, nảy sinh vấn đề người tị nạn P. 1967 Ixraen chiếm toàn bộ phần lãnh thổ của người P, phần tây Giêruxalem. bờ tây sông Gioocđan, dải Gada, bán đảo Xinai của Aicập, cao nguyên Gôlan của Xiri. 28.5.1964 Tổ chức giải phóng P (PLO) được thành lập, liên tục đấu tranh giành lại chủ quyền lãnh thổ, được hơn 100 nước công nhận là đại diện của nhân dân P, có cơ quan đại diện ở nhiều nước và tổ chức quốc tế. 15.11.1988 Hội đồng dân tộc P quyết định thành lập Nhà nước P độc lập, lấy Giêruxalem làm thủ đô. Chủ tịch PLO Y. Araphat được bầu làm tổng thống đầu tiên. Lập quan hệ ngoại giao với VN 19.11.1988. Chính quyền Phiện quản lí các vùng tự trị ở dải Gada và tp Giêricô thuộc khu vực bờ tây sông Gioocđan; dt 6.240km2; ds 2,9 triệu người (2000). LLVT: QD giải phóng P (PNLA) gồm 8.000 người, có căn cứ ở các nước Angiêri, Ai Cập, Libăng, Libi, Gioocđani, Xiri, Xuđăng, Yêmen; lực lượng bán vũ trang ở các khu vực tự trị 35.000 người. Trang bị: vũ khí nhẹ, 45 xe thiết giáp chờ quân. 4 máy bay trực thăng. 9.1993 PLO và Ixraen kí tuyên bố chung thỏa thuận các nguyên tắc giải quyết vấn đề P nhưng các cuộc xung đột P - Ixraen vẫn tiếp diễn.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67882419_459262901470262_3078007940678942720_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHGIzspkgNZxgpI36x2x5FRTasuTmBEQlsgsWDPnSGwO94YkL2K2cuGuxDSYEG-4VQlQOn-b2h27ehqbyhqO3Gz7wDNllpzkeh5hAw8Gqi1sQ&_nc_oc=AQlo2np8QBVDADfULj_-5027GhuYlWUlYzhKqxqV7bVB3MaYs2Rwj1d8udsEdUiVCus&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=727af83088cb69537681cac9065a64a3&oe=5DD7EA2C)


        PAMIA. hệ thống núi và cao nguyên ở Trung Á, phần lớn thuộc Tatgikixtan, một phần thuộc TQ và Apganixtan. Ngọn núi cao nhất 7.597m (ngọn Cônggua ở TQ). Phần phía đông P là hoang mạc và núi cao, các dãy núi đều cao trên 6.000m. Phần phía tây là thảo nguyên, dọc theo các sông là những rừng cây lớn. Khí hậu lục địa núi cao khắc nghiệt, lượng mưa 60-250mm/năm. Đường ranh giới tuyết ở độ cao 4.000- 5.200m. Gần 3.000 sông băng, diện tích đóng băng khoảng 8.400km2; hầu hết sông suối ở P là nguồn của sông Amuađaria. Các hồ: Caracum. Răngcum, Soccum, Dooccum. P là trung tâm du lịch leo núi. Có tuyến đường ô tô Đông P.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:57:40 PM

        PANAMA (Cộng hòa Panama; República de Panamá, A. Republic of Panama), quốc gia ở Trung Mĩ. Dt 75.517km2; ds 2,96 triệu người (2003); chủ yếu người lai. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha. Tôn giáo: 90% đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Panama. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống, tổng tư lệnh tối cao các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Lãnh thổ nằm trên eo đất hẹp nối Trung Mĩ với Nam Mĩ. Gần 1/2 diện tích là núi, đỉnh cao nhất 3.475m. Hệ thống sông ngòi dày đặc. Kênh đào Panama cắt ngang lãnh thổ, nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương. Phía bắc và đông là rừng nhiệt đới. Ven biển là các dải đất thấp. Nước nông nghiệp; trồng chuối, cà phê, cam... Nhiều khoáng sản (vàng, sắt, thủy ngân...). Công nghiệp thực phẩm, dệt, đóng giày... GDP 10,171 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 3.510 USD. Thành viên LHQ (13.11.1945), Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 28.5.1975. Không có LLVT, lực lượng bán vũ trang: 11.800 người (11.000 cảnh sát quốc gia, 400 cảnh sát biển, 400 cảnh sát hàng không). Trang bị: 7 tàu tuần tiễu, 1 tàu đổ bộ, 6 máy bay, 21 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 135 triệu USD (2000).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67573301_459262914803594_19644037950603264_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGfhPO1oP22-e6_jLWaRbuMD6BAVrx9DLjNrVtD_cdSeKmGdy_BcGR2jQheQD3F8GqYdREQlXaWGzn1qpBC7Uqr9omgcG37cVt2SgLFKtDBSg&_nc_oc=AQmWJ6dY3Y92MQDnJWig9oePXpqalroTJPcxQU63tsPoJ0lYFUiXQDFQE3asfl8kTRI&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=94ba43efb3e44b39f60926e2f06a1330&oe=5DABD03F)


        PAOOEN (A. Colin Luther Powell; s. 1937), chỉ huy lực lượng đa quốc gia trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91). Đại tướng (1989). Năm 1958 tốt nghiệp trường sĩ quan, qua nhiều cấp tham mưu, chỉ huy. Đã hai lần sang VN: lần thứ nhất (1962-63) cố vấn QS cho Quân lực Việt Nam cộng hòa (QĐ Sài Gòn), lần thứ hai (1968-69) sĩ quan tham mưu tiểu đoàn rồi sĩ quan tác chiến Sư đoàn Amêricơn. 1972-89 liên tục làm việc trong các cơ quan chiến lược: nhân viên của Nhà Trắng, trợ lí phân tích tác chiến rồi phụ tá đặc biệt của bộ trưởng BQP, phó cố vấn rồi cố vấn an ninh quốc gia; chủ tịch Hội đồng tham mưu trường liên quân Mĩ hai nhiệm kì (1989-93). Tháng 12.1989 chỉ huy 25.000 quân xâm lược Panama. 1991 chỉ huy lực lượng đa quốc gia trong chiến tranh vùng Vịnh, P được coi như một huyền thoại về QS và Ah của nước Mĩ. Được thưởng 11 huy chương (có 2 huy chương trong thời gian tham chiến ở VN). 1993 nghỉ hưu; 1.2001 bộ trưởng Bộ ngoại giao Mĩ.

        PAPUA NIU GHINÊ (Nhà nước độc lập Papua Niu Ghinê; A. Independent State of Papua New Guinea), quốc gia ở tây nam Thái Bình Dương, thuộc châu Đại Dương. Lãnh thổ gồm: phần đòng đảo Niu Ghinê, quần đảo Bixmắc và phần bắc quần đảo Xôlômông. Dt 462.840km2; ds 5,295 triệu người (2001); phần lớn người Papua, có khoảng 700 bộ tộc khác nhau. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: phần lớn theo tôn giáo cổ truyền. Thủ đô: Pot-Môrixbi. Quốc gia độc lập trong Khối liên hiệp Anh, đứng đầu nhà nước là nữ hoàng Anh do một toàn quyền đại diện. Cơ quan lập pháp: nghị viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Núi cao chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, phía nam lãnh thổ giáp Niu Ghinê là đồng bằng, xung quanh các đảo có nhiều đá ngầm và đảo ngầm san hô. Khí hậu cận xích đạo, lượng mưa 4.000-6.500mm/năm. Thành viên LHQ (10.10.1975). Nước nông nghiệp chậm phát triển, kinh tế phụ thuộc ôxtrâylia. GDP 2,9 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 560 USD. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 30.11.1989. LLVT: lực lượng thường trực 3.100 người (lục quân 2.500, không quân 200, hải quân 400). Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 3 súng cối 81 và 120mm. 9 máy bay chiến đấu. 4 tàu tuần tiễu, 2 tàu đổ bộ, 6 máy bay vận tải, 4 máy bay trực thăng... Căn cứ hải quân: Pot Môrixbi. Ngân sách quốc phòng 13 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67547878_459262924803593_6148640365948698624_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGFCSvTkbsHSMdI7GryNtYtDo3E1K8kmPYFyLDBCSRGI31zwqW4CRe2u2AmK_-_twFq-NaAT1gTl7r74vWzAgXd7JvJoED_1riDrcQ1_vX1Og&_nc_oc=AQlqS27OSOqMp3DxJcGOX_9nMnBGdk4-xmRa9LlCwxQ2K3XabmKxXDjoy-gbS6MRvY8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=20f5ffa20f75b6b1ceb206f173e26434&oe=5DAE90AA)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 05:59:27 PM

        PARAGOAY (Cộng hòa Paragoay; República del Paraguay, A. Republic of Paraguay), quốc gia ở Nam Mĩ; bắc giáp Bolivia, đông giáp Braxin, tây và nam giáp Achentina. Dt 406.752km2: ds 6,036 triệu người (2003); 74% người lai, 26% người da đỏ, da trắng. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Axunxiôn. Đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Đồng bằng chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, tây và đông bắc là cao nguyên. Khí hậu nhiệt đới. Mạng sông ngòi dày đặc. Các sông chính: Parana, Paragoay, tàu thuyền đi lại được. Rừng chiếm 50% diện tích. Nước nông nghiệp, kinh tế phụ thuộc vào tư bản nước ngoài. GDP 7,206 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 1.280 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN 30.5.1995. LLVT: lực lượng thường trực 18.600 người (lục quân 14.900, không quân 1.700, hải quân 2.000), lực lượng dự bị 164.500, lực lượng bán vũ trang 14.800. Tuyển quân theo chế độ động viên. Thời hạn phục vụ 12-24 tháng. Trang bị: 12 xe tăng, 43 xe thiết giáp trinh sát 10 xe thiết giáp chở quân, 41 pháo mặt đất, 80 súng cối 81mm, 60 pháo phòng không, 28 máy bay chiến đấu, 17 máy bay trực thăng, 10 tàu tuần tiễu đường sông, 5 tàu hộ tống... Ngân sách quốc phòng 64 triệu USD (2001).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67621104_459262948136924_5153555327467126784_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHfTYQU-Pt8TcoooIWHKB1wsr90jqrrT9WOS6Z_tkn5xOS4k0cSi_u-M-rb4UXPtEGHf0E4CgIDlruceNCfCJz18_M8TQx8V2r_XD8R3abLKw&_nc_oc=AQlAfJwzd6PeL4rWJLotP7-FxntUNLnf_vNfxqfc4aSk9Qq_T2EdRQcxnKdGq0MVVJE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=920c8c041cb37e7fcbe47a44f208e004&oe=5DE0C9A4)


        PATRIOT (A. Patriot), tổ hợp tên lửa phòng không của Mĩ. Mỗi hệ thống gồm 8 bệ phóng M901, rađa AN/MPQ-53, đài điều khiển hỏa lực AN/MSQ-104, trạm nguồn AN/MSQ-24 có liên hệ chức năng với nhau. Tên lửa P kí hiệu MIM-104, là loại một tầng, nhiên liệu rắn, dài 5,18m, đường kính 0,41 m, sải cánh 0,92m, khối lượng khoảng 700kg, đầu đạn kiểu nổ mảnh (khối lượng 73kg, lắp ngòi nổ vô tuyến M818E1), tốc độ bay lớn nhất M=5, diệt mục tiêu ở cự li tà 3- 160km. độ cao 0,06-24,24km. điều khiển bằng vô tuyến kết hợp tự dẫn rađa bán chủ động. AN/MPQ-53 là rađa mạng pha, đa năng để quan sát, phát hiện, bám mục tiêu và dẫn tên lửa (cùng lúc có thể theo dõi 90-125 mục tiêu và dẫn 9 tên lửa tới các mục tiêu khác nhau). AN/MSQ-104 là máy tính số, tốc độ cao, cùng lúc có thể điều khiển được 16- 32 tên lửa. Thiết bị phóng M901 dạng hòm dài 6,lm, rộng 1,09m, cao 0,99m chứa 4 tên lửa, có góc phương vị 360° và thường phóng với góc tà 38°. Trạm nguồn AN/MSQ-24 có 2 tổ máy phát điện điêzen, công suất mỗi máy 150kW. Hệ thống p có thể bố trí trên 5 xe bánh hơi hoặc trên tàu chiến, P do hãng Raytheon (Mĩ) thiết kế chế tạo từ 1965, bắn thử lần đầu 1970, bắn thử tổng hợp 1975, được đặt tên và cho sản xuất hàng loạt 1976, trang bị 6.1982. Từ 1986 được phát triển để đánh chặn tên lửa đường đạn (chương trình PAC-1 nghiên cứu từ 1988-98). Đến 1994 đã sản xuất 858 bệ phóng với hơn 7.700 tên lừa P; từ 10.1994 đến 1999, sản xuất 1.500 tên lửa. cải tiến 180 bệ phóng. Sừ dụng lần đầu trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), đạt hiệu quả cao trong việc cản phá các tên lửa Scut của Irắc. P được xuất khẩu và triển khai ở Italia, Tây Đức, Niu Dilân, Nhật, Hàn Quốc...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67414777_459262961470256_6463455374186905600_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeGLfRzpslXJdJMp7MCTGsjDj7prSo7EdgA6SAJSrTkYmq1DMQkAn51LKx_BBnBJ4GXenJgrI3qV7aOix3TcPrdHAwUfFvoYdiv8r8N_PzeUWQ&_nc_oc=AQkyPTyUFZudcKTcx9v9tQTRz033lrAwxeOpeVYBJLKMP6toE0UuDmvp8Fuk719neb8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7f90f0df30874923857b65f1288cad1d&oe=5DE2B728)


        PÁC BÓ (Pác Bó), bản thuộc xã Trường Hà, h. Hà Quảng, t. Cao Bằng, tây bắc tx Cao Bằng 60km, cách biên giới Việt - Trung lkm; nơi Nguyễn Ái Quốc (Hố Chí Minh) sống và hoạt động từ khi về nước (28.1.1941) đến 2.1942 và từ 9.1944 đến khi chuyển về Tân Trào (5.1945). Riêng tại hang Cốc Bó (cg hang Pắc Bó), Hồ Chí Minh sống và làm việc từ 8.2.1941 đến cuối 3.1941. Gần hang có núi Nà Táng và Suối Giàng được Hồ Chí Minh đặt tên là núi Các Mác, suối Lênin. Tại lán Khuổi Nậm, cách hang Cốc Bó khoảng lkm, đã diễn ra hội nghị Trung ương VIII (10-19.5.1941) do Hồ Chí Minh chủ trì. 8.2.1970, PB được công nhận là khu di tích lịch sử CM.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:00:33 PM

        PẮC CHUNG HI (1917-79), tổng thống Hàn Quốc (1963- 79). Sinh ở gần Taegu, Hàn Quốc; trung tướng. 16.5.1961 cầm đầu cuộc đảo chính QS lật đổ chính phủ dân sự của tổng thống Yun Posun và thủ tướng Chang Mion. 1963 được bầu làm tổng thống và cầm quyền đến 1979, thời kì Hàn Quốc có những bước phát triển nhanh về kinh tế. Trong thời gian cầm quyền, PCH đã thi hành chế độ độc tài, cầm tù và tra tấn hàng trăm nhân vật đối lập, theo dõi hàng ngàn người khác, kiểm duyệt báo chí, cấm bãi công, đàn áp các cuộc biểu tình của sinh viên, đưa QĐ tham gia chiến tranh xâm lược của Mĩ ở miền Nam VN. 26.10.1979 bị Kim Jae Kĩu, người đứng đầu cơ quan tình báo Hàn Quốc bắn chết do bất đồng về chính trị.

        PERU (Cộng hòa Pêru; República del Peru, A. Republic of Pern), quốc gia ở Nam Mĩ; bắc giáp Êcuađo, Côlômbia, đông giáp Braxin và Bolivia, nam giáp Chile, tây giáp Thái Bình Dương. Dt 1.285.216km2; ds 28.490 triệu người (2003); 50% người lai, 46% người da đỏ. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha, tiếng Kêchoa. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Lima. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình núi cao, đỉnh cao nhất Oaxcaran 6.768m. Dãy Anđet chạy theo hướng đông bắc - tây nam. chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ; sườn phía đông và lưu vực sông Amadôn là rừng rậm nhiệt đới; ven biển Thái Bình Dương là dải đồng bằng hẹp. Mạng sông ngòi dày đặc. Sông lớn: Amadôn. Hồ lớn: Titicaca. Nước nông nghiệp, có ngành công nghiệp khai khoáng và đánh cá phát triển, kinh tế phụ thuộc nhiều vào tư bản nước ngoài. GDP 54,047 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.050 USD. Thành viên LHQ (31.10.1945). Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN 14.11.1994. LLVT: lực lượng thường trực 110.000 người (lục quân 70.000, không quân 15.000, hải quân 25.000), lực lượng dự bị 188.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Thời hạn phục vụ 24 tháng. Trang bị: 385 xe tăng, 165 xe thiết giáp trinh sát, 276 xe thiết giáp chở quân, 264 pháo mặt đất xe kéo, 24 pháo tự hành, 14 pháo phản lực BM-21, 400 tên lửa chống tăng, 250 pháo phòng không, 450 tên lửa phòng không, 100 máy bay chiến đấu, 6 tàu ngầm, 1 tàu khu trục, 4 tàu frigat, 6 tàu tên lửa, 4 tàu tuần tiễu đường sông, 3 tàu đổ bộ, 9 tàu hộ tống, 123 máy bay chiến đấu, 32 máy bay trực thăng vũ trang, 110 máy bay trực thăng vận tải. Ngân sách quốc phòng 762 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67957380_459262978136921_6155815765946662912_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeEl5NNd5El_u-y77utEcPBv2zmYKQkKzwxsD4S6AenGQEH3ddXf_BbodW1boaoogcQG9xuXRQo3_GnKp0-u83JvAM1o-cZDzLMoa3q7gaAzjg&_nc_oc=AQlLm3XrhbHO06maGwjJvonADtEo4M_5tpjENhCSmmlK1KH_lG2Z5PEjCy9xfOln-L8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=202614eee1d929da435caaef62c85a7a&oe=5DA2A298)


        PÊTANH (P. Philippe Pétain; 1856-1951), thống chế(1918), người đứng đầu chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức trong CTTG-II. Sinh tại miền Đông Bắc nước Pháp. 1878 tốt nghiệp Trường võ bị Xanh Xia. CTTG-I chỉ huy các quân đoàn Pháp đánh thắng quân Đức trong trận Vécđoong (1916), được tặng danh hiệu Ah. 1917-18 đại tướng, tổng tư lệnh QĐ Pháp giành thắng lợi trong chiến tranh. 1934-39 bộ trường Bộ chiến tranh, đại sứ Pháp tại Tây Ban Nha. 6.1940 phát xít Đức tấn công nước Pháp, tiến về Pari, chính phủ Râynô hoảng hốt bỏ chạy về Tua, P được bổ sung vào chính phủ. 16.6.1940 Râynô từ chức, P lên nắm quyền, thành lập chính phủ Visi (chính phủ đóng ở Visi), đã kí hiệp ước đầu hàng phát xít Đức, hợp tác tiến hành chiến tranh chống lại các nước Đồng minh. 8.1945 nước Pháp được giải phóng khỏi phát xít Đức, P bị kết án tử hình, nhưng vì tuổi cao được hạ xuống án tù chung thân, cấm cố trên một đảo nhỏ ở Đại Tây Dương.

        PÊTRÔRA X. S-125 PÊTRÔRA


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:02:21 PM

        PFIB (perfloizobutin), chất độc ngạt thở có độc tính gấp 10 lần phôtgen. Công thức cấu tạo:

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67470237_459262984803587_3214737885244686336_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEedbqOKlfzU6SpeXoNBmI5e3tAw_0GstQoRVdMiyP0POlgxscYvAwzeC8xFgLV-i1uIxlWfSBJzPvsPCYYWmhWy0urilbBMZnIGKQ11Dh_Xw&_nc_oc=AQmd_C9lIsBt_f14J44Onn0ONCnfPN9a9ZWyziD7QskEPak1VwR8iy-b6ZtvT4bI5FA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=8c5b7ac32092c7288a0878654603ab81&oe=5DDA8D43)


        Ở nhiệt độ thấp là chất lỏng trong suốt, không màu, không mùi, nhiệt độ sôi 6,4°c. Sử dụng ở trạng thái khí, gây (trúng) độc qua đường hô hấp. Triệu chứng trúng độc nhẹ: ho, tức ngực, khó thở và sốt cao; trúng độc nặng có thể gây tử vong do phù phổi. PFIB dễ lọt qua tầng hấp phụ của hộp lọc độc (cg chất độc xuyên thấu mặt nạ), nên nhiều loại mặt nạ phòng độc không có khả năng phòng chống. Để chống PFIB phải có tầng hấp phụ tẩm chất xúc tác thích hợp để phân hủy nó thành chất không độc. như ở hộp lọc của mật nạ kiểu lọc E2 (Canada).

        PHA ĐIN, đèo giữa hai tỉnh Sơn La - Lai Châu trên đường 6, tây tx Sơn La 66km, dài 32km (từ km 360 đến km 392), ở độ cao trên l.000m, độ dốc 10%, quanh co, vách taluy cao, vực sâu, nhiều cua hiểm trở, mùa mưa đi lại khó khăn nguy hiểm. Trong KCCP. một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3- 7.5.1954) qua đèo này.

        PHA LŨY X. HỮU NGHỊ QUAN

        PHÀ GIANH, bến phà qua Sông Gianh (địa giới tự nhiên giữa hai huyện Quảng Trạch và Bố Trạch, t. Quảng Bình) ở km 625 QL 1, tây Cảng Gianh 4km. Bến rộng 700-800m, lòng sông sâu, đáy nhiều cát sỏi, mùa mưa nước chảy xiết, khó neo đậu tàu, phà. Bên đậu bằng bê tông rộng 20m. Trong KCCM là trọng điểm giao thông thuộc tứ giác Xuân Sơn, Gianh. Quán Hầu, Long Đại. có 4 phà thường xuyên hoạt động. Bị không quân Mĩ đánh phá ác liệt từ 1965 đến 1972. Nhiều trung đoàn pháo phòng không và tên lửa phòng không của Quân chủng phòng không - không quân và Quân khu 4 đã tham gia chiến đấu bảo vệ PG. Tiêu biểu là Trung đoàn 214 (thời kì Mĩ ném bom hạn chế miền Bắc 31.3-31.10.1968) đã liên tục chiến đấu, bắn rơi trên 60 máy bay Mĩ, được phong tặng danh hiệu đơn vị Ah LLVTND và mang tên “Đoàn Sông Gianh”. 1998 cầu bê tông vĩnh cửu bắc qua Sông Gianh đã hoàn thành, thay thế bến phà cũ.

        PHÀ LONG ĐẠI, bến phà qua sông Long Đại (một nhánh của sông Nhật Lệ) tại km 619 QL 15, thuộc địa phận xã Hiền Ninh, h. Lệ Ninh, t. Quảng Bình, cạnh vị trí cầu Long Đại bị không quân Mĩ đánh sập trong chiến tranh phá hoại miền Bắc VN. Bén rộng khoảng 250m, lòng sông sâu, nhiều cát sỏi, mùa mưa nước chảy xiết. Trong KCCM, PLĐ là một trọng điểm giao thông trên tuyến vận tải QS chiến lược, bị không quân Mĩ thường xuyên đánh phá ác liệt. Lực lượng bảo đảm giao thông bến phà ngày đêm bám phà, bám đường, đảm bảo giao thông Bắc - Nam thông suốt.

        PHÀ TỰ HÀNH, phương tiện vượt sông tự hành gồm xe cơ sở (xe xích hoặc xe bánh lốp) ghép sẵn với các khoang phao, khi vượt chướng ngại nước được triển khai thành phà để chở người và vũ khí. phương tiện kĩ thuật. Mỗi bộ phà có thể gồm một hoặc hai chiếc ghép lại. Bộ đội công binh hiện đang sử dụng PTH bánh xích GSP do LX chế tạo.

        PHÁ GỠ MÌN. tổng thể các biện pháp nhằm làm mất tác dụng hoặc hủy mìn, lượng nổ, đạn hay các vật nổ khác. PGM có thể thực hiện bằng các phương tiện thô sơ, cơ giới (con lăn quét mìn), hoặc phương tiện kích nổ (ống bộc phá. lượng nổ dài...).

        PHÁ HỦY, hoạt động tác chiến dùng hỏa lực, binh lực, các phương tiện khác để làm hư hỏng nặng hoặc hoàn toàn các công trình và các phương tiện kĩ thuật như : đường sá, cầu cống, sân bay, bến cảng, công sự trận địa, SCH, phương tiện thông tin chỉ huy, thông tin dữ liệu, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu...

        PHÁ HỦY BÍ MẬT của đặc công, bí mật khắc phục vật cản và hệ thống bảo vệ của địch, đặt mìn (lượng nổ) có ngòi nổ hẹn giờ đánh vào nơi hiểm yếu của mục tiêu; phương pháp tác chiến đặc công cơ bản do tổ, mũi đặc công thực hiện. PHBMcđc có thể kết hợp với tập kích bí mật hoặc tập kích hỏa lực. Được vận dụng rộng rãi và có hiệu quả trong KCCP và KCCM, riêng trong trận Nhà Bè (3.12.1973) đã đốt cháy 140 triệu lít xăng của quân Mĩ.

        PHÁ KHÁM LỚN SÀI GÒN (15.2.1916), biểu tình vũ trang của các tổ chức “hội kín” Nam Kì tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm phá trại giam, giải phóng tù nhân (trong đó có Phan Xích Long, cầm đầu một “hội kín”), thực hiện mục đích “phản Pháp, phục Nam”. 3 giờ ngày 15.2 đoàn biểu tình khoảng 300 người mặc đồng phục có bùa hộ mệnh, mang cờ, giáo, mác, gươm... tập trung ở những nơi quy định, chia thành ba cánh đột nhập vào trung tâm thành phố, tiến công xe ô tô Pháp và xung đột với cảnh sát làm bị thương một quan chức Pháp và 2 cảnh sát. Những người biểu tình vừa tiến vừa hô khẩu hiệu chống Pháp, sau đó theo đường lớn tập trung về cửa khám lớn Sài Gòn và tách một bộ phận (khoảng 60 người) tiến đánh dinh thống đốc Nam Kì. Do có phòng bị từ trước, Pháp huy động QĐ, cảnh sát tới đàn áp, kết hợp với lực lượng canh phòng tại chỗ từ các chòi gác bắn xả vào đoàn biểu tình làm nhiều người chết và bị thương, bắt giữ nhiều người khác, buộc số còn lại phải rút lui. PKLSG là đinh cao của phong trào “hội kín” Nam Kì, một trong những phong trào đấu tranh vũ trang rộng lớn của nông dân Nam Bộ chống ách đô hộ của Pháp đầu tk 20.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:03:50 PM

        PHÁ TỂ TRỪ GIAN, phương thức hoạt động của các LLVT- ND VN phối hợp với các tổ chức bí mật của Đảng, chính quyền, đoàn thể quân chúng và nhân dân địa phương thực hiện ở vùng địch tạm chiếm trong KCCP, bằng cách dùng sức mạnh tổng hợp làm tan rã, sụp đổ bộ máy chính quyền cơ sở nông thôn của địch. Các hình thức PTTG: giáo dục thuyết phục; tổ chức diệt trù các phần tử tề, điệp đầu sỏ gian ác; vũ trang tuyên truyền, tiến công địch ở các làng có tề phản động; phát động quẩn chúng nổi dậy giải tán các ban hội tề, thiết lập chính quyền kháng chiến...; thực hiện những đợt PTTG tập trung đồng loạt ở toàn huyện, toàn tỉnh hoặc toàn miền (đợt tổng PTTG trên 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ 12.1948-1.1949, riêng Hà Nội đã phá 631 ban hội tề, bắt 1.429, diệt 64 tề gian ác, bức rút một số đồn bốt). Trong KCCM, hoạt động PTTG được quân dân miền Nam VN kế thừa, phát triển ở trình độ cao hơn với những hình thức, biện pháp phong phú, thúc đẩy phong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam VN.

        PHÁ VÂY, hoạt động tác chiến của lực lượng bị vây nhằm phá và thoát khỏi vòng vây của đối phương. Lực lượng PV có thể độc lập đột phá vòng vây hoặc phối hợp với lực lượng đánh từ ngoài vào. Để PV phải xác định hướng PV (chọn nơi bất ngờ đối với quân địch và bảo đảm nhanh chóng hội quân với lực lượng chủ yếu ở bên ngoài), hướng (khu vực) nghi binh; phương pháp và thứ tự PV; lực lượng PV và lực lượng yểm trợ, tổ chức hỏa lực PV; thứ tự đưa bộ đội ra khỏi vòng vây và hiệp đồng với bộ đội đánh từ ngoài vào. PV có thể được pháo binh, không quân và các lực lượng khác chi viện.

        PHAI KHẮT, bản thuộc tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Tam Kim, h. Nguyên Bình, t. Cao Bằng; nơi có đồn lính Pháp đóng. 25.12.1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lập chiến công đầu tiên, đánh chiếm đồn, bắt hàng 17 lính, bắn chết viên chỉ huy Pháp, thu 17 súng (xt trận Phai Khắt, 25.12.1944).

        PHALĂNG (cổ), đội hình khối của bộ binh nặng cầm giáo (x. hôplit), đứng sát nhau thành hàng ngang và dọc trong QĐ cổ đại (Hi Lạp, La Mã...). Mỗi P có khoảng 8.000-16.000 quân. Khi chiến đấu thường triển khai thành 8-16 hàng ngang, cũng có khi tới 25 hàng ngang; mỗi hàng từ 800-1,000. Đội hình tiến lên cả khối, thường chạy đều lao vào đối phương, P có sức đột kích lớn nhưng kém cơ động. Được áp dụng đầu tiên ở tk 6tcn trong QĐ Hi Lạp cổ đại. Đến tk 4tcn. trước P có bố trí khối bộ binh nhẹ (gọi là pentaxtơ) trên 8.000 quân và hai sườn có kị binh trên 4.000 quân để yểm hộ. P là đội hình chiến đấu đầu tiên được biết đến trong lịch sử.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67932745_459263004803585_5870381280360660992_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFnarOPbcyIbWW8OWUz-WncFJc54pHOOzt9n-cMDRQj1OSN86Kr5VD6116lhYfM6eEC0ix13TcggFqodn_bvBp-CKtxF6jfFu5Pm7Aym0e1KA&_nc_oc=AQl0SZg9vP6j_f4tlDgOpBykyn_5JNbz2AIYjXSFQwSY52QTd11b0-Ckh3RpurUt4a0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=6d48439e14ad826a062b7ddfae82f797&oe=5DA93B02)


        PHẠM BÀNH (1825-87), người tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-87). Quê làng Tương Xá (nay thuộc xã Hòa Lộc, h. Hậu Lộc. t. Thanh Hóa). 1864 đỗ cử nhân, làm án sát rồi đốc học tỉnh Nghệ An. 1885 khi vua Hàm Nghi hạ “Chiếu Cần Vương ”, PB bỏ quan về quê mộ binh chống Pháp. 1886 cùng Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh khác thống nhất lực lượng và tổ chức kháng chiến ở Thanh Hóa, xây dựng Ba Đình thành căn cứ chính nhằm mưu việc phòng thủ lâu dài. Sau khi căn cứ Ba Đình thất thủ (x. trận Ba Đình, 18.12.1886- 20.1.1887), tiếp đến là căn cứ Mã Cao (2.2.1887), lực lượng khởi nghĩa bị tổn thất nặng và phải phân tán hoạt động. Quân Pháp tăng cường càn quét và dùng mọi thủ đoạn lùng bắt các thù lĩnh còn lại của nghĩa quân, PB tuẫn tiết (11.4.1887).

        PHẠM BINH, quân nhân phạm tội, bị kết án tù và đang thụ án ở trại giam QĐ. PB thường chủ yếu phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân nhân. Khi bị khởi tố, quân nhân bị đình chỉ công tác, đình chỉ sinh hoạt đảng (nếu là đv ĐCS VN) và tùy theo tính chất, mức độ phạm tội, tòa án QS ngoài việc áp dụng khung hình phạt tương ứng theo luật định còn có thể áp dụng hình phạt tước quyền được phục vụ trong LLVT. Quá trình cải tạo trong trại giam, nếu phấn đấu rèn luyện tốt, PB được giảm án theo chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:06:13 PM

        PHẠM CỰ LẠNG (Phạm Cự Lượng; ?-?), danh tướng thời Đinh - Tiền Lê. Quê h. Chí Linh, t. Hải Dương, xuất thân từ gia đình quan võ, cùng với anh là Phạm Hạp theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (x. nội chiến mười hai sứ quân, 965-67). Năm 980 được cử làm đại tướng trước khi cùng Lê Hoàn đem đại binh đi chống quân xâm lược Tống. PCL suy tôn Lê Hoàn lên ngôi, có công giúp Lê Hoàn đánh thắng quân Tống. Về sau PCL được phong thái úy.

        PHẠM GIA TRIỆU (1918-90), Ah LLVTND (1967). Quê xã Xuân Hồng, h. Xuân Trường, t. Nam Định; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1985), giáo sư, Thầy thuốc nhân dân, chuyên viên đầu ngành về ngoại khoa QĐ; đv ĐCS VN (1950); khi tuyên dương Ah là thượng tá, viện phó Viện quân y 108. Trong KCCP. tham gia cứu chữa nhiều thương binh, bệnh binh trong các chiến dịch Biên Giới, Đường 18, Điện Biên Phủ. 1954-88 viện phó Viện quân y 108. Bảo vệ xuất săc luận án phó tiến sĩ về “lâm sàng và điều trị thần kinh u não thất 4” tại LX (1960). Năm 1961- 66 tổ chức xây dựng khoa phẫu thuật thần kinh và chỉ đạo liên khoa ngoại Viện quân y 108 mổ và điều trị hơn 400 trường hợp (vết thương sọ não, chấn thương sọ, u não, bỏng buốt nặng), cứu sống 80-90% trường hợp; nghiên cứu có kết quả các công trình khoa học về u gai, não thất 4, u huyết quản não, chấn thương sọ não nặng, phương pháp mới về mổ vết thương sọ não, cải tiến phương pháp mổ sọ não mở, chữa viêm mủ não... Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công (hạng nhì. hạng ba)...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67542222_459263021470250_5066572975478669312_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHQrgvYWEQxQgrLfIEB-jb5TaQmBzUxZcEjORQ7itGyumMHDM13wAGkVEY7_d_vMGf-iPzJ37xcnqyjgCkdaC9y3WI39qMr8Hn-oA6p8Qkssw&_nc_oc=AQmMGIavJlkEv3wrvL0azY9ygdqeLQDZKbuGpofFT9z1R4MHaPpEq9uGSaHOmlMxvEs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ae48993975b28eecac069ca0135dee0f&oe=5DABBA29)


        PHẠM HOÀNG (1911-79), tư lệnh đầu tiên Binh chùng công binh. Quê xã Hoàng Diệu, h. Gia Lộc, t. Hải Dương. Nhập ngũ 1948, đại tá (1973); đv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, 1949-54 cục phó Cục công binh; trung đoàn trường Trung đoàn 151; chủ nhiệm Phòng công binh BTTM. 1955-65 tham mưu trưởng, cục phó rồi cục trưởng Cục công binh BTTM. 5.1965-70 tư lệnh Binh chủng công binh. 4.1970 hiệu trưởng Trường đại học KTQS. 3.1974 làm công tác tổng kết ở BTTM. 12.1977 phụ trách công tác thiết kế xây dựng sân bay Nội Bài. Huân chương: Chiến công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67294922_459263031470249_3589648093068394496_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHWDztGB-PoXVGP4dnvQXx5xCtb2HAgI5GcmGS59uEbtE0jqCIVXUGt93o_1tpCxPbX443J7iSaXBnVss_jSQEGqwXU8YqdHy1wlL8QZiyABQ&_nc_oc=AQm_tlU8r1kJZHYTYFQpQk4SWWCCirFZBQpfZ_sGG96P1ZMncvSsyssPl3as34yGKjw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f3bd02f6779a948fa51c6754153a0f05&oe=5DAB35C2)


        PHẠM HỔNG CƯ (Lê Đỗ Nguyên; s. 1926), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1986-90). Quê xã Đông Cương, tp Thanh Hóa, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 9.1945, trung tướng (1988); đv ĐCS VN (1947). Năm 1945- 54 trường thành từ đội viên tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu (Hà Nội) đến phó chính ủy Trung đoàn 36; tham gia nhiều chiến dịch trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Năm 1954-56 chính trị viên tiểu đoàn, trường ban tuyên huấn Sư đoàn 308. Năm 1956-59 chính ủy Trung đoàn 36. Năm 1959-70 trưởng phòng tuyên truyền, cục phó Cục tuyên huấn TCCT. 1970-75 phái viên TCCT tại chiến trường B5, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Năm 1974-78 cục trường Cục văn hóa TCCT. 1978-85 phó chính ủy, phó tư lệnh về chính trị, kiêm chủ nhiệm chính trị Quân khu 2. Năm 1986-90 phó chú nhiệm TCCT. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến thắng hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67531824_459263044803581_8270310989916798976_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGR6IWwqG2CTHIZORgJ0GC0F7qo5J-hzfMJd63VC4Upbn07tuqFuXRuuImQJya4W5rQKpDEWE5OP1M5WDdreTPjLKvBKZ-8poW3lHRX6sKAKw&_nc_oc=AQlyQc_QbblPjnt4hkBUj5vFZM2zO3vvbkB6rqSW8cMj64lNTl3urmmIemJUBgnjSV0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=5e18bd6af2cab120e0dc4cd9c70c705f&oe=5DA52D15)


        PHẠM HỔNG SƠN (Phạm Thành Chính; s. 1923), phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Quảng Trị (1972-73). Quê xã Hưng Khánh, h. Hưng Nguyên, t. Nghệ An; nhập ngũ 1945, trung tướng (1982), giáo sư, tiến sĩ QS; đv ĐCS VN (1949). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trưởng. 1955- 59 tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn. 1964 cục phó Cục khoa học QS, cục trưởng Cục quân huấn BTTM. 1967 phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Mật trận Tây Nguyên. 1970 cục trưởng Cục quân huấn BTTM; phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Mặt trận B70. Năm 1971 viện phó Viện khoa học QS. 1972 phó tư lệnh kiêm tham mưu trường Mặt trận Đường 9 - Quảng Trị (B5). Năm 1973-75 viện phó Viện khoa học QS. 1978 viện phó Học viện QS cấp cao. 1.1990 phó viện trưởng Viện chiến lược QS BQP. Huân chương: Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba), Chiến công (2 hạng nhất, 1 hạng ba), Chiến thắng hạng nhất, 2 Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67478798_459263054803580_6110899569195745280_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeFv-934yuGIPMaMzAB-pVM33xl6M_XqW5asw1toM4OTPIF74Gy8MHQKsDTAJHwjXCBKJaYKAlOr-taVd4O8vk-Mys29F_uBE2kK1SEfG7OU_A&_nc_oc=AQm1eAehZNjLNxSspNgV4Nx72x-mvE9JzfFFSPoan3R3xKRZyslG7KrXpc1oyuzy8EU&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=40c00478c4509dd0c5cbe00a86fb9c69&oe=5DE382C4)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:08:34 PM

        PHẠM HỒNG THÁI (Phạm Cao Đài; 1893-1924), người thực hiện vụ nổ ở Sa Diện (19.6.1924). Quê xã Hưng Nhân, h. Hưng Nguyên, t. Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình có truyền thông yêu nước (cha tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp, 1874), PHT từng làm công nhân (phụ xe, phu mỏ...) ở Vinh, Hải Phòng, Hòn Gai, sớm tiếp cận với tư tưởng CM. Cuối 1923 PHT cùng một số thanh niên yêu nước (Lê Hổng Phong, Lẻ Thiết Hùng...) sang Xiêm (Thái Lan), sau đó qua Quảng Châu (TQ) gia nhập Tâm tâm xã (tổ chức CM của thanh niên VN tại TQ lúc bấy giờ), làm công tác tuyên truyền cổ động tại Thượng Hải, Hương Cảng rồi Đông Kinh (Nhật Bản). Giữa 1924 được Tâm tâm xã giao nhiệm vụ cùng Lê Hồng Sơn ám sát toàn quyền Đông Dương Meclanh khi Meclanh thăm Nhật về dừng tại Quảng Châu (TQ). Đêm 19.6.1924 tại khách sạn Vichtoria (bắc Sa Diện, giáp Quảng Châu, TQ), PHT giả làm phóng viên, ném bom vào bàn tiệc làm 6 quan chức Pháp chết và bị thương nhưng không giết được Meclanh. Bị cảnh binh Pháp truy đuổi ráo riết, PHT nhảy xuống sông Châu Giang hi sinh, thi hài được chính quyền Quảng Châu đưa an táng ở núi Hoàng Hoa Cương, bên cạnh mộ 72 liệt sĩ Trung Hoa trong CM Tân Hợi.

        PHẠM HÙNG (Phạm Văn Thiện; 1912-88), chủ tịch HĐBT nước CHXHCN VN (1987-88). Quê xã Long Phước, h. Long Hồ, t. Vĩnh Long; tham gia CM 1928; đv ĐCS VN (1930). Năm 1928-29 hoạt động trong tổ chức Nam Kì học sinh liên hiệp hội và Thanh niên cộng sản đoàn. 1930-31 chi ủy xã, huyện ủy, tỉnh ủy viên tỉnh Mĩ Tho, bị thực dân Pháp bắt kết án tử hình, sau hạ xuống chung thân khổ sai, đày ra Côn Đào. Sau CM tháng Tám (1945), ủy viên Xứ ủy Nam Bộ. 1946 ủy viên Xứ ủy lâm thời Nam Bộ. 1951-52 ủy viên BCHTƯ ĐLĐ VN; ủy viên rồi phó bí thư Trung ương cục miền Nam, kiêm bí thư và chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. 1954-55 trưởng đoàn QĐND VN trong Ban liên hiệp đình chiến tại Nam Bộ; trường phái đoàn QĐND VN bên cạnh ủy ban quốc tế giám sát thi hành hiệp định Giơnevơ về Việt Nam tại Sài Gòn. 1956-58 trường ban thống nhất trung ương; bộ trưởng Phủ thủ tướng; phó thủ tướng chính phủ VN DCCH. 1967-75 bí thư Trung ương cục miền Nam; chính ủy các LLVT giải phóng miền Nam VN; chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. 1976-80 phó chủ tịch HĐBT nước CHXHCN VN, kiêm bộ trường Bộ nội vụ (nay là Bộ công an). 1987-88 chủ tịch HĐBT nước CHXHCN VN, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa II-VI, bí thư Trung ương Đảng (1958-60), úy viên BCT từ 1956, khóa III-VI. Đại biểu Quốc hội khóa II- III và VI-VIII. Huân chương: Sao vàng...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66799689_459263064803579_8385504396502368256_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGLdFZz5c3TGffTizV0OYFGZ6Sxq1d9C39mGkag_mEDEYjIN_T1kVQdrHGkHdAPn8fdTD_OeZ6H5plWVqJwE7MTrkt-cpoN_QT284LJYiknEw&_nc_oc=AQm0jHFfJY_usidIsfAEsb8ydxNlNfuqPJqNdyMDSGo9SmnHLl-7DxZk6Wnss8aORTo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=9d8225db7662c2e06f5e5a3322b0daf3&oe=5DE1832A)


        PHẠM HỮU THOAN (1941-94), Ah LLVTND (1967). Quê xã Tân Thịnh, h. Nam Trực, t. Nam Định; nhập ngũ 1961, trung tá (1989); đv ĐCS VN từ 1965; khi tuyên dương Ah là trung sĩ, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội thông tin quân bưu 10. Tiểu đoàn 78, Cục thông tin liên lạc. 1961-66 công tác liên tục ở vùng rừng núi hiểm trở, phục vụ chiến trường miền Tây, đi bộ hàng trăm nghìn kilómét, có tháng đi bộ liên tục 24 ngày qua những vùng địch đánh phá, suối lũ, chuyển công văn tài liệu kịp thời, an toàn; được đồng đội tặng danh hiệu “kiện tướng đi bộ”; có lần bị thương chưa khỏi hẳn đã xung phong làm nhiệm vụ. Trong 5 năm luôn giữ vững đường dây liên lạc giữa hậu phương và tiền tuyến. PHT còn làm tốt công tác dân vận, nói được tiếng địa phương, giúp dân cải tiến canh tác đồng ruộng, cùng tổ quân bưu tăng gia sản xuất, có năm tự túc lương thực được 6 tháng. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba). 1967 được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu và chiếc đồng hồ đeo tay.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67415830_459263088136910_4067891705045581824_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeFmDzTfb_oSuNw1lM57ychkgEp-gu-mS2HJGLR8ST1jyIO8_fQgiCVhEAB63jhentrBXv77NSOUx7iPUias8HXXbPDwfTLa7bmX6Bnzj19CRQ&_nc_oc=AQk97d3L7UyHW5Kep9Y6Nc4DTooxJcSJafYC0y5Zglopb2388GkHn7AJ_yXjYeyn2qI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5ea542cc74936525c28f1dddc3763ed8&oe=5DAEA2BF)


        PHẠM KIỆT (Phạm Quang Khanh; 1912-75), đội trưởng đầu tiên Đội du kích Ba Tơ, tư lệnh kiêm chính ủy Lực lượng công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội biên phòng, 1961). Quê xã An Phú, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1946, trung tướng (1974); đv ĐCS VN (1931). Năm 1929 tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). 6.1931 bị thực dân Pháp bắt, kết án tù chung thân, đày đi Buôn Ma Thuột. 1943 được trả tự do, lãnh đạo xây dựng và là đội trưởng đầu tiên Đội du kích Ba Tơ; tham gia lãnh đạo khỏi nghĩa Ba Tơ (11.3.1945), chỉ huy đánh chiếm đồn Ba Tơ, đồn Ghilăngsơ, khu Nước Lá. 8.1945 ủy viên ủy ban khởi nghĩa, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi. 1946 đại đoàn trưởng Đại đoàn 31, thuộc Khu 5. Năm 1953-60 cục phó, rồi cục trưởng Cục bảo vệ TCCT. 1961 tư lệnh kiêm chính ủy, bí thư đảng ủy lực lượng công an nhân dân vũ trang. 1971 ủy viên đoàn chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN. Đại biểu Quốc hội khóa III. IV. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67298669_459263098136909_1150459796856504320_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHaxZE-tCAGmOWSx71kCk15ZI_npO1E5U7bRC_Os8XYOsBqgM1rrE7ZTPscaJYzFen82Om6FD0WoWMW984mAlA3oTefrS_DpMG1m_mApOK3vQ&_nc_oc=AQm2xEvdfInHU6xLdRRVnUXlyavjeJj3pS4q2ZWJGVM0c54Kt0PtWDOLDBHi-_tEwnQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=24947de3baa70118ed0acdbeeb0e0c51&oe=5DA61AED)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:10:44 PM

        PHẠM NGỌC HƯNG (s. 1918), phó tư lệnh Quân khu 9 (1976). Quẻ xã Quới An, h. Vũng Liêm, t. Vĩnh Long; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến tỉnh đội trường Vĩnh Long. 1957-60 tham mưu phó Sư đoàn 338, sư đoàn phó Sư đoàn 330. Năm 1961 tham mưu phó Quân khu Hữu Ngạn. 1963 lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 338. Năm 1964 phó tư lệnh Quân khu 9. Tháng 7.1969 tham mưu phó, kiêm trưởng phòng dân quân Bộ tham mưu ỌGPMN. 9.1971 phó tư lệnh, rồi tư lệnh Quân khu 9. Tháng 5.1976 phó tư lệnh Quân khu 9 (khi sáp nhập Quân khu 8 và Quân khu 9). Huân chương: Độc lập hạng nhất. Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67643737_459263124803573_13342925790380032_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHqQNf322OcfDOAUIfPJQUua-TGY3SKjpsWs5qrjDFJUM8grfmaa_wuaOAb1QYukQtpsTV5W-rurxhASXB5NYr6roDkZ4oC0hIzqFkec89hmA&_nc_oc=AQlnMoznRWyU0dNMZ5z6RcP0K77BBJZ8YCDDVoZHhXR65-lUR4Jy9sFFIglyQvPgtkI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0e71fe40c8b0b82f07056825ae0e5b18&oe=5DEE039C)


        PHẠM NGỌC MẬU (Phạm Ngọc Quyết; 1919-93), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1961-88). Quê xã Thượng Hién, h. Kiến Xương, t. Thái Bình: tham gia CM 1938, nhập ngũ 1945, thượng tướng (1986); đv ĐCS VN (1939). Tháng 9.1940 bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai, đày đi Sơn La. 3.1945 vượt ngục, hoạt động ở Sơn Tây, được chỉ định vào ban cán sự tỉnh. 8.1945 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Sơn Tây; phó chủ tịch kiêm ủy viên QS tỉnh Sơn Tây; khu phó Khu 2. Tháng 12.1946-49 chính ủy: Khu 1, Trung đoàn 121, Trung đoàn 246 bảo vệ căn cứ địa trung ương. 5.1951-53 phó chính ủy rồi chính ủy Đại đoàn 351. Tháng 7.1954 chính ủy, bí thư đảng ủy Đại đoàn 305. Năm 1955 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy rồi chính ủy BTL pháo binh. 4.1956-57 cục trưởng: Cục cán bộ BTTM, Cục điều động - đề bạt Tổng cục cán bộ. 1959 cục trưởng Cục tổ chức TCCT. 1961-88 phó chủ nhiệm TCCT. Đại biểu Quốc hội khóa III, V. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba), Chiến thắng hạng nhất. Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67655226_459263148136904_2191022689257259008_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeG-LAg59an1I4OdJqcbJbZ69APsgz-nnqOlxlR65avSBgD5NLi191GmbVXVfab7JsgaBnKiVaUDqpwWgTcyNXrYz89ZBPuG0dJiMGl9d6ujtw&_nc_oc=AQl1aExqQnq_-jNpYuf1tA3uOJHsYEBXXOMo4QqQnn33eBKMjzv5j5ZVm_01D2C5D9Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b1f63f467f0fefeecca8b544ce35ecf8&oe=5DEAD374)


        PHẠM NGŨ LÃO (1255-1320), danh tướng thời Trần. Quê làng Phù Ủng (nay thuộc xã Phù Ủng, h. Ân Thi. t. Hưng Yên), xuất thân nông dân, có chí lớn. tài văn võ. Được Trần Quốc Tuấn tiến cử và được vua Trần Thánh Tông tin dùng, cho quản quân cấm vệ. Là người chỉ huy quân có kỉ luật, đồng cam cộng khổ với quân sĩ, đánh đâu thắng đó, lập công lớn trong trận Chương Dương (6.1285). Năm 1288 tiêu diệt cánh quân Thoát Hoan rút chạy ở ải Nội Bàng trong cuộc kháng chiến chống Nguvén - Mông lần III (1287-88). Năm 1294-1318 chỉ huy quân Trần ba lần đánh bại quân Ai Lao và một lần đánh bại quân Chiêm Thành vào quấy phá Đại Việt. 1302 PNL dẹp yên loạn nghịch thần Biếm. Được vua Trần phong: thân vệ đại tướng quân, điện súy thượng tướng quân, tước Nội Hầu. Khi PNL mất, vua nghỉ chầu 5 ngày. Hiện có đền thờ (gọi là Đền Phù) tại quê.

        PHẠM NHÂN CHIẾN TRANH, tội phạm chiến tranh đã bị tòa án QS (trong nước hoặc quốc tế) kết án (có mặt hoặc vắng mặt). Điều ước quốc tế do đại diện chính phủ các nước LX, Mĩ. Anh. Pháp thỏa thuận tại Luân Đôn (8.8.1945) quy định: PNCT nếu còn trốn chạy, phải bị phát hiện, bắt giữ và trừng trị đích đáng, không áp dụng thời hiệu.

        PHẠM SƯ ÔN (Thiên Nhiên; 7-1390), nhà sư. thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần. 1389 nhà Trần đến giai đoạn suy tàn, PSÔ tập hợp nông dân nghèo nổi dậy ở Quốc Oai (Hà Tây) chống lại triều đình và địa chủ. Lấy Nguyễn Tông Mại và Nguyễn Khả Hành làm hành khiển, lập ba đạo quân: Thần Kì, Dũng Đấu và Vô Hạn, đánh chiếm kinh thành Thăng Long trong 3 ngày, khiến triều đình hoảng sợ, phải điều tướng Hoàng Phụng Thế đem quân Tả Thánh Dực đến
mới đánh bại được nghĩa quân. Bị bắt và bị giết cùng Nguyễn Tông Mại, Nguyễn Khả Hành.

        PHẠM THANH NGÂN (s. 1939), chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1998-2001), Ah LLVTND (1969). Quê xã Lương Phú, h. Phú Bình, t. Thái Nguyên; nhập ngũ 1959, thượng tướng (1999); đv ĐCS VN (1963). Trong KCCM, 1959-70 trưởng thành từ chiến sĩ đến phi đội trưởng máy bay chiến đấu MiG-21, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371, Quân chúng phòng không - không quân. 1971 học viên Học viện không quân (LX). 1977 sư đoàn phó Sư đoàn 371, Quân chủng không quân. 1978 học viên Trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. 1979 sư đoàn trường Sư đoàn 371. Quân chủng không quân. 1982 học viên Học viện QS BTTM (LX). 1983 phó tham mưu trường Quân chùng không quân. 1987 phó tư lệnh về chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị Quân chủng không quân. 4.1989 tư lệnh Quân chủng không quân. 5.1996 phó chủ nhiệm TCCT. 1998-2001 chủ nhiệm TCCT, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VII-VIII. 12.1997 ủy viên BCT khóa VIII. Đại biểu Quốc hội khóa IX. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (1 hạng nhất, 3 hạng nhì, 2 hạng ba), Kháng chiến hạng nhì.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67402076_459263154803570_6548429996468207616_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGnUW0hcVjt1VDPYurMHy6rY-GoCEAS-KYmAd2LArRs2gPUl9ytKGj4EY9QqZXPJ0vnmLCyiVJqcKoXWtmBlmk0Z0CTqWwVctnjC3mpeJyV2Q&_nc_oc=AQnswxJ9PxKSdcYIdeOrI2CzBf82XGlXiZpAE-vnkUO5AY4kxDaeRDg-GrvPYLmKl5U&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a2f67947206ab961c858717efce97fa8&oe=5DA32033)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 06:25:32 PM
   
        PHẠM THANH TÂM (s. 1952), Ah LLVTND (1973). Qué xã Nghi Tân, h. Nghi Lộc, t. Nghệ An; nhập ngũ 1968, trung tá (1991); đv ĐCS VN (1971); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ  trung đội phó đặc công thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 305, Đoàn 35, BTL đặc công. 1971-72 chiến đấu ở mặt trận Trị Thiên,  hơn 20 lần đột nhập vào căn cứ Ái Tử, bắc Quảng Trị (nơi địch canh phòng nghiêm ngặt), phá hủy 18 kho vũ khí, 3 máy bay, đốt cháy 15 bể xăng (chứa 1,5 triệu lít xăng dầu), diệt nhiều địch; chỉ huy  tổ đặc công phá hủy 20 kho vũ khí và nhiều phương tiện chiến tranh. Trận 22.6.1971 bị thương vẫn dẫn đầu tổ chiến đấu phá hủy 20 kho, 7 xe QS, diệt 50 địch (PTT phá hủy 10 kho). Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67514233_459263181470234_5653539428241506304_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeH1TkxoLZO4K15oZboPBqWgWKTltQzYKA19nL3l6vp0eitDQhwj3YVjwktU4v02n5_bm9OOejgkwHh6ZMNY8vL8kd2-l72gxXauYiXn_SjwDQ&_nc_oc=AQkGATwz2pWKUkp7Lxx-B6aLC_FTQTqujm1_UASwEs_cX3sQQE4EGr7120QuOl3r1AA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=df0fc9ec6491ab20d2c16e68efe8b503&oe=5DE537C8)


        PHẠM THỊ NGƯ (s. 1912), Ah LLVTND (1978). Quê xã Hàm Hiệp, h. Hàm Thuận Bắc, t. Bình Thuận: khi tuyên dương Ah là du kích xã Hàm Hiệp. Là cơ sở CM trong hai cuộc KCCP và KCCM; PTN vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, giúp đỡ bộ đội, nuôi giấu cán bộ trong hai hầm bí mật của gia đình. 1960-75, PTN và nhân dân trong ấp chiến lược liên tục tiếp tế hàng chục tấn gạo cho bộ đội và du kích. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), dẫn đường cho bộ đội, tiếp tế và phục vụ thương binh. PTN có 7 con là liệt sĩ. 1994 được phong Bà mẹ VN Ah. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67400398_459263194803566_6643316265102344192_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeF_gGT8Dyyrj9oYSO-nk1eCaMVneozabrHc_lKhq1mZ5s7tfQPvxtMPW59M3aPfN6w_fJVO5xLhjJfoS4IcWleckstbfA5dn26dFaA7WepkjA&_nc_oc=AQnAT7GvAAftpaQMMn62TbJgkbnJCildMXXdaZr_C15_1wpp3fZhORbwFWkb1zXRsN8&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=43a0eb344c2709d62793f2d8590cfdf4&oe=5DD90FC9)


        PHẠM TỘI CHIẾN TRANH X. TỘI PHẠM CHIẾN TRANH

        PHẠM TRƯƠNG UY (s. 1936), Ah LLVTND (1973). Quê xã Vũ Lạc, h. Kiến Xương, t. Thái Bình: nhập ngũ 1954, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1960); khi tuyên dương Ah là đại úy, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa phòng không 64, Trung đoàn 236, Sư đoàn 367, Quân chùng phòng không -  không quân. 1965-72 tham gia chiến đấu gần 100 trận, điều khiển tên lửa bắn rơi 22 máy bay Mĩ, chỉ huy tiểu đoàn bắn rơi 9 chiếc (có 2 B-52). Ngày 15.10.1965 tại Phù Ninh (Vĩnh Phúc), điều khiển 2 tên lửa bắn rơi 2 F-105. Tháng 2.1967 điều khiển 2 tên lửa bắn rơi 2 F-4 tại Yên Nghĩa (Hà Đông). 3-8.1972 chỉ huy tiểu đoàn bắn 11 quả tên lửa rơi 6 máy bay (có 2 B-52, 1 F-4) tại Vĩnh Linh (Quảng Trị). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67727907_459263204803565_3306404951336419328_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHG2aE-guMGEudliyg2T-auOqAOXr0wo6-g82a43mNLgn0NX6SoI4rLjmdtPtPmqP7CIaiMjyi1EBvQQOMglbtNejTJR3LxDb3pHa5w89ME6w&_nc_oc=AQlTA1dBPInXLl1jLwbF4F8tsBOU9j8rIr_0QWf-2jFdQ70OIANGyN6yy74yhpBYxU8&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2e53c839e4983e24a2edfdd9b601d157&oe=5DB00C57)


        PHẠM TƯ (476-545), danh tướng của Lí Bí. Quê xã Thanh Liệt, h. Thanh Trì, tp Hà Nội. 541 tham gia cuộc khởi nghĩa Lí Bí (541-44). Năm 543 đánh bại quân Chămpa do vua Ruđravarman I chỉ huy ở Cửu Đức (Hà Tĩnh). Có công lớn đánh đuổi quân Lương, dẹp quân Chămpa. giúp Lí Bí gây dựng nhà Tiền Lí. 544 được Lí Nam Đế phong chức thái úy, đứng đầu hàng quan võ trông coi việc quân. 545 chết trận tại cửa sông Tô Lịch (Hà Nội), trong chiến đấu chống quân Lương xâm lược do Trần Bá Tiên chỉ huy. Hiện có đền thờ ở xã Thanh Liệt, h. Thanh Trì, tp Hà Nội.

        PHẠM TUÂN (s. 1947), Ah LLVTND (1973). Quê xã Quốc Tuấn, h. Kiến Xương, t. Thái Bình; nhập ngũ 1965; trung tướng, chủ nhiệm TCCNQP (1999); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là thượng úy, biên đội trưởng không quân thuộc Đại đội 5, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371, Quân chủng phòng không - không quân; phi công vũ trụ đầu tiên của VN; Ah lao động VN và Ah LX (1980). Đêm 27.12.1972 tại vùng trời phía tây Hà Nội, PT lái máy bay MiG-21 vượt qua đội hình dày đặc máy bay F-4 của Mĩ, xông vào tốp B-52 bắn rơi một chiếc, trở về hạ cánh an toàn. 1980 tham gia chuyến bay lên vũ trụ cùng với phi công LX Gorơbatcô trên tổ hợp quỹ đạo Chào Mừng-6, Liên Hợp-36, Liên Hợp-37; phó tư lệnh Quân chủng không quân (1989). Huân chương: Hồ Chí Minh, Lênin, 2 Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67758790_459263228136896_2511139954881462272_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGIwpKmRlir12zMJXOo-yawUurTIiihiblT-VSb2O08XD5Xq9ehSqpkMC1h_YNPrOV2Y_hGgHskx-mSSFCMbdQM6d3XdPJcxk70FzN358igmw&_nc_oc=AQmj9UgkFZtHCJDzHqA67lv30FLNufaIinHvokVVUbbksMe2S3a9JLmKwwSNqrRA8v0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d9f567ab48725d3a9bb5f64dbdf3ff58&oe=5DA21038)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:10:27 PM

        PHẠM VĂN CỘI (1940-66), Ah LLVTND (truy tặng 1967). Quê xã Nhuận Đức, h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh; tham gia du kích 1960; đv ĐCS VN (1963); khi hi sinh là xã đội trưởng xã Nhuận Đức. Trong KCCM, xây dựng và chỉ huy du kích xã Nhuận Đức, kiên trì bám trụ vùng Củ Chi, tự làm vũ khí thô sơ, vận dụng sáng tạo “địa đạo chiến”, liên tục bẻ gãy nhiều trận càn, diệt hàng nghìn địch, riêng PVC diệt 120 Mĩ, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, phá hủy 8 xe QS. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba; nhiều lần Dũng sĩ diệt Mĩ, diệt xe cơ giới...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67968730_459263241470228_2771994248143175680_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeFfWA1xKZndbvRryUj3U693zRyfPQkRbnvwbYm9HuhrODu1qqpVPkbV6rBEGtj5cgmwXS0PCnT35ATJ2b0qqkkoN3HUGe50MUPD-40v-wO-KA&_nc_oc=AQklkw2aQ1agA32SU8Bf-wPA1gFDhfK3g7_CeRLa3W06yZ89bjdNF1_67fqYu-3OfnE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=7befad4d99eb13af3d6ebaf2470ad8e3&oe=5DA4ADA7)


        PHẠM VĂN ĐỒNG (Tô; 1906-2000), thủ tướng Chính phủ (chủ tịch HĐBT) nước CHXHCN VN (VN DCCH) (1955-87). Quê xã Đức Tân, h. Mộ Đức, t. Quảng Ngãi; tham gia CM 1925; đv ĐCS VN (1940). Năm 1925 tham gia phong trào học sinh bãi khóa để tang Phan Chu Trinh. 1926 dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu (TQ); tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). Cuối 1927 về nước, hoạt động CM tại Sài Gòn. 5-7.1929 tham gia Kì bộ thanh niên Nam Kì và Tổng bộ Hội VN CM thanh niên; bị địch bắt, kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đào. 1936 được trả tự do, hoạt động tại Hà Nội. 5.1940 đi Côn Minh (TQ) gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được kết nạp vào ĐCS Đỏng Dương, sau đó hoạt động CM tại miền nam TQ. Đầu 1942 về nước, tham gia xây dụng căn cứ địa CM Cao Bắc Lạng. 8.1945 dự đại hội quốc dân ở Tân Trào, được bầu vào ủy ban giải phóng dân tộc. Sau CM tháng Tám (1945), bộ trưởng Bộ tài chính Chính phủ VN DCCH. 6.1946 trưởng phái đoàn Chính phủ VN DCCH tại hội nghị Phôngtennơblô (6.7-13.9.1946). Tháng 12.1946 đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. 8.1949-54 phó thủ tướng chính phủ, kiêm bộ trường Bộ ngoại giao, trường đoàn đại biểu Chính phù VN DCCH tại hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5- 21.7.1954). Năm 1955-87 thủ tướng Chính phủ nước VN DCCH (1955-76), CHXHCN VN (1976-81); chủ tịch HĐBT (1981-87). Năm 1960-87 phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng. Ủy viên BCHTƯ ĐCS VN từ 1949, khóa II-V (dự khuyết 1947- 48), ủy viên BCT khóa II-V. Cố vấn BCHTƯ Đảng (1987-97). Đại biểu quốc hội khóa I-VII. Huân chương: Sao vàng...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67751311_459263248136894_3134451486054940672_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFXYPrlO8xD0THL2u6dsqutXo4mBUWAp1Qnx2F5a6rlEAdc-upyckj0Kv1PliLASGkkdqYen3SxFokSck7v3e_c3rSW511lRchFVcOJK-HWsQ&_nc_oc=AQmJh8LrBScEiaBsMyRFcqztThVjr9M9nYA_dUFxa3yZPa_4pI9QWo8cDUmLmPROKGc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b2fedac9e39b87dc76f2480e935b766e&oe=5DDE7998)


        PHẠM VĂN HAI (Lam Sơn; 1931-66), Ah LLVTND (1965). Quê xã Vĩnh Lộc B, h. Bình Chánh, tp Hồ Chí Minh; nhập ngũ 1947; đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, đánh 30 trận, nhiều trận đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đêm 31.5.1954 chỉ huy 1 trong 2 tổ đặc công bí mật đột nhập vào kho Phú Thọ Hoà (q. Tân Bình, tp Hồ Chí Minh), cùng tổ bạn phá hủy l0.000t bom đạn, 2 triệu lít xăng dầu, diệt và làm bị thương 1 đại đội lính Âu - Phi bảo vệ kho và gần 400 binh lính đến cứu. Trận đánh đồn Gò Đen (7.1954), PVH diệt 30 địch, thu 11 súng. Trong KCCM, đánh trên 30 trận, xây dựng cơ sở quần chúng, tổ chức đường dây từ chiến khu vào nội thành. 21.9.1963 chỉ huy đơn vị đánh rạp Kinh Đô, diệt 32 Mĩ, làm bị thương nhiều địch. Đội biệt động do PVH xây dựng đã đánh nhiều trận xuất sắc, phá hủy 73 xe QS Mĩ, kho súng Gò Vấp, đánh chìm tàu Cađơ (x. trận đánh tàu Cađơ, 2.5.1964). Hi sinh tại Củ Chi. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67312502_459263271470225_5117081417217474560_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGE_dnjLQZl7RUeiPvDz7JzIJATs6UyIP3o4h4Q2qlSguJLpOy1YN4jzsbExxbj4aE8b3ZJdbiIdnk9XYlO5v3sQME1pbSyBLoqakQG-vqjcQ&_nc_oc=AQlZME-pxCbSSrA-TlUxBTImMemDMhPbC6ITz8leZVDRHSoEcH1n1ass9v8RvpcpMXM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b071d500c6d87435b7f56f9a83ee578a&oe=5DA712DB)


        PHẠM VĂN RI (s. 1933), Ah LLVTND (1956). Quê xã Đông Thạnh, h. Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh; nhập ngũ 1945, thiếu tá (1982); đv ĐCS VN (1955); khi tuyên dương Ah là tiểu đội trưởng bộ binh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Trong KCCP, chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. 1946-47 nhiều lần vào đồn địch lấy được 18 súng và 9 lựu đạn: vận động người chú họ là trung úy trong hàng ngũ địch mang 17 súng và 1 vạn viên đạn ra hàng. 2.1948 bị địch bắt, tra tấn dã man vẫn kiên trung bất khuất, nhân lúc địch sơ hở, PVR cướp súng của lính gác chạy thoát khỏi đồn Bà Chiểu. 1948-49 chỉ huy tổ đánh mìn phá hủy 7 đầu máy xe lửa (riêng PVR phá hủy 5).  Năm 1950-51 phụ trách giao liên trên đoạn đường địch thường xuyên phục kích tại miền Đông Nam Bộ, mưu trí đưa đón cán bộ, chuyển nhận công văn tài liệu an toàn. 1953-54 xây dựng được một số cơ sở trong lòng địch, phát động nhân dân làm công tác binh vận, địch vận, làm tan rã 3 đại đội địch và 166 binh lính bỏ ngũ, phá hủy 1 xe bọc thép, diệt 41 địch, thu 29 súng. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67566907_459263284803557_4886125705563209728_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeF6IPtWX1qz5VTpm9GnaSvIkjep4wlNi5Ciran3tlUhC0ElDuErZ1hB9ctV9hNDJ58gvPsmpfPQgFc_Gl92M7OaQZz0QGNl4SZP902zrFb83A&_nc_oc=AQkemEg9BxhwQ3dEwXCHHpq0Hwer2B8CO3uMEdRsfKNb1IjyTVMGV9lTExdQGQf0Dfg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=be222c2c5edfb76cf8b0a4d3ead9dc23&oe=5DECAE36)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:12:53 PM

        PHẠM VĂN SINH (1941-72), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã An Tịnh, h. Trảng Bàng, t. Tây Ninh; tham gia du kích 1960; đv ĐCS VN; khi hi sinh là xã đội trưởng xã An Tịnh. 1960-72 địch đóng nhiều đồn bốt trong xã, thường xuyên càn quét, đánh phá địa phương, PVS kiên trì bám địa bàn, vận động thanh niên tham gia du kích, gia nhập QGP; phát động quần chúng đấu tranh chống địch bắt lính, gom dân; chỉ huy du kích đánh nhiều trận, diệt hàng trăm địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (PVS diệt 129 địch, phá hủy 39 xe tăng và xe ủi đất). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), 15 lần Dũng sĩ diệt Mĩ.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67819542_459263298136889_1090550358901522432_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGy87zGfEtzjdvWwlXOYvbN6PSMnAt-vBRd46SGL5tvaI9sjhrZO39XkBkqayDzms8NDKOPezuoiqnfmmVr36MIwSFqGJEWfFRoVsZrQCmg8w&_nc_oc=AQkYIiLm9vXb2kMXXT7wjq4K_bzeoK8RbZFkuHTzoBxRoI60djW18F6XfK2H39YKbZo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3e7129e9c5fe1b0f9a690680199f3b03&oe=5DE28A9F)


        PHẠM VĂN TRÀ (s. 1935), bộ trưởng BQP nước CHXHCN VN (từ 1997), Ah LLVTND (1976). Quê xã Phù Lãng, h. Quế Võ, t. Bắc Ninh; nhập ngũ 1953. đại tướng (2003); đv ĐCS VN (1956). Trong KCCM, 1964-75 chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, giữ các chức vụ từ tham mưu trưởng tiểu đoàn đến trung đoàn trưởng. 12.1975-77 tham mưu trưởng Sư đoàn 4; sư đoàn phó, kiêm tham mưu trường Sư đoàn 330, Quân khu 9. Tháng 9.1978 học tại Học viện QS cấp cao. 8.1980 sư đoàn trưởng Sư đoàn 330 Quân khu 9, chỉ huy sư đoàn làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. 3.1983 phó tư lệnh Mặt trận 979. Năm 1985-88 phó tư lệnh tham mưu trưởng Quân khu 9. Tháng 6.1988 phó tư lệnh Quân khu 3. Năm 1989-93 tư lệnh Quân khu 3. Tháng 12.1993 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 12.1995 thứ trưởng BQP, tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1997 bộ trưởng BQP, phó bí thư Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VII-IX, ủy viên BCT khóa VIII, IX. Đại biểu Quốc hội khóa IX-XI. Huân chương: Quàn công hạng nhất, Chiến công (hạng nhì, hạng ba)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67301123_459263311470221_1362474634015932416_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeFlRmN7YFNVyCd3ye7YIimwI4pwStqL2u2NyseCMYfEXs8V77JkKeE1CCQmCqYbSZA14tvfujAs7xvYgzJvVh8-iCct4G8SaXtWAkflQSj3zw&_nc_oc=AQmsfEP_ctXLyXX45JkJD4sYfxMbv4DzBYkjSiD1usxWy-gactK83-YF2vFkR3yYpFc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b318a7bbdde64a000d9caa4618e4e378&oe=5DA90D63)


        PHẠM VĂN XẢO (Lê Văn Xảo; 7-1431), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. Quê Kinh Lộ (vùng Thăng Long, nay thuộc Hà Nội). Nổi tiếng thơ văn ở vùng kinh đô, theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu. 1426 cùng Lí Triện, Đỗ Bí và Trịnh Khả, chỉ huy 3.000 quân đánh thắng quân Minh do Trần Trí chỉ huy ở Ninh Kiều (Chương Mĩ. Hà Tây), cùng Trịnh Khả chỉ huy đánh bại đạo quân của Vương An Lão từ Vân Nam (TQ) kéo sang, phá kế tăng viện cho thành Đông Quan. 1427 cùng Trịnh Khả chỉ huy đánh quân Minh do Mộc Thạnh chỉ huy trên đường tháo chạy về nước, diệt hơn 10.000 và bắt sống hơn 1.000 quân ở Lãnh Cầu, Đan Xá (gần ải Lê Hoa, Hà Giang). 1429 được thăng Huyện Thượng Hầu, trước đó được ban quốc tính (mang họ vua). 1431 PVX bị bọn nịnh thần vu oan nên bị giết. Đến đời Lê Thánh Tông được minh oan.

        PHẠM VĂN XUYÊN (1944-70), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Thái Bình. h. Châu Thành, t. Tây Ninh; nhập ngũ 1961; đv ĐCS VN (1962); khi hi sinh là thiếu úy chỉ huy trưởng QS thị xã Tây Ninh. 1961-70 chỉ huy du kích và lực lượng biệt động đánh nhiều trận tập kích vào các cơ quan của ngụy quyền Sài Gòn tại thị xã (trung tâm chiêu hồi, trung tâm tuyển mộ binh lính, trường kĩ thuật), 9 lần bị thương, diệt 170 địch, bắn rơi 2 máy bay. Hi sinh trong chiến đấu. Huân chương: Chiến công hạng nhất, 8 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67586651_459263324803553_7879970910218747904_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGWp0K9dh0gnTI3ApyactkVuLhSqRIxIfHlfki7a6sIJB8SOK5DOtNnICxUABGl2zXujeCIW9vO3Ft-TUyAsCImHF6cK2OAvOeevVYzPrMeZA&_nc_oc=AQngbKmeQQSN4UFutoyz-4vcuL06jKChwnaVSBUv1gXmFLlC4P15CXby6YOyCInTUqg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=fe26fcef3087f9845f1e453c54c7696f&oe=5DDCE7B4)


        PHẠM VI BẮN của xe tăng, dải địa hình trước xe (phân đội) tăng được giới hạn bởi 2 đường quy ước từ xe (phân đội) tăng đến 2 vật chuẩn hoặc địa vật phía trước, trong giới hạn đó từng xe (phân đội) tăng phải tập trung quan sát, phát hiện và dùng hỏa lực tiêu diệt mục tiêu. Căn cứ vào số lượng xe tăng và chính diện bố trí, PVB do người chỉ huy cấp trên xác định khi tổ chức hệ thống hỏa lực. Có PVB: chính, phụ (bổ trợ). Các PVB của 2 xe (2 phân đội) bố trí cạnh nhau thường có một phần chồng lên nhau, tạo thành hỏa lực đan chéo, khi kết hợp với hỏa lực pháo binh, bộ binh và vật cản tạo thành hệ thống hỏa lực mạnh, dày đặc phía trước xe tăng.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:14:37 PM

        PHẠM VI CỨU CHỮA, giới hạn những thể loại cứu chữa và biện pháp kĩ thuật mà một tuyến quân y phải thực hiện trong hệ thống điều trị. Trên bậc thang điều trị, mỗi tuyến có những nhiệm vụ nhất định và thường tiến hành một thể loại cứu chữa: quân y đại đội thực hiện cấp cứu đầu tiên, quân y tiểu đoàn - bổ sung cấp cứu, quân y trung đoàn - cứu chữa bước đấu, quân y sư đoàn, quân đoàn - cứu chữa cơ bản, quân y quân khu về sau - cứu chữa chuyên khoa. PVCC có thể làm đầy đủ, thu hẹp hay mở rộng phụ thuộc vào tình huống chiến đấu cụ thể, khả năng chuyên môn và số lượng thương binh, bệnh binh, do cấp trên quy định.

        PHẠM VI HỎA LỰC PHÁO PHÒNG KHÔNG, khoảng không gian giới hạn được tạo ra bởi các đơn vị hỏa lực, nếu mục tiêu trên không xuất hiện trong phạm vi đó sẽ bị tiêu diệt với xác suất nhất định. PVHLPPK của trung đoàn (lữ, cụm) pháo phòng không được tạo bởi vùng hỏa lực của các phân đội hỏa lực của trung đoàn (lữ, cụm) pháo phòng không khi bố trí tập trung. PVHLPPK phụ thuộc số phân đội hỏa lực hiện có khi bố trí tập trung; tính năng vũ khí, khí tài trang bị; cách thức bố trí đội hình chiến đấu.

        PHẠM VI QUAN SÁT CỦA XE TẢNG, khu vực địa hình và không gian xung quanh xe tăng, có khả năng quan sát bằng mắt thường và các khí tài quan sát trên xe tăng, nhằm quan sát phát hiện mọi hoạt động của mục tiêu (mặt đất, trên không) để báo cáo cấp trên hoặc tiêu diệt. Khi tổ chức quan sát trưởng xe quy định rõ phạm vi quan sát cho từng thành viên trong kíp xe, tạo thành một khu vực quan sát khép kín xung quanh xe tăng. Các thành viên trong kíp xe phải nhớ kí hiệu, tín hiệu, quan sát liên tục, kịp thời các tin tức quan sát được cho nhau và báo cáo cho trường xe.

        PHẠM XUÂN ẨN (Hai Trung; s. 1927), Ah LLVTND (1976). Quê tp Biên Hoà, t. Đồng Nai; nhập ngũ 1952, thiếu tướng (1990); đv ĐCS VN (1953); khi tuyên dương Ah là trung tá, cán bộ tình báo thuộc Cục II, BTTM (nay là Tổng cục II, BQP). Suốt 23 năm (1952-75), PXẨ hoạt động trong lòng địch, thường xuyên tiếp xúc với các quan chức cấp cao của Mĩ và chính quyền Sài Gòn; lấy được nhiều tài liệu tình báo có giá trị chiến lược phục vụ kịp thời trong từng giai đoạn cuộc KCCM của nhân dân ta. Huân chương: Chiến cõng (1 hạng nhất. 2 hạng nhì, 1 hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67476993_459263338136885_6015259078534627328_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeE0W-uVr6oelJzzUJ3mlLx4tznuQkkg0LmobSYNl13pvgRp_chDtuT2ZPwa6nU1QsgEfqWneg_tDy9ct3r2f7GrBCFVX_ctc-vO5QT3KJxSvQ&_nc_oc=AQljTRiTWtnIjmWTX4z18j5mj7TE3dEu6KVwmTFdMhVOALVytjhW3cxSBFUYf2FTzDg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=6e11aeb9aee032e129b05cd947b1e2e9&oe=5DD91F92)


        PHAN ANH (1912-90), bộ trường BQP Chính phủ liên hiệp kháng chiến VN DCCH (3-11.1946). Quê xã Tùng Ảnh. h. Đức Thọ. t. Hà Tĩnh. Trước 1945 chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương, luật sư, giáo sư Trường Thăng Long (Hà Nội), tham gia phong trào bình dân và truyền bá quốc ngữ. Sau CM tháng Tám (1945), chủ tịch ủy ban kiến thiết quốc gia. bộ trường BQP Chính phủ liên hiệp kháng chiến, tổng thư kí phái đoàn Chính phủ lâm thời VN DCCH dự hội nghị Phôngtennơbơlô, (6.7 13.9.1946). Năm 1947-76 bộ trưởng: Bộ kinh tế, Bộ công thương, Bộ thương nghiệp, Bộ ngoại thương, ủy viên Đoàn chủ tịch rồi phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN (1977-90); chủ tịch Hội luật gia VN và ủy viên thường vụ Hội luật gia dân chủ quốc tế (1955-90); chủ tịch ủy ban bảo vệ hòa bình VN (1976-86); phó chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới (1978-90). Đại biểu Quốc hội khóa II-VIII. phó chủ tịch Quốc hội khóa VII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Ki niệm chương “Bảo vệ hòa bình” của LHQ, huy chương vàng Giôliô Quyri của Hội đồng hòa bình thế giới.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67757921_459263351470217_1060833501655334912_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeHOeDPj-VZCLq_dy4XnNoa2NfVnC2rjp1LSFQ98NJGO8UdqkQ9iiGX5Zb8Z6yHahIKmnjDkpIL6MZyaaxwPgybdlUAD6PwW8fxTKn8-vgtjkw&_nc_oc=AQn0PMhMOjgZzMp-e9jLPBnsdxXpiHZTiJ2suWFO6auAxj83sc-aUwQ751MX-Lfkivo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=863da06080b3fe6341164e5f732f8322&oe=5DEA93ED)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:16:08 PM

        PHAN BÁ VÀNH (Đỗ Hiển Vinh; 7-1827), lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821-27). Quê làng Minh Giám, h. Vũ Tiên, phú Kiến Xương (nay là xã Vũ Bình. h. Kiến Xương, t. Thái Bình). Xuất thân nông dân nghèo, mồ côi cha từ nhỏ. 1821 PBV phát động khởi nghĩa chống triều đình nhà Nguyễn; lực lượng tham gia hàng ngàn người (có cả nho sĩ, thổ hào), hoạt động chủ yếu ở Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, có lúc mờ rộng đến các tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Thanh Hóa. Quảng Yên. Khởi đầu PBV chỉ huy đánh chiếm các huyện Tiên Minh và Nghi Dương (nay là Nam Sách, Kinh Môn, t. Hải Dương) để làm căn cứ, sau đó liên kết với thù ngự sứ Vũ Đức Cát ở cửa Ba Lạt (cửa Sông Hồng) đánh chiếm đồn quân Trà Lí và Lân Hải (thuộc kiến Xương, Thái Bình). Nghĩa quân PBV đánh úp đoàn thuyền binh 12 chiếc của triều đình ở Cồn Tiền, Bác Trạch (Trực Ninh, Nam Định), thu toàn bộ lương thảo, khí giới. 1826 tiến công phủ Thiên Trường (Nam Định) và phủ Kiến Xương (cg Phù Bo, Thái Bình). 1827 bị lực lượng lớn của triều đình do Trương Văn Minh, Nguyền Hữu Thân và một số tướng khác chỉ huy, kết hợp với kế mĩ nhân đánh bại ở căn cứ Trà Lũ (Nam Định). Bị thương và bị bắt giải về kinh, đến xã Đồng Phù. h. Thượng Nguyên (nay thuộc Bình Lục, Hà Nam), PBV tự sát.

        PHAN BỘI CHÂU (Sào Nam; 1867-1940), người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Đông Du (1905-09). Quê xã Xuân Hoà, h. Nam Đàn, t. Nghệ An. 1885 lập đội Sĩ tử Cần Vương hưởng ứng “Chiếu Cần Vương’’. 1900 đỗ giải nguyên, dạy học tại quê, liên lạc với những người cùng chí hướng lập Duy Tân hội (1904), chủ trương dùng vũ lực và dựa vào nước ngoài để giành độc lập. 1905 sang Nhật, tiếp xúc với một SỐ nhà yêu nước Nhật Bản, TQ, vận động đưa thanh niên VN du học ở Nhật (Phong trào Đông du), viết sách báo bí mật gửi về nước kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh chống Pháp. 1908 bị trục xuất khỏi Nhật, về hoạt động tại TQ và Xiêm (Thái Lan). 1912 thành lập VN quang phục hội, cử người về nước tiến hành một số cuộc bạo động và ám sát cá nhân. 1913-17 bị lực lượng quân phiệt bắt giam tại Quảng Châu (TQ). 1917 được trả tự do, PBC tìm hiểu CM tháng Mười Nga. 1924 cải tổ VN quang phục hội thành VN quốc dân đảng. 6.1925 bị mật thám Pháp bắt cóc đưa về VN xét xử, kết án khổ sai chung thân. Do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân và các tổ chức yêu nước tiến bộ, PBC được ân xá nhưng buộc phải an trí ở Huế đến lúc mất.

        PHAN CHU TRINH (Tây Hồ; 1872-1926), người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân (1906-08). Quê thị trấn Tiên Kì. h. Tiên Phước, t. Quảng Nam. 1901 đỗ phó bảng, làm quan thừa biện Bộ lễ. 1905 từ quan về quê hoạt động chính trị, chủ trương cứu nước bằng con đường cải cách. 1906 cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và một số sĩ phu yêu nước vận động cải cách dân chủ. mở trường dạy học để nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, chống đế quốc phong kiến... Cuối 1906 bí mật sang Nhật gặp Phan Bội Châu, trở về nước tiếp tục chủ trương cải cách, đẩy mạnh duy tân. 1908-11 bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. 1911 được trả tự do, sang sống tại Pháp, liên hệ mật thiết với Nguyễn Ái Quốc. 1914 bị chính quyền Pháp bắt giam 9 tháng tại ngục Xăngtê. 1925 về nước, tiếp tục hoạt động tuyên truyền, đấu tranh đề cao dân quyền và cải cách dân chủ. Mất 24.3.1926. Đám tang PCT trở thành cuộc biểu dương tinh thần yêu nước, chống Pháp của nhân dân VN.

        PHAN ĐĂNG LƯU (1901-41), người lãnh đạo phong trào CM ở Nam Kì thời kì chuẩn bị khởi nghĩa Nam Kì (11.1940). Quê xã Hoa Thành, h. Yên Thành, t. Nghệ An. 1924 tốt nghiệp Trường canh nông thực hành Bắo Kì, làm việc ở Sờ canh nống Phú Thọ. 1925 về Nghệ An, tham gia Hội phục Việt (Hưng Nam). 1928 tham gia thành lập Tân Việt CM đảng, ủy viên thường vụ tổng bộ, sang Quảng Châu (TQ) liên lạc với Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội) để thống nhất kế hoạch hành động. Cuối 1929 bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, kết án 7 nãm tù, đày đi Buôn Ma Thuột. 1936 được trả tự do nhưng bị quản thúc tại Huế, hoạt động viết sách, báo tuyên truyền CM, phụ trách xuất bản các báo “Sông Hương tục bản”, “Dân”... Cuối 1938 ủy viên BCHTƯ ĐCS Đông Dương, hoạt động tại Sài Gòn - Gia Định. 7.1940 Xứ ủy Nam Kì chủ trương phát động khởi nghĩa. PĐL ra Bác dự hội nghị BCHTƯ 7 và xin ý kiến chi dạo. Trên đường trở về Sài Gòn, chưa kịp truyền lệnh hoãn, thì khởi nghĩa đã nổ ra. 22.11.1940 PĐL bị thực dân Pháp bắt. 26.8.1941 bị xử bắn tại Ngã Ba Giồng (nay thuộc h. Hóc Môn. tp Hồ Chí Minh).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67618235_459263364803549_4817867396645650432_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeGqZiY1sWYVTGBa5c4qtA4iF7zzyqxcSjC6Mhjl568p3mBLsZYqa9OnOe8Oq27Ip-LHMkpJNl0p8DgfZT2LJgwujQdVWAK1MVPqrboMhR3z-w&_nc_oc=AQmJoTIxlCVUclfzY7FaC39Ln4mXAzG04lnuVh_4SwbhbvKAXS9O-JG1gQ6Fq6UKDYY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=06183919e0adce6d0241b027433903b9&oe=5DA9A316)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:18:07 PM

        PHAN ĐÌNH GIÓT (1922-54), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Quê xã Cam Quan, h. Câm Xuyên, t. Hà Tĩnh; nhập ngũ 1950: đv ĐCS VN (1952); khi hi sinh là tiểu đội phó thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 428. Trung đoàn 141, Sư đoàn 312. Trong trận Him Lam 13.3.1954 (chiến dịch Điện Biên Phủ), khi PĐG phá hàng rào cuối cùng thì bị thương, lực lượng xung kích của Tiểu đoàn 428 xung phong vào cứ điểm, bị địch trong lô cốt bắn cản dữ đội. PĐG nhanh chóng trườn lên dùng tiểu liên, lựu đạn diệt hỏa điểm địch, đạn hết, hỏa điểm thứ 3 vẫn chưa bị diệt, PĐG liền lao cả thân mình lấp lỗ châu mai. tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam. Huân chương: Quân công hạng nhì.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67331097_459263388136880_1164196386464333824_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeHoXRiiwMiIZBJIDb9avGkhgl0PmZ7ikTvJAwzhvYjaWropmeG82SrORNixoaIEIitc3MNT_bxnj2LbvAy9-H1JYK9vmHCygaJnqN1yaqZXsQ&_nc_oc=AQlXjyUq4yt7GOoV2fzhZPKvJ6x0W0cyuDwWMgTEGsjFjBQSVRtgwV2qheUCyVVF8nE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a04329e50ce947061754fa0081e11636&oe=5DAAA4BF)


        PHAN ĐÌNH PHÙNG (1847-95), người lãnh đạo khởi nghĩa Hương Khê (1885-95). Quê làng Đông Thái, h. Đức Thọ, t. Hà Tĩnh. 1877 đỗ tiến sĩ, làm quan dưới triều Tự Đức. 1885 hưởng ứng “Chiếu cần Vương”, PĐP tập hợp các văn thân chống Pháp, chiêu mộ lực lượng, gửi người sang TQ. Thái Lan học nghề đúc súng, xây dựng vùng núi Hương Sơn (t. Hà Tĩnh) làm căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân có tới 1.000 người và 500 súng, hoạt động ở các tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An. Quảng Bình. Thanh Hóa. Có thêm tướng trẻ tài giỏi là Cao Thắng, nghĩa quân bền bỉ chiến đấu trong 10 năm, đánh thắng nhiều trận oanh liệt, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn, tổn thất. Thực dân Pháp dùng Hoàng Cao Khái dụ hàng và Nguyễn Thân đem quân đàn áp. PĐP vẫn quyết tâm lãnh dạo nghĩa quân, không nao núng trước sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù. 28.12.1895 PĐP mất sau khi bị trọng thương trong trận đánh bảo vệ căn cứ Vụ Quang (Hương Sơn, Hà Tĩnh).

        PHAN NGỌC HIỂN (1910-41), người lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp (1940) tại đảo Hòn Khoai (t. Cà Mau). Quê xã Thới Bình. h. Cái Khế (nay thuộc phường Thới Bình, tp Cần Thơ), t. Cần Thơ; đv ĐCS Đông Dương (1936). Năm 1931 sau khi tốt nghiệp trường sư phạm Sài Gòn, về dạy học ở Rạch Gốc, h. Tân An (nay là h. Ngọc Hiển), t. Cà Mau. 6.1940 trước diễn biến sôi động của phong trào CM ở Nam Kì. theo chỉ thị của cấp trên. PNH tích cực tập hợp lực lượng chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa đánh chiếm đào Hòn Khoai. Cuộc khới nghĩa nổ ra đêm 13 rạng 14.12.1940 đã nhanh chóng giành thắng lợi. diệt chủ đảo (Ôliviê), thu toàn bộ vũ
khí. Sau khi quân Pháp huy động lực lượng phản kích chiếm lại đảo, PNH cùng nghĩa quân rút về Rạch Gốc tiếp tục chiến đấu. 23.12.1940 PNH và hầu hết nghĩa quân bị Pháp bắt. 12.7.1941 PNH và 9 nghĩa quân bị xử bắn tại sân vận động Cà Mau.

        PHAN NHƯ CẨN (1933-68), Ah LLVTND (truy tặng 1970). Quê xã Quang Lộc, h. Can Lộc. t. Hà Tĩnh: nhập ngũ 1951; đv ĐCS VN (1952); khi hi sinh là đại úy, phi đội trường thuộc Trung đoàn 919, Quân chùng phòng không - không quàn. Trong KCCM, là phi công có nhiều kinh nghiệm sử dụng máy bay An-2 (loại máy bay chủ yếu dùng trong nông - lâm nghiệp) trong chiến đấu và phục vụ kinh tế. 8.3.1966 và 14.6.1966 dùng An-2 đánh chìm 2 và bắn cháy 1 tàu biệt kích địch tại vùng biển Thanh Hóa. 12.1.1968 trận đầu tiên của không quân nhân dân VN đánh mục tiêu mặt đất, PNC chỉ huy biên đội (4 máy bay An-2) phá hủy toàn bộ căn cứ rađa quan trọng của địch trên đất Lào (đánh trúng đài rađa, thông tin, kho xăng, kho đạn, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, diệt hàng trăm Mĩ và quân Viêng Chăn), làm gián đoạn việc dẫn đường từ mặt đất cho máy bay Mĩ vào đánh phá miền Bắc VN. Hi sinh trên đường về do tai nạn máy bay. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công (hạng nhất, hạng nhì).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67971876_459263401470212_1593094573716930560_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeFEd-MagbT9iXZh4Hyjg4e03D8v3fFpzH43WfZRRsQBwqN41qn5uaAqpZo_iqC0YKIg7wKTFIY8HDBIvrkl2g4vzMO-gwU_IPaQlOI81WONkg&_nc_oc=AQm_8pSD_d5h7DrmdZlVGdoTvmN3Mt1jIQHsijphzuwxC1r_mOFZzZsVMT_aOBCpOH4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d4428d8a440fc9b0ecb8e85f22fef02f&oe=5DE277AB)


        PHAN RANG X NINH THUẬN


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:21:27 PM

        PHAN THƯ (s. 1931), thứ trường BQP nước CHXHCN VN (1993-96), Ah LLVTND (1970). Quê xã Sài Sơn, h. Quốc Oai, t. Hà Tây; nhập ngũ 1950, trung tướng (1990); giáo sư (1984); đv ĐCS VN (1949). Trong KCCM. kĩ sư vô tuyến điện, tiểu đoàn trướng Tiểu đoàn trinh sát nhiễu, Quân chủng phòng không - không quân. 1974-76 cục phó rồi cục trường Cục kĩ thuật, Quân chủng phòng không -  không quân. 1979 viện trưởng Viện KTQS. 1987 đồng chủ tịch ủy ban phối hợp Trung tâm nhiệt đới Việt - Xô (Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga; 1993). Năm 1989 chủ nhiệm Tổng cục công nghiệp quốc phòng - kinh tế. 1993-96 thứ trưởng BQP, kiêm chủ nhiệm Tổng cục công nghiệp quốc phòng - kinh tế. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khoa VII (dự khuyết khóa VI). Đại biểu Quốc hội khóa VUI, IX, ủy viên ủy ban khoa học kĩ thuật của Quốc hội khóa VIII; phó chủ nhiệm ủy ban khoa học - công nghệ và môi trường của Quốc hội khóa IX. Huân chương: Quân công hạng nhì. Chiến công (hạng nhất, hạng ba)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67541423_459263418136877_570968528513925120_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGKLM1sQ3Xj-SkpEcZF6oP-h3utZvAVKvDCVROI30wu-LN4ZVHotnP2R-WtHN5Bb-gI2xNMgJULlejsJx4yY2dMI3JViz7dZWw02Xxo7Z7QWA&_nc_oc=AQnpLcc7uw4C-fAnRiOTBnEqAQx_aNVTGgYWvJW0wCVsb4S2IK5fa-3zDwFyqZPQ-_I&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e1dab706f6f6ec57a7bce3e60e0b1cd4&oe=5DAC3829)


        PHAN TRỌNG ĐƯỜNG (s. 1925). Ah LLVTND (1956). Quê xã Xuân Long, h. Đổng Xuân, t. Phú Yên; nhập ngũ 1950, trung tá (1983); đv ĐCS VN (1949); khi tuyên dương Ah là trung đội phó quân tình nguyện VN tại Lào. Trong KCCP, 1950-54 xây dựng cơ sở CM ở một số vùng dân tộc ít người của Lào, trong điều kiện địch ra sức lùng sục, treo giải lấy đầu cán bộ người VN. PTĐ cùng tổ công tác có lúc phải sống trong rừng, bất chấp khó khăn nguy hiểm. Để che mắt địch. PTĐ hòa vào dân hoạt động, học thêm ba thứ tiếng địa phương, để tóc dài, đóng khố, phơi nắng cho da đen, xâu tai đeo vòng, cưa răng sát lợi giống như người địa phương. Trong 4 năm. PTĐ đã xây dựng được cơ sở kháng chiến ở 77 bản (30 bản có lực lượng du kích bảo vệ), xây dựng được chính quyền CM trong vùng địch kiểm soát và tổ chức nhân dân đánh địch giữ làng, phá sập 10 cầu gỗ trên đường 23, gây cho địch nhiều khó khăn. PTĐ được nhân dân và QĐ Lào tin yêu, được bộ đội Lào khen thưởng hai lần. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67300730_459263431470209_6509627608353734656_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeHJCanxrtUbMSEAN0VHdnPYYhP52iXt8DRcn4ie7frX5RX2zVCjqJRDNe1vpqN8RMmOaDbBy_zIYjszvRTLfjniffMLzved8g7USTXlyhpjgw&_nc_oc=AQksIFKMLWUy9dp4jPfkKe6DbwEiWjmgGZTNhLuLC-h1fH8sxwMjxhpCvzvu-zeF0Fc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9df21fc04e2dbcddd50f22ca34fef5ce&oe=5DA29A0D)


        PHAN TRỌNG TUỆ (1917-91), tư lệnh kiêm chính ủy đầu tiên Cóng an nhân dân vũ trang. Quê xã Sài Sơn, h. Quốc Oai. t. Hà Tây; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1955); đv ĐCS VN (1934). Năm 1939-40 bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây và Hà Đông; phụ trách liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây. 1943 bị thực dân Pháp bắt, kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo. 8.1945 được trả tự do, công tác trong ban trật tự Côn Đảo; thanh tra kháng chiến Hậu Giang, ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ); chính ủy Khu 9. Tháng 12.1948-50 chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; chính ủy Khu 7; thanh tra BTL Nam Bộ. 1952-53 tư lệnh, sau đó phó tư lệnh kiêm phó chính ủy Phán liên khu Miền Táy. 8.1954- 56 phó trường đoàn liên hiệp đình chiến Nam Bộ, rồi phó trường đoàn liên hiệp đình chiến trung ương. 3.1957 phó tổng thanh ưa BQP. 1958 thứ trường Bộ công an, tư lệnh kiêm chính ủy Lực lượng công an nhân dân vũ trang. 1961 bộ trường Bộ giao thông vận tải. 1965 tư lệnh kiêm chính ủy Đoàn 559. Năm 1968 tư lệnh BTL đảm bảo giao thông vận tải Quân khu 4. Cuối 1974-75 phó thủ tướng, kiêm thường trực Hội đồng chi viện giải phóng miền Nam. 1976 bộ trưởng, bí thư đảng ủy Bộ giao thông vận tải. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa III, VI. Đại biểu Quốc hội khóa II-VI. Huân chương: Hồ Chí Minh...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67622827_459301334799752_4105297674738073600_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeF8794RLaTZ0otil1VJQ3x_43sMZW7c-b6eqbtv8lKfvv_tLjVDsijomC0Gc_HoAOz8opE2542YsRF8j7yTcK-_toFwYhyNdUmt2qQLQ4r7KQ&_nc_oc=AQlenceNXei8LwRAm00Q7nKz2Fwa_ZVdPbzN85blB0iCv5XQXabAbU9WPdt5DRKtcLk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=ee5a7e92c5b53482005fdce30c2aa8df&oe=5DA21C90)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:23:02 PM

        PHAN TRUNG KIÊN (Huỳnh Tri Ân; s. 1946). thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (từ 2002), Ah LLVTND (1978). Quê xã Tân Phú Trung, h. Cù Chi. tp Hồ Chí Minh: nhập ngũ 1965, trung tướng (1999); đv ĐCS VN (1966). Trong KCCM, 1965-69 chiến đấu ở chiến trường Sài Gòn - Gia Định, trưởng thành từ chiến sĩ đến đội trưởng Đội biệt động Vùng 3 (Gò Môn), đội phó Đội biệt động 67A. 1969-73 huyện đội phó Tây Môn, chính trị viên Vùng 2, rồi huyện đội phó Hóc Môn. 1974 học viên Trường trung cấp chính trị Miền (H14). Tháng 4.1975 tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, tham mưu phó, rồi trung đoàn phó Trung đoàn 4 (Gia Định), Quân khu 7. Tháng 9.1980 học viên Học viện QS cao cấp. 8.1982 sư đoàn phó tham mưu trường, 8.1986 sư đoàn trưởng Sư đoàn 317, Quân khu 7. Tháng 12.1988 phó tham mưu trưởng, trường phòng tác chiến Bộ tham mưu Quân khu 7. Tháng 6.1990 phó chỉ huy trưởng tham mưu trưởng, 6.1995 chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy QS tp Hồ Chí Minh. 12.1997 tư lệnh Quân khu 7. Tháng 10.2002 thứ trưởng BQP, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VIII, IX. Huân chương: Độc lập hạng ba, Chiến công (2 hạng nhất, 2 hạng nhì), Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67404375_459301354799750_4210844653496303616_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGrIhbNMvryT_g_nXgJSked5v1qliUR6RsVVJNn1uI70DV6A9sn_KgZv2K_wDi0zNFiz5hjZTCx2sr5jopwVj_o4WMhWcNr9y0of7D_Q38TUg&_nc_oc=AQnAYr7w8Y1N59baUjSXg2T33GxQ1_L9QtJn42CrtZcmqLa6pUtaPomYMzL93qXr3E8&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e5dc491190df8967345a2faadfa3fcdb&oe=5DDF8BD5)


        PHAN VĂN KHẢI (s. 1933), thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN VN (từ 1997). Quê xã Tân Thông Hội, h. Củ Chi, tp Hồ Chí Minh; tham gia CM 1947; đv ĐCS VN (1959). Trong KCCP, 1947-52 hoạt động trong các tổ chức thiếu nhi và thanh niên địa phương tỉnh Gia Định. 1952-54 công tác văn phòng của Mặt trận Liên Việt tình, tỉnh ủy, ủy ban kháng chiến hành chính t. Gia Định Ninh. 10.1954 tập kết ra miền Bắc, tham gia công tác giảm tô, cải cách ruộng đất. 1960-65 học Đại học kinh tế quốc dân Maxcơva (LX). 6.1965-71 cống tác tại ủy ban kế hoạch nhà nước. 1972-78 cán bộ nghiên cứu kinh tế miền Nam; phó chủ nhiệm ủy ban kế hoạch tp Hồ Chí Minh. 1981-89 phó bí thư thành ủy, phó chủ tịch thường trực, rồi chủ tịch UBND tp Hồ Chí Minh. 4.1989-91 chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước; phó chủ tịch thường trực HĐBT (nay là chính phủ). 9.1992 phó thủ tướng thường trực Chính phủ nước CHXHCN VN. 9.1997 thủ tướng chính phủ nước CHXHCN VN, phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. 1998 ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI-IX (dự khuyết khóa V), ủy viên BCT khóa VII-IX, ủy viên thường vụ BCT khóa VIII. Đại biểu Quốc hội khóa VIII-XI.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67401834_459301344799751_6932197625152143360_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeEu44bjuu-b63H2ngXxvX5_4i5zypD9qiQ9AaavAxT2V9ZQA6hrym2Z1pZfXOidYcfaAUsJ7JBP6rT1-iDrhy8FhCw-NkJYHT5ln3POjMCQiw&_nc_oc=AQlp97yEvhgybUCJjMgJ5_WTPKf7__EHbrA6jxcLUVshdcVFUmMr3JJ6AM_fZ4kxVLQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=aeb7a383c5761732d402a43d36788dd9&oe=5DE3ECDD)


        PHAN VĂN LÂN (?-?), danh tướng, tham gia khởi nghĩa Tây Sơn từ đầu. 1787 cùng Vũ Văn Nhậm và Ngô Văn Sở chỉ huy quân Tây Sơn ra Bắc dẹp loạn Nguyễn Hữu Chỉnh. 1788 được Nguyễn Huệ giao cùng Ngô Văn sở và các danh tướng khác cai quản Bắc Hà. Cuối 1788 khi quân Thanh xâm lược, chỉ huy đội quân tinh nhuệ đánh chặn địch ở bờ bắc sông Thị Cầu, nửa đêm vượt sông tập kích đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị ở núi Tam Tằng (Việt Yên, Bắc Giang), nhằm thăm dò lực lượng địch và tạo điều kiện để đại quân rút về phòng giữ Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình - Thanh Hóa). 1789 trong cuộc đại phá quân Thanh, làm tướng tiên phong trong đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy (x. trận Hà Hồi, 28.1.1789', trận Ngọc Hổi - Đầm Mực, 30.1.1789). Sau thắng lợi được Nguyễn Huệ giao binh quyền cùng các danh tướng khác cai quản Bắc Hà. Được phong chức đô đốc, tước Nội Hầu.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:24:15 PM

        PHAN VĂN NHỜ (Tư Mâu; 1925-92), Ah LLVTND (1985). Quê xã Long Điền, h. Giá Rai, t. Bạc Liêu; nhập ngũ 1946, đại tá đoàn trưởng Đoàn 962. Quân khu 9 (1975); đv ĐCS VN (1947); khi tuyên dương Ah là phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang. Trong KCCP, tham gia xây dựng và chỉ huy LLVT huyện Giá Rai (t. Bạc Liêu). Jrong KCCM, 1955-59 xây dựng nhiều cơ sở CM ở tỉnh Bến Tre, chuẩn bị cho phong trào đồng khởi. 1960-72 tổ chức công tác vận chuyển vũ khí, thuốc men từ miền Bắc vào miền Nam bằng đường biển, tổ chức bến bãi. kho tàng ở Nam Bộ, tiếp nhận hàng ngàn tấn vũ khí, hàng hóa từ miền Bắc chuyển vào và vận chuyển kịp thời cho các chiến trường đồng bằng sông Cứu Long và Sài Gòn - Gia Định. 1972-75 tổ chức và chỉ huy vận chuyển 37 chuyến tàu biển (bằng phương thức bán công khai), đưa được hơn 600t vũ khí, thuốc men từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ. PVN 6 lần bị địch bắt và tra tấn dã man vẫn kiên trung bất khuất, tình nguyện lột da đầu cải trang che mắt địch. 1975- 92 chỉ huy phó Bộ chỉ huy QS tỉnh Kiên Giang, thường vụ tỉnh ủy; phó chủ tịch UBND tỉnh kiêm giám đốc Sở thủy sản. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất, Chiên thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67362354_459301368133082_6329405021062430720_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeHVHnE3XVSoDD_QEApsS5i4IofxW5CyKgkNz_Xf-HsTz1LxXNSCgJ6u_XZfZiPRt7NYK8FxlIxIooEY1mV5wdi7okSVPyTo3DCzeSkhmMifEw&_nc_oc=AQlhgyZEqnDL1gFRlGHvvvwl7kIOLREOizPVoHGE-NAN-qx2lNZgA5fZOXAxDax-T1U&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ee31589efe7a5d96d882332de3520f14&oe=5DA4F4CD)


        PHÀN TIẾP (Fan Ji; 7-1288), tướng người Hán trong đạo quân Nguyên - Mông hai lần xâm lược Đại Việt (1285, 1287- 88). Người Quan Châu (TQ). 1285 sang đánh Đại Việt nhưng thất bại. 1286 được thăng tham tri chính sự và được cử làm phó cho Ô Mã Nhi. 12.1287 cùng Ô Mã Nhi chỉ huy quân thủy theo đường biển vào xâm lược Đại Việt (x. kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III, 1287-88). Vào dược kinh thành Thảng Long, nhưng bị đánh khắp nơi và thiếu lương thực, Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân. 30.3.1288 PT cùng Ô Mã Nhi dẫn quân thủy rút chạy về nước. 9.4.1288 tới Bạch Đằng, lọt vào trận địa mai phục của Trần Quốc Tuấn, PT vội dẫn một số quân đổ bộ lên bờ phía Tràng Kênh để yểm hộ cho đoàn thuyền rút chạy, nhưng bị chặn đánh. PT bị thương, nhảy xuống sông và bị bắt.

        PHẢN CHIỂN, hành động chống chiến tranh của cá nhân hoặc tập thể quân nhân vì những lí do chính trị, xã hội... Diễn ra lẻ tẻ hoặc thành phong trào, bằng nhiều hình thức: công khai từ chối tham gia chiến tranh, đốt thẻ quân dịch, tự thương, đào ngũ, chống thi hành mệnh lệnh, chạy sang hàng ngũ đối phương... PC thường xảy ra ở phía tiến hành chiến tranh phi nghĩa. Trong chiến tranh xâm lược VN, PC diễn ra thường xuyên và có lúc thành phong trào trong QĐ Pháp. QĐ Mĩ trên chiến trường và ở chính quốc.

        PHẢN CHUẨN BỊ, đòn đột kích của bộ đội pháo binh, tên lửa, không quân và các phương tiện hỏa lực khác đánh vào cụm lực lượng chủ yếu của quân địch đang chuẩn bị tiến công ở khu vực tập kết hoặc ở vị trí xuất phát tiến công nhằm đập tan cuộc tiến công hoặc làm suy yếu sức mạnh tiến công ngay trước khi chúng bắt đầu chuẩn bị hỏa lực tiến công; bộ phận của hỏa lực sát thương địch trong phòng ngự. Thường được tổ chức và tiến hành theo quyết tâm của tư lệnh chiến trường (quân khu, chiến dịch). Kế hoạch PCB được lập ra trên cơ sở dự đoán hành động của địch. Việc tiến hành trinh sát để xác minh mục tiêu đánh phá và thời điểm địch chuyển sang tiến công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thời gian kéo dài của PCB phụ thuộc vào mục đích PCB, số lượng và tính chất mục tiêu phải sát thương, lực lượng tiến hành PCB... Yêu cầu chủ yếu của PCB là phải tiến hành bất ngờ, đánh trước hỏa lực chuẩn bị tiến công của địch; sử dụng lực lượng để PCB không được làm giảm sức đánh trả của bộ đội phòng ngự khi đối phương  chuyển sang tiến công. Trong PCB, nhiệm vụ chủ yếu là đánh phá vũ khí tên lửa chiến thuật, pháo binh, xe tăng và bộ binh (bộ binh cơ giới), khí tài điện tử và SCH của quân địch ở thể đội 1; khi có điều kiện, đánh phá các mục tiêu ngoài tầm hỏa lực của pháo binh như tên lửa chiến thuật - chiến dịch, máy bay trên sân bay, SCH và lực lượng dự bị gần. PCB xuất hiện lần đầu trong CTTG-I do QĐ nhiều nước tiến hành bằng hỏa lực của pháo binh, nên có thuật ngữ “PCB bằng pháo binh”. Trong CTTG-II, không quân được sử dụng rộng rãi với quy mô lớn trong PCB nên có thuật ngữ “PCB bằng không quân”. Trong điều kiện hiện đại, với việc phát triển mạnh uy lực của các phương tiện sát thương, nhất là vũ khí hủy diệt lớn, PCB vẫn giữ vai trò là một trong những biện pháp tích cực của phòng ngự, có khả năng đạt mục đích của phòng ngự.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:25:06 PM

        PHẢN CÔNG, dạng đặc biệt của tiến công được tiến hành để đánh lại cuộc tiến công của quân địch. Mục đích của PC: đập tan tập đoàn lực lượng tiến công của quân địch, phá cuốc tiến công của chúng, đánh chiếm khu vực (tuyến) chiến lược quan trọng, giành chủ động chiến lược, đôi khi kết thúc chiến tranh. PC được tiến hành ở quy mô chiến lược, đôi khi ở quy mô chiến dịch. Thường chuyển sang PC khi lực lượng tiến công chủ yếu của quân địch đã bị tổn thất nặng, lực lượng dự bị của chúng đã sử dụng, cuộc tiến công đã bị chặn lại nhưng quân tiến công chưa kịp chuyển sang phòng ngự. Tuỳ điểu kiện và tình huống cụ thể PC có thể được tiến hành trong thời kì đầu hoặc trong quá trình chiến tranh. Đặc điểm của PC là công tác tổ chức và chuẩn bị được tiến hành trong điểu kiện rất khó khăn, phức tạp trong quá trình đánh lui cuộc tiến công của quân địch có lực lượng ưu thế. Việc tiến hành các đòn đột kích mãnh liệt đầu tiên vào quân địch của không quân, bộ đội tên lửa, pháo binh và của bộ binh, đặc biệt là bộ đội tăng thiết giáp là yếu tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của PC. Những hiện tượng PC xuất hiện trong các cuộc chiến tranh thời cổ. Điển hình là PC ở Carơ do quân của nhà nước Paphia tiêu diệt các lêgiông của La Mã vào năm 53tcn. 1812 quân Nga tiến hành PC đã đánh bại quân của Napôlêông I xâm lược. PC được phát triển lên mức cao trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc ở LX (1941-45). Trong chiến tranh Triều Tiên (1950- 51) chí nguyện quân TQ tiến hành PC đã đẩy lùi quân tiến công của Mĩ từ biên giới Trung - Triều đến vĩ tuyến 38. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, quân và dân VN đã tiến hành nhiều cuộc PC thắng lợi. Điển hình: trận Bạch Đằng (938), trận Như Nguyệt (1077) trong chiến tranh chống quân Tông xâm lược; trận Đông Bộ Đầu (1258), Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long (1285), trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông; trận Nguyền Huệ tiến quân ra Bắc, tiêu diệt đạo quân của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long 1789. Trong KCCP và KCCM, có cuộc PC ở Việt Bắc Thu Đồng 1947, cuộc PC ở Đường 9 - Nam Lào 1971.

        PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC, phản công ở quy mô chiến lược do tập đoàn chiến lược của LLVT tiến hành trên một hoặc vài chiến trường tác chiến (hướng chiến lược), nhằm đánh bại tập đoàn chiến lược của đối phương đang trong quá trình tiến công, giành thế chủ động chiến lược, tạo điều kiện để chuyển sang tiến công chiến lược, hoặc kết thúc thắng lợi chiến tranh. PCCL có thể được tiến hành ngay tiếp sau phòng ngự chiến lược, rút lui chiến lược hoặc ngay trong thời kì đầu chiến tranh. Ở VN. PCCL được tiến hành sau rút lui chiến lược như ba cuộc PCCL trong ba cuộc kháng chiến thời Trần chống Nguyên - Mông (tk 13), cuộc PCCL trong cuộc kháng chiến thời Nguyễn Huệ chống quân Thanh (tk 18)...; có trường hợp tiến hành sau phòng ngự chiến lược như cuộc PCCL trong kháng chiến thời Lí chống Tống (tk 11); khi bắt đầu chiến tranh quân địch còn đang tiến hành tiến công chiến lược như cuộc PCCL của quân và dân ta ở Việt Bắc Thu Đông 1947.

        PHẢN ĐỘT KÍCH, công kích của liên binh đoàn được tiến hành trong chiến dịch phòng ngự nhầm tiêu diệt, tiêu hao quân địch đột nhập trận địa, khôi phục một phần hoặc toàn bộ khu vực phòng ngự đã mất, tạo điều kiện chuyển sang tiến công, phản công hoặc cho các hoạt động tác chiến tiếp theo. Đối tượng của PĐK thường là lực lượng tiến công chủ yếu của địch, đang uy hiếp thế phòng ngự chiến dịch. PĐK được tiến hành bằng lực lượng cơ động tiến công (thể đội 2), lực lượng dự bị binh chủng hợp thành, một bộ phận lực lượng phòng ngự tại chỗ và có thể một bộ phận lực lượng rút từ hướng khác tới...; PĐK thường diễn ra bằng một số trận đánh đồng thời, kế tiếp hoặc bằng một trận đánh lớn, tốt nhất là tiến công vào bên sườn quân địch đột nhập, ở thời điểm quân địch tiến công đã bị chặn lại. bị sát thương nặng, chưa kịp củng cố khu vực đã chiếm, lực lượng dự bị của chúng chưa kịp vào chiến đấu hoặc bị ngăn chặn, lực lượng phản đột kích của ta đã sẵn sàng.

        PHẢN KÍCH, công kích của binh đoàn (binh đội, phân đội) được tiến hành trong trận chiến đấu phòng ngự, nhằm tiêu diệt, tiêu hao quân địch đột nhập trận địa. đang uy hiếp phòng ngự. khôi phục hoàn toàn hoặc một phần trận địa đã mất. PK chủ yếu do lực lượng cơ động tiến công, lực lượng dự bị (thể đội 2) tiến hành, có thể có một bộ phận lực lượng phòng ngự tại chỗ tham gia. Điều kiện PK: khi quân địch đột nhập phòng ngự đã bị chặn, chưa kịp củng cố trận địa đã chiếm, hoặc tốc độ tiến công chậm, lực lượng dự bị đã sử dụng hoặc chưa có khả năng bước vào chiến đấu; ta giữ được các trận địa còn lại, bảo đảm triển khai lực lượng để PK, lực lượng PK đã sẵn sàng. Khi tiến hành PK phải tập trung hỏa lực sát thương quân địch đột nhập, chia cắt lực lượng đột nhập với lực lượng phía sau. kết hợp tiến công từ chính diện, bên sườn, phía sau để tiêu diệt quân địch đột nhập.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:26:41 PM

        PHẢN ÚNG HẠT NHÂN, sự biến đổi của hạt nhân nguyên từ khi tương tác với các hạt cơ bản, lượng tử y hoặc giữa các hạt nhân với nhau. Thông thường, tham gia vào PƯHN có 4 hạt: hai hạt ban đầu và hai hạt sinh ra do phán ứng. Kí hiệu quy ước PƯHN: a+A —> b+B hay A(a, b) B (trong đó A là hạt nhân bia ban đầu, a là hạt (hạt nhân) bay đến. B là hạt nhân cuối, b là hạt (hạt nhân) bay ra). Tùy theo loại hạt, chia thành PƯHN dưới tác dụng của nơtrôn, protôn, hạt anpha, ion nhiều điện tích (ion nặng), phôtón gamma. Đặc trưng quan trọng của PƯHN là giải phóng hoặc hấp thụ năng lượng rất lớn. PƯHN được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc, tính chất hạt nhân nguyên tử, tạo năng lượng hạt nhân, sản xuất chất đồng vị phóng xạ...

        PHẢN ỨNG NHIỆT HẠCH nh PHẢN ÚNG TỔNG HỢP HẠT NHẢN

        PHẢN ÚNG PHÂN CHIA HẠT NHẢN, quá trình hạt nhân nguyên tử loại rất nặng hấp thụ một nơtrôn rồi vỡ thành hai hạt nhân nguyên tử loại trung bình. PƯPCHN giải phóng một năng lượng rất lớn, vd: lkg u235 phân hạch hoàn toàn tỏa ra năng lượng 8,4.1013J tương đương với năng lượng cung cấp bởi 2 triệu kilôgam xăng. Khi một hạt nhân nặng bị vỡ nó giải phóng ra từ 2 đến 3 nơtrôn, các nơtron này lại tiếp tục bắn phá các hạt nhân ở bên cạnh làm cho phân ứng tiếp diễn thành một dây chuyền (cg phản ứng dây chuyền). PƯPCHN được đặc trưng bởi hệ số nhân nơtrôn k (ti số giữa số nơtrôn ở khâu đang xét và số nơtrôn ở khâu liền trước đó của dây chuyển). Nếu k<l phản ứng dây chuyền không thể xảy ra: k=l phân ứng dây chuyền xảy ra với tốc độ không đổi (phản ứng dây chuyền điều khiển được trong các lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, tàu ngầm nguyên từ...); k>l tốc độ phân ứng tăng rất nhanh không điều khiển được dẫn tới các vụ nổ (trong bom nguyên tử, đạn dược hạt nhân). PƯPCHN được sử dụng  đầu tiên trong vụ ném bom nguyên tử của Mĩ (1945) xuống hai thành phố Hirôsima và Nagaxaki (Nhật). Những người có công đầu tiên trong việc đặt nền móng lí thuyết và phát hiện ra PƯPCHN là A. Anhxtanh. M. Quyri (phát hiện phóng xạ 1896), Rudơpho (phát hiện phản ứng hạt nhân 1919). Han và Xtratxman (phát hiện sự phân rã hạt nhân 1937), G. Quyri và Sayitxơ (phát hiện phản ứng dây chuyền 1938), Phơlêrôp và Pêtrêac (phát hiện sự phân hạch tự phát của hạt nhân nguyên tử uran). Cg phản ứng phân hạch.

        PHẢN ỨNG PHÂN HẠCH nh PHẢN ÚNG PHÂN CHIA HẠT NHÂN

        PHẢN ỨNG TỔNG HỢP HẠT NHÂN, sự kết hợp của các hạt nhân nguyên tử nhẹ tạo thành hạt nhân nguyên tử nặng hơn ở nhiệt độ rất cao (khoảng 107oK trở lên), đồng thời giải phóng một năng lượng rất lớn. Nhiệt độ cao tạo ra động năng lớn (trong chuyển động nhiệt) của các hạt mang điện của hạt nhân nhằm khắc phục lực đẩy tĩnh điện rất lớn của chúng. Tuy nhiên điều kiện này chi cần ở thời điểm bắt đầu phản ứng, còn trong suốt quá trình phân ứng, nhiệt độ rất cao tạo bời năng lượng được giải phóng. Năng lượng do PƯTHHN tạo ra gấp 10 lần năng lượng giải phóng từ phản ứtìg phán chia hạt nhân và 20 triệu lần năng lượng cháy của xăng, vd: tổng hợp 4 hạt nhân nguyên tử hiđrô tạo thành 1 hạt nhân nguyên từ hêli thì năng lượng tỏa ra là 26 MeV, tức là cứ tổng hợp được 4g hêli sẽ nhận được 700.103KWh. Trong tự nhiên PƯTHHN xảy ra trên Mặt Trời, các vì sao và là nguồn năng lượng chủ yếu của chúng. Do chưa có biện pháp, hệ thống thiết bị để điều khiển và đảm bảo cách nhiệt trong một thời gian dài với môi trường xung quanh nên hiện nay mới chi thực hiện PƯTHHN dạng không kiểm soát được trong bom khinh khí. Điều khiển chủ động PƯTHHN là một hướng nghiên cứu mũi nhọn của ngành năng lượng hạt nhân hiện nay. Cg phản ứng nhiệt hạch. ,

        PHAO DẪN (CHỈ) ĐƯỜNG nh PHAO HÀNG HẢI

        PHAO HÀNG HẢI. phao tiêu cảnh báo được dùng để dẫn đường hoặc đánh dấu những vị trí nguy hiểm về hàng hải trên các tuyến nội thủy và ở các vùng nước khác nhau. PHH có hình dáng khác nhau, có thể là các phao tiêu lớn, trung bình và nhỏ; phao tiêu có chiếu sáng, không chiếu sáng hoặc có phản xạ ánh sáng; được trang bị các đèn pha. đèn hải đăng, thiết bị phản xạ rađa thụ động, hải đăng vô tuyến, tín hiệu âm thanh. Tùy theo mục đích sử dụng, PHH được sơn màu và đánh số khác nhau. PHH được bố trí ở vùng biển quốc tế và các khu vực biên gần bờ, trong các vịnh, vụng kín và trên các tuyến đường nội thúy. PHH được sử dụng đầu tiên ở Mĩ (1767). Cg phao dẫn (chỉ) đường.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:28:07 PM

        PHÁO. 1) hòa khí tập thể có nòng cỡ từ 20mm trở lên để diệt sinh lực và phương tiện của đối phương hoặc làm những nhiệm vụ khác (tạo khói, chiếu sáng...); vũ khí đặc thù của binh chủng pháo binh. Tính năng chiến đấu: tầm bắn, uy lực của đạn, độ chính xác bắn, tốc độ bắn, khả năng cơ động (về hỏa lực và di chuyển pháo)... Theo nơi đặt và mục tiêu bắn, có: P mặt đất, P trên máy bay. P trên xe tăng, P trên tàu (tàu chiến, tàu hỏa), pháo phòng không, pháo chống tăng, P đa năng...; theo kết cấu nòng, có: P rãnh xoắn, P nòng trơn; theo cỡ nòng, có: P cỡ nhỏ (20-75mm), P cỡ trung (76-155mm), P cỡ lớn (>155mm); theo khà năng cơ động, có: P cố định, P xe kéo, P tự hành, P tự di chuyển, P mang vác...; theo kết cấu, có: pháo nòng dài, pháo lựu, P không giật, cối...: theo thao tác bắn. có: P tự động, P bán tự động, P không tự động... P xuất hiện ở châu Âu (tk 13), ở VN (tk 15, X. súng thần cơ), được phát triển mạnh từ đầu tk 20, đặc biệt trong và sau CTTG-II; 2) pháo không nòng, X. pháo phản lực.

        PHÁO BẮN ĐẠN RIA nh PHÁO RIA

        PHÁO BINH, lực lượng tác chiến của QĐ (LLVT) nhiều nước; lực lượng hỏa lực mặt đất chủ yếu của lục quân, thường được trang bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập. PB thường được tổ chức thành binh chủng thuộc lục quân (xt Binh chủng pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam). Ở VN PB có cả trong ba thứ quân.

        PHÁO BINH CHỦ LỰC, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn pháo binh trong biên chế của bộ đội chủ lực; lực lượng nòng cốt của pháo binh VN. Gồm pháo binh dự bị của Bộ, pháo binh trong biên chế của quân khu, quân đoàn. Có nhiệm vụ cơ động tác chiến trên địa bàn đảm nhiệm và theo mệnh lệnh của Bộ. Đơn vị PBCL đầu tiên của QĐND VN là 3 trung đội pháo binh thủ đô (Pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh) thành lập 29.6.1946 theo quyết định của BTTM. Đêm 19.12.1946 pháo binh Pháo đài Láng được lệnh nổ súng đầu tiên bắn vào quân Pháp trong thành Hà Nội, mở dầu cuộc KCCP.

        PHÁO BINH CHUYÊN TRÁCH, gọi chung các phân đội pháo binh chuyên bám đánh mục tiêu tác chiến quan trọng trong một thời gian nhất định; hình thức tổ chức lực lượng trong tác chiến độc lập của pháo binh. PBCT thường được trang bị gọn nhẹ (cối 82mm, ĐKZ, hỏa tiễn) và được xây dựng theo hướng tinh nhuệ, đa năng (trang bị nhiều loại vũ khí khác nhau). PBCT dựa vào nhân dân địa phương để nắm vững tình hình địch và địa hình. Trong KCCM ở miền Nam VN từ 1969 đã tổ chức nhiều phân đội PBCT. Vd: ở xã Bình Đức (Mĩ Tho) 3 đại đội cối 82mm. 120mm. ĐKZ chuyên trách đánh căn cứ Đồng Tâm của Sư đoàn bộ binh 9 Mĩ. Tại Khu 5, Tiểu đoàn pháo binh 99 chuyên trách đánh sân bay Đà Nẵng, PBCT của Tiểu đoàn bộ binh 33 đánh căn cứ Đồng Lâm. Vận dụng kinh nghiệm của PBCT. trong một số trận chiến đấu (chiến dịch) đã phái ra các phân đội cối, ĐKZ chuyên làm một nhiệm vụ như bám đánh các căn cứ hỏa lực nguy hại của đối phương trong một thời gian.

        PHÁO BINH DỰ BỊ, gọi chung các binh đội, binh đoàn pháo binh trong biên chế của BTL pháo binh, do BTTM sử dụng , tư lệnh binh chủng pháo binh trực tiếp quản lí chỉ huy. Thường gồm các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh, được trang bị pháo xe kéo cỡ lớn, tầm xa. pháo tự hành, pháo phản lực, tên lửa tầm gần và tầm trung... PBDB thường dùng để tăng cường cho các binh đoàn, liên binh đoàn hoạt động trên hướng chủ yếu nhằm thực hiện nhiệm vụ tác chiến chủ yếu.

        PHÁO BINH ĐI CÙNG, gọi chung các phân đội pháo binh biên chế hoặc phối thuộc, bố trí và di chuyển theo đội hình chiến đấu của phân đội (binh đội) binh chủng hợp thành để kịp thời tiêu diệt sinh lực, hỏa khí đối phương cản trở phát triển tiến công. PBĐC thường là các khẩu đội, trung đội, đại đội pháo mang vác (cối, ĐKZ, tên lửa chống tăng), đôi khi có cả pháo xe kéo loại nhẹ.

        PHÁO BINH ĐỊA PHƯƠNG, gọi chung các phân đội pháo binh trong biên chế của bộ đội địa phương và dân quản tự vệ. Bao gồm: pháo binh của các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh huyện, tỉnh (thành phố); các tiểu đoàn (đại đội) pháo binh trực thuộc bộ chỉ huy QS tỉnh (huyện); các khẩu đội. trung đội, đại đội pháo của dân quân tự vệ trong các bản (làng), xã (phường), xí nghiệp, lâm (nông) trường... PBĐP được trang bị gọn nhẹ (các loại cối, ĐKZ và pháo xe kéo 76, 85, 105mm), thông thạo địa hình, hoạt động rộng khắp và có hiệu quả; có thể đứng vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tác chiến của pháo binh chủ lực.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:29:41 PM

        PHÁO BINH LUỒN SÂU, gọi chung các phân đội. binh đội pháo binh bí mật lọt vào chiều sâu đội hình chiến đấu hay hậu phương địch để tập kích hỏa lực các mục tiêu quan trọng; hình thức tổ chức lực lượng trong tác chiến độc lập của pháo binh. PBLS được tổ chức trong pháo binh ba thứ quân với quy mô khẩu đội, trung đội - trong dân quân, du kích; trung đội, đại đội - trong bộ đội địa phương tỉnh, quân khu; đại đội, tiểu đoàn - trong bộ đội chủ lực; có trường hợp tới quy mô trung đoàn (như hai trận tập kích hỏa lực vào sân bay Biên Hoà của Trung đoàn 724 ngày 12.5.1967 và 31.1.1968)... PBLS thường trang bị gọn nhẹ bàng pháo mang vác như súng cối 82mm. ĐKZ hay các loại đạn phản lực phóng ứng dụng. Thủ đoạn tác chiến của PBLS là dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, bí mặt luồn qua chỗ sơ hở của địch để tiếp cận mục tiêu, chuẩn bị chu đáo, tập kích hỏa lực bất ngờ; sau đó rút ngay hay có thể bám trụ lại tại các cơ sở bí mật, chờ thời cơ có lợi sẽ tiếp tục cơ động đánh địch. PBLS có thể tập kích từng mục tiêu, trong từng trận đánh, trên từng khu vực (hướng) với thời gian khác nhau; hoặc đánh đồng loạt vào nhiều mục tiêu, trên nhiều hướng rộng khắp, trong cùng một thời gian (như đợt tập kích hỏa lực có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược trong tổng tiến công mùa Xuân 1968). PBLS đã giúp cho tác chiến độc lập của pháo binh đạt hiệu suất cao, đánh sâu vào các mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược của đối phương. PBLS xuất hiện từ trong KCCP (tập kích tx Bắc Giang 1951) và đã nhanh chóng phát triển trong KCCM.

        PHÁO BINH MẶT ĐẤT nh PHÁO BINH

        PHÁO BINH QUÂN ĐOÀN, gọi chung các phân đội, binh đội pháo binh trong biên chế của quân đoàn, trực tiếp thuộc quyền chỉ huy của tư lệnh quân đoàn. Thường được trang bị pháo tầm xa, pháo phản lực có uy lực lớn và tên lửa chống tăng. Trong tác chiến, được tổ chức thành các cụm PBQĐ, hoặc tăng cường, phối thuộc cho các sư đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới) của quân đoàn hoạt động trên các hướng.

        PHÁO BINH QUÂN KHU, gọi chung các binh đội, binh đoàn pháo binh trong biên chế của quân khu, trực tiếp thuộc quyển chỉ huy của tư lệnh quân khu. Thường được trang bị pháo tầm xa, pháo phản lực có uy lực lớn và tên lửa chống tàng. Trong tác chiến, được tổ chức thành các cụm PBQK, hoặc tăng cường, phối thuộc cho sư đoàn bộ binh, quân đoàn của quân khu hoạt động trên các hướng.

        PHÁO BINH SƯ ĐOÀN, gọi chung các phân đội, binh đội pháo binh trong biên chế của sư đoàn (bộ binh, bố binh cơ giới...), trực tiếp thuộc quyền chỉ huy của sư đoàn trưởng. Thường được trang bị pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo phản lực, cối. ĐKZ. Trong tác chiến. PBSĐ được tổ chức thành cụm PBSĐ, đội dự bị chống tăng, hoặc tăng cường, phối thuộc cho các trung đoàn trên các hướng. Có thể tập kích hỏa lực. bắn chế áp, tiêu diệt mục tiêu được phân công trong tầm bắn thích hợp.

        PHÁO BINH TẠI CHỖ, gọi chung lực lượng pháo binh được tổ chức và bố trí sẵn trên từng khu vực (địa bàn) tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường)... để tác chiến; hỏa lực chủ yếu của chiến tranh nhân dân địa phương, một bộ phận của lực lượng tại chỗ. Gồm: pháo binh của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và pháo binh của bộ đội chủ lực đang hoạt động tác chiến thường xuyên hay phòng ngự tại địa bàn. Đặc điểm PBTC: thông thuộc địa hình, nấm chắc tình hình địch, có cơ sở vững chắc trong nhân dân, phát huy được sức mạnh tổng hợp, có khả năng đánh địch liên tục, rộng khắp. Kết hợp chặt chẽ giữa PBTC với pháo binh cơ động là một nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến tranh nhân dân VN.

        PHÁO BINH TIỂU ĐOÀN, gọi chung các phân đội pháo binh trong biên chế của tiêu đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), trực tiếp thuộc quyền chỉ huy tiểu đoàn trưởng. Trong chiến đấu, trực tiếp chi viện hỏa lực cho bộ binh, xe tăng, xe thiết giáp; tiêu diệt sinh lực, hỏa khí, xe tăng, xe thiết giáp của địch. PBTĐ được trang bị cối, ĐKZ... nhỏ, dễ mang vác.

        PHÁO BINH TRUNG ĐOÀN, gọi chung các phân đội pháo binh trong biên chế của trung đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới, xe tăng...), trực tiếp thuộc quyền chỉ huy của trung đoàn trưởng. Thường được trang bị các loại cối, ĐKZ và thường bố trí (đi cùng) trong đội hình chiến đấu của trung đoàn. Trong chiến đấu, PBTĐ có thể tăng cường, phối thuộc một phần cho các tiểu đoàn; tổ chức đội cơ động diệt tăng, một phần do trung đoàn trưởng nắm.

        PHÁO BINH VÀNH ĐAI, phân đội pháo binh dân quân du kích, bộ đội địa phương ở các vành đai du kích. Hình thức tổ chức đánh Mĩ sớm nhất của pháo binh VN trong chiến tranh nhân dân địa phương, có nhiệm vụ bắn phá các sân bay, kho tàng, khu nhà ở của quân Mĩ... PBVĐ đã tồn tại, phát triển với quy mô khẩu đội và trung đội là chính; liên tục chiến đấu trong nhiều năm, gây cho đối phương nhiều thiệt hại, điển hình là pháo binh xã Bình Đức, h. Châu Thành, tp Mĩ Tho, t. Tiền Giang. Các chiến sĩ PBVĐ sống phân tán, cùng lao động sản xuất với nhân dân tại vành đai; pháo, đạn thường cất giấu kín, khi chiến đấu mới lấy ra sử dụng. PBVĐ ra đời từ 1965 trong các “vành đai diệt MT’ như Hoà Vang. Chu Lai ở đồng bằng Khu 5; An Khê. Plây Cu ở Tây Nguyên; Củ Chi, Lái Thiêu, Bến Cát ở miền Đông Nam Bộ...


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:33:04 PM

        PHÁO BỜ BIỂN, pháo của hải quân được bố trí trên bờ biển (hải đảo) dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên biển, chi viện tàu thuyền và LLVT ta hoạt động ở các khu vực gần bờ biển (hải đảo). Trong trang bị của đa số các nước, có: PBB cỡ lớn (180mm và lớn hơn), PBB cỡ trung (100-155mm) và PBB cỡ nhỏ (dưới lOOmm). Theo kiểu thiết bị pháo, có: PBB cố định (có tháp hoặc không có tháp pháo) và PBB cơ động (bằng đường ray hoặc xe kéo cơ giới). Hỏa lực PBB được bảo đảm nhờ sử dụng các khí tài chỉ huy khác nhau, trạm rađa, máy đo xa... Ở VN, sử dụng một số loại pháo mặt đất của lục quân làm nhiệm vụ phòng ngự bờ biển (hải đảo).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67608790_459301388133080_4580010321086775296_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFVGFX7rtJzEhLKObNVRefS8yvc_a6_IFyvIjGoIj0_v6laHwBY0PP-d7Wk7jSDsK77r_2Xu6BYbssOP9-9WRUkK5OtU6Xdp0cDloNoCbcGUA&_nc_oc=AQn1is5yyNEoeybdPMxWyXMPNSNuTiZfHKvCK8U709u95RHl4HOCtNPflpFMeCHQ19s&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c970d6b2276c7f07a8859ac8cc8723f6&oe=5DE6E926)

Pháo bờ biển 130mm (Nga)

        PHÁO CANÔNG nh PHÁO NÒNG DÀI

        PHÁO CAO XẠ nh PHÁO PHÒNG KHÔNG

        PHÁO CĂN CỨ, gọi chung các khẩu đội (đại đội, tiểu đoàn, cụm pháo) được bố trí thành trận địa hỏa lực trong các căn cứ QS (căn cứ hỏa lực, căn cứ hành quân...) để thực hiện nhiệm vụ hỏa lực. Trong chiến tranh xâm lược VN, PCC được tổ chức phổ biến trong QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn. Vd: căn cứ 241 (Quảng Trị) diện tích gần lkm2, bố trí tới 30 khẩu pháo cỡ 105-175mm; căn cứ Bình Đức (t. Mĩ Tho, nay là t. Tiền Giang) diện tích gần 6km2, bố trí tới 60 khẩu pháo (cối) các loại...

        PHÁO CHỐNG TẢNG, gọi chung các loại pháo mặt đất chủ yếu dùng để diệt xe tăng và các mục tiêu bọc giáp khác. Gồm pháo nòng dài chống tăng (xe kéo hoặc tự hành), pháo không giật. Có cỡ nòng 57-120mm, tầm bắn thẳng 200- 1.500m; khả nàng xuyên thép 100-300mm; sử dụng đạn xuyên, đạn lõm hoặc đạn mảnh - phá. PCT thường bắn ngắm trực tiếp từ trận địa lộ; khi cần một số loại pháo có thể bấn ngắm gián tiếp sát thương sinh lực, hỏa khí và các công trình QS loại nhẹ của địch. Đặc điểm cơ bản của PCT: tính cơ động cao, tốc độ bắn nhanh, đường đạn căng và đạn có sức xuyên lớn. Được sử dụng rộng rãi từ CTTG-II. Các loại PCT đã dùng phổ biến ở VN: 76mm ZiS-3 và 85mm Đ44 (LX); ĐKZ: 75mm K56-2 và 82mm K-65 (TQ); ĐKZ 82mm B-10 (LX).

        PHÁO CỐI nh CỐI

        PHÁO ĐÀI, 1) công trình phòng thủ lâu bền chuyên đặt pháo để chiến đấu phòng thủ. Được xây dựng ở góc thành luỹ hoặc riêng biệt ở những vị trí quan trọng gần cửa sông, cửa biển, những khu yếu địa trên biên giới quốc gia; 2) trận địa pháo xây dựng vững chắc, như các PĐ Láng, PĐ Xuân Tảo ở Hà Nội (do QĐ Pháp xây dựng trong CTTG-II), PĐ Xuân Canh ở Hà Nội (do QĐND VN xây dựng 1946).

        PHÁO ĐÀI BAY nh B-52 XTRATƠPHOTRI

        PHÁO ĐÀI BREXT, pháo đài ở tp Brext (Bêlarut). Xây dựng 1833-38, đến trước CTTG-I mới hoàn chỉnh. Trong CTTG-II, từ 22.6 đến 20.7.1941 các chiến sĩ Xô viết bảo vệ pháo đài đã anh dũng chiến đấu trong vòng vây, chống lại quân Đức có ưu thế vượt trội về lực lượng, có xe tăng, máy bay và pháo binh yểm trợ. Phần lớn những người phòng thủ ở đây đã hi sinh. 8.5.1965, PĐB được nhà nước LX tặng danh hiệu pháo đài Ah. Tại đây, 1971 xây dựng tổ hợp tượng đài “Pháo đài anh hùng”.

        PHÁO ĐÀI LÁNG, trận địa pháo do Pháp xây dựng 1941 trên một khu đất giữa hai thôn Láng Thượng và Láng Trung, nay thuộc q. Đông Đa, tp Hà Nội. Tại đây có 4 khẩu pháo cao xạ 75mm được đặt trên bệ bê tông, bố trí ở bốn góc, giữa là SCH và các hào chiến đấu. Sau Nhật đảo chính Pháp 9.3.1945, quân Nhật chiếm PĐL. Từ 6.1946, PĐL trở thành trận địa pháo của Trung đội pháo binh Thủ Đô. 20 giờ 3ph ngày 19.12.1946, từ PĐL Trung đội pháo binh Thủ Đô đã bắn những loạt đạn đầu tiên vào vị trí đóng quân của Pháp, mở đầu cuộc KCCP ở Hà Nội. 21.12.1946 bắn rơi một máy bay trinh sát của Pháp (chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi sau ngày toàn quốc kháng chiến). PĐL là di tích lịch sử đã được xếp hạng (1986).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:35:20 PM

        PHÁO ĐIỆN TỪ. pháo siêu tốc sử dụng năng lượng trường điện từ để đẩy đạn đi. Hai dạng PĐT đang được nghiên cứu nhiều nhất là pháo từ ray và pháo từ cảm. Pháo từ ray gồm hai thanh ray song song và một viên đạn đặt giữa chúng. Một dòng điện mạnh đi qua thanh ray thứ nhất, qua viên đạn, qua thanh ray thứ hai, tạo ra từ trường, tác động với lực Lorentz trên đoạn mạch chạy trong vỏ đạn, tăng tốc cho đạn (có thể đạt 10km/s hoặc hơn). Pháo từ cảm gồm những vòng dây, được cung cấp một dòng điện liên tục, đầu đạn có một cuộn cảm cuốn quanh để tạo từ trường. Kết quả là lực Lorentz được sinh ra nhờ từ trường biến thiên sẽ tăng tốc cho đầu đạn... PĐT được nghiên cứu trong chương trình vũ khí vũ trụ và vũ khí mặt đất.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67382146_459301394799746_5833272866002436096_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFJcT8lW6Sl5CKA-y8SbR0CpJpdRJnQDtPjvqS0FP5N8gclsPlTf6rW0ClbuGymbo5cKl5OL3VFETwykQxfTf1LGelkDusz3ka3xb9bF1_X8A&_nc_oc=AQnvmtIlo1NlEMX1ZuruW8N8s62nvmNQ8G9POjr9UNikl0VEb9Tb2RPtZeYMVmcsvQk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=60902cf7acdf79f60f76920d95728db7&oe=5DE21D5E)

1. lớp plasma; 2. đường dẫn; 3. lớp cách điện

        PHÁO ĐỘI KÍNH, khí tài  quang học gồm hai ống kính nhìn ngầm liên kết với nhau bằng khớp bản lề, các cơ cấu đo góc, đặt trên bệ đỡ và giá ba chân dùng để quan sát chiến trường, trinh sát mục tiêu, phục vụ bắn, đo góc và cự li. Góc giữa hai ống kính điều chỉnh  được từ 0 đến 180° theo yêu cầu thay đổi cảm giác nổi (lập thể) hay độ nhìn ngầm. Độ phóng đại 8-16 lần (khi lắp thêm ống kính phóng đại đến 20 lần), thị giới 4,5-7°. Phạm vi đo góc hướng 360° (6.000 li giác), góc tà từ -300 đến +1.000 li giác, độ phân biệt thường đến 1 li giác, độ chính xác đo góc 1,8’. PĐK xuất hiện từ tk 19. Sau CTTG-I được sử dụng rộng rãi và trở thành một trong những khí tài quang học chủ yếu của pháo binh.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67354807_459301404799745_1398541501625008128_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEKssbjv02kcfr8Lhs2mShubN7htyK3aLWGUCPZDAKsNmZMwEI-z5J30rbm_O7FecKj2BbA0g5H502bUmRd1X57H1hpB-dmHhzrDjIuSJHFMw&_nc_oc=AQkQIpw55ry9pKbEaXIm5lIHjinZEP0dNaYHN5ei5N77yGHKIutsjGDU9gCcP1HbrEw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=7a4c3a252153181755034a3a0d589fac&oe=5DDD2985)


        PHÁO HẠM nh TÀU PHÁO

        PHÁO HẠM TÀU, pháo trang bị trên tàu chiến dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên biển, đất liền và trên không. PHT có lá chắn hoặc không có lá chắn, khối quay lắp đặt cố định trên boong tàu; cỡ lớn thông thường có một nòng, cỡ trung bình có từ một đến hai nòng, cỡ nhỏ có nhiều nòng. PHT được chia ra: pháo chủ lực, pháo phòng không và pháo đa năng. Tiền thân của PHT là pháo thuyền có từ tk 14. Đến tk 15, tàu chiến ra đời, số lượng pháo trên tàu được tăng lên, điển hình là tàu “Chúa Biển” của hải quân Anh (năm 1637) có tới 132 khẩu pháo các cỡ. Đến nay PHT không ngừng được hiện đại hóa các phương tiện trinh sát xác định mục tiêu, hệ thống điều khiển hỏa lực tự động... và dùng đầu đạn lắp ngòi nổ không tiếp xúc để nâng cao hiệu quả sử dụng. PHT là một trong những thành phần hỏa khí chủ yếu của hải quân VN. Cg pháo trên tàu.

        PHÁO HÀNG KHÔNG, pháo được lắp đặt trên máy bay, có hệ thống điều khiển hỏa lực, nạp đạn và ngắm bắn tự động hóa cao, chủ yếu dùng để diệt khí cụ bay ở cự li gần và mục tiêu mặt đất (nước). PHK có một hoặc nhiều nòng, thường có cỡ nòng 20-45mm, cũng có thể dùng pháo cỡ 105mm (tùy theo loại máy bay), tốc độ bắn chiến đấu đến 300 phát/ph hoặc hơn, sơ tốc 500-1.100 m/s, tầm bắn hiệu quà 2.000m. Hiện nay PHK được trang bị cho hầu hết các loại máy bay chiến đấu. trực thăng vũ trang và không ngừng được hiện đại hóa nhờ kĩ thuật bắt mục tiêu, ngắm bắn tự động bằng hồng ngoại, lade..., cho phép tác chiến hiệu quả cả ban đêm.

        PHÁO HỎA TIỄN nh PHÁO PHẢN LỰC

        PHÁO HỎA TIỄN H-12 nh H-12


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:37:27 PM

        PHÁO KHÔNG GIẬT, pháo có kết cấu cho phép khi bắn một phần khí thuốc phóng phụt về phía sau qua loa phụt ở đáy nòng để tạo ra phản lực cân bằng với lực giật lùi (triệt tiêu sự giật). PKG có cỡ 57-120mm, nòng trơn hoặc có rãnh, tầm bắn hiệu quả tới 1.500m, tầm bắn thẳng 400-800m, khối lượng 50-310kg, tốc độ bắn 5-6 phát/ph, bắn đạn lõm (độ xuyên giáp tới 400mm) và đạn mảnh-phá, chủ yếu để diệt mục tiêu bọc giáp, sinh lực và hỏa điểm. Được dùng rộng rãi từ CTTG-II, được sản xuất ở VN từ 1949 (x. SKZ) tạo điều kiện phát triển chiến thuật công kiên trong KCCP. Cg ĐKZ.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67403824_459301424799743_7801144812794544128_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeFReh4kbTvd1rT-4T3zYfQck2aWyArU8saTNoqtmmVBRQV2WSeQxl-yAtP95NN3bSLCga7BGCudHiDG6av-2C2fBNU5NLFurLRgER4sOh0Ptw&_nc_oc=AQmbt7kSgLg-yxjuupaxhUKvUcrITNX6IoMWKNSAfidJuFtMmNgtkLqku96ZxGOe5S8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d746dd1465e97ace8e2f50aa8c789234&oe=5DABBC3E)


        PHÁO NÒNG DÀI, pháo có chiều dài nòng gấp 40-80 lần cỡ nòng. PND có đường đạn căng, tầm bắn xa, dùng diệt mục tiêu mặt đất (nước), trên không. PND hiện đại có cỡ 20-2l0mm. khối lượng đạn 0,l-130kg, tầm bắn thẳng (vào mục tiêu xe tăng) đến 2.000m, bắn các loại đạn mảnh, phá, xuyên, lõm. cháy, khói, chiếu sáng... Tính năng chính của PND xe kéo: 

        PHÁO LỆNH X. SÚNG (PHÁO) LỆNH

        PHÁO LỰU, pháo có chiều dài nòng gấp 15-40 lần cỡ. PL có đường đạn cong, dùng diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước (kể cả mục tiêu bị che khuất hay trong công sự). Có: PL xe kéo, PL tự hành, PL tự chuyển. PL hiện đại có cỡ 105-203mm, có thể bắn dưới góc bắn lớn (tới 70°) và góc hướng tròn (360°), tốc độ bắn lớn nhất 10 phát/ph, bắn các loại đạn phá, mảnh, cháy,... có liều phóng thay đổi được (có loại bắn được đạn hạt nhân), tầm bắn ll-24km. PL đầu tiên xuất hiện vào tk 15 (ở châu Âu). LLVT VN được trang bị phổ biến PL 122mm M30, Đ30 (LX), 105mm M101 (thu dược của đối phương). Loại pháo kết hợp các tính chất của PL và pháo nòng dài, trong đó tính chất của PL trội hơn gọi là pháo lựu - nòng dài hay pháo lựu - canông (thường cỡ 90-152mm, nòng dài 25-40 lần cỡ, tầm bắn đến 20km). Cg pháo nòng ngắn.

        PHÁO MANG VÁC, pháo mặt đất có kết cấu gọn nhẹ, có thể tháo rời, cơ động bằng sức người (mang vác), tác chiến trên mọi địa hình, hiệu suất chiến đấu cao, hỏa lực bất ngờ. PMV gồm: sơn pháo, cối, ĐKZ, pháo phản lực... Trong KCCP, pháo binh VN chủ yếu trang bị và sử dụng PMV. Từ 1954 số lượng pháo xe kéo tăng nhanh, nhưng PMV vẫn chiếm tỉ trọng lớn (54% tổng số pháo đến cuối 1958). Trong KCCM, từ 1960 đến 1971 chủ yếu sử dụng PMV, 1971-75 do yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng và điều kiện chiến trường cho phép, thường sử dụng pháo xe kéo, nhưng PMV vẫn được coi trọng. PMV chủ yếu trang bị cho các sư đoàn bộ binh, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

        PHÁO MẶT ĐẤT. gọi chung pháo của lục quân bố trí trên mặt đất dùng để sát thương (phá hủy) các mục tiêu mặt đất. PMĐ có: phản lực, có nòng, rãnh xoắn, nòng trơn, xe kéo, tự hành; pháo nòng dài, pháo lựu, pháo (tên lửa) chống tăng, ĐKZ, cối...

        PHÁO NÒNG DÀI, pháo có chiều dài nòng gấp 40-80 lần cỡ nòng. PND có đường đạn căng, tầm bắn xa, dùng diệt mục tiêu mặt đất (nước), trên không. PND hiện đại có cỡ 20-2l0mm. khối lượng đạn 0,l-130kg, tầm bắn thẳng (vào mục tiêu xe tăng) đến 2.000m, bắn các loại đạn mảnh, phá, xuyên, lõm. cháy, khói, chiếu sáng... Tính năng chính của PND xe kéo:

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67408317_459301438133075_6074200727213834240_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGMnMaHvp9GhcFk2My0N8z--84yfFe2gJN6QIBx568sLRodzAE2IWA6k0fhOpUBcoAlJ7MCy2lmZJbw6qWgaVeUUTB6mdZ7l0tMTVuwNtUiRw&_nc_oc=AQnw1UxbIEafk3Qrso93I-dkiosrqGF_VaqWk9MKH8kexI9lHgoV9fQYU6N2VXDtDl0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=7a5e07b379eea09c35cb5d53f6925f6a&oe=5DAEFCA3)


Trong chiến tranh VN. Mĩ đã dùng PND tự hành hiện đại “Vua chiến trường ”. LLVT VN được trang bị phổ biến các PND: 76mm ZiS-3, 85mm Đ44, 122mm Đ74, 130mm M46. 57mm cao xạ C60... Loại pháo kết hợp các tính chất của PND và pháo lựu, trong đó tính chất của PND trội hơn gọi là PND- lựu hay pháo canông - lựu (thường cỡ 152-155mm, tầm bắn 17-25km). Cg pháo canông.

        PHÁO NÒNG NGẮN X. PHÁO LỰU


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:39:27 PM
     
        PHÁO PHẢN LỰC, hỏa khí dùng để phóng đạn phản lực. Bộ phận chính là thiết bị phóng (giá, ống, bệ, giàn phóng...) để dẫn hướng cho đạn; trên đó có một hoặc nhiều ống (thanh) phóng. Có: PPL mặt đất (xe kéo, tự hành, mang vác...), PPL hàng không (trên máy bay. máy bay trực thăng), PPL trên tàu chiến. PPL kết cấu đơn gián, thường có nhiều nòng, nhiều cỡ, có thể phóng một hoặc nhiều quả đạn trong khoảng thời gian ngắn, tốc độ bắn nhanh, mật độ hỏa lực cao, uy lực sát thương lớn; thường dùng tiêu diệt mục tiêu diện, phá bãi mìn... nhưng độ tản mát lớn. Xuất hiện lần đầu vào những năm 30 tk 20. hiện có trong trang bị QĐ nhiều nước. Ở VN, PPL được sử dụng lán đầu tiên trong chiến dịch Điện Biên Phù (13.3-7.5.1954) với loại H-6 (6 nòng). Trong KCCM, PPL mang vác (ĐKB, A-12, H-12...) được dùng rộng rãi và đạt hiệu quả chiến đấu cao. Cg pháo hỏa tiễn.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67717739_459301448133074_6865014754570665984_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeFeOujGKnDHIhTVZxMuCBi_oFTrmQ9EtbjTFt3lpla8b9KDyL73rC09szC0hGfwyVkQMjyFb2mnLXdbNjDxv1ICu94dCTauamoGOmHwsuMD_w&_nc_oc=AQl4f-xF53x_dBpamnv7SPA-jbwyolCS_v2rXn8BzOs221Srg46gwPd9Hk3V0L5qCxI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=06b16b62bcfa2a822679baaa4df4d139&oe=5DEC70FF)

Pháo phản lực 128mm. M-77, Nam Tư

        PHÁO PHẢN LỰC BẮN LOẠT, pháo phán lực nhiều nòng, được cấu tạo thành giàn dùng để phóng liên tiếp nhiều quả đạn phản lực trong khoảng thời gian ngắn (thường tính theo giây). Gồm: giàn phóng (nhiều ống hoặc thanh trượt nối ghép thành giàn phóng, cơ cấu tầm, cơ cấu hướng...), đạn phản lực và các trang thiết bị khác. Giàn phóng lắp đặt trên xe tự hành, xe kéo gọi là xe chiến đấu pháo phản lực; lắp đặt trên tàu chiến - giàn phóng bom phản lực; láp đặt trên máy bay (máy bay trực thăng) thiết bị phóng. PPLBL hiện có cỡ 70-375mm. tầm bắn đến 45km hoặc hơn, có 2-50 ống phóng (thanh trượt); thường dùng đạn phá, mảnh, mảnh-phá, lõm. cháy, khói... đế diệt các mục tiêu diện. Xuất hiện đầu tiên 1941 ở LX (Cachiusa), hiện có trong trang bị QĐ nhiều nước. Các loại PPLBL đã được trang bị và sử dụng ở VN: H-6, H 12, BM-13, BM-14, BM-21...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67349334_459301478133071_6502606625314963456_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeHZcB9qwk2qgmzAwzXnvLH7FzM8Ri0IXj-6plF-ZCZtluEN8xDXsqaVqdYW6UeAXJP7EQH9xJCoa9s5BWtVNhtxkvsfo9YIXJPK_woU-BP2wQ&_nc_oc=AQm5tIZMtEbb4giKjIrFbt4zHr7WwQZGnLiqwb8LXuPVWGMwBd-n3BsTTLWZb1z-2Og&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1dc28bc2dbfe8b44247dd19d99be8313&oe=5DE76213)


        PHÁO PHÒNG KHÔNG, pháo nòng dài có rãnh xoắn, chủ yếu sử dụng đoạn căng của đường đạn để bắn mục tiêu trên không, cũng có thể dùng bắn mục tiêu mặt đất (nước). PPK có góc bắn phương vị 360°, góc tà đến 90°, tốc độ bắn nhanh, bắn đạn mảnh, mảnh - phá, lắp ngòi nổ (chạm nổ, hẹn giờ, không tiếp xúc) hay đạn xuyên - cháy. PPK chia ra: theo cỡ nòng (nhỏ 20-60mm, trung 60-100mm. lớn hơn l00mm); theo nơi đặt (mặt đất: xe kéo, tự hành.... và trên tàu chiến); theo số nòng (1, 2, 4, 6 và 7 nòng); theo đặc điểm kết cấu (tự động, bán tự động). PPK hiện đại chủ yếu là loại tự hành, cỡ nhỏ, tự động, có 2-6 nòng, tốc độ bắn tới 1.000 phát/ph mỗi nòng, được trang bị máy tính, rađa, khí tài nhìn đêm, lade, hồng ngoại... để đối phó với mục tiêu bay đêm. bay thấp, tàng hình, sử dụng nhiễu vô tuyến điện tử... PPK xuất hiện đầu tiên ở Đức. Pháp, Italia đầu CTTG-I, ở Nga (từ 1915); được dùng rộng rãi trong CTTG-II. Từ những năm 50 tk 20 vai trò của PPK cỡ lớn và trung giảm đi do xuất hiện các tổ hợp tên lửa  phòng không. Các PPK cỡ 37mm, 57mm C60, l00mm KC-19 (LX) được dùng phổ biến trong chiến tranh VN. Cg pháo cao xạ (tương ứng có: tiểu cao - cỡ nhỏ, trung cao - cỡ trung, đại cao - cỡ lớn (xt tổ hợp pháo phòng không).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67416501_459301494799736_6326012477934927872_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeF7gzosIqrnsA5Fciyxy9AuQi31w6oJSMO94yb1PSSocPTw65FtxawnsNdkeZm4iPiWuPrje5Cb1D53b9OSxd1j_f99fvUNJLsatFTJ5k8nOA&_nc_oc=AQlfZSnkTYq64sHNgKdk3U_NSFzR-9KddBMwXl1Nw0NW5f8X9NPfRjnJgBRuIlFrBh4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cb534df09d9876913ada293aee6f12f4&oe=5DA08D5A)


        PHÁO PHÒNG KHÔNG TỰ HÀNH, pháo phòng không cỡ nhỏ 20-57mm có 2-7 nòng; lắp trên xe tăng, xe xích, xe bọc thép,... tốc độ bắn nhanh, dùng chủ yếu diệt khí cụ bay ở độ cao thấp và mục tiêu mặt đất (mặt nước), thường đi kèm với xe tăng, bộ binh trong chiến đấu binh chủng hợp thành... PPKTH điển hình: VDAA, M3VDA cỡ 20mm, 2 nòng (Pháp); M52/59 cỡ 30mm, 2 nòng (Tiệp Khắc); BOV-3 cỡ 20mm, 3 nòng và BOV-30 cỡ 30mm, 2 nòng (Nam Tư); ZSU- 57-2 cỡ 57mm, 2 nòng và ZSU-23-4 cỡ 23mm, 4 nòng (LX)... Ngày nay, nhiều nước trang bị máy tính, máy đo xa lade, thiết bị nhìn đêm... cho PPKTH để tãng khả năng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:41:49 PM

        PHÁO RIA (cổ), pháo bắn đạn gồm nhiều mảnh kim loại nhỏ, điểm hỏa bằng tay, do người Arập sử dụng đầu tiên từ tk 12, 13. Cấu tạo gồm: một nòng kim loại ngắn có đáy, phần đuôi nòng nối với thanh gỗ dài, toàn bộ pháo tì trên một giá đỡ. Các thao tác bắn như sau: từ miệng nòng nhồi thuốc đẩy và nạp các viên sắt thép nhỏ (hoặc đạn ria), điểm hỏa bằng một thanh (thỏi) thép đã được nung đỏ hoặc dây đốt (cháy) do người chiến binh thực hiện. Mỗi lần bắn phải nhồi thuốc và nạp đạn 5-6ph, vật nhồi của đạn toả rộng 30m, văng xa 60m với sức sát thương lớn. PR tồn tại qua nhiều thế kỉ. Trong KCCP, nhân dân Nam Bộ đã sử dụng PR trong trận chống càn tại An Phú Đổng (1946). Cg pháo bắn đạn ria.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67654113_459301488133070_446862291695042560_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGjmSE52npiiHDruTICzIMsFwgK3Kjw1YdKAOhL5LnVFwksnQ5UPo6WTHXLg_XPgx5CZeFEvgOsAhdqvWVrBRqATaSMKRzGBtKpjSho10OQLQ&_nc_oc=AQludJMvGij-B2Mj2yTjGZVY7W2QL4qbGw8tI_ZEiBoCpCdDJyG5IHXqo_KrTE3o5ew&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b83000e7e9d677e187fa01c17b19d935&oe=5DE8D371)


        PHÁO SÁNG, gọi chung bom, đạn chuyên dùng để chiếu sáng địa hình khu vực mục tiêu về ban đêm. PS thường gồm: Ống kim loại chứa chất phát sáng, ngòi cháy hẹn giờ, dù để rơi từ từ (tốc độ 2-8m/s). Có: bom chiếu sáng, đạn chiếu sáng, đạn tín hiệu. Bom chiếu sáng được thả từ khí cụ bay, có độ sáng lớn, phạm vi chiếu sáng rộng, thời gian chiếu sáng 5- 7ph. Đạn chiếu sáng được bắn từ pháo (có nòng, phản lực, cối) hoặc súng phóng lựu, phạm vi chiếu sáng hẹp (vd: đạn 122mm chiếu sáng khu vực đường kính l.000m), thời gian chiếu sáng 40-120S. Đạn tín hiệu được bắn từ súng tín hiệu vừa làm tín hiệu, vừa để chiếu sáng trong thời gian khoảng vài giây.

        PHÁO SIÊU TỐC, pháo có sơ tốc đạn lớn hơn rất nhiều so với pháo thường, nhờ sử dụng năng lượng trường điện từ hoặc kết hợp một số dạng nàng lượng như: điện, nhiệt, hóa,... Các loại PST đang được nghiên cứu gồm: pháo diện từ, pháo điện -  nhiệt, pháo điện - nhiệt - hóa,... hoặc kết hợp các loại trên. PST dự định sử dụng trên mặt đất để phòng không, chống tăng, chống tàu, chống tên lửa,... hoặc trong vũ trụ (khi hoạt động trong chân không có thể đạt sơ tốc hơn 10km/s và tầm bắn hơn 1.000km). PST được nghiên cứu từ đầu tk 20, nhưng tới thập kỉ 80 mới đạt được những tiến bộ đáng kể, hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm.

        PHÁO THỦ, chiến sĩ trong biên chế của khẩu đội pháo, súng cối hoặc kíp xe tăng (thiết giáp), cùng tập thể khẩu đội, kíp xe sử dụng khẩu pháo, súng cối bắn vào mục tiêu để thực hiện nhiệm vụ hỏa lực. Thường được quy định theo số. Chức trách và nhiệm vụ của PT được xác định tùy thuộc vào loại pháo (súng cối). PT hành động dưới quyền chỉ huy của khẩu đội trưởng, trường xe tăng (thiết giáp).

        PHÁO THUỐC PHÓNG LỎNG, pháo có nòng dùng thuốc phóng lỏng để đẩy đạn đi. PTPL có nhiều ưu việt: nâng cao tốc độ bắn và tuổi thọ nòng pháo, tăng sơ tốc đạn từ 10% trở lên (năm 1990 hãng Generơn Electric Mĩ đã thử nghiệm đạt sơ tốc đạn 3.100m/s với PTPL cỡ 30mm), giảm khối lượng pháo, tiết kiệm và hạ giá thành liều phóng (tới 80%), giảm thể tích chứa đạn trong xe chiến đấu, có khả năng thay đổi lượng thuốc phóng để đạt những tầm bắn khác nhau, ít bị nổ cháy hơn thuốc phóng rắn khi bị đối phương bắn trúng, giảm ánh lửa miệng nòng... Nhược điểm chính: cơ chế nạp đạn, thuốc phóng và phát hỏa phức tạp. PTPL được nghiên cứu đầu tiên ở Mĩ từ những năm 40, sau đó ở Anh, CHLB Đức, Pháp,... nhưng tới những năm 70-80 tk 20 mới có kết quả khá quan. Đã thử nghiệm với các pháo cỡ 20-203mm. Đang ở giai đoạn cuối của quá trình nghiên cứu, tập trung vào PTPL tự hành 155mm và pháo xe tăng 120mm. Có thể đưa vào trang bị trong thời gian tới.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67805228_459301514799734_7971780848397582336_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGdV7Oth2gTJmZcqKXTmsUe4AFVilKPmcRWDzpJCqGiXiMg-gXiA_clClkTTUb4cRJQrBVMJpb3Ya3LaiVr4s7qVlNRy89O9_w4Lm0Ibxyxbg&_nc_oc=AQmWzIEH-P_qJBac1y1n7oUeKRoCqnBZTBuA2RIHpa9_u2vt8XQMchd1j3PXhig0dpc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=039c6e165702862e53ed309d19c4dc93&oe=5DE173C5)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:44:58 PM

        PHÁO TỰ DI CHUYỂN, pháo mặt đất có lắp động cơ và các cơ cấu bảo đảm cho pháo tự di chuyển trong chiến đấu ở khoảng cách ngắn: 3-4km, tốc độ 5-10 km/h (không cần xe kéo và sức người). Thiết bị di chuyển pháo gồm: động cơ có cơ cấu truyền lực và cơ cấu lái. Khả năng tự di chuyển cho phép pháo luôn nằm trong đội hình chiến đấu của bộ binh và tiêu diệt sinh lực, hỏa khí, xe tăng, xe bọc thép,... bằng bắn ngắm trực tiếp. PTDC xuất hiện sau CTTG-II, trong đó có pháo nòng dài 85-CĐ44; 57-CĐ57 (Nga); pháo nòng dài 90mm (CHLB Đức); pháo 155mm (Thụy Điển)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67503909_459301524799733_787177976763514880_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeGSZquuuU5VO4j3IjCHmE2M3UdGOZ5GczjpMJztXL-Q4-IW56nSN8TDwiYXxKPJSkI95sk1WKH9FwfKTrGDPPHumNSf-eCFumnbuPAb2aGWmg&_nc_oc=AQnK7YsWkfyTJ4GTOajYpFvPgTn5ebl4530mf62ZpbYZLLnxXfMm4Rsyv6q1B8BbdRM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5a1e9ebf861b86ae8ca12290a123829e&oe=5DA9CA55)


        PHÁO TỰ ĐỘNG, pháo có quá trình nạp đạn và thực hiện các phát bắn tiếp theo nhờ năng lượng khí thuốc hoặc năng lượng khác (điện...), không cần thao tác của con người. PTĐ có tốc độ bắn lớn, chủ yếu sử dụng để sát thương các mục tiêu có tính cơ động cao trên mặt đất, mặt nước và trên không.

        PHÁO TỰ HÀNH, pháo có giá lắp trên khung bệ xe (thường là xe xích) để tự cơ động. PTH được phân loại: theo loại pháo (lựu, nòng dài,...); theo khối lượng (nhẹ <20t, trung <40t, nặng >40t); theo mức độ bọc giáp (toàn phần một phần, không bọc). PTH có khả năng bảo vệ và cơ động cao hơn pháo xe kéo, thường dùng đi kèm với xe tăng và bộ binh, để chống xe tăng và yểm trợ hỏa lực. Tính năng một số PTH hiện đại ghi trong bảng. PTH xuất hiện trong CTTG-I, được dùng rộng rãi trong CTTG-II (vd: SU-76M. SU-85, SU-100, ISU 122, ISU-152 (LX), Phecđinan 88mm (Đức)...). PTH hiện là thành phần chủ yếu của pháo binh QĐ các nước phát triển.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67727589_459301538133065_9206177762350465024_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHueYCurzbZ4XgvKuFs-97gf-EVJeFjpXFX-G1bIzOJ79G25VKmh3tM-9qSfHSta-DDhErDke2Bw_EEyc72usZKwC29Ft95yBDYQiZcwFnNYA&_nc_oc=AQkLJQ5CIt9FaU_mQowxbcyGpf5iXjyCx7xHDXk59Xc-0wEwwomI-8jVKxYeIG2mcig&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0f129bf74ef5467403789a8170287ebf&oe=5DEACE2D)


        PHÁO TỰ HÀNH 2S3, pháo lựu nòng dài tự hành 152mm do LX chế tạo. Khối lượng chiến đấu 27,5t. Kíp xe 4 người. Xe dài 7,8m (cả pháo ở thế hành quân 8,4m), rộng 3,25m, cao 2,8m, khoảng cách tâm hai dải xích 2,75m, khoảng sáng gầm xe 0,45m. Áp suất trên nền 0,6 kG/cm2. Trang bị: pháo cỡ 152,4mm, tầm bắn 17,3km, cơ số đạn 20 viên, khối lượng đầu đạn 43,56kg, tốc độ bắn khoảng 2 phát/ph; súng máy phòng không 7,62mm. Động cơ điêzen 4 kì V-59, công suất 382,5kw (520cv). Tốc độ hành quân lớn nhất 60km/h, hành trình dự trữ 500km. Khả năng leo dốc 30°, đi nghiêng 25°, vượt vách đứng 0,7m, vượt hào rộng 2,5m, lội nước sâu lm. PTH2S3 (mẫu cải tiến 2S3M) có trong trang bị QĐ nhiều nước, trong đó có QĐND VN.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67300728_459301544799731_8011518873662652416_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeF81lbxJXdUR9Uf574HhZ7XFqySSMZOTlhnAMM5F8Syae1KW6vt0993wiLoc0kwqz4Cj075ah-CDsx6jx5km-0LyAdjSdr0R3zCSucbTEcdBQ&_nc_oc=AQnJvBRAY0i0rrTOpaYbrNDdQGvylTyX1qF8e0UpEhKIJEmGfSB10-WAPylUmLJ-fdk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9ab96d856ba349fedd1d733a41691dba&oe=5DAD8B2F)


        PHÁO XE KÉO, pháo mặt đất, di chuyển bằng xe cơ giới (bánh xích, bánh hơi) hoặc xe chuyên dụng. PXK có khả năng cơ động cao, tầm bắn lớn, hỏa lực mạnh, thường được trang bị cho các đơn vị pháo binh chủ lực. Có trong trang bị của pháo binh VN từ 1952, đến cuối 1958 chiếm 46% tổng số pháo trang bị. Trung đoàn PXK đầu tiên của QĐND VN là Trung đoàn pháo binh 45, thành lập 4.1953 (nay là Đoàn pháo binh Tất Thắng). Trong KCCM, thời kì đầu do điều kiện địa hình, PXK ít được sử dụng. Sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) do yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng, PXK được huy động sử dụng với số lượng lớn (nhất là giai đoạn cuối KCCM).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:46:06 PM

        PHÁP (Cộng hòa Pháp; France, République Franẹaise, A. France, French Republic), quốc gia ở Tây Âu. Dt 543.965km2; ds 60,18 triệu người (2003); 90% người Pháp. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (90%). Thủ đô: Pari. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng nghị viện và hạ nghị viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phía tây và bắc là đồng bằng rộng lớn, đồi núi thấp; trung tâm và phía đông là cao nguyên và núi, cao tới 2.000m; tây nam là dãy Pirênê, biên giới tự nhiên với Tây Ban Nha; dãy Anpơ ở phía nam, là biên giới tự nhiên với Italia, đỉnh Blăng cao nhất Pháp và Tây Âu (4.807m). Các sông chính: Ranh 1.320km. Loa 1.020km, Rôn 812km, Xen 780km. Nước công nghiệp phát triển cao, đứng thứ 4 thế giới. Công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, xe hơi, máy bay, điện tử, năng lượng nguyên tử... Công nghiệp QS phát triển, nước xuất khẩu vũ khí và KTQS lớn. Nông nghiệp phát triển. GDP 1.309,810 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 22.130 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945, ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ), Liên minh châu Âu (EU), NATo... Đặt cơ quan tổng đại diện tại VN 1954, lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ 12.4.1973. LLVT: lực lượng thường trực 260.400 người (lực lượng hạt nhân chiến lược 7.000, lục quân 137.000, hải quân 45.600, không quân 64.000...), lực lượng dự bị 100.000. Tuyển quân kết hợp giữa chế độ tình nguyện và động viên. Trang bị: 1.572 xe tăng, 384 xe chiến đấu bộ binh, 1.680 xe thiết giáp trinh sát, 3.700 xe thiết giáp chở quân, 794 pháo mặt đất, 2.048 tên lửa chống tăng, 328 pháo phòng không, 455 tên lửa phòng không, 10 tàu ngầm (4 tàu ngầm chiến lược), 1 tàu sân bay, 1 tàu tuần dương, 4 tàu khu trục, 30 tàu frigat, 35 tàu tuần tiễu, 21 tàu quét mìn, 9 tàu đổ bộ, 26 tàu hộ tống, 507 máy bay chiến đấu, 448 máy bay trực thăng vũ trang, 64 tên lửa đạn đạo trên 4 tàu ngầm chiến lược... Ngân sách quốc phòng 29,5 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67440931_459301558133063_4558112752450666496_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeEtPhGlydOLUG_SePxgtO3n90aLvoxNDFS-SSX-GeA04hbxFQVk14TDAI1N75ttwFLqhrMQ0bdENH0-XLpLsPInuwTge7S-E-uuiOHEcpFunA&_nc_oc=AQkcZxoTL-c1eqee8NIvKmvtq6KixOPzTUTNMvFRNuUUGQ5TOfd6PkPx54wyxtBkbco&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=115301b8a72d8bb2f08f503d19e76473&oe=5DA266C9)


        PHÁP CHIẾM BA TỈNH ĐÔNG NAM KÌ (1861), các cuộc tiến công của quân Pháp vào Gia Định. Định Tường, Biên Hoà, mở đầu kế hoạch đánh chiếm Nam Kì trong chiến tranh xám lược VN thời Nguyễn. Sau khi buộc nhà Thanh (TQ) kí hiệp ước đình chiến (25.10.1860), Pháp đưa lực lượng trở lại xâm lược VN, trước hết đánh chiếm Nam Kì. 7.2.1861 Pháp tập trung gần 4.000 quân cùng 50 chiến thuyền tại Bến Nghé. Bắt đầu bằng trận hạ đồn Chí Hoà (x. trận Chí Hoà, 24-25.2.1861), sau đó chiếm phủ Tân Bình (28.2) và làm chủ Gia Định, buộc quân Nguyễn rút về Biên Hoà. Cuối 3.1861 quân Pháp tiếp tục tiến công các đồn Tân Hương, Tĩnh Giang, Cai Lộc thuộc t. Định Tường, 12.4 chiếm thành Mĩ Tho (tỉnh lị Định Tường nay thuộc t. Tiền Giang). Quân Nguyễn rút chạy, nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân diễn ra mạnh mẽ khiến Pháp phải dừng lại củng cố các vùng mới chiếm đóng. Đến giữa 12.1861 trong lúc triều Nguyễn đang tìm cách thương lượng cầu hòa, quân Pháp mở cuộc tiến công lớn vào Biên Hoà. đánh bại quân Nguyễn ở căn cứ Gò Công, Mĩ Hoà rồi chiếm thành Biên Hoà (18.12.1861). Tuy giành thắng lợi, nhưng Pháp không mở rộng được phạm vi chiếm đóng ra các vùng nòng thôn và bị nhiều tổn thất trước cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân và các lực lượng nghĩa quân Nam Kì. Do sự thỏa hiệp của triều Nguyễn đã dẫn tới việc kí hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862), thừa nhận Pháp chiếm đóng ba tỉnh Đông Nam Kì.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:47:04 PM

        PHÁP CHIẾM BA TỈNH TÂY NAM KÌ (6.1867), các cuộc tiến công của quân Pháp vào Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (nay thuộc t. Kiên Giang), hoàn thành việc đánh chiếm Nam Kì trong chiến tranh xâm lược VN thời Nguyễn. 2.1867 Pháp tiếp tục gây sức ép với triều Nguyễn, đồng thời lập xong kế hoạch chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì. Trong khi đó, triều Nguyễn vẫn chủ trương thương lượng cầu hòa, ra chỉ dụ cho nhân dân và nghĩa quân Nam Kì ngừng binh chống Pháp. Nắm được thời cơ thuận lợi, 18.6 Pháp bắt đầu tập trung lực lượng về Mĩ Tho (khoảng 1.000 lính cùng 16 tàu chiến và tàu chờ quân) chuẩn bị tiến công. 7 giờ 20.6 quân Pháp uy hiếp thành Vĩnh Long, gửi thư cho Phan Thanh Giản (bấy giờ là đại thần kinh lược của triều đình ở Nam Kì) yêu cầu phải nộp thành trong vòng 2 giờ, đồng thời buộc Phan Thanh Giản viết thư ra lệnh cho tổng đốc An Giang và tổng đốc Hà Tiên đầu hàng. Do sự nhu nhược của quan lại triều đình, trong 5 ngày không cần giao chiến. Pháp đã dễ dàng chiếm Vĩnh Long (20.6). An Giang (22.6), Hà Tiên (24.6), cơ bản thực hiện được âm mưu biến Nam Kì thành thuộc địa của Pháp. Nhưng nhân dân và các nghĩa binh Nam Kì không chịu đầu hàng, vẫn tiếp tục chiến đấu chống Pháp.

        PHÁP ĐÁNH CHIẾM BẮC KÌ LẨN I (1873), cuộc tiến công đầu tiên của Pháp ra Bắc Kì trong quá trình mở rộng chiến tranh xâm lược VN thời Nguyễn. Để chuẩn bị kế hoạch tiến công, tháng 1 và 10.1872 Pháp nhiều lần đưa tàu vào thám sát khu vực Vịnh Hạ Long (nay thuộc Quảng Ninh) và cho người dò xét tình hình các vùng Hải Dương, Bắc Ninh. Quảng Yên. 11.10.1873 lấy cớ giải quyết vụ Giăng Đuypuy (4-10.1873) theo yêu cầu thương lượng của triều đình Nguyễn, thống đốc Nam Kì cử Gacniê đưa quân ra Hà Nội, sau đó điều thêm 5 tàu chiến đến đóng ở Đồ Sơn (Hải Phòng) để hỗ trợ. Bắt đầu bằng tiến công thành Hà Nội (x. Pháp đánh chiếm Hà Nội tấn I, 20.11.1873), tiếp đó quân Pháp nhanh chóng chiếm được hầu hết các tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên (28.11.1873), Hải Dương (4.12.1873), Ninh Bình (5.12.1873), Nam Định (10.12.1873). Mặc dù quan quân triều đình thua chạy, nhưng nhân dân và các lực lượng kháng chiến ở Bắc Kì kiên cường chiến đấu gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, đặc biệt trong trận Cấu Giấy 21.12.1873, tổng chỉ huy quân Pháp là Gacniê tử trận. Pháp phải rút quân khỏi các tỉnh thành đã chiếm ở Bắc Kì, nhưng dưới danh nghĩa trao trả cho triều Nguyễn để buộc triều Nguyễn kí hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1874).

        PHÁP ĐÁNH CHIẾM BẮC KÌ LẦN II (1882-84), cuộc tiến công của Pháp ra Bác Kì, kết thúc chiến tranh xâm lược VN thời Nguyễn. 12.1881 chính phủ Pháp quyết định tăng cường lực lượng ở Bắc Kì nhằm độc chiếm VN, ngăn chặn ảnh hường của tư bản Anh, Đức và nhà Thanh (TQ). 25.3.1882 thống đốc Nam Kì cử Hăngri Rivie đem 300 quân cùng 2 tàu chiến từ Sài Gòn ra Hà Nội phối hợp với lực lượng tại chỗ tổ chức tiến công. Bắt đầu bằng trận hạ thành Hà Nội (x. Pháp đánh chiếm Hà Nội lấn II, 25.4.1882). Triều Nguyễn bất lực, thỏa thuận cho quân Thanh chiếm đóng một số tỉnh phía Bắc giúp chống Pháp. Trước tình hình đó. Pháp thương lượng với nhà Thanh, đồng thời điều thêm viện binh khẩn trương đánh chiếm Hòn Gai (12.3.1883), Nam Định (27.3.1883), Hải Dương (13.8.1883), Quảng Yên (16.8.1883). Nắm được bản chất bạc nhược của triểu Nguyễn và thái đổ do dự của nhà Thanh, Pháp tiến công kinh đô Huế, chiếm Thuận An (20.8.1883), buộc triều Nguyễn đầu hàng bằng hiệp ước Quý Mùi (1883). Cuối 1883 đầu 1884, Pháp tiếp tục đánh chiếm Sơn Tây, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa (Phú Thọ), Tuyên Quang, buộc nhà Thanh phải chấp nhận rút quân khỏi Bắc Kì, đồng thời ép triều Nguyễn kí hiệp ước Giáp Thân <6.6.1884), thừa nhận quyền thống trị của Pháp ở VN.

        PHÁP ĐÁNH CHIẾM GIA ĐỊNH (17.2.1859), trận tiến công của quân Pháp vào thành Gia Định (nay thuộc tp Hồ Chí Minh) do QĐ triều Nguyễn đóng giữ, mở đầu hành động xâm lược của Pháp ở Nam Kì. Sau thất bại trận Sơn Trà - Đà Nẵng (1.9.1858-2.1859). Pháp rút phần lớn lực lượng từ Đà Nẵng (khoảng 2.000 quân, 14 tàu chiến) do Ri gô Đờ Giơnui chỉ huy vào đánh Gia Định. Sau khi phá vỡ hệ thống đồn, pháo đài bảo vệ vòng ngoài, rạng sáng 17.2 quân Pháp bắt đầu tiến công, dùng pháo từ các tàu chiến trên sông Sài Gòn bắn dữ đội, gây nhiều thương vong cho quân Nguyễn, phá hủy nhiều đoạn tường thành, nhất là phía đỏng nam; đến 10 giờ, chia quân đổ bộ vào thành đánh giáp lá cà. QĐ triều Nguyễn (hơn 2.000) do đồ đốc Võ Duy Ninh chỉ huy không chống cự nổi, phải bỏ thành rút chạy (Võ Duy Ninh và án sát Lê Từ tự vẫn), để lại 200 đại bác, nhiều chiến thuyền, súng đạn, lương thực. Chiều 17.2 triều Nguyễn cho viện binh tới ứng cứu, thấy thành bị hạ, phải rút lui. Quân Pháp chiếm Gia Định nhưng không ổn định được tình hình, sau đó phải phá hủy thành, rút ra đóng giữ đồn Hữu Bình.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:48:08 PM

        PHÁP ĐÁNH CHIẾM HÀ NỘI LẦN I (20.11.1873), cuộc tiến công vũ trang lần thứ nhất của quân Pháp vào thành Hà Nội mở đầu kế hoạch Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần I (1873). Tháng 1 và 10.1872, Pháp đưa chiến hạm từ Gia Định ra trinh sát khu vực Vịnh Hạ Long, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Yên. 4.1873 Pháp sử dụng lái buôn Giăng Đuypuy quấy rối nhiều nơi và chiếm khu vực bến Sông Hồng ở Hà Nội, đem quân vây chợ, cướp hàng, đánh bắt người, khiêu khích quân triều đình. Lấy cớ giải quyết vụ Giăng Đuypuy (4-10.1873) theo đề nghị của triều Nguyễn, 11.10.1873 thống đốc Nam Kì cử Gacniê đem 180 quân cùng tàu chiến ra Hà Nội, hội quân với Đuypuy, tập hợp các lực lượng phản động gây sức ép. Sau hai lần gửi tối hậu thư (12 và 19.11.1873), khoảng 6 giờ 20.11 Gacniê tổ chức lực lượng đột phá từ hai hướng tây nam, đông nam vào thành Hà Nội kết hợp với pháo hạm từ Sông Hồng bắn phá mãnh liệt vào thành, đồng thời Đuypuy đem quân đánh chiếm các khu buôn bán ngoại thành. Quân triều đình (khoảng 7.000 người) phòng giữ thành dưới sự chỉ huy của tổng đốc Nguyễn Tri Phương chống trả quyết liệt, nhưng nhanh chóng bị thất bại trước sức tiến công và hỏa lực mạnh của quân Pháp. Nguyễn Tri Phương bị thương nặng và bị bắt. Chiếm thành Hà Nội, Pháp mở rộng việc đánh chiếm các phủ Hoài Đức, Lí Nhân, Phú Thượng, Phú Bình, Hoài Yên và nhiều tỉnh đồng bằng Bác Bộ.

        PHÁP ĐÁNH CHIẾM HÀ NỘI LẨN II (25.4.1882), cuộc tiến công vũ trang lần thứ 2 của quân Pháp vào thành Hà Nội mở đầu kế hoạch Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần 11 (1882-84). Thực hiện chủ trương mở rộng tiến công bằng QS ra Bắc Kì, 3.1882 thống đốc Nam Kì cử Hăngri Rivie đem 300 quân cùng 2 tàu chiến từ Sài Gòn ra phối hợp với lực lượng ở Hải Phòng (tổng cộng khoảng 600 quân, 3 tàu chiến), theo Sông Hồng lên Hà Nội, 3.4.1882 tới Đồn Thủy (Hà Nội) đóng quân, gây áp lực. Trước hành động trắng trợn của Pháp và thái độ thỏa hiệp của triều Nguyễn, quân và dân Hà Nội dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu, chủ động đối phó bằng việc củng cố thành luỹ, dựng chướng ngại vật, sơ tán dàn ra ngoài thành; nhân dân ven Sông Hồng tự đốt nhà chặn đường quân Pháp. Sau khi gửi tối hậu thư buộc Hoàng Diệu đầu hàng, 8 giờ 15ph 25.4 Rivie ra lệnh pháo kích vào thành, yểm trợ cho các cánh quân tiến đánh hướng Cửa Bắc, Cửa Đông và các pháo đài phía tây và đông bắc. đồng thời dùng nội ứng đốt kho đạn, gây rối loạn trong thành. Sau gần 4 giờ tiến công, quân Pháp tràn vào thành. Quân triều đình yếu thế rút chạy, một số bỏ trốn hoặc đầu hàng; Hoàng Diệu tuẫn tiết sau khi để lại di biểu tạ tội triều đình. Trưa 26.4 Rivie vào thành đóng quân và treo cờ Pháp tại hành cung. Chiếm được Hà Nội, Pháp mở rộng đánh chiếm vùng đồng bằng Sông Hồng và buộc triều Nguyễn kí hiệp ước Quý Mùi (1883).

        PHÁP LỆNH, văn bản quy phạm pháp luật, có giá trị pháp lí cao nhất trong hệ thống các văn bản dưới luật, nhằm điều chỉnh  các quan hộ xã hội cơ bản nhưng chưa thật ổn định (khi ổn định sẽ thay thế bằng luật). Điều 91 và 93 Hiến pháp nước CHXHCN VN 1992 quy định việc ban hành PL thuộc thẩm quyền ủy ban thường vụ quốc hội, phải được quá nửa tổng số thành viên ủy ban thường vụ quốc hội biểu quyết tán thành và được chủ tịch nước kí lệnh công bỏ chậm nhất sau 15 ngày, trừ trường hợp chủ tịch nước phải trình Quốc hội xem xét lại.

        PHÁP LỆNH DÂN QUÂN TỰ VỆ, pháp lệnh quy định về dán quân tự vệ nhằm tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị LLVTND và mọi công dân trong việc xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh, góp phần cùng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; được ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 29.4.2004, chủ tịch nước kí lệnh công bố 12.5.2004. Gồm 4 chương, 31 điều về: những quy định chung (vai trò, nhiệm vụ,... của dân quân tự vệ, nghĩa vụ của công dân và trách nhiệm của xã hội đối với dân quân tự vệ); tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện, hoạt động của dân quân tự vệ; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ; điểu khoản thi hành.

        PHÁP LỆNH LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM. pháp lệnh quy định các vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của lực lượng cảnh sát biển VN nhằm tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước đối với chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và an ninh, trật tự trên các vùng biển và thêm lục địa VN; được ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 28.3.1998, chủ tịch nước kí lệnh công bố 7.4.1998, có hiệu lực 1.9.1998. Gồm 7 chương, 27 điều về: những quy định chung; trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn, tổ chức của Lực lượng cảnh sát biển VN; quản lí nhà nước, chế độ, chính sách đối với Lực lượng cảnh sát biển VN; khen thưởng và xử lí vi phạm.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:50:02 PM

        PHÁP LỆNH TỔ CHỨC TOÀ ÁN QUÂN SỰ, pháp lệnh quy định về tổ chức và hoạt động của toà án quân sự, do ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 19.4.1993, chủ tịch nước kí lệnh công bố 26.4.1993 (sửa đổi điểm 18, ngày 25.7.2000). Gồm 5 chương, 40 điều, quy định cụ thể vị trí. chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyển xét xử chung, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tòa án QS; tổ chức, nhiệm vụ, quyển hạn của tòa án QS các cấp; cơ chế bảo đảm hoạt động của tòa án QS.

        PHÁP LỆNH TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ, pháp lệnh quy định về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát quân sự các cấp, do ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 19.4.1993, chủ tịch nước kí lệnh công bố 26.4.1993. Gồm 4 chương, 37 điều. Chương 1: những quy định chung; chương 2: các mặt công tác của viện kiểm sát QS; chương 3: tổ chức của Viện kiểm sát QS; chương 4: điều khoản thi hành.

        PHÁP LỆNH VỂ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, pháp lệnh quy định các vấn đề cơ bản để xây dựng bộ đội biên phòng VN vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; được ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 28.3.1997, chủ tịch nước kí lệnh công bố 7.4.1997; gồm 7 chương, 33 điểu. Nội dung cơ bản: xác định Bộ đội biên phòng là thành phần của QĐND VN, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy quân sự trung ương, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự thống nhất quản lí nhà nước của chính phủ và sự quản lí, chỉ huy của BQP; hoạt động theo pháp luật của nhà nước và điều ước quốc tế có liên quan đến chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; quy định nhiệm vụ, quyền hạn; tổ chức; chế độ chính sách; khen thưởng, xử lí vi phạm; nội dung quản lí nhà nước đối với Bộ đội biên phòng. PLVBĐBP có giá trị pháp lí cao nhất về quản lí nhà nước đối với Bộ đội biên phòng, góp phần xây dựng Bộ đội biên phòng vững mạnh, cùng các lực lượng khác bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia.

        PHÁP LỆNH VỂ LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, pháp lệnh quy định về xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên nhằm tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước về xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên, bảo đảm sức mạnh của QĐ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc tổ quốc VN XHCN; được ủy ban thường vụ quốc hội nước CHXHCN VN thống qua 27.8.1996, chủ tịch nước kí lệnh công bố 9.9.1996; gồm 7 chương, 37 điều. Nội dung quy định: lực lượng dự bị động viên gồm quân nhân dự bị (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ) và phương tiện kĩ thuật (danh mục do chính phủ quy định) trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của QĐ; xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự quản lí và điều hành của chính phủ; nội dung, phương thức xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên; chế độ chính sách, kinh phí trong quá trình thực hiện; quy định nội dung và trách nhiệm quản lí nhà nước, việc khen thường và xử lí vi phạm ở các cấp, các ngành, các địa phương. PLVLLDBĐV trở thành cơ sở pháp lí để tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội. đơn vị LLVTND và mọi công dân trong việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên.

        PHÁP XÂM LƯỢC CAMPUCHIA (1863-84), quá trình gây sức ép QS, chính trị, ngoại giao nhằm thiết lập sự thống trị của Pháp tại Campuchia. Từ 1855 Pháp đã có ý đồ xâm nhập vào Campuchia. nhưng bị triều đình Xiêm (Thái Lan) ngăn cản (lúc đó Campuchia phụ thuộc Xiêm). Sau thời gian chuẩn bị, cùng với việc mở rộng đánh chiếm VN và xâm nhập Lào, 11.8.1863 Pháp ép quốc vương Campuchia kí hiệp ước Pháp - Campuchia (1863) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Trong khi đó Campuchia vẫn dựa vào Xiêm bằng hiệp ước Campuchia - Xiêm (1863), nên Pháp tăng cường uy hiếp hoàng cung Campuchia và tiến hành các thủ đoạn thương lượng với Xiêm để Xiêm công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Campuchia bằng hiệp ước Pháp - Xiêm (1867). Ngày 17.5.1884 sau khi cơ bản thôn tính VN, Pháp dùng vũ lực buộc quốc vương Campuchia kí hiệp ước Pháp - Campuchia (1884), chính thức biến Campuchia thành thuộc địa của Pháp.

        PHÁP XÂM LƯỢC LÀO (1893), quá trình gây sức ép QS, chính trị và ngoại giao nhằm thiết lập sự thống trị của Pháp tại Lào. Từ 1861 cùng với kế hoạch thôn tính VN và Campuchia, Pháp đã tiến hành hoạt động do thám, điều tra tình hình nội bộ Lào thông qua các đoàn thám hiểm khoa học hoặc truyền giáo. Trong những năm 1891-92, quan hệ Pháp - Xiêm (Thái Lan) xảy ra nhiều vụ rắc rối, tạo cớ cho Pháp can thiệp sâu hơn vào Lào (lúc đó thuộc Xiêm). Đầu 1893 Pháp đưa lực lượng hải quân phong toả bờ biển và uy hiếp kinh đô Băng Cốc của Xiêm, đồng thời đem quân chiếm đóng một số địa điểm ở Lào. Bằng áp lực QS và ngoại giao, Pháp buộc triều đình Xiêm phải kí hiệp định 3.10.1893, theo đó chính phủ Xiêm tuyên bỏ từ bỏ mọi quyền lực đối với lãnh thổ Lào ở tả ngạn sông Mê Cổng và các đảo trên sông, nhường quyền thống trị cho Pháp. Với việc thôn tính Lào, Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược toàn bộ bán đảo Đông Dương.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:56:07 PM

        PHÁP Y QUÂN SỰ, lĩnh vực của y học tư pháp nghiên cứu và giải quyết những ván đề y học, sinh học liên quan đến việc thi hành pháp luật trong QĐ và những nội dung của pháp y hình sự, pháp y dân sự trong xã hội. Những vấn đề PYQS thường gặp là: giả thương, giả bệnh, tăng thương, tăng bệnh, giấu thương, giấu bệnh, tự thương, tự sát, án mạng do các loại hỏa khí. tai nạn trong huấn luyện và chiến đấu, đột tử ở người trẻ tuổi, loạn thần chiến tranh, nhận dạng người mất tích...

        PHARABUNĐÔ MACTI (TBN. Agustín Farabundo Marti; 1890-1932), nhà hoạt động CM nổi tiếng của phong trào cộng sản và công nhân Xanvađo, tổng bí thư ĐCS Xanvađo (1932). Tham gia hoạt động CM trước 1920, bị nhà cầm quyền trục xuất ra nước ngoài (1920-25). Năm 1926 về nước tiếp tục hoạt động. 1928 sang Nicaragoa chiến đấu trong QĐ của tướng Aanđinô, được phong đại tá. 1929 về nước, tham gia thành lập ĐCS Xanvađo (1930). Năm 1932 tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ chính quyền độc tài, nhưng thất bại, bị bắt và bị xử bắn. 10.1980 Mặt trận giải phóng dân tộc Xanvađo được thành lập, mang tên PM.

        PHÁT HIỆN MỤC TIÊU BAY THẤP, phương pháp chiến đấu của bộ đội rađa, vọng quan sát mắt phòng khống tiến hành quan sát, sục sạo, phát hiện, bám sát, nhằm thông báo kịp thời, chính xác tình báo rađa cho lực lượng phòng không và không quân tiêm kích tiêu diệt mục tiêu. Trong KCCM, bộ đội rađa đã sáng tạo quy trình PHMTBT, đặc biệt trên nền sóng về địa vật và địch gây nhiễu, phát hiện, bám sát liên tục :ác loại mục tiêu bay thấp.

        PHÁT HIỆN MỤC TIÊU TẦNG CAO. phương pháp chiến đấu của bộ đội rađa tiến hành sục sạo, phát hiện, bám sát, nhằm thông báo kịp thời, chính xác tình báo rađa cho tên lửa phòng không, không quân tiêm kích tiêu diệt mục tiêu ở tầng cao. PHMTTC phải sử dụng đài rađa có tính năng phát hiện mục tiêu bay cao và vận dụng linh hoạt các thao tác kĩ - chiến thuật. Trong KCCM, bộ đội rađa phòng không VN đã sáng tạo quy trình thao tác PHMTTC, phát hiện, bám sát có hiệu quả các loại máy bay tầng cao như SR-71, U-2...

        PHÁT HIỆN MỤC TIÊU TẦNG TRUNG, phương pháp chiến đấu chủ yếu của bộ đội rađa tiến hành sục sạo, phát hiện, bám sát, nhằm cung cấp đầy đủ phần tử mục tiêu trên không ở độ cao trung bình (số lượng, kiểu, loại, độ cao, tính chất hoạt động) phục vụ cho lực lượng phòng không ba thứ quân đánh trả và phòng không nhân dân thực hiện sơ tán, phòng tránh. Trong KCCM, bộ đội rađa phòng không VN đã sáng tạo quy trình PHMTTT, phát hiện, bám sát có hiệu quả các mục tiêu tầng trung, trong cả trường hợp địch gây nhiễu.

        PHÁT HUY KẾT QUẢ TÁC CHIẾN, hoạt động tác chiến tích cực, chủ động của bộ đội trong tiến công, trên cơ sở đã hoàn thành nhiệm vụ cơ bản. thừa thắng tiếp tục phát triển tiến công, không cho địch kịp củng cố, biến thắng nhỏ thành thắng lớn. Thời cơ PHKQTC thường là: sau khi tiến công thuận lợi (sau thắng lợi của trận thời chốt quyết định), địch đang suy yếu hoặc tan rã, hoặc sau khi tiêu diệt một số cứ điểm quan trọng đầu tiên, xuất hiện thế có lợi phát triển tiến công. Bộ đội tiến công kịp thời nắm thời cơ tổ chức, điều chỉnh , cơ động lực lượng, hỏa lực, đưa lực lượng dự bị hoặc thể đội 2 vào tác chiến, tiến hành công kích, truy kích, bao vây, vu hồi và đổ bộ đường không tiêu diệt địch.

        PHÁT KIẾN ĐỊA LÍ LỚN, những khám phá, phát hiện địa lí của các nhà hàng hải châu Âu giữa tk 15 đến giữa tk 17 trong quá trình khai phá các tuyến đường hàng hải mới. Một số PKĐLL: C. Côlômbô (Italia: Cristoforo Colombo, TBN. Cristobal Colon) vượt Đại Tây Dương đến châu Mĩ (1492); nhà hàng hải Bồ Đào Nha V. Đa Gama (Vasco da Gama) tìm ra đường hàng hải từ châu Âu vòng qua Mũi Hảo Vọng (nam châu Phi) đến Ất Độ (1497-98); F. Magienlãng (Femão de Magalhães) cùng đội thuyền của mình thực hiện chuyến đi biển đầu tiên vòng quanh thế giới (1519-22); nhà hàng hải Hà Lan A. Taxman (Abel Janszoon Tasman) đến Ôxtrâylia và Niu Dilân (1642-43); các nhà thám hiểm Nga phát hiện ra eo biển Bêrinh giữa châu Á và Bắc Mĩ (1648)... Kết quả của những PKĐLL góp phần đặt cơ sở cho địa lí học hiện đại, khẳng định quan niệm khoa học mới về Trái Đất (thuyết Trái Đất hình cầu), xác định kích thước của Trái Đất và các đại dương, vẽ được bản đồ các châu lục có người ở (trừ bờ bắc và tây bắc châu Mĩ và vùng ven bờ phía đông châu úc). Về phương diện kinh tế - xã hội và chính trị - QS, những PKĐLL đã thúc đẩy quá trình phát triển các quan hệ TBCN ở Tây Âu, thiết lập các đường hàng hải quan trọng giữa các đại lục, mở đầu thời kì thực dân hóa, hình thành hệ thống thuộc địa và mở rộng thị trường thế giới và môi trường hoạt động của hải quân trong chiến tranh.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:57:36 PM

        PHÁT THANH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, chương trình phát thanh của QĐND VN, trên sóng của Đài tiếng nói VN, do ban biên tập của QĐ thực hiện, TCCT chỉ đạo, quản lí (trực tiếp là Cục tư tưởng văn hóa); được sự giúp đỡ về nghiệp vụ của Đài tiếng nói VN. 16.3.1959 phát thanh buổi đầu tiên. Thời gian đầu phát sóng ngày một lần, từ 1994 phát sóng ngày hai lần, mỗi lần 30ph vào 6 giờ 30 và 21 giờ. Huân chương: Quân công hạng nhì, 3 Chiến công hạng nhất, Lao động hạng nhì. Trụ sở: số 2 Lí Nam Đế, Hà Nội. Trường ban biên tập đầu tiên: Phạm Chí Nhân.

        “PHẠT TỐNG LỘ BỐ VĂN”, bài hịch của Lí Thường Kiệt về cuộc xuất quân của Đại Việt đánh dẹp quân Tống (TQ) trong trận Ung Khâm Liêm (10.1075-3.1076). Nội dung tố cáo tội ác của vua quan nhà Tống áp bức, bóc lột nhân dân TQ, âm mưu gây chiến tranh xâm lược và nô dịch nhân dân Đại Việt; nêu rõ hành động tự vệ chính đáng của quân dân Đại Việt khi phải đánh trả quân Tống. “PTLBV” được Lí Thường Kiệt cho niêm yết rộng rãi trên đường tiến quân, tạo sự đồng tình ủng hộ của nhân dân TQ, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Tống lần II (1075-77).

        PHÂN CẤP BẢO ĐẢM HẬU CẦN, quy định nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho từng cấp trong LLVT nhằm xác định rõ trách nhiệm cho từng cấp. Có hai hình thức PCBĐHC: bảo đảm hậu cần theo thứ tự từng cấp và bảo đảm hậu cần vượt cấp. Yếu tố cơ bản để PCBĐHC hợp lí là phải dựa vào khả năng tự bảo đảm của từng cấp.

        PHÂN CẤP DỰ TRỮ VẬT CHẤT HẬU CẦN, phân chia dự trữ phương tiện vật chất hậu cần theo từng cấp trong LLVT nhằm xác định rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc kịp thời đáp ứng các nhu cầu vật chất cho bộ đội, bảo quản tốt các vật chát dự trữ và phòng chống địch đánh phá. PCDTVCHC do cấp trên quy định căn cứ vào nhiệm vụ và tính chất của từng cấp, số lượng các phương tiện vật chất dùng để bảo đảm cho bộ đội, khả năng vận chuyển và các điều kiện khác.

        PHÂN CẤP VẬN TẢI, quy định trách nhiệm và ranh giới vận tải cho từng cấp, để thực hiện vận tải có hiệu quả. Nguyên tắc của PCVT là cấp trên vận chuyển cho cấp dưới (giao hàng tại kho của cấp dưới trực tiếp). Đồng thời để sử dụng hợp lí các phương tiện vận tải và trong các trường hợp cần thiết, theo quyết định của cấp trên, có thể vận tải vượt cấp và vận tải kết hợp “trên dưới cùng làm”.

        PHÂN CHI KHU, tổ chức QS địa phương cấp xã, phường, đơn vị tổ chức cơ bản trong hệ thống tổ chức lãnh thổ QS của Quân lực Việt Nam cộng hòa. Ban chỉ huy PCK thường gồm 6 người (2 sĩ quan và 4 hạ sĩ quan). Có nhiệm vụ: bảo vệ, duy trì an ninh, thiết lập kế hoạch phòng thủ, chỉ huy phối hợp LLVT của cấp xã và các lực lượng tăng cường; đặt kế hoạch huấn luyện yểm trợ tiếp liệu và bảo toàn vũ khí cho lực lượng nhân dân tự vệ, tham gia và yểm trợ công tác phát triển và tái thiết cấp xã, phường. Được tổ chức từ 1.3.1974, trực thuộc chi khu. đặc khu hay tiểu khu tùy theo tổ chức lãnh thổ địa phương. PCK trưởng do một sĩ quan QĐ đảm nhiệm.

        PHÂN CHI KHU TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy phân chi khu trong Quân lực VN cộng hòa; do một sĩ quan QĐ đảm nhiệm. Thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của chi khu trường hoặc đặc khu trưởng, tiểu khu trường: có thể tạm thời đặt dưới sự chỉ huy, điểu động của chỉ huy trưởng lực lượng hành quân cấp cao hơn khi khu vực hành quân bao trùm lãnh thổ xã, phường. PCKT có thể giữ một chức vụ trong cơ quan chính quyền xã, phường do thủ tướng chính phủ ấn định.

        PHÂN CHIA LỰC LƯỢNG, chia lực lượng trực thuộc và tăng cường thành các bộ phận và quy định mối quan hệ để thực hiện quyết tâm tác chiến. Căn cứ vào ý định cấp trên. nhiệm vụ được giao và tình hình của chiến dịch (trận chiến đấu) để PCLL cho phù hợp. PCLL trong tiến công: tập trung vào hướng, khu vực, mục tiêu tiến công chủ yếu, trận then chốt; có lực lượng nghi binh, tạo thế, lực lượng đánh địch trong công sự, lực lượng tiến công địch ngoài công sự, lực lượng dự bị... PCLL trong phòng ngự (phòng thủ): tập trung vào hướng, khu vực phòng ngự (phòng thủ) chủ yếu, mục tiêu phòng ngự then chốt; có lực lượng tác chiến vòng ngoài, lực lượng phòng ngự, lực lượng cơ động tiến công, lực lượng dự bị...

        PHÂN ĐỘI, gọi chung các đơn vị lực lượng vũ trang từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn và tương đương; thường có tổ chức ổn định, biên chế đồng nhất trong mỗi quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn và thường nằm trong đơn vị lớn hơn. Cơ cấu tổ chức, quân số. trang bị của PĐ phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ và quy định trong hiểu biên chế. Thời kì đầu KCCP. PĐ là đơn vị tương đương trung đội.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 07:59:31 PM

        PHÂN ĐỘI CHỈ HUY của pháo binh, phân đội làm nhiệm vụ trinh sát, đo đạc, tính toán phần tử bắn, quan sát, thông tin liên lạc,... để phục vụ chỉ huy tác chiến của pháo binh. Được trang bị khí tài chuyên dụng (phương hướng bàn, pháo đội kính, máy kinh vĩ, thước tính toán, bàn đạc, máy vô tuyến điện, máy điện thoại...). PĐCH có thể là: trung đội chỉ huy của đại đội, tiểu đoàn pháo; đại đội chỉ huy của trung đoàn, lữ đoàn pháo; tiểu đoàn chỉ huy của quân đoàn, quân khu. Thường có các bộ phận: trinh sát, đo đạc, kế toán, thông tin.

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH CẤP NƯỚC, phân đội công binh làm nhiệm vụ khai thác, cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và chiến đấu của bộ đội trong điều kiện dã chiến; được trang bị các máy móc, thiết bị chuyên dùng như thiết bị khoan, trạm lọc nước, bộ thiết bị chứa và vận chuyển nước...; thường biên chế trong các đơn vị công binh cấp chiến dịch và công binh dự bị chiến lược. PĐCBCN được tổ chức ở quy mô tiểu đội đến đại đội với các bộ phận: khoan, lọc nước...

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH CẦU PHÀ. phân đội công binh làm nhiệm vụ bảo đảm cho bộ đội, phương tiện KTQS vượt sông và các chướng ngại nước khác bằng cách bắc cầu nổi hoặc phà ghép từ các khoang thuyền; thành phần của công binh vượt sông. Được trang bị các bộ cầu nổi chế thức (PMP, TPP, CN-01...), PĐCBCP thường được tổ chức từ cấp đại đội đến tiểu đoàn, độc lập hoặc trong biên chế của phân đội, binh đội, binh đoàn công binh, thuộc quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng công binh và binh đoàn binh chủng hợp thành. PĐCBCP còn có một số bộ phận chuyên môn khác như trinh sát, bến...

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH CỨU KÉO, phân đội công binh làm nhiệm vụ cứu kéo các xe máy, phương tiện kĩ thuật bị sa lầy hoặc đưa các xe máy bị hư hòng nặng về khu tập trung sửa chữa; tổ chức lâm thời của bộ đội công binh. PĐCBCK thường được trang bị các loại xe máy có sức kéo lớn (ATS, ATT, cần cẩu, xe dắt, xe kéo tăng...); được tổ chức trong các đại đội, tiểu đoàn sửa chữa thuộc các binh đội, binh đoàn công binh với quy mô tiêu đội, trung đội.

        PHÂN ĐỘI CỒNG BINH ĐÁNH PHÁ GIAO THÔNG, phân đội công binh làm nhiệm vụ bí mật phá hoại đường sá hoặc các công trình giao thông bằng mìn, thuốc nổ nhằm ngăn cản, tiêu diệt sinh lực và các phương tiện cơ động của đối phương trên trục giao thông; tổ chức lâm thời hoặc chính thức của bộ đội. PĐCBĐPGT được tổ chức từ tổ, nhóm đến cấp trung đội, đại đội (trang bị chủ yếu là mìn, thuốc nổ và các thiết bị điều khiển nổ); có thể hoạt động độc lập hoặc phối hợp với các phân đội đặc công, trinh sát luồn sâu...

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH LÀM SỞ CHỈ HUY. phân đội công binh làm nhiệm vụ xây dựng, thiết bị các công trình và bảo đảm cho hoạt động của SCH (trừ các SCH trên xe, trên tàu biển, máy bay...) trong biên chế của các đơn vị công binh chiến dịch và dự bị chiến lược, gồm các phân đội (bộ phận) xe máy, sản xuất vật liệu, cấp nước... PĐCBLSCH được trang bị các loại thiết bị, khí tài chuyên dùng (máy húc, máy xúc, máy đào hào, đào hố...) và các loại phương tiện kĩ thuật khác (phương tiện cấp điện, nước, thông hơi. lọc độc...) để thực hiện nhiệm vụ. Ở các đơn vị công binh chiến thuật thường sử dụng các phân đội công binh công trình làm nhiệm vụ thiết bị và bảo đảm SCH.

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH NGỤY TRANG, phân đội công binh làm nhiệm vụ ngụy trang chống lại các thủ đoạn trinh sát của địch; được trang bị các loại khí tài chuyên dụng như: lưới, tấm phủ ngụy trang, mô hình giả, các bộ phản xạ góc, các loại mồi bẫy vô tuyến, hồng ngoại, các thiết bị sơn phủ...; biên chế trong các binh đội, binh đoàn công binh của quân khu, quân đoàn, quân chủng và binh chủng công binh, thường được tổ chức thành các phân đội: ngụy trang, chống trinh sát điện tử, kĩ thuật... Trong tác chiến PĐCBNT thường phối hợp với các đơn vị chuyên môn kĩ thuật khác như: thông tin. hóa học, tác chiến điện tử để thực hiện nhiệm vụ.

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH SÂN BAY, phân đội công binh làm nhiệm vụ xây dựng, duy tu, bảo dưỡng sân bay QS, bảo đảm đường băng, đường cơ động cho máy bay và công sự, trận địa cho các sân bay QS. PĐCBSB được trang bị các máy móc thi công sân bay, đường bay, các thiết bị lắp đặt sân bay dã chiến (bằng tấm lát kim loại) và các thiết bị rải bê tông xi măng, bê tông átphan... Được tổ chức thành đại đội thuộc căn cứ không quân; tiểu đoàn thuộc lữ đoàn công binh quân chủng phòng không - không quân.

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH TRINH SÁT, phân đội công binh làm nhiệm vụ trinh sát công trình, đo đạc và thu thập các thông tin có liên quan đến hào đảm công binh (như địa hình thời tiết, thủ đoạn công binh địch...); được huấn luyện đặc biệt và trang bị các khí tài chuyên dùng như máy trắc đạc,. máy đo xa, máy đo lưu tốc, thiết bị định vị vệ tinh, máy dò bom mìn, bộ đồ lặn... PĐCBTS thường được tổ chức thành: tiểu đội (trong các tiểu đoàn công binh), trung đội (trong các lữ đoàn, trung đoàn công binh) và đại đội (trực thuộc cơ quan công binh cấp chiến lược).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:01:13 PM

        PHÂN ĐỘI CÔNG BINH VẬT CẢN, phân đội công binh làm nhiệm vụ bố trí và khắc phục vật cản nổ (bom, mìn. khối nổ...) và không nổ (cự mã, hàng rào, hầm, hố chống tăng...); phá hoại giao thông và các công trình của đối phương trên đất liền, ven biển; được trang bị các loại xe, máy, thiết bị dò, gỡ mìn. các thiết bị (bộ) phóng phá rào, xe và rơmoóc rải mìn nhanh... PĐCBVC thường được tổ chức từ cấp tiểu đội đến đại đội. trong biên chế các binh đội, binh đoàn công binh. Trong tác chiến, PĐCBVC có thể hoạt động độc lập hoặc làm nòng cốt để tổ chức các đội cơ động vật cản, phân đội đánh phá giao thông...

        PHÂN ĐỘI HỎA LỰC của pháo binh, bộ phận của đại đội pháo binh, trực tiếp sử dụng pháo (cối, giàn phóng...). Tùy theo từng loại pháo, cối, xe chiến đấu hay tên lửa, PĐHL có thể gồm từ một khẩu đội đến hai, ba trung đội pháo. PĐHL có thể hoạt động độc lập hoặc trong đội hình chiến đấu của đại đội pháo binh. Khi hoạt động độc lập, thường hắn ngắm trực tiếp từ trận địa lộ.

        PHÂN ĐỘI KHÓI, phân đội phòng hóa có nhiệm vụ tạo màn khói ngụy trang để che giấu, bảo vệ đội hình các đơn vị binh chủng hợp thành, bên vượt, các mục tiêu quan trọng ở hậu phương; tạo khói nghi binh đánh lừa địch hoặc tạo màn khói độc để tạm thời làm cho địch mất sức chiến đấu. PĐK được trang bị phương tiện chuyên dùng: lựu đạn khói, thùng khói, hộp khói, xe, máy thả khói, súng, pháo phóng đạn khói...

        PHÂN ĐỘI KIỂM TRA PHÓNG XẠ. thành phần của phân đội trinh sát hóa học - phóng xạ có nhiệm vụ kiểm tra, kết luận mức độ chiếu xạ đối với người và nhiễm xạ đối với vũ khí, trang bị kĩ thuật, lương thực, thực phẩm, nguồn nước,... trước và sau khi tiêu tẩy. PĐKTPX thường thực hành nhiệm vụ tại các trạm tiêu tẩy hoặc tại đơn vị bị nhiễm.

        PHÂN ĐỘI LỬA, phân đội phòng hóa có nhiệm vụ chiến đấu sát thương sinh lực, chế áp hỏa điểm, thiêu hủy vũ khí, trang bị kĩ thuật, kho tàng của địch bằng vũ khí lửa. PĐL được trang bị súng phun lửa, súng phóng đạn lửa, mìn lửa...; thường chiến đấu hiệp đồng với các đơn vị binh chủng hợp thành, hoặc chiến đấu độc lập.

        PHÂN ĐỘI PHÒNG HÓA, phân đội hóa học có nhiệm vụ thực hiện các biện pháp phòng chống vũ khí hủy diệt lớn cho bộ đội (thực hành quan sát, trinh sát hóa học - phóng xạ; kiểm tra, phát hiện nhiễm xạ, nhiễm độc; kiểm tra liều chiếu xạ; tiêu độc, tẩy xạ vũ khí, khí tài. trang bị; tiêu độc mặt đất...). PĐPH được tổ chức trong đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên, thường là trung đội (của trung đoàn, lữ đoàn), đại đội (của sư đoàn, một số binh chủng), tiểu đoàn (của quân đoàn, quân khu, quân chủng), bao gồm một hoặc nhiều thành phần: trinh sát hóa học - phóng xạ, tiêu tẩy, tiêu độc trang dụng...

        PHÂN ĐỘI TIÊU ĐỘC TRANG DỤNG, phân đội phòng hóa có nhiệm vụ tiêu độc cho các loại quần áo, giày, mũ. khí tài phòng hóa cá nhàn... bị nhiễm. Đê thực hiện nhiệm vụ, PĐTĐTD thường triển khai trạm tiêu độc trang dụng tại nơi tập trung vật chất bị nhiễm hoặc ở gần kho quân trang của đơn vị từ cấp binh đoàn trở lên.

        PHÂN ĐỘI TIÊU TẨY. phân đội phòng hóa có nhiệm vụ tiêu độc, tẩy xạ cho vũ khí, trang bị kĩ thuật, đoạn đường, khu vực, mục tiêu quan trọng bị nhiễm; xử lí vệ sinh cho các phân đội phòng hóa khác sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn. PĐTT có thể tổ chức trạm tiêu tẩy ở vị trí quy định để các đơn vị đưa vũ khí, trang bị kĩ thuật bị nhiễm đến tiêu tẩy, hoặc thực hành nhiệm vụ tại đơn vị bị nhiễm.

        PHÂN ĐỘI TRINH SÁT HÓA HỌC - PHÓNG XẠ. phân đội phòng hóa có nhiệm vụ phát hiện, thông báo về vũ khí hủy diệt lớn do địch sử dụng; đánh dấu giới hạn nhiễm độc, nhiễm xạ; xác định mức bức xạ, loại chất độc; tìm đường vòng, vượt qua khu nhiễm; kiểm tra nhiễm xạ. nhiễm độc cho các đối tượng; lấy mẫu vật nhiễm; quan sát khí tượng... để có biện pháp phòng tránh thích hợp cho bộ đội. PĐTSHH-PX thường tổ chức các đài quan sát và các toán trinh sát hóa học - phóng xạ.

        PHÂN ĐỘI TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG, phân đội phòng không có đủ quân số và trang bị vũ khí (khí tài) quy định được cử ra để thay phiên nhau làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong thời gian nhất định. PĐTBCĐPK thường là đại đội pháo phòng không; tiểu đoàn tên lửa phòng không; trạm rađa phòng không; biên đội không quân tiêm kích. Số lượng PĐTBCĐPK tuỳ thuộc trạng thái sẵn sàng chiến đấu và tình huống trên không.

        PHÂN ĐỘI XÁC ĐỊNH VỤ NỔ HẠT NHÂN, phân đội chuyên môn của binh chủng hóa học, có nhiệm vụ phát hiện, thu thập, xử lí và thông báo các số liệu ban đầu về vụ nổ hạt nhân (tâm nổ hạt nhân, tính toán sự thiệt hại tại đó; dự báo những vùng bị nhiễm xạ và sự thiệt hại do chiếu xạ, nhiễm xạ...) để có biện pháp phòng tránh thích hợp. PĐXĐVNHN thường được tổ chức ở cấp chiến dịch, thực hiện nhiệm vụ bằng cách triển khai trạm phát hiện và trạm tính toán, phân tích số liệu về vụ nổ hạt nhân.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:02:19 PM

        PHÂN HẠM ĐỘI. liên binh đoàn chiến dịch hoặc binh đoàn chiến dịch - chiến thuật của hải quân một số nước, có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng trên một hướng chiến dịch của chiến trường biển (đại dương) hoặc trên biển kín. sông, hồ. PHD có các loại: biển, sông hoặc hồ (PHD sông hoặc hồ thường chỉ thành lập trong thời kì chiến tranh). PHD có thể tổ chức độc lập hoặc nằm trong biên chế hạm đội, thường gồm một số binh đoàn tàu mặt nước, tàu ngầm, không quân hải quân, các binh đội hải quân đánh bộ, tên lửa - pháo bờ biển, phòng không và các lực lượng bảo đảm khác.

        PHÂN KHU, tổ chức QS theo khu vực địa lí, thường gồm một số tỉnh hoặc quận (huyện) tiếp giáp nhau, được thành lập trong thời chiến để thực hiện nhiệm vụ QS trong thời gian nhất định. Thường có cơ quan chỉ huy và một số binh đội, phân đội trực thuộc. Trong KCCP, có PK Bình - Trị - Thiên (1948-54). Trong KCCM. PK đươc tổ chức nhiều. 10.1967 để phục vụ cho tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), Quân khu Miền Đông, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được giải thể, cùng t. Long An (tách ra từ Quân khu 8) để thành lập khu trọng điểm gồm 7 PK và 2 tỉnh độc lập. thuộc BTL Miền (B2): PK1 gồm: Trảng Bàng, Dầu Tiếng, Gò Môn (Gò Vấp, Hóc Môn sáp nhập lại), Củ Chi; PK2 gồm: Đức Hoà. Đức Huệ, Bến Lức. Thủ Thừa, Bình Chánh, Bình Tân: PK3 gồm: Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Tân Trụ, Nhà Bè và q. 6, q. 8; PK4 gồm: nam Thủ Đức, Nhơn Trạch, Duyên Hải (thuộc Bà Rịa) và q. 1, q. 9; PK5 gồm: bắc Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Châu Thành, Tân Uyên, Phú Giáo; PK 6 gồm các quận nội thành Sài Gòn; PK 7 gồm tx Biên Hoà, Trảng Bom và Vĩnh Cửu. Từ 1968-72, các PK này lần lượt giải thể hoặc sáp nhập lại thành các tổ chức QS lãnh thổ khác (xt Quân khu 7).

        PHÂN LIÊN KHU, đơn vị hành chính - QS ở Nam Bộ trong KCCP: gồm một số tinh, đặc khu có liên quan về địa lí - QS hợp nhất theo yêu cầu chỉ huy, chỉ đạo tác chiến, xây dựng LLVT và xây dựng chính quyền nhân dân. Thành lập đầu 1951 (theo quyết định của Xứ ủy Nam Bộ), có PLK Miền Đông và PLK Miền Tây (giải thể Khu 7, Khu 8, Khu 9; nhập 17 tỉnh Nam Bộ thành 11 tình và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn). PLK Miền Đông gồm các tỉnh: Bà Chợ, Thủ Biên, Gia Ninh. Mĩ Tho, Long Châu Sa và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. PLK Miền Tày gồm các tỉnh: Vĩnh Trà, Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng. Bạc Liêu và Long Châu Hà. 10.1954 đổi thành liên tỉnh ủy, có điều chỉnh địa giới và nhiệm vụ.

        PHÂN LIÊN KHU MlỂN ĐÔNG, phân liên khu ở miền Đông Nam Bộ. Thành lập 5.1951 trên cơ sở giải thể Khu 7, Khu 8, Khu 9 và phân chia lại chiến trường Nam Bộ (thành 2 phân liên khu); gồm các tỉnh: Gia Ninh (Gia Định, Tây Ninh, h. Đức Hoà, Trung Huyện, khu Đông Thành thuộc Chợ Lớn), Thủ Biên (Thủ Dầu Một. Biên Hoà và h. Thù Đức thuộc Gia Định), Bà Chợ (Bà Rịa, Chợ Lớn và h. Long Thành thuộc Biên Hoà, h. Nhà Bè thuộc Gia Định), Mĩ Tàn Gò (Mĩ Tho, Tân An, Gò Công), Long Châu Sa (phần Long Xuyên, Châu Đốc ở tả ngạn Sông Hậu và Sa Đéc) và Đặc khu Sài Gòn -  Chợ Lớn, trực thuộc BTL Nam Bộ. 1951 có 1 tiểu đoàn chủ lực cơ động, 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh và Tiểu đoàn vận tải 320 (thành lập 1.5.1952): đến 4.1954 có: 3 tiểu đoàn chủ lực cơ động, 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 26 đại đội và 35 trung đội bộ đội địa phương quận (huyện). Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Trần Văn Trà, Phạm Hùng.

        PHÂN LIÊN KHU MlỂN TÂY, phân liên khu ở miền Tây Nam Bộ. Thành lập 5.1951 trên cơ sở giải thể Khu 7, Khu 8, Khu 9 và phân chia lại chiến trường Nam Bộ (thành 2 phân liên khu); gồm các tinh: Vĩnh Long, Trà Vinh. Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long Châu Hà (gồm phần tỉnh Long Xuyén, Châu Đốc ở hữu ngạn Sòng Hậu và Hà Tiên). Trực thuộc BTL Nam Bộ. 1952 có 3 tiểu đoàn chủ lực cơ động và các đại đội bộ đội địa phương tỉnh; đến 4.1954 có: 1 tiểu đoàn chủ lực cơ động, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh. 8 đại đội và 28 trung đội bộ đội địa phương quận (huyện). Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vịnh.

        PHÂN LOẠI SỨC KHỎE, biện pháp quản lí sức khỏe đối với các đối tượng đang phục vụ trong QĐ hoặc chuẩn bị gọi nhập ngũ căn cứ vào tình trạng sức khỏe hiện tại; căn cứ để để xuất biện pháp chăm sóc và xử lí phù hợp. Việc phân loại được xác định theo kết luận cuối cùng của hội đồng khám sức khỏe, dựa trên cơ sở đánh giá thể lực, tình hình bệnh tật và kết quả luyện tập, công tác của người được khám. Theo quy định hiện hành, sức khỏe của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức quốc phòng được chia thành 4 loại: loại 1 - khỏe, loại 2 - thực tế khỏe, loại 3 - cần được theo dõi có hệ thống và loại 4 - cần được theo dõi đặc biệt và điều trị. Đối với hạ sĩ quan và chiến sĩ có 3 loại: tốt, trung bình và kém. Đôi với người chuẩn bị gọi nhập ngũ có 6 loại: rất tốt, tốt, khá, trung bình, kém và rất kém; tuỳ tình hình có thể tuyển vào QĐ những người có sức khỏe từ loại 1 đến loại 5, trong thời bình thường lấy đến loại 3.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:03:39 PM

        PHÂN LOẠI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, chia thương binh, bệnh binh thành từng nhóm có yêu cầu giống nhau về mặt cứu chữa và vận chuyển, phù hợp với chi định y học và nhiệm vụ cứu chữa của trạm quân y. Mục đích chủ yếu của PLTB.BB là nhanh chóng xác định thứ tự ưu tiên để cứu chữa, vận chuyển. Công tác phân loại hết sức quan trọng khi có nhiều thương binh, bệnh binh cùng một lúc ở một tuyến quân y. Có hai hình thức phân loại: phân loại để cứu chữa trong nội bộ trạm quân y nhằm xác định thứ tự ưu tiên cứu chữa và chuyển đến các bộ phận của trạm; phân loại để vận chuyển về tuyến sau nhằm xác định nơi đến, thứ tự ưu tiên, phương tiện và tư thế vận chuyển...

        PHÂN NHÓM TRANG BỊ KĨ THUẬT, phân loại theo chức năng chính của một hệ vũ khí, trang bị kĩ thuật. Theo tính chất bảo đảm kĩ thuật, có: trang bị chính - trang bị trực tiếp tạo nên hỏa lực, bảo đảm cơ động, bảo đảm chiến đấu; trang bị bổ trợ - trang bị đồng bộ theo trang bị chính để phục vụ trang bị chính hoạt động; trang bị bảo đảm - trang bị phục vụ cho việc kiểm tra, chuẩn bị sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng kĩ thuật, sửa chữa, niêm cất trang bị chính và trang bị bổ trợ. Theo tính chất quản lí, có: trang bị nhóm I (trang bị chính, trang bị bổ trợ và trang bị bảo đảm); trang bị nhóm II (trang bị phục vụ cho các hoạt động chiến đấu, bảo đảm hoạt động của các loại trang bị). Theo chức năng, TCKT BQP chỉ đạo các chuyên ngành kĩ thuật PNTBKT theo tính chất bảo đảm kĩ thuật; Cục quân lực chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân PNTBKT theo tính chất quản lí.

        PHÂN PHỐI HỎA LỰC PHÁO BINH, phân chia hỏa lực theo bề rộng, chiều sâu của mục tiêu để đạt mức sát thương theo yêu cầu. PPHLPB của tiểu đoàn (cụm) pháo binh bằng cách dùng các đại đội (tiểu đoàn) bắn chồng, bắn phân đoạn hay bắn bậc thang. PPHLPB của đại đội pháo binh bằng cách dùng một số phần tử tầm (với độ chênh thước tầm, vạch khắc ngòi nổ tương ứng chiều sáu mục tiêu), số phần tử độ hướng (tương ứng độ lớn giãn cách hướng bắn) và lượng đạn tiêu thụ cho một phần tử của mỗi pháo.

        PHẦN CỨNG máy tính, gọi chung các thành phần vật lí tạo nên máy vi tính. Gồm ba phần chính: bộ hệ thống (bộ xử lí trung tâm, bảng mạch chính, bộ nhớ trong, bộ nhớ ngoài, nguồn điện và các ổ đĩa...), bộ hiển thị (màn hình), thiết bị đầu cuối (bàn phím, chuột, modem, máy in...). Bộ phận quan trọng nhất quyết định chất lượng và tốc độ hoạt động của máy tính là bộ xử lí trung tâm (CPU vt từ Central Processing Unit).

        PHẦN LAN (Cộng hòa Phần Lan; Suomi, Suomen Tasayalta, Republike Finland, A. Republic of Finland), quốc gia ở Bắc Âu. Dt 338.145km2; ds 5,19 triệu người (2003); 92% người PL, 8% người Thụy Điển. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Phần Lan. Tôn giáo: 90% đạo Luthơ dòng Phúc âm. Thú đô: Henxinki. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là vùng đất thấp, phía bắc là cao nguyên Manxenkia, tây bắc là các nhánh của hệ thống núi Xcăngđinayơ, đỉnh cao nhất 1.365m. 1/3 diện tích lãnh thổ nằm ở phía bắc vành đai Bắc Cực. Nhiều hồ (khoảng 60.000), chiếm 8% diện tích lãnh thổ; lớn nhất là hồ Saima rộng 4.400km2. Mạng sông ngòi dày đặc. Đầm lầy chiếm 33% diện tích. Nước công - nông nghiệp phát triển, tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là rừng (72% diện tích). Công nghiệp chế tạo máy, gia công kim loại, giấy, chế biến gỗ, đóng tàu... Chăn nuôi lấy sữa chiếm 70% sản lượng nòng nghiệp. Công nghiệp đánh cá có quy mô lớn. GDP 120,855 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 23.300 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 25.1.1973. LLVT: lực lượng thường trực 31.850 (lục quân 24.550, hải quân 4.600, khổng quân 2.700), lực lượng dự bị 485.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 268 xe tăng, 274 xe chiến đấu bộ binh, 1.101 xe thiết giáp chở quân, 1.035 pháo mặt đất, 90 pháo tự hành, 60 pháo phản lực, 2.316 súng cối, 100 tên lửa chống tăng, 1.175 pháo phòng không, 307 tên lửa phòng khống, 9 tàu tên lửa, 4 tàu tuần tiễu, 6 tàu rải mìn, 13 tàu quét mìn, 6 tàu đổ bộ, 35 tàu hộ tống, 63 máy bay chiến đấu (MiG-21, J-35, F-18), 9 máy bay trực thăng... Cãn cứ hải quân: Henxinki. Tuacu. Ngân sách quốc phòng 1,7 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67350607_459301578133061_6801469145763282944_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeE2u_J6wCxEAJl0-7fxw6YNBd4a5g5uk-x8f83OIXjFJdFr8y1tTtFqanqG9SxYcNN2j1pkabcIsXQeY9MzhX4uyFRbew6L-PgEWJT4pBjN_Q&_nc_oc=AQntEtu54O993LRsxumbyYzeYtxtvR4ssigPSxsdWGHv4cVKn4UV2OknCBr1hY-rXVs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=83d5f8e92128c483474a5b80336003a8&oe=5DAA199F)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:06:18 PM

        PHẨN MỀM máy tính, gọi chung các chương trình hoạt động trên máy vi tính. Mọi hoạt động của máy tính và các thiết bị ngoại vi đều do các chương trình điểu khiển. Trong suốt thời gian làm việc, máy tính luôn ở trong quá trình thực hiện các lệnh của chương trình. Do vậy PM là trí tuệ của máy tính. PM dược chia thành 4 loại chính: hé điều hành, PM ứng dụng (phục vụ cho các ứng dụng cụ thể như các chương trình soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, đồ họa, giải các bài toán khoa học kĩ thuật và quản lí...), PM tiện ích (bổ trợ thêm cho hệ điều hành bằng cách cung cấp một số dịch vụ mà hệ điểu hành chưa có hoặc làm chưa tốt như các chương trình điều khiên thiết bị ngoại vi, tối ưu hóa đĩa cứng, khôi phục các thông tin bị xóa hay bị lỗi, tạo khuôn dạng cho thiết bị nhớ ngoài: đĩa mềm, đĩa cứng), PM lập trình (công cụ giúp người sử dụng tạo ra các PM khác).

        PHẦN TỬ BẤN, các phần tử lấy trên thiết bị ngắm và của đạn dùng để bắn pháo, phóng tên lửa. Căn cứ số liệu về mục tiêu (tính chất, kích thước, tọa độ, độ cao...) và điểu kiện bắn (khí tượng, đường đạn) để xác định PTB. Các phần tử trên thiết bị ngắm, pháo mặt đất: thước (góc) tầm, độ tà, độ hướng; pháo phòng không: phương vị p, góc tà e, cự li tà D của mục tiêu. Các phần tử về đạn: số liệu lô liều thuốc, loại đạn, vị trí (vạch) ngòi nổ. Phần tử phóng tên lửa, mặt đất: góc phương vị ô vuông hướng phóng, số xung cuối cùng bộ phận tích gia tốc dọc, số xung hệ thống nổ khẩn cấp; tên lửa phòng không: tham số đường bay p, độ cao H, tốc độ V của mục tiêu. Có: PTB đầu tiên, PTB đón, PTB thử, PTB chuyển di, PTB kết quả và PTB hiệu lực.

        PHE TRỤC X. TRỤC PHÁT XÍT

        PHÉP BIỆN CHỨNG QUÂN SỰ, sự mở rộng phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu lí luận và thực tiễn quản sự, tìm ra những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, những phạm trù và quy luật đặc thù của đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội, khẳng định những nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động QS. Quan hệ giữa biện chứng QS với PBCQS là quan hệ giữa biện chứng khách quan với biện chứng chủ quan, giữa quá trình vận động, phát triển của các hiện tượng QS theo những quy luật vốn có với tư duy biện chứng về các hiện tượng QS. PBCQS góp phần bồi dưỡng và phát triển tư duy QS.

        PHÉP CHIẾU BẢN ĐỒ. phương pháp toán học biểu diễn bề mặt Trái Đất (toàn bộ hoặc một phần) lên mặt phẳng để lập các loại bản đồ. PCBĐ được phân ra: theo đặc điểm sai lệch (giữ góc, giữ khoảng cách, giữ diện tích và tự do), theo cách biểu thị kinh tuyến, vĩ tuyến (hình trụ, hình nón...). Ở VN, bản đồ địa hình thường dùng phép chiếu giữ góc Gauss và UTM.

        PHI CÂU nh MÓC CÂU CHÙM

        PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI, âm mưu và thủ đoạn chính trị trong chiến lược diễn biến hòa bình của CNĐQ và các thế lực chống CNXH nhằm tách QĐ ra khỏi sự lãnh đạo của ĐCS. đối lập QĐ với Đảng và nhân dân, làm cho QĐ biến chất về chính trị, xa rời hệ tư tưởng CM, tạo khoảng trống về ý thức hệ, tiến tới vô hiệu hóa và sử dụng QĐ vào mục đích lật đổ CNXH. Xuất hiện cuối thập ki 80 (tk 20) ở các nước XHCN Đông Âu và LX. Nội dung: QĐ chỉ thuộc về nhà nước, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS đối với QĐ, QĐ đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của các chính đảng, trung lập trước những biến động chính trị - xã hội.

        PHI CÔNG, người đã được đào tạo lái máy bay hoặc các khí cụ bay khác (tàu lượn, khinh khí cầu...). Thường dược phân thành PC cấp 1 (cao nhất), cấp 2, cấp 3 hoặc không cấp tùy theo trình độ chuyên môn và thời gian công tác trên không (giờ bay). PC còn được gọi theo chủng loại và chức năng của phương tiện bay: PC tiêm kích, PC ném bom, PC trinh sát, PC vận tải, PC thứ nghiệm, PC vũ trụ...

        PHI ĐỘI, phân đội chiến thuật cơ bản của không quân, gồm một số biên đội, để giải quyết các nhiệm vụ chiến thuật. Hoạt động độc lập hoặc trong đội hình của trung đoàn không quân, có thể hiệp đồng chiến đấu với các binh chủng khác. Tùy theo binh chủng, công dụng và cơ cấu tổ chức, PĐ có 10-24 máy bay cùng chủng loại và được gọi tên theo chùng loại đó (PĐ tiêm kích, PĐ trinh sát...).

        PHI ĐỘI QUYẾT THẮNG, phi đội của Không quân nhân dân VN lập chiến công xuất sắc trong trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất (28.4.1975). Gồm 5 máy bay A-37 chiến lợi phẩm, do các phi công: Lục (phi đội trưởng), Đễ (phi đội phó), Nguyễn Thành Trung (dẫn đầu) và Quảng, Vượng, On điều khiển, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).

        PHI MĨ HÓA CHIẾN TRANH nh CHIẾN LƯỢC PHI MĨ HÓA CHIẾN TRANH

        PHÌ THỦY, đoạn sông cổ, nay là vùng hổ Ngõa Phụ ở nam Sông Hoài, giữa h. Thọ và h. Trường Phong, t. An Huy, TQ. Năm 383 tại đây diễn ra trận tập kích của quân Đông Tấn đánh bại quân Tiền Tần có ưu thế lực lượng gấp nhiều lần; một trận đánh nổi tiếng, điển hình về lấy ít thắng nhiều trong lịch sử chiến tranh ở TQ (x. trận Phì Thủy, 383).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:07:20 PM

        PHỈ, gọi chung các nhóm vũ trang và bán vũ trang chuyên hoạt động lên lút, quấy phá, cướp bóc ở địa bàn rừng núi, đặc biệt là ven các trục giao thông, gây mất an ninh, ổn định nhằm chống chính quyền, chống nhân dân. Phương thức hoạt động chủ yếu: tập kích, đột kích, pháo kích, bẫy mìn... Quân P thường dùng lực lượng nhỏ đánh nhanh, rút nhanh; lúc bình thường thì tỏa ra hoạt động rộng, lúc bị đánh thì co cụm vào sâu trong rừng núi. Ở Lào, lực lượng P do Vàng Pao chỉ huy (x. Lực lượng đặc biệt Vàng Pao), được Mĩ trực tiếp tổ chức, xây dựng, trang bị, huấn luyện, hoạt động ở Thượng Lào (Xiêng Khoảng, Viêng Chăn) nhằm chống phá lâu dài CM Lào và khu vực biên giới VN và Lào.

        PHIĐEN CAXTRÔ (TBN. Fidel Castro Ruz; s. 1926), nhà hoạt động của phong trào cộng sản Cuba và quốc tế, bí thư thứ nhất ủy ban trung ương ĐCS Cuba (1965), chủ tịch HĐNN, HĐBT, tổng tư lệnh LLVT CM Cộng hòa Cuba (1976), Ah LX (1963). Năm 1949 tốt nghiệp khoa luật Trường đại học Habana. 1952-53 lên án chế độ độc tài Batixta tại tòa án tối cao Cuba; thành lập tổ chức “Thanh niên thế hệ 100 năm”, sau đổi thành “Phong trào CM” và chỉ huy cuộc tiến công pháo đài Môncađa ở Xantiagô để Cuba (26.7.1953), bị nhà cầm quyền kết án 15 năm tù. Trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, nhà cầm quyền buộc phải ân xá PC. 1955 sang Mêhicô xây dựng lực lượng, chỉ huy 82 chiến sĩ trở về Cuba (12.1956), lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh du kích cho tới khi giành được chính quyền trong cả nước (1.1.1959). PC có cảm tình đặc biệt với nhân dân VN và cuộc đấu tranh chống đế quốc MT. tuyên bố “Vì VN, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, kêu gọi các nước ủng hộ và giúp đỡ VN. 1973 dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và nhà nước Cộng hòa Cuba sang thăm VN, đến vùng giải phóng do Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN kiểm soát. Giải thưởng Lênin (1961), huân chương Sao vàng của VN (1982), huy chương vàng “Vì những cống hiến to lớn cho nhân dân lao động” của Liên hiệp công đoàn thế giới (1982). Tác phẩm viết trong tù “Lịch sử sẽ xóa án cho tôi”.

        PHIÊN BAN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG, bộ phận của kíp chiến đấu phòng không luân phiên nhau trực ban trong một ngày đêm nhằm bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cao, đồng thời duy trì mọi hoạt động bình thường của bộ đội trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Theo số lượng nhân viên, tính chất công tác, kíp chiến đấu có thể chia thành hai hoặc nhiều PBCĐPK. Có phiên ban đủ, phiên ban gọn và phiên ban tăng cường.

        PHIÊN TOÀ NUREMBE. phiên tòa đặc biệt do Toà án quân sự quốc tế lổ chức xét xử các tội phạm chiến tranh là công dân của nước Đức phát xít phạm tội trong CTTG-II; tiến hành (20.11.1945-1.10.1946) tại tp Nurembe (Đức). Tham gia hội đồng xét xử gồm đại diện của bốn nước: LX, Mĩ, Anh, Pháp với số lượng người ngang nhau. Xét xử 22 bị can, gồm các thành viên chính phủ Hit le, các nhân vật lãnh đạo Đảng quốc xã, cơ quan Gextapô, BTTM và Bộ tổng tư lệnh LLVT Đức. PTN đã tuyên: 12 án tử hình (bằng treo cổ), 3 án chung thân, 4 án tù từ 10-20 năm, 3 án tha bổng: giải tán và cấm hoạt động đối với Đảng quốc xã, các tổ chức cảnh sát. mật vụ của nhà nước phát xít. Lần đầu tiên trong lịch sử, tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược được PTN phán quyết là tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất.

        PHIÊN TOÀ TÔKIÔ, phiên tòa đặc biệt do Toà án quân sự quốc tế tổ chức xét xử các tội phạm chiến tranh là công dân của nước Nhật quân phiệt phạm tội trong CTTG-II. tiến hành (3.5.1946-12.11.1948) tại tp Tôkiô (Nhật Bản). Tham gia Hội đồng xét xử gồm đại diện của 11 nước: LX, Mĩ, Anh, Pháp, TQ, Ấn Độ, Áo, Canada, Niu Dilân, Hà Lan và Philippin. Xét xử 28 bị can về tội khới xướng và tổ chức chiến tranh xâm lược. Trừ 2 bị can ốm chết trong thời gian xét xử, PTT đã tuyên: 7 án tử hình (bằng treo cổ), 16 án tù chung thân, 1 án tù 7 năm, 1 án tha bổng. PTT khẳng định lại những điều đã được phiên tòa Nurembe kết luận, một lần nữa đánh dấu bước tiến bộ của công pháp quốc tế về pháp luật và tập tục chiến tranh.

        PHIẾU THƯƠNG BINH, tài liệu đăng kí theo dõi tình hình điều trị thương binh từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc quá trình điều trị. Hồ sơ cơ bản nhất, bắt buộc phải làm cho tất cả thương binh để bảo đảm tính liên tục và thống nhất trong công tác cứu chữa điều trị thương binh, bệnh binh và làm căn cứ để nhanh chóng phân loại, chuyển thương binh đến các tuyến (cơ sở) điều trị thích hợp. Nội dung chủ yếu: vị trí, phân loại, tình trạng, tính chất vết thương và nội dung xử trí qua các tuyến... PTB được lập ở tuyến cứu chữa bước đầu (trạm quân y trung đoàn hoặc tương đương...). Khi thương binh không qua tuyến cứu chữa bước đầu hoặc tuyến cứu chữa bước đầu chưa kịp làm, tuyến sau có nhiệm vụ làm. PTB được chuyển theo thương binh và tiếp tục ghi bổ sung trong quá trình điều trị, vận chuyển qua các tuyến. Tuyến (cơ sở) điều trị cuối cùng (ra viện, đi an dưỡng, chết...) phải ghi tổng hợp kết quả điều trị và gửi về cơ quan tuyến trên theo quy định.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:08:46 PM

        PHIGI (Cộng hòa quần đảo Phigi; A. Republic of The Fiji Islands), quốc gia trên quần đảo Phigi ở tây nam Thái Bình Dương. Dt 18.376km2; ds 868 nghìn người (2003); phần lớn người Phigi và gốc Ấn Độ. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo (51%). Ấn Độ giáo (40%). Thủ đô: Xuya. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Lãnh thổ gồm hơn 300 đảo; các đảo lớn có nguồn gốc núi lửa, đảo nhỏ chủ yếu là các vỉa san hô, xung quanh là đá ngầm. Núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, đỉnh cao nhất 1.322m. Thường xuyên có bão. Rừng nhiệt đới. Nước nông nghiệp, trồng mía và chăn nuôi. Khai thác lâm thổ sản, vàng, mănggan... GDP 1,684 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.060 USD. Thành viên LHQ (13.10.1970), Khối liên hiệp Anh. Lập quan hệ ngoại giao với VN 14.5.1993. LLVT: lực lượng thường trực 3.500 người (lục quân 3.200, hải quân 300), lực lượng dự bị 6.000. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 4 pháo mặt đất, 12 súng cối 81mm, 9 tàu tuần tiễu loại nhỏ, 2 tàu hộ tống... Ngân sách quốc phòng 30 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67294939_459301588133060_6759303132536111104_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGg2T23MzoOEmhRQT4NXw_yfq9lXJB1FA7ePX0kfdBX4f4YUm8Ran27tqLreoT2CprexNuU3CTUZtCkn-ibDYu-0KIQHhaXQEWhgLAp1nsM7Q&_nc_oc=AQlb270j2Jh_r4KR2ArAf0jWPuLFtvX7DDdtPyAYYGRgiIUn4VuOx9mhfsOWOx4xhQY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=29294dc062d8e3008a8596ee66dfe0d9&oe=5DE1D316)


        PHILIPPIN (Cộng hòa Philippin: Republika fig Pilipinas, A. Republic of The Philippines), quốc gia ở Đông Nam Á, ở tây Thái Bình Dương. Dt 300.000km2; ds 84,619 triệu người (2003); 80% người Philippin (các tộc người Tagala, Vixaia. Ilôca...). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Philippin gốc Tagala. tiếng Anh. Tôn giáo: 84% đạo Thiên Chúa, 5-8% đạo Hồi... Thủ đô: Manila. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Lãnh thổ gồm 7.107 hòn đảo, các đảo lớn: Ludông, Mindanao, Xama, Nêgrôt, Palaoan. Panai, Minđôrô, Lâytê. Dân cư tập trung chủ yếu trên các đảo Ludông và Mindanao (2/3 diện tích). Phần lớn lãnh thổ là núi, độ cao trung bình 1.500-2.000m, đinh cao nhất (núi lửa Apô trên đảo Mindanao) 2.954m. Nhiều núi lửa. thường xuyên động đất. Đồng bằng ven biển hẹp. Khí hậu xích đạo, cận xích đạo ở phía bắc, nhiệt độ cao, lượng mưa 2.000-4.500mm/năm, thường xuyên có bão. Nước nông nghiệp (50% lao động nông nghiệp), cung cấp 60% hàng xuất khẩu; trồng: lúa, ngô, mía, chăn nuôi gia súc... Công nghiệp: khai khoáng, xây dựng, năng lượng, hóa chất, khí điện... GDP 71,438 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 910 USD. Cảng biển: Manila, Xêbu, Ilôilô, Damboanga, Batangat...; sân bay quốc tế: Manila. Thành viên LHQ (24.10.1945), ASEAN, lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 12.7.1976. LLVT: lực lượng thường trực 106.000 người (lục quân 66.000, hải quân 24.000, không quân 16.000), lực lượng dự bị 131.000, lực lượng bán vũ trang 44.000. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 40 xe tăng hạng nhẹ, 85 xe chiến đấu bộ binh, 370 xe thiết giáp chờ quân, 242 pháo mặt đất, 1 tàu frigat, 58 tàu tuần tiễu, 7 tàu đổ bộ, 11 tàu hộ tống, 49 máy bay chiến đấu, 67 máy bay trực thăng vũ trang... Căn cứ hải quân: Cavit, Damboanga, Xêbu. Ngân sách quốc phòng 1,4 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67729108_459301598133059_8863436275458244608_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeFEQv7aM57UUmoVeN7X1WbTOr2Hnche8KfuZzAq-qW5HLgHh_nRUI_1YG_CmXyvy7-URBtD8V7fjSxINWdwqEHWUhTPtDl3lCzpgM_YKzucug&_nc_oc=AQkVxBHXFToEdruIJsk0b0ufM17hId-_jj8GFCPOTQtX049nuUFul_3CNwn5SdRqtOA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=08aca40f4ce9c45608abe6076fbc83e6&oe=5DE1AF2B)


        PHO (A. Gerald Rudolph Ford; s. 1913), tổng thống Mĩ thứ 38 (8.1974-77). Sinh tại Omaha, bang Nibraxcơ; thành viên ĐCH Mĩ. 1935 tốt nghiệp Trường đại học Michigan, 1940 tốt nghiệp Trường đại học luật Ialơ. CTTG-II phục vụ trong hải quân. 1948-73 nghị sĩ quốc hội, lãnh đạo phe thiểu số trong quốc hội, từng chi trích tổng thống Giônxơn kìm hãm sức mạnh của Mĩ ở VN. 1973-74 phó tổng thống (thay Agniu). 1974-77 trở thành tổng thống (thay Nichxơn buộc phải từ chức vì vụ Oatơghêt). Đã cố gắng cứu nguy cho QĐ Sài Gòn, tiếp tục vi phạm hiệp định Pari 1973 về Việt Nam. đề nghị quốc hội viện trợ khẩn cấp cho chính quyền miền Nam VN. P chứng kiến sự bất lực của Mĩ và sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân VN (1975).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:10:31 PM

        PHÒ CÀ ĐUỘT (7-1903), thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Trung Lào (x. khởi nghĩa Phò Cà Đuột, 1901-03). Sinh tại bản Khănthachan. h. Khănthaburi, t. Xavannakhẹt (Lào). PCD chỉ huy khoảng 1.000 nghĩa quân với vũ khí thô sơ đánh chiếm Khêmarạt (4.1902), tiến công tòa công sứ Pháp và bao vây đồn lính ở tx Xayannakhẹt (19.4.1902), buộc Pháp phải điều thêm quân từ Trung và Nam Bộ VN sang tăng cường để đàn áp. PCD phải rút lực lượng về Sê Pôn, sau lập căn cứ ở Keeng Coọc, Huội Loòng Coòng. Tại đây PCD bị Pháp bao vây, bắt và sát hại cùng hơn trăm nghĩa quân (1903).

        PHÓ ĐÔ ĐỐC, bậc quân hàm của sĩ quan hải quân trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, PĐĐ tương đương trung tướng, được quy định lần đầu tại luật về sĩ quan QĐND VN (1981). Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999) PĐĐ là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ tư lệnh quân chủng hải quân.

        PHÓ ĐỨC CHÍNH (1908-30), người tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái (9-18.2.1930). Quê làng Đa Ngưu, tổng Đa Ngưu. h. Văn Giang, t. Bắc Ninh (nay thuộc xã Tân Tiến, h. Văn Giang, t. Hưng Yên). Sau khi tốt nghiệp Trường cao đảng công chính (Hà Nội), làm việc tại Xavannakhẹt (Lào). Tham gia VN Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học sáng lập (từ những ngày đầu), phụ trách công tác tổ chức và an ninh nội bộ. Sau vụ ám sát Badanh (9.2.1929), bị thực dân Pháp bắt đưa về giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), sau được tha do thiếu chứng cớ. Đầu 1930 ban lãnh đạo VN Quốc dàn đảng quyết định khởi nghĩa. PĐC được phân công trực tiếp chỉ huy nghĩa quân đánh chiếm tx Yên Bái nhưng thất bại. sau đó định tập kích tx Sơn Tây cũng không thành. 15.2.1930 bị Pháp bắt tại làng Nam An, tổng Cam Thượng, h. Tùng Thiện, t. Sơn Tây (nay thuộc xã Cam Thượng, h. Ba Vì. t. Hà Tây), bị xử chém tại Yên Bái (17.6.1930).

        PHONG CHÂU*, kinh đô nước Văn Lang thời các vua Hùng, nằm trên vùng ngã ba Sông Hồng, Sông Lô thuộc khu vực Bạch Hạc (Vĩnh Phúc), Việt Trì, Lâm Thao (Phú Thọ) ngày nay. Tên PC được đật cho huyện thành lập 7.1977 (tồn tại đến 1999) do sáp nhập hai huyện Lâm Thao và Phù Ninh, t. Vĩnh Phú (nay thuộc Phú Thọ).

        PHONG CHÂU**, châu thuộc quận Giao Chỉ và An Nam đô hộ phủ thời thuộc Tùy Đường. Do nhà Tùy đặt năm Khai Hoàng thứ 18 (598); năm Đại Nghiệp thứ 3 (607) sáp nhập vào Giao Châu. Tái lập năm Vũ Đức thứ 4 nhà Đường (621). Năm Thiên Bảo thứ 1 (742) đổi thành q. Thừa Hóa; năm Càn Nguyên thứ 1 (758) đổi lại là PC. Địa bàn tương đương phần tây bắc t. Hà Tây, đông t. Phú Thọ và tây t. Vĩnh Phúc hiện nay.

        PHONG TỎA. hành động của một nước hoặc liên minh các nước sử dụng các biện pháp (kinh tế, chính trị, QS...) để cô lập, cắt đứt những mối liên hệ của đối phương hoặc một phần lãnh thổ của đối phương với bên ngoài trong một thời gian nhất định, buộc đối phương phải khuất phục, đầu hàng hoặc thực hiện những yêu cầu nhất định. Có: PT chính trị, PT kinh tế, phong tỏa tin tức, phong tỏa quân sự... Sự khác biệt giữa PT với bao váy ở chỗ: bao vây có thể vừa thực hiện cô lập vừa thực hiện tiêu diệt đối phương, còn PT chủ yếu gây áp lực bắt đối phương khuất phục.

        PHONG TỎA BIỂN CARIBÊ (1962), phong tỏa đường biển của Mĩ đối với hòn đảo (đất nước) Cuba, lấy cớ LX triển khai căn cứ tên lửa và máy bay chiến lược trên đất Cuba. 22.10.1962 Mĩ huy động 183 tàu chiến (có 8 tàu sân bay), 1.600 máy bay (có máy bay chiến lược mang vũ khí hạt nhân), 5 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn lính thủy đánh bộ... đến vùng biển Caribê, tiến hành bao vây, cô lập và đe dọa mở cuộc tiến công tiêu diệt CM Cuba. Đồng thời QĐ NATO, các hạm đội 6 và 7 của Mĩ cũng được đặt trong trạng thái báo động, sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh nổ ra. Chính phủ và nhân dân Cuba tích cực chuẩn bị phòng thủ, kiên quyết đánh trả và kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân thế giới, yêu cầu Mĩ rút quân. Để giải quyết tình trạng căng thẳng, tránh nguy cơ xảy ra chiến tranh, 25.10 chính phủ LX tuyên bố sẽ rút hết tên lửa khỏi Cuba với điều kiện Mĩ phải chấm dứt mọi hành động xâm lược Cuba. 27.10 Mĩ tuyên bố chấp thuận, 20.11 chấm dứt phong tỏa. PTBC là hành động xâm lược trắng trợn của Mĩ đối với nhân dân Cuba, đồng thời đánh dấu bước leo thang mới của Mĩ trong quá trình chạy đua vũ trang thời kì chiến tranh lạnh, bị các lực lượng hòa bình và dư luận tiến bộ trên thế giới phản đôi.

        PHONG TỎA BIỂN QUẢNG TRỊ (29-30.5.1972), phong tỏa giao thông bằng thủy lôi do Phân đội 23 (Quân chúng hải quân) tiến hành nhằm ngăn chặn hoạt động của hải quân Mĩ tại vùng biển t. Quảng Trị, phối hợp với chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6. J972). Đêm 29 rạng 30.5, Phân đội 23 sử dụng 2 thuyền máy (C42 và C43) xuất phát từ Cửa Tùng, bí mật cải trang, tiếp cận khu vực đông Cửa Việt - đông nam Gia Đảng, tiến hành thả 2 bãi thủy lôi cách bờ 4-7 hải lí (mỗi bãi có 4 thủy lôi loại AM-2 và APS). Kết quả đánh chìm 1 tàu vận tải, đánh bị thương tàu khu trục tên lửa DDG-6 và tàu tuần dương CA 148, góp phần hạn chế hoạt động trên biển của địch, làm phong phú thêm cách đánh của bộ đội hải quân VN trong KCCM.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:11:45 PM

        PHONG TỎA ĐƯỜNG BIỂN, phong tỏa quân sự được tiến hành trên biển nhằm cô lập một phần hoặc toàn bộ căn cứ, hải cảng, vịnh, eo biển, bờ biển, đảo đối phương chiếm giữ, cắt đứt sự liên hệ với bên ngoài bằng đường biển và không cho lực lượng đối phương ra khỏi khu vực phong tỏa, để phá hoại tiềm lực kinh tế QS và làm kiệt quệ khả năng tác chiến của đối phương; một trong những biện pháp chủ yếu để giành quyền làm chủ trên biển. Để PTĐB thường sử dụng các tàu mặt nước, tàu ngầm và không quân, vũ khí thúy lôi. Theo điều lệ LHQ, PTĐB được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành theo quyết định của Hội đồng bảo an để chống xâm lược, phục hồi và duy trì hòa bình và an ninh. PTĐB do Mĩ tiến hành chống Cuba (1962) và chống VN (1965-68 và 1972-73) là không hợp pháp và là hành động xâm lược.

        PHONG TỎA ĐƯỜNG KHÔNG, phong tỏa quân sự do lực lượng phòng không và không quân tiến hành nhằm cô lập một khu vực, cụm lực lượng đối phương bị bao vây, cắt đường tiếp tế, tăng viện và tháo chạy bằng đường không của đối phương

        PHONG TỎA GIAO THÔNG, phong tỏa quân sự nhằm cô lập một phần hoặc toàn bộ các tuyến giao thông đường bộ, đường thủy, đường không, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, QS và khả năng tác chiến của đối phương. Có phong tỏa hoàn toàn hoặc bộ phận (một phần). Phong tỏa hoàn toàn là cắt đứt toàn bộ giao thông đường bộ, đường thủy, đường không, làm mất khả năng liên hệ vận chuyển với bên ngoài; phong tỏa bộ phận là cắt đứt hoặc ngăn chặn phương tiện giao thông cơ bản của đối phương với bên ngoài. PTGT được tiến hành khi chưa cần thiết hoặc chưa đủ điều kiện tiêu diệt, mà chỉ cần gây sức ép làm cho đối phương suy yếu phải khuất phục.

        PHONG TỎA QUÂN SỰ, phong tỏa sử dụng lực lượng QS và biện pháp QS tạo sức ép, buộc đối phương khuất phục hoặc làm suy yếu sức mạnh quân sự của đối phương, tạo điều kiện tiến công tiêu diệt. PTQS theo vị trí địa lí, đối tượng và phương tiện huy động, có: phong tỏa giao thông, phong tỏa đường biển, phong tỏa đường không, phong tỏa hỗn hợp...; theo quy mô và nhiệm vụ, có PTQS: toàn bố, cục bộ, chiến lược, chiến dịch, chiến thuật; theo thủ đoạn, có: bằng binh lực, bằng binh khí, bằng điện tử... PTQS thường được sử dụng kết hợp với phong tỏa kinh tế, phong tỏa tin tức... Trong KCCM, QĐ và nhân dân VN đã chiến đấu kiên cường, trong điều kiện không ngang sức, chống lại có hiệu quả những cuộc phong tỏa đường bộ, phong tỏa đường biển của một lực lượng lớn không quân, hải quân và các phương tiện KTQS của Mĩ.

        PHONG TỎA SÔNG CỬA VIỆT (19-29.1.1968). phong tỏa giao thông bằng thủy lôi do các đội đặc công 1, 2, 3 và 4 (Đoàn 126 Quân chủng hải quân) tiến hành nhằm ngăn chặn hoạt động giao thông vận chuyển của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên sông Cửa Việt (đoạn Đông Hà - Cửa Việt, t. Quảng Trị), phối hợp với chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968). Được sự hỗ trợ tích cực của Sư đoàn bộ binh 320, Trung đoàn bộ binh 270 cùng du kích và nhân dân địa phương, lực lượng đặc công bí mật luồn sâu vượt qua hệ thống bảo vệ của địch, trong các đêm 19, 23, 25 và 29.1 tiến hành thả 12 thủy lôi (loại HAT-2) tại các khu vực Xóm Vùng, Xuân Khánh, ngã ba Duy Phiên, Mai Xá. Kết quả đánh chìm 11 tàu, làm tê liệt hoạt động vận chuyển tiếp tế của địch trên sông Cửa Việt trong nhiều ngày, tạo điều kiện cho hoạt động tác chiến của ta tiến triển thuận lợi.

        PHONG TỎA TIN TỨC, phong tỏa bằng cách sử dụng các biện pháp kĩ thuật, phương tiện thông tin và vũ khí công nghệ cao nhằm phá hoại, gây nhiễu, khống chế, làm mất hiệu lực lâu dài hệ thống thông tin của đối phương hoặc cắt đứt mọi liên lạc nhằm cô lập hoàn toàn đối phương, giành quyền làm chủ thông tin. Trong chiến tranh hiện đại, phải tích cực phòng, chống PTTT, đồng thời tăng cường bảo vệ tin tức, quản lí chật chẽ tin tức trên mạng, chống đối phương xâm nhập, đánh cắp, chống vi rút máy tính, ngăn chặn các hình thức trinh sát của đối phương.

        PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG (1885-95), phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân VN do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo hưởng ứng “Chiếu Cần Vương" của vua Hàm Nghi. Sau cuộc nổi dậy ở Huế (5.7.1885) không thành, Tôn Thất Thuyết cùng lực lượng chủ chiến trong triều đình đưa vua Hàm Nghi về vùng núi Quảng Trị, hạ “Chiếu Cần Vương” (13.7.1885), kêu gọi “phò vua, cứu nước”. Dưới cờ Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa do sĩ phu yêu nước lãnh đạo nổ ra Khắp Trung Kì, Bắc Kì, được đông đào nhân dân tham gia, sôi động nhất ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Hương Khê (1885- 95), Hùng Lĩnh (1886-92). Ba Đình (1886-87), Bãi Sậy (1883- 92), Nguyễn Quang Bích (1885-89), Nguyễn Xuân Ôn (1885- 87), Lê Ninh (1885-87)... Pháp phải tập trung nhiều binh đoàn lớn để đối phó. 1.11.1888 vua Hàm Nghi bị Pháp bắt tại Quảng Bình nhưng PTCV vẫn tiếp tục tồn tại đến cuối 1895 mới chấm dứt. PTCV phát triển rầm rộ, phản ánh tinh thần yêu nước của một bộ phận sĩ phu phong kiến và nhân dân Trung Kì, Bắc Kì, song thất bại do không có sự chỉ đạo thống nhất và liên hệ chặt chẽ giữa các cuộc khởi nghĩa với nhau.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:12:45 PM

        PHONG TRÀO DUY TÂN (1906-08), phong trào yêu nước của bộ phận sĩ phu VN theo khuynh hướng DTDC tư sản do Phan Chu Trinh. Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,... khởi xướng và chủ trì, nhằm vận động cải cách văn hóa xã hội gắn với động viên lòng yêu nước của nhân dân chống ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Phát triển mạnh ở Trung Kì, dưới các hình thức lập thương hội. phát triển công thương nghiệp, cổ động dùng hàng nội hóa, đặc biệt là vận động mở trường học, dạy chữ quốc ngữ để mở mang dân trí, giáo dục lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cho nhân dân (riêng Phan Chu Trinh đã lập được 48 trường; Trung Kì có 333 trường, lớp có giáo viên tham gia phong trào). Trong PTDT còn có xu hướng bạo động vũ trang theo chủ trương của Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên, Lê Văn Huân... Sự phát triển của PTDT là tiền đề dẫn tới cuộc đấu tranh chống di phu, chống sưu thuế sôi nổi ở Trung Kì (1908). Để đối phó, thực dân Pháp đã theo dõi, đàn áp, bắt những người cầm đầu, xử tử hoặc đưa đi đầy. PTDT tuy thất bại và có nhiều hạn chế, nhưng kết hợp với phong trào Đông Du (1905-09) và Đông Kinh nghĩa thục (1907) đã có tác dụng khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân VN đầu tk 20, đặt cơ sở cho thế hộ sau của CM VN tìm ra con đường cứu nước đúng đắn.

        PHONG TRÀO ĐẤU TRANH PATRANG LUÔNG (1914-15), phong trào nổi dậy chống thực dân Pháp của nhân dân các bộ lạc thiểu số miền Đông tình Crachiê (Campuchia) do Patrang Luông lãnh đạo. Mở đầu bằng cuộc nổi dậy tiêu diệt và đốt đồn binh Pháp ở bản Puxra. Tiếp đến, thành lập các đội nghĩa binh, đứng đầu là tù trưởng các bộ lạc, buộc Pháp phải đưa lực lượng lớn đến càn quét nhưng vẫn bị nghĩa quân tập kích tiêu diệt (15.1.1915). Chính sách của thực dân Pháp bao vây kinh tế kết hợp với đàn áp nhân dân, cô lập nghĩa quân dẫn đến sự chia rẽ, đầu hàng của một số tù trưởng, nhưng không thể dập tắt hẳn phong trào Patrang Luông.

        PHONG TRÀO ĐÔNG DU (1905-09), phong trào vận động thanh niên VN sang Nhật học tập, theo chủ trương “xuất dương cầu viện” của Duy Tân hội, do Phan Bội Châu đề xướng và tổ chức. Sau khi tiếp cận tư tưởng dân chủ tư sản của Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn và tạo được sự giúp đỡ của một số lực lượng tiến bộ ở Nhật, Phan Bội Châu về nước mở cuộc vận động Đông du. Từ 6.1905 đến 6.1908, khoảng 200 thanh niên VN, phần lớn là con cháu các sĩ phu, các nhà công thương có xu hướng yêu nước, được bí mật đưa sang Nhật đào tạo tại trường võ bị Chấn Vũ và Đông Á đồng văn thư viện. Cùng với việc đưa thanh niên du học, Phan Bội Châu viết sách, báo tố cáo chính sách thống trị của Pháp, kêu gọi các tầng lớp nhân dân VN đoàn kết, cách tân đất nước, phát triển kinh tế, đóng góp tài chính cho Đông du; lập ra Công hiến hội ở Nhật để giáo dục, giúp đỡ lưu học sinh VN. Đối phó với phong trào, Pháp ráo riết tiến hành khủng bố các cơ sở CM ở VN, đồng thời thỏa hiệp với chính phủ Nhật giải tán Đông Á đồng văn thư viện và Công hiến hội (9.1908), trục xuất học sinh VN về nước, 2.1909 trục xuất Phan Bội Châu. Tuy thất bại do hạn chế về chính trị và bế tắc về đường lối, PTĐD đã có tác dụng khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc, góp phần tạo thêm lực lượng cho phong trào giải phóng dân tộc VN đầu tk 20.

        PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ẤN ĐỘ (1939- 50), phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ do Đảng quốc đại lãnh đạo chống thực dân Anh, thiết lập nhà nước Ấn Độ độc lập. Cương lĩnh của Đảng quốc đại (9.1939) đòi Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ được giai cấp tư sản dân tộc, giới trí thức, công nhàn và đa số nông dân ủng hộ. Mở đầu bằng cuộc đấu tranh phản đối chính phủ Anh bắt giam Ganđi, Nêru và các lãnh tụ khác của Đảng quốc đại. Tiếp đến các cuộc bạo động của sinh viên, công nhân ở Cancutta, Bênaret, Bombay, Niu Đêli..., chống việc Anh xử án các sĩ quan “QĐ dân tộc Ấn Độ”. 1946 phong trào chống sự thống trị của Anh phát triển mạnh với cuộc khởi nghĩa của thủy binh ở Bombay, Carasi, Cancutta, Mađơrat (19.2), cuộc bãi công của 2 vạn công nhân ở Bombay (22.2) và nhiều thành phố khác do ĐCS phát động buộc chính phủ Anh phải đàm phán với Đảng quốc đại và Liên đoàn Hồi giáo. 25.8.1946 chính phủ lâm thời Ấn Độ  được thành lập do cao ủy Anh làm thủ tướng và Nêru -  lãnh tụ Đảng quốc đại làm phó thủ tướng. Phong trào đấu tranh đòi dân chủ của công nhân, nông dân Ấn Độ đầu 1947 lên cao cùng với sự suy yếu của Anh sau CTTG-II buộc Anh phải tuyên bố chuyển giao chính quyền cho người Ấn Độ (6.1947) . Mâu thuẫn giữa Đảng quốc đại với Liên đoàn Hồi giáo và âm mưu chia rẽ của Anh với kế hoạch Maobattơn (8.1947) dẫn đến việc phân chia Ấn Độ thành hai nước: Ấn Độ  và Pakixtan. 26.1.1950 Ấn Độ tuyên bố là một nước cộng hòa có chủ quyền trong Khối liên hiệp Anh, đánh dấu bước thắng lợi quan trọng của các tầng lớp nhân dân Ấn Độ trong cuộc đấu tranh lâu dài giành độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:13:57 PM

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ở BĂNGLAĐET (1971), phong trào đấu tranh đòi quyền tự trị và thành lập nhà nước độc lập của nhân dân Bănglađet, chống chính quyền Pakixtan. Từ 1947 Bănglađet (cư dân chủ yếu là người Bengan) bị sáp nhập vào Pakixtan, gọi là Đông Pakixtan. Do bị lệ thuộc và phân biệt đối xử, người Bengan đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh đòi độc lập. 12.1970 trong cuộc bầu cử quốc hội, Đảng liên minh nhân dân do M. Ratman lãnh đạo, với chương trình tranh cử đòi tự trị hoàn toàn cho Đông Pakixtan giành thắng lợi, nhưng chính quyền Pakixtan không thừa nhận, đem quân đàn áp và ra lệnh bắt giam M. Ratman (23.3.1971). Được sự giúp đỡ của Ấn Độ, 26.3.1971 những người ủng hộ Đảng liên minh nhân dân tuyên bố thành lập nhà nước độc lập Đông Pakixtan (Cộng hòa nhân dân Bănglađet), tiếp tục đấu tranh chống chính quyền Pakixtan. 12.1971 khi xảy ra chiến tranh Ấn Độ - Pakixtan lấn III (1971), lực lượng của Đảng liên minh nhân dân phối hợp với QĐ Ấn Độ đánh chiếm Dacca, giải phóng toàn bộ lãnh thổ Đông Pakixtan, chính thức giành quyền độc lập.

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ở MALAIXIA (1945-57), phong trào đấu tranh của nhân dân Malaixia chống ách thống trị của thực dân Anh. 5.9.1945 lợi dụng danh nghĩa vào tước vũ khí quân Nhật, Anh đưa quân chiếm đóng Malaixia, thi hành chế độ quân quản hà khắc. Để thực hiện quyền thống trị. Anh xây dựng quy chế bảo hộ, thủ tiêu các ủy ban kháng chiến, tước vũ khí và giải tán các đội quân kháng Nhật (MPAJA), đàn áp những người kháng chiến, nhất là các đv ĐCS. Nhân dân Malaixia dưới sự lãnh đạo của các tổ chức yêu nước (trong đó có ĐCS Mã Lai) đã nổi dậy tiến hành đấu tranh vũ trang, thành lập QĐ giải phóng dân tộc, gây cho lực lượng chiếm đóng nhiều tổn thất. Chính phủ Anh đã huy động hàng chục vạn quân cùng nhiều vũ khí. phương tiện QS mở các cuộc càn quét quy mô lớn, đồng thời dùng thủ đoạn dồn dân vào ấp chiến lược nhằm cô lập và tiêu diệt lực lượng kháng chiến nhưng không đạt kết quả. 2.1956 chính phủ Anh buộc phải đàm phán với lực lượng kháng chiến và công nhận nền độc lập của Malaixia. 31.8.1957 Malaixia chính thức tuyên bố độc lập.

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ở MIẾN ĐIỆN (1945-48), phong trào đấu tranh của nhân dân Miến Điện chống lại ách thống trị của thực dân Anh. Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh (9.1945), Anh tìm cách lập lại chế độ thống trị ở Miến Điện. Nhân dân Miến Điện kiên quyết đấu tranh giành độc lập, đặc biệt từ 2.1946 dưới sự lãnh đạo của Liên minh nhân dân tự do chống phát xít (AFPFL) và các tổ chức yêu nước khác, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công liên tiếp nổ ra trên cả nước. 17.10.1947 chính quyền Anh buộc phai kí hiệp ước công nhận nền độc lập của Miến Điện. 4.1.1948 Liên bang Miến Điện chính thức thành lập (6.1989 là Liên bang Mianma).

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ở PHILIPPIN (1944- 46), phong trào đấu tranh của nhân dân Philippin chống ách thống trị của Mĩ. Sau khi đánh bại quân Nhật trong chiến dịch Philippin (20.10.1944-5.7.1945), Mĩ đem quân chiếm đóng và khôi phục ách thống trị đối với Philippin. Âm mưu của Mĩ bị các lực lượng yêu nước và nhân dân Philippin phản đối quyết liệt. Các đội quân kháng Nhật trước đó (phong trào HUK) cùng các phong trào quần chúng do ĐCS Philippin lãnh đạo đã tổ chức kháng chiến, tiến hành đấu tranh vũ trang chống hành động đàn áp của QĐ Mĩ; buộc Mĩ phải nhượng bộ và công nhận Philippin là quốc gia độc lập (4.7.1946).

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ở XINGAPO (1945- 59), .phong trào đấu tranh của nhân dân và các lực lượng yêu nước Xingapo chống ách thống trị của thực dân Anh. Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh (9.1945), Anh tái lập chế độ thống trị ở Xingapo. Chính sách thống trị và khủng bố gắt gao của Anh đã làm bùng nổ cuộc đấu tranh của nhân dân Xingapo. Từ 1948 nhiều cuộc bãi công lớn của công nhân do các nghiệp đoàn cánh tả tổ chức biên thành đấu tranh vũ trang và lan rộng trên cả nước, buộc chính quyền Anh phải nhượng bộ, chấp nhận việc bầu cừ hội đồng lập pháp ở Xingapo (1955). Trong cuộc tổng tuyển cử 5.1959, Đảng hành động nhân dân (PAP) của giai cấp tư sản Xingapo giành thắng lợi, đưa Lí Quang Diệu lên làm thủ tướng. 3.6.1959 Xingapo tuyên bố độc lập, nhưng thực tế vẫn bị Anh chi phối.

        PHONG TRÀO GIÀNH ĐỘC LẬP Ỏ XRI LANCA (1945-48), phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Xri Lanca chống ách thống trị của thực dân Anh. Trong hơn một thế ki dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Anh, nhân dân Xri Lanca liên tục nổi dậy đấu tranh. Đặc biệt từ sau CTTG-II, do tác động của các phong trào giải phóng dân tộc thế giới và khu vực châu Á, những người theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa ở Xri Lanca đã thống nhất lực lượng, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh quyết liệt đòi Anh trao trả độc lập. ĐCS Xri Lanca (thành lập 7.1943) đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh. 4.2.1948 Anh buộc phải tuyên bố Xri Lanca là một nước độc lập trong Khối liên hiệp Anh. nhưng trên thực tế Anh vẫn nắm quyển chi phối về kinh tế và chính trị ở đây.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:14:51 PM

        PHONG TRÀO HÒA BÌNH CHỐNG CHIẾN TRANH. phong trào chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân thế giới gồm những người thuộc các dân tộc, quốc gia và tín ngưỡng khác nhau cùng chống chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt vì hòa bình và an ninh thế giới. Hình thành tại đại hội của các chiến sĩ hòa bình toàn thế giới họp đồng thời ở Pari (Pháp) và Praha (Tiệp Khắc) 20-25.4.1949, với sự tham gia của trên 2.000 đại biểu từ 72 nước. Đại hội đã thông qua “Tuyên ngôn bảo vệ hòa binh” và bầu ra ủy ban thường trực Hội đồng hòa bình thế giới. PTHBCCT đã tổ chức nhiều đợt hoạt động thiết thực: chiến dịch lấy chữ kí ủng hộ bản hiệu triệu Xtôckhôm đòi cấm vũ khí nguyên tử (1950), ra lời kêu gọi các chính phủ kí công ước hòa bình (1951), các chiến dịch có tính chất quần chúng phản đối chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN, đòi QĐ Ixraen rút khỏi các vùng chúng chiếm đóng của các nước, chống sự khùng bố tàn bạo của chế độ Pinôchê ở Chilê, kêu gọi các nước ngừng chạy đua vũ trang (1975-79), hợp nhất mọi nỗ lực và đoàn kết các phong trào chống chiến tranh trên thế giới thành một sức mạnh lớn ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân... PTHBCCT có tác dụng tập hợp đông đảo lực lượng đấu tranh cho hòa bình, đồng thời cô lập các lực lượng hiếu chiến của CNĐQ, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và an ninh quốc tế.

        PHONG TRÀO HÒA BÌNH SÀI GÒN - CHỢ LỚN, tổ chức quần chúng đấu tranh hợp pháp đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi thành hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam. Thành lập 5.9.1954 tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Về tổ chức có: ban lãnh đạo chung gồm: chủ tịch Trần Kim Quang, phó chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, tổng thư kí Phạm Huy Thông và 32 ủy ban ở cơ sở do quần chúng bầu; một tập san công khai mang tên “Hoà Bình”. PTHBSG-CL đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, đảng phái chính trị, tôn giáo tham gia. nhanh chóng lan ra Huế và nhiều thành phố, thị xã ở miền Nam VN. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giam một số nhà lãnh đạo phong trào và 4 lần đưa họ ra tòa, nhưng trước làn sóng phản đối cua nhân dân và không có cơ sở để kết tội, tòa án không xét xử được, buộc phải trục xuất họ khỏi Sài Gòn và lưu đày ra vùng rừng núi tỉnh Phú Yên (15.11.1954). PTHBSG-CL tuy tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng có tiếng vang lớn và có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân miền Nam VN.

        PHONG TRÀO HỌC SINH, SINH VIÊN MlỀN NAM TRONG KHÁNG CHIÊN CHỐNG MĨ, phong trào chính trị - xã hội của tuổi trẻ học đường miền Nam VN chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn (1954-75). Nội dung: phản đối chiến tranh, ủng hộ hòa bình, chống đàn áp, chống bắt lính, đòi cải cách giáo dục và dân chủ học đường, phân đối xét xử trái phép những người yêu nước, tẩy chay bầu cử, lên án chính quyền độc tài, tham những... Hình thức: bãi khóa, biểu tình, tuần hành, đưa kiến nghị tập thể... mở hội thảo “dân Việt học bằng tiếng Việt”, tổ chức “những đêm không ngủ”, đợt hoạt động “nói với đồng bào ta”, “hát cho đồng bào tôi nghe”... Những cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn: mít tinh phản đối vụ xét xử trái phép các giáo sư Lê Quang Vịnh. Lê Hồng Tư... của 50.000 học sinh, sinh viên Tân An. Chợ Lớn (8.6.1962); tổng bãi khóa của học sinh, sinh viên Sài Gòn chống Mĩ - Nguyễn Khánh (24 và 25.8.1964); đấu tranh của sinh viên học sinh Huế chống quân dịch (21-24.8.1965); đặc biệt đợt dấu tranh có quy mô và mức độ quyết liệt chưa từng có của học sinh, sinh viên Sài Gòn và toàn miền Nam (23.3- 5.4.1970), lúc cao nhất tới 60.000 người tổng bãi khóa... lên án chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đàn áp, khủng bố sinh viên, đòi trả tự do cho Huỳnh Tấn Mẫm. Các cuộc đấu tranh thường được sự hưởng ứng, phối hợp của đông đảo đồng bào các giới. Phong trào đã góp phần tích cực vào cuộc KCCM.

        PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁT XÍT CỦA CÁC NƯỚC CHÂU ÂU (1939-45), phong trào đấu tranh của nhân dân các nước châu Âu chống xâm lược của phát xít Đức, Ý trong CTTG-II. Bắt đầu từ các cuộc vận động dân chủ của các lực lượng DTDC chống phát xít ở các nước bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau khi phát xít Đức tiến công LX (6.1941), phong trào kháng chiến phát triển rộng rãi, mang tính chất quốc tế với sự tham gia của các lực lượng chống phát xít ở ngay nước Đức và các nước khác trong khối phát xít. Lực lượng chính của phong trào kháng chiến là giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của các ĐCS, ngoài ra còn có nông dân, trí thức, tiểu tư sản và tư sản hạng trung, một bộ phận tín đồ tôn giáo. Quốc tế cộng sản giữ vai trò quan trọng trong việc tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa phát xít. Phong trào diễn ra dưới nhiều hình thức: tuyên truyền chống chủ nghĩa phát xít, chống phá chính quyền chiếm đóng và tay sai, đánh du kích và khởi nghĩa vũ trang... Ở các nước Ba Lan. Tiệp Khắc, Bungari, Anbani, Hi Lạp, Nam Tư,... dưới sự lãnh đạo của các ĐCS, phong trào kháng chiến đã phát triển thành chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc. Ở Pháp, Ý, Hunggari, Rumani, Đức,... phong trào cũng do các ĐCS lãnh đạo hoặc phát động. PTKCCPXCCNCÂ đã góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít, ảnh hướng lớn đến sự phát triển của thế giới sau CTTG-II.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:15:56 PM

        PHONG TRÀO KHÔNG LIÊN KẾT, tổ chức chính trị quốc tế rộng lớn gồm những nước có chính sách đối ngoại không tham gia bất cứ khối QS - chính trị nào. Hình thành 9.1961 tại Hội nghị cấp cao các nước không liên kết lần thứ nhất ở Béôgrat (Nam Tư). Đến 1998 đã có 114 nước thành viên ở khắp các châu lục, chiếm 2/3 dân số thế giới và hơn 2/3 số hội viên Liên hợp quốc (phần lớn là các nước mới giành được độc lập và các nước đang phát triển); CHXHCN VN là thành viên chính thức của PTKLK từ 3.1976. Mục tiêu chung của PTKLK: chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bành trướng..., bảo vệ chủ quyền dân tộc, quyền tự lựa chọn con đường phát triển; hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng, hợp lí; chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình và an ninh của các dân tộc. Cơ quan lãnh đạo cao nhất là hội nghị cấp cao, họp thường kì 3 năm một lần (đến 1998 đã có 12 hội nghị cấp cao). Hội nghị bộ trưởng ngoại giao mỗi năm họp một lần (những năm có hội nghị cấp cao thì họp hai lần). Ngoài ra còn có ủy ban phối hợp (thành lập 1973), gồm đại diện 25 nước thành viên do hội nghị cấp cao bầu ra, có nhiệm vụ chuẩn bị các kì họp cấp cao và phối hợp hoạt động của các nước trong các tổ chức và hội nghị quốc tế. Trụ sở đặt tại Niu Ooc (Mĩ). Trong đời sống chính trị quốc tế, PTKLK có vai trở tích cực trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

        PHONG TRÀO NAM TIẾN, phong trào tình nguyện vào Nam chiến đấu chống Pháp của quân và dân các tinh Bắc Bộ, Trung Bộ VN, ngay sau Ngày Nam Bộ kháng chiến (23.9.1945). Hưởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ kháng chiến miền Nam diễn ra sôi nổi; nhân dân khắp nơi tổ chức mít tinh, biểu tình, lập “quỹ Nam Bộ” để quyên góp tiền của, mua vũ khí, quần áo, thuốc men,... gửi vào miền Nam; các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ đều lập “Phòng Nam Bộ”, đăng kí những người tình nguyện vào Nam đánh giặc. Trong thời gian ngắn, mỗi tỉnh đã tổ chức được 1- 2 chi đội Nam tiến, gồm những chiến sĩ đã qua huấn luyện QS, được trang bị tốt nhất. Từ 26.9.1945 các chi đội Nam tiến lần lượt lên đường và tham gia chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ. PTNT góp phần tăng thêm sức mạnh cho miền Nam kháng chiến, là hình ảnh của dân tộc VN cả nước ra trận, cả nước đoàn kết chống xâm lược.

        PHONG TRÀO NGŨ TỨ (1919), cuộc vận động chính trị - xã hội, văn hóa, chống đế quốc - phong kiến của học sinh, sinh viên và nhân dân TQ, do tầng lớp trí thức yêu nước lãnh đạo. Mở đầu là cuộc biểu tình ngày 4.5 của hàng nghìn học sinh, sinh viên thủ đô Bắc Kinh chống âm mưu can thiệp của CNĐQ, phản đối sự bất lực của chính quyền, đòi trừng ưị các phần từ thân Nhật, tẩy chay hàng hóa Nhật... Cuộc biểu tình bị đàn áp gây nên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, từ 3.6 trở thành phong trào đấu tranh rộng lớn ở nhiều tỉnh, thành phố lớn trên cả nước, trong đó trung tâm là Thượng Hải. Các cuộc bãi công, bãi khóa, bãi thị liên tiếp bùng nổ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, trong đó giai cấp công nhân trở thành lực lượng chủ lực. Trên lĩnh vực văn hóa diễn ra các hoạt động tuyên truyền, cổ động cho tư tưởng, đạo đức, văn hóa mới, đặc biệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường CM XHCN tháng Mười Nga, được lực lượng trí thức tiến bộ (Lí Đại Chiêu, Mao Trạch Đóng, Lưu Thiếu Kì, Chu Ấn Lai...) truyền bá vào TQ, tạo nên sức mạnh mới cho phong trào. Trước áp lực đấu tranh, chính phủ TQ buộc phải thả những người bị bắt, bãi nhiệm các phần tử thân Nhật và sau đó không tham gia kí hiệp ước hòa bình Vecxáy (1919). PTNT thắng lợi đánh dấu bước phát triển mới của phong trào yêu nước ở TQ, góp phần thúc đẩy phong trào công nhân, mở rộng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của ĐCS TQ.

        PHONG TRÀO NHÂN DÂN MĨ CHỐNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM, phong trào phối hợp hành động chống đế quốc Mĩ xâm lược VN của 200 tổ chức quần chúng thuộc hầu hết các bang ở Mĩ dưới sự lãnh đạo của ủy ban phối hợp hành động đấu tranh đòi Mĩ chấm dứt chiến tranh xâm lược VN. Hàng trăm thành phố, hàng chục vạn người đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú, quyết liệt như: mít tinh, biểu tình, bãi khoá, đốt thẻ quân dịch, trốn lính, tự thiêu,... trong đó nổi lên một số cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn: “tuần lễ chống chiến tranh xâm lược VN” của 200.000 người ở khắp nước Mĩ tập trung về Oasinhtơn với sự phối hợp đấu tranh của nhân dân các nước Anh, Canada, CHLB Đức, Pháp, Bỉ, Italia, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nhật, Ôxtrâylia (10.1967); 16 vụ tự thiêu trong đó có Noman Morixơn (2.11.1965) ngay trước Lầu Năm Góc và Lapotơ trước trụ sở LHQ; cuộc bạo động chống chiến tranh của người Mĩ da đen (7.8.1966) nổ ra quyết liệt tại 100 thành phố, gây thiệt hại hàng chục tỉ USD; 5.000 thanh niên trốn lính chạy sang Canada (1968)... PTNDMCCTXLVN góp phần cổ vũ, động viên nhân dân VN trong cuộc KCCM.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:17:29 PM

        PHONG TRÀO NHÂN DÂN PHÁP CHỐNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM. phong trào đấu tranh của các tổ chức quần chúng lao động và trí thức, của nhiều tôn giáo, đảng phái và binh sĩ Pháp do ĐCS Pháp phát động (1946) nhằm phản đối thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược VN. Được tiến hành với nhiều hình thức đấu tranh phong phú và xuất hiện nhiều sự kiện có tiếng vang lớn ở Pháp và trên thế giới như: 600 phụ nữ đại diện cho những người mẹ và vợ binh sĩ Pháp chết trận ở VN từ các tỉnh kéo về Pari đòi đưa xác chồng con về nước và phản đối chiến tranh; Raymông Điêng dẫn đầu đoàn người nằm chặn ngang đường sắt (ga Tua) không cho tàu chuyển vũ khí sang VN; hàng triệu người xuống đường đòi trả tự do cho Hăngri Mactanh (người lính thủy Pháp bị tòa án thực dân bỏ tù vì có nhiều hoạt động phản đối cuộc chiến tranh xâm lược VN gây chấn động cả nước Pháp) và đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược VN... Trong tình thế thực dân Pháp liên tục thất bại ở VN, PTNDPCCTXLVN đã cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân VN, đồng thời ảnh hưởng lớn đến tinh thần chiến đấu của binh lính Pháp trên chiến trường, gây cho chính phủ Pháp nhiều khó khăn nghiêm trọng.

        PHONG TRÀO NỮ DU KÍCH HOÀNG NGÂN, phong trào thi đua giết giặc lập công của nữ du kích tỉnh Hưng Yên trong KCCP. Từ những hoạt động tuyên truyền, địch vận, giao liên, phục vụ chiến đấu và một bộ phận trực tiếp đánh địch trên đường 5 trong phạm vi của tỉnh, đến 1949 phong trào đã phát triển ra toàn tỉnh và một số tỉnh lân cận, hướng hoạt động chính vào việc đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Đầu 1951 được mang tên Hoàng Ngân (nữ liệt sĩ bí thư BCHTƯ lâm thời Hội phụ nữ cứu quốc VN). PTNDKHN có nhiều thành tích xuất sắc trong KCCP tại địa phương, đã làm nảy sinh nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu (Đội nữ du kích Trưng Trắc, nữ Ah Bùi Thị Cúc...).

        PHONG TRÀO PHẬT TỬ MlỀN NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, phong trào đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn đòi lập lại hòa bình, chống đàn áp nhân dân và tôn giáo, đòi bình đẳng giữa các tôn giáo,... của những người theo đạo Phật ở miền Nam VN (1954-75). Được tiến hành dưới nhiều hình thức: mít tinh, tuần hành, biểu tình ngồi, lấy chữ kí của tăng ni, tín đồ, tuyệt thực, tự thiêu, cầu siêu, cầu nguyện... Những cuộc đấu tranh có ảnh hưởng lớn như: mít tinh của 20.000 phật tử ở Huế phản đối Ngô Đình Diệm cấm tổ chức lễ Phật Đản (8.5.1963); hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trước 1.000 sư sãi ở Sài Gòn để phản đối Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo (11.6.1963), sau đó 700.000 phật tử và nhân dân Sài Gòn đến chùa Xá Lợi (nơi đặt thi hài hòa thượng Thích Quảng Đức) phản đối chính quyền đàn áp các cuộc biểu tình (16.6.1963); khoảng 3.000 nhà sư mặc áo vàng đi bộ từ chùa An Quang đến dinh Độc Lập đòi Nguyễn Văn Thiệu hủy bỏ “Hiến chương Phật giáo” mới ban hành (28.9.1967); hàng triệu phật tử và nhân dân Sài Gòn và các vùng xung quanh, 20.000 phật tử ở Huế đến các chùa cầu nguyện hòa bình (9.5.1971); cuộc đấu tranh quyết liệt của hàng vạn nhà sư và đồng bào tỉnh Trà Vinh chống Nguyễn Văn Thiệu khủng bố, bất lính (26.2- 1.3.1975)... PTPTMNTKCCM có tác dụng tập hợp và mở rộng lực lượng nhân dân chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn, góp phần vào thắng lợi của cuộc KCCM.

        PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG BẢO VỆ ĐƯỜNG BIÊN MỐC GIỚI, hoạt động tự giác của đông đảo nhân dân khu vực biên giới phối hợp cùng bộ đội biên phòng quản lí, bảo vệ từng đoạn biên giới quốc gia, từng cột mốc biên giới; đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân. Khởi đầu từ sáng kiến của bộ đội biên phòng t. Cao Bằng dưới sự chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, xây dựng mô hình “phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc giới” (1995). Sau được BTL bộ đội biên phòng nhân ra trong toàn lực lượng, thực hiện trên toàn tuyến biên giới, trở thành phong trào sâu rộng. PTQCBVĐBMG có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyển quốc gia, an ninh, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới.

        PHÒNG BỆNH ĐẶC HIỆU, biện pháp dự phòng bằng cách đưa vacxin hoặc kháng huyết thanh hay globulin vào cơ thể người, tạo trạng thái miễn dịch đặc hiệu ngắn hạn hoặc lâu dài, nhằm ngăn ngừa một số bệnh truyền nhiễm hoặc giảm nhẹ mức độ trầm trọng. PBĐH được áp dụng trong QĐ theo kế hoạch tiêm chủng định kì hoặc khi có chỉ định phòng bệnh khẩn cấp.

        PHÒNG BỆNH KHẨN CẤP. biện pháp dự phòng đặc hiệu hoặc không đặc hiệu được áp dụng tức thì, nhằm ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lan rộng hoặc làm giảm nhẹ sự tiến triển của chúng ở những người nghi đã bị lây nhiễm do tiếp xúc với mầm bệnh hay với người bệnh. PBKC được tiến hành trong QĐ khi có nguy cơ bệnh dịch nguy hiểm và đặc biệt khi có dấu hiệu địch tập kích vũ khí vi trùng.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:18:48 PM

        PHÒNG CHỐNG TÀU CAO TỐC, tổng thể các hoạt động tác chiến được tiến hành để phòng tránh và đánh trả các cuộc tiến công bằng tên lửa, ngư lôi, pháo tự động của các tàu cao tốc đối phương, dạng bảo đảm tác chiến của hải quân: nhằm bảo đảm an toàn cho tàu thuyền ta khi đi biển, khi trú đậu tại căn cứ, ở khu vực hoạt động tác chiến và các mục tiêu bờ; đồng thời ngăn chặn không cho chúng tiến hành trinh sát, thả thủy lôi và đổ bộ biệt kích, người nhái phá hoại tàu thuyền và các mục tiêu khác của ta.

        PHÒNG CHỔNG TÀU NGẦM, tổng thể các hoạt động tác chiến được tiến hành nhằm ngăn chặn, không cho tàu ngầm đối phương tiến công tàu thuyền của ta, khi đi biển cũng như khi trú đậu tại căn cứ; một dạng bảo đảm tác chiến của hải quân. PCTN bao gồm: tổ chức trinh sát và cảnh giới chống ngầm, đặt chướng ngại chống ngầm, tìm kiếm, phát hiện và tiêu diệt kịp thời các tàu ngầm đối phương trên các hướng có nguy cơ, ngụy trang chống ngầm, gây nhiễu các phương tiện trinh sát và điều khiển vũ khí của tàu ngầm đối phương.

        PHÒNG CHỐNG THỦY LÔI, tổng thể các hoạt động tác chiến nhằm tránh cho tàu thuyền không bị tổn hại do thủy lôi đối phương gây ra; dạng bảo đảm tác chiến của hải quân. PCTL bao gồm: tổ chức hệ thống quan sát và trinh sát thủy lôi, thông báo về nguy cơ thủy lôi; chỉ dẫn hệ thống luồng và tuyến đi tránh thủy lôi cho tàu thuyền; rà phá thủy lôi, mở luồng và dần dắt tàu thuyền vượt qua khu vực có thủy lôi; thực hiện các biện pháp kiểm tra và làm giảm trường vật lí của tàu, phá hủy thủy lôi trôi và tiêu diệt các phương tiện rải thả thủy lôi (tàu thuyền, máy bay...) của địch.

        PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HẠT NHÂN, bộ phận của phòng chống vũ khí hủy diệt lớn nhằm loại trừ hoặc làm giảm đến mức thấp nhất tác hại của vũ khí hạt nhân, duy trì sức chiến đấu của bộ đội và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Bao gồm: trinh sát, quan sát, dự đoán, thông báo, báo động, phân tán lực lượng, diệt phá các lực lượng tập kích vũ khí hạt nhân của đối phương, bảo đảm khí tài phòng hóa, đánh giá thiệt hại, khắc phục hậu quả khi đối phương sử dụng vũ khí hạt nhân.

        PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HÓA HỌC, bộ phận của phòng chống vũ khí hủy diệt lớn nhằm loại trừ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của vũ khí hóa học duy trì sức chiến đấu của bộ đội và an toàn cho nhân dân. Gồm: trinh sát, quan sát, dự đoán khả năng sử dụng vũ khí hóa học; tiến hành tiêu diệt các phương tiện tập kích vũ khí hóa học của địch; thông báo, báo động, bảo đảm phương tiện và khí tài phòng hóa; đánh giá thiệt hại, từng bước khắc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu cho bộ đội và hoạt động của nhân dân. PCVKHH được thể hiện trong kế hoạch tác chiến, kế hoạch phòng thủ dân sự và kế hoạch sử dụng lực lượng.

        PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, loại bảo đảm  tác chiến gồm tổng thể các hoạt động nhằm loại trừ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của vũ khí hủy diệt lớn, duy trì sức chiến đấu của bộ đội và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Gồm phòng chống vũ khí hạt nhân, phòng chống vũ khí sinh học, phòng chống vũ khí hóa học. Các biện pháp chủ yếu: dự đoán khả năng đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn; tổ chức trinh sát, phát hiện, thông báo, báo động về đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn; phá hủy vũ khí hủy diệt lớn và các phương tiện sử dụng chúng; bố trí phân tán lực lượng, thường xuyên thay đổi vị trí, ngụy trang, nghi binh, giữ bí mật, làm công sự phòng tránh: trang bị cho bộ đội phương tiện PCVKHDL, bảo đảm an toàn cho bộ đội khi hoạt động trong vùng nhiễm; khắc phục hậu quả khi địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn.

        PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ SINH HỌC, bộ phận của phòng chống vũ khí hủy diệt lớn nhằm loại trừ hoặc giảm đến mức thấp nhất tác hại của vũ khí sinh học, duy trì sức chiến đấu của bộ đội và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Bao gồm: trinh sát, quan sát, dự đoán, thông báo, báo động, bảo đảm khí tài phòng hóa, diệt phá lực lượng tập kích vũ khí sinh học, khoanh vùng cách li khu nhiễm, diệt trùng, vệ sinh phòng dịch, cứu chữa kịp thời cho người bị nhiễm bệnh.

        PHÒNG HÓA KIÊM NHIỆM, lực lượng của từng đơn vị bộ đội (ngoài bộ đội hóa học) được huấn luyện và giao nhiệm vụ phòng hóa nhằm bảo đảm an toàn cho đơn vị mình khi địch sử dụng Vũ khí hủy diệt lớn. PHKN được tổ chức ở cấp đại đội, tiểu đoàn bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương từ một tổ đến một tiểu đội. Lực lượng PHKN cùng với lực lượng hóa học chuyên môn làm nòng cốt trong việc phòng chống vũ khí hủy diệt lớn. Trong KCCM, lực lượng PHKN đã phát huy vai trở trong xử trí, khắc phục các tình huống hóa học xảy ra trong các trận chiến đấu, chiến dịch như ở Quảng Trị, Quân khu 5...


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:20:43 PM

        PHÒNG HÓA NHÂN DÂN, hoạt động do toàn dân tiến hành, bộ đội hóa học và các tổ, đội PHND làm nòng cốt, nhằm bảo đảm an toàn cho nhân dân khi địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn; bộ phận quan trọng trong hệ thống phòng thủ dân sự, thể hiện quan điểm chiến tranh nhân dân trong điều kiện chiến tranh hiện đại. PHND gồm các biện pháp phòng chống cho người, trang bị kĩ thuật, cơ sở kinh tế, gia súc, lương thực, thực phẩm, hoa màu,... làm giảm thiệt hại do địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn hoặc sự cố phóng xạ, sự cố hóa chất độc gây ra.

        PHÒNG HỒ CHÍ MINH, hình thức tổ chức hoạt động, sinh hoạt văn hóa tinh thần của quân nhân ở đơn vị cấp tiểu đoàn (và tương đương) trong QĐND VN, giúp người chỉ huy tiến hành các hoạt động bổ trợ cho công tác tư tưởng - văn hóa. Nội dung hoạt động: giáo dục truyền thống, học tập chính trị, tuyên truyền thời sự, chính sách, bồi dưỡng kiến thức, sinh hoạt văn nghệ, vui chơi, giải trí có văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng môi trường văn hóa mới. con người mới trong QĐ. Hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và người chỉ huy, lấy Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và tổ công tác PHCM (do ban chỉ huy tiểu đoàn cử ra) quản lí, điều hành. Được thực hiện trong toàn quân từ 1984 và từ 2.2.1993 hoạt động thống nhất theo quy chế PHCM số 26/QC-CT của TCCT.

        PHÒNG KHÔNG, 1) tổng thể các hoạt động nhằm quản lí, bảo vệ an toàn vùng trời tổ quốc, phát hiện và kịp thời đánh trả tiến công đường không của địch; phòng tránh và bảo vệ các mục tiêu quan trọng; bảo đảm hoạt động tác chiến của các LLVT và bảo vệ an toàn cho nhân dân. Trên thế giới hoạt động PK xuất hiện vào cuối CTTG-I. Trong CTTG-II và sau chiến tranh, PK trở thành bộ phận quan trọng của phòng thủ chung đất nước và của hành động tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành của nhiều nước. Ở VN trong KCCP, PK được coi trọng từ những ngày đầu kháng chiến; nhưng từ 1951 mới dần tổ chức thành lực lượng PK chiến đấu của bộ đội binh chủng hợp thành và góp phần xứng đáng vào chiến thắng Điện Biên Phủ (1954). Trong KCCM, PK VN đã đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân của địch bảo vệ miền Bắc; bảo vệ giao thông chiến lược; bảo vệ bộ đội, góp phần giải phóng miền Nam. thống nhất tổ quốc. Trong tương lai. PK phải đối phó với các cuộc tiến công (tập kích) đường không từ vũ trụ và từ trên không bằng các phương tiện vũ khí hiện đại luôn được cải tiến và hoàn thiện với các thủ đoạn mới, quy mô rộng, tính bất ngờ cao; 2) nh lực lượng phòng không.

        PHÒNG KHÔNG BẢO VỆ KHU VỰC, phòng không được tiến hành bằng cách tổ chức lực lượng thành cụm phòng không để bảo vệ khu vực mục tiêu, kết hợp chặt chẽ giữa phòng không địa phương và phòng không nhân dân. PKBVKV được vận dụng trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở Bắc VN (1965-72).

        PHÒNG KHÔNG BẢO VỆ KHU VỰC VÀ MỤC TIÊU ĐIỂM, phòng không được tiến hành bằng cách dùng một phần lực lượng phòng không để bảo vệ khu vực mục tiêu, một phần lực lượng để bảo vệ từng mục tiêu quan trọng. PKB- VKVVMTĐ được vận dụng để bảo vệ các yếu địa lớn như Hà Nội, Hải Phòng chống chiến tranh phá hoại bằng không quân Mĩ ở Bắc VN (1965-72).

        PHÒNG KHÔNG BẢO VỆ MỤC TIÊU ĐIỂM, phòng không được tiến hành bằng cách tổ chức lực lượng để bảo vệ từng mục tiêu quan trọng. PKBVMTĐ được vận dụng phổ biến để bảo vệ các yếu địa chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở Bắc VN (1965-72).

        PHÒNG KHÔNG ĐỊA PHƯƠNG, lực lượng phòng không để bảo vệ các mục tiêu kinh tế, chính trị, QS, đầu mối giao thông quan trọng và tính mạng, tài sản của nhân dân ở địa phương. Do LLVT địa phương mà nòng cốt là bộ đội phòng không của tỉnh, thành, quận, huyện,... đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền, sự chỉ huy, chỉ đạo cua cơ quan QS địa phương, phối hợp với các lực lượng phòng không khác tiến hành.

        PHÒNG KHÔNG HẢI QUÂN, lực lượng phòng không để đánh trả và phòng tránh các cuộc tiến công đường không của đối phương, bảo vệ lực lượng hải quân hoạt động trên biển và ở các điểm trú đậu, các tuyến giao thông trên biển và các mục tiêu quan trọng khác của hải quân. Trong tác chiến trên biển, PKHQ chủ yếu sử dụng lực lượng phòng không trên tàu. ở căn cứ và ở gần bờ, hiệp đồng với các lực lượng phòng không của các quân chủng khác và LLVT địa phương.

        PHÒNG KHÔNG LỤC QUÂN, lực lượng phòng không để bảo đảm an toàn cho hoạt động tác chiến của bộ đội trên mặt đất do lực lượng phòng không trong biên chế của bộ đội lục quân tiến hành độc lập hoặc có phối hợp với các lực lượng phòng không khác.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:21:57 PM

        PHÒNG KHÔNG NHÂN DÂN. phòng không để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm bớt thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân, góp phần bảo tồn tiềm lực chiến tranh. Nhiệm vụ chủ yếu của PKND là giáo dục nhân dân nâng cao cảnh giác, chuẩn bị dề phòng tiến công đường không của địch, nâng cao kiến thức phòng không; xây dựng các loại công sự phòng tránh; ngụy trang, nghi binh, xây dựng hệ thống quan sát thông tin báo động, thực hành báo động phòng không; lập kế hoạch và tổ chức phòng tránh, sơ tán người, khấc phục hậu quả; giúp các ngành có liên quan bảo vệ các mục tiêu quan trọng. PKND cũng có nhiệm vụ động viên, tổ chức lực lượng dân quân, tự vệ và quần chúng nhân dân tích cực đánh trả tiến công (tập kích) đường không của địch ở địa phương. Tiến hành tổ chức và thực hiện PKND với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp theo chức năng của mình, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của nhà nước từ trung ương đến địa phương.

        PHÒNG KHÔNG QUỐC GIA, lực lượng phòng không có nhiệm vụ bảo vệ an toàn lãnh thổ và những mục tiêu quan trọng của quốc gia. Trong PKQG, lực lượng bảo vệ những khu vực có tầm quan trọng chiến lược như trung tâm hành chính - chính trị, khu công nghiệp, vùng dân cư, khu căn cứ,... gọi là phòng không yếu địa. PKQG thường hoạt động có hiệp đồng với không quân tiêm kích và các lực lượng phòng không khác. Tuỳ theo từng nước, lực lượng PKQG có thể thuộc thành phần các quân chủng lục quân (Mĩ, Anh, Inđônêxia, Cuba...), phòng không - không quân (VN. Ănggôla...), không quân (Nga, TQ...), hoặc tổ chức thành quân chủng riêng (LX trước đây, VN 1977-99...).

        PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ (1954), hoạt động tác chiến của bộ đội phòng không (nòng cốt là Trung đoàn pháo phòng không 367) hiệp đồng với bộ binh tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Bằng cách đánh áp sát, cơ động, lần đầu hình thành mặt trận đất đối không đánh trả các hoạt động đánh phá, tiếp tế đường không của không quân Pháp trên địa bàn chiến dịch, bắn rơi 62 máy bay (Trung đoàn pháo phòng không 367 bắn rơi 52 chiếc), gồm 9 kiểu loại. Có nhiều trận đánh xuất sắc như: 14.3 bắn rơi tại chỗ 1 máy bay trinh sát Moran (chiếc đầu tiên rơi ở Điện Biên Phủ); 12.4 bắn rơi tại chỗ 1 máy bay ném bom hạng nặng B-24 Libêratơ (chiếc thứ 50 bị bắn rơi ở Điện Biên Phủ), 7.5 bắn rơi tại chỗ 2 máy bay F-4U... Hoạt động PKTCDĐBP đã bảo vệ hiệu quả đội hình chiến đấu của bộ binh, pháo binh, góp phần quan trọng cho thắng lợi của chiến dịch, để lại nhiều bài học kinh nghiệm về tổ chức, sử dụng lực lượng, cách đánh phòng không chiến dịch và tác chiến hiệp đồng binh chủng, được vận dụng trong KCCM.

        PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH (26-30.4.1975), hoạt động tác chiến của lực lượng phòng không trong đội hình chiến dịch cụm quân đoàn binh chủng  hợp thành, tiến công chiến lược vào đầu não chính quyền và QĐ Sài Gòn tại khu vực Sài Gòn - Gia Định và các vùng phụ cận trong giai đoạn cuối cuộc KCCM. Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch gồm: 15 trung đoàn và 10 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn tên lửa phòng không tầm trung, 1 tiểu đoàn tên lửa phòng không tầm thấp A-72 (thuộc tác sư đoàn phòng không 367,377,673, Lữ đoàn phòng không 71 của Quân chủng phòng không - không quân) và lực lượng phòng không trong biên chế của các quân đoàn 1,2,3, 4 và Đoàn 232. Vận dụng cách đánh linh hoạt, cơ động, thần tốc. bám sát đội hình chiến dịch, các lực lượng phòng không đã triển khai có hiệu quà hoạt động tác chiến đất đối không, không chế sân bay, bến càng, đánh tàu trên sông, tiêu diệt hỏa điểm mặt đất,... bắn rơi 43 máy bay (có 14 chiếc rơi tại chỗ), góp phần bào vệ an toàn hậu phương chiến dịch và đội hình tác chiến binh chủng hợp thành quy mô lớn trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam.

        PHÒNG KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH TRỊ THIÊN (30.3-27.6.1972), hoạt động tác chiến của lực lượng phòng không trong đội hình binh chủng hợp thành, đánh trả các đợt phản kích, đánh phá và đổ bộ đường không của không quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trên chiến trường Trị - Thiên. Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch có 4 sư đoàn phòng không (365, 367, 377 và 363B). bao gồm 13 trung đoàn pháo phòng không, 4 trung đoàn tên lửa phòng không, 2 đại đội tên lửa phòng không tầm thấp A-72 thuộc Quân chủng phòng không -  không quân; 4 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm. 5 tiểu đoàn và 15 đại đội súng máy phòng không 12,7mm thuộc lực lượng phòng không đi cùng bộ binh, pháo binh. Kết quả bắn rơi 752 máy bay (có B-52 Xtratơphotri), trực tiếp tiêu diệt hàng trăm địch, góp phần bảo vệ đội hình binh chủng hợp thành và hậu phương chiến dịch. Kinh nghiệm tổ chức. PKTCDTT được vận dụng có hiệu quả trong chiến dịch Hồ Chí  Minh (26.4-30.4 1975).

        PHÒNG KHÔNG YẾU ĐỊA X. PHÒNG KHÔNG QUỐC GIA


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:23:00 PM

        PHÒNG NGỰ, loại tác chiến cơ bản dùng để ngăn chặn, làm chậm bước tiến, sát thương lớn, đánh bại tiến công của địch ưu thế về lực lượng, giữ vững các khu vực phòng ngự. tạo điều kiện chuyển sang phản công, tiến công hoặc các hoạt động tác chiến khác. PN có thể tiến hành ở quy mô: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. Có PN trận địa, PN cơ động... Yêu cầu cơ bản của PN là: tích cực, vững chắc, kiên cường. Để PN phải: tổ chức và bố trí lực lượng; tổ chức các khu vực PN: hệ thống hỏa lực; hệ thống phòng không; hệ thống chống tăng: hệ thống chống đổ bộ; hệ thống vật cản. Bộ đội có thể chuyển vào PN trong điều kiện có chuẩn bị, hoặc trong điều kiện PN gấp (không chuẩn bị hoặc chuẩn bị chưa đầy đủ), không trực tiếp tiếp xúc hoặc trực tiếp tiếp xúc với địch. Cách đánh PN thường là dựa vào hệ thống trận địa, vật cản, đánh dịch từ xa đến gần, sát thương địch khi chúng vận động tiếp cận, triển khai chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công, khi công kích tiền duyên PN; giữ các trận địa, các khu vực PN; kiên quyết phán kích (phán đột kích) tiêu diệt địch đột nhập khu vực PN; tiêu diệt quân địch đổ bộ đường không, vu hồi, luồn sâu... đánh bại các thủ đoạn tiến công của chúng. Khi có điều kiện thuận lợi có thể tiến hành phản chuẩn bị để phá tiến công của địch. PN ra đời đồng thời với tiến công. Thời cổ đại và trung đại PN dựa vào các thành trì, pháo đài, lâu đài: khi QĐ được trang bị hỏa khí thì bắt đầu sử dụng các thiết bị PN dã chiến. Ở tk 19, cùng với sự ra đời của hỏa khí nòng rãnh xoắn cũng xuất hiện PN trận địa (PN Xêvaxtôpôn ở Nga 1854-55). PN được phát triển trong CTTG-I, CTTG-II, nhất là từ khi có vũ khí hạt nhân và các phương tiện sát thương thông thường được cải tiến. Ở VN, PN xuất hiện từ tk 2tcn với hình thức “thành lũy” như thành cổ Loa,... hình thức “tuyến” như phòng tuyến sông Như Nguyệt tk 11... Trong KCCP, KCCM, PN thường ở quy mô nhỏ nhằm kiềm giữ địch trong các thành phố, thị xã, căn cứ, ngăn chặn địch hành quân càn quét hoặc để kiềm chế tiến công của địch, tạo điều kiện cho các lực lượng khác của ta tiến công; cuối KCCM, PN quy mô lớn xuất hiện như ở Quảng Trị (1972) hoặc chiến dịch PN Cánh Đồng Chum (1972). Nghệ thuật QS VN coi trọng PN với tư tướng tiến công, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, dùng phòng ngự kiên cường vững chắc của một bộ phận lực lượng, trực tiếp giữ mục tiêu (khu vực), kết hợp với tiến công rộng rãi của các lực lượng khác để thực hiện nhiệm vụ PN.

        PHÒNG NGỰ BỜ BIỂN, phòng ngự nhằm đánh lui quân địch đổ bộ đường biển (có thể kết hợp với đổ bộ đường không), giữ vững khu vực phòng ngự bờ biển, hải đảo. PNBB do các đơn vị của bộ đội binh chủng hợp thành (chủ lực hoặc địa phương) tiến hành, thường có sự phối hợp của hải quân, bộ đội phòng không và không quân.

        PHÒNG NGỰ CHIẾN LƯỢC, phòng ngự do các tập đoàn lực lượng chiến lược tiến hành nhằm đánh bại cuộc tiến công của tập đoàn lực lượng chiến lược đối phương và gây cho chúng những tổn thất lớn, giữ vững những vùng chiến lược của quốc gia (liên minh các quốc gia), tạo điều kiện để giành chủ động chiến lược, chuyển sang tiến công (phản công) chiến lược hoặc tranh thú thời gian để hoàn thành triển khai chiến lược LLVT, khôi phục khả năng chiến đấu của tập đoàn chiến lược bị nhiều tổn thất. Loại tác chiến chiến lược PNCL có thể được tiến hành ngay từ đầu hoặc trong quá trình chiến tranh trên hầu hết chiến trường chiến tranh hoặc trên một chiến trường tác chiến chiến lược (hướng chiến lược). Có thể chuyên sang PNCL trong điều kiện bắt buộc, không đủ khả năng để tiến hành tiến công, cũng có thể theo ý định trước một cách chủ động.

        PHÒNG NGỰ CÓ CHUẨN BỊ. phòng ngự mà mọi biện pháp chuẩn bị tác chiến về cơ bản được hoàn thành trước khi quân địch tiến công. Đặc trưng chủ yếu của PNCCB: bộ đội đã chiếm lĩnh khu vực (trận địa) phòng ngự; kế hoạch tác chiến hoàn chỉnh; hệ thống trận địa được xây dựng vững chắc; hệ thống vật cản được hoàn chỉnh; hệ thống hỏa lực được tổ chức; các mặt bảo đảm triển khai chu đáo; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ; hệ thống chỉ huy vững chắc...


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:24:34 PM

        PHÒNG NGỰ CƠ ĐỘNG, 1) phòng ngự tiến hành bằng cách cơ động lực lượng trực tiếp phòng ngự trên các hướng, khu vực, tuyến,... kết hợp phòng ngự vững chắc ở một số điểm, trận địa với tích cực tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch, giữ gìn lực lượng ta, tạm thời chịu mất một bộ phận vùng đất phải bảo vệ, chặn địch từng bước, làm thất bại cuộc tiến công của chúng. PNCĐ có quy mô: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. Để PNCĐ có kết quả, phải lựa chọn, xác định đúng và chuẩn bị các khu vực, tuyến, trận địa phòng ngự ở những nơi cần thiết trong toàn bộ khu vực phòng ngự theo một ý định thống nhất, chuẩn bị lực lượng tiến công theo các phương án tác chiến định sẵn; 2) (ngoại) phòng ngự theo phương pháp “phòng ngự mà tiến công” của QĐ Mĩ, Anh và một số nước áp dụng từ giữa những năm 50 của tk 20. Tiến hành bằng cách dùng một bộ phận lực lượng (khoảng 1/3) ở thể đội 1 tiến hành tác chiến dụ lực lượng tiến công chủ yếu của quân địch tiến vào khu vực đã chuẩn bị sẵn như một cái “túi” trong chiều sâu phòng ngự, buộc chúng ở vào thế bất lợi để dùng đột kích hạt nhân, hỏa lực không quân, pháo binh sát thương mạnh mẽ, dùng lực lượng của bên phòng ngự, chủ yếu là bộ đội tăng thiết giáp, tiến công (phản kích, phản đột kích) tiêu diệt quân địch lọt vào “túi”. Để tiến hành PNCĐ loại này phái có hỏa lực và lực lượng cơ động mạnh, địa hình thuận lợi cho việc thực hiện ý định, có ưu thế trên không... Thường do cấp binh đoàn trở lên tiến hành trong điều kiện được phép tạm thời để mất một phần vùng đất phải giữ.

        PHÒNG NGỰ ĐIỆN TỬ nh BẢO VỆ ĐIỆN TỬ

        PHÒNG NGỰ GẤP, phòng ngự được tiến hành trong điều kiện không có thời gian hoặc có thời gian rất ngắn để chuẩn bị. Thường tiến hành trong quá trình tác chiến, trong trường hợp khẩn cấp. Đặc điểm của PNG: lúc đầu hệ thống công sự, trận địa chưa vững chắc, hệ thống hỏa lực chưa hoàn chình, chỉ huy và hiệp đồng chưa chặt chẽ, hệ thống vật cản yếu, vừa đánh vừa tiến hành chuẩn bị.

        PHÒNG NGỰ HẢI ĐẢO, phòng ngự được tiến hành do các lực lượng phòng thủ đảo (bộ đội binh chủng hợp thành, hải quân đánh bộ, dân quân tự vệ...) hiệp đồng với lực lượng hải quân, không quân, nhằm giữ vững đảo, bảo vệ vùng biển quốc gia, tạo thuận lợi cho các hoạt động khác. Tùy theo tính chất, đặc điểm của đào, có thể tiến hành phòng ngự ở quy mô chiến thuật hoặc chiến dịch, phòng ngự hình tròn hoặc theo hướng.

        PHÒNG NGỰ HÌNH TRÒN, phòng ngự được chuẩn bị để đánh địch từ mọi hướng, giữ vững trận địa. Để tiến hành PNHT phải cấu trúc trận địa phòng ngự trên các hướng mà địch có thể tiến công, bố trí lực lượng có trọng điểm, có kế hoạch cơ động lực lượng đi các hướng trong quá trình phòng ngự.

        PHÒNG NGỰ KHU VỰC, phòng ngự do các binh đội, binh đoàn binh chủng hợp thành hiệp đồng với lực lượng khác tiến hành, dựa vào các khu vực phòng thủ địa phương đã chuẩn bị trước, giữ vững khu vực lựa chọn phòng ngự. Khi PNKV phải xây dựng hệ thống công sự trận địa, hỏa lực và vật cản liên hoàn, vững chắc; kết hợp giữa lực lượng giữ trận địa với lực lượng cơ động, tạo thành thế trận đánh địch tiến công từ nhiều hướng bằng đường bộ, đổ bộ đường không, đổ bộ đường biển (PNKV ở vùng ven biển).

        PHÒNG NGỰ THÀNH PHỐ, phòng ngự do bộ đội binh chủng hợp thành hiệp đồng với các lực lượng khác tiến hành bằng cách dựa vào khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) đã Jược chuẩn bị trước. Khi PNTP phải kết hợp chiến đấu phòng ngự với tiến công để giữ vững các khu vực địa hình có giá trị ở ven đô và trong thành phố, đánh bại từng hướng, từng thủ đoạn tiến công của địch. PNTP thường được lực lượng phòng không, không quân chi viện, thành phố ven biển, sông lớn có thể có lực lượng hải quân chi viện. Tùy tình hình cụ thể, có thể tiến hành ở quy mô chiến thuật hoặc chiến dịch.

        PHÒNG NGỰ TÍCH CỰC, phòng ngự kết hợp giữ vững trận địa với hành động tác chiến tiến công tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang phản công hoặc tiến công, thể hiện tính tích cực của phòng ngự. Được thực hiện ở các quy mô: chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Ở quy mô chiến lược, khi PNTC phải: không ngừng tiêu hao, tiêu diệt địch, làm thay đổi so sánh lực lượng ta - địch, tạo thế, tạo thời cơ chuyển sang phán công và tiến công. Trong chiến dịch và chiến đấu: dùng lực lượng hoạt động ở khu vực tác chiến (trận địa chiến đấu) vòng ngoài ngăn chặn, tiêu hao, buộc địch phân tán lực lượng đối phó, sớm bộc lộ ý định và hành động tiến công; dùng lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ tiêu diệt lực lượng địch uy hiếp phòng ngự hoặc lực lượng địch sơ hở; thực hành đánh địch đột nhập phòng ngự và khôi phục trận địa.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:25:49 PM

        PHÒNG NGỰ TRẬN ĐỊA, phòng ngự dựa vào hệ thống trận địa có công sự vững chắc nhằm giữ vững khu vực (mục tiêu) trong một thời gian dài. Ỏ nhiều nước châu Âu, PNTĐ được cấu trúc và thiết bị hệ thống công trình, các trận địa, các dải (khu vực) phòng ngự thành tuyến với chiều sâu gồm nhiều dải. Xuất hiện trong chiến tranh Crưm (Nga) 1853-56, phát triển mạnh và hoàn thiện trong CTTG-I và CTTG-II. Tổ chức PNTĐ theo điều lệnh dã chiến của QĐ LX 1943 gồm: dải bảo đảm với chiều sâu 10-15km, dải phòng ngự chủ yếu sâu 5-6km, dải phòng ngự hai cách tiền duyên 10-12km, dài phòng ngự ba cách tiền duyên dải hai 10-15km. Từ sau CTTG-II vũ khí, trang bị phát triển mạnh, sức cơ động của QĐ tiến bộ vượt bậc, chiến tranh mang tính cơ động rất cao. PNTĐ được cải tiến theo phương hướng xây dựng trận địa thành tuyến đứt đoạn, chỉ bố trí trên các hướng (khu vực) địch có nhiều khả năng tiến công, lấy điểm tựa trung đội, đại đội làm cơ sở của trận địa phòng ngự. Ở VN, PNTĐ tổ chức theo kiểu điểm tựa, cụm điểm tựa, liên kết với nhau thành khu vực (dải, tuyến) phòng ngự.

        PHÒNG (NHÀ) TRUYỀN THỐNG, hình thức tổ chức bảo tàng ở cấp trung đoàn, sư đoàn và tương đương. Có nhiệm vụ trưng bày, lưu giữ những tư liệu, hiện vật có giá trị tiêu biểu cho lịch sử, truyền thống và những thành tích, chiến công trên mọi lĩnh vực trong quá trình xây dựng và chiến đấu của đơn vị nhằm tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống tốt đẹp của đơn vị và QĐ cho mọi quân nhân. Do cư quan chính trị cùng cấp quản lí, chỉ đạo và sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan bảo tàng cấp trên.

        PHÒNG THỦ, tổng thể các hoạt động về tổ chức, chuẩn bị và thực hành mọi mặt cả QS, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... để bảo vệ từng khu vực hoặc toàn bộ lãnh thổ của đất nước. Ở VN, PT thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân theo đường lối QS của ĐCS VN. Trong PT, sử dụng tổng hợp mọi lực lượng, vận dụng linh hoạt tất cả các hình thức và phương pháp đấu tranh, các loại tác chiến, các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn tác chiến,... với tư tưởng tích cực tiến công, làm chủ để tiến công, tiến công để làm chủ, đánh bại kẻ thù.

        PHÒNG THỦ CĂN CỨ HẢI QUÂN, phòng thủ nhằm bảo vệ cản cứ hải quân, các mục tiêu và lực lượng trú đậu trong căn cứ. Bao gồm: phòng chống tàu ngấm, phòng chống thủy lôi, phòng chống tàu cao tốc, phòng chống biệt kích người nhái, chống đổ bộ đường biển, phòng không, phòng chống địch tiến công từ đất liền, phòng chống vũ khí hủy diệt lớn. PTCCHQ tiến hành trong sự hiệp đồng giữa các lực lượng hải quân, phòng không, không quân, quân khu ven biển, LLVT và nhân dân địa phương, tạo thành hệ thống phòng thủ hoàn chỉnh, có khả năng ngăn chặn và đánh trả các đòn tiến công của dịch từ trên biển, trên không và trong đất liền.

        PHÒNG THỦ DÂN SỰ, biện pháp phòng thủ quốc gia được tiến hành trong thời bình và thời chiến để bảo vệ dân chúng và nền kinh tế quốc dân, hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại về người và của do các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại của địch gây ra, cũng như để thực hiện công tác cấp cứu và sửa chữa, phục hồi khẩn cấp, hoặc chống thiên tai (cháy rùng, bão lụt...). Căn cứ vào khả năng thực tế của đất nước và dự đoán về quy mô, cường độ đánh phá của đối phương khi xảy ra chiến tranh, nhà nước đề ra nhiệm vụ, nội dung, biện pháp và cách thức thực hiện PTDS cho phù hợp và có hiệu quả (nhiều nước có đạo luật PTDS, tổ chức bộ máy và lực lượng PTDS từ trung ương đến cơ sở). Ngày nay, với vũ khí và phương tiện chiến tranh có sức hủy diệt lớn, diễn ra chớp nhoáng trên một không gian rộng thì nhiệm vụ PTDS càng phức tạp: phải bảo đảm cho nhân dân phòng tránh tốt (huấn luyện dân chúng về PTDS, xây dựng các công trình phòng tránh, trang bị các phương tiện phòng tránh, có kế hoạch sơ tán nhân dân...); bảo vệ và bảo đảm sức sống của nền kinh tế quốc dân trong thời chiến (áp dụng các biện pháp bảo vệ, dự trữ thiết bị và nguyên vật liệu, sửa chữa phục hồi...); khắc phục kịp thời các hậu quả do địch gây ra. Ở VN, trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mĩ ở miền Bắc (1964-72), đã thực hiện có hiệu quả các biện pháp sơ tán. phòng tránh, cấp cứu, phục hồi,... giảm được sự thiệt hại về người và của, bảo đảm vừa chiến đấu, vừa sản xuất.

        PHÒNG THỦ KHU VỰC, phòng thủ thực hiện bằng hệ thống các khu vực phòng thủ, liên kết với nhau thành thế trận của từng địa bàn tác chiến, từng khu vực chiến trường, hoặc cả nước. Hệ thống đó thường gồm các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (quận), làng xã chiến đấu và các khu vực phòng ngự của LLVT ở các điểm địa hình quan trọng.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:27:55 PM

        PHÒNG TRÁNH TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG, toàn bỏ các hoạt động và biện pháp nhằm giảm hiệu quả tập kích đường không và kịp thời khắc phục hậu quả tập kích đường không của địch. Như thông báo, báo động phòng không; xây dựng công sự để ẩn nấp cho người, bảo vệ tài sản; sơ tán người và vật tư, kho tàng; tổ chức cứu thương, cứu sập hầm, chữa cháy; tổ chức ngụy trang, nghi binh...

        PHÒNG TUYẾN, dải địa hình có xây dựng các công trình chiến đấu và và bố trí lực lượng thành hệ thống phòng ngự.

        PHÒNG TUYẾN ĐỜ LÁT, phòng tuyến của QĐ Pháp ở chiến trường Bắc Bộ (VN) do Tatxinhi vạch ra và được xây dựng 1951, một trong những biện pháp chiến lược phong tỏa nguồn tiếp tế từ châu thổ Sông Hồng lên phía bắc. nhằm ngăn chặn hoạt động tiến công của (quân và dân VN từ rừng núi xuống trung du, đồng bằng, giành lại quyền chủ động chiến lược, thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho Pháp. Phòng tuyến gồm khoảng 800 lô cốt bê tông nừa chìm nửa nổi, bố trí ở 80 vị trí lớn án ngữ những địa bàn quan trọng từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Phúc Yên, Vĩnh Phúc, sang Sơn Tây, Hà Đông xuống Ninh Bình. Phát Diệm; với lực lượng chốt giữ gồm 25 tiểu đoàn lính Âu-Phi tinh nhuệ, 500 khẩu pháo, 1.200 súng cối và 10.000 súng máy các loại (chiếm 16% binh lực của Pháp ở Đông Dương). PTĐL là cố gắng QS lớn của Pháp nhưng càng chứng tỏ thế bị động phòng ngự về chiến lược, không khắc phục được mâu thuẫn giữa tàp trung và phân tán lực lượng; bị chiến tranh nhân dân VN đánh bại.

        PHÒNG TUYẾN MAC NAMARA nh HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MAC NAMARA

        PHÒNG TUYẾN MAGINÔ (P. Ligne Maginot), phòng tuyến của Pháp dọc biên giới với Đức. Luyxembua và Bì, được xây dựng trong những năm 1927-36 theo đề xuất của bộ trưởng chiến tranh Pháp Ăngđrê Maginô. Tổng chiều dài 465km. chiều sâu 6-8km, gồm 40 pháo đài lớn cho bộ binh và pháo binh (mỗi cái có 400-1.200 quân) cách nhau 7-8km. 70 pháo đài nhỏ cho bộ binh (mỗi cái 60-200 quân) cách nhau 2-3km, gần 400 lô cốt (mỗi cái 20-50 quân) cách nhau 800-2.000rn; các khoảng trống được bảo vệ bằng vật cản chống tăng, chống bộ binh và hồ nước nhân tạo; ngoài ra còn 150km đường hầm; chi phí xây dựng 8-9 tỉ phrăng. PTM thể hiện chiến lược phòng ngự thụ động, không thực hiện được vai trò ngăn phòng và bị phá vỡ khi QĐ phát xít Đức vượt biên giới Bỉ, thọc sâu và vu hồi vào phía sau phòng tuyến trong chiến cục Pháp (10.5-24.6.1940) với khoảng 22.000 quân Pháp bị Đức bắt làm tù binh. Sau chiến tranh, phần lớn các công trình của PTM được chuyển thành kho tàng QS hoặc sử dụng vào các mục đích khác. Cg chiến lũy Maginô.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67312914_459301631466389_989614697550446592_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEAahS2-MeCw9hh_ruVGiHGcdwY9I4rGerKWAduppELhJAVupeo9E6PFvLczL70kOAJv_8rLmageZmYgb8TGkq89BGszWZjbeRDKEqJUzmK4g&_nc_oc=AQnxIMGaf4mXJozFrx-UFdpM_lY0LArAs4b6_u8HwIbQGSOmolyByn-8j2xcl9meIGk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2210e1ba5f9dadcf5164382726e1e0a7&oe=5DAFA58F)


        PHÒNG TUYẾN MANNECHEM. phòng tuyến ở eo đất Caren (Phần Lan) dọc biên giới LX - Phần Lan, cách Lêningrat (LX) 32km, dài 135km, sâu 90km, gồm trên 2.000 công sự bắn dã chiến và lâu bền. Công trình được thống chế Phần Lan Mannechem xây dựng trong 12 năm (1927-39) với sự tham gia của các chuyên gia QS Đức, Anh, Pháp, Bỉ. QĐ LX đã hai lần chọc thủng PTM trong chiến tranh Xô - Phần (1939- 40 vá 1941 -44). Sau CTTG-II hệ thống côns trình này đã bị phá hủy.

        PHÒNG VỆ DÂN SỰ X. NHÂN DÂN TỰ VỆ

        PHÒNG VỆ HẬU CẦN, tổng thể các biện pháp phòng tránh và chống lại các hoạt động phá hoại của địch đối với lực lượng hậu cần, bảo đảm an toàn cho người và phương tiện vật chất. Bao gồm: làm công sự, ngụy trang, nghi binh, giữ bí mật. cảnh giới, tuần tra, canh gác, chiến đấu bảo vệ hậu cần... PVHC phải kết hợp với bảo vệ khu vực hậu phương, là trách nhiệm chủ yếu của lực lượng hậu cần, khi cần thiết có sự hỗ trợ của các lực lượng khác.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:29:21 PM

        PHỎNG SINH HỌC, bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc các bộ phận và hoạt động sống của sinh vật để tạo ra những cơ cấu, máy móc, những hệ thống kĩ thuật có đặc trưng gần với đặc trưng của cơ thể sống. Các hướng quan trọng nhất của PSH: nghiên cứu các hệ thụ cảm của cơ thể sống để lập nên những bộ cảm biến có kích thước nhỏ, độ nhạy cao, độ tin cậy lớn đối với những đại lượng vật lí khác nhau; nghiên cứu bộ não và hệ thần kinh để chế tạo những thiết bị lôgic, thiết bị nhận dạng và tính toán có khả năng huấn luyện, tự tổ chức và có những đặc tính ưu việt của hệ thần kinh; thiết lập những máy móc, thiết bị, hệ thống kĩ thuật có kích thước nhỏ. độ tin cậy cao, trên cơ sở mô phỏng theo sự định hướng, định vị của động vật; nghiên cứu các đặc điểm cơ học sinh vật, năng lượng học sinh vật và những đặc tính của cơ thể sống để sử dụng những nguồn năng lượng sinh vật cũng như hoàn thiện đặc trưng khí động, thủy động của các hệ kĩ thuật.

        PHÓNG LOẠT X BẮN (PHÓNG) LOẠT

        PHÓNG THÍCH TÙ BINH, đơn phương trả lại tự do cho tù binh đối phương vì lí do nhân đạo hoặc mục đích khác. PTTB thường được thực hiện ngay tại mặt trận khi chiến tranh đang tiếp diễn hoặc khi ngừng bắn, có thể trực tiếp hoặc qua một nước trung gian. Trong KCCP và KCCM, vì lí do nhân đạo, QĐND VN đã nhiều lần PTTB, cả tù binh là người nước ngoài và người VN thuộc LLVT đối phương.

        PHOOCLEN (A. Falkland Islands), quần đảo ở phía nam Đại Tây Dương, đông nam lục địa Nam Mĩ. Dt 12.200km2. Gồm hai đảo lớn: Đông P (Xôlêđat, 6.610km2), Tây P (Gran Manvinat, 4.530km2) và nhiều đảo nhỏ. Trung tâm hành chính: Xtanli. Địa hình P chủ yếu là núi (đỉnh cao nhất 706m), đồng cỏ, đầm lầy, bờ biển chia cắt. Thềm lực địa dự đoán có trữ lượng lớn dầu mỏ. Quần đảo P được phát hiện 1591-92. Bắt đầu thuộc địa hóa 1764. Từ 1820 do Achentina kiểm soát. 1833 Anh giành lại và thiết lập chế độ thuộc địa. Achentina không công nhận chủ quyền của Anh ở quần đảo này và cho rằng đó là một phần lãnh thổ của mình. Sau chiến tranh Manvinat (1982), Anh đã thiết lập lại quy chế thuộc địa của mình tại P. Cg Manvinat.

        PHOREXTƠN (A. Foưestal), 1) tàu sân bay Mĩ. số hiệu CV-59, đã tham gia chiến tranh xâm lược VN. Hạ thủy 11.12.1954, đưa vào trang bị 1.10.1955. Lượng choán nước 59.060t (chở đầy 78.000t). Kích thước: 301,8x38,5x11,3m (đường băng rộng 76,8m). Có 4 tổ hợp tuabin, tổng công suất 195MW (260.000cv). Tốc độ 33 hải lí/h (61km/h), tầm hoạt động 8.000 hải lí (15.000km) với tốc độ 20 hải lí/h (37km/h). Quân số: 4.700 (2.700 của tàu, có 120 sĩ quan, 2.000 của không đoàn). Trong chiến tranh VN, p được trang bị: 70-90 máy bay (F-4, F-8, A-4, A-l, A-3D2...), 3 bệ tên lửa phòng không Xi Xperâu. 4 pháo 127mm. Tháng 6.1975 chuyển thành tàu sân bay đa năng, trang bị các máy bay hiện đại (F- 14, F/A-18, A-6E, E-2C...), 3 bệ pháo Vuncan Phalanxơ 6 nòng 20mm. tên lửa phòng không và các khí tài hiện đại khác. 2.1992 thay thế tàu sân bay Lexingtơn làm tàu sân bay huấn luyện (số hiệu đổi là AVT-59); 2) lớp tàu sân bay đa năng Mĩ, gồm: Phorextơn (CV-59), Saratoga (CV-60), Rengiơ (CV-61) và Indipenđơn (CV-62).

        PHỔ (Đ. Preussen, A. Prussia), quốc gia ở Trung Âu tk 17 - cuối tk 19. Hình thành từ 1618 do hợp nhất cống quốc p với Branđenbuôc. 1701 trở thành Vương quốc P. lãnh thổ trải rộng từ Sòng Ranh đến sông Nieman, thủ đô: Beclin. Từ giữa tk 19, P liên tục giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh với Đan Mạch (1864), Áo (1866) và Pháp (1870-71), mờ rộng lãnh thổ dọc theo bờ biển từ Bantich và biển Bắc đến Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luyxembua ở phía tây, đế quốc Nga ở phía đông, Áo - Hung ở phía đông - đông nam và Thụy Sĩ ở phía nam, lập ra đế quốc Đức thống nhất với P là trung tâm, đưa vua p Phrêđêric I lên ngôi hoàng đế (18.1.1871). Chế độ quân chủ P bị CM tháng 11.1918 ở Đức lật đổ. Sau thất bại của Đức trong CTTG-I, theo hiệp ước Vecxây, một phần tây P bị sáp nhập vào Ba Lan. Sau CTTG-II, một phần đông P bị sáp nhập vào LX. trở thành t. Caliningrat của Nga.

        PHỐ LU, thị trấn, huyện lị h. Bào Thắng, t. Lào Cai. Nằm trên tả ngạn Sông Hồng, tại điểm giao nhau giữa QL 4E và đường sắt Hà Nội - Lào Cai. 8-12.2.1950, Trung đoàn 102 và Tiểu đoàn sơn pháo 40, Đại đoàn 308 tiến công vị trí phòng ngự vững chắc của Pháp ở đây, mở dầu chiến dịch Lê Hồng Phong I.

        PHỐI HỢP TÁC CHIẾN, hoạt động tác chiến phối hợp chặt chẽ với tác chiến của đơn vị khác, chiến trường khác hoặc với QĐ các nước cùng chung một kẻ thù. Vd: trong KCCM (1954-75), LLVT ở chiến trường miền Nam VN và LLVT ở chiến trường miền Bắc đã PHTC. từng bước làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc Mĩ thay đổi chiến lược, chấm dứt chiến tranh xâm lược VN.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:31:28 PM

        PHỐI THUỘC, lâm thời giao một bộ phận lực lượng cho người chỉ huy thuộc quyền để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị đó. Người chỉ huy đơn vị được PT không được quyền thay đổi cơ cấu tổ chức, cán bộ và không sử dụng đơn vị PT ngoài chức năng, nhiệm vụ của nó. Thời hạn PT do cấp trên quyết định.

        PHỒN XƯƠNG, xã thuộc tòng Hữu Thượng, phủ Yên Thế, nay là xã PX và thị trấn Cầu Gồ, h. Yên Thế, t. Bắc Giang; căn cứ chủ yếu của khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) do Lương Văn Nắm và Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Tại đây, nghĩa quân đã xây dựng nhiều công trình phòng thủ vững chắc, tiêu biểu là các đồn Phồn Xương (nay thuộc thị trấn Cầu Gồ) và Hố Chuối (nay thuộc xã PX), được Bộ văn hóa -  thông tin cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa (29.4.1979). Tại trung tâm di tích PX (thị trấn Cầu Gồ) có tượng đài Hoàng Hoa Thám và nhà trưng bày khởi nghĩa Yên Thế. Từ 1984 lễ hội ki niệm khởi nghĩa Yên Thế dược tổ chức tại xã PX 15-17.3 hàng năm.

        PHÔNG PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN, mức bức xạ môi trường được hình thành bởi các chất phóng xạ và đồng vị phóng xạ trong tự nhiên. Dưới tác động của tia bức xạ từ vũ trụ, các đồng vị phóng xạ tương tác lên một số nguyên tố hóa học trong không khí; các chất phóng xạ phân rã tự nhiên tác động làm cho các phân tử và nguyên tử môi trường biến đổi, tạo nên nguồn bức xạ môi trường. Các nguồn bức xạ tự nhiên không đồng nhất, tuỳ thuộc vào vị trí địa lí, ít thay đổi và mức độ thấp nếu không có sự tác động của con người. Trong QS, khi tiến hành kiêm tra nhiễm xạ phải trừ giá trị PPXTN tại vị trí đo.

        PHÔTGEN (cacbonyl diclorua), chất độc ngạt thở điển hình, có công thức cấu tạo:

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67284196_459301621466390_2906680161938178048_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeGOWMbmyNpWOOqMzFR-oEa0N7XqkFFN2zS2ayVkmZVLbM9Rh4Y119WV5DiVhbUrkXJah2SvMeXS_TRYtl7IQdSw7SDVFbsZ6bNWIsVmqeBPQA&_nc_oc=AQkVJ6Ovx9oA5g-L1p-wO7rJ1I5LAbEhNIrXTPr_l5_wnKQCbJqu897issLw3JPsD10&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b34505c3782f485e3895b91df416e212&oe=5DAAD4FC)


        Là chất khí không màu, mùi hoa quả thối, nhiệt độ sôi 8°C, nhiệt độ đông đặc -118°C, độ bay hơi 6.370mg/l (ở 20°C), nặng hơn không khí 3,48 lần, hòa tan tốt trong các dung môi hữu cơ; tự thủy phân gây phù phổi, ngoài ra còn kích thích mắt, niêm mạc mũi, họng và có tính tích luỹ. Nồng độ tử vong 0,05mg/l (trong 10ph), nồng độ nguy hiểm 0,005mg/l (trong 60-90ph). Thời gian ủ bệnh 2-8 giờ tùy mức nhiễm độc. Để phòng tránh, dùng mặt nạ phòng độc. P do Đêvi (Anh) tìm ra 1812. Lần đầu tiên (12.1915) quân Đức đã sử dụng P chống quân Anh, Pháp. Trong CTTG-I đã sử dụng 40.000t P (trong tổng số 150.000t chất độc quân sự được dùng), nhưng gây nên 80% số tử vong vì vũ khí hóa học.

        PHRĂNGCÔ (TBN. Francisco Franco Bahamonde; 1892-1975). nhà độc tài QS, người đứng đầu chính phủ Tây Ban Nha (1939-75), thủ lĩnh Đảng Phalanga (1937-75). Năm 1921 chỉ huy đội quân lê dương của Tây Ban Nha trong chiến tranh xâm lược châu Phi. 1935 tham mưu trưởng lục quân. 1936 dược phát xít Đức và Ý giúp đỡ, P cầm đầu cuộc binh biến và gây nội chiến nhằm xóa bỏ nền cộng hòa mới được thiết lập ở Tây Ban Nha. 3.1939 thiết lập và đứng đầu chế độ độc tài ở Tây Ban Nha. Trong CTTG-II, đứng về phía Đức, góp một sư đoàn cho mặt trận Đức - Xô. Sau chiến tranh, P dựa vào Mĩ để giữ vững chế độ độc tài, cho Mĩ xây dựng căn cứ QS ở Tây Ban Nha.

        PHRÔNG (phong diện), lớp đệm chuyển tiếp giữa hai khối không khí có tính chất vật lí (chủ yếu là nhiệt độ và độ ẩm) khác nhau rõ rệt trong khí quyển. Trong nghiên cứu lí thuyết,P thường được coi như một mặt hình học, được biểu diễn trên biểu đồ khí tượng bằng một đường cong do có độ dày (từ vài trăm đến vài nghìn mét) rất nhỏ so với chiều dài (từ hàng trăm đến hàng nghìn kilômét). P có góc nghiêng không lớn (thay đổi trong khoáng 1:70 đến 1:300 so với mặt đất), nên vết của P trên mặt đất tạo thành dải P với độ rộng hàng chục kilômét, chênh lệch nhiệt độ có thể đến trên 10°C. Độ cao đỉnh P đến hàng nghìn mét, có khi tới giới hạn trên của tầng đối lưu, thậm chí tới lớp dưới của tầng bình lưu. P được phân loại theo sự dịch chuyển tùy theo áp lực giữa các khối khí. P dịch chuyên từ phía không khí lạnh về phía không khí nóng được gọi là P lạnh; ngược lại là P nóng. Khi áp lực giữa hai khối khí tương đối cân bằng, P dao động quanh một vị trí nhất định, gọi là P tĩnh. Đói khi một P lạnh di chuyển đuổi theo một P nóng hoặc xuất hiện hai P lạnh từ các hướng đối ngược di chuyên lại gần nhau, hình thành các P kẹp. Sự xuất hiện các P thường kéo theo những biến đổi phức tạp của các yếu tố khí hậu (gió, hệ mây, khí ẩm...) và gây ra những hiện tượng thời tiết bất thường, nguy hiểm như mưa, giông tố, lốc...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67446926_459301648133054_6445557412240818176_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeEtPLvOFxFF1Hg5d5eDnbrwYxFur2WXOdPPE7G6n2eH0ALq50NIwU90-OqQI45jVqXFuJ7foxAT36QAMkRlLwqTlDZbGalvKc3DfjeJEUGtLQ&_nc_oc=AQldL3D_SN5f0oVxKzDaQbhniI0RnzENIpHvjRGJJu_I9HzhBSHBw_pVxbejO8LHLaM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=06f7f2f8ea63e0957457c8bde361bc22&oe=5DED0EE2)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:33:49 PM
     
        PHRUNDE (1885- 1925), danh tướng, nhà lí luận QS LX. Tham gia tổ chức và xây dựng LLVT LX, lãnh đạo cuộc cải cách QS (1924-25). Sinh tại Biskêc, Kiêcghidia (nay là Cưrơgicxtan); đv ĐCS LX (1904). Năm 1905 lãnh đạo cuộc bãi công ở vùng Ivanovo - Vôdơnêxenxcơ. 1909-10 hai lần bị kết án tử hình, sau giảm xuống án tù chung thân ở Xibêri. 1915 vượt ngục, hoạt động CM trong QĐ. Trong CM tháng Mười (1917), lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở Maxcơva. Đầu 1918 bí thư tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban Xô viết và ủy ban QS tinh Ivanôvô - Vôdơnẽxenxcơ. 7.1918 tham gia trấn áp các vụ bạo loạn ở Maxcơva và Iarôxlap. 8.1918-19 chính ủy quân khu, tư lệnh tập đoàn quân, tư lệnh Cụm quân Nam; chỉ huy Phương diện quân Miền Đông đánh bại tập đoàn quân của Cônsăc; chỉ huy Phương diện quân Turơkextan. 1920 chỉ huy Phương diện quân Miền Nam đánh bại quân của Vranghen, giải phóng Crưm. 1920-24 làm công tác đảng, chính quyền và chỉ huy LLVT Ucraina. 1924-25 phó chủ tịch, rồi chủ tịch Hội đồng QS CM LX, thứ trưởng rồi bộ trưởng Bộ lục quân và hải quân kiêm tham mưu trưởng Hồng quân công nông, viện trưởng Học viện QS (sau này mang tên Phrunde). 1921 ủy viên ủy ban trung ương ĐCS(b) Nga, 1924 ủy viên BCT. Đại biểu Xô viết tối cao Nga và LX. Tác giả một số tác phẩm QS.

        PHÙ HIỆU, dấu hiệu phân biệt các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên mòn. ngành nghiệp vụ,... đeo ở ve áo quân phục (QĐ một số nước đính PH trên mũ, tay áo). PH được đặc trưng bởi: hình dáng, màu nền và biểu tượng các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ. Trong QĐND VN, nền PH của lục quân màu đỏ tươi có đính biểu tượng thanh gươm và khấu súng đặt chéo (binh chủng hợp thành), hải quản màu tím than, có đính biểu tượng mỏ neo, phòng không - không quân màu xanh hòa bình có đính biểu tượng hình sao trên hai cánh chim, bộ đội biên phòng màu xanh lá cây có đính biểu tượng thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, trên vòng tròn không khép kín. Biểu tượng của các binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ đặt trên nền phủ hiệu quân chủng (xem minh họa). PH cấp tướng có ba cạnh viền màu vàng, cấp tá trở xuống không có viền. Khi đeo PH phải đeo cấp hiệu ở hai vai áo. PH quy định lần đầu trong sắc lệnh 33- SLngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67293814_459301694799716_5427486460410331136_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGI6_el2AmvSakvNEG44vexKdZCrPgnM50R9rnZTGkz75lvzRFZpCGqCBRyNaxu1XYmmFcvatF15X3mTDODrTWqRCsdSXkRcsRfzRhUemlSUQ&_nc_oc=AQnleZPiq0S5gU4q5GS53rkigfABe4R3RvE9cWwjZ_XfSKSmSwFA3NnGyivGQ11E7iY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3850a33a67cd8e8650d3492d42f34160&oe=5DAD087D)


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:39:46 PM
.
        PHÙ HIỆU KẾT HỢP CẤP HIỆU, dấu hiệu phân biệt quân hàm, quân chúng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ đeo ở ve áo quân phục. Trên nền phủ hiệu có sao kim loại màu bạc (sao cấp tướng kim loại màu vàng) theo từng cấp (binh nhì, hạ sĩ, thiếu úy, thiếu tá, thiếu tướng, chuẩn đô đốc 1 sao; binh nhất, trung sĩ, trung úy, trung tá, trung tướng, phó đô đốc 2 sao; thượng sĩ, thượng úy, thượng tá, thượng tướng, đô đốc 3 sao; đại úy, đại tá, đại tướng 4 sao) và thêm: hai vạch kim loại màu bạc (cấp tá), một vạch kim loại màu bạc (cấp úy), một vạch dọc bằng vải màu vàng (hạ sĩ quan), không có vạch (binh sĩ). PHKHCH của học viên các trường đào tạo sĩ quan sơ cấp có một vạch dọc màu vàng rộng 6mm, học viên đào tạo hạ sĩ quan có một vạch dọc màu vàng rộng 3mm, ở giữa có hình quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ; không có sao. Khi đeo PHKHCH không được mang cấp hiệu trên vai áo. Từ 11.1994 PHKHCH chỉ mang trên quân phục dã chiến

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67413049_459334634796422_5536082908898394112_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEfEsgcfLRfdGhr5GRioPjJCqCJgMvDMZMmcC-3I77_NK78F1-kTaJDOePiyVLC9A75Yv_FM2bKcRXE8Cp2Bn1bFFtGCJTEXcWFQHRtCni9gA&_nc_oc=AQmHr0NA9YXfPVZ8ORbn7_iqZTCUVWPie3WYY5LcY9cyT5EGCs3Dz9smCSjC9tHkQic&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a316cf127f2fa752920687b707239dec&oe=5DDC7400)

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67825373_459301684799717_9048486749587636224_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeHvq4V_1SEHMNAYfgXdHMtxUdsJqh2wJn2PZf49ipLEr4b3ryKZdhaXHwmHfl0e8laD6azLs7J7qcuzpRBWTFcxO_XlqVd3rn1VyWE6f-0T4w&_nc_oc=AQmbf8EN5jGVUjImzkrrU-pgHBlrBwm0C4-Zt7PDJrWr8gO1a56AwTlfsV3CjgAuBik&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=cd2e7aa899015ce77d4cbc0591823f61&oe=5DAA875A)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:43:09 PM

        PHÙ BINH CHẾ. chế độ binh dịch có từ 535 thời Tây Ngụy (TQ). Phù binh lúc đầu không biên chế thành hộ quân, chưa phân biệt nông, binh, được cấp vũ khí, còn tư trang tự lo. Thời bình luân phiên phục dịch, mỗi năm huấn luyện nửa tháng, canh phòng nửa tháng; khi có chiến sự phải đi đánh giặc. Phù binh được nhận ruộng và không phải nộp thuế. Đời Đường chia ra thượng phủ 1.200 người, trung phủ 1.000 người và hạ phủ 800 người. Mỗi phù hạt có 4-6 đoàn, mỗi đoàn 200 người do hiệu úy chỉ huy. Mỗi đoàn hạt có 2 lữ, mỗi lữ 100 người do lữ soái chỉ huy, mỗi lữ có 2 đội, mỗi đội 50 người do đội chính chỉ huy. Mỗi đội chia ra 5 hỏa, mỗi hỏa 10 người do hỏa trưởng chỉ huy. Nguồn binh lấy ở các châu (huyện). Tuổi phục vụ binh dịch 20-60. Đến đời Cao Tông do đất đai khan hiếm, đời sống nông dân và quân sĩ khó khăn, phủ binh giảm dần. Đến đời Huyền Tông (749) PBC bị bãi bỏ.

        PHÚ KHÁNH, tỉnh cũ ở duyên hải Nam Trung Bộ. Thành lập 2.1976 do sáp nhập hai tình Phú Yên và Khánh Hoà. 6.1989 chia lại thành hai tỉnh.

        PHÚ QUỐC, huyện đảo thuộc t. Kiên Giang. Gồm 27 đảo, chia thành 8 xã, 1 thị trấn. Dt 593,lkm2; ds 70.200 người (2001). Đảo lớn nhất: Phú Quốc, cách Hà Tiên 70km về phía tây. Chiều dài đảo 50km (hướng bắc - nam), chỗ rộng nhất 25km. Dãy núi Hàm Ninh ở phía đông bắc và sát biển, núi Hàm Rồng. Sông suối ngắn, bắt nguồn từ đông bắc, chảy hướng tây. Khí hậu nhiệt đới, lượng mưa trung bình 2.900mm/năm. Hai sân bay: Dương Đông, An Thới; cảng biển: Dương Đông. Đường ô tô chạy dọc bờ tây và đường ngang Dương Đông - Hàm Ninh. 35.000ha rừng, 30.000ha đất canh tác, sản phẩm chủ yếu: hồ tiêu, cà phê và cao su; đánh bắt hải sản. PQ từng là căn cứ chống Pháp của Nguyễn Trung Trực.

        PHÚ QUÝ, huyện đảo thuộc t. Bình Thuận, đông nam tx Phan Thiết l00km. Quần đảo trải dài khoảng 80km từ bắc xuống nam. Dt 32km2; ds 20.000 người. Đảo lớn nhất: Phú Quý (Cù Lao Thu), dt 16km2; dài 6km, rộng trên 3km. Địa hình đồi núi thấp, phía bắc có các đỉnh cao 108m và 91 m, bờ biển dốc thoải. Cư dân sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Trên đảo có sân bay dã chiến 800x600m, cảng cá Triều Dương, đường đất rộng nối liền các xã và tuyến đường bao quanh đảo, xe cơ giới đi lại được. Nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng. Các đảo nhỏ xung quanh có nhiều cảnh đẹp, thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái biển.

        PHÚ THỌ, tỉnh trung du Bắc Bộ; bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái, nam giáp Hoà Bình, đông giáp Vĩnh Phúc, Hà Tây, tây giáp Sơn La, Yên Bái. Dt 3.518,58km2; ds 1,3 triệu người (2003); các dân tộc; Kinh. Mường, Dao, Cao Lan, Tày, Nùng... Nguyên là t. Hưng Hóa, thành lập 6.1891 (sau khi đã cắt phần lớn diện tích để thành lập các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình và sáp nhập thêm phần đất t. Sơn Tây giữa Sông Thao và sông Lô), 1903 đổi thành PT. 1968 hợp nhất với Vĩnh Phúc thành t. Vĩnh Phú; 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 10 huyện (3 huyện miền núi). 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Việt Trì. Địa hình: các huyện ven Sông Thao và Sông Lô chủ yếu là trung du, còn lại là miền núi; các đỉnh cao: Núi cẩm (1.402m), Núi Vải (1.360m). Lưỡi Hái (1.058m). Các sông lớn: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Đà, Sông Chảy... Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 21°C, lượng mưa 1.500mm/năm. Kinh tế đồi rừng phát triển với các loại cây đặc sản: chè, cọ... Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 400,6 nghìn tấn (lúa 345,6 nghìn tấn); khai thác gỗ 50,6 nghìn m3. Công nghiệp: giấy (Bãi Bằng, Lửa Việt), supe phốt phát và hóa chất (Lâm Thao, Việt Trì), xi măng (Thanh Ba). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 3.873,2 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt Hà Nội - Lào Cai qua Việt Trì, Phú Thọ; đường bộ: QL 2, 32, 21,24,70; cảng sông: Việt Trì. Di tích lịch sử - văn hóa: Phong Châu*, kinh đô nước Văn Lang cổ với đền thờ các vua Hùng; các di chỉ văn hóa Gò Mun, Đồng Đậu... Sự kiện lịch sử QS: trận Sông Lô (23-24.10 và 10.11.1947)...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67370248_459301668133052_1679555001279578112_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGSZOS7gIz9iK3Oez086fLj4Ql5Lpow4DUmvcTtLWPTd9MZ1cMYw6Er7tp7DUyoBMknuLc8SAiHZNIvEyMGxtlCU6aFVf2VTGwyns1ucQ7-EA&_nc_oc=AQn0-FHUo06vEewgDivuGQPTvm-Dd739kJwE4b88J_P_DS0w7OO_Wsg2iAKRzcioeeA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=02b099f6128080ce9f175ffa67e5764a&oe=5DDA6B31)


        PHÚ XUÂN, thành do Nguyễn Phúc Trăn xây dựng tại làng Phú Xuân 1687, ở tả ngạn Sông Hương (thuộc tp Huế ngày nay). 1788 tại PX Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. 1802 Gia Long lên ngôi, chính thức lấy PX làm kinh đô, xây dựng lại kinh thành và đổi tên là thành Huế..


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:44:11 PM

        PHÚ YÊN, tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ; bắc giáp Bình Định, tây và tây nam giáp Gia Lai, Đắk Lắk. nam giáp Khánh Hoà, đông giáp Biển Đông. Dt 5.045,3km2; ds 0,836 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh, Chàm, Êđê; Bana. Giarai... Thành lập 1832. Năm 1853 đổi thành đạo 1876 tái lập tỉnh. 2.1976 sáp nhập với Khánh Hoà thành t, Phú Khánh. 6.1989 tái lập. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tinh lị: tx Tuy Hoà. Địa hình: tây và một phần sườn đông của dãy Trường Sơn là đổi núi, đinh Vọng Phu cao nhất (2.064m); đồng bằng phân bố ở các huyện Tuy Hoà, Tuy An, Sông Cầu. Bờ biến dài 189 km, nhiều chỗ lồi lõm tạo nên các vịnh, vũng và hải cảng (vũng Xuân Đài, đầm ô Loan, Vũng Rô). Ngoài khơi gần bờ có nhiều đảo. Khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình 26,5°C, lượng mưa 1.600-1.800mm/năm. Các sông lớn: Sông Ba (Đà Rằng), Kì Lộ, Bàn Thạch. Tỉnh nông, lâm, ngư nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 298,7 nghìn tấn (lúa 294,5 nghìn tấn); thủy sản 33 nghìn tấn. Công nghiệp: cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, hải sản; nhà máy đường Tuy Hoà, thủy điện Sông Hinh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 966,5 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1, đường sắt Bắc - Nam, tình lộ 25. Cảng và sân bay Tuy Hoà. Chiến thắng Đèo Cả, sự kiện Vũng Rô (15-19.2.1965). Di tích lịch sử  văn hóa: Thành Hồ, chùa Đá Trắng, đền thờ Lương Văn Chánh... Tháng 10.2000, LLVTND Phú Yên được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67568756_459301704799715_9098148112106520576_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeE0R2TEOXm3-U0GUI2Zq6B2p2VvPoe6gK74NDn8AHxl68x0oKXdeK3b6zjVVQ5uw0pxjwRvpORl52ZheeZ8pT_yKYPPIGYQ7dzfwPnjqtR6Ag&_nc_oc=AQkXelGdBQ8egC8uzXfwEYkT4dGv-O8rLcC_M-DP5dVy_cENEoOlF6u5hTjBY2xUKFg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8ce91a5998b6b18fc2bf7999d93259fc&oe=5DAE4472)


        PHỤ LỰC QUÂN, LLVT người VN gồm những người có xu hướng chính trị chống CM, thanh niên giáo phái bị lừa bịp, do Pháp tổ chức trong chiến tranh xâm lược VN (1945-54) để bảo vệ an ninh địa phương, bổ sung quân số cho các đơn vị thuộc QĐ liên hiệp Pháp. Có thể phối hợp tác chiến với lực lượng khác. Thành lập 10.1946, tổ chức thành những đại đội nhẹ 120 người. Quân số PLQ (1952) khoảng 112.370 người (Pháp trực tiếp quản lí 53.090; chuyển cho QĐ quốc gia VN 59.280, gồm: Bấc Kì 11.040, Trung Kì 10.080, Nam Kì 38.160. biên chế thành 494 đại đội). PLQ thuộc QĐ quốc gia VN (do Pháp xây dựng cho chính quyền Bảo Đại) gồm: PLQ thường, PLQ giáo phái và PLQ bảo vệ Thiên chúa giáo. PLQ thường có khoảng 41.740 người (1952), biên chế thành 180 đại đội nhẹ và 267 đại đội Commàngđô; cuối 1954 Pháp giải thể bớt và tổ chức lại thành các đơn vị bộ binh và thủy quân lục chiến để trao lại cho chính quyền Ngô Đình Diệm. PLQ giáo phái gồm các đơn vị giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo về theo Pháp (1947-48); Pháp trang bị, trả lương nhưng vẫn do các lãnh tụ giáo phái chi phối; đầu 1952 có trên 4.800 người, biên chế thành 40 đại đội (20 thuộc Cao Đài. 20 thuộc Hoà Hảo; không chịu giải thể theo quyết định của Pháp (cuối 1954) và bị chính quyền Ngô Đình Diệm đánh dẹp (1955- 56). PLQ bảo vệ Thiên chúa giáo có từ 7.1947, chủ yếu ở Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Sa Đéc...; tới 1952 có khoảng 840 người, biên chế thành 7 đại đội; tan rã sau 11.1954.

        PHỤ TỬ CHI BINH. môi quan hệ nội bộ của những đội quân mà quan và quân đối xử với nhau như cha con, anh em một nhà, trên dưới một lòng. Thường chi có ở những đội quân có mục đích chiến đấu chính nghĩa, vì lợi ích căn bản của dân tộc, tổ quốc, nhân dân và quảng đại binh sĩ; có chính sách đúng đắn và có người chỉ huy, lãnh đạo tài giỏi, đức độ, thu phục được lòng người. Lịch sử VN có những đội quân được coi là PTCB như: đội quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của Lê Lợi, đội quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ...


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:45:34 PM

        PHỤC KÍCH, bí mật bố trí lực lượng ở đường (hướng, khu vực) địch có thể qua, bất ngờ tiến công tiêu diệt; một hình thức chiến thuật. Có: PK tại chỗ, PK vận động; PK đường bộ, PK đường thủy, PK đường không, PK phòng không, PK chống tăng, PK của xe tăng... PK đường bộ, bí mật bố trí các lực lượng: chặn đầu, khóa đuôi, tiến công chủ yếu... bất ngờ tiến công tiêu diệt địch đi qua... PK đường không, sử dụng từng chiếc hoặc từng tốp máy bay, bay ở khu vực mà địch khó phát hiện ở bên đường (hướng) máy bay địch sẽ bay qua, bất ngờ công kích tiêu diệt. PK phòng không, bí mật bố trí từng vũ khí hoặc từng phân đội phòng không trên đường (hướng) bay của máy bay địch để bất ngờ tiêu diệt. PK của xe tăng, bí mật bố trí các phân đội xe tăng trên đường xe tăng địch có thể qua. bất ngờ tiêu diệt. PK chống tãng, bí mật bố trí các phân đội và phương tiện chống tăng trên đường xe tăng địch có thể qua. bất ngờ tiêu diệt.

        PHỤC KÍCH ĐÓN LÕNG, phục kích của súng máy phòng không và pháo phòng không ở khu vực địch thường lợi dụng các điểm đặc biệt của địa hình làm điểm kiểm tra trước khi bay vào mục tiêu đánh phá. nhằm bất ngờ tiêu diệt các tốp máy bay nhỏ lẻ, đánh lên, đánh đêm, trinh sát của địch; một hình thức chiến thuật pháo phòng không. Lực lượng PKĐL thường từ đại đội đến tiểu đoàn pháo phòng không, hoặc từng trung đội súng máy phòng không.

        PHỤC KÍCH HÓA TRANG đặc công, phương pháp tác chiến đặc công của đặc công biệt động được tiến hành bằng cách cải trang chờ sẵn hoặc cơ động theo mục tiêu di động đến vị trí định trước, bất ngờ tiến công rồi nhanh chóng rời khỏi khu vực chiến đấu. Có PKHT cố định và PKHT di động, do một người đến một đội thực hiện.

        PHỤC KÍCH TRÊN BIỂN, bố trí lực lượng hải quân (các phân đội tàu. đặc công nước) bí mật, bất ngờ tiến công tàu địch ở nơi dự kiến. PKTB thường lợi dụng địa hình để che giấu lực lượng, có thể phục kích tại chỗ hoặc phục kích vận động. Để nâng cao hiệu quả khi PKTB. cần nắm chắc quy luật hoạt động của địch và kết hợp với các hoạt động khác như nghi binh, thả thủy lôi, bố trí vật cản dưới nước... PKTB được vận dụng rộng rãi trong KCCM.

        PHỤC VIÊN, việc quân nhân rời khỏi lực lượng thường trực của QĐ, sau chiến tranh hoặc trong thời bình theo quy định của pháp luật. Ở VN, theo Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, tiêu chuẩn pv là quân nhân phục vụ tại ngũ nam tròn 5 năm, nữ tròn 3 năm trở lên; quân nhân bị thương được xếp hạng thương tật từ hạng 1-4, quân nhân có tròn 3 năm hoạt động ở chiến trường K, C. Người PV được hưởng các quyền lợi theo chế độ, chính sách của nhà nước.   

        PHỤC VỤ QUÂN SỰ, phục vụ của công dân với tư cách là quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị của QĐ. Thường được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Bản chất của PVQS do tính chất của chính quyền nắm QĐ (LLVT) quyết định. Tùy theo phương pháp tuyển quân, có: PVQS tình nguyện (x. chế độ tình nguyện) và PVQS theo chế độ nghĩa vụ quân sự. Ở nhiều nước, PVQS thường gồm: phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của QĐ. Trong QĐND VN, PVQS được thực hiện trên cơ sở chế độ tình nguyện (trong KCCP và ở miền Nam trong KCCM) và chế độ nghĩa vụ QS (ở miền Bắc từ 1960 và trong cả nước từ 1975). Ở VN. PVQS được hiểu là làm nghĩa vụ quân sự. Ở một số nước là binh dịch hoặc quân dịch.

        PHỤC VỤ TẠI NGŨ. phục vụ của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp trong lực lượng thường trực của QĐ theo luật định. Ở VN, quân nhân PVTN theo Luật nghĩa vụ quán sự và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thời bình, thời hạn PVTN đối với hạ sĩ quan, binh sĩ 2- 3 năm: đối với quân nhân chuyên nghiệp, sĩ quan tới hạn tuổi do luật định; phụ nữ có chuyên môn cần cho QĐ nếu tự nguyện có thể được PVTN. Trong thời chiến, PVTN của quân nhân được kéo dài cho đến khi có lệnh phục viên.

        PHỤC VỤ THEO NIÊN HẠN. thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ theo luật định. Ở VN, PVTNH thực hiện theo Luật nghĩa vụ quân sự: thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình là 2 năm đối với hạ sĩ quan, binh sĩ; 3 năm đối với hạ sĩ quan chỉ huy; hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kĩ thuật do QĐ đào tạo; hạ sĩ quan, binh sĩ trên tàu hải quân.

        PHỤC VỤ TRÊN HẠN ĐỊNH, phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ quá thời hạn luật định. Ở VN, PVTHĐ thực hiện theo Luật nghĩa vụ quân sự: hạ sĩ quan và binh sĩ hết hạn phục vụ tại ngũ có thể tình nguyện ở lại PVTHĐ thêm một thời gian và phải được cấp có thẩm quyền đồng ý; chế độ PVTHĐ của hạ sĩ quan và binh sĩ do bộ trưởng BQP quy định.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:46:58 PM

        PHUNBRAI (A. James William Fulbright; 1905-95), chủ tịch ủy ban đối ngoại thượng nghị viện Mĩ (1959-74), người công khai chống lại chủ trương leo thang chiến tranh ở VN của hai tổng thống Mĩ Giônxơn và Nichxơn. 1925 và 1934 tốt nghiệp hai trường đại học. 1939 hiệu trưởng Trường đại học Acanxat. 1945 thượng nghị sĩ Mĩ. Khi Giônxơn lên làm tổng thống, lúc đầu P đã ủng hộ chính sách của tổng thống đối với VN, giúp Giônxơn đưa ra thượng nghị viện thông qua nghị quyết “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (1964). Từ 1965 P nghi ngờ chính sách của Mĩ đối với VN và chống đối cuộc chiến tranh xâm lược VN. 1966-68 liên tục tổ chức các cuộc điều trần để xác minh sự thật về “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, vạch trần sự lừa dối của chính quyền, lên án “nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” là sai trái, kiên quyết chống lại chủ trương của tổng thống leo thang chiến tranh xâm lược VN, đánh phá Lào và Campuchia. 1973 đưa ra đạo luật quyền hạn đối với chiến tranh để hạn chế quyền của tổng thống. 1974 mất chức thượng nghị sĩ, về làm nghề luật sư.

        PHÙNG CHÍ KIÊN (Nguyễn Vĩ; 1901-41), tổng chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn, chỉ huy trường đội Cứu quốc quân 1 (1941). Quê xã Diễn Yên, h. Diễn Châu, t. Nghệ An; đv ĐCS VN (1930). Năm 1926 sang Quảng Châu (TQ). tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), dự lớp huấn luyện chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi vào học Trường QS Hoàng Phố (TQ). 12.1927 tham gia khởi nghĩa Quảng Châu. 1933- 34 học Trường đại học Phương Đông (Maxcơva)/1934 tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của ĐCS Đông Dương, cùng Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập chuẩn bị triệu tập đại hội đại biểu toàn quốc ĐCS Đông Dương lần thứ nhất tại Ma Cao (TQ, 1935); được đại hội bầu vào thường vụ BCHTƯ phụ trách công tác đảng ở nước ngoài. 1936 về Sài Gòn hoạt động. 1938 tham gia củng cố ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài và xuất bản báo “Đồng thanh" ở Côn Minh (TQ). Cuối 1940 tham gia huấn luyện 40 cán bộ cốt cán của VN tại Quảng Tây (TQ). 5.1941 tham dự hội nghị trung ương lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì và được bầu vào BCHTƯ; được cử trực tiếp tổng chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn. thành lập và chỉ huy trường Đội cứu quốc quân 1. Ba lần bị bắt (1931, 1937 và 7.1941). Ngày 22.8.1941 hi sinh trong chiến đấu.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67382136_459301741466378_665332679448723456_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHtc9ffhWGZh_PXvLCxUxA2-1iDqKdimZt8Gx5Cb3neNNr2DU3ten8YFsoRWCeRKwdahHDzQeIRWEA97cAk3p39N2NqRt_VjVm19ZgeTOu3aw&_nc_oc=AQmJAe2HycaTubbq65tdUKGv2RCFBLjt2RYWvUBG1AcgzOiygRPllLvEea4a5WPv8w4&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=5c363356eabbf00ee05bf3696bb3fc7b&oe=5DEEB741)


        PHÙNG HƯNG (?-?). lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Đường tk 8 (x. khởi nghĩa Phùng Hưng, 766-79). Quê Đường Lâm. Châu Giao (nay là xã Đường Lâm, tx Sơn Tây, t. Hà Tây). Khoảng 766-79, do chính sách hà khắc của quan đô hộ nhà Đường, được em là Phùng Hải và mưu sĩ Đỗ Anh Hàn giúp sức, PH đã phát động cuộc khởi nghĩa lớn chống nhà Đường, được tôn là đô quân. Quan đô hộ Cao Chính Bình bị thua, rồi lâm bệnh chết. Sau chiến thắng PH vào phủ thành Tống Bình, thiết lập chính quyền tự chủ nhưng chưa được bao lâu thì mất. Nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương và lập đền thờ tại quê và ở nhiều nơi.

        PHÙNG QUANG THANH (s. 1949), thứ trưởng BQP. tổng tham mưu trưởng QĐND VN (từ 5.2001), Ah LLVTND (1971). Quê xã Thạch Đà, h. Mê Linh. t. Vĩnh Phúc; nhập ngũ 1967. thượng tướng (2003): đv ĐCS VN (1968). Trong KCCM, 1967-71 trưởng thành từ chiến sĩ đến đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320A. chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Nam Lào. 6.1971 học viên Trường sĩ quan lục quân. 1972 tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9. Trung đoàn 64, Sư đoàn 320B. Quân đoàn 1. Tháng 8.1974 học viên Học viện QS (Học viện lục quân). 1977 tham mưu trưởng trung đoàn, trung đoàn phó rồi trung đoàn trưởng Trung đoàn 64. Sư đoàn 390, Quân đoàn 1. Tháng 12.1983 phó sư đoàn trường phụ trách sư đoàn trưởng Sư đoàn 390 rồi sư đoàn trường Sư đoàn 312, Quân đoàn 1. Năm 1989 học viên Học viện Vôlôxilôp (LX). 1990 học viên Học viện quân sự cấp cao. 1991 sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, Quân đoàn 1. Tháng 9.1993 phó cục trưởng, 6.1995 cục trưởng Cục tác chiến BTTM. 8.1997 học viên Học viện chính trị QS. 12.1997 tư lệnh Quân khu 1. Tháng 5.2001 thứ trưởng BQP, tổng tham mưu trưởng QĐND VN, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IX. Đại biểu Quốc hội khóa XI. Huân chương: Chiến công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), Kháng chiến hạng ba.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67740376_459301754799710_7072350894876000256_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFtU1ZZ1u1eScR6bhWWmpLes9bDfkyWMbegKIUloZv2a__mpm77dmw1EtMdlIflpfNMmG7wJqh0PhY4DNEwCZYK6Op1ma8sAQ6gXoJ7OCIQ-Q&_nc_oc=AQn4bBCtgu376Nx1YMyqD093bB78aQ-dwcg6XiHMwtG2X0jzfxMci7xdNKVhkNVdhlo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=4804e7c7b81f84580b2f3a8c99fe84d5&oe=5DE944E9)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:48:57 PM

        PHÙNG THÊ TÀI (Phùng Văn Thụ; s. 1920), phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1967-87). Quê xã Văn Nhân, h. Phú Xuyên, t. Hà Tây; tham gia CM 1936. nhập ngũ 1945, thượng tướng (1986): đv ĐCS VN (1939). Năm 1942 xây dựng cơ sở CM ở Cao Bằng. 4.1944 tổ chức chuyên vũ khí từ TQ về VN và làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. 4-8.1945 tiểu đội trường Giải phóng quân, cán bộ QS. tham gia tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền ở Thất Khê (Lạng Sơn). 9.1945- 53 chi đội phó Chi đội Lạng Sơn, trung đoàn trưởng, đại đoàn phó Đại đoàn 320. Tháng 9.1954 đại đoàn trưởng Đại đoàn pháo binh 349. Tháng 11.1960-62 hiệu trưởng Trường sĩ quan pháo binh, tham mưu trường Binh chúng pháo binh. 12.1962 tư lệnh bộ đội phòng không. 1963-67 tư lệnh đầu tiên Quân chung phòng không - không quân. 8.1967-87 phó tổng tham mưu trường QĐND VN. kiêm tổng cục trường Tổng cục hàng không dân dụng VN (1976-78). Huân chương: Hồ Chí Minh. Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công hạng nhất. Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67429285_459301764799709_8811153269196849152_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeGKMyUdgrbAUWXnfe-2aZ-6DR3oYhg62LeVbPoq05iiN_fJff8ymCtAPOB1hQ2IFW_DC4NMH9GME5Es0wfW_nlqxev0ocH1iHkJ0XZARF8KTw&_nc_oc=AQl5oRt7WthOu9-3zhj8Eoopt2F5ZDDk2Stn6322lcL0ln1K7IIhM1Glv0aegLgB6ek&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2f7e21ab81f73e6782b23101db4ce99b&oe=5DDEFC6A)


        PHÙNG VĂN KHẦU (s. 1929), Ah LLVTND (1955). Dân tộc Nùng, quê xã Đức Hồng. h. Trùng Khánh, t. Cao Bằng: nhập ngũ 1949, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1950): khi tuyên dương Ah là trung đội trường pháo binh, Đại đội 755 thuộc Đại đoàn 351. Tham gia 7 chiến dịch lớn: trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). chỉ huy khẩu đội sơn pháo 75mm bố trí trên đồi E khống chế khu trung tâm Mường Thanh, chi viện cho bộ binh chiến đấu ở các điểm cao 203, 207, 507 và đồi C dưới bom đạn ác liệt của quân Pháp, trụ vững 36 ngày đêm. có lúc bị sức ép ngất đi, tỉnh dậy tiếp tục chiến đấu, cùng khẩu đội diệt 5 khẩu pháo 105mm, 6 đại liên, 1 lô cốt, 1 kho đạn, diệt và làm bị thương hàng trăm địch. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công (1 hạng nhì. 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67686477_459301774799708_3482606800698605568_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGMBzqHsLLK8xxGJjwwWCU3Ir58TN8vKMyAGVlMZiv2NIFVEKzzpxRSq84cFflz4TzugJnHzHH0d1pxf6rzgoBxqqPk4buNQVuoboBM1dPvQA&_nc_oc=AQle2DhDPpYXSy9nadYbsg5JAnhwN8q_OnRdkLCScpi7xfVuP7UOFMpd0avEMUTdm7U&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=32287821c2714b6a93a8a7dc4d703fb0&oe=5DE5E4CE)


        PHỤNG THIÊN, thủ phủ tinh Phụng Thiên ở đông bắc TQ. nay là tp Thẩm Dương, tỉnh lị t. Liêu Ninh. 22.2-10.3.1905. trong giai đoạn kết thúc chiến tranh Nga - Nhật (1904-05), tại khu vực phía nam PT diễn ra trận quyết chiến giữa 320.000 quân Nga và 250.000 quân Nhật (x. trận Phụng Thiên, 2-3.1905).

        PHƯƠNG ÁN TÁC CHIẾN, dự kiến ý định, quyết tâm tiến hành trận chiến đấu (chiến dịch) hoặc xử lí các tình huống xảy ra trong quá trình tác chiến. Để tiến hành trận chiến đấu (chiến dịch) hoặc xử lí mỗi tinh huống, có thể có một số PATC.

        PHƯƠNG CHÂM CHIẾN LƯỢC, phương hướng cơ bản chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong toàn bộ cuộc chiến tranh hoặc từng giai đoạn của chiến tranh, thường được nêu ngán gọn, rõ ràng. Ở VN, trong KCCP và KCCM, ĐCS VN đã nắm vững các quy luật chiến tranh, phân tích khoa học những điều kiện khách quan và chủ quan của từng cuộc chiến tranh đó, đề ra những PCCL làm phương hướng hành động đúng đắn cho quân và dân ta nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của chiến tranh nhân dân VN đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp, Mĩ. Một số PCCL cơ bản là: chiến tranh toàn dân, toàn diện; tư tưởng chiến lược tiến công; đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế; đấu tranh QS kết hợp với đấu tranh chính trị; kết hợp đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: nông thôn rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị...

        PHƯƠNG CHÂM HUẤN LUYỆN, phương hướng và mục tiêu cơ bản chỉ đạo công tác huấn luyện quân sự trong nhà trường và đơn vị LLVT, thường nêu ngắn gọn, rõ ràng. PCHL ở nhà trường thường là: cơ bản. hệ thống, thiết thực, chuyên sâu: ở đơn vị: cơ bản, thiết thực, vững chắc. PCHL có thể thay đổi để phù hợp với phương châm chiến lược, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng LLVT.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:50:58 PM

        PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN, phương hướng cơ bản chỉ đạo hoạt động tác chiến của LLVT trong từng trận chiến đấu, chiến dịch và hoạt động tác chiến chiến lược phù hợp với điều kiện tác chiến cụ thể nhằm thực hiện ý định tác chiến. PCTC nêu bật những tư tưởng, nguyên tắc, phương pháp tác chiến cần nắm vững và được diễn đạt bằng những câu ngắn gọn, như: “đánh chắc, tiến chắc” (chiến dịch Điện Biên Phủ, 1954); “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” (chiến dịch Hồ Chí Minh 1975).

        PHƯƠNG DIỆN QUÂN (ngoại), liên binh đoàn chiến dịch - chiến lược dùng để tác chiến trên một hướng chiến lược hoặc một số hướng chiến dịch của chiến trường trên bộ; đơn vị tổ chức lớn nhất, có trong QĐ một số nước (LX, TQ, Nhật Bản). PDQ không có biên chế cố định. Thành phần chiến đấu của PDQ được xác định tuỳ theo yêu cầu và tính chất nhiệm vụ, chiến trường và nhiều điều kiện khác. Có thể có từ 3-4 đến 8-9 tập đoàn quân binh chủng hợp thành. 1-2 tập đoàn quân không quân, 1 tập đoàn quân phòng không, 1-3 tập đoàn quân xe tăng, một số quân đoàn cơ giới, kị binh và nhiều binh đoàn, binh đội các binh chủng, bộ đội chuyên môn và ngành nghiệp vụ. PDQ có thể hoạt động phối hợp với các PDQ khác trong chiến dịch chiến lược, hoặc độc lập chuẩn bị và thực hành các chiến dịch tiến công hoặc phòng ngự. Các PDQ LX đã đóng vai trở cơ bản trong việc tiêu diệt LLVT của phật xít Đức, Nhật trong CTTG-II.

        PHƯƠNG ĐÔNG (N. BOCTOK), 1) loạt tàu vũ trụ một chỗ ngồi đầu tiên của LX để bay trên qũy đạo gần Trái Đất. Đường kính 2,3m, khối lượng 4,3t, gồm: khoang hạ xuống (2,4t) và khoang thiết bị có động cơ hãm. Nhờ động cơ hãm, tàu rời khỏi quỹ đạo, khoang hạ xuống tách khỏi tàu và rơi xuống theo quỹ đạo đường đạn. Ở độ cao gần 7km nhà du hành vũ trụ phóng ghế và tiếp đất bằng dù, khoang hạ xuống tiếp đất bằng dù riêng; 2) tên lửa đẩy của LX, 3 tầng, nhiên liệu lỏng, dùng phóng các tàu vũ trụ; 3) chương trình nghiên cứu khả năng thực hiện chuyến bay tàu vũ trụ có người lái, các thử nghiệm khoa học, y - sinh học và kĩ thuật. Từ 1961 đến 1963, đã thực hiện 6 chuyến bay bằng tàu PĐ (x. bảng).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67316686_459301794799706_2527358309736906752_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeGcbcHbByXFr4cFrfCPvwlEGRkBVsMJgKnzXWL9Tfb9V0xC8u5Ug3OEeRC8bip578ytm8VIhnKqhna7-YSynB3cF8scCnMzmQlU1vBd2Iv3Hw&_nc_oc=AQkT3JvPF2rGk5ojcTE4TbHLCfJs82PeWqtYIogtug6k9yUin2z6heVx43iuFX6WhE8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=dbb334adf3a17cce7c4ec9542e9b6563&oe=5DA14758)


        PHƯƠNG HƯỚNG BÀN, khí tài quang học pháo binh, dùng đo góc hướng, góc phương vị từ, góc tà và xác định cự li (khi kết hợp với cọc tiêu). Sử dụng trong chỉ huy bắn, quan sát địa hình và mục tiêu, đo nối đội hình chiến đấu pháo binh... Các bộ phận chủ yếu: ống kính, kim nam châm quay, các cơ cấu định hướng và đo góc, đặt trên giá ba chân. Bội số phóng đại 4-8 lần. thị giới 5-10°. Giới hạn đo góc hướng và góc phương vị 360° (6.000 li giác); đo góc tà: -400 đến +800 li giác. Độ chính xác thường đến 1 li giác. PHB có thể có kính tiềm vọng để quan sát từ trong công sự. PHB xuất hiện từ cuối tkl9, trở thành một trong những khí tài quang học chủ yếu của pháo binh. Từ những năm 60 của tk 20 xuất hiện loại PHB con quay có độ chính xác đạt tới 0,5 li giác.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68482115_459301804799705_8074389738812866560_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeH0EZpypy7WrFU2dKjyZW1LwJ-QRfm_wdt8-UxefczgD-ntOZmDrqfg6YL1NxnNIsboFc5NAJgP7BRcaBdoLywZ7QmCe3L7gx11IsV_Cw6T4Q&_nc_oc=AQnU3nK229NEAWO8pP8ud0EySgpS8xd-EMKqrdTDqTi_KzMLIw46LqW0u6xzRDWSatg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3860aee2c91406594915e1d1050b152e&oe=5DE9CA3C)


        PHƯƠNG PHÁP BẮN PHÁO của pháo binh, cách thức tiến hành bắn từ một hoặc một số pháo (cối, xe chiến đấu) khi thực hiện nhiệm vụ bắn được giao. PPBP có: bắn gấp, bắn (phóng) loạt, bắn tốc độ đều, bắn phát một. PPBP phụ thuộc vào tính chất mục tiêu và điều kiện thực hiện nhiệm vụ hỏa lực; khi cần có thể kết hợp bắn gấp, bắn tốc độ đều và bắn loạt.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:52:12 PM

        PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG, cách thức tiến hành CM. gồm hệ thống những nguyên tắc xuất phát từ các quy luật khách quan của CM trong những điều kiện lịch sử cụ thể, nhằm huy động tối đa lực lượng quần chúng tham gia cách mạng xã hội. PPCM là sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học vớiVỚI tính nghệ thuật. PPCM của giai cấp vô sản được hình thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lénin và các quy luật của CM vô sản, mang tính chất quần chúng sâu sắc, tính thực tiễn phong phú và tính lịch sử cụ thể; được thể hiện bằng những hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp để thực hiện mục tiêu của CM XHCN. Những hình thức đấu tranh: khởi nghĩa từng phần; kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng; đánh địch bằng ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược; giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn,... là những nét nổi bật về PPCM của ĐCS VN.

        PHƯƠNG PHÁP ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN, cách thức, biện pháp, vận chuyển bộ đội cùng với vũ khí, trang bị vượt biển và đổ bộ lên bờ biển đối phương. Có ba PPĐBĐB: từ bờ tới bờ (bờ - bờ), từ tàu tới bờ (tàu - bờ), và kết hợp. PPĐBĐB từ bờ tới bờ là quân đổ bộ và các trang bị chiến đấu xuống tàu và phương tiện đổ bộ từ bờ biển của mình rồi vượt biển và đổ bộ thẳng vào bờ biển do đối phương chiếm giữ, không phải dừng lại để chuyển tải (phương pháp này sử dụng khi thời gian vượt biển ngắn và có đủ phương tiện đổ bộ chuyên dụng). PPĐBĐB từ tàu tới bờ (tàu - bờ): quân đổ bộ và trang bị chiến đấu vượt biển bằng tàu vận tải hoặc tàu đổ bộ lớn. khi đến gần bờ biển do đối phương chiếm giữ phải dừng lại. chuyển sang các phương tiện đổ bộ chuyên dụng (kể cả máy bay trực thăng) rồi tiến vào bờ để đổ bộ (phương pháp này sử dụng khi thời gian vượt biển dài và khi không đủ phương tiện chuyên dụng). PPĐBĐB kết hợp: một bộ phận quân đổ bộ dùng phương pháp bờ - bờ, một bộ phận dùng phương pháp tàu - bờ. Ngày nay quân đổ bộ được đưa từ tàu vào bờ theo hai chiều: chiểu ngang, bàng các phương tiện dãn nước và lướt trên mặt nước (tàu đệm khí); chiều thẳng đứng, bằng máy bay trực thăng. Đổ bộ thẳng đứng trở thành bộ phận hữu cơ của đổ bộ đường biển hiện đại.

        PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN, cách thức, biện pháp truyền đạt và tiếp thu tri thức QS, rèn luyện năng lực thực hành, giáo dục bản lĩnh chính trị cho quân nhân và đơn vị để thực hiện mục đích, yêu cầu và nội dung huấn luyện. Tùy đối tượng, mục đích, nội dung huấn luyện mà vận dụng phương pháp thích hợp: giảng thuật, giảng giải; trao đổi, thảo luận, tự học; làm mẫu (trình bày trực quan), làm bài tập, luyện tập, diễn tập...

        PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC QUÂN SỰ, hệ thống cách thức, biện pháp, thủ pháp được áp dụng để tiến hành công tác nghiên cứu khoa học QS. Trong LLVTND VN, PPNCKHQS phải có tính đảng (tính giai cấp), tính khách quan khoa học, có chứng minh chặt chẽ, có quan điểm lịch sử và tính dự báo khoa học cao, thống nhất lí luận với thực tiễn, cách tiếp cận cụ thể và sáng tạo. Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong khoa học QS thường được chia thành các nhóm: phương pháp triết học (phép biện chứng duy vật) là cơ sở  của toàn bộ hệ thống các phương pháp áp dụng trong công tác nghiên cứu QS; phương pháp khoa học chung như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp tự nhiên và mô hình, quan sát, điều tra, thực nghiệm, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch...; phương pháp chuyên ngành khoa học QS như trinh sát, thăm dò, hỏi cung, tập bài (chiến thuật, chiến dịch, chiến lược), diễn tập, thử nghiệm vũ khí và KTQS tại bãi thử... Tùy theo tính chất và yêu cầu của từng đề tài hoặc công trình nghiên cứu cụ thể mà áp dụng phương pháp nghiên cứu cho phù hợp. Để không ngừng hoàn thiện PPNCKHQS phải kịp thời ứng dụng những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học.

        PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC QUÂN SỰ, hệ thống cách thức, thù pháp để tìm hiểu, nhận biết những hiện tượng, sự kiện, hoạt động QS. Trong LLVTND VN, PPNTQS lấy phép biện chứng duy vật làm nền tảng. Để giúp cho việc nhận thức QS được đúng đắn, phải sử dụng các phương pháp khoa học chung và những phương pháp đặc thù của khoa học QS, trong đó, thực nghiệm ở thao trường, diễn tập cơ quan chỉ huy, diễn tập bộ đội, tính toán chiến thuật, chiến dịch và chiến lược được coi trọng.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:53:27 PM

        PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN, tổng thể các cách thức, biện pháp, thủ đoạn sử dụng lực lượng đánh địch để thực hiện nhiệm vụ tác chiến. Có PPTC chiến lược, PPTC chiến dịch, phương pháp chiến đấu. PPTC phụ thuộc vào: sức mạnh chiến đấu  của LLVT, mục đích chính trị QS của chiến tranh (tác chiến), nhân tố chính trị tinh thần và truyền thống đấu tranh của quân dân mỗi bên, so sánh lực lượng, thế trận chiến tranh chung, bố trí lực lượng cụ thể và tính chất hoạt động của đối phương, điều kiện địa lí chiến trường và các điều kiện khác. Trong từng cuộc chiến tranh và từng giai đoạn của nó, trong từng loại tác chiến và hình thức tác chiến, từng loại LLVT, mỗi quân chủng, binh chủng, có thể vận dụng các PPTC không giống nhau. PPTC chủ yếu của LLVTND VN là tích cực và chủ động tiến công, đánh địch ở mọi nơi có địch, phối hợp tác chiến với đấu tranh chính trị và địch vận. kết hợp tác chiến các quy mô, tiêu diệt, tiêu hao địch rộng khắp kết hợp với tiêu diệt lớn từng bộ phận quân địch, đánh nơi địch yếu, lúc địch yếu; đánh trận ở thế lợi và thế mạnh, nhất là ở địa điểm và thời gian có lợi. đánh bất ngờ, đánh nhanh giải quyết nhanh với các hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, vận động tiến công, đánh điểm (vây điểm) diệt viện,... trong những điều kiện phát huy được cái mạnh của lực lượng ta và hạn chế được cái mạnh của địch. Trong từng chiến dịch (trận chiến đấu), xác định PPTC thường gồm: hướng chủ yếu và các hướng khác, bố trí chiến dịch (đội hình chiến đấu), tổ chức hỏa lực sát thương, trình tự thực hiện các đòn đánh, các trận then chốt và trận then chốt quyết định, vận dụng mưu kế, thế trận, các biện pháp, thủ đoạn tác chiến đưa tiến trình chiến dịch (trận chiến đấu) đến kết cục đã dự kiến. Trong các tài liệu QS VN, PPTC cg cách đánh và phương thức tác chiến.

        PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN CHIẾN DỊCH, phương pháp tác chiến thể hiện ở việc lập thế ta, phá thế địch, tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng, vận dụng các biện pháp chiến dịch và các thủ đoạn chiến đấu, các hình thức chiến thuật để đánh địch, hoàn thành nhiệm vụ từng đợt và toàn chiến dịch. Có PPTCCD: tiến công, phản công, phòng ngự... Mỗi loại chiến dịch có phương pháp tác chiến phù hợp với nhiệm vụ, đặc điểm địch, ta, địa hình, thời tiết. Nội dung chủ yếu: dựa vào khu vực phòng thủ địa phương để lập thế, chuyển thế chiến dịch; chọn khu vực (hướng), mục tiêu, đối tượng tác chiến; vận dụng kết hợp các biện pháp chiến dịch, các thủ đoạn tác chiến, các hình thức chiến thuật, chia đợt (bước) chiến dịch, xác định các trận then chốt; tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng...

        PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN CHIẾN LƯỢC X. PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN

        PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN ĐẶC CÔNG, phương pháp tác chiến thể hiện ở việc tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng đặc công; cơ động và tiếp cận mục tiêu; vận dụng các thủ đoạn tác chiến; trình tự sát thương mục tiêu, rời khỏi chiến đấu hoặc chuyển sang tiến hành nhiệm vụ khác. Có PPTC chung cho các loại đặc công: tập kích bí mật, phá hủy bí mật; có PPTC cho từng loại đặc công như: đặc công biệt động có tập kích hóa trang, phục kích hóa trang, đánh nổ hẹn giờ hóa trang; đặc công nước còn có tập kích đảo bằng tàu thuyền; đặc công cơ động có tập kích bằng máy bay trực thăng. Theo cách vận dụng, có PPTC hỗn hợp như tập kích bí mật kết hợp với phá hủy bí mật...

        PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN KHÔNG QUÂN, phương pháp tác chiến thể hiện ở việc tổ chức, sử dụng lực lượng không quân thực hiện nhiệm vụ tác chiến. Tùy thuộc vào nhiệm vụ được giao, khả năng và lực lượng thời gian cho phép, khu vực mục tiêu, vị trí xuất phát ban đầu, yêu cầu vế mức độ khẩn trương trong chiến đấu để chọn PPTC phù hợp. PPTC trên không có: đánh chặn từ vị trí trực ban trên sân bay, đánh chặn từ vị trí trực ban trên không, tự tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu trên không. Khi bảo đảm hoạt động chiến đấu cho đơn vị không quân khác, PPTC gồm: yểm hộ trực tiếp trong đội hình (hộ tống), yểm hộ khu vực, quét sạch vùng trời, không chế sân bay địch. Khi đánh các mục tiêu trên mặt đất (mặt nước), PPTC gồm: đánh mục tiêu cho trước trong thời gian quy định, đánh theo lệnh gọi, tự tìm và tiêu diệt mục tiêu, cơ động phục kích.

        PHƯƠNG THỨC BÁO ĐẢM HẬU CẦN. tổng thể các phương pháp, hình thức về tổ chức và bảo đảm hậu cần. Có ba PTBĐHC cơ bàn: bảo đảm tại chỗ; cơ động từ nơi khác đến: kết hợp bảo đảm tại chỗ với cơ động từ nơi khác đến hình thành bảo đảm hậu cần theo khu vực. Ngoài ra. xét về mặt cung cấp còn có các PTBĐHC: bảo đảm bằng tiền; bảo đảm bằng hiện vật: kết hợp bảo đảm bằng tiền với bảo đảm bằng hiện vật theo phân cấp.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:54:56 PM

        PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, tổng thể cách thức, biện pháp hoạt động của bộ đội biên phòng để quản lí. bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn an ninh biên giới quốc gia. PTHĐCBĐBP bao gồm: hoạt động vũ trang biên phòng, kiểm soát biên phòng, trinh sát biên phòng, vận động quần chúng, làm tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương... thực hiện trong các hình thức bảo vệ biên giới thường xuyên, bảo vệ biên giới tăng cường, bảo vệ biên giới khi có chiến tranh và trong các trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm từng tuyến biên giới, mối quan hệ với nước tiếp giáp, tình hình hoạt động của địch và các loại đối tượng, tình hình nhân dân và các lực lượng hiệp đồng, đường lối chính sách của Đáng, pháp luật của Nhà nước... bộ đội biên phòng dề ra phương thức hoạt động phù hợp.

        PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT, cách thức con người tạo ra của cải cho xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định: sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; bộ phận cấu thành hình thái kinh tế - xã hội. PTSX quyết định kết cấu xã hội và bộ mặt chính trị. tinh thần của xã hội. Khi PTSX thay đổi, kiến trúc thượng tầng thay đổi tương ứng. Lịch sử phát triển xã hội là sự thay thế nhau của các PTSX theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Xã hội loài người đã trải qua các PTSX cơ bản: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ. phong kiến. TBCN và XHCN.

        PHƯƠNG THỨC TÁC CHIẾN X. PHƯƠNG PHÁP TÁC CHIẾN

        PHƯƠNG THỨC TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH, cách tiến hành chiến tranh nhằm đạt tới mục đích chính trị của nó. PTTHCT phụ thuộc vào tính chất, mục đích của chiến tranh, vào các điều kiện QS, chính trị, kinh tế, địa lí, văn hóa, xã hội. lịch sử truyền thống dân tộc, bối cảnh quốc tế, đồng thời có tính đến PTTHCT của đối phương. PTTHCT ngày càng mang tính chất đa dạng, tổng hợp. nhưng đấu tranh vũ trang vẫn giữ vai trò chủ yếu. Trong KCCP và KCCM của nhân dân VN, PTTHCT của chiến tranh nhân dân Việt Nam là sự thể hiện của phương pháp CM trong chiến tranh với nội dung rất phong phú và sáng tạo. Đó là PTTHCT toàn dân, toàn diện, kết hợp tiến công QS với nổi dậy của quần chúng, kết hợp đấu tranh QS với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực... PTTHCT đó đã góp phần đưa hai cuộc KCCP và KCCM của nhân dân VN tới thắng lợi hoàn toàn.

        PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI. cách thức tổ chức và biện pháp sử dụng lực lượng, phương tiện vận tải. Theo loại phương tiện có các phương thức: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, đường ống...; theo tính chất kĩ thuật phương tiện, có các phương thức: thô sơ, cơ giới. Đẽ thực hiện nhiệm vụ vận tải có thể vận dụng kết hợp các phương thức.

        PHƯƠNG TIỆN nh PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT

        PHƯƠNG TIỆN BÁO ĐẢM CHIẾN ĐÂU, phương tiện kĩ thuật quân sự được dùng để bảo đảm tác chiến. Gồm: phương tiện trinh sát, phương tiện tác chiến diện tử, phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện ngụy trang, phương tiện bảo đảm công trình, phương tiện bảo đảm hóa học...

        PHƯƠNG TIỆN CHIẾN ĐẤU, phương tiện kĩ thuật quân sự cơ bản dùng để trực tiếp tiêu diệt sinh lực, phương tiện KTQS và những mục tiêu khác của đối phương. Bao gồm: phương tiện sát thương (đạn, tên lửa, bom. mìn...), phương tiện bắn phóng (súng, pháo, bệ phóng tên lửa...), khí tài điều khiến vũ khí, phương tiện mang (máy bay, xe tăng, tàu chiến...) và các tổ hợp vũ khí (tổ hợp tên lửa phòng không, tổ hợp tên lửa chống tăng...).

        PHƯƠNG TIỆN CỨU KÉO. gọi chung những phương tiện dùng để mang, chờ người (thương binh, tù binh, dân thường...) hoặc quân trang, đạn dược, lương thực, thuốc men,... kéo dắt trang bị KTQS hóng hóc, sa lầy, kẹt trong khu vực chiến sự. khu vực nguy hiểm, đến địa điểm quy định. Thường gồm những phương tiện cơ giới đặc chủng như xe kéo (xe tăng, xe xích, đầu kéo bánh lốp...), xe vận tải có lắp tời, cẩu, xe cẩu, xe cứu thương, tàu, máy bay... và nhiều loại phương tiện cơ động khác (của cả QS và dân sự) được huy động khi cần thiết. PTCK có thể được biên chế trong đội hình bảo đảm kĩ thuật (thành các phân đội cứu kéo) hoặc nằm trong đội hình tác chiến (trong phân đội. binh đội...) hay phục vụ tác chiến (phân đội, binh đội vận tải).


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:56:26 PM

        PHƯƠNG TIỆN DẪN ĐƯỜNG, gọi chung những thiết bị hoặc hệ thống thiết bị dùng để dẫn khí cụ bay, phương tiện hàng hải, phương tiện cơ giới trên bộ chuyển động đúng quỹ đạo, đúng hướng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện. Gồm: tổ hợp dẫn đường, hệ thống dẫn đường và khí tài dẫn đường. Tổ hợp dẫn đường, hệ thống dẫn đường thường là các trạm (trung tâm) đặt trên mặt đất, vệ tinh nhân tạo của Trái Đất hoặc máy bay, có nhiệm vụ thông báo tọa độ. hướng vectơ tốc độ của dối tượng cần được dẫn. Khí tài dẫn đường lắp trên đối tượng, tiếp nhận thông tin nói trên để người lái hoặc thiết bị đặc biệt (tự động) điều chỉnh hướng chuyển động. Trong các ngành hàng không, hàng hải và QS. PTDĐ đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu được. Một số hệ thống thiết bị và khí tài thuộc PTDĐ hàng không: hệ thống dẫn đường gần và hạ cánh RSPN-4N, 5C, 6C, TACAN, đài dẫn đường hạ cánh VOR-ILS, SP-50, la bàn vô tuyến ARK, RKL... Hiện nay Mĩ có hệ thống dẫn đường vệ tinh NAVSTAR, hệ thống định vị toàn cầu (dùng vệ tinh) GPS và Nga có GLONAX.

        PHƯƠNG TIỆN ĐềỂ PHÒNG TẬP THỂ. gọi chung các công trình cố định và phương tiện di động có cấu tạo đặc biệt hoặc thiết bị chuyên dùng để bảo vệ nhiều người, trang bị kĩ thuật quan trọng khỏi tác động của vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học. PTĐPTT hiện đại có khả năng bảo đảm điều kiện làm việc bình thường cho các SCH, đài điểu khiển, bệnh viện, trạm quân y, kíp lái. thường dân... PTĐPTT cố định gồm hầm, công sự kín (có thiết bị thông gió - lọc độc hoặc cách li với mời trường) và được phân cấp theo mức độ chống chấn động do sóng xung kích của vụ nổ hạt nhân hoặc theo dạng (nổi, chìm, hàm ếch...). PTĐPTT di động gồm xe tăng, xe thiết giáp, xe đặc chủng, tàu chiến có thiết bị thông gió - lọc độc.

        PHƯƠNG TIỆN ĐO ĐẠC, gọi chung những thiết bị, máy móc, khí tài, dụng cụ dùng để xác định tọa độ mục tiêu, khoảng cách, độ cao, độ sâu trên mặt đất, trên không hoặc dưới nước. Các đại lượng đo là góc và độ dài. Theo nguyên lí làm việc, chia ra các loại: quang học, vô tuyến, âm thanh... Theo chức năng, có: máy định vị, máy đo độ cao, máy đo xa; máy thủy chuẩn, máy kinh vĩ, máy toàn đạc... PTĐĐ thường được lắp trên các phương tiện cơ động (khí cụ bay, xe đo, tàu biển...) hoặc mang vác theo người. Được dùng rộng rãi trong dân sự (hàng không, hàng hải, thiên văn, khí tượng, trắc địa, bản đồ, xây dựng...) và QS (không quân, hải quân, phòng không, pháo binh, công binh...).

        PHƯƠNG TIỆN ĐO LƯỜNG CHUẨN nh CHUẨN ĐO LƯỜNG

        PHƯƠNG TIỆN ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN, gọi chung các tàu mặt nước chuyên dùng để chở và đổ quân cùng vũ khí, trang bị kĩ thuật lên bờ. PTĐBĐB có kết cấu thuận lợi cho việc xếp, đổ quân và vũ khí, trang bị kĩ thuật (mớn nước nông, khoang chứa rộng, đáy dễ tiếp cận bờ, cầu lên bờ đóng mở ngay ở mũi tàu...), có phương tiện bốc dỡ hàng, thiết bị hàng hải, thiết bị thông tin, được trang bị vũ khí để tự vệ và chi viện hỏa lực cho quân đổ bộ. Theo lượng choán nước và tải trọng, có: lớn, vừa và nhỏ; theo chức năng, có: tàu đổ bộ. phương tiện vận tải đổ bộ, phương tiện bổ trợ đổ bộ. Tùy theo địa hình, việc đổ bộ có thể tiến hành trực tiếp từ PTĐBĐB hoặc phải qua các phương tiện bổ trợ (xuồng, xe lội nước...). Hiện nay các loại tàu đổ bộ của Mĩ thường có tải trọng 13- 375t, của Nga tải trọng <100-150t. Các phương tiện vận tải đổ bộ có lượng giãn nước tới 40.000t. chở được hàng ngàn quân, tới 30 máy bay trực thăng, 30 xe tăng và hàng chục xe vận tải...

        PHƯƠNG TIỆN GÂY CHÁY, gọi chung những bộ phận, thiết bị hoạt động tạo ra tia lửa để đốt cháy thuốc phóng, nhiên liệu tên lửa. thuốc hỏa thuật. Gồm hạt lửa, hạt lứa điện, bộ lửa, mồi lửa điện, dây cháy chậm, nụ xòe, ngòi châm lửa. Hạt lửa điện dùng nhiệt do dòng điện sinh ra để phát ra tia lửa. Bộ lửa gồm hạt lửa, cơ cấu bịt kín, liều thuốc phóng có khói hoặc thuốc hỏa thuật được đặt trong một vỏ; được dùng trong đạn pháo (cối) để mồi cháy liều phóng khi bắn. Mồi lứa điện gồm hạt lửa điện, bộ phận tiếp xúc, thuốc bắt lừa (thuốc phóng có khói) đặt trong một vỏ; được dùng cho đạn phản lực, tên lửa... PTGC được dùng rộng rãi trong công tác nổ, trong đạn dược.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:57:39 PM

        PHƯƠNG TIỆN GÂY NHIỄU, phương tiện tác chiến điện tử dùng để tạo nhiễu điện tử. Có PTGN tích cực và PTGN thụ động. PTGN tích cực gồm các máy phát nhiễu, tạo ra bức xạ điện từ (có hoặc không điều biến, liên tục hoặc xung, có công suất phát và tần số thích hợp để gây nhiễu đài rađa. hệ thống điều khiển hỏa lực, hệ thống thông tin liên lạc, đầu tự dẫn tên lửa...; có loại sử dụng nhiều lần hoặc một lần. PTGN tích cực có thể đặt trên khí cụ bay (máy bay tác chiến điện từ, máy bay chiến đấu, máy bay trực thăng...), trên tàu chiến, trên bộ (trên xe hoặc mặt đất), hoặc bố trí thả đặt ở những nơi cần thiết. PTGN thụ động gồm những thiết bị đặt trên khí cụ bay, trên tàu chiến, trong đạn phản lực, tên lửa để phóng, rải những vật để gây nhiễu hoặc đánh lừa vũ khí có điều khiển có đầu tự dẫn lade, hồng ngoại, truyền hình còn có thể dùng mục tiêu giả, bẫy hồng ngoại, pháo sáng, màn khói, xon khí... PTGN xuất hiện trong CTTG-II. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng hàng chục loại PTGN tích cực như: AN/ ALQ-71, 72, 857 86, 92 93, 94, 98, 99 (đặt trên máy bay); GLQ-2,3, -3A; MLQ-7, 8, 9 22, 28, 29, 34; TLQ-15, 17A... (đặt trên mặt đất); SLQ-12A, 13, 14, 17, 19... (đặt trên tàu chiến); T-1219, A2Q-112, 134 (đài nhiễu sử dụng một lần) và những PTGN thụ động như: ALE-28, 29, 32, 38, 39, 40, 41 (đặt trên máy bay) để gây nhiễu hệ thống rađa và tên lửa phòng không của VN.

        PHƯƠNG TIỆN GÂY NỔ, gọi chung những bộ phận, thiết bị tạo ra xung nổ để kích nổ khối thuốc nổ khác. Gồm: kíp nổ, kíp nổ điện, dây nổ, trạm nổ (liều thuốc nổ phá có độ nhạy với xung nổ của kíp nổ để kích nổ hoàn toàn lượng thuốc nổ chính của đạn dược), ngòi nổ. PTGN được sử dụng rộng rãi trong công tác nổ, trong đạn dược...

        PHƯƠNG TIỆN HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ, phương tiện kĩ thuật quân sự dùng trong huấn luyện bộ đội, đào tạo nhân viên chuyên môn để nâng cao chất lượng, hiệu quả huấn luyện, giúp họ nắm sâu kiến thức lí thuyết, hình thành và tập luyện kĩ năng thực hành, kiểm tra đánh giá kết quả huấn luyện. PTHLQS được phân loại: theo quân chủng, binh chủng (bộ binh, pháo binh, công binh, phòng không, không quân, hải quân, tăng thiết giáp...); theo mức độ ứng dụng kĩ thuật và nguyên lí hoạt động (giản đơn, cơ khí, cơ - điện, điện tử, tự động hóa, ứng dụng máy tính điện tử và tin học, tạo giả, mô phỏng...); theo số lượng người được huấn luyện (cá nhân, tập thể); theo chức năng công dụng (truyền tải thông tin, kiểm tra kiến thức, luyện tập kĩ năng thực hành) và theo những dấu hiệu khác. Những PTHLQS thường gặp: bia, vũ khí huấn luyện, cabin tập lái, khí tài tập bắn... Sừ dụng PTHLQS cho phép giảm thời gian và chi phí huấn luyện.

        PHƯƠNG TIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ, gọi chung vũ khí, khí tài, xe, máy, tàu thuyền, máy bay,... chiến đấu và không chiến đấu, thiết bị và vật tư kĩ thuật khác để phục vụ nhiệm vụ QS. Theo môi trường sử dụng, PTKTQS có các loại: trên mặt đất, trên biển, trên không, trên vũ trụ; theo quân chủng, binh chủng sử dụng, PTKTQS có các loại: không quân, hải quân, phòng không, lục quân, pháo binh, công binh, hóa học, tên lửa...; theo công dụng, PTKTQS chia ra: phương tiện chiến đấu, phương tiện bảo đảm chiến đấu, phương tiện huấn luyện quân sự, phương tiện nghiên cứu khoa học, phương tiện thử nghiệm, phương tiện tuyên truyền...; theo chức năng hoạt động, PTKTQS chia ra: phương tiện hủy diệt (đạn dược), phương tiện bắn phóng (súng, pháo, bệ phóng tên lửa...), phương tiện mang vũ khí (máy bay, xe tăng...), phương tiện phục vụ chỉ huy bộ đội và điều khiển phương tiện chiến đấu (x. khí tài), phương tiện bảo đảm kĩ thuật...

        PHƯƠNG TIỆN NGỤY TRANG, phương tiện bảo đảm chiến đấu gồm các trang thiết bị, vật liệu (tự nhiên hoặc nhân tạo) dùng để ngụy trang. Có các loại: thiết bị phun (đạn, hộp) khói, thiết bị gây nhiễu, thiết bị che chắn ánh sáng, thiết bị phản xạ sóng rađa, thiết bị giảm thanh, mô hình giả, lưới, quần áo ngụy trang... Vật liệu ngụy trang gồm các loại sơn, thuốc màu, vải, lá cây, cành cây hoặc cây, vầng cỏ, đất, cát, tuyết, xỉ than... Trong KCCP và KCCM, quân và dân VN đã tận dụng có hiệu quả các PTNT thiên nhiên để che giấu, bảo đảm an toàn các hoạt động tác chiến.

        PHƯƠNG TIỆN PHÁT HỎA nh PHƯƠNG TIỆN GÂY CHÁY

        PHƯƠNG TIỆN RÀ PHÁ MÌN. gọi chung các thiết bị, khí tài dùng để dò tìm, phát hiện, tháo gỡ, hoặc phá hủy mìn và đạn dược khác. Có: PTRPM cầm tay (vd: máy dò bom mìn cầm tay...), PTRPM cơ giới (xe tăng, xe xích, tàu, thuyền được trang bị máy dò mìn, lưới quét mìn, con lăn, móc leo, thiết bị thủy âm, thiết bị phát từ, lade...). Ngoài ra, để phá mìn (bom), còn dùng các phương tiện phóng chuỗi lượng nổ tập trung hoặc lượng nổ dài (x. tên lửa phá rào), đặc biệt là lượng nổ xon khí (x. đạn dược xon khí) có hiệu suất phá mìn rất cao.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 08:58:46 PM

        PHƯƠNG TIỆN RẢI MÌN, gọi chung các máy móc, thiết bị, đạn,... chuyên dùng để rải mìn. Có bốn nhóm chính: PTRM công binh, PTRM không quân, PTRM pháo binh và PTRM hải quân. PTRM công binh có: moóc rải mìn, cơ cấu để chôn mìn trong đất hoặc đặt mìn trên mặt đất. PTRM không quân đặt trong khoang chứa hàng hoặc treo ở phía ngoài máy bay trực thăng, máy bay vận tải để phóng (rải) mìn. PTRM pháo binh gồm: pháo và đạn có chứa mìn. Trong QĐ một số nước đã có PTRM bộ binh (do người mang) gồm máy phóng, đạn chứa mìn, cự li và diện tích rải không lớn.

        PHƯƠNG TIỆN TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ, phương tiện bảo đảm chiến đấu dùng để thực hiện tác chiến điện tử. Gồm: phương tiện trinh sát diện tử, chống trinh sát điện tử, phương tiện chế áp vô tuyến diện tử và chống chế áp vô tuyến điện tử... PTTCĐT được đặt trên mặt đất, trên khí cụ bay, tàu chiến,... có loại đặt trên phương tiện mang chuyên dụng (vd: máy bay tác chiến diện tử), hoặc đặt ngay trên phương tiện chiến đấu (hầu hết các phương tiện chiến đấu hiện đại đều được trang bị PTTCĐT). PTTCĐT có thể bố trí riêng lẻ hoặc thành một hệ thống liên hoàn (vd: hệ C3I, C4I2).

        PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN LIÊN LẠC quân sự phương tiện bảo đảm chiến đấu gồm các máy móc, thiết bị, khí tài, dụng cụ,... để bảo đảm thông tin liên lạc quân sự. Có các loại: PTTTLL hữu tuyến điện; PTTTLL vô tuyến điện; PTTTLL quân bưu (vận động) và PTTTLL tín hiệu... Trong tác chiến, để bảo đảm thông tin liên lạc thường xuyên thông suốt phải kết hợp các PTTTLL.

        PHƯƠNG TIỆN TRINH SÁT ĐIỆN TỬ, bộ phận của phương tiện tác chiến điện tử gồm những thiết bị kĩ thuật để tiến hành trinh sát điện tử. PTTSĐT có thể đặt trên khí cụ bay (máy bay có hoặc không người lái, khí cầu, vệ tinh, tên lửa, tàu vũ trụ...), trên hoặc dưới mặt nước (tàu mặt nước, tàu ngầm, phao tiêu...), trên bộ (mặt đất, xe...); có thể đật cố định hay cơ động (trên phương tiện mang). PTTSĐT xuất hiện lần đầu tiên (1904) trong chiến tranh Nga - Nhật. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng nhiều PTTSĐT hiện đại (máy bay trinh sát điện tử EB-66, cây nhiệt đới, hệ thống PTTSĐT của hàng rào điện tử Mac Namara...). Hiện nay PTTSĐT rất đa dạng, có tầm hoạt động lớn, độ phân giải cao, hoạt động tin cậy, thu thập và xử lí thông tin trinh sát tự động, kịp thời, chính xác.

        PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI QUÂN SỰ, gọi chung các phương tiện cơ giới hoặc thô sơ (ô tô, xe lửa, tàu, thuyền, máy bay, xe đạp, đường ống...) dùng để vận chuyển bộ đội, vũ khí, trang thiết bị KTQS, vật chất hậu cần trong cả thời bình và thời chiến. Theo nguồn động lực sử dụng cho việc di chuyển, có hai loại PTVTQS: cơ giới và thô sơ. Theo môi trường hoạt động, có các PTVTQS: đường bộ, đường thủy, đường không, đường sắt. Nhiều PTVTQS có nguồn gốc là các phương tiện vận tải thông dụng trong hoạt động xã hội và lĩnh vực kinh tế quốc dân, được cải tiến, thay đổi kết cấu, phù hợp với hoạt động QS. Ngoài ra, có các PTVTQS được chế tạo chuyên dùng cho mục đích QS.

        PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT, gọi chung tài sản, vật dụng, vật phẩm và công cụ dùng để bảo đảm mọi mặt cho LLVT. Gồm các loại trang bị, đạn dược, nguyên liệu, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, các vật dụng sinh hoạt, y tế... PTVC có khi gọi tất là “phương tiện” (vd: lực lượng và phương tiện) và “vật chất” (vd: bảo đảm vật chất).

        PHƯƠNG TIỆN VƯỢT SÔNG, phương tiện bảo đảm chiến đấu gồm các trang thiết bị, kết cấu để người và trang bị kĩ thuật vượt qua chướng ngại nước. Có các loại: chế sẵn và ứng dụng. PTVS chế sẵn được sản xuất công nghiệp, gồm: PTVS cơ giới (xe lội nước, phà tự hành, tàu, ca nô, thuyền gắn máy...), cầu cơ giới (kể cả xe nhịp cầu, chân cầu và thiết bị bắc cầu), PTVS cá nhân (thuyền, phao cao su, bộ đồ bơi lặn...). PTVS ứng dụng làm bằng vật tư, vật liệu tại chỗ, gồm: bè, mảng, đoạn cây, ván, vật nổi (các thùng, chum, phuy...). Cg trang bị vượt sông.

        PHƯƠNG TIỆN VƯỢT SÔNG TỰ HÀNH, phương tiện vượt sông cơ động được cả trên bộ và trên mặt nước, dùng để chuyên chở pháo, tăng, phương tiện vận tải, khí tài QS, bộ binh,... vượt chướng ngại nước. PTVSTH có các loại 1 hoặc 2 xe (nối ghép tự động trên mặt nước). Khi cơ động trên mặt nước. PTVSTH dùng guồng xích, chân vịt dẫn động bằng xe cơ sở hay hệ thống bơm phụt. Các PTVSTH hiện đại có thể lắp ghép thành phà diện tích rộng hay cầu nổi. Vd: loại 1 xe có xe xích lội nước PTS, xe lội nước bánh lốp BAV; loại 2 xe có phà tự hành GSP...


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:00:36 PM

        PHƯƠNG TRẬN (cổ), đội hình chiến đấu của bộ binh, xếp theo hình vuông bốn mặt đểu là chính diện. PT ra đời từ khi ỌĐ sử dụng vũ khí lạnh và dùng cách đánh giáp lá cà để quyết định thắng bại. Tk 8-5tcn, theo đà phát triển của vũ khí và sự mở rộng quy mô chiến đấu, PT từ giản đơn đã chuyển thành PT có các đơn vị “kì”, “chính”, “du binh” và từ vuông có thể đổi thành tròn, cong, thẳng, nhọn. Giữa tk 16, sau khi hỏa khí được vận dụng rộng rãi trên chiến trường và ngày càng được cải tiến, PT không thích hợp nữa và dần dần nhường chỗ cho đội hình tuyến, đội hình tán binh.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67327724_459301824799703_4092659394167177216_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeHEGd2HzsfgR6OVkZ7rjWhZjNfGfPf3ABojNtjer4Z1WYlw7iOsfJyM6wU4mXE4O1ro5M4qHU1N-EFGbHrU9uvwpmZN4N8dG-QbMh5PLUISGg&_nc_oc=AQnoNy4GN2rdjeJkVXb7OB0H6AWK3utiMs2JYpczJaTrZFr-xF1NUfUoekC9hzJsm_A&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=063d8cc02ce1d1bdc099b039a0edc60f&oe=5DE61C59)


        PHƯỢNG HOÀNG*, đèo ở h. Ninh Hoà (t. Khánh Hoà), tây Ninh Hoà 36km ưên QL 26, dài 11 km (từ km 25 đến km 36), độ dốc 7-10%, có 5km uốn khúc liên tục, cua hẹp, vách taluy cao, vực sâu.

        PHƯỢNG HOÀNG**, chương trình hoạt động của CIA và chính quyền Sài Gòn bằng sự phối hợp nỗ lực cả QS và dân sự, thu thập tình báo, tập trung đánh phá tiêu diệt tổ chức cơ sở hạ tầng của CM miền Nam VN (1968-72). Gồm ba mục tiêu: tranh thủ sự hợp tác của nhân dân địa phương với Mĩ và chính quyền Sài Gòn; làm suy giảm các hoạt động QS, chính trị của lực lượng CM; phát hiện và tiêu diệt cán bộ cơ sở của CM. ngăn chặn phong trào nổi dậy. Để thực hiện mục tiêu trên. Mĩ và chính quyền Sài Gòn thành lập ủy ban PH có hệ thống từ trung ương đến cơ sở do người đứng đầu chính quyền các cấp làm chủ tịch; gồm các lực lượng: công an, cảnh sát, an ninh, tình báo, QĐ, chiêu hồi... tham gia; có nhiệm vụ: hoạch định và chỉ đạo hoạt động tình báo và tâm lí chiến của bộ máy chính quyền. PH được triển khai thành nhiều giai đoạn và có chỉ tiêu cụ thể cho mỗi giai đoạn. Do tính chất tàn ác, hiểm độc nên PH đã được Mĩ và chính quyền Sài Gòn mệnh danh là “con chim thần chết” và được coi là một “phương thức” hoạt động có nhiều kết quả của chính sách bình định của Mĩ ở miền Nam Việt Nam.

        PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ (Trung Kinh, Phượng Hoàng Thành), thành do vua Quang Trung xây dựng trên núi Kì Lân (gọi là núi Con Mèo) ở sườn tây bắc Núi Quyết, thuộc xã Dũng Quyết, h. Châu Phúc, Nghệ An, nay là phường Trung Đô, tp Vinh, t. Nghệ An. Nằm ở vị trí trọng yếu, án ngữ đường Thiên Lí từ Bắc vào Nam, đường thủy từ biển vào trấn Nghệ An. Được xây dựng dựa theo thế núi, sông, gồm hai lớp: Thành Ngoại có dạng hình thang, chu vi khoảng 1,700m, cao l,7m, mặt tường thành rộng l,2m, chân rộng l,7m; Thành Nội có dạng hình chữ nhật, chu vi trên l.000m, bên trong Thành Nội hiện còn dấu vết của Lầu Rồng, điện Thái Hòa...

        PHƯỢNG HOÀNG VỒ MỒI, thủ đoạn tác chiến dùng máy bay trực thăng lùng diệt lực lượng nhỏ lẻ của đối phương do QĐ Mĩ và QĐ Sài Gòn thực hiện trong chiến tranh xâm lược Nam VN (1954-75). Khi áp dụng PHVM, dùng máy bay trực thăng chở biệt kích, thám báo săn lùng lực lượng nhỏ lẻ của đối phương; khi phát hiện thì nhanh chóng đổ quân xuống đất tiến công tiêu diệt, bắt tù binh. PHVM là tên gọi do QGPMN VN đặt ra.

        PI NĂNG TẮC (Ông Già Râu; 1910-87), Ah LLVTND (1965). Dân tộc Ra Giai, quê xã Phước Thành, h. Ninh Sơn, t. Ninh Thuận; tham gia CM 1946; đv ĐCS VN (1952); khi tuyên dương Ah là chính trị viên phó huyện đội Bác Ái (nay là h. Ninh Sơn). Trong KCCP và KCCM, 1946-65 có công vận động nhân dân tham gia kháng chiến, xây dựng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Chu Ru và Ra Giai, tổ chức và chỉ huy du kích ở nhiều xã trong h. Ninh Sơn đánh địch giữ làng và tăng gia sản xuất lương thực ủng hộ kháng chiến, nuôi giấu nhiều cán bộ CM, vận động nhân dân các xã Phước Thành, Phước Bình phá khu tập trung của địch, trở về làng và xây dựng du kích. 5.1960 chỉ huy du kích xã Phước Bình, sử dụng cung tên, bẫy đá, hầm chông và mìn, diệt và làm bị thương 20 địch, đánh lui cuộc càn của chúng. 5.1964 chỉ huy du kích đánh bại cuộc càn quét lần hai của địch, diệt và làm bị thương 80 địch. Huân chương: Quân công hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67640746_459301841466368_4299890513932189696_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeG1JPMZsa92ofRAkbOh_z_mNg94MbSh2qh1_gOK9TyfWIJAKJkVYLD2i5YWb-vjqyB6z1LlwIYsCSIiv_zfIjVe7lJ7CmTuCi8U2xboxhrgIg&_nc_oc=AQmmTbvkrjovnGBBu40R4lzY_WXFjFhMBrIc9MbadMSQT2ab8-Sd6_ALCdnt0fRwdgk&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=90abab03ca9f59e8e4202c3fdd03e168&oe=5DE8AC1E)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:02:12 PM

        PINÔCHÊ (TBN: Augusto Pinochet Ugarte; s. 1915), nhà độc tài QS, tổng thống Chilê (1974-89). Năm 1973 tư lệnh lục quân Chilê, cầm đầu tập đoàn QS phản động thân Mĩ tiến hành đảo chính lật đổ chính phù hợp pháp của tổng thống Agienđê. P thiết lập một chế độ độc tài QS ở Chilê (1973-90). Trong thời gian cầm quyền, P ra lệnh thủ tiêu hàng nghìn tù chính trị Chilê và hàng trăm người Tây Ban Nha ở Chilê, bị nhân dân Chilê, Tây Ban Nha và nhân dân nhiều nước lên án vi phạm nhân quyền và tội diệt chủng. Do nhân dân Chile đấu tranh bền bỉ chống P. đòi dân chủ, 1989 P buộc phải đồng ý tổ chức tổng tuyển cử. P mất chức tổng thống nhưng vẫn giữ chức tổng tư lệnh QĐ Chilé. 3.1998 nghi hưu. 8.2000 Toà án tối cao Chilê đã tước quyền miễn tố đối với P.

        PIOT I (1672-1725), vua Nga (1682), trị vì từ 1689, nhà hoạt động QS và nhà nước nổi tiếng. Trong thời gian làm vua PI có những cải cách quan trọng, đưa nước Nga từ một nước lạc hậu thành cường quốc. Xây dựng nhiều trường học, viện hàn lâm khoa học, phát triển thương mại, xây dựng thành phố cảng Pêtecbua. phát triển nghề thủ công, công nghiệp khai khoáng, luyện kim, chế tạo vũ khí; chú trọng xây dựng QĐ chính quy, đặc biệt là hải quân và pháo binh, vừa làm vua vừa đi làm thợ (tại Hà Lan 1697 và Anh 1698) để học cách đóng tàu và xây dựng hạm đội. QĐ của PI đã đánh thắng quân Thổ Nhĩ Kì tại Adôp (1696). Tài cầm quân của PI nổi bật trong chiến tranh Phương Bắc (1700-21), ông đã chiến thắng liên tiếp ở Nôtơbua (1702), Letxnaia (1708), Pôntaya (1709). Năm 1721 dược suy tôn danh hiệu “hoàng đế vĩ đại”, “cha của nước Nga”. Được đánh giá là nhà hoạt động QS có tài trong lịch sử thế giới tk 18. Tác giả và chủ biên các điều lệnh QĐ, một số tác phẩm khoa học và lịch sử QS, đặt nền móng cho nghệ thuật QS Nga.

        PIRÊNÊ, hệ thống núi nằm giữa Tây Ban Nha, Pháp và Anđôra. Dài 450km từ bờ vịnh Bixcai (Đại Tây Dương) đến Địa Trung Hải, rộng ll0km, đỉnh cao nhất 3.404m (đỉnh Aneto). Phía tây là các núi đá vôi, caxtơ, phía đông các dãy núi thấp dần, xen kẽ với các thung lũng và lòng chảo. Diện tích đóng băng 40km2. Khí hậu ở phía bắc ôn hòa, ẩm, phía đông nam cận nhiệt đới, Địa Trung Hải. Lượng mưa trung bình 500-700mm/năm ở các sườn phía nam, 1.500- 2.400mm/năm ở các sườn phía bắc. Các sông ngắn, đầy nước quanh năm. Dưới các sườn núi là rừng cây bụi, cao hơn là rừng lá rộng, rừng lá nhọn. Có các mỏ bôxít, sắt, mănggan, côban, niken... Các đèo chính ở độ cao 1.500-2.050m. Bốn tuyến đường sắt và ô tô đi qua P.

        PIRÔT (P Charles Piroth; ? -1954), phó tư lệnh kiêm chỉ huy trường pháo binh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (1953- 54), trung tá. 1950 chỉ huy pháo binh Pháp ở biên giới phía bắc VN và chịu thất bại nặng ở khu vực đường số 4. Đầu 1954 phó chỉ huy binh đoàn tác chiến Tây Bắc (GONO), phụ trách pháo binh. Khi được giao nhiệm vụ bảo vệ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phù, P đã chủ quan tuyên bố sẽ “khóa mõm pháo binh Việt Minh" và “không khẩu pháo nào của Việt Minh có thể bắn được tới phát thứ ba trước khi bị pháo của tối diệt”. Sau 2 ngày chiến đấu đầu tiên, pháo binh của P đã không “làm câm họng” được pháo của Việt Minh, hai trong số ba trận địa pháo then chốt của P bị diệt. Thất vọng, bất lực và xấu hổ vì những lời lẽ huênh hoang và lo sợ trách nhiệm, bị Đờ Caxtơri khiển trách, đêm 15.3.1954 đã tự sát bằng lựu đạn trong hầm chỉ huy của mình.

        PITƠXƠN (A. Douglas Pete Peterson; s. 1936), đại sứ đặc mệnh toàn quyền đầu tiên của Mĩ tại CHXHCN VN (5.1997- 7.2001); thuộc ĐDC Mĩ. Trong chiến tranh VN, đại úy lái máy bay F-4. Tháng 9.1966 bị bắn rơi và bị bắt khi đang ném bom gần Hà Nội. 1973 dược trao trả. Về nước P hoạt động chính trị, được bầu vào Quốc hội Mĩ. 1991 sang VN lần đầu tiên sau chiến tranh với tư cách nghị sĩ Mĩ. Làm cố vấn cho tổng thống Clintơn trong việc bình thường hóa quan hệ với VN và 5.1997 được cử làm đại sứ tại CHXHCN VN. Trên cương vị đại sứ đã góp phần thúc đẩy việc kí kết hiệp định thương mại song phương (7.2000), tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Mĩ và VN.

        PK súng máy thuộc họ súng tự động Calasnicôp do LX sản xuất, dùng để tiêu diệt sinh lực và các phương tiện chiến đấu của đối phương. Tự hoạt động theo nguyên lí trích khí thuốc qua lỗ trích khí trên thành nòng. Tính năng chủ yếu: cỡ nòng 7,62mm. sơ tốc 825m/s, tốc độ bắn lí thuyết 650 phát/ph. cự li ngắm bắn 1.500m, khối lượng (không có hộp tiếp đạn và băng đạn) 7,5kg, băng đạn chứa 100 và 200 viên. PK cho phép bắn ở tư thế có chân (trung liên) và có giá (đại liên) lắp trên xe tăng, xe thiết giáp (PK-T)...; được trang bị cho trung đội, đại đội bộ binh và bộ binh cơ giới.

        PLÂYCU X. GIA LAI

        PLO X. TỔ CHỨC GIẢI PHÓNG PALEXTIN


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:03:37 PM

        PLUTÔNI (plutonium, Pu), nguyên tố kim loại phóng xạ siêu uran thuộc nhóm actinoit, có số thứ tự 94 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học Menđêlêep. Khối lượng riêng 19,8t/m3 nhiệt độ nóng chảy 640°C, nhiệt độ sôi 3.235°C. Nguyên tố P có 15 đồng vị với số khối 232-246, đều là các đồng vị không bền vững. Đồng vị quan trọng nhất là Pu-239 có chu kì bán hủy T1/2=2,44.104 năm, phát ra các hạt anpha có năng lượng 5.147keV, 5134keV và 5.095keV, thường được dùng làm nhiên liệu trong các lò phản ứng hạt nhân và để chế tạo bom đạn hạt nhân. Pu-238 là đồng vị P đầu tiên được nhóm các nhà bác học Kenơđi, Valem, Maơnilan. Xiburơgơ, Xegre tìm ra 1940-41 khi bắn phá U-238 bằng đơtrôn có năng lượng 14 MeV.

        POST-3M. đài trinh sát nhiễu dải rộng do LX sản xuất, dùng phát hiện và trinh sát tham số các đài rađa mặt đất và trên máy bay của đối phương. Thành phần chính: xe đài (gồm các hệ thống thu, định vị, phân tích...), moóc anten, xe trạm nguồn. Các tính năng chính: 6 băng tần số công tác, bước sóng 0,8-12cm; độ nhạy 3.10-9V; độ rộng cánh sóng phương vị 15-40°, góc tà 30-70°; độ rộng xung 0,2-0,5 micrô giây; đo tần số lặp lại 200-500HZ. Sử dụng nguồn điện xoay chiều 220V/50HZ. Thời gian triển khai, thu hồi: 30ph. Trang bị cho các đơn vị tác chiến điện tử.

        PÔLINÊXIA. vùng đảo ở giữa Thái Bình Dương thuộc châu Đại Dương, trải dài từ quần đảo Haoai ở phía bắc đến Niu Dilân ở phía nam. Những quần đảo chính: Tonga, Tuyalu, Tôkèlau, Phinich, Cúc, Xamoa, Haoai, Lau, Tubuai, Tuamôtu. Dt 26.000km2; ds khoảng 4,500 triệu người; chủ yếu là người Pôlinêdi. Các quần đảo có nguồn gốc núi lửa hoặc san hô, cao 4.205m (quần đảo Haoai). Rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt, khí hậu xích đạo và nhiệt đới, lượng mưa trung bình 1.500-3.500mm/năm. Những cảng chính: Honolulu, Papeete, Apia, Pagôpagô. Nhiều quần đảo của P có các căn cứ QS của Mĩ, Anh, Pháp.

        PÔN PỐT (Xa Lôt Xa; 1925-98), thủ lĩnh Khơme Đỏ (1963- 98), người chịu trách nhiệm chủ yếu về tội ác diệt chủng ở Campuchia (1975-78) và gây chiến tranh biên giới chống VN (1978). Xuất thân gia đình quan lại có họ với vua. 1947 học tại Pháp và gia nhập ĐCS Pháp. 1953 về nước, với danh nghĩa đv ĐCS Pháp xin gia nhập Đảng nhân dân CM Cao Miên (1954). Bằng nhiều thủ đoạn, PP từng bước nắm quyền lãnh đạo đảng, đưa đảng đi theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau khi giành được chính quyền từ tay Lon Non, PP làm thủ tướng, thi hành chính sách: đuổi dân ra khỏi thành phố, biến toàn dân thành những người nô lệ sống trong các “công xã” và buộc phải lao động kiệt sức trên đồng ruộng, biến binh lính thành những người chi biết phục tùng lệnh của “Ăngca” (tổ chức), coi VN là kẻ thù số 1... Khi Phnôm Pênh được giải phóng (1.1979), PP chạy ra nước ngoài, tiếp tục chỉ đạo lực lượng Khơme Đỏ chống chính quyền hợp pháp của nhân dân Campuchia.

        PÔNTAVA. thành phố, tỉnh lị tỉnh Pôntaya ở đông Ucraina, trên sông Vôcxcla. Được xây dựng từ tk 9. Trước 1430 gọi là Lơtaya. 1430 bị Litva chiếm. Từ 1569 thuộc Ba Lan. Từ 1667 thuộc Nga. 8.7.1709 tại P diễn ra trận quân Nga do Piôt I chỉ huy  đánh tan quân Thụy Điển do vua Saclơ 12 chỉ huy, tạo bước ngoặt quan trọng có lợi cho Nga trong chiến tranh Phương Bắc (1700-21).

        PÔTXĐAM. thành phố, thủ phủ t. Pôtxđam, CHLB Đức. Nằm trên bờ sông Haphen, tây nam Beclin. 17.7-2.8.1945, tại P diễn ra hội nghị Pôtxđam của những người đứng đầu các nước lớn chiến thắng trong CTTG-II gồm Xtalin (LX), G. Truman (Mĩ), V. Sơcsin (Anh; từ 28.7: C. Etli). Hội nghị xem xét những vấn đề tổ chức châu Âu sau chiến tranh, thông qua quyết định giải giáp QĐ Đức, giải thể Đảng quốc xã Đức, quyết nghị thành lập tòa án quốc tế xét xử tội phạm chiến tranh, thông qua hệ thống bốn bên chiếm đóng nước Đức và quản lí tp Beclin...

        POSING (A. Pershing), họ tên lửa đường đạn chiến thuật tầm trung do hãng M. Marieta (Mĩ) chế tạo. P-l phóng thử lần đầu 1960, trang bị cho QĐ Mĩ từ 1964. Tên lửa hai tầng, động cơ nhiên liệu rắn, hệ thống điều khiển quân tính. Khối lượng phóng 4.500-4.660kg, đầu đạn hạt nhân 60-400kt, cự li phóng 740- 2.500km. Thời gian triển khai chiến đấu 15ph. Tổ hợp P gồm: tên lửa, bệ phóng trên bán rơmoóc, xe điều khiển, xe thông tin vô tuyến điện và xe kiểm tra - chuẩn bị phóng. Đơn vị hỏa lực cơ bản là tiểu đoàn gồm 6 đại đội (có 4 đại đội hỏa lực, mỗi đại đội 9 bệ phóng). Từ 1983 QĐ Mĩ được trang bị P-2, cự li phóng 1.800-2.500km. sử dụng hệ thống dẫn đường vô tuyến theo bản đồ địa hình ở đoạn cuối đường bay, nâng cao độ chính xác khoảng 10 lần so với P-l. P cùng với Lanxơ và Sơgiân là 3 hệ thống tên lửa đường đạn chiến thuật chủ yếu trong trang bị của lục quân Mĩ.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67324235_459301851466367_3081992798451269632_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_eui2=AeE4jtED2NfgQ-ow44xQA4PgtIgIeBod0HoowCicRhUP2XNoI_3XCn7f9X4y3-RwG6hFIku71blXO6MDsljivI0KEacVWzscs1WjsF0FMCZ1wA&_nc_oc=AQlmrmPUestc1k28j-BCs0787TzgTVxFYGZbGCJJ7fJvVtxEMkrqFxEc7DnB6WMu2cM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f039cd9d8395381ad6ca01c0b162aea0&oe=5DEA92E3)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:05:32 PM

        PRV-11, đài rada đo cao sóng centimét, chủ yếu dùng để xác định độ cao khí cụ bay, kết hợp với đài rađa P-35 dẫn đường cho máy bay và phát hiện mục tiêu bay thấp. Các bộ phận chính: hệ thống anten. moóc đài, xe hiện sóng và nguồn điện. Tính năng chính: vùng phát hiện: phương vị 360°, góc tà từ - 2,4° đến 27°; cự li phát hiện 41.000rn (khi diện tích phản xạ hiệu dụng khí cụ bay 1m2, ở độ cao 100m), 250.000m (độ cao khí cụ bay 7.000m); khả năng phân biệt: phương vị 2.4°, cự li: 2.000m: độ rộng cánh sóng: ngang 2,4°, đứng 1,1°; góc che khuất 15’; có khả năng chống nhiễu tiêu cực và tích cực, chống tên lửa tự dẫn bằng ngắt xung kích máy phát. Thời gian mở máy 5ph. triển khai, thu hồi 3 giờ, chu kì chúc ngẩng anten 30 lần/ph.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67877373_459301858133033_7466886758190284800_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_eui2=AeFOVFZdtYU2eTrZrbXYk4QLSxQqK3himxNTj6wZwy2T6vtBRnQ-ruZfwsqQsNTahttE1TezHw29LSCvWSe3hn0Nd3jCTVmEFZnVwGgey0sNAA&_nc_oc=AQnD99UHxLC-kqH46RNGAGTY6Y3LR0svZrrltLVlG_PwM6tWjK3wdu_PSO69fbKx7i4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=05df999d28a34ea2386f2bcd599cd914&oe=5DEBF7F5)


        PT-76. xe tăng bơi do LX chế tạo và đưa vào trang bị của QĐ LX từ đầu những năm 50 tk 20. Khối lượng chiến đấu 14t: kíp xe ba người. Thân dài 6,99m (cả pháo quay phía trước 7,625m), rộng 3,14m, cao 2,195m. Động cơ điêzen công suất 176kW (240cv). Tốc độ lớn nhất 44km/h (chạy), 10,2km/h (bơi); khả năng leo dốc 31°, đi dốc nghiêng 21°, vượt vách đứng l,lm. hào rộng 2,8m, hành trình dự trữ 240- 260km (đường tốt), 180-210km (đường xấu), 60- 70km (bơi). Vũ khí: pháo rãnh xoắn 76,2mm. tầm bắn 12,1 km (trực tiếp 4km), cơ số đạn 40 viên; súng máy song song 7,62mm, đạn 1.000 viên. Mẫu cải tiến PT-76B có hệ thống ổn định pháo trong hai mặt phẳng, hệ thống chống vũ khí NBC và một số cải tiến khác; hành trình dự trữ tương ứng 370, 270-320 và 120km. Trên cơ sở PT-76 và PT-76B đã chế tạo xe thiết giáp bơi BTR-50 và một số biến thể khác, pháo tự hành ASU-85 vận chuyển được bằng đường không... TQ đã chế tạo xe tăng bơi kiểu 63 (ở VN gọi là PT-85 hoặc K63-85) trên cơ sở PT-76 với pháo 85mm và động cơ công suất 298kW (400cv). Các kiểu xe PT-76 (PT-76B), BTR-50 (BTR-50K...) có trong trang bị của QĐND VN, đã được sử dụng có hiệu quả trong cuộc KCCM và làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào và Campuchia.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/68258478_459301868133032_9047703072674938880_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeGTDPdHKoI7kgxtk-J0g-40V5rcXY96O4KPyQ4OjUc6GK-T7YcF7uUAEJEHvcZKrc8g9IviFpiOc45UUKLm2rZ4q0maYKvyA2EO_Peqmp2Lhw&_nc_oc=AQn8emfeA1JgDtinY8ec_dMt1wvGwaeR-33w8uWykgvaBMlAMnZR4DaSk4FZrZjWz0o&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d2ac4040b41e67a218142187092e27b9&oe=5DA541B9)


        FTS-M, xe xích bơi vận tải do LX chế tạo, chuyên dùng để chở người, vũ khí, trang bị kĩ thuật, hàng hóa QS vượt chướng ngại nước. Khối lượng xe 17,7t; xe dài (khi gấp tấm chắn sóng) 11,5m; rộng 3.3m; cao 2,65m; khoảng sáng gầm xe (khi chở 5t) 0,40m. Khả năng cơ động và thông qua cao, dự trữ sức nổi lớn. Tải trọng trên cạn: 5t, dưới nước: l0t. Chở được 70 người khi vượt chướng ngại nước. Trên xe còn bố trí 12 cáng thương để vận chuyển thương binh. Kíp xe 2 người (chỉ huy và lái xe). Xe được trang bị: thiết bị quan sát hồng ngoại, máy thông tin vô tuyến điện, la bàn, máy đo phóng xạ. thiết bị chắn sóng và bơm thoát nước trong xe ra ngoài. Hoạt động được trên sóng biển cấp 4 và tốc độ gió 15-18m/s. Tốc độ trung bình trên đường (với tải trọng 5t): 25-30km/h. 
       
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67443693_459301891466363_8025786965473361920_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeEBDNAMGWhEKK08KAQjuikpvbvPKxMtUP9_1z7E5gzl1XDd6rD6c3rWusXLsf7jfblQ7850Qo1ZxAmdtNadJIAfD9YG6dpjUjz1lY24y3_Zaw&_nc_oc=AQmVeMbwx9MhtgE9UrpPLxbTZA9zQftuPrBuYFVqqYbqh6zrvvOn86cxTCCz8yAwfOc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2f406c6955aa4a9b4c2563329187e95c&oe=5DDFB520)



Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:06:43 PM

        PUCOM BÔ (Pôkum Pao; 7-1867), thủ lĩnh khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Campuchia (1866-67). hoàng thân Khơme. nhà sư. Bất bình trước việc triều đình Nôrôđôm kí hiệp ước Pháp - Campuchia (1863), đặt Campuchia dưới ách bảo hộ của Pháp. 1865 định dấy lên cuộc khởi nghĩa chống Pháp, nhưng bị lộ và bị bắt giam tại Sài Gòn (VN). Được những nhà yêu nước VN giúp vượt ngục lên Tây Ninh. PB đã tham gia phát động cuộc khởi nghĩa chống Pháp và liên minh chiến đấu với nghĩa quân Trương Quyền. PB đã chỉ huy nhiều trận chiến đấu nổi tiếng: Tây Ninh (7.6.1866), Phnôm Pênh (7-10.1866), kinh đô cũ u Đông (12.1866),... diệt nhiều địch, trong đó có trung tá Pháp Macseđơ và bộ trưởng quốc phòng Crahom của triều đình Campuchia. Bị Pháp bao vây và tiến công liên tục, 11.1867 PB quyết định đánh Côngpông Xoài để phá vây, PB bị thương, bị Pháp bắt và sát hại tại Phnôm Pênh (3.12.1867).

        PUECTÔ RICÔ (Nhà nước liên minh tự do Puectô Ricô; Estado Libre Asociado de Puerto Rico, A. Commonwealth of Puerto Rico), lãnh thổ tự do liên kết với Mĩ ở phía đông quần đảo Ảngti Lớn, trên biển Caribê. Dt 8.959km2; ds 3,9 triệu người (2000); 99% người gốc Tây Ban Nha. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Trung tâm hành chính: Xan Hoan. Đứng đầu chính quyền hành pháp là thống đốc. Cơ quan lập pháp: hội đồng lập pháp. Có các đại diện (không có quyền biểu quyết) trong Quốc hội Mĩ. Địa hình núi, đỉnh cao nhất 1.338m. Khí hậu nhiệt đới. Thường có bão lớn. Nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng là cơ sở của nền kinh tế. Có 13 căn cứ QS, kho vũ khí hạt nhân và bãi thử vũ khí của Mĩ.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67688446_459301904799695_9214156493031473152_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeGdxWw8eVt_3TbwOp16Gvx7hDV6GYJdNqbgM5H7cXKfQ2et-SNoPgbBQGCzxW1rKXIPW_EMYK_KftZkCj_9q5tFI7mRHHJz118_5MmxSVJAiA&_nc_oc=AQl04QlLgBtkhIi3E2zryRvTQtCz474a70md1CDXMGXUGy7GiuXVkFbri1ORxuNpSmE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=9d59b54ddf040349a6d3cb5537617205&oe=5DA735D8)


        PUSAN (Phú Sơn), thành phố cảng, căn cứ hải quân của Hàn Quốc trên bờ eo biển Triều Tiên. Ds khoảng 3,8 triệu người. Công nghiệp chế tạo máy, thực phẩm, luyện kim, hóa chất: đánh cá. Cảng và căn cứ hải quân trong vũng tự nhiên sâu 6- 12m, tổng chiều dài các cầu cảng trên 10km. Có xưởng đóng tàu, các đốc cạn. Giữa P và cảng Simônôsêki của Nhật có giao thông bằng phà. Lượng vận chuyển hàng của cảng khoảng 26 triệu tấn/năm. Trong khu vực P có nhà máy điện nguyên tử.

        PUTIN (s. 1952). tổng thống Liên bang Nga (từ 3.2000). Sinh tại tp Lêningrat (nay là tp Xanh Pêtecbua); phó tiến sĩ kinh tế (1996). Năm 1975 tốt nghiệp cử nhân luật Trường đại học tổng hợp Lêningrat (LGU), làm việc ở Cục tình báo nước ngoài của ủy ban an ninh quốc gia Liên Xô (KGB). 1984-89 làm việc cho KGB ở CHDC Đức. 1989 ra khỏi KGB, trợ lí hiệu trưởng phụ trách vấn đề quốc tế của Trường đại học tổng hợp Lêningrat, rồi cố vấn của chủ tịch Hội đồng Xô viết Lêningrat. 1991 chủ tịch ủy ban quan hệ đối ngoại tp Xanh Pêtecbua. 1992 phó thị trưởng, rồi phó thị trưởng thứ nhất Xanh Pêtecbua phụ trách quan hệ đối ngoại. 1996 phó cục trưởng Cục quản lí hành chính Văn phòng tổng thống Liên bang Nga. 3.1997 phó chánh văn phòng rồi phó chánh văn phòng thứ nhất-Phù tổng thống. 7.1998 giám đốc Cơ quan an ninh Liên bang Nga (FSB), 3.1999 kiêm thư kí Hội đồng an ninh Liên bang Nga. 8.1999 thủ tướng chính phủ Liên bang Nga. 31.12.1999 quyền tổng thống Liên bang Nga. 26.3.2000 được bầu làm tổng thống Liên bang Nga.


Tiêu đề: Re: P
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 06:58:15 PM
     
HẾT P