Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:41:04 pm



Tiêu đề: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:41:04 pm
        
        L-39, máy bay phân lực huấn luyện do Tiệp Khắc thiết kế và sản xuất; dùng để huấn luyện giai đoạn đầu cho học viên các trường đào tạo phi công QS, huấn luyện kĩ thuật bay và huấn luyện chiến thuật ở các đơn vị không quân chiến đấu. Tính năng chiến - kĩ thuật chính: dài 12,13m; cao 4.47m; cánh dạng hình thang, sải cánh 9.12m: khối lượng rỗng 3.395kg: khối lượng cất cánh lớn nhất 4.600kg: tốc độ bay lớn nhất 760km/h: trần bay thực tế 11.500m; tầm bay l.l00km. Kíp bay 2 người với hai buồng lái (buồng lái trước của học viên, buồng lái sau của giáo viên). L-39 được lắp một động cơ tuabin phản lực AI-25TL do Ucraina chế tạo: các hệ thống, thiết bị bảo đảm cho máy bay có khả năng thực hiện các chuyến bay trong mọi điều kiện thời tiết ngày và đêm: hệ thống máy ngắm, máy chụp ảnh kiểm tra khả năng hoạt động của hệ thống vũ khí. L-39 có thể mang 1.100kg vũ khí gồm: pháo 23mm (150 viên đạn), bom, rôckét 57mm và các loại tên lửa có điều khiển và không đối không, không đối đất trên 4 giá treo. Bay thứ lần đầu 4.11.1968. Năm 1971 sản xuất loạt đầu 10 chiếc. Từ 1972 bắt đầu đưa vào sử dụng trong các lực lượng không quân LX. Tiệp Khắc và CHDC Đức. Được xuất khẩu sang VN, Cuba, Bungari, Thái Lan, Mĩ. Angiêri. Irắc, Libi. Xiri...

        LA BÀN. thiết bị định hướng chuẩn dùng để xác định phương hướng của đối tượng so với hướng chuẩn. Theo nguyên lí làm việc, có: la bàn từ. LB điện, LB từ hồi chuyển. la bàn con quay hồi chuyển, LB nửa con quay, la bàn vô tuyến, LB định vị. LB được ứng dụng trong việc lái dẫn đường tàu nổi. tàu ngầm, máy bay, vệ tinh, tàu vũ trụ. tên lửa. ngư lôi; lập bản đồ; trắc đạc pháo binh; hành quân (cơ giới, bộ binh); lập các tuyến đường bộ, đường ống, đường hầm,. hành lang ngầm...

        LA BÀN CON QUAY HỒI CHUYỂN, la bàn hoạt động trên nguyên lí: trục của con quay có trọng tâm nằm dưới điểm treo luôn có xu hướng trùng với mặt phẳng kinh tuyến địa lí dưới tác động của chuyển động tự quay của Trái Đất. Được sử dụng rộng rãi trong hàng hái. hàng không để định hướng cho các tàu. thuyền và khí cụ bay. Trong QS, LBCQHC được sử dụng trong nhiều loại vũ khí, trang bị KTQS của binh chủng pháo binh, tên lửa, phòng không...

        LA BÀN TỪ (la bàn từ tính), la bàn hoạt động trên nguyên lí tác động của từ trường Trái Đất lên kim nam chàm quay tự do trên một điểm tựa trung tâm, làm cho nó luôn nằm dọc theo kinh tuyến từ của Trái Đất và chỉ hướng bắc - nam theo phương vị từ. Được sử dụng rộng rãi trong QS, hàng hải, hàng không để dẫn đường, hành quân, đo đạc trắc địa, đồ bản, khảo sát địa hình và xây dựng công trình... Do độ lệch hướng của kinh tuyến từ so với kinh tuyến địa lí thay đổi theo vị trí địa lí và theo thời gian, khi sử dụng LBT cần hiệu chính độ sai lệch này để xác định chính xác phương hướng. Ở các vĩ độ cao, độ sai lệch thường rất lớn nên việc sử dụng LBT kém chính xác. Ngoài ra, độ chính xác và tin cậy của LBT còn bị giảm do ánh hướng của từ trường và điện từ trường của trang bị kĩ thuật và môi trường.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67171269_453145342082018_2018856408346263552_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmEj_okmZ75_rPnwJkGHl25kkditPEmv8FE2mcxDukl0kPQ7JyerxXpyj8xhYxcMQc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f96be43c8faaaf881565e1e2cf6bf086&oe=5DBAF69E)


        LA BAN VÔ TUYÊN trên máy bay (máy vô tuyến tìm phương), thiết bị tự động xác định hướng bay bằng cách đo góc giữa đường trục dọc của máy bay và hướng tới đài phát vô tuyến hoặc mốc vô tuyên phát đi các tín hiệu định vị. Được sử dụng rộng rãi trong ngành hàng không - vũ trụ.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:43:13 pm
       
        LA GRĂNGĐIÊ (P. Pierre Paul Marie De La Grandière; 1807-76). phó đô đốc Pháp, tổng chỉ huy quân Pháp xâm lược VN kiêm thống đốc Nam Kì (gồm 6 tỉnh) do Pháp chiếm (1863-65 và 11.1865-68). Năm 1849 đại tá hải quân. Trong chiến tranh Crưm (1853-56). LG chỉ huy hải đội. 1863-64 đại diện Pháp kí hiệp ước Pháp - Campuchia: 1864 bổ nhiệm các sĩ quan Pháp thay các quan phủ, huyện người VN ở ba tỉnh Đông Nam Kì do Pháp chiếm, lập Nha nội vụ ở Sài Gòn để điều hành việc cai trị. 1865 phó đô đốc. 1866 chỉ huy quân tiến công Đồng Tháp Mười và 1867 đánh chiếm thêm ba tỉnh Châu Đốc. Hà Tiên, Vĩnh Long. LG là người đặt nền móng cho việc thiết lập nền đô hộ của Pháp ở Nam Kì.

        LA NGÀ, nhánh sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh, t. Lâm Đồng, đổ vào hồ Trị An (nơi hợp lưu với sông Đồng Nai trước đây) tại h. Định Quán. t. Đồng Nai. 1.3.1948 trên QL 20 đoạn từ cầu LN (bắc qua sông LN tại km 35 QL 20 ngã ba Dầu Giây đi Đà Lạt, giữa địa phận hai xã LN và Phú Ngọc, h. Định Quán) đến thị trấn Định Quán. LLVTND địa phương tinh Biên Hoà giành thắng lợi lớn trong trận La Ngà. trận đánh giao thông lớn nhất của LLVT Đồng Nai, một trong những trận đánh giao thông đạt hiệu quả cao ở miền Đỏng Nam Bộ trong KCCP. Cụm di tích chiến thắng LN được xếp hạng di tích lịch sử.

        LA THÀNH, vòng thành phía ngoài để bảo vệ thành chính thời cổ. LT đầu tiên ở VN được kinh lược sứ nhà Đường Trương Bá Nghi cho đắp năm 767 quanh phủ trị ở Tống Bình (Hà Nội ngày nay), các chính quyền đô hộ tiếp sau đều tiếp tục tu bổ. Từ đầu tk 9, ngôi thành này thường được gọi là thành Đại La, về sau Đại La hay LT được dùng như tên riêng.

        LA VĂN CẦU (s. 1932), Ah LLVTND (1952). Dân tộc Tày, quê xã Khâm Thành, h. Trùng Khánh, t. Cao Bằng; nhập ngũ 1948. đại tá (1985); đv ĐCS VN (1950); khi tuyên dương Ah là tiểu đội phó thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Trong KCCP. 1948-52 tham gia chiến đấu 29 trận. Trận phục kích trên đường Bông Lau - Lũng Phầy (Cao Bằng, 1949), LVC bắn chết địch trên xe tăng rồi nhảy lên xe dùng súng địch diệt 10 địch. Trận Đông Khê (chiến dịch Biên Giới, 1950) khi đang chỉ huy tổ bộc phá phá rào, LVC bị thương gẫy nát cánh tay, đã dũng cảm nhờ đồng đội chặt đứt để khỏi vướng, dùng tay trái ôm bộc phá đánh mở đường, tạo thời cơ cho đơn vị đánh chiếm đồn địch. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Kháng chiến hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67488593_453145335415352_8045916768520110080_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQm2jOVkHjMthH5VXsNmNm-NNjD65ecsUdRg-vzYowhLnHxDUcN1HhfVOTVfD6DpFxg&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=905ca417b47b636f9ed17afa4d9d5d5f&oe=5DB25901)


        LA VINH HOÀN (Luo Ronghuan; 1902-63), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955), tham gia sáng lập và lãnh đạo Quán giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người h. Hoành Đông. t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCS TQ (1927). Tham gia khởi nghĩa Thu Thu, ủy viên tiền ủy rồi chính ủy Quân đoàn 4. Hồng quân công nông Trung Quốc. 1932 chủ nhiệm chính trị các quân đoàn: 1, 8, Quân khu Giang Tây; ủy viên thanh tra, trướng ban động viên TCCT; tham gia đấu tranh chống “vây quét”. Tham gia Vạn lí trường chinh (1934- 36). Trong chiến tranh chống Nhật, chủ nhiệm chính trị hậu phương Hồng quân, Liên binh đoàn 1. Cuối 1938 chính ủy Sư đoàn 115 Bát lộ quân. 1939 cùng ban chỉ huy Sư đoàn 115 và một bộ phận lực lượng chủ lực tiến vào giải phóng Sơn Đông; bí thư ủy ban quân chính Sơn Đồng, lãnh đạo quân dân Sơn Đông tiêu diệt 50.000 quân Nhật và tay sai ở Nghi Mông. 1943 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Sơn Đông, bí thư Phân cục Sơn Đông. 1945 ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ, chi huy 60.000 quân chủ lực Quân khu Sơn Đông tiến vào Đông Bắc. Trong chiến tranh giải phóng, phó chính ủy Liên quân dân chủ Đông Bắc. Quân khu Đỏng Bắc; chính ủy: Dã chiến quân Đông Bắc, Dã chiến quân 4, Quân khu Trung Nam; bí thư thú hai Cục Hoa Trung. 1949 viện trường Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chủ nhiệm TCCT kiêm tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ; phó chủ tịch Hội đồng QS CM nhân dân. ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa VII-VIII, ủy viên BCT khóa VIII.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:55:20 pm

        LADE (A. Laser, vt từ Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation - khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cảm ứng), kĩ thuật tạo bức xạ lượng tử dải quang học (bức xạ L). dựa trên nguyên tắc phát xạ cưỡng bức của các lượng từ (nguyên tử, phân tử, ion...) đã bị kích thích. Bức xạ L (tia L) có đặc tính kết hợp, đơn sắc. định hướng cao và mật độ năng lượng lớn. Thiết bị tạo bức xạ L (máy phát L) gồm 3 bộ phận chính: môi trường hoạt tính, buồng cộng hưởng và nguồn kích thích. Theo dạng môi trường hoạt tính có: thiết bị L khí, thiết bị L rắn, thiết bị L lỏng và thiết bị L bán dẫn. Theo chế độ phát, có: thiết bị L liên tục, thiết bị L xung và thiết bị L xung - điều tần. Theo phương pháp “bơm” (đưa năng lượng từ bên ngoài vào để kích thích các lượng tử), có: các loại thiết bị L: “bơm” quang học, “bơm” bằng vụ nổ hạt nhân, kích thích điện tử, phản ứng hóa học. Ngoài ra thiết bị L còn được chia theo cỡ công suất, cấu tạo buồng cộng hường... L được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học (vật lí, hóa học, sinh học...), trong y học thực hành (cắt mổ ngoại khoa), trong các ngành kĩ thuật (gia công chính xác và siêu chính xác). Trong QS, L được dùng cho định vị, thông tin, dẫn đường máy bay, vũ khí có điều khiển (vd: tên lửa, bom có điều khiển); thăm dò, trinh sát, đo đạc...; cho huấn luyện bắn, gia công vật liệu đặc biệt và cho vũ khí lade. Trong chiến tranh VN, Mĩ đã dùng bom L. L được nghiên cứu và thử nghiệm vào cuối những năm 50 tk 20 với tên tuổi của các nhà khoa học LX: N. G. Baxôp và A. M. Prôkhônỏp (giải thưởng Lênin năm 1959). Năm 1964 nhà vật lí Mĩ s. Tômxơ đưa L vào kĩ thuật điện từ học lượng từ và được nhận giải thưởng Nôben.

        LAI CHÂU*, tỉnh cũ ở tây bắc Bắc Bộ. Thành lập 1909 do tách hai châu Quỳnh Nhãi và Lai Châu của t. Sơn La. Từ 4.1955 thuộc Khu tự trị Thái Mèo (10.1962 đổi thành Khu tự trị Tây Bắc). 12.1975 trở lại đơn vị hành chính độc lập. 2.2002. LLVTND Lai Châu được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. 1.2004 tách thành hai tỉnh Lai Châu** và Điện Biên.

        LAI CHÂU**, tỉnh miền núi tây bắc Bắc Bộ; bắc giáp TQ. tây nam giáp Điện Biên, đồng giáp Lào Cai, Yên Bái, nam giáp Sơn La. Dt 9.065.12km2, ds 313,5 nghìn người (2004): các dân tộc: Kinh, Thái, Dao, Khơmú, La Hú, Giáy, Tày, Nùng, Mường, Lô Lò, Kháng... Thành lập 1.2004, tách từ t. Lai Châu cũ, sáp nhập thêm h. Than Uyên, t. Lào Cai. Tổ chức hành chính: 5 huyện; tình lị: thị trấn Phong Thổ (h. Tam Đường)... Địa hình: núi cao chiếm phần lớn diện tích tụ nhiên, xen kẽ là các thung lũng Sòng Đá, Nậm Na. Phía đóng bắc là dãy Hoàng Liên Sơn* dài 50km chạy theo hướng tây bắc - đông nam, ranh giới tự nhiên với t. Lào Cai; đinh cao nhất: Phanxipăng 3.143m. Cao nguyên: Tà Phình (Sìn Hồ). Sông suối hẹp, dốc, nhiều thác ghềnh, có tiềm năng thủy điện lớn. Khí hậu nhiệt đới núi cao, lượng mưa 1.600mm/năm. Tinh nông - lâm nghiệp. Rừng chiếm 70% diện tích tự nhiên, nhiều gỗ và lâm sản quý. Giao thông đường bộ: các QL 6, 12, 32.279 và các tuyến đường liên tinh. Đường thủy: Sông Đà. Nậm Na.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67372337_453145355415350_6859297706423091200_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQl4fAtf7q78I3AElkV1ZQAxxDSzCsQ-yoJ1DY4dF_SLi6lPZpE4tVnI1mxbtFmasSg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0d7f4f1c5a96a2d74be93712c39e50cd&oe=5DA0997B)


        LAM SƠN, căn cứ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân đô hộ nhà Minh (1418-27). Là vùng rừng núi (nay thuộc xã Xuân Lam. h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa), tây tx Thanh Hóa 50km. Nơi đây có làng LS là sinh quân của Lê Lợi, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Làng LS nằm bên bờ Sông Chu, xung quanh là rừng núi hiểm trở. 1416 tại đây, Lê Lợi cùng 18 người thân tín nhất, tiến hành hội thề Lũng Nhai (tuyên thệ đuổi giặc cứu nước), đặt cơ sở đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa. 7.2.1418 Lê Lợi phát động khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:55:52 pm
     
        “LAM SƠN THỰC LỤC”, sách ghi chép tóm tắt quá trình khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giòi phóng chống Minh (1418-27). Nguyên bản bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi viết, Lê Lợi đề tựa và kí là Lam Sơn động chủ. Tuy người đời sau có sửa chữa, thêm bớt, “LSTL” vẫn là tài liệu có giá trị lịch sử  chân thực.

        LAM THÀNH, thành của quân Minh trên núi Hùng Lĩnh, bên Sông Lam. thuộc xã Hưng Lam, h. Hưng Nguyên, t. Nghệ An. Thành bàng đá xếp, giữa có ụ đá cao, dấu vết của cột cờ. Cg thành Triều Khẩu (vì núi Hùng Lĩnh còn có tên gọi là núi Triều Khẩu). 1424 Lê Lợi đưa nghĩa quân Lam Sơn từ Lâm Hà tới bao vây, đánh chiếm LT.

        LÀM CHỦ TRÊN BIỂN, ưu thế quyết định của một bên giành được so với đối phương trên chiến trường biển hoặc một khu vực biển, kể cả vùng trời trên khu vực biển đó. LCTB phải đảm bảo: lực lượng hải quân kiểm soát được tinh hình mặt biển (cả dưới mặt nước), ngăn chặn và khống chế có hiệu quả các hoạt động của đối phương, làm cho lực lượng mình có những điều kiện thuận lợi nhất để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tác chiến mà không gặp phải sự chống trả đáng kể của đối phương. LCTB có các quy mô: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        LÀM CHỦ TRÊN KHÔNG, ưu thế quyết định của một bên tham chiến giành được so với đối phương ở vùng trời phía trên khu vực (địa bàn) tác chiến hoặc trên chiến trường tác chiến, đảm bảo cho các lực lượng của mình thực hiện nhiệm vụ mà không gặp phải sự đánh trả đáng kể của không quân và lực lượng phòng không đối phương. Để giành và giữ quyền LCTK. phải sử dụng tổng hợp khả năng của tất cả các quân chủng, binh chủng, các lực lượng, trong đó lực lượng phòng không, không quân giữ vai trò chính. Hoạt động để giành và giữ quyền LCTK bao gồm cả tác chiến tìm diệt máy bay địch ở trên không và ở mặt đất, tập kích các trận địa phòng không, sân bay. trung tâm chỉ huy, kho nhiên liệu... của đối phương. LCTK có các quy mô chiến lược, chiến dịch, chiến thuật.

        LÀNG (BẢN) CHIẾN ĐẦU BIÊN GIỚI. làng (bản) trong khu vực biên giới, được xây dựng và chuẩn bị để nhân dân và LLVT địa phương, sẵn sàng bám trụ đánh địch, bảo vệ làng (bản) biên giới. L(B)CĐBG nằm trong khu vực phòng thủ của địa phương, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, làm chỗ dựa cho các LLVT địa phương trong chiến đấu; là phòng tuyến an ninh nhân dân bảo vệ biên giới quốc gia. L(B)CĐBG có lực lượng dân quân, công an được huấn luyện QS, nghiệp vụ an ninh và sẵn sàng chiến đấu; được bố trí hầm hào, chông, cạm bẫy bảo vệ tương đối vững chắc; nhân dân được giác ngộ, có quy chế về sinh hoạt; có nguồn dự trữ và khả năng tự túc đảm bảo chiến đấu lâu dài. L(B)CĐBG được tổ chức xây dựng liên hoàn với các làng (bản) trong cụm xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ biên giới.

        LÀNG CHIẾN ĐẤU, làng xã được xây dựng và chuẩn bị mọi mặt để nhân dân và LLVT địa phương vừa sinh sống vừa bám trụ đánh địch và đấu tranh chống địch. Trong KCCP và KCCM, LCĐ được xây dựng vững mạnh toàn diện: tổ chức đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể nhân dân được tổ chức và giáo dục chu đáo; thế trận. công sự, vật cản và các cơ sở vật chất khác được chuẩn bị trước và trong quá trình chống địch. Đã phát huy tốt vai trò cơ sở của chiến tranh nhân dân.

        LÀNG CHIẾN ĐẤU CẢNH DUƠNG, làng chiến đấu do nhân dân xã Cảnh Dương (h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình) xây dựng trong KCCP Từ 7.1947 dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, dân quân du kích và nhân dân Cảnh Dương tiến hành rào làng, xây dựng hàng nghìn công sự và hầm hố chiến đấu, hào giao thông nối liền các ngõ xóm. Dựa vào làng chiến đấu, du kích và nhân dân kiên cường bám trụ, đánh bại nhiều cuộc càn quét của quân Pháp, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở vùng giáp ranh. Làng chiến đấu tiêu biểu của t. Quảng Bình và Liên khu 4. Cảnh Dương được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1976).

        LÀNG CHIẾN ĐÂU CỔ ĐÔ, làng chiến đấu do nhân dân thôn Cổ Đô (xã Cổ Sắt. h. Quảng Oai, t. Sơn Tây), nay là xã Cổ Đô (h. Ba Vì, t. Hà Tây) xây dựng trong KCCP. Hình thành từ những ngày đầu kháng chiến toàn quốc (12.1946). Lực lượng du kích và nhân dân Cổ Đô tận dụng địa hình đào hàng trăm hầm các loại cùng hệ thống hào giao thông và công sự chiến đấu, phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh, huyện đánh 45 trận, diệt, bắt và gọi hàng hơn 200 địch. Đặc biệt trong những năm 1949-53 Cổ Đô nằm trong vành đai trắng của địch nhưng du kích vẫn kiên cường bám trụ đánh giặc tại chỗ, góp phần đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở địa phương, Cổ Đô được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1996) và huân chương Chiến công (1 hạng nhất, 2 hạng nhì).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 06:58:43 pm

        LÀNG CHIẾN ĐẤU CỰ NẪM, làng chiến đấu do nhân dân xã Cự Nẫm (h. Bố Trạch, t. Quảng Bình) xây dựng trong KCCP. Được các cơ quan đảng và chính quyền của tỉnh, huyện chỉ đạo, giúp đỡ, từ cuối 1946 dân quân du kích và nhân dân Cự Nẫm chặt tre rào làng, lập thành ba tuyến phòng thủ, bên trong có hệ thống hào giao thông và hàng nghìn hầm hố các loại; 4.1947-3.1948, bằng vũ khí thô sơ và cách đánh du kích, đánh bại 26 cuộc càn quét của quân Pháp, diệt hơn 150 địch, bào vệ làng, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Làng chiến đấu tiêu biểu của Quảng Bình và Liên khu 4, được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng bằng khen; trong KCCM, Cự Nẫm được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1996).

        LÀNG CHIẾN ĐẤU ĐIỆN TIẾN, làng chiến đấu do nhân dân xã Điện Tiến (h. Điện Bàn. t. Quảng Nam) xây dựng trong KCCP. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ xã, nhân dân địa phương tiến hành củng cố địa hình có sẵn, làm thêm công sự, bãi mìn, hào giao thông,... xây dựng các tuyến bố phòng đánh địch bảo vệ xóm làng. Tiêu biểu là 2.5.1951 du kích và nhân dân xã Điện Tiến phối hợp cùng Đại đội 61 bộ đội huyện đánh thắng trận càn lớn của quân Pháp tại thôn Tứ Sơn, diệt và bắt 60 địch. Điện Tiến được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1978).

        LÀNG CHIẾN ĐẤU NGUYÊN XÁ, làng chiến đấu do nhân dân xã Nguyên Xá (h. Tiên Hưng, nay là Đông Hưng, t. Thái Bình) xây dựng trong KCCP, theo nghị quyết và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy ĐCS Đông Dương tỉnh Thái Bình. Đầu 1947 dựa vào địa hình, địa vật và các cấu trúc sẵn có, nhân dân và du kích xã rào làng, đào hào đắp lũy, hình thành các tuyến phòng thủ liên hoàn gồm hàng chục nghìn hầm hố chiến đấu, hệ thống hào giao thông nối liền các ngõ xóm, đặt các loại chông mìn, cạm bẫy... Dựa vào làng chiến đấu, du kích và nhân dân Nguyên Xá bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của quân Pháp, đồng thời tổ chức quấy rối, đánh giao thông, gây cho địch nhiều thiệt hại, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Nguyên Xá làng kiểu mẫu” (1952).

        LÀNG CHIẾN ĐẤU PHỔ MINH, làng chiến đấu do nhân dân xã Phố Minh (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi) xây dựng trong KCCM. Đầu 1967 đối phó với âm mưu bình định, lập ấp chiến lược của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, chi bộ Đảng và Ban chỉ huy xã đội vận động nhân dân kiên quyết bám trụ, tận dụng địa hình rào làng chiến đấu. Trong thời gian ngắn (10-25.1.1967) đã làm được hàng trăm công sự chiến đấu. hàng ngàn hầm ẩn nấp, hầm bí mật, hầm cất giấu lương thực, xây dựng các bãi chướng ngại vật với trên 300 quả mìn, hàng vạn mũi chông, tu sửa trên 6.000m hào, bảo đảm hệ thống thông tin liên lạc liên thôn, liên xã... Dựa vào làng chiến đấu, lực lượng du kích và nhân dân địa phương đã bẻ gẫy nhiều cuộc càn của địch, tiêu biểu từ 28.1 đến 2.2.1967 cùng bộ đội địa phương đánh bại 2 tiểu đoàn, diệt hơn 200 địch, thu 30 súng. Phổ Minh được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1994).

        LÀNG CHIẾN ĐẤU SƠN MĨ, làng chiến đấu do nhân dân xã Sơn Mĩ (nay là xã Tịnh Khê, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi) xây dựng trong KCCM. Sau khi đập tan ách kìm kẹp của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, từ 10.1964 đến 5.1965, chi bộ Đảng và chính quyền CM đã lãnh đạo nhân dân xây dựng xã thành làng chiến đấu liên hoàn, gồm 9.000m rào gai, 15.000m địa đạo, hầm chống xe tăng, bãi mìn tự tạo, hệ thống hào giao thông (13.000m) nối liền các xóm, thôn. Bằng vũ khí thô sơ, vũ khí thu được của địch, lực lượng du kích và nhân dân địa phương đã đánh bại các cuộc càn quét, giữ vững vùng giải phóng. Tiêu biểu là trận chống càn tại thôn Trường Thọ 18.5.1965, đánh lui 2 tiểu đoàn, diệt 74 địch. Sơn Mĩ được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1969)

        LÀNG CHIẾN ĐẤU VẬT LẠI, làng chiến đấu do nhân dân  thôn Vật Lại, xã Phú Mĩ, h. Quảng Oai, t. Sơn Tây (nay là xã Vật Lại, h. Ba Vì, t. Hà Tây) xây dựng trong KCCP. Hình thành đầu 1947, hoàn chỉnh 10.1948. Dưới sự lãnh dạo của chi bộ Đảng địa phương, nhân dân đã đóng góp hàng vạn ngày công, tận dụng địa hình và phương tiện có sẵn, xây dựng làng chiến đấu liên hoàn gồm 5.000m rào bao quanh làng, 3.500m hào giao thông nối liền các xóm ngõ, nhiều hầm hố, ụ đất và công sự chiến đấu... Lực lượng du kích được tuyển chọn và tổ chức thành 1 trung đội tập trung, mỗi xóm có 1 tiểu đội, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc; trang bị súng trường, súng kíp và các loại chông mìn, lựu đạn. giáo mác... Từ 11.1948 đến 2.1949, quân và dân Vật Lại phối hợp với bộ đội huyện đã đánh bại 4 cuộc hành quân càn quét lớn của địch, diệt và bắt hơn 400 quân. Đặc biệt trong đợt chống càn Vật Lại (19.1-23.2.1949). địch phải huy động hơn 2.000 quân cùng nhiều xe tăng, máy bay, pháo binh liên tục càn quét, sau đó phá hủy LCĐVL nhưng không tiêu diệt được lực lượng và phong trào kháng chiến ở đây. Một trong những làng chiến đấu đầu tiên, tiêu biểu của Liên khu 3 thời kì đầu KCCP. Vật Lại được nhà nước tặng danh hiệu Ah LLVTND (1995).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:00:24 pm

        LÀNG CHIẾN ĐẤU XI TƠ, làng chiến đấu tiêu biểu của các dân tộc vùng núi Tây Nguyên, do nhân dân làng Xi Tơ (xã Nam nay là xã Tơ Tung, h. Kbang, t. Gia Lai) xây dựng trong KCCP. Làng có 18 gia đình người dân tộc Bana với 52 nhân khẩu sống du canh ven đường 19; những năm 1947-49. mặc dù mất liên lạc với CM, bị địch bao vây, 5 lần thay đổi chỗ ở, vẫn một lòng theo CM, tự thành lập đội du kích do Đinh Núp chỉ huy. Du kích và nhân dân Xi Tơ tổ chức rào làng, đắp luỹ, làm bẫy đá, hầm chông, tự chế cung nỏ và nhiều loại vũ khí thô sơ khác; dùng cách đánh du kích làm thất bại mọi cuộc tiến công của quân Pháp, trở thành “pháo đài” bất khả xâm phạm, làm ngừng trệ giao thông của địch trên đường 19.

        LÀNG NGUYỄN nh LÀNG CHIẾN ĐẤU NGUYÊN XÁ

        LÀNG RỪNG, làng kháng chiến do nhân dân Nam Bộ lập ra ở vùng sâu trong rừng tràm U Minh và rừng đước Năm Căn (t. Cà Mau) thời kì 1958-59, khi phong trào CM ở miền Nam VN còn nhiều khó khăn, nhằm tránh sự tàn sát, khủng bố kìm kẹp của Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong quá trình phát triển, LR được tổ chức thành làng xã chiến đấu, có chi bộ Đảng, ban quản lí, các đoàn thể... đảm bảo duy trì đời sống, sản xuất và chiến đấu. Sự hình thành các LR thể hiện ý chí đáu tranh bất khuất của nhân dân miền Nam VN chống ách thống trị của Mĩ - Diệm, góp phần bảo vệ và tích lũy lực lượng CM trong những năm đầu cuộc KCCM.

        LÀNG VÂY, điểm dân cư thuộc xã Tân Long, h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị, phía tây Khe Sanh 8km, cách biên giới Lào - Việt 2,5km. Tại LV, Mĩ và QĐ Sài Gòn xây dựng cứ điểm trên các điểm cao 320, 230, nằm trong tuyến phòng thủ đường 9 (Khe Sanh, LV, Tà Cơn) của hàng rào điện tử Mac Namara, bị Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 (được tăng cường 2 đại đội đặc công, 16 xe tăng PT-76) tiến công tiêu diệt trong trận Làng Váy (6-7.2.1968), trận hiệp đồng binh chủng đầu tiên có xe tăng tham gia, trận đầu ra quân đánh thắng của bộ đội tăng thiết giáp QĐND VN trong KCCM.

        LẠNG SƠN, tỉnh miền núi ở đông bắc Bắc Bộ; bắc giáp Cao Bằng, đông và đông bắc giáp TQ, đường biên giới 253km, cửa khẩu quốc tế: Bình Nghi và Chi Ma, nam và đông nam giáp Bắc Giang, Quảng Ninh, tây giáp Thái Nguyên và Bắc Kạn. Dt 8.305,21km2; ds 0,72 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao. Hoa, Mông, Ngái... Thành lập 1831. Từ 7.1956 thuộc Khu tự trị Việt Bắc. 12.1975 sáp nhập với Cao Bằng thành t. Cao Lạng. 12.1978 tái lập. Tổ chức hành chính: 10 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Lạng Sơn. Địa hình chủ yếu là rừng núi (chiếm hơn 80% diện tích), đông có núi Mẫu Sơn (1.541m), tây là núi đá vôi với nhiều hang động. Rừng nhiều gỗ và lâm sản quý. Khí hậu ôn hòa, lượng mưa l.000mm/năm. Khoáng sản: vàng, bạc, chỉ, đồng, kẽm, sắt, than đá... Tỉnh nông - lâm nghiệp, có thế mạnh phát triển du lịch, dịch vụ. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 235,5 nghìn tấn (lúa 178,1 nghìn tấn); khai thác gỗ 67,9 nghìn m3. công nghiệp: khai khoáng (than Na Dương, phốt phát Vĩnh Thinh, đá Đồng Mỏ), chế biến lâm sản, vật liệu xây dựng... Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 259,1 tỉ đồng. Giao thông đường sắt Hà Nội - LS - TQ; đường bộ: các QL 1, 1B, 4A, 4B. 279 và các tuyến đường tỉnh lộ; đường thủy theo sông Kì Cùng và Sông Thương. Nhiều địa danh lịch sử: Chi Lăng, Bắc Sơn, đèo Bông Lau...; chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang, chiến thắng Biên Giới, đường 4. Tháng 2.2002, LLVT- ND Lạng Sơn được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66798104_453145388748680_4033898134114402304_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQkdxkTKnGfTIrigBXH3Bim75Coc7MW49pnk_0W4rNIzNQoqKFks3kPsm9LGgDE-1AM&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=085174b0be1509d2891d51e29a42386f&oe=5DB7D972)


        LÃNH BINH (cổ), chức quan võ chỉ huy LLVT một tỉnh ở một số triều đại phong kiến VN và TQ. Ở VN, triều Nguyễn (1802-1945), gồm: LB, LB thủy sư (phẩm trật ở hàng chánh tam phẩm), phó LB, phó LB thủy sư (tòng tam phẩm). Ở những tỉnh lớn, quân đông có thêm phó LB chuyên coi một số đơn vị. Những tỉnh có lực lượng thủy binh, thường có thêm LB thủy sư hoặc phó LB thủy sư chuyên phụ trách lực lượng này. Ở những tỉnh nhỏ, quân không đông, thường chỉ có LB hoặc phó LB phụ trách chung. Cg lãnh binh quan.

        LÃNH BINH QUAN nh LÃNH BINH


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:02:03 pm

        LÃNH HẢI, bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền của một quốc gia, là vùng biển nằm bên ngoài và tiếp liền với vùng đất quốc gia, với nội thủy của quốc gia ven biển (đối với quốc gia quần đảo là vùng biển bên ngoài vùng nước quần đảo); là nơi chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài vùng đất quốc gia và nội thủy. Chủ quyền này mở rộng đến vùng trời trên LH cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của LH. Theo công ước của Liền hợp quốc vé luật biển (1982) chiều rộng LH được quy định không vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển quy định chế độ pháp lí của LH phù hợp với luật pháp và tập quân quốc tế. LH của nước CHXHCN VN được quy định trong tuyên bố của chính phủ 12.5.1977: “LH của nước CHXHCN VN rộng 12 hải lí, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra xa nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của VN tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra...”, “nước CHXHCN VN thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với LH của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của LH”. Luật biên giới quốc gia quy định: “LH của VN rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. LH của VN bao gồm LH của đất liền, LH của đảo, LH của quần đảo”.

        LÃNH KHÔNG nh VÙNG TRỜI QUỐC GIA

        LÃNH THỔ BỔ SUNG nh LÃNH THỔ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT

        LÃNH THỔ QUỐC GIA, phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia, trong đó quốc gia có thể áp đặt một chế độ pháp lí cho việc quản lí các hoạt động. LTQG bao gồm: vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo), vùng trời quốc gia, nội thủy và lãnh hải. Theo luật pháp quốc tế và các điều ước quốc tế, LTQG còn bao gồm phần lãnh thổ quốc gia đặc biệt. Chủ quyền đối với LTQG là tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Riêng đối với lãnh thổ đặc biệt, các quốc gia sở hữu thực hiện chủ quyền của mình, nhưng phải tuân thủ luật pháp của nước sở tại và luật pháp quốc tế cũng như các điểu ước quốc tê liên quan đã kí kết và các quy chế chung được áp dụng đối với lãnh thổ đặc biệt.

        LÃNH THỔ ĐẤT nh VÙNG ĐẤT QUỐC GIA

        LÃNH THỔ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT, loại lãnh thổ quốc gia đặc thù của một nước tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ quốc gia một nước khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế. Theo luật pháp quốc tế LTQGĐB gồm: trụ sở làm việc và nơi ở của cơ quan đại diện ngoại giao, phương tiện giao thông (ô tô, tàu biển, máy bay) của một nước được phép hoạt động hoặc neo đậu tại sân ga, bến cảng nước sở tại; tàu biển, phương tiện bay mang quốc kì đi trên vùng biển, vùng trời quốc tế; dây cáp, ống dẫn ngầm nằm trên lãnh thổ một nước khác hoặc nằm ngoài lãnh thổ của bất cứ một nước nào; lãnh thổ cho mượn hay nhượng lại có thời hạn. LTQGĐB được hưởng quyền bất khả xâm phạm nhưng phải phục tùng luật pháp nước sở tại và luật pháp quốc tế. Cg lãnh thổ bổ sung.

        LAO, vũ khí lạnh, thô sơ, có cán dài, một đầu có mũi nhọn, dùng để sát thương đối phương bằng phóng. Cán L được làm bằng tre. thân cây, cành cây gỗ cứng, đồng, sắt. Dài trên dưới l,5m. Mũi lao bằng kim loại (phổ biến nhất) hoặc đá. xương thú..., có chuôi, họng để tra cán. Được phóng đi do sức người hoặc sức đàn hồi của vật khác. L được trang bị cho bộ binh thời cổ nhưng không phổ biến như các loại vũ khí lạnh khác. Trong KCCP, du kích Tây Nguyên do Đinh Núp chỉ huy đã sử dụng L rất hiệu quả.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67274267_453145375415348_7786245781698117632_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQkdVatWCgmjs8oNvdzJU37O5EfLbigzAZU_XqRIomi2K54Nw8HA0w-InHEBEi-gWHU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=fd38741553121e2c0e8bd3951de3b07f&oe=5DB084F4)


        LAO BẢO, thị trấn cửa khẩu thuộc h. Hướng Hóa, t. Quàng Trị; nằm trên QL 9, tây tx Đồng Hà 81km, cách đèo Lao Bào trên biên giới Việt - Lào 2km. Đầu tk 20, thực dân Pháp xây dựng tại đáy (thuộc địa phận thôn Duy Tân, xã Tân Phước cũ) 1 trong 5 nhà tù lớn nhất Đông Dương, làm nơi giam cầm các nhà yêu nước VN và Lào. Lúc đầu nhà tù có hai khu: Lao A, Lao B. 28.9.1915 tại đây nổ ra cuộc nổi dậy của khoảng 200 tù nhân phá nhà tù, giết lính gác và cai ngục, cắt thông tin liên lạc, cướp vũ khí rút vào rừng lập căn cứ chống Pháp. 1931-32 Pháp xây thêm Lao C và Lao D. Dưới Lao C có hầm riêng để giam những tù nhàn chính trị được coi là đặc biệt nguy hiểm.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:03:44 pm

        LAO ĐỘNG QUÂN SỰ, lao động diễn ra trong lĩnh vực QS như: chiến đấu, huấn luyện, nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa và bảo quản vũ khí, trang bị... Thuộc loại lao động đặc biệt, gắn liền sự hao tổn về sức khỏe với sự nguy hiểm và tổn thất về sinh mạng của người tham gia LĐQS.

        LÀO (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Sathalanalat Paxathipatay Paxaxôn Lao, A. Laos People’s Democratic Republic), quốc gia ở Đông Nam Á, trên bán đảo Đóng Dương. Dt 236.800km2; ds 5,92 triệu người (2003); 68% Lào Lum, 22% Lào Thơng, 9% Lào Sủng. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Lào. Tôn giáo 90% đạo Phật. Thủ đô: Viêng Chăn. Chính thể CHDC nhân dân, đứng đầu nhà nước là chủ tịch nước, đồng thời là chủ tịch HĐND tối cao (cơ quan lập pháp cao nhất). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyên, đỉnh cao nhất (Phu Bia) 2.820m. Dọc sông Mê Công có các dải đồng bằng hẹp. Sông chính: Mê Công. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa 1.500-1.700mm/năm ở đồng bằng, 3.000mm ở vùng núi. Rừng nhiệt đới chiếm 2/3 lãnh thổ. Nước nông nghiệp, kinh tế chưa phát triển, giàu tài nguyên thiên nhiên: nhiều khoáng sản, gỗ và lâm sản quý. Nông nghiệp: lúa, ngô, sắn... GDP 1.761 triệu USD (2002), bình quân đầu người 330 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Phong trào không liên kết. ASEAN. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 5.9.1962. LLVT: lực lượng thường trực 29.700 người (lục quân 25.600. hải quân đánh bộ 600, không quân 3.500). Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 35 xe tăng (T-54, T-55, T-34), 50 xe thiết giáp chở quân. 82 pháo mặt đất, một số súng cối, pháo phòng không, tên lửa phòng không, 26 máy bay chiến đấu. Ngân sách quốc phòng 15 triệu USD (2003).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67143920_453145395415346_3774013296575774720_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlvzKZTRpjcBNVLofA2SFEGhVQTr34rTEMM5K-9vlE-tLv-sJ2qR56lRO5qo0W451s&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=461663dd47a11ee945e9d633246d12ed&oe=5DBD6B15)


        LÀO CAI. tỉnh miền núi ở tây bắc Bắc Bộ; bắc giáp TQ, đường biên giới dài 203,8km, cửa khẩu quốc tế: Hà Khẩu. Bát Xát. Mường Khương, đông giáp Hà Giang, nam giáp Yên Bái. tây nam giáp Sơn La. tây giáp Lai Châu. Dt 6.357,08 km2; ds 0.64 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh 33%, Tày 20%, Dao 12%* Thái 8%, Giáy 5% Thành lập 5.1886 do tách từ các tinh Hưng Hóa và Tuyên Quang. 12.1975 sáp nhập với Yên Bái và một phần Nghĩa Lộ thành t. Hoàng Liên Sơn**. 8.1991 tái lập (1.2004 cắt h. Than Uyên về t. Lai Cháu**). Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Lào Cai. Địa hình: núi cao hiểm trở phân bố chu yếu ở các huyện Bát Xát. Sa Pa. Bắc Hà, Mường Khương, Xi Ma Cai; dọc theo ranh giới phía tây giáp t. Lai Châu là dãy Hoàng Liên Sơn* với các đỉnh cao Phanxipãng 3.143m, Phu Luống 2.985m, Lang Cung 2.918m; phía đông và đông nam là vùng núi thấp. Sông lớn: Sông Hồng, Sông Chảy, có tiềm năng thủy điện lớn. Sông Hồng từ TQ chảy vào LC theo hướng tây bắc - đông nam, hai bên là núi cao, trên các triền núi là những dải rùng rộng lớn, nhiều gỗ, dược liệu quý. Khoáng sản: apatít, đóng, antimoan, graphít... Khí hậu đa dạng, vùng thấp khí hậu nhiệt đới, vùng cao khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 177 nghìn tấn (lúa 125,1 nghìn tấn); khai thác gỗ 30,2 nghìn m3. Công nghiệp: khai khoáng (mỏ apatít Lào Cai), khai thác lâm sản. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 316,9 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 70, QL 32, QL 279, QL4D. QL4E; đường sắt LC - Hà Nội; đường thủy dọc theo Sông Hồng. Nơi diễn ra các chiến dịch Lao Hà (1949), chiến dịch Lê Hồng Phong ỉ (1950). Đơn vị Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67352886_453145408748678_6054944069543526400_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQl-kR1eHbCamGkaBT8NRNXEzsl3_Gv7ay6Q2n9bQRY7MH6sQLMMaiFc7qeR5yBRHOo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d0c3eaab22b9b8108952c5244ae379bf&oe=5DB3FA3A)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:04:53 pm

        LÃO HÓA, sự biến đổi một chiều có quy luật, làm giảm dần theo thời gian những tính chất có giá trị của sản phẩm tự nhiên và nhân tạo. Tốc độ LH phụ thuộc vào điều kiện và môi trường hoạt động. Có: LH vật lí và LH lạc hậu. LH vật lí gồm: sụ hao mòn của chi tiết, bộ phận; sự giảm tuổi thọ do bị ăn mòn; sự mất dần các tính chất lí - hóa ưu việt của vật liệu do nhiệt độ, độ ẩm, áp lực, tải trọng... LH lạc hậu là sự không phù hợp với yêu cầu hiệu quả chiến đấu của trang bị, đòi hỏi phái thay đổi mẫu trang bị mới. LH trang bị QS làm giảm hiệu quả chiến đấu trong quá trình khai thác chúng. Ở VN, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, trang bị QS bị LH (cả LH vật lí và LH lạc hậu) với tốc độ nhanh. Biện pháp chủ yếu hiện nay để chống LH là nhiệt đới hóa các chi tiết; bảo quản, bảo vệ bằng dầu mỡ có phụ gia; cải thiện điều kiện cất giữ...

        LATVIA (Cộng hòa Latvia; Latvija, Latvijas Republika, A. Republic of Latvia), quốc gia ở Bắc Âu; phía tây và bắc giáp biển Bantich và Extônia, đòng bắc giáp Nga, đông nam giáp Bêlarut, nam giáp Litva. Dt 63.700km2; ds 2,35 triệu người (2003); 54% người Latvia, 33% người Nga, 17% các dân tộc khác. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Latvia. Tôn giáo: đạo Cơ Đốc. Thủ đô: Riga. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: hội đồng tối cao (quốc hội) một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình: đồng bằng thấp, tây và đông là vùng gò đổi. Nhiều hồ, đầm lầy. 38% lãnh thổ là rừng. Khí hậu ôn đới. Công nghiệp chế tạo máy, điện tử, năng lượng. GDP 7,55 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 3.200 USD. Thành viên LHQ (17.9.1991), Liên minh châu Âu (EU, 2004), NATO (4.2004). Lập quan hệ ngoại giao với VN 12.2.1992. LLVT: lực lượng thường trực 5.500 người (lục quân 4.300, hải quân 930, không quân 270), lực lượng dự bị 14.050. Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS, thời gian phục vụ 12 tháng. Trang bị: 3 xe tăng, 13 xe thiết giáp. 26 pháo mặt đất, 30 pháo phòng không, 4 tàu tuần tiễu, 3 tàu quét mìn, 3 tàu hộ tống, 19 máy bay các loại, 5 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 116 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67066757_453145418748677_3760475499529240576_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnqzQa_Eb0rZHtgu_BmWNwFOZkQOgAbzzvKLLlgHTVIlOWeFFWq17dW7oIxVC2yJnU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=41d41303ab4b6461312e05d1a8320357&oe=5DE85891)


        LÂM BƯU (Lin Biao; 1907-71), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955), tham gia sáng lập và lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người h. Hoàng Cương, t. Hồ Bắc; đv ĐCS TQ (1925). Tham gia chiến tranh Bắc Phạt (1926-27), khởi nghĩa Nam Xương (1.8.1927- 4.1928), khởi nghĩa Hồ Nam. 1930 quân đoàn trường Hồng quân công nông TQ. Tham gia Vạn lí trường chinh (1934- 36). Tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch lớn: giải phóng Đông Bắc, Bình Tân (1948), Hoa Nam. Tư lệnh Quân khu Hoa Trung kiêm bí thư thứ nhất Hoa Trung cục (1949), phó chủ tịch ủy ban QS CM nhân dân thuộc chính phủ trung ương (1951). LB giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ĐCS TQ; phó chủ tịch Quân ủy trung ương; ủy vịên BCHTƯ(1945). Năm 1954 phó thủ tướng Quốc vụ viện, phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng (khóa I-III); ủy viên BCT (1955), ủy viên thường vụ BCT rồi phó chủ tịch BCHTƯĐCS TQ (1958). Năm 1959 bộ trưởng BQP TQ. LB ủng hộ CM văn hóa, được Mao Trạch Đông chi định làm người kế vị. 9.1971 chết do tai nạn máy bay trên vùng trời Mông cổ. Bị ĐCS TQ khai trừ khỏi đảng (1973) và bị quy tội là chủ phạm vụ án tập đoàn phản CM tại phiên tòa đặc biệt của tòa án nhân dân tối cao (1981).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:06:54 pm

        LÂM ĐỒNG, tỉnh ở Tây Nguyên; bắc giáp Đắk Lắk. Đắk Nông, đông giáp Ninh Thuận. Khánh Hoà, nam giáp Bình Thuận, tây nam giáp Đồng Nai, tây giáp Bình Phước. Dt 9.674,79km2; ds 1,12 triệu người (2003); gồm 69,5% người Kinh, 16,4% Cơ Ho, 4.1% Mạ... Nguyên là các tỉnh Lâm Viên (tách từ t. Bình Thuận, 1916) và Đồng Nai Thượng (thành lập 11.1899). Tháng 6.1957 chính quyền Sài Gòn đổi tên Đồng Nai Thượng thành t. LĐ sau khi tách một phần sáp nhập với tp Đà Lạt, thành lập t. Tuyên Đức. Chính quyền CM sáp nhập Lâm Viên với Đồng Nai Thượng thành t. LĐ. 2.1976 sáp nhập hai tỉnh LĐ cũ và Tuyên Đức thành t. LĐ mới. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Đà Lạt. LĐ nằm trên ba cao nguyên: Lâm Viên, Đơn Dương - Liên Khương và Bảo Lộc - Di Linh. Phía bắc có đinh Chư Yang Sin 2.405m. Yang Bòng 1.749m; nam có đinh Đan Sẽ Na 1.950m, Lang Biang 2.163m, Hòn Nga 1.948m. Sông lớn: Đồng Nai, Đa Dung, Đa Nhím, nhiều thác ghềnh; hồ: Dạ Hàm, Proh, Tây Di Linh, Đạ Bỏ. Khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 19°C, lượng mưa 2.000mm/năm. Diện tích rừng 618.537ha (chiếm 70% diện tích tự nhiên). Khoáng sản: bôxít. than, cao lanh... Tỉnh nông - lâm nghiệp, trồng các loại cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê, hồ tiêu), cung cấp rau, quả cho tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam, Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 141,8 nghìn tấn (lúa 101,8 nghìn tấn); khai thác gỗ 180,2 nghìn m3. Công nghiệp: điện lực, cơ khí, vật liệu xây dựng, khai khoáng, chế biến lâm sản. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 963,6 tỉ đồng. Đà Lạt là thành phố nghỉ mát và du lịch nằm trên cao nguyên Lâm Viên ở độ cao 1.500m. Trong KCCM gắn liền với các chiến thắng: Liên Khương, Cam Li, tiểu khu Liên Đức... Đơn vị Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67291837_453145425415343_646569139858571264_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnFp_PKqY0jgQDfoUqoJs0ICxBDbbBILYt9UwFSdCaC1lXJNnWs4RB22Td4BlVDLfo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e0d65a7ea374534deb683c3fdbe730dc&oe=5DEEAAEA)


        LÂM KÍNH (Lâm cẩm Như; 1920-79), đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải *phóng quân ngày đầu thành lập (22.12.1944). Dân tộc Tày, quê thị trấn Đông Khê, h. Thạch An. t. Cao Bằng; nhập ngũ 1944, đại tá (1973); đv ĐCS VN (1946). Năm 1944 một trong những người đầu tiên tham gia Đội VN tuyên truyền giải phóng quân: trưởng thành từ đội viên, chính trị viên trung đội, trung đội trưởng. 1945 đội trưởng du kích Chợ Chu, chi đội trường Chi đội 4 giải phóng quân, chủ tịch ủy ban bảo vệ Hà Nội. Trong KCCP. 1946 tham mưu trường: ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ. Khu 4, Khu 2; tham mưu chủ nhiệm Quân ủy hội quyền khu trưởng Khu 2. Năm 1947 đại đoàn phó Đại đoàn Độc Lập kiêm trung đoàn trường Trung đoàn 17, trung đoàn trưởng Trung đoàn 308. Năm 1949-53 tham mưu trường Đại đoàn 308, bí thư Bộ tổng tu lệnh, tham mưu trưởng Đại đoàn 312, đại đoàn phó Đại đoàn 304. Trong KCCM, 1955-63 hiệu phó rồi hiệu trường Trường văn hóa Bộ tổng tư lệnh, 1964 hiệu phó Trường cán bộ chính trị QĐ. 1966-79 phó giám đốc kiêm cục trường Cục QS Học viện chính trị-QS. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67381898_453145438748675_2833286927560474624_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQn_hRa3t9xLinD_YMrlP6dw6-DE3gXM_ft_H_dQlVl5SST5fYvgk8tSzVET5R-9Ucc&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7461eba4136eadf26e3cdebbb4ef0663&oe=5DB14481)


        LÂM TƯƠNG (s. 1942), Ah LLVTND (1970). Dân tộc Khơme, quê xã Vĩnh Châu, h. Vĩnh Châu, t. Sóc Trăng; nhập ngũ 1962, đại úy (1984); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là trung đội phó công binh, bộ đội địa phương tỉnh Sóc Trăng. 1968- 69 chỉ huy tổ công binh chiến đấu 28 trận, đánh sập 2 cầu sắt, 15 cống, phá hủy 12 xe QS, 1 pháo 105mm, diệt và làm bị thương 220 địch. Trận đánh cầu Vĩnh Châu (cầu lớn, canh phòng cẩn mật), LT cùng tổ bí mật đưa khối bộc phá 500kg trên quãng đường 4km. phá sập cầu. 1968 chỉ huy tổ công binh cắt đứt đường 38, làm chủ đoạn đường lkm trong 2 tháng, đẩy lui hàng chục đợt phản kích, diệt 31 địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67460909_453145448748674_1396276365937868800_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQlsiD3agO1tp3QFzrI-Rsd0WIrIDXgzpd_YleZzjZCTeQOMKYIvQpebasp4x19joTs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d33f02bb15d4afa12877bccac2e3e4a9&oe=5DAAD8DE)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Bảy, 2019, 07:08:51 pm

        LÂM ÚY (1927-50), Ah LLVTND (truy tặng 1955). Quê xã Quảng Hoà, h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình; nhập ngũ 1945; đv ĐCS VN (1946); khi hi sinh là tiểu đội phó thuộc Trung đoàn 18, bộ đội chủ lực Mặt trận Bình -  Trị - Thiên. Trong KCCP, 1947-50 tham gia phá tề ở Sào Nam (Lệ Thủy), xây dựng cơ sờ, tổ chức du kích ở Cảnh Dương - Tú Loan; chiến đấu trên 30 trận, diệt hơn 100 địch (hầu hết là quân Pháp), bắt 3, thu 15 súng. Trận đánh ở mỏm đổi cao (gần Minh Lễ, cuối 1948). LU dùng lê diệt 6 địch, cùng trung dội phá vỡ vòng vây địch. Trận chống càn ở Bang Sơn (Quảng Bình, 1.1950), LU dùng trung liên diệt gần một trung đội địch, cùng đại đội đánh lui cuộc càn của một tiểu đoàn địch có máy bay yểm hộ. Trận Xuân Bồ (Quảng Bình, 5.1950). cùng đại đội đánh lui hơn 10 đợt tiến công của địch, khi phản kích. LU dùng lưỡi lê diệt 4 địch, lưỡi lê gãy, LU lao vào vật lộn với một sĩ quan Pháp ôm địch lăn xuống sông diệt dịch và hi sinh. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66827963_453145455415340_5075947355782512640_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnTqz9mBG3G2HGVFE30Od6aa-ItbVcYjzQIaUYklFB7MqNl0KDZWjlx0-_7CQjpErM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0f759c9e0c7e0d1086faa1e643e2bcca&oe=5DB2F49F)


        LÂM VIÊN, tỉnh cũ ở Trung Bộ. Thành lập 1.1916 do tách từ t. Bình Thuận. Tinh lị: Đà Lạt. Trong KCCM sáp nhập với Đổng Nai Thượng thành t. Lâm Đổng.

        LẦN BAY MÁY BAY. lần cất cánh của một máy bay đi làm nhiệm vụ; đơn vị để tính toán lượng sử dụng không quân trong một thời gian nhất định (ngày đêm, tuần, tháng, mặt trận chiến đấu hay một chiến dịch) khi lập kế hoạch tác chiến. LBMB được dùng để: xác định cường độ chiến đấu cho tổ bay, phân đội, binh đội, binh đoàn không quân, phân chia lực lượng không quân theo thời gian và nhiệm vụ, tính lượng máy bay cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu; xác định người phục vụ và lượng vật chất (nhiên liệu, đạn, xe...) cần có. Cg lần chiếc máy bay.

        LẦN BAY PHI ĐỘI, lần cất cánh của cả phi đội thực hiện nhiệm vụ cùng một lúc hay tuần tự từng biên đội, từng chiếc trong khoảng thời gian xác định. LBPĐ là đơn vị để tính định mức sử dụng trữ lượng bay của không quân khi lập kế hoạch tác chiến, phân chia lực lượng không quân theo thời gian (ngày, đêm. một ngày đêm, giai đoạn, trận chiến đấu, chiến dịch), cũng như xác định về nhu cầu vật chất. LBPĐ gồm bao nhiêu lần bay máy bay phụ thuộc vào số máy bay có trong phi đội được đưa vào sử dụng cho nhiệm vụ chiến đấu.

        LẨN BẮN PHÁO BINH, lần bắn từ một hay nhiều pháo với một số đạn, trong một thời gian để thực hiện một nhiệm vụ bắn nhất định trong chiến đấu, thử nghiệm, học tập... Thời gian, số lượng pháo, số đạn bắn của LBPB nhiều hay ít... tùy thuộc vào tính chất, yêu cầu và điều kiện thực tế của nhiệm vụ bắn. Trong chiến đấu có thể bắn một lần hoặc bắn nhiều lẩn vào một mục tiêu quan trọng, kiên cố... Đánh giá kết quả một LBPB bằng chỉ tiêu hiệu quả bắn.

        LẨN BẮN PHÒNG KHÔNG, lần bắn vào mục tiêu trên không từ một vũ khí phòng không (tên lửa, pháo và súng máy phòng không...). Lần bắn của tên lửa phòng không có thể là một số quả tên lửa, tùy theo số rãnh điều khiển cho phép của bộ khí tài và theo giãn cách thời gian đã định; lần bắn của pháo và súng máy phòng không là một điểm xạ với một số đạn nhất định. LBPK có xác suất trúng đích càng cao và thời gian càng ngắn thì hiệu lực của vũ khí phòng không càng lớn.

        LẤN CHIẾC MÁY BAY nh LẦN BAY MÁY BAY

        LẤN CHIẾM LÃNH THỔ, hành động chiếm dần đất đai thuộc chủ quyền của nước khác (thường bắt đầu từ biên giới), nhằm thay đổi nguyên trạng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ của nước mình. Được thực hiện bằng hai phương thức cơ bản: vũ trang lấn chiếm (đóng chốt, xây dựng các công trình QS trên đường biên giới, tiến công qua biên giới...) và phi vũ trang (sử dụng pháp lí và ngoại giao kết hợp răn đe QS). đơn phương xóa bỏ các điều ước biên giới, xê dịch hoặc phá hủy mốc biên giới, tự ý xây kè đắp đập làm thay đổi dòng chảy sông suối biên giới, xâm canh, xâm cư trên biên giới...


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 09:42:04 am

        LẬP KẾ HOẠCH hoạt động tác chiến, quá trình nghiên cứu và soạn thảo một cách chi tiết nội dung và trình tự thực hiện nhiệm vụ tác chiến. Gồm việc làm các kế hoạch: tác chiến; sử dụng lực lượng; CTĐ.CTCT; hiệp đồng; bảo đảm hậu cần, kĩ thuật...; chỉ huy bộ đội. Do cơ quan chỉ huy thực hiện dưới sự chỉ đạo của người chỉ huy trên cơ sở quyết tâm tác chiến, chỉ thị của người chỉ huy và cơ quan chỉ huy cấp trên, sự đánh giá tình hình mọi mặt, dự kiến diễn biến tình huống và các tính toán khác. Tham gia LKH có thủ trường các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật, các quân chủng, binh chủng. Để đảm bảo bí mật. việc chi định người tham gia LKH phải rất hạn chế. Tùy theo tình huống và điều kiện, việc LKH có thể được tiến hành theo các phương pháp: tuần tự, song song hoặc kết hợp giữa song song và tuần tự. Theo phương pháp tuần tự thì cấp dưới bắt đầu lập kế hoạch sau khi cấp trên lập xong kế hoạch; theo phương pháp song song thì cấp dưới bắt đầu lập kế hoạch ngay sau khi người chỉ huy cấp trên hạ quyết tâm và truyền đạt nhiệm vụ cho cấp dưới, khi có ít thời gian thì tiến hành ngay sau khi có ý định tác chiến. Phương pháp song song giúp rút ngắn thời gian lập kế hoạch, tạo điều kiện cho bộ đội có nhiều thời gian để chuẩn bị tác chiến. Để rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng LKH, cần phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của sĩ quan và cơ quan chỉ huy, sử dụng rộng rãi máy tính và phương tiện tự động hóa chỉ huy. Kết quả của LKH được thể hiện trong các văn kiện kế hoạch hoạt động tác chiến.

        LÂU THUYÊN (cổ), chiến thuyền có nhiều tầng lầu (lâu) dùng trong các trận thủy chiến lớn. LT có lợi thế về chiểu cao (có chiếc đến 27m), phát huy được hiệu quả quan sát, chỉ huy và vũ khí tầm xa. LT có cấu trúc và trang trí đẹp. Xuất hiện khá sớm ở TQ (219tcn). Ở VN, 1205 (thời Lí) Đàm Dĩ Mông đã chế tạo LT, sau đó các vua Trần cũng đã dùng LT làm tướng phủ (SCH) trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67098420_453145475415338_5916578133280030720_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnW1GijrCvEVQ-QBKlbKlERCS2ukRVmGBL0bhtwbqvR522BmPj7wrJQ5wGtjdK68ZE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6ffb94b31293a3e57c38bf247737c4dc&oe=5DB1694F)


        LẦU NĂM GÓC, trụ sở BQP và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mĩ (tòa nhà lớn hình ngũ giác ở gần thủ đô Oasinhtơn), một biểu tượng của cơ quan QS tối cao Mĩ (người phát ngôn LNG, kếhoạch của LNG...), cơ quan đề xuất, soạn thảo và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch chiến tranh và chạy đua vũ trang, cơ quan có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành các chính sách đối nội, đối ngoại, chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược quân sự toàn cầu của Mĩ. 11.9.2001 bị lực lượng của tổ chức An Quâyđa tiến công bằng cách cướp máy bay dân dụng rồi điều khiển lao vào tòa nhà, gây thiệt hại nghiêm trọng.

        LẤY CHIẾN TRANH NUÔI CHIẾN TRANH, DÙNG NGƯỜI BẢN XỨ ĐÁNH NGƯỜI BẢN XỨ, chính sách của nước đi xâm lược nhằm khai thác và sử dụng tối đa các nguồn lực của nước bị xâm lược để tiến hành chiến tranh tại chỗ, khắc phục mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu to lớn của chiến tranh với khả năng đáp ứng có hạn của hậu phương chính quốc, hạn chế thấp nhất những tổn thất về người của bên xâm lược, đồng thời che giấu tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh và gây mơ hồ giữa chiến tranh xâm lược với nội chiến. Trong những cuộc chiến tranh xâm lược VN, các triều đại phong kiến nước ngoài, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ đều đã sử dụng chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” với mức độ và biện pháp khác nhau.

        LẤY ĐỘ CAO BAY, cơ động máy bay lên độ cao bay cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu (huấn luyện). Để LĐCB phải thực hiện vòng máy bay về hướng quy định, tăng tốc độ cần thiết để lấy tốc độ quy định và đưa máy bay vào lấy độ cao. LĐCB phụ thuộc vào tính năng của máy bay, kĩ thuật thao tác của phi công (tổ lái) nhằm đạt độ cao cần thiết trong thời gian quy định.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 09:51:10 am

        LẨY ÍT ĐÁNH NHIỀU nh LẤY ÍT ĐỊCH NHlỀU

        LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, tư tưởng chỉ đạo tác chiến dùng lực lượng ít hơn địch, tạo thế lợi hơn địch, bằng phương pháp tác chiến hiệu quả hơn địch, đánh thắng kẻ địch có lực lượng lớn hơn mình. Được các nhà QS kiệt xuất như Lí Thường Kiệt, Trấn Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ vận dụng rất thành công. LIĐN còn là dùng lực lượng nhỏ mà tinh để giành thắng lợi lớn (bộ đội đặc công, dân quân du kích) và dùng cách đánh dựa chủ yếu vào nhân tố bí mật bất ngờ. Nghệ thuật QS VN quán triệt tư tưởng LIĐN về chiến lược, còn trong chiến dịch và chiến đấu thì biết LIĐN đồng thời khi cần thì tập trung lực lượng nhiều hơn địch để tiêu diệt chúng. Cg lấy ít đánh nhiều.

        LẤY MẪU XĂNG DẦU, thao tác kĩ thuật - nghiệp vụ sử dụng các dụng cụ chuyên dùng lấy một lượng nhỏ xăng dầu từ khí tài chứa đựng (bể chứa, thùng, phuy...) hoặc phương tiện vận chuyển (tàu. xà lan, xe xitéc...) theo đúng quy định và yêu cầu phân tích để phục vụ cho việc kiểm tra chất lượng xăng dầu. Thường tiến hành khi tiếp nhận, cấp phát, vận chuyển và bảo quản xăng dầu. Vị trí. nội dung lấy mẫu tùy thuộc vào yêu cầu phân tích, đánh giá chất lượng xăng dầu (phân tích kiểm tra. phân tích toàn bộ hoặc phân tích trọng tải).

        LẤY YẾU ĐÁNH MẠNH, 1) tư tưởng chỉ đạo trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ tổ quốc của VN chống kẻ thù xâm lược và đô hộ mạnh hơn. Biện pháp cơ bản thường là: dựa vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, phát động toàn dân đánh giặc khôn khéo lập mưu kế, vận dụng thế trận và thời cơ, tạo và phát huy sức mạnh, giành thắng lợi từng bước chuyển thế yếu thành thế mạnh đánh bại kẻ thù; 2) tư tưởng chỉ đạo tác chiến của LLVTND VN có nội dung gần với tư tưởng lấy ít địch nhiều.

        LÊNXĐÊN (A. Edward Geary Lansdale; s. 1908), đại tá tình báo Mĩ, cố vấn cho Ngô Đình Diệm (1954-56) củng cố chính quyền  thực dân mới của Mĩ ở miền Nam VN. Đầu những năm 50 tk 20, cố vấn cho bộ trưởng quốc phòng Macxayxay ở Philippin chống du kích và chống nổi dậy thành công và đưa Macxayxay lên làm tổng thống. 1954 được cử sang VN. L tổ chức và thực hiện chiến tranh tâm lí chống nhà nước VN DCCH. lôi kéo giáo dân miền Bấc di cư vào miền Nam VN. L và Cục tình báo trung ương Mĩ hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, đàn áp các giáo phái, ngăn chặn đảo chính QS (1954) để lên làm thủ tướng rồi tổng thống (1955). L trở thành người giữ mối quan hệ chính trị giữa Ngô Đình Diệm và chính quyền của hai đời tổng thống Mĩ Aixenhao và Kennơđi. 1959 giúp tướng Đáp Chuốn (Campuchia) trong âm mưu đảo chính lật đổ Xihanuc, nhưng bị thất bại. Đầu những năm 60 chỉ đạo xây dựng lực lượng phỉ người Mẹo (Bắc Lào) do Vàng Pao chỉ huy để chống phá CM Lào. Về Mĩ, được phong tướng hai sao. 1965-68 đặc trách về bình định* của Mĩ tại miền Nam VN. 1968 nghỉ hưu.

        LEO THANG CHIẾN TRANH, tăng dần từng bước quy mô, cường độ chiến tranh; phương thức tiến hành chiến tranh của Mĩ trong chiến lược phản ứng linh hoạt nhằm đối phó, ngăn chặn sự tiến công của các lực lượng CM thế giới giữa tk 20. Có: LTCT hình thức yếu (leo thang dần, tùy theo phản ứng của đối phương để có đối sách) và LTCT hình thức mạnh (đặt điều kiện trừng phạt, buộc đối phương thực hiện). LTCT được Mĩ sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75), nhưng thất bại (x. leo thang chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam).

        LEO THANG CHIẾN TRANH CỦA MĨ Ở VIỆT NAM leo thang chiến tranh của Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN (1954-75). Được thực hiện từng bước từ thấp đến cao: từ chiến tranh một phía đến chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến lược chiến tranh cục bộ; từ hạn chế phạm vi chiến tranh ở miền Nam VN đến mờ rộng quy mô chiến tranh ra miền Bắc VN (bằng chiến tranh phá hoại do lực lượng không quân và hải quân tiến hành; lúc đầu đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở vào, sau đó lan ra toàn miền Bắc kể cả thủ đô Hà Nội) và sang cả Lào, Campuchia. Mĩ càng LTCT, càng bị thất bại nặng hơn, cuối cùng buộc phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán hòa bình ở Pari (1968-73).

        LÊ CHÂN (?-43), nữ tướng của Trưng Trắc. Quê làng An Biên, h. Đông Triều, trấn Hải Dương (nay thuộc t. Quảng Ninh). Nợ nước, thù nhà với quân đô hộ nhà Hán (cha mẹ bị thái thú Tô Định sát hại), năm 40 cùng hơn 100 dân làng tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (3.40). được cử làm nữ tướng quân tiên phong, lập nhiều công. Được Trưng Vương phong “Thánh Chân công chúa”, giữ chức chưởng quản binh quyền nội bộ. Có công tổ chức, luyện tập quân sĩ, tăng gia sản xuất. LC chỉ huy nhiều trận quyết chiến ác liệt chống quân Mã Viện, khi thất thủ, đã nhảy xuống sông Hát Giang tự vẫn. Hiện được thờ ở Đền Nghè. q. Lê Chân, tp Hài Phòng.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 09:53:16 am

        LÊ CHIÊU THỐNG (Lê Duy Khiêm; 1766-93), vua cuối cùng thời Hậu Lê (1786-89), cháu đích tôn và kế vị vua Lê Hiển Tông. Do bất tài và nhu nhược lại không có thực lực, LCT phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh (tướng nhà Hậu Lê theo Tây Sơn) và Nguyễn Huệ để dẹp chúa Trịnh. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh phản bội, bị quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy đánh bại; LCT phải chạy trốn lên phía bắc, cho người sang cầu cứu nhà Thanh, được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương. 1788 khi quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy xâm lược Đại Việt, LCT theo địch về Thăng Long, trả thù dã man những người theo Tây Sơn, hạ mình luồn cúi tướng địch. 1789 khi Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, LCT chạy theo Tôn Sĩ Nghị sang TQ xin nhà Thanh cứu viện nhưng không thành, sống lưu vong, bị bạc đãi, LCT buồn phiền, lâm bệnh và chết tại Yên Kinh.

        LÊ CHƯỞNG (1914-73), chính ủy Quân khu Trị - Thiên (1966-71). Quê xã Triệu Thành, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị; nhập ngũ 1947, thiếu tướng (1959); đv ĐCS VN (1931). Năm 1940-45 bị thực dân Pháp bất giam 5 lần, có lần bị kết án 20 năm tù và đày đi Buôn Ma Thuột. 5.1945 được trả tự do, xảy dựng cơ sờ CM và lãnh đạo giành chính quyền ở tinh Bình Thuận: chủ bút báo “Quyết thắng” của Việt Minh ở Trung Bộ. 3.1946 chủ nhiệm Việt Minh ở Thuận Hóa, bí thư thị ủy. 1947-48 chính ủy: Mặt trận Đường 9, Trung đoàn 95, tham gia khu ủy (Khu 4), trực tiếp làm bí thư tỉnh ủy Quảng Trị. 1949 chính ủy, thường vụ liên khu ủy Liên khu 4. Năm 1951 chính ủy Đại đoàn 304. Năm 1955 cục trưởng Cục tuyên huấn TCCT. 1959-61 chính ủy: Đoàn 959, Học viện quân chính. 1966-71 chính ủy, phó bí thư quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên. 1971 chuyển ngành, thứ trường Bộ giáo dục. Đại biểu Quốc hội khóa III. Huân chương: Chiến công hạng nhất, Chiên thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67158739_453145482082004_7602195957639282688_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQldLxczboRCifiCYLuTIRvPpV1uUe5cpA1GW1RFOgHKjIld4oYyaa7FWYYA7Kh18O0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ccd6a2cb7ff204dc02686f4c179ca7b1&oe=5DB4A4D2)


        LÊ DOÃN NHẠ (1837-87), người lãnh đạo khởi nghĩa Lê Doãn Nhạ (7.1885). Quê xã Quan Trung, h. Đông Thành (nay thuộc h. Diễn Châu), t. Nghệ An. 1871 đỗ phó bảng, làm chánh sứ sơn phòng Nghệ An. 7.1885 hưởng ứng “Chiếu Cần Vương"của vua Hàm Nghi, LDN tập hợp các sĩ phu yêu nước và đông đảo đồng bào miền núi tây Nghệ An, lập căn cứ chống Pháp ở Đồn Vàng (h. Anh Sơn, t. Nghệ An), phối hợp với các lực lượng khởi nghĩa trong vùng tiến hành nhiều trận đánh đồn Pháp (Đồn Kiều, Bảo Nham, Cầu Đạo, Đồn Dừa...), có lúc mở rộng hoạt động sát tp Vinh, gây cho địch nhiều thiệt hại. Địch tập trung lực lượng đàn áp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. LDN hi sinh.

        LÊ DUẨN (Ba; 1907-86), bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐLĐ VN (1960-76), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN (1976-86). Quê xã Triệu Thành, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị; tham gia CM 1928; dv ĐCS VN (1930). Nam 1928 tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). 1931 ủy viên Ban tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kì; bị địch bắt, kết án 20 năm tù
cấm cố, giam ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Côn Đáo. 1936-39 được trả tự do, hoạt động ở các tỉnh miền Trung; bí thư Xứ ủy Trung Kì; ủy viên Ban thường vụ trung ương Đảng. 1940 lại bị địch bắt, kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đào lần hai. Sau CM tháng Tám (1945), trở về đất liền, tham gia lãnh đạo KCCP ở Nam Bộ. 1946-54 bí thư Xứ ủy Nam Bộ. bí thư Trung ương cục miền Nam. Sau hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5-21.7.1954), ở lại miền Nam lãnh đạo phong trào CM. 1957 ra miền Bắc, chủ trì công việc chung của Đảng. 1960-76 bí thư thứ nhất BCHTƯ ĐLĐ VN, cùng BCHTƯ Đảng và BCT kiên định đường lối độc lập, tự chủ, tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ và đoàn kết quốc tế, lãnh đạo nhân dân và LLVTND VN đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. 1976-86 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN, bí thư Quân ủy trung ương (1978-84), cùng BCHTƯ Đảng đề ra đường lối chiến lược: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc VN XHCN. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN (1939) và khóa II-V; ủy viên BCT khóa II-V. Đại biểu Quốc hội khóa II-VII. Tác giả nhiều tác phẩm lí luận về CM VN: "Đề cương cách mạng miền Nam ”, ‘Thư vào Nam ”, ‘Về chiến tranh nhân dân Việt Nam ”... Huân chương: Sao vàng...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67091920_453145492082003_6736989377274052608_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnXHDKnPHw7t1aJ0AhQSz-tKOxL-gZwVQcQVWfkIqFyrISbyujkr0LNw_OTfoEeWJc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1b18160264abfdd1f1898cfcff9c32c3&oe=5DB16267)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 09:55:22 am
 
        LÊ DUY MẬT (7-1769), thủ lĩnh khởi nghĩa chống chúa Trịnh vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Con vua Dụ Tông. 1738 cùng một số thân vương và tướng sĩ khởi nghĩa lật đổ chúa Trịnh lộng quyền. Việc không thành. LDM vào Ngọc Lâu Thành (Thạch Thành. Thanh Hóa), tự xưng là “Thiên Nam Đế Tử”. 1740 chúa Trịnh sai tham nghị Nghệ An là Nguyễn Mậu Dinh mang sắc thư của vua Hiển Tông (là cháu ruột của LDM) đến dụ hàng, LDM khước từ. 1769 nghĩa quân chiếm giữ châu Lang Chánh và một số xã thuộc h. cẩm Thủy (t. Thanh Hóa). 1769 nghĩa quân bị đại quân triều đình do Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan. Hoàng Đình Thể chỉ huy vây chặt ở Trình Quang (phía tây Nghệ An), buộc nghĩa quân các đồn Chiêm Phiệt và Bồ Chông ra hàng. Bị con rể là Lại Thế Chiêu phản bội, mở cửa lũy cho quân Trịnh vào, LDM đã tự thiêu cùng gia quyến.

        LÊ DƯƠNG X. ĐỘI QUÂN LÊ DƯƠNG

        LÊ ĐẠI HÀNH nh LÊ HOÀN

        LÊ ĐÌNH CHINH (1960-78), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Hoàng Quang, h. Hoàng Hóa. t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1977; đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; khi hi sinh là thượng sĩ, tiểu đội trưởng, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12, BTL công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội biên phòng). Đã tham gia nhiều trận chiến đấu ở biên giới Tây Nam. diệt và làm bị thương nhiều địch. 26.8.1978 tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), hàng trăm côn đồ TQ vượt biên sang gây rối, hành hung cán bộ, phụ nữ và nhân dân địa phương, bằng tay không, LĐC đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu, cùng đơn vị và nhân dân đuổi bọn côn đồ về bên kia biên giới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở khu vực của khẩu. Gương hi sinh của LĐC dấy lên phong trào “Sống, chiến đấu rực lửa anh hùng như Lé Đình Chinh”.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67364439_453145515415334_119055759005712384_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlWaNTcdh_UZDi5Cw5AuBF_D76_oDeZZfIBXOajDjGSmk3m0-oAM_TfMCFCzHUTmzw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a072c7b3380c1e222112474838d3d637&oe=5DA4D1D6)


        LÊ ĐÓA (Lê Hữu Đóa; s. 1922), nhạc trưởng dàn hợp xướng giao hưởng đầu tiên của Đoàn văn công QĐ, Nghệ sĩ nhân dân (1993). Quê xã Xuân Giang, h. Nghi Xuân, t. Hà Tĩnh: tham gia CM 1945, nhập ngũ 1950, thiếu tá (1980); đv ĐCS VN. 1951 tốt nghiệp Trường lục quân VN, làm chỉ huy phó dàn nhạc của trường, phó chỉ huy dàn nhạc Đoàn văn công I (TCCT). 1957-60 dựng và chỉ huy biểu diễn thành công nhiều bản hợp xướng như: “Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy” của Tô Hải, “Du kích Sông Thao” của Đỗ Nhuận, “Sóng Cửa Tùng” của Doãn Nho, “Trường chinh ca” của Lương Ngọc Trác, “Lửa rực cháy” của Hồng Đãng, “Thành đồng tổ quốc” của Hoàng Vân và một số bản nhạc của nước ngoài. 1964 tham gia viết nhạc cho vũ kịch “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh” và chỉ huy dàn nhạc. 1965 đoàn trường Đoàn văn công công an nhân dân vũ trang, tham gia dựng thành công các kịch múa “Rừng thương núi nhớ”, kịch hát “Người con bản Mèo” và “Mảnh đất con người”. 1982 phụ trách Đoàn văn công Quân khu 9. Huân chương: Lao động hạng ba...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67082058_453145522082000_8652687727801663488_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQkK_SvWBAaawkiwXJhVV-taDu4vDAuIXuJp72Z4GxMzpevwDXZYe2iAXVkO5nq6-5g&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e835374b800e43263ede20b9b88c41ad&oe=5DEE719E)


        LÊ ĐỨC ANH (s. 1920), chủ tịch nước CHXHCN VN (1992-97). Quê xã Lộc An, h. Phú Lộc, t. Thừa Thiên - Huế; tham gia CM 1937, nhập ngũ 8.1945, đại tướng (1984); đv ĐCS VN (1938). Năm 1944 tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh. Trong KCCP, 8.1945-48 giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến chính trị viên tiểu đoàn, Chi đội 1 và Trung đoàn 301. Tháng 10.1948-50 tham mưu trường các khu: 7, 8 và Đặc khu Sài Gòn - Chợ lớn. 1951-54 tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng BTL Nam Bộ. Trong KCCM, 5.1955-63 cục phó Cục tác chiến, cục trường Cục quân lực BTTM. 8.1963-64 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 2.1964-68 tham mưu trưởng, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng QGPMN. 1969-74 tư lệnh Quân khu 9. Năm 1974-75 phó tư lệnh QGPMN, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn. 5.1976 tư lệnh Quân khu 9. Tháng 6.1978 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7; chỉ huy trường cơ quan tiền phương BQP ở mật trận Tây Nam. 1981 tư lệnh Quân khu 7; thứ trường BQP kiêm tư lệnh Quân tình nguyện VN tại Campuchia; phó trưởng ban, rồi trường ban lãnh đạo chuyên gia VN tại Campuchia. 12.1986 tổng tham mưu trường QĐND VN. 2.1987-91 bộ trường BQP, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy QS trung ương. 1992-97 chủ tịch nước CHXHCN VN, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV-VUI, ủy viên BCT khóa V-VIII, ủy viên thường vụ BCT khóa VIII. Cố vấn BCHTƯ Đảng (12.1997-4.2001). Đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX. Huân chương: Sao vàng, Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67369017_453145528748666_564736964759126016_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlZBfKU7pl8gN03PKImvHc8TEOkKw_gOAx_mqePM9tk2Z2qLVwfDU9RzDMaaJvZMMI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a0704820d5faa1e28a0773823cba54b0&oe=5DA698BF)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 09:59:13 am

        LÊ ĐỨC THỌ (Phan Đình Khải; 1911-90), cố vấn đặc biệt Đoàn đại biểu chính phủ nước VN DCCH tại hội nghị Pari (1968-73). Quê xã Nam Vân. tp Nam Định, t. Nam Định; tham gia CM 1926; đv ĐCS VN (1930). Tháng 11.1930 bị địch bắt, kết án 10 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo. 1936 được trả tự do, phụ trách công tác báo chí công khai và xây dựng cơ sở bí mật tại t. Nam Định. 1939 lại bị địch bắt. kết án 5 năm tù, giam ở các nhà lao Hà Nội. Sơn La, Hoà Bình. 9.1944 được trả tự do, phụ trách Khu an toàn của trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ, phụ trách Xứ ủy Bắc Kì. 1945 ủy viên Ban thường vụ trung ương ĐCS Đông Dương, phụ trách công tác tổ chức của Đảng. 1949-55 phó bí thư Xứ ủy Nam Bộ, kiêm trường ban tổ chức Trung ương cục miền Nam; trưởng ban thống nhất trung ương. 1956-61 trưởng ban tổ chức trung ương, kiêm giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương. 1967-73 ủy viên Quân ủy trung ương; phó bí thư Trung ương cục miền Nam, trưởng ban miền Nam của trung ương Đảng. 1968 cố vấn đặc biệt đoàn đại biểu Chính phủ nước VN DCCH tại Hội nghị Pari về VN. 1975 thay mặt BCT chỉ đạo chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Năm 1975-76 phó ban đại diện Đảng, Chính phủ tại miền Nam. 1976-86 trưởng ban tổ chức Trung ương: bí thư thường trực Ban bí thư, phụ trách công tác tổ chức, tu tưởng, nội chính, ngoại giao; phó chủ tịch ủy ban quốc phòng của Đảng, ủy viên BCHTƯ (1944) và khóa II-V; ủy viên Ban thường vụ trung ương (1945-51), ủy viên BCT (1955) và khóa III-V. Cố vấn BCHTƯ Đảng (1986-90). Huân chương: Sao vàng.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66809016_453145568748662_1651230001200103424_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnIfkk9moytVeHH-Jj7VpVcSg9Nys7SFFf2miB0U_rzCQWnJY-1BFuFtj-9Emzvw-4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a985539db93102c3e2f5258625a401c1&oe=5DEDFACE)


        LÊ GIA ĐỊNH (1920-46), Ah LLVTND (truy tặng 2000). Quê xã Hoàng Diệu, h. Gia Lộc, t. Hải Dương; nhập ngũ 1945; đv ĐCS VN; khi hi sinh là chính trị viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 101, Liên khu 1 (Hà Nội), làm nhiệm vụ phòng thủ khu vực Bắc Bộ Phủ trong những ngày đầu KCCP tại Hà Nội. Đêm 19.12.1946 quân Pháp tập trung hơn 300 lính bộ binh, 8 xe tăng. 10 xe thiết giáp, 2 pháo 75mm và một số xe Gip gắn đại liên... tiến công vào Bắc Bộ Phủ, LGĐ cùng đại đội trường Mộng Hùng chỉ huy đại đội đánh lui 5 đợt tiến công của địch. Trưa 20.12.1946, địch tổ chức tiến công đợt 6, lúc này đạn của đại đội đã gần hết, để bảo toàn lực lượng, LGĐ lệnh cho bộ đội rút theo đường hầm sang cụm chốt Bưu điện Bờ Hồ, còn mình ở lại chặn địch, LGĐ bình tĩnh đợi địch đến gần, xông lên đập kíp bom diệt địch và hi sinh. LGĐ cùng đại đội đã diệt và làm bị thương gần 150 địch, phá hủy 4 xe tăng, 3 xe thiết giáp, 1 xe Gip... Liên khu 1 truy tặng LGĐ danh hiệu “Người quyết tử quân số một của Liên khu” (x. trận Bắc Bộ Phủ, 19-20.12.1946).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67446353_453145572081995_3794238533795840_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQm6NCn87LQiQAFkQUWl7op-Tqj7uZTap2i1piVfK7Do0uRNwRnDI2GSaqzcMEN4geQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3eca9917c077971e158df2d687974fdc&oe=5DB66D8F)


        LÊ HAI (Lê Văn Hai; s.,1927), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1977-98). Quê xã Mĩ Hưng, h. Thanh Oai, t. Hà Tây; nhập ngũ 7.1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Tháng 6.1945 tham gia du kích đánh chiếm dồn huyện Chí Linh (Hải Dương). Trong CM tháng Tám (1945), tham gia khởi nghĩa ở Hải Phòng. Trong KCCP, trường thành từ tiểu đội phó đến trưởng ban tuyên huấn Đại đoàn 320. Năm 1956-60 giáo viên, chủ nhiệm khoa, phó chủ nhiệm Hệ giáo dục chính trị Học viện quân chính. 9.1964-70 phó tổng biên tập, tổng biên tập tạp chí “Quân đội nhân dân 1977 phó chủ nhiệm TCCT; phụ trách cơ quan tiền phương TCCT trong chiến tranh biên giới Tây Nam và ở chiến trường Campuchia (7.1978); thành viên cơ quan tiền phương BQP (2.1979). Tháng 3.1981 phó tư lệnh về chính trị Quân tình nguyện VN tại Campuchia, phó bí thư rồi bí thư Ban cán sự, ủy viên Ban lãnh đạo chuyên gia VN tại Campuchia. 1988 phó đại diện BQP CHXHCN VN giúp Campuchia. 1990-98 phó chủ nhiệm TCCT. Huân chương: Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba)...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67102140_453145582081994_2610913127499300864_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQk78MPyNYdAnLIrYbPuzW-jpS0qrkiiKcCisSgXqQEuCI6VtkmZ0XX95wrLr1xQYFY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3a2805c79400d7a094b9bfe0c5baad58&oe=5DAE8EE1)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:01:15 am

        LÊ HIÊN MAI (Dương Quốc Chính; 1918-92), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1967-76). Quê xã Trạch Mĩ Lộc, h. Phúc Thọ, t. Hà Tây; tham gia CM 1939, nhập ngũ 1945, trung tướng (1974); đv ĐCS VN (1940). Năm 1940 thư kí BCH Đoàn thanh niên phản đế tỉnh Sơn Tây. 1941 bị thực dân Pháp bắt giam ở nhiều nơi. 8.1944-45 vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân; ủy viên Phân khu ủy Phân khu Tuyên - Thái; phái viên chính trị Giải phóng quân phụ trách mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Lào); chính trị viên, bí thư trung đoàn ủy. 3.1946 chính ủy, kiêm tham mưu trưởng, bí thư Quân khu ủy Chiến khu 2, kiêm chính ủy Trường bổ túc QS ủy viên hội. 2.1947-49 chính ủy: Mặt trận Tây Tiến, Liên khu 1, BTL Nam Bộ, kiêm phó bí thư xứ ủy. 1950-52 phó tư lệnh; BTL Nam Bộ, kiêm Phân liên khu miền Đòng Nam Bộ. 1953 tư lệnh, bí thư Quân khu ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. 1958 chính ủy, bí thư đảng ủy BTL pháo binh. 7.1960 bộ trường: Bộ thủy lợi và điện lực, Bộ nông nghiệp. 4.1965 chính ủy, bí thư đảng ủy Quân khu 4, ủy viên Quân ủy trung ương. 1967 phó chủ nhiệm TCCT, ủy viên thường trực Quân ủy trung ương, kiêm giám đốc Học viện chính trị; 6.1971 kiêm bộ trưởng, bí thư đảng đoàn Bộ nội vụ (sau là Bộ thương binh và xã hội). 1976 bộ trưởng Bộ thương binh và xã hội. kiêm chủ nhiệm ủy ban điều tra tội ác chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN. 1982 chủ nhiệm ủy ban y tế xã hội của Quốc hội, kiêm chủ nhiệm ủy ban điều tra tội ác chiến tranh xâm lược, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa III, IV. Đại biểu Quốc hội khóa III, V-VII. Huân chương Hồ Chí Minh...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67290624_453145608748658_4842202251848056832_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQk72FXD5uczAV_OVcRd4Yht-t2jo9tSt6K1oEEhn-INZ9N30ryYp277hbR7aavztBw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f3d83e0f9a600858c4cd5a1f4afe2017&oe=5DAB1D78)


        LÊ HOAN (Lê Tôn; 1856-1915), thượng thư Bộ binh triều Nguyễn thân Pháp (1905-06), khâm sai đại thần Bắc Kì (1909-10), chỉ huy quân triều đình cùng quân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Quê thôn Cự Lộc (làng Mọc), xã Nhân Mục, tổng Khương Đình, h. Thanh Trì, t. Hà Đông (nay là phường Nhân Chính, q. Thanh Xuân, tp Hà Nội). 1873 lập nhóm Bồ Đề chống Pháp tại quê. 1881 đi lính thuộc quân thứ Sơn Tây do Hoàng Kế Viêm chỉ huy, phối hợp với quân Cờ Đen đánh Pháp. 1884 vi phạm quân lệnh, bị kết án tử hình, sau dược giảm án, đuổi khỏi quân ngũ. 1886 đầu hàng Pháp, làm thông phán ở Lạng Sơn và Hưng Yên. 1892 bố chánh Sơn Tây, tuần phủ Hưng Hóa (Phú Thọ) kiêm tam tuyên tiễu phủ sứ (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang). 1894 tổng đốc Bắc Ninh, được Pháp phái đi thương lượng với Hoàng Hoa Thám. 1903 tổng đốc Hải Dương. 1905 thượng thư Bộ binh kiêm hữu đô ngự sử Viện đô sát, tổng đốc Ninh - Thái - Hải - Yên, tước Phú Hoàn Nam. 1906 tổng đốc Bắc Ninh kiêm đồng lí Quân vụ đại thần. 1908 tổng đốc Hải Dương. 7.1909 khâm sai đại thần Bắc Kì, dẫn 400 quân cùng quân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913). Năm 1910 tổng đốc Hải Dương. 1915 bị bệnh chết.

        LÊ HOÀN (Lê Đại Hành; 941-1005), người mở nghiệp nhà Tiền Lê, nguyên là thập đạo tướng quân thời Đinh. Quê làng Bào Thái, h. Thanh Liêm, t. Hà Nam. LH theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (x. nội chiến mười hai sứ quân, 965-67), được phong đến thập đạo tướng quân. 7.980 được suy tôn lên ngôi, đóng đô ở Hoa Lư. 10.980 LH sai Giang Cự Vọng sang Tống lập kế hoãn binh, để chuẩn bị thế trận giữ nước. 4.981 nhà Tống cử nhiều tướng cùng 30.000 quân sang xâm lược Đại Cồ Việt. LH cho xây dựng trận địa cọc ngầm ở khu vực cửa sông Bạch Đằng, dùng mưu trá hàng dụ địch vào trận địa mai phục, đồng loạt tiến công giết hàng vạn quân Tống, chém đầu tướng chỉ huy Hầu Nhân Bảo. Thừa thắng bao vây tiêu diệt đội kì binh địch ở Tây Kết (Khoái Châu, Hưng Yên), bắt sống một số tướng địch, buộc nhà Tống bãi binh. 982 nhân vua Chiêm Thành bắt giam sứ thần nước Đại Cổ Việt là Từ Mục và Ngô Tử Canh, LH xuất quân đánh, buộc Chiêm Thành phải thần phục. Hiện có đền thờ ở Hoa Lư (Ninh Bình).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:04:21 am

        LÊ HOÀNG SƯƠNG (út Sương; s. 1943). Ah LLVTND (1978). Quê xã Hoà Tú, h. Mĩ Xuyên, t. Sóc Trăng; nhập ngũ 1961, thiếu tướng, chỉ huy trường Bộ chỉ huy QS tỉnh Sóc Trăng (1994); đv ĐCS VN (1963); khi tuyên dương Ah là đại úy, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 bộ binh (Tây Đô), bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ. Cuối 1961-4.1975, liên tục hoạt động ở chiến trường Cần Thơ. nơi địch thường xuyên đánh phá ác liệt, tham gia chiến đấu hơn 200 trận, chỉ huy đơn vị diệt và làm bị thương 12.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn); riêng LHS diệt 300 địch, thu 60 súng. Trận 21.5.1965 ở Tân Hiệp, chỉ huy trung đội chiến đấu đánh lui 10 đợt tiến công của 1 tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng, xe bọc thép yểm trợ, diệt hơn 100 địch, giữ vững trận địa. 25.4.1973 trong trận tiến công tiêu diệt chi khu Quang Phong (Cần Thơ), chỉ huy đơn vị bí mật tiếp cận, đồng loạt nổ súng, diệt 1 đại đội và 2 trung đội địch, thu 50 súng. Trận 24-25.12.1973, đánh địch lấn chiếm ở Vĩnh Tường (Vị Thanh), chỉ huy đơn vị diệt 5 đồn, bốt địch, góp phần đánh bại kế hoạch lấn chiếm của địch. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67588841_453145615415324_1780427350517743616_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQk85QpA6NcexhQdO4XRpH7GkJ6Wy7MGBnFCQ40ZpR3qNH0nd9-HEb5AASsHXQPNpoU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a486e91b204a0c3d71a93a770df0eedf&oe=5DBA1D14)


        LÊ HỔNG PHONG (Lê Huy Doãn; 1902-42), tổng bí thư Đảng cộng sản Đông Dương (3.1935-6.1936). Quê xã Hưng Thông, h. Hưng Nguyên, t. Nghệ An. Làm công nhân ở Vinh (Nghệ An). 1924 sang Quảng Châu (TQ), cùng một số thanh niên yêu nước VN lập ra Tâm tâm xã. hoạt động chống Pháp. 1925 dự lớp huấn luyện CM do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, học Trường QS Hoàng Phố (TQ). 1926 sang LX học trường không quân, trở thành sĩ quan không quân của Hồng quân LX. 1928 học Trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản tại Maxcơva. 1932 về TQ hoạt động, 1934 tham gia thành lập Ban chi huy ở ngoài nước (Ban lãnh đạo hải ngoại) của ĐCS Đông Dương, dẫn đầu đoàn đại biểu ĐCS Đông Dương dự đại hội 7 Quốc tế cộng sản, được bầu ủy viên chính thức BCH Quốc tế cộng sản. 3.1935 tại đại hội lần thứ nhất ĐCS Đông Dương, được bầu làm tổng bí thư ĐCS Đông Dương. Đầu 1936 về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào CM, tích cực đấu tranh chống lại các khuynh hướng lệch lạc trong Đảng, vận động khôi phục và phát triển phong trào CM. 6.1938 bị thực dân Pháp bắt, kết án 6 tháng tù, quản thúc tại quê. 9.1939 lại bị bắt đày ra Côn Đảo. 6.9.1942 hi sinh tại nhà tù Côn Đảo.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66855882_453145628748656_747639830686466048_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmQ4I0GTyspQxMrHSnrlj-_8mtOAj65TfiVo6y35VY3BbK_-wohWrW6pkDUtzkO1U4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ba3825e66736b0e6130face6783cca61&oe=5DA9450B)


        LÊ HỮU THỜI (s. 1932), Ah LLVTND (1978). Quê xã Sơn Phú. h. Giồng Trôm. t. Bên Tre: nhập ngũ 1949. đại tá (1985); đv ĐCS VN (1960); khi tuyên dương Ah là trung tá. trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Quân khu 9. Trong KCCM. chiến đấu ở Nam Bộ. chỉ huy đại đội, tiểu đoàn đánh 200 trận, diệt hàng ngàn địch. LHT diệt hơn 300, thu 55 súng. 6.1963 chỉ huy đại đội đánh bại cuộc càn của 2 tiểu đoàn địch ở Ấp Bắc (Mĩ Tho), diệt và làm bị thương 180 địch, bắn cháy 3 xe M113. Trận tấn công chi khu Vĩnh Kim (Mĩ Tho, 4.1972), chỉ huy tiểu đoàn thọc sâu vào căn cứ địch, diệt 2 tiểu đoàn (hơn 700 địch), bắt 70, thu 200 súng, 30 máy thông tin. 4.1975 chỉ huy tiểu đoàn đánh thọc sâu vào khu Cần Đước, Cần Giuộc (Long An), diệt 10 đồn bốt và 400 địch, mở đường cho các đơn vị bạn tiến công vào Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66827733_453145648748654_8224104597875064832_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlNDRwFiZsUrlI6sA5sk-bH59SbWH6aVXtsZOrs9KB7GOz0YaDEMP6uwJBWEBGrLA4&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d48e9c5f630aea23bc6313a51a7fdd82&oe=5DEB66E9)


        LÊ HỮU TỰU (1944-72), Ah LLVTND (1970). Quê xã Nguvên Khê, h. Đông Anh, tp Hà Nội; nhập ngũ 1965, đại úy (1972); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là đại đội phó Đại đội phòng không 3, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 2, Quân khu 5. Trong KCCM, xạ thủ súng máy phòng không 12,7mm. chiến đấu trên 50 trận, bắn rơi 31 máy bay trực thăng Mĩ (lập ki lục bắn rơi nhiều máy bay ở chiến trường Tây Nguvên), diệt 64 địch (phần lớn là kíp lái). Nhiều lần bị thương và nhiễm chất độc hóa học, không rời vị trí chiến đấu. Hai trận chiến đấu cuối 1967, bắn rơi 13 máy bay địch: sử dụng súng 12,7mm diệt một số bộ binh Mĩ định lên chiếm chốt sau khi rải chất độc hóa học xuống trận địa. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64977474_453145658748653_6419056257138688000_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQn6RJ1y9vlAsVXhucFILCBwKT60kYCjTiuoOM4j1NOaEd7sf3LtGhswW9z_QoReH0w&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9bcaf5823a4f07f3907ba0c2bff5f98a&oe=5DB03FA6)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:06:36 am

        LÊ KHẢ PHIÊU (s. 1931), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN (12.1997-4.2001). Quê xã Đông Khê. h. Đông Sơn, t. Thanh Hóa: nhập ngũ 1950, thượng tướng (1992); đv ĐCS VN (1949). Trong KCCP. 1950-54 trường thành từ chiến sĩ đến chính trị viên đại đội. 9.1954-58 chính trị viên phó, chính trị viên tiểu đoàn, phó chủ nhiệm chính trị trung đoàn. 6.1961-66 phó ban, trưởng ban cán bộ, tổ chức Sư đoàn 304: phó chính ủy, chính ủy kiêm trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Năm 1967-70 chính ủy trung đoàn, trường phòng tổ chức, phó chủ nhiệm chính trị Quân khu Trị - Thiên. 5.1974 chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 2. Năm 1978 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị, phó tư lệnh về chính trị Quân khu 9. Tháng 4.1984-88 chủ nhiệm chính trị, phó tư lệnh về chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị, phó bí thư ban cán sự BTL quân tình nguyện VN tại Campuchia. 8.1988 phó chủ nhiệm, chủ nhiệm TCCT, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương (1991). 12.1997-4.2001 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN, bí thư Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa VII, VIII, ủy viên BCT khóa VII, VIII, bí thư BCHTƯ ĐCS VN khóa VII, ủy viên thường vụ, thường trực BCT (1996-97). Đại biểu Quốc hội khóa IX, X. Huân chương: Quân công hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66833449_453145672081985_4992711684154982400_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmXTYOD0s65VwLmmBBcNWKrlT-J8yRDwZYzzWFiINQ7kTUlzE7rJHD8Gr8qODT4hls&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c9e8a22486990aa4f1cfb5b3abe2ea31&oe=5DE96DDC)


        LÊ KHẮC (1916-90), cục trưởng Cục công binh BTTM (1947-51). Quê xã Đông Mĩ, h. Thanh Trì, tp Hà Nội: nhập ngũ 1946. đv ĐCS VN (1947). Tốt nghiệp kĩ sư cầu đường (1944). Sau CM tháng Tám (1945), giám đốc Nha giao thông công chính tp Huế, phụ trách Sở hỏa xa Hà Nội (1946). KCCP vào QĐ, công tác tại Cục quân giới. 1947 cục trường Cục giao thông công binh (sau đổi thành Cục công binh). 1951 chính ủy, bí thư đảng ủy Trung đoàn 151, trực thuộc. BQP (trung đoàn công binh đầu tiên của QĐND VN). 1953-58 chuyển ngành làm phó giám đốc Nha giao thông, Bộ giao thông công chính, rồi phó chủ nhiệm, chủ nhiệm Tổng cục đường sắt VN. 1958-85 ủy viên, phó chủ nhiệm, bộ trưởng, chủ nhiệm ủy ban khoa học và kĩ thuật nhà nước, thành viên HĐBT (1981), phó chủ tịch kiêm tổng thư kí Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật VN (1982-85). Đại biểu Quốc hội khóa VII, ủy viên ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN khóa II. Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô khóa II và III. Huân chương: Độc lập hạng nhì. Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66843023_453145718748647_7921765030817693696_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQklwWr2TRMeVo_t0HWsLJSKQNLYWVdNkFj4yiBc17-yXWaS9sRJ3VWmP6Wrx-FGTqE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=334374364b4cd869718434c0c3eb249d&oe=5DB1FB25)


        LÊ KHÔI (7-1446), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Cháu ruột Lê Lợi. Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu. 1424 góp công đánh trận Khả Lưu. Bồ Ải (Nghệ An), tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn quân Minh. 1427 cùng Lê Vấn chỉ huy 3.000 quân thiết đột và 4 thớt voi góp sức đánh thắng trận Xương Giang. 1430 trọng thần trấn thủ Thuận Hóa. 1431 dẹp loạn Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái ở Thạch Lâm (Thái Nguyên). 1443 làm đốc trấn ở Nghệ An. được vua Lê tin dùng và phong: kì lân hổ vệ thượng tướng quân, nhập nội thiếu úy, nhập nội tư mã, rồi nhập nội đô đốc, tham dự triều chính. Khi Thái Tông lên ngôi. LK là người giúp vua cai trị đất nước. Khi vào trấn thủ Thuận Hóa và làm đốc trấn Nghệ An, là người gần dân, được dân tin yêu, mến phục. 1446 tham gia đánh bại quân Chiêm Thành, trên đường về bị bệnh chết ở dưới núi Long Ngâm. Nhân dân Hoan Châu (Nghệ An) lập miếu thờ tại đó.

        LÊ KIM HÀ (s. 1944). Ah LLVTND thời kì đổi mới (1994). Quê phường Phú Cường, tx Thủ Dầu Một, t. Bình Dương; nhập ngũ 1962, đại tá (2002); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là thượng tá. phó chủ nhiệm Khoa hồi sức cấp cứu Viện quân y 175. Năm 1962 chiến sĩ nuôi quân cơ quan tỉnh đội Phước Thành. 1963 y tá đại đội đặc công tỉnh. 1966 y sĩ Viện quân y K71A. 1970 y sĩ Bệnh viện D27 thuộc Đoàn hậu cần 500. Năm 1973 học bác sĩ chuyên tu (khóa III, Trường quân y Miền). 1975 bác sĩ Khoa hồi sức cấp cứu Viện quân y 175. LKH tận tụy với công việc, thời gian có nhiều thương binh từ mặt trận chuyển về, ngày làm việc từ 14 đến 16 giờ, liên tục theo dõi bệnh nhân, cứu chữa kịp thời nhiều ca bệnh hiểm nghèo. LKH kiên trì bền bỉ trong học tập. nghiên cứu. hoàn thành 8 đề tài khoa học. 2 thông báo chuyên môn được áp dụng đạt kết quả tốt, tham gia giảng dạy các lớp y tá, y sĩ chuyên khoa gây mê hồi sức cho các đơn vị phía Nam. Cùng tập thể xây dựng khoa trở thành đơn vị Ah LLVTND (1985), LKH 16 năm là chiến sĩ thi đua và chiến sĩ quyết thắng. Huân chương: Kháng chiến hạng nhì.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67263885_453145692081983_1801540941593444352_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmqdrim7TFuiPd4umheWEceln9a1rVAwBkdbK8qPMIn3EnAR76kaKZEGqCDijWjgOg&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a005395687807476774ec9f9e346fefc&oe=5DAD8756)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:08:23 am

        LÊ LAI (7-1419). tướng nghĩa quân Lam Sơn. người cứu Lê Lợi. Quê Dựng Tú. h. Lương Giang (nay thuộc h. Ngọc Lạc, t. Thanh Hóa). Xuất thân từ gia đình nhiều đời làm quan phụ đạo. Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, một trong 19 người dự hội thề Lũng Nhai (1416). Năm 1419 nghĩa quân Lam Sơn bị quân Minh vây chặt lần thứ hai ở núi Chí Linh (h. Lang Chánh, t. Thanh Hóa), LL mặc áo bào cải trang làm Lê Lợi. dẫn 500 quân cảm tử phá vây đánh lạc hướng quân Minh và hi sinh. Lê Lợi cùng các tướng lĩnh khác thoát nạn. Được truy phong đệ nhất công thần, hàm thái úy (1429).

        LÊ LÍ (Nguyễn Lí; 7-1443). danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. đại thần nhà Hậu Lê. Quê Dao Xá. Thụy Nguyên (nay là xã Xuân Lam, h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham dự hội thề Lũng Nhãi (1416). Đầu 1418 khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. LL cùng các danh tướng khác chỉ huy nghĩa quân mai phục ở Lạc Thủy (Cẩm Thủy) đánh thắng trận mở đầu, giết hơn 3.000 quân Minh do Mã Kì chỉ huy đại binh đến đàn áp. 1427 cùng Trấn Nguyên Hãn, Lê Sát đánh chiếm thành Xương Giang (Bắc Giang) trước khi quân Minh sang ứng cứu. 1427 cùng Lê Văn An chỉ huy 3 vạn quân đánh thắng trận mai phục ở Cần Trạm (Bắc Giang), giết tổng binh Lương Minh (người thay thế Liễu Thăng) cùng khoảng 2 vạn quân; bao vây quân Minh ở Xương Giang, rồi cùng những danh tướng khác chỉ huy đại quân tiến công tiêu diệt quân Minh (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 8.10-3.11.1427). Sau thắng lợi (1428), được phong nhập nội tư mã, tước Hương Thượng Hầu, tham dự triều chính.

        LÊ LINH (Nguyễn Trung Hoài; 1925-98), chính ủy đầu tiên Quân đoàn 2.. Quê xã Hải Bắc, h. Hải Hậu. t. Nam Định: nhập ngũ 1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Tháng 10.1944-45 tham gia Đoàn thanh niên cứu quốc, tiểu đội trường tự vệ thành phố Hà Nội. Trong KCCP. trưởng thành từ chính trị viên trung đội đến chính ủy trung đoàn... 11.1955 phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 4. Tháng 9.1959 chính ủy Sư đoàn 308. Tháng 11.1964 chủ nhiệm chính trị Quân khu 3. Trong KCCM. 1966-70 chủ nhiệm chính trị Mặt trận B3, chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc. 4.1970-73 phó chính ủy Quân tình nguyện VN ở Lào, phó chính ủy BTL 959, phó chính ủy rồi chính ủy Mặt trận 31 Thượng Lào. 4.1974 chính ủy, bí thư đảng ủy Quân đoàn 2, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Tháng 1.1981 viện phó chính trị Học viện QS cấp cao. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (2 hạng nhất. 1 hạng ba), Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66804306_453145698748649_643295825023205376_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQlPloeWxxEuxXwAWsdacvU3GIcgrAOxtf7B7M_nC-F8yDB9XThw6y6Ad60cKQS0dUI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=971e915817ec784766143f1aef794387&oe=5DA03A68)


        LÊ LỢI (Lê Thái Tổ; 1385-1433), Ah giải phóng dân tộc, lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, người sáng lập nhà Hậu Lê. Quê Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Xuất thân là hào trường, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong vùng. Quân Minh nhiều lần dụ ra làm quan, nhưng đều từ chối. Cùng 18 người bạn thân tín mở hội thề Lũng Nhai (1416). Năm 1418 dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương, nhân dân và hào kiệt khắp nơi hưởng ứng. Dưới sự lãnh đạo và tài cầm quân của LL, nghĩa quân ngày càng phát triển lớn mạnh, trở thành đội quân tinh nhuệ có tổ chức, ki luật nghiêm, gắn bó mật thiết với dân. Trong 10 năm chiến đấu. đánh hàng trăm trận, giải phóng đất nước (x. khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh. 1418-27). Năm 1428 lên ngôi vua. đặt lại tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Quan (1430 đổi là Đông Kinh), lập lại quan hệ bình thường với nhà Minh, ban phép ‘‘ngụ binh ư nông ”, tổ chức việc học tập, thi cử tuyển lựa nhân tài cho đất nước. Mất 1433. Nguyễn Trãi viết văn bia Vĩnh Lãng (Lam Sơn, Thanh Hóa) ghi lại công lao, sự nghiệp vĩ đại của LL.

        LÊ LỰU (Trần Lựu; ?-?), danh tướng khới nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê xã Lỗ Tự, h. Thụy Nguyên (nay thuộc h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham dự hội thề Lũng Nhai (1416). Năm 1427 cùng Lê Bôi chỉ huy nghĩa quân đánh chiếm thành Khâu Ôn (Lạng Sơn); đánh bại 5 vạn viện binh của nhà Minh do Cố Hưng Tổ chỉ huy tại ải Phà Lũy (Hữu Nghị Quan), giết 3.000 quân, số còn lại phải tháo chạy; chặn đánh viện binh do tổng binh Liễu Thăng chỉ huy, khôn khéo nhử địch vào trận địa mai phục của đại quân ở Chi Lăng, giết Liễu Thăng và tiêu diệt trên một vạn quân Minh. Trận Xương Giang, trấn giữ thành Thị Cầu (Bắc Ninh), bao vây chia cắt quân địch giữa thành Đông Quan và Xương Giang, góp phần vào chiến thắng Xương Giang (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 8.10-3.11.1427). Năm 1428 được phong trấn viễn đại tướng quân, tước Thượng Trí Tự, sau thăng thái phó. Hiện có đền thờ LL tại quê.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:13:54 am

        LÊ MINH TRUNG (s. 1946), Ah LLVTND (1975). Quê xã Điện Tiến, h. Điện Bàn. t. Quảng Nam; nhập ngũ 1964, trung tá (1988); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là huyện đội phó huyện Điện Bàn. Tham gia du kích lúc 16 tuổi. 1964-75 chiến sĩ công binh, cán bộ tiểu đội, trung đội, huyện đội, tham gia đánh 76 trận, diệt 312 địch, 20 xe tăng, xe bọc thép và 5 xe tải. Trận điểm cao Bồ Bồ (8.1965), cùng một chiến sĩ dùng quả bom 200kg cải tiến thành mìn. diệt 97 địch, phá hủy 1 súng ĐKZ, 1 cối 81mm. 12.1965 cùng ba đồng đội độn thổ giữa bãi cát (đoạn từ Hầm xẻ đi cầu Bầu Sấu), dùng mìn đánh đổ đoàn tàu 7 toa, phá vòng vây của 1 đại đội bào an. diệt 7 địch, trở về an toàn. 7.1966 cài 2 quả mìn ở đồn địch, diệt 2 xe GMC và 21 địch. Tổ chức xây dựng và huấn luyện công binh cho du kích các xã (thuộc h. Điện Bàn), tháo gỡ các loại bom, mìn, tự tạo vũ khí diệt địch, các đội du kích gỡ được 3.000 quả mìn, LMT tháo 100 quả bom, 250 đạn pháo. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 2 hạng ba), 4 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67110407_453525188710700_7370698156687753216_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlGSaG5IsKcoy1Ec72H17BD60Y_kvcNsGYoa-zgDTVwhMe0Om2KP7PrxNQiZB-TpY8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=23dddee9a12a807469c303cf20cb51cf&oe=5DA7F536)


        LÊ NAM PHONG (Lê Hoàng Thống; s. 1927), hiệu trưởng Trường sĩ quan lục quân 2 (1987). Quê xã Quỳnh Hoa, h. Quỳnh Lưu, t. Nghệ An; nhập ngũ 1945, trung tướng (1988); đv ĐCS VN (1948). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến chính trị viên đại đội. Trong KCCM, cán bộ thuộc Sư đoàn 7, chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. 1967-75 trung đoàn trường, tham mưu trướng, sư đoàn phó rồi sư đoàn trưởng, tham gia nhiều chiến dịch: Nguyễn Huệ (1972), Hồ Chí Minh (1975)... Tháng 5.1978-79 tham mưu trường, phó tư lệnh Quân đoàn 4. Tháng 1.1981 tư lệnh Quân đoàn 1. Tháng 10.1983 phó tham mưu trưởng BTL Quân tình nguyện VN tại Campuchia. 1987 hiệu trương Trường sĩ quan lục quân 2. Huân chương; Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67063059_453525195377366_3004636486080397312_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQm4Z33BUXcUbHMKPU2QHFEtJza7ftRdtX914plSsC2Ovo_cF52_qCa4lVU3nPTWVjk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ad22bc97d4cede1266e839a71cafafc6&oe=5DB35618)


        LÊ NGỌC HIỀN (Nguyễn Ngọc Thiện: s. 1928), phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (4.1974 và 8.1988). Quê xã Đức Thượng, h. Hoài Đức, t. Hà Tây: tham gia CM 1944, nhập ngũ 5.1945, thượng tướng (1986); đv ĐCS VN (1945). Tháng 10.1944 công tác in và phát hành báo “Độc lập” ở Hà Nội: hoạt động trong Hội thanh niên cứu quốc tinh Sơn Tây. 1945 tham gia khởi nghĩa ở Sơn Táy. 8.1946-53 tiểu đoàn phó, trung đoàn trường, tham mưu trưởng Đại đoàn 320. Tháng 3.1955-66 cục phó. cục trường các cục: quân huấn, tác chiến BTTM. 1967 phó tư lệnh Mặt trận B5. Tháng 8.1970 phái viên của BTTM ở chiến trường Nam Bộ, tham mưu phó QGPMN. 4.1974 phó tổng tham mưu trường; tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Năm 1987 tư lệnh Mặt trận 719 (Quân tình nguyện VN tại Campuchia), phó đại diện BQP CHXHCN VN giúp Campuchia. 8.1988 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khoa V, VI (dự khuyết khóa IV). Đại biểu Quốc hội khóa VIII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67058518_453525202044032_7488226513653858304_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkOWxQ9q51EguxHyy-9iExkxhneYVaOxjy5mBYu1FV7cGkdCJAIfbKW_AftzrKW4AI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=88c49b471709fb909cada59ba958bf71&oe=5DE9F095)


        LÊ NGỌC QUANG (Lê Văn Tăng; s. 1921), chính ủy đầu tiên BTL tăng thiết giáp. Quê xã Hiệp Cường, h. Kim Động, t. Hưng Yên; tham gia CM 1940, nhập ngũ 1946, đại tá (1973); đv ĐCS VN (1941). Năm 1940-44 tham gia Đoàn thanh niên phản đế. rồi Đoàn thanh niên cứu quốc ở xã; tham gia Ban cán sự tỉnh Hưng Yên, xây dựng phong trào CM ở ba huyện: Phù Cừ, Tiên Lữ (Hưng Yên), Hưng Nhân (Thái Bình). Hai lần bị Pháp, Nhật bắt giam (7.1942 và 4.1945). Tháng 8.1945 tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hưng Yên. tỉnh ủy viên phụ trách h. Khoái Châu. 5.1946 phụ trách công tác đàng ở Tiểu đoàn 56, rồi phụ trách công tác chính trị ở Trung đoàn 44. Trung đoàn 2 Tiên Yên. 1948 ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Sơn Tây. 1950 chính ủy Đội 71 (thủy binh), chính trị viên Trung đoàn 12 Hoà Bình. 1951 chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 351. tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Cuối 1954 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Sư đoàn pháo binh 349. Cuối 1958 chính ủy Trường sĩ quan pháo binh. 1961 tùy viên QS VN tại LX. 1965-72 chính ủy BTL tăng thiết giáp. 1968 trực tiếp chỉ đạo Tiểu đoàn tăng 128 đánh thắng trận đầu ở Làng Vây (Khe Sanh). 1972 tham gia đảng ủy Mặt trận Quảng Trị. 1973-76 cán bộ kiểm tra của TCCT. 1976-79 tùy viên QS VN tại Cuba. 1980-83 cục phó Cục liên lạc đối ngoại BQP. Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67204927_453525218710697_931318135779229696_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQmoyMOYri9BWAR_uUaN93lLfWm85YgG4_7zhjpR3EYJI46jWsK_wbU4SAEVzfKv6A8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=767fc20f633f19d4cf4d73aad2825796&oe=5DB5022B)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:15:27 am

        LÊ NINH (Bang Ninh; 1857-87), thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Hà Tĩnh, hưởng ứng phong trào Cần Vương (1885-95). Quê xã Trung Lễ, h. Đức Thọ, t. Hà Tĩnh. Từ nhỏ đã say mê nghiên cứu binh pháp và luyện tập võ nghệ. 7.1885 khi vua Hàm Nghi hạ “Chiếu Cần Vương", LN tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ kháng chiến ở Trung Lễ. chỉ huy  nghĩa quân đánh chiếm thành Hà Tĩnh và nhiều đồn binh của Pháp, được vua Hàm Nghi phong chức bang biện quân vụ Hà Tĩnh. Nghĩa quân của LN phối hợp với nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Hương Khê, tạo thành phong trào kháng chiến rộng khắp tỉnh Hà Tĩnh. Thực dân Pháp đem quân đàn áp, thiêu hủy căn cứ Trung Lễ, LN phải rút về vùng Bạch Sơn (h. Hương Sơn) lập căn cứ mới, tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu. Cuối 1887 bị bệnh mất (xt khởi nghĩa Lê Ninh, 7.1885-87).

        LÊ NÔ (Doãn Nỗ; 1393-?), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, thượng tướng quân, bậc khai quốc công thần. Quê Cổ Na (Cổ Định, t. Thanh Hóa). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. 8.1425 cùng Trần Nguyên Hãn, Lê Đa Bồ đem hơn 1.000 quân, một thớt voi tiến đánh các thành Tân Bình (Quàng Bình), Thuận Hóa (Quảng Trị, Thừa Thiên). Khi đến sông Bố Chính (Sông Gianh) gập quân Minh do Nhậm Năng chỉ huy , LN được lệnh chỉ huy quân mai phục ở Hà Khương, bát ngờ tiến công, diệt hơn 1.000 địch: được các cánh quân thủy bộ chi viện, nghĩa quân thừa thắng tiến lên giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa. Được phong: trụ quốc thượng tướng quân, tước Quang Phục Hầu, quân quản đạo Sơn Nam và ban quốc tính (mang họ vua). Hiện có miếu thờ LN ở thôn Phương Trung, xã Phương Chiểu, h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên.

        LÊ PHỤ TRẦN nh. LÊ TẦN

        LÊ PHỤNG HIỂU (?-?), danh tướng thời Lí. Quê Băng Sơn. Châu Ái (nay là xã Hoằng Sơn, h. Hoằng Hóa, t. Thanh Hóa). Thời trẻ nổi tiếng có sức khỏe, được Lí Thái Tổ nhận làm võ vệ tướng quán. 1028 có công dẹp “loạn ba vương”, phò thái từ Lí Phật Mã lên ngôi (niên hiệu Lí Thái Tông). Được Lí Thái Tông thăng đô thống thượng tướng quân, tước Hầu. 1044 làm tướng tiên phong cùng Lí Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, lập công lớn. được thưởng lộc điền bằng cách ném dao từ núi cao xuống để định giới hạn. mở đầu lệ “thác đao điền” (mộng ném đao). Sau khi mất, được vua truy phong là Phúc Thần.

        LÊ QUANG BỬU (s. 1931), Nhà giáo nhân dân (1988). Quê xã Hương Sơ, tp Huế, t. Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ (1950), dại tá (1984); dv ĐCS VN (1954). Trong KCCP tham gia chiến đấu ở Việt Bắc. 5.3.1952 là khẩu đội trưởng (pháo phòng không 37mm đầu tiên của QĐND VN), thuộc Đại đội 612, bảo vệ cầu Tà Lùng (Cao Bằng), bắn rơi 1 máy bay Pháp. 1957 giáo viên binh khí pháo phòng không Trường sĩ quan pháo binh. 1965 đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Trường sĩ quan phòng không chiến đấu ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, chỉ huy đơn vị bắn rơi 10 máy bay Mĩ. 1980 hiệu phó rồi quyển hiệu trường Trường sĩ quan pháo phòng không (1987). LQB có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng trong chiến đấu và huấn luyện ở nhà trường và đơn vị: mô hình mô phỏng hoạt động của các bộ phận pháo phòng không (1957-65); thiết kế hướng dẫn thi công phòng luyện tập chỉ huy bắn của pháo (1960-65); lập bảng bắn cho pháo phòng không 90mm. được Đại đội 138, Trung đoàn 280 vận dụng bắn rơi tại chỗ máy bay phản lực Mĩ ở Vinh (5.8.1964); chủ biên nhiều bài giảng, tài liệu: phương pháp bắn kẹp nòng mục tiêu trên không dùng mô hình mục tiêu bay có điều khiển (1966-70); chiến thuật phần đội pháo phòng không (1980); điều lệnh chiến đấu đại đội pháo phòng không (1988)... Huản chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66846594_453525228710696_3666947832130043904_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkTlISLXqfJgkVZNmywmJl1MotciUbOzMfFmjIIJZmGIgRTBTskJEMVvkvRh9dTThE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=9d2d99f4221e982cd8466b50a1a6a1e8&oe=5DE7A551)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:17:23 am

        LÊ QUANG ĐẠO (Nguyễn Đức Nguyện; 1921-99), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1955-76). Quê xã Đình Bảng, h. Từ Sơn, t. Bắc Ninh; tham gia CM 1940, nhập ngũ 1945, trung tướng (1974); đv ĐCS VN (1940). Năm 1941-42 bí thư ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh; ủy viên Xứ úy Bắc Kì. 1943-45 bí thư ban cán sự Đảng thành phố Hà Nội, ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kì, biên tập viên các báo “Cứu quốc”, “Cờ giải phóng”, phụ trách báo “Quyết thắng” và các lớp đào tạo cán bộ Việt Minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám. 8.1945-46 chính trị viên Chi đội giải phóng quân tỉnh Bác Giang; bí thư Thành ủy Hải Phòng. 1946-49 ủy viên Xứ ủy Băc Kì. bí thư Thành ủy Hà Nội, phó bí thư Khu ủy đặc biệt Hà Nội, liên khu ủy viên Liên khu 3, bí thư liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông. 1949 phó ban tuyên huấn trung ương ĐCS VN . 1950-54 phụ trách công tác tuyên huấn chiến dịch Biên Giới, cục trường Cục tuyên huấn TCCT, ủy viên Ban liên hiệp đình chiến trung ương. 1968-72 chính ủy các chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào và Trị Thiên. 1955- 76 phó chủ nhiệm TCCT, ủy viên thường trực Quân ủy trung ương (1965-76). Tháng 6.1978 phó bí thư thành ủy, kiêm chính ủy bộ chỉ huy QS thành phố Hà Nội. 1987-92 chủ tịch quốc hội nước CHXHCN VN; phó chủ tịch HĐNN. 8.1994 chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc VN, ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa III-VI, ủy viên ban bí thư các khóa IV, V. Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX. Huân chương: Sao vàng, Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67067539_453525238710695_5468797715016056832_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmNMW8PyDaBT8FDwAGOemak3h_0Ye4qJlQRgOXiagA0_q3HXusmkCB5_2VGfi02tfU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1f25f90a89d22351c24bfc80496975bc&oe=5DA4AEFF)


        LÊ QUANG HÒA (Lê Thành Kim; 1914-93), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1980). Quê xã Xuân Dục. h. Mĩ Hào, t. Hưng Yên; nhập ngũ 1945, thượng tướng (1986); đv ĐCS VN (1939). Nam 1938 tham gia Đoàn thanh niên dân chủ Hà Nội. 12.1939 bị thực dân Pháp bắt. kết án 5 năm tù và đày đi Sơn La. 3.1945 vượt ngục, tham gia Ban cán sự tỉnh Sơn Tây, tổ chức và lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Sơn Tây. 11.1945-49 chính trị ủy viên Chiến khu 3, sau là chính ủy Liên khu 3, bí thư quân khu ủy, ủy viên thường vụ liên khu ủy. 1949 chính ủy, bí thư đáng ủy Mặt trận Trung Du. 1950-55 cục phó, cục trưởng Cục quân huấn BTTM. 1955-56 hiệu trưởng kiêm chính ủy Trường văn hóa QĐ. kiêm cục trưởng Cục văn hóa. 1957-60 chính ủy, bí thư đảng ủy Trường sĩ quan lục quân. 1960-63 chính úy BTL pháo binh. 1963-67 phó chủ nhiệm TCCT. 1967-73 chính úy, bí thư đảng ủy Quân khu 4. Năm 1973 trưởng đoàn QS miền Bắc trong Ban liên hiệp QS bốn bên. 1973 phó chủ nhiệm TCCT. kiêm chính ủy, bí thư đảng ủy đầu tiên của Quân đoàn 1. Năm 1975 phái viên của ban thường vụ Quân ủy trung ương ở Huế; phó chính ủy, ủy viên thường trực Quân ủy QGPMN, phó chính ủy chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ huy cánh quân hướng đông. 1976 phó chủ nhiệm TCCT. 1977 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 4. Năm 1980 thứ trưởng BQP kiêm tổng thanh tra QĐ. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Huân chương; Hồ Chí Minh, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66929512_453525252044027_9026682776878841856_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlwwgI-MjR2k30se8SC1lB6UG-iHoCWrsmJj3E6rt5dnrcN2guiCFCjnjQqPaqQBFM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=24730e8eb064b5cff49e890c5c65b41b&oe=5DA99012)


        LÊ QUẢNG BA (Đàm Văn Mông; 1914-88), tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc. Dân tộc Tày, quê xã Sóc Hà, h. Hà Quảng, t. Cao Bằng; tham gia CM 1935, nhập ngũ 1944. thiếu tướng (1958): đv ĐCS VN (1936). Năm 1941 phụ trách đội du kích đầu tiên ở Cao Bằng. Cuối 1944-45 ủy viên QS và phái viên kì bộ Việt Minh ở Cao-Bắc-Lạng. 11.1945-47 khu phó Khu 1, khu trưởng Khu Hà Nội, rồi khu trường Khu 12. Năm 1948-49 chỉ huy phó Mặt trận 2 (Đỏng Bắc), rồi chỉ huy trường Mặt trận Duyên Hải Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn. 12.1949 tư lệnh Liên khu Việt Bắc. 5.1951 đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316. Năm 1957-59 tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 1960 chuyển ngành, trướng ban dân tộc trung ương rồi phó chủ nhiệm ủy ban nông nghiệp trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa UI. Đại biểu Quốc hội khóa II-VI. Huân chương: Hồ Chí Minh. Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67098023_453525268710692_5120318714457096192_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmNC7sl-xwGUndtFLlNK_KWAGeyT6pDHWGzQQW0tbwdWmPdUi4XRcuQQUgKUa5m-Wg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d781d022fe600b8bf25e0305b4b5c331&oe=5DAA72C1)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:19:08 am

        LÊ QUỐC SẢN (Tám Phương; 1920-2000), tư lệnh Quân khu 8 (1974-75). Quê xã Hải Anh, h. Hải Hậu, t. Nam Định; nhập ngũ 4.1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1945). Tháng 8.1945 chỉ huy QGP của Việt kiều ở Xavannakhẹt (Lào). 12.1946 chi đội phó Chi dội Trần Phú (từ Thái Lan về). 1947-54 trung đoàn phó, trung đoàn trưởng, liên trung đoàn trưởng, rồi tỉnh đội trưởng Vĩnh Trà. 1954 tập kết ra miền Bắc, trường phòng bờ biển; trung đoàn trường Trung đoàn 50, Quân khu Tả Ngạn. 1961 chỉ huy trường Quân khu 8. Năm 1972-75 phó tư lệnh, tư lệnh Quân khu 8. Tháng 5.1976-80 phó tư lệnh Quân khu 9. Năm 1980-87 chuyển sang công tác tổng kết chiến tranh. Huân chương: Độc lập hạng nhất, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67478803_453525275377358_649936179470270464_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQl2AGHo5_SszSNie0hFKOpa0OHVr2_5krhZcOUWusrsAvcThXLmfViItjXcuG_tIu0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a4fab2c2dac481f7a19606ec4565a649&oe=5DA71657)


        LÊ SÁT (7-1437). danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. đại thần nhà Hậu Lê. Quê thôn Bi Ngũ, h. Thụy Nguyên (nay thuộc h. Thiệu Hóa, t. Thanh Hóa). Theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa từ đầu. 1420 cùng Lê Hào đánh thắng quân Minh do Tạ Phượng chỉ huy ở trại Quan Du (Quan Hóa, Thanh Hóa) giết hơn nghìn địch. 1424 tham gia chỉ huy đánh trận phục kích ở Khả Lưu. Bổ Ải (Nghệ An), buộc quân Minh phải chuyển sang thế phòng ngự. Tham gia chỉ huy trận Xương Giang (9.1427). Một trong những người chỉ huy chú chốt trận Chi Lăng - Xương Giang (8.10-3.11.1427), đánh bại đạo viện binh do Liễu Thăng chỉ huy. Sau thắng lợi (1428), được khắc biển ghi công, đứng thứ 2 trong 53 công thần, được thăng đến đại tư đồ. trực tiếp giúp Lê Thái Tông (còn nhỏ). 1434 thừa tướng. 1437 tự tử do bị vu là chuyên quyền. 1484 được Lê Thánh Tông minh oan, truy tặng thái bảo. Cảnh Quốc Công.

        LÊ TẨN (Lê Phụ Trần; ?-?), danh tướng triều Trần Thái Tông. Quê h. Thanh Liêm, t. Hà Nam. Xuất thân thuộc dòng dõi Lê Đại Hành. 1258 tướng Mông cổ là Ngột Lương Hợp Thai đánh đến Bình Lệ Nguyên (nay thuộc h. Bình Xuyên, t. Vĩnh Phúc), LT một mình một ngựa xông pha trận mạc. Thấy thế giặc mạnh, LT khuyên vua lui quân để bảo toàn lực lượng, được vua nghe, lui quân về đóng ở Sông Lô, LT che đỡ phía sau, quân giặc bắn tới tấp đã lấy ván thuyền che cho vua thoát nạn. Thế giặc mạnh, lại phải lui về đóng ở Thiên Mạc, theo vua bàn việc cơ mật. Có công đầu trong cuộc kháng chiến, được vua phong làm ngự sử đại phu, rồi sai đi sứ sang Mông Cổ. 1259 được thăng thủy quân đại tướng. 1274 phong thiếu sư kiêm trừ cung giáo thụ (thầy dạy thái tử).

        LÊ THÁI TỔ nh. LÊ LỢI

        LÊ THẾ TRUNG (s. 1928), Ah LLVTND (1978). Quê phường Lĩnh Nam. q. Hoàng Mai, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946. thiếu tướng (1988), giáo sư, tiến sĩ khoa học, giám đốc Học viện quân y (1986-95), Thầy thuốc nhân dân; đv ĐCS VN (1948); khi tuyên dương Ah là trung tá, phó tiến sĩ y khoa, viên phó Viện quân y 103. Trong KCCP và KCCM, nhiều lần đi chiến trường, mổ cứu sống hơn trăm trường hợp vết thương hiểm nghèo; hướng dẫn, chỉ đạo đơn vị cứu chữa được hàng trăm trường hợp khác; kết hợp đông y với tây y chữa thành công cho 80 thương binh bị suy mòn do bỏng gây ra; nghiên cứu hơn 50 đề tài y học có giá trị. phổ biến kịp thời phục vụ chiến đấu, giảm tỉ lệ tử vong; đào tạo và bồi dưỡng 32 bác sĩ có trình độ chuyên môn sâu về bỏng và xây dựng được chuyên khoa bỏng ở tuyến điều trị cao nhất của QĐ. Nghiên cứu trên 50 loại cây thuốc chữa bỏng có giá trị, thuốc chữa bỏng B76 được tặng huy chương trong nước và quốc tế. Tác giả 18 tập sách (giáo khoa bỏng, từ điển ngoại khoa, sổ tay bác sĩ...). Huân chương Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67221458_453525298710689_4055430076479569920_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQniM3Ln77oj70ILp9yOenxSH3ZKCU7_C51mtxpPIZqMCvzcwz9M0WWPEgbwnbz9JE4&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7753f492e857f86e4ae5a5ff60e8a0a7&oe=5DE6DB21)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:20:57 am

        LÊ THỊ HỒNG GẤM (1951-70), Ah LLVTND (truy tặng 1971). Quê xã Long Hưng, h. Châu Thành, t. Tiền Giang nhập ngũ 1970; đv ĐCS VN (1970); khi hi sinh là trung đội phó bộ đội địa phương huyện Cháu Thành. Trong KCCM. 1967-68 giao lién xã. nhiều lần gặp địch trên đường, bình tĩnh khôn khéo đối phó. chuyển hàng trăm công văn tài liệu an toàn. Cuối 1968-70 xã đội phó, trung đội phó du kích rồi trung đội phó bộ đội địa phương huyện, tham gia xây dựng 5 trung đội tự vệ, 5 tổ du kích, cùng đồng đội chiến đấu 59 trận, diệt và làm bị thương 280 địch (có 22 Mĩ và nhiều ác ôn), bắn rơi 1 máy bay trực thăng. Trận đánh 18.4.1970, trong khi làm nhiệm vụ, tổ chiến đấu bị máy ba; trực thăng địch phát hiện, LTHG tìm cách thu hút hỏa lực địch để đồng đội thoát khỏi nguy hiểm, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, diệt một số địch và hi sinh. Huân chương: Quán công hạng ba, Chiến công hạng nhì, 4 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67428275_453525305377355_6560996194602975232_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQljBKMpuPw411yMykD_wfXwsK3_M6SQPLwcSHwBvEo1LCOQTLnk9iuRDVn3_d2i5cA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=ee5290de4121e93454d09114430b5e4f&oe=5DED0880)


        LÊ THỊ NHIỄM (1902-95), Ah LLVTND (1978). Quê ở Tam Hiệp, h. Thanh Trì, tp Hà Nội; nhập ngũ 1945. thiếu tá (1993); khi tuyên dương Ah là tiểu đội trưởng giao liên tình báo thuộc Đoàn 22, Bộ tham mưu B2**. Năm 1945-75 chiến sĩ giao liên, cơ sở của các đầu mối tình báo quan trọng trong tp Sài Gòn. Mưu trí, sáng tạo vượt qua nhiều khó khăn nguy hiểm; trong hoàn cảnh địch lùng sục, kiểm soát gắt gao, hàng trăm lần chuyển công văn. tài liệu, đưa đón cán bộ tình báo ra vào thành phố an toàn. 7.1969-2.1970 bị địch bắt, tra tấn dã man. vẫn giữ vững ý chí CM, động viên những người trong tù không khai báo, tích cực đấu tranh với địch. Được trả tự do, lại hăng hái tham gia công tác cho tới ngày thắng lợi (1975). Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67297172_453525315377354_4526289681897226240_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnViPjGCwAwUekDo0QvRvnbCCZdeVbaO-G9hd-QW5bJ3GD9SAad-QF9CrToG-OwlE4&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=1aaae13e92f03f40b6eed0182bb72533&oe=5DA96296)


        LÊ THỊ THANH (Nguyễn Thị Lan; s. 1932), Ah LLVTND (1967). Quê xã Điện Hoà, h. Điện Bàn. t. Quảng Nam; đv ĐCS VN (1964); khi tuyên dương Ah là xã đội phó xã Điện Hoà. Trong KCCP và KCCM, tham gia du kích, 1955-67 trong hoàn cảnh dịch kìm kẹp và khủng bố ác liệt, LTT vẫn nuôi giấu cán bộ tại nhà, xây dựng cơ sở kháng chiến, lập đội nữ du kích, tổ chức và chỉ đạo thắng lợi 200 cuộc đấu tranh chính trị, chống địch bắt lính, dồn dân lập ấp chiến lược. LTT vừa chiến đấu vừa làm công tác binh vận, đánh phá hệ thống kìm kẹp của địch, chiến đấu 37 trận, diệt 69 địch (có 54 Mĩ), xây dựng xã thành đơn vị cơ sở xuất sắc về tiến hành chiến tranh nhân dân tại Quân khu 5. Huân chương: Quân công hạng nhì. Chiến công (hạng nhất, hạng ba), 2 lần Dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66861835_453525368710682_1587562080314064896_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQn_A8iE2vnbK3wCunb-to188XCakkx9qCkVWGebZoStHNPTFX9sd5BxzrcCTQmrglQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=fa5b71088cb4fa14d74ca0deb8169830&oe=5DA26629)


        LÊ THIẾT HÙNG (Lê Văn Nghiệm; 1908-86). tư lệnh đầu tiên BTL pháo binh. Quê xã Hưng Thông, h. Hưng Nguyên, t. Nghệ An; tham gia CM 1925, nhập ngũ 1944. thiếu tướng (1946); đv ĐCS VN (1930). Năm 1925 tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội). 1940-45 tốt nghiệp Trường QS Hoàng Phố (TQ), về nước hoạt động ở Chiến khu Cao -  Bắc - Lạng, tổ chức và làm chính trị viên Đội vũ trang đặc biệt; giám đốc đầu tiên Trường QS Cao Bằng. 8.1945 chỉ huy LLVT giành chính quyền ở Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm. Cuối 1945 khu trường Khu 4. Tháng 3.1946 tổng chỉ huy Quân tiếp phòng. 1948-50 tổng thanh tra QĐ; chỉ huy Mặt trận Bắc Cạn, Tuyên Quang; hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính trung cấp. 1950-54 hiệu trưởng Trường lục quân; cục trường Cục quân huấn BTTM. 1956-63 tư lệnh BTL pháo binh. 1963 đại sứ VN DCCH tại CHDC nhân dân Triều Tiên. 5.1970 phó ban Ban đối ngoại trung ương. Huân chương: Hồ Chí Minh, Chiến công hạng nhất. Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67134025_453525342044018_8658481299381551104_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmDg2UmPKW42afQFtl0naOqgsdWVyEb6ZCL7ONnVcrKl7oO1qvBGiixgbnQGkQVSMI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=637bc05bed7d83ad8949e4e879248d03&oe=5DBD151A)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:23:46 am

        LÊ THÙY (Lẽ Văn Lộc; 1922-99), tư lệnh Quàn khu Tây Bắc (1970-74). Dân tộc Tày, quê xã Dân Chủ, h. Hoà An, t. Cao Băng; tham gia CM 1940, nhập ngũ 3.1945, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1941). Năm 1940- 44 hoạt động xây dựng cơ sở CM ở Bắc Kạn. Tuyên Quang, Yên Bái. 1945 chính trị viên Giải phóng quân ở Chiêm Hoá. 1946-54 trung đoàn trưởng và chính ủy trung đoàn một số đơn vị. 1956-66 sư đoàn trường sư đoàn: 335 và 316, tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-74 phó tư lệnh, tư lệnh Quân khu Tây Bắc. 6.1974-78 phó tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 1976 phó tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978 phó tư lệnh Quân khu 2. Huân chương: Độc lập hạng nhất. Quân công (1 hạng nhất, 2 hạng ba)...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67403331_453525352044017_5367534961840619520_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkPNbyJ5Y1vrtaUmNa2gkiwxPJ4muVOZStv-akpHX9Sc6cmqK7AC9q99heXPeyIR-Q&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4c5476cafbda02a0f3b4a2750997cc17&oe=5DB6C99C)


        LÊ TRỌNG TẤN (Lê Trọng Tố; 1914-86), thứ trưởng BQP kiêm tổng tham mưu trường QĐND VN (1980-86). Quê xã Yên Nghĩa, h. Hoài Đức, t. Hà Tây; tham gia CM 1944, nhập ngũ 8.1945. đại tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Tháng 8.1945 ủy viên QS trong ban lãnh đạo khởi nghĩa tỉnh Hà Đông. Cuối 1945-50 giữ các chức vụ: trung đoàn phó. trung đoàn trưởng, quyền khu trường Khu 14, phó tư lệnh Liên khu 10, trung đoàn trường kiêm chính ủy Trung đoàn 209, phó chỉ huy trận Đông Khê và chỉ huy đánh Binh đoàn Sactông trong chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950). Tháng 12.1950-54 đại đoàn trường đầu tiên Đại đoàn 312, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Tháng 12.1954- 60 hiệu trường Trường sĩ quan lục quân VN. 3.1961-69 phó tổng tham mưu trường; phó tư lệnh, ủy viên Quân ủy QGPMN. 1970-79 phó tổng tham mưu trường kiêm: tư lệnh Mặt trận Đường 9, đặc phái viên Bộ tổng tư lệnh QĐND VN bên cạnh bộ chỉ huy QGP nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo chiến dịch Cánh Đồng Chum, tư lệnh chiến dịch Trị Thiên, tư lệnh đầu tiên của Quàn đoàn 1, viện trưởng Viện khoa học QS BQP, tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, phó tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh (1975). Năm 1976-77 phó tổng tham mưu trường, kiêm viện trưởng Học viện QS cấp cao. 12.1978-79 tư lệnh Mặt trận Tây Nam trong chiến tranh biên giới Tây Nam. 1980-86 thứ trưởng BQP. kiêm tổng tham mưu trưởng QĐND VN, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV, V. Đại biêu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (hạng nhất, hạng ba). Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66951942_453525385377347_3204828949016215552_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkP9D5DGwhcaTnC1_g3kEz5VDrzNxcq6dZZ3yXH-EWNqrCvpLvIPIFjTkCz0WGb0ew&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f41f6083649ee8ac58184147a9360f8f&oe=5DB148E9)


        LÊ TRUNG ĐÌNH (1863-85), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại tỉnh Quảng Ngãi (1885) hưởng ứng phong trào Cần Vương (1885-95). Quê xã Phú Nhơn (nay là xã Tịnh An), h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi. 1882 đỗ cử nhân nhưng không làm quan, cùng một số sĩ phu yêu nước bí mật tổ chức nghĩa hội, chuẩn bị lực lượng chống Pháp, được cử làm chánh quản hương binh. 13.7.1885 khi vua Hàm Nghi hạ "Chiếu Cần Vương ”, LTĐ cùng Nguyễn Tri Tấn dấy binh hưởng ứng, chỉ huy nghĩa quân đánh chiếm và làm chủ thành Quảng Ngãi; sau đó tiếp tục đánh trả lực lượng lớn quân sơn phòng do Nguyễn Thân chỉ huy đến đàn áp. 23.7.1885 bị bắt và bị sát hại.

        LÊ TỰ ĐỒNG (Lê Tự Đắc; s. 1920), tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Trị - Thiên (1974-75). Quê phường Kim Long, tp Huế, t. Thừa Thiên - Huế; tham gia CM 1937, nhập ngũ 1945. trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1940). Năm 1937-39 tham gia phong trào thanh niên dân chủ thành phô Huế. 1940 bị thực dân Pháp bắt, đày đi Buôn Ma Thuột. 3.1945 được trả tự do, ủy viên Việt Minh tỉnh Thừa Thiên. 8.1945 ủy viên ủy ban khởi nghĩa thành phố Huế. 1948-52 chính trị viên: Phân khu Bình - Trị - Thiên Liên khu 4, Tỉnh đội Thừa Thiên. 7.1953 phó chính ủy Đại đoàn 325. Tháng 1.1955 chính ủy Đại đoàn 316. Năm 1961-67 chủ nhiệm khoa của Học viện quân chính; chính ủy Trường sĩ quan lục quân. 9.1968-69 phó chính ủy: Quàn khu Hữu Ngạn, Quân khu 4 kiêm chính ủy Mặt trận B5. Tháng 12.1972 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Trị - Thiên. 1974-75 tư lệnh kiêm chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên; bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. 1976 chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Tháng 2.1977 phó giám đốc chính trị Học viện QS cao cấp. Đại biểu Quốc hội khóa VI. Huân chương; Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66705146_453525392044013_6904211785755131904_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmtSNrDLp0bCGy0ck9PQkAfua8wfP8GKcbvPB0C4teXdytiFzsoI_vC4msnM6EeSp4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ab52d5f20cc84be48c4ee6f92585e75b&oe=5DA8F4ED)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:25:57 am

        LÊ VĂN AN (7-1437), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê Mục Sơn. h. Thụy Nguyên (nay là xã Xuân Bái. h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham dự hội thề Lũng Nhai (J4I6), đánh hơn 100 trận lớn nhỏ, lập nhiều công. 1424 tham gia chỉ huy đánh bại quân Minh ở Khả Lưu - Bồ Ải. 1425 cùng Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân, Lê Nỗ, Lê Bôi chỉ huy giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa. 1426-27 tham gia chỉ huy bao vây và bức địch hàng ở thành Nghệ An. 1427 cùng Lê Lí, Lê Sát, Lưu Nhân Chú chỉ huy đánh trận mai phục ở Cần Trạm, sau đó tham gia chỉ huy bao vây, tiến công tiêu diệt hoàn toàn quân Minh ở Xương Giang (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 8.10-3.11.1427). Sau thắng lợi (1428) được giữ chức nhập nội tư mã. 1434 được cử làm tư mã bắc đạo, dẹp loạn Hoàng Nguyên Ý ở Lạng Sơn, lập công được phong nhập nội đại tư mã.

        LÊ VĂN BẢNG (s. 1930), Ah LLVTND (1967). Quê Tịnh Khê, h. Sơn Tịnh, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1948, thượng úy (1975); đv ĐCS VN (1952); khi tuyên dương Ah là đại đội trưởng đặc công bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận. Trong KCCP tham gia chiến đầu gần 100 trận. Trong KCCM, 1955- 57 hoạt động ở Bình Thuận, làm giao liên trong vùng địch tạm chiếm. 1961-67 chiến đấu trên 30 trận, diệt 40 địch, bắt 16, thu 40 súng các loại, nhiều lần bị thương vẫn không rời trận địa. Các trận Đồng Kho (2.1962), Tam Tân (8.1962), Ma Lâm (1.1964), LVB dẫn đầu phân đội nhỏ thọc sâu, diệt các hỏa điểm, SCH địch, tạo điều kiện cho đơn vị nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Trận đánh trên đường 8 (2.1967), LVB đã chỉ huy bộ phận khóa đuôi địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt gọn chi đoàn xe M113. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng ba, Chiến thắng hạng ba.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67105836_453525402044012_5624144577578401792_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQlK9rmB2v4Z4nt2MT0vs6ziuAq3rx-HZLNEgVAQ3pRUkVPyH00dRERe6ppz3MWeM5o&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=03d3b5648d073acf551c1c4b9730c6e3&oe=5DEB111E)


        LÊ VĂN DŨNG (Nguyễn Văn Nới; s. 1945), chủ nhiệm TCCT QĐND VN (từ 5.2001). Quê xã Phong Mĩ, h. Giồng Trôm, t. Bến Tre; nhập ngũ 1963, thượng tướng (6.2003); đv ĐCS VN (1965). Trong KCCM, 1963-75 chiến đấu liên tục ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, trường thành từ chiến sĩ đến phó chính ủy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4; tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (4.1975) và giải phóng Campuchia (1979). Năm 1983-87 phó sư đoàn trường, tham mưu trưởng, rồi sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia.- 5.1988 phó tư lệnh Quân đoàn 4. Tháng 3.1990 phó tư lệnh tham mưu trưởng Quân khu 7. Tháng 9.1991 tư lệnh Quân đoàn 4. Tháng 8.1995 tư lệnh Quân khu 7. Tháng 12.1997 phó chủ nhiệm TCCT. 9.1998-4.2001 thứ trưởng BQP, tổng tham mưu trường QĐND VN, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương. 5.2001 chủ nhiệm TCCT. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VIII, IX, bí thư trung ương Đảng khóa IX. Đại biểu Quốc hội khóa XI. Huân chương: Quân công, 5 Chiến công hạng nhất. Bảo vệ tổ quốc (nhà nước Campuchia tặng).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67116250_453525422044010_5618234685399236608_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQn-lRGHixn_WziN0c5GdOlAAVVDYiYsDYKduo-mQmj7fD-3cNYAyTisSZ99Fm1-pUo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=783bfb4b3991aa2f650d8947925f63bd&oe=5DB59C99)


        LÊ VĂN KHÔI (Nguyễn Hữu Khôi; 7-1834), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lớn nhất ở Nam Bộ chống triều Nguyễn thời vua Minh Mạng. Quê Cao Bằng. LVK thuộc dòng dõi họ Nguyễn, sau đổi thành họ Bế. Được Lê Vãn Duyệt nhận làm con nuôi, cho mang họ Lê và cho giữ chức phó vệ úy, khi Lẽ Văn Duyệt chết, LVK và các thuộc hạ của Lê Văn Duyệt bị truy nã theo mật dụ của Minh Mạng (vì cho là có ý đồ chống lại triều đình). 6.1833 LVK dấy binh chống lại triều đình, giết tổng đốc Nguyễn Văn Quế và bố chính Bạch Xuân Nguyên, tự xưng là Bình Nam đại nguyên soái. Trong vòng một tháng, nghĩa quân LVK chiếm được 6 tỉnh Nam Bộ (x. khởi nghĩa Lê Văn Khôi, 1833-35). Do Thái Công Triều (thủ lĩnh của nghĩa quân) phản bội, nội bộ tan rã. Đầu 1834 LVK lâm bệnh mất tại thành Phiên An. Nghĩa quân LVK tiếp tục chiến đấu đến 7.1835.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:28:52 am
       
        LÊ VĂN PHÍCH (s. 1949), Ah LLVTND (1970). Quê xà Tân Thành Bình, h. Mỏ Cày, t. Bến Tre; nhập ngũ 1968, đại tá (1990); đv ĐCS VN (1969); khi tuyên dương Ah là trung đội phó đặc công, Đại đội A, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. 9.1968 chỉ huy tổ đặc công đánh chìm 1 tàu chiến Mĩ dậu ở kênh Chẹt Sậy. 11.1968 đánh chìm 1 tàu chiến và 14 tàu xuồng QS trên sông Hàm Luông. 1969 diệt hàng trăm địch, đánh sập cầu Bình Chánh (dài 100m) trên đường Bến Tre đi Giồng Trôm, làm gián đoạn giao thông địch 2 tháng. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công hạng ba, 9 lần Dũng sĩ diệt Mĩ.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67149295_453525428710676_1455216696062115840_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQn90dWKpPpOl6ouxKZM4EJWFlIHZSwE61AfxhNNxpCiJiocamXAO9PSO-4voTqduhM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=4cb1a3e7f89a5c09d7cb5eeb1b03cc42&oe=5DA7B071)


        LÊ VĂN THỌ (1931 -71), Ah LLVTND (1955). Quê phường Tân Thới Hiệp, q. 12, tp Hồ Chí Minh; nhập ngũ 1947, thượng úy (1971); đv ĐCS VN (1949); khi tuyên dương Ah là trung đội trưởng đặc công miền Đông Nam Bộ. Trong KCCP và KCCM, chiến đấu ở chiến trường Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, cùng đơn vị phá hủy nhiều cầu cống, kho bom, đồn bốt dịch, LVT diệt 160 địch. Trận đánh cầu Lái Thiêu trên đường 13 (1949), LVT trinh sát, dẫn đầu đơn vị, đánh sập cầu. 1.6.1954 cùng một chiến sĩ đột nhập kho bom Tân An Hội (Gò Vấp), đặt thuốc nổ vào giữa kho và các nơi xung yếu, phá hủy 700 quả bom, 1 đại bác, đánh 3 tháp canh, 1 dãy nhà lính, 15 dãy nhà kho, diệt hơn 180 địch. Hi sinh trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971). Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67151029_453534435376442_8696577994304520192_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlWAsF6M0X7Yhq8vP0K6YT0cxk7_c37uqSUS9eWzUADYUYO1wbCUal3gJtr21P-fBM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=49823e8482bb66dc8f8cfbe48d7b0064&oe=5DA31C0C)

        LÊ VĂN TRI (Hồng Lĩnh; s. 1920), tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân (1969-77). Quê xã Hạ Trạch, h. Bố Trạch, t. Quảng Bình; nhập ngũ 1945, trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trường. 1955 tham mưu trưởng Sư đoàn 367. Năm 1961 tham mưu phó Binh chủng pháo binh phụ trách pháo phòng không. 11.1963 phó tư lệnh Quân chủng phòng không -  không quân. 9.1964 cục phó Cục tác chiến BTTM. 12.1967 phó tư lệnh, 1969-77 tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân. 3.1977 chủ nhiệm, bí thư đảng ủy TCKT. ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Đại biểu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67108608_453525438710675_5932697240031199232_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlARnJNkubHYia7dC47Bm2fUNTNMH8pfuCoMs-LQ0ZFBYja3ugOow3sPDIZy_9W7dw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=41db2b0b3be8e367d706eed64167a835&oe=5DA91D2F)


        LÊ VĂN TRUNG (s. 1952), Ah LLVTND (1973). Quê xã Linh Sơn, h. Anh Sơn, t. Nghệ An; nhập ngũ 1970, thượng tá (2001); dv ĐCS VN (1973); khi tuyên dương Ah là trung sĩ, tiểu đội trưởng tên lửa chống tăng (B- 72), Đại đội 6, Tiểu đoàn 371, BTL pháo binh. 1972 tham gia chiến dịch Quảng Trị, chỉ huy tiểu đội đánh 9 trận diệt 21 xe tăng, xe bọc thép, LVT bắn 24 quả đạn B-72 diệt 17 chiếc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, bị thương vẫn không rời trận địa. Trận Ái Tử (28.4.1972), điều khiển 6 quả B-72 diệt 6 xe tăng, phá vỡ tuyến phòng ngự bằng xe tăng của địch. 20-25.5.1972 cùng bộ binh giữ chốt ở phía bắc cầu Mĩ Chánh, đánh lui hàng chục đợt tiến công của bộ binh, xe tăng địch, bắn 7 quả đạn, diệt 6 xe tăng địch. Trận Cầu Nhi (6.7.1972), bắn 1 quả đạn diệt 1 xe M113. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67441440_453525465377339_5725522311323320320_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlWX1G9PfBRAvzE5YMMG0Q2mnwRV-LUgoLADD9DRm8gOtWehcvBYVXFSv8IKcpaDno&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9a6b78694ff2dfe212995f82c133482d&oe=5DABD321)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:44:05 am

        LÊ VĂN TƯỞNG (Lê Chân; s. 1919), phó chính ủy QGPMN (1972). Quê xã Thạch Lợi, h. Bến Lức, t. Long An; tham gia CM 1936, nhập ngũ 8.1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1940). Tháng 8.1945 huyện ủy viên, phụ trách QS huyện Thủ Thừa. 12.1945 chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An; chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn - Tân An. 1946-54 chi đội phó, tiểu đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng Tân An và Đồng Tháp. 10.1955-60 chính ủy trung đoàn, chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 330. Tháng 5.1961 chủ nhiệm chính trị QGPMN VN. 11.1964 chính ủy chiến dịch Bình Giã. 1965-67 chính ủy Sư đoàn 9. Tháng 12.1967 chủ nhiêm chính trị, ủy viên Quân ủy Miền. 1972 phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị QGPMN VN, thường trực Quân ủy Miền. 4.1975 chính ủy cánh quân Tây Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh. 5.1976 chính ủy Quân khu 9. Tháng 6.1978-87 ủy viên thường trực ủy ban kiểm tra Đảng ủy QS trung ương. Huân chương: Hồ Chí Minh, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67418834_453525472044005_1048653236396883968_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnRtxRzwZO5veml7MVybJ2H2GeZY28I9hQUvRKmZW8ukOkbkMMwE_1Zo3K_QfC4Avw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=bc4725526319dbcce331625bad1b45ba&oe=5DBD5749)


        LÊ VÂN (Phạm Vấn; 7-1435), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần nhà Hậu Lê. Quê làng Nguyên Xá, h. Lương Giang (nay là h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu. 1420 quân Minh do Lí Bân, Phương Chính chỉ huy tiến đánh Lê Lợi ở Mường Thôi (Thanh Hóa), LV cùng Lí Triện chỉ huy nghĩa quân mai phục ở Bồ Mộng, đánh bại và diệt hơn 3.000 quân Minh. Đầu 1423 quân Minh vây chặt Lê Lợi ở Sách Khối, LV cùng các danh tướng khác xông lên trước phá vây, giết tướng Phùng Quý, diệt hơn 1.000 quân, buộc địch bỏ chạy về thành Đông Quan. 1424 tham gia chỉ huy nghĩa quân đánh bại quân Minh ở núi Bồ Đằng, Khả Lưu, Bồ Ải (Nghệ An). 1427 tham gia chỉ huy đại quân đánh trận Xương Giang (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 8.10-3.11.1427). Năm 1428 được xếp vào hàng khai quốc công thần bậc nhất, tước Huyện Thượng Hầu, làm tể tướng. 1433 Lê Thái Tổ mất, cùng Lê Sát nhận di chiếu lập Lê Nguyên Long lên ngôi vua (Lê Thái Tông) và phụ chính.

        LÊ XUÂN LỰU (s. 1925), giám đốc Học viện chính trị QS (1981-91). Quê xã Sơn Lễ, h. Hương Sơn, t. Hà Tĩnh; nhập ngũ 1947, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1945). Năm 1947-48 chính trị viên tiểu đoàn. 2.1950-53 phái viên của BQP vào chiến trường miền Nam, chính trị viên Trung đoàn Đồng Nai (Nam Bộ), tỉnh đội trưởng Long Châu Sa. 1954 tập kết ra miền Bắc, chính ủy trung đoàn, phó chủ nhiệm chính trị Sư đoàn pháo binh 349. Tháng 8.1962 chủ nhiệm khoa công tác chính trị Học viện quân chính. 1964 phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị chiến dịch Bình Giã. 9.1965-68 chính ủy Sư đoàn 5, tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968); phó chính ủy Quân khu 7; chính ủy Trường quân chính QGPMN. 4.1975 phó chính ủy Đoàn 232, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh; chính ủy Đoàn 500 (giáo dục cải tạo sĩ quan QĐ Sài Gòn). 8.1976 chủ nhiệm khoa giáo viên chính trị Học viện QS cao cấp. 7.1978 phó giám đốc Học viện chính trị. 1981-91 giám đốc bí thư đảng ủy Học viện chính trị - QS. 1.1992-93 chuyên viên nghiên cứu lí luận, TCCT. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Quàn công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công hạng nhì...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66790935_453525485377337_5650430687962988544_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmpJhdh-iz-tteC9PzFEYfkATTRy61KW6z2lf900fpT74Rt5IHUpge9oP3BJhegND8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7508906e8fc1dfbbceb0912c0ae03d75&oe=5DEE998E)


        LÊ XUÂN TẤU (s. 1944), Ah LLVTND (1972). Quê xã Đôn Nhân, h. Lập Thạch, t. Vĩnh Phúc; nhập ngũ 1963, thiếu tướng (2003), tư lệnh Binh chủng tăng thiết giáp (từ 2002); đv ĐCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 198, Trung đoàn 203, BTL tăng thiết giáp. 1968-72 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị, Đường 9 - Nam Lào. 24.1.1968 đánh trận Tà Mây (Lào), chỉ huy xe đi đầu, bắn sập nhiều lô cốt, ụ súng, chia cắt, diệt 1 tiểu đoàn địch. Trận Làng Váy (6-7.2.1968), chỉ huy trung đội chi viện cho các đơn vị bộ binh diệt địch góp phần giải phóng khu vực đường 9. Trận Y Tu, Bản Nhích (10.6.1971), chỉ huy đại đội cùng bộ binh diệt và bắt sống hơn 2 tiểu đoàn quân Viêng Chân (Lào) góp phần giải phóng cao nguyên Bôlôven. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67123186_453525505377335_4012623241246932992_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQn63HbJNDj0Rj0n92-nlGX4gwbjX22TSq2zxx1Ro1kT06PJ1SVmPqUHk1HEvmJW3pQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c3477aa88aaae661fb0a8ac3b50a46be&oe=5DB51FD8)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:45:52 am

        LÊGIÔNG (cổ), 1) quân, QĐ La Mã nói chung, từ tk 8tcn trở về trước; 2) đơn vị tổ chức và đơn vị chiến thuật cơ bản trong QĐ La Mã cổ đại. Có từ cuối tk 4tcn, gồm 10 manipun và 10 tuốcmơ (đơn vị tổ chức của kị binh, có 30 người), quân số khoảng 4.500 người (3.000 bộ binh nặng, 1.200 bộ binh nhẹ, 300 kị binh). Trong chiến đấu, L được tổ chức thành 2- 3 tuyến manipun, mỗi tuyến cách nhau 15-25m, đi đầu là bộ binh nhẹ, hai bên sườn có kị binh. Các manipun được bố trí theo đội hình bàn cờ, cách nhau 15-20m. Đến tk ltcn, đời Xê da, L được tổ chức lại, gồm 10 côhoocxơ (mỗi côhoocxơ có 3 manipun, mỗi manipun có 100-120 người), bộ phận phương tiện công thành và bộ phận xe ngựa vận tải; quân số khoảng 3.000-4.500; trong đội hình chiến đấu có đội dự bị; 3) đội quân đánh thuê nước ngoài trong LLVT một số nước (Anh. Pháp. Đức...) tk 16-20. L thường có thành phần không ổn định.

        LÊNA, sông ở đông Xibiri (Nga), dài 4.400km, diện tích lưu vực 2.490.000km2. Bắt nguồn từ sườn phía tây dãy núi Baican. đổ ra biển Laptep (thuộc Bắc Băng Dương), tạo thành châu thổ dt 30.000km2. Nước sông bắt đầu đóng băng vào tháng 10-11 và băng tan vào tháng 5-6. Tàu đi lại được 4.190km cách cửa sông. Các sông nhánh chính: Vilui, Kirenga, Vitim. Ôleơna, Anđan. Các cảng chính: Ôxetrôvô, Kirenxcơ, Iacutxcơ, Xangarư.

        LỆNH ĐỘNG VIÊN, lệnh chuyển LLVT, nền kinh tế quốc dân, thể chế nhà nước, sinh hoạt xã hội sang thời chiến. Có lệnh tổng động viên, LĐV cục bộ: LĐV do chủ tịch nước công bố, căn cứ vào nghị quyết của ủy ban thường vụ quốc hội: trường hợp huy động lực lượng dự bị động viên tăng cường cho lực lượng thường trực của QĐ do chính phủ quy định. Căn cứ lệnh của chủ tịch nước, chính phủ quyết định huy động số lượng nguồn động viên; bộ trưởng BQP căn cứ quyết định của chính phủ lệnh huy động các đơn vị dự bị động viên: lệnh gọi nhập ngũ của quân nhân dự bị, lệnh điều động phương tiện kĩ thuật do cấp có thẩm quyền kí. Việc thông báo LĐV được tiến hành đồng thời theo hệ thống hành chính từ trung ương tới cơ sở; từ BQP tới cơ quan QS địa phương, đơn vị QĐ (với BQP thường kết hợp thông báo LĐV với lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu).

        LỆNH GIỚI NGHIÊM. lệnh do chính quyền trung ương hoặc địa phương ban hành về việc nghiêm cấm (hoặc hạn chế) hoạt động đi lại, tụ họp... của dân chúng khi có tình huống đặc biệt liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại những khu vực và thời gian nhất định. Việc thực hiện LGN được kiểm soát chặt chẽ bàng LLVT. Địa điểm, quy mô khu vực giới nghiêm, thời gian giới nghiêm căn cứ tình hình cụ thể và có thể thay đổi trong quá trình thực hiện LGN.

        LỆNH GỌI NHẬP NGŨ. lệnh của người chỉ huy có thẩm quyền gọi công dân và quân nhân dự bị vào phục vụ QĐ. LGNN được thực hiện theo Luật nghĩa vụ quân sự và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. UBND xã. phường, thị trấn; cơ quan Nhà nước và các tổ chức cơ sở khác có trách nhiệm chuyển LGNN tới từng người theo thời gian quy định và bảo đảm cho công dân và quân nhân dự bị được gọi nhập ngũ có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:47:13 am

        LÊNIN (1870-1924), lãnh tụ CM vô sản vĩ đại của tk 20, người kế tục học thuyết CM của Mác* và Ăngghen trong thời đại ĐQCN. phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin và sáng lập Quốc tế cộng sản: lãnh tụ cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (25.10.1917) và sáng lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, người tổ chức ĐCS LX. Sinh trong một gia đình nhà giáo tiến bộ ở Ximbiêc (nay là Ulianốp), có người anh bị tử hình do mưu sát Nga hoàng. 1887 tham gia phong trào sinh viên. 1893 hoạt động trong phong trào công nhân Pêtecbua (Pêtrôgrat). 1895 thành lập Liên minh đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân. 1897 bị đày đi Xibêri 3 năm. 1900 ra nước ngoài, xuất bản báo “Tia lửa”. 1903 thành lập Đảng bônsêvich (Nga). 1905 về Pêtecbua lãnh đạo CM. 1907 bị truy nã, phải lánh ra nước ngoài. Trong CTTG-I, nêu khẩu hiệu “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến CM". 1916- 17 khởi thảo “Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản”; về Pêtecbua trình bày bản “Luận cương tháng Tư”, bị truy nã và phải ra nước ngoài (7.1917); tháng 10.1917 bí mật trở về Pêtecbua lãnh đạo CM tháng Mười. CM thành công, giữ chức chủ tịch Hội đồng dân ủy, kí sắc lệnh đầu tiên về hòa bình và ruộng đất, lãnh đạo đấu tranh chống can thiệp QS của nước ngoài và lực lượng phản CM trong nước, đề xuất nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, xây dựng Hồng quản công nông, tiến hành cải tạo XHCN. Từ 1920 khởi thảo kế hoạch xây dựng CNXH, kế hoạch điện khí hóa (GOELRO); chính sách kinh tế mới (NEP)... Toàn bộ di sản lí luận đồ sộ được in trong “Lênin toàn tập”; trong đó về lí luận QS đã phát triển các luận điểm quan trọng nhất của Mác và Ăngghen về chiến tranh và QĐ, về khoa học QĐ, xây dựng học thuyết bảo vệ tổ quốc XHCN, học thuyết về bản chất chiến tranh, đặc điểm của chiến tranh thời đại ĐQCN. tính chất của chiến tranh, những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, vai trò của quần chúng nhân dân trong chiến tranh hiện đại...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66851146_453525512044001_5846738121051340800_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmcDJqEeHlRqKqLMtG16YxDlMv1DCfp4S9LGtMvYZZ6MfJIF1ndR0ze_USkWA2Ceac&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d6fd23e46e82cc76a80542ffcb5d49b1&oe=5DB7504E)


        LÊÔPAT (Đ. Leopard - Con báo), xe tăng chủ lực của CHLB Đức. Hiện có Lêôpat-1 và Lêôpat-2. Lêôpat-1 do hãng Crauxơ Maphai chế tạo. Các mẫu cải tiến (chủ yếu hệ thống điều khiển hỏa lực, hệ thống truyền lực, khí tài quan sát): Lêôpat -lAl, -1A2, -1A3, -1A4, -1A5. Khối lượng chiến đấu 40 - 42,4t, kíp xe 4 người. Thân xe dài 7.09m (cả pháo quay phía trước 9,54m), rộng 3,25m, cao 2.6lm (đến nóc tháp pháo). Động cơ điêzen đa nhiên liệu, công suất 619kW (830cv). Tốc độ lớn nhất 65km/h; hành trình dự trữ 600km, lội ngầm sâu 4m (khi có thiết bị lội). Vũ khí: pháo rãnh xoắn 105mm (đạn 55 viên); súng máy song song và súng máy phòng không 7,62mm (đạn 5.500 viên). Lêôpat-2 do các hãng Crauxơ Maphai và Crup Mac cùng sản xuất. Các mẫu cải tiến: Lêôpat-2A1, -2A3, -2A4. Khối lượng chiến đấu 55.15t, kíp xe 4 người. Thân dài 7,72m (cả pháo quay phía trước 9,67m), rộng 3,7m, cao 2,48m (đến nóc tháp pháo). Động cơđiêzen đa nhiên liệu, công suất l.l00kW (1.500cv). Tốc độ lớn nhất 72km/h; hành trình dự trữ 550km. vỏ giáp nhiều lớp. Vũ khí: pháo nòng trơn 120mm bắn đạn nhiều tác dụng (đạn 42 viên); súng máy song song và súng máy phòng không 7,62mm (đạn 4.750 viên); 8 súng phóng lựu và 8 ống phóng khói. Cũng được sản xuất tại Thụy Sĩ. Lêôpat-1 (và các mẫu cải tiến) có trong trang bị của QĐ nhiều nước: Ôxtrâylia, Bỉ, Canada, Đan Mạch, CHLB Đức (từ 1965), Hi Lạp, Italia, Hà Lan, Na Uy, Thổ Nhĩ Kì... Lêôpat-2 (và các mẫu cải tiến) được trang bị QĐ CHLB Đức (từ 1979), Hà Lan, Thụy Sĩ...


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:54:56 am

        LÊXÔTHÔ (Vương quốc Lêxôthô; A. Kingdom of Lesotho), quốc gia năm phía nam trong lãnh thổ Nam Phi. Dt 30.355km2; ds 1.86 triệu người (2003); 99,5% người Phi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Xutô. Tôn giáo: 70% đạo Cơ Đốc, 30% Bái vật giáo. Thủ đô: Maxêru. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương, chủ tịch hội đồng QS, tổng tu lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ. Địa hình: núi đá, đi lại khó khăn, độ cao 2.300-3.000m. Khí hậu cận nhiệt đới lục địa. Nơi bắt nguồn của 200 con sông. Kinh tế chậm phát triển, phụ thuộc chủ yếu vào Nam Phi. GDP 797 triệu USD (2002), bình quân đầu người 390 USD. Thành viên LHQ (17.10.1969), Phong trào không liên kết. Liên minh châu Phi. Lập quan hệ với VN 6.1.1998. LLVT: lực lượng thường trực 2.000 người. Trang bị: 18 xe thiết giáp trinh sát, 2 pháo mặt đất, 10 súng cối, 4 máy bay vận tải, 6 máy bay trực thăng. Ngân sách quốc phòng 22 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67080008_453525518710667_916265907494322176_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmnWQvLT5T2VC6A06toaSysmfTrL7Jztti6kzQdy6kQopp7TDM4QFklUORT_8NlLww&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=1379afc17ca7740f8d8104bdb83caf64&oe=5DE8AF68)


        LI GIÁC, đơn vị đo góc, dùng phổ biến trong pháo binh. Một LG là góc bàng 1/1.000 radian (một góc 360° có 6.283 LG). Để tiện sử dụng, thường quy chẩn một góc đầy có 6.000 hoặc 6.400 LG.

        LÍ BÍ (Lí Nam Đế; ?-548), người gây dựng nhà Tiền Lí, lãnh tụ khởi nghĩa chống nhà Lương (TQ) (x. khởi nghĩa Lí Bí, 54ì -44). Quê Long Hưng (nay là h. Đông Hưng, t. Thái Bình), thuộc gia đình hào trưởng, từng làm quan cho nhà Lương, có tài văn võ. Đầu 542 LB nổi dậy khởi nghĩa thắng lợi. 1.543 nghĩa quân của LB đánh bại quân Lương, thanh thế càng lớn, cuối năm, nghĩa quân lại đánh bại quân Lương ở Hợp Phố. Xuân 544 LB lên ngôi vua, xưng là Nam Việt Đế, đật tên nước là Vạn Xuân, niên hiệu Thiên Đức. Đầu 545 trước đại quân thủy bộ xâm lược của nhà Lương, LB thất thủ tại cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và ở thành Gia Ninh (Việt Trì), lui quân vào động Khuất Lão (Tam Nông. t. Phú Thọ) rồi làm bệnh mất.

        LÍ CÔNG UẨN nh LÍ THÁI TỔ

        LÍ HẰNG (Li Heng; 1235-85), tướng người Hán (TQ) trong đạo quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt (1285). Trước 1285 tham gia đánh Tống (trận Nhãi Sơn) và đánh Chiêm Thành, được phong trung thư tả thừa. Đầu 1285 sau khi chiếm Thăng Long, theo lệnh của Thoát Hoan, LH và một số tướng Nguyên - Mông đem quân đuổi bắt vua tôi nhà Trần nhưng không kịp. Sau các trận phản công của quân Trần ở A Lỗ, Hàm Tử, Chương Dương và các trận phục kích ở Như Nguyệt (Sông Cầu) và Vạn Kiếp, quân Nguyên - Mỏng rút chạy hỗn loạn. LH phải chỉ huy hậu quân yểm hộ cho Thoát Hoan. Tại Vĩnh Bình. LH trúng tên độc, về đến Tư Minh (TQ) thì chết.

        LÍ LUẬN, hệ thống quan điểm, tư tưởng được khái quát bằng tư duy khoa học từ kinh nghiệm thực tiễn; hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của tri thức khoa học về các mối liên hệ phổ biến và các quy luật phát triển của hiện thực khách quan nhằm giải thích và chỉ đạo thực tiễn. Hình thức tồn tại của LL rất đa dạng và phong phú, gồm: LL khoa học xã hội và nhân văn, lí thuyết khoa học tự nhiên, LL chung, LL riêng, LL cơ bản, LL chuyên ngành... LL CM có vai trò to lớn đối với phong trào CM, “không có lí luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” (Lénin).

        LÍ LUẬN QUÂN SỰ, hệ thống tri thức về quân sự được khái quát từ thực tiễn hoạt động QS trên cơ sở một thế giới quan và phương pháp luận nhất định; có tác dụng chỉ đạo trở lại đối với hoạt động thực tiễn QS của một giai cấp, nhà nước, tập đoàn xã hội, trong những thời kì lịch sử nhất định. LLQS VN hiện đại hình thành từ khi ĐCS VN ra đời (1930), được phát triển và hoàn thiện qua các thời kì CM và chiến tranh cách mạng do ĐCS VN lãnh đạo, đặc biệt là trong cuộc KCCP và KCCM, tiêu biểu là lí luận về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh nhân dân. xây dựng lực lượtĩg vũ trang nhản dán, xây dựng nền quốc phòng toàn dân. LLQS VN hiện đại dựa trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo LLQS của chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, kế thừa và phát triển truyền thống QS của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tri thức QS của nhân loại trong quá trình tiến hành CM và chiến tranh CM ở VN.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 10:58:01 am

        LÍ NAM ĐẾ nh LÍ BÍ

        LÍ SƠN, huyện đảo thuộc t. Quảng Ngãi, đông bắc mũi Ba Làng An 23km. Dt 10km2; ds 18.100 người (2001). Gồm đảo LS (Cù Lao Ré, chia thành hai xã: An Hải, An Vĩnh) và cù lao Bờ Bãi (xã An Bình). Đảo LS dài 5km, rộng 2,5km, có đinh cao 180m, phía đông bằng phảng, có sân bay nhỏ. Cù lao Bờ Bãi ở tây bắc đảo LS 4km, dt 0,69km2, có đình cao 26m. Dân sống bằng nghề đánh bắt hải sản và làm nông nghiệp.

        LÍ THÁI TỔ (Lí Công Uẩn; 974-1028), vua khởi đầu triều Lí. Quê châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là xã Đình Bảng, h. Từ Sơn, t. Bắc Ninh). Không rõ họ cha, lúc nhỏ làm con nuôi sư Lí Khánh Vân nên mang họ Lí. Có tài văn võ, làm quan tới chức tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ triều Tiền Lê. 1009 vua Lê Long Đĩnh mất, ông được giới Phật giáo ủng hộ và triều thần suy tôn làm vua. 1010 chính thức lên ngôi và quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (sau đổi là Thăng Long, nay là Hà Nội). Ở ngôi 18 năm (1010-28), có nhiều công chăm lo việc nội trị, củng cố chính quyền, phát triển đạo Phật, mở rộng quan hệ bang giao với các nước láng giềng, giữ gìn toàn vẹn bờ cõi, tạo cơ sở xây dựng quốc gia độc lập, thống nhất.

        LÍ THÁI TÔNG (Lí Phật Mã; 1000-54), vua thứ hai triều Lí (1028-54), danh tướng, con cả của Lí Thái TỔ. Quê châu cổ Pháp, lộ Bấc Giang (nay là xã Đình Bảng, h. Từ Sơn, t. Bắc Ninh). 1020 được phong nguyên soái đi đánh Chiêm Thành ở Bố Chính (nay là Quảng Bình), bắt được tướng địch. Từ khi lên ngôi, LTT tự mình cầm quân đánh dẹp các vụ nổi loạn ở Châu Hoan (1031), châu Định Nguyên (1033), Châu Ái (1035), châu Quảng Nguyên (1039). Năm 1044 đem quân đánh lại Chiêm Thành, đại thắng ở bờ nam sông Ngũ Bổ (hạ lưu sông Thu Bổn), diệt và bắt sống 35.000 địch, giết vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu, tiến vào thành Phật Thệ (thành Chà Bàn, Quy Nhơn). LTT là vị vua giỏi chinh chiến, đánh đâu được đấy, giữ yên bờ cõi và trị vì đất nước (khuyên dân làm ăn. tự mình cày ruộng để làm gương).

        LÍ THUYỂT BAY, bộ môn khoa học nghiên cứu quy luật chuyên động của khí cụ bay, chủ yếu là loại có điểu khiển. Việc nghiên cứu chuyển động của phương tiện bay được tiến hành bằng thực nghiệm hoặc bằng mô hình toán học. LTB gồm: động lực học bay, lái máy bay và khí động lực học thực hành.

        LÍ THUYỂT BẮN, bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lí thuyết và thực hành bắn của vũ khí; các quy tắc bắn, chỉ huy bắn và đánh giá hiệu quả bắn cho từng loại vũ khí khi bắn các loại mục tiêu khác nhau. Nhiệm vụ cơ bản của LTB là: đề ra các phương pháp chuẩn bị phấn tử bắn-, xác định ảnh hưởng của các điều kiện bắn tới độ chính xác bắn; các phương pháp tính toán chỉ tiêu hiệu quả bắn; các phương pháp điều khiển hỏa lực tối ưu; các định mức tiêu hao đạn dược... Cơ sở của LTB là thuật phóng ngoài, lí thuyết xác suất và lí thuyết sai số.

        LÍ THUYẾT HỖN ĐỘN, bộ môn toán học nghiên cứu những trật tự trong các hoạt động bất quy tắc nhằm hiểu rõ quy luật và tìm giải pháp tổ chức có lợi nhất cho hệ thống hỗn độn. Những nghiên cứu đầu tiên về hệ thống hỗn độn được nhà toán học người Pháp Hăngri Poăngcarê (Henri Poincaré) đưa ra vào cuối tk 19 khi nghiên cứu quỹ đạo chuyển động của các hành tinh. LTHĐ được phát triển mạnh từ 1960 gắn liền với nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực toán học, vật lí, cơ học...

        LÍ THUYẾT PHỤC VỤ ĐÁM ĐÔNG, bộ môn toán học nghiên cứu những quy luật trong các hoạt động có nhiều đối tượng tham gia, bao gồm một số lớn các hoạt động cơ bàn cùng loại nhằm hiểu rõ tính chất và tìm ra phương pháp tổ chức có lợi nhất. Được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học và kĩ thuật. Trong QS, LTPVĐĐ dùng cho chọn các phương án tổ chức, chỉ huy chiến đấu; phân tích hiệu quá các đòn đánh tên lửa, không quân, pháo binh, các hành động QS khác...

        LÍ THUYẾT TRÒ CHƠI, bộ môn toán học nghiên cứu các mô hình phản ánh những tình huống chơi có hai hay nhiều bên đối kháng hoặc có lợi ích khác nhau cùng tham gia. Nội dung chính là định nghĩa các khái niệm tối ưu và tình thế cân bằng, tìm ra những cách ứng xử (gọi là chiến lược) để cố gắng đạt được các tình thế này. Các lớp cơ bản của LTTC: trở chơi đối kháng, trò chơi nhiều bên không liên minh, trò chơi hợp tác, trò chơi động và trò chơi vi phân. Mỗi bên chơi thường có một tập chiến lược. Kết cục chơi phụ thuộc vào từng lớp mô hình cụ thể, quy tắc chơi và các thông tin nhận được trong khi chơi. Trong QS, LTTC có thể được áp dụng khi huấn luyện và diễn tập chiến thuật, chiến dịch, tiến hành chuẩn bị chiến dịch hay trận đánh, lựa chọn hệ vũ khí mới và những vấn đề khác hoặc giúp vào việc phân tích và thiết kế những mô hình mô phỏng các trận đánh trên máy tính điện tử. LTTC bắt nguồn từ việc mô phỏng các trò chơi thực hàng ngày và các hiện tượng cạnh tranh trong QS, xã hội, kinh tế.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:00:03 am

        LÍ THUYẾT XÁC SUẤT, bộ môn toán học nghiên cứu tính quy luật của những hiện tượng ngẫu nhiên. Những khái niệm cơ bản của LTXS: phép thử - quan sát hiện tượng ngẫu nhiên (kết quả của nó phụ thuộc vào các yếu tố ngẫu nhiên); biến cố ngẫu nhiên (kết quả của những phép thử - quan sát hiện tượng ngẫu nhiên); xác suất của biến cố ngẫu nhiên (số đo khả năng xuất hiện của mỗi biến cố); đại lượng ngẫu nhiên (giá trị của nó phụ thuộc vào kết quả của phép thử - quan sát hiện tượng ngẫu nhiên); quy luật phân bố xác suất (đặc trưng đầy đủ tính quy luật của đại lượng ngẫu nhiên), trong đó quy luật quan trọng và thường gặp nhất là quy luật phân bố chuẩn. Công cụ quan trọng được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, kinh tế, đặc biệt trong một số ngành mũi nhọn như vật lí hạt nhân, khoa học vũ trụ, tự động hóa sản xuất... Trong QS, LTXS là cơ sở của vận trù học quân sự, lí thuyết tính toán đường đạn. hiệu quả bắn. dẫn đường, tự động hóa chỉ huy... Sự phát triển của LTXS gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học: Becnuli (Thụy Sĩ). Laplat, Poatsông (Pháp), Gauxơ (Đức), Trêbưsep, Maccôp, Liapunôp, Khinsin, Cônmagôrôp (LX)...

        LÍ THƯỜNG KIỆT (Ngô Tuấn; 1019-1105), Ah dân tộc, tể tướng, nhà QS kiệt xuất, thống lĩnh QĐ thời Lí. Quê phường Thái Hoà, h. Thọ Xương, Thăng Long (nay thuộc tp Hà Nôi). Người giỏi văn võ, được Lí Thánh Tông coi như em ruột. 1069 được cử làm tướng tiên phong cùng Lí Thánh Tông đánh lại Chiêm Thành, bất Chế Củ (vua Chiêm Thành). 1074 có công đưa Lí Đạo Thành về làm thái phó, ổn định triều chính. 1075 cùng Tông Đản đánh sang Châu Khâm. Châu Ung, Châu Liêm, phá kế hoạch chuẩn bị xâm lược Đại Việt của nhà Tông. Cùng năm, vẽ bản đồ các châu: Bố Chính, Ma Linh. Địa Lí, xác định chủ quyền của Đại Việt, được phong làm thái úy. 1077 đánh bại quân Tống xâm lược do Quách Quỳ. Triệu Tiết chỉ huy ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (x. trận Như Nguyệt 18.1-2.1077). 1103 dẹp loạn Lí Giác ở Diễn Châu (Nghệ An). 1104 đánh bại vua Chiêm Thành là Chế Ma Na ở Quảng Bình. Nhà QS đầu tiên thực hiện thắng lợi tư tưởng  chủ động tiến công “ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của chúng”, nhà cải cách QĐ (x. quán đội Lí). Tương truyền là tác giả bài thơ “Nam quốc sơn hà" và “Phạt Tống lộ bố văn ”, Hiện có đền thờ ở h. Hà Trung, t. Thanh Hóa và nhiều nơi trong cả nước.

        LÍ TRIỆN (Lé Triện; 7-1427), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. Quê làng Bái Đô. h. Lôi Dương (nay là xã Xuân Bái, h. Thọ Xuân. t. Thanh Hóa). Cùng cha tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu. 1423 khi quân Minh vây chặt Lê Lợi tại Sách Khôi (giữa Nho Quan, Ninh Bình và Thạch Thành, Thanh Hóa), LT cùng các tướng Lê Lĩnh. Lê Vấn, Lê Hào xông lên trước phá vây, giết tướng Minh là Phùng Quý và hơn 1.000 quàn, buộc dịch phải rút chạy về Đông Quan. 1425 cùng Lê Sát, Đinh Lễ, Lưu Nhân Chú, Đỗ Bí chỉ huy 200 quân tinh nhuệ, đánh úp thành Tây Đô (Thanh Hóa) giết 500 địch, thanh thế nghĩa quân lên cao, LT phủ dụ, dân Thanh Hóa hăng hái tham gia nghĩa quân. 1426 cùng Trịnh Khá, Đỗ Bí, Đinh Lễ chỉ huy đánh thăng các trận: Ninh Kiều (Chương Mĩ, Hà Tây); cầu Nhân Mục (Cống Mọc, Nhân Chính, Từ Liêm. Hà Nội); cầu Tam La (Ba La Bông Đỏ, Hà Đông) và trận Tốt Dộng - Chúc Động, 5-7.11.1426. Năm 1427 khi vây thành Đông Quan, bị Phương Chính đánh úp ở Cảo Động (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) và bị chết trận.

        LÍ VĂN LÂM (Lí Ngọc Báu; 1938-69), Ah LLVTND (1967). Quê xã Tân Thành, tp Cà Mau, t. Cà Mau; đv ĐCS VN  (1961); khi tuyên dương Ah là xã đội trưởng Xã Mới. Trong KCCM, 1959-61 chiến đấu 56 trận, diệt và làm bị thương 101, bắt sống 4 địch, thu nhiều vũ khí và tài liệu; tổ chức và chỉ đạo 180 cuộc đấu tranh chính trị ở xã, ấp chống địch bắt người, đòi bồi thường tài sản cho nhân dân; vận động được 60 lính QĐ Sài Gòn không đi càn, xây dựng một số binh lính làm nội ứng cho CM. 11.1961-3.1967 tuy bị thương cụt bàn tay phải và ngón giữa bàn tay trái, hai mắt bị mờ, LVL vẫn tiếp tục chiến đấu 21 trận, diệt 55 địch (hầu hết là ác ôn). Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67084676_453525538710665_7469401938283462656_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnumLfHFPDocu3Du8i0pdcWcKsErG9_5QqlfTniB5g3AVfhXoQZiarOOfAWaDXdCWU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=888f8eea70c4c71e144d0fd27dea1aa2&oe=5DB9F817)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:01:42 am

        LIBĂNG (Cộng hòa Libăng; Lubnan, al-Jumhuria al- Lubnaniyạ, A. Republic of Lebanon), quốc gia ở Tây Á, trên bờ đông Địa Trung Hải. Dt 10.400km2; ds 3,73 triệu người (2003); 93% người Arập. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Arập. Tôn giáo: 70% đạo Hồi (các dòng Siai, Sunni và Đrudê), 30% đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Bâyrut. Chính thể cộng hòa độc lập, đứng dầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội do dân bầu theo nguyên tắc đại diện cho các khối tôn giáo. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Núi chiếm phần lớn lãnh thổ, đinh cao nhất 3.088m; giữa hai dãy núi Libăng và Anti Libăng là thung lũng Bêke màu mỡ. Ven biển là các dải đồng bằng rộng l,5-25km. Bờ biển thấp. Nước công - nông nghiệp phát triển chậm; công nghiệp: vật liệu xây dựng, chế biến dầu mỏ...; nông nghiệp: làm vườn, trồng thuốc lá chiếm 80% thu nhập nông nghiệp. Hệ thống ngân hàng, tài chính, dịch vụ vận chuyển, quá cảnh tương đối phát triển. GDP 16,71 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 3.810 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Phong trào không liên kết, Liên đoàn các nước Arập. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 12.2.1981. LLVT: lực lượng thường trực 71.830 người (lục quân 70.000, hải quân 830, không quân 1.000). Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 363 xe tăng. 89 xe thiết giáp trinh sát, 1.164 xe thiết giáp chở quân, 160 pháo mặt đất, 23 pháo phản lực BM-21, 7 tàu HHI tuần tiễu, 2 tàu đổ bộ, 30 máy bay chiến đấu, 30 máy bay trực thăng, 3 máy bay vận tải... Ngân sách quốc phòng 536 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66843189_453525552043997_646682849117732864_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQmcF71S_Ugy2fAqj8N3E5xziVCYx6GuKZ6B-OFT_NfeVLq5wPm8qfhnKwfISmnU90Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=aa5e922864ab9bb956036210c61391bb&oe=5DA138FE)


        LIBÊRIA (Cộng hòa Liberia; A. Republic of Liberia), quốc gia ở Tây Phi; tây bác giáp Xiêra Lêôn, bắc giáp Ghinê, đông bắc giáp Côt Đivoa, nam và đông nam giáp Đại Tây Dương. Dt 99.067km2; ds 3,32 triệu người (2003); hơn 90% người Phi. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh. Tôn giáo: 70% Bái vật giáo, 14% Cơ đốc giáo, 16% đạo Hồi. Thủ đô: Monrovia. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng và hạ nghị viện). Phần lớn lãnh thổ là đồng bằng. Bắc và đông bắc là vùng núi thấp (400-600m). Bờ biển thấp. Khí hậu xích đạo. Nước nông nghiệp, có ngành công nghiệp khai khoáng phát triển. Xuất khẩu: quặng sắt, gỗ, cà phê, kim cương. GDP 523 triệu USD (2002), bình quân đầu người 160 USD. Thành viên LHQ (2.11.1945), Phong trào không liên kết. LLVT đang được thành lập, quân số dự kiến 11.000-15.000 người. Ngân sách quốc phòng 15 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66861499_453525572043995_6614064509864640512_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmgJyitJdFI-eXfIz2CPvRFnVNkBrqujq2ztOEqFZaAaqCVYFTi-in43vchJVEpt0Q&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8a29fa9b8118c287c038eb88f8394b7d&oe=5DE8F08F)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:02:45 am

        LIBI (Đại Giamahiria Arập Libi nhân dân xã hội chủ nghĩa; al-Jamahiriya al-Arabiya al-Libya al-Shabiya al-Ishtirakiya al-Uzma. A. Libya, Great Socialist People’s Libyan Arab Jamahiriya), quốc gia ở Bắc Phi. Dt 1.759.540km-; ds 5,5 triệu người (2003); 92% người Arập. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Arập. Tôn giáo: 97% đạo Hồi dòng Sunni. Thủ đô: Tripoli. Cơ quan quyền lực cao nhất: đại hội nhân dân toàn quốc (quốc hội). Cơ quan hành pháp: UBND toàn quốc (chính phú) do thư kí ủy ban đứng đầu. Trên thực tế, đất nước đặt dưới sự lãnh đạo của “Hội đồng cách mạng” (về danh nghĩa không thuộc hệ thống nhà nước) do lãnh tụ CM đứng đầu. Địa hình: cao nguyên đá, cao 200-600m; phía đông là hoang mạc Libi; phía nam là các triền núi thuộc hệ thống núi Tibeti; đông bắc là đồng bằng ven biển; tây bắc là các ốc đảo ven biển và đồng bằng thấp. Khí hậu nhiệt đới hoang mạc, lượng mưa không đáng kể. Nước nông nghiệp; khai thác dầu mỏ chiếm trên 50% GDP và trên 99% giá trị xuất khẩu; nông nghiệp: chăn nuôi là ngành chủ đạo. GDP 34,137 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 6.450 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên đoàn các nước Arập, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 15.3.1975. LLVT: lực lượng thường trực 76.000 người (lục quân 45.000, hải quân 8.000. không quân 23.000), lực lượng dự bị 40.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 2.210 xe tăng, 1.000 xe chiến đấu bộ binh, 438 xe thiết giáp trinh sát, 945 xe thiết giáp chở quân, 1.294 pháo mặt đất, 888 pháo tự hành. 3.000 tên lửa chống tăng, 40 tên lửa hành trình, 80 tên lửa Scut. 600 pháo phòng không, một số tên lửa phòng không, 1 tàu ngầm, 1 tàu frigat, 8 tàu tên lửa, 9 tàu tuần tiễu, 6 tàu quét mìn, 3 tàu đổ bộ, 9 tàu hộ tống, 400 máy bay chiến đấu, 48 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 1,2 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67112637_453525582043994_7829934760263680000_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmc271ZFVUEI26HKg-AqeLqHVdNniuQWbfOWClt7K7ZKKJ0Eifg0MHmkVR8OIn0tj0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0a978de1047e349dd2b7b6cd03a37a97&oe=5DEDC1DE)


        LIC X HỌC THUYẾT XUNG ĐỘT CƯỜNG ĐỘ THẤP

        LỊCH SỬ KĨ THUẬT QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2), nghiên cứu sự ra đời và phát triển KTQS, các giải pháp kĩ thuật đã áp đụng có ảnh hưởng tới hoạt động QS và các tổ chức QS qua các thời kì lịch sử xã hội. LSKTQS gắn với lịch sử phát triển của trình độ sản xuất xã hội và được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa con người và vũ khí, giữa trang bị và tổ chức QS, giữa kĩ thuật và chiến thuật, giữa cơ sở  vật chất kĩ thuật và nghệ thuật QS. Nghiên cứu LSKTQS có tác dụng góp phần định ra hướng phát triển KTQS và nghệ thuật QS.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:03:58 am

        “LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH CHỐNG PHÁP, CHỐNG MĨ (1945-1975)”, công trình nghiên cứu, tổng kết lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch VN trong 30 năm tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, do tập thể tác giả Viện lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn: xuất bản 1994 (3 tập) và tái bản 1995 (1 tập). Gồm ba phần: lịch sử nghệ thuật chiến dịch VN trong KCCP, lịch sử nghệ thuật chiến dịch VN trong KCCM và tổng luận. Nội dung chủ yếu: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của gần 100 chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến, khẳng định nghệ thuật chiến dịch VN là nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, được hình thành và phát triển trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân. do ĐCS VN tổ chức và lãnh đạo; là sự phát huy sức mạnh tổng hợp của LLVT ba thứ quân, kết hợp sức mạnh QS và chính trị; quán triệt sâu sắc tư tưởng tích cực, chủ động, kiên quyết, liên tục tiến công; phát triển từ thấp đến cao theo yêu cầu của chiến lược và sự phát triển lực lượng, từ quy mô nhỏ đến lớn. từ tuấn tự đến nhảy vọt, kết hợp chặt chẽ phương thức tác chiến tập trung chính quy với tác chiến du kích và đấu tranh chính trị. nổi dậy của quần chúng; hình thành và phát triển cách đánh chiến dịch sáng tạo, trong đó đặc biệt coi trọng việc tạo thế ta, phá thế địch, tạo tình huống và thời cơ có lợi để đánh tiêu diệt bằng các trận thời chốt và thời chốt quyết định... Là công trình chính trong hệ thống công trình nghiên cứu. tổng kết lịch sử nghệ thuật chiến dịch của LLVTND VN qua hai cuộc kháng chiến, có giá trị khoa học trong việc tổng kết các bài học kinh nghiệm, góp phần làm rõ thêm những vấn đề có tính quy luật của nghệ thuật QS VN trong thời kì hiện đại.

        LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2), nghiên cứu sự hình thành, phát triển của những phương thức và hình thức đấu tranh vũ trang trên cả ba lĩnh vực chiến lược QS, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong từng cuộc đấu tranh của từng dân tộc, ở từng thời đại và ở mọi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong lịch sử. LSNTQS dựa vào thực tế các cuộc chiến tranh, rút ra những kinh nghiệm có tính nguyên tắc về tiến trình của nghệ thuật QS, góp phần xem xét và giải quyết những vấn đề phát triển lí luận QS nói chung, nghệ thuật QS nói riêng của hiện tại và tương lai.

        “LỊCH SỬ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, tác phẩm nghiên cứu, tổng kết lịch sử QĐND VN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước do ĐCS VN lãnh đạo. Gồm 2 tập: tập 1 do Ban nghiên cứu lịch sử QĐ trực thuộc TCCT biên soạn, xuất bản 1974 và tái bản 1976, 1977. 1994, 1999; tập 2 do Viện lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn, xuất bản lần đầu gồm 2 quyển vào các năm 1989. 1990 và tái bản thành 1 quyển vào các năm 1994. 1999. Nội dung cơ bản: trình bày những quan điểm QS đầu tiên của Đảng: sự hình thành và phát triển các tổ chức vũ trang CM qua các thời kì vận động và xây dựng lực lượng CM (1930-39), thời kì chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và tiến hành tổng khới nghĩa giành chính quyền (1939-45); quá trình chiến đấu. xây dựng và trường thành của QĐND VN cùng với toàn dân đấu tranh bảo vệ chính quyền CM, chống thù trong giặc ngoài: làm nghĩa vụ quốc tế và thực hiện liên minh chiến dâu với CM các nước Lào. Campuchia; lần lượt đánh bại àm mưu. thủ đoạn, chiến lược chiến tranh của kẻ thù, đưa KCCP (1945-54) và KCCM (1954-75) đến thắng lợi hoàn toàn. “LSQĐNDVN” góp phần làm rõ bản chất CM và vai trò của QĐND VN trong lịch sử hiện đại của dân tộc, được sử dụng rộng rãi làm tài liệu giáo dục cho các LLVTND, có giá trị tham khảo đối với các cơ quan, cán bộ nghiên cứu. giảng dạy trong và ngoài QĐ.

        LỊCH SỬ QUÂN SỰ, 1) lịch sử về quá trình phát sinh, phát triển các hoạt động QS trong lịch sử xã hội loài người; 2) bộ phận của khoa học lịch sử nghiên cứu các hoạt động QS trong quá khứ. chủ yếu là các quy luật của chiến tranh, đấu tranh vũ trang, nhằm rút ra những bài học thiết thực cho việc tổ chức, tiến hành chiến tranh, xây dựng và sử dụng LLVT. Các bộ phận hợp thành: lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tổ chức quân sự, lịch sử tư tưởng quân sự, lịch sử kĩ thuật quân sự và những chuyên ngành bổ trợ: sử liệu học quân sự, lịch sử sử học quân sự, cổ thư học quân sự, khảo cổ học quân sự. thống kê học quân sự. Phương pháp luận và cơ sở lí luận của khoa học LSQS mácxit là chủ nghĩa Mác - Lênin mà trực tiếp là học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và QĐ. Khoa học LSQS quan hệ hữu cơ với khoa học quân sự. Khoa học LSQS VN hiện đại được xây dựng trên nền tảng lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa tinh hoa truyền thống QS của dân tộc và của thế giới. Cg sử học quân sự.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:05:49 am

        LỊCH SỬ SỬ HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử sử học đóng thời là chuyên ngành của khoa học lịch sử quân sự (nghĩa 2). nghiên cứu lịch sử của khoa học lịch sử QS. Đối tượng nghiên cứu là sự hình thành, phát triển các tri thức lịch sử QS theo thời gian, từ những tri thức riêng lẻ, những hiện tượng bề ngoài, từng mặt đến một hệ thống tri thức và phương pháp nhận thức để trở thành một khoa học. LSSHQS có quan hệ chặt chẽ với các chuyên ngành khác của khoa học lịch sử QS.

        LỊCH SỬ TỔ CHỨC QUÂN SỰ. bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2). nghiên cứu sự hình thành và phát triển của LLVT, của QĐ (các quân chủng, binh chủng, đơn vị, nhà trường, cơ quan chỉ huy, ngành nghiệp vụ...) trong các thời đại và thời kì lịch sử khác nhau. LSTCQS tìm ra những quy luật tổ chức QS của các quốc gia, mối liên hệ giữa hình thức tổ chức lực lượng trực tiếp chiến đấu. tổ chức chỉ huy và bảo đảm  chiến đấu; giữa các quân chủng, binh chủng; giữa nền kinh tế đất nước với khả năng tổ chức trang bị KTQS: vạch ra vai trò của QĐ. những đặc điểm về cơ cấu tổ chức, hệ thống giáo dục, huấn luyện, tổ chức chỉ huy các cấp và những hoạt động của nó trong thời chiến và thời bình; phân chia và tổ chức thiết bị chiến trường, địa bàn QS, cơ sở hậu phương và bảo đảm hậu cần. Trên cơ sở đó hoạch định việc tổ chức, xây dựng LLVT cả về chính trị. QS, biên chế, trang bị kĩ thuật, rút những bài học thiết thực cho việc nghiên cứu tổ chức QS hiện tại và tương lai.

        LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2), chuyên nghiên cứu sự hình thành và phát triển hệ thống quan điểm về QS và các vấn đề liên quan đến QS của các cá nhàn, giai cấp, chính đảng nhất định. LSTTQS VN hình thành trong quá trình đấu tranh chống sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, chống CNĐQ thực dân, đặc biệt được phát triển phong phú từ khi ĐCS VN ra đời lãnh đạo CM VN.

        LICHTENXTÊN (Công quốc Lichtenxtên; Furstentum Liechtenstein, A. Principality of Liechtenstein) quốc gia ở Trung Âu, nằm giữa Thụy Sĩ và Áo. Dt 160km2; ds 33 nghìn người (2003); gồm: người Áo, Đức, Thụy Sĩ... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thù đô: Vađudơ. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ. 75% lãnh thổ là núi, thuộc dãy Anpơ. độ cao 2.000m, phía tây là đồng bằng thượng lưu Sông Ranh. Khí hậu ôn hòa. Rừng chiếm 25% diện tích. Ngân hàng và du lịch là các ngành quan trọng của nền kinh tế. Thành viên LHQ (18.9.1990). Không có QĐ.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67161976_453525605377325_7115272818052300800_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQneH2TkGG0ybT9nNimYFZQD1AlDMl_haBTJ57aVONMnVHW4rNH2ZJp6YIaqMuJEQQg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3ead9417248a348c479cf5cd969fbbcb&oe=5DB0A28F)


        LIĐA (LIDAR. vt từ A. Light Detection And Ranging), máy định vị quang học dùng lade làm nguồn bức xạ thăm dò. Các bộ phận chủ yếu: lade xung phát ra bức xạ điện từ trong dải quang học, hệ thống quang học làm nhiệm vụ anten thu phát, đầu thu bức xạ và bộ xử lí. Nguyên lí hoạt động tương tự như rađa. So với rađa. L xác định tọa độ góc mục tiêu với mức chính xác cao (nhỏ hơn l ph) và độ phân giải về cự li tốt hơn (tới vài cm). L được dùng trong QS để đo cự li, theo dõi khí cầu. phát hiện các vùng không khí nhiễm độc...

        LIÊN BINH ĐOÀN, đơn vị lực lượng vũ trang, gồm một số binh đoàn và binh đội, phân đội trực thuộc và cơ quan chỉ huy. Thường thực hiện những nhiệm vụ chiến dịch, chiến dịch -  chiến lược hoặc chiến dịch - chiến thuật. Cơ cấu tổ chức, quân số, trang bị của LBĐ phụ thuộc vào nhiệm vụ tác chiến và tính chất chiến trường. Thuộc loại LBĐ có quân đoàn, tập đoàn quản, phương diện quân, cụm bộ độix) nước ngoài.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:07:14 am

        LIÊN ĐOÀN, đơn vị tổ chức có biên chế không cố định của một số quân chủng, binh chủng trong QĐ Sài Gòn. Trong không quân thuộc BTL không quân, có: LĐ kiểm báo (kiểm soát không lưu và báo động), gồm một số đài và trung tâm kiểm báo với quân số khoảng 1.000 người; thuộc biên chế sư đoàn không quân, có: LĐ trợ lực (bảo đảm kĩ thuật), 700- 1.400 người và LĐ phòng thủ (bảo vệ sân bay), 500-900 người. Trong lực lượng giang phòng của hải quân, LĐ thường gồm một số giang đoàn và đơn vị độc lập; có: LĐ thủy bộ, LĐ tuần thám, LĐ ngăn chặn, LĐ người nhái... Trong biệt động quân, LĐ là đơn vị chiến thuật, được tổ chức thống nhất, gồm 3 tiểu đoàn và một số đơn vị độc lập với quân số khoảng 2.000 người. Trong lực lượng tiếp vận, có: LĐ yểm trợ trực tiếp (về hậu cần), 900-1.100 người; LĐ đạn dược (gồm một số kho và phân đội), 660 người; LĐ công binh chiến đấu (gồm 3 tiểu đoàn), 2.300 người; LĐ công binh kiến tạo (gồm 4 tiểu đoàn), 3.100 người; LĐ truyển tin (gồm 2-3 tiểu đoàn và đại đội độc lập), 3.000 người.

        LIÊN ĐOÀN CỰU CHIẾN BINH THẾ GIỚI, tổ chức quốc tế tự nguyện, phi chính phủ, phi đảng phái tập hợp các hội (liên đoàn) quốc gia và quốc tế của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh. Mục đích hoạt động; phối hợp hành động của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh các nước, góp phần duy trì hòa bình và an ninh thế giới phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc; phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo, tôn trọng nhân quyền; bảo vệ quyển lợi của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh, về tổ chức gồm: Đại hội đại biểu các thành viên (cơ quan quyền lực cao nhất); Hội đồng liên đoàn (mỗi thành viên một đại diện) do đại hội phê chuẩn; các chủ tịch danh dự và BCH liên đoàn (gồm chủ tịch, tổng thư kí, tổng thủ quỹ và bốn phó chủ tịch) do đại hội bầu; ủy ban kiểm tra tài chính (gồm ba thành viên ngoài hội đồng và BCH). Trụ sở tại Pari (Pháp).

        LIÊN ĐOÀN LƯU ĐỘNG nh BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG

        LIÊN ĐỘI ĐẶC CÔNG, phân đội chiến thuật cao nhất của Binh chủng đặc công. Thường gồm 3 đội đặc công. LĐĐC thường được tổ chức trong đoàn đặc công hoặc trong quân khu, quân đoàn, bộ chỉ huy QS tỉnh. LĐĐC có thể chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình cấp trên, hiệp đồng binh chủng.

        LIÊN HỢP (N. Coio3), 1) loạt tàu vũ trụ của LX (nhiều chỗ ngồi, có thể ghép nối với các trạm vũ trụ hoặc các tàu vũ trụ tương tự), để bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Dài 7,5m, đường kính 2,72m. khối lượng 6,6-7,07t; gồm: khoang quỹ đạo với thiết bị lắp ghép có thể tích 10m3 để kíp bay làm việc và nghi ngơi, khoang máy móc thiết bị có động cơ hiệu chỉnh và hãm, khoang hạ cánh (sau khi tách khỏi khoang quỹ đạo và xuyên qua lớp khí quyển dày đặc sẽ tiếp đất cùng tổ bay bằng dù và hệ thống tiếp đất nhẹ nhàng). LH phóng lần đầu 23.4.1967. Các loại cải tiến là LH-T (phóng lần đầu 5.6.1980), LH-TM (phóng lần đầu 5.2.1987); 2) chương trình chế tạo và phóng tàu vũ trụ LH; gồm: tiến hành nghiên cứu khoa học, y sinh học, các thử nghiệm kĩ thuật, đưa người ra ngoài khoảng không vũ trụ, sử dụng tàu để đưa các tổ bay, hàng hóa lên trạm quỹ đạo và trở về Trái Đất. Đến 1998 đã 76 lần phóng tàu LH có người lái (37 LH, 14 LH-T, 25 LH-TM, trong đó tàu LH-19 đã thực hiện chuyến bay thử nghiệm ghép nối với tàu vũ trụ Apôlô của Mĩ, 7.1975). Nhà du hành vũ trụ VN Phạm Tuân cũng bay trên loại tàu này.

        LIÊN HỢP QUỐC (A. United Nations, vt: UN), tổ chức quốc tế tự nguyện của các quốc gia có chủ quyền vì mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Thành lập theo sáng kiến của LX, Mĩ, Anh, TQ tại hội nghị Xan Phranxixcô (Mĩ), gồm đại diện của 50 nước tham gia kí kết Hiến chương Liên hợp quốc, có hiệu lực từ 24.10.1945. Đến 2003 có 192 quốc gia thành viên trong đó có VN (1977); trụ sở ở Niu Ooc (Mĩ). Nguyên tắc hoạt động: bình đẳng về quyền lợi và quyền tự quyết dân tộc; tôn trọng nhân quyền, không phân biệt chùng tộc, tín ngưỡng; nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ theo Hiến chương LHQ; giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, không dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tạo điều kiện để các quốc gia không phải là thành viên hoạt động phù hợp Hiến chương LHQ. Tổ chức gồm: Đại hội đồng (cơ quan lãnh đạo cao nhất), Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế -  xã hội, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế Liên hợp quốc và Ban thư kí do tổng thư kí điều hành; ngoài ra còn có một số cơ quan chuyên trách khác. LHQ ngày càng phát triển và có nhiều đóng góp tích cực, trở thành trung tâm phối hợp hành động giữa các quốc gia và diễn đàn quốc tế lớn thu hút nhiều nước và tổ chức quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, LHQ đang tiến hành các biện pháp cải tổ nhằm tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phù hợp với trật tự thế giới mới vì hòa bình, hợp tác, bình đảng, tiến bộ và phát triển. 24.10 được lấy làm Ngày LHQ.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:08:48 am

        LIÊN KHU, đơn vị hành chính - QS, thường gồm một số khu có liên quan về vị trí địa lí, về QS... được hợp nhất lại theo yêu cầu chỉ huy, chỉ đạo tác chiến, xây dựng LLVT và xây dựng chính quyền nhân dân. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, gồm: LK 1, LK 3, LK 10 (ở Bắc Bộ), LK 4, LK 5 (ở Trung Bộ). Mỗi LK có ủy ban kháng chiến hành chính LK và BTL LK. Từ 1957 gọi là quân khu, có điểu chỉnh địa giới và nhiệm vụ.

        LIÊN KHU 1, liên khu ở Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Khu 1, Khu 12 và điều chỉnh lại địa giới; gồm 10 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai và Hải Ninh. Bắc có đường biên giới với TQ, nam giáp Liên khu 3, tây giáp Liên khu 10, đông giáp biển. Lực lượng (đầu 1948) có 7 trung đoàn (72, 74, 121, 28, 36, 98, 59) và 3 tiểu đoàn (19, 43, 517) bộ binh. LK1 sáp nhập với Liên khu 10 (4.11.1949) thành Liên khu Việt Bắc. Tư lệnh và chính ủy đầu tiên: Chu Văn Tấn, Lê Hiến Mai.

        LIÊN KHU 3, liên khu đồng bằng Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH trên cơ sở hợp nhất Khu 2, Khu 3 và Khu 11; gồm: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương. Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hoà Bình. Bấc và tây giáp Liên khu Việt Bắc, tây nam giáp Liên khu 4, đông và đông nam giáp biển. Được điều chỉnh địa giới: tách Hà Nội để thành lập Mặt trận Hà Nội (11.1948); tách Hải Phòng. Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình để thành lập Khu Tả Ngạn (5.1952). Trong KCCP, LK3 tiến hành chiến tranh nhân dân, đánh phá giao thông, căn cứ địch trong vùng tạm chiếm, chống địch khủng bố, càn quét. 4.1954 LK3 (kể cả Khu Tả Ngạn) có 4 trung đoàn, 9 tiểu đoàn, 58 đại đội và 15 trung đội chiến đấu, với quân số khoảng 34.300 người. Giải thể (6.1957) để thành lập Quân khu  Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Hoàng Sâm, Lê Quang Hòa.

        LIÊN KHU 4, liên khu ở Bắc Trung Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH: gồm các tỉnh thuộc Khu 4: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Bắc giáp Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3, nam giáp Liên khu 5, đông giáp biển, tây có đường biên giới với Lào. Từ 1950 Quảng Bình. Quảng Trị, Thừa Thiên tổ chức thành phân khu (cg Mặt trận Bình - Trị - Thiên; có bộ chỉ huy riêng trực thuộc Bộ tổng tư lệnh về tác chiến). Trong KCCP, LK4 tiến hành chiến tranh nhân dân trong vùng địch tạm chiếm, bảo vệ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, chi viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và giúp đỡ CM Lào; lực lượng thuộc LK4 (đầu 1948) gồm 6 trung đoàn và một tiểu đoàn; đến 4.1954, có: 11 tiểu đoàn, 39 đại đội và 10 trung đội, quân số khoảng 18.200 người. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Sơn, Trần Văn Quang.

        LIÊN KHU 5, liên khu ở Nam Trung Bộ trong KCCP. Thành lập 20.10.1948 trên cơ sở hợp nhất Khu 5, Khu 6 và Khu 15; gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận. Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng). Bắc giáp Liên khu 4, nam giáp Đồng Nai, Sông Bé (Nam Bộ), dông giáp biển, tây có đường biên giới với Lào và Campuchia. Trong KCCP, LK5 đã tiến hành chiến tranh nhân dân trong vùng địch tạm chiếm; chống càn quét, khủng bố và giúp CM Lào và Campuchia. Lực lượng LK5 (4.1948) có: 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn làm nòng cốt, thường phân tán cùng LLVT các địa phương đấu tranh vũ trang; đến 4.1954 có: 3 trung đoàn và 8 tiểu đoàn thuộc liên khu, 7 tiểu đoàn thuộc tỉnh, 85 đại đội và 62 trung đội thuộc huyện; quân số trên 31.000 người. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thế Lâm, Nguyễn Chánh.

        LIÊN KHU 10, liên khu ở Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Khu 10 và Khu 14 và điều chỉnh địa giới; gồm 8 tỉnh: Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu và châu Mai Đà (thuộc t. Hoà Bình). Tây và tây nam có đường biên giới với Lào, đông giáp Liên khu I, nam và đông nam giáp Liên khu 3 và Liên khu 4. Lực lượng (đầu 1948) có 4 trung đoàn (209, 165, 115, 148), 4 tiểu đoàn (696, 450, 410, 718) bộ binh và một đơn vị pháo binh. Sáp nhập với Liên khu 1 (4.11.1949) thành Liên khu Việt Bắc. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Bằng Giang, Song Hào.

        LIÊN KHU VIỆT BẮC. liên khu ở phía bắc Bắc Bộ. Thành lập theo sắc Iệnh l27-SL ngày 4.11.1949 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Liên khu 10 và Liên khu 1. Bắc giáp TQ. nam giáp Liên khu 3, đông giáp biển, tây giáp Lào. Có căn cứ địa Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc. Từ 7.1952 các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu được tách ra để thành lập Khu Tây Bắc. Đến 4.1954. LKVB có 1 trung đoàn. 15 tiểu đoàn, 81 đại đội, 32 trung đội chiến đấu với quân số khoảng 32.900 người. Giải thể (6.1957) để thành lập Quân khu Tây Bắc, Quân khu Việt Bắc, Quân khu Đông Bắc. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Lê Quảng Ba, Chu Văn Tấn.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:11:30 am

        LIÊN LẠC CÔNG VỤ, liên lạc dành riêng cho các đơn vị thông tin để điều hành việc triển khai, khai thác, thu hồi tổng trạm, đài (trạm) thông tin nhằm giải quyết các vấn đề nghiệp vụ đảm bảo cho thông tin luôn thông suốt. LLCV thường được tiến hành trên kênh (đường dây) riêng, có thể thực hiện trên kênh (đường dây) chung, nhưng ưu tiên bảo đảm liên lạc cho nhiệm vụ chính.

        LIÊN LẠC ĐIỆP BÁO, bí mật chuyển giao tin tức, tài liệu, trang bị tình báo và giữ mối liên hệ về tổ chức giữa cơ quan chỉ đạo với các thành viên trong lực lượng hoạt động nhằm giải quyết các nhiệm vụ điệp báo.

        LIÊN LẠC ĐƠN CÔNG, phương pháp tổ chức liên lạc phát và thu tin được tiến hành lần lượt trên một kênh thông tin. Việc thay đổi đối tượng liên lạc hoặc chuyển từ thu sang phát chỉ có thể thực hiện sau khi đối tượng liên lạc đã kết thúc việc phát: hình thức của phương pháp liên lạc hai chiều. LLĐC được áp dụng rộng rãi ở các cấp trong QĐ, chủ yếu trên phương tiện thông tin vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC ĐƠN XEN NGẮT. liên lạc cho phép đối tượng đang thu tin khi cần có thể phát ngắt đài bạn. để hỏi hoặc yêu cầu phát lại: một hình thức của liên lạc hai chiều. LLĐXN được thực hiện trên phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện và thông tin tín hiệu. LLĐXN đảm bảo hiệu suất cao, nhưng đòi hỏi nhân viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi và phải bố trí hai tần số thu, phát khác nhau khi liên lạc vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC HAI CHIỂU, phương pháp tổ chức liên lạc vô tuyến điện giữa hai bèn đều phát và thu tin bằng hình thức liên lạc song công, đơn công và đơn xen ngắt. LLHC được vận dụng rộng rãi ở các cấp trong QĐ. So với liên lạc một chiều, LLHC đảm bảo kịp thời, chính xác, nhưng tính bí mật không cao do địch dễ phát hiện tổ chức liên lạc.

        LIÊN LẠC HƯỚNG, phương pháp tổ chức liên lạc giữa hai đối tượng (giữa hai SCH, hai người, hai cơ quan chỉ huy...) trên một đường truyền tin. LLH có thể tổ chức bằng phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, vận động (quân bưu). Đôi với thông tin vô tuyến điện. Cg liên lạc tay đôi.

        LIÊN LẠC HƯỚNG VÔ TUYÊN ĐIỆN nh LIÊN LẠC TAY ĐÔI VÔ TUYẾN ĐIỆN

        LIÊN LẠC MẠNG VÔ TUYẾN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc giữa ba đài vô tuyến điện trở lên trên một hoặc hai tần số thu, phát khác nhau. Có LLMVTĐ: chỉ huy, hiệp đồng, thông báo, báo động... Đài trường mạng có thể liên lạc đồng thời với tất cả các đài trong mạng hoặc lần lượt với từng đài theo thứ tự ưu tiên và các đài trong mạng có thể liên lạc ngang với nhau khi được sự đồng ý của đài trưởng mạng. LLMVTĐ tiết kiệm được lực lượng thông tin, nhưng dễ lộ bí mật vì thời gian thiết lập liên lạc và làm việc lâu.

        LIÊN LẠC MỘT CHIỀU, phương pháp tổ chức liên lạc trong đó một bên chỉ phát, một bên chỉ thu. LLMC thường dùng để phát các mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo...; được quy định trước như: thông báo báo động, lệnh nổ súng, yêu cầu chi viện hỏa lực, chỉ huy các mũi luồn sâu, toán (tổ) trinh sát và tín hiệu cấp cứu (SOS) khi gặp nạn,... bằng phương tiện vô tuyến điện, thông tin tín hiệu. So với liên lạc hai chiều, LLMC bảo đảm bí mật. nhanh (không cần thủ tục bất liên lạc), nhưng độ tin cậy không cao, vì không báo nhận kịp thời.

        LIÊN LẠC SONG CÔNG, phương pháp tổ chức liên lạc phát và thu tin được tiến hành đồng thời trên một kênh thông tin; một hình thức của liên lạc hai chiều. LLSC thực hiện chủ yếu trên phương tiện thông tin vô tuyến điện. Khi tổ chức LLSC phải chọn tần số thu, phát thích hợp để không gây nhiễu lẫn nhau.

        LIÊN LẠC TAY ĐÔI nh LIÊN LẠC HƯỚNG

        LIÊN LẠC TAY ĐÔI VÔ TUYÊN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc giữa hai đài vô tuyến điện trên một hoặc hai tần số thu, phát khác nhau. Có LLTĐVTĐ một hướng (chuyên hướng) và nhiều hướng. Liên lạc một hướng: sử dụng hai đài chuyên trách liên lạc liên tục hoặc định giờ với nhau. Liên lạc nhiều hướng: sử dụng một đài liên lạc với nhiều đài theo định giờ. So với liên lạc mạng vô tuyến điện, khi tổ chức LLTĐVTĐ phải đảm bảo nhanh, vững chắc và cơ động, bí mật. nhưng cần nhiều nhân viên và khí tài. Cg liên lạc hướng vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC VƯỢT CẤP VÔ TUYẾN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc vô tuyến điện giữa người (cơ quan) chỉ huy cấp trên với người (cơ quan) chỉ huy cấp dưới cách một hay nhiều cấp, để trực tiếp chỉ huy đơn vị khi làm nhiệm vụ đặc biệt. Có hai hình thức LLVCVTĐ là lâm thời và thường xuyên. Liên lạc lâm thời: khi đài cấp trên phát tín hiệu liên lạc vượt cấp vào mạng hoặc tay đôi, các đài trong mạng, tay đôi của cấp dưới phải ưu tiên đài vượt cấp làm việc. Liên lạc thường xuyên: đài của cấp trên liên lạc với đài cấp dưới theo thời gian quy định.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Bảy, 2019, 11:16:20 am

        LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU, liên kết giữa các lực lượng (quốc gia, dân tộc, tập đoàn chính trị - xã hội) nhằm phối hợp hành động đấu tranh vũ trang vì những mục đích nhất định. Theo mục đích chính trị, có LMCĐ: chính nghĩa, tiến bộ hoặc phi nghĩa, phản động; theo hình thức và thời gian, có LMCĐ: lâu dài hoặc tạm thời. Trong nhiều thập kỉ qua, trên thế giới đã xuất hiện những LMCĐ tiến bộ, chính nghĩa như liên minh chống chủ nghĩa phát xít (1940-45), liên minh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược của nhân dân ba nước Đông Dương (1945-75); đồng thời cũng xuất hiện  LMCĐ giữa CNĐQ với các thế lực phản động nhằm tiến hành xâm lược vũ trang hoặc diễn biến hòa bình, bạo loạn, lật đổ chống lại các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc hoặc những quốc gia không chịu khuất phục và lệ thuộc.

        LIÊN MINH QUÂN SỰ, liên kết hoạt động QS giữa hai hoặc nhiều nước (hay tập đoàn chính trị) trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. LMQS có thể tổ chức ra khối quân sự hoặc chỉ lập thành đơn vị chiến đấu chung (quân đoàn châu Âu của Pháp. Đức. Tây Ban Nha...). Tùy thuộc vào mục đích chính trị, LMQS có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược.

        LIÊN MINH TÂY ÂU (A. Western European Union, vt: WEU), tổ chức hợp tác khu vực Tây Âu. Gồm 7 nước (Anh, Pháp, CHLB Đức, Bỉ. Luyxembua, Italia, Hà Lan). Thành lập 6.5.1955 trên cơ sở hiệp ước Brucxen (1948). Trụ sở: Luân Đón. Về tổ chức có: Hội đồng liên minh (cơ quan hoạch định các chính sách gồm các bộ trưởng ngoại giao, đại sứ các nước thành viên ở Anh và thứ trưởng ngoại giao Anh, do tổng thư kí điều hành): Ban thư kí (gồm: tổng thư kí, phó tổng thư ký trợ lí tổng thư kí, cố vấn pháp luật); Đại hội đồng (cơ quan quyết định chính sách phòng thủ và các vấn đề có liên quan đến liên minh và các thành viên, đề xuất ý kiến lên hội đồng liên minh, quốc hội, chính phủ các nước và các tổ chức thế giới, gồm các đại biểu từ các nước thành viên tham gia Đại hội đồng tư vấn của Hội đồng châu Âu). Ngoài ra còn có các cơ quan giúp việc: cơ quan kiểm soát vũ khí trang bị; ủy ban thường trực về vũ khí trang bị; ủy ban về các vấn đề phòng thủ  và vũ khí trang bị; ủy ban về các vấn đề chung; ủy ban về các vấn đề ngân sách và hành chính; ủy ban về nguyên tắc các thủ tục và đặc quyền. LMTÂ đã tạo ra cơ sở cho việc “phòng thủ tập thể” giữa các nước thành viên.

        LIÊN TOÁN NHÂN DÂN TỰ VỆ CHIẾN ĐẤU, phân đội chiến đấu của lực lượng nhân dân tự vệ ở khóm, ấp của chính quyền Sài Gòn. Ra đời theo luật số 003/68 ngày 19.6.1968. Mỗi LTNDTVCĐ thường gồm 3 toán, quân số 35-44 người (có cả nữ đoàn viên), thuộc biên chế của đoàn, hoặc độc lập; trang bị một số vũ khí thông thường. Liên toán trường do đoàn viên nhân dân tự vệ bầu. LTNDTVCĐ đặt dưới quyền chỉ huy, sử dụng, yểm trợ và huấn luyện của ban chỉ huy phân chi khu.

        LIÊN XÔ (Liên bang các nước cộng hòa XHCN Xô viết,  CCCP, A. Union of Soviet Socialist Republics, Soviet Union, USSR), quốc gia liên bang tồn tại 1922-91 trên đại bộ phận lãnh thổ đế chế Nga cũ. Thủ đô: Maxcơva. Khi thành lập (31.12.1922) gồm 4 nước Cộng hòa XHCN xô viết: Liên bang Nga, Bêlôrutxia (Bêlarut), Ucraina và Liên bang Dacapcadia. Sau khi các nước cộng hòa tự trị Udơbêkixtan, Tuôcmênia (Tuôcménixtan) (1925), Tatgikixtan (1929), Cadắcxtan, Kiêcghidia (Cưrơgưxtan), Mônđavia (Môndôva) (1936) chuyến thành cộng hòa xô viết liên bang; Liên bang Dacapcadia giải thể thành các nước cộng hòa xô viết liên bang Adecbaigian, Acménia và Grudia (1936); các nước Latvia, Litva và Extônia gia nhập liên bang (1940), LX gồm 15 nước CHLB, trong đó có 20 nước cộng hòa, 8 tỉnh và 10 khu tự trị. Dt 22.400.000km2 (chiếm 1/6 diện tích lục địa Trái Đất); ds (1990): 291 triệu người: gồm trên 100 dân tộc và bộ tộc, trong đó 52% người Nga, 16% Ucraina, 32% người các dân tộc khác. Ngoài ngôn ngữ chính thức chung là tiếng Nga, các nước CHLB và cộng hòa tự trị đều có quyền sử dụng ngôn ngữ riêng. Cơ quan quyền lực cao nhất: Xô viết tối cao LX gồm hai viện: Viện liên bang và Viện dân tộc. Cơ quan hành pháp nhà nước cao nhất: Hội đồng bộ trường LX. Mỗi nước CHLB và cộng hòa tự trị đều có hiến pháp, xô viết tối cao và chính phủ riêng. Dưới sự lãnh đạo của ĐCS LX. nhân dân LX đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt là trong chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941- 45), góp phần quan trọng vào việc đánh bại chủ nghĩa phát xít. giải phóng nhiều nước ở châu Âu, châu Á, hình thành hệ thống các nước XHCN sau CTTG-II, tích cực ủng hộ và giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nước đi dầu trong nhiều ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ. Trong công cuộc xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc và thống nhất đất nước, nhân dân VN thường xuyên nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của nhà nước và nhân dân LX. Những biến động kinh tế - xã hội cuối thập kỉ 1980 đã dẫn đến việc nhiều nước cộng hòa thuộc LX tuyên bố độc lập. 18.12.1991 tại Minxcơ (thủ đô Bélarut), ba nước Nga, Bêlarut và Ucraina và kí hiệp ước thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). 21.12.1991 tại Anmatư (Anma-Ata, thủ đô Cadăcxtan), các nước Adecbaigian, Acmênia, Bêlarut, Cadăcxtan, Tuôcmênixtan, Udơbêkixtan, và Ucraina kí tuyên bố chung công nhặn các nguyên tắc của hiệp định thành lập SNG, chính thức chấm dứt sự tồn tại của LX.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:42:06 pm

        LIỆT SĨ, 1) người hi sinh vẻ vang vì sự nghiệp cao cả của nhà nước, cộng đồng... nói chung; 2) người hi sinh (hoặc chết do vết thương cũ tái phát) vì làm nhiệm vụ CM, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tài sản nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân. Danh hiệu LS do cấp có thẩm quyền của nhà nước xác định theo tiêu chuẩn quy định tại nghị định 980TTg 27.7.1956 của thủ tướng chính phủ, hướng dẫn 274NC ngày 7.4.1970 của Phủ thủ tướng, quyết định 110CP ngày 13.4.1977 193CP ngày 2.8.1978 và 301CP ngày 20.9.1980 của Hội đồng chính phủ. Gia đình LS được chính phủ tặng bằng Tô quốc ghi công, được hưởng quyền lợi theo chế độ, chính sách quy định.

        LIỀU ĐỘC, đại lượng đặc trưng định lượng cho khả năng sát thương của chất độc quân sự và hóa chất độc tính cao đối với người và động vật. LĐ phụ thuộc vào độc tính của chất độc và cách xâm nhập vào cơ thể. Khi bị nhiễm độc qua đường hô hấp. LĐ được xác định bằng tích số giữa nồng độ chất độc trong không khí với thời gian hít thở và kí hiệu là Ct (đơn vị do là mg.ph/1). Khi bị nhiễm độc qua da hoặc đường tiêu hóa. LĐ là lượng chất độc xâm nhập vào cơ thể tính bình quân cho một kilôgam trọng lượng cơ thể và kí hiệu là D (đơn vị đo là mg/kg). Trị số của LĐ càng nhỏ thì độc tính của chất độc càng mạnh. Có 4 mức LĐ đối với người: LĐ tử vong, LĐ mất sức chiến đấu, LĐ ngưỡng, LĐ cho phép. LĐ tử vong là lượng chất độc gây chết người với xác suất nhất định, khi xâm nhập vào cơ thể, kí hiệu là LCt và LD. Có LĐ tử vong tuyệt đối (gây chết 100%), kí hiệu là LCtl00 và LD100 hoặc LĐ tử vong trung bình (gây chết 50%), kí hiệu là LQ50 và LD50. LĐ mất sức chiến đấu là lượng chất độc gây sát thương 50% (tạm thời mất sức chiến đấu), kí hiệu là IQ50 và ID50; thường được dùng đẽ đánh giá hiệu quả của vũ khí hóa học. LĐ ngưỡng (hay LĐ tối thiêu) là lượng chất độc bắt đầu có tác dụng sát thương với cơ thể, kí hiệu là PCt và PD: thường sử dụng LĐ ngưỡng trung bình PQ50 và PD50 (gây sát thương 50%). LĐ cho phép là lượng chất độc không gây nên tổn thương nào cho cơ thể, cả khi không sử dụng khí tài đề phòng.

        LIÊU LƯỢNG BỨC XẠ, đại lượng đặc trưng cho tác dụng ion hóa của một loại bức xạ với môi trường nào đó. Được xác định chủ yếu bằng liều lượng kế. LLBX được phân ra: liều lượng chiếu xạ được tính bằng độ ion hóa của bức xạ tia rơnghen và tia gamma trong không khí, đơn vị đo theo hệ SI là C/kg. ngoài hệ SI là rơnghen R (1R = 2,58.10'4C/kg); liều lượng hấp thụ là năng lượng của bất kì một loại bức xạ được hấp thụ bởi một đơn vị khối lượng của mới trường nào đó, đơn vị đo theo hệ SI là grây Gy (lGy = lJ/kg), ngoài hệ SI là rad (lrad = 10'2J/kg); liều lượng tương đương là số đo tác động sinh học của bức xạ lên cơ thể sinh vật, đặc trưng cho mức độ nguy hiểm của bức xạ. đơn vị đo là Gy hoặc sivơ (Sv) (lSv =lGy=100rad); liều lượng hiệu dụng là số đo tác dụng sinh học của bức xạ lên từng bộ phận cơ thể. đơn vị đo là grây (Gy) hoặc sivơ (Sv); liều lượng giới hạn (hay liều cho phép) là liều lượng tương đương mà trong giới hạn của nó, bức xạ tác động một cách hệ thống, trong thời gian không hạn chế vẫn không gây ra cho cơ thể những thay đổi bệnh lí nào.

        LIỄU THĂNG (Liu Sheng; 7-1427), tướng nhà Minh (TQ), người chỉ huy cánh quân chủ yếu gồm 100.000 người và 20.000 ngựa cứu nguy cho Vương Thông bị vây hãm ở thành Đông Quan. Trước khi xuất quân được vua Minh phong làm chinh lỗ tướng quân, tước thái tử tổng quản An Viễn Hầu. Cậy quân đông, tướng nhiều, LT chủ quan, coi thường nghĩa quân Lam Sơn. Sau khi vượt qua dễ dàng ải Pha Lũy (Mục Nam Quan), Ải Lưu (bắc Chi Lăng), 10.10.1427 dẫn đầu đội quân tiên phong gồm 10.000 lính kị, bộ đuổi theo quân Lê Lưu tới Chi Lăng, bị mai phục (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 8.Ỉ0-3.11.1427), LT bị giết tại núi Mã Yên, đội quân tiên phong bị tiêu diệt. Chiến thắng ở Chi Lăng tạo thời cơ cho nghĩa quân Lam Sơn đánh bại quân viện, buộc Vương Thông phải đầu hàng.

        LINCÔN (A. Abraham Lincoln; 1809-65), tổng thống Mĩ thứ 16 (1861-65), người có công lớn trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ ở nước Mĩ. một trong những người sáng lập ĐCH Mĩ (1856). Sinh tại hạt Hađin (nay là Lanơ). bang Kentơcki. 1834-46 làm việc trong cơ quan lập pháp. 1846 nghị sĩ quốc hội. Đã đọc nhiều bài diễn văn hùng Biện chống lại chế độ nô lệ. 1856 thù lĩnh ĐCH tại Ilinoi. 1861 các chủ nô miền Nam nước Mĩ phát động cuộc nội chiến, L đã lãnh đạo chính phủ và QĐ vừa chiến đấu, vừa thực hiện một số cải cách dân chủ. tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ ở tất cả các vùng do chính phù kiểm soát, giành thắng lợi trong chiến tranh, cứu đất nước khỏi tan rã (x. nội chiến ở Mĩ, 1861-65). Bị ám sát chết (15.4.1865). Được đánh giá là một trong những tổng thống vĩ đại của nước Mĩ.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:43:28 pm

        LÍNH CƠ (cổ), lính thuộc lực lượng chính quy của quân đội Nguyễn, dưới quyền quản lí trực tiếp của quan tỉnh (trấn), huyện (phủ, châu). Có trong bộ binh, tượng binh, thủy binh, pháo binh. Được tuyển chủ yếu ở Đàng Ngoài, một số ở Đàng Trong; tổ chức thành cơ, liên cơ, doanh (nhiều liên cơ), đóng tại các tỉnh (trấn). LC bị giải thể sau khi thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược VN (1884); được thành lập lại ở Bắc Kì theo nghị định của toàn quyển Đông Dương với quân số ấn định 4.000 người (1891), do quan lại VN ở địa phương sử dụng dưới sự giám sát của công sứ Pháp. Đến 1895 giảm còn 2.600 người. Từ 1911 quy định: tỉnh 30, huyện (phủ, châu) 10, để sai phái và bảo vệ; từ 1915 thuộc Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương. LC là lực lượng bổ sung cho QĐ thuộc địa. Sau CM tháng Tám 1945, LC không còn tồn tại.

        LÍNH ĐÁNH THUÊ, lính chuyên nghiệp người nước ngoài, được tuyển mộ, trả lương (và quyền lợi khác) theo hợp đồng để phục vụ trong đội quân đánh thuê hay QĐ nước khác. Xuất hiện từ chế độ chiếm hữu nô lệ và tồn tại trong QĐ của nhiều nhà nước phong kiến, tư bản. LĐT được Pháp sử dụng trong chiến tranh xâm lược và chiếm đóng VN (1858-1954) (xt đội quân lê dương).

        LÍNH HẦU nh LÍNH LỆ

        LÍNH KHỐ ĐỎ. lính người VN, phục vụ trong QĐ thuộc địa trước 1945, do thực dân Pháp tuyển mộ và chỉ huy để đàn áp phong trào yêu nước, CM ở VN và đưa đi chiến đấu ở Pháp, ở các nước thuộc địa của Pháp và một số nước khác (đến 2.1916 đã có trên 50.000 LKĐ bị đưa sang chiến trường châu Âu). Tổ chức thành đơn vị cấp đại đội (1858), tiểu đoàn (1862), trung đoàn (1879) và được coi là lực lượng chính quy theo luật tổ chức QĐ thuộc địa (7.7.1900); trang phục có đai vải màu đỏ, bản rộng khoảng 20cm, bao quanh bụng, bên trong thắt lưng da. Nhiều LKĐ yêu nước đã tham gia các hoạt động chống thực dân Pháp (xt quản đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương).

        LÍNH KHỐ VÀNG (cổ), lính thuộc lực lượng thân binh của quân đội Nguyễn, quấn xà cạp màu vàng, chuyên canh gác cấm thành và bảo vệ, phục dịch nhà vua. Gồm các loại: thị vệ (lính bảo vệ nhà vua và cấm thành), cẩm y thị vệ (lính chầu hầu và nghi lễ), loan giá vệ (lính khiêng kiệu) và vũ lãm. Có khoảng 2.000 người (trước 1945). LKV bị Nhật chuyển một phần (cùng lính khố xanh) thành bảo an binh sau khi đảo chính Pháp (9.3.1945). Tan rã hoàn toàn trong tháng Tám 1945.

        LÍNH KHỐ XANH, lính thuộc lực lượng vệ binh bản xứ ở Đông Dương và Quảng Châu Loan (TQ), do thực dân Pháp tổ chức, chỉ huy để đàn áp phong trào yêu nước, CM; duy trì trật tự trị an; canh giữ công sở của Pháp, các tuyến giao thông, trại giam; áp tải phạm nhân, hàng hóa; ở VN, xuất hiện từ cuối tk 19; trang phục có xà cạp và tấm vải che bụng màu xanh. Chính thức thành lập theo sắc lệnh tổ chức Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương do tổng thống Pháp kí 30.6.1915. Thống đốc (ở Nam Kì), thống sứ (ở Bắc Kì) và khâm sứ (ở Trung Kì) chỉ huy và quy định số quân cho từng tỉnh. LKX được coi là quân địa phương, đóng đồn ở tinh được tuyển mộ như lính chính quy và có thể bị đưa đi chiến đấu ở tỉnh khác hoặc chuyển sang lực lượng chính quy (xt lính khố đỏ) của QĐ thuộc địa khi cần thiết. Ở Nam Kì gọi là lính thủ bộ hay dân vệ. Ở VN (1931), có trên 10.000 LKX Sau đảo chính 9.3.1945, Nhật giữ nguyên tổ chức LKX. gọi là bảo an binh và trao quyền chỉ huy cho chính phủ Trần Trọng Kim. Nhiều LKX yêu nước đã tham gia các hoạt động chống thực dân Pháp.

        LÍNH LỆ (cổ), lính chuyên phục dịch quan lại thời phong kiến nhà Nguyễn (1802-1945), do triều đình quy định theo hệ thống  bộ máy hành chính (tỉnh, trấn, phủ, huyện, châu...) và cho một số chức quan từ triều đình trung ương đến địa phương. Vd: đời vua Tự Đức, 1864 quy định số LL cho quan cấp tỉnh: tổng đốc 30; tuần phủ 20; để đốc 20; bố chính lữ, án sát 10; chánh lãnh binh 5...

        LÍNH MŨ NỒI XANH nh LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT MĨ

        LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ nh HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:46:06 pm

        LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ MĨ, quân chủng của QĐ Mĩ có chức năng làm lực lượng xung kích đổ bộ đường biên vào lãnh thổ đối phương trong các hoạt động can thiệp hoặc chiến tranh xâm lược. Có từ 1775. Lúc đầu gồm 2 tiểu đoàn, làm lực lượng đổ bộ cho hạm đội và lần đầu tham gia cuộc viễn chinh xâm lược nước Bahama (1776). Đến 11.7.1798 LTĐBM được thành lập với tư cách là một quân chủng. Trong tk 19, LTĐBM đã tham gia nhiều cuộc chiến tranh: chống Pháp trên biển (1798-1801), chống Anh (1812), Xeminon I (1836-37) và Xeminon II (1840-42), Mêhicô (1846-48), Tây Ban Nha (1898)... Từ 1898 LTĐBM phát triển mạnh và mở rộng phạm vi hoạt động. Từ 1921 bắt đầu phát triển khả năng tác chiến đổ bộ hiện đại kết hợp với hải quân mà trong CTTG-n họ đã áp dụng khi đánh chiếm các đảo, quần đảo ở Thái Bình Dương và đổ bộ lên Nhật. Đến 1945 LTĐBM có 6 sư đoàn, 4 liên đội không quân và các đơn vị yểm trợ; quân số lúc cao nhất trong CTTG-II là 485.113 người, trong đó 98% dùng để tác chiến ở nước ngoài. Do vị trí đặc biệt, LTĐBM là quân chủng duy nhất được đạo luật an ninh quốc gia (ban hành 1947, bổ sung 1952) xác định cơ cấu lực lượng cơ bản, theo đó số quân thường trục không quá 400.000 người, nhưng không quy định mức tối thiểu. Trong chiến tranh xâm lược VN, LTĐBM có mặt từ đầu cho tới khi kết thúc (30.4.1975). Lữ đoàn viễn chinh 9 là đơn vị LTĐBM đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng (7.3.1965). Ngày 6.5.1965 SCH Lực lượng viễn chinh 3 đến thay thế SCH Lữ đoàn viễn chinh 9 và đổi thành Lực lượng thủy bộ 3. Sau chiến tranh VN, LTĐBM còn tham gia nhiều cuộc viễn chinh ở Libăng, Grenada, Panama, chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Irắc (3.2003). LTĐBM đang củng cố và tăng cường khả năng tác chiến để phục vụ cho chiến lược toàn cầu của Mĩ trong giai đoạn mới.

        LÍNH VỆ (cổ), lính thuộc lực lượng chính quy của quân đội Nguyễn, dưới quyển quản lí trực tiếp của triều đình. Có trong bộ binh, tượng binh, thủy binh, pháo binh và kị binh. Được tuyên ở Đàng Trong; thường tổ chức thành vệ, doanh và đóng tại kinh dô (Huế). Còn dùng để gọi lính thuộc lực lượng chính quy ở Đàng Trong. LV tan rã từ 1885 thời Đồng Khánh, chỉ còn lại một số thân binh (lính hầu cận vua).

        LITVA (Cộng hòa Litva; Lietuya, Lietuyos Respublika; A. Republic of Lithuania), quốc gia thuộc vùng Pribantich ở Bắc Âu; bắc giáp Latvia, đông và đông nam giáp Bêlarut, nam và tây nam giáp Nga, Ba Lan. Dt 65.300km2; ds 3,59 triệu người (2003); 80% người Litva, 20% người Nga, Ba Lan... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Litva. Tôn giáo: đạo Cơ Đốc. Thủ đô: Vinniut. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Địa hình tương đối bằng phẳng, đông và tây là gò đồi. Rừng chiếm 25% diện tích. Có khoáng 3.000 hồ. Nước công nghiệp. Các ngành chế tạo máy, năng lượng, hóa dầu, điện tử, đóng tàu... phát triển. GDP 11,992 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 3.440 USD. Thành viên LHQ (17.9.1991), Liên minh châu Âu (EU, 2004), NATO (4.2004). Lập quan hệ ngoại giao với VN 18.3.1998. LLVT: lực lượng thường trực 13.510 người (lục quân 8.100, hải quân 650, không quân 1.000, lực lượng biên phòng 3.760), lực lượng dự bị 309.200. Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS, thời gian phục vụ 12 tháng. Trang bị: 97 xe thiết giáp chở quân, 62 pháo mặt đất, 56 súng cối, 2 tàu khu trục, 3 tàu tuần tiễu, 2 tàu quét mìn, 33 máy bay vận tải QS, 13 máy bay trực thăng... Ngân sách quốc phòng 230 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67089988_453525612043991_6974112228173676544_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQmTvx_c5YfBJ25ypU3F-qkI0cFsAZMGKHUH8-vCV5kj_QU2lErl5cJtuqsuKOGj2WM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=ed99d11059a1b60d5b3a291db6481054&oe=5DAF453D)


        LOẠI NGŨ, buộc phải rời khỏi QĐ đối với hạ sĩ quan, binh sĩ vi phạm ki luật nghiêm trọng; hình thức xử phạt theo Điều lệnh quản lí bộ đội của QĐND VN. Người bị LN không được hường các quyền lợi như xuất ngũ.

        LOẠI TÁC CHIẾN. tác chiến được phân chia theo những đặc trung nhất định. Cố hai LTC cơ bản là tiến công (dạng đặc biệt là phản công) và phòng ngự, tiến công (phản công) là quyết định, phòng ngự là rất quan trọng (x. tiến công, phòng ngự).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:47:37 pm

        LOẠN AN - SỬ (755-63), cuộc phiến loạn do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh gây ra chống lại triều Đường (TQ). Cuối đời Đường Huyên Tông (712-56), triều chính đổ nát, các tiết độ sứ được trao quyền rộng, làm chủ các địa phương. An Lộc Sơn kiêm chức tiết độ sứ ba vùng: Bình Lư (nay là Triều Dương, Liêu Ninh), Phạm Dương (nay là Bắc Kinh), Hà Đông (nay là tây nam Thái Nguyên) âm mưu chiếm ngôi vua. Tháng 11.755 An Lộc Sơn đem 150.000 quân đánh chiếm hai kinh đô Lạc Dương và Trường An. Cuộc chiến giữa hai bên kéo dài 8 năm trên khắp địa bàn bắc và nam TQ. Nhiều trận đánh lớn như Đồng Quan, Tuy Dương, Hương Tích Tự, Thái Quân Miếu, làm tổn thất của mỗi bên tới hàng chục vạn người. Sau do mâu thuẫn nội bộ làm suy yếu phe phiến loạn: An Khánh Tự giết bố là An Lộc Sơn (757), Sử Tư Minh giết An Khánh Tự (759), Sử Triều Nghĩa giết bố là Sử Tư Minh (761). Năm 762 triều Đường được sự giúp đỡ của viện binh Hồi Hột (Hung Nô) lấy lại kinh đô Lạc Dương. 763 Sử Triều Nghĩa tự sát. LA-S chấm dứt, nhưng lực lượng phe phiến loạn vẫn duy trì, tệ phiên trấn cát cứ vẫn tồn tại làm nhà Đường suy yếu dần.

        LOẠN GIẶC LÙN NĂM NHÂM THÌN nh KHÁNG CHIẾN CHỐNG NHẬT CỦA TRIỀU TIÊN (1592-98)

        LOẠN KIÊU BINH (1782-86), nổi loạn của lực lượng ưu binh ở kinh thành Thăng Long (Hà Nội) đời Lê Trung Hưng (vua Lê chúa Trịnh). Từ nửa cuối tk 18, chế độ phong kiến VN ở Đàng Ngoài lâm vào khủng hoảng do việc tranh giành quyền lực trong nội bộ triều đình, làm rối loạn kỉ cương xã hội. 1782 khi Trịnh Sâm chết, con trưởng là Trịnh Khải dựa vào ưu binh giết quận công Hoàng Đình Bảo, phế Trịnh Cán (con cung phi Đặng Thị Huệ, được Trịnh Sâm lập thế tử), chiếm ngôi chúa. Từ đó lực lượng ưu binh cậy công làm loạn, coi thường cả vua chúa bằng những hành động đập phá nhà cửa, cướp phá tài sản của nhân dân và nhiều đại quan họ hàng chúa Trịnh, thậm chí còn bao vây phủ chúa... (vì thế người đương thời gọi là LKB). Trước tình hình đó, chính quyền họ Trịnh định kế hoạch hợp quân bốn trấn về dẹp loạn, nhưng không nổi, khiến ưu binh càng hoành hành dữ đội, làm tăng thêm sự mục nát, suy yếu của chế độ phong kiến Đàng Ngoài. 7.1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra Bắc lật đổ họ Trịnh, chấm dứt LKB.

        LON NON (A. Lon Nol; 1913-85), người cầm đầu cuộc đảo chính QS lật đổ quốc vương Xihanuc và chế độ quân chủ ở Campuchia (18.3.1970). Đã học tại hệ thống trường thuộc địa Pháp. 1935-54 giữ nhiều chức vụ quan trọng trong QĐ và chính quyền thuộc Pháp, dưới sự đỡ đầu của Xihanuc. 10.1966 thủ tướng chính phủ Vương quốc Campuchia, chủ trương thân Mĩ, chống chính sách trung lập. 7.1969 lập nội các mới, làm thủ tướng kiểm bộ trưởng BQP, liên kết với lực lượng Khơme tự do và lực lượng cực hữu từ Thái Lan trở về, xây dựng cơ sở chính trị trong hệ thống chính quyền trung ương và LLVT hoàng gia. 18.3.1970 được sự hỗ trợ của Mĩ, làm đảo chính QS, lật đổ Xihanuc và chế độ quân chủ ở Campuchia, thành lập Cộng hòa Khơme. Trong thời gian cầm quyền, đã ban hành hiến pháp (1972), kích động tâm lí dân tộc cực đoan, chống cộng sản, lệ thuộc Mĩ. 3.1973 giải tán quốc hội, tự phong tổng thống, kiêm thủ tướng và tổng tư lệnh QĐ. 18.3.1975 trước sức tiến công của lực lượng Khơme Đỏ, bỏ chạy sang Haoai (Mĩ). 

        LONG AN, tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long; bắc giáp Campuchia, đường biên giới 142km, cửa khẩu Mộc Hóa, đông và đông bắc giáp Tây Ninh và tp Hồ Chí Minh, tây và tây nam giáp Đổng Tháp, Tiền Giang. Dt 4.491.87km2: ds 1,39 triệu người (2003); đa số là người Kinh, một phần người Khơme. Thành lập 10.1956 do sáp nhập hai tinh Chợ Lớn và Tân An. 2.1976 sáp nhập t. LA cũ với t. Kiến Tường thành t. LA mới. Tổ chức hành chính: 13 huyện, 1 thị xã; tinh lị: tx Tân An. Địa hình bàng phảng, nằm trong lưu vực của hai sông Vàm cỏ Đông, Vàm cỏ Tây; phía bắc có một số gò đồi, tây nam là vùng trũng Đồng Tháp Mười. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hệ thống sông ngòi dày đặc; các sông lớn: Vàm cỏ Đông, Vàm Cỏ Tày và sông Sài Gòn. Tỉnh nông nghiệp; sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 1,743 triệu tấn (lúa 1,738 triệu tấn); thủy sản 25.539t, khai thác gỗ 70 nghìn m3. Công nghiệp: dệt may xuất khẩu, chế biến nông sản, vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001 đạt 3.998 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1 và các tỉnh lộ: 6, 29, 31, 49, 50; theo các tuyến đường sông Vàm cỏ và hệ thống kênh rạch. Là căn cứ của nghĩa quân Trương Định, Thủ Khoa Huân. Các chiến thắng: Vườn Thơm (1946), Mộc Hóa (1948), Đức Lập, Gò Hòn (1960), Kinh Bùi (1962)... 11.1978, LLVTND Long An được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67412561_453525622043990_2680330076859400192_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlO67_aMbsFhAFOBvJk70Spl7HH268tNki8d23t0oG279HLb0Hjo3i7p0yh0h1mE0Y&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b4b6a08321fb1a9b99cb3f0699c2bce6&oe=5DA8BAD9)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:49:12 pm

        LONG BIÊN, huyện thời bắc thuộc. Thành lập từ thời Tây Hán. Địa bàn thuộc vùng đồng bằng và trung du đông bắc Bắc Bộ ngày nay, phạm vi có nhiều thay đổi qua các thời kì. Từ thời Đông Hán đến Nam Triều là trị sở Giao Châu và Giao Chi. Huyện trị ở khu vực tx Bắc Ninh ngày nay.

        LONG BÌNH, căn cứ hậu cần tổng hợp lớn nhất của ỌĐ Mĩ ở Nam VN, đông bắc Sài Gòn 30km, cạnh xa lộ Biên Hoà. Xây dựng 1965-70, tổng dt khoảng 24km2. Gồm hệ thống nhà kho lớn chứa bom đạn, xăng dầu, chất nổ và nhiều phương tiện vật tư khác. Còn là trạm tiếp nhận và thay quân của Mĩ ở Nam VN. Do khoảng 2.000 quân Mĩ bảo vệ và quân lí, được phòng thủ đặc biệt kiên cố. Bị QGPMN VN đánh nhiều lần. Từ 1.1972 Mĩ đã bàn giao lại cho QĐ Sài Gòn. QGPMN VN đánh chiếm 29.4.1975.

        LONG CHÂU, quần đảo ở Vịnh Bắc Bộ, thuộc Hải Phòng, đông nam tp Hài Phòng 48km, gồm 27 đảo nhỏ là núi đá tai mèo. Đảo lớn nhất là LC, dt 0,35km2; có ngọn đèn biển cao 120m. dẫn đường cho tàu ra vào cảng Hải Phòng. Trong KCCM không quân Mĩ đánh phá 258 lần. Đơn vị Ah lao động XHCN (1974), 4 huân chương Chiến công.

        LONG CHÂU HÀ. tỉnh cũ ở Nam Bộ trong KCCP và KCCM. Thành lập 10.1950 với tên gọi Long Châu Hậu do sáp nhập một phần các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc và t. Hà Tiên. 10.1951 đổi thành LCH, tồn tại đến 1954. Thành lập lại 5.1974.

        LONG CHÂU HẬU x. LONG CHÂU HÀ

        LONG CHÂU SA, tỉnh cũ ở Nam Bộ trong KCCP. Thành lập 6.1951 do sáp nhập một phần các tỉnh Long Xuyên. Châu Đốc và t. Sa Đéc.

        LONG CHÂU TlỀN, tỉnh cũ ở Nam Bộ trong KCCM. Thành lập 5.1974, gồm các huyện An Phú, Tân Châu. Phú Tân, Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông thuộc các tỉnh Long Xuyèn. Châu Đốc. Tồn tại đến 2.1976.

        LONG XUYÊN, tỉnh cũ ở tây Nam Bộ, nay thuộc địa phận t. An Giang. Thành lập 1899 trên cơ sở tiểu khu Long Xuyên của t. An Giang. Trong KCCP, sáp nhập một phần với Châu Đốc và Hà Tiên thành t. Long Cháu Hà, một phần với Châu Đốc và Sa Đéc thành Long Châu Sa. Trong KCCM, sáp nhập với một phần Châu Đốc thành t. Long Châu Tiền.

        LÒNG TÀU, đoạn sông ở h. Cần Giờ, đông nam tp Hồ Chí Minh. Dài 35km, rộng 300-600m, sâu 9-29m; chảy qua vùng Rừng Sác, nối sông Nhà Bè ở phía tây bắc với sông Ngã Bày ở phía đông nam. Là một đoạn đường thủy từ cảng Sài Gòn ra biển qua cửa Cần Giờ; đường vận chuyển tiếp tế quan trọng của quân viễn chinh Pháp và Mĩ trong thời kì chiến tranh xâm lược VN (1945-75). Tại đây, nhiều tàu Pháp và Mĩ bị đánh chìm, bắn cháy.

        LÓT Ổ, giấu sẵn lực lượng ở gần hoặc trong khu vực mục tiêu để đánh bất ngờ, tiêu diệt địch. Trong KCCP và KCCM, du kích và bộ đội đặc công đã vận dụng LÔ đánh địch đạt hiệu quả chiến đấu cao.

        LÓT SẴN, bí mật đưa bộ đội, vũ khí. đạn dược, phương tiện vật chất, kĩ thuật,... vào hậu phương của địch và bí mật triển khai bố trí trước ở những khu vực theo yêu cầu tác chiến. Theo quy mô và tính chất nhiệm vụ, có: LS chiến thuật, LS chiến dịch, LS chiến lược; LS phải phù hợp với ý định tác chiến, thường dựa vào lực lượng tại chỗ và nhân dân địa phương. Mục đích của LS: góp phần tạo thế có lợi trong tác chiến; tạo bất ngờ lớn đối với quân địch; kết hợp chặt chẽ tiến công từ ngoài và đánh địch từ trong sào huyệt của chúng, phá thế trận và làm rối loạn hàng ngũ quân địch; thực hiện cơ động được kịp thời để công kích vào mục tiêu quan trọng của quân địch trong chiều sâu bố trí của chúng; tạo điều kiện nâng cao tốc độ tiến công; thực hiện đảm bảo kịp thời nhu cầu vật chất kĩ thuật cho bộ đội trong quá trình tiến công. Chiến tranh nhân dân chống xâm lược ở VN thường diễn ra trong hình thái xen kẽ, cài răng lược, nhân dân và LLVT ta đã thực hiện LS có hiệu quả trên các quy mô chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. Điển hình về LS thể hiện trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 trong KCCM.

        LÔ CỐT. công sự chiến đấu lâu bền xây bằng gạch đá hoặc bê tông nguyên khối, vừa làm hỏa điểm vừa để cố thủ vị trí quan trọng. LC có thể được xây dựng nổi, nửa nổi nứa chìm hoặc chìm, có khe bắn (lỗ châu mai), có loại trên nóc đặt một tháp pháo cố định hoặc xoay tròn. Trong chiến tranh xâm lược VN. QĐ Pháp, Mĩ đã xây nhiều LC trên các tuyến giao thông để báo vệ cầu, đường, ở những vị trí quan trọng trong các thị trấn, thành phố, sân bay, bên cảng hay trong các cứ điểm, căn cứ, có khi liên kết với nhau thành một vành đai bảo vệ.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 06:50:49 pm

        LỘ TIÊU HÀNH QUÂN X. TIÊU CHÍ ĐƯỜNG HÀNH QUÂN

        LOGIC MỜ (A. Fuzzy logic), lí thuyết lôgic nghiên cứu các hệ thống mà giá trị, tính chất của các phần tử trong đó cũng như môi trường hoạt động của hệ không thể xác định chính xác, chắc chắn hoặc đơn nhất như yêu cầu của lôgic cổ điển. Cơ sở của LM là khái niệm tập mờ (fuzzy set) do nhà điều khiển học Mĩ gốc Adecbaigian Dađê (L. Zadeh) nghiên cứu từ 1965. Một tập mờ được cho bởi một hàm xác định trên tập các đối tượng nhận giá trị là một số thực bất kì trong khoảng từ 0 (phú định) đến 1 (khẳng định), chỉ “độ thuộc” của đối tượng đó vào tập mờ. Các khái niệm thuộc tính, quan hệ được cho bời các tập mờ và các suy luận, phán đoán được thực hiện theo các quy tắc biến đổi các tập mờ đó. LM được ứng dụng rộng rãi trong các bài toán nhận dạng, ra quyết định, các hệ dạy học. hệ điều khiển, trí tuệ nhân tạo...

        LỐT ANGIƠLET*. thành phố, cảng, trung tâm công nghiệp lớn ở miền Tây nước Mĩ, trên bờ Thái Bình Dương (bang Caliphoocnia); ds 3,7 triệu người (2000). LA trải dài từ bắc xuống nam hơn 80km. là trung tâm kinh tế chính ở miền Tây nước Mĩ. Có công nghiệp hàng không vũ trụ. điện tử, chế tạo máy, QS. hóa chất, thực phẩm, khai thác dầu mỏ; điện ảnh. trung tâm nghiên cứu khoa học lớn. Cảng có diện tích vùng nước gần 25km2, tổng chiều dài các cầu cảng 25km, sâu 15.2m. Có các xí nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu (tàu chiến và tàu thường có lượng choán nước trung bình), lượng vận chuyển hàng 30,9 triệu tấn/năm. Có sân bay quốc tế. LA do người Tây Ban Nha lập 1781, năm 1821 thuộc Mêhicô. 1846 Mĩ chiếm.

        LỐT ANGIƠLET**, lớp tàu ngầm nguyên tử Mĩ gồm 62 chiếc, số hiệu từ SSN 688 đến SSN 725 và từ SSN 750 đến SSN 773. Có 52 tàu hạ thủy 1974-91 và 10 chiếc hạ thủy 1992-95; hiện còn 51 chiếc đang hoạt động (2001). Lượng choán nước tiêu chuẩn: 6.080t (khi lận 6.927t). Kích thước: 109.7x10,lx9,9m. Một lò phản ứng hạt nhân. 2 tuabin, tổng công suất 26MW (35.000cv), 1 chân vịt, tốc độ đi ngầm 32 hài lí/h (59km/h). Quân số 133 (13 sĩ quan). Trang bị vũ khí: 8 tên lửa Tômahôc, 4 tên lửa Hapun (tầm phóng 130km. tự dẫn rađa chủ động, tốc độ M0,9. đầu đạn 227kg), 14 ngư lôi Mk48 cỡ 533mm (dẫn bằng cáp quang hoặc tự dẫn chủ động, tầm hoạt động 50km, tốc độ 40 hải lí/h (74km/h); tự dẫn thụ động, tầm hoạt động 38km, tốc độ 55 hải lí/h (102km/h): đầu đạn 267kg; độ sâu hoạt động 900m), có thể có thủy lôi Mk60 và Mk67. Trang bị điện tử: các rađa báo động, phát hiện, nghe trộm, quan sát mặt biển, dẫn đường, điều khiển; sôna quan sát, tấn công, phát hiện thủy lôi và tảng băng; máy tính điện tử xử lí các số liệu cho chiến đấu; các thiết bị và ngư lôi mồi bẫy... Từ tàu số 719 được trang bị 12 ống phóng tên lửa kiểu thẳng đứng.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67191307_453525648710654_5636024066277113856_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQlc08ByZZaspznPdCMGVzZ_9_QPo5Rq0V3Nce1lplKa0188h0h_1rVpk1tUX9lSMh4&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=94ff3dd7628346ce19092501837c8e80&oe=5DE4B9EA)


        LƠCLEC* (P. Philippe Marie de Hauteclocque Leclerc: 1902-47), tổng chỉ huy đầu tiên Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (1945-46). L có dòng dõi quý tộc, tốt nghiệp các trường Xanh Xia, Xômuya và Trường chiến tranh của Pháp; đại tướng. Trong CTTG-II, tham gia kháng chiến chống phát xít Đức ở Pháp, ở châu Phi, chỉ huy sư đoàn thiết giáp đổ bộ lên Noocmăngđi, giải phóng Pari, đại diện cho nước Pháp nhận sự đầu hàng của nước Nhật (1945), được người Pháp đánh giá là nhà chỉ huy QS tài giỏi nhất của Pháp trong CTTG-11. 8.1945 đến Đông Dương, cùng với Đacgiăngliơ đề ra kế hoạch năm điểm (x. kế hoạch Lơclec) nhằm chiếm lại Đông Dương. Sau hiệp định sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946), L đưa quân ra miền Bắc VN, thay thế quân Tưởng. Giữ quan điểm VN phái nằm trong Liên bang Đỏng Dương thuộc Pháp, L biết không thể thắng VN thuần túy bằng QS nên đã chủ trương thương thuyết trên thế mạnh. Tự xin về Pháp (7.1946) do mâu thuẫn với cao ủy Đacgiăngliơ. 12.1946 sang thị sát tình hình Đông Dương nhưng vẫn giữ chủ trương trước đó. Chết do tai nạn máy bay (1947), được truy phong thống chế (1952).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:17:26 pm

        LƠCLEC** (P. Leclerc), xe tăng chủ lực do Tổ hợp công nghiệp Giát (Pháp) chế tạo từ 1991. Khối lượng chiến đấu 54,5t, kíp xe 3 người. Xe dài 6,88m (cả pháo quay phía trước: 9,87m), rộng 3,7 lm, cao 2,53m (đến nóc tháp pháo), khoảng sáng gầm xe 0,50m, chiều dài xích chạm đất 4,318m, áp suất trên nền 0,90kG/cm2. vỏ giáp thiết kế theo kiểu môđun để dễ thay thế, cải tiến; có lớp giáp bổ trợ. Động cơ điêzen 4 kì Wantsila V8X-1500, công suất 1.095kW (1.500cv), công suất đơn vị 27,52cv/t. Hệ thống truyền động tự động SESM-500 có 5 số tiến, 2 số lùi. Hệ thống treo thủy khí. Tốc độ lớn nhất 71 km/h, tốc độ lùi lớn nhất 38km/h. Dung tích hệ thống nhiên liệu 1.300 lít, hành trình dự trữ 550km (khi mang thùng dự trữ: 650km). Vượt dốc cao 31°, dốc nghiêng 17°, vách đứng cao l,25m, hào rộng 3m; lội nước sâu lm (có thiết bị đi ngầm: 4m). Trang bị 1 pháo nòng trơn 120mm CN120-26 (có hệ thống nạp đạn tự động, tốc độ bắn 10 phát/ph) hoặc F1 và 1 súng máy song song 12,7mm: 1 súng máy phòng không 7,62mm. Mỗi bên tháp pháo có 9 ống phóng, có thể phóng đạn khói, đạn chống bộ binh, đạn gây nhiễu hồng ngoại. Góc quay tháp pháo 360°, góc tầm pháo +15%8°. Hệ thống điều khiển hỏa lực gồm camera ảnh nhiệt, máy đo xa lade, kính ngắm ổn định cho trưởng xe và pháo thủ. Ngoài ra xe còn lắp động cơ tuabin khí TM-307 làm nguồn động lực phụ khi động cơ chính ngừng làm việc để tiết kiệm nhiên liệu. Hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, chữa cháy tự động, thiết bị nhìn đêm tiên tiến. Có trong trang bị của lục quân Pháp và QĐ Các tiểu vương quốc Arập thống nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67162450_455748068488412_4415148645674909696_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_eui2=AeGFRj9TL5AjP810Y0BMWaLYsuF_ltATzLl5tbYjiVNYT9crhG1FX_-0KSxwGoBnJhJb1n-kW7uINQvjCeg3vSh_xlSd-uJNLzyQqsPy1zEUhQ&_nc_oc=AQnPrQV4M0oRooujuCnUwliZkrp-0ZY3yBT_uC6OjqfgHyJouMHelCMQav9rirzPsPA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=09d11511ae108a4f7858d872300cc31d&oe=5DAFA7CD)


        “LỜI KÊU GỌI ĐỔNG BÀO VÀ CHIẾN SĨ CẢ NƯỚC” (17.7.1966), lời kêu gọi nhân dân VN của chủ tịch Hồ Chí Minh khi đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong đó khẳng định: Mĩ “có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Mĩ có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc... Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội. Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. “LKGĐBVCSCN” thể hiện ý chí sắt đá, quyết tâm kháng chiến đến cùng vì độc lập tự do của dân tộc VN trước hành động chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mĩ. “LKGĐBVC- SCN” đã gây tiếng vang lớn trên thế giới và cổ vũ mạnh mẽ nhân dân VN vượt qua thử thách quyết liệt, tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn.

        “LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 1969”, lời kêu gọi nhân dân VN của chủ tịch Hồ Chí Minh khi Mĩ chuyển hướng chiến lược: chấm dứt ném bom miền Bắc, thực hiện chiến lược phi Mĩ hóa chiến tranh (sau đó là chiến lược Việt Ham hóa chiến tranh) ở miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương quân và dân cả nước đã đoàn kết một lòng, vượt mọi hi sinh gian khổ, chiến đấu anh dũng và giành thắng lợi vẻ vang; nghiêm khắc lên án tội ác và âm mưu của Mĩ; chỉ rõ mục tiêu cụ thể để kết thúc thắng lợi cuộc KCCM. Lời kêu gọi đã trở thành nguồn động viên cổ vũ rất lớn đối với quân và dân cả nước, đặc biệt là đối với quân và dân miền Nam VN trong hoàn cảnh khó khăn và cực kì phức tạp cuối 1969.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:19:12 pm

        “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN”, lời kêu gọi do chủ tịch Hồ Chí Minh đọc 20.12.1946 qua Đài phát thanh tiêng nói VN, phát động toàn dân đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. “LKGTQKC” đã vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, nêu lên ý chí sắt đá, quyết tâm kháng chiến đến cùng của dân tộc VN vì độc lập tự do của tổ quốc; đồng thời nêu khái quát những nội dung cơ bản về đường lối của cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện; khẳng định dù gian lao, cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi: “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”... “bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già. người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dần Pháp cứu nước” ... “dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”... Hưởng ứng “LKGTQKC” cả dân tộc VN nhất tề đứng lên tiến hành cuộc KCCP.

        “LỜI PHÁT BIỂU CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH" (22.12.1964), bài nói của chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi chiêu đãi nhân ki niệm 20 năm ngày thành lập QĐND VN. Sau khi biểu dương thành tích của QĐND VN, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sè bùi. Quân với dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả... quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì là một Quân đội nhân dần do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục...”. Cuối cùng chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng hơn nữa, phải phát huy bản chất và truyền thống CM, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

        LỢI DỤNG ĐỊA HÌNH, triệt để khai thác lợi thế địa hình tự nhiên để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm công binh, giảm thời gian, công sức và vật liệu, tạo điều kiện ngụy trang lừa địch làm tăng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, giảm thương vong. Trong nhiệm vụ bảo đảm công binh có thể LDĐH để giảm khối lượng công trình: làm đường, bắc cầu, làm công sự, ngụy trang và cất giấu phương tiện, bố trí vật cản...

        LOVISIT (2-Clorovinyl dicloasin), chất độc hại da có công thức hóa học: C1CH=CHASCl2- L tinh khiết là chất lỏng sánh như dầu, không màu, mùi hoa hướng dương, nhiệt độ sỏi 169,8°C, nhiệt độ nóng chảy 18°C, nhiệt độ phân hủy <196°C, ít tan trong nước (0,5g/l), tan tốt trong các dung môi hữu cơ, mỡ và dầu thực vật, nồng độ hơi bão hòa 4,5mg/l (ở 20°C). L công nghiệp có màu nâu sẫm, mùi hắc, là hỗn hợp của ba dạng: a-L, p-L, y-L. L thấm qua da nhanh hơn ypérit, hầu như không có thời gian ủ bệnh, chỉ 5ph sau khi rơi lên da đã xuất hiện triệu chứng trúng độc. Liều độc 0,2mg/kg  gây rộp bỏng da, liều độc gây tử vong trung bình LD50=20mg/kg. Lcòn gây trúng độc toàn thân, hơi L gây tác hại mắt và đường hô hấp, kích thích niêm mạc mũi, họng, phế quản. L được sử dụng ở trạng thái giọt, hơi hoặc sương. Do Lơvit (người Mĩ) tìm ra (1917). Để phòng tránh L, dùng mặt nạ phòng độc và khí tài phòng da; để tiêu độc L, dùng các chất tiêu độc có tác dụng clo hóa hoặc ôxi hóa.

        LSD-25 (dietylamid axit lisecgic), chất độc tâm thần, công thức cấu tạo:

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67405126_455748041821748_5520272404137377792_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEwpZ0hl1R5KHK-3dYDrrn6SwvPJHuN1JIUykrZm5dxX1EpY5Fl1U6iBqBpI3pPJ1_7l8ZfeqrusB4-QdSEvQ7uSZFtWjEiwmPcGrtP4HWoRQ&_nc_oc=AQl0tEK0kD_UXVqHYpqTndBuWwKsV2Mvpw62qg_YO7WUqgQW80mcyS-P11XwKuPACFw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d699fec2d555ee6441ff623dff0997f8&oe=5DEB0C80)


        Cấu trúc tinh thể không màu, không mùi, ít hòa tan trong nước; nhiệt độ nóng chảy 83°c, dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Được tìm ra 1938. Trạng thái chiến đấu chủ yếu: xon khí (khói độc), gây trúng độc qua đường hô hấp. Triệu chứng trúng dộc điển hình: giãn đồng tử, ảo thị, ảo giác, mất khái niệm về thời gian, buồn nôn, mạch nhanh. Trúng độc liều cao có thể gây tử vong do liệt cơ. Với người khỏe mạnh chi cần 10-30 micrôgam/kg đủ để gây ra các triệu chứng tâm thần, nhất là ảo giác. LSD-25 còn dùng làm chất dầu độc nguồn nước và lương thực, thực phẩm. Khí tài đề phòng: mặt nạ phòng độc. Từ 1953 đến cuối thập kỉ 60 tk 20, Mĩ đã triển khai và hoàn thiện nghiên cứu chất độc tâm thần trong đó cho LSD-25 (chương trình “MKULTRA”).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:20:06 pm

        LUẬN CHỨNG KINH TẾ CHIỂN - KĨ THUẬT, văn kiện phản tích điều kiện sử dụng, nhiệm vụ cần giải quyết và đánh giá tính kinh tế của một tổ hợp (đơn mẫu) trang bị KTQS với các tổ hợp (đơn mẫu) đã có trong nước hoặc của nước ngoài có tính nâng chiến - kĩ thuật tương tự. LCKTC-KT được thực hiện nhằm mục đích đưa ra cơ sở cần thiết phải chế tạo (mua sắm. cài tiến) và lợi ích của việc đưa vào trang bị tổ hợp (đơn mầu) trang bị KTQS đó. Nội dung chủ yếu gồm: phân tích tính cấp thiết khách quan của các hoạt động tác chiến; chức năng, nhiệm vụ và điều kiện khai thác sử dụng trang bị KTQS; tính hợp lí và tiên tiến về mặt kĩ thuật; chi phí cần thiết cho việc chế tạo (mua sắm, cải tiến) và đánh giá hiệu quà kinh tế của chúng so với phương tiện cùng loại.

        “LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ 1930”, cương lĩnh CM đầu tiên của ĐCS Đông Dương do Trần Phú soạn thảo, được hội nghị lần thứ nhất BCHTƯ thông qua (10.1930). Nội dung chỉ rõ: CM VN là CM tư sản dân quyền (cách mạng dân tộc dân chủ nhãn dân), tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN; nhiệm vụ, mục tiêu của CM là chống đế quốc, phong kiến thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng; công-nông là gốc của CM do giai cấp công nhân lãnh đạo; giành chính quyền bằng khởi nghĩa vũ trang, tăng cường đoàn kết quốc té; ĐCS lãnh đạo là nhân tố quyết định thắng lợi của CM. “LCCT1930” còn một số hạn chế như: chưa xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu, nhiêm vụ chủ yếu và lực lượng CM. Sau này được các nghị quyết hội nghị BCHTƯ lần thứ 6 (11.1939), 7 (11.1940), 8 (5.1941) bổ sung và phát triển. Thực tiễn CM VN đã chứng minh sự đúng đắn của “LCCT1930” về con đường và phương pháp cách mạng VN.

        “LUẬN TRÌ CỬU CHIỂN” (“Bàn về đánh lâu dài”), tác phẩm QS của Mao Trạch Đông bàn về phương thức tiến hành chiến tranh trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật. Xuất xứ từ bài nói tại hội nghị nghiên cứu chiến tranh chống Nhật tổ chức ở Diên An (TQ) 5.1938, được đăng lần đầu trên tuần san “Giải phóng” (TQ) 7.1938, sau được in thành sách và phát hành rộng rãi. Gồm 120 đoạn, 21 vấn đề. Các vấn đề từ 1 đến 9 luận giải vì sao phải đánh lâu dài và thế nào là đánh lâu dài, phê phán sai lầm của “thuyết vong quốc” trong Quốc dân đảng và “thuyết tốc thắng” trong ĐCS TQ; 12 vấn đề còn lại trình bày cách đánh lâu dài và phương pháp giành thắng lợi trong chiến tranh. Trên cơ sở phân tích đặc điểm thời đại, mâu thuẫn Trung - Nhật, xu thế và diễn biến của chiến tranh, “LTCC” đã chỉ ra quy luật khách quan của đánh lâu dài và khẳng định thắng lợi sẽ thuộc về TQ; dự kiến ba giai đoạn chiến tranh: phòng ngự, cầm cự và phản công với hình thái đặc thù là thế cài răng lược; khẳng định “nguồn gốc sâu xa tạo nên sức mạnh to lớn của chiến tranh là ở trong dân chúng”, “dân binh là gốc của thắng lợi”; những quan điểm cơ bản chỉ đạo tiến hành chiến tranh: chiến tranh không tách khỏi chính trị, thắng bại của chiến tranh được quyết định bởi điều kiện khách quan và sự nỗ lực chủ quan, con người là nhân tô quyết định, vũ khí là nhân tố quan trọng, việc động viên chính trị sâu rộng trong nhân dân và phát huy tính năng động, tự giác của quần chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giành thắng lợi... “LTCC” đã trình bày có hệ thống  các nguyên tắc chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, trong đó có các vấn đề quan trọng nổi bật: xác định phương châm chiến lược đánh lâu dài, kết hợp phòng ngự chiến lược lâu dài ở nội tuyến với tiến công chiến dịch mau lẹ ở ngoại tuyến trong giai đoạn phòng ngự và cầm cự rồi chuyển sang phản công chiến lược; xác định phương châm tác chiến chiến lược, trong đó lấy vận động chiến là chính, đánh du kích là cơ bản, thực hành đánh tiêu diệt trong những điều kiện có lợi để đạt mục tiêu chiến lược là tiêu hao lực lượng địch; xác định nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến: tích cực, chủ động, linh hoạt, sử dụng binh lực khi phần tán, khi tập trung, chỉ đánh khi có lợi, tích cực giành chủ động, không để mất quyền tự do hành động... “LTCC” có giá trị chỉ đạo chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân TQ.

        LUẬT 10-59, đạo luật số 10 do chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành 6.5.1959 với tiêu đề “trừng phạt sự phá hoại, sự xâm phạm an ninh quốc gia, sự xâm phạm sinh mạng hay tài sản của nhân dân và thiết lập tòa án quân sự đặc biệt”. Gồm hai phần: phần một với 5 điều, trong đó xác định 10 tội danh phải đưa ra xét xử và quy định hai mức án là tử hình (luật số 21 ngày 4.7.1959 cho dùng máy chém) và tù khổ sai chung thân; phần hai với 16 điều, quy định tổ chức các tòa án QS đặc biệt với quyền hạn rộng rãi (xử chung thẩm; không cho phép kháng án...) để xét xử. L10-59 thể hiện tính chất phát xít, phản dân chủ của chính quyền Ngô Đình Diệm, nhằm công khai hóa, hợp pháp hóa việc đàn áp phong trào đấu tranh yêu nước của các lực lượng kháng chiến ở miền Nam VN. Đã gây cho CM miền Nam nhiều tổn thất (1954-60: có 466.000 đv ĐLĐ VN và người yêu nước bị bắt; 400.000 người bị tù đầy; 65.000 người bị giết).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:21:32 pm

        LUẬT BIÊN GIỚI QUỐC GIA, luật quy định về biên giới quốc gia do Quốc hội nước CHXHCN VN khóa XI, kì họp thứ 3 thông qua ngày 17.6.2003, chủ tịch nước công bố ngày 26.6.2003. Gồm 6 chương (41 điều) về: những quy định chung; chế độ pháp lí về biên giới quốc gia, khu vực biên giới; xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia. khu vực biên giới; quân lí nhà nước về biên giới quốc gia; khen thưởng và xử lí vi phạm; điều khoản thi hành. LBGQG góp phần tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước về biên giới quốc gia; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.

        LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ của Việt Nam, luật quy định ché độ nghĩa vụ quân sự của công dân, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị QĐ, nhà trường, gia đình, cá nhân trong việc thi hành chế độ đó. LNVQS đầu tiên được Quốc hội nước VN DCCH thông qua 15.4.1960, chủ tịch nước công bố 28.4.1960, sửa đổi, bổ sung hai lần (26.10.1962 và 10.6.1965). LNVQS hiện hành được Quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 30.12.1981, chủ tịch HĐNN công bố 10.1.1982, sửa đổi, bổ sung hai lần (21.12.1990 và 22.6.1994), gồm 11 chương (71 điều) quy định việc đáng kí nghĩa vụ quân sự, phục vụ tại ngũ, phục vụ trong ngạch dự bị, gọi nhập ngũ, hoãn gọi nhập ngũ, miễn làm nghĩa vụ quân sự, phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, của hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, nhập ngũ theo lệnh động viên, việc xuất ngũ, hội đồng nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ quyền lợi của quân nhân, xứ lí các vi phạm... Việc thực hiện LNVQS đã góp phần nâng cao chất lượng QĐ, củng cố quốc phòng bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

        LUẬT PHÁP QUÂN SỰ, toàn bộ các luật, pháp lệnh và văn bản pháp quy (kể cả những nội dung trong các văn bản pháp luật có liên quan), làm cơ sở pháp lí để tổ chức, xây dựng và hoạt động của LLVT; bộ phận cấu thành của luật pháp nhà nước.

        LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan QĐND VN. Luật hiện hành do Quốc hội khóa X thông qua 21.12.1999. chủ tịch nước công bố 4.1.2000 (có hiệu lực từ 1.4.2000) thay thế các luật 1958, luật 1982 và luật sửa đổi bổ sung 1990. Gồm 7 chương (51 điếu), xác định khái niệm về sĩ quan, các loại sĩ quan, quân hàm và chức vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan. Việc thực hiện luật đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan để xây dựng QĐND hùng mạnh.

        LỤC ĐỊA. vùng rộng lớn của vỏ Trái Đất, phần lớn cao hơn mặt đại dương. Trong thời kì địa chất hiện nay có các lục địa: Á - Âu, Bắc Mĩ. Nam Mĩ. Phi, Ôxtrâylia. Nam Cực.

        LỤC NIÊN, thành đá do Đinh Liệt xây 1424 (khi nghĩa quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An) trên núi Thiên Nhận, ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nam Đàn. t. Nghệ An và Hương Sơn. t. Hà Tĩnh, tây nam tp Vinh 18km. Địa hình hiểm trở, trên núi dưới sông. Nghĩa quân đóng ở thành 6 năm nên thành có tên LN.

        LỤC QUÂN, quân chủng hoạt động chủ yếu trên mặt đất. thường có số quân đông nhất, có trang bị và phương thức tác chiến đa dạng, phong phú. LQ tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng và lực lượng khác, giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt lực lượng đối phương, chiếm và giữ đất đai. Tùy điều kiện của mỗi nước. LQ có thể được tổ chức thành một bộ riêng (Bộ LQ Mĩ, do bộ trưởng chỉ đạo: tham mưu trưởng chỉ huy); BTL hoặc bộ tham mưu riêng (Thái Lan, Nhật Bản.... do tư lệnh, hoặc tham mưu trường chỉ huy); hoặc do BTTM chỉ huy chung (TQ, VN, Lào...). LQ VN có các binh chủng: bộ binh (bộ binh cơ giới), thiết giáp, pháo binh, phòng không LQ, đặc công, công binh, thông tin liên lạc, hóa học...

        “LỤC THAO”, binh thư nổi tiếng thời cổ TQ, một trong “Vũ kinh thất thư”, ra đời khoảng nửa cuối thời Chiến Quốc. Gồm sáu phần: Văn thao, Vũ thao. Long thao, Hổ thao. Báo thao. Khuyển thao. Nội dung chủ yếu: QS gắn liền với chính trị; chiến tranh cần có danh nghĩa chính đáng, coi trọng việc thu phục lòng người, chuẩn bị đầy đủ, nắm vững thời cơ, vận dụng mọi thủ đoạn chính trị để làm tan rã địch; miêu tả ti mì biên chế tổ chức bộ chỉ huy, các loại vũ khí và chiến cụ đương thời, các phương pháp phá vây, vượt sông, đối trận, vu hồi, phục kích, công thành... Tác phẩm có giá trị sử liệu quý, lần đầu tiên nêu ra việc hiệp đồng tác chiến giữa chiến xa, kị binh và bộ binh; được nhiều nhà QS đời sau đánh giá cao.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:23:13 pm

        LỤC VĨNH TƯỞNG (s. 1948). Ah LLVTND (1973). Dân tộc Thái, quê xã Thanh Lâm, h. Như Xuân, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là trung sĩ, khẩu đội trường tên lửa chống tăng (B72), Đại đội 15, Tiểu đoàn 371. BTL pháo binh. Trong KCCM, 1966-72 chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, đã đánh 40 trận. 4-9.1972 đánh ba trận, bắn 11 quả đạn B72 diệt 11 xe tăng địch, nổi tiếng về sử dụng vũ khí mới (B72) đạt hiệu suất cao; cùng đơn vị đánh thắng chiến thuật “vỏ thép cứng di động của địch”. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất. 3 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67443430_455748048488414_1196231752956248064_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_eui2=AeE7Oqe-9copJxYw7T3Np-ybLWBNXCcr7QCJ_M-NhGMVvQXZeSzPMeF1u8aFu1jSFjsF3L9solvvz6os0czdmKX1HqPmwBu-eHQchAguksnD6A&_nc_oc=AQlNCVZjYx3J1El8ahYhjUCzjy6A8nAq16bBoiseo2GWd2BLLDdu6r2SINzbuKhxpy4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=22e35b910b7bf7c7d2015aec2a6c56d5&oe=5DAEC188)


        LUDÔNG. đảo lớn nhất thuộc quần đảo Philippin. lãnh thổ của Philippin. Dt 105.600km2: ds khoảng 31 triệu người. Địa hình đồi núi trung bình, cao tới 2.934m (ngọn Pulôc). Có các núi lửa đang hoạt động. Khí hậu cận xích đạo, lượng mưa trung bình 2.000-3.000mm/năm. thường có bão lớn. Rừng quanh năm xanh tốt. Nông nghiệp nhiệt đới. Các thành phố lớn: Manila, Kexơn Xiti. Trong CTTG-II, 4.1942 Nhật chiếm L. 9.1.1945 QĐ Mĩ đổ bộ lên L (x. chiến dịch Philippin, 20.10.1944-5.7.1945).

        LUNAKHÔT , thiết bị có điều khiển (tự động hoặc do người) để di chuyển và làm việc trên bề mặt Mặt Trăng. L đầu tiên trên thể giới là L-1 của LX, điều khiển từ Trái Đất, có 8 bánh xe, mỗi bánh có động cơ điện riêng chạy bằng pin Mặt Trời. 4 camera truyền hình có ống kính quay xa, hướng về bốn phía. Làm việc trên Mặt Trăng từ 17.11.1970 đến 4.10.1971. đi được 10,54km. truyền về Trái Đất 206 ảnh toàn cảnh, 20.000 ảnh về bề mặt Mặt Trăng, thực hiện 500 phân tích cơ lí và 25 phân tích hóa học đất trên Mặt Trăng ở những vị trí khác nhau. L-2 (cũng của LX) làm việc trên Mặt Trảng từ 16.1.1973 đến 8.5.1973, đi được 37km, truyền về Trái Đất 88 ảnh toàn cảnh, 80.000 ảnh vô tuyến truyền hình về bể mặt Mặt Trăng. Thuật ngữ L ban đầu được dùng theo tên gọi các thiết bị nói trên của LX, sau đó được sử dụng cho cả các thiết bị tương tự của Mĩ kiểu Rôvơ (Rover) (1971-72) để phục vụ di chuyển của các nhà du hành vũ trụ Mĩ trên bề mặt Mặt Trăng, khi họ thực hiện các chuyến bay trên tàu vũ trụ Apôlô-15, Apôlô-16 và Apôlô-17.

        LŨNG NHAI (cổ), làng bên bờ Sông Âm, ở chân núi Bù Me (cao 703m), nay là làng Lũng Mĩ (tên nôm là Làng Mé, gồm làng Mé Trên và làng Mé Dưới), xã Ngọc Phụng, h. Thường Xuân, t. Thanh Hóa, cách Lam Sơn 12km về phía tây. Tại LN, 2.1416 đã diễn ra hội thề Lũng Nhãi. Lê Lợi và 18 người cùng chí hướng của ông làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em, nguyện hợp sức đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước. Tại đây bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hình thành, đặt cơ sở đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27).

        LŨNG PHÀY X. ĐÈO BÔNG LAU

        LUỒN SÂU, thủ đoạn tác chiến lợi dụng sơ hở. khoảng cách trong phòng ngự của đối phương và những điểu kiện khác (đêm tối, sương mù, địa hình...) bí mật bất ngờ cơ động một bộ phận lực lượng vào sâu trong thế trận của chúng để đánh chiếm hoặc tiêu diệt một số mục tiêu hiểm yếu; ngăn chặn quân địch rút chạy hoặc tăng viện, làm rối loạn đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của chúng, tạo điều kiện và phối hợp với lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân địch hoàn thành nhiệm vụ được giao. Có: LS chiến thuật, LS chiến dịch và có thể có LS chiến lược. LS thường thực hiện trước, cũng có khi đồng thời với bắt đầu tiến công. Lực lượng LS phải được tổ chức tinh gọn, đủ khả năng chiến đấu độc lập.

        LUÔN SÂU đặc công, bí mật đưa lực lượng vào bên trong mục tiêu hoặc vào chiều sâu phòng ngự của địch để tiến hành trinh sát. thực hiện đòn đánh và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu khác; thủ đoạn tác chiến chủ yếu của bộ đội đặc công.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:25:01 pm

        LUỒN - THỌC SÂU đặc công, kết hợp giữa luồn sâu và thọc sâu. được thực hiện bằng cách luồn sâu đến vị trí quy định rồi bất ngờ thọc sâu thẳng đến mục tiêu công kích; thủ đoạn tác chiến cơ bản. quan trọng của đặc công. Thường dùng để tiến hành tập kích bí mật, khi tình hình địch và địa hình không cho phép sử dụng một thủ đoạn tác chiến luồn sâu hay thọc sâu.

        LUY LÂU (Liên Lâu), huyện thuộc q. Giao Chỉ thời thuộc Hán (111tcn- 220scn) và thuộc Ngô (222-80). Ở vào khoảng khu vực phía đông tp Hà Nội, nam t. Bắc Ninh, bắc t. Hưng Yên ngày nay. Huyện thành ở phía nam Sông Đuống (hiện còn di tích ở xã Thanh Khương, h. Thuận Thành, t. Bắc Ninh), từ cuối đời Tây Hán đến 218 là nơi đặt trị sở q. Giao Chi. Năm 40-43, Hai Bà Trưng lãnh đạo nhân dân Giao Chỉ khởi nghĩa chông lại ách đô hộ nhà Hán. nghĩa quân đã giải phóng được 65 thành trì, trong đó có LL. thành lũy cuối cùng của quân đô hộ.

        LŨY X. CHIẾN LŨY

        LŨY NHẬT LỆ. lũy đắp bằng đất, bên ngoài đóng cọc lim ở h. Lệ Ninh. t. Quảng Bình, cao 6m, dài khoảng 18km. từ cửa Nhật Lệ đến núi Đầu Mâu. Do Đào Duy Từ tổ chức xây dựng 1631. Là công trình phòng ngự của chúa Nguyễn, ngăn chặn quân Trịnh từ bắc tiến vào. Lợi dụng địa thế hiểm trở của núi, sông kết hợp với hệ thống chiến lũy có bố trí hỏa lực mạnh (cứ 20m có 1 súng thần công, 40m có 1 máy phóng đá), LNL hợp với lũy Trường Dực trở thành một hệ thống phòng thủ vững chắc mà trước đây được xem là bất khả xâm phạm. Được gọi là Lũy Thày để tỏ lòng tôn kính Đào Duy Từ, người sáng tạo công trình này. 1842 Thiệu Trị đổi tên là Định Bác trường thành. Cg lũy Đồng Hới, lũy Trấn Ninh.

        LŨY THÀY X. LŨY NHẬT LỆ

        LŨY TRƯỜNG DỰC, lũy đất ở h. Lệ Ninh. t. Quảng Bình, dài khoảng 10km, cao 3m, dọc theo sông Rào Đá và sông Nhật Lệ, bắt đầu từ chân dãy núi đá Hoàng Sơn thuộc làng Trường Dực theo hướng đông đến các đầm lầy ven biển. LTD do Đào Duy Từ tổ chức đắp 1630, dựa vào địa thế hiểm trở của sông, núi, phá và đầm lầy với hệ thống chiến lũy nhằm mục đích ngăn chặn quân Trịnh tiến từ Bắc vào.

        LŨY TRƯỜNG SA, lũy đất ở h. Phong Lộc, phủ Quảng Ninh, nay thuộc tx Đồng Hới và h. Quảng Ninh, t. Quàng Bình do Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp 1634 theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi). Dài 7km, từ Sa Động men theo bờ cát ven biển đến Huân Cát (Dòc Cát, nay thuộc xã Bảo Ninh, tx Đồng Hới) trên bờ nam sông Nhật Lệ. Cùng với lũy Nhật Lệ và lũy Trường Dực tạo thành hệ thống phòng ngự liên hoàn, ngăn chặn các cuộc tiến công của quân Trịnh từ phía Bắc.

        LUYCHXĂMBUA nh LUYXEMBUA

        LUYỆN QUÂN LẬP CÔNG, cuộc vận động huấn luyện QS nâng cao kĩ thuật chiến đấu cơ bản trong LLVTND VN những năm 1948-49. Được tiến hành theo huấn lệnh của Bộ tổng chỉ huy (11.1947). LQLC nhanh chóng phát triển rộng khắp trong toàn quân với nội dung toàn diện, trong đó các môn: bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn được luyện tập kĩ; ngoài ra việc học tập những nội dung phục vụ nhiệm vụ công đồn và vận động chiến cũng được tiến hành. LQLC góp phần nâng cao rõ rệt trình độ kĩ thuật chiến đấu cơ bản của bộ đội; có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và chiến đấu của LLVTND VN trong những năm đầu KCCP.

        LUYỆN TẬP THAM MƯU, hình thức huấn luyện cơ quan tham mưu nhằm bồi dưỡng và nâng cao kĩ năng thực hiện chức trách của cán bộ tham mưu và hiệp đồng giữa các cơ quan. LTTM có thể tiến hành: trên bản đồ hay ngoài thực địa; luyện tập riêng hay tập chung. Tập riêng là luyện tập theo chức trách của ban, phòng, cục, ngành, cơ quan tham mưu binh chủng dưới sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan đó. Tập chung là hợp luyện các ban, phòng, cục, ngành, cơ quan tham mưu binh chủng theo kế hoạch chung về huấn luyện chiến đấu (chiến dịch) của binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn, dưới sự chỉ đạo của tham mưu trưởng hoặc người chỉ huy trường cấp đó.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:26:40 pm

        LUYXEMBUA (Đại công quốc Luyxembua; Grand-Duché de Luxembourg, A. Grand Duchy of Luxembourg), quốc gia ở Tây Âu; bắc giáp Bỉ, đông giáp Đức, tây và tây nam giáp Pháp. Dt 2.586km2; ds 454 nghìn người (2003). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp, Đức, Luyxembua. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đỏ: Luyxembua. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là đại quốc chủ. Cơ quan lập pháp: viện đại biểu. Cơ quan hành pháp: chính phủ. Địa hình đồng bằng xen kẽ đồi, độ cao 300-400m. Phía bắc là các nhánh núi, thuộc dãy Anpơ. Khí hậu cận nhiệt đới, ôn hòa. Mạng sông ngòi dày đặc. Rừng chiếm 1/3 lãnh thổ. Công nghiệp phát triển. Cơ sở của nền kinh tế là ngành khai thác quặng sắt, luyện kim, do tư bản Pháp, Bỉ kiểm soát. GDP 18,54 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 42.040 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO... Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 15.11.1973. LLVT: lực lượng thường trực 900 người, lực lượng bán vũ trang 610 người. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 5 xe thiết giáp, 6 cối 81mm, 6 tên lửa chống tăng... Sân bay của NATO ở L có 17 máy bay chiến đấu. Ngân sách quốc phòng 180 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64759369_455748078488411_3375366333515431936_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_eui2=AeEb1fLM1-Og9z3uZeYW_rxK1jXalH-92upCBtOfIVmitmykD7vw8du_KgCR_8UdulcgXsfd_37kLZsYbAOxu1rO2ffr3x9fG1MzGn9EHnf71g&_nc_oc=AQnhfIpZLzBAW8PqfC_zoOmDSjgKvL6eYBJNkwsZwZrQAnVrYUCA1-lr5q0V4BWTT8o&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=328f099404a6c0a4f2e0212581f23cc8&oe=5DE2CD66)


        LƯ GIANG (Lê Bá Ườc; 1920-94), tư lệnh Quân khu Thủ Đô (1980-89). Quê xã Vô Tranh, h. Lục Nam, t. Bắc Giang; tham gia CM 1942, nhập ngũ 5.1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Tháng 10.1942 cán bộ Việt Minh tỉnh Bắc Giang. 7.1945 chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Lục Nam và tx Bắc Giang; đại đội trưởng Cứu quốc quân; đại đội trưởng Đại đội Nam tiến Bắc Bắc. 1946-52 tiểu đoàn trường, trung đoàn trường các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5. Tháng 12.1953-54 phái viên BTTM ở Liên khu 5; chỉ huy lực lượng tiếp quản Quy Nhơn. 12.1954- 64 tham mưu trường Sư đoàn pháo binh 349, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 368, tham mưu phó BTL pháo binh, tư lệnh Phân khu Nam Quân khu 5. Tháng 9.1968 sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Năm 1970-71 phó tư lệnh rồi tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 2.1973 trưởng đoàn đại biểu QGP MN trong Ban liên hợp QS bốn bên ở khu vực Đà Nẵng. 5.1973 trưởng đoàn QS của chính phủ CM lâm thời cộng hòa miền Nam VN trong Ban liên hợp QS hai bên ở khu vực Plây Cu. 3.1975 phó tư lệnh Quân khu 5. Tháng 11.1977-79 tư lệnh BTL Thủ Đô; phó tư lệnh Quân khu Thủ Đô. 1980-89 tư lệnh, bí thư đảng ủy Quân khu Thủ Đô, ủy viên thành ủy Hà Nội. Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67197495_455748085155077_5596239754149494784_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeG1vyucrbrCLY8kd8BVNZIYBM2J9d93NrAfXrwzD_VvPk7ZYH76rJJ_iY2k1uyi4WFA-Eme3t2JamgY8RnRlt0PMkmsoIJ6U1jZkyVkBnnbGA&_nc_oc=AQmuE57f-AWLPz-kDRaxQxqtEQG0Uhoq71-ilht-TYIBjrmw6h0ojnX7iF358Y9Hoao&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9f0cc2f4e39248ce59ca35cfb929bf4c&oe=5DA31E44)


        LƯ HÁN (Lu Han; 1891-?), tướng của phái quân phiệt Vân Nam (TQ), chỉ huy 200 nghìn quân Tưởng (QĐ Trung Hoa di quốc) nhận sự đầu hàng và giải giáp quân Nhật ở VN và Lào (bắc vĩ tuyến 16) sau CTTG-II. trung tướng (1945). Dân tộc Ló Lô. người Vân Nam (TQ). Đầu 1940 tư lệnh Phương diện quản 1 ở Chiến khu 9 (TQ). 9.1945 được Tưởng Giới Thạch giao cho chỉ huy 4 quân đoàn và một số sư đoàn độc lập sang Đông Dương. Tại VN, LH đã áp dụng chính sách “diệt cộng, cầm Hồ” (bắt Hồ Chí Minh) và “tiền - tiêu diệt Việt Minh, hậu - giải giáp quân Nhật” nhằm thủ tiêu ĐCS Đông Dương và chính phủ VN DCCH, đặt nhiệm vụ giải giáp quân Nhật xuống hàng thứ yếu. 1946 do sự thỏa thuận giữa Pháp và Trung Hoa dân quốc. theo hiệp ước Pháp - Hoa (1946), LH phải rút quân về nước, không thực hiện được ý đồ chống phá CM VN. 1949 khi quân Tưởng rút ra Đài Loan, LH ở lại lục địa.

        LỮ, 1) đơn vị tổ chức của quân đội Đinh, liền dưới quân. gồm 10 tốt (mỗi tốt gồm 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người), quân số khoảng 1.000 người. Trong QĐ TQ đời nhà Chu, 1 L gồm 5 tốt với quân số khoảng 500 người; 5 L là một sư, quân số 2.500 người; 2) nh lữ đoàn.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:27:42 pm

        LỮ ĐẠI (H. Luda), tàu khu trục tên lửa do TQ thiết kế và chế tạo theo mẫu tàu khu trục kiểu Côtlin của LX. Tính năng chiến - kĩ thuật: lượng giãn nước tiêu chuẩn 3.250t, chờ đầy 3.670t. Kích thước: 132 X 12,8 X 4,6m. Máy chính: 2 máy hơi nước công suất 53 MW (72.000cv), 2 trục chân vịt. Tốc độ 32 hải lí /h; tầm đi xa 2.970 hải lí ở tốc độ 18 hải lí /h. Quân số: 280 (45 sĩ quan). Vũ khí trang bị: 6 tên lửa đối hải (2 bệ X 3 ống) HY-2 (C-201); tên lửa phòng không HQ-7 phóng thẳng đứng tới độ cao 13km; 4 hoặc 2 pháo 130mm 2 nòng (Nga). 8 pháo (TQ) 57mm; 8 pháo (TQ) 37mm; 8 pháo (Nga) 25mm; 6 ống phóng ngư lôi (2x3 ống 324mm, ngư lôi Yu-2); súng cối: 2 giàn FQF 2500 có 12 ống cố định; 38 thủy lôi. Chiếc đầu tiên được đóng và đưa vào hoạt động 1971. Năm 1972-85, sản xuất hàng loạt và đưa vào sử dụng các tàu có số hiệu từ 105 đến 110 đóng ở Lữ Đại (TQ), trang bị cho Hạm đội Bắc Hải; số hiệu từ 131 đến 134 đóng ở Thượng Hải. trang bị cho Hạm đội Đông Hải; số hiệu từ 161 đến 165 đóng ở Quảng Châu, trang bị cho Hạm đội Nam Hải. 1978 tàu LĐ 160 bị hỏng trong một vụ nổ và bị loại bỏ. Từ 1984 một số tàu LĐ được hiện đại hóa thành LĐ II bằng việc trang bị động cơ tuabin khí LM-2500 của hãng Generơn Electric (Mĩ), cái tiến tên lửa đối hải (nâng tầm bắn lên 70km), đối không, trang bị máy bay trực thăng chống ngầm, rađa mạng pha, pháo phòng không tự động 2 nòng và các thiết bị điện tử mới nhất của TQ...

        LỮ ĐOÀN, đơn vị lớn hơn trung đoàn, nhỏ hơn sư đoàn, là binh đoàn chiến thuật, có thể hành động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Ở VN, LĐ thường gồm 4-6 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn hoặc trực thuộc BQP, BTTM. Có LĐ chiến đấu (LĐ bộ binh, LĐ bộ binh cơ giới, LĐ xe tăng, LĐ pháo binh, LĐ hải quân đánh bộ...), LĐ bảo đảm hoặc phục vụ (LĐ công binh, LĐ thông tin...) Trong QĐND VN, LĐ được tổ chức lần đầu tiên theo nghị định 47-NĐA ngày 21.3.1958 của BQP. 

        LỮ ĐOÀN 45 X. ĐOÀN PHÁO BINH TÂT THẮNG

        LỮ ĐOÀN 203. lữ đoàn xe tăng thuộc Quán đoàn 2 (từ 5.1974), tiền thân là Trung đoàn 203 - trung đoàn xe tăng thứ hai của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1975). Thành lập 22.6.1965 thuộc BTL thiết giáp; 6.1973 thuộc Quân khu Trị - Thiên. Gồm 3 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thiết giáp... Đánh thắng trận đầu ở Tà Mây - Làng Vây (chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, 1968), tham gia các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972)... Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí  Minh (26-30.4.1975), LĐ 203 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm dinh Độc Lập, cắm cờ chiến thắng lên nóc dinh, cùng đơn vị bạn bắt toàn bộ thành viên nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (30.4.1975). Từ 28.8.1991 chuyển thành Trung đoàn 203. Ngày truyền thống 22.6.1965. Lữ đoàn trường, chính ủy đầu tiên: Phạm Quang Độ, Nguyễn Kim Hoàng.

        LỮ ĐOÀN 205, lữ đoàn thông tin thuộc BTL thông tin liên lạc; đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 1.8.1985. Tiền thân là Tiểu đoàn 303 (tiểu đoàn thông tin đầu tiên của QĐND VN), thành lập 15.2.1951 thuộc Cục thông tin liên lạc (tiểu đoàn trường: Nguyễn Tân, chính trị viên: Trần Văn Sơn); đổi thành Tiểu đoàn 133 (1954); phát triển thành Trung đoàn 303 (1957); đổi là Trung đoàn 205 (1958) và chuyển thành LĐ 205 (1985). Trong KCCP và KCCM, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc giữa các cơ quan lãnh dạo, chỉ huy của BQP với các đơn vị trong toàn quân. Ngày truyền thống 23.10.1958 (ngày lễ thành lập Trung đoàn 205). Lữ đoàn trường, phó lữ đoàn trường về chính trị đầu tiên: Nguyễn Xuân Bá, Nguyễn Tiến Thủy.

        LỮ ĐOÀN 229. lữ đoàn công binh công trình của QĐND VN trực thuộc BTL công binh: đơn vị Ah LLVTND (1985). Tổ chức tiền thân là Trung đoàn 151 - trung đoàn công binh đầu tiên của QĐND VN, thành lập 15.1.1951 (trung đoàn trưởng: Phạm Hoàng, chính ủy: Lê Khắc), thuộc Đại đoàn 351 (từ 3.1951). Tham gia các chiến dịch: Trần Hưng Đạo (12.1950-1.1951), Hoàng Hoa Thám (1951), Hoà Bình (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phù (1954). Đến 7.1954 Trung đoàn 151 tách khỏi Đại đoàn 351 để thành lập bốn đoàn công binh (106, 333, 444 và 555), trong đó Đoàn 444 kế thừa truyền thông Trung đoàn 151 và chuyển thành Trung đoàn 229 (1958). Trung đoàn 229 làm nhiều công trình QS quan trọng ở miền Bắc: tham gia chiến dịch Trị Thiên (1972), làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào (1959-61). Năm 1981 chuyển thành LĐ 229. Ngày truyền thống 15.1.1951. Cg Đoàn công binh Sông Đà. Lữ đoàn trường (1981): Nguyễn Đắc Nền.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:29:08 pm

        LỮ ĐOÀN 249. lữ đoàn công binh vượt sông của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1985). Tiền thân là Đoàn 555; thành lập 2.1955 trên cơ sở tách Trung đoàn 151 (thuộc Đại đoàn 351, tháng 7.1954) thành 4 đoàn công binh (555, 444, 333 và 106); chuyên thành Trung đoàn công binh vượt sông 249 (1958), Lữ đoàn công binh vượt sông 249 (1977). Tham gia bảo đảm vượt sông ở khu vực Hà Nội, trên địa bàn Quân khu 4 (trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở miền Bắc VN) và chiến dịch Quảng Trị 1972, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (1979). Lữ đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Dương Văn Cách, Thân Thế Xương. Cg Đoàn công binh Sông Lô.

        LỮ ĐOÀN 614. lữ đoàn thông tin tiếp sức, đôi lưu trực thuộc BTL thông tin liên lạc. Thành lập 18.4.1988, trên cơ sở hợp nhất Trung đoàn thông tin tiếp sức 138 và Trung đoàn thông tin đối lưu 612. Tiền thân là Đại đội vô tuyến điện tiếp sức 22 thuộc Trung đoàn thông tin 205, Cục thông tin liên lạc (thành lập 19.8.1959), phát triển thành Tiểu đoàn thông tin tiếp sức 4 (12.4.1962), sáp nhập với Đoàn 138 thành Trung đoàn thông tin tiếp sức 138 (5.2.1977). Trong KCCM, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc đường trục vô tuyến điện tiếp sức, từ BQP (BTTM) đến một số đơn vị trên chiến trường. Sau 4.1975 các đường trục liên lạc vô tuyến điện tiếp sức, vô tuyến điện đối lưu tiếp tục được triển khai để bảo đảm thông tin liên lạc BQP (BTTM) với các quân khu, quân đoàn... ở phía Bắc; kết nối với đường trục viễn thông phía Nam hình thành đường trục liên lạc QS Bắc - Nam, kịp thời đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy. Ngày truyền thống 19.8.1959. Lữ đoàn trưởng và phó lữ đoàn trưởng về chính trị đầu tiên: Đàm Rơi và Phạm Tư.

        LỮ ĐOÀN 675 X. ĐOÀN PHÁO BINH ANH DŨNG

        LỮ ĐOÀN CÔNG BINH, binh đoàn thuộc công binh chủ lực, biên chế trong quân khu, quân chủng, Binh chủng công binh gồm từ 4 đến 6 tiểu đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị cơ giới và một số đại đội chuyên môn khác để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm công binh trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược. Thường có các loại LĐCB: hỗn hợp (trực thuộc quân khu, quân chủng), chuyên trách (trực thuộc Binh chủng công binh). Trong QĐND VN, LĐCB được tổ chức lần đầu tiên vào 10.1973 (Lữ đoàn 299, Quân đoàn 1).

        LỮ ĐOÀN CÔNG BINH 513, lữ đoàn công binh hỗn hợp thuộc Quân khu 3; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1985 và 1994). Tiền thân là Tiểu đoàn công binh 25 thuộc Quân khu Tả Ngạn, thành lập 19.5.1958, phát triển thành Trung đoàn công binh 513 (15.7.1976), LĐCB513 (26.8.1989) theo quyết định số 229/QĐ-QP của BQP. Trong KCCM, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở Thanh Hóa, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hoà Bình (xây, lắp 50.000m cầu nổi, chèo chở 25.000 chuyến phà, bắn rơi 1 máy bay Mĩ). 1975-76 phá gỡ bom, mìn, thủy lôi ở Bình - Trị - Thiên, Hải Phòng, Lào (rà phá 35.900 quả bom, mìn, thủy lôi, giải phóng hơn 10.000 ha đất sản xuất). 1982 phá gỡ hết số bom tại công trường thủy điện Sông Đà (Hoà Bình). 1984-94 rà phá bom mìn, vật cản (tháo gờ 3.432 quả mìn. 10.596 chông các loại), mở đường, xây dựng công trình phòng thủ biên giới phía Bắc, địa bàn Quân khu 3, làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào. 1995-97 xây dựng, sửa chữa nâng cấp một số công trình quốc phòng, công trình kết hợp kinh tế với quốc phòng, rà phá bom mìn trên địa bàn Quân khu 3. Ngày truyền thống 15.5.1958. Lữ đoàn trưởng, phó lữ đoàn trưởng về chính trị đầu tiên: Vũ Anh Đức. Đỗ Hằng.

        LỮ ĐOÀN CƠ ĐỘNG VIỄN ĐÔNG nh BMEO

        LỮ ĐOÀN GARIBANĐI, 1) Lữ đoàn 12, một trong bảy lữ đoàn quốc tế đã tham gia nội chiến Tây Ban Nha (1936-39) bên phía những người cộng hòa. Thành lập 4.1937 trên cơ sở tiểu đoàn mang tên người anh hùng dân tộc Italia Garibanđi (1807-82); tiểu đoàn này được tổ chức từ 10.1936, gồm 520 người Italia; 2) gọi chung các đội du kích do ĐCS Italia thành lập để chiến đấu chống phát xít Đức chiếm đóng Italia (1943- 45). Có 575 LĐG, gồm 153.000 người, nòng cốt là đv ĐCS và hàng nghìn công dân LX trốn khỏi trại tập trung phát xít Đức. Có vai trò quan trọng trong chiến tranh giải phóng dân tộc Italia.

        LỮ ĐOÀN HẢI QUÂN, lữ đoàn làm nhiệm vụ chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu của hải quân, gồm những tàu cùng loại hoặc khác loại; có khả năng hoạt động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Tổ chức thường gồm 4-6 hải đoàn hoặc tiểu đoàn và một số đơn vị trực thuộc. LĐHQ thuộc biên chế của vùng hải quân hoặc trực thuộc BTL hải quân. Có LĐHQ chiến đấu (tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu tuần tiễu...), LĐHQ bảo đảm phục vụ (vận tải - đổ bộ...).

        LỮ ĐOÀN HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ. lữ đoàn hải quân có chức năng tiến hành các trận chiến đấu trên bộ (trong thành phần quân đổ bộ đường biển), phòng thủ bờ biển, hải đảo, cảng, căn cứ hải quân... LĐHQĐB gồm: ban chỉ huy lữ, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần kĩ thuật, một số tiểu đoàn hải quân đánh bộ, các phân đội xe tăng, pháo binh, công binh và một số phân đội chuyên môn và hậu cần khác.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:30:58 pm

        LỮ ĐOÀN PHÁO BINH, binh đoàn chiến thuật của pháo binh thường gồm 4 tiểu đoàn pháo và các phân đội chỉ huy, bảo đảm. Được tổ chức trong lực lượng pháo binh dự bị của Bộ, các quân khu, một số quân đoàn và quân chủng hải quân. LĐPB thường được trang bị một số loại pháo xe kéo cỡ lớn. LĐPB đầu tiên của QĐND VN được thành lập 3.1958 (LĐPB 368...).

        LỮ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG, lữ đoàn thuộc Quân chủng phòng không - không quân, quân khu, quân đoàn; gồm một số tiểu đoàn phòng không và các phân đội bảo đảm, phục vụ. Có nhiệm vụ tiêu diệt phương tiện tiến công đường không của địch; bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS và thực hiện nhiệm vụ độc lập hoặc trong đội hình của bộ đội binh chủng hợp thành. Có lữ đoàn tên lửa phòng không, lữ đoàn pháo phòng không. Lữ đoàn pháo phòng không thường được tổ chức ở các quân khu, quân đoàn.

        LỮ ĐOÀN QUỐC TẾ, gọi chung các lữ đoàn gồm người tình nguyện từ 54 nước (chủ yếu ở châu Âu) tham gia nội chiến Tây Ban Nha (1936-39) bên phía những người cộng hòa. Được thành lập theo đề xướng của Quốc tế III; LX giúp đỡ về tổ chức, trang bị và huấn luyện. Có 7 LĐQT (11, 12, 13, 14, 15, 150 và 129, gồm khoảng 35.000 người), chiến đấu ở bắc Tây Ban Nha và Mađrit. Các LĐQT lần lượt rút khỏi Tây Ban Nha từ 10.1938 theo yêu cầu của chính phủ cộng hòa.

        LỮ ĐOÀN RỒNG XANH. Lữ đoàn thủy quân lục chiến 2 của QĐ Nam Triều Tiên tham chiến ở miền Nam VN (1965). Tổ chức gồm: 4 tiểu đoàn bộ binh, Tiểu đoàn pháo binh 569 (105mm); đại đội xe tăng, đại đội xe lội nước. LĐRX hoạt động chủ yếu ở Vùng chiến thuật 1, SCH ở Chu Lai; rút khỏi miền Nam VN 1972.

        LỮ ĐOÀN TĂNG, lữ đoàn chiến đấu được trang bị xe tăng và xe thiết giáp (xe chiến đấu bộ binh), thuộc BTL tăng thiét giáp, quân đoàn, quân khu, quân chủng... Thường biên chẽ 3- 4 tiểu đoàn tăng, 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, các đại đội trực thuộc: trinh sát. thông tin, công binh, sửa chữa, vận tải. quân y và một sỏ phân đội bảo đảm khác; có khi có tiểu đoàn (đại đội) pháo tự hành hoặc pháo phòng không. LĐT hoạt động tác chiến độc lập hoặc trong đội hình chiến dịch. Trong QĐND VN, Lữ đoàn 202 là LĐT đầu tiên, thành lập 25.10.1973 thuộc Binh chủng tăng thiết giáp, từ 27.12.1973 thuộc Quân đoàn 1.

        LỮ ĐOÀN THÔNG TIN. lữ đoàn thuộc BTL thông tin liên lạc, Quân chung phòng không - không quân, có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến và các nhiệm vụ khác. LĐTT thường gồm: 4-6 tiểu đoàn và các cơ quan. Theo chức năng và nhiệm vụ, có LĐTT: tổng trạm, đường trục. LĐTT đầu tiên của QĐND VN là LĐTT 205, thành lập 2.8.1985

        LỮ THUẬN, thành phố cảng, căn cứ hải quân TQ trên bán đảo Liêu Đông. Dt vùng nước 5km2, sâu 10m. Có xưởng sửa chữa tàu. Cuối tk 19, LT là một làng, theo hiệp định 1898. cho Nga thuê làm căn cứ hải quân trong 25 năm. Nhật chiếm đóng từ 1905-45. Tháng 8.1945 QĐ LX giải phóng LT. Theo thỏa ước Xô - Trung (1945) LX và TQ sử dụng chung căn cứ LT. 1955 QĐ LX rút khỏi LT, chuyển giao toàn bộ các thiết bị của căn cứ cho TQ.

        LỰC, gọi tắt của lực lượng, thường dùng đi đôi với thuật ngữ thế.

        LỰC LƯỢNG, 1) toàn bộ sinh lực, phương tiện vật chất và các khả năng khác được sử dụng để tiến hành chiến tranh và các hoạt động quản sự. Có LL QS, LL chính trị, LL kinh tế, LL vật chất. LL tinh thần...; 2) sinh lực và các phương tiện vật chất được sử dụng để tác chiến, bảo đảm và phục vụ tác chiến, như LL: chủ yếu, thứ yếu (bổ trợ), tiến công, phòng ngự, bao vây, vu hồi, chặn viện, phòng không, vận tải QS... Trong một số trường hợp, LL gọi tắt là lực, có khi là binh lực.

        LỰC LƯỢNG AN NINH ĐỊA PHƯƠNG, gọi chung các tổ chức QS, bán QS và lực lượng nhân dân có vũ trang ở địa phương (tỉnh, huyện, xã) của chính quyền Sài Gòn. LLANĐP gồm: địa phương quân (bảo an đoàn), nghĩa quân (dân vệ đoàn), cảnh sát quốc gia và nhân dân tự vệ. Nhiệm vụ: bảo đảm an ninh, yểm trợ bình định, hoạt động tình báo... và phối hợp với các lực lượng tại địa phương để hoàn thành những nhiệm vụ khác. LLANĐP thuộc quyền chỉ huy của cơ quan QS địa phương (tiểu khu, chi khu, phân chi khu).

        LỰC LƯỢNG BÁN VŨ TRANG, lực lượng được vũ trang ở mức độ nhất định, không thoát li sản xuất và cơ sở (địa phương), do một giai cấp, nhà nước hoặc tập đoàn xã hội tổ chức nhằm những mục đích nhất định (chủ yếu là hỗ trợ hoạt động của lực lượng vũ trang tập trung). LLBVT có thể là một thành phần trong LLVT của nhà nước (như dân quân tự vệ trong LLVTND VN); hoặc độc lập thậm chí đối lập với nhà nước (như LLBVT của các phong trào CM hoặc phong trào chống đối ở một số nước...). Cg lực lượng vũ trang quân chúng.

        LỰC LƯỢNG BẢO ĐẢM KĨ THUẬT, gọi chung sinh lực, phương tiện vật chất và các kha năng khác của ngành kĩ thuật có thể sử dụng để thực hiện công tác bảo đảm kĩ thuật cho các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của một đơn vị hay toàn bộ LLVT. Bao gồm toàn bộ lực lượng, phương tiện của các cơ quan kĩ thuật và cơ sở kĩ thuật.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:32:08 pm

        LỰC LƯỢNG BIỆT ĐỘNG thành phố Sài Gòn, đơn vị Ah LLVTND (1976); thành lập 1963, tiền thân là các đơn vị tự vệ, cảm tử, quyết tử và công tác đặc biệt thuộc LLVT, các đoàn thể và tổ chức xã hội, từ thời kì đầu KCCP. Vừa chiến đấu vừa xây dựng trướng thành, nhất là thời kì 1963-75. Nhiệm vụ chủ yếu: tiến công những mục tiêu đặc biệt quan trọng, hiểm yếu của địch như: cơ quan đầu não, sinh lực cao cấp, các phương tiện chiến tranh hiện đại. Tổ chức LLBĐ rất đa dạng: tổ, đội, đại đội, tiểu đoàn độc lập hoặc đoàn, tiểu đoàn trong Lữ đoàn đặc công - biệt động. Liên tục chiến đấu. mưu trí, sáng tạo, bất ngờ, táo bạo, đánh hiểm thắng lớn. Từ 1963-75 đã đánh hàng trăm trận, điển hình là trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất, tàu Cađơ, Toà đại sứ Mĩ... và tiến công hàng chục mục tiêu hiểm yếu trong cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Diệt hơn 10.000 địch (có hàng nghìn Mĩ), phá hủy hàng trăm máy bay, hàng trăm xe QS, cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại khác, góp phần vào thắng lợi của quân và dân thành phố Sài Gòn và sự nghiệp giải phóng miền Nam. Chỉ huy đầu tiên: Trấn Hải Phụng.
   
        LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN. lực lượng vũ trang chuyên trách của một số nước có biển thực hiện chức năng quân lí về an ninh, trật tự, an toàn và đảm bào việc chấp hành pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan mà nhà nước kí kết hoặc tham gia trên các vùng biển và thềm lục địa của nhà nước đó. Ở VN, LLCSB thành lập 28.8.1998 đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự thống nhất quản lí nhà nước của chính phủ. BQP trực tiếp tổ chức, quản lí và điều hành mọi hoạt động của LLCSB. Tổ chức hiện nay gồm: Cục cảnh sát biển, các vùng cảnh sát biển (có các hải đội. hải đoàn, đội cảnh sát biển), trường đào tạo cành sát biển và các đơn vị cơ sở.

        LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐẶC BIỆT TOÀN ĐÔNG DƯƠNG. LLVT do Pháp tổ chức ở Đông Dương và Quảng Châu Loan (xứ bảo hộ của Pháp ở TQ) để phục vụ cho việc cai trị thuộc địa của Pháp. Thành lập 30.6.1915 theo sắc lệnh của tổng thống Pháp, gồm toàn bộ binh lính người bản xứ (Đông Dương và Quảng Châu Loan) không thuộc lực lượng chính quy (QĐ thuộc địa của Pháp); thuộc quyền chỉ huy tối cao của chính quyền Pháp (ở VN, do thống đốc Nam Kì, thống sứ Bắc Kì và khâm sứ Trung Kì chỉ huy). Có chức năng: bảo đảm trật tự an ninh; canh gác cổng sở, trại giam, tuyến giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa (của chính quyền ); đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy...; LLCSĐBTĐD được coi như địa phương quân; được tuyển mộ như lính thuộc quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương và sẵn sàng bổ sung cho QĐ thuộc địa khi cần theo lệnh của toàn quyền Đông Dương. Thuộc LLCSĐBTĐD có: vệ binh bản xứ (P. Garde Indigene; ở Bắc Kì, Trung Kì, Lào và Quảng Châu Loan thường gọi là lính khố xanh, ở Nam Kì gọi là lính thủ bộ), vệ binh miền núi (P. Garde Montagnade; thường gọi là lính châu hoặc lính dõng) và lính cơ (P. Miiice). Quân số (đầu 1945) khoảng 22.000 người. Tan rã khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945); một bộ phận (lính khố xanh) được Nhật chuyển thành bảo an binh.

        LỰC LƯỢNG CHI VIỆN, gọi chung các phân đội, binh đội... và các phương tiện chiến đấu của cấp trên phái ra, để tăng cường sức chiến đấu cho cấp dưới giải quyết nhiệm vụ tác chiến; một thành phần của lực lượng tác chiến. LLCV không thuộc quyền người chỉ huy đơn vị được chi viện, nhưng phải thực hiện các nhiệm vụ do người chỉ huy đơn vị đó đề ra theo kế hoạch hiệp đồng tác chiến.

        LỰC LƯỢNG CHIẾN LƯỢC, 1) bộ phận LLVT dưới sự chỉ đạo (chỉ huy) trực tiếp của bộ tổng tư lệnh để thực hiện nhiệm vụ tác chiến chiến lược, tăng cường cho các tập đoàn (liên binh đoàn) chiến dịch và chiến lược, thành lập các đơn vị mới và thực hiên những nhiệm vụ khác... Thành phần và tổ chức LLCL được xác định căn cứ vào ý định và nhiệm vụ chiến lược, tình hình và khả năng của LLVT của hai bên đối địch, khả năng động viên của đất nước cho chiến tranh, khả năng bảo đảm các mặt, điều kiện địa lí chiến trường và các điều kiện khác... LLCL bao gồm: các tập đoàn (cụm) LLCL đang tiến hành hoạt động tác chiến; các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội... làm lực lượng dự bị chiến lược; lượng dự trữ chiến lược như vũ khí, trang bị và các phương tiện vật chất, kĩ thuật khác...; 2) bộ phận LLVT của các cường quốc hạt nhân trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trong chiến tranh hạt nhân (không thông qua tiến hành các chiến dịch và trận chiến đấu). Bao gồm: lực lượng tiến công chiến lược (bộ đội tên lửa hạt nhân chiến lược, máy bay chiến lược, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo); lực lượng phòng ngự chiến lược (hệ thống thông báo, báo động về đột kích hạt nhân, lực lượng và phương tiện chống tên lửa và phương tiện vũ trụ...); 3) thứ quân có vai trò chiến lược trong LLVTND VN (dân quân tự vệ...).


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:33:27 pm

        LỰC LƯỢNG CHỐNG NGẦM, đơn vị được trang bị các phương tiện chuyên dụng, có nhiệm vụ phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm đối phương. Thường có tàu mặt nước, tàu ngầm, máy bay, máy bay trực thăng chống ngầm... Để săn tìm và tiêu diệt tàu ngầm. LLCN thường hoạt động trong đội hình các nhóm tàu tìm diệt, đội hình của binh đoàn chống ngầm, ở khu vực (dải) dự định, trên các tuyến chống ngầm và khi bảo đảm chống ngầm cho tàu mặt nước hành quân trên biển.

        LỰC LƯỢNG CHỦ YẾU, bộ phận lực lượng được tổ chức theo các quy mô khác nhau (chiến thuật, chiến dịch, chiến lược), dùng để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu, trên hướng chủ yếu. Thành phần của LLCY gồm: phần lớn các đơn vị trong biên chế, các lực lượng phối thuộc, chi viện và phần lớn trữ lượng bay của không quân dành cho chiến dịch (trận chiến đấu). Trong tiến công, LLCY là tập đoàn (cụm) tiến công (đột kích) chủ yếu. Trong phòng ngự, LLCY là lực lượng triển khai trên hướng tiến công chủ yếu của đối phương. Khi hành quân chiến đấu, LLCY đi theo các trục đường bảo đảm khi gặp địch có thể nhanh chóng, bí mật triển khai đội hình chiến đấu và chiếm tuyến có lợi, đánh vào bên sườn hoặc sau lưng quân địch.

        LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG, 1) bộ phận LLVT, thường là bộ đội chủ lực của BQP và quân khu, dùng để tác chiến trên chiến trường cả nước, mỗi vùng chiến lược (mặt trận) hoặc địa bàn mỗi quân khu; có nhiệm vụ thực hiện các đòn tiêu diệt lớn, làm chuyển biến cục diện chiến trường. LLCĐ phối hợp tác chiến với lực lượng tại chỗ làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu của LLVT; 2) bộ phận LLVT của khối liên minh QS có sức cơ động cao để thực hiện nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường chiến tranh; 3) lực lượng phản ứng nhanh hoặc binh đoàn cơ động nhanh của một số nước.

        LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG ĐƯỜNG SÔNG, binh đoàn chiến thuật Mĩ chuyên hoạt động tác chiến trên các sông lớn ở đồng bằng sông Cửu Long trong chiến tranh xâm lược VN. Thành lập để bảo đảm cơ động nhanh và tác chiến với lực lượng lớn ở địa hình bị sông rạch chia cắt nhiều. Nhiệm vụ: bảo đảm an toàn cho các căn cứ Mĩ và các tuyến giao thông đường thủy; phối hợp với các cuộc tiến công vào đối phương trên bộ; yểm trợ cho hoạt động bình định; làm lực lượng dự bị của MACV ở đồng bằng sông Cửu Long. Đơn vị đầu tiên làm LLCĐĐS là Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn bộ binh 9, được huấn luyện đặc biệt ở vùng sình lầy Rừng Sác, được trang bị thuyền vải cao su, phao bơi, giày ráo nước nhanh... và đóng quân trên một cụm tàu tác chiến đường sông; gồm 52 tàu chở quân và xe thiết giáp lội nước, 5 tàu chỉ huy - truyền tin, 10 tàu giám sát, 32 tàu tuần tra yểm trợ tiến công, 2 tàu tiếp dầu, 2 tàu vận tải 2.000t, 2 tàu kéo, 2 tàu nhiều chức năng và 3 đốc nổi l00t. Từ khi ra đời (cuối 1966) đến khi rút về Mĩ (8.7.1969), LLCĐĐS đã chịu nhiều thất bại và tổn thất nặng.

        LỰC LƯỢNG DÂN PHÒNG, lực lượng nòng cốt bảo đảm an ninh, ưật tự địa bàn do UBND xã, phường, thị trấn tổ chức và lãnh đạo. Có nhiệm vụ: giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu phố, cụm dân cư thuộc xã, phường, thị trấn; góp phần xây dựng xã, phường, thị trấn an toàn. LLDP ở phường, thị trấn do tiểu ban bảo vệ dân phố trực tiếp chỉ đạo công tác, công an phường (thị trấn) hướng dẫn nghiệp vụ; ở xã do công an xã huấn luyện, hướng dẫn và quản lí hoạt động. Mỗi phường, thị trấn, thôn trong xã tổ chức một đội dân phòng, gồm đội trưởng, một đến hai đội phó và các đội viên.

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ, đơn vị để ở tuyến sau, trong thế trận, dùng để tăng cường cho các đơn vị đang tác chiến ở tuyến trước; giải quyết những nhiệm vụ mới nảy sinh trong quá trình chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu. LLDB có các loại: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ BINH CHỦNG nh ĐỘI DỰ BỊ BINH CHỦNG .

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, toàn thể quân nhân dự bị và phương tiện (vận tải, làm đường, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác do chính phủ quy đinh) đã được lựa chọn, sắp xếp để đáp ứng nhu cầu động viên về người theo kế hoạch động viên. Trong thời bình, LLDBĐV được đăng kí, quản lí, tổ chức thành đơn vị dự bị động viên, huấn luyện theo chương trình quy định và thực hiện những nhiệm vụ khác tại địa phương. Khi có lệnh động viên. LLDBĐV được huy động để khôi phục và mở rộng lực lượng QĐ theo tổ chức biên chế thời chiến.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:34:46 pm

        LỰC LƯỢNG ĐA QUỐC GIA, lực lượng được huy động theo thỏa thuận từ nhiều nước (khu vực hoặc quốc tế) để tiến hành chiến tranh hoặc các hoạt động QS khác nhằm những mục đích nhất định. LLĐQG gồm chủ yếu là QĐ các nước thành viên, dưới sự chỉ huy của một bộ chỉ huy thống nhất được bố trí ở những khu vực thích hợp, bảo đảm cơ động nhanh, sức đột kích lớn, kịp thời giải quyết các xung đột khu vực, can thiệp quân sự vào nước khác hoặc tiến hành chiến tranh cục bộ... LLĐQG được sử dụng lần đầu để thực hiện thỏa ước Trại Đêvit (1981) do Mĩ bảo trợ; LLĐQG trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91) chống Irắc có gần 50 nước tham gia do Mĩ chỉ huy, LLĐQG của NATO do Mĩ lãnh đạo tiến hành chiến tranh chống Nam Tư (3.1999) có 19 nước tham gia.

        LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT MĨ, LLVT do Mĩ thành lập và trực tiếp chỉ huy để tiến hành tác chiến du kích nhằm mục đích chống lại các cuộc nổi dậy vũ trang. Toán LLĐBM đầu tiên được thành lập ở Nhật 6.1957, sau đó đưa vào Nha Trang (VN) để huấn luyện cho QĐ Sài Gòn. LLĐBM được đặc biệt chú ý phát triển dưới thời tổng thống Kennơđi (từ 1960) để thực hiện học thuyết chống nổi dậy, do CIA tổ chức, trang bị, huấn luyện. Ở VN LLĐBM chú trọng phát triển trong các dân tộc ở Tây Nguyên, từ 12.000 quân (1963) đến 42.000 (1964), chia thành toán và đóng thành các trại dọc theo đường Trường Sơn để hoạt động thám báo, biệt kích. Rút khỏi VN 3.1971. Cg lính mũ nồi xanh.

        LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VÀNG PAO. LLVT gồm phấn lớn binh sĩ người Mẹo (Mông) do Mĩ trực tiếp tổ chức, trang bị, huấn luyện và cố vấn, Vàng Pao chỉ huy, để tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mĩ ở Lào. Cg đội quân bí mật, không thuộc QĐ Vương quốc Lào. Được xây dựng trên cơ sở Tiểu đoàn 2 biệt kích do Vàng Pao là tiểu đoàn trưởng và số thổ phỉ người Mông còn lại sau cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Lào (1945-54), khoảng 5.000 người. Tới 1961 có 9.000 người, phát triển lên 12.000 (1962), 15.000 (1964), 19.000 (1969), gần 30.000 (1971). Đơn vị tổ chức phổ biến là đại đội, tiểu đoàn; trong một số cuộc hành binh lớn, lâm thời tổ chức binh đoàn cơ động. Trang bị vũ khí nhẹ (tiểu liên, súng trường, cối 60, các loại mìn...). LLĐBVP chia vùng hoạt động thành 5 khu vực chiến lược: Khu 1 (tây sông Nậm U), Khu 2 (Sầm Nưa. Xiêng Khoảng), Khu 3 (Khăm Muộn, Xayannakhẹt), Khu 4 (Hạ Lào), Khu 5 (Viêng Chăn, Bôlikhămxay). Căn cứ chính: Sảm Thông - Long Chẹng (vùng núi hiểm trở đông bắc Viêng Chăn 135km). Có bộ chỉ huy hỗn hợp (gồm sĩ quan Mĩ, Thái, Lào đặt dưới sự chỉ đạo của phân cục CIA) đóng ở U Đon (Thái Lan). Hàng năm, Mĩ chi phí cho LLĐBVP khoảng 150 triệu USD. Từ 1968 được Mĩ sử dụng như lực lượng xung kích. Đã tiến hành nhiều cuộc hành binh đánh phá vùng giải phóng và chịu tổn thất nặng nề. Sau 1975 đại bộ phận tan rã, bộ phận còn lại (cuối 1994 khoảng 8.000) tiếp tục hoạt động chống phá nước CHDC nhân dân Lào.

        LỰC LƯỢNG ĐỒ BỘ đường biển, gọi chung các lực lượng được tổ chức để thực hiện đổ bộ đường biển. Trong thành phần thường có các lực lượng chủ yếu: quân đổ bộ đường biển, lực lượng đổ bộ quân và các lực lượng chi viện.

        LỰC LƯỢNG ĐỔ BỘ QUÂN, tổ chức lâm thời của hải quân khi tiến hành đổ bộ đường biển, bao gồm các đội đổ bộ, đội tàu chi viện hỏa lực, các nhóm tàu tiến công, các nhóm tàu bảo đảm, các tàu bảo vệ khu vực đổ bộ, các nhóm tàu phá vật cản chống đổ bộ và các nhóm tàu khác (bảo đảm vận tải, phục vụ). Nhiệm vụ của LLĐBQ: tiếp nhận quân đổ bộ xuống tàu, đưa quân đổ bộ vượt biển, chiến đấu đưa quân đổ bộ lên bờ và chi viện quân đổ bộ chiến đấu trên bờ biển.

        LỰC LƯỢNG ĐỘNG VIÊN BỔ SUNG CƠ BẢN, lực lượng chủ yếu của đơn vị dự bị động viên và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân, thường được huy động sau lực lượng động viên tăng cường đầu tiên và triển khai xong trạm tiếp nhận lực lượng dự bị động viên.

        LỰC LƯỢNG ĐỘNG VIÊN TĂNG CƯỜNG ĐẨU TIÊN, bộ phận quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân được tuyển chọn với tỉ lệ nhất định trong nguồn động viên (đã sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên) và huy động trước lực lượng động viên bổ sung cơ bản để thực hiện những còng việc ban đầu (mở niêm bảo quản, vận chuyển trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật chiến đấu, dự trữ vật chất, triển khai trạm tiếp nhận lực lượng động viên bổ sung cơ bản...) khi có lệnh động viên.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:36:01 pm

        LỰC LƯỢNG ĐỘT KÍCH, lực lượng làm nhiệm vụ chủ yếu trong trận chiến đấu (chiến dịch) tiến công; thành phần chính của đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch. Có LLĐK: lục quân, hải quân và không quân. Trong lục quân (bộ đội binh chủng hợp thành), LLĐK có thể tổ chức thành các tổ, đội. cụm (có khi đến tập đoàn quân) để giải quyết nhiệm vụ tác chiến chủ yếu của các phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn; trong hải quản, LLĐK có thể tổ chức thành các nhóm, tàu (nhóm tàu đột kích, nhóm tàu tìm diệt), để giải quyết nhiệm vụ của trận chiến đấu (chiến dịch); trong không quân. LLĐK có thể tổ chức thành các tốp máy bay, để tiêu diệt mục tiêu ở mặt đất, mặt biển và ở trên không.

        LỰC LƯỢNG HẠT NHÂN, gọi chung các tổ chức LLVT được trang bị vũ khí hạt nhân, gồm sinh lực và phương tiện chiến tranh hạt nhân; bộ phận của LLVT một số nước. Có LLHN: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. Thuật ngữ LLHN ra đời từ những năm 50 của tk 20.

        LỰC LƯỢNG HẬU CẦN, tổng thể lực lượng các cơ quan, đơn vị, phân đội hậu cần trong một tổ chức, lực lượng QS nhất định. Được tổ chức ở tất cả các cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. LLHC cấp chiến lược gồm các cơ quan, đơn vị thuộc TCHC; các kho, trạm, viện, bệnh viện, xí nghiệp... do ngành hậu cần quản lí. LLHC cấp chiến dịch (chiến thuật) bao gồm LLHC trong biên chế của cấp đó cùng với LLHC do cấp trên tăng cường và lực lượng có thể khai thác, huy động tại chỗ của khu vực phòng thủ địa phương.

        LỰC LƯỢNG HẬU CẨN DỰ BỊ, bộ phận của lực lượng hậu cần chưa phân phối cho các đơn vị thuộc quyền, do người chỉ huy hậu cần trực tiếp nắm để giải quyết những nhiệm vụ đột xuất. LLHCDB có ở cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và được bố trí trong thế trận theo ý định của người chỉ huy. Khi LLHCDB đã được sử dụng, người chỉ huy phải tổ chức LLHCDB mới.

        LỰC LƯỢNG LÃNH THỔ, bộ phận của QĐ Sài Gòn gồm địa phương quân và nghĩa quân, có nhiệm vụ bình định nông thôn, bảo đảm an ninh địa phương, phối hợp bảo vệ các mục tiêu quan trọng (cơ quan chính quyền, đô thị lớn, sân bay, tuyến vận chuyển...), chống chiến tranh du kích CM và phối hợp tác chiến với chủ lực quân trong khu vực đảm nhiệm. Được coi như lực lượng bộ binh thuộc lục quân và nằm trong hệ thống chỉ huy chung của QĐ Sài Gòn (từ 1970). Từ 1971, LLLT được xây dựng theo hướng hiện đại hóa (nâng cấp tổ chức chiến đấu, tính cơ động, trang bị...) để dần dần thay thế chủ lực quân tác chiến ở phạm vi tỉnh. Quân số (1975) tới 500.000   người; chịu thương vong nhiều nhất trong chiến tranh (chiếm 25% tổng sổ thương vong của QĐ Sài Gòn). Tan rã hoàn toàn 4.1975.

        LỰC LƯỢNG PHẢN ỨNG NHANH (ngoại), lực lượtig cơ động của một nước hoặc một liên minh QS được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, dùng để giải quyết các nhiệm vụ khẩn cấp. Gồm lực lượng các quân chủng, binh chủng, lấy. lục quấn làm nòng cốt (lực lượng lục quân thường tổ chức từ cấp tiểu đoàn đến quân đoàn), do bộ chỉ huy QS tối cao chỉ huy . Bố trí ở vị trí thích hợp đảm bảo cơ động nhanh đến các khu vực hoạt động. LLPƯN có thể thực hiện nhiệm vụ đàn áp các lực lượng chống đối trong nước hoặc ở nước đồng minh; đối phó với các cuộc xung đột khu vực, chiến tranh cục bộ, vũ trang can thiệp vào nước khác; cứu trợ thiên tai,'hỏa hoạn... LLPƯN xuất hiện từ đầu thập ki 60 của tk 20 (ở Mĩ thành lập 1980 có hơn 200.000 quân). Thời kì sau chiến tranh lạnh và sau chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), đã được tổ chức ở nhiều nước (Nga, Malaixia, TQ.„), không ngừng nâng cao khả năng cơ động và tác chiến, với tên gọi khác nhau: lực lượng cơ động nhanh, lực lượng triển khai nhanh, lực lượng hành động nhanh, lực lượng phản ứng tức thì. bộ đội tác chiến đặc biệt...

        LỰC LƯỢNG PHÒNG KHÔNG, gọi chung các đơn vị phòng không có biên chế cố định và lâm thời, thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ làm nhiệm vụ trinh sát, đánh dịch trên không và phục vụ chiến đấu phòng không. Theo tổ chức và nhiệm vụ, có: PK quốc gia, PK lục quân, PK hải quân, PK địa phương và PK nhân dân. Các loại PK có vai trò vị trí riêng từng loại nhưng lại có sự liên hệ với nhau, bổ trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ. LLPK được tổ chức thành các phân đội, binh đội, binh đoàn phòng không, được trang bị phương tiện vũ khí, khí tài như: tên lửa phòng không, pháo (súng máy) phòng không, rađa phòng không, các phương tiện tác chiến điện tử, có thể có máy bay tiêm kích. Ngoài ra còn được trang bị vũ khí bộ binh để đánh địch mặt đất và bắn máy bay bay thấp. Ở VN. LLPK có ở cả ba thứ quân.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:37:36 pm

        LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG, sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực có thể huy động trực tiếp hoặc gián tiếp để phòng thủ bảo vệ tổ quốc. Gồm: thực lực quốc phòng (QĐ thường trực, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng phục vụ quốc phòng, các kho vũ khí, quân dụng, các cơ sở hạ tầng đặc dụng...) và tiềm lực quốc phòng. LLQP phụ thuộc vào chất lượng chính trị. QS, kinh tế, khoa học và công nghệ, ngoại giao... Để xây dựng LLQP cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và động viên toàn dân tham gia.

        LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, toàn bộ năng lực sản xuất của một xã hội ở một thời kì nhất định, biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên và trình độ sản xuất, năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất. LLSX bao gồm: tư liệu sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động): người lao động (tri thức, phương pháp sản xuất, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen lao động); khoa học và công nghệ. Các yếu tố trong cấu trúc LLSX có quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau, trong đó người lao động đóng vai trò chủ thể. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, LLSX phát triển từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. LLSX và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất; LLSX là yếu tố động nhất, CM nhất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất có tác động trở lại (kìm hãm hoặc thúc đẩy) sự phát triển của LLSX. Trình độ phát triển của LLSX trực tiếp quyết định việc tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền quốc phòng và an ninh của đất nước.

        LỰC LƯỢNG SỬA CHỮA, bộ phận lực lượng bảo đảm kĩ thuật trực tiếp thực hiện hoặc làm nòng cốt trong việc tiến hành kiểm tra, bảo dưỡng kĩ thuật, sửa chữa vũ khí, trang bị kĩ thuật. Theo đặc điểm tổ chức, có: LLSC cố định. LLSC cơ động, LLSC dự bị. Theo phân cấp quản lí điều hành, có: LLSC cấp chiến lược, LLSC cấp chiến dịch. LLSC cấp chiến thuật, LLSC khu vực phòng thủ địa phương. Theo nhiệm vụ chuyên môn, có: LLSC tổng hợp, LLSC chuyên ngành (quân khí, xe máy, tăng thiết giáp...).

        LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN, bộ phận LLVT dùng để tiến hành tác chiến. Ở VN có LLTC của ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ). Trong thực hành tác chiến được chia ra các loại LLTC: tiến công (phòng ngự), tăng cường, chi viện, phối thuộc, dự bị... LLTC của LLVTND VN đánh giặc bằng mọi vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, với quy mô lực lượng khác nhau và các hình thức, phương pháp tác chiến thích hợp.

        LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN KHÔNG - BỘ X. BỘ ĐỘI ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG

        LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ, bộ phận LLVT được tổ chức và bố trí trên từng khu vực (địa bàn tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, phường...) để thực hiện nhiệm vụ trên khu vực (địa bàn) đó. Ở VN, LLTC thường là các đơn vị của LLVT địa phương, làm nòng cốt trong chiến tranh nhân dân địa phương có nhiệm vụ dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân thực hành đánh địch ở mọi nơi khi chúng vừa đến, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận của chúng; bảo vệ địa phương: căng kéo lực lượng địch, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động đánh lớn tiêu diệt địch và làm những nhiệm vụ khác. Trong LLTC có một bộ phận (đơn vị) làm nhiệm vụ cơ động ở khu vực (địa bàn và khi cần có thể cơ động ra ngoài khu vực (địa bàn) hoặc trở thành lực lượng cơ động. LLTC mạnh được triển khai phối hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động tạo thành thế bố trí lực lượng vững chắc trên toàn bộ chiến trường, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng và là nét đặc thù của việc xây dựng và sử dụng LLVTND VN.

        LỰC LƯỢNG TÀU MẶT NƯỚC X. BINH CHỦNG TÀU MẶT NƯỚC

        LỰC LƯỢNG THÔNG THƯỜNG, gọi chung các tổ chức LLVT được trang bị vũ khí không thuộc vũ khí hủy diệt lớn; gồm sinh lực và phương tiện chiến tranh thông thường. Thuật ngữ LLTT xuất hiện từ những năm 50 của tk 20, khi QĐ một số nước được trang bị vũ khí hạt nhân. Hiện nay LLTT vẫn là bộ phận chủ yếu của LLVT nhiều nước và vũ khí thông thường luôn được hoàn thiện theo hướng tăng sức cơ động, uy lực, tầm hoạt động; độ chính xác, độ tin cậy và giảm thời gian thao tác vận hành...


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:38:30 pm

        LỰC LƯỢNG THỦY BỘ 3, liên binh đoàn chiến dịch -  chiến lược của QĐ Mĩ gồm một số binh đoàn thuộc các quân chủng  khác nhau, được huấn luyện làm lực lượng triển khai nhanh, lần đầu được Mĩ đưa vào sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN những năm 1965-73. Gồm các đơn vị: 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ 1 và 3, 2 lực lượng đổ bộ cỡ trung đoàn lính thủy đánh bộ, Không đoàn 1 hải quân. Quân đoàn 24 lục quân (gồm Sư đoàn Amêricơn, Sư đoàn kị binh bay 1, Sư đoàn dù 101, Lữ đoàn 1 cơ giới hóa thuộc Sư đoàn bộ binh 5) với tổng quân số đến 85.755 người (nhiều quân hơn khi Mĩ tiến công Ivô Gima và Ôkinaoa trong CTTG-II). Ngày thành lập 6.5.1965. SCH đóng tại Đà Nẵng. LLTB3 có nhiệm vụ: bảo vệ các căn cứ Mĩ ở ven biển (Đà Nẵng, Chu Lai. Phú Bài); yểm trợ các cuộc hành binh của QĐ Sài Gòn ở Vùng chiến thuật 1; tác chiến chống LLVT CM và yểm trợ bình định. Khu vực trách nhiệm: Vùng chiến thuật 1. Việc thành lập LLTB3 của Mĩ nhằm thực hiện một cuộc chiến tranh quy ước với các binh đoàn lớn nhưng do quan điểm sử dụng, tổ chức chỉ huy không hợp lí và luôn thay đổi tư lệnh đã làm tăng thêm mâu thuẫn MACV và CINCPAC (BTL Thái Bình Dương) nên trong thực tế, lực lượng này hầu như chỉ làm nhiệm vụ quét và giữ hơn là tìm và diệt, do đó không phát huy hết ưu thế binh lực và hỏa lực. Vai trò trở nên mờ nhạt. Sau 6 năm ở VN, LLTB3 chuyển giao toàn bộ trách nhiệm hành binh cho Quân đoàn 24 Mĩ (3.1970) và đến 4.1971 lực lượng còn lại rời Đà Nẵng về Ôkinaoa. Thương vong của LLTB3 tính từ 1961-72: chết 12.938, bị thương 88.633, nhiều hơn thương vong của lính thủy đánh bộ Mĩ trong CTTG-I1 (86.940). Từ 1988, đổi lại thành Lực lượng viễn chinh lính thủy đánh bộ 3.

        LỰC LƯỢNG THƯỜNG TRỰC, toàn bộ quân nhân tại ngũ và công nhân, viên chức quốc phòng đang phục vụ trong QĐ. LLTT được duy trì ở mức tối thiểu trong thời bình để thực hiện các nhiệm vụ: huấn luyện; sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc; bảo quản trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật và dự trữ vật chất; xây dựng lực lượng dự bị động viên;... LLTT dược phát triển theo tổ chức biên chê thời chiến của QĐ.

        LỰC LƯỢNG TRINH SÁT BIÊN PHÒNG, lực lượng của bộ đội biên phòng hoạt động bằng nghiệp vụ trinh sát, làm tham mưu cho chỉ huy biên phòng các cấp về công tác nắm dịch, đánh địch và đề xuất chủ trương đối sách. Hoạt động theo sáu phương thức cơ bản: trinh sát phản gián, trinh sát điệp báo, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát vô tuyến điện, hoạt động điều tra hình sự và trinh sát quân báo. Nhiệm vụ của LLTSBP: tổ chức nắm tình hình toàn diện các mặt có liên quan đến an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa - xã hội, chủ trương chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao của nước có ảnh hường trực tiếp đến biên giới ta; kịp thời phát hiện âm mưu, ý đồ, phương thức thủ đoạn hoạt động cụ thể của các loại đối tượng; tiến hành thường xuyên công tác nghiệp vụ cơ bản nhằm quản lí chặt chẽ địa bàn, đối tượng ở khu vực biên giới; tổ chức xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mặt tạo thành thế trận bí mật liên hoàn khép kín, có đủ khả năng quán xuyến địa bàn, mục tiêu, đối tượng; trực tiếp chiến đấu bằng nghiệp vụ và vận dụng pháp luật đấu tranh với các loại đối tượng trong các chuyên án, khởi tố điều tra các vụ án hình sự; lập danh sách hồ sơ các tổ chức phản động, tổ chức tình báo gián điệp phục vụ cho kế hoạch chủ động tấn công làm trong sạch địa bàn trước khi xảy ra tình huống phức tạp, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ trinh sát biên phòng cấp dưới. LLTSBP được tổ chức theo ba cấp: ở BTL có cục trinh sát, ở bộ chỉ huy biên phòng tỉnh có phòng trinh sát và ở đồn biên phòng có đội trinh sát. LLTSBP có quan hệ phối hợp với lực lượng an ninh, QĐ, các ban ngành đoàn thể ở địa phương, tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tăng cường đoàn kết dân tộc, thực hiện chủ trương và chương trình kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước.

        LỰC LƯỢNG TRỰC CHIẾN, gọi chung các đơn vị được chỉ định sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hoặc những nhiệm vụ đột xuất. LLTC có thể là các tổ, đội, khẩu đội, tàu, xe, máy bay, các phân đội, binh đội, binh đoàn và các đơn vị chuyên môn, bảo đảm... LLTC thường được bảo đảm và bổ sung trang bị vật chất phù hợp với nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:39:40 pm

        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI CƠ ĐỘNG, 1) bộ phận lực lượng vận tải quân sự cấp chiến lược và chiến dịch làm nhiệm vụ vận chuyển trên tất cả các địa bàn; thực hiện những nhiệm vụ vặn chuyển với khối lượng lớn, cự li xa, yêu cầu khẩn trương; hoặc cơ động thay đổi thế bố trí chiến lược, chiến dịch, vận chuyển bảo đảm hậu cần cho một mặt trận hoặc một chiến dịch. Thường được tổ chức thành các trung đoàn, lữ đoàn vận tải có sức cơ động cao, năng lực vận tải lớn, bố trí trên phạm vi rộng lớn trong thế trận vận tải quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. LLVTCĐ có thể được sử dụng tăng cường, phối hợp với lực lượng vận tải tại chỗ nhằm nâng cao nâng lực vận tải trên địa bàn: 2) bộ phận của lực lượng vận tải ở từng cấp, khu vực (địa bàn tỉnh, thành phố, quận, huyện...), được tổ chức để sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển của cấp mình, khu vực đảm nhiệm và sẵn sàng chi viện cho các đơn vị, khu vực khác theo mệnh lệnh của cấp trên.

        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI QUÂN SỰ, lực lượng có nhiệm vụ vận chuyển và phục vụ vận chuyển phương tiện vật chất, thương binh, bệnh binh, cơ động bộ đội. Có LLVTQS: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Vd: Binh đoàn Trường Sơn trong KCCM là LLVTQS chiến lược. Ở cấp chiến dịch LLVTQS: thường có trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải ô tô, trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải khu vực, trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải đường thủy. Ở cấp chiến thuật thường có tiểu đoàn (đại đội) vận tải ô tô, phân đội vận tải đường thủy. Các phân đội phục vụ vận tải thường có: trạm điều chỉnh giao thông, phân đội cảnh vệ, phân đội thông tin, trạm sửa chữa...

        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI TẠI CHỖ, lực lượng vận tải có thể tự mình hoặc phối hợp với lực lượng vận tải cơ động thực hiện nhiệm vụ vận tải bảo đảm hậu cần, cơ động lực lượng và các nhiệm vụ khác trong khu vực (địa bàn). Gồm: lực lượng vận tải cấp chiến lược, chiến dịch (làm nhiệm vụ vận tải khu vực); lực lượng vận tải của nhà nước và nhân dân, lấy lực lượng vận tải QS địa phương làm nòng cốt... Được tổ chức, bố trí trên từng khu vực, địa bàn trong thế trận vận tải và được xây dựng ngay trong thời bình. Để hoàn thành nhiệm vụ LLVTTC phải: thường xuyên nắm vững mạng lưới giao thông, lực lượng vận tải của các thành phần kinh tế khu vực (địa bàn), xây dựng phương án động viên và tổ chức luyện tập phục vụ các tình huống chiến đấu, tổ chức huy động lực lượng vận tải nhân dân khi cần thiết.

        LỰC LƯỢNG VIỄN CHINH PHÁP Ở VIỄN ĐÔNG nh FEFEO

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, lực lượng có tổ chức, được trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật quân sự và huấn luyện QS do một giai cấp, nhà nước hoặc tập đoàn xã hội lập ra nhằm những mục đích nhất định: sản phẩm của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, nguyên tắc xây dựng và tổ chức, nhiệm vụ của LLVT do bản chất giai cấp, đường lối, chính sách của nhà nước, tập đoàn xã hội tổ chức ra LLVT đó quyết định. Ở một số nước LLVT chỉ có quân đội thường trực gồm những quân chủng và binh chủng nhất định, có nước còn có bộ đội biên phòng, lực lượng cảnh sát vũ trang; ở một số nước khác còn gồm lực lượng bán vũ trang. LLVTND VN bao gồm QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:40:17 pm

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ẤN ĐỘ, các tổ chức vũ trang của Ấn Độ gồm: lực lượng chính quy, lực lượng không chính quy và lực lượng dự bị. Lực lượng chính quy gồm ba quân chủng (với hơn 1,3 triệu quân); hải quân, lục quân, không quân. Tổng thống thông qua thủ tướng và ủy ban nội các để lãnh đạo LLVT. Thủ tướng có quyền chỉ huy tác chiến thống nhất liên quân. Bộ trưởng BQP chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến QĐ. Tổ chức BQP gồm: Cục quốc phòng, Cục sản xuất và cung ứng quốc phòng, Cục nghiên cứu khoa học quốc phòng, Phòng cố vấn tài chính; ủy ban điều chỉnh và thực hiện kế hoạch quốc phòng. Chế độ tuyển quân tự nguyện; lục quân tuyển từ 16 tuổi; hải quân từ 16-20 tuổi; không quân từ 15-19 tuổi. BTL của quân chủng là cơ quan chỉ huy và hành chính, người lãnh đạo cao nhất của mỗi quân chủng là tham mưu trưởng. Tổ chức, quân số 2002: lục quân 1.100.000; phân thành 5 quân khu (Đông, Tây, Nam, Bắc và miền Trung); trong quân khu có các vùng, tiểu vùng và tiểu vùng độc lập; biên chế chủ yếu: 12 quân đoàn, 35 sư đoàn (2 sư thiết giáp, 1 sư cơ động, 22 sư bộ binh, 10 sư sơn cước) và 14 lữ độc lập, 3 lữ pháo binh độc lập, 6 lữ phòng không, 4 lữ công binh (tổng cộng có 53 trung đoàn tăng, 25 trung đoàn cơ giới hóa, 332 trung đoàn bộ binh, 9 trung đoàn dù, 8 liên đội (tiểu đoàn) không quân lục quân, 164 trung đoàn pháo binh (trong đó có 1 trung đoàn pháo hạng nặng, 5 trung đoàn tên lửa, 50 trung đoàn pháo tầm trung...), 29 trung đoàn pháo phòng không, 10 liên đội tên lửa đất đối không, 8 liên đội quan sát trên không, 4 liên đội máy bay trực thăng liên lạc, 6 liên đội máy bay trực thăng chống tăng và 30 trung đoàn dự bị); ngoài ra còn có BTL huấn luyện. Hải quân: 53.000 quân (bao gồm cả không quân hải quân và lính thủy đánh bộ), có 4 BTL: Đông, Tây, Nam và Viễn Đông, mỗi BTL có hạm đội tàu riêng; ngoài ra còn có BTL không quân hải quân và BTL tàu ngầm. Không quân: 145.000 quân, tổ chức thành 5 BTL: Đông, Tây, Nam, Bắc và Đông Nam; ngoài ra còn có 2 BTL huấn luyện, bảo dưỡng, cùng 45 liên đội trực thuộc (39 liên đội máy bay, 6 liên đội tên lửa). 30 tiểu đoàn tên lửa đất đối không. Lực lượng bán vũ trang khoảng 600.000, gồm: lực lượng an ninh quốc gia, lực lượng QS hóa đặc biệt, lực lượng biên phòng, lực lượng cảnh vệ... đóng quân phân tán, nhiệm vụ chủ yếu: tuần tra, cứu hộ, chống buôn lậu... có thể đảm nhiệm đột kích nhanh và tác chiến cơ động độc lập, có đặc điểm là biên chế, trang bị gọn nhẹ. về cơ bản được bố trí tương tự quân chính quy, thường phân thành 5 cấp: BTL, liên đội (đơn vị tác chiến chủ yếu), tiểu đoàn, đại đội, trung đội; đứng đầu là một sĩ quan cấp tướng đang tại ngũ. Lực lượng dự bị hơn 2,4 triệu.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG CUBA, LLVT của nhà nước và nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của ĐCS Cuba. Do chủ tịch HĐNN làm tổng tư lệnh tối cao. Đến 2002, LLVTơnC có 46.000 người; gồm ba quân chủng : lục quân (35.000), phòng không - không quân (8.000), hải quân (3.000). Có hệ thống cơ quân chiến lược, các binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn, học viện, trường QS... Được bổ sung quân số theo luật nghĩa vụ QS (ban hành 2.8.1973). LLVTCMC ra đời trong tiến trình CM chống chế độ độc tài Batixta. Khởi đầu là tổ chức Thanh niên thế hệ 100 do Phiđen Caxtrô và các bạn chiến đấu thành lập nhân dịp ki niệm 100 năm ngày sinh Hôxê Macti (1853-1953). Tổ chức này mở cuộc tiến công pháo đài Môncađa (26.7.1953, Phiđen chỉ huy), tuy không thành công (trong số 135 nghĩa quân, hầu hết bị giết, Phiđen và một số đồng đội bị bắt) nhưng đã dấy lên phong trào đấu tranh vũ trang của những người yêu nước Cuba và dẫn đến sự ra đời của tổ chức Phong trào 26.7. Sau khi được trả tự do (5.1955), Phiđen cùng một số cán bộ của Phong trào 26.7 sang Mêhicô xây dựng lực lượng (7.1955). Tới 2.12.1956, Phiđen và 82 chiến sĩ trở về tổ quốc bằng tàu Granma, đổ bộ vào bờ biển Xiera Maextra. Sau 15 ngày vừa hành quân, vừa chiến đấu, nghĩa quân chỉ còn 12 người, 7 súng, tập trung ở đỉnh núi Tuốckinô. Được nhân dân che chờ, nuôi dưỡng, lực lượng phát triển nhanh, giành những thắng lợi quan trọng (diệt đồn La Plate 17.1.1957, En Ubêró 18.5.1957); xây dựng thêm nhiều đơn vị và căn cứ mới ở Xiera Maextra (Ché Ghêvara chỉ huy), đông bắc Orienté (3.1958, Raun Caxtrô chỉ huy), Xantiagò (3.1958, Anmâyđa chỉ huy), Bagiamô (3.1958, Camilô Xienphuẽgỗt chỉ huy), Camaguây (4.1958, Vichto Môra chỉ huy)... trong 76 ngày với 30 trận chiến đấu, LLVTCMC đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của QĐ Batixta vào vùng căn cứ chính ở Xiera Maextra (từ 24.5.1958; lực lượng QĐ Batixta gồm 14 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh được không quân, hải quân chi viện) diệt gần 1.000, bất trên 600 địch, thu hơn 500 vũ khí, bắn rơi 3 máy bay; làm rung chuyển chế độ độc tài, tạo điều kiện để tiến quân về đồng bằng và đô thị. Sau khi hợp nhất Phong trào 26.7 với Ban chỉ đạo CM 13.3 (tổ chức CM của sinh viên, thanh niên ở Lat Vigiat; Phanrêchômôn chỉ huy ) và các đơn vị du kích của ĐXH nhân dân Cuba ở Giagoahay (Phêlilô Tôrẽt chỉ huy) dưới quyền chỉ huy tới cao của Phiđen, LLVTCMC mở cuộc tiến công ở các vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Orientê, Camaguây, Lat Vigiat; phát triển chiến tranh du kích trong cả nước, lập thêm nhiều căn cứ mới ở miền tây và ở t. Pina đen Riô; cắt đứt nhiều đường giao thông quan trọng (cuối 1958)... dẫn đến việc Batixta chạy trốn, cuộc tổng bãi công nổ ra ở thủ đô La Habana và hầu hết các thành phố lớn (1.1.1959) Trong tình hình đó, các cánh quân của LLVTCMC tiến về giải phóng thủ đô, chấp nhận sự đầu hàng của QĐ Batixta tại trại Môncada ở Xantiagô đê Cuba, giành lại độc lập (1.1.1959). Từ đó LLVTCMC được xây dựng thành QĐ chính quy, hiện đại: đã đánh bại cuộc tiến công xâm lược của Mĩ ở bãi biến Hirôn và bãi biển Lacga thuộc t. Lat Vigiat (17-19.4.1961; X. trận Hirôn); cùng toàn dân làm thất bại kế hoạch của Mĩ bao vây QS chống Cuba (1962); thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Ănggôla, Êtiôpia, Nicaragoa... Ngày nay LLVTCMC thường xuyên sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc và tham gia xây dựng kinh tế (có tập đoàn quân lao động thanh niên với hơn 100.000 cán bộ, chiến sĩ). Ngày truyền thống 2.12.1956.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:41:33 pm

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CAMPUCHIA X. QUÂN ĐỘI HOÀNG GIA CAMPUCHIA

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HOÀNG GIA BRUNÂY, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Brunây, có nhiệm vụ: bảo đảm  an ninh toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ hoàng gia và các đặc khu kinh tế trên bộ, trên biển,... hợp tác QS chặt chẽ với các nước trong khu vực, đặc biệt là với QĐ Anh, Xingapo. Vua là nhà lãnh đạo danh dự LLVTHGB. BQP chịu sự giám sát của một phó thủ tướng và thư kí thường trực, thực hiện chính sách quản lí tài chính, hành chính, mua sắm vũ khí thực hiện chế độ tình nguyện. LLVTHGB (2002) có 5.900 người. Lục quân 3.900 người (3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn yểm trợ), trang bị chủ yếu 20 xe tăng hạng nhẹ Scopion. Hải quân 900 người, trang bị một số tàu loại nhỏ, vừa và tàu đa tác dụng. Không quân 1.100 người, với 26 máy bay trực thăng vũ trang, không có máy bay chiến đấu. Lực lượng bán vũ trang có 3.750 người, gồm cảnh sát Hoàng gia Brunây và quân dự phòng Nêpan. Trong lịch sử hình thành và phát triển, nước Anh luôn đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng của Brunây. Hiệp ước 1971 với Anh. Brunây tự mình giải quyết các công việc nội bộ và nước Anh ủng hộ Brunây phát triển tiềm lực quốc phòng. LLVTHGB luôn hợp tác chặt chẽ với LLVT Xingapo. Các đơn vị của LLVTHGB và LLVT Xingapo thường xuyên tổ chức các cuộc diễn tập song phương.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG INĐÔNÊXIA, các tổ chức vũ trang của Inđônêxia gồm QĐ và cảnh sát; có nhiệm vụ bảo vệ đất nước chống lại kẻ thù trong và ngoài nước, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, quốc phòng của đất nước. Tổng thống là tổng tư lệnh các LLVT. LLVTI thực hiện chế độ quân dịch kết hợp tình nguyện 2 năm. Các kế hoạch về quốc phòng được thông qua tại Hội đồng nghị viện, được bộ trưởng BQP và an ninh phê duyệt. LLVTT có 297.000 người (2002), gồm 10 quân khu, 3 quân chủng, trong đó: lục quân 230.000 người gồm: 2 sư đoàn và 3 lữ đoàn bộ binh, 3 lữ đoàn đổ bộ đường không, 1 trung đoàn pháo phòng không, 2 tiểu đoàn bọc thép, 2 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh. Không quân 27.000 người gồm: BTL không quân miền với các đại đội máy bay chiến đấu, tuần tiễu, vận tải trực thăng, huấn luyện và đại đội máy bay trinh sát; hải quân 40.000 người gồm: 2 hạm đội với 6 lữ đoàn hải quân, hải quân đánh bộ, trung đoàn yểm trợ, trung đoàn phục vụ, trung đoàn huấn luyện. Lực lượng dự bị 400.000, cảnh sát chiến đấu  180.000. LLVTI luôn được tổng thống quan tâm và ban cho nhiều ân huệ. Đặc biệt trong liên minh giữa LLVT Gonca (đảng phái chính trị lớn nhất ở Inđônêxia hiện nay) đã chi phối lĩnh vực chính trị và chính quyền ở Inđônêxia. LLVTI luôn giữ một vai trò lớn trong đời sống cộng đồng, dân tộc, quốc gia, cũng như trong lĩnh vực chính trị và các lĩnh vực khác.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LIÊN HỢP QUỐC, gọi chung các LLVT được huy động theo thỏa thuận từ các nước thành viên LHQ. nhằm duy trì hòa bình và an ninh ở những khu vực có xung đột vũ trang khi các biên pháp hòa giải khác không có hiệu lực thực tế. LLVTLHQ được Hội đồng bảo an sử dụng thông qua ủy ban tham mưu quân sự Liên hợp quốc. Trong một số trường hợp, LLVTLHQ bị CNĐQ và thế lực phản động quốc tế lợi dụng nhằm phục vụ lợi ích riêng của họ.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MALAIXIA, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Malaixia; có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và bảo đảm an ninh quốc gia. Thành lập 1930, vua là tư lệnh tối cao các LLVTM. BQP là cơ quan hành chính QS cao nhất, BTL LLVT là cơ quan chỉ huy cao nhất. Bộ trường BQP điều hành các công việc hàng ngày và là chủ tịch Hội đồng các LLVT. Hội đồng này gồm: bộ trưởng BQP, tổng thư kí BQP, tham mưu trưởng các LLVT, tư lệnh các quân chủng, binh chủng và hai sĩ quan (một đại diện cho nhà vua, một được chỉ định), LLVTM có 100.000 người (2002). Lục quân 80.000 gồm 2 quân khu, 1 bộ chỉ huy  dã chiến, 4 bộ chỉ huy vùng, 11 lữ đoàn bộ binh; 1 lữ đoàn dù. Không quân 8.000 gồm 4 sư đoàn. 84 máy bay chiến đấu. Hải quân 12.000 gồm: 1 hạm đội, 2 vùng hải quân. Lực lượng dự bị: 41.600, lực lượng bán vũ trang 20.100, cảnh sát chiến đấu 18.000.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MĨ, các tổ chức vũ trang chính quy của chính phủ Mĩ làm công cụ thực hiện chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược QS toàn cầu. Thành lập 14.6.1775. Từ 1947 thành lập cơ quan QS quốc gia, đến 1949 đổi thành BQP gồm 3 bộ: lục quân, hải quân, không quân. Đứng đầu BQP là một quan chức dân sự, chỉ đạo các LLVT về chiến lược. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân có chức năng cố vấn cho Hội đồng an ninh quốc gia, điều hành tác chiến của QĐ và đặt trực tiếp dưới quyền tổng thống. Năm 2002, LLVTM gồm 1.374.000 quân (lục quân: 471.730; không quân: 357.030; hải quân: 545.240). Bố trí LLVT Mĩ (2002): tại Mĩ (cả bờ Tây Thái Binh Dương) có 1.172.860 người, gồm 1 BTL tập đoàn quân, 3 BTL quân đoàn lục quân, 9 tập đoàn quân không quân, 2 hạm đội, 2 cụm lính thủy đánh bộ viễn chinh; châu Mĩ (trừ Mĩ) có 3.970 quân, gồm lục quân: 1.280, không quân: 260, hải quân: 1.960, lính thủy đánh bộ: 590; châu Âu có 100.000 quân, gồm 1 BTL lục quân, 2 BTL không quân, 1 hạm đội; châu Á có 100.000 quân, gồm 1 BTL lục quân, 3 BTL không quân, 2 hạm đội, 1 cụm lính thủy đánh bộ viễn chinh. 5.1997 Mĩ đưa ra chiến lược QS đến 2015 là đảm bảo cho LLVTM có khả năng góp phần định hình môi trường quốc tế có lợi cho Mĩ.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:42:35 pm

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIANMA. các tổ chức vũ trang và bán vũ trang, dưới quyển kiểm soát của Đảng thống nhất quốc gia (Đảng cương lĩnh XHCN Mianma), có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh trong nước. LLVTM có 444.000 người (2002). Lục quân có 325.000 quân, gồm 10 sư bộ binh nhẹ (mỗi sư gồm 3 trung tâm tác chiến chiến thuật), 12 bộ chỉ huy vùng, 32 trung tâm tác chiến chiến thuật với 145 tiểu đoàn bộ binh đồn trú. Hải quân 10.000 (có 800 hải quân đánh bộ). Không quân 9.000 gồm 83 máy bay chiến đấu, 29 máy bay trực thăng vũ trang. Lực lượng bán vũ trang có 100.000, gồm 65.000 cảnh sát, 35.000 dân quân. BQP có: 3 sư đoàn riêng được triển khai theo nhu cầu cần thiết đối với khu vực; thực hiện nhiệm vụ giám sát về tài chính, quản lí và tác chiến của LLVT, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng nhà nước, sự giám sát của Hội đồng bộ trưởng (chính phủ). Hội đồng nhà nước có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp, thiết quân luật, tổng động viên. Bộ trưởng BQP là người đứng đầu và là tham mưu trường LLVT.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGA, LLVT của nhà nước CHLB Nga. Thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Nga 7.5.1992 trên cơ sở các tổ chức của QĐ và hải quân LX trước đây. Tổ chức hiện nay gồm: 3 quân chủng (lục quân, không quân, hải quân), 3 binh chủng độc lập (bộ đội tên lửa chiến lược, lực lượng vũ trụ, bộ đội đổ bộ đường không), bộ đội hậu cần và một số lực lượng đặc biệt khác. Tổng quân số 988.100 người. Lục quân tổ chức thành 6 quân khu và 1 đặc khu QS (Caliningrat), gồm: 6 BTL tập đoàn quân, 3 BTL quân đoàn, 5 sư đoàn xe tăng, 21 sư đoàn bộ binh cơ giới, 4 sư đoàn đổ bộ đường không, 4 sư đoàn pháo phòng không, 5 sư đoàn pháo binh, 7 lữ đoàn đặc nhiệm. 13 lữ đoàn tên lửa chiến dịch đất đối đất. 5 lữ đoàn và 3 trung đoàn chống tăng, 19 lữ đoàn tên lửa  phòng không, 20 trung đoàn máy bay trực thăng, 11 lữ đoàn bộ binh cơ giới, 4 sư đoàn và 4 lữ đoàn phản ứng nhanh. Không quân gồm: 2 tập đoàn quân phòng không, 5 quân đoàn phòng không, 2 tập đoàn quân không quân. Hải quân gồm: 4 hạm đội (Biển Bắc, Bantich, Biển Đen, Thái Bình Dương) và phân hạm đội Caxpi; không quân của hải quân (4 BTL thuộc hạm đội, 4 sư đoàn khung, 5 trung đoàn máy bay ném bom); lực lượng hải quân đánh bộ (1 sư đoàn, 4 lữ đoàn, 3 lữ đoàn đặc nhiệm); lực lượng phòng thủ bờ biển (1 sư đoàn, 1 lữ đoàn phòng thủ bờ biển, 1 trung đoàn pháo binh. 2 trung đoàn tên lửa phòng không). Lực lượng vũ trụ thành lập 6.2001 trên cơ sở  một số đơn vị tên lửa chiến lược và phòng không.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, lực lượng vũ trang do chính dàng của giai cấp công nhân tổ chức và lãnh đạo; mang bản chất CM và tính nhân dân sâu sắc. Tổ chức và cơ cấu của LLVTND tùy thuộc đặc điểm và truyền thống mỗi nước. Ở VN, LLVTND bao gồm: QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân (x. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG, bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, gồm bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân địa phương: do cấp ủy ĐCS VN và chính quyền địa phương trực tiếp lãnh đạo, quản lí, cơ quan QS địa phương chỉ huy và cơ quan QS cấp trên chỉ đạo. Có nhiệm vụ: bảo vệ nhân dân. bảo vệ Đảng và chính quyền, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực trong hoạt động tác chiến và các hoạt động khác, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, xây dựng địa phương vững mạnh.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân VN do ĐCS VN lãnh đạo, nhà nước CHXHCN VN quân lí; có nhiệm vụ chiến đấu giành và giữ độc lập. chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân. bào vệ chế độ XHCN và những thành quả của CM cùng toàn dân xây dựng đất nước; là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền, lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân. LLVTND VN gồm QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân. LLVTND VN sinh ra trong cao trào đấu tranh CM của quần chúng giành độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH, từ những đội vũ trang CM của ĐCS Đông Dương, trưởng thành lớn mạnh qua CM tháng Tám 1945, KCCP, KCCM và thời kì xây dựng, bào vệ tổ quốc. LLVTND VN ngày nay được xâv dựng theo phương hướng: QĐND và công an nhân dân CM chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ hùng hậu. LLVTND VN luôn trung thành với Đảng, nhân dân và Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:43:26 pm

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHẬT BẢN, các tổ chức vũ trang của Nhật Bản, gồm lực lượng thương trực và dự bị; có nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia. Theo hiến pháp. Nhật Bản không xây dựng QĐ và sử dụng QĐ trong tranh chấp quốc tế. Tổ chức lãnh đạo LLVTNB gồm: Hội đồng an ninh quốc gia, Cục phòng vệ, Hội đồng tham mưu trường liên quân, bộ tham mưu của các quân chủng. Thủ tướng là tổng tư lệnh tối cao. Hội đồng an ninh quốc gia là cơ quan trực thuộc thủ tướng (gồm: cục trưởng Cục phòng vệ, bộ trưởng Bộ ngoại giao, bộ trưởng Bộ tài chính, bộ trưởng Bộ nội vụ. chánh văn phòng nội các, cục trưởng Kế hoạch kinh tế) có nhiệm vụ làm tư vấn cho thủ tướng về các vấn đề quốc phòng: đường lối, chính sách quốc phòng, lập các kế hoạch quốc phòng, quyết định sử dụng QĐ khi cần thiết, đồng thời tư vấn cho thủ tướng các vấn đề an ninh nội bộ. Cục phòng vệ (tương đương BQP) đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của thủ tướng, có nhiệm vụ chỉ đạo Hội đồng tham mưu trường liên quân. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là cơ quan tham mưu cho Cục phòng vệ, lập kế hoạch phòng thủ, tổ chức xây dựng QĐ, phương án sử dụng lực lượng. Bộ tham mưu quân chủng là cơ quan tham mưu của Cục phòng vệ, có chức năng như Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, nhưng chỉ thực hiện trong quân chủng. LLVTNB (2002) gồm 239.900 quân thường trực, trong đó: lục quân 148.200 người, với 5 BTL (Phương diện đội Bắc, Phương diện đội Đông Bắc. Phương diện đội Đông, Phương diện đội Trung, Phương diện đội Tây). Dưới các BTL phương diện đội có các sư đoàn, lữ đoàn. Không quân 45.600 người, với 4 BTL (Không quân chiến đấu, Tập đoàn không quân huấn luyện, Tập đoàn không quân hỗ trợ. Tập đoàn không quân thử nghiệm). Hải quân 44.400 người, với 8 BTL (Hạm đội hỗn hợp, Hạm đội địa phương Yôcôxuca, Hạm đội địa phương Cure, Hạm đội địa phương Sasebo, Hạm đội địa phương Maisuru, Hạm đội địa phương Ôminato, Hạm đội huấn luyện, Không quân hải quân). Lực lượng thường trực phân thành: tự vệ lục quân, tự vệ hải quân, tự vệ không quân.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHILIPPIN, các lực lượng QĐ và cảnh sát vũ trang của Philippin thực hiện chế độ QS chuyên nghiệp; có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, sự đe dọa vũ trang trong nước; bảo vệ tài sản và cuộc sống của nhân dân Philippin, giúp chính phủ trong việc duy trì sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế. Tổng thống là tổng tư lệnh các LLVT, Hội đồng an ninh quốc gia cố vấn cho tổng thống về các vấn đề có liên quan đến quốc phòng. BQP và Tổng tham mưu trưởng điều hành các hoạt động của LLVT. LLVTP có 106.000   quân thường trực (2002), trong đó: lục quân 66.000 gồm 5 bộ chỉ huy vùng, 8 sư đoàn bộ binh, 1 bộ chỉ huy tác chiến đặc biệt, 5 tiểu đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh và lực lượng bảo vệ trực thuộc tổng thống. Hải quân 24.000 người, gồm 6 vùng hải quân. Không quân 16.000 người, gồm 49 máy bay chiến đấu, khoảng 67 máy bay trực thăng vũ trang. Philippin kí kết một số hiệp ước QS với Mĩ cho phép nhân viên QS Mĩ được vào Philippin, tổ chức diễn tập giữa lực lượng QS Mĩ và Philippin. Hiện nay. Philippin đang tăng cường hiện đại hóa, nâng cao sức mạnh của LLVT (chú trọng lực lượng không quân và hải quân).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THÁI LAN, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Thái Lan; có nhiệm vụ báo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia và bảo vệ những lợi ích dân tộc, chống lại những đe dọa từ bên trong và bén ngoài; hợp tác với các nước đồng minh và LHQ để duy trì hòa binh và tăng cường an ninh khu vực. Được thành lập từ giữa tk 19. Vua là tổng tư lệnh LLVT, thủ tướng làm chủ tịch Hội đồng quốc phòng. Thực hiện chế độ quân dịch kết hợp tình nguyện. LLVTTL (2002) gồm: 360.000 quân thường trực, trong đó: lục quân 184.000 gồm 4 BTL quân khu, 2 BTL quân đoàn, 2 sư đoàn kị binh, 3 sư đoàn bọc thép, 2 sư đoàn bộ binh cơ giới, 1 sư đoàn bộ binh nhẹ, 2 sư đoàn biệt kích, 1 sư đoàn pháo binh, 1 sư đoàn pháo phòng khống, 1 sư đoàn công binh, 4 sư đoàn phát triển kinh tế và các đơn vị độc lập. Không quân có 40.000 gồm 4 sư đoàn với 153 máy bay chiến đấu, không có máy bay trực thăng vũ trang, một trường huấn luyện bay, 3 liên đoàn. Hải quân có 64.000 gồm 3 hạm đội, 1 sư đoàn không quân của hải quân. Lực lượng bán vũ trang gồm: quân đoàn phòng vệ tình nguyện, lực lượng bán chính quy tình nguyện, cảnh sát biển, kiểm soát không vận, tuần tra biên giới, biệt động và lực lượng phản ứng nhanh. Xu hướng xây dựng LLVT: chuyên nghiệp, trung lập, không can thiệp vào nội bộ các nước khác.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRUNG QUỐC X. QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:44:05 pm

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG XINGAPO, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Xingapo; có nhiệm vụ bảo vệ biên giới, duy trì và ổn định an ninh trong nước. Tổng thống là tổng tư lệnh danh dự. BQP trực tiếp giám sát và điều hành LLVT. Thực hiện luật nghĩa vụ QS được công bố 1967 (tất cả nam giới 18 tuổi phải phục vụ trong QĐ từ 24-30 tháng). LLVTX (2002) bao gồm: lực lượng thường trực 60.500 người, lực lượng dự bị 213.800. Tổ chức cụ thể: lục quân có 50.000 người, gồm 3 sư đoàn bộ binh hỗn hợp. 1 sư đoàn triển khai nhanh, 1 lữ đoàn cơ giới. Không quân 6.000 người, với 136 máy bay chiến đấu, 20 máy bay trực thăng vũ trang tổ chức thành 18 phi đoàn các loại. Hải quân 4.500 người, có 1 BTL và 3 căn cứ hải quân. LLVTX có quan hộ QS mật thiết với Mĩ. 11.1990 Mĩ và Xingapo thỏa thuận cho phép một phần lực lượng của Mĩ được vào căn cứ QS của Xingapo. Xingapo rất chú trọng trong việc tự sản xuất các trang thiết bị ở trong nước. Hải quân đã tự thiết kế và đóng các loại tàu khu trục lớp Vichtori...; Xingapo đang sản xuất hai loại xe chiến đấu  bộ binh mới IFV25 và IFV 40/50).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG XÔ VIẾT. LLVT của nhà nước Liên bang cộng hòa XHCN xô viết (LX), để bảo vệ thành quả XHCN, tự do và độc lập của LX. Thành lập dưới sự lãnh đạo trục tiếp của V. I. Lênin, theo sắc lệnh tổ chức Hồng quân còng nông (28.1.1918) và sắc lệnh tổ chức Hải quân công nông đỏ (11.2.1918) của Hội đồng dân ủy (chính phủ Xô viết) sau CM tháng Mười để đối phó với các lực lượng phản động bên trong và can thiệp vũ trang của các nước tư bản từ bên ngoài. Từ đó nhiều liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội dược thành lập và được triển khai (trong đó có Quân đoàn 1 Hồng quân công nông - quân đoàn đầu tiên, thành lập 1.1918 ỜPètrògrat (x. Xanh Pêtecbua). 23.2.1918 các lực lượng CM được tổng động viên để chống kẻ thù. Trong thời gian đầu, Hồng quân được xây dựng theo chế độ tình nguyện, gồm những đội cận vệ đỏ, những đơn vị bộ binh và thủy binh CM, do ĐCS tổ chức ở các thành phố lớn và trung tâm công nghiệp, với quân số khoảng 196.000 người; từ 5.1918 theo chế độ phục vụ QS bắt buộc. Quân số tăng nhanh từ 3 triệu người (1919) lên tới 5 triệu (cuối 1920). Đã lần lượt đánh bại đội quân can thiệp của các nước tư bản châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Ba Lan...) và Mĩ, Nhật; đánh tan các lực lượng bạch vệ và thổ phỉ trong nội chiến ở Nga 1918-23, bảo vệ vững chắc nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Sau nội chiến, LLVTXV được xây dựng theo hướng chính quy, hiện đại. Trong hải quân đã thành lập không quân hài quân; ngoài 2 hạm đội đã có (Hạm đội Bantich và Hạm đội Biển Đen) thành lập thêm Hạm đội Thái Bình Dương (1935) và Hạm đội Biển Bắc (1937); nhiều tàu chiến thế hệ mới được đưa vào trang bị. Các đơn vị không quân, thiết giáp, pháo binh... được tổ chức và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, biên chế, trang bị. Nền công nghiệp quốc phòng phát triển nhanh: nếu từ 1930 đến 1931 mới cung cấp được 860 máy bay, 740 xe tăng, 1.911 pháo, 41.000 súng máy, 174.000 súng trường thì đến 1938 đã cung cấp được 5.469 máy bay, 2.271 xe tăng, 12.687 pháo, 74.500 súng máy, 1.174.000 súng trường. Quân số giảm xuống còn khoảng 586.000 người (1927); tuyển quân từ 1939 theo luật nghĩa vụ QS phổ thông. Cán bộ QĐ được đào tạo chính quy trong các trường QS. 1939-41 để đối phó với nguy cơ xàm lược của chủ nghĩa phát xít. LLVTXV đã được củng cố và phát triển nhanh. Quân số tăng lên tới trên 5 triệu người. Xây dựng nhiều đơn vị chiến đấu (riêng lục quân tới 6.1941 đã có 303 sư đoàn, trong đó gần 1/4 đang được xây dựng). Công nghiệp quốc phòng 9.1939-41 đã sản xuất và đưa vào trang bị hơn 7.000 xe tăng, 29.637 pháo dã chiến. 52.407 súng cối, 17.745 máy bay, 100 tàu chiến (riêng 1940), trong đó có nhiều loại trang bị thế hệ mới như máy bay Iak-1, MiG-3, IL-2; xe tăng KV (hạng nặng), T-34 (hạng trung); hỏa tiễn BM-13 (Cachiusa). Hệ thống chỉ huy được kiện toàn: bộ tham mưu Hồng quân công nông được cải tổ thành BTTM Hồng quân; CTĐ.CTCT được tăng cường; số lượng đảng viên ĐCS trong LLVTXV lên tới 500.000 người (gấp 3 lần so với 1938). Trong những năm chiến tranh giữ nước vĩ đại. ĐCS LX, chính phủ và nhân dân LX đã làm tất cả để bảo đảm cho LLVTXV có sức mạnh để chiến thắng. Trong 6 tháng cuối 1941, đã thành lập hơn 400 sư đoàn mới; hơn 1.100.000 đv ĐCS được huy động vào QĐ và hạm đội; riêng trên Mặt trận Xô - Đức (1945), lực lượng chiến đấu có 6.700.000 người (73%), 106.300 pháo và súng cối (73%), trên 12.000 xe tăng và pháo tự hành (75%), gần 15.000 máy bay chiến đấu (65%). LLVTXV đã hoàn thành sứ mệnh bảo vệ tổ quốc XHCN, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít (xt chiến tranh thế giới lần II, 1939-45; chiến tranh Xô - Đức, 1941-45; chiến tranh Xô - Nhật, 1945). Từ sau CTTG-II đến 4.1991, LLVTXV là một trong những QĐ hiện đại và mạnh nhất thế giới, có tên gọi truyền thống là QĐ và hải quân LX. Đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS LX, các cơ quan quyền lực tối cao (Xô viết tối cao LX, HĐBT LX), dưới sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của bộ trường BQP LX (riêng bộ đội biên phòng và bộ đội nội vụ do ủy ban an ninh quốc gia và Bộ nội vụ trực tiếp chỉ đạo). Thành phần LLVTXV gồm: lục quân (1.200.000 người), hải quân (400.000 người), không quân (410.000), phòng không (470.000 người), bộ đội tên lửa chiến lược (250.000 người), bộ đội biên phòng (400.000 người), bộ đội nội vụ (230.000 người) và bộ đội phòng thủ dân sự. Quân số thường trực trên 3 triệu người. Có lực lượng dự bị động viên 5.500.000 người (khoảng 10% tổng số quân nhân dự bị). Có hệ thống cơ quan QS địa phương (tên gọi là ủy ban quân vụ, chuyên làm công tác động viên và tuyển quân), tổ chức theo hệ thống đơn vị hành chính nhà nước ở các cấp (nước cộng hòa, cộng hòa tự trị, miền, tỉnh...). Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS phổ thông. LLVTXV được trang bị những vũ khí, phương tiện KTQS hiện đại nhất. Ngày truyền thống 23.2.1918.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:45:41 pm

        LỰC LƯỢNG YỂM HỘ, lực lượng làm nhiệm vụ yểm hộ cho lực lượng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ. LLYH có thể được tổ chức thành tổ, đội, phân đội, binh đội, binh đoàn và liên binh đoàn; có thể thực hiện nhiệm vụ yểm hộ ở trên bộ, trên biển và trên không. Ở trên bộ, LLYH có thể triển khai sát biên giới để sẵn sàng đánh trả quân tiến công xâm nhập bất ngờ qua biên giới, tạo điều kiện có lợi cho việc triển khai và thực hành tác chiến chiến lược của lực lượng chủ yếu (thể đội một) hoặc yểm hộ lực lượng đang hành quân, rút lui, hoặc làm nhiệm vụ khác; ở trên không, LLYH có nhiệm vụ bảo vệ, che chờ (gây nhiễu, chế áp bằng hỏa lực, nghi binh...) cho các lực lượng đột kích; ở trên biển, LLYH làm nhiệm vụ hộ tống đoàn tàu vượt biên, các đội đổ bộ và các tàu làm nhiệm vụ khác. Cg lực lượng yểm trợ.

        LỰC LƯỢNG YỂM TRỢ nh LỰC LƯỢNG YỂM HỘ

        LƯỠI LÊ, vũ khí lạnh bằng thép, mũi nhọn, được lấp vào phía đầu nòng súng (súng trường, tiểu liên), sát thương đối phương bằng đâm khi đánh giáp lá cà. Theo hình dáng, có: LL hình dao nhọn có rãnh hai bên để thoát máu, LL hình múi khế nhọn có 3 hoặc 4 mặt lõm thoát máu. Theo phương thức lắp ráp với súng, có: LL lắp sẵn, giương lên khi sử dụng; LL rời, khi dùng mới lắp. LL xuất hiện từ giữa tk 17, hình dao nhọn, cán lắp vào nòng và không bắn được khi dùng lê. Cuối tk 17 có LL cán hình ống lồng vào nòng súng nên vẫn bắn được.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67038857_455748118488407_8679880041925967872_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeEGfRtSDywEVEOKqKsLSKScFksenNQTG_tnB0C1bPUSzZ-uNG6FMVLAjxsr2iCzfOm3JtykCrVPj4G1XxovCWONCFjxpqkx7Uif5XNuc8sMeA&_nc_oc=AQkWU8SbasEkjzbtXSdz4c5RdL4wwPId4okTLWVR-4UNHtGRH11IGttnQantABxe4W0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=a3d38abd9cf60583e12fa6f209ecccd8&oe=5DAC8DB1)

Một số loại lưỡi lê

        LƯỚI KHỐNG CHẾ QUÂN DỤNG, hệ thống các điềm trắc địa với mật độ và tọa độ ở mức chính xác cần thiết, thiết lập trên cơ sở lưới trắc địa quốc gia và phát triển trên một khu vực địa hình, một chiến trường hay trong phạm vi toàn quốc để phục vụ cho mục đích QS. Là cơ sở cho công tác đo vẽ địa hình, lập mạng khống chế, liên kết các mạng địa phương, đo nối đội hình chiến đấu pháo binh - tên lửa, đo đạc công trình quốc phòng...

        LƯỚI KHỐNG CHẾ TRẮC ĐỊA. hệ thống các điểm trắc địa có tọa độ và độ cao được xác định trong một hộ thông nhất bằng các phương pháp đo đạc chính xác. LKCTĐ dùng làm cơ sở để đo vẽ bản đồ địa hình, đo đạc công trình, lập mạng khống chế pháo binh...

        LƯỚI NGỤY TRANG, khí tài ngụy trang chế sẵn dạng lưới, dùng để che giấu các trang thiết bị, công trình QS tránh sự quan sát, phát hiện của đối phương. Được làm từ sợi thực vật hoặc sợi tổng hợp, có đính thêm vật liệu ngụy trang (các mảnh vải sợi hoặc ni lông các màu, cành lá...); cấu tạo theo màu sắc của phông nền hoặc các đặc trưng vật lí cần che giấu: chống quan sát bằng khí tài quang học, rađa, hồng ngoại... Các tấm lưới có thể liên kết dễ dàng với nhau thành kích thước tùy ý và sử dụng được nhiều lần.

        LƯỚI NGỤY TRANG CHỐNG RAĐA, lưới ngụy trang có cấu tạo đặc biệt để che giấu trang thiết bị, mục tiêu QS nhằm giảm khả năng trinh sát bằng rađa của đối phương. Có nhiều loại và kích thước khác nhau, được sản xuất từ sợi tổng hợp, tẩm phủ các loại vật liệu có khả năng hấp thụ và tán xạ sóng rađa. Tác dụng ngụy trang của LNTCR dựa trên việc sử dụng  khả năng phân giải hạn chế của hệ thống rađa và sử dụng tính phản xạ sóng rađa của vật thể, tạo ra trên màn hình hệ thống rađa những dấu hiệu không giống dấu hiệu của vật được ngụy trang.

        LƯỚI Ô VUÔNG BẢN ĐỒ, hệ thống các đường thẳng song song với hai trục tọa độ vuông góc trên bản đồ địa hình. LÔVBĐ được dùng để xác định tọa độ vuông góc các điểm hoặc xác định vị trí các điểm trên bản đồ địa hình theo tọa độ vuông góc của chúng.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:47:45 pm

        LƯỚI TRẮC ĐỊA TOÀN CẦU (A. International Geodynamics Service, vt: IGS), lưới khống chế trắc địa cao cấp, gồm các điểm có tọa độ xác định theo một hệ tọa độ thống nhất và phân bố trên phạm vi toàn cầu. Thiết lập từ 1991 theo quyết định của Hiệp hội trắc địa quốc tế (IAG) và được hoàn thiện từng bước nhờ sự phát triển của kĩ thuật định vị vệ tinh, đặc biệt là hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Gồm 180 điểm, trong đó có 32 điểm trung tâm (châu Mĩ 9, châu Âu 9, châu Á 3, châu Phi 2, châu Đại Dương 6, Thái Bình Dương 3). Độ chính xác định vị tương đối GPS trong các phạm vi 50, 100 và l.000km đạt giá trị tương ứng 10-6, 10-7 và 10-9.

        LƯƠNG KHÔ, 1) thức ăn được chế biến từ một số loại lương thực, thực phẩm làm chín, khô để dự trữ dài ngày, khi ăn không phải đun nấu. LK có các loại như: khoai sắn khô, ngô rang, gạo rang, gạo đồ, cơm sấy, bánh quy, bánh ép, bánh phở khô, xôi đồ sấy, mì ăn liền... Có loại LK ản được ngay, có loại phải cho vào nước sôi để 5-20ph. LK sử dụng thuận tiện cho LLVT khi hành quân dã ngoại và chiến đấu. LK được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến tranh ở VN và ở một sỏ nước khác; 2) X. bánh ép.

        LƯƠNG LONG (7-181), thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa của người Việt chống chính quyền đô hộ Đông Hán (TQ). Người Giao Chi. Đầu năm 178, người Tày, Nùng ở vùng biên giới Việt - Trung nổi dậy chống chính quyền đô hộ, LL đã đứng ra tổ chức lực lượng, kêu gọi nhân dân Giao Chỉ vùng lên khởi nghĩa, được thủ lĩnh và nhân dân các quận Cửu Chân. Nhật Nam, Hợp Phố nhiệt thành hưởng ứng. Quân khởi nghĩa lên tới vài vạn người, đánh chiếm được nhiều nơi. khiến thứ sử Giao Chỉ là Chu Ngung phải đóng cửa thành cố thủ và xin viện binh. 181 nhà Đông Hán phải đưa thêm lực lượng lớn sang đàn áp kết hợp với thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc, cuối cùng cô lập và giết được LL (xt khởi nghĩa Lương Long, 178-81).

        LƯƠNG NGỌC QUYẾN (Lương Lập Nham; 1885-1917), người tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Thái Nguyên (30.8.1917- 10.1.1918). Quê xã Nhị Khê, h. Thường Tín, t. Hà Tây. Sớm chịu ảnh hường tư tưởng yêu nước, tiến bộ của cha là Lương Văn Can. 1905 là một trong những thanh niên VN đầu tiên sang Nhật du học theo phong trào Đông Du (1905-09). Năm 1911 tốt nghiệp Trường võ bị Chấn Vũ ở Đông Kinh (Nhật), về TQ học trường QS ở Quảng Đông. 1912 tham gia VN Quang phục hội do Phan Bội Châu thành lập, làm ủy viên QS, nhiều lần về nước hoạt động. 1915 bị cảnh sát Anh ở Hương Cảng (TQ) bắt giao cho Pháp đưa về VN. Bị kết án tù khổ sai chung thân, giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), Sơn Tây, Phú Thọ, 7.1916 đày lên Thái Nguyên. LNQ tiếp tục hoạt động tuyên truyền CM, vận động binh lính người Việt, cùng Đội Cấn tập hợp lực lượng, chuẩn bị kế hoạch tiến hành khởi nghĩa. Đêm 30.8.1917 cuộc khởi nghĩa bùng nổ, bị Pháp đàn áp, LNQ hi sinh.

        LƯƠNG NGỌC TRÁC (Nguyễn Quê Ngạch: s. 1928), nhạc sĩ, ủy viên thường vụ BCH Hội nhạc sĩ VN khóa I. Quê xã Phú Thụy, h. Gia Lâm, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1947). Năm 1945-46 tham gia giành chính quyền ở Hà Nội và vào tự vệ. 1951-54 đội trưởng văn công Đại đoàn 308. Năm 1954-88 nhiều lần trưởng đoàn ca múa QĐ. Phó chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội khóa I. Năm 1980-83 hiệu trưởng Trường văn hóa nghệ thuật QĐ. Ca khúc tiêu biểu: “Mơ đời chiến sĩ” (1947), “Ngày về” (1947), “Lô Giang” (1948), “Trường chinh ca” (1948) là một trong những hợp xướng đầu tiên của âm nhạc VN. LNT còn viết nhạc múa: ‘Trên đường kéo pháo” (1958), “Anh du kích và sáu cô gái” (1959), vũ kịch “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh” (1960, viết cùng Nguyễn Thành, Huy Thục, Nguyên Nhung). Huy chương vàng chỉ đạo nghệ thuật hội diễn toàn quốc 1985. Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhì, Chiến công hạng ba, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67083268_455748111821741_6938602366283284480_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeF3orm1rd4ThfVESgOdLA3OharD3BIUumC8MnL1t7T8cjKlqCpE53iCmx4euKsnHa1U2i58aAWtiXieOiZPjHc0fWDK6MkXQHrwWNiZx2zkTw&_nc_oc=AQkM4eL-f4sfM_eV-Gb5qD9iOUDDoxgeS188_mOqyY6ZYqvWbMQKb19E5FoMydRi8ig&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=397c880c1f7e38581edf245e41bd5723&oe=5DE3DD5A)


        LƯƠNG TẤN THỊNH (1946-72), Ah LLVTND (1971). Quê xã Hoà Hiệp Trung, h. Tuy Hòa, t. Phú Yên; nhập ngũ 1963; đv ĐCS VN (1966); khi tuyên dương Ah là đại đội trường Đại đội đặc công 202, bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên. Trong KCCM, chiến đấu trên 100 trận, chỉ huy đơn vị đánh 24 trận, diệt và làm bị thương trên 1.000 địch, phá hủy 13 kho đạn, 10 khẩu pháo và 15 xe QS (LTT diệt và làm bị thương 225 địch, phá 1 xe QS). Trận Mò O (7.7.1969), chỉ huy tổ đánh vào khu trung tâm, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt 1 đại đội địch. Trận Núi Thơm (9.3.1970), LTT chỉ huy mũi chủ yếu đánh vào trung tâm, tạo thời cơ cho đơn vị diệt 1 đại đội địch. Trận Xuân Phước (28.8.1970), chỉ huy đơn vị luồn qua 18 lớp rào, thọc sâu vào trung tâm, rồi đánh từ trong ra, diệt 1 đại đội và 3 trung đội địch. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67266920_455748135155072_5227380953382387712_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeF9Dehq5N6pI6huRwSnRwgld8IP3-hedzgkwILNoaDEwBHDvtWw3yAt6oRJOaNSFOY8J3a9eL9yXBjzMyf40ytyIP5Pw5e-bLEfGDbtIYb7ow&_nc_oc=AQkDlM83-4LG0v5R_ZhTQ9cZ1qKVMi15zkdjLQyNs6crQiocvPb31wLwUv0Od2J8k34&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=e8693694c8a896cf0eee8f392bad49b6&oe=5DEAE394)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:50:45 pm

        LƯƠNG VĂN BIÊNG (s. 1944), Ah LLVTND (1976). Dân tộc Mường, quê xã Nam Tiến, h. Quan Hóa, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1967; đv ĐCS VN (1969); khi tuyên dương Ah là tiểu đội trưởng công binh, Đại đội 19, Trung đoàn 33, Quân khu 7. Năm 1968- 74 tham gia chiến đấu và vận chuyển vũ khí, lương thực, đưa đón bộ đội qua sông ở chiến trường Đông Nam Bộ, chở hàng trăm chuyến đò an toàn trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Tham gia đánh nhiều trận, diệt 165 địch, bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 1 kho đạn. Trận đánh sân bay Tánh Linh (Bình Tuy, 6.1970), dẫn đầu tổ đánh vào sân bay, diệt gần 1 đại đội. phá 1 súng cối, 2 đại liên và 1 kho đạn. tạo điều kiện cho mũi khác tiến công tiêu diệt chi khu QS Tánh Linh. 8.1971 chỉ huy tổ đánh đoàn xe vận tải diệt 2 xe, 30 địch (LVB diệt 17). Tháng 6-8.1974 chỉ huy trung đội đánh 4 trận trên đường 1 và khu vực Bảo Ninh, diệt hơn 100 địch (LVB diệt 21, thu 6 súng). Nhiều lần lấy thân mình che bom đạn cho thương binh. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhì, hạng ba), 9 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67280104_455748151821737_712895173054431232_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeEhrpNh06xXHBubn-96PoOgNZYXTzktvKRqPaUIGOv-_oV3DuytZlYysaSz2KtIJb51FdoDX41VvfIuytR-prKZlDyb9FKrNjug4Ix24G4F1Q&_nc_oc=AQl_Fj5x_CXCgWWk6959_1ThFpdY0lG1ifbEalulVYirAKjqOzor_UkQ6RW1VeulzsE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=e0a52a090393e226613882b6e7e3193f&oe=5DA0FD74)


        LƯƠNG VĂN CAN (Ôn Như; 1854-1927), người tham gia sáng lập và lãnh đạo Đông Kinh nghĩa thục (1907). Quê xã Nhị Khê. h. Thường Tín, t. Hà Tây. 1874 đỗ cử nhân, từ chối làm quan, ra ở phố Hàng Đào (Hà Nội) dạy học. LVC có quan hệ rộng trong giới văn thân tiến bộ. Đầu 1907 cùng một số sĩ phu yêu nước (Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ...) mở trường Đông Kinh nghĩa thục dạy học miễn phí, khởi xướng phong trào Duy Tân ở Hà Nội nhằm tuyên truyền tư tưởng tiến bộ, chống thực dân phong kiến, thu hút hàng nghìn người theo học. 12.1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa trường và tìm cách bắt giữ những người lãnh đạo. 1913 sau vụ nổ ở Hà Nội (26.4.1913), LVC bị Pháp bắt, kết án 10 năm biệt xứ lưu đày tại Phnôm Pênh (Campuchia). 1924; được trả tự do, về sống tại Hà Nội cho tới khi mất.

        LƯƠNG VĂN MƯỚT (s. 1948), Ah LLVTND (1978). Quê xã Hoàng Động, h. Thủy Nguyên, tp Hải Phòng; nhập ngũ 1965, thiếu tá (1989); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là trung úy, chính trị viên Đại đội đặc công 5 thuộc Đoàn 10, Quân khu 7. Trong KCCM. tham gia chiến đấu nhiều trận (có 16 trận đánh lớn) ở miền Đông Nam Bộ. đánh chìm 9 tàu chiến (7 tàu trọng tải 8.000- 13.000t), phá hủy 3 khẩu pháo, đốt cháy 2 kho xăng ở Nhà Bè... Trận đánh tàu ở cảng Nhà Bè đêm 10.11.1969. LVM cùng một chiến sĩ bơi 6km đưa khối thuốc nổ 150kg vượt qua nhiều chốt và tàu tuần tiễu của địch, đánh chìm một tàu trọng tải l0.000t chở vũ khí. 17.10.1970 đánh cảng QS Cát Lái (sát Sài Gòn), nơi địch bố trí phòng thủ dày đặc, trong 10 ngày cùng tổ đánh chìm 2 tàu có trọng tải l0.000t và 12.000t. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì. hạng ba), 12 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67119246_455748158488403_6673364315866660864_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_eui2=AeE68R6ixAhZ1N0hp7_yEr99q4_QU0VePRNdB6mtjzqaHeRw1zxLNFM_SU3Cco4ALtHsOXW9M14gVZlDs0HucoNyLucyahcvomp8tNJIAtZz-w&_nc_oc=AQlTX7H7z3PhBaZv-QauNWuntV-PXlOPxNIVCl0ZQuQ4MbRJ3YYvwTb0d6hCq9vG81Y&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=65cb7a2aa3a8ad3861b5208a761836f7&oe=5DE34237)


        LƯƠNG VĂN NHO (Hai Nhã; 1916-84), phó tư lệnh Quân khu 7 (1976-84). Quê xã Thái Hoà, h. Tân Uyên. t. Bình Dương; nhập ngũ 1946. thiếu tướng (1980); đv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến tỉnh đội trường tỉnh Bà Rịa. Trong KCCM, 1964 chiến đấu ở chiến trường B2, phó chủ nhiệm pháo binh QGPMN. 1966-70 sư đoàn phó Sư đoàn 5, tư lệnh kiêm chính ủy Đặc khu Rừng Sác, chỉ huy trường Quân khu 7 (T7, gồm Biên Hòa, Bà Rịa. Long Khánh và h. Thủ Đức). 1971-72 chỉ huy trưởng C20 (Căn cứ 20), C50 (sáp nhập C20 và C30). Tháng 1.1973 tham mưu phó QGPMN VN. 1976-84 phó tư lênh Quân khu 7. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì)...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67315191_455748175155068_614069912603721728_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_eui2=AeFc0t4fjjun3cEQ1HV1ONG75JB6gU8B3Q2KczX_YyUUVyhSwPACIOD-R5sUWLzOFOg9jyTzCDI1_qSrmKAo2Kt9LUBb4u7sjV_WMw2rdzNQjg&_nc_oc=AQmnfpmgBms--6uZeO8IXkWT9loHD6QTgLox8QjQyF-wK40r8lbuES1cZKE_DNOeeBI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=4bca7c000b3bd1c6bde9da3720a1eb49&oe=5DB07E89)


        LƯƠNG VĂN TRI (Huy Cận; 1910-41). đội trưởng đầu tiên Đội du kích Bắc Sơn. Dân tộc Tày, quê xã Trấn Ninh, h. Văn Quan, t. Lạng Sơn; tham gia CM 1930; đv ĐCS VN. 1940 ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kì, phụ trách lớp quân chính đầu tiên do Đảng tổ chức ở Bắc Giang. Đầu 1941 được Trung ương Đang và Xứ ủy Bắc Kì cử tham gia xây dựng khu căn cứ CM Bắc Sơn - Võ Nhãi. 2.1941 đội trường Đội du kích Bắc Sơn. 6.1941 tham gia thành lập và là chính tri viên Đội cứu quốc quân 1, chiến đấu chống địch khủng bố, bảo vệ khu căn cứ CM. 8.1941 bị thương trong chiến đấu. Hi sinh 20.9.1941.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67104103_455748191821733_2478507626590109696_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeHmjg_0jk6tdGycLcAcD3JUzcKM9eeOs9PHgrTkk0mHqdzFMqLeasxDaJnWY3gBOzXtox6ZF13dtSkM_mkMfCl3aL2coExlm5dNjmB4jPnRBg&_nc_oc=AQkq9U0doDBMTpYODAZBMLgeRl_n9KcyqrLRJB9ISXjZ2cH1iWxiSco1mC7YspdAgsY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=c113a0c92090647e5988fafe87e76e4e&oe=5DA89721)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:52:51 pm

        LƯỢNG (cổ), đơn vị tổ chức trên ngũ, dưới tốt. Trong biên chế QĐ TQ thời Tây Chu (1066-770tcn), theo đó cứ 5 người là 1 ngũ, 5 ngũ là 1 L (25 người), 4 L là 1 tốt (100 người), 5 tốt là 1 lữ (500 người), 5 lữ là 1 sư (2.500 người), 5 sư là 1 quân (12.500 người).

        LƯỢNG BẮN ĐÓN, độ chênh phần tử bắn giữa điểm đón và điểm bắn khi bắn ngắm trực tiếp vào mục tiêu chuyển động. Khi bắn mục tiêu chuyên động trên mặt đất và mặt nước, LBĐ được tạo ra bằng phương pháp đưa lượng sửa bắn vào máy ngắm, hay dịch chuyển điểm ngắm đi một khoảng bàng số lần thân mục tiêu với giả thiết mục tiêu chuyển động thẳng đều. Khi bắn mục tiêu chuyển động trên không, LBĐ là một véctơ - gọi là véctơ bắn đón và được tự động tính toán nhờ thiết bị chuyên dụng, căn cứ vào vị trí hiện tại, tham số chuyển động của mục tiêu và các điều kiện bắn. Véctơ bắn đón có điểm gốc trùng với vị trí hiện tại của mục tiêu, điểm mút trùng với điểm đạn và mục tiêu gặp nhau sau khoảng thời gian bay của đạn (gọi là điểm bắn đón).

        LƯỢNG CHOÁN NƯỚC nh LƯỢNG GIÃN NƯỚC của tàu

        LƯỢNG CÒN LẠI SAU CHIẾN ĐẤU. số lượng quy định về phương tiện vật chất phải có ở đơn vị sau khi kết thúc trận chiến đấu. LCLSCĐ được nêu trong chỉ lệnh hậu cần, kĩ thuật đủ để đơn vị có thể sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ngay khi chưa được bổ sung thêm. LCLSCĐ ít nhất cũng phải bằng lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu.

        LƯỢNG DỰ TRỮ CHIẾN DỊCH, số lượng quy định về phương tiện vật chất được tích trữ ở kho của cấp quân khu. quân đoàn, quân chủng, binh chủng để sử dụng vào việc bảo đảm cho bộ đội hoạt động thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. LDTCD được chia ra lượng dự trữ thường xuyên và lượng dự trữ bất khả xâm phạm.

        LƯỢNG DỰ TRỮ CHIẾN LƯỢC, sô lượng quy định về phương tiện vật chất được tích trữ trong kho của BQP hoặc gửi ở kho của quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng và một phần LDTCL còn để ở kho dự trữ quốc gia. LDTCL dùng để bảo đảm cho LLVT trong hoạt động thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.

        LƯỢNG DỰ TRỮ KHẨN CẤP, số lượng quy định về phương tiện vật chất tối thiểu giữ lại đẻ sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. LDTKC được quy định riêng (nằm trong lượng dự trữ thường xuyên và lượng dự trữ sẵn sàng chiến đấu), chỉ sử dụng khi có lệnh của tiểu đoàn trưởng hoặc đại đội trường đại đội độc lập.

        LƯỢNG DỰ TRỮ SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, số lượng quy định về vũ khí, đạn dược, trang bị kĩ thuật, vật tư, lương thực, thực phẩm... được cất giữ tại các căn cứ. kho tàng của từng cấp và để trực tiếp tại các binh đoàn, binh đội, phân đội, bảo đảm cho bộ đội có thể bắt đầu các hoạt động tác chiến theo thời gian quy định và hoàn thành nhiệm vụ được giao khi không có nguồn cung cấp thường xuyên. Quy mô LDTSSCĐ và quy cách cất giữ, sử dụng, bổ sung do BQP quy định. Có LDTSSCĐ cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Các trang bị kĩ thuật, vũ khí, đạn dược, vật tư, lương thực, thực phẩm... thuộc LDTSSCĐ phải được kiểm tra để thay thế kịp thời khi sắp hết thời hạn sử dụng. Trong thời bình, LDTSSCĐ phải bảo đảm nhanh chóng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm thực hiện ngay nhiệm vụ tác chiến được giao.

        LƯỢNG DỰ TRỮ THƯỜNG XUYÊN, số lượng quy định về phương tiện vật chất để bảo đảm nhu cầu hoạt động thường xuyên của đơn vị, sinh hoạt hàng ngày của bộ đội. Tùy theo nhiệm vụ, điều kiện từng đơn vị, khả năng khai thác ở từng khu vực mà định số lượng dự trữ từng loại phương tiện vật chất. 

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC của tàu, khối lượng (đo bằng tấn) hoặc thể tích (đo bằng mét khối) của phần nước bị tàu chiếm chỗ ở trạng thái nổi không chuyển động. LGN phụ thuộc vào tải trọng của tàu và trọng lượng riêng của nước. Có các LGN: tiêu chuẩn; không tải; chở đầy; lớn nhất (LGN chở đầy cộng thêm lượng dự trữ nhận thêm trên mức quy định cho đến khi đầy hết các két và khoang chứa); bình thường (LGN chở đầy trừ đi 50% lượng dự trữ). Đối với tàu chiến, LGN tiêu chuẩn và LGN chờ đầy thường ghi trong các sách tra cứu về tàu. Đối với tàu hàng thường quan tâm đến LGN không tải và LGN chở đầy. Đối với tàu ngầm còn phân biệt LGN nổi và LGN ngầm (bằng LGN nổi cộng với khối lượng nước đưa vào các két dằn khi lặn). Cg lượng choán nước.

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC CHỞ ĐẨY (lượng giãn nước toàn phần, lượng giãn nước toàn tải, lượng giãn nước thiết kế), lượng giãn nước của tàu mang đủ tải trọng thiết kế. Đối với tàu chiến. LGNCĐ bằng lượng giãn nước tiêu chuẩn cộng với lượng dự trữ nhiên liệu, dầu nhờn, nước ngọt để bảo đảm bán kính hoạt động lí thuyết ở vận tốc lớn nhất hoặc vận tốc kinh tế. Đối với tàu vận tải, LGNCĐ là lượng giãn nước của tàu ở mớn nước lớn nhất cho phép và chiều cao mạn khô nhỏ nhất cho phép do cơ quan đăng kiểm quy định.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:54:17 pm

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC KHÔNG TẢI (trọng lượng tàu không, lượng giãn nước tối thiểu), lượng giãn nước của tàu với đẩy đủ trang thiết bị nhưng chưa có quân số, đạn dược, vật tư, lương thực, thực phẩm, nhiên liệu dự trữ, dầu nhờn, nước ngọt trong các hầm chứa cũng như trong máy (đối với tàu chiến), hoặc chưa tính đến đoàn thủy thủ, hàng hóa chuyên chở, nhiên liệu, dầu mỡ, nước uống, nước cho nồi hơi và lượng dự trữ tiêu hao (đối với tàu vận tải).

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC NGẦM của tàu ngầm. lượng giãn nước của tàu ngầm khi lặn hoàn toàn dưới nước. Có trị số bằng chính thể tích của thân vỏ kín tàu ngầm, hay thể tích (hoặc khối lượng) lượng nước bị tàu ngầm chiếm chỗ khi ngập hoàn toàn trong nước.

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC NỔI của tàu ngầm, lượng giãn nước tính bằng chính thể tích phần dưới nước của thân vỏ kín của tàu ngầm tính đến đường mớn nước thực tế. Toàn bộ phần thể tích kín nước nằm ở phía trên đường mớn nước nổi hoặc thể tích của tất cả các két dần gọi là dự trữ nổi của tàu ngầm. Hiệu giữa LGNN và lượng giãn nước ngầm bằng dự trữ nổi của tàu ngẩm (tính theo phần trãm), có thể dao động từ 15 đến 30%.

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC THIẾT KẾ X. LƯỢNG GIÃN NƯỚC CHỜ ĐẦY

        LƯỢNG GIÃN NƯỚC TIÊU CHUẨN (lượng choán nước tiêu chuẩn), lượng giãn nước không tải cộng với phần tăng thêm do chở theo quân số đủ biên chế, với đầy đủ trang thiết bị, vũ khí, đạn dược (đối với tàu chiến), hoặc đủ trọng tải quy định (đối với tàu vận tải); lương thực, thực phẩm, nước uống, nhiên liệu, dầu mỡ trong các hệ thống máy móc đủ để sẵn sàng hoạt động (chưa có lượng dự trữ nhiên liệu, dầu nhòm, nước trong các hầm chứa).

        LƯỢNG NỔ. khối lượng thuốc nổ nhất định kèm theo bộ phận gây nổ hoặc cháy dùng trong đạn dược hoặc công tác nổ. Có hai loại: LN thường và lượng nổ hạt nhân. LN thường gồm: LN đẩy (nhồi trong đạn chiếu sáng, đạn cháy, đạn truyền đơn để đẩy vật nhồi ra mà không phá hủy vỏ, đẩy mìn lên độ cao nhất định trong mìn nhảy...); LN phá vỡ (khối thuốc nổ mạnh nhồi trong vỏ bom, mìn, thủy lôi, đạn pháo,... khi nổ phá vỡ vỏ, tạo ra sóng xung kích và mảnh gây sát thương đối phương); LN phá hủy (dùng để phá các công trình của đối phương, tạo cửa mở qua bãi mìn, hàng rào thép gai). LN thường còn được chia ra theo hình dạng: tập trung (trông giống như khối lập phương hoặc cầu), dài, phẳng, lõm, định hình theo mép viền cấu kiện và theo vị trí đặt: tiếp xúc, không tiếp xúc với đối tượng bị phá.

        LƯỢNG NỔ DÀI, lượng nổ mà chiều dài lớn gấp 5 lần (hoặc hơn) kích thước thiết diện ngang nhỏ nhất. Có: LND lõm thường có hốc lõm hình góc nhọn, góc vuông hoặc bán trụ, dùng để cắt thép, bé tông cốt thép hoặc tạo lỗ có đường viền xác định trong các vật liệu đó; LND phá có thể được tạo thành từ các bánh thuốc nổ chế sẵn hoặc từ thuốc bột, thuốc dẻo gói buộc lại dùng để phá rào, mở đường qua bãi vật cản, đào hào... Uy lực của LND phân bố vuông góc với trục. Trong phá rào, mở cửa mở thường dùng loại LND lkg/m.

        LƯỢNG NỔ HẠT NHÂN, lượng nổ gồm nhiên liệu hạt nhân và cơ cấu gây nổ để thực hiện quá trình nổ giải phóng năng lượng hạt nhân. Theo tính chất của phản ứng hạt nhân, có: LNHN nguyên tử, năng lượng nổ do phản ứng phán chia hạt nhân gây ra; LNHN nhiệt hạch (tên cũ là khinh khí), năng lượng nổ do phản ứng tổng hợp hạt nhân và phản ứng phân chia hạt nhân gây ra. Theo cách thức gây nổ, có LNHN: một pha. hai pha, ba pha. Được sử dụng để chế tạo các loại đạn dược hạt nhân.

        LƯỢNG NỔ HẠT NHÂN BA PHA, lượng nổ hạt nhân tạo ra vụ nổ bằng ba phản ứng liên tiếp: phân chia (pha thứ nhất), tổng hợp (pha thứ hai), phân chia (pha thứ ba). Phản ứng phân chia các hạt nhân nặng (pha thứ nhất) tạo ra nhiệt độ hàng triệu độ K làm tiền đề cho phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ (pha thứ hai) tạo ra một lượng lớn nơtrôn có năng lượng cao, phản ứng phân chia của các hạt nhân uran 238 (pha thứ ba) ở lớp vỏ ngoài của bom hạt nhân, xảy ra sau khi hấp thụ các nơtrôn dược sinh ra ở pha thứ nhất và thứ hai. làm tăng mức độ nhiễm xạ cả về không gian và thời gian. 1961 LX đã nổ thử loại này với công suất lớn tới 57 Mt.

        LƯỢNG NỔ HẠT NHÂN HAI PHA, lượng nổ hạt nhân tạo ra vụ nổ bằng hai phản ứng liên tiếp: phản ứng phân chia các hạt nhân nặng (pha thứ nhất), tạo ra nhiệt độ hàng triệu độ K (K°), làm tiền đề cho pha tiếp theo và phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ (pha thứ hai). Năng lượng của pha thứ nhất tác đòng vào khối nhiên liêu (thường là lithi-6 đêtơri dưới dạng rắn ở nhiệt độ thường) tạo ra các hạt nhân nhẹ đêtơri và triti rồi tổng hợp lại thành hạt nhân hêli nặng hơn sinh ra một năng lượng gấp hàng nghìn lần năng lượng của vụ nổ do lượng nổ hạt nhân một pha gây ra. Các vũ khí dùng loại LNHNHP thường được xếp vào loại vũ khí chiến lược như tên lửa đường đạn, bom khinh khí (bom nhiệt hạch hay còn gọi là bom H). Bom khinh khí đầu tiên do Mĩ thử 1951.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:55:30 pm

        LƯỢNG NỔ HẠT NHÂN MỘT PHA, lượng nổ hạt nhân dùng để tạo ra vụ nổ theo phản ứng phân chia hạt nhân. Nhiên liệu hạt nhân (vd: uran 235 hay plutôni 239) được chia thành hai hay nhiều phần có khối lượng dưới khối lượng tới hạn. phía sau đặt các lượng nổ thông thường. Khi thuốc nổ thường nổ, những phần nhiên liệu hạt nhân bị đẩy gộp thành một khối, có khối lượng trên hạn, nổ hạt nhân xảy ra tức thời. Dùng trong đạn pháo, tên lửa không đối không, mìn... Một dạng khác của LNHNMP là lượng nổ hạt nhân loại ép, trong đó nhiên liệu hạt nhân có dạng cầu, khối lượng dưới hạn và được bọc bời lớp vỏ phản xạ nơtrôn, lớp ngoài cùng là thuốc nổ thường. Khi lớp ngoài nổ, tạo áp suất nén làm tăng mật độ khối nhiên liệu hạt nhân, đưa khối lượng nhiên liệu hạt nhân vượt ngưỡng tới hạn, tạo nổ hạt nhân tức thời. Dùng trong đạn dược hạt nhân công suất lớn. Hai quả bom hạt nhân (“Little Boy”, dùng uran 235; “Fat Man”, dùng plutôni 239) của Mĩ thả xuông Hirôsima và Nagaxaki ngày 6 và 9.8.1945 đều dùng loại LNHNMP.

        LƯỢNG NỔ TẬP TRUNG, lượng nổ có kích thước chiều dài, chiều rộng và chiều cao tương đương nhau. Chủ yếu là dạng hình lập phương, hình cầu hoặc chiều dài nhỏ hơn 5 lần kích thước thiết diện ngang nhỏ nhất (nếu là hình dạng khác). Có: LNTT phá và LNTT lõm. LNTT phá dùng để tiến hành các công tác nổ (phá rào, mở đường qua các bãi vật cản...). LNTT lõm là lượng nổ có hốc lõm hình nón, parabôn hoặc bán cầu, lót phễu kim loại hoạt động dựa trên hiệu ứng nổ lõm. Sản phẩm nổ có hướng, mật độ năng lượng cao, để tạo lỗ trong chướng ngại vật. Được ứng dụng để chế tạo lựu đạn chống tăng, lựu phóng, đạn pháo và tên lửa chống tăng...

        LƯỢNG SỬA, giá trị đặc trưng cho sự thay đổi đặc tính chuyển động hoặc các phần từ của đường đạn, tương ứng với độ lệch của các tham số xác định so với điều kiện bắn chuẩn và lấy dấu ngược lại. Có: LS tầm và hướng, LS khí tượng, LS điều kiện đường đạn, LS riêng của pháo, LS kết quả bắn thử, bắn hiệu lực... Xác định LS sẽ góp phần nâng cao độ chính xác bắn.

        LƯỢNG TIÊU THỤ. số lượng quy định về phương tiện vật chất mà các đơn vị (lực lượng) được sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ tác chiến và các nhiệm vụ khác. LTT có thể được thể hiện bằng cơ số, đơn vị thể tích, đơn vị khối lượng và các chỉ số khác... LTT trong tác chiến phụ thuộc chủ yếu vào loại tác chiến, các dạng và cường độ hoạt động chiến đấu; quy mô tác chiến; tình hình địa hình, khí tượng - thủy văn; tiêu chuẩn định mức cho từng đối tượng và khả năng bảo đảm của cấp trên, của đơn vị. Chiến tranh càng hiện đại LTT càng nhiều cả về khối lượng và chủng loại.

        LƯU BÁ THỪA (Liu Bocheng; 1892-1986), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955), tham gia sáng lập và lãnh đạo Quán giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người h. Khai, t. Tứ Xuyên (TQ); đv ĐCS TQ (1926). Năm 1912 học Trường QS Trùng Khánh. 1923 tham gia quân Tứ Xuyên chống Viên Thế Khải. 1927 tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Nam Xương, tham mưu trưởng Đoàn tham mưu. ủy ban tiền địch ĐCS TQ; ủy viên Quân ủy trung ương ĐCS TQ, bí thư Cục Trường Giang. 1932 hiệu trường kiêm chính ủy Trường Hồng quân công nông TQ; tổng tham mưu trường Hồng quân, chỉ huy chống “vây quét” lần 4. Năm 1934-36 tham gia Vạn lí trường chinh, tư lệnh Đội phái đi trước (tiên trạm). Trong chiến tranh chống Nhật, sư đoàn trưởng, chỉ huy nhiều chiến dịch trong đó có Bách Đoàn. Trong chiến tranh giải phóng, tư lệnh: Dã chiến quân 2, Quân khu Trung Nguyên, Quân khu Tấn - Kí - Lổ - Dự. 1947 cùng Đặng Tiểu Bình dẫn quân đánh vào Trung Nguyên, mở đầu cuộc phân công chiến lược của QGP nhân dân TQ; chỉ huy chiến dịch: Hoài Hải, Tây Nam, giải phóng 4 tỉnh (Vân Nam, Quý Châu. Tứ Xuyên, Tây Khang). 1949 viện trưởng kiêm chính ủy Học viện QS; phó chủ tịch: Hội đồng quốc phòng, ủy ban QSCM nhân dân. Quân ủy trung ương (1966). ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa VII-XI. ủy viên BCT khóa VIII-XI; phó chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội khóa II-V. Tác phẩm chính: “Tuyển tập quân sự Lưu Bá Thừa”, “Chiến thuật hiệp đồng”.

        LƯU NGHIỆM, biện pháp lưu giữ người, động vật nghi mắc bệnh truyền nhiễm, các vật dụng, hàng hóa, lương thực, thực phẩm... nghi bị ô nhiễm cũng như thức ăn đã chế biến, sử dụng (dưới hình thức lấy mẫu) trong những khoảng thời gian nhất định để kiểm tra. theo dõi tình trạng bệnh hoặc mức độ ô nhiễm, nhằm phát hiện chính xác nguồn bệnh dịch và tác nhân gây bệnh.


Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:56:49 pm

        LƯU NHÂN CHÚ (Lê Nhân Chú; 7-1433), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. Quê Thuận Thượng (nay là xã Văn Yên. h. Đại Từ, t. Thái Nguyên). Tham dự hội thề Lũng Nhai (1416), rồi cùng cha theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. được mang họ vua. 1424 tham gia chỉ huy đánh trận Khả Lưu, Bồ Ải (Vĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An), giải phóng Nghệ An.. 1425 chỉ huy 200 quân tinh nhuệ đánh chiếm thành Tây Đô (Thanh Hóa), giết 500 địch. 1427 tham gia chỉ huy 10.000 quân và 5 thớt voi, mai phục ở Chi Lăng (Lạng Sơn) đánh bại đạo quân do Liễu Thăng chỉ huy (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 1427). Được phong nhập nội kiểm hiệu, bình chương quân quốc trọng sự. 1433 bị giết oan. 1484 được Lê Thánh Tông minh oan, truy tặng thái phó, tước Vinh Quốc Công.

        LƯU THIẾU KÌ (Liu Shaoqi; 1898-1969), chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1959-67), phó chủ tịch BCHTƯ ĐCS TQ (1956), tham gia sáng lập và lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người h. Ninh Hương, t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCS TQ (1921). Năm 1921 học Trường đại học Phương Đông, Maxcơva (LX). 1922-27 hoạt động trong phong trào công nhân; phó chủ tịch Tổng công hội toàn quốc Trung Hoa. Tham gia lãnh đạo các cuộc bãi công lớn của công nhân mỏ An Nguyên (t. Giang Tây) và phong trào công nhân Ngũ Tạp, Vũ Hán... 5.1927 ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ (khóa V), công tác bí mật trong vùng Quốc dân đảng kiểm soát. 1.1931 ủy viên dự khuyết BCT (khóa VI). 1934- 36 tham gia Vạn lí trường chinh, đại biểu của BCHTƯ ĐCS TQ ở Quân đoàn 8 và Quân đoàn 5 Hồng quân công nông Trung Quốc; chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 3. Trong chiến tranh chống Nhật, bí thư Trung ương cục: Phương Bắc, Trung Nguyên, Hoa Trung; lãnh đạo chiến tranh du kích ở vùng địch hậu Hoa Bắc, Hoa Trung. 1941 chính ủy Tân tứ quân. 1943-47 bí thư Ban bí thư trung ương ĐCS TQ, ủy viên BCT (khóa VII), phó chủ tịch Quân ủy trung ương. 1949 phó chủ tịch Chính phủ nhân dân trung ương. 1954-56 chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội; ủy viên thường vụ BCT. Trong “đại cách mạng văn hóa”, bị bức hại. 12.11.1969, ốm mất tại Khai hồng (t. Hà Nam). 1980 Hội nghị toàn thể BCHTƯ ĐCS TQ lần thứ 5 (khóa XI) đã ra quyết nghị phục hồi danh dự cho LTK. Tác phẩm chính “Tuyển tập Lưu Thiếu Kì”.

        LƯU THỦ X. TỔNG BINH SỨ .

        LƯU TRỮ HỌC QUÂN SỰ, chuyên ngành khoa học nghiên cứu cơ sở lí luận, phương pháp và những vấn đề thực tiễn của công tác lưu trữ QS; bộ phận của lưu trữ học. Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lí luận, pháp lí và phương pháp thực hiện các khâu nghiệp vụ để tổ chức khoa học trong lưu trữ quốc phòng, bảo vệ an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu QS lưu trữ. LTHQS có quan hệ chặt chẽ với các chuyên ngành khác của khoa học lịch sử QS, như: sử liệu học QS. văn kiện học QS...

        LƯU VIẾT THOẢNG (s. 1926), Ah LLVTND (1956). Quê xã Cảnh Thụy, h. Yên Dũng, t. Bắc Giang; nhập ngũ 1949, đại tá (1988); đv ĐCS VN (1952); khi tuyên dương Ah là chính trị viên phó đại đội thuộc Đoàn 151, Cục công binh. 1949-54 tham gia nhiều chiến dịch. Khi chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phú (1954), phụ trách tổ tháo bom, LVT tự tìm hiểu tháo một số loại bom mới. Trong thời gian ngắn cùng tổ tháo 18 quả, lấy 3.525kg thuốc nổ cung cấp cho đơn vị phá đá mở đường. 4.1954 phụ trách tổ đào đường hầm vào cứ điểm đồi AI. Trong 15 ngày đêm cùng đồng đội vượt mọi khó thăn, kiên trì dũng cảm đào 43m đường hầm (cửa hầm chỉ cách địch hơn 10m) để đưa l.000kg thuốc nổ vào; 21 giờ 5.5.1954 khối thuốc nổ làm rung chuyển đồi AI (đánh sập các ụ súng phòng ngự vòng ngoài, một lô cốt phụ và nửa lô cốt chính), cứ điểm bị tê liệt, tạo thuận lợi cho bộ đội xung phong diệt địch, làm chủ cứ điểm. Huân chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67133769_455748201821732_5182258898848972800_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_eui2=AeEoF1ledg2iScG-1YF7RkXqwn56hJlc1COih50SsXt0WXrFXT2cDgxMZaeqPfsYbCeFAhrISnF9btD3loNz7BrdkcsXLo7FYu9w0lrQAmJlrw&_nc_oc=AQlkT4j135QD7w82iLpemOM5CgveGUf-XTfJ-YU4MKP0Yk91Gnqhws2xMLarXlkW5qE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=36fb356ff31d207e07dda380de01829a&oe=5DE87178)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:58:43 pm

        LƯU VĨNH PHÚC (Uyên Đình; 1837-1916), tướng chỉ huy quân Cờ Đen trong khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1851- 64) và chống Pháp ở VN (1867-84). Người động Cổ Sâm, ti Phòng Thành, t. Quảng Tây (TQ). 1857 tham gia khởi nghĩa nông dân ở Quảng Tây, dùng cờ đen làm cờ hiệu nên có biệt hiệu “Hắc Kì tướng quân” (tướng Cờ Đen). 1867 quân Thanh tập trung đánh xuống Quảng Tây, không chống cự nổi, LVP đã đem quân chạy sang VN. Được triều đình Huế thu nạp, giao cho việc dẹp phỉ, trị an vùng biên giới phía bắc và đánh quân Pháp, quân Cờ Trắng, quân Cờ Vàng ở Bắc Kì. Trong các trận giao tranh với quân Pháp ở khu vực Cầu Giấy (Hà Nội) đã giết 2 sĩ quan Pháp là Gacniê (1873) và Hăngri Rivie (1883). LVP được triều Nguyễn phong: phó lãnh binh (1873), tam tuyên đề đốc, hàm chánh nhị phẩm (1883). Sau hiệp ước Thiên Tân (1885), về nước làm tổng binh Nam Áo (3.1886), tổng binh Kệ Thạch (1887). Năm 1894 sang Đài Loan làm bang biện quân vụ, lo việc phòng thủ. 1897 từ chức về quê. Khi khởi nghĩa Vũ Xương (10.10.1911) thắng lợi, được cử làm tổng trưởng Dân đoàn Quảng Đỏng. 1912 từ chức về quê.

        LỰU ĐẠN, vũ khí ném tay, được trang bị để đánh gần diệt sinh lực và phương tiện QS. Có: LĐ chống bộ binh (LĐ mảnh), LĐ chống tăng, LĐ đặc biệt (cháy, khói, hóa học, hơi cay...); được chế tạo sẵn hoặc tự tạo. LĐ chống bộ binh gồm: thân (vỏ), thuốc nổ, ngòi nổ (loại chạm nổ - nổ tức thì khi chạm mục tiêu, loại nổ chậm - nổ sau khi ném một khoảng thời gian, thường 3-5s) và cơ cấu an toàn. Khối lượng 0,3- 0,7kg, bán kính sát thương từ vài mét đến vài chục mét, số lượng mảnh khi nổ tới vài nghìn; để tảng số mảnh sát thương, vỏ LĐ được khía rãnh sẵn. Theo hình dáng cấu tạo, có: LĐ chày, LĐ mỏ vịt, LĐ cầu...; theo đặc tính sử dụng, có: LĐ tiến công (khối lượng và bán kính văng mảnh nhỏ), LĐ phòng ngự (khối lượng và bán kính văng mảnh lớn hơn). Xuất hiện từ tk 16. Trong KCCP và KCCM, VN chế tạo và sử dụng LĐ chày, LĐ cầu, LĐ mỏ vịt và các LĐ tự tạo, diệt nhiều sinh lực đối phương (xt thủ pháo).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67506686_455748221821730_6075614991224930304_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_eui2=AeH77dHQdTu1qrukqMRC5XjMoUQcn-iL843fSfPsh4rE9e-_N2q7Tfv9oYPOGkHWhtnPQpUVRqJXtj72i2MVLu-V59gAJ_VCRF8iNtDZsBT9Aw&_nc_oc=AQlgaVcAik0FXkrzYBNXUSJFvtR-CoaKWUyNRvI_N4OrTg0jImUXE9j3jeNgYmP60qo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c7917c43ac7097c6f4530d6fa2444786&oe=5DE1C311)


        LỰU ĐẠN CHỐNG TĂNG, lựu đạn có sức công phá lớn, dùng để tiêu diệt xe tăng thiết giáp và các mục tiêu kiên cố khác. Có hai loại: nổ phá, kết hợp sử dụng các sản phẩm nổ và sóng xung kích để phá hủy các bộ phận tương đối yếu của xe; nổ lõm (loại chủ yếu) sử dụng hiệu ứng nổ lõm để xuyên thủng vỏ giáp hoặc các kết cấu công sự kiên cố. LĐCT nổ lõm có các bộ phận chính: thân (vỏ), lượng nổ lõm, phễu kim loại, bộ phận gây nổ (thường dùng ngòi chạm nổ), tay cầm và bộ phận đuôi ổn định (thường là dải băng băng vải đặt trong tay cầm, được trải ra khi ném) để tăng khả năng trúng đích. Khối lượng toàn bộ khoảng lkg, khả năng xuyên giáp thẳng góc đến 200mm, có thể xuyên phá công sự bê tỏng, cốt thép dày 500mm.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67314192_455748235155062_380515187389628416_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_eui2=AeHbsZfnbY2ZZml6CU_LNfXTnusgqs3XF4xxfMmVJk1bz7uooGmJEi41tt7qVUxe01RUB9xY8sKrQGsDiuEjJ3f4zhGguJdhRgOH-Fw5HtQT2g&_nc_oc=AQmlshVnN7eScCQAwvusneFMYyD_NgogjcfpqGLWXrneDpJU02u3T5pJhjAR2qtgodo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c85d7da01d603da15e1ca924e3c63e08&oe=5DE9A32A)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 07:59:49 pm
       
        LỰU ĐẠN KHÓI, khí tài tạo khói ngụy trang gọn nhẹ trang bị cho bộ binh. Hình dạng và kích thước giống lựu đạn thường, bên trong thường chứa chất tạo khói antranxen (C14H10)) và kali clorat (KClO3) hoặc các chất tạo khói clo hóa gồm bột kẽm và clorua cacbon ba (C2Cl6). vỏ bằng kim loại mỏng, vừa tạo màn khói, vừa có tác dụng sát thương bằng mảnh văng hoặc bằng cactông, chỉ chứa chất tạo khói mà không sát thương bằng mảnh. Thường dùng tạo màn khói ngụy trang khi bộ binh xung phong. Thời gian xả khói khoảng l-l,5ph, chiều dài màn khói khoảng 30m khi tốc độ gió 3-4m/s.

        LỰU PHÓNG, đạn được bắn từ súng phóng lựu hoặc lắp vào đầu nòng súng trường, tiểu liên, và phóng đi bằng loại đạn riêng nhằm sát thương sinh lực, phá hủy trang bị QS ở cự li gần. LP được phân loại theo: công dụng (chống bộ binh, chống tăng, cháy, khói, hóa học, tín hiệu, chiếu sáng...), cách nạp đạn (nạp liền, nạp rời), cỡ (đúng cỡ, trên cỡ), ngòi nổ (chạm nổ, hẹn giờ, nhảy nổ.„), cách ổn định đường bay (tự quay, có cánh đuôi) và theo các dấu hiệu khác. LP thường có cỡ 30-112mm. khối lượng 0,2-5kg, độ xuyên thép tới 400mm, tầm bắn từ vài chục tới vài trăm mét hoặc lớn hơn (loại có động cơ phản lực). LP chống bộ binh sát thương sinh lực bằng mảnh văng khi nổ hoặc các viên bi (gồm các loại đạn: nổ mảnh, mảnh - phá, mảnh - lõm, ria...). Để tăng tác dụng mảnh còn dùng loại có nhiều lớp vỏ được khía sẵn mảnh hoặc loại nhảy nổ (khi chạm đất ngòi làm việc, đẩy quả đạn lên độ cao l-l,5m mới nổ văng mảnh). LP chống tăng diệt mục tiêu bọc thép bằng hiệu ứng nổ lõm, chúng cũng có thể xuyên bê tông, gạch và các chướng ngại khác. LP chống tăng phóng từ súng trường, tiểu liên còn gọi là đạn AT, có cỡ 40-75mm, khối lượng 0,2-0,8kg, tầm phóng dưới 500m, độ xuyên thép 50-300mm. LP chống tăng bắn từ súng phóng lựu thường gồm: thân, lượng nổ lõm, phễu kim loại, chóp gió, ngòi đáy, bộ phận ổn định và liều phóng. Một số loại có động cơ phản lực để tăng tầm bắn. Trong KCCP và KCCM, VN đã chế tạo và sử dụng nhiều loại LP như: AT, đạn B-40, B-41, M-79.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67223377_455748248488394_3876986378742923264_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_eui2=AeGs9ounhO-KJSvV6y-mjacPmcP3PbNqG7i4J3c5BChtf1l66KJmmst-jsc6D1uY8-5hMHt1KNIaxmRFufitXb6u9oTo0fu8nSeSQVWwWrgM3A&_nc_oc=AQml5SD0Rif1sS8QyFp3yFSXt4EI_VUMHIvfCY92_hl3JkZC2vJEvwL4cE80YqYQpYU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=94415e159afd8e9acc069fd647ced70d&oe=5DAEC9EF)



Tiêu đề: Re: L
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 07:00:11 pm
     
HẾT L