Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:13:41 pm



Tiêu đề: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:13:41 pm
 
        K-13, tên lửa tự dẫn hổng ngoại của họ R-3. Ở VN, K-13 hạ máy bay Mĩ đầu tiên (không người lái) 4.7.1966 và nhiều chiếc khác trong chiến tranh phá hoại miền Bắc VN của Mĩ.

        K-44. súng trường không tự động của LX do N. X. Xêmin thiết kế cải tiến từ mẫu ban đầu 1891/30 của X. I. Môxin và mẫu gần hơn (1938), đưa vào trang bị của QĐ LX (2.1944). Cỡ nòng 7,62mm, súng dài 1.033mm (cả lưỡi lê), khối lượng 3,9kg, hộp đạn 5 viên, tốc độ bắn 10 phát/ph, sơ tốc đạn 820m/s, tầm bắn (trên thước ngắm) l.000rn, tầm bắn hiệu quả 400m, tầm bắn máy bay bay thấp 300m. Dùng đạn cỡ 7,62mm kiểu 1908 hoặc 1930 (chung với đại liên K-53, thượng liên RP-46). Được sản xuất ở TQ với tên gọi K-53. Đưa vào VN giữa những năm 50 tk 20 và sử dụng rộng rãi trong KCCM (nhân dân miền Nam thường gọi là bá đỏ).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66648389_452063738856845_7584835815792967680_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQmRMQ9NlDDBdOObEMHD-z74Ugy_gBJ2JZPCO5WA-rBanACMApaTPz41LAKFBK_j1Nw&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=abf20abf5fb3ed668e333c9dda7cc738&oe=5DBFD7E1)


        K-50. tiểu liên được TQ chế tạo theo mẫu PPS-41 (LX) do G. s. Spaghin thiết kế (1940); cũng là tên VN gọi kiểu súng trên do LX chế tạo và trang bị cho QĐ LX từ 21.12.1940. Cỡ nòng 7,62mm. súng dài 810mm, khối lượng cả đạn 3kg, hộp đạn (dài chứa 35 viên, hoặc tròn chứa 71 viên); sơ tốc đạn 460m/s; tầm bắn (trên thước ngắm) 500m, tầm bắn 800m, tầm bán hiệu quả 200m; tốc độ bắn lí thuyết 1.100 phát/ph (tốc độ bắn liên thanh thực tế đến 100 phát/ph). tự động theo nguyên lí khóa nòng lùi tự do. Có thể bắn phát một. K-50 được sử dụng rộng rãi trong CTTG-II. Được đưa vào VN đầu những năm 50 tk 20, sử dụng hiệu quả trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Quân giới VN cải tiến thành K-50M (thay báng gấp bằng báng trượt, vỏ bọc nòng làm ngắn và tóp lại, bỏ bộ phận giảm giật miệng nòng, hộp nòng phía dưới được làm lại và lắp thêm tay cầm, đầu ruồi đặt trên nòng).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66888753_452063755523510_1851744509373710336_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQlYx2NiN4403Mbtosw709huqvoPnp9XANkkQFPZPWW6fKV5BL_GWNDbTGVw52lXCq0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=d515a34d3d4d1b294425e84307133877&oe=5DA1B914)


        K63, xe thiết giúp chở quân do Tổ hợp công nghiệp Hoa Bắc (TQ) chế tạo vào cuối những năm 60 tk 20, với tên gọi chính thức “xe thiết giáp vận tải kiểu 63”, kí hiệu YW 531. Khối lượng chiến đấu 12,5t, kíp xe 4 người, chờ 10 lính bộ binh. Thân xe dài 5,45m, rộng 2,96m, cao 2,61m. Động cơ điêzen. công suất 133kW (18lev); tốc độ lớn nhất trên bộ 50km/h. bơi được bằng xích với vận tốc 5,7km/h; hành trình dự trữ 400km. Mẫu cải tiến YW 531C có các thông số tương ứng: 12,6t, 2 người, 13 lính bộ binh; 5,476m, 2,978m, 2,58m: 235kW (320cv); 65km/h. 6km/h; 500km và trang bị một súng máy 12,7mm. Trên cơ sở K63, đã chế tạo pháo lựu tự hành 122mm kiểu 54-1, cối tự hành 82mm YW 304, cối tự hành 120mm YW 381, xe mang tên lửa chống tăng kiểu 531, xe phóng tên lửa 130mm kiểu 70, xe chỉ huy YW 701. K63 có trong trang bị của QĐND VN và đã được sử dụng trong KCCM.

        K8-60. rađa ngắm bắn sóng đềximét và centimét dùng cho pháo phòng không, do TQ chế tạo trên cơ sở đài rađa SON- 9 A của LX, dùng để phát hiện, xác định tọa độ (phương vị, cự li, độ cao) mục tiêu trên không và đưa vào máy chỉ huy tính toán phần tử bắn cho pháo. Tính năng chính: có hai băng sóng đềximét và centimét; vùng phát hiện theo phương vị 360°; theo góc tà từ -3° đến +84°; cự li phát hiện 55.000m (độ cao mục tiêu 4.000m); khả năng phân biệt cự li 200m; độ rộng cánh sóng băng I: 5°, băng II: 1,4°. Chống nhiễu tích cực bằng cách sử dụng hai băng sóng có tần số làm việc xa nhau; chống nhiễu xung trả lời bằng cách dùng mạch cộng, trừ và quét hình nón. Thời gian mở máy 3ph 30s, triển khai 25ph. K8-60 thường trang bị cho đại đội pháo phòng không 57mm đi cùng máy chỉ huy (PUAZO). Trong KCCM. bộ đội rađa còn dùng K8-60 chỉ thị mục tiêu cho tên lửa phòng không bắn rơi máy bay B-52.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:15:30 pm

        KẺ ĐỊCH nh ĐỊCH

        KẺ XÂM NHẬP nh A-6 INTRUĐƠ

        KENNƠĐI (A. John Fitzgerald Kennedy; 1917-63), tổng thống Mĩ thứ 35 (1961-63). Sinh tại Bruclin, bang Matxachuxet; thuộc ĐDC Mĩ. CTTG-II phục vụ trong hải quân. 1947-53 hạ nghị sĩ. 1953-60 thượng nghị sĩ. 1961-63 tổng thống Mĩ. Từ những năm 50 đã khuyên tổng thống Aixenhao chống lại “sự bành trướng của cộng sản” ở Đông Dương và ủng hộ chính phủ Ngô Đình Diệm. Khi làm tổng thống, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình ở các nước XHCN. 3.1961 thành lập các đoàn hòa bình. 4.1961-62 chịu trách nhiệm trước thất bại của cuộc đổ bộ QS vào vùng Vịnh Con Lợn (Cuba), tổ chức phong tỏa biển Caribê. Tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt ở VN, tăng số cố vấn và nhân viên QS Mĩ từ 600 người (1961) lên 16.000 người (1963), cho phép các cố vấn Mĩ tham gia hoạt động tác chiến, ra lệnh cho không quân Mĩ rải chất độc màu da cam ở miền Nam VN (1961), tiến hành các hoạt động bí mật (gián điệp, biệt kích) chống phá VN DCCH, công khai tuyên bố về việc Mĩ cam kết duy trì miền Nam VN phi cộng sản. 22.11.1963 bị ám sát chết tại Đơlat, bang Têchdat.

        KẾ HOẠCH 34A, kế hoạch hoạt động QS không công khai của Mĩ chống VN DCCH do bộ trưởng quốc phòng Mac Namara và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đề xướng, tổng thống Mĩ Giônxơn ra lệnh thi hành từ 1.2.1964. Nội dung gồm: các chuyến bay do thám bằng máy bay trinh sát chiến lược U-2, các đội biệt kích nhảy dù hoặc đột nhập từ biển vào nhằm phá hoại cơ sở kinh tế, bắt cóc công dân ta để khai thác tin tình báo; tiến hành chiến tranh tâm lí, kết hợp với các cuộc tuần tra bằng tàu khu trục mang mật danh Đêsôtô trong Vịnh Bắc Bộ nhằm hoạt động phá hoại, khiêu khích và phô trương sức mạnh của Mĩ. KH34A được thực hiện trong 1964 là sự tiếp nối các hoạt động phá hoại của CIA ở miền Bắc VN những năm 1961-63, phục vụ cho chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ ở miền Nam VN và là bước chuẩn bị cho chiến tranh phá hoại bàng không quân và hải quản đối với miền Bắc.

        KẾ HOẠCH BẢO ĐẢM HẬU CẦN, văn kiện hậu cần cụ thể hóa quyết tâm của người chỉ huy về bảo đảm hậu cần, do cơ quan hậu cần các cấp soạn thảo. KHBĐHC phải căn cứ vào quyết tâm tác chiến, ý định của người chỉ huy, chỉ lệnh của cấp trên, khả năng và điều kiện tiến hành công tác hậu cần. Nội dung của KHBĐHC thường gồm: nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, lực lượng, phương tiện được sử dụng, bố trí và di chuyển lực lượng, phương tiện, phương thức bảo đảm hậu cần trong chuẩn bị và thực hành nhiệm vụ, việc khai thác và sử dụng lực lượng hậu cần địa phương, phòng vệ hậu cần, chỉ huy hậu cần, thời gian hoàn thành chuẩn bị hậu cần. KHBĐHC được thể hiện trên bản đồ kèm theo thuyết minh. Có KHBĐHC: thường xuyên (dài hạn, ngấn hạn), cho tác chiến, cho động viên, chuyên đề.

        KẾ HOẠCH BẢO ĐẢM HÓA HỌC. văn kiện tác chiến cụ thể hóa quyết tâm của người chỉ huy về bảo đảm hóa học trong chiến đấu (chiến dịch), do cơ quan hóa học các cấp soạn thảo; được thể hiện trên bản đồ kèm theo thuyết minh. Nội dung thường gồm: hình thái chung địch, ta liên quan đến bảo đảm hóa học; khu vực, mục tiêu đã bị tập kích và dự đoán có thể bị tập kích vũ khí hủy diệt lớn; tình hình nhiễm độc, nhiễm xạ, nhiễm trùng trong khu vực tác chiến; nhiệm vụ, lực lượng và các biện pháp bảo đảm hóa học; vị trí, nhiệm vụ và hướng di chuyển của các phân đội hóa học; bổ sung trang bị phòng hóa; mạng thông tin chỉ huy và tín hiệu thông báo. báo động hóa học, những yếu tố khí tượng cần thiết.

        KẾ HOẠCH BẢO ĐẢM QUÂN Y, văn kiện hậu cần cụ thể hóa nhiệm vụ và trình tự tổ chức bảo đảm quân V cho các hoạt động chuẩn bị và thực hành tác chiến. Do chủ nhiệm quân y tổ chức soạn thảo và kí, chủ nhiệm hậu cần phê duyệt. Cơ sở để xây dựng KHBĐQY là quyết tâm tác chiến của chỉ huy, mệnh lệnh của chủ nhiệm hậu cần, chỉ lệnh của chủ nhiệm quân y cấp trên và kết quả nghiên cứu phân tích đánh giá tình hình, khả năng, điều kiện tiến hành công tác quân y. Nội dung gồm: nhiệm vụ bảo đảm quân y; dự kiến tỉ lệ và cơ cấu thương binh, bệnh binh theo loại vũ khí, giai đoạn, hướng chiến đấu, ngày trung bình và ngày cao nhất; biện pháp tổ chức cứu chữa và vận chuyển thương binh, bệnh binh; tổ chức bảo đảm vệ sinh phòng dịch; biện pháp bảo đảm phòng chống vũ khí hủy diệt lớn; tổ chức tiếp tế quân y và tổ chức chỉ huy quân y. KHBĐQY được thể hiện trên bản đồ kèm thuyết minh. Bản đồ thể hiện hình thái chung địch, ta liên quan đến bảo đảm quân y; vị trí các phân đội, cơ sở quân y, tuyến và đường vận chuyển thương binh, bệnh binh; các bảng tính toán thương binh, bệnh binh, nhu cầu phương tiện vận chuyển. Có KHBĐQY cho các loại hình tác chiến và KHBĐQY động viên, KHBĐQY chuyên đề.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:16:34 pm

        KẾ HOẠCH BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA. văn kiện tác chiến cụ thể hóa quyết tâm bảo vệ biên giới của người chỉ huy bộ đội biên phòng, được trình bày trên bản đồ kèm theo thuyết minh và bảng kẻ, do cơ quan tham mưu biên phòng tỉnh, tiểu khu, ban chỉ huy đồn soạn thảo; được cấp có thẩm quyển phê chuẩn. Nội dung gồm: tình hình địa hình, địa vật, địch, ta; bố trí lực lượng để xử lí các tình huống; hướng, đường cơ động; phương án bảo vệ và hiệp đồng; các biện pháp bảo đảm...

        KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC, văn kiện tác chiến cụ thể hóa nội dung và biện pháp thực hiện quyết tâm chiến lược. Nội dung chủ yếu gồm: xác định các hướng (địa bàn) chiến lược; bố trí lực lượng, xác định nguyên tắc và phương pháp tác chiến, kết hợp các mặt đấu tranh khác trên các hướng chiến lược; phân chia các giai đoạn chiến lược, xác định mục tiêu của từng giai đoạn, dự kiến số lượng và trình tự tiến hành các chiến dịch, chiến cục trong mỗi giai đoạn, trên từng hướng chiến lược; các biện pháp hiệp đồng tác chiến giữa các hướng chiến lược và bảo đảm mọi mặt cho từng hướng chiến lược. KHCL được bổ sung và điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của bối cảnh chiến lược. Cg kế hoạch tác chiến chiến lược.

        KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÓNG MlỀN NAM (1975-76), kế hoạch thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam VN, kết thúc thắng lợi cuộc KCCM, do BTTM QĐND VN soạn thảo sau khi có nghị quyết hội nghị Trung ương XXI (7.1973) và nghị quyết của Quân ủy trung ương (3.1974). Sau nhiều lần nghiên cứu. bổ sung, chỉnh lí, 26.8.1974 bản dự thảo (lần thứ 7) hoàn thành, gồm kế hoạch chiến lược hai năm (1975-76) và kế hoạch chiến lược 1975. Kế hoạch chiến lược hai năm với quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975-76 gồm hai bước. Bước 1 (1975): tiến công lớn rộng khắp, làm thay đổi so sánh lực lượng có ý nghĩa chiến lược; đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch, giải phóng phần lớn nông thôn đồng bằng; mở thông các hành lang chiến lược, áp sát các thành phố, thị xã, căn cứ trọng yếu; thúc đẩy phong trào đô thị. Bước 2 (1976): tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam. Kế hoạch chiến lược 1975 gồm ba đợt. Đợt 1 (12.1974- 2.1975): tiến công có mức độ, chủ yếu ở đồng bằng sông cửu Long và Đông Nam Bộ. Đợt 2 (3-6.1975), đợt chủ yếu: mở chiến dịch quy mô lớn ở Nam Tây Nguyên; các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công và nổi dậy để phối hợp. Đợt 3 (8-10.1975): phát triển thắng lợi, hoạt động mạnh ở Trị-Thiên, Khu 5, chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng thực hiện phương án thời cơ, giành thắng lợi lớn nhất. KHCLGPMN được BCT BCHTƯ ĐLĐ VN thông qua trong hội nghị Bộ chính trị 30.9-8.10.1974 và hội nghị Bộ chính trị 18.12.1974-8.1.1975 là sự kết tinh trí tuệ các cơ quan chiến lược cao nhất, bước phát triển nhảy vọt về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của ĐLĐ VN, đưa đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc KCCM.

        KẾ HOẠCH COLIN, kế hoạch xâm lược đầu tiên của Mĩ nhằm độc chiếm miền Nam VN, phá hoại hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, do Côlin đại diện đặc biệt của Mĩ tại Sài Gòn soạn thảo 11.1954. Nội dung chính: bảo trợ và hợp pháp hóa chính quyền Ngô Đình Diệm do Mĩ viện trợ trực tiếp và giúp đào tạo nhân viên hành chính; xây dựng QĐ Sài Gòn (150.000 quân) do Mĩ huấn luyện, trang bị; định cư giáo dân miền Bắc di cư vào Nam, vạch kế hoạch cải cách điền địa; thay đổi chế độ thuế khóa, giành ưu tiên cho hàng hóa Mĩ thâm nhập vào miền Nam. Cùng với KHC, 13.12.1954 Mĩ ép Pháp kí hiệp định rút quân và chuyển giao cho Mĩ trách nhiệm huấn luyện, trang bị và cải tổ QĐ Sài Gòn. KHC đánh dấu sự mở đầu hành động xâm lược của Mĩ ở VN bằng chủ nghĩa thực dân mới.

        KẾ HOẠCH CÔNG TÁC KĨ THUẬT, văn kiện quân sự mang tính pháp lệnh, cơ sở để chỉ huy, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kĩ thuật của đơn vị. Có KHCTKT: thường xuyên, trong động viên, trong tác chiến (sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu). KHCTKT thường xuyên gồm: kế hoạch theo thời gian (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn); kế hoạch từng mặt công tác kĩ thuật (bảo đảm trang bị, bảo đảm kĩ thuật, huấn luyện kĩ thuật...); kế hoạch theo nhiệm vụ công tác kĩ thuật (thường xuyên, đột xuất). KHCTKT trong động viên gồm: kế hoạch động viên; kế hoạch huấn luyện động viên; kế hoạch thực hành động viên. KHCTKT trong tác chiến (thể hiện trên bản đồ , bảng kẻ và thuyết minh) gồm: nhiệm vụ tác chiến của đơn vị và nhiệm vụ cụ thể của ngành kĩ thuật; dự kiến tình huống địch - ta và cách đánh; bảo đảm trang bị, bảo đảm kĩ thuật, tổ chức bố trí và sử dụng lực lượng kĩ thuật theo từng phương án tác chiến; tổ chức chỉ huy kĩ thuật; phương án - hiệp đồng: những biện pháp chủ yếu để thực hiện KHCTKT và dự kiến xử trí các tình huống khi tác chiến; quy định kiêm tra, báo cáo. Chủ nhiệm và cơ quan kĩ thuật có trách nhiệm lập KHC- TKT và triển khai thực hiện sau khi người chỉ huy phê chuẩn.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:17:54 pm

        KẾ HOẠCH DIỄN TẬP, văn kiện quân sự dùng để tổ chức và tiến hành diễn tập. Lập KHDT căn cứ vào mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, kế hoạch huấn luyện, tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ. Thường gồm: đề mục diễn tập. mục đích yêu cầu, ý định diễn tập, lực lượng tham gia, thời gian, địa điểm, bảo đảm vật chất diễn tập, cơ quan chỉ đạo diễn tập và dạo diễn diễn tập. KHDT được thể hiện trên bản đồ, kèm theo các phụ lục cần thiết.

        KẾ HOẠCH DlỂU HÂU (P. Vautour, 4.1954), kế hoạch can thiệp QS do Ratpho, tham mưu trưởng lục quân Mĩ dề xướng nhằm cứu nguy cho quân Pháp đang sa lầy ở Điện Biên Phủ. Theo kế hoạch, Mĩ dự kiến sử dụng 60-90 máy bay ném bom chiến lược B-29 xuất phát từ căn cứ Clac (Philippin) và 150 máy bay chiến đấu trên 2 tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 của Mĩ, tiến hành ném bom ồ ạt xung quanh Điện Biên Phủ; giới QS Mĩ cũng nghiên cứu khả năng dùng bom nguyên từ chiến thuật ở Điện Biên Phủ. Để chuẩn bị thực hiện, Mĩ đã đưa 2 tàu sân bay vào Vịnh Bắc Bộ và cử một số sĩ quan đến nghiên cứu thực địa. Do không được quốc hội Mĩ tán thành, các nước đồng minh của Mĩ không ủng hộ, đồng thời Pháp cũng không dám chấp nhận vì bộ đội VN đã áp sát trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phù nên kế hoạch không được thực hiện.

        KẾ HOẠCH ĐỘNG VIÊN, văn kiện quân sự thể hiện nhiệm vụ, biện pháp, trình tự và thời hạn thực hiện động viên. KHĐV được soạn thảo từ thời bình, định kì soát xét nội dung để bổ sung hoặc điều chỉnh, sẵn sàng triển khai khi có lệnh động viên. Có KHĐV: nền kinh tế quốc dân, QĐ, từng ngành kinh tế... Nội dung, phương pháp soạn thảo, phê chuẩn... do chính phủ quy định. Đối với động viên QĐ, mỗi cấp có nhiệm vụ xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên hoặc nhiệm vụ bảo đảm cho việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên, ngoài việc lập kế hoạch của cấp mình còn phải chỉ đạo cấp dưới thuộc quyền lập kế hoạch xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên. Trong QĐND VN, tên gọi KHĐV của tùng cấp, nội dung, cách thức tiến hành xây dựng kế hoạch... thực hiện theo quy định của BTTM.

        KẾ HOẠCH ĐỜ LATUA, kế hoạch bình định vùng đồng bằng Nam Bộ trong chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương, do Đờ Latua - tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ vạch ra đầu 1948. Nội dung chủ yếu: thiết lập hệ thống đồn bốt, tháp canh dày đặc, bảo vệ các tuyến giao thông và vùng kinh tế quan trọng, kết hợp với hành quân càn quét triệt phá cơ sở kháng chiến, tập trung lực lượng tiến công căn cứ Đồng Tháp Mười nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và lực lượng chủ lực của VN; lôi kéo các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, sử dụng LLVT Thiên chúa giáo chống CM; phá hoại kinh tế kháng chiến, vơ vét người và của vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ chiến tranh xâm lược. Thực hiện KHĐL, đến 9.1949 Pháp đã lập được gần 3.000 đồn bốt, tháp canh, với hơn 70.000 quân, mở hàng trăm cuộc càn lớn, nhỏ vào các căn cứ kháng chiến, nhưng đều vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân Nam Bộ.

        KẾ HOẠCH HÀNG HẢI, văn kiện quân sự thể hiện trình tự điều khiển tàu từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc một lần đi biển. Nội dung chủ yếu gồm: hướng và chiều dài các đoạn đường hành trình đã chọn; tốc độ và thời gian cơ động của tàu trên từng đoạn; thời điểm và tọa độ (vị trí) của điểm bắt đầu và kết thúc (điểm chuyển hướng) mỗi đoạn; các biện pháp bảo đảm an toàn; cấp báo động chiến đấu ở từng khu vực biển khác nhau, trong những thời gian khác nhau. Thông thường căn cứ vào nhiệm vụ, tình hình địch, tình hình trên biển, tình hình khí tượng-thủy văn để lập KHHH và được trình bày trên hải đồ, bảng kẻ.

        KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN, văn kiện quân sự cụ thế hóa ý định hành quân của người chỉ huy, cơ sở để giao nhiệm vụ và chỉ huy hành quân; thuộc văn kiện chỉ huy. KHHQ được thể hiện trên bản đồ, sơ đồ hoặc bảng kẻ kèm theo thuyết minh. Nội dung gồm: tình hình địch, ta có liên quan; đội hình hành quân, các khu vực trú quân (trước khi hành quân, tạm dừng, tập kết); phương tiện cơ động, đường cơ động, tuyên xuất phát, trạm điều chỉnh giao thông, tổ chỉ đường; thời gian qua các tuyến xuất phát, trạm điều chỉnh, khu vực tạm dừng, tập kết; biện pháp bảo đảm, tổ chức chỉ huy, dự kiến tình huống và xử trí... KHHQ do cơ quan tác chiến soạn thảo có sự tham gia của các quân chúng, binh chủng, ngành chuyên môn và phải dược người chỉ huy có thẩm quyền phê duyệt.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:18:48 pm

        KẾ HOẠCH HÓA LỰC PHÁO BINH, văn kiện tác chiến để chỉ huy hỏa lực pháo binh: một nội dung quan trọng của kế hoạch tác chiến pháo binh. KHHLPB được thể hiện bằng bảng kẻ trên bản đồ kế hoạch tác chiến pháo binh hay bằng sơ đồ, bản đồ riêng. KHHLPB do chủ nhiệm và cơ quan tham mưu pháo binh soạn thảo, nội dung gồm: nhiệm vụ, thời gian và phương pháp hoàn thành từng nhiệm vụ; phân chia mục tiêu bắn và lượng đạn tiêu thụ cho từng đơn vị thuộc quyền; theo từng giai đoạn hỏa lực tương ứng với hành động của bộ đội binh chủng hợp thành trong trận chiến đấu (chiến dịch).

        KẾ HOẠCH HUẤN LUYỆN, văn kiện quân sự để điều hành huấn luyện gồm: mục đích yêu cầu, nội dung, thời gian, tổ chức, phương pháp, địa điểm, người thực hiện cùng các biện pháp bảo đảm (giảng đường, thao trường, bãi tập, vật chất - kĩ thuật). Có KHHL: chiến đấu, chiến dịch, cán bộ, chuyên môn nghiệp vụ; có KHHL ở đơn vị và KHHL ở nhà trường. Tùy từng cấp, KHHL được soạn thảo theo năm, quý, tháng... dựa trên cơ sở mệnh lệnh, chỉ thị, KHHL của cấp trên, chương trình giáo dục chính trị và huấn luyện QS của nhà trường và đơn vị, tình hình thực tế của đơn vị. KHHL do cơ quan tham mưu (kế hoạch) soạn thảo và được người chỉ huy phê chuẩn.

        KẾ HOẠCH KINH TỂ QUÂN SỰ, kế hoạch đề ra các nhiệm vụ kinh tế QS và các giải pháp tổ chức thực hiện chúng cho một giai đoạn nhất định nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển tiềm lực kinh tế quân sự của quốc gia. Các nhiệm vụ và giải pháp được sắp xếp theo một trình tự nhất định về vai trò quan trọng, thứ tự ưu tiên, tiến độ thời gian và đối tượng thực hiện. KHKTQS của một quốc gia có thể được xây dựng chuyên biệt hoặc được lồng ghép trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. KHKTQS được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở cấp cao nhất thông qua và có hiệu lực pháp lí đối với mọi đôi tượng liên quan. Nội dung KHKTQS trong thời bình thường bao gồm các chủ trương, chính sách, biện pháp thực hiện các kế hoạch và dự án đầu tư cụ thể nhằm thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong mọi lĩnh vực hoạt động của quốc gia, trong đó nổi bật nhất là các khoản chi tiêu thường xuyên cho quốc phòng - an ninh (ngân sách quốc phòng - an ninh), các dự án đầu tư cho công nghiệp quốc phòng, dự trữ chiến lược để đề phòng chiến tranh, các công trình hạ tầng lưỡng dụng... KHKTQS thời chiến còn bao gồm các biện pháp huy động để tập trung trong tay nhà nước những nguồn lực cần thiết, các giải pháp phòng thủ kinh tế và duy trì nền kinh tê trong điều kiện chiến tranh... Ở VN, các nội dung KHKTQS thường được lồng ghép trong các chương trình - mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (bao gồm các chiến lược phát triển cho một chu kì dài hạn 10-20 năm, các kế hoạch trung hạn 5 năm và kế hoạch ngắn hạn 1 năm). Nội dung KHKTQS cũng được thể hiện trong các kế hoạch của BQP như kế hoạch tác chiến chiến lược, kế hoạch bảo đảm kinh tế cho quốc phòng, kế hoạch nhu cầu thời bình của QĐ...

        KẾ HOẠCH LÍ THƯỜNG KIỆT (1973), kế hoạch do Mĩ và chính quyền Sài Gòn vạch ra nhằm phá hoại hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh sau khi Mĩ rút quân khỏi miền Nam VN. Nội dung cơ bản: tăng cường lực lượng QĐ Sài Gòn, thực hiện âm mưu “tràn ngập lãnh thổ” bằng các cuộc hành quân lấn chiếm; đẩy mạnh chiến tranh tâm lí và hoạt động bình định, kìm kẹp nhân dân trong vùng kiểm soát; tiến hành khiêu khích, tạo cớ cho Mĩ đưa quân trở lại VN... Để thực hiện kế hoạch. 28.1.1973 Mĩ xúc tiến thành lập cơ quan tùy viên QS (DAO) tại miền Nam VN, tiếp tục viện trợ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu gần 2 tỉ USD/năm (chủ yếu là viện trợ QS), giúp xây dựng QĐ Sài Gòn phát triển lên hơn 1 triệu quân... Được sự ủng hộ của Mĩ, trong 1973 QĐ Sài Gòn đã mở hàng nghìn cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng, bước đầu gây một số khó khãn cho CM miền Nam, nhất là ở vùng đồng bằng Khu 5, nhưng sau đó bị quân dần miền Nam kiên quyết đánh trả bằng ba mũi giáp công, tiến lên phản công và tiến công, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng, từng bước làm thất bại KHLTK của địch.

        KẾ HOẠCH LƠCLEC, kế hoạch chiến lược đầu tiên của Pháp trong âm mưu trở lại xâm lược VN và Đông Dương, do tướng Lơclec* vạch ra (1945). Nội dung gồm 5 điểm: dựa vào quân Anh để chiếm toàn bộ vùng lãnh thổ nam vĩ tuyến 16; thả dù các nhân viên dân sự và lực lượng QS xuống Bắc Bộ; tranh thủ mọi cơ hội khẳng định chủ quyền của Pháp ở VN và Đông Dương; từng bước giành lại các vùng do quân Tưởng kiểm soát theo khả năng tăng viện; về chính trị, tùy hoàn cảnh mà thương thuyết với các nhân vật bản xứ. Đầu 9.1945 do việc tổ chức lực lượng và chuyển quân sang Đông Dương gặp nhiều khó khăn, Lơclec* phải điều chỉnh kế hoạch, nhằm mục tiêu trước mắt là đánh chiếm và đứng vững ở Nam Bộ VN, làm bàn đạp để chiếm nốt phần còn lại của Đông Dương.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:20:01 pm

        KẾ HOẠCH MAC NAMARA, kế hoạch QS của Mĩ đẩy mạnh thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam VN do bộ trưởng quốc phòng Mac Namara vạch ra, tổng thống Mĩ Giônxơn thông qua 17.3.1964. Nội dung gồm: tăng cố vấn và nhân viên QS Mĩ lên 25.000, lập bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mĩ, tăng QĐ Sài Gòn lên 550.000, tiến hành bình định có trọng điểm, tiêu diệt các tổ chức QS và chính trị của CM, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ miền Nam VN; phá hoại miền Bắc VN và Lào, tăng cường gây sức ép buộc miền Bắc phải ngừng chi viện cho miền Nam. KHMN bị thất bại, dẫn đến sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh đặc biệt, buộc Mĩ phải chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ.

        KẾ HOẠCH NAVA, kế hoạch chiến lược của Pháp giai đoạn cuối chiến tranh xâm lược Đông Dương, do tướng Nava tổng chỉ huy QĐ viễn chinh Pháp ở Đồng Dương vạch ra, được chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua (24.7.1953). Nội dung chính: dựa vào viện trợ Mĩ, trong 2 năm (1953-54) phát triển quân ngụy lên 168 tiểu đoàn bộ binh (gần 300.000 người); gấp rút tổ chức một lực lượng cơ động chiến lược mạnh gồm các binh đoàn cơ động (đến đầu 1954 chỉ tổ chức được 18) để thoát khỏi thế phòng ngự bị động, tiến tới giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Dự kiến thực hiện trong 18 tháng, gồm hai bước. Bước 1 (Thu Đông 1953 và Xuân 1954): giữ thế phòng ngự chiến lược ở bắc vĩ tuyến 18 (giữ vững đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ Thượng Lào), tránh giao chiến với lực lượng chủ lực đối phương; tiến công  chiến lược ở phía nam, đánh chiếm các căn cứ kháng chiến, trước hết là vùng tự do Liên khu 5 và Khu 9; mở rộng QĐ ngụy, tập trung xây dựng khối chủ lực tác chiến. Bước 2 (từ Thu Đông 1954), dồn toàn lực ra miền Bắc thực hiện các đòn tiến công chiến lược, giành thắng lợi quyết định, buộc phía VN phải chấp nhận kết thúc chiến tranh theo những điều kiện do Pháp đặt ra. KHN bị quân và dân VN làm phá sản trong chiến cục Đông Xuân 1953-54.

        KẾ HOẠCH OETMOLEN, kếhoạch QScủa Mĩ nhằm thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam VN, do tướng Oetmolen đề ra, được tổng thống Giônxơn và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mĩ thông qua 7.1965. Gồm 3 nội dung (tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt) và 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 (7-12.1965), đưa nhanh quân Mĩ và quân các nước phụ thuộc Mĩ vào miền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc VN, gấp rút triển khai lực lượng chuẩn bị phản công giành quyển chủ động chiến trường, ngăn chặn chiều hướng sụp đổ của chế độ Sài Gòn. Giai đoạn 2 (1-6.1966), dùng quân Mĩ làm lực lượng chủ yếu mở các cuộc hành quân tìm diệt vào những khu vực trọng yếu để tiêu diệt lực lượng chủ lực QGP. đánh gẫy xương sống “Việt cộng”, phá các căn cứ du kích, đẩy mạnh bình định ở nông thôn. Giai đoạn 3 (7.1966-1967), phối hợp các lực lượng tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của QGP và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định. Với KHO Mĩ hi vọng giành thắng lợi, sau giai đoạn 3 sẽ rút quân về nước, nhưng trên thực tế Mĩ đã phải tăng quân ngoài dự kiến (lúc cao nhất lên tới 542.000 quân Mĩ. hơn 70.000 quân các nước phụ thuộc Mĩ) mà không thực hiện được mục tiêu, các cuộc phản công chiến lược mùa khỏ 1965-66 và 1966-67 đểu bị đánh bại; đặc biệt cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) của quân và dân miền Nam đã làm phá sản hoàn toàn KHO và chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ.

        KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG VŨ KHÍ HÚY DIỆT LỚN, văn kiện tác chiến cụ thể hóa quyết tâm của người chỉ huy  về tổ chức phòng chống vũ khí hủy diệt lớn trong trận chiến đấu (chiến dịch). Nội dung thường gồm: tình hình chuẩn bị và khả năng sử dụng vũ khí hủy diệt lớn của dịch: những điểm chính về bố trí đội hình (bố trí chiến dịch) và nhiệm vụ chiến đấu (chiến dịch) của bộ đội; lực lượng, nhiệm vụ và các biện pháp phòng chống; kế hoạch hiệp đồng; tín hiệu thông báo. báo động. KHPCVKHDL do cơ quan tham mưu chủ trì soạn thảo với sự tham gia của các chủ nhiệm quân chủng, binh chủng, ngành có liên quan; được thể hiện trên bản đồ kèm theo thuyết minh.

        KẾ HOẠCH RƠVE, kế hoạch chiến lược của Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, do tướng Rơve - tổng tham mưu trưởng QĐ Pháp vạch ra 6.1949 nhằm tiếp tục sự chuyển hướng chiến lược đề ra từ đầu 1948. đối phó với lực lượng kháng chiến VN đang phát triển mạnh, ngăn chặn ảnh hưởng của CM TQ. Nội dung chính: về chính trị, củng cỏ chính quyền tay sai, lợi dụng tốn giáo, chia rẽ dân tộc, lập các xứ tự trị, thi hành chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, đặt chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương trong kế hoạch chống cộng chung của phương Tây, tích cực tranh thủ viện trợ Mĩ; về QS, tăng quân cho chiến trường chính Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du, tăng cường phòng thủ khu tứ giác Lạng Sơn - Tiên Yên - Hải Phòng- Hà Nội, rút ngắn phòng tuyến biên giới Việt - Trung, tập trung vào tuyến Thất Khê - Móng Cái, phát triển QĐ bản xứ làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung quản Âu - Phi xây dựng lực lượng cơ động, tăng cường càn quét, đánh phá phong trào chiến tranh du kích, chuẩn bị điều kiện mở những cuộc tiến công lớn nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực VN. KHR được Mĩ ủng hộ, đánh dấu sự can thiệp công khai của Mĩ vào chiến tranh Đông Dương.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:21:08 pm

        KẾ HOẠCH TÁC CHIÊN, văn kiện tác chiến cụ thể hóa quyết tâm tác chiến của người chỉ huy, KHTC được thể hiện trên bản đồ kèm theo thuyết minh. Nội dung chủ yếu gồm: hình thái địch ta và dự kiến hành động của địch; đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch); nhiệm vụ và hoạt động cụ thể của các đơn vị; các phương án tác chiến; nội dung và thứ tự hiệp đồng tác chiến; các biện pháp bảo đảm... KHTC do cơ quan tham mưu tác chiến soạn thảo có các chủ nhiệm binh chủng, bộ đội chuyên môn, ngành nghiệp vụ có liên quan tham gia dưới sự chủ trì của tham mưu trưởng. KHTC ở cấp chiến lược gọi là KHTC chiến lược, ở cấp chiến dịch gọi là KHTC chiến dịch, ở cấp chiến thuật gọi là kế hoạch chiến đấu.

        KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ, văn kiện tác chiến thể hiện việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ tác chiến điện tử. KHTCĐT gồm phần vẽ và phần viết trên bản đồ. Phần vẽ thường có: thành phần, bố trí lực lượng của ta và đối phương, các mục tiêu tác chiến điện tử, các phương tiện tác chiến điện từ. giới tuyến phân chia nhiệm vụ các hướng tác chiến. Phần viết thường có: kết luận đánh giá tình hình điện từ trong khu vực tác chiến, nhiệm vụ của các lực lượng tác chiến điện từ và bộ đội binh chủng hợp thành (trinh sát, chế áp mục tiêu, phương tiện điện tử và phòng chống tác chiến điện từ của địch); dung hòa trường điện tử, tổ chức chỉ huy, bảo đảm. hiệp đồng giữa lực lượng tác chiến điện từ và bộ đội binh chủng  hợp thành.

        KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN pháo binh, kế hoạch tác chiến cụ thể hóa quyết tâm của người chỉ huy binh chủng hợp thành (hoặc người chỉ huy pháo binh) về sử dụng pháo binh trong chiến dịch (trận chiến đấu); do chủ nhiệm pháo binh soạn thảo. KHTCpb trình bày trên bản đồ, biểu đồ, bảng kẻ; gồm: hình thái địch - ta, đội hình chiến đấu pháo binh, nhiệm vụ pháo binh, tổ chức phân chia pháo binh, cơ động, chiếm lĩnh và di chuyển pháo binh, kế hoạch hỏa lực, mật danh và tín hiệu hiệp đồng...

        KẾ HOẠCH THÔNG TIN LIÊN LẠC, văn kiện tác chiến bảo đảm thông tin liên lạc; do cơ quan, chủ nhiệm thông tin soạn thảo. Gồm: sơ đồ tổ chức thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, cáp quang, vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), đối lưu, vệ tinh; quân bưu, tín hiệu và bản thuyết minh. KHTTLL được thể hiện trên bản đồ hoặc sơ đồ, trên cơ sở quyết tâm tác chiến của người chỉ huy, chỉ thị bảo đảm thông tin liên lạc của tham mưu trưởng, chỉ lệnh thông tin liên lạc của cấp trên, lực lượng thông tin liên lạc, tình hình đối phương, địa hình, thời tiết...

        KẾ HOẠCH TRINH SÁT, văn kiện tác chiến thể hiện việc tổ chức trinh sát của binh đội, binh đoàn (liên binh đoàn); do cơ quan quân báo (trinh sát) soạn thảo. KHTS được thể hiện trên bản đồ kèm theo bảng thuyết minh. Phần vẽ gồm: tình hình lực lượng trinh sát (lực lượng cấp trên, cấp dưới, cấp minh và đơn vị bạn) và bộ đội binh chủng hợp thành (hành động của bộ đội và LLVT địa phương có liên quan), tình hình dịch đã phát hiện, dự kiến và còn nghi ngờ. Phần thuyết minh gồm: bảng kẻ, ghi chú. nhiệm vụ, ý định tổ chức trinh sát, sử dụng lực lượng, biện pháp trinh sát, bảo đảm, tổ chức thông tin liên lạc, các mốc thời gian quy định.

        KẾ HOẠCH XTALÂY - TAYLƠ, kế hoạch tổng hợp của Mĩ mở đầu việc thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam VN do Xtalây soạn thảo, Taylơ bổ sung phần QS, dược tổng thống Kennơđi và Hội đồng an ninh quốc gia Mĩ thông qua 11.1961. Mục tiêu đề ra là bình định miền Nam VN trong 18 tháng (7.1961-12.1962) với 3 biện pháp chiến lược: phát triển QĐ Sài Gòn về số quân và trang bị vũ khí, tăng cường hệ thống cố vấn và lực lượng yểm trợ Mĩ, mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt LLVT CM; giữ vững các thành thị, bình định nông thôn đồng bằng, gom dân lập ấp chiến lược (dự định tập trung 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lược); đưa lực lượng đặc nhiệm Mĩ (khoảng 6.000- 8.000 quân) vào miền Nam, đồng thời phong tỏa biên giới, vùng biển, cắt đứt sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, ném bom miền Bắc VN làm áp lực khi cần thiết. Mĩ dự tính chi phí khoảng 273,5 triệu USD và 18.625 triệu tiền miền Nam; sau khi hoàn thành kế hoạch vào cuối 1962, sẽ chuyển sang bước khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Nam VN. KHX-T tuy gây cho CM một số khó khăn nhưng đã nhanh chóng phá sản, báo hiệu thát bại không thể tránh khỏi của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ.

        KÊNH ĐÀO PANAMA, kênh nối liền Đại Táy Dương với Thái Bình Dương, cắt lãnh thổ Panama ở chỗ hẹp nhất. Dài 81,6km (65,2km trong đất liền, 16,4km trên vịnh), rộng 150m, sâu 12,5m, tàu 40.000t qua được. 6 âu tàu bảo đảm trong một ngày đêm 48 tàu qua lại, thời gian qua kênh hết 13- 14 giờ. 1879 các công ti của Pháp bắt đầu đào kênh (lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Anh và Mĩ). 1901 bị khủng hoảng nên các công ti Mĩ nắm quyền đào KĐP. 1914 chiếc tàu đầu tiên đi qua KĐP, nhưng đến 1920 KĐP mới hoàn thành. Khu vực KĐP rộng 16km2, với nhiều căn cứ, cơ quan và trung tâm huấn luyện dọc theo hai bờ kênh do Mĩ quản lí. 1979 theo hiệp ước giữa Mĩ và Panama kí 1977, khu vực KĐP chuyển giao cho Panama, các căn cứ của Mĩ ở khu vực này tồn tại đến 2000.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:22:20 pm

        KÊNH ĐÀO XUYÊ, kênh biển ở tây bắc Ai Cập, nối liền Biển Đỏ với Địa Trung Hài, không có âu thuyền, dài 161 km, rộng 120m, sâu 16,2m. Đảm bảo tàu 150.000t qua được. Tàu đi lại suốt ngày đêm với tốc độ 13-14km/h. Đường thủy từ châu Âu đi châu Á qua KĐX là đường ngắn nhất (giảm 50% quãng đường). Việc đào KĐX bắt đầu từ 4.1859, bị đình trệ từ 1863-66, đến 1869 hoàn thành. Trong CTTG-I. KĐX có vị trí chiến lược đặc biệt. Trong CTTG-II, KĐX được sử dụng để vận chuyển hàng hóa, lực lượng và phương tiện, KTQS cho QĐ Anh, Mĩ và đồng minh. 1956 Ai Cập quốc hữu hóa. Giữa 1967 do Ixraen xâm lược Ai Cập, KĐX bị đóng cửa, đến 5.6.1975   mới khai thông lại.

        KÊNH THÔNG TIN LIÊN LẠC, tổ hợp thiết bị và môi trường vật lí để phát, truyền và thu thông tin một cách độc lập. Theo dạng tín hiệu ở đầu và cuối kênh, có: kênh điện thoại, kênh điện báo, kênh truyền thanh, kênh truyền hình, kênh mật mã...; theo môi trường truyền, có: kênh hữu tuyến, kênh vô tuyến, kênh tổ hợp... KIT'LL có thể là đơn công (thu phát lần lượt) hoặc song công (thu phát đồng thời).

        KÊNIA (Cộng hòa Kênia; Jamhuriya Kenya, A. Republic of Kenya), quốc gia ở Đỏng Phi. bắc giáp Êtiôpia và Xuđăng, đông giáp Xômali, đông nam giáp Ấn Độ Dương, nam và tây nam giáp Tandania, tây giáp Uganda. Dt 580.367km2; ds 31,6 triệu người (2003); 98% người Bantu. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Xoahili. Tôn giáo: Bái vật giáo, Thiên chúa giáo. Thủ đô: Nairobi. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội (một viện) và tổng thống. Địa hình cao nguyên và núi, cao dần từ đông sang tây, đỉnh cao nhất 5.199m. Đồng bằng ven biển rộng 50-200km. Khí hậu cận xích đạo. Nước nông nghiệp. Xuất khẩu cà phê, chè, cao su... GDP 11,396 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 370 USD. Thành viên: LHQ (16.12.1963), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi. Lập quan hệ ngoại giao với VN 21.12.1995. LLVT: lực lượng thường trực 24.400 người (lục quân 20.000, không quân 3,000 hải quân 1.400), lực lượng bán vũ trang 5.000. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 78 xe tăng, 92 xe thiết giáp trinh sát, 62 xe thiết giáp chở quân, 40 pháo mặt đất, 94 pháo phòng không, 106 máy bay, 4 tàu tên lửa, 1 tàu tuần tiễu, 1 tàu đổ bộ, 29 máy bay chiến đấu, 34 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 268 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66791654_452063768856842_322156722254774272_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlCloXOPmTCwkGDF0Pbpfabrrnq6zxBw108VkJZ_BZ6xGUwYc-4d4G26fu9gb3RzEc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=bd30b5ca60434c30d4274857cf6f5d54&oe=5DB35B98)


        KÊRENXKI (1881-1970), thủ tướng (7-11.1917) kiêm tổng tư lệnh QĐ (9- 11.1917) chính phủ làm thời Nga (chính phủ tư sản được thành lập sau CM tháng Hai và bị lật đổ trong CM tháng Mười). Đv ĐXH-CM. Trước CM tháng Mười, hoạt động chính trị, thủ lĩnh phái lao động trong Duma quốc gia khóa IV. Tháng 3.1917 tham gia chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản Nga, giữ các chức: bộ trường Bộ tư pháp (3-5.1917), bộ trưởng  Bộ chiến tranh và hải quân (5-9.1917), K chủ trương tiếp tục tham gia chiến tranh đế quốc, khùng bố những người CM trong nước. CM tháng Mười thắng lợi (7.11.1917), chạy trốn và tổ chức bạo loạn chống chính quyền Xô viết. 1918 ra nước ngoài tiếp tục hoạt động chống LX.

        KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ĐCS VN trong chiến tranh giải phóng dân tộc nhằm động viên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Mỗi hình thức đấu tranh (chính trị, QS, ngoại giao) giữ vị trí, vai trò khác nhau trong mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ nhau với những biện pháp phong phú cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Phải xuất phát từ thế và lực, nhiệm vụ CM trong từng thời kì để xác định hình thức đấu tranh cho phù hợp: khi chưa đủ điều kiện để tiến hành đấu tranh QS thì đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao là hình thức chủ yếu, đấu tranh QS giữ vai trò hỗ trợ; khi so sánh lực lượng có lợi cho CM thì đấu tranh QS là hình thức chủ yếu và làm chỗ dựa cho quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tạo thế và lực cho đấu tranh ngoại giao; đấu tranh ngoại giao tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh QS và đấu tranh chính ưị giành thắng lợi lớn hơn. Thắng lợi của cuộc KCCP và KCCM là kết quả điển hình của nghệ thuật KHĐTQSVĐTCTVĐTNG, trong đó đấu tranh QS giữ vai trò quyết định.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:23:14 pm

        KẾT HỢP ĐẤU TRANH VŨ TRANG VỚI ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, phương châm chiến lược chỉ đạo vận dụng hai hình thức đấu tranh cơ bản trong khởi nghĩa vì chiến tranh CM của ĐCS VN. Đó là phải nắm vững và coi trọng sử dụng cả hai hình thức đấu tranh trong mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng, hỗ trợ, tác động lẫn nhau cả về không gian, thời gian, quy mô và trình độ phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể để tạo thành sức mạnh tổng hợp lớn nhất, thúc đấy CM phát triển thắng lợi. Khi chưa đủ điều kiện để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang thì lấy đấu tranh chính trị là hình thức chủ yếu, để phát triển lực lượng CM (bao gồm cả LLVT CM), đưa phong trào CM từ thấp lên cao, đấu tranh vũ trang giữ vai trò hỗ trợ; khi điều kiện cho phép đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, thì đấu tranh vũ trang trở thành hình thức chủ yếu với nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng QS địch, bảo vệ dân, giữ dân, giành dân, làm chỗ dựa cho quần chúng CM đấu tranh chính trị và nổi dậy giành quyền làm chủ. CM tháng Tám 1945 là kết quả của một quá trình kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với dấu tranh vũ trang, trong đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị giữ vai trò chủ yếu, có LLVT và đấu tranh vũ trang làm chỗ dựa, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Trong KCCP và nhất là trong KCCM ở miền Nam, sự KHĐTVTVĐTCT đã phát triển đến trình độ cao với nhiều phương thức và biện pháp phong phú cả trên phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        KẾT HỢP HAI CHÂN BA MŨI BA VÙNG, phương châm chiến lược của chiến tranh CM ở miền Nam VN trong KCCM, chỉ đạo sự liên kết, phối hợp đấu tranh QS với đấu tranh chính trị (hai chân); tiến công QS, chính trị và binh vận (ba mũi) trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị), nhầm khai thác triệt để thế mạnh của chiến tranh nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp, giành thế chủ động tiến công địch toàn diện, đồng thời và rộng khắp, đẩy quân địch vào thế bị động đối phó, khoét sâu những chỗ yếu cơ bản cua chiến tranh xâm lược. Mọi cuộc đấu tranh, tiến công địch bằng bất kì hình thức nào (QS, chính trị...), trên từng vùng cũng như trên toàn chiến trường miền Nam đều được xem xét, quyết định và tiến hành trong mối quan hệ kết hợp đó một cách linh hoạt tùy theo so sánh lực lượng địch, ta và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Phương châm KHHCBMBV thể hiện sự vận dụng cụ thể đựờng lối chiến tranh nhân dân của ĐCS VN và là sự kế thừa, phát triển một cách sáng tạo kinh nghiệm của cuộc KCCP trong điều kiện, hoàn cảnh của cuộc KCCM ở miền Nam.

        KẾT HỢP KHỞI NGHĨA VŨ TRANG VỚI CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG, phương pháp CM đồng thời là nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân trong CM giải phóng dân tộc ở VN do ĐCS VN lãnh đạo, dựa trên cơ sở vận dụng những quy luật chung của CM và quy luật riêng của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh CM ở VN. Sự kết hợp diễn ra dưới nhiều hình thức, bằng nhiều cách, tuần tự hoặc đồng thời. Từ đấu tranh chính trị phát triển thành đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang; từ khởi nghĩa vũ trang chuyển thành chiến tranh CM; trong chiến tranh CM, vừa tiến công QS vừa phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. kết hợp công kích QS với khởi nghĩa của quần chúng (tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công), công kích và khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng công kích (tổng tiến công) và nổi dậy đồng loạt... để vừa mở rộng địa bàn, vừa tăng thêm lực lượng cho chiến tranh CM. CM giải phóng dân tộc ở VN do ĐCS VN lãnh đạo, đã bắt đầu từ sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa thắng lợi trong CM tháng Tám 1945. Trong KCCP và nhất là trong KCCM ở miền Nam, KHKN- VTVCTCM đã được vận dụng sáng tạo và phát triển ngày càng cao, đạt hiệu quả lớn.

        KẾT HỢP KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG - AN NINH, QUỐC PHÒNG - AN NINH VỚI KINH TẾ, nội dung quan trọng của đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc, một trong những quan điểm và tư tưởng chỉ đạo đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cùng cố quốc phòng - an ninh của ĐCS VN. Nội dung cơ bản: gắn kết chặt chẽ các hoạt động trên hai lĩnh vực kinh tế và quốc phòng - an ninh trong một thể thống nhất, bằng sự chủ động tự gắn kết và sự điều hành, quản lí của nhà nước, làm cho hai lĩnh vực này bổ sung cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển; nhằm tạo ra và phát huy nguồn lực tổng hợp của quốc gia để đẩy mạnh công nghiệp hóa. hiện đại hóa đất nước, đảm bảo cho chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, lợi ích dân tộc luôn luôn ở trạng thái tự bảo vệ và được bảo vệ một cách vững chắc. KHK- TVQP-AN.QP-ANVKT có tính quy luật phổ biến trong các xã hội có đối kháng giai cấp, một truyền thống của dân tộc VN trong quá trình dựng nước và giữ nước.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:24:13 pm
     
        KẾT HỢP QUÂN DÂN Y, kết hợp chặt chẽ giữa quân y và dàn y nhằm sử dụng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng y tế, đảm bảo sức khỏe và cứu chữa cho nhân dân và QĐ trong thời bình và thời chiến. KHQDY là sự kết hợp toàn diện, cả về tổ chức và các mặt bảo đảm y tế; một truyền thống của y tế nhân dân và y tế QĐ được hình thành từ sau CM tháng Tám (1945), phát triển trong chiến tranh và từng bước được thể chế hóa bằng các văn bản dưới luật của chính phủ và liên bộ y tế - quốc phòng.

        KẾT HỢP QUỐC PHÒNG VỚI AN NINH, tư tưởng chỉ đạo  thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh của ĐCS VN. Nội dung cơ bản: chủ động kết hợp hai mặt của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN (xây dựng tiềm lực quốc phòng gắn với xây dựng tiềm lực an ninh; xây dựng lực lượng quốc phòng gắn với xây dựng lực lượng an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân; đấu tranh quốc phòng gắn với đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia). Mục tiêu: tạo sức mạnh tổng hợp để giữ vững chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị - xã hội và lợi ích dân tộc; sẵn sàng chống lại có hiệu quả các âm mưu và thủ đoạn xâm lược, phá hoại, diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; tạo môi trường hòa bình ổn định lâu dài để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

        KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI. phương châm thực hiện đường lối chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc của ĐCS VN nhằm phát huy sức mạnh của dân tộc, đất nước (truyền thống, văn hóa dân tộc, những thành tựu CM, mọi tiềm năng kinh tế, xã hội, chính trị...) và khai thác có hiệu quả sức mạnh của thời đại, của nhân dân thế giới (xu thế thời đại, quy luật vận động lịch sử, nền văn minh nhân loại, cuộc CM khoa học kĩ thuật thế giới...) tạo thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước. Nội dung KHSMDTVSMTĐ: nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế; kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, nội lực với ngoại lực, truyền thống với hiện đại, lợi ích dân tộc với lợi ích chung của nhân dân thế giới.

        KẾT HỢP TIẾN CÔNG QUÂN SỰ VỚI NỔI DẬY CÚA QUẦN CHÚNG, nội dung cơ bản của phương châm chỉ đạo chiến lược trong khởi nghĩa và chiến tranh CM giải phóng dân tộc ở VN trong thời đại mới. KHTCQSVNDCQC được thực hiện trên cả quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, trong phạm vi cả nước và từng chiến trường, từng khu vực, từng địa phương, cả trong thời gian dài và trong từng đợt nhất định theo mục tiêu cụ thể. Tiến cống QS phải biết dựa vào lực lượng chính trị quần chúng và kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng, hỗ trợ cho quần chúng diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ở cơ sở hoặc từng địa phương. Nổi dậy của quần chúng dựa vào tiến công QS và gắn với tiến công QS, hỗ trợ đắc lực cho tiến công QS. Tiến công QS giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu diệt lực lượng QS của địch, tạo điều kiện để quần chúng nổi dậy giành và mở rộng quyền làm chủ. Ngược lại, quần chúng nổi dậy càng mạnh mẽ càng tạo thế và lực cho tiến công QS, thúc đẩy tiến công QS phát triển. KHTCQSVNDCQC được thực hiện trong KCCP phát triển đạt đến trình độ cao trong KCCM ở miền Nam, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, khoét sâu chỗ yếu chí tử của địch, làm nổi bật nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân VN.

        KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU, thành quả đạt được trong chiến đấu. Bao gồm: số lượng vũ khí. trang bị (xe tăng, xe thiết giáp, máy bay, tàu chiến, pháo...), vật chất thu được hoặc phá hủy, số lượng quân địch bị giết, bị bắt làm tù binh và bị thương hoặc khu vực (mục tiêu) đánh chiếm được. KQCĐ là những số liệu cụ thể để đánh giá khả năng chiến đấu của bộ đội, để so sánh với mục đích và nhiệm vụ chiến đấu đã đề ra, là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả tác chiến.

        KẾT THÚC CHIẾN DỊCH, bước cuối cùng của giai đoạn thực hành tác chiến, gồm các hành động tác chiến nhằm chấm dứt chiến dịch. Phải căn cứ vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch, so sánh tương quan địch, ta, phán đoán tình hình để hạ quyết tâm KTCD cho chính xác. Có: KTCD trong trường hợp thuận lợi, khi ta hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch tiến công (phản công) hoặc đánh bại cuộc tiến công của địch trong chiến dịch phòng ngự; KTCD trong trường hợp khó khăn, khi ta mới thực hiện được một phần nhiệm vụ chiến dịch. KTCD phải đảm bảo: chủ động kết thúc đúng thời cơ, giữ bí mật, bất ngờ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tiếp theo và chiến tranh nhân dân địa phương phát triển. Khi KTCD phải tiến hành đồng bộ các biện pháp như tổ chức đánh địch, nghi binh lừa địch, khắc phục hậu quả, sẵn sàng chiến đấu cao...

        KẾT THÚC CHIẾN TRANH, trạng thái của cuộc chiến tranh khi một bên hoặc các bên tham chiến tuyên bố ngừng mọi hoạt động QS, chấm dứt chiến tranh; thời điểm để các bên tiến hành các hoạt động chuyển trạng thái đất nước từ thời chiến sang thời bình, khắc phục hậu quả chiến tranh. Được thể hiện bằng các văn kiện đầu hàng của một bên hoặc hiệp định đình chiến, hiệp ước hòa bình giữa các bên.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:26:01 pm

        KẾT THÚC TRẬN CHIẾN ĐẤU, bước cuối cùng của giai đoạn thực hành tác chiến, gồm các hành động tác chiến nhằm chấm dứt trận chiến đấu. Có KTTCĐ của bộ đội binh chủng hợp thành, LLVT địa phương và các quân chủng, binh chủng. KTTCĐ có thể trong trường hợp thuận lợi (hoàn thành nhiệm vụ trên giao), hoặc trong trường hợp không thuận lợi. nhưng đều phải giữ bí mật, chủ động, đúng thời cơ, giảm thương vong. KTTCĐ tiến công (phản công) người chỉ huy phải tổ chức nắm tình hình địch, ta, điều chỉnh đội hình, tổ chức các bộ phận cảnh giới, lùng sục, luôn sẵn sàng chiến đấu; tổ chức thu dọn chiến trường: nhanh chóng vận chuyển thương binh, từ sĩ, giải quyết tù hàng binh và thu chiến lợi phẩm; tổ chức cho đơn vị lui quân về nơi quy định khôi phục sức chiến đấu (bổ sung người, vũ khí...) hoặc thực hiện nhiệm vụ khác. Trong phòng ngự, sau mỗi đợt đánh bại tiến công của địch, phải củng cố khu vực phòng ngự, cùng cố công sự trận địa, giải quyết hậu quả, kiện toàn tổ chức và bổ sung người, vũ khí đạn dược, hậu cần, duy trì khả năng chiến đấu, sẵn sàng đánh bại các đợt tiến công của địch.

        KGB nh ỦY BAN AN NINH QUỐC GIA LIÊN XÔ

        KHẢ NĂNG BẢO VỆ của xe tăng thiết giáp, khả năng chống đỡ của xe tăng thiết giáp đối với tác động phá hủy của đạn dược và các nhân tố sát thương của vũ khí hủy diệt lớn, bảo toàn khả năng hoạt động của xe, bảo đảm an toàn cho người và thiết bị, vũ khí trong xe. KNBV phụ thuộc vào độ dày và các góc nghiêng của vỏ giáp, chất lượng và kết cấu vỏ giáp cũng như độ bền vững của các mối liên kết. KNBV còn phụ thuộc vào mức độ làm kín thân xe, các hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn và tự động chống cháy, khả năng hạn chế hư hỏng, tai nạn và sự hoàn thiện của hệ thống ngụy trang. Một trong các xu hướng tăng cường KNBV là sử dụng loại giáp bổ trợ (giáp chủ động và giáp thụ động).

        KHẢ NĂNG BẢO VỆ MỤC TIÊU phòng không, khả năng của phân đội, binh đội, binh đoàn, cụm phòng không khi đã triển khai trong đội hình chiến đấu, tạo nên vùng hỏa lực kín với hệ số chồng khác nhau của các vùng sát thương để tiêu diệt địch trên không, bảo vệ mục tiêu được giao. KNBVMTpk phụ thuộc vào đội hình chiến đấu, số lượng và chất lượng thành phần tham gia bảo vệ, được đánh giá bằng các chỉ số: giá trị cực đại của góc bảo vệ đến tuyến hoàn thành nhiệm vụ (trong bảo vệ mục tiêu điểm) và bằng độ dài tuyến bảo vệ (trong bảo vệ các khu vực mục tiêu hoặc tuyến mục tiêu).

        KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU, khối lượng nhiệm vụ chiến đấu mà từng đơn vị LLVT có thể thực hiện được trong khoảng thời gian, không gian nhất định trong tình hình cụ thể. KNCĐ phụ thuộc vào: cơ cấu biên chế tổ chức, số lượng người, trình độ huấn luyện chiến đấu, trình độ giác ngộ chính trị và trạng thái tinh thần của bộ đội, số lượng và tình trạng vũ khí, phương tiện kĩ thuật, năng lực chỉ huy và các mặt bảo đảm. KNCĐ chịu tác động của các nhân tố như đối phương, điều kiện địa hình, khí tượng - thủy văn... KNCĐ có thể tính chung dưới dạng tổng quát theo phân đội, binh đội, binh đoàn bằng số lượng quân địch (mục tiêu) mà đơn vị đó đủ sức tiêu diệt hoặc đánh bại, chiếm giữ khu vực địa hình, cũng có thể tính riêng từng mặt (như: khả năng hỏa lực, khả năng đột kích, khả năng cơ động, khả năng phòng không...). KNCĐ của từng loại đơn vị thuộc các quân chủng, binh chủng khác nhau được biểu thị bằng những chỉ số khác nhau. KNCĐ của các đơn vị thuộc quyền là căn cứ cơ bản để người chỉ huy ha quyết tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. KNCĐ của lục quân, được xác định bằng số lượng, quy mô và tính chất mục tiêu của đối phương có thể tiêu diệt (sát thương) và phá hủy, đánh chiếm trong tiến công và chiếm giữ trong phòng ngự; chiều sâu nhiệm vụ tác chiến và tốc độ tiến công; chiểu sâu tiêu diệt (sát thương) mục tiêu của địch trong bố trí của chúng bằng hỏa lực và lực lượng khác; thời gian chuẩn bị bộ đội để tiến hành nhiệm vụ. Có thể xem xét KNCĐ theo từng mặt như: khả năng tiêu diệt xe tăng, bắn máy bay, tạo mật độ lực lượng, phương tiện trên hướng đột kích chủ yếu... KNCĐ của không quân, được xác định bởi số lượng mục tiêu của đối phương  bị không quân tiêu diệt hoặc đánh phá; khối lượng và chất lượng tin tức trinh sát thu được; cự li hoạt động tác chiến; phương pháp và khả năng hoạt động trong những điều kiện thời tiết khác nhau và khắc phục phòng không của đối phương; số lượng bộ đội và phương tiện có thể chuyên chở, thời gian cần để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và thời gian cần để chuẩn bị cất cánh lại; cường độ xuất kích. KNCĐ của bộ đội phòng không là tổng thể những KNCĐ của các đơn vị tên lửa phòng không, pháo phòng không; không quân tiêm kích (nếu có); bộ đội rađa và bộ đội tác chiến điện từ phòng không; số lượng hệ thống điều khiển tự động hóa, bảo đảm kĩ thuật và khả năng hiệp đồng. Được xác định bời khả năng phát hiện, thông báo về mục tiêu trên không; số lượng mục tiêu có thể sát thương bằng hỏa lực (tên lửa, pháo phòng không) để bảo vệ mục tiêu. KNCĐ của bộ đội tên lửa. thể hiện bằng số lượng và mức độ sát thương mục tiêu của đối phương  bằng tên lửa; chiều sâu sát thương (tầm bay của tên lửa), cơ động đòn đột kích của các đơn vị tên lửa; thời gian chuẩn bị kĩ thuật và chuẩn bị phóng tên lửa. KNCĐ của hài quân là khả năng tiêu diệt (sát thương) số lượng mục tiêu của đối phương trên biển, trên không và ven bờ cũng như những khả năng khác như trinh sát, chế áp điện tử.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:27:02 pm

        KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU CỦA ĐƠN VỊ CÔNG BINH. khả năng chiến đấu được xác định bằng khối lượng nhiệm vụ chiến đấu mà đơn vị công binh có thể hoàn thành trong điều kiện cụ thể và thời gian nhất định. KNCĐCĐVCB phụ thuộc vào quân số và trình độ huấn luyện, chất lượng chính trị. ý chí chiến đấu; số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị công binh, mức độ bảo đảm vật chất; hoạt động của địch trong khu vực. địa hình, thời tiết, thủy văn; trình độ của cán bộ chỉ huy, tình trạng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị bạn và công tác tổ chức hiệp đồng với các đơn vị hoặc địa phương có liên quan. Cơ sở để người chỉ huy hạ quyết tâm. giao nhiệm vụ cho cấp dưới.

        KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU PHÁO BINH, khả năng chiến đấu được xác định bằng số lượng và mức độ sát thương (phá hủy) mục tiêu do một đơn vị pháo binh có thể đạt được khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện cụ thể; một căn cứ để người chỉ huy hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. KNCĐPB phụ thuộc vào: quân số; trạng thái tinh thần, trình độ và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội; trình độ người chỉ huy  và cơ quan; số lượng, chất lượng của vũ khí, trang bị kĩ thuật, khả năng đề kháng của đối phương; điều kiện địa hình, thời tiết... KNCĐPB thể hiện bằng chiều sâu (không gian) đánh địch bằng hỏa lực, cự li bắn được, khả năng sát thương địch bằng đạn pháo (cối, tên lửa), khả năng cơ động, khả năng kĩ thuật về chuẩn bị tên lửa và đầu đạn.

        KHẢ NĂNG CƠ ĐỘNG lực lượng, năng lực di chuyển của các đơn vị LLVT trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến. KNCĐ phụ thuộc vào trình độ chỉ huy, trình độ huấn luyện bộ đội, phương tiện cơ động, địa hình, thời tiết, ngày đêm và hoạt động của đối phương...; tiêu chí đặc trưng cho KNCĐ là thời gian thực hiện di chuyển theo nhiệm vụ được giao.

        KHẢ NĂNG CƠ ĐỘNG của xe, khả năng của các phương tiện chiến đáu và vận chuyển cơ động (xe tăng thiết giáp, ô tô QS...) di chuyển an toàn trên địa hình trong các điều kiện hoạt động khác nhau (hành quân, chuẩn bị và thực hành chiến đấu...), với mức tiêu tốn thấp nhất về thời gian và vật liệu khai thác. Các tiêu chí chủ yếu đánh giá KNCĐ: vận tốc lớn nhất, vận tốc trung bình và khả năng nhanh chóng thay đổi vận tốc trong những điều kiện chuyển động khác nhau; khả năng vượt các chướng ngại tự nhiên và nhân tạo; độ ổn định và êm dịu chuyển động; hành trình dự trữ. KNCĐ phụ thuộc vào: mức độ hợp lí của kết cấu chung; mức độ hoàn thiện và các chỉ tiêu kinh tế - năng lượng của thiết bị động lực. hệ thống truyền lực và vận hành của xe; nhu cầu về bảo đảm kĩ thuật (chăm sóc, bảo dưỡng, bổ sung nhiên liệu, dầu mỡ, khắc phục sự cố kĩ thuật...). Trong hoạt động thực tiễn, KNCĐ còn phụ thuộc vào quy mô nhiệm vụ; trình độ tổ chức, sử dụng và bảo đảm của người chỉ huy, lực lượng sử dụng và bảo đảm kĩ thuật.

        KHÁ NĂNG ĐỘNG VIÊN CỦA QUỐC GIA, toàn bộ nguồn lực (vật chất, tinh thần) mà nhà nước có thể động viên được để đảm bảo cho chiến tranh. Đó là nguồn nhân lực, vật lực bổ sung, tăng cường cho LLVT; năng lực sản xuất của các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, xây dựng, giao thông vận tải, y tế, bưu điện...); nguồn dự trữ của quốc gia (vật chất, tài chính...) và chính trị, tinh thần của nhà nước. Mức độ hiện thực hóa của KNĐVCQG phụ thuộc vào chế độ chính trị. kinh tế, xã hội, địa lí QS, đối ngoại... và mục tiêu chính trị mà nhà nước theo đuổi trong chiến tranh. KNĐVCQG được tính toán làm cơ sở để lập kế hoạch động viên từ thời bình và thường xuyên chuẩn bị để sẵn sàng động viên.

        KHẢ NĂNG HỎA LỰC, khối lượng nhiệm vụ hỏa lực mà các phương tiện hỏa lực của một phân đội, binh đội, binh đoàn hay liên binh đoàn có thể hoàn thành trong một thời gian quy định hoặc bằng số lượng đạn dược nhất định; một chỉ tiêu của khả năng chiến đấu. KNHL phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của phương tiện hỏa lực; số lượng và chất lượng đạn dược; tính chất nhiệm vụ hỏa lực; kĩ năng của người sử dụng phương tiện hỏa lực và trình độ chỉ huy; thời gian để hoàn thành nhiệm vụ và những điều kiện khác... KNHL được biểu thị bằng số lượng mục tiêu có thể sát thương (phá hoại), diện tích khu vực bắn phá...; được tính theo từng loại phương tiện hỏa lực (KNHL của pháo binh, xe tăng, xe chiến đấu bộ binh, của bộ binh...) hoặc tính tổng hợp các loại phương tiện hỏa lực của một đơn vị (KNHL của sư đoàn, quân đoàn, binh chủng hợp thành của đơn vị bộ đội phòng không, hải quân, không quân...).


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:42:30 pm

        KHẢ NĂNG HỎA LỰC PHÒNG KHÔNG, khối lượng nhiệm vụ hỏa lực mà các phương tiện hỏa lực của các phân đội, binh đội, cụm, binh đoàn phòng không đã triển khai và chuẩn bị chiến đấu, có thể tiêu diệt mục tiêu trên không trong những điều kiện và tình huống khác nhau. KNHLPK được đặc trưng bằng kì vọng toán học số mục tiêu trên không bị tiêu diệt trong đợt tập kích với khoảng thời gian nhất định hay khi tiêu thụ lượng cơ số đạn nhất định. KNHLPK được tính riêng cho từng phân đội (binh đội) phòng không hoặc tính chung cho cụm phòng không khi làm kế hoạch và chỉ huy hỏa lực. Có KNHL của tên lửa phòng không, KNHL của pháo và súng máy phòng không, KNHL của khỏng quân tiêm kích phòng không.

        KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP CỦA TÀU nh SỨC ĐI LIÊN TỤC CỦA TÀU

        KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN MỤC TIÊU TRÊN KHÔNG. khả năng tìm ra và xác định tọa độ mục tiêu trên không với xác suất và độ chính xác theo tính năng của các phương tiện (khí tài) trinh sát (rađa, quang học, hồng ngoại, lade...) trong những điều kiện và tình huống khác nhau, theo các giới hạn độ cao cần phát hiện mục tiêu đã được giao (giới hạn dưới và giới hạn trên). KNPHMTTK phụ thuộc tính năng kĩ - chiến thuật, số lượng và chất lượng kĩ thuật của phương tiện (khí tài) trinh sát, điều kiện môi trường, địa hình, trình độ xử trí chỉ huy và người sử dụng, kiểu loại và tính chất hoạt động của mục tiêu.

        KHẢ NĂNG THÔNG QUA của xe, khả năng của các phương tiện chiến đấu và vận chuyển cơ động (xe tăng thiết giáp, ô tô QS...) chuyển động trong những điều kiện hạn chế về đường sá và địa hình khác nhau. Bao gồm: khá năng chuyển động trên các nền đất yếu. khả năng vượt các chướng ngại tự nhiên và nhân tạo. KNTQ phụ thuộc vào công suất đơn vị, áp suất trên nền. kết cấu phần vận hành, khoáng sáng gầm xe... Yêu cầu về KNTQ được đề ra khi thiết kế tùy thuộc vào công dụng của xe. Các xe QS thường là xe có KNTQ nâng cao và KNTQ cao. Trong thực tiễn sử dụng, KNTQ còn phụ thuộc vào trình độ người lái.

        KHẢ NĂNG TIÊU DIỆT MỤC TIÊU TRÊN KHÔNG, khả năng của phân đội, binh đội, binh đoàn, cụm phòng không đã triển khai chiến đấu tiêu diệt số lượng mục tiêu địch trên không trong điều kiện, tình huống và khoảng thời gian nhất định. KNTDMTTK được biểu thị bằng kì vọng toán học (số lượng trung bình) số mục tiêu bị diệt. Nó phụ thuộc: tính năng chiến - kĩ thuật, số lượng và chất lượng vũ khí phòng không, tổ chức chỉ huy, trình độ kĩ năng thao tác của trắc thù, pháo thủ...

        KHAI THÁC NƯỚC, tìm nguồn nước và đưa nước về khu vực xử lí. Trong chiến đấu có thể KTN mặt (sóng, hồ, ao...), nước mưa hoặc nước ngầm. Thiết bị KTN gồm: phương tiện tìm (tạo) nguồn nước, phương tiện lấy nước (máy bơm...), hệ thống ống dẫn, bể chứa nước... Trong chiến tranh hiện đại, KTN gắn liền với xử lí nước (khừ trùng, khử độc...), bảo đảm nước dùng đúng tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn cho bộ đội và trang bị kĩ thuật.

        KHAI THÁC TRANG BỊ KĨ THUẬT QUÂN SỰ, gọi chung những hoạt động kĩ thuật có tổ chức tác động trực tiếp vào trang bị KTQS nhằm phục vụ cho chiến đấu, huấn luyện, sinh hoạt của QĐ và duy trì khả năng sẵn sàng hoạt động của chúng. Quá trình KTTBKTQS được tính từ lúc xuất xưởng đến khi loại khỏi trang bị và gồm những nội dung chính: sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, cất giữ. vận chuyển... KTTBKTQS phái tuân thủ theo các văn bản về định mức khai thác trang bị kĩ thuật quân sự, tiêu chuẩn kĩ thuật của trang bị cũng như các chỉ lệnh kĩ thuật các cấp; phải do cá nhân hoặc tập thể đã qua huấn luyện kĩ thuật về trang bị đó thực hiện. Tùy thuộc vào trạng thái, có KTTBKTQS thời bình và KTTBKTQS thời chiến.

        KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, hoạt động tố tụng đồng thời là biện pháp nghiệp vụ cấp bách do cơ quan điều tra trực tiếp điều tra, nghiên cứu tại hiện trường nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, làm cơ sở để xác định tính chất vụ việc và quyết định khởi tố vụ án; một trong những tài liệu tin cậy để cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án nghiên cứu, đánh giá vụ án trong quá trình điều ưa. truy tố và xét xử. Nhiệm vụ KNHT: nghiên cứu quang cảnh hiện trường; phát hiện; ghi nhận; thu lượm; bảo quản và khai thác các dấu vết, vật chứng, tiên hành các biện pháp cấp bách để truy tìm người phạm tội và vật chứng theo dấu vết nóng, thu thập các tài liệu có liên quan đến hiện trường. KNHT có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự và phải có người chứng kiến (có thể cho người tình nghi phạm tội, người bị hại, người làm chứng) và mời nhà chuyên môn tham gia khám nghiệm. Điều tra viên tiến hành các hoạt động: chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, phát hiện ghi nhận, thu lượm, bảo quản các loại dấu vết, vật chứng liên quan đến sự việc đã xảy ra, lập và hoàn chinh các văn bản hồ sơ KNHT (biên bản KNHT, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và báo cáo khám nghiệm), phát hiện những sơ hở, thiếu sót mà bọn tội phạm thường lợi dụng và đề xuất các biện pháp phòng ngừa tích cực. Trong quá trình khám nghiệm phải có sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chật chẽ giữa các lực lượng nghiệp vụ, sử dụng các phương tiện kĩ thuật và áp dụng các phương pháp khám nghiệm cho phù hợp.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:49:40 pm
       
        KHÁM NGHIỆM PHÁP Y, thao tác chuyên môn nghiệp vụ trong giám định pháp y nhằm tìm kiếm các dấu vết thương tích, bệnh lí và dấu vết pháp y hình sự khác trên một đối tượng khám nghiệm, làm căn cứ cho việc kết luận, giải đáp các yêu cầu của cơ quan trưng cầu giám định đề ra. Do các giám định viên pháp y thực hiện. Đối tượng khám nghiệm có thể là người sống, tử thi, dấu vết sinh học, tang vật pháp y và các tài liệu vụ án. Với từng đối tượng có những quy tắc khám nghiệm riêng, song đều phải thực hiện toàn diện, khách quan, mô tả và ghi chép tỉ mỉ các dấu vết, không kèm theo các ý kiến chẩn đoán hoặc nhận định chủ quan. Việc chẩn đoán và nhận định đã có phần riêng ở cuối biên bản giám định. Riêng đối với các khám nghiệm tử thi, thương tích, các tang vật sinh học phải làm kịp thời và chính xác ngay từ đầu, vì các dấu vết sẽ bị biến dạng hoặc mất đi theo thời gian; việc cố gắng tái giám định để tìm ra một số kết quả nào đó phải mất nhiều công sức, thời gian, nhiều khi không kết quả.

        KHÁNG CHIẾN, chiến tranh chống xâm lược của nhân dân các dân tộc nhằm giành và giữ độc lập. Nhân dân VN đã tiến hành thắng lợi nhiều cuộc KC, tiêu biểu như: KC chống quân Tống (981); ba lần KC chống quân Nguyên - Mông (1258. 1285 và 1287-88); KC chống quân Thanh (1788-89); KCCP (1945-54); KCCM (1954-75)...

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐÔNG HÁN (42-43), kháng chiến của người Việt ở Giao Chỉ (nay là Bắc Bộ) do Hai Bà Trưng lãnh đạo, chống quân Đông Hán (TQ) xâm lược. Sau khi đánh đuổi chính quyền đô hộ (x. khởi nghĩa Hai Bà Trưng, 3.40), Trưng Trắc lên ngôi vua, tiến hành nhiều biện pháp củng cố nền độc lập vừa giành được. 4.42 vua Đông Hán cử tướng Mã Viện đem 20.000 quân và 2.000 xe, thuyền, theo hai đường thủy, bộ sang đàn áp, đóng quân ở Lãng Bạc (nay thuộc h. Từ Sơn, t. Bắc Ninh). Hai Bà Trưng đưa quân từ Mê Linh lên chặn đánh, bị thua nhiều trận, phải lui về Cấm Khê (nay là vùng Suối Vàng, h. Lương Sơn, t. Hoà Bình). Tại đây 5.43 đã diễn ra trận đánh lớn giữa hai bên, Hai Bà Trưng hi sinh, một bộ phận nghĩa quân do Đô Dương, Chu Bá chỉ huy  rút vào Cừu Chân (nay là Bắc Trung Bộ) tiếp tục chiến đấu (x. đâu tranh của Đô Dương, Chu Bá, 43-44).

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐƯỜNG (791), kháng chiến của người Việt ở Giao Châu do Phùng An lãnh đạo chống nhà Đường (TQ) xâm lược. Sau khi Phùng Hưng chết, con là Phùng An lên nối ngôi, tiếp tục củng cố chính quyền tự chủ mới giành được. Mùa Thu 791, nhà Đường cừ Triệu Xương, tướng có nhiều kinh nghiệm chỉ huy một đạo quân lớn sang chinh phục. Triệu Xương vừa uy hiếp bằng QS, vừa dụ dỗ mua chuộc. Do lực lượng yếu hơn nên Phùng An không chống cự nổi và đến cuối 791 phải xin hàng. Đất Giao Châu lại bị nhà Đường đô hộ.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG LƯƠNG (545-50), kháng chiến của quân và dân nước Vạn Xuân triều Tiền Lí, do Lí Nam Đế và Triệu Quang Phục lãnh đạo, chống nhà Lương (TQ) xâm lược. Khoảng giữa 545, vua Lương cứ Dương Phiêu làm thứ sử, Trần Bá Tiên làm tư mã, thống lĩnh hai đạo quân thủy bộ sang xâm lược Vạn Xuân. Lý Nam Đế tổ chức lực lượng chống cự, bị thất bại ở Chu Diên (Hải Dương), Tỏ Lịch (Hà Nội), Gia Ninh và Hồ Điển Triệt (Vĩnh Phúc), mất thành Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh), cuối 546 phải lui về ẩn náu ở động Khuất Lão (nay thuộc Phú Thọ), giao binh quyền cho Triệu Quang Phục. Trước thế giặc còn mạnh, Triệu Quang Phục rút quân về Đấm Dạ Trạch (nay thuộc Hưng Yên), lập căn cứ kháng chiến lâu dài, dùng cách đánh nhỏ, đánh đêm, bí mật tập kích các đồn trại, cướp lương thực, gây cho quân Lương nhiều thiệt hại. Sau khi Lí Nam Đế mất (4.548), Triệu Quang Phục được tôn làm vua (Triệu Việt Vương), tiếp tục lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành nhiều thắng lợi. Đến 550 nhà Lương có loạn. Trần Bá Tiên phải đưa quân về nước dối phó, giao quyền lại cho Dương Sàn. Triệu Quang Phục tổ chức phản công, nhanh chóng đánh tan quân Lương, giết Dương Sàn, giải phóng thành Long Biên, giành lại độc lập cho đất nước.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỦA CAMPUCHIA (1970-75), kháng chiến của nhân dân Campuchia chống đế quốc Mĩ xâm lược. Từ những năm 1950 Mĩ đã từng bước xúc tiến âm mưu xâm lược Campuchia. 18.3.1970 Mĩ dàn dựng cuộc đảo chính lật đổ quốc trưởng Xihanuc, nhằm đưa Campuchia vào quỹ đạo của Mĩ (x. đảo chính Lon Non -  Xirich Matăc, 18.3.1970). Để chống âm mưu và hành động xâm lược của Mĩ, xây dựng nước Campuchia độc lập, hòa. bình, trung lập, dân chủ và phồn vinh, Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia, chính phủ vương quốc đoàn kết dân tộc Campuchia và QĐ giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập (1970). Cuộc chiến đấu của nhân dân Campuchia được sự ủng hộ. giúp đỡ mạnh mẽ của nhân dân VN và Lào. Tinh đoàn kết chiến đấu đó được khẳng định tại hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đỏng Dương (24-25.4.1970). Với sự phối hợp của bộ đội VN, LLVT CM Campuchia liên tục giành thắng lợi ngày càng lớn trong các chiến dịch: chiến dịch đông bắc Campuchia 29.4-30.6.1970, chiến dịch đông bắc Campuchia 4.2-31.5.1971, chiến dịch Đường 6 (27.10-4.12.1971)...: đánh bại các cuộc hành quân (Chenla II, ‘Toàn Thắng 1-71”...) của địch, giải phóng nhiều tình vùng đông bắc. xây dựng các căn cứ du kích ở vùng tây nam. bắc và tây bắc Campuchia. Từ giữa 1972 Mĩ - Lon Non phải co về giữ thủ đô Phnôm Pênh và các thị xã, thị trấn. Sau hội nghị Pari (1968-73), cùng với việc rút quân ở VN, Mĩ cũng phải rút quân ở Campuchia, nhưng vẫn tiếp tục ủng hộ và viện trợ QS cho chế độ Lon Non. 6-8.1973 LLVT CM Campuchia có sự phối hợp của bộ đội tình nguyện VN đã giải phóng hoàn toàn vùng đông bắc, đến cuối 1973 giải phóng 90% đất nước với 5 triệu dân; mùa mưa 1974 lần lượt bẻ gãy các cuộc hành quân Menben Rum Chây, Đenta 28, Rôlut Xiêm Rlệp của dịch và sau đó bao vây Phnôm Pênh. 18.3.1975 tập đoàn Lon Non chạy ra nước ngoài. 17.4.1975 thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Lon Non. Cuộc KCCMCC thắng lợi đã góp phần đánh bại chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ ở Đông Dương, thể hiện lòng yêu nước, ý chí chiến đấu của nhân dân Campuchia và tình đoàn kết chiến đấu Campuchia - VN - Lào.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:51:22 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỦA LÀO (1954-75), kháng chiến của nhân dân Lào do Đảng nhân dân CM Lào lãnh dạo chống đế quốc Mĩ xâm lược, bảo vệ và giải phóng tổ quốc. Từ cuối 1950 Mĩ đã xúc tiến việc thay thế Pháp độc chiếm Đông Dương. Sau khi cố tình không kí vào bản tuyên bố cuối cùng ở hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5-21.7.1954), ngày 24.11.1954 Mĩ lật đổ Xuyana Phuma. đưa Cà Tày lên làm thủ tướng chính phủ vương quốc, dùng viện trợ QS, kinh tế và đưa cố vấn Mĩ vào Lào, mở rộng căn cứ QS; 1955 tập trung lực lượng mở chiến dịch tiến công LLVT Itxala (LLVT của chính phủ kháng chiến Lào) tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalì, nhưng bị đánh bại. 6.1.1956 Mặt trận Lào tự do (Neo Lào Itxala) mở đại hội lần 2 đổi tên thành Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt), ra cương lĩnh chính trị: xâv dựng nước Lào hòa bình, trung lập, độc lập, phồn vinh, hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia. tôn trọng ngôi vua, tôn giáo và các quyền tự do của nhân dân. 4.7.1956 do chính sách cực đoan thân Mĩ, Cà Tày không được quốc hội ủng hộ, phải từ chức. Hoàng thân Xuyana Phuma lên thay, tuyên bố tôn trọng hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào, thực hiện hòa hợp dân tộc; 19.11.1957 thành lập chính phủ liên hiệp lần thứ 1, có hai lãnh tụ Mặt trận Lào yêu nước tham gia. 16.8.1958 Mĩ gây sức ép lật đổ chính phủ Xuyana Phuma, đưa Phủi Xananicon lên thay, đàn áp các lực lượng chủ trương hòa hợp dân tộc và những người kháng chiến, bao vây, đòi tước vũ khí QĐ Pathét Lào, trắng trợn bắt giam một số cán bộ lãnh đạo của Mặt trận Lào yêu nước. Trước tình hình đó, 5.1959 QĐ Pathét Lào quyết định rút về căn cứ địa để bảo toàn lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Cuộc đấu tranh của CM Lào chuyển sang giai đoạn mới, từ đấu tranh công khai hợp pháp sang đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị. 24.4.1960 nhóm cực hữu Xômxanit - Phumi Nôxavẳn thân Mĩ lên nắm chính quyền, gây lại nội chiến, bị phản đối mạnh mẽ, dẫn đến đảo chính Coong Le (9.8.1960), hình thành chính phủ trung lập do Xuyana Phuma làm thủ tướng (18.8.1960). Lực lượng trung lập liên hiệp với Pathét Lào đẩy mạnh đấu tranh, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, đến 4.1961 kiểm soát 60% lãnh thổ với hơn 1 triệu dân, buộc Mĩ và lực lượng phái hữu phải chấp nhận thương lượng, tiến tới kí kết hiệp định Giơnevơ 1962 vế Lào, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ 2 (6.1962), do Xuyana Phuma làm thủ tướng. 4.1964 Mĩ lại tiến hành đảo chính, lập “chính phủ mở rộng”, thay thành viên Mặt trận Lào yêu nước bằng phái hữu, tăng cường viện trợ QS, mở rộng chiến tranh đặc biệt, phát triển Lực lượng đặc biệt Vàng Pao\ từ 1969 đưa QĐ Sài Gòn và quân Thái Lan vào tham chiến, có không quân Mĩ yểm trợ, liên tiếp mở các cuộc hành binh lớn nhằm đánh chiếm vùng giải phóng, giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường (x. chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mĩ ở Lào). Trước tình hình đó, Mặt trận Lào yêu nước và các lực lượng trung lập đã tiến hành thắng lợi hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc (10.1965), tạo cơ sở tập trung lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến trong quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương. Được sự phối hợp. giúp đỡ của bộ đội tình nguyện VN, QGP nhân dân Lào không ngừng trưởng thành, lớn mạnh trong chiến đấu qua các chiến dịch: Nậm Bạc (1968), Mường Sủi (1969), Toàn Thắng (1969-70), Đường 9 - Nam Lào (1971), Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1972)...,. góp phần đánh bại âm mưu của Mĩ, mở rộng và giữ vững vùng giải phóng. Sau khi hiệp định Pari 1973 về Việt Nam được kí kết, 21.2.1973 chính phủ Viêng Chăn phải cùng với Mặt trận Lào yêu nước kí hiệp định Viêng Chăn lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ ba; buộc Thái Lan phải rút quân khỏi Lào (5.1974). Cùng với chiến thắng của nhân dân VN trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nhân dân các bộ tộc Lào phát huy thắng lợi nổi dậy giành chính quyền, mở đầu là cuộc biểu tình của 20.000 dân Viêng Chăn (1.5.1975). Ngày 5.5.1975 QGP nhân dân Lào chiếm Salaphukhun, tiếp đó đánh chiếm các thị trấn, thị xã ở Nam Lào. Vàng Pao bỏ chạy. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân CM Lào, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, hoạt động của LLVT CM. phong trào binh biến, li khai trong QĐ phái hữu, đấu tranh trong chính phủ liên hiệp hợp thành những đòn tiến công mạnh làm cho QĐ và chính quyền phái hữu sụp đổ nhanh chóng. 29.11.1975 vua Lào Xayang Vátthana tuyên bố thoái vị. 1.12.1975 Hội đồng quốc gia chính trị và chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời tuyên bố giải tán. 2.12.1975 đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước CHDC nhân dân Lào, xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:51:58 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỦA VIỆT NAM (1954 75), kháng chiến của nhân dân VN chống đế quốc Mĩ xâm lược tiếp sau thắng lợi của KCCP (1945-54) để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, hoàn thành CM DTDC nhân dân trên cả nước. Cuộc kháng chiến trái qua 5 giai đoạn chiến lược. Giai đoạn 1 (7.1954-12.1960): miền Bắc ra sức cùng cố, xây dựng theo hướng XHCN làm căn cứ địa vững chắc cho CM cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mĩ. Với âm mưu chia cắt lâu dài VN, biến miền Nam VN thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ QS của Mĩ, chính quyền Ngô Đình Diệm do Mĩ dựng lên ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, giết hại, giam cầm hơn nửa triệu người yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Giơnevơ và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng các quyền dân sinh, dân chủ (x. vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh, 7.9.1954; vụ thám sát Phú Lợi, 1.12.1958). CM miền Nam phải chịu những tổn thất nặng nề và lâm vào tình thế rất hiểm nghèo. Thực hiện chủ trương đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, nhân dân miền Nam từng bước khôi phục, phát triển các đội vũ trang, đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác, phá tề, tổ chức những trận phục kích nhỏ, chống càn. bảo vệ căn cứ. Dưới ánh sáng nghị quyết hội nghị Trung ương XV (1.1959), năm 1959-60 các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở vùng núi miền Trung và đồng bằng Nam Bộ, giành quyền làm chủ về tay nhân dân ở hàng nghìn xã, ấp. đẩy địch vào4thế bị động, khủng hoảng (x. nổi dậy ở Vĩnh Thạnh, 6.2-4.1959; nổi dậy ở Bác Ái, 7.2-4.1959; khởi nghĩa Trà Bồng, 8.1959; đồng khởi Bến Tre, 17.1-20.4.1960). Từ cao trào đồng khởi của nhân dân. LLVT CM miền Nam phát triển nhanh chóng; MTDTGPMN ra đời (20.12.1960). Từ miền Bắc. tuyến vận tải chiến lược vào miền Nam bằng đường bộ, đường biển hình thành và phát triển; CM miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công. Giai đoạn 2 (1.1961-6.1965): CM miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh CM, đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai, Mĩ phải đối phó bằng chiến lược, chiến tranh đặc biệt, ra sức củng cố và phát triển QĐ Sài Gòn, tăng cường viện trợ, cố vấn và lực lượng yểm trợ Mĩ; mở các cuộc hành quân càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược theo kế hoạch Xtalây - Taylơ. CM miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh CM, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. đánh địch bằng ba mũi giáp công, trên ba vùng chiến lược; đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh bại các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mĩ và QĐ Sài Gòn. hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chống càn quét và phá ấp chiến lược, tiêu biểu là trận Ấp Bắc (2.1.1963). Được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, QGPMN VN phát triển lớn mạnh, từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến tập trung, mở các chiến dịch tiến công: chiến dịch Bình Giã (2.12.1964- 3.1.1965), chiến dịch Ba Gia (28.5-20.7.1965), chiến dịch Đồng Xoài (10.5-22.7.1965), tiêu diệt nhiều tiểu đoàn, chiến đoàn QĐ Sài Gòn, góp phần cùng với cao trào đấu tranh chính trị, nổi dậy của nhân dân đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. Ở miền Bắc, khi Mĩ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964) để tạo cớ dùng không quân đánh phá một số nơi, quân và dân ta đã đánh thắng ngay từ trận đầu (x. trận chiến đấu phòng không 5.8.1964) và kiên quyết đánh trả hoạt động phá hoại tiếp theo của không quân Mĩ (từ 2.1965). Giai đoạn 3 (7.1965-12.1968): phát triển thế tiến công chiến lược. đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968) của Mĩ ở miền Bắc. Sau thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Mĩ chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ hòng nhanh chóng kết thúc chiến tranh bằng việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mĩ vào miền Nam VN (từ 184.300 lên 536.000 quân, lúc cao nhất tới 542.000), cùng với quân các nước phụ thuộc Mĩ (57.800 quân, lúc cao nhất tới 70.300) và QĐ Sài Gòn (650.000 quản, lúc cao nhất gần một triệu) hợp thành hai lực lượng chiến lược với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất (trừ vũ khí nguyên tử); liên tục mở hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-66 và 1966-67 với ý đồ tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực QGPMN VN. Quân và dân miền Nam giữ vững và phát triển thể tiến công, từ những trận đầu thắng Mĩ (trận Núi Thành, 26.5.1965; trận Vạn Tường, 18-19.8.1965; trận Đất Cuốc, 8.11.1965...) tiến lên mở các chiến dịch tiến công và phản công (chiến dịch Plây Me, 19.10-26.11.1965; chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng, 12-27.11.1965; chiến dịch Tây Sơn Tịnh, 20.2- 20.4.1966; chiến dịch Sa Thầy, 18.10-6.12.1966; chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti, 22.2-15.4.1967; chiến dịch Đắc Tô I, 3-22.11.1967...), làm thất bại một bước quan trọng chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ. Nám vững thời cơ có lợi, quân và dân miền Nam mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thán (1968), đồng loạt tiên công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; vây hãm. tiến công quân Mĩ trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968, giành thắng lợi lớn, tạo bước ngoặt quyết định của cuộc KCCM. Quân và dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ, ra sức chi viện cho miền Nam. Bị thất bại nặng nề ở VN, trước phong trào nhân dân Mĩ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, 1.11.1968 chính phủ Mĩ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bấc, thực hiện đàm phán ở hội nghị Pari (1968-73). Giai đoạn 4 (1.1969-1.1973): đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần II (6.4.1972-15.1.1973) của Mĩ ở miền Bắc, buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, rút hết quân Mĩ về nước. Chiến lược chiến tranh cục bộ bị phá sản, Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược VN hóa chiến tranh, ra sức phát triển và hiện đại hóa QĐ Sài Gòn để từng bước thay thế quân Mĩ rút dần về nước; đẩy mạnh bình định* ở miền Nam VN và mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:52:08 pm
Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Xihanuc (x. dào chính Lon Non - Xirich Matăc, 18.3.1970), Mĩ và QĐ Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc hành quân xâm lược Campuchia. QGPMN VN phối hợp với LLVT CM Campuchia tổ chức các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc tiến công lớn của địch (x. chiến dịch đông bắc Campuchia, 29.4-30.6.1970; chiến dịch đông bắc Campuchia, 4.2-31.5.1971; chiến dịch Đường 6, 27.10-4.12.1971), mở rộng vùng giải phóng của CM Campuchia trên 5 tỉnh. Đầu 1971 QĐ Sài Gòn được sự yểm trợ, chi viện hỏa lực của Mĩ và sự phối hợp của QĐ phái hữu Lào mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra đường 9 - Nam Lào, nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta, chia cắt ba nước Đông Dương. QGPMN VN phối hợp với LLVT CM Lào mở chiến dịch phản công, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch (x. chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, 30.1-23.3.1971). Phát huy quyền chủ động tiến công, từ 3.1972   ta mờ cuộc tiến công chiến lược vào hệ thống phòng ngự của địch trên ba hướng, gồm các chiến dịch; chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972); chiến dịch bắc Tây Nguyên 30.3-5.6.1972và chiến dịch Nguyễn Huệ 1.4.1972-19.1.1973; tiếp đó, mở các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá bình định ở đồng bằng Khu 5. Khu 8 (x. chiến dịch Bắc Bình Định, 9.4- 3.5.1972; chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long, 10.6-10.9.1972); phối hợp với LLVT CM Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum và đánh bại các cuộc phản kích, lấn chiếm của địch (x. chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, 18.12.1971-6.4.1972; chiến dịch phòng ngự Cánh Đỏng Chum - Xiêng Khoảng, 21.5-15.11.1972)... Trước thất bại nặng nề của QĐ Sài Gòn, Mĩ cho không quân và hải quân trở lại đánh phá ác liệt ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bấc. Cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối 12.1972 bị đập tan (x. chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng, 18-29.12.1972), chiến lược VN hóa chiến tranh bị thất bại về cơ bản. buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari 1973, rút hết quân Mĩ và quân các nước phụ thuộc Mĩ ra khỏi miền Nam VN, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của VN. Giai đoạn 5 (12.1973-30.4.1975): tạo thế, tạo lực, nắm vững thời cơ chiến lược, tổ chức và thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. kết thúc thắng lợi cuộc KCCM. Được Mĩ tiếp sức, chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại hiệp định Pari. liên tiếp mờ các cuộc hành quân càn quét, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”. Quân và dân ta đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, khẩn trương tạo thế, tạo lực, mở rộng vùng giải phóng. Thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long (13.12.1974-6.1.1975) đặt cơ sở cho hội nghị BCT họp cuối 1974 đầu 1975 thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975-76), quyết định nắm vững thời cơ chiến lược, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với ba đòn tiến công chiến lược. Đòn thứ nhất; chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975) mở màn bằng trận Buôn Ma Thuật (10-11.3.1975), tiếp đó đánh tan địch phản kích và đánh địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của địch, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Đòn thứ hai: chiến dịch Trị Thiên - Huế (5-26.3.1975) và chiến dịch Đà Nẵng (28-29.3.1975) cùng với hoạt động tiến công và nổi dậy của quân và dân Khu 5 giải phóng các tinh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và hai thành phố Huế, Đà Nẵng. loại khỏi chiến đấu Quân đoàn 1 - Quân khu 1 của địch. Đòn thứ ba: chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975ị, đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn - Gia Định, sáng 30.4 thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong nội đô, kết hợp với nổi dậy của nhân dân, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 3 -  Quân khu 3 của địch, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện; đồng thời phát triển tiến công và nổi dậy tiêu diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 4 - Quân khu 4 của địch, giải phóng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo do QĐ Sài Gòn đóng giữ, kết thúc toàn thắng cuộc KCCM. Nhân dân VN đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt nhất từ sau CTTG-II. Xâm lược VN, Mĩ đã qua năm đời tổng thống, huy động 6 triệu lượt binh sĩ Mĩ, chi phí 352 tỉ USD. ném xuống VN 7.850.000t bom, hàng chục triệu lít chất độc diệt cây, sử dụng  những loại vũ khí, kĩ thuật mới nhất (chỉ trừ vũ khí hạt nhân), nhưng đã chịu thất bại chưa từng có trong lịch sử nước Mĩ. Tiếp sau KCCP, KCCM đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài hơn một trăm năm, mở ra một ki nguyên mới - cà nước VN hoàn toàn độc lập, thống nhất và đi lên CNXH; đồng thời tạo điều kiện cho CM Lào và CM Campuchia giành thắng lợi quyết định, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 03:55:11 pm
         
        KHÁNG CHIẾN CHỐNG MINH (1406-07), kháng chiến của quân và dân VN thời nhà Hồ do Hồ Quý Li lãnh đạo, chống quân Minh (TQ) xâm lược. 5.1406 lấy cớ “phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh sai Hàn Quan đem 100.000 quân hộ tống Trần Thiêm Bình về làm vua Đại Việt, bị quân nhà Hồ phục kích, đánh bại ở ải Lãnh Kinh (nay thuộc Bắc Ninh), Hàn Quan phải giảng hòa, nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ để được rút quân. Sau thắng lợi. nhà Hồ tăng cường QĐ, xây dựng các tuyến phòng thủ quy mô lớn ở phía bắc dài khoảng 400km trong đó thành Đa Bang (Ba Vì, Hà Tây) là cứ điểm thời chốt; các cửa sông, cửa biển hiểm yếu đều được cắm cọc gỗ và chăng lưới sắt. 11.1406 nhà Minh đem hơn 200.000 bộ binh và kị binh, hàng chục vạn dân phu, chia hai hướng tiến đánh: hướng đông bấc, do Trương Phụ chỉ huy, từ Quảng Tây (TQ) vào Lạng Sơn; hướng tây bắc do Mộc Thạnh chỉ huy, từ Vân Nam (TQ) tiến dọc theo Sông Hổng. Nhà Minh còn lôi kéo quân Chiêm Thành đánh phía nam. 12.1406 quân Minh hội quân ở Bạch Hạc (Phú Thọ), phá vỡ các tuyến phòng thủ, chiếm thành Đa Bang (20.1.1407) và Đông Đô (nay là Hà Nội, 22.1). Quân nhà Hồ lui về phòng thủ mạn hạ lưu Sông Hồng, tiến hành một số trận phản công nhưng đều thất bại. 5.1407 Hồ Quý Li cùng triều đình rút vào Thanh Hóa giữ vùng đất phía nam, bị quân Minh truy đuổi, đánh bại ở Lỗi Giang (Thanh Hóa), cửa biển Kì La (Hà Tĩnh). KCCM chấm dứt sau khi cha con Hồ Quý Li bị bắt (6.1407).
        
       KHÁNG CHIẾN CHỐNG NAM HÁN LẨN I (930-31), kháng chiến của người Việt ở Giao Châu, chống quân xâm lược Nam Hán (TQ). Tháng 10.930 quân Nam Hán do Lí Thù Dung và Lương Khắc Trinh cầm đầu, theo hai đường thủy, bộ tiến đánh Giao Châu từ hướng đông bắc. Khúc Thừa Mĩ tổ chức kháng chiến không thành công và bị bắt. Vua Nam Hán cử Lí Tiến làm thứ sử, cùng Lương Khắc Trinh giữ thành Đại La (nay là Hà Nội). Quyền thống trị của Nam Hán chi xác lập được ở một số vùng thuộc đồng bằng Sông Hồng, các nơi khác vẫn do quan lại cũ triều Khúc nắm quyển và chuẩn bị lực lượng kháng chiến, trong đó lò võ Làng Ràng ở Dương Xá (Châu Ái nay thuộc Thanh Hóa) là một trung tâm lớn do Dương Đình Nghệ tổ chức, có 3.000 quân, thu hút được nhiều hào kiệt và sự ủng hộ của nhân dân. 3.931 Dương Đình Nghệ từ Châu Ái đưa quân vây thành Đại La. Vua Nam Hán sai Trình Bảo đem quân cứu viện. Viện quân chưa đến, thành đã bị hạ, Lương Khắc Trinh bị giết, Lí Tiến trốn về TQ. Tiếp đó, Dương Đình Nghệ đưa quân ra ngoài thành đánh tan quân viện, giết Trình Bảo. Sau chiến thăng, Dương Đình Nghệ xưng tiết độ sứ, tiếp tục sự nghiệp họ Khúc làm chủ đất nước.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NAM HÁN LẨN II (938), kháng chiến của người Việt ở Giao Châu do Ngô Quyền lãnh đạo chống quân Nam Hán (TQ) xâm lược. Cuối 938 lấy cớ giúp Kiểu Công Tiễn chống Ngô Quyền, vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Lưu Hoằng Thao chỉ huy thủy binh theo đường biển vào xâm lược, đồng thời tự mình dẫn một đạo quân khác đóng ở Hải Môn (Quảng Đông, TQ), sẵn sàng tiếp ứng. 12.938 từ Châu Ái (nay là Thanh Hóa), Ngô Quyền gấp rút tiến quân ra bắc, giết Kiều Công Tiễn. Tiếp đó, bằng trận địa cọc ngầm cùng quân thủy, bộ mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, diệt cánh quân thủy, giết Lưu Hoằng Thao (x. trận Bạch Đằng, 938). Vua Nam Hán không kịp chi viện, phải rút quân. Sau thắng lợi, Ngô Quyền xưng vương, lập triều Ngô (939-968), mở đầu kỉ nguyên độc lập dân tộc sau hơn nghìn năm bị các triều đại phong kiến TQ đô hộ.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG LẦN I(1258), kháng chiến của quân và dân Đại Việt triều Trần Thái Tông, chống quân Mông Cổ mưu chiếm Đại Việt làm bàn đạp đánh Nam Tống (TQ). Sau nhiều lần dụ hàng vua Trần không được, cuối 1257 khoảng 30.000 kị binh Mông cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, chia làm hai đạo từ Vân Nam (TQ), theo lưu vực Sông Thao tiến vào Đại Việt. Vua Trần thần chinh cầm quân lên phía Bắc chặn giặc. Các trận giao tranh lớn đã diễn ra ở vùng Bạch Hạc (Phú Thọ), Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc), Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Trước thế giặc còn mạnh, nhằm làm thất bại ý đồ đánh nhanh thắng nhanh và cướp lương thực của quân Mông Cổ, vua Trần và tướng Lê Tần phải vừa đánh, vừa rút để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công; thực hiện kế “vườn không nhà trống”, bỏ ngỏ thành Thăng Long, đưa triều đình về Thiên Mạc (Hưng Yên); quân Mông Cổ chiếm thành Thăng Long để trống, thiếu lương thực, lực lượng bị tiêu hao. 29.1 quân Trần phản công bằng trận Đông Bộ Đầu (29.1.1258), buộc quân Mông cỏ phải rút chạy. Âm mưu xâm lược Đại Việt của đế quốc Mông Cổ bước đầu bị thất bại.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67294503_452614772135075_5505018535727857664_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQn_8tBUV1_x8wORXW4tKWEHqfM_IY9ollyjfHf3VbzRqCNMlN4fXRWmtbzkIKbpThI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c23b18090943c2b24b31b6d239f8aee7&oe=5DB02FE0)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:00:50 pm
      
        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG LẦN II (1285), kháng chiến của quân dân Đại Việt triều Trần Nhân Tông, chống quân Nguyên - Mông (TQ) xâm lược. Sau thất bại trong chiến tranh xâm lược Đại Việt lần 1 (1258), đầu 1285 lấy cớ vua Trần không cho mượn đường và cấp lương đánh Chiêm Thành, nhà Nguyên - Mông đem 500.000 quân sang xâm lược, theo ba hướng: hướng chính, Thoát Hoan chỉ huy  từ Quảng Tây (TQ) vào đường Lạng Sơn; hướng 2, Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy, vào đường Sông Chảy; hướng 3, Toa Đô chỉ huy từ bắc Chiêm Thành đánh lên. Để chuẩn bị kháng chiến, vua Trần mở hội nghị Bình Than (10.1282), hội nghị Diên Hồng (1285). Ngày 27.1.1285 quân Nguyên - Mông bắt đầu tiến công. Trước thể mạnh lúc đầu của địch, sau một số trận đánh chặn ở các cửa ải phía bắc, quân Trần lui dần về Vạn Kiếp (Hải Dương), sau đó rút về phòng thủ bắc Sông Hổng (x. trận Vạn Kiếp, 2.1285); triều đình cũng dời khỏi Thăng Long về Thiên Trường (Nam Định), Trường Yên (Ninh Bình), theo đường thủy đến Hải Đông (Quảng Ninh). 19.2 Thoát Hoan chiếm thành Thăng Long bỏ trống, thiếu lương thực, bị đánh sau lưng, phải dừng để củng cố các vùng đã chiếm, chờ tăng viện. Quân Toa Đô đánh ra Nghệ An, Thanh Hóa, đến Thiên Trường, không bắt được vua Trần, quay về Thanh Hóa. Trong hơn 3 tháng đầu kháng chiến gian khổ, có một số vương hầu phản bội (Trấn Kiện, Trần ích Tắc...), nhà Trần đã khéo rút lui, bảo toàn lực lượng, phá vỡ ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh của quân địch. 4.1285 vua Trần rút quân vào Thanh Hóa; từ 5.1285 tiến ra phản công, đập tan tuyến phòng thủ của quân Nguyên - Mỏng ở A Lỗ (vùng ngã ba Sông Hồng - Sông Luộc), Tây Kết, Hàm Tử (x. trận Hàm Tử, 5.1285), Chương Dương (x. trận Chương Dương, 6.1285) và bao vây Thăng Long. Bị tổn thất nặng và không hội quân được với cánh quân Toa Đô ở Nghệ An, Thoát Hoan buộc phải tháo chạy, bị truy kích thiệt hại nặng tại trận Như Nguyệt - Vạn Kiếp - Vĩnh Bình (6.1285). Quân Nạp Tốc Lạt Đinh bị đánh tan trên đường về Vân Nam. Không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy, quân Toa Đô từ Thanh Hóa ra Thăng Long bị diệt ở trận Tây Kết (6.1285), Toa Đô bị chém đầu. 9.7 vua Trẩn trở về Thăng Long. KCCN-MLII kết thúc thắng lợi.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66858606_452614785468407_258052690389499904_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmZTfwprz6guk6SMT2yXrbpA-Kmve4yPwvKRK9cnaKh2w9dgPWat_gnsiNGEOz8bvU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=9077f8016d22bfbf87d8ff31adc094ec&oe=5DAEABAD)

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG LẨN III (1287-88), kháng chiến của quân dân Đại Việt triều Trần Nhân Tông, chống quân Nguyên - Mông (TQ) xâm lược. Sau hai lần thất bại (1258, 1285), cuối 1287 nhà Nguyên - Mông lại huy động hàng chục vạn quân cùng hàng nghìn chiến thuyền tiến đánh Đại Việt, theo ba hướng: hướng chính do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây (TQ) vào đường Lạng Sơn; hướng 2 do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam (TQ) vào đường Sông Hồng; hướng 3, thủy quân do ô Mã Nhi chỉ huy, hộ tống thuyền lương của Trương Văn Hổ, từ Quảng Đông (TQ) vượt biển vào sông Bạch Đằng. Vua Nguyên - Mông lập chính quyền tay sai do Trần Ích Tắc đứng đầu, đưa về Đại Việt. 25.12.1287 quân Thoát Hoan vượt biên giới, 23.1.1288 chiếm Vạn Kiếp (Hải Dương), đóng căn cứ tại đây. Thủy quân Ô Mã Nhi, 17.12.1287 xuất phát từ Khâm Châu vào cửa biển Vạn Ninh (Quảng Ninh), thắng quân Trần trên sông Bạch Đằng, vượt trước thuyền lương, về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan. Quân Ái Lỗ, 11.12.1287 đánh Bạch Hạc (Phú Thọ), vượt ải Phú Lương (Thái Nguyên), tiến về Thăng Long. Nhà Trần sau một số trận đánh chặn đã chủ động rút khỏi Thăng Long về hạ lưu Sông Hồng, thực hiên “vườn không nhà trống” ở những nơi quân Nguyên - Mông sẽ chiếm; diệt thuyền lương Trương Văn Hổ trên biển đông bắc (x. trận Vân Đốn - cửa Lục, 1.1288), chặn hậu cần đường bộ và quân hộ tống Trần ích Tắc ở Nội Bàng (Chũ, Bắc Giang), đồng thời tổ chức các đội dân binh phối hợp với lực lượng phân tán của quân triều đình đánh vào sau lưng địch. 2.2.1288 Thoát Hoan chiếm thành Thăng Long bỏ trống, chia quân truy kích vua Trần không được, phải quay về Vạn Kiếp. 3.1288 Ô Mã Nhi đi đón thuyền lương, bị đánh thiệt hại nặng ở Đại Bàng (Hải Phòng). Không đạt được ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh, bị tiêu hao binh lực, mất nguồn tiếp tế lương thực, 4.1288 Thoát Hoan buộc phải rút quân về nước. Nắm thời cơ, quân nhà Trần tổ chức phản công, diệt thủy quân Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng 9.4.1288, kết hợp truy kích và mai phục, đánh thiệt hại nặng quân Thoát Hoan từ Vạn Kiếp tới Lạng Sơn. Ý chí xâm lược của nhà Nguyên - Mông bị đập tan. 28.4.1288, vua Trần trở về Thăng Long, KCCN-MLIII kết thúc thắng lợi.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66872909_452614792135073_9035935051262459904_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQlz0av54-murgiDDexLpIbYa9hfcTy8IYXovPILRScgbGT3o8M2NTP53hpuK3N6HeY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=7b64eb501bd0b72050ea3db24523ed1b&oe=5DA5B892)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:03:22 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NHẬT CỦA TRIỀU TIÊN (1592-98), kháng chiến cua Triều Tiên được sự giúp đỡ của TQ chống quân xâm lược bành trướng Nhật. 4.1592 với 150.000 quân, Nhật tiến đánh Triều Tiên, chiếm nhiều thành phố quan trọng: Khai Thành, Hán Thành, Bình Nhưỡng... Theo yêu cầu của Triều Tiên, nhà Minh (TQ) cử 50.000 quân sang giúp Triều Tiên chống Nhật. 1593 liên quân Triều - Trung đã giải phóng Bình Nhưỡng, Khai Thành, cắt đứt đường tiếp tế của Nhật, đồng thời tiến hành phản công cả trên bộ và trên biển. Quân Nhật phải co cụm ở Phú Sơn (miền Nam Triều Tiên) chờ viện quân, đến 8.1593 buộc phải nhận hòa đàm, nhưng thực tế vẫn tiếp tục chiến tranh. Cuộc đàm phán kéo dài ba năm không có kết quả. 2.1597 Nhật lại phái 140.000 quân sang đánh Triều Tiên từ hai phía đông tây, chiếm nhiều nơi quan trọng. TQ tiếp tục đưa quân thủy, quân bộ sang chi viện. 9.1597 quân Nhật bị liên quân đánh bại, phải rút về cố thủ ở ba cứ điểm miền Nam, sau đó buộc phải rút quân. 10.1598 hơn 10.000 quân Nhật và 500 chiến thuyền đi đường thủy xuống Phú Sơn, bị liên quân phục kích tiêu diệt trong trận hải chiến quyết định ở vùng biển Lộ Lương, kết thúc cuộc KCCNCTT kéo dài gần 7 năm.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG NHẬT CỦA TRUNG QUỐC (1937-45), chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân TQ chống quân phiệt Nhật xâm lược. Giai đoạn 1(7.7.1937-10.1938), sau vụ Lư Câu Kiều (7.7.1937), Nhật tiến công ồ ạt, lần lượt chiếm nhiều thành phố lớn, kể cả thủ đô  Nam Kinh (12.1937), thảm sát 300.000 dân, buộc chính phủ Quốc dân đảng của TQ chạy về Trùng Khánh. Để ngăn cản Nhật tiến đánh Trường Sa và Vũ Hán, chính quyền Quốc dân đảng ra lệnh phá đê, làm ngập nhiều huyện thuộc ba tình Hà Nam, An Huy, Giang Tô, khiến mấy chục vạn dân chết đuối, hơn một triệu người lưu lạc. Do sự nỗ lực của ĐCS TQ và nhân dân toàn quốc, Quốc dân đảng phải hợp tác với ĐCS, hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật, đánh địch cả phía trước và vùng sau lưng. Giai đoạn 2 (10.1938- 4.1944), quân Nhật phải dừng lại củng cố, bình định vùng chiếm đóng đã quá rộng, đối phó với phong trào chiến tranh du kích do ĐCS phát động. Sau thắng lợi trận Bình Hình Quan (25.9.1937), Bát lộ quân phân tán đi vào vùng địch, lập các căn cứ kháng chiến, sau mở rộng thành các vùng giải phóng, cuối 1940 mở chiến dịch Bách đoàn đại chiến (20.8- 5.12.1940) phá giao thông, diệt đồn bốt, chống càn quét ở Hoa Bắc khiến Nhật phải tăng quân ở vùng này. Trong khi đó quân chính phủ Quốc dân đảng tập trung về vùng tây nam và tây bắc, lấy Trùng Khánh và Tây An làm trung tâm để chờ thời cơ, đồng thời gây ra ba cao trào chống cộng, điển hình là sự biến nam An Huy (6-13.1.1941), gây chia rẽ nội bộ lực lượng kháng chiến. Giai đoạn 3 (4.1944-8.1945), trước tình hình LX đang phản công phát xít Đức, Mĩ đẩy mạnh chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật cố gắng mở hành lang từ đông bắc TQ xuống Đông Dương, tập trung lực lượng tiến đánh Hồ Nam, Quảng Tây, Quý Châu. Quân chính phủ Quốc dân đảng tổn thất sáu bảy chục vạn người. Trong khi đó quân dân ở các khu giải phóng của ĐCS TQ phản công cục bộ, giải phóng nhiều thị trấn nhỏ. 8.1945 cùng với việc LX tuyên chiến với Nhật và tiến hành chiến dịch Mãn Châu (9.8-2.9.1945) đánh tan đạo quân Quan Đông thiện chiến của Nhật ở đông bắc TQ, lực lượng kháng chiến TQ chuyển sang tổng phản công giành thắng lợi. 2.9.1945 Nhật kí văn kiện đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (x. văn kiện đầu hàng của phát xít Nhật, 1945), riêng văn kiện Nhật đầu hàng TQ kí 9.9 tại Nam Kinh.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP CỦA CAMPUCHIA (1945-54), kháng chiến của nhân dân Campuchia chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh (8.1945), được Mĩ, Anh ủng hộ, 9.1945 Pháp trở lại xâm lược Campuchia. Nhân dân Campuchia liên tục đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Nhiều căn cứ kháng chiến được thành lập ở đông nam (1947), đông bắc và tây nam (1948) Campuchia; tập hợp được hàng vạn người trong Mặt trận Khơme Itxarắc (đv ĐCS là nòng cốt), tiến hành chiến tranh du kích, có sự phối hợp của quân tình nguyện VN. Cuối 1949 lực lượng kháng chiến đã có vùng giải phóng gồm 418 phum thuộc 40 sóc trong 10 tỉnh với 10 vạn người. 4.1950 những người yêu nước thành lập ủy ban mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc và ủy ban dân tộc giải phóng trung ương lâm thời (tức chính phủ kháng chiến do Sơn Ngọc Minh - một lãnh tụ cộng sản làm chủ tịch). 19.4.1950   Sơn Ngọc Minh đọc tuyên ngôn độc lập. 3.1951 hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương (11.3.1951) khẳng định đoàn kết chiến đấu đến toàn thắng. 28.6.1951 Đảng nhân dân CM Campuchia ra đời, phát huy vai trò nòng cốt lãnh đạo nhân dân đấu tranh, buộc Pháp phải chuyển vào phòng ngự (1952) và tuyên bố Campuchia độc lập nằm trong Khối liên hiệp Pháp (1953). Tại hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5-21.7.1954), Pháp phải chấp nhận thất bại trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, rút quân khỏi Campuchia, tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia. Tuy nhiên Campuchia vẫn là thành viên trong Khối liên hiệp Pháp.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:04:13 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP CỦA LÀO (1945-54). kháng chiến của nhân dân Lào chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ và giải phóng tổ quốc. Khởi nghĩa tháng Tám 1945 do Xứ ủy Ai Lao (thuộc ĐCS Đỏng Dương) lãnh đạo đã giành được chính quyền từ tay Pháp, Nhật, lập chính phủ lâm thời Lào (đại biểu các lực lượng yêu nước), tuyên bố độc lập. Được Mĩ, Anh ủng hộ, 3.1946 Pháp trở lại xâm lược Lào, lập chính phủ vương quốc, đặt dưới quyền của bộ chỉ huy lục quân Pháp ở Lào (FTL). Từ 1947 lực lượng kháng chiến Lào bắt đầu xây dựng các căn cứ du kích ở dọc biên giới Lào với VN, Campuchia, Thái Lan và ở khắp các tỉnh Viêng Chăn. Sầm Nưa, Huội Sài, Xiêng Khoảng, Saynhabuli, Hứa Khoóng..., một số đơn vị vũ trang được tổ chức. 20.1.1949 tại căn cứ Xiềng Khọ (t. Sầm Nưa), đơn vị chính quy đầu tiên của QĐND Lào được thành lập lấy tên Látxayông; sau đó các đội vũ trang trong cả nước hợp nhất thành QĐ Lào Itxala. 6.2.1950 Pháp kí với chính phủ vương quốc thỏa hiệp Pháp -  Lào. thành lập QĐ quốc gia để thực hiện chủ trương “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Lào đánh người Lào”. 8.1950 các lực lượng kháng chiến Lào tiến hành đại hội toàn quốc thành lập Mặt trận Lào tự do (Neo Lào Itxala), bầu chính phủ liên hiệp kháng chiến do hoàng thân Xuphanuyỏng làm thủ tướng, thông qua chương trình, điều lệ của Mặt trận và tuyên ngôn gửi nhân dân Lào và nhân dân thế giới, nêu mục đích cuộc KCCP là giành độc lập, thống nhất, phú cường, ấm no, hạnh phúc. Cũng trong năm 1950 cuộc KCCP của nhân dân Đông Dương có bước phát triển mạnh tạo thuận lợi cho CM Lào. Nhiều căn cứ kháng chiến hình thành rõ rệt từ Bắc Lào đến Nam Lào, LLVT yêu nước được củng cố và phát triển, tác chiến quy mô ngày càng lớn. Đặc biệt hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đỏng Dương (11.3.1951) là sự kiện có ý nghĩa chiến lược tăng cường sức mạnh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Dông Dương, góp phần thúc đẩy sự phối hợp tác chiến giữa QĐ Lào Itxala và quân tình nguyện VN ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả, thông qua các chiến dịch: chiến dịch Thượng Lào (13.4-18.5.1953) giải phóng hoàn toàn 2 tinh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, uy hiếp Thượng Lào; chiến dịch Trung Lào (21.12.1953- 4.1954) giải phóng một vùng rộng lớn ở Trung Lào, trong đó có t. Khâm Muộn gồm tx Thà Khẹt, tiến sát bờ sông Mê Công; chiến dịch Hạ Lào và đông bắc Campuchia (31.1-4.1954) giải phóng tx Attapư, khu vực cao nguyên Bólỏven và vùng Saravan; chiến dịch Thượng Lào (29.1-13.2.1954) giải phóng t. Phongxalì, phòng tuyến Nậm U, cắt đường liên lạc chiến lược với Điện Biên Phủ của quân Pháp, nối liền khu giải phóng Sầm Nưa với vùng Tây Bắc VN. Cùng với thắng lợi của nhân dân VN và Campuchia, thắng lợi của CM Lào dẫn đến kí kết hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào. Pháp phải thừa nhận độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Lào, thừa nhận địa vị hợp pháp của chính phủ kháng chiến Lào ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalì; QĐ Pháp phải rút khỏi Lào.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:04:39 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP CỦA VIỆT NAM (1945-54), kháng chiến của nhân dân VN chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập mới giành được sau tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Cuộc kháng chiến trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn 1 (9.1945-12.1947): kháng chiến ở miền Nam. xây dựng và bảo vệ chế độ mới trên cả nước, tiến lên phát động toàn quốc kháng chiến. Được phái bộ Anh che chở, 23.9.1945 quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Nhân dân VN kiên quyết ngàn chặn quân Pháp ở miền Nam, làm thất bại âm mưu can thiệp, lật đổ của quân Tưởng ở miền Bắc, đồng thời ra sức cùng cố chính quyền, xây dựng lực lượng mọi mặt. Với thiện chí hòa bình, chính phủ VN DCCH kí với chính phú Pháp hiệp định sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946) và tạm ước Việt - Pháp (14.9.1946), nhưng với dã tâm tái chiếm VN, Pháp trắng trợn phá hoại hiệp định, ráo riết tăng cường, mở rộng chiến tranh xâm lược. Khả năng hòa hoãn không còn, 19.12.1946 kháng chiến toàn quốc bắt đầu bằng những đợt tác chiến tiến công tiêu hao, tiêu diệt và giam chân quân Pháp ở thủ đô Hà Nội và một số thành phố, thị xã. Dưới ánh sáng đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh”, nhân dân VN thực hiện tiêu thổ kháng chiến, sơ tán khỏi vùng có chiến sự; gia nhập QĐ, dân quân, xây dựng nếp sống chiến đấu, sản xuất tự túc. Các cơ quan, kho tàng, nhà máy di chuyển về căn cứ an toàn. Cuối 1947 LLVTND VN mở chiến dịch phản công, đánh bại cuộc hành quân lớn của Pháp lên Việt Bắc (x. chiến dịch Việt Bắc, 7.10- 20.12.1947). Chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp bị phá sản. Nhân dân VN vượt qua thử thách quyết liệt trong những năm đầu. giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến. Giai đoạn 2 (1.1948-Thu Đông 1950): đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát triển chiến tranh du kích, từng bước tiến lên vận động chiến, tạo thế và lực để tiến tới phản công và tiến công. Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp phải thay đổi chiến lược, chuyển sang đánh kéo dài, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”; lập chính quyền bù nhìn Bảo Đại; ráo riết phát triển ngụy quân, bình định vùng chiếm đóng, càn quét để mở rộng phạm vi kiểm soát, đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị và lực lượng dự bị của ta. Chủ trương của ta là phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát, đồng thời từng bước đẩy mạnh vận động chiến; củng cố khối đoàn kết toàn dân, phá âm mưu chia rẽ dân tộc, tôn giáo của địch. Thực hiện chủ trương trên, các đại đội độc lập, đội vũ trang tuyên truyền tiến vào vùng sau lưng địch gây cơ sở, phát động chiến tranh du kích, phá tề, trừ gian, chống địch càn quét, bình định. Kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, LLVTND ta từ những trận đánh độc lập tiến lèn mở nhiều chiến dịch nhỏ trên các chiến trường tiêu diệt một phần sinh lực dịch, giải phóng một bộ phận đất đai, hỗ trợ phong trào chiến tranh du kích. Vừa đẩy mạnh kháng chiến ở trong nước, nhân dân VN vừa tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân Lào, Campuchia, TQ. Để tạo chuyển biến lớn cho cuộc kháng chiến, Thu Đông 1950 ta mở chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950), tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông biên giới, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, làm phá sản kế hoạch Rơve, đưa cuộc KCCP bước sang một thời kì mới. Giai đoạn 3 (1.1950-7.1954); giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược, phát triển tiến công và phản công, làm phá sản nỗ lực chiến tranh cao nhất của Pháp và Mĩ. Sau thất bại ở biên giới, được Mĩ tiếp sức, Pháp ráo riết tăng cường lực lượng, tập trung sức giữ đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh càn quét, bình định, đồng thời chuẩn bị phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Phát huy thế chủ động tiến công, ta liên tiếp mở 3 chiến dịch đánh vào phòng tuyến địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ: chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950-18.1.1951), chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3-7.4.1951), chiến dịch Quang Trung (28.5- 20.6.1951), nhưng chưa đạt mục đích chiến lược, chủ yếu do chọn hướng tiến công không phù hợp với so sánh lực lượng địch - ta lúc đó. 11.1951 Pháp mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình, nhằm xoay chuyển tình thế. Ta mở chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951-25.2.1952), đánh địch trên hai mặt trận: Hòa Bình và vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, giành thắng lợi lớn. Tiếp tục phương hướng chiến lược đánh vào nơi địch yếu, sơ hở, ta mở chiến dịch Tây Bắc (14.10-10.12.1952), phối hợp với LLVT CM Lào mở chiến dịch Thượng Lào (13.4-18.5.1953), đạt kết quả lớn về tiêu diệt địch và giải phóng đất đai, làm chuyển biến mạnh cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Từ giữa 1953. Pháp thực hiện kế hoạch Nava nhằm chuyển bại thành thắng, phát triển nhanh lực lượng cơ động, mở nhiều cuộc hành quân càn quét lớn trong vùng tạm chiếm và tiến công ra vùng tự do của ta. Quân và dân VN phối hợp với LLVT CM Lào và Campuchia mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-54 gồm nhiều chiến dịch trên một số hướng chiến lược (x. chiến cục Đông Xuân 1953-54) mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), đánh bại cố gắng cao nhất của Pháp và Mĩ, góp phần quyết định kết thúc thắng lợi cuộc KCCP. 20.7.1954 hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam được kí kết. một nửa nước VN (từ vĩ tuyến 17 trở ra) hoàn toàn giải phóng. Trong 9 năm chiến tranh xâm lược Đông Dương, Pháp đã phải chi phí 3.000 tỉ phrăng (tương đương 7 tỉ USD) và 2,6 tỉ USD do Mĩ viện trợ, 20 lần thay đổi chính phủ, 7 lần thay cao ủy Pháp ở Đông Dương, 8 lần thay tổng chỉ huy QĐ viễn chinh. Quân và dân VN đã loại khỏi chiến đấu hơn nửa triệu quân Pháp và tay sai. bắn rơi và phá hủy 450 máy bay, phá hủy 9.816 xe QS, thu 225 pháo, 504 xe QS và 130 nghìn súng các loại. Cuộc KCCPCVN do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của ĐLĐ VN (nay là ĐCS VN), đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết, liên minh chiến đấu với nhân dân hai nước Lào, Campuchia, được các nước XHCN tận tình giúp đỡ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đồng tình ủng hộ. KCCP thắng lợi đã bảo vệ và phát triển thành quả của CM tháng Tám, chấm dứt ách thống trị gần một thế kỉ của thực dân Pháp ở VN; tạo tiền đề cho thắng lợi của KCCM sau này; góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:05:15 pm
     
        KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP THỜI NGUYỄN (1858-84), kháng chiến của nhân dân VN dưới thời Nguyễn chống thực dân Pháp xâm lược. Giai đoạn 1 (1858-62): mở đầu bằng cuộc chiến đấu của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng sát cánh cùng quân triều đình đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng phải thay bằng chiến lược “tằm ăn lá dâu” (x. trận Sơn Trà - Đà Nẵng, 1.9.1858- 2.1859). Sau khi Chí Hoà thất thủ (x. trận Chí Hoà, 24-25.2.1861), quân triều đình liên tiếp thất bại và rút lui, dẫn tới Pháp chiếm ba tỉnh Đông Nam Kì (1861). Triều Nguyễn thỏa hiệp kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862). Giai đoạn 2 (1862-74): bất chấp lệnh bãi binh của triều đình, nhân dân Nam Kì tiếp tục chiến đấu, gây cho quân Pháp nhiều tổn thất và gặp nhiều khó khăn trong bình định và mở rộng vùng chiếm đóng. Do lực lượng chênh lệch, một số cuộc khởi nghĩa lần lượt bị dập tắt như khởi nghĩa Trương Định (1861- 64), khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861-68), khởi nghĩa Võ Duy Dương (1865-66)... Năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh Tây Nam Kì, tuyên bố sáu tỉnh Nam Kì là lãnh địa thuộc Pháp và xúc tiến kế hoạch tiến công ra Trung Kì, Bắc Kì. Với việc Pháp đánh chiếm Hà Nội lần 1 (20.11.1873), rồi chiếm Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên (28.11.1873), Hải Dương (4.12.1873), Ninh Bình (5.12.1873), Nam Định (10.12.1873), cuộc chiến tranh lan rộng trên cả nước. Mặc dù quân triều đình thất bại, nhưng phong trào kháng Pháp của nhân dân vẫn diễn ra khắp nơi, đẩy Pháp vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, phải rút quân khỏi Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định. Trong khi đó, triều Nguyễn lại tiếp tục nhượng bộ bằng hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1874), thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp ở Nam Kì. Giai đoạn 3 (1874-83): triều Nguyễn ngày càng đi ngược lại lợi ích dân tộc, đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, Pháp triển khai đánh chiếm toàn bộ VN. Bắt đầu bằng việc Pháp đánh chiếm Hà Nội lần II (25.11.1882), chiếm Hòn Gai (12.3.1883), Nam Định (27.3.1883). Triều Nguyễn bất lực, yêu cầu nhà Thanh (TQ) đưa quân sang giúp VN đánh Pháp, làm tình hình thêm phức tạp. 20.8.1883 Pháp tiến công Thuận An (Huế), buộc triều Nguyễn kí hiệp ước Quý Mùi (1883), chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì, Trung Kì. Giai đoạn 4 (1883-84): nhằm độc chiếm VN, Pháp đưa quân chiếm Ninh Bình (9.1883), cắt đường liên lạc từ Huế ra Bác. Tiếp đó, tiến công các vị trí quân Thanh ở Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang để gây áp lực, kết hợp với thương lượng, dần tới việc kí kết quy ước Thiên Tân (11.5.1884), trong đó quy định nhà Thanh phải rút quân khỏi Bắc Kì. Trước những hoạt động ráo riết của Pháp, triều Nguyễn hoàn toàn rệu rã và đầu hàng bằng hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884), đưa dân tộc VN vào thời kì bị thực dân Pháp đô hộ (x. minh họa giữa trang 1008 và1009).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67318761_452614825468403_3007671176827764736_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQny5oVDy2V5KnkXhytsXZ--FSm2GsZtzgHlwsvnGBpzzERehR7CRiDxUodyANcGN94&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a4185eb0a25dec0051fa2f91d65e395f&oe=5DA84A59)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:06:31 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG TẨN (214-208tcn), kháng chiến của người Âu Việt và Lạc Việt thuộc nước Văn Lang thời Hùng Vương chống quân Tần (TQ) xâm lược. Sau khi thống nhất TQ, năm 218tcn nhà Tần cử Đồ Thư đem 500.000 quân đi thôn tính các bộ tộc Bách Việt ở phía nam Trường Giang, tiến vào Văn Lang 214tcn. Trước thế mạnh lúc đầu của quân Tần, người Âu Việt và Lạc Việt rút vào rừng tổ chức kháng chiến lâu dài, suy tôn Thục Phán (một thủ lĩnh người Âu Việt) làm chủ tướng. Bằng cách đánh nhỏ, đánh đêm, đánh lén trong nhiều năm, gây cho quân Tần nhiều tổn thất, sau đó phản công giết được Đồ Thư, buộc nhà Tần phải rút quân 208tcn. Sau thắng lợi, Thục Phán lên ngôi vua, hợp nhất các tộc người Âu Việt và Lạc Việt lập nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh. Hà Nội), kế tục và phát triển nước Văn Lang của các vua Hùng.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG THANH (1788-89), kháng chiến của quân và dân Đại Việt do Nguyễn Huệ lãnh đạo. chống nhà Thanh (TQ) xâm lược. Mượn cớ giúp Lê Chiêu Thống chống Tây Sơn, 11.1788 vua Thanh cử Tôn Sĩ Nghị (tổng đốc Lưỡng Quảng) đem khoảng 290.000 quân theo bốn hướng tiến đánh Đại Việt. Lực lượng Tây Sơn ở Bắc Hà (khoảng 10.000 quân) do Ngô Văn Sở chỉ huy theo kế của Ngô Thì Nhậm, tổ chức đánh nhỏ chặn bước tiến quân Thanh, thực hiện rút lui chiến lược về phòng thủ tại Tam Điệp - Biện Sơn (nay thuộc Ninh Bình - Thanh Hóa) để bảo toàn lực lượng và cấp báo cho Nguyễn Huệ. Với binh lực lớn, quân Thanh nhanh chóng chiếm Thăng Long (17.12), tiến về phía nam. lập các đồn : Đống Đa (Hà Nội), Ngọc Hồi, Hà Hồi (Hà Tây), Gián Khẩu (Ninh Bình, nơi quân Lê Chiêu Thống đóng giữ). Trên các hướng khác, quân Thanh chiếm Hải Dương. Sơn Tây (Hà Tây). Giành được thắng lợi tương đối dễ dàng. Tôn Sĩ Nghị chủ quan cho quân sĩ tạm nghỉ ăn tết, chờ sang xuân đánh tiếp. 21.12.1788 tại Phú Xuân (Huế), Nguyễn Huệ nhận tin báo của Ngô Văn Sở, hôm sau lên ngôi hoàng đế. lấy niên hiệu Quang Trung, thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. 26.12 quân Tây Sơn đến Nghệ An tuyển thêm lực lượng (nâng số quân lên 100.000, vài trăm voi chiến); 15.1.1789 dừng chân ở Tam Điệp chuẩn bị phản công. Sau khi tổ chức ăn tết trước, Nguyễn Huệ chia quân thành năm đạo, hành quân thần tốc về Thăng Long. Trên hướng chủ yếu, đạo quân chủ lực do Nguyễn Huệ chỉ huy, phối hợp với đạo quân đô đốc Bảo, mở đầu bằng trận diệt đồn Gián Khẩu (25.1), tiếp đó trong 5 ngày đêm, đập tan tuyến phòng thủ của quân Thanh trên hướng nam vào Thăng Long (x. trận Hà Hói, 28.1.1789; trận Ngọc Hồi - Đầm Mực, 30.1.1789. Trên hướng thứ yếu, đạo quân vu hồi thọc sâu do đô đốc Long (có sách nói là Đặng Tiến Đông) chỉ huy diệt đồn Đống Đa (Khương Thượng), đánh vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long, làm chủ Thăng Long (x. trận Đấng Đa - Thăng Long, 30.1.1789 . Phối hợp với các đạo quân trên, thủy quân do đô đốc Tuyết chỉ huy, vượt biển vào sông Lục Đầu, đánh tan quân Thanh ở Hải Dương. Nghe tin thất bại, cánh quân Thanh ở Vân Nam, Quý Châu xuống đến Sơn Tây vội rút lui. Tàn quân Thanh cùng quân Lê Chiêu Thống thua chạy, bị quân đô đốc Lộc và dân binh các địa phương đón lõng, diệt phần lớn ở Phượng Nhãn, Lạng Giang, Yên Thế. Âm mưu xâm lược của nhà Thanh và ý đồ bán nước của Lẽ Chiêu Thống bị đập tan. KCCT kết thúc thắng lợi để lại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN nhiều bài học về quyết tâm đánh tiêu diệt, nghệ thuật tạo lập thế trận, tạo nắm thời cơ, tổ chức lực lượng, cơ động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, giành giữ quyền chủ động trong chiến tranh.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67138361_452614842135068_5290906169685049344_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQkh1-LOk_VnoLerpipH_BOpxV1c6JEbiIhiewFijApwfumOVG-HW533DWtgn3rxkR0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=609daf5b8d26df51d78a68cfcbad3e2b&oe=5DAEC5AC)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:07:29 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG TỐNG LẨN I (981), kháng chiến của quân và dân Đại Cổ Việt chống nhà Tống (TQ) xâm lược. Từ cuối 980 nhân lúc triều Đinh suy yếu, vua Tống hạ chiếu xuất binh xâm lược, đồng thời đưa thư đe dọa, buộc phái thẩn phục. Trước nguy cơ đó, triều thần nhà Đinh tôn Lê Hoàn lên ngôi vua (mở đầu thời Tiền Lê), gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Đầu năm 981 quân Tống chia thành hai cánh do Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Trấn Khâm Tộ... chỉ huy, từ Khâm Châu (Quảng Đông, TQ) theo ven biển đông bắc Đại Cồ Việt tiến vào sông Bạch Đằng; dự kiến hội quân ở Đại La (nay là Hà Nội), rồi phối hợp tiến công  kinh thành Hoa Lư (nay thuộc Ninh Bình). Dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, quân và dân Đại Cổ Việt đã chuẩn bị sẵn trận địa cọc ngầm ở cửa sông Bạch Đằng, dùng mưu giết dược Hầu Nhân Bảo (4.981), rồi thừa thắng truy kích các cánh quân địch, diệt và bất nhiều quân, tướng Tống. Bị tổn thất nặng nề, vua Tống buộc phải ra lệnh bãi binh. Kháng chiến thắng lợi, Lê Hoàn thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo với nhà Tống để củng cố đất nước.

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG TỐNG LẨN II (1075-77), kháng chiến của quân và dân Đại Việt do Lí Thường Kiệt lãnh dạo. chống nhà Tống (TQ) xâm lược. Nhà Tống lập các căn cứ QS ở Ung Châu (Quảng Tây), Khâm Châu, Liêm Châu (Quàng Đóng) và các trại sát biên giới đông bắc Đại Việt, làm nơi xuất phát cho các đạo quân xâm lược, đồng thời lôi kéo Chiêm Thành, Chân Lạp cùng xâm lấn ở phía nam. Lí Thường Kiệt chủ trương tiến công trước để tự vệ (tiên phát chế nhân), 27.10.1075 huy động hơn 100.000 quân, chia thành hai cánh tiến công sang đất Tống: cánh quân bộ, phối hợp với quân các tù trưởng địa phương, đánh vào các trại biên giới; cánh quân thủy, do Lí Thường Kiệt chỉ huy, vượt biển, đánh chiếm các thành Khâm Châu, Liêm Châu, rồi phối hợp tiến công Ung Châu (3.1076) phá các căn cứ QS, làm thất bại một bước âm mưu xâm lược của nhà Tống (x. trận Ung Khâm Liêm, 10.1075-3.1076). Tháng 4.1076 Lí Thường Kiệt rút quân về nước, gấp rút chuẩn bị kháng chiến, xây dựng chiến tuyến nam Sòng Cầu và bố phòng vùng biển đông bắc cùng biên giới phía nam. Cuối 1076 đầu 1077, quân Tống gồm 100.000   bộ binh và kị binh, 200.000 dân phu và một đạo thủy binh do Quách Quỳ làm tổng chỉ huy theo hai hướng thủy bộ tiến vào Đại Việt. Hướng đường thủy, quân Tống bị chặn ở cửa biển đông bắc. Hướng bộ, bị chặn ở chiến tuyến Sông Cẩu. Sau trận Như Nguyệt, 18.1-2.1077 bị thiệt hại nặng, Quách Quỳ phải tổ chức phòng ngự ở bắc Sông Cầu trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Để sớm chấm dứt chiến tranh có lợi cho dân tộc, Lí Thường Kiệt chủ trương giảng hòa; Quách Quỳ buộc phải chấp thuận và rút quân về nước (3.1077). Ở phía nam, quân Chiêm Thành cũng không dám động binh. Chủ quyền và lãnh thổ đất nước được giữ vững.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66804476_452614858801733_4674897577563389952_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQlDvI1gXa3Q-ptH4M5seXTpF76mxS-CzV4ISBDgCRWHNlqGiX7Oy1LiPp9oyV-dQoA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b996f8e74df91e15fc56904a0aff96db&oe=5DACD11F)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:08:35 pm

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG TRIỆU (181-179tcn), kháng chiến của quân và dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo, chống nhà Triệu (TQ) xâm lược. Sau khi lập nước Nam Việt, Triệu Đà bắt đầu mưu đồ mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, khoảng 181 tcn, đánh vào Âu Lạc, tiến quân đến vùng Tiên Du, núi Vũ Ninh, sông Bình Giang (nay thuộc Bắc Ninh). Dựa vào thành cổ Loa kiên cố, có vũ khí lợi hại (truyền thuyết là nỏ thần), An Dương Vương nhiều lần đánh bại Triệu Đà. Không thắng được bằng QS, Triệu Đà dùng mưu giảng hòa, xin cho con là Trọng Thủy cầu hôn với Mị Châu (con gái An Dương Vương), ở rể vài năm để dò xét tình hình, gây chia rẽ nội bộ và đánh cắp bí mật QS của Âu Lạc. Khoảng 179tcn Triệu Đà bất ngờ tiến quân đánh bại An Dương Vương, chiếm Âu Lạc.   '

        KHÁNG CHIẾN CHỐNG TÙY (602), kháng chiến của quân và dân nước Vạn Xuân triều Tiền Lí do Lí Phật Tử lãnh đạo chống nhà Tùy (TQ) xâm lược. Đầu 602 nhà Tùy cử Lưu Phương thống suất quân 27 doanh (khoảng trên 100.000 quân) từ Vân Nam (TQ) dọc Sông Hồng vào Vạn Xuân. Lí Phật Tử chia quân phòng giữ các thành Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh), Ô Diên và kinh thành cổ Loa (nay thuộc Hà Nội). Với binh lực lớn hơn nhiều lần, sau khi đánh tan QĐ nhà Lí ở biên giới, Lưu Phương nhanh chóng tiến quân bao vây kinh thành Cổ Loa, dùng thủ đoạn dụ dỗ, đe dọa buộc Lí Phật Tử đầu hàng, bắt về TQ. Một số tướng lĩnh nhà Lí tiếp tục cùng nhân dân chiến đấu, song cuối cùng thất bại; nước Vạn Xuân bị nhà Tùy đô hộ.

        “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI”, tác phẩm của Trường Chinh, xuất bản 9.1947. Nội dung trình bày đường lối KCCP đã được quyết định tại hội nghị Vạn Phúc (18-19.12.1946), trong đó chỉ rõ: đối tượng kháng chiến là thực dân phản động Pháp; mục đích kháng chiến là kế tục sự nghiệp của CM tháng Tám, giành độc lập và thống nhất đất nước; tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện; phương châm chung của cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính và nhiều vấn đề quan trọng khác như xây dựng và tổ chức lực lượng, nghệ thuật QS... Tiếp theo chỉ thị ‘Toàn dân kháng chiến ” (22.12.1946) của Ban thường vụ trung ương ĐCS Đông Dương, “KCNĐTL” có tác dụng chỉ đạo, tổ chức động viên quân và dân VN kháng chiến thắng lợi, đóng góp vào kho tàng lí luận về chiến tranh giải phóng dân tộc của VN.

        KHÁNH HÒA, tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, đơn vị Ah LLVTND; bắc giáp Phú Yên, tây giáp Đắk Lắk, Lâm Đồng, tây nam và nam giáp Ninh Thuận, đông giáp Biển Đông. Dt 5.197.45km2, ds 1,09 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh (chiếm phần lớn), Chăm, Êđê, Bana, Giarai... Thành lập 1832. Tháng 2.1976 sáp nhập với Phú Yên thành t. Phú Khánh. 6.1989 tái lập. Tổ chức hành chính: 6 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã; tinh lị: tp Nha Trang. Địa hình thấp dần từ tày sang đông; rừng núi chiếm 70% diện tích, chủ yếu phân bố ở phía tây, các dãy núi cao: Tam Phong, Vọng Phu; giữa tình có các dãy núi nằm sát biển, nhiều đỉnh cao trên 1 .000rn: đồng bằng  ven biển hẹp. Các sông ngắn. dốc. Sông lớn: Sông Cái. Bờ biển dài hơn 200km, bị chia cắt mạnh với 8 cửa lạch, trên 200 đảo lớn nhỏ (riêng quần đảo Trường Sa có khoảng 100 đảo, đảo gần bờ nhất cách 210 hải lí), tạo ra nhiều vũng, vịnh (vũng Hòn Khói, vũng Nha Trang, vịnh Cam Ranh, vịnh Văn Phong). Khí hậu nhiệt đới biển, nhiệt độ trung bình trong năm 26°C, lượng mưa 1.600mm/năm. Thế mạnh: kinh tế biển, du lịch và dịch vụ. Công nghiệp: cơ khí, xi măng, đóng và sửa chữa tàu biển, hải sản... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 4.275 tỉ đồng; sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 181,9 nghìn tấn (lúa 176,9 nghìn tấn); khai thác gỗ 34,9 nghìn m2, thủy sản 68,1 nghìn tấn. Giao thông: đường sắt Bắc - Nam, QL 1, QL 26; cảng biển: Nha Trang, Cam Ranh; sân bay: Nha Trang, Cam Ranh. Sự kiện lịch sử QS: chiến thắng đèo cổ Mã - Đèo Cả (1947), đèo Phượng Hoàng (1947), Suối Rua (I960)...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66765835_452614878801731_3180047245416333312_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnQqr2We-9kulG8c477h174aUy2cmdvmbqM05xzp4oIy71r0DaNkJb1OfC7QKxjzBs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=98c020c7e942bb06def132dc38f6f7d5&oe=5DEED9C4)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:10:17 pm

        KHẢO CỔ HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của khoa học khảo cổ đồng thời là chuyên ngành khoa học lịch sử QS, nghiên cứu những di sản vật chất của loài người trong lĩnh vực hoạt động QS cổ xưa. KCHQS sử dụng những luận điểm, phương pháp của khoa học khảo cổ, khoa học QS và khoa học lịch sử QS. Việc nghiên cứu, đối chiếu các di chỉ khai quật và khảo sát trong lòng đất và dưới nước vốn được miêu tả trong tư liệu QS cổ hoặc bổ sung những tư liệu không còn trong tư liệu thành văn, cho phép xác minh một cách đáng tin cậy những sự kiện QS đã diễn ra trong lịch sử cổ đại.

        KHẢO SÁT CHIẾN TRƯỜNG, hoạt động điều tra tình hình các mặt ảnh hưởng đến tác chiến trên chiến trường. KSCT bao gồm: xác minh tình hình địch, giao thông (đường sá, sông ngòi...), thông tin liên lạc, thiết bị công trình, tình hình địa phương, khả năng động viên nhân lực, vật lực, các điều kiện địa hình, khí tượng thủy văn, khả năng hoạt động của địch. KSCT thường do người chỉ huy và cơ quan tham mưu tổ chức thực hiện.

        KHẮC PHỤC HẬU QUẢ TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG, tổng thể các biện pháp được tiến hành theo một ý định, kế hoạch thống nhất, chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ, nhằm hạn chế hoặc loại bỏ tác động của các đòn, đợt tập kích đường không do địch gây ra, nhanh chóng khôi phục khả năng chiến đấu, bảo đảm và sản xuất. Để KPHQTKĐK yêu cầu người chỉ huy , cơ quan đơn vị phải có kế hoạch, phương án xử lí theo tình huống cụ thể, phải chuẩn bị, luyện tập ngay từ thời bình, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, thế phòng thủ của khu vực tỉnh (thành phố), kết hợp chặt chẽ phương tiện hiện đại, thô sơ với tinh thần dũng cảm sáng tạo. Tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của đòn tập kích đường không có thể chia ra KPHQTKĐK cho: cơ sở kinh tế, giao thông vận tải, khu dân cư, các mục tiêu QS. Trong KCCM. quân và dân ta đã tiến hành KPHQTKĐK rất hiệu quả.

        KHẮC PHỤC HẬU QUẢ VŨ KHÍ HỦY DIỆT LỚN, tổng thể các biện pháp nhằm khôi phục sức chiến đấu cho bộ đội và các mục tiêu hậu phương sau khi địch tập kích vũ khí hủy diệt lớn. Nội dung cơ bản gồm: trinh sát khu vực bị tập kích; cấp cứu, điều trị cho người; cách li và dập tắt các đám cháy; khôi phục đường cơ động; kiểm tra nhiễm xạ, nhiễm độc, nhiễm trùng cho các đối tượng; sơ tán các lực lượng ra khỏi vùng sát thương phá hoại; tiến hành tiêm chủng khẩn cấp và áp dụng biện pháp cách li khu vực nhiễm trùng; tiến hành tiêu tẩy chuyên môn; khôi phục tinh thần chiến đấu cho bộ đội. KPHQVKHDL do toàn thể bộ đội các đơn vị bị tập kích tiến hành với sự hướng dẫn của bộ đội chuyên môn (hóa học. quân y, công binh...) hoặc đội hỗn hợp KPHQVKHDL.

        KHẮC PHỤC SỰ CỐ HÓA CHẤT ĐỘC, tổng thể các biện pháp nhằm hạn chế hậu quả, làm sạch môi trường, khôi phục hoạt động bình thường ở khu vực xảy ra sự cố hóa chất độc. Các biện pháp chủ yếu gồm: trinh sát nơi xảy ra sự cố và khu vực bị ảnh hưởng; khoanh vùng, sơ tán và cấp cứu nạn nhân; tiêu độc khu vực bị nhiễm; khắc phục tại chỗ nguyên nhân gây nên sự cố. Tùy theo tính chất, đặc điểm của sự cố mà tổ chức ban chỉ đạo KPSCHCĐ thường gồm các thành phần của UBND địa phương, các đội chuyên trách hỗn hợp gồm: công an, y tế, dân quân tự vệ, bộ đội hóa học... trong đó bộ đội hóa học làm nòng cốt trong việc trinh sát và tiêu độc.

        KHẮC PHỤC VẬT CẢN. toàn bộ các biện pháp nhằm giải quyết những trở ngại do vật cản gây nên, bảo đảm cho bộ đội cơ động. KPVC căn cứ vào: tình hình vật cản; nhiệm vụ được giao: khả năng của ta; quyết tâm của người chỉ huy; hành động của đối phương và các điều kiện khác (địa hình, khí hậu. thời tiết...). Phương pháp KPVC: vòng tránh khi tình huống và địa hình (cầu đường...) cho phép; vượt qua bằng phương tiện (xe cơ giới, máy bay, trực thăng...), hoặc đi bộ nhưng không ảnh hướng lớn đến sức chiến đấu; phá, gỡ khi không thể vòng tránh hoặc vượt qua. Vật cản nổ (mìn, thủy lôi...) và vật cản không nổ (hàng rào, dây thép gai...) có thể phá. gỡ bằng phương tiện kĩ thuật như dùng xe tăng phá mìn, tàu phá thủy lôi, dùng chất nổ (bộc phá, bom mìn, đạn pháo...) hoặc dùng lực lượng phá gỡ với phương tiện thô sơ. Vật cản thiên nhiên (hố, nơi sụt lở, sông, suối...) tùy điều kiện có thể khắc phục bằng phương tiện kĩ thuật, phương tiện thô sơ hay kết hợp.

        KHĂMTÀY XIPHĂNĐON (s. 1924), chủ tịch BCHTU Đảng nhân dân CM Lào (1992), chủ tịch nước CHDC nhân dân  Lào (1998), tổng tư lệnh các lực lượng Pathét Lào (1960), bộ trưởng BQP, đại tướng, tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Lào (1975-91). Sinh tại t. Chămpa xắc (Lào); tham gia CM 1947; đv ĐCS Đông Dương (1954). Năm 1952 ủy viên trung ương Mặt trận Lào Itxala (Mặt trận Lào tự do). 1952-54 chủ tịch ủy ban miền Trung Lào. 1955-57 tham mưu trưởng các lực lượng Pathét Lào. 1956 đv Đảng nhân dân Lào (nay là Đảng nhân dân CM Lào). 1957-59 ủy viên BCHTƯ, chánh văn phòng BCHTƯ Đảng. 1960 phụ trách các vấn đề QS trong BCHTƯ. tổng tư lệnh các lực lượng Pathét Lào. 1975- 91 phó thủ tướng chính phủ CHDC nhân dân Lào. 1991-98 thủ tướng chính phú. ủy viên BCHTƯ Đảng nhân dân CM Lào (1957) khóa II-V, ủy viên BCT khóa II-V, ủy viên thường trực Ban bí thư khóa III-IV. Được nhà nước CHXHCN VN trao tặng huân chương Hồ Chí Minh (1982), huân chương Sao vàng (1993). Tác phẩm: “Những bài chọn lọc về QS”.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:11:50 pm

        KHẨU ĐỘI, phân đội nhỏ nhất, gồm một số ngươi sử dụng một khẩu pháo (súng cối, súng máy hạng nặng, bệ phóng tên lửa...). Biên chế tùy theo loại vũ khí sử dụng: KĐ pháo lựu 105mm: 7 người, KĐ súng cối 60mm: 3 người, KĐ bệ phóng tên lửa phòng không: 5 người... Mỗi KĐ có KĐ trưởng và các pháo thủ (xạ thủ). KĐ thường hành động trong đội hình trung đội, đại đội, cũng có thể độc lập thực hiện một nhiệm vụ hỏa lực nhất định.

        KHẨU LỆNH, lệnh hô ngắn gọn của người chỉ huy để điều khiển cấp dưới thực hiện thống nhất hành động cụ thể ngay sau đó. Thường có dự lệnh (để chuẩn bị) và động lệnh (để hành động) hoặc chỉ có động lệnh. KL được quy định theo điều lệnh, điều lệ, giáo trình bắn... của QĐ.

        KHẨU PHẦN ĂN nh TIÊU CHUẨN ĐỊNH LƯỢNG ĂN

        KHE LAU, khe núi gần ngã ba Sông Gâm và Sông Lô, thuộc h. Yên Sơn, t. Tuyên Quang, bắc tx Tuyên Quang 9km. 10 giờ 10.11.1947, từ trận địa KL Trung đội pháo binh 225 với một khẩu sơn pháo 75mm đã bắn chìm hai và bắn bị thương một tàu chở quân của Pháp từ Chiêm Hóa về Tuyên Quang, diệt hàng trăm địch. Đây là chiến công đầu của pháo binh VN trong KCCP.

        KHE SANH. thị trấn huyện lỵ Hướng Hóa. t. Quang trị, tây Đông Hà 63km, có đường 9 chạy qua. Nằm trong một thung lũng đất đỏ cao hơn mặt biển 400m. 1965-66. M7 và QĐ Sài Gòn đã xây dựng KS thành cứ điểm lớn nhất trong tuyến phòng thủ đường 9. Một trong ba “mắt thần” (Khe Sanh. Làng Vây, Tà Cơn) của hàng rào điện tử Mac Namara. Tại KS đã diễn ra các hoạt động tác chiến lớn trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971).

        KHÍ CẦU, khí cụ bay nhẹ hơn không khí mà lực nâng được tạo bởi những chất khí có khối lượng riêng nhỏ hơn không khí (hiđrô, hêli, không khí bị đốt nóng...) chứa trong vỏ bọc (khoang) của nó. Khoang chứa khí gồm khung (mềm, nửa cứng hoặc cứng) và lớp bọc (ni lông, vải nhựa...). Dung tích chứa khí 1.000-200.000m3, tải trọng phụ thuộc độ cao bay (vd: ở 20-25km là 3-4t, 30-35km la 0,8-1t, 40-45km là 0,15t...). Có KC buộc và KC bay tự do. KC buộc được dùng để làm vật cản trên không, sửa bắn pháo hoặc nghiên cứu khí tượng. KC bay tự do gồm: KC có kíp lái, KC tự động (có thiết bị điều khiển bay bằng vô tuyến điện hoặc theo chương trình), KC thăm dò khí tượng (bóng thám không), KC tầng bình lưu... KC tự do được dùng để trinh sát, gây nhiễu phương tiện vô tuyến điện tử, đưa các thiết bị thu, phát và khí tài quan sát lên cao, vận chuyển hàng QS (đạn dược, truyền đơn...), làm bia bay... Đầu tk 20 nhiều KC có động cơ được dùng chuyên chở khách và hàng hóa trên cự li xa (xuyên đại dương, lục địa...), sau không được sử dụng nữa do xảy ra nhiều tai nạn.
       
        KHÍ CẦU LÁI (khí cầu có điều khiển), khí cầu có thiết bị động lực tạo lực đẩy và thiết bị điều khiển thay đổi hướng và độ cao bay. Hình dáng thon dài, bên trong là các khoang kín chứa khí nhẹ như hêli, hiđrô hoặc không khí nóng để tạo lực  nâng khí tĩnh học. Lực đẩy chuyển động được tạo ra nhờ các cánh quạt được truyền chuyển động quay từ động cơ. KCL có thể bay bằng với tốc độ 60-120km/h. Phía sau KCL, có: các đuôi ngang, cánh lái hướng và cánh lái lên xuống. Phía dưới KCL, có: khoang buồng lái, khoang hành khách và tổ bay, khoang chứa nhiên liệu và khoang chứa các thiết bị chuyên dụng khác. Hệ thống động lực của KCL (cùng với các cánh quạt) được bố trí trong thân của KCL hoặc trong khoang riêng ở phía dưới KCL. Theo đạc điểm kết cấu, có: KCL cứng và KCL không cứng (bán cứng, mềm và bán mềm). KCL có thể bay cao 3-6km. Ưu điểm của KCL, là: có khả năng bay xa, bay lâu, có thể lên xuống thẳng đứng, thả trôi tự do trong khí quyển hoặc bay treo lâu tại một điểm và đảm bảo vệ sinh môi trường. Nhược điểm của KCL, là: tốc độ bay và công suất vận chuyển thấp, phải có các công trình ở dưới đất riêng biệt như trạm khí cầu, cột neo khí cầu... KCL thực hiện chuyến bay đầu tiên 1852, có thể tích 2.500m3. Trong CTTG-I, KCL được sử dụng để ném bom, trinh sát tầm xa, hộ tống các đoàn tàu thủy, tìm và diệt các tàu ngầm. Trong CTTG-II (chủ yếu là LX và Mĩ), dùng để chuyên chở các thiết bị có kích thước, khối lượng lớn (50-500t) đi xa hàng ngàn kilômét, làm nhiệm vụ trinh sát trên biển, giám sát các chuyến bay... Sau CTTG-II, KCL ít được sử dụng. Những năm gần đây, nhờ có các công nghệ mới, KCL có xu hướng phát triển trở lại.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66764094_452614872135065_5600581905956208640_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlUxzMr8kzFSBL3g36wNEGx5plHRUP-OZKFMmyjVyv1xEcNslivViOtNT-pMMXAljU&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d5e8c60c24600181ffd85578a512fdb3&oe=5DC0869A)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:12:49 pm

        KHÍ CỤ BAY, gọi chung các phương tiện, thiết bị kĩ thuật di chuyển được trong khí quyển Trái Đất hoặc trong khoảng không vũ trụ. Theo tỉ trọng so với không khí, có: KCB nhẹ hơn không khí và KCB nặng hơn không khí. Theo lĩnh vực sử dụng, KCB được chia ra: dân sự, QS, nghiên cứu khoa học. Theo phương thức điều khiển, có: không người lái và có người lái. Theo số lần sử dụng, có: sử dụng một lần và sử dụng nhiều lần... KCB nhẹ hơn không khí gồm bóng bay, khí cầu, có lực nâng được tạo bởi các chất khí có khối lượng riêng nhỏ hơn khối lượng riêng không khí (vd: hiđrô, hêli...) chứa trong khoang. Thuộc KCB nặng hơn không khí có: KCB hàng không, KCB vũ trụ, KCB hàng không - vũ trụ và tên lửa. KCB hàng không dùng môi trường không khí để tạo lực nâng và lực đẩy cũng như các lực điều khiển bằng sự tác động tương hỗ của các bề mặt chuyên dụng (của cánh, thân, cánh lái khí động...) và của bộ dẫn tiến với không khí (trừ máy bay phản lực). Theo dạng thiết bị tạo lực nâng và điều khiển, KCB hàng không được chia ra: có cánh (máy bay có cánh, tàu lượn) và cánh quay (máy bay trực tháng, máy bay cánh quay...). KCB hàng không - vũ trụ kết hợp các tính chất, kết cấu của KCB hàng không và KCB vũ trụ (máy bay vũ trụ).

        KHÍ CỤ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI, khí cụ bay mà các hoạt động (điều khiển, duy trì chuyến bay, máy móc...) theo một chương trình đã lập sẵn hoặc được điều khiển từ mặt đất, không có sự tham gia trực tiếp của con người trên đó. Nhiệm vụ chủ yếu: trinh sát, phát hiện và bám mục tiêu, chụp ảnh hàng không, truyền phát thông tin, tác chiến điện tử, phóng (thả) vũ khí, hiệu chỉnh bắn cho pháo binh... Các thiết bị chính: hệ thống động cơ, dẫn đường, tự động lái, máy ngắm: hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống tự động cất hạ cánh... Thông thường có dạng khí động giống máy bay, sử dụng một lần hoặc nhiều lần, được phóng từ máy bay (tàu chiến) hoặc mặt đất. Trong QS, KCBKNL chủ yếu là máy bay không người lái, một trong những loại vũ khí trang bị quan trọng trên chiến trường. Được QĐ Mĩ và các nước đồng minh sử dụng trong cuộc chiến tranh VN (1954-75), Vùng Vịnh (1991), Bôxnia (1996), Nam Tư (1999), Apganixtan (2001).

        KHÍ CỤ BAY TÀNG HÌNH, khí cụ bay có đặc tính ít hoặc không bị phương tiện cảnh giới của đối phương phát hiện. Các biện pháp công nghệ tạo ra khả năng tàng hình của KCBTH gồm: tạo ra các hình dáng, cấu trúc phù hợp; sử dụng vật liệu đặc biệt, các lớp phủ cũng như các thiết bị đặc biệt để làm giảm bề mặt tán xạ hiệu dụng của sóng rađiô, giảm bức xạ nhiệt và bức xạ điện từ... KCBTH có thể đột nhập sâu vào lãnh thổ đối phương, tạo yếu tố bất ngờ và làm giảm khả năng đánh trả của đối phương trong tác chiến. Các hạn chế của KCBTH: vẫn bị phát hiện bởi các đài rađa có độ nhạy máy thu cao; các trạm quan sát bằng mắt; khả năng hoạt động còn phụ thuộc vào máy bay chỉ huy, trạm rađa dẫn đường...; giá thành cao. Mĩ đã dùng máy bay chiến đấu tàng hình F- 117A trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), F-117 và B-2 trong chiến tranh Nam Tư (1999).

        KHÍ CỤ BAY VŨ TRỤ, khí cụ bay có tỉ trọng nặng hơn không khí, dùng trong khoảng không vũ trụ. Được phân thành các loại: có quỹ đạo quanh Trái Đất (vệ tinh nhân tạo của Trái Đất, tàu vũ trụ, trạm vũ trụ) và liên hành tinh (trạm tự động giữa các hành tinh...). KCBVT đầu tiên trên thế giới là vệ tinh nhân tạo Trái Đất (LX), được phóng 4.10.1957; tàu vũ trụ Phương Đông có người lái đầu tiên mang theo nhà du hành vũ trụ Gagarin (LX), được phóng 12.4.1961.

        KHÍ CỤ TRÊN ĐỆM KHÍ, phương tiện (hoặc thiết bị) có thể di chuyển phía trên bề mặt tương đối phẳng (mặt nước, mặt băng, mặt đầm lầy...) bàng cách tựa trên lớp không khí bị nén bởi hệ thống quạt gió qua ống dẫn và thiết bị phun đặt dưới thân. Chuyển động tịnh tiến do cánh quạt hoặc ống phụt tạo ra. Công suất tạo đệm khí chiếm khoảng 80% công suất của thiết bị năng lượng; áp suất đệm khí tới L47.103- 3,92.102N/m2 hoặc hơn; trọng tải bằng 25-30% khối lượng của khí cụ; vận tốc đạt tới 150km/h. Hiện nay KCTĐK thông dụng là tàu thủy vận tải cỡ nhỏ (20-300t), đang thiết kế và chế tạo loại lớn hơn. Trong QS tàu (xuồng) đệm khí thường dùng làm tàu tuần tiễu, tàu phóng lôi, tàu đổ bộ hạng nhẹ. Nguyên lí chuyển động trên đệm khí đang được nghiên cứu để tạo ra phương tiện cơ động (xe QS, tàu đổ bộ) tốc độ cao nhưng áp lực riêng lên mặt nước, mặt đất... nhỏ hoặc dùng trong việc cất, hạ cánh máy bay ở các sân bay, bãi đỗ có độ bền của nền thấp. Ý tưởng sử dụng đệm khí để chuyển động và tăng tốc độ của khí cụ có từ hơn 200 năm trước. 1716 E. Cơveđenbơ (Thụy Điển) đề xuất sử dụng quạt nén đặt dưới thân khí cụ. Những người có nhiều cống hiến về lĩnh vực KCTĐK là: K. E. Xiôncôpxki, V. I. Lencôp, T. Cacnô, G. Lôvan, C. Ruxen...


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:13:52 pm

        KHÍ ĐỘNG LỰC HỌC, phần cơ học nghiên cứu quy luật chuyển động của chất khí và sự tương tác của nó với các vật thể di chuyển trong đó. Có: KĐLH lí thuyết và KĐLH thực nghiệm (nghiên cứu chuyên động của chất khí và tác động tương hỗ của nó với vật thể trên mô hình trong ống khí động hoặc trên khí cụ bay khi bay). Nhiệm vụ chính của KĐLH là xác định lực nâng, lực cản, các loại mô men uốn, xoắn, sự phân bố áp lực và hướng của dòng khí trên các bể mặt vật thể... KĐLH được sử dụng rộng rãi trong kĩ thuật hàng không, tên lửa, kĩ thuật vận tải và những ngành kĩ thuật khác. Trong QS, KĐLH được ứng dụng trong tính toán đường đạn, xác định thông số khí động của đầu đạn và khí cụ bay, tính toán tham số của động cơ trên trang bị cơ giới QS. Sự xuất hiện các khí cụ bay hiện đại có tốc độ vượt âm. đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của KĐLH và hình thành các ngành: KĐLH tốc độ lớn, KĐLH từ, siêu KĐLH, KĐLH thực hành, KĐLH bay, KĐLH công nghiệp và KĐLH máy tuabin và động cơ tên lửa... Những người đặt nền móng đầu tiên cho KĐLH là Galilê, Huyghen, Niutơn; sau đó Lômônôxôp, Ơle, Becnuli, Giucôp... đã góp nhiều công lao phát triển.

        KHÍ HẬU, chế độ thời tiết tương đối ổn định nhiều năm của một vùng lãnh thổ (được xác định thông qua các giá trị trung bình), hình thành dưới tác động của bức xạ mặt trời, sự tuần hoàn của khí quyển. KH phụ thuộc vào vĩ độ địa lí, độ cao tuyệt đối, sự phân chia đất liền và biển, đặc trưng của địa hình, các dòng hải lưu. thảm thực vật... KH là một yếu tố thiên nhiên rất quan trọng, ảnh hường đến việc chuẩn bị và tác chiến của bộ đội.

        KHÍ QUYỂN của Trái Đất, lớp khí bao bọc quanh Trái Đất. cùng quay với nó như một thể thống nhất. Khối lượng KQ khoảng 5,15.1015t. Áp suất và mật độ không khí trong KQ giảm dần theo độ cao. 99% khối lượng KQ tập trung trong lớp dày 30-35km gần Trái Đất. Theo tính chất phân bố nhiệt, KQ chia thành các tầng: tầng đối lưu (tầng cơ bản, thấp nhất của KQ. đến độ cao 8-10km ở hai cực, 10-12km ở vĩ độ cao, và 16-18km ở vĩ độ thấp), tầng bình lưu (nằm trên tầng đối lưu. đến độ cao 50-55km), tầng mêzôn (tầng giữa), tầng nhiệt (tầng iỏn) và tầng ngoài. Thành phần KQ gần mặt đất là: 78,1% nitơ, 21% ôxi, 0,9% acgông, và một tỉ lệ không đáng ké khí axit cacbônic, hiđrô, hêli, nêông... Dưới 20km có hơi nước, lượng hơi nước giảm nhanh theo độ cao. Ở độ cao 20- 25km là tầng ôzôn, bảo vệ các sinh vật trên Trái Đất khỏi các tia bức xạ cực tím của Mặt Trời. Ở độ cao 50-80km một phần các phân từ khí phân rã thành nguyên tử và ion, tạo thành tầng ion. Ngoài 100km tỉ lệ khí nhẹ tăng, trên 600km hêli chiếm ưu thế. Ở độ cao 2.000- 20.000km là hiđrô. Sự nung nóng không đều KQ tạo thành sự lưu thông của nó, làm ảnh hường đến thời tiết và khí hậu trên trái đất. Một trong những quá trình quan trọng nhất do tác động qua lại giữa bề mặt Trái Đất và KQ là chu trình nước; hơi nước nhập vào KQ, đọng lại rơi xuống thành mưa.

        KHÍ TÀI, gọi chung những dụng cụ, thiết bị, máy móc dùng trong QS (để chỉ huy bộ đội, điều khiển phương tiện chiến đấu...), nhưng không có tác dụng trực tiếp tiêu diệt đối phương. KT được sử dụng độc lập hoặc ghép với phương tiện khác thành tổ hợp (hệ thống) KT. Theo công dụng, có: KT đo đạc, KT kiểm tra, KT điều chỉnh, KT tính toán, KT quan sát và trinh sát, KT nhìn đêm, KT ngắm... Theo nguyên lí hoạt động, có: KT cơ khí, khí tài quang học, khí tài điện từ, KT quang - điện tử, KT cơ điện, khí tài lượng tử, khí tài hồng ngoại, khí tài thủy âm... Theo chế độ làm việc, có: KT tự động, KT bán tự động, KT không tự động. Theo mức độ cơ động, có: KT cố định, KT có xe chở, KT mang vác. Theo lĩnh vực sử dụng, có: KT không quân, KT phòng không, KT chỉ huy bắn pháo binh, KT điều khiển phóng ngư lôi, KT trinh sát hóa học, KT trinh sát phóng xạ, KT trinh sát sinh học, KT công binh, KT thông tin...

        KHÍ TÀI ẢNH NHIỆT, khí tài tạo ra những bức ảnh nhìn thấy được dựa trên nguyên tắc nguồn bức xạ nhiệt (nằm trong vùng hồng ngoại không nhìn thấy) từ mục tiêu và sự chênh lệch nhiệt giữa mục tiêu và nền. Có hai loại KTAN chủ yếu: loại hoạt động ở dải sóng 3-5 micrômét, dùng để phát hiện các phương tiện có động cơ nhiệt đang hoạt động; loại hoạt động ở dải sóng 8-13 micrômét, dùng để phát hiện người và phương tiện có mức bức xạ nhiệt thấp hơn. Sau khi đi qua hệ thu và hội tụ bằng germanium (do thủy tinh và các vật liệu trong suốt khác lại không trong suốt với bức xạ hồng ngoại), bức xạ nhiệt quét trên mạng tinh thể, tạo ra các tín hiệu điện liên tục; các tín hiệu này được khuếch đại, tái tạo thành hình ảnh trên màn hình. KTAN thường được sử dụng trong các hệ thống cảnh giới, nhận dạng, điều khiển hỏa lực, dẫn đường cho vũ khí trang bị như máy bay, xe tăng, tàu chiến, tên lửa...


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:15:23 pm

        KHÍ TÀI CHỈ HUY BẮN PHÁO BINH, khí tài dùng để xác định các phần từ bắn và sửa bắn của phân đội pháo binh. Theo cấu tạo và nguyên lí hoạt động, KTCHBPB chia ra: loại cơ khí (bàn đạc, bàn tính, thước sửa bắn hoạt động theo nguyên lí toán đồ hoặc lôgarit); loại cơ - điện (x. máy chỉ huy), loại cơ - điện - vố tuyến điện tử. loại hoàn toàn tự động hóa...

        KHÍ TÀI ĐIỆN TỬ, khí tài có các phần tử chức năng chính được xây dựng từ các dụng cụ và linh kiện điện tử. KTĐT được sử dụng rộng rãi trong trinh sát, điều khiển vũ khí, tự động hóa chỉ huy, thông tin liên lạc, kĩ thuật tính toán, thiên văn học, vật lí, y học và các lĩnh vực khoa học kĩ thuật khác.

        KHÍ TÀI ĐIỂU KHIỂN BẮN, khí tài gồm tổ hợp các khí tài quang học, điện, cơ, vô tuyến điện... dùng để giải các bài toán bấn các mục tiêu trên mặt nước, mặt đất và trên không. KTĐKB hoạt động một cách tự động theo các dữ liệu do các khí tài đo đạc và trinh sát cung cấp, có tính đến lượng sửa khí tượng và thuật phóng. Theo cấu tạo và nguyên lí hoạt động, KTĐKB chia ra: khí tài cơ khí (bàn đạc, thước sửa bắn...); khí tài cơ - điện (K-40, M7, K6-19M, K6-60, K59-03...); khí tài cơ - điện - vô tuyến điện... Theo tác dụng, có: KTĐKB pháo binh, KTĐKB pháo phòng không, KTĐKB trên tàu, KTĐKB tên lửa, KTĐKB ngư lôi...

        KHÍ TÀI ĐIỂU KHIỂN PHÁO PHÒNG KHÔNG, khí tài gồm tổ hợp thiết bị dùng để xác định các thông số ban đầu và giải bài toán bắn đón (bài toán gặp giữa đạn và mục tiêu) khi bắn mục tiêu chuyển động trên không. Trong quá trình bắn, KTĐKPPK sẽ đảm bảo cơ khí hóa hay tự động hóa việc phát hiện, nhận dạng và bám sát những mục tiêu cần diệt, xác định tọa độ hiện tại, tiến hành giải bài toán bấn đón và xác định các phần tử bắn cho pháo (phương vị, góc bắn. ngòi nổ), xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc bắn, xác định lượng tiêu hao đạn... và tự động truyền các phần tử bắn sang các bộ phận thu tin của pháo hoặc truyền trực tiếp tới bộ phận điều khiển pháo từ xa. Thành phần của KTĐKPPK gồm: thiết bị phát hiện, bám sát và xác định các tọa độ hiện tại của mục tiêu (rađa, máy đo xa); máy tính để giải bài toán bắn đón; các thiết bị thu tin của pháo; mạng truyền đồng bộ; hệ thống dẫn động điều khiển; nguồn cung cấp điện năng. Theo phương thức bố trí, KTĐKPPK có hai loại: loại đặt trên bệ cố định (trên mặt đất) và loại đặt trên các phương tiện chiến đấu cơ động (hạm tàu, pháo phòng không tự hành). Hiện nay, KTĐKPPK thường được bố trí kết hợp với nhau tạo thành tổ hợp KTĐKPPK.

        KHÍ TÀI ĐIỂU KHIỂN PHÓNG NGƯ LÔI. khí tài gồm tổ hợp thiết bị cơ - điện, cơ - quang, con quay, điện tử... đặt trên tàu chiến có trang bị ngư lôi để xác định phần tử chuyển động của mục tiêu, dữ liệu để đưa tàu chiếm lĩnh vị trí phóng ngư lôi, tính toán loạt ngư lôi, tính toán và đưa dữ liệu vào cơ cấu chấp hành của ống phóng và ngư lôi để tiến hành phóng.

        KHÍ TÀI ĐO, khí tài dùng để đánh giá định lượng một hay nhiều loại thông số (đại lượng vật lí) dưới dạng số (biểu thị trực tiếp giá trị), hoặc dưới dạng màu sắc hay tín hiệu (biểu thị một giới hạn nào đó). Bộ phận chính của KTĐ là bộ cảm biến. Các loại KTĐ: chỉ thị, ghi, tự ghi, in, tích phân, cộng, tương tự, số, tác dụng trực tiếp, so sánh... Trong thực tế sử dụng (dân sự cũng như QS), KTĐ thường được chia thành KTĐ vạn năng và KTĐ chuyên dụng (đặc chủng).

        KHÍ TÀI HỔNG NGOẠI, khí tài hoạt động dựa trên những đặc tính của bức xạ hồng ngoại. Theo công dụng, có: KTHN quan sát và chụp ảnh, KTHN thông tin liên lạc, KTHN đo xa, KTHN tự dẫn, KTHN phát hiện mục tiêu có phát nhiệt...; theo nguyên lí hoạt động, có: KTHN chủ động (có nguồn phát tia hồng ngoại để chiếu xạ mục tiêu và máy thu nhận tia phản xạ về), KTHN thụ động (chỉ thu tia hồng ngoại do mục tiêu phát xạ ra), KTHN chủ động - thụ động (kết hợp hai chế độ).

        KHÍ TÀI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN, khí tài xác đinh những yếu tố khí tượng, thủy văn để đánh giá các quá trình và hiện tượng xẩy ra trong khí quyển và môi trường nước, nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo đảm khí tượng thủy văn cho các đơn vị chiến đấu. Gồm: thiết bị đo đạc, ghi nhận, xử lí, truyền và thể hiện thông tin khí tượng thủy văn (thường có loại chi số và tự ghi). KTKTTV được đặt tại các trạm khí tượng thúy văn cố định hoặc cơ động (trên tàu, xe, máy bay...). Theo công dụng, có: khí tài khí tượng, khí tài khí tượng khí quyển, khí tài thủy văn; theo yếu tố khí tượng thủy văn cần đo, có: nhiệt kế, ẩm kế, áp kế, máy đo gió, bức xạ kế, máy đo lưu lượng...


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:16:47 pm

        KHÍ TÀI KHUẾCH ĐẠI ÁNH SÁNG MỜ, khí tài để quan sát, trinh sát, ngắm bắn ban đêm trong điều kiện ánh sáng yếu (ánh trăng, sao). Phần từ quan trọng nhất của KTKĐASM là bộ biến đổi quang - điện, làm nhiệm vụ thu nhận hình ảnh của đối tượng trong ánh sáng tự nhiên ban đêm rất yếu và khuếch đại nó để nhìn được bằng mắt thường. KTKĐASM hiện đại có độ nhạy cao, hệ số khuếch đại lớn, khỏi lượng nhỏ, cự li hoạt động xa, tiêu tốn ít năng lượng. Trong chiến tranh xâm lược VN, quân Mĩ đã sử dụng KTKĐASM có khỏi lượng 2,6-17,2kg, cự li quan sát đêm trăng 400-1.200m. đêm sao 300-1.000m, có thể lắp trên vũ khí (súng, pháo), ô tô, xe tăng, máy bay trinh sát...

        KHÍ TÀI LADE, khí tài lượng tử hoạt động dựa trên hiện tượng khuếch đại lượng tử ánh sáng trong dải sóng quang học. Được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học. Trong QS. KTL dùng trong các hệ thống thông tin liên lạc cáp quang, điều khiển vũ khí. trinh sát, dẫn đường, vũ khí chùm tia...

        KHÍ TÀI LƯỢNG TỬ, khí tài hoạt động dựa trên các hiện tượng lượng tử trong dải sóng quang học và vô tuyến. Gồm: khí tài made (máy khuếch đại lượng từ dải sóng siêu cao tần); khí tài lade; con quay lượng tử; từ kế lượng tử... Trong QS. KTLT được ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống thống tin liên lạc quang học, điều khiển vũ khí, trinh sát, dẫn đường, trong vũ khí chùm tia...

        KHÍ TÀI NGỤY TRANG, khí tài gồm các trang bị kĩ thuật chế thức và ứng dụng, dùng để che giấu hoặc tạo giả các mục tiêu QS và các hoạt động của bộ đội, nhằm làm giảm hiệu quá trình  sát và ngắm bắn của đối phương. Bao gồm các loại: quần áo, mặt nạ ngụy trang, mô hình phương tiện KTQS. dụng cụ phản xạ sóng vô tuyến, các phương tiện ngụy trang ánh sáng, thiết bị tạo màn nhiệt, tạo khói, các tấm hấp thụ. phương tiện sơn phủ... Theo loại khí tài trinh sát cần chống và giải pháp kĩ thuật được áp dụng, KTNT được chia ra: thủy âm, hồng ngoại, ánh sáng, quang - điện từ, vô tuyến điện...

        KHÍ TÀI NHÌN ĐÊM, khí tài dùng để thu nhận hình ảnh nhìn thấy được của đối tượng (mục tiêu) hay địa hình... trong đêm tối hoặc ánh sáng yếu (ánh trăng, sao). Các bộ phận chính: kính vật, kính mắt, bộ cảm biến quang - điện từ và bộ nguồn. KTNĐ có kết cấu kiểu nhìn ngầm (dùng cho xe tăng, xe thiết giáp) hoặc không nhìn ngắm (cho súng bộ binh, pháo...). KTNĐ gồm các loại: khí tài hồng ngoại, khí tài khuếch đại ánh sáng mờ, khí tài ảnh nhiệt... Theo nguyên tắc làm việc có KTNĐ chủ động. KTNĐ thụ động, KTNĐ thụ -  chủ động (kèm đèn chiếu hồng ngoại hay đèn chiếu lade). KTNĐ được ứng dụng để quan sát, trinh sát, ngắm bắn, lái xe ban đêm, điều khiển tự động...

        KHÍ TÀI PHÁT KHÓI, khí tài gồm các phương tiện dùng để tạo màn khói ngụy trang, nghi trang, chỉ thị mục tiêu... Bao gồm: xe thả khói, máy phát khói, bom khói, đạn khói, lựu đạn khói, hộp khói, thùng khói... được nạp các chất tạo khói thể rắn hoặc thể lỏng như phôtpho trắng, antraxen, titanclorua. SO3 trong axit closunphonic, các loại dầu tạo khói S-l, SGF-1, SGF-2... Theo phương pháp tạo khói, KTPK có: tạo khói do lực nổ (bom, đạn khói); phun rải chất tạo khói thế lỏng (xe, máy thả khói); tạo khói bằng nhiệt năng (xe TDA-M. TMS-65, M1059), tạo khói kiểu thiêu đốt (hộp, thùng phát khói). KTPK có trong trang bị của hầu hết các quân - binh chủng  của QĐ các nước. Trong KCCM. Binh chủng hóa học QĐND VN đã sử dụng KTPK để bảo vệ các mục tiêu QS, công nghiệp và giao thông vận tải. Cg khí tài tạo khói.

        KHÍ TÀI PHÒNG DA. khí tài phòng hóa bảo vệ da người khói tác hại của chất độc, bụi phóng xạ, chất cháy và vi trùng gây bệnh. Theo nguyên lí làm việc, có: kiểu cách li (làm từ các loại vật liệu không thấm khí như vải cao su, cao su. màng chất dẻo tổng hợp...), kiểu lọc (làm từ các loại vật liệu thấm khí có tấm hóa chất như chất tiêu độc, chất hấp phụ, chất phản quang, chất chống cháy...). Theo công dụng, có: KTPD cho binh chủng hợp thành và KTPD dùng riêng cho binh chủng chuyên môn. Theo phương thức chế tạo, có các kiểu: chế sẵn, ứng dụng. Thành phần chính của KTPD là: áo choàng, áo, quần, găng tay. ủng, mũ. Trong QĐND VN hiện thường dùng bộ KTPD LI và OZK. KTPD ứng dụng như: áo, tấm ni lông; nón, mũ lá, mũ cứng, giày da, giày vải, ủng đi mưa...

        KHÍ TÀI PHÒNG HÓA, khí tài để phòng tránh vũ khí hóa học, vũ khí phóng xạ, vũ khí sinh học cho người, trang bị, lương thực... Theo quy mô đối tượng, có: khí tài phòng hóa cá nhân. KTPH tập thể (x. phương tiện để phòng tập thể). Theo công dụng, có: khí tài phòng da, khí tài phòng hô hấp... Ngoài ra còn có khí tài để phòng ứng dụng (x. khí tài phòng hóa ứng dụng).


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:18:18 pm

        KHÍ TÀI PHÒNG HÓA CÁ NHẢN, khí tài phòng hóa trang bị cho từng người để phòng tránh chất độc, chất phóng xạ, vi trùng thâm nhập vào cơ thể, bám dính trên quần áo và trang bị. đồng thời hạn chế tác hại của tia bức xạ của vụ nổ hạt nhân . Gồm: mặt nạ phòng độc, áo choàng hoặc bộ quần áo phòng độc, ủng (giày)... Có thể dùng áo mưa, mảnh nilông, nón, mũ, áo tơi, khẩu trang, khăn mặt làm KTPHCN ứng dụng. Có KTPHCN phù hợp với từng binh chủng, quân chủng.

        KHÍ TÀI PHÒNG HÓA ÚNG DỤNG, gọi chung những loại phương tiện, dụng cụ. đồ dùng thông thường hoặc tự tạo có thể sử dụng như khí tài để phòng chống vũ khí hóa học hoặc vũ khí phóng xạ. Gồm: các phương tiện, dụng cụ dân dụng như bình phun thuốc, máy hút bụi, xe phun nước, xe cứu hỏa, xe gạt ủi, nồi hấp, xô, gầu, xẻng, cuốc để tiêu độc và tẩy xạ; tấm nilông, áo mưa, vải bạt. găng tay cao su, mũ, nón lá,... để phòng độc cho da; băng miệng bằng vải màn. khăn mặt, gấp thành nhiều lớp (thấm nước, lót bông ẩm, tẩm hóa chất) trùm kín cả mũi và miệng, mặt nạ phòng độc công nghiệp để phòng độc cho cơ quan hô hấp; các loại hầm, hố kín, hầm chữ A, hầm có bình lọc độc, hố lọc độc (dùng than hoạt tính, đất bột...) và quạt thông gió tự tạo; kính mắt, kính bảo hộ lao động,... để bảo vệ mắt. Trong KCCM. VN đã sử dụng có hiệu quả KTPHƯD.

        KHÍ TÀI QUAN TRẮC PHÁO BINH, gọi chung các loại khí tài vừa có công dụng quan sát - trinh sát, vừa có công dụng đo đạc của pháo binh. Theo nguyên lí hoạt động, KTQTPB có các loại: quang học (ống nhòm, pháo đội kính, phương hướng bàn. máy kinh vĩ...); điện tử, quang lượng tử (máy đo xa lade. rađa...); âm thanh (bộ trinh sát âm thanh...). Nhờ ứng dụng kĩ thuật điện từ tin học. KTQTPB trở thành bộ phận quan trọng trong hệ thống tự động hóa điều khiển và chỉ huy  hỏa lực pháo binh.

        KHÍ TÀI QUANG HỌC. khí tài hoạt động dựa trên tính chất của bức xạ điện từ ở dải quang học. Dùng để quan sát, đo đạc (cự li, góc...), ngắm bắn (pháo, súng...), chụp ảnh... Những chỉ tiêu chính của KTQH: độ phóng đại, trường nhìn (thị giới), độ chính xác, độ phân giải, độ sáng, khả năng nhìn ngầm... KTQH gồm nhiều chủng loại, được dùng phổ biến trong QS (trong pháo binh thường gặp: pháo đội kính, phương hướng bàn, ống nhòm...).

        KHÍ TÀI TẠO KHÓI nh KHÍ TÀI PHÁT KHÓI

        KHÍ TÀI THỦY ÂM. khí tài hoạt động dựa trên sự phát, thu sóng âm lan truyền trong môi trường nước. Được dùng để: tìm kiếm, phát hiện, xác định vị trí và những tham số chuyển động của mục tiêu dưới nước (tàu mặt nước, tàu ngầm, ngư lôi, thủy lôi, đàn cá...), nhận biết và chỉ mục tiêu cho vũ khí; làm phương tiện thông tin liên lạc thủy âm; bảo đảm an toàn hàng hải... KTTÂ gồm: các tổ hợp thủy âm, máy định vị (sôna) và định hướng thủy âm, máy đo độ sáu thủy âm, phao tiêu thủy âm, phương tiện đối phó thủy âm... KTTÂ có thể đặt cố định trên bờ, trên tàu, trên máy bay, nhưng anten thủy âm của chúng đều phải đặt, neo hoặc kéo dưới nước. Thông tin về mục tiêu có thể truyền về các thiết bị thu đặt trên bờ (tàu, khí cụ bay) theo kênh vô tuyến hoặc hữu tuyến. KTTÂ có công suất phát từ vài chục oát tới vài trăm kilôoát, làm việc ở dải tần hạ âm, âm và siêu âm (từ một tới vài chục kHz).

        KHÍ TÀI TIÊU TẨY, khí tài dùng để tiêu độc, tẩy xạ, khử trùng cho đối tượng bị nhiễm (địa hình, trang bị, lương thực, thực phẩm, nguồn nước, công trình QS...) và xử lí vệ sinh cho người. Theo quy mô, có: loại nhỏ, vừa và lớn. Loại nhỏ trang bị phổ cập và cá nhân sử dụng như bao tiêu độc cá nhản (vd: bao IPP-8 dùng để tiêu độc cho da, quân trang bị nhiễm chất độc thần kinh và loét da), hộp tiêu độc vũ khí (vd: hộp IDPS có thể tiêu độc như bao IPP-8 và khử trùng cho trang bị). Loại vừa như bộ tiêu tẩy cho vũ khí - trang bị (vd: ĐKV-1), bình tiêu độc đeo lưng. Loại lớn trang bị cho phân đội phòng hóa như xe tiêu tẩy (vd: AĐM-48-D. ARS-14U), bộ xe tiêu độc (vd: AGV-3M), xe tắm (vd: ĐĐA-66). Ngoài ra còn có KTTT ứng dụng (khi không có hoặc không đủ KTTT chuyên dụng) như xe phun nước, xe cứu hỏa, bình phun thuốc trừ sâu. thiết bị lọc nước, xe ủi, xô, thùng, xẻng...

        KHÍ TÀI TRINH SÁT ÂM THANH, khí tài hoạt động dựa trên nguyên tắc thu sóng âm để phát hiện, xác định vị trí và các tham số mục tiêu phát ra âm thanh. Gồm: các máy thu âm, máy phân tích âm thanh và các thiết bị khác. Được sử dụng trong pháo binh đê phát hiện vị trí tiếng nổ đầu nòng và xác định số lượng, cỡ pháo (cối, giàn phóng pháo phản lực...) của đối phương; phục vụ chỉ huy bắn (xác định độ lệch điểm nổ so với mục tiêu, tọa độ điểm nổ, hiệu chỉnh bắn...) cho các trận địa pháo của ta. Trong hải quân, dùng để phát hiện vị trí gặp nạn của khí cụ bay và tàu thuyền trên đại dương (biển) theo kênh truyền âm dưới nước. Trong phòng không – không quân dùng để phát hiện khí cụ bay, định hướng cho đèn pha chiếu vào mục tiêu bảo đảm bắn cho pháo phòng không và tác chiến của máy bay tiêm kích; từ những năm 50 tk 20 đã được thay thế bằng các rađa.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:19:42 pm

        KHÍ TÀI TRINH SÁT HÓA HỌC, khí tài sử dụng nguyên lí hóa học, điện hóa để phát hiện chất độc, xác định mức độ nhiễm độc hoặc tiêu độc cho người, môi trường, vũ khí, quân trang, địa hình... Chú yếu gồm; hộp dò độc, bộ lấy mẫu. bột và giấy chỉ thị, máy báo độc tự động hoặc bán tự động, máy phân tích chất độc tự động hoặc bán tự động, hòm hóa nghiệm dã chiến, xe hóa nghiệm... KTTSHH có thể do cá nhân sử dụng (trinh sát khu vực nhỏ) hoặc lắp đặt trên máy bay, xe thiết giáp, ô tô... (trinh sát khu vực lớn hoặc có mức độ nhiễm độc cao). Hiện nay đang phát triển mạnh các loại KTTSHH dùng quang phổ hồng ngoại, lade, có thể tự động phát hiện, báo động chất độc từ xa.

        KHÍ TÀI TRINH SÁT HÓA SINH, khí tài dùng để phát hiện các tác nhân hóa sinh (tôcxin) và mức độ gây hại của chúng đối với người, vũ khí, trang bị, môi trường. Được sử dụng phổ biến nhất là khối phổ kế nhiệt độ cao hoạt động theo phương pháp nhiệt phân; gồm các bộ phận: lấy mẫu, xử lí thô, nhiệt phân, ion hóa, khối phân tích phát hiện ion, xử lí tín hiệu và màn hình dữ liệu. Tác nhân hóa sinh được nhiệt phân trong một thiết bị chuyên dùng, kết quả nhiệt phân đưa ra các tín hiệu đặc trưng. So sánh các tín hiệu này với tín hiệu chuẩn, có thể dễ dàng phát hiện các tác nhân hóa sinh đã sử dụng. Có các khối phổ kế dã ngoại xách tay hoặc đặt trên xe trinh sát phóng xạ và hóa học.

        KHÍ TÀI TRINH SÁT PHÓNG XẠ, khí tài để phát hiện, xác định và thông báo nhanh loại phóng xạ, liều lượng bức xạ, độ nhiễm xạ (có thể cả mức độ thiệt hại) do đạn dược hạt nhân, chất phóng xạ, sự cố hạt nhân gây ra. Gồm các loại: trang bị cho cá nhân (vd: máy đo liều chiếu xạ cá nhân, liều lượng kế cầm tay); trang bị cho phân đội trinh sát hóa học (vd: các liều lượng kế đặt trên phương tiện cơ động như xe, máy bay...); trang bị cho các trạm độc lập (các thiết bị đo phóng xạ tự động hoặc bán tự động). KTTSPX chủ yếu trang bị cho QĐ. nhưng cũng được dùng cho mục đích dân sự, vd: trong sự cố nhà máy điện nguyên tử, trong các ngành kinh tế, y tế, nghiên cứu khoa học có liên quan đến chất phóng xạ. Các loại KTTSPX thường dùng: liều lượng kế cá nhân MĐ-1, máy đo phóng xạ ĐP-5A, ĐP-5V, ĐP-63A. Xe trinh sát hóa học - phóng xạ GAZ-69RKH và UAZ-469 RKH. xe hóa nghiệm AL-4...

        KHÍ TÀI TRINH SÁT SINH HỌC. khí tài dùng để phát hiện các tác nhân gây bệnh cho người và động, thực vật khi đối phương sử dụng vũ khí sinh học (vi trùng). Hiện có các loại KTTSSH : khối phổ kế, gồm các bộ phận: lấy mẫu, xử lí thô, ion hóa phát hiện ion. xử lí tín hiệu và màn hình dữ liệu, hoạt động liên tục 24-72 giờ, nặng 18kg; đêtectơ sinh hóa, gồm các bộ phận: lấy và xử lí mẫu. cảm biến và xử lí tín hiệu... có thể phân biệt được loại tác nhân sinh học (biological agents) và nồng độ của chúng, phát tín hiệu báo động bằng còi hoặc đèn màu; rađa lade, sử dụng phát huỳnh quang cảm ứng lade để phát hiện các đám mây sinh học. Ngoài ra còn có thể sử dụng các dụng cụ đếm hạt (kính hiển vi) hoặc đêtectơ prôtêin.

        KHÍ TÀI XĂNG DẦU, khí tài để dùng trong tiếp nhận, vận chuyển, cấp phát, tra nạp, chứa đựng, bảo quản, xác định số lượng và chất lượng xăng dầu. Được phân chia thành các nhóm: khí tài chứa đựng (bể chứa xăng dầu, phuy, can. xô...), khí tài vận chuyển (xe ô tô xitec, tàu và xà lan chờ dầu, đường ống, máy bơm...), khí tài tra nạp (xe tra nạp, máy bơm, ống dẫn, cột tra, súng tra, can, xô, phễu...), khí tài xác định chất lượng xăng dầu (các thiết bị, dụng cụ phân tích chất lượng xăng dầu, dụng cụ lấy mẫu xăng dầu), khí tài đo lường (đồng hồ lưu lượng, thước dây...) và khí tài bảo đảm an toàn (xe cứu hỏa. các dụng cụ cứu hỏa, thiết bị và dụng cụ phòng chống sét...).

        KHÍ TƯỢNG HỌC (khí quyển học), ngành khoa học nghiên cứu thành phần cấu tạo, tính chất vật lí, các quá trình tự nhiên (chế độ nhiệt, chu trình nước, chuyển động của không khí, các hiện tượng điện, quang, âm..) diễn ra trong khi quyển của Trái Đất, tác động của chúng đối với mặt đất, đại dương và đời sống xã hội. Bao gồm các chuyên ngành: KTH cơ bản (bức xạ học, vật lí khí quyển, hóa học khí quyển, khí tượng động lực học, quang học khí quyển, điện học khí quyển, khí tượng cao không, khí hậu học...) và KTH ứng dụng (công nghiệp, hàng không, hàng hải và khí tượng học quân sự...).

        KHÍ TƯỢNG QUÂN SỰ, bộ môn khí tượng học nghiên cứu và dự báo ảnh hưởng của khí tượng đối với các hoạt động QS và việc sử dụng vũ khí, trang bị KTQS; đặc điểm khí tượng, khí hậu của các chiến trường, khu vực tác chiến, căn cứ QS; đề xuất các biện pháp, phương tiện bảo đảm khí tượng cho các hoạt động tác chiến. Gồm các chuyên ngành: khí tượng không quân, khí tượng pháo binh, khí tượng hải quân, khí tượng phòng hóa.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:21:32 pm

        KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN HỌC, bộ môn khoa học tổng hợp các số liệu về lớp thủy quyển và khí quyển của Trái Đát. Trong QS, để đảm bảo tác chiến phải nghiên cứu mọi tình huống khí tượng thủy văn; việc bảo đảm khí tượng thủy văn do lực lượng chuyên trách đảm nhiệm.

        KHIÊN, trang bị phòng hộ cầm tay dùng để che đỡ khỏi bị tên, gươm, giáo,... sát thương. K có dạng hình tròn, chữ nhật, trái xoan... và khum lòng chảo hoặc lòng máng. Thời cổ, K thường làm bằng tre (cành cây, dây) đan, da thú cứng hoặc kim loại mỏng, trang bị cho bộ binh và kị binh. Hiện nay K được trang bị cho cảnh sát đặc nhiệm, làm bằng kim loại, chất dẻo hoặc vật liệu tổng hợp; có loại được gắn thiết bị phóng điện cao áp (hàng nghìn von) để có thêm tác dụng đàn áp.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66694106_452614892135063_2371999185042931712_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnfrLeSD-eKv-D0UmAr8AdAlyJvuBxJkerKndoUI3C1ST8OoDvQ-WOVI66xq9bZZ9I&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=364c2cca31fab30215cc32787db6a76c&oe=5DB473FB)

        KHIỂN TRÁCH, hình thức xử phạt thấp nhất đối với người vi phạm kỉ luật quân đội và các tổ chức, cơ quan, đoàn thể trong QĐ. Thẩm quyền KT thực hiện theo quy định của điều lệnh QĐ. pháp luật nhà nước và điều lệ Đảng, đoàn thể.

        KHIÊU KHÍCH VŨ TRANG, hành động bạo lực vũ trang với quy mô hạn chế nhằm kích động đối phương có hành động chống trả để tạo cớ thực hiện những mục đích nhất định. KKVT thường được tiến hành dưới nhiều hình thức (đột nhập, đột kích thị uy, tiến công cướp đoạt...) và được phối hợp với hoạt động tuyên truyền, ngoại giao để tranh thủ dư luận quốc tế. QĐ Pháp gây hấn ở Hà Nội, Hải Phòng (12.1946) và sự kiện vịnh Bắc Bộ (8.1964) do Mĩ gây ra là những hành động KKVT của CNĐQ chống nhân dân VN.

        KHINH BINH, bộ binh được trang bị gọn, nhẹ, tiện tác chiến cơ động. Thường tổ chức thành đơn vị cấp phân đội. KB có trong QĐ nhiều nước, ở VN, trong QĐ Khối liên hiệp Pháp và Vệ binh quốc gia của chính quyền Bảo Đại (1946- 54), tổ chức tới cấp tiểu đoàn; trong QĐ Sài Gòn, tổ chức thành các đại đội (được coi là đơn vị tác chiến cơ bản của tiểu đoàn bộ binh với các tên gọi: đại đội KB bộ binh, đại đội KB cơ giới, đại đội KB nhảy dù); trong QĐND VN, tổ chức tới cấp đại đội trong KCCP.

        KHO QUÂN NHU, cơ sở tiếp tế quân nhu có chức năng tiếp nhận, cất giữ, bảo quân, quản lí và cấp phát các vật phẩm quân nhu phục vụ cho hoạt động bảo đảm quân nhu của LLVT. Theo cấp quản lí, có KQN: cấp chiến lược, cấp chiến dịch, cấp chiến thuật; KQN: quân khu, quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn... KQN được xây dựng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, khối lượng vật phẩm quân nhu cần bao quản, nhằm duy trì công tác bảo đảm quân nhu kịp thời trong mọi tình huống.

        KHO QUÂN Y. cơ sở tiếp tế quân y có chức năng tiếp nhận, dự trữ, bảo quản, đóng gói và cấp phát vật tư quân y. Kho cũng có thể được giao thêm nhiệm vụ vận chuyển vật tư quân y cấp phát tới đơn vị; tổ chức thực hiện việc kiểm nghiệm chất lượng thuốc, bảo dưỡng và sửa chữa trang bị quân y (tại kho hoặc lưu động đến đơn vị); thu chiến lợi phẩm quân y. Trong KCCM, do khối lượng dự trữ chiến lược vật tư quân y rất lớn, KQY thường được tổ chức thành các kho chuyên trách (kho vật tư, kho thuốc, hóa chất, bông băng và kho dụng cụ, máy - trang bị) và kho chuyên nhiệm (kho tiếp nhận và dự trữ, kho cấp phát, kho trung chuyển). KQY chiến dịch, KQY các tuyến quân y quân khu, quân chủng, binh chủng và tương dương có thể tổ chức thành phân đội độc lập (nếu khối lượng vật tư quân y quản lí lớn), hoặc là một bộ phận trong tổ chức kho hậu cần chung (nếu khối lượng ít). KQY chiến dịch thường là kho dã chiến, có tổ chức tổ kho lưu động với các phương tiện vận tải và vật tư quân y luôn sẵn sàng đưa lên tuyến trước cấp phát khi có lệnh. Chức năng KQY phục vụ nội bộ tại các bệnh viện, đội điều trị, cơ quan, nhà trường,... do các khoa, ban dược đảm nhiệm. Các tổ chức dược trong đại đội quân y trung đoàn, tiểu đoàn quân y sư đoàn là KQY phục vụ cho các đơn vị trong trung đoàn, sư đoàn.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:22:21 pm

        KHO XĂNG DẨU CỐ ĐỊNH, kho xăng dầu quân sự được tổ chức cố định tại một địa điểm, làm nhiệm vụ tiếp nhận, dự trữ, cấp phát xăng dầu, khí tài xăng dầu, bảo đảm có tính chất tương đối thường xuyên, ổn định cho các đơn vị trên những hướng, khu vực và địa bàn nhất định. Thường sử dụng các bể chứa xăng dầu kiểu trụ đứng, dung tích lớn (tới hàng nghìn mét khối), hoặc kiểu trụ nằm dung tích 25m3, được chôn chìm hoặc đặt trong nhà có mái che. Các trạm cấp phát, tiếp nhận xăng dầu, hệ thống đường ống công nghệ, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy được xây dựng chắc chắn, cố định, đảm bảo độ an toàn cao khi khai thác, sử dụng.

        KHO XĂNG DẨU DÃ CHIẾN, kho xăng dầu quân sự được tổ chức lâm thời làm nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản, cấp phát xăng dầu, khí tài xăng dầu để đảm bảo cho các đơn vị hoàn thành những nhiệm vụ có tính chất đột xuất, ngắn hạn. trên những hướng, khu vực và địa bàn không có các kho xăng dầu cố định, hoặc có nhưng công tác bảo đảm gặp khó khăn. Thường sử dụng các loại khí tài gọn, nhẹ, dễ tháo lấp, có thể vận chuyển bằng phương tiện vận tải ô tô, dễ cơ động, di chuyển vị trí khi cần thiết. Các bể chứa xăng dầu thường là bể kim loại, kiểu trụ nằm, dung tích nhỏ (4m3, 10m3, 25m3) hoặc bể cao su loại 4m3, 6m3, 25m3. Các trạm cấp phát, tiếp nhận xăng dầu, hệ thống đường ống công nghệ thường sử dụng loại máy bơm nhỏ (hoặc xe bơm) đấu nối với các đường ống dã chiến bằng các phụ kiện gioăng, ngàm... Trong tác chiến, các KXDDC thường được triển khai để đảm bảo xăng dầu cho một hướng chiến dịch hoặc một số trận đánh nhất định.

        KHO XĂNG DẤU QUÂN SỰ, tổ chức chuyên môn của ngành xãng dầu QĐ. có chức năng tiếp nhận, dự trữ, bảo quản, cấp phát xăng dầu và khí tài xăng dầu để đảm bảo cho các đơn vị theo những kế hoạch hoặc tình huống được dự kiến từ trước. Những công trình, trang bị chủ yếu của KXDQS gồm: các nhà kho, bãi bảo quản, bể chứa xăng dầu, các trạm máy bơm, trạm cấp phát, tiếp nhận xăng dầu; hệ thống đường ống công nghệ, trang thiết bị phòng cháy chữa cháy, phòng chống sét, chống tĩnh điện... Tùy theo nhiệm vụ, khả năng cơ động, tính chất các công trình của kho, có: kho xăng dầu cố định và kho xăng dầu dã chiến. Theo quy mô, cấp quản lí, KXDQS chia thành: cấp chiến lược, cấp chiến dịch và cấp chiến thuật.

        KHOA HỌC DU HÀNH VŨ TRỤ, các ngành khoa học và kĩ thuật nghiên cứu chinh phục không gian vũ trụ và những đối tượng ngoài Trái Đất bằng cách dùng các loại khí cụ bay vũ trụ điều khiển từ Trái Đất hoặc có người lái nhằm phục vụ nhu cầu của con người. KHDHVT gồm: lí thuyết các chuyến bay vũ trụ (động lực học bay, lí thuyết điều khiển và dẫn đường, tính toán quỹ đạo...); khoa học - kĩ thuật (thiết kế, chế tạo tên lửa vũ trụ, khí cụ vũ trụ, thiết bị phóng và đổ bộ, máy móc khoa học, phương tiện thông tin liên lạc...); y - sinh học (đảm bảo cuộc sống con người trong điều kiện quá tải, không trọng lượng, bức xạ...); luật quốc tế (về khai thác không gian vũ trụ). KHDHVT phục vụ cho việc nghiên cứu khoảng không vũ trụ và các thiên thể trong hệ Mặt Trời, các đối tượng trong và ngoài Thiên Hà; từ vũ trụ nghiên cứu Trái Đất, bầu khí quyển và môi trường thiên nhiên của nó; sử dụng khí cụ bay vũ trụ để liên lạc, truyền hình, điều ưa khí tượng, dẫn đường, trắc địa. tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên... KHDHVT thúc đẩy tiến bộ khoa học, công nghệ và sản xuất, phục vụ kinh tế quốc dân. KHDHVT cũng được dùng vào mục đích QS (vũ khí tiến công và phòng thủ đặt trong vũ trụ. vệ tinh QS, phương tiện trinh sát, điều khiển từ vũ trụ...). Cơ sở lí thuyết dầu tiên của KHDHVT được K. E. Xiôncôpxki (Nga) đề xuất cuối tk 19 đầu tk 20. Mở đầu cho sự phát triển thực sự của KHDHVT là việc LX phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất (4.10.1957). Người đầu tiên trên thế giới bay vào vũ trụ (12.4.1961) là Iu. A. Gagarin (Nga). Những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng (24.7.1969) là N. Amxtrong, E. Anđrin và M. Côlin (Mĩ). 7.1975 chuyến bay đồng thời đầu tiên của các tàu vũ trụ Apôlô (Mĩ) và Liên Hợp (LX) được thực hiện. Từ 1981 Mĩ và LX đã phóng các tàu con thoi (Columbia, Chalengiơ, Atlantic, Buran...). Trong khuôn khổ chương trình Intơeôxmôt. Intersat từ 1978-84 đã thực hiện những chuyến bay vũ trụ phối hợp của các nhà du hành vũ trụ LX, Tiệp Khắc, Ba Lan. Hunggari, Bungari. CHDC Đức, Cuba, Mông cổ, Xiri, VN, Ấn Độ... (nhà du hành vũ trụ VN đầu tiên là Phạm Tuân) trên các tàu vũ trụ và trạm vũ trụ Chào Mừng của LX. 15.10.2003 TQ đã phóng thành công tàu vũ trụ có người lái Thần Châu 5. Tới nay con người đã tiến hành nghiên cứu Mặt Trăng, Sao Hỏa, Sao Kim. Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương, Sao Diêm Vương,... bằng khí cụ vũ trụ tự động.

        KHOA HỌC KĨ THUẬT QUÂN SỰ, lĩnh vực khoa học kĩ thuật nghiên cứu các phương tiện kĩ thuật quân sự và các giải pháp KTQS dùng để chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. KHKTQS bao gồm: lí luận về tính toán, thiết kế, chế tạo phương tiện KTQS mới hoặc cải biên, cải tiến trang bị KTQS đã có; lí luận về khai thác và bảo đảm kĩ thuật với phương tiện KTQS đã có trong biên chế... Lí luận về tính toán, thiết kế, chế tạo, trang bị kĩ thuật, nghiên cứu để tạo ra những mẫu phương tiện KTQS mới, đáp ứng yêu cầu chiến - kĩ thuật đề ra hoặc cải biên, cải tiến phương tiện KTQS hiện có để đáp ứng yêu cầu chiến - kĩ thuật mới. Thông thường những thành tựu khoa học, công nghệ mới nhất được nghiên cứu vận dụng vào QS để tạo ra các phương tiện KTQS có ưu thế trong đấu tranh vũ trang. Lí luận về khai thác và bảo đảm kĩ thuật nghiên cứu khai thác có hiệu quả phương tiện KTQS, duy trì tính năng chiến - kĩ thuật, độ tin cậy, tuổi thọ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của vũ khí, phương tiện KTQS. Một số yếu tố của KHKTQS xuất hiện từ khi có đấu tranh vũ trang trong lịch sử loài người. Sự phát triển của KHKTQS gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ nói chung, các cuộc cách mạng kĩ thuật quân sự và khoa học QS nói riêng.

        KHOA HỌC KINH TẾ QUÂN SỰ, khoa học nghiên cứu lí luận chung về kinh tế quân sự, mối quan hệ giữa QS và kinh tế, quy luật hoạt động của kinh tế QS trong thời bình, các vấn đề kinh tế nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, đánh giá tiềm lực kinh tế QS của các nước và các liên minh đối địch, các vấn để chuẩn bị động viên và chuyển nền kinh tế từ trạng thái thời bình sang thời chiến, bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế trong chiến tranh, xây dựng các khu vực kinh tế QS..„


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:25:59 pm

        KHOA HỌC QUÂN SỰ. khoa học về chiến tranh, nghiên cứu tính chất, các quy luật của chiến tranh, việc chuẩn bị LLVT, xây dựng quốc phòng, chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh chủ yếu là đấu tranh vũ trang và các hoạt động QS khác của LLVT và nhân dân trong thời chiến cũng như thời bình. Nội dung và phương hướng phát triển của KHQS phụ thuộc vào đường lối, chính sách, học thuyết QS, đồng thời những thành quả của KHQS lại được sử dụng khi xây dựng đường lối, chính sách, học thuyết QS. KHQS có quan hệ chặt chẽ và vận dụng rộng rãi những thành tựu của nhiều khoa học. Những quan điểm lí luận KHQS đầu tiên được hình thành cùng với sự ra đời của chiến tranh. Những công trình lí luận KHQS đầu tiên xuất hiện vào cuối thời chiếm hữu nô lộ. “Binh pháp Tôn Từ là binh thư cổ nhất thế giới. Ở thời cổ Hi Lạp, những vấn đề cơ bản về lí luận KHQS được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng lịch sử QS của Hôrôđôtôt và Xenôphôn (khoảng 425 và 354tcn). Một giai đoạn quan trọng trong việc phát triển tri thức KHQS là việc tổng kết kinh nghiệm chiến tranh trong thời cổ La Mã. Trong thời đại phong kiến ở châu Âu cho đến tk 16 các cuộc chiến tranh thường hạn chế về mục đích và quy mô, lí luận KHQS chưa có phát triển đáng kể. Từ tk 18. khi CNTB đã hình thành ở hàng loạt nước Tây Âu, cũng hình thành KHQS tư sản. Xuất hiện nhiều tác phẩm lí luận KHQS như: “Lịch sử chiến tranh 100 năm” (H. Lôiđơ). “Hai hệ thống  QS mới” (Buylôp); ở tk 19 xuất hiện những nhà lí luận QS tư sản, nổi bật là Xuyôrôp, Cutudôp, Napôlêông I, Claodơvit... KHQS vô sản (XHCN) bắt đầu hình thành vào nửa sau tk 19. Những người sáng lập CNCS khoa học, Các Mác và F. Ăngghen, là những nhà tư tưởng đầu tiên đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự ra đời và phát triển của ngành KHQS. Di sản lí luận của hai ông là cơ sở vững chắc cho việc nhận thức sâu sắc ban chất của chiến tranh và QĐ, là cơ sở của sự xuất hiện và phái triển của nền KHQS XHCN. Đi đầu trong việc hình thành và phát triển nền KHQS XHCN là KHQS Xô viết mà người đặt nền móng cho nó là V. I. Lénin. KHQS VN nghiên cứu quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị LLVT và đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, khởi nghĩa vũ trang, chủ yếu là đấu tranh vũ trang. KHQS VN trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Những cơ sở của lí luận KHQS đã từng bước hình thành qua các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc VN trong mấy ngàn năm lịch sử, từ tổng kết kinh nghiệm các cuộc khới nghĩa và chiến tranh ở VN và tiếp thu những tinh hoa KHQS của nhân loại. Những tri thức về chiến tranh và khởi nghĩa ở VN được đúc kết trong các binh thư cổ, tiêu biểu là “Binh thư yếu lược Ngoài ra còn được phản ánh trong một số tác phẩm khác như “Bình Ngô đại cáo ”, “Quân trung từ mệnh tập ”, “Hổ trướng khu cơ". Dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN. KHQS VN được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở truyền thống đánh giặc của dân tộc, học thuyết Mác - Lênin. biểu hiện tập trung ở tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - người đạt nền móng cho nền KHQS VN hiện đại và đường lối QS của ĐCS VN qua các giai đoạn lịch sử. Đặc điểm của KHQS VN là nền KHQS phục vụ cho mục đích giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, nền KHQS của một nước tương đối nhỏ đã liên tiếp đánh thắng những nước xâm lược lớn mạnh; KHQS toàn dân đánh giặc có LLVT ba thứ quân làm nòng cốt. thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh; vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân và đấu tranh vũ trang phù hợp với đặc điểm VN; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh CM, nổi dậy với tiến công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, phát huy cao độ tinh thần CM tiến công, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, tiến hành chiến tranh trong thế xen kẽ cài răng lược, đánh địch ở trước mặt và ở cả sau lưng ! chúng, kết hợp thế với lực tạo thành sức mạnh lớn để chiến thắng. Những bộ phận quan trọng của KHQS VN là: lí luận chung KHQS; lí luận nghệ thuật QS; lí luận tổ chức, xây dựng LLVT; lí luận giáo dục và huấn luyện QS; lí luận kinh tế QS và hậu cần LLVT; lí luận chỉ huy LLVT và các chuyên ngành ; trong các khoa học có liên quan, phục vụ cho QS như lí luận trang bị, địa lí QS, sư phạm QS, tâm lí học QS, một số chuyên ngành lịch sử QS... Lí luận chung KHQS, nghiên cứu những nguyên lí cơ bản của KHQS, làm cơ sở cho việc phát triển ị đồng bộ nội dung của KHQS và liên kết các nội dung đó thành một thể thống nhất; nghiên cứu hệ thống những quy luật đấu tranh vũ trang trong mối quan hệ với các quy luật chung của chiến tranh, đối tượng, cơ cấu, phạm vi và phương pháp của KHQS, vai trò và vị trí của KHQS trong hệ thống các tri thức chung vé chiến tranh và QĐ. Lí luận nghệ thuật QS là bộ phận quan trọng nhất của KHQS, nghiên cứu quy luật và tính chất, đăc điểm của chiến tranh, xác định những nguyên tác và phương thức tiến hành đấu tranh vũ trang, những vấn đề lí luận cơ bàn về lập kế hoạch, chuẩn bị, thực hành và bảo đảm mọi mật cho hoạt động tác chiến, sử dụng LLVT phối hợp với các lực lượng toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc thời bình và thời chiến. Lí luận nghệ thuật QS bao gồm lí luận chiến lược QS, lí luận nghệ thuật chiến dịch và lí luận chiến thuật. Lí luận tổ chức, xây dựng LLVT, nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ, tính chất, thành phần, cơ cấu tổ chức và trang bị cho LLVT, việc cân đối giữa ba thứ quân, các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị, duy trì LLVT luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu: nghiên cứu hệ thống tổ chức, huấn luyện quân dự bị, chế độ phục vụ trong LLVT và các vấn đề khác. Lí luận giáo dục và huấn luyện QS. nghiên cứu các hình thức và phương pháp giáo dục và huấn luyện chiến sĩ, đào tạo (bổ túc) sĩ quan có phẩm chất chính trị tinh thần cao, kĩ năng QS và bản lĩnh chiến đấu vững vàng, hợp luyện các phân đội, binh đội. binh đoàn, bảo đảm cho bộ đội luôn sẵn sàng chiến đấu và có khả năng chiến đấu cao. Lí luận kinh tế QS và hậu cần LLVT, nghiên cứu những yêu cầu đối với kinh tế QS xuất phát từ tính chất, đặc điểm của chiến tranh; các mối quan hệ giữa kinh tế QS, hậu cần đối với nền kinh tế đất nước, những biện pháp chuyển nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến; tính chất, quy luật, phương thức, hình thức bảo đảm hậu cần cho LLVT và toàn dân đánh giặc trong thời chiến, bảo đảm cho LLVT hoạt động trong thời bình. Lí luận chỉ huy LLVT. nghiên cứu tính quy luật, nguyên tắc và phương pháp công tác của người chỉ huy và cơ quan về chỉ huy LLVT trong chuẩn bị và thực hành tác chiến, trong huấn luyện QS và các hoạt động khác.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:27:28 pm

        KHOA MỤC HUẤN LUYỆN, môn học được phân loại theo tính chất, nội dung trong chương trình huấn luyện quân sự. gồm các khoa mục: chiến thuật, kĩ thuật, điều lệnh, xạ kích, ném lựu đạn, đâm lê... KMHL được chia thành đề mục huấn luyện (hoặc vấn đề huấn luyện) để tổ chức và thực hành huấn luyện theo trình tự.

        KHÓA MÃ, tổ hợp kí hiệu, tín hiệu (chữ số, chữ cái...) được sắp xếp theo quy ước và thống nhất để mã hóa hoặc giải mã tin tức trong quá trình bảo đảm thống tin liên lạc. Để giữ bí mật tin tức. KM thường được thay đổi theo thời gian hoặc yêu cầu nghiệp vụ.

        KHOAN THƯ SỨC DÂN, kế sách giữ nước của Hưng Đạo Vương Trấn Quốc Tuấn trước khi mất (1300) khuyên vua Trần Anh Tông. Nội dung chính: dân là gốc, sức mạnh của đất nước nằm ở sức mạnh nhân dân, phải nới rộng sức dân, không để dân căng thẳng, mệt mỏi, kiệt quệ, bất bình, phải chăm lo lợi ích của dân, bổi dưỡng nâng cao sức dân, dựa vào dân để giữ nước. KTSD là kế rễ sâu, gốc vững; một thượng sách để giữ nước.

        KHOẢNG CÁCH AN TOÀN, khoảng cách nhỏ nhất từ tàm nổ đến các mục tiêu gần nhất đảm bảo không bị sát thương. KCAT phụ thuộc vào bán kính sát thương của đạn bom; độ sai lệch của đạn. bom; tính chất bảo vệ của địa hình và những yếu tố khác. KCAT được vận dụng trong bố trí đội hình chiến đấu , huấn luyện cũng như bố trí nhà máy sản xuất, kho tàng, nơi tiếp nhận và cấp phát đạn dược.

        KHOẢNG CAO ĐỂU ĐƯỜNG BÌNH ĐỘ, khoảng cách giữa hai mặt cắt nằm ngang chạy qua hai đường bình độ kề nhau. Để lựa chọn KCĐĐBĐ thích hợp phải căn cứ vào tỉ lệ bản đồ, độ dốc của địa hình và nhu cầu sử dụng bản đồ.

        KHOẢNG SÁNG GẤM XE. khoảng cách từ mặt đất (mặt tựa) bằng phẳng đến điểm thấp nhất của kết cấu gầm xe (không kể các bộ phận chuyển động như xích, bánh xe); một trong các tham số đánh giá khả năng thông qua của xe. Một số kiểu xe chiến đấu (xe tăng T-74 của Nhật Bản, Strv-103 của Thụy Điển...) có KSGX thay đổi được nhờ sử dụng hệ thống treo điều chỉnh.

        KHÓI ĐỘC. hệ xon khí chứa chất độc quân sự. được tạo ra theo phương pháp nhiệt thăng hoa hỗn hợp chất tạo khói. Trong QS, thường sử dụng KĐ chứa chất độc kích thích (CN, CN-DM, CS) hoặc chất độc tâm thần (BZ...) làm mất sức chiến đấu, rối loạn đội hình, xua đuổi đối phương ra khỏi các công sự kín khi không có khí tài đề phòng. KĐ còn được dùng để trấn áp, dẹp bạo loạn, kiểm tra độ kín mặt nạ phòng độc và huấn luyện phòng hóa. KĐ cloaxetophenon được quân Nhật sử dụng trong chiến tranh chống TQ (1937-45). Khói CS được QĐ Mĩ sử dụng với quy mô lớn trong chiến tranh VN (1965-73).

        KHÓI MÀU. hệ xon khí được tạo từ hỗn hợp các chất tạo khói và chất tạo màu. Trong QS, thường dùng để phát tín hiệu chỉ huy hiệp đồng, chí thị mục tiêu vào ban ngày. Có các loại KM đỏ, vàng, da cam. xanh lục và tím: đôi khi sử dụng khói đen. Hiệu quả sử dụng KM phụ thuộc vào hình dáng và kích thước đám khói, độ sáng và màu nền trời, phương tiện tạo khói, vị trí người quan sát, tốc độ gió và các điều kiện thời tiết khác.

        KHÓI MÙ. hệ xon khí tạo bời chất tạo khói, dùng để hạn chế khả năng quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc bằng các khí tài quang học, quang - điện tử của đối phương; gây trở ngại cho việc ngắm bắn từ các trận địa hỏa lực. KM được tạo ngay tại trận địa đối phương như: đài quan sát, trận địa pháo binh, từng đoạn chiến hào hoặc từng hỏa điểm, bằng các phương tiện tạo khói của không quân và pháo binh (bom, rôckét, đạn pháo, cối nhồi phôtpho trắng...). Bộ đội hóa học QĐND VN được trang bị phương tiện tạo KM tầm xa H21 (tầm phóng 6km).

        KHÓI TRUNG TÍNH, hệ xon khí không chứa chất độc, được tạo bởi các chất tạo khói như phôtpho trắng. amoni clorua, titan clorua, hexacloetan, antraxen và một số sản phẩm dầu mỏ; thường có màu trắng đục. Trong QS, KTT được dùng để ngụy trang, nghi trang, “làm mù” chống lại các loại vũ khí có điều khiển, gây trở ngại cho việc quan sát từ trên không và dưới mặt đất, giảm hiệu quả sát thương do bức xạ quang của các vụ nổ hạt nhân, xác định hướng gió.

        KHÔI PHỤC CHỈ HUY. thực hiện các biện pháp nhằm làm cho người chỉ huy, cơ quan chỉ huy, các phương tiện của SCH bị địch đánh phá, không hoạt động được, trở lại hoạt động bảo đảm chỉ huy bộ đội có hiệu quả. Tùy thuộc vào mức độ thiệt hại và điều kiện cụ thể để KPCH có thể tiến hành các biện pháp sau: khôi phục thông tin liên lạc, bổ sung người và phương tiện chỉ huy, chuyển chỉ huy đến SCH không bị đánh phá hoặc sang SCH dự bị hoặc tạm thời chuyển chỉ huy đến SCH của cấp dưới.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:29:11 pm

        KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP, tổ chức liên kết giữa nước Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc Pháp (Đông Dương, Tôgô, Trung Cônggô, Trung Phi...) từ sau CTTG-II đến cuối những năm 50 tk 20; một cơ cấu của nền cộng hòa Pháp, do tổng thống Pháp đứng đầu. Sự hình thành KLHP, về thực chất nhằm duy trì sự thống trị thực dân của Pháp đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ra đời trên cơ sở tuyên bố 24.3.1945 tại Bradayin (Cộng hòa Cônggô) của tướng Đờ Gôn, chủ tịch chính phủ lâm thời nước Cộng hòa Pháp “Về quy chế mới cho các thuộc địa cũ của Pháp”. Theo quy chế này, các nước trong KLHP được hưởng quyền tự trị (có nghị viện, chính phủ, tài chính,... riêng), quyền đối ngoại do Pháp đại diện, đứng đầu là một tổng đại diện quốc tịch Pháp, do chính phủ Pháp bổ nhiệm gọi là cao ủy (thay cho tên gọi toàn quyền trước đây). KLHP phản ánh tham vọng thực dân của giới cầm quyền Pháp, đi ngược lại phong trào giải phóng dân tộc sau CTTG- II. KLHP tan vỡ vào cuối những năm 50 (tk 20) khi các nước thành viên lần lượt đấu tranh giành độc lập dân tộc, hoặc tuyên bỏ rút khỏi KLHP.

        KHỐI LƯỢNG CHIẾN ĐẤU của xe tăng thiết giáp, khối lượng của xe tăng, xe thiết giáp khi có đủ kíp xe và cơ số trang bị vật chất (cơ số đạn, nhiên liệu, dầu mỡ, nước làm mát và khí tài theo xe) theo tiêu chuẩn quy định, thường được tính bằng tấn. Là đặc trưng đầy đủ nhất cho các tính chất của xe chiến đấu vì trang bị hỏa lực, khả năng bảo vệ, khả năng cơ động và khả năng thông qua đều liên quan trực tiếp đến KLCĐ của xe. KLCĐ cũng quyết định khả năng vận chuyển xe bằng các phương tiện vận tải khác nhau, khả năng thông qua của chúng khi cơ động trên các loại đường, qua cầu, phà hoặc chạy trên các loại địa hình. Trước đây, KLCĐ còn được sử dụng làm tiêu chí chủ yếu để phân loại xe tăng, thiết giáp.

        KHỐI QUÂN SỰ, tổ chức QS của một liên minh chính trị - QS giữa hai hay nhiều nước, được hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế nhằm cùng nhau thực hiện những mục đích chung về chính trị, kinh tế, QS,... cả trong thời bình và thời chiến. LLVT của các nước thành viên KQS thường có sự thống nhất về biên chế tổ chức, trang bị, huấn luyện và chỉ huy ; ngoài ra, còn có LLVT hợp nhất. Bản chất của KQS tùy thuộc mục đích chính trị, có thể mang tính chất CM, phản CM, tiến bộ hay phản động. Từ sau CTTG-II, trên thế giới đã từng tồn tại các KQS: SEATO, NATO, Tổ chức hiệp ước Vacsava, ANZUS, ANZUK...

        KHÔNG CHIẾN X. TRẬN CHIÊN ĐẤU CỦA KHÔNG QUÂN

        KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO, luận điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân VN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ tố quốc. Tư tưởng KCGQHĐL,TD đã được thể hiện trong “Tuyên ngôn độc lập 2.9.1945”, và được khẳng định trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (20.12.1946) và nêu nguyên văn trong “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" (17.7.1966) khi đế quốc Mĩ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam bầng việc tăng cường đánh phá miền Bắc: "... Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân VN quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do...”. KCGQHĐL,TD đã trở thành một chân lí lớn của thời đại ngày nay.

        KHÔNG GIAN CHIẾN DỊCH, khu vực tác chiến có chiểu rộng, chiều sâu nhất định, được tính toán theo mục đích và nhiệm vụ chiến dịch, đặc điểm địch và chiến trường, tình hình và khả năng của ta, ý định tác chiến của cấp chiến lược. Tùy theo quy mô chiến dịch (nhỏ, vừa, lớn), KGCD có thể diễn ra ở phạm vi hẹp (một vài huyện), hoặc diễn ra ở phạm vi rộng (một vài tỉnh hoặc hơn).

        KHÔNG QUÂN, bộ phận của QĐ (LLVT) nhiều nước, được trang bị máy bay các loại để tác chiến trên không, đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước, làm nhiệm vụ trinh sát, đổ bộ đường không, vận tải đường không và các nhiệm vụ khác. KQ có khả nâng độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác. Theo chức năng nhiệm vụ, có KQ: tiêm kích, tiêm kích - bom, ném bom, cường kích, trinh sát, vận tải... Trong QĐ một số nước, KQ chia thành: KQ chiến lược, KQ chiến thuật; KQ mặt trận (KQ quân khu), KQ hải quân và thường tổ chức thành quân chủng (xt Quân chủng không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam).

        KHÔNG QUÂN CHỐNG NGẨM, thành phần của không quân hải quản (ở một số nước là binh chủng của không quân); một trong những thành phần chủ yếu của lực lượng chống ngầm, dùng để chống tàu ngầm đối phương trên chiến trường biển (đại dương). KQCN gồm các phân đội, binh đội máy bay và máy bay trực thăng có căn cứ trên bờ hoặc trên tàu, được trang bị những phương tiện chuyên dùng để phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm đối phương. Có thể hoạt động trong khu vực rộng lớn, cơ động nhanh, bí mật bám sát và tiến công mục tiêu. Cũng có thể làm nhiệm vụ cảnh giới chống ngầm cho tàu (nhóm tàu) mặt nước.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:30:39 pm

        KHÔNG QUÂN CƯỜNG KÍCH, binh chủng của không quân, chuyên tiêu diệt mục tiêu di động, kích thước nhỏ trên mặt đất, mặt nước, từ độ cao thấp và cực thấp, chủ yếu là trong chiều sâu chiến thuật và chiều sâu chiến dịch gần của đối phương. Nhiệm vụ cơ bản của KQCK: chi viện trực tiếp cho lục quân và hải quân trong tác chiến, có thể tiêu diệt không quân địch trên sân bay và trên không, tiến hành trinh sát đường không. Trong không quân một số nước, KQCK thường nằm trong biên chế của không quân lục quân (Mĩ, Anh, Pháp), của không quân mặt trận (LX) và không quân hải quân.

        KHÔNG QUÂN HẢI QUÂN, binh chủng của hái quân, được trang bị máy bay, để tiêu diệt lực lượng chiến đấu và lực lượng vận tải trên biển, đánh phá các mục tiêu trên đất liền gần biển của đối phương, trinh sát đường không và thực hiện các nhiệm vụ khác. Tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với lực lượng khác của hải quân và quân chủng khác. Ờ những nước có hải quân phát triển, KQHQ là một trong những lực lượng dột kích của hải quân; thường có; không quân tiêm kích, không quân cường kích, không quân tên lửa, không quân chống ngấm, không quân trinh sát, không quân vận tải, không quân tìm cứu... KQHQ trú đóng trên sân bay, tàu sân bay và tàu mặt nước khác.

        KHÔNG QUÂN LỤC QUÂN, binh chủng của lục quân một số nước, dược trang bị máy bay, máy bay trực thăng, để trực tiếp chi viện cho bộ đội tác chiến trên mặt đất. Nhiệm vụ chủ yếu: chi viện hỏa lực không quân theo kế hoạch tác chiến của bộ đội lục quân (bộ đội binh chủng hợp thành), trinh sát đường không chiến thuật, đổ bố đường không chiến thuật, chi viện hỏa lực cho hoạt động của quân đổ bộ, tiến hành tác chiến diện tử, rải mìn trên mặt đất... KQLQ gồm: không quân cường kích, không quân vận tải, không quân trinh sát, không quân đặc nhiệm. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ thường sử dụng KQLQ trong tác chiến.

        KHÔNG QUÂN MẶT TRẬN (ngoại), lực lượng của không quân LX và một số nước khác, thực hiện nhiệm vụ tác chiến trong các chiến dịch (hoạt động tác chiến) của lục quân, hải quân và không quân. Gồm: không quân tiêm kích, không quân ném bom, không quân tiêm kích - bom, không quân vận tải , không quân trinh sát và các phân đội máy bay lên thẳng phục vụ, bảo đảm... Trong thời bình, KQMT nằm trong biên chế của quân khu và cụm lực lượng. KQMT được trang bị máy bay siêu âm mang tên lửa, súng máy, bom đạn, các thiết bị, hệ thống rađa và vô tuyến điện có thể hoạt động trong mọi thời tiết, ngày và đêm, tiến hành huấn luyện, trinh sát, chặn đánh và tiêu diệt mục tiêu trên không, mặt đất (các cụm tên lửa, không quân và cụm lực lượng lục quân), tiêu diệt mục tiêu cỡ nhỏ, mục tiêu di động... Trong các nước tư bản, được gọi là không quân chiến thuật.

        KHÔNG QUÂN NÉM BOM, binh chủng của không quân, được trang bị máy bay ném bom các loại để đánh phá, tiêu diệt mục tiêu trên mặt đất, mặt biển bằng bom, tên lửa...; tác chiến độc lập hoặc hợp đồng với lực lượng quân chủng, binh chủng khác. Ở một số nước lớn, có KQNB chiến lược và KQNB chiến thuật.

        KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH, binh chủng của không quản, được trang bị máy bay tiêm kích các loại để tiêu diệt khí cụ bay (có hoặc không có người lái) của đối phương ở trên không. Có thể được dùng để đánh phá các mục tiêu trên mặt đất, mặt nước và trinh sát đường không. Còn có trong thành phần của không quân hài quân và quân chủng phòng không (trong QĐ một số nước). Trong QĐND VN, KQTK có từ 1964 (đơn vị đầu tiên là Trung đoàn không quân 921), trực thuộc Quân chủng phòng không - không quân (1964-77) và từ 1999 Quân chủng không quân (1977-99). Trong KCCM tham gia chiến đấu bảo vệ miền Bắc, bắn rơi nhiều máy bay Mĩ.

        KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH - BOM, binh chủng của không quân, được trang bị máy bay tiêm kích - bom (máy bay tiêm kích chiến thuật) để đánh phá các mục tiêu nhỏ, di động trên mặt đất (mặt nước) trong chiều sâu chiến thuật và chiều sâu chiến dịch gần, tiêu diệt mục tiêu trên không của đối phương và trinh sát đường không. Thường nằm trong không quân chiến thuật (không quân mặt trận, LX).

        KHÔNG QUÂN TRINH SÁT, binh chủng của không quận, được trang bị máy bay trinh sát các loại (có người lái hoặc không người lái) mang thiết bị trinh sát (điện tử, quang học...) để thu thập tin tức cần thiết về đối phương, địa hình, thời tiết...; cũng có thể tập kích mục tiêu đặc biệt quan trọng ngay sau khi phát hiện được. KQTS hoạt động độc lập hoặc hiệp đồng với lực lượng không quân khác.

        KHÔNG QUÂN VẬN TẢI, thành phần của không quân, được trang bị máy bay vận tải QS chuyên dụng các loại, dùng để cơ động bộ đội, chở, thả (đổ) lực lượng đổ bộ đường không, phương tiện chiến đấu, vật chất, kĩ thuật và chuyển thương binh, bệnh binh,... bằng đường không.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:31:41 pm

        KHỐNG CHẾ, hành động tác chiến dùng binh lực, hỏa lực và các phương tiện kĩ thuật nhằm hạn chế hoạt động của đối phương trong một không gian (mặt đất, trên biển, trên không), thời gian nhất định bảo đảm cho lực lượng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ. Yêu cầu KC: phải kiểm soát được tình hình, không để đối phương tự do hoạt động và phát huy sức mạnh. Để KC có hiệu quả cần có lực lượng đủ sức hoàn thành nhiệm vụ hiệp đồng chiếnr đấu chặt chẽ với các lực lượng khác.

        KHỞI NGHĨA, nổi dậy có tổ chức của đông đảo quần chúng bị áp bức, dùng bạo lực lật đổ chế độ thống trị của giai cấp bóc lột trong nước hoặc sự đô hộ của nước ngoài, giành chính quyền ở địa phương hoặc cả nước. Lực lượng quyết định thăng lợi của KN là lực lượng chính trị của quần chúng, có sự phối hợp của LLVT. Các cuộc KN trong lịch sử thường phải dùng đến sức mạnh vũ trang; việc dùng sức mạnh vũ trang đến mức nào tùy thuộc vào sự phản kháng của giai cấp thống trị. Nghệ thuật chỉ đạo KN đòi hỏi phải nắm vững thời cơ và chủ động tiến công kiên quyết liên tục mới giành được thắng lợi. Có khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa. CM tháng Tám (1945) ở VN là một điển hình về tổng khởi nghĩa (x. tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945).

        KHỎI NGHĨA ACHA XOA (1863-66), khởi nghĩa của nhân dân vùng Ta Keo, Cam Pốt (Campuchia) do Acha Xoa lãnh đạo chống ách đô hộ của Pháp. Sau khi quốc vương Campuchia kí hiệp ước Pháp - Campuchia (1863) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, Acha Xoa chạy sang VN liên lạc với nghĩa quân của Nguyễn Hữu Huân, lập căn cứ ở Hà Tiên. Châu Đốc (VN) và Ta Keo (Campuchia), tạo nên phong trào kháng chiến của nhân dân hai nước. 1864 nghĩa quân hoạt động mạnh ở vùng đông nam Campuchia, có lần chiếm được tính Cam Pốt và tiến sát Phnôm Pênh. Sau nhiều lần dùng lực lượng QS không dập tắt được cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp ép triều Nguyễn (VN) trục xuất nghĩa quân. 8.1866 do có nội phản, Acha Xoa bị Pháp bắt. cuộc khởi nghĩa thất bại. Một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên của nhân dân Campuchia, cổ vũ phong trào kháng Pháp, thế hiện tình đoàn kết Campuchia - VN chống kẻ thù chung.

        KHỞI NGHĨA ANG SNUÔN (1905), khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân tinh Stung Treng (bắc Campuchia) do nhà sư Ang Snuôn lãnh đạo. Lực lượng khởi nghĩa lúc đầu khoảng 400 người, vũ khí thô sơ đã tiến công thị trấn Thala Bỏrivat diệt một số quân Pháp và thu vũ khí. 15.3 tại khu rừng Porông, nghĩa quân phục kích gây thiệt hại nặng một toán quân Pháp đến đàn áp. Thực dân Pháp phải điểu động lực lượng lớn càn quét, tiêu diệt nghĩa quân. Do so sánh lực lượng quá chênh lệch, cuộc khởi nghĩa thất bại. nhưng đã thể hiện tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Campuchia.

        KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH (1886-87), khởi nghĩa của nhân dân Thanh Hóa do Đinh Công Tráng, Phạm Bành. Hoàng Bật Đạt. Hà Văn Mao, Trần Xuân Soạn lãnh dạo chống ách đô hộ của thực dân Pháp, thuộc phong trào Cần Vương (1885-95). Đầu 1886 khởi nghĩa bùng nổ, được đòng đảo nhân dân các dân tộc Kinh, Thái, Mường tham gia. cùng với nghĩa quân ở Hùng Lĩnh và những lực lượng khác, tạo thành phong trào kháng Pháp rộng khắp tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ chính là Ba Đình được xây dựng tại ba làng Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh (nay thuộc h. Nga Sơn, t. Thanh Hóa), xung quanh có hào sâu. lũy tre dày đặc và thành đất chắc chắn, trong có nhiều hào, hầm hố với khoảng 300 tay súng, làm nơi xuất phát cho mọi hoạt động của nghĩa quân. Ngoài ra, còn có căn cứ Mã Cao và một số tiền đồn nhỏ. 1886 nghĩa quân liên tiếp tiến công các phú thành, huyện lị, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Từ 12.1886 Pháp bắt đầu tập trung lực lượng đàn áp. Sau khi chiếm được căn cứ Ba Đình (x. trận Ba Đình. 18.12.1886-20.1.1887), quân Pháp ráo riết khùng bố nhân dân. truy kích nghĩa quân và 2.2.1887 đánh chiếm căn cứ Mã Cao. Bị mất các căn cứ và hao tổn lực lượng trong các cuộc chiến dài ngày, không cân sức, nghĩa quân suy yếu dần. Nhiều thủ lĩnh bị bắt, một số hi sinh, tự sát (Phạm Bành, Hà Văn Mao...), hoặc chuyển sang lực lượng khởi nghĩa khác (Trần Xuân Soạn). Đinh Công Tráng tiếp tục chỉ huy nghĩa quân chiến đấu cho tới lúc hi sinh (7.9.1887), KNBĐ thất bại.

        KHỞI NGHĨA BA TƠ (11.3.1945), khởi nghĩa giành chính quyền ở châu lị Ba Tơ (Quảng Ngãi), do tỉnh úy lâm thời ĐCS Đông Dương tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo. Lợi dụng tình thế CM sau khi Nhật đào chính Pháp (9.3.1945), tỉnh ủy quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền và thành lập Đội du kích Ba Tơ làm lực lượng nòng cốt. Chiều 11.3 KNBT nổ ra bắt đầu bằng một cuộc mít tinh, phát triển thành khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền, bao vây đồn Ba Tơ, Nha kiểm lí và các công sở của Pháp ở châu lị. Phối hợp với nổi dậy của quần chúng, lực lượng du kích chiếm Nha kiểm lí, bắt viên tri châu, sau đó được binh lính giác ngộ làm nội ứng đánh chiếm đồn Ba Tơ, thu toàn bộ vũ khí. 12.3 chính quyền CM được thành lập. Từ thắng lợi của KNBT. phong trào CM ở tỉnh Quảng Ngãi lên mạnh, LLVT và các chiến khu được xúc tiến xây dựng, tạo cơ sở cho khởi nghĩa ở Quảng Ngãi và các tỉnh Nam Trung Bộ trong tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:32:41 pm

        KHỞI NGHĨA BÀ TRIỆU (248), khởi nghĩa của nhân dân các quận Cừu Chán, Giao Chi (nay thuộc Bắc Bộ và bắc Trung Bộ) chống ách thống trị Đống Ngô (TQ), do Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo. Nổ ra năm 248 tại vùng Núi Nưa và Quan Yên (Thanh Hóa), được đỏng đảo dân chúng theo phục. Sau khi Triệu Quốc Đạt chết. Bà Triệu được quân sĩ tôn làm chúa tướng, gọi là Nhụy Kiều tướng quân (quân Ngô gọi là Lệ Hải Bà Vương). Bà Triệu thường cưỡi voi chỉ huy, đánh thắng nhiều trận, giết thứ sử Giao Châu, làm tan rã chính quyền đô hộ. Triều Đông Ngô cử Lục Dận đem 8.000 quân sang đàn áp. Bằng vũ lực kết hợp dùng tiền của. Lục Dận mua chuộc được một số thù lĩnh nghĩa quân làm phản. Chống Ngô được nửa năm, vì binh ít, thế cô, KNBT thất bại, Bà Triệu tự vẫn ở Núi Tùng (Thanh Hóa), ở đó nay còn lăng mộ và đền thờ Bà.

        KHỞI NGHĨA BÃI SẬY (1883-92), khởi nghĩa chống Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ, thuộc phong trào Cần Vương (1885-95). Khởi đầu 4.1883 do Đinh Gia Quế (Đổng Quế) lãnh đạo. lập căn cứ ở vùng Bãi Sậy. được đông đảo nhân dân các huyện Ân Thi, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Mĩ Hào (t. Hưng Yên). Văn Giang, Gia Lâm (t. Bắc Ninh) ủng hộ. Với phương thức hoạt động phân tán trong dân và sử dụng cách đánh du kích, nghĩa quân tiến hành nhiều trận phục kích, tập kích, chống càn thắng lợi gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, nhưng đến 8.1885 lực lượng nghĩa quân bị tổn thất nặng, tiếp đó Đinh Gia Quế ốm chết. Giữa lúc phong trào khởi nghĩa gặp khó khăn. 9.1885 hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” của vua Hàm Nghi, Nguyễn Thiện Thuật về tập hợp lực lượng tiếp tục chống Pháp, thu hút được nhiều sĩ phu và thù lĩnh nghĩa quân các địa phương tham gia, phối hợp, tiêu biểu như Lãnh Giang. Hai Kế, Đốc Tít, Đốc Ban. Đề Quý, Đội Văn, Đốc Cọp, Đốc Sung... Dựa vào căn cứ hiểm yếu (Bãi Sậy. Hai Sông...) và sự che chở, giúp đỡ của nhân dân. nghĩa quân tổ chức thành nhiều nhóm nhỏ. bất ngờ phục kích, chặn đánh giao thông, diệt các toán quân tuần tiễu của địch, tập kích các đồn lẻ... Thanh thế và địa bàn hoạt động của nghĩa quân lan rộng trên nhiều tỉnh (Hưng Yên. Hải Dương, Hải Phòng. Bắc Ninh, phủ Lạng Thương, Lục Nam, Đông Triều...), đưa Bãi Sậy trở thành một trong những trung tâm chống Pháp lớn ở Bắc Kì. Pháp phải điều động lực lượng lớn đến đàn áp. đặc biệt từ 1888 thiết lập hệ thống đồn bốt dày đặc ở khắp nơi và khống chế các vị trí xung yếu, sử dụng Hoàng Cao Khải cùng hàng nghìn binh lính người Việt phối hợp với quân Pháp liên tiếp mở các cuộc càn quét quy mô lớn vào căn cứ nghĩa quân, tàn sát nhân dân trong vùng. Sau những trận đánh ác liệt, kéo dài và bị truy kích ráo riết, lực lượng nghĩa quân suy yếu dần, nhiều thủ lĩnh hi sinh hoặc bị bắt; Nguyễn Thiện Thuật phải lánh sang TQ (cuối 1889). Lực lượng nghĩa quân còn lại do Nguyễn Thiện Kế (Hai Kế) chỉ huy vẫn kiên cường chiến đấu, dựa vào căn cứ Bãi Sậy tiếp tục hoạt động chống Pháp đến 4.1892 mới kết thúc. KNBS thất bại nhưng có tiếng vang lớn. tiêu biểu cho phong trào Cần Vương; một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp lớn nhất trong lịch sử VN cuối tk 19.

        KHỞI NGHĨA BẤC SƠN (27.9-28.10.1940), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Bắc Sơn (t. Lạng Sơn), do Đảng bộ ĐCS Đông Dương châu Bắc Sơn lãnh đạo. Nhân thời cơ Nhật đánh chiếm Lạng Sơn (22.9.1940), quân Pháp rút chạy qua Bắc Sơn về Thái Nguyên, chính quyền của địch ở đây lung lay, quần chúng một số nơi nổi dậy, chống lại sự cướp bóc của tàn binh Pháp, Đảng bộ Bắc Sơn quyết định phát động khởi nghĩa. Sau trận phục kích ở đèo Canh Tiêm (diệt 1 lính Pháp, thu một xe vũ khí), đêm 27.9 lực lượng tự vệ cùng hàng trăm quấn chúng (có một số lính dõng tham gia) đánh chiếm đồn Mỏ Nhài, giải phóng châu lị Bắc Sơn, xóa bỏ chính quyền địch. Trước tình hình đó, Nhật thỏa hiệp để Pháp chiếm lại Bắc Sơn, đàn áp cuộc khởi nghĩa. Xứ ủy Bắc Kì cử Trần Đăng Ninh về Bắc Sơn tham gia lãnh đạo giữ vững phong trào CM. Sau hội nghị Sa Khao (14.10), Chiến khu Bắc Sơn và Đội du kích Bắc Sơn dược thành lập. làm chỗ dựa cho quần chúng đáu tranh chống khủng bố, diệt trừ phản động. Du kích đánh chiếm Khôn Ràng, Vũ Lãng (25.10), gây tiếng vang lớn; vừa đánh vừa phát triển lực lượng tới 200 người. 28.10 khi tổ chức mít tinh quần chúng ở Vũ Lăng, để chuẩn bị thành lập chính quyén CM, do thiếu cảnh giác, bị quân Pháp tập kích và khùng bỏ dã man. du kích phải phân tán trong dân hoặc rút vào rừng. Mặc dù bị thất bại do thời cơ CM cả nước chưa chín muồi, nhưng KNBS để lại nhiều bài học về thực hành khởi nghĩa, xây dựng căn cứ địa CM và LLVT, mở đầu thời kì mới của CM VN: thời kì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:33:57 pm

        KHỞI NGHĨA CAO BÁ QUÁT (1854-55). khởi nghĩa của nóng dân và một số nho sĩ, quan lại tiến bộ ở Bắc Kì do Cao Bá Quát lãnh đạo chống chế độ phong kiến nhà Nguyễn thời vua Tự Đức. Dưới danh nghĩa “phù Lê”, khoảng 9.1854 tại Mĩ Lương (Hà Tây), Cao Bá Quát suy tôn Lê Duy Cự (hậu duệ nhà Lê) làm minh chủ, tự xưng quốc sư, hiệu triệu nhân dân nổi dậy chống nhà Nguyễn, được nhiều tù trương các dân tộc vùng Sơn Tây, Hoà Bình ủng hộ. Nghĩa quân dự định đánh chiếm Hà Nội để từ đó phát triển lực lượng sang các tinh khác, nhưng kế hoạch bại lộ, bị triều đình ngăn chặn, lùng bắt nên cuộc khởi nghĩa chỉ diễn ra ở vùng Mĩ Đức, Ứng Hoà, Thanh Oai (Hà Tây), Tam Dương (Phú Thọ), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc). Vua Tự Đức phải điều quân từ các tỉnh xung quanh tới đàn áp. Đầu 1855 Cao Bá Quát hi sinh trong trận giao chiến với quân triều đình ở vùng An Sơn (Sơn Tây), nhưng nghĩa quân vẫn tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi đến đầu 1856. Cg khởi nghĩa Mĩ Lương.

        KHỎI NGHĨA CHU ĐẠT (157-60), khởi nghĩa của nhân dân  các quận Cửu Chân và Nhật Nam (nay thuộc Bắc Trung Bộ, VN) do Chu Đạt lãnh đạo chống ách đô hộ Đông Hán (TQ). Khoảng đầu 157, Chu Đạt kêu gọi nhân dân nổi dậy đánh chiếm huyện Cư Phong (Cừu Chân), giết viên huyện lệnh, sau đó tiến chiếm quận Cửu Chân, giết thái thú Nghê Thức. Lực lượng nghĩa quân phát triển nhanh chóng tới 5.000 người. Năm 158 vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào chiếm giữ Nhật Nam. Tại đây, nghĩa quân được nhân dân ủng hộ, thanh thế mạnh lên, lực lượng tới hàng vạn người, tiếp tục hoạt động đến mùa Thu 160 thì bị thứ sử Hạ Phương dập tắt.

        KHỎI NGHĨA CÔNG NHÂN, khởi nghĩa do giai cấp công nhân tiến hành; hình thức đấu tranh quyết liệt nhất của giai cấp công nhán chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản thống trị nhằm chiếm giữ nhà máy, xí nghiệp, đồn điền... hoặc giành chính quyền (địa phương hay cả nước). KNCN thường phải kết hợp hoặc tập hợp được các tầng lớp yêu nước, nhất là nông dân, trí thức, binh sĩ cùng tham gia đấu tranh mới tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Từ 1831 đã có những cuộc KNCN của công nhân dệt Liông (Pháp); 1844 có nhiều cuộc KNCN của công nhân dệt Xilêdi (Đức).. Điển hình là cuộc KNCN thắng lợi của công nhân Pari (Pháp) 18.3.1871 lật đổ chính phủ tư sản, thiết lập Công xã Pari. Ở VN, KNCN được kết hợp với khởi nghĩa của các tầng lớp yêu nước trong một mặt trận thống nhất dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN để lật đổ chính quyền đế quốc và tay sai.

        KHỞI NGHĨA DÂN TỘC, khởi nghĩa của dân tộc bị áp bức nhằm lật đổ ách đô hộ của nước ngoài để giải phóng dân tộc. KNDT có thể phát triển thành cuộc kháng chiến hoặc chiến tranh giải phóng dân tộc. Lực lượng lãnh đạo KNDT phải thực sự tiêu biểu cho lợi ích của dân tộc; có thể là lãnh tụ của giai cấp tiến bộ hoặc của các phong trào yêu nước. Nét nổi bật của các cuộc KNDT trong lịch sử VN là truyền thống cô kết dân tộc, cả nước chung sức, toàn dân nổi dậy chống xâm lược, tiêu biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng (3.40), tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945...

        KHỚI NGHĨA DUY TÂN nh VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA CỦA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI (5.1916)

        KHỞI NGHĨA DUƠNG THANH (819-20), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Châu do Dương Thanh lãnh đạo chống chính quyền đô hộ nhà Đường (TQ). Dương Thanh vốn dòng dõi hào trưởng có thế lực, được nhà Đường phong chức thứ sử Châu Hoan (nay là Nghệ An), sau bị quan đô hộ Lí Tượng cổ khống chế, điều về Tống Bình (nay là Hà Nội) làm nha môn tướng. Năm 819 nhân cơ hội được giao 3.000 quân đi dẹp cuộc nổi dậy của người Tày, Nùng, Tráng ở Hoàng Động (nay là Tây Bấc), Dương Thanh kêu gọi anh em binh lính khởi nghĩa, đang đêm quay lại tập kích thành Tống Bình, giết Lí Tượng Cổ cùng hàng nghìn thuộc hạ, chiếm Giao Châu. Nhà Đường âm mưu mua chuộc, vờ tha tội, phong Dương Thanh làm thứ sử Quỳnh Châu (nay là Hải Nam, TQ), nhưng bị cự tuyệt, phải cừ Quế Trọng Vũ đem quân sang vừa đánh, vừa dùng kế li gián trong nội bộ nghĩa quân, cuối cùng phá được thành, giết Dương Thanh. Một bộ phận nghĩa quân rút về Tạc Khẩu (nay thuộc Yên Mô, t. Ninh Bình) tiếp tục chống cự đến 7.820.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:35:07 pm

        KHỞI NGHĨA ĐÁ VÁCH (nửa đầu tk 19), phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc vùng núi Đá Vách ở miền Tây t. Quảng Ngãi, chống triều Nguyễn thời vua Gia Long. Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khởi nghĩa nổ ra ngay sau khi vua Gia Long lên ngôi (1802), do chính sách thuế khóa nặng né của triều đình và nạn chiếm đoạt ruộng đất của quan lại địa phương. Dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở, vũ khí thô sơ (giáo, mác, lao, cung nỏ, chông, bẫy...), với lối đánh du kích (tổ chức thành những toán nhỏ khoảng vài trăm người, không có căn cứ cố định, di chuyển linh hoạt, bất ngờ phục kích, tập kích các đồn trại) nghĩa quân gây cho quân triều đình nhiều thiệt hại. Triều đình phải cử Lê Vãn Duyệt đưa quân đến đàn áp, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp đối phó (mua chuộc, cử quan cai trị và lính trấn giữ là người địa phương, xây đắp lũy Bình Man và lập thêm nhiều đồn trại...), nhưng không ngăn chặn và dập tắt được phong trào. Cùng với hàng tràm cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tục trong nứa đầu tk 19, KNĐV thể hiện sự phản kháng quyết liệt của đồng bào dân tộc vùng núi Quàng Ngãi và nhân dân cả nước đối với chế độ thống trị tàn bạo của triều Nguyễn.

        KHỞI NGHĨA ĐẨU ĐỜI NGUYỄN, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân VN chống triều đình Nguyễn thời vua Gia Long và những năm đầu thời vua Minh Mạng. Sau khi giành thắng lợi trong chiến tranh Nguyễn Ánh - Tây Sơn (1790-1802), Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn, tìm mọi cách củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến, xóa bỏ thành quả của phong trào Tây Sơn. áp đặt nhiều chính sách tô thuế, lao dịch nặng nề khiến các tầng lớp nhân dân. nhất là nông dân bất bình nổi dậy chống đối. Lúc đầu phong trào diễn ra nhỏ, lẻ, sau lan rộng khắp nơi từ bắc tới nam, từ đồng bằng tới miền núi và bắt đầu xuất hiện những cuộc khởi nghĩa quy mô hàng nghìn người, tập trung nhất ở vùng Bắc Thành (nay là Bắc Bộ), Thanh Hóa, Nghệ An... Theo thống kê của nhà Nguyễn, thời kì này đã nổ ra trên 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, trong đó tiêu biểu là khởi nghĩa Dương Đình Cúc ở Thái Nguyên (1806-24), Quách Tất Thúc ở Thanh Hóa (1808-19), Vũ Đình Lục và Đặng Trần Siêu ở Sơn Nam (1810-22)... Do không liên kết được với nhau, các cuộc khởi nghĩa đều bị dập tất, nhưng đã khơi dậy phong trào đấu tranh của nhân dần chống triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến VN.

        KHỞI NGHĨA ĐOÀN HỮU TRUNG, ĐOÀN TƯ TRỰC (16.9.1866), khởi nghĩa do anh em Đoàn Hữu Trưng và Đoàn Tư Trực khởi xướng tại kinh thành Huế nhằm lật đổ vua Tự Đức: được sự hưởng ứng của 3.000 binh lính và thợ thủ công bị cưỡng bức lao dịch trên công trường Dương Xuân (Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) xây “Vạn niên cát địa” tức “Khiêm Cung” (lăng Tự Đức). Với vũ khí chủ yếu là chầy giã vôi (nên triều đình gọi là “giặc chầy vôi”), quân khởi nghĩa đột nhập điện Thái Hoà định tìm bắt vua Tự Đức nhưng không thành. Do thiếu tổ chức, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt. Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực và những người tham gia khởi nghĩa bị triều đình bắt và tàn sát dã man.

        KHỎI NGHĨA ĐỐC TÍT (1882-85), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân vùng đông bắc Bắc Bộ, do Đốc Tít lãnh đạo. Nổ ra khoảng 1882 tại vùng Hai Sông, nay thuộc địa phận các huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), Đông Triều, Yên Hưng (Quảng Ninh), Kinh Môn (Hải Dương), căn cứ chính là Trại Sơn. Lực lượng nghĩa quân phát triển tới 600 người, hoạt động chủ yếu ở vùng Hải Dương, Hải Phòng. Cuối 1884 Pháp đưa 1 tiểu đoàn mở cuộc càn quét vào Trại Sơn, bị nghĩa quân đánh thiệt hại nặng, phải tháo lui. Cuối 1885 sau hàng chục ngày chiến đấu quyết liệt với quân Pháp, nghĩa quân chủ động rút khỏi Trại Sơn về lập căn cứ mới tại cù lao Hai Sông, gia nhập nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục chống Pháp đến cuối 1889 (x. khởi nghĩa Bãi Sậy, 1883-92).

        KHỚI NGHĨA GIÁP TUẤT (1874), khởi nghĩa của các văn thân và nhân dân Nghệ An do Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo chống Pháp xâm lược, bài trừ Thiên chúa giáo và phản đối thái độ thỏa hiệp của triều đình Huế. Nổ ra khoảng 2.1874 ở vùng Thanh Chương. Quỳnh Lưu (Nghệ An) với lời hịch “Bình Tây sát tả”, lôi cuốn hàng nghìn người tham gia. Nghĩa quân đốt phá các làng theo đạo Thiên Chúa, diệt trừ những giáo dân phản động làm tay sai cho Pháp; liên kết với lực lượng khởi nghĩa ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, đánh chiếm nhiều nơi ở Hà Tĩnh, bao vây phủ Diễn Châu... Trước thanh thế của nghĩa quân, triều đình phải cử Nguyễn Văn Tường làm khâm sai đem quân đàn áp dã man trong nhiều tháng. Đến 9.1874 KNGT bị dập tắt sau khi Trần Tấn chết bệnh ở Cam Môn và Đặng Như Mai bị nội phản bắt ở căn cứ phủ Quỳ Châu đem giao cho triều đình xử tử. Một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào yêu nước của văn thân thời Nguyễn ở Trung Kì.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:37:33 pm
   
        KHỞI NGHĨA HÀ GIANG (1911-12), khởi nghĩa của đồng bào dần tộc Mông ở Hà Giang do Sùng Mi Quảng (tự xưng vua) lãnh đạo đòi quyền tự trị, chống chính sách cai trị của Pháp. Nổ ra 11.2.1911 với cuộc biểu tình của khoảng 400 người tại Đồng Văn yêu cầu được tự do trồng và bán thuốc phiện, tự do chuyên chở muối, sau đó tổ chức đánh chiếm một số đồn Pháp ở biên giới và rút vào rừng tiếp tục hoạt động. Lực lượng nghĩa quân đông tới hàng nghìn người, vài trăm súng, tổ chức hoạt động trên nhiều khu vực, mạnh nhất là ở Mèo Vạc. Pháp phải điều QĐ tới đàn áp và truy quét quyết liệt trong hơn 14 tháng mới dập tắt cuộc khởi nghĩa, sau khi bắt được Sùng Mi Quảng (22.4.1912).

        KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG (3.40), khởi nghĩa của nhân dân Âu Lạc, do Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị (con gái lạc tướng huyện Mê Linh) lãnh đạo, chống chính quyền đỏ hộ Đông Hán (TQ). Nổ ra khoảng 3.40 tại Hát Môn (nay thuộc h. Phúc Thọ, t. Hà Tây), được đông đảo nhân dân và thủ lĩnh địa phương ùng hộ, có nhiều phụ nữ tham gia. Sau khi làm chủ đất Mê Linh (vùng Ba Vì - Tam Đảo ngày nay) và xây dựng thành trung tâm khởi nghĩa, nghĩa quân tiến đánh thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), đánh chiếm thành Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành. Bắc Ninh) trị sở của chính quyền đô hộ Đông Hán ở Giao Chỉ, buộc thái thú Tô Định phải lẩn trốn về Nam Hải (Quảng Đông, TQ). Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng ra khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Uất Lâm; trong gần một tháng hạ 65 thành, đập tan chính quyền đô hộ ở toàn bộ các quận, huyện. Trưng Trắc lên làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh. KNHBT thắng lợi giành lại độc lập cho đất nước và dựng lại cơ nghiệp của các vua Hùng; cuộc khởi nghĩa tiêu biêu cho truyền thống đấu tranh kiên cường của phụ nữ và dân tộc VN.

        KHỚI NGHĨA HOÀNG HOA CƯƠNG (27.4.1911), khởi nghĩa vũ trang ở Quảng Châu (TQ) nhằm lật đổ chế độ phong kiến triều Thanh do TQ đồng minh hội tiến hành dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn và Hoàng Hưng. Kế hoạch dự định trước đánh Quảng Châu, sau đánh Hồ Nam, Hồ Bác, Nam Kinh, Bắc Kinh. Vì thay đổi ngày giờ khởi nghĩa nhiều lần nên khi khởi sự chi có bốn trong mười cánh quân hành động. Lực lượng ít nên chỉ trong một ngày cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt. Hơn 100 nghĩa quân hi sinh, trong đó 72 người được nhân dân mai táng tại nghĩa trang Hoàng Hoa Cương (núi Hoàng Hoa. tp Quảng Châu). Tuy thất bại nhưng KNHHC đã thúc đẩy tinh thần CM, dẫn tới thành công của cách mạng Tán Hợi (1911-13).

        KHỞI NGHĨA HOÀNG HOA THÁM X. KHỚI NGHĨA  YÊN THẾ (1884-1913)

        KHỞI NGHĨA HOÀNG SÀO (875-84), khởi nghĩa nông dân quy mô lớn do Hoàng Sào lãnh đạo chống sự thống trị tàn bạo của chế độ phong kiến cuối đời Đường ở TQ. Nổi lên từ Uyén Cừ (nay thuộc bắc Huyện Tào, t. Sơn Đông). Năm 875 kết hợp với phong trào nông dân ở Trương Viên do Vương Tiên Chi lãnh đạo, quân khởi nghĩa nhanh chóng tràn qua Hà Nam, An Huy, Giang Tây, Chiết Giang. Phúc Kiến, Quảng Đông. Quảng Tây, rồi ngược lên Hồ Nam, Hồ Bắc. Hà Nam. Sau nhiều trận kịch chiến với quân triều đình, chiếm đông đô Lạc Dương (17.11.880), thừa thắng nghĩa quân tiến chiếm kinh đô Trường An. Vua Đường chạy vào Tứ Xuyên. Hoàng Sào lên ngôi hoàng dế, lấy quốc hiệu Đại Tề. Do quen tác chiến lưu động, không xây dựng căn cứ địa, khi chiếm kinh đó không truy kích tiêu diệt quân Đường, nên khi nhà Đường phân công quân khởi nghĩa phải rút khỏi Trường An. Năm 884 thua trận ở vùng Thái Sơn, Hoàng Sào tự sát, khởi nghĩa thất bại. KNHS kéo dài 10 năm, lan rộng 12 tỉnh, giáng một đòn nặng vào nền thống trị phong kiến, khiến nhà Đường suy yếu, chỉ tồn tại được thêm 20 năm.

        KHỎI NGHĨA HÙNG LĨNH (1886-92). khởi nghĩa của nhân dân Thanh Hóa, do Tống Duy Tán và Cao Điền lãnh đạo chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Hưởng ứng “Chiếu Cấn Vương", năm 1886 Tống Duy Tân phát động khởi nghĩa ở Hùng Lĩnh (Thanh Hóa), cùng với Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn lập căn cứ Ba Đình, hợp thành phong trào kháng Pháp khắp tỉnh Thanh Hóa. 1887 phong trào tạm lắng do bị Pháp khủng bố, Tống Duy Tân lánh ra Bắc, đến 1889 trở về tây nam Thanh Hóa, lập căn cứ ở Vận Động, chấn chinh lại lực lượng, phát động phong trào chống Pháp ở các vùng Yên Định, Vạn Lại, Nông Cống, Thọ Xuân, phối hợp hoạt động với nghĩa quân vùng Sông Đà, Hương Khê. Thanh thế nghĩa quân ngày càng mờ rộng trên địa bàn tả, hữu ngạn sông Mã. Cuối 1889 đầu 1890, Pháp nhiều lần đưa quân đàn áp, nhưng đều thất bại, và bị thiệt hại nặng ở Vạn Lại, Nông Cống, Yên Lãng, Thanh Khoái... 1892 Tống Duy Tân còn phối hợp với nghĩa quân Đốc Ngữ đánh thắng quân Pháp ở Niên Kỉ (X. trận Niên Kỉ, 18.5.1892), song mọi cố gắng đều không thay đổi được tình hình. Sau nhiều năm chiến đấu, lực lượng nghĩa quân bị hao tổn (từ 4.1892 lực lượng nghĩa quân còn khoảng trăm người và 50 tay súng), địa bàn hoạt động bị thu hẹp hẳn. Tống Duy Tân bị bắt và bị giết (15.10.1892). KNHL thất bại, nhưng phong trào kháng chiến ở Thanh Hóa còn kéo dài thêm một thời gian với sự chiến đấu kiên trì của Cầm Bá Thước -  bạn chiến đấu của Tống Duy Tân và Cao Điền.

        KHỞI NGHĨA HƯƠNG KHÊ (1885-95), khởi nghĩa chống Pháp có quy mô lớn, tổ chức chặt chẽ của nhân dân Trung Kì (VN), do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Hưởng ứng “Chiếu Cần Vương”, năm 1885 Phan Đình Phùng dấy binh khởi nghĩa, bắt đầu từ căn cứ Hương Khê, sau lan rộng ra cả tỉnh Hà Tĩnh và các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hóa. được đông đảo nhân dân hưởng ứng, tạo thành một phong trào chống Pháp khắp Trung Kì. Nghĩa quân tự chế vũ khí, trong đó có hàng trăm súng trường kiểu 1874 của Pháp. Địa bàn hoạt động được chia thành 15 quân thứ, lực lượng mỗi quân thứ 100-500 người. 1887-89 hoạt động của nghĩa quân chủ yếu là xây dựng lực lượng, Phan Đình Phùng trực tiếp ra Bắc vận động dân chúng, liên lạc với lãnh tụ Cần Vương ở các địa phương. 1890-94 Pháp nhiều lần đem quân đàn áp, đều bị thất bại trước lối đánh du kích của nghĩa quân, buộc phải gia tăng lực lượng, lập hệ thống đồn bốt lấn dần vào các căn cứ nhằm bao vây, cắt đứt việc tiếp tế của nhân dân cho nghĩa quân. Để thoát khỏi tình trạng khó khăn, 1893 nghĩa quân chủ trương tiến xuống đồng bằng, nhưng không thực hiện được do người chỉ huy là Cao Thắng hi sinh khi đánh vào Nghệ An. Sau đó, tuy giành thắng lợi trận Vụ Quang (26.10.1894), nghĩa quân cũng không xoay chuyển được tình thế. 7.1895 trước cuộc tiến công lớn của 3.000 quân Pháp và quân triều đình, nghĩa quân không đủ sức chống đỡ, bị truy lùng ráo riết, nhiều thủ lĩnh hi sinh, một số ra hàng. KNHK chấm dứt sau khi Phan Đình Phùng mất (28.12.1895), đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương. Cg khởi nghĩa Phan Đình Phùng.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:39:33 pm

        KHỞI NGHĨA LAI CHÂU (1918-21), khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào dân tộc Mông ở Tây Bắc do Giàng Tả Chay lãnh đạo. Nổ ra 8.1918 tại Lai Châu rồi lan rộng ra Sơn La. Với lực lượng trên dưới 100 người, 50 súng, được nhân dân che chở, giúp đỡ, dựa vào rừng núi hiểm trở, dùng cách đánh du kích, nghĩa quân liên tục đánh địch ở bản Nậm Ngan (4 12.1918) Ba La Viêng (16.1.1919), Ba Xúc (17.1.1919), núi Long Hé (21.1.1919)... Pháp phải điều quân từ Sơn La, Yên Bái càn quét nhiều lần vẫn không dập tất được. Hè 1919 địa bàn hoạt động của nghĩa quân mờ rộng tới 40.000km2. từ Điện Biên (VN) tới Sầm Nưa. Trấn Ninh (Lào), khiến thực dân Pháp hoảng sợ và phải huy động lực lượng lớn đối phó. Bằng các cuộc càn quét ác liệt kết hợp với chính sách dụ dỗ mua chuộc, triệt nguồn tiếp tế, gây chia rẽ nội bộ,... Pháp mới dẹp được cuộc khởi nghĩa. KNLC là một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc. thể hiện tình đoàn kết Việt - Lào trong đấu tranh chống ách đô hộ của Pháp.

        KHỞI NGHĨA LAM SƠN VÀ CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG CHỐNG MINH (1418-27), khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Đại Việt do Lê Lợi lãnh đạo, chống ách đô hộ của nhà Minh (TQ). Sau hội thề Lũng Nhãi (1416), ngày 7.2.1418 Lê Lợi dựng cờ khởi nghía ở vùng núi Lam Sơn (nay thuộc Thanh Hóa), tự xưng Bình Định Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân cứu nước, được anh hùng hào kiệt khắp nơi lần lượt theo về tụ nghĩa. Trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn 1 (1418-24), với lực lượng lúc đầu khoảng 600 người, 14 thớt voi, bằng cách đánh du kích, được nhân dân che chở giúp đỡ, nghĩa quân đánh lui nhiều đợt vây quét lớn của quân Minh, mở rộng căn cứ từ lưu vực Sông Chu đến lưu vực Sông Mã. 5.1423-10.1424 nghĩa quân rút về Lam Sơn củng cố lực lượng, tạm thời hòa hoãn với địch, chờ thời cơ. Giai đoạn 2 (1424-25), mở đầu bằng trận tập kích đồn Đa Căng (12.10.1424) ở Thanh Hóa, diệt hơn 1.000 quân Minh, sau đó theo kế hoạch của Nguyễn Chích, nghĩa quân chuyển hoạt động về hướng nam. 5.1425 sau khi hạ thành Trà Lân, đại phá quân Minh ở Khá Lưu, Bồ Ải (nay thuộc Nghệ An), nghĩa quân giải phóng Nghệ An (trừ phủ thành); 6.1425 giải phóng phủ Diễn Châu rồi thừa thắng tiến ra giải phóng Thanh Hóa (trừ thành Tày Đó), đồng thời đưa lực lượng tiến chiếm Tân Bình. Thuận Hóa (x. vây hãm thành Nghệ An, Tàn Bình, Thuận Hóa, 1425). Vùng giải phóng mở rộng, thể lực nghĩa quân ngày càng tăng. Giai đoạn 3 (1426-27), tháng 9.1426 đại quân Lam Sơn (gần 100.000 người) chia thành ba cánh tiến ra Bắc, đồng thời vẫn tiếp tục vây các thành phía nam. Cuộc tiến công nhanh chóng phát triển thành phong trào nổi dậy rộng lớn của nhân dân làm tan rã chính quyền đô hộ ở nhiều nơi, trực tiếp uy hiếp quân Minh ở Đông Quan (nay là Hà Nội). Mở đầu bằng trận Ninh Kiểu - Nhân Mục (13.9 và 20.10.1426) và diệt viện binh Vương An Lão ở cầu Xa Lộc (nay thuộc Phú Thọ, 20.10.1426), buộc tướng Minh là Trần Trí phải lui quân phòng thủ trong các thành lũy, chờ tăng viện. Một bộ phận quân Minh ở Nghệ An cũng được rút về bảo vệ Đông Quan. Cuối 10.1426 vua Minh cử Vương Thông thay Trần Trí. đem 50.000 quân sang cứu viện, cùng lực lượng ở Đông Quan mở cuộc hành quân giải tỏa hòng xoay chuyển lại tình thế, bị đại bại ở trận Tốt Động - Chúc Động (5-7.11.1426). Nghĩa quân thừa thắng tiến lên vây hãm thành Đỏng Quan (11.1426-12.1427), đồng thời đẩy mạnh tiến công trên toàn bộ chiến trường. Kết hợp sức mạnh QS với địch vận, nghĩa quân lần lượt đánh chiếm hoặc bức hàng các thành Nghệ An, Khâu Ôn, Điêu Diêu, Thị Cầu, Tam Giang, Xương Giang... khiến quân Minh ở Đông Quan càng bị cô lập. 10.1427 nhà Minh đưa 150.000 quân do Liễu Thăng, Mộc Thạnh chỉ huy theo hai đường sang cứu viện. Bằng trận Chi Lăng - Xương Giang (8.10-3.11.1427) diệt gọn quân Liễu Thăng, làm quân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa (nay thuộc Hà Giang) phải rút chạy và bị truy kích tổn thất nặng. Không còn hi vọng, 12.1427 Vương Thông cùng hàng chục vạn quân Minh ở Đông Quan buộc phải chấp thuận giảng hòa và được bộ chỉ huy nghĩa quân tạo điều kiện cho rút quân về nước (x. hội thề Đông Quan, 16.12.1427). KNLSVCTGPCM kết thúc thắng lợi sau 10 năm chiến đấu kiên cường, gian khổ, đã lật đổ ách thống trị và đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh, giải phóng đất nước, giành lại độc lập dân tộc.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67097038_452614912135061_2951964604890087424_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmdNq2nNG_1Txj8RCmlU11McufcnzouJb1LLZu6iLKImlZWTG2_fhjweG81VzkM7Nk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=aacdf875d8fd9f60398880b720a7bf4a&oe=5DAF0AB0)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:40:59 pm

        KHỞI NGHĨA LÂM SÂM (1841-42), khởi nghĩa của đồng bào dân tộc Kinh và Khơ Me ở phủ Lạc Hóa (Vĩnh Long) do Lâm Sâm lãnh đạo, chống triều Nguyền thời vua Thiệu Trị. Đầu 1841 Lâm Sâm dựng cờ khởi nghĩa, được đỏng đào nhân dân các huyện Trà Vinh, Tuân Nghĩa nhiệt tình tham gia. lực lượng lên tới vài nghìn người. Khoảng 4.1841 nghĩa quân tiến đánh phủ Lạc Hóa, chiếm huyện lị Trà Vinh (làm chủ trong 4 tháng), sau đó vây đánh trấn An Định (h. Tuân Nghĩa), đồn Nguyệt Lãng (h. Vĩnh Trị) và nhiều đốn trại khác trên bờ sông Trà Vinh. Triều đình đưa quân đàn áp, bị nghĩa quân đánh bại ở ô Đùng, Xoài Xiêm. Ba Xao, nhưng lực lượng nghĩa quân cũng suy giảm, phải lui về phòng giữ căn cứ Rum Đuôn. Cuối 1841 đầu 1842, các cánh quân triều đình do Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Trứ chỉ huy, phối hợp vây đánh ác liệt, phá hủy căn cứ, bắt được Lâm Sâm và nhiều thủ lĩnh khác của nghĩa quân, dập tắt cuộc khởi nghĩa.

        KHỞI NGHĨA LÊ DOÃN NHẠ (7.1885), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Nghệ An do Lê Doãn Nhạ lãnh đạo. 7.1885 hường ứng “Chiếu Cấn Vương" của vua Hàm Nghi, Lê Doãn Nhạ lập căn cứ chống Pháp ở Đồn Vàng, một cơ sở khai hoang lớn thuộc h. Anh Sơn (t. Nghệ An), được đông đảo nhân dân trong đó có nhiều đồng bào miền núi các huyện Con Cuông. Anh Sơn. Tương Dương. Kì Sơn tham gia. Nghĩa quân tích cực xây dựng đồn trại, cất trữ lương thực, sắm sửa vũ khí, luyện tập võ nghệ. Hoạt động của nghĩa quân mở rộng đến sát tp Vinh, gây cho Pháp nhiều thiệt hại với các trận đánh Đồn Kiều, Bảo Nham. Cầu Đạo, Đồn Dừa... Tuy vậy, trước sự đàn áp dã man của quân Pháp, do so sánh lực lượng chênh lệch, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt.

        KHỞI NGHĨA LÊ DUY LƯƠNG (1833), khởi nghĩa của đồng bào dân tộc Mường ở Hoà Bình do Lê Duy Lương lãnh đạo chống lại triều Nguyễn thời vua Minh Mạng. Dưới danh nghĩa “phủ Lê”, Lê Duy Lương ngầm liên kết với các thủ lĩnh họ Quách, họ Đinh ở Sơn Âm và Thạch Bi (Hoà Bình) tập hợp lực lượng khởi nghĩa, được đông đảo nhân dân (chủ yếu người Mường ở Hoà Bình và dân lưu tán các tỉnh làn cận) tham gia. Thanh thế của nghĩa quân ngày càng mạnh, địa bàn hoạt động lan rộng khắp vùng núi các tinh Hoà Bình, Nam Định. Ninh Bình. Sơn Tây, Thanh Hóa, Hưng Hóa... Từ 3.1833 nghĩa quân liên tiếp đánh chiếm các đồn Chi Nê (Hoà Bình), Vạn Bờ (Đà Bắc). Bất Bạt (Sơn Tây), vây đánh thành Thiên Quan (Nho Quan, Ninh Bình), tỉnh thành Hưng Hóa... Triều Nguyễn huy động quân từ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa. Hà Nội, Nam Định... tập trung lực lượng lần lượt phá vỡ các căn cứ của nghĩa quân. 7.1833 Lê Duy Lương bị bắt đưa về Huế xử tội lăng trì, KNLDL chấm dứt.

        KHỞI NGHĨA LÊ NINH (1885-87), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Hà Tĩnh do Lê Ninh (tức Am Ninh hay Bang Ninh) lãnh đạo. 7.1885 hưởng ứng Chiếu Cấn Vương của vua Hàm Nghi, Lê Ninh tập hợp lực lượng lập căn cứ tại làng Trung Lễ thuộc phủ Đức Thọ, liên hệ với nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Hương Khê tạo thành phong trào đánh Pháp khắp t. Hà Tĩnh. 9.1885 nghĩa quân đánh chiếm thành Hà Tình, nhưng sau đó bị Pháp đem quân đàn áp. thiêu hủy căn cứ Trung Lễ. nên phải rút về vùng Bạch Sơn (Hương Sơn) lập cán cứ mới. Sau khi Lê Ninh ốm chết (1887), các con là Lê Khai. Lê Phác, Lê Trực tiếp tục chỉ huy nghĩa quân chiến đấu thêm một thời gian rồi gia nhập khởi nghĩa Phan Đình Phùng.

        KHỚI NGHĨA LÊ VĂN KHÔI (1833-35), khởi nghĩa của một bộ phận quan lại, binh lính ở Nam Kì do Lê Văn Khôi lãnh đạo chống lại triều Nguyễn thời vua Minh Mạng. Xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ (cha nuôi Lê Văn Khôi là Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định, có mưu đổ chống đối, sau khi chết bị vua Minh Mạng trị tội cả gia đình), 6.1833 Lê Văn Khôi cùng những người đồng mưu phát động binh lính nổi dậy phá nhà lao. trang bị khí giới cho các tù nhân, đánh chiếm thành Phiên An (thành Gia Định),.tự xưng Bình Nam đại nguyên soái, phát hịch kể tội triều Nguyễn và kêu gọi nhân dân nổi dậy. Trong vòng một tháng, quân khởi nghĩa chiếm được sáu tỉnh Nam Kì, chủ trương lập chính quyền riêng, được giáo dân và giáo sĩ phương Tây ủng hộ. Triều Nguyễn cử Tống Phúc Lương, Phan Văn Thúy, Trương Minh Giảng chỉ huy các đạo quân lớn đến đàn áp. Một số quan lại. địa chủ trong hàng ngũ nghĩa quân dao động, phản bội; Lê Văn Khôi lại dựa vào giáo sĩ phương Tây đi cầu viện quân Xiêm (Thái Lan), làm cho tinh thần nghĩa quân nao núng, nhân dân không ủng hộ. Lợi dụng tình hình đó, quân triều đình nhanh chóng chiếm lại các tinh đã mất, buộc nghĩa quân phải rút vào cố thủ trong thành Phiên An. Đầu 1834 Lê Văn Khôi ốm chết, lực lượng khởi nghĩa suy yếu, thiếu lương thực, vũ khí, bệnh dịch hoành hành, một số lớn nghĩa quân ra đầu thú, số còn lại tiếp tục chống cự, đến 7.1835 bị đánh bại.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:42:01 pm

        KHỞI NGHĨA LÍ BÍ (542-44), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Châu do Lí Bí lãnh đạo chống ách thống trị của nhà Lương (TQ). Nổ ra khoảng đầu 542, được nhân dân và nhiều hào kiệt địa phương ủng hộ, trong thời gian ngắn, chiếm được châu thành Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh). Thứ sử Tiêu Tư phải trốn về Quảng Châu (TQ). 4.542 vua Lương sai Trần Hầu, Ninh Cư, Lí Tri, Nguyễn Hán đem quân sang đánh, bị thất bại. Nghĩa quân kiểm soát toàn bộ lãnh thổ từ Châu Đức (nay là Hà Tĩnh) ở phía nam tới Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, TQ) ở phía bắc. 1.543 vua Lương lại sai Tòn Quýnh, Lí Từ Hùng đem quân đánh dẹp. Lí Bí chủ động tiến công, diệt phần lớn quân Lương ở Hợp Phố. Tôn Quýnh và Lí Từ Hùng chạy về Quảng Châu, bị vua Lương xử tội. 5.543 nhân cơ hội Lí Bí đang phải đối phó trên biên thùy phía bắc, vua Chămpa đem quân đánh phá Châu Đức. Lí Bí cử tướng Phạm Tu đưa quân vào đánh tan ở Cửu Đức (nay thuộc Hà Tĩnh). Vua Chămpa chạy trốn về nước. Sau những thắng lợi đó, 2.544 Lí Bí tuyên bố độc lập, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở vùng gần cửa sông Tô Lịch (nay thuộc Hà Nội), lên ngôi hoàng đế, xưng Nam Việt Đế (Lí Nam Đế), mở đầu thời kì độc lập của đất nước.

        KHỚI NGHĨA LÍ TRƯỜNG NHÂN (468-78), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Châu do Lí Trường Nhân lãnh đạo chống chính quyền đô hộ nhà Tống (TQ). Khoảng 4.468 nhân thời cơ Lưu Mục (thứ sử nhà Tống ở Giao Châu) chết, Lí Trường Nhân (một hào trưởng địa phương) kịp thời phát động nhân dân nổi dậy giết hết thuộc hạ của Lưu Mục rồi tự xưng thứ sử. Vua Tống cử Lưu Bột làm thứ sử đưa quân vào Giao Châu, bị Lí Trường Nhân đánh bại, Lưu Bột chết. Đến 478 sau ba lần đem quân đánh dẹp không thành, nhà Tống buộc phải công nhận chính quyền tự trị của Lí Trường Nhân ở Giao Châu. 479 Lí Trường Nhân chết, em họ là Lí Thúc Hiến lên thay, tiếp tục nắm quyền tự trị.

        KHỞI NGHĨA LÍ TỰ THÀNH - TRƯƠNG HIÊN TRƯNG (1629-46), hai cuộc khởi nghĩa nông dân lớn ở TQ làm sụp đổ triều Minh. Diễn ra trong bối cảnh triều Minh đang phải đối phó với cuôc chiến tranh Hậu Kim - Minh (1618-44). Quân Lí Tự Thành khởi nghĩa từ 1629, hoạt động ở Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hà Nam. 1641 quân số phát triển tới 1 triệu người, chiếm được Lạc Dương, sau tiến chiếm Tây An, đổi làm Tây Kinh (1643), thành lập chính quyền Đại Thuận, tiến đánh kinh đô Bắc Kinh (1644), tuyên bố “ba năm không thu thuế, không giết hại dân, mua bán công bình”, được nông dân nhiệt liệt hoan nghênh. Quân Minh tan vỡ, hoàng đế Sùng Trinh tự sát, nhà Minh mất. Quân khởi nghĩa chiếm được một vùng đất đai rộng lớn từ Trường Thành đến bắc Sông Hoài. Quân Trương Hiến Trung khởi nghĩa từ 1630, hoạt động ở nam Hồ Bắc, Tứ Xuyên; 1644 chiếm được Trùng Khánh, Thành Đô, thành lập chính quyền Đại Tây. Trong khi Lí Tự Thành chiếm Bắc Kinh, quân Hậu Kim (Thanh) sau khi diệt quân Minh ngoài Trường Thành, chuyển sang đàn áp lực lượng khởi nghĩa ở Sơn Hải Quan, tiếp đó được sự phối hợp của Ngô Tam Quế (hàng tướng Minh) tiến đánh Bắc Kinh. Lí Tự Thành thua trận, vội lên ngôi hoàng đế rồi rút khỏi Bắc Kinh, bị phục kích, chết tại Hồ Bắc (1645). Trương Hiến Trung cũng bị chết tại Tứ Xuyên (1646). Số quân khởi nghĩa còn lại chuyển sang chống Thanh, sau cũng bị thất bại.

        KHỞI NGHĨA LÍ TỰ TIÊN, ĐINH KIẾN (687), khởi nghĩa của người Việt ở vùng núi Giao Châu (nay là miền Bắc VN) do Lí Tự Tiên, Đinh Kiến lãnh đạo chống ách đô hộ của nhà Đường (TQ). Mùa Thu 687 Lí Tự Tiên phát động nhân dân nổi dậy chống chính sách thuế nặng nề của chính quyền đô hộ nhà Đương, bị Lưu Diên Hưu đem quân đàn áp. Lí Tự Tiên chết, nhưng cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục phát triển dưới sự lãnh đạo của Đinh Kiến. Nghĩa quân tiến đánh thành Tống Bình (nay là Hà Nội) giết Lưu Diên Hựu. Lúc đó nhà Đường đang cường thịnh, sai Tào Huyền Tĩnh, Phùng Nguyên Thường đem đại quân sang đánh dẹp. Đinh Kiến hi sinh, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt.

        KHỎI NGHĨA LƯƠNG LONG (178-81), khởi nghĩa của nhân dân các quận Giao Chi, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố do Lương Long (một thủ lĩnh người Việt ở Giao Chi) lãnh đạo chống chính quyền đô hộ Đông Hán (TQ). Nổ ra khoảng đầu 178, được đông đảo nhân dân các địa phương hưởng ứng, số quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người ô Hừ (tổ tiên người Tày) ở vùng biên giới Việt - Trung, người Choang ở Quảng Tây (TQ)... tạo cho thế lực nghĩa quân càng mạnh. Nghĩa quân tới đâu, chính quyền đô hộ tan rã tới đó, buộc thứ sử Giao Chỉ là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và cầu xin viện binh. Hè 181 vua Đông Hán sai Lan Lăng, Chu Tuấn đem 5.000 quân sang cùng Chu Ngung đàn áp, giết được Lương Long; cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:43:09 pm

        KHỞI NGHĨA MẠC ĐỈNH PHÚC - KÌ ĐỒNG (1897), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân vùng duyên hải Bắc Kì (VN) do Mạc Đĩnh Phúc và Kì Đồng (Nguyễn Văn Cẩm) lãnh đạo. Theo kế hoạch khoảng giữa 12.1897 khởi nghĩa sẽ tiến hành đồng thời ở nhiều nơi (Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Yên, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam...), nhưng do tổ chức thiếu chặt chẽ nên nổ ra lẻ tẻ ở Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình. Đêm 16 rạng 17.12, cánh quân của Mạc Đĩnh Phúc khoảng 500 người, trang bị giáo mác đánh vào tp Hải Phòng đốt phá một số dãy phố và cơ sở sản xuất của Pháp, nhưng bị quân Pháp phản công đẩy lùi. Trước đó, đêm 13.12 nghĩa quân tiến đánh trại lính khố xanh, đốt phá chợ ở Hải Dương; đêm 16.12 tiến công 1 đồn ở Ninh Giang, nhưng không gây thiệt hại đáng kể cho quân Pháp. Ngoài ra nghĩa quân cũng tiến đánh tỉnh lị Thái Bình và nổi dậy ở một
số nơi (Vĩnh Bảo, Gia Lộc, Tứ Kì, cẩm Giàng, Nam Sách. Thanh Hà) nhưng đều thất bại. Là một trong những cuộc khởi nghĩa tiếp sau phong trào Cần Vương (1885-95), tuy không lớn và bị dập tắt nhanh chóng, nhưng thể hiện tinh thần đấu tranh liên tục của nhân dẫn VN chống chiến tranh xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp.

        KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN (722), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo chống ách thống trị của nhà Đường (TQ). Nổ ra năm 722, mờ đầu bằng cuộc nổi dậy thắng lợi của dân phu gánh vải quả nộp cống, được dân Ái Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (nay là Thanh Hóa, Nghệ An) hưởng ứng. Mai Thúc Loan xưng đế, lấy Sa Nam làm căn cứ, trung tâm là Vệ Sơn, xây thành Vạn An (nay thuộc Nghệ An) dài hơn nghìn mét; liên kết với các nước Chămpa ở phía nam, Chân Lạp ở phía tây và nước Kim Lân (nay là Malaixia) để chống nhà Đường. Từ Vạn An. nghĩa quân tiến ra Bắc, chiếm thành Tống Bình (nay là Hà Nội). Quan đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ thành chạy về TQ. Đất nước được giải phóng; lực lượng nghĩa quân lên tới hàng chục vạn người. Vua Đường sai Dương Tư Húc đem 100.000 quân sang đàn áp. Nghĩa quân thua trận, tan vỡ, phải lui vào rừng và ngừng hoạt động sau khi Mai Thúc Loan lâm bệnh chết đột ngột (723). Quân xâm lược tàn sát nhân dân. chất xác nghĩa quân đắp thành gò cao.

        KHỞI NGHĨA MĨ LƯƠNG nh KHỞI NGHĨA CAO BA QUÁT (1854-55)

        KHỎI NGHĨA MÔNCAĐA (26.7.1953), khởi nghĩa vũ trang của lực lượng thanh niên yêu nước Cuba do Phiđen Caxtrô lãnh đạo, chống chế độ độc tài Batixta, diễn ra tại tp Xantiagô đê Cuba, mờ đầu chiến tranh cách mạng Cuba (1953-59). Theo kế hoạch, lực lượng khởi nghĩa gồm 135 chiến sĩ sau khi tập kết ở nông trại Xibônây (cách Xantiagò 17km), cải trang thành lính Batixta đột nhập vào thành phố, tập trung đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là trại lính Môncada (có 400 lính và sĩ quan đóng giữ). 5 giờ 15ph ngày 26.7, lực lượng khởi nghĩa nổ súng tiến công, chiếm được bệnh viện Xatuôcnicô Lôra và trụ sở tòa án bên cạnh trại lính Môncada; quân Batixta phát hiện được và huy động lực lượng đàn áp. KNM thất bại nhưng có ảnh hưởng lớn đến tinh hình chính trị đất nước, dẫn đến sự ra đời của tổ chức “Phong trào 26.7”, chủ trương lãnh đạo nhân dân Cuba tiến hành đấu tranh vũ trang CM, lật đổ chế độ độc tài Batixta. 26.7.1953 được lấy làm ngày khởi nghĩa dân tộc của Cuba.

        KHỞI NGHĨA NAM KÌ (11.1940), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Nam Kì, do Xứ ủy Nam Kì ĐCS Đông Dương lãnh đạo. Trước khí thế CM của quần chúng, nhất là phong trào phản chiến của binh lính người Việt trong QĐ Pháp ở Nam Kì, Xứ ủy Nam Kì quyết định phát động khởi nghĩa. Do chỉ thị của BCHTƯĐCS Đông Dương hoãn cuộc khởi nghĩa không tới kịp, đêm 22 rạng 23.11 khởi nghĩa nổ ra hầu khắp các tỉnh Nam Kì, đặc biệt ở Mĩ Tho. Lực lượng khởi nghĩa tiến công các đồn bốt, phá giao thông, giành chính quyền ở một số nơi và bước đầu thực hiện một số việc của chính quyền  CM như lập tòa án xét xử những phần tử phản động, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân... Do thời cơ CM chưa chín muồi, kế hoạch bị lộ nên thực dân Pháp đã kịp thời đối phó, dùng máy bay, xe tăng đàn áp, triệt hạ nhiều thôn xóm, bắt giết và đưa đi tù đày hàng vạn người trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên. KNNK thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc VN, là cuộc diễn tập chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:44:16 pm

        KHỜI NGHĨA NAM XƯƠNG (1.8.1927-4.1928), khởi nghĩa vũ trang do ĐCS TQ lãnh đạo tại Nam Xương (Giang Tây, TQ) sau khi tập đoàn Tường Giới Thạch - Uông Tinh Vệ phản bội lại đường lối “liên Nga, liên cộng, ủng hộ công nông” do Tôn Trung Sơn đề xướng. Sáng 1.8.1927 hơn 30.000   quân Bắc phạt do Chu Ấn Lai, Hạ Long. Diệp Đĩnh. Chu Đức, Lưu Bá Thừa chỉ huy nổ súng khởi nghĩa, chiếm thành phố; sau 5 giờ chiến đấu, tiêu diệt hơn 3.000 quân Quốc dân đảng. 3.8 quân khởi nghĩa rút khỏi Nam Xương, tiến về phía nam, dự định tới Quảng Đông xây dựng lại căn cứ địa CM rồi tiếp tục Bắc phạt. Do đánh xuống Quảng Đông quá xa, không kết hợp được với phong trào nông dân, không xác định được mục tiêu tiến công tiếp theo, nên bị quân Quốc dân đảng đánh thiệt hại nặng. Một bộ phận lực lượng còn lại do Chu Đức chỉ huy tiến về Tinh Cương Sơn hợp với cánh quân của Mao Trạch Đông (4.1928). KNNX đánh dấu giai doạn ĐCS TQ độc lập xây dựng LLVT CM và tiến hành chiến tranh CM. 1.8 được lấy làm ngày thành lập Hồng quân công nông Trung Quốc.

        KHỎI NGHĨA NGUYÊN CHÍCH (1417-20). khởi nghĩa của nhân dân vùng nam Thanh Hóa do Nguyễn Chích lãnh đạo chống ách đô hộ của nhà Minh (TQ). 1417 Nguyễn Chích phát động dân chúng nổi dậy, tập hợp lực lượng xây đắp thành lũy, lập căn cứ ở vùng núi Hoàng Sơn và Nghiêu Sơn, giáp Sông Hoàng, thuộc địa phận hai huyện Đông Sơn và Nông Cống (Thanh Hóa). Dựa vào thế núi sông hiểm trở, nghĩa quân vừa phòng thủ, vừa tiến hành các trận tập kích gây cho quân Minh nhiều thiệt hại. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân mờ rộng dần khắp vùng Đông Sơn, Nông Cống, Tĩnh Gia vào đến bắc Nghệ An. Khoảng 1420 Nguyễn Chích đem toàn bộ lực lượng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27).

        KHỞI NGHĨA NGUYỄN QUANG BÍCH (1885-89), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân vùng núi Tây Bắc (VN) do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo. Hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” của vua Hàm Nghi, Nguyễn Quang Bích từ bỏ chức tuần phủ, chống lệnh triều đình, lẻn Tây Bắc tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ chống Pháp tại Văn Chấn (căn cứ chính, nay thuộc Yên Bái), sau chuyển về Yên Lập (nay thuộc Phú Thọ) dược nhiều sĩ phu, tù trưởng và nhân dân các dân tộc tham gia. Phong trào lan rộng từ vùng Sông Đà, Sông Hồng, Sông Chảy, tới biên giới Việt - Trung. Dựa vào rừng núi, di chuyển linh hoạt, nghĩa quân làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét của các binh đoàn Pháp. 10.1889 quân Pháp tiến công vào căn cứ của nghĩa quân ở Mộ Xuân (Yên Lập, Phú Thọ). Lực lượng khởi nghĩa bị tổn thất và suy yếu dần. Sau khi Nguyễn Quang Bích chết, Để Kiều, Đốc Ngữ là những thủ lĩnh kế tục đã kéo dài cuộc chiến đấu tới 1892. KNNQB tiêu biểu cho phong trào Cần Vương chống Pháp của các dân tộc miền núi.

        KHỞI NGHĨA NGUYỄN TRUNG TRỰC (1861-68), khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân Nam Kì (VN) do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo. Cùng với khởi nghĩa Trương Định (1861-64), Nguyễn Trung Trực tập hợp nghĩa binh chống Pháp ở Tân An (Long An), sau chuyển sang vùng Hà Tiên, Rạch Giá. Phú Quốc. Nghĩa quân đánh chìm tàu Pháp trong trận nổi tiếng đầu tiên (x. trận Nhật Tảo, 10.12.1861). Khi ba tỉnh Đông Nam Kì bị Pháp chiếm (1861), trước sự thỏa hiệp của triều Nguyễn dẫn tới mất nốt ba tỉnh miền Tây (1867), Nguyễn Trung Trực đã cưỡng lệnh điều động và bãi binh của triều đình, tiếp tục ở lại cùng nghĩa quân chiến đấu. gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Sau trận nghĩa quân diệt đồn Rạch Giá (Kiên Giang), giết đồn trưởng và làm chủ tỉnh lị (16.6.1868), quân Pháp đã tập trung lực lượng phản công trong 3 ngày. Nguyễn Trung Trực lui quân ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu Cửa Cạn. 9.1868 quân Pháp có người dẫn đường, bất ngờ đánh vào Cửa Cạn. Nghĩa quân bị thiệt hại nặng, phải rút vào rừng và ngừng hoạt động sau khi Nguyễn Trung Trực bị Pháp bắt và xử chém tại Rạch Giá (27.10.1868).

        KHỞI NGHĨA NGUYỄN VĂN GIÁP (1885-87), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân các tỉnh tây bắc Bắc Bộ do Nguyễn Văn Giáp lãnh đạo. Hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” của vua Hàm Nghi, khoảng 4.1885 Nguyễn Văn Giáp lập căn cứ kháng chiến ở vùng Việt Trì - Phú Thọ, sau mở rộng hoạt động đến Yên Bái. Nghĩa Lộ, Sa Pa, Sơn Tây, Nghệ An; có liên hệ chặt chẽ với lực lượng khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích, Đèo Văn Trì,... tạo thành phong trào chống Pháp rộng khắp miền Tây Bắc. Từ 10.1885 Pháp huy động nhiều binh đoàn mở các cuộc càn lớn vào căn cứ nghĩa quân, nhưng không đạt kết quả do cách đánh linh hoạt, di chuyển nhanh của nghĩa quân. Khoảng cuối 1887 Nguyễn Văn Giáp ốm chết, cuộc khởi nghĩa kết thúc.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:45:22 pm

        KHỞI NGHĨA NGUYỀN XUÂN ÔN (1885-87), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Nghệ An do Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo. 7.1885 hưởng ứng “Chiếu Cần Vương”, Nguyễn Xuân Ôn chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở Đồng Thông (phủ Diễn Châu, Nghệ An), được đông đảo nhân dân, đặc biệt là các nho sinh tham gia. Hoạt động của nghĩa quân lan rộng tới tây bắc tp Vinh và vùng lưu vực Sòng Cả (Nghệ An), gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp. Đầu 1887 nghĩa quân có thêm lực lượng của Trần Xuân Soạn cùng tham gia chiến đấu. Nhiều trận đánh diễn ra ở tây bắc Vinh (1.1887), Đô Lương (4.1887). Ngày 25.5.1887 Nguyễn Xuân Ôn bị bắt do nội phản, nhưng không chịu hàng, sau ốm nặng và qua đời tại Huế (5.1888). Quân khởi nghĩa rút vào rừng hoạt động thêm ít lâu rồi tan rã.

        KHỞI NGHĨA NÔ LỆ, khởi nghĩa do giai cấp (tầng lớp) nô lệ tiến hành chống lại sự áp bức, thống trị của giai cấp quý tộc, chủ nô nhằm giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. KNNL thường nổ ra tự phát, chưa có cương lĩnh đấu tranh nhằm tiêu diệt chế độ chiếm hữu nô lệ, phần lớn chỉ đập phá dinh thự, nhà cửa, tìm giết bọn chủ nỏ. Trong chế độ chiếm hữu nô lộ đã có nhiều cuộc KNNL nổ ra. Tiêu biểu như cuộc khới nghĩa Xpactacut (73-71 ten) - cuộc KNNL thời cổ La Mã.

        KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN, khởi nghĩa do giai cấp nông dân tiến hành nhằm lật đổ ách thống trị của các tập đoàn phong kiến lỗi thời; hình thức đấu tranh giai cấp cao nhất, quyết liệt nhất của nông dân chống phong kiến. Do hạn chế bời địa vị lịch sử của giai cấp nông dân, KNND dù lật đổ được chính quyền phong kiến, nhưng không thiết lập được chế độ mới, không đưa xã hội vượt ra khỏi chế độ phong kiến, chỉ tạo điều kiện cho chế độ tư bản ra đời. Ở VN, KNND nổ ra manh mẽ nhất vào tk 18, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89) lật đổ hai tập đoàn phong kiến phản động Trịnh - Nguyễn, lập nên triều đại Tây Sơn.

        KHỞI NGHĨA NÔNG DÂN THẾ KỈ 18, các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống ách áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến thời Lê - Trịnh - Nguyễn. Bắt đầu từ những năm cuối tk 17 đầu tk 18, ở Đàng Ngoài đã diễn ra những cuộc bạo động của nông dân cướp phá nhà giàu, chống quân triều đình tại Hải Dương, Sơn Tây, Tuyên Quang, Bắc Ninh. Bắc Giang, Lai Châu. Hoà Bình... mà sử sách thời đó ghi là “trộm cướp, giặc giã nổi lên như ong”. Phong trào đạt tới đỉnh cao vào những năm 1740-50, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng (1737), Lê Duy Mật (1738-69), Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ (1739-41), Hoàng Công Chất (1739-69), Nguyễn Danh Phương (1740-51), Nguyễn Hữu Cầu (1741-51), khiến chính quyền Lê - Trịnh điêu đứng. Trong khi đó ở Đàng Trong, từ giữa tk 18 cũng nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân chống chính quyền Nguyễn, đáng chú ý là khởi nghĩa của Lía ở Quy Nhơn, của người Chăm ở Thuận Thành (Nam Trung Bộ), người Chămrê ở miền núi Quảng Ngãi... Do thiếu tổ chức, đến khoảng 1770 hầu hết các cuộc khởi nghĩa trên cả nước đều lần lượt bị dập tất. KNNDTK18 thất bại nhưng đã làm suy yếu các chính quyền phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn, tạo điều kiện cho phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ và giành thắng lợi (x. khởi nghĩa Tây Sơn, 1771-89).

        KHỞI NGHĨA NÔNG VĂN VÂN (1833-35), khởi nghĩa của nhân dân các dân tộc ít người vùng núi Việt Bắc do Nông Văn Vân (tri châu Bảo Lạc, Tuyên Quang) lãnh đạo, chống lại triều Nguyễn thời vua Minh Mạng. Nổ ra 8.1833 tại Tuyên Quang, sau lan rộng hầu khắp các tỉnh Việt Bắc, được đông đảo nhân dân và các tù trưởng tham gia. Nghĩa quân đánh chiếm được các tỉnh thành Tuyên Quang, Cao Bằng, uy hiếp các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, trừng trị nhiều quan lại tham những, ngoài ra còn liên kết với các thủ lĩnh nghĩa quân ở Sơn Tây tiến đánh Hà Nội, Bắc Ninh. Triều đình phải điều quân các tỉnh Bắc Kì và Bắc Trung Kì do các tổng đốc Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ, Phạm Đình Phổ, Tạ Quang Cự chỉ huy cùng phối hợp đàn áp. Mặc dù phải đối phó vất và và chịu nhiều tổn thất, nhưng với binh lực lớn, quân triều đình đã đánh bại nghĩa quân ở nhiều nơi, giết được Nông Văn Vân. Đến 4.1835 cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.

        KHỞI NGHĨA NƠ TRANG LƠNG (1912-35), khởi nghĩa của đồng bào dân tộc Mơ Nông ở Tây Nguyên do Nơ Trang Lơng lãnh đạo chống chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của Pháp. Nổ ra 1912, bắt đầu từ một bộ lạc người Mơ Nông ở vùng tiếp giáp biên giới VN - Lào - Campuchia, sau lan rộng ra nhiều bộ lạc Mơ Nông ở tây nam Đắk Lắk. bắc Biên Hoà, Thủ Dầu Một và thượng du Crachiê (Campuchia), thu hút cả các bộ lạc người Xtiêng, Mạ... cùng tham gia. Dựa vào các căn cứ trong rừng, nghĩa quân tiến hành nhiều trận tập kích vào quân đồn trú và các đoàn khảo sát vũ trang của Pháp đang xâm nhập, mở rộng khai thác Tây Nguyên, gây cho địch nhiều thiệt hại. Từ 1916 Pháp tăng cường các hoạt động bình định, và từ 1930-35. liên tiếp mở các cuộc càn quét lớn dưới sự chỉ huy trực tiếp của toàn quyền Đông Dương Paxkiẻ. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, giành một số thắng lợi nhưng cuối cùng chịu thất bại sau khi Nơ Trang Lơng bị bắt và bị giết (23.5.1935). KNNTL là một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp lớn nhất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong lịch sử VN thời cận đại.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:47:13 pm

        KHỎI NGHĨA ÔNG KẸO - COMMAĐAM (1901-37), khởi nghĩa của nhân dân bộ tộc Lào Thơng do Ông Kẹo và Commadam lãnh đạo, chống ách thống trị của thực dân Pháp ở Nam Lào. Mở đầu là hành động giết một số đồn trường ở Sẽ Piên, Capu... phản đôi Pháp khai thác tài nguyên, bóc lột. đàn áp nhân dân ở cao nguyên Bôlôven. Nghĩa quân chiếm chùa Tha Teng, đánh quân ứng cứu do công sứ Pháp chỉ huy (12.4.1901). Sau đó khi chuyển căn cứ về Xarayan. nghĩa quân phân tán lực lượng, tiêu hao địch; 30.11.1905 tập kích diệt quân phản động ở Noọng Núc Khiêu. Pháp phải đưa lực lượng từ Bắc Kì (VN) sang đàn áp, kết hợp các biện pháp bao vây kinh tế, tiến công QS, mua chuộc tù trường...; 13.10.1907 lập mưu đàm phán và sát hại Ông Kẹo ngay tại bàn đàm phán. Commađam thay Ông Kẹo duy trì cuộc khởi nghĩa, mở rộng đoàn kết trong bộ tộc Lào Thơng và giữa bộ tộc Lào Thơng với Lào Lùm, thiết lập căn cứ du kích ở nhiều nơi (dọc sông Xecatãng, núi Phù Luổng ở đòng bắc cao nguyên Bỏlôven), chế tạo vũ khí (súng kíp), sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm, củng cố lực lượng, đánh thắng nhiều trận trên địa bàn các tinh Xarayan, Chămpa Xắc. Sau nhiều năm liền cho quân bao vây căn cứ trung tâm Phù Luổng. tàn sát nhân dân quanh vùng nhằm làm mất chỗ dựa của nghĩa quân, đầu 1936 Pháp huy động 5 tiểu đoàn bộ binh, 200 tượng binh, nhiều đơn vị kị binh, có không quân chi viện, tiến công lớn vào căn cứ. Cuối 9.1936 Commađam hi sinh; người con thứ ba tiếp tục cùng nghĩa quân chiến đấu, đến 7.1937 bị dịch bắt. KNÔK-C chấm dứt, để lại nhiều bài học quý cho CM Lào và là niềm tự hào của các bộ tộc Lào.

        KHỞI NGHĨA PHAN BÁ VÀNH (1821-27), khởi nghĩa của nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ do Phan Bá Vành lãnh đạo, chống lại triều Nguyễn thời vua Minh Mạng. Nổ ra khoảng đầu 1821, thu hút hàng nghìn nông dân nghèo và một số nho sĩ, thổ hào tham gia, trong đó có cả phụ nữ. Nghĩa quân lập căn cứ ở Trà Lũ (Nam Định), nhanh chóng mở rộng hoạt động ra khắp các tinh ven biển từ Quảng Yên đến Thái Bình, Nam Định, có lúc lan tới Sơn Tây, Hoà Bình. Thanh Hóa; tiến hành bao vây đánh phá các phủ, huyện, đồn luỹ, giết quan quân triều đình, lấy của nhà giàu phân phát cho dân nghèo... Trước thanh thể của nghĩa quân, triều Nguyễn phái điểu động hầu hết lực lượng QĐ ở Bắc Thành. Nghệ An. Thanh Hóa và một phần lực lượng vệ quân ở kinh đồ Huế tới đàn áp. Dựa vào binh lực lớn. quân triều đình chia thành nhiều đạo tiến công nghĩa quân từ khắp các mặt và bao vây căn cứ Trà Lũ. 3.1827 cuộc khởi nghĩa bị dập tắt sau khi Phan Bá Vành cùng hàng trăm nghĩa quân bị bắt và bị tàn sát dã man. KNPBV là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn, tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện sự phản kháng của nông dân đối với chế độ thống trị triều Nguyễn.

        KHỞI NGHĨA PHAN ĐÌNH PHÙNG nh KHỞI NGHĨA HƯƠNG KHÊ (1885-95)

        KHỚI NGHĨA PHÒ CÀ ĐUỘT (1901-03), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân bộ tộc Lào Lùm ở t. Xayannakhẹt (Nam Lào) do Phò Cà Đuột lãnh đạo. Nổ ra 3.1901, lúc đầu là phong trào đấu tranh chống áp bức bóc lột, sau đó nhân dân tự trang bị giáo mác, gươm, nỏ, cung tên vũ trang khởi nghĩa. Phò Cà Đuột vận động nhân dân đấu tranh bàng các hình thức tòn giáo, văn hóa phù hợp; được hưởng ứng rộng khắp lưu vực sông Sê Đôn và sông Bắc sắc, đồng thời còn dược bộ tộc Lào Thơng ở vùng sông Mê Công nhiệt tình tham gia. 4.1902 nghĩa quân phối hợp với nhân dân thị xã Xavannakhẹt đánh chiếm bưu điện Xoỏng Khon và Khê Ma Rạt, bao vây tiến công tòa công sứ Pháp (19.4.1902). Pháp phải huy động lực lượng chính quy tới đàn áp, làm chết và bị thương 300 người. Nghĩa quân tạm rút về Sê Pôn, xây dựng căn cứ Keeng Coọc. Huội Loòng Coòng. Tại đây thực dân Pháp tiếp tục truy lùng, càn quét, sát hại Phò Cà Đuột cùng hơn 100 nghĩa quân (1903). Cuộc khởi nghĩa lắng dần và kết thúc, nhưng đã nêu tấm gương yêu nước, quyết tâm chiến đấu chống thực dân của nhân dân các bộ tộc Lào. Cg khởi nghĩa Phumi Bun.

        KHÓI NGHĨA PHUMI BUN nh KHỞI NGHĨA PHÒ CÀ ĐUỘT (1901-03)

        KHỎI NGHĨA PHÙNG HƯNG (7667-79), khởi nghĩa của nhân dân châu Đường Lâm (nay thuộc tx Sơn Tây, t. Hà Tây), do hào trường Phùng Hưng lãnh đạo, chống ách đô hộ của nhà Đường (TQ). Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-79) Phùng Hưng cùng em là Phùng Hải tập hợp nghĩa binh, phát động nhân dân nổi dậy, nhanh chóng chiếm giữ châu Đường Lâm và các địa phương quanh vùng xây dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng được tôn là đô quân, Phùng Hải là đô bảo. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, nghĩa quân tiến hành tổng công kích, đánh tan quân Đường ở nhiều nơi, vây hãm thành Tống Bình (nay là Hà Nội). Quan đô hộ Cao Chính Bình dưa quân ra ngoài thành chống đỡ, bị thua, sau mang bệnh rồi chết. Phùng Hưng vào thành, thiết lập chính quyền tự chủ trên toàn bờ cõi. Sau khi Phùng Hưng chết (được nhân dần suy tôn là Bố Cái Đại Vương, lập đền thờ ở nhiều nơi).


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:48:16 pm

        KHỞI NGHĨA PUCOM BÔ (1866-67), khởi nghĩa của nhân dân vùng đông nam Campuchia do Pucom Bô lãnh đạo chóng ách đô hộ của Pháp. Thời gian đầu, nghĩa quân Pucom Bò liên kết với nghĩa quân Trương Quyền (VN) lập căn cứ ở vùng biên giới Campuchia - VN thuộc t. Tây Ninh, đánh nhiều trận ở tx Tây Ninh. Thuận Kiều. Truông Mít... diệt một số quân Pháp. 7.1866 nghĩa quân chuyển về Campuchia, tiến đánh Xvây Riêng, kinh đô U Đông, uy hiếp Phnôm Pênh. Quân Pháp huy động lực lượng lớn đàn áp. Do lực lượng ít, thương vong nhiều, nghĩa quân rút về căn cứ. Khi Pháp chiếm ba tình Tây Nam Kì (6.1867), nghĩa quân càng khó khăn hơn. Để giành quyền chủ động, cuối 1867 nghĩa quân đột nhập Côngpông Xoài nhưng do địch mạnh hơn. Pucom Bô bị thương và bị bắt. Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng có ảnh hưởng lớn, cổ vũ phong trào đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Campuchia, xây dựng tình đoàn kết chiến đấu Campuchia - VN.

        KHỞI NGHĨA QUẢNG CHÂU (12.1927), khởi nghĩa vũ trang của binh sĩ Quốc dân đảng TQ và công nhân Quảng Châu do ĐCS TQ lãnh đạo chống lại tập đoàn Tưởng Giới Thạch. Chủ lực của khởi nghĩa là trung đoàn huấn luyện với sự tham gia của công nhân có vũ trang (khoảng 60.000 người). Sáng 11.12 khởi nghĩa bùng nổ, sau hai giờ chiến đấu tiêu diệt hơn 1.000 địch, làm chủ thành phố, tuyên bố thành lập chính quyền xô viết Quàng Châu tức công xã Quảng Châu. Tưởng Giới Thạch điều 50.000 quân tiến đánh. Quàn khởi nghĩa anh dũng chống lại, nhưng do lực lượng chênh lệch, 13.12 phải rút khỏi thành phố. Người lãnh đạo là Trương Thái Lôi hi sinh, khoảng 8.000 nghĩa quân bị sát hại. Khởi nghĩa thất bại vì nổ ra lúc CM thoái trào, địch có ưu thế về quân số và trang bị.

        KHỞI NGHĨA SIVÔTHA (1861-92). khởi nghĩa của nhân dân  Campuchia do hoàng thân Sivôtha lãnh đạo chống Pháp và triều đình Khơme. Nổ ra khoảng cuối 1861 ở tỉnh Côngpông Xoài và bắc Biển Hồ, được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia nên phát triển nhanh chóng. Nghĩa quân đánh chiếm tỉnh lị Côngpông Chàm, Xvây Riêng, tiến đánh kinh đô U Đông và Phnôm Pênh. khiến triều đình Nôrôđôm phải cầu cứu vua Xiêm và thực dân Pháp. Do không biết phát huy thắng lợi và bỏ lỡ thời cơ giành chính quyền, lực lượng khởi nghĩa dần bị đánh bại ở nhiều nơi, đến cuối 1862 phong trào tạm lắng. Sivôtha phải lánh ra nước ngoài củng cố xây dựng lực lượng. Cuối 1876 Sivôtha trở về nước tiếp tục hoạt động, gây cho quân Pháp và triều đình nhiều tổn thất. Pháp và triều đình huy động lực lượng lớn đàn áp, kết hợp dụ dỗ, mua chuộc nhưng không đạt kết quả. Sau khi Sivôtha chết (10.1892), khởi nghĩa chấm dứt. KNS là phong trào đấu tranh lớn và bền bỉ nhất, thể hiện lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Campuchia.

        KHỞI NGHĨA TẠ HIỆN (1883-87), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Bắc Kì do Tạ Hiện lãnh đạo. Sau khi Pháp chiếm Nam Định (27.3.1883), Tạ Hiện lúc đó là đề đốc Nam Định đã chiêu mộ hàng nghìn hương dũng (dân binh) đánh lại quân Pháp. 9.1883 trước thái độ đầu hàng của triều Nguyễn, Tạ Hiện chống lệnh bãi binh, trả ấn đề đốc, về phủ Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình) tập hợp lực lượng tiếp tục chiến đấu. Nghĩa quân hoạt động chủ yếu ở Đông Triều, Quảng Yên, Bãi Sậy, phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khác đánh bại nhiều đợt tiến công của quân Pháp, gây cho chúng nhiều thiệt hại. 2.2.1887 Tạ Hiện bị bắt trong một trận đánh quyết liệt ở vùng Phả Lại. Cuộc khởi nghĩa đến đây chấm dứt.

        KHỎI NGHĨA TÂY SƠN (1771-89), khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo chống các tập đoàn phong kiến chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, thống nhất đất nước. Tiếp sau các cuộc khởi nghĩa nông dân thế ki 18, Xuân 1771 ba anh em họ Nguyễn tập hợp dân nghèo ấp Tây Sơn (vùng giữa Bình Định và Kon Tum) dựng cờ khởi nghĩa. Cuối 1773 thế lực nghĩa quân ngày càng mạnh, kiểm soát từ Quảng Ngãi tới Bình Thuận, cắt đôi địa phận của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Cuối 1774 quân Trịnh từ Đàng Ngoài vào chiếm Phú Xuân (Huế), đuổi chúa Nguyễn về Gia Định, đánh Tây Sơn ở Quáng Nam. Nhằm tránh thế bị đánh từ hai phía, nghĩa quân Tây Sơn thực hiện sách lược “tạm hòa với Trịnh, tập trung đánh Nguyễn”: 5 lần tiến công Gia Định (1776, 1777, 1778, 1782 và 1783) đánh bại quân Nguyễn (x. TâySơn đánh chiếm Gia Định, 1776-83), sau đó, đập tan quân Xiêm xâm lược bằng trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19.1.1785). Giữa 1786 Nguyễn Huệ đưa quân ra Thuận Hóa (Thừa Thiên - Huế), diệt quân Trịnh, chiếm Phú Xuân (x. trận Phú Xuân, 1786), mở đầu cuộc hành quân ra Bắc lần I của Nguyễn Huệ (1786), lật đổ chúa Trịnh, khôi phục nhà Lê ở Đàng Ngoài. Từ đây KNTS chủ yếu do Nguyễn Huệ lãnh đạo (vì mâu thuẫn nội bộ và Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ không còn khả năng). 1787 và 1788, Nguyễn Huệ hai lần tiến quân ra Bắc diệt lực lượng phản nghịch Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm cùng các thế lực muốn phục hồi họ Trịnh. Vua Lê phải cầu cứu nhà Thanh chống Tây Sơn. Cuối 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, hành quân thần tốc ra Bắc lần 4, trong vòng 1 tháng đập tan quân Thanh xâm lược (x. kháng chiến chống Thanh, 1788-89), giải phóng hoàn toàn Đàng Ngoài. Phong trào nông dân lớn nhất tk 18 đánh tan các thế lực phong kiến phản động, khôi phục sự thống nhất đất nước, nhanh chóng tiêu diệt quân xâm lược từ hai phía bắc, nam; để lại nhiều bài học trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:49:35 pm

        KHỞI NGHĨA TÂY VU VƯƠNG (111tcn), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Chỉ chống ách đô hộ của nhà Triệu (TQ). Khoảng cuối 111tcn, nhân lúc nhà Triệu suy yếu, bị nhà Tây Hán (TQ) thôn tính, một thủ lĩnh người Việt (gọi là Tây Vu Vương, thuộc dòng dõi Thục An Dương Vương) ở vùng Tây Vu (trung tâm là Cổ Loa. Hà Nội ngày nay) đã lãnh đạo dân chúng nổi dậy đấu tranh khôi phục lại quyền độc lập tự chủ. Do lực lượng yếu hơn, cuộc khởi nghĩa bị tả tướng nhà Triệu ở Giao Chỉ là Hoàng Đồng đem quân dập tắt, giết Tây Vu Vương, dâng đất Giao Chỉ cho Tây Hán. KNTVV là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc VN chống kẻ thù xâm lược mà sử cũ còn ghi lại.

        KHỞI NGHĨA THÁI BÌNH THIÊN QUỐC (1851-64), khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử TQ chống phong kiến nhà Thanh và địa chủ Mãn - Hán. 1843 Hồng Tú Toàn lập “Hội thờ thượng đế” để tập hợp lực lượng; 11.1.1851 khởi nghĩa vũ trang ở Kim Điền (thuộc t. Quảng Tây), thành lập Thái Bình Thiên Quốc (10.1851), chủ trương người cày có ruộng, bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, một vợ một chồng. Được sự hưởng ứng rộng rãi của nhân dân, quân khởi nghĩa tiến chiếm Hán Dương, Hán Khẩu (12.1852), Vũ Xương (1.1853), Nam Kinh (3.1853), đổi làm Thiên Kinh và định đô ở đây. Từ 5.1853 tiến hành Bắc phạt và Tây chinh. Triều Thanh chống cự kịch liệt nên Bắc phạt thất bại, còn Tây chinh chiếm được toàn tình Giang Tây. Triều Thanh thành lập hai đại doanh Giang Bắc và Giang Nam tiến công Thiên Kinh, đều bị quân khởi nghĩa đánh tan. 1856 do nội bộ chia rẽ, giết hại lẫn nhau nên lực lượng nghĩa quân suy yếu. Triều Thanh hợp tác với quân Anh - Pháp đánh nghĩa quân ở Thượng Hải. Hàng Châu, Tô Châu. 1864 Thiên Kinh thất thủ. Hồng Tú Toàn ốm chết (x. trận bảo vệ Thiên Kinh của Thái Bình Thiên Quốc, 1862-64). Một bộ phận tàn quân Thái Bình Thiên Quốc chạy sang VN, đã phân hóa thành quân Cờ Đen. quân Cờ Trắng, quân Cờ Vàng. Do phạm nhiều sai lầm về chính trị, QS, nội bộ bè phái, hưởng lạc và bảo thủ nên khởi nghĩa thất bại. Ý nghĩa lớn của KNTBTQ là lần đầu tiên trong lịch sử TQ đã đề ra phong trào đòi bốn quyền lợi về chính trị, kinh tế, dân tộc, bình đẳng nam nữ, mở màn cho cuộc CM dân chủ của TQ; cùng với phong trào Ngũ Tứ (1919) là hai sự kiện lớn trong 100 năm thời cận đại TQ.

        KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN (30.8.1917-10.1.1918), khởi nghĩa chống Pháp của binh lính người Việt trong QĐ Pháp ở Thái Nguyên, do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) cùng Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Được giác ngộ theo chủ trương đấu tranh vũ trang của VN Quang phục hội, 23 giờ 30.8.1917 Đội Cấn chỉ huy 131 lính khố xanh nổi dậy giết giám binh Pháp, phá trại giam, giải phóng tù chính trị, đánh chiếm các công sở, bao vây trại lính Pháp và nhanh chóng làm chủ tinh lị Thái Nguyên, trương cờ “Nam binh phục quốc”. Hàng trăm tù chính trị vừa được giải thoát cùng đông đảo nông dàn ngoại thị, công nhân mỏ than Phấn Mễ và công chức tình nguyện tham gia lực lượng khởi nghĩa, đào công sự, phòng thủ  tinh lị. 31.8 Pháp điều 2.000 quân, có pháo binh, tàu chiến yểm trợ từ Hà Nội và nhiều nơi khác tới đàn áp. Bằng vũ khí cướp được, nghĩa quân đánh lui nhiều đợt tiến công của Pháp, diệt hàng trăm quân. Do lực lượng quá chênh lệch và Lương Ngọc Quyến hi sinh, Đội Cấn rút quân khỏi tinh lị (5.9), phân tán thành nhiều bộ phận tiếp tục hoạt động ở vùng Thái Nguyên, Tam Đảo, Vĩnh Yên, Phúc Yên... Từ 21.12 tại căn cứ Núi Pháo (Thái Nguyên), Đội Cấn chi còn khoảng vài chục tay súng. Quân Pháp được tăng viện, tiếp tục bao vây, tiến công. 10.1.1918 sau trận đánh cuối cùng, không còn lực lượng, lại bị thương, Đội Cấn tự sát. KNTN kết thúc.

        KHỞI NGHĨA TOÀN DÂN, khởi nghĩa với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Sự tham gia của nhân dân đông đảo đến mức nào phụ thuộc vào mục tiêu, đường lối khởi nghĩa đúng đắn và tài thao lược của lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa. Ở VN, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (3.40) do Trưng Trắc, Trưng Nhị lãnh đạo là cuộc KNTD đầu tiên; tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 do ĐCS VN lãnh đạo là cuộc KNTD điển hình nhất trong lịch sử dân tộc VN.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:50:30 pm

        KHỞI NGHĨA TRÀ BỒNG (8.1959), khởi nghĩa của nhân dân  Trà Bồng do tỉnh ủy tỉnh Quảng Ngãi trực tiếp lãnh đạo. 10.1954 chính quyền Ngỏ Đình Diệm đánh phá quyết liệt phong trào CM, nhân dân Trà Bồng đấu tranh không khuất phục. Tỉnh ủy Quảng Ngãi sớm có chủ trương xây dựng căn cứ Trà Bồng và các huyện miền Tây, phát động rộng rãi phong trào diệt ác ôn, bảo vệ CM; đến mùa Thu 1959 đã thành lập được 5 đơn vị vũ trang tập trung (mỗi đơn vị khoảng 30-50 người) và các tổ chức quần chúng. 8.1959, thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương XV (1.1959), Tỉnh ủy Quảng Ngãi lãnh đạo nhân dân Trà Bồng đấu tranh chống khùng bố, tẩy chay bầu cử quốc hội của chính quyền Diệm. Sáng 28.8 binh lính địch vào các thôn xóm lùng sục, cưỡng ép dân đi bỏ phiếu, nhân dân huyện Trà Bồng đã đồng loạt nổi dậy, cùng với các đội vũ trang bao vây, tiến công các đồn cảnh sát, bảo an và trụ sở ngụy quyền. Từ 29 đến 31.8 diệt và bức rút 5 đồn, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội địch đến ứng cứu, bắt hơn 100 quân, thu hàng trăm súng các loại, xóa bỏ chính quyền địch, lập chính quyền CM. 1.9 Trà Bổng được giải phóng (trừ huyện lị). Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng phát triển sang các huyện Sơn Hà, Minh Long và gần hết huyện Ba Tơ. KNTB đã thể nghiệm thành công phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với dấu tranh vũ trang, góp phần vào cao trào đồng khởi (1959-60) của nhân dân miền Nam VN.

        KHỞI NGHĨA TRẤN NGỖI, TRẦN QUÝ KHOÁNG (1407-13), khởi nghĩa của một bộ phận quý tộc và nhân dân Đại Việt (VN). do Trần Ngỗi và Tràn Quý Khoáng (con cháu vua Trần Nghệ Tông) lãnh đạo chống ách đố hộ nhà Minh (TQ), giành độc lập, khôi phục vương triều Trần. Khoảng 10.1407 Trần Ngỗi được nghĩa quân Trần Thiện Cơ ở Thiên Trường (Nam Định) tôn làm minh chủ, tự xưng là Giản Định hoàng đế (mở đầu thời kì Hậu Trần), tập hợp những quý tộc yêu nước và nhân dân một số địa phương tổ chức chống quân Minh, được sự tham gia của nhiều quan lại và nghĩa quân của các thủ lĩnh cũ của nhà Hồ. Thế lực nghĩa quân phát triển nhanh chóng, đến 11.1408 đã giải phóng khu vực rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào và thu được thắng lợi lớn khi tiến công ra Bắc, trong đó có trận Bô Cô (30.12.1408), buộc vua Minh phải nhiều lần cử Mộc Thạnh, Trương Phụ đem viện binh sang đối phó. Do nội bộ bất hòa. đặc biệt sau khi Trần Ngỗi sát hại hai tướng giỏi là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân (3.1409), lực lượng nghĩa quân suy yếu, một bộ phận bỏ vào Nghệ An suy tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi vua (2.4.1409). Sau đó Trần Quý Khoáng thống nhất với lực lượng Trần Ngồi tiếp tục dẩy mạnh khởi nghĩa, mở rộng hoạt động ra nhiều vùng, có lúc tới thành Đông Quan (nay là Hà Nội), khiến nhà Minh phải tiếp tục tăng thêm viện binh chống đỡ. Do không liên kết được các phong trào yêu nước khác, cuộc khởi nghĩa bị quân Minh đánh bại khoảng cuối 1413, kết thúc thời kì Hậu Trán.

        KHỎI NGHĨA TRẦN THẮNG - NGÔ QUẢNG (209tcn), khởi nghĩa nông dân quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử TQ cuối triều Tần. Năm 209tcn, Trần Thắng - Ngô Quảng dẫn 900 lính thú nổi dậy ở làng Đại Trạch, Huyện Kì (nay thuộc An Huy), chống chính sách bạo ngược, hình phạt hà khắc của vương triều Tần. Quân khởi nghĩa nhanh chóng phát triển tới hàng vạn người, lập chính quyền “Trương Sở” ở Huyện Trấn (nay thuộc Hà Nam) thu hút được các nho sĩ, quan lại và quý tộc sáu nước (Sờ, Yên, Hàn. Triệu, Ngụy, Tề). Trong quá trình khởi nghĩa, do mâu thuẫn nội bộ các cánh quân không phối hợp được với nhau, quý tộc sáu nước lại giữ quân cát cứ hòng mưu lợi riêng nên quân khởi nghĩa bị quân Tần đánh bại. Ngô Quảng, Trần Thắng lần lượt bị giết. Cuộc khởi nghĩa không thành còng, nhưng đã giáng một đòn mạnh vào nền thống trị Tần, tạo điều kiện cho Hạng Vũ - Lưu Bang diệt Tần sau này.

        KHỞI NGHĨA TRƯƠNG ĐỊNH (1861-64), khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Nam Kì do Trương Định lãnh đạo. Sau khi Chí Hoà thất thủ (x. trận Chí Hoà, 24-25.2.1861), Trương Định tập hợp nghĩa binh về Gò Công (Tiền Giang), liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước, mộ thêm nghĩa binh, lập căn cứ kháng Pháp. Lực lượng nghĩa quân lên tới 6.000 người, hoạt động rộng khắp từ Gò Công, Mĩ Tho, Tân An. Chợ Lớn, Gia Định, lên tới biên giới VN - Campuchia. Bằng tác chiến phục kích là chính, nghĩa quân tiến hành nhiều trận chiến đấu, gây cho quân Pháp nhiều tổn thất, tiêu biểu là trận Cần Giuộc (16.12.1861), trận Rạch Tra, Thuộc Nhiêu (17- 18.12.1862). Sau hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862), triều Nguyễn ra lệnh bãi binh. Trương Định chống lệnh, bị cách chức, được nhân dân và nghĩa sĩ tôn làm “Bình Tây đại nguyên soái” tiếp tục chỉ huy đánh Pháp. Không dụ hàng được Trương Định, 25.2.1863 Pháp phải điều hàng nghìn quân cùng tàu chiến, đại bác, mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ Tân Hoà (Gò Công). Sau 3 ngày chiến đấu, nghĩa quân bị tổn thất, phải lui về ven biển, vàm sông Soài Rạp, lập căn cứ mới. 20.8.1864 quân Pháp được chi điểm, bất ngờ đánh vào căn cứ nghĩa quân ở Kiểng Phước. Trương Định hi sinh. Nghĩa quân phải chia thành nhiều bộ phận, trong đó Trương Quyền (con Trương Định) chỉ huy một bộ phận lên Tây Ninh liên kết với nghĩa quân Pucom Bô (Campuchia) chiến đấu tới 1867. Là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, trung tâm của phong trào kháng chiến chống Pháp thời Nguyễn (1858-84), thể hiện ý chí chống xâm lược của nhân dân VN, bất chấp sự thỏa hiệp của triều Nguyễn.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:51:27 pm

        KHỞI NGHĨA TỪNG PHẨN, khởi nghĩa diễn ra ở từng địa phương, từng vùng, giành chính quyền ở cơ sở. Ở VN trước CM tháng Tám 1945. KNTP kết hợp với chiến tranh du kích đã phát triển thành tổng khởi nghĩa. Trong KCCM ở miền Nam VN, KNTP được thực hiện bằng hình thức kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công QS để giành quyền làm chủ của nhân dân ở từng địa phương. Khi KNTP diễn ra cùng một lúc trên nhiều địa phương (xã. huyện, tỉnh) được gọi là phong trào đồng khởi.

        KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH NÔNG DÂN CUỐI ĐỜI TÙY (611-24), khởi nghĩa và chiến tranh nông dân quy mô lớn ở TQ, lật đổ nền thống trị của vương triều Tùy (581- 618). Dưới triều Tùy, nhân dân bị bóc lột và lao dịch nặng nề, chiến tranh liên miên. Năm 611 khởi nghĩa bùng nổ khi vua Tùy Dạng Đế ra lệnh bắt lính, chuẩn bị đi đánh Cao Li (Triều Tiên ngày nay). Bắt đầu từ Trường Bạch Sơn (nam Trần Bình, Sơn Đỏng) sau lan rộng khắp nước có tới 120 đội quân khởi nghĩa, mỗi đội quân phát triển tới hàng vạn người. Sau năm 616 lực lượng khởi nghĩa hình thành ba cánh quân: quân Ngõa Cương (ở Hà Nam), quân Đậu Kiến Đức (ở Hà Bắc) và quân Đỗ Phục Uy (ở Giang Hoài). Quân khởi nghĩa đánh nhiều trận lớn. diệt nhiều đạo quân Tùy tinh nhuệ, chiếm nhiều kho tàng, làm cho triều Tùy kiệt quệ, các quan lại, địa chủ thừa cơ nổi dậy cát cứ. Năm 617 địa chủ Lí Uyên chiếm Trường An; tháng 3.618 tướng Tùy là Vũ Văn Hóa Cập làm binh biến, giết chết Tùy Dạng Đế. Tháng 5.618 Lí Uyên xưng đế, lập nên nhà Đường: đến 624 dẹp yên các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nông dân kết thúc. KNVCTNDCĐT đã đánh đổ nền thống trị của triều Tùy, nhưng thời kì sau do mơ hồ về phương hướng đấu tranh, trong chỉ đạo chiến lược và tác chiến có nhiều sai lầm. lại thêm nội bộ mất đoàn kết nên bị đàn áp và thất bại.

        KHỞI NGHĨA VỎ DUY DƯƠNG (1865-66), khởi nghĩa của nhân dân Nam Kì (VN) do Võ Duy Dương (tức Thiên Hộ Dương) lãnh đạo, chống Pháp xâm lược, chống lệnh bãi binh của triều đình Huế. Kế tiếp cuộc khởi nghĩa Trương Định (1861-64), đầu 1865 Võ Duy Dương tập hợp nghĩa binh về Đồng Tháp Mười lập căn cứ kháng Pháp. Bằng cách đánh du kích (phục kích, dùng ong vò vẽ, chóng, bẫy, kết bè tre trên sông rạch chặn tàu, thuyền) nghĩa quân làm thất bại nhiều đợt tiến công của quân Pháp vào căn cứ, đồng thời dùng mĩ nhân kế trá hàng, diệt nhiều đồn binh Pháp. Võ Duy Dương còn phối hợp với nghĩa quân Achơ Xoa (Campuchia) đánh Pháp ở Táy Ninh, mờ rộng địa bàn hoạt động khắp Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (Kiên Giang). 7.1865 nghĩa quân tiến công các đồn Mĩ Trà, Cái Bè, Mĩ Quý, đến 3.1866 đánh chiếm Cái Nứa. chọc thủng phòng tuyến của Pháp. Sau khi dụ bắt Võ Duy Dương không được, 4.1866 quân Pháp mở cuộc đánh lớn vào căn cứ Đồng Tháp Mười. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, hai bên đều bị tổn thất, nghĩa quân phải rút sang Cao Lãnh (Đổng Tháp) và ngừng hoạt động sau khi Võ Duy Dương chết (10.1866). KNVDD để lại nhiều kinh nghiệm về xây dựng căn cứ và cách đánh du kích sau này.

        KHỞI NGHĨA VŨ TRANG, khởi nghĩa chủ yếu bằng bạo lực vũ trang. KNVT diễn ra trong trường hợp các giai cấp phản động dùng bạo lực vũ trang để đàn áp quần chúng khởi nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (7.11.1917) là KNVT lật đổ chính phủ tư sản, thiết lập chính quyền Xô viết toàn Nga. Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở VN là cuộc khởi nghĩa toàn dân, dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với LLVTND lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc, lập nên nước VN DCCH.

        KHỞI NGHĨA VŨ XƯƠNG (10.1911). khởi nghĩa của Tân quân. Văn học xã và Công tiến hội (chi nhánh của TQ đồng minh hội) chống lại chính quyền phong kiến nhà Thanh, mở đầu cuộc cách mạng Tân Hợi (1911-13). Năm 1911 nhân dân các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Tứ Xuyên nổi dậy phản đối triều đình nhà Thanh mượn cớ quốc hữu hóa những đoạn đường sắt Xuyên Hán, Việt Hán, nhượng quyền xây dựng đường sắt cho Anh, Pháp, Đức, Mĩ để vay nợ. Lợi dụng cơ hội nhà Thanh điều động QĐ từ Vũ Xương đến đàn áp phong trào ở Tứ Xuyên, 10.10 những binh lính được TQ đồng minh hội giác ngộ CM ở Vũ Xương đã nổi dậy chiếm kho vũ khí và dinh tổng đốc. 11.10 quân CM làm chủ Vũ Xương, hai ngày sau chiếm được Hán Khẩu, Hán Dương... Thắng lợi của KNVX đã đưa đến việc thành lập chính phủ cộng hòa ở Vũ Xương, thúc đẩy phong trào CM bùng nổ ở các tình khác (14/22 tỉnh) hợp thành cao trào CM dân chủ tư sản rộng lớn ở TQ.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:52:30 pm

        KHỞI NGHĨA VỤ GẶT MÙA THU (9.1927), khởi nghĩa của công nhân, nông dân các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây (TQ) dưới sự lãnh đạo của ĐCS TQ chống lại tập đoàn Tưởng Giới Thạch, nổ ra ở vùng giáp giới Hồ Nam - Giang Tây. Do hàng ngũ nghĩa quân không thuần nhất, lại có nội phản, không có sự phối hợp với các địa phương khác nên khởi nghĩa bị đàn áp, thiệt hại nặng. Số còn lại rút về Tỉnh Cương Sơn. hợp nhất với quân khởi nghĩa Nam Xương (x. khởi nghĩa Nam Xương, 1.8.1927-4.1928), xây dựng căn cứ địa CM đầu tiên của ĐCS TQ (10.1927).

        KHỞI NGHĨA VƯƠNG QUỐC CHÍNH (1898), khởi nghĩa chống Pháp ở Bắc Kì do nhà sư Vương Quốc Chính lãnh đạo. Dưới hình thức thành lập hội “Thương Chí”, chủ trương đoàn kết lương giáo, Vương Quốc Chính đã tập hợp được đông đảo các văn hào, thân sĩ, công nhân, nông dân tham gia, có cơ sở ở Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương. Bắc Ninh, Hà Nam và một số tỉnh trung du Bắc Kì. Khởi nghĩa nổ ra đêm 5.12.1898, mục tiêu chính là đánh chiếm thành Hà Nội. Theo kế hoạch, một số nghĩa quân bí mật trà trộn vào dân. phối hợp với công nhân nhà máy điện Hà Nội phá hủy nhà máy, làm hiệu lệnh tiến công cho lực lượng chính bố trí ở ngoại ô. Không thực hiện được kế hoạch, nghĩa quân phái rút lui. Ở một số nơi. do không nắm được tình hình ở Hà Nội. vẫn tiến hành khởi nghĩa theo kế hoạch nên bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt nhanh chóng.

        KHỞI NGHĨA XPACTACUT (73-71 tcn), khởi nghĩa của nô lệ thời cổ đại La Mã do Xpactacut lãnh đạo, chống lại giai cấp chủ nô. Năm 73tcn cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Capu (nam Italia), sau lan rộng ra cả nước. Quân khởi nghĩa phát triển tới hơn 100.000 người. Năm 72tcn sau khi đã đánh thắng quân La Mã nhiều trận, Xpactacut đưa quân lên phía bắc, gần đến núi Anpơ, lại quyết định đưa quân xuống phía nam, định vượt biển sang đảo Xixin. Do thuyền bè bị bão quét sạch. Xpactacut dẫn quân vượt vòng vây tiến về quân cảng Bơrundisium ở đông nam Italia. Tại đây, trong hàng ngũ nghĩa quân nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Năm 71 tcn trong trận kịch chiến với quân quý tộc La Mã, Xpactacut hi sinh: hơn 6.000 quân khởi nghĩa bị bắt làm tù binh và bị tàn sát dã man. Cuộc khởi nghĩa còn kéo dài tới năm 63tcn mới bị dập tắt hẳn. KNX thất bại. nhưng đã nêu một tấm gương đấu tranh chòng áp bức thời cổ đại.

        KHỞI NGHĨA YÊN BÁI (9-18.2.1930), khởi nghĩa chống Pháp ở Bắc Kì do VN Quốc dân đảng tiến hành. Bị quân Pháp khủng bố. VN Quốc dân đảng quyết định bạo động. Theo kế hoạch, lực lượng khởi nghĩa và bộ phận đảng viên Quốc dân đảng là binh lính người Việt trong QĐ Pháp làm nòng cốt sẽ đồng loạt nổi dậy ở nhiều tỉnh Bắc Kì, dự định bắt đầu 10.2.1930, sau hoãn đến 15.2. Do quá trình chuẩn bị gặp nhiều khó khăn, việc chỉ đạo thiếu thống nhất, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra rời rạc giữa các địa phương và không theo đúng kế hoạch. Đêm 9 rạng 10.2, khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái. Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Sơn Tây, trong đó Yên Bái là nơi có tiếng vang nhất. Nghĩa quân chiếm được một số vị trí ở thị xã Yên Bái, phủ Lâm Thao, treo cờ và phát truyền đơn hô hào quần chúng nổi dậy nhưng bị quân Pháp phân công và dập tắt trong 10.2. Tại Hà Nội, chiều 10.2 quân khởi nghĩa đánh mìn vào sở mật thám, sờ sen đầm, bốt cảnh sát nhằm kiềm chế quân Pháp, phối hợp với Yên Bái, song ít kết quả. Từ 15 đến 18.2, ở Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình. Phả Lại, Bắc Giang, nghĩa quân tiến công các phủ, huyện, gây cho quân Pháp một số thiệt hại, nhưng cũng bị đàn áp đẫm máu. Do điều kiện chưa chín muồi, thiếu cơ sở vững chắc trong nhân dân nên khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại. Hàng ngàn chiến sĩ cùng những người lãnh đạo chủ chốt như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính. Đoàn Trần Nghiệp bị bắt, bị giết. Sau KNYB, tuy VN Quốc dân dàng tan rã, nhưng đã cổ vũ lòng yêu nước, ý chí chống Pháp của nhân dân VN.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:53:06 pm

        KHỞI NGHĨA YÊN THẾ (1884-1913), khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Bắc Giang) và một số tỉnh ở Bắc Kì chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Giai đoạn 1884-92: nghĩa quân gồm nhiều nhóm hoạt động nhỏ, lẻ. dưới sự lãnh đạo của các thù lĩnh nông dân địa phương như Đề Nắm, Bá Phức, Đề Công. Thống Luận, Tuần Văn... trong đó nổi bật vai trò của Đề Nắm. Dựa vào căn cứ ở rừng núi Yên Thế, được nhân dân che chở, bằng tác chiến du kích, nghĩa quân đánh bại nhiều đợt càn quét của Pháp, đồng thời tổ chức các trận phục kích, tập kích đồn binh lẻ, đánh giao thông, gây cho địch nhiều thiệt hại. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân lan rộng trên các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên (Vĩnh Phúc), Thái Nguyên và một phần Lạng Sơn. Cuối 1890 đầu 1891 Pháp bốn lần đem quân đánh vào Yên Thế, đều thất bại (x. trận Hố Chuối, 9.12.1890-10.1.1891). Năm 1892 do lực lượng phân tán. thiếu sự chỉ đạo thống nhất, các nhóm nghĩa quân có nguy cơ tan rã trước cuộc tiến công lớn và thủ đoạn chia rẽ của quân Pháp, đặc biệt sau khi Đề Nắm bị ám hại (4.1892), một số thủ lĩnh đầu hàng (Bá Phức, Đề Tuân. Đề Kiều, Đề Sát. Tổng Chế...). Giai đoạn 1893-1913: với vai trò lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám (Đề Thám), các lực lượng nghĩa quân dược hợp nhất và phát triển. Pháp dùng tổng đốc Bắc Ninh là Lê Hoan và Bá Phức nhiều lần dụ hàng và mưu hại Đề Thám, nhưng không thành, bị Đề Thám tương kế tựu kế đánh trả (x. trận Hố Chuối, 19.5.1894). Tháng 9.1894 Pháp buộc phải giảng hòa, giao bốn tổng Yên Lễ, Hữu Thượng, Mục Sơn. Nhã Nam cho nghĩa quân để chuộc lại hai con tin người Pháp. Từ 1.1895 đến 10.1897 quân Pháp lại mở các cuộc tiến công nhưng không có kết quả buộc phải giảng hòa lần hai (1897- 1908). Trong thời gian này, căn cứ Yên Thế được củng cố, trở thành nơi gặp gỡ của nhiều nhà yêu nước có uy tín lúc đó như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,... tạo điều kiện cho nghĩa quân mở rộng hoạt động xuống trung du, đồng bằng và Hà Nội (x. Hà Thành đầu độc, 27.6.1908). Tháng 1.1909 Pháp tập trung 15.000 quân, cùng quân của Lê Hoan mở cuộc tiến công lớn, khủng bố nhân dân, cô lập nghĩa quân. Nhiều trận đánh diễn ra ở Chợ Gò, Bố Hạ, đặc biệt là trận Núi Súng (5.10.1909), gây thiệt hại lớn cho quân Pháp, nhưng do lực lượng chênh lệch, nghĩa quân cũng tổn thất nặng, nhiều thù lĩnh hi sinh hoặc bị bắt như Cả Trọng, Cả Huỳnh. Đặng Thị Nho... Tuy vậy, Đề Thám vẫn cùng một số ít nghĩa quân còn lại tiếp tục chiến đấu cho tới khi bị ám hại (10.2.1913). Một trong những cuộc khởi nghĩa lớn nhất, bền bỉ nhất trong phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nhân dân VN cuối tk 19, đầu tk 20. Cg khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám.

        KHƠME ĐỎ, tổ chức đảng và các đơn vị vũ trang phản CM tiếm quyền trong Đảng nhân dân Campuchia. Từ đại hội Đảng nhân dân Campuchia (1963), nhóm theo chủ nghĩa cực đoan năm được các chức vụ chủ chốt (Pôn Pốt là tổng bí thư, Nuôn Chia. Iêng Xari là ủy viên thường vụ...). Sau khi giành được chính quyền (1975) KĐ thi hành chính sách diệt chủng đối với nhân dân Campuchia; gây xung đột biên giới với Thái Lan và gây chiến chống VN. '21.1 và 3.2.1978, Ban bí thư trung ương Đảng của KĐ họp phiên bất thường và quyết định đánh VN trên tất cả các phương diện; vế QS, huy động 19 trong tổng số 20 sư đoàn áp sát biên giới VN. 22.12.1978, ba sư đoàn (340. 730 và 221) vượt biên đánh chiếm vùng Bến Sỏi, Bến Cầu để làm bàn đạp tiến công tx Tây Ninh, nhưng bị QĐND VN tiêu diệt một bộ phận quan trọng. 7.1.1979 QĐND Campuchia được sự giúp đỡ của quân tình nguyện VN đã đánh tan đại bộ phận lực lượng KĐ và xóa bỏ chính quyền các cấp của chúng từ trung ương đến cơ sở. Những người cầm đầu KĐ tụ tập tàn quân, lập căn cứ ở vùng biên giới Tây Bắc tiếp tục chống phá CM. Nhưng bị cô lập và liên tục thất bại, KĐ ngày một suy yếu, nhiều đơn vị li khai, rã ngũ, nhiều lãnh đạo cao cấp ra hàng Chính phủ Hoàng gia Campuchia. 8.8.1996 Iêng Xari cùng một số sư đoàn đã li khai KĐ ra hàng. 1998 Khiêu Xămphon và Nuôn Chia cùng 4 sư đoàn ra hàng, nội bộ KĐ lục đục, giết hại lẫn nhau (thủ tiêu Sonsen, bắt Pôn Pốt...). Sau khi Pôn Pốt chết, tàn quân KĐ liên tục bị tiêu diệt và ra hàng. 6.3.1999 Tà Mốc bị bắt. KĐ tan rã hoàn toàn.

        KHƠRUSÔP (1894- 1971), bí thư thứ nhất ủy ban trung ương ĐCS LX (1953-64), chủ tịch HĐBT LX (1958-64). Sinh tại Cuôcxcơ; trung tướng (1943); đv ĐCS LX (1918). Năm 1931 làm công tác đảng ở Maxcơva. 1935 bí thư thứ nhất tỉnh ủy và Thành ủy Maxcơva. 1938-47 bí thư thứ nhất ủy ban trung ương ĐCS Ucraina, chủ tịch Hội đồng dân ủy Ucraina (1944-47). Trong chiến tranh giữ nước (1941-45), ủy viên Hội đồng QS Phương diện quân Tây Nam, Xtalingrat, Đông Nam... 1949-53 bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX và bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Maxcơva. Người phát động phong trào chống tệ sùng bái cá nhân Xtalin tại đại hội XX ĐCS LX và để ra cương lĩnh xây dựng CNCS ở LX tại đại hội XXII. Do có nhiều sai lầm trong chính sách đối nội và đối ngoại, hội nghị ủy ban trung ương ĐCS LX. (14.10.1964) đã cách chức bí thư thứ nhất ủy ban trung ương và ủy viên BCT ĐCS LX của K.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:54:15 pm

        KHU. đơn vị hành chính - QS, thường gồm một số tỉnh, thành phố tiếp giáp nhau thuận lợi cho chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và xây dựng LLVT trong thời kì đầu KCCP (cuối 1946). Cả nước có 14 K: Bắc Bộ 7 K (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14), Trung Bộ 4 K (4, 5, 6, 15), Nam Bộ 3 K (7, 8, 9). Mỗi K có ủy ban kháng chiến phụ trách hành chính, bộ chỉ huy K phụ trách QS. Từ 25.1.1948 theo sắc lệnh 120-SL của chủ tịch nước VN DCCH, nhiều K được hợp nhất thành liên khu.

        KHU 7, khu miền Đống Nam Bộ trong KCCP. trực thuộc BTL Nam Bộ (Ban chỉ huy QS Nam Bộ. trước 10.1948). Thành lập 10.12.1945, gồm các tỉnh: Thủ Dầu Một, Biên Hoà. Bà Rịa. Chợ Lớn, Tây Ninh, Gia Định và tp Sài Gòn -  Chợ Lớn. Đông bắc giáp các tỉnh Nam Trung Bộ. bắc và tây bắc giáp Campuchia, tây nam giáp các tinh Khu 8, nam giáp biển. Có Chiến khu Đ, Chiến khu Rừng Sác. Từ 1.1948 các tỉnh Tây Ninh. Gia Định. Chợ Lớn và tp Sài Gòn tách khỏi K7 để thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn (tư lệnh Tô Kí, chính ủy Phan Trọng Tuệ): đến 5.1950 sáp nhập trở lại K7 (tư lệnh kiêm chính ủy Trấn Văn Trà), Sài Gòn và các huyện Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Chánh tách ra thành lập Đặc khu Sài Gòn (tư lệnh Nguyễn Văn Thi, chính ủy Nguyễn Văn Linh). Lực lượng chủ lực: từ 18 chi đội (1946 có 7 chi đội Bình Xuyên) tổ chức thành 10 trung đoàn và 1 tiểu đoàn cơ động (3.1948); đến 4.1949 tổ chức lại thành 4 trung đoàn chủ lực thuộc khu. 5.1951 giải thể, thành lập Phân liên khu Miền Đông, Đặc khu Sài Gòn. Khu trưởng, chính trị ủy viên đầu tiên: Nguyễn Bình, Trần Xuân Đô.

        KHU 8, khu miền Trung Nam Bộ trong KCCP, trực thuộc BTL Nam Bộ (Ban chỉ huy QS Nam Bộ, trước 10.1948). Thành lập 10.12.1945, gồm các tỉnh: Bến Tre, Gò Công, Tân An. Mĩ Tho, Sa Đéc, đến 10.1946 thêm Vĩnh Long và Trà Vinh; phía đông bắc giáp các tỉnh Khu 7, bắc và tây bắc giáp Campuchia, tây nam giáp các tỉnh Khu 9, đông và đông nam giáp biển. Có căn cứ địa Đồng Tháp Mười nổi tiếng. Lực lượng chủ lực K8 gồm 5 chi đội (1946), được tổ chức lại thành 6 trung đoàn (1947); đến 1948 xây dựng thành 1 tiểu đoàn chủ lực cơ động (x. Tiểu đoàn 307) và 2 liên trung đoàn (thực chất, các đại đội của liên trung đoàn phân tán về địa phương để tác chiến du kích). K8 (cùng Khu 7, Khu 9) giải thể 5.1951 để thành lập Phân liên khu Miền Đông và Phân liên khu Miền Tây. Khu bộ trưởng và chính trị bộ chủ nhiệm đầu tiên: Đào Văn Trường, Võ Sĩ.

        KHU 9, khu miền Tây Nam Bộ trong KCCP; trực thuộc BTL Nam Bộ (Ban chỉ huy QS Nam Bộ, trước 10.1948). Thành lập 10.12.1945, gồm các tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Vĩnh Long và Trà Vinh. Bắc và đông bắc giáp các tỉnh Khu 8; tây bắc giáp Campuchia; nam, đông nam và tây giáp biển. Lực lượng chủ lực K9 gồm 5 chi đội (1946), tổ chức thành 7 tiểu đoàn chiến đấu (lấy phiên hiệu cấp trung đoàn), đến 1949 xây dựng thành 1 tiểu đoàn chủ lực cơ động và 2 liên trung đoàn (thực chất, các đại đội của liên trung đoàn phân tán về địa phương để tác chiến du kích). Giải thể 5.1951 để thành lập Phân liên khu Miền Tây. Khu trường, chính trị ủy viên đầu tiên: Hoàng Đình Giong (Vũ Đức), Phan Trọng Tuệ.

        KHU CHỜ CỦA XE TĂNG, khu vực địa hình các phân đội (binh đội) xe tăng chiếm lĩnh trước khi chiếm lĩnh trận địa (khu vực) phòng ngự hoặc tuyến triển khai tiến công; khi đang cơ động phải dừng lại để chuyển sang làm nhiệm vụ khác; trước (sau) khi lên (xuống) phương tiện vận chuyển hành quân (tàu hỏa, tàu thủy, máy bay, xe chở tăng); trước (sau) khi bơi (lội) qua sông, vượt đèo, dốc cao. KCCXT phải kín đáo, tiện bố trí và cơ động, có công sự (khi cần thiết), và có kế hoạch chiến đấu phòng vệ.

        KHU DINH ĐIỂN, khu định cư do chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra (1957) dành cho một bộ phận dân cư dân tộc thiểu số Tây Nguyên và phần lớn dân di cư (1954) từ miền Bắc vào miền Nam VN. Được xây dựng ở những khu vực biên giới xung yếu và vùng đệm giữa miền núi và đồng bằng theo kế hoạch của chính sách bình định của Mĩ ở miền Nam Việt Nam nhằm tạo thành tuyến ngăn chặn lực lượng CM xâm nhập đồng bằng và đô thị; bố trí và phát triển những lực lượng của chính quyền Sài Gòn; tổ chức các hoạt động tình báo, thu thập tin tức; xây dựng thành những địa bàn xuất phát của những cuộc hành quân tảo thanh ở miền núi. Mặc dù chính quyền Ngỏ Đình Diệm đã cố gắng về nhiều mặt, nhưng đến 1959 chỉ xây dựng được 84 KDĐ với 120 nghìn dân và kế hoạch bị bỏ dở.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:55:09 pm

        KHU DU KÍCH, khu vực dân cư trong vùng địch tạm chiếm. ở đó có chiến tranh du kích của lực lượng kháng chiến và thường xuyên diễn ra tranh chấp giằng co với đối phương để giành quyền làm chủ. Ở VN trong KCCP và KCCM, KDK có đặc điểm: chính quyền CM chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng hoạt động bí mật hoặc nửa công khai, các LLVT CM chưa đủ mạnh; chính quyền của đối phương còn tồn tại nhưng không có khả năng kiểm soát, khống chế nhân dân và lực lượng kháng chiến; các đơn vị nhỏ của đối phương không dám tự do đi lại, các tổ chức phản CM và gián điệp hoạt động nửa công khai; nhân dân được CM bảo vệ nhưng chưa thoát khỏi sự uy hiếp của đối phương, vừa lo giúp đỡ CM vừa phải cống nạp cho đối phương. So với căn cứ du kích, KDK rộng lớn hơn về địa lí nhưng đời sống chính ưị - xã hội của nhân dân chưa an toàn, ổn định.

        KHU KĨ THUẬT, khu vực của đơn vị thường dùng để cất giữ trang bị và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm kĩ thuật. Có: KKT cố định (ở vị trí đóng quân cố định) và KKT tạm thời (ở nơi tác chiến, diễn tập hoặc dã ngoại). KKT cố định gồm: khu cất giữ trang bị (súng, pháo, máy bay, tên lửa, xe..v), khu bào dưỡng và sửa chữa trang bị, khu bổ trợ - phục vụ (kiểm tra kĩ thuật, rửa - làm sạch, cấp phát vật tư, cấp phát nhiên liệu...). KKT cố định thường nằm trong doanh trại đơn vị, ở nơi địa hình tương đối bằng phẳng, đường sá thuận lợi, đảm bảo nguồn điện, nước, có các công trình lâu bền. KKT tạm thời tùy theo nhiệm vụ, địa hình, địa vật, có thể bố trí phân tán hay tập trung, không chia riêng biệt từng khu vực như KKT cố định, thường dùng các phương tiện cơ động (xe sửa chữa, xe bảo dưỡng, máy phát điện di động...) và các kết cấu tạm. dã chiến (tảng, lều, bạt...). Trong KKT có các nội quy, quy định chặt chẽ về kĩ thuật, quản lí, bí mật và an toàn (phòng gian, phòng hỏa...); phương án phòng thủ; thực hiện chế độ trực ban, canh gác và bảo vệ.

        KHU KINH TẾ - QUỐC PHÒNG, vùng lãnh thổ và dân cư thuộc các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn chiến lược, biên giới, ven biển, được đầu tư xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh theo quyết định số 277/QĐ-TTg ngày 31.3.2000 của thủ tướng chính phủ; do QĐ đảm nhiệm, lấy đơn vị kinh tế- quốc phòng làm nòng cốt. KKT-QP có nhiệm vụ: xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; khai thác tối đa tiềm năng đất đai để phát triển sản xuất, từng bước chuyển sang kinh tế hàng hóa với các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; bố trí lại dân cư trên địa bàn theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng bền vững, hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phục hồi, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc, nhầm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, kết hợp bảo đảm quốc phòng - an ninh, hình thành các cụm làng xã biên giới tạo nên vành đai biên giới trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ tổ quốc. Đến 2003 đã hình thành các KKT-QP: Bắc Hải Sơn. Bình Liêu - Quảng Hà - Móng Cái (Quảng Ninh), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Bảo Lạc (Cao Bằng), Vị Xuyên, Xín Mần (Hà Giang), Bát Xát (Lào Cai), Mường Chà (Lai Châu), Kì Sơn (Nghệ An), Khe Sanh (Quảng Trị), A So - A Lưới (Thừa Thiên), Sa Thầy (Kon Tum), nam Đắc Lắc - Bình Phước, Bù Gia Phúc (Long An), Tần Hồng (Đồng Tháp).

        KHU NEO ĐẬU TÀU, vùng nước có những điều kiện thích hợp về chất đáy, độ sâu, cường độ sóng gió và có thể có thiết bị để neo, buộc tàu khi sơ tán chiến thuật, tránh gió bão, tạm dừng để sửa chữa, bảo quản trang bị vũ khí... KNĐT thường được chọn ở trong vũng, vịnh nhỏ và có ghi trên hải đồ.

        KHU PHI QUÂN SỰ, vùng lãnh thổ không bố trí LLVT, không có các căn cứ QS, công trình quốc phòng, phương tiện và hoạt động QS, do điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận của các bên tham chiến quy định. Có KPQS toàn phần và KPQS từng phần. KPQS toàn phần được áp dụng ở những vùng mang tính quốc tế hóa (vùng Nam Cực, các thiên thể...) hoặc được thiết lập ở hai bên giới tuyến quân sự để loại bỏ xung đợt có thể gây ra chiến sự. KPQS từng phần là vùng thường thực hiện những cam kết quốc tế về việc cấm sử dụng những vũ khí, phương tiện QS nào đó (khu vực không có vũ khí hạt nhân, khu vực cấm bay...). Ở VN sau hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, KPQS toàn phần được lập ở hai bên giới tuyến QS tạm thời (dải địa hình gần trùng với vĩ tuyến 17, từ Cửa Tùng dọc theo sóng Bến Hải, mỗi bên rộng 5km đo từ mép nước trở vào, phía đông đến hết hải phận VN, phía tây tới biên giới Việt - Lào) làm khu đệm để tách lực lượng QĐ của hai bên tham chiến (QĐND VN tập kết ở phía Bắc, QĐ Liên hiệp Pháp tập kết ở phía Nam), tất cả lực lượng, vật liệu và dụng cụ QS đều phải rút khỏi KPQS, không một ai được vào KPQS nếu không được phép của Ban liên hợp quân sự hai bên.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:56:32 pm

        KHU TẬP TRUNG VŨ KHÍ, TRANG BỊ KĨ THUẬT HỎNG, khu vực địa hình có giới hạn để triển khai, thu gom vũ khí trang bị kĩ thuật hỏng hóc trong chiến đấu chưa kịp chuyển về những vị trí có triển khai các phương tiện sửa chữa hoặc chuyển giao cho cấp trên. Được bố trí ở vị trí thuận lợi cho thu gom, chuyển giao, có địa hình che chắn, được ngụy trang , canh giữ; có bố trí thợ sửa chữa để phân loại, chuyển giao cho lực lượng sửa chữa của đơn vị theo phân cấp và lực lượng sửa chữa của cấp trên. Vị trí, thời gian triển khai và bố trí lực lượng do chủ nhiệm kĩ thuật đề nghị, người chỉ huy phê duyệt.

        KHU TIẾP DẦU TRÊN KHÔNG, khu vực quy định trên đường bay của máy bay đi làm nhiệm vụ ở cự li vượt quá bán kính hoạt động và tầm bay, để thực hiện tiếp dầu trên không bảo đảm cho máy bay thực hiện nhiệm vụ và trở về căn cứ an toàn. KTDTK phải bảo đảm độ an toàn và ổn định cao cho máy bay tiếp dầu và nhận tiếp dầu. Tùy loại máy bay tiếp dầu và nhận tiếp dầu mà quy định KTDTK và thời gian tiếp dầu cho một máy bay, một tốp máy bay.

        KHU TRÙ MẬT. khu định cư tập trung bắt buộc ở nông thôn và vùng ven đô ở miền Nam VN, do chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra bằng các biện pháp cưỡng bức và bạo lực (dồn dân, khủng bố, cào nhà, triệt phá thôn xóm cũ...), nhằm thực hiện chính sách bình định của Mĩ ở miền Nam Việt Nam khi CM miền Nam đang phát triển mạnh (giữa 1959). Được áp dụng phổ biến ở cả miền núi và đồng bằng, chủ yếu là các vùng đông dân và các địa bàn chiến lược trọng yếu. Mỗi KTM có hàng rào bao quanh và tháp canh; tập trung từ 2.000- 3.000 dân được bố trí thành nhiều khóm: khóm nông dân, khóm công thương, tiểu khu hành chính quản trị dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền và QĐ. Về kinh tế và xã hội, chú trọng sử dụng các thủ đoạn mị dân như tổ chức sản xuất, xây dựng trường học, bệnh viện, nhà thờ, câu lạc bộ, cung cấp điện... 5.1959 tiến hành thí điểm ở Vị Thanh (Cần Thơ), Mỏ Cày (Bến Tre). 7.1959 thực hiện rộng rãi khắp miền Nam VN. 1961 vì nông dân chống phá quyết liệt nên chính quyền Ngô Đình Diệm phải thay bằng ấp chiến lược để khống chế dân mạnh mẽ, tàn bạo hơn.

        KHU TRỤC HẠM nh TÀU KHU TRỤC

        KHU VỰC BIÊN GIỚI, vùng lãnh thổ tiếp giáp đường biên giới quốc gia có quy chế, quy định đặc biệt do chính phủ ban hành nhằm bảo vệ an toàn biên giới. Căn cứ đặc điểm địa lí và tình hình cụ thể để xác định chiều sâu KVBG. KVBG đất liền bao gồm các xã và đơn vị hành chính tương đương tiếp giáp đường biên giới quốc gia. Trong KVBG trên đất liền có quy định vành đai biên giới; ở những nơi cần thiết hoặc từng thời điểm liên quan đến an ninh - quốc phòng, kinh tế có thể thiết lập vùng cấm. KVBG được cắm biển báo để thông báo giới hạn phạm vi. Biển báo KVBG được dùng thống nhất trên các tuyến biên giới, được làm theo mẫu thống nhất, bằng các vật liệu bền vững, các chữ trên biển báo được ghi bàng ngôn ngữ nước sở tại, ngôn ngữ nước tiếp giáp, tiếng Anh và đặt ở những nơi dễ nhận biết.

        KHU VỰC BỐC XẾP, khu vực địa hình có giới hạn (vùng đất, mặt nước) được tổ chức bốc xếp trang thiết bị QS, vật chất hậu cần, kĩ thuật từ bãi lên phương tiện, hoặc ngược lại và chuyển tải (sang mạn) giữa các loại phương tiện vận tải, KVBX được bố trí ở vị trí thuận lợi, gần đường giao thông, kho tàng, bến bãi...; có đủ diện tích để các phương tiện vận tải ra vào, triển khai phương tiện và lực lượng bốc xếp. Vị trí, thời hạn hoạt động cũng như thời gian triển khai phương tiện và lực lượng bốc xếp do chủ nhiệm hậu cần đề nghị, người chỉ huy phê duyệt.

        KHU VỰC CHE KHUẤT, khu vực địa hình không quan sát được từ một vị trí nhất định, do bị che chắn bởi khu dân cư, lớp phủ thực vật, địa hình nhấp nhô... Trong QS, KVCK thường được lợi dụng để ngụy trang; khi quan sát KVCK cần có đài quan sát bổ trợ.

        KHU VỰC CHIẾN TRANH, vùng lãnh thổ quốc gia của một hay nhiều nước đang diễn ra chiến tranh. KVCT có thể được chuẩn bị trước. Không gian KVCT phụ thuộc đường lối chính trị, mục đích chiến tranh, trình độ tác chiến, phương thức tiến hành chiến tranh... của các bên tham chiến. Sau chiến tranh, KVCT thường chịu hậu quả nặng nề về xã hội và môi trường sinh thái.

        KHU VỰC CHỐNG TĂNG (ngoại), khu vực địa hình được thiết bị công sự và bố trí lực lượng chống tăng của các phân đội (binh đội) pháo binh chống tăng hoặc các lực lượng chống tăng khác trên các hướng xe tăng địch uy hiếp, có hệ thống hỏa lực và chỉ huy chặt chẽ; thành phần của tuyến phòng thủ chống tăng. Được tổ chức ở cấp trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn... trong chiến tranh giữ nước vĩ đại của QĐ LX. Diện tích KVCT tùy thuộc vào khả năng, thành phần các phương tiện hỏa lực chống tăng tham gia.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 04:57:55 pm

        KHU VỰC CHỜ ĐỢI TIẾN CÔNG, khu vực địa hình (mặt nước) bộ đội chiếm lĩnh trước khi chuyển vào trận địa (khu vực) xuất phát tiến công hoặc tuyến xuất phát xung phong. Có thể có KVCĐTC của: bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng và hải quân. KVCĐTC phải là nơi địa hình có lợi, bí mật và an toàn cho bộ đội; ở cách trận địa (khu vực) xuất phát tiến công một cự li thích hợp và có đường cơ động thuận tiện để tiến đến trận địa xuất phát tiến công. Ở KVCĐTC bộ đội phải bố trí phân tán, làm công sự ẩn nấp, tiếp tục làm công tác chuẩn bị tiến công. Tùy tình hình, bộ đội có thể từ khu vực tập kết chiến đấu tiến thẳng vào trận địa xuất phát tiến công, không dừng ở KVCĐTC. Cg khu vực tạm dừng.

        KHU VỰC CHUYỂN TẢI ĐỔ BỘ. phần mặt biển của khu vực đổ bộ dùng để chuyển quân đổ bộ từ các tàu vận tải sang các phương tiện đổ bộ chuyên dùng để hình thành đội hình đổ bộ. KVCTĐB thường nằm ngoài tầm bắn hiệu quả của pháo bờ biển đối phương. Cg khu đổi tàu.

        KHU VỰC ĐÓNG QUÂN, khu vực địa hình có giới hạn theo quy định riêng của chính phủ và các địa phương dùng để bố trí LLVT, các căn cứ, công trình, phương tiện và hoạt động QS. Có KVĐQ cố định và KVĐQ dã chiến. KVĐQ cố định gồm: doanh trại, khu kĩ thuật, công trình QS... thường nằm trên địa hình bằng phẳng, đường sá thuận lợi, bảo đảm nguồn điện, nước, có các công trình lâu bền. KVĐQ dã chiến tùy theo nhiệm vụ, địa hình, địa vật, có thể bố trí phân tán hay tập trung. Thường sử dụng các phương tiện cơ động (các loại xe tác chiến, xe phục vụ...) và các kết cấu tạm, dã chiến (tăng, lều, bạt...). Trong KVĐQ có nội quy, quy định chặt chẽ về sử dụng, quân lí, bí mật và an toàn (phòng gian, phòng chống cháy nổ...).

        KHU VỰC ĐỔ BỘ đường biển, khu vực bờ biển và vùng nước tiếp giáp được lựa chọn làm nơi đổ bộ của quân đổ bộ và hoạt động tác chiến của các tàu bảo đảm đổ bộ. KVĐB bao gồm một hoặc một số đoạn đổ bộ, khu vực cơ động của các tàu yểm trợ hỏa lực; khu vực triển khai chiến thuật của lực lượng đổ bộ; khu vực chuyển tải đổ bộ, khí tài QS và phương tiện kĩ thuật từ các tàu vận tải sang các phương tiện đổ bộ, khu vực hình thành các đợt sóng đổ bộ đê tiến vào các điểm đổ bộ, khu vực trực ban trên không của máy bay tiêm kích.

        KHU VỰC ĐÔNG VIÊN, khu vực tiếp nhân lực lượng động viên bổ sung cơ bản của đơn vị dự bị động viên khi có lệnh động viên, để ổn định tổ chức biên chế, cấp phát trang bị, hợp luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. KVĐV thường được chuẩn bị từ thời bình (xây dựng và thiết bị SCH, công trình trú ẩn, trạm tiếp nhận lực lượng dự bị động viên, bảo vệ...), bảo đảm bí mật và an toàn. Cg khu vực tập trung lực lượng dự bị động viên.

        KHU VỰC HẬU CẨN, khu vực địa hình bố trí lực lượng, phương tiện hậu cần do người chỉ huy quy định. Có KVHC: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        KHU VỰC HẬU PHƯƠNG, khu vực địa hình tiếp sau khu vực tác chiến dùng để bố trí lực lượng, phương tiện vật chất và huy động nhân lực, vật lực của địa phương bảo đảm cho tác chiến. Giới hạn của KVHP do cấp trên xác định.

        KHU VỰC HỎA LỰC DÀY ĐẶC, khu vực địa hình do các lực lượng phòng ngự chuẩn bị trước hoặc trong quá trình tác chiến, nhằm tiêu diệt lực lượng tiến công của đối phương bằng mật độ hỏa lực cao của các loại vũ khí. KVHLDĐ thường ở trước tiền duyên, trong chiều sâu phòng ngự. nơi tiếp giáp; các mũi vu hồi. bãi đổ bộ đường không của địch.

        KHU VỰC HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỒN BIÊN PHÒNG. khu vực địa hình thuộc trách nhiệm của một đồn biên phòng có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia. Thường gồm: một số xã biên giới hoặc đơn vị hành chính tương đương do chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh xác định. Chính diện KVHĐCĐBP khoảng 20-30km. quy định rõ địa danh, tọa độ của thôn, xã thuộc phạm vi đồn phụ trách. Chiều sâu KVHĐCĐBP là chiều sâu của xã biên giới, bờ biển, hải đảo. Tùy theo địa hình và tính chất phức tạp của địa bàn để xác định phạm vi KVHĐCĐBP cho phù hợp.

        KHU VỰC LÊN TÀU CỦA QUÂN ĐỔ BỘ. khu vực bờ biển và vùng nước tiếp giáp được lựa chọn để đưa quân đổ bộ từ bờ lên các tàu đổ bộ, tàu vận tải và tiến hành công tác chuẩn bị cuối cùng trước khi vượt biển thực hành tác chiến đổ bộ đường biển. KVLTCQĐB gồm: các vị trí lên tàu chính và dự bị, mỗi vị trí có thể có một số điểm (có trang bị hoặc không trang có bị) để đưa quân đổ bộ lên tàu.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:00:13 pm

        KHU VỰC PHONG TỎA, bộ phận lãnh thổ quốc gia của một bên tham chiến đang diễn ra hoạt động phong tỏa, chủ yếu là phong tỏa quân sự của đối phương. Phạm vi KVPT tùy thuộc mục đích và ưu thế QS của bên phong tỏa, có thể gồm: toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ, căn cứ QS, đặc khu kinh tế, thành phố lớn, hải cảng quan trọng, đảo, quần đảo, các vịnh, biển và cửa sông... có vị trí chiến lược. KVPT phần lớn trong tình trạng nửa thời chiến, các hoạt động QS và dân sự đéu bị đối phương cản trở, bao vây, cô lập, gây khó khăn cho việc tổ chức chống phong tỏa. Trong CTTG-II, tp Lêningrat (LX) là KVPT của phát xít Đức (872 ngày đêm); trong chiến tranh phá hoại miển Bắc VN của Mĩ (1965-72), Vịnh Bắc Bộ là KVPT của không quân và hải quân Mĩ; trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), toàn bộ khu vực tác chiến ở Vùng Vịnh là KVPT của QĐ Mĩ và lực lượng đa quốc gia.

        KHU VỰC PHÒNG NGỰ, khu vực địa hình do binh đội, binh đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng phòng ngự. Phạm vi KVPN phụ thuộc vào: khả năng và vị trí của binh đội, binh đoàn trong chiến dịch (trận chiến đấu) phòng ngự. đặc điểm địch, đặc điểm địa hình: và các tình hình khác... KVPN được tổ chức gồm các cụm điểm tựa và điểm tựa phòng ngự. kết hợp với khu vực phòng thủ địa phương, khu vực bố trí lực lượng cơ động tiến công, khu vực bố trí lực lượng dự bị; các trận địa pháo mặt đất, pháo phòng không; trận địa chéo, trận địa dự bị, trận địa giả, các tuyến triển khai lực lượng phản kích (phản đột kích), đội cơ động vật cản và đội dự bị chống tăng; khu vực bố trí lực lượng bảo đảm; vị trí bố trí SCH: đường cơ động...

        KHU VỰC PHÒNG NGỰ CHỦ YẾU, khu vực phòng ngự vững chắc, quyết định sự mất còn và tính ổn định thế trận phòng ngự của chiến dịch (trận chiến đấu). Mỗi chiến dịch (trận chiến đấu) có một KVPNCY thường xác định trên hướng phòng ngự chủ yếu, nơi địa hình có tác dụng khống chế, có điều kiện giữ và tiến công thuận lợi. KVPNCY bao gồm cả mục tiêu phòng ngự then chốt.

        KHU VỰC PHÒNG THỦ THEN CHỐT, khu vực địa hình có ý nghĩa chiến thuật hoặc chiến dịch; trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội; mục tiêu quan trọng cần phải kiên quyết giữ vững, bảo đảm thế ổn định vững chắc của khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố). KVPTTC phải kết hợp chặt chẽ bộ đội địa phương với dân quân tự vệ ở các làng xã (phường) chiến đấu. đánh địch rộng khắp; tiêu diệt bộ phận quân địch, làm giảm sức chiến đấu và buộc địch ở vào thế bất lợi; tạo điều kiện và thời cơ tập trung lực lượng tiến công, phản công đánh bật địch ra khỏi địa phương. KVPTTC thường được xác định theo kế hoạch tác chiến chung của quân khu và BQP.

        KHU VỰC PHÒNG THỦ TỈNH (THÀNH PHỐ), tổ chức quốc phòng - an ninh theo địa bàn hành chính của tỉnh (thành phố) ở VN; tạo thành thế trận quốc phòng an ninh cả nước. KVPTT(TP) được xây dựng vững mạnh về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, QS, an ninh, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của cấp tỉnh (thành phố) tạo thành sức mạnh tổng hợp, tập trung chủ yếu vào những khu vực phòng thủ then chốt để phòng thủ địa phương, chống mọi âm mưu, hành động phá hoại và xâm lược của kẻ thù. KVPTT(TP) giữ vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

        KHU VỰC SƠ TÁN XE TĂNG, khu vực địa hình được chọn làm nơi tập kết bộ đội xe tăng khi di chuyển ra khỏi khu vực đã, đang hoặc sẽ bị địch đánh phá để tránh thiệt hại và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Có KVSTXT: chính, dự bị và giả. KVSTXT thường được chọn ở gần nơi đóng quân, dễ che giấu lực lượng và hạn chế được các phương tiện trinh sát hiện đại của dịch. Kế hoạch sơ tán xe tăng trong thời bình thường nằm trong kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị bộ đội xe tăng, được giữ bí mật theo quy định của QĐ.

        KHU VỰC TÁC CHIẾN, gọi chung khu vực (trên mặt đất. vùng biển, vùng trời) có giới hạn nhất định dùng cho binh đoàn, binh đội, phân đội lục quân (hải quân, phòng không, không quân) tiến hành tác chiến. KVTC thường được xác định bằng ba điểm trở lên.

        KHU VỰC TÁC CHIẾN VÒNG NGOÀI, khu vực địa hình trước tiền duyên của dải phòng ngự chủ yếu được lập ra khi phòng ngự không trực tiếp tiếp xúc với địch nhằm sớm phát hiện lực lượng, ý định và hành động tiến công, ngăn chặn (cản trở) địch tiếp cận khu vực (trận địa) phòng ngự. tranh thủ thời gian chuẩn bị phòng ngự, buộc địch triển khai sớm lực lượng chủ yếu, gây thiệt hại cho dịch trước khi tiến đến khu vực (trận địa) phòng ngự chủ yếu. KVTCVN thường gồm một số điểm tựa, cụm điểm tựa và các vật cản, có chính diện và chiều sâu thích hợp trên từng hướng, do LLVT địa phương (ở biên giới có bộ đội biên phòng), có thể có một bộ phận chủ lực phòng ngự đảm nhiệm. Trong quá trình tác chiến thường được pháo binh (không quân) chi viện.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:01:57 pm

        KHU VỰC TẠM DỪNG nh KHU VỰC CHỜ ĐỢI TIẾN CÔNG

        KHU VỰC TẬP KẾT XE TẢNG, khu vực địa hình để tập kết và chuẩn bị chiến đấu của xe táng. Được chọn ở nơi có địa hình thích hợp cho xe tăng có thể lợi dụng để bố trí và ngụy trang, tiện cơ động vào, ra và trên hướng thực hiện nhiệm vụ. Trong KVTKXT, các phân đội (binh đội) xe tăng phải bố trí thành đội hình phù hợp, sẵn sàng chiến đấu hoặc cơ động, có lực lượng cảnh giới chiến đấu, có công sự cho người, xe, khí tài và hầm bảo đảm sinh hoạt. Sau khi vào KVTKXT. phải xóa sạch các dấu vết và có các biện pháp ngụy trang chống trinh sát của địch.

        KHU VỰC TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN X. KHU VỰC ĐỘNG VIÊN

        KHU VỰC TRANH CHẤP, bộ phận lãnh thổ (vùng đất, nội thủy, lãnh hải...) mà vì nó, hai hoặc nhiều nước đang diễn ra các hoạt động đấu tranh (chính trị, ngoại giao, QS...) để giành chủ quyền tại đó. Nguyên nhân hình thành KVTC thường do các yếu tố lịch sử còn tồn tại về chủ quyền quốc gia giữa các nước như biên giới quốc gia chưa phân định rõ ràng, sự áp đặt phân chia lãnh thổ sau chiến tranh; do mưu đồ bành trướng, lấn chiếm lãnh thổ của nước này đối với nước khác; do sự sáp nhập, chia tách hoặc đòi li khai... của các lực lượng thù địch, phản động, chủ nghĩa dân tộc cực đoan... KVTC thường là những vùng lãnh thổ trên khu vực biên giới, mà ở đó đường biên giới quốc gia chưa hoạch định rõ ràng hoặc có vị trí quan trọng về QS. kinh tế; vùng đất mới phát triển chưa phân định rõ chủ quyền...

        KHU VỰC TRẬN ĐỊA pháo binh, khu vực địa hình được bố trí. xây dựng trận địa bắn. SCH, các phương tiện chiến đấu khác và đường cơ động của các phân đội, binh đội, binh đoàn pháo binh. KVTĐ có các loại; chính, dự bị, lâm thời.

        KHU VỰC TRIỂN KHAI TĂNG THIẾT GIÁP, khu vực địa hình các phân đội (binh đội) tăng, thiết giáp triển khai đội hình theo một ý định để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. Có KVTKTTG: chuẩn bị chiến đấu, vượt sông, tiến công và phòng ngự. Trong tiến công, có KVTKTTG: để triển khai từ đội hình hành quân thành đội hình trước chiến đấu và chiến đấu. vào các tuyến (vị trí) điều chỉnh, tuyến triển khai xung phong, trận địa bắn ngắm trực tiếp, khu vực xuất phát tiến công... Trong phòng ngự, có KVTKTTG: đê triển khai vào các điểm tựa (cụm điểm tựa) của các phân đội, tuyến (trận địa) phản kích, trận địa ngắm bắn trực tiếp, khu vực bố trí lực lượng dự bị, tuyến (khu vực) đánh địch đổ bộ đường không, vu hồi đường bộ, đường sông, đường biển. Tùy theo số lượng xe tăng, xe thiết giáp của các phân đội (binh đội), KVTKTTG được chọn nơi đủ bố trí lực lượng, cơ động thuận lợi, giữ được bí mật, thích hợp với nhiệm vụ được giao.

        KHU VỰC TRUNG LẬP, vùng lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia hoặc khu vực công quản quốc tế được pháp lí quy định cấm tiến hành chiến tranh (hoặc xung đột vũ trang) và thường được áp dụng phi QS hóa. KVTL được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế. Theo quy mô, có các loại KVTL: quy mô nhỏ (khoảng đất giữa biên giới hai nước, kênh đào...); quy mô lớn (một lục địa...); toàn bộ (châu Nam Cực, kênh đào Xuyẻ, Panama...); từng phần (khu vực không có vũ khí hạt nhân...). Ngày nay việc đấu tranh nhằm thiết lập nhiều KVTL trên thế giới có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh.

        KHU VỰC VƯỢT SÔNG, khu vực địa hình trên mặt đất, mặt nước, trên không của đoạn sông được chuẩn bị để tiến hành vượt sông. KVVS gồm: khu vực xuất phát vượt sông, các bến vượt trên sông (kể cả bến vượt giả, cầu giả) đến hết khu vực đánh chiếm đầu cầu bên bờ đối phương (nếu có). Chọn KVVS phải căn cứ vào tính chất sông (ngòi, hồ, ao), tình hình đối phương, đội hình và trang thiết bị vượt sông. Tùy theo quy mô lực lượng, KVVS có chiều sâu từ 5-7km, chính diện 2-3km hoặc lớn hơn.

        KHU VỰC XUẤT PHÁT TIẾN CÔNG, khu vực địa hình được thiết bị công trình do binh đội, binh đoàn chiếm lĩnh trước khi tiến công. KVXPTC phải đảm bảo: điều kiện thuận lợi cho triển khai và chuyển bộ đội vào tiến công; bố trí các đơn vị kín đáo và phân tán; phòng không và phòng hỏa lực pháo binh của đối phương. Chuẩn bị KVXPTC phải căn cứ vào nhiệm vụ, ý định chiến đấu của đơn vị. Việc xây dựng công trình có thể được tiến hành trước hoặc do đơn vị đến chiếm lĩnh đảm nhiệm. Bố trí thiết bị công trình KVXPTC phải đảm bảo chuyển sang tiến công được nhanh chóng và nếu quân địch chuyển sang tiến công trước thì đảm bảo tiến hành chiến đấu đánh trả thắng lợi. Khi tiến công trong hành tiến, KVXPTC được chọn ở cự li và địa điểm có điều kiện giảm đến mức tối đa thiệt hại do pháo binh địch gây ra. Khi chuyển sang tiến công từ vị trí trực tiếp tiếp xúc với quân địch, nội dung chuẩn bị gồm: KVXPTC tuyến và trận địa cho đơn vị yểm trợ và lực lượng tiến công; trận địa chờ đợi cho xe tăng; khu vực bố trí của lực lượng dự bị; khu vực trận địa của lực lượng pháo binh, lực lượng phòng không, đường vận động cho lực lượng dự bị; khu vực triển khai SCH và hậu cần.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:03:13 pm

        KHU VỰC XUẤT PHÁT VƯỢT SÔNG, khu vực địa hình có thiết bị công trình mà phân đội (binh đội, binh đoàn) chiếm lĩnh trước khi vượt sông. Được chọn ở nơi có điều kiện ngụy trang tự nhiên, gần đường tiến ra bến vượt và có khoảng cách phù hợp để nhanh chóng đến được bến vượt. KVXPVS phải đảm bảo triển khai bộ đội nhanh, bí mật; đủ bố trí các phản đội (binh đội, binh đoàn) và được bảo vệ chặt chẽ.

        KHUẤT PHỤC, từ bỏ ý chí "đấu tranh, chấp nhận sự phụ thuộc vào một thế lực nào đó. Trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, các giai cấp thống trị, các thế lực xâm lược và bành trướng thường dùng mọi âm mưu, thủ đoạn buộc các giai cấp bị thống trị và các dân tộc khác phải KP.

        KHÚC THỪA DỤ (7-907), người mở đầu thời kì tự chủ của dân tộc VN. Quê Hồng Châu (nay gồm h. Bình Giang và h. Ninh Giang, t. Hải Dương), thuộc gia đình hào trường. 905 lúc nhà Đường (TQ) đang suy vong, quan tiết độ sứ cuối cùng của nhà Đường là Độc Cô Tổn phải về TQ, chính quyền đô hộ không có người cầm đầu. KTD được dân chúng ủng hộ chiếm thành Tống Bình (Hà Nội), tự xưng là tiết độ sứ. Nhà Đường buộc phải công nhận; 7.2.906 phải phong tước Đồng Bình Chương Sự cho KTD. Khéo lợi dụng bộ máy và danh nghĩa của chế độ đô hộ cũ, bề ngoài “xin mệnh nhà Đường”, nhưng bên trong KTD từng bước xây dựng nền tự chủ của dân tộc. Hiện còn đình thờ họ Khúc ở làng Cúc Bổ (h. Ninh Giang, t. Hải Dương).

        KHỦNG BỐ. hành động bạo tực tàn ác của cá nhân, của một tổ chức, một nhà nước hoặc liên minh nhà nước nhằm phá hoại, đe dọa, gây sợ hãi hoặc cưỡng bức, buộc đối phương khuất phục hay thực hiện những yêu sách nhất định; một loại tội phạm quốc tế. Hình thức KB : bắt cóc, ám sát, đánh bom, tàn sát man rợ... KB được một số nước và thế lực phản động, các phần tử cực đoan, lực lượng li khai trên thế giới sử dụng như một quốc sách hoặc một chiến lược để thực hiện những mục đích nhất định. KB đã bị nhân dân thế giới lên án. Đấu tranh chống KB đã trở thành mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế.

        KHỦNG BỐ TRẮNG, khủng bố có tính chất hủy diệt của một tổ chức, một nhà nước hoặc liên minh các nước. Thường được các thế lực phản động và xâm lược sử dụng để đàn áp phong trào CM hoặc kháng chiến (xt tam quang), ở VN, những cuộc đàn áp của thực dân Pháp đối với phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-31), khởi nghĩa Nam Kì ( 11.1940) là điển hình của KBT.

        KÌ TẬP X. TẬP KÍCH

        KỈ LUẬT QUÂN ĐỘI, tổng thể những điều quy định buộc mọi quân nhân phải triệt để chấp hành nhằm tạo sự thống nhất cao trong hành động, đảm bảo cho QĐ phát huy được sức mạnh, hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Nội dung cụ thể của KLQĐ được nêu rõ trong hiến pháp, pháp luật của nhà nước; điều lệnh, điều lệ. chế độ, quy tấc, mệnh lệnh, chỉ thị của QĐ. Kỉ luật của QĐ CM là kỉ luật tự giác nghiêm minh; được xây dựng và duy trì trên cơ sở giác ngộ về lí tưởng và mục tiêu chiến đấu, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự nghiệp CM; bản lĩnh và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của mỗi quân nhân, cùng với sự giáo dục, tổ chức, quản lí chặt chẽ và thưởng phạt nghiêm minh.

        KỈ LUẬT TÀI CHÍNH, tổng thể những quy định phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt trong các hoạt động tài chính như: thu. chi, quyết toán của các cơ quan, đơn vị; một bảo đảm quan trọng của trình tự công tác tài chính cho việc quán triệt, chấp hành mọi phương châm, chính sách, chế độ và thực hiện thuận lợi dự toán ngân sách và kế hoạch tài chính. Trong QĐND VN, KLTC được quy định có tính nguyên tắc tại Điều lệ công tác tài chính Quân đội nhân dân Việt Nam và quy định cụ thể trong các văn bản pháp quy đối với từng mặt công tác tài chính như: các cơ quan, đơn vị phải thực hiện các khoản giao nộp cho nhà nước đúng thời hạn và định mức theo chế độ tài chính: các khoản chi ngân sách phải đúng chế độ, đúng mục đích, có trong dự toán được duyệt, được người có thẩm quyền chuẩn chi; các quỹ chuyên dùng phải tách riêng, không được tự ý lưu chuyển; không được tự ý mở rộng phạm vi chi vào giá thành doanh nghiệp, nâng cao mức chi kinh phí của đơn vị dự toán; không được phép biến quỹ trong ngân sách thành quỹ đơn vị, biến của công lớn thành nhỏ; mọi khoản thu, chi tài chính đều phải có chứng từ hợp pháp, hợp lệ và được ghi chép, phản ánh trên sổ kế toán; phải chấp hành nghiêm chế độ báo cáo và quyết toán tài chính... Việc vi phạm KLTC sẽ bị xử lí bằng các hình thức kỉ luật: bắt bồi thường, xử phạt hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Chấp hành KLTC là yêu cầu bên trong bảo đảm quy luật phân phối tài chính được quán triệt một cách cụ thể trong thực tiễn công tác tài chính.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:06:11 pm

        KĨ THUẬT ĐẶC CÔNG, hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành các động tác chiến đấu đặc công và sử dụng phương tiện KTQS để tác chiến của bộ đội đặc công. Gồm: kĩ thuật ngụy trang, kĩ thuật vận động, kĩ thuật khắc phục vật cản, kĩ thuật sử dụng thuốc nổ (mìn), kĩ thuật bắn súng...

        KĨ THUẬT QUÂN SỰ, gọi chung những phương tiện, tư liệu, phương pháp, phương thức hoạt động,... để nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, khai thác,... các phương tiện kĩ thuật quân sự. KTQS phát triển dựa trên những thành tựu của khoa học, công nghệ nói chung và phản ánh những đỉnh cao của trình độ phát triển khoa học, công nghệ đương đại.

        KĨ THUẬT TÀNG HÌNH, biện pháp kĩ thuật áp dụng trên trang bị KTQS nhằm làm mất hoặc giảm khả năng bị phát hiện bời các thiết bị cảnh giới của đối phương. Các biện pháp thường dùng : tạo hình dáng, cấu trúc thích hợp, sử dụng các vật liệu, các lớp phủ đặc biệt có khả năng hấp thụ các bức xạ điện tử, âm thanh... để làm giảm bề mặt phản xạ hiệu dụng, giảm bức xạ và phản xạ nhiệt, điện từ, âm thanh... KTTH đang được nhiều nước nghiên cứu và ứng dụng trong kĩ thuật chế tạo khí cụ bay tàng hình (máy bay, tên lửa...), tàu chiến... Cg công nghệ tàng hình (xt máy bay tàng hình, F-117A, B-2).

        KĨ THUẬT XENXƠ. kĩ thuật ứng dụng các bộ cảm biến (cg xenxơ hay đattrich)... vào các hệ thống tự động điều khiển, chi báo và đo đạc từ xa. Sự phát triển và ứng dụng KTX dựa trên các thành tựu vật lí và liên hệ mật thiết với các ngành kĩ thuật, công nghệ khác, đặc biệt là kĩ thuật vô tuyến điện tử, công nghệ thông tin. Trong QS, KTX ứng dụng trong trinh sát xuất hiện đầu tiên trong CTTG-II, hiện được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống trinh sát, tìm kiếm mục tiêu (QĐ Mĩ sử dụng ở Nam VN lần đầu tiên từ những năm 60 của tk 20), hệ thống điều khiển hỏa lực các tổ hợp vũ khí, phương tiện chiến đấu... KTX cũng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc rôbôt hóa (tự động hóa bằng người máy) các hệ thống vũ khí, trang bị KTQS (dùng để trao đổi thông tin giữa rôbôt và môi trường).

        KÍ HIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH, hệ thống kí hiệu được quy ước bằng hình vẽ, màu sắc, kết hợp với chữ và chữ số ghi chú để biểu thị, giải thích các yếu tố địa hình, địa vật có trên mặt đất, lên bản đồ địa hình. Kí hiệu thường mô phỏng theo hình dạng, vị trí thật, các đặc trưng định tính, định lượng của địa vật, dáng đất. KHBĐĐH thường có các loại: vẽ theo tỉ lệ, vẽ không theo tỉ lệ và vẽ tượng trưng.

        KÍ HIỆU HÀNG HẢI TRÊN BỜ, kí hiệu được thể hiện trên cột tiêu, biển báo, cờ hiệu... lắp đặt trên bờ dọc theo các tuyến vận tải nội thủy, trên các còng trình kĩ thuật thủy và trên các cầu... để xác định vị trí và chi dẫn cho tàu thuyền hoạt động an toàn. KHHHTB gồm: tiêu báo tuyến vận chuyển tàu thuyền qua lại giao nhau, tiêu báo hành trình đánh dấu tuyến đi của phương tiện dọc theo bờ biển, tiêu treo chỉ báo các bờ gặp nước, tiêu định vị (định hướng) chỉ báo các vị trí (khu vực) đặc biệt của bờ biển; các tiêu chỉ trục tâm tàu thuyền khi cơ động dưới cầu.

        KÍ HIỆU QUÂN SỰ, hệ thống kí hiệu được quy ước bằng hình vẽ, màu sắc, chữ, số và chữ tắt kết hợp với ghi chú để chỉ: đơn vị, cơ quan, chức vụ, vị trí chỉ huy, vũ khí. trang bị kĩ thuật của các quân chủng, binh chủng, ngành chuyên môn; công sự trận địa, vật cản và hành động QS ta, địch... KHQS được dùng trong một số văn kiện quân sự, được vẽ, viết đúng quy định, có tỉ lệ thích hợp với từng loại bản đồ, sơ đồ...

        KÍ LỤC (cổ), chức quan thời Hậu Lê, có nhiệm vụ theo dõi, ghi chép về tư cách và hành vi của các võ tướng trong tác chiến để tâu lên vua. Được đặt ra 1479 (đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 10). Đầu thời Trung Hưng, chức KL còn được đặt ở ngự doanh (doanh quân do vua đích thân chỉ huy). Đời vua Lê Thế Tông, những năm Quang Hưng (1578-99), sau khi đánh dẹp nhà Mạc, đã bãi bỏ KL, về sau trong các cuộc hành binh lớn, lại phục hồi KL.

        KỊ BINH, binh chủng thuộc lục quân, chiến đấu trên lưng ngựa hoặc chiến đấu như bộ binh. KB có khả năng cơ động cao, ít bị ảnh hưởng của địa hình và thời tiết; trang bị chủ yếu: ngựa, súng bộ binh, mã tấu, pháo và súng máy hạng nhẹ. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, KB là lực lượng tác chiến chủ yếu trên chiến trường. Đầu tk 20, KB giảm dần số lượng và mất dần vai trò và tác dụng trong tác chiến. Ngày nay, một số nước chi giữ lại số ít, dùng để tuần tra, canh gác biên phòng. Ỏ một số nước, bộ đội cưỡi voi, lạc đà làm nhiệm vụ tác chiến cũng gọi là KB. QĐ Mĩ có tổ chức (phân đội, binh đội, binh đoàn) dùng máy bay trực thăng hoặc xe thiết giáp để làm nhiệm vụ gọi là KB bay hoặc thiết kị.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:07:25 pm

        KÍCH (cổ), vũ khí lạnh có cán dài, đầu kim loại nhọn và có ngạnh để sát thương đối phương bằng đâm, móc. Cán bằng gỗ hoặc tre, độ ngắn dài phụ thuộc vào loại dùng cho bộ binh, kị binh hay lính trên xe; đầu bằng đồng (thời đại đồ đồng) hoặc thép. Khi kị binh phát triển, K dần dần bị thay thế bằng các loại khác. Sau chi dùng trong nghi lễ.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67366715_452614902135062_6448295346517835776_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQmK4-XD9OW-lG32Z85AacEqcI7pINVWS4trTP9Fr9lUJxDVaPgwfiL26Rvz212Afas&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=b8479e93ef132c90ed8c21c270bb68d8&oe=5DA7006E)


        KIEP , 1) tàu sán bay của LX, hạ thủy 27.12.1972, đưa vào trang bị 5.1975. Lượng choán nước chở đầy 40.500t. Kích thước: 274x47,2xl0m (đường băng 189x20,7m). Có 4 tuabin, tổng công suất 147MW (200.000cv), 4 chân vịt. Tốc độ 32 hải lí/h (60km/h), tầm hoạt động 13.500 hải lí (25.000km) với tốc độ 18 hải lí/h. Quân số: 1.200 (chưa kể phi đoàn). Trang bị: 12 máy bay cất hạ cánh thẳng đứng Iak- 36A, 1 máy bay huấn luyện Iak-36B, 19 máy bay trực thăng chống ngầm Ka-25A hoặc Ka-27, 2 máy bay trực thăng Ka- 25B; 8 bệ X 4 ống phóng tên lửa tàu đối tàu SS-N-12 (tầm 550km, tốc độ Ml,7, đầu đạn hạt nhân 350kt hoặc đầu đạn 1.000kg thuốc nổ thường); 2 bệ X 2 rãnh phóng tên lửa phòng không SS-N-3B (tầm 55km, tốc độ M2,5, đầu đạn 80kg, độ cao bắn 91,4-22.860m, 72 tên lửa); 2 bệ X 2 rãnh phóng tên lửa  phòng không SS-N-4 (tầm 15km, tốc độ M2,5, đầu đạn 50kg, độ cao bắn 9,l-3.048m, 40 tên lửa); 4 bệ X 6 rãnh phóng tên lửa phòng không SA-N-9 (tầm 12km, tốc độ M2, đầu đạn 15kg, độ cao bắn 3,4-12.192m, 96 tên lửa); một bệ 2 ống phóng tên lửa - ngư lôi chống ngầm SUW-N-1, tầm 16 hải lí (29km), đầu đạn hạt nhân 5kt; 3 pháo 76mm, 8 pháo X 6 nòng 30mm: ngư lôi và trang bị chống ngầm khác. K thuộc Hạm đội Biển Bắc. Loại bỏ (1993) làm phụ tùng thay thế cho tàu Goocsơcôp; 2) lớp tàu sân bay LX, gồm các tàu: K. Minxcơ (bị bán làm phế liệu 1992) và Nôvôrôxixcơ.

        KIỂM CHẾ. hoạt động tác chiến được tiến hành bằng một bộ phận binh lực, hỏa lực để hạn chế, ngăn cản địch tự do hành động, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chủ yếu của ta tiến hành tác chiến. Có KC chiến lược, KC chiến dịch và KC chiến thuật. KC thường được tiến hành bằng công kích, bao vây, chế áp, quấy rối, nghi binh... KC được vận dụng trong tác chiến trên bộ, trên không, trên biển.

        KIẾM DỊCH. biện pháp của ngành y tế và thú y nhằm kiểm soát không cho bệnh tối nguy hiểm lan tràn giữa các khu vực trong một quốc gia (KD nội địa), hay giữa các quốc gia (KD quốc tế). Trong thời chiến, hoạt động KD nhằm kiểm soát không để bệnh tối nguy hiểm lan từ mặt trận về hậu phương và ngược lại. Các biện pháp KD: nghiêm cấm người ra, vào ổ dịch, phát hiện và cách li người ốm, tiến hành các biện pháp vệ sinh, tiêm phòng dịch, khử trùng...

        KIỂM KÊ. biện pháp kiểm tra thực tế trên hiện vật nhằm xác định số thực có về tài sản, vật tư. hàng hóa, tiền vốn và kinh phí của một đơn vị hoặc trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân tại một thời điểm nhất định. Có thể tiến hành định kì, (thường là hàng năm) hay đột xuất (khi giải thể, bàn giao, sáp nhập, phân chia đơn vị hoặc trong những trường hợp bất thường khác) theo quy định của chế độ KK tài sản; đối với toàn bộ hay một bộ phận tài sản. Đối tượng KK bao gồm mọi loại tài sản: tài sản cố định, công trình đang xây dựng, công cụ lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, bán thành phẩm, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm và hàng hóa. bao bì, súc vật, vốn bằng tiền, các giấy tờ và tín phiếu có giá trị như tiền, chi phí chờ phân bổ, công nợ... Vũ khí, trang bị kĩ thuật và các tài sản chuyên dùng khác cho quốc phòng, an ninh được KK nhưng theo những quy định riêng. Qua KK có thể phát hiện tình trạng thừa thiếu tài sản do các nguyên nhân khác nhau và những sai sót trong việc ghi chép trên sổ sách, trên cơ sở đó có biện pháp tăng cường quân lí tài sản, chấn chỉnh nền nếp và nâng cao tính chính xác trong công tác thông kê, kế toán.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:08:46 pm

        KIỂM SÁT VIÊN viện kiểm sát quân sự, chức vụ của người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong QĐ. Tiêu chuẩn KSV: sĩ quan QĐND VN tại ngũ, trung thành với tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lí và nghiệp vụ kiểm sát, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế XHCN, có sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Khi thực hiện nhiệm vụ, người có chức vụ KSV phải tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của viện trưởng viện kiểm sát QS cấp mình, sự lãnh đạo thông nhất của viện trưởng Viện kiểm sát QS trung ương.

        KIỂM SOÁT CHI. hoạt động nghiệp vụ tài chính của các cơ quan có thẩm quyền thông qua việc xem xét các hồ sơ. chứng từ chi tiêu để bảo đảm các khoản chi ngân sách có đủ các điều kiện chi theo quy định của pháp luật và phát hiện, ngăn chặn những trường hợp chi trái quy định. Được tiến hành trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Đặc biệt khi cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách, kho bạc nhà nước chi cấp phát, thanh toán cho đơn vị sau khi tiến hành kiểm soát tính hợp pháp của các hồ sơ, chứng từ chi tiêu, bảo đảm các khoản chi có trong dự toán được duyệt, đứng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, được người có thẩm quyền chuẩn chi. Trường hợp không đủ các điều kiện này có quyền hạn chế, tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả. Đối với các khoản chi trong lĩnh vực quốc phòng có yêu cầu bảo mật cao, kho bạc nhà nước không kiểm soát các điều kiện chi, các đơn vị QĐ phải tổ chức việc kiểm soát này và chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của các khoản chi.

        KIỂM SOÁT LƯU THÔNG BIÊN GIỚI, thực hiện các biện pháp để duy trì đúng thủ tục, quy định của pháp luật, các hiệp định, hiệp nghị với nước ngoài, đảm bảo cho việc qua lại biên giới quốc gia có trật tự kỉ cương, đúng thù tục pháp luật phù hợp với hiệp định, hiệp nghị và các điều ước quốc tế: bảo đảm an toàn và thuận lợi cho những người có đủ giấy tờ hợp pháp qua lại biên giới cũng như các phương tiện vận chuyên, hàng hóa, văn hóa phẩm, bưu kiện và sự an toàn về an ninh và vệ sinh dịch tễ. KSLTBG do lực lượng chuyên trách từng lĩnh vực thực hiện theo pháp luật của từng nước, phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan.

        KIỂM SOÁT QUÂN NHÂN X. KlỂM SOÁT QUÂN SỰ

        KIỂM SOÁT QUÂN SỰ, lực lượng làm nhiệm vụ kiểm tra đối với quân nhân và các phương tiện giao thông QS ở ngoài doanh trại để giúp người chỉ huy duy trì kỉ luật QĐ. pháp luật của nhà nước, quy tắc trật tự xã hội. Có: KSQS chuyên nghiệp (ở một số bộ chỉ huy QS tỉnh, thành phố); KSQS không chuyên nghiệp (ở cấp lữ đoàn, trung đoàn và tương dương trở lên). Được tổ chức thành trạm KSQS cố định (nơi có nhiều quân nhân và phương tiện vận chuyển QS qua lại), tổ (đội) KSQS lưu động (trên các trục đường), do sĩ quan chỉ huy. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng nhiệm vụ. quyền hạn, trang bị và trang phục của KSQS được quy định trong điều lệnh, điều lệ của QĐND VN và văn bản pháp quy khác của BQP.

        KIỂM TOÁN, hoạt động kiểm tra đặc biệt nhầm xác minh tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, báo đảm việc chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ công tác tài chính. Do cơ quan chuyên môn gồm các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ thích hợp được pháp luật thừa nhận thực hiện. Theo giá trị pháp lí, có: KT nhà nước, KT độc lập. KT nội bộ : theo tính chất nghiệp vụ, có: KT tài chính. KT hoạt động. KT tuân thủ, KT đặc biệt. Đối với các cơ quan, đơn vị QĐ, hoạt động KT được thực hiện theo quy tắc: KT nhà nước thực hiện KT theo quyết định của chính phủ; cơ quan KT QĐ thực hiện KT theo kế hoạch năm được duyệt hoặc theo quyết định của cục trường Cục tài chính: các doanh nghiệp nếu có yêu cầu mời KT độc lập, thì KT vẫn được thực hiện theo quy định của nhà nước và của BQP.

        KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG XĂNG DẦU, hoạt động kĩ thuật - nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá các chỉ tiêu chất lượng xăng dấu so với các chi tiêu chuẩn quốc gia bằng các phương pháp phân tích, hóa nghiệm xăng dầu theo quy định. Việc KTCLXD phải được làm thường xuyên trong quá trình bào quản, cất giữ cũng như khi tiếp nhận, cấp phát xăng dầu, nhăm đề ra kế hoạch bảo quản, cấp phát, sử dụng hợp lí, đúng tính năng, chủng loại, chất lượng hoặc có biện pháp xử lí kịp thời, bào đám cho các phương tiện, thiết bị sử dụng xăng dầu hoạt động tốt. không bị hỏng hóc, kéo dài tuổi thọ. Tùy theo yêu cầu kiểm tra, có thể tiến hành KTCLXD theo các hình thức: phân tích kiểm tra, phân tích toàn bộ, phân tích trọng tải.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:09:56 pm

        KIỂM TRA CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU, hoạt động của người chỉ huy và cơ quan nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai lệch của các đơn vị trong công tác chuẩn bị tác chiến, đề ra các biện pháp khắc phục kịp thời, bảo đảm tác chiến thắng lợi. Được thực hiện sau khi giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc quyền, tập trung vào việc hiểu rõ nhiệm vụ tác chiến và những biện pháp tổ chức thực hiện của đơn vị. Người chỉ huy (tư lệnh) cần trực tiếp kiểm tra giúp đỡ các đơn vị làm nhiệm vụ trên hướng (khu vực) chủ yếu, đảm nhiệm trận đầu, các trận thời chốt và các nhiệm vụ quan trọng khác.

        KIỂM TRA ĐỘNG VIÊN, biện pháp thực hiện công tác động viên của lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp (địa phương, bộ, ngành và đơn vị QĐ): nhằm nắm thực trạng việc tổ chức, xây dựng lực lượng dự bị động viên và thực hiện công tác chuẩn bị khác cho động viên; có chủ trương, biện pháp kịp thời giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. KTĐV phải có kế hoạch và xây dựng thành nền nếp. Thủ trưởng hoặc cơ quan chức năng cấp trên kiểm tra cấp dưới thuộc quyền: nội dung, hình thức và thời gian KTĐV có thể báo trước hoặc đột xuất.

        KlỂM TRA KĨ THUẬT, 1) tổng thể các hoạt động và biện pháp tổ chức, kĩ thuật nhầm xác định, đánh giá tình trạng kĩ thuật của trang bị (tổ hợp trang bị). Do các cán bộ, nhân viên kĩ thuật chuyên trách thực hiện; được tiến hành trước và sau khi sửa chữa, khi bàn giao trang bị, khi xuất xưởng... Nội dung và trình tự tiến hành KTKT đối với từng loại trang bị kĩ thuật và trong từng trường hợp được quy định trong các tài liệu kĩ thuật tương ứng; 2) dạng bảo dưỡng kĩ thuật không định kì, do người trực tiếp điều khiển, sử dụng trang bị kĩ thuật (kíp xe, kíp trắc thủ, khẩu đội...) tiến hành tại nơi sử dụng. Gồm: kiểm tra, điều chỉnh sự làm việc của các cụm, hệ thống; bổ sung nhiên liệu, dầu mỡ. nước làm mát...

        KIỂM TRA LIỀU CHIẾU XẠ CÁ NHÂN, xác định liều chiếu xạ ở từng người trong quá trình hoạt động trong vùng nhiễm xạ hoặc sau khi ra khỏi vùng nhiễm xạ. nhẳm cung cấp những số liệu cần thiết cho người chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp để đánh giá, xử lí và sử dụng đúng sức chiến đấu của từng quân nhân, từng đơn vị đã bị chiếu xạ. KTLCXCN là cơ sở để tổ chức và thực hiện các biện pháp điều trị. KTLCXCN do người chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp tổ chức, phân đội kiểm tra phóng xạ thuộc phân đội trinh sát hóa học - phóng xạ hướng dẫn thực hiện.

        KIỂM TRA NHIỄM ĐỘC, NHIỄM XẠ, NHIỄM TRÙNG, xác định mức độ nhiễm độc, nhiễm xạ, nhiễm trùng trên người, vũ khí, trang bị kĩ thuật, địa hình và các đối tượng khác sau khi đã tiến hành tiêu tẩy toàn bộ hoặc khi bộ đội đã ra khỏi vùng nhiễm, nhằm đánh giá kết quả tiêu tẩy chuyên môn hoặc xác định nhu cầu tổ chức tiêu tẩy toàn bộ, sử dụng khí tài phòng hóa. Kiểm tra nhiễm độc và nhiễm xạ do phân đội trinh sát hóa học - phóng xạ và chiến sĩ được huấn luyện chuyên môn tiến hành. Kiểm tra nhiễm độc, nhiễm xạ nước, lương thực thực phẩm do chiến sĩ trinh sát hóa học - phóng xạ và nhân viên quân y kết hợp tiến hành. Kiểm tra nhiễm trùng cho các đối tượng khác nhau do nhân viên quân y tiến hành.

        KIỂM TRA TÀI CHÍNH. hoạt động kiểm tra nhằm xác minh tính đúng đắn, tính mục đích trong việc phân phối các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ và tính hiệu quả, tiết kiệm trong việc sử dụng. Đặc trưng cơ bản của KTTC là: kiểm tra bằng đồng tiền thống qua các chỉ tiêu tài chính, trong đó phải xem xét tình hình thực tế thu, chi tài chính, chấp hành các chính sách, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức; so sánh, đối chiếu tình hình thực tế với các chuẩn mực; xác định và tìm những nguyên nhân sai lệch giữa chúng; đề ra yêu cầu chấn chỉnh những sai phạm; kiến nghị các biện pháp để sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực tài chính... KTTC được tiến hành khi lập và xét duyệt dự toán ngân sách, kế hoạch tài chính; cấp phát chi tiêu; thu nộp tài chính và trích lập các quỹ; quản lí và sử dụng vật tư, tài sản; thanh toán, quyết toán tài chính. Các cơ quan, đơn vị phải tiến hành KTTC đối với các cơ quan, đơn vị thuộc quyền; Cục tài chính tiến hành KTTC thường xuyên hoặc đột xuất tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân theo quy định của “Điều lệ công tác tài chính Quân đội nhân dân Việt Nam ". Thanh tra tài chính là một hình thức KTTC.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:11:33 pm

        KIẾM, vũ khí lạnh, có lưỡi dài và sắc, đầu nhọn, dùng để sát thương đối phương bằng đâm. chém. Thân dài 0,6-1,0m. có một bên hoặc hai bên lưỡi sắc (hai bên thân), được làm bằng đồng (ở thời đại đổ đồng) hoặc thép tốt (phổ biến). Cán ngắn bằng gỗ hoặc kim loại, có ốp che tay. K thường có bao và được đeo bên người, trang bị chủ yếu cho kị binh và cho bộ binh từ thời đại đồ đồng đến CTTG-II. Sau đó chỉ dùng làm vật trang trí hoặc trong nghi lễ duyệt, diễu binh.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66843412_452614922135060_5329187612626255872_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQkTzZb6mB0GUXFsDkrtp0ywxqK4VjIrI5BEVIuPiL7uTJojc8nPmS6xljR9au-W_W8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=cbd7fdbe2eaed39cc501fa4ac67c200c&oe=5DB662D6)


        KIÊN GIANG, tỉnh ở tây nam Nam Bộ; bắc giáp Campuchia, đường biên giới 54km, cửa khẩu Xà Xía, đông bắc giáp An Giang*, Cần Thơ, đông nam giáp Hậu Giang**, Bạc Liêu, nam giáp Cà Mau, tây giáp vịnh Thái Lan. Dt 6.269,04 km2; ds 1,6 triệu người (2003); người Kinh chiếm 84%, còn lại là người Khơme, Hoa... Thành lập 10.1956 do sáp nhập hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá. Tổ chức hành chính: 11 huyện, 2 thị xã; tỉnh lị: tx Rạch Giá. Địa hình đa dạng phong phú, có đồng bằng, rừng, núi và hải đảo. Rừng tập trung ở U Minh Thượng, Hà Tiên, Hòn Đất và quần đảo Thổ Chu. Bờ biển đất liền dài 200km. Vùng biển và hải đảo rộng gần 100.000 km2 với khoảng 105 hòn đảo (70 đảo có người ở); đảo Phú Quốc lớn nhất, dt 567 km2. Hộ thống sông ngòi dày đặc. Tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế công, nông nghiệp và kinh tế biển. Năm 2002 đứng thứ hai cả nước về sản lượng lương thực có hạt (2.578 nghìn tấn lúa) và hải sản, thủy sản (285,5 nghìn tấn) khai thác gỗ 125,4 nghìn mét khối. Công nghiệp: cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, hải sản, đóng tàu. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 3.374,7 tỉ đồng. Giao thông: QL 80 và các tinh lộ. Hai sân bay: Rạch Sỏi, Dương Đông (Phú Quốc). Cảng: Hòn Chông, Tắc Câu, Nam Du. An Thới. Di tích lịch sử CM: rừng u Minh, Hòn Đất, Hà Tiên, Phú Quốc. Quê hương của Nguyễn Trung Trực, chị Tư Phùng... 10.2000, LLVTND Kiên Giang được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66832214_452614938801725_4584475016900378624_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQnvtm0y31Wa3YA-0qi_WAGiuPRrukXihzjfbjyEOAa0VHF3SoWI3DXWJD7zkXaiEms&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=077f7d26ba463f8c78f9d241bd163f19&oe=5DEC8CBE)


        KIÊN HẢI, huyện đảo thuộc t. Kiên Giang. Nằm trong vịnh Thái Lan; gồm các đảo Hòn Tre (xã Hòn Tre), Hòn Rái (xã Lại Sơn) và quần đảo Nam Du (xã An Sơn), cách nhau khoảng 30km chạy dọc theo hướng đông bắc - tây nam. Tổng dt 38,7 km2; ds 24,8 nghìn người (2002). Địa hình chủ yếu là núi; đỉnh cao nhất (trên đảo Hòn Rái) 405m. Khí hậu hai mùa, tháng 2-8 gió đông nam, tháng 9-1 gió tây bắc. Dân cư tập trung chủ yếu trên các đảo Hòn Tre, Hòn Rái và đảo Nam Du thuộc quần đảo Nam Du. Nghề nghiệp chủ yếu: đánh bắt và chế biến hải sản, trồng cây ăn quả và dược liệu, khai thác làm thổ sản.

        KIẾN AN. tỉnh cũ ở Bắc Bộ. Nguyên là t. Hải Phòng, thành lập 1.1898 cùng với tp Hải Phòng trên cơ sở nha Hải Phòng tách ra từ t. Hải Dương (9.1887). Ngày 8.1902 đổi tên thành t. Phù Liễn, 2.1906 thành t. KA. 11.1946 hợp nhất với Hải Phòng thành liên tỉnh Hải - Kiến. 12.1948 tách riêng như cũ. 10.1962 lại sáp nhập vào tp Hải Phòng.

        KIẾN NGHỊ HẬU CẨN, đề đạt ý kiến của chủ nhiệm hậu cần với người chỉ huy về bảo đảm hậu cần. Nội dung gồm: tổ chức lực lượng, bố trí và di chuyển hậu cần, đường vận tải, một số chỉ tiêu và biện pháp chính về bảo đảm vật chất, bảo dàm sinh hoạt, quân y, công tác vận tải, kết luận chung về mức độ bảo đảm các mặt hậu cần và đề nghị. KNHC được người chỉ huy  thông qua là căn cứ để làm các kế hoạch bảo đảm hậu cần.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:13:16 pm

        KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG, gọi chung những hiểu biết lí luận, thực tiễn về QS, quốc phòng và quốc phòng toàn dân. Nội dung cơ bản: khái niệm và quan điểm về QS, quốc phòng: đối tượng của quốc phòng, học thuyết QS của các nước có liên quan; đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng quốc phòng và nền quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVTND. xây dựng tiềm lực quốc phòng, các vấn đề về nghệ thuật QS. KTQS, phòng thủ dân sự, động viên quốc phòng, công tác QS địa phương, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quản lí nhà nước về quốc phòng... Giáo dục quốc phòng ở mọi cấp theo quy định là biện pháp cơ bản và có hiệu quả để nâng cao KTQP cho toàn dân.

        KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG, hệ thống các quan điểm chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học cùng những tổ chức và thể chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể...) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhãi định. Các bộ phận hợp thành KTTT đều phản ánh cơ sở hạ tầng, trong đó chính trị phản ánh trực tiếp cơ sở hạ tầng, còn các bộ phận khác phản ánh cơ sở hạ tầng một cách gián tiếp. Trong xã hội có giai cấp, KTTT mang tính giai cấp. KTTT do cơ sở hạ tầng quyết định song nó không thụ động mà có tính độc lập tương đối, tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng. 

        KIÊU BINH (cổ), ưu binh do cậy công nên sinh lộng hành, gầy ra loạn kiêu binh (1782-86) cuối thời Lê - Trịnh.

        KIỂU NGỌC LUÂN (Kiều Cục; 1942-72), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Quê xã Bình Thuận, h. Bình Sơn. t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN (1967); khi hi sinh là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 Trong KCCM, 1966-72 chiến đấu và chỉ huy chiến đấu hơn 50 trận ở chiến trường Khu 5 và Quảng Trị, KNL diệt hơn 200 địch (có 100 Mĩ), phá hủy 3 xe tăng. Trận Linh Chiểu (Quảng Trị, 8-9.7.1972), KNL chi huy một mũi gồm 18 chiến sĩ đánh chiếm Linh Chiểu rồi phòng ngự tại chỗ, đánh lui 7 đợt phản kích của gần một tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng yểm hộ, diệt nhiều địch, giữ vững trận địa (KNL diệt 50 địch). Trận Tri Bưu (Quảng Trị, 22-25.7.1972) chỉ huy đại đội chiến đấu phòng ngự, diệt 150 địch. Huân chương: 5 Chiến công, 8 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66829045_452614932135059_1382600434153160704_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQlQl5W-oDArZMXXP_Zdvjf_YlgYVLha23d5GscGuJnJQ9R_LFJDAeijQglCyKWyGQI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=de014a10ae3a5e73bb5a4e93974f8509&oe=5DABB36D)


        KIM ĐỒNG (Nông Văn Dền; 1929-43), Ah LLVTND (truy lặng 1997). Dân tộc Nùng, quê xã Trường Hà, h. Hà Quảng, t Cao Bằng; khi hi sinh là đội trường Đội thiếu niên cứu quốc. Tham gia CM 1941, KĐ đã tuyên truyền vận động các bạn cùng lứa tuổi trong bản làm nhiệm vụ chuyên công văn, tài liệu, đưa đón cán bộ, trinh sát nắm tình hình địch để cung cấp cho CM. 5.1941 BCHTƯ ĐCS Đông Dương quyết định thành lập Đội thiếu niên cứu quốc, KĐ là một trong năm đội viên đầu tiên và được bầu làm đội trưởng. Trong quá trình hoạt động, KĐ luôn thể hiện trí thông minh, lòng dũng cảm và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Rạng sáng 15.2.1943, KĐ được giao nhiệm vụ canh gác bảo vệ cuộc họp bí mật của BCHTƯ Đảng, khi bị địch phát hiện bao vây, KĐ đã mưu trí đánh lạc hướng để địch tập trung lực lượng, hỏa lực về phía mình, kịp thời báo động để các cán bộ thoát khỏi vòng vây, KĐ hi sinh.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66963531_452614955468390_7342465996621348864_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnzFXqEWCzMZR3z2jvzljS1C03-zYeohJVl6CYDc04FaKAki9jiCkkjoHwAS0EeiwQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b9c595e2e58f6412c6bb7147de0c28d4&oe=5DBF20B3)


        KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG, khoản ngân sách các cơ quan, đơn vị được cấp và sử dụng nhằm duy trì và bảo đảm hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Nguồn KPHĐ gồm: ngân sách nhà nước cấp phát hàng năm; các khoản biếu tặng, viện trợ, tài trợ trong và ngoài nước; chiến lợi phẩm: các khoản thu tại đơn vị được giữ lại một phần hoặc toàn bộ để chi theo chế độ... KPHĐ phải được dự toán hàng năm. hàng quý và được cấp phát qua hệ thống kho bạc nhà nước; dược sử dụng theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và các quy định về quản lí kinh tế, tài chính của nhà nước và QĐ; được cơ quan có thẩm quyền kiểm soát khi chi tiêu, sử dụng. Thủ trường cơ quan, đơn vị hoặc người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về việc quản lí và sử dụng mọi khoản kinh phí của cơ quan, đơn vị mình theo quy định của pháp luật.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:14:56 pm

        KINH TẾ QUÂN SỰ, bộ phận của nền kinh tế quốc dân. đáp ứng nhu cầu QS của nhà nước trong việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, về cơ cấu, KTQS gồm công nghiệp quốc phòng và một bộ phận thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: cơ khí, luyện kim, hóa chất, điện tử. vận tải, thông tin, bưu điện, y tế... Khả năng KTQS phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, chế độ chính trị - xã hội, chính sách của nhà nước về quốc phòng - an ninh và nghệ thuật của ban lãnh đạo đất nước trong việc động viên, sử dụng có hiệu quả các nguồn dự trữ kinh tế của đất nước.

        KINH TẾ THỜI CHIỂN, trạng thái của nền kinh tế khi đất nước đã chuyển sang thời chiến để đáp ứng các nhu cầu của chiến tranh. Chế độ KTTC có thể được thiết lập khi cơ quan quyền lực nhà nước có thẩm quyền của quốc gia tuyên bố chiến tranh hoặc ban bố tình trạng chiến tranh. Trong nhiều trường hợp, nền kinh tế có thể được chuyển sang trạng thái chiến tranh trước khi có lệnh tuyên bố chính thức hoặc trước khi chiến tranh bắt đầu. Chế độ KTTC có thể được kết thúc đồng thời hoặc muộn hơn kết thúc chiến tranh, tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Ở một số nước, chế độ KTTC cũng có thể được thiết lập trong những tình huống khủng hoảng, có nội chiến hoặc bạo loạn... và không nhất thiết áp dụng trên toàn lãnh thổ quốc gia. Đặc trưng chủ yếu của KTTC thể hiện rõ trong những cơ chế chính sách quản lí, điều hành kinh tế của nhà nước theo pháp luật thời chiến nhằm trước hết tập trung trong tay nhà nước những nguồn lực kinh tế quan trọng nhất của đất nước để đáp ứng các nhu cầu tiến hành hoặc đối phó với chiến tranh. Trong KTTC, ở hầu hết các nước đều áp dụng nhiều cơ chế hành chính mệnh lệnh như: chế độ động viên, trưng dụng các nguồn nhân lực và vật lực, chế độ cưỡng bức lao động, chế độ phân phối hàng hóa, các biện pháp kế hoạch hóa tập trung... Mức độ chặt chẽ của các cơ chế quản lí nói trên còn tùy thuộc quy mô, cường độ của chiến tranh, vào tình huống có chiến tranh trên lãnh thổ quốc gia hay tiến hành chiến tranh ở bên ngoài biên giới... Một trong những điển hình về KTTC là những lí luận và thực tiễn của chính sách cộng sản thời chiến được áp dụng ở nước Nga xô viết trong cuộc nội chiến sau CM XHCN tháng Mười Nga (7.11.1917).

        KINH TUYẾN ĐỊA LÍ, đường cắt mặt Trái Đất bằng mặt phẳng đi qua một điểm trên mặt Trái Đất và trục quay của Trái Đất. Tất cả các điểm nằm trên một kinh tuyến có cùng một kinh độ địa lí. Trên thực tế kinh tuyến Grinuych được lấy làm kinh tuyến gốc để tính kinh độ.

        KINH TUYỂN TỪ (ĐỊA TỪ), đường cắt mặt Trái Đất bằng mặt phảng đi qua một điểm của bề mặt Trái Đất và đường thẳng nối hai cực từ bắc, nam của Trái Đất.

        KÍNH CHỈ HUY, khí tài quang học được đặt trên giá ba chân để phát hiện, nhận dạng, chỉ thị mục tiêu (trên không, mặt đất, mặt nước), quan sát kết quả bấn, đo góc... Tính năng chính: bội số 10„ góc nhìn 7°, góc tà quan sát từ -18° đến +84°, khối lượng 45,6kg. KCH thường được trang bị cho các phân đội trinh sát và hỏa lực phòng khống.

        KÍNH NHÌN NGẨM, khí tài quang học có trục kính vật và trục kính mắt song song và cách nhau một khoảng đủ cho phép quan sát, đo đạc từ vị trí bị che khuất (từ trong hầm hào, xe tăng, tàu ngầm...). Có: KNN có phóng đại (loại lăng kính), KNN không phóng đại (loại gương). KNN có thể được chế tạo liền khối với khí tài quan sát (như pháo đội kính, KNN của tàu ngầm...) hoặc chế tạo riêng, khi dùng mới lắp vào khí tài (như phương hướng bàn). Những đặc tính chính: độ nhìn ngầm (khoảng cách giữa trục kính vật và trục kính mắt), độ khuếch đại và trường nhìn. Cg kính tiềm vọng.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67403004_452614982135054_6207419415756013568_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQnDdtUf7q24cZXEAhMqMCahNA1b4zvOINwd-O1f7z0LF8rRHUEDkTa2vEsbEDTk3_o&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=688a0ed1f263f79aa41250d42109067b&oe=5DB6FDAD)


        KÍNH TIẾM VỌNG nh KÍNH NHÌN NGẦM


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:16:42 pm

        KÍNH VIỄN VỌNG, 1) dụng cụ thiên văn để nghiên cứu các thiên thể theo bức xạ điện từ của chúng. Theo loại bức xạ của thiên thể dược dùng để hoạt động, có: KVV gamma, KVV rơnghen, KVV cực tím, KVV hồng ngoại, KVV quang học, KVV vô tuyến... KVV quang học có ba loại: khúc xạ (thấu kính), phản xạ (gương) và loại kết hợp gương-thấu kính. KVV hiện đại có cấu tạo phức tạp, kích thước lớn, giá thành cao, nhưng cự li hoạt động rất lớn; 2) ống nhòm một mắt thông dụng trong hàng hải và QS thời trung cổ và cận đại để nhìn các vật ở xa. Gồm một ống hoặc nhiều ống chứa các thấu kính (hoặc gương) cho phép phóng đại và hội tụ ảnh vật thể vào một thấu kính hoặc một gương.

        KÍP BAY nh TỔ BAY

        KÍP CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG, nhóm quân nhân làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu và chiến đấu phòng không, có số lượng và thành phần được quy định chặt chẽ. KCĐPK được tổ chức ở SCH phòng không (từ cấp binh đội trở lên) và phân đội phòng không. KCĐPK ở SCH thường gồm người trực chỉ huy, các sĩ quan và nhân viên trực ban. KCĐPK của phân đội gồm người trực chỉ huy phân đội, phiên ban chiến đấu của SCH phân đội và kíp chiến đấu của các loại vũ khí và khí tài phòng không. KCĐPK có biên chế kíp gọn và kíp đủ. Cg kíp trực ban chiến đấu phòng không.

        KÍP NỔ, phần tử mạch nổ, nhạy với các kích thích ban đầu để tạo ra xung nổ nhằm gây nổ khối thuốc nổ hoặc trạm nổ. Cấu tạo gồm: một ống hình trụ bằng kim loại màu (đồng, nhôm) hoặc vật liệu phi kim loại (chất dẻo, giấy ép...), bên trong nhồi một lượng nhỏ thuốc nổ mồi và thuốc nổ phá mạnh (têtrin), trên có nắp đậy bằng kim loại. Theo công dụng, có: KN bộc phá và KN ngòi nổ; theo tác động kích thích ban đầu, có: KN kiểu tia lửa, KN kiểu đập và KN điện. KN kiểu đập thường dùng trong các ngòi nổ, nắp đậy không có lỗ thủng và được dập mỏng để bảo đảm độ nhạy, thuốc nhồi gồm hỗn hợp đập nổ (stipnat chì, tetrazen, nitrat bari và sunphua antimon), azit chì và têtrin. KN tia lửa, nắp có một lỗ thủng đậy bằng đệm lụa để tia lửa dễ truyền vào, thuốc nhồi gồm stipnat chì, azit chì và têtrin hoặc fuminat thúy ngân và têtrin. KN điện thực chất là sự nối ghép giữa KN kiêu tia lửa, hạt lửa điện và dây dẫn.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66916606_452614968801722_6804031372928221184_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkTX6dyreyrasj5fKFhqVwYHRzdUEgIIB5clCrr2kpTgMzoijO9emAhnCNS7q2ZKYA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e10d205a301d7b65b6b2565bd85ff4f4&oe=5DBB7BDC)


        KÍP TRỰC BAN CHIẾN ĐẤU PHÒNG KHÔNG nh KÍP CHIẾN ĐÂU PHÒNG KHÔNG

        KÍP XE TĂNG (THIẾT GIÁP), phân đội nhỏ nhất trong binh chủng tăng thiết giáp, trực tiếp điều khiển, quân lí một xe tăng hoặc xe thiết giáp. Tùy theo kiểu loại xe mà KXT(TG) có từ 2 đến 5 quân nhân, gồm: trường xe, lái xe. pháo thủ và người nạp đạn. có chức trách và chuyên môn riêng, có sự hợp đồng chặt chẽ, hành động thống nhất để cùng hoàn thành nhiệm vụ.

        KIRIBATI (Cộng hòa Kiribati; A. Republic of Kiribati), quốc gia ở tây Thái Bình Dương; gồm các quần đảo: Ginbơt (Gilbert), Phơnich (Phoenix), Lainơ (Line). Dt 811km2; ds 98,5 nghìn người (2003); chủ yếu là người Micrônẻdièng và Pôlinêdiẽng. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, Kiribati. Tốn giáo: đạo Cơ Đốc. Thủ đô: Taraoa. Chính thể cộng hòa. đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Địa hình: các đảo thấp và bằng. Khí hậu nhiệt đới. Nước nông nghiệp. GDP 40 triệu USD (2002), bình quân đầu người 430 USD. Thành viên LHQ (14.9.1999), Khối liên hiệp Anh. Không có LLVT.
   
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67114086_452614988801720_32943442837372928_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQnbxeUHOdYIk1TpG3qx_p-HY2UduCpI29z3tO9pRv1PPQ1hv03pK8dlefEmGfVNNFA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=af52a6fffb734aa687d19ae85fa92140&oe=5DB965F4)



Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:22:34 pm

        KITTI HÔC (A. Kitty Hawk), 1) tàu sân bay Mĩ, số hiệu CVA-63, đã tham gia chiến tranh xâm lược VN. Hạ thủy 21.5.1960, đưa vào trang bị 29.4.1961. Lượng choán nước 60.100t (chở đầy 81.123t). Kích thước: 323,6x39,6x 11.3m (đường băng 318,8x76,9m). Có 4 tổ hợp tuabin, tổng cộng suất 210MW (280.000cv), tốc độ: 32 hải lí/h, tầm hoạt động 12.000 hải lí (22.000km) với tốc độ 20 hải lí/h. Quân số: 4.700 (không đoàn 2.000. tàu 2.700, có 120 sĩ quan). Trong chiến tranh VN, KH được trang bị: 80-90 máy bay (24-28 tiêm kích F-4J, 24-28 cường kích A-7E, 12-14 cường kích A-6A, 4-6 trinh sát RA-5C. 2-3 tiếp dầu và gây nhiễu KA-3B và EKA-3B. 2 cảnh giới E-2B, 2-3 trực thăng SH-3D); 2 bệ X 2 rãnh phóng tên lửa phòng không Teriơ với 40 tên lửa. Từ 4.1973 chuyển thành tàu sân bay đa năng (số hiệu CV-63) với các loại máy bay hiện đại (F-14. F/A-18, A-6B/D/E, E-2C. S-3A/B...), 3 bệ x 8 rãnh phóng tên lửa phòng không Xi Xperâu, 3 bệ x 6 nòng pháo Vuncan Phalanxơ 20mm. Từ 1991 được hoàn thiện để kéo dài tuổi thọ: 2) lớp tàu sân bay đa năng Mĩ, gồm các tàu KH (CV- 63), Conxtelâysán (CV-64), America (CV-66), Giôn Kennơđi (CV-67).

        KITXINHGƠ (A. Henry Alfred Kissinger; s. 1923), bộ trường ngoại giao Mĩ (1973-76), cố vấn an ninh quốc gia Mĩ (1968-73). Người Đức nhập quốc tịch Mĩ (1938), tiến sĩ triết học (1954). Trong những năm 50 và đầu những năm 60 tk 20, giáo sư Trường đại học Hayơt (Mĩ); đề xuất kết hợp chiến lược hạt nhân với chính sách đối ngoại. 1961-68 tư vấn cho chính quyền Kennơđi và Giônxơn về kiểm soát vũ khí và chính sách đối ngoại, ủng hộ chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN. 1968-73 phụ tá đặc biệt của Nichxơn về an ninh quốc gia, người duy nhất được tổng thống tham khảo ý kiến trong mọi việc làm bí mật, cùng tổng thống lừa dối quốc hội và nhân dân Mĩ về việc mở rộng chiến tranh xâm lược VN. 1969-73 là nhân vật giữ vai trò chính của Mĩ trong cuộc hội đàm Pari về VN; vừa tiến hành đàm phán từng đợt, K vừa vạch kế hoạch cho tổng thống từng bước leo thang chiến tranh nhằm gây sức ép với VN. 1971-72 K tham gia vạch kế hoạch và trực tiếp chuẩn bị cho cuộc gặp cáp cao Mĩ - TQ, Mĩ - LX, nhằm lợi dụng hai nước gây sức ép với VN. K là người soạn thảo chính “Thông cáo chung Thượng Hái"; chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Tác giả: “Chiến tranh hạt nhân và chính sách đối ngoại” (1957), “Những năm ở Nhà Trắng” (1979). Nghỉ hưu (1976) viết sách, lập hãng tư vấn về chính sách đối ngoại, tiếp tục cộng tác với chính quyền Rigân và Busơ về an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại.

        KON TUM (Công Tum), tỉnh ở tây bắc Tây Nguyên; bắc giáp Quảng Nam, đông giáp Quảng Ngãi, nam giáp Gia Lai, tây giáp Lào và Campuchia (biên giới 272km). Dt 9.614,5 km2; ds 0,35 triệu người (2003); gồm nhiều dân tộc: Kinh. Giarai, Bana, Xơđãng, Hrê... Thành lập 2.1913. Tháng 7.1923 tách một phần thành lập t. Plây Cu (Gia Lai). 4.1950-9.1954 và 2.1976-10.1991 sáp nhập với Kon Tum thành t. Gia Lai - Kon Tum. Tổ chức hành chính: 7 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Kon Tum. Địa hình: rừng núi và cao nguyên, rừng chiếm 50% diện tích (612.489ha). Địa hình thấp dần từ tây sang đông, từ bắc xuống nam; nhiều núi cao (Ngọc Linh 2.598m, Ngọc Phan 2.25 lm. Ngọc Crinh 2.025m...). Hệ thống sông ngòi dày đặc, dốc, có tiềm năng thủy điện lớn. Nơi bắt nguồn của các sông: Sông Ba, Thu Bồn, Trà Khúc, Sông Tranh, Pơ Cô. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. ít bị ảnh hưởng gió bão; nhiệt độ trung bình 23,4°C, lượng mưa 1.800-2.400mm/năm. Tỉnh có thế mạnh lâm nghiệp; các loại cây công nghiệp chủ yếu: cao su, cà phê, mía. Công nghiệp: chế biến nông sản, thực phẩm, chế biến gỗ. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 177,1 tỉ đồng; sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 84,1 nghìn tấn (lúa 59,5 nghìn tấn); khai thác gỗ 39,9 nghìn m2. Hệ thống giao thông: QL 14, QL 24, QL 40, sân bay: Kon Tum, sân bay dã chiến: Phượng Hoàng, Mang Đen. Di tích lịch sử văn hóa: ngục Kon Tum, ngục Đắc Lây, chiến trường Đắc Tô - Tân Cảnh. 12.1994, LLVTND Kon Tum được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64622512_452642825465603_304882922136010752_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkTzq5HwtCjnlZErxIkT5r6bgNO7-1okMVxO4T5KVOj0SnxNabnUCqgCyP2Sr7rgvE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8871d33c3369417d60de8dc4a1d6eac1&oe=5DEBC511)


        KS-19, tổ hợp pháo phòng không do LX chế tạo. dùng để diệt các mục tiêu bay ở độ cao dưới 13.700m (độ cao hiệu quả đến 12.000m) và vận tốc bay đến 300m/s. Thành phần chính: pháo cỡ l00mm. nòng dài 9,45m, khối lượng 9.450kg, tốc độ bắn 15 phát/ph; phương vị bắn 360°; góc tà bắn từ -3 đến +85°, tầm bán xa 21.000m: khối lượng đạn 30,5-3lkg, đầu đạn kiểu nổ mảnh có khối lượng 15kg, sơ tốc 900m/s; rađa SON-4, làm việc ở dải tần 3kHz-500MHz; máy chỉ huy PUAZO-7. KS-19 được sản xuất từ thập ki 40 tk 20 và trang bị cho QĐ 20 nước. Các mẫu cải tiến: KS- 19M. KS-19M2. Trong KCCM, bộ đội phòng không VN đã dùng KS-19 bắn rơi nhiều máy bay Mĩ.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66723944_452615012135051_2560222849730084864_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQmKXm2XfPc59FinpD635FHKzCtZ6erAufh-vxcwY1PzlOEnX9gxrK90sItKIJDyhoE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=547473a9b8fabce4b3032d12c990f5f8&oe=5DBFAB84)


        KS-30. tổ hợp pháo phòng không do LX chế tạo, dùng để diệt các mục tiêu bay ở độ cao dưới 13.720m. Thành phần chính: pháo phòng không 130mm (pháo phòng không có cỡ nòng lớn nhất hiện nay), rađa SON-30. máy điều khiển hỏa lực PUAZO-30. Pháo dài ll,521m, khối lượng 29.500kg. tốc độ bắn 10-12 phát/ph, phương vị bắn 360°, góc tà bắn từ -5 đến +80°, tầm bắn xa 27.000m. khối lượng đạn 33,4kg, đầu đạn kiểu nổ mảnh, sơ tốc 970m/s. KS-30 được sản xuất từ đầu thập kỉ 50 của tk 20 nhưng không được phát triển do sự xuất hiện các tổ hợp tên lửa phòng không có điểu khiển.


Tiêu đề: Re: K
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 07:00:31 pm
     
HẾT K