Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:12:25 PM



Tiêu đề: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:12:25 PM

        H-12, 1) pháo phán lực bắn loạt, 12 ống phóng cỡ 107mm, kiểu 63 của TQ. Dùng đạn phản lực tuabin cỡ 107mm, khối lượng 19kg, dài 837mm, tốc độ lớn nhất 385m/s, tầm bắn 8.050m, điểm hỏa bằng điện. Được đưa vào sử dụng có hiệu quả ở chiến trường miền Nam VN trong KCCM; 2) thiết bị do VN chế tạo để phóng đạn phản lực cỡ 107mm, kiểu 63 của TQ. Gồm 1 ống phóng cỡ 107mm đật trên giá gỗ, điểm hỏa bằng điện, tầm bắn 8.300m. Được sử dụng trong KCCM.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67131828_451058452290707_4816618622019436544_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQn3L-Q2WTWYINjTKeqdf2Sg6TICLaRmYUTSTAhmJ7Ir3mLyYqTStws1FOFqLsxlxeE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=be79f2075d098cfda039bc5eaa380b49&oe=5DAE67DC)


        HÀ BẮC, tỉnh cũ ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Tỉnh lị: tx Bắc Giang. Thành lập 4.1963 do sáp nhập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. 11.1996 chia lại thành hai tỉnh. 20.12.1979 LLVTND Hà Bắc được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

        HÀ BỔNG (?-?), thủ lĩnh dân tộc Mường trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần I (1258), chú trại Quy Hóa (vùng đất thuộc Phú Thọ và Yên Bái). Khi quân Mông cổ bị đánh bại trong trận Đông Bộ Đầu (29.1.1258), đâ rút chạy về phía Tây Bắc, đến vùng Quy Hóa, HB chỉ huy dân binh đánh úp gây tổn thất nặng buộc địch tháo chạy về Vân Nam (TQ), không dám cướp bóc như lúc đầu. 2.1258 sau thắng lợi được vua Trần xét thưởng công đầu và được phong tước Hầu cùng với Lê Tần.

        HÀ CHƯƠNG (?-?), người có công lớn trong trận đánh đuổi quân Nguyên - Mông ở Phù Ninh (nay là thị trấn Phong Châu, h. Phù Ninh. t. Phú Thọ), em Hà Đặc. 6.1285 trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285), HC cùng với anh lập mưu nghi binh đánh địch. Kiên quyết từ chối dụ hàng khi sa vào tay địch, tìm cách trốn thoát, lấy cờ xí và quân trang của địch cải trang đánh địch. Chỉ huy quân bất ngờ đánh phá trại địch làm cho địch thua phải bỏ chạy.

        HÀ ĐẶC (7-1285), tù trưởng dân tộc Tày, phụ đạo huyện Phù Ninh (nay là thị trấn Phong Châu, h. Phù Ninh, t. Phú Thọ). 1285 trên đường tháo chạy về Vân Nam (TQ), cánh quân Nguyên - Mông do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy đến đóng tại động Cự Đà thuộc h. Phù Ninh. HĐ đem dân binh lên Núi Trĩ chặn địch, lập kế dùng tre đan thành hình người to lớn rồi mặc áo quần như người thật, đến chiếu tối dẫn ra dẫn vào, lại cho cắm tên lớn vào thân cây to, địch thấy hoảng sợ, không dám đánh, nhân đó HĐ đem dân binh đánh, khiến địch bỏ chạy. HĐ cho làm cầu phao vượt sông đuổi theo, chết do trúng tên của địch.

        HÀ ĐÔNG, tỉnh cũ ở Bắc Bộ, nguyên là t. Hà Nội**. 10.1888 khu vực tình thành bị cắt làm nhượng địa cho Pháp (sau là tp Hà Nội), tỉnh lị chuyển về Cầu Đơ (tx Hà Đông ngày nay), đổi thành t. Cầu Đơ. 1890 tách phủ Lí Nhân thành lập t. Hà Nam. 12.1904 đổi thành HĐ. Đầu những năm 1960 lần lượt cắt các huyện Từ Liêm, Thanh Trì sáp nhập vào tp Hà Nội. 1965 hợp nhất với Sơn Tây thành t. Hà Táy.

        HÀ GIANG, tỉnh miền núi cực bắc Bắc Bộ; bắc và tây bắc giáp TQ (biên giới 274km, cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy), đông và đông nam giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, nam giáp Yên Bái, tây và tây nam giáp Lào Cai. Dt 7.884,37 km2; ds 0,648 triệu người (2003); dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa, Sán Dìu, Lò Lô, Cao Lan, Mông... Thành lập 1891, tách từ t. Tuyên Quang. 3.1959-12.1975 thuộc Khu tự trị Việt Bắc. 12.1975 sáp nhập với Tuyên Quang thành t. Hà Tuyên. 1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 10 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Hà Giang. Địa hình chủ yếu là núi và núi cao; cao nhất là các đỉnh Tây Côn Lĩnh 2.419m, Puthaca 2.274m. cao nguyên Đổng Văn ở độ cao 1,025m so với mặt biển. Rừng có nhiều gỗ và dược liệu quý. Khoáng sản: vàng, bạc, kẽm, chỉ, thiếc, sắt, thủy ngân... Các sông chính: Sông Lô, Sông Gâm... Khí hậu cận nhiệt đới, nhiệt độ trung bình trong năm 20°C, lượng mưa 1.600mm/năm. Tỉnh nông lâm nghiệp; cây chè chiếm 2/3 diện tích đồi núi thấp ở các huyên Bắc Mê. Bắc Quang, Vị Xuyên, sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 222,7 nghìn tấn (lúa 137 nghìn tấn); khai thác gỗ 55,6 nghìn m2. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 143,9 tỉ đồng. Các tuyến đường bộ: QL 2, đường 4C, đường HG - Quản Bạ - Đồng Văn - Mèo Vạc - Lũng Pù, đường Bắc Quang - Xín Mần. đường HG - Pắc Bó...Đồng Văn - Mèo Vạc - Lũng Pù, đường Bắc Quang - Xín Mần. đường HG - Pắc Bó...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66351806_451058458957373_7368492175585181696_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQkKSW1XRmt8NzzRtp00M68cb1a69ybE0ccj61mTqfd3pAUi4H30jJSVCRUKq1IuVc0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=60aeec0370345e4f9d5b7a174fd8f629&oe=5DA6FEE6)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:14:29 PM

        HÀ HỒI, làng ở ven QL 1, thuộc xã Hồng Phong, h. Thường Tín, t. Hà Tây, nam Hà Nội 18km. Tại đây quân Thanh xâm lược đã xây dựng một tiền đồn bảo vệ vòng ngoài thành Thăng Long. Trong trận Hà Hồi (28.1.1789), quân Thanh bị quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy bí mật bao vây, uy hiếp và bức hàng.

        HÀ HUY TẬP (Hồng Thế Công; 1902-41), tổng bí thư ĐCS Đông Dương (7.1936-3.1938). Quê xã cẩm Hưng, h. cẩm Xuyên, t. Hà Tĩnh. Làm nghề dạy học, 1926 tham gia hội Phục Việt (sau đổi thành Tân Việt CM đảng), hoạt động tuyên truyền, vận động đấu tranh CM trong các phong trào của hội như đòi trả tự do cho Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh... 12.1928 sang Quảng Châu (TQ) liên lạc với Tổng bộ Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), được cử sang Maxcơva (LX) học Trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. 4.1933 trở lại TQ tiếp tục hoạt dộng. 3.1934 cùng Lé Hỏng Phong, Nguyễn Văn Dựt lập Ban chỉ huy ở ngoài nước (Ban lãnh đạo hải ngoại) của ĐCS Đông Dương. 7.1936 về nước, trực tiếp chỉ đạo phong trào CM, được bầu là tổng bí thư ĐCS Đông Dương. Viết nhiều tài liệu, sách báo đấu tranh chống các khuynh hướng tư tưởng phản CM. 5.1938 bị thực dân Pháp bắt, kết án tù và quản thúc tại quê, sau bị kết án tử hình. 26.8.1941 bị xử bắn tại Ngã Ba Giồng (nay thuộc h. Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66648198_451058438957375_315280337879957504_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQlO52fEKLCwlGhrlvDSplNOjMHzBPGdBi_4UFP07uNDe94yfbIxU3hHath3RN1151A&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=89f5296f880c8bf806085c3af18b961f&oe=5DB11279)


        HÀ KẾ TẤN (s. 1914), tư lệnh Liên khu 3 (1951-54). Quê xã Đường Lâm, tx Sơn Tây, t. Hà Tây; tham gia CM 1936, nhập ngũ 1945, đại tá (1958); đv ĐCS VN (1937). Năm 1940 bị thực dân Pháp bắt giam ở Hà Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên. 8.1944 vượt ngục, phụ trách Ban công vận Xứ ủy Bắc Kì. 5.1945-48 được bầu vào Xứ ủy Bắc Kì, phụ trách hai tỉnh Nam Định, Hà Nam, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Nam Định; trang đoàn trưởng Trung đoàn 34 thuộc Liên khu 3; thường vụ Khu ủy Khu 3; ủy viên Khu ủy Việt Bắc. 1949-51 chính ủy mặt trận: Đường 4, Đông Bắc; tham mưu phó các chiến dịch: Hoàng Hoa Thám, Quang Trang (Liên khu 3). Năm 1951-54 tư lệnh Liên khu 3. Tháng 10.1954 sư đoàn trưởng kiêm bí thư đảng ủy Sư đoàn 350 bảo vệ thủ đô. 8.1958-86 chuyển ngành, trường ban chỉ huy công trường đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải; thường trực ủy ban trị thủy và khai thác Sông Hồng; thứ trưởng rồi bộ trưởng Bộ thủy lợi; bộ trường phụ trách công trình thủy điện Sông Đà; chánh án Toà án nhân dân tối cao. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI. Đại biểu Quốc hội khóa II-V. Huân chương: Hồ Chí Minh, 2 Kháng chiến hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66504919_451058488957370_5836680347026194432_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQk7qRpBRpPDm3LbynyF9vvmD-NcbHURTHlE8mouh87N9_HHWZz59faafCrV_m9-biQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=740d39a3d90f8ffa745d43110ffbeb4b&oe=5DA11FEC)


        HÀ LAN (Vương quốc Hà Lan; Nederland, Holland, Koninkrijk der Nederlanden (der Holland), A. Kingdom of The Netherlands), quốc gia ở Tây Âu. Dt 41.526km2; ds 16,15 triệu người (2003); 96% người Hà Lan. Ngôn ngũ chính thức: tiếng Hà Lan. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (38%), Tin Lành (32%), Canvanh (10%)... Thủ đô: Amxtecđam Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương (nữ hoàng). Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Cơ quan hành pháp: hội đồng bộ trưởng (chính phủ) do thủ tướng đứng đầu. Địa hình thấp và bằng phẳng, 40% diện tích thấp hơn mực nước biển; 10% đầm lầy, 8% rừng. Bờ biển thẳng có các đê kè. Hệ thống thủy lợi dài tói 3.000km. Nước công -  nông nghiệp phát triển cao. Công nghiệp: luyện kim, điện tử, đóng tàu, chế tạo máy, công nghiệp QS...; 50% sản phẩm công nghiệp, 25% nông nghiệp dùng để xuất khẩu. Đứng đầu thế giới về xuất khẩu pho mát và hoa tươi. Giao thông phát triển (hàng không đứng thứ 7 thế giới, đội tàu biển đứng thứ 3 châu Âu). GDP 380,137 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 23.700 USD. Thành viên LHQ (10.12.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 9.4.1973. LLVT: lực lượng thường trực 49.580 người (trong đó lục quân 23.150, hải quân 12.130, không quân 8.850), lực lượng dự bị 32.200. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị 1.328 xe tăng, 352 xe chiến đấu bộ binh, 316 xe thiết giáp chở quân, 370 pháo mặt đất, 753 tên lửa phòng không mang vác, 137 pháo phòng không, 4 tàu ngầm, 2 tàu khu trục, 9 tàu frigat, 17 tàu quét mìn, 1 tàu đổ bộ, 8 tàu hộ tống, 153 máy bay chiến đấu, 51 máy bay trực thăng vũ trang, trên 150 tổ hợp tên lửa các loại. Ngân sách quốc phòng 6,1 tỉ USD (2001).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66791535_451058498957369_9134606350020509696_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlfTa18yH1QjwHyECZHCtbaCacGXiGLnFSbvdMCGhpI-BWVvv7wHtk9vxtVoYWD7og&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6fc652a1a880db67eafa0d04cca291fe&oe=5DB29BCB)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:18:56 PM
     
        HÀ NAM, tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; bắc và tây bắc giáp Hà Tây, đông bắc giáp Hưng Yên, nam giáp Nam Định, đông giáp Thái Bình, tây và tây nam giáp Hoà Bình, Ninh Bình. Dt 849,53 km2; ds 0,81 triệu người (2003). Thành lập 1890 do tách phủ Lí Nhân từ t. Hà Nội**. 1913-23 sáp nhập vào Nam Định. 4.1965 hợp nhất với Nam Định thành t. Nam Hà (1975- 91 hợp nhất với Ninh Bình thành t. Hà Nam Ninh). Tái lập 11.1996. Tổ chức hành chính: 5 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị; tx Phủ Lí. Địa hình: phần lớn là đồng bằng; 2 huyện Kim Bảng, Thanh Liêm có nhiều gò đồi chuyển tiếp sang các dãy núi đá vôi ở phía tây và tây bắc. Các sông chính: Sông Hồng, Sông Đáy, Châu Giang. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,4°C, lượng mưa 1.500-2.000mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 424,6 nghìn tấn (lúa 404,8 nghìn tấn). Công nghiệp: các nhà máy xi măng Bút Sơn, Nội Thương, Quốc Phòng, Hệ Dưỡng, Xí nghiệp khai thác đá Kiện Khê, vật liệu Việt - Úc. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 1.581,3 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt Bắc - Nam; đường bộ: QL 14, đường 21; giao thông đường thủy trên Sông Hồng, Sông Đáy, Châu Giang... Quê của Lê Hoàn, Trần Bình Trọng, Đinh Công Tráng, Lương Khánh Thiện...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66578459_451058505624035_5188031446563946496_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlkGu7q2yfm8hspmU6a52SdEiDbnkt4LfWhco9Hgh-BgQ0u5pMPncgm7P9e9u8Ftkk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=68f2f85395cf2ffb873e73a606e85fce&oe=5DC0BAB1)


        HÀ NAM NINH, tỉnh cũ ở Bắc Bộ. Tỉnh lị: tp Nam Định. Thành lập 12.1975 do sáp nhập hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình. 1991 chia lại thành hai tỉnh.

        HÀ NỘI*,1 thành phố, thủ đô nước CHXHCN VN. trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của VN, ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Dt 920,97km2; ds 3,007 triệu người (2003). Nguyên là đất thành Đại La. 1010 Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về. đổi tên là Thăng Long. 1397 Hồ Quý Li xây thành ờ An Tôn (Thanh Hóa) lấy tên là Tây Đô, đổi Thăng Long thành Đông Đô. 1.1407 quân Minh chiếm Đông Đô, đổi thành Đông Quan. 1430 nhà Lê đổi thành Đông Kinh. Thời Mạc và thời kì vua Lê - chúa Trịnh lại gọi là Thăng Long. 1802 nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế, Thăng Long trở thành trị sở của Bắc Thành tổng trấn, từ 1831 là tinh lị t. Hà Nội. 10.1888 HN bị cắt nhượng cho Pháp. Thời Pháp thuộc, HN là thủ phủ xứ Bắc Kì, đồng thời là thủ đô của toàn Đông Dương. Từ 9.1945 HN là thủ đô nước VN độc lập. Địa giới nhiều lần được điều chỉnh. Tổ chức hành chính: 9 quận, 5 huyện. Địa hình phần lớn là đồng bằng, bắc là dãy núi Sóc Sơn và vùng gò đồi. Các sông lớn: Sông Hồng, Sông Đuống và các sông trong nội thành: sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, Sông Lừ, Sông Sét. Nhiều hồ: Hoàn Kiếm. Hồ Tây, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu... Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,4°c, lượng mưa 1.760mm/năm. HN là trung tâm công nghiệp lớn thứ hai trong nước (sau tp Hồ Chí Minh), có 9 khu công nghiệp tập trung. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 20.542,8 tỉ đồng. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 233 nghìn tấn (lúa 204,7 nghìn tấn). HN là đẩu mối giao thông quan trọng bậc nhất của VN; có hệ thống đường giao thông nối với các tỉnh trong cả nước và quốc tế; các tuyến đường chính: QL (1, 2, 3, 5, 6, 32), đường sắt (Bắc - Nam, HN - Lào Cai, HN - Thái Nguyên, HN - Hải Phòng), cảng hàng không quốc tế Nội Bài, sân bay Gia Lâm, tuyến đường sông theo Sông Hồng. Nơi tập trung nhiều viện nghiên cứu khoa học, trường đại học và cao đẳng, Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng CM. Bảo tàng lịch sử QS VN, Bảo tàng nghệ thuật... Di tích lịch sử: Hoàng thành Thăng Long, hồ Hoàn Kiếm, thành cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Gò Đống Đa, Quảng trường Ba Đình, Pháo đài Láng... 6.11.1978, LLVTND Hà Nội được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66615486_451058528957366_6153032949261402112_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQkm0H1JIAFDrU31BRJKAqoax2bYD391ofGXzqqOOXjq4_d15SbufNRFKmU7Xpn1W2c&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5968aeb22058fd461be2af92eb381043&oe=5DEDF748)

-------------------
        1. Lúc Từ điển biên soạn (2004), Hà Tây chưa sáp nhập về Hà Nội - Giangtvx


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:22:01 PM

        HÀ NỘI**, tỉnh cũ ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Thành lập năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), gồm phủ Hoài Đức (kinh thành Thăng Long cũ, sáp nhập thêm h. Từ Liêm, t. Sơn Tây) và các phủ Thường Tín, Ứng Hoà, Lí Nhân của trấn Sơn Nam Thượng; tỉnh lị đặt tại thành Thăng Long cũ. 10.1888 khu vực tỉnh thành bị cắt làm nhượng địa cho Pháp (sau là tp Hà Nội), tỉnh lị chuyển về Cầu Đơ (tx Hà Đông ngày nay), t. HN đổi thành t. Cầu Đơ. 1890 tách phủ Lí Nhân thành lập t. Hà Nam. 12.1904, t. Cầu Đơ đổi thành t. Hà Đông.

        HÀ SƠN BÌNH, tỉnh cũ ở đồng bằng Bắc Bộ. Thành lập 12.1975 do sáp nhập hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. 8.1991 chia lại thành hai tỉnh.

        HÀ TÂY,1 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; bắc giáp Vĩnh Phúc, tây giáp Phú Thọ, tây nam giáp Hoà Bình, nam giáp Hà Nam, đông giáp Hà Nội, Hưng Yên. Dt 2.191,61km2; ds 2,479 triệu người (2003); người Kinh chiếm 98,7%, còn lại người Mường. Dao... Thành lập 6.1965 do hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông. 27.12.1975 hợp nhất với Hoà Bình thành t. Hà Sơn Bình; 12.8.1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 12 huyện, 2 thị xã; tỉnh lị: tx Hà Đông. Đồng bằng chiếm 2/3 diện tích, tập trung chủ yếu ở phía đông; rừng núi ở phía bắc và tây bắc, chiếm 1/3 diện tích, đỉnh Ba Vì 1.296m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,2°C, lượng mưa 1.500- 2.000mm/năm. Hệ thống sông ngòi dày đặc, thuận lợi cho giao thông đường thủy. Các sông lớn: Sông Hồng, Sóng Đáy, Sông Nhuệ, Sông Đà, Sông Tích. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 1.035,3 nghìn tấn (lúa 976,1 nghìn tán); nhiều làng nghề truyền thống, có tiềm năng phát triển du lịch và dịch vụ. Công nghiệp: cơ khí, vật liệu xây dựng, xi măng, dệt, may mặc... Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 3.514 tỉ đồng. Đang xây dựng khu công nghệ cao Hoà Lạc. Giao thông: QL 1, 6, 32, 21, đường Láng - Hoà Lạc, đương sắt Bắc - Nam. Địa danh lịch sử QS: Ninh Kiều, Tốt Động, Chúc Động, Hà Hồi, Ngọc Hồi... 2.2002, LLVTND Hà Tây được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66879388_451058535624032_4696366517053292544_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnnzb7pMQOIoH7U0xB4KvmCUueFkjn-QMuvCrAiHYH8UnBsCc0UGOggfoy6Zoh_Nb8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=442a0e97d2f7ca0555c07c857d1614c0&oe=5DEE5A2B)


        HÀ THÀNH ĐẨU ĐỘC (27.6.1908), vụ đầu độc sĩ quan, binh lính Trung đoàn pháo binh 4 và Trung đoàn bộ binh 9 quân thuộc địa Pháp ở Hà Nội, do binh lính người Việt trong QĐ Pháp thực hiện, theo chủ trương của các sĩ phu VN yêu nước, phối hợp với nghĩa quân Đề Thám đánh úp thành Hà Nội. Sau hai lần hoãn (15.11.1907 và 16.5.1908), lúc 20 giờ 27.6 bồi bếp và binh lính người Việt được giác ngộ đã bỏ thuốc độc vào thức ăn bữa tối làm hơn 200 quân Pháp bị ngộ độc. Do tổ chức thiếu chặt chẽ, cuộc đầu độc bị lộ. Pháp kịp thời ngăn chặn, tước khí giới và bắt giam toàn bộ binh lính người Việt trong thành, sau đó xử chém hàng chục người như Đội Bình, Đội Cốc, Đội Nhân... Khoảng 600 nghĩa quân Đề Thám bố trí sẵn bên ngoài thành phải rút lui. HTĐĐ tuy thất bại nhưng đã ảnh hưởng lớn tới tinh thần quân Pháp, đồng thời chỉ rõ sự thất bại bước đầu chính sách của Pháp “dùng người Việt đánh người Việt”.

        HÀ TIÊN, tỉnh cũ ở tây Nam Bộ. Thành lập 1832, địa phận trải rộng từ biên giới VN - Campuchia đến mũi Cà Mau. 1867 bị Pháp chiếm làm thuộc địa cùng với Vĩnh Long, An Giang. 12.1889 Pháp chia HT cũ thành 4 tỉnh Hà Tiên, Rạch Giá, Long Xuyên và Bạc Liêu. Trong KCCP, HT sáp nhập với Long Xuyên, Châu Đốc thành t. Long Châu Hà. 10.1956 chính quyền Sài Gòn sáp nhập HT với Rạch Giá thành t. Kiên Giang.

-------------------
       1. Lúc Từ điển biên soạn (2004), Hà Tây chưa sáp nhập về Hà Nội - Giangtvx


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:23:36 PM

        HÀ TĨNH, tỉnh ở bắc Trung Bộ: bắc giáp Nghệ An, nam giáp Quảng Bình, đông giáp Vịnh Bắc Bộ, tây giáp Lào, đường biên giới 145km. cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Dt 6.055,74km2; ds 1,284 triệu người (2003); phần lớn là người Kinh, còn lại là người Thái, Thổ, Khơmú, Mông... Thành lập 1831. Từ 1852 đến 1875 là đạo Hà Tĩnh thuộc t. Nghệ An. 27.12.1975   sáp nhập với Nghệ An thành t. Nghệ Tĩnh. Tái lập 12.8.1991. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 2 thị xã; tỉnh lị: tx Hà Tĩnh. Địa hình chủ yếu là rừng núi chiếm phần lớn diện tích về phía tây; ven biển lả dải đồng bằng hẹp, nhiều cồn cát; giữa là vùng trung du thuộc các huyện Hương Sơn, Hương Khê. Hệ thống sông ngòi dày đặc, ngắn và dốc. Các sông chính: Sông Lam (Sông Cả), Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố, Ngàn Trươi... Bờ biển dài 137km với 4 cửa sông: Cửa Hội. Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu. Ven biển có một số đảo nhỏ. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 452 nghìn tấn (lúa 446 nghìn tấn); khai thác gỗ 24,5 nghìn m3, thủy sản 25,8 nghìn tấn. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 428,8 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt Bắc - Nam, QL 1, 8, đường 15; cảng biển: Cửa Nhượng. Quê hương Phan Đình Phùng, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du. Trần Phú... Truyền thống lịch sử đấu tranh CM: khởi nghĩa Hương Khê, phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Địa danh lịch sừ: Hương Khê, Vụ Quang, Ngã Ba Đổng Lộc... 6.11.1978, LLVTND Hà Tĩnh được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66897647_451058545624031_6070031018344054784_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmOwUtJK0YRmkIT_04P-BBVSlVbSwQKw6-y-gQGfoHEN67fDV5q25_tRxePl5a9_WI&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=1055e7a3666abd8e2c56540c79f00e1f&oe=5DA5A509)


        HÀ TUYÊN, tỉnh cũ ở miền núi phía bắc Bắc Bộ. Thành lập 12.1975 do hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. 8.1991 chia lại thành hai tinh.

        HÀ VĂN LÂU (s. 1918), đại diện QĐND VN tại hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (1954), phó đoàn đàm phán VN DCCH tại hội nghị Pari về VN (1968-73). Quê xã Phú Ân, h. Phú Vang, t. Thừa Thièn - Huế; tham gia CM 1944; đại tá (1954); đv ĐCS vn(1945). Năm 1944 tham gia Việt Minh và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1945) ở Ninh Hoà, ủy viên ủy ban QS Khánh Hoà, chỉ huy trưởng Mặt trận Chợ Mới, Nha Trang. Đầu KCCP, đại đoàn phó Đại đoàn 27 ở Trung Bộ. 12.1946 trung đoàn trưởng Trung đoàn Cao Vân ở Huế, kiêm chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Thừa Thiên - Huế. 1949 chỉ huy trưởng Mặt trân Bình - Tri - Thiên 1951 phụ trách Cục tác chiến BTTM. 1954 được đặc cách phong quân hàm đại tá và chuyển sang làm công tác ngoại giao đấu tranh QS tại hội nghị Giơnevơ. 1954 đại diện QĐND VN tại hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, trưởng phái đoàn liên lạc của Bộ tổng tư lệnh QĐND VN bên cạnh ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, kiêm tổng thư kí ủy ban liên hiệp đình chiến trung ương; vụ trưởng Vụ miền Nam. 1968-73 phó trưởng đoàn ngoại giao VN DCCH tại hội nghị Pari. 1973-84 thứ trưởng Bộ ngoại giao; trưởng ban Việt kiều trung ương; đại sứ CHXHCN VN tại LHQ, Cuba, Mêhicô và Giamaica. 1984-89 đại sứ đặc mệnh toàn quyền CHXHCNVN tại Pháp. Bỉ, Hà Lan, Luyxembua. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hang nhất, Chiến công hạng nhất. Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66620189_451058565624029_1629572448221396992_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnrpLpMeQEKwZ0sXwagwOQNbIWRbeGMIIJ0BF3R-HGI2nwh0AxNHG5x2ECC_VTBiW0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5c7d0ce8612895da01d61121d785f10b&oe=5DA5C788)


        HẠ (H. Xia), lớp tàu ngầm nguyên tử kiểu 092 mang tên lửa đường đạn của TQ. Chiếc đầu tiên số hiệu Xia-406, hạ thủy 30.4.1981, dưa vào trang bị 1987, chiếc thứ hai hạ thủy 1982. Lượng choán nước 8.000t (ngầm), kích thước 120xl0x8m, 1 lò phản ứng hạt nhân, động cơ tuabin - điện, công suất 90MW, tốc độ đi ngầm 22 hải lí/h (41km/h), độ lặn sâu 300m. Quân số 104. Trang bị vũ khí: 12 tên lửa đường đạn CSS-N-3 (hai tầng, nhiên liệu rắn, dẫn đường quán tính, mang đầu đạn hạt nhân đơn 2Mt, tầm phóng 2.700km); có phương án thay bằng tên lửa CSS-NX-4 (mang nhiều đầu đạn con, tự tìm mục tiêu), 6 ống phóng ngư lôi 533mm. Thiết kế mới kiểu 094 đang được nghiên cứu để mang được tên lửa tầm xa hơn.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:25:16 PM

        HẠ CÁNH BẮT BUỘC, hạ cánh của khí cụ bay do những nguyên nhân kĩ thuật hoặc những nguyên nhân khác ngoài dự kiến. HCBB thường xảy ra khi sắp hết nhiên liệu, hỏng một hoặc nhiều hệ thống thiết bị kĩ thuật trên phương tiện bay, lạc đường (trên không), bất ngờ gặp thời tiết xấu, sức khỏe người lái giảm sút đột ngột...

        HẠ LONG* (He Long; 1896-1969), nguyên soái nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1955), người tham gia sáng lập và lãnh đạo Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người Hồng Gia Quan, h. Tang Trực, t. Hồ Nam (TQ); đv ĐCSTQ (1927). Lúc đầu tham gia Quốc dân đảng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo; tham gia chiến tranh Bắc Phạt (1926-27), sư đoàn trưởng rồi quân đoàn trưởng Quân đoàn 20, Quân CM quốc dân; quyền tổng chỉ huy quân khởi nghĩa Nam Xương. 1928 xây dựng Khu xô viết Tây Bắc (t. Hồ Bắc); tổng chỉ huy Quân đoàn 2 Hồng quân công nông Trung Quốc. 1934-36 tham gia Vạn lí trường chinh, tổng chỉ huy Phương diện quân 2. Trong chiến tranh chống Nhật, hoạt động địch hậu, lập căn cứ kháng Nhật vùng tây bắc t. Sơn Tâv. 1940 tư lệnh Quân khu Tây Bắc (t. Sơn Tây); tư lệnh Quân biên phòng vùng Thiểm Cam Ninh và Sơn Tây, Tuy Viễn. Trong chiến tranh giải phóng, tư lệnh quân khu: Sơn Tây, Tuy Viễn, Tây Bắc; bí thư thứ hai Trung ương cục Tây Bắc, chỉ huy các chiến dịch tại bắc và nam Sơn Tây. 1949 chỉ huy quân chủ lực tiến vào Tứ Xuyên, hiệp đồng với Dã chiến quân 2, mở chiến dịch Thành Đô; tư lệnh Quân khu Tây Nam, bí thư thứ ba Trung ương cục Tây Nam. Từ 1954 phó chủ tịch: Hội đồng QS CM nhân dân, Hội đồng quốc phòng, phó thủ tướng Quốc vụ viện, ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa VII, VIII. ủy viên BCT khóa VIII. Bị bức hại trong “đại CM văn hóa”, mất tại Bắc Kinh 9.6.1969.

        HẠ LONG**, vịnh, thắng cảnh nổi tiếng của VN được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, ở tây bắc Vịnh Bắc Bộ, thuộc t. Quảng Ninh; dt 1.500km2, dài 40km, sâu 40-50m. Có trên 1.000 đảo lớn nhỏ, phần lớn là núi đá vôi. Trên bờ tây bắc là tp Hạ Long, hai cảng than lớn: Hòn Gai, Cửa Ông. Tại HL, 24.3.1946 trên chiến hạm Emin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hội đàm với tướng Pháp Đacgiăngliơ. Trong ngày đầu chiến tranh phá hoại của Mĩ chống miền Bắc VN (5.8.1964), 3 máy bay Mĩ bị bắn rơi, phi công Mĩ đầu tiên (Anvaret) bị bắt sống.

        HẠ SĨ. bậc quân hàm khởi đầu của hạ sĩ quan, dưới trung sĩ. Trong QĐND VN, bậc HS được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33/SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH; thường trao cho quân nhân giữ chức vụ tiểu đội trưởng và tương đương. 

        HẠ SĨ QUAN, gọi chung quân nhân có qụân hàm hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ phục vụ trong QĐND VN theo Luật nghĩa vụ quân sự.

        HẠ TẦNG QUÂN SỰ, tổng thể hệ thống các công trình quốc phòng, khu QS được sử dụng cho việc bảo đảm duy trì và tiến hành các hoạt động QS; đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học kinh tế QS. Bao gồm các doanh trại, cơ sở chỉ huy và điều khiển QS; hệ thống công sự và phương tiện phòng tránh, bảo vệ; hệ thống các thiết bị công trình, sân bay QS, quân cảng; hệ thống trận địa, bãi tập; các trung tâm và mạng thông tin liên lạc QS; hệ thống kho tàng và mạng lưới giao thông vận tải QS. Trong HTQS có nhiều yếu tố mang tính lưỡng dụng QS và dân sinh cần được xây dựng và khai thác kết hợp trong phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh. HTQS của mỗi quốc gia được quy hoạch phát triển thống nhất, đồng bộ, đáp ứng ý đổ chiến lược lâu dài và phù hợp với những đặc điểm riêng (yêu cầu cụ thể của từng địa bàn chiến lược, chức năng nhiệm vụ của từng quân chủng, binh chủng và thế bố trí kết hợp QS và dân sinh). Nhiều nước mở rộng các hình thức hợp tác cùng xây dựng và khai thác các cơ sở HTQS. Chiến tranh càng hiện đại, yêu cầu đối với HTQS càng cao, HTQS ngày càng được đánh giá là những điểm nhạy cảm, dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Vì vậy, trong xây dựng và phát triển HTQS thời bình, phải trù tính các biện pháp phòng thủ, bảo vệ khi xảy ra chiến tranh. Ngược lại, trong kế hoạch tác chiến của QĐ các nước cũng luôn đặt lên hàng đầu các phương án đánh phá và làm tê liệt HTQS của đối phương.

        HAI BÀ TRƯNG X. TRƯNG TRẮC

        “HẢI CẢNG LỮ THUẬN THẤT THỦ”, bài viết của Lênin đăng trên báo “Tiến lên”, số 2, ngày 14.1.1905, bình luận về sự kiện hải cảng Lữ Thuận do QĐ Nga hoàng chiếm đóng bị thất thủ sau 8 tháng phong tỏa và tiến công của QĐ Nhật. Nội dung chính: phân tích sâu sắc sự phá sản về QS và cuộc khủng hoảng chính trị của chế độ chuyên chế Nga hoàng; chỉ ra tính tất yếu của cuộc CM đang đến gần ở Nga; coi thất bại QS của Nga trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904-05) là dấu hiệu sụp đổ của toàn bộ hệ thống chính trị Nga hoàng; khẳng định còn sự thống trị giai cấp bóc lột thì chiến tranh là không thể trừ bỏ được; cuộc chiến tranh hiện đại đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao “không có lục quân và thủy quân có sáng kiến và giác ngộ thì không thể có được thắng lợi”; dự báo sự thất bại của Nga hoàng trong chiến tranh sẽ làm cho các lực lượng CM trong nước Nga có điều kiện phát triển, đẩy nhanh quá trình lật đổ chế độ chuyên chế, mở đường đi tới CM XHCN bằng một cuộc chiến tranh mới: “chiến tranh của nhân dân chống chế độ chuyên chế”, “chiến tranh của giai cấp vô sản giành tự do”. Sự tiên đoán khoa học của Lênin trong “HCLTTT” đã trở thành hiện thực với thắng lợi của cuộc CM XHCN tháng Mười Nga (1917).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:26:48 PM

        HẢI DƯƠNG, tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, nam giáp Thái Bình, đông giáp Hải Phòng, tây giáp Hưng Yên. Dt 1.648,37km2; ds 1,689 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh, Hoa, Sán Dìu, Tày. Nguyên là trấn Hải Dương (bao gồm địa bàn t. HD, tp Hải Phòng và một phần các tỉnh Quảng Ninh, Hưng Yên ngày nay); 1831 đổi thành tỉnh. 1887-88 lần lượt cắt một số huyện, tổng để thành lập nha Hải Phòng, sau là t. Hải Phòng. Đầu tk 20 cắt một số huyện về Quảng Yên và Hưng Yên. 1968 hợp nhất với Hưng Yên thành t. Hải Hưng; 1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 11 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Hải Dương. Địa hình phần lớn là đồng bằng (trừ hai huyện miền núi Chí Linh và Kinh Môn). Nhiều sông ngòi thuộc hệ thống sông Thái Bình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 23°c, lượng mưa 1.500mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 841 nghìn tấn (lúa 825 nghìn tấn). Công nghiệp: các nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Duyên Linh; nhiệt điện Phả Lại; sứ Hải Dương... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 3.988 tỉ đồng. Giao thông: đường sắt Hà Nội - Hải Phòng qua tp Hải Dương; đường bộ: QL 5, QL 18, đường 183...; đường thủy trên sông Thái Bình... Quê hương Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Tuệ Tĩnh, Quận He (Nguyễn Hữu Cầu), Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Lương Bằng... Truyền thống lịch sử CM: phong trào du kích đường 5. Địa danh lịch sử QS: khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, bến Bình Than, căn cứ An Lạc của Lê Hoàn, khu căn cứ du kích Nhị Chiểu trong KCCP...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66606316_451058575624028_1387283082377166848_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQn_zCrtAc_F7J1L63tGQEuQjhEinXpZKCI0wHvbNLrBgJWRiVP7oq1ws_yNybRDl8o&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=af752056ff94890a6f0005da027a50e5&oe=5DBE13FF)


        HẢI DƯƠNG HỌC, khoa học nghiên cứu về các quá trình vật lí, hóa học, địa chất, sinh học của biển. Gồm các ngành vật lí biển, hóa học biển, sinh vật biển, địa chất biển, khí tượng thủy văn biển. Đối tượng nghiên cứu của HDH bao gồm bờ biển, địa mạo đáy biển, nền đất đáy biển, tính chất vật lí, hóa học của nước biển, các dòng hải lưu, thủy triều, sóng biển, các hiện tượng quang học và truyền âm trong môi trường nước biển... Các số liệu đo đạc, khảo sát, nghiên cứu được sử dụng để lập bản đồ biển, bảng tra cứu cho hoa tiêu hàng hải, phục vụ cho công tác bảo đảm hàng hải, nâng cao hiệu quả chiến đấu của các loại tàu hải quân... 

        HẢI ĐOÀN, 1) binh đoàn chiến thuật của hải quân một số nước, gồm một số hải đội tàu cùng loại hoặc khác loại, được dùng để thực hiện những nhiệm vụ nhất định trên một số khu vực của chiến trường biển (đại dương). HĐ có thể thuộc biên chế hạm đội (phân hạm đội, vùng hải quân) hoặc độc lập. Trong hài quân nhân dân VN có các HĐ tàu chiến đấu, tàu vận tải, tàu đánh cá vũ trang...; 2) binh đoàn, liên binh đoàn chiến dịch - chiến thuật trong hải quân (hải lực) của một số nước gồm một số sư đoàn, lữ đoàn và các hải đội độc lập tàu mặt nước, tàu ngầm; 3) nhóm (binh đoàn) tàu mặt nước được lâm thời tổ chức khi hoạt động trên biển xa.

        HẢI ĐOÀN BIÊN PHÒNG, đơn vị chiến đấu cấp chiến thuật của Bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu, bảo vệ chu quyền biên giới trên vùng biển được giao; trực thuộc BTL bộ đội biên phòng. Có chức năng: bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, tuần tra kiểm soát, ngăn chặn, bắt giữ, xử lí tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển VN (hoạt động tình báo, gián điệp, đánh bắt trộm hải sản, buôn bán trái phép và các hành vi vi phạm khác); ngăn chặn, bắt giữ người, tàu thuyền trong nước chạy trốn, vượt biển đi nước ngoài và bọn tội phạm hoạt động trên biển... Phạm vi hoạt động do BQP quy định.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:28:50 PM

        HÁI ĐỒ, bản đồ các đại dương, biển, eo biển, vịnh, vũng, cảng, đảo... và vùng bờ biển có liên quan, dùng cho công tác bảo đảm hàng hải, giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, nghiên cứu khoa học... Theo tác dụng, HĐ được chia ra: HĐ hàng hải, HĐ hải dương học, HĐ chuyên dụng, HĐ tra cứu.

        HẢI ĐỘI, binh đội (phân đội) chiến thuật cơ sở của hải quân ở nhiều nước, được trang bị các tàu chiến cùng loại, thường từ tàu cấp 2 trở xuống (cấp 2, cấp 3, cấp 4) để thực hiện nhiệm vụ nhất định. HĐ có thể thuộc biên chế của hải đoàn, vùng hải quân hoặc độc lập. HĐ thường được gọi theo chức năng hoặc loại tàu: HĐ tàu khu trục, HĐ tàu tuần tiễu, HĐ tàu ngư lôi.

        HẢI ĐỘI BIÊN PHÒNG, đơn vị chiến đấu cơ sở của Bộ đội biên phòng, làm nhiệm vụ quản lí, bảo vệ chủ quyền khu vực biên phòng trên sông, vùng biển dược giao; trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh hoặc thuộc biên chế của hải đoàn biên phòng. HĐBP có chức năng bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, tuần tra bảo vệ nội thuỷ, lãnh hải; bắt giữ, xử lí người và tàu thuyền vi phạm quy chế biên giới quốc gia, xâm phạm lợi ích quốc gia trên biển, truy bắt, chiến đấu chống bọn tội phạm phá hoại an ninh trên biển. Phạm vi, thời gian hoạt động của HĐBP do cấp trên quy định.

        HẢI HƯNG, tỉnh cũ ở đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh lị: tx Hải Dương. Thành lập 3.1968 do sáp nhập hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. 11.1996 chia lại thành hai tỉnh. 6.11.1978, LLVTND Hải Hưng được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

        HẢI KHẨU, thành phố cảng, thủ phủ t. Hải Nam (TQ). Nằm ở đông bắc đảo Hải Nam, vị trí trung tâm tại vĩ tuyến 20°03’ bắc, kinh tuyến 110°20’ đông. Dt 218km2; ds 410 nghìn người (1999). Xây dựng từ 1926. Hiện là thành phố lớn nhất, trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của t. Hải Nam. 2.1939 quân Nhật đổ bộ lên HK, chiếm đảo Hải Nam. 23.4.1950 được QGP nhân dân TQ giải phóng.

        HẢI LÍ, đơn vị đo chiều dài trên biển. Có: HL quốc tế(1.852m, được đa số các nước sử dụng), HL Anh, Nhật (1.853,18m), HL Mĩ (1.853,24m), HL Italia (1.851m)... Dùng trong việc xác định khoảng cách, tính tốc độ của phương tiện đi biển, phân định thềm lục địa, phân chia vùng biển quốc gia và quốc tế...

        HẢI LƯU (dòng biển), hiện tượng chuyển động của các lớp nước biển theo chiều ngang tạo thành các dòng chảy quy mô lớn, với các vận tốc khác nhau và tương đối ổn định trên từng khu vực. Nguyên nhân chủ yếu sinh ra HL là tác động của gió và sự khác nhau về tính chất hóa lí giữa các khối nước. Các dòng HL thường chảy dọc theo bờ các lục địa và tác động mạnh đến khí hậu các vùng đó. Đồng thời theo quy luật đối lưu, hình thành những dòng HL ngầm ngược chiều với dòng HL trên bề mặt. Phần lớn các đại dương, biển đều có các dòng HL lớn. Trong QS khi tính toán hành trình của tàu, khi thả mìn trên biển đều phải tính đến tác động của dòng HL.

        HẢI NAM, đảo lớn nhất của TQ ở Biển Đông. Nằm ở đông bắc Vịnh Bắc Bộ, phía bắc ngăn cách với bán đảo Lôi Châu qua eo biển Quỳnh Châu rộng 20km. Dt 33.920km2, lớn thứ hai TQ sau đảo Đài Loan. Phía bắc là đồng bằng, giữa và nam là núi, đỉnh cao nhất Ngũ Chỉ Sơn 1.867m. Rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt. Cây trồng: lúa, bông, mía... Bờ biển phía bắc có cảng Hải Khẩu, phía nam có căn cứ hải quân Du Lâm.

        HẢI NINH, tỉnh cũ ở Bắc Bộ. Thành lập 12.1906 do tách các châu Hà Cối, Tiên Yên, Móng Cái từ t. Quảng Yên. 6.1963 sáp nhập với khu Hồng Quảng thành t. Quảng Ninh.

        HẢI PHÒNG, thành phố cảng phía đông đồng bằng Bắc Bộ; bắc và đông bắc giáp Quảng Ninh, tây giáp Hải Dương, nam giáp Thái Bình, đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Dt 1.519,19km2; ds 1,754 triệu người (2003); chủ yếu là người Kinh. Nguyên là t. HP, thành lập 9.1887 trên cơ sở nha HP tách từ t. Hải Dương. 1.1898 tách thành hai đơn vị hành chính riêng là t HP và tp HP. 8.1902 t HP đổi tên thành t. Phù Liễn, 2.1906 thành t. Kiến An. 11.1946-12.1948, Kiến An hợp nhát với HP thành liên tinh Hải - Kiến. 6.1956 HP sáp nhập thêm h. Cát Hải và tx Cát Bà (nay hợp nhất thành h. Cát Hải) thuộc khu Hồng Quảng. 10.1962 HP và Kiến An lại hợp nhất thành tp HP. Tổ chức hành chính: 5 quận, 8 huyện (có 2 huyện đảo), 1 thị xã. Địa hình chủ yếu là đồng bằng (85% diện tích); có đồi núi thấp ở Cát Hải, Thủy Nguyên, Đồ Sơn, Kiến An. Hệ thống sông ngòi dày đặc, các sông lớn: Thái Bình, Kinh Thày, Bạch Đằng, Đá Bạc, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn úc, Sông Luộc, Sông Hóa. Bờ biển dài 125km, bị chia cắt mạnh với các cửa sông: Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình. Ven biển có khoảng 400 đảo; xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ (136km); đáy biển sâu 5-10m, nhiều đá ngầm. Thuộc vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh phía Bắc, có thế mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ. Công nghiệp: đóng tàu, cơ khí, xi măng, chế biến hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng, thủy tinh... Các khu công nghiệp: đường 5, Bắc Thủy Nguyên, Đình Vũ, Kiến An. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 11.172,4 tỉ đồng. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 500 nghìn tấn (lúa 498,4 nghìn tấn); thủy sản 56,1 nghìn tấn. Hệ thống đường bộ: QL 5, QL 10; đường sắt HP - Hà Nội; sân bay Cát Bi; giao thông đường thủy theo các tuyến đường sông, đường biển, cảng HP là cảng biển lớn. Sự kiện lịch sử QS: ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng (938, 981 và 1288). Địa danh lịch sử QS: Đồ Sơn, căn cứ khởi nghĩa của Quận He (Nguyễn Hữu Cầu) và là điểm xuất phát của đường Hồ Chí Minh trên biển. 6.11.1978, LLVTND Hải Phòng được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66579255_451058582290694_8293570389603254272_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlstNKjgWfijgc8zEtTXe38AFXIsCPtT_x0xAb9yhCFx5Y6-7QV6pfZ8IIsme8NArE&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0f5f4b64ca2ce5a3502b36922c20f623&oe=5DB9C02F)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:30:15 PM

        HẢI QUÂN, bộ phận của LLVT những nước có biển, thực hiện các nhiệm vụ trên chiến trường biển và đại dương hoặc sông nước. HQ hiện đại thường được trang bị tàu mặt nước, tàu ngầm, không quân HQ, tên lửa - pháo bờ biển và HQ đánh bộ. HQ có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các lực lượng khác khi tiến công HQ đối phương trên biển (đại dương) và trong căn cứ, cắt đứt giao thông trên biển của địch, bảo vệ giao thông trên biển của mình, yểm trợ lục quân trên chiến trường lục địa, đổ bộ đường biển, vận chuyển trên biển và thực hiện những nhiệm vụ khác (xt quân chủng hải quân).

        HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ, binh chủng của hải quân ở nhiều nước, được trang bị và huấn luyện đặc biệt để chiến đấu trong thành phần quân đổ bộ đường biển (độc lập hoặc hiệp đồng với lục quân); tham gia phòng thủ bờ biển, hải đảo, cảng, căn cứ hải quân và thực hiện những nhiệm vụ khác. HQĐB thường tổ chức các binh đoàn, binh đội, gồm một số phân đội bộ binh và các phân đội xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh; các phương tiện lội nước,... đáp ứng yêu cầu tác chiến đổ bộ đường biển. HQĐB được thành lập đầu tiên ở Anh (1664), Nga (1705), Mĩ (1775). Trong hải quân nhân dân VN, đơn vị HQĐB đầu tiên thành lập 1975. Cg bộ binh hải quân, lính thủy đánh bộ (Mĩ), thủy quân lục chiến (QĐ Sài Gòn).

        HẢI QUÂN NHẢN DÂN TRUNG QUỐC, quân chủng của Quăn giải phóng nhân dân Trung Quốc. Thành lập 1949, ban đầu có một số đơn vị tàu nổi; phát triển thêm các binh chủng: hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ bờ biển (1950), không quân hải quân (1952) và binh chủng tàu ngầm. Có 3 hạm đội: Bắc Hải (căn cứ chính: Thanh Đảo, Lữ Thuận, Đại Liên, Uy Hải), Đông Hải (căn cứ chính: Thượng Hải, Ninh Ba, Định Hải) và Nam Hải (căn cứ chính: Hoàng Phố, Sán Đầu, Trạm Giang, Du Lâm, Hải Khẩu). HQNDTQ có khoảng 220.000 người (2001); được trang bị: 69 tàu ngầm, 21 tàu khu trục, 42 tàu frigat, 368 tàu tuần tiễu, 39 tàu quét mìn, 56 tàu đổ bộ. 163 tàu phục vụ và các loại khác; 507 máy bay chiến đấu, 37 máy bay trực thăng.

        HẢI TRÌNH, lũy đất bảo vệ cửa biển Thuận An ở bờ nam Sông Hương, phía nam thôn Quy Lai, nay thuộc xã Phú Thanh, h. Phú Vang, t. Thừa Thiên - Huế. Đắp năm Tự Đức thứ 12 (Kỉ Mùi, 1859), sau khi Pháp đánh Đà Nẵng lần thú nhất (1858). Cùng với thành Trấn Hải và các đồn lũy khác tạo thành hệ thống công trình phòng thủ kinh đô Huế. Bị triệt hạ khi thi hành hiệp ước Quý Mùi (1883).

        HẢI VÂN, đèo ở ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi QL 1 vượt qua dãy núi Bạch Mã, dài 21km (từ km 893 đến km 914), độ cao đỉnh đèo 496m, độ dốc 12%, quanh co, vòng cua hẹp, nguy hiểm, vách taluy cao, vực sâu. Đèo HV có đường sắt Bắc - Nam đi qua bằng sáu hầm xuyên núi với tổng độ dài 3km (hầm ngắn nhất 85m, dài nhất 600m) và 18 cầu nhỏ. Từ 2004 có hầm đường bộ xuyên núi dài 6km.

        HAITI (Cộng hòa Haiti; Repiblik Dayti, p. République d’Haiti, A. Republic of Haiti), quốc gia ở vùng Caribê, gồm phần phía tây đảo Haiti và một số đảo phụ cận. Dt 27.750km2; ds 7,5 triệu người (2003); 90% người da đen. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp, tiếng Crêôn. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Pooctô - Pranhxơ. Đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp quốc hội (một viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ. Ba mặt bắc, tây, nam giáp biển Caribê, đông giáp Đôminicana. Núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, đỉnh cao nhất: La Xêliê 2.680m. Khí hậu nhiệt đới. Nước nông nghiệp chậm phát triển; kinh tế do các công ti tư bản Mĩ kiểm soát. Cà phê là cây thương mại chính. GDP 3,737 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 460 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Tổ chức các nước châu Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN 26.9.1997 - Không có QĐ. Lực lượng cành sát quốc gia 4.000 người.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66789397_451058595624026_2851024356513939456_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQk8A3t7z2qmM5prUa2R307TPk1s1O6U18hxjIiNa7ga3KtD8Ixynm657Uf8g4_XuFA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=918c85059c7254a1c27e4023405b6d7a&oe=5DB62A66)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:31:11 PM

        HAKIN (A. Paul Donal Harkins; 1904-84), tư lệnh QĐ Mĩ ở miền Nam VN (1962-64). Đại tướng; phó tham mưu trưởng tập đoàn quân trong CTTG-II, tham mưu trưởng tập đoàn quân trong chiến tranh Triều Tiên. 2.1962 sang miền Nam VN theo chi thị của tổng thổng Kennơđi, H đã chuẩn bị cơ sở cho Mĩ triển khai chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam VN, kiên quyết ủng hộ và duy trì Ngô Đình Diệm. H thường gửi những báo cáo lạc quan cho Oasinhtơn về tình hình chính trị và QS ở miền Nam VN, kể cả báo cáo cho rằng trận Ấp Bắc (2.1.1963) là chiến thắng của QĐ Sài Gòn. Hành động đó gây sự bất bình trong các sĩ quan Mĩ dưới quyền. 6.1964 bị gọi về Mĩ và nghỉ hưu trong năm đó (xt MACV).

        HÀM NGHI (Nguyễn Phúc Ưng Lịch; 1872-1944), vua triều Nguyễn (1884-88), lãnh tụ phong trào cần vương (1885-95). Quê làng Gia Miêu, h. Tống Sơn (nay là h. Hà Trung), t. Thanh Hóa. Lên ngôi 8.1884. Tuy còn ít tuổi nhưng nhiệt thành yêu nước, cùng phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu tích cực chuẩn bị kế hoạch và lực lượng chống Pháp, sau đó tiến hành cuộc nổi dậy ở Huế(5.7.1885). Việc không thành, HN được Tôn Thất Thuyết bí mật hộ giá lên chiến khu Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), hạ “Chiếu Cần Vương" (13.7.1885), phát động phong trào Cần Vương (1885-95) trong cả nước. Hơn 3 năm, quân Pháp truy lùng, tìm cách dụ dỗ mua chuộc đều không kết quả. 1.11.1888 HN bị Trương Quang Ngọc phản bội bắt nộp cho Pháp, bị đưa đi an trí ở Angiêri và mất tại đó.

        HÀM TỬ, bến ở tả ngạn Sông Hồng, nam Hà Nội 18km, nơi Trần Nhật Duật đại thắng quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy (x. trận Hàm Tử) trong giai đoạn phản công của kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285). Nay thuộc địa phận xã Hàm Tử, h. khoái Châu, t. Hưng Yên.

        HẠM ĐỘI, liên binh đoàn chiến dịch - chiến lược của hải quân, dùng để thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch hoặc chiến lược trên chiến trường biển (đại dương) đã định. HĐ có thể độc lập hoặc hiệp đồng với các liên binh đoàn (binh đoàn) của hải quân và các quân chủng, binh chủng tiến hành các chiến dịch và những hoạt động tác chiến khác trên biển (đại dương). HĐ thường gồm một số binh đoàn (binh đội) tàu mặt nước, tàu ngầm, không quân hài quân, hải quân đánh bộ, tên lửa - pháo bờ biển và các phân đội (binh đội) chuyên môn (bổ trợ) khác; có thể có cả phân hạm đội. HĐ còn có hệ thống căn cứ hải quân, khu trú đậu, sân bay, các cơ sở hậu cần, xưởng sửa chữa tàu và vũ khí trang bị, hệ thống thông tin - quan sát... để bảo đảm mọi mặt cho tác chiến và hoạt động thường ngày của các lực lượng. Những nước có hải quân nhỏ thường không tổ chức HĐ. Những nước có hải quân lớn có thể tổ chức một số HĐ, như: hải quân Mĩ có HĐ 2 ở Đại Tây Dương, HĐ 6 ở Địa Trung Hải, HĐ 3 ở đông và HĐ 7 ở tây Thái Bình Dương; hải quân TQ có HĐ Bắc Hải, HĐ Đông Hải, HĐ Nam Hải, hoạt động ở các vùng biển phía bắc, phía đông, phía nam TQ. Ở một số quốc gia, thuật ngữ HĐ còn dùng để chỉ một tập hợp lớn các tàu hoặc máy bay cùng thực hiện một chức năng: HĐ tàu buôn (vận tải), HĐ đánh cá, HĐ hàng không dân dụng...; hoặc cùng loại động lực: HĐ buồm, HĐ máy hơi nước, HĐ nguyên tử...

        HẠM ĐỘI 7, hạm đội của hải quân Mĩ chuyên tiến hành các chiến dịch tiến công trên biển, chi viện cho lục quân hoạt động tác chiến, bảo vệ tuyến hàng hải viễn dương của Mĩ và đồng minh trên vùng biển tây Thái Bình Dương và đông Ấn Độ Dương (từ eo biển Bêrinh xuống Nam Cực và từ kinh tuyến 90° đông tới kinh tuyến 160° đông, khoảng 30 triệu hải lí vuông). Thành lập 15.3.1943, trực thuộc BTL Thái Bình Dương. Được tổ chức tương đối hoàn chỉnh từ 1957. HĐ7 bao gồm 9 lực lượng đặc nhiệm: 70 (hỗn hợp, có tàu chỉ huy), 71 (công kích tuyến bắc), 72 (tuần tiều hải - không), 73 (cung ứng hậu cán), 74 (bảo vệ khu vực), 75 (cảnh giới đường biển vào Nhật), 76 (vận tải đổ bộ, sau này thành lực lượng tác chiến thủy - bộ), 77 (công kích tuyến nam), 78 (quét thủy lôi). HĐ7 đã tham gia CTTG-II ở chiến trường tây Thái Bình Dương (1943-45), chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Trong chiến tranh xâm lược VN, 1964-73 HĐ7 đã sử dụng lực lượng đặc nhiệm 77 (có 3-4 tàu sân bay), 76 (tác chiến thủy - bộ), 73 (tiếp nhiên liệu, bom, đạn...), lập cụm lực lượng 70, 78 (đánh phá ven biển) và 117 (tiến công đường sông) với gần 60 tàu các loại, trực tiếp dùng máy bay đánh phá miền Bác VN, Lào, rải mìn phong tỏa các cảng biển ở miền Bắc VN, chi viện đường không cho quân Mĩ - Sài Gòn ở miền Nam VN; chịu nhiều tổn thất về người và phương tiện, đã 8 lần thay đổi tư lệnh hạm đội. 2001 HĐ7 có 50-60 tàu, 350 máy bay, 60.000 quân. SCH đóng ở căn cứ liên hợp Yôcôxưca (Nhật).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:32:33 PM

        HẠM ĐỘI BANTICH, hạm đội của hải quân Nga: lực lượng chủ yếu để bảo vệ vùng biển Bantich và các vùng biển khác. Thành lập 1700 và hoạt động trong thời kì chiến tranh phía bắc (đến 1721). Tham gia khởi nghĩa vũ trang trong cuộc CM 1905-07 và trong CM XHCN 10.1917. Từ 3.1918 đến 1.1935 HĐB được trang bị lại các phương tiện kĩ thuật, tàu chiến và máy bay mới. Cơ sở chính của HĐB đóng ở Talin và Liepaiu. Trong chiến tranh LX - Phần Lan (1939-40), HĐB đã tham gia phong tỏa, đánh hải quân địch, chi viện cho lực lượng trên bộ giành thắng lợi. Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, biên chế của HĐB có: 2 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương, 2 tàu khu trục dẫn đường, 19 tàu khu trục, 69 tàu ngầm, 48 tàu phóng lôi, 656 máy bay, một số binh đoàn phòng ngự trên bờ và lực lượng phòng không. HĐB đã hoạt động kiểm soát vùng biển Bantich, tham gia các trận đánh với lục quân ở Lêningrat, ngăn chặn các cụm tàu địch trên biển... 1941-44 tham gia phòng ngự Lêningrat và nhiều chiến dịch, đổ bộ, giải tỏa khác góp phần đánh bại quân Đức ở vùng biển Bantich và các vùng lân cận. 2.1946 được chia thành Hạm đội 4 và Hạm đội 8, đến 1955 khôi phục lại tổ chức ban đầu. Trong những năm 50, HĐB cùng các hạm đội khác của hải quân LX được củng cố và trang bị phương tiện kĩ thuật mới (tàu tên lửa, tên lửa đối không), thành lập các binh đội đặc biệt. LX tan rã, HĐB thuộc lực lượng hải quân của LB Nga, phân chia một phần lực lượng cho nước Cộng hòa Ucraina. Huân chương: 2 Sao đỏ, 58 Chiến công, hơn 100 nghìn cá nhân được tặng huân chương Chiến công và 137 cá nhân được tặng danh hiệu Ah LX.

        HẠM ĐỘI NAM HẢI. hạm đội của Hải quân nhân dân TQ có nhiệm vụ bảo vệ vùng biển phía nam TQ, tiến hành các chiến dịch tiến công trên biển, chi viện đánh chiếm các đảo, quần đảo ở Biển Đông hoạt động tác chiến và chi viện cho lục quân. SCH hạm đội ở căn cứ Trạm Giang. Tổ chức gồm: 2 lữ đoàn tàu ngầm, 2 lữ đoàn tàu phóng lôi, 2 lữ đoàn tàu tuần tiễu, 1 lữ đoàn tàu tên lửa, 1 tiểu đoàn tàu đổ bộ và một số tiểu đoàn tàu độc lập khác; 4 tiểu đoàn tên lửa đất đối biển, 4 trung đoàn pháo bảo vệ bờ biển, 2 trung đoàn pháo phòng không, 2 trung đoàn rađa, 3 lữ đoàn hải quân đánh bộ và 2 sư đoàn không quân. Biên chế 2 tàu ngầm mang tên lửa, 2 tàu hộ vệ, 1 tàu vớt mìn và khoảng 300 tàu tuần dương và tuần tra ven biển (2001).

        HẠM ĐỘI THÁI BÌNH DƯƠNG, hạm đội của hải quân Nga. Do LX tổ chức 1.1.1935, đặt căn cứ ở Vlađivôxtôc. Từ 1936-38 tiếp nhận thêm tàu chiến của Hạm đội Bantich và Hạm đội Biển Đen, 8.1939 được bổ sung thêm Phân hạm Bắc Thái Bình Dương. Trong chiến tranh vệ quốc, HĐTBD phối hợp tác chiến với lực lượng trên các mặt trận Maxcơva, Vônga, Xêvaxtôpôn, Lêningrat, Xakhalin, Curin, Xâyxin và góp phần đánh bại quân Nhật trên vùng biển Viễn Đông giải phóng Bắc Triều Tiên... Khi bắt đầu chiến tranh với Nhật, biên chế của HĐTBD có: 2 tàu tuần dương, 1 tàu dẫn đường, 19 tàu hộ tống, 10 tàu rải mìn, 12 tàu phóng lôi, 78 tàu săn ngầm, 52 tàu quét mìn, 49 thuyền săn ngầm, 224 thuyền phóng lôi, 1.618 máy bay và 147 nghìn quân. 1.1947 HĐTBD phân ra thành Hạm đội 5 và Hạm đội 7, đến 4.1953 hợp nhất thành HĐTBD và được trang bị thêm tàu sân bay, tàu ngầm tên lửa, tên lửa chống ngầm có điều khiển, tên lửa đối không và các lực lượng, phương tiện khác. LX tan rã, HĐTBD thuộc lực lượng hải quân của LB Nga. Huân chương: Sao đỏ và 43 danh hiệu Ah LX cho tập thể và cá nhân.

        HÀN QUỐC (Đại Hàn dân quốc; Hanguk, Dehan Minguk, A. Republic of Korea, South Korea), quốc gia ở nam bán đảo Triều Tiên, Đông Bắc Á. Thành lập 15.8.1945 tại khu vực do Mĩ kiểm soát khi nước Triều Tiên thống nhất bị chia cắt sau CTTG-1I. Dt 99.268 km2; ds 48,29 triệu người (2003). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Hàn (tiếng Triều Tiên). Tôn giáo: Phật giáo. Thú đô: Xơun. Chính thể cộng hoà, đứng đầu nhà nước là tổng thống, tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. 70% lãnh thổ là núi và cao nguyên. Nằm ở điểm nút giao thông đường biển trọng yếu, bắc giáp CHDC nhân dân Triều Tiên, tây giáp biến Hoàng Hải, đông giáp biển Nhật Bản. Chiều dài bờ biển trên 2.410km, nhiều cảng, vịnh. Khí hậu ôn đới gió mùa. Nước công nghiệp, kinh tế phát triển nhanh. Các ngành công nghiệp chủ yếu: điện tử, chế tạo ô tô, đóng tàu, luyện kim, dệt, hóa dầu. GDP 422 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 8.920 USD. Thành viên LHQ (17.9.1991), APEC. Lập quan hệ ngoại giao với VN 22.12.1992. LLVT: lực lượng thường trực 686.000 người (lục quân 560.000, hải quân 63.000, không quán 63.000), lực lượng dự bị 4,5 triệu người. Trang bị: 2.330 xe tăng, 40 xe chiến đấu bộ binh, 2.480 xe thiết giáp chở quân, 3.500 pháo mặt đất, 6.000 súng cối, 600 pháo phòng không, 1.090 tên lửa phòng không, 117 trực thăng vũ trang, 20 tàu ngầm, 6 tàu khu trục. 9 tàu frigat. 24 tàu hộ tống, 84 tàu tuần tiễu, 12 tàu đổ bộ. 538 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 14,1 tỉ USD (2002). Theo hiệp ước phòng thủ chung giữa Mĩ và HQ, 11.1978 thành lập “Bộ tư lệnh lực lượng liên hợp Mĩ - Hàn". Số lượng quân Mĩ khoảng 36.000, đóng tại các căn cứ không quân và hải quân ở Kunsan, Usan.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66721351_451058605624025_8021774512536158208_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmVNJoEgfwYJXib6mqJcY5aJjK9KhHdXpkfjDd67WTt4T5KnwVV9vnMwVaJ36T83YY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=12a93d9bc983abf97dc79522fc92bb92&oe=5DAEBA7D)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:33:55 PM

        HÁN (H. Han), lớp tàu ngầm nguyên tử dầu tiên của TQ, gồm 5 chiếc mang số hiệu từ 401 đến 405 (hạ thủy 1972. 1977, 1983, 1987 và 1990). Lượng choán nước: 5.000t (ngầm). Kích thước: 100 (108 từ tàu 403 đến 405)xllx8,5m. Một lò phản ứng hạt nhân công suất 90MW, tuabin - điện, 1 chân vịt, tốc độ đi ngầm 25 hải lí/h (46km/h). Quân số 75. Trang bị vũ khí: 6 ống phóng ngư lôi 533mm, từ tàu 403 trở đi có tên lửa hải đối hải C801 (tầm bắn 40km, tốc độ M 0,9, đầu đạn 165kg, dẫn quán tính hoặc tự dẫn rađa chủ động). Thuộc Hạm đội Bắc Hải. Hiện không sản xuất do nhiều vấn đề kĩ thuật (vd: mức phóng xạ bên trong cao gây nguy hiểm cho nhân viên trong tàu).

        HẠN MỨC KINH PHÍ, khoản kinh phí được phép sử dụng trong kì kế hoạch (quý, tháng) nhưng chưa được cấp hẳn. Hàng quý, căn cứ vào dự toán của đơn vị dự toán ngân sách và khả năng của ngân sách nhà nước, cơ quan tài chính bố trí mức chi theo quý (có chia ra tháng) cho các đơn vị sử dụng ngân sách, hoặc bố trí mức chi và ủy quyền cho đơn vị cấp trên phân phối cho từng đơn vị sử dụng ngân sách. Khoản kinh phí hạn mức này được chuyển qua hệ thống kho bạc nhà nước để làm căn cứ cấp phát cho các đơn vị sử dụng ngân sách theo đúng loại, khoản, mục. Khi đơn vị sử dụng ngân sách có nhu cầu chi phù hợp với các hoạt động phát sinh theo đúng kế hoạch và dự toán được phân bổ, thủ trưởng đơn vị ra lệnh chuẩn chi kèm theo hồ sơ thanh toán gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch. Kho bạc nhà nước nơi giao dịch căn cứ vào thông báo mức chi được cơ quan tài chính hoặc đơn vị cấp trên phân phối cho đơn vị, kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi và lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, thực hiện việc cấp phát, thanh toán. Mức chi hàng quý được phân phối là hạn mức cao nhất mà đơn vị sử dụng ngân sách được chi trong quý. Đối với các đơn vị QĐ, hình thức cấp phát kinh phí bằng HMKP chỉ áp dụng đối với đơn vị dự toán cấp 1 và cấp 2.

        HẠN MỨC XĂNG DẦU, lượng xăng dầu được tiêu thụ cho một nhiệm vụ. kế hoạch trong thời gian nhất định. HMXD do đơn vị định ra căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch trên giao, được cấp có thấm quyền phê chuẩn. HMXD có thể được điều chỉnh (bổ sung, cắt giảm). Có hạn mức quý, tháng hoặc năm.

        HÀNG BINH, quân nhân và những người thuộc LLVT của một bên tham chiến tự nguyện xin hàng đối phương. Những người do tình thế QS bắt buộc phải đầu hàng không phải là HB mà là tù binh. Trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh xâm lược, hành động của HB biểu thị sự bất đồng với chính sách xâm lược của giới cầm quyền và mục đích phi nghĩa của chiến tranh. HB có thể được sử dụng vào những
công việc phù hợp nhưng phải kiểm tra kĩ, để phòng sự trá hàng (xt chinh sách tù binh và hàng binh).

        HÀNG HẢI, 1) khoa học về điều khiển tàu thuyền di biển (đại dương) một cách chính xác, an toàn và tiết kiệm, từ nơi này đến nơi khác trên Trái Đất. Nội dung gồm: lựa chọn đường đi có lợi nhất trên biển (đại dương); nghiên cứu vận dụng các phương pháp xác định vị trí tàu thuyền trên biển (đại dương); nghiên cứu, sử dụng các phương tiện kĩ thuật HH; lí luận chung về cơ động tàu thuyền: những tri thức về hải dương học, về khí tượng - thủy văn liên quan tới điều khiển tàu thuyền và an toàn của tàu thuyền khi hành trình cũng như khi trú đậu. Cg HH học; 2) gọi chung nghề đi biển, vận tải đường biển.

        HÀNG KHÔNG MẪU HẠM nh TÀU SÂN BAY

        HÀNG RÀO BIÊN GIỚI, công trình kĩ thuật bảo vệ biên giới nhằm nhận biết đường biên giới quốc gia trên thực địa, ngăn chặn mọi sự qua lại biên giới quốc gia không hợp pháp, hạn chế xâm nhập phá hoại, tấn công của dịch vào khu vực biên giới. HRBG được xây dựng nhiều tầng trên vành đai biên giới bằng hệ thống vật cản tổng hợp liên tục, khép kín chính diện biên giới, mỗi tầng có chiều rộng 3-100m. HRBG có thể là hàng rào tự nhiên bằng việc cải tạo địa hình, hàng rào nhân tạo như: rào thực vật (trồng tre gai, dứa đại, các loại cây gai) hoặc ngả cây, xếp đá, xây tường, đào mương... Những nơi quan trọng, xung yếu phải rào thép gai, xây tường. HRBG thường được bố trí xen kẽ các loại chông, mìn, bẫy hoặc các phương tiện phát hiện, báo động và chiếu sáng. Trên tuyến biên giới đối địch, HRBG được kết hợp với các công trình phòng thủ biên giới tạo thành hệ thống vật cản liên hoàn, vững chắc, bí mật bảo đảm cho chiến đấu chống xâm lược và quản lí bảo vệ biên giới quốc gia.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:35:04 PM

        HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ BẢO VỆ BIÊN GIỚI, công trình kĩ thuật bảo vệ biên giới nhằm hỗ trợ cho việc phát hiện, báo động những hành động vi phạm biên giới quốc gia về thời gian, địa điểm, đối tượng. Bao gồm: các phương tiện điện tử tín hiệu để phát hiện, báo động hoặc thông báo; các phương tiện chỉ huy và thông tin liên lạc; dây dẫn; trạm nguồn... HRĐTBVBG dược thiết lập ở những hướng, vị trí quan trọng trên tuyến biên giới, giữa các hàng dây thép gai, phía trong dải phát hiện dấu vết biên giới. Việc sử dụng, kiểm tra, bảo quản các thiết bị của HRĐTBVBG do bộ phận kĩ thuật của đồn biên phòng đảm nhiệm.

        HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MAC NAMARA, phòng tuyến do Mĩ xây dựng ở khu vực nam vĩ tuyến 17 (t. Quảng Trị) nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho CM miền Nam trong những năm 1966-72 của cuộc KCCM. Được quyết định xây dựng từ 6.1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng quốc phòng Mĩ Mac Namara, bao gồm hệ thống các căn cứ QS (17 căn cứ) kết hợp với hệ thống vật cản (hàng rào thép gai, bãi mìn...), các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không (rađa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn...); bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10-20km, dài khoảng 100km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới VN - Lào, sang Mường Phin (t. Xayannakhẹt, Lào), trong đó trọng điểm là Dốc Miếu, Cồn Tiên, Đông Hà, Ái Tử, điểm cao 241, Khe Sanh... Lực lượng sử dụng khoảng 2 sư đoàn bộ binh (có 1 sư đoàn Mĩ) cùng lực lượng lớn pháo binh, xe tăng, thiết giáp và sự yểm trợ tối đa của không quân hoạt động suốt ngày đêm sẵn sàng phát hiện, tiêu diệt mọi mục tiêu vượt qua phòng tuyến. Công trình dự kiến tiêu tốn 2 tỉ USD, nhưng đến 1968 mới hoàn thành ở những vị trí trọng yếu nhất đã phải dừng lại bởi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) và chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (20.1-15.7.1968) của quân và dân miền Nam. Sau thất bại ở đường 9 - Nam Lào (1971), Mĩ và QĐ Sài Gòn tiếp tục xây dựng và củng cố HRĐTMN, mở rộng vành đai trắng nhằm ngăn chặn từ xa nhưng không thực hiện được mục đích đề ra, đến 4.1972 bị QGPMN VN đập tan bằng chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Kế hoạch phòng thủ bằng HRĐTMN thất bại, khiến Mĩ càng lúng túng và bị động trong đối phó với sức mạnh của chiến tranh nhân dân VN. Cg phòng tuyến Mac Namara.

        HÀNG RÀO THÉP GAI. vật cản không nổ bằng dây thép gai để ngăn cản sự tiến công, cơ động, xâm nhập của đối phương. Theo cấu tạo, có: HRTG đơn, kép, mái nhà, bùng nhùng, HRTG vướng chân. Theo phương thức sứ dụng, có: HRTG cố định (thường để bảo vệ các vị trí quan trọng, đặc biệt có thể cho dòng điện cao áp vào hàng rào), HRTG di động (trong đó có cự mã).

        HẠNG VŨ - LƯU BANG DIỆT TẨN (206tcn), cuộc chiến đấu hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Trấn Thắng - Ngô Quàng (209tcn), nổi lên từ đất Sở dưới sự lãnh đạo trên danh nghĩa của Sở Hoài Vương. Sau thất bại và hi sinh của hai thủ lĩnh Trần Thắng - Ngô Quảng, lực lượng chống Tần chủ yếu chỉ còn lại ở đất Triệu và đất Sở. Năm 209tcn, 40 vạn quân chủ lực Tần vây đánh gấp thành Cự Lộc của Triệu. Sở Hoài Vương phái Tống Nghĩa, Hạng Vũ đem 5 vạn quân đi cứu Triệu, đồng thời phái Lưu Bang thừa lúc hậu phương quân Tần bỏ trống đem quân vào đánh Hàm Dương, thủ đô Tần. Tháng 12.207tcn, Hạng Vũ giết Tống Nghĩa vì trù trừ không đánh, rồi dẫn quân vượt Sông Chương, lệnh cho quân đập nổi, dìm thuyền, mỗi người chỉ mang ba ngày lương, biểu lộ quyết tâm tử chiến. Kết quả giết được tướng Tần là Vương Li, giải vây thành Cự Lộc, sau đó đánh nhau với quân Tần ở Vu Thủy, buộc chủ tướng Tần là Chương Hàm cùng 20 vạn quân phải đầu hàng (tháng 7.206tcn). Nhân lúc chủ lực quân Tần đang bận giao chiến với Hạng Vũ. Lưu Bang đem quân vòng qua Sơn Đông, Hà Nam, vào Hàm Dương, dọc đường chỉ đánh một số trận nhỏ, mộ thêm quân, đưa quân số lên tới hàng vạn. Tháng 10.206tcn, Lưu Bang tới Bá Thượng, vua Tần là Tử Anh đầu hàng. Nhà Tần mất. Trong cuộc chiến này, Hạng Vũ với binh lực bằng 1/8 địch đã xung trận với tinh thần quyết chiến cao, thực hiện chia cắt, vây diệt và đánh chặn, tiêu diệt quân Tần, tạo điều kiện thuận lợi cho Lưu Bang. Lưu Bang biết tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, lợi dụng sơ hở, có chính sách đúng đắn làm tan rã hàng ngũ địch.

        HÀNH BINH, cơ động lực lượng và tiến công quy mô lớn nhằm hoàn thành mục đích của chiến tranh hay một giai đoạn chiến tranh. Vd: cuộc HB thần tốc của Quang Trung ra Thăng Long để tiêu diệt quân Thanh (1789); cuộc HB của Napôlêông xâm lược nước Nga (1812). Cg hành quân (nghĩa 2).

        HÀNH CHÍNH QUÂN SỰ, 1) hệ thống cơ quan nhà nước quân lí và điều hành về QS; 2) cư quan QS, quân lí mọi mặt ở khu vực được giao trong quá trình tác chiến hoặc thời gian sau chiến tranh theo chế độ quân quản; 3) gọi chung những quy tắc, thủ tục về xây dựng và chỉ huy QĐ, điều hành công việc có liên quan đến cơ cấu và hoạt động thường xuyên của QĐ, đời sống bộ đội. được thể hiện tập trung trong các điều lệnh, điều lệ.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:36:24 PM

        HÀNH ĐỘNG CHIẾN ĐẤU, hành động đánh địch của cá nhân, phân đội, binh đội, binh đoàn trong trận chiến đấu; bộ phận hợp thành hoạt động tác chiến. Gồm: công kích, đột phá, chi viện hỏa lực, phát triển tiến công, đánh địch công kích vào tiền duyên phòng ngự, phản kích, tiêu diệt, bắt tù binh, chiếm và giữ khu vực (mục tiêu) trọng yếu... Có hai loại HĐCĐ cơ bản: tiến công, phòng ngự. Trong chiến tranh hiện đại, HĐCĐ là sự kết hợp hành động chung của các quân binh chủng.

        HÀNH ĐỘNG QUÂN SỰ, gọi chung các hành động của LLVT và của quần chúng nhân dân có vũ trang đánh địch trên bộ, trên biển, trên không. HĐQS được tiến hành ở các hình thức tác chiến như: trận chiến đấu, chiến dịch, đòn đột kích, hoạt động tác chiến thường xuyên, các đợt tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Đặc điểm của HĐQS là kiên quyết đạt mục đích, sử dụng nhiều sức người, sức của, tính biến động cao, tình huống diễn biến nhanh.

        HÀNH LANG BAY nh HÀNH LANG TRÊN KHÔNG

        HÀNH LANG TRÊN KHÔNG, dải không trung quy định có giới hạn về chiều rộng, chiều dài và độ cao để phương tiện bay phải bay qua và dược bảo đảm an toàn. HLTK được sử dụng cho việc bay qua đường biên giới quốc gia, khu vực có hỏa lực phòng không bảo vệ, các trung tâm kinh tế, chính trị lớn. qua hoặc ra vào sân bay... Cg hành lang bay.

        HÀNH QUÂN, 1) di chuyển bộ đội có tổ chức đến địa điểm trong thời gian quy định, để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. Theo phương tiện và phương pháp HQ, có: HQ bằng đường bộ, HQ đường không, HQ đường sông, HQ đường biển hoặc HQ hỗn hợp. Theo nhiệm vụ, có: HQ chiến đấu và HQ thường (không có sự uy hiếp của đối phương). Theo tốc độ, có: HQ thường và HQ gấp. Những chi số chính của HQ là: chiều dài đường HQ (kilômét); thời gian HQ (giờ, ngày); số lượng đường HQ; cung độ (đoạn đường đi trong một ngày); tốc độ hành quân. Số lượng đường HQ cho phân đội, binh đội, binh đoàn được xác định tùy theo số trục đường hiện có trên hướng HQ, thường đối với phân đội xác định một trục đường HQ, binh đội thường một - hai trục đường, binh đoàn thường hai trục đường HQ. Để HQ phải soạn thảo kế hoạch HQ, nội dung chủ yếu gồm: nhiệm vụ và yêu cầu, hướng, đường, địa điểm và thời gian đến, tổ chức lực lượng và sử dụng phương tiện; đội hình, thứ tự, vị trí và nhiệm vụ của từng bộ phận trong đội hình; địa điểm dừng nghỉ; vị trí chỉ huy và phương pháp chỉ huy; các mặt bảo đảm; dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách xử trí. Kết thúc HQ khi bộ đội đã vào khu vực quy định, kiểm tra tình hình mọi mặt và báo cáo cấp trên; 2) nh hành binh.

        HÀNH QUÂN ÁNH SÁNG SAO (A. Starlite. 18-19.8.1965), hành binh đầu tiên của quân Mĩ trong chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam VN, nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực ta (Trung đoàn bộ binh 1. Quân khu 5) tại thôn Vạn Tường (xã Bình Hải, h. Bình Sơn, t. Quảng Ngãi). Lực lượng hành quân gồm: 4 tiểu đoàn của Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 Mĩ, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 2 đại đội trinh sát QĐ Sài Gòn (khoảng 8.000 quân); 105 xe tăng, xe bọc thép, 170 máy bay, 5 pháo hạm, 6 tàu đổ bộ, 28 khẩu pháo. Sau khi dùng không quân, pháo binh bắn phá dồn dập, sáng 18.8 quân Mĩ và QĐ Sài Gòn tiến quân đường bộ kết hợp với đổ bộ đường không, đường biển, từ bốn hướng đánh vào Vạn Tường. Bị Trung đoàn 1 cùng với Đại đội 21 bộ đội tỉnh Quảng Ngãi, du kích và nhân dân địa phương dựa vào làng, xã chiến đấu đánh trả quyết liệt, gây thiệt hại nặng (mất hơn 900 quân, 13 máy bay bị bắn rơi, 22 xe tăng, xe bọc thép bị phá hủy...). Cuộc hành quân “tìm diệt” đầu tiên của Mĩ thất bại hoàn toàn (x. trận Vạn Tường. 18-Ỉ9.8.1965).

        HÀNH QUÂN ATLĂNG (P. Atlante, 1-3.1954), hành binh quy mõ lớn của Pháp theo kế hoạch Nava do tướng Bô Pho chỉ huy. với tham vọng đánh chiếm toàn bộ vùng tự do Liên khu 5. Kế hoạch dự kiến gồm ba bước (nhưng mới vào bước 1 đã phải bỏ dở). Bước 1 bắt đầu 20.1.1954 bằng cuộc tiến công đánh chiếm nam Phú Yên với lực lượng 22 tiểu đoàn gồm 4 binh đoàn cơ động (40, 42, 10 và 100) và 2 tiểu đoàn dù. Các LLVT Liên khu 5 mờ chiến dịch bắc Tây Nguyên (26.1-17.2.1954), buộc Nava phải ra lệnh tạm ngừng cuộc hành quân, rút 6 tiểu đoàn bộ binh và dù lên ứng cứu Tây Nguyên 12.3 Pháp mở tiếp bước 2, cho quân đổ bộ lên bờ biển Quy Nhơn, Bình Định. Lúc này ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) và đẩy mạnh hoạt động đánh địch trên các chiến trường, buộc Nava phải ra lệnh kết thúc HQA để dồn sức đối phó, không thực hiện được mục tiêu đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:37:26 PM

        HÀNH QUÂN ATTONBORƠ (A. Attleboro, 14.9-25.11.1966), hành binh mở đầu cuộc phản công chiến lược lần II (mùa khô 1966-67) của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn đánh Chiến khu Dương Minh Châu (bắc Tây Ninh), nhằm triệt phá căn cứ, tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực QGPMN VN, hỗ trợ cho chương trình bình định xung quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân: quân Mĩ có 3 lữ đoàn thuộc các sư đoàn bộ binh 1 và 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn dù 173, 1 tiểu đoàn của Sư đoàn bộ binh 4, 5 tiểu đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh; QĐ Sài Gòn có: 9 tiểu đoàn của các sư đoàn bộ binh 5, 25 và lữ đoàn dù (tổng số quân 30.000) được sự chi viện của 1.600 lần chiếc máy bay chiến thuật, 225 lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Sau hơn 2 tháng hành quân, bị bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ (Sư đoàn 9, Trung đoàn 16) và LLVT Tây Ninh chặn đánh, tiến công mãnh liệt ở Bàu Gòn, Chà Dơ. Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Gò Dầu, Suối Đá... gây thiệt hại nặng trong chiến dịch Tây Ninh (3-25.11.1966), với 4.500 quân bị loại khỏi chiến đấu, 65 máy bay, 7 khẩu pháo, hàng trăm xe QS bị phá hủy, phá hỏng, địch phải chấm dứt cuộc hành quân, không đạt mục tiêu đề ra.

        HÀNH QUÂN ĂNGTRAXIT (P. Anthracite, 16.10- 25.11.1949), hành binh càn quét của 6 tiểu đoàn quân Pháp thực hiện kế hoạch Rơve nhằm đánh chiếm, mở rộng khu vực Bùi Chu - Phát Diệm và vùng duyên hải phía nam các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, âm mưu thành lập khu “công giáo tự trị” ở đồng bằng Bắc Bộ. 16.10 Pháp đưa 300 quân nhảy dù phối hợp với 1.000 quân theo đường thủy, đổ bộ chiếm Phát Diệm (t. Ninh Bình); 18.10 sử dụng 2 tiểu đoàn đánh chiếm Bùi Chu (t. Nam Định), sau đó mở rộng phạm vi kiểm soát ra 3 huyện phía nam Ninh Bình và 6 huyện phía nam Nam Định. Bị quân và dân 2 tỉnh đánh trả quyết liệt, thương vong hơn 1.500 quân, nhưng với ưu thế về binh lực và hỏa lực, quân Pháp đã thực hiện dược kế hoạch đề ra.

        HÀNH QUÂN BÔLÊRÔ II (P. Boléro, Hè Thu 1952). hành binh càn quét của quân Pháp vào khu du kích Thanh Hà (t. Hải Dương) nhằm thực hiện kế hoạch bình định vùng tạm chiếm của tổng chỉ huy QĐ viễn chinh Pháp ở Đông Dương Tatxinhi. Lực lượng hành quân gồm 10 tiểu đoàn bộ binh, một số đội biệt kích và Đoàn quân thứ hành chính (GAMO). Trong HQBII quân Pháp kết hợp nhiều thủ đoạn đánh triệt phá khu du kích: dùng lực lượng QS bao vây, lùng sục tìm diệt hoặc đánh bật LLVT và cán bộ ta ra khỏi địa bàn; đưa lực lượng biệt kích, GAMO vào lập tề, mua chuộc lừa bịp nhân dân  bằng các biện pháp kinh tế, chiến tranh tâm lí...; tiến hành xây dựng đồn bốt, bắt lính... Sau nhiều tháng triển khai không đạt kết quả, bị quân và dân ta kiên quyết đấu tranh chống lại bằng cả QS, chính trị, kinh tế... quân Pháp thất bại và phải rút lui.

        HÀNH QUẢN CÁI NÊM ATLAT (A. Atlas Wedge, 3.1969), hành binh càn quét mở đầu kế hoạch phản kích, giải tỏa của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn tại t. Tây Ninh và khu vực Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một, nay thuộc t. Bình Dương) nhằm thực hiện âm mưu quét và giữ, tiêu diệt bộ đội chủ lực, triệt phá kho tàng và tuyến hành lang chiến lược của QGPMN VN, tạo vành đai an toàn bảo vệ hướng bắc Sài Gòn. Lực lượng gồm: 25 tiểu đoàn (hơn 10.000 quân), hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, xe ủi, máy bay... Cuộc hành quân diễn ra từ trung tuần đến cuối tháng 3 với thủ đoạn càn quét chà đi xát lại, dùng xe cày ủi, kết hợp máy bay ném bom. rải chất độc hóa học hủy diệt hàng nghìn hécta rừng và cây cao su... Bị các đơn vị bộ binh, đặc công và LLVT địa phương chặn đánh gây thiệt hại nặng, Mĩ và QĐ Sài Gòn buộc phải chấm dứt hành quân.

        HÀNH QUÂN CÀN QUÉT TRÀ BỔNG (9.1959), hành binh càn quét của Sư đoàn 22 QĐ Sài Gòn nhằm đàn áp khởi nghĩa Trà Bồng (8.1959), tiêu diệt lực lượng khởi nghĩa và chính quyền CM. lập lại thế chiếm đóng ở huyện Trà Bồng và vùng cao Sơn Hà (t. Quảng Ngãi). 7.9 QĐ Sài Gòn triển khai tiến công từ bốn hướng, chiếm lại các đồn Eo Chín, Eo Reo, Tà Lạt, Đá Líp, nhưng không thực hiện được kế hoạch hợp điếm tại xã Trà Phong. Quân dân Trà Bồng rút vào rừng lập căn cứ chiến đấu, liên tục bám đánh, bao vây, tập kích, bắn tỉa và sử dụng các loại vũ khí thô sơ (chông, mìn, bẫy đá. cung tên...), diệt và làm bị thương hàng trăm địch. Sau gần 1 tháng càn quét không đạt kết quả. bị bao vây cô lập và tổn hao lực lượng, QĐ Sài Gòn buộc phải co lại, rút bó các đồn Eo Chín, Eo Reo, chấm dứt hành quân.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:38:20 PM

        HÀNH QUÂN CHENLA II (20.8-2.12.1971), cuộc tiến công quy mô lớn của quân Lon Non do Mĩ chỉ huy vào Côngpông Thom (Campuchia) nhằm thử thách khả năng chiến đấu của quân Lon Non, nối lại đường 6 từ Tăng Cốc đến Côngpông Thom, cắt đứt đường hành lang của QGPMN VN từ đông sang tây. Lực lượng gồm 15 lữ đoàn quân Lon Non với hơn 70 tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị pháo binh, xe bọc thép, tàu chiến, được sự yểm trợ của không quân Mĩ và QĐ Sài Gòn. 20.8.1971, cuộc hành quân bắt đầu. 29.8 chiếm được Côngpông Thom và đến 15.10 cơ bản nối thông đường 6 (x. chiến dịch Đường 6, 27.10-4.12.1971). Ngày 2.12.1971 quân Lon Non buộc phải rút khỏi đường 6 do vấp phải sự đánh trả quyết liệt của QGPMN VN và LLVT giải phóng Campuchia. Thất bại của HQCI1 là thất bại của Mĩ trong âm mưu chiến lược sử dụng quân tay sai phá hậu phương của QGPMN VN.

        HÀNH QUÂN CÙ KIỆT (8.1969-2.1970), hành binh của Lực lượng dặc biệt Vàng Pao, quân phái hữu Lào nhằm lấn chiếm vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Lực lượng hành quân gồm 23 tiểu đoàn chủ lực, 52 đại đội độc lập, 16 khẩu pháo, 10 xe tăng và xe bọc thép (khoảng 8.200 quân), do cố vấn Mĩ chỉ huy. được không quân Mĩ chi viện. Diễn ra đầu 8.1969 trên ba hướng: tây nam Cánh Đồng Chum. Xiêng Khoảng, Khang Khay; đường 7; đông nam Xiêng Khoảng. Sau khi lấn chiếm được Cánh Đồng Chum. Xiêng Khoảng, từ 25.10.1969 lực lượng Vàng Pao và phái hữu Lào tiếp tục lấn chiếm các khu vực xung quanh, không chế đường 7, lập tuyến ngân chặn từ Mường Kha đến Noọng Pét... Bị quân tình nguyện VN và QGP Lào phối hợp chặn đánh, vây ép, tiến công liên tục gây thiệt hại nặng, đến cuối 1.1970 lực lượng Vàng Pao và phái hữu Lào phải co vào phòng ngự bị động; 25.2 bị đánh bật ra khỏi khu vực Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Mường Sủi (x. chiến dịch Toàn Thắng, 25.10.1969-25.4.1970). HQCK kết thúc với tổn thất lớn (hơn 4.300 quân bị loại khỏi chiến đấu, trong đó 3 tiểu đoàn bị tiêu diệt và 5 tiểu đoàn thiệt hại nặng) mà không thực hiện được mục tiêu đề ra, đánh dấu thất bại bước đầu của chiến lược chiến tranh dặc biệt tăng cường của Mĩ ở Lào.

        HÀNH QUÂN DIỂU HÂU ĐÔI (A. Double Eagle. 28.1-18.2.1966), hành binh của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn tại địa bàn h. Đức Phổ và phía đông h. Ba Tơ (t. Quảng Ngãi) trong cuộc phản công chiến lược lần I (mùa khô 1965-66), nhằm lấn chiếm vùng giải phóng, giải tỏa QL 1 (đoạn Quảng Ngãi - Sa Huỳnh), tìm diệt quân chủ lực Quân khu 5 (Sư đoàn bộ binh 2). Lực lượng tham gia khoảng 8.000 quân, gồm 5 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn lính thủy đánh bộ 1 Mĩ. 5 tiểu đoàn chủ lực QĐ Sài Gòn cùng hàng trăm máy bay trực thăng, tàu chiến, xe bọc thép, pháo binh. Cuộc hành quân bắt dầu từ sáng 28.1, triển khai trên nhiều hướng, kết hợp đổ bộ đường không, đường biển và tiến công trên bộ, tập trung chủ yếu vào Đức Phổ, bị LLVT và nhân dân địa phương đánh trả quyết liệt bằng đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Sau 20 ngày càn quét không kết quả, bị tổn thất gần 1.000 quân, 28 máy bay và hàng chục xe tăng, xe bọc thép... Mĩ buộc phải chấm dứt hành quân.

        HÀNH QUÂN ĐÁ LĂN (A. Rolling Stone, 15.2-5.3.1966), hành binh càn quét của Lữ đoàn bộ binh 1 (Sư đoàn Anh cả đỏ) và 2 chi đoàn thiết giáp Mĩ (có 1 tiểu đoàn bộ binh Ôxtrâylia phối hợp) trên hướng đông bắc Sài Gòn, nhằm mở rộng kiểm soát tỉnh lộ 7, chia cắt Chiến khu Đ, bình định khu vực Nhà Đỏ - Bông Trang, Bình Mĩ, tìm diệt lực lượng chủ lực QGPMN VN. Ngay từ đầu, quân Mĩ đã bị Sư đoàn bộ binh 9 phối hợp với LLVT và nhân dân địa phương liên tục chặn đánh, đặc biệt trong trận Nhà Đỏ - Bông Trang (24.2.1966) bị đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, tiếp đó 5.3 lại bị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn ở dốc Bà Nghĩa (Thủ Dầu Một), Mĩ phải chấm dứt hành quân, không đạt mục tiêu đề ra.

        HÀNH QUÂN ĐÊM, hành quân (nghĩa 1) trong điều kiện đêm tối. HQĐ có đặc điểm: tốc độ hành quân chậm, giãn cách đội hình hành quân nhỏ, chỉ huy hiệp đồng và cảnh giới khó khăn. Để đảm bảo HQĐ thường phải điều chỉnh giao thông, đánh dấu đường chặt chẽ và thực hiện nghiêm các quy định về quản chế ánh sáng.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:39:18 PM

        HÀNH QUẢN GIANXƠN XITI (A. Junction City, 22.2-15.4.1967), hành binh quy mô lớn nhất của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trong cuộc phản công lần II (mùa khô 1966-67) vào Chiến khu Dương Minh Châu (bắc Tây Ninh), nhằm triệt phá căn cứ, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực QGPMN VN, bịt chặt biên giới VN - Campuchia, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân gồm: quân Mĩ có 31 tiểu đoàn bộ binh và dù (thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173), 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn tăng thiết giáp. 4 trung đoàn pháo binh. 6 tiểu đoàn công binh: QĐ Sài Gòn có 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân (tổng số khoảng 45.000 quân), được sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân chiến thuật, máy bay trực thăng, vận tải và hàng trăm lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Kết hợp tiến quân đường bộ, đổ bộ đường không cùng với ưu thế về hỏa lực máy bay, pháo binh, quân Mĩ và QĐ Sài Gòn liên tiếp mờ hai đợt tiến công vào căn cứ, nhưng bị đánh trả quyết liệt. Sau gần 2 tháng hành quân không đạt mục tiêu đề ra, lại bị tổn thất nặng (hơn 14.000 quân bị loại khỏi chiến đấu, mất 160 máy bay, 992 xe QS, 112 khẩu pháo...), tướng Mĩ Oetmolen phải ra lệnh chấm dứt cuộc hành quân (xt chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti. 2.2-15.4.1967).

        HÀNH QUÂN GIECPHÔ (P. Gerfaut, 12.12.1953-20.1.1954), hành binh càn quét của quân Pháp tại nam tỉnh Thái Bình nhằm thực hiện kế hoạch Nava, củng cố thế chiếm đóng ở đồng bằng Bắc Bộ. Lực lượng hành quân gồm 6 binh đoàn cơ động (GM1, GM3, GM4, GM5, GM8, GMVN), 3 tiểu đoàn khinh quân (703, 705 và 711), 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp, 1 tiểu đoàn ô tô vận tải, 8 tiểu đoàn pháo, 2 tàu chiến và 2 phi đoàn không quân. Dựa vào binh lực lớn, quân Pháp triển khai ồ ạt các mũi tiến công, dùng chiến thuật vây quét, trọng điểm là đánh phá các khu căn cứ du kích: đợt 1 (12-20.12.1953), vây quét các huyện Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải; đợt 2 (20-28.12.1953), đánh Duyên Hà, Tiên Hưng, Quỳnh Côi; đợt 3 (28.12.1953-20.1.1954), vây quét trở lại các huyện Đông Quan, Thái Ninh, Thư Trì, Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải. Trong HQG quân Pháp khai thông được các đoạn đường 10, 39, 218, giải vây một số đồn và dồn được một số dân vào khu tập trung Thân Thượng, nhưng không thực hiện được mục tiêu chính. Bị quân dân Thái Bình đánh thiệt hại nặng (mất hơn 1.800 quân, 36 xe QS và hàng trăm súng các loại), 20.1.1954 quân Pháp phải rút lui, chấm dứt cuộc càn quét dài ngày nhất ở Thái Bình.

        HÀNH QUÂN GIÓ LỐC II (P. Tourbillon, 19.2-7.3.1953), hành binh càn quét của quân Pháp vào Chiến khu Đồng Tháp Mười nhằm triệt phá căn cứ, tìm diệt lực lượng kháng chiến của ta. Lực lượng tham gia khoảng 3.000 quân, 75 xe lội nước, 29 tàu chiến, có không quân yểm trợ. Sau 17 ngày đêm càn quét không đạt kết quả, bị quân và dân Đồng Tháp Mười đánh trả quyết liệt, gây thiệt hại nặng (gần 800 quân bị diệt, 3 tàu chiến và 3 xe lội nước bị phá hủy), quân Pháp buộc phải rút lui, chấm dứt hành quân.

        HÀNH QUÂN GÔ (P. Gaur, 25.1-5.2.1946), hành binh của Pháp do tướng Lơclec* chỉ huy đánh chiếm các tỉnh Nam Trung Bộ VN. Lực lượng khoảng 15.000 quân, gồm: Binh đoàn thiết giáp Matxuy, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Marốc (RIơn), 2 tiểu đoàn của các trung đoàn bộ binh thuộc địa 21, 23 và 1 tiểu đoàn của Lữ-đoàn cơ động Viễn Đông (BMEO), phối hợp với không quân, hải quân hình thành hai gọng kìm, lấy hợp điểm là Nha Trang nhằm cứu nguy cho quân Pháp đang bị vây hãm. 25.1 một cánh từ Biên Hoà, theo đường 20 tiến công Di Linh (26.1), Đà Lạt (27.1), Phan Rang (28.1), rồi từ Phan Rang tiến lên Nha Trang, đánh xuống Phan Thiết; một cánh khác từ Buôn Ma Thuật theo đường 21 tiến xuông Mađrăc (26.1), chiếm Ninh Hoà (27.1), phối hợp với cánh quân từ Phan Rang lên, đánh chiếm tp Nha Trang (28. i). Trên đường tiến quân, quân Pháp bị các lực lượng kháng chiến VN chặn đánh ở nhiều nơi và chịu nhiều tổn thất (xt đợt tác chiến ở Nha Trang, 22.10.1945-1.2.1946). Ngày 5.2 HQG kết thúc, quân Pháp chiếm được một số thị xã, thị trấn nhưng chiến tranh du kích khắp vùng rừng núi, nông thốn Nam Trung Bộ vẫn tiếp tục phát triển.

        HÀNH QUÂN HẢI ÂU (P. Mouette, 15.10-6.11.1953), hành binh quy mô lớn của Pháp theo kế hoạch Nava do tướng Gin chỉ huy, tiến công ra tây nam Ninh Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận lớn Đại đoàn 320 và ngăn chặn Đại đoàn 304 xâm nhập vào đồng bằng Bắc Bộ. Lực lượng khoảng 40.000 quân gồm: 22 tiểu đoàn bộ binh, 9 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn xe lội nước. Mở đầu cuộc hành quân, 15.10 quân Pháp theo đường 59 đánh chiếm Rịa (để nghi binh, phối hợp, 16.10 cho 500 quân đổ bộ xuống bờ biển Thanh Hóa đốt phá rồi nhanh chóng rút lui); 22.10 từ Rịa chia làm ba mũi tiến về Nho Quan, bị các LLVTND VN liên tục chặn đánh tiêu hao nặng, phải rút lui. 25.10 quân Pháp càn quét Bỉm Sơn - Quý Hương cũng bị đánh trả quyết liệt; 2.11 hành quân lên Nho Quan lần thứ hai lại bị đánh thiệt hại nặng. 4.11 phó tổng thống Mĩ Nichxơn đến Ghềnh thị sát, khích lệ cũng không vực nổi tinh thần quân Pháp. 6.11 HQHÂ kết thúc với tổn thất nặng của Pháp (hơn 1.500 quân bị loại khỏi chiến đấu) mà không đạt mục tiêu đề ra (xt chiến dịch tây nam Ninh Bình, 15.10-6.11.1953).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:42:06 PM

        HÀNH QUÂN KẺ NGHIỀN NÁT, CÁNH TRẮNG I, CÁNH TRẮNG II (A. Masher, White Wing, 28.1-6.3.1966, các cuộc hành binh càn quét của quân Mĩ phối hợp với quân Nam Triều Tiên và QĐ Sài Gòn tại địa bàn các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ấn, An Lão (đông bắc Bình Định) nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực QGPMN VN, thực hiện kế hoạch phản công chiến lược lần I (mùa khô 1965-66). Lực lượng tham gia: 21 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh, xe tăng (20.000 quân) thuộc Sư đoàn kị binh không vận 1 Mĩ, Sư đoàn 22 QĐ Sài Gòn và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên. Cuộc hành quân Kẻ nghiền nát (Masher) bắt đầu từ 28.1, đánh ra Bồng Sơn, trọng điểm là khu vực Chợ Cát (h. Hoài Nhơn); cuộc hành quân Cánh Trắng I (White Wing I) bắt đầu từ 7.2 đánh vào An Lão; cuộc hành quân Cánh trắng II (White Wing II) bắt đầu từ 14.2 đánh vào thung lũng Kim Sơn (h. Hoài Ấn), đều bị các đơn vị QGP thuộc Sư đoàn bộ binh 3 (Quân khu 5) phối hợp với LLVT và nhân dân địa phương tổ chức chặn đánh quyết liệt (xt đánh thắng cuộc phản công chiến lược 1 của Mĩ, mùa khô 1965-66). Sau 40 ngày đêm liên tiếp mở ba cuộc hành quân càn quét quy mô lớn (là mũi phản công chính trong kế hoạch phản công chiến lược lần I mùa khô 1965-66) bị thiệt hại nặng (mất gần 8.000 quân, 300 máy bay, 70 xe QS...), Mĩ buộc phải chấm dứt hành quân.
   
        HÀNH QUÂN LAINƠBÊCHCƠ I nh CHIẾN DỊCH LAINƠBÊCHCƠ I (6.4-22.10.1972)

        HÀNH QUÂN LAỈNƠBÊCHCƠ II nh CHIÊN DỊCH LAINƠBÊCHCƠ II (18-29.12.1972)

        HÀNH QUÂN LAM SƠN 207 nh HÀNH QUÂN NGỰA BAY (1.4-7.5.1968)

        HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 (30.1-23.3.1971), hành binh của QĐ Sài Gòn được sự chi viện, yểm trợ hỏa lực của Mĩ và sự phối hợp của QĐ phái hữu Lào, tại khu vực đường 9 - Nam Lào (thuộc t. Quảng Trị của VN và t. Xavannakhẹt của Lào) nhâm triệt phá căn cứ hậu cần của QGPMN VN, cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược từ miền Bắc vào miền Nam VN, nâng cao khả năng tác chiến của QĐ Sài Gòn thay thế cho quân Mĩ rút dần về nước. Lực lượng huy động lúc cao nhất tới 55.000 quân (QĐ Sài Gòn: 40.000; quân Mĩ; 15.000), gồm 15 trung đoàn và lữ đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp (578 xe tăng và xe bọc thép), 21 tiểu đoàn pháo binh, 1.000 máy bay; quân phái hữu Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh thuộc 2 binh đoàn (GM30, GM33). Sau khi tiến hành các hoạt động nghi binh, triển khai lực lượng (30.1-7.2), từ 8.2 QĐ Sài Gòn bắt đầu tiến công, kết hợp tiến quân theo đường bộ với đổ bộ đường không, dựa vào ưu thế về binh lực và hỏa lực chiếm Bản Đông và một số điếm cao ở nam, bắc đường 9, nhưng không phát triển được lên Sê Pôn như kế hoạch đã định. Bị QGPMN VN phối hợp với lực lượng CM Lào liên tục chặn đánh, bao vây tiêu diệt từng bộ phận, từ 18.3 QĐ Sài Gòn phải rút chạy, chấm dứt cuộc hành quân mà không đạt mục tiêu đề ra, bị tổn thất nặng với hơn 21.000 quân bị thương vong, 556 máy bay bị bắn rơi; hơn 100 xe QS bị phá hủy... (x. chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, 30.1-23.3.1971). Thất bại của HQLS719 chứng tỏ sự suy yếu của QĐ Sài Gòn, báo hiệu sự phá sản không tránh khỏi của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ.

        HÀNH QUÂN MĂNGĐARIN (P. Mandarine, 30.9- 8.10.1951), hành binh càn quét quy mô lớn nhất của quân Pháp tại Thái Bình nhằm đánh phá căn cứ du kích Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân ở nam Sông Luộc, tìm diệt bộ đội chủ lực (Trung đoàn 42) và cơ quan lãnh đạo kháng chiến của ta. Lực lượng hành quân gồm 4 binh đoàn cơ động (GM1, GM3, GM4, GM7), 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo cùng nhiều xe tăng, tàu thuyền, máy bay (khoảng 10.000 quân). Sáng 30.9 quân Pháp triển khai bao vây, tiến công từ nhiều hướng đường bộ và đường thủy, dùng chiến thuật “vây quét, cất vó”, tập trung phi pháo triệt hạ những nơi nghi có bộ đội. du kích ẩn nấp, chống cự. Sau 10 ngày càn quét, bị đánh trả quyết liệt, quân Pháp tuy chiếm đóng lại được khu căn cứ, nhưng bị diệt hơn 1 tiểu đoàn quân cơ động, không thực hiện được mục tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến của ta.

        HÀNH QUÂN MŨI TÊN XUYÊN (A. Pierce Arrow, 5.8.1964), cuộc tập kích đường không đầu tiên của Mĩ vào miền Bắc VN với 64 lần chiếc máy bay xuất phát từ hai tàu sân bay Conxtêlâysân và Taicơnđơrôgơ đánh phá 4 căn cứ hải quân: Cửa Hội (tp Vinh), Sông Gianh (Quảng Bình), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh) và kho dầu ở Vinh (Nghệ An). Mục đích: đánh đòn bất ngờ, gây thiệt hại. uy hiếp và làm lung lạc ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam của quân và dân VN; nâng đỡ tinh thần đang suy sụp của QĐ và chính quyền Sài Gòn, phô trương sức mạnh QS của Mĩ. Với tinh thần cảnh giác cao, được chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, bộ đội phòng không, hải quân và LLVT các địa phương trên đã anh dũng đánh trả, bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương một chiếc, lần đầu tiên bắt sống phi công Mĩ (trung úy Anvaret) ở miền Bắc VN. Đây là thất bại lớn, bất ngờ của không quân, hải quân Mĩ, đồng thời là chiến thắng đầu tiên có ý nghĩa quan trọng về chính trị và QS của quân và dân VN trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ (xt sự kiện Vịnh Bắc Bộ, 8.1964; trận chiến đấu phòng không, 5.8.1964).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:44:01 PM

        HÀNH QUÂN NGỰA BAY (A. Pegasus, 1.4-7.5.1968), hành binh phản kích của Sư đoàn kị binh không vận số 1 Mĩ và Chiến đoàn dù 3 QĐ Sài Gòn nhằm giải tỏa cho cứ điểm Tà Cơn, chuẩn bị điều kiện rút dần lực lượng khỏi Khe Sanh, tránh bị QGPMN bao vây, tiêu diệt. Với ưu thế về hỏa lực không quân, pháo binh, quân Mĩ và QĐ Sài Gòn giành được một số điểm ở ngoại vi phía đông và nam Tà Cơn, nhưng sau đó bị QGP liên tục tập kích và áp dụng chiến thuật chốt chặn kết hợp vận động tiến công đẩy lùi. Sau gần 1 tháng hành quân không đạt kết quả và bị đánh thiệt hại nặng, từ 25.4 đến 7.5, quân Mĩ và QĐ Sài Gòn phải rút dần lực lượng, chấm dứt hành quân (xt chiến dịch Đường, 9 - Khe Sanh, 20.1-15.7.1968). Cg hành quân Lam Sơn 207 (1.4-7.5.1968).

        HÀNH QUÂN NGƯỜI LIẾU MẠNG nh CHIẾN DỊCH GIÓ LỚN (29-30.4.1975)

        HÀNH QUÂN NHÀ LÁ (2.1952), hành binh càn quét của quân Pháp vào Chiến khu Dương Minh Châu nhằm triệt phá căn cứ, tìm diệt lực lượng và cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Đầu 2.1952 Pháp tập trung quân ở khu vực Suối Đá -  Dầu Tiếng chuẩn bị càn quét, bị Tiểu đoàn 304 phối hợp với đội biệt động Dầu Tiếng bất ngờ tập kích vào SCH, diệt một số sĩ quan, trong đó có trung tá tham mưu trưởng hành quân. HQNL bị thất bại ngay từ căn cứ xuất phát.

        HÀNH QUÂN PHRANXIT MARION (A. Francis Marion, 4-10.1967), hành binh càn quét của Sư đoàn bộ binh 4 Mĩ tại thung lũng la Đrăng (t. Gia Lai) nhằm kiểm soát tuyến biên giới VN - Campuchia, giữ vững an ninh cho các căn cứ, thị xã và trục đường giao thông chiến lược, thực hiện kế hoạch tìm diệt và ngăn chặn các cuộc tiến công của QGPMN VN trên chiến trường Tây Nguyên. Trong HQPM quân Mĩ liên tiếp bị bộ đội chủ lực Tây Nguyên và LLVT Gia Lai chặn đánh quyết liệt, gây nhiều tổn thất (riêng Đại đội B, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 8 của Mĩ đã có 60 lính bị thương vong), 10.1967 Mĩ buộc phải chấm dứt hành quân, không đạt được mục tiêu đề ra.

        HÀNH QUÂN PÔN RIVƠ IV (A. Paul Rivere, 23.10-6.12.1966), hành binh phản kích của Sư đoàn bộ binh 4 Mĩ nhằm ngăn chặn hoạt động tiến công của lực lượng chủ lực QGPMN VN ở khu vực Sa Thầy (t. Kon Tum), bảo vệ cứ điểm Plây Girăng và cửa ngõ phía tày Plây Cu. Được máy bay (có B-52), pháo binh chi viện, 23.10 Sư đoàn bộ binh 4 triển khai hành quân, đổ bộ Lữ đoàn 3 và 1 đại đội biệt kích xuống bờ tây sông Pô Cô. 11.11 đưa Lữ đoàn 2 lùng sục khu vực sát biên giới VN - Campuchia, chiếm cụm đồi Cl. nhưng đều rơi vào thế trận chờ sẵn của QGP và bị đánh thiệt hại nặng. 16- 28.11 được tăng cường thêm Lữ đoàn 2 (Sư đoàn kị binh không vận 1), quân Mĩ tiếp tục tiến hành phản kích trên địa bàn rộng gần 400km2, bị QGP chặn đánh quyết liệt, phải rút khỏi Sa Thầy về phía đông Pô Cô, 6.12 chấm dứt hành quân sau khi 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 2 (Sư đoàn kị binh không vận 1) đổ bộ xuống Cà Đin, bị đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn (x. chiến dịch Sa Thầy, 18.10-6.12.1966).

        HÀNH QUÂN RA BẮC LẦN I CỦA NGUYỄN HUỆ (1786), cuộc tiến quân của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy nhằm lật đổ thế lực phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài, trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Sau thắng lợi trận Phú Xuân (6.1786), Nguyễn Huệ quyết định tiến quân ra Bắc dưới khẩu hiệu “phù Lê, diệt Trịnh”. 11.7 đạo quân tiên phong (400 thuyền chiến) do Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ huy vượt biển đánh chiếm Vị Hoàng (Nam Định), tạo bàn đạp cho đạo quân chủ lực của Nguyễn Huệ nhanh chóng tiến ra hợp binh đánh tan quân Trịnh ở Sơn Nam (đêm 18, rạng 19.7). Được nhân dân ủng hộ và bằng thế áp đảo, quân Tây Sơn thần tốc tiến về Thăng Long, đè bẹp mọi sự kháng cự của quân Trịnh ở bến Thúy Ái, hồ Vạn Xuân và bến Tây Long (Hà Nội), buộc Trịnh Khải phải trốn chạy và bị bắt ở Hạ Lôi (Vĩnh Phúc). Thăng Long được giải phóng (21.7), Nguyễn Huệ giao chính quyền cho vua Lê và nhận sắc phong “nguyên soái phủ chính dực vũ uy quốc công”, ban chiếu “nhất thống đất nước”, ổn định lại trật tự xã hội, đến đầu 9.1786 rút quân về Nam theo lệnh của Nguyễn Nhạc. HQRBLICNH đã lật đổ tập đoàn phong kiến họ Trịnh, xóa bỏ ranh giới phân chia Bắc - Nam, đặt cơ sở cho sự thống nhất đất nước.

        HÀNH QUÂN RA BẮC LẦN II CỦA NGUYÊN HUỆ (1788), cuộc tiến quân của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy diệt Vũ Văn Nhậm và các thế lực phản động ở Bắc Hà (miền Bắc VN), trong khởi nghĩa Tây Sơn (1771-89). Tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm sau khi diệt Nguyền Hữu Chỉnh, trở nên lộng quyền, gây tình hình rối loạn ở Bắc Hà. trong khi đó các thế lực của Lê Chiêu Thống vẫn tìm cách chống Tây Sơn. Được Ngô Văn Sở mật báo, 5.1788 Nguyễn Huệ thân chinh cầm quân (kị binh và bộ binh) từ Phú Xuân (Huế) đi gấp trong mười ngày đêm tới Thăng Long (Hà Nội), vào thẳng dinh Vũ Văn Nhậm lúc canh tư. Diệt xong Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Huệ nhanh chóng ổn định tình hình, trao quyền bính ở Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, cử tướng trấn giữ các vùng hiểm yếu, trọng dụng và phong quan tước cho các cựu thần nhà Lê ở lại giúp Ngô Văn Sở như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích..., đến 6.1788 rút quân về Phú Xuân. Từ đây Bắc Hà thuộc quyền cai quản của Nguyễn Huệ, góp phần củng cổ thể lực của nghĩa quân Tây Sơn trên cả nước, chuẩn bị cho kháng chiến chống Thanh (1788-89).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:45:29 PM

        HÀNH QUÂN TÂY KHÁNH, BẮC NINH (10.1959), hành binh càn quét của 6 tiểu đoàn chủ lực và bảo an QĐ Sài Gòn vào Chiến khu Bác Ái (t. Ninh Thuận) nhằm thực hiện chính sách “tát nước bắt cá”, dồn dân trở lại khu tập trung, tìm diệt du kích, đánh phá phong trào CM. Cuộc hành quân vấp phải sự chống trả quyết liệt của LLVT và nhân dân Bác Ái. Do có ưu thế về binh lực, hỏa lực, sau hơn 1 tháng càn quét, QĐ Sài Gòn đã dồn ép một số dân (chủ yếu là người già. trẻ em) về khu tập trung Ma Tí, Tà Lú, đồng thời lập các đồn Ma Ti, Tà Lú, Suối Đầu.

        HÀNH QUÂN TOÀN THẮNG 1-71 (4.2-31.5.1971), hành binh của QĐ Sài Gòn và quân Lon Non (Campuchia) được không quân Mĩ yểm trợ nhằm tìm diệt lực lượng chủ lực QGPMN VN, phá hủy kho tàng, căn cứ CM, giải tỏa đường 7 và lập phòng tuyến ngăn chặn hành lang kháng chiến ở khu vực đông bắc Campuchia, phối hợp với cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30.1-23.3.1971) đang triển khai ở khu vực đường 9 -  Nam Lào. Lực lượng tham gia gồm: QĐ Sài Gòn có 34 tiểu đoàn bộ binh, 5 trung đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo (thuộc các quân đoàn 2 và 3), tổ chức thành 9 chiến đoàn (khoảng 23.000 quân); quân Lon Non có 5 tiểu đoàn; Mĩ có 15 phi đoàn không quân. Cuộc hành quân đã bị QGPMN VN phối hợp với LLVT CM Campuchia đánh trả quyết liệt, sau gần 4 tháng tiến quân không đạt mục đích đề ra, bị tổn thất hàng nghìn quân cùng số lượng lớn máy bay, xe tăng, pháo binh.... Mĩ và chính quyền Sài Gòn buộc phải rút quân, đánh dấu sự phá sản của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và âm mưu mở rộng chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương (xt chiến dịch đông bắc Campuchia, 4.2-31.5.1971).

        HÀNH QUÂN TÔNNÔ (P. Tonneau, 8.2-10.3.1950), hành binh càn quét của quân Pháp thực hiện kế hoạch Rơve nhằm đánh chiếm tỉnh Thái Bình, tìm diệt bộ đội chủ lực (Trung đoàn 42), hoàn thành việc chiếm đóng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lực lượng hành quân khoảng 5.000 quân (thuộc các binh đoàn kị binh lê duơng, cơ động Bắc Phi), 2 tàu chiến, 4 ca nô, 18 xe lội nước, có không quân, pháo binh yểm trợ. Sáng 8.2 quân Pháp triển khai 7 mũi tiến công, từ Hưng Yên đánh sang, từ Hải Dương, Kiến An đánh xuống, Nam Định đánh lên; sau khi chiếm tx Thái Bình, 11.2 tập trung đánh chiếm các huyện bắc đường 10, từ 3.3 đánh chiếm các huyện nam đường 10. Bị chặn đánh quyết liệt, tổn thất gần 1.000 quân, kế hoạch càn quét dự kiến 10 ngày phải kéo dài hơn 1 tháng; với ưu thế về binh lực và hóa lực, Pháp thiết lập được hệ thống chiếm đóng ở Thái Bình, nhưng không tiêu diệt được bộ đội chủ lực và phong trào kháng chiến ở đây.

        HÀNH QUÂN TUYLIP VÀ LÔTUYT (P. Tulipe, Lotus, 11.1951), hai cuộc hành binh càn quét của quân Pháp nhằm đánh chiếm khu vục Chợ Bến và tx Hoà Bình, thiết lập tuyến phòng thủ cửa ngõ phía tây đồng bằng Bắc Bộ, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ. 9.11 Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích (21 và 22) mở cuộc hành quân Tuylip đánh vào khu vực Chợ Bến, sau 2 ngày kiểm soát được tuyến đường 21 từ Chợ Bến đi Xuân Mai. 14.11 được tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4 và GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh. 1 tiểu đoàn và 2 đại đội xe tăng, thiết giáp, quân Pháp tiếp tục mở cuộc hành quân Lôtuyt đánh chiếm tx Hoà Bình. Bị các đơn vị vũ trang ta chặn đánh quyết liệt, nhưng do có ưu thế về khả năng cơ động, hỏa lực mạnh, 15.11 quân Pháp chiếm đóng được các vị trí thời chốt ở khu vực Hoà Bình, đường 6, Sông Đà - Ba Vì.

        HÀNH QUÂN VÊGA (P. Véga, 14-18.2.1948), hành binh càn quét quy mô lớn nhất của quân Pháp ở Nam Bộ trong chiến tranh xâm lược VN (1945-54), nhằm tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ quan lãnh đạo kháng chiến tại Chiến khu Đồng Tháp Mười. Lực lượng hành quân gồm: 11 tiểu đoàn (có 2 tiểu đoàn dù), 4 đội tàu đổ bộ, 1 đại đội công binh, 3 đại đội xe bọc thép, 2 tiểu đoàn xe lội nước bánh xích, 9 pháo 105mm, 13 máy bay. Do địa hình đầm lầy phức tạp, không phát huy được ưu thế về binh lực và hỏa lực, bị LLVT Khu 7 dùng cách đánh du kích đánh trả quyết liệt gây thiệt hại nạng, quân Pháp buộc phải rút lui sau 4 ngày hành quân không đạt kết quả (X. trận Đồng Tháp Mười, 14-18.2.1948).

        HÀNH QUÂN XCÔTLEN II (A. Scotland, 6.1968), hành binh phản kích của Sư đoàn lính thủy đánh bộ 3 Mĩ giải tỏa sức ép bao vây của QGPMN VN, để rút quân khỏi cứ điểm Tà Cơn (h. Hương Hóa, t. Quảng Trị). 1.6 quân Mĩ triển khai hành quân, đánh ra các khu vực Tà Ri, Tà Quang, Húc Cốc Giang, Pa Trang, đồng thời lập thêm các chốt bảo vệ ở phía đông và nam đường 9, bị QGP đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn ở Húc Cốc Giang và bị kiềm chế tiêu hao lực lượng ở các điểm cao 832, 845 và 689. Không thực hiện được mục đích, Mì buộc phải chấm dứt hành quân, co về giữ các vị trí ở đông đường 9, nam Tà Cơn, Đông Hà, Cửa Việt, đến 26.6 tướng Mĩ Oetmolen phải ra lệnh rút bỏ Khe Sanh (xt chiến dịch Đường 9 -Khe Sanh, 20.1-15:7.1968).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:46:42 PM

        HÀNH QUÂN XÍCH, hành quân (nghĩa 1) được thực hiện bằng chính động lực của xe xích. Thường tiến hành ở cự li ngắn và khi không có điều kiện vận chuyển bằng các phương tiện khác. HQX do các phân đội (binh đội) tự tổ chức chi huy và bảo đảm. Trong KCCM có trường hợp đơn vị xe tăng của ta đã HQX trên 1.000km từ miền Bắc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ tạo bất ngờ lớn trong cuộc tiến công đập tan hệ thống phòng thủ khu vực Sài Gòn của địch.

        HÀNH QUÂN XIĐA PHÔN (A. Cedar Falls, 8-26.1.1967), hành binh của quân Mĩ và QĐ Sài Gòn trong cuộc phản công chiến lược lần II (mùa khô 1966-67) đánh vào vùng tam giác sắt. nhằm triệt phá căn cứ, tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng hành quân gồm: Sư đoàn bộ binh 1, 2 lữ đoàn thuộc các sư đoàn bộ binh 4 và 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp 11 của Mĩ; một bộ phận Sư đoàn bộ binh 5 QĐ Sài Gòn, một số quân Niu Dilân, với hơn 100 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, 80 tàu xuồng chiến đấu, 1.300 lần chiếc máy bay chiến thuật và 72 lần chiếc máy bay B-52. Trong quá trình hành quân, Mĩ sử dụng máy bay ném bom, bắn pháo phát quang địa hình, tổ chức lực lượng thành nhiều mũi kết hợp với đổ bộ đường không bao vây, càn quét đánh chiếm các khu vực Gò Dầu Hạ, Dầu Tiếng, Bảo Đồn, Thới Hoà, rừng Thanh Điển, tiến sâu vào vùng căn cứ, dùng máy ủi, bơm nước, phun hơi độc hòng phá hệ thống địa đạo Củ Chi. Bị các LLVT ta kiên cường bám trụ, đánh trả quyết liệt, bẻ gãy nhiều mũi tiến công, loại khỏi chiến đấu 3.000 quân, phà hủy 149 xe QS, bắn rơi 26 máy bay..., buộc Mĩ phải chấm dứt cuộc hành quân.

        HÀNH TRÌNH DỰ TRỮ, quãng đường dài nhất (tính bằng kilômét) mà phương tiện cơ động (tàu thuyền, xe, máy...) đạt được khi dùng hết lượng nhiên liệu của một lần nạp theo tiêu chuẩn. Phụ thuộc vào tổng dung tích các bình chứa của hệ thống nhiên liệu, chất lượng nhiên liệu nạp, suất tiêu hao nhiên liệu của động cơ, chế độ làm việc của phương tiện... HTDT là một trong các chỉ tiêu chiến - kĩ thuật quan trọng của các phương tiện cơ động trong QS, để xác định bán kính hoạt động của phương tiện hoặc tính toán hành quân. Để tăng HTDT có thể dùng các thùng nhiên liệu phụ.

        HANIBAN (Barca Hannibal; 247-183tcn), danh tướng và nhà chính trị Cactagiơ. Năm 225tcn chỉ huy kị binh Cactagiơ chiến đấu ở Tây Ban Nha và trở thành tổng chỉ huy QĐ (221 tcn). Trong thời gian chuẩn bị và tiến hành chiến tranh Punich lần II (218-201tcn), H đã liên minh các bộ lạc chống La Mã, tổ chức và chỉ huy cuộc hành quân chưa từng có trong lịch sử cổ đại, xa 1.600km trong tháng rưỡi vượt dãy Anpơ, xuất hiện bất ngờ ở bắc Italia, đánh thắng liền hai trận ở Tetxin và Trêbi (218tcn), tiếp đó thắng trận hồ Traximen (6.217tcn), đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật cầm quân trong trận Can (2.8.216tcn). Năm 202tcn bị quân La Mã đánh bại tại Dama trên đất Cactagiơ ở Bắc Phi (x. trận Dama, 19.10.202tcn), chạy trốn sang phía đông, tự sát tại Bithinia (Thổ Nhĩ Kì).

        HÀO, công sự hẹp, sâu và dài. Theo công dụng, có: H chiến đấu (chiến hào), H ẩn nấp, hào giao thông, H lấn, H làm vật cản. H chiến đấu dài và hẹp, sâu khoảng 1,1-1,2m, có đắp đất ở một hoặc hai phía thành H, có các vị trí bắn, thường đào trong trận địa, dọc theo chính diện, hình uốn khúc hoặc gẫy khúc, dùng cho bộ binh bắn, quan sát, ấn nấp và cơ động. H ấn nấp dài khoảng 2-3m. thường nối trực tiếp với H chiến đấu. H giao thông hoặc làm ngay bên cạnh công sự chiến dấu, có thể có hoặc không có lớp bảo vệ phía trên (nắp). H lấn được đào tiến dần đến sát địch đê vây ép cứ điếm (điểm tựa, cụm điểm tựa) của địch. H làm vật cản (H chống tăng, H chống bộ binh...) có mặt cắt hình thang hoặc hình tam giác, còn có thể chứa nước và cắm chõng để tăng thêm hiệu quả chống địch.

        HÀO GIAO THÔNG, hào hẹp, sâu và dài dưới mặt đất, nối liền các công sự, trận địa chiến đấu với nhau và với tuyến bảo đảm phía sau; dùng để cơ động, bảo đảm chiến đấu, ẩn nấp, phòng tránh, hạn chế sát thương cho người và vũ khí. ở các trận địa chiến đấu. HGT còn tạo thuận lợi cho bộ đội khi phản kích và xuất phát tiến công. HGT thường được đào chếch với chính diện. Mặt bằng dạng uốn khúc hoặc gãy khúc, mặt cát ngang hào hình thang, đáy rộng 0,4-0,5m, miệng rộng 0,9- l,2m. sâu l,l-1.4m. Phần đất đắp miệng hào cao 0,3-0,4m. Tuỳ theo địa hình thường cách 15-20m có một góc ngoặt lớn hơn 90° và nhỏ hơn 120°. Trên trục hào cứ 20-30m bố trí một đoạn hào lát nóc dài từ 3-5m, một số hầm ếch để ẩn nấp, các đoạn hào tránh và bậc lên xuống đê tiện cơ động. ở các đoạn hào quan trọng còn thiết bị thêm các vị trí bắn hoặc chướng ngại để ngăn chặn và tiêu diệt địch tràn vào trận địa. Ngoài ra còn có HGT ngầm cho các lô cốt cố thủ và hầm chỉ huy ở các điếm tựa, chốt... quan trọng. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 ở khu Mường Thanh, bộ đội ta đã dào tới 200km hào chiến đấu và HGT, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 01:25:25 PM

        HAOAI, quần đảo ở trung tâm Thái Bình Dương, bang của Mĩ từ 1959. Dt 16.700km2; ds 1,2 triệu người (2000); thủ phủ: Honolulu. Gồm 24 đảo (Haoai, Maui, Molocai, Oahu, Cauai...), chủ yếu là các đảo núi lửa. Những núi lửa đang hoạt động: Maune. Kilauda. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. nhiệt độ trung bình 18°-28°C, lượng mưa trung bình hàng năm 3.500- 12.500mm. Mạng sông ngòi chỉ có ở các đảo lớn. Rừng nhiệt đới ẩm, đồng cỏ. đồn điền mía. dứa... Trung tâm du lịch, đầu mối giao thông quan trọng ở vùng bắc Thái Bình Dương. Trên đảo Oahu có các căn cứ hải quân và không quân Mĩ: Trân Châu Cảng, Hicam.

        HARIƠ (A. Harrier), máy bay cất hạ cánh thẳng đứng đầu tiên trên thế giới do hãng Britit Aerôxpây (Anh) chế tạo. Mẫu đầu tiên bay thứ 8.1966. Đưa vào trang bị cho không quân Anh 1969. Có các mẫu MK-1 (Mĩ gọi là AV-8A), MK-2 (Mĩ gọi AV-8B). FRS1 Xi Hariơ... Có động cơ gắn trên giá quay được trong mặt phẳng thẳng đứng, bảo đảm cất hạ cánh thẳng đứng hoặc cự li ngắn (thường dùng phương thức cất cánh cự li ngắn, hạ cánh thẳng đứng), có thể tiếp dầu trên không. Dài 13,87- 14,12m, cao 3,43-3,55m, sải cánh 7,7-9,25m, một người lái. Khối lượng cất cánh tối đa 11.339-14.061kg, tốc độ tối đa 1.186-1.200km/h, trần bay thực tế 15.240m, bán kính hoạt động lớn nhất 3.700-4.600km. Có thể mang tên lửa Xaiuyndơ AIM-9L hoặc Maveric AGM-65, pháo 30mm, bom phá 500 bảng (250kg), bom chùm, bom cháy, bom có điều khiến bằng lade, rôckét... với khối lượng vũ khí tối đa 2.268kg. Trang bị điện từ: rađa cảnh giới ALR-67, máy phát nhiễu AN/ALQ-164, bộ rải nhiễu thụ động ALE-39... H còn được trang b| cho hải quân và hải quân đánh bộ. Được xuất khẩu sang Mĩ, Đức, TQ, Tây Ban Nha... Đã sử dụng trong chiến tranh Manvinat (1982) và chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66830336_451058618957357_2266532552237907968_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlwbeybxLaWi70j3wEjt4pBcj_TAdiagTiOT3tmlh9Ucxw2Qjc5ZsYvJMpkph-hnWY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=5b66468c3f86e4b704550276ab051a69&oe=5DA69B6B)


        “HÁT MÃI KHÚC QUÂN HÀNH”, hành khúc của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền sáng tác 1984. “HMKQH” nói lên niềm tụ hào, tình cám cao đẹp của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Cấu trúc gọn gàng, lời ca giản dị có sức cổ vũ, dộng viên mọi người. Được giải nhất tại cuộc thi ca khúc về đề tài người chiến sĩ do TCCT QĐND VN phát động 1984.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66595973_451058625624023_7105318531264151552_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQkz_kvvtqHKyFc3ll6ybE6paRSVPYQ5efRYxmW-SPyTh3u-vOSZqNaOIMxHEP8fw08&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8f8a908e8fd9ad7ffc806b1d95b8d5c4&oe=5DA919D2)


        HẠT LỬA, phương tiện gáy cháy nhạy cảm với xung kích thích ở dạng cơ hay nhiệt để phát ra tia lửa làm cháy các phần từ tiếp theo của mạch nổ hoặc gây nổ kíp nổ. Có HL mồi cháy và HL mồi nổ. HL thường có dạng một cốc nhỏ bằng kim loại, bên trong chứa lượng nhỏ thuốc nổ mồi và các chất phụ gia (vd: phuminat thủy ngân, clorat kali, antimon, nitrat bari...) tao thành một hỗn hợp nhạy với va đập hoặc nhiệt, phía trên có nắp đậy bằng kim loại hoặc phi kim loại. Được dùng trong ngòi, trong các bộ lửa của đạn pháo, đạn súng bộ binh...

        HẮC HẢI nh BIỂN ĐEN 

        HẮC LONG GIANG nh AMUA

        HĂMBUỐC, thành phố, cảng lớn nhất của Đức, ở hạ lưu sông Enbơ, cách cửa sông 102km. Dt 800km2; ds khoảng 1,7 triệu người. Công nghiệp chế tạo máy, thực phẩm, hóa chất, luyện kim màu, có đường tàu điện ngầm, trường đại học tổng hợp. Cảng bao gồm tám khu vực, vùng nước, bến đậu, cầu tàu. Chiều dài toàn bộ các cầu cảng đến 100km, sâu 16m. Có xí nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu, đốc cạn và đốc nổi, bảo đảm sửa chữa được các loại tàu chiến và tàu thường. Lượng vận chuyển hàng của cảng: 53,7 triệu tán/năm.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 01:27:31 PM

        HẰNG HÀ nh SÔNG HẰNG

        HĂNGRI MACTANH (P. Henri Martin; s. 1927), chiến sĩ quốc tế chống chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương (1946-54). Công nhân xưởng đóng tàu Tulông; đv ĐCS Pháp (1944). Năm 1942 làm liên lạc cho phong trào kháng chiến Pháp. 1943 tham gia du kích chống phát xít. Cuối CTTG-II, tình nguyện sang Đông Dương đánh Nhật. 1947 về nước. 1949   HM tổ chức và lãnh đạo nhóm thanh niên Pháp ở Tulông cùng viết và rải truyền đơn chống chiến tranh xâm lược Đồng Dương, kêu gọi binh sĩ Pháp phản chiến, vận động công nhân không chuyên chờ vũ khí và quân dụng xuống tàu sang VN. 1950 bị bắt và đưa ra xét xứ tại tòa án Tulông. HM đã biến phiên tòa thành diễn đàn tố cáo sự lừa dối của chính phú Pháp, vạch trần tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do nhà cầm quyền Pháp tiến hành tại Đông Dương. HM bị kết án 5 năm tù. Hoạt động của HM đã đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp chống chiến tranh xâm lược VN, vì hòa bình. Do các tầng lớp nhân dân Pháp kiên trì đấu tranh, nhà cầm quyền Pháp buộc phải thả HM trước thời hạn 19 tháng.

        HĂNGRI RI VIE (P. Henri Rivière; 1827-83), sĩ quan chỉ huy quân Pháp tại VN (1882-83). Tốt nghiệp trường hải quân (1849). Năm 1880 tham gia dẹp cuộc nổi dậy ở Niu Calêđôni. 1882 đại tá. 25.3.1882 HR rời Sài Gòn với 2 tàu chiến và khoảng 300 quân tiến ra miền Bắc VN với danh nghĩa “bảo vệ tính mạng và việc kinh doanh của người Pháp”, thực chất là mở rộng xâm lược. 25.4.1882 được sự chi viện của 3 tàu chiến điều từ biển vào, HR đã chỉ huy đánh chiếm thành Hà Nội, sau đó đặt điều kiện đàm phán với nhà Nguyễn buộc nước VN nhận sự “bảo hộ” của nước Pháp. Được tăng thêm quân. 3.1883 HR chỉ huy đánh chiếm vùng mỏ Hòn Gai, thành Nam Định. 19.5.1883 bị quân triều đình nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen phục kích và giết tại Cầu Giấy (xt trận Cấu Giấy, 19.5.1883).

        HẦM. công sự phòng tránh có nấp (lớp bảo vệ) dày, thường làm ngầm dưới đất, nửa nổi nửa chìm hoặc trong lòng núi để bảo vệ người hoặc cất giấu phương tiện vật chất hoặc để bảo đảm an toàn cho các hoạt động chiến đấu.

        HẦM ẨN NẤP. hầm đế bảo vệ người chống được mảnh đạn, bom.

        HẦM BÍ MẬT, hầm đào ngầm dưới mặt đất (trong lòng đất) ở vị trí kín đáo và được ngụy trang khéo léo, khó phát hiện dùng để trú ẩn cho người hoặc cất giấu vũ khí, vật chất nhiều
ngày. HBM đã được sử dụng trong KCCP và KCCM ở vùng địch tạm chiếm, vùng tranh chấp.

        HẨM CHỈ HUY, công sự chiến đấu sử dụng cho cơ quan chỉ huy  các cấp, có quy mô khác nhau tùy theo cấp chỉ huy và yêu cầu tác chiến. Hầm được xây dựng vững chắc, có phương tiện bảo đảm cho việc chỉ huy tác chiến liên tục. Theo điều kiện chuẩn bị chiến trường, HCH được xây dựng theo hình thức dã chiến hoặc lâu bền.

        HẦM CHÔNG, hô đào sâu, bén trong bố trí chông, nắp che phủ, được ngụy trang kĩ, để sát thương sinh lực đối phương (khi giẫm phải nắp, sập xuống hố, chông xuyên vào chân, bụng...). Trong HC có thể đặt chông sào, chông trục quay, chông cánh cửa, chông kẹp nách, chông thò, chông cần cổ... HC được người VN dùng từ thời cổ để bẫy thú dữ và chống giặc ngoại xâm. Trong KCCP và KCCM, HC được nhân dân và LLVT địa phương sử dụng rộng rãi; thường bố trí kết hợp với mìn hoặc trận địa mìn đánh địch có hiệu quả.

        HẨM CHỮ A, hầm ẩn nấp, có tiết diện tam giác cân, góc đỉnh khoảng 50°, khung thường bằng tre, gỗ hoặc sắt giống như vì kèo nhà hai mái. HCA có thể làm chìm hoặc nửa chìm nửa nổi, có lớp bảo vệ bằng đất hoặc đất trộn lẫn rơm, rạ, cỏ... HCA kết cấu đơn giản, chịu lực tốt, dễ làm, dễ tháo dỡ, tiện ứng dụng trong điều kiện dã chiến, được sử dụng rộng rãi cho LLVT và nhân dân trong KCCP và KCCM. Cg hầm kèo.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66459512_451058645624021_4303669320648491008_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnFBs4yB3MwaIG4YQExdxscOPjAq3zZ1zDU3Z5jX8tCsFF_BvWMyER-IwXbp_UPMX4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=402d60788ba3ee177a71e5b12975e8bf&oe=5DB40751)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 01:29:35 PM

        HẦM CÒI, hầm hình giống cái còi đào thông với hào chiến đấu, đầu hầm bố trí một vọng quan sát hoặc một hỏa điểm bí mật. Ở các trận địa phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với địch, HC có tác dụng phát huy hỏa lực đánh địch trước tiền duyên một cách bí mật, bất ngờ và hiệu quả.

        HẨM ẾCH, hầm dạng hốc nhỏ ở vách taluy đường, hào giao thỏng, hào chiến đấu... đủ cho một người cùng trang bị cá nhân ẩn nấp, nhằm hạn chế sát thương do hỏa lực bộ binh hoặc mảnh văng của bom, đạn pháo, cối khi cơ động phòng tránh và chiến đấu. HÊ có hình dáng kiểu vòm; cao l-l,2m, rộng 0,6-0,7m, sâu vào trong vách đất đá 0,5-0,6m. Được đào bằng cuốc, xẻng bộ binh và các dụng cụ sẵn có; gián cách giữa các HÊ thường từ 3 đến 5m.

        HẨM KÈO nh HẨM CHỮ A

        HẦM PHÁO, công sự pháo binh có nóc dùng làm nơi bắn, giấu pháo hoặc kết hợp cả bắn và giấu pháo, nhằm hạn chế tối đa khả năng sát thương của đối phương, bảo đảm an toàn cho người và pháo trong quá trình chiến đấu, thành phần trận địa bắn pháo binh. Cửa hầm có lối ra vào cho pháo (nếu là hầm bắn thì có cấu trúc sàn bắn và lỗ bắn). HP thường được xây dựng bằng gỗ, đất, gạch đá kết hợp bê tông hoặc bê tông cốt thép vững chắc.

        HẤM THÔNG GIÓ LỌC ĐỘC, hầm phòng chống vũ khí hủy diệt lớn có hệ thống thông gió lọc độc. Được xây dựng cho SCH. trạm quân y và có thể cho bộ đội khi có điều kiện. Hầm thường gồm một đến hai phòng, các cửa ra vào kín hơi. bộ thông gió lọc độc, các hành lang, các lỗ thoát khí và các trang thiết bị cần thiết bên trong. HTGLĐ chống được sóng xung kích, bức xạ quang, bức xạ xuyên, chất độc, chất phóng xạ, lọc sạch không khí bị nhiễm. Việc xây dựng hầm và lắp đặt thiết bị thông gió lọc độc do các đơn vị tự làm dưới sự hướng dẫn của ngành công binh. Ngành hóa học chịu trách nhiệm cung cấp các bộ thông gió lọc độc và máy kiểm tra không khí trong hầm. HTGLĐ được sử dụng theo quy chế riêng.

        HẦM XE TĂNG, công sự nửa nổi, nửa chìm để bảo vệ xe tăng và các thành viên kíp xe chống lại các yếu tố sát thương do bom. đạn địch gây ra và có thể kết hợp bắn pháo, súng trên xe. Được đào, đắp theo kích thước phù hợp với từng loại xe tăng ở các trận địa phòng ngự, trận địa chờ, khu tập kết. khu trú quân, khu vực sơ tán xe tăng... Theo tác dụng, có: HXT ẩn nấp. HXT bắn với góc bắn hạn chế, HXT bắn vòng tròn; HXT ẩn nấp kết hợp với bắn.

        HÂTXÂN, vịnh lớn ở đông bắc Canada, nối với Đại Tây Dương bởi eo biển Hâtxân. Dt 848.000km2, sâu trung bình 90m. Khí hậu Bắc Cực, thường xuyên có sương mù. Từ tháng 10 đến tháng 7, mặt vịnh đóng băng, thủy triều nửa ngày đêm 3,5m, độ mặn 23-30%o. Các cảng chính: Sơcsin, Nenxơn.

        HẬU CẦN, 1) mặt công tác QS gồm tổng thể những hoạt động bảo đảm vật chất, sinh hoạt, quân y, vận tải... cho LLVT thực hiện nhiệm vụ. Trong QĐND VN, trước đây công tác này được gọi là “ngành cung cấp”; từ đầu 1955 gọi là HC; 2) sinh lực và phương tiện dùng để báo đảm hậu cần, gồm các cơ quan, đơn vị chuyên môn nghiệp vụ, căn cứ, kho tàng, trạm xưởng, bệnh viện... cùng toàn bộ phương tiện, trang bị kĩ thuật và vật chất HC ở các cấp. HC của VN là HC chiến tranh nhân dân. Có HC nhân dân và HC QĐ. Sự kết hợp chặt chẽ HC nhân dân với HC QĐ tạo thành sức mạnh chung bảo đảm  cho chiến tranh nhân dân VN thắng lợi.

        HẬU CẨN CHIẾN DỊCH, cấp hậu cần quân đội, nối liền giữa các cấp hậu cần chiến lược và hậu cần chiến thuật; gồm lực lượng hậu cần của quân khu, quân đoàn và đơn vị tương đương dùng để bảo đảm cho các lực lượng tham gia chiến dịch.

        HẬU CẨN CHIẾN LƯỢC, cấp cao nhất của hậu cần quân đội, nối liền kinh tế - hậu phương quốc gia với QĐ; gồm lực lượng hậu cần trung ương (TCHC). một phần dự trữ quốc gia và nguồn động viên được nhà nước giao cho đế bảo đảm cho QĐ hoạt động và tác chiến.

        HẬU CẦN CHIẾN THUẬT, cấp hậu cần quân đội. gồm lực lượng hậu cần trong biên chế của các đơn vị từ sư đoàn, lữ đoàn trở xuống, có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho đơn vị mình hoạt động và chiến đấu.

        HẬU CẨN CHIẾN TRƯỜNG, bộ phận của hậu cần quân đội, có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho tập đoàn (cụm chiến lược LLVT hoạt động và tác chiến trên chiến trường. HCCT có các đơn vị hậu cần, đơn vị chuyên môn, phương tiện vật chất, các căn cứ, thực hiện bảo đảm hậu cần theo khu vực, cho các lực lượng hoạt động và chiến đấu trên địa bàn chiến trường.

        HẬU CẦN CƠ ĐỘNG, gọi chung lực lượng hậu cần đi theo đội hình cơ động của bộ đội để bảo đảm cho đơn vị chiến đấu.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:25:48 PM

        HẬU CẨN KHU VỰC. tổ chức bảo đảm hậu cần theo khu vực địa bàn (vùng lãnh thổ), gồm lực lượng hậu cần quân đội kết hợp với hậu cần nhân dân trong khu vực địa bàn được xác định, để bảo đảm cho các LLVT tại chỗ và từ nơi khác cơ động qua hoặc đến hoạt động và tác chiến. HCKV thường được tổ chức ở cấp hậu cần chiến lược, hậu cấn chiến trường, hậu cần chiến dịch. Quy mô HCKV phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của địa bàn và phạm vi phải đảm bảo của từng cấp.

        HẬU CẨN KHU VỰC PHÒNG THỦ, tổ chức hậu cần, gồm hậu cần QS địa phương, hậu cần Bộ đội biên phòng, hậu cần công an kết hợp với hậu cần nhân dân theo kế hoạch thống nhất, đảm bảo cho các LLVT trong khu vực phòng thủ tỉnh (thành), huyện (quận) hoạt động và tác chiến.

        HẬU CẦN NHÂN DÂN, 1) lực lượng hậu cần được huy động từ quần chúng nhân dân, các cơ quan, các tổ chức kinh tế - xã hội của nhà nước để bảo đảm hậu cần cho các LLVT quần chúng; đồng thời chi viện và bảo đảm hậu cần cho QĐ. Trong KCCP và KCCM, HCND được xây dựng thành hệ thống từ cơ sở xã, phường đến huyện, tinh và trung ương với các hình thức tổ chức linh hoạt như các ban HCND hoặc hội đồng cung cấp...; 2) quan điểm về công tác hậu cần của chiến tranh nhân dân: công tác hậu cần do toàn dân, toàn quân tham gia.

        HẬU CẨN QUÂN CHỦNG (BINH CHỦNG), bộ phận của hậu cần quân đội, bao gồm lực lượng hậu cần trong biên chế của quân chủng (binh chủng), được tổ chức trên cơ sở những nguyên tắc chung về tổ chức hậu cần QĐ phù hợp với đặc điểm của quân chúng (binh chủng). Chức năng của HCQC (BC) là bảo đảm hậu cần cho các lực lượng trong quân chủng (binh chủng) hoàn thành nhiệm vụ được giao. HCQC (BC) được tổ chức phù hợp với bố trí chung của hậu cần chiến lược, với yêu cầu chỉ đạo bảo đảm hậu cần của quân chủng (binh chủng), hình thành các vùng, các khu vực, các căn cứ bảo đảm hậu cần của quân chủng (binh chủng).

        HẬU CẨN QUÂN ĐỘI. lực lượng hậu cần trực tiếp tiến hành công tác hậu cần trong QĐ, giữ vai trò nòng cốt của hậu cần chiến tranh nhân dân. Nhiệm vụ cơ bản: tổ chức bảo đảm hậu cần cho QĐ thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, trong mọi tình huống; tổ chức sản xuất, tạo nguồn bảo đảm hậu cần; tổ chức quản lí hậu cần và xây dựng ngành hậu cần góp phần xây dựng thế trận hậu cần và hậu phương đất nước. Theo quy mô và tính chất nhiệm vụ, có các cấp; hậu cấn chiến lược, hậu cần chiến dịch, hậu cấn chiến thuật. Theo loại quân, có hậu cần chủ lực, hậu cần QS địa phương. Theo hệ thống tổ chức có: TCHC hậu cần quân chủng, hậu cần binh chủng, hậu cần quân khu, hậu cần quân đoàn, hậu cần sư (lữ) đoàn, hậu cần trung đoàn, hậu cần quân sự địa phương tỉnh, huyện... HCQĐ được thành lập 11.7.1950 theo sắc lệnh số 121/SL. Tập trung các tổ chức và hoạt động của các chuyên ngành quân nhu, quân y, quân giới, quân khí và vận tải... thành một ngành thống nhất chỉ huy, chỉ đạo (1950-55 gọi là “ngành cung cấp”). Từ 9.1974 BQP quyết định tách các thành phần thuộc về bao đảm kĩ thuật ra, hình thành ngành kĩ thuật và ngành công nghiệp quốc phòng.

        HẬU CẦN QUÂN KHU, bộ phận của hậu cấn quân đội, gồm lực lượng hậu cần trong biên chế của quân khu, có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho các lực lượng thuộc quân khu, đồng thời kết hợp với hậu cần trung ương và hậu cần nhân dân các địa phương bảo đảm hậu cần cho các lực lượng cua BQP hoạt động và tác chiến trên địa bàn quân khu. Để kịp thời và chủ động trong việc bảo đảm, tùy theo quy mô và tính chất địa bàn. quân khu có thể tổ chức hậu cần khu vực.

        HẬU CẨN QUẢN SỰ ĐỊA PHƯƠNG, bộ phận của hậu cán quân đội, được tổ chức trong LLVT địa phương, gồm lực lượng hậu cần của cơ quan QS và đơn vị bộ đội địa phương tinh (thành), huyện (quận) để bảo đảm cho các đơn vị bộ đội địa phương: đồng thời chi viện, bảo đảm một số mặt hậu cần cho dân quân tự vệ và LLVT khác trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của khu vực phòng thủ. HCQSĐP giữ vai trò trung tâm của hậu cần khu vực phòng thủ, giúp người chỉ huy QS địa phương làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng và tổ chức bảo đảm hậu cần khu vực phòng thủ.

        HẬU CẨN TẠI CHỖ, gọi chung các lực lượng hậu cần được bố trí sẵn và có thể huy động ngay trên địa bàn hoạt động của LLVT.

        HẬU CỨ, căn cứ phía sau địa bàn tác chiến của đơn vị LLVTND VN (thường từ cấp trung đoàn trở lên); nơi có tổ chức và hoạt động bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, y tế... phục vụ kịp thời nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị, đồng thời là nơi trú quân của một bộ phận lực lượng chiến đấu (công tác) trước khi ra tuyến trước hoặc lui về nghỉ ngơi, củng cố, chuẩn bị cho đợt chiến đấu (công tác) sau... HC thường được bố trí ở nơi tương đối an toàn, tiện cơ động, có thể dựa được vào sự giúp đỡ của nhân dân địa phương.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:27:26 PM
       
        HẬU GIANG*, tỉnh cũ ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành lập 2.1976 do sáp nhập hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. 12.1991 chia lại thành hai tinh.

        HẬU GIANG**, tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Bắc giáp Cần Thơ, đông và đông nam giáp Sóc Trăng, nam giáp Bạc Liêu, tây giáp Kiên Giang. Dt 16.077,25km2; ds 766 nghìn người (2004), phần lớn là người Kinh, còn lại là người Khơme, Hoa... Thành lập 1.2004, tách từ t. Cần Thơ*. Tổ chức hành chính: 5 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: thị xã Vị Thanh. Địa hình bằng phẳng; hệ thống kênh rạch dày đặc thuận lợi cho giao thông đường thủy. Khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm 27°C, lượng mưa 1.600-2.500mm/năm. Tỉnh nông nghiệp, có thế mạnh trồng cây ăn quà, cây công nghiệp. Giao thông đường bộ: các quốc lộ 1, 80.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66649976_451058658957353_7221267087589638144_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQkOFvdVLv10WhiHeKgD1ZErYbSeKEgkBJ4GyANQPbWvju-z49Em3j-JO-8xYltbJOA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=85e3473ddce2b8c7a9cc2dc9de451e42&oe=5DBBEB09)


        HẬU PHÁT CHẾ NHÂN (cổ), chủ động để đối phương hành động trước, bộc lộ điểm yếu, chờ khi có điều kiện thuận lợi mới thực hiện tiến công để giành thắng lợi; một phương pháp tác chiến cổ. Khi thực hiện HPCN có thể từ bị động chuyển sang chủ động, lấy ít thắng nhiều, thường được QĐ các nước yếu hơn vận dụng.

        HẬU PHƯƠNG, vùng lãnh thổ và dân cư của một bên tham chiến không có, hoặc ít có chiến sự. tương đối an toàn và ổn định trong chiến tranh; nơi có điều kiện duy trì sinh hoạt về mọi mặt chính trị. QS, kinh tế, văn hóa... và huy động các nguồn lực cho tiền tuyến; cùng với tiền tuyến tạo thành không gian chiến tranh. HP đã trở thành một nhân tố cơ bản. thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Có: hậu phương quốc gia, hậu phương tại chỗ, hậu phương chiến lược, hậu phương chiến dịch... Trong chiến tranh hiện đại, với trình độ phát triển cao của vũ khí và phương tiện kĩ thuật quân sự, việc phân định HP và tiền tuyến chỉ là tương đối.

        HẬU PHƯƠNG CHIẾN DỊCH, hậu phương nằm trong không gian chiến dịch, trực tiếp cung cấp mọi nguồn lực cho tác chiến chiến dịch; nơi đứng chân và tập kết lực lượng, kho tàng, bệnh viện... của đội hình chiến dịch. Nhiệm vụ của HPCD được xác định trong kế hoạch tác chiến. HPCD trở thành mục tiêu đánh phá của đối phương, việc bảo vệ vững chắc HPCD có ý nghĩa quyết định thắng lợi của chiến dịch.   

        HẬU PHƯƠNG CHIẾN LƯỢC, bộ phận hậu phương quốc gia có nhiệm vụ cung cấp các nguồn lực, động viên, cổ vũ tinh thần các LLVT tác chiến trên một hướng chiến lược hoặc chiến trường nhằm đạt mục tiêu chiến lược nhất định; nơi tập kết của các lực lượng dự bị chiến lược, dự trữ cơ sở vật chất và phương tiện kĩ thuật quân sự, các kho tàng, chân hàng... thuộc quyền quản lí của Bộ chỉ huy chiến lược (bộ tổng tư lệnh, BQP). Tùy theo quy mô, tính chất và hình thức tác chiến chiến lược mà một vùng lãnh thổ nào đó của đất nước với tiềm lực về mọi mặt được xác định là HPCL. Lực lượng của HPCL bao gồm nhân dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ sở kinh tế, quốc phòng được huy động cho các LLVT theo kế hoạch tác chiến chiến lược. Ở VN có các HPCL: Việt Bắc và vùng tự do Khu 4 cũ trong KCCP; miền Bắc (hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam) trong KCCM.

        HẬU PHƯƠNG LỚN, chỉ miền Bắc VN trong KCCM. BCHTƯ ĐLĐ VN xác định miền Bắc XHCN là căn cứ địa cách mạng của cả nước, hậu phương quốc gia, nơi chi viện mọi nguồn lực cho tiền tuyến lớn miền Nam, có tác dụng quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến.

        HẬU PHƯƠNG QUỐC GIA, hậu phương chung của cả nước, nơi thường xuyên duy trì các hoạt động của bố máy nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ và công nghiệp quốc phòng; nơi có tiềm năng về nhiều mặt, cung cấp các nguồn lực cho tiền tuyến. HPQG có thể bao gồm những vùng lãnh thổ tách rời nhau (do bị chia cắt bời chiến tranh), nhưng sức mạnh của mỗi vùng đểu được huy động để sử dụng vào mục đích chung. Kết hợp xây dựng HPQG vững mạnh với xây dựng hậu phương tại chỗ rộng khắp (kể cả trong vùng địch tạm chiếm) trở thành quy luật phát triển hậu phương của chiến tranh nhân dân VN trong KCCP và KCCM.

        HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ, hậu phương ở từng địa phương, từng chiến trường... đảm bảo kịp thời nhu cầu của tác chiến và phục vụ tác chiến tại chỗ. Xây dựng hệ thống HPTC rộng kháp là yêu cầu có tính chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam nhằm khai thác, động viên, phát huy cao độ mọi tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường, bảo đảm cho lực lượng tại chỗ thực hiện bám trụ, đánh địch liên tục và lâu dài; khắc phục khó khàn về giao thông vận tải trong điều kiện địa thế đất nước dài và hẹp, chiến trường dễ bị chia cắt.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:31:58 PM

        HẬU PHƯƠNG TRỰC TIẾP, hậu phương liền kề chiến trường, ngay sau vùng có chiến sự; nơi trực tiếp cung cấp các nguồn lực của hậu phương quốc gia, hậu phương chiến lược, hậu phương chiến dịch cho các LLVT ở chiến trường. HPTT có ba cấp: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Lực lượng của HPTT bao gồm nhân dân, các LLVT, các phương tiện vật chất kĩ thuật được chính quyền địa phương sử dụng, huy động cung cấp cho các LLVT chiến đấu ở chiến trường theo kế hoạch tác chiến. HPTT thường bị đối phương tập trung đánh phá ác liệt. Ở VN trong KCCM, Vĩnh Linh (Quảng Trị) và Quảng Bình là HPTT của chiến trường miền Nam; Tây Nguyên, Nam Trung Bộ là HPTT trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).

        HẬU VỆ, thành phần của đội hình hành quân chiến đấu hoặc đội hình rút lui, để cảnh giới và bảo vệ phía sau lực lượng chủ yếu. Nhiệm vụ của HV: kìm giữ và không để đối phương công kích vào phía sau đội hình, phái trinh sát lọt vào đội hình, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thành phấn của HV được xác định căn cứ vào tính chất nhiệm vụ và điều kiện thực hiện tiến hành nhiệm vụ đó.

        HÂYGƠ (A. Alexander Meigs Jr. Haig; s. 1924), tướng Mĩ. cộng sự đắc lực của ba đời tổng thống Mĩ (Niclươn, Pho, Ri gân). 1947-64 tốt nghiệp Học viện QS Oet Pointơ; sĩ quan tham mưu trong bộ chỉ huy của tướng Mac Actơ tại Tôkiô; thạc sĩ với luận văn “Vai trò của quân nhân trong việc hình thành chính sách an ninh quốc gia”; phụ tá của bộ trường quốc phòng Mac Namara. H là người ủng hộ việc Mĩ can thiệp QS vào miền Nam VN. 7.1966-67 sang VN: sĩ quan tác chiến, tiểu đoàn trưởng bộ binh, được Oetmolen gắn huân chương vì đã chỉ huy tiểu đoàn đánh phá căn cứ Bến Súc của QGPMN. 7.1967 về nước, được phong đại tá. 1968-72 cố vấn QS trong Hội đồng an ninh quốc gia, được Nichxơn thăng vượt nhiều cấp lên tướng bốn sao, giữ chức phó thứ nhất tham mưu trường lục quân Mĩ. 1973 phụ tá thường trực của tổng thống Nichxơn, hàng chục lần sang VN để giải thích quan điểm của Mĩ ủng hộ chủ trương ném bom Hà Nội, Hải Phòng. 1974 cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống Pho. 12.1974 tổng tư lệnh lực lượng NATO. 1981 bộ trường ngoại giao Mi trong nhiệm kì đầu của tổng thống Rigân.

        HỆ ĐIỀU HÀNH, tập hợp các chương trình phần mềm hướng dẫn máy tính hoặc mạng máy tính khởi động và điều khiển đồng bộ các hoạt động của phần cứng, tạo nên liên kết phần cứng với các phần mềm khác. HĐH bao gồm các chương trình điều khiển và các chương trình xử lí. Chức năng cơ bản HĐH: điều khiển và theo dõi việc thực thi mọi chương trình máy tính; quản lí, phân phối và thu hồi bộ nhớ máy tính (gồm cả bộ nhớ trong và ngoài); điều khiển các thiết bị bao gồm cả việc khởi động máy tính; điều khiển và quản lí việc vào - ra dữ liệu; làm cầu nối giữa người sử dụng với máy tính, tạo môi trường thuận tiện cho người sử dụng máy tính. Một số HĐH thông dụng: các HĐH DOS (Disk Operating System) có nhiều dịch vụ khai thác và điều khiển đĩa (đĩa cứng, đĩa mềm) như MS-DOS của hãng Microsoft, PC-DOS của hãng IBM; HĐH System của Macintosh; HĐH đa nhiệm UNIX; HĐH dựa trên giao diện đồ họa cho máy tính cá nhân như WINDOWS của hãng Microsoft; các HĐH mạng máy tính như NETWARE của hãng Novell hoặc WINDOWS NT của hãng Microsoft...

        HỆ ĐƠN VỊ, tập hợp đơn vị đo các đại lượng vật lí, được xây dựng theo những nguyên tấc nhất định, dùng trong khoa học, kĩ thuật, sản xuất và đời sống xã hội. Trong HĐV có: đơn vị cơ bản (độc lập), đơn vị bổ trợ và đơn vị dẫn xuất (có thể tính theo các đơn vị cơ bản và đơn vị bổ trợ). Có: HĐV quốc tế (áp dụng ở hầu hết các nước) và HĐV quốc gia (riêng của từng nước). HĐV quốc tế hiện hành là SI (System International) do Hội nghị đo lường quốc tế lần thứ XI (10.1960, tại Pari) thông qua với 7 đơn vị cơ bản: mét (m - đo độ dài), kilôgam (kg - đo khối lượng), giây (s - đo thời gian), ampe (A - đo cường độ dòng điện), kenvin (°K - đo nhiệt độ), canđêla (cd - đo cường độ ánh sáng), mol (mo - đo lượng chất) và 2 đơn vị bổ trợ: radian (rad - đo góc phẳng), stêrađian (sr - đo góc khối). Trước đó, đã có một số HĐV quốc tế, vd: MKfS với các đơn vị cơ bản là mét (m - đơn vị đo chiều dài), kilôgam lực (kG - đơn vị đo lực) và giây (s - đơn vị đo thời gian): CGS có các đơn vị cơ bản: centimét (CM - do chiều dài), gam (g - đo khối lượng) và giây (s - đo thời gian). HĐV xuất hiện từ khi có các phép đo (đếm), chủ yếu là các đơn vị cơ học (x. hệ đơn vị cổ) và của từng khu vực hoặc quốc gia; phát triển và hoàn thiện không ngừng theo sự phát triển của khoa học và kĩ thuật. HĐV quốc gia VN hiện nay dược ban hành kèm theo nghị định số 65/2001/NĐ-CP ngày 29.9.2001 của chính phủ nước CHXHCN VN có tên “Đơn vị đo lường hợp pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đơn vị cơ bản, đơn vị bổ trợ và đơn vị dẫn xuất chủ yếu theo SI. Trong thực tiễn của khoa học kĩ thuật và sản xuất, hiện vẫn tồn tại một số đơn vị của HĐV quốc tế trước dây, do vậy cần có sự chuyển đổi theo SI và bảng ước và bội thập phân của các đơn vị.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:33:30 PM

        HỆ ĐƠN VỊ CỔ, hệ đơn vị ra đời và được sử dụng sớm, trước khi có các hệ đơn vị quốc tế. HĐVC xuất hiện từ khi con người có nhu cầu đo, đếm. riêng cho từng bộ tộc, quốc gia, khu vực và ngày càng hoàn chỉnh, phong phú theo sự phát triển của sản xuất, tri thức và giao lưu quốc tế. Theo tập quán, đến nay một số đơn vị trong HĐVC vẫn được sử dụng.

        HỆ MẶT TRỜI (Thái Dương Hệ), hệ thống thiên thể với Mặt Trời là trung tâm và các thiên thế chuyển động xung quanh nó, bao gồm 9 hành tinh lớn (Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hòa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Sao Diêm Vương) và các vệ tinh của chúng, các thiên thạch và Sao Chổi. Mặt Trời có khối lượng 2.1030kg, bán kính 696.000km, chiếm 90% khối lượng HMT. Trái Đất có khối lượng 5976.1021kg, bán kính 6.37 lkm. là hành tinh thứ ba cách xa Mặt Trời với khoảng cách trung bình 149,6 triệu kilỏmét. Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất. chuyển động chung quanh Trái Đất với khoảng cách 384.400km.

        HỆ ỔN ĐỊNH VŨ KHÍ, hệ thống tự động điều chỉnh để duy trì phần động cua vũ khí (nòng pháo, nòng súng, giàn phóng tên lửa...) ở vị trí (hoặc hướng) xác định, không phụ thuộc vào sự thay đổi trạng thái phương tiện mang (xe chiến đấu, tàu thuyền, máy bay...) khi vận động, nhằm nâng cao độ chính xác bắn (phóng), đặc biệt khi bắn trong hành tiến. Việc ổn định có thể được thực hiện trong một mặt phẳng (thẳng đứng), bảo đảm giữ nguyên góc tầm (góc bắn) của pháo (súng, tên lửa), hoặc hai mặt phẳng (thẳng đứng và nằm ngang), bảo đảm duy trì cả góc tầm và góc hướng của vũ khí. Đôi khi cũng thực hiện ổn định nghiêng, bảo đảm giữ thăng bằng trục ngang của vũ khí. Cùng với việc ổn định vũ khí. trên các phương tiện chiến đấu hiện đại còn thực hiện ổn định đường ngắm và những khí tài khác của hệ thống điều khiển hỏa lực, nhờ chính HÔĐVK hoặc nhờ một hệ thống riêng.

        HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU, chương trình máy tính cung ứng các khả năng cần thiết để xây dựng, cập nhật, lưu trữ. xử lí, bảo vệ và khai thác các dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu. Được xây dựng theo đặc thù của từng dạng cơ sở dữ liệu (thư viện, ngân hàng, kho tàng...). Các HQTCSDL gốc thường được thiết kế có cấu trúc mở, người quản trị có thể sửa đổi, thêm, bớt các trường và tham chiếu cho phù hợp với đặc thù của từng cơ sở dữ liệu. Đáp ứng tối đa khả năng kết xuất thông tin nhiều chiều với tốc độ cao, ổn định: khả năng chống virút xâm nhập và độ bảo mật cao (đặc biệt là HQTCSDL ngân hàng) là các đại lượng cơ bản để đánh giá HQTCSDL.

        HỆ SINH THÁI, thể thống nhất của quần xã sinh vật (tập hợp các quần thể sinh vật thuộc những loài khác nhau, hình thành trong quá trình lịch sử, cùng tồn tại trong một môi trường nhất định, có môi liên hệ sinh thái gắn bó với nhau như một thể thông nhất) và sinh cảnh (môi trường tồn tại của quần xã sinh vật), trong đó giữa sinh vật và môi trường cũng như giữa các loài sinh vật có sự tác động và phụ thuộc nhau thông qua các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng. Khái niệm HST được sử dụng cho những môi trường địa lí ở quy mô và mức độ phức tạp khác nhau (toàn bộ khí quyển, lục địa hay đại dương... là những HST lớn: một cái hồ, một cánh rừng... là những HST nhỏ). Một HST hoàn chỉnh phải gồm đủ các thành phần chủ yếu: vật chất vô sinh dưới dạng các chất vô cơ (cacbon. nitơ, nước...) và hữu cơ (prôtêin, lipit, gluxit, các chất mùn...), chế độ khí hậu quần thể sinh vật có quan hệ sinh thái phụ thuộc nhau... Trong điều kiện tự nhiên, mọi HST đều tiến tới trạng thái cân bằng tương đối ổn định. Tác động chủ quan của con người (thay đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi...; sản bắt các loài động vật và khai thác làm sản bừa bãi...) thường làm cho các HST trở nên kém ổn định hoặc mất cân bằng nghiêm trọng.

        HỆ SỐ HÌNH DẠNG ĐẠN. hệ số đặc trưng cho ảnh hưởng của hình dạng đạn đến khả năng thắng sức cản không khí khi bay. Kí hiệu là “i”, được biểu thị bằng tỉ số giữa các hệ số lực cản chính diện của đạn đã cho và đạn mẫu (hệ số hình dạng đạn mẫu được coi bằng 1). HSHDĐ được dùng trong tính toán thuật phóng và đặc trưng cho mức độ hoàn thiện về hình dạng của đạn đã cho so với đạn mẫu.

        HỆ SỐ KĨ THUẬT TRANG BỊ. trị số đặc trưng mức độ sẵn sàng làm việc của một loại trang bị kĩ thuật của một đơn vị hoặc một ngành kĩ thuật tại một thời điểm hay trong một thời gian nào đó; chi tiêu tổng quát để đánh giá chất lượng công tác bảo đảm kĩ thuật của đơn vị (ngành). Được tính bằng tỉ số giữa sô trang bị tốt (sẵn sàng làm việc tin cậy) trên tổng số trang bị (cùng loại) có trong biên chế tại thời điểm hoặc trong thời gian đó. HSKTTB cho phép được quy định trong điều lệ của các ngành kĩ thuật, thường phụ thuộc vào nhóm trang bị (tác chiến, huấn luyện, dự trữ...) và tính chất nhiệm vụ của đơn vị (sẵn sàng chiến đấu. huấn luyện...).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:35:00 PM

        HỆ SỐ PHÓNG của đạn, hệ số đặc trưng cho khả năng thắng được sức cản không khí trên đường bay của đầu đạn (tên lửa...), được xác định theo công thức C = id2103/m. trong đó i - hệ số hình dạng của đạn. d - cỡ đạn (tính bằng m). m -  khối lượng đạn (tính bằng kg). HSP là một đặc trưng thuật phóng ngoài quan trọng, phản ánh ảnh hưởng của hệ số hình dạng, cỡ đạn và khối lượng đạn đến gia tốc của đạn trên đường bay. Với tốc độ và độ cao bay xác định của đạn, gia tốc này (gây bới lực cản không khí làm giảm tốc độ đạn) ti lệ thuận với HSP. HSP được dùng trong các tính toán thuật phóng và để đánh giá dạng khí động học của đạn. HSP càng nhỏ thì gia tốc càng nhỏ, đạn càng dễ khắc phục sức cản không khí, dạng khí động học của đạn càng tốt. Cg hệ số thuật phóng hay hệ số xạ thuật.

        HỆ SỐ SẴN SÀNG, trị số đặc trưng cho mức độ sẵn sàng làm việc của trang bị KTQS ở thời điểm bất kì trong khoảng thời gian giữa hai kì bảo dưỡng kĩ thuật hoặc hai lần sửa chữa liên tiếp theo kế hoạch. Được xác định theo công thức: Kss=Thđ/ (Thđ+Tkp), trong đó Kss - HSSS, Thđ - tổng thời gian hoạt động của trang bị trong khoảng thời gian trên, Tkp -  thời gian dùng cho bảo dưỡng hoặc sửa chữa để khôi phục khả năng hoạt động của trang bị. HSSS dùng để tính số lượng trung bình của trang bị cùng loại sẵn sàng hoạt động bằng cách nhân tổng số trang bị loại đó của đơn vị với HSSS.

        HỆ SỐ SỬ DỤNG KĨ THUẬT, trị số đặc trưng cho khả năng hoạt động của trang bị trong điều kiện được sử dụng liên tục, xác định theo công thức: Ksdkt=Tlv/(Tlv+Tbd+Tsc); trong đó Ksdkt - HSSDKT, Tlv - tổng thời gian làm việc của trang bị. Tbd - tổng thời gian dùng để bảo dưỡng kĩ thuật, Tsc - tổng thời gian dùng sửa chữa. Trong QS, HSSDKT thường tính tại thời điếm sau một chu kì sử dụng hoặc theo thời gian của kế hoạch sử dụng và thường được tính cho các khí tài hoạt động liên tục (vd: rada, tổng đài vô tuyến, hữu tuyến...).

        HỆ SỐ THUẬT PHÓNG nh HỆ SỐ PHÓNG của đạn

        HỆ SỐ TRANG BỊ, trị số biểu thị mức độ thiếu đủ về một loại trang bị nào đó so với biên chế quy định ở một đơn vị hoặc một chuyên ngành kĩ thuật tại thời điểm cần xác định. Tính bằng tỉ số giữa số lượng trang bị (loại đó) hiện có của đơn vị hoặc chuyên ngành (bao gồm: đang sử dụng, sẵn sàng sử dụng, chờ và đang sửa chữa), với số lượng theo biên chế. HSTB còn thể hiện mức độ được bảo đảm về trang bị kĩ thuật và khả năng của trang bị kĩ thuật để hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị (chuyên ngành).

        HỆ SỐ XẠ THUẬT nh HỆ SỐ PHÓNG của đạn

        HỆ THỐNG BẢO VỆ TÍCH CỰC trên xe tăng nh HỆ THỐNG PHÒNG VỆ CHỦ ĐỘNG trên xe tăng

        HỆ THỐNG CẤP NƯỚC, toàn bộ lực lượng, hệ thống công trình và phương tiện kĩ thuật có liên quan để khai thác, xử lí và cấp nước cho bộ đội và binh khí kĩ thuật. HTCN gồm: lực lượng làm nhiệm vụ trinh sát nguồn nước, khai thác, xử lí và cấp nước; phương tiện khai thác, cấp nước (máy khoan, máy bơm, ống dẫn, bể chứa); phương tiện xứ lí nước thường có các trạm lọc nước (bể lọc) với các chất khử độc, khử trùng làm sạch nước (than hoạt tính, phèn, bột clo). Ngoài trang bị khai thác, xử lí và cấp nước chế thức, trong chiến đấu bộ đội thường sử dụng các khí tài và vật liệu tại chỗ để bảo đảm nước.

        HỆ THỐNG CHỈ HUY BỘ ĐỘI, tổng thể người chỉ huy, cơ quan chỉ huy, các SCH, hệ thống trinh sát (tình báo), hệ thống thông tin liên lạc,... được lập ra để chỉ huy bộ đội. Có hệ thống chỉ huy cấp chiến lược, cấp chiến dịch, cấp chiến thuật. HTCHBĐ đang được tự động hóa và ngày càng hoàn thiện.

        HỆ THỐNG CHỈ HUY TỰ ĐỘNG HỎA. hệ thống chỉ huy bộ đội kết hợp con người với các thiết bị kĩ thuật (hạt nhân là máy tính điện tử) bảo đảm tự động hóa từng phần hoặc toàn bộ việc chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí nhâm đạt hiệu quả cao nhất. Theo quân chúng, có HTCHTĐH: lục quân, hải quân, không quân; theo công dụng, có HTCHTĐH: tác chiến, tình báo, thông tin, điều khiển vũ khí. phòng không, hậu cần, kĩ thuật; theo phạm vi nhiệm vụ, có HTCHTĐH: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. HTCHTĐH được nhiều nước nghiên cứu từ những năm 50, phát triển mạnh trong những năm 80- 90 của tk 20, hiện nay không ngừng được phát triển, hoàn thiện, kết hợp chặt chẽ chỉ huy, điều khiển, thông tin, tình báo (C3I) thành một hệ thống thống nhất nhiều chức năng. HTCHTĐH hiện có trong trang bị của QĐ các nước phát triển, đã được sử dụng có hiệu quả trong một số cuộc chiến tranh cục bộ, vd: chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999), chiến tranh Apganixtan (2001).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:35:56 PM

        HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội hình thành trên cơ sở kinh tế, tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cùng tác động vào các quá trình xã hội nhằm thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền. Gồm: nhà nước, các chính đảng, các tổ chức đoàn thể chính trị và chính trị - xã hội, cùng những mối quan hệ giữa các tổ chức ấy tạo thành cơ cấu và cơ chế chính tri của một chế độ chính trị - xã hội ở một quốc gia. Bản chất của HTCT được quy định bởi cơ sở kinh tế - xã hội và bản chất của giai cấp cầm quyền. HTCT phản ánh lợi ích, công cụ thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, bảo vệ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của xã hội đó. Mỗi HTCT được hình thành, tồn tại và biến đổi gắn liền với một quốc gia; phản ánh đặc điểm kinh tế, xã hội, tình hình chính trị, so sánh lực lượng chính trị, truyền thống văn hóa,... của dân tộc trong giai đoạn lịch sử nhất định và kế thừa những giá trị phổ biến của nhàn loại và thời đại.

        HỆ THỐNG CHỐNG TĂNG, toàn bộ các phân đội và phương tiện chống tăng trong phòng ngự được liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống hỏa lực để tiêu diệt xe tăng, xe bọc thép của địch. HTCT là cơ sở của phòng ngự trận địa, được tổ chức trong toàn bộ chiều sâu phòng ngự, chú trọng hướng xe tăng địch uy hiếp. HTCT gồm: các phân đội. các phương tiện chống tăng trong các điểm tựa (cụm điểm tựa), đội dự bị chống tăng các cấp, tuyến bắn và đường cơ động, các tuyến vật cản chống tăng, các đội cơ động đặt vật cản, các phân đội pháo binh bắn ngắm gián tiếp và hệ thống quan sát, thông báo các hoạt động của xe tăng địch.

        HỆ THỐNG CÔNG SỰ TRẬN ĐỊA PHÒNG NGỰ, toàn bộ các công sự ẩn nấp. phòng tránh, công sự chiến đấu (hỏa khí, quan sát, chỉ huy, hào chiến đấu. hào giao thông, hố bắn...) và công sự bảo đảm (hầm đạn, lương thực, quân y, bể nước...) được xây dựng theo phương án tác chiến. HTCSTĐPN phải đảm bảo vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, có chiều sâu, nhiều tầng và đánh địch từ nhiều hướng, lợi dụng được địa hình, kết hợp chặt chẽ giữa ẩn nấp, phòng tránh với chiến đấu, phân tán hợp lí và ngụy trang chu đáo. HTCSTĐPN được xây dựng trước hoặc trong giai đoạn chuẩn bị chiến đấu và hoàn thiện bổ sung trong quá trình chiến đấu.

        HỆ THỐNG DẪN ĐƯỜNG VŨ TRỤ, hệ thống sử dụng các khí cụ bay vũ trụ (thường là các vệ tinh nhàn tạo của Trái Đất) để xác định tọa độ (vị trí) và các thành phần vectơ tốc độ của những đối tượng chuyển động (tàu nổi, tàu ngầm, máy bay, tổ hợp tên lửa cơ động...). HTDĐVT gồm ba khối chính: khối vũ trụ (gồm một số vệ tinh nhân tạo Trái Đất cùng một loại, bay ở các quỹ đạo với độ cao 800-20.000km và phát ra tín hiệu chuẩn); khối điểu khiển đặt trên mặt đất để đồng bộ thời gian và hiệu chỉnh quỹ đạo cho vệ tinh; khối sử dụng (gồm thiết bị thu và xử lí tin đặt trên đối tượng cần dẫn đường). Nguyên tắc làm việc của HTDĐVT dựa trên việc coi các vệ tinh nhân tạo của Trái Đất như những điểm chuẩn. HTDĐVT hoạt động theo thứ tự: khối điều khiển thực hiện việc quan sát, đo đạc vệ tinh và chuyển thông tin đó về trung tâm tính toán để xác định lịch sao của vệ tinh (là tọa độ của vệ tinh ở dãy thời điểm xác định trong tương lai) và truyền trở lại vệ tinh để ghi vào bộ nhớ; theo lệnh từ Trái Đất hoặc theo chương trình, vệ tinh phát thông tin lịch sao vào không gian. Khối sử dụng thu thông tin lịch sao do vệ tinh phát ra và dựa vào đó để xác định tọa độ vị trí và vectơ tốc độ. Việc xử lí này thường thực hiện tự động bởi một máy tính điện từ chuyên dụng đặt trên đối tượng cần dẫn đường. HTDĐVT có ưu việt: độ chính xác cao (từ vài mét tới lkm), có tính toàn cầu, trong mọi thời tiết, tiết kiệm thời gian, ít bị nhiễu và có thể dẩn đường tin cậy cho một số lượng không hạn chế các đối tượng chuyển động khác nhau (vd HTDĐVT của Mĩ NAVSTAR có 24 vệ tinh dẫn đường, bảo đảm mỗi điểm bất kì trên mặt đất luôn nằm trong tầm phát tín hiệu của 4-6 vệ tinh). Đã được dùng để dẫn đường cho các phương tiện chiến đấu của Mĩ và Liên quân trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999), chiến tranh Apganixtan (2001).

        HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU (A. Global Positioning System, vt: GPS), hệ thống thiết bị dẫn đường thống nhất, đồng bộ nhằm bảo đảm thực hiện hoạt động dẫn đường trên toàn Trái Đất. Trước đây. khái niệm HTĐVTC bao gồm cả loại hệ thống dẫn đường vô tuyến điện sử dụng cho các khí cụ bay, với hệ thống đài định vị mặt đất bố trí trên phạm vi toàn thế giới; song hiện nay thuật ngữ này chủ yếu được dùng để chỉ các hệ thống dẫn đường vũ trụ, như NAVSTAR (Mĩ. triển khai từ 12.1973), GLONASS (vt từ A. Global Orbiting Navigation Satellite System, Nga từ 1982)... Trong thực tiễn, do sự phát triển và phạm vi ứng dụng rộng rãi của NAVSTAR, một hệ thống có độ chính xác cao, tốc độ xử lí cực nhanh, thuật ngữ HTĐVTC hầu như được dùng mặc nhiên để chi hệ thống này. Mặt khác, cũng hình thành xu hướng liên kết các HTĐVTC đã có. Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO dự định đưa lên quỹ đạo khoảng 30 vệ tinh phục vụ cho mục đích dẫn đường dân sự. Công ti 3S của Mĩ đã nghiên cứu chế tạo máy thu nhận được tính hiệu quả của cả hai hệ thống NAVSTAR và GLONASS, khắc phục được nhược điểm của riêng từng hệ thống, nâng cao độ chính xác và dễ sử dụng.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:37:06 PM
     
        HỆ THỐNG HỎA LỰC PHÁO BINH trong phòng ngự. toàn bộ hỏa lực pháo binh của phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn binh chủng hợp thành trong biên chế và tăng cường, được tổ chức chặt chẽ liên kết với nhau theo một kế hoạch thống nhất trên từng hướng (khu vực) để đánh địch tiến công; thành phần của hệ thống hỏa lực phòng ngự. HTHLPB gồm: các khu vực bắn tập trung, các điểm (đoạn) bắn chặn, điểm bắn các mục tiêu đơn lẻ,... được chuẩn bị trước ở khu vực tác chiến vòng ngoài (tuyến triển khai đổ bộ), trước tiền duyên (trên tuyến mép nước), hai bên sườn và trong chiều sâu khu vực phòng ngự và liên tục được bổ sung, hoàn chinh đảm bào hỏa lực sẵn sàng đánh địch trong mọi tình huống và hướng (khu vực) bị uy hiếp. Tổ chức HTHLPB phải kết hợp chặt chẽ hỏa lực pháo binh chủ lực với pháo binh địa phương, hòa lực bắn ngắm gián tiếp với hỏa lực bắn ngắm trực tiếp, hỏa lực của không quân, tên lửa, xe tăng và bộ binh với hệ thống  vật cản tự nhiên và nhân tạo. Trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973), HTHLPB đã góp phần quan trọng đánh bại cuộc phản kích ra Cửa Việt của lữ đoàn đặc nhiệm QĐ Sài Gòn (có trên 100 xe tăng, xe bọc thép).

        HỆ THỐNG HỎA LỰC PHÒNG KHÔNG, toàn bộ hỏa lực của các phân đội, binh đội tên lửa phòng không, pháo (súng máy) phòng không, không quân tiêm kích và hỏa lực vũ khí bộ binh bắn máy bay liên kết với nhau có tổ chức và kế hoạch theo hướng, độ cao và tuyến để tiêu diệt mục tiêu địch trên không. HTHLPK được xây dựng phù hợp nhiệm vụ chiến đấu, ý định phòng không, đặc điểm địa hình và các lực lượng phòng không hiện có.

        HỆ THỐNG HỎA LỰC PHÒNG NGỰ, toàn bộ hỏa lực của các loại hỏa khí thuộc phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn (chủ lực và LLVT địa phương) liên kết với nhau theo một kế hoạch thống nhất; một thành phần quan trọng của hệ thống phòng ngự. HTHLPN được tổ chức phù hợp với ý định tác chiến phòng ngự. có thể bao gồm hỏa lực pháo binh, hỏa lực chống tăng, hỏa lực chống bộ binh, hỏa lực phòng không, có kết hợp với hỏa lực không quân... tạo thành hệ thống hỏa lực hoàn chình nhiều tầng, nhiều lớp bảo đảm đánh địch phía trước, bên sườn, trong chiều sâu phòng ngự. trên không, cũng như trên các hướng và khu vực có thể bị địch uy hiếp.

        HỆ THỐNG KHÓI MÙ trên xe tăng thiết giáp, hệ thống thiết bị tạo màn khói ngụy trang cho xe tăng thiết giáp trong chiến đấu. Theo nguyên lí tạo khói, HTKM chia thành hai loại: loại dùng nhiệt làm bốc hơi hỗn hợp chất tạo khói sau đó làm ngưng tụ nó trong khí quyển và loại phun hỗn hợp chất tạo khói lỏng bằng phương pháp cơ học. Trên các xe tăng, thiết giáp hiện nay thường sử dụng thiết bị khói nhiệt (Termôđưmôvaia apparatura: vt: TDA) tác động nhiều lần, dùng chất tạo khói là nhiên liệu điêzen trong hệ thống nhiên liệu của động cơ. Nguyên lí làm việc của hệ thống là: nhiên liệu điêzen được phun vào dòng khí xả, bị bốc hơi và trộn lẫn với khí xả tạo thành hỗn hợp hơi - khí; khi ra khỏi miệng ống xả, hỗn hợp này ngưng tụ lại thành một màn khói dày đặc. Hiệu quả ngụy trang cao nhất khi trời im gió hoặc có gió nhẹ (dưới 4m/s) và không có dòng không khí từ dưới bốc lên.

        HỆ THỐNG MỤC LỤC NGÂN SÁCH, hệ thống phân loại các khoản chi và nguồn thu của ngân sách nhà nước theo các nhóm thích hợp để phục vụ công tác lập dự toán, chấp hành và báo cáo quyết toán ngàn sách; quản lí, phân tích, dự báo kinh tế, tài chính ở cấp vĩ mô. HTMLNS nhà nước dược xây dựng và mã hóa theo chương; loại, khoản; nhóm, tiểu nhóm; mục, tiểu mục. Do đặc thù của lĩnh vực quốc phòng, HTMLNS áp dụng trong QĐ còn phân loại các khoản chi theo tiết mục và ngành. Chương thể hiện tên đơn vị đứng đầu thuộc các cấp quản lí (đơn vị dự toán cấp 1); số thu. chi phát sinh của các đơn vị trực thuộc đơn vị cấp 1 đều được hạch toán kế toán và quyết toán vào mã số chương của đơn vị cấp 1. Loại, khoản là hình thức phân loại ngân sách nhà nước theo các ngành kinh tê quốc dân cấp 1, 2, 3, 4 và các chương trình, mục tiêu quốc gia. Nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục, tiết mục là hình thức phân loại theo nội dung kinh tế ở các cấp độ khác nhau; căn cứ vào nội dung kinh tế các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước để tiến hành phân tổ và nhóm hóa. Ngành thể hiện tên các cơ quan QĐ có chức năng bảo đảm toàn quân theo từng lĩnh vực; số chi cho hoạt động bảo đảm của ngành nào được hạch toán kế toán và quyết toán vào mã số của ngành đó.

        HỆ THỐNG NHẬN BIẾT MÁY BAY, tổ hợp phương tiện kĩ thuật và các phương pháp xác định máy bay đã phát hiện được thuộc nước nào, tổ chức chủ quản nào, kiểm soát các đường bay của chúng và chỉ huy việc di chuyển trên không. HTNBMB thường dùng là hệ thống thiết bị vô tuyến điện “hỏi-đáp”. Trong thành phần các bộ rađa đặt trên mặt đất (mặt biển) có máy hỏi, trên máy bay có đặt máy trả lời.

        HỆ THỐNG PHÒNG KHÔNG, toàn bộ các hệ thống quản lí vùng trời, tác chiến điện từ, phòng tránh và đánh trả địch tập kích đường không. Gồm: hệ thống rađa phòng không, vọng quan sát bằng mắt, thông báo, báo động tình hình địch trên không; hệ thống không quân tiêm kích; hệ thống tên lửa  - pháo phòng không: hệ thống tác chiến điện từ, ngụy trang: hệ thống chỉ huy tác chiến phòng không, các hệ thống bảo đảm phục vụ tương ứng và các hệ thống phòng tránh khác.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:39:33 PM

        HỆ THỐNG PHÒNG NGỰ, tập hợp các hệ thống trận địa phòng ngự. hệ thống hỏa lực và hệ thống vật cản được xây dựng liên kết với nhau theo một ý định và kế hoạch thống nhất, để thực hiện mục đích phòng ngự.

        HỆ THỐNG PHÒNG VỆ CHỦ ĐỘNG trên xe tăng, hệ thống  chủ động đánh chặn, tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa các phương tiện sát thương của đối phương trước khi chúng đánh trúng xe tăng. HTPVCĐ gồm: các thiết bị phát hiện đạn (các bộ cảm biến quang điện, rađa nhiều hướng), thiết bị tính toán xử lí, các thiết bị tự động phóng tên lửa đánh chặn, thiết bị tạo màn khói gây nhiễu đối với các hệ thống điều khiển vũ khí có chỉ thị mục tiêu bằng lade và các máy đo xa lade có cùng nguyên lí hoạt động của đối phương. HTPVCĐ được nghiên cứu sử dụng đầu tiên trên các xe tăng của Ixraen. hiện được sử dụng rộng rãi trên nhiều xe tăng của các nước khối NATO Nga (T-55, T-80, T-90...), Ucraina (T-84)... Cg hệ thống bảo vệ tích cực trên xe tăng.

        HỆ THỐNG PHÓNG LỰU ĐẠN KHÓI trên xe tăng, thiết giáp, hệ thống tạo màn khói ngụy trang cho xe tăng, thiết giáp bằng lựu đạn khói phóng từ các ông phóng đặt trên xe. Thông thường các ống phóng được bố trí thành hai cụm. mỗi cụm 3-6 ống, lắp trên các giá gắn ở hai bên tháp pháo. Lựu đạn khói được nạp sẵn trong ống. Bảng điều khiển hệ thống ở vị trí trường xe. Có hai chế độ phóng: phóng từng quả hoặc phóng loạt. HTPLĐK được lắp trên nhiều loại xe tăng, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân... trong QĐ nhiều nước.

        HỆ THỐNG RAĐA PHÒNG KHÔNG, liên hợp các rada phòng không có phạm vi phát hiện nối tiếp nhau trên độ cao quy định, nhằm phát hiện không để sót các mục tiêu trên không ở những hướng, những độ cao khác nhau: thông báo cho các lực lượng phòng không, lực lượng có liên quan để kịp thời phòng tránh và đánh trả tập kích đường không. HTRPK được thiết lập phù hợp nhiệm vụ chiến đấu, ý định phòng không, lực lượng rađa hiện có và đặc điểm địa hình. Là một bộ phận của hệ thống trinh sát, thông báo. báo động phòng không.

        HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN, danh mục các tài khoản kế toán được quy định theo những nguyên tắc. nội dung nhất định và được coi là cơ sở cho công tác hạch toán kế toán của một doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị nhằm phân ánh tình hình vốn, nguồn vốn và quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh; tình hình vận động của kinh phí và sử dụng kinh phí. Nội dung HTTKKT thường bao gồm những quy định về: loại tài khoản, số lượng tài khoản, tên gọi tài khoản, kí hiệu tài khoản, nội dung và phạm vi áp dụng các tài khoản. HTTKKT gồm có: tài khoản cấp 1, tài khoản cấp 2 và tài khoản cấp 3. Mỗi tài khoản kế toán có kết cấu bên nợ và bên có. Tài khoản phản ánh vốn gọi là tài khoản tài sản có, tài khoản phản ánh nguồn vốn gọi là tài khoản tài sản nợ. Trong QĐ HTTKKT được quy định trên cơ sở HTTKKT của nhà nước và phù hợp với những đặc thù của QĐ, bao gồm HTTKKT đơn vị sản xuất kinh doanh và HTTKKT đơn vị dự toán.

        HỆ THỐNG THÔNG BÁO QUAN SÁT MẮT phòng không, tổ hợp các phương tiện thông tin bố trí cùng các vọng quan sát mắt nhằm kịp thời thông báo mục tiêu trên không chủ yếu là máy bay bay thấp, tên lửa hành trình cho các đơn vị phòng không, không quân tiêm kích đánh trả và nhân dân phòng tránh; bổ sung cho tình báo rađa. HTTBQSM là thành phần của hệ thống quản lí vùng trời, thông báo, báo động phòng không quốc gia.

        HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÍ (A. Geographic Information System, vt: GIS), hệ thống quản lí thông tin không gian xây dựng trên công nghệ máy tính với chức năng thu thập, phân tích, xử lí, lưu trữ và cung cấp thông tin thuộc mọi lĩnh vực liên quan đến các khu vực địa lí. Thành phần cơ bản của một HTTTĐL gồm: các thiết bị phần cứng (máy tính hoặc bộ xử ở trung tâm, thiết bị số hóa, đầu đọc đĩa mềm, đĩa CD, tủ đọc băng từ, thiết bị hiển thị và in kết quả...); các phần mềm môi trường hệ thống, phần mềm ứng dụng và cơ sở dữ liệu thông tin địa lí. Cơ sở dữ liệu của HTTTĐL được quân lí dưới dạng các lớp thông tin mô tả các dạng dữ liệu địa lí và phi địa lí khác nhau (độ cao. thủy hệ, mạng lưới giao thông, tình trạng dân cư.„), phản ánh thế giới thực trong không gian địa lí và luôn được bổ sung cập nhật từ các nguồn dữ liệu khác nhau (bản đồ. ảnh hàng không, ảnh viễn thám, tài liệu thành văn...). Các lớp có thể hiển thị độc lập hoặc kết hợp để cho hình ảnh trực quan một khu vực. Công nghệ HTTTĐL có liên quan đến nhiều ngành khoa học cơ bản và ứng dụng như toán học, tin học, địa lí học, bản đồ học, viễn thám học, trắc địa, thống kê học, trí tuệ nhân tạo... ưu điểm của HTTTĐL: khả năng liên kết thông tin địa lí và các loại thông tin khác trong một hệ độc lập, tạo lập và hiển thị các thông tin địa lí theo những phương pháp truyền thống và hiện đại trên cơ sở sử dụng kĩ thuật số, thể hiện sự liên hệ giữa các hoạt động trên cùng một vùng địa lí. HTTTĐL không chỉ cung cấp những thông tin hiện tại mà còn giúp cho người sứ dụng phán đoán hướng thay đổi các dữ liệu và đồng thời dự báo những gì có thể xảy ra khi có sự thay đổi các dữ liệu đó. Nhờ các kĩ thuật và công cụ quản lí thông tin hiện đại, hình thức hấp dẫn, cho phép tìm kiếm thông tin nhanh chóng và chính xác, HTTTĐL ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội và QS.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:40:36 PM

        HỆ THỐNG THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN SỰ, liên hợp về tổ chức và kĩ thuật của lực lượng thông tin được tạo ra trong LLVT nói chung và trong từng đơn vị nói riêng để bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến và hoạt động hàng ngày. HTTTLLQS gồm: mạng thông tin gốc, các tổng trạm, trạm thông tin, đường truyền vô tuyến điện, đường truyền hữu tuyến điện liên kết giữa các tổng trạm, trạm thông tin đến mạng thông tin gốc; đường truyền tin từ các tổng trạm, trạm thòng tin đến mạng thông tin quốc gia; mạng thông tin vận động (quân bưu); hệ thống điều hành, bảo đảm kĩ thuật thông tin; thiết bị tự động hóa chỉ huy; các đường trục liên lạc, lực lượng thông tin dự bị. HTTTLLQS thành lập phù hợp với nhiệm vụ của từng đơn vị và hệ thống chỉ huy. Theo quy mô, có: HTTTLLQS cấp chiến lược, cấp chiến dịch và cấp chiến thuật. Theo tính chất, nhiệm vụ, có: HTTTLLQS cố định, HT1TLLQS cơ động. Yêu cầu cơ bản của HTTTLLQS là: sẵn sàng chiến đấu cao, cơ động, vững chắc, bí mật và dung lượng lớn.

        HỆ THỐNG TRẬN ĐỊA PHÒNG NGỰ, toàn bộ công sự, trận địa dược xây dựng theo một ý định và kế hoạch thống nhất, tạo thành thế phòng ngự hoàn chỉnh, liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc, cơ động, đánh được địch từ các hướng: thành phần của hệ thống phòng ngự. HTTĐPN thường gồm: trận địa tác chiến vòng ngoài; các điểm tựa, cụm điểm tựa phòng ngự: các trận địa hỏa lực; các trận địa đánh địch đường bộ, đổ bộ đường không, đường sông, đường biển, trận địa làm sẵn; các trận địa lâm thời, trận địa dự bị, trận địa giả...; hệ thống đường, hào cơ động và địa đạo; công sự, trận địa ở khu vực hậu cần, kĩ thuật. Xây dựng HTTĐPN phải kết hợp chặt chẽ với hệ thống vật cản, hệ thống hỏa lực.

        HỆ THỐNG VẬT CẢN, toàn bộ các vật cản khác nhau được xây dựng theo một ý định và kế hoạch thống nhất để sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện, làm chậm sự cơ động (vận động) của địch, tạo điều kiện tiêu diệt chúng. Thành phần quan trọng của HTVC là các bãi mìn, cụm mìn chống tăng, chống bộ binh, bãi mìn chống đổ bộ đường biển, đường không, các nút vật cản... Trong tác chiến, HTVC được bố trí kết hợp chặt chẽ với địa hình và hệ thống hỏa lực.

        HỆ TỌA ĐỘ, tập hợp các yếu tố hình học (điểm, đường, mặt) sử dụng làm mốc chuẩn để đo tính các đại lượng xác định vị trí của các điểm bất kì (tức tọa độ của chúng) trong mặt phẳng hay trong không gian. Các HTĐ thường dùng trong QS là HTĐ vuông góc (Gauss, UTM), HTĐ cực (trong pháo binh dùng để chỉ thị mục tiêu), HTĐ địa lí, HTĐ thiên văn...

        HỆ TỌA ĐỘ TRẮC ĐỊA THẾ GIỚI (A. World Geodetic System, vt: WGS), hệ tọa độ không gian ba chiều, thuộc hệ thống định vị vệ tinh GPS. Trong ngành trắc địa, mỗi quốc gia dùng một hệ thống riêng (hệ tọa độ địa phương), vì vậy phải chuyển đổi HTĐTĐTG về hệ tọa độ địa phương hoặc ngược lại. Có rất nhiều hệ tọa độ WGS (tương ứng với các kích thước của êlípxôit): WGS-72, GRS-80, WGS-84,... WGS-84: HTĐTĐTG 1984 dùng trong hệ thống định vị vệ tinh GPS do phòng nghiên cứu chế tạo của BQP Mĩ đề xuất. Lấy tâm Trái Đất làm điểm gốc. Trục z chỉ hướng cực của Trái Đất. Trục X chỉ hướng là giao điểm của xích đạo và mặt khởi đầu của đường tí ngọ. Trục Y vuông góc với mặt phẳng của hai trục z, X thành hệ tọa độ tay phải. Hệ tọa độ WGS-84 có thông số cơ bản êlípxôit tương ứng do Hội trắc địa quốc tế IAG và Hội liên hiệp vật lí địa cầu IUGG quyết định tại hội nghị lần thứ 17: bán kính dài: a=6378137,0000m, độ dẹt: oc= 1:298,257223563.

        HỆ TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy cao nhất hệ quản lí học viên, chịu trách nhiệm trước đảng ủy và giám đốc học viện (hiệu trưởng) về chỉ huy, quản lí học viên học tập, rèn luyện: xây dựng hệ vững mạnh và hoàn thành các nhiệm vụ khác được giao. Nhiệm vụ của HT được quy định trong tiêu chuẩn chức vụ cán bộ QĐ.

        HỆ TƯ TƯỜNG, hệ thống những quan điểm chính trị, triết học, luật pháp, đạo đức, nghệ thuật,... của một giai cấp (chính đảng) phản ánh và bảo vệ địa vị, lợi ích của giai cấp (chính đảng) đó. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, HTT của giai cấp cầm quyền là HTT thống trị và đối lập với nó là HTT của giai cấp bị thống trị, bị bóc lột. Cuộc đấu tranh giữa các HTT đối lập là cuộc đấu tranh tư tưởng - một hình thức cơ bản của đấu tranh giai cấp. Thời đại ngày nay là cuộc đấu tranh giữa HTT tư sản và HTT vô sản (chủ nghĩa Mác - Lênin). HTT của giai cấp tiến bộ, CM có tác động tích cực đến sự phát triển của đời sống xã hội; ngược lại HTT của giai cấp lỗi thời, phản động có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của đời sống xã hội.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:41:52 PM

        HI LẠP (Cộng hòa Hi Lạp; Ellás, Ellinikí Dhimokratía, A. Greece, Hellenic Republic), quốc gia ở đông nam châu Âu, gồm: phần nam bán đảo Bancăng và khoảng 2.000 đảo trên các biển kê cận. Dt 131.957km2; ds 10,67 triệu người (2003); 99% người Hi Lạp. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Hi Lạp. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (98%). Thủ đô: Aten. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống, kiêm tổng tư lệnh các LLVT. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. 2/3 lãnh thổ là núi. Dãy núi Pinđu ở phía tây, đinh cao nhất (Ôlimpơ) 2.9llm. Đông bắc là cao nguyên Rôđôpê. Bán đảo Pêlôpônedơ nối với lục địa bởi eo đất hẹp bị kênh đào Côrinxici cắt ngang. Bờ biển cao, chia cắt mạnh. Khí hậu: cận nhiệt đới Địa Trung Hải, lượng mưa trung bình hàng năm: 350mm ở đồng bằng, 1.400mm ở vùng núi. Nước công nông nghiệp phát triển trung bình; công nghiệp: thực phẩm, dệt. hóa chất, khai khoáng, dầu khí...; nông nghiệp: lúa mì, ngô, kiều mạch... Du lịch và vận tải biển phát triển mạnh. GDP 117,169 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 11.060 USD. Thành viên LHQ (25.10.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 15.4.1975. LLVT: lực lượng thường trực 177.600 người (lục quân 114.000, hài quân 19.000, không quân 33.000,   các đơn vị và tổ chức trực thuộc BQP 11.600), lực lượng dự bị 291.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 1.735 xe tăng, 501 xe chiến đấu bộ binh, 1.980 xe thiết giáp chở quân. 180 xe thiết giáp trinh sát, 1.900 pháo mặt đất (trong đó 413 pháo tự hành và 134 pháo phản lực), 3.420 súng cối, 888 tên lửa chống tăng, 506 pháo phòng không, 1.083 tên lửa phòng không, 8 tàu ngầm, 2 tàu khu trục, 12 tàu frigat, 40 tàu tuần tiễu, 17 tàu quét mìn, 6 tàu đổ bộ, 20 tàu hộ tống, 418 máy bay chiến đấu, 15 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 3,5 tỉ USD (2002).
 
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66783152_451519625577923_3352206589955145728_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQk3_u6r23E7I5VvmotLBXWaRzJKlaSC-WHaiJcuZff9_LG60LorsBCBwA2M46YbfC8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=41c32b9c2de11148662e77b5132d3357&oe=5DBEDDA8)


        “HỊCH TƯỚNG SĨ”, tác phẩm của Trần Quốc Tuấn viết bằng chữ Hán trước cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285). Sau khi nêu các tấm gương trung nghĩa cổ kim. “HTS" đã vạch rõ hành động xâm lấn ngang ngược của kẻ thù, phê phán hiện tượng lơ là, ham vui chơi của các tì tướng, khuyến cáo về những thảm cảnh sẽ xảy ra nếu đất nước bị xâm lược, động viên tướng sĩ chăm lo học tập QS để chống giặc. “HTS” thể hiện tinh thần yêu nước, căm thù giặc, tinh thần quyết chiến quyết thắng quân xâm lược. Cg "Hịch tướng sĩ văn ” hay "Dụ chư tì tướng hịch văn ”.

        “HỊCH TƯỚNG SĨ VĂN” nh “HỊCH TƯỚNG SĨ”

        HIẾN BINH, bộ phận của lực lượng vũ trang một số nước và vùng lãnh thổ theo chế độ TBCN, thực hiện chức năng cảnh sát, đặc biệt khi cần trán áp các cuộc nổi dậy, biểu tình... của người lao động và tiến hành các hoạt động QS đối ngoại. Xuất hiện ở Pháp từ 1791, ở Nga 1792,... tổ chức tới cấp quân đoàn (quân đoàn HB ở Nga, 1827-1917). Ờ VN, HB được tổ chức trong Quân lực Việt Nam cộng hoà : đơn vị tổ chức cơ bản là đồn HB ở các tỉnh; cơ quan chỉ huy cao nhất là BTL HB.

        HIẾN CHƯƠNG ĐẠI TÂY DƯƠNG, điều ước quốc tế giữa Mĩ (tổng thống Rudơven) và Anh (thủ tướng Sơcsin) kí 14.8.1941 trên chiến hạm ở Đại Tây Dương. Nội dung bao gồm: những nguyên tắc chung tiến hành cuộc chiến tranh chống phát xít Đức và trục phát xít; cách sắp xếp lại thế giới sau CTTG-II: việc chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ; quyền của các dân tộc lựa chọn chính thể của mình. 9.1941 LX tham gia HCĐTD. 1.1.1942 có 26 quốc gia tán thành các nguyên tắc của HCĐTD đã kí kết thông cáo Oasinhtơn, hoàn chỉnh việc hình thành Đồng minh chống phát xít.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:43:01 PM

        HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC, điều ước quốc tế nhiều bên về việc thành lập Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế sau CTTG-II. do đại diện của 50 nước kí 20.6.1945 tại hội nghị Xan Phranxixcô (Mĩ), có hiệu lực từ 24.10.1945; một văn kiện pháp lí quốc tế hiện đại quy định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền quốc gia giữa các nước. Gồm phần mở đầu. 19 chương với 111 điều. Nội dung chủ yếu: quyết định việc thành lập LHQ; tuyên bố tôn chỉ, mục đích (chủ yếu là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế); xác định cơ cấu tổ chức (gồm 6 cơ quan chính: Đại hội đồng. Hội đồng bào an Liên hợp quốc, Hội đống kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế, Ban thư kí) và nguyên tắc hoạt động của LHQ. Thực tiễn hoạt động của LHQ là quá trình liên tục đấu tranh giữa các lực lượng tiến bộ và hòa bình với các thế lực đế quốc và phản động quốc tế để những giá trị pháp lí của HCLHQ thành hiện thực.

        HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỮ NGHĨA VIỆT NĂM 1992. luật cơ bản có hiệu lực pháp lí cao nhất của nước CHXHCN VN; được Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ 11 thông qua (15.4.1992) và Quốc hội khóa X, kì họp thứ 10 sửa đổi, bổ sung một số điều (12.12.2001). Gồm 12 chương, 147 điều, quy định về: chế độ chính trị - xã hội; kinh tế; văn hóa, xã hội; quốc phòng và an ninh; quyền và nghĩa vụ của công dân; cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước; thể chế hóa quyển làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của nhà nước. HPNCHXHCNVN 1992 xác định: nhà nước CHXHCN VN là của nhân dân. do nhân dân và vì nhân dân: tất cả quyển lực nhà nước thuộc về nhân dân. nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân, theo nguyên tắc tập trung dân chủ; ĐCS VN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, hoạt động theo hiến pháp và pháp luật; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc, khoa học. nhân văn và đại chúng; phát triển và thống nhất quản lí hệ thống giáo dục quốc dân; củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dán và an ninh nhân dân mà nòng cốt là Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam: bảo đảm quyền của công dân; quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền lập hiến và lập pháp, giám sát tối cao hoạt động của nhà nước; chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước và thống lĩnh LLVTND, do quốc hội bầu trong số đại biếu quốc hội; chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Hiến pháp 1992 kế thừa và phát triển những nội dung cơ bản của Hiến pháp nước VN DCCH (1946; 1959) và Hiến pháp nước CHXHCN VN (1980).

        HIỆN TRẠNG BIÊN GIỚI, trạng thái biên giới hiện tại đang quản lí đã có sự tác động làm thay đổi so với nguyên trạng biên giới đã được xác định bằng các hiệp ước về biên giới do hai nhà nước kí kết. HTBG thường do các hoạt động lấn chiếm biên giới gây ra; một nguyên nhân gây ra tranh chấp, xung đột và chiến tranh biên giới... Để chấm dứt việc quản lí biên giới theo hiện trạng, hai nhà nước phải tiến hành đàm phán, kí hiệp ước về biên giới, tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa và dựa vào hiệp ước, hiệp định về biên giới để quản lí.

        HIỆP ĐỊNH, điều ước quốc tế giữa hai hoặc nhiều nước nhằm thỏa thuận những vấn đề cụ thể về chính trị, QS, kinh tế, văn hóa, kĩ thuật... Có: HĐ sơ bộ (thỏa thuận tạm thời để đi tới chính thức), HĐ chính thức, HĐ bổ sung cho hiệp ước (HĐ QS bổ sung cho hiệp ước liên minh chính trị), HĐ giải quyết những vấn đề đặc biệt trong quan hệ quốc tế (HĐ biên giới, hiệp định đình chiến, HĐ đường sắt, HĐ bưu điện. HĐ trao đổi văn hóa...). HĐ có tầm quan trọng thấp hơn hiệp ước.

        HIỆP ĐỊNH ĐÌNH CHIẾN, hiệp định ngừng các hoạt động quân sự trên chiến trường giữa các bên tham chiến trong xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, nhằm từng bước chấm dứt cuộc chiến. HĐĐC phán ánh kết quả hoạt động tác chiến. so sánh lực lượng, thiện chí, thế và lực... của các bên; có thể được công nhặn hoặc bảo đảm quốc tế. Việc thực thi HĐĐC tùy thuộc trách nhiệm thực tế của các bên và quá trình tiếp tục đấu tranh phức tạp, quyết liệt chống sự vi phạm.

        HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1954 VỂ CAMPUCHIA. hiệp định đình chiến ở Campuchia kí 20.7.1954 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) giữa đại diện tổng tư lệnh các LLVT kháng chiến Khơme và đại diện tổng tư lệnh QĐND VN (thứ trường BQP Tạ Quang Bửu) với đại diện tổng tư lệnh LLVT quốc gia Khơme (tướng Nhiếc Tioulong); văn bản pháp lí quốc tế xác nhận việc chấm dứt chế độ thuộc địa Pháp ở Campuchia. Gồm 5 chương 33 điều. Nội dung chính: ngừng bắn và đình chỉ hoàn toàn xung đột trên lãnh thổ Campuchia; quy định thời gian và thể thức rút các LLVT và nhân viên QS nước ngoài ra khỏi Campuchia: khẳng định trách nhiệm của chính phú hoàng gia không được phân biệt đối xử, đàn áp trả thù những người Khơme kháng chiến và gia đình; cấm đưa QĐ, nhân viên QS, vũ khí, đạn dược mới vào Campuchia; cấm Campuchia tham gia liên minh QS trái với Hiến chương LHQ, không cho phép nước ngoài đặt căn cứ QS trên lãnh thổ Campuchia...


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:43:52 PM

        HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1954 VỂ LÀO, hiệp định đình chiến ở Lào kí 20.7.1954 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) giữa đại diện tổng tư lệnh các đơn vị Pathét Lào và đại diện tổng tư lệnh QĐND VN (thứ trướng BQP Tạ Quang Bửu) với đại diện tổng tư lệnh QĐ Liên hiệp Pháp ở Đông Dương (tướng Đentây); văn bản pháp lí quốc tế xác nhận việc chấm dứt chế độ thuộc địa Phap và thừa nhận địa vị chính đáng của Pathét Lào. Gồm 6 chương. 40 điều. Nội dung chính: ngừng bắn và đình chi hoàn toàn xung đột trên lãnh thổ Lào; quy định thời gian và thể thức rút QĐ Pháp và quân tình nguyện VN ra khỏi lãnh thổ Lào; cấm đưa QĐ, nhân viên QS, vũ khí, đạn dược mới vào Lào; Cấm lập căn cứ QS mới; Pháp được để lại 1.500 sĩ quan và hạ sĩ quan để huấn luyện cho QĐ hoàng gia Lào và 3.500 nhân viên QS để duy trì hai căn cứ Qs Pháp ở Sê Nô và Viêng Chăn; QĐ Pathét Lào tập kết về hai tinh Sầm Nưa và Phongxalì; các bên cam kết không trả thù và phân biệt đối xử đối với những người và tổ chức vì lí do hoạt động trong thời kì chiến sự...

        HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1954 VỂ VIỆT NAM, hiệp định đình chiến ở VN kí 20.7.1954 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) giữa đại diện tổng tư lệnh QĐND VN (thứ trưởng BQP Tạ Quang Bửu) với đại diện tổng tư lệnh QĐ Liên hiệp Pháp ở Đông Dương (tướng Đentây); được công nhận trong tuyên bố chung 21.7.1954 của hội nghị quốc tế về lập lại hòa bình ở Đông Dương họp ở Giơnevơ, gồm đại diện các chính phủ: Campuchia, quốc gia VN, Mĩ, Pháp, Lào, VN DCCH, TQ, Anh, LX. Gồm 6 chương, 47 điều và 1 phụ bản. Nội dung chính: xác định giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự. thực hiện ngừng bắn: quy định những biện pháp cho việc tập kết lực lượng của hai bên; ngăn cấm phá hoại tài sản công cộng, trả thù và phân biệt đối xử, bảo đảm quyển tự do lựa chọn địa điểm cư trú: các bên không tham gia liên minh QS, không lập căn cứ QS mới và cấm đưa thêm QĐ, nhân viên QS, vũ khí, đạn dược vào VN; trao trả tù binh và dân thường bị bắt và giam giữ trong chiến tranh. Sau khi hiệp định có hiệu lực, Mĩ đã thay Pháp thống trị miền Nam VN bằng chủ nghĩa thực dân mới. cùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm công khai xóa bỏ hiệp định và từ bỏ những cam kết quốc tế.

        HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ 1962 VỂ LÀO, hiệp định về Lào do đại diện 14 chính phủ (Ấn Độ, Anh, Ba Lan, Campuchia, Canada, Lào, Mianma, Mĩ, Pháp, Thái Lan, LX, TQ, VN DCCH, VN cộng hòa) tham dự hội nghị Giơnevơ, kí 23.7.1962. Gồm bàn tuyên bố về nền trung lập của Lào (văn kiện chủ yếu của hội nghị) và các nghị định thư kèm theo. Nội dung chính: khẳng định những điều khoản cơ bản của hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào; công nhận tuyên bố trung lập (9.7.1962) của chính phủ Vương quốc Lào; cam kết và kêu gọi các nước khác tôn trọng chủ quyền độc lập, trung lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Lào; không hoạt động hoặc tham gia bất cứ hoạt động nào có thể trực tiếp hoặc gián tiếp phương hại đến các phương diện đó; không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác phương hại đến hòa bình của Lào; không đặt ra những điều kiện có tính chất chính trị kèm theo viện trợ cho Lào; không đưa Lào vào bất cứ một liên minh quân sự nào; không thừa nhận sự bảo hộ của bất cứ liên minh QS nào đối với Lào... Hiệp định đánh dấu bước tiến của CM Lào, làm phá sản âm mưu của Mĩ và tay sai muốn thủ tiêu thành quả của CM Lào.

        HIỆP ĐỊNH PARI 1973 VỂ VIỆT NAM. hiệp định đình chiến ở VN kí 27.1.1973 tại Pari (Pháp) giữa đại diện chính phủ VN DCCH (bộ trường Bộ ngoại giao Nguyền Duy Trinh) với đại diện chính phủ Mĩ (bộ trưởng Bộ ngoại giao Uyliam p. Rôgiơ) và đại diện bốn bên tham gia hội nghị Pari (VN DCCH, Cộng hòa miền Nam VN, Mĩ, VN cộng hòa). Gồm 9 chương, 23 điều và 4 nghị định thư. Nội dung : Mĩ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của VN; các bên thực hiện ngừng bắn, chấm dứt chiến sự không thời hạn; Mĩ chấm dứt mọi hoạt động QS chống VN DCCH. tháo gỡ, phá hủy tất cả mìn ở vùng biển, cảng và sông ngòi ở miền Bắc VN, không tiếp tục dính líu QS hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam VN; Mĩ và các nước khác rút hết QĐ, cố vấn, nhân viên QS, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh... ra khỏi miền Nam VN; hủy bỏ những căn cứ QS của Mĩ và nước ngoài ở miền Nam VN; các bên tiến hành trao trả nhân viên QS, thường dân nước ngoài, nhân viên dân sự VN bị bắt; thực hiện quyển tự quyết của nhân dân miền Nam VN thông qua tổng tuyển cử tự do, dân chủ, có sự giám sát quốc tế; thực hiện thống nhất VN thông qua hiệp thương giữa hai miền Bắc và miền Nam; VN không tham gia liên minh hoặc khối QS nào; Mĩ cam kết đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở VN và Đông Dương. Trong thực tế, Mĩ chỉ thực hiện những điều khoản có lợi và cùng với chính quyền Sài Gòn vi phạm có hệ thống những điều khoản chủ yếu của hiệp định.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:45:17 PM

        HIỆP ĐỊNH PARI 1991 VỀ CAMPUCHIA X. HIỆP ĐỊNH VỂ MỘT GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO CUỘC XUNG ĐỘT CAMPUCHIA (1991)

        HIỆP ĐỊNH QUÂN SỰ GIÔNXON - NGÔ ĐÌNH DIỆM, hiệp định kí bí mật 13.5.1961 tại Sài Gòn giữa phó tổng thống Mĩ Giônxơn và Ngô Đình Diệm về việc Mĩ cam kết tăng cường viện trợ QS cho chính quyền Ngô Đình Diệm, sẵn sàng đưa quân chiến đấu Mĩ vào trợ giúp QĐ Sài Gòn tiến hành chiến tranh chống phong trào CM ở miền Nam VN. Do tính chất bí mật QS, hiệp định khổng được công bố chi tiết, nhưng tinh thần cơ bản được nêu một phần trong thông cáo chung Giônxơn - Ngô Đình Diệm: tăng gấp đôi lực lượng chính quy của QĐ Sài Gòn (200.000 quân), sáp nhập lực lượng bảo an vào BQP do Mĩ trang bị; nhân viên QS Mĩ điều hành QĐ Sài Gòn, phái đoàn QS MAAG tăng thêm 1.000 nhân viên (25%); Mĩ viện trợ QS 40 triệu USD (1961); Mĩ cử chuyên viên kĩ thuật, tài chính để kiểm soát và quyết định chi tiêu viện trợ QS... HĐQSG-NĐD đánh dấu bước chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt và mở đường cho Mĩ trực tiếp can thiệp QS ở miền Nam VN.

        HIỆP ĐỊNH SALT-1 nh HIỆP ĐỊNH TẠM THỜI XÔ -  MĨ VỀ HẠN CHẾ VŨ KHÍ TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC

        HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ VIỆT - PHÁP (6.3.1946), hiệp định kí tại Hà Nội giữa đại diện chính phủ VN DCCH (chủ tịch Hồ Chí Minh) và đặc ủy viên Hội đồng các bộ trưởng (Vũ Hồng Khanh) với đại diện chính phủ Pháp (Xanhtơni). Nội dung chủ yếu : nước Pháp công nhận VN là một quốc gia tự do, có chính phủ. nghị viện, QĐ, tài chính riêng trong Liên bang Đỏng Dương và Khối liên hiệp Pháp; VN thỏa thuận cho QĐ Pháp vào thay QĐ Trung Hoa dân quốc (QĐ Tưởng Giới Thạch) trong thời hạn không quá 5 năm; hai bên đình chiến, QĐ hai bên giữ nguyên vị trí đóng quân để tiến hành đàm phán chính thức. HĐSBV-P tạo cho VN có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến, loại bớt một kẻ thù nguy hiểm (20 vạn quân Tưởng). Trên thực tế, Pháp không tôn trọng HĐSBV-P. VN kiên trì đấu tranh và được sự đồng tình của dư luận tiến bộ ở Pháp và thế giới, hai bên đã tiến hành hội nghị trù bị Đà Lạt (19.4-11.5.1946) và đàm phán ở hội nghị Phôngtennơblô (6.7-13.9.1946), nhưng không đạt được một thỏa thuận nào.

        HIỆP ĐỊNH TẠM THỜI XÔ - MĨ VỂ HẠN CHẾ VŨ KHÍ TIỂN CÔNG CHIẾN LƯỢC, hiệp định kí 26.5.1972 tại Maxcơva giữa tổng bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX Brêgiơnep và tổng thống Mĩ Níchxơn về việc LX và Mĩ cam kết giữ nguyên trạng trong 5 năm đối với tổng số tên lửa đường đạn bố trí trên lãnh thổ đất và tàu ngầm của mỗi nước (không tính máy bay ném bom chiến lược). Nội dung chính: quy định đến 10.1977 số lượng tên lửa trên lãnh thổ đất và tàu ngầm của LX là 1.408 và 950. tương ứng của Mĩ là 1.054 và 656 (mỗi nước được phép có thêm tên lửa trên tàu ngầm với điều kiện phải giảm đi số lượng tương ứng tên lửa trên mặt đất); việc giám sát được thực hiện theo hiệp ước Xô - Mĩ về hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa (ABM). Khi hiệp định hết hạn (10.1977), LX và Mĩ đã tuyên bố tiếp tục thi hành các điều khoản cho đến khi kí kết một hiệp ước mới (SALT-2). Hiệp định đã góp phần kiểm chế phát triển về số lượng vũ khí tiến công chiến lược của LX và Mĩ, nhưng lại thúc đẩy các bên cải tiến chất lượng của loại vũ khí đó. Cg hiệp định SALT-1.

        HIỆP ĐỊNH VỂ MỘT GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CHO CUỘC XUNG ĐỘT CAMPUCHIA (1991), hiệp định được các nước (Ôxtrâylia, Brunây, Campuchia, Canada, TQ, Pháp, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bàn, Lào, Malaixia, Philippin. Xingapo, Thái Lan, LX, Anh, Mĩ, VN, Nam Tư) dự hội nghị Pari về Campuchia kí 23.10.1991. Gồm 9 phần với 32 điều khoản và 5 phụ lục. Nội dung chủ yếu: thực hiện một thời kì chuyển tiếp ở Campuchia, bắt đầu khi hiệp định có hiệu lực và kết thúc khi bầu được cơ quan lập hiến, thông qua hiến pháp và thành lập chính phủ mới, trong đó thiết lập một cơ quan quyền lực quá độ của LHQ (UNTAC) và một cơ quan quyền lực hợp pháp của Campuchia (Hội đồng dân tộc tối cao) để phối hợp thực hiện hiệp định; rút lực lượng QS nước ngoài ra khỏi Campuchia; ngừng bắn và chấm dứt viện trợ QS từ bên ngoài; bầu cử tự do dưới sự bảo trợ của LHQ; thực hiện nhân quyền và có biện pháp đặc biệt để không tái diễn những chính sách và việc làm của quá khứ (như diệt chủng); cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, trung lập và thống nhất dân tộc của Campuchia; hồi hương người tị nạn và người buộc phải rời bỏ quê hương; thả tù binh và thường dân bị giam giữ; xác định những nguyên tắc của một bản hiến pháp mới cho Campuchia; khôi phục và tái thiết Campuchia. Hiệp định đã được các bên thi hành (trừ phái Khơme Đỏ), Campuchia đã tiến hành bầu cử quốc hội, thông qua hiến pháp mới theo chính thể quân chủ lập hiến và thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc. Cg hiệp định Pari 1991 về Campuchia.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:46:24 PM
     
        HIỆP ĐỊNH VỂ QUY CHẾ BIÊN GIỚI QUỐC GIA, hiệp định cụ thể hóa hiệp ước biên giới giữa những nước có chung biên giới, nhằm định ra những nguyên tắc và biện pháp giải quyết vấn đề về biên giới như: bảo vệ đường biên giới và mốc biên giới, khu vực biên giới; quyền lợi và nghĩa vụ của dân cư biên giới và mốc biên giới, khu vực biên giới; quyền lợi và nghĩa vụ của dân cư biên giới; chế độ bảo vệ, kiểm tra mốc giới; sử dụng sông, suối trên đường biên giới; thủ tục, giấy tờ qua lại biên giới; mậu dịch biên giới... CHXHCN VN đã kí HĐVQCBGQG với Cộng hòa nhân dân Campuchia 20.7.1983 tại tp Hồ Chí Minh, CHDC nhân dân Lào 1.3.1990 tại tp Hồ Chí Minh, và hiệp định tạm thời giữa Chính phủ
CHXHCN VN và chính phú Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước 7.11.1991 tại Bắc Kinh.

        HIỆP ĐỊNH XÔ - MĨ VỀ NGĂN CHẶN CHIÊN TRANH HẠT NHÂN, hiệp định kí 22.6.1973 tại Oasinhtơn (Mĩ) giữa tổng bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX Brêgiơnep và tổng thòng Mĩ Nichxơn về việc LX và Mĩ cam kết và kêu gọi các nước cùng cam kết loại bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân và sử dụng vũ khí hạt nhân. Nội dung chính: các nước thành viên sẽ có những biện pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa việc triển khai những hành động có khả năng gây nên sự đe dọa nghiêm trọng trong mối quan hệ giữa các nước hoặc đối đầu QS, bùng nổ chiến tranh; kiềm chế sự đe dọa hay sử dụng vũ lực chống lại nước khác, có thể gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh quốc tế; khi quan hệ giữa các nước (là thành viên và không thành viên) xuất hiện mối nguy hiểm của một cuộc xung đột hạt nhân, LX và Mĩ sẽ ngay lập tức tiến hành bàn bạc khẩn cấp với các nước khác, cung cấp tin tức cho Hội đồng bào an LHQ và cố gắng bằng mọi cách để ngăn chặn nguy cơ đó; các nước thành viên có quyền tự vệ chính đáng theo điều 51 Hiến chương LHQ và quyền tham gia các hiệp ước, hiệp định, văn kiện thích hợp khác. Hiệp định không giới hạn về thời gian, có hiệu lực ngay sau khi kí.

        HIỆP ĐỒNG CHIẾN ĐẤU PHÁO BINH, phối hợp hành động chiến đấu trong nội bộ pháo binh và giữa pháo binh với các lực lượng chiến đấu khác theo nhiệm vụ (mục tiêu), hướng (khu vực), thời gian... nhằm đạt được mục đích chung của trận chiến đấu (chiến dịch). Trong tác chiến độc lập, HĐCĐPB chủ yếu tiến hành trong nội bộ pháo binh. Trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, HĐCĐPB do người chỉ huy trận chiến đấu (chiến dịch) tổ chức và tiến hành; pháo binh phải chủ động hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị binh chung hợp thành. LLVT địa phương và trong nội bộ pháo binh về hỏa lực và cơ động. HĐCĐPB tiến hành liên tục, điều chỉnh (bổ sung) kịp thời và nhanh chóng khôi phục khi bị gián đoạn trong quá trình chiến đấu (chiến dịch).

        HIỆP ĐỒNG CHIẾN ĐẤU TRONG XE TĂNG, phối hợp hành động chiến đấu giữa các thành viên trong kíp xe tăng về đường, hướng, phương pháp điều khiển xe tăng cơ động; quan sát chiến trường, phát hiện mục tiêu; chọn loại vũ khí, đạn và phương pháp bắn, quan sát kết quả bắn... để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của kíp xe tăng. HĐCĐTXT được tổ chức trước trận chiến đấu và được điều chỉnh, bổ sung liên tục trong suốt quá trình chiến đấu, do kíp trưởng (người chỉ huy xe tăng) điều hành. Khi hệ thống thông tin liên lạc trong xe thông suốt, nội dung HĐCĐTXT được truyền đạt bằng các mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo của các thành viên trong kíp xe tăng; khi mất thông tin liên lạc, nội dung HĐCĐTXT được truyền đạt dưới dạng các kí hiệu, tín hiệu; có thể kết hợp cả hai phương pháp.

        HIỆP ĐỒNG HẬU CẦN, phối hợp hành động giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng nhằm hoàn thành với chất lượng, hiệu quả cao nhất nhiệm vụ báo đảm hậu cần cho hoạt động tác chiến. Thực hiện trên cơ sở kế hoạch hậu cần đã được cấp chỉ huy  phê chuẩn. Được tiến hành giữa các đơn vị chủ lực với nhau; giữa cơ quan và đơn vị hậu cần cấp trên với hậu cần cấp dưới, hậu cấn chiến lược với hậu cần chiến dịch, hậu cần đơn vị chủ lực với hậu cần QS địa phương, hậu cần QĐ với hậu cần khu vực phòng thủ tinh, thành phố; giữa các ngành, ban trong cơ quan đơn vị hậu cần và giữa hậu cần chiến lược với các cơ quan kinh tế nhà nước. Nội dung HĐHC có thể được thể hiện bằng văn bản hoặc qua gặp gỡ trực tiếp, song đều phải chỉ rõ khối lượng, trình tự thời gian, địa điểm, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ hậu cần của từng đối tượng hiệp đồng; thứ tự và biện pháp bảo đảm thông tin liên lạc, báo cáo, xử trí tình huống. Tổ chức hiệp đồng có thể thực hiện trên sa bàn, trên bản đồ hoặc trên thực địa.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:48:01 PM

        HIỆP ĐỒNG HỎA LỰC, phối hợp sử dụng các loại hỏa lực của các phân đội, binh đội, quân chủng, binh chủng và các lực lượng khác trong tác chiến để sát thương, phá hoại mục tiêu. HĐHL có thể tiến hành theo nhiệm vụ, mục tiêu, tuyến, hướng hoặc theo thời gian. Để đảm bảo HĐHL, phải thống nhất tên gọi các địa vật, vật chuẩn, tín hiệu bắn, di chuyển hòa lực, thôi bắn, dấu hiệu nhận biết bộ đội ta và cách đánh dấu các tuyến, các mục tiêu đã chiếm được.

        HIỆP ĐỒNG TÁC CHIÊN, phối hợp hành động giữa các lực lượng tham chiến theo nhiệm vụ, hướng, khu vực, mục tiêu, địa điểm, thời gian và phương pháp tiến hành, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện mục đích tác chiến; một nguyên tắc của nghệ thuật QS. Có hiệp đồng chiến lược, hiệp đồng chiến dịch, hiệp đồng chiến đấu. HĐTC phải dựa vào kế hoạch tác chiến, lấy đơn vị thực hiện nhiệm vụ chủ yếu làm trung tâm. HĐTC được thực hiện giữa các đơn vị bộ đội chủ lực, giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và dân quân du kích, giữa lực lượng tác chiến ở phía trước và lực lượng hoạt động ở phía sau đối phương... Tổ chức HĐTC là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong chuẩn bị tác chiến. Nội dung và thứ tự hiệp đồng do người chỉ huy xác định khi hạ quyết tâm tác chiến. Ra chỉ thị hiệp đồng đồng thời với việc giao nhiệm vụ tác chiến, được bổ sung trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến. Trong tiến công, HĐTC được tổ chức theo nhiệm vụ, hướng, khu vực, mục tiêu, địa điểm và thời gian (chi tiết nhất là trong chiều sâu nhiệm vụ trước mắt); trong phòng ngự HĐTC được tổ chức theo nhiệm vụ, hướng địch tiến công, hướng phản kích (phản đột kích). Hiệp đồng chiến đấu là hiệp đồng hỏa lực, đột kích và cơ động của các binh đoàn, binh đội, phân đội tham gia trận chiến đấu nhằm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu chung. Việc tổ chức hiệp đồng chiến đấu thường được tiến hành trên thực địa; nội dung chủ yếu của hiệp đồng chiến đấu được thể hiện trên bản đồ quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Hiệp đồng chiến dịch là hiệp đồng giữa các lực lượng tham gia chiến dịch trên một hoặc một số hướng chiến dịch. Tổ chức hiệp đồng chiến dịch thường được tiến hành trên bản đồ hoặc trên sa bàn, khi có điều kiện thì tiến hành trên thực địa ở hướng (khu vực) chủ yếu. Nội dung và thứ tự hiệp đồng được thể hiện thành kế hoạch hiệp đồng, một bộ phận của kế hoạch chiến dịch. Hiệp đồng chiến lược là hiệp đồng giữa các tập đoàn lực lượng lớn tiến hành chiến dịch, chiến dịch chiến lược, trên một hoặc một số chiến trường (hướng chiến lược) nhằm đạt mục đích chiến dịch chiến lược, chiến cục hoặc chiến tranh. Trong chiến tranh liên minh, hiệp đồng được tổ chức và thực hiện giữa LLVT nhiều nước trong liên minh và giữa các tập đoàn chiến lược của LLVT mỗi nước.

        HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN HẢI QUÂN, hiệp đồng tác chiến theo nhiệm vụ, mục tiêu, địa điểm, thời gian và phương pháp thực hiện nhiệm vụ giữa các tàu (máy bay), các phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn hải quân với nhau và giữa các lực lượng hải quân với các lực lượng khác nhằm đạt mục đích chung của trận chiến đấu (chiến dịch) trên biển. Có hiệp đồng: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược.

        HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN HẢI QUÂN VỚI KHÔNG QUÂN, hiệp đỏng tác chiến giữa lực lượng hải quân với không quân theo nhiệm vụ, mục tiêu, địa điểm, thời gian và phương pháp thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích chung của trận chiến đấu (chiến dịch) trên biển. Có hiệp đồng: chiến thuật, chiến dịch và chiến lược.

        HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN KHÔNG QUÂN, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng không quân, giữa lực lượng không quân với các lực lượng phòng không ba thứ quân và các lực lượng khác nhầm tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động và hiệu suất chiến đấu. Căn cứ vào nhiệm vụ và quyết tâm tác chiến, đơn vị không quân làm kế hoạch hiệp đồng chặt chẽ, chính xác để phát huy sức mạnh của các lực lượng, các loại vũ khí, hiệu quả hỏa lực tiêu diệt địch. Yêu cầu phải chấp hành nghiêm các nguyên tắc hiệp đồng, quy định chung; phái nắm chắc nhiệm vụ của đơn vị mình được hiệp đồng. Có HĐTCKQ: đánh ngoài hỏa lực, đánh trong hỏa lực, đánh theo thời gian, hướng, độ cao và khu vực; hiệp đồng giữa các loại máy bay đánh theo nhiều tầng, nhiều lớp và không vực khác nhau...

        HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng phòng không với nhau, giữa lực lượng phòng không với không quân, và với các lực lượng khác về nhiệm vụ (mục tiêu) hướng, tuyến (khu vực), độ cao và thời gian nhằm thực hiện mục đích của trận chiến đấu (chiến dịch) phòng không.

        HIỆP ĐỒNG TRINH SÁT, phối hợp hành động và phát huy nỗ lực của các lực lượng quân báo (trinh sát) nhằm đạt mục đích chung của trinh sát, phục vụ chiến đấu có hiệu quả. Có thể HĐTS theo nhiệm vụ, mục tiêu, thời gian, địa điểm, phương pháp hành động và trao đổi tin tức kịp thời giữa các cơ quan tham mưu và các phân đội trinh sát. HĐTS căn cứ vào: khả năng của các lực lượng trinh sát và tính năng của các phương tiện, khí tài trinh sát, nhiệm vụ, mục tiêu trinh sát. HĐTS được tiến hành trong chuẩn bị và thực hành tác chiến.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:50:01 PM

        HIỆP HỘI CỰU CHIẾN BINH ASEAN (A. Veterans Confederation ASEAN Countries, vt: VECONAC), liên minh tổ chức cựu chiến binh của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Mục đích hoạt động: phối hợp hành động vì quyền lợi các cựu chiến binh, thương binh, phế binh và nạn nhân chiến tranh; tăng cường hiểu biết và hợp tác giữa hội cựu chiến binh các nước phấn đấu cho hòa bình, thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới. Thành lập 12.1980 tại Giacacta (Inđônêxia), gồm 5 thành viên sáng lập là các liên đoàn cựu chiến binh: Inđônêxia, Malaixia, Philippin. Xingapo và Tổ chức cựu chiến binh chiến tranh Thái Lan. 1986 Liên đoàn cựu chiến binh Brunây và 3.1997 Hội cựu chiến binh Việt Nam gia nhập HHCCBASEAN. Cơ quan quyền lực cao nhất là Đại hội đại biểu HHCCBASEAN (hai năm một lần); cơ quan thường trực gồm chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư kí (chủ tịch và tổng thư kí thay đổi hai năm một lần, bắt dầu từ Inđônêxia, 1988) và ủy ban điều hành (họp 6 tháng một lần). 20-23.10.2003, đại hội lần thứ 10 HHCCBASEAN họp tại Hà Nội (VN), chủ tịch Hội cựu chiến binh VN Đặng Quân Thụy được bầu là chủ tịch HHCCBASEAN (2003-05).

        HIỆP NGHỊ MUYNICH (1938), hiệp nghị phân chia Ttệp Khắc, kí đêm 29 rạng 30.9 trong cuộc họp tại Muynich (Đức) giữa những người đứng đầu các chính phủ Anh (Chambơlên). Pháp (Đalađiê). Đức (Hitle) và Ý (Mutxôlini), không có đại diện của Tiệp Khắc tham dự. Diễn ra trong bối cảnh Tiệp Khắc đang bị Đức gây áp lực cả về chính trị, QS, đặc biệt sau khi Đức chiếm Áo (3.1938). Anh, Pháp lúc này muốn tránh cuộc xâm lược của Đức, nên chủ trương nhượng bộ nhằm đẩy cuộc xâm lược sang phía đông, chống LX. HNM quy định từ 1 đến 10.10.1938 Tiệp Khắc phải giao cho Đức vùng Xuđet và các khu vực giáp giới với Áo và trong vòng ba tháng phải thỏa mãn tham vọng của Ba Lan, Hunggari về những vùng đất của Tiệp Khắc. Khác với các chính phủ Anh. Pháp đã phản bội đồng minh của mình, chính phủ LX đã ủng hộ và tiến hành nhiều biện pháp lớn để chi viện cho Tiệp Khắc (tập trung 30 sư đoàn cùng với bộ đội xe tăng và không quân tại biên giới phía tây LX, nhiều lần kêu gọi các nước lớn phương Tây áp dụng các biện pháp tập thể để ngăn chặn sự xâm lược của Đức). Chính phủ tư sản Tiệp Khắc do tổng thống E. Benet lãnh đạo xuất phát từ quyền lợi giai cấp hẹp hòi đã bất chấp đòi hỏi của các lực lượng dân chủ trong nước, chấp nhận các điều kiện của hiệp nghị, để cho Đức đưa quân vào chiếm toàn Tiệp Khắc (3.1939). HNM là biểu hiện cực điểm của chính sách không can thiệp và hòa hoãn của các chính phủ Anh và Pháp được Mĩ ủng hộ về ngoại giao, tạo điều kiện cho phát xít Đức gây ra CTTG-II. Sau chiến tranh, HNM không còn hiệu lực.

        HIỆP ƯỚC. điều ước quốc tê do hai hoặc nhiều nước kí kết nhằm xác lập những nội dung cơ bản và nguyên tắc chu yếu định hướng chung cho các mối quan hệ về chính trị, QS. kinh tế, văn hóa... giữa các nước tham gia HƯ. HƯ được dùng làm cơ sở cho việc soạn thảo các hiệp định, các nghị định thư liên quan đến việc thực hiện các điều khoản đã cam kết... Theo số bên tham gia. có: HƯ hai bên, HƯ nhiều bên, HƯ chung và HƯ khu vực; theo thể thức tham gia, có: HƯ mở (các nước quan tâm đều có thể tham gia) và HƯ đóng (chỉ có sự tham gia của các bên đã soạn thảo và kí HƯ). Trong thực tế, thực hiện HƯ là quá trình đấu tranh về mọi mặt giữa các bên tham gia HƯ.

        HIỆP ƯỚC ABM x. HIỆP ƯỚC XÔ - MỈ VỀ HẠN CHÊ HỆ THỐNG PHÒNG THỦ CHỐNG TÊN LỬA

        HIỆP ƯỚC AN NINH NHẬT - MĨ (1951), hiệp ước kí kết giữa Mĩ và Nhật Bản tại Oasinhtơn (Mĩ) 8.9.1951 trên cơ sở kết quả của hội nghị hòa giải Nhật - Mĩ sau CTTG-II. Gồm lời nói đầu, 5 điều khoản cơ bản. Nội dung chủ yếu: Mĩ được quyền đóng quân (cả hải quân, lục quân, không quân) trên lãnh thổ đất và khu vực xung quanh Nhật Bản nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, ngăn ngừa các cuộc tiến công QS và mọi sự can thiệp của các nước khác vào vùng Viễn Đông và Nhật Bản; về phía Nhật Bản. không cho nước thứ ba hoặc hải quân, lục quân, không quân của nước thứ ba quyền lập căn cứ, diễn tập, quá cảnh nếu Mĩ không đồng ý. Việc Mĩ và Nhật Ban kí kết HƯANN-M không có sự tham gia của các nước trong khu vực đã tạo cho Mĩ quyền độc quyền khống chế Nhật Bàn về mặt QS.

        HIỆP ƯỚC BALI, hiệp ước kí 24.2.1976 giữa 5 nước Đông Nam Á (Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan) tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất họp ở Ball (Inđònêxia); cơ sở pháp lí để xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa các nước ASEAN. Gồm phần mở đầu, 5 chương, 20 điều. Nội dung: thúc đẩy hòa bình, hữu nghị và hợp tác vì lợi ích chung giữa các nước thành viên theo nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc; không can thiệp, lật đổ hay tạo sức ép từ các nước thành viên; không can thiệp nội bộ; giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng phương pháp hòa bình; không đe dọa hay sử dụng vũ lực; tăng cường hợp tác về nhiều mặt có hiệu quả. Trong quá trình thực hiện HƯB, mọi quyết định quan trọng phải được các nước thành viên nhất trí thông qua trên cơ sở bình đẳng. Đến 12.1998 đã có 10 nước thành viên, trong đó VN kí 22.7.1992. Cg hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:51:12 PM

        HIỆP ƯỚC BECLIN (1940), hiệp ước hình thành trục phát xít, kí 27.9.1940 tại Beclin (Đức) giữa Đức, Ý và Nhật nhằm mở rộng CTTG-II, phân chia lại phạm vi thống trị thế giới. HƯB quy định: Đức và Ý có vai trò chủ đạo trong việc lập “trật tự mới” ở châu Âu; Nhật ở “Đại Đông Á”; ba nước cam kết hợp tác và ủng hộ nhau toàn diện cả về QS, kinh tế, chính trị khi một trong ba nước bị tấn công. HƯB có giá trị 10 năm, có hiệu lực ngay sau khi kí. 1940-41 các chính phủ: Hunggari, Rumani, Bungari, Tây Ban Nha, Croatia, Phần Lan. Thái Lan, Mãn Châu... tham gia HƯB. Do thất bại trong CTTG-II, trục phát xít đã sụp đổ hoàn toàn (9.1945), HƯB không còn giá trị.

        HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI, điều ước quốc tế quy định những vấn đề có tính nguyên tắc để xác định biên giới quốc gia, phương pháp cố định đường biên giới quốc gia và xây dựng quan hệ biên giới hòa bình hữu nghị giữa các nước có chung biên giới; là văn bản pháp lí cơ bản, làm cơ sở để kí kết các hiệp định, hiệp nghị, nghị định thư về phán giới, cắm mốc trên thực địa, thường có hiệu lực lâu dài, được kí kết và phê chuẩn ở cấp nhà nước cao nhất.

        HIỆP ƯỚC BỔ SƯNG HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO (24.1.1986), hiệp ước kí tại Viêng Chăn giữa đại diện toàn quyền chủ tịch nước CHXHCN VN (Nguyễn Cơ Thạch) và đại diện toàn quyền chủ tịch nước CHDC nhân dân Lào (Phun Xipaxơt) về việc bổ sung sửa đổi đường biên giới quốc gia VN-Lào trong quá trình phân giới trên thực địa so với đường biên giới quốc gia hoạch định theo hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào (1977) nhằm giải quyết vấn đề biên giới quốc gia giữa hai nước thể hiện trên văn bản, bản đồ và trên thực địa bang một hệ thống mốc quốc giới chính quy. Nội dung: thống nhất các nguyên tắc về đường biên giới quốc gia trên sông, suối, cầu biên giới từ bắc đến nam (cả trong trường hợp sông, suối đổi dòng), biên giới ở các bãi bồi, cù lao... và quy định về hiệu lực đối với các điều khoản không được sửa đổi.

        HIỆP ƯỚC CAMPUCHIA - XIÊM (1863), hiệp ước kí 1.12.1863 giữa vua Campuchia (Nôrôđôm I) với triều đình Xiêm (Thái Lan) trước phản ứng của Xiêm về hiệp ước Pháp -  Campuchia (11.8.1863), nhằm tạo thế cân bằng của cả Pháp và Xiêm đối với Campuchia. Nội dung chủ yếu: Xiêm hứa sẽ “che chở” cho Campuchia; vua Xiêm đồng ý làm lễ tấn phong cho Nỏrôđôm I làm vua ở Campuchia (chư hầu của Xiêm); Campuchia cắt cho Xiêm hai tỉnh: Puốc Xát và Côngpông Xoài...; HƯC-X gây nên sự phản ứng gay gắt về phía Pháp, nên khi Nôrôđôm I đi Băng Cốc nhận lễ tấn phong (3.3.1864), Pháp cho quân đánh chiếm hoàng cung Campuchia ở U Đông, buộc Nôrôđôm I phải trở về.

        HIỆP ƯỚC CẤM SỬ DỤNG MÌN SÁT THƯƠNG, hiệp ước do 121 nước kí 4.10.1997 tại Ôttaoa (Canada). Về việc: cấm sử dụng, phát triển, sản xuất, chuyển giao và tàng trữ mìn sát thương, phá hủy toàn bộ kho mìn sát thương (mìn chống bộ binh) của mỗi nước trong 4 năm (kể từ khi hiệp ước có hiệu lực) và dọn sạch các bãi mìn trong 10 năm. HƯCSDMST có giá trị không thời hạn và mở cho mọi nước tham gia; đem lại hi vọng thủ tiêu loại vũ khí sử dụng bừa bãi và vô nhân đạo nhất trong chiến tranh thông thường, xóa bỏ một nguy cơ thường xuyên đe dọa tính mạng con người sau chiến tranh.

        HIỆP ƯỚC CẤM THỬ VŨ KHÍ HẠT NHÂN, hiệp ước do Ủy ban giải trừ quân bị soạn thảo, được ba nước LX, Mĩ, Anh kí 5.8.1963 (có hiệu lực 10.10.1963) về việc cấm các nước thành viên tiến hành thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, vũ trụ và dưới nước. HƯCTVKHN có giá trị không thời hạn, mở cho các nước tham gia. HƯCTVKHN mở đầu cho quá trình thương lượng giải trừ vũ khí hạt nhân.

        HIỆP ƯỚC GIÁP THÂN (6.6.1884), hiệp ước kí tại Huế giữa đại diện triều đình Nguyễn, VN (Nguyễn Văn Tường, thượng thư Bộ lại; Phạm Thận Duật, thượng thư Bộ hộ; Tôn Thất Phan, quyền thượng thư Bộ công) với đại diện Pháp (Giuyn Patơnôt, đặc phái viên chính phủ Pháp bên cạnh hoàng đế Trung Hoa) về việc sửa đổi một số nội dung hiệp ước Quý Mùi (1883) nhằm nhanh chóng bình định và đặt quyền bảo hộ của Pháp ở VN. Gồm 19 khoản, với nội dung chủ yếu: triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ và quyền đại diện về ngoại giao của Pháp đối với VN; chấp nhận sự phân chia lại địa giới và quyền thống trị ở ba miền: Nam Kì (từ nam t. Bình Thuận trở vào) thuộc chủ quyền của Pháp, Trung Kì (từ nam t. Bình Thuận trở ra tới nam t. Ninh Bình) do Nam  triều tiếp tục cai trị dưới sự giám sát của quan tổng trú sứ Pháp, Bắc Kì (từ nam t. Ninh Bình tới biên giới VN - TQ) Pháp sẽ thực hiện quyền bảo hộ bằng hệ thống quan trú sứ ở các tỉnh để kiểm soát các quan cai trị VN; cho Pháp nắm độc quyền thuế thương chính và tự do đóng quân trên toàn lãnh thổ VN. HƯGT là hiệp ước cuối cùng giữa triều đình Huế và Pháp công nhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với VN và xác định vị trí tay sai của nhà nước phong kiến Nguyễn. Cg hiệp ước Patơnôt.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:52:07 PM

        HIỆP ƯỚC GIÁP TÍ (15.7.1864), hiệp ước kí tại Huế giữa đại diện triều Nguyễn, VN (chánh sứ Phan Thanh Giản, phó sứ Trần Tiến Thành và phó sứ Phan Huy Vịnh) với đại diện Pháp (Ôbarê, trung tá hải quân, lãnh sự ở Huế) nhầm sửa đổi hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862). Nội dung chính: Pháp trả lại ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường; triều đình Huế thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kì, cho Pháp chiếm đóng Sài Gòn, Mĩ Tho, Vũng Tàu và được trú ở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên để buôn bán; mỗi năm bồi thường cho Pháp 2 triệu phrăng (liên tục trong 40 năm). HƯGT không được Bộ hải quân và thuộc địa chấp nhận, bị dư luận ở chính quốc phản đối, nên Napôlêông III ra lệnh đình chỉ thi hành và giữ nguyên hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862)

        HIỆP ƯỚC GIÁP TUẤT (15.3.1874), hiệp ước kí tại Sài Gòn giữa đại diện triểu Nguyễn, VN (chánh sứ Lê Tuấn, thượng thư Bộ hình và phó sứ Nguyễn Vân Tường, tả tham tri Bộ lễ) với đại diện Pháp (Đuyprê, thiếu tướng hải quân, phó đô đốc kiêm tổng chỉ huy QĐ viễn chinh Pháp tại Nam Kì) sau khi quân Pháp đánh chiếm ba tỉnh cuối cùng phía tây Nam Kì và Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình. Gồm 22 điều khoản, với nội dung chủ yếu: triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp từ phía nam t. Bình Thuận trở vào; nhận sự bảo hộ về QS và một số mặt về tài chính, giáo dục; thi hành chính sách ngoại giao phù hợp với chính sách ngoại giao của Pháp; tiếp tục bồi thường chiến phí cho Tây Ban Nha; cho phép tự do truyền đạo, hành đạo; mờ thêm cửa biển Thị Nại (Bình Định), Ninh Hải (Hải Dương), Hà Nội và Sông Hồng (từ biển đến Vân Nam) để cho người nước ngoài tự do cư trú. buôn bán ở những nơi đó. HƯGT thay cho hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) và có giá trị không hạn định.

        HIỆP ƯỚC HACMÁNG X. HIỆP ƯỚC QUÝ MÙI (1883)

        HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH VECXÂY (1919), một trong những hiệp ước cơ bản kết thúc CTTG-I, kí 28.6.1919 tại Vecxây (Pháp) giữa một bên gồm 27 nước chiến thắng (Mĩ, Anh, Pháp, Italia, Nhật, Bỉ...) và một bên là nước Đức chiến bại. Nước Nga xô viết không được mời tham gia. Các điều kiện của hiệp ước được soạn thảo trong hội nghị hòa bình Pari (1919-20) và có hiệu lực từ 10.1.1920. HƯHBV phân chia lại thế giới tư bản có lợi cho những nước lớn chiến thắng. Theo hiệp ước, Đức phải trả lại vùng tây Andat và Loren cho Pháp, hạt Manmađi và Âypen cho Bỉ; Pôdơnan, một phần vùng Pômôrie và những địa hạt khác ở Tây Phổ cho Ba Lan; thành phố Đanxic và vùng ngoại vi được tuyên bố là thành phố tự do; Mêmen được giao cho các nước lớn chiến thắng quản lí (từ 2.1923 chuyển cho Litva). Qua trưng cầu dân ý, vùng Xletvich chuyển cho Đan Mạch (1920) và thượng Xiledi cho Ba Lan (1921). Các mỏ than hạt Xarơ thuộc quyền sở hữu của Pháp. Để bảo đảm an ninh dọc biên giới phía tây của Đức, vùng Sông Ranh được phi QS hóa. Các thuộc địa của Đức được phân chia cho các nước lớn chiến thắng, trong đó Anh, Pháp giành phần lớn nhất. Ngoài ra Đức phải xuất 20 tỉ mác vàng để bồi thường thiệt hại. Về QS bãi bỏ chế độ nghĩa vụ QS và giải thể BTTM Đức; hạn chế LLVT Đức trong phạm vi lục quân 100.000 người, hải quân 15.000 người: các nước Đổng minh kiểm soát việc sản xuất vũ khí và cấm chuyên chở vào Đức vũ khí và các dụng cụ chiến tranh HƯHBV phản ánh những mâu thuẫn quyền lợi sâu sắc của các nước đế quốc sau CTTG-I, đồng thời bộc lộ ý đồ chống nước Nga xô viết, phủ định hòa ước Bret - Litôp và mọi hiệp nghị khác đã kí với chính phủ xô viết. Quốc hội Mĩ không phê chuẩn hiệp ước và là một trong những nước đã tiếp tay cho Đức vi phạm hiệp ước (trên thực tế nhiều điều khoản của HƯHBV đã không được thực hiện và bị vi phạm nghiêm trọng: vấn đề bồi thường chiến tranh, chế độ nghĩa vụ QS. vùng phi QS hóa...), dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa phát xít Đức - nguyên nhân gây ra CTTG-II. Nhân cơ hội đại biểu các nước chiến thắng họp kí HƯHBV, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người VN yêu nước gửi cho đoàn đại biểu các nước đồng minh đến họp bản yêu sách tám điểm, đòi nước Pháp và các nước lớn phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của dân tộc VN. Bản yêu sách này còn được gửi tới các nghị viên của quốc hội Pháp và sau được đăng trên báo “Nhân đạo” và nhiều báo khác ở Pháp.

        HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH XAN PHRANXIXCÔ (8.9.1951), hiệp ước của 48 nước kí riêng rẽ với Nhật tại hội nghị ở Xan Phranxixcô (Mĩ), trong đó phần lớn các nước tham gia hội nghị trên thực tế không có LLVT tham gia chiến tranh chống Nhật. LX, Ba Lan, Tiệp Khắc không kí hiệp ước. TQ, Triều Tiên, Mông cổ, VN không được mời tham gia hội nghị. Ấn Độ và Mianma từ chối không tham gia. Nội dung chính của hiệp ước: không buộc Nhật phải thừa nhận chủ quyền của LX ở các đảo Curin, nam Xakhalin; chủ quyền của TQ ở Mãn Châu Lí và Đài Loan; không hạn chế sự phát triển LLVT và công nghiệp chiến tranh của Nhật; hợp thức hóa việc Mĩ chiếm đóng các đảo Riukiu, Bônhin, Rôdariô, Vôncanôcùng những đảo khác; Nhật được tham gia liên minh QS chống các nước khác... HƯHBXP đã vi phạm tuyên bố của hội nghị Pôtxđam (17.7-2.8.1945), đặt cơ sở pháp lí cho liên minh QS Mĩ - Nhật.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 02:53:04 PM

        HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - CAMPUCHIA (1985), hiệp ước kí 27.12.1985 tại Phnôm Pênh giữa đại diện toàn quyền HĐNN nước CHXHCN VN (Nguyễn Cơ Thạch) và đại diện toàn quyền HĐNN nước Cộng hòa nhân dân Campuchia (Hunxen) về việc xác định chính thức đường biên giới quốc gia giữa CHXHCN VN và Cộng hòa nhân dân Campuchia. Gồm 5 điều khoản với nội dung chủ yếu: mô tả toàn tuyến biên giới quốc gia trên đất liền và thống nhất thể hiện trên bản đồ Bonne tỉ lệ 1:100.000 của Sở địa dư Đông Dương trước 1954 và bản đồ UTM tỉ lệ 1:50.000; các vấn để liên quan đến sông, suối, rạch biên giới; nguyên tắc hoạch định biên giới quốc gia trên biển, thành lập ủy ban liên hợp phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới. VN và Campuchia đã tiến hành lễ trao đổi thư phê chuẩn hiệp ước tại Hà Nội (22.2.1986).

        HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO (1977), hiệp ước kí 18.7.1977 tại Viêng Chăn giữa đại diện toàn quyền chủ tịch nước CHXHCN VN (Phạm Hùng) với đại diện toàn quyền chủ tịch nước CHDC nhân dân Lào (Phun Xipaxơt) về việc xác định chính thức đường biên giới quốc gia giữa hai nước VN - Lào. Gồm 6 điều khoản, với nội dung chủ yếu: hai bên tôn trọng đường biên giới quốc gia đã có vào lúc hai nước tuyên bố độc lập (VN: 2.9.1945, Lào: 12.10.1945), lấy đường biên giới quốc gia vẽ trên bản đồ do Pháp lập với tỉ lệ 1:100.000 của Sở địa dư Đông Dương xuất bản 1945 làm căn cứ chính để hoạch định đường biên giới quốc gia giữa hai nước, nơi nào hai bên thấy cần điều chỉnh thì thực hiện việc hoạch định trên cơ sở hoàn toàn nhất trí, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích hai bên; thỏa thuận việc hoạch định đường biên giới quốc gia theo hướng chung từ bắc đến nam; xác định cách giải quyết khi đường biên giới quốc gia đi qua cầu, bãi bổi hoặc nếu sông đổi dòng; thành lập và quy định nhiệm vụ của ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc trên thực địa; nghị định thư phân giới trên thực địa được hai bên kí sau này sẽ là một phụ lục của hiệp ước; bản đồ đường biên giới quốc gia do hai nước lập ra sẽ là căn cứ chính thức để thực hiện và thay thế cho bản đồ có đường biên giới quốc gia do Pháp lập 1945.

        HIỆP ƯỚC INF nh HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ LOẠI BỎ TÊN LỬA TẦM TRUNG

        HIỆP ƯỚC KHÔNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN, hiệp ước do ủy ban giải trừ quân bị soạn thảo, được LX, Mĩ, Anh và gần 40 nước có và không có vũ khí hạt nhân kí kết 1.7.1968. tại Luân Đôn (Anh), Maxcơva (LX), Oasinhtơn (Mĩ), được LHQ thông qua, có hiộu lực 5.3.1970, mở cho các nước tham gia; có giá trị 25 năm (đến 1995 đa số các nước thành viên đã cam kết kéo dài vô thời hạn). 1995 đã có 178 nước kí. Nội dung chính: các nước có vũ khí hạt nhân cam kết không phổ biến vũ khí hạt nhân cho các nước khác, các nước không có vũ khí hạt nhân cam kết không tiếp nhận sự chuyển giao, sản xuất, chế tạo, tìm kiếm vũ khí hạt nhân, phương tiện điều khiển và thiết bị nổ hạt nhân (trực tiếp hoặc gián tiếp); các nước được quyền chuyển nhượng, hợp tác để phát triển, nghiên cứu, sản xuất, sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình, được kí hiệp ước khu vực không có vũ khí hạt nhân, đàm phán các biện pháp chấm dứt chạy đua vũ trang hạt nhân, giải trừ quân bị hạt nhân... và được rút khỏi hiệp ước (phải thông báo cho các nước thành viên và Hội đồng bảo an LHQ trước 3 tháng). Chính phủ các nước thành viên ủy quyền cho LX, Mĩ, Anh giữ vai trò thường trực, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đảm đương chức năng kiểm soát việc thi hành. HƯKPBVKHN đã góp phần kiềm chế sự mở rộng vũ khí hạt nhân, làm giảm nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Cg hiệp ước NPT.

        HIỆP ƯỚC NGA - Mĩ VỀ CẮT GIẢM VŨ KHÍ CHIÊN LƯỢC GIAI ĐOẠN II, hiệp ước kí 4.1.1993 tại Maxcơva (Nga) giữa Nga và Mĩ về việc hai nước cam kết cắt giảm 2/3 tổng số vũ khí hạt nhân chiến lược trong 10 năm. Nội dung chính: đến 1.1.2003 Nga và Mĩ sẽ cắt giảm 15.000 trên tổng số 21.000 đầu đạn hạt nhân chiến lược của hai nước (Nga còn 3.000 Mĩ còn 3.500); loại bỏ toàn bộ tên lửa đường đạn siêu nặng bố trí trên mặt đất và mang nhiều đầu đạn hạt nhân (SS- 18 III của Nga. MX của Mĩ); mỗi nước còn từ 1.700 đến 1.750 đầu đạn hạt nhân bố trí trên tàu ngầm và từ 750 đến I.250 đầu đạn hạt nhân trên máy bay ném bom chiến lược; được cải tạo 100 máy bay ném bom hạt nhân để dùng vào nhiệm vụ phi hạt nhân (ngoài số ấn định theo hiệp ước); được cải tạo số tên lửa mang nhiều đầu đạn thành mang một đầu đạn; được cải tạo số hầm chứa tên lửa mang nhiều đầu đạn thành hầm chứa tên lửa mang một đầu đạn; hai bên có quyền thanh tra lẫn nhau... HƯN-MVCGVKCLGĐII trở thành cơ sở giữ cho tình hình quốc tế tương đối ổn định, góp phần hạn chế chạy đua vũ trang và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Cg hiệp ước START-2.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:08:28 PM

        HIỆP ƯỚC NHÂM TUẤT (5.6.1862), hiệp ước kí tại Sài Gòn giữa đại diện triều Nguyễn, VN (chánh sứ Phan Thanh Giản và phó sứ Lâm Duy Hiệp) với đại diện Pháp (Bôna, thiếu tướng hải quân, phó đô đốc, tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) và đại diện Tây Ban Nha (Guttierê, đại tá chỉ huy trưởng QĐ viễn chinh Tây Ban Nha tại Nam Kì) sau khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì; hiệp ước đầu tiên của triều Nguyễn kí với nước ngoài và mở đầu cho sự đô hộ của Pháp ở VN. Gồm 12 điều khoản với nội dung chủ yếu: ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà và đảo Côn Lôn hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp; Pháp, Tây Ban Nha được tự do truyền đạo ở VN và buôn bán ở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên; các thương thuyền, chiến thuyền của Pháp tự do hoạt động trên sông Cửu Long tới Campuchia; triều đình Huế phải trả chiến phí (4 triệu USD) cho Pháp và Tây Ban Nha; Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long nếu triều đình Huế chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống đối Pháp ở tỉnh Gia Định và Định Tường.

        HIỆP ƯỚC NPT nh HIỆP ƯỚC KHÔNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN

        HIỆP ƯỚC PATƠNÔT nh HIỆP ƯỚC GIÁP THÂN(6.6.1884)

        HIỆP ƯỚC PHÁP - CAMPUCHIA 1863. hiệp ước kí 11.8.1863 tại U Đông (kinh đô Campuchia) giữa vua Campuchia (Nôrôđôm I) với tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Nam Kì (Grăngđiê) về việc Campuchia chấp nhận sự bảo hộ của Pháp; được hoàng đế Napôlêông III phê chuẩn 4.1864. Gồm 19 điều khoản với nội dung chủ yếu: Pháp thực hiện bảo hộ Campuchia và giành đặc quyền đặt viên trú sứ thuộc quyền thống đốc Pháp ở Nam Kì (VN) bên cạnh vua Campuchia (không nước ngoài nào được làm như vậy, nếu Pháp chưa đồng ý) để giám sát việc thi hành hiệp ước và giải quyết mọi việc xảy ra giữa người Pháp và người Campuchia; kiều dân Pháp được tự do về thân thể và tài sản, tự do đi lại, cư trú lãnh thổ Campuchia; miễn thuế buôn bán của người Pháp ở Campuchia (trừ thuốc phiện); các giáo sĩ đạo Cơ Đốc được tự do truyền đạo, xây dựng nhà thờ, trường học, bệnh viện, tu viện; Pháp bảo đảm việc duy trì an ninh, trật tự và chống mọi cuộc xâm lược đối với Campuchia; giúp đỡ Campuchia phát triển kinh tế xã hội.

        HIỆP ƯỚC PHÁP - CAMPUCHIA 1884, hiệp ước kí17.5.1884 giữa vua Campuchia (Nôrôđôm I) với thống đốc Pháp ở Nam Kì (Tômxơn) về việc xác lập quyền cai trị của Pháp ở Campuchia. Gồm 11 điều, với nội dung chính: Campuchia chấp thuận mọi cải cách về chính trị, hành chính, tư pháp, tài chính, kinh tế, thương mại do Pháp đề ra; đặt bộ máy chính quyền các cấp của Campuchia dưới sự kiểm soát của Pháp (mỗi tỉnh có một viên cống sứ, bên cạnh nhà vua có một khâm sứ dưới quyền của thống đốc Nam Kì); vua, hoàng gia, hoàng thân được nhận lương của chính phủ bảo hộ Pháp; đất đai thuộc sở hữu của hoàng gia sẽ chuyển nhượng theo thỏa thuận của nhà cầm quyền Pháp và Campuchia. 1897 được bổ sung tiếp bằng hiệp ước Nôrôđôm - Pôn Đume, tước đoạt hoàn toàn quyền hạn của vua Campuchia.

        HIỆP ƯỚC PHÁP - HOA (1946), hiệp ước kí 28.2.1946 tại Trùng Khánh (TQ) giữa Pháp và Trung Hoa dân quốc về việc Trung Hoa dân quốc nhường lại cho Pháp quyền giải giáp quân Nhật ở bắc Đông Dương (đến vĩ tuyến 16). Nội dung chính: QĐ Trung Hoa dân quốc rút khỏi Đông Dương trong 3.1946. để QĐ Pháp vào thay thế tước vũ khí quân Nhật; Pháp nhượng lại đường xe lửa Hà Khẩu - cỏn Minh và trả lại các tô giới của Pháp trên đất TQ; miễn thuế hàng hóa của Trung Hoa dân quốc qua cảng Hải Phòng (VN). HƯP-H đã tạo điều kiện cho Pháp thực hiện kế hoạch chiếm lại Đông Dương và chính phủ Tưởng Giới Thạch tập trung QĐ đối phó với CM TQ.

        HIỆP ƯỚC PHÁP - NHẬT (1940), hiệp ước kí 30.8.1940 tại Tôkiô (Nhật) giữa Pháp và Nhật về việc Pháp đồng ý đê QĐ Nhật vào Đỏng Dương và sử dụng Đóng Dương trong chiến tranh chống TQ. Nội dung chính: Nhật thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và cam kết tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Đông Dương; Pháp thừa nhận vai trò bá chủ của Nhật ở Viễn Đỏng và thỏa thuận để QĐ Nhật ở Bắc VN được hường những đặc quyền QS trong việc giải quyết cuộc xung đột ở TQ; một thỏa ước QS sẽ do hai bộ chỉ huy QĐ Pháp và Nhật ở Đông Dương kí để ấn định thể thức thi hành cụ thể. HƯP-N thể hiện sự suy yếu của Pháp ở Đông Dương trước thế và lực của Nhật sau khi Pháp đầu hàng Đức.

        HIỆP ƯỚC PHÁP - XIÊM 1867, hiệp ước kí 15.7.1867 giữa Pháp và Xiêm (Thái Lan) về việc chia sẻ quyền lợi ở Campuchia. Gồm 7 điều, với nội dung chính: Xiêm thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Campuchia; hủy bỏ hiệp ước Campuchia - Xiêm 1863: Pháp nhượng các tỉnh Battambăng và Ăng Co cho Xiêm. HƯP-X đánh dấu sự rút lui của Xiêm ở Campuchia và tạo thuận lợi cho Pháp sớm hoàn thành việc xâm lược Campuchia.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:10:12 PM

        HIỆP ƯỚC PHÁP - XIÊM 1893, hiệp ước kí 3.10.1893 tại Băng Cốc (Xiêm) giữa Pháp và Xiêm (Thái Lan) vé việc Xiêm nhượng bộ để Pháp thay thế thống trị Lào. Gồm 10 điều, với nội dung chính: Xiêm tuyên bố từ bỏ mọi quyền lực trên lãnh thổ thuộc tả ngạn sông Mê Công và các đảo trên sông (vùng đất của Lào mà Xiêm chiếm giữ); Xiêm cam kết không duy trì lực lượng QS, căn cứ QS tại Battambăng và Xiêm Riệp (vùng đất của Campuchia mà Xiêm chiếm giữ) và dải đất rộng 25km trên hữu ngạn sông Mê Công để hình thành khu đệm trung lập; hai bên tiếp tục bàn bạc để ấn định quy chế về thương mại. thuế khóa hải quan, đi lại và an ninh... ở các vùng đất đó. HƯP-X đã chính thức biến Lào từ chư hầu của Xiêm thành thuộc địa của Pháp và tạo điều kiện cho Pháp hoàn tất chủ trương thành lập Liên bang Đông Dương (gồm: VN, Campuchia, Lào) được nêu ra 1887.

        HIỆP ƯỚC QUÝ MÙI (1883), hiệp ước kí 25.8.1883 tại Huế giữa đại diện triều đình Nguyễn, VN (chánh sứ Trần Đình Túc) với đại diện chính phủ Pháp (tổng ủy viên Haơnăng), sau khi quân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An. Gồm 27 điểu, với nội dung chính: triều đình Huế thừa nhận sự bảo hộ và quyền thay mặt về ngoại giao của Pháp đối với VN; để t. Bình Thuận sáp nhập vào xứ Nam Kì thuộc Pháp: triều đình Huế cai trị như cũ đối với các tỉnh ở Trung Kì (từ địa giới giáp Bình Thuận đến Đèo Ngang); chấp nhận quan trú sứ Pháp ở Huế (bên cạnh đức vua) và hệ thống quan trú sứ Pháp bảo hộ ở những tinh lớn thuộc Bắc Kì: giao cho Pháp đảm trách việc bảo vệ lãnh thổ, an ninh và những mặt kinh tế chủ yếu (buôn bán, thuế khóa, tiền tệ...). HƯQM thể hiện sự đầu hàng của triều đình Nguyễn đối với Pháp, bị sự chống đối mạnh mẽ ở nhiều địa phương và nội bộ triều đình. 30.11.1883 vua Hiệp Hoà bị phe chủ chiến của Tôn Thất Thuyết bức từ và đưa Kiến Phúc lên thay. 1.1.1884 Kiến Phúc làm lễ chính thức chuyển giao HƯQM với đại diện Pháp tại Huế nhưng chính phủ Pháp chưa phê chuẩn. Cg hiệp ước Haơnãng.

        HIỆP ƯỚC SALT-2 nh HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ HẠN CHẾ VŨ KHÍ TIẾN CÔNG CHIÊN LƯỢC GIAI ĐOẠN II

        HIỆP ƯỚC START-1 nh HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ CẮT GIẢM VŨ KHÍ CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN I

        HIỆP ƯỚC START-2 nh HIỆP ƯỚC NGA - MĨ VỂ CẮT GIẦM VŨ KHÍ CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN II

        HIỆP ƯỚC THẢN THIỆN VÀ HỢP TÁC ĐÔNG NAM Á nh HIỆP ƯỚC BALI

        HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN (1885), hiệp ước kí 9.6.1885 tại Thiên Tân (TQ) giữa đại diện triều đình Thanh (tổng đốc Lí Hồng Chương) với đại diện Pháp (đại sứ Pháp ở TQ Giuyn Patơnôt). Gồm 10 điều, với nội dung chính: TQ thừa nhận Pháp thống trị VN. không đưa QĐ sang VN, không cản trở công cuộc bình định của Pháp ở VN, tôn trọng mọi hiệp ước, hiệp định kí giữa Pháp và VN, có trách nhiệm giải tán, trục xuất những người VN ở TQ hoạt động chống Pháp; Pháp tôn trọng biên giới Bắc Kì - TQ, không đưa QĐ qua biên giới đó; hai bên sẽ xác lập lại đường biên giới, cắm mốc biên giới, ấn định quy chế qua lại biên giới; cho phép buôn bán giữa hai bên ở những nơi quy định nhưng phải tuân thủ luật lệ của từng nước và những quy định cụ thể (ghi trong phụ ước về thương mại); khuyến khích việc làm đường bộ, đường sắt để thông thương giữa Bắc Kì và TQ; khi hiệp ước có hiệu lực. QĐ Pháp sẽ rút khỏi Cơ Long, Đài Loan, Bành Hổ, HƯTT đã được hai chính phủ phê chuẩn và chính thức trao đổi tại Bắc Kinh 20.11.1885.

        HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ CẮT GIẢM VŨ KHÍ CHIÊN LƯỢC GIAI ĐOẠN I, hiệp ước kí 3.7.1991 tại Maxcơva giữa tổng thống LX (M. X. Goocbachôp) và tổng thống Mĩ (G. Busơ) về việc LX và MT cam kết cất giảm 30% lực lượng hạt nhân chiến lược bố trí trên mặt đất. trên tàu ngầm và trên máy bay. Nội dung chính: LX cắt giảm 35% lực lượng hạt nhân chiến lược nói trên (từ 11.000 đầu đạn còn 7.000), Mĩ 25% (từ 12.000 đầu đạn còn 9.000), việc cắt giảm tiến hành qua nhiều giai đoạn trong vòng 7 năm; quy định giới hạn 4.900 đầu đạn cho tên lửa đường đạn, 1.100 tên lửa mặt đất cơ động và 1.600 phương tiện mang vũ khí hạt nhân (tên lửa đường đạn và máy bay ném bom hạt nhân chiến lược), trừ tên lửa có cánh trên biển của Mĩ; hai bên không chuyển giao các loại vũ khí chiến lược cho nước thứ ba; áp dụng các biện pháp kiểm chứng chặt chẽ, kể cả kiểm tra chỉ được báo trước thời gian ngắn... Hiệp ước có giá trị 15 năm, có thể được gia hạn 5 năm một lần. Hiệp ước này là một bước trung gian tiến tới giải trừ hoàn toàn và triệt để vũ khí hạt nhân. Sau khi LX tan vỡ (12.1991), hiệp ước đã được các nước có vũ khí hạt nhân chiến lược (thuộc LX trước dãy); Nga, Ucraina, Bêlarut và Cadăcxtan phê chuẩn. Cuộc đấu tranh để thực hiện hiệp ước còn khó khăn. Mĩ vẫn tiếp tục sản xuất và hiện đại hóa bộ ba vũ khí chiến lược là tên lửa MX, máy bay B-2, tàu ngầm mang tên lửa Traiđơn. Cg hiệp ước START-1 (A. Strategic Arms Reduction Talks-1).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:11:19 PM

        HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ HẠN CHẾ HỆ THỐNG PHÒNG THỦ CHỐNG TÊN LỬA, hiệp ước kí 26.5.1972 tại Maxcơva giữa tổng bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX Brégiơnep và tổng thống Mĩ Nichxơn về việc LX và Mĩ cam kết giới hạn khu vực và số lượng bố trí hệ thống tên lửa chống tên lửa của hai nước. Nội dung chính: quy định ở mỗi nước chi được triển khai hai khu vực phóng tên lửa chống tên lửa có tốc độ bay dưới 2 dặm/s, với bán kính 150km (một ở trung tảm thủ đô và một ở khu vực bố trí trận địa tên lửa đường đạn vượt đại châu), số bệ phóng và số tên lửa trên bệ phóng ở mỗi khu vực không quá 100 (nghị định thư 3.7.1974 hạn chế mỗi nước chi còn một khu vực); không thiết lập, thử nghiệm và triển khai các hệ thống phóng tên lửa chống tên lửa trên biển, trên không, trong vũ trụ và các căn cứ di động trên mặt đất; việc giám sát được thực hiện bằng các phương tiện kĩ thuật riêng của mỗi nước theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, không tiến hành kiểm tra tại chỗ... Hiệp ước có giá trị không thời hạn. cứ 5 năm một lần được xem xét lại. Nhằm giành ưu thể QS. từ 1983 Mĩ đã tìm cách nghiên cứu hệ thống chống tên lửa mới (chương trình SDI), sau đó lại vận động để sửa đổi một điểm cốt lõi của hiệp ước (chỉ hạn chế những tên lửa chống tên lửa có tốc độ bay dưới 3 dặm/s) và cuối cùng để mở đường triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa NMD, ngày 13.6.2002 Mĩ chính thức đơn phương rút khỏi hiệp ước. Cg hiệp ước ABM (A. Anti - Ballistic Missile Systems).

        HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ HẠN CHẾ VŨ KHÍ TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN II, hiệp ước kí 18.6.1979 tại Viên (Áo) giữa tổng bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX, chủ tịch Xô viết tối cao LX (Brêgiơnep) và tổng thống Mĩ (Catơ) về việc LX và Mĩ cam kết giới hạn số lượng, chất lượng các vũ khí tiến công chiến lược hiện có và hạn chế chế tạo những vũ khí tiến công chiến lược mới. Nội dung chính: quy định các vũ khí tiến công chiến lược; giới hạn tổng số các bệ phóng tên lửa đường đạn vượt đại châu bố trí trên mặt đất, trên tàu ngầm, các máy bay ném bom chiến lược và tên lửa đường đạn không đối đất có tầm bắn hơn 600km của mỗi bên là 2.400 (từ 1.1981 còn 2.250); trong số đó giới hạn những bệ phóng tên lửa đường đạn mang nhiều đầu nổ có thể tách rời nhằm những mục tiêu riêng và giới hạn máy bay ném bom chiến lược trang bị tên lửa có tầm bắn hơn 600km của mỗi bên là 1.320 (trong đó bệ phóng trên mặt đất và trên tàu ngầm mang đầu nổ tách rời không quá 1.200, riêng bệ phóng trên mặt đất không quá 820); không xây dựng thêm, bố trí lại những bệ phóng cố định trên mặt đất, không phóng thử tên lửa đường đạn không đối đất hoặc tên lửa có cánh tầm bắn trên 600km từ những thiết bị bay không phải là máy bay ném bom; không chế tạo thử, không triển khai tên lửa đường đạn tầm bắn trên 600km trên những phương tiện đi lại ngầm dưới nước không phải là tàu ngầm, những bệ phóng tên lửa đường đạn hay tên lửa có cánh dưới đáy biển... Hiệp ước có hiệu lực đến 31.12.1985, nhưng không được phê chuẩn do Quốc hội Mĩ lấy cớ LX can thiệp QS vào Apganixtan (12.1979). Cg hiệp ước SALT-2 (A. Strategic Arms Limitation Talks-2).

        HIỆP ƯỚC XÔ - MĨ VỂ LOẠI BỎ TÊN LỬA TẨM TRUNG, hiệp ước kí chính thức 8.12.1987 tại Oasinhtơn giữa tổng thống Mĩ (R. Rigân) và tổng bí thư ủy ban trung ương ĐCS LX (M. X. Goocbachôp) về việc LX và Mĩ cam kết sẽ hủy bỏ hoàn toàn số tên lửa hạt nhân tầm trung xa và tầm trung ngắn bố trí trên mặt đất. Nội dung chính: LX sẽ hủy bỏ 331 tên lửa SS-20, 11 tên lửa SS-4 bố trí trên lãnh thổ LX ở châu Âu và một phần ở châu Á, từ 300 đến 350 tên lửa SS-12, SS-23 bố trí ở một số nước Đông Âu; Mĩ sẽ hủy bỏ 108 tên lửa Pơsinh II, 260 tên lửa có cánh phóng từ mặt đất bố trí ở CHLB Đức, Anh, Italia, Bỉ và 72 tên lửa Pơsinh IA bố trí ở CHLB Đức; không chuyển những tên lửa và bệ phóng trên sang những hệ thống vũ khí khác; không chuyển nhượng chúng cho nước thứ ba; không tiếp tục nghiên cứu, sản xuất và triển khai chúng trên mặt đất; thực hiện các biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt, có hiệu quả (mỗi bên được tiến hành các cuộc thanh sát trong 13 năm và bằng các biện pháp riêng để kiểm chứng); thời gian phá hủy tên lửa tầm trung xa là 3 năm, tên lửa tầm trung ngắn là 18 tháng (sau khi hiệp ước có hiệu lực); mỗi nước có quyền rút khỏi hiệp ước trong trường hợp cần bảo vệ chủ quyền của mình. Hiệp ước này góp phần quan trọng đẩy lùi một bước nguy cơ chiến tranh hạt nhân (hủy bỏ 3% kho vũ khí hạt nhân). Thi hành hiệp ước trên, 13.4.1991 Mĩ đã rút những tên lửa Pơsinh II cuối cùng khỏi châu Âu và 12.5.1991 LX đã phá hủy những tên lửa SS-20 cuối cùng. Cg hiệp ước INF (A. Intermediate - range Nuclear Forces).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:12:40 PM

        HIỆU LỆNH. lệnh được phát ra bàng kí hiệu, tín hiệu theo điều lệnh, điều lệ hoặc quy ước của người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp trên. Dùng để chỉ huy chiến đấu, huấn luyện, công tác và duy trì sinh hoạt hàng ngày của bộ đội. HL thường đơn giản, dễ nhớ, dễ nhận biết. Thể hiện bằng âm thanh (lời nói, tiếng động...), khói, ánh sáng nhìn thấy được (lửa, tín hiệu đèn. pháo hiệu...), dấu hiệu (động tác, đồ vật, dấu vết...). Có thể dùng riêng hoặc kết hợp với hình thức truyền lệnh khác.

        HIỆU LỰC CỦA ĐẠN nh UY LỰC CỦA ĐẠN

        HIỆU QUẢ BẮN, mức độ tương ứng của kết quả bắn so với nhiệm vụ hỏa lực đề ra, được đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng. Các chỉ tiêu HQB thường dùng là: xác suất diệt mục tiêu, kì vọng toán học số mục tiêu bị diệt, lượng đạn tiêu hao và thời gian cần thiết để hoàn thành một nhiệm vụ hỏa lực xác định... Nghiên cứu về HQB là một bộ phận rất quan trọng của lí thuyết bắn.

        HIỆU QUẢ TÁC CHIẾN, kết quả tác chiến thu được so với mục đích, nhiệm vụ và tổn thất của hai bên. Thường được đánh giá bàng: mức độ tiêu diệt (sát thương) sinh lực, phá hủy (thu) phương tiện chiến tranh của đối phương, đánh chiếm (giữ vững) khu vực quy định, thời gian hoàn thành nhiệm vụ tác chiến; mức độ tiêu hao và thiệt hại của ta. HQTC của một trận chiến đấu, chiến dịch còn được đánh giá thông qua tác động của nó đối với hoạt động tác chiến tiếp theo, đối với hoạt động tác chiến quy mô lớn hơn.

        HIỆU TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy cao nhất nhà trường; chịu trách nhiệm trước đảng ủy và người chỉ huy cấp trên, đảng ủy nhà trường và chịu sự chỉ đạo chuyên môn của Cục nhà trường BTTM và Bộ giáo dục - đào tạo (cơ quan chuyên môn cấp trên) về công tác giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học; quản lí mọi mặt hoạt động của nhà trường, xây dựng nhà trường vững mạnh và hoàn thành các nhiệm vụ khác. Nhiêm vụ và yêu cầu đối với HT được quy định tại Điều lệ công tác nhà trường QĐND VN và tiêu chuẩn chức vụ cán bộ QĐ khối học viện, nhà trường ban hành 7.1998.

        HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH, hiệu ứng tăng nhiệt bể mặt Trái Đất và tầng thấp của khí quyển do các lớp khí điôxit cacbon (CO2), mêtan, ôxit nitơ, ôdôn... (các khí nhà kính) trong khí quyển dễ dàng cho bức xạ Mặt Trời có bước sóng ngắn xuyên qua nhưng lại cản trở bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) có bước sóng dài từ mặt đất truyền vào khí quyển. Thuật ngữ HƯNK xuất hiện do tác dụng giữ nhiệt của khí quyển tương tự như tác dụng của nhà kính trồng rau và hoa mùa đông ở các vùng khí hậu lạnh (song với cơ chế hoàn toàn khác). Ở trạng thái cân bằng, HƯNK có tác dụng duy trì nhiệt độ khí quyển ở mức có lợi cho sự sống trên Trái Đất. Hiện nay việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, khí đốt, than đá) kết hợp với nạn phá rừng làm tăng nhanh nồng độ điôxit cacbon (khoảng 0,4% mỗi năm) và các khí nhà kính khác trong khí quyển, dẫn đến tăng HƯNK và tăng nhiệt độ khí quyển, gây ra những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của con người.

        HIỆU ỨNG NỔ LÕM, hiệu ứng tập trung năng lượng nổ về một hướng nhất định nhờ tạo ra trong khối thuốc nổ một hốc lõm hướng về phía đối tượng cần tác động và kích nổ từ phía sau hốc lõm. Dạng hốc lõm được dùng nhiều nhất là hình nón. Hiệu quả của HƯNL tăng lên rõ rệt nếu mặt trước hốc lõm được lót một lớp kim loại (thường dùng đồng, sắt, kẽm...). Khi nổ, lớp kim loại bị nén ép rất mạnh từ đáy tới miệng hốc lõm, nhanh chóng biến thành một dòng kim loại định hướng có mật độ lớn, tốc độ chuyển động nhanh (12- 15km/s), áp suất cao (gần 106N/cm2), có thể xuyên thủng bản thép dày gấp 2-5 lần đường kính khối thuốc nổ. HƯNL được ứng dụng rộng rãi trong đạn lõm để chống các mục tiêu có lớp bảo vộ kiên cố (xe tăng, xe thiết giáp, công sự bê tòng cốt thép...), ngoài ra còn ứng dụng trong xây dựng, công nghiệp mỏ và nghiên cứu khoa học.

        HIM LAM, cứ điểm quan trọng của QĐ Pháp án ngữ hướng đông bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Pháp đặt tên là Bêatrit (P. Beatrice). Được bố trí trên năm quả dồi cao trung bình 50m, cách nhau 200-300m, gần bản Him Lam, bắc Điện Biên Phủ 2km, với hệ thống trận địa, công sự vững chắc, hàng rào thép gai và các bãi mìn. Là cứ điểm đầu tiên bị QĐND VN tiêu diệt (13.3.1954) trong chiến dịch Điện Biên Phù (13.3-7.5.1954).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:14:13 PM

        HIMALAYA, hệ thống núi cao nhất thế giới, nằm giữa cao nguyên Tây Tạng ở phía bắc và bình nguyên Ấn - Hằng ở phía nam, thuộc lãnh thổ các nước Ấn Độ, TQ, Nêpan, Pakixtan. Dài hơn 2.400km, rộng 180-350km, dt 650.000km2, cao 8.848m (ngọn Chomolungma hay Evơret cao nhất thế giới). H là đường ranh giới khí hậu tự nhiên giữa vùng sa mạc Trung Á và vùng nhiệt đới Nam Á, có ba bậc độ cao: dãy Xivalich (Tiền H) cao 900-1.200m; Tiểu H cao 3.000- 4.000m; Đại H cao 5.500-6.500m (phần lớn cao trên 6.000m, 11 ngọn cao trên 8.000m). Rừng bao phủ tới độ cao 3.000- 3.500m. Khí hậu ở sườn phía bắc khô, khắc nghiệt (lượng mưa dưới l00mm/năm), ở sườn núi phía nam ôn hòa, ẩm, lượng mưa 2.500-5.000mm/năm. H là nơi bắt nguồn của những sông lớn: Sông Ấn, Sông Hằng, Bramaputra. H cắt ngang năm tuyến đường ô tô. Ở độ cao 5.000-6.600m có đường đèo, đi lại được từ khoảng tháng 5 - tháng 7 đến tháng 8 - tháng 10. Việc vận động theo các thung lũng và khe núi được thuận lợi. H là đường ranh giới tự nhiên khó vượt qua từ Trung Á xuống Nam Á.

        HIMLE (Đ. Heinrich Himmler; 1900-45), tội phạm chiến tranh chủ yếu trong CTTG-II, một trong những người lãnh đạo nước Đức phát xít. 1920 gia nhập Đảng quốc xã Đức. 1923 tham gia tiếm quyền ở Muynich (Muynsen). 1929 chỉ huy  lực lượng ss, đóng vai ườ quan trọng trong việc thiết lập nền chuyên chính phát xít ở Đức (1933). Năm 1936 chỉ huy cảnh sát Đức. 1939 lãnh đạo Tổng cục an ninh đế chế gồm Gextapô và SĐ (tổ chức mật vụ khủng bố). 1943 bộ trường Bộ nội vụ, kiêm tư lệnh Cụm tập đoàn quân Thượng Sông Ranh tại mặt trận phía Tây (1944). Tháng 1.1945 tư lệnh Cụm tập đoàn quân Vixla tại mặt trận Xô - Đức. H đã tổ chức hệ thống các trại tập trung, tổ chức khủng bố trong nước và sát hại hàng loạt tù binh và dân thường ở những vùng Đức chiếm đóng. 1945 bị quân Anh bắt trên đường chạy trốn và tự sát.

        HINĐENBUA (Đ. Paul Ludwing Hans Anton von Beneckendoff und von Hindenburg; 1847-1934), thống chế, tổng thống nước Cộng hòa Đức (1925 và 1934). Sinh tại Phổ trong một gia đình thuộc tầng lớp tăng lữ quý tộc. 11 tuổi vào học trường QS, trở thành sĩ quan thừa hành trong chiến tranh Áo - Phổ (1866) và chiến tranh Pháp - Phổ(1870-71). Trong CTTG-I, tổng chỉ huy QĐ Đức ở mặt trận phía Đông, 1914- 16 được phong hàm thống chế, tư lệnh Tập đoàn quân số 8, rồi tổng tham mưu trưởng (tổng tư lệnh lục quân) QĐ Đức. Hai lần được bầu tổng thống nước Cộng hòa Đức (1925 và 1934). Năm 1933 do khủng hoảng kinh tế trầm trọng, dưới sức ép của phe hữu và các tập đoàn tư bản lũng đoạn, H buộc phải bổ nhiệm Hide làm thủ tướng dẫn đến sự thành lập chế độ độc tài phát xít ở Đức.

        HÌNH PHẠT, biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước do tòa án quyết định theo quy định của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội, trừng trị, cải tạo người phạm tội, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa tội phạm. Theo điều 28, HP gồm: HP chính (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình); HP bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghê hay công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền hoặc trục xuất khi không áp dụng ở HP chính). Người phạm tội chi chịu một HP chính và có thể bị một hoặc một số HP bổ sung. Căn cứ để quyết định HP được quy định tại các điều: 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54.

        HÌNH PHÙ HIỆU, biểu tượng gắn trên phù hiệu hoặc phù hiệu kết hợp cấp hiệu để phân biệt quân chủng, binh chủng và ngành nghề chuyên môn của quân nhân. Gồm 24 loại; được làm bằng kim loại; có 2 màu: vàng kim dùng cho sĩ quan cấp tướng, trắng bạc dùng cho quân nhân các cấp khác. Quy tắc gắn HPH trên phù hiệu hoặc cấp hiệu kết hợp phù hiệu được quy định trong Điều lệnh quân lí bộ đội.

        HÌNH THÁI ĐỊCH TA, biểu hiện sự triển khai bố trí lực lượng và trạng thái hoạt động của hai bên đối địch trên toàn bộ chiến trường, khu vực (hướng, dải) tác chiến. Có HTĐT chung cho toàn cuộc chiến tranh; cho từng chiến dịch (trận chiến đấu). Trong KCCP và KCCM, HTĐT trên chiến trường chủ yếu là hình thái xen kẽ (cài răng lược).

        HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI, phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chỉ một cấu trúc xã hội ở nấc thang lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Sự vận động tổng hợp của những mối liên hệ biện chứng theo quy luật giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là động lực bên trong thúc đẩy sự phát triển và thay thế nhau của các HTKT-XH từ thấp đến cao như một quá trình phát triển lịch sử tự nhiên. Xã hội loài người đã trải qua các HTKT-XH: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và đang quá độ lên HTKT-XH CSCN. Ngoài ra, mỗi HTKT- XH ở từng nước còn chịu ảnh hưởng của những điểu kiện cụ thể về địa lí, dân tộc, truyền thống, con người... làm cho quá trình lịch sử mang tính nhiều vẻ và vô cùng phong phú.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:16:08 PM

        HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT, phương pháp thực hành trận chiến đấu có đặc trưng phù hợp với tính chất, trạng thái của đối phương; so sánh lực lượng địch, ta; môi trường chiến đấu. Có HTCT của các quân chủng, binh chủng. Trong QĐND VN, lục quân có các HTCT: phục kích, tập kích, vây lấn. công kiên, vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp chốt...

        HÌNH THỨC CHIỂN THUẬT PHÁO BINH. phương pháp thực hành trận chiến đấu pháo binh phù hợp với đặc điểm và trạng thái đối phương, địa hình và khả năng của pháo binh ta trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng và chiến đấu độc lập. Trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, pháo binh giữ vai trò là hỏa lực mặt đất chủ yếu chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu theo các phương pháp chiến đấu của binh chủng hợp thành. Trong chiến đấu độc lập HTCTPB có: tập kích bằng hỏa lực, phục kích...

        HÌNH THỨC CHIÊN THUẬT PHÁO PHÒNG KHÔNG - TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG, phương pháp thực hành trận chiến đấu phòng không do pháo phòng không - tên lửa phòng không tiến hành, phù hợp với tính chất, trạng thái của đối phương, so sánh lực lượng địch - ta và môi trường tác chiến. Có HTCTPPK-TLPK: đánh địch trực tiếp bảo vệ mục tiêu (chốt vòng trong trực tiếp bảo vệ mục tiêu; chốt vòng trong kết hợp với cơ động vòng ngoài đánh địch trực tiếp bảo vệ mục tiêu); cơ động phục kích (cơ động phục kích từ xa, cơ động phục kích đón lõng đường bay và cơ động phục kích đánh địch ở khu nhử địch); cơ động đi cùng bảo vệ mục tiêu (vận dụng khi tác chiến trong đội hình binh chủng hợp thành).

        HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT RAĐA PHÒNG KHÔNG, phương pháp thực hành bảo đảm tác chiến của bộ đội rađa phòng không nhằm cung cấp tình báo rađa cho quản lí vùng trời, hoạt động đánh trả của các đơn vị hỏa lực phòng không, không quân và phòng không nhân dân. Gồm: trinh sát trên không; bảo đảm tình báo cho bộ đội tên lửa phòng không, pháo phòng không; bảo đảm tình báo dẫn đường cho không quân; bảo đảm chấp hành quy chế bay.

        HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT TĂNG THIẾT GIÁP, hình thức chiến thuật của các đơn vị bộ đội tăng, thiết giáp phù hợp với hình thức chiến thuật của bộ đội binh chủng hợp thành và những tính năng chiến - kĩ thuật xe tăng, xe thiết giáp. Trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng, HTCTTTG gồm: tiến công trận địa, tiến công thị xã (thành phố), vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không, phòng ngự trận địa, phòng ngự khu vực, tập kích, phục kích, truy kích... HTCTTTG luôn coi trọng phát huy cao nhất sức mạnh hỏa lực, khả năng cơ động, sức đột kích của xe tăng, xe thiết giáp.

        HÌNH THỨC TÁC CHIỂN, dạng tác chiến có quy mô, mục đích, đặc điểm và phương pháp tiến hành nhất định. Có các HTTC: trận chiến đấu, đòn dột kích, chiến dịch, đợt tác chiến tập trung, hoạt động tác chiến thường xuyên... HTTC hình thành, phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của phương tiện chiến tranh, số lượng và chất lượng LLVT, quy mô đấu tranh vũ trang và nghệ thuật QS.

        HÌNH THỨC TÁC CHIÊN PHÒNG KHÔNG, hình thức tác chiến được bộ đội phòng không vận dụng. Có HTTCPK: trận chiến đấu, đợt hoạt động tác chiến tập trung, chiến dịch phòng không và hoạt động tác chiến thường xuyên. Theo tính chất, nhiệm vụ tác chiến có HTTCPK trực tiếp bảo vệ mục tiêu và cơ động (xt hình thức chiến thuật pháo phòng không - tên lửa phòng không). 

        HIRỎSIMA. thành phố cảng ở tây nam đảo Hônsu; trung tâm hành chính quận Hirôsima, Nhật Bản. Dt khoảng 675km2; ds 1,14 triệu người (2003). Trung tâm công nghiệp QS, chế tạo máy, hóa chất, dệt. 6.8.1945, Mĩ đã ném quả bom nguyên từ đầu tiên với đương lượng nổ 20kt xuống H, phá hủy phần lớn thành phố, làm chết và bị thương hơn 140 nghìn người. Tại H có nhà bảo tàng và tượng đài tưởng niệm những người đã chết trong vụ ném bom hủy diệt này.

        HITLE (Đ. Schicklgruber Adolf Hitler; 1889-1945), tội phạm chiến tranh số một trong CTTG-II, quốc trưởng Đức (1934-45) kiêm tổng tư lệnh tối cao QĐ Đức (1938-45). Sinh ở Braonao (Áo). 1914 đi lính, 1919 gia nhập một nhóm chính trị ở Muynich (Muynsen). Năm 1921 thủ lĩnh Đảng quốc xã Đức. 1923 tổ chức đảo chính ở Muynich thất bại, bị kết án tù 5 năm. 1933 đứng đầu nước Đức phát xít (thủ tướng, 1934 gộp hai chức thủ tướng và tổng thống). Thiết lập chế độ phát xít, khủng bố, tiêu diệt các đối thủ chính trị và người Do Thái, kích động trong nhân dân Đức tinh thần dân tộc siêu đẳng, tuyên bố hủy hòa ước Vecxây, tổ chức liên minh với phát xít Ý và quân phiệt Nhật, can thiệp vũ trang vào Tây Ban Nha (1936-39), gây CTTG-II với tham vọng làm bá chủ thế giới. Chỉ đạo tổ chức sát hại hàng loạt tù binh và dân thường tại các vùng Đức chiếm đóng. Tự sát khi QĐ LX tiến vào Beclin. Viết sách “Cuộc chiến đấu của tôi” nêu cương lĩnh tư tưởng chính trị của chủ nghĩa phát xít Đức.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:18:00 PM

        HOA ĐÔNG, biển ở tây Thái Bình Dương, giữa lục địa TQ và các quần đảo Riukiu, Kiusu (Nhật Bản). Thông với Hoàng Hái ở phía tây bắc, với biển Nhật Bản qua eo biển Triều Tiên, với Biển Đông qua eo biển Đài Loan. Dt 836.000km2, sâu trung bình 309m, sâu nhất 2.719m. Nhiệt độ nước tháng 2 từ 7 đến 16°C, tháng 8 từ 27 đến 28°C. Độ mặn 5-10%o ở gần các cửa sông, 34%0 ở phía tây. Thủy triều nửa ngày đêm 7,5m. Từ tháng 5 đến tháng 10 thường xuyên có bão. Những cảng và căn cứ hải quân chính: Thượng Hải, Ninh Ba. Ôn Châu, Phúc Châu, Hàng Châu (TQ), Cơ Long (Đài Loan), Naha, Cagôsima, Nagaxaki, Xaxêbô (Nhật Bàn). Qua HĐ có những đường hàng hải quan trọng từ những cảng ở Hoàng Hải và biển Nhật Bản đến các biển phía nam của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

        HOA KÌ nh MĨ

        HOA LƯ. thành cổ thuộc xã Trường Yên, h. Hoa Lư, t. Ninh Bình (tây bắc tx Ninh Bình 10km), kinh đô của các triều đại: Đinh, Tiền Lê, Lí (968-1010). HL gồm hai tòa thành gần nhau, dựa theo địa hình tự nhiên để xây dựng. Thành ngoài và thành trong có các dãy núi cao bao bọc. Thành ngoài rộng khoảng 140ha, thuộc địa phận hai thốn Yên Thượng và Yên Thành xã Trường Yên, do 5 đoạn tường thành nối các dãy núi lại, tạo nên vòng thành khép kín. Thành trong diện tích tương đương thành ngoài, thuộc thôn Chi Phong xã Trường Yên, cũng do 5 đoạn tường thành nối liền các dãy núi tạo nên vòng thành khép kín. Cả hai thành ngoài và trong đều lợi dụng được nhánh sông Hoàng Long chảy dọc thành, vừa là hào nước tự nhiên, vừa là đường thủy, thuận tiện cho việc vận chuyển ra vào thành. Trong hai tòa thành có bố trí các khu triều đình, quan lại và quân sĩ. Việc qua lại giữa hai tòa thành rất thuận lợi. 1010 Lí Thái Tô dời đô từ HL ra Thăng Long.

        HÒA BÌNH*, trạng thái xã hội không có chiến tranh, không dùng vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, tập đoàn chính trị - xã hội. HB luôn là nguyện vọng và lợi ích chân chính của toàn nhân loại, song trong xã hội có đối kháng giai cấp, HB thường mang tính áp đặt, không bình đẳng, không dân chủ và luôn bị gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh. Một nền HB thực sự và bền vững chỉ có thể được thực hiện khi không còn áp bức giai cấp, áp bức dân tộc. Đấu tranh cho HB là một nhiệm vụ chiến lược của CM. Ngày nay cuộc đấu tranh bảo vệ HB thế giới phải gắn với cuộc đấu tranh chống CNĐQ, chủ nghĩa bành trướng và các thế lực phản động gây chiến khác.

        HÒA BÌNH**, tỉnh ở tây bắc Bắc Bộ; bắc giáp Phú Thọ. đông và đông bắc giáp Hà Tây, đông và đông nam giáp Hà Nam, Ninh Bình, tây và tây nam giáp Sơn La, Thanh Hóa. Dt 4.662,53 km2; ds 0,792 triệu người (2003); chủ yếu là người Kinh, còn lại người các dân tộc: Mường, Thái, Dao, Tày. Mông... Thành lập 6.1886 với tên gọi t. Chợ Bờ, tách từ t. Hưng Hóa. 12.1975 hợp nhất với Hà Tây thành t. Hà Sơn Bình. 8.1991 tái lập. Tổ chức hành chính: 10 huyện, 1 thị xã; tỉnh lị: tx Hoà Bình. Tỉnh miền núi; núi cao chiếm 50% diện tích, nhiều núi cao trên 1.000m (Pù Canh 1.430m, Núi Biên 1.196m, Núi Hên 1.176m...). Vùng núi thấp có những thung lũng xen lẫn gò đồi, đồng ruộng bậc thang. Có 260.000ha rừng. Các sông chính: Sông Đà, Sông Bôi, nhiều thác, có tiềm năng thủy điện. Khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình trong năm 23,4°C; lượng mưa 1.500-1.800mm/năm. Tỉnh nông lâm nghiệp, có trữ lượng lớn gỗ, tre, vầu... Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 256,7 nghìn tấn (lúa 196,7 nghìn tấn); khai thác gỗ 66 nghìn m3 Công nghiệp: nhà máy thủy điện Hoà Bình trên Sông Đà. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 334,7 tỉ đồng. Các tuyến đường bộ: QL 6, 21, 12, 15. Đường thủy theo Sông Đà tàu thuyền có thể đến được tx Hoà Bình. Trong KCCP đã diễn ra chiến dịch Hoà Bình (10.12.1951- 25.2 1952). Tháng 2.2002. LLVTND Hòa Bình được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66676671_451519618911257_3894369313980678144_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnFIx6IiXhk3BqGt_uKVKhjSITslXCIFtAqfuUSf_L9iLBUlYxwNij_1mzXlFq3v_c&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=51147af79857a68751397c97ec2431ce&oe=5DA18104)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:21:50 PM

        HỎA CẨU (cổ), đạn hình cầu, bắn bằng đại bác phi thiên, sát thương đối phương bằng mảnh. HC gồm quả mẹ và ba quả con ở trong, tất cả đều được đúc bằng gang mỏng, có nắp xoáy ốc và nhồi đầy thuốc súng, có ngòi nổ (dây cháy chậm) xung quanh dược quân bằng dây gai khô để giữ lửa... HC xuất hiện từ tk 15, được quân Tây Sơn dùng đánh tàu chiến (do Bổ Đào Nha sản xuất) trong thủy quân của Nguyễn Ánh 1782.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66522873_451519612244591_5493545449719595008_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmAXAl8lcDrGtdSiicm5LH-PW53_Qbcg2Bo3t8-cQauyfb5qzlVHL4Tz7EQMH9-xM0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5420b8b21b4c5084f61ef899e119f9f9&oe=5DAC1B91)


        HỎA CÔNG (cổ), phương pháp tác chiến dùng lửa để sát thương sinh lực, thiêu hủy các phương tiện, kho tàng, công trình QS, doanh trại... của đối phương. Khi thực hiện HC thường lợi dụng thời tiết khô ráo, hướng gió thuận chiều và địa thế có lợi, dùng vật liệu gây cháy (rơm rạ, cỏ khỏ... có tẩm dầu) hoặc dùng phương tiện phóng hỏa để thiêu đốt mục tiêu. Sau đó có thể dùng binh lực tiến công để phát huy kết quả HC đạt được. Trong binh pháp cổ như “Binh pháp TônTử ở TQ, “Hổ trướng khu cơ” ở VN, HC rất được coi trọng.

        HỎA CỤ, gọi chung những dụng cụ để gây nổ (cháy) dùng trong công tác nổ, đạn dược và một số lĩnh vực khác. Gồm: kíp nổ (thường hoặc điện), ống nổ, dây cháy chậm, nụ xòe, máy điểm hỏa. Kíp nổ dùng kích nổ khối thuốc nổ dưới tác dụng của tia lừa truyền qua dây cháy chậm (kíp thường), của dòng điện qua dây dẫn (kíp điện). Có hai loại kíp điện: nổ ngay và nổ chậm. Ồng nổ kích nổ (cháy) khối thuốc nhồi trong đạn dược. Nụ xòe tạo tia lửa gây cháy thuốc trong dây cháy chậm. Máy điểm hỏa để gầy nổ kíp điện.

        HỎA DƯỢC (cổ), gọi chung các hỗn hợp của những chất hữu cơ, vô cơ được pha trộn theo kinh nghiệm đê tạo ra thuốc nổ, thuốc phóng, chất cháy, chất độc, chất tạo khói,... dùng trong hỏa khí cổ. Thường gồm ba thành phần chính: chất ôxi hóa (điểm tiêu, điểm trắng...), chất cháy (than xoan, than gỗ thông, than gỗ dâu...) và chất kết dính (lưu hoàng, nhựa thông...). Ngoài ra, tùy mục đích còn có chất thêm để tạo chất độc, khói độc, khói... Có: HD thần, HD độc, HD bay, HD pháo, HD khói, HD ngược gió... HD được tìm ra từ lâu, song đến tk 15 mới được dùng rộng rãi và là cơ sở phát triển của các loại hỏa khí cổ.

        HỎA ĐIỂM, vị trí của một hỏa khí (súng máy, pháo...) ở trận địa phòng ngự. HĐ có thể ở trong công sự được che kín hoặc ngoài công sự nếu lợi dụng địa hình địa vật.

        HỎA ĐIỂM TĂNG CƠ ĐỘNG, hỏa điểm được tạo nên bằng cách cho xe tăng (pháo tự hành) dừng hoặc tạm dừng bắn, di chuyển sang vị trí khác thuận lợi để bắn tiếp, làm đối phương khó xác định chính xác vị trí của hỏa điểm tăng. HĐTCĐ nhằm tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, phương tiện chống tăng, phương tiện hỏa lực, phương tiện kĩ thuật của địch và hiệp đồng với bộ binh giữ vững trận địa. HĐTCĐ thường dùng khi trung đội, đại đội tăng phối thuộc cho bộ binh trong chiến đấu phòng ngự. Để tổ chức HĐTCĐ, phải chuẩn bị sẵn một số hầm (công sự) bắn trên các hướng, làm đường bí mật để xe tăng (pháo tự hành) cơ động từ hầm (công sự) bắn này sang hầm (công sự) bắn khác được nhanh chóng và an toàn.

        HỎA ĐỒNG (cổ), đạn thời có vỏ bằng ống đồng hoặc ống tre bọc thêm giấy bổi, dây gai để chống ẩm, trong nhồi thuốc cháy, thuốc nổ và mảnh đồng, ngòi được luồn qua lỗ nhỏ ở đáy. HĐ dài khoảng 6 tấc (24cm), đường kính khoảng 2 tấc (8cm). Khi sử dụng, HĐ được buộc vào miệng súng để bắn. Mảnh đồng gây sát thương, thuốc cháy gây hỏa hoạn hoặc làm bỏng đối phương. Được dùng rộng rãi ở VN từ tk 15.

        HỎA HỔ (cổ), hỏa khí sử dụng sự cháy của thuốc súng để sát thương đối phương bằng lửa. Bộ phận chủ yếu của HH là một ống phóng hình trụ làm bằng kim loại, tre hoặc giấy bồi có bện mây phía ngoài. Thuốc súng là điểm tiêu (thành phần chính), lưu huỳnh và than nghiền trộn với nhau. Các thao tác chuẩn bị bắn: nhồi thuốc súng và lấp ngòi kiểu dây cháy. Phát hỏa bằng cách đốt ngòi, thuốc súng cháy sinh năng lượng đẩy luồng lửa có sức cháy mạnh và dữ đội (như hổ) vào đội hình đối phương. Cự li bắn thích hợp 10-14m. Được quân Tây Sơn sử dụng lần đầu trong trận đánh quân chúa Trịnh ở bến Tây Long 1786. HH phát huy tác dụng rất lớn trong các trận đánh của Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh ở Ngọc Hồi, Đống Đa 1789.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:23:46 PM

        HỎA KHÍ, 1) vũ khí sử dụng chất nổ, cháy (vd: súng, pháo, tên lửa. súng phun lửa, mìn...); 2) (nghĩa hẹp) vũ khí dùng áp lực khí thuốc sinh ra khi đốt cháy thuốc phóng hoặc hỗn hợp cháy đặc biệt để đẩy đạn đi. Được phân thành hai nhóm lớn: súng và pháo. HK xuất hiện đầu tiên ở TQ (tk 10), ở Arập (tk 12), ở châu Âu (tk 14) và phát triển mạnh mẽ từ tk 19 đến nay. Ở VN, HK xuất hiện từ cuối thời Trần (tk 14).

        HỎA LÒ, nhà tù do Pháp xây dựng (1912) ở trung tâm tp Hà Nội, giữa các phố Hỏa Lò, Hai Bà Trưng, Quán Sứ và Thợ Nhuộm (q. Hoàn Kiếm) ngày nay. Tên chính thức là Nhà tù trung tâm (P. Maisson Central), quen gọi nhà tù HL do được xây dựng trên đất thôn Phụ Khánh, nơi chuyên làm ấm, bếp lò bằng đất. Thời Pháp thuộc là nơi giam giữ tù chính trị. Trong KCCM, được dùng làm nơi giam giữ các phi công Mĩ bị bắt làm tù binh, thường được gọi châm biếm là khách sạn Hintơn Hà Nội (Hanoi Hilton). Hiện nay nhà tù HL đã được phá bỏ để xây dựng tòa nhà Tháp Hà Nội (Hanoi Tower), chi giữ lại một phần làm nhà bảo tàng.

        HỎA LỰC, sức sát thương sinh lực và phá hủy các mục tiêu đối phương trong tác chiến, được tạo ra bằng việc bắn (phóng, ném, đặt...) đạn. bom, mìn, từ các hỏa khí và các phương tiện khác. Tác dụng của HL: tiêu diệt, tiêu hao, phá hoại, chế áp các mục tiêu hoặc ngăn chặn, uy hiếp, quấy rối địch. Theo loại vũ khí của các quân chủng và binh chủng, có HL: bộ binh, pháo binh, phòng không, xe tăng, xe chiến đấu bộ binh, không quân, tàu hải quân, tên lửa...; theo tính chất và tác động vào đối phương, có HL: tiêu diệt, chế áp, tiêu hao, kiềm chế...; theo phương pháp bắn, có HL: bắn chính diện, bắn lướt sườn, bắn chéo, bắn gấp...; theo dạng HL, có HL: chặn, tập trung, tập trung lần lượt, đơn lẻ, màn đạn; theo độ cao, có HL: tầm cao, tầm trung, tầm thấp. Trong tiến công, HL có thể tổ chức theo giai đoạn sát thương hoặc theo nhiệm vụ. Trong phòng ngự, HL được tổ chức thành hệ thống, có thể tham gia phản chuẩn bị. Để nâng cao hiệu quả của HL, phải đảm bảo độ chính xác cao, bất ngờ, mật tập vào đối tượng (mục tiêu) quan trọng nhất, cơ động rộng rãi và chỉ huy khôn khéo, linh hoạt.

        HỎA LỰC CẤP TẬP, hỏa lực được thực hiện bằng bắt đầu bắn bất ngờ với mật độ hỏa lực cao nhằm sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện KTQS, áp đảo tinh thần đối phương. Nhiệm vụ hỏa lực có thể được tiến hành bằng một hay một số lần HLCT tùy theo tính chất mục tiêu, số lượng đạn dự định tiêu thụ và thời gian cần thiết để bắn hết số đạn đó. HLCT có thể có hay không ấn định thời gian. Khi có ấn định thời gian, thường bắt đầu bằng bắn gấp, sau đó bắn tốc độ đều. Khi không ấn định thời gian (cần chế áp, tiêu diệt mục tiêu trong thời gian ngắn nhất hay chế áp mục tiêu lộ...) chỉ bắn gấp cho đến khi hết số đạn quy định. Hỏa lực pháo chuẩn bị tiến công thường gồm một số lần HLCT; khoảng thời gian giữa các lần HLCT có thể có hỏa lực giám thị. Cg hỏa lực dồn dập.

        HỎA LỰC CHẾ ÁP, hỏa lực được tiến hành nhằm gây thiệt hại và tạm thời làm mất sức chiến đấu của mục tiêu, hạn chế (cản trở) sự cơ động, chỉ huy và các hoạt động khác của địch trong thời gian nhất định. HLCA thường do lực lượng pháo binh, tên lửa, xe tăng, không quân, hải quân và bộ binh thực hiện.

        HỎA LỰC CHI VIỆN ĐỔ BỘ, hỏa lực được tiến hành kế tiếp hỏa lực chuẩn bị đổ bộ nhằm tiếp tục sát thương, phá hoại, chế áp các mục tiêu của địch ở các đoạn (bãi, khu vực) đổ bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng đổ bộ đánh chiếm và giữ vững đoạn (bãi, khu vực) đổ bộ. Do không quân, tàu chi viện hỏa lực và pháo binh của lực lượng đổ bộ quân thực hiện. HLCVĐB phải tập trung đánh phá các mục tiêu của địch trực tiếp cản trở lực lượng đang đổ bộ và kết thúc khi lực lượng đổ bộ hoàn thành nhiệm vụ được giao.

        HỎA LỰC CHI VIỆN TIẾN CÔNG, hỏa lực được tiến hành sau khi kết thúc hỏa lực chuẩn bị tiến công cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm (tiêu diệt) khu vực (mục tiêu) quy định, nhằm: sát thương sinh lực; phá hủy xe tăng, xe bọc thép, các phương tiện chống tăng, trận địa pháo (cối), SCH, lực lượng dự bị và các mục tiêu quan trọng khác của dịch trong chiều sâu phòng ngự, chi viện cho bộ binh, xe tăng phát triển tiến công. HLCVTC thường do pháo binh, xe tăng, không quân kết hợp với một bộ phận hỏa lực của bộ binh thực hiện.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:25:54 PM

        HỎA LỰC CHUẨN BỊ ĐỔ BỘ, hỏa lực được tiến hành ngay trước khi bắt đầu thực hành đổ bộ đường biển hoặc đổ bộ đường không, nhằm sát thương, chế áp, phá hoại các mục tiêu của địch ở đoạn (bãi, khu vực) đổ bộ và các mục tiêu chủ yếu liên quan, tạo điểu kiện thuận lợi cho thực hành đổ bộ. Do không quân và đội tàu chi viện hỏa lực thực hiện. HLCBĐB phải tập trung đánh phá các mục tiêu trực tiếp cản trở hành động của bộ đội trong đợt sóng đổ bộ đầu tiên ở đoạn (bãi, khu vực) đổ bộ và khu vực kế cận. HLCBĐB kết thúc vào lúc lực lượng đổ bộ tiếp cận đoạn (bãi, khu vực) đổ bộ, hoặc từ trên không xuống mặt đất, sau đó chuyển sang hỏa lực chi viện đổ bộ.

        HỎA LỰC CHUẨN BỊ TIẾN CÔNG, hỏa lực tiến hành trực tiếp trước khi bộ binh, xe tăng xung phong, nhằm sát thương sinh lực, phá hủy xe tăng, xe bọc thép, lô cốt, hỏa điểm ở của mở và hai bên sườn; chế áp trận địa pháo (cối), SQL. của địch; bảo đảm cho mở cửa và làm suy yếu một phần khả năng kháng cự của địch; tạo điều kiện đột phá nhanh, mạnh, phá vỡ phòng ngự của đối phương... HLCBTC gồm: hỏa lực pháo binh, tên lửa, xe tăng, không quân. Tùy theo khả năng pháo đạn, bảo đảm của ta, tính chất phòng ngự của địch và phương pháp mở cửa mà xác định thời gian và kết cấu hỏa lực thích hợp, HLCBTC thường được tiến hành bằng một hoặc một số lần hỏa lực cấp tập.

        HỎA LỰC DỒN DẬP nh HỎA LỰC CẤP TẬP

        HỎA LỰC GIÁM THỊ, hỏa lực giám sát, giữ mục tiêu luôn ở trạng thái sau khi bị chế áp bởi hỏa lực cấp tập (dồn dập). HLGT được tiến hành trong khoảng thời gian giữa các đợt hỏa lực cấp tập, với mật độ. hỏa lực thấp hơn, các phương pháp linh hoạt bắn vào bộ phận quan trọng của mục tiêu.

        HỎA LỰC MẬT TẬP nh HỎA LỰC TẬP TRUNG DÀY ĐẶC

        HỎA LỰC PHÁO BINH, hỏa lực của các loại vũ khí pháo binh nhằm tiêu diệt, sát thương các mục tiêu trên mặt đất (mặt nước); hỏa lực mặt đất chủ yếu của QĐND VN. Thực hiện HLPB bằng bắn ngắm trực tiếp và gián tiếp, do từng phân đội hay đồng thời một số phân đội (binh đội, binh đoàn) pháo binh tiến hành vào mục tiêu đơn lẻ, mục tiêu cụm, với nhiệm vụ chế áp, phá hoại, tiêu diệt, kiềm (khống) chế... bằng các dạng hỏa lực khác nhau. Để đạt hiệu quả chiến đấu cao, sử dụng HLPB phải tập trung, bất ngờ, cơ động, chính xác, kịp thời. Trong tác chiến hiệp đồng, HLPB được tổ chức theo giai đoạn hoặc nhiệm vụ tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành.

        HỎA LỰC PHÁO BINH CHI VIỆN PHẢN KÍCH, nhiệm vụ hỏa lực pháo binh trong chiến đấu phòng ngự nhằm chi viện hỏa lực cho lực lượng phản kích tiêu diệt địch đột nhập trận địa (khu vực) phòng ngự. khôi phục một phần hay toàn bộ trận địa phòng ngự đã mất. Tham gia HLPBCVPK gồm: pháo binh của lực lượng phòng ngự, pháo binh của cấp trên, pháo binh của lực lượng phản kích, pháo binh của đơn vị bạn, pháo binh địa phương, các đơn vị pháo binh cơ động diệt tăng, dự bị chống tăng và pháo binh chuyên trách. Mục tiêu sát thương chủ yếu là bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng, trận địa pháo, cối của địch. HLPBCVPK có thể tổ chức theo các giai đoạn: chi viện tạo thế và triển khai lực lượng phản kích, chuẩn bị xung phong, chi viện tiến công và phát triển tiến công. Hỏa lực chuẩn bị xung phong thường tiến hành một lần cấp tập ngắn sau đó chuyển sang các giai đoạn hỏa lực tiếp theo, bằng các dạng hỏa lực: tập trung, đơn lẻ và sử dụng rộng rãi hình thức bắn ngắm trực tiếp.

        HỎA LỰC PHÁO BINH CHI VIỆN PHÁT TRIỂN TIẾN CÔNG, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến tiến công nhằm chi viện cho bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng tiến công trong chiều sâu phòng ngự của địch. HLPBCVPTTC bắt đầu ngay sau khi kết thúc hỏa lực pháo binh chi viện tiến công cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ tác chiến, tiến hành trên toàn bộ chiều sâu nhiệm vụ của binh đội (binh đoàn), mục tiêu gồm: sinh lực, hỏa khí, trận địa pháo, cối, lực lượng dự bị các cấp của địch... HLPBCVPTTC tiến hành bằng bắn ngắm trực tiếp, gián tiếp với các dạng hỏa lực đơn lẻ, tâp trung, chặn... Trong trường hợp chi viện cho lực lượng dự bị binh chủng hợp thành bước vào tác chiến, có thể tổ chức hỏa lực pháo binh theo các giai đoạn như khi bắt đầu tiến công với khối lượng nhiệm vụ tương đương hoặc ít hơn. Cg pháo bắn hộ tống tiến công.

        HỎA LỰC PHÁO BINH CHI VIỆN TIÊN CÔNG, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến tiến công nhằm chi viện cho bộ binh (bộ binh cơ giới), xe tăng xung phong đánh chiếm mục tiêu. HLPBCVTC bắt đầu ngay sau khi kết thúc giai đoạn hỏa lực pháo binh chuẩn bị tiến công (đợt hỏa lực cấp tập lần cuối) hoặc do người chỉ huy trận chiến đấu (chiến dịch) quyết định, có thể đồng thời hay không đồng thời trên các hướng, mục tiêu gồm: công sự, hỏa điểm, xe tăng, xe bọc thép, phương tiện bắn thẳng, các trận địa hỏa lực cản trở bộ đội tiến công và lực lượng dự bị của địch ra phản kích... HLP- BCVTC tiến hành bằng bắn ngắm trực tiếp, gián tiếp với các dạng hỏa lực: đơn lẻ, tập trung, chặn.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:27:32 PM

        HỎA LỰC PHÁO BINH CHUẨN BỊ TIẾN CÔNG, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến tiến công, tiến hành trực tiếp trước khi bộ đội xung phong nhằm tiêu diệt xe tăng, xe bọc thép, phương tiện hỏa lực (pháo, cối...), sát thương sinh lực, phá hủy công sự trận địa phòng ngự, SCH, làm suy yếu khả năng kháng cự của đối phương, đảm bảo cho mở cửa và cơ động (triển khai) lực lượng vào tuyến xuất phát xung phong, tạo điều kiện thuận lợi tiến hành công kích. Thời gian, kết cấu hỏa lực. phương pháp tiến hành và lượng đạn được xác định căn cứ vào ý định trận chiến đấu (chiến dịch), đặc điểm địch và nhu cầu cần sát thương. HLPBCBTC phải bất ngờ, mãnh liệt, phù hợp với phương pháp tác chiến cụ thể của bộ binh và xe tăng. Trong tiến công bằng đột phá hay vây lấn, HLPBCBTC thường tổ chức hỏa lực cấp tập mở đầu và lần cuối trước khi chuyển sang hỏa lực chi viện tiến công, giữa các đợt cấp tập là đợt bắn phá hoại các mục tiêu ở trước và hai bên cửa mở hay các mục tiêu để chi viện vây lấn, trong khi bắn phá hoại có thể xen kẽ đợt cấp tập ngắn. Cg giai đoạn pháo hỏa chuẩn bị.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG, nhiệm vụ hỏa lực pháo binh trong tác chiến, gồm: hỏa lực đánh địch đang đổ quân, hỏa lực chi viện tạo thế, bao vây, chia cắt, hỏa lực chi viện tiến công địch tại khu vực (bãi) đổ bộ và hỏa lực chi viện tiến công địch cơ động đến mục tiêu. Tham gia HLPBĐĐĐBĐK gồm: các phân đội pháo, cối tại chỗ (khu vực địch đổ bộ đường không) của LLVT địa phương, lực lượng cơ động tiến công; pháo binh cấp trên và các đội pháo binh chuyên trách. Tiến hành sát thương sinh lực, phương tiện đổ bộ, các trận địa pháo (cối) có liên quan của địch bằng hỏa lực: đơn lẻ, tập trung, chận. Trước khi bộ binh, xe tăng xung phong tiêu diệt quân đổ bộ đường không thường tiến hành một đợt hỏa lực chuẩn bị ngắn (thời gian tùy thuộc vào điều kiện chiến đấu cụ thể).

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH ĐỔ BỘ LÊN BỜ, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự bờ biển, gồm: hỏa lực đánh địch ở tuyến xuất phát xung phong và hỏa lực chi viện đánh địch đổ bộ lên bờ, giữ vững trận địa (khu vực) phòng ngự. Hỏa lực đánh địch ở tuyến xuất phát xung phong nhằm sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện chiến đấu và các tàu chi viện hỏa lực, ngăn chặn lực lượng đổ bộ phía sau tiếp cận tuyến xuất phát xung phong. Khi địch đã lên bờ, phải sử dụng hỏa lực của tất cả các phân đội pháo, cối của lực lượng phòng ngự kết hợp với hỏa lực của không quân, hải quân để sát thương sinh lực, vũ khí, phương tiện kĩ thuật, kiềm chế các tàu hỏa lực của địch, chi viện cho bộ đội phòng ngự tiêu diệt và chia cắt lực lượng địch ở trên bờ với lực lượng ở dưới nước.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH ĐỘT NHẬP TRẬN ĐỊA PHÒNG NGỰ, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự nhằm chi viện cho lực lượng phòng ngự, lực lượng cơ động tiến công (lực lượng dự bị); ngăn chặn địch mở rộng khu vực đã chiếm; ngăn chặn lực lượng phía sau lên; bao vây, chia cắt, tiêu hao, tiêu diệt địch đột nhập, khôi phục trận địa phòng ngự và ổn định thể trận. Tham gia HLPBĐĐĐNTĐPN gồm: pháo binh của lực lượng phòng ngự, lực lượng cơ động tiến công: pháo binh cấp trên và pháo binh địa phương. Tiến hành bằng bắn ngắm trực tiếp, gián tiếp với các dạng hỏa lực: đơn lẻ, tập trung, chặn để sát thương bộ binh, xe tăng địch đột nhập trận địa. các trận địa pháo cối nguy hại và lực lượng dự bị của địch.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH TRÊN TUYẾN MÉP NƯỚC, giai đoạn hỏa lực pháo binh đánh địch tiến công từ hướng biển nhằm sát thương sinh lực, xe tăng bơi và các phương tiện đổ bộ của địch từ tuyến xuất phát xung phong đến tuyến đổ bộ lên bờ (bàn đạp đổ bộ). HLPBĐĐTTMN phải mãnh liệt, tập trung toàn bộ hay phần lớn pháo binh tạo nên hệ thống hỏa lực từ xa đến gần. càng vào gần mật độ hỏa lực càng dày đặc để sát thương (tiêu diệt) các đơn vị đổ bộ đầu tiên của địch. Tiến hành bằng bắn ngắm trực tiếp, gián tiếp với các dạng hỏa lực đơn lẻ, tập trung, bắn chặn, có sử dụng một số phân đội pháo chuyên trách tiếp tục kiềm chế (chế áp) các tàu chi viện hỏa lực, tàu (xuồng) chờ quân đổ bộ, chia cắt lực lượng đổ bộ tiếp sau.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH TỪ XA, nhiệm vụ hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự, đánh địch tập kết, cơ động, triển khai lực lượng tiến công, nhằm tiêu hao sinh lực, phá hủy các phương tiện KTQS,... làm chậm bước tiến của chúng, chi viện cho lực lượng tác chiến vòng ngoài. Tham gia HLPBĐĐTX, có: pháo binh của lực lượng: tác chiến vòng ngoài, LLVT địa phương, lực lượng cơ động tiến công, các đội pháo binh chuyên trách và một bộ phận pháo (cối) lực lượng phòng ngự. Mục tiêu sát thương chủ yếu gồm: bộ binh, xe tăng đang tập kết hoặc cơ động triển khai, các trận địa hỏa lực quan trọng.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:29:19 PM

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH ỨNG CỨU. nhiệm vụ hỏa lực pháo binh trong tác chiến tiến công (phản công), gồm: hỏa lực đánh địch tập trung, cơ động, triển khai (đường bộ , đường sông, đổ bộ đường không); hỏa lực chi viện cho lục lượng tiến công tiêu diệt quân ứng cứu giải tỏa. Tham gia HLPBĐĐƯC có các phân đội pháo binh của lực lượng đánh địch ngoài công sự, pháo binh cấp trên; pháo binh của bộ đội địa phương, các phân đội pháo binh cơ động diệt tăng và pháo binh chuyên trách. HLPBĐĐƯC tạo thế, nghi binh và hỏa lực chi viện.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH VU HỒI, nhiệm vụ hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự nhằm sát thương, ngăn chận địch cơ động đánh vào bên sườn hay phía sau khu vực (trận địa) phòng ngự của ta, chi viện cho lực lượng cơ động tiến công tiêu diệt. Tham gia HLPBĐĐVH gồm: các phân đội pháo binh của lực lượng phòng ngự hướng địch vu hồi; pháo binh bộ đội địa phương, pháo binh của lực lượng cơ động tiến công, đội pháo binh cơ động diệt tăng hay pháo binh chuyên trách... Vận dụng các dạng hỏa lực và phương pháp bắn phù hợp với phương pháp tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành.

        HỎA LỰC PHÁO BINH ĐÁNH ĐỊCH XUNG PHONG TRƯỚC TIỀN DUYÊN, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự nhằm kiềm chế, chế áp các trận địa pháo binh, súng cối nguy hại và SCH của địch, tiêu hao, tiêu diệt bộ binh, xe tăng, xe bọc thép địch trước tiền duyên, chi viện cho các lực lượng phòng ngự giữ vững trận địa. HLPBĐĐXPTTD phải mãnh liệt, huy động pháo binh các lực lượng với khả năng cao nhất, tiến hành hỏa lực đồng thời vào các mục tiêu bằng bắn ngắm trực tiếp, gián tiếp với các dạng hỏa lực tập trung, đơn lẻ, chặn...

        HỎA LỰC PHÁO PHẢN CHUẨN BỊ, giai đoạn hỏa lực pháo binh trong tác chiến phòng ngự, tiến hành trước hỏa lực pháo binh chuẩn bị tiến công của đối phương, bằng các đòn tập kích hỏa lực bất ngờ, mãnh liệt trong thời gian ngắn. HLPPCB thường kết hợp với hỏa lực của không quân, tên lửa, xe tăng và một phần hỏa khí của bộ binh; nhằm phá hoặc làm chậm cuộc tiến công, làm suy yếu lực lượng đột kích đầu tiên của địch. HLPPCB được tổ chức theo quyết định của người chỉ huy. Được sử dụng phổ biến trong chiến tranh vệ quốc của QĐ LX.

        HỎA LỰC PHÒNG KHÔNG, hỏa lực của các loại vũ khí phòng không (súng máy, pháo, tên lửa phòng không, máy bay tiêm kích) dùng để tiêu diệt các mục tiêu địch trên không. Ở VN, trong KCCP và nhất là trong KCCM, hỏa lực của các vũ khí bộ binh như súng trường, súng máy trong các tổ chuyên bắn máy bay đã được sử dụng rộng rãi và phối hợp với HLPK để tiêu diệt mục tiêu bay thấp. Hiệu quả sát thương mục tiêu trên không của HLPK có thể đạt được bằng tập trung bất ngờ và chính xác vào hướng, mục tiêu quan trọng nhất, cơ động rộng rãi, chỉ huy linh hoạt và khéo léo kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của vũ khí bộ binh chuyên bắn máy bay.

        HỎA LỰC TẬP TRUNG của xe tăng, dạng hỏa lực xe tăng được thực hiện bằng cách sử dụng tập trung một số xe (phân đội) tăng cùng bắn vào một mục tiêu, cụm mục tiêu để sát thương, tiêu diệt sinh lực; phá hủy các phương tiện kĩ thuật, công trình QS của đối phương trong thời gian ngắn, hiệu quả cao. HLTTcxt có thể thực hiện bằng bắn ngắm trực tiếp, nứa gián tiếp hoặc gián tiếp với các phương pháp bắn: phát một, gấp, loạt, tại chỗ, dừng, tạm dừng.

        HỎA LỰC TẬP TRUNG DÀY ĐẶC, dạng hỏa lực tập trung của pháo binh được tạo ra khi sử dụng toàn bộ hoặc phần lớn pháo binh của binh đoàn, liên binh đoàn binh chủng hợp thành đồng thời bắn vào mục tiêu, cụm mục tiêu quan trọng của địch nhằm sát thương, tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng trong thời gian ngắn nhất. HLTTDĐ sử dụng vào những thời cơ quan trọng, quyết định trong trận chiến đấu (chiến dịch). Vd; trận tập kích hỏa lực vào căn cứ Ca Rôn (điểm cao 241) t. Quảng Trị 6.3.1967 của lực lượng pháo hỗn hợp tương đương với 5 tiểu đoàn; hỏa lực “Bão táp 1 ” của 7 cụm pháo, mở đầu chiến dịch 3.1972. Cg hỏa lực mật tập.

        HỎA LỰC TẬP TRUNG LẦN LƯỢT, dạng hỏa lực tập trung của pháo binh được tiến hành lần lượt trên các tuyến từ gần đến xa theo nhịp độ vận động tiến công của bộ đội vào các mục tiêu trước chính diện và bên sườn các lực lượng tiến công. Có HLTTLL đơn và kép. HLTTLL đơn tiến hành trên từng tuyến một, HLTTLL kép tiến hành đồng thời trên 2 hoặc 3 tuyến liên tiếp và lần lượt chuyển di sang tuyến tiếp theo. HLTTLL được vận dụng trong tiến công và phản kích (đột kích) trong chiến đấu phòng ngự. Trong CTTG-II, HLTTLL được QĐ LX sử dụng rộng rãi trong các chiến dịch tiến công.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:31:00 PM

        HỎA LỰC XE TĂNG, hỏa lực của các loại vũ khí (pháo, súng máy, tên lửa...) trên xe tăng nhằm sát thương, tiêu diệt mục tiêu bằng bắn ngắm trực tiếp, nửa gián tiếp hoặc gián tiếp do từng xe tăng (phân đội) thực hiện. Để đạt được hiệu quả cao, cần sử dụng HLXT tập trung, bất ngờ, chính xác, cơ động linh hoạt, kịp thời. HLXT thường được tổ chức kết hợp chặt chẽ với hỏa lực pháo binh, bộ binh và các loại hỏa lực khác.

        HỎA PHÁO, 1) đạn sát thương bàng mảnh khi nổ, dùng để giữ thành thời cổ. vỏ bằng gang hoặc gỗ, trong nhồi thuốc súng và các mảnh gang, sắt vụn, đá, ngòi luồn qua lỗ nhỏ trên vỏ. Có nhiều cỡ khác nhau. Khi chiến đấu, HP được châm ngòi và lăn hoặc ném từ trên thành xuống quân đối phương. HP đơn giản, chế tạo nhanh. Xuất hiện ở VN từ tk 15; 2) đạn lửa bắn đi để gây cháy hoặc làm tín hiệu; 3) (cổ) súng lớn các loại; 4) (trong QĐ Sài Gòn) ngòi nổ đạn pháo.

        HỎA TIỄN, 1) hỏa khí thời cổ dùng để sát thương (bằng mũi tên) và gây cháy cho đối phương. Có hai loại: HT đơn và HT ống. HT đơn gồm tên có đầu nhọn (có thể bịt đồng, sắt), đuôi có cánh nhỏ (bằng lông chim, sắt hoặc nan tre đan chéo chữ thập) gây vướng cháy đồng thời ổn định đường bay và ống chứa thuốc súng có ngòi (buộc vào thân tên) gây cháy; được bắn đi bằng cung (có thể tới 200m), loại HT đơn nhỏ dùng cho kị binh, xuất hiện tk 10 (ở TQ). HT ống gồm ống sắt dài (khoảng 2,5m) trong nhồi thuốc súng và chứa nhiều tên sắt (có cánh ở đuôi), ngòi dẫn ra phía sau. Khi bắn, lồng phần đuôi HT ống vào ống khác (ống phóng), châm ngòi, HT được phóng đi, thuốc súng cháy cùng tên sắt được bắn tung ra. Cự li bắn của HT ống có thể tới trên 200m. Có loại HT 2 ống, 4 ống hoặc nhiều tầng. Có từ tk 13 (ở TQ). HT được sử dụng chủ yếu để đốt trại, đánh kị binh và tượng binh đối phương; 2) tên lửa và đạn phản lực.

        HÓA CHỈNH VI LINH, HÓA LINH VI CHỈNH (cổ), tư tưởng chỉ đạo tác chiến, linh hoạt và biến hóa trong sử dụng lực lượng, thực hành tác chiến khi phân tán (hóa chỉnh vi linh), lúc tập trung (hóa linh vi chinh).

        HÓA GIÁ. hình thức định giá chính thức các loại tài sản, vật tư, hàng hóa tồn đọng hoặc đã qua sử dụng. Được thực hiện thông qua hội đồng HG (hay hội đồng định giá). Căn cứ vào giá của tài sản lúc mua hoặc trên thị trường, chất lượng còn lại, giá trị sử dụng và thị hiếu của thị trường, quy luật cung cầu,... từng thành viên của hội đồng đề xuất các mức giá để hội đồng cùng xem xét, xác định mức giá cuối cùng. Trong thực tế, HG thường được dùng để định giá một loại tài sản, vật tư, hàng hóa nào đó khi thanh lí, nhượng bán, bàn giao hoặc khi cơ quan có thẩm quyền quyết định xử lí tài sản để thi hành các bản án hoặc quyết định xử phạt hành chính đã có hiệu lực thi hành...

        HÓA TRANG TẬP KÍCH, tập kích bằng cách cải trang thành dân thường dưới hình thức đám tang, đám cưới hoặc thành một toán địch... chọn thời cơ địch sơ hở, đột nhập mục tiêu, bất ngờ tập kích tiêu diệt bọn ác ôn, tề điệp, phá đồn bốt, tháp canh của địch. Khi HTTK thường sử dụng lực lượng nhỏ, được huấn luyện chu đáo, trang bị gọn nhẹ. HTTK được các LLVTND địa phương, đặc công sử dụng phổ biến trong KCCP và KCCM.

        HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI, xác định đường biên giới quốc gia đầy đủ, chính xác trên các văn bản và bản đồ phù hợp với điều ước biên giới, luật pháp, tập quán quốc tế và hoàn cảnh thực tế của hai quốc gia có chung biên giới; bước đầu tiên rất quan trọng để giải quyết biên giới giữa hai quốc gia, dựa trên các nguyên tắc pháp lí đã được thỏa thuận. Trên bản đồ miêu tả hướng đi của đường biên giới, các chi tiết về địa hình, thủy văn, dân cư...

        HOÃN GỌI NHẬP NGŨ, chưa gọi nhập ngũ trong từng đợt tuyển quân những nam công dân ở lứa tuổi gọi nhập ngũ vì chưa đủ sức khỏe hoặc có hoàn cảnh đặc biệt được quy định trong luật. Ở VN, theo Luật nghĩa vụ quân sự, những người được HGNN do UBND xã (phường, thị trấn) đề nghị, UBND huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) quyết định và công bố, hàng năm được kiểm tra để có thể gọi nhập ngũ, HGNN tiếp, chuyển sang ngạch dự bị hoặc miễn làm nghĩa vụ quân sự.

        HOÀNG CAO KHẢI (Hoàng Văn Khải; 1850-1933), quan đại thần thân Pháp triều Nguyễn. Quê xã Đông Thái, h. La Sơn (nay là h. Đức Thọ, t. Hà Tĩnh). 1868 đỗ cử nhân, làm quan tại Huế. 1884 quyền tuần phủ Hưng Yên. 1887 tổng đốc Hưng Yên kiêm tiễu phủ sứ ba tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên. 1888 cùng đồn trưởng Pháp đem lính đi gặt lúa của nghĩa quân Đốc Tít; bị phục kích, HCK thoát nạn. Để trả thù, HCK cho triệt hạ 28 làng trong vùng; 7.1889 cho đốt 50 làng và khủng bố dã man nhân dân vùng Hai Sông, nơi căn cứ của nghĩa quân Đốc Tít, bao vây, buộc Đốc Tít ra hàng. 1890 được thăng Bắc Kì kinh lược sứ, tước Quận Công. 1890- 92 đem quân đàn áp số nghĩa quân còn lại của khởi nghĩa Bãi Sậy, do Nguyễn Thiện Kế chỉ huy. 1894 viết thư dụ Phan Đình Phùng ra hàng, nhưng bị khước từ. 1897 phụ chính đại thần ở Huế; sau một thời gian ngắn về hưu.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:37:18 PM

        HOÀNG CẨM (ĐỖ Văn Cẩm; s. 1920), tổng thanh ưa QĐND VN (1987-92). Quê xã Sơn Công, h. Ứng Hoà, t. Hà Tây; nhập ngũ 8.1945, thượng tướng (1984); đv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến trung đoàn trường. 9.1954- 63 tham mưu trưởng, sư đoàn phó, rồi sư đoàn trưởng Sư đoàn 312. Năm 1964-70 chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, sư đoàn trường Sư đoàn 9, rồi tham mưu phó QGPMN, phó tư lệnh và tư lệnh một số chiến dịch ở miền Đông Nam Bộ. 1970-74 tham mưu trưởng QGPMN, kiêm tư lệnh Đoàn 301. Năm 1974 tư lệnh Quân đoàn 4, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975), kiêm chính ủy quân đoàn (1977). Năm 1981 phó tư lệnh quân tình nguyện VN tại Campuchia. 4.1982-86 tư lệnh Quân khu 4. Năm 1987-92 tổng thanh tra QĐND VN. Ủy viên BCHTU ĐCS VN khóa IV-VI. Đại biểu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (1 hạng nhất, 3 hạng ba), Chiến công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66979035_451519658911253_2241082671985852416_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQkGG1setGKTlXrYMA44E5O54hEuRJI9-uOH4PgkNkiXDxuu1npLhXBzNP1IWE0aaR8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2e1f3cfe1f910708a8b7d52064b8f666&oe=5DB3ABBC)


        HOÀNG CÔNG CHẤT (7-1768), thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân vùng Sơn Nam (1739-69) đời Lê Trung Hưng. Quê làng Hoàng Xá, h. Thư Trì, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc xã Nguyên Xá, h. Vũ Thư, t. Thái Bình). 1740-43 nghĩa quân đánh bại nhiều cuộc đàn áp lớn của quân triều đình, do các tướng Hoàng Kim Trảo, Trịnh Kinh, Trương Nhiêu... chỉ huy. 1745 chỉ huy tập kích bắt sống quan trấn thủ Sơn Nam là Hoàng Công Kì. 1748 không chống nổi quân triều đình do Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng chỉ huy, HCC phải vào Thanh Hóa liên kết với phong trào khởi nghĩa của Lê Duy Mật, sau đó chuyển lên vùng Tây Bắc lập căn cứ tại Mường Thanh (Điện Biên). 1758 xây thành Bản Phủ (nay gọi là thành Chiềng Lẻ) thuộc xã Noọng Hẹt, h. Điện Biên, t. Điện Biên. 1754-67 nghĩa quân đánh chiếm lại miền Thập Châu thuộc phủ An Tây (nay thuộc Lai Châu) bị quan lại Vân Nam (TQ) chiếm, phối hợp với nghĩa quân Lê Duy Mật, kiểm soát toàn bộ miền Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ và bắc Hoà Bình. Tại đây nghĩa quân HCC bảo vệ vững chắc biên giới phía tây bắc của tổ quốc, xây dựng bản làng ấm no, được nhân dân các dân tộc ca ngợi, gọi là “Thiên Chất”. 1768 HCC chết, con là Hoàng Công Toản lên thay.

        HOÀNG DIỆU (Hoàng Kim Tích; 1829-82), sĩ phu yêu nước, danh tướng triều Nguyễn. Quê làng Xuân Đài, h. Diên Phước, t. Quảng Nam (nay thuộc h. Điện Bàn, t. Quảng Nam). 1853 đỗ phó bảng, làm quan suốt 30 năm, nổi tiếng công minh và thanh liêm. 1879 phó toàn quyền đại thần nhà Nguyễn đàm phán với phái bộ Tây Ban Nha. 1880 tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình), thượng thư Bộ binh. Khi Pháp tấn công Bắc Kì, nhận rõ âm mưu của kẻ thù, HD đã khước từ tối hậu thư của địch, chuẩn bị sẵn sàng đối phó. 25.4.1882 hàng trăm quân Pháp và tay sai với 3 tàu chiến yểm trợ do Hăngri Rivie chỉ huy tấn công thành Hà Nội, HD tổ chức chống trả quyết liệt. Khi quân Pháp tiến vào thành, HD thắt cổ tự vẫn trong vườn Võ Miếu.

        HOÀNG ĐẠO, vòng tròn lớn, quỹ đạo chuyển động tuần hoàn biểu kiến hàng năm của Mặt Trời giữa các thiên thể trên thiên cấu. Cắt xích đạo thiên cầu tại hai điểm Xuân phân và Thu phân. Mặt phẳng HĐ nghiêng với mặt phẳng xích đạo thiên cầu một góc 23°27'.

        HOÀNG ĐẠO THÚY (1900-94), cục trưởng đầu tiên Cục thông tin liên lạc BQP. Quê xã Đại Kim, h. Thanh Trì, tp Hà Nội; tham gia CM 1944, nhập ngũ 1945, đại tá (1958); đv ĐCS VN (1947). Năm 1945 đại biểu Quốc dân đại hội Tân Trào; trường phòng thông tin mật mã đầu tiên của BQP. 1946-47 giám đốc Trường võ bị Trần Quốc Tuấn. 1948 cục trưởng: Cục giao thông công binh, Cục quân huấn BTTM. 1949-54 cục trưởng Cục thông tin liên lạc BQP. 1954 phụ trách trưởng Ban thông tin chiến dịch Điện Biên Phủ. 1962 chuyển ngành sang ủy ban dân tộc trung ương. Đại biểu Quốc hội khóa I, II (ủy viên ủy ban dự án pháp luật của Quốc hội khóa II). Tác giả của nhiều tác phẩm văn học và lịch sử. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66659091_451519668911252_1660176916293877760_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQn8TsWuKk0q_qAisxrSb9Vaeh7UEMiopIhhRnxq4He9gbNv5Hp99CVXwYKAA8Ui0Nc&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ad0b3b67246d1f548ba9b378c7f462c6&oe=5DB139BB)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:39:25 PM

        HOÀNG ĐĂNG VINH (s. 1934), người dẫn đầu tổ chiến đấu xông vào hầm bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt tướng Đờ Catxtơri đầu hàng lúc 17 giờ 30ph 7.5.1954. Quê xã Tân Tiến, h. Phù Cừ, t. Hưng Yên; nhập ngũ 1952, đại tá (1987); đv ĐCS VN (1954). Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) là tiểu đội phó thuộc Trung đoàn 209, Sư đoàn 312, tham gia từ trận mở màn Him Lam cho đến tổng công kích kết thúc chiến dịch. Chiều 7.5.1954 dẫn đầu tổ chiến đấu cùng đại đội vượt cầu Mường Thanh, theo giao thông hào tiến vào khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, là người đầu tiên xông vào hầm tướng Đờ Catxtơri, cùng tổ chiến đấu và đại đội trưởng Tạ Quốc Luật bắt Đờ Catxtơri, buộc quân địch tại Điện Biên Phủ hạ vũ khí đầu hàng. Trong KCCM, 1959-74 chính trị viên đại đội, trợ lí chính trị Trung đoàn 249, trường ban tuyên huấn Trung đoàn 239. Năm 1975-89 giáo viên chính trị; chủ nhiệm chính trị Trường sĩ quan công binh; chủ nhiệm chính trị rồi phó lữ đoàn trưởng về chính trị Lữ đoàn 239; phó hiệu trưởng chính trị Trường hậu cần công binh và Trường sĩ quan công binh (cơ sở 2). Huân chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67189585_451519675577918_8639813902634319872_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkzDWH9VVInwFFBILJCGc-kc17ouMHczUTql2fcBSL0DDEyVRSRmDs1JjMa7V-lrz8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e69935a20fd583b0048033c3ffeb065c&oe=5DAF4E59)


        HOÀNG ĐÌNH GIONG (Vũ Đức; 1904-47), khu trưởng đầu tiên Khu 9 (12.1945). Dân tộc Tày, quê xã Đề Thám, h. Hoà An, t. Cao Bằng; tham gia Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội, 1925). Năm 1929 được kết nạp vào Đông Dương cộng sản đảng, trở thành người cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng. 1.4.1930 cùng với Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng. 1932-33 hoạt động CM ở TQ; xây dựng phong trào CM ở Hồng Quảng, Hải Phòng. 1936-45 bị Pháp bắt giam. 1945 trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Cao Bằng. Sau CM tháng Tám (1945), phụ trách Bộ đội Nam tiến. 12.1945 khu trưởng Khu 9. Chỉ đạo xây dựng LLVT Khu 9 và căn cứ địa kháng chiến u Minh. 1.1947 khu trưởng Khu 6. Ngày 17.3.1947 hi sinh tại mặt trận trong lúc chỉ huy bộ đội chống địch càn quét, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN (1935).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67130366_451519688911250_4891789990037553152_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQkjO41XT9AzS35JY_mSoyGhP8GAbUFIW3tV0VfTBeEYodvGrVVZdW9WOAhMLRfyI2I&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=098c900f67967665bdeedbccbf477aa9&oe=5DEE5F2E)


        HOÀNG ĐÌNH KIỀN (s. 1944), Ah LLVTND (1973). Quê xã Cát Vân, h. Thanh Chương, t. Nghệ An; nhập ngũ 1964, trung tá (1985); đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là thượng úy, tiêu đoàn phó đặc công, Trung đoàn 10, Quân khu 9. Năm 1964- 73 chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ. đánh hơn 100 trận, 16 lần bị thương, diệt 130 địch, bắn rơi 1 máy bay trực thăng; chỉ huy tiểu đội, trung đội, đại đội diệt hàng nghìn địch. Trận Tuy An (Phú Yên, 9.1967), trận đánh diễn ra khẩn trương và ác liệt, HĐK nằm đè lên hàng rào thép gai làm thang cho đồng đội xung phong vào đồn, diệt một đại đội, HĐK diệt 5 địch. 9.1968 chỉ huy đơn vị chốt ở đồi 19 (Đức Lập) đánh lui 13 đợt phản kích của 1 tiểu đoàn Mĩ, diệt và làm bị thương 70 quân Mĩ. 12.1969 chỉ huy đơn vị chống càn, đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch, diệt 50. HĐK bắn rơi 1 máy bay trực thăng. Đại đội và tiểu đoàn do HĐK phụ trách đều trở thành đơn vị Ah. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 4 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66532890_451519702244582_4257389287097499648_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQkY9_qqFUMromL8rZFCRSZWOcG52TUCvguNGupKtDMAoLwF2Ds3_5cI9kSKNlffRMw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=720b28b25c2dcbe71b9d691b2ed76189&oe=5DBDA817)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:41:28 PM

        HOÀNG ĐÌNH PHU (s. 1920), viện trưởng Viện KTQS (1973-78). Quê xã Nghĩa Hòa, h. Tư Nghĩa, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1945, đại tá (1973); đv ĐCS VN (1946). Năm 1945-50 chính trị viên chi đội; trưởng ti liên kiểm Việt - Pháp ở Đà Nẵng kiêm chính trị viên Trung đoàn tiếp phòng quân; phó giám đốc Nha nghiên cứu kĩ thuật quân giới. 1951-58 phó phòng, trưởng phòng kế hoạch Tổng cục cung cấp (TCHC). 1958-68 cục phó: Cục quân giới, Cục nghiên cứu kĩ thuật. 1969-78 viện phó, rồi viện trưởng Viện KTQS. Cuối 1978 chuyển ngành, viện phó Viện khoa học VN; phó chủ nhiệm ủy ban khoa học và kĩ thuật nhà nước. Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công hạng ba, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66781235_451519708911248_6225104489058140160_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQl7JXISVGljbNFQu9f1QgkQN1dEZzTawVWL7eaK7Nd4kdM7zES4kgycIyxErjs48RI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=db35c28a9bf37866c2143924c29933bc&oe=5DB10A59)


        HOÀNG HÀ, sông ở TQ, dài 4.670km, diện tích lưu vực 771.000km2, bắt nguồn từ đông cao nguyên Tây Tạng, chảy qua cao nguyên Hoàng Thổ và đồng bằng Hoa Bắc, đổ ra vịnh Bột Hải tạo thành châu thổ. Lưu lượng nước trung bình 2.000m3/s, lớn nhất vào mùa hè. Thường gây ra lụt lớn, làm vỡ đê và đổi dòng. Lượng phủ sa trung bình 35-40kg/m3 (nhiều nhất trong các sông lớn trên thế giới). Sự lắng đọng phù sa làm cho lòng sông cao lên đến 10m. Ở hạ lưu mực nước cao hơn đồng bằng tới 3-10m, ở thượng lưu nước bị đóng băng 2-3 tháng, ở trung và hạ lưu 2-3 tuần. Có hai nhà máy thủy điện. Tàu có thể đi lại được với tổng chiều dài 790km. Các thành phố lớn dọc sông HH: Lan Châu, Bao Đầu, Trịnh Châu, Tế Nam.

        HOÀNG HẢI, biển thuộc Thái Bình Dương, giữa bờ biển phía đông TQ và bờ tây bán đảo Triều Tiên. Dt 416.000km2, sâu trung bình 38m, sâu nhất 106m. Phần lớn bờ biển thấp, chia cắt mạnh. Nhũng vịnh chính: Liêu Đông, Bột Hải, Tây Triều Tiên, Giang Hoa. Khí hậu ôn đới, gió mùa, thường có bão. Mùa Xuân và mùa Hè sương mù, dòng hải lưu tạo thành vòng tuần hoàn, tốc độ l-4km/h, nhiệt độ nước tháng 2: 0-8°C, tháng 8: 24-28°C. Độ mặn 33-34%0. Phía tây bắc từ tháng 11 đến tháng 3 nước đóng băng. Thủy triều nửa ngày đêm 3-4m, ở bờ biển Triều Tiên tới 10m. Các cảng và căn cứ hải quân chính: Thanh Đảo, Uy Hải, Yên Đài, Thiên Tân, LữThuận, Đại Liên (TQ), Nhân Xuyên (Triều Tiên). HH nhiều lần từng là chiến trường của hải quân nhiều nước trong các cuộc chiến tranh.

        HOÀNG HOA THÁM (Đề Thám; 7-1913), lãnh tụ khởi nghĩa Yên Thế(1884-1913). Quê xã Minh Khai, h. Tiên Lữ, t. Hưng Yên. 16 tuổi tham gia khởi nghĩa của Đại Trận và các cuộc nổi dậy chống Pháp do Trần Quang Loan, Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh), Lương Văn Nấm (Đề Nắm) chỉ huy. Sau khi Đề Nắm bị sát hại (4.1892), HHT trờ thành người lãnh đạo có uy tín của nghĩa quân với biệt danh “Hùm xám Yên Thế”. Đầu 1894 Pháp sai tổng đốc Bắc Ninh là Lê Hoan lấy danh nghĩa Nam Triều mua chuộc và tìm cách ám hại. 9.1894 sau nhiều lần không đàn áp nổi, Pháp buộc phải giảng hòa, cắt nhượng cho HHT bốn tổng thuộc Yên Thế. 1905 sau khi tiếp xúc với Phan Bội Cháu và một số nhà yêu nước khác, nghĩa quân Yên Thế được trang bị thêm một số vũ khí mới và mở rộng địa bàn hoạt động xuống đồng bằng. 6.1908 chỉ đạo việc đầu độc quân Pháp rồi tiến công các đồn binh ở Hà Nội, nhưng không thành công. 1.1909 Pháp dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế vẫn không tiêu diệt được nghĩa quân. 10.2.1913 HHT bị Lương Tam Kì phản bội, cho người ám sát.

        HOÀNG KIỆN (1921-2000), tư lệnh đầu tiên BTL phòng không. Quê xã Đóng Sơn, h. Đô Lương, t. Nghệ An; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1977); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến tham mưu trưởng Đại đoàn 312. Tháng 9.1954 đại đoàn trường Đại đoàn 367 thuộc BTL pháo binh. 1958-62 tư lệnh BTL phòng không. 1964-66 sư đoàn trường: Sư đoàn 304, Sư đoàn 1, rồi tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên. 1.1967 phó tư lệnh quân khu, kiêm tư lệnh phòng không Quân khu 4. Tháng 5.1970 phó tư lệnh Mặt trận 968. Tháng 7.1971 phó tư lệnh Đoàn 559. Tháng 8.1974 giám đốc Học viện hậu cần. 1981-86 viện phó Học viện QS cấp cao. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Chiến công hạng nhì...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66464577_451519742244578_2683655141755715584_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnrS29Oghsw-ycXYxxNtXmwFcjyiWN-Wi4qd9nLBI18ffEV9gzRX8WD29ECFaibgBY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8eda0777f315c6c921718549d09888a4&oe=5DBB5987)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:43:58 PM

        HOÀNG LIÊN SƠN*, dãy núi ở tây bắc Bắc Bộ, dài 200km, nằm giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, nhiều đỉnh cao trên 2.000m: Phanxipăng 3.143m, Phu Luông 2.985m, Lang Cung 2.918m... Sườn phía tây dốc đứng xuống lưu vực Sông Đà, sườn phía đông tỏa rộng thấp dần theo nhiều bậc đến thung lũng Sông Hồng. Lượng mưa trung bình 2.000mm/năm. Trên đỉnh mùa đông có tuyết. Rừng á nhiệt đới ẩm thấp, cây lá rộng, lá nhọn. Lên cao là các rừng trúc lùn dày đặc. Cắt ngang HLS có nhiều tuyến đường bộ: đường Bát Xát đi Phong Thổ qua Đèo Mây (2.020m), QL 4D Lào Cai đi Lai Châu qua đèo Hoàng Liên Sơn (2.600m), QL 279 Bảo Hà đi Than Uyên qua đèo Khau Cọ (1,068m).

        HOÀNG LIÊN SƠN**, tỉnh cũ ở miền núi tây bắc Bắc Bộ. Thành lập 12.1975 do sáp nhập các tỉnh Lào Cai, Yên Bái và một phần t. Nghĩa Lộ. Tỉnh lị: tx Yên Bái. 8.1991 chia thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái (gồm cả phần Nghĩa Lộ cũ).

        HOÀNG MINH PHƯƠNG (s. 1956), Ah LLVTND (1979). Dân tộc Tày, quê xã Cam Cọn, h. Bảo Yên, t. Lào Cai; nhập ngũ 1976, đại úy (1989); đv ĐCS VN (1979); khi tuyên dương Ah là tiểu đội phó súng cối, Đại đội 5, Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 741, bộ đội địa phương tỉnh Lai Châu. 17 và 18.2.1979 chỉ huy tiểu đội bảo vệ chốt ở Lai Châu, đẩy lui 6 đợt tấn công ồ ạt của quân TQ xâm lược, giữ vững trận địa, diệt 350 địch (HMP diệt 150). Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66695885_451519748911244_3072844634074906624_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmIUdB3SUa14Oq4mX2DWX0jXAGvzWYWGeqaxfubbeJKKKYuof0ruP_bSp19I734ocQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=d8aae7ce93234279ad94ca7bf8e8bacd&oe=5DAF74B2)
 
        HOÀNG MINH THẢO (Tạ Thái An; s. 1921), viện trường đầu tiên Viện chiến lược QS BQP, giáo sư (1986), Nhà giáo nhân dân (1988). Quê xã Bảo Khê, h. Kim Động, t. Hưng Yên; tham gia CM 1937, nhập ngũ 1944, thượng tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Cuối 1944-45 xây cơ sở CM ở vùng biên giới và tổ chức đội du kích ở Tràng Định, Lạng Sơn; ủy viên dự khuyết tỉnh ủy lâm thời tỉnh Lạng Sơn, tham gia ban công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh. Trong KCCP, 1945- 49 phái viên của BQP ở các tỉnh duyên hải tả ngạn Sông Hồng, khu trường Chiến khu 3; phó tư lệnh Liên khu 3; tư lệnh Liên khu 4. Năm 1950-53 đại đoàn trường Đại đoàn 304. Năm 1954-66 hiệu phó, hiệu trưởng Trường QS trung cao; phó giám đốc Học viện quàn chính; giám đốc Học viện QS. 11.1966-74 phó tư lệnh, tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên; phó tư lệnh Quân khu 5. Tháng 3.1975 tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên. 5.1976 viện trưởng Học viện QS trung cao. 3.1977-89 viện trưởng Học viện QS cấp cao. 1987-95 phó chủ tịch Hội đồng khoa học QS BQP. 1990-95 Viện trường Viện chiến lược QS BQP. Tác giả của nhiều tác phẩm QS. ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa IV (dự khuyết 1976-81, chính thức 11.1981-82). Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66597570_451519755577910_761317257119793152_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmcvTPwzwJeQiAo4Ep4RdzUxKE7bTnzWofUZnJ1jL5YtuB1tnv6aFajqMflZm-XTXM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b0dd60600b6b6be2dc7a37f0e58f89af&oe=5DAE3726)


        HOÀNG MINH THI (Huỳnh Nhất Long; 1922-81), tư lệnh Quân khu 4 (1978-81). Quê xã Đức Thạnh, h. Mộ Đức. t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 2.1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1945). Tháng 5.1945 tham gia Đội du kích Ba Tơ. Trong KCCP, chính ủy trung đoàn, chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 304. Năm 1956 chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 335 Quân khu Tây Bắc. 1958-65 cục phó rồi cục trưởng Cục tuyên huấn TCCT. 1966 phó chính ủy Quân khu 3. Tháng 9.1968 chính ủy Trường sĩ quan lục quân. 11.1971 phó chính ủy Mặt trận B5. Tháng 4.1973-75 phó giám đốc Học viện chính trị; phó chính ủy rồi chính ủy, bí thư đảng ủy Quân đoàn 1, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. 1978-81 tư lệnh Quân khu 4. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Huân chương: 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66597159_451519775577908_1737451199084363776_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQkA8zAJD5MELPMf_7GlFEioK6w4b8b8mIr49H9YGhkqp9m5S3e-ciszyMFhYm5z9u4&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3bad2cdbcbbe84eaba2d118c29d2e399&oe=5DEC35C5)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:45:50 PM

        HOÀNG NAM (cổ), người đàn ông thuộc độ tuổi sung quân ngũ thời Lí, Trần, được ghi tên trong hoàng sách. HN được phân hạng khác nhau tùy thuộc nhu cầu bổ sung quân sở dưới mỗi triều đại. Dưới triều Lí Thái Tông 1043, HN được chia làm hai hạng: HN (tới 18 tuổi) và đại nam (tới 20 tuổi). Dưới triều Lí Nhân Tông 1083, HN được chia làm ba hạng: đại HN (20-60 tuổi), HN (18-19 tuổi) và tiểu HN (dưới 18 tuổi). Dưới triều Trần Thái Tông 1242, HN chỉ chia làm hai hạng: đại HN (con trai lớn), tiểu HN (con trai nhỏ) mà không định số tuổi cụ thể; còn 60 tuổi gọi là lão, già quá gọi là long lão. Từ thời Hồ (1400-07) về sau, việc đăng kí hộ khẩu và phân loại nam giới khác đi, nên không còn khái niệm HN và hoàng sách nữa.

        HOÀNG NGỌC DIÊU (s. 1925), phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng phòng không - không quân (3.1974-2.1976; 6.1976-6.1977). Quẽ xã Phong Hiền, h. Phong Điền, t. Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ 1946, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1945). Trong KCCP, 1946-54 hoạt động ở chiến trường Bình - Trị - Thiên, trưởng thành từ cán bộ trung đội đến trung đoàn trường thuộc Đại đoàn 325. Năm 1956-59 giám đốc sân bay Gia Lâm, trưởng phòng tham mưu Cục hàng không. 1961-63 tham mưu phó Cục không quân, rồi tham mưu phó Quân chủng phòng không - không quân. 1966-67 tham mưu trưởng, phó tư lệnh kiêm tham mưu trường BTL không quân. 1968-69 tham mưu phó, tham mưu trường, 3.1974-2.1976 và 6.1976-6.1977 phó tư lệnh kiêm tham mưu trường Quân chủng phòng không - không quân. 2- 6.1976, 9.1978-81 và 7.1987-89 tổng cục trưởng Tổng cục hàng không dân dụng. 6.1977-78 cục phó Cục tác chiến BTT.M. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhì, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67172965_451519785577907_2013295817267347456_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkuDtyQTcIKMw5JmbWAVjBZAIiKW5cpCRw4FzrZ0cMiww60zhUmxAXJfCQzO_3K2xY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=63a96c3a00832d1e8838d83f43268641&oe=5DAD2343)


        HOÀNG NGŨ PHÚC (1713-76), danh tướng thời Lê - Trịnh. Quê xã Tân Mĩ, h. Yên Dũng, t. Bắc Giang. Vốn là hoạn quan, sau được thăng làm nội các hình phiên. 1743 làm thống lãnh quân cơ, đề xuất 12 điều quân pháp được chúa Trịnh chấp thuận cho thi hành. 1751 có công dẹp yên các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, được phong tước Việp Quận Công, gia phong đại tư dồ kiêm trấn thủ Sơn Nam. 1774 về nghỉ hưu, nhưng nhân thời cơ Đàng Trong rối ren, chúa Trịnh vời ra làm thượng tướng quân, đem quân vào Nam đánh chúa Nguyễn, chiếm Phú Xuân (1775), bắt quyền thần Trương Phúc Loan và được cử trấn thủ Thuận Hóa. Do bệnh dịch, phải lui quân về Bắc và mất tại Nghệ An.

        HOÀNG PHỐ, khu hành chính thuộc tp Quảng Châu, t. Quảng Đông, TQ, đông trung tâm Quảng Châu khoảng 20km. Gồm phần bờ bắc sông Châu Giang và một số đảo nhò. 5.1924 (thời kì Quốc - Cộng hợp tác lần thứ nhất), trên đảo Trường Châu, với sự giúp đỡ của LX và ĐCS TQ, Tôn Trung Sơn đã tổ chức Trường sĩ quan lục quân Quốc dân đảng TQ (thường gọi Trường QS Hoàng Phố), đặt dưới sự quản lí của BCHTƯ Quốc dân đảng, do Tôn Trung Sơn trực tiếp làm tổng lí và Tường Giới Thạch làm hiệu trưởng, các chuyên gia LX giúp đỡ về tổ chức và huấn luyện. Một số cán bộ của ĐCS TQ như Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vinh Trần... từng giữ các chức vụ lãnh đạo Cục chính trị. Trường tồn tại đến 1930. Một số nhà CM VN như Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn,... đã học tập tại đây.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:49:58 PM

        HOÀNG PHƯƠNG (Hoàng Đình Tí; 1924-2001), chính ủy Quân chủng phòng không - không quân (1971-77), giáo sư, tiến sĩ, phó chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN. Quê xã cổ Am, h. Vĩnh Bào, tp Hải Phòng; nhập ngũ 1945, trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1945). Năm 1945 hoạt động trong Đoàn thanh niên cứu quốc Hà Nội, tham gia Vệ quốc đoàn. Trong KCCP, 1946-54 tham mưu trưởng, chính ủy “Trung đoàn pháo binh Anh Dũng” Liên khu 1; chủ nhiệm chính trị Trường trung cao QS. 1956-60 phó tổng biên tập, tổng biên tập tạp chí "Quán đội nhân dân ”. 1964-70 chủ nhiệm chính trị Học viện quân chính; phái viên TCCT vào chiến trường B3; chính ủy các sư đoàn: 325B, 10, 312 và 308; phó chính ủy: Quân chủng phòng không - không quân, Mặt trận B70. Tháng 8.1970-71 chính ủy Đoàn 10, phó chính ủy Mặt trận Đường 9-Nam Lào. 1971-77 chính ủy, bí thư đảng ủy Quân chủng phòng không - không quân. 1977 hiệu trưởng kiêm chính ủy Trường đại học KTQS. 8.1979 phó chính ủy Quân khu 1. Tháng 9.1981-94 phó viện trưởng rồi viện trưởng Viện lịch sử QS BQP. Đại biểu Quốc hội khóa V, VI. Huân chương: 2 Quân công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67346897_451519795577906_4389467593103114240_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQm4cWibmcQ12Yofcy4vylF5-3Cvg67BIqeba4jBial-B9bNt0CVQkgZZH2WhjdaRdE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=2d854d6945300add0c6b6886f2f2c6a8&oe=5DB06F5A)


        HOÀNG SA, huyện đảo thuộc tp Đà Nấng, đông Đà Nẵng khoảng 350km. Là một quần đảo trải rộng từ 15°45’ đến 17° 15’ vĩ bắc và 111° đến 113° kinh đông, từ tây sang đông dài khoảng 222km, từ bắc xuống nam khoảng 160km. Diện tích toàn khu vực đảo ước rộng 15.000km2, gồm trên 30 đảo, bãi san hô, đá ngầm... Tổng diện tích phần nổi của các đảo khoảng 10km2 chia làm hai cụm. Cụm phía đông gồm 12 đảo, có 2 đảo lớn: Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng l,5km2, các đảo khác nhỏ dưới 0,5km2; cụm phía tây gồm các đảo: Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà. Duy Mộng... Có hai mùa khí hậu, mùa khô tháng 1-6, mùa mưa tháng 7-12, nhiệt độ trung bình 22°. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.170mm. Tài nguyên: nhiều phốt phát canxi (khoảng 10 triệu tấn); hải sản: đồi mồi, hải sâm, tôm hùm, vích, rau câu... Trước 1938 thuộc hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. 1938 thuộc t. Thừa Thiên, 1961 thuộc t. Quảng Nam. 12.1982 là huyện đảo thuộc t. Quảng Nam - Đà Nẵng, từ 1996 thuộc tp Đà Nẵng. Từ 1956 TQ chiếm đóng bất hợp pháp hai đảo Phú Lâm, Linh Cồn, 1.1974 đánh chiếm toàn bộ quần đảo.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67185787_451560285573857_8305209252759207936_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQl8JvcUOGcjIaxEg79Q521mRB6DWEUwuHja1PZylclwHePpak7Ai6cLvnWYH8Et6XM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c8a40e67484fe9fc584e51b6ae398cec&oe=5DAF86A0)


        HOÀNG SÁCH (cổ), sổ đăng kí hoàng nam thời Lí, Trần, có bìa màu vàng. Được định ra từ 1043 dưới triều vua Lí Thái Tông. Trong HS, hoàng nam được phân hạng và đăng kí theo từng hộ gia đình trong từng lí (làng), phường (ở nội thành), sương (ở ngoại thành) để phục vụ việc duyệt dân tuyển quân của triều đình.HOÀNG SÀO (?-884), lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường TQ (875-84). Người h. Tào Châu, t. Sơn Đông. 875 lãnh đạo quần chúng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi. dụng binh lưu động trên đát Sơn Đông, Hà Nam, quân đông tới mấy chục nghìn. 876 Vương Tiên Chi nhận sự chiêu an của nhà Đường, HS chống lại. chia quân, độc lập tác chiến. 880 đại thắng ở Tín Châu, sau đó vượt Trường Giang đánh Hoài Bắc, chiếm Lạc Dương, Trường An (kinh đò nhà Đường), vua Đường phải bỏ chạy vào Tứ Xuyên. HS lên ngôi hoàng đế, hiệu là Xung Thiên đại tướng quân, đổi tên nước là Đại Tề. 881 quân Đường tổ chức phản công chiếm lại Trường An. 883 HS bỏ Trường An chạy đến Hà Nam. Sau đó rút khỏi Trần Châu, bị thất bại nặng nề, lui quân về Lang Hổ Cốc, tự sát (884) (xt khởi nghĩa Hoàng Sào, 875-84).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:52:10 PM

        HOÀNG SÂM (Trần Văn Kì; 1915-68). đội trưởng đầu tiên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Quê xã Vãn Hóa. h. Tuyên Hóa, t. Quảng Bình; tham gia CM 1933, nhập ngũ 1944, thiêu tướng (1948); đv ĐCS VN (1933). Năm 1934-35 bị mật thám Thái Lan bắt giam, rồi trục xuất sang TQ. 1937-39 tỉnh ủy viên Cao Bằng, thường trực tỉnh ủy phụ trách cơ quan in và công tác giao thông liên lạc ở biên giới. 1940-43 đội trưởng Đội vũ trang tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh, bảo vệ hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 (1941); tỉnh ủy viên tỉnh Bắc Kạn, phụ trách tự vệ chiến đấu trừ gian, củng cố cơ sở CM. tổ chức du kích khu vực biên giới hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. 12.1944 đội trưởng Đội VN tuyên truyền giải phóng quân chỉ huy đánh trận Phai Khắt (25.12.1944) và trận Nà Ngần (26.12.1944); tham gia ủy ban giải phóng, phụ trách QS khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bác Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. 1946-50 khu trường Khu 2, chỉ huy Mặt trận Tây tiến, tư lệnh Liên khu 3. Năm 1951 phái viên BQP, tham gia chiến dịch với các đại đoàn 312 và 304. Tháng 7.1952 tư lệnh Liên khu 3. Năm 1953-54 đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, chỉ huy trưởng Mặt trận Trung Lào. Sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông; đại đoàn trường Đại đoàn 320, chỉ huy tiếp quản Hải Phòng. 1955-68 tư lệnh các quân khu: Tả Ngạn, Hữu Ngạn. Quân khu 3, Trị - Thiên. Đại biểu Quốc hội khóa n, III. Huân chương: Chiến công hạng nhất. Chiên thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66847000_451519828911236_7792737598996217856_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQnTLCkGgM4jg4W7_ATww_2NAMtHxEsrVLm5npIUzTxlFn7cYHdzxAlS2ZXcICdFCpw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=7b9bbb0e41addd4f024832e11dfe892c&oe=5DBF6D5D)


        HOÀNG TÁ VIÊM (Hoàng Kế Viêm; 1820-1909), danh thần triều Nguyễn. Quê làng Văn La, tổng Văn Đại. phủ Quảng Ninh (nay thuộc h. Quảng Ninh), t. Quảng Bình. Sau khi đỗ cử nhân (1843) giữ các chức quan: lang trung Bộ lại (1846), án sát Ninh Bình (1852), bố chính Thanh Hóa (1854), bố chính kiêm tuần phủ Hưng Yên (1859), tổng đốc An Tĩnh (1863); có công trị an, mở mang kinh tế, phát triển giao thông, thủy lợi. 1870 thống đốc quân vụ 4 tỉnh Lạng - Bằng -  Ninh - Thái, tiễu trừ các băng đảng Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng, thu phục Lưu Vĩnh Phúc; được phong hiệp tá rồi đông các Đại học sĩ (1878), giữ chức thống đốc tam tuyên, rồi tiết chế quân vụ Bắc Kì... Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần II (1882-84), chỉ huy quân triều đình, phối hợp với quân của Lưu Vĩnh Phúc tổ chức ngăn chặn quân Pháp, giành được một số thắng lợi (x. trận Cầu Giấy, 19.5.1883), nhưng cuối cùng thất bại; bị giáng làm tổng đốc, sau thăng thượng thư Bộ công rồi đại thần Viện cơ mật. 1889 nghỉ hưu. Soạn một số sách văn, sử, trong đó có bộ “Phê thị trần hoàn" (ghi chép về đời vua Tự Đức).

        HOÀNG THẾ CAO (1936-73), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Dân tộc Tày, quê xã Đà Vị, h. Nà Hang, t. Tuyên Quang; nhập ngũ 1964; đv ĐCS VN (1966); khi hi sinh là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 5. Trong KCCM, 1968-73 chiến đấu ở miền Nam VN và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, đánh 70 trận, chỉ huy đơn vị diệt gần 1.000 địch; HTC diệt 135 (có 25 Mĩ), bắt 5, bắn cháy 7 xe tãng, thu 22 súng, 3 máy thông tin. Trận Suối Long (Bình Long. 3.1969), chỉ huy tiểu đội đánh vào giữa đội hình địch, cùng đơn vị diệt 1 đại đội địch, khi chỉ còn một mình (ở lại kiểm tra trận địa), HTC dùng lựu đạn, tiểu liên, B-40 đánh lui 1 đại đội địch đến phản kích, diệt 40 địch. Trận Xnun (Campuchia, 29.5.1970) chỉ huy đại đội đánh lui 7 đợt tấn công của hai tiểu đoàn địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, diệt 100 địch (HTC diệt 10), giữ vững trận địa. Trận Thạch Đông (Thủ Dầu Một, 21.3.1973), sau một ngày chiến đấu, đơn vị được lệnh rút lui thì một đại đội địch phản kích. HTC bám trận địa, chiến đấu để đồng đội rút lui và đưa thương binh về phía sau an toàn, đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch và hi sinh. Huân chương: 3 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67087020_451519835577902_9128076831499485184_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmKnmloPE1wM-fHbxPcWa0FXIrVHfElkWgQU4UegkYPqNtiMz8b_XrJGA8eKv5c9OU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8235f054c71817955492fce35e77bfd5&oe=5DBC7DAD)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:54:07 PM

        HOÀNG THẾ THIỆN (Lưu Văn Thi; 1922-95), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (4.1977-82). Quê q. Ngô Quyền, tp Hải Phòng; tham gia CM 1940, nhập ngũ 1947, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1945). Tháng 3.1943 bị thực dân Pháp bắt, đày đi Sơn La. 3.1945 vượt ngục, về hoạt động tuyên truyền vũ trang ở Võ Nhãi; chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Vĩnh Yên. Trong KCCP, 4.1947-48 trưởng phòng chính trị Liên khu 10; chính ủy Trung đoàn Sông Lô. 1949-54 chính ủy Trung đoàn Tây Đô; chủ nhiệm chính trị Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Trong KCCM, 12.1955 chủ nhiệm chính trị Liên khu 3. Tháng 6.1956-59 chính ủy Ban nghiên cứu sân bay, rồi chính ủy Cục không quân. 10.1964 phó chính ủy Quân khu 8, rồi chính ủy Sư đoàn 1. Năm 1969-74 chính ủy Sư đoàn 304, phó chính ủy Mặt trận 968, phó chính ủy rồi chính ủy Đoàn 559. Đầu 1975 chính ủy Quân đoàn 4, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. 4.1977 thứ trường BQP, kiêm chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế. Cuối 1978 thứ trường BQP, trưởng ban B68, bí thư đảng ủy, phó trưởng đoàn, rồi trưởng đoàn chuyên gia QS VN tại Campuchia (2.1981). Tháng 7.1982 thứ trưởng thứ nhất Bộ thương binh và xã hội (Bộ lao động thương binh và xã hội), ủy viên dự khuyết BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Huân chương: Hồ Chí Minh, Độc lập hạng nhất, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), 2 Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Chiến công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67430766_451519842244568_6424426774439919616_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQl71j7lAtp4W0XKb7EwKxGUAa5zKma-RrLPCgrHgSRhx6hyOEcdP9FgEi7sMXFJ7cE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=02e8d9a75057275e6a71e0aca6ee8aa6&oe=5DBEEE82)


        HOÀNG THỊ NGHỊ (Năm Hà; s. 1929), Ah LLVTND (1978). Quê tx Đồ Sơn, tp Hải Phòng; nhập ngũ 1948; đv ĐCS VN (1947); khi tuyên dương Ah là thiếu tá, cán bộ Cục địch vận TCCT. 9.1945-1.1948 tham gia công tác phụ nữ xã. 1948-54 cán bộ địch vận h. Kiến Thụy, vận động được hơn 100 lính ngụy bỏ ngũ, một trung đội lính Âu - Phi ở đồn Ngọc Hải (Đồ Sơn) mang súng sang hàng QĐND VN. 1955-75 hoạt động binh vận ở Sài Gòn, xâv dựng đươc nhiều cơ sở mât trong quần chúng và trong hàng ngũ địch, khai thác được nhiều tin, tài liệu của dịch. 1968 lãnh đạo cơ sở vận động binh lính địch ở Lai Cua (Long An) nổi dậy diệt 58 ác ôn. đưa đại đội bảo an (gần 100 người) mang súng về với CM. Hai lần bị dịch bắt (1956-60 và 1969-75), bị tra tấn dã man. vẫn kiên trung bất khuất. Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66513412_451519875577898_928965064931672064_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlnhig8sBCxVGbeBVKe5ntVTZII8uIGuCEGjOMrTjygJ8lValC8djxdA9Ev479g6zU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9fd1c4c5368ca58400d384e9825a874e&oe=5DAE9E7E)


        HOÀNG TRÀ (Hoàng Văn Chà; s. 1922), chính ủy Quân chủng hải quân (1975-79). Quê phường Đồng Nhân, q. Hai Bà Trưng, tp Hà Nội; tham gia CM 1944; nhập ngũ 8.1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1946). Trước CM tháng Tám (1945), tham gia Việt Minh ở Phú Thọ. Trong KCCP, 1945-54 giữ các chức vụ: trung đội trưởng, chính trị viên đại đội, trường ban chính trị trung đoàn, phó chính ủy rồi chính ủy Trung đoàn 148. Trong KCCM, 1958-66 chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Sư đoàn 335; chính ủy Lữ đoàn 335, ủy viên thường vụ khu ủy Quân khu Tây Bắc; chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy BTL hải quân. 1966-67 chính ủy BTL hải quân. 5.1967-68 phó chính ủy BTL hải quân, kiêm Quân khu Đông Bắc. 1969-70 cục trưởng Cục tổ chức TCCT. 1970-74 chính ủy BTL hải quân. 1974-75 phó giám đốc, bí thư đảng ủy Học viện chính trị-QS. 1975-79 chính ủy, bí thư đảng ủy Quân chủng hải quân. 6.1979-80 phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy QS trung ương. 1981-90 phó chủ nhiệm về chính trị TCHC. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quán công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công hạng nhất. Kháng chiến hạng nhất, Chiến thắng hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67277468_451519865577899_6810597965606944768_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQkktWqOgahxJ8YMNA2PM_YY-LBWACVnqNhIa2L2mYp5ApNbZwFUrXSfC1AhFoJJxhA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=17f2fd7a8a5ff0c77faa4ce546378ab6&oe=5DA3CAA7)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:56:38 PM

        HOÀNG VĂN KHÁNH (Hoàng Văn Thiệu; 1923-2002), tư lệnh Quân chủng phòng không (1977-82). Quê xã Nguyên Lí, h. Lí Nhân, t. Hà Nam; tham gia CM 1942, nhập ngũ 1945, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1942). Trước CM tháng Tám (1945) hoạt dộng trong phong trào công nhân cứu quốc ở Hà Nội và Bắc Kì. Trong KCCP. 1945-49 chính trị viên: trung đội, đại đội; trưởng ban nhân sự Phòng tham mưu Khu Hà Nội, tham mưu trường Đặc khu Hà Nội; tiểu đoàn trường Khu 2, Trung đoàn 15. Năm 1950-54 tham mưu trưởng Trung đoàn 88. Đại đoàn 308, trung đoàn phó Trung đoàn 64; trung đoàn trường Trung đoàn 52, Đại đoàn 320. Tháng 10.1954-62 trung đoàn trường Trung đoàn 63. Đại đoàn 351; tham mưu trường Sư đoàn 349. Năm 1962-64 hiệu phó Trường sĩ quan pháo binh; tham mưu trưởng BTL pháo binh. 1966-69 tư lệnh BTL phòng không Hà Bắc; phó tư lệnh kiêm tham mưu trường Bộ đội tên lừa phòng không; tham mưu trưởng BTL phòng không - không quân. 1969-74 phó tư lệnh Quân chúng phòng không - không quân. 1974-77 phó tư lệnh BTL pháo binh. 1977-82 tư lệnh Quân chủng phòng không. 1983-88 chuyên viên BTTM. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công hạng nhì. Chiến thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67255089_451519882244564_3996632678571966464_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmLCtp0IsgOy_PWNR0EJehFb6QJ3GCBinTwNLpcpckoATAOblfHFFnU_pT-CCx_vY4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b68497565a4ab3a72b97d74aaecb8816&oe=5DA15993)


        HOÀNG VĂN LƯỢNG (s. 1954). Ah LLVTND (1983). Dân tộc Mường, quê xã Tân Phú, h. Thanh Sơn. t. Phú Thọ; nhập ngũ 1974, thượng tá (1998); đv ĐCS VN (1978); khi tuyên dương Ah là trung úy, trung đội trướng trinh sát Đoàn A381, BTL đặc công. 1974-75 chiến sĩ Trung đoàn đặc công 198. tham gia chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Năm 1978-80 tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. 1981 trung đội trưởng Đoàn A381. BTL đặc công, bảo vệ biên giới Tây Nam, 8 lần đột nhập trinh sát sâu trong hậu phương địch, chỉ huy và dẫn đường cho đơn vị đánh thắng nhiều trận. 24.11.1981 chỉ huy  tổ trinh sát luồn sâu vào căn cứ hậu cần địch, ở lại 2-3 ngày điều tra nắm tình hình. Khi nổ súng, một mình đánh 6 mục tiêu (trong số 9 mục tiêu), phá hủy 23 nhà ở, 3 kho chứa hàng trăm tấn đạn B-40, B-41, cối 82, địch phải bỏ chạy khỏi căn cứ. 1999-2003 phó đoàn trường QS Đoàn đặc công biệt động 1, BTL đặc công. Huân chương: 2 Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66674869_451519898911229_7763307108694491136_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmQyXHgld-jIjHAN1bg8E5BhrG7a3ncb4RA7cUAF27lX1F_NtWG-zdHh36m2qBYiII&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d4a130061f631754bcc9237588e1956d&oe=5DB9F595)


        HOÀNG VĂN NHƯNG (Xuân Trường; 7-1945), tiểu đội trưởng Tiểu đội xung phong của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Dân tộc Tày, què xã Sóc Hà, h. Hà Quảng, t. Cao Bằng; tham gia hoạt động CM 1936. Năm 1940 được cử đi học khóa huấn luyện QS ở Liễu Châu (TQ), 1944 về nước gia nhập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, được chỉ định làm tiểu đội trướng. HVN đã tham gia chiến đấu và lập công trong trận Phai Khắt (25.12.1944) và trận Nà Ngần (26 12.1944). Ngày 5.2.1945 hi sinh trong trận đánh đồn Đồng Mu (bàn Đồng Mu, h. Bảo Lạc, t. Cao Bằng), HVN là liệt sĩ đầu tiên của QĐND VN. Tên Xuân Trường (HVN) đã được đặt cho bản Đồng Mu và con đường từ Lũng Phán đến Đồng Mu (dài 19,2km).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66747636_451519908911228_9171312343122968576_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQk3l7icEy58jscT437uDaLW1p1wXmsPKXJ6B1ePODAj1xtgn9K9Q26BrWQ0T_53RjY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8ed3133e7d5ca1ab6518d401620f4998&oe=5DB19EE7)


        HOÀNG VĂN QUYẾT (1952-92). Ah LLVTND (1976). Dân tộc Tày, quê xã Y Tịch. h. Chi Lăng, t. Lạng Sơn; nhập ngũ 1971, thiếu tá (1988); đv ĐCS VN (1973); khi tuyên dương Ah là chuẩn úy, trung đội trưởng tên lửa phòng không vác vai (A-72). Đại đội 3, Tiểu đoàn 172, Sư đoàn 367. Năm 1972-4.1975 chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ, tham gia đánh 30 trận, bắn rơi 14 máy bay địch (12 chiếc rơi tại chỗ) gồm 9 kiểu loại: F-5, A-37, AD-6, L-19, C-130, C 123... Ngày 23.9.1972 bắn rơi tại chỗ 1 CH-47, diệt 30 địch trên máy bay. Có 3 trận, mỗi trận bắn rơi 2 máy bay (Củ Chi, 25- 26.10.1972; Bù Bóng, 12.1973 và Đức Huệ, 29-30.3.1974). Là người sử dụng tên lửa phòng không vác vai chiến đấu đạt hiệu suất cao ở Nam Bộ. Huân chương: 3 Chiến công hạng ba: 13 lần Dũng sĩ bắn máy bay.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66782614_451519922244560_5417957633082523648_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlydDehTTXEf4uVHPLNr27Nt3e5ewCiWk-GiMZC9TcEpwO3i4L5C66pGHa-utiy-cs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=64bae3a6c65493367877f5d3925a20ed&oe=5DB0C304)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 04:59:22 PM

        HOÀNG VĂN THÁI* (Hoàng Văn Xiêm; 1915-86), tổng tham mưu trưởng đầu tiên của QĐND VN (1945-53). Quê xã Tây An. h. Tiền Hải, t. Thái Bình: tham gia CM 1936, nhập ngũ 1944. đại tướng (1980); đv ĐCS VN (1938). Năm 1940 bị thực dân Pháp bắt giam. 1941 chỉ huy Tiểu đội cứu quốc quân Bắc Sơn. 12.1944 phụ trách công tác tham mưu trinh sát Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. 3-8.1945 tham gia chỉ huy giành chính quyền ở Chợ Đồn, Lục An Châu và Tuyên Quang; phụ trách Trường quân chính kháng Nhật ở Tân Trào. 9.1945 được chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tổ chức BTTM: 1945-53 tổng tham mưu trưởng QĐND VN. Trong KCCP. tham mưu trưởng các chiến dịch: Biên Giới (1950). Điện Biên Phủ (1954)... Trong KCCM, 1958-60 chủ nhiệm Tổng cục quân huấn, kiêm chủ nhiệm ủy ban thể dục thể thao nhà nước. 1966 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 5. Năm 1967-73 tư lệnh QGPMN VN. phó bí thư Trung ương cục miền Nam và phó bí thư Quân ủy QGPMN VN. 1974-86 thứ trưởng BQP. kiêm phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1974-81). ủy viên BCHTƯ ĐCS VN  khóa III-V. Đại biểu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Hồ Chí Minh. Quân công (hạng nhất, hạng nhì)...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66780244_451519935577892_4895710238616846336_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQlyQYfO3mbU7eV9sDPAavTEBATRPASBOUbfYW3XdFafO_Kg4ZnJhpOPRtIbFQBoUVI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=00a9be2b9643be5aae69eb55d035d70c&oe=5DB22ED2)


        HOÀNG VĂN THÁI** (Huỳnh Đức Tui; 1920-2000), quyển chủ nhiệm TCKT (1986-89). Quê xã Điên Ngọc, h. Điện Bàn. t. Quảng Nam; nhập ngũ 1947. trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1945). Tháng 5.1945 hoạt động trong nhà máy hỏa xa Thuận Lí (t. Quảng Bình), ủy viên ủy ban khởi nghĩa tinh, lãnh đạo công nhân khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Bình. Trong KCCP, 1947-54 cán bộ hậu cần và văn phòng trung đoàn, chính ủy trung đoàn: chủ nhiệm chính trị, rồi chính ủy Đại đoàn 325. Trong KCCM, 1960 chủ nhiệm chính trị BTL pháo binh. 12.1962 phó chính ủy Quàn khu 4. Tháng 1.1965 phó chủ nhiệm TCHC. Cuối 1965-67 tư lệnh Đoàn 559. Năm 1969 phó tư lệnh, chủ nhiệm hậu cần Quân khu Trị - Thiên kiêm phó tư lệnh Đoàn 559. Năm 1972- 74 phó chủ nhiệm TCHC; phó tư lệnh Quân khu Trị - Thiên; tư lệnh đầu tiên Quân đoàn 2. Năm 1975 phó chủ nhiệm TCKT. 1986 quyền chủ nhiệm TCKT. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công hạng nhất. Chiến thắng hạng nhì. Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67033296_451519945577891_2280278285831110656_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmucb583LffkNRU6E8P5JvDLnGFYYWDZlxmxCx4TZmgTpI9qh_A2AgxGGbAbD2F_j8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=34e54f4cfdfe8b69ee8ddf051c3d1f0b&oe=5DB3CC80)


        HOÀNG VĂN THỤ (1909-44), bí thư Xứ ủy Bắc Kì ĐCS Đỏng Dương (1939-40). Dân tộc Tày. quê xã Nhân Lí, châu Điểm He (nay là xã Hoàng Văn Thụ. h. Văn Lãng), t. Lạng Sơn; đv ĐCS VN (1933). Năm 1926 hoạt động trong phong trào học sinh ở Lạng Sơn. 1928 sang TQ, gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), tham gia đội quân Bắc Phạt của Hồng quân công nông (TQ) và được phong trung úy. Là người giúp việc tích cực Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng. 1935 dự đại hội Đáng I tại Ma Cao (TQ), sau đó vế nước hoạt động tại Việt Bắc, chủ bút báo “Tranh Đấu” (cơ quan ngôn luận của Mặt trận phản đế Việt Bắc), ủy viên Xứ ủy Bắc Kì, trực tiếp chỉ đạo phong trào CM ở Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Quảng Ninh... 11.1939 bí thư Xứ ủy Bắc Kì. 11.1940 ủy viên BCHTƯ. 5.1941 ủy viên Ban thường vụ trung ương ĐCS Đỏng Dương, ủy viên BCH lâm thời Tổng bộ Việt Minh phụ trách công tác binh vận và công vận. tham gia sáng lập báo “Cờ giải phóng”. 8.1943 bị thực dân Pháp bắt, kết án tử hình. 24.5.1944 bị xử bắn tại trường bắn Tương Mai (Hà Nội).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67105800_451519958911223_5293006013555802112_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQkxedAT5_6Io_bkJf-N52EWH0fZ_g10CPgtdMaQNfoezuOXIP1olFP9LpQFP9d9E00&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3610e44698e021fe740f4b501e939679&oe=5DA3168F)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:01:23 PM

        HOÀNG VĂN VẺ (1947-2001), Ah LLVTND (1973). Dân tộc Mường, quẽ xã Thu Cúc, h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ; nhập ngũ 1967, thiếu tá (1987), đv ĐCS VN (1969); khi tuyên dương Ah là chuẩn úy, phó đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 961 bộ đội hóa học. 1968-72 chiến sĩ súng phun lửa ở mặt trận Quảng Trị và Đường 9 -  Nam Lào. Trong chiến đấu luôn bám sát địch, mưu trí chiếm địa hình có lợi. diệt 2 đại liên. 2 xe M113 và 30 địch. Chi huy tiểu đội súng phun lửa diệt gần 200 địch, bắn cháy 8 xe tăng, 15 đại liên, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. Trong trận đánh quân địch bỏ chạy từ đường 9 về Bản Đông (18.3.1971), bị thương vẫn chỉ huy tổ chiến đấu giành thắng lợi. diệt 57 địch, bắn cháy 4 xe Mĩ 13 (HVV diệt 24 địch, bắn cháy 2 xe). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng ba); 3 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66782383_451519972244555_1363508832076038144_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQnJa3UKuM7aF_0K8Z1CkpJJxuecNwYHsqJ-MPXOMPxl4pl0b1Qg11miK6eHQcjOzTw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3ecccb3b434a4cb3d96f5cfd97aad7af&oe=5DADBD39)


        HOÀNG VIỆT (Lê Chí Trực; 1928-67), nhạc sĩ. Quê tx Bà Rịa, t. Bà Rịa-Vũng Tàu; nhập ngũ 1947. Năm 1948-54 tham gia hoạt động nghệ thuật ở chiến trường Nam Bộ. 1955 tập kết ra miền Bắc. 1966 trở lại chiến trường miền Nam phụ trách bộ phận âm nhạc trong Tiểu ban văn nghệ thuộc Ban tuyên huấn Trung ương cục miên Nam. Hi sinh ở chiến trường Nam Bộ (31.12.1967). HV để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng: “Chí cả”, “Tiếng còi trong sương đêm”, “Lá xanh”, “Lên ngàn". “Nhạc rừng”, “Mùa lúa chín”, ‘Tinh ca”, “Giết giặc Mĩ cứu nước”, “Bài ca thanh niên miền Nam thành đồng”, bán giao hưởng “Quê hương” và vở nhạc kịch "Bòng Sen” (viết chung với Lưu Hữu Phước và Ngô Y Linh). Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Huân chương Kháng chiến hạng nhất, huy chương Quyết thắng hạng nhì. Tên HV được đặt cho một rạp hát ở t. Tiền Giang và một đường phố ở tp Hò Chí Minh.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66921908_451519995577886_795606738412765184_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQlpcl8e-tOg68TeophI2XDGE0ck2nDW8CaKISyxYZtqmwp4eM20iVeH5H18U9olowI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=55729de5d76561d16bb30a39be37a5f7&oe=5DEE7F01)


        HOÀNH ĐỒ, bản đồ địa hình có tỉ lệ 1:10.000 hoặc lớn hơn. nội dung tỉ mỉ, chính xác, được lập cho một số khu dân cư, mục tiêu cần thiết. Trên HĐ phải biểu thị những vật kiến trúc đột xuất, xí nghiệp công nghiệp, đường phố, công viên... và đánh số thứ tự hoặc kí hiệu để tiện sử dụng. Trong QS. HĐ dùng để chi mục tiêu, xác định góc phương vị, chuẩn bị phần tử bắn cho pháo binh, tên lửa. cho không quân ném bom.

        HOÀNH SƠN, nhánh núi của dãy Trường Sơn nhô ra sát Biển Đông, nằm giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Có các đỉnh Rào Cỏ (2.230m), Phù So (1.563m), Bà Mụ (1.357m).„ QL 1 qua HS theo Đèo Ngang.

        HOẠT ĐỘNG CHỐNG THỦY LÔI. tổng thể các hoạt động nhằm loại trừ hoặc giảm đến mức thấp nhất mối uy hiếp về thủy lôi, do đối phương gây ra đối với tàu (thuyền) QS (dân sự) của ta khi hoạt động trên biển (sông, hồ...), trú đậu tại căn cứ, vịnh, cảng... HĐCTL gồm: tiến hành quan sát, trinh sát thủy lôi, đánh dấu, thông báo vị trí thủy lôi và những nơi nghi ngờ có thủy lôi; tìm đường vòng tránh các khu vực có thủy lôi; kiểm tra và làm giảm các trường vật lí của tàu; rà phá các chướng ngại thủy lôi; dẫn đường cho tàu (thuyền) đi qua khu vực có thủy lôi; tiến công (đánh trả) các phương tiện thả thủy lôi của đối phương.

        HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ, gọi chung những hành động QS hoặc có mục đích QS. Như xây dựng các kế hoạch QS, tổ chức LLVT, xây dựng làng xã chiến đấu, phát động và tiến hành chiến tranh du kích, tổ chức và thực hành động viên thời chiến, xây dựng các căn cứ QS (sân bay, bến cảng...), những hành động chiến đấu của bộ đội và sự giúp đỡ trực tiếp cho các hoạt động tác chiến (làm đường, tải đạn, cứu thương...).

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN, tổng thể các hoạt động có tổ chức của các đơn vị LLVT nhằm hoàn thành nhiệm vụ tác chiến được giao. Gồm: hoạt động chuẩn bị tác chiến, bảo đảm tác chiến và thực hành tác chiến... HĐTC có các quy mô: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:03:23 PM

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN hái quân, hoạt động tác chiến do các binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn hái quân tiến hành để hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu trên biển và hiệp đồng tác chiến với các quân chủng khác và LLVT địa phương trên hướng ven biển. Diễn ra ở các quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; với các hình thức chiến dịch trên biển, đợt hoạt động tác chiến tập trung của hải quân, hoạt động tác chiến thường xuyên của hải quân, trận chiến đấu trên biển, đột kích...

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THƯỜNG XUYÊN, hình thức tác chiến được tiến hành trong khoảng thời gian giữa các chiến d'ch. giữa các đợt tác chiến tập trung, hoặc giữa các đợt của một chiến dịch nhằm giữ thế và lực của ta. tiêu hao phán tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho những hoạt động tác chiến tiếp theo. Thường được thực hiện bàng sự kết hợp giữa LLVT địa phương với một bộ phận bộ đội chủ lực.

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THƯỜNG XUYÊN của hải quân, hình thức tác chiến hải quân được tiến hành trong khoảng thời gian xen kẽ giữa các chiến dịch để tạo thế cho các chiến dịch trên biển (ven biển) sẽ được tiến hành. Do các phản đội. binh đội, binh đoàn tiến hành nhằm tiêu diệt các tàu mặt nước và tàu ngầm hoại động lẻ (hoặc thành tốp nhò) trên biển và ở nơi trú đậu, phá hoại bến cảng, kho tàng, SCH và các mục tiêu khác trên bờ cua đối phương; bảo vệ tuyến giao thòng và các điểm trú đậu. chi viện các binh đoàn, binh đội lục quân hoạt động ở ven biển; đổ bộ đường biển quy mô chiến thuật... Các biện pháp bảo đảm gồm: cảnh giới, trinh sát, ngụy trang, tác chiến điện từ trên biển; thiết bị hoặc thiết bị bổ sung chiến trường biển; tiến hành các loại phòng thủ và bảo vệ,... phòng chống địch tập kích bất ngờ.

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THƯỜNG XUYÊN của khòng quân, hình thức tác chiến không quân được tiến hành trong thời gian giữa hai đợt tác chiến tập trung hoặc giữa hai chiến dịch không quân, do từng chiếc máy bay, phân đội thực hiện, nhằm gây khó khăn và tác động thường xuyên, liên tục vào đối phương hoặc đảm bảo cho các lực lượng khác hoạt động và các hoạt động tác chiến tiếp theo của không quân.

        HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THƯỜNG XUYÊN của phòng không, hình thức tác chiến phòng không tiến hành giữa các chiến dịch, các đợt tác chiến tập trung hoặc giữa hai đợt của một chiến dịch, do một bộ phận lực lượng các phân đội, binh đội. binh đoàn của lực lượng phòng không ba thứ quân tiến hành nhằm duy trì hoạt động đánh địch liên tục, kiềm chế hoạt động và gây tổn thất cho chúng, chuẩn bị điều kiện cho đợt tác chiến tập trung hoặc chiến dịch kế tiếp.

        HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ. tổng thể các hoạt động khoa học do cán bộ thông tin thực hiện, nhầm cung cấp thông tin khoa học quân sự và các ngành liên quan cho lãnh dạo, chỉ huy, quân lí. nghiên cứu. giảng dạy trong lĩnh vực QS và quốc phòng; nâng cao hiệu quả nghiên cứu và phát triển khoa học QS. HĐTTKHQS bao gồm việc thu thập, xứ lí, phân tích, tổng hợp, lưu giữ và phổ biến tin khoa học QS.

        HÓC MÔN, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, huyện lị: thị trấn Hóc Môn: đơn vị Ah LLVTND. Nguyên là h. Bình Long, phú Tân Bình, t. Gia Định, thành lập 1811. Đầu tk 20 đổi thành HM. Căn cứ khởi nghĩa chống Pháp của Phạm Công Hớn, Nguyễn Văn Bường (1885), khởi nghĩa Nam Kì (11.1940), địa bàn hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đáng trong KCCP, cơ sở hoạt động của các lực lượng nội thành, bàn đạp tiến công của các LLVTND. QGPMN VN vào nội thành Sài Gòn trong KCCM.

        HỌC HÀM X. CHỨC DANH KHOA HỌC

        HỌC THUYẾT, hệ thống quan niệm, quan điểm, lí thuyết, lí luận, tư tướng của một học giả. một học phái về một hiện tượng nào đó trong tự nhiên hoặc xã hội nhằm hướng dẫn nhận thức và hành động của con người. HT có tính khoa học và CM lí giải đúng các hiện tượng của tự nhiên và xã hội sẽ thúc đẩy sự phát triển của tự nhiên và xã hội (HT hình thái kinh tế - xã hội của Mác, HT tiến hóa các giống loài của Đacuyn...); ngược lại, HT phản khoa học. phản động sẽ phá hoại, kìm hãm sự phát triển của hội (thuyết Đacuyn xã hội, học thuyết Nichxơn...).

        HỌC THUYẾT AIXENHAO, học thuyết của Mĩ về Trung Đông do tổng thống MT Aixenhao đề xướng (3.1957). nhằm giành quyền kiểm soát (“lấp khoảng trông quyền lực”) khu vực Trung Đông sau thất bại của Anh, Pháp và Ixraen trong cuộc chiến tranh Ixraen - Ai Cập (1956). Nội dung: trao cho tổng thông quyền viện trợ kinh tế. QS và cần thiết có thể tiến hành can thiệp vũ trang giúp bất cứ nước Trung Đông nào có nguy cơ “chịu sự kiểm soát của chủ nghĩa cộng sản quốc tế”. Được thực thi lần đấu tiên tại Libăng. khi chính quyền quân chủ thân phương Tây ở Irắc bị lật đổ (14.7.1958), Mĩ đã đưa quân can thiệp vào Libăng và rút đi sau 3 tháng.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:04:39 PM

        HỌC THUYẾT CHỐNG NỔI DẬY. học thuyết do tổng thống MT Kennơđi khởi xướng (1961) về chống chiến tranh giải phóng dân tộc có xu hướng chống Mĩ (nổi dậy CM) tại các thuộc địa kiểu mới của Mĩ. nhằm bảo vệ chính quyền thân Mĩ và duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mĩ ở những nước đó. Ra đời trong bối cảnh các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh. Mĩ mất độc quyền và giảm dần ưu thế về vũ khí hạt nhân; dựa trên cơ sở những bài học rút ra từ thất bại và thành công ở một số nước đồng minh phụ thuộc Mĩ. Nội dung chủ yếu: sử dụng chính quyền thân Mĩ với bộ máy kìm kẹp (tề điệp, cảnh sát. mật vụ. dân vệ...) và QĐ bản xứ do Mĩ trang bị và hỗ trợ (cố vấn. huấn luyện, tình báo, cung cấp tài chính, viện trợ kinh tế và QS...) làm chỗ dựa chủ yếu để đàn áp. bóp nghẹt phong trào CM ngay từ lúc khởi đầu; khi cần thiết, Mĩ có thể phái một bộ phận lực lượng chiến đấu Mĩ đến trực tiếp răn đe và bảo vệ dưới danh nghĩa chính phủ bản xứ yêu cầu. Biện pháp: kết hợp các thủ đoạn chính trị, QS. kinh tế (càn quét, bình định, dồn dân lập ấp chiến lược, xây dựng các khu trù mật. tiến hành chiến tranh tâm lí, chiến tranh gián diệp, mua chuộc, lừa bịp quần chúng bằng kinh tế...) để tách LLVT, lực lượng bán vũ trang, các cơ sở chính trị của CM ra khỏi nhân dân  và cắt đứt mọi sự chi viện từ bên ngoài để tiêu diệt lực lượng CM. Mĩ đã áp dụng HTCND ở VN bằng chiến lược chiến tranh đặc biệt (1961-65) nhưng đã bị thất bại. buộc phải dưa QĐ viễn chinh Mĩ tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ (1965-68).

        HỌC THUYẾT GUAM nh HỌC THUYẾT NICHXƠN

        HỌC THUYẾT LÊNIN VỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, hệ thống luận điểm của Lê nin về bảo vệ tổ quốc XHCN. Ra đời sau CM tháng Mười Nga (1917) trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng của C. Mác và Ăngghen về tính tất yếu phải bảo vệ thành quả của CM vô sản khi giai cấp công nhân đã giành được chính quyền, có tổ quốc XHCN. Nội dung chính: luận giải việc bảo vệ tổ quốc XHCN (bao gồm bảo vệ độc lập. chủ quyển, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ chế độ và thành quả CM, bảo vệ chính quyền nhà nước, bảo vệ sự lãnh đạo của ĐCS) là một quy luật của CM XHCN (vì CNĐQ còn nuôi cuồng vọng bóp chết nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ CNXH trên thế giới); đồng thời chỉ ra những nhiệm vụ của giai cấp công nhân để bảo vệ tổ quốc khi đã giành được chính quyền: vũ trang bảo vệ tổ quốc XHCN, chuẩn bị đất nước sẵn sàng về QS. xây dựng quân đội kiểu mới trên cơ sở vũ trang toàn dân. bảo vệ tổ quốc bằng mọi biện pháp (QS. chính trị, kinh tế. ngoại giao...), xây dựng liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế, xây dựng thành công CNXH về mọi mặt làm điều kiện cơ bản cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, đặt toàn bộ sự nghiệp báo vệ tổ quốc XHCN dưới sự lãnh đạo của ĐCS và được thể chế hóa thành hiến pháp, pháp luật, nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi công dân. Giá trị của HTLVBVTQXHCN đã được chứng minh bằng thắng lợi của nhân dân LX trong bảo vệ chính quyền Xô viết lúc còn trứng nước và trong chiến tranh giữ nước (1941-45) cũng như thắng lợi của nhân dân VN trong KCCP và KCCM. Ngày nay, trong bối cảnh CNĐQ và các thế lực phản động quốc tế đang triệt để khai thác thất bại tạm thời của CNXH (sau khi các nhà nước XHCN Đông Âu và LX sụp đổ), nhằm xóa bỏ hoàn toàn XHCN, chống phá phong trào CM thế giới bằng diễn biến hòa bình kết hợp với đe dọa xâm lược vũ trang, càng đòi hòi việc vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo HTLVB- VTQXHCN trong những điều kiện cụ thể nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN.

        HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN VỂ CHIẾN TRANH VÀ QUÂN ĐỘI. hệ thống lí luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về những vấn đề cơ bản của chiến tranh và quân đội. Nội dung chính: nghiên cứu chiến tranh và QĐ với tính cách là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực và QĐ là yếu tố của kiến trúc thượng tầng chính trị (bộ phận đặc thù của nhà nước), công cụ chủ yếu của đấu tranh vũ trang và chiến tranh; lí giải khoa học về: nguồn gốc, nguyên nhân, bản chất, tính chất của chiến tranh, các kiểu và vai trò của chiến tranh trong lịch sử, quan hệ giữa chiến tranh với chính trị, với tiến bộ xã hội và CM xã hội, với vũ khí trang bị, điều kiện kinh tế và vật chất kĩ thuật, các quy luật phát sinh, phát triển và kết cục của chiến tranh; vạch rõ nguồn gốc, bản chất chính trị. giai cấp và chức năng của QĐ, các kiểu QĐ và sự xuất hiện quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, những nguyên tắc cơ bản xây dựng QĐ kiểu mới: chỉ rõ sự tác động biện chứng của các nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh, sức mạnh chiến đấu của QĐ và khả năng quốc phòng của đất nước; khẳng định vai trò quan trọng quyết định của ĐCS trong lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh CM, trong xây dựng và lãnh đạo LLVT CM, đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc XHCN. Gồm ba bộ phận trong một chỉnh thể thống nhất: triết học - xã hội học, kinh tế - xã hội học và chính trị - xã hội học về chiến tranh và QĐ. Do Mác* và Ăngghen sáng lập, được Lê nin kế tục và phát triển lên trình độ mới với những kết luận khoa học về chiến tranh trong thời đại ĐQCN và CM vô sản cùng những kinh nghiệm thực tiễn xây dựng quốc phòng của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới; ngoài ra, còn thường xuyên được phát triển, làm phong phú thêm qua các kết luận mới rút ra từ thực tiễn đấu tranh CM và tiến hành chiến tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc ở các nước XHCN. HTM-LVCTVQĐ trở thành nền tảng của khoa học quân sự XHCN và phương pháp luận cho đường lối quân sự, lí luận và thực tiễn tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh CM, xây dựng LLVT và củng cố quốc phòng, bảo vệ tổ quốc XHCN; góp phần đấu tranh vạch trần bản chất phản động của các học thuyết QS của CNĐQ.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:05:29 PM

        HỌC THUYẾT NICHXƠN, học thuyết chỉ đạo chính sách của Mĩ trong những năm 70, do tổng thông Mĩ Nichxơn công bố tại Guam (25.7.1969) và trước Quốc hội Mĩ (18.2.1970), nhằm thích ứng với khả năng thực tế bị hạn chế và so sánh lực lượng trên thế giới đã thay đổi không có lợi cho Mĩ, sau khi chiến lược phân ứng linh hoạt thất bại và Mĩ đang bị sa lầy, bế tắc trong chiến tranh xâm lược VN. Nội dung chính: lấy việc tăng cường sức mạnh, nhất là “sức mạnh quân sự làm chỗ dựa cơ bản” trên cơ sở đồng minh “cùng chia sẻ trách nhiệm”, đồng thời sử dụng thương lượng làm biện pháp chiến lược quan trọng để giải quyết các vấn đề quốc tế (“sức mạnh quân sự”, “tập thể tham gia. cùng chia sẻ trách nhiệm” và “thương lượng” là ba nguyên tắc, trong đó đồng minh “cùng chia sẻ trách nhiệm” là nguyên tắc trung tâm và “sức mạnh quân sự làm chỗ dựa cơ bản”), nhằm làm thay đổi tương quan lực lượng, ngăn chặn LX và hệ thống  XHCN, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc. Tạo thế cân bằng, hòa hoãn giữa các nước lớn để tranh thủ thời gian cùng cố sức mạnh toàn diện cả về kinh tế và QS, thực hiện thương lượng trên thế mạnh (“cây gậy và củ cà rốt”), về QS, thực hiện chiến lược ngăn đe thực tế thay cho chiến lược phân ứng linh hoạt, nhằm giành lại ưu thể vũ khí chiến lược làm “lá chắn” ngăn chặn LX. duy trì lực lượng thông thường theo công thức “một cuộc chiến tranh rưỡi”, huy động đồng minh và tay sai cùng đối phó với phong trào giải phóng dân tộc. HTN được Mĩ thử nghiệm ở VN bằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh; triển khai hoạt động ngoại giao cấp cao “lịch sử” đối với TQ và LX (1972) nhằm chia rẽ VN với TQ và LX. ngăn chặn viện trợ cho VN: thương lượng hòa bình ở Pari đi đôi với tăng cường ném bom miền Bắc VN và mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, nhưng đã bị thất bại. Cg học thuyết Guam.

        HỌC THUYẾT QUÂN SỰ. hệ thống quan điểm tư tưởng, lí luận và nguyên tắc cơ bản về QS của một nhà nước, giai cấp hoặc chính đảng... ở một thời kì nhất định. HTQS thường xác định: đối tượng tác chiến của cuộc chiến tranh có thể xảy ra; tính chất, mục đích của cuộc chiến tranh sẽ phải tiến hành; các nhiệm vụ chiến lược và yêu cầu, phương hướng xây dựng LLVT; phương thức chuẩn bị đất nước cho cuộc chiến tranh; nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh; phương thức tiến hành chiến trank, nghệ thuật QS... HTQS của chính đảng cầm quyền là cơ sở lí luận của chiến lược quân sự, chính sách quân sự của -quốc gia. Căn cứ để xây dựng HTQS: cương lĩnh chính trị của chính đảng cầm quyển, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tiềm lực mọi mật của đất nước, truyền thống QS của dân tộc và xu thế của thời đại.

        HỌC THUYẾT TÁC CHIẾN KHÔNG - BỘ, học thuyết quân sự chỉ đạo tác chiến chiến dịch của lục quân Mĩ từ 1982. Nội dung chính: phối hợp sức mạnh của không quân với sức mạnh của lục quân, tận dụng vũ khí, phương tiện KTQS hiện đại của không quân và lục quân (kể cả vũ khí vũ trụ) đê tiến công đồng thời, liên tục vào tung thâm và những nơi mỏng yếu, sơ hở nhất, nhằm nhanh chóng chia cắt lực lượng và thế trận của đối phương, giành thắng lợi trong thời gian ngắn. Nguyên tắc chung: chủ động, chiều sâu, mau lẹ, đồng bộ, đa năng. Nguyên tắc tác chiến cụ thể: bất ngờ, tập trung, tốc độ, linh hoạt, táo bạo, hiệp đồng chặt chẽ, lợi dụng địa hình, bảo vệ an ninh phía trước và phía sau. HTTCK-B đã được NATO vận dụng trong phương án QS mở rộng hoạt động tác chiến vào sâu lãnh thổ đối phương, coi trọng khả năng linh hoạt, tốc độ, hỏa lực và quyền chủ động của các cấp... Chiến dịch “Bão táp sa mạc” của Mĩ và đồng minh trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91) được đánh giá là một thành công lớn của việc vận dụng HTTCK-B trong thực tế chiến đấu.

        HOC THUYẾT TRUMAN, học thuyết đối ngoại của Mĩ thời kì đầu chiến tranh lạnh do tổng thống Truman đề xướng (3.1947) dựa trên ưu thế của Mĩ và khó khăn của các nước Đổng minh sau CTTG-II. nhằm khống chế các nước này để tập hợp lực lượng chống CNXH và phong trào giải phóng dân tộc, trước hết là LX. Triển khai HTT. Mĩ đã tiến hành kế hoạch Macxan, viện trợ quân sự và kinh tế cho các nước châu Âu, đặc biệt là Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì; lập các liên minh quân sự. OAS, NATO, ANZUS; giúp đỡ chính quyền Tưởng Giới Thạch nhằm ngăn chặn CM TQ (1945-49); lập cầu hàng không giải tỏa cho Tây Beclin (1948-49); chỉ huy chiến tranh Triều Tiên (1950-53); can thiệp và hỗ trợ Pháp trong chiến tranh VN (1946-54)... và kí nhiều hiệp ước an ninh QS song phương khác. Trên thực tế, HTT không ngăn chặn được sự lớn mạnh của hệ thống XHCN và phong trào giải phóng dân tộc khắp thể giới.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:06:35 PM

        HỌC THUYẾT XUNG ĐỘT CUỜNG ĐỘ THẤP, học thuyết chỉ đạo hành động của Mĩ trong các cuộc xung đột, đấu tranh QS, chính trị phức tạp giữa các lực lượng đối địch trong một nước hoặc giữa các nước trong một khu vực dưới mức chiến tranh thông thường và trên mức “cạnh tranh hòa bình” liên quan đến an ninh khu vực và lợi ích toàn cầu của Mĩ. Ra đời từ sau 1975, được bổ sung hoàn chỉnh 1981 và 1986. Theo đó, đối tượng của HTXĐCĐT gồm: các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc đã giành dược độc lập dân tộc nhưng có xu hướng XHCN hoặc chống Mĩ đang gặp khó khăn về kinh tế, chính trị. Mục tiêu của HTXĐCĐT nhằm ngăn chặn, dập tắt phong trào giải phóng dân tộc, duy trì chính quyền thân Mĩ, hoặc ủng hộ bọn phản động giành chính quyền ở các nước độc lập có xu hướng XHCN hoặc chống Mĩ. Lực lượng tham gia xung đột cường độ thấp chủ yếu là lực lượng của chính quyền thân Mĩ (hoặc lực lượng phán động) bản xứ; Mĩ giúp đỡ về tình báo. huấn luyện, cố vấn, viện trợ QS, kinh tế... Khi cần Mĩ có thể tham gia chiến đấu (dưới chiêu bài hợp pháp) nhưng có lựa chọn, với lực lượng hạn chế, chắc thắng trong thời gian ngắn; chủ động tiến công bằng vũ khí kĩ thuật cao, tốc độ nhanh...; coi trọng các biện pháp chính trị, kinh tế. xã hội, đồng thời với các biện pháp QS. HTXĐCĐT đã được Mĩ vận dụng để can thiệp vào nhiều nơi như Grenada (1983), Panama (1990) Xômáli (1993), Haiti (1994). ... Cg LIC (vt từ Low-Intensity Conflict).

        HỌC VẤN QUÂN SỰ, trình độ tri thức, kĩ năng và kĩ xảo QS có hệ thống mà quân nhân thu nhận được qua quá trình học tập. công tác. Ở VN, HVQS được chia thành ba trình độ: sơ cấp. trung cấp, cao cấp. Để đạt dược mỗi trình độ HVQS, sĩ quan phải được học tập và tốt nghiệp ở các trường sĩ quan, học viện của QĐ và ở các khoa QS trong các trường đại học và cao đẳng của nhà nước; hạ sĩ quan, binh sĩ tiếp thu những tri thức QS sơ cấp trong quá trình phục vụ QĐ.

        HỌC VỊ. cấp bậc khoa học được trao cho người có trình độ học vấn trên đại học thuộc một ngành khoa học nhất định, đã bảo vệ thành công luận án khoa học. Ở VN, do nhà nước quy định và quản lí; từ 1998 có các HV: thạc sĩ, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học. Một số nước có HV: phó tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; hoặc thạc sĩ và tiến sĩ... HV của người VN do nước ngoài công nhận hoặc người nước ngoài do VN công nhận được thực hiện theo quy định của nhà nước VN và điều ước quốc tế mà VN kí kết hoặc gia nhập. Người được công nhận HV được cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.

        HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG, học viện đào tạo sĩ quan biên phòng cấp phân đội (và tương đương) có trình độ đại học. Gồm các chuyên ngành: quản lí bảo vệ biên giới quốc gia; trinh sát biên phòng; kiểm soát cửa khẩu; đào tạo bồi dưỡng sĩ quan chỉ huy chuyên ngành (tham mưu, chính trị, trinh sát, hậu cần); đào tạo bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học QS; đào tạo nhân viên, chuyên môn nghiệp vụ trung cấp, sơ cấp biên phòng; đào tạo bổi dưỡng văn hóa nguồn; tổ chức nghiên cứu khoa học biên phòng; trực thuộc BTL Bộ đội biên phòng. Thành lập 7.7.2003 (theo quyết định số 85/2003/QĐ-BQP). Tiền thân là Trường sĩ quan công an vũ trang (1963, hiệu trưởng Chu Đốc); Trường đại học công an nhân dân vũ trang (1976); Trường sĩ quan biên phòng (1979); Trường đại học biên phòng (1989); hợp nhất Trường trung cao biên phòng vào Trường đại học biên phòng (1991); sáp nhập Trường văn hóa và Trường trung học biên phòng 1 vào Trường đại học biên phòng (1997). Huân chương: 4 Quân công, 4 Chiến công. Ngày truyền thống 20.5.1963. Giám đốc đầu tiên: Trần Xuân Tịnh.

        HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ, học viện đào tạo cán bộ chính trị - QS cấp phân đội, binh đội, binh đoàn và những đối tượng khác (đào tạo, bổ túc giáo viên một số ngành khoa học xã hội cho trường QS; bổi dưỡng chính trị cho cán bộ trung cấp và cao cấp; đào tạo cán bộ sau đại học một số môn khoa học xã hội trong QS); trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn QS. Thành lập 21.5.1965 theo quyết định 68/QP. Tổ chức tiền thân là Trường chính trị trung cấp (thành lập 1951; giám đốc đầu tiên: Nguyễn Chí Thanh)-, qua nhiều thời kì xây dựng và phát triển với tên gọi: Trường lí luận chính trị (1956), Trường chính trị trung - cao cấp (1958) và 1961 hợp nhất với Trường bổ túc QS trung - cao cấp thành Học viện quân chính. Đến 1965 Học viện quân chính tách thành Học viện chính trị và Học viện QS (xt Học viện lục quân). 12.1981 đổi tên thành HVCT-QS; 5.1995 hợp nhất Trường sĩ quan chính trị - QS vào HVCT-QS. Ngày truyền thống 25.10.1951 (ngày chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường chính trị trung cấp). Giám đốc đầu tiên (1965): Tô Kí.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:07:41 PM

        HỌC VIỆN HẢI QUÂN, học viện đào tạo sĩ quan sơ cấp hải quân có trình độ đại học, sĩ quan trung cấp và cao cấp hải quân có trình độ sau đại học; trung tâm nghiên cứu khoa học QS hải quân, trực thuộc BTL hải quân. Thành lập 3.4.1993 theo quyết định số 125/QĐ-QP của BQP, trên cơ sở nâng cấp Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật hải quân. Tổ chức tiền thân là Trường huấn luyện bờ biển (mật danh: C45), trực thuộc Cục phòng thủ bờ biển, thành lập 26.4.1955 (theo quyết định số 1125/QF/TTL của BQP), hiệu trưởng: Vũ Thanh Giang. Đã qua các tên gọi: Trường huấn luyện hải quân (26.1.1959); Trường hải quân VN (1.1961); Trường sĩ quan hải quân (25.7.1967); Trường sĩ quan hải quân 1 và Trường sĩ quan hải quân 2 (10.9.1975). Trường sĩ quan chỉ huy - kĩ thuật hải quân (23.10.1980). Ngày truyền thống 26.4.1955. Giám đốc đầu tiên: Lê Kế Lâm.

        HỌC VIỆN HẬU CẦN, học viện đào tạo, bổ túc cán bộ hậu cần cấp phân đội, binh đội, binh đoàn và tương đương, đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học hậu cần QS; trung tâm nghiên cứu khoa học hậu cần QS của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (2002). Thành lập 23.7.1974 trên cơ sở Trường sĩ quan hậu cần; trực thuộc BQP. Từ 3.1980, HVHC tách một bộ phận để thành lập lại Trường sĩ quan hậu cần. 3.1996 hợp nhất Trường sĩ quan hậu cần vào HVHC. Huân chương: 3 Quân công, 5 Chiến công, Lao động. Ngày truyền thống 23.7.1974. Viện trưởng đầu tiên: Hoàng Kiện.

        HỌC VIỆN KHÔNG QUÂN, học viện đào tạo sĩ quan chỉ huy  - tham mưu không quân cấp phân đội, sĩ quan lái máy bay (cùng với Trường huấn luyện bay - kĩ thuật không quân) có trình độ đại học, liên kết với Học viện KTQS đào tạo kĩ sư không quân; đào tạo sau đại học; đào tạo cán bộ giảng dạy. cán bộ nghiên cứu khoa học QS và kĩ thuật hàng không: chuyên loại, bồi dưỡng cán bộ chính trị, kĩ thuật, nghiệp vụ, hậu cần không quân và thực hiện những nhiệm vụ khác. Thành lập 31.12.1994. Tiền thân là Trường tập huấn (2.1979- 4.1980), Trường sĩ quan tham mưu không quân (5.1980- 3.1985), Trường trung cao không quân (4.1985-12.1994) và hệ sĩ quan tham mưu sơ cấp của Trường huấn luyện bay - kĩ thuật không quân. Từ 7.1999 hợp nhất với Học viện phòng không thành Học viện phòng không - không quân. Ngày truyền thống 15.12.1979 (thành lập Trường tập huấn). Giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Bổng.

        HỌC VIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ, học viện đào tạo cán bộ kĩ thuật, quản lí kĩ thuật, quản lí khoa học công nghệ, sàn xuất bậc đại học và sau đại học, cán bộ chỉ huy tham mưu kĩ thuật cấp chiến thuật - chiến dịch; trung tâm nghiên cứu khoa học KTQS và chỉ huy tham mưu kĩ thuật. Thành lập theo quyết định số 146/CP ngày 8.8.1966 với tên gọi Phân hiệu 2 Đại học bách khoa Hà Nội (phân hiệu trưởng: Vũ Văn Hà); chuyển thành Đại học KTQS theo quyết định số 88/CP ngày 18.6.1968 (chính ủy kiêm hiệu trưởng: Đặng Quốc Bảo), HVKTQS theo quyết định 412/QP ngày 15.12.1981 (Viện trưởng: Nguyễn Quỳ). Huân chương: Độc lập hạng ba, 2 Quân công, 2 Chiến công, Lao động. Ngày truyền thống 28.10.1966, ngày công bố quyết định thành lập Phân hiệu 2 Đại học bách khoa Hà Nội và khai giảng khóa đào tạo đầu tiên.

        HỌC VIỆN LỤC QUÂN, học viện đào tạo và bổ túc cán bộ chỉ huy - tham mưu binh chủng hợp thành cấp chiến thuật, bổi dưỡng cán bộ QS địa phương huyện và tỉnh; trung tàm nghiên cứu khoa học QS và đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học QS; đơn vị Ah LLVTND (2001). Tiền thân là lớp bổ túc cán bộ QS trung cấp đầu tiên của QĐND VN, khai giảng 7.7.1946, có gần 100 học viên (giám đốc: Trần Hưng Nghĩa; chính trị ủy viên: Hoàng Điền); phát triển thành: Trường bổ túc quân chính trung cấp (15.3.1948; hiệu trưởng: Cao Xuân Hổ), Trường bổ túc QS trung - cao cấp (5.1955; giám đốc: Hoàng Minh Thảo). Học viện quân chính (3.3.1961; giám đốc: Trần Văn Trà); Học viện QS (1965; giám đốc: Hoàng Minh Thảo). HVLQ (16.12.1981; viện trưởng: Vũ Lăng). 4 huân chương Hồ Chí Minh, 3 Quân công, 2 Chiến công. Ngày truyền thống 7.7.1946.

        HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG, học viện đào tạo, bổ túc sĩ quan chỉ huy tham mưu phòng không có trình độ đại học, trên đại học, chuyển loại sĩ quan chính trị; trung tâm nghiên cứu khoa học QS phòng không. Thành lập 10.3.1993, tiền thân là hệ cao xạ Trường sĩ quan pháo binh (1957), Trường sĩ quan cao xạ (1964), Trường sĩ quan phòng không (1967), Trường phòng không (1971), Trường sĩ quan phòng không (1973), Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật tên lửa - rađa và Trường pháo phòng không (1980); Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật phòng không (1987). Đến 1993 hợp nhất Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật phòng không với Trường trung cao cấp phòng không (1986) thành HVPK. 7.1999 hợp nhất với Học viện không quân thành Học viện phòng không - không quân. Ngày truyền thống 16.7.1964 (ngày thành lập Trường sĩ quan cao xạ). Giám đốc đầu tiên: Nguyễn Văn Thực.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:09:11 PM
       
        HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN, học viện đào tạo, bổ túc sĩ quan chỉ huy phòng không - không quân bậc đại học, sau đại học, chuyển loại sĩ quan chính trị, kĩ thuật nghiệp vụ, đào tạo sĩ quan lái máy bay (cùng với trường huấn luyện bay kĩ thuật không quân) có trình độ đại học, liên kết với Học viện kĩ thuật quân sự đào tạo kĩ sư hàng không, đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học QS phòng không - không quân; thuộc Quân chủng phỏng không - không quân. Thành lập 21.7.1999, trên cơ sở hợp nhất Học viện phòng không và Học viện không quân. Ngày truyền thống 16.7.1964 (ngày thành lập Trường sĩ quan cao xạ). Giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Bồng.

        HỌC VIỆN QUÂN SỰ, gọi chung các học viện đào tạo và bổ túc cán bộ sơ cấp, trung cấp và cao cấp về QS, bậc đại học và sau đại học, trung tâm nghiên cứu KHQS của QĐ. QĐND VN hiện có các HVQS trực thuộc BQP: Học viện quốc phòng. Học viện lục quân, Học viện chính trị - quân sự, Học viện hậu cần, Học viện kĩ thuật quân sự, Học viện quân y và các HVQS trực thuộc quân chủng, tổng cục và Bộ đội biên phòng, Học viện hải quân, Học viện phòng không - không quân. Học viện khoa học QS, Học viện biên phòng.

        HỌC VIỆN QUÂN SỰ CẤP CAO X. HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG

        HỌC VIỆN QUÂN Y, học viện đào tạo bác sĩ quân y, bổ túc chủ nhiệm quân y cấp sư đoàn (và tương đương) trở lên, đào tạo sau đại học về y học và dược học; trung tâm nghiên cứu y học và y học QS. Tổ chức tiền thân là Trường quân y sĩ, thành lập theo sắc lệnh 234-SL ngày 28.8.1948 của chủ tịch nước VN DCCH. tại Tuần Lũng, h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc (giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Thắng). Được xây dựng và phát triển thành: Trường sĩ quan quân y (1957), Viện y học QS (1962), Đại học quân y (1966) và HVQY (16.12.1981), trực thuộc BQP. Có bệnh viện thực hành từ 1958 (x. Viện quân y 103). Huân chương: Độc lập hạng nhất, 4 Quân công, 3 Chiến công. Ngày truyền thống 10.3.1949 (ngày Trường quân y sĩ khai giảng khóa đầu tiên). Viện trưởng đầu tiên (1981): Nguyễn Thúc Mậu.

        HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG, học viện đào tạo, bổ túc cán bộ chỉ huy tham mưu binh chủng hợp thành cấp chiến dịch, chiến lược, đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học QS, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ của cơ quan Đảng và nhà nước; trung tâm nghiên cứu khoa học QS. Thành lập 21.2.1976 theo quyết định 38/QP với tên gọi Học viện QS cao cấp; đổi thành Học viện QS cấp cao (12.1981), HVQP (12.1994). Huân chương: Quân công hạng nhất. Ngày truyền thống 3.1.1977 (ngày khai giảng khóa đầu tiên). Viện trưởng dầu tiên: Lê Trọng Tấn.

        HỎI CUNG BỊ CAN, biện pháp điều tra tiến hành theo trình tự luật định đối với người đã bị khởi tố về hình sự; khâu quan trọng trong công tác điều tra nhầm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm. HCBC được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, khởi tố vụ án do điều tra viên (hoặc cán bộ điều tra) thực hiện, tại trụ sở của cơ quan điểu tra, trụ sở UBND xã, phường, thị trấn, nơi đang tiến hành điểu tra hoặc nơi ở của bị can. Trước khi HCBC, điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố và giải thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của họ. Nếu vụ án có nhiều người thì hỏi riêng từng người và không cho họ tiếp xúc thông cung với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình. Việc HCBC không được tiến hành vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản và được lập theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. HCBC phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, toàn diện đầy đủ, không được bức cung, mớm cung hoặc nhục hình.

        HÒM HÓA NGHIỆM DÃ CHIẾN, hòm đựng hóa chất, dung môi, dụng cụ hóa nghiệm, dùng để phát hiện, xác định (định tính hoặc định lượng) một số chất độc, mức độ nhiễm và tiêu độc cho người, vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, nước và môi trường. Có kích thước nhỏ và kết cấu đơn giản (vd: HHNDC K68 40x35x15cm), có thể xách tay, phù hợp  với điều kiện dã chiến. Trong QĐND VN, có các loại HHNDC: PKhL-54, K68 (TQ). HHNDC thường dùng cho phân đội phòng hóa hoạt động độc lập.

        HÒN CHÔNG, núi trên mũi đất nhô ra vịnh Thái Lan, thuộc xã Bình An. h. Hà Tiên, t. Kiên Giang, nam tx Hà Tiên 30km. Đỉnh cao nhất 161m. Trên núi có Chùa Hang (cg núi Chùa Hang). 1868 Nguyễn Trung Trực lập căn cứ chống Pháp tại đây. Hiện nay trên núi có nhà máy xi măng HC công suất 1,7 triệu tấn/năm. 6.1995 xây dựng cầu cảng với cầu dẫn dài 330m. cầu chính dài 100m, có thể tiếp nhận tàu trọng tài 8.500t.

        HÒN DẤU. đảo thuộc tx Đồ Sơn, tp Hải Phòng, đông nam bán đảo Đổ Sơn khoảng lkm. Dt 0,7km2, đỉnh cao nhất 128m. Bắc là bãi đá, nam là bãi cát. Đèn biển HD có cự li phát sáng 25 hải lí, dẫn đường cho tàu biển qua 4 cửa lạch: Nam Triệu, Bạch Đằng, Cửa Ống, Hòn Gai ra vào cảng Hải Phòng. Trên đảo có đền thờ Nguyễn Khoái, trạm hải văn và điếm gốc “0” chuẩn quốc gia về độ cao cho lục địa.

        HÒN KHOAI, đảo thuộc h. Ngọc Hiển. t. Cà Mau, đông nam mũi Cà Mau 20km. dt 5km2: đinh cao nhất 319m có cột đèn biển. Là đảo đất, cây cối xanh tốt, có nước ngọt. Xung quanh HK có nhiều đảo nhỏ: Hòn Lớn. Hòn Sao, Hòn Tượng, Hòn Khô, hòn Đồi Mồi, hòn Đá Lè. 13.12.1940 nổ ra cuộc khởi nghĩa HK do Phạm Ngọc Hiển lãnh đạo.

        HÒN MẮT. đảo thuộc h. Nghi Lộc, t. Nghệ An. đông bắc Cửa Hội 21km, dt 0,8km2. Là đảo đá có đỉnh cao 218m, có nguồn nước ngọt. Có 6 bến cho tàu neo đậu. tàu không đổ bộ trực tiếp được.

        HÒN MÊ, đảo thuộc h. Tĩnh Gia, t. Thanh Hóa, đỏng nam tp Thanh Hóa 50km, cách đất liền 15km, dt 4.7km2. Là đảo đá, xung quanh vách đứng, đỉnh cao nhất 25lm. Ngày 2.8.1964 tàu Mađôc của hải quân Mĩ xâm phạm vùng biển Bắc VN (nằm giữa HM và cửa Lạch Trường), bị hải quân VN đánh đuổi.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:11:49 PM
       
        HỒ CẨM ĐÀO (s. 1942), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS TQ (2002), chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2003). Người h. Tích Khê, t. An Huy (TQ); đv ĐCS TQ (1965). 1959 sinh viên Trường đại học Thanh Hoa, 1965 tốt nghiệp, ở lại làm giảng viên, tham gia CM văn hóa. 1968 cán bộ kĩ thuật và cán bộ đảng t. Cam Túc. 1982 bí thư thứ nhất Đoàn thanh niên cộng sản t. Cam Túc. 1983 bí thư Ban bí thư trung ương Đoàn thanh niên cộng sản TQ. 1985 bí thư Tỉnh ủy t. Quý Châu. 1988 bí thư Khu ủy khu tự trị Tày Tạng, ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa XII-XVI (dự khuyết 1982-85), ủy viên thường vụ BCT, bí thư Ban bí thư (khóa XIV-XVI). 1993-98 hiệu trưởng Trường đảng trung ương. 1998 phó chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 11.2002 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS TQ (khóa XVI). 3.2003 chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 9.2004 chủ tịch Quân ủy trung ương.

        HỒ CHÍ MINH (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Ái Quốc...; 19.5.1890-2.9.1969), chủ tịch nước VN DCCH (1945-69), chủ tịch BCHTƯ ĐCS VN (1951-69), người thầy của CM VN. lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc VN. nhà yêu nước vĩ đại, chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc tk 20. người sáng lập. lãnh đạo và rèn luyện ĐCS VN, người xây dựng nền cộng hòa dân chủ VN và Mặt trận dân tộc thống nhất, nhà tư tưởng  lỗi lạc của CM, nhà lãnh đạo QS xuất sắc, người sáng lập và rèn luyện các LLVTND VN. danh nhân văn hóa thế giới. Quê xã Kim Liên, h. Nam Đàn. t. Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, từ nhỏ sớm có tinh thần và ý chí cứu nước. Trước sự thất bại của phong trào Văn thân và sự bế tắc của các cuộc vận động cứu nước của Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh, 1911 HCM rời tổ quốc, ra nước ngoài tìm đường cứu nước; đã đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, cuối cùng dừng lại ở Anh, Pháp; vừa làm việc để kiếm sống, vừa học tập và hoạt động chính trị. Đầu 1919 gia nhập ĐXH Pháp. 6.1919 gửi đến hội nghị Vecxây bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” đòi các nước tham gia hội nghị công nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc VN. 7.1920 đọc tác phẩm của Lênin “về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, HCM nhận thấy con đường giải phóng tổ quốc VN chỉ có thể là con đường CM vô sản, kết hợp CM giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với CM vô sản ở chính quốc. Phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, Hơn đã đề ra một luận điểm mới: “cách mạng ở thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà có thể chủ động tự lực đứng lên tự giải phóng, bằng cách đó có thể giúp cách mạng ở chính quốc". 12.1920 tham gia đại hội Pháp tại Tua, kêu gọi đẩy mạnh tuyên truyền CNXH ở các nước thuộc địa, tán thành gia nhập Quốc tế III (Quốc tế cộng sản), được coi là một trong những người sáng lập ĐCS Pháp và là người cộng sản VN đầu tiên. 1921 tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp và là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ”, xuất bản 1922. Năm 1923 dự hội nghị lần thứ nhất của Quốc tế nông dân họp ở Nga, được bầu vào đoàn chủ tịch của Hội đồng quốc tế nông dân. 1924 tham dự đại hội V Quốc tế cộng sản, được chỉ định là ủy viên thường trực Ban phương Đông, phụ trách văn phòng phương Nam, cuối năm đó đi Quảng Châu (TQ) bắt liên lạc với các nhà CM VN. 1925 mở trường huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ CM VN và là giảng viên chính của trường, thành lập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội) tổ chức tiền thân của ĐCS VN, sáng lập báo “Thanh niên” - cơ quan trung ương của Hội VN CM thanh niên, tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức và được cử làm bí thư Hội. 1930 tại Hồng Công (TQ) chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước thành một Đảng duy nhất mang tên ĐCS VN. 1931-33 bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Công bắt giam gần hai năm. 1934 sang LX. học Trường đại học Lênin và tham gia các hoạt động của Quốc tế cộng sản. 1938 về TQ. bắt liên lạc với tổ chức của ĐCS Đông Dương ở nước ngoài. 1941 về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào CM VN. chủ trương thành lập Mặt trận VN độc lập đồng minh (Việt Minh). 8.1942 sang TQ bắt liên lạc với các lực lượng CM của người VN và lực lượng đồng minh tại TQ. bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam gần 13 tháng trong các nhà tù tỉnh Quảng Tây. 9.1944 trở về VN. Đến 12.1944. chỉ thị thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, cùng BCHTƯĐCS Đông Dương lãnh đạo xây dựng căn cứ địa CM. lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và 8.1945 tổng khởi nghĩa thành công trên cả nước. Sau CM tháng Tám (1945), trên cương vị chủ tịch nước, HCM đã lãnh đạo nhân dân giữ vững chính quyền CM trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài. 1946-54 cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước KCCP thắng lợi. 1955-69 lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của CM VN là xây dựng CNXH ở miền Bắc. đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam. thống nhất đất nước. HCM đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của VN. giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN với tư tưởng CM triệt để của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, để ra đường lối đúng đắn, đưa CM VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hơn là hiện thân cho ý chí giành độc lập tự do của dân tộc VN (“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”), tượng trưng và là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. HCM đã cống hiến trọn đời cho CM, nhân dân và Tổ quốc VN, là tấm gương sáng về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị, để lại cho dân tộc VN những di sản vô cùng quy báu, mở ra thời đại HCM, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc, kỉ nguyên độc lập, tự do và CNXH ở VN

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66606512_451520012244551_2211884986091438080_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnl7xOOk3FVvPR4pKkZ63PLpM5r2cl52Xg88mjujL50FpG4LdQb3mjHKsZ251NH9sQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ea277dd8cfa76b97cbdda62e2408f83d&oe=5DB17C5F)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:15:08 PM
     
        HỒ CHÍ TOÁN (Stefan Kubiak; 1923-63), người Ba Lan, chiến sĩ trong QĐND VN (1947-63). Đại úy (1958). Trong CTTG-II bị quân Đức bắt đưa về lao động tại Đức (1940). Năm 1943 trốn sang Litva tham gia du kích đánh phát xít Đức. 1944 tham gia Hồng quân LX. sau phục vụ trong QĐ Ba Lan (1945-46). Năm 1946 trên đường sang Italia công tác, bị Pháp bắt đưa vào đội quân lê dương và điều sang chiến đấu ở VN (12.1946). Tháng 4.1947 mang vũ khí chạy sang phía QĐND VN, được bố trí làm công tác địch vận. 1948-54 tham gia 10 chiến dịch lớn trong KCCP, chiến đấu 50 trận, có hai trận lập công xuất sắc (Phủ Thông, Him Lam). 1955-57 tham mưu trường trung đoàn pháo binh. 1957-63 cán bộ báo “Quản đội nhân dân”. Chết bệnh tại VN, Huân chương: 2 Chiến công hạng ba.

        “HỒ CHỦ TỊCH VÀ NHŨNG VẤN ĐỂ QUÂN SỰ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM”, tác phẩm của Trường Chinh viết (1965) nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh: xuất bàn 1971. Đầu tiên đăng trên tạp chí “Quân đội nhân dân” (5.1965) với bút danh Tân Trào. Nội dung: trình bày một số vấn đề về tư tưởng QS VN; phương hướng nghiên cứu về sự nghiệp và tu tường quân sự Hồ Chí Minh. Có giá trị tổng kết về lí luận quân sự và chỉ đạo thực tiễn, cổ vũ quân và dân VN kiên trì đấy mạnh cuộc KCCM đến thắng lợi hoàn toàn.

        HỒ NGUYÊN TRỪNG (?-?), nhà KTQS nổi tiếng thời Hồ. Quê Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Âu, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Con trưởng Hồ Quý Li. Từng làm quan tư đồ thời Trần (1399). Khi Hồ Quý Li làm vua. HNT nhường ngôi vị thái tử cho em là Hồ Hán Thương. 1401 được phong tả tướng quốc, trông coi việc chế tạo súng và đóng thuyền. Chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn hai tầng (tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên chiến đấu). 1405 khi nhà Minh (TQ) chuẩn bị xâm lược Đại Việt, HNT thấy trước nguy cơ thất bại của nhà Hồ đã nói với Hồ Quý Li: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. 1407 khi quân Minh xâm lược. HNT chỉ huy chiến đấu ở Giao Thủy (Nam Định) và cửa Hàm Tử. 6.1407 bị bắt ở cửa biển Kì La (Kì Anh, Hà Tĩnh), bị giải sang Kim Lăng (Nam Kinh. TQ). Nhà Minh phong chức tả thị lang Bộ công, trông coi xưởng đúc súng, nhưng luôn hướng về quê hương, viết sách “Nam ông mộng lục”.

        HỒ PHÒM (s. 1917), Ah LLVTND (1970). Dân tộc Khùa (một nhóm thuộc dân tộc Bru - Vân Kiều), quê xã Dân Hóa, h. Minh Hóa, t. Quảng Bình: nhập ngũ 1955; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là trung úy, đồn phó Đồn biên phòng Cha Lo (t. Quang Bình). Trước khi nhập ngũ. tham gia du kích xã, phó chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã. 1955 chiến sĩ công an tinh Quảng Bình: 3.1959 chuyển sang công an nhân dân vũ trang và công tác liên tục ở Đồn biên phòng Cha Lo. HP đã xây dựng được mạng lưới cơ sở rộng lớn ở vùng biên giới VN - Lào, bền bỉ bám dân, bám địa bàn, vận động nhân dân định canh, định cư, ổn định sản xuất, được dân gọi là “Pò thâu phò” (người già có uy tín). Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, đã kiên trì, tận tụy vận động đồng bào dân tộc Khùa, dân tộc Mày (Chứt) làm tốt công tác phòng không sơ tán, đồng thời bảo đảm sản xuất: tổ chức cho dân quân vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ biên giới. Huân chương: Chiến công hạng nhì.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66438578_451520028911216_2171772302239203328_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQl8Nh_7w4Up67MG-JWRcIzX5xVqZkGmJt8qf2K45_TUvkOIlMGE1v-W8bWuis1kE7M&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=31113aa77596ef3de6aff7f46f45561b&oe=5DECC667)


        HỒ PHUƠNG (Nguyễn Thế Xương; s. 1930), nhà văn QĐ. Quê xã Kiên Hưng, tx Hà Đông, t. Hà Tây; nhập ngũ 1947, thiếu tướng (1990); đv ĐCS VN (1949). Trong KCCP, một trong những người đầu tiên phụ trách báo “Quân tiên phong” của Đại đoàn 308. Tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ 1956 làm việc tại tạp chí "Văn nghệ quân đội”, 1981-92 phó tổng biên tập, thư kí Chi hội nhà văn QĐ. ủy viên BCH Hội nhà văn VN (khóa III). Đã xuất bản gần 30 tác phẩm, tiêu biểu là: “Lưỡi mác xung kích” (truyện ngắn đầu tay), “Thư nhà” (1949, đươc coi là truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi thời kì đầu KCCP), “Cỏ non” (truyện ngắn. 1960), “Xóm mới” (truyện ngắn, 1963), ‘Trên biển lớn” (truyện ngắn, 1964), “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” (1966), “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” (1967), “Can Lịch” (1968), “Khi có một mặt trời” (1972), “Những tầm cao” (1973-77), “Những tiếng súng đầu tiên”, “Cánh đồng phía tây” (giải thường văn học BQP, 1994)... Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67079559_451520035577882_8899465149786619904_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQnrHm5oiS-PcNOo9ztFbJgiWsqEYUAy41NYqaumDuv5Ox2EhLGyU8JL3sFtsYOyzL4&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=703aa94a9c24d5a0355ec9efea84fe0f&oe=5DA2ADDD)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:18:34 PM
     
        HỒ QUÝ LI (1336-?), vua đầu tiên nhà Hồ (1400-01). Tổ tiên HQL sinh sống ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), sau dời ra làng Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Âu, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Lúc nhỏ làm con nuôi gia đình Lê Huấn nên mang họ Lê. lớn lên được vua Trần Nghệ Tông tin dùng, trải qua các chức khu mật viện đại sứ (1371), tiểu tư không (1379), thống chế đô hải tây (1380). Năm 1387 được phong đồng bình chương sự và là người có thế lực lớn trong triều lúc đó. 1395 sau khi Trần Nghệ Tông mất, được cử làm phụ chính thái sư, nắm quyền nhiếp chính, 1400 truất ngôi vua Trần Thiếu Đế. lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, năm sau nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương để lên làm thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm thực quyền. Thi hành nhiều chính sách cải cách xã hội (hạn điền, hạn nô, phát hành tiền giấy, định lại chế độ thuế khóa, chấn chinh việc học hành thi cử...), chăm lo việc phòng thủ đất nước (tăng cường và tổ chức lại QĐ, mở xưởng rèn đúc vũ khí, đóng tàu thuyền, xây đắp hệ thống thành lũy, cùng cố các nơi hiểm yếu...). 1406 tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh (TQ) xâm lược, lúc đầu giành được một số thắng lợi, nhưng sau bị các tướng Minh là Trương Phụ. Mộc Thạnh đánh bại, phải lui vào giữ Thanh Hóa rồi chạy về cửa biển Kì La (Hà Tĩnh). 6.1407 bị quân Minh bắt đưa về Kim Lăng (Nam Kinh, TQ) và mất tại đó (xt kháng chiến chống Minh, 1406-07).

        HỒ SĨ NHẤT (s. 1946), Ah LLVTND (1973). Quê xã Quỳnh Long, h. Quỳnh Lưu. t. Nghệ An: nhập ngũ 1965, thượng tá (1993); đv ĐCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là chính trị viên Đại đội đặc công nước 6, Đoàn 8 QGPMN VN. 1970-7.2 chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ. đánh chìm 4 tàu chiến, đánh sập 3 cầu (dài l00m). diệt gần 100 địch; chỉ huy tổ đặc công đánh chìm nhiều tàu. diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Trận đánh tàu ở cảng Bến Cầu, Rạch Giá (17.4.1972), khi tiếp cận mục tiêu, bị địch phát hiện, HSN nhanh chóng bơi đến đặt mìn phá hủy 2 chiếc tàu khác. 23.10.1972 chỉ huy tổ 3 người đón đầu đoàn tàu chạy chậm trên sông Rạch Giá, đánh chìm 3 chiếc. Đêm 24.10.1972 chỉ huy 12 chiến sĩ, đánh chìm 12 tàu vận tải (HSN đánh chìm 1 chiếc). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), 7 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66695042_451520062244546_1198967054418313216_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlWZowuG1tjrft2vHIH4EdXwiCwKcm3rkBHiAK96hHYJYFUFL9e1ylAbHzWQQp_YGM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9415f3e7f62b8fb7e126f743d9c458ab&oe=5DA400AB)


        HỒ SƠ BÃI MÌN, văn kiện tác chiến quan trọng về bãi mìn được lưu lại sau khi đã bố trí mìn để giúp cho việc quản lí, sử dụng bãi mìn và là căn cứ để tháo gỡ mìn. Nội dung cơ bản của HSBM: mô tả vật chuẩn, tọa độ vị trí khu vực bãi mìn. loại bãi mìn, sơ đồ tổng thể và trích dẫn bố trí mìn, số lượng, kiểu loại mìn đã bố trí, thuyết minh mìn bẫy, tên đơn vị bố trí, chữ kí người ra lệnh và người chỉ huy bố trí mìn; thời gian bắt đầu và hoàn thành, quá trình theo dõi và bố trí bổ sung của bộ phận quản lí. HSBM do người chỉ huy các phân đội (bộ binh, công binh, pháo binh...) trực tiếp bố trí bãi mìn thực hiện, nộp về cơ quan công binh cấp trên quản lí. Những bãi mìn trong khu vực quan trọng. HSBM còn được quản lí ở cấp chiến lược (cấp nhà nước, BQP).

        HỒ SƠ DOANH TRẠI, gọi chung những tài liệu về nhà đất. vật chất doanh trại, sau khi đã đưa vào sử dụng, quản lí. Gồm: hồ sơ đất khu vực đóng quân; hồ sơ kĩ thuật các hạng mục công trình (nhà ở, nhà ăn, khu kĩ thuật, kho...); hồ sơ quân lí (lí lịch, đăng kí thống kê, báo cáo tài sản, văn bản kiểm kê...); các sơ đồ (bố trí mặt bằng, điện, nước...) và các văn bản pháp quy có liên quan trong việc khai thác, sử dụng và quản lí doanh trại. HSDT được quản lí theo phân cấp, được đãng kí thống kê, báo cáo và bổ sung kịp thời khi có thay đổi về doanh trại.

        HỒ THÀNH, thành cổ ở xã Hoà Định Đông, h. Phú Hòa, t. Phú Yên, bên sông Đà Rằng, tây nam thị trấn Tuy Hòa 10km. Chu vi 6,6km. Là kinh đô của Chiêm Thành, sau khi thành Đồ Bàn bị nhà Lê đánh chiếm (1471).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:21:33 PM

        HỒ THỊ BI (Hồ Thị Hoa; s. 1915), Ah LLVTND (1994). Quê xã Xuân Thới Thượng, h. Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh: nhập ngũ 1945, đại tá (1980); đv ĐCS VN (1945). Năm 1936 tham gia Đông Dương đại hội. 1945 trưởng ban tiếp tế, hội phó Hội phụ nữ cứu quốc huyện Hóc Môn. 1946 đội trường đội trừ gian ở Hóc Môn. 1947 trường ban công tác 12 (biệt động), đại đội trưởng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935. Năm 1949-51 tham gia xây dựng Chiến khu Dương Minh Châu và cơ sở kinh tế thương mại ở Tà Nốt (Campuchia). 1954-73 cán bộ: Cục tổ chức, Cục cán bộ, Cục chính sách TCCT. 1973-74 đặc phái viên Cục chính trị B2. Năm 1979 tham gia công tác bảo đảm hậu cần tại Phnôm Pênh trong chiến tranh biên giới Tây Nam. 1980 phó chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy QS Thành phố Hồ Chí Minh. Đại biểu Quốc hội khóa II, III; ủy viên BCH Hội liên hiệp phụ nữ VN khóa II. Huân chương: Độc lập hạng nhì, 2 Kháng chiến hạng nhất, Quân công (hạng nhì, hạng ba)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66597339_451520072244545_5644712140871827456_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnehAt8-jU3KS24bd9TSf6GcRZUW9cfBvSh0RhEUEHRihYkUO3MOz1fuBi7wGp1-Q0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=5f3207c8f1d60631d7a24556ab443364&oe=5DA76F5F)


        HỒ THỊ BỜI (Tư A; s. 1926), Ah LLVTND (1978). Quê xã Hưng Long, h. Bình Chánh, tp Hồ Chí Minh: nhập ngũ 1949, thiếu tá (1993); đv ĐCS VN (1962); khi tuyên dương Ah là trung úy, tổ trưởng giao liên tình báo thuộc Đoàn 22, Bộ tham mưu B2. Năm 1949-50 tổ trưởng binh vận Trung đoàn 300. làm tốt công tác vận động binh lính địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt và bắt toàn bộ địch ở đồn Hưng Long (Long An). 1950-54 bị Pháp bắt, tra tấn cực hình, vẫn kiên trung bất khuất. Trong KCCM, cán bộ tình báo, giữ đường dây liên lạc từ Sài Gòn ra căn cứ giải phóng, thực hiện 600 chuyến liên lạc bí mật, an toàn. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), HTB là người thực hiện chuyến liên lạc đầu tiên giữa SCH với cơ sở tình báo nội thành Sài Gòn. phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu. Cuối 1969-72 mặc dù địch kiểm soát nghiêm ngặt, một số cơ sở bị lộ, HTB vẫn kiên trì bám địa bàn. xây dựng 22 cơ sở tin cậy, tạo thành mạng lưới tình báo quan trọng từ Sài Gòn đi Châu Đốc. Mĩ Tho. Tây Ninh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, dẫn đường cho một cánh quân vào giải phóng Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (hạng nhất. 2 hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66588429_451520082244544_509081442802728960_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlSm-DE7lSJUp1WoovzBH5w0dbDGowpm7p-eEYRaywsCaq_LZrpDnN2Z3A5fWircwo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=02fb4c4ebe7984beb7679f0c7fafe220&oe=5DA4BAA4)


        HỒ THỊ KỈ (1949-70), Ah LLVTND (truy tặng 1972). Quê xã Tân Lợi (nay là xã Hồ Thị Kỉ), h. Thới Bình. t. Cà Mau; nhập ngũ 1968; đv ĐCS VN (1969); khi hi sinh là tổ trưởng đội biệt động, bộ đội địa phương tx Cà Mau. 1968-70 chiến sĩ biệt động tx Cà Mau. tham gia đánh 6 trận, diệt 46 địch, phá hủy 2 kho xăng, 1 kho đạn. 5 xe QS. Trận đánh ti cảnh sát Cà Mau (3.4.1970), HTK ôm mìn lao vào xe chở cánh sát chuẩn bị đi càn. phá hủy 3 xe. đánh sập 1 lô cốt, diệt 27 địch (có 1 sĩ quan Mĩ, 2 sĩ quan ỌĐ Sài Gòn), HTK hi sinh. Huân chương: Chiên công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67088806_451520112244541_7677836009668608000_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnUrGp8B2_PXH4EibQpcLfATde_VIRg3RIdoIVE05lWiIuBf8IkjYpIA6S320c743A&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=404d15377783fc421ce1ac7b79111cd3&oe=5DB3DC4A)


        HỒ TRUNG THÀNH (Hồ Thành Lân; 1952-78), Ah LLVT- ND (1973). Quê xã Phú Mĩ, h. Cái Nước, t. Cà Mau; nhập ngũ 1970, thượng úy (1978); đv ĐCS VN (1972); khi tuyên dương Ah là đại đội trường Đại đội đặc công 19 thuộc Đoàn 8, QGPMN VN. 1970-72 chiến sĩ đặc công Quân khu 9, tham gia đánh 10 trận, diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Hai trận đánh sân bay Trà Nóc (Cần Thơ, đêm 16.5.1972 và đêm 11.9.1972), trực tiếp điều tra nghiên cứu và chỉ huy tổ đặc công phá hủy 15 máy bay (HTT phá hủy 9 chiếc). Hai trận đánh kho Vị Thanh (Rạch Giá, đêm 15.10.1972 và đêm 14.11.1972). HTT sử dụng mìn hẹn giờ phá hủy 27 xe QS, 3 kho đạn (15.000t), 1 kho xăng (l.000t), diệt 47 địch. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 3 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67403976_451520122244540_6619159771301806080_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQk0P4islcFXidPwDQyOq1Pc9GC3Np2eLdgEUGo6ePViX0tfXx2hr7zi54NqP2C7Fz0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0ec6abd7e50875292d9895c69711541a&oe=5DB3EEEC)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:24:10 PM

        HỒ TÙNG MẬU (Hồ Bá Cự; 1896-1951), người tham gia thành lập tổ chức CM Tâm tâm xã (tiền thân của Hội VN CM thanh niên). Quê xã Quỳnh Đôi. h. Quỳnh Lưu, t. Nghệ An. 1920 hoạt động CM tại Thái Lan rồi sang TQ. 1923 cùng một số thanh niên VN yêu nước (Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lê Hỏng Phong...) lập nhóm Tâm tâm xã. 1925 gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), giúp Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (TQ). 1927-29 bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 4 lần. 2.1930 tham dự hội nghị thành lập Đảng (3-7.2.1930). Tháng 4.1931 bị mật thám Anh bắt và trục xuất khỏi Hương Cảng (TQ). Cuối 6.1931 bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hải (TQ), đưa về VN xét xử, kết án tù khổ sai chung thân (sau giảm xuống 10 năm), giam tại các nhà lao Vinh, Lao Bào, Kon Tum, Buôn Ma Thuột rồi quản thúc tại Trà Khê. 3.1945 vượt ngục về hoạt động ở miền Trung. Trong cách mạng tháng Tám (1945). tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên. 1946 giám đốc kiêm chính ủy phụ trách Trường quân chính Trung Bộ; ủy viên thường vụ Liên khu ủy, chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Liên khu 4. Năm 1947 tổng thanh tra chính phủ. Ủy viên BCHTƯ ĐLĐ VN khóa II (1951). Ngày 23.7.1951 hi sinh ở Liên khu 4. Huân chương: Hồ Chí Minh.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66842476_451520132244539_1732899779291119616_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkJ_y2w4AaVMwJ-j3rHw3_E4pIYK6HslVOpbQ76q9gCqyegs5l2ARxYd1Bo-KMfDEo&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=b5170a0a291f9fcf7f0cc1f73ec72134&oe=5DB49F5B)


        HỒ VAI (Cu Thời; s. 1942), Ah LLVTND (1965). Dân tộc Pa Cô (Tà Ôi), quê xã A Ngo, h. A Lưới, t. Thừa Thiên - Huế; tham gia du kích 1961. nhập ngũ 1965, trung tá (1984); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là xã đội trưởng xã A Ngo. 1961-69 xây dựng đội du kích xã A Ngo vưng mạnh, vận động nhân dân đánh giặc giữ làng, chi huy du kích tự tạo chông, mìn, cạm bẫy, chủ động đánh địch, bẻ gãy nhiều cuộc càn, gây cho địch nhiều tổn thất. 1961 HV đánh 22 trận, diệt 32, làm bị thương 59 địch. 11.7.1963 được tin địch càn vào xã A Ninh, HV đi tắt rừng, phục kích đợi địch đến gần 5m mới nổ súng, diệt 3 địch. Đêm 27.7.1969 dẫn một tổ bò vào sát đồn A Lưới nằm phục kích, đợi khi địch ra sân tập trung, đồng loạt nổ súng bắn chết 3 địch và làm bị thương một số khác. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67033603_451520168911202_2003500938190389248_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQljxH7QXPTBPAzWmi48SR8YBluqOdtlMwfWvVhZ7N8ph3gZksr2Y_qVAH0APgieDYA&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c76c4e88144fdf7469c61ad1a52ea361&oe=5DADB252)


        HỒ VĂN BIỂN (Nguyễn Cậy; 1903-92), Ah LLVTND (1969). Quê xã Điện Dương, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là du kích xã Điện Dương. Trong KCCP, tham gia du kích xã. Trong KCCM. 1965-68 dùng vũ khí tự tạo, diệt 67 Mĩ. phá hủy 2 xe bọc thép; vận động nhân dân phá ấp chiến lược, xây dựng làng chiến đấu, chống dồn dân, bắt lính; tự tay rải 4.000 truyền đơn, vận động một số binh lính địch trở về nhà làm ăn; 16 lần dẫn đầu quần chúng đấu tranh trực diện với địch ở tx Hội An. HVB nuôi giấu 12 thương binh tại nhà ngay sát đồn bốt địch bảo đảm an toàn; nhiều lần xung phong di dân công. 1968 được tuyên dương là lá cờ đầu trong hàng ngũ lão du kích của tỉnh. Huân chương: Chiến công hạng nhất; Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67090755_451520182244534_5383543387284570112_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQknAdj6PC1OES53YsuQzAkD_TEwDbKMgqtNxonIi9T8sbTh3jljLb2NRtCXH-oMovA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=330027934b2e1dd281573c6126fe7267&oe=5DB85668)


        HỒ VĂN HUÊ (1917-76), phó chủ nhiệm hậu cần QGPMN VN (1964-75). Quê xã Phước Tuy, h. Cần Đước, t. Long An; nhập ngũ 1945, đại tá (1974); đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, 1945-50 bác sĩ phụ trách quân y các chiến khu: Thuận Lợi. Thủ Dầu Một, Lộc An - Biên Hoà, chủ nhiệm quân y Khu 7. Năm 1951-54 trưởng phòng quân y: Nam Bộ. Phân liên khu Miền Đông. Trong KCCM. 1955-57 trưởng phòng, rồi cục phó Cục quân y TCHC. 1964-75 phó chủ nhiệm hậu cần. kiêm chủ nhiệm quân y QGPMN VN. Huân chương: Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66772087_451520188911200_3657262753892007936_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQnUbOZY_V7gBXiiEOtL-y_VNdCW3AM7BfaXTa-L7ywzeLRcG0K0XMi_7FNAT8WrkA8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=61626ae5f8dcb09ee56525acad426534&oe=5DA3F8E0)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:00:48 PM

        HỒ VĂN NHÁNH (1955-69), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Long Hưng, h. Châu Thành, t. Tiền Giang; khi hi sinh là du kích thiếu niên xã Long Hưng. 12.1968-9.1969 mới 13 tuổi đã nhiều lần vào căn cứ địch ở Đồng Tâm tháo gỡ hơn 4.000 quả mìn các loại, phục vụ du kích và bộ đội đánh 30 trận. Kinh nghiệm gỡ mìn của HVN được phổ biến trong 6 xã vành đai Bình Đức (vành đai diệt Mĩ của t. Mĩ Tho). 15.9.1969 hi sinh khi đang gỡ mìn. Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67236409_451520222244530_3901370054838583296_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnIHFGm7WH8a_cVBjDzCYrh6gn6c-OZwKJj5-Bz3Bwi282VYLcJijohOjsVXDaOkLw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=2f909169a1f64f3bf8eb7e2cad7eb5ea&oe=5DA5B8A3)


        HỒ VĂN SINH (1949-82), Ah LLVTND (1976). Quê xã Quỳnh Phương, h. Quỳnh Lưu, t. Nghệ An: nhập ngũ 1969, trung úy (1981); đv ĐCS VN (1973); khi tuyên dương Ah là chuẩn úy, đại đội phó Đại đội đặc công 53, Trung đoàn 113, Đoàn 2 QGPMN VN. 1972-75 chiến đấu ở Biên Hòa, trực tiếp trinh sát điều tra hàng chục mục tiêu quan trọng, phục vụ cho đơn vị đánh thắng; HVS đánh 9 trận, phá hủy 34 xe QS, 2 máy bay, 4 kho xăng, 2 kho đạn của địch. Trận tiến công sân bay Biên Hòa (8.1973), chỉ huy tổ đặc công đột nhập phá hủy 5 máy bay F-5 (HVS phá hủy 2 chiếc). Trận đánh kho bom Bình Ý (4.1975), chỉ huy đơn vị vượt qua sân bay, đánh vào kho, phá hủy 500 nghìn tấn bom đạn (HVS phá 2 kho chứa 20 vạn tấn). Huân chương: Chiến công (2 hạng nhì, 4 hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66746384_452063192190233_4750639252813905920_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnoRwbmzExao8N_pZlgXWQi4d6sRnd6YKCx3um4NcZ3UWGK97SlwtF--Bx8SYmi9Eo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=c2e44c7f8b2637fe8f6801c25f1027d3&oe=5DA6E87A)


        “HỒ TRƯỚNG KHU CƠ”, binh thư nổi tiếng do Đào Duy Từ soạn để dạy tướng sĩ Đàng Trong (tk 17). Sách gồm ba quyển. Quyển 1 (tập Thiên) gồm sáu phần: tổng luận về cơ yếu binh pháp, hỏa công, thủy chiến, bộ chiến, giữ trại, lời tổng bình về tập thiên. Quyển 2 (tập Địa) gồm năm phần: yếu chí bàn về trận, các phép trận, yếu luận về giáo trường diễn trận, yếu pháp phá trận, tổng bình về tập địa. Quyển 3 (tập Nhân) gồm sáu phần: yếu chí bàn về tướng, phép chọn tướng luyện binh, yếu luận về quân cơ, phép dạy quân đánh giặc, phép giữ thành chống giặc, yếu luận về địa thế. “HTKC” chủ yếu trình bày về phương pháp đánh trận và kĩ thuật chế tạo binh khí, phản ánh nhiều vấn đề cơ bản của truyền thống QS VN.

        HỐ. công sự đơn giản có bình diện vuông, tròn hoặc chữ nhật, chủ yếu dùng để tránh sát thương của mảnh bom. đạn. H có nhiều loại: H bắn (dùng để bảo đảm an toàn cho xạ thủ và là vị trí đặt bắn của các loại hỏa khí như súng trường, súng máy...), H chông (có cắm các mũi chông bên trong), H chống tăng...

        HỐ BẮN, công sự bắn đơn giản, dùng làm vị trí đặt bắn của các loại hỏa khí bộ binh như súng trường, súng máy... Có bình diện vuông, tròn hoặc chữ nhật... và chiều sâu tùy thuộc vào loại súng, tư thế bắn và địa hình cho phép; chủ yếu tránh sát thương do mảnh bom, đạn cho người bắn. Thường bố trí phía trước chiến hào tiền duyên trong trận địa phòng ngự, hoặc ở trận địa bắn máy bay bay thấp. HB có 2 loại: có nắp và không nắp. HB có nắp có thể có 1 hoặc 2, 3 lỗ bắn (lỗ châu mai); đặt ở vị trí hiểm yếu, quan trọng.

         HỐ CHUỐI, căn cứ của nghĩa quân Yên Thế bên bờ Sông Sỏi (nhánh của Sòng Thương), nay thuộc xã Phồn Xương, h. Yên Thế. t. Bắc Giang. Được xây dựng từ 1886 trong giai đoạn đầu của khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913), dưới sự chỉ huy  của Hoàng Hoa Thám. Gồm một hệ thống đồn nằm trong một thung lũng rậm rạp, được các ngọn đồi bao quanh che chở. Đồn chính hình chữ nhật, 4 pháo đài, có một lớp chông tre bảo vệ xung quanh rộng 40m với nhiều hầm chông, hố sập. Các chướng ngại tự nhiên như Suối Gồ cũng được lợi dụng làm thành con hào lớn, đáy cắm đầy chông làm vành đai bảo vệ. Cách đồn chính 100m ở hai hướng bắc và nam có các pháo đài trấn giữ. Pháo đài bắc chu vi 300m. pháo đài nam chứa được 50 người. Từ 9.12.1890 đến 9.1.1891, nghĩa quân liên tiếp gây thương vong nặng và đánh lui bốn cuộc tiến công của quân Pháp (x. trận Hố Chuối, 9.12.1890- 10.1.1891). Để bảo toàn lực lượng, 10.1.1891 nghĩa quân Hoàng Hoa Thám bí mật rút khỏi căn cứ. Từ 7.1893 khi nhiều căn cứ thuộc vùng Nhã Nam được Hoàng Hoa Thám xây dựng lại, HC lại trở thành một trong các căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa. Tại đây, đêm 18 rạng 19.5.1894 nghĩa quân đã đánh bại cuộc tiến công của quân Pháp sau khi làm cho chúng mắc lừa trong âm mưu ám hại Hoàng Hoa Thám (xt trận Hố Chuối, 19.5.1894).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:03:28 PM

        HỘ TỐNG TRÊN BIỂN, hoạt động tác chiến được tiến hành nhằm bảo vệ an toàn cho tàu thuyền vận chuyển và hành quân trên biển trước nguy cơ tiến công của đối phương. Nội dung chính của HTTB là: lập kế hoạch hành quân và hộ tống cho các tàu thuyền, xác định các biện pháp phòng thủ, bảo vệ và yểm hộ cho các tàu thuyền trong quá trình hành quân, xác định và thực hiện các biện pháp phòng tránh và đánh trả cho các tàu thuyền được bảo vệ và lực lượng bảo vệ khi bị đối phương tiến công, thực hiện các biện pháp bảo đảm hành quân cho đoàn tàu có hộ tống.

        HOC (HAWK, vt từ A. Home AU-the-Way Killer - phương tiện tiêu diệt tự dẫn toàn hành trình), tổ hợp tên lửa phòng không của Mĩ, sản xuất và trang bị từ cuối những năm 50, đầu 60 tk 20. Gồm: tên lửa. thiết bị phóng (cho 3 tên lửa), nguồn điện, hai đài rađa phát hiện mục tiêu (một cho tầm thấp, một cho tẩm trung và cao), đài rađa chiếu xạ mục tiêu, thiết bị điều khiển hỏa lực, xe vận chuyển - nạp đạn. Tên lửa kí hiệu M1M-23 (kiểu cải tiến MIM-23B) có động cơ nhiên liệu rắn, đầu đạn kiểu nổ mảnh, khối lượng 45 (54,4)kg, hệ thống tự dẫn rađa bán chủ động; khối lượng phóng 584 (627)kg, dài 5,08 (5,19)m, sải cánh l,22m, đường kính 0,370 (0,356)m, tốc độ bay lớn nhất 800m/s, diệt mục tiêu ở cự li tà 1.8-35 (40)km, độ cao 0,030-11(18)km. Còn có các phương án cải tiến MIM-23C, MIM-23D, MIM-23F và hệ thống SPHAWK (tự hành).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64651823_452063208856898_1718189765410422784_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmU9Q79oZ1BzJDsQsfzP84PMT0Rbx0wT8onGFP0Y0kLi6kTuTAp3OswKnoNX0KY9uM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=c590c6e9f2b700d95bac131497d08c07&oe=5DAB7AEC)


        HÔC có trong trang bị của QĐ Mĩ (từ 1959), các nước NATO, một số nước Arập - Trung Đông và châu Á. HÓC đã được triển khai trên chiến trường miền Nam VN cuối những năm 60 đầu 70 của tk 20 và trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991).

        HÔCCAIĐÔ, đảo lớn thứ hai của quần đảo Nhật Bản. ở phía bắc Nhật Bàn. Dt 77.700km- (tính cả các đảo phụ cận 83.500km2); ds 5,7 triệu người (2001), cư dân chủ yếu là người Ainu. Địa hình giữa cao, xung quanh thấp dần. Núi chiếm 60% diện tích, phần lớn là núi lửa. Đỉnh cao nhất Axahi 2.290m. một số núi lửa đang hoạt động. Gần 60% diện tích là rừng lá nhọn (ở phía bắc) và rừng lá rộng (ở phía nam), ở đồng bằng trồng lúa nước và lúa mì. Đánh bắt hải sản. Thành phố chính: Xappôrô. Căn cứ QS lớn: Chitôxê (không quân).

        HỒI HỒI PHÁO X. MÁY BẮN ĐÁ

        HỘI CHIẾN (ngoại), trận quyết chiến do chủ lực của QĐ hai bên tham chiến tiến hành ở một khu vực và trong một thời gian nhất định. Để giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, trong HC thường sử dụng các tập đoàn lực lượng chủ yếu, tiến hành đồng thời hay lần lượt các chiến dịch tiến công và chiến dịch phòng ngự ở các khu vực và hướng quan trọng nhất (xt trận hội chiến).

        HỘI CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ (A. International Red Cross, vt IRC), tổ chức nhân đạo quốc tế, có mục đích trợ giúp các thương binh, tù binh, những nạn nhân chiến tranh và những người ốm đau, thiệt hại do thiên tai. Thành phần gồm: các hội chữ thập đỏ quốc gia, Hội trăng lưỡi liềm đỏ (LX và các nước Arập), Hội sư tử đỏ và mặt trời (Iran), ủy ban quốc tế chữ thập đỏ (Thụy Sĩ) và Hiệp hội chữ thập đỏ. Trong đó dông đảo nhất là Hiệp hội chữ thập đỏ (thành lập 1919, gồm 136 hội quốc gia, Hội chữ thập đỏ VN gia nhập từ 1957). Các thành viên HCTĐQT không lệ thuộc nhau về pháp lí. HCTĐQT và nhiều hội chữ thập đỏ quốc gia đã tích cực trợ giúp nhân đạo VN khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai. Cơ quan cao nhất là Hội nghị quốc tế. Trụ sở đặt tại Giơnevơ (Thụy Sĩ).

        HỘI CHỨNG VIỆT NAM, những triệu chứng của căn bệnh xã hội xuất hiện ở MT bắt nguồn từ cuộc chiến tranh xâm lược VN (1954-75). Được bộc lộ ở các hiện tượng xã hội - chính trị - kinh tế... như : khủng hoảng lòng tin, tâm trạng chán chường, mặc cảm của nhân dân Mĩ, đặc biệt là thanh niên đối với cuộc chiến (phong trào chống quân dịch, phản đối chiến tranh); sự ám ảnh bời tội lỗi do họ gây ra của phần lớn lính Mĩ tham chiến ở VN...; nội bộ nước Mĩ chia rẽ, giới cầm quyền mâu thuẫn sâu sắc, nhất là trong hoạch định chính sách đối ngoại (quốc hội nổi loạn, “vụ Oatơghêt”...); sự gia tăng tốc độ suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội (lạm phát, thất nghiệp, tội ác...); sự suy giảm vị thế của Mĩ trên thế giới...


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:04:36 PM
     
        HỘI CỰU CHIẾN BINH, tổ chức của các cựu chiến binh, được thành lập ở nhiều nước. Vai trò, mục đích, hình thức tổ chức, tên gọi và phương thức hoạt động của HCCB ở mỗi nước tùy thuộc hoàn cảnh, điệu kiện lịch sử, xã hội, chính trị cụ thể. Có nước thành lập một HCCB với vai trò của một tổ chức quần chúng, cơ sở chính trị của chính quyền; có nước thành lập nhiều HCCB với mục đích khác nhau. Có HCCB tập hợp cựu chiến binh của nhiều thời kì lịch sử (Hội cựu chiến binh Việt Nam), có HCCB tập hợp cựu chiến binh của một thời kì (Hội cựu chiến binh Pháp tham gia chiến tranh Đóng Dương. Hội cựu chiến binh Mĩ tham gia chiến tranh Việt Nam...). Có HCCB hoạt động như một tổ chức hữu ái, bảo vệ quyền lợi của cựu chiến binh; có HCCB lấy hoạt động chính trị - xã hội làm mục đích chủ yếu...

        HỘI CỮU CHIẾN BINH MĨ THAM GIA CHIẾN TRANH VIỆT NAM (A. Vietnam Veterans of America, vt: VVA), tổ chức của những cựu chiến binh Mĩ đã tham gia cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN (1954-75); một trong những hội cựu chiến binh ở Mĩ. Hoạt động với mục đích: đấu tranh bảo vệ quyền lợi của các cựu chiến binh Mĩ đã tham gia chiến tranh VN; giúp nhau khắc phục những hậu quả của chiến tranh... Thành lập 1973 (sau khi Mĩ rút hết quân ra khỏi miền Nam VN) do Giêm Brađi làm chủ tịch; có chi hội ở 46 bang của Mĩ. Quan hệ với Hội cựu chiến binh Việt Nam (từ 1993) trên các lĩnh vực: hợp tác tìm kiếm quân nhân hai bên mất tích trong chiến tranh VN; thực hiện các hoạt động nhân đạo (giúp đỡ những người già cố đơn và trẻ em mồ côi VN thông qua việc xây dựng “Làng hữu nghị”...).

        HỘI CỰU CHIẾN BINH VÀ NẠN NHÂN CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG (P. Association des Anciens Combattants et des Victimes de la Guerre d’ Indochine), tổ chức tập hợp các cựu chiến binh Pháp đã tham gia chiến tranh ở Đông Dương (1945-54) nhằm bảo vệ quyền lợi của các cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh do Pháp gây ra ở Đông Dương. Gồm các binh sĩ chuyên nghiệp trong các hội tổng hợp (P. Union National des Combattants, vt: UNC) hay các hội riêng biệt như Hội các chiến binh Liên hiệp Pháp (P. Association des Combattants de 1’Union France, vt: ACUF), với hàng trăm nghìn hội viên. Trụ sở: phố La Phayet (La Fayett), Pari. Chủ tịch: Guylamôtơ (Guylamothe). Chưa có quan hệ với Hội cựu chiến binh Việt Nam.

        HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM. tổ chức của các cựu chiến binh VN nhằm phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hổ" tham gia bảo vệ thành qua CM, bảo vệ Đảng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; bảo vệ quyền lợi chính đáng của cựu chiến binh, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu; tổ chức chính trị xã hội; thành viên Mặt trận tổ quốc VN; một cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân do ĐCS VN lãnh đạo; hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hiến pháp và pháp luật của nhà nước. Thành lập 6.12.1989 theo quyết định số 173 TB/TW của BCT. BCHTƯ ĐCS VN, giấy phép hoạt động số 528NC của HĐBT nước CHXHCN VN. Hội viên là những người đã tham gia LLVT (ba thứ quân), công nhân viên quốc phòng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của QĐND VN đã xuất ngũ. phục viên, chuyển ngành, nghỉ hưu. Tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ; gồm bốn cấp hội: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; cơ sở (xã, phường, thị trấn...). HCCBVN ở mỗi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng cùng cấp và có quan hệ chặt chẽ với cơ quan chính quyền, QĐ, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân cấp đó. Đến 12.2001 có 1.652.000 hội viên với 11.810 tổ chức cơ sở. Cơ quan ngôn luận là báo “Cựu chiến binh Việt Nam’’. HCCBVN có quan hệ với nhiều tổ chức cựu chiến binh và tổ chức nhà nước về cựu chiến binh trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch danh dự: Võ Nguyên Giáp; chủ tịch BCHTƯ HCCBVN đầu tiên: Trần Văn Quang.

        HỘI ĐỒNG AN NINH QUỐC GIA MĨ (A. National Security Council, vt: NSC), cơ quan tư vấn về các vấn đề an ninh quốc gia trực tiếp với tổng thống Mĩ. Có chức năng: giúp tổng thống chỉ đạo, tiến hành hoạt động của cộng đồng tình báo Mĩ; xem xét các vấn đề lớn về đối nội, đối ngoại, chính trị, QS liên quan đến an ninh quốc gia và khuyến nghị để tổng thống đề ra chính sách hoặc biện pháp thích hợp; phối hợp hoạt động của các bộ, các ngành phục vụ cho an ninh quốc gia. Thành lập 1947 theo Đạo luật an ninh quốc gia của Mĩ. Tổ chức gồm: chủ tịch do tổng thống đảm nhiệm, các thành viên chính thức (phó tổng thông, bộ trưởng BQP bộ trường Bộ ngoại giao, giám đốc CIA, chủ tịch Hội đồng tham mưu trường liên quân) và các thành viên không chính thức (bộ trưởng tài chính, cố vấn an ninh quốc gia, chánh văn phòng tổng thống...). Được chính phủ Mĩ coi là “Hội đồng quân sự -  chính trị tối cao”.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:06:17 PM
     
        HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC, cơ quan thường trực quan trọng nhất của Liên hợp quốc, có trách nhiệm chủ yếu là bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế. Gồm 15 ủy viên, trong đó có 5 ủy viên thường trực là Nga (trước đây là LX), Mĩ. Anh. Pháp, TQ và 10 ủy viên không thường trực do Đại hội đồng LHQ bầu ra với nhiệm kì 2 năm (mỗi năm thay 5 ủy viên) và được phân phối công bằng về mặt địa lí: 5 ủy viên thuộc các nước Á, Phi, 2 ủy viên thuộc Tây Âu và các nước khác, 1 ủy viên thuộc Đông Âu. HĐBALHQ có cơ quan giúp việc: Ban tham mưu QS (gồm tổng tham mưu trưởng hoặc đại biểu của 5 nước ủy viên thường trực), Ban chuyên viên. Ban giải trừ quân bị, ủy ban kết nạp thành viên mới, Hội đồng lương thực thế giới. Chức trách của HĐBALHQ là: duy trì hòa bình và an ninh quốc tế: tiến hành điều tra và đề xuất các biện pháp hòa bình giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế; quyết định áp dụng các biện pháp QS, ngoại giao và kinh tế nhằm hạn chế các hành vi xâm lược, kiến nghị kết nạp thành viên mới của LHQ, đề cử để Đại hội đồng LHQ bổ nhiệm tổng thư kí LHQ. HĐBALHQ có thẩm quyền rộng rãi trong việc giải quyết bằng phương pháp hòa bình các cuộc tranh chấp giữa các nước, cũng như trong việc thực hiện các hành động tập thể nhằm ngăn chặn và loại trừ nguy cơ đối với hòa bình và chống lại các hành vi xâm lược. Nguyên tắc chính trong hoạt động của HĐBALHQ là sự nhất trí của tất cả các ủy viên thường trực.

        HỘI ĐỒNG CUNG CẤP MẶT TRẬN, tổ chức của chính phủ VN DCCH, ủy ban kháng chiến hành chính cấp liên khu và tình thành lập 27.7.1953, có nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến trong KCCP.

        HỘI ĐỒNG CUNG CẤP MlỂN, tổ chức để huy động người và vật chất đảm bảo cho bộ đội tác chiến trên quy mô lớn; do Trung ương cục miền Nam thành lập 3.1965. HĐCCM gồm 6 người, do Phạm Xô làm trường ban. Tiếp đó các tình, huyện, xã cũng lần lượt thành lập hội đồng cung cấp địa phương.

        HỘI ĐỒNG CUNG CẤP TlỀN PHƯƠNG, tổ chức lâm thời do cấp có thẩm quyền quyết định hoặc chi định thành lập hoạt động; có nhiệm vụ: quyết định những chủ trương kế hoạch, tính toán, để ra những biện pháp tích cực nhất để chỉ đạo  các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền huy động sức người, sức của đầy đủ kịp thời đáp ứng mọi yêu cầu của tiền phương. Trong KCCP, Hội đồng chính phủ đã ra nghị quyết thành lập ở trung ương và các khu, tỉnh cần thiết các hội đồng cung cấp mặt trận. Trong KCCM, ở miền Nam thành lập Hội đồng cung cấp Miền (3.1965), ở miền Bắc thành lập Hội đồng chi viện miền Nam (3.1975). Các hội đồng này có nhiệm vụ động viên sức người, sức của của hậu phương cho tiền tuyến, giải quyết các vấn đề tiếp quản các vùng mới dược giải phóng, chỉ đạo các ngành, các địa phương cung cấp sức người, sức của theo yêu cầu của tiền phương.

        HỘI ĐỒNG HÒA BÌNH THẾ GIỚI (A. World Peace Conncil, vt: WPC), tổ chức quốc tế lãnh đạo phong trào đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh của nhân dân các nước. Thành lập 10.1950 tại đại hội các chiến sĩ hòa bình toàn thể giới lần thứ 2, họp ở Vacsava (Ba Lan). Tập hợp đại biểu các chính đảng, tổ chức và ủy ban quốc gia của 137 nước. Khởi xướng và tổ chức các hoạt động của nhân dân các nước thành phong trào quốc tế đấu tranh bảo vệ hòa bình, chống chạy đua vũ trang và chiến tranh, xây dựng tình hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc trên thế giới. Đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động của nhân dân thế giới chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam (1954-75). Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Đại hội toàn thế giới; cơ quan thường trực là Đoàn chủ tịch và Ban thư kí. Trụ sở (từ 1958) tại Henxinki (Phần Lan). Chủ tịch đầu tiên: Grôliô Quri, quốc tịch Pháp, nhà bác học vật lí nguyên tử, một chiến sĩ hòa bình nổi tiếng.

        HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, cơ quan tư vấn cho người chỉ huy về các vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ QS; gồm các nhà khoa học có khả năng và uy tín thuộc lĩnh vực tư vấn. Được lập ra theo “Điều lệ công tác khoa học và công nghệ Quân đội nhân dân Việt Nam". HĐKHCN cấp BQP do bộ trường BQP quyết định thành lập với nhiệm kì 5 năm gồm: Hội đồng khoa học QS và các HĐKHCN chuyên ngành: kĩ thuật và công nghệ QS, chính trị QS, hậu cần QS, y học QS, lịch sử QS, tình báo QS, giáo dục và đào tạo QS. HĐKHCN cấp tổng cục và tương đương, học viện, nhà trường trực thuộc BQP do thủ trường cấp đó quyết định thành lập, với nhiệm kì 2 năm. Để thực hiện một nhiệm vụ khoa học công nghệ cụ thể, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có thể quyết định thành lập các HĐKHCN để: xét duyệt để cương, đánh giá kết quả, nghiệm thu kết quả nghiên cứu của chương trình (đề tài); thẩm định dự án; xét duyệt sáng kiến; khen thưởng...


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:09:07 PM

        HỘI ĐỒNG NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, tổ chức do UBND các cấp (xã, huyện, tỉnh và tương đương) thành lập để giúp ủy ban thực hiện nghĩa vụ QS ở địa phương. HĐNVQS gồm: chủ tịch hội đồng là chủ tịch UBND, phó chủ tịch là chỉ huy trưởng QS địa phương, ủy viên là những người phụ trách chính các ngành và đoàn thể hữu quan. Nhiệm vụ của HĐNVQS từng cấp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự.

        HỘI ĐỒNG PHÒNG THỦ ĐÔNG DƯƠNG, tổ chức giúp việc cai trị của toàn quyền Đông Dương, thành lập theo sắc lệnh 31.10.1902 của tổng thống Pháp. Có chức năng nghiên cứu những vấn đề thuộc về tổ chức QĐ, về bảo vệ thuộc địa (theo yêu cầu của bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp) và xử lí những tình huống khẩn thiết tại Đông Dương. HĐPTĐD gồm: chủ tịch (là toàn quyển Đông Dương), phó chủ tịch (tổng chỉ huy lực lượng QĐ chiếm đóng) và 3 ủy viên (tư lệnh bộ binh, tư lệnh pháo binh, tổng tham mưu trường lực lượng QĐ chiếm đóng). Từ 11.1944 tăng thêm 3 ủy viên nhưng đã bất lực khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương (9.3.1945), sau đó không còn tồn tại.

        HỘI ĐỒNG QUÂN NHÂN, tổ chức đại diện cho mọi quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng để thực hiện và phát huy ba dân chủ lớn trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Được tổ chức ở cấp đại đội và tương đương (đơn vị chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu) và cấp cơ sở thuộc cơ quan, trường học, bệnh viện, kho, xưởng... trong QĐND VN (quyết định 468/1998/QĐ-BQP ngày 7.4.1998 của bộ trưởng BQP). Có nhiệm vụ giúp người chỉ huy phát huy dân chủ, ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo, tài năng và trí tuệ của mọi người trong đơn vị; góp ý kiến với cấp ủy Đảng, người chỉ huy trong việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ; góp phần tăng cường đoàn kết nội bộ, củng cố kỉ luật, nâng cao sức mạnh chiến đấu của đơn vị. HĐQN tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, do toàn thể quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng trong đơn vị bầu ra, nhiệm kì một năm. Hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự điều hành của người chỉ huy, sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị.

        HỘI ĐỒNG QUÂN SỰ, tổ chức lãnh đạo QS tập thể để thảo luận hoặc quyết định các vấn đề có tính nguyên tắc về QS, tổ chức, chỉ huy tác chiến, huấn luyện QS và bảo đảm đời sống bộ đội. HĐQS được tổ chức trong QĐ LX và QĐ một số nước khác ở cấp quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, hạm đội, tập đoàn quân, bộ đội biên phòng. Tổ chức HĐQS gồm: tư lệnh (người chỉ huy) làm chủ tịch, các thành viên gồm: chủ nhiệm chính trị, bí thư đảng ủy địa phương (bí thư Trung ương ĐCS nước cộng hòa, bí thư quân khu, bí thư tỉnh ủy...), phó tư lệnh (phó chỉ huy) thứ nhất, tham mưu trường và một số thành viên khác. HĐQS có chức năng bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm chất lượng huấn luyện QS và giáo dục chính trị, tư tưởng, giữ vững ki luật QĐ, củng cố chế độ một người chỉ huy và bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu của bộ đội. HĐQS làm việc theo nguyên tắc tập thể, ra nghị quyết theo đa số. HĐQS không quyết định về quyết tâm và phương án tác chiến, về các chỉ tiêu trong kế hoạch hoạt động của bố đội và công tác xây dựng Đảng. Riêng về công tác cán bộ, HĐQS bàn tập thể và quyết định theo đa số trong phạm vi phân công quản lí.

        HỘI ĐỒNG QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tổ chức thuộc cơ quan quyền lực nhà nước trung ương do Quốc hội lập ra theo điểu 104 Hiến pháp nước CHXHCN VN (1992). HĐQPVAN có nhiệm vụ: động viên mọi lực lượng, khả năng của đất nước để bảo vệ tổ quốc; khi có chiến tranh, có thể được Quốc hội giao cho những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt. HĐQPVAN chỉ được lập ra ở cấp trung ương, gồm: chủ tịch (chủ tịch nước giữ chức vụ chủ tịch HĐQPVAN); phó chủ tịch và các ủy viên. Chủ tịch nước đề nghị danh sách các thành viên HĐQPVAN, trình Quốc hội phê chuẩn (không bầu); ủy viên HĐQPVAN không nhất thiết là đại biểu Quốc hội. HĐQPVAN làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

        HỘI ĐỒNG THAM MƯU TRƯỞNG LIÊN QUÂN, cơ quan quyền lực cao nhất về QS trực thuộc tổng thống Mĩ, làm cố vấn cho Hội đồng an ninh quốc gia và điều hành tác chiến của QĐ Mĩ. Thành lập 7.1947 gồm: chủ tịch (được chỉ định luân phiên trong các thành viên) và các thành viên là các tham mưu trưởng (người chỉ huy cao nhất): lục quân, không quân, hải quân và tư lệnh lính thủy đánh bộ. Trong chiến tranh xâm lược VN, HĐTMTLQ điều hành các hoạt động tác chiến của QĐ Mĩ trên chiến trường thông qua tư lệnh BTL Thái Bình Dương. Chủ tịch HĐTMTLQ (1957-78) có 6 chủ tịch: tướng không quân Nathan Ph. Tuyning (1957- 60), tướng lục quân Liman L. Lemnidơ (1960-61), tướng lục quân Macxoen Đ. Taylơ (1961-64), tướng lục quân E. G. Oenlơ (1964-70), đô đốc Tômat H. Morơ (1970-74), tướng không quân G. s. Brao (1974-78). Hiện nay là tướng Richat Miơ (từ 2002).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:10:14 PM

        HỘI MẸ CHIẾN SĨ, tổ chức của Hội liên hiệp phụ nữ VN trong KCCP và KCCM để động viên tinh thần, chăm sóc đời sống vật chất bộ đội và thương binh, bệnh binh; chôn cất, trông nom mồ mả liệt sĩ, tử sĩ. HMCS được tổ chức ở làng, xã, phố phường trong cả nước. Ra đời 6.1946 theo sáng kiến của Hội liên hiệp phụ nữ Trung Bộ. đầu tiên được thành lập ở Hà Tĩnh, tiếp đến các tỉnh thuộc Khu 4, sau phát triển ra cả nước trong KCCP. Được duy trì và phát triển trong KCCM. HMCS có sức cổ động tinh thần to lớn và góp phần thiết thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho bộ đội.

        HỘI NGHỊ AN PHÚ XÃ (20.11.1945), hội nghị QS do Nguyễn Bình với danh nghĩa phái viên được chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào Nam Bộ, triệu tập tại ấp An Hoà, An Phú Xã (Gia Định, nay thuộc tp Hồ Chí Minh). Tham dự hội nghị có 49 đại biểu của hầu hết các tỉnh Đông Nam Bộ. Nội dung: bàn việc thống nhất lực lượng, chỉ huy, tổ chức lại bộ đội, vạch chương trình hành động, phân chia khu vực hoạt động của các đơn vị vũ trang, chuẩn bị phát động chiến tranh du kích, thống nhất tên gọi các đơn vị là giải phóng quân và thành lập các chi đội; cử Nguyễn Bình làm tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ, Hoàng Đình Giong (Vũ Đức) làm chính trị ủy viên. Hội nghị bước đầu tạo ra sự thống nhất các LLVT về tổ chức, chỉ huy, góp phần củng cố lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ.

        HỘI NGHỊ BÀN MÔN ĐIẾM (1953), hội nghị đàm phán đình chiến ở Triều Tiên giữa đoàn đại biểu QĐ Triều Tiên và chí nguyện quân TQ với đoàn đại biểu QĐ Mĩ và một số nước theo Mĩ dưới danh nghĩa LHQ. Lúc đầu họp ở Khai Thành, sát mặt trận (7.1951), sau chuyển về Bàn Môn Điếm. Sau hai lần gián đoạn, hội nghị đã đi tới kí kết hiệp định đình chiến (27.7.1953), do đại diện phía Triều - Trung là đại tướng Nam Nhật, đại diện phía Mĩ là trung tướng Harixơn thực hiện. Hiệp định có hiệu lực từ 22 giờ cùng ngày. Nội dung chủ yếu gồm: vạch giới tuyến QS ở vĩ tuyến 38, lập khu phi QS từ giới tuyến về mỗi phía 2km. Hai bên không tiến hành hoạt động đối địch trong khu phi QS, không được vượt qua giới tuyến QS; 12 giờ sau khi hiệp định được kí, hai bên phải đình chỉ mọi hoạt động của hải, lục, không quân, rút hết mọi lực lượng QS khỏi khu phi QS và khỏi vùng đối phương; đình chỉ việc tăng nhân viên QS và vũ khí trang bị vào Triều Tiên; trong 60 ngày sau khi hiệp định có hiệu lực, hai bên phải tập trung và cho hồi hương mọi tù binh yêu cầu được hồi hương; sau ba tháng khi hiệp định có hiệu lực sẽ triệu tập hội nghị các nước có liên quan để bàn việc giải quyết vấn đề Triều Tiên. Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53) đến đây chấm dứt.

        HỘI NGHỊ BECLIN nh HỘI NGHỊ PÔTXĐAM (17.7- 2.8.1945)

        HỘI NGHỊ BÌNH THAN (10.1282), hội nghị các vương hầu, quý tộc và tướng lĩnh cao cấp triều Trần bàn kế sách cho cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lấn II (1285), do vua Trần Nhân Tông triệu tập, tại bến Bình Than trên sông Lục Đầu (nay thuộc h. Gia Bình, t. Bấc Ninh). Hội nghị thống nhất ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước, bàn kế sách công thủ, bố trí lực lượng phòng giữ các nơi hiểm yếu, chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến. Hoài Văn Hầu Trấn Quốc Toàn còn nhỏ tuổi không được dự bàn, với chí lớn đã về mộ quân ngày đêm luyện tập, giương cao lá cờ thêu sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, báo ơn vua). HNBT góp phần quan trọng làm tham mưu chiến lược cho triều đình tổ chức lực lượng và động viên toàn dân kháng chiến thắng lợi.

        HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ 30.9-8.10.1974, hội nghị của BCT BCHTƯĐLĐ VN (khóa III) nhằm thảo luận, thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975-76) và kế hoạch chiến lược 1975 do BTTM QĐND VN soạn thảo. Từ sự đánh giá so sánh lực lượng trên chiến trường và bối cảnh quốc tế, hội nghị nhận định: thời cơ chiến lược đã đến, ta đã mạnh hơn địch và có khả năng thực tế để tiến lên giành toàn thắng. Hội nghị quyết định động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ QĐ và chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành thắng lợi triệt để trong hai năm 1975-76.

        HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ 18.12.1974-8.1.1975. hội nghị mở rộng của BCT BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) nhằm khảng định quyết tâm và kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam đã được thông qua tại hội nghị Bộ chính trị 30.9- 8.10.1974; họp khi đợt 1 cuộc tiến công 1975 đã bắt đầu được 12 ngày ở đồng bằng sông Cửu Long. Từ sự phân tích những diễn biến mới nhất trên các chiến trường, đặc biệt là thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long (13.12.1974-6.1.1975), hội nghị nhận định: thế và lực của ta mạnh lên nhiều, thế và lực của địch đang đi xuống, khả năng Mĩ can thiệp trở lại vào VN rất hạn chế; trên cơ sở đó khẳng định một lần nữa quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc KCCM trong hai năm 1975-76, nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong 1975. Để thực hiện quyết tâm chiến lược, cần thực hành tiến công và nổi dậy trên quy mô lớn, kết hợp QS, chính trị, binh vận, tạo sức mạnh tổng hợp, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa; xác định đòn tiến công QS đầu tiên lấy nam Tây Nguyên làm hướng chủ yếu, mục tiêu tiến công đầu tiên là Buôn Ma Thuật.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:11:45 PM

        HỘI NGHỊ CẤP CAO NHÂN DÂN ĐÔNG DƯƠNG (24- 25.3.1970), hội nghị những người đứng đầu của VN DCCH. Cộng hòa miền Nam VN, Lào, Campuchia, họp tại một vùng biên giới VN - TQ - Lào, nhằm củng cố khối đoàn kết chống Mĩ mở rộng chiến tranh xâm lược trên toàn bán đảo Đông Dương. Tuyên bố chung của hội nghị khẳng định mục tiêu chung của mỗi nước là độc lập, hòa bình, trung lập, không để nước ngoài có QĐ hay lập căn cứ QS trên đất mình, hoặc dùng lãnh thổ nước mình để xâm lược nước khác, không tham gia liên minh QS; ba nước quan hệ theo năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình... HNCCNDĐD góp phần làm thất bại âm mưu chia rẽ của Mĩ và các thế lực phản động khác, cổ vũ quyết tâm đoàn kết chống Mĩ của nhân dân ba nước Đông Dương.

        HỘI NGHỊ CÂY MAI (23.9.1945), hội nghị liên tịch giữa xứ ủy và UBND Nam Bộ họp khẩn cấp ở đường Cây Mai (Chợ Lớn) bàn chủ trương, biện pháp đối phó với tình hình quân Pháp được Anh đồng lõa và giúp sức, đã gây hấn ở Sài Gòn đêm 22 rạng 23.9.1945. Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ trung ương ĐCS Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh tham dự hội nghị. Sau khi phân tích âm mưu xâm lược của Pháp, HNCM quyết định phát động toàn dân kháng chiến, tổng bãi công, bãi thị, không hợp tác với thực dân Pháp, tiến hành chiến tranh du kích rộng khấp, bao vây, tiêu hao địch trong thành phố, phá âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch. HNCM thể hiện ý chí kiên quyết chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập vừa giành được của nhân dân Nam Bộ và cả nước.

        HỘI NGHỊ CHÍNH TRỊ ĐẶC BIỆT (27.3.1964), hội nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập nhằm động viên tinh thần đoàn kết và ý chí chiến đấu của nhân dân VN trước tình hình Mĩ đẩy mạnh chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam và tăng cường các hoạt động phá hoại đối với miền Bắc (x. kế hoạch 34A). Họp ở thủ đô Hà Nội, gồm: 325 đại biểu chính thức (thuộc các đảng phái, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo, đồng bào miền Nam tập kết, kiều bào về nước), trên 500 đại biểu dự thính (của nhân dân Hà Nội). Sau khi chỉ rõ âm mưu và hành động xâm lược của Mĩ, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Mĩ phải chấm dứt can thiệp, rút khỏi miền Nam; nếu động đến miền Bắc, Mĩ sẽ thất bại; kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết chiến đấu, miển Bắc làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt... HNCTĐB có ý nghĩa như một hội nghị Diên Hồng trong thời đại mới, thể hiện quyết tâm của toàn dân VN đoàn kết chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.

        HỘI NGHỊ CRƯM (4-11.2.1945), hội nghị giữa những người đứng đầu chính phủ ba nước lớn thuộc lực lượng Đồng minh chống phát xít: LX (I. V. Xtalin), Mĩ (Ph. Rudơven), Anh (U. Sơcsin); họp ở Livađi gần Yanta trong giai đoạn cuối CTTG-II. Tham gia HNC còn có các bộ trường ngoại giao, đại diện các BTTM và một số chuyên viên. HNC thỏa thuận kế hoạch tiêu diệt LLVT phát xít Đức. vạch ra những nguyên tắc cơ bản trong đường lối chung sau chiến tranh, tổ chức sự kiểm soát trong toàn nước Đức; quyết nghị giải giáp và giải thể toàn bộ LLVT và BTTM Đức, trừng phạt những tội phạm chiến tranh, bãi bỏ các đạo luật phát xít, cấm Đảng quốc xã hoạt động; quyết định Đức phải bồi thường thiệt hại về vật chất cho những nước trong liên minh chống Hitle; thành lập Liên hợp quốc; thông qua bản tuyên bố về châu Âu giải phóng và hiệp định về những vấn đề Viễn Đông cùng nhiêu vấn đề khác. Thông cáo của HNC có chữ kí của những người đứng đầu chính phủ ba nước được công bố ngày 13.2.1945. Những nghị quyết của HNC có ý nghĩa lịch sử, chứng minh khả năng hợp tác giữa những nước có chế độ xã hội khác nhau, động viên được mọi lực lượng sớm tiêu diệt phát xít Đức và quân phiệt Nhật. Cg hội nghị Yanta.

        HỘI NGHỊ DÂN QUÂN TOÀN QUỐC (15.4.1948), hội nghị đại biểu dân quân và du kích các địa phương trong cả nước, họp lần hai theo chủ trương của BCHTƯ và Quân ủy trung ương; chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho hội nghị. Hội nghị đánh giá và biểu dương thành tích chung của dân quân , du kích và những đơn vị, những đội viên du kích có thành tích xuất sắc, chỉ rõ những khuyết điểm cần sửa chữa, khắc phục, đề ra phương hướng hoạt động, tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện, tác chiến và các chế độ công tác của dân quân, du kích, kịp đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp kháng chiến. Hội nghị quyết nghị đẩy mạnh chiến tranh du kích, thực hiện “giết nhiều giặc, cướp nhiều súng, để giúp cho trường kì kháng chiến mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công” theo thư gửi hội nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh.

        HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG (1285), hội nghị đại biểu bô lão cả nước nhằm hiệu triệu tinh thần chống quân Nguyên -  Mông xâm lược, do vua Trần Nhân Tông cùng thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu tập, họp tại điện Diên Hổng (kinh đô Thăng Long). Trả lời câu hỏi của vua Trần trước họa xâm lăng đối với dân tộc, các bô lão đã đồng tâm quyết chiến bảo vệ tổ quốc. Đây là một hình thức hội nghị đại biểu nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc VN, một nhân tố để giành thảng lợi trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:12:53 PM

        HỘI NGHỊ ĐÔNG NAM Á (8.9.1954), hội nghị do Mĩ triệu tập tại Manila (thủ đô Philippin) với sự tham gia của Mĩ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Pakixtan, Thái Lan, Philippin. Hội nghị kí kết hiệp ước Manila, thành lập khối QS mang tên Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), do Mĩ cầm đầu nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ đang phát triển mạnh ở khu vực Đông Nam Á sau thất bại của Pháp ở Đông Dương. Lợi dụng hiệp ước này, Mĩ đã lôi kéo một số nước trong SEATO trực tiếp tham gia chiến tranh chống nhân dân VN. Do mâu thuẫn nội bộ, đặc biệt sau KCCM của nhân dân Đông Dương thắng lợi, 9.1975 SEATO quyết định giải thể.

        HỘI NGHỊ GIẢI TRỪ QUÂN BỊ X. ỦY BAN GIẢI TRỪ QUÂN BỊ

        HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ VỂ ĐÔNG DƯƠNG (8.5-21.7.1954), hội nghị bộ trưởng ngoại giao các nước LX, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mĩ, Anh, Pháp, VN DCCH và đại diện ba chính phủ theo Pháp ở VN, Lào, Campuchia họp tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) bàn vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Từ 8.5.1954 hội nghị lần lượt tiến hành nhiều phiên họp toàn thể, họp hẹp, tiếp xúc riêng giữa các trường đoàn. Do thái độ lừng chừng của Pháp và âm mưu tiếp tục can thiệp vào Đông Dương của Mĩ, cuộc đàm phán tiến triển chậm. Trước thắng lợi QS của lực lượng kháng chiến VN, Lào, Campuchia trên các chiến trường, đặc biệt là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) và lập trường đấu tranh ngoại giao kiên quyết, mềm dẻo của phía VN DCCH. các bên đi đến thỏa thuận về những vấn đề cơ bản. 20.7 các hiệp định đình chiến ở VN, Lào, Campuchia được kí kết (x. hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam; hiệp định Giơnevơ 1954 về Lào; hiệp định Giơnevơ 1954 về Campuchia). 21.7 hội nghị thông qua tuyên bố chung về lập lại hòa bình ở Đông Dương (Mĩ không kí vào bản tuyên bố này). HNGVĐD là hội nghị quốc tế đầu tiên với sự tham gia của các nước lớn đã xác nhận việc chấm dứt chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và cam kết tôn trọng các quyển dân tộc cơ bản của VN, Lào, Campuchia.

        HỘI NGHỊ HÒA BÌNH PARI (1919-20), hội nghị quốc tế do các nước lớn chiến thắng trong CTTG-I triệu tập để soạn thảo và kí kết các hiệp ước hòa bình với các nước chiến bại. Họp qua nhiều phiên ở Pari từ 18.1.1919 đến 21.1.1920. có 32 nước tham gia (Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật, Bỉ...), không mời nước Nga xô viết, mặc dù Nga là nước tham gia liên minh với Anh, Pháp trong CTTG-I. Những vấn đề chủ chốt của hội nghị được quyết định trong các phiên họp kín tay ba giữa Anh, Pháp, Mĩ. HNHBP chuẩn bị điều kiện cho các hiệp ước: với nước Đức - hiệp ước hòa bình Vecxây (1919); với nước Áo - hiệp ước hòa bình Xanh Giecmanh 1919; với Bungari - hiệp ước hòa bình Nâyxki; với Hunggari - hiệp ước hòa bình Trianon 1920; với Thổ Nhĩ Kì - hiệp ước hòa bình Xevơrơ 1920. Hội nghị đã thông qua quyết nghị thành lập Hội quốc liên và điều lệ của hội. Anh, Mĩ, Pháp giữ vai trò chủ yếu trong hội nghị.

        HỘI NGHỊ LIÊN MINH NHÂN DÂN BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG (11.3.1951), hội nghị đại biểu của Mặt trận Liên Việt (VN), Itxala (Lào), Itxarắc (Campuchia) đại diện cho nhân dân ba nước Đông Dương nhằm thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung và thành lập khối liên minh nhân dân VN - Lào - Campuchia. Hội nghị nhất trí xác định kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mĩ; nhiệm vụ cơ bản của CM mỗi nước là giành độc lập, xây dựng ba quốc gia mới; quyết định thành lập khối liên minh nhân dân ba nước dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đắng và tôn trọng chủ quyền của nhau, có một chương trình hành động chung. Thành công của hội nghị có ý nghĩa chiến lược, tăng cường sức mạnh đoàn kết giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, góp phần làm thất bại thủ đoạn chia rẽ của địch.

        HỘI NGHỊ OASINHTƠN (1921-22). hội nghị bàn về hạn chế trang bị đường biển, các vấn đề Viễn Đông và vùng nước Thái Bình Dương nhằm xác định mối tương quan lực lượng mới hình thành giữa các nước đế quốc lớn sau CTTG-I ở TQ và vùng nước Thái Bình Dương có lợi cho Mĩ. Họp tại Oasinhtơn từ 12.11.1921 đến 6.2.1922 do Mĩ triệu tập sau hội nghị hòa bình Pari (1919-20), có 9 nước tham dự: Mĩ. Anh, TQ, Nhật, Pháp, Italia, Bỉ. Hà Lan. Bồ Đào Nha và đại biểu các xứ tự trị thuộc Anh, đại biểu Ấn Độ. Nhiều vấn đề trong hội nghị được giải quyết tay ba giữa Mĩ, Anh, Nhật. HNO soạn thảo và kí các văn kiện chính: hiệp ước bốn nước (Mĩ, Anh, Pháp, Nhật) kí 13.12.1921. quy định chủ quyền các đảo ở Thái Bình Dương, nhằm hợp sức chống các phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này: hiệp ước năm nước (Mĩ, Anh, Nhật, Pháp, Italia) kí 6.2.1922, hạn chế trang bị đường biển (giới hạn trọng tài, cỡ pháo trên tàu...), cấm xây dựng các căn cứ hải quân mới ở Thái Bình Dương có lợi cho Mĩ: hiệp ước chín nước (Mĩ, Anh, Pháp, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha. TQ) kí 6.2.1922, định ra những khả năng cân bằng trong thương mại và doanh nghiệp ở TQ, chống lại sự độc quyền của Nhật. Các nghị quyết của HNO không xóa bỏ sự đe dọa xâm lược của Nhật ở Viễn Đông. LX không thừa nhận các nghị quyết của HNO và phân kháng tới các chính phủ tham gia hội nghị.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:13:51 PM

        HỘI NGHỊ PARI (1968-73), hội nghị bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN; họp tại Pari (Pháp). 13.5.1968 hội nghị bắt đầu giữa hai bên: đại diện chính phủ VN DCCH do bộ trưởng Xuân Thủy làm trường đoàn và đại diện chính phủ Mĩ do Hariman dẫn đầu: sau khi Mĩ chấm dứt ném bom. bắn phá miền Bấc VN (11.1968), từ 25.1.1969 họp bốn bèn gồm đại diện của VN DCCH, MTDTGPMN VN, Mĩ và VN cộng hòa. Qua bốn năm chín tháng với 202 phiên họp công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng, cuộc đàm phán diễn ra gay go, phức tạp. Đã có lúc VN DCCH và Mĩ đạt được thỏa thuận về một văn bản hiệp định (18.10.1972) nhưng Mĩ lật lọng không chịu kí tắt vào ngày đã định. Chỉ sau khi Mĩ thất bại trong cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc VN (x. chiến dịch Lainơbêchcơ 11, 18- 29.12.1972) cuộc đàm phán mới được nối lại và đi đến kết quả. 23.1.1973 hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN được kí tắt giữa cố vấn đặc biệt của chính phủ VN DCCH Lê Đức Thọ và cố vấn an ninh quốc gia Mì Kitxingơ. 27.1.1973 được các bộ trưởng ngoại giao đại diện cho chính phủ của bốn bên kí chính thức (x. hiệp định Pari 1973 vê Việt Nam).

        HỘỊ NGHỊ PHÒNG KHÔNG NHÂN DÂN TOÀN MIỀN BẮC (9.1.1964), hội nghị triển khai công tác phòng không nhân dân lán thứ nhất của quân và dân miền Bắc, họp tại thủ đô Hà Nội, do BTTM QĐND VN triệu tập, nhằm chuẩn bị đối phó với âm mưu của Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Tham dự hội nghị gồm đại diện chính quyền, cơ quan QS và một số cơ quan địa phương, đại diện một số bộ trong chính phủ và các cơ quan, quân chủng, binh chủng trong QĐ. Hội nghị thảo luận và thống nhất kế hoạch triển khai lực lượng phòng không ba thứ quân, bảo đảm lực lượng sẵn sàng chiến đấu, các biện pháp phòng tránh, sơ tán nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. hạn chế thấp nhất thiệt hại do địch gây ra. Nghị quyết hội nghị thể hiện sâu sắc quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, trên cơ sở đó hệ thống phòng không nhân dân được thành lập ở khắp các địa phương với lực lượng nòng cốt là bộ đội phòng không, tạo thế chủ động đánh bại âm mưu và hành động gây chiến tranh của địch.

        HỘI NGHỊ PHÔNGTENNƠBLÔ (6.7-13.9.1946), hội nghị đàm phán chính thức giữa chính phủ VN DCCH và chính phủ Pháp về chủ quyển, độc lập. thông nhất của VN. mối quan hệ giữa VN với Pháp và các nước khác... Sau khi buộc phải kí hiệp định sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946), phía Pháp tìm mọi cách phủ nhận, xuyên tạc và phá hoại hiệp định. Trước sự đấu tranh kiên quyết của ta, chính phủ Pháp phải nhận mở cuộc đàm phán chính thức, khai mạc 6.7.1946 tại lâu đài Phôngtennơblô (cách Pari 60km). Dẫn đầu phái đoàn VN là Phạm Văn Đồng, phái đoàn Pháp do Măc Ăngđrè làm trưởng đoàn. Lập trường của VN là : nước VN phải được độc lập (ở trong Khối liên hiệp Pháp), không chấp nhận một chính phủ liên bang; Nam Bộ là một bộ phận không thể chia cắt của VN; tài sản của người Pháp ở VN sẽ được bảo hộ... Do phía Pháp giữ lập trường hiếu chiến, xâm lược, đưa ra bản dự thảo hiệp định với những điều khoản ta không thể chấp nhận được, hội nghị tan vỡ sau hơn 2 tháng đàm phán không có kết quả. Tuy không đạt mục đích kí hiệp ước chính thức giữa VN và Pháp, nhưng HNP đã làm cho dư luận quốc tế hiểu rõ nguyện vọng hòa bình, độc lập, thống nhất của nhân dân VN và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.

        HỘI NGHỊ PÔTXĐAM (17.7-2.8.1945), hội nghị giữa những người đứng đầu chính phủ các nước lớn chiến thắng trong CTTG-II: LX (I V Xtalin), Mĩ (G. Truman), Anh (V. Sơcsin, từ 28.7 là C. Etli), họp ở Pôtxđam (ngoại vi Beclin. Đức) nhằm xem xét những vấn đề tổ chức châu Âu sau chiến tranh và thông qua quyết định giải giáp QĐ Đức. giải thể Đảng quốc xã Đức; quyết nghị thành lập tòa án quốc tế xét xử những tội phạm chiến tranh, thông qua hệ thống chiếm đóng bốn bên nước Đức và quản lí bốn mặt Beclin; xác nhận chuyển cho LX tp Kenibec (từ 1946 là Caliningrat) và những vùng tiếp giáp ở biên giới tây Ba Lan cùng những vấn đề khác. LX khẳng định sự hợp tác với các nước đồng minh đánh tan nước Nhật quân phiệt. Những thỏa thuận đạt được tại HNP mở đường hợp tác có hiệu quả giữa các nước ở châu Âu sau chiến tranh. Cg hội nghị Beclin.

        HỘI NGHỊ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG BẮC KÌ (15-20.4.1945), hội nghị QS đầu tiên của ĐCS Đông Dương bàn những việc cần kíp chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. Tham dự hội nghị có đại biểu Chiến khu Việt Bấc, Chiến khu Quang Trung... họp tại Hiệp Hoà (Bắc Giang), do Trường Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về QS: thống nhất các LLVT CM, thành lập Việt Nam giải phóng quân, tổ chức rộng rãi tự vệ, tự vệ chiến đấu: phát triển chiến tranh du kích trong cả nước; thành lập 7 chiến khu (Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám. Quang Trung, Trần Hưng Đạo ở Bắc Bộ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung Bộ; Nguyễn Tri Phương ở Nam Bộ); cử ủy ban QS CM Bắc Kì gồm Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh... Hội nghị đánh dấu bước phát triển mới về tư tưởng QS của Đảng, góp phần vào thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:14:54 PM

        HỘI NGHỊ QUÂN SỰ TOÀN QUỐC (19.10.1946), hội nghị QS lớn nhất của ĐCS Đông Dương từ sau tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, họp tại 58 phố Nguyễn Du (Hà Nội), do Trường Chinh chủ trì. Dự hội nghị có các ủy viên trung ương Đảng, ủy viên QS ủy viên hội, cán bộ QS, chính trị chủ chốt các khu. Từ nhận định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh VN và nhân dân VN nhất định phải kháng chiến, hội nghị quyết định: gấp rút tăng cường lực lượng về mọi mặt, đặc biệt là LLVT; nhấn mạnh xây dựng LLVT về chính trị, chình đốn cơ quan chỉ huy, xây dựng các ngành quân nhu, quân giới, quân y; chú trọng giáo dục tình hình, nhiệm vụ, tăng cường đoàn kết, kỉ luật, giữ gìn bí mật; phát triển Đảng, kiện toàn chế độ chính trị viên và cơ quan công tác chính trị, điều chỉnh cán bộ, thống nhất chương trình huấn luyện, lập cơ quan chuyên trách công tác cán bộ. HNQSTQ đã kịp thời đánh giá tình hình, nhiệm vụ trước mắt, đề ra biện pháp thúc đẩy công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu của LLVT, nêu cao những nguyên tắc, quan điểm của Đảng trong xây dựng LLVT.

        HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ VIỆT NAM (27.2-2.3.1973), hội nghị quốc tế ghi nhận và ủng hộ hiệp định Pari 1973 về Việt Nam và các nghị định thư kèm theo; họp tại Pari (thủ đô Pháp). Tham dự có đại biểu của LX, TQ, Anh. Pháp, bốn bên tham gia kí hiệp định Pari (VN DCCH. MTDTGPMN VN, Mĩ và VN cộng hòa) và bốn nước trong ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế (Ba Lan, Canada, Hunggari, Inđônêxia). Dự hội nghị còn có tổng thư kí LHQ. Hội nghị đã kí định ước (gồm 9 điều) khẳng định hiệp định Pari 1973 về VN phải được thực hiện, công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN, quyền tự quyết của nhân dân  miền Nam VN và kêu gọi tất cả các nước trên thế giới cũng làm như vậy.

        HỘI NGHỊ TÊHÊRAN (28.11-1.12.1943), hội nghị giữa những người đứng đầu chính phủ ba nước lớn thuộc Đồng minh: LX (Xtalin), Mĩ (Rudơven), Anh (Sơcsin); họp ở Têhêran (Iran) trong CTTG-II. Các bên đã kí bản tuyên bố hành động chung trong chiến tranh chống nước Đức phát xít và sự hợp tác sau chiến tranh; thỏa thuận với nhau kế hoạch tiêu diệt các LLVT phát xít và quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu vào 5.1944. LX chấp thuận đề nghị của các nước đồng minh sẽ tham chiến chống Nhật sau khi kết thúc chiến sự ở châu Âu. Kết quả đạt được của hội nghị góp phần củng cố sự hợp tác về QS giữa những nước lớn trong liên minh chống phát xít.

        HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3-7.2.1930), hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản VN, họp tại Cửu Long (TQ) gần Hương Cảng, do Nguyễn Ái Quốc, thay mật Quốc tế cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham dự hội nghị có đại biểu của Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng. Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành ĐCS VN. thông qua chính cương, sách lược, chương trình và điều lệ vắn tắt của Đảng, đồng thời thông qua điều lệ vắn tắt của các tổ chức công hội, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội phản đế đồng minh và hội cứu tế, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Hội nghị xác định kế hoạch thống nhất các cơ sở Đảng trong nước, cử ra BCHTƯ lâm thời (7 ủy viên, do Trịnh Đình Cửu đứng đầu) và thành lập cơ quan ngôn luận của Đảng. Những văn kiện của hội nghị đã định ra đường lối chiến lược, sách lược, chi rõ tính chất và vai trò lãnh đạo CM của ĐCS VN. HNTLĐCSVN mang tầm vóc của đại hội thành lập Đảng; đánh dấu bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với CM VN.

        HỘI NGHỊ THIÊN HỘ (25.10.1945), hội nghị cán bộ đảng bộ Nam Bộ ĐCS Đông Dương do Hoàng Quốc Việt, ủy viên thường vụ BCHTU Đảng chủ trì, nhằm đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm qua một tháng chỉ đạo kháng chiến ở Nam Bộ từ sau hội nghị Cây Mai (23.9.1945), họp tại Thiên Hộ (xã Hậu Mĩ, h. Cái Bè, t. Mĩ Tho, nay thuộc t. Tiền Giang). Tham dự hội nghị có Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng... và nhiều đại biểu các đáng bộ tỉnh, thành phố ở Nam Bộ. Hội nghị phê phán những lệch lạc trong xây dựng LLVT sau tổng khởi nghĩa (cải tổ các đơn bị Bảo an binh thành Cộng hòa vệ binh); đề ra những biện pháp cấp bách để củng cố LLVT, đặt LLVT dưới sự lãnh dạo của Đảng, đưa cán bộ, đảng viên vào bộ đội làm nòng cốt lãnh đạo; đẩy mạnh công tác trừ gian, xây dựng cơ sở bí mật trong vùng địch tạm chiếm... Những quyết định của HNTH đã kịp thời chỉ đạo cùng cố tổ chức, nâng cao sức mạnh chiến đấu của LLVT, tạo điều kiện cho kháng chiến Nam Bộ phát triển vững chắc.

        HỘI NGHỊ TRÙ BỊ ĐÀ LẠT (19.4-10.5.1946), hội nghị chuẩn bị cho cuộc đàm phán Việt - Pháp tại hội nghị Phôngtennơblô (6.7-13.9.1946). Phái đoàn VN DCCH do Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp làm trưởng đoàn. Võ Nguyén Giáp là phó trưởng đoàn. Phái đoàn Pháp do Mắc Ăngđrê làm trưởng đoàn. Hội nghị khai mạc sáng 19.4.1946, tại Trường trung học Yecxanh (Đà Lạt); tiến hành nhiều phiên họp toàn thể, họp tiểu ban (Nguyễn Tường Tam lẩn tránh phần lớn các phiên họp) tập trung vào các vấn đề: thực hiện đình chiến và trung cầu ý dân ở Nam Bộ: quyến lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở VN... Do phía Pháp không thực tâm đàm phán, tiếp tục âm mưu chiến tranh xâm lược, tách Nam Bộ khỏi VN, lập Liên bang Đông Dương... nên HNTBĐL không đi đến kết quả.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:15:44 PM

        HỘI NGHỊ TRUNG GIÃ (4-27.7.1954), hội nghị QS giữa đại diện Bộ tổng tư lệnh QĐND VN và đại diện Bộ chỉ huy QĐ Pháp ở Đỏng Dương, theo quyết định của hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8.5-21.7.1954); họp tại Trung Giã, h. Sóc Sơn, tp Hà Nội. Nội dung chính: bàn bạc và đề xuất những biện pháp thực hiện các vấn đề QS đã thoả thuận tại hội nghị Giơnevơ, giải quyết những vấn đề khác do tình hình cụ thể tại chỗ đặt ra (tù binh, thực hiện ngừng bắn, trao trả tù binh, điều chỉnh khu vực tập kết QĐ, ủy ban liên hiệp đình chiến hai bên...). HNTG đã đạt được kết quả nhất trí về cách thức trao trả tù binh và thực hiện ngừng bắn trên toàn bộ lãnh thổ VN.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG VI 6-8.11.1939. hội nghị lần thứ 6 của BCHTƯ ĐCS Đông Dương (khóa I) nhằm đánh giá tình hình thế giới, trong nước sau khi CTTG-II bùng nổ, quyết định những vấn đề chiến lược, sách lược của Đảng trong tình hình mới. Họp tại Bà Điểm (Gia Định); tham dự có Lê Duẩn. Phan Đăng Lưu, Võ Vãn Tần... do Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị phân tích tính chất của CTTG-II, thất bại của chủ nghĩa phát xít và triển vọng của CM thế giới; nhận định các nước Đông Dương sẽ bị lôi cuốn vào chiến tranh, Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương, vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu giữa các dân tộc Đông Dương và chủ nghĩa phát xít; xác định mục tiêu chiến lược trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu; quyết định thành lập Mật trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để đoàn kết mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc chống đế quốc; tạm gác khẩu hiệu CM ruộng đất, thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công - nông - binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền cộng hòa dân chủ; thay đổi hình thức đấu tranh, phát triển đội tự vệ; tăng cường công tác xây dựng Đảng. Nghị quyết của hội nghị đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược và sách lược của Đảng, mở đầu một thời kì mới của CM VN.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG VI 15-17.7.1954, hội nghị lần thứ 6 (mở rộng) của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa II) họp tại Việt Bắc, dưới sự chủ trì của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm đánh giá tình hình thế giới và trong nước sau 9 năm KCCP, đề ra phương châm và sách lược của CM VN trong giai đoạn mới. Trên cơ sở thảo luận báo cáo về tình hình và nhiệm vụ mới, kết quả thực hiện nhiệm vụ và tiến triển của hội nghị Giơnevơ, HNTƯVI xác định kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương là đế quốc Mĩ, khẳng định mục tiêu có tính nguyên tắc của CM là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, nhưng sách lược phải linh hoạt, kịp thời đối phó với mọi tình huống, chống lại âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của địch. Về nhiệm vụ và công tác trước mắt, hội nghị chỉ rõ phải tranh thủ củng cố hòa bình, tiếp tục chính sách ruộng đất, khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất, đồng thời tăng cường lực lượng QS, xây dựng QĐ nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

        HỘI NGHỊ TRƯNG ƯƠNG VIII (10-19.5.1941), hội nghị lần thứ 8 của BCHTƯ ĐCS Đông Dương (khóa I) nhằm hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được đề ra từ các hội nghị trung ương VI (11.1939) và VII (10.1940) của Đảng; họp tại Pắc Bó, xã Trường Hà, h. Hà Quảng, t. Cao Bằng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (với tư cách đại biểu Quốc tế cộng sản) chủ trì. Dự họp có Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên... các đại biểu của Xứ ủy Bắc Kì, Trung Kì và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài. Hội nghị phân tích tình hình quốc tế và Đông Dương, dự đoán chủ nghĩa phát xít nhất định thất bại, phong trào CM thế giới sẽ phát triển nhanh chóng; khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của CM là đánh Pháp, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau để giành thắng lợi; tiếp tục chủ trương tạm gác khẩu hiệu CM ruộng đất, đưa ra chính sách giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công; quyết định thành lập Mặt trận VN độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước chống đế quốc, áp dụng sách lược mềm dẻo phân hóa kẻ thù. Từ nhận định: khởi nghĩa vũ trang là con đường thắng lợi của CM VN, hội nghị tập trung bàn về thời cơ, các hình thức và điều kiện thành công của khởi nghĩa. Hội nghị đặc biệt chú trọng vấn để xây dựng Đảng đủ năng lực lãnh đạo CM trong tình hình mới, bầu BCHTƯ, ban thường vụ và cử Trường Chinh làm tổng bí thư. Hội nghị đánh dấu một mốc lịch sử trong sự nghiệp lãnh đạo CM của Đảng, góp phần to lớn đưa tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:17:53 PM

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG IX (12.1963), hội nghị lần thứ 9 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III), bàn một số vấn đề quốc tế và tình hình, nhiệm vụ CM miền Nam VN. Về CM miền Nam, trước tình hình Mĩ ra sức tăng cường và mở rộng chiến lược chiến tranh đặc biệt, hội nghị chỉ rõ: cần tìm mọi cách kiểm chế và đánh thắng chiến tranh đặc biệt, đồng thời sẵn sàng đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ quy mô lớn của Mĩ; phương châm của chiến tranh CM miền Nam là kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, trong đó đấu tranh vũ trang có vai trò quyết định trực tiếp đối với việc tiêu diệt lực lượng QS địch; xác định chiến tranh sẽ kéo dài nhưng phương hướng phấn đấu là tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn. Hội nghị đánh dấu bước trưởng thành mới về lí luận và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh CM của ĐLĐ VN trong KCCM.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XI (3.1965), hội nghị lần thứ 11 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) bàn về tình hình, nhiệm vụ CM VN trước việc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và từng bước đưa thêm lực lượng chiến đấu vào miền Nam, đẩy chiến lược chiến tranh đặc biệt lên đỉnh cao. Hội nghị thông qua những quyết định quan trọng: mở rộng các LLVT theo kế hoạch xây dựng thời chiến, chuyển nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến; nhân dân và LLVT miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu. đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ, giữ vững mạch máu giao thông vận tải vào chiến trường; nhân dân và LLVT miền Nam tiếp tục thế tiến công chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực của QĐ Sài Gòn, đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược và đấu tranh chính trị ở đô thị, làm thất bại hoàn toàn chiến tranh đặc biệt và sẵn sàng đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XII (12.1965), hội nghị lần thứ 12 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) bàn về tình hình, nhiệm vụ CM VN trước việc Mĩ ồ ạt đưa quân trực tiếp tham chiến ở miền Nam và đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Qua phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu của Mĩ trong chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam, hội nghị khẳng định: so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản không thay đổi, ta có cơ sở để giữ vững thế chủ động tiến công; đề ra nhiệm vụ: động viên lực lượng của cả hai miền, kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược của Mĩ trong bát cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành CM DTDC trong cả nước; phương châm chiến lược là đánh lâu dài nhưng hướng phấn đấu là tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. HNTƯXII thể hiện ý chí của toàn dân VN quyết đánh, quyết thắng chiến tranh xâm lược quy mô lớn của Mĩ.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XIV (1.1968), hội nghị lần thứ 14 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) nhằm thảo luận và thông qua nghị quyết của hội nghị BCT (12.1967) về chuyên cuộc đấu tranh CM ở miền Nam sang một thời kì mới - thời kì giành thắng lợi quyết định. Hội nghị nhận định: ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn, chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ qua gần ba năm đã thất bại nặng nề, nước Mĩ đang đứng trước những khó khăn lớn do chiến tranh VN gây ra. Hội nghị hạ quyết tâm: động viên những nỗ lực lớn nhất, đưa chiến tranh CM lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Mục tiêu chiến lược là: tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền các cấp, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; buộc Mĩ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, ta đạt được những mục tiêu trước mắt là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. Để thực hiện quyết tâm đó, phải đưa chiến tranh vào các thành thị, giữ được bí mật, bất ngờ để giành thắng lợi lớn nhất. HNTƯXIV đã chỉ đạo quân và dân VN tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ, tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XV (1.1959), hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa II), bàn về CM miền Nam, do chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Trước tình hình Mĩ - Diệm tăng cường khủng bố, kìm kẹp quần chúng, đàn áp phong trào CM, hội nghị xác định phương hướng đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng; chỉ ra con đường phát triển cơ bản của CM miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền; phương pháp CM là dùng bạo lực, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với LLVT hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình. Hội nghị dự kiến cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành đấu tranh vũ trang trường kì và nhất định thắng lợi. Nghị quyết HNTƯXV mở ra bước ngoặt cho CM miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, tạo nên bước nhảy vọt mà đinh cao là phong trào đồng khởi (1959-60).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:19:32 PM

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XVIII (1.1970), hội nghị lần thứ 18 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) nhằm kiểm điểm tình hình CM hai năm (1968-69); đề ra chủ trương, nhiệm vụ đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ. Hội nghị quyết định : tiếp tục phát triển chiến lược tiến công, tiến công toàn diện, liên tục và mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược, lấy nông thôn làm hướng chính, đồng thời ra sức xây dựng lực lượng, tạo chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định; phát huy sức mạnh tiến công của bộ đội chủ lực, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương; tổ chức tốt tuyến hậu cần chiến lược, chú trọng khai thác hậu cần tại chỗ... Hội nghị dự kiến và có chủ trương đối phó với tình huống Mĩ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương.

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XIX (2.1971), hội nghị lần thứ 19 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) nhằm đẩy mạnh KCCM, khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc sau bốn năm chống chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968) của Mĩ. Hội nghị khẳng định: chống Mĩ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu; động viên nỗ lực cao nhất của quân và dân ở cả hai miền kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến; miền Bắc đặt trọng tâm vào việc tăng cường lực lượng, khôi phục và phát triển kinh tế, tiếp tục xây dựng CNXH trong tình hình mới; miền Nam phải đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phá tan kế hoạch bình định* nông thôn của Mĩ và chính quyền Sài Gòn, thực hành ba mũi giáp công, kết hợp tiến công QS và nổi dậy của quần chúng, đẩy mạnh đấu tranh QS, chính trị và ngoại giao...

        HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG XXI (7.1973), hội nghị lần thứ 21 của BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa III) họp tại Hà Nội nhằm đánh giá thắng lợi và bước đầu tổng kết kinh nghiệm 18 năm KCCM, đề ra nhiệm vụ CM miền Nam trong giai đoạn mới. về tình hình miền Nam từ sau hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, hội nghị vạch rõ âm mưu của Mĩ và chính quyền Sài Gòn công khai phá hoại hiệp định, tiếp tục chiến tranh; phê phán những biểu hiện lừng chừng, hữu khuynh của một số địa phương trong chủ trương đối phó với địch. Trên cơ sở đúc kết 5 bài học kinh nghiệm và dự kiến 2 khả năng tiến triển của CM, hội nghị xác định nhiệm vụ cơ bản của CM miền Nam là tiếp tục thực hiện CM DTDC nhân dân, kiên định con đường CM bạo lực, giữ vững chiến lược tiến công, nắm vững thời cơ, chỉ đạo linh hoạt để đưa CM đến thắng lợi hoàn toàn; nhiệm vụ trước mắt là phát huy thế chủ động, kiên quyết phản công và tiến công, kết hợp chặt chẽ đấu tranh QS, chính trị, ngoại giao, giữ gìn và phát triển lực lượng, đánh thắng địch từng bước. HNTƯXXI có ý nghĩa quan trọng, kịp thời định hướng và chỉ đạo CM miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc KCCM.

        HỘI NGHỊ TUÂN NGHĨA (15-17.1.1935), hội nghị BCT ĐCS TQ mở rộng họp tại Tuân Nghĩa (t. Quý Châu) trong cuộc Vạn lí trường chinh (1934-36). Hội nghị phê phán sai lầm về lãnh đạo chính trị và QS của Bác cổ (tổng bí thư ĐCS TQ) và Vương Minh, lập ban lãnh đạo đảng và bộ chỉ huy mới của Hồng quân công nông Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu.

        HỘI NGHỊ VẠN PHÚC (18-19.12.1946), hội nghị Thường vụ trung ương (mở rộng) ĐCS Đông Dương họp tại làng Vạn Phúc (tx Hà Đông) do chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập vào thời điểm quan hệ Việt - Pháp căng thẳng sau sự kiện Lạng Sơn (20.11.1946), sự kiện Hải Phòng (20.11.1946) và hàng loạt hành động gây hấn của quân Pháp ở Hà Nội (đặc biệt nghiêm trọng là vụ tàn sát ở phố Hàng Bún - Yên Ninh 17.12). Hội nghị nhận định: Pháp quyết tâm mở rộng chiến tranh xâm lược. VN đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, khả năng hòa hoãn không còn; quyết định phát động cuộc KCCP trên quy mô cả nước, khẳng định kháng chiến phải lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi; thông qua đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì do Trường Chinh trình bày, báo cáo kế hoạch QS của Võ Nguyên Giáp và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của chủ tịch Hồ Chí Minh. HNVP thể hiện quyết tâm kháng chiến để bảo vệ nền độc lập của nhân dân VN.

        HỘI NGHỊ YANTA nh HỘI NGHỊ CRUM (4-11.2.1945)

        HỘI QUỐC LIÊN (A. The League of Nations, vt: LN), tổ chức quốc tế tiền thân của Liên hợp quốc. Thành lập sau CTTG-I theo quyết nghị của hội nghị hòa bình Part (1919- 20) nhằm “phát triển hợp tác quốc tế, bảo đảm hòa bình và an ninh của các dân tộc”. Trụ sở tại Giơnevơ (Thụy Sĩ). Có 43 nước tham gia, gồm hầu hết các cường quốc ĐQCN (không có Mĩ). Cơ cấu tổ chức: Đại hội đồng (cơ quan lãnh đạo cao nhất); Hội đồng thường trực; Ban thư kí (đứng đầu là tổng thư kí) và một số cơ quan chuyên môn. Trên thực tế, HQL trở thành công cụ chính trị của các nước ĐQCN chủ yếu là Anh và Pháp để chống phá LX. 1933 Nhật, Đức rút khỏi HQL để chuẩn bị tiến hành chiến tranh xâm lược. Trước tình hình đó, 1934 LX được mời tham gia và trở thành hội viên thường trực; LX đã tích cực đấu tranh gìn giữ hòa bình, ngăn chặn chiến tranh và nguy cơ của chủ nghĩa phát xít. Khi CTTG-II nổ ra, trước thái độ thoả hiệp của một số nước thành viên, 12.1939 LX tuyên bố rút khỏi HQL, đánh dấu sự kết thúc trên thực tế hoạt động của tổ chức này. Sau CTTG-II, LHQ ra đời, HQL chính thức tuyên bố giải tán 4.1946.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:20:59 PM

        HỘI TỂ, bộ máy chính quyền cấp làng do thực dân Pháp lập ra ở Nam Bộ trước CM tháng Tám 1945 và cấp làng, xã tại các vùng địch tạm chiếm trong chiến tranh xâm lược của Pháp ở VN (1945-54) nhằm cai trị, khống chế, kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở kháng chiến. Do tinh thần đấu tranh của nhân dân và sức ép vận động của cơ sở CM nhiều HT tỏ thái độ lừng chừng, vừa sợ địch vừa sợ CM, có HT do CM đưa người vào hoạt động bí mật (tề hai mặt, “xanh vỏ đỏ lòng”).

        HỘI THẨM QUÂN NHÂN, quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được cử để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự. HTQN Tòa án QS trung ương do ủy ban thường vụ quốc hội cử theo sự giới thiệu của TCCT. HTQN tòa án QS quân khu và tương đương do chủ nhiệm TCCT cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu hoặc cấp tương đương. HTQN tòa án QS khu vực do chủ nhiệm chính trị quân khu hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương dương. HTQN tham gia xét xử các vụ án theo sự phân công của chánh án. Khi xét xử, HTQN ngang quyền với thẩm phán và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

        HỘI THỂ ĐÔNG QUAN (16.12.1427), hội thể do bộ chỉ huy  nghĩa quân Lam Sơn tổ chức tại nam thành Đông Quan (Hà Nội), buộc quân Minh (TQ) phải tuyên thệ rút quân về nước, diễn ra sau khi mọi cố gắng kháng cự của quân Minh đều bị thất bại. Tại buổi lễ, trước đoàn đại diện nghĩa quần do Lê Lợi dẫn đầu, Vương Thông thay mặt quân, tướng nhà Minh đọc “Bài văn hội thề” có giá trị như bản hiệp định rút quân, trong đó cam kết đình chiến, rút hết quân về nước, không cướp bóc, sách nhiễu nhân dân trên đường rút quân... Thực hiện cam kết, từ 29.12.1427, quân Minh bắt đầu rút lui. được bộ chỉ huy nghĩa quân cấp lương thực, ngựa, thuyền và mở đường cho về nước an toàn. HTĐQ là cách kết thúc chiến tranh sáng tạo, thể hiện ý chí, sức mạnh và truyền thống nhân đạo của dân tộc VN trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27).

        HỘI THỂ LŨNG NHAI (1416), hội thề chuẩn bị phát động khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Minh (TQ) do Lê Lợi và 18 người cùng chí hướng tổ chức tại Lũng Nhai, thuộc Lam Sơn (Thanh Hóa). Diễn ra khoảng 3.1416, Lê Lợi cùng những người trong hội thề làm lễ tế cáo trời đất rồi kết nghĩa anh em, nguyện hợp sức đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. HTLN đặt cơ sở đầu tiên cho việc tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27), nhanh chóng thu hút nhiều anh hùng hào kiệt và những người yêu nước từ khắp nơi về tụ nghĩa, bất chấp gian lao vất và và sự kiểm soát của kẻ thù.

        HÔNĐURAT (Cộng hòa Hônđurat; República de Honduras. A. Republic of Honduras), quốc gia ở Trung Mĩ. Dt 112.492km2; ds 6,67 triệu người (2002); 90% người lai, 10% người Anh Điêng. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha. Thủ đô: Teguxiganpa. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội (một viện). Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên, độ cao 800-1.500m. Bờ biển thấp, chia cắt mạnh. Khí hậu nhiệt đới; lượng mưa 500mm/năm. Mạng sông ngòi dày đặc. Rừng nhiệt đới chiếm 45% lãnh thổ. Kinh tế kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào tư bản Mĩ. GDP 6,386 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 970 USD. Thành viên LHQ (27.12.1945), Tổ chức các nước châu Mĩ. LLVT: lực lượng thường trực 8.300 người (lục quân 5.500, không quân 1.800, hải quân 1.000), lực lượng dự bị 60.000,   lực lượng bán vũ trang 6.000. Tuyển quân theo chế độ động viên, thời gian phục vụ 2 năm. Trang bị: 12 xe tăng. 67 xe thiết giáp trinh sát, 28 pháo mặt đất, 90 súng cối, 49 máy bay chiến đấu, 10 tàu tuần tiễu, 1 tàu đổ bộ... Ngân sách quốc phòng 115 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66680053_452063202190232_339500118023602176_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQm0oVBl_0aK93fWvJ-3RUUg7Rw8f-hAUdjLXYf4Ez8fhV9AzVg_rBQezwGRQgetvMw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=331e6c62e896637a60d38941978c99fa&oe=5DB8992C)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:22:51 PM

        HỒNG CÔNG (Hương Cảng; H. Xianggang, A. Hong Kong), khu hành chính đặc biệt của TQ. Nằm trên cửa sông Châu Giang, gồm đảo Hồng Công, tp Cửu Long, vùng Đất Mới và một số đảo nhỏ. Tổng dt 1,076km2, trong đó đảo Hồng Công và Cửu Long chỉ chiếm 8%; ds 7,4 triệu người (2003); 98% là người TQ, khoảng 20.000 người Anh. Ngôn ngữ chính thức: tiếng TQ, Anh. Tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa. HC là trung tâm công nghiệp, thương mại và tài chính lớn, hơn 50.000 xí nghiệp, nhà máy, 250 ngân hàng. Công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu, chế tạo máy, dệt, điện tử, diện kĩ thuật, hóa chất, công nghiệp nhẹ, dịch vụ... 90% sản phẩm công nghiệp được xuất khẩu. HC còn là trung tâm giao dịch thương mại, du lịch (2 triệu khách du lịch năm). Cảng biển lớn, lượng vận chuyển hàng hóa 33 triệu tấn/năm, hàng ngày có 280 tàu cập bến. Sân bay quốc tế (3,5 triệu khách/năm). Có đường sắt, đường hầm nối HC với lục địa TQ. Trong chiến tranh nha phiến, Anh chiếm đảo HC, một phần bán đảo Cửu Long, buộc TQ phải nhượng cho Anh theo hiệp ước Nam Kinh 1842. Năm 1898 Anh thuê thêm vùng Đất Mới (phần còn lại của bán đảo Cửu Long) và các đảo phụ cận trong thời hạn 99 năm. 1941 Nhật chiếm HC. 1945 Anh giành lại được. Từ 1.7.1997 TQ khôi phục chủ quyền đối với HC, thành lập khu hành chính đặc biệt, duy trì chế độ tự trị về chính trị, kinh tế, xã hội (trừ lĩnh vực ngoại giao và quốc phòng do chính phủ trung ương thống nhất quản lí) trong thời hạn 50 năm.

        HỒNG CÚM, bản thuộc tp Điện Biên Phủ, t. Điện Biên. Địa hình bằng phẳng. Tại đây, Pháp xây dựng cụm cứ điểm thuộc phân khu Nam Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nằm ở hai bén sông Nậm Rốm, án ngữ QL 12, gồm 5 cứ điểm và 1 sân bay, liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông hào và chiến hào, do 2.000 lính Ầu - Phi chốt giữ. Chiều 7.5.1954 cùng với việc tiêu diệt SCH tập đoàn cứ điểm ở trung tâm Mường Thanh, các đơn vị QĐND VN truy kích bắt toàn bộ quân Pháp ở HC định rút chạy, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3 7.5.1954).

        HỒNG HẢI nh BIỂN ĐỎ

        HỒNG LĨNH, dãy núi đất nằm giữa hai huyện Can Lộc và Nghi Xuân (t. Hà Tĩnh), nam tp Vinh 16km; dài 20km. rộng 15km, có gần 100 ngọn núi, cao nhất 678m (ngọn Núi Ông). Án ngữ vùng đồng bằng ven biển nam Sông Lam, ngã ba QL 1, QL 8.

        HỒNG QUANG, đơn vị hành chính cũ (cấp khu trực thuộc trung ương) ở đông bắc Bắc Bộ. Thành lập 2.1955, gồm Đặc khu Hòn Gai và t. Quảng Yên (trừ các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh cắt về t. Hải Dương và h. Sơn Động cắt về t. Bắc Giang). 10.1963 hợp nhất với t. Hải Ninh thành t. Quảng Ninh.

        HỒNG QUÂN nh HỒNG QUÂN CÔNG NÔNG

        HỒNG QUÂN CÔNG NÔNG, tên gọi QĐ LX từ 1918 đến 2.1946, sau đó đổi tên là QĐ Xô viết.

        HỒNG QUÂN CÔNG NÔNG TRUNG QUỐC, LLVT tiền thân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Ra đời trong tiến trình các cuộc khởi nghĩa do ĐCS TQ lãnh đạo, tiêu biểu là: khởi nghĩa Nam Xương (1.8.1927-4.1928), khởi nghĩa Vụ gặt mùa thu (9.1927), khởi nghĩa Quảng Châu (12.1927). Lực lượng HQCNTQ ban đầu có Quân đoàn 4 (Hồng tứ quân), thành lập 4.1928 trên cơ sở hợp nhất quân khởi nghĩa Nam Xương với quân khởi nghĩa Vụ gặt mùa thu; tổ chức lại thành Tập đoàn quân 1 và sáp nhập cùng Tập đoàn quân 3 (8.1930), Tập đoàn quân 5 thành Phương diện quân 1, do Chu Đức (tổng chỉ huy HQCNTQ) làm tư lệnh. Thành lập thêm: Phương diện quân 4 (11.1931; tư lệnh: Từ Hướng Tiên) trên cơ sở LLVT ở Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy: Phương diện quân 2 (10.1934; tư lệnh: Từ Hướng Tiền), gồm Quân đoàn 3 và Quân đoàn 6, hoạt động ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây. Tới 10.1934 HQCNTQ có khoảng 300.000 người, lập nhiều căn cứ (gọi là khu xô viết, lớn nhất là Khu xô viết trung ương, có 10.000.000 dân). Bị QĐ của Tưởng Giới Thạch vây quét 5 lần (1930-34), trong lần vây quét thứ 5 huy động tới 1.000.000 quân (riêng ở Khu xô viết trung ương tới 500.000 quân), HQCNTQ buộc phải tiến hành cuộc Vạn lí trường chinh (1934-36) về căn cứ mới ở Thiểm Tây - Cam Túc -  Ninh Hạ, khi tới đích chỉ còn không đến 30.000 người. Đầu cuộc kháng chiến chống Nhật (1937-45), ĐCS TQ và Quốc dân đảng hợp tác với nhau, thành lập Mặt trận thống nhất chống Nhật (6.1937), HQCNTQ gồm Bát lộ quân (8.1937; tư lệnh: Chu Đức, phó tư lệnh: Bành Đức Hoài) và Tân tứ quân (10.1937; tư lệnh: Diệp Đĩnh, phó tư lệnh: Hạng Anh). Đóng vai trò quan trọng trong kháng chiến chống Nhật (1937-45). Trong nội chiến CM lần thứ 3 (1946-49) đổi thành: QGP nhân dân TQ.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:24:25 PM

        HỒNG TÚ TOÀN (Hong Xiuquan; 1814-64), lãnh tụ khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1851-64). Người h. Hoa, t. Quảng Đỏng (TQ). Xuất thân từ nông dân có tri thức. 6.1843 lập “Hội thờ thượng đế" trên cơ sở giáo lí của đạo Cơ Đốc, chủ trương mọi người trong xã hội đều là anh em, thực hiện lí tưởng “thiên hạ một nhà, cùng hưởng thái bình”. 1.11.1851 lãnh đạo quần chúng ở Kim Điền, Quế Bình (t. Quảng Tây) khởi nghĩa thắng lợi. 3.1853 sau khi đánh chiếm Nam Kinh, lập ra chính quyền Thái Bình Thiên Quốc, được tôn làm Thiên Vương, đặt đô tại Nam Kinh và đổi tên là Thiên Kinh. Tiếp tục tiến hành Bắc Phạt và Tây Chinh nhằm lật đổ triều Thanh, HTT còn ban bố chế độ ruộng đất thiên triều và nhiều chính sách cải cách chính trị, xã hội tiến bộ khác. Nhưng Thái Bình Thiên Quốc đã không củng cố vững chắc những vùng chiếm được và nội bộ chính quyền bị chia rẽ, HTT đã giết nhiều tướng lĩnh bất đồng chính kiến, lực lượng ngày càng giảm sút. Các nước tư bản phương Tây (Anh, Pháp) lợi dung tình hình rối ren của TQ, dùng vũ lực buộc triều Thanh quy phục, tích cực giúp triều Thanh chống lại Thái Bình Thiên Quốc. 1864 Thiên Kinh bị vây hãm. 1.6.1864 HTT ốm chết (có thuyết cho là tự sát). Thái Bình Thiên Quốc thất bại. Tác phẩm chính: “Nguyên đạo cửu thế lục” và “Nguyên đạo tĩnh thế huấn”.

        HONSU, đảo lớn nhất của quần đảo Nhật Bản. Dt khoảng 227.000km2 (tính cả các đảo phụ cận trên 230.000km2); ds gần 100 triệu người (2000), chiếm khoảng 62% diện tích và 80% dân số toàn quốc. Địa hình phần lớn là núi (cao 1.500- 2.000m), nhiều núi lửa. ngọn cao nhất Phú Sĩ (Phugiyama) 3.776m; thường có động đất mạnh. Phía bắc là các khu rừng taiga, phía nam rừng cây lá rộng, rừng cận nhiệt đới, quanh năm xanh tốt. Đồng bằng dân cư đông đúc. Công nghiệp và giao thông phát triển. Các thành phố chính: Tôkiô, Ôxaca, Nagôia, Kiôtô, Yôcôhama, Côbê.

        HÔP LỌC ĐỘC, bộ phận thiết bị dùng để lọc không khí bị nhiễm chất độc hóa học, bụi phóng xạ và tác nhân sinh học gây bệnh thành không khí sạch. Thường có dạng hộp kim loại hình trụ, thân hộp có các đường gân nổi để giảm hiệu ứng thành hộp và tăng cứng; trong hộp có các phin lọc khói độc, bụi phóng xạ, tác nhân sinh học và tầng hấp phụ hơi khí độc. Có các cỡ: nhỏ (lắp trong mặt nạ phòng độc), vừa (lắp trên xe tăng  thiết giáp, xe chỉ huy...) và lớn (lắp tại SCH, các công trình phòng chống vũ khí hủy diệt lớn). Chất lượng HLĐ được đánh giá qua các chỉ số: hệ số lọc, thời gian kháng độc và trở lực. Thời gian sử dụng HLĐ phụ thuộc vào: loại chất độc, độ bay hơi, nồng độ chất độc trong không khí và lưu lượng không khí đi qua hộp lọc.

        HỘP PHÁT KHÓI, khí tài tạo khói có dạng hộp kim loại hình trụ, chứa hỗn hợp tạo khói dùng trong QS (ngụy trang, phát tín hiệu, diệt trùng...), trị an (hơi cay...) hoặc các mục đích khác; cũng có thể được sử dụng làm vũ khí hóa học. Theo kích thước, có: HPK loại nhỏ khối lượng khoảng 2,5kg, xả khói khoảng 5-7ph, chiều dài màn khói 50-70m ở điều kiện tốc độ gió trung bình; loại vừa khối lượng khoảng 7,5kg, thời gian xả khói khoảng 15ph, chiều dài màn khói 70-100m ở tốc độ gió 3-5m/s; loại lớn (cg thùng thả khói) thể tích 25- 40dm2, thời gian phát khói 30-45ph, tạo màn khói dài 300- 400m ở điều kiện tốc độ gió trung bình.

        HỘP TIÊU ĐỘC CÁ NHÂN X. BAO (HỘP) TIÊU ĐỘC CẤ NHÂN

        HỘP TIÊU ĐỘC TRANG BỊ, khí tài dùng để tiêu độc, khử trùng khi chất độc quân sự độc tính cao dạng giọt lỏng hoặc các tác nhân sinh học bám dính trên bề mặt vũ khí, khí tài... Có trong trang bị của QĐ các nước khối NATO, Nga và nhiều nước khác. Mỗi loại HTĐTB có thể sử dụng các chất tiêu độc với thành phần hóa học khác nhau, nhưng đều dựa trên nguyên lí phản ứng ôxi hóa để tiêu độc ypêrit và chất độc loại V, phản ứng thủy phân để tiêu độc chất độc toại G. Trong QĐND VN có trang bị các HTĐTB loại nhỏ IĐP (dùng cho vũ khí, trang bị cá nhân) và loại vừa AĐK (dùng cho vũ khí, trang bị tập thể).

        HỘP TIÊU ĐỘC VŨ KHÍ, khí tài dùng để tiêu độc (chủ yếu là chất độc thần kinh và chất độc hại da) cho vũ khí và một số trang bị QS khác. Thường dùng các loại: HTĐVK cá nhân có dung dịch tiêu độc số 1 (dung dịch rượu hexa clome- lamin 10%) và chất ổn định dùng tiêu độc khi nhiễm chất độc hại da, dung dịch tiêu độc số 2 (dung dịch rượu natri crezolat 15%) tiêu độc khi nhiễm chất độc thần kinh, giấy thấm chấtđộc và thấm dung dịch tiêu độc: HTĐVK và đồ dùng cá nhân (có HTĐVK cá nhân, gói bột tiêu độc hỗn hợp 15% natri phe- nolat, 80% silicagen); hộp tiêu độc cho súng máy, cối (có cả dung dịch tiêu độc số 1 và sô 2, trang bị cho khẩu đội); hộp tiêu độc cho pháo và trang bị kĩ thuật lớn (có thành phần như các hộp tiêu độc trên nhưng khối lượng lớn hơn. trang bị cho các phân đội pháo binh, pháo cao xạ). Khi sử dụng HTĐVK phải tuân thủ hướng dẫn.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:26:31 PM

        HỘP TRINH ĐỘC, khí tài trinh sát hóa học dùng để phát hiện và xác định một số loại chất độc QS nhiễm trong không khí, bám dính trên địa hình và bề mặt vật thể. Các bộ phận chính: hộp đựng; bơm tay, ống trinh độc và bao ống; ống che. chụp che, mảnh lọc khói; bộ sấy nóng và các bộ phận khác (đèn pin, xẻng con, phiếu báo cáo...). Tính năng chủ yếu: bơm tay với tốc độ 50-60 lần/ph thì được lượng không khí qua Ống trinh độc 1,8-21; khối lượng: 2,3kg; một người sử dụng, thời gian chuẩn bị không quá 20ph. HTĐ có thể phát hiện được các chất độc (thần kinh, loét da, kích thích, toàn thân và ngạt thở) dựa trên cơ sở thay đổi màu chất chi thị khi bơm hút không khí nhiễm độc qua ống trinh độc tương ứng. Trong QĐND VN hiện thường dùng HTĐ: VPKhR (BIIXP) của LX và M93 (VN).

        HÔPLIT (cổ), lính bộ binh nặng tinh nhuệ của QĐ Hi Lạp cổ đại (tk 5-4tcn). Trang bị: giáo dài 2- 3m, kiếm ngắn, khiên tròn, giáp che thân và chân. Trong chiến đấu, các H của 2-3 hàng đầu chĩa giáo về phía đối phương, người hàng sau đặt giáo lên vai người hàng trước tạo thành hàng rào gạt tên đối phương bắn đến. Khi tác chiến, các H lập thành đội hình phalăng.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66794776_452063228856896_4293228122007928832_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQkfMbfN2jMdQkt3Cm21zpuPaimPMpY9KsfGJOecb82xsEEya65AUTUc5cI-PsGaGdU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8e5c4aed6b3f5acc847aab64e975990c&oe=5DA8536C)


        HỐT TẤT LIỆT (H. Hubilie, Kublai Khan; 1215-94), danh tướng, đại hãn thứ năm đế quốc Mông cổ (1260-94), người sáng lập triều Nguyên ở TQ. Cháu nội Thành Cát Tư Hãn, em trai Mông Kha. 1251 -59 tổng chỉ huy QĐ Mông cổ đi chinh phục TQ. 1259 Mông Kha chết. 1260 HTL lên làm đại hãn. 1264 dời đô đến Trung Đô (Bắc Kinh ngày nay). 1271 lập ra triều Đại Nguyên và làm đại hãn. 1279 đánh xong Nam Tống, kết thúc cuộc chinh phục toàn TQ, thống trị cả một vùng rộng lớn từ TQ, Triều Tiên đến Hunggari. 1285 và 1287 HTL sai con trai là Thoát Hoan đem quân xâm lược Đại Việt nhưng đều thát bại (xt kháng chiến chống Nguyên - Mông lần II (1285) và kháng chiến chống Nguyên - Mông làn III (1287-88).

        HÔXÊ MACTI (TBN. José Marti; 1853-95), Ah dân tộc Cuba, nhà lí luận và tổ chức CM, người sáng lập Đảng CM Cuba (1892). Sinh tại La Habana (Cuba). Hoạt động CM 1868. Năm 1869 bị bắt và trục xuất sang Tây Ban Nha. 1878 về nước tham gia “cuộc chiến tranh nhỏ" do Antôniô Maxêo lãnh đạo. 1879 lại bị bắt và trục xuất sang Tây Ban Nha. 1880 trốn sang Mĩ hoạt động CM 15 năm. 3.1895 cùng với tướng Macxi Gômet kí tuyên ngôn Môntêcrixi kêu gọi nhân dân Cuba cầm vũ khí đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. 4.1895 cùng Macxi Gômet bí mật trở về Cuba, tham gia lãnh đạo CM cùng với Antôniô. 19.5.1895 hi sinh trong chiến đấu tại Ôrientê. Nhân dân Cuba gọi HM là “Thánh tông đồ” của nền độc lập. HM có nhiều bài viết (HM tuyển tập), nhiều bài kêu gọi và hướng dẫn nhân dân Cuba đấu tranh chống thực dân Tây Ban Nha, chi rõ đế quốc Mĩ sẽ là nguy cơ đe dọa nền độc lập của Cuba và các nước Mĩ Latinh.

        HỢP LUYỆN CHIẾN ĐẤU, hình thức huấn luyện tại các đơn vị chiến đấu nhằm phối hợp hành động nhịp nhàng, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến trên cơ sở đã tập tổng hợp. Trong quá trình HLCĐ, người học được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phẩm chất chiến đấu và tâm lí hành động chính xác khi sử dụng vũ khí tập thể. Nội dung chủ yếu: hiệp đồng động tác thao tác kĩ thuật, chiến thuật, chiến dịch.

        HỢP VÂY, thủ đoạn tác chiến tiến công từ hai hay nhiều phía hình thành thế bao vây quân địch, như: tiến công chính diện kết hợp với vu hồi vào cạnh sườn, sau lưng địch, hoặc tiến công theo kiểu gọng kìm và hợp điểm ở sau lưng địch, hoặc tiến công trên nhiều hướng vào một mục tiêu tạo nên vòng vây khép kín bốn mặt. Để nhanh chóng HV, thường sử dụng các đơn vị luồn sâu, thọc sâu, các lực lượng tại chỗ trong chiều sâu phòng ngự của đối phương, đánh chiếm các mục tiêu, khu vực địa hình có lợi, phối hợp với các lực lượng tiến công từ chính diện và bên sườn. Có HV chiến thuật, HV chiến dịch và HV chiến lược.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:30:31 PM
   
        HŨ GẠO KHÁNG CHIẾN, phong trào nhân dân tiết kiệm gạo ủng hộ kháng chiến bằng cách mỗi gia đình mỗi bữa ăn bớt một nấm gạo bỏ vào hũ để góp phần nuôi quân, đánh giặc trong KCCP; do Hội phụ nữ cứu quốc VN vận động cuối 1946 đầu 1947. Trong KCCM, truyền thống này được tiếp tục phát huy ở các vùng giải phóng miền Nam VN. Cg hũ gạo nuôi quân.

        HŨ GẠO NUÔI QUÂN nh HŨ GẠO KHÁNG CHIÊN

        HUÂN CHƯƠNG BẢO VỆ TỔ QUỐC, huân chương của nhà nước CHXHCN VN tặng, hoặc truy tặng cho cá nhân, tặng cho tập thể có thành tích: trong huấn luyện, xây dựng lực lượng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; trong sụ nghiệp bảo vệ tổ quốc VN XHCN. Đặt ra theo điều 45 Luật thi đua, khen thưởng do Quốc hội nước CHXHCN VN khóa XI, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26.11.2003. HCB- VTQ có ba hạng: nhất, nhì, ba.

        HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG, huân chương của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng cho những đơn vị và cá nhân trong các LLVTND VN lập được chiến công. Đặt ra lần đầu theo sắc lệnh 50-SL ngày 15.5.1947 của chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định tặng do chủ tịch nước kí. HCCC có ba hạng: nhất, nhì, ba. Vào những dịp tổng kết, nhà nước còn tặng HCCC cho những đơn vị và cá nhân có nhiều công lao trong sự nghiệp xây dựng QĐ, củng cố quốc phòng. Trong thang bậc khen thưởng, HCCC ở dưới huân chương Quân công. Cg huân chương Chiến sĩ (trong KCCP) (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67192008_452063255523560_3879303642448134144_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQm8rlh9C0gP1OTjrEWPgGco_wu-IMOVvWOzQSzjLPlrGIeq5yKpcJkCbq9vExC-0LU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8399ab87022742fc2f1754309cf5e525&oe=5DBECA02)


        HUÂN CHƯƠNG CHIẾN SĨ X. HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG

        HUÂN CHƯƠNG CHIẾN SĨ VẺ VANG, huân chương của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng thưởng những cán bộ, chiến sĩ có công trong xây dựng QĐND VN từ sau KCCP (20.7.1954). Đặt ra theo pháp lệnh 12.9.1961 của ủy ban thường vụ quốc hội, chủ tịch Hồ Chí Minh kí lệnh công bố 16.9.1961. HCCSVV có ba hạng, tặng cho những cán bộ chiến sĩ đủ tiêu chuẩn quy định và có thời gian phục vụ tại ngũ: hạng nhất 15 năm. hạng nhì 10 năm, hạng ba 5 năm; quyết định tặng do chủ tịch nước kí. Những người có thời gian phục vụ trong QĐ từ 3 năm đến dưới 5 năm được tặng huy chương Chiến sĩ vẻ vang; quyết định khen thưởng do thủ tướng chính phú kí. Luật thi đua, khen thướng của nhà nước CHXHCN VN ban hành 26.11.2003 không còn HCCSVV (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67093726_452063245523561_3692564546091745280_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnU3uaIKnU5uhv7fc-e7JGqssc1-2nZCnfAjgPcBfrFrSl-REdZY8Xq70yXD4W23qE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=be602e52eecef8602255d548d5a7a591&oe=5DAC3F83)


        HUÂN CHƯƠNG CHIẾN THẮNG, huân chương của nhà nước VN DCCH tặng thưởng những cán bộ, chiến sĩ QĐND VN có công xây dựng QĐ và chiến đấu trong thời kì KCCP. Đặt ra theo sắc lệnh 54-SL ngày 2.2.1958 của chủ tịch Hồ Chí Minh; có ba hạng: nhất, nhì, ba; quyết định thưởng do chủ tịch nước kí. Những người có thành tích dưới mức tiêu chuẩn thưởng HCCT hạng ba thì được thưởng huy chương Chiến thắng với hai hạng; nhất, nhì; quyết định tặng do thủ tướng chính phủ kí (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67306993_452063292190223_7490056577743847424_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQkxeRmsul6yvCIqBA38pM1eafD0KkXKZAapixeRiUXNDgyhonBQy2t07TGpXNZWRsM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=6583d0d0abd4584d99090cbe83712c1a&oe=5DB021B6)


        HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP. huân chương của nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng tập thể và cá nhân có công đặc biệt trong cứu quốc hoặc kiến quốc. Đặt ra lần đầu theo sắc lệnh số 58-SL ngày 6.6.1947 của chủ tịch nước VN DCCH; có ba hạng; nhất, nhì, ba (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67376047_452063305523555_1551460131412115456_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlN88or511J11pLgCAVf06EN0uXOg9DHLdETdev9nxKqcZd6ixeevBKFGzMoWh2dzE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=9e1c287e4703f77d212e640ca7c6e7b3&oe=5DAA79F3)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:34:51 PM

        HUÂN CHƯƠNG HỔ CHÍ MINH, huân chương của nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng tập thể và cá nhân có nhiều cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp CM của dân tộc. Đặt ra lần đầu theo sắc lệnh số 58-SL ngày 6.6.1947 của chủ tịch nước VN DCCH. Theo pháp lệnh số 10-HĐNN ngày 28.3.1981, HCHCM không chia hạng (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66636548_452063322190220_8712117121556938752_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQk2oLvgQcm2wROAN6vrBdTqkysD_ZCo7WOP3SpqL51uMRQUaaTRJAqs7qZB2yaShYg&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=aea7644022e0bdfe2a0774ab8e30285a&oe=5DAD54EC)


        HUÂN CHƯƠNG QUÂN CÔNG, huân chương của nhà nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng cho những đơn vị và cá nhân trong các LLVTND VN lập được chiến công lớn. Đặt ra theo sắc lệnh 50-SL ngày 15.5.1947 của chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định tặng do chủ tịch nước kí. HCQC có ba hạng: nhất, nhì, ba. Vào những dịp tổng kết nhà nước còn tặng HCQC cho những đơn vị và cá nhân có công lao lớn trong sự nghiệp xây dựng ỌĐ, củng cố quốc phòng. Trong thang bậc khen thưởng, HCQC ở trên huân chương Chiến công (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66651236_452063332190219_2657488126519279616_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmjOc5c9bk38_YyB82xIAZLdjMNctYBCpFekuDgohmJclvOLHp9ojgAOHEkEQEsQxM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=8280831d374a667ec8a581562bec27cf&oe=5DA0DF5B)


        HUÂN CHƯƠNG QUÂN GIẢI PHÓNG VIỆT NAM, huân chương của nhà nước VN DCCH tặng thưởng những cán bộ, chiến sĩ QĐND VN có công xây dựng QĐ và chiến đấu trong thời kì trước CM tháng Tám 1945. Đặt ra theo sắc lệnh 54-SL ngày 2.2.1958 của chủ tịch Hồ Chí Minh; có ba hạng: nhất, nhì, ba; quyết định tặng do chủ tịch nước kí. Những người có thành tích dưới mức tiêu chuẩn thưởng HCQGPVN hạng ba thì được thưởng huy chương QGP VN; quyết định thưởng do thủ tướng chính phủ kí (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67384592_452063355523550_1804984934134185984_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQm13tgXX5ttRTHcN6fvY3JJotejAOlyyUv3HXN7GfNORG_UlLyy1Es0JCCALmO67WQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=165701806779cee7f47f782533671e17&oe=5DA15AE1)


        HUÂN CHƯƠNG SAO VÀNG, huân chương cao nhất của nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng tập thể và cá nhân có công lao to lớn với dân tộc. Đặt ra lần đầu theo sắc lệnh số 58-SL ngày 6.6.1947 của chủ tịch nước VN DCCH; có một hạng (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67083623_452063378856881_20055860889780224_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQkN41QvieZrv9diOXAtT2-DACMfWLG-m1LyVagx_MNhO48NafDzp2ZZlG8b4EFCC_M&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=589d73371297a661b31be0729a31a7e2&oe=5DAFD00F)


        HUẤN LUYỆN BAN ĐÊM, huấn luyện bộ đội nhằm nâng cao năng lực tác chiến và hành quân trong điều kiện đêm tối. Đặc điểm ban đêm: tầm nhìn kém, có lợi cho tập kết và giấu quân, giữ được bí mật bất ngờ, nhưng gặp khó khăn trong chỉ huy , quan sát, bắn,... ảnh hưởng trạng thái tâm lí bộ đội. Nội dung gồm; huân luyện cơ sở, huấn luyện kĩ thuật và huấn luyện chiến thuật, lấy huấn luyện chiến thuật làm trọng điểm. Huấn luyện cơ sở có: hành quân đêm. quan sát, xác định phương vị, đo cự li, thông tin liên lạc, lợi dụng địa hình, ngụy trang. Huấn luyện kĩ thuật, có: bắn súng, pháo, tên lửa, lái tàu chiến, máy bay, ô tô, xe tăng,... thao tác sử dụng các thiết bị cơ giới, khí tài chiếu sáng, khí tài nhìn đêm. Huấn luyện chiến thuật, có: động tác chiến đấu, tổ chức chỉ huy hiệp đồng tác chiến. Phương pháp huấn luyện thường dựa trên cơ sở huấn luyện ban ngày. Do sự phát triển các phương tiện chiếu sáng, khí tài nhìn đêm, HLBĐ cũng thay đổi.

        HUẤN LUYỆN BAY, huấn luyện cho thành phần bay về kĩ thuật lái, dẫn đường, vận hành (sử dụng) các hệ thống, thiết bị trên máy bay theo thứ tự các bài bay và về chỉ huy bay. HLB gồm: huấn luyện trước khi bay (ở mặt đất) và HLB trên không (bằng các chuyến bay). Trong HLB có: huấn luyện kĩ thuật cơ bản và ứng dụng chiến đấu, huấn luyện chiến thuật và chỉ huy bay trong các điều kiện khí tượng đơn giản, phức tạp, ban ngày và ban đêm; trên vùng đồng bằng, rừng núi, trên biển; ở các độ cao từ cực thấp đến tầng bình lưu; bay chiếc lẻ và bay đội hình.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:36:07 PM

        HUẤN LUYỆN BẮN, huấn luyện sử dụng các loại súng, pháo, tên lửa để sát thương và tiêu diệt mục tiêu; một nội dung của huấn luyện kĩ thuật. HLB gồm: huấn luyện binh khí, lí thuyết bắn, quan sát phát hiện mục tiêu, đo cự li đến mục tiêu, tư thế, thao tác bắn, phương pháp tính toán phần tử bắn, chỉ huy bắn, hiệp đồng động tác bắn, phương pháp bắn, sửa bắn... trong mọi điều kiện khí hậu, thời tiết ngày, đêm.

        HUẤN LUYỆN BỘ ĐỘI, hệ thống các biện pháp dạy và rèn bộ đội nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức chỉ huy của cán bộ, kĩ năng chiến đấu của chiến sĩ, trình độ nghiệp vụ của nhân viên chuyên môn kĩ thuật, trình độ hiệp đồng chiến đấu. sát với yêu cầu thực tế chiến đấu. Nội dung chủ yếu: huấn luyện kĩ năng tác chiến và giáo dục lí luận QS, chính trị, khoa học kĩ thuật, văn hóa, thể lực cho bộ đội. Căn cứ vào đề cương, kế hoạch hoặc chỉ thị huấn luyện của cấp trên để tổ chức thực hiện.

        HUẤN LUYỆN CHỈ HUY, hệ thống các biện pháp giáo dục - huấn luyện cho cán bộ nhằm hoàn thiện tri thức, năng lực tổ chức chỉ huy chuẩn bị và thực hành tác chiến; bộ phận hợp thành của huấn luyện chiến đấu và huấn luyện chiến dịch. Có HLCH tại chức và HLCH ở nhà trường với các hình thức: tập huấn, làm mẫu, luyện tập chuyên môn, thào luận chuyên đề, tự học, diễn tập... HLCH thường bao gồm: giáo dục chính trị, huấn luyện chiến dịch, chiến thuật, chiến thuật chuyên ngành, KTQS, huấn luyện bắn, huấn luyện thể lực. huấn luyện đội ngũ và huấn luyện phương pháp. Nhiệm vụ và cách tổ chức HLCH được quy định trong mệnh lệnh huấn luyện của bộ trường BQP, chỉ lệnh của tổng tham mưu trường, chỉ thị của chủ nhiệm TCCT, chỉ thị của thủ trưởng các ngành, các quân chủng, binh chủng và các đơn vị.

        HUÂN LUYỆN CHIẾN DỊCH, hệ thống các biện pháp dạy và luyện về nghệ thuật chiến dịch nhằm nâng cao trình độ lí luận và năng lực tổ chức, thực hành chỉ huy bộ đội tác chiến cho tư lệnh và cơ quan cấp chiến dịch. Nội dung chủ yếu của HLCD là: nghiên cứu lí luận chiến lược và nghệ thuật chiến dịch: nghiên cứu đối tượng tác chiến (tính chất và đặc điểm hoạt động tác chiến trong chiến tranh); rèn luyện năng lực hạ quyết tâm; giao nhiệm vụ chiến đấu cho cấp dưới; tổ chức hiệp đồng và các mặt bảo đảm chiến dịch, phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa tư lệnh và cơ quan, giữa cơ quan cấp trên và cơ quan cấp dưới; nắm vững phương pháp huấn luyện, chuẩn bị và tiến hành diễn tập chiến dịch và các nội dung khác. HLCD thường kết hợp với nghiên cứu khoa học nhằm phát triển sáng tạo lí luận chiến lược, nghệ thuật chiến dịch, hoàn thiện phương pháp chuẩn bị và thực hành chiến dịch, cũng như sử dụng vũ khí và KTQS.

        HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU, hệ thống các biện pháp dạy và luyện cho chiến sĩ phân đội, binh đội, binh đoàn, người chỉ huy  và cơ quan có tri thức và kĩ năng, kĩ xảo để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và các nhiệm vụ khác. HLCĐ bao gồm huấn luyện chiến thuật, huấn luyện kĩ thuật, huấn luyện chỉ huy, huấn luyện đội ngũ, huấn luyện thể lực. HLCĐ được tiến hành cả thời bình và thời chiến. Nội dung và chất lượng HLCĐ có tác dụng rất quan trọng đối với sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. HLCĐ được tiến hành bằng các bài học, phổ biến kinh nghiệm, tập bài, luyện tập. bắn chiến đấu và diễn tập. Trong HLCĐ cán bộ và chiến sĩ được học tập (nghiên cứu) điều lệnh, điều lệ, vũ khí, KTQS. luyện tập các thủ đoạn và phương pháp hành động trong chiến đấu. HLCĐ gắn chặt với giáo dục chính trị. HLCĐ được tiến hành phù hợp với yêu cầu của điều lệnh, điều lệ, chỉ thị, hướng dẫn, mệnh lệnh của người chỉ huy. Một trong những nguyên tắc cơ bản của HLCĐ là phải sát với thực tế chiến đấu. Nội dung, hình thức, phương pháp HLCĐ được xác định trong kế hoạch và chương trình huấn luyện. Người chỉ huy các đơn vị (chủ nhiệm) phải trực tiếp soạn thảo chương trình, kế hoạch huấn luyện và trực tiếp huấn luyện cho cấp dưới theo phân cấp.

        HUẤN LUYỆN CHIẾN SĨ MỚI, huấn luyện một số tri thức và khả năng thực hành QS bước đầu đối với người mới nhập ngũ. Nội dung gồm: điều lệnh, kĩ thuật, chiến thuật, giáo dục về bản chất, truyền thống, tổ chức QĐ. Làm cơ sờ tiếp tục huấn luyện họ thành người giác ngộ chính trị, có tư tưởng  tốt, trung thành với sự nghiệp CM của Đảng; có thể lực tốt, kỉ luật nghiêm, có tác phong và lối sống của người quân nhân CM; thực hiện được động tác kĩ thuật, chiến thuật cơ bản, biết sử dụng, bảo quản vũ khí, trang bị được giao; hiểu biết về bản chất, truyền thống, tổ chức QĐ. Hình thức tổ chức HLCSM có thể huấn luyện tập trung tại các trung tâm HLCSM rồi phân bổ về các đơn vị, nhà trường hoặc phân bổ về huấn luyện ngay tại các đơn vị. Cg huấn luyện tân binh.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:37:21 PM

        HUẤN LUYỆN CHIẾN THUẬT, hệ thống các biện pháp dạy và luyện cho chiến sĩ, phân đội, binh đội, binh đoàn, người chỉ huy và cơ quan về chuẩn bị và thực hành trận chiến đấu; bộ phận quan trọng nhất của huấn luyện chiến đấu. HLCT có: HLCT tiến công, HLCT phòng ngự; có HLCT binh chủng hợp thành, chiến thuật của binh chủng, quân chủng và bộ đội chuyên môn (phục vụ). HLCT căn cứ vào: điều lệnh, điều lệ, mệnh lệnh và các chỉ lệnh huấn luyện; đối tượng tác chiến; biên chế trang bị vũ khí; nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội, đặc điểm khu vực địa hình tác chiến; kinh nghiệm thực tế chiến đấu. HLCT bao gồm: nghiên cứu lí luận trận chiến đấu; tổ chức biên chế và trang bị, khả năng chiến đấu, phương pháp và thủ đoạn chiến đấu của bộ đội ta và đối phương; hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo cho cán bộ chỉ huy và cơ quan về tổ chức chiến đấu và bảo đảm mọi mặt cho hoạt động tác chiến, về chỉ huy bộ đội, về huy động và hướng mọi nỗ lực của cán bộ chiến sĩ vào việc cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ; huấn luyện cho chiến sĩ biết sử dụng vũ khí, KTQS khi chiến đấu trong tình huống phức tạp, trên các loại địa hình, ngày và đêm; bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và tinh thần chiến đấu cao. Hình thức cơ bản của HLCT là huấn luyện đội ngũ chiến thuật. Khối lượng và nội dung HLCT được xác định trong chương trình huấn luyện chiến đấu.

        HUẤN LUYỆN CHIẾN THUẬT CHUYÊN NGÀNH, hệ thống các biện pháp dạy và luyện cho chiến sĩ, phản đội, binh đội, binh đoàn, người chỉ huy và cơ quan, bộ đội chuyên môn, hậu cần kĩ thuật về chuẩn bị và thực hành bảo đảm hoạt động tác chiến. HLCTCN bao gồm: nghiên cứu lí luận về chiến thuật binh chủng hợp thành và chiến thuật của bộ đội chuyên môn, hậu cần kĩ thuật; tổ chức và khả năng chiến đấu của bộ đội ta và đối phương; huấn luyện vũ khí, KTQS; hợp luyện hành động giữa các phân đội, binh đội, binh đoàn bộ đội chuyên môn, hậu cần kĩ thuật với nhau, với binh chủng hợp thành; hoàn thiện kĩ năng của người chỉ huy và cơ quan về tổ chức bảo đảm trong tác chiến.

        HUẤN LUYỆN CHIẾN THUẬT PHÂN ĐỘI BỘ BINH, huấn luyện chiến thuật cho tiểu đội, trung đội, đại đội và tiểu đoàn bộ binh nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành chiến đấu. Nội dung chủ yếu gồm: nguyên tắc chiến đấu, đội hình chiến đấu, phương pháp vận động, chuẩn bị và thực hành chiến đấu, nguyên tắc sử dụng hỏa lực, sử dụng binh khí tăng cường và các động tác hiệp đồng giữa các phân đội. Thông thường huấn luyện phân đoạn trước, tổng hợp sau; ban ngày trước, ban đêm sau; diễn tập chiến thuật trước, diễn tập chiến thuật thực binh có bắn chiến đấu sau.

        HUẤN LUYỆN CHUYÊN NGÀNH, huấn luyện về kĩ năng chuyên môn và nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ kĩ thuật chuyên ngành cho bộ đội chuyên môn và nhân viên chuyên môn. Nội dung gồm: lí luận chuyên ngành, quản lí chuyên ngành và kĩ thuật chuyên ngành. Phương thức tiến hành: huấn luyện tại trường, huấn luyện tại đơn vị.

        HUẤN LUYỆN CƠ BẢN, huấn luyện tri thức cơ bản về chuyên môn, kĩ thuật, chiến thuật, làm cơ sở để thực hiện huấn luyện tri thức QS cao hơn và huấn luyện ứng dụng. Nội dung chủ yếu gồm: huấn luyện khoa mục chung, HLCB về kĩ thuật và chiến thuật. Huấn luyện khoa mục chung là cơ sở để huấn luyện kĩ thuật, chiến thuật. HLCB về kĩ thuật: huấn luyện tri thức cơ bản về vũ khí trang bị và kĩ năng thao tác. HLCB về chiến thuật: huấn luyện đội hình chiến đấu và động tác chiến đấu cơ bản, các hình thức chiến thuật cơ bản. Huấn luyện từng người, từng khẩu pháo, từng chiếc xe, từng máy bay, từng tàu thuyền là cơ sở để huấn luyện phân đội (biên đội). Huấn luyện phân đội là cơ sở để huấn luyện binh đội, binh đoàn và hiệp đồng tác chiến quân binh chủng.

        HUẤN LUYỆN CƠ QUAN THAM MƯU, huấn luyện cho sĩ quan và nhân viên cơ quan tham mưu các cấp về chuẩn bị chỉ huy và bảo đảm tác chiến, bảo đảm cho người chỉ huy hạ quyết tâm chính xác, kịp thời và thực hiện quyết tâm tác chiến nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ và năng lực của cơ quan tham mưu. Nội dung thường gồm: nghiệp vụ tham mưu, công tác tham mưu tác chiến, lí luận QS và những tri thức chuyên môn các quân chủng, binh chủng, ngành. HLCQTM do người chỉ huy cơ quan tham mưu đảm nhiệm.

        HUẤN LUYỆN ĐỊA HÌNH, huấn luyện cho cán bộ và chiến sĩ hiểu biết về địa hình, phương pháp nghiên cứu và đánh giá địa hình, định hướng trên thực địa, sử dụng bản đồ địa hình và bản đồ chuyên dụng, sử dụng các số liệu trắc địa và tài liệu ảnh địa hình, các phương tiện dẫn đường; tiến hành đo đạc ngoài thực địa khi chuẩn bị và thực hành chiến đấu. Khối lượng và nội dung HLĐH cho từng đối tượng được xác định trong chương trình huấn luyện hàng năm.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:38:48 PM

        HUẤN LUYỆN ĐỘI NGŨ, bộ phận của huân luyện chiến đấu nhằm rèn luyện cho quân nhân nắm được động tác đội ngũ tay không và có súng, có tư thế tác phong quân nhân, có thói quen chấp hành khẩu lệnh nhanh chóng, chính xác; cũng như huấn luyện cho phân đội, binh đội phối hợp hành động trong đội hình. HLĐN được tổ chức và tiến hành theo quy định của điều lệnh đội ngũ. HLĐN gồm: tập đội ngũ (cá nhân, phân đội), hợp luyện đội ngũ phân đội, binh đội khi hành động trong đội hình, duyệt đội ngũ. Động tác đội ngũ tiếp tục được nâng cao trong huấn luyện chiến thuật và thể lực cũng như trong công tác hàng ngày.

        HUẤN LUYỆN ĐỘI NGŨ CHIẾN THUẬT, hình thức cơ bản của huấn luyện chiến thuật nhằm nâng cao trình độ tổ chức của cán bộ, luyện tập cho chiến sĩ, phân đội (đôi khi là binh đội) về động tác và phương pháp hành động trong chiến đấu. HLĐNCT phải căn cứ chỉ thị của cấp trên, kế hoạch huấn luyện của đơn vị. Phương pháp HLĐNCT là huấn luyện từ dễ đến khó, từ giản đơn đến phức tạp, tập luyện từng động tác (phân đoạn, bước), tập liên kết (tổng hợp) ở các địa hình khác nhau cả ban ngày và ban đêm, có hoặc không có khí tài; thường chia ra: học riêng (từng binh chủng), học chung (hợp luyện binh chủng hợp thành). Nội dung HLĐNCT: tập cho bộ đội biết triển khai đội hình, thực hành chiến đấu, hiệp đồng tác chiến trong tiến công và phòng ngự; vượt chướng ngại vật và các khu vực nhiễm; sử dụng phương tiện đổ bộ và vượt sông; thứ tự sắp xếp bộ đội lên xe, lên tàu (tàu hỏa, tàu thủy), lên máy bay... HLĐNCT do người chỉ huy đơn vị hoặc người chỉ huy trên một cấp đảm nhiệm.

        HUẤN LUYỆN ĐỘNG VIÊN, huấn luyện về công tác động viên cho người chỉ huy, cơ quan tham mưu các cấp, các cơ quan chuyên trách, các đơn vị động viên trong QĐ và cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Một nội dung huấn luyện tại chức hàng năm của sĩ quan và một nội dung đào tạo trong các học viện, nhà trường QĐ. Nội dung huấn luyện cơ bản: lí luận và thực hành các biện pháp chuẩn bị động viên trong thời chiến. Hình thức HLĐV chủ yếu: đào tạo, tập huấn, diễn tập.

        HUẤN LUYỆN HẬU CẦN, huấn luyện cho quân nhân, các đơn vị chuyên môn nghiệp vụ và cơ quan hậu cần các cấp kiến thức, năng lực quản lí, bảo đảm vật chất, sinh hoạt, quân y, vận tải... bộ phận của huấn luyện chiến đấu. HLHC gồm: lí thuyết và thực hành tại trường và tại đơn vị. Khối lượng, nội dung HLHC được xác định trong chương trình huấn luyện hàng năm.

        HUẤN LUYỆN KHOA MỤC CHUNG, huấn luyện kĩ năng và tri thức QS chung cho mọi quân nhân làm cơ sở cho huấn luyện chiến thuật, kĩ thuật chiến đấu và nghiệp vụ chuyên môn. Nhằm nâng cao ý thức chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, kỉ luật QĐ, tác phong quân nhân trong công tác và chiến đấu; nắm dược những tri thức QS thông thường, tính năng một số vũ khí trang bị, tăng cường thể lực, nâng cao ý chí chiến đấu... Nội dung gồm: điều lệnh, điều lệ, kĩ thuật băng bó cấp cứu, thể dục thể thao QS, địa hình QS... Các đơn vị quân chủng, binh chủng, bộ đội biên phòng phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của từng chuyên ngành, từng đối tượng để xác định nội dung, thời gian cụ thể và tổ chức huấn luyện cho phù hợp. Phương pháp: giảng giải lí thuyết, làm mẫu động tác và chú trọng rèn luyện hàng ngày. HLKMC còn được tiến hành đối với học sinh các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, sinh viên các trường cao đảng, đại học và huấn luyện bước đầu đối với thanh niên khi đến tuổi gọi nhập ngũ.

        HUẤN LUYỆN KĨ THUẬT, hệ thống các biện pháp dạy và luyện cho quân nhân nắm vững KTQS, có kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để sử dụng thành thạo các phương tiện kĩ thuật, duy trì các phương tiện đó ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu; bộ phận của huấn luyện chiến đấu. HLKT gồm: nghiên cứu cấu tạo và vận hành của phương tiện kĩ thuật, nghiên cứu tính năng kĩ chiến thuật, quy tắc sử dụng, thực hành bảo dưỡng và sửa chữa thông thường (sửa chữa nhỏ) các phương tiện kĩ thuật. Khối lượng và nội dung HLKT được xác định trong chương trình huấn luyện.

        HUẤN LUYỆN KĨ THUẬT ĐẶC CÔNG, hệ thống các biện pháp dạy và luyện các động tác chiến đấu cá nhân thành kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho bộ đội để vận dụng vào chiến đấu  đặc công. Gồm lí thuyết và thực hành các động tác cá nhân. Nội dung, chương trình, hình thức huấn luyện phải phù hợp  với nhiệm vụ chiến đấu của từng loại đặc công (xt kĩ thuật dặc công).


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:40:01 PM

        HUẤN LUYỆN NGẠCH DỰ BỊ, huấn luyện kĩ năng và tri thức QS cho những người trong ngạch dự bị, chuẩn bị nguồn nhân lực động viên cho thời chiến; bộ phận của huấn luyện quân sự. Có huấn luyện hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và binh sĩ dự bị, huấn luyện sĩ quan dự bị và huấn luyện QS phổ thống cho học sinh các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và sinh viên các trường cao đẳng, đại học và thanh niên. Huấn luyện hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, binh sĩ dự bị chủ yếu tiến hành trong các tổ chức QS địa phương; thời gian huấn luyện do chính phủ quy định theo đề nghị của bộ trưởng BQP. Sĩ quan dự bị được đào tạo tại các trường QĐ hoặc tại các trường đại học ngoài QĐ theo chương trình và thời gian quy định; thời gian và nội dung huấn luyện QS phổ thông cho học sinh, sinh viên do bộ trưởng BQP và bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo quy định; thời gian và nội dung huấn luyện QS phổ thông cho thanh niên không học ở các trường do bộ trường BQP quy định và cùng với người đứng đầu các cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan tổ chức thực hiện.

        HUẤN LUYỆN PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM, huấn luyện người chỉ huy, cán bộ cơ quan và giáo viên nâng cao trình độ giảng dạy trong huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị. Nội dung gồm: bồi dưỡng nguyên lí giáo dục, lí luận dạy học, nguyên tắc sư phạm QS, các hình thức, phương pháp tổ chức huấn luyện, làm kế hoạch huấn luyện, soạn bài giảng; tổ chức và tiến hành giảng bài, các buổi tập, các loại tập bài, luyện tập, hợp luyện, diễn tập, tổ chức tự học... Nhiệm vụ chủ yếu: xác định, quán triệt thống nhất các quan điểm, các nguyên tắc, phương châm trong giáo dục và huấn luyện; vặn dụng tốt các phương pháp huấn luyện mới một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế; sử dụng tốt, hợp lí cơ sở vật chất, đồ dùng, phương tiện, học cụ huấn luyện. HLPPSP thường được củng cố và nâng cao trong quá trình tiến hành tập huấn chuyên đề, trong các buổi giảng mở rộng, tập mẫu, hợp luyện, diễn tập mẫu, trong quá trình luyện tập và diễn tập thực binh.

        HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ, hệ thống các biện pháp dạy và luyện về QS nhằm trang bị những tri thức QS và kĩ năng, kĩ xảo QS cho từng người, từng đơn vị. Đối tượng HLQS: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên; thanh niên, sinh viên, học sinh phổ thông trung học, và nhân dân (HLQS phổ thông); một nội dung chủ yếu của việc chuẩn bị cho LLVT và nhân dân để bảo vệ tổ quốc.

        HUẤN LUYỆN SỈ QUAN, huấn luyện cho sĩ quan đang giữ chức vụ hoặc sẽ bổ nhiệm chức vụ mới về QS, văn hóa, khoa học, kĩ thuật và chuyên môn nhằm bồi dưỡng, rèn luyện sĩ quan nâng cao phẩm chất chính trị, trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐ và chiến tranh hiện đại; một trọng điểm của huấn luyện QS. Có HLSQ: tại trường và tại đơn vị. Nhà trường chủ yếu tiến hành giáo dục lí luận cơ bản, kĩ năng thực hành và tri thức cơ bản. Huấn luyện tại đơn vị là nhiệm vụ thường xuyên của sĩ quan nhầm tiếp tục củng cố và bổ sung kiến thức thông qua thực tiễn, kết hợp chặt chẽ lí luận với thực tiễn, không ngừng bổ sung và nâng cao tri thức và kĩ năng mới.

        HUẤN LUYỆN THỂ LỰC, bộ phận của huấn luyện chiến đấu nhằm nâng cao sức khỏe cho quân nhân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và công tác. HLTL được tổ chức và thực hiện căn cứ vào đặc điểm của huấn luyện chiến đấu, phù hợp với nhiệm vụ và khả năng của đơn vị. Nhiệm vụ chủ yếu của HLTL là: làm cho quân nhân thường xuyên hoàn thiện thể lực, có sức chịu đựng bển bỉ, dẻo dai, dũng cảm, kiên quyết, tâm lí ổn định, tự tin... Các hình thức HLTL là: thể dục buổi sáng, các buổi huấn luyện thể lực, rèn luyện thể lực trong quá trình huấn luyện, thể thao quần chúng... Nội dung, hình thức và phương pháp HLTL được xác định trong chương trình huấn luyện chiến đấu, các quy định, chỉ thị, hướng dẫn riêng. Tổ chức HLTL và kiểm tra việc thực hiện là trách nhiệm của người chỉ huy và cơ quan các cấp.

        HUẤN LUYỆN TRINH SÁT, huấn luyện cho người chỉ huy, cơ quan tham mưu, cán bộ, chiến sĩ của các phân đội bộ binh, binh chủng và bộ đội chuyên ngành trinh sát về tri thức và kĩ năng công tác trinh sát; tổ chức và tiến hành trinh sát trong tác chiến. Nội dung gồm: tri thức trinh sát: lí luận công tác trinh sát, tri thức, nghệ thuật QS trong và ngoài nước; kĩ thuật trinh sát gồm: thu thập tin tức (quan sát, rình nghe, chụp ảnh. đoán đọc, đo lường, dịch mã, sử dụng các khí tài, phương tiện trinh sát...), xử lí, chuyển giao tin trinh sát... rèn luyện kĩ thuật, kĩ năng đặc chủng (địa hình học, bắn súng, lái xe, phá nổ, võ thuật, bò, trèo, lội sông, lặn nước, hóa trang, nhảy dù...); chiến thuật trinh sát: nguyên tắc tiến hành trinh sát của các phân đội, binh đội trong các hình thức tác chiến với các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. HLTS do người chỉ huy, cơ quan tham mưu các cấp và các trường tổ chức thực hiện.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:41:46 PM

        HUẤN LUYỆN ỨNG DỤNG, huấn luyện vận dụng những kĩ năng cơ bản về tri thức QS trong điều kiện sát thực tế chiến đấu  nhằm nâng cao năng lực thực hành tác chiến. Nội dung gồm: HLƯD kĩ thuật, chiến thuật riêng rẽ và tổng hợp. HLƯD kĩ thuật riêng rẽ: vận dụng cụ thể thao tác sử dụng vũ khí. trang bị. HLƯD chiến thuật riêng rẽ: vận dụng linh hoạt cách đánh, các thủ đoạn chiến đấu và nguyên tắc chiến thuật. HLƯD chiến thuật tổng hợp: tiến hành diễn tập, tác nghiệp vận dụng tổng hợp (kết hợp) kĩ thuật với chiến thuật. HLƯD tổng hợp thường được tiến hành sau HLƯD riêng rẽ.

        HUẤN LUYỆN VƯỢT VẬT CẢN, huấn luyện cho người học hiểu được tính năng, tác dụng và biết khắc phục vượt qua các loại vật cản ở trên bộ, trên không, dưới nước bằng các phương pháp: dò gỡ, chui luồn, phá nổ, leo trèo, nhảy qua, vòng tránh...; một nội dung huấn luyện kĩ thuật chiến đấu của bộ binh và quân chúng, binh chủng. HLVVC phải phù hợp với chương trình, yêu cầu. đối tượng, nhiệm vụ huấn luyện và sát thực tế chiến đấu.

        HUẤN LUYỆN XEN KẼ, phương pháp tổ chức và thực hành huấn luyện nội dung, bài học khác nhau, xen cạnh nhau để hỗ trợ cho nhau. HLXK được thực hiện ở nhà trường và đơn vị nhằm điểu hòa giữa hoạt động trí lực và thể lực, tránh căng thẳng, mệt mỏi, tạo hưng phấn cho người học... HLXK còn được tổ chức khi thiếu phương tiện, đồ dùng, bãi tập. Có thể tổ chức HLXK giữa các nội dung trong một bài học, một đề mục hay khoa mục huấn luyện như xen kẽ giữa lí thuyết với thực hành; chính trị với QS; giữa bắn súng, ném lựu đạn, đào công sự...

        HÙNG LĨNH, vùng núi ở phía đông h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa, căn cứ của cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do Tống Duy Tân và Cao Điền lãnh đạo. 1886 Tống Duy Tân phát động khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886-92), phối hợp với cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-87) của Đinh Công Tráng và Trần Xuân Soạn thành phong trào chống Pháp rộng lớn ở Thanh Hóa. 15.10.1892 Tống Duy Tân bị bắt và bị giết, cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa vẫn không bị dập tắt hoàn toàn.

        HUNGGARI (Cộng hòa Hunggari; Magyarorszag, Magyar Koztarsasag, A. Republic of Hungary), quốc gia ở Trung Âu. Dt 93.032km2; ds 10,045 triệu người (2002); 93% người Hunggari. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Hunggari. Tôn giáo: 67% đạo Thiên Chúa, 20% Canvanh. Thủ đô: Buđapet. Cuối tk 10 đầu tk 11 hình thành vương quốc H, 1240-41 bị quân Tacta (Mống cổ) chiếm, tk 15 - tk 17 bị các đế quốc Ottoman, Áo thống trị. 10.1918 trở thành quốc gia độc lập, 16.11.1918 tuyên bố chính thể cộng hòa, 8.1919 chế độ độc tài phát xít được thiết lập, 3.1944 bị phát xít Đức chiếm, 4.1945 được QĐ LX giải phóng. 19.8.1949 Cộng hòa nhân dân H tuyên bố thành lập. 18.10.1989 thành Cộng hòa H, đứng đầu nhà nước là tổng thống do quốc hội bầu ra. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng và nội các chính phủ. Phần lớn lãnh thổ là đồng bằng trung lưu sông Đanuyp; phía tây là các sườn núi của dãy Anpơ, phía bắc là các núi thuộc dãy Cacpat, đỉnh Keket cao 1.015m. Sông lớn: Đanuyp, Ttxa. Hồ lớn: Balatông. Nước công - nông nghiệp; công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Công nghiệp: chế tạo máy, hóa chất, luyện kim, dược liệu, kĩ thuật điện... Nông nghiệp: đảm bảo lương thực, thực phẩm trong nước và 25% cho xuất khẩu. GDP 51,926 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 5.100 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU, 2004), NATO (1999). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 3.2.1950. LLVT: lực lượng thường trực 33.400 người (lục quân 23.600, không quân 7.700, các đơn vị và tổ chức trực thuộc BQP 2.100), lực lượng dự bị 90.300. Tuyển quân theo lệnh động viên. Trang bị: 743 xe tăng, 104 xe thiết giáp trinh sát, 680 xe chiến đấu bộ binh, 798 xe thiết giáp chở quân, 834 pháo mặt đất, 364 tên lửa chống tăng, 268 pháo chống tăng, 186 pháo phòng không, 348 tên lửa phòng không, 92 máy bay chiến đấu, 49 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 1.084 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66742828_452063372190215_9158710269126377472_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQk_0OgpwSoM-ASim584-hMA1N4wW8kn1XxFM1S1uK6_mH8TCQzaMMidDIC998VEV5s&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5f1898ab7fc67b142e29db645c359a17&oe=5DA6AE89)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:44:52 PM

        HUY CHƯƠNG CHIẾN SĨ VẺ VANG, huy chương của nhà nước CHXHCN VN tặng cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng thuộc QĐND VN và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp thuộc Công an nhân dân VN. Đặt ra theo Luật thi đua, khen thưởng được Quốc hội nước CHXHCN VN khóa XI, kì họp thứ 4 thông qua (26.11.2003), lệnh công bố của chủ tịch nước (10.12.2003), hiệu lực thi hành từ 01.7.2004. HCCSVV có 3 hạng: hạng nhất tặng cho cá nhân có thời gian công tác từ 15 năm trở lên, hạng nhì tặng cho cá nhân có thời gian công tác từ 10 năm trở lên, hạng ba tặng cho cá nhân có thời gian công tác từ 5 năm trở lên; quyết định tặng do chủ tịch nước kí.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66941205_452063398856879_7935203274817273856_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQl6fF6PK0IZBviv2AxAYUQ2sC1LzrH4mt0bS0XCjmDpdbr3dSNzXkC0fM9UZBlIouM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=92077cbf625af2659c78472487af9cc3&oe=5DEAA92A)


        HUY CHƯƠNG QUÂN KÌ QUYẾT THẮNG, huy chương của nhà nước CHXHCN VN tặng cho những quân nhân, công nhân viên quốc phòng đã phục vụ trong QĐND VN từ 25 năm trở lên và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ. Còn được tặng cho người nước ngoài có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng hoặc tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, hợp tác hữu nghị với QĐND VN. Đặt ra lần đầu theo nghị quyết 572a/NQ-HĐNN7 ngày 27.10.1984 của HĐNN. Theo Luật thi đua, khen thưởng (2003), quyết định tặng do chủ tịch nước kí (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66645436_452063425523543_3803494750959435776_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQkulUQ3CL9wohyd6Ry1rOBfr5djo5jEV8lK8e8do7rIKKp-TKHgwBBRs91uq88RcNI&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c6b249a4c54a8beb8dbfe573d281ef61&oe=5DB1E423)


        HUY DU (Nguyễn Huy Du; s. 1926), nhạc sĩ, tổng thư kí Hội nhạc sĩ VN khóa DI. Quê xã Tân Chi, h. Từ Sơn, t. Bắc Ninh; nhập ngũ 1945, thượng tá (1980); đv ĐCS VN (1947). Năm 1944-45 vào Mặt trận Việt Minh và tham gia giành chính quyền ở Hà Nội. 1947 làm công tác văn hóa, văn nghệ và sáng tác. 1962-67 và 1978 trưởng đoàn ca múa TCCT. 1979 biệt phái ra Hội nhạc sĩ VN rồi chuyển ngành (1981). HD đã sáng tác hàng trăm ca khúc trong đó có những ca khúc tiêu biểu như: “Sẽ về thủ đô” (1948), “Ba Vì năm xưa” (1948), ‘Tôi yêu hòa bình” (1949), “Những gác chuông giáo đường” (1951, phỏng thơ Hữu Loan), “Bế Văn Đàn sống mãi” (1963, thơ Trinh Đường), “Thể quyết bảo vệ tổ quốc” (1964), “Anh vẫn hành quân” (1964, thơ Trần Hữu Thung), “Bạch Long VT đảo quê hương” (1965), “Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi” (1965), ‘Tiếng hát pháo binh” (1966), “Cùng anh tiến quân trên đường dài” (1967, phỏng thơ Xuân Sách), “Nổi lửa lên em” (1968, lời HD, Giang Lam), “Đường chúng ta đi” (1968, phỏng thơ Xuân Sách), ‘Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” (1971). HD còn viết một số tác phẩm khí nhạc, tiêu biểu là: “Miền Nam quê hương ta ơi” (1958). Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII, phó chủ nhiệm ủy ban văn hóa - giáo dục của Quốc hội khóa VIII, phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung. Huân chương: Quân công hạng nhì, Chiến công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66758389_452063412190211_1290220278936240128_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQmLrmuM4jamdzjrfA8xCehqsDDyC_yQSi_6NBiB2pkPGVh_SYVBt8HSAtUjC7iduT0&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=c265f44a1a7abf528bbd2466ff62ab5b&oe=5DB68252)


        HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, toàn bộ các biện pháp thực hiện để huy động quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế theo kế hoạch bổ sung cho các đơn vị thường trực của QĐ, theo quy định của pháp luật. HĐLLDBĐV tiến hành khi có lệnh tổng động viên, động viên cục bộ và trong chiến tranh hoặc tăng cường cho lực lượng thường trực của QĐ khi có nhu cầu chiến đấu. Nội dung: thông báo lệnh HĐLLDBĐV; tập trung quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật; vận chuyển và giao nhận lực lượng dự bị động viên; thực hiện CTĐ.CTCT; công tác bảo đảm hậu cần, trang bị kĩ thuật và tài chính.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:48:26 PM

        HUY HIỆU CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH, huy hiệu của BQP nước CHXHCN VN tặng những cán bộ, chiến sĩ QĐND VN đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26- 30.4.1975). Đặt ra theo quyết định 15/QĐ-QP (24.1.1977) của bộ trưởng BQP. TCCT ra chỉ thị hướng dẫn thực hiện 17/H (26.1.1977). Quyền hạn kí quyết định thưởng huy hiệu dựa theo quy định của Điều lệnh kỉ luật Quân đội nhân dân Việt Nam (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67147551_452063442190208_6514815241652535296_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQn4LOlcB2jdrlpI5Cfowi6OWbslvRqzpDWJdT0xy6yxVyqIo3I16m-9DKTT5L1emhA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=510bc6b3e75e1c6699847d7d20ba306f&oe=5DA2B01F)


        HUY HIỆU CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN PHỦ, huy hiệu của chính phủ VN DCCH tặng những cán bộ, chiến sĩ QĐND VN đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954). Đặt ra theo quyết định của chủ tịch Hồ Chí Minh (12.5.1954) (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66695387_452063448856874_1628244186635436032_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQm3-Eemw4YcAWEaGbOUKpTVWp6dvQUbZuAZYy358RzxR4IT6fgyqbtuIVBuadqQZrI&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=84d2822a09721145eb4d14c3a813fbed&oe=5DA849CD)


        HUY HIỆU CHIẾN THẮNG 5.8, huy hiệu ki niệm của BQP nước VN DCCH tặng những cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong QĐND VN, công an nhân dân vũ trang và dân quân tự vệ đã trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống máy bay và tàu chiến Mĩ xâm lược nước VN DCCH trong ngày 2 và 5.8.1964. Đặt ra theo quyết định 288/QĐ (12.12.1964) của bộ trường BQP. TCCT ra nội quy tặng thưởng số 127/H (8.4.1965). Sau này huy hiệu được tặng cho cả những người đã tham gia các trận chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mĩ ở miền Bắc VN (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66646155_452063465523539_1154136284566913024_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmDq_0KsEMy6TiNoCVa9t8LO5IYR22l7UCJzQ9Ung0BOXc6QeOKiZZrN-4Elb4PAqw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=03e9c9af34ceef06e8adc990c614aee9&oe=5DA22A56)


        HUY HIỆU QUYẾT THẮNG, huy hiệu của BQP nước VN DCCH (CHXHCN VN) tặng thưởng những quân nhân và công nhân viên quốc phòng QĐND VN đã hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia trong và sau KCCP. Đặt ra theo quyết định 288/QĐ (12.12.1964) của bộ trưởng BQP. TCCT ra chỉ thị hướng dẫn thi hành 173/H (3.5.1965). Thủ trưởng từ cấp trung đoàn đến tổng cục được kí quyết định thưởng HHQT cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền theo quy định của BQP (x. minh họa giữa trang 16 và 17).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64746734_452063475523538_7158694104191205376_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnsSqy8QDb7MyxWW17vPlBTifWn3-578PWXc8BPAomGbpcKGuNN1V3tC24ThNics9k&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=e4048e64a67dcd1c2e86342d7b299186&oe=5DB35F06)


        HUY HIỆU VÌ NGHĨA VỤ QUỐC TẾ, huy hiệu của BQP nước CHXHCN VN tặng các quân nhản, công nhân, viên chức quốc phòng trong QĐND VN đã hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế và nhưng người nước ngoài sang giúp VN xây dựng LLVTND VN. Đặt ra theo nghị quyết của thường vụ Đảng ủy QS trung ương số 278/QUTƯ ngày 18.10.1980 và quyết định ban hành của BQP số 621/QP ngày 31.10.1980. 

        HUY THỤC (Lê Anh Chiến; s. 1935), nhạc sĩ, trưởng Đoàn ca múa quân đội (1988-89), ủy viên BCH Hội nhạc sĩ VN khóa III, IV. Quê xã Chính Lí, h. Lí Nhân, t. Hà Nam; nhập ngũ 1946, đại tá (1992); đv ĐCS VN (1956). Những năm 60, HT đã sáng tác hàng trăm ca khúc về chiến tranh CM và LLVT, tiêu biểu là: “Dòng suối La La” (giải nhì toàn quốc 1966), “Tích tà tích tích - tiếng hát thông tin” (1966), “Tiếng đàn Ta Lư” (1969), nhạc múa “Cô gái Pa Cô tải đạn” (tiết mục được huy chương vàng đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới Beclin 1973), phổ nhạc thơ chúc tết của chủ tịch Hồ Chí Minh (1969), “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” (giải nhất ca khúc 1970). HT còn viết một số tác phẩm nhạc không lời (3 trong số 7 màn của kịch múa “Xô viết Nghệ Tĩnh”, viết nhạc cho một số phim QĐ) và hợp xướng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Tiêu biểu là bản độc tấu đàn bầu với dàn nhạc “Vì miền Nam” (1969-73), một tác phẩm mẫu mực được nhiều nghệ sĩ đàn bầu biểu diễn (tiết mục được huy chương vàng đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới Beclin 1973 và giải nhì UNESCO 1983). Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng ba, Chiến công hạng ba, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67092128_452063485523537_3072146950997409792_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnJiAhcCymc0BrIfiigkYepR_4lAxaJ5PbofGttvI3sWfU-46Do-mDIpQ61DABBWes&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=741193c4e5ecf976de963cea3b4e0632&oe=5DC00F5F)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:50:43 PM

        HUYỆN (THỊ XÃ) BIÊN GIỚI, đơn vị hành chính cấp huyện (thị xã) có một phần địa giới hành chính trùng với đường biên giới quốc gia, trực thuộc tỉnh hoặc thành phố biên giới. Ngoài nhiệm vụ chung của cấp huyện (thị xã), H(TX)BG còn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện quản lí nhà nước về biên giới quốc gia trên địa bàn chỉ đạo các cơ quan và nhân dân trong huyện (thị xã) chấp hành quy chế biên giới quốc gia và các điều ước biên giới. Động viên và phát huy sức mạnh toàn dân, của LLVTND cùng phối hợp giúp đỡ bộ đội biên phòng thực hiện nhiệm vụ quản lí, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trên địa bàn.

        HUYỆN ĐẢO, đơn vị hành chính cấp huyện được tổ chức ở đào hoặc quần đảo : thuộc tỉnh hoặc thành phố ven biển. Có nhiệm vụ quản lí nhà nước về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh... tại HĐ; phát huy sức mạnh của toàn dân, của LLVTND địa phương cùng phối hợp giúp đỡ bộ đội biên phòng bảo vệ chủ quyền, an ninh lãnh hải, đảo. Các HĐ ở VN: Vân Đồn, Cô Tô (t. Quảng Ninh); Cát Hải, Bạch Long Vĩ (tp Hải Phòng); Hoàng Sa (tp Đà Nẵng); Lí Sơn (t. Quảng Ngãi); Phú Quý (t. Bình Thuận); Trường Sa (t. Khánh Hoà); Côn Đảo (t. Bà Rịa - Vũng Tàu); Phú Quốc, Kiên Hải (t. Kiên Giang).

        HUYỆN ĐỘI X BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ

        HUỲNH CÔNG THÂN (Huỳnh Công Mến; s. 1923). Ah LLVTND (1998). Quê xã Hựu Thạnh, h. Đức Hoà, t. Long An; nhập ngũ, thiếu tướng (1980), chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy QS tinh Long An (1978); đv ĐCS VN (1945). Năm 1946 ủy viên thường vụ huyện ủy Cần Giuộc. 1948 bí thư, chính trị viên đại đội căn cứ Vườn Thơm. 1954 cán bộ QS cốt cán, thường vụ huyện ủy Đức Hoà. 1955-57 tham gia tổ chức và chỉ huy LLVT ở các huyện Đức Hoà, Bến Lức trở thành nòng cốt LLVT tính hỗ trợ cho phong trào đồng khởi (1960). Năm 1961-63 chỉ huv LLVT tỉnh đánh chiếm các căn cứ lớn của địch. Trận 23.11.1963 đánh vào căn cứ biệt kích Mĩ ở Hoà Hiệp, diệt và làm bị thương 500 địch, thu trên 500 súng các loại. Tết Mậu Thân 1968, tư lệnh Phân khu 3, chỉ huy 9 tiểu đoàn đánh vào quận: 6, 7 và 8, mở đường đánh vào tổng nha cảnh sát chính quyền Sài Gòn. 5.1968 chỉ huy LLVT Long An đánh vào Sài Gòn đợt 2, diệt 10 đồn (ở q. 8) và 1 tiểu đoàn Mĩ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ huy một cánh quân ở hướng Tây Nam đánh vào Sài Gòn. 1978-79 chi huy LLVT Long An chiến đấu bảo vệ tuyến biên giới của tỉnh (140km)... Huân chương: 3 Chiến công, Bảo vệ tổ quốc do nhà nước Campuchia tặng...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66625870_452063495523536_5454586634601234432_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQlo3nn6OINtwa1maKJX2VajBvGJnOioYbEv2-y0A8kGIozB_bF9P9caJt5GoGoWl4I&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=72a029bda5dee651b398163b0b4352e9&oe=5DA16D2F)


        HUỲNH ĐẮC HƯƠNG (s. 1921), phó chính ủy, phó tư lệnh về chính trị Quân khu 2 (1979-82). Quê phường Cẩm Phô, tx Hội An, t. Quảng Nam: tham gia CM 1938, nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1942). Trước CM tháng Tám (1945) nhiều lần bị địch bắt giam. 3.1945 vượt ngục, tiếp tục gây cơ sở CM ở Tiên Phước (Quảng Nam), tỉnh ủy viên lâm thời tỉnh Quảng Nam. 10.1945-49 hiệu trường Trường quân chính Quảng Nam; chính ủy trung đoàn, phó phòng chính trị Liên khu 5. Tháng 3.1952-53 phái viên, rồi phó phòng chính trị Liên khu 5. Tháng 7.1955-65 cục phó, rồi cục trưởng Cục tổ chức TCCT; phó chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. 7.1966 phó chính ủy Quân khu Tây Bắc. 5.1969 chính ủy Mặt trận Cánh Đồng Chum (Lào). 8.1970 tư lệnh, kiêm chính ủy Mặt trận 959. Năm 1971-72 chính ủy BTL chiến dịch Cánh Đổng Chum. 9.1976 thứ trưởng Bộ thương binh và xã hội. 1979-82 phó chính ủy, phó tư lệnh về chính trị Quân khu 2. Tháng 12.1982 thứ trưởng Bộ thương binh và xã hội. Huân chương: Quân công hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66761932_452063502190202_8611678821713707008_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQl8boSheGBi13326QnkBt3qaq5IADAgC9Djx_cPUKBOzieZjHD1sMpvGOHTGU5ngjk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8f655622e705f15543d9da560b980072&oe=5DB44A29)


        HUỲNH HỮU ANH (1921-93), phó tư lệnh Quân khu 5 (1975-87). Quê xã Cát Nhơn, h. Phù Cát, t. Bình Định: nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1983); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ cán bộ trung đội đến tiểu đoàn trưởng thuộc Liên khu 5. Trong KCCM, 1961 tham mưu phó Quân khu 5. Tháng 9.1965-74 sư đoàn phó rồi sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Năm 1975-87 phó tư lệnh Quân khu 5, kiêm tư lệnh Mặt trận 579 (7.1981). Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66959512_452063518856867_3700868427271897088_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlzMCr_jZ2IhtZld2g4igQgT4zEgjjVO0mSayMLZCjBIDbUBHyo5ObEeFb2F-wLtEg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3078d7ce7752ad390338554b18ad667f&oe=5DAE8136)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:53:44 PM

        HUỲNH NGHỈ (s. 1930), Nhà giáo nhân dân (1997), giáo sư (1996), tiến sĩ (1990). Quê xã Tam Quan, h. Hoài Nhơn. t. Bình Định; nhập ngũ 1950, thiếu tướng (1994); đv ĐCS VN (1953). Năm 1950-64 trưởng thành từ chiến sĩ đến tham mưu trưởng tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 812. Năm 1964 vào chiến trường Tây Nguyên, trưởng tiểu ban tác chiến, tham mưu trưởng Trung đoàn 320. Năm 1969-72 trưởng ban QS. hiệu phó Trường quân chính B3, trung đoàn trưởng Trung đoàn 95. Năm 1974-79 phó ban quân huấn B3 rồi hiệu trường Trường quân chính Quân đoàn 3. Năm 1979-90 phó trưởng khoa rồi trưởng khoa nghệ thuật chiến dịch. 1991-98 phó giám đốc Học viện lục quân. Chủ nhiệm 4 đề tài khoa học cấp BQP. biên soạn 12 giáo trình và báo cáo khoa học, hướng dẫn 15 nghiên cứu sinh và 20 học viên cao học. Huân chương: Chiến công hạng ba. Chiến thắng hạng ba. Kháng chiến hạng ba.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66796375_452063528856866_3083954314310320128_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmeCJy34kp54YXHD96J6sKWc8etLlXIzT7mEq5ert_MnhLycDvNC7Xq-sb1x1fGqD0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b93678f1dd252cf12a7ae6df9491d00c&oe=5DB4130C)


        HUỲNH PHI HÙNG (1950-69), Ah LLVTND (truy tặng 1970). Quê xã Khánh Bình, h. Trần Văn Thời, t. Cà Mau; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN (1968); khi hi sinh là trung đội phó, Đại đội 3, Tiểu đoàn 303, Trung đoàn 1, Quân khu 9. Trong KCCM, 1966-69 chiến đấu ở mặt trận miền Tây Nam Bộ, đánh 26 trận, diệt 74 địch, bắn rơi 3 máy bay trực thăng, phá hủy 2 xe QS, bắn chìm 1 tàu chiến. Trận Thác Lác (cuối 1967), một mình sử dụng 3 khẩu súng, cơ động như con thoi, cùng đơn vị diệt nhiều địch (HPH diệt 40), đánh bại cuộc càn của địch. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhì.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67133035_452063552190197_400779173804638208_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlofJD6nQ3AlszF8o8vBQzbedeyBNDAehwXXkwHJA-hh5gL3TUzTAFLxaoSdJ94V38&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f349b7207a0fba636b960207232c0744&oe=5DEE25E1)


        HUỲNH PHÚ SỔ (1919-47), người sáng lập giáo phái và Lực lượng vũ trang Hoà Háo ở Nam Bộ. Quê làng Hoà Hảo, h. Tân Châu, t. Châu Đốc (nay thuộc t. An Giang). Biết nghề bốc thuốc chữa bệnh và theo học kinh Phật. 1939 tự xưng là người kế tục giáo chủ Phật thày Tây An (1807-56) và truyền bá giáo lí Phật giáo mới (gọi là đạo Hoà Hảo), lấy 5.7.1939 làm ngày lập đạo. Lúc đầu, HPS có tư tưởng chống Pháp và một số quan điểm giáo lí tiến bộ, nên nhanh chóng thu hút dược đông đảo tín đồ (chủ yếu là nông dân) ở các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên và một số tỉnh ở Nam Bộ. 1941 bị Pháp bắt đưa vào nhà thương điên Chợ Quán (Sài Gòn) rồi quản thúc tại Bạc Liêu. 10.1942 QĐ Nhật giải thoát về Sài Gòn với ý đồ xây dựng Hoà Hảo thành lực lượng chính trị thân Nhật. Sau CM tháng Tám (1945), một số lãnh đạo Hoà Hảo kí thỏa hiệp với Pháp, thành lập VN dân chủ xã hội đảng (cg Đảng dân xã, 9.1946) và LLVT Hoà Hảo (QĐ Phật giáo Hoà Hảo), bầu HPS làm chủ tịch Mặt trận quốc gia liên hiệp, chống lại cuộc KCCP của dân tộc. 16.4.1947 chết tại Đốc Vàng (Long Xuyên).

        HUỲNH THỊ HƯỞNG (Sáu Hồng; 1941-65), Ah LLVTND (truy tặng 1985). Quê xã Hội An. h. Chợ Mới, t. An Giang; đv ĐCS VN; khi hi sinh là du kích xã Hội An. Trong KCCM, vận động nhân dân tham gia kháng chiến: đóng thuế nông nghiệp, tòng quân, đào hầm nuôi giấu cán bộ, tham gia du kích diệt ác, phá kìm. 16.6.1965 bị bắt khi làm nhiệm vụ diệt xã trường ác ôn. Mặc dù 4 cố vấn Mĩ và nhân viên chính quyền Sài Gòn dụ dỗ và tra tấn, chôn sống đến cổ, HTH vẫn vạch tội ác của địch, động viên nhân dân vững tin vào thăng lợi cua CM và hô khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm”, “Đáng lao động Việt Nam muôn năm”; bị địch dùng lưỡi lê rạch miệng, cắt tai, cắt lưỡi... cho đến chết. Hiện nay một đường phố ở h. Chợ Mới và một nhà trẻ trong t. An Giang mang; tên Huỳnh Thị Hưởng.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66845899_452063558856863_8164517342596825088_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQm0B5E2LVIEi8nTbg6opw8hhQtpI02PF77zEsh93I3QFY2I28XzuNm27xHdosRLKwQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0f8856ee838019538e6af12d4b6153e8&oe=5DB7905B)


        HUỲNH THỊ TÂN (Má Tám; s. 1906), Ah LLVTND (1978). Quê xã Mĩ Quới. h. Ngã Năm, t. Sóc Trăng; đv ĐCS VN (1971); khi tuyên dương Ah là du kích xã Mĩ Quới. 1955- 75 nuôi giấu hàng trăm cán bộ, bộ đội; vận động nhân dân ủng hộ hơn 40t thóc cho kháng chiến; nhiều lần theo dõi nắm tình hình địch cung cấp cho du kích chiến đấu diệt hàng trăm địch: vận động lập hội phụ nữ, hội mẹ chiến sĩ và nông hội (xã), dẫn đầu quần chúng đáu tranh chống địch bắt lính, gom dân. 4 lần bị địch bắt, tra tấn dã man. HTT vẫn kiên trung bất khuất. 5 con trai là liệt sĩ, 1 cháu nội là bộ đội và con gái út là du kích. 1994 được phong Bà mẹ VN Ah. Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66837226_452063572190195_532945084258189312_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmQfjSuW_ZVsI1jCg-awJS7ciSW-dnuZq6TwBtPGx4DmOSCJ3Q4yweAEzOIHXFycAo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d69e17505d44644287ba62933ce6a867&oe=5DB283E4)



Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:55:50 PM

        HUỲNH THÚC KHÁNG (Huỳnh Hanh; 1876-1947), người tham gia khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân (1906- 08). Quê làng Thạch Bình, h. Tiên Phước, t. Quảng Nam. 1904 đỗ tiến sĩ nhưng không làm quan, cùng Phan Chu Trinh, Trấn Quý Cáp và một số sĩ phu yêu nước tiến hành vận động cải cách dân chủ, mở trường dạy học nâng cao dân trí, giáo dục lòng yêu nước, chống phong kiến, đế quốc. 1908-21 bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. 1926-28 viện trường Viện dân biểu Trung Kì. 1927-43 sáng lập kiêm chủ bút báo ‘Tiếng Dân” ở Huế. Sau cách mạng tháng Tám 1945, bộ trưởng Bộ nội vụ Chính phủ liên hiệp kháng chiến, quyền chủ tịch nước VN DCCH trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh sang thảm Pháp (6-10.1946), hội trường Hội liên hiệp quốc dân VN (Liên Việt). Cuối 1946 đại diện của chính phủ đi kiểm tra Liên khu 5 khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Trên đường công tác, lâm bệnh mất tại Quảng Ngãi (21.4.1947).

        HUỲNH VĂN ĐẢNH (1939-71), Ah LLVTND (1965). Quê xã Đức Tân, h. Tân Trụ. t. Long An; tham gia du kích 1960. nhập ngũ 1963; đv ĐCS VN (1962); khi tuyên dương Ah là chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện Tân Trụ. 1960-63 tham gia xây dựng du kích xã vững mạnh, cùng đồng đội đánh 134 trận, đánh bại hàng chục trận càn của địch, diệt trên 100 địch (có 1 cố vấn Mĩ và 3 sĩ quan QĐ Sài Gòn). Kiên trì bao vây bắn tỉa, với lực lượng ít, vũ khí thô sơ, HVĐ đã chỉ huy đơn vị ngày đêm chiến đấu gây cho địch thiệt hại và căng thẳng tinh thần, buộc phải rút khỏi đồn Triêm Đức. 1963 với tài bắn tỉa, chỉ 75 viên đạn, HVĐ diệt 78 địch. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67202144_452063595523526_5116104217668354048_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQkdQ1tVbSSruSL0qZaRDndmeu3VyhBwSvbu8aLhEaluVpu-C6s9hgSfnHT82z1UTZs&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=3db4dd235d8352dd6752eff7764e9c82&oe=5DA08082)


        HƯ HỎNG trang bị kĩ thuật, trạng thái mất toàn bộ hay một phần khả năng làm việc của trang bị kĩ thuật do một hoặc nhiều bộ phận, chi tiết không hoàn thành chức năng. Trạng thái HH có thể xuất hiện do tác động của các yếu tố ngẫu nhiên (sự cố kĩ thuật, sai phạm trong sử dụng, thương vong trong chiến đấu...) hoặc do hao mòn tự nhiên, khi một hoặc một số tham số kĩ thuật cơ bản đã vượt quá giới hạn cho phép. HH có thể làm ngừng toàn bộ hoạt động của trang bị hoặc làm giảm hiệu quả hoạt động của nó xuống dưới mức cho phép. Theo đặc trưng thay đổi các tham số, có: HH đột xuất và HH dần dần; theo quan hệ phụ thuộc, có: HH phụ thuộc và HH độc lập; theo mức độ, có: HH từng phần và HH hoàn toàn: theo dấu hiệu xuất hiện, có: HH hiện và HH ẩn; theo khả năng khắc phục, có: HH bền vững và HH tự phục hồi... Tiêu chuẩn HH được quy định trong các tài liệu định mức kĩ thuật cho từng loại trang bị kĩ thuật cụ thể.

        HƯNG HÓA, tinh cũ ở Bắc Bộ. Thành lập năm Minh Mệnh thứ 12 (1831). Địa bàn bao gồm hầu hết vùng tây Bắc Bộ ngày nay. Tinh lị đặt tại xã Trúc Phê, h. Tam Nông, nay là thị trấn Hưng Hóa, h. Tam Nông, t. Phú Thọ. Cuối tk 19 đầu tk 20 lẳn lượt chia nhò và sáp nhập với một số vùng thuộc các tinh khác thành các tinh Lào Cai (5.1886), Chợ Bờ (6.1886, đổi thành Hoà Bình 9.1896), Yên Bái (1895), Vạn Bú (1895, dổi thành Sơn La 1904), Hưng Hóa mới (6.1891, nay là Phú Thọ), Lai Châu (6.1909).

        HƯNG YÊN, tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; bắc và tây bắc giáp Bắc Ninh, Hà Nội, nam giáp Thái Bình. Hà Nam. đông giáp Hải Dương, tây giáp Hà Tây. Dt 923,09 km2; ds 1,11 triệu người (2003). Thành lập 1831, gồm phần lớn t. HY (trừ các huyện Vãn Giang, Văn Lâm, Mĩ Hào) và một phần t. Thái Bình ngày nay. 1890 tách các huyện phía nam Sông Luộc cùng với một phán Nam Định để lập t. Thái Bình. Nửa đầu tk 20 lần lượt sáp nhập một số huyện của Hải Dương, Bắc Ninh. 1968 hợp nhất với Hải Dương thành t. Hải Hưng, 11.1996 tái lập. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 1 thị xã; tinh lị: tx Hưng Yên. Địa hình bằng phẳng, có Sông Hồng, Sông Luộc ở phía tây và phía nam. Nhiệt độ trung bình hàng năm 23°C, lượng mưa 1.500mm/năm. Là tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 547,4 nghìn tấn (lúa 530,6 nghìn tấn). Các khu công nghiệp đang hình thành: Như Quỳnh. Phố Nối... Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 2.565,6 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 5A, đường 39; đường sắt Hà Nội - Hải Phòng; đường thủy: Sông Hồng, Sông Luộc... Tk 16-17 thương cảng Phố Hiến là trung tâm thương mại, giao dịch quốc tế lớn. Quê hương Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Ngũ Lão, Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh... Truyền thống lịch sử CM: phong trào Du kích đường 5, Đội du kích Hoàng Ngân trong KCCP. Địa danh lịch sử QS: Đấm Dạ Trạch, bến Hàm Tử, Tây Kết (chiến thắng chống Nguyên -  Mông lần thứ II, năm 1285); căn cứ Bãi Sậy (1885-89)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67086266_452063618856857_148413393777197056_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmXr5HZ3nYCBV96Nh5xyYI8NcZgM4gxrE0ZhC6hsKzJAd5YywyWRsjL6egIspRyh6Y&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a9bf60961eba861384a8de6efad03b49&oe=5DABCD6F)


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:57:58 PM
       
        HƯƠNG CẢNG nh HỔNG CÔNG

        HƯỚNG CHIẾN DỊCH, dải địa hình, vùng biển kế cận (nếu có) và vùng trời phía trên, ở đó có những mục tiêu chiến dịch quan trọng và có những điều kiện cho phép liên binh đoàn (tập đoàn) chiến dịch bố trí triển khai và tiến hành chiến dịch. HCD là một bộ phận của hướng chiến lược hoặc độc lập.

        HƯỚNG CHIẾN LƯỢC, dải địa hình rộng lớn, vùng biển kế cận (nếu có) và vùng trời phía trên mà ở đó các tập đoàn lực lượng lớn của LLVT có thể bố trí, triển khai và trong chiến tranh thì tiến hành tác chiến, thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch chiến lược. Trên HCL thường có một hoặc một số hướng chiến dịch. HCL là một phần của chiến trường tác chiến.

        HƯỚNG CHUẨN của pháo binh, hướng thống nhất được chọn để định hướng cho pháo và khí tài trinh sát của một hoặc một số phân đội (binh đội) pháo binh. HC được cho bằng góc phương vị ô vuông, lấy chẵn trăm li giác, từ giữa khu vực trận địa bắn (hay đài quan sát) tới giữa khu vực mục tiêu; do người chỉ huy (chủ nhiệm) pháo binh cấp cao nhất quy định. Trong nhiều trường hợp, một đơn vị pháo binh có nhiều HC: chính, phụ và riêng cho từng trận địa bắn và đài quan sát.

        HƯỚNG ĐỘT KÍCH CHỦ YẾU X. HƯỚNG TIẾN CÔNG

        HƯỚNG PHÒNG NGỰ, khu vực (dải) địa hình mà địch có thể tiến công, cần chuẩn bị phòng ngự. Có HPN chủ yếu và HPN khác. Xác định HPN chủ yếu là một nội dung cơ bản trong quyết tâm phòng ngự.

        HƯỚNG TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG, dải không gian phía trên mặt đất, mặt nước của địa bàn có những mục tiêu mang ý nghĩa chiến dịch và chiến lược (như cụm lực lượng lục quân, hải quân, không quân, trung tâm hành chính, chính trị và công nghiệp) và có những điều kiện cho phép các lực lượng không quân tiến hành (độc lập hoặc hiệp đồng với các quân binh chủng khác) các hoạt động tác chiến để thực hiện những mục đích chiến lược và chiến dịch nhất định.

        HƯỚNG TIẾN CÔNG, dải địa hình từ trận địa xuất phát tiến công đến hết chiều sâu nhiệm vụ, mà các đơn vị LLVT phải tiêu diệt (đánh bại) quân địch, hoàn thành nhiệm vụ tiến công. HTC do cấp trên chỉ định hoặc do người chỉ huy tự xác định, căn cứ vào ý định cấp trên, tình hình địch, ta, địa hình và các điều kiện khác... Thường được xác định trên bản đồ và cụ thể hóa trên thực địa. HTC có các loại chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; chủ yếu, thứ yếu, và các hướng khác. HTC chủ yếu là HTC của lực lượng chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc tiêu diệt địch và hoàn thành nhiệm vụ tiến công. Chọn HTC chủ yếu và quyết định sử dụng lực lượng trên hướng này là một nội dung quan trọng trong ý định tác chiến tiến công; phải đảm bảo triển khai thuận lợi và phát huy sức chiến đấu của lực lượng chủ yếu, tạo bất ngờ đánh vào mục tiêu chủ yếu của đối phương, hiệp đồng chặt chẽ, cơ động thuận lợi. HTC chủ yếu cg là hướng đột kích chủ yếu. HTC thứ yếu là HTC của một bộ phận lực lượng để thực hiện một phần nhiệm vụ tiến công, hỗ trợ HTC chủ yếu.

        HƯỚNG XE TẢNG ĐỊCH UY HIẾP, dải địa hình thuận tiện cho địch sử dụng lực lượng lớn xe tăng, xe bọc thép trong tiến công, phản kích (phản đột kích) gây nguy cơ phá vỡ thế trận của ta. HXTĐUH thường trùng với hướng tiến công, phản kích (phản đột kích) chủ yếu. Trên hướng này cần tổ chức hệ thống chống tăng mạnh, chuẩn bị đường cơ động cho đội dự bị chống tăng, đội cơ động vật cản, cũng như cho các phương tiện chống tăng từ các hướng khác và lực lượng dự bị được điều đến.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 04:59:16 PM

        HỮU BÌNH (Đồn Nam), pháo đài ở hữu ngạn sông Sài Gòn, xây dựng 1789 trên địa phận h. Tân Bình, phủ Gia Định (nay thuộc phường Tân Thuận Đông, q. 7, tp Hồ Chí Minh). Cùng với pháo đài Tả Định trên bờ đối diện tạo thành tiền đồn bảo vệ cửa ngõ đông nam thành Gia Định. 16.2.1859 khi tiến đánh Gia Định lần thứ nhất, tàu chiến của liên quân Pháp - Tây Ban Nha tiến công hai pháo đài này. Quân ta chống trả quyết liệt nhưng không bảo vệ được. Cả hai đồn bị pháo địch san bằng.

        HỮU MAI (Trần Mai Nam; s. 1926), nhà văn. Quê tp Nam Định, t. Nam Định; nhập ngũ 1946, đại tá (1980); đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, tham gia nhiều chiến dịch lớn. chủ bút báo “Quân tiên phong” của Đại đoàn 308. Sau KCCP, biên tập viên tạp chí “Văn nghệ quân đội", trưởng phòng văn hóa - văn nghệ QĐ. Sau chuyển ngành sang Hội nhà văn VN (ủy viên BCH, ủy viên Ban thư kí Hội khóa III. IV). Tác phẩm chính; “Những ngày bão táp” (1957), “Cao điểm cuối cùng” (1961), “Đồng đội” (1962), “Dải đất hẹp” (1968), “Vùng trời” (3 tập; 1971, 1974, 1980), “Đất nước” (1985), “Ồng cố vấn” (tiểu thuyết tình báo 3 tập, giải thưởng Hội nhà văn 1989, giải thưởng BQP 1989). HM là người chấp bút ghi lại các tập hồi kí của Võ Nguyên Giáp như “Từ nhân dân mà ra”, “Một vài hồi ức về Điện Biên Phủ”; “Những năm tháng không thể nào quên”, “Những chặng đường lịch sử”. Tác giả kịch phim; “Ông cố vấn”. “Hoa ban đỏ”, “Cao điểm cuối cùng”. Huân chương: Quân công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67135024_452063605523525_3425251962046644224_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQlzEJ480KLr-o8RxZbC9tU0OZVN7tVgIakQHagnCFVHjHyhUil3lMeXlNf9tByWk9E&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=fdd16ed13a34442971f50aa4c43b48db&oe=5DA15570)


        HỮU NGHỊ QUAN, cửa khẩu biên giới Việt - Trung, thuộc địa phận t. Lạng Sơn, bắc tx Lạng Sơn 18km. Điểm xuất phát của quốc lộ I và đường sắt Bắc - Nam. Nguyên là Trấn Nam Quan do nhà Minh lập từ 1368 (đời Hồng Vũ), cg ải Pha Lũy, Nam Quan. Trong chiến tranh Trung - Pháp, cửa quan bị quân Pháp đốt phá. 1949 TQ xây dựng lại theo kiến trúc cổng vòm ba tầng. 1953 đổi thành Mục Nam Quan. 1965 đổi là HNQ. Ba chữ “Hữu Nghị Quan” trên lầu quan do Trần Nghị đề tự.
 
IA ĐRĂNG, sông ở Tây Nguyên. Dài 68km, bắt nguồn từ phía nam tx Plây Cu, t. Gia Lai, chảy qua h. Chư Prông sang Campuchia, đổ ra sông Xêrêpốc (một nhánh của sông Mê Công). Trong chiến dịch Plây Me (19.10-26.11.1965), tại thung lũng sông IĐ diễn ra trận la Đrăng (17.11.1965), trận vận động tiến công của Tiểu đoàn bộ binh 8 (Trung đoàn 66) và Tiểu đoàn bộ binh 1 (Trung đoàn 33) vào Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn kị binh không vận số 3 Mĩ.


Tiêu đề: Re: H
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 07:01:46 PM
     
HẾT H