Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:16:21 PM



Tiêu đề: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:16:21 PM
         
        Đ-30. pháo lựu cỡ 122mm có giá pháo ba càng, do LX thiết kế chế tạo đầu những năm 60 tk 20. Mẫu đầu tiên kí hiệu Đ-30, mẫu cải tiến Đ-30A khác ở kết cấu loa hãm lùi hai ngăn có 4 cửa thoát khí và bộ phận kích pháo dùng thủy lực. Tính nâng chính: chiều dài nòng pháo (cả loa hãm lùi) 4.785mm, khối lượng đầu đạn mảnh - phá 21,76kg, tầm bắn 15.300m. Khối lượng pháo ở thế chiến đấu 3.200kg, ở thế hành quân 3.290kg. Có góc hướng 360° (khi góc tầm từ -5 đến +18°) và góc tầm từ -7° đến +70°. Tốc độ bắn 6-8 phát/ph, thời gian chuyển thế 1.5- 2,5ph, được kéo bằng xe xích AT-P, xe bánh hơi ZiL-131, ZiL-151, ZiL-157 hoặc Kraz. Tốc độ hành quân lớn nhất trên đường tốt 60km/h. Có trong trang bị của QĐND VN.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66614778_449086542487898_9193950080653066240_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQm_FyHB29Xmgos3E3lse9dC8oQX2WCxf-VuxRpgQCMVrKhbeyWWVZfrGorRHcGSkuo&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=17f772b0afcd602fb5bf506bd999605b&oe=5DAB05F2)

        Đ-74, pháo nòng dài cỡ 122mm do LX thiết kế chế tạo từ 1958 (TQ chế tạo theo mẫu LX, 1960 và gọi là K-60). Tính năng chính: chiều dài nòng pháo (cả loa hãm lùi) 6.450mm; khối lượng đầu đạn 27,3kg; tầm bắn 24.000m; khối lượng pháo ở thế chiến đấu 5.500kg, ở thế hành quân 5.550kg; có góc hướng 58° và góc tầm từ -5° đến +45°; tốc độ bắn 6-7 phát/ph; thời gian chuyển thế 2-2,5ph; được kéo bằng xe xích hoặc xe bánh hơi, tốc độ hành quân 60km/h (đường tốt), 15- 30km/h (đường xấu). Đ-74 được trang bị trong QĐND VN.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66396387_449086552487897_984478028333580288_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmNVGvElvMcWV9qlcsmEZXCnwfrME6kHrOpeVExAE8-9iaWkHmczliSjh3eY349cRY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=db4a3337884a3659bc1a6198d609d22e&oe=5DC0076F)


        ĐA BANG, thành cổ ở làng cổ Pháp, trấn Quảng Oai, nay thuộc xã Vạn Thắng, h. Ba Vì, t. Hà Tây; do Hồ Quý Li cho xây năm 1405 để chống quân Minh. Hiện không còn di tích.

        ĐA CHẤN THƯƠNG, tình trạng bị hai hoặc nhiều chấn thương nặng gây tổn thương các tạng, các bộ phận ngoại vi của cơ thể người hoặc có nhiều loại chấn thương kết hợp như: sọ não, bụng, ngực, tứ chi... Khi khám, phân loại các thương binh bị ĐCT không được để sót các tổn thương nặng ảnh hưởng đến tính mạng. Khi cấp cứu điều trị cần ưu tiên cứu sống tính mạng và xử trí các tổn thương hệ trọng.

        ĐÀ NẴNG, thành phố cảng, trung tàm kinh tế lớn nhất miền Trung VN; đơn vị Ah LLVTND. Bắc và tây bắc giáp Thừa Thiên - Huế, nam và tây nam giáp Quảng Nam, đông giáp Biển Đông. Dt 1.256,24km2; ds 0,75 triệu người (2003). Thành lập 5.1889, thuộc t. Quảng Nam. Từ 1963, theo phân định của Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, thuộc t. Quảng Đà. Từ 1976 là tỉnh lị t. Quảng Nam - ĐN (Quảng Nam và Quảng Đà hợp nhất). Đầu 1997 tách riêng thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương. Tổ chức hành chính: 5 quận, 2 huyện, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa  (đông ĐN 230km). Địa hình: đồi và núi cao ở tây, bắc, đông, các núi cao: Bà Nà (1.467m), Núi Chúa (1.362m), Hải Vân (1.172m), Sơn Trà (693m); trung tâm ĐN và phía nam bằng phẳng. Các sông: Nam ô. Túy Loan, Sông Yên... Bờ biển: 55km, cửa Sông Hàn, vịnh ĐN. Khí hậu nhiệt đới biển, nóng và mưa nhiều, chia hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô), thường có bão vào khoảng tháng 9, 10. Nhiệt độ trung bình hàng năm 28-29°C. Công nghiệp phát triển, tập trung nhiều xí nghiệp lớn thuộc các ngành dệt may xuất khẩu, cơ khí, vật liệu xây dựng, cao su, thủ công mĩ nghệ, chế biến nông hải sản. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 4.086,4 tỉ đồng: sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 53,8 nghìn tấn (lúa 49,2 nghìn tấn), thủy sản 33,98 nghìn tấn. Giao thông: đường sắt Bắc-Nam; đường bộ: QL 1, QL 14, các tỉnh lộ: 601, 602, 603, 604; cảng biển ĐN, Liên Chiểu; sân bay ĐN. Tiềm năng du lịch lớn với bãi biển dài và nhiều thắng cảnh nổi tiếng như Ngũ Hành Sơn (núi Non Nước), đèo Hải Vân, núi Bà Nà... Truyền thống lịch sử CM; phong trào VN Quang phục hội (1916), phong trào Duy Tân... Sự kiện lịch sử QS: Pháp gây hấn (1847, 1856) và đánh chiếm ĐN (1858, 1859), mở đầu cuộc xâm lược VN; Mĩ đổ bộ quân viễn chinh vào ĐN (3.1965), mở đầu sự can thiệp trực tiếp bằng QS trong chiến tranh xâm lược VN; chiến thắng đèo Hải Vân, Liên Chiểu, chiến dịch Đà Nằng (28-29.3.1975)...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66589510_449086535821232_8075409037631422464_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkKCYvO60PAZ8DAFJfU8T_Kj92Xbt54UzRmX-_-ykiDCFFd1EMc-aTFd_cR0wAa4FI&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=362bbd8102ef380d7f270fe7527761b2&oe=5DA532C9)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:18:22 PM

        ĐACĐANEN, eo biển ở Thổ Nhĩ Kì, nối biển Macmara với biển Êgié. Dài 120km, rộng l,3-27km, sâu 29-153m. Là cửa ngõ duy nhất của đường hàng hải quốc tế từ Biển Đen ra Địa Trung Hải. Quy chế pháp lí quốc tế về eo biển Đ được quy định trong công ước Môngtrơ (1936), xác nhận chủ quyền của Thổ Nhĩ Kì với eo biển Đ và những điều kiện qua lại hạn chế của tàu QS các nước.

        ĐACGIĂNGLIƠ (P. Georges Thierry d’Argenlieu; 1889- 1964), đô đốc hải quân, cao ủy Pháp ở Đông Dương kiêm tổng tư lệnh LLVT thuộc Pháp ở Viễn Đông (1945-47). Năm 1908 tốt nghiệp Học viện hải quân. Trong CTTG-I, chỉ huy tàu tuần tiễu; sau chiến tranh đi tu. 1940 trở lại QĐ tham gia kháng chiến chống phát xít Đức (trong CTTG-II), cao ủy của nước Pháp tự do ở Thái Bình Dương (1941), tổng chỉ huy hải quân của nước Pháp tự do (1943-45). Trong những năm làm cao ủy Pháp ở Đông Dương, Đ chủ trương dùng sức mạnh QS để chiếm lại Đông Dương, không thừa nhận nước VN DCCH, lập ra chính phủ Nam Kì tự trị, chủ trương tách Đông Dương ra thành năm xứ nhằm chia để trị và đạt mục đích cuối cùng là duy trì chế độ thực dân của Pháp tại Đông Dương; ra sức chống phá cuộc đàm phán Pháp - Việt; một trong những người trực tiếp chịu trách nhiệm làm bùng nổ cuộc chiến tranh ở VN (12.1946). Bị gọi về Pháp (1947).

        ĐÀI (BUỒNG) CHỈ HUY CỦA TÀU, vị trí được trang bị các phương tiện chỉ huy cần thiết để thuyền trưởng chỉ huy lực lượng thuộc quyền, sử dụng vũ khí và các phương tiện kĩ thuật, tiến hành các hoạt động bảo vệ sức sống của tàu, đồng thời duy trì thông tin liên lạc với cấp trên, các tàu và đơn vị hiệp đồng.

        ĐÀI CANH VÔ TUYẾN ĐIỆN, đài vô tuyến điện làm nhiệm vụ thu liên tục hoặc định giờ trên tần số quy định, để chắp nối liên lạc giữa các đài vô tuyến điện khi bị gián đoạn hoặc chưa đến phiên liên lạc của cấp mình, cấp trên và cấp dưới có liên quan.

        ĐÀI DẪN TÊN LỬA nh ĐÀI ĐIỂU KHIỂN TÊN LỨA

        ĐÀI ĐIỂU KHIỂN TÊN LỬA, tổ hợp các thiết bị dùng đề xác định liên tục tọa độ của tên lửa và mục tiêu, tạo và truyền lệnh điều khiển đến tên lửa để điều khiển tên lửa từ xa hoặc theo phương pháp hỗn hợp. Tọa độ của tên lửa và mục tiêu có thể xác định bằng thiết bị : rađa, hồng ngoại, quang học, lade truyền hình...; lệnh điều khiển được tạo nhờ các thiết bị tính toán và truyền đến tên lửa nhờ thiết bị thu phát vô tuyến. Trong KCCM, VN đã dùng ĐĐKTL SNR-75A để điều khiển tên lửa phòng không V-750V (V-750VM) gồm các thiết bị được đặt trên ba xe moóc: xe PA (P) - xe thu phát (thường gọi là xe P), xe AA (xe A - tính toán) và xe UA (xe U - xe điều khiển). Cg đài dẫn tên lửa.

        ĐÀI KIỂM SOÁT VÔ TUYẾN ĐIỆN, đài vô tuyến điện được tổ chức để theo dõi việc chấp hành các chế độ, quy tắc, quy ước liên lạc vô tuyến điện trong phạm vi phụ trách, phát hiện những vi phạm kỉ luật thông tin, kịp thời báo cáo người chỉ huy. ĐKSVTĐ thường do lực lượng chuyên trách được trang bị máy thu chuyên dùng hoặc lực lượng không chuyên trách sử dụng máy vô tuyến điện thông thường thực hiện. Thường được tổ chức từ cấp sư đoàn trở lên.

        ĐÀI LOAN, tỉnh của TQ, hiện do chính quyền Đài Loan quản lí. Nằm cách bờ đông nam lục địa TQ khoảng 150km qua eo biển Đài Loan. Dt 35.961km2; ds 22,5 triệu người (2002). Trung tâm hành chính: Đài Bắc. Gồm 86 đảo lớn nhỏ. Đảo Đài Loan dài 394km, rộng 144km, dt 35.800km2; ds 20,8 triệu người. Địa hình đồi núi chiếm 2/3 diện tích đảo. Chạy dọc theo đảo theo hướng bắc nam là dãy núi ĐL, đỉnh cao nhất 3.997m. Phía tây là đồng bằng hẹp ven biển. Các sông ngắn nhiều nước. Gần 1/2 đảo là rừng. Khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình tháng 1: 15°- 20°C, tháng 7: 25°-30°C, lượng mưa 1.500mm/năm. vùng núi 5.000mm/năm. Thường có động đất và bão lớn. Công nghiệp: luyện kim, đóng tàu, điện tử, xi măng, hóa chất, hóa dầu, dệt... Có các mỏ dầu khí, than đá, vàng, bạc, đồng, lưu huỳnh... Nông nghiệp: trồng lúa, chè, mía, thuốc lá, chuối... Chăn nuôi và đánh cá phát triển. Người TQ di cư đến ĐL từ tk 7. Tk 16 Bồ Đào Nha chiếm. 1641 Hà Lan chiếm. Những năm 1895-1945 Nhật chiếm. 1949 sau thắng lợi của CM TQ, chính quyền Quốc dân đảng chạy ra ĐL và nắm quyền kiểm soát đến ngày nay. LLVT: lục quân 310.000 người, không quân 77.000, hải quân 38.000, lính thủy đánh bộ 39.000, trang bị có 1.400 xe tăng, 1.300 pháo, 500 máy bay, 2 tàu ngầm, 100 tàu chiến.

        ĐÀI PHÁT ĐIỆN CHUNG, đài vô tuyến điện dùng để phát điện cho nhiều đối tượng trong cùng một thời gian, trên một tần số quy định, theo hình thức liên lạc một chiều, nhằm nâng cao hiệu suất công tác và bảo đảm bí mật; tiết kiệm lực lượng thông tin. Các đài nhận được điện phải báo nhận trên tần số liên lạc tay đôi hoặc bằng phương tiện thông tin khác.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:21:31 PM

        ĐÀI QUAN SÁT, vị trí có trang thiết bị cẩn thiết đẽ quan sát. ĐQS có thể đặt trên địa hình (trong công sự, trên điểm cao...), trên phương tiện cơ động (xe hơi, xe tăng, thiết giáp, máy bay, tàu biển...). Tùy theo tính chất và nhiệm vụ, ĐQS được trang bị những phương tiện quan sát và thông tin thích hợp. Ngoài ĐQS chính còn có ĐQS bổ trợ, ĐQS phía trước, ĐQS bên sườn, ĐQS giả. Để thực hiện nhiệm vụ quan sát đặc biệt, có ĐQS hóa học, phóng xạ, khí tượng - thủy văn... Việc quan sát ở ĐQS do người chỉ huy, sĩ quan tham mưu, trinh sát viên tiến hành và ghi kết quả vào sổ nhật kí.

        ĐÀI QUAN SÁT BẢO VỆ BIÊN GIỚI (BỜ BIỂN VÀ HÁI ĐẢO), đài quan sát làm nhiệm vụ quan sát cảnh giới theo dõi tình hình diễn ra trên khu vực biên giới (vùng biển, đảo). Mỗi đồn biên phòng có thể xây dựng 1-3 ĐQSBVBG(BBVHĐ) trên các đoạn biên giới (biển, đảo) được phân công quản lí. Có ĐQSBVBG(BBVHĐ) chính và bổ trợ, được xây dựng công khai hoặc bí mật (vọng cảnh giới bí mật), bảo đảm sự giao hội để quan sát được toàn bộ khu vực bảo vệ của đồn biên phòng. ĐQSBVBG(BBVHĐ) thường đặt ở vị trí thuận lợi cho việc quan sát, được trang bị khí tài quan sát, phương tiện thông tin, báo động... ĐQSBVBG(BBVHĐ) nằm trong hệ thống thiết bị còng trình bảo vệ biên giới quốc gia. Các vùng trọng điểm phức tạp phải được tổ chức các đài quan sát.

        ĐÀI QUAN SÁT BÊN CẠNH của pháo binh X. ĐÀI QUAN SÁT PHÁO BINH

        ĐÀI QUAN SÁT CHỈ HUY PHÁO BINH, đài quan sát pháo binh dùng cho người chỉ huy pháo binh tiến hành chỉ huy hỏa lực, chỉ huy chiến đấu và trinh sát. ĐQSCHPB thường bố trí trong công sự hay trên xe cơ giới, ở vị trí bảo đảm chỉ huy được các phân đội thuộc quyền và tiện hiệp đồng với bộ binh, xe tăng trong quá trình chiến đấu. Cg đài quan sát chính.

        ĐÀI QUAN SÁT HÓA HỌC, đài quan sát có nhiệm vụ phát hiện đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn và phát tín hiệu báo động; xác định loại chất độc, mức độ nhiễm xạ và nhiễm độc ở khu vực phụ trách; xác định hướng truyền lan cửa đám mây nhiễm xạ, nhiễm độc; theo dõi tinh hình khí tượng, thủy vãn... ĐQSHH thường do tiểu đội trinh sát hóa học - phóng xạ đảm nhiệm và được trang bị khí tài trinh sát hóa học - phóng xạ, khí tài phòng độc; phương tiện thông báo, báo động; máy đo gió, địa bàn, sơ đồ, bản đồ...

        ĐÀI QUAN SÁT HÓA HỌC KIÊM NHIỆM, đài quan sát của các đơn vị binh chủng hợp thành, các quân chủng, binh chủng, ngoài nhiệm vụ quan sát chính, còn kiêm thêm nhiệm vụ quan sát, phát hiện địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn. ĐQSHHKN có thể được trang bị một số khí tài trinh sát hóa học - phóng xạ, khí tài phòng độc, đồng thời được huấn luyện kĩ thuật sử dụng các khí tài đó và phương pháp quan sát hóa học - phóng xạ.

        ĐÀI QUAN SÁT PHÁO BINH, 1) đài quan sát để trinh sát địch, địa hình, phục vụ bắn và theo dõi hành động của bộ đội ta; thành phần của đội hình chiến đấu pháo binh. Thường tổ chức ở cấp đại đội, tiểu đoàn trở lên, gồm các nhân viên của phân đội chỉ huy với phương tiện, khí tài quan sát, thông tin cần thiết. Có đài chính và đài bổ trợ. Đài quan sát chính: thường có người chỉ huy pháo binh ở đó để trinh sát, chỉ huy hỏa lực và chỉ huy các hành động chiến đấu Khác. Cg đài chỉ huy - quan sát. Đài quan sát bổ trợ: làm nhiệm vụ trinh sát phụ thêm cho đài quan sát chính; tùy theo nhiệm vụ cụ thế, có đài phía trước và đài bên cạnh. Đài quan sát phía trước: đài quan sát bổ trợ, bố trí gần địch hơn để quan sát, sửa bắn những mục tiêu không quan sát thấy từ đài quan sát chính, để liên lạc hiệp đồng với các phân đội bộ binh cấp dưới. Cg đài quan sát tiền tiến (cũ). Đài quan sát bên cạnh: đài quan sát bổ trợ, bố trí ở một bên của đài chính để trinh sát, sửa bắn nơi tiếp giáp, cạnh sườn hay cùng đài quan sát chính lập thành cặp đài giao hội; 2) vật thể để bố trí nhân viên, khí tài của đài quan sát. Có thể là công sự, vật kiến trúc cao, xe tăng, xe bọc thép, xe chiến đấu, máy bay...

        ĐÀI QUAN SÁT PHÍA TRƯỚC của pháo binh X. ĐÀI QUAN SÁT PHÁO BINH

        ĐÀI RADA X. RAĐA

        ĐÀI THÔNG BÁO BÁO ĐỘNG, đài vô tuyến điện dược tổ chức để phát các tín hiệu thông báo, báo động cho các đơn vị thuộc quyền và các đơn vị có liên quan về: chuyên trạng thái sẵn sàng chiến đấu, địch tập kích đường không, tập kích vũ khí hủy diệt lớn; tình hình hoạt động của máy bay ta, máy bay địch; tình hình khí tượng thủy văn... Tín hiệu thông báo. báo động được quy định trước, ngắn, gọn dễ nhận, dễ nhớ. Báo nhận được thực hiện chủ yếu trên mạng canh vô tuyến điện hoặc qua các tổ chức liên lạc và phương tiện thông tin khác. ĐTBBĐ được tổ chức ở cấp sư đoàn trở lên. Tuỳ tình hình, ĐTBBĐ có thể làm việc 24/24 giờ hoặc định giờ trong ngày.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:23:38 PM

        ĐÀI (TRẠM) QUAN SÁT BIỂN, đài quan sát để theo dõi các hoạt động của đối phương, của lực lượng ta và tình hình vùng biển. Đ(T)QSB có thể đặt trên bờ, trên đảo, trên tàu hoặc trên máy bay, máy bay trực thăng. Theo nhiệm vụ, có các loại Đ(T)QSB: đối không, đối hải, phòng chống thủy lôi, chống ngầm, hóa học, phóng xạ; theo phương tiện quan sát, có: rađa, hồng ngoại, thủy âm, truyền hình và đài (trạm) quan sát mắt.

        ĐÀI TRUỞNG MẠNG, đài vô tuyến điện làm nhiệm vụ điều khiển và duy trì kỉ luật để bảo đảm liên lạc trong mạng vô tuyến điện. ĐTM thường là đài của người (cơ quan) chỉ huy  cấp trên; trong mạng vô tuyến điện hiệp đồng, ĐTM do cơ quan tham mưu quy định. Các đài trong mạng phải tuyệt đối chấp hành sự điều khiển của ĐTM và có thể liên lạc với nhau khi ĐTM cho phép. ĐTM do các chiến sĩ báo vụ có trình độ nghiệp vụ giỏi và nhiều kinh nghiệm đảm nhiệm.

        ĐÀI TUỞNG NIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM, công trình kiến trúc hình chữ V bằng đá tại thủ đô Oasinhtơn (Mĩ), trên đó khắc tên của hơn 58 nghìn người Mĩ chết và mất tích trong chiến tranh xâm lược của Mĩ ở VN (1954-75). Được khởi công xây dựng 1979, hoàn thành 13.11.1982. ĐTNCTVN dài hơn 150m, cao hơn 3m, xây dựng theo sáng kiến của Scơrắc (cưu chiến binh Mĩ tham gia chiến tranh xâm lược VN), do Lin (nữ sinh viên kiến trúc người Mĩ gốc Hoa) thiết kế, với sự ủng hộ và góp tiền của nhiều người Mĩ. Mỗi năm có hàng chục nghìn lượt người Mĩ đến ĐTNCTVN.

        ĐẠI BÁC (cũ), gọi chung các loại pháo xe kéo, thường bắn đạn có chứa thuốc nổ trong đầu đạn.

        ĐẠI BẢN DOANH (ngoại), cơ quan chỉ huy QS cao nhất của Nga và LX trong thời chiến. Thành phần gồm: tổng tư lệnh, phó tổng tư lệnh tối cao và một số thành viên khác. Trong CTTG-I nước Nga có ĐBD tổng tư lệnh tối cao để chỉ huy QĐ Nga. Trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại của LX, thời kì CTTG-II có ĐBD Bộ tổng chỉ huy tối cao (23.6.1941), sau đổi thành ĐBD Bộ tổng tư lệnh tối cao (8.8.1941).

        ĐẠI BỤC, địa điểm ở h. Trấn Yên, t. Yên Bái, nơi quân Pháp lập cứ điểm thuộc phòng tuyến Sông Thao. Cứ điểm được xây dựng kiên cố, gồm lô cốt và các lớp hàng rào thép gai, do 120 lính Âu - Phi và lính người Thái chốt giữ. 19.5.1949 Tiểu đoàn 54 bộ đội chủ lực QĐND VN tiến công cứ điểm ĐB, diệt và bắt toàn bộ quân địch, mở đầu chiến dịch Sông Thao (19.5 187.1949).

        ĐẠI CÔ, hệ thống pháo đài phòng thủ bờ biển của TQ thời Minh - Thanh trên cửa sông Hải Hà đổ ra vịnh Bột Hải. Vị trí: 38°58’ bắc, 117°40' đông; đông nam tp Thiên Tân 50km. Có vị trí hiểm yếu, án ngữ cứa ngõ vào tp Thiên Tân. Từ 1404 các đồn binh được bố trí ở đáy cùng với việc xây dựng các bệ pháo bảo vệ bờ biển. 1840 nhà Thanh xây dựng thành pháo đài. 1858 xây dựng hệ thống 5 pháo đài gồm 64 đại bác. Từ 1871 hai lần xây dựng thêm các pháo đài, tạo thành hệ thống dồn ải phòng ngự ĐC. 1840-1937, QĐ Anh, Pháp, Nhật 5 lần đổ bộ chiếm ĐC. Trong chiến tranh nha phiến lần II (1856- 60), liên quân Anh - Pháp ba lần tiến công, trong đó hai lần chiếm được ĐC. Theo hiệp ước Tân Sửu (1901), toàn bộ hệ thống pháo đài ở ĐC bị phá hủy. Hiện nay khu vực đông bắc cửa ĐC được xây dựng thành cảng Thiên Tân mới.

        ĐẠI CỒ VIỆT, quốc hiệu nước VN dưới các triều Đinh, Tiền Lê và đầu triều Lí. Năm 968 sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng) và đặt tên nước là ĐCV. 1054 Lí Thánh Tông đổi thành Đại Việt.

        ĐẠI DƯƠNG, lớp nước mặn bao phủ bề mặt Trái Đất, bao quanh các lục địa. Tổng dt 361,06 triệu km2 (khoảng 75% diện tích bề mặt Trái Đất), bị các lục địa phân chia thành 4 phần: Thái Bình Dương (chiếm 50% tổng diện tích ĐD), Đại Tây Dương (25%), Ấn Độ Dương (21%) và Bắc Băng Dương (4%). Độ sâu trung bình 3.800m. Hàm lượng muối trung bình 35%0 (35g muối trong 1 lít nước). Nhìn từ góc độ chiến lược QS, mỗi ĐD là một chiến trường chiến lược.

        ĐẠI ĐIỂN (cổ), lễ đăng kí hộ tịch để duyệt dân tuyển quân, tiến hành sáu năm một lần dưới thời Lê Sơ nhà Hậu Lê. Được đặt ra dưới triều vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 1 (1470). Nam giới từ 18 tuổi trở lên chia thành sáu hạng: tráng hạng (người mạnh khỏe để sung vào quân ngũ), quân hạng (người ở nhà làm ruộng, khi thiếu quân mới lấy theo thứ tự đế bổ sung), dân hạng (người không phải sung quân, nhưng phải nộp thêm thuế thân); lão hạng (người từ 60 tuổi trở lên); cố hạng (người tàn tật); cùng hạng (người lang bạt, nghèo túng). Hộ có ba đàn ông thì một người xếp vào hạng tráng, một người xếp vào hạng quân, một người xếp vào hạng dân. Hộ có bốn đàn ỏng thì hai người được xếp vào hạng dân. Hộ có năm, sáu đàn ông trở lên thì xếp hai người vào hạng tráng, một người vào hạng quân. Những người thuộc lão hạng, cô hạng được chép vào sổ riêng; những người thuộc cùng hạng thì không vào sổ. Việc đăng kí xét duyệt và phân hạng do các quan (triều đình cử xuống) tiến hành ở tuyển trường. Chi phí cung đốn cho các quan làm ĐĐ do các xã trong khu vực tuyển trường đóng góp bằng gạo và tiền.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:25:24 PM

        ĐẠI ĐOÀN, binh đoàn chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam trong KCCP, gồm 3 trung đoàn và một số đơn vị trực thuộc. Được Chính phủ VN DCCH quy định lần đầu về tổ chức theo sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 và quy định về biên chế chi tiết theo sắc lệnh 71-SL ngày 22.5.1946. Có ĐĐ bộ binh và ĐĐ công binh - pháo binh. Các ĐĐ bộ binh 1, 2 (ở Bắc Bộ). 23, 27, 31 (ở Trung Bộ) thành lập từ đầu 1946, giải thể 11.1946, ĐĐ Độc Lập thành lập 8.1947, giải thể cuối 1947 do trình độ tổ chức, chỉ huy còn yếu, trang bị kém, khả năng tác chiến tập trung hạn chế. Đến 1949 ĐĐ bộ binh chủ lực đầu tiên được thành lập (ĐĐ 308), các ĐĐ thành lập 1950-51 gồm; 304, 312, 316, 320, 325 (bộ binh) và 351 (công binh - pháo binh), đáp ứng yêu cẩu phát triển của cuộc KCCP. Từ 1955 được tăng cường biên chế, đổi thành sư đoàn.

        ĐẠI ĐOÀN 351, đại đoàn công binh - pháo binh, một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của QĐND VN, thành lặp 27.3.1951. Gồm Trung đoàn sơn pháo 675, Trung đoàn 34 (xây dựng thành Trung đoàn lựu pháo 45) và Trung đoàn công binh 151. Tham gia các chiến dịch: Đường 18 (1951), Hà - Nam - Ninh (1951), Hoà Bình (1951-52), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phủ (1954). Sau KCCP hai trung đoàn (675 và 151) làm nòng cốt xây dựng và phát triển lực lượng binh chủng pháo binh, công binh; ĐĐ351 được tổ chức thành Sư đoàn pháo binh 351. Năm 1958 giải thể để tổ chức thành một số đơn vị mới. Đơn vị đầu tiên được tặng cờ luân lưu "Quyết chiến quyết thắng” của chủ tịch Hổ Chí Minh (1954). Đại đoàn trường, chính ủy đầu tiên: Vũ Hiến, Phạm Ngọc Mậu.

        ĐẠI ĐOÀN CHIẾN THẮNG nh SƯ ĐOÀN 312

        ĐẠI ĐOÀN ĐỒNG BẰNG nh SƯ ĐOÀN 320

        ĐẠI ĐOÀN QUÂN TIÊN PHONG nh SƯ ĐOÀN 308

        ĐẠI ĐỘI, phân đội liền trên trung đội (thường gồm 3 trung đội) thuộc biên chế tiểu đoàn hoặc được tổ chức độc lập trong các quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn và dân quân tự vệ để tác chiến và thực hiện nhiệm vụ khác. Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, biên chế, có: ĐĐ bộ binh (bộ binh cơ giới), ĐĐ trợ chiến (cũ), ĐĐ xe tăng (xe thiết giáp), ĐĐ pháo (mặt đất, phòng không); ĐĐ thông tin (hữu tuyến điện, vô tuyến điện...), ĐĐ công binh (công trình, cầu phà...), ĐĐ trinh sát (trinh sát kĩ thuật...), ĐĐ đặc công (bộ, nước), ĐĐ phòng hóa (tiêu độc, khói, lửa...), ĐĐ quân y, ĐĐ vận tải (bộ, ô tò...)... Trong LLVTND VN. ĐĐ được quy định tổng quát về nguyên tác tổ chức, biên chế từ 1941 (cho đội tự vệ), hình thành trên thực tế từ 1943 (trong Việt Nam giải phóng quân), được ấn định cụ thể về tổ chức, biên chế 22.5.1946 theo sắc lệnh 71- SL của chủ tịch nước VN DCCH (cho lục quân) và các văn bản tiếp sau của BQP, BTTM (cho các quân chúng khác).

        ĐẠI ĐỘI 2 (Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304), đại đội bộ binh; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1969 và 1972). Thành lập 1947 với phiên hiệu Đại đội 134, thuộc Tiểu đoàn Lê Lợi, Trung đoàn 66, Liên khu 3; sau thuộc Sư đoàn 304. năm 1954 đổi tên thành ĐĐ2. thuộc Tiểu đoàn 7. Trong KCCP tham gia các chiến dịch: Quang Trung, Hoà Bình... và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Trong KCCM, 1964 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, tham gia các chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Nam Lào. Trị Thiên, Nông Sơn - Thượng Đức, giải phóng Quảng Nam - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh, bảo vệ dinh Độc Lập. 1978 chiến đấu ở biên giới Tây Nam và đầu 1979 tham gia chiến đấu ở biên giới phía bắc... Trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã diệt hàng trăm địch (chủ yếu là Mĩ), bắn rơi một máy bay trực thăng; chiến dịch Trị Thiên, Đường 9 - Nam Lào, Quảng Trị, đã diệt hàng trăm địch, thu nhiều vũ khí trang bị.

        ĐẠI ĐỘI 4 (Trung đoàn không quân 923), đại đội không quân tiêm kích; đơn vị ba lần Ah LLVTND (1969, 1975 và 1979). Thành lập 12.1965 tiền thân là Đại đội 2 (8.1965), mang tên ĐĐ4 (từ 12.1975). được trang bị máy bay tiêm kích MÍG-17B. Từ 6.1966 đến 9.1969, xuất kích 140 lần chiếc, đánh 29 trận, bắn rơi 36 máy bay Mĩ (có 14 F-4, 12 F-105, 14F-8 và 3 AD-4). Từ 10.1969 đến 1.1973 bắn rơi 9 máy bay Mĩ. 16 giờ 5ph ngày 19.4.1972, biên đội 2 chiếc MiG-17 cơ động chiến đấu, cất cánh từ sân bay dã chiến Khe Gát đánh cháy 2 tàu khu trục của hải quân Mĩ gần bờ biển t. Quảng Bình. 28.4.1975 sử dụng máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay của không quân QĐ Sài Gòn. 5.1975-4.1979, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, xuất kích 241 lần chiếc, đánh 92 trận, diệt 12 SCH địch (2 SCH mặt trận. 4 SCH sư đoàn và 6 SCH trung đoàn), đánh chìm 12 tàu thuyền, đánh tan 11 trận địa pháo, 1 phà và 15 xe QS, diệt hàng trăm địch. Huân chương: 4 Quân công, 68 Chiến công, 45 huy hiệu Bác Hồ. Đại đội trưởng đầu tiên: Lê Quang Trung.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:26:37 PM

        ĐẠI ĐÔI 5 (Đoàn 10 Rừng Sác), đại đội đặc công nước, đơn vị hai lần Ah LLVTND (1972 và 1975). Thành lập đầu 1967 tại Hải Phòng. 6.1967 được bổ sung vào Đoàn 10 Rừng Sác miền Đông Nam Bộ. 1967-72 bám trụ địa bàn, bám sát mục tiêu, đánh chìm, đánh hỏng hơn 50 tàu xuồng, sà lan, phá hủy hàng trăm triệu lít xăng dầu của dịch; 12.1973 đánh kho xăng dầu tại cảng Nhà Bè phá hủy hơn 140 triệu lít xăng dầu, 1 tàu chở dầu 12.000t cùng toàn bộ thiết bị chuyên dùng. 1975 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng Đoàn 10 khống chế đối phương trên sông Lòng Tàu, chiếm giữ cảng Nhà Bè, thu giữ 120 tàu. Huân chương: 2 Quân công, 5 Chiến công và 6 cá nhân Ah LLVTND.

        ĐẠI ĐỘI 5 (thuộc Trung đoàn pháo phòng không 230), đại đội pháo phòng không, đơn vị Ah LLVTND (1970). Thành lập 26.6.1958. Trong KCCM, chiến đấu ở nhiều tỉnh, thành phố miền Bắc, bắn rơi 29 máy bay Mĩ, có nhiều chiếc rơi tại chỗ (6.11.1965 tại Đồng Giao, Thanh Hóa, 1 AD-5; ngày 12.8.1967 tại Hà Nội 1 F-105). Trong chiến dịch Đường 9 -  Nam Lào (1971), bảo vệ giao thông và trận địa pháo binh, nhiều lần địch đánh trận địa, dũng cảm đánh địch bảo vệ an toàn mục tiêu. Chiến dịch Trị Thiên (1972), đánh 276 trận, có 75 trận đánh đêm, bắn rơi 9 máy bay (23.4.1972 đánh thắng địch dùng bom điều khiển bằng lade, bắn rơi 1 F-4; ngày 28- 30.6.1972 ở bắc Sông Nhùng vừa đánh địch trên không vừa đánh bộ binh địch, bắn rơi 1 F-8), diệt nhiều địch. Huân chương: Quân công, Chiến công và một cá nhân Ah LLVT- ND. Đại đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Nguyễn Sơn Đoàn, Nguyễn Văn Mới.

        ĐAI ĐÔI 10, đại đội thông tin quân bưu thuộc Trung đoàn thông tin quân bưu 130, BTL Binh chúng thông tin liên lạc; đơn vị Ah LLVTND (1971). Thành lập 9.1970, tiền thân là Trung đội 10, Đại đội 3, Tiểu đoàn quân bưu 78, BTL Binh chúng thông tin liên lạc. Trong KCCM có nhiệm vụ vận chuyển công văn, tài liệu, đưa, đón cán bộ từ BQP (BTTM) và SCH tiền phương BQP đến các đơn vị an toàn. ĐĐ10 có truyền thống: đoàn kết, ki luật nghiêm, tiến bộ vững chắc, toàn diện. Đại đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Tạ Điển, Tạ Văn Ung.

        ĐẠI ĐỘI 32 (Đơn vị bảo vệ đảo Cồn cỏ), đại đội hỗn hợp gồm các phân đội: bộ binh, cao xạ, công binh, thông tin, hóa học... thuộc Trung đoàn 270, Quân khu 4, làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Cồn Cỏ; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1967 và 1970). Ngày 8.8.1959 nhận lệnh cắm cờ trên đảo Cồn cỏ, khẳng định chủ quyền của nước VN DCCH. Đã liên tục chiến đấu, bảo vệ vững chắc đảo Cồn cỏ. Từ 8.1964 đảo đã bị máy bay, tàu chiến Mĩ đánh phá ác liệt 841 lần, có lần kéo dài 24 ngày đêm liên tục. Cán bộ chiến sĩ đã nêu cao cảnh giác, chiến đấu dũng cảm giữ vững trận địa, bắn rơi 31 máy bay Mĩ, phối hợp với bộ đội hải quân bắn chìm 2 tàu, bắn bị thương 4 tàu chiến Mĩ. Có nhiều gương tiêu biểu như: khẩu đội Nguyễn Văn Mật, Nguyễn Văn Nhâm bị bom vùi vẫn bình tĩnh dũng cảm, tiếp tục chiến đấu bắn rơi máy bay; Thái Văn A bị thương vẫn đứng trên chòi cao quan sát địch: Vũ Đức Duệ, Bùi Thanh Phong, Nguyễn Văn Khánh bị sốt' rét, bị thương nặng vẫn không rời vị trí chiến đấu... Ba lần Bác Hồ, Bác Tôn gửi thư khen; Quốc hội tặng cờ “Pháo hạm nổi bất khả xâm phạm”. Huân chương: Độc lập hạng nhì, 4 Quân công, 2 Chiến công và 49 cá nhân được thưởng huân chương Chiến công; 6 cá nhân được tặng danh hiệu Ah LLVTND. Ngày truyền thống 8.8.1959. Chỉ huy đầu tiên: Dương Đức Thiện.

        ĐẠI ĐỘI BỘ BINH CƠ GIỚI, đại đội chiến đấu được trang bị xe chiến đấu bộ binh (xe thiết giáp), gồm 3 trung đội bộ binh cơ giới, xe chiến đấu bộ binh của đại đội trưởng và một số nhân viên phục vụ. thuộc biên chế của tiểu đoàn bộ binh cơ giới. Theo loại xe, có: ĐĐBBCG xe xích (BMP-1, BMP-2, MI 13), xe bánh lốp (BTR152, BTR50PK BTR60PB). ĐĐBBCG chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình tiểu đoàn bộ binh cơ giới, tiểu đoàn tăng, tiểu đoàn bộ binh. ĐĐBBCG được sử dụng để tiêu diệt, sát thương các phương tiện hỏa lực, sinh lực, trang bị kĩ thuật của địch, làm phân đội phái đi trước, cảnh giới, thọc sâu, vu hồi...

        ĐẠI ĐỘI CÔNG BINH, đại đội chuyên trách thực hiện bảo đảm công binh trong tác chiến, xây dựng và trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí công binh, thuộc biên chế tiểu đoàn công binh các cấp hoặc độc lập trong binh đội, binh đoàn binh chủng hợp thành của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Theo chức năng, nhiệm vụ và trang bị đặc thù, có ĐĐCB: công trình, vượt sông tự hành, vật cản, cầu phà... (các quân chủng, binh chủng có ĐĐCB: không quân, thiết giáp, hải quân đánh bộ...).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:28:26 PM

        ĐẠI ĐỘI CÔNG BINH 1. đơn vị công binh bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1969 và 1972). Tiền thân là Đại đội công binh Bùi Chát, Trung đội công binh B15 (3.1963), phát triển thành Đại đội công binh Hải Vân (2.8.1967). Năm 1967-68 chiến đấu ở bắc Hoà Vang, đánh giao thông trên đoạn QL 1 đi qua đèo Hải Vân (dài 24km); đã đánh 263 trận, diệt 2.495 địch, phá hủy và phá hỏng 250 xe QS (có 34 xe phá mìn), 2 pháo 105mm, 2 súng cối, 36 đại liên, 3 máy dò mìn, bắn rơi 3 máy bay, 59 lần đánh sập cầu cống, phá hủy 1.080m đường, làm tắc giao thông dịch 77 ngày. 1969-71 tự tạo nhiều vũ khí, sử dụng mọi loại vũ khí được trang bị đánh địch có hiệu quả, đánh nhiều trận, diệt 207 xe QS, đánh lật 32 đoàn tàu (186 toa), diệt trên 1 ngàn địch. Đại đội trưởng và chính trị viên đầu tiên: Nguyên Xuân Chư, Hoàng Kim Đính.

        ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG 1, đại đội đặc công thuộc Đoàn 126 BTL hải quân; đơn vị ba lẩn Ah LLVTND (1969, 1972 và 1975). Thành lập 23.10.1963 làm nhiệm vụ huấn luyện cán bộ, chiến sĩ; xây dựng phát triển lực lượng đặc công nước, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu trên các chiến trường khi có lệnh. 4.1964 sáp nhập vào Đoàn hải quân 8; Tháng 4.1966 thuộc biên chế Đoàn 126. Từ 10.1966 đến 4.1973, tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên (khu vực Cừa Việt - Đông Hà). Trong chiến dịch Hồ Chí Minh. ĐĐĐC1 đổ bộ bằng đường biển, tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Trong KCCM đánh chìm và phá hủy trên 70 tàu các loại, trong đó có 1 tàu vận tải lớn 15.000t của dịch. Đại đội trưởng đầu tiên: Mai Năng.

        ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG NƯỚC BẾN TRE, thành lập 1964 tại Bến Tre; đơn vị Ah LLVTND (1970). Từ 1964 đến 1974 đánh trên 500 trận lớn nhỏ, đánh chìm, bắn cháy hàng trăm tàu xuồng, phá hỏng, phá hủy 55 cầu, 8 phà, 78 xe QS, 40 pháo các loại, diệt hàng trăm địch. Được Bộ chỉ huy QGPMN tặng danh hiệu “cưỡi sóng Hàm Luông, nhấn chìm tàu Mĩ”.

        ĐẠI ĐỘI KÍ CON, đại đội nổi tiếng của Liên khu 3, mang bí danh của Đoàn Trần Nghiệp, một trong những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Chiến khu Trần Hưng Đạo. Tổ chức tiền thân: Tiểu đội Kí Con, thành lập 1.7.1945, rồi Trung đội Kí Con (đơn vị nòng cốt đánh chiếm tỉnh lị t. Quảng Yên 20.7.1945 và tham gia giành chính quyền ở Hải Phòng 23.8.1945), cuối 8.1945 phát triển thành đại đội, được gọi là ĐĐKC với nhiệm vụ bảo vệ chính quyền CM ở Hải Phòng và khu mỏ Hòn Gai (1945-46). Đại đội đánh chìm 2 tàu chiến Pháp Crayxắc (7.9.1945) và Ôđaxiơ (11.9.1945), đánh dẹp quân Việt - Cách (9.1945) tại Hòn Gai, cùng các đơn vị khác đánh lui hàng chục đợt tiến công của quân Pháp tại Hái Phòng (11.1946). Sau đó phát triển thành tiểu đoàn, rồi Trung đoàn Kí Con (Trung đoàn 66). Đại đội trưởng (trước đó là tiểu đội trưởng, trung đội trưởng) đầu tiên: Lê Phú.

        ĐẠI ĐỘI NỮ PHÁO BINH NGƯ THỦY, đại đội pháo binh dân quân xã Ngư Thủy (h. Lệ Thủy, t. Quảng Bình); đơn vị Ah LLVTND (1970). Thành lập 20.11.1967 gồm 37 chiến sĩ gái tuổi 16-20, trang bị 4 pháo nòng dài 85mm. ĐĐNPBNT bốn lần bắn cháy tàu chiến Mĩ trên vùng biển t. Quảng Bình, trong đó trận đầu tiên (7.2.1968), bắn 48 viên đạn, có 8 viên trúng mục tiêu, bắn chìm tàu chiến số 013 của Mĩ. Đơn vị tiêu biểu cho ý chí quyết tâm và khả năng đánh Mĩ của dàn quân trong chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mĩ ở Bắc VN. Được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu cho từng cán bộ, chiến sĩ. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất. Đại đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Ngô Thị The, Trần Thị Thản.

        ĐẠI ĐỘI PHÁO BINH, đại đội chiến đấu (đơn vị hỏa lực cơ bản của pháo binh) gồm 2 hoặc 3 trung đội pháo, trung đội chỉ huy và một số nhân viên phục vụ, thuộc biên chế của tiểu đoàn pháo binh, tiểu đoàn bộ binh hoặc trong biên chế trung đoàn bộ binh. Tùy theo tính chất, nhiệm vụ... ĐĐPB được trang bị số lượng, loại vũ khí pháo binh khác nhau. ĐĐPB chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn hoặc độc lập. Làm nhiệm vụ chi viện trực tiếp hoặc chi viện chung cho bộ đội binh chủng hợp thành hay độc lập tập kích hỏa lực theo ý định tác chiến. ĐĐPB có khả năng thực hiện một số nhiệm vụ hỏa lực bằng bắn ngắm gián tiếp hoặc bắn ngắm trực tiếp. Trong KCCP, cg liên đội pháo binh.

        ĐẠI ĐỘI PHÁO BINH QUẢNG ĐÀ, Đại đội pháo binh 3, thuộc Trung đoàn pháo binh 68 (1967 đổi thành Trung đoàn 577) trong KCCM; đơn vị Ah LLVTND (1975). Được giao bám trụ trên địa bàn 6 xã vùng Gò Nổi - Điện Bàn (nay thuộc t. Quảng Nam) và Hoà Vang (nay thuộc tp Đà Nẵng), đã đánh trên trăm trận vào kho tàng, sân bay, bến cảng của Mĩ và QĐ Sài Gòn, diệt hàng trăm địch, phá hủy, phá hỏng hàng trăm máy bay, hàng chục kho đạn, kho xăng dầu, bán cháy nổ dây chuyên thiêu hủy đoàn tàu 15 chiếc của địch... ĐĐPBQĐ nổi tiếng về phá hủy phương tiện chiến tranh của địch trên chiến trường B1.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:29:43 PM

        ĐẠI ĐỘI PHÁO PHÒNG KHÔNG, đại đội chiến đấu được trang bị pháo phòng không, thường có 2 hoặc 3 trung đội pháo, trung đội (hoặc tiểu đội) chỉ huy,... và một số nhân viên phục vụ; có nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không ở độ cao thấp và trung bình, bảo vệ mục tiêu của ta hoặc bắn mục tiêu mặt đất, mặt nước, thuộc biên chê tiểu đoàn, trung (lữ) đoàn pháo phòng không hoặc trong binh đội binh chủng hợp thành, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, phân đội hoả lực cơ bản của bộ đội pháo phòng không. Có ĐĐPPK: cỡ nhỏ, cỡ trung, cỡ lớn, tự hành, có khí tài. ĐĐPPK có khí tài gồm: chỉ huy đại đội, trung đội khí tài, trung đội chỉ huy, các trung đội pháo phòng không, tiểu đội phục vụ. ĐĐPPK đầu tiên của QĐND VN mang tên Đại đội 612 thành lập 5.1951, trang bị pháo phòng không 37mm và súng máy phòng không 12,7mm. Đại đội trướng, chính trị viên đầu tiên: Nguyễn Văn Mưu, Bùi Văn Sô.

        ĐAI ĐỘI PHÁO PHÒNG KHÔNG TỰ HÀNH, đại đội được trang bị pháo phòng không cỡ nhỏ lắp trên xe xích, xe bánh lốp chuyên dụng hỏa lực mạnh, khả năng cơ động cao, để tiêu diệt các phương tiện tiến công và đổ bộ đường không của địch ở độ cao thấp, bảo vệ đội hình hành quân, di chuyển và chiến đấu, thuộc biên chế của tiểu đoàn (trung đoàn, lữ đoàn) pháo phòng không. ĐĐPPKTH gồm: các trung đội hỏa lực, xe chỉ huy, tiểu đội phục vụ; thực hiện nhiệm vụ trong đội hình cấp trên hoặc độc lập.

        ĐẠI ĐỘI QUÂN Y, phân đội chuyên môn quân y, thường tổ chức độc lập trong biên chế binh đội. ĐĐQY thường có các tổ: dược, pha chế - hộ tống, chống choáng, phòng mổ, tổ điều trị - vệ sinh phòng dịch... Nhiệm vụ: thời bình triển khai bệnh xá để điều trị thương binh, bệnh binh theo chức năng của tuyến bệnh xá loại 2; trong chiến đấu, triển khai trạm quân y để cứu chữa bước đầu cho thương binh, bệnh binh được quy định trên bậc thang điều trị thời chiến; tiến hành điều trị dự phòng, công tác vệ sinh phòng dịch, huấn luyện, bổi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên quân y; tham gia chí đạo kĩ thuật và tăng cường lực lượng cho quân y tuyến trước, tiếp tế vật tư quân y, pha chế một số thuốc theo phán cấp; thống kê báo cáo tình hình thương binh, bệnh binh và các mặt hoạt động của đại đội.

        ĐẠI ĐỘI SÚNG MÁY PHÒNG KHÔNG, đại đội được trang bị một hoặc nhiều loại súng máy phòng không, để tiêu diệt các mục tiêu trên không ở độ cao thấp, rất thấp và diệt mục tiêu mặt đất, mặt nước, thuộc biên chế của tiểu đoàn súng máy phòng không, trung (lữ) đoàn pháo phòng không và binh đội binh chùng hợp thành. ĐĐSMPK gồm: các trung đội súng máy phòng không, tiểu đội chỉ huy, tiểu đội phục vụ. Thực hiện nhiệm vụ trong đội hình cấp trên hoặc độc lập.

        ĐẠI ĐỘI TĂNG, đại đội chiến đấu (đơn vị chiến thuật cơ bản) của lực lượng tăng thiết giáp, được trang bị xe tăng, gồm 2 hoặc 3 trung đội tăng, xe tăng của đại đội trưởng và một số nhân viên phục vụ, thuộc biên chế của tiểu đoàn tăng (tiểu đoàn bộ binh cơ giới). Theo loại xe tăng, có ĐĐT: hạng nhẹ, hạng trung và ĐĐT bơi nước... ĐĐT chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình tiểu đoàn tăng, tiểu đoàn bộ binh cơ giới, tiểu đoàn bộ binh... ĐĐT được sử dụng để tiêu diệt xe tăng, xe bọc thép, pháo, các phương tiện hỏa lực khác và sinh lực địch, làm phân đội thọc sâu, vu hồi...

        ĐẠI ĐỘI TĂNG 7, đại đội tăng thuộc Tiểu đoàn tăng 3, Trung đoàn tăng 203, Quân đoàn 2; đơn vị hai lần Ah LLVT- ND (1972 và 1979). Thành lập 22.6.1965, quân số 32 người, trang bị 7 xe tăngT-34, sau được thay bằng T-54 (28.1.1978). Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng (21-29.3.1975), đã sử dụng xe tăng T-34 phối hợp với Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đánh tan Tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 8 QĐ Sài Gòn, giải phóng quận lị Mai Lĩnh (23.3.1975), sau đó tiến công  giải phóng quận lị Hướng Điền, đuổi đánh địch đến bắc cửa biển Thuận An, t. Quảng Trị (25.3.1975); trên mặt trận biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, dần đầu đội hình tiến công giải phóng tx Cam Pốt, Campuchia (7.1.1979), tiêu diệt nhiều địch, bắn cháy và phá hủy nhiều vũ khí và xe QS của địch, giải phóng hàng vạn dân ở Cốtxala (Campuchia). Huân chương: Quân công giải phóng hạng ba. 2 Chiến công giải phóng hạng nhất. Có 6 xe được thưởng huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 3 hạng nhì, 2 hạng ba).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:31:12 PM

        ĐẠI ĐỘI TĂNG 9, đại đội tăng thuộc Tiểu đoàn tăng 3, Trung đoàn tăng 203, một trong hai đại đội tăng đầu tiên của QĐND VN được sử dụng chiến đấu trên chiến trường VN và đã đánh thắng trận đầu; đơn vị Ah LLVTND (1971). Thành lập 7.1961, thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn tăng 202, quân số 76 người, trang bị 11 xe tăng bơi PT 76; thuộc Tiểu đoàn tăng 3, Trung đoàn tăng 203 (22.6.1965); Tiểu đoàn tăng 198 Đoàn 559 (8.1967); Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 (18.11.1971). ĐĐT9 đánh nhiều trận trong các chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1-7.1968), Đường 9 - Nam Lào (1-3.1971), tiêu biểu trận tiến công cứ điểm Làng Vây (h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị, 6-7.2.1968), sau khi hành quân bằng xích 1,350km, được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu, đã khắc phục khó khăn cơ động nhanh và bí mật xuôi dòng sông Sê Pôn, hành động bất ngờ, đột phá mạnh, hiệp đồng với phân đội tăng bạn, bộ đội binh chủng hợp thành bao vây, chia cắt, tiêu diệt toàn bộ cứ điểm, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí. Huân chương: Quân công hạng ba, 2 Chiến công hạng nhất. Tiểu đoàn trưởng, chính trị viên đầu tiên: Hà Tiến Tuân, Võ Đình Tấn.

        ĐẠI ĐỘI TÊN LỬA PHÒNG KHÔNG TẦM THẤP, đại đội được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp (A72, A87...), để tiêu diệt các mục tiêu trên không ở độ cao thấp, rất thấp, thuộc biên chế trung (lữ) đoàn pháo phòng không. ĐĐTLPKTT gồm: 3 trung đội hỏa lực, tiểu đội chỉ huy, tiểu đội vận tải. Thực hiện nhiệm vụ trong đội hình cấp trên hoặc độc lập. Hai đại đội A72 của Tiểu đoàn 172 là hai ĐĐTLPKTT đầu tiên của QĐND VN, thành lập 1.12.1971.

        ĐẠI ĐỘI THIẾT GIÁP, đại đội chiến đấu (đơn vị chiến thuật cơ bản) của lực lượng tăng thiết giáp, được trang bị xe thiết giáp, biên chế 2 hoặc 3 trung đội thiết giáp, xe của đại đội trưởng và một số nhân viên phục vụ; thuộc biên chế của tiểu đoàn thiết giáp (hoặc bộ binh cơ giới). Theo loại xe, có: ĐĐTG xe bánh lốp, xe xích. ĐĐTG chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình tiểu đoàn thiết giáp (tiểu đoàn bộ binh cơ giới, tiểu đoàn bộ binh) để tiêu diệt, sát thương các phương tiện hoả lực, sinh lực, trang bị kĩ thuật của địch; làm phân đội phái đi trước, cảnh giới, thọc sâu, vu hồi...

        ĐẠI ĐỘI THÔNG TIN, đại đội bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến và thực hiện các nhiệm vụ khác, thuộc biên chế tiểu đoàn thông tin hoặc được tổ chức độc lập trong các binh chủng, bộ chỉ huy QS tỉnh, trung đoàn, lữ đoàn bộ binh Theo chức năng và nhiệm vụ, có ĐĐTT: hỗn hợp, chuyên ngành (vô tuyến điện, hữu tuyến điện, tiếp sức, đối lưu, vệ tinh, quân bưu).

        ĐẠI ĐỘI TÔ VĨNH DIỆN, đại đội pháo phòng không thuộc Trung đoàn 224, Sư đoàn phòng không 375, được mang tên Ah Tô Vĩnh Diện. Thành lập 1.4.1953, tiền thân là Đại đội 827. Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo phòng không 367. Trong KCCP, tham gia chiến dịch Điện Biên Phú, bắn rơi 4 máy bay Pháp. Trong KCCM, ĐĐTVD đánh hàng trăm trận bào vệ yếu địa, bảo vệ giao thông vận chuyển, bắn rơi 12 máy bay Mĩ các loại (2 chiếc rơi tại chỗ). Nhiều trận đánh xuất sắc: đêm 4.9.1966 ở Đông Anh, Hà Nội dùng pháo 100mm bắn rơi F-105; ngày 2.10.1968 ở Yên Thành, Nghệ An bằng 12 viên đạn bắn rơi tại chỗ A-4; đêm 28.7.1970 ở ngầm Ta Lê đường 20 bắn rơi tại chỗ A-6; ngày 9.4.1971 ở km 82 đường 20 bắn rơi F-4 (chiếc thứ 100 bị Trung đoàn bắn rơi). Đại đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Dương Bá Sanh, Nguyễn Văn Chức.

        ĐẠI ĐỒN CHÍ HOÀ, đồn binh lớn do Nguyễn Tri Phương xây dựng 1860 ở phía tây thành Gia Định (nay thuộc q. 10, tp Hồ Chí Minh) để chống quân Pháp. Là một hệ thống công trình phòng thủ quy mô, dài 3km, rộng l km, tường thành bằng đá ong hoặc đất sét, cao 3,5m, dày 2m, ngoài có hào sâu, chông bẫy. Với 12.000 quân, 150 đại bác, chia thành 5 khu, phía sau có các đồn yểm trợ, hai bên có hai chiến lũy dài là Đồn Tả và Đồn Hữu. Từ đêm 23.2.1861, liên quân Pháp - Tây Ban Nha mở đợt tiến công lớn suốt 2 ngày 2 đêm nhưng bị tổn thất lớn; nhiều đợt tiến công bị đẩy lùi. 28.2.1861, trước hỏa lực áp đảo của đối phương và cách đánh thọc sườn kết hợp nghi binh chính diện, ĐĐCH thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương phải rút về Biên Hoà. Chiếm được ĐĐCH, quân Pháp nhanh chóng tạo đà chiếm ba tỉnh Đông Nam Bộ. Cg Đại đồn Kì Hoà, gọi tắt là Đại Đồn.

        ĐẠI HOÀNG NAM X HOÀNG NAM


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:32:04 PM

        ĐẠI HỘI ĐẢNG II (11-19.2.1951), đại hội đại biểu toàn quốc công khai đầu tiên, “đại hội kháng chiến” của ĐCS Đông Dương; họp tại xã Vinh Quang, h. Chiêm Hóa, t. Tuyên Quang; gồm 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt 766.349 đảng viên. Trong đại hội, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị tổng kết quá trình lãnh đạo CM của Đảng, xác định nhiệm vụ cấp bách của Đảng là “đưa kháng chiến đến thắng lợi. Các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”; đại hội ra nghị quyết khẳng định “đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì” là đúng đắn, chủ trương xây dựng ở mỗi nước VN, Lào, Campuchia một đảng CM phù hợp với hoàn cảnh cụ thể; ở VN Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là ĐLĐ VN. Đại hội thảo luận và nhất trí thông qua báo cáo chính trị, chính cương, điều lệ mới của Đảng và báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” do tổng bí thư Trường Chinh trình bày. Đại hội bầu BCHTƯ mới gồm 29 ủy viên, bầu lãnh tụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch Đảng, Trường Chinh được bầu lại làm tổng bí thư. ĐHĐII đánh dấu bước quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đáng, động viên toàn quân, toàn dân đẩy mạnh KCCP đến thắng lợi.

        ĐẠI HỘI ĐẢNG III (5-10.9.1960), đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của ĐLĐ VN nhằm quyết định đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, họp tại thủ đó Hà Nội; gồm 525 đại biểu chính thức, 51 đại biểu dự khuyết và gần 20 đoàn đại biếu các ĐCS và công nhân quốc tế. Đại hội đánh giá tình hình đất nước sau hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, xác định CM VN có hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành CM XHCN ở miền Bắc; giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà. CM XHCN ở miền Bắc có tác dụng quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ CM cả nước, CM miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau, nhằm thực hiện mục tiêu chung của CM VN là hoàn thành độc lập dân tộc và dân chủ trong cả nước. Đại hội đề ra nhiệm vụ QS là bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Đại hội bầu BCHTƯ mới gồm 47 ủy viên chính thức, 31 ủy viên dự khuyết. BCHTƯ bầu BCT gồm 11 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết; Hồ Chí Minh được bầu lại làm chủ tịch Đảng, Lê Duẩn được bầu làm bí thư thứ nhất BCHTƯ Đảng. ĐHĐIII là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của CM VN.

        ĐẠI HỘI ĐẢNG IV (14-20.12.1976), đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 của ĐLĐ VN, họp tại thủ đô Hà Nội. Dự đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1,55 triệu đảng viên trong cả nước; có 29 đoàn đại biểu quốc tế. Đại hội đánh giá việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược do đại hội Đáng III (5-10.9. I960) đề ra; xác định đường lối thống nhất tổ quốc và đường lối CM XHCN của cả nước trong thời kì phát triển mới. Đại hội đề ra đường lối chung; phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1976-80); mục tiêu, nhiệm vụ CM tư tưởng và văn hóa; tăng cường nhà nước XHCN; đường lối, chính sách đối ngoại; mục tiêu, nhiệm vụ nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, về nhiệm vụ quốc phòng, đại hội xác định đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng LLVTND, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Đại hội quyết định đổi tên ĐLĐ VN thành ĐCS VN và thông qua điều lệ Đảng (sửa đổi); bầu BCHTƯ gồm 101 ủy viên chính thức, 32 ủy viên dự khuyết. BCHTƯ bầu BCT gồm 14 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết; bầu Ban bí thư gồm 9 ủy viên; bầu Lê Duẩn làm tổng bí thư. Là đại hội đánh dấu sự toàn thắng của công cuộc giải phóng dân tộc và thống nhất tổ quốc, đưa cả nước tiến lên CNXH.

        ĐẠI HỘI ĐẢNG VI (15-18.12.1986), đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của ĐCS VN họp tại thủ đô Hà Nội. Dự đại hội có 1.129 đại biêu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong cả nước; có 35 đoàn đại biểu quốc tế. Đại hội đánh giá việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ do đại hội Đảng lần thứ 5 dề ra, rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo của Đảng, tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của CM và đề ra nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát xây dựng CNXH trong những năm còn lại trên chặng đường dầu tiên của thời kì quá độ lên CNXH ở VN. về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, đại hội xác định toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống đánh thắng cuộc chiến hanh phá hoại nhiều mặt của địch, về xây dựng Đảng, đại hội khẳng định Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy (trước hết là tu duy kinh tế); đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác. Đại hội bầu BCHTƯ gồm 124 ủy viên chính thức, 49 ủy viên dự khuyết. BCHTU bầu BCT gồm 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết; bầu Ban bí thư gồm 13 ủy viên; bầu Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư. Tại đại hội, lần đầu tiên trách nhiệm cố văn BCHTƯ được giao cho Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ. Là đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới của Đảng, đánh dấu bước ngoặt trên con đường tiến lên CHXN của VN.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:33:35 PM

        ĐẠI HÙNG (Bắc Đẩu), chòm sao ở gần cực Bắc của thiên cầu, gồm 7 ngôi sao (kí hiệu theo chữ cái Hi Lạp từ a đến n) xếp thành hình gần giống gầu sòng có cán hơi gẫy khúc. Hai ngôi sao a và n ở miệng hình gầu nằm thẳng hàng với sao a (Sao Bắc Cực) ở đuôi chòm Tiểu Hùng, nôn thường được dùng để gióng tìm sao này khi xác định hướng bắc.

        ĐẠI LA, thành cổ ở Tống Bình (địa phận Hà Nội ngày nay), trị sở Giao Châu thời Bắc thuộc. Nguyên là thành đất do Lí Nam Đế xây dựng ở cửa sông Tô Lịch, được chính quyền đô hộ cho đắp thêm năm 767, tiếp tục củng cố vào những năm đầu tk9. Năm 867, sau khi đánh lui quân Nam Chiếu, Cao Biền cho đắp lại với quy mô lớn. Chu vi thành khoảng 6.600m, cao 8,5m, chân thành rộng trên 8m; phía trên thành đắp một con chạch nhỏ cao l,7m, dựng 55 lầu canh. Xung quanh thành còn đắp một con đê dài khoảng 7.100m, cao gần 5m, chân rộng 6,5m. Năm 1010, Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về ĐL, đổi tên là Thăng Long, lợi dụng thành cũ và địa thế tự nhiên để xây dựng thành mới. Cg La Thành.

        ĐẠI LỊCH, quốc hiệu do Nùng Trí Cao, thù lĩnh dân tộc Nùng ở châu Quảng Nguyên (t. Cao Bằng ngày nay) đặt cho nhà nước cát cứ tự lập năm 1041 sau khi từ động Lôi Hỏa trở về đánh chiếm châu Thảng Do, kế tục nước Trường Sinh của cha là Nùng Tồn Phúc trong cuộc nổi dậy chống triều đình nhà Lí. 1049 dời thủ phủ đến châu An Đức (nay thuộc h. Tĩnh Tây, t. Quảng Tây, TQ), đổi quốc hiệu là Nam Thiên. 3.1052 Nùng Trí Cao khởi binh đánh chiếm châu Ung, xưng "Nhân Huệ hoàng đế”, đổi tên nước là Đại Nam, tiếp tục tiến đánh nhiều châu huyện khác thuộc đất Quảng Đông, Quảng Tây nhà Tống. Cuối 1053 Nùng Trí Cao bị tướng Tống là Địch Thanh đánh bại chạy về Đại Lí, 1055 bị vua Đại Lí giết. Xt nổi dậy của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao (1039-53).

        ĐẠI LIÊN*, súng máy tập thể, hỏa lực mạnh, có giá dỡ trên ba chân hoặc bánh xe, để diệt sinh lực tập trung, hoả điểm... ở cự li hiệu quả đến l.000m hoặc mục tiêu trên không tầm thấp. Khối lượng 15-20kg (khi có giá đỡ 40-65kg), cỡ nòng 6,5 - 8mm, tốc độ bắn lí thuyết 500-700 phát/ph, tầm bắn (trên thước ngắm) 3.000m. ĐL có thể tháo rời ra từng phần để mang vác. Tự động theo nguyên lí trích khí hoặc lùi nòng. Tiếp đạn bằng băng (tới 250 viên), nòng dược làm mát để tăng tốc độ bắn chiến đấu (đến 300 phát/ph) và thời gian bắn liên tục (tới 500 phát không cần thay nòng). Các mẫu ĐL thường gặp là SG-43, PKS, SGM (LX); MG-42 (Đức); Mácxim, M1919 A1 và M1919 A4 (Mĩ)...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66305255_449086569154562_3663716766887968768_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlosEBqGVQwzazWSmGCegLjxCNp3V6ULOMlCy0drHrzhaeUjHFKxxvKM-fHCpPJR40&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=24c97e2ffe25820411ea135ed2798e98&oe=5DA9A969)


        ĐẠI LIÊN**, thành phố cảng trên bờ nam bán đảo Liêu Đông, t. Liêu Ninh, TQ. Theo hiệp ước 1898, TQ nhượng cho Nga. 1904-45 Nhật chiếm. 8.1945 QĐ LX giải phóng ĐL. Theo hiệp định Xô - Trung 14.8.1945, ĐL được hưởng quy chế cảng tự do. Bến, kho cảng cho LX thuê 30 năm. 1950 LX đã trao trả ĐL cùng toàn bộ thiết bị cho TQ.

        ĐẠI NAM (cổ), quốc hiệu nước VN từ 1838, dưới đời Minh Mạng, triều Nguyễn. Từ khi thực dân Pháp đặt các chế độ cai trị khác nhau ở ba miền VN, quốc hiệu này chỉ còn được dùng rất hạn chế trong các công việc hành chính của triều đình nhà Nguyễn cho đến 1945, khi triều đại này sụp đổ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:35:23 PM

        ĐẠI NGHĨA THẮNG HUNG TÀN, tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27), được tổng kết trong "Bình Ngô đại cáo ”. Nội dung cơ bản: nghĩa quân Lam Sơn tiến hành cuộc kháng chiến chống lại một kẻ thù hung bạo, tàn ác mà “tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch hôi tanh, chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác” thì phải “trước lo trừ bạo”, tức dùng bạo lực chính nghĩa để đánh đuổi quân xâm lược “cứu nước, cứu dần”, đoàn kết. quy tụ mọi lực lượng yêu nước dưới ngọn cờ đại nghĩa “dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp”, “binh sĩ một dạ cha con”, vừa đánh địch “như trúc chẻ, tro bay”, “sấm vang chớp giật”, vừa “mưu phạt tâm công”, mở lượng khoan hồng với kẻ chiến bại (x. hội thề Đóng Quan, 16.12.1427). Cuộc kháng chiến chống Minh của quân dân Đại Việt thắng lợi, đã khẳng định chân lí: chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, đại nghĩa nhất định thắng hung tàn. ĐNTHT trở thành một truyền thống quân sự Việt Nam.

        ĐẠI NGUYÊN SOÁI, bậc quân hàm cao nhất trong LLVT một số nước. Xuất hiện ở Pháp (tk 16), Nga (tk 17). Thường phong cho tổng tư lệnh LLVT một nước (hoặc liên minh các nước), người thuộc hoàng tộc đang trị vì hoặc người hoạt động nhà nước có thành tích xuất sắc trong lãnh đạo LLVT.

        ĐẠI QUÂN KHU, tổ chức QS theo lãnh thổ (thường gồm một số tỉnh, thành phố giáp nhau, liên quan với nhau về QS) của TQ; trực thuộc BQP, có chức năng: chỉ đạo công tác quốc phòng, xây dựng tiềm lực QS trong thời bình; chỉ huy LLVT thuộc quyền tác chiến bảo vệ lãnh thổ theo kế hoạch phòng thủ quốc gia trong thời chiến. Lực lượng trực thuộc thường gồm các đơn vị bộ đội chủ lực (tập đoàn quân, sư đoàn bộ đội binh chủng hợp thành; quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn không quân; sư đoàn, lữ đoàn pháo binh: quân đoàn hoặc sư đoàn đổ bộ đường không và các đơn vị khác), bộ đội địa phương (sư đoàn, trung đoàn bộ binh thuộc quân khu tỉnh) và dân binh. Trong chiến tranh giải phóng chống Nhật có 5 ĐQK: Đông Bắc, Tây Bắc, Hoa Bắc, Hoa Đông, Trung Nguyên (sau đổi thành Hoa Trung); sau 1949 ĐQK Hoa Trung đổi thành ĐQK Trung Nam và thành lập thêm ĐQK Tây Nam. Trước 1985, TQ có 11 ĐQK: Thấm Dương, Bắc Kinh, Tân Cương (Urumxi), Lan Châu, Vũ Hán, Tế Nam, Nam Kinh, Phúc Châu, Thành Đô, Côn Minh và Quảng Châu; Từ 1985 điều chỉnh lại tổ chức và địa giới thành 7 ĐQK: Bắc Kinh, Thẩm Dương, Lan Châu, Nam Kinh, Tế Nam, Thành Đô và Quảng Châu.

        ĐẠI QUÂN KHU QUẢNG CHÂU, đại quân khu phía đông nam TQ, gồm 5 quân khu tỉnh: Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam; phía bắc và đông bắc giáp Đại quân khu Nam Kinh, phía tây giáp Đại quân khu Thành Đô, phía nam giáp VN (đường biên giới giáp VN dài gần 700km), phía đông là Biển Đông. ĐQKQC được biên chế 12 sư đoàn bộ binh, 11 sư đoàn địa phương.

        ĐẠI QUÂN KHU THÀNH ĐÔ, đại quân khu phía tây nam TQ, gồm 4 quân khu tỉnh: Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam và Tây Tạng; phía nam và tây nam có đường biên giới dài 7.253km chung với 6 nước (VN, Lào, Mianma, Ấn Độ, Butan, Nêpan), phía bắc giáp Đại quân khu Lan Châu, phía đông giáp Đại quân khu Quảng Châu. ĐQKTĐ dược biên chế 2 quân đoàn, 4 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn pháo binh và 2 lữ đoàn xe tăng.

        ĐẠI TÁ, bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp tá trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, là bậc quân hàm liền trên thượng tá, được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch nước VN DCCH. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), ĐT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ: sư đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng và tương dương.

        ĐẠI TÂY DƯƠNG, đại dương lớn thứ 2 của Trái Đất, bắc giáp các đảo Grinlen, Aixlen, đông giáp châu Âu, châu Phi, tây giáp châu Mĩ, nam giáp châu Nam Cực. Dt 91.560.000km2 (không kể các đảo), sâu trung bình 3.600m, sâu nhất 8.742m. Hầu hết các biển thuộc ĐTD đều ở Bắc Bán Cầu (Bantich, Biển Bắc, Địa Trung Hải, Biển Đen, Caribê...). Những đảo và quần đảo chính: Britan, Alien, Niu Phaolân, Ăngti, Phooclen... Nhiệt độ mặt nước ở xích đạo 28°C, ở phía bắc đóng băng. Độ mặn 30-37%o. Khai thác dẫu ở thềm lục địa và các vịnh Mêhicô, Caribê, Biển Bắc. Các cảng quan trọng nhất: Rôttecđam, Xanh Pêtécbua, Luân Đôn, Niu Ooc, Hămbuôc, Macxây, Buênôt Airet, Kep Tao, Đaca. Trong CTTG-I và CTTG-II, ĐTD là chiến trường lớn. Thời kì sau chiến tranh giữ vị trí quan trọng trong các kế hoạch QS của Mĩ và khối NATO.

        ĐẠI TƯỚNG, bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp tướng trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), ĐT là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ: bộ trưởng BQP, tổng tham mưu trưởng, chủ nhiệm TCCT. Các đại tướng của QĐND VN: Võ Nguyên Giáp (1948), Nguyễn ChíThanh (1959), Văn Tiến Dũng (1974), Hoàng Văn Thái (1980), Chu Huy Mân (19.82), Lê Trọng Tấn (1984), Lê Đức  Anh (1984), Đoàn Khuê (1990), Nguyễn Quyết (1990), Phạm Văn Trà (2003).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:37:12 PM

        ĐẠI ÚY, bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp úy trong LLVT nhiều nước. Trong QĐND VN, là bậc quân hàm liền trên thượng úy, được quy định lần đầu tại sắc lệnh 33-SL ngày 22.3.1946 của chủ tịch chính phủ VN DCCH. Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1999), ĐU là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ đại đội trưởng và tương đương.

        ĐẠI VIỆT, quốc hiệu nước VN dưới các triều Lí, Trần, Lê, Tây Sơn. Được Lí Thánh Tông chính thức đặt từ 1054 thay cho quốc hiệu cũ là Đại cồ Việt, tồn tại đến 1804, khi Gia Long đổi thành VN (trừ khoảng thời gian ngắn (1400-07) Hồ Quý Li đổi tên nước là Đại Ngu).

        ĐALET (A. Allen Welsh Dulles; 1893-1969), giám đốc C1A (1953-61). Sinh tại Oatơtao, bang Niu Ooc, Mĩ. 1914 tốt nghiệp Trường đại học Princetơn. 1916 làm nghề ngoại giao. 1926 làm nghề luật. 1942-45 phụ trách tình báo chính tri của Mĩ ở châu Âu. 1947 làm việc trong các cơ quan của C1A. 1951-61 phó giám đốc rồi giám đốc CIA. Đã điều khiển CIA hoạt động đảo chính ở Iran và Goatêmala, cho máy bay U-2 do thám không phận LX, đổ bộ QS vào vịnh Con Lợn (Cuba, 1961), tổ chức mạng lưới tình báo gián điệp chống các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc. ở VN, CIA đã ủng hộ và giúp đỡ Ngô Đình Diệm, ngăn cản tổng tuyển cử (1956), tham gia tổ chức và chỉ huy lực lượng biệt kích của QĐ Sài Gòn hoạt động chống phá miền Bắc VN và vùng giải phóng miền Nam VN. Sau thất bại ở vịnh Con Lợn, buộc phải từ chức giám đốc CIA. Tác giả: “Nghề tình báo” (1963), “Cuộc đầu hàng bí mật” (1966).

        ĐÀM PHÁN, thương lượng để cùng giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa các nước, các tổ chức quốc tế hoặc khu vực, hay giữa các tổ chức, lực lượng đối lập... trong một nước; biện pháp hòa bình để giải quyết những tranh chấp, xung đột. Nội dung ĐP có thể bao gồm một hoặc nhiều lĩnh vực nhu QS, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, xã hội... Hình thức ĐP có thể trực tiếp hoặc gián tiếp (qua một nhân vật hoặc một tổ chức trung gian); ĐP công khai hoặc bí mật; ĐP hai bên hoặc nhiều bên; ĐP chính thức hoặc không chính thức. Kết quả ĐP phản ánh thực lực và thiện chí của các bên, tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động tiếp theo.

        ĐÀM PHÁN MAXCOVA (4-8.1939), đàm phán giữa LX, Anh, Pháp bàn việc kí các hiệp ước tương trợ lần nhau trước nguy cơ xâm lược gia tăng của phát xít Đức ở châu Âu. Bắt đầu 17.4.1939, sau khi hiệp nghị Muyních (1938) tạo điều kiện cho Đức mang quân chiếm đóng See và Môrayi. Trong quá trình đàm phán, các chính phủ Anh, Pháp đã lảng tránh những nguyên tắc tương trợ lẫn nhau do LX đề ra (về trách nhiệm chung bảo đảm an ninh cho các nước Đông Âu, kí những hiệp định QS chi viên nhanh và có hiệu quả, những nước thành viên phải chi viện cho nhau khi bị xâm lược...). Khi chuyển sang đàm phán để kí kết các hiệp định về QS (23.7), chính phủ Anh, Pháp lại cử những nhân vật không đủ thẩm quyền đồng thời trong khi đàm phán, chính phủ Anh còn tiếp xúc riêng với Đức nhằm thỏa hiệp chống LX. Nắm được trò chơi chính trị và ngoại giao hai mạt của Anh, Pháp, chính phủ LX buộc phải kí với Đức hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau (23.8.1939). ĐPM bị phá vỡ là một khích lệ cho Đức gây CTTG-II.

        ĐÀM QUANG TRUNG (Đàm Ngọc Lưu; 1921-95), tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 1 (1976-80). Dân tộc Tày, quê xã Sóc Hà, h. Hà Quảng, t. Cao Bằng; tham gia CM 1937, nhập ngũ 1944, thượng tướng (1984); đv ĐCS VN (1939). Năm 1940 bị Pháp bắt giam và quản thúc tại địa phương. 9.1944 xây dựng cơ sở CM và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc. 12.1944 gia nhập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân. 8.1945 đại đội trưởng Giải phóng quân, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thái Nguyên. Trong KCCP, 1945-54 chi đội trưởng Chi đội 4 Giải phóng quân; khu trường Đặc khu Hà Nội; trung đoàn trưởng, đại đoàn trưởng Đại đoàn 31 Liên khu 5 (1945-46); chỉ huy trưởng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng; phó tư lệnh, kiêm trung đoàn trưởng chủ lực Liên khu 5; đại đoàn phó Đại đoàn 312. Trong KCCM, 1955 đại đoàn trường Đại đoàn 312; tư lệnh Quân khu Đông Bắc, kiêm đại đoàn trưởng Đại đoàn 322. Năm 1958-61 phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn. 1961-66 tư lệnh Quân khu Việt Bắc. 8.1966-67 tư lệnh BTL tiền phương của BQP tại Mặt trận B5. Năm 1967 tư lệnh, kiêm chính ủy, bí thư Quân khu ủy Quân khu 4 (1973-75). Năm 1976-80 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 1. Năm 1981-86 tư lệnh Quân khu 1. Năm 1987-92 phó chủ tịch HĐNN, kiêm chủ tịch Hội đồng dân tộc. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV-VI, bí thư trung ương Đàng khóa VI. Đại biểu Quốc hội khóa IV-VIII. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì), Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66652431_449086575821228_8453663032113889280_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkIzqZoI1zU3IelehrKRSC2sySJObZ5HJGvjWYt_jmxhUg64urpuOlD8KuFhVU6fJA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=4c265bccd95081b0078acbd6942986a6&oe=5DC00DFF)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:38:50 PM

        ĐÀM VĂN NGỤY (s. 1928), Ah LLVTND (1956). Dân tộc Tày, quê xã Minh Khai, h. Thạch An, t. Cao Bằng; tham gia CM 1944, nhập ngũ 1945, trung tướng (1984); tư lệnh Quân khu 1; đv ĐCS VN (1947); khi tuyên dương Ah là tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 196, Sư đoàn 316. Trong KCCP, chiến đấu ở Bắc Bộ, là cán bộ chỉ huy dũng cảm, mưu trí, lập công xuất sắc trong các trận: Pò Mã (Thất Khê, 5.1945), Đồng Đăng (Lạng Sơn, 1946), Bố Củng (1947), Lũng Vài (1949), Nà Sản (1953). Năm 1953-54 chỉ huy đại đội diệt nhiều toán phỉ ở biên giới Việt - Lào. Trong KCCM, trung đoàn trưởng, sư đoàn trưởng, tham gia các chiến dịch ở Lào, Tây Nguyên, giải phóng Cánh Đồng Chum, Buôn Ma Thuột. Tư lệnh: Quân đoàn 26 (1979), Quân khu 1 (1987). ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI, VII. Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công (hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66533333_449086585821227_4600977732950556672_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnf8IXABYYfIXa17kUp60aaIrrjTPimk87zERK1a4Sjla12J3FfjcHZtiYa_hhSTgk&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4a7fddc9f37cd708bf55b1f343bb938e&oe=5DAD69ED)


        ĐẢM PHỤ QUỐC PHÒNG, hình thức huy động sự đóng góp tài chính theo nghĩa vụ công dân nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách về chi tiêu củng cố quốc phòng chuẩn bị KCCP, ban hành theo sắc lệnh số 48-SL ngày 10.4.1946 của chủ tịch chính phú nước VN DCCH. Mọi công dân VN từ 18 tuổi đến 65 tuổi, không phân biệt nam nữ, đều phải nộp ĐPQP (trừ những trường hợp được miễn theo quy định). ĐPQP có: đảm phụ chính (thu 5 đồng một người) và đảm phụ tỉ lệ (thu của những người nộp thuế và những người có thu nhập cao, theo một tỉ lệ luỹ tiến). ĐPQP chỉ thu trong năm 1946. nhưng đã góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo đảm cho cả nước chủ động bước vào cuộc KCCP.

        ĐÁM MÂY PHÓNG XẠ, đám mây hình thành do tích tụ của dòng khí nóng bốc lên từ tâm nổ vũ khí hạt nhân (sự cố hạt nhân) cuốn theo bụi, đất đá và các chất phóng xạ. Lúc đầu thường có hình nấm; kích thước của ĐMPX phụ thuộc đương lượng TNT, phương thức nổ, điều kiện địa hình và chất đất ở khu vực nổ; có thể bốc cao tới vài chục kilômét, có bán kính và chiều dày tới vài kilômét. ĐMPX di chuyển theo các dòng không khí chuyển động, lắng dần xuống địa hình và gây nhiễm xạ cho các đối tượng, ảnh hưởng đến chiến đấu, sinh hoạt của bộ đội và nhân dân.

        ĐAN MẠCH (Vương quốc Đan Mạch; Kongeriget Danmark, A. Kingdom of Denmark), quốc gia ở Bắc Âu, gồm phần lớn bán đảo Giutlăng và các đảo thuộc quần đảo Đan Mạch: Delăng, Lôlăng, Phanxtơ, Boochôm... Dt 43.094km2 (không tính hai khu vực tự trị là đảo Grinlen, dt 2.180.000km2 và quần đảo Parôn); ds 5,38 triệu người (2003); 97% người Đan Mạch. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đan Mạch. Tôn giáo: đạo Luthơ 91%. Thủ đô: Côpenhaghen. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phần lớn lãnh thổ là đồng bằng, núi cao nhất 173m. Bờ biển thấp, phía đông có nhiều vịnh. Rừng chiếm 10% diện tích lãnh thổ. Khí hậu ôn hòa; lượng mưa hàng năm 600-800mm. Nước công - nông nghiệp phát triển cao; công nghiệp: đóng tàu, chế tạo máy, điện, điện tử, nâng lượng...; nông nghiệp: chăn nuôi gia súc lấy thịt và sữa... GDP 161,542 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 30.140 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Trên lãnh thổ có các căn cứ QS của NATO. Đảo Grinlen là căn cứ chiến lược của Mĩ. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 25.11.1971. LLVT: lực lượng thường trực 22.700 người (lục quân 12.800. hải quân 4.000 không quản 4.500), lực lượng dự bị 64.900. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 248 xe tăng, 36 xe trinh sát chiến đấu, 695 xe thiết giáp chở quân. 417 pháo mặt đất, 140 tên lửa chống tăng, tên lửa phòng không, 25 máy bay trực thăng vũ trang, 4 tàu ngẩm, 3 tàu khu trục, 4 tàu tên lửa, 3 tàu phóng lôi, 20 tàu tuần tiễu, 7 tàu quét mìn, 13 tàu hộ tống, 68 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 2,4 tỉ USD (2002).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66464044_449086615821224_8856825749559050240_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQk5ZaopCiXiVyoVwNaahpxbS8KQGYlC6Y6iMu93qiYImctmowb0GEmZVbMzq5gIovQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=435653806451b884818268e2ddaaeef5&oe=5DC34041)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:41:02 PM

        ĐẠN, vật thể mang phần tử sát thương hoặc công dụng đặc biệt, nạp vào hỏa khí hay đặt lên thiết bị phóng để bắn (phóng) đến mục tiêu. Theo phương tiện và nguyên lí bắn phóng, phân ra đạn súng, đạn pháo, đạn cối, lựu phóng, đạn phản lực, tên lửa... Ngoài ra, Đ còn được phân loại theo công dụng, nguyên lí sát thương (hoặc thực hiện nhiệm vụ đặc biệt), phương thức nạp đạn vào phương tiện bắn (phóng)... (xt đạn dược).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66714339_449086622487890_3489635677887266816_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQlEgXjUfsB8UbgIA3bsINV6RdWfpkRs2YJ6svHcg8kDifi_b6B7LXG9tIcl-rbEVM0&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=fc0b938ab887aed5d2b4babc8de7fac2&oe=5DB17DCC)


         ĐẠN AT X. LỰU PHÓNG

        ĐẠN BẮN TẬP, đạn chuyên dùng để huấn luyện bắn tập và bắn diễn tập chiến đấu. ĐBT có các bộ phận, hình dáng, kích thước và trọng lượng giống như đạn chiến đấu; nhưng có cấu tạo đơn giản, chế tạo bằng những vật liệu rẻ tiền. Đầu đạn nhồi chất trơ hoặc một lượng nhỏ thuốc nổ (thuốc cháy hoặc thuốc khói) đủ để quan sát đường bay, điểm nổ của đạn, không gây sát thương. Đẩu đạn xuyên được chế tạo bằng các vật liệu không có khả năng xuyên thép, mà chỉ để quan sát đường đạn như thiết bị vạch đường.

        ĐẠN BẰNG CỠ, đạn có cỡ bằng cỡ nòng của vũ khí. Được nạp vào nòng qua cơ cấu khóa nòng (ở phần lớn súng, pháo và các loại cối cỡ lớn) hoặc qua miệng nòng (các loại cối cỡ nhỏ và trung bình). Là loại thông dụng nhất trong các loại đạn súng, đạn pháo. Có thể sử dụng nhiều loại đầu đạn: nổ phá, sát thương, nổ phá - sát thương, lõm, xuyên bê tông, xuyên giáp... Trong thực tiễn, thuật ngữ ĐBC thường chỉ áp dụng cho đạn pháo.

        ĐẠN CHÁY, đạn dùng phá hủy các kho tàng, trang bị kĩ thuật hoặc sát thương sinh lực đối phương bằng năng lượng nhiệt. Gồm thân đạn và ngòi nổ. Trong thân đạn xếp các khối
thuốc cháy, thường là hỗn hợp nhiệt nhôm, hình quạt hoặc hình trụ có vỏ bọc bằng kim loại. Khi đạn nổ, các chất cháy văng ra, gây cháy và tạo nên nhiệt độ cao (2.500°-3.000°C). Dùng ngòi nổ tiếp xúc hoặc hẹn giờ. Thường được bắn cùng với đạn nổ mảnh hoặc đạn nổ phá - mảnh, nhằm gây khó khăn cho đối phương trong việc chữa cháy.

        ĐẠN CHIẾU SÁNG, đạn công dụng đặc biệt, dùng để chiếu sáng mục tiêu, địa hình hoặc khu vực tác chiến ban đêm và làm lóa khí tài nhìn đêm của đối phương. Gồm: đạn pháo và cối, đạn súng hiệu, pháo hiệu tay. Đầu ĐCS chứa bộ phận phát sáng (có hoặc không có dù), liều thuốc đẩy (thuốc đen), ngòi hẹn giờ xung nhiệt, đuôi đạn lắp đáy xoáy. Xung nhiệt truyền từ ngòi nổ, làm cháy liều thuốc đẩy tạo nhiệt độ và áp suất làm bật đáy đạn, đẩy bộ phận phát sáng ra ngoài (ở độ cao nhất định). Bộ phận phát sáng hoạt động và hạ thấp dần với tốc độ 2-10m/s; chiếu sáng được 40-120s (đạn pháo, cối). 10-12s (đạn súng và pháo hiệu tay).

        ĐẠN CHỐNG TĂNG, đạn dùng để tiêu diệt các mục tiêu bọc thép hoặc phá hoại các công sự kiên cố của đối phương. ĐCT bao gồm các loại đạn lõm và đạn xuyên: có thể bắn từ các loại pháo nòng dài, pháo lựu, pháo lựu - nòng dài, pháo nòng dài - lựu. pháo chống tăng, sơn pháo, pháo trên tăng, pháo hạm tàu, ĐKZ, súng phóng lựu, tên lửa chống tăng...

        ĐẠN CỐI, đạn dùng cho súng cối, thường có dạng hình giọt nước hoặc trụ dài. Gồm thân đạn, liều phóng, ngòi đạn và bộ phận ổn định. Đường bay được ổn định bằng các cánh gắn chặt với ống ổn định lắp ở phần đuôi đạn hoặc bằng hiệu ứng con quay (ĐC chiếu sáng, ĐC 106,7mm). ĐC có sơ tốc nhỏ, tầm bắn gần, đường đạn cầu vồng, có thể bắn các mục tiêu bị che khuất. Khi bắn, ĐC cỡ từ 120mm trở xuống được nạp từ miệng nòng, cỡ trên 120mm nạp từ đuôi nòng.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66500160_449086605821225_7448534551913037824_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQlZmWDGeDV7DcA_lPScbAhXPT6adlfUnqH4yB7ymXfEhaPcq-9HZMFM7zT5xs9tb0s&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=79e9a899a9cf20db1c1abc060aa035da&oe=5DA61D5C)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:44:41 PM

        ĐẠN DƯỢC, gọi chung các vật phẩm QS có chứa chất nổ, chất cháy hoặc các vật nhồi đặc biệt khác dùng để trực tiếp diệt sinh lực và phương tiện kĩ thuật, phá hủy công trình hay các công dụng khác (chiếu sáng, rải truyền đơn, tạo khói...). Bao gồm: đạn, bom, mìn, lựu dạn, thủy lôi, tên lửa, ngư lôi, lượng nổ... Theo quân chủng, binh chùng sử dụng, có: đạn dược không quân: đạn dược hải quân: ĐD lục quân (đạn pháo, đạn cối, đạn phản lực, súng, tên lửa đặt trên bộ, mìn. lựu đạn, lượng nổ, hỏa cụ...); theo chất nhồi trong ĐD. có: đạn dược thông thường, đạn dược hạt nhân, đạn dược sinh học, đạn dược hóa học, ĐD catxet (chứa nhiều khối hoặc đạn con ở bên trong), đạn dược xon khí...; theo công dụng, có: ĐD chính (dùng để chiến đấu), ĐD phụ (dùng để học tập, thử nghiệm, huấn luyện), ĐD đặc biệt (để chiếu sáng, rải truyền đơn...). ĐD được đưa tới mục tiêu bằng các phương pháp: bắn (đạn súng, pháo, cối...), phóng (tên lửa, ngư lôi...), ném thả (lựu đạn, bom...) hoặc đặt, rải (mìn, thủy lôi, lượng nổ...). ĐD xuất hiện đồng thời với hỏa khí và phát triển gắn liền với sự phát triển của hỏa khí. Ngày nay ĐD được hoàn thiện theo hướng: tăng uy lực, độ chính xác, độ tin cậy, tầm hoạt động và khả năng điểu khiến (x. đạn pháo có điều khiển, bom có điều khiển, tên lửa có điều khiển).

        ĐẠN DƯỢC CÔNG BINH, đạn dược dùng trong tác chiến công binh và bảo đảm công binh. Gồm: các loại mìn công binh, lượng nổ, liều phóng mìn và phương tiện gây nổ (kíp nổ, dây cháy chậm, nụ xùy, dây nổ, ống nổ...). Trong tác chiến công binh, ĐDCB được sử dụng để phá hủy các mục tiêu kiên cố như tàu thuyền, công trình QS...; trong bảo đảm công trình, ĐDCB được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phá hoại công trình (công sự, trận địa, đường cơ động vận chuyển...), bố trí và khắc phục vật cản... ĐDCB còn được sử dụng để rải các đường dây thông tin liên lạc. Ở một số QĐ nước ngoài, trong thành phần ĐDCB còn có thể bao gồm cả đạn dược hạt nhân.

        ĐẠN DƯỢC HẢI QUÂN, đạn dược dùng cho vũ khí hải quân (kể cả vũ khí trên tàu và trên bờ) và tác chiến trên biển. Gồm: đạn pháo trên tàu, pháo bờ biển, tên lửa hải quân, bom chìm, thủy lôi, ngư lôi và tên lửa - ngư lôi... ĐDHQ được sử dụng để tiêu diệt mục tiêu: trên biển (mục tiêu mặt nước và mục tiêu ngầm dưới nước), trên bộ và trên không.

        ĐẠN DƯỢC HẠT NHÂN, đạn dược có tác nhân hủy diệt mục tiêu bằng năng lượng nổ hạt nhân. Uy lực của ĐDHN được đặc trưng bằng đương lượng nổ TNT. Tùy theo đương lượng nổ, ĐDHN chia thành năm nhóm: loại cực nhỏ (đến lkt); nhỏ (l-10kt); trung bình (10-100kt); lớn (100kt-lMt) và cực lớn (trên lMt). ĐDHN gồm: bom, tên lửa, ngư lôi, mìn, đạn pháo... chứa lượng nổ hạt nhân và được đưa đến mục tiêu bằng các phương tiện bắn, phóng, thả, đặt. Được trang bị cho các quân chủng, binh chủng khác nhau của LLVT nhiều nước trên thế giới.

        ĐẠN DƯỢC HÓA HỌC, đạn dược dùng để sát thương sinh lực hoặc gây ở nhiễm khu vực bằng chất độc quân sự. Cấu tạo của ĐDHH thường gồm: thân đạn, ống nổ, ngòi nổ và chất độc nhồi trong thân đạn. Khi đạn nổ, chất độc được phát tán ra khu vực mục tiêu. Các chất độc nhồi trong ĐDHH: chất độc thần kinh, chất độc hại da, chất độc hại phổi, chất độc toàn thân... Một dạng mới đã và đang được nhiều nước chế tạo là ĐDHH hai thành phần, chứa hai chất không độc hoặc ít độc, khi được trộn với nhau tạo thành một chất độc mới có độc tính cao. 22.4.1915 QĐ Đức đã sử dụng ĐDHH để chống quân Anh - Pháp. Từ sau CTTG-II, ĐDHH được nghiên cứu, hoàn thiện trên cơ sỏ các chất độc mới. Trong chiến tranh VN, Mĩ dã sử dụng ĐDHH (chất độc da cam, CS...) gây hậu quà nghiêm trọng và lâu dài. 1993 LHQ thông qua công ước cấm vũ khí hóa học (trong đó có ĐDHH).

        ĐẠN DƯỢC KHÔNG QUÂN, đạn dược được bắn, phóng, rải từ khí cụ bay. Bao gồm: bom hàng không; đạn dùng cho pháo và súng máy đặt trên máy bay; tên lửa hàng không có điều khiển và không điều khiển; ngư lôi, thủy lôi, mìn được phóng, rải từ máy bay; đạn tín hiệu, đạn chiếu sáng...

        ĐẠN DƯỢC NHIÊN LIỆU KHÔNG KHÍ nh ĐẠN DƯỢC XON KHÍ

        ĐẠN DƯỢC NỔ KHỐI nh ĐẠN DƯỢC XON KHÍ

        ĐẠN DƯỢC PHÁO BINH, đạn dược dùng trong pháo binh. Gồm các loại: đạn pháo, đạn cối, đạn ĐKZ, đạn phản lực, tên lửa mặt đất. Theo công dụng, có: đạn công dụng chính (trực tiếp sát thương mục tiêu), đạn công dụng đặc biệt (chiếu sáng, tạo khói, rải truyền đơn...) và đạn công dụng phụ (huấn luyện, thử nghiệm...). Theo vật nhồi trong đầu đạn, có: đạn thông thường, đạn hạt nhân... ĐDPB xuất hiện và phát triển đồng thời với các loại pháo (ở châu Âu tk 14, ở VN tk 15). Năm 1953 Mĩ đã chế tạo đạn hạt nhân cho pháo nòng dài 280mm, tiếp đó cho pháo 175mm, 155mm và 203mm. Từ những năm 70 tk 20, QĐ Mĩ đã trang bị đạn hạt nhân cho pháo 155mm và 203mm với đương lượng nổ từ 0,05-2kt.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:46:01 PM

        ĐẠN DƯỢC SINH HOC, đạn dược dùng để gây ô nhiễm môi trường (địa hình, lớp không khí) bằng các phương tiện chiến đấu sinh học dưới dạng xon khí hay rải những vật mang bệnh nhằm gây dịch cho đối phương. ĐDSH gồm: bom, tên lửa, ngư lôi, mìn, đạn pháo... nhồi bột, chất lỏng chứa vi sinh vật gây bệnh hoặc thùng chứa các con vật đã bị nhiễm bệnh. Được đưa tới mục tiêu bằng tên lửa, khí cụ bay, tàu mặt nước, tàu ngầm, pháo... QĐ Đức chế tạo và sử dụng ĐDSH lần đầu tiên trong CTTG-I. Sau CTTG-II các nước Mĩ, Anh, Canada, Nhật, Áo... đã chế tạo ĐDSH. 1925 đã có nghị định thư Giơnevơ cấm vũ khí sinh học và 1972 LHQ thông qua công ước về cấm vũ khí vi trùng.

        ĐẠN DƯỢC THÔNG THƯỜNG, gọi chung các loại đạn dược  được nhồi các thuốc nổ phá (TNT, AT, A-IX-1, A-IX-2, Comp B...) hoặc hỗn hợp cháy thông thường; phân biệt với đạn dược hạt nhân, đạn dược sinh học, đạn dược hóa học thuộc vũ khí hủy diệt lớn.

        ĐẠN DƯỢC XON KHÍ. đạn dược mà tác dụng của chúng dựa trên hiện tượng nổ xon khí. Gồm: vỏ mỏng bằng kim loại, bên trong chứa nhiên liệu, ngòi nổ, trạm nổ. Nhiên liệu thường là cacbuahiđrô lỏng ở áp suất thường hoặc áp suất cao, phổ biến nhất là ôxit êtylen, prôpylen, ôxit prôpylen, hỗn hợp héc- tan với 20% prôpylnitrat, hỗn hợp prôpan và mêtan... Khi nổ nhiên liệu lấy toàn bộ hoặc hầu hết ôxi cần thiết cho phản ứng nổ của nó từ không khí (vd: 100kg ôxit prôpylen khi nổ lấy 69kg ôxi từ không khí). ĐDXK sát thương chủ yếu bằng sóng xung kích (áp suất trên mạt đầu sóng khoảng 3.106N/m2, tốc độ lan truyền 1.500-3.000m/s), trong đó yếu tố sát thương chính là xung áp suất (bằng tích của áp suất trên mật đầu sóng với thời gian tồn tại nó). Tác dụng sát thương do sóng xung kích của ĐDXK có thể tương đương với đạn dược hạt nhân công suất nhỏ, thích hợp để sát thương các mục tiêu mềm như: sinh lực, phương tiện kĩ thuật được bảo vệ yếu, máy bay, tên lửa, rađa, anten, khí tài lắp trên xe chiến đấu... đặc biệt hỗn hợp nhiên liệu - không khí có thể lọt vào thể tích không kín, uốn lượn theo địa hình, gây nổ từ bén trong công sự hoặc tòa nhà. Còn dùng để phá bãi mìn hoặc dọn bãi đổ bộ cho máy bay trực thăng. ĐDXK được nghiên cứu đầu tiên ở Mĩ (1960), sau đó ở Đức, LX, Anh. TQ... ĐDXK thế hệ 1 dùng cho máy bay tốc độ dưới âm, máy bay trực thăng (bom CBU-55 được đưa vào trang bị quân Mĩ 1969 và dùng ở VN 1972-75). ĐDXK thế hệ 2 dùng cho máy bay tốc độ cao (bom BLU-95, BLU-96) hoặc để phá mìn (vd: hệ thống SLU-FAE, 30 nòng, lắp trên xe xích M548, đạn cỡ 346mm, khối lượng đạn 87kg, chứa 38kg ôxi prôpylen, tầm bắn 300-1.000m, có thể làm sạch bãi mìn rộng 20m, dài 300m). ĐDXK thế hệ 3 đang được nghiên cứu, khác các thế hệ trước là sự tạo thành đám mây nhiên liệu - không khí và việc kích nổ đám mây là một quá trình duy nhất (không cần trạm nổ để kích nổ đám mây). 1976 LHQ coi ĐDXK là vũ khí vô nhân đạo, đã đề nghị cấm sử dụng chúng trong chiến tranh. Cg đạn dược nổ khối hay đạn dược nhiên liệu - không khí.

        ĐẠN DƯỚI CỠ, đạn có cỡ nhỏ hơn cỡ nòng của vũ khí, chủ yếu là các loại đạn xuyên giáp (đạn thân thắt, đạn lưu tuyến, đạn thoát vỏ...). Do phần lõi của đầu đạn có đường kính nhỏ hơn đường kính nòng pháo và được chế tạo bằng vật liệu có đặc tính cơ lí cao, đạn xuyên giáp dưới cỡ có khả năng xuyên giáp lớn hơn hẳn so với các loại đạn xuyên giáp khác.

        ĐẠN ĐẠO HỌC nh THUẬT PHÓNG

        ĐẠN ĐUM ĐUM, đạn súng đầu có rãnh khía hoặc khoang rỗng, dễ vỡ hoặc biến dạng khi vào cơ thể người, làm vết thương nặng hơn. “Đum Đum” là tên gọi một địa điểm ở ngoại ô tp Côncata (Ấn Độ), nơi chế tạo loại đạn này theo đơn đặt hàng của Anh. Được sử dụng lần đầu trong chiến tranh giữa người Anh và người Bôơ (1899-1902). Hội nghị quốc tế lần thứ nhất họp ở La Hay (1899) đã thông qua công ước cấm sử dụng ĐĐĐ, nhưng QĐ Pháp vẫn sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN (1945-54).

        ĐẠN GHÉM (đạn ria), đạn dùng để tiêu diệt sinh lực lộ của đối phương ở cự li gần (khoảng 300m), đặc biệt được sử dụng để bảo vệ trận địa phòng ngự khi bộ binh đối phương tấn công. Các bộ phận chủ yếu: vỏ kim loại mỏng hoặc các tông, đáy, nắp đáy, vật nhồi (các hạt hình cầu: chỉ, sắt, gang...). Khi bắn, vỏ ĐG không bền, bị phá hủy ngay khi còn ở trong nòng, vật nhồi dưới tác động của áp suất khí thuốc, bay ra khỏi miệng nòng với tốc độ lớn sát thương sinh lực. Tk 12-13 ĐG là những viên kim loại nạp trực tiếp vào nòng; tk 14-16 ĐG được nhồi các viên đá nhỏ hoặc các mảnh kim loại; tk 17-19 ĐG chứa các hạt chỉ hoặc gang nhỏ. Ngày nay đối với vũ khí của Nga, ĐG được bắn từ các loại pháo chống tăng, sơn pháo cỡ 45-76mm (các loại pháo không có loa hãm lùi). Trong chiến tranh VN, QĐ Mĩ đã sử dụng ĐG cho pháo lựu 105mm và 155mm, trong đó mỗi viên đạn nhồi 12 (pháo 105mm) và 20 (pháo 155mm) quả cầu đường kính 6cm, bên trong chứa các viên bi kim loại.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:47:42 PM

        ĐẠN HỌC TẬP, đạn công dụng phụ, có kết cấu giống như đạn chiến đấu, nhưng không chứa thuốc phóng và thuốc nổ, dùng vào mục đích huấn luyện hoặc để thí nghiệm. Có hai loại: không cắt bổ và cắt bổ. ĐHT không cắt bổ dùng để huấn luyện pháo thủ khi tiếp xúc với đạn dược, khi tập nạp và tháo đạn ra khỏi súng pháo, khi tiến hành các thao tác của một lần bắn. ĐHT cắt bổ dùng để nghiên cứu cấu tạo, nguyên lí... ĐHT thường có dấu hiệu riêng (chữ viết, màu sơn...) để phân biệt với đạn chiến đấu.

        ĐẠN KHÔNG ĐẨU, đạn chỉ gồm ống liều (vỏ đạn) chứa thuốc phóng, hạt lửa, nắp bịt kín bằng các tông, không có đầu đạn. ĐKĐ của súng bộ binh có miệng vỏ đạn được tóp vào thành múi hình sao. Khi bắn ĐKĐ, dưới tác động của khí thuốc phóng, nắp bị văng ra (miệng vỏ đạn bị dãn thẳng) kèm theo tiếng nổ và ánh lửa. Đối với súng tự động, khi dùng ĐKĐ bắn liên thanh phải có một ống chuyên dụng lắp vào đầu nòng. Khi bắn ĐKĐ của pháo phải bảo đảm trong phạm vi 150m phía trước nòng không có người và phương tiện dễ cháy. ĐKĐ được dùng trong những bài tập chiến thuật và diễn tập, để bắn chào, bắn pháo hiệu hoặc để huấn luyện tân binh chưa bắn đạn thật nhằm làm quen với tiếng nổ và sự giật của súng. Trong chiến đấu, một số đạn súng không đầu được dùng để bắn lựu phóng từ súng trường, tiểu liên.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66182835_449086649154554_8676041406315233280_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmS2ciswhAFwUS9_eRkNtU1V0P0JjzyaBiGYqxg5B5bjCSxn84BqI2brPi2VyUjbjw&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=da92b53599a3849d0199caa7d5de43f5&oe=5DA7F7A6)


        ĐẠN KHÔNG ỐNG LIỀU nh ĐẠN KHÔNG VỎ (nghĩa 2)

        ĐẠN KHÔNG VỎ, 1) đạn súng có vỏ đạn cháy hết cùng với thuốc phóng khi bắn. vỏ đạn có thể làm bằng thuốc phóng hạt trộn với nhựa cây hoặc hỗn hợp nitrô xenlulô với xenlulô thông thường. Đầu đạn, vỏ đạn và hạt lửa liên kết với nhau bằng chất keo cháy được. Có khối lượng và kích thước nhỏ hơn đạn thông thường, đồng thời cho phép sử dụng với các loại súng phi tiêu chuẩn. Được nghiên cứu chế tạo ở Mĩ và các nước khác từ 1966. Ở Đức, đầu những năm 90 tk 20 đã chế tạo loại súng tiểu liên Gll bắn ĐKV cỡ 4,73mm: 2) X. đạn nạp rời. Cg đạn không ống liều.

        ĐẠN LÕM, đạn hoạt động dựa trên cơ sở hiệu ứng nổ lõm, chủ yếu dùng để diệt mục tiêu bọc giáp. ĐL có các dạng: lựu đạn chống tăng, lựu phóng, đạn pháo có nòng, đạn phản lực, tên lửa chống tăng... Độ xuyên giáp của lựu đạn và lựu phóng (bắn từ súng trường) đạt 120-300mm; của lựu phóng (bắn từ súng phóng lựu): 270-400mm; của đạn pháo cỡ 105-120mm: 300-400mm; của tên lửa chống tăng: 450-600mm. Để chống lại mục tiêu được bảo vệ bằng màn chắn, có ĐL kép (nổ hai lần: lần 1 - phá thủng màn chắn, lần 2 - xuyên thủng vỏ giáp). ĐL được nghiên cứu từ trước CTTG-II; có trong trang bị QĐ LX (1941XQĐ Mĩ và Anh (1942), trong quân Đức (1943); được sử dụng rộng rãi trong CTTG-II. Loại ĐL đầu tiên được dùng ở VN là đạn badôca (3.1947). Trong KCCM, VN dùng phổ biến các loại ĐL như: B-40, B-41, AT, B72. Hiện nay ĐL dùng cả cho cối và được điều khiển giai đoạn cuối để tăng độ chính xác (x. đạn pháo có điều khiển).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66242919_449086675821218_3241683827159990272_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQkC2E1mFvlLLRffLrabkCwbMEEead6J_b5xW8lPXbWtZ1fpn8-r_wVt-KAmEApoXmY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=677b35d6921e3ebc4ac36a3928223a66&oe=5DAE6510)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:49:15 PM

        ĐẠN MŨI TÊN, 1) đạn súng đầu có ốp rời, gồm bốn mảnh nhựa ghép lại, trong chứa mũi tên hay mũi lao nhọn, mảnh và dài, dùng sát thương sinh lực ở cự li gần (dưới 500m). Có hai loại: tên đơn và tên bó. Khối lượng nhỏ (mỗi mũi tên nặng 0,5-0,7g, cả viên đạn 6-7g), sơ tốc lớn (trên dưới 1,400m/s), hiệu quả sát thương cao, song độ chính xác kém. Đã được QĐ Mĩ sử dụng trên chiến trường VN; 2) đạn pháo trong đầu đạn chứa hàng nghìn mũi tên nhỏ bằng thép (giống như các đinh có đuôi chữ thập, khối lượng thường dưới lg), dùng sát thương sinh lực. Đầu đạn lắp ngòi hẹn giờ. Khi nổ, dưới tác dụng tổng hợp của chuyên động đầu đạn (vừa bay vừa quay) và tốc độ phóng ra khỏi lòng đạn, các mũi tên sẽ bay với tốc độ lớn trong một không gian hình chóp. Khoảng cách sát thương có hiệu quả đạt tới hàng trăm mét tính từ điểm nổ. QĐ Mĩ đã sử dụng trên chiến trường VN các loại ĐMT cho pháo lựu 105mm (đạn XM 546, chứa 8.000 mũi tên đường kính 2,5mm, dài 26-28mm, khoảng cách sát thương hiệu quả 300m), pháo nòng dài 90mm (đạn XM 580 El, chứa 4.100 mũi tên), pháo không giật cỡ 106mm (đạn XM 581) và một số loại rôcket của không quân. ĐMT đặc biệt có hiệu quả khi bắn vào sinh lực tập trung.

        ĐẠN NẠP LIỀN, đạn pháo với đủ các phần tử cần thiết được lắp liền thành viên đạn, khi thực hiện phát bắn chỉ nạp đạn một lần. Thường dùng cho các loại pháo cỡ nhỏ và vừa. Ưu điểm của ĐNL: độ kín của liều phóng được bảo đảm, nâng cao được tốc độ bắn. ĐNL chủ yếu có liều phóng cố định. Ngoài ra còn có: ĐNL liều phóng thay đổi (đầu đạn được ghép nối lỏng với ống liều để có thể tháo ra điều chính liều phóng); ĐNL không có ống liều (thuốc phóng được ép dưới dạng ống liều và gắn với đầu đạn bằng chất keo dễ cháy).

        ĐẠN NẠP RỜI, đạn pháo có đầu đạn, liều phóng và phương tiện mồi không lắp liền thành một khối, khi nạp cần nhiều động tác. Có hai loại: ĐNR có ống liều, đạn được ghép nối thành hai phần: đầu đạn có lắp ngòi, ống liều chứa liều phóng và các phương tiện mồi; khi nạp đạn cần 2 động tác: nạp đầu đạn, sau đó nạp ống liều; thường có liều thay đổi, có thể bắn được các mục tiêu khác nhau, dùng cho các loại pháo cỡ trung. ĐNR không ống liều, đạn có liều phóng đựng trong các bao vải, không dùng ống liều; khi nạp đạn phải làm nhiều động tác: nạp đầu đạn có lắp ngòi, nạp các bao liều phóng (nhiều lần), lắp bộ lửa; ĐNR không ống liều gây mòn buồng đạn rất mạnh, nên thường dùng cho các loại pháo cỡ lớn.

        ĐẠN NỔ MẢNH, đạn pháo dùng sát thương sinh lực hoặc phá hủy các phương tiện kĩ thuật chủ yếu bằng các mảnh tạo ra khi nổ. Đặc điểm của ĐNM là thành đạn dày, dùng thuốc nổ mạnh để phá vỡ thân đạn thành nhiều mảnh có động năng lớn. ĐNM của pháo mặt đất thường là cỡ nhó hoặc cỡ trung, lắp ngòi chạm nổ, nổ tức thì hoặc nổ chậm (khi bắn thìa lia) và có thể lắp ngòi hẹn giờ hay ngòi không tiếp xúc để cho nổ trên không gần mặt đất, nhằm tăng hiệu quả tác dụng mảnh. ĐNM phòng không cỡ nhỏ lắp ngòi chạm nổ, cỡ trung và cỡ lớn thường lắp ngòi hẹn giờ hoặc ngòi không tiếp xúc. ĐNM phòng không có bộ phận tự hủy, cho đạn nổ trên không nếu không chạm vào mục tiêu; tác dụng mảnh xác định bằng số và động năng mảnh tạo ra khi đạn nổ, đặc trưng bằng kích thước vùng tác dụng mảnh quy đổi. Cg đạn sát thương.

        ĐẠN NỔ PHÁ, đạn công dụng chính dùng để phá hủy các công trình bền vững và sát thương sinh lực ẩn chủ yếu bằng sự giãn nở của sản phẩm nổ và tác động của sóng xung kích. Đặc điểm của ĐNP là thân đạn mỏng nhưng bền vững, nhồi lượng thuốc nổ (thường là TNT. amaton...) nhiều hơn so với đạn nổ mảnh và đạn nổ phá - mảnh cùng cỡ. Chiều dày thân đạn thay đổi tùy thuộc vào loại pháo. ĐNP thường dùng ngòi nổ đầu, ngòi nổ đáy, khi bắn điều chỉnh ngòi ở thế nổ chậm. Dùng cho pháo cỡ trung và cỡ lớn.

        ĐẠN NỔ PHÁ - MẢNH, đạn công dụng chính, kết hợp tác dụng của đạn nổ phá và đạn nổ mảnh, sát thương sinh lực và phá hủy mục tiêu bằng mảnh đạn, sóng xung kích và động năng của đầu đạn. Tác dụng phá hay mảnh của ĐNP-M do kiểu ngòi và thế ngòi quyết định. Khi dùng ngòi nổ tiếp xúc, nếu điều chỉnh ngòi về thế nổ tức thì sẽ có tác dụng tạo mảnh sát thương sinh lực, nếu điều chỉnh ngòi về thế nổ chậm vừa sẽ có tác dụng phá hủy công trình. Để nâng cao tác dụng mảnh có thể dùng ngòi hẹn giờ và ngòi không tiếp xúc.

        ĐẠN PHÁ BÊ TÔNG, đạn pháo sử dụng kết hợp động năng va dập và năng lượng nổ để phá hủy các công trình kiên cố bằng bê tông cốt thép hoặc xây bằng gạch đá. Cũng có thể sử dụng để diệt các mục tiêu bọc giáp. Đầu đạn tù, được chế tạo bằng thép hợp kim cường độ cao và qua xử lí nhiệt thích hợp để đạt độ cứng cao nhưng giảm dần từ đỉnh đến đáy, trong nhồi thuốc nổ mạnh (TNT), dùng ngòi nổ đáy và thường điều chỉnh ở thế nổ chậm để tăng hiệu quả phá hủy mục tiêu. Khi bắn trúng mục tiêu, động năng lớn của đầu đạn phá vỡ mặt ngoài của kết cấu công trình, tạo thành một hố lõm với độ sâu nhất định; sau đó đầu đạn ngòi nổ đáy kích nổ và sử dụng năng lượng nổ để phá hủy công trình. ĐPBT thường có cỡ 122mm trở lên và sử dụng cho pháo cỡ lớn.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:50:13 PM

        ĐẠN PHẢN LỰC, đạn được đưa tới mục tiêu nhờ lực đẩy của động cơ phản lực gắn liền với đầu đạn. Gồm: đầu đạn (phần chiến đấu), động cơ phản lực. ĐPL có thể được bắn loạt hoặc từng phát từ các thiết bị phóng (giá, ống, bệ, giàn phóng...) đặt trên mặt đất, xe, khí cụ bay hoặc tàu chiến. Theo phương pháp ổn định đường bay, có: ĐPL tự quay (cg ĐPL tuabin - có các ống phụt đặt nghiêng một góc 15-20° so với đường sinh), ĐPL không quay (có cánh đuôi cố định hoặc gấp mở được); theo tác dụng của đầu đạn, có ĐPL: phá, mảnh, mảnh - phá, lõm, cháy, khói, catxet, nổ xon khí...; theo cách hoạt động khi bay, có : ĐPL và đạn phản lực tích cực. ĐPL hiện đại có cỡ 37-300mm hoặc hơn, dài từ 5-7 lần cỡ (loại tự quay) đến 20 lần cỡ (loại không quay), tốc độ rời bệ 30-70m/s, tầm bắn từ vài trăm mét đến hàng chục kilômét. ĐPL xuất hiện đầu tiên ở LX vào những năm 30 của tk 20. Sau CTTG-II xuất hiện ĐPL tích cực. Trong KCCM, VN sử dụng có hiệu quả các ĐPL: A-12, H-I2, ĐKB... thậm chí khi bắn ứng dụng không cần thiết bị phóng chuyên dụng.

        ĐẠN PHẢN LỰC CHỐNG TẢNG CÓ ĐIỂU KHIỂN X. TÊN LỬA CHỔNG TẢNG

        ĐẠN PHẢN LỰC TÍCH CỰC, đạn phản lực được bắn tới mục tiêu từ các loại vũ khí có nòng (pháo, cối, ĐKZ.„). Là loại đạn kết hợp của đạn pháo (cối) thông thường với đạn phản lực. Sơ tốc ĐPLTC được tạo bời khí thuốc sinh ra do liều phóng thông thường cháy trong buồng đạn. Trên đường bay, nhờ cơ cấu giữ chậm lắp trong thân đạn, liều phóng của động cơ phản lực cháy, tạo vận tốc bổ sung làm tăng tầm bắn lên tới 25-100% so với đạn cùng cỡ. Các loại ĐPLTC đã được chế tạo: 127mm và 203mm (Mĩ), 120mm (Pháp)... ĐPLTC có uy lực nhỏ hơn (do giám khối lượng thuốc nổ để lắp thêm động cơ phản lực) và giá thành cao hơn. Xuất hiện sau CTTG-II, việc nghiên cứu và hoàn thiện ĐPLTC được coi như một trong phương pháp có triển vọng nhất để tăng tầm bắn.

        ĐẠN PHÁO, đạn dùng cho pháo có nòng. Gồm: đầu đạn, ngòi, liều phóng, ống liều, bộ lửa, các phần từ phụ (liều hộ nòng, liều tẩy đồng, liều giảm sáng, nắp chèn, nắp chống ẩm...). ĐP được phân loại theo công dụng (chính, phụ, đặc biệt), theo phương pháp nạp đạn vào pháo (nạp liền, nạp rời có ống liều, nạp rời không ống liều), theo cỡ đạn (lớn, trung, nhỏ), theo quan hệ với cỡ nòng (đúng cỡ, trên cỡ, dưới cỡ), theo cách ổn định khi bay (bằng tự quay, bằng cánh đuôi), theo kết cấu đầu đạn (đặc, nhồi thuốc nổ, có lõi xuyên, catxet...), theo loại pháo (cao xạ, mặt đất, hàng không, trên tàu) và theo tác dụng của đầu đạn (phá, mảnh, cháy, xuyên, phá bê tông, lõm, mũi tên, hóa học, hạt nhân, chiếu sáng, truyền đơn, khói, gây nhiễu rađa... hoặc kết hợp vài tác dụng trên, vd: xuyên - phá, mảnh - phá...). ĐP xuất hiện và phát triển đồng thời với pháo (ở châu Âu tk 14, ở VN tk 15). Từ 1980 xuất hiện đạn pháo có điều khiển.

        ĐẠN PHÁO CÓ ĐIỂU KHIỂN, đạn pháo (đạn cối) có thiết bị để tìm kiếm, phát hiện, nhận biết mục tiêu và điều khiển đường bay ở khu vực gần mục tiêu nhằm diệt những mục tiêu có kích thước nhỏ, cơ động nhanh (vd: xe tăng, xe thiết giáp). Theo nguyên tắc hoạt động, có: ĐPCĐK tự dẫn đoạn cuối quỹ đạo và ĐPCĐK kiểu catxet chứa đạn con lắp ngòi nổ xenxơ. Đạn tự dẫn đoạn cuối quỹ đạo dùng đầu tự dẫn (hồng ngoại, lade bán chủ động, rađa sóng milimét...) hoạt động ở cự li 500-1.000m tới mục tiêu, để lái đạn trúng thẳng vào mục tiêu và diệt nó bằng đầu đạn lõm. Thuộc loại đạn này có: đạn cối Meclin (của Anh cỡ 81mm), Stricxơ (của Thụy Điển cỡ 120mm), Griphin (cỡ 120mm do Anh, Pháp, Italia, Thụy Sĩ hợp tác nghiên cứu), đạn pháo Côpơhit M712 (của Mĩ cỡ 155mm),... ĐPCĐK kiểu catxet là các đạn pháo chứa 2-3 đạn con có lắp ngòi nổ xenxơ, được rải ra ở phía trên mục tiêu với độ cao 400-1.000m. Mỗi đạn con đều có dù đế giảm tốc độ rơi còn lOm/s. Khi rơi ngòi nổ xenxơ (kiểu hổng ngoại, rađa sóng milimét, hoặc kết hợp) quét tìm mục tiêu trong một khu vực theo hình nón có góc ở đỉnh khoảng 30°. Khi một mục tiêu được phát hiện, ngòi sẽ kích nổ liều thuốc, một đầu đạn khi nổ được hình thành và từ độ cao 60-150m lao thẳng xuống nóc mục tiêu với tốc độ 2.000-2.500m/s, xuyên thủng vỏ giáp của mục tiêu. Thuộc loại đạn này có: Bônuxơ (của Thụy Điển cỡ 155mm chứa 2 đạn con), Smat 155 (của Đức cỡ 155mm chứa 2 đạn con), Axet (của Pháp cỡ 155mm chứa 3 đạn con),... ĐPCĐK có ưu điểm chính: độ chính xác cao, xác suất diệt mục tiêu lớn, độ chống nhiễu cao, có khả năng tự động tìm kiếm, phát hiện, nhận biết và tiêu diệt mục tiêu; nhược điểm: giá thành cao (hơn đạn pháo thường vài chục lần, nhưng rẻ hơn tên lửa chống tăng có điều khiển khoảng 10 lần). ĐPCĐK được nghiên cứu từ đầu những năm 80 của tk 20, hiện nay được phát triển rất mạnh mẽ. Cg đạn thông minh hay đạn tinh khôn.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:51:41 PM

        ĐẠN PHÁO HẠT NHÂN, đạn pháo mang lượng nổ hạt nhân để diệt mục tiêu kiên cố, quan trọng (phương tiện hạt nhân chiến thuật, SCH, đầu mối thông tin liên lạc...) của đối phương trong chiều sâu chiến thuật. Cỡ thường từ 152- 280mm, có hình dạng và đặc tính thuật phóng tuơng tự đạn pháo thường. Các ĐPHN điển hình của Mĩ là: M454, cỡ 155mm, mang lượng nổ W48 (đương lượng nổ 0,lkt), lắp ngòi nổ trên không, bắn bằng pháo lựu kiểu M198 và M114 (tầm bắn 14,6km); đạn M422, cỡ 203mm, mang lượng nổ W33 (đương lượng nổ 5-10kt), bán bằng pháo lựu kiểu M115. Pháo nòng dài S-23 cỡ 180mm và pháo nòng dài - lựu Đ20 cỡ 152mm của LX đều có ĐPHN (đương lượng nổ khoảng 0,2kt). ĐPHN dược nghiên cứu từ 1950, Mĩ chế tạo đầu tiên (1953) cho pháo nòng dài đặc biệt cỡ 280mm và pháo không giật Dayi Crôket (đương lượng nổ 15-20kt). Từ những năm 70 tk 20, ĐPHN có thể bắn bằng pháo thường như các loại đạn khác.

        ĐẠN RẢI NHIỄU THỤ ĐỘNG, đạn công dụng đặc biệt, dùng gây nhiễu thụ động đài rađa đối phương, được bắn (phóng) từ pháo phản lực bắn loạt hoặc súng phóng bom trên tàu chiến, từ pháo mặt đất, khí cụ bay... Có : đạn pháo, đạn phản lực, tên lửa. Đầu đạn được nhồi các vật phản xạ rada kiểu ngẫu cực và lắp ngòi nổ hẹn giờ. Khi nổ, các ngẫu cực được tung ra và phân tán do gặp luồng không khí, tạo thành đám mây nhiễu thụ động. Vd: ĐRNTĐ Plexi (Mĩ) kiểu đạn phản lực, cỡ 102mm, dài 0,58m, nặng 22kg, chứa 17,3kg ngẫu cực, sau khi nổ 2,5s tạo ra đám mây ngẫu cực có diện tích phản xạ hiệu dụng 1,200m2.

        ĐẠN RIA nh ĐẠN GHÉM

        ĐẠN SÚNG, đạn lắp chặt (lắp liền) dùng cho các loại vũ khí có nòng cỡ dưới 20mm. Các bợ phận chính: đầu đạn, vỏ đạn (ống liều), thuốc phóng và hạt lửa. Đặc điểm cấu tạo chung: có đầu đạn trơn, thuốc phóng loại cháy nhanh chứa trực tiếp trong vỏ đạn, liều phóng không có liều châm lửa (do hạt lửa mồi cháy trực tiếp), mối ghép giữa ống liều với đầu đạn và hạt lửa là mối ghép căng. Theo công dụng, có: đạn chiến đấu (cg đạn công dụng chính dùng để trực tiếp tiêu diệt sinh lực hoặc phá hủy các phương tiện kĩ thuật của địch) và đạn bổ trợ (cg đạn công dụng phụ, gồm đạn huấn luyện, đạn bắn tập, đạn bắn kiểm tra...). Theo táe dụng của đầu đạn, có: đạn thường và đạn đặc biệt (đạn xuyên, đạn vạch đường, đạn cháy, hoặc kết hợp nhiều tác dụng như xuyên cháy, xuyên cháy vạch đường...). Theo hình dáng bên ngoài, có: đạn hình trụ, đạn hình chai. Trước đây, ĐS thường được chế tạo dùng riêng cho từng loại súng (súng ngắn, súng trường, tiểu liên, súng máy), song ngày càng phát triển xu hướng sử dụng thống nhất một loại đạn cho nhiều loại súng khác nhau (súng trường với tiểu liên, tiểu liên với trung liên, hoặc cả súng trường, tiểu liên và trung liên...). Các cỡ ĐS phổ biến hiện nay là 5,45; 5,56; 7,62; 9,0; 12,7 và 14,5mm. Các loại súng có trong trang bị của QĐND VN chủ yếu sử dụng các cỡ đạn từ 7,62mm trở lên.

        ĐẠN TĂNG TẦM, đạn có tầm bắn lớn hon so với loại đạn cùng cỡ hoặc cùng tác dụng khi bắn cùng liều phóng. Biện pháp tăng tầm bắn của đạn: thay đổi kết cấu, hình dạng của đầu đạn, giảm lực cản không khí, giảm hệ số tải ngang và tăng chất lượng liều phóng (đẩy). ĐTT xuất hiện sau CTTG- II, có: đạn phản lực tích cực, đạn sử dụng cơ cấu thuốc đẩy chậm, đạn có hình dạng khí động học tốt hơn... Vd; đạn phản lực tích cực cỡ 127mm (Mĩ) tầm bắn tăng từ 26km lên 35km, đạn pháo lựu 203mm (Mĩ) tăng từ 31km lên 40km, đạn cối 120mm (Pháp) tăng từ 3,6km lên 7,lkm...

        ĐẠN THÔNG MINH nh ĐẠN PHÁO CÓ ĐIỂU KHIỂN

        ĐẠN TINH KHÔN nh ĐẠN PHÁO CÓ ĐIỂU KHIỂN

        ĐẠN TRÊN CỠ, đạn có cỡ lớn hơn cỡ nòng của vũ khí. Gổm đầu đạn và phần đuôi (cán) dài để lắp vào nòng pháo (súng) từ phía miệng nòng. Thường dùng cho các loại vũ khí nhẹ như một số loại cối, pháo không giật, các vũ khí phản lực kiểu cũ, súng phóng lựu (kể cả súng phóng lựu chống tăng: B-40, B-41, M-72...), phù hợp với tác chiến ở cự li gần. Đặc điểm của ĐTC là có sơ tốc nhỏ nhưng uy lực lớn nhờ khả năng chứa lượng vật nhồi lớn, nhưng do đường kính đầu đạn lớn hơn đường kính nòng nên không thuận tiện trong sử dụng, bảo quản, vận chuyển.

        ĐẠN TRUYỂN ĐƠN, đạn công dụng đặc biệt, dùng để rải tài liệu tuyên truyền vào khu vực mục tiêu. ĐTĐ có liều thuốc đẩy đặt ở phần đầu đạn, truyền đơn cuộn thành bó và xếp ở phần đáy, dùng ngòi hẹn giờ. Độ cao nổ thích hợp nhất với ĐTĐ là 100-150m khi tốc độ gió không quá 7m/s. Truyền đơn dược tung ra sẽ bay và rơi xuống một khu vực rộng 15- 50m, dài 100-200m khi gió yếu và 500-1.000m khi gió mạnh. Được QĐ Pháp sử dụng lần đầu tiên vào cuối CTTG-I (1918) trên mặt trận Đức - Pháp.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:53:00 PM

        ĐẠN VẠCH ĐƯỜNG, đạn công dụng đặc biệt, dùng để bắn thử, chỉ thị mục tiêu và hiệu chỉnh bắn. Khi bắn liều vạch đường cháy, tạo ra ngọn lửa (màu sắc khác nhau: đỏ, vàng, xanh và trắng) hoặc khói, cho phép quan sát quỹ đạo bay và điểm chạm của đầu đạn. Bộ phận vạch đường được lắp ở đáy đầu đạn, là ống kim loại liến khối, bên trong nhồi liều vạch đường và các chi tiết khác. ĐVĐ có trong các loại đạn pháo (nổ phá cháy, xuyên thép), đạn phản lực chống tăng, bom đạn không quân, đạn con xuyên giáp, đạn bộ binh...

        ĐẠN XUYÊN X. ĐẠN XUYÊN GIÁP

        ĐẠN XUYÊN GIÁP, đạn pháo sử dụng động năng của đầu đạn đế phá hủy các mục tiêu có vỏ giáp bền vững như xe tăng, xe thiết giáp, pháo tự hành hoặc các công sự phòng thủ kiên cố. Đặc điểm chung: có sơ tốc và tầm bắn thẳng lớn, độ chính xác cao, khả năng xuyên giáp và sát thương sau vỏ giáp lớn. Chủ yếu dùng cho pháo xe tăng và pháo chống tăng, ngoài ra cũng dùng cho pháo bờ biển, pháo hạm tàu, pháo phòng không, pháo trên máy bay... Theo dặc điểm kết cấu và tính năng tác dụng, phân biệt ĐXG: bằng cỡ (ĐXG thông thường) và dưới cỡ (ĐXG siêu tốc). ĐXG bằng cỡ có các loại đầu nhọn, đầu tù và đầu nhọn có mũ đệm; đầu đạn được chế tạo bằng vật liệu có đặc tính cơ học cao và được nhiệt luyện tốt; để tăng uy lực sau vỏ giáp, thường sử dụng đầu đạn có ngòi nổ đáy và nhồi một lượng nhỏ thuốc nổ mạnh (ĐXG thuần túy không nhồi thuốc nổ). ĐXG dưới cỡ tập trung khối lượng của đầu đạn ở phần lõi cứng, còn thân đạn làm bằng thép các bon thấp hoặc hợp kim nhôm. Hiện đã có loại ĐXG siêu tốc tách vỏ, gồm hai loại: ổn định nhờ chuyển động quay và ổn định bằng cánh đuôi. Cg đạn xuyên.

        ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, chính đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp cống nhân, nhân dân lao động và của dân tộc VN; lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội; sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN; do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Thành lập 3.2.1930, với các tên gọi: ĐCSVN (từ 3.2.1930), ĐCS Đông Dương (từ 10.1930); ĐLĐ VN (từ 2.1951); ĐCSVN (từ 12.1976). Mục tiêu của ĐCS VN: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; xây dựng thành công CNXH và CNCS ở VN. ĐCSVN kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tiến hành tự phê bình và phê bình. ĐCSVN hoạt động theo hiến pháp và pháp luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. ĐCSVN được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo CM. ĐCSVN đã lãnh đạo nhân dân VN giành được những thắng lợi vĩ đại: tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công, lập nên nước VN DCCH, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; tiến hành kháng chiến chống Pháp (1945-54) và kháng chiến chống Mĩ (1954-75) thắng lợi, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao uy tín và vị thế của VN trên trường quốc tế, tạo thế và lực mới để xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc phù hợp với thực tiễn VN và bối cảnh quốc tế mới. ĐCSVN lãnh đạo QĐND VN tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, tổng bí thư BCHTƯ đồng thời là bí thư Đảng ủy quân sự trung ương (từ 1978). ĐCSVN đã tiến hành 9 lần đại hội đại biểu toàn quốc: lần 1 (3.1935) tại Ma Cao (TQ); lần 2 (2.1951) tại Tuyên Quang; các lần sau (9.1960, 12.1976 và 3.1982, 12.1986, 6.1991, 7.1996 và 4.2001) tại Hà Nội. Chủ tịch BCHTƯ ĐCS VN: Hồ Chí Minh (2.1951-9.1969). Tổng bí thư (bí thu thứ nhất); Trần Phú (10.1930-4.1931), Lê Hồng Phong (3.1935-6.1936), Hà Huy Tập (7.1936 3.1938), Nguyễn Văn Cừ (3.1938 1.1940), Trường Chinh (5.1941-56 và 7-12.1986), Lê Duẩn (9.1960-7.1986), Nguyễn Văn Linh (12.1986-6.1991), Đỗ Mười (6.1991-7.1997), Lê Khả Phiêu (7.1997- 4.2001), Nông Đức Mạnh (từ 4.2001).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:54:15 PM

        ĐẢNG ỦY QUÂN KHU, BCH đảng bộ quân khu; cơ quan lãnh đạo cao nhất của đàng bộ quân khu giữa hai kì đại hội. Số lượng từ 11 đến 15 ủy viên, gồm các đảng viên chính thức công tác trong đảng bộ quân khu do đại hội cùng cấp bầu và các bí thư tỉnh ủy, thành ủy (trực thuộc Trung ương) trên địa bàn quân khu do BCT chi định. ĐUQK có nhiệm vụ: lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt các đơn vị thuộc quyền; chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân , công tác QS địa phương, xây dựng LLVTND địa phương và chấp hành chính sách hậu phương QĐ; phối hợp với cấp ủy địa phương thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên địa bàn quân khu.

        ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG, BCH đáng bộ QS địa phương cấp tình, thành phố, huyện, quận, thị xã. Có nhiệm vụ lãnh đạo mọi mặt cơ quan quân sự địa phương và các đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền thực hiện mọi nhiệm vụ do cấp ủy địa phương và quân khu giao cho; đề đạt để cấp ủy địa phương ra quyết định lãnh đạo công tác QS và quốc phòng ở địa phương đồng thời giúp cấp ủy địa phương hướng dẫn và theo dõi thực hiện ở các cấp, các ngành trong địa phương. Cơ cấu ĐUQS gồm: một số đảng viên công tác trong đảng bộ QS địa phương do đại hội cùng cấp bầu, bí thư cấp ủy địa phương và một số đảng viên ngoài đảng bộ QS địa phương được chỉ định tham gia theo quy định của BCHTƯ, do bí thư cấp ủy địa phương cùng cấp làm bí thư. ĐUQS của đảng bộ QS địa phương cấp nào đạt dưới sự lãnh đạo mọi mặt của cấp ủy địa phương cùng cấp; đồng thời chấp hành nghị quyết của ĐUQS cấp trên về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương. Cơ quan chính trị cấp trên phối hợp với cấp ủy địa phương chỉ đạo CTĐ.CTCT và công tác quần chúng trong LLVTND địa phương.

        ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG, cơ quan của BCHTƯ ĐCS VN lập ra theo quy định của Điều lệ ĐCS VN, gồm một số ủy viên BCHTƯ công tác trong QĐ và một số ủy viên BCHTƯ công tác ngoài QĐ (do BCT chỉ định) đặt dưới sự lãnh đạo của BCHTƯ mà thường xuyên là BCT, Ban bí thư; có nhiệm vụ nghiên cứu để xuất để BCHTƯ quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ QS và quốc phòng và lãnh đạo mọi mặt trong QĐ. ĐUQSTƯ có Ban thường vụ gồm bí thư (từ 1978 thường do tổng bí thư BCHTƯ đảm nhiệm), phó bí thư và một số ủy viên. Trong quá trình hoàn thiện sự lãnh đạo của ĐCS VN đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cơ cấu, nhiệm vụ của ĐUQSTƯ được bổ sung, hoàn chỉnh. ĐUQSTƯ được tổ chức từ 1946, với các tên gọi qua từng thời kì: Trung ương quân ủy (1.1946-8.1948), Tổng chính ủy (8.1948-5.1952), Tổng quân ủy (5.1952-1.1961), Quân ủy trung ương (1.1961-12.1982), Hội đồng QS (12.1982-7.1985), ĐUQSTƯ (từ 4.7.1985). Bí thư ĐUQSTƯ qua các thời kì: Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh. Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.

        ĐÁNH BÁM ĐUÔI, công kích vào sau đội hình địch đang vận động. Thường vận dụng khi truy kích. ĐBĐ phải kết hợp chặt chẽ cơ động bộ đội với cơ động hỏa lực; cơ động bộ đội vượt lên trước chặn đầu kể cả sử dụng đổ bộ đường không. Cg truy kích bám sát, truy kích sát gót.

        ĐÁNH CHẮC THẮNG, phương châm tác chiến mà nội dung cơ bản là khi tiến hành trận chiến đấu, chiến dịch hay hoạt động tác chiến khác đều phải tạo được những điều kiện bảo đảm đã đánh là phải thắng, có chắc thắng mới đánh. Để thực hiện ĐCT, trước hết phải có lực lượng đủ mạnh, chuẩn bị chu đáo, bảo đảm toàn diện, tạo được bất ngờ cao, tạo được thế có lợi, cách đánh phù hợp, dự kiến các tình huống có thể xảy ra để xử trí chủ động, kịp thời.

        ĐÁNH CHẮC TIẾN CHẮC, phương châm tác chiến tiến công quân địch phòng ngự trận địa vững chắc mà nội dung cơ bản là không đánh ồ ạt, vội vã mà tiêu diệt từng bộ phận địch đánh chiếm từng khu vực. từng trận địa, củng cố từng thành quả đã đạt được, tạo thế có lợi để tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) là một điển hình về sự vận dụng phương châm này.

        ĐÁNH CHẶN, hoạt động tác chiến nhằm cản trở hoặc làm chậm bước tiến của quân địch. ĐC có thể diễn ra ở mặt đất, mặt nước hoặc trên không. ĐC địch tiến công mặt đất nhằm: tiêu hao lực lượng, buộc địch sớm triển khai lực lượng tiến công và không để địch tập kích bất ngờ. Để thực hiện ĐC thường phối hợp với LLVT địa phương, dựa vào trận địa đã cấu trúc sẵn hoặc lợi dụng địa hình để thực hiện ĐC.

        ĐÁNH CHẶN TRÊN KHÔNG, hoạt động tác chiến của không quân tiêm kích, sử dụng biên đội, phi đội hoặc chiếc máy bay đánh vào mục tiêu ở tuyến đánh chặn (khu vực quy định) nhằm cản phá bộ phận hoặc toàn bộ đội hình, đánh tan một hướng (một đợt) tiến cồng của địch ở tuyến đánh chặn, bảo vệ mục tiêu ở mặt trận hoặc hậu phương. Để ĐCTK phải quy định tuyến đánh chặn, căn cứ tốc độ, độ cao của máy bay ta và máy bay địch trên không, cự li phát hiện của rađa dẫn đường trên mặt đất.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:56:34 PM

        ĐÁNH CHIẾM, hoạt động tác chiến tiến công, dùng sức mạnh chiếm lấy một khu vực địa hình hoặc thành phố, thị xã, điểm cao, đảo,... nơi đối phương đang khống chế, nhằm giành lại (hoặc chiếm giữ) đất đai, giải phóng dân cư hoặc khống chế các hoạt động QS trong phạm vi nhất định.

        “ĐÁNH CHO MĨ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO”, phương châm chiến lược của ĐLĐ VN (ĐCS VN) trong KCCM. Nội dung chính: để giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, quân và dân VN phải kiên quyết đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ, buộc QĐ Mĩ (chỗ dựa của QĐ Sài Gòn) phải rút hết về nước; đồng thời phải đánh cho QĐ và chính quyền Sài Gòn (tay sai của dế quốc Mĩ) hoàn toàn sụp đổ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. “ĐCMC,ĐCNN” thể hiện ý chí, quyết tâm chiến đấu và sự sáng tạo trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh của nhân dân VN.

        ĐÁNH CUỐN CHIẾU, công kích địch ở bên sườn cửa đột phá đồng thời với công kích chính diện, nhằm mở rộng cửa đột phá, hình thành thế bao vây và bảo đảm cạnh sườn cho lực lượng chủ yếu. Có ĐCC một cạnh sườn và ĐCC hai cạnh sườn. Có thể dùng dột kích 1 (thể đội 1) hoặc đột kích 2 (thể đội 2) hoặc đội dự bị thực hiện ĐCC.

        ĐÁNH DẤU BÃI MÌN, dùng một số vật thể cố định xung quanh hoặc trên bãi mìn làm vật chuẩn đề báo vị trí bãi mìn; biện pháp cần thiết để quản lí và sử dụng bãi mìn hiệu quả và an toàn, nhất là khi cần tháo gỡ mìn; bước bắt buộc khi lập hồ sơ bãi mìn. ĐDBM phải bảo đảm bí mật và an toàn. Vị trí bãi mìn đánh dấu phải được mô tả theo tọa độ và hướng, trên sơ đồ (bản đồ) và đưa vào hồ sơ lưu trữ.

        ĐÁNH DẤU KHOANH VÙNG KHU NHIỄM, làm dấu hiệu quy ước như cắm cờ, biển báo và các vật thể ứng dụng khác bao quanh khu vực nhiễm (chất độc, phóng xạ, vi trùng) để bộ đội và nhân dân biết. Đánh dấu phải rõ ràng, dễ nhận biết cho cả ban ngày và ban đêm; trên các biển báo ĐDKVKN (và trên bản đồ tình huống chiến đấu) thường ghi phạm vi khu nhiễm, loại chất độc, vi trùng, mức độ nhiễm độc, nhiễm xạ và nhiễm trùng, thời gian phát hiện... ĐDKVKN chất độc, phóng xạ do phán đội trinh sát hóa học - phóng xạ thực hiện; ĐDKVKN vi trùng do quân y thực hiện.

        ĐÁNH DẤU VỊ TRÍ DÒ MÌN, làm dấu hiệu quy ước xác định vị trí (khu vực) phải dò, gỡ mìn để bảo đảm an toàn cho người và phương tiện khi đi qua. ĐDVTDM trên thực địa thường bằng dây, cọc chuẩn, phao neo, cờ các loại... ĐDVTDM trên bản đồ thường theo tọa độ khu vực. Lập sơ đồ khu vực sẽ dò mìn và đã dò mìn bằng sao trích bản đồ hoặc xác định theo vật chuẩn.

        ĐÁNH DU KÍCH, tác chiến bằng lực lượng nhỏ lẻ (dân quân tự vệ, bộ đội phân tán), theo nguyên tắc giữ quyền chủ động (khôn khéo điều khiển quân địch), nhanh chóng (lúc hành quân, lúc tiến công, hay lúc rút lui,...), luôn chủ động giữ thế công, có kế hoạch thích hợp và chu đáo. DDK diễn ra rộng khắp, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc, cả ở phía trước, bên sườn, sau lưng địch, bằng mọi thứ vũ khí thô sơ và hiện đại; kết hợp đánh tiêu diệt nhỏ và vừa với đánh tiêu hao rộng rãi và phá hoại, lấy ít địch nhiều, kết hợp mưu trí và sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến đấu. DDK rất phong phú và đa dạng: tập kích, phục kích, phục kích bắn tỉa, bắn lên, quấy rối, ngăn chặn, đánh chông mìn. cạm bẫy...

        ĐÁNH ĐÊM nh CHIẾN ĐẤU BAN ĐÊM

        ĐÁNH ĐỊA ĐẠO, hoạt động tác chiến được tiến hành dựa vào hệ thống địa đạo. ĐĐĐ được một số nước vận dụng trong chiến tranh trước đây (hệ thống đường hầm). Ở VN, ĐĐĐ đã được vận dụng có hiệu quả, tiêu biểu là ở địa dạo củ Chi (tp Hồ Chí Minh) và địa đạo Vịnh Mốc (t. Quảng Trị).

        ĐÁNH ĐỊCH ĐỐ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG, tác chiến tiến công nhằm tiêu diệt quân dịch đổ bộ bằng máy bay, máy bay trực thăng, dù. Khi ĐĐĐBĐK cần nắm vững quy luật hoạt động của địch, phán đoán chính xác, dự kiến các phương án và có kế hoạch chiến đấu cụ thể, khéo tạo thế buộc địch phải đổ bộ xuống khu vực ta đã chuẩn bị; sẵn sàng chiến đấu, vận động và nhanh chóng triển khai; nắm vững thời cơ, kết hợp chặt chẽ lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, hình thành bao vây, kiên quyết tiến công, tiêu diệt sinh lực và phương tiện đổ bộ; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ. chỉ huy chiến đấu kiên quyết, chủ động, mưu trí, linh hoạt.

        ĐÁNH ĐỊCH TRONG CÔNG SỰ VỮNG CHẮC nh CÔNG KIÊN

        ĐÁNH ĐIỂM DIỆT VIỆN, phương pháp tác chiến dùng một bộ phận lực lượng đánh tiêu diệt (bao vây) cứ điểm, cụm cứ điểm... của quân địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân địch đến cứu viện. Mục tiêu đánh điểm phải có ý nghĩa quan trọng về chiến thuật, chiến dịch và về chính trị, kinh tế, có nhiều khả năng buộc quân địch phải đến cứu viện hoặc đánh chiếm lại. Chiến dịch Biên Giới (1950) là một điển hình về ĐĐDV.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:57:50 PM

        ĐÁNH ĐỒNG LOẠT, phương pháp tác chiến tiến công vào toàn bộ hoặc phần lớn các mục tiêu của đối phương trong cùng một thời điểm. Có: ĐĐL ở quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; ĐĐL của từng binh chủng, quân chủng và binh chủng hợp thành. ĐĐL làm cho đối phương bị chia cắt, cô lập và không chi viện được cho nhau, khó phán đoán hướng tiến công của ta: phát huy được sức mạnh của ta ngay từ đầu, thường kết thúc nhanh trận chiến đấu.

        ĐÁNH GẦN, hoạt động tác chiến diễn ra ở cự li gần giữa hai bén giao chiến; một cách đánh có hiệu quả của QĐ có trang bị yếu chống lại QĐ có trang bị mạnh hơn. Nó có thể phát huy đẩy đủ tinh thần dũng cảm của bộ đội và uy lực của vũ khí. giảm bớt hoặc tránh bị sát thương bằng hỏa lực tầm xa của đối phương. Nội dung ĐG tùy thuộc vào sự ra đời và phát triển của vũ khí. Thời đại vũ khí lạnh, để ĐG chủ yếu là dùng đại đao, giáo mác, kiếm... đánh giáp lá cà. Khi hỏa khí ra đời, dùng pháo, súng trường, súng máy bắn ở cự li gần và dùng lựu đạn để ĐG. Đối với bộ đội thiết giáp, không quân, hải quân... ĐG biểu hiện bằng bí mật tiếp cận địch và dùng các loại vũ khí hiện đại, bất ngờ bắn (phóng) ở cự li có hiệu quả nhất để diệt mục tiêu. Trong chiến tranh hiện đại, binh khí kĩ thuật không ngừng được hoàn thiện nhưng ĐG vẫn là một cách đánh lợi hại. ĐG là cách đánh sở trường của LLVT và nhân dân VN trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước. Trong KCCM, quân và dân VN đã thực hiện khẩu hiệu “nắm thắt lưng địch mà đánh”.

        ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH, nghiên cứu, phân tích tổng hợp, kết luận tất cả các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến; một bước quan trọng của quá trình hạ quyết tâm tác chiến. ĐGTH do người chỉ huy tiến hành sau khi quán triệt nhiệm vụ, diễn ra trong khi chuẩn bị và thực hành tác chiến. ĐGTH bao gồm: nghiên cứu và phân tích tình hình đối phương; lực lượng ta và bạn; địa hình, khí tượng thủy văn, dân cư và những tình hình khác trong khu vực tác chiến. Khi ĐGTH cẩn làm rõ những yếu tố, điều kiện thuận lợi, khó khăn đổi với việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến, xác định biện pháp hạn chế khó khăn và lợi dụng có hiệu quả các yếu tố thuận lợi.

        ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH ĐỊCH trong tác chiến, nghiên cứu và phân tích các yếu tố về địch để hình thành ý định tác chiến và xứ trí tình huống; một nội dung quan trọng của đánh giá tình hình. Có ĐGTHĐttc: tiến công (phản công), phòng ngự (phòng thủ). Nội dung đánh giá gồm: âm mưu, đối tượng tác chiến và phiên hiệu lực lượng; tổ chức bố trí lực lượng; thủ đoạn tác chiến, dự kiến hành động và biến động của địch, trạng thái chính trị - tinh thần và mạnh yếu của địch... Kết luận ĐGTHĐttc làm cơ sở dề ra chủ trương, biện pháp hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch trong tác chiến.

        ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HÓA HỌC, HẠT NHẢN, phân tích, nhận định tình hình liên quan đến nhiệm vụ phòng chống vũ khí hóa học, hạt nhân để hạ quyết tâm tác chiến và xác định các biện pháp phòng chống, duy trì sức chiến đấu của bộ đội. Nội dung gồm: dự đoán sử dụng vũ khí hóa học, hạt nhân của đối phương; tình hình nhiễm độc, nhiễm xạ còn lại trong khu vực tác chiến; khả năng chiến đấu và bảo đảm của bộ đội trong điều kiện địch sử dụng vũ khí hóa học, hạt nhân; khả năng ngụy trang, che đỡ của công sự, địa hình; khí hậu thời tiết ảnh hưởng đến truyền lan của các đám mây nhiễm độc, nhiễm xạ và thực hiện các biện pháp phòng chống.

        ĐÁNH GIAO THÔNG, hoạt động tác chiến diễn ra trên các tuyến giao thông thủy, bộ, nhằm tiêu diệt sinh lực và phá hủy các phương tiện vận tải của địch, phá hủy cầu đường, cắt đứt giao thông, cản trở viộc vận chuyển của quân địch. Trong KCCP và KCCM, ĐGT là một nội dung quan trọng của chiến tranh nhân dân, được thực hiện rộng rãi từ quy mô nhỏ bằng hoạt động du kích đến các đợt hoạt động quy mô lớn có kế hoạch và chỉ đạo chặt chẽ. Khi ĐGĐ thường tiến hành: phục kích, tập kích, đánh mìn (địa lôi chiến), phá hoại... Cg giao thông chiến.

        ĐÁNH GIAO THÔNG KẾT HỢP CHỐT của công binh, hình thức chiến thuật của công binh kết hợp đánh giao thông với sử dụng một bộ phận lực lượng chốt chặn tại vị trí (khu vực) có lợi trên các tuyến giao thông thủy bộ, nhằm tăng hiệu quả tiêu diệt sinh lực, phá hoại đường, cầu cống, cắt đứt giao thông dài ngày, gây khó khăn, cản trở việc vận chuyển, cơ động lực lượng hoặc chặn viện, chia cắt địch. ĐGTKHC do công binh kết hợp với dân quân tự vệ và bộ đội địa phương tỉnh, huyện đảm nhiệm.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 09:58:58 PM

        ĐÁNH GIAO THÔNG TRÊN BIỂN, đánh giao thông nhằm cắt vận tải và nguồn cung cấp vật tư chiến tranh bằng đường biển, hạn chế bổ sung quân số và cơ động lực lượng bằng đường biển, phá hoại hoặc làm suy yếu tiềm lực chiến tranh của đối phương. ĐGTTB có thể do hải quân hiệp đồng với các binh chủng khác tổ chức thực hiện hoặc do hải quân độc lập tiến hành, thường diễn ra liên tục trong suốt quá trình chiến tranh. Khi ĐGTTB tiến hành vận dụng tập kích liên tục các tàu vận tải và các đội tàu hộ tống vận tải, tập kích phá hoại căn cứ, vật tư tích trữ trên cảng, thiết bị bến cảng, đánh và tiêu diệt lực lượng yểm hộ tuyến giao thông trên biển, thực hiện phong tỏa biển của đối phương.

        ĐÁNH GIÁP LÁ CÀ, đánh gần bằng cách áp sát nhau và sát thương nhau bằng vũ khí lạnh, vũ khí bộ binh cầm tay và bằng tay không; cách đánh ác liệt trong đó lòng dũng cảm. kiên quyết, mau lẹ, sử dụng thành thạo vũ khí cá nhân, trình độ võ thuật và thể lực tốt có ý nghĩa quyết định. ĐGLC thường diễn ra khi chưa xuất hiện vũ khí bộ binh tự động. Tk 18-19 vũ khí để tiến hành ĐGLC chủ yếu là lưỡi lê và báng súng, do đó ĐGLC có nghĩa là chiến đấu bằng lưỡi lê. Trong chiến tranh hiện đại, ĐGLC có thể xảy ra khi tác chiến trong khu dân cư, trong chiến hào, trong rừng, ban đêm, khi trinh sát... Trong chiến tranh ở VN, ĐGLC được LLVTND VN vận dụng rộng rãi.

        ĐÁNH HIỂM, đánh bất ngờ vào chỗ hiểm yếu hoặc chỗ sơ hở của mục tiêu; đánh trúng các mục tiêu quan trọng, làm tê liệt chỉ huy, rối loạn hiệp đồng, phá vỡ đội hình và phá hủy phương tiện chiến tranh quan trọng của địch...

        ĐÁNH LẤN, tiến công quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc bằng cách xây dựng trận địa trực tiếp tiếp xúc, tiến công, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch và lấn chiếm từng phần trận địa, bao vây chặt, hạn chế địch từ bên trong ra, bên ngoài đến, triệt tiếp tế, gây cho địch hoang mang dao động, tiến tới tiêu diệt toàn bộ cứ điểm hoặc khu vực phòng ngự của địch. Được vận dụng rộng rãi trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và trong KCCM.

        ĐÁNH LÂU DÀI, DỰA VÀO SỨC MÌNH LÀ CHÍNH, phương châm chiến lược của ĐCS VN chỉ đạo mọi hoạt động trong KCCP và KCCM. Đánh lâu dài là quá trình liên tục tiến công, đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, đánh bại từng âm mưu chiến lược của địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch. Dựa vào sức mình là chính: trước hết và chủ yếu là dựa vào đường lối của Đảng, dựa vào sự nỗ lực chủ quan của quân và dân cả nước về chính trị, tinh thần và vật chất, dựa vào nhân hòa, địa lợi, thiên thời của cuộc chiến tranh đang diễn ra trên đất nước, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến về mọi mặt, ra sức mờ rộng và củng cố hậu phương, căn cứ địa, thực hiện càng đánh càng mạnh cả về thế và lực. Trên cơ sở đánh lâu dài phải biết tập trung mọi cố gắng để giành thắng lợi càng sớm càng tốt và dựa vào sức mình là chính nhưng phải hết sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế. ĐLD,DVSMLC phản ánh quy luật chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân VN trong điều kiện nhân dân VN có chính nghĩa, có sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, nhưng tiềm lực QS, kinh tế hạn chế, vũ khí trang bị kém đối phương (nhất là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến), chống lại kẻ địch là những đế quốc đầu sỏ và hung hãn, có quân đông và trang bị hiện đại, có tiềm lực QS và kinh tế lớn gấp nhiều lần.

        ĐÁNH NGHI BINH, hoạt động tác chiến nhằm lừa địch, che giấu ý định tác chiến của ta, làm cho địch chú ý vào hướng (khu vục, mục tiêu) khác, kìm giữ hoặc điều động địch, tạo điều kiện có lợi thực hiện ý định tác chiến của ta. ĐNB phải giống như thật, uy hiếp địch thực sự, có thể thực hiện ở các quy mô với các loại và hình thức tác chiến.

        ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH, phương châm chiến lược chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhằm khai thác triệt để thời cơ và thuận lợi để rút ngắn thời gian chiến tranh. Việc vận dụng ĐNTN phụ thuộc vào thời cơ, so sánh lực lượng, thế và lực của các bên tham chiến. ĐNTN thực hiện khi tiến hành chiến tranh xâm lược, nhằm tận dụng ưu thế hơn hẳn về thế, lực trong thời kì đầu chiến tranh để tiến công, áp đảo đối phương, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh càng nhanh càng tốt, tránh những khó khăn, bất lợi khi cuộc chiến tranh kéo dài. Các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp (1945- 54) và đế quốc Mĩ ở VN (1954-75) đều được bắt đầu bằng ĐNTN. nhưng vấp phải sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam nên đã phải đánh kéo dài và cuối cùng phải chịu thất bại. ở VN trong nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược, ĐNTN đã được vận dụng sáng tạo, linh hoạt khi có điều kiện thời cơ thuận lợi (như kháng chiến chống Thanh (1788-89), hay giai đoạn cuối của cuộc KCCM), khi thế và lực đã thay đổi có lợi cho ta, đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26- 30.4.1975), ĐCS VN đã chỉ đạo ĐNTN bằng tư tưởng thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Cg tốc chiến tốc thắng.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 10:00:30 PM

        ĐÁNH NHỎ LẺ CỦA KHÔNG QUÂN, hình thức chiến thuật của không quân, dùng lực lượng nhỏ máy bay tiêm kích (1 hoặc 2-4 chiếc) đánh độc lập, bay thấp, vọt cao, công kích bất ngờ tiêu diệt những tốp nhỏ, lẻ hoặc thọc sâu vào đội hình lớn máy bay cường kích của địch có tiêm kích bảo vệ, tiêu diệt tốp (mục tiêu) có lợi, nhằm cản phá địch vào đánh mục tiêu.

        ĐÁNH NỔ HẸN GIỜ HÓA TRANG, cải trang khéo léo, công khai tiếp cận mục tiêu, bí mật đặt lượng nổ hẹn giờ rồi rời khỏi mục tiêu; phương pháp tác chiến đặc công biệt động. Thường do một người hoặc một tổ thực hiện. Đối tượng chủ yếu của ĐNHGHT thường là sinh lực cao cấp, phương tiện vật chất - kĩ thuật quan trọng của đối phương. Để bảo đảm đánh thắng, phải nắm vững thông lệ hoạt động và canh gác của mục tiêu, khéo cải trang. Một trong những trận điển hình của phương pháp tác chiến này là trận hai chiến sĩ biệt động của ta cải trang thành hai sĩ quan của QĐ Sài Gòn, dùng xe của chúng đặt lượng nổ khoảng 100kg TNT đánh cư xá Brinh 24.12.1965.

        ĐÁNH QUẦN LỘN, hoạt động tác chiến trong lòng đối phương và sau lưng đối phương, thường được bộ đội biên phòng và LLVTND tại chỗ áp dụng khi địch đã tràn qua biên giới, nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhỏ lực lượng dịch, đánh phá hệ thống chỉ huy, thông tin liên lạc, căn cứ hậu cần của địch... trấn áp các phần từ phân động làm tay sai, dẫn đường, chỉ điểm cho địch, tạo thế xen kẽ, đánh rộng khắp. ĐQL được tiến hành bằng các hình thức, phương pháp, thủ đoạn tác chiến như: phục kích, tập kích, bắn tia, đánh cắt giao thông, căn cứ kho tàng của địch...; đánh vào cạnh sườn, phía sau buộc địch phải phân tán và bị động đối phó. ĐQL phải dựa vào căn cứ chiến đấu của khu vực phòng thủ địa phương và các làng bản chiến đấu được chuẩn bị từ thời bình, tổ chức lực lượng thành các phân đội nhỏ, cơ động tác chiến trong khu vực trên cơ sở nắm chắc tình hình.

        ĐÁNH RỘNG KHẮP, phương pháp tác chiến được tiến hành ở cả phía trước, sau lưng, bên sườn, bên trong đội hình và hậu phương địch nhằm tiêu hao, căng kéo, kìm giữ, phân tán lực lượng địch tạo điều kiện cho đánh tập trung. Ở VN, ĐRK được vận dụng trong các loại tác chiến, bằng lực lượng nhỏ lẻ của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, với các hình thức, thủ đoạn tác chiến linh hoạt. ĐRK được thực hiện rộng rãi trong KCCP và KCCM.

        ĐÁNH TẬP TRUNG, phương pháp tác chiến sử dụng lực lượng tập trung đánh vào các mục tiêu trọng yếu ở địa điểm và thời cơ có ý nghĩa quyết định, nhằm tiêu diệt một bộ phận địch, góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến. Ở VN, ĐTT được bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương vận dụng trong các loại tác chiến, các hình thức tác chiến, trong tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng binh chủng với các quy mô nhỏ, vừa, lớn. ĐTT phải kết hợp chặt chẽ với đánh rộng khắp.

        ĐÁNH TẬP TRUNG của không quân tiêm kích, hình thức tác chiến của không quân tiêm kích, tập trung lực lượng đánh vào đội hình lớn máy bay địch (máy bay ném bom, máy bay cường kích, máy bay vận tải có sự yểm hộ của máy bay tiêm kích) vào đánh mục tiêu hoặc thực hiện một nhiệm vụ QS khác; cản phá đại bộ phận hoặc toàn bô đội hình, đánh tan một hướng (một đợt) hoạt động của dịch, nhằm hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch (chiến đấu). ĐTTckqtk có thể phân đoạn tiến công địch trên một hướng hoặc đánh trong một khu vực có độ cao chênh lệch.

        ĐÁNH TẬP TRUNG Ồ ẠT của không quân, hình thức tác chiến của không quân sử dụng lực lượng lớn máy bay (một hoặc nhiều loại) trong một đợt hoặc nhiều đợt liên tiếp trong ngày, tập trung đánh vào các mục tiêu quan trọng nhằm gây thiệt hại lớn cho đối phương. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc VN, Mĩ đã áp dụng ĐTTÔAckq vào các yếu địa và mục tiêu quan trọng.

        ĐÁNH THẮNG CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC LẦN I CỦA MĨ (mùa khô 1965-66), hoạt động tác chiến chiến lược của quân và dân miền Nam VN đánh bại cuộc phản công chiến lược lần I của Mĩ. Bắt đầu từ 8.1.1966, cuộc phản công của Mĩ nhằm tiêu diệt lực lượng chủ lực QGPMN VN, giành lại quyền chủ động trên chiến trường, hỗ trợ cho chương trình bình định. Lực lượng địch: 5 sư đoàn, 7 lữ đoàn, trung đoàn bộ binh Mĩ và quân các nước đồng minh, một bộ phận QĐ Sài Gòn, hơn 1.000 khẩu pháo, 1.342 xe tăng, xe bọc thép, 2.288 máy bay các loại; mở hàng trăm cuộc hành quân lớn, nhỏ, tập trung vào hai chiến trường trọng điểm: Đông Nam Bộ và Khu 5. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân với ba thứ quân, kết hợp đấu tranh QS với đấu tranh chính trị và binh vận, quân và dân miền Nam kiên quyết phản công, tiến công địch; đánh bại nhiều cuộc hành quân lớn (hành quân “Cái bẫy” ở Củ Chi, “Đá lăn” ở bắc Sài Gòn, “Thành phố bạc” đánh vào Chiến khu Đ, “Kẻ nghiền nát”, “Cánh trắng 1”, “Cánh trắng 2” ở bắc Bình Định, “Diều hâu đôi” ở nam Quảng Ngãi...); đánh nhiều trận tập kích, phục kích, vận động tiến công tiêu diệt địch ở Nhà Đỏ - Bông Trang (x. trận Nhà Đò - Bông Trang, 24.2.1966), dốc Bà Nghĩa (Thủ Dầu Một), Bàu Sắn (Tây Ninh), Thạnh Phú (nam Phú Yên), Chợ Cát, Lộc Giang (bắc Bình Định)...; mở chiến dịch Tây Sơn Tịnh (20.2-20.4.1966) kìm giữ và tiêu diệt quân Mĩ ở bắc Quảng Ngãi; bộ đội đặc công, pháo binh luồn sâu, tập kích nhiều căn cứ, sân bay địch. Không đạt được mục tiêu đề ra, lại bị tổn thất lớn (67.000 quân bị loại khỏi chiến đấu, 940 máy bay, 6.000 xe QS bị phá hủy, phá hỏng...), cuối 4.1966 Mĩ phải chấm dứt cuộc phản công (sớm hơn dự định 2 tháng). Đây là thắng lợi bước đầu rất quan trọng, tạo cơ sở và niềm tin cho nhân dân VN đánh thắng hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:21:23 PM

        ĐÁNH THẮNG CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC LẨN II CÚA MĨ (mùa khô 1966-67), hoạt động tác chiến chiến lược của quân và dân miền Nam VN đánh bại cuộc phản công chiến lược lần II của Mĩ. Bắt đầu từ 14.9.1966, cuộc phản công của Mĩ nhằm tiêu diệt căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực QGPMN VN, giành thắng lợi lớn về QS, làm chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho Mĩ. Trong phản công lần này, Mĩ thực hiện chiến lược “hai gọng kìm” (tìm diệt và bình định); huy động 3 sư đoàn, 4 lữ đoàn Mĩ, 4 sư đoàn QĐ Sài Gòn, một số đơn vị QĐ Nam Triều Tiên, Ôxtrâylia vào nhiệm vụ “tìm diệt”, mở hàng trăm cuộc hành quân, tập trung lực lượng vào miền Đông Nam Bộ với 3 cuộc hành quân lớn: hành quân Attơnborơ (14.9-25.11.1966), hành quân Xiđa Phôn (8-26.1.1967), hành quân Gianxơn Xiti (22.2-15.4.1967); sử dụng 40 tiểu đoàn Mĩ, 53 tiểu đoàn chủ lực QĐ Sài Gòn, 552 đoàn bình định cùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát các địa phương thực hiện chương trình bình định. Để đánh bại cuộc phản công của Mì, quân và dân ta nắm vững phương châm “đấu tranh QS kết hợp với đấu tranh vũ trang, triệt để vận dụng ba mũi giáp công”, đánh địch đều khắp trên các chiến trường; mở các chiến dịch phản công, tiến công ở Đông Nam Bộ (chiến dịch Tây Ninh, 3-25.11.1966; chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti, 22.2-15.4.1967), Tây Nguyên (chiến dịch Sa Thầy, 18.10-6.12.1966), Khu 5 (chiến dịch Quảng Ngãi, 8.1-28.3.1967)...; dựa vào thế trận làng, xã chiến đấu liên hoàn, thực hiện ba bám, kết hợp tác chiến của LLVT ba thứ quân với đấu tranh chính trị, binh vận làm thất bại các kế hoạch càn quét, bình định của địch. Bằng cố gắng toàn diện, quân và dân miền Nam đã đánh thắng cuộc phán công chiến lược lần II của Mĩ, loại khỏi chiến đấu 175.000 địch, bắn rơi và phá hủy 1.800 máy bay, phá hủy. phá hỏng 340 khẩu pháo, 1.783 xe QS, giải phóng 390 ấp, xã, bẻ gãy cả 2 gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”, tạo tiền đề vững chắc để đánh bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ.

        ĐÁNH THẢNG TRẬN ĐẨU, tư tưởng chỉ đạo tác chiến mà nội dung cơ bản là tập trung mọi nỗ lực giành thắng lợi ngay từ trận đánh đầu tiên, đánh đòn phủ đầu mãnh liệt, tạo điều kiện có lợi, động viên khí thế của ta, gây hoang mang cho địch, tạo điều kiện cổ lợi cho các trận tiếp sau. ĐTTĐ còn được hiểu theo nghĩa rộng là đánh thắng một chiến dịch mở đầu cho một chiến dịch chiến lược, một chiến cục, một giai đoạn chiến tranh hoặc cả cuộc chiến tranh.

        ĐÁNH THỌC SƯỜN, thủ đoạn tác chiến tiến công vào sườn bố trí lực lượng (đội hình chiến đấu) của địch; thường là vị trí yếu, sơ hở của quân địch nên đánh dễ có hiệu quả. ĐTS có thể tiến hành vào một hoặc cả hai bên sườn. Khi đánh vào hai bên sườn, cần phải lấy một bên làm hướng chủ yếu. ĐTS cần tập trung lực lượng, tận dụng yếu tố bất ngờ, tránh mở rộng chính diện.

        ĐÁNH TIÊU DIỆT, thủ đoạn tác chiến nhằm sát thương, phá hủy phần lớn hoặc toàn bộ sinh lực, phương tiện KTQS, góp phần làm mất hẳn sức chiến đấu của một đơn vị đối phương; ĐTD diễn ra khi có ưu thế sức mạnh, vận dụng cách đánh phù hợp; có thể thực hiện ở cả quy mô nhỏ, vừa và lớn.

        ĐÁNH TIÊU HAO, hoạt động tác chiến nhằm sát thương, phá hủy một phần sinh lực, phương tiện KTQS của địch, góp phần tiêu diệt lớn lực lượng của đối phương trong từng trận chiến đấu, chiến dịch, trên toàn chiến trường. ĐTH còn nhằm phối hợp chiến trường, gây khó khăn trở ngại cho địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn tác chiến, phá thế trận của chúng, góp phần thay đổi so sánh lực lượng. Ở VN, ĐTH được bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và quần chúng nhân dân vũ trang thực hiện rộng rãi. Được bộ đội chủ lực tiến hành theo yêu cẩu nhiệm vụ khi cần thiết.

        ĐÁNH TRẢ, hành động chiến đấu tự vệ chống đối phương tiến công nhằm giữ vững trận địa hoặc mục tiêu, không cho đối phương thực hiện mục đích. Thủ đoạn và phương pháp ĐT: thường dùng không quân, pháo binh, xe tăng, vũ khí chống tăng, vũ khí điều khiển chính xác thực hiện đột kích hỏa lực; lợi dụng địa hình và công sự kiên cố để giữ vững trận địa; cơ động lực lượng và hỏa lực vào hướng bị uy hiếp, khi có thời cơ bịt cửa đột phá hoặc vây diệt quân đổ bộ đường không; sử dụng lực lượng dự bị thực hiện phản xung phong, phản kích, dùng vũ khí phòng không tích cực bắn máy bay, tên lửa hành trình. ĐT được tiến hành trên bộ, trên biển, trên không, ở cả chính diện và bên sườn, kết hợp với phục kích tại trận địa, đánh bại tiến còng của quân địch.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:22:43 PM

        ĐÁNH TRẬN ĐỊA, hoạt động tác chiến chủ yếu được tiến hành ở những khu vực (tuyến) có xây dựng hệ thống trận địa vững chắc hoặc dã chiến. ĐTĐ đã trải qua một quá trình biến đổi lớn, từ chỗ bên phòng ngự chủ yếu là cố thủ các thành lũy, bên tiến công chủ yếu là công phá các thành lũy, đến chỗ bên phòng ngự thường dựa vào trận địa trên các phòng tuyến với chính diện trải dài liên tục và ổn định, bố trí binh lực có chiều sâu, bên tiến công thường dựa vào các trận địa xuất phát tiến công và phải tập trung lực lượng ưu thế đê đột phá được phòng ngự. Điển hình của ĐTĐ là CTTG-I cuối 1914 ở mặt trận phía tây (nước Pháp) và từ cuối 1915 ở mặt trận phía đỏng (nước Nga). Ở VN trong KCCP và KCCM, ĐTĐ đã thể hiện rõ nét trên một số khu vực chiến trường như Điện Biên Phủ 1954, Quảng Trị 1972 và trong một số trận vây lấn, nhưng nhìn chung không phổ biến. Cg trận địa chiến.

        ĐÁNH VẬN ĐỘNG, hoạt động tác chiến chủ yếu được tiến hành ngoài hệ thống trận địa. Đặc điểm nổi bật của ĐVĐ là: biến động cao, khẩn trương, tình huống diễn biến mau lẹ. Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc VN, ĐVĐ là cách đánh phổ biến và phát huy tác dụng to lớn. Cg vận động chiến.

        ĐANUYP (Đunai), sông lớn ở châu Âu. Dài 2.850km (thứ hai châu Âu sau Vônga), diện tích lưu vực 817.000km2. Bắt nguồn từ dãy núi Xvatxvan (tây nam Đức) chảy qua các nước: Đức, Áo, Xlôvakia, Hunggari, Xecbia và Môntênêgrô, Bungari, Rumani, Ucraina, đổ ra Biển Đen. Ở thượng lưu (đến Viên) lòng sông rộng 20-350m. ở trung lưu (từ Viên đến khe “Cổng sắt”) rộng 300-1.000rn, tốc độ dòng nước 2,2- 4,7m/s. ở hạ lưu rộng 1.000-2.000m, tốc độ lm/s, chảy ra biển bằng ba cửa. Lưu lượng nước trung bình 6.430m2/s. Hơn 300 sông nhánh, các nhánh chính: Đraya, Ttxa, Xaya, Xứet, Prut. Tàu có thể ngược đến thượng lưu (2.400km từ cửa sông). Có các nhà máy thủy điện ở Áo và vùng biên giới Rumani - Xecbia và Môntênêgrô. Các cảng chính: Rekenbec, Viên, Bratixlaya, Budapet, Bêôgrat, Ruxê, Gala, Idơmailơ.

        ĐAO, vũ khí lạnh có lưỡi sắc to bản, đầu nhọn, dùng để sát thương bằng chém, phạt, đâm. Lưỡi bằng đá (thời kì đồ đá), đồng thau (khoảng 1000 năm tcn), thép (200 năm tcn); cán bằng gỗ (tre) có độ dài khác nhau (ngắn dùng cho bộ binh, dài có thể tới trên lm dùng cho kị binh). Có các loại: trường đao (Đ dài), đoản đao (Đ ngắn), đại đao (Đ bản lớn), thủ đao (Đ cán ngắn), yêu đao (Đ giắt lưng)... Đ được sử dụng phổ biến trong thời đại chiến tranh bằng vũ khí lạnh. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, quân và dân VN đã dùng Đ có hiệu quả, là một trong những loại vũ khí được sử dụng rộng rãi.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66699467_449086659154553_1053929968792240128_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlZFhxL6-AFdIzjL7z2HwU43Rp4mXwiihIIZcKXfvbUzHTEomMog-6JyP9Co1wtL74&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e00fa39e49587541f5268f2b154ee845&oe=5DA3FA57)


        ĐÀO DUY TỪ (1572-1634), danh thần thời chúa Nguyễn, một trong những danh sĩ nổi tiếng nhất VN thời Trung Đại. Quê Hoa Trai, h. Ngọc Sơn (nay thuộc h. Tĩnh Gia, t. Thanh Hóa). ĐDT thông minh, học rộng, nhưng không được chúa Trịnh cho đi thi (vì là con đào hát), buộc phải vào Đàng Trong để lập nghiệp. 1627 được khám lí Trần Đức Hoà tiến cứ và được chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong làm nội tán, tước Lộc Khí Hầu, coi việc quân cơ, triều chính, trở thành người thân cận trong phủ chúa. Tận tụy giúp chúa Nguyễn tổ chức, trang bị QĐ, xây dựng mở mang bờ cõi Đàng Trong. Đề xuất và chỉ huy đắp lũy Trường Dực (1630) và lũy Nhật Lệ (1631), nhờ đó chúa Nguyễn đã đẩy lùi được các cuộc tiến công của chúa Trịnh. Tác giả bộ binh thư "Hổ trướng khu cơ”, hai khúc ngâm “Tư dung vãn” và “Ngọa long cương vãn”...


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:24:41 PM
       
        ĐÀO ĐÌNH LUYỆN (Đào Mạnh Hùng; 1929-99), thứ trưởng BQP, tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1991-95). Quê xã Quỳnh Hội, h. Quỳnh Phụ, t. Thái Bình; tham gia CM 3.1945. nhập ngũ 1945, thượng tướng (1988); đv ĐCS VN (1945). Trong KCCP, giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến chính ủy trung đoàn. Tham gia các chiến dịch: Việt Bắc (1947), Sông Thao, Biên Giới, Hoà Bình và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Tháng 10.1955 tham mưu trưởng Sư đoàn 312. Tháng 8.1964-65 trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 921 (trung đoàn không quân đầu tiên của QĐND VN). 4.1966-69 tham mưu trưởng, phó tư lệnh, tư lệnh kiêm chính ủy Binh chủng không quân thuộc Quân chủng phòng không - không quân. 3.1974 phó tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân. 5.1977 tư lệnh kiêm chính ủy Quân chủng không quân. 3.1986 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1989 thứ trưởng BQP kiêm chủ nhiệm TCKT, ủy viên Đảng ủy QS trung ương. 1991-95 thứ trưởng BQP, kiêm tổng tham mưu trưởng QĐND VN, ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VI, VII. Đại biểu Quốc hội khóa VII-IX. Huân chương : Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng nhì), 2 Chiến công hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66392790_449086682487884_3050546387939753984_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQkSvEOV2s3FGwbmvb0-Rx7gfGm8ffDQ2WiYNnv-bJ78tsMJykumKXxQWVhNUQtrbhI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=062a68ab427a32e6a45617f872a68b8f&oe=5DC627CA)


        ĐÀO HỔNG CẨM (Cao Mạnh Tùng; 1924-90), nhà viết kịch, giám đốc Nhà hát QĐ (1980). Quê xã Hải Phú, h. Hải Hậu, t. Nam Định; nhập ngũ 1947, đại tá (1983); đv ĐCS VN (1948). ĐHC đã dành cả cuộc đời hoạt động nghệ thuật để sáng tác về đề tài chiến tranh và QĐ. Tác phẩm tiêu biểu: “Nghị hụt” (1957), “Trước giờ chiến thắng” (1960, viết cùng Sĩ Hanh), “Chị Nhàn” (1961), “Một mạng người” (1962, viết cùng Nguyễn Phiên), “Nổi gió” (1967), “Đại đội trưởng của tôi” (1974), “Một người mẹ” (1975), “Tiếng hát” (1976), “Đêm và ngày” (1980), “Có một câu chuyện” (1982)... Nhiều vở đoạt giải cao ở các kì hội diễn. 1956 đoàn trưởng Đoàn kịch nói QĐ, hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu, Hội nhà văn VN, ủy viên BCH Hội nghệ sĩ sân khấu khóa II. Đại biểu Quốc hội khóa VII. Giải thưởng Hổ Chí Minh (1996). Huân chương: Quân công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất, Chiến công hạng ba...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66295853_449086709154548_4450318152881930240_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnH8mq8yZmGMqF9-_mk74Q4M0NEw_8GVDt5MGlAKta6wWZOD5P9ZiPDO81Qe009Zgs&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=7e7a4a24e0edb3805828b212a991dd48&oe=5DC40847)


        ĐÀO HUY VŨ (Đào Hữu Vĩ; 1924-86), tư lệnh Binh chủng thiết giáp (1974-80). Quê xã Xuân Canh. h. Đông Anh, tp Hà Nội; tham gia CM 1943, nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1979); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến trung đoàn phó. 9.1959 trung đoàn trưởng Trung đoàn thiết giáp 202 (trung đoàn thiết giáp đầu tiên của QĐND VN), 6.1965 phó tư lệnh, 1974 tư lệnh Binh chủng thiết giáp. 8.1980 trưởng khoa thiết giáp Học viện QS cấp cao. Huân chương: Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66452656_449086729154546_2009741465541935104_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnC1eKQCO6e7R9OTYVwfTXvqpb6KXDcbTygHxGvva_dqvqrQIDVVyHvMojf3mCa4h4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=23fb9e66cd3d36f9f7a04b56e019aa73&oe=5DB91BEA)


        ĐÀO NGŨ, tự ý rời bỏ đơn vị nhằm trốn tránh nghĩa vụ của quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong QĐ, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với QĐ... Theo luật pháp của nước CHXHCN VN, ĐN là tội phạm hình sự nghiêm trọng.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:26:32 PM

        ĐÀO TRỌNG LỊCH (Đào Văn Lịch; 1939-98), thứ trường BQP. tổng tham mưu trường QĐND VN (12.1997-5.1998). Quê xã Lũng Hoà, h. Vĩnh Tường, t. Vĩnh Phúc; nhập ngũ 1957, trung tướng (1998); đv ĐCS VN (1960). Trong KCCM. 1964-72 trưởng thành từ chiến sĩ đến tham mưu phó trung đoàn thuộc Sư đoàn 316. Tham gia các chiến dịch: Thượng Lào (Cánh Đồng Chum, 1964-65); Quyết Thắng (Nậm Bạc, Bắc Lào, 1968-69); Toàn Thắng (Cánh Đồng Chum, 1969-70); Mặt trận 31 (Cánh Đồng Chum, 1970- 71) và chiến dịch 74B (Cánh Đồng Chum. 1971-72). Năm 1974 trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, tham gia chiến dịch Tây Nguyên (3.1975) và chiến dịch Hồ Chí Minh (4.1975). Năm 1981-84 phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, Quân đoàn 29 rồi sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, Quân khu 2. Tháng 8.1987 chỉ huy trưởng Bộ chi huy QS tỉnh Lai Châu. 9.1991-92 phó tư lệnh tham mưu trưởng rồi tư lệnh Quân khu 2. Tháng 1.1994 ủy viên Đảng ủy QS trung ương. 4.1997 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 12.1997-5.1998 thứ trưởng BQP, tổng tham mưu trưởng QĐND VN; ủy viên thường vụ Đảng ủy QS trung ương (11.1997). ủy viên BCHTƯ ĐCS VN (từ 1.1994 và khóa VIII). Hi sinh 25.5.1998 trong tai nạn máy bay tại t. Xiêng Khoảng (Lào). Huân chương: Chiến công (3 hạng nhất, 2 hạng nhì, 1 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66764852_449086725821213_4838920136624701440_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQlRQn1_sen5fDclWGWEBFC9GcqSnCYR_ZxaxaqFzyidPOdRk9CvFPlW7MlJL08lFnE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ea3e8e3e2ff6ba0ee0a480bb4778d0d3&oe=5DBD6A50)


        ĐÀO VĂN QUÂN (s. 1954), Ah LLVTND (1979). Quê xã Cộng Lạc, h. Tứ Kì, t. Hải Dương; nhập ngũ 1971, trung tá (1991); đv ĐCS VN (1973); khi tuyên dương Ah là trung úy, chính trị viên Đại đội đặc công 1, Tiểu đoàn 45, Trung đoàn 113, BTL đặc công. Trong KCCM, 1972-74 chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên. 1979 chiến đấu chống quân TQ xâm lược ở Cao Bằng. 21.2.1979 khi bị địch phục kích gần tx Cao Bằng, ĐVQ tham gia chỉ huy chiến đấu diệt hơn 100 địch, (ĐVQ diệt 10 địch, bắt sống 1, phá 1 đại liên, thu 1 súng). Trận phục kích đoàn xe chở lính và vũ khí tại km 4 đường 3 (10.3.1979), tham gia chỉ huy đại đội diệt 18 xe, phá hủy hàng chục tấn đạn, 2 giàn hỏa tiễn H-12, diệt hơn 100 địch (ĐVQ diệt 8 xe). Huân chương; Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66309702_449086749154544_1290768037590335488_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlHE6-ph62UJ3Eu_4v0RSCxE5V0o8qoNyogmRMC4ENWOpZTio2xh9z6jRY_7gtOdzU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b84ceab18fcda53b4139456bb6baa7e0&oe=5DC4853B)


        ĐẢO, phần lục địa nhỏ tách biệt giữa đại dương, biển, sông, hồ, không bị ngập nước cả khi thuỷ triều lên cao nhất. Có thể nằm độc lập hay hợp với các Đ khác gần đó thành quần đảo. Theo quan hệ tự nhiên với đại lục, Đ trên biển và đại dương được chia thành đảo lục địa, đảo chuyển tiếp và đảo đại dương. Theo cơ chế kiến tạo, phân biệt đảo kiến tạo và đảo bồi tích. Theo nguồn gốc hình thành, còn phân biệt đảo núi lửa và đảo san hô. Chế độ pháp lí đối với Đ phụ thuộc vị trí của nó. Các Đ gần bờ có thể được lấy làm mốc của đường cơ sở, vùng nước giữa bờ biển và Đ là nội thuỷ. Đối với các Đ xa bờ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Đ cũng được hoạch định theo các quy định của Công ước của LHQ về luật biển (1982) áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác, trừ những Đ không thích hợp cho người ở hoặc cho một hoạt động kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

        ĐẢO CHÍNH, thủ đoạn giành quyền lực thống trị bằng sử dụng áp lực QS hoặc các áp lực khác trái với thể chế pháp luật hiện hành, lật đổ chính quyền đương nhiệm một cách bất thường và thiết lập chính quyền nhà nước khác trong khuôn khổ chế độ xã hội cũ. Các nước đế quốc thường dùng ĐC để can thiệp vào nội chính của nước khác hoặc thay đổi tay sai trong ngụy quyền (đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm 1.11.1963), tranh quyền cai trị thuộc địa (Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương 9.3.1945). ĐC do QĐ tiến hành gọi là ĐC QS.

        ĐẢO CHÍNH COONG LE (9.8.1960), đảo chính QS của một bộ phận QĐ Vương quốc Lào do đại úy Coong Le cẩm đầu nhằm lật đổ chính phủ thân Mĩ cực hữu Xômxanit - Phumi Nôxavẳn. Lực lượng đảo chính gồm Tiểu đoàn dù 2 cùng tiểu đoàn thiết giáp và những đơn vị không quân đóng ở Viêng Chăn, được đông đảo nhân dân Viêng Chăn và lực lượng Pathét Lào ủng hộ. Đêm 8 rạng 9.8, quân đảo chính đánh chiếm các cơ quan trọng yếu (bưu điện, sân bay. ngân hàng, đài phát thanh...) và các vị trí chiến lược quan trọng khác ở Viêng Chăn, nắm toàn quyền về hành chính, QS, tuyên bố thành lập ủy ban CM (sau đổi là ủy ban đảo chính). ĐCCL dẫn đến việc thành lập chính phủ mới do hoàng thân Xuyana Phuma làm thủ tướng, sẵn sàng nối lại hiệp thương với Pathét Lào, thực hiện hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, xây dựng nước Lào hòa bình, trung lập, độc lập. Từ 9 đến 18.12, lực lượng đảo chính phối hợp với nhân dân Viêng Chăn và LLVT Pathét Lào đánh lui nhiều đợt phản công của quân phái hữu có pháo binh Thái Lan chi viện, sau đó rút khỏi Viêng Chăn về Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. ĐCCL phản ảnh tinh thần yêu nước của một bộ phận QĐ Vương quốc Lào, góp phần tích cực thúc đẩy phong trào yêu nước chống Mĩ của nhân dân các bộ tộc Lào.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:32:57 PM

        ĐẢO CHÍNH CỦA NHẬT Ở ĐÔNG DƯƠNG nh NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP

        ĐẢO CHÍNH LẬT ĐỔ NGÔ ĐÌNH DIỆM (1.11.1963), đảo chính QS của một bộ phận QĐ Sài Gòn do Mĩ chủ mưu lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa nhóm QS thân MI do Dương Văn Minh cầm đầu lên nắm chính quyền ở miền Nam VN. Trước nguy cơ thất bại của chính sách xâm lược của Mĩ ở miền Nam và sự bất lực của chế độ độc tài gia đình trị, mâu thuẫn nội bộ chính quyền Sài Gòn gay gắt, buộc Mĩ phải tìm cách thay thế Ngô Đình Diệm, tiếp tục thực hiện kế hoạch chiến tranh, đối phó với phong trào CM miền Nam. Lực lượng đảo chính gồm: Chiến đoàn thiết giáp 24, Sư đoàn bộ binh 5, Trung đoàn 10 và Thiết đoàn 2 của Sư đoàn bộ binh 7, Tiểu đoàn dù 6, hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến (1 và 4) và 1 đại đội truyền tin. 13 giờ ngày 1.11.1963 lực lượng đảo chính đánh chiếm các cơ quan trọng yếu (Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia, Tổng nha cảnh sát đô thành, BTTM, đài phát thanh...) cùng các vị trí chiến lược quan trọng khác ở Sài Gòn, đến 6 giờ ngày 2.11.1963 chiếm dinh Gia Long, giết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Chính quyền QS do Dương Văn Minh làm tổng thống được thành lập, nhưng không giải quyết được tình trạng khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

        ĐẢO CHÍNH LON NON - XIRICH MATẮC (18.3.1970), đảo chính QS của lực lượng phái hữu ở Campuchia được Mĩ ủng hộ, do thủ tướng Lon Non và Xirich Matăc cầm đầu nhằm lật đổ quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc, xóa bỏ chính sách trung lập, đẩy Campuchia phụ thuộc vào Mĩ. Từ cuối 1961 Mĩ đã xúc tiến kế hoạch đảo chính thông qua hoạt động của CIA và sứ quân Mĩ ở Campuchia. Sau khi gây sức ép đưa Lon Non - đại diện phái cực hữu trong chính phủ Campuchia lên làm thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng, tổng tư lệnh QĐ hoàng gia (8.1969), ngày 18.3.1970, tại thủ đô Phnôm Pênh, dưới áp lực của 20 tiểu đoàn quân Lon Non - Sơn Ngọc Thành, lực lượng phái hữu đã buộc quốc hội Campuchia quyết nghị bãi nhiệm quốc trưởng Xihanuc, thành lập “Chính phủ cứu nguy dân tộc” do Lon Non làm thủ tướng. Với ĐCLN-XM, Mĩ đã từng bước can thiệp và xâm lược Campuchia (xt kháng chiến chống Mĩ của Campuchia).

        ĐẢO CHÍNH Ở NHẬT (1932-36), đảo chính QS do nhóm “Sĩ quan trẻ”, đại diện cho lực lượng quân phiệt tiến hành, nhằm thiết lập chế độ độc tài phát xít ở Nhật. 15.5.1932 lực lượng đảo chính đánh chiếm dinh thủ tướng, trụ sở đảng cầm quyền và các công sở ở thủ đô Tôkiô, giết thủ tướng Inôcai, nhưng không đạt được mục đích do các thế lực tư bản độc quyền Nhật lúc đó chưa dứt khoát theo con đường phát xít hóa. Mặc dù chính phủ mới do Xaitô đứng đầu đã đưa ra những chính sách thỏa hiệp nhưng lực lượng quân phiệt không chấp nhận, vẫn tiếp tục âm mưu đảo chính để nắm chính quyền. 26.2.1936 nhóm “Sĩ quan trẻ” cùng với gần 2.000 binh sĩ của Sư đoàn 1 nổi dậy đánh chiếm các vị trí quan trọng ở Tôkiô, sát hại nhiều quan chức cao cấp và tiến hành thương lượng với Bộ chỉ huy QS tối cao về thành phần chính phủ tương lai, nhưng không được QĐ và nhân dân ủng hộ. Cuộc đảo chính bị dập tắt nhưng đã thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa quân phiệt và đưa Nhật Bản theo con đường phát xít hóa, thể hiện bằng việc chính phủ Hirôta kí với phát xít Đức “Hiệp ước chống quốc tế cộng sản” (25.11.1936) và thực hiện chính sách bành trướng, gây chiến tranh xâm lược với các nước khác.

        ĐẢO CHÍNH QUÂN SỰ x. ĐẢO CHÍNH

        ĐẢO NÚI LỨA, đảo hình thành do các dung nham phun ra từ núi lửa ở đáy đại dương (biển) bồi tích lại, không có liên hệ trực tiếp về cấu tạo địa chất với lục địa. Phân bố chủ yếu ở vùng trung và tây Thái Bình Dương, tây Ấn Độ Dương và đông Đại Tây Dương. Thường có diện tích không lớn, phần nhô lên khỏi mặt biển tương đối cao và tạo thành các đỉnh cao; địa thế hiểm yếu, thuận tiện cho việc xây dựng các công sự và ngụy trang; để tạo các bến cảng che giấu tốt, xây dựng thành các căn cứ hải quân. Phần lớn các quần đảo trên Thái Bình Dương (Haoai, Tonga, Xamoa, Mariana...) đều là những quần đảo có nguồn gốc núi lửa.

        ĐẢO SAN HÔ, đảo được hình thành do sản phẩm phá hủy từ các thể san hô, có dạng hình vành khuyên dày đặc hoặc phân tán, trong vành khuyên là vụng nhỏ. Nhiều ĐSH có người ở. Các ĐSH đươc phân bố ở phía tây và giữa Thái Bình Dương, trung tâm Ấn Độ Dương. Nhiều đảo ở quần đảo Trường Sa là ĐSH. Các vụng nhỏ của ĐSH đôi khi cũng thuận lợi cho tàu thả neo trú đậu.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:34:18 PM

        ĐẠO (cổ), 1) đơn vị tổ chức của quân đội Đinh và quân đội Tây Sơn. Thời Đinh. Đ gồm 10 quân, có quân số lí thuyết 100.000 người. Thời Tây Sơn, Đ liền trên cơ (gồm 5 cơ), dưới doanh, có quân số khoảng 1.500-2.500 người và có sự phân biệt: Đ độc lập (riêng từng loại quân, vd: Đ bộ binh, Đ tượng binh...), Đ hỗn hợp (gồm một số cơ, đội bộ binh, tượng binh, pháo binh, kị binh hợp thành); 2) đơn vị hành chính - QS thời Đinh và Hậu Lê. Thời Đinh, đất nước chia thành 10 Đ; mỗi Đ có 1 đạo quân. Thời Hậu Lê, từ 1428 đất nước chia làm 5 Đ, mỗi Đ do hành khiển nắm quyền điều hành chung (cả quân, dân, chính) và có một số vệ đóng giữ; vệ quân do tổng quản thống xuất). Từ 1470 (dưới đời Hồng Đức) chia lại thành 13 Đ; mỗi Đ có: ti thừa (phụ trách hành chính, tài chính, tư pháp), ti hiến (giám sát công việc trong Đ), ti đô (trồng coi việc quân); mỗi Đ thường có 1 vệ đóng giữ, do tổng binh chỉ huy.

        ĐẠO DIỄN diễn tập, người phát tình huống dẫn dắt người tập thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao phù hợp với nội dung diễn tập. Thường có: ĐDdt chung (bên cạnh người tập vai chỉ huy cao nhất và trực tiếp điều khiển toàn bộ bộ máy đạo diễn); ĐDdt chỉ huy và cơ quan các cấp, các binh chủng, quân chủng, ngành; ĐDdt khu vực; ĐDdt đáy (đóng vai đơn vị cấp dưới của cấp chỉ huy và cơ quan tập thấp nhất); người đạo diễn hỏa lực (khi diễn tập có bắn đạn thật). Nhiệm vụ chủ yếu của ĐDdt: dẫn dắt tình huống, kiểm tra hành động của người tập, đặc biệt là việc xử trí tình huống trong quá trình diễn tập, kiểm tra việc chấp hành các biện pháp bảo đảm an toàn. Để thực hiện nhiệm vụ, ĐDdt phải nắm vững đề mục, mục đích yêu cầu, ý định và nội dung diễn tập; kê hoạch diễn tập; phương pháp đạo diễn và những biện pháp cần tiến hành trong quá trình diễn tập.

        ĐẠO HÀNG nh DẪN ĐƯỜNG

        ĐẠO QUAN BINH, tổ chức QS - hành chính theo lãnh thổ của Pháp ở Bác Kì (VN), bao gồm một số khu vực được tách từ nhiều tỉnh. Hình thành 6.8.1891 theo nghị định của toàn quyền Đông Dương trên cơ sở bãi bỏ 14 quân khu (thành lập 15.4.1888). Có 4 ĐQB: ĐQB 1 - Phả Lại, ĐQB 2 - Lạng Sơn, ĐQB 3 - Yên Bái, ĐQB 4 - Sơn La. Địa bàn của từng ĐQB thay đổi nhiều lần do yêu cầu đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của nhân dân VN ở vùng núi. ĐQB do một sĩ quan cấp tá người Pháp làm tư lệnh. Tư lệnh ĐQB có quyền dân sự ngang thống sứ Bắc Kì; về QS, có quyền mở các cuộc hành quân đánh chiếm trong phạm vi đạo và chỉ chịu sự chỉ đạo của tổng chỉ huy QĐ Pháp ở Đông Dương. Mỗi ĐQB chia thành nhiều tiểu quân khu do một sĩ quan có quyền ngang công sứ đứng đầu. Đến 16.4.1908 tư lệnh ĐQB chỉ còn quyền dân sự ngang công sứ; về QS, chịu sự chỉ huy của tư lệnh lực lượng chiếm đóng Bắc Kì; đồng thời bãi bỏ tiểu quân khu và thay bằng đại lí (QS) do một sĩ quan cấp úy đứng đầu. Đến 27.3.1916, thành lập thêm ĐQB 5 - Thượng Lào (bao gồm một phần lãnh thổ t. Lai Châu, VN). Việc sử dụng hình thức ĐQB để cai trị bắt nguồn từ chính sách thực dân bằng QS (không thiết lập quá sớm chế độ cai trị dân sự; phải duy trì chế độ cai trị QS - càng cứng rắn càng tốt - để kẻ bị trị không được nghĩ rằng kẻ thống trị nhu nhược, yếu đuối) mà Pháp đã từng áp dụng ở Xuđăng và Mađagaxca.

        ĐẠO QUÂN, gọi chung tập đoàn lực lượng của QĐ một số nước, được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ chiến dịch -  chiến lược trong chiến tranh. Tổ chức, quân số, trang bị từng ĐQ tùy thuộc ý đổ chính trị của ban lãnh đạo tối cao. Để thôn tính, khuất phục nước khác, các ĐQ xâm lược thường có số quân từ hàng vạn đến hàng chục vạn người (như các ĐQ: Tống, Nguyên, Minh, Thanh (TQ) trong các cuộc chiến tranh xâm lược VN từ tk 11 đến tk 18); có ĐQ biên chế tới gần một triệu người (Đạo quân Quan Đông của Nhật Bản trong CTTG-1I). Để bảo vệ đất nước, các ĐQ trong các cuộc kháng chiến của nhân dân VN chống xâm lược cũng có lực lượng hàng vạn người (ĐQ thời Lí, Trần. Hậu Lè, Tây Sơn). Ngày nay, khái niệm ĐQ hầu như không còn tồn tại trong tổ chức, sử dụng lực lượng QĐ ở nhiều nước.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:35:56 PM

        ĐẠO QUÂN QUAN ĐÔNG, liên binh đoàn chiến lược tinh nhuệ nhất và thiện chiến nhất của QĐ Nhật. Thành lập 1919 ở Quan Đông (khu vực nhượng địa ở mũi bán đảo Liêu Đông, TQ) để xâm lược TQ, Mông cổ và LX. Đến 1945, ĐQQĐ bao gồm: Phương diện quân 1 (đông Mãn Châu) có 2 tập đoàn quân (3, 5), gồm 10 sư đoàn và 1 lữ đoàn bộ binh; Phương diện quân 3 (tây Mãn Châu) có 2 tập đoàn quân (44, 30), gồm 8 sư đoàn và 2 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn xe tăng; Phương diện quân 17 (lực lượng dự bị của tư lệnh ĐQQĐ, đóng ở Triều Tiên) có 2 tập đoàn quân (34, 59), gồm 9 sư đoàn bộ binh; Tập đoàn quân độc lập 4 (đông bắc Mãn Châu), gồm 3 sư đoàn và 4 lữ đoàn bộ binh; Tập đoàn quân không quân 2 (bảo vệ Mãn Châu) và Tập đoàn quân không quân 5 (bảo vệ Triều Tiên). Quân số khoảng 1 triệu người; trang bị hơn 1.000 xe tăng, hơn 5.000 khẩu pháo, 1.800 máy bay. Tư lệnh: đại tướng Ôtôdô Iamađa. ĐQQĐ đã bị các đơn vị Hồng quân LX ở Viễn Đóng (3 phương diện quân: Viễn Đông 1, Viễn Đông 2, Dabaican; Hạm đội Thái Bình Dương, Phân hạm đội Amua...) cùng một bộ phận QĐND Mông cổ đập tan (tiêu diệt gần 70.000, bắt làm tù binh gần 600.000 - có 148 tướng) trong chiến dịch Mãn Cháu (8.1945), một nguyên nhân chủ yếu buộc chính phủ Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt CTTG-II.

        ĐẠO QUẤN VIỄN CHINH PHÁP Ở VIỄN ĐÔNG X. CEFEO

        ĐẮC LẮC nh ĐẮK LẮK

        ĐẮC NÔNG nh ĐẮK NÔNG

        ĐẶC CÔNG, 1) cách tiến công đặc biệt, dùng lực lượng ít, trang bị gọn nhẹ, triệt để lợi dụng yếu tố bí mật, tiếp cận mục tiêu, tạo thế có lợi, bất ngờ tiến công đối phương dồn dập, mãnh liệt, nhanh chóng kết thúc chiến đấu, đạt hiệu suất cao. Thuật ngữ ĐC xuất hiện từ 1950 dùng chỉ cách đánh “công đồn đặc biệt”; 2) lực lượng đặc biệt tinh nhuệ được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch (xt Binh chủng dặc công).

        ĐẶC CÔNG BIỆT ĐỘNG, đặc công hoạt động và tác chiến ở địa bàn thành thị (thành phố, thị xã) do đối phương kiểm soát, chủ yếu tiến công những mục tiêu đặc biệt quan trọng (cơ quan đầu não, cáu lạc bộ sĩ quan, trại giam, cơ sở kinh tế -  quốc phòng...) ĐCBĐ bao gồm các tổ, đội, đoàn, được tổ chức theo nguyên tắc ngăn cách bí mật, bố trí hợp pháp, trang bị vũ khí gọn, nhẹ, thường tác chiến theo phương pháp tập kích hóa trang, đánh nổ hẹn giờ hóa trang.

        ĐẶC CÔNG BỘ, đặc công được huấn luyện và trang bị vũ khí chuyên dùng để tiến công những mục tiêu hiểm yếu của địch trên đất liền; lực lượng chủ yếu của Binh chủng đặc công. ĐCB được tổ chức thành tổ, mũi, đội, tiểu đoàn, trung đoàn trong bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Nhiệm vụ chủ yếu của ĐCB: tiêu diệt sinh lực quan trọng, đánh phá đầu mối giao thông, cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của đối phương... ĐCB có khả năng tác chiến độc lập hoặc tác chiến hiệp đồng binh chủng.

        ĐẶC CÔNG CĂN CỨ, đặc công ém sẵn ở địa bàn được xác định gần căn cứ địch, để bám đánh những mục tiêu quan trọng của đối phương (sân bay, bến cảng, kho tàng...) trên địa bàn có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch. Trên cơ sở trinh sát nắm chắc mục tiêu (lực lượng, phương tiện, bố trí, hoạt động...) và có nhiều phương án tác chiến được chuẩn bị sẵn. ĐCCC thực hành tiến công khi có thời cơ, hoặc theo yêu cầu phối hợp chiến trường. Cg đặc công chuyên trách.

        ĐẶC CÔNG CHỦ LỰC, gọi chung các đơn vị đặc công trực thuộc Bộ, quân khu, quân chùng hải quân; làm nhiệm vụ cơ động tác chiến trên chiến trường trên bộ, các vùng biển, đào, sông lớn (đối với ĐCCL thuộc Bộ. Quân chủng hải quân); trên địa bàn quân khu hoặc trên các chiến trường khi Bộ điều động (đối với ĐCCL thuộc quân khu) nhằm đánh phá hoặc đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, vào thời điểm quan trọng của chiến dịch phản công hoặc tiến công. Có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng và binh chủng.

        ĐẶC CÔNG CHUYÊN TRÁCH nh ĐẶC CÔNG CĂN CỨ

        ĐẶC CÔNG ĐỊA PHƯƠNG, gọi chung các đơn vị đặc công thuộc bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; một lực lượng tác chiến thường xuyên, rộng khắp và đánh nhỏ lẻ đạt hiệu suất cao trong chiến tranh nhân dân. ĐCĐP chủ yếu hoạt động trong địa bàn địa phương, khi cần có thể tác chiến ngoài địa phương và tác chiến hiệp đồng trong khu vực phòng thủ. Nhiệm vụ: phối hợp tác chiến với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ tiêu diệt lực lượng địch, phá hủy những mục tiêu quan trọng, bảo vệ địa phương.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:37:58 PM

        ĐẶC CÔNG NHÁI, đặc công nước chủ yếu tác chiến trên biển xa. ĐCN được trang bị khí tài bơi lặn hiện đại, có khả năng lặn sâu và hoạt động xa bờ. Trong QĐND VN, đơn vị ĐCN đầu tiên ra đời 1967. Trận đánh tiêu biểu của ĐCN đánh chìm tàu chở dầu Nôxiubi (15 nghìn tấn) của hải quân Mĩ đêm 8.9.1969, cách Cửa Việt 4km của Đội 1, Đoàn đặc công 126.

        ĐẶC CÔNG NƯỚC, đặc công được huấn luyện và trang bị vũ khí. khí tài chuyên dùng để tiến công những mục tiêu của địch ở biến, sông, hải đảo, bờ biển, căn cứ hải quân (tàu thuyền neo đậu, cầu cống, các thiết bị bến càng, kho tàng...). ĐCN thuộc Bộ và quân chúng hải quân tổ chức đến binh đội; ở quân khu, tỉnh, huyện (có sông lớn, biển) tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và khả năng để tổ chức các đơn vị cấp phân đội. ĐCN thường tác chiến độc lập, cũng có thể tác chiến hiệp đồng binh chủng ở quy mô nhỏ và vừa. Phương pháp tác chiến chủ yếu: phá hủy bí mật. tập kích bí mật.

        ĐẶC ĐIỂM TÁC CHIẾN, tính đặc thù phản ánh quy luật nội tại và bản chất hành động của các loại hình tác chiến. ĐĐTC phản ánh những điều kiện, thời gian, không gian, đối tượng và hình thức tác chiến. ĐĐTC không ngừng phát triển theo sự phát triển của KTQS và số lượng, chất lượng LLVT. Thông qua nghiên cứu và nhận thức ĐĐTC, thấy rõ quy luật khách quan của tác chiến, có thể thúc đẩy sự phát triển nghệ thuật QS. Người chỉ huy phải căn cứ vào ĐĐTC để tìm ra phương pháp tác chiến phù hợp mới có thể giành thắng lợi.

        ĐẶC KHU, tổ chức QS theo khu vực địa lí ở nơi có ý nghĩa đặc biệt về QS. Thường được tổ chức trong thời chiến, như: ĐK Sài Gòn - Chợ Lớn (trong KCCP, X. Khu 7), ĐK Rừng Sác (trong KCCM). Đặc khu Quảng Ninh (1979-87)...

        ĐẶC KHU QUẢNG NINH, đặc khu ở phía đông bắc Bắc VN. Thành lập theo sắc lệnh 71-LCT ngày 19.4.1979 của chủ tịch nước CHXHCN VN trên cơ sở tách t. Quảng Ninh ra khỏi Quân khu I thành đặc khu trực thuộc trung ương. Tổ chức ban đầu là Quân khu Đông Bắc. Phía bắc có đường biên giới với TQ, phía nam và tây, tây nam giáp các tỉnh Quân khu 3 và Quân khu 1, phía đông và đông nam giáp biển; có các đảo ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Từ 1987 ĐKQN sáp nhập vào Quân khu 3. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên (1979): Nguyễn Anh Đệ, Nguyễn Trọng Yên.

        ĐẶC KHU SÀI GÒN - CHỢ LỚN X. KHU 7, QUÂN KHU SÀI GÒN - GIA ĐỊNH

        ĐẶC KHU VŨNG TÀU - CÔN ĐẢO, đơn vị hành chính (trực thuộc trung ương) cũ ở Đông Nam Bộ. Thành lập 5.1979, gồm tx Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc h. Châu Thành, t. Đồng Nai và h. Côn Đảo thuộc t. Hậu Giang. Trung tâm hành chính: tx Vũng Tàu. 8.1991 sáp nhập với các huyện Long Đất, Châu Thành. Xuyên Mộc của tình Đồng Nai thành t. Bà Rịa - Vũng Tàu.

        ĐẮK LẮK*. tỉnh cũ ở Tây Nguyên. Thành lập 7.1923, tách từ t. Kon Tum. 1.1959 chính quyền Sài Gòn tách một phần các tinh ĐL, Lâm Đồng và Phước Long thành lập t. Quảng Đức. 2.1976 Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa miền Nam VN sáp nhập ĐL và Quảng Đức thành t. ĐL. 10.2000, LLVTND Đắk Lắk được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND. 1. 2004 tách thành hai tinh Đắk Lắk** và Đắk Nông.

        ĐẮK LẮK**, tỉnh ở Tây Nguyên; tây giáp Campuchia, bắc giáp Gia Lai, đông bắc giáp Phú Yên, đông giáp Khánh Hoà, nam giáp Đắk Nông, Lâm Đồng. Dt 13.062km2; ds 1,67 triệu người (2004); các dân tộc: Êđê, Mơ Nông, Giarai, Kinh. Thành lập 1.2004, tách từ t. Đấk Lắk*. Tổ chức hành chính: 12 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Buôn Ma Thuột. Nằm trên cao nguyên, độ cao trung bình 500m so với mặt biển, nhiều núi cao, đinh Chư Yangsin 2.442m, ChưTadung 1.982m, Chư Đlaya 1,229m; trung tâm là vùng đất đỏ badan rộng lớn. Các sông chính: Đak Krông (Xẽrêpôc), Krông Hnãng, Sông Hình, Ea Hleo. Nhiều thác lớn và hồ, đầm tự nhiên: Hồ Lắc, hồ Sê Nô... Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình hàng năm 23°C, lượng mưa 2.000mm/năm. Tỉnh nông - lâm nghiệp, có thế mạnh trồng rừng và các loại cây công nghiệp. Giao thông đường bộ: các quốc lộ 14, 26, 27. Sân bay: Buôn Ma Thuột. Sự kiện lịch sử: trận Buôn Ma Thuật (10-11.3.1975) mở đầu chiến dịch Tây Nguyên và cuộc tổng tiến công chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam VN.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66729614_449530629110156_9011274676193722368_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQk6yW0abyYhE8zKJfWAkPCtk7jYKWIEJMfHo-SEkYsbHpSXSZKu5Cx5icqfLTDFdR8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=bdb0d83c22b336bf2ac8a599213acc40&oe=5DC22EF8)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:40:00 PM

       ĐẮK NÔNG, tỉnh ở Tây Nguyên; bắc và đông bắc giáp Đắk Lắk, đông và nam giáp Lâm Đồng, tây giáp Campuchia (có cửa khẩu quốc tế Buprăng) và t. Bình Phước. Dt 6.514,38km2; ds 363 nghìn người (2004); các dân tộc: Êđê, Mơ Nông, Giarai. Kinh. Thành lập 1.2004. Tổ chức hành chính: 6 huyện; tỉnh lị: thị trấn Gia Nghĩa, h. Đắk Nông. Địa hình cao nguyên, độ cao trung bình 500m so với mặt biển. Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình hàng năm 23°C, lượng mưa 2.000mm/năm. Tỉnh nông - lâm nghiệp, có thế mạnh trồng rừng và các loại cây công nghiệp. Giao thông đường bộ: các QL 14,28. Sông chính: Đa Dâng (đoạn thượng nguồn sông Đồng Nai, ranh giới tự nhiên với t. Lâm Đồng).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66757049_449530619110157_5653658493324886016_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQm-FCMn2ZAqHpFjTxjgIjHiFw0jfIGkVMzCXLZ_VD4v4Vp-n9OPLiGi0xaoG3P_K-M&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b9b0916618997e9183fd06848a1bfeed&oe=5DA22E53)


        ĐĂNG KÍ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, kê khai, ghi tóm tắt lí lịch và những yếu tố cần thiết khác của người sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị theo quy định để quản lí và đảm bảo cho họ làm nghĩa vụ QS. Bao gồm: ĐKNVQS lần đầu, đăng kí vào ngạch dự bị, đăng kí bổ sung, đăng kí di chuyển, đăng kí vắng mặt dài hạn, đăng kí giải ngạch dự bị và đăng kí riêng. ĐKNVQS do ban chỉ huy QS xã (phường, thị trấn) huyện (quận, thị xã. thành phố thuộc tinh) phụ trách; tiến hành theo Điều lệ ĐKNVQS (được HĐBT ban hành kèm theo nghị định 48-HĐBT ngày 16.5.1983 căn cứ vào Luật nghĩa vụ quân sự).

        ĐĂNG KÍ VÀO NGẠCH DỰ BỊ, kê khai tóm tắt các yếu tố về lí lịch và xác nhận những điểm cần thiết của quân nhân dự bị hạng 1, 2 và sĩ quan dự bị theo quy định của nhà nước để cơ quan có thẩm quyền quản lí và bảo đảm nghĩa vụ quyền lợi cho quân nhân dự bị trong quá trình phục vụ ở ngạch dự bị. Việc ĐKVNDB do cơ quan QS địa phương được phân cấp quản lí quân nhân dự bị thực hiện theo quy định hiện hành của nhà nước, căn cứ Luật nghĩa vụ QS và Luật sĩ quan QĐND VN.

        ĐẶNG DUNG (7-1414), danh tướng thời Hậu Trần. Con Đặng Tất. Theo cha tham gia khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407-13). Năm 1409 sau khi cha bị Trần Ngỗi giết oan, ĐD cùng với Nguyễn Cảnh Dị bỏ Trần Ngỗi vào Thanh Hóa suy tôn Trần Quý Khoáng làm minh chủ tiếp tục kháng Minh, được phong đồng bình chương sự. ĐD chỉ huy nhiều trận đánh quân Minh ở Hàm Tử (Khoái Châu, Hưng Yên; 1409), Mộ Độ (Tam Điệp, Ninh Bình; 1412)... Năm 1413 đánh úp quân địch ở kênh Sái Già, nhảy lên thuyền tướng địch là Trương Phụ khiến Phụ phải bỏ thuyền trốn chạy, quân Minh tan vỡ đến một nửa, thuyền bè khí giới bị đốt phá gần hết. Cuối 1413 thất bại ở Ái Tử (Quảng Trị), bị bắt đưa sang TQ, dọc đường nhảy xuống sông tự tử.

        ĐẶNG KÍNH (Đặng Văn Rợp; s. 1921), phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1978-88). Quê phường Bắc Sơn, q. Kiến An, tp Hải Phòng; tham gia CM 1941, nhập ngũ 1945, trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1944). Tháng 8.1945 chi đội trưởng Giải phóng quân Kiến An. 1946-47 tiểu đoàn trưởng, chỉ huy trưởng Huyện đội Kiến Thụy, t. Kiến An. 1949-54 chỉ huy phó, rồi chỉ huy trưởng tỉnh đội, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Kiến An. 5.1954 trung đoàn trường, chỉ huy trưởng Thành đội Hải Phòng. 1.1955 tham mưu phó, rồi phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, sư đoàn trưởng Sư đoàn 328. Năm 1960-65 cục phó Cục tác chiến BTTM, cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại BQP. 4.1966 phó tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. 4.1968 tư lệnh Quân khu Tả Ngạn. 3.1977 phó chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế BQP. 1978-88 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng nhì)...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67125928_449530612443491_2854025636710711296_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQlVO9inHq1hEQUzDvR4ZvpTkouJe2M1Wki2yF4MUHPPWJxva7nKnz0QJ_xfVmvVgXE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=245d7e535930f47263f3c4b4c3b59011&oe=5DB8DED7)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:42:00 PM
     
        ĐẶNG NGỌC GIAO (Đặng Văn Giáo; 1929-99), Nhà giáo nhân dân (1997), giáo sư (1991), tiến sĩ (1981). Quê xã Lí Thường Kiệt, h. Yên Mĩ, t. Hưng Yên; nhập ngũ 1946, thiếu tướng (1989); đv ĐCS VN (1947). Từ 1946-50 quản lí đại đội, chính trị viên trung đội, cán sự địch vận tỉnh Thái Bình. 1951-58 chính trị viên đại đội quân y, chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách chính trị viên Ban hậu cần Trung đoàn 64, trường ban giao tế Đoàn pháo binh 305, quản trị trưởng Trường sĩ quan pháo binh. 1958-67 giáo viên hậu cần Trường trung cao QS. 1967-81 trưởng phòng nghiên cứu biên soạn Trường sĩ quan hậu cần, trường đoàn đi thực tế ở chiến trường Trị - Thiên - Huế (1968) và chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Tháng 10.1981 phó giám đốc Học viện hậu cần. 1.1985 phó cục trường Cục hậu cần Quân khu 1. Tháng 4.1986 phó giám đốc, 7.1988-96 giám đốc, bí thư Đảng ủy Học viện hậu cần. Chủ biên 10 công trình khoa học cấp học viện và BQP như: “Lí luận hậu cần cấp chiến thuật”, “Lí luận hậu cần cấp chiến dịch”... Huân chương: Quân công hạng nhì, 2 Chiến công hạng ba, Kháng chiến (hạng nhất và hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66269078_449530645776821_7488480024098504704_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQn8_FsZKcCJ6f2IgB6YttikeXLa0j9ia5LEmX5heJYPE8zhRdSa4xnzwcxBnzdJEnY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=fef3bbe2cafd6661b3336faab2e41d7d&oe=5DAEC9F4)


        ĐẶNG NHƯ MAI (7-1874), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp của văn thân và nhân dân Nghệ An thời Nguyễn. Quê làng Nam Kim, h. Nam Đàn, t. Nghệ An. Đỗ tú tài 1848. Tháng 2.1874 phản đối việc triều đình Huế chuẩn bị kí với Pháp hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1874), ĐNM cùng thầy dạy học là Trần Tấn nêu khẩu hiệu “bình Tây, sát tả”, kêu gọi các văn thân và nhân dân địa phương nổi dậy khởi nghĩa. Lực lượng nghĩa quân lên tói vài nghìn người kéo đi đốt phá các làng công giáo, diệt trừ những giáo dân làm tay sai cho Pháp ở nhiều nơi trên đất Nghệ An, tiếp đó liên kết với nghĩa quân tại Hà Tĩnh, Quảng Bình đánh chiếm thành Hà Tĩnh, vây phủ Diễn Châu... Triều đình đưa quân đàn áp, sau khi Trần Tấn bị bệnh mất, ĐNM phải rút lên phủ Quỳ Châu (Nghệ An) lập căn cứ. 9.1874 bị nội phản bắt nộp triều đình và bị xử tử.

        ĐẶNG QUÂN THỤY (s. 1928), tư lệnh Quân khu 2 (1987- 92). Quê xã Xuân Hồng, h. Xuân Trường, t. Nam Định; tham gia CM 1944, nhập ngũ 1945, trung tướng (1989); đv ĐCS VN (1947). Trong KCCP, trường thành từ chiến sĩ đến chính trị viên đại đội, rồi làm công tác báo chí và xuất bản trong QĐ. Trong KCCM, 1958 trưởng phòng hóa học Cục huấn luyện chiến đấu (Tổng cục quân huấn). 1964 trưởng phòng hóa học Bộ chỉ huy QGPMN. 1968 phó phòng tác chiến, phụ trách cơ quan tác chiến tiền phương của QGPMN trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) và các chiến dịch: bắc Tây Ninh (1969), đồng bằng Khu 8 (1972). Năm 1974 cục trưởng Cục hóa học BTTM. 9.1977 tư lệnh, bí thư đảng ủy Binh chủng hóa học. 3.1986 phó tư lệnh, rồi tư lệnh Quân khu 2 (1987-92). ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa VII. Đại biểu Quốc hội khóa VIII-X, phó chủ tịch Quốc hội. kiêm chủ nhiệm ủy ban quốc phòng và an ninh của Quốc hội khóa IX. Nãm 2002 chủ tịch BCHTƯ Hội cựu chiến binh Việt Nam. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến thắng hạng nhì...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66463262_449530659110153_8681590688745259008_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQlq21x7O7LOSKRtqgTsRHclOm7jR390W6KX-N32pSTjWHCLwy1_2Nlm-tTWm3VUDZk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=f97ed739eeae60101a2f181b92c06929&oe=5DA25328)


        ĐẶNG QUỔC BẢO (s. 1927), chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc (1966-68). Quê xã Xuân Hồng, h. Xuân Trường, t. Nam Định; tham gia CM 5.1945, nhập ngũ 1947, thiếu tướng (1974); đv ĐCS VN (1945). Tháng 2.1947 phụ trách Trường quân chính, trưởng ban chính trị Trung đoàn 140. Năm 1947-49 chính trị viên tiểu đoàn, chính ủy Trung đoàn 88. Tháng 4.1954 chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 308. Tháng 11.1955 chánh văn phòng TCCT. 11.1957 chính ủy Sư đoàn 308. Tháng 12.1962 chính ủy Cục công binh BTTM. 1965 chính ủy Sư đoàn 330. Năm 1966 chủ nhiệm chính trị Quân khu Tây Bắc. 3.1968 chính ủy kiêm hiệu trường Trường đại học KTQS (nay là Học viện KTQS). 9.1976 chuyển ngành, thứ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp; bí thư thứ nhất BCH TƯ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; phó ban rồi trưởng ban khoa giáo trung ương, ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66597165_449530669110152_8723410965695037440_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmMatbtqvieDZd6BTYTqc8RoVCIsIG8Ql8GZSKjc8Z_JVPe-U6NgeDV5YxVLw0uW_o&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=85b9b2220302e6bf6a1adb66fdb35ba3&oe=5DB1C6A9)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:43:56 PM

        ĐẶNG TẤT (7-1409), danh tướng thời Hậu Trần, tham gia khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407-13). Quê xã Thiên Lộc, h. Can Lộc, t. Hà Tĩnh. Dưới thời Trần và Hồ làm quan ở Hóa Châu. Khi quân Minh xâm lược (1407), là đại tri châu vùng Hóa Châu, ĐT giết quan lại nhà Minh, đem quân ra Nghệ An tham gia khởi nghĩa Trần Ngỗi, được phong quốc công. 1408 đánh bại và bắt giết Phạm Thế Cảng, tri phủ Tân Bình phản quốc tại cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình). Thừa thắng, tiến quân thu phục cả vùng Tân Bình, Thuận Hóa, Nghệ An, Thanh Hóa, tiến ra Bắc. Cuối 1408 cùng Nguyễn Cảnh Chân đánh bại 5 vạn quân Minh do MộcThạnh chỉ huy ở Bô Cô (Ý Yên, Nam Định), giết hàng vạn địch (xt trận Bô Cô, 30.12.1408). Năm 1409 do gian thần gièm phà, bị Trần Ngôi giết hại cùng Nguyễn Cảnh Chân. Hiện còn đền thờ ĐT tại thôn Tả Hạ, h. Can Lộc, t. Hà Tĩnh.

        ĐẶNG TIẾN ĐÔNG (1738-1803), danh tướng thời Tây Sơn. Quê Lương Xá, h. Chương Đức (nay là xã Lam Điền, h. Chương Mĩ, t. Hà Tây), xuất thân trong gia đình nhiều đời làm quan dưới triều Lê, Trịnh. 1787 trước sự ruỗng nát của chế độ vua Lê, chúa Trịnh, ĐTĐ vào Quảng Nam tìm đến nhà Tây Sơn. được Nguyễn Huệ trọng dụng, phong đô đốc đồng tri, tước Đông Lĩnh Hầu, trấn thủ xứ Thanh Hoa (nay thuộc t. Thanh Hóa và t. Ninh Bình). 1789 trong cuộc đại phá quân Thanh. ĐTĐ chỉ huy một đạo quân tiến đánh đồn Khương Thượng - Đống Đa (có sách nói là đô đốc Long), dẫn quân tiến vào giải phóng Thăng Long (x. trận Đông Đa - Thăng Long, 30.1.1789). Được ban thường cả vùng Lương Xá quê hương làm thực ấp vĩnh viễn.

        ĐẶNG TIỂU BÌNH (Deng Xiaoping, Đặng Hi Hiền; 1904- 97), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS TQ (1956-66), người khởi xướng đường lối cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH mang màu sắc TQ. Người h. Quảng An, t. Tứ Xuyên (TQ); đv ĐCS TQ (1924). Năm 1920 sang Pháp học, tiếp thu chủ nghĩa Mác. 1927 tham gia cuộc CM lần thứ nhất. 1929-30 lãnh đạo khới nghĩa Bách sắc, Long Châu; sáng lập Quân đoàn 7, Quân đoàn 8 Hồng quân công nông Trung Quốc. Tham gia Vạn lí trường chinh (1934-36). Trong chiến tranh chống Nhật và chiến tranh giải phóng, chính ủy sư đoàn, chính ủy dã chiến quân rồi bí thư Tổng bộ tiền phương các chiến dịch Hoài Hải, vượt Trường Giang, giải phóng Đại Tây Nam. 1949 bí thư thứ nhất Trung ương cục Tây Nam; phó chủ tịch ủy ban quân chính Tây Nam; chính ủy Quân khu Tây Nam. 1952 phó thú tướng Quốc vụ viện; bí thư trung ương ĐCS TQ; phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng. 1966 trong “cách mạng văn hóa” bị mất mọi chức vụ. 3.1973 được phục hồi chức phó thủ tướng Quốc vụ viện; 1.1975 phó chủ tịch BCHTƯ ĐCS TQ. phó chủ tịch Quân ủy trung ương ĐCS TQ; tổng tham mưu trường QGP nhân dân TQ. 4.1976 lại bị mất mọi chức vụ. 7.1977 được phục hồi tất cả các chức vụ. Tại Đại hội ĐCS TQ lần thứ 11 được bầu: phó chủ tịch BCHTƯ, ủy viên thường vụ BCT, chủ tịch Quân ủy trung ương ĐCS TQ (đến 10.1989). Chủ tịch Quân ủy trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khóa VI. Chủ tịch Hội đồng cố vấn trung ương ĐCS TQ khóa XII. Sau đại hội ĐCS TQ lần thứ 13, lần lượt rút khỏi các chức vụ đảng, nhà nước và QĐ. Đại hội ĐCS TQ lần thứ 15 xác định lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, lí luận Đặng Tiểu Bình làm kim chỉ nam cho hành động. Tác phẩm chính: “Tuyển tập Đặng Tiểu Bình (1938-65) và (1975-82)”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”.

        ĐẶNG TÍNH (Đặng Văn Tỉ; 1920-73), chính ủy kiêm tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân (1967-69). Quê xã Cự Khê, h. Thanh Oai, t. Hà Tây; tham gia CM 1944, nhập ngũ 1946, đại tá (1958); đv ĐCS VN (1945). Tháng 5.1945 tham gia xây dựng cơ sở CM ở Chí Linh, đội trưởng đội tuyên truyền vũ trang và tự vệ chiến đấu ở Phả Lại, chính trị viên trung đội tự vệ tập trung của Chiến khu Trần Hưng Đạo. Trong KCCP, 1945-46 bí thư huyện bộ Việt Minh, phó chủ tịch UBND CM huyện Nam Sách, tỉnh ủy viên, bí thư tỉnh ủy, ủy viên ban bảo vệ tỉnh Hải Dương. 1947-49 chính trị viên chi đội tự vệ chiến đấu, tỉnh đội trưởng t. Hải Dương, phó bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, khu ủy viên Liên khu 3. Nãm 1950-51 chính ủy Mặt trận Đường 5, bí thư tỉnh ủy và chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Bình. 4.1951-53 chính ủy Liên khu 3, tư lệnh Khu Tá Ngạn. Tháng 10.1953-54 cục phó Cục dân quân, phụ trách Cục tác chiến BTTM; đoàn viên đoàn đại biểu QS của chính phủ VN DCCH tại hội nghị Giơnevơ (1954) về Đông Dương, 8.1954-55 trưởng đoàn đại biểu QĐND VN trong Ban liên hiệp đình chiến ở Lào. 5.1955-62 cục trưởng đầu tiên Cục không quân; cục trưởng Cục hàng không dân dụng VN. 1963-67 chính ủy Quân chủng phòng không - không quân. 1967-69 chính ủy kiêm tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân. 1970-73 chính ủy Đoàn 559. Hi sinh tại Trường Sơn. Đại biểu Quốc hội khóa III, IV. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến thắng hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66641707_449530679110151_4558491353817808896_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQlP1_YuN1D-ssyLTV1iR6VbKnv7pX-Iq3GKgxqbI6NP3M0ePYTA9aU7shmNjgb1AKw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=ca15341293e72a041fad6e0815424282&oe=5DAE77B4)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:46:37 PM

        ĐẶNG TRẦN ĐỨC (Ba Quốc; 1922-2004), Ah LLVTND (1978). Quê xã Thanh Trì, q. Hoàng Mai, tp Hà Nội; nhập ngũ 1949, thiếu tướng, cục trưởng Cục 12, Tổng cục II (1990); đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là trung tá, cán bộ tình báo Đoàn 22, Quân khu 7. Cuối 1949-4.1975, ĐTĐ được giao nhiệm vụ tình báo chiến lược hoạt động nội tuyến trong hàng ngũ địch, điều kiện hoạt động khó khăn, nguy hiểm luôn bị địch giám sát, theo dõi, nhưng ĐTĐ đã mưu trí, khôn khéo lấy được nhiều tin tức, tài liệu của địch báo cáo về trung tâm kịp thời đầy đủ chính xác, giúp cấp trên chủ động chí đạo đánh địch có hiệu quả, tránh được nhiều thiệt hại, tổn thất cho nhân dân và QĐ. Huân chương; Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, 2 hạng nhì, 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66379393_449530685776817_2334915226228490240_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlVpNMGxhuPS7h6NcoZbm2yObwoZw9bmIM2yLWOT3aEXzk46hr7uVVSuDuLXqCs6dI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=12bf6ef04df7d3cf2e1b33648b907d19&oe=5DA5B334)


        ĐẶNG VĂN LÃNH (1933-72), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê phường Phú Trinh, tx Phan Thiết, t. Bình Thuận; tham gia CM 1965; đv ĐCS VN; khi hi sinh là đội trường Đội công tác đô thị, tx Phan Thiết. 1965-72 hoạt động ở tx Phan Thiết, tham gia xây dựng nhiều cơ sở kháng chiến, vận động thanh niên gia nhập QGP. Bằng cách bắn tỉa, gài mìn, ĐVL diệt 205 địch (có 40 Mĩ, 26 tề điệp ác ôn), bắt 20, phá hủy 7 xe QS; chỉ huy du kích diệt trên 300 địch, phá hủy 20 xe tăng và xe bọc thép. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 2 hạng ba); 3 lần Dũng sĩ diệt xe tăng và diệt Mĩ cấp ưu tú.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66111012_449530705776815_5492803438284636160_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnACPgLyuhOSOpxWOzmtJQXm8b_yxFW4oMFvNlGGRKg-7tRxqC_L6dKXPUYUmVhy5Q&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=203798d6a2e2f137d79084993b2cd83f&oe=5DB84EBF)


        ĐẶNG VĂN LỒI (s. 1937), Ah LLVTND (1973). Dân tộc Dao, quê xã Vinh Tiền, h. Thanh Sơn, t. Phú Thọ; nhập ngũ 1968, thượng úy (1982); đv ĐCS VN (1972); khi tuyên dương Ah là hạ sĩ, tiểu đội phó thông tin Đại đội 18, Trung đoàn 1, Sư đoàn 324, Quàn khu Trị - Thiên. 1969-72 chiến đấu  ở chiến trường Trị Thiên. Trận A Bia (tây Thừa Thiên, 5.1969), địch dùng máy bay và pháo đánh hàng trăm lần vào đoạn đường dây và 6 lần bộ binh địch nống ra cắt dây, ĐVL dẫn đầu tổ sửa chữa kịp thời, giữ vững thông tin liên lạc, có lần vượt sông A Súp bị nước cuốn vào đá ngất đi, tỉnh dậy lại tiếp tục làm nhiệm vụ. Trận đánh điểm cao 935 (Cốc Bai, 7.1970), bảo đảm thông tin suốt 23 ngày đêm, hàng trăm lần nối dây dưới bom đạn địch. Chiến dịch Trị Thiên 1972, nhiều ngày ăn ngủ trên đường rải dây, hàng trăm lần nối dây đứt do máy bay địch đánh phá, bảo đảm chỉ huy thông suốt. Huân chương: 5 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66788864_449530715776814_2460269245536141312_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmi8qJWYIuvpP0Ckc1YTve-00PvQ6t6CC4IZN2IN4WWXZ4r8QH0Ov85W6GJqi6TLkE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=17545ee6ad861efecbff0799ac5aedaa&oe=5DB41276)


        ĐẶNG VĂN THANH (Đặng Văn Bích; 1928-2002), Ah LLVTND (1967). Quê xã Phước Diêm, h. Ninh Phước, t. Ninh Thuận; nhập ngũ 1946, đại tá (1985); đv ĐCS VN (1949); khi tuyên dương Ah là thượng úy, chính trị viên tàu
thuộc Đoàn 125 BTL hải quân. 1947-60 tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực và đưa đón cán bộ ra vào hoạt động ở các tỉnh Ninh Thuận, Quy Nhơn, Bình Định. 1960-67 chính trị viên tàu vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam bằng đương biển, lãnh đạo thủy thủ khắc phục khó khăn nguy hiểm, vận chuyển 12 chuyến vũ khí, hàng hóa và hàng chục cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trường miền Nam. Đêm 29.9.1963 tàu mắc cạn cách đồn Phước Hải chừng 3km, trước nguy cơ bị lộ, ban phụ trách bến yêu cầu phá hủy tàu. ĐVT đã lãnh đạo đơn vị bốc dỡ vũ khí an toàn, tình nguyện ở lại cùng với thợ máy cứu tàu thoát nạn. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66276785_449530725776813_4349058071176151040_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQkkC7I4WLv80qlWPelAQCdQBiy7cguHAQnSToF2Mlsg0x8JzMB-fpr9kbul0EXguqo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=34994dc7e519c8c3c9e1b40a5dbdf26d&oe=5DC50A67)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:48:56 PM

        ĐẶNG VĂN VIỆT (s. 1920), trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 trong KCCP (1949-53). Quê xã Diễn Tân, h. Diễn Châu, t. Nghệ An; nhập ngũ 1945, trung tá (1958); đv DCS VN 1948). Năm 1945-47 trung đội trưởng, lại đội trưởng, trưởng ban nghiên cứu Phòng tác chiến BTTM. 1948-49 trung đoàn phó, rồi trung đoàn trưởng Trung loàn 28. Năm 1949-53 trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 (trung đoàn nòng cốt của Sư đoàn 316 sau này). 1947-50 chỉ huy đánh thắng nhiều trận phục kích và công đồn nổi tiếng trên trục đường 4 (Bông Lau - Lũng Phầy, Bố Củng - Lũng Vài, Bản Nằm, Đông Khê, Bình Liêu) nên thường được gọi là “Đệ tứ quốc lộ đại vương”. 1952 chỉ huy trung đoàn tham gia chiến dịch Tây Bắc. 4.1953-57 học Trường lục quân, tiểu đoàn trưởng học viên, phó phòng huấn luyện Trường sĩ quan lục quân (1957-58). Tháng 11.1959 chuyển ngành, công tác tại Bộ kiến trúc.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64665499_449530745776811_8965996323505438720_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlnb-M5WQFmktVTwhud46nLPsYIgRkhJUSCQBevvRGB74RNHxwNwMsk7j9FVLaxTh4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=0a1fd85990a23966809d8176f938e036&oe=5DA39A61)


        ĐẶNG VŨ HIỆP (s. 1928), thứ trưởng BQP (1977-84), phó chủ nhiệm TCCT QĐND VN (1977-96). Quê xã Việt Hưng, h. Văn Lâm, t. Hưng Yên; tham gia CM 1945, nhập ngũ 1946, thượng tướng (1988); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ thư kí đại đội đến chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Trong KCCM, 1964-70 phó chủ nhiệm, chủ nhiệm chính trị rồi phó chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. 9.1972 chính ủy Sư đoàn 10. Tháng 6.1974 chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. 3.1975 chính ủy, bí thư đảng ủy Quân đoàn 3, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. 1977-84 thứ trưởng BQP. phó chủ nhiệm TCCT (1977-96). ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa V (dự khuyết khóa IV). Đại biểu Quốc hội khóa VII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, 2 Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66622327_449530765776809_1992424333498122240_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnHSjFSKi5eb5zl72YZXqnV2NypmXCyaYm_cHj6zQF4lQPR6GA6yqwPamxtFMp7Mxw&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=b1eb4ed6b6182362f34663e00dd9fc8f&oe=5DA291AE)


        ĐẶT HÀNG QUÂN SỰ, hợp đồng kinh tế đặc thù giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu... trong việc cung cấp các sản phẩm QS cho LLVT. Nội dung ĐHQS có thể bao gồm các sản phẩm QS hoàn chỉnh (vũ khí, trang bị, đạn dược...), các loại hàng hóa phổ thông phục vụ nhu cầu hoạt động của QĐ, đời sống quân nhân và các loại dịch vụ khác, ở hầu hết các nước trên thế giới, mọi giao dịch ĐHQS đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước thông qua một hoặc một số cơ quan chuyên trách (thường là BQP và Bộ nội vụ). Cơ chế ĐHQS cũng được áp dụng cho các sản phẩm QS phục vụ xuất khẩu và nhu cầu của một số ngành khác như hải quan, kiểm lâm... Đặc điểm và định hướng của ĐHQS được xác định bởi chế độ chính trị -  kinh tế - xã hội của nhà nước. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ĐHQS được các tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu thuộc thành phần kinh tế quốc doanh thực hiện theo chỉ lệnh, kế hoạch của BQP, kèm theo các yếu tố bảo đảm về tài chính, công nghệ, vật tư kĩ thuật... Trong cơ chế kinh tế thị trường, ĐHQS cũng được thực hiện dưới sự chi phối và kiểm soát của các biện pháp kế hoạch hóa, nhưng có kết hợp với một số biện pháp thị trường như tổ chức đấu thầu, cho phép các thành phần kinh tế tham gia, áp dụng các phương thức hạch toán kinh doanh và kiểm toán... Các cơ chế, biện pháp và hình thức ĐHQS (đặt hàng theo chỉ lệnh, kế hoạch tới những địa chỉ cụ thể hoặc áp dụng các cơ chế đấu thầu, chỉ định thầu, chọn thầu...) được điều chỉnh tùy theo tính chất, nội dung, yêu cầu, độ bảo mật, tầm quan trọng... của từng loại hàng hóa, dịch vụ. Tuy cho phép áp dụng một số biện pháp cạnh tranh, nhưng các đối tượng tham gia ĐHQS đều phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Xác định giá cả là một vấn đề mấu chốt trong ĐHQS. Hầu hết các nước đều áp dụng nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí và quy định lợi nhuận định mức trong ĐHQS. Cơ chế thanh toán trong ĐHQS thường được kết hợp với nhiều phương thức ưu đãi khác nhau như tạm ứng kinh phí, bảo đảm tín dụng ưu đãi..., là những yếu tố góp phần tạo ra lợi nhuận cho các tổ hợp công nghiệp QS ở các nước phương Tây.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:50:57 PM

        ĐẨM DẠ TRẠCH, vùng đầm lầy ở xã Dạ Trạch, h. Khoái Châu. t. Hưng Yên ngày nay; nằm bên tả ngạn Sông Hồng, đông nam Hà Nội khoảng 30km. Nguyên có tên là đầm Nhất Dạ (có nguồn gốc từ truyền thuyết đầm hình thành trong một đêm sau khi Chứ Đồng Tử cùng lâu đài thành quách bay về trời). Lợi dụng địa hình hiểm trở, lau sậy rậm rạp, ở giữa có khu đất cao ráo, Triệu Quang Phục dùng ĐDT làm căn cứ chống quân xâm lược nhà Lương (547-550). Ban ngày nghĩa quân ẩn nấp trong đầm, ban đêm dùng thuyền độc mộc vượt đầm đi đánh giặc. Dân đương thời tôn gọi ông là Dạ Trạch Vương. Tkl9, ĐDT thuộc vùng căn cứ Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật. Hiện nay đầm đã bị phủ sa bồi lấp không còn dấu tích; chỉ còn lại gò đất cao (nơi có đền thờ Chử Đồng Tử. trong đền có bài vị thờ Triệu Việt Vương Quang Phục) ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch.

        ĐẦM MỰC, đầm nước thuộc địa phận làng Quỳnh Đô, tổng Cổ Điển, h. Thanh Trì, phủ Thường Tín, lộ Sơn Nam Thượng, trẫn Sơn Nam; nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh (tây bắc Ngọc Hồi, tây nam thị trấn Văn Điển), h. Thanh Trì, Hà Nội. Trong trận Ngọc Hồi - Đầm Mực (30.1.1789), tại cánh đồng gần ĐM, cánh quân Tây Sơn do dô dốc Bảo chỉ huy mai phục, chặn diệt gọn quân Thanh do Trương Triều Long chỉ huy ở Ngọc Hồi trên đường rút chạy về Thăng Long.

        ĐẤT QUỐC PHÒNG, đất chuyên dùng được nhà nước giao cho các đơn vị LLVT quân lí, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Nhà nước CHXHCN VN quy định ĐQP gồm các loại: đất đóng quân, căn cứ QS, công trình phòng thủ quốc gia, trận địa, công trình đặc biệt, ga QS, cảng QS, công trình công nghiệp, khoa học kĩ thuật phục vụ quốc phòng, quốc phòng kết hợp với làm kinh tế, kho tàng, trường bắn. thao trường, nhà trường, bệnh viện, trại an dưỡng...

        ĐẦU ĐẠN, phần viên đạn được bắn tới mục tiêu, dùng để tiêu diệt sinh lực, phá hủy các phương tiện kĩ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác (chiếu sáng, tạo khói, rải truyền đơn...). ĐĐ gồm: thân, vật nhồi và ngòi nổ. Thân làm bằng kim loại, chứa vật nhồi, liên kết các bộ phận và tạo mảnh. Vật nhồi thường là thuốc nổ, có thể là các loại thuốc khác (lượng nổ hạt nhân, hóa học, thuốc cháy, thuốc tạo khói, thuốc chiếu sáng...), hoặc các vật (mũi tên, các viên bi, đạn con, đạn ghém, truyền đơn...). Ngòi nổ được lắp trong hầu hết các loại ĐĐ (pháo, cối, phản lực, DKZ, tên lửa...). ĐĐ có thể là một khối kim loại đặc không nhồi thuốc.
 
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66433017_449530775776808_5599038054191857664_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkpikQ7Gd8VWiEtiDpj07rP66AjGETONX3RaY7en9huuW--BvUHAAx0MNufASlu1No&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=1d894e050b4a87c626b562b2bd4d06fe&oe=5DA8D22C)
       
a. đầu đạn thường; b. đầu đạn vạch đường; c. đầu đạn xuyên cháy
1. lớp vỏ; 2. áo chỉ; 3. lõi; 4. cốc;
5. thành phần vạch đường; 6. thành phấn đốt cháy
       
        ĐẨU ĐẠN TÊN LỬA, phần chiến đấu của tên lửa, trực tiếp sát thương mục tiêu bằng năng lượng nổ và mảnh. Gồm: thân, vật nhồi, ngòi nổ và thiết bị an toàn. Thân chứa chất nhồi, liên kết các bộ phận của đầu đạn và tạo mảnh. Theo chất nhồi, có : ĐĐTL hạt nhân, ĐĐTL hóa học, ĐĐTL sinh học, ĐĐTL thông thường. Ngày nay ĐĐTL được hoàn thiện theo hướng: tăng uy lực, độ chính xác, độ tin cậy và khả năng điều khiển. Hiệu quả của ĐĐTL đặc trưng bằng vùng sát thương (bán kính sát thương).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:52:16 PM

        ĐẦU HÀNG, chịu thua, chấm dứt kháng cự và tuân thủ mọi yêu cầu của đối phương. Theo quy mô, có: ĐH toàn bộ (một bên tham chiến), ĐH bộ phận (từng đơn vị, từng mặt trận) và ĐH cá nhân. Theo tính chất, có: ĐH vô điều kiện (chấp nhận ĐH không đưa ra đòi hỏi), ĐH có điều kiện (do một hoặc các bên đặt ra hoặc theo điều kiện thỏa thuận giữa các bên tham chiến). Bên ĐH không có quyền bình đẳng với bên chiến thắng, thông thường bên ĐH phải trao trả tù binh, giao nộp vũ khí, phương tiện KTQS, các căn cứ QS và tiềm lực vật chất có liên quan tới hoạt động QS cho đối phương. Sự ĐH của các nước Đức, Nhật trong CTTG-II (1945) và chính quyền Dương Văn Minh ở miền Nam VN (1975) là ĐH vô điều kiện.

        ĐẦU MẨU, điểm dân cư tại km 24 QL 9, tây thị trấn Cam Lộ 10km, nay thuộc xã Cam Thành, h. Cam Lộ, t. Quáng Trị. Trong KCCM, QĐ Sài Gòn xây dựng căn cứ tại đây nhằm án ngữ QL 9 từ Đông Hà đi Khe Sanh do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 56 chốt giữ; bị Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 tiến công diệt gọn trong trận Đầu Mầu (31.3.1972).

        ĐẦU MỐI GIAO THÔNG ĐƯỜNG KHÔNG, căn cứ sân bay lớn, thành phần của hệ thống giao thông vận tải đường không. Gồm tổ hợp các công trình và thiết bị bảo đảm, phục vụ cho việc theo dõi, chỉ huy, dẫn đường máy bay trong phạm vi vùng trời được phân công; kiểm tra, sửa chữa, bảo dưỡng kĩ thuật hàng không, vận chuyển hàng hóa, hành khách trên mặt đất... cho nhiều đường bay từ sân bay tới các sân bay khác ở trong nước, ngoài nước và ngược lại. Tùy theo tính chất, cấp độ sân bay, lưu lượng máy bay cất, hạ cánh, lưu lượng hành khách, hàng hóa vận chuyển hàng năm để xác định ĐMGTĐK: lớn, vừa, quan trọng. Ở VN, sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng là những ĐMGTĐK lớn.

        ĐẨU MỐI LIÊN LẠC MẬT MÃ, vị trí triển khai lực lượng kĩ thuật mật mã để làm nhiệm vụ mã hóa các bức điện mật ở dạng chữ rõ và giải mã các bức điện đã được mã hóa. ĐMLLMM thường bố trí ở cơ quan tham mưu, SCH các cấp với các nhân viên và phương tiện kĩ thuật mật mã thích hợp. Có thể bố trí ĐMLLMM thường xuyên hoặc đột xuất, tăng cường tùy theo yêu cầu và nhiệm vụ tác chiến.

        ĐẦU THÚ, tự ra trình diện, thú nhận và thành khẩn khai báo những hoạt động chống đối, hành vi phạm tội trước cơ quan (tổ chức) có thẩm quyền hoặc đối phương. ĐT có loại: phản bội do bất mãn, cầu an, chạy sang đối phương; cùng đường, không lối thoát; hối cải nhận ra sai lầm, tội lỗi; giác ngộ chính trị, thấy được chính nghĩa, tiến bộ... ĐT của loại phản bội thường được đối phương khai thác triệt để, gây nhiều tổn hại cho CM. Người ĐT về với chính nghĩa sẽ được CM, nhân dân khoan hổng. Điều 46 (điểm o và p), Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định: người phạm tội tự thú hoặc thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

        ĐẤU TRANH BẤT HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh của các lực lượng chính trị đối lập nằm ngoài khuôn khổ luật pháp nhà nước. Diễn ra trên các lĩnh vực: đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đấu tranh kinh tế... Quá trình tiến hành không để chính quyền của giai cấp thống trị biết được ý đồ, kế hoạch, lực lượng, bảo đảm cuộc đấu tranh đạt được mục tiêu đề ra nhưng không bị đàn áp, khủng bố và tránh tổn thất lực lượng.

        ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, 1) hình thức đấu tranh cơ bản và quan trọng nhất của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc (cùng với hai hình thức đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng)-, hình thức đấu tranh cao nhất của giai cấp vô sản trong xã hội TBCN nhằm giành chính quyền nhà nước; 2) phương pháp đấu tranh có tổ chức của đông đảo quần chúng nhân dân không vũ trang (bãi công, bãi chợ, bãi khóa, mít tinh, biểu tình thị uy...) chống lại chính quyền nhà nước nhằm những mục đích nhất định. Ở VN, trong KCCP và đặc biệt là KCCM ở miền Nam, ĐTCT được tiến hành với nhiều hình thức phong phú: hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp; kết hợp với đấu tranh vũ trang và cùng với đấu tranh vũ trang trở thành một trong hai hình thức bạo lực cơ bản có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của chiến tranh. Nét nổi bật của ĐTCT trong KCCM ở miền Nam là đã hình thành các đội quân chính trị với bộ phận xung kích là đội quân tóc dài.

        ĐẤU TRANH CỦA CA THA TOOC VÀ VI XE NHU (1907-09), nổi dậy của nhân dân Campuchia ở t. Báttambang, Puốc Xát do Ca Tha Tooc và Vi Xe Nhu lãnh đạo chống thực dân Pháp. 7.1907 theo hiệp ước Pháp - Xiêm (23.3.1907), Pháp đem quân chiếm đóng các tỉnh Báttambang và Puổc Xát. Phía Ca Tha Tooc, tinh trưởng Báttambang sử dụng LLVT chống lại. Tiếp theo, Vi Xe Nhu, một viên quan khác cũng chiêu mộ nghĩa quân tiến hành khởi nghĩa. Phong trào có lúc lan rộng xuống vùng Côngpông Chàm, Côngpông Xpư. 1908 nghĩa quân hoạt động mạnh, bằng các cuộc phục kích quân Pháp, tiến công thị trấn Môngcônbôrây (nam Xixôphôn)... Đầu 1909 nhiều cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra ác liệt. Nghĩa quân thắng nhiều trận nhưng do lực lượng nhỏ. lại bị tiêu hao dần nên tan rã (khoảng giữa 1909). Cuộc nổi dậy đã gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Campuchia những năm đầu tk 20.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:53:56 PM

        ĐẤU TRANH CỦA ĐÔ DƯƠNG, CHƯ BÁ (43-44), đấu tranh của nhân dân Cửu Chân (nay là Thanh Hóa), dưới sự lãnh đạo của Đô Dương và Chu Bá chống quân xâm lược Đông Hán (TQ). Sau khi cuộc kháng chiến chống Đông Hán (42-43) thất bại, một bộ phận nghĩa quân do Đô Dương, Chu Bá chỉ huy rút vào Cửu Chân cùng các .thủ lĩnh và nhân dân địa phương tiếp tục chiến đấu. 11.43, tướng Đông Hán là Mã Viện đem quân chia hai đường thủy, bộ dọc theo lưu vực Sông Đáy, qua dãy Tam Điệp (t. Ninh Bình) tiến vào đánh dẹp. Các trận kịch chiến diễn ra ở Võ Công (nay thuộc nam Ninh Bình), Dư Phát và nhất là ở Cư Phong (nay thuộc Thanh Hóa). Tuy gây cho địch nhiều tổn thất nhưng do lực lượng ít, nghĩa quân bị Mã Viện đánh bại (hàng nghìn người bị giết, hàng trăm thủ lĩnh bị đày sang Linh Lăng TQ).

        ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN PALEXTIN, đấu tranh chống Ixraen xâm lược và chiếm đóng, nhằm giành quyền tự quyết, thiết lập nhà nước Palextin có chủ quyền. Nghị quyết 181 (29.11.1947) của Đại hội đồng LHQ chia Palextin thành hai quốc gia độc lập Arập và Do Thái làm nảy sinh cuộc chiến tranh Ixraen - Arập (1948-49), dẫn đến hậu quả là Ixraen chiếm 6.700km2 đất đai của người Arập do LHQ quy định và 900.000 người Arập Palextin buộc phải rời bỏ tổ quốc, sống lưu vong. Trước hành động xâm lược, chiếm đóng của Ixraen, nhân dân Palextin được sự ủng hộ giúp đỡ trực tiếp của các nước Arập đã tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài vì các quyền dân tộc cơ bản của mình. 1958 phong trào Anphata, tiền thân của LLVT và là tổ chức CM đầu tiên của nhân dân Palextin ra đời. Tiếp đó, 5.1964 Tổ chức giải phóng Palextin (PLO) được thành lập do Yatxơ Araphat đứng đầu cùng phong trào Anphata phát động cuộc đấu tranh vũ trang chống xâm lược (1.1965) đã đưa cuộc kháng chiến của Palextin bước sang giai đoạn mới mà bước ngoặt quan trọng là cuộc nổi dậy của nhân dân Palextin ở các vùng bị chiếm đóng từ 1987. Ngày 15.11.1988 nhà nước Palextin tuyên bố thành lập, được hơn 100 nước trên thế giới công nhận. Trước sự phát triển của phong trào kháng chiến Palextin, 10.1991 chính phủ Ixraen buộc phải tiến hành đàm phán với các nước Arập để giải quyết tranh chấp. Sau mười một vòng đàm phán, hiệp định hòa bình được kí kết 13.9.1993 tại Oasinhtơn với việc Ixraen buộc phải trao quyền tự trị cho nhân dân Palextin ở dải Gada và tp Giêricô thuộc bờ tây sông Gioocđan, tạo bước đột phá tích cực để giải quyết vấn đề Palextin trong tiến trình dàn xếp hòa bình ở Trung Đông. Trên cơ sở đó, 20.1.1996 cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở Palextin được tiến hành bầu ra Hội đồng lập pháp (quốc hội) và Hội đồng hành pháp (nhà nước) Palextin do chủ tịch PLO Araphat làm tổng thống, chính thức khảng định quyền làm chủ của nhân dân Palextin trên đất nước của mình sau gần 50 năm bị Ixraen chiếm đóng.

        ĐẤU TRANH ĐIỆN TỬ nh TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ

        ĐẤU TRANH GIAI CẤP, đấu tranh giữa những giai cấp có lợi ích đối lập nhau, không thể điều hòa nhằm mục tiêu giành hoặc giữ quyền lực kinh tế và chính trị; một trong những động lực phát triển quan trọng nhất của các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp đối kháng. Lịch sử xã hội loài người đã diễn ra những cuộc ĐTGC giữa nô lệ với chủ nô, nông dân với địa chú, vô sản với tư sản. ĐTGC dẫn đến cách mạng xà hội. Trong xã hội TBCN, giai cấp vô sản liên minh với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp lao động khác tiến hành cuộc ĐTGC chống giai cấp tư sản dưới ba hình thức cơ bản: đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế và đấu tranh tư tướng, trong đó đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh cao nhất nhằm lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản, thiết lập nền thống trị của giai cấp vô sản, từng bước cải tạo xã hội cũ (TBCN), xây dựng xã hội mới (XHCN), tiến tới thủ tiêu giai cấp đối kháng. ĐTGC trong thời đại ngày nay đang diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, đan xen với đấu tranh dân tộc, xung đột tôn giáo, đấu tranh ngăn ngừa những hiểm họa đe dọa sự sống còn của toàn nhân loại. ĐTGC giữ vai trò định hướng chính trị và quyết định tính chất các cuộc đấu tranh của thời đại.

        ĐẤU TRANH GIÀNH TỰ CHỦ CỦA KHÚC THỪA DỤ (905-06), đấu tranh của người Việt ở Giao Châu (VN) do Khúc Thừa Dụ lãnh đạo chống ách đô hộ nhà Đường (TQ). Khoảng giữa 905, nhân lúc triều đại phong kiến nhà Đường ở chính quốc sắp tiêu vong, chính quyền đô hộ ở Giao Châu hoang mang, bất lực, không còn người cẩm đầu (tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị cách chức), Khúc Thừa Dụ - một hào trường ở Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương) được nhân dân ủng hộ, nhanh chóng tập hợp lực lượng đánh đuổi quân đô hộ, chiếm thành Đại La (nay là Hà Nội), tự xưng tiết độ sứ nắm quyền cai quản đất nước. Trước sự việc đó, 7.2.906 nhà Đường buộc phải công nhận và phong Khúc Thừa Dụ làm tĩnh hải quân tiết độ sứ đồng bình chương sự, về cơ bản chấm dứt ách thống trị hơn một nghìn năm của các triều đại phong kiến nước ngoài đối với nước ta.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:55:37 PM

        ĐẤU TRANH HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh trong khuôn khổ luật pháp nhà nước. ĐTHP thường diễn ra ôn hòa. được tiến hành công khai bằng các hình thức: mít tinh, biểu tình, bãi công, đình công, bãi thị, bãi khóa, đấu tranh nghị trường, tranh luận trên các phương tiện thông tin đại chúng... hoặc kết hợp các hình thức để tạo ra sức mạnh tổng hợp; nhằm thực hiện từng phần hoặc toàn bộ mục tiêu chiến lược của cuộc đấu tranh.

        ĐẤU TRANH KINH TẾ, hình thức cơ bản của đấu tranh giai cấp vì lợi ích kinh tế của các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các khối kinh tế, các quốc gia. ĐTKT trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhằm duy trì và phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo các nguồn lực cho chiến tranh, hạn chế đến mức thấp nhất sự phá hoại về kinh tế của đối phương, đồng thời kiềm chế, gây tổn hại, làm suy yếu kinh tế đối phương. ĐTKT khác với chiến tranh kinh tế và cạnh tranh kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

        ĐẤU TRANH KINH TẾ TRONG CHIẾN TRANH, đấu tranh nhằm duy trì và phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm nhu cầu vật chất cho chiến tranh, kiềm chế và làm suy yếu nền kinh tế của đối phương. ĐTKTTCT gồm nhiều biện pháp gắn liền với đấu tranh QS, chính trị, tư tưởng, ngoại giao,... trong đó đấu tranh vũ trang làm suy yếu tiềm lực kinh tế của đối phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

        ĐẤU TRANH NỬA HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh của các lực lượng chính trị đối lập được tiến hành không công khai hoàn toàn trong khuôn khổ luật pháp nhà nước. ĐTNHP thường sử dụng các phương tiện thõng tin đại chúng, nghị trường, các hoạt động tuyên truyền, hội thảo, kiến nghị... với nội dung chủ yếu đòi dân sinh, dân chủ... nhằm vận động, giáo dục, tập hợp và tập dượt lực lượng. Quá trình tổ chức ĐTNHP phải lựa chọn hình thức và khẩu hiệu đấu tranh hợp lí, có chừng mực, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng rút vào hoạt động bí mật, chống bị đàn áp, khủng bố.

        ĐẤU TRANH QUÂN SỰ, hình thức dấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc có sử dụng lực lượng QS và biện pháp QS. Thời bình ĐTQS thể hiện ở việc xây dựng thực lực quân sự đủ mạnh, đồng thời tăng cường củng cố tiềm lực quân sự, tiềm lực quốc phòng, tạo thế bố trí chiến lược về kinh tế và quốc phòng để giành ưu thế QS và quyền chủ động trong mọi tình huống. Thời chiến ĐTQS được tiến hành kết hợp với các hình thức đấu tranh khác (chính trị, kinh tế, ngoại giao, tâm lí...) tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng đối phương.

        ĐẤU TRANH SAU PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG, phong trào đấu tranh của nhân dân VN chống Pháp trong những năm cuối tk 19. Sau khi phong trào Cần Vương (1885- 95) thất bại, nhìn chung trên cả nước không còn những cuộc khởi nghĩa lớn như trước, nhưng nhân dân nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của các văn thân yêu nước vẫn tiếp tục đấu tranh chống chính sách bình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Bên cạnh hoạt động vũ trang của nghĩa quân Đề Thám (x. khởi nghĩa Yên Thế 1884-1913) và các nhóm nghĩa quân ở vùng núi phía bắc, có ba cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của Võ Trứ và Trần Cao Vân ở Bình Định, Phú Yên (1898), Kì Đồng và Mạc Đĩnh Phúc ở vùng duyên hải Bắc Kì (x. khởi nghĩa Mạc Đình Phúc - Kì Đồng, 1897), Vương Quốc Chính ở Sơn Tây, Hà Đông (x. khởi nghĩa Vương Quốc Chính, 1898); ở Nam Kì cũng xuất hiện phong trào đạo Ông Trần tại Bà Rịa, các tổ chức Thiên Địa hội tại lục tỉnh... Nét đáng chú ý của phong trào thời kì này là những người lãnh đạo đều dựa vào mê tín, tôn giáo để thu hút lực lượng yêu nước nên nhanh chóng bị dập tắt. ĐTSPTCV tuy là phong trào tự phát của nhân dân, nhưng đã để lại những bài học kinh nghiệm cho lớp người sau tìm đường đấu tranh cứu nước.

        ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, hình thức đấu tranh cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng và đời sống tinh thần nhằm bảo vệ hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, loại bỏ hệ tư tưởng đối lập (hoặc ngược lại). ĐTTT xuất hiện từ khi xã hội có giai cấp đối kháng và mang tính giai cấp sâu sắc. Thời đại hiện nay, ĐTTT chủ yếu diễn ra giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản.

        ĐẤU TRANH VŨ TRANG, hình thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc bằng sử dụng LLVT và biện pháp QS nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định; hình thức đặc trưng của chiến tranh, giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu diệt lực lượng QS của đối phương. Ở VN trong KCCP và KCCM, ĐTVT và đấu tranh chính trị là hai hình thức cơ bản của bạo lực CM, được kết hợp chặt chẽ với nhau; đi đôi với nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng QS của địch, ĐTVT còn có nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ dân, giành dân, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:57:11 PM

        ĐÈN RÙA, đèn điện gắn trong hộp hạn chế ánh sáng, có hình khum như mu rùa, lắp ở phía trước xe vận tải, để chiếu sáng đường, tránh máy bay địch phát hiện. ĐR thường chỉ có vùng ánh sáng 5-10m trước đầu xe, bảo đảm cho xe chạy tốc độ chậm. ĐR có trong KCCP và sử dụng rộng rãi trong KCCM.

        ĐENTA (A. Delta), lớp tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đường đạn chiến lược của LX, gồm 43 chiếc (18 Đ-I, 4 Đ-II, 14 Đ-III, 7 Đ-IV). Hạ thủy 1972-90. Tính năng từ Đ-I tới Đ-IV: lượng choán nước nổi 8.700, 9.700, 10.000, 10.750t; lượng choán nước ngầm: 10.200, 11.300, 11.700, 12.150t; kích thước 140 (155,160,166) X 12 X 8,7m; thiết bị động lực: 2 lò phản ứng hạt nhân tổng công suất 160MW, 2 tuabin tổng công suất 27,5MW, 2 chân vịt; tốc độ đi ngầm 24-25 hải lí/h (45km/h), đi nổi 19 hải lí/h (35km/h); độ lặn sâu 300m; quân số 120-130. Trang bị tên lửa: Đ-I mang 12 và Đ-II mang 16 tên lửa SS-N-8 (hai tầng, nhiên liệu lỏng, dẫn đường quán tính thiên văn, sai số trúng đích 400m, có hai kiểu: Mod 1 -  tầm 7.800km, đầu đạn hạt nhân l,2Mt, Mod 2 - tẩm 9.100km. mang 2 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu 800kt); Đ-III mang 16 tên lửa SS-N-18, hai tầng, nhiên liệu lỏng, dẫn đường quân tính thiên văn, sai số trúng đích 900m, có ba kiểu: Mod 1 (tầm 6.500km, mang 3 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu 200kt), Mod 2 (tầm 8.000km, mang đầu đạn 450kt), Mod 3 (tầm 6.500km, mang 7 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu l00kt). Đ-IV mang 16 tên lửa SS-N-23, ba tầng nhiên liệu lỏng, dẫn đường quân tính thiên văn, sai số trúng đích 500m, tầm 8.300km, mang 10 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu l00kt. Trang bị ngư lôi : từ Đ-I đến Đ-III có 6 ống phóng với 18 ngư lôi kiểu 53 (tự dẫn, tầm phóng 20km với tốc độ 45 hải lí/h, đầu đạn 400kg hoặc hạt nhân công suất nhỏ), Đ-IV có 4 ống phóng 533mm và 2 ống phóng 650mm với 18 ngư lôi kiểu 53 và 65 (tự dẫn, tầm phóng 50km với tốc độ 50 hải lí/h (92km/h), đầu đạn 900kg hoặc hạt nhân công suất nhò). Đ hiện thuộc hải quân Nga (4 chiếc Đ-I đã bị loại khỏi trang bị trong năm 1992-93).

        ĐÈO, nơi đường bộ vượt qua một dãy núi hoặc hệ núi; thường là nơi tương đối thấp và thuận tiện cho việc làm đường như các yên ngựa, sườn dốc của dãy núi. Độ dài. độ dốc và độ cao của Đ phụ thuộc điều kiện địa hình cụ thể tại chỗ vượt. Các Đ lớn có thể dài hàng chục kilômét (đèo Lũng Lô trên đường 379 vượt dãy Hoàng Liên Sơn giữa Yên Bái và Sơn La dài 15km, Đ Hải Vân trên QL 1 qua dãy Bạch Mã giữa Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng dài 21km), cao hàng trăm đến hàng nghìn mét (Đ qua dãy Himalaya có độ cao gần 6.000m). Đường Đ thường hiểm trở, quanh co, khúc khuỷu. Khi lập kế hoạch, tổ chức và thực hành tác chiến ở vùng núi, cần đặc biệt chú ý đặc điểm của các Đ phải vượt qua.

        ĐÈO AN KHÊ, đèo trên QL 19 (Quy Nhơn, t. Bình Định -  cửa khẩu Lệ Thanh, t. Gia Lai), vượt qua dãy Trường Sơn tại ranh giới giữa tx An Khê (t. Gia Lai) và h. Tây Sơn (t. Bình Định), đông thị trấn An Khê cũ 13km. Dài 8km (km59- km67), độ dốc 8%, hai bên là núi cao, địa hình trống trải, nhiều cua gấp.

        ĐÈO BÔNG LAU, đèo trên QL 4A (Đồng Đăng - Cao Bằng), dài 9km (km 56-km 65), qua các núi Pha Bon và Khau Piao. thuộc địa phận các xã Chi Lăng, Tri Phương và Chí Minh, h. Tràng Định. t. Lạng Sơn (cg đèo Lũng Phầy). Trong KCCP, tại đây diễn ra nhiều trận phục kích các đoàn xe QS Pháp từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, tiêu biểu là trận Bông Lau - Lũng Phầy (25.4.1949) của Tiểu đoàn 23 bộ đội chủ lực (Tiểu đoàn Lũng Phầy) phối hợp với 3 tiểu đoàn bộ binh Liên khu I và trận Lũng Phày (3.9.1949) của Trung đoàn bộ binh 174.

        ĐÈO CẢ (đèo Đại Lãnh), đèo trên QL 1, vượt qua dãy núi Đại Lãnh (cg dãy Vọng Phu, một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra Biển Đông), ranh giới hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà, nam tx Tuy Hoà 29km. Dài llkm(km 1.358-km 1.369), độ dốc 9%, cao 333m, vách taluy cao, nhiều vòng cua hẹp. Mặt đường đèo rộng 8m. rải bê tông nhựa. Dưới chân đèo là Vũng Rô.

        ĐÈO CÙ MÔNG, đèo trên QL 1, tại ranh giới hai tỉnh Bình Định, Phú Yên. Dài 6km (km 1.243-km 1.249), độ cao đỉnh đèo 245m, độ dốc 9%. Đường dốc, nhiều cua gấp, hai bên là núi cao, dễ gây ra tai nạn giao thông.

        ĐÈO HẢI VÀN X. HẢI VÂN

        ĐÈO LŨNG LÔ, đèo trên QL 37 (đường 379 cũ) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (t. Yên Bái) và Phù Yên (t. Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33km. Dài 15km (km 349-km 364), độ dốc 10%. Trong KCCP, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) qua đèo này.

        ĐÈO MÃ PHỤC, đèo ở h. Hà Quảng, t. Cao Bằng, trên QL 3, đông bắc tx Cao Bằng 22km. dài 4km (từ km 292 đến km 296), độ dốc 9%, mặt đường rộng 4-4,5m rải nhựa, hai bên là rừng núi cao.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 06:59:00 PM

        ĐÈO MAĐRẮC (M’ Đrắc, Phượng Hoàng), đèo trên QL 26, tại ranh giới hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hoà. Dài llkm (km 25-km 36), cao 560m, độ dốc 7-10%. Đường núi nhấp nhô. vách taluy cao, vực sâu, đường nhiều cua hẹp. 29.3-1.4.1975, Sư đoàn 10 QGP Tây Nguyên được tăng cường xe tăng và pháo binh, tiến công Lữ đoàn dù 3 QĐ Sài Gòn chốt ở khu vực đèo, diệt và bắt làm tù binh 3.800 quân, thu 24 pháo 105 và 155mm, 84 xe QS và nhiều vũ khí trang bị khác (xt trận đèo Mađrắc, 29.3-1.4.1975).

        ĐÈO MANG GIANG, đèo trên QL 19 (Quy Nhơn, t. Bình Định - cửa khẩu Lệ Thanh, t. Gia Lai), thuộc địa phận h. Mang Yang, t. Gia Lai, đông Plây Cu 55km. Dài 5km (km 108-km 113), độ dốc 7%. Tháng 6.1954 ở đông ĐMG diễn ra trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100 của quân Pháp.

        ĐÈO MÈO VẠC, đèo trên QL 4C, ở tây bắc huyện lị Mèo Vạc, t. Hà Giang 2km. Dài 2km (km 164-km 166), có 5 tầng dốc, độ dốc 9-10%. Mùa mưa đi lại khó khăn.

        ĐÈO MỤ GIẠ, đèo trên QL 12A, thuộc h. Tuyên Hóa, t. Quảng Bình, sát biên giới Việt - Lào, trong hệ thống núi Giăng Màn thuộc dãy Trường Sơn. Nằm trên trục đường quan trọng của hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh trong KCCM, trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mĩ. Bị máy bay B-52 ném bom rải thảm nhiều lần nhưng vẫn bảo đảm giao thông thông suốt.

        ĐÈO NGANG, đèo trên QL 1, vượt qua dãy Hoành Sơn, tại ranh giới hai tinh Hà Tĩnh, Quảng Bình. Dài 2km (km 594- km 596), độ cao đỉnh đèo 256m, độ dốc 8-9%. Đường đèo quanh co, vòng cua hẹp, vách taluy cao. Tk 17, các chúa Trịnh cho xây dựng trên ĐN nhiều công trình phòng thủ. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), nhà Nguyễn xây dựng Hoành Sơn Quan, hiện còn di tích trên đỉnh đèo.

        ĐÈO NHÔNG, đèo trên QL 1, thuộc h. Phù Mĩ. t. Bình Định, bắc huyện lị Phù Mĩ 7km. Tại ĐN, trong KCCP đã diễn ra trận Đèo Nhông (7-8.2.1965) của Trung đoàn 2 Quân khu 5 vào 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe thiết giáp MI 13 QĐ Sài Gòn, diệt hơn 600 địch, phá hủy 10 xe M113.

        ĐÈO PHA DIN X. PHA ĐIN

        ĐỂ BẠT, cử giữ chức vụ cao hơn hoặc phong, thăng quân hàm đối với cán bộ, công chức hoặc quân nhân... Người được ĐB phải có đủ các điều kiện quy định trong các văn bản pháp quy; được thực hiện theo một quy định chung đối với QĐ thực hiện theo Luật sĩ quan QĐNDVN và phân cấp của Đảng ủy QS trung ương (trừ những cấp thuộc thẩm quyền của chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ).

        “ĐỂ CƯONG CÁCH MẠNG MlỂN NAM”, văn kiện do Lê Duẩn soạn thảo 8.1956, xác định những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp tiến hành CM ở miền Nam trong những năm đầu KCCM. Nội dung cơ bản: khẳng định đối tượng của CM là đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm (do Mĩ dựng lên); nhiệm vụ của CM cả nước là củng cố vững chắc miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh CM ở miền Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thể giới, hoàn thành CM DTDC, thống nhất đất nước, tiến lên CNXH, trong đó CM miền Bác là cơ sở, CM miền Nam là bộ phận của CM cả nước. Đối với CM miền Nam, đề cương chi rõ phải bằng con đường CM, thực hiện nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, phong kiến, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân, cùng miền Bắc xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ; về phương pháp, phải dựa vào sức mạnh quần chúng, tập hợp lực lượng, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang. Ngoài ra, “ĐCCMMN” cũng nêu lên những bài học kinh nghiệm chủ yếu của cách mạng tháng Tám 1945 vận dụng vào CM miền Nam, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng và Mặt trận dân tộc thống nhất. “ĐCCMMN” có ý nghĩa lớn, góp phần trực tiếp hướng dẫn phong trào CM miền Nam vượt qua khó khăn trong những năm đầu chống Mĩ, làm cơ sở cho BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa II) ra nghị quyết Trung ương XV (1.1959) lãnh đạo CM miền Nam.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG CÔNG BINH trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm công binh với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tám tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chúng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm công binh (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); khả năng chiến đấu (bảo đảm) của đơn vị công binh trong biên chế và táng cường; nhiệm vụ bảo đảm công binh; dự kiến sử dụng lực lượng (lực lượng bảo đảm công binh cho cấp mình, lực lượng tăng cường, lực lượng dự bị và hướng sử dụng); biện pháp bảo đảm công binh; thời gian tiến hành; những kiến nghị.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:05:43 PM

        ĐỀ ĐẠT SỬ DỤNG HẢI QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện hải quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến hoặc để hiệp đồng tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chùng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung ĐĐSDHQ gồm: kết luận về đánh giá tình hình có liên quan đến hải quân (địch, ta, thời tiết, khí tượng - thủy văn); nhiệm vụ của hải quân (khu vực tác chiến chủ yếu, bổ trợ; trinh sát nắm tình hình trên biển; đối tượng, mục tiêu tiến công); tổ chức và bố trí lực lượng; tổ chức các đòn đột kích hỏa lực (pháo, tên lửa bờ biển, tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu pháo) và các hành động tác chiến khác; nhiệm vụ thả thủy lôi; các biện pháp bảo đảm.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HÓA HỌC trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm hóa học với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm hóa học

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HẢI QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện hải quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến hoặc để hiệp đồng tác chiến; được tiến hành sau khi ngưctì chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung ĐĐSDHQ gồm: kết luận về đánh giá tình hình có liên quan đến hải quân (địch, ta, thời tiết, khí tượng - thủy văn); nhiệm vụ của hải quân (khu vực tác chiến chủ yếu, bổ trợ; trinh sát nắm tình hình trên biển; đối tượng, mục tiêu tiến công); tổ chức và bố trí lực lượng; tổ chức các đòn đột kích hỏa lực (pháo, tên lửa bờ biển, tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu pháo) và các hành động tác chiến khác: nhiệm vụ thá thủy lôi; các biện pháp bảo đảm.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HÓA HỌC trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm hóa học với người chỉ huy binh chùng hợp thành về những nội dung cần thiết dê làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm hóa học (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); nhiệm vụ và các biện pháp bảo đảm hóa học chủ yếu (dự đoán và dự toán khả năng địch tập kích hóa học, tổ chức quan sát, trinh sát, thông báo, báo động hóa học, bảo đảm trang bị khí tài phòng hóa, khắc phục hậu quả hóa học, sử dụng vũ khí khói, lửa); tổ chức, sử dụng, bố trí lực lượng hóa học; cấp phát khí tài phòng hóa; thông tin liên lạc thông báo, báo động hóa học; những kiến nghị.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG KHÔNG QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện không quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá kết luận không quân dịch, không quân ta, địa hình, thời tiết có liên quan; dề nghị nhiệm vụ không quân và sù dụng lực lượng vào các nhiệm vụ cụ thể; tổ chức chỉ huy và hiệp đồng; một số biện pháp bảo đảm chủ yếu; thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG PHÁO BINH trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm pháo binh với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình có liên quan đến sử dụng pháo binh (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); nhiệm vụ pháo binh; dự kiến tổ chức và bố trí lực lượng pháo binh; tổ chức hỏa lực pháo binh; dự kiến thời gian cơ động chiếm lĩnh, di chuyển pháo binh; dự kiến phân chia đạn; những biện pháp chủ yếu về chỉ huy, bảo đảm; những kiến nghị.

        ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG PHÒNG KHÔNG trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm phòng không với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: khả năng hoạt động của không quân địch (lực lượng máy bay địch có thể huy động, khả năng xuất kích trong ngày, máy bay chiến thuật đánh nhỏ lẻ và trinh sát, hướng chủ yếu bay vào đánh phá, lực lượng và khu vực đổ bộ đường không, thủ đoạn đánh phá chủ yếu); khả năng phòng không (lực lượng, trình độ, hiệu quả chiến đấu, kết luận) của ta; ý định sử dụng lực lượng phòng không (nhiệm vụ, mục tiêu phòng không cần tập trung bảo vệ, sử dụng lực lượng, chỉ đạo phòng không cấp dưới và địa phương, tổ chức chỉ huy); những kiến nghị.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:08:44 PM

        ĐỀ ĐẠT SỬ DỤNG TĂNG THIẾT GIÁP trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm tăng thiết giáp với người chỉ huy binh chủng hợp thành về nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung: đánh giá tình hình địch có liên quan đến sử dụng tăng thiết giáp (lực lượng tăng thiết giáp và vũ khí chống tăng); lực lượng tăng thiết giáp hiện có, chất lượng, trình độ kĩ - chiến thuật, tổ chức biên chế, khả năng chiến đấu ; địa hình, thời tiết; thuận lợi, khó khăn; ý định sử dụng tăng thiết giáp (hướng, khu vực, cách đánh, tổ chức, sử dụng và bố trí lực lượng, tổ chức trận địa; chuẩn bị và bảo đảm cho tăng thiết giáp chiến đấu; những kiến nghị.

        ĐỀ ĐỐC (cổ), 1) chức quan võ cấp cao trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra từ thời Hậu Lê (1428- 1788), dưới đô đốc; để phong cho những võ tướng có công lớn; phẩm trật ở hàng chánh nhị phẩm. Dưới triều Nguyễn (1802-1945), ĐĐ là chức quan quản lí việc binh ở kinh đô, tỉnh lớn hoặc lực lượng thủy quân ở kinh đô. Ở kinh đô, ĐĐ kiêm chỉ huy lực lượng bảo vệ kinh thành nên còn gọi là kinh thành ĐĐ (phẩm trật hàng tòng nhị phẩm); Ở các tỉnh lớn như Gia Định, Hà Nội, An Giang... ĐĐ (chánh tam phẩm) cùng với tổng đốc (quan dầu tỉnh) chịu trách nhiệm về những việc binh hệ trọng trong tỉnh; ĐĐ chỉ huy lực lượng thủy quân gọi là ĐĐ thủy quân (chánh nhị phẩm); 2) bậc quân hàm sĩ quan hải quân cấp cao trong QĐ Sài Gòn tương đương thiếu tướng trong lục quân, không quân, thường giữ chức vụ tư lệnh hoặc phó tư lệnh hải quân.

        ĐỀ LĨNH (cổ), chức quan chỉ huy quân tứ sương thời Hậu Lê. Được đặt ra từ 1510 (đời vua Lê Tương Dực, năm Hồng Thuận thứ 1). Có chức chưởng ĐL, đồng ĐL, phó ĐL, đều là võ quan ở hàng chánh nhị phẩm và tòng nhị phẩm. Đến thời Trung Hưng (từ vua Lê Trang Tông đến vua Lê Chiêu Thống, 1533-1788) đồng ĐL được trao cho quan văn, coi việc quân bốn mặt thành cùng với chưởng ĐL. 1703-12, chức ĐL không chỉ giới hạn trong việc chỉ huy quân tứ sương canh gác thành mà có thể kiêm coi việc trấn thủ các thành khác.

        ĐỀ MỤC HUẤN LUYỆN, gọi chung những phần nội dung của khoa mục huấn luyện trong chương trình huấn luyện. Vd: khoa mục huấn luyện điều lệnh được chia thành các ĐMHL: điều lệnh quản lí bộ đội, điều lệnh đội ngũ... và được tổ chức huấn luyện cơ bản theo trình tự.

        ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, đối tượng cần khảo sát, tổng hợp tìm ra những tính chất, quy luật mới và đề xuất các giải pháp hữu ích hoặc khái quát thành lí luận để hoàn thiện nhận thức, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Có thể là một công trình độc lập hoặc là thành phần của chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ. Tên của ĐTNCKHCN phải ngắn gọn và làm rõ đối tượng nghiên cứu. ĐTNCKHCN do một người hoặc một nhóm người thực hiện.

        ĐỆ TỨ CHIẾN KHU nh CHIẾN KHU ĐÔNG TRlỂU

        ĐỂN BÙ THIỆT HẠI CHIẾN TRANH, thanh toán tổn thất chiến tranh do nước tiến hành chiến tranh xâm lược gây ra đối với nước bị xâm lược bằng tiền hoặc giá trị vât chất tương xứng. Mức độ ĐBTHCT có thể là toàn bộ hoặc một phần giá trị thiệt hại vật chất trong chiến tranh được xác định trong các điều ước quốc tế. Hiệp ước hòa bình Vecxây (1919) quy định nước Đức phải ĐBTHCT cho các nước chiến thắng mọi thiệt hại do cuộc xâm lược của họ gây ra trong CTTG-I. Trách nhiệm ĐBTHCT do phát xít Đức gây ra trong CTTG-II được quy định tại hội nghị Crưm (4-11.2.1945) và hội nghị Pôtxđam (17.7-2.8.1945). Tại điều 21 chương 8 của hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, Mĩ cam kết sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VN và toàn Đông Dương, nhưng đến nay Mĩ vẫn chưa thực hiện cam kết đó.

        ĐỂN ƠN ĐÁP NGHĨA, phong trào toàn dân VN chăm sóc, giúp đỡ người có công với sự nghiệp CM giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Khởi đầu từ tp Hồ Chí Minh sau thắng lợi của cuộc KCCM, đến cuối những năm 80 (tk 20) trở thành phong trào của cả nước. Được thể chế hóa bằng: pháp lệnh “ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” do ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN ban hành 29.8.1994; các nghị định của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách ưu đãi đối với người hoạt động CM, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ CM; Điều lệ xây dựng và quản lí Quỹ ĐƠĐN. Các cơ quan, đơn vị kinh tế, các đoàn thể, tổ chức xã hội và cá nhân trong cả nước đã tận tình tham gia phong trào ĐƠĐN. 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng... Phong trào đã phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tăng cường đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:10:20 PM

        ĐI QUA KHÔNG GÂY HẠI TRONG LÃNH HẢI, người hoặc phương tiện (tàu, thuyền) của nước ngoài đi qua lãnh hải một nước nhưng không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia đó. Các hành động được coi là đi qua gây hại trong lãnh hải khi: đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực và những hành động khác trái với hiến chương Liên hợp quốc để chống lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; luyện tập, diễn tập QS; thu thập tình báo, tuyên truyền phương hại đến quốc phòng, an ninh; phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện QS; xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái pháp luật và quy định về hải quan, thuế, y tế và nhập cư; cố ý gây ô nhiêm nghiêm trọng; đánh bắt hải sản; nghiên cứu, đo đạc; làm rối loạn hoạt động của các hệ thống giao thông, liên lạc, trang thiết bị hay công trình khác... và các hoạt động khác không liên quan trực tiếp đến việc đi qua. Tàu, thuyền của tất cả các quốc gia có biển hoặc không có biển đều được hưởng quyền ĐQKGHTLH. Khi thực hiện ĐQKGHTLH, các tàu ngầm và phương tiện đi ngầm của nước ngoài phải đi nổi và treo cờ quốc gia, tàu, thuyền có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở các chất phóng xạ, các chất vốn nguy hiểm hay độc hại phải mang đầy đủ tài liệu và áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của điều ước quốc tế hoặc bắt buộc đi theo các tuyến đường quy định. Quốc gia có lãnh hải, khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể phân chia, bố trí các tuyến đường, luồng giao thông trong lãnh hải, đồng thời ghi rõ lên hải đồ và công bố để các tàu, thuyền nước ngoài tuân thủ; định ra các luật và quy định phù hợp  liên quan đến quyền ĐQKGHTLH; thi hành các biện pháp cần thiết để ngăn cản hành vi đi qua có gây hại; không cản trở quyền ĐQKGHTLH; trường hợp cần thiết (bảo đảm an ninh, thử vũ khí, diễn tập QS...) có thể tạm thời đình chỉ thực hiện quyền ĐQKGHTLH tại một số khu vực; thông báo mọi nguy hiểm về hàng hải cho tàu, thuyền nước ngoài.

        ĐĨA BAY nh VẬT THỂ BAY KHÔNG XÁC ĐỊNH

        ĐỊA BÀN* X. LA BÀN TỪ

        ĐỊA BÀN**, khu vực địa lí xác định đối với một hoạt động nào đó, vd: ĐB chiến dịch, ĐB đóng quân, ĐB dân cư...

        ĐỊA BÀN TÁC CHIẾN, địa bàn** diễn ra các hoạt động tác chiến của lực lượng các bèn tham chiến. Theo quy mô tác chiến, có ĐBTC: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Địa bàn chiến lược là một bộ phận của chiến trường có bố trí các cụm LLVT, có các mục tiêu chiến lược quan trọng, các trung tâm kinh tế, chính trị, công nghiệp QS... để tiến hành tác chiến chiến lược. Xác định ĐBTC phải căn cứ vào ý định, nhiệm vụ tác chiến, tình hình địch, biên chế của các lực lượng tham gia tác chiến, điều kiện địa hình và các điều kiện khác.

        ĐỊA CHẤT QUÂN SỰ, ngành địa chất ứng dụng, nghiên cứu cấu tạo địa chất của địa hình, điều kiện địa chất thủy vãn... nhằm bảo đảm cho hoạt động tác chiến. Cung cấp các yếu tố địa chất để bảo đảm cho việc bố trí và xây dựng công trình QS, sân bay, đường và cầu QS, đánh giá khả năng vận động trên địa hình đối với các binh chủng, tìm kiếm và thăm dò nguồn nước ngầm, vật liệu xây dựng tự nhiên...

        ĐỊA ĐẠO, đường hầm quân sự ở những nơi đất cứng và ổn định, mực nước ngầm thấp, có khẩu độ hẹp, nhưng rất dài và có nhiều nhánh, có thể nhiều tầng, thường không lát nóc, lát vách. ĐĐ vừa có tác dụng phòng tránh, che giấu lực lượng, cất giấu phương tiện vật chất, vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ trong cơ động lực lượng đánh địch, nên nhân dân và LLVT địa phương thường dùng để bám trụ lâu dài và hoạt động chiến đấu trong vùng địch chiếm hoặc ở vùng sát địch (x. địa đạo Cù Chi, địa đạo Vịnh Mốc).

        ĐỊA ĐẠO CỦ CHI, địa đạo ở h. Củ Chi, tây bắc tp Hồ Chí Minh 30km. Được đào từ 1946 ở các xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An, lúc đầu là những đoạn đường hầm ngắn để trú ẩn, cất giấu tài liệu và đường liên lạc dưới đất nối các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, sau trở thành địa đạo, dài 17km. Trong KCCM được phát triển thành hệ thống với tổng chiều dài khoảng 200km. Gồm một tuyến chính rộng 0,6-0,7m, cao 0,8-0,9m (đủ cho người đi khom), nóc hầm dày 3-4m, chịu được xe tăng 50t và đạn pháo. Nhiều nơi địa đạo có cấu trúc ba tầng, có nhiều trục phụ nối với trục chính bằng cửa đóng kín, khi cần mới mở cửa thông, nên khó phát hiện được cả hệ thống; có những đường nhánh đi đến từng hầm bí mật, phòng làm việc của cơ quan, hội trường, bệnh viện...; nhiều lỗ thông hơi, chiếu sáng, giếng nước, nhà vệ sinh và các ngõ cụt dẫn đến bãi mìn... QĐ Mĩ và Sài Gòn nhiều lần càn quét nhằm phá địa đạo nhưng đều thất bại. Trong đợt quân địch càn 12 ngày đêm (8-19.1.1966) ở 6 xã Củ Chi, quân Mĩ sử dụng 8.000 quân, 200 máy bay, 600 xe QS, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn xe tăng..., quân và dân Củ Chi dựa vào hệ thống địa đạo, đã diệt 1.600 địch, bắn rơi 84 máy bay, phá hủy 77 xe tăng, xe thiết giáp. Sau đó Mĩ dùng các biện pháp bơm nước vào địa đạo ở Hố Bò, Phú Mĩ Hưng; lập các đội “chuột cống” để phá địa đạo. Đầu 1967, trong cuộc càn Xêđa Phôn, Mĩ sử dụng 600 lính công binh, 500 xe ủi đất, cùng với xe tăng, súng phun lửa, vũ khí hóa học, nhưng chỉ phá được 9km địa đạo. ĐĐCC nay là khu di tích lịch sử. Huyện Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép thành đồng”. 14 xã, 25 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Ah LLVTND, 778 người được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mĩ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:11:49 PM

        ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC, địa đạo ở thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, h. Vĩnh Linh. t. Quàng Trị. Được đào từ 1966 đến 1967. Gồm ba tầng, có bậc thang lên xuống lượn xoắn ốc. Các tầng 1 và 2 đều có giếng nước, nhà vệ sinh... Trục chính dài 2.034m, nằm sâu dưới mặt đất 20-28m, rộng l-l,2m, cao l,5-4,lm, trong khu vực có dt khoảng lkm2. Hai bên vách cứ cách 3m được khoét một hầm làm nhà ở. Khu trung tâm có hội trường 150 chỗ, bệnh xá, nhà hộ sinh. Nhiều trục nhánh với 11 cửa thông ra biển hoặc lên mặt đất. Là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt của cuộc KCCM (lúc đồng nhất có khoảng 1.200 người sinh sống), kho chứa hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam và đảo Cồn cỏ. ĐĐVM nay là khu di tích lịch sử. Từ 1966 đến 1972, Mĩ đã trút xuống đây hơn 9.000t bom đạn.

        ĐỊA HÌNH, phần mặt đất với các yếu tố trên bể mật của nó: dáng đất, chất đất, thủy hệ, lớp phú thực vật, đường giao thông, điểm dân cư, các địa vật... Trong QS, ĐH được đánh giá theo đặc điểm của dáng đất, khả năng cơ động, điều kiện quan sát, ngụy trang và theo điểu kiện tự nhiên khác.

        ĐỊA HÌNH HỌC KHÔNG ẢNH. bộ môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu các phương pháp lập bản đồ địa hình từ ảnh hàng không. Có quan hệ với nhiều ngành và bộ môn khoa học khác như địa lí, cơ khí chế tạo máy, bay chụp ảnh... Các phương pháp của ĐHHKA (xt đo vẽ địa hình bằng ánh hảng không) cho phép lập ra các bản đồ với thời gian sản xuất nhanh, độ chính xác cao và đang trở thành phương pháp chính để biên vẽ bản đồ địa hình.

        ĐỊA HÌNH HỌC QUÂN SỰ, bộ môn khoa học chuyên ngành QS, nghiên cứu các phương pháp và phương tiện đánh giá địa hình, đo đạc và định hướng trên thực địa để bảo đảm cho hoạt động tác chiến của bộ đội. ĐHHQS là môn học trong các trường QS, một nội dung huấn luyện chuyên ngành cấp chiến lược và chiến dịch.

        ĐỊA LÍ QUÂN SỰ, ngành địa lí nghiên cứu những điều kiện chính trị - QS, kinh tế - QS, điều kiện tự nhiên và thiết bị tác chiến của các chiến trường, các nước, khu vực, hướng chiến lược và ảnh hưởng của những điều kiện đó đối với việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. ĐLQS có quan hệ chặt chẽ với khoa học quân sự, gồm lí luận chung về ĐLQS, ĐLQS đất nước. ĐLQS các chiến trường. Lí luận chung về ĐLQS nghiên cứu nhiệm vụ, nội dung và phương pháp nghiên cứu của ĐLQS. ĐLQS đất nước nghiên cứu vị trí địa lí và vị trí chiến lược của nước mình đối với các nước khác, giữa các nước có liên quan với nhau; các điều kiện tự nhiên và các nguồn dự trữ; chế độ xã hội và nhà nước; cơ cấu và trình độ phát triển sản xuất, thành phần và sự phân bố dân cư; việc thiết bị tác chiến của đất nước, tình hình phòng thủ dân sự, đánh giá tiềm lực QS của .đất nước, trình độ sẵn sàng chuyển sang kinh tế thời chiến. ĐLQS chiến trường nghiên cứu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến tác chiến của các LLVT, thành phán và vai trò của mỗi chiến trường, trình độ thiết bị và dung lượng chiến trường.

        ĐỊA LÍ QUÂN Y, chuyên ngành y học QS nghiên cứu ảnh hường của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, y học. thú y trên vùng lãnh thổ đối với sức khỏe của LLVT, công tác tổ chức bảo đảm quân y nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho LLVT trong thời bình và thời chiến.

        ĐỊA LÔI (cũ) X. MÌN

        ĐỊA LÔI CHIẾN (cũ), tác chiến bằng mìn và phương tiện nổ khác nhằm sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, hạn chế đối phương cơ động, vận chuyển. ĐLC có thể tiến hành trong các hình thức tác chiến của các LLVT và toàn dân, thường được tiến hành độc lập. Hiện nay thuật ngữ ĐLC ít được sử dụng.

        ĐỊA PHƯƠNG QUÂN, bộ phận của QĐ Sài Gòn, đồng thời là thành phần chủ yếu của lực lượng lãnh thổ, có nhiệm vụ chủ yếu là tác chiến chống chiến tranh du kích CM, bảo vệ an ninh nông thôn, bảo vệ lực lượng bình định. Được tổ chức 7.5.1964 trên cơ sở lực lượng bảo an (x. Bảo an đoàn). Hình thành hệ thống chỉ huy và điều hành từ trung ương đến quận, bao gồm: BTL ĐPQ trung ương, bộ chỉ huy ĐPQ vùng chiến thuật, ban chỉ huy ĐPQ tỉnh và sĩ quan phụ trách ĐPQ quận. Đơn vị tổ chức cao nhất của ĐPQ là tiểu đoàn ở các tỉnh và một số tiểu đoàn độc lập (phụ trách an ninh ở Sài Gòn, các sân bay lớn, các nhà máy quan trọng) và phổ biến là đại đội ở tất cả các quận. ĐPQ được trang bị, huấn luyện, tiếp vận như một đơn vị chủ lực cùng cấp và được hưởng quy chế riêng. Là lực lượng được chính quyền Sài Gòn quan tâm phát triển (từ 132.000 năm 1965 đến 319.000 năm 1972). Chịu thương vong cao nhất trong chiến tranh (riêng 1972, chết 19.600). Tan rã hoàn toàn 4.1975.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:13:20 PM

        ĐỊA TRUNG HẢI, biển thuộc Đại Tây Dương, nằm giữa lục địa Á - Âu và Phi, thông với Đại Tây Dương qua eo biển Gibranta, với Biển Đen qua eo biển Đacđanen, biển Macmara và eo biển Bôxpho, với Biển Đỏ qua kênh Xuyê. Dt 2.505.000km2, dài 3.900km, rộng 1.800km, sâu trung bình 1.440m, sâu nhất 5.121m. Nhiệt độ trung bình của nước vào tháng 2: 8°C ở phía bắc đến 17°C ở phía nam, vào tháng 8: 19°- 24,5°C đến 26°- 30°C. Độ mặn từ 22,5-26%0 ở biển Macmara đến 38,5%0 ở biển Iôniô. Hải lưu tạo thành vòng khép kín ngược chiều kim đồng hồ, tốc độ 0,4 -l,8km/h. Dọc theo bờ ĐTH dân cư dông đúc, phần phía bắc kinh tế phát triển mạnh hơn. Các nước vùng ĐTH khai thác dầu lửa và khí đốt với khối lượng lớn. Qua ĐTH có nhiều đường hàng hải quốc tế quan trọng. Những cảng và căn cứ QS chính: Bacxêlỏna (Tây Ban Nha), Macxây (Pháp), Giơnôva, Napôli, Vênêxia, Triextê (Italia), Ripiêca (Croatia), Pâyraiuxơ, Texalôniki (Hi Lạp), Bâyrut (Libăng), Alêchxanđria, Poxait (Ai Cập), Tripoli (Libi). Do vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Bộ chỉ huy QS khối NATO đã tách ĐTH thành chiến trường riêng. Hạm đội 6 của Mĩ thường xuyên có mặt ở ĐTH. Từ 1970 tại đây thành lập lực lượng hải quân thường trực hỗn hợp của NATO.

        ĐỊA TỪ TRƯỜNG, từ trường của Trái Đất và không gian vũ trụ gần Trái Đất. 99% ĐTT được tạo thành do tác động của các nguồn cơ bản tồn tại thường xuyên trong lòng Trái Đất; 1% phụ thuộc tác động của các yếu tố thay đổi bên ngoài (các hiện tượng phóng điện tự nhiên, các dòng điện nhân tạo, bức xạ vũ trụ...) diễn ra trong từ quyển và tầng ion của khí quyển Trái Đất. Cấu trúc của ĐTT tương dối phức tạp và không ổn định. Trong tính toán gần đúng, có thể coi Trái Đất như một quả cầu nhiễm từ đồng nhất, có trục từ tạo với trục quay một góc khoảng 11,5°. Sự tồn tại của ĐTT được sử dụng trong hàng hài, hàng không, pháo binh, trắc địa, điều khiển các khí cụ vũ trụ, định hướng trên thực địa...

        ĐỊA VẬT, vật thể tự nhiên hay nhân tạo trên mặt đất, gồm: rừng, núi, đồi, sông, ao hồ, vùng dân cư, đường sá, công trình dân dụng, công nghiệp, nông nghiệp... Trong QS, ĐV dùng để nghiên cứu địa hình, định hướng, chỉ mục tiêu và chỉ huy bộ đội. ĐV được biểu thị trên bản đồ bằng các kí hiệu.

        ĐỊA VẬT LÍ, môn khoa học tổng hợp nghiên cứu tính chất vặt lí của Trái Đất và các quá trình xảy ra trong các lớp vỏ rắn (thạch quyển), vỏ lỏng (thủy quyển) và vỏ khí (khí quyển) của nó. ĐVL bao gồm: địa từ học, khí tượng học, hải dương học, thủy văn học, địa chấn học, trọng lực học... Trong QS, ĐVL được ứng dụng trong việc phóng tên lửa, bắn pháo, bảo đảm các chuyến bay của các khí cụ bay, bảo đảm khí tượng, thủy văn cho hoạt động tác chiến của bộ đội, trong nghiên cứu các phương tiện phát hiện và diệt mục tiêu QS di động trên không và dưới nước... Một số nước còn tiến hành nghiên cứu phương pháp và phương tiện tác động vào các quá trình ĐVL khác nhau với mục đích QS.

        ĐỊCH, kẻ thù; quân đối phương, hoặc nước (liên minh các nước) thù địch trong chiến tranh và trong tác chiến. Cg quân địch, kẻ địch, đối phương hoặc đối tượng tác chiến.

        ĐIÊGÔ GACXIA, đảo san hô trong quần đảo Chagôt (thuộc Anh) ở trung tâm Ấn Độ Dương, dt 29km2. Trên đảo có căn cứ hải quân của Mĩ, mắt xích liên hệ giữa các căn cứ ở Tây Âu và Trung Đông với các căn cứ ở châu Á và Thái Bình Dương. Bến cảng rộng 200m, dài 5.600m, tiếp nhận được tàu chiến các loại. Đường băng sân bay dài 3.600m tiếp nhận được máy bay các loại. Trung tâm thông tin của hải quân bảo đảm chỉ huy tàu ngầm nguyên tử ở khu vực Ấn Độ Dương. Là căn cứ thường xuyên cho máy bay vận tải và máy bay tuần tra.

        ĐIỂM BẮN THỬ, điểm được chọn cho pháo bắn thử nhằm xác định các lượng sửa bắn để từ đó chuyển sang bắn vào mục tiêu. ĐBT có thể thật hoặc giả. ĐBT thật là điểm địa hình địa vật hoặc mục tiêu đã biết tọa độ. ĐBT giả là tâm của một cụm (từ 4-6) điểm nổ do một khẩu pháo bắn với cùng một phần tử, mà tọa độ của nó có thể xác định được với độ chính xác cần thiết. ĐBT giả có thể ở trên mặt đất, mặt nước hoặc trên không. Để xác định tọa độ ĐBT giả thường sử dụng các đài quan sát giao hội hay các phương tiện kĩ thuật khác như rađa, phương tiện trinh sát âm thanh... Việc bắn vào ĐBT được thực hiện khi không thể bắn thử vào mục tiêu hoặc khi muốn giữ bí mật để tạo bất ngờ khi bắn vào mục tiêu.

        ĐIẾM CAO. chỗ đất (núi, đồi, gò...) nhô cao hơn các khu vực kế cận một cách rõ rệt. Trong QS, ĐC có giá trị đặc biệt, chiếm được ĐC sẽ có điều kiện quan sát tốt hơn đối phương và có lợi thế cho tác chiến.

        ĐIỂM CAO KHỐNG CHẾ, điểm cao hoặc các địa vật có độ cao (nhà tầng, két nước...), từ đó có thể nhìn bao quát được địa hình xung quanh, quan sát được sự bố trí, hoạt động của bộ đội và đối phương. ĐCKC được xác định trực tiếp tại thực địa hoặc trên bản đồ, căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:34:59 PM

        ĐIỂM CẬN ĐỊA, điểm gần tâm Trái Đất nhất trên quỹ đạo chuyển động của Mặt Trăng hay vệ tinh nhân tạo của Trái Đất. Do tác động lực hút của Mặt Trời và các hành tinh, ĐCĐ của Mặt Trăng dịch chuyển theo quỹ đạo của nó được một vòng trong 8,85 năm. Hướng và độ dịch chuyển ĐCĐ trên quỹ đạo các vệ tinh nhân tạo phụ thuộc vào độ không tròn đều của Trái Đất, ảnh hưởng của khí quyển và độ nghiêng mặt phẳng quỹ đạo so với mặt phẳng xích đạo.

        ĐIỂM CẬN NHẬT, điểm gần Mặt Trời nhất trên quỹ đạo chuyển động của các hành tinh thuộc hệ Mạt Trời. Cũng như trong các quỹ đạo elip khác, ĐCN nằm tại một đầu mút của trục lớn. Khoảng cách từ ĐCN của quỹ đạo Trái Đất đến tâm Mặt Trời là 147 triệu kilômét. Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời qua điểm này vào tháng 1 hàng năm.

        ĐIỂM CHỐT, trận địa phòng ngự có tác dụng khống chế hoặc giữ vững một khu vực tác chiến nào đó trong một thời gian xác định. ĐC thường dược xây dựng theo kiểu điểm tựa.

        ĐIỂM DANH, chế độ quy định đối với cấp trung đội, đại đội và tương đương trong QĐND VN, do người chỉ huy trực tiếp tiến hành (thường trước giờ ngủ) bằng cách đọc tên và kiểm tra từng quân nhân theo danh sách, nhằm quản lí chặt chẽ quân số và bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. ĐD được quy định trong điều lệnh quản lí bộ đội.

        ĐIỂM ĐỔ BỘ, phần bờ biển cùng với vùng nước tiếp giáp được lựa chọn làm nơi đổ bộ của một phân đội quân đổ bộ. ĐĐB có thể là một bộ phận của đoạn đổ bộ. Khoảng cách giữa các ĐĐB phải bảo đảm hiệp đồng chiến đấu giữa các phân đội đổ quân ở cạnh nhau. ĐĐB có các loại: chính, bổ trợ, nghi binh.

        ĐIỂM NÓNG, khu vực đang trong tình trạng căng thảng, có nguy cơ hoặc đã bùng nổ xung đột xã hội, xung đột vũ trang do tập trung những mâu thuẫn xã hội (nội bộ nhân dân, giai cấp, dân tộc, chủng tộc, tôn giáo...) gay gắt. Nếu không được kịp thời giải quyết, ĐN có thể dẫn đến sự mất ổn định hoặc rối loạn ở phạm vi lớn hơn. Những năm cuối tk 20 đầu tk 21, thế giới vẫn tồn tại những ĐN như: Côxôvô (Bancăng), Casơmia (Tây Nam Á), bán đảo Triều Tiên (Đông Bắc Á), khu vực Trung Đông...
ĐIỂM PHÁT KHÓI, nơi bố trí các phương tiện, khí tài phát khói để tạo ra màn khói. Có ĐPK cố định và ĐPK di động. Nhiều ĐPK tạo thành cụm khói; nhiều cụm khói tạo thành tuyến khói. Trong KCCM, quân và dân ở miền Bắc VN đã bố trí những ĐPK cố định trên sân thượng nhà cao tầng, cầu cống, nhà máy... kết hợp với ĐPK di động trên đường phố Hà Nội... để tạo thành màn khói ngụy trang nhiều mục tiêu quan trọng.

        ĐIỂM TAM GIÁC, điểm trắc địa có tọa độ được xác định theo phương pháp đo tam giác. Ngoài tọa độ, ĐTG còn được xác định độ cao và đánh dấu bằng các cột mốc cố định kiên cố trên mặt đất. Theo cấp chính xác, các ĐTG được chia thành bốn hạng: 1, 2, 3 và 4. Trên các ĐTG còn thường dựng các chòi giá bằng kim loại hay gỗ, để bảo đảm thông hướng khi tiến hành đo góc trong mạng tam giác.

        ĐIỂM THIÊN VĂN, điểm khống chế mặt đất có tọa độ và phương vị đến một ĐTV khác được xác định bằng phương pháp đo thiển văn. Thường bố trí ở hai đầu cạnh đáy và cạnh giữa của lưới tam giác.

        ĐIỂM THIÊN VĂN TRẮC ĐỊA. điểm trên mật đất có tọa độ được xác định bằng phương pháp trắc địa và quan sát thiên văn, đồng thời xác định góc phương vị từ một ĐTVTĐ đến một điểm khác.

        ĐIỂM THỦY CHUẨN, điểm khống chế độ cao có độ cao tuyệt đối được xác định bằng phương pháp đo thủy chuẩn. Được đánh dấu bằng mốc thủy chuẩn cố định chôn dưới đất, gắn vào các yếu tố địa hình bền vững hoặc các công trình kiến trúc kiên cố. Điểm gốc tính độ cao tuyệt đối (mực nước chuẩn “0”) được chọn theo quy định của từng quốc gia. Tại VN điểm gốc độ cao quốc gia lấy mực nước trung bình tại điểm nghiệm triều Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng). Theo độ chính xác, các ĐTC được chia thành bốn hạng: 1, 2, 3 và 4. Các điểm hạng 1 và 2, ngoài việc dùng làm mốc đo cao cho các điểm hạng thấp hơn, còn phục vụ cho việc nghiên cứu hình dạng mặt thủy chuẩn trắc địa, sự chuyển động của vỏ Trái Đất, sự thay đổi mực nước biển trung bình. Các điểm hạng 3 và 4 phục vụ cho đo vẽ địa hình, khảo sát các công trình xây dựng.

        ĐIỂM TRẮC ĐỊA, điểm trên mặt đất, có tọa độ X, Y và độ cao H được xác định bằng các phương pháp đo đạc. Mỗi ĐTĐ thường được chôn mốc xi măng, có dấu tâm mốc (bằng sứ, sắt, đồng...). Tùy theo độ chính xác, ĐTĐ chia ra nhiều hạng, cấp. Ở những khu vực tầm nhìn hạn chế, trên các ĐTĐ thường xây dựng cột tiêu bằng gỗ hoặc bằng sắt. ĐTĐ là cơ sở để thành lập các loại bản đồ địa hình hoặc đo nối cho các công trình kinh tế, quốc phòng.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:37:07 PM

        ĐIỂM TRỌNG LỰC, điểm trên mặt đất có tọa độ địa lí, độ cao tuyệt đối và giá trị gia tốc trọng trường xác định. Hệ thống ĐTL trên toàn lãnh thổ quốc gia gồm điểm gốc trọng lực, các ĐTL hạng I và II. Tập hợp các ĐTL cùng với các đường liên kết giữa chúng hợp thảnh lưới trọng lực, được thể hiện trong các bảng kê hoặc trên bản đồ ĐTL.

        ĐIỂM TRÚ ĐẬU CƠ ĐỘNG, đoạn bờ biển (đảo) cùng với vùng nước tiếp giáp, có thể được thiết bị (đầy đủ hay chỉ một phần) hoặc không được thiết bị, để các tàu (nhóm tàu) hải quân dừng lại trong thời gian ngắn bổ sung các lượng dự trữ chủ yếu hoặc phân tán lực lượng, tạo thế có lợi cho các hoạt động chiến đấu sắp tới. Việc bổ sung các lượng dự trữ cho tàu được thực hiện bằng các tàu tiếp tế, các phương tiện nổi và cả các phương tiện cơ động trên bờ.

        ĐIỂM TRÚ ĐẬU TÀU HẢI QUÂN, đoạn bờ biển (đảo, sông) cùng vùng nước kế cận có thiết bị để phục vụ cho việc trú đậu và bảo đảm mọi mặt cho tàu hải quân. Có điểm trú đậu thường xuyên và điểm trú đậu tạm thời. Điểm trú đậu thường xuyên thường là một bộ phận của căn cứ hải quân, ở đó có cảng, cầu cảng, các thiết bị kĩ thuật, đài điều khiển, quan sát và thông tin, các kho tàng, xưởng trạm, nhà ở... Điểm trú đậu tạm thời thường được bố trí trong các thương cảng và các vũng, vịnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để che chắn cho tàu.

        ĐIỂM TỰA, trận địa phòng ngự vững chắc hoặc tương đối vững chắc của trung đội, đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) được xây dựng theo hình tròn, bảo đảm chiến đấu được các hướng. Có ĐT trung đội và ĐT đại đội. ĐT trung đội bộ binh (bộ binh cơ giới) gồm các trận địa phòng ngự của tiểu đội, của phương tiện hỏa lực; ĐT của trung đội xe tăng (xe thiết giáp) gồm trận địa của các xe tăng (xe thiết giáp) và phương tiện chiến đấu khác. ĐT phòng ngự của đại đội bộ binh (bộ binh cơ giới) gồm các ĐT trung đội, các trận địa hỏa lực; ĐT phòng ngự của đại đội là thành phần cơ bản của cụm ĐT tiểu đoàn; có trường hợp là ĐT độc lập.

        ĐIỂM VIỄN ĐỊA, điểm cách xa Trái Đất nhất trên quỹ đạo Mặt Trăng hay vệ tinh nhân tạo của Trái Đất. Cũng như trong các quỹ đạo elip khác, ĐVĐ nằm tại một đầu mút của trục lớn. Mặt khác, ĐVĐ của Mặt Trăng và các vệ tinh nhân tạo cũng dịch chuyển trên quỹ đạo của chúng theo quy luật như đối với điểm cận địa.

        ĐIỂM VIỄN NHẬT, điểm xa Mặt Trời nhất trên quỹ đạo chuyển động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời. ĐVN của quỹ đạo Trái Đất cách tâm Mặt Trời khoảng 152 triệu kilômét. Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời đi qua điểm này vào đầu tháng 7 hàng năm. Do quỹ đạo Trái Đất có dạng gần tròn, nên ĐVN chỉ xa Mặt Trời hơn điểm cận nhật khoảng 5,9 triệu kilômét, trong khi ĐVN của Sao Diêm Vương (Plutôn) cách xa Mặt Trời hơn điểm cận nhật của nó 2,96 tỉ kilômét.

        ĐIỆN ẢNH QUẢN ĐỘI NHÂN DÂN, đơn vị sản xuất phim của QĐND VN do TCCT quản lí, chỉ đạo; đơn vị Ah LLVTND (1990). Có nhiệm vụ sản xuất và lưu giữ các thể loại phim: thời sự, tài liệu, tư liệu, truyền thống, khoa học, giáo khoa, phim truyện... về đề tài chiến tranh cách mạng, LLVTND và quốc phòng toàn dân, phục vụ chủ yếu cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đồng thời phục vụ đông đảo nhân dân cả nước và khán giả quốc tế. Thành lập 17.8.1960, đã qua các tên gọi: Đoàn điện ảnh QĐ. Xưởng phim QĐ, Xí nghiệp phim QĐ; Điện ảnh QĐ (từ 1993). Huân chương: 2 Quân công hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì). Trụ sở: 17 Lí Nam Đế, Hà Nội. Giám đốc đầu tiên: Dương Minh Đẩu.

        ĐIỆN BIÊN, tinh miền núi tây bác Bắc Bộ; bác giáp TQ, Lai Châu, đông giáp Sơn La, tây và tây nam giáp Lào. Dt 9.554,09km2, ds 440 nghìn người (1.2004); các dân tộc: Kinh, Thái, Dao, Khơmú, La Hú, Giáy, Tày, Nùng, Mường, Ló Lô, Kháng... Thành lập 1.2004, tách từ t. Lai Châu*. Tổ chức hành chính: 6 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Điện Biên Phủ. Địa hình: núi cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, xen kẽ là các thung lũng Sông Đà, Nậm Na, Nậm Mức, Điện Biên, Nậm Mã, Bình Lư. Các dãy núi chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Phía tây là dãy núi dài 80-100km chạy dọc biên giới Việt - Lào, đính Pu Đen 1.888m; dãy Pu Samsao dài 50-60km, cao 1,904m. Các cao nguyên: Sìn Chải (Tủa Chùa), Nậm Dìn (Tuần Giáo). Sông suối hẹp, dốc, nhiều thác ghềnh, có tiềm năng thủy điện lớn. Sông Đà chạy dọc một đoạn ranh giới với t. Lai Châu. Khí hậu nhiệt đới núi cao, lượng mưa 1.600mm/năm. Tỉnh nông - lâm nghiệp. Rừng chiếm 70% diện tích tự nhiên, nhiều gỗ và lâm sản quý. Giao thông đường bộ: các QL 6, 12, 279 và các tuyến đường liên tỉnh; đường thủy: Sông Đà; sân bay: Điện Biên, Nà Sản. Nơi diễn ra chiến dịch Tây Bắc (1952), chiến dịch Lai Cháu (1953), chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), di tích lịch sử: SCH Mườtĩg Phăng, SCH Đờ Caxtơri, đồi A1, đồi Cl, đồi Độc Lập...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66393942_449530802443472_6189135293300342784_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmtCjfCbtqsJww3YaVYjTCEB3VF8XTeS301p3p67wIsyx6Su7ySbvyHYZxWfeF6524&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=87a5518be2c199635d3bbfa1d5895de7&oe=5DC63E57)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:39:35 PM

        ĐIỆN BIÊN PHỦ, thị trấn châu lị châu Điện Biên, t. Lai Châu*, nay là thành phố tỉnh lị t. Điện Biên; nơi diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) lịch sử. Nằm trong thung lũng Mường Thanh, bên bờ sông Nậm Rốm, trên các trục đường đi tx Sơn La, Lai Châu và sang Lào. Thung lũng dài 18km, rộng 6-8km; cánh đồng Mường Thanh rộng l0.000ha, một vựa lúa lớn ở vùng tây bắc VN. 12.1888 Pháp chiếm Lai Châu, 1891 đặt làm Đạo quan binh thứ tư, đặt ĐBP thành đại lí trực thuộc. Năm 1939 xây dựng sân bay Mường Thanh. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), ĐBP là nơi tập trung lực lượng lớn quân Pháp ở Bắc Bộ. 20.11.1953. thực hiện kế hoạch Nava, quân Pháp nhảy dù xuống ĐBP, xây dựng thành tập đoàn cứ điểm vững chắc. 7.5.1954, sau 55 ngày đêm chiến đấu ác liệt, các đơn vị QĐND VN đã tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, bắt sống tướng Đờ Caxtơri cùng 16.200 quân Pháp, góp phần quyết định buộc Pháp kí hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam.

        ĐIỆN HẢI, thành nhỏ trên bờ tây (tả ngạn) Sông Hàn, nay thuộc địa phận phường Thạnh Thang, q. Hải Châu, tp Đà Nắng. Nguyên là đài ĐH xây dựng từ 1813. Năm 1823 dời sâu vào đất liền, cách vị trí cũ khoảng 600m về phía nam, xây kiên cố cao 12m, bố trí 7 đại bác và có kì đài. 1853 đổi gọi là thành. 1847 xây lại bằng gạch theo kiểu vôbăng, hình vuông có 4 góc lồi, chu vi 460m, cao 5m, phía ngoài có hào sâu 3m, mở ba cửa, bố trí 30 đại bác. Một trong hai vị trí đầu tiên bị liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh chiếm khi đổ bộ lên Đà Nẵng 1.9.1858 mở đầu cuộc xâm lược VN. Hiện còn di tích ở Đà Nẵng.

        ĐIỆN MẬT. điện báo ghi những nội dung mật về lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy được mã hóa (bằng kĩ thuật mật mã, mật ngữ chỉ huy) để truyền đạt bằng các phương tiện thông tin (vô tuyến điện, hữu tuyến điện...). ĐM được lưu trữ và bảo quản chặt chẽ theo chế độ bí mật thông tin liên lạc. Có ĐM: đi, đến, chung, riêng. ĐM do sĩ quan được ủy quyền soạn thảo, thủ trưởng đơn vị phê duyệt.

        ĐIỆP BÁO, loại tình báo quân sự được tiến hành bằng các nhân viên được tuyển chọn và huấn luyện đặc biệt do người chỉ huy và cơ quan tham mưu cấp chiến lược, chiến dịch tổ chức và chỉ đạo thực hiện trong thời bình và thời chiến. Nhiệm vụ chủ yếu của ĐB: thu thập, khai thác, nghiên cứu tin tức về tình hình chính trị - xã hội, kinh tế - QS, khả năng động viên của đối phương để phục vụ cho việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. ĐB được tiến hành trong thời bình và thường được tăng cường trong thời kì có biểu hiện sẽ xảy ra chiến tranh và trong quá trình chiến tranh. ĐB xuất hiện trước công nguyên. Trong CTTG-I, CTTG-II, được các bên tham chiến sử dụng rộng rãi. Ở nhiều nước ĐB được phát triển nhanh chóng dựa trên cơ sở sử dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật hiện đại. Ở VN, trong nhiều cuộc chiến tranh, nhất là KCCP và KCCM, ĐB giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

        ĐIÊU DIÊU (cổ), thành của quân Minh, hiện còn dấu vết ở xã Gia Thụy, h. Gia Lâm, Hà Nội. Nơi diễn ra các trận đánh giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân Minh. 13.1.1427 nghĩa quân chiếm thành, chỉ huy thành Trương Lân, Trần Vân ra hàng.

        ĐIỀU CHỈNH HÀNH QUÂN, tổng thể biện pháp bảo đảm cho bộ đội hành quân đúng hướng (đường), đúng tốc độ quy định, đến đích đúng thời gian, sử dụng hợp lí và khai thác tối đa khả năng của đường sá. Những biện pháp chủ yếu gồm: quy định tuyến xuất phát và tuyến điều chỉnh; tổ chức các trạm, đội điều chỉnh; làm bảng chỉ dẫn trên đường hành quân.

        ĐIỀU DƯỠNG PHỤC HỔI CHỨC NĂNG, phương pháp điều trị bằng nuôi dưỡng, tập luyện để khôi phục hoạt động chức năng của các hệ thống, bộ phận cơ thể người bệnh. Được áp dụng sau giai đoạn điều trị bệnh cấp tính hoặc cho những người bị bệnh mạn tính, bệnh nghề nghiệp chưa cần vảo điều trị tại bệnh viện. Trong QĐ, ĐDPHCN được thực hiện kết hợp với nghỉ ngơi và tiến hành các biện pháp điều trị khác tại các bệnh viện, đoàn an dưỡng...

        ĐIỀU ĐỘNG, biện pháp của người chỉ huy chuyển lực lượng sang địa bàn khác hoặc sang đơn vị khác, theo quyền hạn để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Có ĐĐ: tổ chức, quân số, trang bị - vật chất... Khi ĐĐ phải căn cứ vào yêu cầu tác chiến, xây dựng và các điều kiện tình hình thực tế để quyết định.

        ĐIỂU KHIỂN HỌC QUÂN SỰ, khoa học về các quy luật điều khiển được ứng dụng trong QS, nghiên cứu các quy luật về chỉ huy QĐ và điều khiển các phương tiện chiến đấu. Đối tượng nghiên cứu ĐKHQS: các hệ thống tự động hóa chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí. Cơ sở lí thuyết ĐKHQS: lí luận nghệ thuật QS, lí thuyết vận trù học, lí thuyết tự động hóa chỉ huy, thuật toán về các bài toán QS và lí thuyết thông tin. Mục đích ĐKHQS: xây dụng một cơ cấu tổng hợp và ứng dụng các hệ thống tự động hóa nhằm nâng cao tối đa hiệu quả các hành động QS trong xây dựng tổ chức LLVT, bố trí phòng thủ, tiến hành chiến tranh, xây dựng tiềm lực kinh tế - quốc phòng, phát triển KTQS, mô phỏng chiến tranh, chiến dịch và trận đánh.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:42:37 PM

        ĐIỀU KHIỂN XA MÁY (CỤM, TRẠM) VÔ TUYẾN ĐIỆN, sử dụng các đường truyền vô tuyến điện sóng cực ngắn, tiếp sức, hữu tuyến điện để điều khiển các máy (cụm, trạm) vô tuyến điện ở ngoài khu vực SCH, nhằm bảo đảm an toàn cho người và bí mật SCH. Để bảo đảm tính vững chắc khi thực hiện ĐKXM(C,T)VTĐ sóng ngắn thường sử dụng kết hợp đường truyền tiếp sức và cáp.

        ĐIỀU KIỆN BẢNG BẮN nh ĐIỂU KIỆN BẮN CHUẨN

        ĐIỀU KIỆN BẮN CHUẨN, tập hợp những điều kiện chuẩn cho trước dùng khi tính toán lập bảng bắn. ĐKBC tương ứng với các giá trị trung bình thống kê của tất cả các tham số, đặc tính của súng pháo, đạn dược và điều kiện có ảnh hưởng tới đường đạn. Gồm có: điều kiện khí tượng chuẩn pháo binh, điều kiện đo đạc chuẩn, điều kiện đường đạn chuẩn... Khi thực hành bắn, nếu điều kiện bắn thực tế khác với ĐKBC thì phải tính lượng sửa bắn. Cg điều kiện bảng bắn.

        ĐIỀU KIỆN KHÍ TƯỢNG CHUẨN PHÁO BINH, thành phần của điều kiện bắn chuẩn tập hợp những giá trị trung bình (theo thống kê) của các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng tới đường đạn dùng khi thành lập bảng bắn. Gồm: tốc độ gió ở mọi độ cao bằng 0; áp suất khí quyển trên mặt phẳng ngang của miệng nòng (đặt trên mặt đất ở độ cao tuyệt đối nhỏ hơn 250m) là 750mm cột thủy ngân, nhiệt độ không khí 15°C; độ ẩm tương đối của không khí 50%; mật độ không khí l,205kg/m3; nhiệt độ ẩn (ảo) của không khí (nhiệt độ mà không khí khô cần có sao cho mật độ của nó bằng mật độ của không khí ẩm ở cùng một áp suất) 15,9°c và phân bố trong khí quyển của nó theo độ cao tuân theo quy luật chuẩn của pháo binh.

        ĐIỀU KIỆN KHỞI NGHĨA, những nhân tố cần thiết để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi. Theo Lênin, có ba điều kiện: có giai cấp tiên phong lãnh đạo; có cao trào CM của nhân dân; có được bước ngoặt trong lịch sử của cuộc CM đang lên (khí thế cùa quần chúng lên cao, đối phương và lực lượng trung gian hoang mang dao động). Vận dụng vào thực tiễn VN, chú tịch Hồ Chí Minh nêu cụ thể ba điều kiện đó lả: lực lượng đế quốc thống trị lung lay bối rối; có cao trào CM trong quảng đại quần chúng; có chính đảng CM với đường lối khởi nghĩa đúng.

        ĐIỀU KIỆN QUAN SÁT, toàn bộ các yếu tố ảnh hường tới việc quan sát của một vị trí quan sát (đài quan sát, vọng quan sát, đài rađa...). ĐKQS có thể bị hạn chế bởi địa hình, địa vật và thời tiết, thời gian (ngày, đêm). Mức độ ảnh hưởng của ĐKQS phụ thuộc vào tính năng của các phương tiện quan sát (trinh sát) được sử dụng (bằng mắt thường, khí tài quang học, khí tài điện tử) và phương pháp quan sát (trinh sát)... Đối với đài rađa, ảnh hưởng của địa hình, địa vật được vẽ trên sơ đồ góc che khuất.

        ĐIỀU LỆ, văn bản quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của một đoàn thể, một ngành chuyên môn nghiệp vụ của QĐ, nhà nước. Đối với văn bản quản lí hành chính nhà nước, ĐL được ban hành kèm theo nghị định, quyết định của cấp có thẩm quyền. Trong QĐND VN. ĐL ban hành kèm theo quyết định của bộ trưởng BQP. nhằm quy định và hướng dẫn những vấn đề về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động của người chi huy, cơ quan, ngành chuyên môn nghiệp vụ trong một số mặt công tác để xây dựng QĐ chính quy. Có ĐL: công tác tham mưu, công tác chính trị, công tác hậu cần, công tác kĩ thuật, công tác nhà trường...

        “ĐIỀU LỆ CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, điều lệ do Đảng ủy QS trung ương ban hành, nhằm giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, phát huy truyền thống cách mạng của QĐ. thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, hoàn thành chức năng: đội quân chiến đấu, dội quân công tác, đội quân lao dộng sản xuất, xây dựng QĐ chính quy, thiện chiến, tùng bước hiện đại. Được ban hành theo quyết định số 284/QĐ-ĐUQSTƯ ngày 24.12.2003, có 7 chương và 42 điều. Nội dung gồm: những vấn đề cơ bản của CTĐ.CTCT; tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong QĐND VN; cơ quan chính trị; cán bộ chính trị; các tổ chức quần chúng và tổ chức hội đồng quân nhân; bảo đảm ngân sách và trang bị, vật tư CTĐ.CTCT.

        “ĐIỀU LỆ CÔNG TÁC HẬU CẨN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, điều lệ do BQP ban hành, nhằm đưa công tác hậu cần QĐ vào nề nếp thống nhất, chính quy. đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Ban hành theo quyết định số 172/QĐ-BQP ngày 9.2.1999 của bộ trưởng BQP, có 11 chương và 93 điểu. Nội dung gồm: quy định chung về nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của công tác hậu cần QĐ; hệ thống tổ chức ngành hậu cần, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của cơ quan hậu cần: tổ chức bảo đảm hậu cấn; quản lí hậu cần: xây dựng ngành hậu cần; các trạng thái sẵn sàng chiến đấu và động viên lực lượng dự bị hậu cần bảo đảm cho tác chiến: nhiệm vụ. nguyên tắc, tổ chức, chỉ huy và bảo đảm hậu cần trong tác chiến; khen thưởng và xử lí vi phạm kì luật trong công tác hậu cần.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:44:11 PM

        “ĐIỀU LỆ CÔNG TÁC KĨ THUẬT QUÂN ĐỘI NHÂN HÂN VIỆT NAM”, điểu lệ do BQP ban hành, nhằm đưa công tác kĩ thuật QĐ vào nề nếp thống nhất, chính quy, đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Ban hành theo quyết định số 213/QĐ-BQP ngày 1.3.1996 của bộ trường BQP. có 11 chương và 155 điều. Nội dung gồm: những quy định chung về nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của công tác kĩ thuật QĐ; hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyển hạn; bảo đảm trang bị; bảo đảm kĩ thuật; huấn luyện kĩ thuật; hoạt động khoa học, công nghệ, môi trường và thông tin khoa học kĩ thuật QS: quản lí kĩ thuật: vật tư và ngân sách kĩ thuật; công tác an toàn lao động và thanh tra công tác kĩ thuật; động viên kĩ thuật; công tác kĩ thuật bảo đảm chiến dấu.

        “ĐIỀU LỆ CÔNG TÁC THAM MƯU TÁC CHIẾN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, điểu lệ do BQP ban hành, nhằm hướng dẫn người chỉ huy, cơ quan trong việc tổ chức, điểu hành mọi hoạt động tác chiến và xây dựng QĐ chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Được ban hành theo quyết định số 2272/QĐ-BQP ngày 17.10.2002 của bộ trưởng BQP, có 4 chương. 220 điều. Nội dung chính gồm những quy định về: vị trí nhiệm vụ, mối quan hệ của cơ quan tham mưu binh chủng hợp thành, các cơ quan quân chủng, binh chủng, ngành trong tác chiến; nội dung, phương pháp công tác tham mưu tác chiến; công tác tham mưu tác chiến khu vực phòng thủ địa phương; văn kiện tác chiến.

        “ĐIỀU LỆ CÔNG TÁC TÀI CHÍNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, điều lệ do BQP ban hành, nhằm tăng cường công tác quản lí tài chính, quản lí và sử dụng kinh phí, tiền vốn, tài sản của nhà nước và QĐ. Được ban hành theo quyết định số 363/QĐ-QP ngày 21.3.1997 của bộ trưởng BQP, gồm những quy định về: nhiệm vụ chủ yếu và nguyên tắc hoạt động của công tác tài chính QĐ; nhiệm vụ và quyền hạn của người chỉ huy, chủ nhiệm các cơ quan nghiệp vụ, thủ trưởng và nhân viên cơ quan tài chính các cấp, quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng về công tác tài chính; lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; quản lí tài chính tại các đơn vị; kế toán - thống kê và thanh toán tài chính; thanh tra, kiểm tra và kiểm toán tài chính: xây dựng ngành tài chính: khen thường và xử lí vi phạm ki luật trong công tác tài chính.

        ĐIỀU LỆNH. văn kiện quân sự có tính pháp quy do BQP ban hành, quy định nhũng điều cụ thể bắt buộc mọi quân nhân phải chấp hành, nhằm đưa mọi hoạt động của ỌĐ vào nền nếp chính quy: thuộc văn kiện điều lệnh, điều lệ. Có ĐL chiến đấu và ĐL chung. ĐL chiến đấu quy định những vấn đề cơ bản trong tác chiến ở quy mô trận chiến đấu và chiến dịch của các phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn (các nguyên tắc tác chiến, chi huy; thứ tự và nội dung công việc của các cấp trong các giai đoạn: chuẩn bị chiến đấu. thực hành chiến đấu. sau chiến đấu...); gồm: ĐL chiến đấu của bộ đội binh chủng hợp thành. ĐL chiến đấu của các binh chủng trong lục quân. ĐL chiến đấu của các quân chủng phòng không, không quân, hải quân... ĐL chung quy định nhũng vấn đề cơ bản trong quan hệ nội bộ QĐ (chức trách quân nhân, quan hệ giữa các quân nhân, nền nếp sinh hoạt và quản lí bộ đội, khen thưởng, xử phạt...), các nghi thức QS, việc tổ chức, thực hành đóng quân, trú quân, hành quân...; gồm: ĐL quản lí bộ đội, ĐL đội ngũ, ĐL đóng quân và canh phòng...

        ĐIỀU LỆNH QUẢN LÍ BỘ ĐỘI. điều lệnh được ban hành để tổ chức và điều hành hoạt động của QĐ theo những mục tiêu yêu cầu nhất định; bảo đảm sự thống nhất trong toàn quân. ĐLQLBĐ quy định nhũng vấn đề chung nhất có tính nguyên tắc trong lĩnh vực xây dựng và hoạt động của QĐ chính quy như: chức trách và các mối quan hệ, lễ tiết tác phong quân nhân, chế độ học tập, sinh hoạt, công tác; các vấn đề về đóng quân, quản lí quân nhân, trang bị, vật tư, tài sản, tài chính, khen thưởng, xử phạt, khiếu nại. tố cáo...


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:45:45 PM

        ĐIỀU TRA, thu thập tình hình, tin tức, tài liệu, số liệu phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng, địa bàn để phục vụ cho công tác nắm tình hình về an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội. ĐT được tiến hành dưới các hình thức công khai hoặc bí mật, bằng biện pháp trực tiếp hoặc gián tiếp... ĐT bí mật được tiến hành nhằm làm rõ bản chất, tìm ra sự thật đối tượng cần ĐT một cách khách quan để có quyết định xử lí phù hợp phục vụ đấu tranh chuyên án; thu thập tin tức, tài liệu, chứng cứ về các hoạt động của bọn tình báo, gián điệp, phản động xàm phạm an ninh quốc gia và hoạt động của bọn tội phạm khác xàm phạm trật tự an toàn xã hội; chủ động có kế hoạch phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động của chúng; đấu tranh còng khai trực diện với đối tượng và phục vụ cho công tác điều tra tố tụng, khởi tố trước pháp luật. ĐT bí mật của trinh sát biên phòng gồm: sử dụng mạng lưới mật của công tác phản gián và tình báo biên phòng; sử dụng các thủ đoạn nghiệp vụ khác: bí mật bắt, ghi âm chụp ảnh đối tượng, trinh sát liên hoàn, trinh sát ngoại tuyến, các thủ đoạn nghiệp vụ. ĐT công khai được tiến hành theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự, nhằm làm rõ bản chất, tìm ra sự thật đối tượng ĐT bằng các biện pháp và hình thức công khai một cách khách quan, toàn diện để quyết định đối sách xử lí và giải quyết đúng pháp luật. Các biện pháp và hình thức ĐT công khai: khám nghiệm hiện trường, xét hỏi, lấy lời khai người làm chúng, giám định pháp y, giám định kĩ thuật, phát động quần chúng tố giác, kiểm soát hành chính...

        ĐIỀU TRA HÌNH SỰ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. hệ thống tổ chức và hoạt động điểu tra hình sự trong QĐ theo quy định của pháp luật. Lực lượng gồm: cơ quan điều tra hình sự, cơ quan an ninh QĐ. cơ quan điều tra của Viện kiểm sát QS và một số cơ quan, đơn vị khác được giao nhiệm vụ điều tra theo luật định. Theo phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn các lực lượng điều tra có sự phàn công, phân cấp phối hợp chặt chẽ với nhau và chịu sự giám sát của Viện kiểm sát QS. Được áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội; lập hồ sơ, đề nghị truy tố. tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các tổ chức hữu quan khắc phục, ngăn ngừa.

        ĐIỀU TRA NGUỔN LỰC DOANH TRẠI, nội dung công tác bảo đảm doanh trại nhằm đánh giá số lượng và chất lượng doanh trại hiện có, xác định nguồn cung cấp bảo đảm (nhà nước, tự sản xuất của QĐ, khai thác từ nước ngoài và chiến lợi phẩm) để tạo thế chủ động trong việc khai thác và bảo đảm doanh trại.

        ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG, mặt công tác nghiệp vụ của ngành quân y, thể hiện tính thống nhất điều trị và dự phòng để sớm phát hiện bệnh, điều trị kịp thời phục hồi chức năng, đảm bảo sức khỏe cho bộ đội chiến đấu, lao động và công tác. ĐTDP gồm các nội dung cơ bản: công tác khám nhận tân binh (khám tuyển sinh QS); công tác quản lí sức khỏe quân nhân, phòng ngừa tai nạn; công tác cấp cứu điều trị tại đơn vị (đại đội, tiểu đoàn), tại bệnh xá (trung đoàn, sư đoàn) và bệnh viện; công tác giám định y khoa: thương tật, bệnh tật, bệnh nghề nghiệp; công tác điều dưỡng phục hồi chức năng cho thương binh, bệnh binh giai đoạn sau bệnh viện.

        ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ, gọi chung các văn kiện pháp lí quốc tế do các chủ thể của công pháp quốc tế kí nhằm quy định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quốc tế; nguồn cơ bản của luật quốc tế. Hình thức của ĐƯQT: hiệp ước, hiệp định, công ước, hiến chương, tạm ước... Căn cứ vào chủ thể tham gia, ĐƯQT có các loại: hai bên và nhiều bên; chung và khu vực; mở (các nước có thể tham gia khi thấy cần thiết) và đóng (chỉ có của các nước tham gia soạn thảo và kí ban đầu); hợp pháp và không hợp pháp (căn cứ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế). Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT là cơ sở pháp lí quốc tế để tiến hành những vấn để liên quan đến ĐƯQT. Ở VN, 17.10.1989 HĐNN nước CHXHCN VN đã ban hành pháp lệnh về kí và thực hiện ĐƯQT. Hiến pháp nước CHXHCN VN 1992 xác định Quốc hội có quyền chấp thuận hoặc bãi bỏ các ĐƯQT đã kí hoặc tham gia theo đề nghị của chủ tịch nước; chủ tịch nước có quyền quyết định phê chuẩn hoặc tham gia ĐƯQT (trừ trường hợp cần trình quốc hội quyết định).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:48:18 PM
     
        ĐIỂU VĂN CẢI (1949-69), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Dân tộc Chơ Ro, quê xã Túc Trưng, h. Định Quán, t. Đồng Nai; tham gia CM 1965; đv ĐCS VN; khi hi sinh là xã đội trưởng xã Túc Trưng. Trong KCCM, diệt 84 địch (có 69 Mĩ), phá hủy 2 xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay trực thăng. 1968 chỉ huy du kích xã đánh lui một tiểu đoàn Mĩ càn vào căn cứ, diệt 31 địch; ba lần cải trang lọt vào ấp chiến lược giữa ban ngày, diệt 24 địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66399730_449530792443473_424169535633883136_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnmV66B1QRbFJavW-_2ZIc_6RnErI9Ol_6EIHGa-SuskQsIbaGBmE80N4JAik0-5vo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=b531986bf9ab0ef445256ec095d94394&oe=5DAD06DA)


        ĐINH BANH (s. 1942), Ah LLVTND (1973). Dân tộc Giẻ Triêng, quê xã Sơn Thành, h. Sơn Hà, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1959, thiếu tá (1985); đv ĐCS VN (1963); khi tuyên dương Ah là đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 20 bộ đội địa phương Quảng Ngãi. Trong KCCM, 1959-73 chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 200 trận, cùng đơn vị diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, riêng ĐB diệt 54 địch, phá hủy 1 xe QS, thu 28 súng. Trận Hòn Một (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi (31.12.1965), khi đơn vị không vào được cửa mở, ĐB cùng 1 chiến sĩ đạp rào xông lên đánh sập lô cốt đầu cầu, tạo điểu kiện cho đơn vị diệt cứ điểm dịch. Trận đánh địch lấn chiếm đồi Tà Bua (Sơn Hà, Quảng Ngãi, 2.1973), ĐB chỉ huy 18 chiến sĩ vận động đánh dịch, diệt 53, thu 7 súng (ĐB diệt 7 địch). Bị thương 13 lần (có 2 lần bị thương nặng) vẫn xin ở lại đơn vị chiến đấu. Huân chương: 5 Chiến công.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66492453_449530815776804_8971593022374412288_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQn-i2ZTXY-n31A-3LVaUGYZawdIz4YZNF3ryBO6n2QYHMhb_x5KuYDQoSvsmb6p3kk&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=ad8a61129f25e906d7b36b4c3d9e62e3&oe=5DB1DDA4)


        ĐINH BỘ LĨNH (Đinh Tiên Hoàng; 924-79), người dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên nhà Đinh. Quê Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay thuộc h. Hoa Lư, t. Ninh Bình). Người mưu lược, có chí lớn, trước cảnh đất nước có loạn cát cứ, ĐBL tụ nghĩa ở động Hoa Lư và chỉ trong 2 năm (966-67) đánh bại và thu phục các sứ quân, thống nhất đất nước (x. nội chiến mười hai sứ quân, 965- 67), chấm dứt nạn cát cứ kéo dài 24 năm (944-68). Được tôn là “Vạn Thắng Vương”. 968 lên ngôi, xưng là Đinh Tiên Hoàng, đóng đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. ĐBL xây dựng QĐ theo hệ thống tổ chức chặt chẽ gồm các đạo, quần, lữ, tốt, ngũ (xt quân đội Đinh). 970 đặt niên hiệu Thái Bình, đúc tiền riêng “Thái Bình hưng bảo”, chấm dứt hoàn toàn thời kì lệ thuộc phong kiến phương Bắc. 979 ĐBL bị gian thần Đỗ Thích sát hại. Hiện còn đền thờ ở Hoa Lư.

        ĐINH CÔNG CHẤN (s. 1947), Ah LLVTND (1972). Quê xã Quảng Nham, h. Quảng Xương, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1965, thiếu tá (1988); đv ĐCS VN (1970); khi tuyên dương Ah là trung đội trưởng vận tải Đại đội 2, Tiểu đoàn 49, Đoàn 559. Năm 1968 chiến sĩ, rồi trung đội trưởng vận tải hàng bằng xe đạp thổ, đưa năng suất từ 280kg/chuyến lên 350kg/chuyến, dần dần đưa năng suất thổ trung bình của trung đội lên 415kg/người chuyến (ĐCC nhiều lần đạt 550kg/chuyến). Chiến đấu dũng cảm, diệt 10 địch, bảo vệ hàng an toàn, sẵn sàng giúp đỡ đồng đội. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66956166_449530829110136_3455309912710578176_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmNCUk-atag7pzj8Zm-Lo5-b1MhST4ZFZ04s02YbcGpLrKiBBt3O0TOc0nIM7tb4SY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=d7b90aaae2c4e4a09a3b910f31b2a550&oe=5DAE3167)


        ĐINH CÔNG TRÁNG (1842-87), người tham gia lãnh đạo chủ chốt cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-87). Quê Trình Xá. (nay thuộc xã Thanh Tân), h. Thanh Liêm, t. Hà Nam. 1885 khi vua Hàm Nghi xuống “Chiếu Cần Vương”, ĐCT chiêu mộ nghĩa binh chống Pháp ở vùng Nam Định, Ninh Bình, sau chuyển vào Thanh Hóa. 1886 cùng với dốc học Phạm Bành và tiến sĩ Tống Duy Tân xây dựng chiến lũy Ba Đình (gồm 3 làng Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa). 12.1886 ĐCT chỉ huy, 300 nghĩa quân chiến đấu 32 ngày đêm, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân Pháp vào chiến lũy Ba Đình, diệt hàng trăm địch (x. trận Ba Đình, 18.12.1886-20.1.1887). Bị quân Pháp dùng rào tre và dày thép gai vây chặt Ba Đình, cắt nguồn tiếp tế nên nghĩa quân dần dần núng thế. 1.1887 được sự hỗ trợ của nghĩa quân từ bên ngoài do Trần Xuân Soạn chỉ huy, ĐCT phá vây tiếp tục kháng Pháp. 6.10.1887 hi sinh trong chiến đấu tại làng Tang Yên (Đô Lương, Nghệ An).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:51:06 PM

        ĐINH ĐỨC THIỆN (Phan Đình Dinh; 1913-87), thứ trường BQP nước CHXHCN VN (1982-87). Quê xã Nam Vân, tp Nam Định, t. Nam Định; tham gia CM 1930, nhập ngũ 1950, thượng tướng (1986); đv ĐCS VN (1939). Hai lần bị địch bắt giam (1930 và 1940). Năm 1941 được trả tự do, tiếp tục hoạt động CM. 1944-45 tham gia Ban cán sự tỉnh, rồi bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Yên; bí thư tỉnh ủy kiêm chủ tịch tỉnh Bắc Giang; ủy viên thường vụ khu ủy Khu 1; ủy viên khu ủy Khu Việt Bắc. 1950 chuyển vào QĐ, cục trưởng Cục vận tải QS. 1955 phó chủ nhiệm TCHC. 1957 chuyển ngành, thứ trường Bộ công nghiệp kiêm giám đốc, bí thư đảng ủy Khu gang thép Thái Nguyên (1959). Năm 1965 trở lại QĐ, ủy viên Quân ủy trung ương, chủ nhiệm TCHC kiêm thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng. 1969 chủ nhiệm TCHC kiêm bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim. 1972 quyền bộ trưởng Bộ giao thông vận tải. 1974 chủ nhiệm TCHC kiêm chủ nhiệm TCKT. 3.1975 thành viên cơ quan BQP trong chiến dịch Tây Nguyên; phó tư lệnh chiến dịch Hổ Chí Minh. 1977 bộ trưởng phụ trách dầu khí, rồi bộ trưởng Bộ giao thông vận tải. 1982-87 thứ trưởng BQP. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa IV (dự khuyết khóa III). Huân chương: Hổ Chí Minh. Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66783359_449530835776802_3226846901290663936_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_oc=AQk3NzCiMNYaha9ioQ2HX_oDBi-JqpsWSFqlyAGH6_7lwjk9Sna0mEBtN3V6zx_CnsE&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=43655a8a2b115fbb443177171714c0a4&oe=5DB14CF5)


        ĐINH LỄ (Lê Lề; 7-1427), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, cháu gọi Lê Lợi bằng cậu. Quê Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham gia khởi nghĩa từ những ngày đầu, lập nhiều công, được phong tư không và mang họ vua. 1424 cùng Lè Lợi và các danh tướng đánh bại quân Minh trong trận mai phục ở Bồ Ái (nay thuộc xã Đức Sơn, h. Anh Sơn, t. Nghệ An), bắt sống đô ti Chu Kiệt, chém tướng tiên phong đô ti Hoàng Thành. 1425 chỉ huy phục binh đánh chiếm 300 thuyền lương do đô ti Trương Hùng chỉ huy ở Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó cùng một số danh tướng khác đánh úp thành Tây Đô (Vĩnh Long, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa) diệt hơn 500 địch. 1426 tham gia chỉ huy đánh thắng trận Tốt Động - Chúc Động (5-7.11.1426) (h. Chương Mĩ, t. Hà Tây) và tiến quân bao vây thành Đông Quan (Hà Nội). 1427 bị quân Minh bắt trong trận Mi Động (Hoàng Mai, Hà Nội) và bị giết.

        ĐINH LIỆT (Lê Liệt; 7-1471), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, đại thần dưới bốn đời vua nhà Hậu Lê. Quê Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, h. Thọ Xuân, t. Thanh Hóa). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu. 1424 khi Lê Lợi tiến quân vào Nghệ An, ĐL được cử dẫn quân đi trước, đánh vùng Đỏ Gia và thành Lục Niên. 1427 tham gia chỉ huy trận Chi Lăng (x. trận Chi Lăng - Xương Giang, 1427). Năm 1434 chỉ huy các đạo quân ở Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa, dẹp nguy cơ xâm lấn của Chiêm Thành, ổn định miền biên ải. 1444-48 do có kẻ gièm pha, ĐL bị bắt giam. 1460 cùng Nguyễn Xí chủ xướng phế Nghi Dân. người giết Lê Nhân Tông tiếm ngôi vua, tôn Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi (Lê Thánh Tông), được phong nhập nội thái phó, tước Lân Quận Công. 1470, cùng Lê Niệm theo Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt vua Chiêm là Trà Toàn. Được ban quốc tính (mang họ vua), từng giữ chức thái sư phụ chính (tể tướng) nhiều năm dưới đời Lê Thánh Tông.

        ĐINH NGỌC LIÊN (1911-91), nhạc trưởng, người chỉ huy đầu tiên Đoàn quân nhạc VN (8.1945), Nghệ sĩ nhân dân đầu tiên của QĐND VN (1988). Quê xã Xuân Phương, h. Xuân Trường, t. Nam Định; nhập ngũ 1945, trung tá (1974); đv ĐCS VN (1960). Trước CM tháng Tám (1945) quản kèn lính khố xanh. Sau CM tháng Tám, 1945-54 chỉ huy Ban âm nhạc Giải phóng quân, Ban âm nhạc Vệ quốc quân, Đoàn nhạc binh trung ương. 1955 đoàn trưởng Đoàn quân nhạc thuộc Tổng cục quân huấn (sau thuộc BTL Quân khu Thủ Đô). Gần 40 năm là nhạc trường, chỉ huy dàn nhạc của QĐ, ĐNL đã hoà âm, phối khí hàng trăm ca khúc, tiêu biểu là; “Tiến quân ca” (quốc ca), “Chiến sĩ ca”, “Du kích ca”, “Diệt phát xít”, “Cùng nhau đi hồng binh”... Soạn các tác phẩm: “Hành khúc tang lễ” (bản trống vĩnh biệt chủ tịch Hồ Chí Minh, 1969), “Xuân chiến tháng”, “Hành khúc chiến thắng”... và chỉ huy dàn quân nhạc trong những ngày lễ trọng đại của dân tộc như: ngày tuyên ngôn độc lập (2.9.1945), ngày giải phóng thủ đô (10.10), quốc tang chủ tịch Hồ Chí Minh... ĐNL là một trong những hội viên đầu tiên của Hội nhạc sĩ VN. Huân chương: Quán công hạng ba. 2 Kháng chiến hạng nhất, Chiến công hạng nhất, Lao động hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66276785_449530849110134_6649689459698696192_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmVAgHs66Vp0bPD6kdbRF5OWInvXaYKeIx8zO1YE41x20Shia2o4TKp1eI3ec7ZeM0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=09fac512ddbed2980a3cdffb28d05dbd&oe=5DBF6393)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:56:58 PM

        ĐINH NÚP (1914-99), Ah LLVTND (1955). Dân tộc Bana, quê xã Tơ Tung, h. K’Bang, t. Gia Lai; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là thôn đội trường. 1935 quân Pháp về lùng bắt phu, dân làng trốn vào rừng, ĐN ở lại dùng nỏ bắn chết một quân Pháp. 1945 tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở địa phương. Trong KCCP, 1947-49 vận động nhân dân 5 lần thay đổi chỗ ở, phát triển sản xuất phục vụ kháng chiến; tổ chức du kích, xây làng chiến đấu, làm tên nỏ, chông mìn cạm bẫy, diệt 80 địch, bảo vệ buôn làng. 10.1952 chi huy trung đội du kích, 7 ngày đêm liên tục luồn rừng chiến đấu chống lại cuộc càn cùa một trung đoàn, diệt nhiều địch. Chủ tịch Mặt trận tổ quốc tỉnh Gia Lai - Kon Tum (1976). Đại biểu Quốc hội, ủy viên HĐNN khóa VI. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66507529_449530869110132_1636048709147951104_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQm0-CWX9TW82vfk9aRmAHwermFBTezafrsZqeB9NOlUyjgitwu46RUsajmB1cDyYwQ&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=eb604927723877cf67fe0daa8bb1c85f&oe=5DB3A848)


        ĐINH RUỐI (1941-67), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Dân tộc Giẻ Triêng, quê xã An Quang, h. An Lão, t. Bình Định; khi hi sinh là trung đội phó du kích xã An Quang. Trong KCCM, 1961-67 chỉ huy du kích xã xây làng chiến đấu, chống càn, diệt hơn 100 địch, ĐR diệt 55 (có 48 Mĩ). 23.9.1967 chỉ huy một tổ du kích chổng cuộc càn của một tiểu đoàn Mĩ và một đại đội biệt kích QĐ Sài Gòn vào xã An Mĩ, diệt 40 địch (ĐR diệt 18). Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66591955_449530875776798_6961084037586747392_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQmALCiww3TvcHL9UORfEeiTSIrHdgJLjoV6t_2BJdAYuSC1pwvLUm-ko8jQkYxVTJE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2a9a946749941c4846fd4940231c617d&oe=5DC1A88D)


        ĐINH THỊ VÂN (1916-95), Ah LLVTND (1970). Quê xã Xuân Thành, h. Xuân Trường, t. Nam Định; nhập ngũ 1954, đại tá (1990); đv ĐCS VN (1946); khi tuyên dương Ah là thiếu tá tình báo. Trong KCCP, hội trưởng phụ nữ huyện và tỉnh, cán bộ có năng lực vận động, tổ chức quần chúng giỏi. 1954 được điều sang ngành tình báo và được cử đi hoạt động xa trong vùng địch tạm chiếm. Trước khi đi làm nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, ĐTV đã tìm cách thuyết phục gia đình và cưới vợ cho chồng. 1954-70 hoạt động tình báo tại Sài Gòn, có công xây dựng nhiều cơ sở mật trong thành phố và trong hàng ngũ QĐ Sài Gòn, thu thập nhiều tin tức có giá trị về hoạt động QS của địch. Bị địch bắt nhiều lần, tra tấn dã man, vẫn kiên trung bất khuất, khôn khéo đấu tranh buộc địch phái trả tự do và tiếp tục hoạt động. Mạng lưới tình báo do ĐTV tổ chức và chỉ huy hoạt động liên tục, nhiều người lập công xuất sắc. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66585070_449530889110130_6493140422905298944_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlps7aEKi4JkjRQbDlFXg_fU-dWTSN0kUNUUSq-Q6fOzRj0hc3egQ5XD5CyFyjJN9c&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=57a86b224f906c11be9b60654158af6a&oe=5DC1C62B)


        ĐINH TÍA (s. 1943), Ah LLVTND (1969). Dân tộc Hrê, quê xã Sơn Thành, h. Sơn Hà, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1959, đại úy (1982); đv ĐCS VN (1964); khi tuyên dương Ah là trung đội phó thông tin liên lạc, Đại đội 14, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi. 1959 tham gia chống càn ở Sơn Bao, hướng dẫn đồng đội làm chông, bẫy, dùng cung tên đánh địch. 1960 hoạt động tại vùng Hà Thành; sau khi đánh vào ấp chiến lược, trên đường nít bị địch phục kích và bị thương cụt 1 tay. 1962-69 phụ trách giao thông liên lạc 6 huyện miền núi thuộc t. Quảng Ngãi, tự tìm 150 đường vòng tránh qua ấp chiến lược, đồn bốt, nơi địch phục kích và rừng núi hiểm trở... chuyển 3.780 bì công văn tài liệu đến nơi quy định, đầy đủ kịp thời... Huân chương: Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66681916_449572935772592_2023027276857212928_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQnjbqGljnQ04IRUcN2oNUfqepultq3SpyZLs0jPRX88uGe1csWuPwoPvQ-hbZEret0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=4128a0e9bd20744e64bb6449b6efa43f&oe=5DB8DDD4)


        ĐINH TIÊN HOÀNG nh ĐINH BỘ LĨNH

        ĐINH VĂN HÒE (1950-72), Ah LLVTND (truy tặng 1973). Quê xã Xuân Hải, h. Nghi Xuân, t. Hà Tĩnh: nhập ngũ 1968; đv ĐCS VN (1972); khi hi sinh là trung sĩ, trung đội phó thuộc Đại đội bộ binh cơ giới 2, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn 202, BTL tăng thiết giáp. 1969-71 chiến sĩ súng máy 12,7mm thuộc Sư đoàn 304, chiến đấu ở Quảng Trị, diệt 75 địch, bắn rơi 2 máy bay. 10.1971 chuyển sang đơn vị bộ binh cơ giới, chỉ huy khẩu đội súng máy trên xe bọc thép. 28.4.1972 ĐVH bắn rơi 2 máy bay trực thăng. 24.5.1972 khi tiến công địch ở Hải Lăng, xe bọc thép bị sa lẩy, ĐVH linh hoạt dùng súng B-41 bắn cháy 1 xe tăng, dùng súng 14,5mm bắn rơi 1 máy bay trực thăng, dùng lựu đạn khói ngụy trang để tổ chức cứu kéo xe. 26.5.1972 chỉ huy xe xông vào đội hình địch, dùng lựu đạn, tiểu liên diệt nhiều địch và hi sinh. Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66285575_449572942439258_779071251762118656_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQmSDlgraPpag8iiE0F4PN0byi8kDoQQU55N1REHolatx9Q0LZl2dxbV3UmdEt4wIPE&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=df6c9d0699c32444e031739713ae5ef6&oe=5D796E8F)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 07:58:50 PM

        ĐINH VĂN TUY (Lê Cảnh; 1922-90), tư lệnh Bộ đội biên phòng (1981-90). Quê xã Chí Hoà, h. Hưng Hà. t. Thái Bình: tham gia CM 1945, nhập ngũ 1946, trung tướng (1984): đv ĐCS VN (1947). Tháng 8.1945-46 trung đội phó tự vệ thành Hà Nội; trung đội phó Vệ quốc đoàn. 7.1947-54 giữ các chức vụ từ cán sự huyện đội đến tỉnh đội trưởng t. Hà Đông; trung đoàn trưởng Trung đoàn 254 Sư đoàn 350. Tháng 7.1955 phụ trách bộ phận cố vấn VN ở Phongxalì (Lào). 6.1960 chỉ huy trưởng công an nhân dân vũ trang Khu Tây Bắc. 1963 cán bộ Cục tham mưu BTL công an nhân dân vũ trang. 1966 chỉ huy trường công an nhân dân vũ trang, rồi trưởng ti, kiêm chính ủy công an nhân dân vũ trang tỉnh Nghệ An. 10.1971-74 cục phó Cục tham mưu; phó chính ủy, chính ủy BTL công an nhân dân vũ trang. 1981-90 tư lệnh Bộ đội biên phòng. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng nhì). Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến thắng hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66521739_449572949105924_3153908430935162880_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQkZ5NMkacqR1JpZxT5Wy5A5tN_jEUFdQIIULsd3JDQz1ifBXRKOCqA9V_LAjWx_WwA&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=c8e8a140d68b6bdec15d9ebe79a67a50&oe=5DC4ACF7)


        ĐÌNH CHIẾN, ngừng tạm thời hoặc ngừng hẳn mọi hoạt động QS theo thỏa thuận giữa các bên tham chiến. Có ĐC toàn bộ và cục bộ. ĐC toàn bộ được thực hiện trên khắp các mặt trận, do các bén tham chiến hoặc thông qua hội nghị quốc tế kí kết hiệp định đình chiến. ĐC cục bộ được thi hành ở từng khu vực, theo một thời hạn nhất định, do các bên thỏa thuận, thường là những cuộc ngừng bắn (ngừng ném bom) để tạo thuận lợi cho các giải pháp hòa bình hoặc những hoạt động có tính chất nhân đạo.

        ĐỊNH HẢI, căn cứ hải quân TQ trên bờ tây nam đảo Định Hải (đảo lớn nhất trong quần đảo Châu Sơn), t. Chiết Giang. Vị trí: 30° vĩ bắc, 122°05’ kinh đông, đông tp Hàng Châu 190km, nam tp Thượng Hải 140km. Diện tích mặt nước trên llkm2, chiều dài chính diện trên 2km, độ sâu cầu tàu 7m, cho phép các tàu khu trục cập bến. ĐH là căn cứ của 2 lữ tàu tuần tiễu thuộc Hạm đội Đông Hải; có xưởng sửa chữa các loại tàu tuần tiễu.

        ĐỊNH HƯỚNG BẢN ĐỒ, đặt bản đồ trên thực địa sao cho hướng của bản đồ trùng với hướng thực địa. Dùng để đối chiếu các địa vật trên bản đồ với thực địa, xác định vị trí các mục tiêu. Có ba phương pháp ĐHBĐ: bằng địa bàn. dựa vào địa vật hình tuyến, dựa vào đường phương hướng giữa hai địa vật.

        ĐỊNH HƯỚNG ĐIỆN TỬ, xác định hướng tới các phương tiện điện tử đang làm việc của đối phương bằng máy định hướng vô tuyến điện hoặc các phương tiện chuyên dụng khác. ĐHĐT có thể tiến hành từ mặt đất, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Căn cứ vào kết quả định hướng của hai, ba máy định hướng, có thể xác định vị trí của các phương tiện điện tử của đối phương theo phương pháp giao hội.

        ĐỊNH HƯỚNG TRÊN THỰC ĐỊA, xác định vị trí đứng, các địa vật và yếu tố địa hình theo đúng phương hướng trên thực địa, từ đó nhận đúng các mục tiêu và hướng vận động cần thiết. ĐHTTĐ có thể căn cứ vào bản đồ, ảnh hàng không, địa bàn, Mặt Trời, sao, địa vật.

        ĐỊNH MỨC KHAI THÁC trang bị kĩ thuật, gọi chung những chỉ tiêu giới hạn được quy định chính thức cho các chế độ khai thác trang bị kĩ thuật. Được quy định cụ thể cho từng kiểu, loại, nhóm trang bị kĩ thuật trên cơ sở lí thuyết độ tin cậy, tính năng chiến - kĩ thuật và kinh nghiệm khai thác nhằm đàm bào yêu cầu chiến đấu. sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, sinh hoạt, kế hoạch khai thác... Chủ yếu gồm: chế độ sử dụng, chế độ bảo dưỡng, chế độ cất giữ và chế độ vận chuyển. Chế độ sử dụng: lượng sử dụng (số giờ làm việc của máy móc điện tử và cơ điện, động cơ các loại; số lần bắn phóng của hỏa khí; số kilômét chạy của các loại xe chiến đấu, vận tải...; số lần đóng mờ hay chu kì công tác của thiết bị chuyên dùng...), lượng dự trữ kĩ thuật tối thiểu theo đơn vị tương ứng. Chế độ bảo dưỡng sửa chữa: chu kì bảo dưỡng, sửa chữa; định mức vật tư kĩ thuật, nhân lực, thời gian,... trong bảo dưỡng, sửa chữa (x. bảo dưỡng kĩ thuật, sửa chữa trang bị kĩ thuật quân sự). Chế độ cất giữ: thời hạn cất giữ (X. cất giữ trang bị kĩ thuật quân sự). Chế độ vận chuyển: cự li, tốc độ vận chuyển cho phép... ĐMKTtbkt được nêu trong chỉ lệnh, điều lệ, hướng dẫn nghiệp vụ và tài liệu kĩ thuật. ĐMKTtbkt phải được chấp hành nghiêm ngặt.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 08:00:24 PM

        ĐỊNH MỨC SẴN SÀNG ĐỘNG VIÊN, mức quy định làm cơ sở để kiểm tra, đánh giá kết quả chuẩn bị động viên và xếp loại trình độ sẵn sàng động viên của đơn vị và địa phương. Có ĐMSSĐV cho từng công việc: soạn thảo kế hoạch động viên; bảo đảm chuyên nghiệp QS, quân số, trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật; kiểm tra thực hành động viên; trình độ của người chỉ huy và cơ quan về nắm kế hoạch động viên và huấn luyện động viên; chuẩn bị SCH động viên, trạm tập trung nguồn động viên, trạm tiếp nhận nguồn động viên. ĐMSSĐV do BTTM ban hành.

        ĐỊNH MỨC TIÊU THỤ XĂNG DẦU, lượng xăng dầu quy định cho một xe, máy, tàu... được phép tiêu thụ trên một cự li hoặc trong một thời gian nhất định. ĐMTTXD phải căn cứ vào tính năng kĩ thuật và thực trạng kĩ thuật, điều kiện sử dụng động cơ ô tô, máy nổ, xe... (tình trạng và loại đường, vận tốc, trọng tải, thời gian...). Cách định mức phụ thuộc loại phương tiện. Vd: đối với xe ô tô, mô tô lượng nhiên liệu được tính bằng lít/100km, xe tăng, xe thiết giáp được tính bằng lít/kilômét xe chạy, hoặc lít/giờ máy nổ, tàu thủy được tính bằng lít/giờ máy nổ. Lượng dầu mỡ tiêu thụ được tính bằng một số phần trăm lượng nhiên liệu quy định. Ngoài ĐMTTXD cơ bản, còn có ĐMTTXD bổ sung tính theo phần trăm ĐMTTXD cơ bản tùy theo điều kiện sử dụng thực tế. Lượng nhiên liệu được tính bằng lít, lượng dầu mỡ được tính bằng kilôgam.

        ĐỊNH THÙY, xã thuộc h. Mỏ Cày, t. Bến Tre; đơn vị Ah LLVTND (1994). Nằm bên bờ sông Hàm Luông, đông bắc thị trấn Mỏ Cày 3km, nam tx Bến Tre 10km. Nơi mở đầu phong trào đồng khởi ở t. Bến Tre (17.1.1960). Trong KCCM, LLVTND xã độc lập chiến đấu 20 trận, diệt 300 quân, đánh chìm 11 tàu chiến địch.

        ĐỊNH TUỜNG, tình cũ ở miền Đông Nam Bộ. Thành lập năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Theo Hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862), ĐT bị cắt nhượng cho Pháp cùng với Biên Hoà và Gia Định. 12.1889 chia thành 3 tỉnh Mĩ Tho, Gò Công và Sa Đéc. 2.1976 Mĩ Tho sáp nhập với Gò Công thành t. Tiền Giang, Sa Đéc sáp nhập với t. Kiến Phong (nguyên là t. Phong Thạnh, do chính quyền Sài Gòn thành lập 2.1956 từ một số vùng thuộc các tỉnh Sa Đéc, Mĩ Tho, Long Xuyên, Châu Đốc cũ) thành t. Đồng Tháp.

        ĐỊNH ƯỚC, văn kiện pháp lí được thông qua tại một hội nghị quốc tế nhằm ghi nhận những kết quả của hội nghị, nêu ra những quy tắc, giải pháp hoặc tuyên bố về sự bảo đảm quốc tế cho việc giải quyết Xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. ĐƯ có giá trị pháp lí quốc tế (xt định ước Henxinki).

        ĐỊNH ƯỚC HENXINKI, định ước của hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu (CSCE) tại Henxinki (Phần Lan) trong phiên họp cuối cùng (10.8.1975) về việc xác định các quy tắc làm cơ sở bảo đảm an ninh, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và mở rộng quan hệ hợp tác giữa 33 nước châu Âu, Canada và Mĩ. Nội dung gồm: công nhận trên pháp lí nguyên trạng châu Âu sau CTTG-II: không nước nào được đe dọa hay trục tiếp dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của nước khác; không dùng lãnh thổ nước khác làm nơi chiếm đóng QS; các dân tộc đều có quyền quyết định chế độ chính trị, quan hệ đối ngoại của mình không có sự can thiệp của nước ngoài; các nước có quyền tham gia hay không tham gia các hiệp ước, kể cả hiệp ước liên minh hoặc trung lập... và một số vấn đề về hợp tác giữa các nước châu Âu trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, kĩ thuật, môi trường, văn hóa, nhân quyền... ĐƯH có giá trị như những điểu luật về sự cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, mờ đầu giai đoạn hòa dịu quốc tế, phát triển sự hợp tác mỗi bên cùng có lợi ở châu Âu.

        ĐỊNH ƯỚC NGA - NATO (5.1997), định ước được kí (5.1997) giữa Liên bang Nga và NATO nhằm phối hợp xây dựng nền hòa bình bền vững và toàn diện ở châu Âu - Đại Tây Dương. Nội dung chính: xác định mục tiêu và trách nhiệm của các bên trong việc hợp tác xây dựng châu Âu hòa bình, ổn định, thống nhất, tự do vì lợi ích của các dân tộc; những nguyên tắc cơ bản để thực hiện mục tiêu trên cơ sở luật pháp, các thỏa thuận quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; cơ chế và nội dung hiệp thương và hợp tác, trong đó quy định hội đồng thường trực chung là cơ cấu cơ bản với chức chủ tịch được thực hiện luân phiên giữa đại diện của Nga, tổng thư kí NATO và đại diện của một trong các thành viên NATO; các lĩnh vực hiệp thương, hợp tác như an ninh và ổn định khu vực, ngăn ngừa và giải quyết xung đột, kiến tạo hòa bình, chiến lược QS, chính sách và học thuyết QS, kiểm soát vũ khí, vũ khí hạt nhân, LLVT thông thường, công nghiệp quốc phòng, chống khủng bố và ma túy... ĐƯN- NATO tạo cơ sở cho việc xây dựng các mối quan hệ mới giữa Liên bang Nga và NATO.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 08:02:29 PM

        ĐỊNH VỊ NHIỄU, xác định vị trí nguồn nhiễu bằng thiết bị thu vô tuyến điện, nhằm phân tích, phán đoán tình hình, làm cơ sở đề ra các biện pháp chống nhiễu. Các phương pháp chủ yếu : định vị trực tiếp, giao hội phương vị nhiễu (được ứng dụng rộng rãi), định vị theo độ chênh thời gian. Xác định vị trí nguồn nhiễu chính là xác định vị trí máy bay (gây nhiễu) và bằng phương pháp giao hội có thể bắn tên lửa phòng không theo phương pháp ba điểm và có thể bổ sung tình báo rađa.

        ĐỊNH VỊ VỆ TINH GPS X. HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẨU

        ĐỊNH VỊ VÔ TUYẾN, gọi chung quá trình quan sát, phát hiện, nhận biết, xác định vị trí (tọa độ) và các tham số chuyển động... của mục tiêu bằng rađa. Để ĐVVT thường sử dụng các sóng vô tuyến (có bước sóng từ 0,1 mm đến hàng trăm mét) phản xạ hay phát xạ từ mục tiêu (cả bức xạ xung và liên tục). ĐVVT có các loại: chủ động, bán chủ động, thụ động. ĐVVT chủ động có loại trả lời thụ động (tín hiệu thu về là tín hiệu thăm dò phản xạ lại từ mục tiêu) và trả lời chủ động (tín hiệu thu về là tín hiệu phát đáp của máy phát đáp đặt trên mục tiêu khi nhận được tín hiệu thâm dò). Dùng trong đo xa, trinh sát, dẫn đường... ĐVVT bán chủ động thực hiện khi máy phát và máy thu tín hiệu phản xạ đặt trên các đối tượng khác nhau (vd: máy phát đạt trên mặt đất, máy thu đặt trên tên lửa) và được dùng chủ yếu trong tên lửa tự dẫn, bom có điều khiển... ĐVVT thụ động có tín hiệu thu về là bức xạ nhiệt, điện từ của các thiết bị đặt trên mục tiêu hoặc của thân vỏ mục tiêu khi chuyển động. Dùng trong việc xác định tọa độ của đối tượng phát xạ (vd: máy bay mang máy phát nhiễu), trong tự dẫn tên lửa, trong trinh sát, dẫn đường và định hướng vô tuyến. ĐVVT thụ động có ưu việt là giữ dược bí mật khi làm việc. ĐVVT được sử dụng rộng rãi trong QS, thiên văn, khí tượng, trong dẫn đường trên biển, trên không, trong vũ trụ...

        ĐIÔXIN (2, 3, 7, 8 tetraclorodibenzo-para-dioxin), chất độc có độc tính cao nhất trong số các chất độc tổng hợp được biết từ trước đến nay, sản phẩm phụ hình thành trong quá trình điều chế chất độc da cam, công thức cấu tạo:

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66449459_449572972439255_4181515279609626624_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmOzaR4-xIuuG0dpB30NwPUKoX5ZWh2sR_Ueg6eyihvxs1TDOTUjOls-3K-odN9zb8&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f4d93b57de23470a36a40289bd86cfde&oe=5DA73385)


        Dạng tinh thể, không màu, nhiệt độ nóng chảy 305°C, hầu như không tan trong nước, tan tốt trong một số dung môi hữu cơ. Bị phân hủy ở nhiệt độ trên 800°C hay dưới ánh sáng Mặt Trời hoặc tác động của vi sinh vật (chu kì bán rã của Đ từ 2,9- 10 năm hoặc lâu hơn). Đ xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp và tiêu hóa, tích tụ ở gan và mô mỡ (thải ra rất chậm, chủ yếu theo mật và thận). Với một lượng nhỏ Đ có thể gây nên các bệnh ngoài da hoặc phá vỡ cơ chế hoạt động của quá trình tạo máu, hệ miễn dịch và thần kinh, thậm chí gây quái thai, ung thư hoặc những biến động xấu về di truyền. Sản phẩm dùng trcng dân sự oó hàm lượng Đ được quy định là 0,lg/t. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng chất độc da cam có hàm lượng Đ cao hơn nhiều (có khi tới 27g/t).

        ĐIPHÔTGEN (DP), chất độc ngạt thở, công thức cấu tạo:

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66527631_449572995772586_1718179869805772800_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmW5fwCI0rFOloXNi68dHmZqUwvxJDYFeE5WDCIJX_a2AhR1IRUPegyh4AuaIWfRRQ&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=29c62b4d00ad74921035ed34e424f34e&oe=5DB3800F)


        Chất lỏng không màu, sánh như dầu, nhiệt độ sôi 128°C, nhiệt độ đông đặc 57°C. Không tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ. Được trộn vào các chất tạo khói thể lỏng để nạp vào đạn pháo. Trạng thái chiến đấu chủ yếu: thể khí. gây tôn thương phổi. Triệu chứng trúng độc: đường hô hấp và mắi bị kích thích, đắng miệng, chóng mặt, suy nhược cơ thể. Thời kì ủ bệnh kéo dài 4-5h. Sau đó là thời kì bộc phát: thở gấp, thở nông, ho có đờm kèm theo máu tươi; da mặt, đầu các ngón tay thâm tím vì thiếu máu do chất độc làm tổn thương các mô phổi, huyết tương choán đầy phê nang. Nồng độ từ vong 5mg/l (lph). Khí tài để phòng: mặt nạ phòng độc. Không có thuốc giải độc. Quán Đức đã sử dụng DP trong CTTG-I (1915).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 08:04:58 PM

        ĐKB, pháo phản lực mang vác một ống phóng, cỡ 122mm đạt trên giá ba chàn kiểu Grat-P do LX thiết kế, chế tạo theo yêu cầu của VN. Tên ĐKB do VN đặt. Gồm: thiết bị phóng 9P-132 nặng 55kg, dài 2.500mm; dùng đạn phản lực 9M- 22M kiểu mảnh - phá cỡ 122mm. nặng 46kg, có bán kính sát thương 170m; tốc độ bắn 1 phát/ph, tốc độ lớn nhất của đạn 560m/s; cự li bắn gần nhất 2.000m, tầm bắn 7.000m (có vòng cản) và 11.000m (không vòng cản). Được đưa vào VN và dùng rộng rãi trong KCCM để pháo kích các sân bay, căn cứ, kho tàng, cụm lực lượng đối phương. Từ mẫu này LX đã cải tiến thành DKZ-C và đã được dùng ở VN. ĐKB được quân giới VN cải tiến thành các kiểu ĐB-1, ĐB-2, ĐB-30, B20... có uy lực lớn và đã sử dụng có hiệu quả trong KCCM. Cg DKZ-66, DKZ-B.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66467451_449572982439254_6795912819586891776_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnbx3GUVkcAb8-6iCLnvfI1j7mgpL0X-OR8reGyw7wk4MSJyIP4RqEhMjtONTCgxcY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=f285a432518a4e5d80151b61a41c2ad4&oe=5DAE0CD8)


        ĐKZ X. PHÁO KHÔNG GIẬT

        ĐKZ-C (ĐKC, pháo phản lực mang vác do LX cải tiến từ mẫu ĐKB theo yêu cầu của VN. Gồm thiết bị phóng 9P-132M (năng 51kg, dài 1.250mm), dùng đạn 9M-22M1 kiểu phá mảnh (có vòng đen để phân biệt với đạn ĐKB) nặng 47,8kg. Tầm bắn 9.000m (có vòng cản) và 15.000m (không vòng cản). Pháo DKZ-C và DKZ-B có thể bắn lẫn đạn của nhau (theo chỉ dẫn riêng của bảng bắn). Được đưa vào trang bị và sử dụng ở VN trong KCCM.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66466471_449573019105917_2476010622798528512_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlmq57oDlddj6wmhFiWM9d1BnM7jeDucQI0aj9nWiDPc046tVlpQnu1H8U9YF9YSaI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6b76262e629509ea32a227abd78988c3&oe=5DA88134)


        ĐNHEP (N. Jlttenp, Ucraina: fltienpo), sông lớn ở châu Âu (dài thứ ba sau Vônga và Đanuyp). Dài 2.290km, bắt nguồn từ cao nguyên Vanđai (Nga), chảy qua các nước: Nga, Bêlarut, Ucraina, đổ ra Biển Đen. Diện tích lưu vực 504.000 km2. Ở trung lưu sông rộng 300-500m, sâu 3-5m, tốc độ nước chảy 0,5-l,5m/s. Tháng 12 nước bắt đầu đóng băng, tháng 5 băng tan. Mực nước sông được điều chỉnh bằng các đập nước của các nhà máy thủy điện. Các nhánh sông chính: Bêrêdina, Pripiati, Rôxi, Ingulet, Đexna. Tàu có thể đi lại được cách cửa
sông 1.677km. Các thành phố chính trên Đ: Xmôlenxcơ, Môghilep, Kiep, Đnheprôdecginxcơ, Dapôrôgie. Đnheprôpê- trôpxcơ, Nicôpôn, Khecxôn.

        ĐO ẢNH, bộ môn khoa học nghiên cứu các phương pháp xác định vị trí, hình dạng, kích thước địa vật theo hình ảnh nhận được trong ảnh hoặc phim chụp. Cơ sở lí thuyết của các phương pháp sử dụng trong ĐA là quan hệ phụ thuộc giữa tọa độ các điểm trên thực địa và tọa độ của chúng trên ảnh. Theo phương pháp chụp ảnh, có: ĐA vệ tinh, đo ảnh hàng không, ĐA mặt đất và ĐA số. Các phương pháp của ĐA được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như thiên văn, nghiên cứu vũ trụ. trắc địa, xây dựng, y học... Trong QS, ĐA được sử dụng trong thành lập bản đồ địa hình và bản đồ chuyên dụng, trinh sát địa hình bằng ảnh hàng không, nghiên cứu thuật phóng...

        ĐO ẢNH HÀNG KHÔNG, chuyên ngành đo ảnh nghiên cứu các phương pháp xác định vị trí, hình dáng và kích thước địa vật theo ảnh hàng không. Bao gồm: đo ảnh đơn và đo ảnh lập thể. Để đo ảnh đơn phải nắn ảnh về ảnh phẳng bằng các máy nắn hoặc đo trực tiếp, sau đó dùng phương pháp giải tích để tính về tọa độ phẳng. Đo lập thể là dùng các máy đo chuyên dùng khôi phục lại hình ảnh tương ứng với thực địa để đo tọa độ, hình dáng, kích thước địa vật.

        ĐO CAO HÌNH HỌC nh ĐO THỦY CHUAN

        ĐO CAO KHÍ ÁP, phương pháp xác định độ chênh cao giữa hai điểm thòng qua việc đo trị số áp suất và nhiệt độ không khí tại các điểm đó. Độ chênh cao được xác định theo hệ thức: H2-H1=k0(l+attb)(lgB1-lgB2), (trong đó k0= 18470; a=273.10-1 - hệ số giãn nở không khí; ttb - giá trị trung bình của nhiệt độ không khí tại hai điểm; B1 và B2 - áp suất không khí tại hai điểm). ĐCKA có ưu điểm là thực hiện đơn giản, song có độ chính xác thấp; thường dùng khi không cần độ chính xác cao như đo bản đồ có tỉ lệ nhỏ, thăm dò địa chất... hoặc ở khu vực địa hình rừng núi, khi việc sử dụng các phương pháp khác gặp khó khăn.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:36:48 PM

        ĐO CAO LƯỢNG GIÁC, phương pháp xác định độ chênh cao giữa hai điểm A, B thông qua việc đo góc nghiêng (góc tà) Y, khoảng cách L theo phương nghiêng hoặc D theo phương nằm ngang giữa hai điểm và tính toán theo các hàm số lượng giác. Dụng cụ đo là máy kinh vĩ (hoặc máy kinh vĩ diện tử) đặt tại diểm A. Tại B đặt sào tiêu, mia hoặc gương phân chiếu (khi đo bằng máy kinh vĩ điện từ). Độ chênh cao h dược tính theo công thức: h = Lsin Y + i - 1 = D.tgY + i - 1; trong đó i là độ cao máy kinh vĩ tại A; 1 là độ cao điểm ngắm tại B. Trường hợp không thể đặt mia hoặc gương trực tiếp tại điểm cần xác định độ cao (đỉnh cột, tháp...), phái thực hiện ĐCLG bằng phương pháp tam giác cạnh đáy.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66797165_449573025772583_1782964117116551168_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnY6e0OooaYIMSDZsECSBNd6H2LtPLRjscDMO8vU25_UqzgCdBjwgpeAyzcJc7FdQs&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6cbf8eb1e6b5301e1bc97cca44ecfe51&oe=5DA32A25)


        ĐO ĐẠC CÔNG TRÌNH QUÂN SỰ. bộ phận trắc địa quân sự phục vụ việc thiết kế, xây dựng, quản lí và khai thác các công trình QS: sân bay, bến cảng, cầu cống, đường sá, hẩm ngầm, doanh trại... Bao gồm các nội dung: đo mạng khống chế, đo vẽ bản đồ địa hình, đo vẽ phục vụ thi công và lắp đặt thiết bị, đo kiểm tra chất lượng (kiểm tra độ lún, độ biến dạng công trình...), đo bảo dưỡng...

        ĐO ĐẠC PHÁO BINH, chuyên ngành đo đạc quân sự có chức năng tổ chức đo đạc, tính toán và cung cấp các số liệu (tọa độ, góc phương vị...), tư liệu (bản đồ, ánh hàng không...) cho các phân đội pháo binh, tên lửa thực hiện nhiệm vụ bắn. Nội dung: lập lưới tọa độ, tăng dày mạng mốc khống chế; xác định tọa độ các vật chuẩn đo đạc trong khu vực triển khai hoặc dự kiến triển khai pháo binh, tên lửa, vị trí các trận địa, đài chỉ huy, trạm trinh sát pháo binh bằng khí tài; giao hội các vật chuẩn có giá trị trong khu vực của đối phương; lấy hướng chuẩn và kiểm tra hướng chuẩn cho pháo và khí tài, lập các văn kiện chiến đấu khác. Yêu cầu của ĐĐPB: tích cực, chủ động, kịp thời, chính xác, tin cậy, bí mật. Thường dùng hai loại đo đạc chủ yếu: đo đạc căn cứ vào mốc khống chế và đo đạc căn cứ vào bản đồ địa hình hoặc ảnh hàng không (ảnh bằng hoặc ảnh nắn) và một số loại đo đạc khác như đo đạc căn cứ vào tia sáng thẳng đứng, đồng hồ giây, đường đáy trên không... Phương pháp sử dụng: lưới tam giác, đa giác, đi dần. Phương tiện sử dụng: máy kinh vĩ, xe đo nối địa hình, la bàn con quay, máy định vị toàn cầu GPS và các khí tài trang bị cho các phân đội trinh sát như phương hướng bàn, máy đo xa (quang học, lade), pháo đội kính...

        ĐO ĐẠC THIÊN VĂN, bộ môn thiên văn học trong đó xây dựng hệ thống tọa độ cơ bản để đo thiên văn, xác định chính xác vị trí và sự chuyển động của các thiên thể bằng quan sát. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của ĐĐTV là nghiên cứu sự xoay của Trái Đất, trong đó có nghiên cứu sự chuyển động các cực của nó. Phương pháp ĐĐTV là đo các thị sai và đường kính các thiên thể, kích thước và vị trí các chi tiết trên bề mặt các thiên thể đó.

        ĐO ĐẠC THỦY VĂN, chuyên ngành thủy văn học chuyên về khảo sát, đo dạc và nghiên cứu chế độ thủy văn. Trong ĐĐTV tiến hành đo lượng mưa, độ sâu, nhiệt độ nước, tốc độ và lưu lượng dòng chảy, lượng cát bùn, chất hòa tan trong môi trường nước.

        ĐO ĐỘ CAO, xác định độ chênh cao các điểm trên bề mặt Trái Đất so với mặt thủy chuẩn gốc tại điểm thủy chuẩn gốc. Các phương pháp ĐĐC chủ yếu hiện nay: đo thủy chuẩn, đo cao lượng giác, đo cao khí áp...


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:38:22 PM

        ĐO LIỀN ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU, đo đạc chuẩn bị phần tử bắn ở các đơn vị pháo binh, tên lửa để xác định tọa độ trận địa bắn (phóng), đài quan sát, các trạm trinh sát bằng khí tài, góc phương vị hướng chuẩn từ các điểm mốc khống chế có cùng hệ thống. Được tiến hành căn cứ vào các mốc khống chế, bản đồ hay ảnh hàng không. Gốm: lập lưới tam giác, đường truyền tọa độ (đi dần), giao hội để xác định tọa độ, định hướng bằng đường hướng mạng khống chế pháo binh, đo thiên văn, sử dụng la bàn con quay hoặc la bàn từ (có sửa độ lệch hướng). Ở các đơn vị tên lửa. ĐLĐHCĐ còn gồm việc tính chuyển đổi tọa độ múi chiếu bản đồ khi vị trí bệ phóng và mục tiêu ở hai múi chiếu khác nhau. Khi tổ chức ĐLĐHCĐ phải lập sơ đồ đo đạc, chọn các điểm mốc cần sử dụng cho việc đo, tính; kết thúc phải kiểm tra đối chiếu kết quả đo đạc với thực địa.

        ĐO NỘI ĐỊA HÌNH, bộ phận công tác báo đảm địa hình, bao gồm việc xác định tọa độ mặt bằng và độ cao của các vị trí cần đo (SCH, trận địa, đài quan sát...) khi sử dụng các khí tài điểu khiến như pháo binh tên lửa phải xác định góc phương vị định hướng, trường hợp cần thiết phải xác định trọng trường và góc lệnh dây dọi. Việc xác định X, y có thể bằng cách đo nối với điểm trắc địa gần nhất, độ cao thường xác định trên bản đồ địa hình.

        ĐO TAM GIÁC, phương pháp thiết lập lưới khống chế trắc địa từ hệ thống các điểm tạo thành đỉnh các tam giác liên tục theo dạng lưới hoặc dạng chuỗi. Theo phương pháp đo, có: đo ba góc, đo giá trị tất cả các góc và một số cạnh trong mạng; đo ba cạnh, đo tất cả các cạnh và một số góc. Trong thực tiễn, thường tiến hành kết hợp hai phương pháp. Tọa độ các điểm trong mạng được xác định thông qua việc tính toán độ lớn các cạnh hoặc góc của các tam giác theo quan hệ toán học giữa chúng, xuất phát từ việc xác định chính xác độ dài và phương vị của cạnh mở đầu. Trong ngành trắc địa, ĐTG là phương pháp chủ yếu để thiết lập lưới khống chế mặt bằng; trong QS ĐTG là phương pháp thường được dùng để đo đạc công trình quân sự và lập mạng khống chế pháo binh.

        ĐO THIÊN VĂN, phương pháp xác định tọa độ (kinh độ, vĩ độ), giờ thiên văn tại các điểm trên mặt đất và góc phương vị thiên văn đến các điểm khác thông qua việc quan trắc các thiên thể và sử dụng các số liệu của lịch thiên văn. Kết quả đo cung cấp số liệu để tính toán và hiệu chỉnh kết quả tính toán điểm trắc địa, thủy chuẩn..., khắc phục sai số trong đo tam giác và đo đi dần, tính toán độ lệch phương trọng lực (phương dây dọi)... Trong QS, ĐTV được sử dụng cho ngành đo đạc bản đồ, đo đội hình chiến đấu, cung cấp phương vị chuẩn cho định hướng cho tên lửa, pháo và khí tài, kiểm định các thiết bị con quay...

        ĐO THỦY CHUẨN (đo cao hình học), phương pháp xác định độ chênh cao giữa hai điểm trên thực địa bằng máy thủy chuẩn và mia. Máy thủy chuẩn được đặt giữa hai điểm cần đo. Độ chênh cao giữa hai điểm là hiệu các số đo đọc được qua ông ngắm của máy từ các mía dựng chính xác theo phương thẳng đứng tại hai điểm đó. Trường hợp khoảng cách giữa hai điểm cần đo vượt quá phạm vi đo của máy, cần sử dụng các điểm trung gian. Độ chênh cao giữa hai điểm đầu và cuối được tính bằng trị số tích lũy độ chênh cao giữa các điểm liên tiếp. ĐTC được dùng để thiết lập mạng khống chế cao trình quốc gia và khu vực, trong đo vẽ địa hình, đo đạc công trình quân sự...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66379198_449573042439248_4931442554043367424_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQkd1OINhoJrOzOFxcai6kYOPlkWd6eWE9aRhC-USKP5VgFJLeou2-iioM1nG0mce2I&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a5e120771a0f47b2492a52baa72f007a&oe=5DB16742)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:39:20 PM

        ĐO TRỌNG LỰC, phương pháp xác định hình dáng và cấu trúc vỏ Trái Đất thông qua việc đo trị số gia tốc của trọng trường tại các điểm trên mặt đất bằng các máy đo trọng lực chuyên dùng. Theo phương pháp xác định trị số, có: ĐTL tương đối và ĐTL tuyệt đối; theo mục đích tiến hành, có: ĐTL trắc địa và ĐTL thăm dò; theo độ chính xác, có: ĐTL độ chính xác cao và ĐTL thông thường. Kết quả ĐTL dược ứng dụng rộng rãi trong quốc phòng và xây dựng kinh tế. Trong điều khiển tên lửa tầm xa, có thể dùng để xác định ảnh hưởng của trọng trường đối với quỹ đạo, tính toán tham số chuẩn bị phóng và bảo đảm độ chính xác bắn trúng mục tiêu; trong kĩ thuật vũ trụ, có thể dùng để tính toán quỹ đạo vệ tinh, nàng cao độ chính xác của việc định vị và dẫn đường bằng vệ tinh; trong kĩ thuật đo mặt đất, có thể dùng để tính toán biến dạng êlipxôit và độ sai lệch độ cao, cung cấp số liệu cho nghiên cứu hình thái bề mặt Trái Đất và tọa độ không gian ba chiều của các điểm xác định; trong thăm dò địa chất có thể dùng để nghiên cứu cấu tạo tầng sâu của vỏ Trái Đất và cấu tạo địa chất các khu vực.

        ĐO VẼ ĐỊA HÌNH, tập hợp các công việc nhằm xác định tọa độ các điểm chi tiết đặc trưng cho địa hình, địa vật trên bề mặt Trái Đất và biểu diễn chúng lên bản đồ địa hình theo các quy tắc và quy ước nhất định. Gồm hai giai đoạn chủ yếu: phát triển lưới đo vẽ (lập mạng lưới cơ sở từ các điểm lưới khống chế quốc gia, tăng dày điểm khống chế mặt bằng và độ cao) và đo vẽ chi tiết địa hình. Có hai phương pháp ĐVĐH cơ bản: đo vẽ trực tiếp trên thực địa bằng các dụng cụ đo vẽ (thước vuông góc, máy kinh vĩ hay bàn đạc) và đo vẽ gián tiếp thông qua ảnh chụp bề mặt Trái Đất. Phương pháp ĐVĐH trực tiếp có ưu điểm là lập được các bản đồ địa hình tỉ lệ lớn trên diện tích không hạn chế với đầy đủ các điểm chi tiết, nhưng khối lượng công tác ngoại nghiệp lớn, giá thành cao, khi đo vẽ diện tích lớn cần nhiều thời gian. Phương pháp ĐVĐH gián tiếp (gồm ĐVĐH bằng ảnh mặt đất, đo vẽ địa hình bằng ảnh hàng không và ĐVĐH tổng hợp) có khối lượng công tác ngoại nghiệp nhỏ, thời gian đo vẽ ít (đặc biệt khi đo vẽ trên diện tích lớn, tỉ lệ đo vẽ nhỏ), giá thành hạ, nhưng nhiều chi tiết bị che khuất, tỉ lệ đo vẽ bị giới hạn, không thể thực hiện cho các bản đồ tỉ lệ quá lớn, diện tích đo vẽ nhỏ. Việc chọn phương pháp ĐVĐH thích hợp phụ thuộc chủ yếu vào tỉ lệ bản đồ cần lập và đặc điểm địa hình, song với sự phát triển của kĩ thuật chụp ảnh, các phương pháp ĐVĐH gián tiếp ngày càng tỏ ra ưu việt và được sử dụng rộng rãi.

        ĐO VẼ ĐỊA HÌNH BẰNG ẢNH HÀNG KHÔNG, phương pháp đo vẽ địa hình tiến hành trên cơ sở sử dụng ảnh hàng không. Có hai phương pháp chính: phương pháp tổng hợp, dùng ảnh hàng không để làm bình đồ ảnh, trên đó thể hiện các yếu tố địa vật như mạng đường giao thông, thủy hệ, sau đó sử dụng các máy trắc địa (như máy kinh vĩ, máy toàn đạc...) để đo vẽ dáng đất tại thực địa; thường dùng để đo vẽ bản đồ tỉ lệ lớn ở vùng che khuất hoặc ở vùng bàng phẳng có khoảng cao đều nhỏ hơn lm. Phương pháp đo lập thể, dùng các máy chuyên dụng khôi phục lại hình ảnh của mặt đất tương ứng với thực địa thông qua các điểm khống chế có tọa độ, độ cao mặt đất để đo vẽ dáng đất cũng như địa vật; là phương pháp chủ yếu để thành lập bản đồ ở vùng núi trên một diện tích lớn. ĐVĐHBAHK tiết kiệm thời gian sản xuất, độ chính xác cao so với các phương pháp cổ điển. Hiện được sử dụng chủ yếu để thành lập bản đồ địa hình.

        ĐOÀN, 1) loại hình tổ chức QS không cố định về quy mô, có thể tương đương cấp phân đội, binh đội, binh đoàn hoặc liên binh đoàn trong biên chế quân khu, quân chủng, binh chủng hoặc trực thuộc BQP. Có Đ chiến đấu (đặc công, pháo binh, hải quân đánh bộ...), Đ bảo đảm phục vụ (công binh, vận tải, an dưỡng...), Đ chuyên gia giúp bạn... Đ được tổ chức từ 1950; trong KCCM đã phát triển nhiều Đ với quy mô khác nhau, rất đa dạng. Hiện nay còn tổ chức một số Đ thuộc quân khu, quân chủng, binh chủng (đặc công, an dưỡng, kinh tế - quốc phòng...); 2) mật danh của một số tổ chức trong QĐND VN.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:40:17 PM

        ĐOÀN 125, đoàn vận tải QS đường biển làm nhiệm vụ vận chuyển hàng QS từ miền Bắc vào miền Nam VN trong KCCM; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1967 và 1976). Trực thuộc Quân chủng hải quân (từ 8.1963). Tổ chức tiền thân là Đoàn 759, thành lập 23.10.1961 theo quyết định 97/QP của BQP. Tới 24.1.1964, đổi thành Trung đoàn 125 (Đ125). Đã thực hiện hàng trăm chuyến đi biển trong điều kiện gian khổ, ác liệt; vận chuyển và bàn giao hàng nghìn tấn vũ khí, khí tài, đạn dược... cho các chiến trường (Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Liên khu 5). Đặc biệt 29.11.1964 đã chuyển vũ khí vào Bà Rịa để trang bị cho một trung đoàn bộ binh kịp tham gia chiến dịch Bình Giã (2.12.1964-3.1.1965). Từ 2.1972, Đ125 hoàn thành các nhiệm vụ mới được giao: rà phá thuỷ lôi ở vùng biển Hải Phòng - Đông Bắc (1973), vận chuyển bộ đội, xe tăng và các loại vũ khí, khí tài từ miền Bắc vào chiến trường trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975; tham gia giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết. Sinh Tồn, Trường Sa thuộc quần đảo Trường Sa (4.1975), Cù Lao Thu thuộc t. Ninh Thuận (4.1975) và đón các chiến sĩ CM từ Côn Đảo trở về đất liền (5.1975). Có 3 tập thể (tàu 42, tàu 41, tàu 154) và 5 cá nhân (Bông Vãn Dĩa, Nguyễn Phan Vinh (liệt sĩ), Nguyễn Văn Hiệu (liệt sĩ), Hồ Đức Thắng, Đặng Văn Thanh) được tuyên dương Ah LLVTND. Đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Đoàn Hồng Phước, Võ Huy Phúc. Cg Đoàn tàu không số.

        ĐOÀN 126, đoàn đặc công thuộc BTL hải quân; đơn vị hai lẩn Ah LLVTND (1969 và 1971). Thành lập 13.4.1966 theo quyết định số 28/QĐ-QP của BQP, với tên gọi Đoàn huấn luyện trinh sát đặc công. Lực lượng nòng cốt gồm 40 người đã qua huấn luyện đặc công ở Đoàn 8 và 74 người ở Đại đội đặc công đánh biên thuộc Cục nghiên cứu BTTM. 5.1966 BTL hải quân điều bổ sung 700 cán bộ, chiến sĩ từ các đơn vị về, tổ chức thành 12 đội chiến đấu. Trong KCCM, Đ126 đánh chìm và phá hủy trên 300 tàu chiến, tàu vận tải các loại, diệt trên 4.000 địch, bắn rơi 1 máy bay. 5.9.1975 đổi tên thành Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 trực thuộc BTL hải quân (quyết định số 113/QĐ-QP). Đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Hoàng Đắc Cót và Phạm Điệng.

        ĐOÀN 232, đơn vị tương đương cấp quân đoàn của QĐND VN. Thành lập 2.1975 tại Nam Bộ; gồm 2 sư đoàn bộ binh (3 và 5). Lữ đoàn pháo binh 232, Trung đoàn công binh 25 và một số đơn vị trực thuộc khác. Được tăng cường Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) khi tham gia chiến dịch Hổ Chí Minh (26- 30.4.1975), đánh chiếm BTL biệt khu Thủ Đô, BTL cảnh sát quốc gia, BTL hải quân và một số mục tiêu khác ở Sài Gòn (30.4.1975). Tư lệnh: Nguyễn Minh Châu, chính ủy: Trần Văn Phác.

        ĐOÀN 367, đoàn đặc công trực thuộc Bộ chỉ huy miền Đông Nam Bộ trong KCCM; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 9.1970 tại căn cứ Sông Chiêm. Tổ chức ban đầu gồm: ba đội biệt động, ba đội đặc công bộ, một đội đặc công nước và một tiểu đoàn pháo. 1970-72 làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia; liên tục tiến công hậu cứ, sân bay, kho tàng và cơ quan đầu não của địch đạt hiệu suất cao (như tập kích sân bay Pôchentông, nhà máy lọc dầu ở cảng Côngpông Xom đầu 1971...; phá hủy hàng trăm máy bay, hàng triệu lít xăng dầu, diệt hàng trăm phi công...). Từ 3.1973, trực thuộc Đoàn 27, đặc công Miền Đông, đổi tên thành Đoàn 116 (sau này là Trung đoàn 116). Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, có một tổ cùng với Quân đoàn 2 cắm cờ trên dinh Độc Lập. Đoàn trưởng và chính ủy đầu tiên: Trương Phụ Cơ và Nguyễn Văn Được.

        ĐOÀN 559, đoàn vận tải QS chiến lược phụ trách vận tải trên tuyến Đường mòn Hổ Chí Minh, trực thuộc Bộ tổng tư lệnh QĐND VN, thành lập 19 5.1959; đơn vị Ah LLVTND (1979). Lúc đầu chỉ có Tiểu đoàn 301 (440 người) làm nhiệm vụ soi, mở tuyến đường, gùi thồ một số hàng, đón đưa một số cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam; từng bước phát triển nhiều đơn vị: bộ binh, phòng không, công binh, vận tải ô tô, vận tải đường sông (suối), đường ống xăng dầu... đủ sức bảo đảm hành quân, cơ động các lực lượng tăng cường cho các chiến trường, tác chiến (độc lập và phối hợp với lực lượng bạn) đánh bại các cuộc tiến công của địch, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược và tham gia làm nhiệm vụ quốc tế. Từ 1970, Đ559 được tổ chức thành liên binh đoàn gồm 5 BTL khu vực (tương đương sư đoàn): 470, 471, 472, 473 và 571, với gần 30 binh trạm, Mặt trận 968 (sau chuyển thành Sư đoàn bộ binh 968) và hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, bộ đội chuyên môn. Quân số (đến 4.1975) lên tới hơn 90.000 người. Trong KCCM, Đ559 đã mở hàng chục nghìn kilômét đường chiến lược Tây Trường Sơn và Đông Trường Sơn, tiến hành hàng chục nghìn trận chiến đấu phòng không, hàng nghìn trận chiến đấu chống biệt kích, càn quét của địch, bắn rơi nhiều máy bay, diệt hàng chục nghìn quân Mĩ, quân Sài Gòn; vận chuyển hơn 1 triệu tấn hàng (có hơn 500.000t giao cho chiến trường B), bảo đảm cho hàng triệu lượt người và binh khí kĩ thuật hành quân. Sau 1975, Đ559 được tổ chức thành Binh đoàn 12. có nhiệm vụ xây dựng lại Đường mòn Hồ Chí Minh thành tuyến đường phục vụ kinh tế, quốc phòng. Đoàn trướng đầu tiên: Võ Bẩm. Cg Binh đoàn Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:42:29 PM

        ĐOÀN 759 X. ĐOÀN 125

        ĐOÀN 766, cơ quan đại diện của Quân khu Tây Bắc bên cạnh đoàn chuyên gia QS VN tại Lào (Đoàn 959). Thành lập 30.8.1966; có nhiệm vụ: chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng tình nguyện VN tại t. Sầm Nưa và Xiêng Khoảng (Lào). Tổ chức ban đầu gồm: 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo phòng không, 3 đội công tác và đơn vị bảo đảm phục vụ. 11.1966 được bổ sung Tiểu đoàn bộ binh 927. Từ 8.1970 trực thuộc Đoàn 959, đến cuối 1974 giải thể. Đoàn có 8 năm liên tục chiến đấu ở Lào, đã đánh nhiều trận, đặc biệt các trận: Pha Thí, Tòng Khọ, Sẩm Pha Kha, Phu Lơi... tiêu diệt nhiều địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh; giải phóng đất đai, bảo vệ an toàn cơ quan Trung ương CM Lào; góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn nước Lào 1975; được Nhà nước Lào tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Phạm Nghiêm.

        ĐOÀN 866, trung đoàn bộ binh chủ lực thuộc Quân khu Tây Bắc: đơn vị hai lần Ah LLVTND (1978 và 1979). Thành lập 30.8.1966; trực thuộc Đoàn 766. Nhiệm vụ: chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng tình nguyện VN ở tỉnh Xiêng Khoảng (Lào). Tổ chức ban đầu gồm: 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo phòng không, 2 đội công tác và các đơn vị bảo đảm phục vụ. 8.1970 trực thuộc Đoàn 959, đến 1974 thuộc biên chế Sư đoàn 31, Quân khu 4 và từ 1978 thuộc Quân đoàn 3. Liên tục (1966-76) chiến đấu ở Lào, đặc biệt trong chiến dịch 139, chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum và tham gia tiêu diệt cứ điểm cuối cùng của lực lượng phỉ Vàng Pao (1975), diệt gọn nhiều đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều trung đoàn, tiểu đoàn; loại khỏi chiến đấu hàng vạn địch, bắn rơi, phá hủy hàng chục máy bay... 1978-79 chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia, đã diệt và gọi hàng hàng ngàn quân địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, trang bị... nổi bật là trận đánh vào căn cứ Tà Sanh, cơ quan đầu não của Pôn Pốt. 11.1985-7.1986, chiến đấu ở biên giới phía bắc (Vị Xuyên, t. Hà Tuyên). Đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Hữu Thơi, Vũ Thái.

        ĐOÀN AN DƯỠNG QUÂN ĐỘI, cơ sở an dưỡng phục vụ việc nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe của cán bộ QĐ và viên chức quốc phòng cùng các thành viên gia đình. Thường tổ chức ở các khu du lịch vùng ven biển, vùng núi có phong cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa, nguồn thực phẩm dồi dào; do các quân khu, quân chủng, tổng cục... quản lí. Hiện có các đoàn an dưỡng: 296 (TCHC), 295 (Quân khu 3), 40A, 40B (Quân khu 4), 18 và 20 (Quân chủng phòng không - không quân)...

        ĐOÀN BA BỂ nh TRUNG ĐOÀN 291

        ĐOÀN BÒNG LAU nh SƯ ĐOÀN 316

        ĐOÀN CA MÚA QUÂN ĐỘI, đơn vị nghệ thuật ca múa chuyên nghiệp của QĐND VN do TCCT chỉ đạo và quản lí; đơn vị Ah LLVTND (2000). Sáng tác và biểu diễn tổng hợp ca múa nhạc nhẹ và ca múa nhạc dân tộc về đề tài trung tâm là hình tượng người chiến sĩ trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phục vụ bộ đội, nhân dân và khách quốc tế, góp phần giáo dục phẩm chất chính trị, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, sức mạnh chiến đấu của QĐ, giới thiệu nền văn hóa nghệ thuật VN với thế giới. Thành lập 5.3.1951, thuộc Tổng đội văn công. 1954 được tổ chức thành Đoàn ca múa TCCT; 1976 đổi tên thành ĐCMQĐ. Nhiều chương trình, tác phẩm
nghệ thuật, nhiều nghệ sĩ giành giải cao trong các cuộc thi ca múa nhạc trong nước và quốc tế; các nghệ sĩ Tường Vi, Lê Đóa, Minh Tiến... được Nhà nước tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Huân chương: Chiến công hạng nhất. Trường đoàn đầu tiên: Chính Hữu (tổng đội trưởng kiêm chính ủy).

        ĐOÀN CÔNG BINH SÔNG ĐÀ nh LỮ ĐOÀN 229

        ĐOÀN CÔNG BINH SÔNG LÔ nh LỮ ĐOÀN 249

        ĐOÀN CỜ ĐỎ nh TRUNG ĐOÀN 257

        ĐOÀN ĐẶC CÔNG, đơn vị tổ chức lớn nhất của bộ đội đặc công, thường gồm một số liên đội đặc công, đơn vị hỏa lực, bảo đảm và phục vụ. Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ và điểu kiện của địa bàn hoạt động, ĐĐC có thể có từ một đến ba loại đặc công: đặc công bộ, đặc công nước, đặc công biệt động. ĐĐC có khả năng tác chiến độc lập với quy mô từ tổ, mũi, đội đặc công trên các môi trường (bộ, nước), trong thành phố, hoặc tác chiến hiệp đồng trong đội hình binh chủng hợp thành.

        ĐOÀN HẠ LONG nh TRUNG ĐOÀN 238


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:44:17 PM

        ĐOÀN HÒA BÌNH, tổ chức gồm những nam nữ thanh niên Mĩ đã tốt nghiệp đại học, hoạt động dưới danh nghĩa “tình nguyện giúp đỡ” các nước chậm phát triển (Á, Phi, Mĩ Latinh) về kĩ thuật và nhân đạo như: dạy học, chữa bệnh, hướng dẫn kĩ thuật mới... nhưng thực chất là một công cụ hỗ trợ sự xâm nhập của Mĩ về chính trị, tư tưởng, kinh tế... vào những nước đó trong thập kỉ 60-70 (tk 20). Do tổng thống Kennơđi thành lập ở Mĩ (3.1961), đặt trụ sở trước quảng trường Laphayet gần Nhà Trắng. ĐHB được tổ chức thành các đội công tác có tính chất nửa QS, dưới sự chỉ đạo của Đại sứ quán Mĩ tại nước đến “giúp”, có quan hệ chật chẽ với CIA; về mặt hành chính, thuộc một cơ quan chính phủ chuyên nghiên cứu vấn đề “giúp đỡ tự nguyện” ở trong và ngoài nước với tên gọi “Acsơn” (A. Action - hành động). Trong thời gian tồn tại, đã có khoảng 85.000 lượt người “tình nguyện” làm việc cho ĐHB ở 88 nước, lúc cao nhất có tới 15.000 nhân viên, hoạt động ở hơn 60 nước (1966). Thông qua ĐHB, CIA can thiệp vào công việc nội bộ nhiều nước, nhiều nhân viên của ĐHB đã bị các nước trục xuất. ĐHB bị tẩy chay và tàn lụi dần vào nửa cuối những năm 70.

        ĐOÀN HỒNG LĨNH nh TRUNG ĐOÀN 280

        ĐOÀN HỒNG PHƯỚC (1914-67), đoàn trưởng Đoàn tàu không số (Đoàn 125 hải quân) chi viện miền Nam (1962-67). Quê xã Mĩ Lệ, h. Cần Đước, t. Long An; nhập ngũ 1945, thượng tá (1966); đv ĐCS VN (1946). Trong KCCP, trưởng thành từ chiến sĩ đến tỉnh đội trưởng tỉnh Gò Công (1949); tỉnh đội phó tỉnh Mĩ Tho (1951). Tháng 8.1954-55 cán bộ trong Ban liên hiệp đình chiến Nam Bộ; cán bộ phòng tham mưu Sư đoàn 330. Năm 1957-58 tham mưu trường, trung đoàn phó. 1961 tham mưu trưởng Lữ đoàn 330. Năm 1962-67 đoàn trưởng Đoàn hải quân 125 vận tải biển, bí mật chờ vũ khí vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Huân chương: Chiến thắng hạng nhì...
 
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64841757_449573049105914_745444458153115648_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQnWh3wipbEbXIWvV3xhxj-Gb7chGQl4bYnxZr5j-50crK-EArh-LOlE3HX7cmQWj6E&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=64325a5e7cd6c3d50d94a96ad3890fab&oe=5DC3399C)


        ĐOÀN HUYÊN (1925-2002), tư lệnh đầu tiên Binh chủng tên lửa phòng không. Quê xã Đại Hoà, h. Đại Lộc, t. Quảng Nam; nhập ngũ 1945, thiếu tướng (1983), giáo sư (1986); đv ĐCS VN (1947). Tháng 8.1945 trung đội trưởng, đại đội trưởng Giải phóng quân tham gia Bộ đội Nam tiến. 1946- 48 đại đội trưởng, rồi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cao Thắng chiến đấu ở mặt trận Phú Yên, Khánh Hoà. 1948-49 trung đoàn phó, liên trung đoàn phó Trung đoàn 80 và Trung đoàn 83 (Liên khu 5). Tháng 6.1949-10.1954 phụ trách khu phó Khu Hạ Lào, phái viên QS ủy ban kháng chiến Nam Trung Bộ tại Hạ Lào. 1954-60 trưởng ban tác huấn, rồi trưởng phòng huấn luyện BTL pháo binh. 1964-66 phó chủ nhiệm Hệ QS kiêm chủ nhiệm Khoa pháo binh Học viện quân chính. 1967-68 phó tư lệnh Quân chủng phòng không -  không quân, kiêm tư lệnh Binh chủng tên lửa phòng không. 1968-70 chuyên viên QS tại hội nghị Pari 1973 về Việt Nam. 1971-77 phó tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân. 1980-81 phân viện trưởng Phân viện chiến lược Học viện quân sự cấp cao. 1981-89 cục trưởng Cục khoa học QS BTTM. 1989-93 tổng biên tập đầu tiên Ban biên tập bách khoa QS. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất, Itxala hạng nhất (nhà nước Lào tặng).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66408978_449573055772580_7500594417443536896_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnBT9qSgsI1-Pk6nhwcZIb4LlE-3rkgLPJckdvwpupEzWfMunP7XJoB4COlIWhLX1E&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=100e1caaaa66530073193b20f4a95553&oe=5DB45B84)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:45:52 PM

        ĐOÀN KHẮC LUẬN (s. 1948), Ah LLVTND (1972). Quê xã Thọ Tiến, h. Triệu Sơn, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1965, đv ĐCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là thượng sĩ, đại đội trường Đại đội 23 (súng máy cao xạ 12,7mm) thuộc Tiểu đoàn 75, Trung đoàn 84, BTL Mặt trận B5. Từ 1966 đến 1972, chiến đấu ở Quảng Trị, ĐKL đã cùng đơn vị bắn rơi trên 100 máy bay, diệt hàng trăm địch. 21.1.1968 đánh địch ở Lâm Xuân Động, ĐKL là pháo thủ số 1 cùng khẩu đội và trung đội bắn rơi 4 máy bay, bắn cháy 2 xe M113, diệt 50 địch. 6-8.1969 chỉ huy khẩu đội phục kích ở vùng điểm cao 333, bắn rơi 4 máy bay Mĩ. 3.4.1970 trong trận đánh điếm cao 182. trực tiếp chỉ huy trung đội bắn rơi 3 máy bay, diệt 40 quân Mĩ; khi bị thương vẫn giữ vị trí chiến đấu, chỉ huy đơn vị cùng lực lượng bộ binh đánh thiệt hại nạng 1 tiểu đoàn Mĩ. 5-23.6.1971 chi viện cho bộ binh chiến đấu ở điểm cao 402 và 544, đã chỉ huy đại đội bắn rơi 13 máy bay Mĩ. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất, 4 hạng nhì).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66329471_449573082439244_6355818009075908608_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmBIEjJba8DJoPWDJherWg6LFIFWuFY1Enfn3rTC5YLYkNyk0gtTOUiWnYqnuKXbJI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=c08378c0d9184cd2ab3cddd8338cec0c&oe=5DB86472)


        ĐOÀN KHUÊ (1923-98), bộ trưởng BQP nước CHXHCN VN (1991-97). Quê xã Triệu Lăng, h. Triệu Phong, t. Quảng Trị; tham gia CM 1939, nhập ngũ 8.1945, đại tướng (1990); dv ĐCS VN (1945). Năm 1940 bị thực dân Pháp bắt giam, đày đi Buôn Ma Thuột. 6.1945 tham gia thành lập tỉnh ủy lâm thời, chủ nhiệm Việt Minh, ủy viên QS tỉnh Quảng Bình. Trong KCCP, 1946-47 chính trị viên Trường lục quân trung học Quảng Ngãi. 1947-54 chính ủy trung đoàn, phó chính ủy Sư đoàn 305. Trong KCCM, 1954-60 phó chính ủy Sư đoàn 675, phụ trách chính ủy Sư đoàn 351; chính ủy Lữ đoàn 270. Năm 1960-64 phó chính ủy Quân khu 4. Năm 1964-75 phó chính ủy Quân khu 5, tham gia chi huy nhiều chiến dịch trên địa bàn quân khu. 1977-83 chính ủy kiêm tư lệnh Quân khu 5. Tháng 5.1983-87 phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, rồi tư lệnh Quân tình nguyện VN tại Campuchia. 1987-91 thứ trưởng BQP kiêm tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 8.1991-97 bộ trưởng BQP, phó bí thư Đảng ủy QS trung ương, ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa IV-VIII, ủy viên BCT khoa VI-VIII (1997). Đại biểu Quốc hội khóa VII-IX. Huân chương: Hồ Chí Minh, 2 Quân công hạng nhất, 2 Chiến còng hạng nhất, Chiến thắng hạng nhất, Kháng chiến hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66766561_449573089105910_8504749975882694656_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQmC05WqGq2E_lfu7vBBe3k22nMuv0FQLRb8rwCK-gb98pBv8jtgPh2cUzxBj138G-Y&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=7e6d705fe2e8324d746e57a41724233f&oe=5DC2480C)


        ĐOÀN KỊCH NÓI QUÂN ĐỘI, đơn vị nghệ thuật kịch nói chuyên nghiệp của QĐND VN do TCCT chỉ đạo và quản lí; đơn vị Ah LLVTND (2000). Sáng tác và biểu diễn kịch nói về đề tài LLVTND và chiến tranh CM (thể hiện hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trên sân khấu kịch nói) phục vụ bộ đội và nhân dân, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần và sức mạnh chiến đấu của QĐ. Thành lập 10.1.1955. Tiền thân là Đội kịch Chiến Thắng của các nghệ sĩ tham gia kháng chiến (1948), sáp nhập vào Tổng đội văn công (1951), tách khỏi Tổng đội văn công thành Đoàn kịch nói TCCT (1955), đổi tên thành ĐKNQĐ (1990). Đã dàn dựng hơn 130 vở kịch, giành 7 huy chương vàng, 14 huy chương bạc trong các hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quốc. Nhà viết kịch Đào Hồng Cẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Huân chương: Quân công hạng nhì. Trường đoàn đẩu tiên: Hoàng Cầm.

        ĐOÀN NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI X. ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI

        ĐOÀN NHÂN DÂN TỰ VỆ CHIẾN ĐẤU. phân đội chiến đấu ở khóm, ấp, cơ sở của chế độ Sài Gòn. Ra đời 1968 theo luật số 003/68 (ban hành 19.6.1968). ĐNDTVCĐ gồm 3 liên toán, quân số từ 107 đến 134 (có cả nữ đoàn viên); trang bị một số vũ khí thông thường. Đặt dưới sự chỉ huy, sử dụng, yểm trợ và huấn luyện của ban chỉ huy phân chi khu. Đoàn trưởng do đoàn viên nhân dân tự vệ bầu.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:47:19 PM

        ĐOÀN PHÁO BINH, 1) đơn vị pháo binh tương đương với sư đoàn (lữ đoàn), gồm một số trung đoàn, tiểu đoàn pháo binh, các phán đội bảo đảm và phục vụ, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cẩn, kĩ thuật. ĐPB được tổ chức, biên chế tùy thuộc vào nhiệm vụ, khả năng vũ khí trang bị. điều kiện tác chiến, tính chất chiến trường trong từng thời kì nhất định. Trong KCCM có ĐPB Biên Hoà - đơn vị pháo binh chủ lực Miền, nguyên là ĐPB 563 (1964), ĐPB 69 (1965), ĐPB 75 (1969); 2) tên mật cùa một binh đội, binh đoàn pháo binh. Vd: ĐPB Anh Dũng (Lữ đoàn pháo binh 675), ĐPB Tất Thắng (Lữ đoàn pháo binh 45), ĐPB Bến Hải (Trung đoàn pháo binh 164)...

        ĐOÀN PHÁO BINH ANH DŨNG, trung đoàn pháo binh đầu tiên của QĐND VN; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1975 và 2001). Được tổ chức 9.1950 tại Trùng Khánh (t. Cao Bằng) với tên gọi Trung đoàn 95, gồm 3 tiểu đoàn sơn pháo 75mm (40, 178 và 253). Ngày 20.11.1950 tại bản Nà Tấu (h. Quảng Uyên, nay là h. Quảng Hoà, t. Cao Bằng) chính thức làm lễ thành lập với tèn gọi Trung đoàn 675, gồm 6 liên đội sơn pháo 75mm (751. 752, 753, 754, 755 và 756). Trở thành Đại đoàn 675 (9.1954), rồi Trung đoàn 82 (1958) và trở lại phiên hiệu Trung đoàn 675 (1965). Từ 11.1975 là Lữ đoàn pháo binh 675 thuộc BTL pháo binh. Tham gia các chiến dịch: Biên Giới (1950), Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (1951), Hoà Bình. Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953). Điện Biên Phủ (1954) trong KCCP và các chiến dịch: Khe Sanh (1968), Đường 9 -  Nam Lào (1971), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) trong KCCM. Được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu "Trung đoàn pháo binh Anh Dũng” (25.2.1952). Ngày truyền thống: 20.11.1950. Quyền trung đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thước, Hoàng Phương.

        ĐOÀN PHÁO BINH BIÊN HOÀ, đơn vị pháo binh chủ lực Miền (B2). Thành lập 10.1963 với phiên hiệu U80, sau đổi thành Đoàn 563 (1964), Đoàn 69 (1965), Đoàn 75 (1969). Tổ chức biên chế lúc đầu tương đương trung đoàn, phát triển tương đương sư đoàn (từ 1965). Tham gia tổng tiến công chiến lược 1968, 1972, chiến dịch phản công giải phóng các tỉnh đông bắc Campuchia (1971), chiến dịch Đường 14 -  Phước Long (1.1975) và chiến dịch Hồ Chí Minh (4.1975). Các đơn vị trong Đoàn đã 5 lần bắn phá căn cứ không quân Biên Hoà (31.10.1964, 23.8.1965, 12.5.1967, 31.1.1968 và 14-26.4.1975), phá hủy nhiều máy bay, đạn dược và phương tiện chiến tranh, diệt hàng trăm quân Mĩ và QĐ Sài Gòn. Đặc biệt, đợt bắn phá 14-26.4.1975 đã làm tê liệt hoạt động của sân bay Biên Hoà (từ 26.4). Tên gọi truyền thống ĐPBBH do Bộ chỉ huy Miền đặt (1969). Có 1 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, 3 đại đội là đơn vị Ah LLVTND. Đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên: Hoàng Minh Khanh (tức Đào Sơn Tây).

        ĐOÀN PHÁO BINH TẤT THẮNG, lữ đoàn pháo binh cơ giới thuộc BTL pháo binh; đơn vị Ah LLVTND (1973). Tiền thân là Trung đoàn 19, trung đoàn nổi tiếng của Liên khu 3, thành lập 22.8.1945 tại Nam Định (trung đoàn trưởng kiêm chính trị ủy viên: Hà Ké Tấn), sau đổi thành Trung đoàn 33 (cg Trung đoàn 15). Lập nhiều chiến công trong đợt bao vây, tiến công quân Pháp, tiêu biểu là trận đánh thắng khoảng 1 trung đoàn Pháp đến giải vây cho Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 6 tại tp Nam Định đầu 1947, được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu Trung đoàn Tất Thắng. 5.1947 đổi thành Trung đoàn 34. Từ 3.1951 được xây dựng thành trung đoàn pháo binh cơ giới đầu tiên của QĐND VN và đổi thành Trung đoàn 45 (trung đoàn trưởng: Nguyễn Hữu Mĩ, chính ủy: Hùng Thanh), thuộc biên chế Đại đoàn 351. Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), đơn vị bắn loạt đạn pháo đầu tiên vào cứ điểm Him Lam mờ màn chiến dịch, được tặng cờ “Quyết chiến quyết thăng”. 1958 chuyển thành Lữ đoàn 364 thuộc BTL pháo binh. 1965 lấy lại phiên hiệu Trung đoàn 45. Từ 1973 đổi thành Lữ đoàn pháo binh 45 thuộc Quân đoàn 1, từ 1986 thuộc BTL pháo binh. Trong KCCM, tham gia các chiến dịch: Khe Sanh (1968). Đường 9 - Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972) và chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975). Ngày truyền thống: 22.8.1945 (ngày thành lập Trung đoàn 19).

        ĐOÀN PHỤNG (Ngô Kha; 1920-94), chính ủy BTL Thủ Đô (1969-78). Quê xã Bình Hà, h. Thanh Hà, t. Hải Dương; nhập ngũ 7.1945, đại tá (1958); đv ĐCS VN (1945). Năm 1945 vào du kích ở Đông Triều, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng và Hòn Gai. Trong KCCP. 1946-54 giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến chính ủy Trung đoàn phòng không 367. tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. 11.1954 chính ủy, bí thư  đảng ủy đầu tiên của Đại đoàn 367. Năm 1958-60 phó chính ủy, chính ủy BTL phòng không. 1964 chính ủy Quân khu Đông Bắc. 1967 chính ủy BTL hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc (sau khi hợp nhất). 1969 chính ủy, bí thư đảng ủy BTL Thủ Đô. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công hạng nhất...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66507952_449573112439241_7432307718792151040_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQmx_6hCENmRMCVbClpCFU4I9Jj5gLfCso-zpSYHxyfWbXOXirvQoCxncsPVm_ZC9To&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=fa3bab663e9e5e1a2d03fadc82727a1d&oe=5DA7F4D0)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:49:05 PM

        ĐOÀN QUÂN NHẠC, đơn vị nghệ thuật nhạc kèn của QĐND VN. thuộc Đoàn nghi lễ 781, Quân khu Thủ Đô; gồm ba dàn nhạc kèn. Nhiệm vụ: phục vụ nghi lễ trang trọng của Đảng, Nhà nước và QĐ; làm công tác huấn luyện, đào tạo; tham gia hoạt động văn hóa nghệ thuật và biểu diễn phục vụ công chúng. Thành lập 20.8.1945, mang tên: Ban âm nhạc giải phóng quân. 2.9.1945 đã cử quốc thiều (Tiến quân cà) trong buổi lễ tuyên bố độc lập của nước VN DCCH. Đổi tên thành Ban âm nhạc vệ quốc quàn (1946), Đội nhạc binh trung ương thuộc Cục quân huấn BTTM (22.5.1946), Tiểu đoàn quân nhạc (7.1954). Tháng 3.1979 sáp nhập vào Đoàn nghi lễ 781, Quân khu Thủ Đô. Huân chương: Quân công hạng nhì. Chỉ huy đầu tiên: Đinh Ngọc Liên.

        ĐOÀN QUÂN THỨ HÀNH CHÍNH, tổ chức bán QS có nhiệm vụ thiết lập bộ máy hành chính ở cơ sở, duy trì trật tự, an ninh vùng QĐ mới hành binh chiếm đóng; do Pháp thành lập từ cuối 1951 tại Bắc Bộ và Trung Bộ trong chiến tranh xâm lược VN. Mỗi ĐQTHC gồm khoảng 60 người và chia ra: ban hành chính, ban QS, ban y tế - xã hội và ban thông tin tuyên truyền. Tại vùng mới chiếm đóng, ĐQTHC xúc tiến việc lập tề, đăng kí và cấp thẻ kiểm soát, giấy thông hành cho dân, xây dựng đồn bốt, cùng cố công sự, lập vành đai trắng, tổ chức vây bắt cán bộ, đảng viên ĐCS... Do tổ chức muộn, số lượng ít (Bắc Bộ có 4 đoàn) nên tác dụng của các ĐQTHC rất hạn chế và đã tan rã sau thất bại của Pháp ở Đông Dương (1954).

        ĐOÀN QUYẾT THẮNG nh SƯ ĐOÀN 367

        ĐOÀN SINH HƯỞNG (s. 1949), Ah LLVTND (1975). Quê xã Bình Ngọc, tx Móng Cái, t. Quảng Ninh; nhập ngũ 1966, thiếu tướng (1999), phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân khu 4 (từ 2004): đv ĐCS VN (1968): khi tuyên dương Ah là thiếu úy. đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Quân đoàn 3. Năm 1968-75 tham gia chiến đấu ở Quảng Trị, Tây Nguyên, Nam Bộ. Trong chiến dịch Tây Nguyên (3.1975), chỉ huy Đại đội 9, phối hợp với Đại đội bộ binh 1 đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế (Buôn Ma Thuột, 10.3.1975): tham gia đánh chiếm SCH Sư đoàn 23 QĐ Sài Gòn, giải phóng Buôn Ma Thuật (11.3.1975). Trận đánh chiếm tx Tuy Hoà (Phú Yên, 1.4.1975), ĐSH chỉ huy xe tăng M41 thu được của địch bắn 9 quả đạn diệt 1 trận địa pháo 105mm. bắn chìm 1 tàu chiến, 1 xuồng chiến đấu; chỉ huy đại đội cùng bộ binh tiến đánh Tuy An, Sông Cẩu, giải phóng t. Phú Yên. 29.4.1975 chỉ huy đại đội phối hợp với bộ binh và đặc công chốt tại Cầu Bông, diệt và bắt toàn bộ đoàn xe M113 (22 chiếc) của địch rút từ Hậu Nghĩa về Sài Gòn. 30.4.1975 chỉ huy phân đội cùng các đơn vị bạn đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và BTTM QĐ Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (2 hạng nhì. 2 hạng ba).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66737239_449573135772572_1936212084995915776_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQkLKI64xozPVVCwmCn9SmLyHYeFBDbbI5B6WUMNpWtHBzwW_SREKEwlZCqC2Ex3Keg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3d54e1724b072c9370e17e47089c19da&oe=5DB0A7E9)


        ĐOÀN SÓNG ĐIỆN nh TRUNG ĐOÀN 26

        ĐOÀN SÔNG ĐÀ nh TRUNG ĐOÀN 236

        ĐOÀN TÀU KHÔNG số nh ĐOÀN 125

        ĐOÀN TÀU VẬN TẢI CÓ HỘ TỐNG, tổ chức lâm thời của hải quân, bao gồm các tàu vận tải và lực lượng bảo vệ đi cùng để bảo đảm an toàn cho các tàu vận tải hành quân trên biển, chống địch tập kích từ mặt biển, trên không và ngầm dưới biển. Thành phần lực lượng bảo vệ có thể có các tàu chiến mặt nước bảo vệ tầm gần và tầm xa, nhóm tàu và máy bay (máy bay trực thăng) chống ngầm, máy bay tiêm kích yểm hộ trên không... Khi đi qua vùng có uy hiếp về mìn (thủy lôi) còn có các tàu quét mìn dẫn đường. Các lực lượng bảo vệ có thể tổ chức đội hình vòng tròn (xung quanh các tàu vận tải) hoặc tập trung bảo vệ ở hướng bị uy hiếp nhất.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:51:02 PM

        ĐOÀN TÊN LỬA THÀNH LOA nh TRUNG ĐOÀN 261

        ĐOÀN THÀNH LOA nh TRUNG ĐOÀN 261

        ĐOÀN THỊ ÁNH TUYẾT (Chín Đại; s. 1951), Ah LLVT- ND (1978). Quê xã Đức Thắng, h. Mộ Đức, t. Quảng Ngãi; nhập ngũ 1968, trung tá (1992); đv ĐCS VN (1969); khi tuyên dương Ah là trung đội trưởng, Đội biệt động N13, tp Sài Gòn. Trước 1968 nhiều lần rải truyền đơn, treo cờ MTDT- GPMN VN tại khu vực cầu Chữ Y, Văn Lang. 1968-70 chiến sĩ biệt động Sài Gòn, tham gia xây dựng nhiều cơ sở CM, trinh sát mục tiêu, nắm tình hình, chuyển tài liệu, vận chuyển, cất giấu vũ khí... Trực tiếp đánh các trận: Toà hành chính q. 3 (1.1970), Trung tâm báo chí quốc gia (2.1970), Toà hành chính Gia Định (8.1970)... diệt 60 địch (phần lớn là sĩ quan và ác ôn), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh và tài liệu quan trọng. Hai lần bị địch bắt và tra tấn dã man (6.1969 và 9.1970), ĐTAT giữ vững ý chí CM, kiên trung bất khuất. Huân chương: Chiến công (hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66408970_449573142439238_1167339847258472448_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmznGMZZJ9sfAkm2eZvLbi96w6a9dnn6UZRiaZNSf5DU5-LDLfFmNbzbNvRP80RdsU&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=30f67c34427d30a781aaa3e6394f7feb&oe=5DBDC008)


        ĐOÀN THỐNG NHẤT nh TRUNG ĐOÀN 230

        ĐOÀN TRẦN NGHIỆP (Kí Con; 1908-30). người tham gia lãnh đạo chủ chốt VN quốc dân đảng. Quê làng Khúc Thủy, h. Thanh Oai, t. Hà Tây. Vốn là nhân viên của hãng Gôda tại Hà Nội. 1928 gia nhập VN quốc dân đảng, được giao việc in báo “Hồn cách mạng”, làm thư kí coi kho cho “Việt Nam khách sạn” một cơ sở kinh doanh của VN quốc dân đảng ở Hà Nội. Sau vụ ám sát Ba Danh (9.2.1929), khách sạn phải đóng cửa, ĐTN bị bắt nhưng được tha vì thiếu chứng cớ. Từ đó hoạt động bên cạnh Nguyễn Thái Học, tham gia soạn thảo chương trình, điều lệ VN quốc dân đảng, tổ chức chế tạo bom, phụ trách Ban ám sát diệt trừ nội phản. 2.1930 khi VN quốc dân đảng phát động khởi nghĩa. ĐTN đảm nhiệm việc thông tin liên lạc và tổ chức lực lượng cảm tử đánh bom một số vị trí quân Pháp ở Hà Nội đêm 10.2.1930. Khởi nghĩa thất bại. ĐTN phải lánh xuống Hải Phòng, rồi bị bắt ở Nam Định (5.1930), cuối 1930 bị xử chém tại Hỏa Lò (Hà Nội).

        ĐOÀN VĂN CHIA (1918-92), AhLLVTND (1967). Quê xã Hoà Mĩ, h. Phụng Hiệp, t. Cần Thơ; nhập ngũ 1946; đv ĐCS VN (1947); khi tuyên dương Ah là đại đội phó quân giới bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ. Trong KCCP và KCCM, chiến đấu tại chiến trường miền Nam, sáng tạo được nhiều loại hầm chông, mìn, lựu đạn, lấy 350kg thuốc nổ từ bom đạn của địch để sản xuất vũ khí; trực tiếp huấn luyện 650 du kích trong tỉnh biết chế tạo và sử dụng các loại vũ khí thô sơ để đánh địch. ĐVC tháo gỡ 40 quả bom bi, cải tiến thành bốn loại mìn gài, diệt 136 địch, nghiên cứu gỡ bom bướm và phổ biến cho du kích cách tháo gỡ có kết quả. Nuôi và huấn luyện hơn 100 tổ ong vò vẽ thành ong chiến và sử dụng kết hợp với lựu đạn gài và hầm chông, diệt địch, chống càn có hiệu quả. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66793980_449573149105904_191309667408805888_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQkKZGT7vs_zOZhf_ImyzT7ERiOviPEfXWC3JTWz163-gOxZGMlBjRVYy5dDVUqIHe8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=15431dde086c24b9ef301f36b8c2862c&oe=5DC5AA7D)


        ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI, đơn vị hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp của QĐND VN, chuyên biểu diễn và sáng tác ca, múa, nhạc, kịch về đề tài chiến tranh CM, LLVT và quốc phòng; do TCCT chỉ đạo và quản lí. Đối tượng phục vụ chính là cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thành lập 15.3.1951, với các tên gọi: Đoàn văn công QĐ (Đoàn văn công TCCT), Tổng đoàn văn công QĐ (1954), Đoàn ca múa TCCT (1957). Từ 1987 tách thành 2 đoàn: Đoàn ca múa quân đội và Đoàn kịch nói quân đội. Nhiều diễn viên của Đoàn đã được tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Có nhiều sáng tác và tiết mục biểu diễn được giải thưởng cao trong và ngoài nước. Cg Đoàn nghệ thuật quân đội. Đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên: Chính Hữu (1951-54).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:52:43 PM

        “ĐOÀN VỆ QUỐC QUÂN”, hành khúc của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sáng tác sau CM tháng Tám (1945), được phổ biến rộng rãi thời kì đầu KCCP. Lời và giai điệu của “ĐVQQ” có tác dụng khích lệ các chiến sĩ Vệ quốc đoàn tiếp bước truyền thống vẻ vang của dân tộc, chiến đấu hi sinh bảo vệ nền độc lập non trẻ của tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; trở thành một trong những bài hát truyền thống của QĐND VN.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66317660_449573209105898_927745749486141440_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnuPqyAsXN4tcDlphqIMKK0rrl6ZbyU2JfgiQOERJU3GS0_fZlMm3XPhlaTT8szGIg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2d6ad9bf9fc76e22c3164443497ea218&oe=5DA121A2)


        ĐOÀN VINH QUANG nh SƯ ĐOÀN 304

        ĐOẠN ĐỔ BỘ, phần bờ biển cùng với vùng nước tiếp giáp được lựa chọn làm nơi đổ bộ của một bộ phận quân đổ bộ (tương đương tiểu đoàn) và hoạt động tác chiến của các tàu bảo đảm đổ bộ. ĐĐB gồm một sô điểm đổ bộ và có thể là một bộ phận của khu vực đổ bộ. Thường lựa chọn ở bờ biển không thiết bị; khi điều kiện cho phép có thể chọn nơi có thiết bị bến, cảng.

        ĐOẠN ĐỘT PHÁ, đoạn (khu vực) phòng ngự của địch ở trên hướng tiến công mà binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn phải tập trung nỗ lực phá vỡ để tạo điều kiện phát triển tiến công vào bên trong và mục tiêu chủ yếu. ĐĐP do người chỉ huy (tư lệnh) hoặc cấp trên xác định khi hạ quyết tâm tác chiến, căn cứ vào tính chất phòng ngự của địch, khả năng tiến công của ta, điều kiện địa hình và các yếu tố khác. Trên ĐĐP phải tập trung lực lượng ưu thế đủ khả năng phá hủy công sự, tiêu diệt địch, chiếm lĩnh trận địa. ĐĐP thường được chọn nơi địch phòng ngự mỏng yếu, sơ hở, liên quan đến chỗ hiểm yếu; nơi địa hình cho phép triển khai được lực lượng. ĐĐP xuất hiện từ CTTG-II.

        ĐOẠN VƯỢT SÔNG, đoạn sông và địa hình hai bên bờ được chọn để tổ chức cho một binh đội vượt qua trong quá trình hành quân hoặc chiến đấu. Chọn ĐVS phái căn cứ vào nhiệm vụ và ý định chiến đấu, đặc điểm của sông và địa hình hai bên bờ, tình hình địch, phương tiện và phương pháp vượt sông. Tốt nhất là chọn nơi sông hẹp, không sâu (lội được càng tốt); đáy rắn, không hoặc ít bùn; nước chảy chậm; hai bờ tương đối thoải, địa hình kế cận hai bờ thuận lợi cho việc cơ động, triển khai. Khi vượt sông bằng sức mạnh chọn nơi đối phương phòng ngự yếu. Mỗi ĐVS gồm các bến vượt; số lượng, loại và vị trí các bến được xác định tùy theo điều kiện cụ thể.

        ĐÒN CHIẾN LƯỢC, hoạt động tác chiến tạo bước ngoặt chiến lược hoặc thay đổi cục diện chiến tranh. ĐCL có thế là một chiến cục, chiến dịch, cuộc tổng tiến còng (tổng phản công) hoặc đợt tập kích (đột kích) đường không, đường biển... vào những mục tiêu hoặc lực lượng chiến lược hiếm yếu của đối phương. ĐCL có thể được tiến hành ở chiến trường, hậu phương hoặc trên mặt trận ngoại giao. Chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) trong KCCP; cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), các chiến dịch: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Hồ Chí Minh trong KCCM của nhân dân VN, là những ĐCL.

        ĐÒN ĐỘT KÍCH, đòn đánh phá mãnh liệt trong thời gian ngắn vào quân địch bằng hỏa lực hoặc xung lực; một hình thức tác chiến. Có thể tiến hành độc lập hoặc là một bộ phận của trận chiến đấu, chiến dịch hay của các hình thức tác chiến khác. Theo quy mô, có: ĐĐK chiến thuật, ĐĐK chiến dịch và ĐĐK chiến lược; theo lực lượng sử dụng, có; ĐĐK hạt nhân, ĐĐK hỏa lực (không quân, pháo binh, tên lửa...) và ĐĐK bằng xung lực. Đối với bộ binh (bộ binh cơ giới), bộ đội xe tăng, ĐĐK được tiến hành bằng binh lực và hỏa lực tập trung cao, tiến công nhanh và mạnh vào quân địch.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:54:32 PM

        ĐÒN ĐỘT KÍCH ĐẶC CÔNG, đòn đột kích do phân đội đặc công thực hiện bằng cách trực tiếp dùng mìn, lượng nổ để tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện vật chất quan trọng của đối phương; một hình thức tác chiến của đặc công. Có ĐĐKĐC đơn lẻ và ĐĐKĐC tập trung. Tùy theo từng loại đặc công, mục đích, nhiệm vụ tác chiến, tính chất mục tiêu để vận dụng phương pháp đột kích cho phù hợp.

        ĐÒN ĐỘT KÍCH HẠT NHÂN (ngoại), đòn đột kích bằng vũ khí hạt nhân nhằm tiêu diệt (sát thương) các mục tiêu. ĐĐKHN có thể do lực lượng của một quân chủng hoặc nhiều quân chủng tiến hành theo một kế hoạch thống nhất. Theo tính chất nhiệm vụ và quy mô, có ĐĐKHN: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. ĐĐKHN chiến lược chủ yếu do lực lượng hạt nhân chiến lược tiến hành nhằm tiêu diệt những mục tiêu chiến lược trong toàn bộ chiều sâu đất nước của đối phương. ĐĐKHN chiến dịch và chiến thuật do lực lượng hạt nhân cấp chiến dịch, chiến thuật tiến hành nhằm tiêu diệt những mục tiêu QS trọng yếu trên địa bàn chiến dịch, chiến thuật của đối phương. Theo thứ tự tiến hành, có; ĐĐKHN đầu tiên và ĐĐKHN tiếp sau. ĐĐKHN đầu tiên được tiến hành theo kế hoạch đã có sẵn, có ý nghĩa quyết định đến tiến trình và kết cục của chiến tranh hạt nhân. ĐĐKHN tiếp sau được tổ chức trên cơ sở xem xét kết quả của ĐĐKHN đầu tiên. Theo số lượng mục tiêu sát thương và số lượng đầu đạn hạt nhân dùng để sát thương các mục tiêu, có: ĐĐKHN đơn lẻ, ĐĐKHN cụm và ĐĐKHN mật tập. ĐĐKHN đơn lẻ là đánh vào một mục tiêu hoặc một cụm mục tiêu bằng một đầu đạn hạt nhân (một quả bom, một quả tên lửa...). ĐĐKHN cụm là đồng thời đánh vào một hoặc một số mục tiêu của quân địch bằng một số đầu đạn hạt nhân. ĐĐKHN mật tập được tiến hành đồng thời hoặc trong một thời gian rất ngắn với số lượng lớn đầu đạn hạt nhân nhằm tiêu diệt (sát thương) một tập đoàn lực lượng lớn hoặc một số tập đoàn lực lượng và những mục tiêu trọng yếu khác của địch. ĐĐKHN là cơ sở của tiến công hạt nhân và có thể được tiến hành trên toàn bộ chiến trường tác chiến hoặc chiến trường chiến tranh.

        ĐÒN HỎA LỰC PHÁO BINH, sử dụng hỏa lực tập trung của một số lớn các phân đội (binh đội) pháo binh theo sự chỉ huy  (chi dạo) chung, nhằm sát thương lớn sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của đối phương, làm thay đổi tương quan lực lượng có ý nghĩa chiến lược (chiến dịch); phương pháp thực hiện nhiệm vụ hỏa lực pháo binh. Tiến hành ĐHLPB bằng kết hợp các dạng hỏa lực: tập trung, tập trung dày đặc (mật tập) và đơn lẻ. Trong KCCM, chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972) đã tiến hành 3 ĐHLPB: “Bão Táp 1” sử dụng trên 6 trung đoàn pháo binh (150 pháo rãnh xoắn, hơn 200 súng cối các loại, 15.000 viên đạn) tập kích hỏa lực đồng loạt vào 19 cứ điểm, phá hủy nặng hệ thống căn cứ hỏa lực của Sư đoàn bộ binh 3 địch; “Bão Táp 2” lực lượng tương tự như “Bão Táp 1” bắn 29.984 viên đạn, tiêu diệt phần lớn xe tăng, xe thiết giáp, đánh bại chiến thuật co cụm của đối phương; “Bão Táp 3” sử dụng 6 tiểu đoàn pháo rãnh xoắn và 1 tiểu đoàn pháo phản lực (BM-14), bắn 3.591 viên đạn vảo căn cứ La Vang (đánh địch chuẩn bị rút chạy khỏi Quảng Trị) diệt phần lớn sinh lực, buộc địch phải bỏ lại toàn bộ xe pháo. Cg đòn tập kích hỏa lực pháo binh.

        ĐÒN TẬP KÍCH HỎA LỰC PHÁO BINH nh ĐÒN HỎA LỰC PHÁO BINH

        ĐÓN LÕNG, thủ đoạn tác chiến dùng một bộ phận lực lượng bí mật bố trí sẵn ở khu vực (hướng, đường) dự kiến quân địch sẽ qua để tiêu diệt chúng. ĐL được thực hiện: trong tiến công để đánh địch rút chạy, tăng viện...; trong phòng ngự để đánh địch luồn sâu, vu hồi... ĐL thường phải kết hợp chặt chẽ với nghi binh, lừa địch theo một ý định và kế hoạch thống nhất.

        ĐÓNG QUÂN, bố trí và tổ chức cho bộ đội ăn, ở, sinh hoạt, công tác, huấn luyện, lao động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu , trong thời gian tương đối dài ở doanh trại hoặc ở nhà dân, theo đúng điều lệnh, điều lệ QĐ. Khi ĐQ phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, có kế hoạch đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Nếu ĐQ trong khu vực dân cư hoặc gần dân, bộ đội phải làm công tác dân vận, giữ tốt quan hệ quân dân.

        ĐÔ (cổ), đơn vị tổ chức của QĐ triều đại phong kiến TQ và Lí, Trần ở VN. Thời Lí, Đ là đơn vị tổ chức cao nhất trong quân ngự tiền, do đô đầu chỉ huy. Thời Trần, trong quân cấm vệ và quân các lộ, Đ gồm 80 người (10 ngũ, mỗi ngũ 8 người), 10 Đ hợp thành 1 quân: trong quân tứ sương. Đ gồm 50 người (10 ngũ, mỗi ngũ 5 người). Đ thường có tên hiệu riêng. Vd: thời Trần, quân cấm vệ có các Đ: Chân Thượng, Thủy Dạ Xoa, Chân Kim, Toàn Kim Cương, Phù Liễn. Ở TQ Đ có từ năm 885, cứ 100 người thành 1 Đ, đến thời Nam Tống thì bỏ tổ chức này.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:55:52 PM

        ĐÔ CHỈ HUY SỨ (cổ), chức quan võ chỉ huy một lực lượng quan trọng (nhu quân diện tiến) hoặc một đơn vị lớn (như vệ đầu thời Hậu Lê) trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra năm 971 (thời Đinh); thời Tiền Lê, Lí cũng có chức vụ này nhưng đến thời Trần thì bỏ. Đầu thời Hậu Lê lại đặt ĐCHS (hàm chánh tam phẩm) và đến đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471) đặt thêm các chức vụ tương đương như: đô chỉ huy đồng tri (tòng tam phẩm), đô chỉ huy thiêm sự (chánh tứ phẩm).

        ĐÔ DƯƠNG (?-43), danh tướng thời Hai Bà Trưng chống chính quyền đô hộ Đông Hán (TQ). Quê h. Chu Diên (vùng Hà Tây - Hà Nam ngày nay). Vốn là tùy tướng của gia đình lạc tướng Thi Sách, năm 40 tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng (3.40), lập nhiều công lớn và được coi là đệ nhất công thần thời Trưng Vương. Năm 42-43 tướng Đông Hán là Mã Viện đem đại binh sang đàn áp, đánh bại Hai Bà Trưng, ĐD chỉ huy một đạo quân rút vào Cửu Chân (vùng Thanh Hóa ngày nay) cùng các thú lĩnh và nhân dân địa phương tiếp tục chiến đấu. Cuối 43 sau nhiều trận chiến ác liệt tại Võ Công (nay thuộc nam Ninh Bình), Dư Phát, Cư Phong (nay thuộc Thanh Hóa)... lực lượng nghĩa quân suy yếu dần và bị Mã Viện đánh bại.

        ĐÔ ĐỐC* (cổ), chức quan võ cấp cao trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Xuất hiện dưới triều Trần Thuận Tông năm Quang Thái thứ 10 (1397), coi việc quân một lộ (cả nước có 12 lộ). Thời Hậu Lê, dưới triều Lê Thái Tông (1434-42) và Lê Nhân Tông (1443-59) ĐĐ được phong cho quan võ đại thần có công lớn; từ đời Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), ĐĐ thống lĩnh lực lượng QĐ thuộc một phủ quân (gồm 2-3 đạo thừa tuyên); có tả ĐĐ. hữu ĐĐ (phẩm trật đều là tòng nhất phẩm), ĐĐ đồng tri (chánh nhị phẩm), ĐĐ thiêm sự (tòng nhị phẩm). Thời Tây Sơn (1788-1802), ĐĐ chỉ huy một đạo quân cơ động.

        ĐÔ ĐÔC**, bậc quân hàm sĩ quan cao cấp của hải quân nhiều nước. Trong QĐND VN, ĐĐ là bậc quân hàm cao nhất của hải quân, tương đương thượng tướng, được quy định lần đầu tại Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (1981). Quân nhân của QĐND VN được phong hàm ĐĐ đầu tiên: Giáp Văn Cương (1988).

        ĐÔ ĐỐC BẢO (?-?), danh tướng thời Tây Sơn. Trong cuộc đại phá quân Thanh đầu Xuân Kỉ Dậu (1789). ĐĐB chỉ huy một trong năm đạo quân, gồm kị binh và tượng binh bố trí ở làng Đại Áng (tây nam dồn Ngọc Hồi) để phối hợp với đạo chính binh tiến công đồn Ngọc Hồi. Khi quân Thanh trên đường tháo chạy về Thăng Long, quân của ĐĐB bất ngờ tiến công tiêu diệt hàng vạn địch tại Đầm Mực (x. trận Ngọc Hồi - Đầm Mực, 30.1.1789). Cùng Nguyễn Huệ tiến quân vào Thăng Long.

        ĐÔ ĐỐC HẠM ĐỘI, bậc quân hàm sĩ quan cao cấp của hải quân nhiều nước. Trong QĐ và hải quân LX, ĐĐHĐ được đặt ra 7.5.1940, bãi bỏ 3.3.1955 và khôi phục từ 28.4.1962. tương đương với quân hàm đại tướng lục quân và nguyên soái binh chủng. Người được trao quân hàm ĐĐHĐ có bằng chứng nhận của Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao LX và phủ hiệu “Sao nguyên soái” (phù hiệu cấp cho nguyên soái binh chủng). Cg thủy sư đô đốc.

        ĐÔ ĐỐC LỘC (?-?), danh tướng thời Tây Sơn. Quê Kì Sơn, Phước Vân, phủ Quy Nhơn (nay thuộc h. Tây Sơn, t. Bình Định). Trong trận đại phá quân Thanh đầu Xuân Kỉ Dậu (1789), chỉ huy một trong năm dạo quân, khoảng 2 vạn quân thủy bộ làm nhiệm vụ chặn đường rút lui của quân Thanh. 30.1.1789 (mồng 5 Tết Kỉ Dậu), chỉ huy đánh tàn quân Thanh rút chạy theo tổng binh Tôn Sĩ Nghị tại Phượng Nhãn (Bắc Giang), khiến Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín, cờ hiệu để thoát thân, đến biên giới chỉ còn vài chục kị binh (xt kháng chiến chống Thanh, 1788-89).

        ĐÔ ĐỐC TUYẾT (?-?), danh tướng thời Tây Sơn. Quê h. Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc h. Tây Sơn, t. Bình Định). Cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu. Tham gia khởi nghĩa Tây Sơn từ đầu, lập nhiều công, được phong đô đốc. 12.1788 khi quân Thanh xâm lược, ĐĐT đã phi ngựa hỏa tốc 4 ngày đêm từ Thăng Long về Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ. Mùa Xuân 1789, trong cuộc đại phá quân Thanh, ĐĐT chỉ huy một trong năm đạo quân của Tây Sơn vượt biển ra Bắc, tiêu diệt bộ phận địch đóng ở Hải Dương và chặn đánh số quân tháo chạy khỏi Thăng Long ở vùng Bắc Ninh - Hải Dương. Sau khi Nguyễn Huệ chết, ĐĐT chỉ huy hàng trăm thuyền lớn đánh quân Nguyễn Ánh ở Hải Dương (1803), tiếp tục sự nghiệp của Quang Trung đến cùng. Hiện còn đền thờ ĐĐT tại đường Hoàng Diệu, q. Phú Nhuận, tp Hồ Chí Minh.

        ĐÔ KIỂM ĐIỂM (cổ), chức quan võ chỉ huy quân cấm vệ đầu thời Hậu Lê (1428-1527), dưới tổng quản. Những năm dưới niên hiệu Hồng Đức (1470-97) đời vua Lê Thánh Tông, phẩm trật của ĐKĐ là chánh nhị phẩm; các chức đặt thêm như tả kiểm điểm, hữu kiểm điểm đều có phẩm trật tòng nhị phẩm. Thời Trung Hưng (1533-1788), để tránh tên húy của Thái Vương Trinh Kiểm nên ĐKĐ đổi thành đô hiệu điểm; tả (hữu) kiểm điểm đổi thành tả (hữu) hiệu điểm, nhưng chức phẩm vẫn như cũ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 10:57:03 PM

        ĐÔ LƯƠNG, huyện phía nam t. Nghệ An. Địa hình phần lớn là đồng bằng trải dọc theo QL 15 A và vắt ngang QL 7 Diễn Châu - Salaphukhun. Đồi núi thấp, tập trung chủ yếu ở phía tây bắc và đông nam. Sông Lam (Sông Cả) chảy qua phía tây huyện. Huyện lị (thị trấn Đô Lương) trên km 33 QL 7, km 300 QL 15A, tây bắc tp Vinh 40km theo đường 49 và QL 15 A. Tại ĐL nổ ra cuộc binh biến Đô Lương (13.1.1941) của binh lính người Việt trong QĐ Pháp do Đội Cung lãnh dạo.

        ĐỒ GIẢI, phương pháp giải các bài toán bằng hình vẽ, đồ thị, biểu đồ,... mà không thực hiện các phép tính. Trị số tìm được là trị số gần đúng. Trong QS dùng phương pháp ĐG để tính lượng sửa bắn của pháo...

        ĐỔ BỘ, hoạt động QS được thực hiện bằng sử dụng phương tiện vận chuyển đường biển hoặc đường không để cơ động lực lượng đến khu vực nhất định và thực hành đổ quân lên mặt đất nhằm thực hiện những nhiệm vụ được giao (đánh chiếm mục tiêu, tăng viện, cứu hộ, cứu nạn...). Theo phương thức vận chuyển, có ĐB: đường không, đường biển. Theo quy mô, có ĐB: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Gồm các giai đoạn: chuẩn bị ĐB, thực hành ĐB, thực hiện nhiệm vụ trên mặt đất. ĐB thường do người chỉ huy binh chủng hợp thành hoặc người chỉ huy hải quân (không quân) đảm nhiệm.

        ĐỔ BỘ BỜ - BỜ. phương pháp đổ bộ dùng các tàu đổ bộ chuyên dùng loại vừa và nhỏ vận chuyển quân đổ bộ và các phương tiện chiến đấu từ bờ biển của mình, vượt biển, đổ bộ trực tiếp lên bờ biển đối phương, không qua chuyển tải (đổi tàu). ĐBB-B vận dụng khi thời gian vượt biển ngắn, sóng (gió) nhỏ và có đủ số lượng tàu và phương tiện đổ bộ chuyên dùng cần thiết. Trường hợp quân đổ bộ xuống tàu và lên bờ ở những nơi có thiết bị bến cảng cũng có thể dùng tàu đổ bộ lớn, tàu vận tải để đổ bộ theo phương pháp này.

        ĐỔ BỘ CHIẾN DỊCH - CHIẾN LƯỢC, đổ bộ tiến hành trong các chiến dịch hoặc chiến dịch - chiến lược nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến dịch (bao vây các trung tâm hành chính, chính trị lớn, các khu vực công nghiệp, các đảo lớn, đánh chiếm các eo biển, cửa ngõ ra vào lãnh thổ của đối phương; phối hợp với lực lượng lục quân tiêu diệt các cụm quân lớn của đối phương hoặc mở mặt trận lớn cho các hoạt động QS). Lực lượng thường gồm các liên binh đoàn, binh đoàn tàu. không quân, các phân đội, binh đội binh chủng hợp thành. ĐBCD- CL có thể bằng đường biển, đường không hoặc kết hợp.

        ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN, đổ bộ bằng sử dụng tàu, thuyền cơ động lực lượng vượt biển và đổ bộ quân lên bờ để đánh chiếm khu vực bờ biển hoặc hải đảo do đối phương chiếm giữ, nhằm thực hiện những nhiệm vụ tác chiến nhất định. ĐBĐB có các quy mô: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. ĐBĐB thường gồm các giai đoạn: tổ chức chuẩn bị tập kết lực lượng và đưa quân xuống tàu, hành quân vượt biển, tiến hành trận chiến đấu đổ bộ đường biển, thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu trên bờ (quân đổ bộ đánh chiếm các mục tiêu, củng cố lực lượng, trận địa...) và yểm hộ cho quân đổ bộ ở trên bờ. Chi huy ĐBĐB thường do người chỉ huy binh chủng hợp thảnh hoặc do người chỉ huy hải quân đảm nhiệm.

        ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG, đổ bộ bằng sử dụng máy bay, cơ động lực lượng theo đường không, đổ (thả) xuống vị trí đã chọn và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. ĐBĐK được tiến hành bàng nhảy (thả) dù, hạ cánh hoặc kết hợp cả hai. Căn cứ vào tính chất nhiệm vụ tác chiến, lực lượng sử dụng và chiều sâu đổ bộ, chia ra ĐBĐK: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và đặc chủng. ĐBĐK gồm có: chuẩn bị đổ bộ, thực hành đổ bộ và chiến đấu ở mặt đất. Chuẩn bị đổ bộ bắt đầu từ khi nhận nhiệm vụ đến khi hoàn thành đưa lực lượng và phương tiện lên các phương tiện vận tải đường không; thực hành đổ bộ bắt đầu từ khi rời khỏi khu vực xuất phát đổ bộ đến khi đổ bộ xuống đất; chiến đấu ở mặt đất bắt đầu từ sau khi đổ bộ xuống đất đến khi hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khoảng cách từ khu vực xuất phát đổ bộ đến khu vực đổ bộ gọi là tầm đổ bộ, còn khoảng cách từ tuyến tiếp xúc của lực lượng hai bên đối địch trên mặt đất đến khu vực đổ bộ gọi là chiều sâu đổ bộ.

        ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG CHIẾN DỊCH, đổ bộ đường không do liên binh đoàn chiến dịch tổ chức và tiến hành để phối hợp tác chiến với các lực lượng khác thực hiện mục đích chiến dịch nhất định. Lực lượng ĐBĐKCD khoảng 1-2 sư đoàn. Nhiệm vụ chủ yếu: đánh chiếm khu vực và mục tiêu trong chiều sâu chiến dịch mà đối phương dang chiếm giữ, chia cắt thế bố trí chiến dịch, cản trở đối phương rút lui, triển khai đội dự bị hoặc chiếm khu vực đổ bộ, bảo đảm cho vượt sông hoặc cho lực lượng đổ bộ đường biển thực hành đổ bộ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 11:00:04 PM

        ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG CHIẾN THUẬT, đổ bộ đường không nhằm phối hợp tác chiến với các lực lượng thực hiện mục đích trận chiến đấu. Lực lượng ĐBĐKCT có thể từ đại đội đến trung đoàn tăng cường; có nhiệm vụ phối hợp tác chiến với lực lượng tiến công chính diện; đánh chiếm mục tiêu hoặc khu vực địa hình quan trọng trong chiều sâu đội hình địch; chia cắt đội hình, cản trở đối phương triển khai lực lượng dự bị hoặc rút lui; tập kích SCH, căn cứ hậu cần kĩ thuật... hoặc chiếm bãi đổ bộ bảo đảm cho vượt sông.

        ĐỔ BỘ TÀU - BỜ, phương pháp đổ bộ dùng các tàu đổ bộ lớn và tàu vận tải chở quân đổ bộ vượt biển, đến cách bờ biển đối phương một cự li nhất định, chuyển quân và phương tiện chiến đấu sang các phương tiện đổ bộ (đổi tàu) để đổ bộ lèn bờ biển đối phương. ĐBT-B vận dụng khi thời gian vượt biển dài, sóng gió lớn và không có đủ số lượng tàu đổ bộ chuyên dùng để có thể trực tiếp đổ quân và phương tiện chiến đấu.

        ĐỖ BÍ (Lê Bí; ?-?), danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn. Quê thôn Cung Hoàng (nay là Cung Điền, h. Nông Cống. t. Thanh Hóa). 1418 khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ĐB là 1 trong số 50 tướng đầu tiên của nghĩa quân luôn bảo vệ Lê Lợi trong thời gian bị quân Minh bao vây ở núi Chí Linh (Thanh Hóa). 1424 tham gia chỉ huy đánh thắng trận Khả Lưu (Nghệ An). 1426 cùng các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lí Triện chỉ huy cánh quân thứ nhất của nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc uy hiếp thành Đông Quan (nay là Hà Nội) ở hướng tây nam, chỉ huy trận Ninh Kiều, Nhân Mục (13.9 và 20.10.1426) diệt các đạo quân Minh do Trần Trí, Viên Lượng chỉ huy ra giải tỏa thành Đông Quan. 4.3.1427 bị tướng Minh là Phương Chính đánh úp tại Cảo Động (nay là Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) và bị bắt; 1.1428 được trao trả. Kháng chiến chống Minh thắng lợi, ĐB được ban tước Huyện Hầu và quốc tính (mang họ vua).

        ĐỖ DUY PHÚ (Nguyễn Danh Phú; 1958-79), Ah LLVTND (truy tặng 1979). Quê xã Minh Quân, h. Trấn Yên, t. Yên Bái; nhập ngũ 1978, binh nhất (1979); khi hi sinh là chiến sĩ trinh sát Đại đội 20, Trung đoàn 124, Sư đoàn 345, Quân khu 2. Trong chiến đấu chống quân TQ xâm lược 17-28.2.1979, ĐDP dũng cảm bám sát địch, báo cáo kịp thời, chính xác cho cấp trên. 28.2.1979 cùng tổ trinh sát làm nhiệm vụ quan sát địch từ các điểm cao 498 và 433 (Bảo Thắng, Lào Cai). Khi quân TQ ồ ạt tiến cồng nhiều đợt lên đài quan sát, ĐDP cùng đồng đội vừa báo cho pháo binh kịp thời bắn vào đội hình địch, vừa trực tiếp dùng súng AK, lựu đạn đánh địch quyết liệt. ĐDP hai lần bị thương vẫn không rời vị trí chiến đấu, diệt hơn 100 địch và hi sinh. Huân chương: Quân công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64584965_449573185772567_5217478365115580416_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlxdX2Ja5BX1b0R6M8UnQs2khBw6jOS8EvWeXYsiDN2G0A5LjoGBf8zGveZs2bV4ME&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=bbc885b3bdeb45e5ab3ca6c244bf41de&oe=5DA474AF)


        ĐỖ HOÀI NAM (Đặng Văn Nhị; 1931-90), Ah LLVTND (1973). Quê xã Hội Cư, h. Cái Bè, t. Tiền Giang; nhập ngũ 1950, thiếu tướng (1990), Thầy thuốc nhân dân; đv ĐCS VN (1950), khi tuyên dương Ah là bác sĩ viện trưởng Viện quân y A72 (nay là Viện quân y 175). Trong KCCM, hoạt động cứu chữa thương binh, bệnh binh ở chiến trương Nam Bộ, khắc phục khó khăn gian khổ, ác liệt, trực tiếp mổ gần 1.200 trường hợp an toàn (có nhiều trường hợp hiểm nghèo), cứu sống hàng trăm thương binh, khắc phục nhiều trường hợp khỏi bị tàn tật. Viết nhiều tài liệu phổ biến kinh nghiệm cho các đơn vị vận dụng cứu chữa thương binh, bệnh binh kịp thời, có hiệu quả, tham gia giảng dạy đào tạo nhiều bác sĩ cho QĐ. Huân chương: 3 Chiến công hạng ba.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66625165_449573195772566_783397164297486336_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnSm-op5q3uiwKlpIUDeWOl2qc2TVW9hRi2YH5si0V4BlOVNb1Tp_CqNZ93KyHHUjM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=59d53557e631c4e8e1ad8d6259673ac2&oe=5DB375B0)


        ĐỖ MƯỜI (Ngạn; s. 1917), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN (1991-97). Quẽ xã Đông Mĩ, h. Thanh Trì, tp Hà Nội; tham gia CM 1936; đv ĐCS VN (1939). Năm 1936-41 hoạt động trong phong trào bình dân, bị địch bắt, kết án 10 năm tù, giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). 3.1945 vượt ngục tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại tỉnh Hà Đông. Sau CM tháng Tám (1945), bí thư Tỉnh ủy Hà Đông; 1946 bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, bí thư thành ủy kiêm chủ tịch ủy ban bảo vệ tỉnh Nam Định. 1948 khu ủy viên Liên khu 3, bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. 1950 phó bí thư liên khu úy kiêm phó chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính, chính ủy BTL Liên khu 3. Năm 1952-54 bí thư khu ủy kiêm chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Khu tả ngạn Sông Hồng; chính ủy BTL Khu Tả Ngạn. 1955 chỉ đạo tiếp quản khu 300 ngày, bí thư thành ủy kiêm chủ tịch ủy ban quân chính thành phố Hải Phòng. 1956-88 thứ trường Bộ thương nghiệp; bộ trưởng Bộ nội thương; chủ nhiệm Ủy ban vật giá Nhà nước; trường phái đoàn thanh tra chính phủ, phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban kiến thiết cơ bản nhà nước; chủ tịch Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương; phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ xây dựng. 1988-91 chủ tịch HĐBT nước CHXHCN VN. 1991-97 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS VN, bí thư Đảng ủy QS trung ương. ủy viên BCHTƯ ĐCS VN khóa III VIII (dự khuyết 3.1955); ủy viên BCT khóa V-VIII (dự khuyết khóa IV); thường trực Ban bí thư khóa VI. Cố vấn BCHTƯ Đảng (12.1997- 4.2001). Đại biểu Quốc hội khóa II. IV-IX. Huân chương: Sao vàng...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66627855_449573219105897_8952437725932290048_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQn9ai_9pC3qloNsq_f4MVDrXF8c5b26xeAFZqomZWE1ogKJx9DgyRKThEHk3tPk67w&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=a8b8dc5af16b62dfc35da031117d30f7&oe=5DA79955)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 11:01:52 PM

        ĐỖ NHUẬN (1922-91), nhạc sĩ, tổng thư kí Hội nhạc sĩ VN (1956-83). Quê xã Thái Học, h. Bình Giang, t. Hải Dương: tham gia CM (1943), nhập ngũ 1945, thiếu tá (1959); đv ĐCS VN. Tham gia hoạt động trong phong trào thanh niên cứu quốc, bị thực dân Pháp bắt, đày đi nhà tù Sơn La (1943). Thuộc thế hệ nhạc sĩ CM hàng đầu. Hem 40 năm, ĐN có nhiều đóng góp và phát triển nền âm nhạc của dân tộc. Từ những ngày ở tù (1943), viết những bài hát “Chiều tà”, “Hận Sơn La”, “Tiếng gọi tù nhân”, “Côn Đảo”, “Du kích ca”. Sau CM tháng Tám (1945), ĐN sáng tác các bài hát: “Nhớ chiến khu”, “Tiếng súng Nam Bộ”, “Tiếng hát tòng quân”, “Áo mùa đông”, hợp xướng “Du kích Sông Thao” (hợp xướng đầu tiên trong âm nhạc VN). Tiếp đó là hàng loạt ca khúc trong KCCP và KCCM như: “Hành quân xa”, “Trên đổi Him Lam”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Việt Nam quê hương tôi”, “Thanh niên vui mở đường”, “Trống hội tòng quân”, “Trai anh hùng gái đảm đang”, “Trông cây lại nhớ đến Người”. ĐN còn góp công xây dựng nền kịch hát VN, viết nhạc kịch đầu tiên theo thể loại Ôpêra như: “Cô Sao” (1965), “Người tạc tượng” (1971) và viết nhiều ca cảnh, khí nhạc. Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Huân chương: Độc lập...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66393261_449573245772561_1190127955888570368_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnAu28VrDZL4aXPHDzM3D_r9d6x2IADtJ9PtctEbQm2SJDTak3ErjvkhqxCezWEqOQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=6d5734dcf47dba3c4c965973f85b24e6&oe=5DB70CE5)


        ĐỖ THỊ PHÚC (Mẹ Gấm; 1906-91), Ah LLVTND (1978). Quê Nghĩa Hưng, t. Nam Định; khi tuyên dương Ah là dân quân xã Nam Thái Sơn, h. Hòn Đất, t. Kiên Giang. Trong KCCP, tham gia Hội mẹ chiến sĩ. Trong KCCM, kiên quyết đấu tranh không chịu vào ấp chiến lược của địch; hoạt động ở vùng giáp ranh, nuôi giấu cán bộ, bộ đội; có lần không quản nguy hiểm, lấy thân mình che miệng hầm bí mật để bảo vệ cán bộ kháng chiến. ĐTP đã dẫn đầu 40 cuộc đấu tranh chính trị ở địa phương; có lần cầm cờ lên tx Rạch Giá đòi nhà cầm quyền Sài Gòn phải bồi thường thiệt hại về người và của do chúng gây ra; ngồi trước xe tăng, ngăn không cho địch ủi phá xóm làng. ĐTP có 2 con là liệt sĩ. 1994 được phong Bà mẹ VN Ah. Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66218713_449573262439226_4821049117008461824_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnQR1NVsirODlMJocoYA89rbjOZJgu5XLb47mhNozXquNdyNCjpUCmy9BT1BsY2ugg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=2f86ca82bd7bf18e380ca2813152f653&oe=5DB1F1FA)


        ĐỖ TRÌNH (Phạm Văn Tri; s. 1922), giám đốc, bí thư đảng ủy Học viện QS cấp cao (1990), giáo sư, tiến sĩ QS. Quê xã Quảng Thái, h. Quảng Điển, t. Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ 1945, trung tướng (1982); đv ĐCS VN (1945). Tháng 3.1945 tham gia phong trào thanh niên cứu quốc ở Hà Nội. 5.1946 chủ tịch ủy ban bảo vệ, sau là ủy ban kháng chiến, bí thư đảng ủy Liên khu 3 (Hà Nội). 1948-49 chính trị viên, bí thư đảng ủy trung đoàn. 1949-54 chủ nhiệm chính trị, rồi trưởng phòng huấn luyện Trường sĩ quan lục quân. 1955-64 cục phó Cục quân huấn, rồi cục trưởng Cục nghiên cứu khoa học QS BTTM. 5.1965 phó giám đốc Học viện QS. 1-9.1968 phó tư lệnh, kiêm tham mưu trưởng Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh; cục trưởng Cục quân huấn BTTM. 5.1969 chánh văn phòng Quân ủy trung ương và BQP. 1974 viện phó Viện khoa học QS. 12.1979 phó tư lệnh tham mưu trưởng, rồi quyền tư lệnh Quân khu 2 (1982). Tháng 11.1984-90 phó giám đốc, rồi giám đốc, bí thư đảng ủy Học viện QS cấp cao. 9.1991 phó viện trưởng Viện chiến lược BQP. 9.2001 ủy viên Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, 4.2003 chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư ngành khoa học QS. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng ba), Chiến công hạng nhì, Kháng chiến hạng nhất. Chiến thắng hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64554338_449573275772558_2162422175615680512_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQnSb2v3oEZVUAiAF39z4DtkfXXA6BGFZQ-HSxCWoR415ULRKqLPmgRDhajOZm6ksoU&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1d9042b6ceeeec16d02002ef5a9121a5&oe=5DC548D2)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 11:03:52 PM

        ĐỖ VĂN ĐỨC (s. 1925), phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN (1982-95). Quê xã Trịnh Xá, h. Bình Lục, t. Hà Nam; nhập ngũ 1945, trung tướng (1986); đv ĐCS VN (1948). Trước CM tháng Tám (1945) hoạt động trong phong trào thanh niên ở Nam Bộ. 1945-52 phụ trách ban huấn luyện Trung đoàn 9; Ban quân huấn Khu 4; phó ban tác huấn phòng tham mưu Liên khu 4; tiểu đoàn trưởng, tham mưu phó Trung đoàn 9, Sư đoàn 304. Tháng 9.1952 phó phòng, trường phòng tổ chức biên chế Cục quân lực. Tham gia nhiều chiến dịch trong đó có Điện Biên Phủ (1954). Tháng 1.1965- 6.1969 trưởng phòng quân lực Bộ tham mưu Miền (B2); tham mưu phó BTL Miền. Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (1975). Tháng 8.1976-81 cục trường Cục quân lực BTTM. 1982-95 phó tổng tham mưu trường QĐND VN. Huân chương: Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công hạng ba, Kháng chiến hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66581982_449573285772557_8348785230735212544_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQm2SBjqbSvmUdKu-1wuoNNBr5GpOcS-y6qKwHRzJWGBmT8Jfirabki-Hg1PoBtG6WI&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=258a08c0eee8f2f871be6510b118ed9e&oe=5DAD6957)


        ĐỖ VĂN NINH (s. 1939), Ah LLVTND (1978). Quê phường Ninh Xá, tx Bắc Ninh, t. Bắc Ninh: nhập ngũ 1964, đại tá (1983), tư lệnh phó binh chủng đặc công (1982); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là thiếu tá, trung đoàn trường Trung đoàn đặc công 113, BTL đặc công. 1967-75 chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, chỉ huy đơn vị đánh hơn 50 trận, diệt hơn 3.000 địch, phá hủy nhiều  máy bay, xe QS và các phương tiện chiến tranh trận đánh căn cứ Têchnich (Tây Ninh, 15.5.1969), chỉ huy tiểu đoàn diệt 500 địch (có 1 đại tá Mĩ), phá hủy 13 khẩu pháo và nhiều hầm ngầm, lô cốt. Đêm 12 rạng 13.8.1972, trực tiếp đi trinh sát và chỉ huy đội đặc công đánh khu kho 53, Tổng kho Long Bình, phá hủy 150t bom đạn, gần một nghìn tấn xăng dầu, diệt nhiều địch (có 1 đại tá Mĩ). 9.1978 chỉ huy trung đoàn bảo vệ biên giới phía tây nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. 1982 tư lệnh phó Binh chủng đặc công. Huân chương: Chiến công (2 hạng nhì, 5 hạng ba), 4 lần Dũng sĩ.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66640146_449573299105889_1235829916906291200_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnlmvNzh6V1DMglEOu8YDhEugX5gzthJyyNnvMFtRmrDZkLTmu5bJWYhkpiE9pBkkY&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=d59ce8dc1f0944358cb71efbd8f79bf5&oe=5DB5E448)


        ĐỖ XUÂN DIỄN (s. 1932), Ah lao động thời kì đổi mới (1999). Quê xã Quảng Đức, h. Quảng Xương, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1950; thiếu tướng, tư lệnh Binh đoàn 12 (1989); đv ĐCS VN (1958); khi tuyên dương Ah là thiếu tướng, tư lệnh Binh đoàn 12 (tổng giám đốc Tổng công ti xây dựng Trường Sơn). Trong KCCP, cán bộ trung đội thuộc Tỉnh đội Thanh Hóa. Trong KCCM, 1964-74 liên tục chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn, trưởng thành từ trợ lí tham mưu tiểu đoàn đến trung đoàn trưởng, đảm nhiệm một trong những cung đường ác liệt nhất gồm các trọng điểm: cua Chữ A, đèo Phu La Nhích, ngầm Ta Lê, Lùm Bùm... Chỉ huy đơn vị kiên cường bám trụ trọng điểm, “mở đường mà tiến, đánh địch mà đi”, tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, thông tuyến, thông đường, hộ tống từng đoàn xe vượt qua trọng điểm đưa hàng vào chiến trường. Sau giải phóng miền Nam, phó cục trường rồi cục trưởng Cục cầu đường (Tổng cục xây dựng kinh tế), phó tư lệnh Binh chúng công binh. 1988 phó tư lệnh rồi tư lệnh Binh đoàn 12, đã cùng tập thể lãnh dạo khắc phục khó khăn, năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm tham gia xây dựng nhiều công trình trọng yếu có yêu cầu kĩ thuật cao của nhà nước và QĐ như: thủy điện Hoà Bình, thủy điện Yali. đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, đường dây 500KV Bắc - Nam, đường Láng - Hoà Lạc, QL 5... Tổng công ti xây dựng Trường Sơn trở thành một doanh nghiệp có uy tín ở trong nước và quốc tế, được chủ tịch nước tặng thường huân chương Sao vàng (1999). Huân chương: Quân công (hạng nhì, hạng ba), Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66482425_449573309105888_937713118744674304_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmhm2DqJI_bUcsfyZ5-JL44cZ-hE8N5K4Gj7rNUholTPAhVQ3yFkvsksH-0iDdEHpM&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=f748fb2f414b3d2824eaab53f795cfe3&oe=5DC409D0)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:15:16 AM

        ĐỖ XUÂN HỢP (1906-85), Ah LLVTND (1985). Quê q. Hoàn Kiếm, tp Hà Nội; nhập ngũ 1946, thiếu tướng, giáo sư (1955), giám đốc Học viện quân y (1960-78). Năm 1929 tốt nghiệp Trường cao đẳng y dược. 1944 bác sĩ y khoa. 1932-45 giảng viên Trường y dược Đông Dương, Đại học y khoa Việt Bắc (1949-54); viện trưởng Viện quân y Khu 10; hiệu trưởng kiêm chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu trường: quân y sĩ Việt Bắc, sĩ quan quân y (1950-60); chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu Đại học y khoa Hà Nội (1954-85); phó chủ tịch Tổng hội y học VN (từ khi thảnh lập); tham gia thành lập và là chủ tịch Hội hình thái học VN (1965-85); sáng lập viên Hội nhân chủng học, chuyên viên đầu ngành giải phẫu học VN; đào tạo 15.000 cán bộ y tế trong và ngoài QĐ; tác giả 125 công trình về nhân trắc học và hình thái học người VN (1934-85). Đại biểu Quốc hội khóa II-vII, ủy viên thường vụ Quốc hội khóa IV, phó chủ nhiệm ủy ban y tế - xã hội của Quốc hội khóa VI, ủy viên trung ương Mặt trận tổ quốc VN khóa III, phó chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc thành phố Hà Nội khóa IV. Giải thưởng Textut của Viện hàn lâm y học Pháp (1949), giải thưởng khoa học Hồ Chí Minh (1985). Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng nhất.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66323685_449573322439220_7368771000567070720_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQmB4c9S5mIwKkpAryKjJoNpOjMiHDTkPUqSxz5Hsjbdi-ttR4qSxuM1gTE7cfYOqCo&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4e774aae3494ef5cff5bfbdc720bb683&oe=5DA727C8)


        ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ, đại lượng vật lí đặc trưng cho lượng hơi nước chứa trong không khí, một trong những đặc trung cơ bản của thời tiết và khí hậu. Phân biệt độ ẩm tuyệt đối tính bằng khối lượng hơi nước (g) trong lm3 không khí và độ ẩm tương dối có giá trị bằng tỉ số (tính ra phần trăm) giữa áp suất riêng phần của hơi nước và áp suất hơi nước bão hòa ở nhiệt độ đang xét, được đo bằng ẩm kế. Ở VN có khí hậu nhiệt đới, độ ẩm tương đối rất cao, có khi tới 90-100%, gây nhiều khó khăn cho các hoạt động của máy móc, khí tài và thiết bị nhất là khí tài quang học và thiết bị điện tử. ĐÂKK cao tạo điều kiện phát triển nhiều loại nấm mốc làm hỏng khí tài và vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm.

        ĐỘ BỂN VỮNG CỦA CHẤT ĐỘC, khả năng chất độc giữ được tác dụng sát thương, được xác định bằng thời gian (giờ, ngày đêm, tuần lễ, tháng...) từ khi bắt đầu tập kích hóa học đến khi chất độc không còn khả năng sát thương (đối với người không dùng khí tài phòng độc). ĐBVCCĐ phụ thuộc vào tính chất hóa - lí, trạng thái chiến đấu (giọt lỏng, hơi, sương, khói...) của chất độc, đặc điểm địa hình và điều kiện khí tượng... Những chất độc có độ nhớt và nhiệt độ sôi cao, sử dụng ở dạng bột, giọt lỏng thường có độ bền vững lớn hơn những chất độc có độ nhớt và nhiệt độ sôi thấp, sử dụng ở dạng hơi. Vd: vx với nồng độ 0,13mg/l sau 6 tháng vẫn còn tới 40% không bị thủy phân, trong khi đó sarin với nồng độ 10g/l sau 10 giờ chỉ còn 5%. ĐBVCCĐ là cơ sở để phân loại chất độc theo tác dụng chiến thuật (chất độc lâu tan - từ vài giờ trở lên, chất độc mau tan - từ vài phút tới 2 giờ), chọn lựa phương pháp và chất tiêu độc hữu hiệu nhất.

        ĐỘ CAO NỔ. khoảng cách theo phương thẳng đứng tính từ điểm đạn nổ đến mặt phẳng ngang đi qua mục tiêu. Được đo bằng khí tài đo góc của pháo binh khi bắn đạn lắp ngòi hẹn giờ (nổ trên không). Muốn có ĐCN tối ưu (là ĐCN mà đạn có hiệu quả sát thương mục tiêu lớn nhất) phải điều chỉnh vạch khắc ngòi thích hợp. Khi bắn đạn lắp ngòi nổ không tiếp xúc, ĐCN tối ưu được ngòi tự động xác định.

        ĐỘ CAO TUYỆT ĐỐI của một điểm trên mặt đất, khoảng cách thẳng đứng từ một điểm đến mặt nước biển trung bình. Ở VN, lấy mặt nước biển trung bình ở đảo Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng) làm mặt nước chuẩn (độ cao 0).

        ĐỘ CAO TƯƠNG ĐỐI, độ cao của một điểm nào đó so với một điểm khác trên mặt đất, bằng hiệu số độ cao tuyệt đối của hai điểm đó. Cg độ chênh cao giữa hai điểm.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:16:48 AM

        ĐỘ CHÍNH XÁC BẮN, đại lượng xác suất đánh giá khả năng bắn trúng mục tiêu của đạn. Được đặc trưng bời độ bắn trúng và độ bắn chụm. Độ bắn trúng (đôi khi cg độ bắn chuẩn) là mức độ trùng hợp giữa tâm tản mát của điểm chạm (điểm nổ) của đạn đối với tâm mục tiêu (hoặc điểm chỉ định trên mục tiêu). Độ bắn trúng phụ thuộc vào sự hoàn thiện và trạng thái kĩ thuật của vũ khí, đạn dược, khí tài bắn và quan sát; trình độ của người bắn trong việc xác định chính xác vị trí mục tiêu, chuẩn bị phần tử bắn, thực hiện các thao tác ngắm và bắn. Độ bắn chụm là độ tập trung điểm nổ (chạm) của đạn trên một diện tích giới hạn nào đó khi bắn với những phần tử và điều kiện bắn giống nhau. Đặc trưng bằng độ lệch điểm nổ (chạm) so với tâm tản mát (tâm tập trung). Độ bắn chụm càng nhỏ thì đạn càng ít tản mát. Độ bắn chụm thường được biểu thị bằng độ lệch xác suất (trong pháo binh cg khoảng lệch khái nhiên) về tầm, hướng và độ cao hoặc tỉ số của chúng so với tầm bắn (Lt/x, Lh/x, Lc/x). Tỉ số này càng nhỏ độ bắn chụm càng tốt. Độ bắn chụm phụ thuộc vào các yếu tố: chất lượng vũ khí, đạn dược, điều kiện bắn... Độ bắn chụm đối với pháo được coi là tốt nếu Lt/x=l/300-l/400; Lh/x=l/l.500-1/2.000. Độ bắn chụm của pháo phản lực thường kém hơn pháo khác. Để nâng cao ĐCXB phải thực hành đầy đủ những biện pháp về chuẩn bị bắn, xác định phần tử bắn hiệu lực chính xác và sửa bắn kịp thời...

        ĐỘ DẠT, độ lệch có hệ thống của đạn về một bên so với mặt phẳng bắn (mặt phẳng thẳng đứng chứa trục lòng nòng) do đạn quay nhanh quanh trục dọc khi bay. Giá trị ĐD phụ thuộc vào tầm bắn, độ cong của đường đạn, tốc độ quay của đạn và tăng lên khi các đại lượng trên tăng. Chiều của ĐD phụ thuộc vào chiều quay của đạn: lệch phải nếu đạn quay sang phải, lệch trái nếu đạn quay sang trái. Trong,các bảng bắn của pháo thường có lượng sửa về ĐD và chúng được tính đến khi chuẩn bị phần tử bắn. Loại đạn không quay (vd: đạn cối...) không có ĐD. Đối với súng bộ binh, ở cự li nhỏ hơn 600m, ĐD có giá trị không lớn (< 0,12m) nên thực tế không được tính đến khi bắn.

        ĐỘ DỐC, góc tạo bởi hướng của sườn dốc và mặt phẳng ngang. ĐD biểu thị mức độ nghiêng của địa hình so với mặt nằm ngang: ĐD thường đo bằng đơn vị đo góc hoặc ti lệ phần trăm giữa độ chênh cao và khoảng cách ngang giữa hai điểm. Trên bản đồ địa hình, ĐD được xác định theo khoảng cách giữa các đường bình độ và thước đo ĐD.

        ĐỘ MẬT VĂN KIỆN, mức độ bí mật xác định cho từng loại văn kiện quân sự. Có: tuyệt mật, tối mật và mật. Văn kiện tuyệt mật là những văn kiện liên quan đến chủ trương, kế hoạch về quốc phòng, chiến lược QS, nếu để lộ sẽ nguy hại đến an ninh quốc gia. Văn kiện tối mật là những văn kiện liên quan đến kế hoạch xây dựng lực lượng, phương án tác chiến và kế hoạch bảo đảm, nếu để lộ sẽ tác hại đến an ninh quốc gia. Văn kiện mật là những văn kiện liên quan đến tác chiến, không thuộc loại tuyệt mật và tối mật. Danh mục văn kiện QS tương ứng với từng độ mật được quy định trong các văn bản hiện hành của Nhà nước và BQP. Người kí văn kiện phải xác định đúng ĐMVK.

        ĐỘ NHẠY CỦA CHẤT NỔ, mức độ phản ứng của chất nổ với các tác động kích thích từ bên ngoài để chuyển thành nổ, được đặc trưng bởi giá trị năng lượng nhỏ nhất của kích thích bên ngoài (va đập, ma sát, đâm, chọc, đốt nóng...) cần thiết để kích nổ. ĐNCCN phụ thuộc vào loại chất nổ, dạng kích thích ban đầu,... và được xác định bằng các phương pháp thử đã tiêu chuẩn hóa. Vd: độ nhạy va đập của thuốc nổ phá được xác định bằng tỉ lệ % số lần nổ khi thử cho búa nặng 10kg rơi thẳng từ độ cao 0,25m xuống liều thuốc nổ cần thử, có khối lượng 0,05g. Độ nhạy của thuốc nổ mồi thường cao hơn của thuốc nổ phá. Hiểu biết về ĐNCCN cho phép bảo đảm an toàn khi sản xuất, cất giữ, vận chuyển và sử dụng đạn dược.

        ĐỘ NHIỄM XẠ, đại lượng đặc trưng cho mức độ xâm nhập trực tiếp của chất phóng xạ lên bề mặt hoặc vào trong đối tượng bị nhiễm (cơ thể người, trang bị, công trình QS, địa hình, lương thực, thực phẩm, nước...). Được tính bằng tốc độ phân rã tự nhiên của chất phóng xạ trên một đơn vị diện tích hoặc trong một đơn vị khối lượng (thể tích, dung tích) của vật nhiễm; đơn vị đo theo hệ SI là: Bq/m2, Bq/nP, Bq/kg. ĐNX trong vụ nổ hạt nhân phụ thuộc vào đương lượng nổ, phương thức nổ, điều kiện khí tượng và môi trường nổ, khoảng cách từ vật bị nhiễm đến tâm nổ. Trong thực tế, ĐNX được đo trực tiếp hoặc đo qua độ chiếu xạ, đơn vị tính là R/h. Nếu ĐNX chưa gây bệnh phóng xạ cho người bị nhiễm hoặc người sử dụng các trang bị bị nhiễm (vd: đối với người trên da lộ hở, quần áo, vũ khí cá nhân, lương thực, thực phẩm là 13,9.10-6R/s, đối với xe chiến đấu, xe tăng là 111,1.10-6 R/s) thì gọi là ĐNX cho phép. Nếu đối tượng bị nhiễm xạ trên ĐNX cho phép thì phải tẩy xạ ngay.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:21:13 AM

        ĐỘ PHÓNG XẠ, đại lượng vật lí đặc trưng cho tốc độ biến đổi hạt nhân tự phát của một lượng chất phóng xạ (nguồn phóng xạ) xác định, tại một thời điểm xác định. Có kí hiệu là A và được tính theo các công thức:

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66788790_450419195687966_8220142950106005504_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQljuTAMmLKQ8KMEJovZ7ODoHOTKxeA7nYJlWL_oFw294uB65w3wsmPOQvNjeGmfueM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=bd0603eda350392f8ad0a52ab96dc92b&oe=5DAF361C)


        (trong đó dN là số hạt nhân biến đổi tự phát trong thời gian dt), hoặc A = aN = aN0e-at (a là hằng số phân rã của hạt nhân chất phóng xạ, N0 là số hạt nhân ban đầu của nguồn phóng xạ, e là cơ số lôgarit tự nhiên). ĐPX có đơn vị đo theo hệ SI là becơren (Bq; lBq = ls-1), ngoài hệ SI (thường dùng) là curi (Ci; 1Ci = 3,7.1010Bq). ĐPX cho biết mức độ mạnh yếu của một nguồn phóng xạ.

        ĐỘ TIN CẬY của vũ khí, trang bị kĩ thuật, khả năng của một vũ khí, trang bị kĩ thuật hay các bộ phận cấu thành của chúng hoàn thành các chức năng quy định, duy trì được các chỉ tiêu sử dụng trong giới hạn xác định. Tùy thuộc vào công dụng và điều kiện khai thác ĐTCcvk.tbkt có thể bao gồm: tính không hỏng, tuổi thọ, tính dễ sửa chữa và bảo quản trong sử dụng. ĐTCcvk.tbkt được đặc trưng bởi các chỉ tiêu tổng hợp: hệ số sẵn sàng, hệ số sử dụng kĩ thuật, lượng vận hành giữa hai lần sửa chữa, xác suất làm việc không hỏng hóc... Để bảo đảm các chỉ tiêu trên, cần phải đặc biệt chú ý đến chế độ và điều kiện khai thác, sử dụng và bảo quản vũ khí, trang bị kĩ thuật.

        ĐỐC NGỮ (Nguyễn Đức Ngữ; 7-1892), thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống Pháp vùng hạ lưu Sông Đà (1890-92). Quê xã Xuân Phú, h. Phúc Thọ, t. Hà Tây. Xuất thân nông dân nghèo, đi lính trong QĐ triều đình Tự Đức, được thăng chức đốc binh. 1883 khi thành Sơn Tây bị Pháp chiếm, ĐN chống lệnh bãi binh đầu hàng của triều đình, kiên quyết đánh Pháp. 1883-88 chiến đấu dưới sự chỉ huy của Nguyễn Quang Bích. 1890-92 đứng đầu nghĩa quân chống Pháp ở hạ lưu Sông Đà; được đồng bào Kinh, Mường ủng hộ, lực lượng nghĩa quân phát triển đến 1.200 người, trang bị bằng súng lấy được của địch và mua từ TQ. Từ hạ lưu Sông Đà nghĩa quân ĐN phối hợp với nghĩa quân Đề Kiểu ở Hưng Hóa, Hoàng Hoa Thám ở Bắc Giang, Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên và Tống Duy Tân ở Thanh Hóa; chỉ huy đánh thắng trận tao ngộ ở Quảng Nạp (Phú Thọ); đánh bại trận càn lớn của quân Pháp tại Thạch Khoán (Phú Thọ); đánh thắng trận Bằng Y (Bất Bạt, Hà Tây) và trận công phá nhà tù Sơn Tây, giải thoát 174 tù nhân; tập kích đồn Chợ Bờ (Hoà Bình); chỉ huy đánh bại ba trận càn lớn của thực dân Pháp vào căn cứ của nghĩa quân; diệt đồn Yên Lãng (nay thuộc Phú Thọ); phối hợp với nghĩa quân Tống Duy Tân phục kích đánh lực lượng càn quét của Pháp ở Niên Kỉ (nay là Thiết Ống, Bá Thước, Thanh Hóa). ĐN bị sát hại ở căn cứ Kha Cựu (thuộc Thanh Sơn, Phú Thọ).

        ĐỐC TÍT (Mạc Đăng Tiết; 1853-1916), thủ lĩnh khởi nghĩa Đốc Tít (1882-85), một trong những thủ lĩnh xuất sắc của khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-92). Quê Yên Lưu Thượng, h. Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn (nay là xã Hiệp An, h. Kinh Môn, t. Hải Dương). 1882 phát động khởi nghĩa chống Pháp ở vùng Hai Sông, nay thuộc địa phận 4 huyện: Thủy Nguyên (Hải Phòng), Đông Triều, Yên Hưng (Quảng Ninh), Kinh Môn (Hải Dương); lập căn cứ chính ở Trại Sơn (vùng rừng núi, phía nam sông Kinh Thày). 1884 chỉ huy nghĩa quân đánh bại cuộc tiến công của một tiểu đoàn quân Pháp vào Trại Sơn. 1885 phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Bãi Sậy và được vua Hàm Nghi phong chức đề đốc quân vụ Hải Dương. 11.12.1885 sau đợt chiến đấu chống cuộc tiến công lớn của địch vào Trại Sơn, ĐT cho nghĩa quân rút về cù lao Hai Sông. Từ đây chỉ huy nghĩa quân đánh đồn Đông Triều (1886), đồn Uông Bí (1888), thành Hải Dương (1889). Tháng 8.1889 sau gần 1 tháng chống cuộc tiến công lớn của địch vào căn cứ Hai Sồng, do hết đạn và bị bao vây, ĐT buộc phải giải thể nghĩa quân và ra hàng; bị Pháp đày đi Angiêri và chết tại đó.

        ĐỐC TRẤN X. TỔNG BINH sứ

        ĐỘC HỌC QUÂN SỰ, chuyên ngành của y học QS nghiên cứu độc tính, tác hại của hóa chất, chất phóng xạ đối với người và động vật, đề ra các biện pháp phát hiện, tiêu độc, tẩy xạ. dự phòng, chẩn đoán và điểu trị, khắc phục hậu quả.

        ĐỘC LẬP TÁC CHIẾN, hoạt động tác chiến không do cấp trên trực tiếp chỉ huy, nhưng tuân theo ý định và kế hoạch chung: thường nằm ngoài đội hình cấp trên và không được chi viện, bảo đảm. Có ĐLTC trong chiến đấu, chiến dịch, chiến lược. ĐLTC có thể giải quyết một nhiệm vụ, một trận chiến đấu hoặc tác chiến trên một hướng. Lực lượng ĐLTC có thể từ phân đội đến binh đoàn của từng binh chủng hoặc quân chủng, được tăng cường hoặc không. Khi ĐLTC phải dựa vào các khu vực phòng thủ và phối hợp chặt chẽ với LLVTND địa phương.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:23:34 AM

        ĐỘC TỐ, chất độc do vi sinh vật, động vật, thực vật sống sinh ra, gây độc cho người và động vật nhưng không truyền nhiễm. Tùy theo ĐT ở ngoài hay trong tế bào của chủ thể, chia ra: ngoại ĐT và nội ĐT. Ngoại ĐT (như thịt, bạch hầu, uốn ván...) do vi khuẩn tiết ra khi sinh sản ở môi trường kí sinh và chi gồm các axít amin. Nội ĐT (như thương hàn...) không những có trong môi trường kí sinh mà còn có ngay trong tế bào chủ thể và có thành phần hóa học phức tạp. Điển hình là ĐT: batulinaltoxin (BTX), saxitoxin (STX), palitoxin, rixin, vi khuẩn AX (độc gấp hàng vạn lần sarin), rong biển (TZ, độc tương đương VX)... Trước đây ĐT được coi là vũ khí sinh học, nhưng không truyền nhiễm nên coi là chất độc hóa học, thực tế ĐT là dạng trung gian của vũ khí sinh học và hóa học, hiện coi là chất độc hóa sinh học. Trong CTTG-II Anh, Canada, Mĩ, Pháp nghiên cứu ĐT rixin (có nguồn gốc thực vật, thu được khi chế hóa dầu thầu dầu) có tác dụng gây ngạt thở và tê liệt thần kinh. Đầu những năm 70 tk 20. trong chiến tranh xâm lược VN, quân Mĩ đã dùng các ĐT mang mật danh enterotoxin-B (PG) và saxitoxin.

        ĐỒl A1 nh A1

        ĐỒI ĐỘC LẬP (Pú Vang), đồi cao 603m, dài 700m, rộng 150m, nằm riêng biệt ở phía bắc Điện Biên Phủ, bắc trung tâm Mường Thanh 4km, trên đường Điện Biên Phủ - Lai Châu. Trên đồi có cụm cứ điểm Gabrien (Gabrielle) thuộc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, được Pháp xây dựng từ 1.1954, do Tiểu đoàn 5 Âu - Phi và 1 đại đội người Thái chiếm giữ. 15.3.1954 trong đợt 1 chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954), Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 và Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công cụm cứ điểm này, diệt và bắt 600 địch, góp phần tiêu diệt Phân khu Bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (x. trận Đồi Độc Lập, 15.3.1954).

        ĐỐI ĐẨU, hành động chống đối trực tiếp, quyết liệt, không khoan nhượng giữa các nước, các giai cấp hoặc tổ chức chính trị - xã hội có lợi ích đối kháng. Trong thời kì chiến tranh lạnh, ĐĐ giữa CNXH và CNĐQ diễn ra rất gay gắt, căng thẳng bởi những âm mưu và hành động của CNĐQ như: đe dọa dùng vũ lực; khống chế, bao vây, cấm vận; hoạt động phá hoại nhiều mặt; đẩy mạnh chạy đua vũ trang, thành lập các khối quân sự, chuẩn bị chiến tranh. ĐĐ đã làm tăng thêm tình hình căng thẳng trên thế giới và khu vực.

        ĐỐI KHÁNG ĐIỆN TỬ nh TÁC CHIỂN ĐIỆN TỬ

        ĐỐI PHƯƠNG nh ĐỊCH

        ĐỐI THOẠI, trao đổi ý kiến trực tiếp giữa hai bên hoặc nhiều bên để thống nhất giải quyết những vấn đề các bên quan tâm. Từ những năm 70 của tk 20, có một số trường hợp, ĐT được dùng để giải quyết những bất đồng hoặc tranh chấp quốc tế thay cho đối đầu. Sau chiến tranh lạnh, ĐT được sử dụng rộng rãi trên cơ sở tồn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi.

        ĐỐI TƯỢNG TÁC CHIẾN, LLVT đối địch của một quốc gia hoặc liên minh các quốc gia đang hoặc sẽ có thể tham chiến. ĐTTC còn là đơn vị LLVT đối địch đang hoặc sẽ tiến hành tác chiến.

        ĐỐI TƯỢNG TÁC CHIẾN của đặc công, đối tượng tác chiến được xác định cho từng loại đặc công. ĐTTC của đặc công bộ chủ yếu ở trên đất liền: ĐTTC của đặc công nước chủ yếu là ở trên sông, biển, hải đảo; ĐTTC của đặc công biệt động chủ yếu là ở địa bàn thành phố trong vùng địch tạm chiếm.

        ĐỘI (cổ), đơn vị tổ chức cơ sở của QĐ các triều đại Hồ, Hậu Lê, Nguyễn và Tây Sơn ở VN. Thường có trong tổ chức của bộ binh. Trong quân đội Hồ, Đ liền dưới vệ (1 vệ gồm 18 Đ), quân (đại quân gồm 20 Đ, trung quân gồm 18 Đ) hoặc doanh (1 doanh gồm 15 Đ), có quân số 18 người. Trong quân đội Hậu Lê, thời Lê Sơ (1428-1527), ở vệ quân các đạo, Đ liền dưới sở, gồm 20 người; thời Lê - Trịnh (1533-1786), có 283Đ (Đ lớn nhất có 275 người; Đ nhỏ nhất có 15 người). Trong quân đội Nguyễn, thời kì 1558-1777, Đ liền dưới cơ hoặc doanh, có quân số 30-50 người; từ 1802, Đ liền trên thập, dưới cơ hoặc vệ, có 50 người. Trong quân đội Tây Sơn, Đ liền dưới cơ, có 30-50 người. Đ còn là đơn vị tổ chức của thủy binh, tượng binh, pháo binh,... của các triều đại này, có quân số tùy thuộc vào số lượng thuyền, voi chiến, số lượng và loại vũ khí được biên chế.

        ĐỘI AN NINH VŨ TRANG, tổ chức thuộc lực lượng an ninh vũ trang ở các tỉnh, chiến khu trong KCCP và phát triển ở miền Nam trong KCCM, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Gồm những người có phẩm chất đạo đức CM, ý chí chiến đấu cao, đủ trình độ và sức khỏe, được trang bị vũ khí chiến đấu. Nhiệm vụ: đấu tranh với những hoạt động chống phá về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và nhân dân; chống những âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền của tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:24:55 AM

        ĐỘI BẢO ĐẢM VẬN ĐỘNG, tổ chức lâm thời trong tác chiến (hành quân) của bộ đội binh chủng hợp thành, luôn đi trước đội hình để bảo đảm hành quân, truy kích hoặc rút lui. Thành phần chủ yếu của ĐBĐVĐ là phân đội công binh, khi cần có thể tăng cường các phân đội bộ binh, hóa học, phòng không... Nhiệm vụ chủ yếu của ĐBĐVĐ là tiến hành trinh sát cầu, đường; sửa chữa gấp hoặc khắc phục các đoạn đường bị phá hoại hoặc hư hỏng, làm đường vòng tránh, bắc cầu tạm, rải vệt để vượt qua các chướng ngại, phá gỡ, khắc phục vật cản trên đường...

        ĐỘI BAY nh TỔ BAY

        ĐỘI CẢNH GIỚI HÀNH QUÂN BÊN SƯỜN, phân đội phái đi bên sườn (một hoặc hai bên) lực lượng chủ yếu hành quân chiến đấu để phát hiện, theo dõi tình hình liên quan đến hành quân, kịp thời ngăn chặn đối phương tiến công bất ngờ vào lực lượng chủ yếu từ bên sườn, tạo điều kiện để lực lượng này cơ động hoặc triển khai chiến đấu. Khoảng cách với lực lượng chủ yếu phải bảo đảm thời gian và không gian cần thiết để lực lượng chủ yếu kịp xử trí tình huống. Căn cứ vào quy mô, nhiệm vụ và môi trường hành quân để tổ chức ĐCGHQBS (thường là trung đội, có thể là đại đội hoặc tương đương).

        ĐỘI CẢNH GIỚI HÀNH QUÂN PHÍA SAU, phân đội phái đi sau lực lượng chủ yếu trong hành quân để phát hiện, theo dõi tình hình ở phía sau liên quan đến hành quân. Khoảng cách với lực lượng chủ yếu phải bảo đảm thời gian và không gian cần thiết để lực lượng chủ yếu kịp xử trí các tình huống. Căn cứ vào quy mô, nhiệm vụ và môi trường hành quân để tổ chức ĐCGHQPS (thương là trung đội, có thể đến đại đội hoặc tương đương).

        ĐỘI CẢNH GIỚI HÀNH QUÂN PHÍA TRƯỚC, đội phái đi trước làm nhiệm vụ phát hiện, theo dõi tình hình ở phía trước liên quan đến hành quân và kịp thời ngăn chặn đối phương từ phía trước bất ngờ tiến công vào đội hình hành quân, tạo điều kiện để lực lượng chủ yếu cơ động hoặc triển khai chiến đấu. Khoảng cách với lực lượng chủ yếu phải bảo đảm thời gian và không gian cần thiết để lực lượng chủ yếu kịp xử trí tình huống. Căn cứ vào quy mô, nhiệm vụ và môi trường hành quân để tổ chức ĐCGHQPT (thường là trung đội, đại đội hoặc tương đương).

        ĐỘI CẤN (Trịnh Văn Cấn; 7-1918), người lãnh đạo khởi nghĩa Thái Nguyên (8.1917-1.1918). Quê phủ Vĩnh Tường, t. Vĩnh Yên (nay thuộc xã Vũ Di, h. Vĩnh Tường, t. Vĩnh Phúc), xuất thân nông dân nghèo, vào linh khố xanh, được thăng đội trưởng lính cơ tập trong Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương. Ngầm liên lạc với chính trị phạm ở nhà lao Thái Nguyên, được Lương Ngọc Quyến giác ngộ. 30.8.1917 chỉ huy 131 nghĩa quân nổi dậy giết giám binh Nôen (Noel), chiếm các công sở, giải thoát Lương Ngọc Quyến cùng một số chính trị phạm... làm chủ tỉnh lị Thái Nguyên, phát hịch “Tuyên bố Thái Nguyên độc lập” tới nhân dân trong vùng. Được nhân dân ủng hộ, ĐC chỉ huy lực lượng nghĩa quân hơn 600 người chống trả quyết liệt cuộc đàn áp của hơn 2.000 quân Pháp, có pháo binh và tàu chiến yểm hộ. 10.1.1918 nghĩa quân bị bao vây ở khu căn cứ Núi Pháo, ĐC đã tự sát.

        ĐỘI CHUYỂN THƯƠNG, tổ chức quân y lâm thời, cơ động, thường dược tổ chức trong chiến đấu và chiến dịch để hậu tống và vận chuyển thương binh từ trung đoàn, sư đoàn về các cơ sở điều trị quân y mặt trận và khu vực. ĐCT có từ KCCP, trong KCCM được thành lập ở các chiến dịch và chiến trường (quân khu). Biên chế 30-40 cán bộ nhân viên và tải thương, thường kết hợp với các binh trạm vận tải chiến dịch và khu vực để tổ chức chuyển thương cơ giới và dân công. Tuỳ theo địa bàn hoạt động, đội được trang bị một số phương tiện cơ giới để vận chuyển thương binh như ô tô, ca nô... ĐCT tương đương cấp đại đội, năng lực chuyên môn tương đương quân y cấp tiểu đoàn.

        ĐỘI CƠ ĐỘNG VẬT CẢN, tổ chức lâm thời trong tác chiến của bộ đội binh chủng hợp thành, dùng để cơ động bố trí vật cản nổ (mìn), kết hợp với phá hoại giao thông nhằm ngăn chặn xe tăng, cơ giới địch, phát triển tiến công, thọc sâu, vu hồi...; ngăn chặn địch phản kích, phản đột kích; bảo vệ sườn cho lực lượng cơ động tiến công hoặc dự bị khi bước vào tác chiến. ĐCĐVC được tổ chức từ lực lượng công binh (công binh công trình hay công binh vật cản), được trang bị mìn và các phương tiện phóng, rải mìn (thô sơ hoặc cơ giới)... hành động kết hợp với đội dự bị chống tăng, hoặc độc lập. ĐCĐVC được chỉ định khu vực bố trí mìn (các tuyến rải mìn), đường cơ động (di chuyển), hướng hoạt động tiếp theo.

        ĐỘI CUNG (Nguyễn Văn Cung; 7-1941), người chỉ huy cuộc binh biến Đô Lương (Nghệ An). Quê Thanh Hóa. ĐC là đội lính khố xanh trong Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương. 8.1.1941 được giám binh Pháp điều về đồn Chợ Rạng thay đồn trưởng A. Lôngdơ. 13.1.1941 cùng với 11 lính khố xanh trong đồn làm binh biến kéo về chiếm đồn Đô Lương. Do tự phát và thiếu tố chức, cuộc binh biến nhanh chóng bị dập tắt, một số nghĩa binh bị giết và bị bắt. ĐC chạy về Thanh Hóa, sau đó bị mật thám Pháp bắt. Địch tra khảo, ĐC nhận hết trách nhiệm về mình và yêu cầu quân Pháp tha cho những người lính bị bắt. Pháp xử bắn ĐC cùng 9 người khác.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:26:27 AM

        ĐỘI DANH DỰ, phân đội được tổ chức để: chào mừng theo nghi thức QĐ; đứng dưới quốc kì, quân kì, làm hàng rào danh dự, tiêu binh trong những buổi lễ long trọng; tham dự lễ tang quân nhân hoặc công dân có công đặc biệt đối với tổ quốc. Tùy theo nghi thức quy định, ĐDD thường là trung đội, đại đội. Đội trưởng là SQ, mang súng ngắn; các đội viên mang súng trường có lê hoặc tiểu liên. Khi làm nhiệm vụ, ĐDD hành động theo quy định về tổ chức nghi lễ, phục tùng người điều khiển chung buổi lễ. Có ĐDD QĐND VN và ĐDD của các đơn vị cấp binh đoàn, liên binh đoàn.

        ĐỘI DU KÍCH BA TƠ, đội vũ trang tập trung đầu tiên của t. Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ do ĐCS Đông Dương tổ chức, lãnh đạo. Thành lập 12.3.1945, gồm 28 cán bộ, chiến sĩ, có 24 súng, biên chế thành 3 tiểu đội. Hai tháng đầu, đội hoạt động trong vùng đồng bào Thượng trên dãy Trường Sơn, phát triển thành 2 đại đội và chuyển về trung du xây dựng chiến khu. Đại đội Phan Đình Phùng xây dựng Chiến khu Bắc (ở xã Vĩnh Sơn, h. Sơn Tịnh), Đại đội Hoàng Hoa Thám xây dựng Chiến khu Nam (ở Núi Lớn, h. Mộ Đức). Đến 8.1945, ĐDKBT có gần 2.000 người, là lực lượng nòng cốt cùng nhân dân giành chính quyền CM ở Quảng Ngãi trong tổng khởi nghĩa. ĐDKBT là tiền thân của LLVT Liên khu 5. Đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn.

        ĐỘI DỰ BỊ, thành phần của đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) để giải quyết những nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình tác chiến. Có ĐDB binh chủng hợp thành, ĐDB quân chủng, ĐDB binh chủng, ĐDB bộ đội chuyên môn, kĩ thuật...

        ĐỘI DỰ BỊ BINH CHỦNG, gọi chung các đội dự bị được tổ chức bằng lực lượng của các binh chủng hoặc bộ đội chuyên môn để sẵn sàng xử trí các tình huống nảy sinh trong tác chiến, do người chỉ huy (tư lệnh) binh chủng hợp thành tổ chức và chỉ huy. ĐDBBC có: đội dự bị chống tăng, đội cơ động vật cản, đội dự bị công binh, đội dự bị hóa học... Căn cứ quy mô nhiệm vụ tác chiến và tình hình cụ thể để tổ chức các ĐDBBC, lực lượng thường là phân đội, có thể đến binh đội. ĐDBBC thường bố trí ở tuyến sau trên hướng chủ yếu, nơi kín đáo, tiện cơ động thực hiện nhiệm vụ và phải tăng cường công sự, ngụy trang, giữ bí mật. Cg lực lượng dự bị binh chủng.

        ĐỘI DỰ BỊ BINH CHỦNG HỢP THÀNH, đội dự bị được tổ chức bằng lực lượng của bộ đội binh chủng hợp thành để sẵn sàng tăng cường cho các trận then chốt, các hướng hoặc xử trí các tình huống trong tác chiến. Căn cứ quy mô tác chiến và tình hình các mặt (địch, ta, địa hình...), lực lượng ĐDBBCHT có thể là phân đội, binh đội, binh đoàn. ĐDBBCHT thường bố trí ở tuyến sau trên hướng chủ yếu, nơi kín đáo, tiện cơ động thực hiện nhiệm vụ và phải tăng cường công sự, ngụy trang, giữ bí mật.

        ĐỘI DỰ BỊ CHỐNG TĂNG, đội dự bị gồm phân đội (binh đội) pháo chống tàng và các phương tiện chống tăng khác để cơ động đánh xe tăng địch trên hướng quan trọng nhất, do người chỉ huy (tư lệnh) bộ đội binh chủng hợp thành trực tiếp chỉ huy. ĐDBCT được sử dụng trong tiến công đánh xe tăng địch phản kích (phản đột kích) hoặc chi viện cho lực lượng cơ động hoặc đội dự bị vào tác chiến; trong phòng ngự là một thành phần của hệ thống chống tăng, cơ động tác chiến trên hướng xe tăng địch uy hiếp. ĐDBCT được bố trí ở vị trí tiện cơ động, thường chiến đấu hiệp đồng với các loại vũ khí chống tăng khác và đội cơ động vật cản.

        ĐỘI DỰ BỊ CÔNG BINH, đội dự bị gồm phân đội (binh đội) công binh để giải quyết các nhiệm vụ bảo đảm công binh nảy sinh trong quá trình tác chiến. Người chỉ huy xác định số lương thành phần, nhiệm vụ, vị trí bố trí ĐDBCB khi hạ quyết tâm chiến đấu (chiến dịch).

        ĐỘI DỰ BỊ HÓA HỌC, đội dự bị gồm phân đội hóa học đặt dưới quyền người chỉ huy bộ đội binh chủng hợp thành để sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình tác chiến: xử lí tình huống hạt nhân, hóa học, thay thế các phân đội hóa học thuộc quyền khi bị mất sức chiến đấu và các nhiệm vụ chuyên môn khác... Số lượng và thành phần ĐDBHH tùy thuộc quy mô địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, lực lượng hóa học hiện có, tính chất và đặc điểm nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch. ĐDBHH thường được tổ chức ở cấp sư đoàn trở lên, bố trí nơi tiện cơ động, gần khu vực thực hiện nhiệm vụ dự kiến.

        ĐỘI DỰ BỊ XE TĂNG, đội dự bị gồm phân đội (binh đội) xe tăng do người chỉ huy binh chùng hợp thành hoặc người chỉ huy xe tăng trực tiếp nắm để giải quyết các nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình tác chiến.

        ĐỘI ĐẶC CÔNG, phân đội chiến thuật cơ bản của binh chủng đặc công. Có thể chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình tiểu đoàn đặc công. Gồm 3-4 mũi đặc công, được trang bị gọn, mạnh; thường nằm trong biên chế tiểu đoàn. Thường vận dụng các phương pháp tác chiến: tập kích bí mật, phá hủy bí mật, tập kích bằng hỏa lực.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:27:27 AM

        ĐỘI ĐIỀU TRỊ, phân đội quân y thuộc tuyến quân y quân khu, quân đoàn, mặt trận hoặc trực thuộc Cục quân y, có nhiệm vụ làm phẫu thuật cơ bản, giữ lại điều trị những thương binh, bệnh binh có vết thương, bệnh tật có thể chữa khỏi trong vòng một tháng. Trong thời chiến, thường làm nhiệm vụ cơ động phục vụ chiến dịch, hay một hướng của chiến dịch hoặc thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh ở một số khu vực cần thiết. Có trong QĐND VN từ sau chiến dịch Biên Giới (1950).

        ĐỘI ĐỔ BỘ ĐƯỜNG BIỂN, tổ chức lâm thời thuộc thành phần lực lượng đổ bộ quân, bao gồm các tàu đổ bộ, tàu vận tải chở quân, tàu phá vật cản và các tàu bảo vệ trực tiếp. Nhiệm vụ của ĐĐBĐB là vận chuyển và đổ quân đổ bộ lên bờ biển đối phương.

        ĐỘI HÌNH BAY, hình thái sắp xếp các máy bay ở trên không theo gián cách, cự li và độ chênh cao trong không gian (tạo thành tốp) để phát huy sức mạnh của nhiều chiếc máy bay cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định. ĐHB có các loại: hàng dọc, hàng ngang, bậc thang, quả trám, bàn tay xòe, chữ A, chữ S; hẹp (mật tập), mở rộng, kéo dài... Trong ĐHB, máy bay dẫn đầu là đội trưởng, các máy bay khác là đội viên.

        ĐỘI HÌNH BƯỚC VÀO CHIẾN ĐẤU nh ĐỘI HÌNH TRƯỚC CHIẾN ĐẤU

        ĐỘI HÌNH CHIẾN ĐẤU, hình thái bố trí lực lượng để tiến hành trận chiến đấu. Mỗi quân chủng, binh chủng trong trận chiến đấu thường có ĐHCĐ riêng. Trong tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng ĐHCĐ các binh đoàn, binh đội, phân đội của quân chủng, binh chủng là một bộ phận của ĐHCĐ thống nhất được bố trí phù hợp trong khu vực tác chiến, nhằm phát huy tốt nhất khả năng chiến đấu của mỗi lực lượng, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu chung. ĐHCĐ phải phù hợp  với ý định chiến đấu, bảo đảm tập trung được nỗ lực vào khu vực (hướng, mục tiêu) chủ yếu, tiện cơ động và chuyển hóa thế trận trong quá trình chiến đấu, bảo đảm hiệp đồng chặt chẽ, chỉ huy vững chắc, liên tục, có khả năng phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử của địch và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao. Xác định ĐHCĐ phải căn cứ vào: nhiệm vụ chiến đấu, chiến thuật vận dụng, tình hình địch, ta, địa hình, thời tiết... Có ĐHCĐ: bộ phận, thê đội. ĐHCĐ bộ phận gồm các lực lượng đảm nhiệm từng phần nhiệm vụ, như: khi đánh địch trong công sự vũng chắc có lực lượng mờ cửa, đột kích một, đột kích hai, hỏa lực, dự bị binh chủng hợp thành, dự bị binh chủng... ĐHCĐ thể đội gồm: thể đội một, thể đội hai, hỏa lực, dự bị binh chủng hợp thành, dự bị binh chủng... ĐHCĐ của lục quân là ĐHCĐ của các binh đoàn, binh đội, phân đội lục quân và các phân đội tăng cường để tiến hành trận chiến đấu. Trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng của lục quân, cơ sở của ĐHCĐ là các phân đội, binh đội, binh đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới). ĐHCĐ của phòng không là ĐHCĐ của các phân đội, binh đội, binh đoàn phòng không để tiến hành trận chiến đấu phòng không và thực hiện các nhiệm vụ khác. Gồm ĐHCĐ của các binh đội tên lửa, pháo và rađa phòng không, các phân đội chuyên môn kĩ thuật, hậu cần, lực lượng dự bị và SCH binh đoàn, có thể có ĐHCĐ của phân đội, binh đội không quân tiêm kích, tác chiến điện tử... ĐHCĐ của bộ đội phòng không phải bảo đảm tập trung được lực lượng trên hướng hoạt động chủ yếu của không quân đối phương và tiêu diệt chúng ở cự li xa nhất: đánh được liên tục, dài ngày, chỉ huy vững chắc. ĐHCĐ của không quân là ĐHCĐ của các biên đội, phân đội, binh đội không quân để tiến hành trận chiến đấu không quân; yêu cầu phải phát huy được mọi khả năng chiến đấu của từng máy bay. tùng phi đội, biên đội. phân đội, binh đội...; phát hiện mục tiêu thuận lợi, dễ cơ động, tiện chỉ huy, hiệp đồng, an toàn và hạn chế được thiệt hại do địch gây ra. ĐHCĐ của hải quân là ĐHCĐ của các phân đội, binh đội, binh đoàn hải quân để tiến hành trận chiến đấu trên biển. Gồm ĐHCĐ của pháo binh, tên lửa bờ, hải quân đánh bộ, của không quân hải quân và của tàu hải quân. ĐHCĐ của tàu hải quân thường gồm nhóm tàu công kích (tiến công, đợt kích), nhóm tàu bảo đảm, nhóm tàu chuyên trách... ĐHCĐ phải bảo đảm phát huy được hết tính năng các loại vũ khí và phương tiện kĩ thuật trên tàu, cơ động linh hoạt, chỉ huy vững chắc hiệp đồng chặt chẽ.

        ĐỘI HÌNH HÀNH QUÂN, bố trí lực lượng của các phân đội, binh đội, binh đoàn trong hành quân. ĐHHQ phải phù hợp  với tình hình và nhiệm vụ từng đơn vị, bảo đảm tốc độ hành quân, kịp thời triển khai thành đội hình trước chiến đấu và đội hình chiến đấu, chỉ huy bộ đội linh hoạt vững chắc. ĐHHQ có thể gồm: lực lượng cảnh giới, lực lượng chủ yếu, lực lượng bảo đảm và hậu cần, kĩ thuật. Tùy tính chất hành quân, còn có thể có tiền vệ, đội bảo đảm vận động, hậu vệ và thu dung.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:28:47 AM

        ĐỘI HÌNH HÀNH QUÂN CỦA TÀU. bố trí lực lượng của các binh đoàn (nhóm, cụm) tàu mặt nước bảo đảm về cự li, giãn cách phù hợp với tình hình nhiệm vụ hành quân. Đội hình hành quân của binh đoàn tàu thường gồm lực lượng chủ yếu (các tàu được bảo vệ hoặc ưu tiên) và các nhóm tàu bảo đảm (trinh sát, tác chiến điện tử, phòng không, chống ngầm...), nhằm bảo đảm an toàn khi hành quân và nhanh chóng triển khai thực hiện nhiệm vụ chiến đấu được giao. ĐHHQCT phải: phát hiện kịp thời, phòng chống hiệu quả các lực lượng, phương tiện tập kích của đối phương; nhanh chóng triển khai thành đội hình chiến đấu, chỉ huy ổn định và vững chắc; giữ bí mật về đặc điểm thành phần lực lượng và những hoạt động của đội hình; cơ động nhanh và an toàn.

        ĐỘI HÌNH TRƯỚC CHIẾN ĐẤU, bố tri lực lượng giãn thưa theo chiều rộng và chiều sâu, khi vận động tiếp cận khu vực tác chiến, khi tiến công trong chiều sâu phòng ngự cua quân dịch, nhằm giảm bớt thiệt hại do những đòn đột kích của đối phương, bảo đảm nhanh chóng cơ động và triển khai thành đội hình chiến đấu, khi vượt qua các vùng nhiễm độc, bị phá hoại, bị cháy... ĐHTCĐ được chuyển từ đội hình hành quân hoặc từ đội hình chiến đấu và ngược lại ĐHTCĐ cũng có thể chuyển thành đội hình hành quản hoặc đội hình chiến đấu. ĐHTCĐ của binh đoàn (binh đội) gồm ĐHTCĐ của các binh đội (phân đội); ĐHTCĐ của tiểu đoàn bộ binh (cơ giới) gồm đội hình hàng dọc của các đại đội. Cg đội hình bước vào chiến đấu.

        ĐỘI HỖN HỢP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ VŨ KHÍ HÚY DIỆT LỚN, tổ chức lâm thời nhiều thành phần để giải quyết hậu quả do đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn. Gồm người của các binh chủng bộ binh (bộ binh cơ giới), công binh, hóa học. thông tin và các ngành kĩ thuật, quân y... Thường tổ chức ở cấp trung đoàn trở lên, có nhiệm vụ: cứu chữa, đưa người và các phương tiện (vũ khí) trang bị chiến đấu ra khỏi khu vực bị sát thương; dập tắt hoặc ngăn chặn đám cháy phát triển; khôi phục đường cơ động; tiến hành tiêu tẩy chuyên môn...

        ĐỘI KHÍ TƯỢNG, phân đội thuộc biên chế trung đoàn không quân, có nhiệm vụ thu thập các yếu tố về khí tượng để người chỉ huy hạ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ bay. ĐKT nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện cấu trúc của khí quyển, các tính chất, quá trình vật lí xảy ra (mây, mưa, giông, bão...) và đặc điểm thời tiết khí hậu ở các vùng, miền trong khoảng thời gian nhất định. ĐKT giúp người chỉ huy quyết định kế hoạch bay huấn luyện, chiến đấu trong ngày, tuần, tháng, quý; nắm chắc các biểu hiện và diễn biến khí tượng trong suốt quá trình thực hiện bay để bảo đảm bay an toàn, đạt hiệu quả cao.

        ĐỘI KIỂM SOÁT HÀNH CHÍNH, bộ phận của đồn biên phòng làm nhiệm vụ kiểm soát việc tuân thủ pháp luật, việc qua lại, ra vào khu vực biên giới, vùng biển; duy trì hoạt động lưu thông biên giới, thực hiện quy chế biên giới; phát hiện và xử lí các hành vi vi phạm, góp phần giữ vững chủ quyền an ninh biển giới quốc gia. ĐKSHC gồm; đội trưởng, đội phó, các kiểm soát viên; biên chế cụ thể tuỳ thuộc vào đặc điểm từng tuyến (biên giới hay bờ biển) và số lượng các cửa khẩu, đường mòn qua lại biên giới, chợ biên giới, cửa sông, cửa lạch trong phạm vi mỗi đồn biên phòng. ĐKSHC có thể đặt trạm kiểm soát cố định thường xuyên, trạm kiểm soát bất thường hoặc thực hiện kiểm soát lưu động trong khu vực đảm nhiệm.

        ĐỘI MỞ CỬA ĐÁNH CHIÊM ĐẦU CẦU X. BỘ PHẬN (ĐỘI) MỞ CỬA ĐÁNH CHIẾM ĐẦU CẦU

        ĐỘI NỮ DU KÍCH MINH KHAI, đội nữ du kích nổi tiếng của Liên khu 3. Tiền thân là đội nữ binh, thành lập 2.1947 tại đình Trung Lăng (h. Tiên Lãng, t. Kiến An, nay là q. Kiến An, tp Hải Phòng); gồm 13 người chọn trong lớp QS của liên tỉnh Hải - Kiến, biên chế thành một tiểu đội (tiểu đội trưởng Lưu Thị Dần). 4.1947 phát triển thành trung đội. 2.1948 mang tên Minh Khai (nữ bí thư Xứ ủy Nam Kì). Liên tục tiến hành nhiều trận đánh quân Pháp trên địa bàn t. Kiến An, tp Hải Phòng: chiến đấu bảo vệ tx Kiến An (4.1947), 4 lần tập kích Phù Liễn (5-6.1947 và 3.1948), đánh bốt Phù Lưu (8.1947), Đại Dồng (10.1947), cổ Trai, Đoàn Xá (11.1947), phục kích Cầu Hạ (12.1947), tham gia đánh phá giao thông trên QL 5, tiêu biểu là trận Đại Hoàng (9.1948, lật đổ đoàn tàu, làm nổ toa vũ khí, diệt trên 80 quân Pháp)... Tiến hành vũ trang tuyên truyền xây dựng cơ sở, diệt tề trừ gian, chống càn bảo vệ dân. Đầu 1949 chia làm hai bộ phận: nửa thuộc tp Hải Phòng mang tên Đội nữ du kích Minh Hà, nửa thuộc t. Kiến An là ĐNDKMK. ĐNDKMK có ảnh hưởng rộng lớn trong KCCP và KCCM ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:29:57 AM

        ĐỘI PHÁI ĐI TRƯỚC, thành phần của đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) hoặc đội hình hành quân được phái đi trước lực lượng chủ yếu để hoàn thành những nhiệm vụ tác chiến nhất định. ĐPĐT thường là phân đội (binh đội) bộ binh, (bộ binh cơ giới, xe tăng, hải quân đánh bộ, tàu chiến). Có ĐPĐT của bộ đội binh chủng hợp thành và của hải quân. ĐPĐT của bộ đội binh chủng hợp thành được sử dụng để nhanh chóng thọc sâu vào phòng ngự, đánh chiếm các mục tiêu (tuyến) quan trọng của đối phương, truy kích quân địch, vượt chướng ngại nước trong hành tiến đánh chiếm bàn đạp trên bờ đối diện và hoàn thành những nhiệm vụ khác. ĐPĐT có thể được phái ra trong hành quân dự kiến có chiến đấu tao ngộ và khi truy kích. Khi thực hiện nhiệm vụ, ĐPĐT có thể hiệp đồng với lực lượng tại chỗ và lực lượng đổ bộ đường không. ĐPĐT của hải quân gồm: ĐPĐT của tàu chiến mặt nước và của lực lượng đổ bộ đường biển. ĐPĐT của tàu chiến mặt nước có nhiệm vụ kịp thời phát hiện tàu chiến của đối phương, thông báo cho lực lượng của ta, phát hiện chỗ yếu của địch, tiến hành đột kích vào quân địch, buộc chúng phải triển khai, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu có thời gian chuẩn bị chiến đấu hoặc tránh giao chiến. ĐPĐT của lực lượng đổ bộ đường biển được sử dụng để đánh chiếm đoạn đổ bộ trên bờ biển của đối phương và bảo đảm cho lực lượng đổ bộ. Số lượng ĐPĐT của lực lượng đổ bộ đường biển được xác định tuỳ thuộc vào số lượng đoạn đổ bộ.

        ĐỘI PHÁO BINH, tổ chức lâm thời trong trận chiến đấu (chiến dịch) từ một khẩu đội đến một tiểu đoàn pháo binh dưới sự chỉ huy chung để thực hiện một nhiệm vụ tác chiến. Tùy theo tính chất nhiệm vụ, có: ĐPB cơ động diệt tăng, ĐPB dự bị chống tăng, ĐPB chuyên trách, ĐPB luồn sâu... ĐPB dự bị chống tăng làm lực lượng dự bị của người chỉ huy binh chủng  hợp thành, sẵn sàng cơ động đánh tăng; có thể gồm một trang đội, đại đội ĐKZ hay pháo nòng dài chống tăng và tên lửa chống tăng có điều khiển, tới một tiếu đoàn pháo chống tăng. ĐPB chuyên trách, chuyên bám đánh mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược trong thời gian dài, hay chuyên thực hiện một nhiệm vụ chiến đấu riêng biệt trong trận chiến đấu (chiến dịch).

        ĐỘI PHÁO BINH CƠ ĐỘNG DIỆT TĂNG, đội pháo binh cơ động trong chiều sâu đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) hay trong hậu phương của địch, nhằm tìm diệt xe tăng, xe cơ giới và hạn chế (ngăn chặn) sự hoạt động của chúng. ĐPBCĐDT do LLVT địa phương hoặc bộ đội chủ lực hoạt động ở khu vực tác chiến tổ chức theo một kế hoạch thống nhất. Thường lấy trung đội ĐKZ làm nòng cốt, có kết hợp với các tổ B-40, B-41, hoặc có cả B-72, B-87. ĐPBCĐDT bố trí ở nơi kín đáo, bất ngờ, tiện di chuyển đến các trận địa bắn đã được chuẩn bị trước trên khu vực phụ trách. Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) các ĐPBCĐDT hoạt động rất hiệu quả, góp phần làm thất bại chiến thuật “vỏ thép cứng di động” của Mĩ và QĐ Sài Gòn.

        ĐỘI PHẪU THUẬT, tổ chức quân y lâm thời, cơ động mà thành phần chủ yếu là một kíp mổ, có nhiệm vụ tiến hành các biện pháp cứu chữa ban đầu (phẫu thuật khẩn cấp) cho thương binh. Thường được tổ chức trong tác chiến; có biên chế gọn (khoảng 12 người), tách ra từ tổ chức quân y đã có (đại đội quân y, tiểu đoàn quân y, đội điều trị, viện quân y...). DPT thường dùng để tăng cường cho đơn vị (cấp tiểu đoàn) chiến đấu trên một hướng độc lập, xa tuyến quân y cấp trên. Có trong QĐND VN từ KCCP

        ĐỘI QUÂN BÍ MẬT nh LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VÀNG PAO

        ĐỘI QUÂN CHÍNH TRỊ, bộ phận ưu tú của lực lượng chính trị được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam VN trong KCCM, trong đó đội quân tóc dài có vai trò xung kích. ĐQCT được xây dựng ở khắp nơi: rừng núi, nông thôn đồng bằng, thành thị; tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, cả những nơi trọng yếu (các trung tâm chính trị, QS, kinh tế...); vận dụng các phương thức đấu tranh: hợp pháp, nửa hợp pháp hoặc bất hợp pháp; nội dung đấu tranh phong phú, diễn ra liên tục từ 1954-75 (đòi thi hành hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, chống bắt lính, chống tố cộng, chống cào nhà dồn dân, chống càn quét, bắn phá... ngăn chặn các cuộc hành quân tìm diệt của địch, phối hợp hoạt động với các LLVT giải phóng trong tiến công, phản công địch). ĐQCT đã góp phần to lớn làm nên thắng lợi của KCCP và KCCM.

        ĐỘI QUÂN ĐÁNH THUÊ, đội quân gồm những binh sĩ chuyên nghiệp, thường là người nước ngoài, được thuê mướn để phục vụ trong lĩnh vực QS, chủ yếu là chiến đấu và phục vụ chiến đấu nhằm những mục đích do người hoặc tổ chức thuê mướn đặt ra. Xuất hiện từ thời cổ đại ở La Mã, Hi Lạp, Ba Tư, Cactagiơ. Tk 14-16 phát triển mạnh ở Đức, Italia. Anh, Pháp. Hiện nay, ở một số nước tư bản, ĐQĐT được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Các thành viên trong ĐQĐT không có mục tiêu, lí tưởng chiến đấu chân chính nên tinh thần chiến đấu không vững vàng. Trong chiến tranh xâm lược VN, Đội quân lê dương Pháp được sử dụng làm ĐQĐT nằm trong lực lượng quân viễn chinh.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:31:18 AM

        ĐỘI QUÂN LÊ DƯƠNG PHÁP, đội quân đánh thuê của Pháp, thành lập 1831 tại Xiđi Ben Abet (Angiêri), gồm những đơn vị người nước ngoài (không phải nước thuộc địa của Pháp), chủ yếu tiến hành chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và can thiệp vũ trang ở nước ngoài. Nổi tiếng hung hãn và tàn bạo. Tổ chức cao nhất tới cấp trung đoàn bộ binh, thiết giáp, nhảy dù, được trang bị mạnh. ĐQLDP đã tham chiến ở Angiêri (1831-1962), Tây Ban Nha (1835-39), Nga (1854-56, 1918), Mêhicô (1863-67), Pháp (đàn áp công xã Pari 1871 và trong CTTG-II), Na Uy (1943), nhiều nước Bắc Phi và Đông Dương. Đơn vị ĐQLDP đầu tiên tới VN 1883; năm 1946-54, ở VN có 4 trung đoàn bố binh. 1 trung đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn dù, nhiều đại đội độc lập... và bị tổn thất nặng (trên 10.000 quân chết ở Đông Dương, chủ yếu là ở VN). Rút khỏi VN về Angiêri (1955) và rời khỏi Angiêri về đảo Cooc (1962) (xt lêgiông, nghĩa 3).

        ĐỘI QUÂN THỨ NĂM, gọi chung các lực lượng do một bên đối địch tổ chức để hoạt động ngầm trong vùng đối phương kiểm soát, nhằm phá hoại từ bên trong và làm nội ứng phối hợp hành động khi tiến công QS, tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc bạo loạn lật đổ. Thuật ngữ ĐQTN xuất hiện trong nội chiến Tây Ban Nha (1936-39). Mùa thu 1936, khi chỉ huy QĐ Phrăngcô bao vây Madrit bằng 4 cánh quân từ bên ngoài, tướng Mola đã tuyên bố còn có một ĐQTN là lực lượng hoạt động ngầm trong thành phố. Trong CTTG-II, Đức quốc xã đã tổ chức ĐQTN ở các nước. Các thế lực đế quốc, phản động thường sử dụng ĐQTN phục vụ âm mưu xâm lược hoặc lật đổ.

        ĐỘI QUÂN TÌNH NGUYỆN, gọi chung các đơn vị lực lượng vũ trang của một hay nhiều nước tự nguyện đến giúp chính phủ hoặc phong trào chính trị ở một nước khác theo yêu cầu của chính phủ hoặc phong trào đó. Trong lịch sử chiến tranh ở tk 20 đã xuất hiện nhiều ĐQTN chân chính: ĐQTN quốc tế trong nội chiến Tây Ban Nha (1936-39); Quân tình nguyện Việt Nam trong KCCP và KCCM ở Lào (1945- 54, 1960-75) và Campuchia (1979-89); quân tình nguyện Cuba ở Ănggôla (1975-90)...

        ĐỘI QUÂN TÓC DÀI, bộ phận xung kích của đội quân chính trị, lực lượng đấu tranh tại chỗ quan trọng trong KCCM ở miền nam VN; gồm phụ nữ ở mọi lứa tuổi, tiến hành đấu tranh trực diện bằng lí lẽ và tình cảm để ngăn chặn quân Mĩ và QĐ Sài Gòn khủng bố, càn quét, bình định; thực hiện công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch. ĐQTD xuất hiện trong phong trào đồng khởi ở miền Nam VN với những hình thức đấu tranh linh hoạt, sáng tạo, đặc biệt là phối hợp với LLVT giải phóng miền Nam VN trong thực hiện ba mũi giáp công.

        ĐỘI QUÂN VIỄN CHINH, bộ phận QĐ hoặc đội quân đánh thuê của một nước hay liên minh các nước được phái đi chinh phục các vùng lãnh thổ hoặc quốc gia khác. Các nhà nước nô lệ, phong kiến, tư bản thường sử dụng ĐQVC để bành trướng lãnh thổ, mở rộng chư hầu, chiếm thêm thuộc địa. Trong lịch sử, nhân dân VN đã từng đánh bại nhiều ĐQVC lớn như: Tống (1075-77), Nguyên - Mông (1258-88), Minh (1418-27). Thanh (1788-89), Pháp (1945-54) và Mĩ (1965-75).

        ĐỘI TÀU CHI VIỆN HÓA LỰC, tổ chức chiến đấu lâm thời của hải quân gồm một số tàu có trang bị hỏa lực manh (pháo, tên lửa...) để chi viện hỏa lực cho tác chiến đổ bố đường biển hoặc chi viện hỏa lực cho tác chiến của lục quân trên hướng ven biển. Khi tác chiến đổ bộ đường biển, là thành phần của lực lượng đổ bộ quân.

        ĐỘI TÀU HẢI QUÂN, tổ chức lâm thời gồm một số tàu cùng loại hoặc khác loại dùng để thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch hoặc nhiệm vụ chuyên môn. Biên chế tổ chức và tên gọi của ĐTHQ được xác định tuỳ theo tình hình và nhiệm vụ được giao. Trong tác chiến trên biển có thể thành lập những đội tàu: đổ bộ, chi viện hỏa lực, yểm hộ, cảnh giới, bảo đảm...

        ĐỘI THIẾU NIÊN DU KÍCH ĐÌNH BẢNG, đội du kích thiếu niên hoạt động bí mật cùng cha anh đánh địch ở vùng Đình Bảng, Từ Sơn, t. Bắc Ninh trong KCCP. Thành lập 7.11.1949 tại lãng Lí Thái Tổ, gồm 15 đội viên, lấy tên “Đội quân báo tí hon”, Nguyên Tiến Do làm đội trưởng. 1953 đổi thành ĐTNDKĐB, có 47 đội viên, đặt dưới sự lãnh đạo và phụ trách của chi bộ, ủy ban hành chính kháng chiến, xã đội và Đoàn thanh niên cứu quốc xã. Nhiệm vụ: luồn sâu vào bốt địch thu thập tin tức, phá hủy và lấy vũ khí trang bị cho du kích; vận động binh lính địch bỏ ngũ về với CM, giải thoát, đưa đường cho cán bộ; cắt phá đường dây thông tin... 1949-54, ĐTNDKĐB đã lập nhiều chiến công xuất sắc; được Chính phủ tặng thưởng huân chương, Trung ương Đoàn thanh niên cứu quốc tặng cờ thêu dòng chữ “Thiếu niên anh dũng”, Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới tặng cờ thêu dòng chữ “Tuổi trẻ vì hòa bình”... 1.6.1955, ĐTNDKĐB được báo cáo với Bác Hồ về thành tích chiến đấu và hoạt động của đội.

        ĐỘI THU DUNC ĐIỂU TRỊ THƯƠNG BINH, BỆNH BINH NHẸ, bộ phận chuyên môn được tổ chức ở các trạm quân y trung đoàn, sư đoàn để điều trị thương binh, bệnh binh nhẹ, có thể khỏi trong vòng 5 ngày (ở trung đoàn), 10 ngày (ở sư đoàn) để bổ sung quân số cho đơn vị.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:32:49 AM

        ĐỘI (TỔ) PHÒNG HÓA NHÂN DÂN, tổ chức được lập ra trong hệ thống phòng hóa nhân dân, làm nhiệm vụ nòng cốt trong địa phương và cơ quan (đơn vị) dân sự để xử lí tình huống hóa học, hạt nhân, góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân trong chiến tranh, tham gia khắc phục sự cố hóa chất độc, sự cố phóng xạ trong thời bình. Đ(T)PHND được tổ chức trong các đội dân quân tự vệ của địa phương, các ngành và các xí nghiệp, công, nông, lâm trường...

        ĐỘI TRINH SÁT. tổ chức lâm thời do liên binh đoàn, binh đoàn phái ra để làm nhiệm vụ trinh sát. Theo nhiệm vụ, có: ĐTS tuần tiễu, ĐTS hoạt động phía trước, ĐTS địch hậu. ĐTS thường gồm lực lượng trinh sát chuyên nghiệp hoặc lực lượng bộ binh (bộ binh cơ giới) từ một đại đội đến một tiểu đoàn. Khi cần, ĐTS có thể cử ra toán trinh sát. ĐTS thường được chỉ thị dải hoặc hướng (khu vực), mục tiêu trinh sát. ĐTS thường dùng các phương pháp: quan sát, sục sạo, phục kích, tập kích, bắt tù binh, trinh sát bằng hành động chiến đấu, trinh sát bằng trận chiến đấu... ĐTS thường được trang bị các phương tiện trinh sát, thông tin liên lạc và vũ khí chiến đấu.

        ĐỘI TRINH SÁT BIÊN PHÒNG, bộ phận của đồn biên phòng trực tiếp thực hiện các biện pháp nghiệp vụ; nhằm phát hiện kịp thời các hoạt động của địch, đối tượng hoạt động bất hợp pháp ở khu vực biên giới. ĐTSBP có nhiệm vụ: điều tra cơ bản, quản lí nghiệp vụ, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật; thực hiện công tác điều tra hình sự theo quy định của pháp luật. Tổ chức biên chế do tư lệnh Bộ đội biên phòng quy định, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và tính chất đặc điểm của từng đồn biên phòng.

        ĐỘI TRINH SÁT TUẦN TIÊU, đội trinh sát được phái ra từ các binh đoàn (liên binh đoàn), binh chủng hợp thành trên hướng quan trọng, để thu thập tình hình về địch và địa hình trong tác chiến. ĐTSTT thường gồm một đại đội hoặc một tiểu đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới); có thể được tăng cường pháo binh, xe tăng và các trinh sát viên công binh, hóa học...; phái các toán trinh sát tuần tiều ra phía trước và bên sườn, khoảng cách từ toán đến bộ phận chủ yếu của đội tùy thuộc tình hình thực tế và khả năng thông tin liên lạc. ĐTSTT thường vận dụng các thủ đoạn trinh sát: quan sát, sục sạo, tập kích, bắt tù binh; trinh sát bằng hành động chiến đấu, trận chiến đấu... ĐTSTT được chỉ thị một hướng hoặc một khu vực trinh sát. Khoảng cách từ ĐTSTT đến các phân đội phía trước của binh chủng hợp thành phụ thuộc vào lực lượng và nhiệm vụ được giao, tình hình địch, địa hình, đường sá...

        ĐỘI TRINH SÁT VŨ TRANG, đội trinh sát được phái ra từ các binh đoàn (liên binh đoàn), binh chủng hợp thành. Thường gồm đại đội hoặc tiểu đoàn bộ binh (bộ binh cơ giới) và một số thành viên khác; cổ thể được tăng cường trinh sát viên công binh, hóa học..., các loại vũ khí trang bị chiến đấu và các phương tiện trinh sát, thông tin. ĐTSVT thường vận dụng tổng hợp các thủ đoạn trinh sát: quan sát, sục sạo, trinh sát băng trận chiến đấu, trinh sát bằng hành động chiến đấu...

        ĐỘI TUẦN TRA BIÊN PHÒNG, tổ chức lâm thời của đồn biên phòng làm nhiệm vụ tuần tra bảo vệ cột mốc, dấu hiệu đường biên giới quốc gia hoặc các khu vực trong phạm vi hoạt động của đồn biên phòng; phát hiện, ngăn chặn, xử lí các vụ vi phạm quy chế biên giới, vượt biên giới trái phép. ĐTTBP thường gồm 5-7 người từ đội vũ trang biên phòng. Trang bị: vũ khí cá nhân, bản đồ, địa bàn, ống nhòm, đèn pin, dây leo, tăng võng, lương thực thực phẩm, thuốc men, bông bâng và có thể có chó nghiệp vụ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc. ĐTTBP có thể hoạt động thường xuyên, đột xuất, công khai hoặc bí mật.

        ĐỘI VĂN (Vương Văn Vang; 7-1889), người tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-92). Quê xã Trạm Lộ, h. Thuận Thành, t. Bắc Ninh. 1887 chiêu mộ hàng nghìn nghĩa quân chống Pháp ở các tổng, huyện thuộc Bắc Ninh, giáp với t. Hưng Yên, Hải Dương, được Nguyễn Thiện Thuật phong chức đề đốc. 7.1888 chỉ huy nghĩa quân chiến đấu, chia cắt đường Bắc Ninh - Hải Dương. Cuối 1888 địch liên tiếp cho 3 binh đoàn càn quét, nghĩa quân vẫn bảo toàn được lực lượng. 3.1889 dẫn 256 nghĩa quân trá hàng để được địch huấn luyện và trang bị. 9.1889 hướng dẫn hàng trăm binh lính bỏ hàng ngũ địch đem theo vũ khí lên Yên Thế phối hợp với nghĩa quân Đề Thám chống Pháp. Sau một tháng chống càn, ĐV ốm nặng, bị địch bắt và bị xử chém (7.11.1889) tại vườn hoa Pôn Be (nay là vườn hoa Inđira Ganđi, Hà Nội).

        ĐỘI VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG của Bộ đội biên phòng, bộ phận của dồn biên phòng, có nhiệm vụ: tuyên truyền vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang ở địa bàn do đồn quản lí; phát động quần chúng giữ vững độc lập chủ quyền an ninh biên giới quốc gia và trật tự an toàn ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo; giữ vững đoàn kết dân tộc, quân dân, đoàn kết quốc tế. ĐVĐQC luôn bám xã, bám dân để quản lí địa bàn, xây dựng tuyến an ninh nhân dân và tiến hành các biện pháp quản lí, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng biển, đảo. PVĐQC có biên chế 6-8 người.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:33:58 AM

        ĐỘI VỆ SINH PHÒNG DỊCH, phân đội quân y, có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, hướng dẫn và trực tiếp thực hiện các biện pháp vộ sinh và phòng chống dịch bệnh cho bộ đội. Được tổ chức ở quân khu, quân đoàn, quân chủng và Cục quân y (thuộc TCHC).

        ĐỘI VŨ TRANG BIÊN PHÒNG, bộ phận của đồn biên phòng thực hiện các hoạt động quân .sự nhằm bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh trên địa bàn. Nhiệm vụ: tuần tra bảo vệ cột mốc, dấu hiệu đường biên giới, địa bàn; tổ chức quan sát, canh gác, tác chiến bảo vệ đồn; làm nòng cốt thường trực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đồn (trạm) biên phòng; cơ động chiến đấu bảo vệ biên giới, tập kích, phục kích, truy lùng địch và các tội phạm hoặc sử dụng hoạt động vũ trang làm áp lực hỗ trợ cho các biện pháp nghiệp vụ khác. ĐVTBP gồm: đội trưởng, đội phó và tiểu đội hỏa lực được trang bị một số loại vũ khí cần thiết. Đồn trên tuyến trọng điểm có thể tổ chức trung đội vũ trang với trang bị hỏa lực mạnh.

        ĐỘI VŨ TRANG CAO BẰNG, đội vũ trang tập trung đầu tiên của t. Cao Bằng, làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữ vững giao thông liên lạc, vũ trang tuyên truyền trong quần chúng, huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu trong tỉnh. Thành lập 10.1941 tại Pắc Bó. Gồm 12 người, 7 súng (3 súng lục, 4 súng trường). Cuối 1942 phân tán lực lượng về các địa phương huấn luyện các đội tự vệ chiến đấu. 22.12.1944 một số cán bộ, đội viên ĐVTCB được lựa chọn vào Đội VN tuyên truyền giải phóng quân. Đội trưởng, chính trị viên đầu tiên: Lê Quàng Ba, Lê Thiết Hùng.

        ĐỘI VŨ TRANG CÔNG TÁC, tổ chức vũ trang lâm thời thuộc LLVT địa phương của Quân khu Trị - Thiên (1974-75). Được thành lập theo quyết định của khu ủy và quân khu ủy, hoạt động trên các hướng của chiến dịch và bố trí ở địa phương. Mỗi ĐVTCT khoảng 20 người, được trang bị một sô vũ khí thông thường. Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, du kích và các lực lượng khác làm nhiệm vụ diệt ác, trừ gian, tuyên truyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị mọi mặt để tiến công, nổi dậy giành chính quyền. Đầu 1975 trên chiến trường Trị Thiên có hàng trăm ĐVTCT, góp phần quan trọng vào thắng lợi giải phóng Trị - Thiên - Huế.

        ĐÔMINICA (Cộng đồng Đôminica; A. Commonwealth of Dominica), quốc gia ở đảo Đôminica trong quần đảo Ăngti Nhỏ, vùng biển Caribê. Dt 751km2; ds 70 nghìn người (2003); phần lớn người gốc Phi. Ngôn ngữ chính thức; tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Crèôn được sử dụng rộng rãi. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Rôdô. Chính thể dân chủ nghị viện, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phú do thủ tướng đứng đầu. Địa hình núi. đinh cao nhất 1.447m. Khí hậu nhiệt đới, gió mùa. Rừng nhiệt đới. Kinh tế bị tư bản Mĩ, Canada kiểm soát. Nông nghiệp và du lịch là cơ sở của nền kinh tế. GDP 263 triệu USD (2002), bình quân đầu người 3.660 USD. Thành viên LHQ (18.12.1978), Tổ chức các nước châu Mĩ, Cộng đồng Caribê. LLVT: đang tổ chức.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66292734_450419205687965_7238630665409789952_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQlk_2LuFuSY_durBH1TAgzI6Clz8NkCHh3Ilgk7PS2b6DEzubhHSVHbNq0HNxig5m4&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3df6b095ebd31d73b5dc133aa1b24e2b&oe=5DA1BE77)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:35:04 AM

        ĐỔMINICANA (Cộng hòa Đôminicana; República Dominicana, A. Dominican Republic), quốc gia ở phần đỏng đảo Haiti và một số đảo nhỏ trong quần đảo Ăngti Lón, ở vùng biển Caribê. Dt 48.400km2; ds 8,72 triệu người (2003); trên 70% người lai. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Tây Ban Nha. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đô: Xantô Đômingô. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện. Núi chiếm 1/2 diện tích. Xen giữa các dãy núi và bờ biển là đồng bằng. Bờ biển bị chia cắt, ven biển có đá ngầm. Khí hậu nhiệt đới ẩm; rừng chiếm 45% diện tích lãnh thổ. Nước nông nghiệp, kinh tế do tư bản Mĩ kiểm soát. Công nghiệp khai thác quặng sắt, niken. bôxít... GDP 21,21 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 2.490 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Tổ chức các nước châu Mĩ... LLVT: lực lượng thường trực 24.500 người (lục quân 15.000 không quân 5.500, hải quân 4.000), lực lượng bán vũ trang 15.000. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 24 xe tăng, 8 xe thiết giáp trinh sát, 20 xe thiết giáp chở quân, 22 pháo mặt đất, 16 máy bay chiến đấu, 15 tàu tuần tiễu, 4 tàu hộ tống... Ngân sách quốc phòng 145 triệu USD (2002).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66360390_450419219021297_6323520653873905664_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQn8ihB2PNrz11lF0op0JENj9JLHmZbfEG5kjRtbMC34aW54b2QJOsohW1NIp7VWyyw&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=66a7fb9b6c7a812c0973a0390e4850f0&oe=5DC71CC0)


        ĐÔN QUÂN, biện pháp xây dựng, phát triển tổ chức QĐ bằng cách chuyển đơn vị (hoặc quân số của đơn vị) từ bộ phận LLVT có tổ chức, khả năng chiến đấu và địa bản hoạt động hạn chế lên bộ phận có tổ chức, khả năng chiến đấu cao hơn và địa bàn hoạt động rộng hơn. Được áp dụng trong KCCP và KCCM để xây dựng QĐND VN; thường chuyển từ dân quân (du kích) tự vệ lên bộ đội địa phương, hoặc từ bộ đội địa phương lên bộ đội chủ lực. ĐQ cũng được sử dụng để xây dựng, củng cố QĐ người VN theo Pháp thời Pháp thuộc và QĐ Sài Gòn (trước 1975).

        ĐỒN BIÊN PHÒNG, đơn vị cơ sở của Bộ đội biên phòng trực thuộc bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, có nhiệm vụ quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh trật tự biên giới, vùng biển, đảo trong khu vực đảm nhiệm. Tổ chức của ĐBP gôm: đội vũ trang biên phòng, đội trinh sát biên phòng, đội vận động quẩn chúng, đội kiểm soát hành chính. ĐBP có cửa khẩu, cứa sông, cửa lạch hoặc đường qua lại biên giới được tổ chức trạm kiểm soát cửa khấu. Tổ chức biên chế của ĐBP cứa khẩu tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ từng loại đồn. ĐBP là điểm tựa trong khu vực phòng thủ (tỉnh, huyện biên giới).

        ĐỒN BIÊN PHÒNG CÙ BAI, đồn biên phòng đóng tại xă Hướng Lập, h. Hướng Hóa, t. Quảng Trị, trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Trị; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1.1967 và 9.1973). Thành lập 12.1955. Có nhiệm vụ: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên tuyến biên giới Việt - Lào thuộc t. Quảng Trị; xây dựng cơ sở chính trị, giữ vững an ninh biên giới; đấu tranh chống gián điệp, biệt kích xàm nhập, chống vượt biên, buôn lậu, vận chuyển ma túy và các loại tội phạm khác; làm tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương về công tác biên phòng, vận động nhân dân định canh định cư xây dựng làng, bản. Trong KCCM, đã phối hợp với đơn vị bạn bắn rơi 8 máy bay Mĩ, diệt 28 biệt kích, bắt 12 thám báo, thu nhiều vũ khí và điện đài; xây dựng xã Hướng Lập và xã Pa Bâng (Lào) điển hình về mọi mặt của địa phương; sau 1975 phối hợp với các ban ngành ở địa phương tổ chức chữa bệnh, mở các lớp học xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục cho nhân dân. Huân chương: Lao động hạng ba. Quân công hạng nhì và hạng ba, 5 Chiến công các loại. Đồn trưởng đầu tiên: Hồ Sĩ Thí.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:36:37 AM

        ĐỐN BIÊN PHÒNG HỮU NGHỊ (Đồn 193), đồn biên phòng đóng trên trục QL 1, thuộc thị trấn Đồng Đăng, h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn, trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Lạng Sơn; đơn vị hai lần Ah LLVTND (11.1978 và 12.1979). Thành lập 10.3.1959. Có nhiệm vụ: bảo vệ và kiểm soát cửa khẩu trọng yếu ở tuyến biên giới Việt - Trung; tuần tra và quản lí đường biên, mốc quốc giới; đấu tranh chống các loại tội phạm hình sự trong khu vực biên giới; thực hiện các công tác khác theo sự phân công của cấp trên. Trong KCCM, tuyến bờ biển bị phong tỏa, khu vực đồn trở thành một đầu mối lớn tiếp nhận hàng viện trợ. Đơn vị đã cùng địa phương giải quyết 136 vụ gây rối, 226 vụ vượt biên buôn lậu, phát hiện 526 trường hợp qua cửa khẩu không hợp lệ. Huân chương: Chiến công hạng ba, 2 Quân công hạng ba. Đồn trưởng đầu tiên: Vi Văn Thăng.

        ĐỒN BIÊN PHÒNG TRÀNG CÁT (Đồn 38), đồn biên phòng đóng tại xã Tràng Cát, h. An Hải, tp Hải Phòng, trực thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng Hải Phòng; đơn vị Ah LLVTND (1973). Thành lập 7.1959. Có nhiệm vụ: quân lí, bảo vệ chủ quyền an ninh tuyến biển từ giáp cảng Hải Phòng đến Đồ Sơn và kiểm soát 5 cửa sông, 10 bến thuyền thuộc địa bàn đồn phụ trách. Riêng 1972 khám phá 13 vụ án (có 1 vụ chính trị), phát hiện 47 trường hợp thuyền đi biển không hợp lệ, 5 vụ buôn lậu... Trong KCCM, đã tổ chức phát hiện, tháo gỡ và phá hủy nhiều thủy lôi (trong đó có kiểu MK52 dầu tiên) ở vùng biển Hải Phòng, bắn rơi 3 máy bay Mĩ bằng súng bộ binh. Huân chương: Quận công hạng ba, 3 Chiến công các loại. Đồn trưởng đầu tiên: Trần Quý Hai.

        ĐỐN THỦY, khu vực dọc Sông Hồng từ Nhà Hát Lớn đến Bệnh viện Hữu Nghị, thuộc q. Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tên gọi có nguồn gốc từ một đồn thủy quân thời Lê. 3.4.1882 Pháp đưa 4 pháo hạm: La Phăngpha (La Fanfare), La Matxuyơ (La Massue), La Xuyapridơ (La Surprise) và La Carabin (La Carabine) cùng một đại đội đổ bộ và một đại đội (thiếu) thủy quân lục chiến đến ĐT, chuẩn bị đánh chiếm Hà Nội lần hai.

        ĐỘN THỔ, hình thức chiến thuật du kích thể hiện bằng cách bí mật đào hầm, hố giấu lực lượng dưới mặt đất, chờ quân địch đến. bất ngờ vùng dậy tiêu diệt. Trong KCCP và KCCM, lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương thường sử dụng ĐT đánh địch đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất là trong chiến đấu phục kích.

        ĐỘN THỦY, hình thức chiến thuật du kích thể hiện bằng cách bí mật giấu người dưới nước để bất ngờ đánh địch. Trong KCCP và KCCM, ĐT được lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa phương, bộ đội đặc công sử dụng rộng rãi, có hiệu quả và đạt hiệu suất chiến đấu cao.

        ĐÔNG Á, bộ phận lãnh thổ châu Á giáp Thái Bình Dương, ở vùng ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới, từ 20° đến 60° vĩ độ bắc. Gồm phần phía đông Liên bang Nga, đông TQ, Ma Cao, Nhật Bàn, Triều Tiên. Địa hình núi xen lẫn các đồng bằng rộng. Thảm thực vật: ở phía bắc là rừng lá rộng và hỗn hợp, phía nam là rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

        ĐÔNG BỘ ĐẨU (cổ), bên Sông Nhị (Sông Hổng) ở phía đông thành Thăng Long (khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc phố Hoè Nhãi, q. Ba Đình, Hà Nội ngày nay), nơi diễn ra trận phản công chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần I (1258). Ngày 21.1.1258 quân Trần rút khỏi Thăng Long về Thiên Mạc. Quân Nguyên - Mông chiếm được thành. 29.1 yua Trần Thái Tông đưa quân ngược Sông Nhị tiến đánh ĐBĐ. Quân Nguyên - Mông bị thua rút chạy về Vân Nam.

        ĐÔNG CHINH CỦA ALÊCHXANĐƠ ĐẠI ĐẾ (334- 324tcn), các cuộc chiến tranh của Alêchxanđơ Makêđônia cầm đầu liên minh Hi Lạp - Makêđônia chinh phục các xứ ở phía đông. 10 năm chinh chiến, với nhiều chiến thắng vang đội (x. trận Granich, 334tcn; trận Ixơt, 333tcn; trận Gôgamen. 331 tcn)... đã tạo nên một đế quốc rộng lớn nhất thế giới thời cổ đại trải dài suốt vùng Tiểu Á và Trung Á, đến tận Sông Ấn ở phía tây Ấn Độ. Cuộc đông chinh đánh dấu thời kì phát triển cao nhất của nghệ thuật QS Hi Lạp cổ đại: mật độ và sức đột kích của phalăng tăng lên, nguyên tắc bố trí lực lượng không đều ở chính diện được phát triển, kị binh trớ thành lực lượng đột kích và cơ động quyết định, hình thành các nguyên tắc cơ sở  của chiến thuật kị binh và về hiệp đồng chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:37:48 AM

        ĐÔNG DƯƠNG (P. Indochine, A. Indochina), khu vực phía đông bán đáo Trung Ấn, gồm các nước Việt Nam, Lào, và Campuchia; bắc giáp TQ, tây giáp Thái Lan, các mặt đông, đông nam và tây nam bao bọc bởi Biển Đông. Địa hình phía bắc và phần giữa chủ yếu là núi và cao nguyên (trừ đồng bằng Bắc Bộ và một số đồng bằng nhỏ ven biển phía đông VN); dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt - Lào ngăn cách hai vùng với những đặc điểm khí hậu khác nhau. Phía nam là vùng đồng bằng châu thổ các sông Mê Công, Tônglêsáp, khí hậu tương đối ôn hòa. Các dân tộc ở ĐD vốn có quan hệ lịch sử lâu đời. Từ tk 16 ĐD cùng với cả khu vực Đông Nam Á là đối tượng nhòm ngó của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nửa cuối tk 19. thực dân Pháp lần lượt chiếm VN, Campuchia và Lào làm thuộc địa; 1887 lập ra Liên hiệp ĐD gồm VN và Campuchia (1899 thêm Lào), thường gọi là ĐD thuộc Pháp hay Đông Pháp: 1940 đổi thành Liên bang ĐD. 1941-45 bị Nhật chiếm đóng. 8.1945 nhân dân VN tiến hành cuộc CM tháng Tám. giành chính quyền từ tay Nhật, thành lập nước VN DCCH. Lào và Campuchia cũng lần lượt giành được độc lập, nhưng sau đó Pháp trở lại xâm lược ĐD. Nhân dân ĐD tiến hành kháng chiến trường kì, buộc Pháp phải kí các hiệp định Giơnevơ công nhận chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của VN, Lào, Campuchia và rút quân khỏi ĐD. Ngay sau đó, Mĩ đã can thiệp, tiến tới trực tiếp đưa quân vào xâm lược ba nước ĐD, song cũng thất bại trước cuộc KCCM của nhân dân ba nước.

        ĐÔNG ĐÔ. tên gọi kinh thành Thăng Long cuối tk 14 đầu tk 15. Năm 1397, Hồ Quỷ Li cho xây dựng kinh thành mới ở An Tôn (Thanh Hóa) mang tên Tây Đô. kinh đó cũ Thăng Long được gọi là ĐĐ. Nhà Minh diệt nhà Hồ đổi ĐĐ thành Đông Quan (1407). Năm 1430 nhà Lê đổi thành Đông Kinh.

        ĐÔNG HÀ, thị xã, tỉnh lị t. Quáng Trị (từ 6.1989). Dt 76,26 km2; ds 67,3 nghìn người (2001). Đầu môi giao thông quan trọng ỡ ngã ba QL 1 (km 752) và QL 9. bên bờ sông Hiếu Giang, nam Hà Nội 580km (theo QL 1), có đường sắt Bắc - Nam chạy qua. Địa hình bằng phẳng, giao thông thủy bộ thuận tiện. Trong KCCM, ĐH diễn ra nhiều chiến sự ác liệt, điển hình là trận Đông Hà (27-28.4.1972) trong chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Sau Hiệp định Pari 1973 về VN, ĐH là nơi đặt trụ sở Chính phú CM lâm thời cộng hòa miền Nam VN.

        ĐÔNG KHÊ, thị trấn, huyện lị h. Thạch An. t. Cao Bằng. Nằm trên ngã ba quốc Iô 4A (km 74) Đổng Đăng - Cao Bằng và đường 208 đi Tà Lùng (Phục Hoà), đông nam tx Cao Bằng 45km (theo QL 4A), táy bắc Lạng Sơn 88km. Bị Pháp chiếm trong cuộc hành binh tiến công Việt Bắc (Thu Đông 1947) và xây dựng thành cứ điểm quan trọng, cùng với Cao Bằng. Lạng Sơn, Thất Khê tạo thành tuyến phòng thủ dọc QL 4A nhằm bao vây có lập căn cứ địa Việt Bắc: bị bộ đội chủ lực QĐND VN tiến công tiêu diệt trong trận Đông Khê 25- 26.5.1950, cứ điểm ĐK được Pháp củng cố và tăng cường lực lượng, nhưng lại bị tiêu diệt trong trận Đông Khê 16- 18.9.1950 mở đầu chiến dịch Biên Giới (16.9-14.10.1950).

        ĐÔNG KINH, kinh đô Đại Việt thời Lê (tkl5 - giữa tkl8). Nguyên là kinh thành T hăng Long thời Lí, Trần. Cuối tk 14 Hồ Quỷ Li cho xây dựng Tây Đô ở Thanh Hóa, đổi Thăng Long thành Đông Đô. Thời thuộc Minh, Đông Đô bị đặt làm trị sở Đông Quan. Tên ĐK do Lê Lợi đặt 1430 sau khi giành thắng lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27). Người châu Âu phiên âm thành Tônkin và dùng tên gọi này để chi chung cả đất Đàng Ngoài thời Lê Trịnh cũng như xứ Bắc Kì và Bắc Bộ sau này. Thành ĐK được xây dựng dựa trên cơ sở thành Thăng Long cũ, gồm ba lớp. Ngoài cùng là La Thành đươc tu bố lại. Giữa là Hoàng Thành, bốn mặt xây bằng đá, riêng đoạn từ cửa Đông tới góc đông bắc bằng gạch. Cả bốn phía tường thành đều xây tường bắn. trên có ụ bắn. Hoàng Thành mở ba cửa: cứa Đông, cửa Nam và cửa Bảo Khánh. Trong cùng là Cung Thành, hình chữ nhật, xây bằng gạch, mở hai cửa: cửa Tiền (Đoan Môn), cửa Hậu (Cửa Tây). Bên trong Cung Thành là những kiến trúc chủ yếu của triều đình: tòa Thi Triều, điện Chí Kính, điện Vạn Thọ... Hiện còn di tích thềm điện Kính Thiên, Đoan Môn và Hậu Lâu, cùng với các di tích khảo cổ đang được khai quật và thành Hà Nội thời Nguyễn tạo thành quấn thể di tích thành cổ Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:38:57 AM

        ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907), tổ chức trường học chống thực dân phong kiến thông qua hình thức văn hóa của một số sĩ phu VN yêu nước đầu tk 20. Trường do Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Quyền đứng ra mở (3.1907) lấy tên là ĐKNT (trường dạy học vì nghĩa ở Đông Kinh, nay là Hà Nội); được đông đảo nhân dân ủng hộ, thu hút hàng nghìn người theo học. Trường dạy miễn phí, tổ chức thành bốn ban (trước tác, giáo dục, cổ động, tài chính) và có báo riêng là “Đăng cổ tùng báo”. Hoạt động của trường gồm biên soạn tài liệu, dạy học và thực hành các buổi diễn thuyết lưu động ở nhiều nơi nhằm tuyên truyền, cổ động cho những cải cách văn hóa - giáo dục, bài trừ hủ tục lạc hậu, chống tham quan ô lại, chống sưu cao thuế nặng, hô hào thực nghiệp chấn hưng đất nước... Nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ cũng mở trường lớp theo mô hình ĐKNT. Ngoài ra một số hội viên ĐKNT còn trực tiếp lập các tổ chức kinh doanh công thương nghiệp để lấy kinh phí hoạt động, như Hồng Tân Hưng, Đông Thành Xương ở Hà Nội, Triều Dương thương quân ở Nghệ An, Quảng Nam hiệp thương công ti ở Quảng Nam, Công ti Liên Thành ở Phan Thiết... ĐKNT có quan hệ mật thiết với phong trào Đông Du (1905-09) và phong trào Duy Tân (1906-08), đóng góp tích cực cho sự phát triển văn hóa dân tộc, động viên lòng yêu nước của nhân dân. 12.1907 Pháp ra lệnh giải tán, bắt những người cầm đầu, tịch thu và cấm lưu hành các tài liệu của ĐKNT. Những tư tưởng của ĐKNT đã ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử cận đại VN.

        ĐÔNG NAM Á, khu vực ở đông nam châu Á, gồm các nước: VN, Lào, Campuchia, Mianma, Thái Lan, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Đông Timo. Tổng dt 4.500.000km2; ds khoảng 480 triệu người. Hơn 50% lãnh thổ ĐNA là núi. Những đồng bằng lớn ở bán đảo Đông Dương và đảo Xumatra. Khí hậu xích đạo, cận xích đạo và nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa trung bình 2.500-3.000mm/năm. Các sông lớn: Mê Công, Xaluin, Iraoađi, Sông Hồng. Rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt. Nông nghiệp nhiệt đới, phần lớn ruộng đất được tưới nước. Tài nguyên phong phú: thiếc, vônfram, crôm, cao su tự nhiên (80%), niken, đồng, chì, kẽm, sắt, bôxít, vàng, bạc và dầu mỏ. Có các đường hàng hải quốc tế từ châu Âu, châu Phi đi Viễn Đông và Mĩ. 8.8.1967, tổ chức khu vực các quốc gia ở ĐNA gọi tắt là ASEAN được thành lập, với mục đích được chính thức tuyên bố: hợp tác kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Các nước thành viên hiện nay: VN, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Indonesia, Malaixia, Xingapo, Brunây, Philippin. VN tham gia với tư cách quan sát viên từ 1992, là thành viên chính thức từ 7.1995.

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67011569_450419239021295_2062373184493060096_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQm67kIxS0GSsQ-EkxpJllt9pQ8_4Kdz8I-CKZMM3IP1JfuQuIob_IuXZ0jA1F2IEts&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3dac71fe63d449cba7ee51a7ef6e2e4c&oe=5DB2410B)


        ĐÔNG PHONG, tên lửa đường đạn, tầm phóng 280- 13.000km, có 1-3 tầng, dùng nhiên liệu rắn, mang đầu đạn thường hoặc hạt nhân tới 4Mt; do TQ nghiên cứu, chế tạo từ đầu thập kỉ 70 tk 20. Có: ĐP tầm xa là các loại tên lửa xuyên lục địa, có 2 hoặc 3 tầng, nhiên liệu rắn, đặt trong hầm phóng (DF-5) hoặc trên bệ phóng cơ động (DF-31, DF-41), mang dầu đạn hạt nhân (tới 4Mt), có tầm phóng 8.000km (DF-31) tới 13.000km (DF-5A). ĐP tầm trung là các loại tên lửa có 1 hoặc 2 tầng, nhiên liệu rắn, đặt trên bệ phóng cố định hoặc cơ động, mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân (tới lMt), có tầm phóng tới 3.000km (vd: DF-3, DF-4, DF-15 và DF- 21). ĐP tầm gần là tên lửa cơ động, dùng nhiên liệu rắn với tầm phóng 280km (vd: DF-11). Các loại ĐP chủ yếu được trang bị cho lực lượng tên lửa chiến lược của TQ.

        ĐÔNG QUAN, huyện, trị sở Giao Chỉ kiêm trị sở phủ Giao Châu, do nhà Minh đặt cho đất Đông Đô sau khi diệt nhà Hồ và xâm chiếm Đại Việt (1407-27). Thành ĐQ được xây dựng kiên cố tại vị trí thành Thăng Long cũ, có hệ thống đồn lũy bảo vệ ngoại vi. Từ 22.11.1426 nghĩa quân Lam Sơn liên tục tiến công vây hãm thành, buộc Vương Thông chấp nhận thất bại, tuyên thệ đầu hàng tại hội thề Đông Quan (16.12.1427) và rút quân về nước (3.1.1428).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:40:17 AM

        ĐÔNG TIMO (Cộng hòa dân chủ Đông Timo; Republika Demokratika Timor Lorosa’e, BĐN. República Democratica de Timor-Leste, A. East Timor, Republic Democratic of Timor- Leste), quốc gia ở đồng bắc đảo Timo và một số đảo nhỏ phụ cận thuộc quần đảo Mã Lai. Dt 14.874km2; ds 997,8 nghìn người (2003); gồm người Tetum. Mambai, Macacxai, TQ... Ngôn ngữ chính: tiếng Tetum, tiếng Bồ Đào Nha. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La Mã (trên 90%), đạo Hồi, đạo Hindu và tín ngưỡng huyền thống địa phương. Thủ đô: Đili. Từ 1586 là thuộc địa của Bồ Đào Nha. 6.1974 giành được độc lập, 28.11.1975 tuyên bố thành lập nước CHDC ĐT. Inđônêxia đưa QĐ vào can thiệp, 17.7.1976 sáp nhập vào Inđônêxia. Trong cuộc trưng cầu ý dân 1998, đa số cử tri ĐT ủng hộ việc ĐT trở thành nhà nước độc lập. Sau khi Inđônêxia rút quân, ĐT được đặt dưới sự quân lí của Cơ quan quyền lực lâm thời LHQ. 20.5.2002 chính thức tuyên bố độc lập, theo chính thể cộng hòa dân chủ, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng dầu. Địa hình đồi núi, có đỉnh cao tới 2.950m. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Trồng lúa, ngô, dừa, cà phê, cao su, bông, mía đường. GDP 389 triệu USD (2002), bình quân đầu người 520 USD. Thành viên LHQ (27.9.2002). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 28.7.2002. LLVT: 640 người.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66129591_450419229021296_4776994804229734400_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnOYonUKWSfN5HVNwkvH3DEODw3L_6SUuz3EvdnqegDjtlkMsNKcdG_G9dRogTY7qE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=df889b344ddf317af1118cc248387aef&oe=5DA4A622)


        ĐỒNG BẰNG, phần bề mật lục địa tương đối rộng và bằng phẳng, có độ dốc nhỏ (dưới 3-5°) và độ cao không lớn so với mực nước biển (thông thường dưới 200m). Hình thành do sự biến đổi dần dần và tác động tương hỗ giữa lớp vỏ Trái Đất với các yếu tố bên ngoài. Theo nguồn gốc, ĐB được chia thành 3 loại: ĐB kiến tạo, hình thành do sự vận động nâng lên của lớp vỏ Trái Đất hoặc sự hạ thấp mực nước biển làm bộc lộ phần bề mật vốn ngập chìm trong nước; phần lớn phân bố tại khu vực ven biển, thường có địa hình dốc thoải, dễ tiến hành các hoạt động đổ bộ đường biển. ĐB xâm thực (bóc mòn), hình thành do tác dụng ngoại lực của các hiện tượng tự nhiên (băng hà) lên bề mặt lồi lõm của Trái Đất làm cho nó trở nên bằng phẳng, trừ một số điểm cao nhỏ còn lại; thường có nền đất cứng, thuận tiện cho việc cơ động bằng các phương tiện cơ giới nhưng khó cấu trúc công sự. ĐB bồi tích (dạng phổ biến nhất), hình thành do sự vận chuyển phù sa của các sông, biển bồi tích lại; phần lớn thấp dưới l00m, phân bố tại các lòng chảo thấp, ven các biển, hồ, vùng hạ lưu của các hệ thống sông, tạo thành các vùng châu thổ (tam giác châu), thường có nền đất yếu, nhiều hồ ao, sông ngòi, mùa mưa dễ bị ngập lụt. Phẩn lớn ĐB ở VN là ĐB châu thổ và ĐB bổi tích ven biển, lớn nhất là các ĐB Bắc Bộ và ĐB sông Mê Công, có độ cao không quá 25m, với hệ thống sông ngòi dày đặc. Địa thế bằng phẳng, mạng lưới giao thông phát triển, ĐB là địa bàn thuận lợi cho hoạt động tiến công của các binh đoàn lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng trên chính diện rộng, chiều sâu lớn,... nhưng tinh chất bảo vệ kém, khó thực hiện việc ngụy trang, nghi binh, tổ chức tác chiến phòng ngự.

        ĐỒNG BỘ TRANG BỊ, 1) biên chế, tổ chức, ráp nối các thiết bị, phương tiện, trang bị... riêng lẻ thành bộ (hoặc hệ thống) để phối hợp hoạt động, thống nhất hoàn thành nhiệm vụ. Vd: đồng bộ xe kéo-pháo, đồng bộ rađa - trạm nguồn...; 2) bảo đảm đủ, đúng số lượng, chất lượng chi tiết, cụm chi tiết, bộ phận của một trang bị, thiết bị hoặc phương tiện để chúng hoạt động tốt. ĐBTB trong QS là một chỉ tiêu đánh giá khả năng tác chiến và hoàn thành các nhiệm vụ khác của trang bị cũng như của đơn vị. Có các mức: không đồng bộ, đồng bộ thấp, đồng bộ trung bình, đồng bộ cao.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:42:23 AM

        ĐỒNG DÙ, địa điểm thuộc h. Củ Chi, trên đường 22 đi Tây Ninh, tây bắc tp Hồ Chí Minh 30km. ĐD là căn cứ của Sư đoàn Tia chớp nhiệt đới của Mĩ. 26.1.1969 hai tiểu đoàn đặc công 3 và 28 cùng một tiểu đoàn pháo binh QGP tập kích, đánh thiệt hại nặng SCH sư đoàn và Lữ đoàn 2, diệt và làm bị thương 1.270 quân, phá hủy nhiều máy bay, 176 xe QS, 12 khẩu pháo, 4 kho bom đạn, xăng dầu và nhiều phương tiện chiến tranh. Sau khi quân Mĩ rút khỏi miền Nam VN, ĐD là căn cứ của Sư đoàn bộ binh 25 QĐ Sài Gòn. 29.4.1975 Sư đoàn 320 tiến công căn cứ này (x. trận Đồng Dù 29.4.1975). Sau 6 giờ chiến đấu sư đoàn chiếm hoàn toàn căn cứ, mở thông hướng tây bắc cho Quân đoàn 3 vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).

        ĐỒNG HỒ CHÂN TRÒI, đồng hổ hoạt động theo nguyên lí con quay để xác định và chỉ thị góc nghiêng, góc lên, xuống của trục dọc, trục ngang khí cụ bay so với đường chân trời hoặc đường thẳng đứng với mặt đất. Được lắp trên bảng đồng hổ trong buồng lái của khí cụ bay. Trên khí cụ bay hiện đại, thường sử dụng ĐHCT có con quay đa chức năng, điều khiển bằng điện. Các tín hiệu được lấy từ con quay, biểu thị gián tiếp trên màn hình, rồi được đưa đến các hệ thống khác như: dẫn đường, tự động lái...

        ĐỒNG HỒ PHƯƠNG VỊ CON QUAY, thiết bị chỉ hướng tự động, hoạt động theo nguyên lí con quay hồi chuyển, dùng để duy trì một hướng xác định trong mặt phẳng nằm ngang và đo góc giữa hướng chuyển động thực so với hướng được duy trì. Được sử dụng rộng rãi trong hệ thống tự động ổn định hướng của tàu thủy, tên lửa, ngư lôi, trong các hệ thống dẫn đường mặt đất và hệ thống điều khiển vũ khí trên tàu.

        ĐỔNG KHỞI, nổi dậy cùng một lúc của nhân dân ở nhiều địa phương miền Nam VN trong KCCM nhằm phá ách kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn, giành quyền làm chủ ở cơ sở với những mức độ khác nhau (làm rệu rã bộ máy cai trị của đối phương, giải phóng hoàn toàn một hoặc nhiều xã và thành lập MTDTGP làm chức năng chính quyền CM...); một hình thái khởi nghĩa. ĐK xuất hiện ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ sau khi có nghị quyết hội nghị Trung ương XV (1.1959), đánh dấu bước chuyển quan trọng của CM miền Nam từ thế bị kìm kẹp sang tiến công, tạo cơ sở vững chắc đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ (x. khởi nghĩa Trà Bồng, 28.8.1959; đồng khởi Bến Tre, 17.1-20.4.1960).

        ĐỒNG KHỞI BẾN TRE (17.1-20.4.1960). nổi dậy đồng loạt của nhân dân tinh Bến Tre đập tan bộ máy kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn ở thôn, ấp, giành quyền làm chủ. Lực lượng địch ở Bến Tre có 9 đại đội bảo an, 24 tổng đoàn dân vệ, 1.380 dân vệ và hơn 300 đồn bốt, tháp canh. Thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương XV (1.1959), Xứ ủy Nam Bộ họp (11.1959), chủ trương phát động phong trào đồng khởi, chọn ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (h. Mỏ Cày, t. Bến Tre) làm điểm do thường vụ tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo. Đêm 16 rạng 17.1 nhân dân xã Định Thủy có các tổ, đội hành động làm lực lượng xung kích, kết hợp với cơ sở nội tuyến, nổi dậy diệt tổng đoàn dân vệ, vây các đồn, bốt, bức địch ra hàng, giành quyền làm chủ. Tiếp đó nhân dân các xã Phước Hiệp (đêm 17.1), Bình Khánh (20.1) cùng nổi dậy diệt lực lượng bảo an và ác ôn, giải tán chính quyền cơ sở của địch. Thắng lợi ở ba xã cổ vũ nhân dân các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại đồng loạt nổi dậy. Kết quả hơn 300 tề, điệp, ác ôn bị trừng trị, 47 đồn bốt, tháp canh bị diệt và bức rút, 22 xã được giải phóng hoàn toàn. 22.3 chính quyền Sài Gòn huy động gần 10.000 quân càn quét vào ba xã điểm. Lực lượng du kích đánh địch, kết hợp với hàng vạn quần chúng đấu tranh bảo vệ thành quả CM. 1.4 hàng ngàn phụ nữ, người già, trẻ em dùng ghe, xuồng tản cư lên thị trấn Mỏ Cày, tố cáo tội ác giết hại nhân dân của QĐ Sài Gòn. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày, được hàng ngàn phụ nữ ở các nơi khác đến tiếp sức, buộc chính quyền Sài Gòn phải chấm dứt cuộc càn quét (20.4). ĐKBT là cuộc đồng khởi điển hình, rộng lớn, diễn ra trong cả tỉnh; thể nghiệm thành công phương châm tiến công địch bằng ba mũi giáp công của CM miền Nam. Đội quân tóc dài ra đời từ đây.

        ĐỒNG MINH CHỐNG PHÁT XÍT, liên minh chiến đấu giữa các nước, các dân tộc chống trục phát xít trong CTTG-II (1939-45), trong đó trụ cột là LX, Mĩ, Anh. Được hình thành khi chính phủ Anh, Mĩ tuyên bố ủng hộ LX chống lại cuộc tiến công xâm lược của phát xít Đức (6.1941) và chính thức thành lập 1.1.1942 khi đại biểu 26 nước họp ở Oasinhtơn (MI) ra “Tuyên ngôn liên hợp của các dân tộc”. ĐMCPX cam kết: mọi thành viên sẽ huy động mọi nguồn lực cho cuộc chiến tranh nhằm chống lại trục phát xít và cùng nhau hợp tác chặt chẽ. không đàm phán hoặc kí hòa ước riêng rẽ với các nước trong trục phát xít... Cuối CTTG-II có hơn 50 nước tham gia. ĐMCPX trở thảnh một nhân tố quan trọng góp phần đánh bại trục phát xít. Do sự khác biệt về chế độ chính trị, mâu thuẫn về quan điểm và lợi ích cơ bản, sau CTTG-II, ĐMCPX bị chia rẽ, đến 1947 chấm dứt sự tồn tại.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:44:18 AM

        ĐỒNG MINH QUÂN SỰ, tổ chức hành động hoặc cùng phối hợp hoạt động về QS của một số nước (tập đoàn chính trị) để chống lại một hoặc nhiều nước (tập đoàn chính trị) đối lập. ĐMQS thường được hình thành trên cơ sở các hiệp ước, hiệp định hoặc có khi chỉ bằng những bản tuyên bố chung của các bên hữu quan. Tham gia ĐMQS không chỉ có những nước cùng chế độ chính trị - xã hội mà còn cả những nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau nhưng có chung kẻ thù trước mắt cần đánh bại. Tính chất của một ĐMQS tùy thuộc vào mục tiêu chính trị mà nó theo đuổi (x. Đồng minh chống phát xít).

        ĐỒNG NAI*, sông ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ Lâm Đồng đổ ra Biển Đông ở cửa Soi Rạp. Dài 540km, có các sông nhánh: Sông Bé, sông Sài Gòn bên phái và sông La Ngà bên trái. Tàu thuyền đi lại thuận lợi qua Biên Hoà đến ngã ba hợp lưu với Sông Bé. Có trữ năng thủy điện lớn (Nhà máy thúy điện Trị An). Thượng lưu cổ tên Đa Nhím, Đa Dung.

        ĐỔNG NAI**, tỉnh ở Đông Nam Bộ: tây bắc giáp Bình Phước, đông bắc giáp Lâm Đổng, đông giáp Bình Thuận, nam giáp t. Bà Rịa - Vũng Tàu, tây và tây nam giáp Bình Dương, tp Hồ Chí Minh. Dt 5.894.74 km2; ds 2,14 triệu  người (2003); 92,8% là người Kinh, còn lại là người Khơme, Khơmú, Châuro, Tày, Nùng, Dao. Mạ... Thành lập 2.1976 do sáp nhập các tinh Biên Hoà, Bà Rịa và Long Khánh. 8.1991 tách phần Bà Rịa cũ thành lập t. Bà Rịa - Vũng Tàu. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã; tỉnh lị: tp Biên Hoà. Địa hình: phía bắc là vùng rừng núi tiếp giáp với cao nguyên, giữa là vùng đồi thoải, phía nam là đồng bằng. Các sông lớn: Đổng Nai, La Ngà, Sài Gòn, Vàm cỏ, Sông Bé. Hồ lớn: Trị An. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình trong năm 27°C, lượng mưa 2.000mm/năm, ít bị ảnh hưởng của gió bão. Tỉnh công - nông nghiệp. Đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp: đậu tương (chiếm 1/3 sản lượng cả nước), cao su, cà phê, hồ tiêu. Rừng có nhiều gỗ quý (cẩm lai, trắc, cam xe). Các khu công nghiệp lớn: tp Biên Hoà với trên 100 nhà máy, xí nghiệp; Nhà máy thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 19.106,7 tỉ đồng; sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 530,4 nghìn tấn (lúa 284,3 nghìn tấn); khai thác gỗ 25 nghìn m3. Giao thông: QL 1, QL 20, QL 51, đường sắt Bắc - Nam. Địa danh lịch sử QS: Biên Hoà là căn cứ địa của nghĩa quân Trương Công Định; Chiến khu D, với các chiến thắng: La Ngà, Bình Giã, sân bay Biên Hoà, Xuân Lộc. 10.2000, LLVTND Đồng Nai được phong tặng danh hiệu đơn vị Ah LLVTND.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66387398_450419255687960_8313929256140800000_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnCUGapC7uImDUTws2Ksj8waz7eazvW7k7rIfNVL5g6UZGHks6YlBhD1SY95t2adNM&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=35f6d12ff21ec03c361029235e249009&oe=5DAC3CAE)


        ĐỒNG NAI THƯỢNG, tỉnh cũ ở Nam Trung Bộ. Thành lập 11.1899, tỉnh lị: Di Linh. 1901 sáp nhập vào t. Bình Thuận, 1920 tái lập. Trong KCCM sáp nhập với t. Lâm Viên thành t. Lâm Đồng. (5.1958 chính quyền Sài Gòn đổi ĐNT thành t. Lâm Đồng sau khi tách một phần sáp nhập với tp Đà Lạt để lập t. Tuyên Đức). 2.1976 sáp nhập với t. Tuyên Đức thành t. Lâm Đồng mới.

        ĐỒNG PHẠM, hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm. Theo hành vi thực hiện tội phạm, những người ĐP có vai trò khác nhau: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tội phạm được thực hiện do ĐP thường gây nguy hiểm cao cho xã hội. Khi xét xử ĐP phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm do người đó gây ra cho xã hội để có quyết định phù hợp. Phạm tội có tổ chức là hình thức ĐP.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:46:54 AM

        ĐỒNG PHƯỚC HUYẾN (1944-66), Ah LLVTND (truy tặng 1967). Quê xã Quế Phú, h. Quế Sơn, t. Quảng Nam; tham gia du kích 1961, nhập ngũ 1965; đv ĐCS VN (1966); khi hi sinh là tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam. Trong KCCM, chiến sĩ bộ đội địa phương Quảng Nam - Đà Nẵng, chiến đấu 53 trận, diệt 70, bắt sống 15 địch, đánh hỏng 3 xe bọc thép, thu 25 súng. ĐPH đảm nhiệm vị trí mũi nhọn trong hầu hết các trận thời chốt. Trận chống càn 26.6.1966, bị thương gãy hai chân, vẫn bình tĩnh chiến đấu, diệt 2 xe bọc thép và hi sinh. Huân chương: Quân công hạng ba, Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66384081_450419249021294_4489283496350580736_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlpIimsXlMvw8dUzxlXKIpNlGKY2v8rB4yPh0o-4D71oPiap1dlRORf5iCxz8R8dJs&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9bb62f58795688c16ac2429bcba6851c&oe=5DB4AB24)


        ĐỒNG SĨ NGUYÊN (Nguyễn Văn Đồng; s. 1923), thứ trưởng BQP nước CHXHCN VN (9.1976-1.1977). Quê xã Quảng Trung, h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình; tham gia CM 1938, nhập ngũ 1945, trung tướng (1974); dv ĐCS VN (1939). Tháng 3- 6.1945 tham gia thành lập Ban cán sự đảng, rồi tỉnh ủy viên lâm thời tinh Quảng Bình. Trong KCCP, 1945-48 ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chủ nhiệm Việt Minh, chính trị viên kiêm tỉnh đội trưởng Quảng Bình. 1950-53 cán bộ TCCT, phó ban tổ chức đảng các chiến dịch: Hoàng Hoa Thám. Trần Hưng Đạo; cục phó Cục tổ chức; phái viên Bộ tổng tư lệnh tham gia ban chỉ huy mặt trận Trung Lào; trưởng đoàn kiểm tra phục vụ chiến dịch Điện Biên Phù (1954), phụ trách công tác trao trả tù binh và đón tiếp bộ đội từ miền Nam tập kết ra miền Bắc (1954-55). Trong KCCM, 1956-61 cục phó rồi cục trướng Cục động viên dân quân. 1964-65 phó tổng tham mưu trưởng QĐND VN. 1967-75 chính ủy Quân khu 4, kiêm tư lệnh Đoàn 565; tư lệnh Đoàn 559, kiêm chính ủy Đoàn 968 (5.1970). Tháng 5.1976 chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế; thứ trưởng BQP; 1977-79 thứ trưởng, rồi bộ trường Bộ xây dựng. 3.1979 tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Thủ Đô; bộ trưởng Bộ xây dựng. 1982-91 phó chủ tịch HĐBT, ủy viên BCHTƯĐCS VN khóa IV-VI, ủy viên BCT khóa VI (dự khuyết khóa V). Đại biểu Quốc hội các khóa I, VI-VIII. Huân chương: Hồ Chí Minh. Chiến thắng hạng nhất, Chiến công hạng nhất...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66416954_450419269021292_4716908022780133376_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmTpyA1VrokaAggs-N_NbEKVKqnadR1lv3tfxYa3a3zF-h-HuHgA3oZuhwcdv9_p9U&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=92e35f6a41ccb2aa495da352b8aa5eb5&oe=5DAC4288)


        ĐỒNG THÁP, tỉnh ở Tây Nam Bộ; đơn vị Ah LLVTND (10.2000). Bắc giáp Campuchia (biên giới 52,5km), đông bắc giáp Long An, đông và đông nam giáp Tiền Giang, Vĩnh Long, nam giáp Cần Thơ, tây giáp An Giang*. Dt 3.238,05 km2; ds 1,62 triệu người (2003); phần lớn là người Kinh, còn lại là người Khơme, Chàm, Hoa, Thái. Tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Cao Đài, Hoà Hảo. Thành lập 2.1976 do sáp nhập hai tỉnh Sa Đéc, Kiến Phong và một số xã của tỉnh Mĩ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Tổ chức hành chính: 9 huyện, 2 thị xã; tỉnh lị: tx Cao Lãnh. Địa hình chủ yếu là đồng bằng; giáp biên giới Campuchia là vùng gò đồi. Khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình trong năm 26,6°C, lượng mưa 1.450mm/năm. Hệ thống sông ngòi dày đặc. Các sông lớn: Sông Tiền, Sông Hậu. Nhiều kênh rạch (Sở Thượng, Sờ Hạ, Cái Cơ, Cái Sao Thượng...) thuận lợi cho giao thông và tưới tiêu. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt 2002 đạt 2.196 nghìn tấn (lúa 2.178 nghìn tấn); thủy sản 64,7 nghìn tấn, khai thác gỗ 90,1 nghìn m3, Công nghiệp: xay xát lúa gạo xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp 2002 đạt 1.284,5 tỉ đồng. Giao thông: đường 30; 80, 841, 843, 844,.. đường thủy theo sông, kênh rạch thuận lợi. Địa danh lịch sử: căn cứ Xẻo Quýt...

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66455665_450419299021289_3920827472165208064_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmHPkDPYuQ63yCWcCTm0sjaBALbs7lQ_4RjOjK4dPAl4Qg5mLrDc3elJ4e5418DCNs&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=bfc2d945fa79d5cb0fe07a94bd142d56&oe=5DB992EB)


        ĐỒNG THÁP MƯỜI, vùng đồng bằng giữa ba tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang. Dt 7.000km2, chiếm 16% tổng diện tích đồng bằng sông Cửu Long. Căn cứ địa CM trong KCCP và KCCM ở Nam Bộ. Là vùng đồng lầy, bùn sâu, đất phèn mặn. mùa khô thiếu nước, mùa mưa ngập nước (2,5 đến 4m). Trước đây chỉ cấy lúa được ở một số vùng, mỗi năm một vụ vào mùa mưa, năng suất thấp. Phần còn lại là rừng lầy mọc dầy lau sậy, tràm ô môi, tràm bầu... Từ 1977 đến 1987, nhờ hệ thống kênh thủy lợi tưới tiêu, diện tích trổng lúa mở rộng thêm l00.000ha, chuyển một vụ lúa thành hai vụ.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:48:52 AM

        ĐỒNG VĂN CỐNG (s. 1918), phó tư lệnh QGPMN VN (1969-72 và 1974-75). Quê xã Tân Hào, h. Giồng Trôm, t. Bến Tre; nhập ngũ 1946, trung tướng (1980); đv ĐCS VN (1944). Trong KCCP và KCCM, hoạt động và chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ. 1946-54 trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng Bến Tre. 1954-59 ủy viên Ban liên hiệp đình chiến trung ương; sư đoàn trưởng Sư đoàn 330. Năm 1962 phó tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn. 1963-69 tư lệnh Quân khu 9. Năm 1969-72 phó tư lệnh QGP MN VN, kiêm tư lệnh bộ đội VN tại khu đông bắc Campuchia (C40). Năm 1973-74 tư lệnh Quân khu 8. 1974-75 phó tư lệnh QGPMN VN. Sau 1975 phó tư lệnh Quân khu 7. Tháng 10.1982 phó tổng thanh tra QĐ. Đại biểu Quốc hội khóa VI. Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công (2 hạng nhất, 1 hạng ba)...

(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66720729_450419279021291_7460976217471057920_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQmF0Tvsogu1gd4AH3EMeXtNNv2V2wEAZBCBCQ3vy98qXszGkdQ5ECFRb3LWcDtLoAM&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3238225baa195da087807ed81de047cd&oe=5DA348AE)


        ĐỒNG VỊ, các dạng khác nhau của một nguyên tố hóa học mà hạt nhân có cùng một số prôton z (cùng điện tích hạt nhân), nhưng có số nơtrôn N khác nhau hay số khối nguyên tử (A= Z+N) khác nhau, được xếp cùng một vị trí (cùng ô) trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học Menđêlêép. Vd: hiđrô có ba ĐV: hiđrô thường (1/1H) có z=l, N=0, A=l; hiđrô nặng hay đêtơri (2/1H) có z=l, N=l, A=2; hidrô siêu nặng hay triti (3/1H) có z=l, N=2, A=3; ba nguyên tử này đều ở ô số 1 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Các ĐV có tính chất hóa học giống nhau. Có hai loại: ĐV bền vững (không phân rã phóng xạ) và ĐV phóng xạ (phân rã phóng xạ). Trong tự nhiên có khoảng 300 ĐV bển vững, đa số các ĐV phóng xạ là ĐV nhân tạo. Các ĐV được sử dụng rộng rãi làm chất chỉ thị ĐV, ĐV phóng xạ là nguồn bức xạ hạt nhân. Một số ĐV của uran (U235), plutôni (Pu239)... làm nhiên liệu hạt nhân. Thuật ngữ ĐV do nhà hóa học Anh F. Xôdi (1877- 1956) đề xuất 1910.

        ĐỒNG XOÀI, thị trấn huyện lị h. Đồng Xoài, t. Phước Long (từ 1975 thuộc t. Sông Bé); từ 1977 huyện lị h. Đổng Phú (h. Đồng Xoài sáp nhập với một phần h. Phú Giáo), từ 1.1997 kiêm tỉnh lị t. Bình Phước\ từ 1.9.1999 là thị xã, tỉnh lị t. Bình Phước. Nằm trên QL 14, cách tp Hồ Chí Minh 122km theo QL 13 và QL 14. Trong KCCM, chi khu QS của QĐ Sài Gòn ở đây nhiều lần bị QGPMN VN tiến công tiêu diệt, tiêu biểu là trận then chốt trong đợt 2 chiến dịch Đồng Xoài (10.5-22.7.1965) và trận Đổng Xoài (26.12.1974).

        ĐỒNG DẬU (Thắng; 1927-70), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Dân tộc Chăm, quê xã Phước Thái, h. Ninh Phước, t. Ninh Thuận; nhập ngũ 1950; đv ĐCS VN (1950); khi hi sinh là trung úy, chính trị viên huyện đội Ninh Phước t. Ninh Thuận. Trong KCCP, là lính bảo vệ hương thôn của địch, được giác ngộ trở thành cơ sở bí mật của CM, bảo vệ cán bộ vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, nhiều lần tham gia rải truyền đơn, treo cờ CM trong đồn dịch. 1.1950 làm nội ứng đưa LLVT vào đánh úp bốt Hậu Sanh, thu 4 súng, 8 lựu đạn, 800 viên đạn. 2.1950-53 xây dựng nhiều cơ sở CM trong đồng bào Chăm. 1954-59 tập kết ra miền Bắc. Trong KCCM, 1960- 69 trở lại Ninh Thuận, kiên trì bám dân xây dựng 53 cơ sở bí mật trong 7 ấp chiến lược của địch, tham gia chiến đấu 25 trận, cùng đơn vị diệt hàng trăm địch. 7.1970 chỉ huy đơn vị luồn sâu vào ấp Đá Tráng làm công tác tuyên truyền. Khi về bị địch phục kích, ĐD chỉ huy đơn vị chiến đấu phá vòng vây địch, thấy còn thiếu một chiến sĩ, ĐD quay lại tìm, bị địch phục kích, bắn bị thương nặng vẫn tiếp tục chiến đấu và hi sinh. Huân chương: Chiến công hạng nhất.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66425196_450419292354623_6207252075240226816_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQlFz1oILSdfB59KWaGd3imX_B5PKZ8MNPhOWZq1llalJWRWj05dKTy-OrcOlGjQclY&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=56a767106a72e13ce795ce9ee79fd48f&oe=5DB43CE4)


        ĐỘNG CƠ, thiết bị biến đổi dạng năng lượng khác thành cơ năng. Theo cấp biến đổi năng lượng, có: ĐC sơ cấp (biến đổi trực tiếp năng lượng dự trữ trong tự nhiên như hóa năng của nhiên liệu (ĐC nhiệt), năng lượng dòng chảy, gió, thủy triều, nội năng của hạt nhân... thành cơ năng); ĐC thứ cấp (biến đổi năng lượng nhận được từ ĐC sơ cấp qua thiết bị trung gian thành cơ năng, vd: ĐC diện, ĐC thủy khí...). Theo dạng năng lượng được sử dụng để biến đổi thành cơ nâng, có: ĐC nhiệt, ĐC điện, ĐC thủy lực... Những người có công phát minh ra các loại động cơ là Giêm Oat (ĐC hơi nước), Ôttô (ĐC xăng), Điêzen (ĐC điêzen), Êđixơn (ĐC điện), Giucôpxki (ĐC phản lực)... Trong QS, động cơ đốt trong (động cơ xăng, động cơ diêzen, động cơ phân lực) và ĐC điện được dùng nhiều nhất để làm nguồn động lực cho cho các phương tiện kĩ thuật quân sự.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:50:59 AM

        ĐỘNG CƠ CACBURATƠ X. ĐỘNG CƠ XĂNG

        ĐỘNG CƠ CHẾ HOÀ KHÍ X. ĐỘNG CƠ XĂNG

        ĐỘNG CƠ ĐA NHIÊN LIỆU, động cơ đốt trong kiểu pittông có thể chạy bằng nhiều loại nhiên liệu khác nhau (dầu diezen, xăng, dầu hỏa). Thực chất là động cơ diêzen và sử dụng nhiên liệu điêzen là chủ yếu, nhưng dược trang bị cơ cấu chuyên dụng để chuyển sang chế độ chạy bằng các loại nhiên liệu thay thế khác. ĐCĐNL có tính kinh tế nhiên liệu cao hơn động cơ xăng, nhưng không bằng động cơ điêzen thuần túy. Nhược điểm của ĐCĐNL là kết cấu phức tạp và phải thường xuyên kiểm tra hoạt động của hệ thống cung cấp nhiên liệu. Xuất hiện đầu tiên ở Đức vào những năm 30 của tk 20, hiện được dùng rộng rãi ở nhiều nước, đặc biệt ở CHLB Đức. Trong QS. được sử dụng cả trên các xe chiến đấu và phương tiện vận tải.

        ĐỘNG CƠ ĐIÊZEN, động cơ đốt trong kiểu pittông, trong đó nhiên liệu (dầu điêzen) được phun vào xilanh dưới dạng sương mù khi không khí trong xilanh đã được nén tới áp suất cao, tạo thành hỗn hợp nhiên liệu - không khí và tự bốc cháy nhờ nhiệt độ không khí tăng cao trong quá trình nén. Là động cơ có tính kinh tế cao nhất trong các loại động cơ đốt trong, hiệu suất nhiệt đạt 30- 45%, quá trình cháy ít nguy hiểm hơn động cơ xăng. Do R. Điêzen người Đức sáng chế 1897. Trong QS. được sử dụng rộng rãi trên các xe chiến đấu chạy xích và xe vận tải hạng nặng. Trên cơ sở ĐCĐ, đã chế tạo loại động cơ đa nhiên liệu có thể sử dụng các loại nhiên liệu khác thay cho nhiên liệu điêzen.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66445557_450419325687953_2880534058897506304_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQnT1RSbPka_7Wknz3pPK82GGxnqUntVtFno-W5DpPVly1gGT10tIRTYE6aYAqWsj_o&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a3d082263a889b1284b387a6b968c784&oe=5DBC9444)

1. thân máy; 2. pittông; 3. thanh truyền; 4. trục khuỷu; 5. cacte;
6. bơm cao áp; 7. van nạp; 8. van xả; 9. vòi phun.

        ĐỘNG CƠ ĐỔT TRONG, động cơ nhiệt mà toàn bộ quá trình đốt cháy nhiên liệu và biến đổi nhiệt năng thành cơ năng được thực hiện ngay bên trong động cơ. Theo phương pháp biến đổi năng lượng, có ĐCĐT pittông, động cơ tuabin khí và động cơ phản lực. Hiện nay thuật ngữ ĐCĐT chủ yếu dùng cho động cơ pittông, gồm kiểu pittông chuyển động tịnh tiến và kiểu pittông quay. Theo nguồn nhiên liệu và phương pháp tạo hỗn hợp công tác, động cơ pittông chuyển động tịnh tiến được chia thành động cơ xăng, động cơđiézen, động cơ khí ga, động cơ đa nhiên liệu..., theo chu trình hoạt động, có động cơ bốn kì và động cơ hai kì; theo tốc độ chuyển động tịnh tiến của pittông, có động cơ chạy chậm (<6,5m/s), trung bình (6,5- 8,5m/s) và cao tốc (>8,5m/s). Động cơ pittông quay (động cơ pittông rôto hay động cơ Vanken, do kĩ sư Vanken người Đức phát minh 1957) có kết cấu tạo nhiều buồng đốt làm việc liên tiếp trong một xilanh, rôto quay truyền trực tiếp chuyển động quay ra ngoài qua trục của nó. Trong QS, các loại động cơ xăng và động cơ điêzen bốn kì được dùng phổ biến nhất, chủ yếu làm nguồn động lực cho các phương tiện kĩ thuật quân sự.

        ĐỘNG CƠ PHẢN LỰC, động cơ tác dụng trực tiếp, trong đó một dạng năng lượng khác (nhiệt, hóa, hạt nhân...) được biến đổi thành động năng của dòng chất công tác để tạo ra phản lực đẩy tác dụng trực tiếp lên vật thể mang động cơ. Gồm hai loại: động cơ phản lực không khí (dùng ôxi trong không khí để đốt cháy nhiên liệu) và động cơ tên lửa. Các bộ phận chính: buồng tạo chất công tác và loa (ống) phụt để tăng tốc dòng chất công tác. Những đặc tính quan trọng của ĐCPL: lực đẩy, lực đẩy riêng và suất tiêu hao nhiên liệu. ĐCPL dược dùng rộng rãi cho khí cụ hàng không, khí cụ vũ trụ, đạn phân lực. tên lửa... Các nhà khoa học đặt nền móng cho ĐCPL: Xiôncôpxki, Macculổp (LX), Đenghe (Mĩ)...

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66456735_450419345687951_5656114424344215552_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQmuD3UNkD1-8wF_eu_3TZGYi_qp6_lq1BebOuedjnDDtiNC1W5cAoeZEX4vVPh7Xko&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=cec1218d91fd5bd10fc633e58dfdd3a2&oe=5DA46E27)



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:53:04 AM

        ĐỘNG CƠ PHẢN LỰC KHÔNG KHÍ, động cơ phản lực dùng ôxi trong khí quyển để đốt cháy nhiên liệu. Theo phương pháp nén sơ bộ không khí vào buồng đốt, có: ĐCPLKK tăng áp (không khí được nén bằng máy nén). ĐCPLKK không tăng áp (không khí được nén bằng áp suất động của dòng không khí dồn vào). Theo phương pháp tạo dòng, có: ĐCPLKK dòng thẳng, ĐCPLKK dòng xung và động cơ tuabin phản lực. ĐCPLKK dòng thẳng thuộc loại không tăng áp, kết cấu đơn giản, hoạt động kinh tế nhất ở tốc độ vượt âm (M 2-3,5). Được dùng cho tên lửa có cánh, máy bay siêu vượt âm. ĐCPLKK dòng xung nạp không khí theo chu kì và cũng thuộc loại không tăng áp. Có khả năng tạo lực đẩy chỉ ở tốc độ bay thấp nên được dùng trong khí cụ bay dưới âm. Động cơ tuabin phản lục có tuabin khí dẫn động máy nén khí, tạo lực đẩy bởi phản lực của dòng khí nén qua ống phụt. Có các kiểu: động cơ tuabin phản lực cánh quạt, động cơ tuabin phản lực nén khí, động cơ tuabin phản lực hai mạch và động cơ tuabin phản lực có buồng đốt phụ (có tác dụng tăng nhanh lực đẩy tối đa). Dùng chủ yếu trong hàng không, tên lửa có cánh dưới âm.

        ĐÔNG CƠ TÊN LỪA, động cơ phản lực làm việc không cần không khí từ môi trường xung quanh để sinh công: chủ yếu  dùng cho tên lửa. Theo nhiên liệu, có: ĐCTL hóa học, ĐCTL hạt nhân; theo chức năng hoạt động, có: ĐCTL hành trình, ĐCTL phóng, ĐCTL hãm, ĐCTL lái...; theo phương pháp tăng tốc chất sinh công, có: ĐCTL điện nhiệt, ĐCTL điện từ, ĐCTL tĩnh điện. Hiện nay được dùng phổ biến là ĐCTL hóa học (nhiên liệu lỏng, nhiên liệu rắn và nhiên liệu hỗn hợp) có lực đẩy từ vài mili Niutơn (mN) đến Mega Niutơn (MN). Phần chính của ĐCTL hóa học là khoang động cơ gồm buồng đốt và ống phụt. Dùng cho đạn phản lực, tên lửa, tên lửa vũ trụ. ĐCTL năng lượng điện (thí nghiệm đầu tiên vào 1929-33) có lực đẩy riêng cao, tốc độ chất sinh công lớn nhưng lực đẩy tuyệt đối thấp. Các loại ĐCTL: hạt nhân (dùng năng lượng của phản ứng phân chia hạt nhân), nhiệt hạch (dùng năng lượng của phản ứng tổng hợp hạt nhân), phôtôn (dùng năng lượng của các luồng phôtôn bức xạ), hổ quang (dùng năng lượng của hồ quang đốt nóng chất công tác)... đều còn ở giai đoạn nghiên cứu.

        ĐỘNG CƠ TÊN LỬA NHIÊN LIỆU HỖN HỢP (rắn, lỏng), động cơ tên lửa trong đó chất cháy ở thể rắn được để sẵn trong buồng đốt, chất ôxi hóa ở thể lỏng là được đưa vào buồng đốt bằng bơm hút hoặc đẩy.

        ĐỘNG CƠ TÊN LỬA NHIÊN LIỆU LỎNG, động cơ tên lửa trong đó cả hai thành phần nhiên liệu (chất cháy và chất ôxi hóa) đều được sử dụng ở thể lỏng. Thành phần chính: buồng đốt có ống phụt, hệ thống dẫn các thành phần nhiên liệu, bộ phận điều chỉnh đốt nhiên liệu và các thiết bị phụ trợ (trao đổi nhiệt, trộn nhiên liệu...). Hệ thống dẫn nhiên liệu là máy nén khí hoặc máy bơm hút tuabin. Máy bơm hút tuabin gồm hai loại: cháy hết và không cháy hết chất khí sinh ra. ĐCTLNLL có lực đẩy riêng cao, điều chỉnh được lực đẩy, làm mát ngay bằng các thành phần nhiên liệu, nhưng kết cấu phức tạp vì phải đưa nhiên liệu từ ngoài vào buồng đốt qua hệ thống hút hoặc nén. Hệ thống làm mát kiểu tái sinh, thời gian hoạt động dài, hiệu suất cao; nhưng kết cấu và giữ gìn bảo quản phức tạp, dễ bị nhiễm độc.

        ĐỘNG CƠ TÊN LỬA NHIÊN LIỆU RẮN, động cơ tên lửa trong đó cả hai thành phần nhiên liệu đều được sử dụng ở thể rắn. Thành phần chính:   buồng đốt (chứa toàn bộ nhiên liệu), ống phụt phản lực, bộ phận phát hỏa, cơ cấu  điều chỉnh lực    đẩy. ĐCTLNLR có thể tạo ra lực đẩy 10-15MN. Do nhiên liệu đặt sẵn trong buồng đốt, có kết cấu đơn giản hơn, ĐCTLNLR dễ bảo quản trong thời gian dài, vận chuyển thuận tiện, thời gian chuẩn bị nhanh, được sử dụng rộng rãi làm động cơ xuất phát cho đạn phản lực, tên lửa vũ trụ và tên lửa chiến đấu... Nhược điểm của ĐCTLNLR là lực đẩy riêng thấp, không điều chỉnh  được và phải có hệ thống làm mát riêng.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66505615_450419339021285_7129894274002321408_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQnlSHZ1GZdem7pG-1drP6wLoQd6ZEZqrdf1ZAXV0sUwf-oNx4Rw8y__CWv88yAeBBg&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=65eb1633ff86d732318b9d1cc84a27ca&oe=5D9FFF9B)

1- loa Phụt 2- thuốc Phóng; 3- thân động cơ; 4- bộ phận mồi cháy.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:54:50 AM

        ĐỘNG CƠ TUABIN KHÍ, động cơ đốt trong trong đó công cơ học trên trục tuabin (trục động cơ) được tạo ra từ năng lượng của dòng khí thổi qua tuabin sau khi được nén và đốt nóng. Cấu tạo gồm: máy nén khí, buồng cháy và tuabin. Quá trình công tác được thực hiện khi nhiên liệu được đốt cháy liên tục dưới áp suất không đổi hoặc không liên tục trong thể tích không đổi. Hiệu suất của ĐCTK hiện đại đạt đến 35%. Được dùng làm động cơ chính và phụ trong thiết bị động lực của máy bay, ô tô, xe tăng, tàu chiến. Có thể sử dụng nhiên liệu ở dạng khí, rắn hoặc lỏng.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66458718_450419365687949_915556924357869568_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQmUeCl48ba8OxvoxEnKZEm6uTIdHxnPXDD56kcEEu2xy23SJj6gjrL-JfVXlLrpN_Q&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=4401b7efc1aa8b9265d874d1b661d021&oe=5DBA035D)


        ĐỎNG CƠ XĂNG, động cơ đốt trong pittông, trong đó nhiên liệu (xăng) được trộn với không khí theo một tỉ lệ nhất định tạo thành hỗn hợp cháy, sau đó được nạp vào xilanh và đốt cháy cưỡng bức bằng tia lửa điện ở cuối kì nén. Trong ĐCX cổ điển, việc tạo hỗn hợp cháy được thực hiện nhờ một thiết bị đặc biệt là bộ chế hoà khí hay cacburatơ (do đó cg động cơ chế hoà khí, động cơ cacburatơ). Từ những năm 60 của tk 20, bộ chế hoà khí được thay bằng bơm phun nhiên liệu vào cổ góp. Tiếp đó là việc ứng dụng các thiết bị điện từ tiên tiến để tự động điều khiển quá trình tạo hỗn hợp cháy và đánh lửa phù hợp với các chế độ làm việc của động cơ. So với động cơ diézen, ĐCX có hiệu suất nhiệt thấp hơn (0,25-0,30), song công suất lít lớn hơn do có kích thước nhỏ gọn, phụ tải cơ học nhỏ hơn. Được sử dụng rộng rãi trên ô tô (kể cả một số xe thiết giáp), mô tô, xe gắn máy, máy bay, tàu thuyền, các thiết bị động lực xách tay (máy phát điện, máy bơm nước, máy cưa...).

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/64265000_450419375687948_1308177021804740608_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQnMPk-X0TeFP8MMUc4rF8iXwd2pFvtsS_7VTVWtaTNB7W0D48XiPvALWWQ2lQ8rGg4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=8292493faab03bab859e1d14a49660c7&oe=5DACA3BC)


        ĐỘNG TÁC CHIẾN ĐẤU, động tác kĩ thuật, chiến thuật của cá nhân và phân đội vận dụng trong chiến đấu. Gồm: các tư thế, động tác khi vận động trong chiến đấu; lợi dụng địa hình hoặc đào công sự dưới sự uy hiếp của hỏa lực địch; luân phiên yểm hộ và thay nhau tiến lên phía trước, thay đổi đội hình trong vận động tiếp cận địch; nhìn, nghe, phát hiện dịch và chỉ mục tiêu; thao tác vũ khí, khí tài tự cứu và cấp cứu lẫn nhau trong chiến đấu...

        ĐỘNG VIÊN, tổng thể các biện pháp chuyến LLVT, nền kinh tế quốc dân, thể chế nhà nước, sinh hoạt xã hội sang thời chiến và để tăng cường cho lực lượng thường trực của QĐ. ĐV do ủy ban thường vụ quốc hội quyết định; chủ tịch nước công bố lệnh. Theo quy mô ĐV, có: tổng động viên và động viên cục bộ, theo hình thức ĐV, có: công khai và bí mật. ĐV dược thực hiện theo một kế hoạch chuẩn bị từ thời bình. Thông báo lệnh ĐV tiến hành đồng thời theo hệ thống hành chính từ trung ương tới cơ sở, từ BQP đến các đơn vị QĐ và cơ quan QS địa phương.

        ĐỘNG VIÊN BÍ MẬT, hình thức động viên mà các biện pháp thông báo lệnh động viên để chuyển LLVT, nền kinh tế quốc dân, thể chế nhà nước, sinh hoạt xã hội sang thời chiến được tiến hành bí mật. Thương áp dụng trong động viên cục bộ hoặc động viên nhằm tăng cường cho lực lượng thường trực của QĐ khi có nhu cầu chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng chưa đến mức phải động viên cục bộ. Cách thức thông báo động viên thường bằng hệ thống thông tin bí mật hoặc tín hiệu đặc biệt theo quy định của nhà nước. Khi nhận được lệnh động viên, theo chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch động viên đã định, các địa phương, cơ quan nhà nước, đơn vị LLVT... tiến hành các biện pháp động viên.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:56:09 AM

        ĐỘNG VIÊN CÔNG KHAI, hình thức động viên mà các biện pháp thõng báo lệnh động viên để chuyển LLVT, nền kinh tế quốc dân, thể chế nhà nước, sinh hoạt xã hội sang thời chiến dược tiến hành công khai. Thường áp dụng trong tổng động viên. Cách thức thông báo công khai thường bằng tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Khi nhận được lệnh động viên, các địa phương, cơ quan nhà nước, đơn vị LLVT... theo chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch động viên đã định tiến hành các biện pháp động viên.

        ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP, tổng thể các hoạt động và biện pháp chuyển nền công nghiệp đất nước và cơ chế quản lí tương ứng sang trạng thái thời chiến nhằm sản xuất và sửa chữa  các sản phẩm phục vụ nhu cầu chiến tranh; bộ phận của động viên. Khi ĐVCN nhà nước sử dụng tối đa công suất của công nghiệp quốc phòng và huy động một phần hoặc toàn bộ công suất của cổng nghiệp dân dụng.

        ĐỘNG VIÊN CỤC BỘ, động viên được tiến hành trên một phần lãnh thổ quốc gia và một số đơn vị QĐ theo kế hoạch động viên. ĐVCB thường diễn ra khi một phần lãnh thổ có nguy cơ bị xâm lược và được thông báo bí mật. Khi đó QĐ được bổ sung một khối lượng quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân nhất định để kiện toàn tổ chức biên chế thời chiến cho một số đơn vị QĐ; hoạt động của nền kinh tế quốc dân và của xã hội trên phần lãnh thổ động viên phải tập trung bảo đảm cho nhu cầu của quốc phòng đồng thời phải bảo đảm nhu cầu tối thiểu, cần thiết cho nhân dân và sẵn sàng để thực hiện tổng động viên.

        ĐỘNG VIÊN KĨ THUẬT, tổng thể các hoạt động và biện pháp nhằm huy động nhân lực, phương tiện, cơ sở kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân phục, vụ cho công tác kĩ thuật trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc; bộ phận của động viên quốc phòng. Nội dung chủ yếu gồm: động viên lực lượng, phương tiện kĩ thuật cho các đơn vị dự bị động viên và động viên công nghiệp cho công tác bảo đảm kĩ thuật trong thời chiến. Ngoài ra. còn có các loại hình ĐVKT khác như động viên lực lượng và phương tiện kĩ thuật cho hoạt động khoa học và công nghệ QS, cho hoạt động đào tạo cán bộ, nhân viên kĩ thuật cho QĐ trong thời chiến... Tùy thuộc vào tình huống chiến tranh, ĐVKT có thể được tiến hành ở quy mô động viên cục bộ hay tổng động viên.

        ĐỘNG VIÊN KINH TẾ, tổng thể các hoạt động và biện pháp chuyển các ngành kinh tế, khoa học công nghệ và các thể chế nhà nước tương ứng sang trạng thái thời chiến để sản xuất và sửa chữa các phương tiện vật chất nhằm bảo đảm nhu cầu của LLVT. hoạt động của nhà nước và nhu cầu của nhân dân ; bộ phận của động viên. ĐVKT gồm; sản xuất các sản phẩm QS. điểu chỉnh cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lí kinh tế, hoạt động khoa học công nghệ và tổ chức lại hoạt động của các cơ quan nhà nước theo yêu cầu chiến tranh. Tùy thuộc vào quy mô chiến tranh, có ĐVKT: từng phần hay toàn bộ.

        ĐỘT KÍCH, công kích bằng xung lực, hóa lực nhanh, bất ngờ, mãnh liệt vào mục tiêu nhằm tiêu diệt lực lượng quan trọng, phá hủy, chiếm giữ phương tiện KTQS chu yếu của địch, giành quyền chủ động trong tác chiến. Theo quy mô, có ĐK: chiến lược, chiến dịch; theo hướng, có ĐK: chính diện, bên sườn; theo lực lượng, có ĐK: lục quân, không quân, hải quân và lực lượng các quân chúng hiệp đồng tác chiến; theo phương thức, có: ĐK bằng xung lực (bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, bộ đội đổ bộ đường không, hải quân đánh bộ), ĐK bằng hỏa lực (pháo binh, tên lửa, bom, vũ khí hạt nhân, hóa học...). Khi ĐK thường vận dụng các biện pháp tác chiến: bất ngờ sử dụng loại vũ khí mới, áp dụng phương pháp tác chiến mới... ĐK chiến lược là ĐK nhằm giành quyển chủ động chiến lược và giành thắng lợi quan trọng thời kì đầu chiến tranh; tiêu diệt tập đoàn lực lượng quan trọng của địch, giành thắng lợi trong một giai đoạn của chiến tranh, tạo điều kiện có lợi kết thúc chiến tranh. ĐK chiến dịch là ĐK được tiến hành trong chiến dịch bằng tập trung binh lực, hỏa lực đánh đòn phủ đầu mãnh liệt vào đối phương vào chính diện, bên sườn làm tê liệt hệ thống phòng ngự của chúng trong một thời gian, tạo điều kiện để chiến dịch phát triển và giành thắng lợi. ĐK chính diện là ĐK vào chính diện bố trí chiến lược (chiến dịch) của đối phương; thường tiến hành khi không có điều kiện ĐK bên sườn. ĐK chính diện cần phải tập trung binh lực, hòa lực ưu thế, chọn đánh vào chỗ yếu (nơi tiếp giáp, khoảng cách, chỗ có sơ hở...) liên quan đến nơi hiểm yếu. ĐK bên sườn là ĐK vào bên sườn bố trí chiến lược (chiến dịch) của đối phương; thường tiến hành khi bên sườn bố trí chiến lược (chiến dịch) sơ hở, có giãn cách và địa hình cho phép triển khai lực lượng ĐK.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:57:57 AM

        ĐỘT KÍCH BẰNG HỎA LỰC, đột kích dược thực hiện bằng cách dùng pháo binh, tên lửa, không quân bắn phá các mục tiêu của địch, nhằm gây tổn thất lớn sinh lực, phá hủy các công trình và các phương tiện kĩ thuật của địch ở mức độ dự định trong thời gian quy định. ĐKBHL có thể tiến hành đồng thời hoặc lần lượt. Trong tiến công, ĐKBHL thường phải: chuẩn bị hỏa lực trước và chuẩn bị hỏa lực trực tiếp; chi viện hỏa lực và hộ tống hỏa lực. Trong phòng ngự, ĐKBHL thường để phản chuẩn bị, phản kích, phản đột kích.

        ĐỘT KÍCH TRÊN BIỂN, hình thức tác chiến trên biển, bằng cách tập trung phương tiện sát thương tiến công mạnh vào mục tiêu đã chọn trong thời gian ngắn, nhằm tiêu diệt hoặc sát thương theo mức độ đã định. Theo phương tiện sát thương, có đợt kích: tên lửa, ngư lôi, pháo hoặc đột kích kết hợp (tên lửa - ngư lôi, pháo - ngư lôi...); theo thành phần lực lượng tham gia và số lượng phương tiện, có đột kích: ồ ạt. theo nhóm và đơn lẻ; theo tính chất, có đột kích: tổng hợp. tập trung đồng loạt và liên tiếp; theo hướng, có đột kích: bên sườn, trực diện; theo nhiệm vụ, có đột kích: chủ yếu, thứ yếu và hỗ trợ.

        ĐỘT NHẬP, thủ đoạn tác chiến tiến sâu vào trận địa phòng ngự của đối phương hoặc chiếm lĩnh vị trí có lợi trong khu vực mục tiêu; được tiến hành bằng cách dùng sức mạnh đánh chiếm hoặc bí mật vận dụng thủ đoạn chiến thuật, kĩ thuật để chiếm lĩnh vị trí trinh sát (vị trí đánh bộc phá của đặc công). Có ĐN của bộ binh, xe tăng và đặc công.

        ĐỘT PHÁ, thủ đoạn tác chiến dùng sức mạnh phá vỡ một đoạn (một số đoạn) trong hệ thống phòng ngự hoặc vòng vây của đối phương, phát triển tiến công vào chiều sâu và hai bên sườn hoặc thoát khỏi vòng vây của đối phương; một thủ đoạn tác chiến. Thường vận dụng khi tiến công quân địch phòng ngự không có hở sườn và lực lượng tiến công không có khả năng tiến hành vu hồi hoặc khi phá vây. Có ĐP chiến dịch, ĐP chiến thuật. ĐP chiến dịch, ĐP của lực lượng liên binh đoàn chiến dịch nhằm phá vỡ hệ thống phòng ngự chiến dịch của địch, phát triển tiến công vào chiều sâu và hai bên, tạo điều kiện nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu chủ yếu. ĐP chiến thuật, ĐP của các phân đội, binh đội, binh đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới, xe tăng, xe bọc thép vào trận địa (khu vực) phòng ngự hoặc vòng vây của địch tạo điều kiện đánh chiếm mục tiêu chủ yếu và phát triển tiến công hoàn thành nhiệm vụ trận chiến đấu. Để ĐP thắng lợi phải tập trung lực lượng, tạo ưu thế trên đoạn ĐP, xây dựng trận địa tiến công chu đáo, thực hành ĐP từ nhiều hướng (có hướng trọng điểm), kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng ĐP từ bên ngoài vào với lực lượng từ bên trong (lực lượng đặc công nếu có), với hỏa lực pháo binh, không quân; tích cực sử dụng pháo bắn thẳng cùng bộ binh, xe tăng tiêu diệt hỏa điểm, xe tăng, xe bọc thép và sát thương tối đa quân địch trên đoạn ĐP và hai bên; công kích mãnh liệt, nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ.

        ĐỘT PHÁ KHẨU nh CỬA ĐỘT PHÁ

        ĐỘT PHÁ PHÒNG NGỰ, thủ đoạn tác chiến dùng sức mạnh chiến đấu phá vỡ một đoạn (khu vực) trong trận địa phòng ngự vững chắc của địch, để phát triển tiến công vào chiều sâu và hai bên sườn; ĐPPN là một nhiệm vụ quan trọng nhất của bộ đội tiến công quân địch phòng ngự trận địa, khi phòng ngự của chúng không có khoảng trống (hở sườn) và khi bộ đội tiến công không có khả năng tiến hành vu hồi. Có đột phá chiến dịch và đột phá chiến thuật. Để đạt được thắng lợi trong ĐPPN, cần tạo ưu thế lực lượng trên đoạn (khu vực) đột phá, sát thương tối đa quân địch trên hướng đã chọn, công kích mãnh liệt.

        ĐỜ CÁT nh ĐỜ CATXTƠRI

        ĐỜ CAXTƠRI (P. Christian Marie Ferdinand de La Croix de Castries; 1902-91), tổng chỉ huy tập đoàn cứ điểm của Pháp ở Điện Biên Phủ, thiếu tướng (1954). Xuất thân từ dòng dõi quý tộc Pháp, 1922 gia nhập QĐ, tham gia CTTG-II, bị Đức bắt (1940), trốn thoát (1941) và tham gia lực lượng kháng chiến Pháp ở Bắc Phi, Ba lần tham gia chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương (1946, 1951 và 1953-54). Bị QĐND VN đánh bại và bắt sống cùng với bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phù (7.5.1954). về ngạch dự bị (1959).

        ĐỜ GÔN (P. Charles de Gaulle; 1890-1970), tổng thống nước Cộng hòa Pháp (1958-69). Sinh tại Lin, tốt nghiệp Trường võ bị Xanh Xia (1912), thiếu tướng (1938). Trong CTTG-II, khi chính phủ Pêtanh đầu hàng phát xít Đức (1940), ĐG sang Luân Đôn (Anh). 1943 sang Angiêri lập ủy ban giải phóng nước Pháp, giữ chức chủ tịch. 1944 thành lập Chính phủ lâm thời nước Cộng hòa Pháp, chủ tịch chính phủ (1944-46). Trong những năm 1943-45 nhiều lần tuyên bố về Đông Dương và thực thi các chính sách thực dân lỗi thời (x. Khối liên hiệp Pháp). Sau CTTG- II, đưa QĐ Pháp trở lại xâm lược VN và Đông Dương lần thứ hai. 1955 ĐG làm thủ tướng. 1958 tổng thống Cộng hòa Pháp. 1969 từ chức.

        ĐỜ LAT nh TATXINHI


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 10:59:12 AM

        ĐỚI KHÍ HẬU (đới nhiệt), vùng có cùng đặc trưng khí hậu trên bề mặt Trái Đất, được phân dải theo hướng vĩ tuyến và quy luật tăng dần mức hấp thụ năng lượng bức xạ Mặt Trời và nhiệt độ không khí từ hai cực về xích đạo. Bề mặt Trái Đất trên mỗi bán cầu (bắc và nam) được chia thành ba đới: nhiệt đới - giữa xích đạo và các chí tuyến (vĩ tuyến 23°27’), ôn đới -  giữa các chí tuyến và vòng cực (vĩ tuyến 66°33’), và hàn đới -  phần chỏm cầu giới hạn bởi các vòng cực. Tuy nhiên sự thay đổi khí hậu giữa các đới không có ranh giới rõ rệt, mà có sự chuyển tiếp dần dần (từ nhiệt đới sang ôn đới có á nhiệt đới...). Khái niệm ĐKH cũng được dùng để phân chia các vùng khí hậu theo vành đai độ cao.

        ĐỚI TỰ NHIÊN, bộ phận lục địa trong một đới khí hậu, có những đặc điểm tương đối đồng nhất về tự nhiên, chủ yếu là khí hậu và thành phần thổ nhưỡng, sinh vật, hình thành do điều kiện cân bằng bức xạ Mặt Trời và tương quan nhiệt ẩm, thay đổi theo quy luật từ xích đạo đến hai cực và từ đại dương vào sâu trong lục địa. Tên gọi các ĐTN chủ yếu gọi theo thành phần thổ nhưỡng - sinh vật (đặc điểm quan trọng nhất của cảnh quan), như rừng nhiệt đới ẩm, rừng lá rộng, rừng lá kim ôn đối (Taiga), hoang mạc nhiệt đới, thảo nguyên, đài nguyên... Các ĐTN thường tạo thành các dải rộng, kéo dài theo hướng vĩ tuyến và thường chỉ biểu hiện rõ ở các vùng rộng và bằng phảng như ở phần lớn lục địa châu Phi, vùng đồng bằng Đông Âu, Tây Xibêri...

        ĐƠN TUYẾN, phương thức hoạt động độc lập của một người hay một tổ chức, chỉ chịu trách nhiệm trước cấp trên trực tiếp, theo hệ thống dọc, để thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt được bí mật, an toàn. ĐT được sử dụng phổ biến trong hoạt động tình báo và những hoạt động du kích bí mật khác...

        ĐƠN VỊ BIÊN CHẾ THIẾU, đơn vị dự bị động viên có một bộ phận biên chế đủ quân số và trang bị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đầu, bộ phận còn lại chỉ có biên chế khung thường trực làm nhiệm vụ xây dựng đơn vị dự bị động viên theo chỉ tiêu được giao. ĐVBCT được dự trữ vũ khí, trang bị theo phân cấp; khi có lệnh động viên, tiếp nhận quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật theo kế hoạch, kiện toàn tổ chức theo biểu biên chế thời chiến.

        ĐƠN VỊ CÔNG BINH CẦU ĐUỜNG, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn công binh chuyên làm và sửa chữa đường, cầu (cầu chân cứng, cầu cáp) để bảo đảm cơ động bộ đội và binh khí kĩ thuật. Thường gồm một số phân đội cầu cơ giới, phân đội làm đường... Có trong lực lượng thuộc BTL công binh và trong biên chế binh đội (phân đội) công binh công trình thuộc quân khu, quân đoàn, binh đoàn, liên binh đoàn bộ đội binh chủng hợp thành. Xuất hiện trong KCCP (chưa được tổ chức thành ĐVCBCĐ riêng) thường sử dụng dụng cụ cầm tay (cuốc, xẻng, cưa tay, rìu, đục...) và phương tiện ứng dụng, vật liệu tại chỗ (be, gỗ, đá...). Trong KCCM, các ĐVCBCĐ được trang bị phương tiện kĩ thuật công binh hiện đại, bảo đảm giao thông ở miền Bắc; làm mới, sửa chữa và khôi phục hàng chục nghìn kilômét đường trên tuyến vận tải QS chiến lược (xt Đường mòn Hồ Chí Minh, Đoàn 559), bảo đảm cầu đường cho tác chiến ở miền Nam và các chiến trường khác.

        ĐƠN VỊ CÔNG BINH CẦU PHÀ nh ĐƠN VỊ CÔNG BINH VƯỢT SÔNG

        ĐƠN VỊ CÔNG BINH CÔNG TRÌNH, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn công binh hỗn hợp làm nhiệm vụ bảo đảm công binh, gồm một số phân đội có chức năng nhiệm vụ và trang bị khác nhau (phân đội vật cản, phân đội cầu đường, phân đội vượt sông, phân đội SCH và trận địa...). Có ĐVCBCT thuộc BTL công binh, quân khu, quân chủng, binh chủng, trong biên chế các binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn bộ đội binh chủng hợp thành và một số đơn vị binh chủng khác. Có trong QĐND VN từ những năm đầu KCCP (x. binh chủng công binh).

        ĐƠN VỊ CÔNG BINH VƯỢT SÔNG, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn công binh chuyên trách làm nhiệm vụ bảo đảm cho bộ đội, phương tiện KTQS vượt sông và các chướng ngại nước khác bằng các phương tiện vượt sông chế thức (cầu phao, phà, xe vận tải lội nước) và các phương tiện ứng dụng. ĐVCBVS được tổ chức từ trung đội đến lữ đoàn độc lập hoặc biên chế trong các phân đội, binh đội, binh đoàn công binh thuộc quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng công binh và binh đoàn binh chủng hợp thành. Tùy theo quy mô tổ chức và trang bị đặc thù, ĐVCBVS có thể có các phân đội: bến, vượt sông tự hành, cẩu phà... Trong KCCP chưa được tổ chức thành các ĐVCBVS riêng, thường sử dụng các phương tiện ứng dụng như thuyền, bè be nứa, gỗ... Trong KCCM, ĐVCBVS được trang bị phương tiện vượt sông hiện đại, đã bảo đảm vượt sông cho lực lượng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, tham gia giải phóng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế. Cg đơn vị công binh cầu phà.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:00:15 AM

        ĐƠN VỊ CÔNG BINH XÂY DỰNG, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn công binh chuyên xây dựng các công trình QS (sân bay, cảng QS, SCH...) và công trình khác có yêu cầu kĩ thuật cao. Thường nằm trong lực lượng thuộc BTL công binh; gồm một số phân đội có chuyên môn và phương tiện kĩ thuật, thiết bị, dụng cụ... khác nhau (phân đội công binh xây dựng, phân đội sản xuất vật liệu xây dựng, phân đội bảo đảm kĩ thuật xây dựng...). Có trong QĐND VN từ 1961.

        ĐƠN VỊ CƠ ĐỘNG BIÊN PHÒNG, gọi chung các phân đội chiến đấu của bộ đội biên phòng sẵn sàng chi viện, tăng cường cho các đồn biên phòng hoặc cho các hướng và các địa bàn trọng điểm. ĐVCĐBP được tổ chức thành đại đội, đơn vị đặc nhiệm, hải đội thuộc quyền chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh hoặc tiểu đoàn, trung đoàn, hải đoàn. ĐVCĐBP có thể được tăng cường, phối thuộc cho các đơn vị độc lập chiến đấu hoặc đóng đồn biên phòng lâm thời. Khi thực hiện nhiệm vụ phải duy trì phối hợp chặt chẽ với các đơn vị biên phòng và các LLVT khác trong khu vực.

        ĐƠN VỊ DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn gồm phần lớn quân nhân dự bị và một số phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của QĐ; có tổ chức, biên chế chưa hoàn chỉnh hoặc chưa tổ chức trong thời bình, nhưng có kế hoạch động viên, bổ sung trong thời chiến khi có lệnh động viên. Loại hình ĐVDBĐV có: đơn vị biên chế thiếu, đơn vị biên chế khung thường trực, đơn vị khống biên chế khung thường trực thuộc bộ đội địa phương hoặc bộ đội chủ lực.

        ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH (đơn vị sử dụng ngân sách), cơ quan, đơn vị trực tiếp nhận, phân phối và sử dụng các khoản tiền được cấp phát từ quỹ, ngân sách nhà nước. Có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc lập dự toán ngân sách thuộc phạm vi trách nhiệm; phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp dưới và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách được giao; tổ chức thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của các đơn vị cấp dưới; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách và xét duyệt báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. Các ĐVDTNS trong QĐNDVN được chia thành bốn cấp: cấp 1 (BQP); cấp 2 (quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, tổng cục và đơn vị tương đương); cấp 3 (sư đoàn và đơn vị tương đương); cấp 4 (trung đoàn và đơn vị tương dương). Các đơn vị cấp phân đội không có ngân sách độc lập, là cấp dự toán chi tiêu cơ sở, thực hiện kế toán việc nhận kinh phí do cấp trên cấp để chi và thanh toán, quyết toán kinh phí với cấp trên.

        ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG, đại lượng vật lí có giá trị số được thừa nhận bằng 1 dùng để đo độ lớn của đại lượng cùng loại. Thuật ngữ ĐVĐL cũng dùng để chỉ đơn vị biểu diễn một đại lượng vật lí qua một thừa số. Những đơn vị khác nhau của cùng một đại lượng vật lí phân biệt nhau về độ lớn. Có: đơn vị cơ bản, đơn vị dẫn xuất và đơn vị bổ trợ. Tập hợp đơn vị do (cơ bản, dẫn xuất, bổ trợ) các đại lượng vật lí, xây dựng theo những nguyên tắc nhất định gọi là hệ đơn vị. Đơn vị cơ bản, đơn vị của một đại lượng vật lí cơ bản được chọn trước một cách tùy ý khi xây dựng hệ đơn vị. Vd: trong hệ đơn vị quốc tế SI, các đơn vị cơ bản là mét (m), kilôgam (kg), giây (s), ampe (A), kenvin (K°), mol (mol), cađêla (Cd). Đơn vị dẫn xuất, đơn vị của đại lượng vật lí suy ra từ đơn vị cơ bản của hệ đã cho, căn cứ vào phương trình xác định đại lượng đó. Vd: trong hệ đơn vị quốc tế SI, có đơn vị dẫn xuất là m2 (đơn vị diện tích), m3 (đơn vị thể tích), m/s (đơn vị vận tốc)... Đơn vị bổ trợ, đơn vị trong hệ, vừa không phải là đơn vị cơ bản, vừa không phải là đơn vị dẫn xuất. Trong hệ đơn vị quốc tế SI. đơn vị bổ trợ là đơn vị góc phẳng - radian và đơn vị góc khối - sterađian.

        ĐƠN VỊ ĐƯỜNG ỐNG, gọi chung các phân đội, binh đội bộ đội chuyên môn làm nhiệm vụ triển khai và sử dụng đường ống để bảo đảm xăng dầu cho hoạt động của bộ đội trên hướng hoặc khu vực nhất định. Được trang bị đường ống dã chiến và phương tiện kĩ thuật, vật tư chuyên dùng (đường ống tháo lắp nhanh, bơm đẩy, bơm hút, phương tiện thi công cơ giới, xe ô tô xitéc...). Trong QĐND VN, được tổ chức tới cấp tiểu đoàn (1968), trung đoàn (1972). Trên tuyến vận tải QS Bắc Nam (x. Đoàn 559), các ĐVĐÔ cùng lực lượng khác đã lắp đặt được gần 1.400km đường ống từ miền Bắc tới Bù Gia Mập (t. Phước Long, thuộc địa phận t. Bình Phước ngày nay), góp phần quan trọng bảo đảm xăng dầu trong KCCM.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:01:31 AM

        ĐƠN VỊ KHÔNG CÓ KHUNG THƯỜNG TRỰC, đơn vị dự bị động viên có phiên hiệu trong kế hoạch tổ chức QĐ nhưng không có biên chế khung thường trực trong thời bình, chỉ có một số cán bộ và nhân viên chuyên môn kĩ thuật chủ chốt tại các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong QĐ, vừa thường xuyên hoạt động theo chức trách ở đơn vị mình vừa làm nhiệm vụ xây dựng đơn vị dự bị động viên theo chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. ĐVKCKTT được cấp trên dự trữ vũ khí, trang bị; khi có lệnh động viên, tiếp nhận quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật, kiện toàn tổ chức theo biểu biên chế.

        ĐƠN VỊ KHUNG THƯỜNG TRỰC, đơn vị dự bị động viên, thời bình chỉ được biên chế một số cán bộ và nhân viên chuyên môn kĩ thuật chủ chốt và vũ khí, trang bị, chủ yếu để làm khung xây dựng đơn vị dự bị động viên theo chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. ĐVKTT được dự trữ vũ khí, trang bị theo phân cấp; khi có lệnh động viên tiếp nhận quân nhân dự bị, phương tiện kĩ thuật và kiện toàn tổ chức theo biểu biên chế, huấn luyện và nhận nhiệm vụ chiến đấu.

        ĐƠN VỊ KINH TẾ - QUỐC PHÒNG, đơn vị QĐ được tổ chức theo mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng, do BQP quản lí, làm nòng cốt xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng và an ninh trên các địa bàn chiến lược (vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển...), xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, về biên chế: đội ngũ cán bộ quản lí thuộc biên chế của BQP; các lực lượng lao động khác tuyển dụng theo yêu cầu sản xuất kinh doanh. ĐVKT-QP có chức năng: tham gia lao động sản xuất và làm kinh tế thời bình; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân nơi đóng quân; đồng thời sẵn sàng chuyển sang nhiệm vụ quốc phòng khi có yêu cầu. Các ĐVKT-QP tiêu biểu như: Binh đoàn 12. Binh đoàn 16 (BQP), binh đoàn 15 (Quân khu 5), Đoàn 327 (Quân khu 3), Đoàn 338 (Quân khu 1)...

        ĐƠN VỊ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, 1) gọi chung các tổ chức (chỉ huy, quản lí, chiến đấu, bảo đảm, phục vụ chiến đấu, đào tạo, nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa...) trong LLVT- ND (QĐ, công an nhân dân, dân quân tự vệ); 2) gọi chung các tổ chức cấp dưới (trong quan hệ với tổ chức cấp trên): các đơn vị trong toàn quân, các đơn vị trong quân khu, quân đoàn...; 3) gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn... trong LLVTND VN (để phân biệt với cơ quan, nhà trường...).

        ĐƠN VỊ THƯỜNG XUYÊN SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn được biên chế đủ quân số và trang bị theo biểu biên chế để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, xây dựng và sẵn sàng chiến đấu.

        ĐƠN VỊ XÂY DỰNG MỚI, gọi chung các phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn được tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ chiến lược trong thời bình hoặc thời chiến. Việc tổ chức ĐVXDM được tiến hành khi có quyết định của cấp có thẩm quyền: điều động cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí... từ các đơn vị thường trực và từ nguồn động viên (quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật).

        ĐỢT BAO VÂY ĐỒN CÁ HE, CÁ HÔ (19-23.11.1973), đợt chiến đấu của du kích và nhân dân xã Bình Thạnh (h. Cao Lãnh, t. Đồng Tháp) bao vây, tiến công các đồn Cá He, Cá Hô của QĐ Sài Gòn (mỗi đồn có 1 trung đội dân vệ) tại các ấp Bình Mĩ A và Bình Mĩ B. Sáng 19.11 ta chặn đánh lực lượng tuần tra, lùng sục của địch, sau đó vây hãm đồn, kết hợp dùng loa tuyên truyền, vận động binh lính địch trở về với CM. Trong các ngày 20 và 21.11 địch ở các đồn Cồn Trọi, Khai Luông, Cồn Linh, Khóm Sâu đến ứng cứu, bị du kích và lực lượng chính trị quần chúng phối hợp đấu tranh, ngăn chặn. 11 giờ 22.11 địch ở đồn Cá He đầu hàng, đêm 23.11 địch ở đồn Cá Hô rút chạy. Kết quả ta diệt, bắt và làm bị thương 44 địch, bắn chìm 6 xuồng máy, thu hơn 20 súng, giải phóng ấp Bình Mĩ A. Thắng lợi của ĐBVĐCH.CH thể hiện sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công và thế trận chiến tranh nhân dân, góp phần bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, thúc đẩy phong trào tiến công địch trên phạm vi toàn xã.

        ĐỢT CHỐNG CÀN AN ĐIỂN (8-13.10.1965), đợt chiến đấu của du kích và nhân dân xã An Điền (h. Bến Cát, t. Bình Dương) đánh 2 tiểu đoàn bộ binh Mĩ phối hợp với QĐ Sài Gòn càn quét vào căn cứ của cơ quan lãnh đạo huyện Bến Cát và Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tại vùng nam Bến Cát, trọng điểm là xã An Điền. Sáng 8.10 địch tập trung lực lượng lớn máy bay (có B-52), pháo binh chi viện cho bộ binh triển khai bao vây, tiến công. Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo, các ụ chiến đấu và các bãi chông, mìn đã chuẩn bị trước, du kích xã An Điển (1 trung đội và 4 tiểu đội, trang bị chủ yếu vũ khí thô sơ, tự tạo) phối hợp chặt chẽ với du kích các xã An Tây, Phú An, Thới Hoà, Mĩ Phước, tích cực bám đánh, ngăn chặn, dùng cách đánh nhỏ, cơ động, kết hợp bắn tỉa và tận dụng thời cơ tập kích tiêu hao sinh lực địch. Sau 5 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta diệt và làm bị thương hơn 200 địch, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, bảo vệ an toàn căn cứ và lực lượng ta. đánh bại kế hoạch càn quét, tìm diệt của địch trên địa bàn.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:03:17 AM

        ĐỢT CHỐNG CÀN BẮC ĐƯỜNG 10 (3-8.4.1950), đợt chiến đấu của Trung đoàn 42 (2 tiểu đoàn: 142 và 505), Trung đoàn 64 (Tiểu đoàn 23 và 1 đại đội trợ chiến) phối hợp với LLVT và nhân dân địa phương đánh trả cuộc càn quét của quân Pháp tại các huyện Duyên Hà, Tiên Hưng, Quỳnh Côi, Đông Quan ở phía bắc đường 10, t. Thái Bình. Sáng 3.4 Pháp huy động 4 tiểu đoàn cơ động (thuộc các binh đoàn Commuynan và Bôphơrê), 1 tiểu đoàn Việt binh đoàn (BVN) cùng lực lượng chiếm đóng, có máy bay, pháo binh yểm trợ, tiến hành vây quét từ ba hướng. Trước thế mạnh của địch, ta chủ động phân tán lực lượng luồn càn và tổ chức phục kích đánh địch ở khắp nơi sau đó rút lui an toàn qua sông Trà Lí. Kết quả ta diệt hơn 100 địch, bảo toàn được lực lượng tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch.

        ĐỢT CHỐNG CÀN DƯƠNG MINH CHÂU (27.4- 11.5.1952), đợt chiến đấu của các tiểu đoàn 302 và 304 (bộ đội chủ lực Phân liên khu Miền Đông) phối hợp cùng LLVT địa phương đánh trả cuộc hành quân càn quét của khoảng 2.000 quân Pháp vào Chiến khu Dương Minh Châu (t. Tây Ninh). 27.4 quân Pháp tập trung ở Trảng Lớn, Trà Dơ, có pháo binh, không quân yểm trợ tiến vào chiến khu. nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến Nam Bộ. Tiểu đoàn 304 tổ chức đánh địch tại căn cứ và luồn lách, cơ động, dụ địch phân tán thành từng tốp nhỏ để tiêu diệt, đồng thời Tiểu đoàn 302 cùng đội vũ trang tuyên truyền Dầu Tiếng chủ động đánh quấy rối, phục kích chặn đường tiếp tế sau lưng địch buộc chúng phải rút quân sau hai tuần càn quét không kết quả. Ta diệt 200 địch, bắn cháy 8 xe QS, 2 máy bay, bẻ gẫy cuộc càn lớn nhất của quân Pháp trên chiến trường miền Đông Nam Bộ (trong 1952), bảo vệ an toàn lực lượng ta.

        ĐỢT CHỐNG CÀN HÒA HIỆP (25-27.1.1965), đợt chiến đấu của du kích và nhân dân xã Hòa Hiệp (h. Tuy Hoà, t. Phú Yên), được tăng cường 1 tiểu đội bộ đội huyện đánh 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đội xe bọc thép M113 QĐ Sài Gòn càn quét vào các thôn mới giải phóng của xã. 5 giờ 25.1 địch sử dụng máy bay, pháo binh đánh phá ác liệt, đồng thời tổ chức lực lượng thành 2 cánh tiến công, tập trung chủ yếu vào các thôn Phú Hiệp B, Thọ Lâm, Đa Ngư, Phú Lai và các điểm Núi Quéo, Núi Sinh, Núi Bàu... Ta dựa vào hệ thống công sự, trận địa. hẩm bí mật, địa đạo và các bãi chông mìn; kết hợp lực lượng tại chỗ và cơ động, đánh phía sau, bên sườn và tập kích, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong các ngày 26-27.1, ta điều chỉnh lực lượng, tăng cường thêm các bãi chông mìn, tiếp tục chặn đánh, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đồng thời du kích các thôn bị tạm chiếm phối hợp với nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận, buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 120 địch, phá hỏng 3 xe M113, bắn cháy 1 máy bay trực thăng, giữ vững và củng cố vùng giải phóng.

        ĐỢT CHỐNG CÀN MECQUYA (23.3-4.4.1952), đợt chiến đấu của Đại đoàn 320 (2 trung đoàn: 48 và 52) phối hợp với LLVT và nhân dân địa phương đánh trả cuộc càn Mecquya (Mercure: thủy ngân) của quân Pháp tại các huyện Thụy Anh. Thái Ninh, Kiến Xương, Tiền Hải (t. Thái Bình). 23.3 địch triển khai lực lượng cản quét gồm: 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2. GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn công binh, 64 trọng pháo, 500 xe QS, 1 tàu sân bay, 39 tàu chiến và ca nô. nhằm mục đích tìm diệt hoặc đẩy lùi bộ đội chủ lực ta, củng cố hệ thống chiếm đóng, chia cắt và đánh phá vùng du kích nam đương 10. Sau khi thăm dò lực lượng, phong tỏa giao thông, từ 27.3 ba cánh quân địch khép chặt vòng vây, đánh chiếm từng làng, dùng máy bay, pháo binh ném bom, bắn phá ác liệt những nơi nghi có bộ đội chủ lực ta. Các đơn vị của Đại đoàn 320 phối hợp với LLVT và nhân dân  địa phương vừa tổ chức chặn đánh, vừa bí mật luồn càn, tìm chỗ sơ hở đánh vào sườn và sau lưng địch. Nhiều trận đánh quyết liệt diễn ra ở Thần Huống, Bích Du, Vọng Hải, Quang Lang, Dưỡng Thông, Lưu Phương... Sau 10 ngày chiến đấu với hơn 100 trận đánh, ta đã bẻ gãy cuộc càn Mecquya, loại khỏi chiến đấu hơn 1.000 địch, bảo toàn lực lượng chủ lực ta và rút được nhiều kinh nghiệm trong tác chiến chống càn ở vùng sau lưng địch.

        ĐỢT CHỐNG CÀN Ở VÀNH ĐAI DIỆT MĨ CỦ CHI (8.1-5.2.1966). đợt chiến đấu của Đại đội 306 (bộ đội địa phương) phối hợp với du kích và nhân dân huyện Củ Chi chống cuộc hành quân càn quét của các lữ đoàn 2 và 3 (Sư đoàn bộ binh 1) của Mĩ và QĐ Sài Gòn (khoảng một vạn quân). Sau gần một tháng chiến đấu. dựa vào hệ thống địa đạo và làng chiến đấu, bàng ba mũi giáp công, quân và dân Củ Chi đã đánh lui hai đợt càn lớn (8-19.1 ở phía bắc và 23.1- 5.2 ở phía nam huyện Củ Chi), gãy tổn thất nặng và phá ý đồ của địch mở rộng vành đai an toàn xung quanh Sài Gòn. ĐCCƠVĐDMCC đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh du kích trên chiến trường miền Nam. góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần I (1965-66) của Mĩ. Từ đợt chiến đấu này, quân và dân Củ Chi rút ra 10 bài học quý về khả năng đánh thắng Mĩ của chiến tranh du kích VN.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:04:31 AM

        ĐỢT CHỐNG CÀN PHONG CHÂU, PHÚ CHÂU, CHƯƠNG DƯƠNG (7.1950), đợt chiến đấu của 2 tiểu đội thuộc Đại đội 83 (Trung đoàn 64), 1 tiểu đội bộ đội huyện phối hợp với dân quân du kích và nhân dân địa phương chống lại cuộc càn quét của quân Pháp ở các xã: Phong Châu, Phú Châu và Chương Dương (h. Đông Hưng, t. Thái Bình). Giữa 7.1950 địch huy động khoảng 1.000 quân từ tx Thái Bình và các đồn xung quanh càn quét vào 3 xã, tiến hành cướp bóc, đốt phá và tìm diệt lực lượng ta. Bộ đội và dân quân du kích bí mật luồn ra khỏi làng, bất ngờ tập kích sau lưng buộc địch phải rút quân. Với lực lượng nhỏ nhưng biết dựa vào dân và có cách đánh thích hợp, ta đã làm thất bại cuộc càn của địch, bảo vệ lực lượng, góp phần phát triển chiến tranh du kích ở Thái Binh trong KCCP.

        ĐỢT CHỐNG CÀN PHỔ MINH (28.1-3.2.1967), đợt chiến đấu của du kích và nhân dân xã Phổ Minh (h. Đức Phổ, t. Quảng Ngãi) đánh 2 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn càn quét tại các thôn Tân Tự, Sa Bình, Hải Môn (3 trong 5 thôn giải phóng của xã). Lực lượng ta có 2 trung đội du kích xã, 11 tiểu đội du kích thôn và 40 du kích mật, được tăng cường 1 tiểu đội bộ đội huyện; đã tiến hành xây dựng làng chiến đấu với hơn 6.000m hào, hàng trăm công sự chiến đấu, hàng nghìn hầm ẩn nấp và hầm bí mật cùng các bãi chông, mìn, vật cản... Sáng 28.1 địch có máy bay, pháo binh yểm trợ, triển khai tiến công từ hai hướng vào thôn Tân Tự, bị ta đánh trả quyết liệt. Dựa vào hỏa lực mạnh với thủ đoạn đánh phá hủy diệt, đến trưa và chiều 29.1 địch chiếm được 2 thôn Tân Tự, Sa Bình. Ta rút về Hải Môn, tiếp tục ngăn chặn địch, đồng thời tổ chức quần chúng đấu tranh chống địch khủng bố, kết hợp đánh quấy rối phía sau, tập kích diệt lực lượng bình định buộc địch phải rút lui. Sau 6 ngày chiến đấu, ta diệt và làm bị thương hơn 200 địch, thu 30 súng và hàng chục nghìn viên đạn, giữ vững vùng giải phóng, phá vỡ kế hoạch bình định của địch tại địa phương.

        ĐỢT CHỐNG CÀN PHƯỚC AN (24.4-16.6.1965), đợt chiến đấu của du kích và nhân dân xã Phước An (h. Long Thành, t. Đồng Nai) đánh 2 đại đội và 1 tiểu đoàn QĐ Sài Gòn càn quét tại ấp Bà Trường, Bào Bông (2 ấp được giải phóng từ cuối 1963). Lực lượng ta có 1 tiểu đội du kích xã, 1 tiểu đội du kích ấp và 2 tổ du kích mật, trang bị 15 súng và nhiều chông, mìn tự tạo. 24.4 địch đưa 1 đại đội đột kích vào ấp bị du kích đánh chặn, 10.6 địch dùng thủ đoạn trá hàng, nhưng đều bị ta phát hiện, ngăn chặn. Sau 2 lần thất bại, sáng 15.6 địch huy động 1 tiểu đoàn của Chiến đoàn 48 và 1 đại đội bảo an đến phối hợp, có pháo binh yểm trợ, chia hai hướng tiến công. Dựa vào hệ thống công sự, địa đạo, các bãi chông, mìn, vật cản và các ổ chiến đấu liên hoàn, ta đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch, đẩy mạnh hoạt động quấy rối địch ở các ấp chiến lược Vũng Gấm. Quới Thạnh và tổ chức lực lượng quần chúng đấu tranh, binh vận. buộc địch phải rút quân. Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 130 địch, giữ vững và củng cố địa bàn giải phóng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh giành quyền làm chủ của nhân dân ở vùng giáp ranh, chông địch càn quét, lấn chiếm.

        ĐỢT CHỐNG CÀN TIÊN LÃNG (28.8-18.9.1953), đợt chiến đấu của 2 đại đội (295 và 331) bộ đội tỉnh Kiến An, Đại đội 196 bộ đội huyện Tiên Lãng phối hợp với dân quân du kích và nhân dân địa phương chống lại cuộc hành quân Clôt (Claude: Cái chuông) của quân Pháp tại h. Tiên Lãng (t. Kiến An, nay thuộc tp Hài Phòng). 28.8 Pháp triển khai lực lượng gồm 2 binh đoàn cơ động (GM3 và GM5), một số tiểu đoàn ngụy quân cùng nhiều tàu thuyền chia 5 hướng càn quét trên phạm vi toàn huyện, trong đó tập trung đánh phá khu du kích Tiên Lãng. Bộ đội phối hợp chặt chẽ cùng dân quân du kích bám trụ ngoan cường, luồn lách thoát vây, sử dụng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo, diệt hơn 600 địch, bắn cháy 3 xe QS, 2 ca nô, 2 máy bay, buộc địch phải rút lui. ĐCCTL là thắng lợi lớn nhất của quân dân Tiên Lãng trong KCCP, góp phần bảo toàn lực lượng, đẩy mạnh hoạt động sau lưng địch trong chiến cục Đông Xuân 1953-54.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:05:31 AM

        ĐỢT CHỐNG CÀN VẬT LẠI (19.1-23.2.1949). đợt chiến đấu của du kích làng Vật Lại, xã Phú Mĩ, h. Quảng Oai (nay là xã Vật Lại, h. Ba Vì, t. Hà Tây) đánh trả cuộc càn quét của quân Pháp âm mưu tìm diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến huyện Quảng Oai và xóa bỏ làng chiến đấu Vật Lại. Lực lượng ta gồm: 1 trung đội du kích xã, 6 tiểu đội du kích xóm, được tăng cường 2 tiểu đội bộ đội huyện, trang bị 30 súng trường, súng kíp và các loại giáo mác, chông, mìn, lựu đạn... Sáng 19.1 địch sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh có xe tăng, máy bay, pháo binh yểm trợ, chia ba hướng tiến công. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa, vật cản và các bãi chông mìn đã chuẩn bị sẵn, ta tập trung lực lượng ngăn chặn, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch ở rìa làng, đồng thời bám đánh quyết liệt các cánh quân địch đột nhập trong các xóm. Những ngày tiếp theo, địch chuyển sang bao vây, dùng máy bay, pháo binh đánh phá ngày đêm, bí mật đưa người vào dò xét tình hình; sáng 23.2 tăng cường lực lượng thành 3 tiểu đoàn bộ binh cùng nhiều xe tăng, máy bay, pháo binh tiếp tục tiến công. Bộ đội và du kích phối hợp chiến đấu tích cực, gây cho địch nhiều thiệt hại; nhưng do lực lượng quá chênh lệch, phải rút dần về khu vực quyết chiến điểm ở Xóm Lọc. Tại đây diễn ra trận đánh cuối cùng của đội quyết tử (13 du kích) bảo vệ cho đội hình luồn vây về Vật Yên; làng chiến đấu Vật Lại bị địch chiếm và phá hủy. Trong ĐCCVL ta diệt và làm bị thương hơn 300 địch, đồng thời rút ra bài học về tổ chức làng xã chiến đấu chống địch càn quét những năm đầu KCCP.

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66526920_450419385687947_5946129127479181312_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQlxOFTqA-XTaJwcgzwOjXtB9SbYKrdYZ90GOcEJftdDIUs7aTjKUr7Xnss_88ghmlk&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=3d53042de23597fee23457bf5fb13175&oe=5DB357F6)


        ĐỢT SÓNG ĐỔ BỘ, đội hình hàng ngang của từng tốp (đợt) phương tiện đổ bộ (xuồng đổ bộ, xe tăng bơi, xe lội nước, ca nô...) chở quân đổ bộ từ tuyến triển khai đổ bộ tiến vào bờ. Số lượng các ĐSĐB của một phân đội quân đổ bộ cũng như số lượng phương tiện trong một ĐSĐB phụ thuộc vào nhiệm vụ, số lượng và kiểu loại phương tiện đổ bộ được sử dụng. Cự li giữa các ĐSĐB phải bảo đảm đổ bộ với nhịp độ cao, không gây rối loạn đội hình đổ bộ khi tiến vào bờ hoặc rút ra sau khi đổ quân lên bờ. Mỗi ĐSĐB (tốp phương tiện đổ bộ) thường chở gọn một phân đội đảm nhiệm một nhiệm vụ chiến thuật cụ thể trong chiến đấu lên bờ (mở đường qua vật cản, đánh chiếm tiền duyên...).

        ĐỢT TÁC CHIẾN BÌNH LONG (8.6-9.7.1966), các trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 9, Trung đoàn bộ binh 16 QGP miền Đông Nam Bộ vào Lữ đoàn bộ binh 3 (Sư đoàn 1) Mĩ, Trung đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 5), Chiến đoàn thiết giáp 3 và 2 tiểu đoàn biệt động quân, 2 tiểu đoàn pháo binh QĐ Sài Gòn ở t. Bình Long nhằm tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ phong trào phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. Trong hơn một tháng, ta đánh 7 trận phục kích, tập kích, chống càn... với quy mô trung đoàn, tiểu đoàn; nổi bật là các trận phục kích trên đường 13 ngày 8.6 của Trung đoàn 2, ngày 30.6 của Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9), ngày 9.7 của Trung đoàn 2 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 16. Trong ĐTCBL, ta loại khỏi chiến đấu 1 tiểu đoàn và 1 đại đội Mĩ, 5 đại đội và 3 trung đội QĐ Sài Gòn, phá 8 ấp chiến lược, giải phóng 6.000 dân.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:06:32 AM

        ĐỢT TÁC CHIẾN ĐÀ NẴNG (1946), đợt tác chiến của 2 trung đoàn bộ binh (93 và 96) Khu 5 cùng lực lượng tự vệ, công an xung phong và nhân dân Đà Nẵng chống lại hoạt động tái chiếm của Pháp tại tp Đà Nẵng thời kì đầu toàn quốc kháng chiến. Lợi dụng hiệp định sơ bộ Việt - Pháp (6.3.1946) cho phép quân Pháp vào thay thế quân Tưởng Giới Thạch ở Đà Nẵng, đầu 12.1946 Pháp tăng lực lượng tại đây từ 225 lên 6.745 quân cùng nhiều vũ khí, phương tiện QS (tàu chiến, xe tăng, đại bác), tiến hành khiêu khích, gây rối và chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm lại thành phố. Trước hoạt động trắng trợn của địch, chấp hành mệnh lệnh tác chiến của Bộ tổng chỉ huy và Bộ chỉ huy Khu 5, đêm 19.12, ủy ban QS Quảng Nam -  Đà Nẵng lệnh cho các đơn vị trong địa bàn đồng loạt nổ súng lúc 2 giờ 20.12, nhưng do công tác tổ chức chỉ huy có thiếu sót, kế hoạch không thực hiện được. 8 giờ 20.12 quân Pháp dùng pháo hạm yểm trợ cho bố binh, xe tăng tiến công từ nhiều hướng. Các LLVT và nhân dân Đà Nẵng tổ chức chiến đấu ngăn chặn, vây hãm, tiêu hao địch; nhiều trận đánh quyết liệt diễn ra ở khu vực sân bay, Chợ Mới, Yên Khê... Sau gần 1 tháng chiến đấu, quân và dân Đà Nẵng đã kìm chân địch trong thành phố và gây cho chúng nhiều thiệt hại, bảo toàn lực lượng ta, góp phần làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo thêm điều kiện cho toàn tỉnh cùng cả nước bước vào KCCP.

        ĐỢT TÁC CHIẾN ĐỨC PHỔ (28.1-18.2.1966), đợt tác chiến của quân và dân h. Đức Phổ (t. Quảng Ngãi) chống cuộc hành quân Diều hâu đôi (28.1-18.2.1966). Với âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng nam Quảng Ngãi, 28.1 khoảng 8.000 quân Mĩ và QĐ Sài Gòn có máy bay, xe bọc thép chi viện đánh vào Đức Phổ. Dựa vào hệ thống làng xã chiến đấu, bộ đội địa phương và du kích vừa chặn đánh vừa cơ động tập kích vào nơi địch sơ hở. Bị vây hãm trong thế trận chiến tranh nhân dân, 18.2 Mĩ phải chấm dứt cuộc hành quân với gần 1.000 quân bị thương vong. Thắng lợi Đức Phổ góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần I (1965-66) của Mĩ ở miền Nam VN.

        ĐỢT TÁC CHIẾN ĐƯỜNG 14 (28.1-10.2.1973), đợt tác chiến của Trung đoàn bộ binh 48 (Sư đoàn 320), dược tăng cường Tiểu đoàn 12 (Mặt trận Tây Nguyên) nhằm đánh cắt giao thông chiến lược trên đường 14 (nam Plây Cu, t Gia Lai), bảo vệ vùng giải phóng, ngăn chặn hoạt động lấn chiếm của QĐ Sài Gòn trước khi hiệp định Pari 1973 về Việt Nam có hiệu lực. 27.1 ta đưa 2 tiểu đoàn (2, 12) chiếm lĩnh trận địa chốt giữ đoạn đường nam Phú Mĩ - bắc Mĩ Thạch (h. Chư Sẽ), sau đó đưa Tiểu đoàn 3 và một bộ phận Tiểu đoàn 1 vào chiến đấu. Từ 9 giờ 28.1, QĐ Sài Gòn sử dụng Thiết đoàn 21 và 4 tiểu đoàn bộ binh của Quân đoàn 2, có không quân, pháo binh yểm trợ, liên tiếp mở các cuộc hành quân giải tỏa. Trong 14 ngày chiến đấu. bộ đội ta đã vận dụng tổng hợp các hình thức chiến thuật phòng ngự và tiến công, đánh bại hàng chục đợt tiến công, loại khỏi chiến đấu 171 địch, bắn cháy 39 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 3 máy bay. ĐTCĐ14 thắng lợi góp phần ngăn chặn địch lấn chiếm ở khu vực Tây Nguyên và rút được kinh nghiệm vận dụng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chót trong đánh cắt giao thông trên địa hình ít thuận lợi.

        ĐỢT TÁC CHIẾN HÀ NỘI (19.12.1946-18.2.1947), đợt tác chiến của LLVT và nhân dân thủ đô Hà Nội nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và kìm chân quân Pháp ở Hà Nội, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Lực lượng ta có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn (10l, 77, 212, 145 và 523), 1 đại đội cảnh vệ, 4 trung đội pháo binh (bố trí ở Pháo Đài Láng, Xuân Canh, Thổ Khối, Xuân Tảo), 300 tự vệ chiến đấu. 8.500 tự vệ thành và khoảng 2 vạn dân quân du kích ở ngoại thành. Lực lượng địch khoảng 6.500 quân, gồm Trung đoàn bộ binh thuộc địa 6 (6 è RIC) thiếu 1 tiểu đoàn, 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn thiết giáp 2 (2 è DB), 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn pháo binh thuộc địa 4 (4 è RAơn), BTL Sư đoàn bộ binh thuộc địa 9 (9 è DIC), một số đơn vị biệt kích, dù, không quân, thủy quân đóng tại 54 vị trí trong thành phố; ngoài ra còn có khoảng 7.000 kiều dân Pháp (trong đó nhiều người được vũ trang và tổ chức thành tổ chiến đấu). 20 giờ 3ph ngày 19.12, pháo binh ta bắn dồn dập vào các khu vực thành Hà Nội, Trường Bưởi, sân bay Gia Lâm, làm hiệu lệnh cho các đơn vị đồng loạt tiến công 30 vị trí và 60 ổ chiến đấu độc lập của dịch. Địch thực hành phản kích, bị ta đánh trả tại phố Hàng Đậu, Bắc Bộ Phủ, Nhà Hát Lớn, Toà thị chính... Sau 3 ngày chiến đấu, ta điều chỉnh thế trận, hình thành trung tâm để kháng ở Liên khu 1 (bắc và trung tâm thành phố); lực lượng thuộc các liên khu 2 và 3 (tây và nam thành phố) giãn ra các cửa ô, tạo thế trong ngoài cùng đánh. Từ 30.12 địch tập trung lực lượng tiến công ra các cửa ô, bị ta chặn đánh từng bước trên tuyến vòng cung Yên Phụ. Ngọc Hà, Kim Mã, ô Chợ Dừa, Kim Liên, ô Cầu Dền, Vĩnh Tuy... Ta vừa đánh vừa phát triển lực lượng: Tiểu đoàn 101 phát triển thành Trung đoàn Thủ Đô, các tiểu đoàn 523, 145 và 77 được tập hợp thành Trung đoàn Thăng Long, lực lượng vệ quốc đoàn, tự vệ và dân quân du kích ở ngoại thành phát triển mạnh. Từ 6.2 địch mở cuộc tiến công lớn vào Liên khu 1, nhiều trận đánh ác liệt diễn ra tại các khu vực nhà Xôva, Trường Ke, chợ Đồng Xuân... Đêm 17.2 chấp hành quyết định của Bộ chỉ huy mặt trận, Trung đoàn Thủ Đô bí mật vượt vòng vây ra vùng tự do an toàn (xt rút lui của Trung đoàn Thủ Đô, 17- 18.2.1947). Qua 60 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Hà Nội loại khỏi chiến đấu gần 2.000 địch, phá hủy 53 xe QS (có 22 xe tăng, thiết giáp), bắn rơi 7 máy bay, bắn chìm 2 ca nô, kìm chân địch trong thành phố, góp phần giữ gìn lực lượng, bảo vệ an toàn các cơ quan trung ương Đảng và Chính phủ, tạo thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:07:16 AM

        ĐỢT TÁC CHIẾN HẢI PHÒNG (20-26.11.1946), đợt tác chiến của Trung đoàn 41 Vệ quốc đoàn, 1 đại đội công an xung phong, 1 trung đội thủy quân cùng lực lượng tự vệ và nhân dân tp Hải Phòng chống lại hành động khiêu khích, đánh chiếm của Pháp tại Hải Phòng trước ngày toàn quốc kháng chiến. Lực lượng Pháp tại đây có khoảng 3.000 quân, gồm 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn lê dương 3 (3è REỊ), 1 trung đoàn thiết giáp và một bộ phận không quân, hải quân. Sau khi cố tình xâm phạm chủ quyền ta về thuế quan, tạo cớ gây xung đột, 8 giờ ngày 20.11 quân Phấp nổ súng tiến công vào nhiều vị trí xung yếu trong thành phố (x. sự kiện Hải Phòng, 20.11.1946). Mặc dù hết sức kiềm chế, nhưng trước hành động trắng trợn của địch, ta kiên quyết đánh trả để tự vệ, tiêu biểu là các trận đánh ở Đồn cảnh sát trung ương, Nhà hát lorn... 21.11 qua đàm phán, ta và Pháp đã thỏa thuận ngừng bắn và trở lại vị trí trước 20.11, nhưng sau đó quân Pháp vẫn tiếp tục thực hiện mưu đồ đánh chiếm thành phố. Từ 23.11 ta tổ chức nhiều cuộc phản kích ở khu vực nhà ga, Ngã Sáu, Phố Khách, phố Ba Tí, Nhà hát lớn, Nhà máy đèn. Nhà máy nước; tiến công sân bay Cát Bi, đánh dịch nống ra khu vực Trại bảo an binh, Trại Cau... Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 160 địch, thu hơn 20 súng các loại. Để bảo toàn lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài, 26.11 ta rút phần lớn lực lượng ra ngoại ô, lập phòng tuyến bao vây địch trong thành phố. Là đợt tác chiến lớn đầu tiên đánh trả quân Pháp trở lại xâm lược miền Bắc, rút kinh nghiệm cho việc chuẩn bị chiến đấu ở Hà Nội và các đô thị khác.

        ĐỢT TÁC CHIẾN HUẾ (20.12.1946-8.2.1947), đợt tác chiến của quân và dân Thừa Thiên tiến công quân Pháp tại tp Huế thời kì đầu kháng chiến toàn quốc. Lực lượng ta có Trung đoàn vệ quốc quân 101, 2 tiểu đoàn tiếp phòng quân (Thuận Hóa, Vinh), 4 đại đội vũ trang (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Trường quân chính Nhượng Bạn) và khoảng 1.000 tự vệ Thành Huế. Lực lượng địch có khoảng 750 quân đóng tại 20 vị trí ở bờ nam Sông Hương, gồm 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa 21 (21 è RIC), 1 đại đội thiết giáp thuộc Trung đoàn thiết giáp 6; ngoài ra còn có 250 kiều dân Pháp được vũ trang. 2 giờ 30 ph ngày 20.12.1946, ta nổ súng tiến công địch tại các khu vực cầu Tràng Tiền, An Cựu, khách sạn Moranh, nhà Tuycanh, Trường Dòng và trường Thiên Hưu... sau đó tiến hành bao vây, quấy rối, tập kích các vị trí địch co cụm, cố thủ. Từ 17.1.1947, Pháp huy động lực lượng từ Lào và Tây Nguyên theo hai đường thủy, bộ đến giải vây. Ta chặn đánh ở đèo Hải Vân, Nước Ngọt, Truồi, Cầu Hai... nhưng do cách đánh dàn trận địa nên không cản được bước tiến của địch, 8.2.1947 bộ đội ta rút khỏi thành phố. Kết quả loại khỏi chiến đấu gần 200 địch, bắn rơi 1 máy bay... bảo toàn lực lượng chủ lực của ta, góp phần cùng các đô thị bắc vĩ tuyến 16 mở đầu thắng lợi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.

        ĐỢT TÁC CHIẾN NAM ĐỊNH (20.12.1946-15.3.1947), đợt tác chiến của Trung đoàn 33 (Chiến khu 2) cùng lực lượng tự vệ chiến đấu (khoảng 900 người) và nhân dân tp Nam Định tiến công Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa 6 (2/6è RIC) của quân Pháp chiếm đóng tại Nam Định thời kì đầu toàn quốc kháng chiến. 0 giờ 30ph ngày 20.12.1946, ta nổ súng tiến công các khu vực trại Carô, khu nhà sĩ quan, nhà máy sợi, nhà máy dệt,... tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, sau đó chuyển sang bao vây và đánh địch phản kích. 6.3.1947 Pháp huy động 1.500 quân, hơn 100 xe QS và 1 đại đội thủy quân, 2 tàu chiến, 4 ca nô từ Hà Nội theo hai đường thủy, bộ xuống giải tỏa, bị ta chặn đánh, phục kích diệt hàng trăm quân, phá 4 xe QS... Sau gần 3 tháng chiến đấu, ta chủ động rút phần lớn lực lượng ra khỏi thành phố, thực hiện được mục tiêu giam chân địch dài ngày trong thành phố và tiêu hao sinh lực địch (loại khỏi chiến đấu hơn 400 địch), bảo toàn lực lượng ta, góp phần cùng các đô thị bắc vĩ tuyến 16 mở đầu thắng lợi cuộc kháng chiến toàn quốc.

        ĐỢT TÁC CHIẾN NAM SÔNG MĨ CHÁNH (20- 26.6.1972), đợt tiến công của Sư đoàn bộ binh 304 (được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng) và Trung đoàn bộ binh 88 (Sư đoàn 308) vào tuyến phòng thủ của Lữ đoàn dù 2 và Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 QĐ Sài Gòn ở nam sông Mĩ Chánh (thuộc h. Hải Lăng, t. Quảng Trị và h. Hương Điền, t. Thừa Thiên, nay là t. Thừa Thiên - Huế) trong đợt 3 chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972). Đêm 20.6 ta đồng loạt tiến công địch ở các điểm cao 52, 35, 102, 156, Hố Lẩy, Xuân Lộc, núi Cái Mương, Cầu Nhì, Yên Bầu... đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn dù (7 và 9) và 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến (1 và 4). Được không quân, hải quân Mĩ chi viện, địch tăng cường lực lượng chống trả quyết liệt, liên tục phản kích; cuộc chiến đấu lâm vào thế giằng co. 26.6 đợt tiến công kết thúc, ta loại khỏi chiến đấu gần 2.000 dịch, bắn rơi 10 máy bay, phá hủy 10 xe QS, nhung không thực hiện được kế hoạch phát triển tiến công xuống Thừa Thiên - Huế.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:08:38 AM

        ĐỢT TÁC CHIẾN NHA TRANG (22.10.1945-1.2.1946), đợt tác chiến phòng ngự của các chi đội Nam tiến cùng LLVT và nhân dân tỉnh Khánh Hòa chống lại cuộc tiến công của Pháp tại Nha Trang trong thời kì đầu KCCP. 22.10.1945 quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang, phối hợp với lực lượng tại chỗ (gồm quân Nhật chưa bị giải giáp và hàng nghìn tù binh Pháp được quân Anh thả và trang bị vũ khí) đánh chiếm thành phố. Trước quân địch có ưu thế hơn hẳn về số quân và vũ khí trang bị, các LLVT ta sau khi đánh trả quyết liệt ở nhà ga, nhà bưu điện, viện Paxtơ..., đêm 23.10 rút ra ngoại vi tổ chức trận địa trên các điểm cao phía tây thành phố, khu vực Chợ Mới, ven sông Xóm Bóng... để bao vây địch. Từ 11.1945 đến 1.1946 quân Pháp mở nhiều cuộc tiến công vào trận địa ta nhưng đều thất bại; LLVT ta còn đột nhập vào thành phố đốt kho xăng, phá nhà máy điện, tập kích SCH, phục kích quân tuần tiễu... gây cho địch nhiều thiệt hại. Cuối 1.1946 Pháp tăng cường lực lượng lớn từ Phan Rang lên, từ Tây Nguyên xuống giải vây (x. hành quân Gô, 25.1-5.2.1946). Sau các trận đánh ở bến Đò Thành và Phú Cốc, để tránh thế bị vây ép, phần lớn lực lượng ta rút về Tuy Hoà, Phú Yên, một bộ phận nhỏ ở lại tiếp tục chiến đấu. ĐTCNT đã ngăn chặn và tiêu hao địch, giữ vững mặt trận Nha Trang hơn 100 ngày, góp phần làm thất bại ý đồ nhanh chóng đánh chiếm Nam Trung Bộ của Pháp.

        ĐỢT TÁC CHIẾN PHÒNG NGỰ QUẢNG TRỊ nh CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ QUẢNG TRỊ (28.6.1972-31.1.1973)

        ĐỢT TÁC CHIẾN SẢM THÔNG - LONG CHẸNG (15.3-25.4.1970), các trận tiến công của Sư đoàn bộ binh 316 (được tăng cường Trung đoàn bộ binh 866, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 165, một số đội đặc công của Tiểu đoàn 17 và Tiểu đoàn 20) QĐND VN phối hợp với các đơn vị QGP nhân dân Lào đánh lực lượng QĐ Viêng Chăn ở vùng Sảm Thông - Long Chẹng. Sau khi bị đánh bại ở Cánh Đồng Chum, QĐ Viêng Chăn lui về củng cố tuyến Bản Na - Phu Lũng Mạt - Phun Phaxay - điểm cao 1999 - Pha Đông... bảo vệ khu vực Sảm Thông - Long Chẹng, một căn cứ quan trọng của Lực lượng đặc biệt Vàng Pao. Từ 2.1970 liên quân Việt - Lào đánh chiếm các điểm cao ngoại vi, buộc địch phải tăng cường lực lượng. 15-18.3 ta tiếp tục tiến công một số cứ điểm quan trọng trong tuyến phòng ngự chủ yếu (trong đó có Sảm Thông), diệt gần 100 địch, phá hủy hơn l00t đạn và đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Trên hướng Long Chẹng, ta đánh chiếm các điểm cao 1800, 1723, 1600, phát triển vào Phu Môi. Địch tăng cường 3 tiểu đoàn phòng thủ Long Chẹng và tổ chức phản kích. Từ 25.4 ta chuyển sang đánh địch phản kích và kết thúc đợt tác chiến.

        ĐỢT TÁC CHIẾN TẬP TRUNG, hình thức tác chiến gồm một số trận chiến đấu, những đòn đột kích và hành động chiến đấu khác, liên kết với nhau, do một bộ phận chủ lực kết hợp với LLVT địa phương hoặc do LLVT địa phương tiến hành trong một không gian và thời gian nhất định, theo một ý định, kế hoạch chỉ huy thống nhất. ĐTCTT thương diễn ra khi chưa đủ điều kiện hoặc chưa cần thiết tiến hành chiến dịch.

        ĐỢT TÁC CHIẾN TẬP TRUNG của hải quản, đợt tác chiến tập trung do các binh đoản, liên binh đoàn hài quân tiến hành độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng (binh chủng của quân chủng) khác và LLVT địa phương, nhằm: tiêu diệt một bộ phận lực lượng hải quân đối phương trên biển, bảo vệ và chi viện đảo, đánh phá các tuyến giao thông vận tải trên biển của đối phương, bảo vệ các tuyến giao thông vận tải trên biển, căn cứ, khu trú đậu của ta, đổ bộ và chống đổ bộ đường biển, chi viện cho lục quân trong tiến công và phòng ngự trên hướng ven biển, chống phong tỏa đường biển của địch...

        ĐỢT TÁC CHIẾN TẬP TRUNG của không quân, đợt tác chiến tập trung do các phân đội, binh đội không quân tiến hành nhằm thực hiện nhiệm vụ tác chiến; gồm các hành động chiến đấu của không quân (có thể có các lực lượng khác phối hợp), trong đó có những đòn đột kích, những trận chiến đấu trên không có liên quan với nhau. ĐTCTĐckq được tiến hành khi chưa đủ điều kiện mở chiến dịch không quân hoặc xen kẽ giữa các chiến dịch.

        ĐỢT TÁC CHIẾN TẬP TRUNG của pháo binh, đợt tác chiến tập trung do các phân đội, binh đội pháo binh tiến hành (có các lực lượng khác phối hợp) nhằm thực hiện nhiệm vụ tác chiến. ĐTCTT có thể tiến hành riêng hoặc xen kẽ giữa các đợt tác chiến, các chiến dịch của binh chủng hợp thành, nhằm giáng đòn hỏa lực mạnh vào các mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch (chiến lược), phối hợp tác chiến chiến dịch hay phối hợp chiến trường. ĐTCTT áp dụng phương pháp tập kích hỏa lực gọi là đợt tập kích pháo binh.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:09:56 AM

        ĐỢT TÁC CHIẾN TẬP TRUNG địa phương, đợt tác chiến tập trung do LLVT địa phương làm nòng cốt và nhân dân tiến hành; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. địch vận... theo ý định và kế hoạch thống nhất, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng địa phương, do cơ quan QS địa phương trực tiếp chỉ huy; nhằm tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt một bộ phận, buộc địch sa lẩy; tạo điều kiện, thời cơ cùng với bộ đội chủ lực đánh bại các cuộc tiến công và phá thế kìm kẹp của địch; tạo thế xen kẽ, tạo điều kiện cho LLVT địa phương và nhân dân bám trụ, chiến đấu. phát triển chiến tranh nhân dân địa phương.

        ĐỢT TÁC CHIẾN VINH (19-20.12.1946), đợt tác chiến của 1 đại đội thuộc Trung đoàn 57 (Chiến khu 4) cùng 2 đại đội tự vệ và nhân dân tp Vinh (t. Nghệ An) tiến công các vị trí quân Pháp ở Vinh trong ngày đầu toàn quốc kháng chiến. 23 giờ 19.12 ta bao vây tiến công, kết hợp gọi hàng 1 trung đội quân Pháp đóng ở sở canh nông, đến 0 giờ 30ph ngày 20.12, buộc địch đầu hàng, thu toàn bộ vũ khí; cùng lúc, một bộ phận khác tiến công sân bay Yên Đại, bắt 1 tổ lái. Kết quá ta bắt 34 tù binh, thu 11 súng các loại và 1 máy bay Moran. Chiến công của quân và dân tp Vinh góp phần cùng các đô thị bắc vĩ tuyến 16 mở đầu thắng lợi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.

        ĐƠTERI (hidrô nặng, kí hiệu D), đồng vị bền vững của hiđrô, có khối lượng nguyên tử bằng 2. Đ thu được bàng cách điện phân nước kết hợp với trao đổi đồng vị giữa nước và hiđrô hoặc tinh cất nước. Trong ngành năng lượng nguyên tử, Đ được dùng như chất giữ chậm nơtrôn trong các lò phản ứng hạt nhân và nhiên liệu nhiệt hạch. Vd: phản ứng D+D —» He4 + y và giải phóng 23,8 MeV. Người ta còn dùng Đ như những hạt bắn phá trong các khảo cứu hạt nhân hoặc nguyên tử hiđrô đánh dấu trong các khảo cứu hóa học.

        ĐRAGÔN (A. Dragon - Rồng), tên lửa chỏng tăng mang vác, do Mĩ sản xuất và bắn thử lần đầu 1968. Tên lửa dược lắp sẵn trong ống phóng, đặt trên giá đỡ ba chân do 1 người sử dụng (có thể đặt trên xe). Tên lửa có động cơ nhiên liệu rắn, khối điều khiển với nguồn điện. Ông phóng đồng thời là thiết bị để vận chuyển. Thiết bị điều khiển gồm: bảng điều khiển, máy thu hồng ngoại, máy ngắm quang học và nguồn điện. Hệ thống điều khiển bán tự động có thiết bị bám sát hồng ngoại và truyền lệnh theo dây dẫn. Tên lửa Đ-l dài 744mm, đường kính thân 122mm, khối lượng 6,2kg (cả ống phóng 10,5kg), đầu đạn nổ lõm 2,44kg; tốc độ lớn nhất 110m/s, tầm bắn 30-1.000m, khả năng xuyên thép 430mm. Đưa vào trang bị 1972, được cải tiến tăng sức xuyên và tầm bắn (Đ-3 dài 852mm, nặng 15,6kg với tầm bắn 1.500m). Được QĐ Mĩ và Arập Xêut sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991.

        ĐSK, súng máy phòng không do LX sản xuất, được lắp trên giá chuyên dụng, chủ yếu để diệt mục tiêu trên không, trên mặt đất và mặt nước. ĐSK được trang bị cho các phân đội bộ binh cơ giới, lắp trên xe tăng, xe thiết giáp, mấy bay và tàu chiến. Tính năng chủ yếu: cỡ nòng 12,7mm. góc hướng 360° và góc tầm từ -3° đến +85°, tầm bắn hiệu quả đến 2.000m, tốc độ bắn lí thuyết 400-600 phát/ph, tốc độ bắn chiến đấu 70-125 phát/ph, khối lượng toàn bộ 156kg. khả năng cơ động vận chuyển cao. Trong KCCM, QĐ VN đã dùng ĐSK diệt nhiéu máy bay bay thấp và máy bay trực thăng của Mĩ.

        ĐỤC SƠN nh VỆ SƠN

        ĐỤNG ĐỘ QUÂN SỰ, giao chiến quy mô nhỏ, thời gian ngắn, không gian hẹp giữa các lực lượng vũ trang đối lập của một nước hoặc giữa các nước, nhằm thực hiện răn đe QS vì mục đích chính trị nhất định. ĐĐQS giữa hai nước thường nổ ra ở khu vực biên giới, vùng giáp ranh, khu vực giới tuyến quân sự, vùng tranh chấp... ĐĐQS có nguy cơ phát triển thành xung đột quân sự hoặc chiến tranh nếu các bên không giải quyết mâu thuần bằng con đường ngoại giao, không tôn trọng luật pháp và cam kết quốc tế.

        ĐƯA THÊ ĐỘI HAI VÀO CHIẾN ĐẤU (ngoại), tổ chức cho thể đội hai cơ động, triển khai và bước vào chiến đấu nhằm tăng cường lực lượng, giữ vững và phát huy thế trận có lợi. Trong tiến công, tăng cường lực lượng giữ ưu thế hơn địch trên hướng đột kích chủ yếu để phát triển thắng lợi; thay thế thê đội một đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị mất sức chiến đấu, tiêu diệt thê đội hai (lực lượng dự bị) của địch phản kích, phản đột kích, ứng cứu giải tỏa; giải quyết những nhiệm vụ mới nảy sinh. Trong phòng ngự, tăng cường cho thê đội một ở hướng bị địch công kích, tiến hành phản kích, phản đột kích, đánh địch đổ bộ đường không; làm nhiệm vụ phòng ngự trong chiều sâu phòng ngự khi địch đã đột phá được. ĐTĐHVCĐ phải được cấp trên phê chuẩn và kịp thời tổ chức thể đội hai mới.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:11:01 AM

        ĐỨC (CHLB Đức: Bundesrepublik Deutschland, A. Federal Republic of Germany), quốc gia ở Trung Âu. Dt 356.970km-; ds 82,4 triệu người (2003); 91% người Đức. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức. Tôn giáo: đạo Tin Lành (44%). Thiên chúa giáo (43%). Thủ đô: Beclin. Chính thể cộng hòa liên bang, đứng đầu nhà nước là tổng thống. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viện (thượng nghị viện và hạ nghị viện). Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Mỗi bang đều có nghị viện và chính quyền riêng. Địa hình: miền Bắc là đồng bằng (thuộc lưu vực của các sóng Enbơ, Uêsơ và Ôđe); miền Trung và Nam là vùng đồi núi thấp (độ cao: 400-800m) và cao nguyên, dãy núi Anpơ ở phía nam, đỉnh cao nhất tới 3.000m. Sông chính: Sông Ranh, Enbơ, Đanuyp. Khí hậu ôn hòa, lượng mưa trung bình hàng năm 500-800mm, ở vùng núi 1.000-2.000mm. Kinh tế phát triển, cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu, đứng thứ 3 thế giới (sau Mĩ, Nhật). Công nghiệp: luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, hóa chất, dệt, cơ khí chính xác... Nông nghiệp: lúa mì, lúa mạch và các sản phẩm từ sữa; chân nuôi: bò, lợn, cừu... Ngành ngân hàng và tài chính thu hút nhiều ngoại tệ. GDP 1.846,07 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 22.420 USD. Thành viên LHQ (18.9.1973, trước 3.10.1990 gồm hai thành viên CHDC Đức và CHLB Đức cũ), Liên minh châu Âu (EU), NATO (5.5.1955). Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 23.9.1975. LLVT: lực lượng thường trực 296.000 người (lục quân 203.200, hải quân 25.500, không quân 63.700), lực lượng dự bị 390.000. Trang bị: 2.490 xe tăng, 523 xe thiết giáp trinh sát, 2.110 xe chiến đấu bộ binh, 3.767 xe thiết giáp chở quân, 1.735 pháo mặt đất, 384 pháo tự hành, 512 súng cối, 2.002 tên lửa chống tăng, 1.535 súng máy và pháo phòng không, 143 tên lửa phòng không, 556 máy bay trực thăng vũ trang, 14 tàu ngầm, 2 tàu khu trục, 12 tàu frigat, 25 tàu tên lửa, 23 tàu quét mìn, 2 tàu đổ bộ, 40 tàu hộ tống, 512 máy bay chiến đấu, 43 máy bay trực thăng vũ trang... Ngân sách quốc phòng 24,9 tỉ USD (2002). Lực lượng của các nước NATO trên lãnh thổ Đức: Bỉ 2.000 người, Pháp 3.000, Hà Lan 2.600, Anh 17.100 (có 1 căn cứ không quân với 39 máy bay chiến đấu), Mĩ 68.950 (có một căn cứ không quân với 72 máy bay chiến dấu).

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66508354_450419395687946_1017818188710150144_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQngR5ioWvEWBBZ3xLOG4iAwMigSMhAazYMAlBB5ENrPPob5gs2Mr8I9-N6QB-o-tgE&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=bd09ade5dea67f191a5c4c25f0fba1c5&oe=5DB2A6BD)


        ĐỨC LẬP, thị trấn, quận lị q. Đức Lập, t. Quảng Đức, nay là thị trán Đắc Min, huyện lị h. Đắc Min, t. Đắc Lắc. Nằm giữa QL 14 (km 298) và QL 14C (đoạn T15, chạy dọc biên giới VN - Campuchia), tây nam Buôn Ma Thuật 35km (theo QL 14), trên vùng cao nguyên và đồi núi thấp, bị chia cắt bởi nhiều sông suối. 9-10.3.1975 trong chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975), cụm cứ điểm của QĐ Sài Gòn ở ĐL bị tiêu diệt, mở thông hướng tây nam cho mặt trận Tây Nguyên đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

        ĐƯƠNG LƯỢNG TNT, độ đo uy lực nổ của đạn dược hạt nhân, được xác định bằng khối lượng trinitrôtôluen (TNT) mà khi nổ giải phóng một năng lượng tương đương với năng lượng của đạn dược hạt nhân. ĐLTNT tính bằng tôn (t), kilôtôn (kt), mêgatôn (Mt). Đạn dược hạt nhân hiện đại có ĐLTNT từ vài chục tôn tới hàng chục mêgatôn. Thuật ngữ ĐLTNT còn được dùng để dặc trưng cho uy lực nổ của những hệ thống nổ hóa học.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:12:52 AM
       
        ĐƯỜNG BAY TÊN LỬA, đường chuyển động (quỹ đạo) của khối tâm tên lửa sau khi rời bệ phóng. Thường có dạng một đường cong không gian phức tạp; phụ thuộc chủ yếu vảo công dụng và loại tên lửa, kiểu hệ thống điều khiển, phương pháp dẫn tên lửa và các yếu tố khác. Phân biệt ĐBTL tính toán và ĐBTL thực tế. Mỗi loại tên lửa có dạng đường bay riêng biệt. ĐBTL đường đạn, quỹ đạo chuyển động của tên lửa khi không có lực nâng khí động học, gồm đoạn bay tích cực (đoạn động cơ còn hoạt động) và đoạn bay thụ động (đoạn sau khi động cơ ngừng hoạt động, tên lửa chuyển động tự do theo quán tính, chiếm khoảng 90% quỹ đạo); tất cả các tên lửa chiến lược, chiến dịch có hệ thống điều khiển quán tính và tên lửa chiến thuật, đạn phản lực, đạn phản lực tích cực đều có dạng đường bay này. ĐBTL theo chương trình là dạng kết hợp ĐBTL đường đạn với đoạn bay theo chương trình ở nhánh xuống nhờ sử dụng lực nâng của các mặt khí động để tăng tầm bay (như các loại tên lửa hạm đối hạm, đất đối hạm, không đối hạm). ĐBTL có cánh là đường bay gồm một hoặc nhiều đoạn với độ cao không đổi khi động cơ làm việc; tên lửa có cánh và tên lừa chống tăng có điều khiển thuộc dạng đường bay này. Hình vẽ: đường bay tên lửa

(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66777974_450419409021278_7648139355948580864_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQlK3reB5k_AUxCHvR0RUkGeU8_nSB5PYAu6E-uNIGk3-Uo0dRNGh0pO4QIy5NLAkk4&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=cd38c5940386ac96d50bcfddb381330f&oe=5D9FF3A1)

1. Đường bay tên lửa có cánh, 2. Đường bay tên lửa phòng không có điều khiển, 3. Đường bay tên lửa đường đạn:
AB- nhánh lên của đường bay, AK- đoạn tích cực, BC- nhánh xuống của đường bay : C- mục tiêu

        ĐƯỜNG BĂNG, gọi chung các đường cất cánh, hạ cánh, đường lăn chính, đường lăn phụ, đường tắt (đường lăn cao tốc, đường lăn nối) và sân chuẩn bị cất cánh, phục vụ cho việc di chuyển, cất cánh, hạ cánh của máy bay; thành phần chủ yếu của sân bay cố định. Kích thước và chất lượng ĐB phụ thuộc vào cấp sân bay và loại máy bay có thể cất, hạ cánh. Mặt ĐB thường được làm bằng bê tông xi măng hoặc bê tông átphan. mặt ĐB dã chiến bằng đất gia cố hoặc lát các tấm kim loại.

        ĐƯỜNG BIÊN GIỚI ÔĐE - NAIXƠ, đường biên giới giữa Ba Lan và Đức sau CTTG-II, do LX đề xuất tại hội nghị Crưm (4-11.2.1945) và những người đứng đầu chính phú các nước lớn chiến thắng (LX, Mĩ, Anh) thỏa thuận hoạch định tại hội nghị Pôtxđam (17.7-2.8.1945). ĐBGO-N kéo dài từ phía tây Xvinhminde trên bờ biển Bantich xuống phía nam, chạy dọc sông Ôđe và phía tây sông Naixơ đến biên giới See. Được CHDC Đức công nhận 1950, CHLB Đức cũ (Tây Đức) công nhận 1970. Chính thức dược CHLB Đức bảo đảm sau khi nước Đức thống nhất 1990.

        ĐƯỜNG BIÊN GIỚI QUỐC GIA X. BIÊN GIỚI QUỐC GIA

        ĐƯỜNG BÌNH ĐỘ, đường vẽ trên bản đồ, nối các điểm có cùng độ cao tuyệt đối trên mặt đất. Tập hợp các ĐBĐ thể hiện dáng đất. ĐBĐ được dùng để xác định độ dốc mặt đất. độ cao các điểm địa hình, lập sơ đồ mặt cắt địa hình...

        ĐƯỜNG BỘ BINH, đường dành cho các đơn vị bộ binh hành quân chiến đấu, vận chuyển vũ khí trang bị, lương thực, thực phẩm, tải thương... từ phía sau ra phía trước và ngược lại, từ vị trí tập kết tới vị trí chiến đấu, phát triển chiến đấu và rút quân. ĐBB phải bảo đảm thuận tiện cho cơ động, gùi thồ kín đáo, bí mật cho trán chiến đấu (chiến dịch) và an toàn cho bộ đội.

        ĐƯỜNG CHÂN TRỜI, 1) (ĐCT thực, ĐCT thiên văn, ĐCT toán học), vòng tròn lớn, giao tuyến của thiên cầu với mặt phẳng ngang qua điểm quan sát; 2) (ĐCT biểu kiến, ĐCT nhìn thấy), đường giới hạn phần bề mặt Trái Đất có thể quan sát được khi không bị hạn chế tầm nhìn (ở nơi quang đãng hay trên mặt biển). bán kính ĐCT nhìn thấy, hay cự li quan sát (D), phụ thuộc độ cao điểm quan sát và có thể xác định theo công thức D=3,83h0,5 (trong đó D tính bằng kilômét, h là độ cao điểm quan sát so với mặt đất tính bằng mét).

        ĐƯỜNG CHIẾN DỊCH, đường quân sự phục vụ cho cơ động, vận chuyển QS, triển khai bố trí chiến dịch. ĐCD gồm: các đường dọc, đường ngang, đường vu hồi. thọc sâu chiến dịch... ĐCD thường được chuẩn bị và làm từ thời bình hoặc trước khi mở chiến dịch và trong quá trình chiến dịch. ĐCD phải bảo đảm lưu lượng hành quân cơ động hai chiều trong các điều kiện thời tiết khác nhau cho các loại xe và binh khí kĩ thuật tham gia chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:14:23 AM

        ĐƯỜNG CHIẾN LƯỢC, đường quân sự phục vụ cho cơ động, vận chuyển chiến lược, triển khai bố trí chiến lược và các cơ sở kinh tế (cấp chiến lược) khi chuyển sang thời chiến và trong chiến tranh. ĐCL thường được chuẩn bị và làm trong thời bình theo kế hoạch quốc phòng có kết hợp phục vụ kinh tế quốc dân, được hoàn thiện và phát triển trong thời chiến, thuộc loại đường tiêu chuẩn và dưới tiêu chuẩn (đường Hồ Chí Minh trong KCCM). ĐCL phải bảo đảm cho tất cả các loại xe QS và binh khí kĩ thuật hành quân cơ động hai chiều, mật độ cao, đạt tốc độ quy định trong mọi điều kiện thời tiết.

        ĐƯỜNG CHIẾN THUẬT, đường quân sự phục vụ cho cơ động, vận chuyển, triển khai đội hình chiến đấu. ĐCT gồm: đường dọc, đường ngang, đường mòn... được sử dụng trên địa bàn chiến thuật. ĐCT thường là loại đường quân sự làm gấp hoặc sửa chữa, nâng cấp đường có sẵn để bảo đảm cơ động trong một thời gian nhất định.

        ĐƯỜNG CÔNG VỤ, đường làm tạm, chủ yếu là phát quang cây cối, dọn mặt bằng bảo đảm độ dốc tối thiểu để tập kết lực lượng, vật tư và khí tài, xe, máy thi công, chuẩn bị cho mở đường chính thức. ĐCV có thể là một tuyến độc lập, hoặc hình thành trước trên tuyến đường chính sẽ mở. Thông thường các đường giao liên, đường lâm nghiệp, đường mòn hoặc đường cũ (không hoặc ít sử dụng) được chọn để làm ĐCV.

        ĐƯỜNG CƠ BẢN, 1) đường hoặc hệ thống đường chính và các công trình trên đó (cầu cống, bến vượt...) dùng để bảo đảm vận chuyển và cơ động trong tác chiến; 2) đường được xây dựng cơ bản từ nền, móng đến mặt đường và các công trình trên đường đáp ứng những tiêu chuẩn kĩ thuật nhất định về xây dựng đường giao thông của nhà nước. Trong KCCP và KCCM, nhiều đơn vị LLVTND VN (lực lượng công binh là nòng cốt) dã tiến hành xây dựng hàng chục nghìn kilômét đường quân sự làm gấp (đường dã chiến) và nhiều trục ĐCB ở hậu phương và từ hậu phương ra chiến trường, trong đó có tuyến đường vận tải chiến lược phía Đông Trường Sơn đi từ Bến Tắt (nam Vĩnh Linh) đến Lộc Ninh có tổng chiều dài 1.199 km.

        ĐƯỜNG CƠ ĐỘNG, đường dùng cho các đơn vị LLVT hành quân, làm nhiệm vụ chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, hoặc thay đổi đội hình chiến đấu, vận chuyển hậu cần. Trong tác chiến, ĐCĐ thường là đường dã chiến (đường quân sự làm gấp) hoặc đường đã có sẵn được sử dụng vào mục đích QS. Ở quy mô chiến lược, ĐCĐ đồng thời là đường vận chuyển chiến lược. ĐCĐ gắn liền với các công trình trên đường (cầu, bến vượt sông). Chất lượng đường cùng với các biện pháp tổ chức bảo đảm đường trong tác chiến có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cơ động lực lượng.

        ĐƯỜNG CƠ SỞ, đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 để làm căn cứ xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa). ĐCS có hai loại: ĐCS thông thường (xác định theo ngấn nước thủy triều thấp nhất ở những nơi bờ biển bằng phẳng, ổn định, ít bị chia cắt) và ĐCS thẳng (xác định theo các đoạn thẳng nối liền các điểm nhô ra nhất ở những nơi mà bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm, không ổn định hoặc có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển...); một quốc gia có thể sử dụng cả hai loại ĐCS. 12.11.1982 chính phủ CHXHCN VN đã ra tuyên bố về ĐCS để tính chiều rộng của lãnh hải VN: “lãnh hài của nước CHXHCN VN rộng 12 hải lí, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra”.

        ĐƯỜNG DỌC, đường đi từ hậu phương ra tiển tuyến được sử dụng để cơ động lực lượng, vận chuyển binh lực, vật chất và phát triển chiến đấu. Trong tác chiến từ cấp trung đoàn trở lên thường xác định từ 1 đến một số ĐD. Có ĐD: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. ĐD chiến thuật là đường từ cơ sở hậu cần, trận địa phía sau của cấp chiến thuật (từ trung đoàn đến sư đoàn) lên các trận địa phía trước. ĐD chiến dịch là đường từ căn cứ hậu cần, khu vực tập kết chiến dịch hoặc các khu căn cứ, các căn cứ hậu cần chiến lược phía trước, tới các căn cứ hậu cần cấp chiến thuật. ĐD chiến lược là đường từ hậu phương chiến lược, tới các căn cứ hậu cần chiến dịch, các căn cứ hậu cần chiến lược phía trước. Trong KCCM, quân dân ta với lực lượng bộ đội công binh là nòng cốt đã mở hệ thống đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn gồm nhiều ĐD và nhiều đường ngang, tạo nên mạng đường liên hoàn từ hậu phương miền Bắc (nam Quân khu 4) tới các chiến trường Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Hạ Lào và đông bắc Campuchia.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:15:51 AM

        ĐƯỜNG ĐẠN, đường chuyển động của khối tâm đạn, tên lửa không điều khiển từ điểm bắn (phóng) đến điểm gặp mục tiêu (điểm nổ). ĐĐ được xác định bằng tính toán lí thuyết theo các công thức của thuật phóng ngoài hoặc bằng thực nghiệm nhờ đo đạc quỹ đạo. Đối với hỏa khí mặt đất tùy theo góc bắn chia thành: ĐĐ căng (góc bắn <20°), ĐĐ cong (góc bắn 20-45°), ĐĐ cầu vồng (góc bắn > 45°). ĐĐ của pháo mặt đất gồm hai nhánh: nhánh lên từ điểm phóng tới đỉnh ĐĐ, nhánh xuống từ đỉnh ĐĐ tới điểm rơi. ĐĐ của pháo phòng không chỉ có nhánh lên. ĐĐ của đạn phản lực (tên lửa không điều khiển) gồm hai đoạn: đoạn tích cực hay chủ động (động cơ còn hoạt động) và đoạn thụ động (bay tự do theo quân tính). Các loại đạn có điểu khiển không bay theo quy luật ĐĐ. Cg quỹ đạo đạn.

        ĐƯỜNG ĐÁY TRẮC ĐỊA, khoảng cách giữa hai điểm trắc địa được đo với độ chính xác cao, dùng làm độ dài chuẩn để tính khoảng cách các cạnh khác trong mạng lưới khống chế trắc địa.

        ĐƯỜNG ĐẲNG NHIỆT, đường cong trên bán đồ địa lí, bản đồ khí tượng... nối các điểm có cùng nhiệt độ trung bình của một đối tượng nghiên cứu (không khí, nước, đất) trong cùng một thời kì nhất định. Để loại trừ ảnh hưởng của độ cao (trung bình cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm đi 0,6°C), giá trị nhiệt độ được quy về cho mực nước biển trung bình.

        ĐƯỜNG ĐẲNG SAI, đường nối các điểm trên bản đồ có cùng trị số biến dạng (về chiều dài, diện tích, góc) do phép chiếu bản đồ gây ra. Các loại sai số biến dạng của hình chiếu vào bản đồ được phản ánh bằng ĐĐS tỉ lệ chiều dài, ĐĐS tỉ lệ diện tích và ĐĐS góc. Hình dáng ĐĐS phụ thuộc phương pháp chiếu hình bản đồ. Trên bản đổ chiếu hình hình nón, các ĐĐS có dạng các cung tròn đồng tâm; trên bản đồ chiếu hình hình trụ là các đường thẳng song song.

        ĐƯỜNG ĐẲNG SÂU, đường vẽ trên hải đồ nối các điểm có cùng độ sâu tương ứng với số “0” hải đồ. Mực nước số “0” ở biển không có thủy triều được tính theo mực nước biển trung bình, ở biển có thủy triều theo mực nước thấp nhất của nước ròng, ở hổ và sông theo mực “0” quy ước. Tương tự như đường bình độ (đường đẳng cao) trên bản đồ địa hình, ĐĐS thể hiện hình dạng chung của đáy. Khoảng cách giữa các ĐĐS được tô màu xanh đậm dần theo độ sâu.

        ĐƯỜNG ĐỘC ĐẠO, đường duy nhất đi qua khu vực địa hình, thường là nơi có địa hình phức tạp như khe núi, thung lũng, đầm lầy... ĐĐĐ ở nơi trống trải có thể là cầu, đập nước, bến lội, đường qua đầm lầy...; ĐĐĐ ở nơi kín đáo có thể là đường qua hẻm núi, đèo, rừng rậm... Khi cơ động trên ĐĐĐ thường phải thu hẹp đội hình, gặp khó khăn khi triển khai lực lượng, tốc độ hành quân chậm, dễ ùn tắc và bị đối phương phục kích, đánh phá, ngăn chặn.

        ĐƯỜNG ĐỔI NGÀY, đường quy ước trên bề mặt Trái Đất phân chia một múi giờ thành hai vùng có thời gian lịch tại mọi thời điểm chênh nhau một ngày. Theo quy ước quốc tế thống nhất, ĐĐN được lấy theo kinh tuyến 180°, có điều chỉnh qua eo biển Bêrinh và một số quần đảo trên Thái Bình Dương (Phigi, Niu Dilân) để tránh việc lãnh thổ của một số quốc gia tại một thời điểm có hai ngày khác nhau. Các điểm gãy khúc của ĐĐN (từ bắc xuống nam) lần lượt có tọa độ 75° bắc, 180°; 68° bắc, 169° tây; 65° bác, 169° tây; 52°3 bắc, 170° đông; 48° bắc, 180°; 5° nam, 180°;15°3 nam, 172°3 tây; 45°3 nam, 172°3 tây; 1°3 nam, 180°. Các phương tiện giao thông (máy bay, tàu thủy) khi vượt qua ĐĐN từ tây sang đông phải điều chỉnh  lịch lùi lại một ngày, ngược lại, từ đông sang tây phải tăng thêm một ngày. Do quy ước này, một sự kiện có thể bắt đầu vào một thời điểm thuộc ngày hôm sau và kết thúc vào một thời điểm muộn hơn nhưng thuộc ngày hôm trước.

        ĐƯỜNG GIAO LIÊN, đường bộ, đường thủy dùng vào mục đích đưa đón cán bộ, các đơn vị bộ đội đi chiến trường hoặc hoạt động trong vùng địch, gần địch và vận chuyển công văn tài liệu; hình thành từ đầu KCCP. ĐGL len lỏi qua nhiều vùng dân cư và địa hình địch khó kiểm soát, bí mật cao. ĐGL phát triển manh trong KCCM ở miền Nam, từ các cơ sở và căn cứ CM ở đồng bằng, trung du, miền núi nối vào tuyến giao liên chiến lược Bắc - Nam, đi dọc theo dãy Trường Sơn ra tới miền Bắc, hình thành hệ thống ĐGL toàn quốc, chia thành nhiều cung, trạm. Mỗi cung, trạm có lực lượng bảo đảm phục vụ, được tổ chức chặt chẽ.

        ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG, đường bay thường xuyên của các loại máy bay (có giới hạn về độ cao và chiều rộng) nối liền hai hay nhiều khu vực có các sân bay, các phương tiện thông tin liên lạc, kĩ thuật vô tuyến điện (các đài dẫn bay) và thông báo khí tượng,... đảm bảo an toàn cho các chuyến bay. Có ĐHK quốc tế, ĐHK nội địa (gồm ĐHK trung ương và ĐHK địa phương). Trong thời bình, các máy bay QS phải bay theo ĐHK đúng quy định. Cg hành lang bay.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:17:08 AM
       
        ĐƯỜNG HÀNH QUÂN, đường cơ động để di chuyển bộ đội đến địa điểm khác để thực hiện nhiệm vụ được giao. Được vạch ra trên bản đồ, có đánh dấu các địa điểm phải qua. ĐHQ phải bảo đảm bí mật, tốc độ hành quân. Chọn ĐHQ nên tránh các điểm dân cư lớn, các đầu mối giao thông, bến cảng, sân bay.

        ĐƯỜNG HẨM QUÂN SỰ, công sự đào moi trong lòng đồi núi, đất, lợi dụng lớp đất đá tự nhiên trên nóc có chiều dày tương đối lớn để làm lớp bảo vệ chống đỡ bom đạn. ĐHQS thường có hai bộ phận chính là thân hầm và cửa hầm. Hình thức kết cấu có hình vòm vách thẳng, vòm chữ U và hình tròn. Khẩu độ và độ dài được xác định tùy theo yêu cầu. Theo công dụng, có: đường hầm SCH, đường hầm bộ binh, đường hầm pháo binh, đường hầm máy bay...; theo tính chất công trình, có: đường hầm dã chiến (chống bằng khung gỗ), đường hầm lâu bền (đổ bê tông nguyên khối, bê tông cốt thép lắp ghép...). Trong đường hầm thường có các ngách làm nơi để đạn dược, lương thực, nghỉ ngơi... Đường hầm chiến đấu thường kết hợp làm công sự bắn, quan sát hoặc thông sang các trận địa khác, có ngách lên đài quan sát. Những đường hầm phòng độc tập thể có lối đi phòng độc, có lắp cửa nặng để chống sóng xung kích, cửa nhẹ (kín) và có thiết bị thông gió, lọc độc. Thi công ĐHQS đòi hỏi kĩ thuật cao, thời gian dài, tốn kém, vì vậy thường được xây dựng trong thời bình.

        ĐƯỜNG HẺM, đường hẹp, hai bên đường là chướng ngại tụ nhiên hoặc nhân tạo. Thường là đường độc đạo, có thể ở thành phố (hẻm, ngõ), miền núi và đồng bằng (cầu, đập nước, bến lội). ĐH có một ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong chiến tranh du kích, đánh phục kích. Trong phòng ngự, có thể giữ vững ĐH bằng lực lượng nhỏ, dựa vào các công trình trên đường, xây dựng vật cản, bố trí phục kích. Trong tiến công, bộ đội buộc phải khắc phục sửa chữa lại hoặc phải thu hẹp đội hình để vượt qua ĐH.

        ĐƯỜNG HỔ CHÍ MINH TRÊN BIỂN, tuyến vận tải biển chiến lược từ miền Bắc vào một số tỉnh miền Nam trong KCCM. Được mở chính thức theo quyết định của BCT BCHTƯ Đảng 26.10.1961, với lực lượng vận tải nòng cốt là Đoàn 759 (sau đổi thành Đoàn 125 thuộc BTL hải quân). Trước đó (cuối 1959), một chuyến thử nghiệm được tổ chức nhưng không thành công. Theo chỉ thị của BCT (7.1961), lần lượt một số tỉnh miền Nam cử các đội thuyền ra Bắc nhận vũ khí và trở về an toàn (Bến Tre 11.6.1961, Cà Mau 7.8.1961, Bà Rịa 18.8.1961...). Ngày 14.9.1962 tàu Phương Đông 1 của Đoàn 759 thực hiện thành công chuyến vận chuyển đầu tiên từ cảng Đồ Sơn đến bến Vàm Lũng (t. Cà Mau). Đến 1963 trên 1.300t vũ khí đã được vận chuyển cho các tỉnh Nam Bộ. Đến 2.1965 toàn tuyến đã thực hiện thành công 88 chuyến với trên 5.000t được vận chuyển. 15.2.1965 sau sự kiện Vũng Rô, Mĩ và QĐ Sài Gòn mở chiến dịch “Phiên chợ” để ngăn chặn. Tuyến đường được mở rộng ra hải phận quốc tế, đến gần vùng biển Philippin, Malaixia, Inđônêxia. 1973 ĐHCMTB tạm ngừng hoạt động, sau khi tổ chức được 1.879 lượt tàu thuyền, vận chuyển 152.876t vũ khí trang bị kĩ thuật, thuốc chữa bệnh, 80.026 cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam, chiến đấu hàng trăm trận với máy bay tàu chiến của Mĩ và QĐ Sài Gòn.

        “ĐƯỜNG KÁCH MỆNH”, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, gồm những bài giảng tại các lớp huấn luyện của Hội VN CM thanh niên ở Quảng Châụ,(TQ), do Bộ tuyên truyền Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản 1927. “ĐKM”, văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của các lực lượng yêu nước và CM VN cuối thập ki 20 của tk 20, giải quyết nhiều vấn đề cơ bản đặt ra cho lực lượng CM lúc đó. về lí luận CM: CM VN là một bộ phận của CM thế giới, muốn thành công, trước hết phải có Đảng CM theo chủ nghĩa Lênin và Đệ tam quốc tế. về con đường CM: đi theo con đường CM tháng Mười Nga, con đường đúng đắn duy nhất của CM VN. Về lực lượng CM: công, nông, tiểu tư sản là lực lượng của CM VN, trong đó công, nông là lực lượng cơ bản. Phương pháp tiến hành CM: đồng tâm hiệp lực, quyết chí đứng lên thay thế xã hội cũ bằng xã hội mới. Đó cũng là những vấn đề cơ bản định hướng cho đường lối CM của ĐCS VN.

        ĐƯỜNG LÂM (Kẻ Mía), làng thuộc q. Đường Lâm (vùng tx Sơn Tây, các huyện Phúc Thọ, Ba Vì, t. Hà Tây); nay là xã Đường Lâm, tx Sơn Tây, t. Hà Tây. Nằm ở hữu ngạn Sông Hồng, trên QL 32 (km 47), cách trung tâm tx Sơn Tây 6km, tây bắc Hà Nội 52km. Quê hương các Ah dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền. Điểm du lịch bảo tồn văn hóa làng cổ vùng trung du Bắc Bộ.

        “ĐƯỜNG LÍ VẤN ĐỐI”, binh thư nổi tiếng thời cổ TQ, một trong “Vũ kinh thất thu’', do Nguyễn Dật thời Bắc Tống viết dưới hình thức vấn đáp giữa vua Đường Thái Tông và Lí Tịnh. Tác phẩm đi sâu giải thích “Binh pháp Tôn Tử” có nhiều điểm vượt hơn người trước và thông qua trình bày các chiến lệ nhằm làm rõ nguyên tắc chiến thuật như quan hệ biến hóa giữa kì và chính, giữa hư và thực, nhấn mạnh điểm thời chốt là “điều động địch mà không để địch điều động mình”, cung cấp nhiều kiến thức về binh chế và trận pháp cổ... Tuy còn một số điểm phiến diện và sai lầm, song vẫn là một tác phẩm có giá trị.

        ĐƯỜNG LIÊN LẠC nh ĐƯỜNG TRUYỂN TIN

        ĐƯỜNG LỐI, tổng thể những nội dung về phương hướng, nhiệm vụ, nguyên tắc, lực lượng, phương châm chỉ đạo và chủ hương chiến lược của chính đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xác định trong một thời kì nhất định; làm căn cứ để xây dựng chính sách, biện pháp thực hiện mục tiêu. Có: ĐL chung (tổng quát, chỉ đạo chung); ĐL riêng (từng lĩnh vực cụ thể) như: ĐL QS, ĐL kinh tế, ĐL đối ngoại... Hoạch định ĐL là công việc hệ trọng hàng đầu của một chính đảng, một nhà nước; phải xuất phát từ thực tiễn, có căn cứ khoa học và phù hợp điều kiện lịch sử cụ thể. ĐL chi phối trực tiếp quá trình thực hiện mục tiêu; ĐL đúng là nhân tố có ý nghĩa quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu. (Xt đường lối quân sự của Đảng cộng sấn Việt Nam)


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:18:06 AM

        ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, phương hướng chính trị và hệ thống các quan điểm, tư tưởng , nguyên tắc, phương châm chỉ đạo và chủ trương lớn của ĐCS VN trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh CM, xây dựng và củng cố quốc phòng nhằm giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc VN XHCN. Nội dung bao gồm toàn bộ các vấn đề về xác định mục đích chính trị, tính chất, đặc điểm của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh CM và củng cố quốc phòng; về đối tượng tác chiến chiến lược, nhiệm vụ QS của nhà nước và của LLVT; về xây dựng LLVT, xây dựng căn cứ hậu phương, xây dựng nền quốc phòng; về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật QS... được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của ĐCS VN từ 1930 đến nay; một bộ phận quan trọng của đường lối chính trị (đường lối CM) và phục tùng đường lối chính trị (đường lối CM) của ĐCS VN, nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kì CM. ĐLQSCĐCSVN được đề ra trên cơ sở đường lối chính trị (đường lối CM) của ĐCS VN, lí luận QS của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng CM và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, kế thừa và phát triển lên một trình độ mới chất lượng mới những truyền thống QS lâu đời của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học, nghệ thuật QS và kinh nghiệm QS tiên tiến của thế giới và luôn được bổ sung, làm phong phú thêm bằng những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh CM và củng cố quốc phòng của nhân dân VN dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN. ĐLQSCĐCS VN đã hình thành và phát triển từng bước qua các thời kì CM. Thời kì đấu tranh đánh đổ chế độ thống trị thực dân và phong kiến giành độc lập dân tộc, chính quyền nhân dân, thực hiện dân chủ theo đường lối CM DTDC nhân dân (1930-45), thời kì hình thành và phát triển đường lối chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang ừong điểu kiện của một nước thuộc địa nứa phong kiến (đặc biệt là những năm trực tiếp chuẩn bị tổng khởi nghĩa 1939-45). Đó là đường lối khởi nghĩa toàn dân với nội dung cơ bản là đẩy mạnh đấu tranh chính trị rộng khắp kết hợp với đấu tranh vũ trang từ thấp lên cao, thực hành khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền ở từng địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước khi có thời cơ thuận lợi; động viên toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp trên cơ sở đó xây dựng LLVTND với nhiều hình thức tổ chức từ thấp lên cao; từ cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang bí mật, khu du kích tiến lên xây dựng các căn cứ du kích, dần dần mở rộng và nối liền thành khu giải phóng, làm cho căn cứ địa CM ngày càng lớn mạnh. Thời kì KCCP (1945-54), ĐLQSCĐCSVN là đường lối chỉ dạo một cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài để bảo vệ nền độc lập mới giành được, thực hiện triệt để mục tiêu CM DTDC nhân dân, chống chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ của đế quốc Pháp trong điều kiện chính quyền CM còn rất non trẻ. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, lấy LLVT gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc: lấy đấu tranh vũ trang làm hình thức chủ yếu, kết hợp với đấu tranh chính trị ở vùng sau lưng địch, coi trọng đấu tranh với địch trên mặt trận kinh tế, văn hóa, ngoại giao; phát triển lực lượng chính trị và LLVT quần chúng, xây dựng QĐND lớn mạnh bao gồm bộ đội chủ lực với những binh đoàn bộ binh tinh nhuệ và một số binh chủng quan trọng, bộ đội địa phương; xác định bản chất giai cấp, nhiệm vụ, chức năng của QĐND (LLVT); củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị trong LLVT; xây dựng và phát triển căn cứ  địa CM ở cả rừng núi và đồng bằng, xây dựng và củng cố vùng tự do thành hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến, đồng thời phát triển căn cứ địa ở vùng sau lưng địch; kết hợp tiến công địch cả QS, chính trị, ngoại giao, đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và binh vận, phát triển chiến tranh du kích tiến lên kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy... Thời kì cả nước đồng thời làm hai nhiệm vụ chiến lược CM, KCCM (1952-75), ĐLQSCĐCSVN là đường lối quốc phòng toàn dân bảo vệ miền Bắc XHCN, làm hậu thuẫn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; xây dựng LLVTND với ba thứ quân, có lực lượng thường trực và lực lượng dự bị mạnh, xây dựng QĐND từng bước chính quy, có các quân chúng, binh chủng hiện đại. Đó còn là đường lối khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc, chống chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mĩ ở miền Nam kết hợp với chiến tranh nhân dân bảo vệ CNXH chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ở miền Bắc. Ở miền Bác, thực hiện toàn dân đánh máy bay, tàu chiến, làm giao thông vận tải, phòng không nhân dân; vừa chiến đấu vừa sản xuất, chuyển hướng kinh tế phục vụ quốc phòng và xây dựng CNXH, làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, căn cứ địa CM của cả nước và nhiệm vụ quốc tế; phát triển nghệ thuật QS, sáng tạo các phương thức tác chiến để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ. Ở miền Nam thực hiện toàn dân đánh giặc, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến công và nổi dậy; xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu với những đội quân chính trị làm nòng cốt, xây dựng LLVT mạnh với bộ đội chủ lực thiện chiến và ngày càng hiện đại, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, du kích rộng khắp; xây dựng cơ sở chính trị và căn cứ địa kháng chiến trên cả ba vùng chiến lược, mở ra nhiều vùng giải phóng làm hậu phương tại chỗ ở miền Nam cùng với phát huy vai trò của hậu phương lớn miền Bắc; kết hợp tác chiến du kích với tác chiến tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh bằng bộ đội tinh nhuệ, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ của nhân dân, kết hợp đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược... Thời kì xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN thông nhất (từ 1976), ĐLQSCĐCSVN là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc, nhằm thực hiện mục tiêu của CM XHCN và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Đó là kết hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ; xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, củng cố quốc phòng với xây dựng kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng bằng sức mạnh tổng hợp của cả kinh tế, chính trị, tinh thần, khoa học kĩ thuật, đối ngoại, an ninh và QS; xây dựng tinh, thành phố thành những khu vực phòng thủ vững chắc, bố trí chiến lược hợp lí tạo thành thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh; nâng cao chất lượng và sức mạnh chiến đáu của các LLVT... Trong thực tiễn lịch sử đấu tranh CM lâu dài của nhân dân VN, ĐLQSCĐCSVN đã trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh CM giải phóng dân tộc và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc VN trong thời đại mới.


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:20:00 AM

        ĐƯỜNG MÉP NƯỚC, đường biểu thị ranh giới tiếp giáp giữa mặt đất và mặt nước. Ở những nơi có thuỷ triều, ĐMN ứng với độ cao bằng không.

        ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH (đường Trường Sơn), tuyến đường vận tải QS chiến lược từ miền Bắc đến các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia trong KCCM. Được xây dựng trên cơ sở đường giao liên Thống Nhất (đường đưa đón cán bộ) hình thành sau 1954; do Đoàn 559 phụ trách. Gồm hệ thống đường bộ (đường ô tô, giao liên bộ, gùi thổ), đường thủy và đường ống xăng dầu chạy dọc theo dãy Trường Sơn. Khởi công xây dựng 6.1959 từ Khe Hó (Vĩnh Linh, t. Quảng Trị), liên tục được phát triển trong suốt cuộc kháng chiến. Tổng chiều dài đường vận tải bộ và hành quân cơ giới gần 17.000km, gồm nhiều trục dọc, trục ngang ở cả đông và tây Trường Sơn, qua các trọng điểm nổi tiếng: cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, Lùm Bùm, Văng Mu, Tha Mé. Xiêng Phan... Đường giao liên bộ dài trên 3.000km, xuất phát từ Bãi Hà (t. Quảng Trị) đến Đông Nam Bộ. Đường gùi thồ chủ yếu dựa vào đường giao liên bộ, có cải tạo để phù hợp với phương tiện gùi thồ. Đường ống dẫn xăng dầu dài gần 1.400km, được xây dựng 6.1968 từ Khe Hó đến Lộc Ninh, gồm 46 kho với sức chứa 17.050t, 113 trạm bơm đẩy và cấp phát. Đường thủy lợi dụng các đoạn sông Xê Băng Hiêng, Xê Công, Mê Công... để thả gạo, xăng theo dòng chảy hoặc vận chuyển hai chiều bằng ca nô, thuyền gắn máy. Dọc tuyến đường còn có hệ thống bảo đảm kĩ thuật, hệ thống kho tàng, bệnh viện quân y, hệ thống thông tin liên lạc với gần 1,350km đường thông tin tải ba, 14.000km đường thông tin hữu tuyến dây bọc. Trong quá trình xây dựng ĐMHơn, Đoàn 559 đã đào đắp khoảng 21 triệu m3 đất đá để làm đường, lấp hố bom bằng cả sức người và phương tiện cơ giới, làm 13.418m cầu, trên 10.000 cống với 9,520 triệu ngày công. Trong 16 năm liên tục, lực lượng vận tải toàn tuyến đã vận chuyển trên 1 triệu tấn vũ khí và phương tiện vật chất, vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đoàn binh khí kĩ thuật, bảo đảm hành quân cho hơn 2 triệu lượt người qua lại. Mĩ đã tiến hành trên 150.000 trận đánh phá bằng không quân, trong đó sử dụng hàng vạn lần chiếc máy bay B-52, ném xuống tuyến đường hơn 4 triệu tấn bom đạn trong tổng số trên 7 triệu tấn sử dụng trên toàn chiến trường VN, rải chất độc làm trụi lá cây, gây mưa nhân tạo, lập hàng rào điện tử, tiến hành trên 120 cuộc hành quân đánh phá, 1.235 vụ biệt kích. Trong chiến đấu bảo vệ giao thông, bộ đội Trường Sơn đã bắn rơi 2.455 máy bay, diệt 1 trung đoàn, 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 5 trung đoàn bộ binh, diệt 16.900, bắt 1.190 địch, thu và phá hủy hơn 100 xe QS. Hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn anh dũng hy sinh, 3 vạn người bị thương; 14.500 xe máy các loại, 400 khẩu pháo, 9 vạn tấn hàng bị phá hỏng và phá hủy . ĐMHCM ghi vào lịch sử dân tộc ta như một con đường huyền thoại, một kì tích của cuộc KCCM (xt minh họa giữa trang 512 và 513).

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66721518_450419419021277_4876272767118344192_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_oc=AQkgu21KnxJalUx3W9hmBAnDbK93-boObloI-sq9CSUodWiDr0wBaseWECv8YzhJBjQ&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=96012dca0bb3053a21bf99adec1dd1a6&oe=5DC187A3)

Một đoạn đường mòn Hồ Chi Minh
(ảnh chụp từ trên không)


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:21:41 AM
          
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66449760_450419429021276_7300245922640822272_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQlJYC50egw239RK9Se5V4cbhfRGEvWxcEVGoazOr9lK1NVnAbnBLbgNr9vg8PYLKF0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=4b7bfdf1879c5abeb4bd7556d1868195&oe=5DBDA1E8)

BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/67122619_450419452354607_5503699259213479936_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQn2RMZpfxHQeTOV0t46JOBGSVfwi5LGGNVPYjwMDEWyQAXZf_iHl3WOquymStsCVxY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=5f45ba0c8b50ac3666d3201d6e32309d&oe=5DB26C2C)

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/66420723_450419472354605_3053462782402887680_n.jpg?_nc_cat=102&_nc_oc=AQmHjr9auG4qiSk68Tq2eQMEKy_rIF4VHriEWo-ezq5cs_uh4rPOaDLK6_OKnSx9x2w&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=3544279da255472d787d406dd7d16cf2&oe=5DB3EBB5)
       


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:24:43 AM

        ĐƯỜNG NGANG, đường nối các đường dọc với nhau hoặc nối từ đường dọc tới các căn cứ hậu cần, dùng để cơ động lực lượng, vận chuyển phương tiện vật chất tới các khu vực trong địa bàn tác chiến, các chiến trường; bố trí, triển khai lực lượng của các đơn vị. Có ĐN: cấp chiến thuật, cấp chiến dịch và cấp chiến lược. ĐN cấp chiến thuật (ĐN của cấp binh đội, binh đoàn trong chiến đấu phòng ngự) đi qua các khu vực phòng ngự chủ yếu, các trận địa pháo binh và căn cứ hậu cần - kĩ thuật. ĐN chiến dịch (ĐN của cấp liên binh đoàn) có thể có 1, 2 hay nhiều đường, thường đi qua các khu vực phòng ngự, các cụm pháo binh chiến dịch và các căn cứ hậu cần chiến dịch. ĐN chiến lược là các trục đường cơ động, vận chuyển nối các trục đường dọc chiến lược trong thế bố trí chung, thường nối từ trục đường dọc chiến lược về một số hướng tác chiến (chiến trường). Trong nhiều trường hợp, ĐN chiến lược có thể trở thành đường dọc chiến lược (như ĐN B70, B71 trong mạng đường chiến lược Trường Sơn trong KCCM).

        ĐƯỜNG NHÁNH, đường quân sự thuộc phạm vi khu vực chiến đấu của cấp phân đội, binh đội để triển khai lực lượng vào vị trí chiến đấu. Trong tiến công, làm ĐN để triển khai đội hình chiến đấu tiểu đoàn, đại đội và trung đội. ĐN thường là đường quân sự làm gấp, chủ yếu do các đơn vị tự làm. Cg đường triển khai.

        ĐƯỜNG PHÁT QUANG BIÊN GIỚI, công trình kĩ thuật bào vệ biên giới để tạo thuận lợi cho việc quan sát bảo vệ biên giới quốc gia. nhận biết đường biên giới quốc gia trên thực địa, phát hiện những vi phạm quy chế biên giới, những thay đổi của đường biên giới. ĐPQBG chạy dọc theo biên giới quốc gia, được quy định và lập ra theo các hiệp định biên giới giữa các nước có chung biên giới; chiều rộng tối đa 5m; thường được xây dựng ở những nơi rừng núi rậm rạp hoặc những nơi đặc biệt; luôn được duy trì trong chế độ trật tự hoàn toàn và phát quang các cây, cành lá, bụi cây làm cản trở việc quan sát biên giới. Các bên thỏa thuận việc trồng trọt, khai hoang, xây dựng các công trình bảo vệ biên giới và các công trình khác trên ĐPQBG; thỏa thuận việc kiểm tra, bảo dưỡng duy trì ĐPQBG.

        ĐƯỜNG PHÂN THỦY, đường phân chia dòng nước chảy trên mặt đất theo hai sườn dốc khác chiều nhau. ĐPT thường trùng với đường sống núi.

        ĐƯỜNG QUÂN SỰ, đường bộ dùng vào mục đích QS như cơ động, triển khai lực lượng; vận chuyển hàng QS; chở thương binh, bệnh binh ra khỏi khu vực tác chiến... ĐQS có thể là đường sẵn có (đường quốc gia, đường liên tỉnh, tỉnh, huyện...) hoặc làm mới theo nhu cầu chiến tranh (tác chiến). ĐQS được phân loại theo hướng (đường dọc, đường ngang), theo cấp quản lí sử dụng (đường chiến lược, đường chiến dịch, đường chiến thuật, hay đường quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn...), theo tác dụng (đường chính, đường phụ), theo tính chất cơ động (đương cho xe bánh lốp, đường cho xe xích, đường hỗn hợp chung cho cả hai loại), theo chất lượng kĩ thuật (ĐQS tiêu chuẩn, ĐQS làm gấp). ĐQS do bộ đội công binh chuẩn bị và bảo dưỡng, khi cần có thể huy động thêm bộ binh hoặc các lực lượng của ngành giao thông cầu đường, dân quân tự vệ... tham gia.

        ĐƯỜNG QUÂN SỰ LÀM GẤP, đường quân sự thi công gấp, thời gian sử dụng ngắn phục vụ tạm thời theo yêu cầu tác chiến như cơ động lực lượng, vận chuyển, ra vào trận địa, kho tàng... khi số lượng đường có sẵn chưa đủ, có thể tận dụng đường lâm nghiệp, đường địa phương sửa chữa cải tạo thêm (như mở rộng mặt đường, hạ độ dốc, mở rộng đường vòng, làm cầu tạm hoặc ngầm qua sông suối... rải vệt, tăng cường mặt đường ở những nơi đất lầy lội, làm cống rãnh thoát nước...); trên địa hình trung bình có thể chỉ là hướng đi được đánh dấu. ĐQSLG thường do bộ đội công binh làm.

        ĐƯỜNG SẮT BẮC - NAM, tuyến đường sắt lớn nhất VN, chạy dài từ Hữu Nghị Quan (t. Lạng Sơn) đến Thành phố Hồ Chí Minh. Dài 1.896km (Hà Nội - Hữu Nghị Quan 167km, Hà Nội - tp Hồ Chí Minh 1.729km, chạy qua 24 tỉnh, thành phố, 187 ga, 1.515 cầu (nhiều cầu lớn như Long Biên, Hàm Rồng...) và 35 đường hầm. Đoạn đầu tiên khởi công xây dựng 1881 trên địa bàn Nam Kì. 5.1890 xây dựng tuyến phủ Lạng Thương (t. Bắc Giang) - Lạng Sơn khổ đường 0,6m (nâng lên lm khi khai thông toàn tuyến). Từ 1902 tiếp tục xây dựng (giai đoạn 1914-22 bị dinh trệ do ảnh hưởng của CTTG-I), lần lượt đưa vào khai thác các đoạn còn lại và một số tuyến đường nhánh. 10.1936 thông xe toàn tuyến sau khi hoàn thành đoạn cuối cùng Đà Nẵng - Nha Trang. Trong CTTG-II và KCCP, chỉ hoạt động trên từng đoạn riêng rẽ. 2.1955 khởi công khôi phục đoạn Hữu Nghị Quan - Hà Nội, 5.1964 đoạn Hà Nội - Vinh (319km). 1965-68 nâng cấp đoạn Hà Nội - Hữu Nghị Quan lên khổ 1,435m. Trong KCCM, đặc biệt là phần thuộc miền Bắc, bị phá hỏng nặng. Từ 11.1975 tiến hành khôi phục, 12.1976 thông xe toàn tuyến.

        ĐƯỜNG SẮT HÀ NỘI - HẢI PHÒNG, tuyến đường sắt nối thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, qua các tỉnh Hưng Yên. Hải Dương. Dài 102km, phần lớn chạy song song với quốc lộ 5, qua 16 ga và 10 cầu, trong đó có 3 cầu lớn (Long Biên, Phú Lương, Lai Vu). Khởi công xây dựng 12.1898, hoàn thành và đưa vào sử dụng 6.1902 như một phần của tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh do Pháp và TQ liên kết xây dụng. Trong KCCM, là một trong những tuyến vận tải chiến lược, bị không quân Mĩ thường xuyên đánh phá ác liệt.

        ĐƯỜNG SẮT HÀ NÔI - LÀO CAI, tuyến đường sắt nối thủ đô Hà Nội với tx Lào Cai (t. Lào Cai), qua các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái. Dài 295km, khổ rộng l,0m, qua 36 ga, 2 cầu lớn (Long Biên, Việt Trì). Khởi công xây dựng 12.1898, bắt đầu khai thác đoạn Hà Nội - Việt Trì 3.1903, đoạn Việt Trì - Yên Bái 7.1904, hoàn thành và đưa vào sử dụng toàn tuyến 2.1906 như một phần của tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam do Pháp và TQ liên kết xây dựng. Trong KCCP bị hư hại nặng và hoạt động gián đoạn, được khôi phục lại từ 4.1956. Trong KCCM là một trong những tuyến vận tải chiến lược quan trọng phục vụ cho việc chuyên chở hàng viện trợ quốc tế cho VN. Ngày nay là tuyến giao thông quan trọng đảm bảo lưu thông giữa Hà Nội với các tỉnh tây bắc và với Vân Nam (TQ).


Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 11:26:35 AM

        ĐƯỜNG SỐNG NÚI, đường nối các điểm có độ cao lớn nhất trong từng trắc diện ngang của quả núi, dãy núi; phân chia hai sườn đối nhau của quả núi, dãy núi. ĐSN có hình sắc cạnh hoặc dáng mềm mại, thay đổi theo thời gian do quá trình xâm thực (bào mòn) không đều ở hai bên sườn núi. Đôi khi ĐSN không rõ ràng, giữa hai sườn núi là mặt phảng dốc hay nằm ngang. Thông thường ĐSN trùng với đường phân thủy.

        ĐƯỜNG STINOEN, đường do quân Đồng minh xây dựng trong CTTG-II (mang tên tướng Mĩ Stinoen, tham mưu trưởng quân Đổng minh, tư lệnh quân Mĩ ở Ấn Độ, Mianma và TQ) nhằm bảo đảm tiếp tế từ Bănglađet qua Mianma đến TQ. Dài 766km, bắt đầu từ Leđo (đông bắc Ấn Độ), nối với Mianma ở bắc Lasiô (1944 do quân Tưởng Giới Thạch kiểm soát). Xây dựng từ 1944, hoàn thành 1.1945, lần đầu tiên đoàn xe của Đồng minh qua đường này đến Mianma rồi đến Côn Minh (TQ). Nổi tiếng vì phải vượt qua nhiều núi cao, rừng rậm và đầm lầy.

        ĐƯỜNG THIÊN LÍ, đường bộ từ Thăng Long đi các địa phương phía nam. Từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) được đắp 1375 theo chủ trương của Hồ Quỷ Li. 1402 đắp tiếp từ Tây Đô vào Hóa Châu (Huế). Các triều đại sau tiếp tục nối dài thêm về phía nam. 1809 (đời Gia Long) cho sửa chữa và nắn thẳng, bắc cầu gỗ qua các sông, dọc đường mở quân xá và trạm dịch phục vụ việc chuyển công văn. Từ thời thuộc Pháp, đường được mở rộng, lát đá, rải nhựa, xây các cầu cống và bến phà, phát triển dần thành QL 1.

        ĐƯỜNG TƠ LỤA (cổ), tuyến đường bộ giao thương Đông - Tây xuyên châu Á nổi tiếng trong thời cổ - Trung Đại. Hình thành từ tk 2tcn, dài khoảng 6.400km, từ Hoa Trung (Lạc Dương, Trường An) qua các vùng Tân Cương, Pamia. Apganixtan, Trung Á, Iran, Lưỡng Hà, đến vùng bờ biển phía đông Địa Trung Hải, sau đó nối tiếp bằng một tuyến đường thủy dẫn đến La Mã. Các đoàn thương gia qua nhiều chặng đường chuyển tiếp, đã đem tơ lựa từ TQ sang phương Tây và đem len dạ, vàng bạc từ phương Tây sang phương Đông. ĐTL suy tàn dần vào tk 7, khi các tuyến đường biển trở nên thuận tiện hơn. Hồi sinh dưới thời đế quốc Mông cổ tk 13-14. Maccô Pôlô đã sang TQ theo tuyến đường này. ĐTL còn là cầu nối giao lưu, truyền bá văn hóa, tôn giáo Đông - Tây. Tổ chức UNESCO của LHQ đang xúc tiến một dự án quốc tế nghiên cứu, khảo sát tuyến ĐTL này.

        ĐƯỜNG TRẮC ĐỊA, đường ngắn nhất nối hai điểm trên mặt cong, như cung ngắn thuộc đường tròn lớn trên mặt cầu, đoạn ngắn của đường cong xoắn (với góc nghiêng không đổi) trên mặt trụ... Pháp tuyến chính của ĐTĐ tại một điểm bất kì trùng với pháp tuyến của mặt cong tại điểm đó. Tính chất và ý nghĩa toán học của ĐTĐ trên mặt cong tương tự tính chất và ý nghĩa đoạn thẳng trên mặt phẳng. Trên mặt êlipxôit Trái Đất, ĐTĐ thường là những đường cong xoắn, trừ các đường dọc theo các kinh tuyến và đường xích đạo có dạng đường cong phẳng. Trong ngành trắc địa, khái niệm ĐTĐ được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu lí thuyết và giải các bài toán thực tiễn để chuyển đổi tọa độ các điểm từ bề mặt Trái Đất thực sang mặt êlipxôit và ngược lại.

        ĐƯỜNG TRỤC LIÊN LẠC, đường truyền tin bảo đảm liên lạc chung cho nhiều hệ (nhánh) thông tin; thành phần của hệ thống  thông tin liên lạc. Theo phương tiện, có: ĐTLL vô tuyến điện tiếp sức (vi ba), ĐTLL đối lưu, ĐTLL hữu tuyến điện, ĐTLL vận động (quân bưu). Theo quy mô, có: ĐTLL cấp chiến lược, ĐTLL cấp chiến dịch, ĐTLL cấp chiến thuật. Theo tính chất nhiệm vụ, có: ĐTLL chính và ĐTLL phụ. Trên ĐTLL thường có: trạm đầu, trạm cuối và trạm giữa (số lượng trạm giữa phụ thuộc vào cự li ĐTLL và tính năng kĩ - chiến thuật của phương tiện TILL). ĐTLL bảo đảm liên lạc cự li xa, tiết kiệm lực lượng thông tin; nhưng bị hạn chế khi một trạm hư hỏng sẽ làm nhiều đối tượng mất liên lạc. ĐTLL thường được tổ chức trên hướng di chuyển SCH hoặc hướng có nhiều đối tượng liên lạc.

        ĐƯỜNG TRUYỂN TIN, toàn bộ các thiết bị kĩ thuật và mới trường truyền tín hiệu để tạo ra một hoặc nhiều kênh liên lạc. Phân biệt theo tín hiệu, có: đường truyền điện, âm thanh và ánh sáng. Theo phương tiện sử dụng và môi trường truyền tín hiệu, có: đường truyền vô tuyến điện, đường truyền hữu tuyến điện; đường truyền hỗn hợp và đường truyền tin vận động (quân bưu); theo hình thức tổ chức, có: đường truyền trực tiếp hoặc qua chuyển tiếp, chuyển mạch. ĐTT phải bảo đảm chất lượng cao, vững chắc và bí mật. Cg đường liên lạc.

        ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN nh ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH

        ĐƯỜNG TỤ THỦY (đường hợp thủy), đường đặc trưng của địa hình tạo bởi đường cắt giữa hai sườn dốc núi đối ngược nhau tạo thành khe núi; thường trùng với dòng chảy của sông, suối. Trên bản đồ địa hình, ĐTT chạy theo đường nối các điểm lõm nhất của các đường bình độ.

        ĐƯỜNG TUẦN TRA BIÊN GIỚI, công trình kĩ thuật bảo vệ biên giới để bộ đội biên phòng tuần tra biên giới, kiểm tra mốc quốc giới, cơ động khi tác chiến. ĐTTBG chạy dọc theo biên giới, được xây dựng thành đường mòn (1-1,5m) hoặc đường lớn (đường ô tô) cách hàng rào biên giới 3-5m. ĐTTBG được đánh dấu trên bản đồ kế hoạch bảo vệ biên giới quốc gia của đồn biên phòng. Trong điều kiện ở biên giới đối địch hoặc nơi địa hình hiểm trở, ĐTTBG còn bao gồm các đường nhánh, rẻ quạt để kiểm tra mốc biên giới và đến các đài quan sát biên giới, mạng lối đi bí mật để cơ động, mật phục... Tại các khu vực có sông, suối, khe vực và các chướng ngại vật tự nhiên khác cắt ngang ĐTTBG phải bố trí cầu vượt (bến vượt), lối vượt qua...

        ĐƯỜNG VÒNG TRÁNH, đoạn đường đi vòng để vượt qua một điểm (khu vực) trên trục đường chính có vật cản (đoạn đường bị hư hỏng, bị phá hoại hoặc có bố trí các loại mìn, có bom chưa nổ, trọng điểm bị địch khống chế, cầu bị phá,...) gây nguy hiểm khi trực tiếp vượt qua. ĐVT có thể được chuẩn bị từ thời bình. Trong tác chiến, ĐVT có thể là đường quân sự làm gấp.

        DVINA X. SA-75 ĐVINA



Tiêu đề: Re: Đ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2019, 07:03:35 PM
     
HẾT D