Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 11:15:35 AM



Tiêu đề: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Sáu, 2019, 11:15:35 AM
      
        - Tên sách : Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát

        - Tác giả : Vích-to Nê-cơ-ra-xốp

        - Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Tiến bộ Mát-xcơ-va

        - Số hóa : Giangtvx

(https://scontent.fdad3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/56203753_402340433829176_5260877618072256512_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQkeuJ0EkxUPM6JQKsUaupHtAA1CfMogo3hoz4ulKGHXqwP9UibJvjGrfs05siO34Qg&_nc_ht=scontent.fdad3-3.fna&oh=c39f560352121dda7fc059da254fc1d6&oe=5D3546B9)

(https://scontent.fdad3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/56828062_402341697162383_474674219276304384_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_oc=AQnCiHVdcMWxlLteGTonPFx8RykCYjPy4SfTHFMGDxoCpCY7iGN2pMfKv4-m4a-EN_w&_nc_ht=scontent.fdad3-2.fna&oh=4090274efa7de9c66213351882e3530b&oe=5D461C3D)


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2019, 10:59:09 PM
       
(https://scontent.fdad3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/56935260_402341357162417_1521998034446057472_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQnDx-Si5vdwc1QVq5sbzEhr4uyzjUdKnOkA2eMBmKlq8S2whsZkCDha3zbcNBCR7Zk&_nc_ht=scontent.fdad3-2.fna&oh=fd6ead53fbea738913e7c959b3f675cf&oe=5D4EFDCA)

        Vích-to Nê-cơ-ra-xốp sinh năm 1911 ở thành phố Ki-ép, trong một gia đình bác sĩ. Sau khi tốt nghiệp khoa kiến trúc của Học viện Kiến thiết và trường diễn viên sân khấu năm 1936 ở thành phố Ki-ép, Nê-cơ-ra-xốp đã làm diễn viên và họa sĩ ở nhiều thành phố trong nước.

        Từ năm 1941, nhà văn tương lai, trung đội trường trung đội công binh, đã chiến đấu trên mặt trận chống bọn phát-xít xâm lược, trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại và đã bị thương nặng. Nỗ-cơ-ra-xốp được tặng thưỏrng huân chương Sao Đỏ và nhiều huy chương.

        Sau khi chiến tranh chấm dứt, Nê-cơ-ra-xốp đi vào con đường sáng tác văn nghệ. Cuốn Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát của ông, xuất bản năm 1946, được tặng Giải thưởng Quốc gia. Nhà văn — chiến sĩ Xê-vô-lốt Vít-snhép-xki, tác giả cuốn Bi kịch lạc quan đã viết: «Đến nay, tác phẩm đó có giá trị nhất và chỉnh xác nhất viết về những sự kiện ở Xta-lin-gơ-rát». Những năm tiếp sau, Nê-cơ-ra-xốp đã viết nhiều truyện ngắn về đề tài chiến tranh, truyện vừa Trong thành phố quê hương, Kia-ra Ghê-oổc-ghi-ép-na, truyện phim và bút ký đi đường.

        Hầu hết các tác phẩm của V. Nê-cơ-ra-xốp đều đã được dịch ra tiếng các dân tộc ở Liên Xô và tiếng nước ngoài.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Sáu, 2019, 11:04:13 PM
       
1
     
        Lệnh rút lui đến rất đột ngột, Chỉ mới hôm qua thôi, từ sư đoàn bộ đã gửi đến một bản kế hoạch chi tiết về các công tác phòng ngự: lập tuyến thứ hai, chữa đường sá, làm cầu con. Các đồng chí bảo tôi cho ba công binh để bố trí câu lạc bộ sư đoàn. Buổi sáng sư đoàn bộ gọi điện bảo phải chuẩn bị đón đoàn văn công ca múa của mặt trận. Thật không còn gì bình tĩnh hơn nữa! Nhân dịp đó, thậm chí tôi và I-go đã cạo râu, cắt tóc và gội đầu, đồng thời giặt áo mai-ô, quần đùi nữa, Và trong lúc chờ áo quần khô, chúng tôi nằm dài trên bờ sông con đã cạn, nhìn xem các chiến sĩ công binh của tôi đang làm những chiếc bè con cho trinh sát viên,

        Chúng tôi nằm hút thuốc, đánh cho nhau những con ruồi trâu chậm chạp và béo quay bám trên lưng chúng tôi và nhìn xem anh trung đội phó của tôi đang lặn hụp trong nước, nhô cái mông trắng trẻo và những gót chân đen đùi để thử xem chiếc bè có chắc không,

        Ngay lúc đó, La-da-ren-cô, liên lạc viên của ban chỉ huy, đã hiện ra. Từ xa tôi đã nhận ra anh đang ba chân bốn cẳng phóng qua vườn rau, một tay giữ khẩu súng trường lúc la lúc lắc vỗ vào lưng, Cứ xem cách chạy đó, tôi hiểu ngay là bây giờ chẳng còn có hòa nhạc hòa nhiếc gì nữa rồi. Chắc là lại có phái viên kiểm tra nào đấy từ quân đoàn hay mặt trận đến... Lại phải đi đến tiền duyên, phải trình bày kế hoạch phòng ngự, phải nghe những lời phê bình nhận xét. Thế là mất một đêm., Và người kỹ sư công binh phải chịu trách nhiệm về tất cả.

        Nằm ở thế phòng ngự, thật chẳng có gì tệ hơn nữa. Đêm nào cũng có phái viên kiểm tra đến. Mà mỗi ông một tính. Cái đó thì nhất định là như thế rồi. Ông này thì bảo là chiến hào quá chật, khó khiêng thương binh, khó vác súng máy. Ông kia thì kêu là chiến hào quá rộng, mảnh bom sẽ rơi vào. Ông thứ ba thì nói là ụ đất phía ngoài công sự thấp: đáng lẽ phải bổn tấc thế mà các ụ của anh, có thấy không, chưa đến hai tấc. Ông thứ tư tthì ra lệnh hoàn toàn san phằng những ụ ấy đi, vì chúng chỉ làm hỏng ngụy trang. Thế thì làm thế nào để vừa lòng mọi người được. Còn kỹ sư công binh của sư đoàn thì chẳng chú ý gì đến cả. Hai tuần ông ta mới đến một lần, nhưng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa suốt tiền duyên mà thôi và chằng nói được điều gì có ích cả. Còn tôi thì lần nào cũng phải bắt đầu làm lại và phải đứng nghiêm nghe những lời quở trách của trung đoàn trưởng: «Này, đồng chí kỹ sư kính mến ơi, đến bao giờ đồng chí mới học đào chiến hào cho ra hồn được, hở?..»

        La-da-ren:cô phóc qua hàng giậu.

        — Việc gì thế, hở cậu?

        Anh vừa lấy mũ ca-lô lau trán ướt đẫm mồ hôi, vừa há mồm răng trắng hếu đáp lại:

        — Tham mưu trưởng gọi.

        — Gọi ai? Gọi tôi à?

        — Gọi cả đồng chí lẫn trường ban hóa hất. Tham mưu trưởng bảo là sau năm phút phải có mặt.

        Không, thế nghĩa là không phải phái viên kiểm tra.

        — Thế cậu có biết gọi để làm gì không, hở.

        — Có trời mà biết được. — La-da-ren-cô nhún vai ướt đẫm mồ hôi đáp. — Làm sao mà hiểu được... Tất cả liên lạc đều phái đi hết. Đại úy vừa nằm xuống ngủ, thì ngay lúc đó sĩ quan thông tin đến.

        Thế là đành phải mặc quần đùi, áo mai ô còn ẩm và đi đến sở chỉ huy. Các trung đội trưởng đều cũng được gọi đến cả.

        Tham mưu trưởng Mác-xi-mốp không có ở đây. Anh ta đang ở chỗ trung đoàn trưởng. Ở nhà hầm sở chỉ huy có cán bộ chỉ huy các đơn vị đặc biệt và những nhân viên tham mưu. Trong số tiểu đoàn trưởng chỉ có Xéc-ghi-en-cô, chỉ huy tiểu đoàn ba. Chẳng ai hiểu rõ đầu đuôi gì cả. Trung sĩ Dơ-vê-rép, sĩ quan thông tin, cao lêu nghêu đang loay hoay với chiếc yên ngựa. Anh ta vừa thở ì ạch, vừa gắt gỏng, nhưng chẳng tài nào kéo nổi sợi dây chằng.

        — Sư đoàn bộ đang chuẩn bị rút. Chỉ có thế thôi...

        Ngoài ra, anh không còn biết gì thêm nữa.

        Xéc-ghi-en-cô nằm sấp, đang gọt mảnh gỗ gì đấy và lầu bầu như mọi khi:

        — Chỉ vừa mới thu xếp xong buồng khử trùng, thì đã phải rút. Mẹ kiếp, đời lính chó má thật! Các chiến sĩ thì quào đến bật máu đầu, mà chằng làm thể nào giết sạch chấy được...

        Xa-mu-xép, chỉ huy tổ súng chổng tăng, có mái tóc vàng và cặp mắt xanh, nhoẻn miệng cười khinh bỉ:

        — Hừ, buồng khử trùng của cậu thì quan trọng quái gì... Chỗ tớ một nửa quân số sau khi tiêm thuốc xong, lưng bị sưng lên như thế này. Người ta tiêm vào xuýt nữa thì đến một cốc thuốc quỷ quái gì đấy. Bây giờ thì mặc sức mà rên rỉ, kêu ca...

        Xéc-ghi-en-cô thở dài:

        — Mà cũng có thể là đi phiên chế lại, hở?

        — Hừm... — Gô-gơ-lít-dê, trinh sát viên, cười gằn. — Mới hôm kia, Xê-bát-xtô-pôn bị chiếm, thế mà nó lại nghĩ đến việc phiên chế... Người ta đang mỏi mắt chờ cậu ở Ta-sken để phiên chế lại đấy nhỉ!


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2019, 10:33:23 PM

        Không ai trả lời gì cả. Ớ phía bắc, ầm ầm nồ lên dữ dội. Từ rất xa, trên chân trời, vẫn ở phía bắc ấy, những chiếc máy bay ném bom của Đức từ từ lướt qua, tiếng kêu rầm rì đứt quãng.

        — Bọn súc sinh đang bò đến Va-lui-ki đấy, — Xa-mu-xép nổi giận khạc nhổ và nói, — mười sáu chiếc...

        — Nghe nói Va-lui-ki đã đi tong rồi, — Gô-gơ-lít-dê nói; anh ta thì bao giờ và cái gì cũng biết cả.

        — Ai «nói» thế ?

        — Hôm qua tớ nghe ở trung đoàn tám trăm năm mươi hai.

        — Hừ, chúng biết nhiều lắm đấy...

        — Nhiều hay ít, nhưng người ta nói thế...

        Xa-mu-xép thở dài và nằm trở mình.

        — Mà nói chung, cậu đào nhà hầm là uổng công toi đấy, cậu trinh sát viên ạ. Thôi, bây giờ thì cậu để lại làm kỷ niệm cho thằng Đức vậy.

        Gô-gơ-lít-dê bật cười.

        — Điềm đáng tin lắm. Đúng thế. Hễ tớ đào hầm, thì y như rằng hành quân. Đã ba lần tớ đào, mà chẳng lần nào được ngủ ở hầm cả.

        Mác-xi-mốp từ nhà hầm của thiếu tá ra, đi những bước thằng đến chỗ chúng tôi, như khi diễu binh. Cứ nhìn cách đi đó, thì từ xa một cây số đã có thề nhận ra anh ta được. Rõ ràng là trong lòng anh không vui. Té ra cổ và túi áo va-rơi của I-go không cài cúc. Còn Gô-gơ-lít-dê thì thiếu một khối1. con ở quân hiệu. Trời ơi, bao nhiêu lần đã phải nhắc về điều đó! Anh hỏi thiếu ai. vẳng mặt hai tiểu đoàn trưởng và trưởng ban thông tin, vì hôm qua cả ba người được gọi đến sư đoàn bộ.

        Anh không nói gì nữa và ngồi ở mép hào. Khô khan, tươm tất và bao giờ cúc áo cũng cài tất cả. Anh phì phèo hút tẩu thuốc có hình đầu quỷ Mê-phít-tô-phen và chằng nhìn chúng tôi.

        Khi anh đến, thì mọi người im bặt. Để tỏ rằng chẳng ai ngồi không — ý muốn tự nhiên tỏ ra bận rộn khi có mặt tham mưu trưởng, — người thì lục lọi trong xắc-cốt, người thì tìm cái gì đấy trong túi.

        Trên chân trời một tốp thứ hai máy bay ném bom của Đức từ từ lướt qua.

        Các tiều đoàn trưởng đi đến: Cáp-pen, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn hai, đứng tuổi nhưng vạm vỡ như một con trâu ngố và Si-ria-ép, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn một, hiên ngang, có mái tóc vàng phủ xuống trán và đội chiếc mũ ca-lô kéo lệch xuống lông mày trái một cách ngỗ nghịch, Ở trung đoàn người ta gọi anh ta là Cu-dơ-ma Cơ-riu-scốp2.

        Cả hai người đưa tay lên chào: Cáp-pen chào theo lối dân sự, lòng bàn tay hơi khum lại, còn Si-ria-ép thì chào theo lối đặc biệt nhà binh — đưa những ngón tay lên tận mũ ca-lô sau những lời báo cáo cuối cùng.

        Mác-xi-mốp đứng dậy. Chúng tôi cũng đứng lên,

        — Mọi người có bản đồ chứ? — Giọng anh ta gay gắt, khó chịu, Chiếc tẩu đã tắt ngấm, song anh không để ý và vẫn tiếp tục hút, — Yêu cầu lấy ra đi,

        Chúng tôi lấy bản đồ ra, Mác-xi-mốp lấy ngón tay mở tấm bản đồ tỷ lệ nhỏ đã nhàu bần và mềm nhũn, — Một đường đò đậm chạy dài từ trái sang phải suốt tấm bản đồ, từ tây sang đông,

        — Hãy ghi hành trình,

        Chúng tôi ghi, Hành trình lớn: chừng một trăm cây số. Điểm cuối cùng là Bê-len-cai-a Mới. Sau sáu mươi giờ, nghĩa là sau hai ngày đêm rưỡi, phải tập trung ở đây.

        Mác-xi-mốp lấy tầu thuốc gõ vào đế giày, lấy que khêu hết tàn và lại vê thuốc cho vào tầu.

        — Rõ chứ?

        Không ai trả lời.

        — Theo tôi thì rõ rồi. Chúng ta sẽ lên đường đúng hai mươi ba giờ, — Chặng đầu ba mươi sáu cây số. Nghỉ ngày ở Đu-van- ca Trên. Đi theo hàng ngũ hành quân. Tất nhiên, có tuần tiễu và cảnh giới, Trình tự đi thì sau mười phút Coóc-xa-cốp sẽ cho biết. Bây giờ anh ấy đang làm.

        Lời nói của Mác-xi-mốp rất rành rọt. Mỗi từ vang lên rõ rệt từng chữ, Giá anh ta mà làm phát thanh viên thì chắc là cừ lắm đấy.

        — Tiều đoàn một ở lại tại chỗ. Rõ chứ? Sẽ yểm hộ. Tôi dặn trước là phải rút hết cả. Và không một ai được chậm trễ. Chặng đường thì dài, Các đồng chí hãy xem lại giày, xà cạp...

        Anh lấy những ngón tay mảnh dẻ giữ tẩu thuốc và phun mạnh ra những luồng khói ngắn. Anh cau mày nhìn Si-ria-ép,

        — Này, cậu có những gì, tiểu đoàn trưởng?

        Si-ria-ép đứng dậy, kéo thẳng lại chiếc áo va-rơi.

        — Báo cáo, có hai mươi bảy đội viên chiến đấu. Mà tất cả có bốn mươi lăm người, kề cả người ốm và đánh xe.

        — Còn vũ khí thế nào?

        — Hai đại liên «mác-xim». Ba trung liên «đéc-chia-rép». Ba súng cối tám mươi hai.

        — Còn đạn súng cối?

        — Một trăm viên.

        — Còn loại năm mươi?

        — Chẳng có một viên nào cả. Và đạn thì không nhiều lắm. Mỗi đại liên có hai băng và trung liên thì chừng năm, sáu đĩa.

--------------------
        1. Một anh hùng trong chiến tranh đế quốc 1914—1918, nổi tiêng hiên ngang, dũng cảm và lém linh, — ND.

        2. rước năm 1943, trong Hồng quân Liên-xô, tùy theo cấp bậc người ta đeo các hình tam giác con, khối con, chữ nhật con, v.v... trên quân hiệu. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Bảy, 2019, 10:34:03 PM
   
        Si-ria-ép nói bình tĩnh, không vội vàng. Rõ là anh hồi hộp, nhưng cố giấu xúc động của mình. Trông anh ta thật là thích. Đai da thắt gọn. Vai ưỡn ra. Bắp chân chắc nịch. Tay buông thẳng và bàn tay hơi nắm lại. Dưới cổ áo mở cúc, trông rõ hình tam giác màu lam của chiếc mai-ô. Lạ thật, thế mà Mác-xi-mốp không phê bình anh ta.

        — Thề đấ-ầy... — Mác-xi-mốp cất tấm bản đồ đã xếp cẩn thận vào xẳc-cốt. — Rõ... Kỹ sư Kéc-gien-xép sẽ ở lại với cậu. Hiểu chứ? Hãy cố giữ cho được trong hai ngày. Ngày mồng tám, lúc chạng vạng tối thì bắt đầu rút.

        — Cũng theo hành trình ấy chứ? — Si-ria-ép dè dặt hỏi, mắt không rời khỏi Mác-xi-mốp.

        — Theo hành trình ấy. Nếu không gặp được chúng tôi... Thế thì cậu cũng tự hiểu lấy, lúc đó thì... Hết...

        Si-ria-ép cúi đầu tỏ ý hiểu. Mọi người im lặng. Có người nào đấy, hình như Cáp-pen thì phải, thở dài đứt quãng.

        — Tôi đã nói hết! — Mác-xi-mốp quay phắt lại về phía anh ta. — Ai về chỗ ấy !

        — Phải rút người bây giờ à? — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ba, mắt cận thị, trông giống như một nhà bác học, hỏi khẽ.

        Mặt của Mác-xi-mốp từ tái nhợt bỗng trở nên đỏ gay.

        — Anh ở ngoài mặt trận hay ở đâu, hả? Anh muốn chúng giết hết mọi người hay sao? Nói thì cũng phải biết suy nghĩ chứ...

        Mọi người đứng dậy và phủi sạch cát, cỏ.

        — Còn các cậu, hãy ghé lại chỗ tôi. — Câu đó là nói với tôi và Si-ria-ép.

        Trong nhà hầm chật chội và ẩm ướt, phảng phất mùi đất. Những sơ đồ hệ thống phòng ngự của quân ta nằm trên bàn. Đó là công việc của tôi đấy. Tôi vội vàng làm suốt cả buổi sáng đề kịp gửi cho sư đoàn bộ. Hạn giao cho là trước hai mươi giờ.

        Mác-xi-mốp cẩn thận xếp các tờ giấy theo đúng các góc, rồi xé dọc xé ngang và đốt những mảnh nhỏ trên ngọn đèn dầu. Giấy cong queo lại, rung động và đen dần đi.

        — Bọn Đức tiến đến gần Vô-rô-nét rồi, — anh nói trầm trầm và lấy mũi ủng dí nát than đen và dòn. — Tối hôm qua.

        Chúng tôi lặng thinh.

        Mác-xi-mốp lấy ở dưới bàn ra một chiếc bình-toong bằng nhôm bọc dạ có cái cốc con vặn ở bên trên. Chúng tôi lần lượt uống trong cái cốc ấy. Rượu ngang nặng lắm: chừng sáu mươi độ. Cảm thấy cháy họng. Chúng tôi nhắm rượu với dưa chuột muối, sau đó mỗi người uống thêm một cốc nữa.

        Mác-xi-mốp lấy hai ngón tay xoa ở gốc mũi hồi lâu.

        — Này, Si-ria-ép, năm bốn mươi mốt cậu có rút lui không?

        — Có, rút lui. Ngay từ biên giới.

        — Ngay từ biên giới... Còn cậu, Kéc-gien-xép?

        — Tôi thì không. Lúc ấy tôi là quân hậu bị.

        Mác-xi-mốp lơ đễnh nhai dưa chuột.

        — Tình hình, nói chung, chẳng ra quái gì cả... Cánh mình chẳng thoát khỏi bị vây đâu. — Anh nhìn chằm chằm vào mắt Si-ria-ép. — Phải giữ gìn đạn... Khi cậu ở lại đây trong hai ngày thì đừng bắn nhiều. Chỉ bắn cầm chìa thôi. Và tránh đánh nhau với chúng. Hãy tìm chúng mình... Hãy tìm... Ở đâu đấy, nhưng vẫn có chúng mình. Nếu không ở Bê-lên-cai-a Mới thì ở gần đâu đấy. Nhưng nhớ đấy, cả cậu Kéc-gien-xép nữa, — anh nghiêm nghị nhìn tôi, — trước ngày mồng tám không được rời khỏi chỗ này. Hiếu chứ? Dù đất dưới chân các cậu sụt hằn cũng mặc. Thiếu tá bảo thế này: «Hãy để Si-ria-ép lại và cho Kéc-gien- xép giúp cậu ta». Cái đó có ý nghĩa gì đấy chứ... À! Còn các đoàn xe thì cậu định thế nào?

        Si-ria-ép mỉm cười.

        — Chà, những đoàn xe khỉ gió ấy! Thôi, các đồng chí cứ lấy đi cho! Tôi chỉ để lại ba xe để chở đạn là được rồi. Mà thế cũng đã nhiều đấy...

        — Thôi được. Chúng mình sẽ lấy.

        Trung sĩ, thư ký của ban chỉ huy, béo bệu, mặt tròn vành vạnh, nhìn vào nhà hầm. Anh hỏi nên đốt hay mang các hòm màu xanh đi theo. Đại úy bảo rằng phải đốt, vì ở đấy chẳng cần để làm gì cả.

        — Đốt quách đi! Nửa năm nay, cứ chở đồ quỷ quái ấy đi theo mãi. Đốt đi thôi!

        Anh thư ký đi ra.

        — Này, Kéc-gien-xép, anh có tin chiêm bao không? — bỗng Mác-xi-mốp hỏi, chẳng hiểu vì sao lại gọi bằng «anh», vì thường ngày cứ gọi tôi cũng như mọi người bằng «cậu». Không đợi trả lời, anh nói thêm: — Hôm nay mình nằm thấy hai răng cửa bị rụng.

        Si-ria-ép bật cười. Răng của anh dày khít và thẳng hàng. .

        — Các bà bảo thế là có người thân nào đấy chết.

        — Người thân? — Mác-xi-mốp vẽ một mớ tóc quăn lên mảnh báo. — Thế các anh có vợ không?

        — Không! — chúng tôi trả lời gần như đồng thanh.

        — Uổng thật... Mình cũng không có vợ và bây giờ thì tiếc. Cần có vợ lắm. Cũng như cần không khí ấy. Chính bây giờ...

        Mớ tóc quăn đã biến thành cái đầu đàn bà với những hàng lông mi dài và cái mồm hình tim. Trên lông mày mắt bên trái có một nốt ruồi.

        — Này, Kẻc-gien-xép, anh là người Mát-xcơ-va phải không?

        — Không, thì sao?

        — Chẳng sao cả. Mình có quen một cô là Kéc-gien-xê-va... Hồi nào trước chiến tranh cơ... Di-na-i-đa Ni-cô-la-ép-na Kéc- gien-xê-va. Chẳng phải là họ hàng bà con sao?

        — Không, tôi chẳng có họ hàng bà con nào ở Mát-xco,-va cả.

        Mác-xi-mốp đi lui đi tới trong nhà hầm. Nhà hầm thấp nên khi đi phải cúi đầu. Tôi có cảm giác như anh muốn kể cái gì đấy, nhưng hoặc là ngượng hoặc là không quyết.

        Si-ria-ép nhìn chiếc đồng hồ nhỏ đeo trên sợi dây đen và mảnh. Mác-xi-mốp nhận thấy và dừng lại.

         
— À vâng... Các anh đi đi, — anh nói gọn, — đi đi, thì giờ còn ít lắm.

        Chúng tôi đứng dậy và bước ra khỏi nhà hầm. Anh đi theo chúng tôi. Không nghe những loạt súng bắn nhau. Chỉ có tiếng ếch kêu ộp oạp.

        Chúng tôi đứng vài phút lắng nghe ếch kêu. Bóng những cây thông đã trải dài đến tận nhà hầm. Hai viên đạn súng cối, viên nọ tiếp viên kia, chậm chạp bay, rít trên đầu chúng tôi và nồ ầm ầm ở đâu đấy xa xa vể phía sau, có lẽ là súng cối tiểu đoàn. Si-ria-ép nhếch mép cười gằn.

        — Chúng cứ nện mãi ở khu rừng tròn. Mà khẩu đội không còn ở đấy đã ba ngày rồi.

        Chúng tôi lẳng nghe xem đạn súng cối còn bay nữa không. Nhưng chẳng còn viên nào bay đến nữa.

        — Thôi, đi đi, — Mác-xi-mốp nói và chìa tay ra. — Cố gắng nhé...

        Anh làm động tác, tưởng chừng như muốn ôm, nhưng không ôm mà chỉ bắt chặt tay.

        — Si-ria-ép này, giữ gìn đạn nhé, đừng phí phạm.

        — Báo cáo đồng chí đại úy, rõ!

        — Cố gắng nhé... — Và anh rắn rỏi bước đi, đến các bụi cây, ở đấy có những đội viên thông tin đang quấn lại dây điện thoại.

        Tôi cùng Si-ria-ép hẹn nhau là sau chừng một giờ rưỡi hay hai giờ, tôi sẽ đến chỗ anh ta, sau khi đã thu xếp xong mọi việc của tôi.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2019, 04:05:58 PM

2

        Trung đoàn chúng tôi thật là không may. Chỉ mới đánh nhau chừng một tháng rưỡi gì đấy, thế mà không còn người, không còn đại bác nữa. Mỗi tiểu đoàn chỉ có hai ba khẩu súng máy... Thế mà chúng tôi chỉ mới giao chiến cách đây không lâu: ngày hai mươi tháng năm, ở Téc-nô-va, gần Khác-cốp. Vừa mới đến thì đã phải đánh nhau rồi. Chưa hề nếm mùi súng đạn, chúng tôi lần đầu tiên ra mặt trận, bị điều từ chỗ này đến chỗ khác, bị hãm vào thế phòng ngự, rút lui, chuyển quân và lại bị hãm vào thế phòng ngự. Việc ấy xảy ra vào thời kỳ tấn công mùa xuân vào Khác-cốp. Chúng tôi hoang mang, rối lên, làm rối người khác và không tài nào quen được với những trận ném bom. Chúng tôi được đưa xuống phía nam, ở vùng Bu-la-xê-lốp- ca, gần Cu-pian-xcơ. Chúng tôi đóng quân ở đấy chừng hai tuần. Đào ụ chống tăng, đặt mìn, xây dựng hỏa điểm. Nhưng rồi sau đó bọn Đức chuyển sang tấn công. Chúng đưa xe tăng, đến nhiều vô kể và ném bom chúng tôi rất ác liệt. Chúng tôi hoàn toàn bối rối, run sợ và bắt đầu rút lui. Tóm lại, chúng tôi được điều về hậu phương, thay bằng những đội cận vệ, và được phái đến Cu- pian-xcơ. Ở đấy lại làm hỏa điểm, lại đắp ụ chống tăng, cho đến lúc bọn Đức xông tới. Chúng tôi giữ thành phố không lâu — chỉ hai ngày thôi. Và có lệnh: rút quân đến bờ trái. Phá hủy cầu tàu hỏa, cầu phao và cùng cố phòng ngự trong đám lau lách.

        Chúng tôi nghĩ là lần này chắc sẽ đóng quân ở đây lâu. Mẹ kiếp, chẳng đời nào chúng tôi cho bọn Đức qua được sông Ô- xcôn đâu.

        Thế mà chúng cũng không đến. Chúng nã súng cối vào chúng tôi và chúng tôi bắn trả lại. Chiến tranh chỉ có thế. Hàng sáng «cái khung» lại xuất hiện — chiếc máy bay trinh sát hai thân «phổc- ke vun-phơ» — và bao giờ chúng tôi cũng cố chĩa trung liên, nhằm bẳn vào nó, mà chẳng ăn thua gì cả. Những đàn «gioong- ke» bình tĩnh kêu ầm ì, bay qua và đến nơi nào đấy ở hậu phương. Các chiến sĩ công binh của tôi đào hầm cho bộ chỉ huy, các cô gái nông thôn đào tuyến thứ hai dọc làng Pê-trô-páp-lốp-ca. Còn chúng tôi, những cán bộ chỉ huy của ban tham mưu, thì viết báo cáo, vẽ sơ đồ và thỉnh thoảng đi đến sư đoàn bộ đế dự lớp huấn luyện.

        Cuộc sống bình thản trôi qua. Thậm chí báo Sự thật cũng bắt đầu len lỏi đến chỗ chúng tôi được. Mà chẳng mất mát gì. Thế mà bỗng nhiên bất ngờ được lệnh...

        Trong chiến tranh chẳng bao giờ biết được cái gì cả, ngoài cái đã xảy ra sờ sờ trước mắt. Nếu bọn Đức không bắn mình, thì cứ tưởng là trên toàn thế giới mọi việc đều bằng phẳng, lặng lẽ. Nhưng nếu chúng bắt đầu ném bom — thế là đã bắt đầu tin rằng toàn bộ mặt trận từ bờ biển Ban-tích đến tận bờ Hắc-hải đã chuyển động.

        Cả bây giờ cũng thế. Đang nằm khoái trá bên bờ sông Ô-xcôn lờ đờ, mọc đầy lau lách, chẳng lo lẳng gì cả vì nghĩ rằng có lẽ đã chặn được quân thù rồi... Đánh nhau ầm ĩ ở tận phía bắc cơ —  ừ, thì cứ mặc cho nó ầm ĩ, chiến tranh nó như thế cơ mà.

        Thè mà bỗng hoàn toàn bất ngờ, hai mươi ba giờ đúng, bước đều, bước...

        Và chẳng đánh chác gì cả... Nhất là chẳng đánh chác gì cả. Cả ở Bu-la-xê-lốp-ca cũng đã phải bỏ những chiến hào quen thuộc, nhưng ở đấy bọn địch bắt chúng tôi phải làm việc đó, còn ở đây... Mới hôm qua, tôi và Si-ria-ép đi kiểm tra tuyến phòng ngự. Thật ra, tuyến phòng ngự khá lắm. Thậm chí sư đoàn trưởng còn khen về cách bố trí súng máy và phái các kỹ sư trung đoàn 852 và 854 đến học chúng tôi cách làm hỏa điểm dưới các nhà.

        Phải chăng bọn Đức thọc sâu đến thế ư? Vô-rô-nét... Nếu quả thật chúng xông đến đây, thì tình hình chúng tôi sẽ khó khăn lắm. Mà chắc là chúng đã đến Vô-rô-nét rồi, nếu không thì người ta chằng rút chúng tôi, mà không đánh đấm gì cả. Nhất là có tuyến phòng ngự rất tuyệt như sông Ô-xcôn này. Mà đến sông Đông, hình như chẳng có con sông nào trong khu vực của chúng tôi cả. Phải chăng chúng tôi lại rút đến sông Đông ư...

        — Báo cáo đồng chí trung úy, xe tải sẽ chở gì ạ?

        Trung đội trưởng mới ra lò, trẻ măng, có những sợi ria lún phún, nhìn tôi có ý hỏi.

        — Chúng ta sẽ chở mìn à? — cậu hỏi.

        — Sư đoàn bộ không cho xe ô-tô à?

        — Không cho.

        — Thế thì chôn đi. Ngoài bờ còn hay không?

        — Còn. Chừng một trăm quả.

        — Được. Mang theo khoảng hai chục đề phòng khi cần đến. Còn lại thì chôn đi.

        — Báo cáo, rõ.

        — Có đủ xẻng không?

        — Ở tiểu đoàn ba, ba mươi chiếc.

        — Đi lấy xẻng đi. Nhanh lên!

        Cậu ta nhanh nhẹn quay lại, lấy tay giữ chiếc xẳc-cốt và chạy đến xe tải. Cậu bé tuyệt thật, hết sức cần mẫn, chỉ có điều là quá sợ chuẩn úy thôi.

        À... Còn phải thay bản đồ nữa. Thế là chúng tôi đã không dùng tấm bản đồ mới toanh, còn kêu sột soạt với một cái chấm to, hình chân vịt của thành phố Khác-cốp ở góc trái, nom như một con bạch tuột...

        Lúc mười hai giờ, đại đội cuối cùng của trung đoàn chúng tôi rút lui về phía Pê-trô-páp-lốp-ca, vừa đi vừa khe khẽ khua động cà-mèn.

        Suốt đêm, tôi và Si-ria-ép lần mò khắp tiền duyên. Phải bố trí lại các khẩu súng máy hoàn toàn khác trước. Hôm qua, đơn vị đến tăng viện để cùng cố khu vực này đã rút lui và lấy hết các khẩu súng máy đi rồi. Trước đây, trong khu vực của chúng tôi có mười lăm khẩu, thì bây giờ chỉ còn năm: hai đại liên «mác- xim» và ba trung liên «đéc-chia-rép». Thế này thì chẳng đánh đấm to được nữa. Chúng tôi đặt đại liên ở hai sườn, còn trung liên ở giữa các đại liên. Cũng phải bố trí các chiến sĩ hoàn toàn khác trước. Mặt trận của tiểu đoàn tăng lên gấp ba lần. Mỗi cây số chỉ bố trí được mười, mười hai người, và người nọ cách người kia những tám mươi, một trăm thước. Thật là thưa thớt quá chứng!..

        Ngày hôm sau yên tĩnh. Bọn địch không đoán được, vẫn bắn vào đường và ở rìa phía bắc Pê-trô-páp-lốp-ca như trước, bắn thưa thớt và không hăng hái lắm. Hai hay ba viên đạn súng cối nổ ở trong sân chúng tôi: sở chỉ huy của Si-ria-ép ở dưới một hầm nhà bốn tầng bị đạn bắn thủng lỗ chỗ, nhà này có lẽ trước đây là ký túc xá gì đấy. Mảnh đạn làm bị thương con mèo vàng sống với các con con ở dưới hầm nhà của chúng tôi. Anh phụ trách vệ sinh băng cho nó. Nó kêu ngoeo ngoeo, trố đôi mắt vàng khè, sợ hãi nhìn và gọi các con vào trong thùng. Những con con thì kêu ríu rít, con nọ trèo lên lưng con kia, chui mõm vào băng và không thể nào tìm ra vú mẹ được.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Bảy, 2019, 04:07:10 PM
         
3

        Ban đêm, chúng tối đặt mìn ở bờ sông. Va-lê-ga, liên lạc viên của tôi, đào hố. Bôi-cô, trung sĩ, đặt mìn và ngụy trang.

        Một chiến sĩ trong tiểu đoàn, người bé nhỏ, nhanh nhẹn, giống như chú sóc con, trước kia là công binh, lắp ngòi nổ vào mìn. Si-ria-ép đã cho tôi anh chiến sĩ ấy.

        Đêm tối như bưng. Thỉnh thoảng mưa lâm thâm rơi. Mưa ấm và dễ chịu, nên tôi chẳng mặc áo mưa. Pháo sáng bay lên không trung, hết chiếc nọ đến chiếc kia. Những tràng súng máy rời rạc vang lên. Tôi nằm trong đám ngưu bàng. Mùi ẩm thấp ban đêm lẫn mùi đất ướt át phảng phất dễ chịu.

        Chẳng thấy được cả Va-lê-ga lẫn Bôi-cô. Từ xa một chiến sĩ mang mìn đi qua, thận trọng chạm vào lau lách kêu sột soạt. Mìn để cạnh tôi, và anh ta lấy ngay mỗi lần bốn quả, buộc vào đai da.

        Tôi nhìn bờ đối diện, nhìn đám liễu rủ mình được ánh pháo sáng rung rung chiếu rõ.

        Tôi sực nhớ lại đường phố của chúng tôi: đại lộ hai bên trồng những cây dẻ to lớn, vươn lên cao và làm thành một cái vòm. Vào mùa xuân, dẻ phù đầy hoa trắng và hồng, giống như những ngọn nến. Đến mùa thu, những người quét đường đốt lá rụng, còn trẻ con thì nhặt hạt dẻ đầy túi. Trước đây, tôi cũng đã từng nhặt dẻ đem về nhà đèn hàng trăm hạt. Những hạt dẻ tròn trĩnh, láng bóng, nằm chật các ngăn kéo, làm phiền mọi người, và khi dọn nhà thì phải quét chúng khá lâu ở gậm tù, gậm giường. Nhất là dưới chiếc đi-văng lớn thì bao giờ cũng có rất nhiều hạt dẻ. Chiếc đi-văng đó tốt thật: mềm mại và rộng rãi. Tôi thường ngủ trên chiếc đi-văng ấy. Trong đi-văng có nhiều rệp, nhưng không sao, tôi và rệp sống hòa thuận với nhau lắm, và chúng chẳng hề đụng đến tôi. Sau bữa ăn trưa, bao giờ bà tôi cũng nghỉ trên đi- văng đó. Tôi lấy chiếc áo bành-tô cũ đắp cho bà — chiếc áo ấy chỉ dùng vào việc đó thôi — và đưa cho bà tập hồi ký của ai đấy hay cuốn An-na Ca-rê-ni-na. Sau đó tôi đi tìm kính cho bà, kính ở trong tủ đựng bát đĩa, trong ngăn kéo đựng thìa. Khi tìm được kính thì bà đã ngủ rồi. Còn con mèo già Phơ-ra-các, ria bị cháy sém, nằm kêu rừ rừ ở dưới chiếc cổ áo đã rụng lông...

        Trời ơi, tất cả những điểu đó đã lâu xiết bao! Mà cũng có thể là chưa từng có, chỉ là tưởng thế mà thôi...

        Phía bên phải có cái tủ áo to. Lúc nhỏ, khi chơi trò ú tim, tôi thường ẩn trong đó. Lúc bấy giờ, tủ ấy còn kê ở ngoài hành lang, Sau đó làm cửa ở hành lang và nó được đưa vào phòng, Trên tủ có những hộp đựng mũ bằng các-tông, Trên hộp rất nhiều bụi. Và chỉ trước ngày tết, ngày lễ Mồng một tháng năm và ngày sinh của mẹ tôi — ngày hai mươi bốn tháng mười —  thì mới quét bụi thôi.

        Sau tủ áo là chiếc tủ con có gương bầu dục và rất nhiều chai lọ, Tôi không nhớ khi nào các lọ ấy đã từng có nước hoa, nhưng chẳng hiểu vì sao không được lấy các lọ ấy. Nếu mở nút và thò mũi hít thật mạnh, thì còn có thể cảm thấy mùi nước hoa được. Tiếp theo là chiếc bàn con đầu giường... Không, tiếp theo là chiếc ghế bành màu lam có cái chân bị buộc, Không ngồi được trên ghế đó. Vì thế khách đến thì bao giờ cũng phải báo cho họ biết trước, Sau đó mới đến chiếc bàn con đầu giường. Trong bàn chất đầy những chiếc giày kẻ ô, mềm mại, còn trong ngăn kéo bàn thì xếp các hộp đựng cao đơn hoàn tán của bà. Từ lâu chẳng ai còn có thể phân biệt được chúng là cái gì nữa, Trong đó có cả một chiếc cốc con để uống thuốc an thần cũng giấu ở đầy để mèo không tìm được...

        Và bây giờ tất cả những cái đó đang ở đẳng kia... ở nhà,

        Tôi nhận được chiếc bưu thiếp cuối cùng của mẹ, ba ngày trước khi được tin Ki-ép thất thù. Bưu thiếp đó đề ngày từ tháng tám cơ. Mẹ viết rằng quân ta đã đuổi bọn Đức rồi, hầu như không còn nghe súng bắn nữa, rạp xiếc và rạp nhạc hài kịch đã khai trương, Và tóm lại vẫn là: «Dù mẹ biết con không rỗi, nhưng con hãy viết cho mẹ thường hơn, dù chỉ ba chữ cũng được...» Từ đó đến nay đã mười tháng trôi qua. Thỉnh thoảng tôi lấy chiếc bưu thiếp đó trong túi áo ra và nhìn những chữ viết mảnh dẻ và khó đọc, Những chữ đó đã nhòe vì nước mưa và mồ hôi. Ở một chỗ — ở tận cùng — chữ không còn đọc được nữa. Nhưng tôi đã thuộc làu những chữ ấy, Tôi đã thuộc làu cả bưu thiếp... Ở mặt đề địa chỉ của bưu thiếp, ở bên trái có quảng cáo của Công ty sản xuất đồ cao su: những cặp chân mang giày cao cổ. Còn bên phải là tem: ga tàu điện ngầm «Mai-a-cốp-xki». Hồi bé tôi rất mê chơi tem và xin tất cả các bạn bè quen biết dán những tem mới và đẹp ở phong bì. Và vì thế cả bây giờ nữa, mẹ đã dán con tem đẹp, như khi tôi còn bé... Ở nhà tôi, những tem cất trong chiếc hộp dài, bên trái chiếc bàn. Và chắc là mẹ đã chọn hồi lâu, trước khi dừng lại ở con tem đẹp, màu lục này. Mẹ đã đứng cúi xuống chiếc bàn và cất kính, đưa cặp mặt cận thị, nheo nheo nhìn tem...

        Lẽ nào không bao giờ tôi còn được thấy mẹ nữa. Mẹ, người nhỏ nhẳn, lanh lợi, đeo kính gọng vàng và có một mụn com nhỏ xíu ở mũi. Lúc bé tôi thích hôn mẹ ở chỗ mụn cơm đó.

        Lẽ nào không bao giờ mẹ con chúng tôi còn được ngồi cạnh chiếc ấm xa-mô-va bị móp méo ở một bên đang sôi sùng sục và uống nước trà với mứt phúc bồn tử do mẹ làm... Lẽ nào không bao giờ mẹ còn xoa đầu tôi và nói: «Này I-u-ra con, hôm nay nom người con không khỏe lắm. Có lẽ là con đi ngù sớm hơn một chút, hở?» Lẽ nào mẹ tôi hàng sáng không còn rán khoai tây cắt lát to và tròn trên bếp dầu hòa như tôi thích...


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2019, 02:49:55 PM

        Lẽ nào không bao giờ tôi còn chạy ra sau góc nhà mua bánh mì, đi lang thang theo các đường phố Ki-ép ngào ngạt hương thơm của hoa gia, không còn được đi đến bãi bơi ở giữa cồn Tơ-ru-kha-nốp...

        Ki-ép thân yêu, thân yêu vô cùng!.. Ôi, tôi nhớ làm sao những đường phố rộng của Ki-ép, những cây dẻ, những ngôi nhà gạch màu vàng của Ki-ép, những cột lớn đồ sẫm của trường đại học tổng hợp! Ôi, tôi yêu làm sao những bờ dốc trên sông Đơ-nhi- ép! Mùa đông, chúng tôi thường trượt tuyết ở đấy, mùa hè thì nằm trên cỏ, đếm sao và lẳng nghe tiếng còi uể oải, rời rạc của những chiếc tàu thủy chạy đêm... Còn sau đó, chúng tôi trở về, đi theo đường phố Crê-sa-tích đã yên lặng, các quầy hàng đã tắt đèn và làm kinh hoảng các bác canh đêm đang mơ màng ngủ, thậm chí giữa mùa hè cũng quấn mình trong những chiếc áo lông cừu bù xù...

        Cho đến bây giờ thỉnh thoảng tôi cũng dạo theo đường phố Crê-sa-tích. Quấn mình trong chiếc áo mưa vải bạt, tôi nhắm mắt và mơ màng tưởng tượng mình đi từ Béc-xa-ráp-ca đến sông Đơ-nhi-ép. Tôi dừng lại cạnh Săn-xe — đó là rạp chiếu bóng tuyệt trần nhất thế giới. Hồi bé chúng tôi cảm thấy như thế. Có những bức tượng người thổi kèn dài đặt ở hai bên màn ảnh những lọ thờ có những dái lụa đỏ phấp phới bay lên giống như ngọn lửa và có mùi thơm gì đặc biệt của xi-nê làm ta phấn khởi, náo nức. Bao nhiêu giờ phút sung sướng mà tôi đã được trải qua trong rạp chiếu bóng Săn-xe này!.. Mộ phần Ấn-độ, Tên ăn trộm ở Bát-đa, Dấu hiệu Dê-rô... Trời ơi, nhớ lại thì xúc động đến nghẹn ngào!.. Còn xa hơn tí nữa, cạnh phố Prô-rê-dơ- nai-a, trong rạp «Coóc-xô» chật hẹp và có những chỗ ngồi không đánh số, đang chiếu những phim cao bồi. Nào là đuổi nhau, nào là bắn nhau, nào là những con ngựa hoang, nào là những khẩu súng côn, nào là những người đàn bà mặc quần ống chẽn, nào là những kẻ tàn ác có bộ ria mảnh dẻ và nụ cười nhan hiểm... Còn ở rạp «Tốc hành», — sau đó chẳng biết vì sao lại gọi một cách tầm thường là «Rạp chiếu bóng quốc doanh số hai», — thì chiếu những phim tình do các nữ nghệ sĩ điện ảnh Pô-la Ne-gơ- ri, A-xta Nin-xen và Ôn-ga Sê-khô-va đóng. Chúng tôi không thích những phim đó lắm, nhưng ở rạp «Tốc hành» chúng tôi có quen người soát vé và thứ sáu nào cũng đến xem ở đấy.

        Tôi đi rẽ sang đường phố Ni-cô-lai-ép-xcai-a. Đó là đường phổ sang nhất ở Ki-ép. Những cây gia được cắt tỉa cẩn thận có những lưới sắt vây quanh. Những ngọn đèn điện lớn, trắng đục, treo trên những sợi dây to nối từ nhà này đến nhà khác. Những xe ô-tô «linh-côn» bóng lộn đỗ gần khách sạn «Côn-ti-năng-tan». Còn cạnh rạp xiếc, từng đám trẻ con đứng chờ Giăng Xư-gan đi ra và đánh cuộc với nhau về cuộc gặp gỡ hôm nay giữa Đa-ni- la Pa-xun-cô và Mặt nạ chết.

        Còn xa hơn là đường phố Ôn-ghin-xcai-a, đường phố Học viện, là tòa nhà ngân hàng được xây thêm lên cao, ở các góc có nhưng tháp con chẳng ra kiểu gô-tích, chẳng ra kiểu rô-manh... Khu Líp-ki yên lặng, mơ màng như ngái ngù, mát rượi ngay cả trong những trưa tháng bảy nóng nực. Những biệt thự ấm cúng có những cửa sổ bám đầy bụi... Những cây du cổ thụ của vườn cung điện... Những ngọn lá khô sột soạt dưới chân... Và — hãy dừng lại! — đây là bờ dốc đứng. Còn xa hơn là sông Đơ-nhi-ép, và màu xanh xa xăm, và bầu trời bao la, và khu Pô-đôn bằng phẳng, lô nhô những ống khói, và hình dáng cân đối của nhà thờ Ăng-đrê-ép-xcai-a đứng cheo leo trên vực thẳm, những chiếc tàu thùy phành phạch quay bánh xe, những tiếng chuông tàu điện...

        Ki-ép thân yêu, thân yêu vô cùng...

        Tất cả những điều đó giờ đây xa biết bao! Lâu biết bao! Và có lúc nào đấy tôi đã từng ở học viện, nào những họa đồ, nào những tấm bảng, nào những đêm thức trắng và ngắn ngùi làm sao trước các kỳ thi, nào môn sức bền vật liệu, nào đủ loại lý thuyết về tổ hợp kiến trúc, nào những hai mươi môn học đủ loại mà giờ đây tôi đã quên hết rồi...

        Chúng tôi có sáu người là bạn nối khố: A-na-tô-li Xéc-ghê- ép, Ru-đen-xki, Véc-gun, Li-u-xi-a Xtơ-ri-giê-va và anh chàng Su-rơ-ca Gra-bốp-xki nhỏ nhắn và vui vẻ. Chẳng hiểu vì sao mọi người đều gọi cậu ta là «Bạch yến con». Chúng tôi cùng nhau học và bao giờ cũng cùng nhau đi ra ngoại thành, cùng nhau tham gia mọi cuộc thi. Tốt nghiệp học viện xong, chúng tôi cùng vào một xưởng. Chỉ mới vừa bắt tay vào việc, mua những thước chữ tê mới, những hộp đựng đồ vẽ mới, thì...

        Bạch yến con hy sinh ở ngoại ô Ki-ép, ở Gô-lô-xê-ép. Mẹ đã viết cho tôi biết tin đó. Cậu ta nằm ở bệnh viện mà mẹ làm việc, cả hai chân bị đứt. Còn về những bạn khác tôi chằng biết gì rõ cả. Véc-gun hình như bị sa vào vòng vây. Ru-đen-xki không bị động viên vì cận thị, và hình như cậu ta đã tản cư. Cậu tiễn tôi ra ga. A-na-tô-li hình như làm đội viên thông tin: có người nào đấy nói thế, nhưng tôi không còn nhớ là ai.

        Còn Li-u-xi-a? Có lẽ cô ta đã phải tản cư rồi ư? Chưa chắc... Cô có mẹ già ốm. Tôi viết thư cho dì cô ở Mát-xcơ-va, nhưng bà không biết gì cả. Hai năm trước, — tôi còn nhớ rất rõ — vào ngày mồng năm tháng sáu, ngày sinh của Li-u-xi-a, chúng tôi cùng cô đến bờ sông Đơ-nhi-ép. Chúng tôi thuê một chiếc thuyền nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, có những chỗ ngồi di động và đi xa mãi đến quá sông Na-tan-ca, quá chiếc cầu chiến lược. Ở đấy, chúng tôi có một chỗ rất thích, một bãi con bé nhỏ tuyệt trần nằm lẩn giữa đám lau và liễu. Chỗ đó không ai biết cả, và ở đấy chằng bao giờ có ai cả. Nước ở đấy trong vắt như thủy tinh, còn chạy từ bờ cao rồi nhảy xuống nước thì tuyệt... Sau đó, mệt nhừ, tay phổng lên những nốt bong mới, chúng tôi ngồi trong vườn hoa cung điện lắng nghe khúc giao hưởng số Năm của Trai-cốp-xki. Chúng tôi ngồi ghé bên mép chiếc ghế dài và cạnh đó có những bông hoa gì đấy đỏ thắm, và nhạc trưởng cũng có một bông hoa cài ở khuyết áo.

        — Chúng ta sẽ đặt hàng thứ ba chứ? — có người nào đấy hồi cạnh tai tôi.

        Tôi giật mình.

        Va-lê-ga ngồi xồm đưa cặp mắt nhỏ, sáng như mắt mèo, nhìn tôi có ý hỏi.

        — Hàng thứ ba... Không, không đặt hàng thứ ba. Hãy chuyển sang khu vực thứ tư, gần bến đò.

        Chúng tôi khiêng số còn lại đến bến và bắt đầu đặt mìn. Còn chừng bốn mươi quả.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Bảy, 2019, 02:50:48 PM

4

        Buổi sáng, chiếc «méc-xe-smít» cứ quần mãi trên vị trí của chúng tôi. Chúng tôi không bắn vì cần tiết kiệm đạn. Hai tốp «hây-nơ-ken» đông và một tốp «gioong-ke-88» bay qua rất cao về phía đông bắc.

        Vào khoảng bảy giờ tối, một trung úy rất trẻ đến sở chỉ huy của chúng tôi. Anh ta trẻ măng, đội mũ lưỡi trai mới toanh có viền mũ đỏ tươi, thuộc tiểu đoàn ba trung đoàn 852 đóng cạnh chúng tôi ở bên phải. Anh hỏi công việc của chúng tôi ra sao và định sẽ làm gì nữa. Bên tiểu đoàn của anh cũng yên tĩnh. Có chừng sáu mươi người. Khoảng năm súng máy. Nhưng không có súng cối. Chúng tôi mời anh ăn trưa và sau đó anh trở về. Lúc nhá nhem tối thì chúng tôi bắt đầu chuẩn bị. Chúng tôi xếp đồ đạc vào hai xe, còn chiếc xe thứ ba thì bỏ. Pi-li-pen-cô mắt chột, chuẩn úy của Si-ria-ép, không thể nào bỏ các vật dự trữ của mình được: những đôi giày cũ rích, những yên cương, những bao giẻ. Anh càu nhàu, chửi rủa cả bọn Đức, cả chiến tranh, cả con ngựa ô thiến Xi-ren-ca đang bình tĩnh ve vầy đuôi đuổi ruồi, và xếp các bao bị của mình khắp tứ phía chiếc xe. Si- ria-ép vứt đi. Pi-li-pen-cô lãnh đạm hút điều thuốc sâu kèn; còn khi Si-ria-ép đi rồi, thì anh ta cố nhét các bao bị ấy dưới những hòm đạn một cách rất cấn thận.

        — Những đôi giày thế này mà vứt đi! Phải biết xấu hổ chứ! Còn phải đi bao nhiêu nữa. — Và anh lấy tấm vải bố rách, che kín những bao bị thòi ra dưới các hòm.

        Khoảng mười một giờ, chúng tôi bắt đầu rút quân. Các chiến sĩ từng người một đi đến và yên lặng nằm ở sân, trên cỏ trước đây đã có lúc xanh um. Họ vừa lén lút hút thuốc, vừa thu xếp đồ đạc và quấn lại xà cạp.

        Đúng mười hai giờ chúng tôi bắn loạt cuối cùng, ngay từ đây, từ sân, và rút đi.

        Hình dáng các ngôi nhà còn thấp thoáng trăng trắng sau những cây thông một lúc nữa, rồi biến hằn.

        Tuyến phòng ngự trên sông Ô-xcôn không còn nữa. Tất cả những cái gì mới hôm qua còn sống, còn bắn, súng trường, súng máy còn chĩa lên tua tủa, những cái gì vẽ trên sơ đồ nào là vòng bán nguyệt đỏ, nào là những đường chữ chi, nào là những khu vực chéo nhau, những cái gì phải mất mười ba ngày đêm để đào, đậy ba bốn lớp gỗ, rồi cần thận ngụy trang bằng cỏ và cành cây, — tất cả những cái đó giờ đây không cần để làm gì nữa. Chỉ sau vài ngày, tất cả những cái đó sẽ phù kín phù sa, trở thành nơi trú ẩn của loài ếch nhái, sẽ lấp đầy nước đen đủi, hôi hám, sẽ sụp đổ, và đến mùa xuân sẽ phủ một lớp cỏ non xanh mơn mởn. Và chỉ có bọn trẻ con sẽ lội nước đến đầu gối, lang thang la cà qua những chỗ ấy, nơi trước đây đã có những khẩu súng máy bắn hai bên sườn, bắn trực diện, và nhặt những vỏ đạn đã hoen gỉ. Tất cả những cái đó chúng tôi bỏ lại, mà không đánh một trận nào cả, không bắn một phát nào cả...

        Chúng tôi đi trong rừng thông non, thưa thớt, có lẽ là mới trồng không lâu. Đi qua những nhà hầm sở chỉ huy. Thế là chúng tôi đã không đào xong được nhà hầm cho đơn vị trực tiếp chiến đấu. Cái hầm đào dở há hốc mồm toang hoác. Trong bóng tối lờ mờ, thấp thoáng những cây thông con mới đẽo. Chúng tôi vác chúng từ khu rừng bên cạnh để đậy nắp hầm.

        Làng Pê-trô-páp-lốp-ca dài dằng dặc và đầy bụi. Nhà thờ có lỗ thủng to ở gác chuông. Cái cầu con bị mục mà theo kế hoạch đáng lẽ hôm nay tôi phải sửa chữa.

        Yên lặng. Yên lặng như tờ. Ngay cả chó cũng không sủa.

        Không ai nghi ngờ gì cả. Mọi người đều ngù. Còn sáng mai thức dậy thì sẽ thấy bọn Đức.

        Và chúng tôi đi, chẳng nói chẳng rằng, đầu cúi xuống, mắt nhìn chân, không ngoái cổ lại, không từ biệt người nào và cái gì cả, như thừa nhận tội lỗi của minh, cứ thế đi thằng về phía đông theo góc phương vị bốn mươi lăm.

        Va-lê-ga đi bên cạnh. Cậu ta đeo ba-lô, hai bình-toong, cà- mèn, xắc-cốt, túi dết và một túi mặt nạ chống hơi độc đựng đầy bánh mì. Trước khi rút quân, tôi đã muốn vứt bớt một phần đồ đạc để mang cho nhẹ. Nhưng thậm chí cậu không cho tôi đến gần ba-lô.

        — Đồng chí trung úy ạ, đổng chí cần gì thì tôi biết rõ hơn đồng chí. Lần trước tự tay đồng chí xếp đồ đạc, thế mà đồng chí bỏ quên nào là thuốc đánh răng, nào là cốc, chổi cạo râu. Thế là phải đến xin các anh hóa chất.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2019, 03:03:38 PM

        Tôi không có gì để phản đối lại được. Tính Va-lê-ga thật là độc đoán, và cãi với cậu ta chỉ là vô ích mà thôi. Nhưng đó là một thanh niên tuyệt vời. Cậu không bao giờ hỏi gì cả và không bao giờ ngồi không một phút nào. Dù chúng tôi đi đến đâu, thì chỉ sau năm phút lều đã dựng sẵn, ấm cúng, tiện nghi và nhất thiết có rải cỏ tươi. Cà-mèn của cậu bao giờ cũng bóng loáng như mới. Chẳng bao giờ cậu chịu rời hai chiếc bình-toong đựng sữa và rượu. Cậu kiểm những thứ đó ở đâu, tôi không biết; nhưng bao giờ bình-toong cũng đầy ắp. Cậu biết cắt tóc, cạo râu, chữa giày, nhóm lửa dưới trời mưa tầm tã. Hằng tuần tôi thay đồ lót, còn bít tất thì cậu mạng giỏi như phụ nữ. Nếu chúng tôi đóng quân ở gần sông thì hằng ngày có cá ăn, nếu đóng ở trong rừng thì có các loại quả dâu đất, việt quất và nấm. Và cậu làm tất cả những cái đó lặng yên, nhanh nhẹn, không cần tôi nhắc nhở gì hết. Trong thời gian chín tháng chung sống với nhau, chưa bao giờ tôi có điều gì tức giận cậu.

        Bây giờ cậu đang đi cạnh tôi, nhẹ nhàng, không một tiếng động, theo cách đi của người đi săn. Tôi biết khi nghỉ chân thì cậu sẽ trải chiếc áo mưa vải bạt ở chỗ khô ráo nhất, và trong tay tôi sẽ có mầu bánh mì phết bơ và trong chiếc ca tráng men sẽ có sữa. Còn cậu sẽ nằm bên cạnh, nhỏ nhắn, mặt tròn, im lặng nhìn sao và phì phèo hút thuốc trong cái tẩu bé tí và kỳ cục, làm cho cậu giống một cụ già, dù chỉ mới mười tám tuổi đầu thôi,

        Cậu chẳng nói gì về bản thân cả. Tôi chỉ biết là cậu không còn bố mẹ, Có một bà chị đã đi lấy chồng ở đâu đấy mà cậu hầu như không hay biết gì cả. Cậu đã bị tù vì sao ấy, vì sao thì cậu không nói. Nhưng đã ngồi tù và được tha trước thời hạn, Cậu tình nguyện vào bộ đội, Họ thật của cậu là Vô-lê-gốp, trọng âm đánh vào chữ «0» đầu. Nhưng mọi người đều gọi là Va-lê-ga, Đó là tất cả những điều tôi biết về cậu,

        Tôi ít khi nói chuyện với cậu, vì cậu ít nói và kín đáo. Chỉ một lần cậu hơi thổ lộ tâm tình với tôi một chút, Lúc đó vào mùa xuân, chừng ba tháng trước. Chúng tôi ướt như chuột lột và mệt quá chừng. Ngồi hơ cạnh đống lửa, tôi tắt xà cạp ướt, còn cậu nấu tinh bột kê trong một ống bơ, Đã hai tuần rồi chúng tôi chỉ độc ăn cái món tinh bột ấy và nhìn nó thì đã chán ngấy đi rồi.

        Chung quanh tối om và lạnh lẽo. Áo mưa vải bạt ướt sũng, cứ dựng xù lên, chẳng ấm tí nào cả. Lúc đó chỉ có hai chúng tôi,

        Được ánh lửa hồng chiếu sáng, cậu ngậm cái tầu ở mồm và nom giống như một thằng lùn trong chuyện thần thoại đang nấu món ăn thần diệu.   

        — Bao giờ hết chiến tranh, — cậu nói, — tôi sẽ về làng và làm một túp nhà trong rừng. Nhà bằng gỗ xếp. Tôi thích rừng lắm. Và đồng chí sẽ đến nhà tôi, sống với tôi ba tuần. Chúng ta cùng đi săn và câu cá,„

        Tôi mỉm cười,

        — Vì sao đúng là ba tuần?

        — Thế thì bao nhiêu? — Va-lê-ga ngạc nhiên, nhưng mặt cậu không mảy may thay đổi. Cậu vẫn phì phèo hút tẩu thuốc lá và hững hờ khuấy cháo, — Nhiều hơn thì đồng chí không thể ở được đâu, Đồng chí còn phải làm việc chứ. Đồng chí cứ đến ở trong ba tuần, Tôi biết những chỗ rất tốt, ở đấy có gấu, có nai, có cả cá măng nặng đến chừng sáu kí cơ đấy. Quê tôi có những chỗ rất tốt ở vùng An-tai, Không phải như những chỗ ở đây. Rồi đồng chí sẽ thấy, — Cậu lầy thìa liếm, — Tôi sẽ mời đồng chí ăn mì vằn thắm Tôi biết làm mì vằn thắn. Theo cách của chúng tôi, cách đặc biệt.

        Đến đây câu chuyện chấm đứt.

        Bây giờ tôi nhìn cậu và hỏi:

        — Thế nào, Va-lê-ga, bao giờ chúng tớ được chén món mì vằn thắn của cậu, hở?

        Cậu không cười gì cả.

        — Ở đây không có loại thịt có thể làm được. Ở đây không làm đúng cách được.

        — Thế nghĩa là chúng tớ phải đợi đến khi hết chiến tranh chứ gì?

        Cậu không trả lời gì cả và vẫn bước tiếp. Đôi giày cao cổ của cậu to quá cỡ, nên mũi giày cong vểnh lên, còn mũ ca-lô thì bé: chỉ chụp được ở trên đỉnh đầu mà thôi. Tôi biết là trong mũ găm ba cái kim có chỉ màu trắng, đen và xanh lá cây.

        Khoảng bảy giờ, chúng tôi dừng chân nghỉ khá lâu. Trên bản đồ, làng tên là Đu-van-ca Trên. Nhưng ở đây bà con gọi là Véc-si-lốp-ca. Làng này cách Pê-trô-páp-lốp-ca hai mươi hai cây số. Thế nghĩa là chúng tôi đã đi được gần ba mươi cây số. Thế cũng khá lắm rồi vì đường khó đi.

        Các chiến sĩ mệt lắm vì không quen. Sau khi cởi ba-lô, họ nằm gác chân trong bóng râm của vườn cây ăn quả. Những người lanh lợi hơn đem theo được cả sữa và sữa chua trong cà-mèn. Va-lê-ga cũng kiếm được ở đâu đấy một ổ bánh mì trắng và mật ong trong tầng.

        Tôi ăn và khen ngon dù chẳng muốn ăn. Không nên làm Va- lê-ga bực mình.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Bảy, 2019, 03:03:55 PM

        Đôi chân rã rời. Gót chân trái hơi trầy da. Nói chung, ủng của tôi rất xấu, hoàn toàn bị hồng. Thế là tôi chằng nhận được đôi ủng bằng vải bạt. Đành phải lấy dây thép quấn lại hay sao. Đáng lẽ phải nghe Va-lê-ga và đi giày cao cổ một ngày, thì đã chữa được đôi ủng rồi. Còn bây giờ ai biết được bao giờ sẽ gặp kho vật dụng. Trung đoàn chắc đã đi xa rồi, khoảng bảy, tám mươi cây số. Nếu hai ngày qua họ đi thì chẳng ít hơn được. Có thể là họ dừng lại phòng ngự ở đâu đấy hay là đang chọc thủng qua trận tuyến của bọn Đức. Dân địa phương nói rằng: «Sáng chủ nhật bộ đội đi qua. Còn tối thì pháo binh đi». Chắc là quân của sư đoàn chúng tôi. «Họ chỉ dừng lại một giờ và đi tiếp. Anh em bộ đội mệt lử và không vui».

        Thề thì mặt trận ở đâu? Ở trước mặt, ở sau lưng, ở bên phải hay ở bên trái? Mặt trận có tồn tại hay không? Trên bản đồ thường người ta vẽ mặt trận bằng một đường đỏ đậm; còn quân địch thì vẽ màu xanh. Hôm qua, đường xanh ấy còn ở phía bên kia sông Ô-xcôn. Còn bây giờ thì sao?

        Có lẽ trước sáng bọn Đức chẳng bắt đầu làm gì. Chắc là không sớm hơn hai giờ, sau khi nhận thấy chúng tôi im lặng, chúng mới phái trinh sát đi điều tra. Chừng ba bốn giờ sau mới bắt đầu cho bộ binh qua sông. Thậm chí còn chậm hơn nữa, vì phải tập hợp, ra lệnh và vân vân, cho nên đến năm giờ mới bắt đầu được. Bây giờ tám giờ, tám giờ kém năm. Tất nhiên, bọn trinh sát đi mô-tô đã có thể đuổi kịp chúng tôi. Nhưng chắc là chúng không có loại trinh sát đó. Còn bộ binh thì chẳng đuổi kịp được. Xe tăng và ô-tô thì không thể sớm hơn buổi tối, mà cũng có khi đến sáng mai chưa thể qua bờ này được. Tất cả đều phụ thuộc vào điều này: chúng có những đơn vị cầu phao hay không.

        Bọn Đức đã tiến đến gần Vô-rô-nét. Có thể là chúng đã chiếm thành phố đó rồi. Sao không nghe súng bắn? Hôm kia còn nghe súng đại bác bắn từ phía bắc. Sau đó bắn ít hơn và chuyển về phía đông bắc. Còn bây giờ thì không nghe gì cả. Hoàn toàn yên lặng.

        Các chiến sĩ nhốn nháo xúm quanh nồi cháo kê. Như mọi khi, họ càu nhàu là người ta múc cháo cho họ ít. Họ rung các cây táo. Tôi đứng dậy và đi đến gần Si-ria-ép. Anh ngồi lau súng lục. Xà cạp phơi bên cạnh.

        — Nào, chúng ta đi chứ?

        Nheo mắt, Si-ria-ép nhìn qua nòng súng lục ra ngoài sáng.

        — Để các cậu ấy ăn xong thì lên đường. Chừng hai mươi phút nữa, chứ không hơn đâu.

        — Đến Bê-len-cai-a Mới còn bao nhiêu cây số nữa?

        — Chừng sáu, bảy mươi cây số. Bản đồ kia kìa.

        Tôi đo trên bản đồ. Thì ra sáu mươi lăm cây số.

        — Còn hai chặng đường nữa.

        — Nều cố gắng thì trưa ngày mai sẽ đến.

        — Đến thì đến, nhưng có gặp ai ở đấy không chứ. Tôi sợ là sẽ gặp không phải người cần gặp. Tôi chẳng thích sự yên lặng này...

        Trung úy Xa-vra-xốp, sĩ quan tùy tùng đi đến; cả mặt anh ta đỏ gay vì những chấm tàn hương. Anh có vẻ lo âu. Anh ngồi xuống và hút thuốc.

        — Thế là thiếu mất hai người rồi.

        Si-ria-ép đặt súng lục xuống miếng vải xà cạp và quay về phía Xa-vra-xốp.

        — Sao lại thiếu?

        — Ma nào biết được vì sao... Xi-đô-ren-cô ở đại đội một và Cơ-vát ở đại đội hai. Buổi tối thì còn...

        — Họ biến đi đâu mất?

        Xa-vra-xốp nhún vai.

        — Có lẽ là chân bị trầy? Hả?

        — Chắc là không.

        — Nào, gọi hai đại đội trưởng đến đây.

        Si-ria-ép nhanh chóng lắp súng và quấn xà cạp. Các đại đội trưởng đi đến.

        Té ra Xi-đô-ren-cô và Cơ-vát là người đồng hương. Ở đâu đấy gần vùng Hai sông. Khi chúng tôi đóng quân phòng ngự thì vợ của một trong hai người đã đến thăm chổng. Bao giờ hai người ấy cũng cố gần nhau, dù ở hai đại đội khác nhau. Trước đây không thấy họ làm điều gì xấu cả.

        Si-ria-ép bặm môi, im lặng nghe. Anh nhìn một bên, ở chỗ nào đầy. Không đứng dậy, không nhìn các đại đội trưởng, anh nói chậm chạp và gần như lạnh lùng:

        — Nều còn để mất dù chỉ một người, thì tôi sẽ dùng khẩu súng lục này để bắn đấy. — Anh vỗ vào bao súng của mình. —  Hiểu chứ?

        Hai đại đội trưởng không trả lời gì, đứng nhìn xuống đất. Mi mắt của một người giật giật.

        — Hai thằng cha ấy thì chẳng tìm được nữa rồi. Bây giờ về bảo vệ xó bếp... Đổi với chúng thì không còn chiến tranh nữa rồi... — Anh mắng và đứng dậy. — Hãy tập hợp quân để lên đường.
     
        Đôi mắt của anh hẹp và sắc, như đâm nhói vào người ta. Tôi chưa bao giờ thấy anh như thế. Anh chữa lại áo va-rơi, sửa lại các nếp áo nhăn ở bụng, — anh làm những việc đó bằng những động tác ngắn gọn và mạnh mẽ, — bấm chốt an toàn và đút súng vào bao.

        Các chiến sĩ đi ra đường, vừa đi, vừa quấn xà cạp, còn ở tay thì cầm cà-mèn sữa. Những người đàn bà đứng cạnh cồng, lặng thinh, những cánh tay thô kệch nặng nề buông thõng xuống theo thân mình. Ở mỗi nhà đều cổ người đứng nhìn chúng tôi đi qua. Cả trẻ con cũng nhìn. Không ai chạy theo chúng tôi. Mọi người đểu đứng nhìn.

        Chỉ có một bà cụ ở tận cuối làng lúc thúc chạy đến. Mặt cụ nhăn nheo như một quả táo khô. Trong tay cụ cầm một bình sữa chua. Có một chiến sĩ nào đằy chìa cà-mèn ra. «Cảm ơn cụ». Cụ nhanh chóng làm đấu thánh cho anh ta và cũng nhanh chóng lạch bạch đi lui không ngoái cồ lại.

        Chúng tôi đi tiếp.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2019, 11:29:35 AM

5

        Chúng tôi gặp I-go thật là hoàn toàn bất ngờ. Anh ta cùng với La-da-ren-cô, liên lạc viên của ban chỉ huy, cả hai người cưỡi ngựa, nhô lên trước mặt chúng tôi, như từ dưới đất hiện ra. Những con ngựa mệt lử, toàn thân mồ hôi nhễ nhại, thở phì phì. I-go không đội mũ ca-lô, người đen đùi, đầy bụi và ở má một vềt sây sát.

        — Nước!

        Anh uống ở bình-toong. Ngửa đầu, anh ừng ực uống hồi lâu và cục hầu ở cổ cử động. Nước chảy xuống sau cổ áo, để lại những đường trắng trên cổ và cằm. Chúng tôi không hỏi gì cả.

        — Băng cho con ngựa đi, La-da-ren-cô...

        La-da-ren-cô dắt con ngựa đi. Con ngựa tía to lớn — theo tôi là của chính ủy — đi khập khiễng. Chân sau ở bên trái của nó bị đạn. Máu đông lại và ruồi bâu vào.

        I-go lấy bàn tay lau môi và ngồi xuống bên lề đường.

        — Tình hình xấu tệ, — anh nói ngắn, — trung đoàn bị đánh tơi bời...

        Chúng tôi im lặng.

        — Thiếu tá bị giết... chính ủy cũng thế...

        I-go cắn môi dưới. Môi của anh rất đen vì bụi bám đầy, khô quánh và bị nứt nẻ.

        — Tiểu đoàn hai không biết bây giờ ở đâu... Còn tiểu đoàn ba bị diệt gần hết. Không có pháo binh. Còn một khẩu bốn lăm ly, nhưng cũng bị gãy bánh xe... Cho hút với nào... Hộp thuốc lá bị mất.

        Cả ba chúng tôi hút thuốc. Báo không có, nên chúng tôi xé từ giấy ở cuốn sổ tay để vấn thuốc.

        — Bây giờ Mác-xi-mốp quyền trung đoàn trưởng... Cũng bị thương. Ớ tay trái... trúng thịt. Sai chúng tôi tìm các cậu và bảo quay lại.

        — Đi đâu?

        — Đi đâu... bây giờ thì ai mà biết được. Có bản đồ không? Tôi chẳng còn cái gì cả. Không có bản đồ, không có xắc-cốt, mà chẳng có liên lạc viên. Đành phải lấy La-da-ren-cô đi theo vậy.

        — Thế A-phôn-ca bị giết à?

        — Bị thương... Có thể đã chết rồi... Bị vào bụng... Đưa đến tiểu đoàn quân y, nhưng cả tiểu đoàn quân y cũng tan tành...

        — Cả tiểu đoàn quân y?

        — Cả tiểu đoàn quân y. Cả đại đội thông tin của sư đoàn, và tất cả hậu cần... Cho thêm nước nữa...

        Anh uống thêm vài ngụm và súc miệng. Bây giờ tôi mới nhận thấy rằng trong hai ngày qua I-go đã gầy đi biết bao. Má thóp lại. Đôi mắt đen sáng lên, tóc quăn lòa xòa trên trán.

        — Tóm lại, ở trung đoàn giờ đây chỉ còn chừng một trăm người thôi, không hơn đâu. Nói đúng hơn là khi tôi đi có một trăm. Đó là kể tất cả, cả thủ kho, cả anh nuôi nữa. Công binh của cậu đến nay còn nguyên vẹn. Hình như chỉ có một người bị thương thôi... Thuốc cậu cháy chứ?

        Anh châm thuốc, lấy mấy ngón tay giữ điếu thuốc của tôi. Anh hút vào thật sâu và thả ra một luồng khói to và mạnh.

        — Tóm lại, Mác-xi-mốp bảo đi tìm các cậu, rồi đến gặp anh ta.

        Si-ria-ép lấy bản đồ ra.

        — Gặp anh ta? Ở đâu?

        — Đã mất liên lạc với sư đoàn bộ rồi. — I-go lấy bót thuốc lá gãi đầu suy nghĩ. — Chính Mác-xi-mốp tự mình quyết định. Có lẽ sư đoàn bộ đứt liên lạc với chúng ta. Lần cuối cùng sư đoàn bộ đóng cách Bê-len-cai-a Mới chừng hai chục cây số. Nhưng chúng mình không đi tới Bê-len-cai-a Mới được.

        — Thế bây giờ bọn Đức ở đâu?

        — Bọn Đức? Chúng đang đánh chén cách đây chừng mươi, mười hai cây số. Và uống rượu vang...

        — Chúng có nhiều không?

        — Đầy đủ lắm! Tính ra chừng bốn chục xe ô-tô. Toàn là loại năm tấn và sáu bánh. Cứ tính mỗi xe mười sáu thằng, vị chi sáu trăm năm mươi thằng.

        — Chúng tiến đi đâu?

        — Chúng chằng báo cáo cho tớ. Từ đấy có hai đường. Một đi đến đây, còn đường kia — hình như là đường đá loại tốt — đi về phía nam...

        — Mác-xi-mốp ra lệnh đi đâu?

        — Mác-xi-mốp à? — I~go lấy ngón tay chỉ trên bản đồ. —  Đền Căn-tê-mi-rốp-ca. Nói đúng hơn, đến làng Ấp Nhỏ. Nếu đến đấy mà không gặp thì cứ đi đúng hướng nam đến Ban-xcơ Cũ.

        Chúng tôi tập hợp các chiến sĩ.

        Từ đường lớn chúng tôi rẽ ngoặt và đi trên đường làng. Khắp nơi chung quanh, là những khóm lúa mì cao cong xuống vì những hạt trĩu nặng. Các chiến sĩ bứt bông lúa, lấy bàn tay vò và nhai những hạt lúa chín vàng. Chim sơn ca bay cao vút trên trời và hót vang. Chúng tôi đi chỉ mặc áo mai-ô, vì mặc va-rơi nóng quá.

        Té ra mọi việc đã xảy ra rất đột ngột. Quân ta đi đến một làng nào đấy và bố trí ở lại đấy. I-go ở với tiểu đoàn ba. Tiều đoàn hai ở đâu đấy phía trước, chừng năm cây số. Quân ta bắt đầu nấu ăn. Những chiến sĩ bị thương đi qua, nói rằng bọn Đức ở xa chừng bốn mươi cây số, hình như bị quân ta chặn lại.

        Và bỗng nhiên từ đó, từ làng mà tiểu đoàn hai đóng, các xe tăng xuất hiện. Mươi, mười hai chiếc. Không ai hiểu gì cả. Bắn nhau, chạy tứ tung. Chẳng biết bọn xạ thù tiểu liên Đức từ đâu hiện ra. Trong khi bắn nhau, thiếu úy và chính ủy bị hy sinh. Quân ta phá hùy ba xe tăng. Bọn xạ thù tiểu liên bị đuổi ra khỏi làng. Quân ta thiết lập tuyến phòng ngự vòng tròn. Ngay lúc đó, Mác-xi-mốp phái I-go đi tìm chúng tôi. Khi anh vừa ra khỏi làng thì bọn Đức xông vào tấn công: khoảng hai mươi xe tăng và bọn bộ binh đi xe mô-tô, chừng năm mươi chiếc. Chúng bắn I-go trên đường và làm bị thương con ngựa. Còn vì sao có vết sây sát ở má, thì chính anh cũng không biết, lúc đó anh không cảm thấy gì cả?

        Chúng tôi đi qua hào chống tăng. Hào chạy suốt cánh đồng theo hình chữ chi lớn, chạy khuất ở đâu đấy mãi tận chân trời. Đất còn tươi màu, rõ là người ta mới làm. Các hào đều sạch sẽ, cấn thận, vạch theo đúng quy cách và chu đáo ngụy trang bằng cỏ. Cỏ còn xanh chưa kịp khô.

        Tất cả những cái đó còn lại đằng sau — đồ sộ, không cần thiết và chằng ai đùng làm gì cả.

        Chúng tôi cứ đi như thế suốt ngày. Thỉnh thoảng ngồi nghỉ ở đâu đấy dưới bóng cây sồi. Sau đó lại đứng dậy và bước đi trên con đường khô, màu xám. Không khí rung rung vì nóng quá. Bụi nhiều lắm. Hễ lấy tay sờ lên trán là bàn tay đen ngòm. Thân mình ngứa ngáy vì mồ hôi. Áo va-rơi của các chiến sĩ ướt sũng, xà cạp cũng thế. Thậm chí thuốc cũng chẳng muốn hút nữa. Những con châu chấu rè rè kêu inh ỏi.

        Ớ trong một làng nào đấy, các bà bảo rằng một giờ trước, bọn Đức đã đi qua. Chừng hai mươi xe ô-tô. Còn chiều tối thì bọn đi xe mô-tô nhiều vô kề. Và tất cả đều đi về phía sau rừng. Tình hình trở nên phức tạp. Đành phải đề các xe tải lại. Chúng tôi tháo súng máy ra khỏi xe, còn đạn thì chia tay cho các chiến sĩ. Một phần lương thực cũng phải đề lại, chẳng làm thế nào khác được.

        Ban đêm trời mưa. Mưa nhò, khó chịu.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Bảy, 2019, 11:31:14 AM
     
6

        Sáng tinh mơ, chúng tôi gặp túp nhà kho bị phá hoại dở dang; túp nhà bằng đá xây, không có mái, chỉ còn chơ vơ những kèo nhà. Có lẽ trước đây, chỗ này là trại chăn nuôi gà vịt: chung quanh đầy dẫy phân gà. Buổi sáng, trời u ám và ẩm ướt. Chúng tôi bị lạnh, môi thâm tím, còn trong ủng thì nước óc ách. Nhưng không thể nhóm lửa được, vì từ xa đã có thể trông thấy túp nhà này.

        Tôi chưa kịp ngủ dưới chiếc áo mưa vải bạt mà Va-lê-ga đã căng ra cho tôi, thì có người nào đó lầy mũi ủng thúc vào chân tôi.

        — Này, kỹ sư, dậy mà phòng ngự đi... Bọn Đức.

        Từ dưới chiếc áo mưa chỉ trông rõ đôi ủng của Si-ria-ép có những đường nhăn xếp lại và hung hung đồ vì bùn lấm. Mưa phùn lâm thâm rơi. Qua những chiếc kèo nhà trông rõ bầu trời xám xịt, thê lương.

        — Bọn Đức nào?

        — Nhìn xem thì thầy.

        Si-ria-ép chìa ống nhòm. Cách xa chừng một cây số rưỡi, một đoàn người nào đấy chuyển động song song với túp nhà của chúng tôi. Chúng không đông, chỉ chừng hai mươi tên. Không có súng máy. Chắc là bọn trinh sát.

        Si-ria-ép quấn mình trong chiếc áo mưa vải bạt.

        — Chúng đi đến đây làm quái gì thế này? Đường của chúng thiếu hay sao, hở? Nhất định là chúng sẽ xông đến đây, đến túp nhà kho...

        I-go đi đến.

        — Chúng ta sẽ phòng ngự đến cùng, hả? Đồng chí tiểu đoàn trưởng?

        Có lẽ là anh ta cũng đã ngủ một bên má đỏ ửng và có những vết lằn. Si-ria-ép không ngoái lại, vẫn nhìn trong ống nhòm.

        — Rồi... Đã lo liệu rồi, khi cậu đang say giấc nồng cơ. Người đã bố trí xong, súng máy đã đặt xong. Chính thế... Chúng dừng lại.

        Tôi lấy ống nhòm và nhìn. Bọn Đức đang hội ý bàn cái gì đấy, mặt kính ống nhòm bị mưa ướt nên nom không rõ. Phải lau luôn. Chúng đi rẽ về phía chúng tôi. Từng thằng một lần lượt theo nhau đi xuống khe hẻm nhỏ. Có thể là chúng định đi theo khe hẻm. Trong chốc lát không thấy mống nào cả, nhưng rồi các hình thù lại hiện ra. Bây giờ gần hơn. Từ mương xói chúng đi ra và đi ngay ở trên cánh đồng.

        — Khi tôi chưa nói thì chớ khai hỏa vội, — Si-ria-ép nói khẽ. — Hai khẩu súng máy tôi đặt ở túp nhà bên cạnh, từ đó bắn cũng tốt...

        Các chiến sĩ nằm dọc theo tường túp nhà kho cạnh các cửa và cửa sổ. Có một người nào đấy không có va-rơi, chỉ mặc áo mai-ô và choàng chiếc áo mưa, lù lù lòi lên trên kèo nhà.

        Dãy lính địch đi thẳng về phía chúng tôi. Không cần ống nhòm đã có thề phân biệt từng thằng một được rồi. Cả bọn đều khoác súng tiểu liên trên vai: bọn Đức hoàn toàn không nghi ngờ gì cả. Đẳng trước là một tên gầy, cao lêu nghêu và đeo kính, chắc là tên chỉ huy. Nó không mang tiểu liên, mà đeo súng lục ở bên hông trái; bọn Đức bao giờ cũng đeo súng lục bên hông trái cả. Tên chỉ huy đi hơi khập khiễng, rõ ràng là nó mệt. Bên cạnh là một tên nhỏ bé đeo cái ba-lô to sạu lưng. Đút tay vào quai ba-lô, nó hút trong tẩu thuốc ngắn và theo nhịp đi nó gật gà gật gù cái đầu, giống như chim mổ. Có hai tên đi chậm lại phía sau. Chúng cúi xuống, nhìn cái gì đấy.

        I-go huých vào sườn tôi.

        — Xem kìa... thấy không?

        Ở. chỗ toán lính Đức đầu tiên đã hiện ra, có cái gì đấy đang di động. Bây giờ khó phân biệt là cái gì, vì mưa làm trở ngại.

        Và bỗng nghe tiếng hô cạnh tai:

        — Bắn!

        Tên đeo kính đi trước ngã phịch xuống đất. Tên đi theo cũng thế. Và thêm một vài tên nữa. Bọn còn lại chạy, ngã, vấp, lại lồm cồm bò dậy, xô lấn lẫn nhau.

        — Thôi!

        Si-ria-ép đặt súng máy xuống; những quy-lát kêu răng rắc. Một tên Đức cố bò đi. Quân ta đã diệt nó. Nó đang bò chống cả hai chân hai tay, bỗng cứng đờ ra trong tư thế đó, rồi từ từ ngã xuống và nằm nghiêng. Không còn nghe và thầy gì nữa. Vài phút kéo dài như thế.

        Si-ria-ép chữa lại chiếc mũ ca-lô bị lệch ra sau gáy.

        — Có thuốc cho hút với nào.

        I-go tìm thuốc lá trong túi.

        — Bây giờ chúng lại bò đến.

        Anh rút cái hộp tròn màu hung hung đựng thuốc lá. Bọn Đức thường đựng bơ và mứt trong những cái hộp như thè. — Chằng sao, còn kịp hút. Có điếu thuốc thì dù sao cũng xôm trò hơn. — Si-ria-ép vấn một điếu thuốc to bằng ngón tay. — Chằng biết chúng có súng cối không nhỉ? Nểu có thì...

        Một viên đạn súng cối nổ ầm cách túp nhà hai bước, ngắt lời của anh ta. Một viên thứ hai nổ ở đâu đầy sau bức tường, viên thứ ba nồ ngay trong túp nhà.

        Bắn như thế chừng năm phút. Si-ria-ép ngồi xổm, tựa lưng vào vách. Tôi không thấy I-go. Đạn súng cối cứ từng loạt năm, sáu viên bay tới. Rồi ngừng trong vài giây, và lại năm, sáu viên khác. Có người nào đấy ở bên cạnh rên lên giọng cao, hầu như giọng đàn bà. Rồi bỗng yên lặng ngay.

        Tôi chống tay, hơi nhổm dậy và nhìn qua cửa sổ. Bọn Đức chạy trên cánh đồng thằng đến chỗ chúng tôi.

        — Hẵy nghe lệnh tôi!..

        Si-ria-ép đứng lên và chỉ một phóc đã đến bên súng máy.

        Ba loạt súng ngắn vang lên. Rồi một loạt dài hơn.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2019, 11:58:44 PM

        Bọn Đức biến mất trong mương xói. Chúng tôi đưa các chiến sĩ ra khỏi túp nhà kho, họ đào hầm cố thù ở phía sau bức tường. Trong túp nhà, chúng tôi chỉ để lại hai khẩu súng máy: bây giờ chừng đó cũng đù rồi. Chúng tôi đã có bốn người bị thương và sáu bị hy sinh.

        Chúng lại bắn. Dưới sự yểm hộ của súng cối, bọn Đức bò ra khỏi mương xói. Chúng kịp chạy được chừng hai mươi thước, chứ không hơn. Địa điểm ở đây phẳng lỳ, nên chằng nấp vào đâu được. Chúng chạy từng thằng một vào mương xói. Còn phẩn lớn cứ ở tại chỗ. Những thân hình bọn lính lù lù như những mô màu xanh trên mặt đất sét mọc đầy cò dại.

        Sau lần thứ ba thì bọn Đức ngừng tấn công. Si-ria-ép lấy tay áo lau trán ướt đẵm nước mưa và mồ hôi.

        — Bây giờ chúng sẽ bao vây đấy... Bọn chúng thì tôi biết rồi. Xa-vra-xốp trèo qua cửa sổ. Mặt anh ta tái nhợt. Thậm chí tôi cảm thấy hình như đầu gối anh run.

        — Ờ túp nhà kia bị chết gần hết... — anh khó nhọc thở dốc lấy hơi, — Mảnh đạn làm hỏng súng máy rồi... Theo tôi... — anh bối rối đưa mắt nhìn từ tiểu đoàn trưởng đển tôi và lại nhìn tiểu đoàn trưởng.

        — «Theo tôi» thì sao? — Si-ria-ép hỏi một cách gay gắt

        — Phải... giải quyèt... như thế nào cơ...

        — Giải quyết! Giải quyết! Không có cậu tôi cũng biết giải quyết cái gì rồi... Có bao nhiêu người bị loại ra khỏi vòng chiến?

        — Tôi còn.., chưa... chưa tính.

        — Chưa tính...

        Si-ria-ép, đi đến bức tường phía sau của túp nhà kho. Qua cửa sổ bị phá hủy trông rõ cánh đồng bằng phẳng, đơn điệu, không một bụi cây con.

        — Sao? Sẽ chuyển quân chứ? Ớ đây chúng chẳng cho sống đâu...

        Anh quay lại. Mặt anh hơi tái đi so với mọi khi.

        — Mấy giờ rồi? Đồng hồ của tôi chết rồi.

        I-go xem đồng hồ.

        — Mười một giờ hai mươi.

        — Nều thế thì... — Si-ria-ép cắn môi. — Đành phải hy sinh một mình súng máy thôi vậy. Phải yểm hộ cho chúng tôi.

        Té ra, trong số xạ thù súng máy chỉ còn lại một mình Phi-la- tổp. Cru-gơ-li-cốp bị giết, Xê-vát-chia-nốp bị thương. Si-ria-ép đưa mắt nhìn túp nhà.

        — Còn Xê-đức. Xê-đức đâu?

        — Kìa, cậu ấy ngồi trên kèo nhà.

        — Nào, đến đây!

        Cậu thanh niên mặc mai-ô, khéo léo đu người và nhẹ nhàng phóc xuống đất.

        — Cậu có biết dùng súng máy không, hở?

        — Biết, — cậu ta đáp khẽ, hầu như chỉ mấp máy đôi môi.

        Cậu nhìn thằng vào mặt Si-ria-ép không chớp mắt.

        Mặt cậu còn non nớt, toàn một màu hồng, có những sợi lông măng vàng trên đôi má. Và mắt thì hoàn toàn trẻ con: màu xanh lam, vui vẻ, hơi xếch và có những hàng lông mi dài như của con gái. Với bộ mặt đó thì còn đuổi theo chim bồ câu và đánh lộn với trẻ con láng giềng. Và hoàn toàn không hợp với bộ mặt đó — như nhầm lẫn của ai — là cái cổ vững chắc, đôi vai rộng, những bắp thịt căng, rung rung vì mỗi cử động. Cậu không mặc áo va-rơi. Áo mai-ô cũ rích, bạc màu sột soạt dưới sức ép của những thớ thịt trẻ trung.

        — Áo va-rơi đâu? — Si-ria-ẻp nhịn cười, nhưng cố hỏi một cách nghiêm khắc theo giọng tiểu đoàn trưởng.

        — Báo cáo đồng chí tiểu đoàn trưởng, tôi đang giết rận... Và lúc đó thì... bọn Đức kia... Kìa áo va-rơi, sau khẩu súng máy...

        — Và cậu bối rối mân mê cục chai trên bàn tay thô vằ rộng.

        — Thôi được, thế của Đức có biết không?

        — Cái gì? Súng máy à?

        — Tất nhiên, súng máy. Bây giờ chúng ta đang nói về súng máy.

        — Của Đức thì biết kém hơn... nhưng tôi nghĩ là bằng cách nào đấy... — và cậu dừng lại.

        — Không sao, tôi biết, — I-go nói. — Dù sao cũng phải có người nào đấy trong cán bộ chỉ huy ở lại.

        Anh đứng xỏ tay vào túi và hơi lắc lư bên này sang bên kia.

        — Còn tôi định để Xa-vra-xốp lại. Nhưng cũng được thôi...

        — Si-ria-ép không nói hết và quay về phía Xê-đức: — Rõ chứ, ông mãnh? Cậu ở lại đây với thượng úy. La-da-ren-cô cũng ở lại, các cậu đều là những chiến sĩ cừ khôi, có thề tin cậy được. Cậu thầy đấy, chỉ còn một mình Phi-la-tốp thôi. Các cậu sẽ yểm hộ. Hiểu chứ?

        — Hiểu ạ, — Xê-đức đáp khẽ.

        — Hiểu gì?

        — Tôi ỏ1 lại với thượng úy để yểm hộ.

        — Thế thì về chỗ. — Si-ria-ép cài cồ áo va-rơi: trời trở lạnh.

        — Cậu ngồi ở khấu đó, nhưng chuyển nó đi. Đây, ở chỗ khẩu đại liên «mác-xim», tốt hơn. Xa-vra-xốp, chuẩn bị người đi.

        Xa-vra-xốp bước đi. Tôi không thể rời mắt khỏi đầu gối của anh luôn luôn run run nhè nhẹ, nhìn thấy khó chịu.

        — Đừng ở lâu, — Si-ria-ép nói với I-go. — Một giờ, chứ không hơn. Và đi tìm chúng tôi. Đúng phía đông. Đến Căn-tê- mi-rốp-ca.

        I-go yên lặng gật đầu và đứng lắc lư người.

        — Súng máy thì vứt đi. Quy-lát thì quẳng thôi. Băng đạn nếu còn thì mang theo.

        Năm phút sau túp nhà kho trở nên trống trải. Tôi với Va-lê-ga cũng ở lại. Si-ria-ép cùng với mười bốn người nữa rút đi. Trong số đó, có bốn người bị thương, một bị thương nặng. Các chiến sĩ khiêng anh ta trong chiếc áo mưa vải bạt.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Bảy, 2019, 11:59:02 PM

        Mưa tạnh. Bọn Đức lặng yên. Phân gà bị thấm nước, hôi nồng nặc. Chúng tôi nằm với I-go gần khấu súng máy bên trái. Va-lê-ga phì phèo hút tẩu thuốc lá. Xê-đức đặt súng máy xong và nhìn qua cửa sổ. Sau đó, Va-lê-ga đưa bánh mì khô và bình- toong rượu đến. Chúng tôi lần lượt uống ở ca nhôm. Mưa lại bắt đầu rơi.

        — Đổng chí trung úy, có thật là thằng Hít-le chột không, hả? — Xê-đức hỏi và đưa cặp mắt trẻ con sáng sùa nhìn tôi.

        — Mình không biết, Xê-đức ạ, theo mình nó có đủ hai mắt..

        — Thế mà xạ thủ súng máy Phi-la-tốp bảo là nó không có một mắt. Và thậm chí nó không thể có con được...

        Tôi mỉm cười. Rõ là Xê-đức rất muốn sự thực đúng như vậy. La-da-ren-cô nháy một mắt có vẻ đàn anh.

        — Trong chiến tranh trước, hơi độc làm hỏng mắt nó. Thực ra nó không phải người Đức, mà là người Áo. Và họ của nó không phải là Hít-le, mà rất gãy gọn, bắt đầu bằng chữ «s». Có phải không, đồng chí trung úy?

        — Đúng, Si-clơ-gơ-ru-be là họ của nó. Nó người ở Ti-rôn...

        — Người ở Ti-rôn... — Xê-đức trầm ngâm nhắc lại và mặc áo Nva-rơi, — Thế người Đức có yêu nó không?

        Tôi kể chuyện Hít-le lên cầm quyền như thế nào và vì sao. Xê-đức chăm chú nghe, mồm hơi há ra và mắt không nhấp nháy. La-da-ren-cô nghe với vẻ mặt một người từ lâu đã biết rõ mọi điều rồi. Còn Va-lê-ga thì hút thuốc.

        — Có thật là Hít-le chỉ là cai không, hả? Chính trị viên nói với chúng tôi thế.

        — Thật.

        — Sao lại thế được?.. Người có địa vị cao nhất, mà chỉ là cai thôi.

        Cậu lúng túng và mân mê cục chai. Tôi thích khi nào cậu lúng túng như thế.

        — Này Xê-đức, cậu chiến đấu đã lâu chưa?

        — Lâu ạ... Từ năm bốn mốt cơ... từ tháng chín.

        — Thế cậu bao nhiêu tuổi?

        Cậu cau mặt suy nghĩ.

        — Tôi? Mười chín thì phải. Tôi sinh năm hăm ba.

        Thì ra cậu đã bị thương ở bả vai vì mảnh đạn, khi còn ở gần Xmô-len-xcơ. Ba tháng nằm bệnh viện, rồi được phái đi mặt trận Tây-Nam. Ở đây, ở trung đoàn chúng tôi, cậu đã được quân hàm trung sĩ.

        — Thề nào, chiến đầu có thích không, hơ?

        Cậu bối rối mỉm cười và nhún vai:

        — Đến bây giờ thì chẳng sao... Chỉ có chạy dài là không thích thôi.

        Cả Va-lê-ga cũng cười.

        — Thế về nhà có muốn không? Có nhớ nhà không?

        — Sao? Muốn... Nhưng không phải bây giờ.

        — Thế thì khi nào?

        — Về như thế này thì làm gì? Phải có khối con trên quân hiệu như của đồng chí, về mới thích chứ.

        Va-lê-ga bỗng hơi nhổm dậy và nhìn qua cửa sồ.

        — Cái gì thế kia?

        — Theo tôi, bọn Đức... Kia kia, sau mộ đất.

        Phía trái của chúng tôi, bọn Đức đang, di động, đi vòng. Từng tên một chạy từng đoạn. I-go cúi xuống khấu súng máy. Một loạt đạn ngắn vang lên. Lưng và khuỳu tay của anh rung lên. Bọn Đức ẩn nấp.

        — Bây giờ chúng sẽ nã súng cối đây, — La-da-ren-cô nói khẽ và bò đến khấu súng máy của mình.

        Chừng hai phút sau, chúng bắt đầu bắn. Đạn súng cối rơi quanh túp nhà kho, nhưng không trúng trong nhà. Bọn Đức lại cố chạy lên. Trông rõ chúng đứng lên, chạy mấy bước và nằm xuống, rồi lại chạy lui. Súng máy chỉ bốc lên một dải bụi nhỏ, và bọn Đức không đi quá dải bụi đó. Cứ như thế lặp đi lặp lại ba bốn lần.

        Băng đạn sắp hết. Chúng tôi bắn những viên đạn cuối cùng và lần lượt bò qua cửa sồ sau: Xê-đức, I-go, Va-lê-ga, rồi đến tôi, và sau tôi là La-da-ren-cô.

        Khi tôi bò khỏi cửa sổ thì một viên đạn súng cối bùng nổ bên cạnh. Tôi áp người sát đất. Có cái gì đấy nặng nề ở phía sau ngã phịch trên người tôi và chậm chạp bò ra một bên. La-da-ren-cô bị thương ở bụng. Tôi thấy mặt anh bỗng nhiên tái nhợt như gà cắt tiết và răng nghiến chặt.

        — Hình như, đi đời rồi... — Anh cố nhoẻn miệng cười. Từ dưới áo cánh có cái gì đấy đỏ rực trào ra. Anh lấy tay đè chặt vào đấy. Trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi to.

—   Tôi... đồng chí trung... — Anh không nói được nữa, mà phều phào. Một chân co lại, và anh không thể duỗi thằng ra. Ngửa đầu, anh thở gấp gấp. Đôi tay vẫn giữ chặt bụng. Môi trên hơi run. Anh muốn nói cái gì đấy nữa, nhưng không thể hiểu gì được cả. Anh ưỡn mình ra, muốn nhổm dậy và lập tức mềm nhũn. Môi ngừng run.

        Chúng tôi móc túi của anh lấy ra con dao nhíp, tờ báo xếp lại để làm giầy vấn thuốc, cái ví đã mòn quấn một sợi cao su đỏ. Trong áo va-rơi có thẻ đoàn viên thanh niên cộng sản và một bức thư hình tam giác với những chữ ngoằn ngoèo.

        Chúng tôi đặt La-da-ren-cô vào chiến hào, phù lên trên một chiếc áo mưa vải bạt và lấy tay lấp đất. Anh nằm, đầu gối co lại, dường như đang ngủ. Các chiến sĩ bao giờ cũng ngủ như thế trong chiến hào.

        Sau đó, từng người một chúng tôi chạy đến mô đất nhỏ. Từ mô đó chạy đến mô khác to hơn một chút. Bọn Đức vẫn tiếp tục bắn túp nhà kho. Những kèo nhà còn trông rõ một lúc, rồi khuất hẳn.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2019, 10:30:22 PM

7

        Đến đêm chúng tôi gặp được người của chúng tôi. Chung quanh tối đen như mực. Mưa. Bùn. Có những chiếc xe ô-tô và những xe tải gì đấy. Giọng nói khản đặc, rè rè nồi bật lên trong tiếng ồn ào chung đủ giọng.

        — N-nô, đồ dịch hạch! N-nô, n-nô... Đồ quỷ sứ! Nô... Đồ dịch hạch,..

        Và những tiềng «đồ dịch hạch», «đồ quỷ sứ» đó, đơn điệu, tẻ nhạt, cách quãng đề lấy hơi vào ngực, giờ đây hay hơn bất cứ thứ âm nhạc nào. Của quân ta!

        Đến một cái cầu. Một chiếc xe ngựa tải to che vải bạt bị tụt một bánh qua lớp gỗ cầu. Hai con ngựa đáng thương, xương bọc da, hông đẫm máu, cổ vươn dài ra, trượt móng trên ván ướt. Đằng sau là xe ô-tô. Trong ánh đèn pha bật sáng, trông rõ những thân hình ướt đẫm. Một người to lớn như ông hộ pháp, mặc áo bông, quất ngựa vào mắt, vào môi.

        — Đồ dịch hạch, đổ quỷ sứ... N-nô. Quỷ tha ma bắt mày đi!

        Có người nào đấy lúi húi cạnh bánh xe, vừa quát tháo, vừa rán sức ư ử.

        — Cậu đừng cầm ở cái ấy... Cầm ở đây này... thế này...

        — Thế này, quái gì được... Cậu không thấy nó mục rồi à.

        — Thế cậu cầm ở trục.

        — Ở trục... Xem kìa, bao nhiêu hòm chất đấy!.. Mà bảo là cầm ở trục...

        Có người nào đấy đội mũ trùm đẩu, vịn vào vai tôi.

        — Vứt mẹ nó đi thôi!

        — Vứt à? Liệu hồn đấy, — người to lớn quay lại và nói.

        — Thì tớ sẽ vứt đấy... Chẳng lẽ vì mày mà xe ô-tô phải đứng lại, hả?

        — Đứng cũng không sao.

        — Xê-ri-ô-ga, quay máy ô-tô đi. — Người đội mũ trùm vẫy tay.

        Người to lớn khỏe mạnh kia tóm vào vai anh ta. Tử trong chiếc xe ngựa chui ra thêm ba người nữa. Thế là những tiếng chửi rùa nặng nề, đơn điệu vang lên. Chẳng còn phân biệt được cái gì nữa. Những người tài xế đi đến, và thêm vài người khác nữa. Thấp thoáng trong ánh đèn pha, những cái lưng ướt đẫm, những bộ mặt bẩn thỉu, mệt mồi, những chiếc mũ ca-lô trật ra sau gáy. Tôi nhận ra người đội mũ trùm là Cô-pưa-cô, trưởng ban quân khí của chúng tôi. Mũ trùm luôn luôn tụt xuống mắt và rất làm phiền. Cô-pưa-cô không nhận ra tôi.

        — Anh cần gì thế, hở?

        — Không nhận ra à? Kéc-gien-xép, kỹ sư, đây.

        — Thè cơ à! Ở đâu đèn?.. Một mình thôi à?

        Và không đợi trả lời, anh lại chửi mắng người to lớn kia. Mọi người nhảy xô vào cỗ xe ngựa, và vừa hò hét, vừa quát mắng, họ kéo cái bánh xe tụt lên. Va-lê-ga và Xê-đức cũng tích cực tham gia.

        — Ngồi lên xe đi, — Cô-pưa-cô đi đển và nói, — tôi sẽ chở cho.

        — Thế cậu đi đâu đấy?

        — Sao lại đi đâu?

        — Chở đi đâu? Mình cần đi Căn-tê-mi-rốp-ca. Ở đấy có những ấp gi đấy.

        — Chẳng lẽ lại đi xem bọn Đức à? — Cô-pưa-cô mệt mỏi mỉm cười. — Tớ vất vả lắm mới đưa xe từ đấy ra được.

        — Thề bây giờ đi đâu?

        — Cũng như mọi người. về miền nam. Min-lê-rô-vô, thì phải... Nào, lên xe thôi!

        — Mình không phải một mình. Chúng mình có bốn người cơ.

        Anh do dự một tí, rồi vẫy tay.

        — Thôi được. Ngồi lên đi. Cũng thế thôi, xăng không đủ. Ai đi với cậu đấy?

        — Xvi-đéc-xki và hai chiến sĩ liên lạc nữa.

        Các cậu leo vào hòm xe đi. Kìa, chiếc xe «pho» kia. Còn tớ với cậu ngồi ở ca-bin. Mẹ kiếp, chằng biết cái cầu kia có chịu nổi hay không...

        Nhưng cái cầu chịu nồi. Cầu kêu răng rắc, nhưng chịu nổi. Chiếc xe ô-tô rú ga, nặng nề đi qua.

        — Có gặp Si-ria-ép đến không? — tôi hỏi.

        — Không. Thế anh ta ở đâu?

        — Trước đây cùng với mình, còn bây giờ chẳng biết đâu.

        — Có nghe nói thiếu tá và chính ủy bị chết chưa?

        — Nghe nói rồi. Còn, Mác-xi-mốp thế nào?

        — Tớ không biết, tớ ở hậu cần.

        Cô-pưa-cô đột ngột hãm máy. Phía trước bị ùn lại.

        — Cứ như thế mãi... Đi ba bước, đứng một giờ... Và lại mưa nữa chứ.

        Tôi hỏi có ai ở trung đoàn nữa không.

        — Chẳng có ai cả. Chẳng biết cóc gì cả. Ở đây thì cả quân đoàn của ta, cả quân đoàn bạn. Sư đoàn bộ đi đâu đấy lên phía bắc, mà ở đấy thì bọn Đức. Chẳng có bản đồ, chằng có địa bàn...

        — Thế bọn Đức ở đâu?

        — Bố ai mà biết được chúng ở đâu... Hai giờ trước, chúng ở Căn-tê-mi-rốp-ca... Xăng sắp hết rồi. Mà lại bị cảm lạnh nữa. Có nghe giọng nói thế nào không, — anh ta đưa tay dụi mắt. — Hai đêm thức trắng... Tài xế và thợ quân khí lạc đâu mất, khi bị ném bom... Hai thùng dầu xăng bị đánh cắp. Tóm lại, chính cậu cũng hiểu đầy...

        Phía trước, chiếc xe ô-tô đứng lại đã chuyển bánh. Chúng tôi đi tiếp. Trong ca-bin ấm, ra-đi-a-tơ sưởi, tôi buồn ngủ và ngủ gật ngủ gà, chẳng ra thức, chằng ra ngủ. Qua các ổ gà tôi thức giấc. Rồi lại ngủ. Mơ thầy toàn những chuyện vớ vẩn.

        Đèn sáng thì xăng hết. Khó khăn lắm mới bò được đến làng.

        Chúng tôi vào một ngôi nhà nào đấy và nằm phịch xuống sàn, trên những vỏ hạt kêu lạo sạo.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Bảy, 2019, 10:30:42 PM

        Đến tối đường khô ráo hơn. Từng đám mây đen bay về phía đông. Thỉnh thoảng mặt trời ló ra một cách vội vã và uể oải. Đường chật ních xe cộ, nào là «pho», nào là «com-măng-ca», nào là «xtu-đê-béc-ke» đồ sộ có mui Thực ra, những xe này không nhiều lắm. Nhưng xe ngựa tải thì nhiều vô kề. Pháo binh của sư đoàn đang từ từ tiến. Trên các nòng súng dài đu đưa từng chùm ngỗng. Một con lợn con ở đâu đấy eng éc kêu dữ dội. Có những chiếc xe kéo, những chiếc xe tải tự đóng, những chiếc xe kéo pháo trống không. Nhiều người cưỡi ngựa. Có hai người cưỡi bò. Họ quần xà cạp trên sừng bò và cứ thế tiến lên.

        Và cùng với tiếng hò hét, kêu la, cùng với tiếng roi kêu đen đét, tất cả đều chuyển động lên phía trước, về phía đông nam, về phía xa kia, sau chân trời, đi qua cánh rừng, đi qua cối xay gió, đi qua cột tháp địa trắc ba chân trên cánh đổng. Chẳng khác nào một con sâu róm đồ sộ, sặc sỡ đang bò, lượn mình, dừng lại, rung lên và lại bò...

        Chúng tôi ngồi trên khúc gỗ cong queo bên đường và hút điếu thuốc cuối cùng. Va-lê-ga có một bao thuốc lá rời trong túi, thuốc lá chỉ có thế thôi, nhưng chúng tôi có những bốn người. Cô-pưa-cô thì cùng chiếc xe ô-tô biến đâu mất; chắc là anh đã kiếm được xăng ở đâu đấy và ra đi, không đợi chúng tôi. Thôi, mặc anh... Anh chở chúng tôi dù chỉ một đêm cũng đấ tốt rồi.

        Các cỗ xe tải rẽ đến gần giếng. Ớ đây, thôi thì mặc sức chen lấn, quát tháo ầm ĩ! Trong giếng hầu như không còn nước. Những con ngựa không thèm uổng thứ nước sền sệt, đục ngầu và xanh xanh. Nhưng mọi người vẫn cứ vung thùng, lao đến giếng và gào thét.

        — Hừ... — I-go nói và nhìn về một bên ở đâu đấy.

        — «Hừ» cái gì?

        — Làm gì tiếp đây?

        — Đi, chứ còn gì nữa.   

        — Đi đâu?

        Chính tôi cũng chẳng biết đi đâu, nhưng vẫn cứ đáp:

        — Tìm người của chúng ta.

        — Tìm ai, Si-ria-ép và Mác-xi-mốp à?

        — Tìm Si-ria-ép, Mác-xi-mốp, trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn...

        I-go không đáp gì, chỉ huýt gió. Anh gầy đi tợn trong mấy ngày qua: mũi bị tróc da, những chòm ria trước đây rất đỏm đang — thằng như thước kẻ — bây giò. quặp lại như của người Tác-ta. Bây giờ chẳng có gì giống với chàng trai duyên dáng trên tấm ảnh mà có một bận anh đã cho tôi xem. Áo sơ-mi lụa, cà- vát sọc thắt nút to, quần sác-li... Anh đã tốt nghiệp trường đại học mỹ thuật. Ngồi ở mép bàn, tay cầm tấm pa-lét, mồm ngậm điếu thuốc. Còn ở sau lưng có bức tranh lớn với những thân hình hoạt động đang phóng đi đâu đấy...

        Còn trên tấm ảnh khác, một cô gái dễ thương có cặp mắt hơi xếch, mặc áo len trắng. Phía sau tấm ảnh có ghi những dòng chữ cảm động bằng nét chữ còn non nớt.

        Không có gì hết cả... Cả trung đoàn cũng không, cả trung đội, cả Si-ria-ép, cả Mác-xi-mốp cũng không. Mà chỉ có gót chân bị trầy da, chiếc áo va-rơi có những vết trắng loang lồ bị ướt đẫm mồ hôi, khẩu súng lục «TT» ở bên hông và bọn Đức ở tận lòng sâu của đất nước Nga, đang ào ào xông đến sông Đông, và những chuỗi xe ô-tô dài dằng dặc và những ý nghĩ quay cuồng nặng nề.

        Cạnh giếng là một đám đông dày đặc và những tièng kêu la om sòm. Người ta điên cuồng lên vì khát. Những thùng tung lên không. Có tièng kêu và mọi người đổ xô đến. Đám đông mỗi lúc một tăng lên, tăng lên mãi, tràn ra đến đường.

        ...Giá I-go làm họa sĩ thi cũng không tồi. Tay anh vững vàng, đường nét mạnh bạo, anh vẽ đẹp. Có một bận anh vẽ tôi và Mác- xi-mốp trên cuốn sổ tay. Những bức vẽ đó tôi còn giữ trong xắc-cốt.

        Chúng tôi làm quen nhau bắt đầu từ việc mắng nhau. Ở Xê- ra-phi-mô-vích, khi còn đang ở thời kỳ tổ chức các đơn vị, tôi lấy vài chiến sĩ của anh ở trong hầm chống hơi độc và bắt đi đào chiến hào. Anh vội vã chạy đến, áo không cài cúc, mũ đội lệch và mặt đầy căm giận chính đáng. Anh chỉ vừa mới được thủ trưởng bộ phận hóa chất phái đến trung đoàn, nơi tôi đã làm kỹ sư hai tuần rồi. Vì thế lấy quyền «ma cũ» tôi chỉnh anh ta. Sau việc đó chừng mươi ngày, chúng tôi không hề nói chuyện với nhau.

        Sau đó, hình như khi ở ngoại vi Khác-cốp, hoàn toàn ngẫu nhiên tôi thấy cuốn an-bom có các bức vẽ trong xắc-cốt của anh. Và tình bạn bắt đầu từ đó.

        Một đoàn xe ô-tô dài dằng dặc chạy qua. Các xe đều kéo theo những cỗ đại bác nhỏ chống tăng nhún nhảy mỗi khi qua các ồ gà. Các xe đều có vẻ rất đàng hoàng và ở cánh cửa có kẻ những chữ số to và cần thận: D-3-54-27, D-3-54-26. Đó không phải là của đơn vị chúng tôi. Đơn vị chúng tôi là D-I. Các chiến sĩ bỏ thõng chân ra ngoài hòm xe và thò mặt rám nắng, râu ria xồm xoàm, nhìn ra bên ngoài.

        — Các cậu ơi, quân đoàn nào đấy?

        — Thế các cậu cần quân đoàn nào?

        — Ba mươi tám.

        — Ở đây không phải đâu. Đến phòng chỉ dẫn mà hỏi, — và họ cười.

        Còn xe ô-tô thì cứ đi, cái nọ nối đuôi cái kia, chiếc này nổi đuôi chiếc khác, vàng, xanh, nâu, sặc sỡ. Đối với chúng, không tận cùng, không bờ bền.

        — Thế nào, đi chứ?

        I-go đứng dậy và lấy gót giày dí mẩu thuốc lá xuống đất.

        — Thì đi.

        Và chúng tôi hòa mình vào dòng chung.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2019, 09:11:36 PM

8

        — Ê, các cậu, các ông mãnh!

        Từ trên chiếc xe ngựa tải đi qua, có người nào đấy vẫy tay. Hình như là Ca-lút-xki, phụ trách hậu cần của trung đoàn. Cậu ta ngồi trên xe và vẫy tay.

        — Nào, đến đây! Nào!

        Chúng tôi đến gần. Đúng là Ca-lút-xki. Mùi rượu trắng nồng nặc bốc ra ở người cậu, áo va-rơi không cài cúc, mặt mày nhẵn nhụi, láng bóng và cặp lông mày xén gọn.

        — Các tướng hãy vào đoàn của tớ. Tớ chở cho về nhà. Chẳng chờ được tàu điện đâu. — Cậu ta chìa tay cho chúng tôi để giúp leo vào. — Có muốn một tí tửu không? Tớ có thể đãi đấy.

        Chúng tôi từ chối, chẳng hiểu vì sao không muốn.

        — Không nên từ chối. Rượu trắng ngon đấy. Thức nhắm lại sịn. Khẩu phần bổ sung thêm chúng tớ chưa kịp phát. Bơ, bánh bích quy, cá hộp. — Cậu vui vẻ nháy mắt và thân mật vỗ vai. — Còn người của các cậu thì cho lên ngồi xe kia. Tớ đi cùng đoàn năm xe chở cả kho vật dụng đấy.

        — Thế các cậu đi đâu thê? — tôi hỏi.

        — Ngây thơ thế! Bây giờ ai mà hồi như thế? Chúng tớ cứ đi, và chỉ thế thôi. Còn cậu cần đi đâu?

        — Mình hỏi thật đấy.

        — Mà tớ cũng trả lời thật đấy. Bằng cách nào đấy chúng ta sẽ đến Xta-lin-gơ-rát thôi.

        — Đến Xta-lin-gơ-rát à?

        — Thì sao, cái đó không hợp ý cậu à? Muốn đi Ta-sken, hả? Hay là An-ma A-ta?

        Và cậu hô hố cười vang, làm lóe sáng những chiếc răng vàng, Cái cười của cậu giòn giã và đễ lôi cuốn, Toàn thân của cậu chắc nịch, béo quay,,,

        — Có gặp quân ta không? — I-go hỏi,

        — Không, Chỉ gặp chiến sĩ thôi, mà cũng ít, Nghe nói thiếu tá và chính ủy tử trận, Còn Mác-xi-mốp hình như bị vây, Tiếc thật, cậu ta thông minh lắm, Kỹ sư đấy chứ,,,

        — Thế các khối con ở quân hiệu của cậu đâu? — I-go ngẳt lời và đưa mắt chỉ trên cổ áo của cậu ta,

        — Rơi rồi, Có biết bây giờ người ta làm chúng thế nào không? — Ca-lút-xki nheo mắt, — Đeo vào và chỉ ba ngày sau là đi tong rồi, Làm ăn giả dối thế...

        — Và hình như đai da của cậu trước đây cũng có sao cơ mà,

        — Có, Đai tốt, có cả dây đeo kiếm nữa. Đành phải cho, Tay nhiếp ảnh của sư đoàn cứ nằng nặc xin cho kỳ được, Các cậu biết tay ấy chứ: khập khiễng, đi đâu cũng phải có ba-toong, Từ chối thì không tiện, Cử nằng nặc xin mãi, tớ phải cho, Hay là cứ rót mỗi người trăm gam nhỉ?

        Chúng tôi từ chối,

        — Tiếc thật, Rượu ngon, rượu Mát-xcơ-va đấy, — Và cậu ta uống ở bình-toong, nhắm bơ chẳng có bánh mì,

        — Thức nhắm tuyệt trần, Chằng bao giờ say, Nó phủ kín khắp thành dạ dày, Bác sĩ của chúng ta nói với tớ thế, Tay đó cũng thông minh lắm, Tốt nghiệp hai khoa. Ở Khác-cốp, Tớ thấy cả bằng tốt nghiệp cơ đấy,

        — Thế cậu có biết bác sĩ ở đâu không?

        — Không biết, Chắc là đi khỏi đây rồi, Chẳng phải là thằng ngốc, thì nơi nào không đáng chớ có thò cổ vào, — Ca-lút-xki lại nháy mắt,

        Và cậu còn nói lâu, thỉnh thoảng lại nốc rượu ở bình-toong và liếm những ngón tay ngắn dính bơ, Đôi lúc cậu ngừng kể và chửi nhau vóì những chiếc xe tải đi bên cạnh, với những chiếc ô-tô đứng lù lù cản đường đi, với những người cưỡi ngựa đánh rơi mất roi hoặc đi qua giếng mà quên dừng lại. Tất cả những việc đó chỉ là phụ, mặc dù cậu ta khá hăng và có tài trong việc chửi nhau.

        Còn nói chung quan điểm của cậu như thế này. Sự nghiệp có lẽ là đã gần hết rồi. Toàn bộ mặt trận rút lui, — cái đó thì cậu biết rất chính xác. Cậu đã nói chuyện với một thiếu tá, và thiếu tá này đã nghe một đại tá nói như thế. Bọn Đức muốn rằng đến tháng chín thì diệt xong quân ta. Điều đó thì buồn thật, nhưng điều đó hầu như đã là một sự thật rồi. Nếu ở ngoại vi Mát-xcơ- va quân ta chặn được bọn Đức, thì bây giờ chúng đã chuấn bị «tuyệt trần đời»... Chúng có không quân, mà ngày nay không quân là tất cả... Phải tỉnh táo nhìn thằng vào các sự kiện. Điểu chủ yếu là vượt qua sông Đông. Vi-ô-sen-xcai-a nghe nói bị chiếm rồi, — hôm qua có một trung úy từ đấy trở về. Chỉ còn lại Xim-li-an-xcai-a. Nghe nói chúng ném bom kinh khủng lắm. Cùng lắm thì có thể vứt các xe tải và vượt qua sông ở chỗ nào đầy, phía trên hay là phía dưới. Tiện thể nói thêm là, — nhưng cái này rất bí mật đấy — hôm qua cậu đã đổi được ba bộ áo quần thường dân ở trong làng, những áo cánh, quần dài và giày cao cồ. Hai bộ thì cậu có thề nhường cho chúng tôi — tôi và I-go. Ở đời này, biết đâu đấy, việc gì sẽ xảy ra. Mà phải bảo vệ mình chứ — chúng ta có thể còn có ích cho Tồ quốc cơ mà. Ngoài ra cậu còn có một dự định nữa...

        Nhưng cậu không kề được dự định của mình cho chúng tôi. I-go ngồi cạnh tôi, lặng thinh lấy dao nghi ngoáy gì ở đế giày, bỗng ngẩng đầu lên. Bộ mặt gầy nhom, đầy râu ria không cạo của anh trở nên đỏ gay dưới lớp da rám nắng và bám bụi. Mũ ca-lô trật ra sau gáy.

        — Ca-lút-xki, có biết bây giờ tao muốn cái gì nhất không nào?

        — Mì vằn thẳn với cơ-rem sữa chứ gì? — Ca-lút-xki cười nói.

        — Không, không phải mì vằn thắn... Mà muốn cho vào mõm mày một quả đấm cơ. Vung tay thế này này và nện một cú vào cái mặt thớt của mày. Bây giờ mày hiểu chứ?

        Trong giây lát Ca-lút-xki không biết phản ứng lại thế nào — nổi giận lên hay là chuyển thành một câu nói đùa; nhưng rồi cậu tự chủ được ngay, vỗ vào đầu gối I-go và hô hố cười như mọi khi.

        — Tất cả do thần kinh, do thần kinh cả thôi... Đấy, hậu quả các trận ném bom đấy...

        — Cút mẹ mày đi, với những trận ném bom và thần kinh của mày! — I-go gập con dao xếp lại kêu rắc và đút vào túi. — Thế mà cũng là cán bộ chỉ huy cơ đấy... Tất cả tình hình ấy làm cho tao xúc động, lo lẳng. Còn mày thì «chúng ta có thể còn có ích cho Tồ quốc cơ mà». Đồ cứt như mày thì cần cho Tổ quốc lắm đấy! Nói những điều như thế mà không biết xấu hổ với người đánh xe!

        Người đánh xe làm bộ không nghe. Ca-lút-xki nhảy xuống xe và chạy đến quát mắng với anh tài xế. May cho cậu, chiếc xe «đốt-giơ» to lớn ngăn đường chúng tôi.

        Tôi và I-go chuyển sang chiếc xe tải khác.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Bảy, 2019, 09:13:04 PM

9

        Dòng xe thưa hơn. Một phần vẫn rẽ về phía Vi-ô-sen-xcai-a, một phần về phía Ca-lát đi qua Mô-rô-dốp-xcai-a, số còn lại — và là phần lớn — chạy về Xim-li-an-xcai-a.

        Thảo nguyên trơ trụi, phẳng lỳ, với những gò đồi. Những mương xói khô cằn. Những tiếng châu chấu kêu rè rè đơn điệu như tiếng reo của những sợi dây điện. Những con thỏ rừng nhảy ra ngay dưới chân. Người ta dùng tiểu liên, súng lục bắn chúng, nhưng khi nào cũng trượt cả. Mùi ngải cứu, bụi, phân và nước đái ngựa bốc lên.

        Chúng tôi đi. Ngày và đêm chúng tôi đi xe, chỉ dừng lại để cho ngựa ăn uống hoặc nấu ăn. Không thấy bọn Đức. Chỉ có vài lần «cái khung1». bay qua, vứt truyền đơn. Một lần xe của chúng tôi gãy bánh và phải chữa nó mất nửa ngày. Chúng tôi đổi con ngựa cái mù màu xám, lấy con ngựa tía đực. Nó làm tình làm tội chúng tôi lắm, nó đá, hí lên và không muốn chở.. Và chúng tôi phải đồi nó lấy một con ngựa già có môi ướt xệ xuống, nhưng hiền lành và cố gắng.

        Tâm trạng nặng nề. Giá kiếm được ở đâu đấy bản thông cáo và biết được tình hình các mặt trận khác dù sao vẫn tốt hơn ở chỗ chúng tôi. Giá bọn Đức xuất hiện ở đâu đấy. Chứ đằng này thì chẳng có bọn Đức, chẳng có chiến tranh, mà chỉ có một thứ buồn tẻ chán ngắt.

        Có một thiếu tá thông tin nào đấy (chúng tôi kéo giúp chiếc xe «vi-lít» của ông ta ra khỏi rãnh) nói rằng bây giờ đang đánh nhau ở đâu đấy giữa thành phố Vô-rô-si-lốp-gơ-rát và Min-lê- rô-vô và chữ «đánh nhau» ấy đã an ủi chúng tôi được trong chốc lát: như thế là quân ta đang chiến đấu.

        — Và nói chung, các anh nên đến Xta-lin-gơ-rát, nếu không tìm được quân đoàn của mình. Ở đấy, đang thành lập những đơn vị mới. Thế thì các anh sẽ chóng ra trận hơn... — Và đóng ập cửa, ông biến mất trong đám bụi dày đặc.

        Chúng tôi vừa quát mắng, vừa leo lên các cỗ xe tải của mình, hình như những cỗ xe đáng ghét vô cùng!

        Lại thảo nguyên, bụi bặm và bầu trời nóng bỏng, không màu sắc.

        Các bà hỏi bọn Đức ở đâu và chúng tôi đi đâu. Chúng tôi lặng thinh uống sữa lạnh để dưới hầm nhà và khoa tay về phía đông.

        Đằng kia... Quá sông Đông...

        Tôi không thể nhìn những bộ mặt ấy, những con mắt bổi rối muốn hòi ấy. Tôi sẽ trả lời cho họ cái gì được? Trên cổ áo của tôi có hai khối con, bên hông đeo súng lục. Thế thì tại sao tôi không có mặt ở đằng kia, tại sao tôi ở đây, tại sao tôi ngồi lắc lư trên chiếc xe tải kêu ken két này và để đáp lại mọi câu hỏi tôi chỉ khoa tay mà thôi? Trung đội của tôi đâu? Trung đoàn của tôi đâu? Sư đoàn của tôi đâu? Mà chính tôi là cán bộ chỉ huy...

        Tôi sẽ trả lời về điều đó thế nào? Rằng chiến tranh là chiến tranh, rằng chiến tranh chỉ dựa vào sự bất ngờ và mưu trí, rằng hiện nay bọn Đức có nhiều tàu bay và xe tăng hơn chúng ta, rằng chúng vội vã cố chấm dứt chiến tranh trước mùa đông và vì thế ào ạt xông tới như bầy quỷ sứ. Còn chúng tôi dù phải rút lui, nhưng rút lui — chưa phải là thất bại, — hồi năm bốn mươi mốt chúng tôi cũng đã rút lui và sau đó đã đuổi bọn Đức khỏi Mát-xcơ-va ... Vâng, vâng, tất cả những cái đó đểu có thể hiểu được, nhưng giờ đây, giờ đây thì dù sao chúng tôi cũng đang đi về phía đông, không phải về phía tây, mà về phía đông... Và tôi không trả lời gì được, mà chỉ khoa tay về phía đông và nói: «Tạm biệt, mẹ ạ, chúng ta sẽ còn gặp nhau, thật đấy, sẽ gặp nhau...» Và tôi tin điều đó. Bây giờ điều duy nhất chúng tôi có, chính là lòng tin.

----------------
        1. Các chiến sĩ gọi chiếc may bay trinh sát «phốc-ke-vun-phơ» của Đức là «cái khung». — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2019, 09:04:03 PM
         
***

        Chúng tôi đi qua thị trấn Mô-rô-dốp-xcai-a đầy bụi, chật ních những đoàn xe, với những đống đồ nát còn bốc khói của nhà ga và những đoàn toa tàu đứng dài dằng dặc.

        Rồi đến sông Đông. Dòng sông bẻ nhỏ, màu vàng, khuất giữa những bánh xe, những ra-đi-a-tơ, những hòm xe, những thân hình trần truồng, trần một nửa và mặc áo quần, giữa bụi bặm, giữa những tiếng còi và tiếng ầm ầm liên hổi, không một lúc nào ngừng, của những chiếc xe ô-tô rú máy và những giọng người. Một đám mây bụi dày đặc. Những hố bom. Những xác ngựa trương phình lên với những bộ dò chồng lên trời, những thân cây bị chẻ ra và những chiếc xe ô-tô bị lật ngửa.

        Mặt mày mọi người đểu đỏ gay, nhễ nhại mồ hôi, dữ tợn; còn giọng nói thì khản đặc. Một trung úy tóc hơi trắng, đeo quân hiệu có những chiếc rìu công binh ở khuyết áo, giọng khàn khàn, mặc áo không cài cúc, đầu trần, đang cố tổ chức cái gì đấy. Không ai nghe anh ta cả và xô đẩy hất anh ngã lộn nhào...

        Chúng tôi lao qua cầu khi tạm yên giữa hai đợt ném bom. Chúng tôi lạc mất Ca-lút-xki và hai chiếc xe tải. Xê-đức bị mảnh bom làm xước bắp chân. Thừa cơ đó có người nào đấy đánh cắp cái ba-lô của Va-lê-ga. Cậu ta chửi toáng lên, gãi đầu gãi tai và đi lang thang giữa các hố bom và những chiếc xe bị phá hùy. Hừ, trong ba-lô có cả bộ đồ cạo râu rất sang chứ phải thường đâu...

        Qua sông Đông, lại đến thảo nguyên; thảo nguyên chán ngắt, buồn tênh. Hôm nay cũng như hôm qua, ngày mai cũng như hôm nay. Nắng và bụi, chứ không còn có gì khác nữa. Nắng nung nấu óc tùy, làm mụ người đi.

        Những đơn vị đẩu tiên ra mặt trận đi qua. Họ ăn mặc đầy đủ, đội mũ sắt, đeo tiểu liên. Cán bộ chỉ huy thắt đai vàng kêu cọt kẹt và ở bên hông chiếc xắc-cốt mới toanh vỗ vào người theo mỗi bước đi. Họ nhìn chúng tôi hơi mỉa mai. Dân Xi-bê-ri.

        Ở một làng nào đấy người ta chặn chúng tôi lại. Một trường đi ra trận. Vũ khí không đủ, nên họ tước của những người bắt gặp. Hai trung úy người Giê-oóc-gi đội mũ lưỡi trai bộ binh mới nguyên, muốn tước tiểu liên và súng lục của chúng tôi. Lúc đầu chúng tôi chửi mắng nhau, sau đó cùng nhau hút thuốc lá nhẹ vấn cả ngọn.

        — Đi ra trận đấy à?

        — Ra trận đây. Hôm qua còn học, mà hôm nay đã chiến đấu rồi. — Và cả hai mỉm cười.

        — Nhưng có phải hôm nay đâu. Còn phải đi đến chỗ bọn Đức chứ.

        — Thế bọn Đức ở đâu? — hai trung úy hỏi một cách thận trọng để chúng tôi không nghĩ rằng họ sợ.

        — Thì chúng tớ cũng muốn hỏi các cậu đấy. Có đọc báo đến không?

        — Mà báo thì... Đánh nhau ở cung sông Đông. Chỉ thế thôi. Đánh nhau ác liệt lắm. Quân ta phải bỏ Vô-rô-si-lốp-gơ-rát rồi.

        — Còn Rốt-xtốp?

        — Rốt-xtốp thì không. Chưa thấy viết gì.

        — Chưa viết?

        — Ừ, chưa viết.

        Hai trung úy lúng túng. Một người hỏi một cách hững hờ, làm như thể nhân tiện mà hỏi thôi:

        — Thế nào, ở ngoài kia, ở ngoài mặt trận... chạy dài tợn lắm, hả?

        — Ai chạy dài? — I-go làm ra vẻ ngạc nhiên.

        — Hừ, quân ta...

        — Không ai chạy dài cả. Các trận chiến đấu đang diễn ra. Chiến đấu phòng ngự.

        Hai trung úy không tin, nhìn chúng tôi rách rưới, bụi bặm, nhìn những cỗ xe tải bánh lung lay, ọp ẹp,

        — Thế các cậu thì sao?

        — Chúng tớ cái gì?

        — Không chạy dài à?

        — Để làm gì? Chúng tớ đi đến chỗ thành lập các đơn vị.

        Hai trung úy bật cười, như tuồng họ đã được nghe một câu khôi hài khá đạt và đổ thuốc lá vàng vùng Cô-ca-dơ vào bao thuốc của chúng tôi.

        — Các cậu ơi, cho chúng tớ đi theo các cậu được chứ? — bỗng I-go nói và vỗ vào bao súng. — Chúng tớ có súng lục đây, còn cần gì nữa...

        Hai trung úy nhìn nhau.

        — Thật đấy, các cậu ạ... Lang thang mãi chán ngấy rồi.

        — Nhưng chúng tớ thì... — hai trung úy lúng túng nói, — chúng tớ chỉ là tép riu thôi. Các cậu hãy đến trưởng ban tham mưu. Có thể là ông ta nhận đấy. Mà cũng có thể là... Nhưng cứ đi đến đấy. Thiếu tá Xa-dăn-xki. Kìa, túp nhà kia kìa, chỗ chiếc xe bánh xanh đỗ ấy mà.

        Chúng tôi cài tất cả các cúc áo, thắt lại đai da, súng lục thì để lại, đề phòng ông ta sẽ tước mất và bước đi.

        — Các cậu đi đến phải làm đúng quân phong, quân kỷ đấy nhé, — hai sĩ quan kêu với theo, — mọi điều lệnh ông ta đều thuộc làu làu cả. Phải rập giày mạnh, đừng có tiếc gót đấy nhé!

        Thiếu tá ngồi trong túp nhà nhỏ xíu, đang ăn canh cù cải đỏ với cơ-rem sữa ngay trong cà-mèn. Bên cạnh, cái kính đề trên bàn.

        — Các anh cần gì, nói đi? — ông hỏi, không ngẩng đầu lên và đang cố nhai miếng thịt cứng.

        Chúng tôi đứng nghiêm, kề lại đẩu đuôi, thế nọ, thế kia. Ông nhai xong miếng thịt, đặt thìa xuống bàn và đeo kính vào. Vừa lấy mảnh bao diêm xỉa răng, vừa nhìn chúng tôi hồi lâu.

        — Này các ông bạn ơi, tôi sẽ nói gì với các anh đây? — ông nói giọng trầm thấp, hơi ồ ổ. — Tôi chẳng nói được điều gì tốt đâu. Các anh tưởng các anh là người đầu tiên đến với tôi ư? Không phải thế. Khoảng mươi người, chằng phải mươi người, mà chừng hai chục người như các anh đã đến đây. Thế thì tôi đưa tất cả các anh vào đâu? Làm lính thì các anh không chịu, mà cán bộ chỉ huy thì ở đây cứ mỗi trung đội tôi đã có đến hai người rồi. Và chừng mươi người ở hậu bị nữa. Bây giờ thì hiểu chứ?

        Chúng tôi lặng thinh.

        — Thè thì các anh cũng thấy đấy... Muốn giúp cũng chẳng được... —Ông lại cầm thìa.

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá, nhưng dù sao...

        — Dù sao thế nào? — ông lên giọng hỏi. — Dù sao nghĩa là gì? Các anh ở trong quân đội hay không? Tôi đã bảo với các anh không được và thế là hết. Chúng tôi ở đây là trung đoàn, chứ không phải sở tìm việc cho người thất nghiệp. Hiểu chứ? Đẳng sau, quay! Bước đều, bước! — Và ông nói thêm giọng dịu hơn: — Các anh hãy đến Xta-lin-gơ-rát. Nghe nói ở Xta- lin-gơ-rát hiện giờ các thủ trưởng đều đang tập trung ở đấy. Các anh ở quân đoàn nào?

        — Báo cáo đổng chí thiếu tá, ba mươi tám ạ.

        — Ba mươi tám... Ba mươi tám... — ông lấy ngón tay út gãi ở gốc mũi. — Có người nào đấy với tôi, tôi không nhớ là ai, nhưng thật đấy có người nói. Tóm lại, các anh cứ cố đến thử ở Cô-ten-ni-cô-vô xem sao. Đấy cũng tiện đường. Quân đoàn của các anh hình như ở đấy. Cứ xem, cứ xem sao...

        Chúng tôi chào và đi ra.

        Ở Cô-ten-ni-cô-vô, người ta nói với chúng tôi là sở chỉ huy ở Áp-ga-nê-rô-vô. Nhưng hóa ra ở Áp-ga-nê-rô-vô, sở chỉ huy không còn nữa. Người ta khuyên đi Các-pốp-ca. Ở đấy cũng không có. Có một đại úy nào đấy nói rằng anh ta nghe thấy hình như quân đoàn của chúng tôi ở Cốt-lu-ban. Chúng tôi đi Cốt- lu-ban. Chẳng thầy tăm hơi gì. Ở chỗ chỉ huy trưởng địa phương, người ta nói rằng có một thiếu tá nào đấy thuộc quân đoàn ba mươi tám đã ở đây và đi Đu-bốp-ca. Ớ ga Lốt, chúng tôi gặp ba trung úy từ Đu-bốp-ca đến. Quân đoàn ba mươi tám ở đầy không có. Họ đang đi đến Cơ-léc-xcơ Pốt-tổp-xcai-a.

        Những xe ô-tô chạy đến Ca-lát. Nghe nói ở đấy đang đánh nhau dữ dội. Việc ăn uống chẳng ra cái quái gì cả. Có đơn vị nào đấy đi qua, chẳng hiểu vì sao cho chúng tôi bánh mì và thức ăn khô. Va-lê-ga và Xê-đức kiếm đâu ra được một bao yến mạch.

        Và tóm lại... Chúng tôi đi Xta-lin-gơ-rát...


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Bảy, 2019, 09:08:28 PM
        
10

        Thành phố Xta-lin-gơ-rát đón chúng tôi bằng những bóng râm dài, mát và ánh mặt trời mới ló ra khòi mái nhà.

        Chiếc xe tải vui vẻ kêu cọc cạch trên nền đường lát bằng đá tảng. Những chiếc tàu điện cũ kỹ tróc cả sơn, vừa chạy về phía chúng tôi, vừa kêu leng keng. Những đoàn xe «xtu-đê-béc-ke» mũi tròn chở những hòm đạn «ca-chi-u-sa1». dài, giống như những cỗ quan tài. Trong các vườn hoa rụng lá, chằng chịt những chiến hào: những khẩu pháo cao xạ cảnh giác chĩa lên trời. Ở trong chợ thì hàng đống cà chua và dưa chuột. Những chiếc chai to lớn đựng sữa đã cô lại màu vàng. Thấp thoáng những áo vét-tông, mũ cát-két và thậm chí cả cà-vạt nữa. Đã lâu tôi không thấy cảnh tượng đó. Cũng như trước, phụ nữ vẫn đánh môi son.

        Qua tù kính bày hàng, trông rõ người thợ cắt tóc mặc áo choàng trắng đang quét xà phòng vào râu người nào đấy. Ở rạp chiều bóng chiếu phim Ăng-tôn I-va-nô-vích nổi giận. Các buổi chiếu vào lúc mười hai, hai, bốn và sáu giờ. Người quét đường hót phân trong cái xẻng to. Từ trong ống loa đen ngòm treo trên cột tàu điện, có người nào đấy, không rõ là ai, đàn ông hay đàn bà, đang rất cảm động kể lại chuyện cậu bé Van-ca Giu-cốp2 lên chín trong đêm Nô-en đã viết thư cho ông của cậu ở nông thôn...

        Và trên tất cả những cái đó, là bầu trời xanh lam. Và bụi... Và những cây keo mảnh khảnh, và những ngôi nhà bằng gỗ có hình con gà trống bằng ván cắt, và tấm biển «Chó dữ, đừng vào». Còn bên cạnh là những tòa nhà to bằng đá có những hình phụ nữ đang nâng cái gì đấy ở phía chính diện. Văn phòng «Hợp tác xã mua bán Hạ Vôn-ga», xưởng «Chữa giày cao su», «Sửa chữa bếp dầu», phòng «ủy viên công tố khu phố Lê-nin»...

        Đường phố rẽ ngoặt về tay phải và đi về phía cẩu ở bên dưới. Cầu rộng có đèn. Dưới cầu không còn sông. Con sông có một tên rất lộng lẫy: Hoàng hậu. Trông rõ một đoạn sông Vôn-ga: những bến tàu, sà-lan và bè mảng dài vô tận. Chúng tôi còn rẽ về tay phải nữa và lên núi. Chúng tôi đi đến nhà bà chị của đại đội trưởng trước đây của I-go ở trung đoàn hậu bị. «Rồi các cậu sẽ thấy, chị ta là vàng mười đấy».

        Chúng tôi dừng lại bên một ngôi nhà một tầng bằng đá, vôi vữa trát tường bị bong ra và cửa sổ thi dán chéo dọc ngang những dải giấy. Một con mèo trắng mắt to nằm trên bậc thềm và không hài lòng nhìn chúng tôi.

        I-go biến mất sau cánh cồng. Một phút sau anh hiện ra vui vẻ, đầu trần, chỉ mặc áo mai-ô.

        — Xê-đức, nào, cho vào đây! — Và nói vào tai tôi: — Đâu vào đấy cả rồi. Vừa vặn đến đúng bữa ăn sáng.

        Một cái sân con bé nhỏ mà ấm cúng. Mái hiên lắp kính có dăng những sợi dây, trên dây có treo cái gì đấy màu xanh. Một cái thùng đặt dưới ống máng. Áo quần đang phoi khô. Một con ngỗng bị buộc chân vào tay vịn. Và lại con mèo, nhưng lần này là con đen đang ngồi lấy’chân rửa mặt. Đó là điểm báo chúng tôi đến.

        Sau đó, chúng tôi ngồi dưới mái hiên, cạnh chiếc bàn phù khăn và ăn canh đậu ngon tuyệt. Chúng tôi có bốn người, nhưng chừ nhà cứ múc thêm mãi cho chúng tôi. Bà Ma-ri-a Cu-dơ-mi- nít-sna có đôi tay thô, bị nứt nẻ vì làm bếp, nhưng tạp-dề bà mặc thì trắng tinh, còn bếp dầu và các chậu thau treo trên tường đề nấu mứt thì có lẽ bà lau chùi hàng ngày. Trên đỉnh đầu của bà là một búi tóc bạc, kính đeo ở gốc mũi có quấn bông.

        Ăn canh xong, chúng tôi uống trà và biết rằng chồng bà, ông Ni-cô-lai Ni-cô-lai-ê-vích, gần bữa ăn trưa sẽ về, ông làm việc ở kho vật liệu ô-tô; rằng con ngỗng là do người em gứi cho bà — anh ta vẫn ở trung đoàn dự bị. Rằng sau khi đi đường, nếu chúng tôi muốn tắm thật sự, thì ở ngoài sân có vòi hoa sen, chỉ cần phải lầy nước đồ vào thùng, còn áo quần của chúng tôi thì hôm nay bà sẽ giặt, việc đó đối với bà chằng khó khăn gì cả.

        Chúng tôi uống mỗi người ba cốc trà, rồi múc nước đồ vào thùng và vừa cười ha hả, vừa khoác nước tẳm trong góc hẹp được ngăn bằng những tấm ván. Thật khó mà tả được sự sung sướng ấy lớn lao đến thế nào.

        Gần bữa ăn trưa thì Ni-cô-lai Ni-cô-lai-ê-vích đi về. Ông ta, người nhỏ nhắn, hói đầu, mặc chiếc áo vét-tông tuýt-xo cũ rích, có bộ mặt cực kỳ linh hoạt và luôn luôn lấy ngón tay gõ bàn hoặc mân mê cái gì đấy trong tay.

-------------------
        1. Tên gọi dân gian của một loại súng cối phản lực, không nòng. — ND.

        2. Truyện ngẳn của A.P.Sê-khốp (1860—1904) nhan đề là Van-ca Giu-cốp. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Bảy, 2019, 10:06:03 PM
     
        Ông muốn biết về mọi việc. Hỏi chúng tôi về tình hình ngoài mặt trận, về việc ăn uống của chúng tôi ở ngoài ấy, về việc Soóc- sin nó nghĩ cái gì mà không chịu mở mặt trận thứ hai, — «cái đó thì tệ quá chừng, tự các anh cũng thầy thế chứ», — và theo các anh, bọn Đức có tiến đến Xta-lin-gơ-rát được hay không, và nếu chúng đến thì quân ta có đủ sức phòng ngự không. Bây giờ mọi người đều đi đào chiến hào. Và ông cũng đã đi hai lần, và ở đấy có đại úy nào đầy nói với ông rằng chung quanh Xta- lin-gơ-rát có đèn ba vòng hay như ông ta gọi là ba vành đai. Cái đó có lẽ là tuyệt lắm. Đại úy đã gây cho ông ấn tượng của một người đứng đắn. Người như thế thì chẳng «ba hoa» đâu.

        Sau khi uống trà xong, Ni-cô-lai Ni-cô-lai-ê-vích chỉ cho chúng tôi xem tấm bản đồ mà ông đã đánh dấu mặt trận bằng những lá cờ con nhỏ xíu. Ông lấy thước bằng kim loại đo khoảng cách từ Ca-lát và Cô-ten-ni-cô-vô đến Xta-lin-gơ-rát, và vừa thở dài, vừa lắc đầu. Ông không thích những tin tức gần đây. Ông đọc báo rất chăm chỉ, — ông mua không những báo Sự thật Xta-lin-ga-rát, mà cả báo Sự thật xuất bản ở Mát-xcơ-va nữa. Báo được xếp thành hai chồng để trên tủ, và nếu bà vợ cần gói cá mòi muối thì phải chạy sang nhà hàng xóm xin, chứ không được động đến những chồng báo ấy.

        Sau đó, chúng tôi ngủ ở ngoài sân dưới bóng cây keo, lấy khăn đắp mặt để ruồi không bâu.

        Buổi chiều, chúng tôi sửa soạn đi xem ca hài kịch Cái nịt tất của Boóc-gi-a. Chúng tôi đánh ủng ở ngoài sân bằng nước bọt.

        Ở bậc thềm nhà đối diện, có một cô gái ngồi uống sữa trong cái cốc dày có nhiều cạnh. Cô tên là Li-u-xi-a và là bác sĩ. Bà Ma-ri-a Cu-dơ-mi-nít~sna đã nói cho chúng tôi biết về điều đó. Cô gái có đôi mắt đen, sáng, như hai hạt huyền, cặp lông mày đen và mớ tóc vàng rực, cắt theo kiều con trai. Cô mặc xa-ra- phan1 bằng vải hoa. Tay và cổ rám nắng, màu da bồ quân. I-go quay lại để nhìn cô dễ hơn.

        — Này I-u-ri, cặp chân khá lắm, hả? Và nói chung...

        Anh rán sức nhổ nước bọt vào bàn chải.

        Cô gái uống sữa, nhìn xem chúng tôi đánh ủng, rồi đặt cốc trên bậc thềm, đi vào phòng và trở ra với một hộp xi đánh giày.

        — Xi này tốt đấy, của Ềt-tô-ni. Có lẽ là tốt hơn nước bọt, — và cô chia hộp xi ra.

        Chúng tôi cảm ơn và lấy xi. Quả là nó tốt hơn nước bọt thật. Những chiếc ủng bóng lộn như mới. Bây giờ thì vào nhà hát cũng không xấu hồ. Cô hỏi chúng tôi có phải sửa soạn đi xem hát không? Vâng, đi xem hát, vồ. Cái nịt tất của Boóc-gi-a2. Hay là cô cùng đi với chúng tôi chăng? Không, cô không thích xem ca hài kịch, mà ca kịch thì ở Xta-lin-gơ-rát không có. Lẽ nào không có? Không có thật. Mà cô thích ca kịch à? Vâng, đặc biệt là vở Ép-ghê-ni ơ-nê-ghin3, Tơ-ra-vi-a-ta... và Con đầm pích4. I-go khoải trá vô cùng. Thì ra Li-u-xi-a đã học ở trường âm nhạc, — đó là trước khi vào học ở học viện cơ, — và cô có chiếc đàn dương cầm. Thế là việc đi xem ca hài kịch hoãn lại lần khác.

        — Mời các anh đến nhà chúng tôi, mẹ tôi sẽ dọn trà.

        — Ố, vui lòng lắm, đã lâu không được ngồi uống trà trong nhà, chúng tôi đã quên cả rồi.

        Ngồi trong phòng khách trên những chiếc ghế bành có chân uốn cong, chúng tôi chỉ sợ là chúng ngã khuỵu dưới sức nặng của chúng tôi: những chiếc ghè mảnh khảnh và trang nhã làm sao, còn chúng tôi thì thô kệch và vụng về. Trên tường treo bức tranh Hòn đảo của những người chết của Bi-ô-clin. Chiếc dương cầm với bức tượng bán thân của Bét-tô-ven. Li-u-xi-a đánh bài Căm-pa-nen-la của Li-xtơ.

        Hai ngọn nến to từ từ nhỏ giọt trên giá đèn. Chiếc đi-văng mềm mại và tiện lợi với lưng tựa thoai thoải. Tôi kê chiếc gối thêu hạt cườm dưới lưng và duỗi dài chân ra.

        Sau gáy của Li-u-xi-a, tóc cắt rất cần thận. Những ngón tay của cô thoăn thoắt chạy trên các phím đàn; chắc là ở trường nhạc bao giờ cô cũng được điểm «ưu» vì sự nhanh nhẹn đó. Tôi lắng nghe Căm-pa-nen-la, ngắm nhìn bức tranh của Bi-ô-clin, bức tượng thạch cao của Bét-tô-ven, một chuỗi voi con bằng đá U-ran đang đứng nối đuôi nhau trên tù buy-phét, nhưng chằng hiểu vì sao tất cả những cái đó đối với tôi xa lạ như phù một lớp sương mù.

--------------------
        1. Một loại áo dài phụ nữ, không có tay áo. — ND.

        2. Ca kịch của Trai-cốp-xki. — ND.

        3. Ca kịch của Véc-đi. — ND.

        4. Ca kịch của Trai-cốp-xki. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Bảy, 2019, 08:09:48 PM
 
        Ở ngoài mặt trận, bao nhiêu lần tôi mơ ước những phút như thế này, khi chung quanh không có tiếng súng bắn, tiếng đạn nổ, và được ngồi trên chiếc đi-văng, và được nghe âm nhạc, và bên cạnh có một thièu nữ xinh đẹp. Và giờ đây tôi được ngồi trên chiếc đi-văng, lắng nghe âm nhạc... Nhưng chẳng hiểu vì sao giờ đây tôi thấy không thích. Vi sao? Tôi không biết.. Tôi chỉ biết là từ giờ phút mà chúng tôi rời khỏi sông Ô-xcôn, — không, muộn hơn, sau việc xảy ra ở túp nhà kho, — luôn luôn trong lòng tôi có một nỗi buồn khó chịu. Thực ra, tôi không phải là tên đào ngũ, tên nhát gan, tên đạo đức giả, nhưng tôi có cảm giác dường như tôi vừa là tên thứ nhất, vừa là tên thứ hai, vừa là tên thứ ba.

        Mấy hôm trước, ở chỗ nào đấy gần Các-pốp-ca thì phải, tôi ngồi với I-go bên lề đường và hút thuốc. Va-lê-ga và Xê-đức nấu ăn bữa tối bên đống lửa. Một đơn vị pháo binh đi qua, đơn vị mới toanh, ra mặt trận. Các chiến sĩ trẻ, vui, mặt mày đỏ ửng vì rám nắng. Họ ngồi lắc lư ở trong những xe kéo pháo chạy trên con con đường đầy bụi, vừa cười, vừa nói với nhau những câu bông phèng. Và một người nào đấy trong bọn, chẳng ra trung sĩ, chẳng ra chiến sĩ thường, cưỡi trên lưng con ngựa tía, vui vẻ cất cao giọng, như giọng những người hát đầu:

        — Kìa, các ngài quân nhân, rúc vào hầm sâu tài thật. Chằng có viên đạn, chẳng có mảnh bom nào trúng được...

        Và mọi người cười hô hố quanh anh ta, còn anh chàng khuấy nhộn nhất của khấu đội ấy đệm thêm:

        — Giá có được cái ấm xa-mô-va và mứt nữa thì tuyệt...

        Và mọi người lại cười rộ lên.

        Tôi hiểu là không phải anh ta, không phải các chiến sĩ cười vang kia muốn xúc phạm chúng tôi, nhưng nói thật là những lời bông phèng đó làm cho chúng tôi không hài lòng. Thậm chí Va-lê-ga còn văng tục và lầu bầu cái gì đấy, hình như là: «Rồi sẽ xem, chừng hai tuần thì chúng mày sẽ hát cái gì đây...»

        Quả thật, cái đáng sợ nhất trong chiến tranh, không phải là bom đạn, có thể quen được với tất cả những thứ ấy; cái đáng sợ nhất chính là sự không hoạt động, sự vô định, sự thiếu mục tiêu trực tiếp. Ngồi trong chiến hào ở chỗ lộ thiên giữa trận ném bom đáng sợ hơn nhiều so với khi xông vào tấn công. Mà chính ở trong chiến hào thì khó bị chết hơn khi xông vào tấn công. Nhưng khi tấn công thì có mục tiêu, có nhiệm vụ, còn khi ở chiến hào thì chỉ có việc đếm bom và chờ xem nó có rơi trúng hay không trúng. Li-u-xi-a đứng dậy khỏi dương cầm.

        — Mời các anh đi uống trà. Chắc là ấm xa-mô-va đã sôi rồi. Bàn được phủ một chiếc khăn kêu sột soạt có những nếp là hình vuông. Trong những đĩa con bằng pha lê là mứt anh đào đã lấy hạt — đó là thứ mứt mà tôi thích nhất. Chúng tôi uổng trà trong những cốc mỏng mảnh và không biết để bàn tay của mình ở đâu, những bàn tay thô kệch, không được rửa sạch, có những vềt bầm tím và những vết quào sây sát, có những tua xơ ở ống tay áo và chúng tôi sợ làm vương vãi mứt trên chiếc khăn trải bàn. Mẹ của Li-u-xi-a, một người đàn bà ẻo lả, đeo kính gọng đồi mồi, có những cổ áo dựng lên, như các bà giám thị ở các lớp. Bà lấy mứt cho chúng tôi và luôn luôn thở dài.

        — Các anh xơi đi, xơi nữa đi. Ở ngoài mặt trận thì các anh chằng được nuông chiểu đâu. Ở ngoài mặt trận thi gay go lắm. Tôi biết mà, nhà tôi chiến đấu trong cuộc chiến tranh trước đã kể lại, — và lại thở dài. — Thế hệ này thật là bất hạnh, thế hệ bất hạnh...

        Chúng tôi từ chối cốc thứ ba. Chúng tôi ngồi thêm chừng năm phút cho có vẻ lịch sự, rồi, cáo từ ra về.

        — Các anh cứ ghé lại nữa, ghé lại nữa nhé. Các anh đến, bao giờ chúng tôi cũng vui mừng cả.

        Sau đó, chúng tôi nằm dưới gốc cây keo bụi bặm và nằm mãi hồi lâu không ngủ được. Xê-đức ngủ cạnh tôi. Trong giấc mơ cậu chép miệng và gác tay lên người tôi, I-go nằm trằn trọc mãi.

        — I-u-ri, cậu không ngủ à?

        — Không.

        — Nghĩ gì thế?

        — Thế thôi... Chẳng nghĩ quái gì cả...

        Trong tối I-go tìm thuốc lá.

        — Có gì hút không, hả?

        — Xem trong ủng, trong túi con.

        I-go sờ soạn trong chiếc ủng, lấy túi con và vần một điếu.

        — I-u-ri này, chán ngấy tất cả rồi.

        — Tất cả cái gì?

        — Cái cảnh lang thang không việc nảy. Lang thang như chó dái...

        — Thì sao, ngày mai thôi không lang thang nữa. Chúng mình sẽ đến ban cán bộ. Từ sáng sớm, trước bữa ăn sáng.

        — Ban cán bộ cũng thế thôi, hạnh phúc cái gì. Lại nhét vào đơn vị hậu bị nào đấy và lại tập đi đều bước, tập chào. Hay là vào trung đoàn dự bị thì lại càng xấu.

        — Tớ chẳng vào trung đoàn dự bị đâu.

        — Cậu không vào à? Thế đi học cũng không đi à? Đi An- ma A-ta hay là Phơ-run-dê? Nghe nói các trung úy và thượng úy đều phái đến trường cả.

        — Thì cứ để người ta phái. Dù sao tớ cũng chẳng đi đâu.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Bảy, 2019, 11:05:52 PM

        Chúng tôi lặng thinh một lát. I-go hút điếu thuốc lập lòe sáng.

        — Chúng mình sẽ làm gì với các cậu kia?

        — Các cậu nào? Va-lê-ga và Xê-đức, hả?

        — Phải đưa hai cậu đó đến nơi phiên chế lại.

        — Chúng chẳng đi đâu. Chúng mình sẽ nộp xe tải và ngựa. Còn các cậu đó tớ chẳng trả đâu. Tớ và Va-lê-ga đã cùng nhau chiến đấu chín tháng rồi. Và chúng mình sẽ ở cùng nhau cho đến hết chiến tranh, nếu một trong hai đứa chưa bị chết.

        I-go cười.

        — Va-lê-ga của cậu buồn cười thật, Hôm qua, nó và Xê-đức cãi nhau đấy, Nấu khoai tây thế nào, Xê-đức muốn luộc khoai cả vỏ, còn Va-lê-ga thì không chịu, Nó bảo rằng trung úy — tức là cậu đấy — không thích bóc vỏ khoai, mà thích ăn sạch cơ. Chúng tranh cãi nhau chừng mươi phút,

        — Hừ, thì sao, thế là cần vụ chân chính đây, — tôi nói và trở mình. — Ngủ đi, mai phải dậy sớm.

        I-go ngáp dài, nhổ nước bọt và dụi điều thuốc xuống đất.

        Ở đâu đấy rất xa, có tiếng súng cao xạ bắn, ánh chiếc đèn chiếu di động quét trên bầu trời, và Va-lê-ga thở dài trong giấc mơ. Cậu nằm cách tôi hai bước, nằm cuộn tròn, lấy tay che mặt. Bao giờ cậu cũng nằm ngủ như thể.

        Va-lê-ga nhỏ bé, mặt tròn của tôi oi! Trong những tháng qua mình với cậu đã đi bao nhiêu rồi, đã ăn chung bao nhiêu cháo trong một cà-mèn, đã bao nhiêu đêm cùng ngủ nằm cuộn trong một chiếc áo mưa vải bạt... Mà trước đây cậu không muốn đến làm cần vụ cho mình. Phải khuyên nhủ ba ngày. Cậu cứ đứng gằm mặt và ậm ừ nói cái gì đấy không rõ — nói là tôi không biết, tôi không quen. Cậu xấu hổ vì rời khỏi đồng đội. Cùng với họ lê bước khắp tiền duyên, cùng với họ chia sẻ ngọt bùi, đẳng cay, thế mà bỗng đi làm liên lạc viên cho thủ trưởng. Ớ chỗ «giường êm nệm ấm». Thế thì tôi không biết chiến đấu hay sao, tồi hơn những người khác à?

        Mình quen với cậu lắm rồi, cậu bé tai vểnh kia ơi, quen hơi bén tiếng vô cùng... Không, không phải là quen. Đó không phải là quen, mà đó là cái gì đấy khác hẳn, to lớn hơn. Không bao giờ mình nghĩ về điều đó. Chỉ vì không có thì giờ thôi.

        Thực ra cả trước đây tôi cũng có bạn. Có nhiều bạn. Cùng học, cùng làm việc, cùng uống rượu, cùng cãi nhau về nghệ thuật và những vấn đề cao siêu khác... Nhưng tất cả những cái đó có đủ không? Có đủ không, những lần ăn uống, những lần bàn cãi, những cái gọi là lợi ích chung, văn hóa chung?

        Va-đim Ca-xtrit-ki là một thanh niên thông minh, có tài và tế nhị. Với cậu ta bao giờ tôi cũng thích và tôi học được nhiều ở cậu. Mà thử hỏi giá tôi bị thương, cậu có khiêng tôi từ chiến trường về hay không? Điều đó trước đây tôi không quan tâm đến. Nhưng bây giờ thì quan tâm. Còn Va-lê-ga thì nhất định sẽ khiêng về. Điều đó thì tôi biết... Hay là Xéc-gây Vê-lét-nít-xki. Thử hỏi cậu ta có đi trinh sát cùng tôi không? Tôi không rõ. Còn Va-lê-ga thì sẵn sàng đi với tôi đến bất cứ nơi nào, dù cho đến tận cùng của thế giới đi nữa.

        Trong chiến tranh, ta hiểu biết con người một cách thật sự. Giờ đây điểu đó đối với tôi hoàn toàn rõ. Chiến tranh cũng như một tờ giấy quỳ, cũng như một thứ thuốc hiện hình đặc biệt nào đấy. Va-lê-ga kia, khi đọc còn đánh vần, làm tính chia còn nhầm lẫn, không biết tám lần bảy là bao nhiêu, và cứ thử hỏi cậu ta chù nghĩa xã hội hay là Tồ quốc là gì, thì xin nói thật là cậu ta chẳng có thể nói ra đầu ra đuôi được: xác định bằng từ những khái niệm đối với cậu là quá khó. Nhưng vì Tổ quốc này — vì tôi, vì I-go, vì các đồng đội của mình trong trung đoàn, vì ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo của mình ở đâu đấy vùng An-tai, vì Xta-lin mà cậu không hề thấy, nhưng đối với cậu đó là tượng trưng của tất cả cái gì tốt và đúng, — thì cậu sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Và nếu hết đạn thì sẽ dùng nắm tay, dùng răng... Đấy, con người Nga như thế đấy. Ngồi trong chiến hào, cậu sẽ chửi rủa chuẩn úy nhiều hơn bọn Đức, còn đi vào việc thì cậu sẽ tò ra rất xứng đáng. Còn làm tính chia, tính nhân và đọc trôi chảy thì cậu sẽ học được, miễn là có thì giờ và ý muốn...

        Va-lê-ga lầu bầu cái gì đấy trong giấc mơ, nằm trở mình và lại co người, kéo đẩu gối lên đến cằm.

        Ngù đi, ngủ đi, chú bé tai vểnh kia ơi... Chằng bao lâu lại chiến hào, lại những đêm thức trắng. Va-lê-ga, đến đây! Va-lê- ga, đến đằng kia! Bây giờ thì cứ ngủ đi. Còn khi hết chiến tranh, nếu còn sổng, thì chúng ta sẽ nghĩ ra cái gì đấy để khắc phục nhược điểm trên.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 03:06:34 PM

11

        Buổi sáng ở ban cán bộ, chúng tôi chạm trán với Ca-lút-xki, mặt mày tươi rói, râu ria cạo nhẵn và hình như có béo thêm ra một chút nữa.

        — Ồ, các cậu... Mạnh khỏe chứ? Đi đâu đấy? — Cậu ta đưa bàn tay ấm và ươn ướt của mình ra.

        — Đến chỗ mà cậu vừa đến.

        — Đợi một tí. Chớ vội vã. Các cậu có thuốc không?

        — Có.

        — Cần phải hút. Và nhân thể để cho đầu óc suy nghĩ một tí. Kìa, cái ghế kia tốt đấy.

        Cậu ta kéo chúng tôi đến cái ghề dài ba chân ở trong vườn hoa bụi bặm.

        — Đừng quyết định vội, khi chưa tính toán kỹ. Các cậu có hiểu không? Ớ đây, công việc giản đơn lẳm. Hoặc là hậu bị, hoặc là tiền duyên. Pằng, pằng — thế là các cậu đi đời.

        — Thì sao?

        — Cái đó thích hợp với các cậu lắm, hả? — cặp lông mày gọt tỉa của cậu ta rướn lên. — Có biết ở tiền duyên bây giờ thế nào không? Tệ lắm rồi... Từ bốn phương tập hợp đến. Hôm nay tớ đã nói chuyện với một trung úy bị thương. Hôm qua vừa Ca-lát. Cán bộ chỉ huy hầu như đã hết rồi. Người ta đưa vào bất cứ chỗ nào. Đây này, người cho anh đây, tuyền phòng ngự đây, và cố thủ đi. Các cậu hiểu chứ? «Méc-xe» thì cứ quần trên đầu. Tóm lại...

        Cậu ta. đưa ngón tay to mập, ngắn cũn vạch trong không cái dấu chữ thập.

        — Còn hậu bị thì thế nào? Cháo kê, bánh mì, cứng như đất sét. Mà có thể có cá mòi muối nữa. Và tập luyện từ sáng đến tối, nào là điều lệnh, điều lệnh chiến đấu bộ binh, trung liên... Có ăn hạt quỳ không?

        Không đợi trả lời, cậu đồ vào lòng bàn tay chúng tôi những hạt quỳ nhỏ, rang cháy.

        — Bây giờ nói tiếp... — Cậu ta hơi cúi xuống và nói thì thẩm một cách bí ẩn. — Tớ gặp một đại úy ở đây, tớ sẽ giới thiệu các cậu với ông ấy. Một người tốt lắm. Đã làm phó chỉ huy trinh sát ở ban tham mưu một sư đoàn. Tâm sự với nhau. Hóa ra là có những người quen chung. Tóm lại, chừng năm, sáu ngày nữa, mươi ngày là cùng, sẽ có trung tá Su-răn-xki đến đây. Các cậu có biết ông ta là ai không? Vàng mười đấy! Tớ xưng hô với ông ta là «cậu, tớ». Đã từng đánh chén với nhau cơ mà. Thế thì chính Su-răn-xki sẽ thu xếp chu cả thôi. Bây giờ ông ta đang đi công tác ở Mát-xcơ-va. Một tuần nữa có mặt ở đây. Nói chung là tớ khuyên các cậu quay gót trở lại. Các cậu có chỗ nào để ở chứ? Còn tớ sẽ cho các cậu biết tình hình.

        Và bỗng cậu ta đứng lên và bỏ hạt quỳ vào túi.

        — Đợi một tí nhé. Các cậu đợi nhé. Muốn nói vài lời với thiếu tá kia kìa...

        Và chữa lại cái mũ lưỡi trai, cậu ta đi khuất sau góc nhà.

        Chúng tôi vào ngôi nhà có những cửa sổ bẩn. Một trung úy xoàng xĩnh đi ủng mới đánh xi, cho biết rằng ban công binh ở đường phố Tuốc-kéc-xtăn-xcai-a và ở đấy đang kiểm kê tất cả các công binh. Còn những ngành chuyên môn khác — xạ thủ, bắn súng cối, pháo binh, — thì ở phòng thứ năm từ mười một đến năm giờ.

        Chúng tôi đi trên đường phố Tuốc-kéc-xtăn-xcai-a. I-go giả làm công binh.

        — Mẹ kiếp! Những cái mặt nạ chống hơi độc này. Chán ngấy. Trong ba ngày cậu sẽ dạy được cho mình mọi điều mưu mẹo.

        Ờ đường phố Tuốc-kéc-xtămxcai-a lại gặp một trung úy khác, chỉ có khác là tóc đen và đi ủng bằng vải bạt. Sau đó gặp thiếu tá. Sau đó là năm bảng kê khai và — mười giờ sáng ngày mai các anh hãy đến».

        Ngày hôm sau, lúc mười giờ. chúng tôi điền thêm vào những tấm phiếu gì đấy và nhận mệt giấy giới thiệu — «Kính gửi thiếu tá Da-báp-ni-cốp, xin ghi vào hậu bị» — chúng tôi đi đến đường U-dơ-bếch-xcai-a, nhà số 16.

        Ở đấy, chừng hai mươi người là cán bộ chỉ huy công binh. Họ ngồi trên bệ cửa số, uống trà, hút thuốc và chửi rùa hậu bị. Thiếu tá không có. Một lúc sau, ông đi đến. Người nhỏ nhắn, cáu kỉnh, xanh xao, có đôi mắt kèm nhèm. Lại hỏi: người nào, cái gì, ở đâu đến. Thời gian biểu: từ chín đến một giờ, học tập, rồi ăn trưa, từ ba đến tám giờ, lại học tập. Chúng tòi ghi tên vào một đại đội thủy công nào đấy để có khẩu phần ăn. Và đi về nhà.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Bảy, 2019, 03:07:19 PM

        Buổi chiều, tôi cùng với Li-u-xi-a thẩn thơ đi chơi trên đường bờ sông. Bầu trời đỏ rực như báo điểm dữ. Trên chân trời một đám mây giông như khói đen đặc. Dòng sông Vôn-ga gợn sóng vì cơn gió thổi, mặt nước không lấp lánh tí nào. Và bè mảng, bè mảng vô tận. Những chiếc tàu kéo quấn đầy cành lá xanh, giống như hôm nay là ngày hội mùa xuân «trôi-ít-xa». Ở bờ bên kia là những ngôi nhà nhỏ, một tòa nhà thờ và những cần múc nước trong mỗi sân.

        Chúng tôi cầm tay nhau đi, thỉnh thoảng đừng lại cạnh lan can bằng đá, chống khuỷu tay lên đấy và nhìn ra xa. Và Li-u-xi-a nói cái gì đấy, hình như về hai nhà thơ Blốc và Ê-xê-nin, và hỏi tôi cái gì đấy, và tôi đáp lại, và chằng hiểu vì sao trong lòng tôi không yên, tôi không muốn nói gì cả về Blốc lẫn Ê-xê-nin.

        Những cái đó trước đây đã làm tôi quan tâm và xúc động, còn bây giờ đã rời xa tôi, xa lắm... Kiên trúc, hội họa, văn học... . Trong suốt thời gian chiến tranh, tôi chằng đọc một cuốn sách nào. Và không muốn. Không khao khát.

        Tất cả những cái đó để sau này, sau này...

        Mà ngày mai thì lại cái món hậu bị ấy, cứ hằng chục lần tháo ra, lắp vào khẩu súng máy «đéc-chia-rép». Và ngày kia, và ngày kìa. Và lại ông thiếu tá Da-báp-ni-cốp cáu kỉnh, mắt kèm nhèm ấy sẽ nói với chúng tôi rằng phải đợi, rằng khi nào có lệnh thì sẽ gửi ra mặt trận, rằng có những người để lo nghĩ về việc ấy, và cứ nói, nói nữa, nói mãi...

        Chúng tôi đi ngang qua bức tượng Anh hùng Liên-xô Khôn- du-nốp. Thật xấu hổ, tôi không biết người anh hùng đó đã làm gì. Bằng đồng, nặng nề, mặc áo da, Khôn-du-nốp đứng vững vàng, tin tưởng và chẳng nhìn ai cả. Chúng tôi đọc dòng chữ đề, nhìn bức phù điêu ở chân tượng.

        Chúng tôi đi ra quảng trường trung tâm. Một chiếc máy bay «hây-nơ-ken» méo mó, màu xám, có những dấu chữ thập đen và con sư tử thời trung cổ trên cái khiên của quân hiệu, nằm ở đấy. Nó giống một con chim dữ tợn bị thương, rơi xuống đất và dùng vuốt bám chặt vào đất. Những cậu bé con leo lên những cánh bị gãy tan, bò vào ca-bin, sờ mó các máy móc. Những người lớn cau có và chăm chú nhìn qua những sợi dây chăng dài, những mô-tơ bị vỡ và những khấu súng máy lòi ra.

        — Đồ chó đẻ, bọc thép cả...

        — Ừ, chúng chẳng tiếc kim khí đâu.

        — Thế mà máy bay bằng gỗ dán đánh nó sao nổi.

        — Nó có mấy súng máy?

        — Hai. Và hai đại bác.

        — Còn bom?

        — Hai tấn bom.

        — Hai tấn?

        Li-u-xi-a kéo tay áo tôi.

        — Ta đi thôi. Tôi nhìn nó chán rồi. Ta đi đến đồi Ma-ma-ép.

        .— Đi đâu?

        — Đền đồi Ma-ma-ép. Từ trên đồi trông ra cả Xta-lin-gơ- rát như trong lòng bàn tay. Cả Vôn-ga lẫn bờ bên kia sông đều trông rõ rất xa. Ở đấy thích lắm. Thật đấy.

        Chúng tôi đi đến đồi Ma-ma-ép.

        Đồi không cao và không đẹp. Những cây con trồng thành hàng. Li-u-xi-a nói rằng ở đây định làm công viên văn hóa. Có thế là sau này ở đây sẽ đẹp, nhưng bây giờ chẳng có gì hấp dẫn lắm. Có những tháp nước gì đấy, cỏ khô cằn và các khóm cây gai, thưa thớt.

        Nhưng phong cảnh nhìn từ đây thì tuyệt thật.

        Thành phố lớn ôm lấy dòng sông. Những tòa nhà mới, đồ sộ bằng đá nổi bật lên trên những nhà cửa bằng gỗ vây kín thành phố khắp tứ phía. Những nhà gỗ xiêu vẹo, nhỏ bé, ẩn mình dọc theo các mương xói, bò ra đến tận sông, leo lên cao và đứng chen chúc,giữa những tòa nhà máy bằng bê-tông cốt sắt. Những nhà máy to lớn phun khói, những cần trục ầm ĩ, những tiếng còi đầu máy xe lửa. Nhà máy «Tháng Mươi Đỏ», «Chiến lũy» và xa mãi tận chân trời là tòa nhà máy Máy kéo. Ở đấy có những khu công nhân của nhà máy ấy: những tòa nhà trắng, cân đối và những biệt thự nhỏ cỏ mái phủ lớp nhựa bóng loáng.

        Và sau tất cả những cái đó là dòng sông Vôn-ga bình thản, phẳng lỳ, rộng rải và hiền hòa, và những đám cây xanh ở bờ bên kia, và những ngôi nhà nhỏ nhô ra ngoài đám cây xanh ấy, và xa xa là một màu tím nhạt, và có thằng ngốc nào đấy bắn lên không trung một chiếc pháo sáng tung ra những tia lửa màu xanh đỏ đẹp,


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Bảy, 2019, 05:50:01 PM

        Chúng tôi ngồi ở mép mương xói uốn quanh và trơ trụi, và nhìn xem chiếc tàu lửa đang chạy ở bên dưới, Chiếc tàu dài lắm, trên những toa không mui có cái gì đấy che vải bạt, chắc là xe tăng, Chiếc đầu máy có ống khói ngắn, như phồng lên, nặng nề và bực bội thỏ. phì phì, Nó phun khói ra dữ dội và chậm chạp kéo với một sự kiên trì đặc biệt giống như con trâu kéo đã từng quen với các vật nặng,

        — Anh nghĩ gì thế? — Li-u-xi-a hỏi,

        — Nghĩ đến súng máy, Ớ đây là địa điểm đặt súng máy rất tốt,

        — I-u-ri... Sao anh có thể?

        — Còn một khẩu nữa đặt ở đằng kia kìa, Nó sẽ bắn vào phía kia mương xói tuyệt lắm,

        — Phải chăng anh chưa chán những thứ ấy sao?

        — «Thứ ấy» là gì?

        — Chiến tranh, súng máy...

        — Chán ngấy,

        — Thế thì anh nói đến những thứ ấy làm gì? Nếu như có điều kiện không nói đến, thì nói để làm gì„,

        — Chỉ là thói quen thôi, Bây giờ thi cả khi nhìn lên mặt trăng tôi cũng nghĩ đến sự ích lợi của nó, Một bà bác sĩ chữa răng nói với tôi là khi nghe nói về một người nào đấy, bà ta trước tiên nhớ đến răng, đến lỗ sâu răng, đến răng đã đổ chì của người ấy,

        — Còn tôi, khi không ở bệnh viện, thì tôi cố quên tất cả những chân, tay bị cưa cụt, những cảnh khoan, đục xương và những điều kinh khùng khác,

        — Đó chỉ vì chị làm việc ở bệnh viện chưa lâu, thế thôi,

        — Tháng thứ hai rồi đấy,

        — Còn tôi thì năm thứ hai rồi, Mà một năm chiến đấu thì bằng ba năm hòa bình cơ đấy, Có khi bằng năm năm,

        Li-u-xi-a chống tay vào đầu gối tôi và nhìn vào mắt tôi, Cô ta có một nốt ruồi nhỏ ở mắt trái và lông mi — cũng giống như của Xê-đức — dài và cong lên.

        — I-u-ri, trước chiến tranh anh là người như thế nào?

        Biết trả lời với cô sao đây? Cũng là người như bây giờ, chỉ có hơi khác một chút thôi. Trước chiến tranh tôi thích ngắm mặt trăng, thích kẹo sô-cô-la nữa, thích ngồi ở dãy ghề thứ ba trước sân khấu nữa, thích hoa tử đinh hương nữa, thích uống rượu với các bạn nữa.

        Chúng tôi ngồi im một lúc, lặng ngắm bờ sông đối diện.

        — Đẹp, hả? — Li-u-xi-a nói.

        — Đẹp, — tôi đáp lại.

        — Anh có thích ngồi nhìn thế này không?

        — Thích.

        — Ở Ki-ép chắc anh cũng đã ngồi với ai đấy trên bờ sông Đơ-nhi-ép buổi tối và nhìn chứ gì?

        — Vâng, đã ngồi nhìn.

        — Vợ anh ở đấy, ở Ki-ép à?

        — Không. Tôi chưa có vợ.

        — Thế thì anh ngồi với ai ?

        — Với Li-u-xi-a.

        — Cũng là Li-u-xi-a à? Buồn cười thật, cũng là Li-u-xi-a.

        — Cũng là Li-u-xi-a. Và cô ta cũng như chị, tóc cắt ngắn. Nhưng không chơi dương cầm được.

        — Bây giờ chị ấy đâu rồi?

        — Tôi không biết. Cô bị ở lại vùng bọn Đức chiếm. Nhiều người ở lại như thế. Bố mẹ tôi cũng thế.

        — Anh có ảnh chị ấy không?

        — Có.

        — Có thể xem được không?

        Tôi lấy tầm ảnh trong ví ra. Tôi và Li-u-xi-a cùng chụp. Tấm ảnh chụp xấu, hầu như đã bạc màu. Li-u-xi-a cầm ảnh và cúi đẩu thấp đến nỗi những sợi tóc của cô chạm vào mặt tôi. Từ tóc phảng phất mùi xà phòng thơm dễ chịu.

        — Mặt Li-u-xi-a của anh không cân đối. Anh không nhận thấy à?

        — Không, không nhận thấy.

        — Anh có yêu chị ấy không? Hay là chỉ thế thôi.

        — Tôi cảm thấy hình như có. Dù sao thì tôi cũng nhớ.

        — Nhiều không?

        — Có lẽ là nhiều.

        — Sao lại có lẽ?

        — Thế thì rất nhớ.

        Li-u-xi-a nhìn xuống.

        Và bỗng mặt cô đỏ lên. Thậm chí hai tai nhỏ nhắn, có lỗ xâu để đeo hoa tai cũng đỏ ửng.

        Ở dưới thấp, một chiếc tàu lửa nữa chạy qua, cũng dài dằng dặc và thở phì phì như chiếc trước. Chiếc tàu điện kêu leng keng ở đâu đấy, nhưng không trông thấy. Trên nền trời, những ngôi sao nhợt nhạt và e lệ xuất hiện.

        Tôi nhìn sao, nhìn tai hồng và nhỏ có cái lỗ xâu con, nhìn bàn tay mảnh khảnh của Li-u-xi-a, nhìn chiếc nhẫn có gắn viên đá xanh đeo ở ngón tay út. Li-u-xi-a thật dễ thương, và giờ đây ngồi với cô tôi cảm thấy dễ chịu: còn một vài ngày nữa chúng tôi sẽ xa nhau và không bao giờ gặp lại nhau nữa. Và tôi còn sẽ gặp những Li-u-xi-a khác nữa trong suốt thời gian chiến tranh, và có thể là sẽ ngồi cùng với họ như thế, và rồi cả những cô đó sẽ đi xa đâu đấy, và tôi sẽ quên mặt, quên tên của họ, và họ hòa lại với nhau thành một cái gì duy nhất, lớn lao, mờ ảo, dễ chịu, tạo nên một ảo ảnh của cái gì đã trôi qua, xa xăm và quyến rũ như thế.

        Và tôi cho cô địa chỉ của người bạn tôi ở Mát-xcơ-va, để sau khi chiến tranh chấm dứt, nếu cô muốn thì có thể viết thư cho tôi theo địa chỉ đó. Cô ghi địa chỉ vào một cuốn sổ tay bé tí và nói rằng nhất định thế nào cô cũng sẽ viết.

        Một giờ sau, chúng tôi ra đi. Li-u-xi-a lặng thinh, hai tay nắm chặt tôi và tôi cảm thấy tim của cô đập khẽ, và đôi tay của cô ấm áp, mềm mại, và toàn thân cô có cái gì dễ chịu và cảm động.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Bảy, 2019, 05:35:30 PM

12

        Chúng tôi được giao công tác. Tôi, I-go và hai trung úy ở hậu bị nữa. Chúng tôi lập thành một nhóm đặc công. Thủ trưởng của chúng tôi là thiếu tá Gôn-stáp rất có vẻ trí thức, đầu hói và cận thị. Trưởng nhóm là đại úy Xa-môi-len-cô, cau có, khịt khịt mũi luôn, và trước cũng ở quân hậu bị.

        Công tác chẳng có gì phức tạp. Để phòng xa, phải chuẩn bị phá hoại các cơ sở công nghiệp. Phải lập bản đồ phân phối thuốc nổ, tính toán lượng thuốc nổ cần thiết, quyết định phương pháp làm nổ và hướng dẫn những đội phá hoại được tổ chức riêng biệt ở trong nhà máy. Chỉ có thế thôi.

        Tôi được giao phụ trách nhà máy thịt, kho ướp lạnh, nhà máy xay số bốn và nhà máy làm bánh mì. I-go thì nhà máy bia, một nhà máy xay khác và nhà máy «Vật phẩm kim loại».

        Chúng tôi dọn đến căn nhà mới to lớn, trống trải, không tiện lợi và có ban-công trông ra quảng trường gần ga. Hầu như chằng có đồ đạc gì cả. Một chiếc bàn, bốn cái ghế, ba cái giường đã bị võng xuống và một cái que điện xoắn ốc để đun nước sôi mà người nào đấy đã bỏ quên.

        Tôi và I-go chiếm hai giường, đặt áo ca-pốt lên trên giường. Giường thứ ba của thượng tá có cái họ nghe rất lạ tai Pen-gau-nít, chắc là người Lát-vi-a. Người thứ tư là Sa-pi-rô nằm trên các ghế xếp lại. Va-lê-ga và Xê-đức nằm trên sàn phòng bên cạnh. Còn đại úy cau có thì ở trong căn nhà tư ở đâu đấy. Mỗi ngày một lần, ông ta đi đến, khịt khịt mũi, hỏi chúng tôi đã làm gì, hút thuốc, rồi ra đi.

        Ở các nhà máy, các giám đốc đều lúng túng, vung tay lên, nói rằng không có ai đề lập các đội: chỉ rặt toàn phụ nữ ở lại thôi. Công nhân thì gườm gườm: chẳng biết mấy tay quân nhân này cứ đến mãi làm cái quái gì. Tôi đóng vai chuyên viên cứu hỏa: sờ mó các bình cứu hỏa.

        Ở kho ướp lạnh, người ta đãi chúng tôi ăn kem đựng trong những chiếc đĩa to. Ở nhà máy thịt thì giò chả và xúc-xích.

        Ban ngày sáng sủa và nóng nực, ban đêm ngột ngạt.

        Bà Ma-ri-a Cu-dơ-mi-nít-sna than phiền là ở ngoài chợ vật giá đều tăng, cả sữa lẫn bơ không thể nào mua được. Còn ông chồng thi cứ thở dài cạnh tấm bản đồ. Các bản thông cáo chẳng đem lại tin gì phấn khởi cả. Thành phố Mai-cốp và Cơ-rát-xnô- đa bị chiếm.

        Trong thành phố rất nhiều thương binh. Mỗi ngày một nhiều hơn. Râu ria xồm xoàm, mặt mày xanh xao, họ đi từng đoàn dài đến sông Vôn-ga, những dải băng trắng nổi bật lên trên bộ quân phục đẫm máu và bụi bặm của họ. Các bệnh viện tản cư. Các đội tuần tiễu đi khắp các khu phố và thành phố kiểm tra giấy chứng minh. Các đường đi Ca-lát và Cô-ten-ni-cô-vô chật ních xe cộ. Trong tất cả các sân đều tích cực đào thêm chiến hào và những cái hầm thật to và sâu, — người ta nói là để đựng nước cứu hỏa. Thỉnh thoảng những chiếc «gioong-ke» bay đến, ném vài ba quả bom ở đâu đấy ngoài rìa thành phố và bay đi. Pháo cao xạ trong thành phổ nhiều.

        Soóc-sin đáp máy bay đến Mát-xcơ-va. Bản thông cáo chung chằng dứt khoát gì cả.

        Đánh nhau ở đâu, chúng tôi cũng không biết rõ. Trong các bản thông cáo mập mờ đưa tin: «vùng đông bắc Cô-ten-ni-cô- vô», «cung sông Đông»... Nghe nói rằng Áp-ga-nê-rô-vô đã ở trong tay bọn Đức. Thành phố đó chỉ cách đây sáu mươi lăm cây số thôi. Chợ là trung tâm chủ yếu truyền tin, bà Ma-ri-a Cu-dơ-mi-nít-sna nghe nói rằng quân ta đã bỏ Ca-lát và lùi đến Các-pốp-ca. Thương binh chủ yếu là từ Ca-lát đến. Họ vung tay lên: «xe tăng... máy bay... thì làm sao..»

        Chưa có lệnh tản cư, nhưng những người láng giềng của Li-u-xi-a, ông bác sĩ chữa răng cùng vợ và hai con, hôm qua đã đi đến Lê-nin-xcơ, nói là «đi thăm người chị».

        Còn ở nhà hát ca hài kịch thì diễn Xin-va, Ma-ri-xa, Rô-dơ Ma-ri. Ớ các căng-tin, ngoài nước suối Vôn-ga — một cốc năm cô-pếch — chằng có gì cả. Trên các sân khấu thì mũ hình trụ, yếm sơ-mi, những nụ cười gạ gẫm, những câu bông phèng tối nghĩa.

        Trong vườn bách thú, vẫn như trước, con voi đứng rầu rĩ, những con khỉ lồng lộn, con trăn to và lười nằm ngủ mơ màng trong góc chuồng trên rơm cũ.

        Trong thư viện thành phổ có ban-công trông thẳng ra sông Vôn-ga, bà cụ dễ thương có mái tóc theo kiểu những năm tám mươi thế ký trước, cho mượn sách của Ban-dẳc và yêu cầu không gập các trang sách. Các cậu bé dùng ná cao su bắn chim sẻ và giả làm «quân ta» và «bọn phát-xít» đánh nhau. Các cô bé nhảy cò cò, đánh tàu bay.

        Ở Nhà Hồng quân thường xuyên treo báo Tin tức và Sự thật Xta-lin-gơ-rát trong tủ kính bên. trên có dăng tấm lưới sắt.

        Tháng tám chậm chạp trôi qua, ngột ngạt, bụi bặm và không mây.

        Có một bận, tôi gặp Ca-lút-xki mặc áo va-rơi mới toanh và đội mũ lưỡi trai vành đỏ. Cậu ta đã thu xếp vào làm phụ trách cung cấp thực phẩm ở một bệnh viện. Bây giờ bệnh viện đang tản cư đến A-xtơ-ra-khan, và cậu có nhiều việc lắm: thương binh nhiều vô kể, xe cộ không có, nói tóm lại, ngoài mặt trận tốt hơn, thật đấy... Nhân thế nói thêm là nếu tôi cần đường thì cậu ta có thể nhượng lại mười ki-lô: cũng thế thôi, chẳng làm sao đưa hết đi được, đành phải giao cho mặt trận.

        Tôi biết là Va-lê-ga sẽ mắng tôi, nhưng tôi nói là tôi không có thì giờ. Câu chuyện đến đây chấm dứt. Vui vẻ vẫy tay, cậu ta đi trên chiếc «com-măng-ca» chất đầy thịt cừu chạy về phía sông Von-ga. Tôi đưa mắt nhìn theo cậu và ghé vào bưu điện, may ra có «thư lưu lại bưu cục» chăng.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Bảy, 2019, 05:33:46 PM

13

        Ngày chủ nhật tôi thức giấc sớm hơn mọi ngày. Chẳng biết những con bọ chó từ đâu ra, và tôi không tài nào ngủ lại được nữa. I-go và hai anh kia còn ngủ.

        Tôi dậy và đi vào bếp. Xê-đức làm bánh xèo trên bếp dầu. Va-lê-ga cắm cúi bên cái loa truyền thanh, từ lâu cậu mơ ước chiếc máy thu thanh.

        Bức tường nhà đối diện và mảnh trời nhợt nhạt như bị phai màu vì nóng quá, phản chiếu ánh nắng chói lọi qua cửa sổ. Hôm nay tôi không đến nhà máy : sơ đồ đã làm xong, lượng thuốc nổ đã tính xong, việc hướng dẫn cho công nhân cứ bị hoãn đi hoãn lại ngày này đến ngày khác, đến bây giờ các đội phá hoại vẫn chưa lập xong.

        Tôi kéo áo ca-pốt của I-gơ

        — Dậy nào! Chúng mình ra sông Vôn-ga tắm đi.

        Anh ta nhăn mặt không bằng lòng, cố kéo áo ca-pốt đắp mặt, càu nhàu, nhưng rồi cũng dậy. Đôi mắt ngái ngủ nhấp nháy.

        Xê-đức mang bánh đến, bánh còn kêu xèo xèo ở trong xanh.

        — Sáng hôm nay, quân ta lại hạ một thằng. — Cậu đặt xanh trên một viên gạch. — Chính tôi thấy. Lúc đầu bốc khói lên, phun ra một cái đuôi đen và dài lắm, rồi bắt đầu chúi mũi xuống, mỗi lúc một chúi thẳng đứng và rơi ở đâu đấy ngoài thành phố. Chắc là trúng vào mô-tơ.

        — Trong thành phố nhiều pháo cao xạ, — Sa-pi-rô nói và rời khỏi những cái ghế của mình, — chừng hai mươi lăm khẩu đội.

        Anh rất thích con số và đủ mọi thứ tính toán.

        — Nếu chúng đồng thời khai hỏa thì cứ một phút bắn ít nhất bảy trăm năm mươi viên đạn.

        — Thế bọn Đức có bao nhiêu máy bay? — I-go hồi. I-go bao giờ cũng chế giễu anh ta, nhưng Sa-pi-rô không để ý.

        — Lúc sắp chiến tranh có gần một vạn. Bây giờ chắc là nhiều hơn.

        — Vì sao?

        — Dễ hiểu thôi. Nếu tính rằng chúng có một trăm nhà máy sản xuất máy bay và mỗi nhà máy làm mỗi ngày một chiếc, tớ nói ít nhất đấy, thì mỗi tháng có ba nghìn chiếc. Con số bị thiệt của chúng chẳng đến như thế đâu. Tức là...

        — Cậu đi tắm không? — I-go ngắt lời.

        — Không. Mình có nhọt. Đó là cái nhọt thứ sáu trong tháng này rồi đấy. Và trúng vào chỗ bất tiện nhất.

        Bãi bơi ở Xta-lin-gơ-rát không có. Từ những chiếc bè, chúng tôi nhảy xuống những đợt sóng đầy dầu mỡ, loang loáng màu ngũ sắc như xà cừ. Nước ấm như đã đun.

        Rồi chúng tôi nằm trên những súc gỗ và nheo mắt nhìn sông Vôn-ga. Dòng sông sáng loáng chói lòa. Nó không giống sông Đơ-nhi-ép. Hoàn toàn không giống. Lần cuối cùng tôi thấy sông Đơ-nhi-ép vài ngày trước chiến tranh. Nó nhẹ nhàng và vui vẻ hơn. Bãi bơi dô ra như một cái lưỡi lớn, đầy những thân hình trần truồng, rám nắng, những tai nấm bằng gỗ, những quán hàng và những nhà cho thuê thuyền diêm dúa chạm lộng. Và vô số thuyền: thuyền thoi, sà-lúp, ca-nô, thuyền đua cân đối, xuồng và những chiếc thuyền buồm trắng phau phóng rất nhanh. Tất cả những cái đó chạy qua chạy lại, cử động, thấp thoáng màu trắng, màu vàng và màu xanh, rung động dưới ánh nắng gay gắt ban trưa.

        Ở đây, không như thế. Ở đây, chăm chỉ và nghiêm trang hơn. Ở đây, bè mảng và sà-lan, những chiếc ca-nô ám khói, bận rộn, và những chiếc tàu kéo rúc còi trầm trầm như giọng bị cảm, đập dây cáp vào nước. Trước chiến tranh, ở đây chắc cũng thể, có cả thuyền buồm, cả sà-lúp, nhưng trước chiến tranh thì tôi chưa ở đây. Còn giờ đây là một dòng nước dồi dào rộng rãi, sáng loáng, dăng đầy bè mảng, ở hai bên bờ có nhiều chiếc cần trục vươn cao và những nhà kho dài dằng dặc và tẻ ngắt, làm nhớ lại phân xưởng của một nhà máy nào đấy rất đặc biệt, không giống những nhà máy khác.

        Nhưng dù sao vẫn là sông Vôn-ga. Có thế hàng giờ nằm sấp như thế này và nhìn những bè mảng trôi xuôi dòng, nhìn những vết dầu loang bóng loáng nồi trên mặt nước, nhìn chiếc tàu thủy nhỏ cũ kỹ, quá thời, ỳ ạch quay những bánh xe, chạy ngược dòng. Tôi nằm nhìn, còn I-go nói cái gì đấy rằng anh ta đã chán ngấy cái cảnh ăn không ngồi rồi, chán ngấy Sa-pi- rô với những đinh nhọt của anh ta và Pen-gau-nít hàng ngày giặt và phơi cổ áo giả ngoài ban-công, chán ngấy những ông giám đốc các nhà máy và tất cả cái công việc giấy tờ này.

        Tôi lơ đễnh nghe anh nói và nhìn chiếc ca-nô phì phạch ghé vào bờ bên kia, và cố không nghĩ đến điều có thể một hay hai tuần nữa, ở đây sẽ là mặt trận và bọn Đức sẽ đến chỗ chúng tôi đang nằm, còn chỗ đằng kia, nơi có đám cây xanh ở bờ bên kia là quân ta, và bom sẽ nổ rền vang và dựng lên những cột nước trắng xóa, và những xác phình to bập bềnh trôi xuôi dòng trên mặt nước sáng loáng này đến A-xtơ-ra-khan, đến biển Cát-xpiên. I-go thẳng cánh vỗ vào lưng tôi.

        — Xuống nước đi... Kìa, tàu thủy đang chạy.

        Anh lấy đà, đạp trên súc gỗ to và trơn, lao xuống nước. Trong vài giây không thấy anh. Rồi anh nhô đầu lên ở xa bờ và thở phì phì. Bằng những sải mạnh và ngắn, anh bơi đón chiếc tàu, hầu như cả cái lưng lộ rõ trên mặt nước, đầu úp xuống nước. Chỉ thỉnh thoảng đầu ngóc lên từ dưới tay để lấy hơi. Anh bơi giỏi. Li-u-xi-a cũng bơi như thế. Không mạnh bằng, nhưng cũng giỏi.

        Kiểu bơi đó gọi là cơ-run. Tôi chưa bơi được kiểu đó. Thở chưa được ổn và chân thì mỏi. Chân phải đập luôn, mạnh và đều.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Bảy, 2019, 05:26:32 PM

        Chiếc tàu thủy chạy qua, nó thấp, có những ống khói dài và cả một cái đuôi sà-lan dài ở đằng sau. I-go quay trở lại, thở hồng hộc.

        — Tim đập dữ quá. Mình già rồi. Mà nói chung chằng phải là sông, mà chỉ là bể chứa dầu thôi. — Toàn thân anh sáng bóng và loang lồ vết dầu. — Ta đi đến thư viện đi.

        Tôi không phản đối. Nằm mãi trên súc gỗ nên lưng đau.

        Ở thư viện, I-go tận hưởng tạp chí A-pô-lông năm 1911. Còn tôi thì khoái trá thưởng thức những truyện ngắn của Peru trong tạp chí Văn học quốc tế. Ghế bành đan thật là tiện lợi. Trong phòng ấm cúng và yên lặng. Các chân dung của Tuốc-ghê- nép, Chút-sép và của người nào đấy nữa có ria và kim cài ở cà- vạt. Đồng hồ treo tường to du dương đánh từng khắc một. Hai cậu bé sặc sụa cười trước những tranh vẽ minh họa của Đô-rê ở cuốn sách Mun-khơ-hau-den1. Trước đây, tôi cũng có cuốn này, bìa đỏ viết chữ vàng và cũng những tranh vẽ như thế. Tôi có thể xem sách một ngày hàng chục lần cũng được. Đặc biệt tôi thích nhất bức vẽ nam tước cầm mớ tóc đuôi sam của mình để tự kéo mình ra khỏi đầm lầy. Và một bức vẽ khác: những cánh cổng cắt đôi con ngựa ra, mà nó vẫn đứng bình tĩnh uống nước ở vòi phun, còn ở sau thì cả một thác nước ào ào chảy.

        . Tức là cuốn Phiêu lưu kỷ của nam tước Mun-khơ-hau-den. — ND

        Chúng tôi ngồi mãi cho đến khi bà trông thư viện nói cạnh nói bóng rằng: đúng sáu giờ thì thư viện đóng cửa. Nhân viên của thư viện bây giờ chỉ làm một kíp, và họ làm việc từ mười hai cho đến sáu giờ.

        — Ngày mai các anh hãy đến. Từ mười hai đến sáu giờ, thư viện bao giờ cũng mở cửa. Còn A-pô-lông thì có cả những năm một nghìn chín trăm mười hai và một nghìn chín trăm mười bảy nữa cơ đấy.

        Chúng tôi từ biệt và đi ra. Chắc là Va-lê-ga đã càu nhàu rồi: thức ăn nguội cả.

        Ớ cạnh cửa vào ga một cái loa phóng thanh vuông và đen rè rè nói:

        — Hỡi đồng bào! Trong thành phố báo động máy bay. Đồng bào chú ý trong thành phố báo...

        Những ngày gần đây, hàng ngày ba bốn lần báo động. Chẳng còn ai đề ý đến những lần báo động nữa. Quân ta bắn, bắn mãi, mà chẳng thấy máy bay đâu và lại báo yên.

        Va-lê-ga đón chúng tôi, vẻ mặt cau có lườm.

        — Các đồng chí cũng biết là chúng ta không có bếp lo. Hai lần đã phải hâm thức ăn rồi đấy. Khoai tây thì mềm nhũn đi rồi, còn canh cũ cải đỏ thì hoàn toàn... — Cậu chán nản gạt tay, rồi mở nồi canh bọc trong áo ca-pốt. Ở đâu đấy sau ga, các khẩu pháo cao xạ bắt đầu nổ.

        Canh cũ cải đỏ nấu với thịt trộn thêm cơ-rem sữa quả là ngon tuyệt. Và chằng biết kiếm đâu ra mà có cả những đĩa nữa, đĩa đẹp có những bông hoa màu hồng.

        — Chẳng khác gì ở hiệu cao lâu cả, — I-go cười, — chỉ có thiếu cái để đế dao và cốc đựng khăn lau mồm hình tam giác nữa thôi.

        Và bỗng nhiên, mọi cái bay tung lên. Đĩa, thìa, kính, cái loa truyền thanh treo trên tường.

        Cái khỉ gì thế này!

        Từ phía sau nhà ga, những chiếc máy bay lướt tới, chậm rãi, đàng hoàng, giống như trong buổi lễ diễu binh. Tôi chưa bao giờ thấy một số lượng nhiều như thế. Chúng nhiều đến nỗi khó phân biệt được chúng từ đâu bay đến, Chúng bay từng đàn, bình tĩnh, đen ngòm, đáng ghét, ở những độ cao khác nhau. Các khấu pháo cao xạ khạc đạn khắp trời.

        Chúng tôi đứng trên ban-công, nhìn trời. Tôi, I-go, Va-lê- ga và Xê-đức. Không thể nào rời mắt được.

        Bọn Đức bay thằng về phía chúng tôi. Chúng bay theo hình tam giác, như những đàn ngỗng trời. Chúng bay thấp trông rõ những mút cánh vàng, những chữ thập viền trắng, những chân bánh xe máy bay, giống như những vuốt thò ra. Mười... mười hai... mười lăm... mười tám chiếc... Chúng bay theo hàng dọc Vừa vặn trước mặt chúng tôi. Chiếc đi đầu lật ngửa ra, bánh xe lên trên. Nó đâm nhào xuống. Tôi không rời mắt khỏi nó. Nó có những bánh xe đỏ và cái đầu máy đỏ. Chúng bấm còi. Từ dưới cánh những chấm đen rơi xuống. Một... hai... ba... bốn... mười... hai mươi... Chấm cuối cùng trắng và tơ Theo bản năng, tôi nhắm mắt lại và bám chặt vào tay vịn. Không còn đất để đào và trốn trong đó. Thế thì phải làm gì đây. Nghe rõ chiếc máy bay rít lên, khi đâm bổ nhào xuống. Sau đó thì không còn phân biệt được gì nữa.

        Những tiếng nổ ầm ầm, dồn dập. Tất cả đều rung lên rất khó chịu. Tôi mở mắt trong giây lát. Chẳng thấy gì hết cả. Chẳng ra bụi, chẳng ra khói. Tất cả đều bao phù bởi một cái gì dày đặc, mờ ảo. Bom lại rít lên, lại nổ ầm ầm. Tôi vẫn bám chắc ở tay vịn. Có người nào đấy nắm chặt lấy tay tôi, như ê-tô, ở phía trên khuỷu. Mặt của Va-lê-ga đờ ra, như khi có tia chớp sấm sét, trắng trẻo, có mắt tròn và mồm há hốc. Rồi biến mất.

        Việc đó kéo dài bao lâu? Một giờ, hai giờ hay là mười lăm phút? Chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Chỉ có cái gì mờ mịt và tay vịn ở ban-công xù xì và lạnh ngắt. Ngoài ra chẳng có gì nữa.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Bảy, 2019, 08:23:40 PM

        Tay vịn biến mất. Tôi nằm trên cái gì mềm mại, ấm áp và không tiện lợi. Cái đó chuyển động dưới thân tôi. Tôi lấy tay bám vào nó. Nó bò.

        Không có ý nghĩ gì cả. Óc ngừng hoạt động. Chỉ còn có bản năng thôi: lòng khao khát muốn sống của động vật và sự chờ đợi. Thậm chí không phải là sự chờ đợi, mà là một cảm giác gì đầy: giá kết thúc được chóng, chóng hơn, thế nào cũng được, miễn là chóng hơn.

        Sau đó, chúng tôi ngồi trên giường, hút thuốc. Việc xảy ra như thế nào tôi không còn nhớ. Chung quanh chỉ toàn là bụi, giống như sương mù. Mùi thuốc nổ khét lẹt. Trong răng, trong tai, sau cổ áo: khắp nơi đều có cát. Trên sàn nhà những mảnh đĩa vỡ, những vũng nước canh, những mầu lá bắp cải và một miếng thịt. Một tảng nhựa đường nằm ngay giữa phòng. Các kính đểu bị vỡ sạch. cổ đau, như bị ai đánh một gậy.

        Chúng tôi ngồi hút thuốc. Tôi thấy ngón tay của Va-lê-ga run run. Của tôi chắc cũng thế. Xê-đức xoa bóp chân. I-go có một vềt tím bầm to ở trán. Anh cố mỉm cười.

        Tôi đi ra ban-công. Nhà ga cháy. Ngôi nhà bên phải nhà ga cháy. Ở đấy, chắc là ban biên tập nào đấy hay là ban chính trị. Tôi không còn nhớ. Ở bên trái là kho thóc, đang hừng hực cháy. Trên quảng trường vẳng teo. Một vài hố bom và nhựa đường bị đào lên. Có người nào đấy nằm sau vòi nước phun. Chiếc xe tải bị vứt, bánh sau bị gãy, xe quỵ xuống , như con vật ngồi trên cẳng sau. Con ngựa đang lồng lộn. Bụng của nó vỡ toang hoác và ruột đồ nhầy nhụa trên mặt đường nhựa. Khói trở nên dày đặc và đen ngòm hơn, một lớp khói mù mịt bay trên quảng trường.

        — Các đồng chí có ăn không? — Va-lê-ga hỏi. Giọng của cậu khe khẽ, khàn khàn, như chính không phải của cậu.

        Tôi không biết có muốn ăn hay không, nhưng cứ nói sẽ ăn. Chúng tôi ăn khoai tây nguội ngay trong xanh. I-go ngồi trước mặt tôi. Mặt anh xám vì bụi, trong giống như một bức tượng. vèt tím bầm tan ra khắp trán.

        — Ôi chà, — anh gạt tay, — nuốt chẳng trôi... — Và đi ra ngoài ban-công.

        Pen-gau-nít và Sa-pi-rô đi đến, mặt tái nhợt, đầy bụi. Khi bọn Đức ném bom thì các anh ấy đang ở quảng trường trung tâm. Họ nấp ở trong hầm. Bom rơi trúng Nhà Hồng quân và ngôi nhà đối diện ở góc, nơi đó trước đây là bệnh viện. Phía nam thành phố rực cháy. Một chiếc xe chở đạn được bị trúng bom và đến bây giờ đạn vẫn còn nổ. Một người đàn bà bị đứt đầu. Bà ở rạp chiều bóng đi ra. Ở đấy, có chừng hai mươi người chết. Đúng vào lúc buổi chiếu vừa xong.

        Tôi hồi mấy giờ rồi. Pen-gau-nít nhìn đồng hồ. Chín giờ kém mười lăm phút. Chúng tôi từ thư viện trở về lúc gần bảy giờ. Tức là trận ném bom kéo dài gần hai giờ.

        I-go ở ngoài ban-công vào nhà.

        — Đại úy của chúng mình ở đâu nhỉ ?

        Chẳng ai biết cả, Tình hình mù mịt. Hay là đến chỗ Gôn- stáp? Có lẽ không cần, anh ta đã biết địa chỉ chúng tôi và nếu cần có thể báo tin. Không. Dù thế nào cũng nên đến. Không thể ngồi yên được. Đến đấy không hơn nửa giờ đi bộ.

        Ngoài đường phố, người ta mang tay nải, chở bao bị trên các cỗ xe ngựa tải. Chạy, vấp. Đồ đạc trong xe đồ xuống đường. Người ta đứng lại, xếp lại đồ đạc, lặng thinh không chửi mắng gì, chỉ giương những con mắt đờ đẫn, mở rộng nhìn. Khói cay sè, sặc sụa trong cổ, bay từ các nhà ra và bò lan trên đường phố. Những mảnh kính vỡ kêu lạo sạo dưới chân. Gạch, những mảnh bê-tông, bàn và một cái tù bị lật ngược. Người ta khiêng người nào đấy trên cái cáng làm bằng chăn. Một bà già mặc váy kẻ ô vuông, mang cái ghế đấu và tay nải thật lớn.

        — Lạy Chúa... Lạy Đức Mẹ...

        Tay nải tuột ra. Chiếc khăn vuông chít trên đầu rơi xuống và kéo lê trên mặt đất.

        Ở góc đường Gô-gôn, một hố bom to tướng: cả một ngôi nhà có thể đặt trong đấy được. Các chiến sĩ dẹp những tảng nhựa đương bị tung lên khắp nơi. Không khí rung lên, vì những chiếc xe cứu hỏa rú lên đến inh tai điếc óc.

        Người ta chạy, chạy mãi, chạy mãi...

        Khói bò lan khắp thành phố, phủ kín bầu trời, làm mắt cay sè và cổ sặc sụa. Những ngọn lửa như những cái lưỡi vàng, dài thè ra khỏi các cửa sổ, liếm các bức tường của ngôi nhà nằm ở góc. Lính cứu hỏa tháo các vòi rồng.

        Người ta không cho chúng tôi vào nhà. Chúng tôi gọi điện hồi lâu cho Gôn-stáp từ buồng điện thoại ở đường phố. Chẳng làm thế nào gọi được cả. Có tiếng nói của ai đầy cứ làm phiền mãi. Có cái gì đấy kêu rè rè, rột rột trong ống nghe. Giọng của Gôn-stáp vang đến tai chúng tôi từ đâu đấy xa xăm, tựa hồ như từ bên kia thế giới.

        — Hãy về nhà đi... hãy đợi.

        Chúng tôi đi về nhà. Người ta vẫn chạy, chạy mãi, chạy mãi... Ở căn nhà tầng dưới, đang chuyển ra một chiếc tù kính to.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Bảy, 2019, 05:08:17 PM

        Chúng tôi cố chợp mắt. Trằn trọc mãi. Chẳng biết vì sao mà thấy cứng và không tiện. Đèn không có. Máy thu thanh ngậm câm như hến. Suốt đêm những đám cháy hoành hành dữ dội.
Sáng tinh mơ, đại úy đến. Khịt mũi. Sau năm phút sẽ có chiếc xe ô-tô loại một tấn rưỡi và chúng tôi sẽ đi đến nhà máy Máy kéo.

        — Đến Máy kéo à? Để làm gì thế?

        — Chẳng biết. Có lệnh thế.

        — Ai ra lệnh?

        — Gôn-stáp. Anh đó cũng sẽ đến Máy kéo.

        — Thế làm gì ở đấy?

        — Tôi đã bảo là tôi chằng biết. Anh đó bảo tập hợp nhóm của mình và đợi xe.

        — Ngoài ra chằng nói gì nữa à?

        — Chẳng nói gì nữa. Anh ta từ phòng thủ trưởng đi ra trong giây lát, nói về xe ô-tô, rồi trở vào lại.

        — Có nghe gì về tình hình không?

        Đại úy nhún vai: phải chăng có thể hiểu được?..

        Xê-đức gọi tôi ra một chỗ.

        — Ờ ngoài ga, kho bị ném bom. Hay là tôi ra đấy nhé ?

        — Liệu đấy, không được đi đâu cả!

        — Nghe nói có rượu trắng đấy mà.

        — Cậu có nghe tôi nói gì không, hả?

        — Nghe ạ.   

        — Đi thu xếp đồ đạc đi.

        Tôi gói cuộn bản đồ và đút vào túi dết. Sa-pi-rô lẳng tai nghe.

        — Chúng lại bay...

        Yên lặng. Va-lê-ga một tay cầm dao, một tay cầm hộp thức ăn. Tiếng ầm ì quen thuộc của động cơ nghe trầm trầm và còn ở xa. Nhiều máy bay.

        — Phải đi xuống hầm nhà, — đại úy khịt khịt cái mũi và đi đến gần cửa. Ở cửa gặp một người mặc áo da, mặt mày đỏ gay và nhễ nhại mồ hôi.

        — Anh là Xa-môi-len-cô à? — giọng khản đặc nói và thở hổng hộc.

        — Tôi...

        — Người của anh đâu? Tôi đưa xe đến. Nào, mau lên. Bóp còi giục rồi đấy.

        Va-lê-ga tay cầm dao và đồ hộp đưa mắt nhìn tôi có ý hồi.

        — Nào, đi ra xe... Cậu nghe chứ?

        Khi chúng tôi vào xe, thì những quả bom đầu tiên rơi xuống. Ở đâu đấy về phía sau, ở khu công nhân đường sắt. Máy bay vút trên đầu, từ từ liệng về tay phải.

        Tôi cất mũ ca-lô để gió không giật đi mất. Chúng tôi đi ra ngoài thành phố. Bây giờ trông rõ những chiếc máy bay đang bồ nhào xuống ga, khu trung tâm và bến tàu. Một đám bụi dày đặc bốc lên trên thành phố. Từ đâu đấy ở trên sông, bốc lên một cột khói cao, đặc, đen và ở bên trên tỏa rộng ra như một tai nằm. Chắc là kho dầu bị cháy.

        Đường chật như nêm, người ta đi đâu đấy, đi mãi, đi mãi, thỉnh thoảng ngoái cổ lại nhìn thành phố. Người thì ở trần không mặc áo, người thì mặc áo lông, mặt mày lọ lem.

        Gôn-stáp ngồi trong hầm nhà. Người đông lắm, không thể nào chen vào được. Nào hòm, nào bao, nào áo ca-pốt chất đống. Có người nào đấy giọng khản đặc đang thét vào ống nói. Gôn- stáp mặt xanh, râu không cạo, nheo mắt nhìn chúng tôi và không nhận ra.

        — Các anh đến gặp ai?

        — Gặp đồng chí. Chúng tôi là công binh.

        — Thế à... Công binh. Tốt lắm! Hãy để áo ca-pốt ở đây, trên hòm. Đi xe ô-tô đến à? Tốt. Đến đây.

        Anh nói vội vã, ngắt đoạn và xoa hai bàn tay gầy gò, nhỏ nhắn có lông đen.

        — Thì giờ ít lắm. Bọn Đức ở phía bên kia mương xói, — anh tìm cái gì đấy trong túi nhưng không tìm thấy và khoa tay. — Chừng năm mươi thước, chứ không hơn đâu. Chúng bắn súng cối vào nhà máy Máy kéo. Quân đổ bộ. Có lẽ không nhiều. Bộ đội chính quy của ta còn chưa đến. Chỉ có công nhân đánh chặn bọn địch thôi. — Anh nhìn chiếc đồng hồ vàng, xinh xắn và nhỏ nhắn đeo ở tay. — Bây giờ sáu giờ mười lăm. Đến tám giờ đúng, nhà máy phải sẵn sàng để phá hoại. Rõ chứ? Công binh ở đấy có, của tiểu đoàn bộ đội, nhưng hơi ít. Thuốc nổ, dây nổ, ngòi nổ đều có đủ. Cần giúp đỡ. Hãy liên lạc với trung úy Bôn-sốp, các anh sẽ tìm anh ta ở đấy, mặc áo ca-pổt xanh và đội mũ ca-lô xanh. Sẽ biết cặn kẽ qua anh ta. Đúng tám giờ, tôi sẽ có mặt ở đấy.

        Anh cắn môi suy nghĩ.

        — Thôi được.

        Anh rút từ túi bên ra một cuốn sổ con bìa bằng da dê, có một cây bút chì con xâu bên cạnh. Và viết.

        — Kéc-gien-xép — xưởng nhiệt điện. Xvi-đéc-xki — phân xưởng đúc. Xa-môi-len-cô — phân xưỡng lắp ráp, và v.v... — Anh cho cuốn sổ vào túi và cài cúc lại. — Tôi chẳng giữ các anh lại lâu hơn đâu. Đồ đạc và áo ca-pốt có thể để lại đây.

        Chúng tôi đi tiếp.

        Chúng tôi tìm thấy Bôn-sốp khá nhanh: theo áo ca-pốt và mũ ca-lô xanh. Anh gầy gò, xanh tái, mắt hơi lồi, hóm hỉnh và thông minh. Bên mép miệng ngậm mẩu tàn thuốc. Tay thọc vào túi.

        — Các anh đến giúp đấy à? — anh nhếch mép cười.

        — Vâng. Đến giúp.

        — Ồ, thế thì chúc mừng đấy. Giá đến sớm hơn hai giờ trước thì tốt. Còn bây giờ... — anh ngáp và nhổ tàn thuốc, — cái chủ yếu đã làm xong rồi. Có ôm kế không?

        — Không. Thì sao?

        — Ngòi nổ không định cỡ. Nói chung nếu hôm nay có lệnh thì chưa chắc đã làm quái gì được. Thế nào, chúng ném bom thành phố à?

        — Ném bom. Vì sao không làm được?

        — Vì sao à? — Bôn-sổp uể oải cười. — Chất nổ thì như cứt ấy. Thuồc nổ tốt rất ít. Còn lại là a-mô-nít. Bị thấm nước, chất đổng ra đấy. Còn ngòi nổ thì không định cỡ. Mạch điện chẳng có cóc gì để kiểm tra cả. Ôm kế không có...

        — Còn dây nổ thì sao? — I-go hỏi.

        — Người ta hứa ngày mai sẽ có. Cả ôm kè cũng ngày mai. Tất cả đều ngày mai. Mà hôm nay phải phá hoại rồi.

        — Hôm nay ư?

        — Nghe nói thế. Nếu không đánh lùi được, thì hôm nay.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Bảy, 2019, 02:46:33 PM

        Anh lấy từ trong túi ra một tờ báo xếp cần thận và xé một mảnh hình chữ nhật đều đặn.

        — Có thuốc lá rời không, hở?

        Chúng tôi hút thuốc. Những đội công nhân đi qua trên con đường nhựa rộng rãi, hai bên trồng cây. Họ mang những khấu súng máy tháo ở xe tăng ra. Có một vài người không có súng trường, không có gì cả. Họ đi chăm chú, chằng nói chẳng rằng. Tôi hỏi:

        — Bọn Đức đâu?

        — Kia kìa, sau những phân xưởng. Ở đấy là mương xói. Mê-sót-ca hay là Nê-sót-ca, có ma mà biết được. Chúng nã súng cối. Xe tăng chừng mươi chiếc. Cũng chẳng phải là xe tăng, mà là loại tăng con thôi. Từ trên chòi cao kia trông rõ lắm.

        — Thế các mục tiêu của anh đâu?

        — Còn của anh?

        — Xưởng nhiệt điện, — tôi trả lời.

        — Xưởng nhiệt điện à? Chỉ hai bước thôi. Sau tòa nhà kia, đi vể phía trái. Có bốn ổng khói to. Anh hãy tìm trung sĩ của tôi. Vê-đéc-ni-cốp. Chắc là đang ngủ ở đâu đấy trong văn phòng. Anh ta đã làm suốt đêm. Tôi cũng khuyên anh chợp mắt đi.

        Quả là trung sĩ đang ngủ, rúc đầu vào góc đi-văng, duỗi chân trên sàn. Rõ là anh vừa gieo mình xuống đi-văng là đã ngủ ngay.

        — Này ông bạn!

        Trung sĩ trở mình và dụi mắt hồi lâu. Đôi mắt bé nhỏ, lõm sâu và như khuất hẳn trong khuôn mặt có hai gò má cao tơ Anh ta chẳng tỉnh ngủ được.

        — Trung úy phái anh đến à?

        — Vâng. Bôn-sốp.

        — Anh sẽ nhận à?

        — Bây giờ anh sẽ cho biết cái gì đã làm.

        — Lại cho biết ? Ớ đây họ đã đến tìm hiểu rồi. Có một đại úy nào đấy, hình như là Lơ-vô-vít...

        — Còn bây giờ là tôi.

        Trung sĩ vươn vai, ngồi dậy.

        — Thế thì ta đi thôi... — Anh tìm thuốc lá trong túi. — Suốt đêm khiêng bao bỏ mẹ. Lưng mỏi quá chừng. Bao bằng giấy, độ quỷ, rách cả...

        — Có nhiều không?

        — Có đến một trăm, nếu không hơn. Loại năm mươi ki-lô đấy. Xưởng nhiệt điện này rồi chẳng còn gì nữa đâu.

        — Mạng sẵn sàng chứ?

        — Sẵn sàng. Chỉ có mạng điện thôi. Ăc-quy mang đến nhiều vô kể, mà ôm kế thì không có. Có một tay thợ điện ở đây giúp cho tôi, nói rằng họ có cái gì tương tự như thế, nhưng để ở đâu, không thể nào tim ra được. Còn thì nói chung sẵn sàng cả rồi. Các ngòi nổ treo sẵn đấy. Chỉ cần đưa tay và đóng cầu dao nữa thôi.

        — Thế trạm phá hoại ở đâu?

        Trung sĩ khoa tay về phía cửa sổ.

        — Cách đây chừng ba trăm thước là chiến hào. Ở đây có đủ tất cả trang bị. Cả đại úy cũng ở đấy. Và chắc là cả thợ điện nữa.

        Chúng tôi đi quanh xưởng. Xưởng sạch sẽ và to lớn. Tám máy phát điện, dưới mỗi máy đặt ba bốn bao thuốc nổ. Ngoài ra, còn thuốc nổ ở các nồi xúp-de, ở bộ phận chuyển mạch chạy dầu và ở bộ phận biến thế, cách xưởng chừng ba trăm thước. Mạch rất dài, chừng hai cây số, làm rất cần thận: các đầu dây đều chu đáo quấn băng cách điện, ở mỗi lượng thuốc nổ có hai ngòi nổ. Trong một đêm, mà làm được như thế quả là nhiều thật.

        Ở đâu đấy phía bên kia của xưởng nhiệt điện, nghe rõ tiếng đạn súng cối nổ rền.

        — Chúng nã ở ngoài rìa đấy, — trung sĩ nói. — Bẳn súng cối đại đội. Chằng đáng kể. Anh có vào chiến hào không?

        — Điện thoại ở đâu?

        — Trong chiến hào. Tất cả đểu trong đó. Cũng như sở chỉ huy ấy mà.

        Trong chiến hào chật ních. I-go, Xê-đức, một người cao, tóc đen, quăn, mặc quân phục có những hàng tóc mai nhỏ, những người công nhân mặc áo quần làm việc và một người nào đấy gầy nhom, có vẻ ho lao, mặc chiếc áo vét-tông bóng loáng và đội mũ cát-két có cái cúc. Thì ra quân nhân là Lơ-vô-vít, còn người đội mũ cát-két có cái cúc là kỹ sư điện của xưởng nhiệt điện. Tên anh ta là Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích.

        Mọi người ngồi hút thuốc dưới ánh đèn bão, Chiến hào tốt, lát ván chung quanh, có các lớp gỗ đậy bên trên, có cửa đóng kín mít và những tấm phản nằm. Cũng giống chiến hào làm theo kiểu công binh, hình chữ H có hai cửa ra vàơ

        — Không có ôm kế thì làm thế nào đây? — tôi hỏi.

        Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích liếc nhìn tôi.

        — Chúng tôi có cầu Uýt-xtôn đấy.

        — Thế sao anh chẳng nói?

        — Thì tôi nói đấy. Chỉ có điểu là nó nằm trong tủ sắt, mà chìa khóa thì ở ông chánh kỹ sư Pư-scốp cơ. Mà Pư-scốp thì từ chiều qua ở sở chỉ huy.

        — Thế thì phải phái người đi.

        — Đã phái rồi. Anh có thấy không, họ đi đến nhà máy «Tháng Mười Đỏ». Ba giờ trước đây, gọi điện báo cho biết là đang đi. Và cứ đi mãi.

        Mặt của Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích rất hoạt động. Khi nói, không chỉ mồm cử động, mà cả mũi, trán và hai má lõm có màu đồ bệnh hoạn cũng cử động. Anh sún mất một chiếc răng cửa, nên nói phều phào. Khó mà đoán được trạc tuổi của anh, có lẽ chừng ba mươi.

        — Hai đêm liền thức trắng, mà chẳng được tích sự gì cả.

        Anh giận dữ vò điếu thuốc và lấy gót chân dí nát nó.

        — Nếu bây giờ người ta gọi điện bảo hành động đi... Thế thì làm sao?

        — Phải hành động thôi, — tôi đáp.

        — Đóng cầu dao? Hả? Theo anh là thế chứ gì?


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Bảy, 2019, 09:09:25 PM

        Cặp mắt to, có những mi mắt thâm tím giận dữ nhìn như xoáy vào người tôi.

        — Theo tôi thì thế đấy.

        — Còn công nhân ở xưởng thì sao? Để họ cùng với máy móc đi tong cả sao? Ai sẽ báo tin cho họ? Tôi với anh à? Công việc của chúng tôi ở đây sẽ ngập lút đầu lút cổ, — anh lấy tay nhanh chóng ra hiệu. — Nói chung chẳng có kế hoạch, chằng có tổ chức gì cả.

        — Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích, — Lơ-vô-vít ngắt lời anh ta.

        Lơ-vô-vít ngồi tách ra một bên, trên những bình ắc-quy dự trữ và đang uốn cong, rồi bẻ thằng mệt sợi dây thép.

        — Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích cái gì? Dù sao cũng phải suy nghĩ một chút chứ. Ở xưởng nhiệt điện hiện có sáu mươi người làm việc. Công nhân sẽ trốn đi đâu được, nếu như... nếu như đành phải làm nổ bùng. Đi đâu? Tán loạn ư? Muốn đi đâu thì đi à? Thế rồi... Việc phá hoại các phân xưởng có theo trình tự gì không? Không. Phân xưởng đúc sẽ phá hoại, còn chúng ta thì chỉ sửa soạn, hay ngược lại... Nói chung... — Anh khoa tay và lấy những ngón tay dài bóp điếu thuốc. — Đấy thằng Đức bây giờ đang nã súng cối, nếu mảnh đạn trúng vào dây, thế là hết. Toàn bộ mạng của chúng ta chẳng được tích sự khỉ gì cả. Bao nhiêu lần tôi đã bảo là đề cầu Uýt-xtôn trong tủ sắt là ngốc. Nhưng người ta không nghe. Sợ ăn trộm. Bảo rằng trong toàn thành phố Xta-lin-gơ-rát chỉ có một máy duy nhất. Và bây giơ, thế là phải ngồi đợi, mà chẳng biết kết quả sẽ ra sao cả.

        Anh hút vài hơi nhanh và mạnh, rồi dụi điếu thuốc vào tường và đứng lên.

        — Có lẽ là đến rồi... Chẳng tài nào gọi điện được. Quỷ sứ đấy chứ không phải là điện thoại.

        I-go cũng đứng dậy.

        — Có ghé lại chỗ mình ở xưởng đúc không, hả? Sẽ xem.

        Chúng tôi đi đến xưởng đúc.

        — Thế nào, cậu có thích thằng cha ấy không? — I-go hòi.

        — Nói thế nào đây, chỉ đáng thương cho vợ hắn thôi. Ho lao cộng với đau dạ dầy, chắc là thế. Tuy thế, tất cả những điều hắn nói là hoàn toàn đúng sự thật.

        — Còn hắn làm tớ bực mình lắm.

        — Thật đấy, cậu bị đau thần kinh rồi: tất cả đều làm cậu bực mình. Sa-pi-rô làm bực mình, Pen-gau-nít giặt cổ giả — làm cậu bực mình, không vừa lòng. Thế thì cậu cần thằng quý quái nào, hở?

        — Tớ chẳng thích những tay càu nhàu thì làm sao. Mà cái kiểu nóng nảy thế kia, thì chốc nữa chỉ đùn ra đầy quần thôi.

        — Đi lâu mới biết đường dài! Phải cho cả Xê-đức và Va-lê- ga tập luyện về ngòi nổ nữa. Để làm thật đúng và không sợ.

        Xê-đức mỉm cười.

        — Cái đó thì có gì đáng sợ. Hồi đóng quân ở Cu-pian-xcơ, tôi đã dùng thuốc nổ đánh những con cá chép to như thế này. Đồng chí có biết ở đấy cá nhiều như thế nào không? Ngày mai, nếu chúng ta không phá hoại, thì tôi sẽ đánh cá chiên về cho các đồng chí, cá to đến nỗi hai tay không nâng lên được đâu. Tôi đã thấy chiếc thuyền con ở sau hàng giậu rồi.

        Ở cửa vào xưởng đúc, một tốp công nhân xúm quanh một thanh niên to lớn có cánh tay bị băng. Ông tay áo rách từ vai, còn trên băng là những chấm đở

        — Bọn chó đẻ đã mò đến học viện rồi. Bắn tiểu liên tặc .tặc... Còn bên ta, súng trường. Chúng tôi vừa đèn gần cửa vào, thì chúng nã tặc tặc từ cửa sổ. May là lúc đó xe tăng của ta đi đến, khạc đạn thẳng vào nhà. Thế là chúng bỏ chạy như chuột nhắt.

        Bây giờ chúng đang ở phía bên kia Mê-sót-ca.

        Mắt anh thanh niên ngời sáng. Anh khoái chí vì mọi người lắng nghe anh, vì anh đã bị thương, đã bắn vào bọn Đức, và anh không muốn chấm dứt câu chuyện đang kể.

        — Chỉ một phát của chiếc tăng ta. Trúng vào tầng hai. Thế là đá bay tung lên. Còn bọn Đức chuồn ra cửa sau, chạy từ cây này đến cây kia.

        — Bọn Đức có nhiều không, hở? — có người nào đấy hỏi.

        — Cũng khá. Chừng hai sư đoàn, có khi còn hơn.

        — Thế cậu có đếm cơ à?

        — Đếm... — anh thanh niên khinh bị nhổ toẹt xuống đất và đúng lên, lấy tay phải đỡ tay trái bị thương. — Cậu cứ đến đầy mà đếm. Ở đấy thì chỉ học toán được thôi, — anh khoa tay không bị thương. — Này các cậu ơi, trạm cứu thương đâu? Mải nói chuyện với các cậu rồi.

        Trên đường trở về, chúng tôi lại gặp những người bị thương: một cụ già và một em bé. Một người bị ở tay, người kia ở đầu. Cả hai bị nhẹ. Họ cho biết rằng bọn Đức vẫn ở sau mương xói. Chúng bắn súng cối. Nhưng không tấn công. Quân ta cũng thế. Xấu thật, không có cán bộ chỉ huy thật sự. Nghe nói ngày mai, các đơn vị bộ binh có trọng pháo sẽ đến đây. Đã hai lần xe tăng Đức mon men đến mương xói, bắn một ít, rồi đi. Quân ta cũng bắn ít, chắc là đạn dược không có, Còn nói chung, tình hình cũng chưa đến nỗi gì: còn chịu được. Công nhân nhà máy Máy kéo biết bảo vệ xí nghiệp của mình. Và nháy mắt một cách rất trẻ trung, cụ già cùng em bé đi tìm trạm cứu thương. Một tấm ván đóng vào cái cột đèn, trên đó vẽ vội vàng chữ thập đỏ, mũi tên chỉ về phía sông Vôn-ga. Một lúc trước đây, khi chúng tôi đi vào phân xưởng thì tầm ván đó chưa có.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2019, 02:50:20 PM

        Trong chiến hào, Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích đang loay hoay với cái cầu Uýt-xtôn. Cầu to, đẹp, láng bóng và có cả một mớ công-tắc. Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích đang vui. Mạng điện còn nguyên vẹn.

        — Các anh xem kìa, kim nhảy có tốt không? Cầu tuyệt thật. Ở Xta-lin-gơ-rát chẳng có cái nào nữa đâu. Ngay cả nhà máy điện chính cũng phái người đi mượn nó. Nhạy vô cùng. Bây giờ thì tất cả ngòi nổ của các anh chúng tôi sẽ định cỡ. Có dự trữ không?

        — Nhiều vô thiên lùng, — Vê-đéc-ni-cốp đáp, — chừng vài ba trăm.

        Chúng tôi chỉ mới làm xong việc định cỡ — lẳp các ngòi nổ cùng một điện trở như nhau và thay các ngòi nổ ở lượng thuốc nổ, thì địch bắt đầu bắn dữ dội. Bắn gần một giờ. Cứ cách hai ba phút, một viên đạn đại bác rơi xuống. Phần lớn rơi quanh xưởng. Một vài viên trúng phòng máy, hai viên trúng nồi xúp-de. Người ta#gọi chúng là đạn súng cối, nhưng không phải. Đạn súng cối không có sức phá thủng, thế mà ở phòng máy thì có mầy lỗ thủng trên trần.

        Kim của dụng cụ rơi tụt xuống số không. Mạch bị đứt. Ghê- oóc-ghi A-ki-mô-vích tìm cái mũ cát-két có cúc của mình.

        — Phải chôn dây dẫn, nếu không thì mảnh đạn sẽ làm tình làm tội chúng ta mãi.

        Và không đợi địch ngừng bắn, anh bò ra khỏi chiến hào. Tìm chỗ bị dứt chẳng phải dễ. Mạch của chúng tôi là mạch nối tiếp, và bị đứt ở một chỗ thì toàn bộ bị tắt. Nếu mắc song song thì dễ tìm ra chỗ đứt hơn: chia mạch ra từng khu vực và có thể kiểm tra từng khu vực riêng.

        Chúng tôi vừa đi suốt theo dây dẫn, vừa lấy tay sờ nó. Va-lê- ga cầm cầu Uýt-xtôn đi với chúng tôi, Ghê-oóc-ghi A-khi-mô- vích luôn mồm quát cậu đề cậu thận trọng hơn, kẻo bây giờ chằng tìm đâu ra cầu khác được nữa, Chúng tôi tìm ra hai chỗ đứt khá nhanh, còn chỗ đứt thứ ba loay hoay mãi hồi lâu, nhưng cuối cùng cũng tìm ra được, Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích nhanh nhẹn và khéo léo quấn chỗ dứt bằng băng dính,

        Đền chiều tối, chúng tôi chôn dây dẫn và chuyển mạng sang lồi song song, Bọn Đức hai lần bắn phá nữa, Ghê-oóc-ghi A-ki- mô-vích không rời mắt khỏi cầu Uýt-xtôn, nhưng mọi việc đều tốt lành: mạng không bị đứt,

        Khoảng tám giờ, Gôn-stáp đến, Mang ôm kế tới, Cái đó giúp chúng tôi kiềm tra chỗ đứt dễ dàng hơn nhiều. Anh hỏi công việc của chúng tôi thế nào, Các bao thuốc nổ cần phải chuyển từ phòng máy xuống các buồng con dưới hầm nhà và đặt ngay dưới mỗi máy phát điện, Như thế an toàn hơn và công nhân sẽ yên tâm hơn. Thêm nữa trong bọn chúng tôi hoặc trong các chiến sĩ nhất thiết phải có người túc trực ngay ở xưởng. Và nói chung, trước đêm nay phải chuẩn bị sẵn sàng,

        Gôn-stáp dắt tôi và Lơ-vô-vít ra một chỗ. Xoa tay và nói:

        — Các anh hãy nhớ lấy: sau mệnh lệnh đầu tiên thì các anh sẽ có không quá nửa giờ chuẩn bị đâu. Trong nửa giờ tất cả mọi việc phải chuẩn bị xong xuôi đâu vào đấy. Lơ-vô-vít chịu trách nhiệm về việc tản cư công nhân. Còn Kéc-gien-xép — về phá hoại.

        — Rõ, Thế trình tự thế nào?

        — Không có trình tự gì hết. Cả mệnh lệnh thứ nhất lẫn thứ hai phải đồng thời thực hiện với tất cả các phân xưởng. Phá hoại xong, hãy tập hợp ở gần bến, Lơ-vô-vít đã biết là ở đâu rồi. Sẽ có ca-nô.

        — Rõ.

        — Rõ tất cả?

        — Tất cả.

        Gôn-stáp đi ra. Ở đâu đấy gần ngay bên cạnh, phía sau phân xưởng đúc có những pháo sáng bay vút lên không. Những tràng tiểu liên nổ ran và thỉnh thoảng xen lẫn tiếng súng máy.

        Chiếc cầu dao được lắp thằng vào tường cạnh cửa. Nó nhỏ bé, bình thường và có cái cán đen. Đúng là những chiếc như thể ở các công-tơ của các gia đình. Tôi nhìn nó. Có hai sợi dây dẫn từ cầu dao chạy ra: một sợi đến các bình ắc-quy — có tám bình đen để ở trong hố; một sợi đến lượng thuốc nổ, — tám mươi bao a-mô-nít, mỗi bao gần năm mươi ki-lô. Một sợi dây bị vặn đứt, nhô lên. Cán cầu dao thì bẻ ngửa ra và buộc lại bằng một sợi dây, đề phòng xa. Còn một hay hai giờ sau, cũng có thể sớm hơn, người ta sẽ gọi điện, và tôi sẽ nối lại dây dẫn, tháo sợi dây buộc cán cầu dao, kiểm tra mạng điện một lần nữa, và bằng hai ngón tay tôi sẽ thận trọng đóng ập cầu dao. Và lúc đó thì... Chẳng còn các máy phát điện, chẳng còn các nồi xúp-de, chằng còn phòng máy với những gạch tráng men, như trong phòng mồ. Chằng còn gì nữa...

        Chúng tôi ngồi hút thuốc. Va-lê-ga mạng quần. Xê-đức cùng với trung sĩ ở trong xưởng. Trong góc, chiếc máy điện thoại hơi mờ mờ phản chiếu ánh sáng. Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích luôn luôn cho cầu Uýt-xtôn chạy. I-go nằm trên phản và nhìn trần nhà.

        Mười hai giờ, Gôn-stáp gọi điện: kiểm tra mạng và đừng ngủ.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Bảy, 2019, 06:11:23 PM

        Trong chiến hào người ta hút nhiều đến nỗi không nhận rõ mặt người, chỉ thầy lờ mờ, như trên một tấm phim kém hiện hình. Đến ba giờ, chuông điện thoại lại reo. Chúng tôi choàng dậy. Bôn-sốp gọi điện: có thừa chừng hai mươi ngòi nổ đã định cỡ hay không. Có. Thế thì anh sẽ phái trung sĩ đến lấy. Được.

        — Còn nói chung thì thế nào, yên tĩnh chứ?

        — Yên tĩnh. Còn chỗ anh?

        — Hình như cũng yên. Bẳn ở sau mương xói, còn thì chằng sao.   

        Chúng tôi lại hút. Đi ra sân, nhìn sao, nhìn những pháo sáng và xưởng nhiệt điện đứng lù lù một khối đồ sộ có bốn ống khói. Chúng tôi trở vào. Ngồi. Hút thuốc. Cho cầu Uýt-xtôn chạy, rồi tắt. Và lặng thinh.

        Năm giờ, chuông điện thoại lại reo. Có thế nằm ngủ. Gôn- stáp nói thế.

        Lạy Chúa...

        Sau khi đẩy súng lục ra trước bụng, chúng tôi nằm trên phản không chiếu, không đệm gì cả.

        Bậy thật, chúng tôi đã để áo ca-pốt của mình ở chỗ Gôn- stáp.

        16

        Cũng những việc ấy lặp lại cả ngày thứ ba, cả ngày thứ tư, cả ngày thứ năm. Lại bắn, lại đứt, lại túc trực, lại chờ đợi điện thoại reo — và đến năm giờ thì có thể ngủ được.

        Bầu không khí dần dần bớt căng thẳng.

        Ngày này qua ngày khác, sáng sủa, xanh lam, với những mạng nhện bay.

        Mệnh lệnh vẫn chưa có.

        Thành phố có lẽ không còn gì nữa. Bọn Đức ném bom từ sáng đến chiều tối. Trên thành phố là một đám mây khói và bụi dày đặc. Kho dầu bốc cháy. Một làn khói đen như muội đèn có khi che cả mặt trời, và khi đó có thể nhìn mặt trời mà không nheo mắt, khác nào nhìn qua một tầm kính đã bôi muội đèn khi nhật thực.

        Các trận chiến đầu diễn ra ở phía nam thành phố, cạnh kho chứa lúa, và ở phía bắc — trên đồi Ma-ma-ép.

        Trong mương xói của chúng tôi, không có gỉ thay đồi. Có một bận đang đêm có hai sư đoàn đi qua. Họ đi lâu, đi không ngớt, đi suốt đêm, tiểu đoàn này nối đuôi tiểu đoàn khác. Có cả pháo binh và các đoàn xe. Vài lần bọn Đức định vượt qua mương xói, và lúc đó những tràng tiểu liên vang lên giòn giấ. Hằng đêm, Gôn- stáp gọi điện: «Hãy sẵn sàng», còn buổi sáng thì mọi việc trở lại yên tĩnh, và chúng tôi nằm ngủ.

        Chúng tôi bắt đầu quen với chiến hào của mình. Chúng tôi đưa điện vào, nấu ăn trên bếp điện, treo trên tường giấy vẽ loại tốt nhất lấy ở ban kỹ thuật nhà máy. Trong góc của mình, Va-lê-ga và Xê-đức treo cả chân dung Xta-lin và hai tấm bưu ảnh: một tấm là Nhà hát ca kịch Ô-đét-xa và một tấm in lại bức tranh của Rê-pin Bức thư của những ngươi Da-pa-rô-gi-e.

        Xê-đức còn kiềm ở đâu đấy được cuốn giáo khoa địa lý của Cơ-ru-be, tập thư của Sê-khốp, tạp chí Cánh đồng xuất bản nam mười hai.

        Tối tối, cậu miệt mài đọc, tẩm nước bọt vào tay để giở sách. Nhăn trán, cậu mấp máy đôi môi. Thỉnh thoảng lại hồi «lễ trùng danh» là cái gì, hay là «tướng lĩnh anh-phăn-tơ-ri»1 là cái gì, hay là vì sao hoàng tử kề vị A-lêch-xây có nhiều huân chương thế, mà chỉ mới lên bảy. Tôi rất thích Xê-đức, thích bộ mặt trẻ con, mũi hếch, cặp mắt hơi xềch và tươi cười, tính tình trẻ trung tràn đầy trong người cậu. Thậm chí cũng thích cả cái thói quen buồn cười của cậu, mỗi khi bối rối thì mân mê lòng bàn tay.

        Cậu làm cái gì cũng say sưa và hài lòng. Cậu tắm một cách mà hễ nhìn cậu thì tự mình cũng muồn tắm, cậu hết sức thờ phì phì, tung nước lên rất xa và khoác nước ầm ĩ vào vai, vào bụng. Cứ bảo cậu: đem một ít cùi đến, thì cậu kéo đến cho gần một thước khối. Những bắp thịt trẻ trung của cậu muốn lao vào chiến đấu. Ê-cu thì cậu chỉ vặn bằng tay không. Có một lần cậu đánh vật với I-go, và sau đó hai ngày I-go không thể quay cổ được. Mà I-go thì tự cho mình điêu luyện về môn đánh vật của Pháp và biết rất chi tiết mọi động tác «tua-đơ-bra» và «tua-đờ- tèt».

        Xê-đức ham hiểu biết đèn buồn cười. Cậu đến ngồi, tay khoanh đầu gối, mồm hơi hé mở và lắng nghe như trẻ con nghe truyện cổ tích. Những câu hỏi của cậu thường đột ngột và ngây tho. như trẻ con. Vì sao bọn Đức không thể đoán được bí mật của «ca- chi-u-sa», và vì sao kim địa bàn luôn luôn chỉ phương bắc, và có thật là hai chân của Ru-dơ-ven không đi được không.

        Có một bận, buổi tối, chúng tôi ngồi nói chuyện về các anh hùng và các loại huân chương. Xê-đức ngồi khoanh tay đầu gối — đó là kiểu ngồi thích nhất của cậu, — tập trung tư tưởng chăm chú lắng nghe.

        — Thế phải làm gì để được huân chương Lê-nin? — cậu hỏi.

        Mọi người đều bật cười.

        — Hừ, không nhất thiết là huân chương Lê-nin, mà một huân chương gì đấy thấp hơn cũng được.

        Tôi giải thích, nói rằng chuyện đó thì chẳng dễ đầu. Cậu lặng im nghe, nhìn ở đâu đấy trong góc. Trên môi, một mẩu tàn thuốc.

        — Thế là xong, — cậu nói khẽ.

        — «Xong» thế nào?

        — Tôi sẽ có huân chương.

        Mà cậu nói điều đó một cách hết sức đơn giản và tin tưởng, như nói về một việc gì đã thực hiện rồi. Cậu đứng lên và đi lấy củi đã chẻ. Tôi nhìn cái lưng rộng của cậu, không hợp với những lông măng to. vàng trên má, và tôi nhớ lại cậu đã lấy giẻ chùi khẩu tiểu liên cần thận như thế nào trước cuộc tấn công, cậu chùi từng đinh ốc, từng khe rãnh, và tôi tin điều cậu đã nói.

------------------
        1. Tiếng Pháp (iníanterie) là bộ binh. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 03:27:07 PM

        Thái độ của tôi đối với cậu làm Va-lê-ga ghen. Điều đó thấy rất rõ.

        — Thượng úy Xvi-đéc-xki không có cần vụ: cậu cứ đến đấy, — Va-lê-ga cau có nói và lấy cái ca trên tay Xê-đức đang dội nước cho tôi.

        Xê-đức ôm từ đâu về một bó rơm. Va-lê-ga sờ rơm, cau mặt và nói: «Trung úy chẳng nằm ngủ trên đồ quỷ này đâu», rồi mang đến bó khác, chằng khác gì bó trước cả1.

        Nhưng nói chung thì hai cậu sống hòa thuận với nhau, cùng nhau nấu ăn. Va-lê-ga hơi kêu một tí, phê bình món cháo nấu chưa thật chín. Xê-đức vui vẻ cười, nhại lại trêu Va-lê-ga và chẳng hiểu vì sao gọi Va-lê-ga là «snáp-xơ».

        Hằng tối Va-lê-ga và Xê-đức buộc các gói thuốc nổ. Chúng tôi có chừng năm thùng thuốc nổ để dự trữ. Buổi sáng, hai cậu đi bắn cá và mang về những con cá chiên còn vẫy vùng trong thùng.

        Trung sĩ Vê-đéc-ni-cốp được điểu đến một phân xưởng nào đấy và chúng tôi không còn gặp anh nữa. Chúng tôi cũng ít gặp Sa-pi-rô và Pen-gau-nít. Thỉnh thoảng Bôn-sốp đến chỗ chúng tôi, và chúng tôi đặt tạp chí Cánh đồng dày cộm xuống và say sưa đánh «tú-lơ-khơ» hay «xì tẩy». Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích không chịu được cái đó, anh đó. lấy tập thư của Sê-khốp và tỏ vẻ không bằng lòng bỏ đi đến chỗ của mình, Anh thường ngủ trên cánh cửa kê giữa hai dãy phản.

        Tôi bắt đầu thích anh ta, mặc dù anh có tính hay càu nhàu và luôn luôn không bằng lòng với điều gì đấy, Anh làm việc luôn tay và không tiếc sức mình, Anh kiểm tra mạch điện và bao giờ cũng tự mình sửa chữa lấy, mà mạch thì một ngày đứt ba bốn bận, Càu nhàu, chửi rủa, cáu tiết lên, buộc tội mọi người là ăn không ngồi rồi, nhưng đối với xưởng nhiệt điện của mình và mỗi một cái máy, mỗi một chiếc đinh ốc con trong máy thì anh yêu, anh quý như một sinh vật. Nói chung, trong con người của anh, chủ nghĩa bi quan và tính càu nhàu kết hợp một cách hòa thuận với tính hoạt động và nghị lực vô cùng lớn lao,

        — Chúng ta mà đánh với bọn Đức sao nổi, — anh vừa nói, vừa kéo lại cái cà-vạt và cau mặt. — Bọn Đức đi trên xe ô-tô từ Bá-linh đến tận Xta-lin-gơ-rát, còn bọn mình thì mặc áo vét- tông và áo quẩn làm việc nằm trong chiến hào với khẩu súng trường cổ lỗ năm chín mươi mốt.

        I-go phát khùng lên. Anh bao giờ cũng cứ bám vào Ghê- oóc-ghi A-ki-mô-vích để cãi nhau.

        — Với câu đó, anh muốn nói gì thế?

        — Nói là chúng ta không biết chiến đấu.

        — Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích, biết nghĩa là thế nào?

        — Biết ư? Từ Bá-linh đi đên tận sông Vôn-gat đấy, biết nghĩa là thế.

        — Rút từ biên giới đến sông Vôn-ga cũng phải biết.

        Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích cười nhạt. I-go bắt đầu cáu tiết.

        — Anh cười cái gì, hả? Chằng có cái gì đáng buồn cười cả. Thực tế thì nước Pháp chỉ trong hai tuần đã thua. Bọn Đức tấn công, thế là Pháp ngã quỵ và thua mẹp mũi. Còn chúng ta đơn thương độc mã chiến đấu đã năm thứ hai rồi đầy.

        — Sao anh lại so sánh với Pháp làm gì. Một đẳng bốn mươi triệu và một đẳng hai trăm triệu. Một đằng sáu trăm cây số và một đằng một vạn cây số. Và ở đầy ai cầm quyền? Bọn Pê-tanh, bọn La-van bây giờ cúi đầu hợp tác với bọn Đức. Không. Chúng ta không biết chiến đấu. Đúng là như thế.

        — Chính thế, chính thế... — I-go nổi nóng. — Bọn Pê-tanh và bọn La-van. Chính là bọn Pê-tanh và bọn La-van. Còn ở nước ta không có bọn chúng. Đó là điều chủ yếu. Anh có hiểu không, rằng đó là điều chủ yếu? Rằng người của chúng ta là một loại hơi khác. Và chính vì thế chúng ta chiến đấu. Chiên đấu cho đến bây giờ. Thậm chí ở đây, trên sông Vôn-ga, sau khi đã mất U-cơ-ren và Bi-ê-lô-rút-xi chúng ta vẫn chiến đấu. Và anh thử nói xem có nước nào, có dân tộc nào có thể chịu nổi điều đó?

        Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích nhếch mép mỉm cười.

        — Chẳng có nước nào cả.

        — Thế đấy! Chẳng có nước nào, hả? Chính tự anh đã công nhận là chằng cổ nước nào cả.

        — Công nhận. Nhưng lẽ nào vì thế mà dễ chịu hơn? Lẽ nào do nhận thức rằng các nước khác kém khả năng đề kháng hơn chúng ta, lẽ nào do đó mà dễ chịu hơn? Cái đó gọi là tự ru ngủ mình đấy. Mà chúng ta thi không cần cái đó. Phải tỉnh táo nhìn thằng vào mọi việc. Chỉ độc một mình tinh thần dũng cảm thì chẳng làm gì được. Tinh thần dũng cảm là tinh thần dũng cảm, mà xe tăng là xe tăng, hai cái đó hoàn toàn khác nhau.

        — Xe tăng của chúng ta không kém của bọn Đức. Tốt hơn của bọn Đức. Một chiến sĩ lái xe tăng nói với tôi...

        — Tôi không cãi, không cãi. Có thế là xe tăng của ta tốt hơn. Về điểu đó thì tôi không hiểu lắm. Nhưng một chiếc xe tăng tốt không thể diệt được mười chiếc loại trung bình. Theo anh thì thế nào, hở?

        — Hãy gượm... Chúng ta rồi cũng sẽ có nhiều xe tăng.

        — Khi nào? Khi chúng ta đã chạy đến tận U-ran chứ gì?


--------------------
        1. Tiếng Đức là rượu trắng. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2019, 09:16:35 PM

        I-go nhảy thót lên như bị ong châm.

        — Ai sẽ chạy đến U-ran? Tôi, anh, nó? Hả? Đếch phải! Cả anh cũng biết điều đó rõ lắm. Anh cứ như thế, chằng qua chỉ vì một sự bướng bỉnh nào đấy thôi, vì một ý muốn ngu ngốc chỉ mong được cãi vã, nhất thiết phải cãi vã.

        Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích khịt khịt cái mũi, cau mày, thóp má.

        — Vì sao anh nồi nóng thế? Anh ngồi xuống đi. Ngồi xuống một chút đã nào. Có thể nói về tất cả mọi điều một cách bình tĩnh. — I-go ngồi xuống. — Đấy, anh nói rằng: cả khi rút lui cũng phải biết cách. Đúng thế. Trước mặt Na-pô-lê-ông, chúng ta cũng đã rút lui mãi đến tận Mát-xcơ-va1. Nhưng hồi đó chúng ta chỉ mất đất, mà thật ra cũng chỉ là một dải đất hẹp mà thôi. Và Na-pô-lê- ông chẳng giành được cái gì cả, ngoài tuyết trắng và những làng mạc bị cháy trụi. Còn bây giờ thì sao? Không có U-cơ-ren và Cu-băng — không có lúa mì. Không có Đôn-bát — không có than đá. Ba-cu bị cắt rời, nhà máy thủy điện Đơ-nhi-ép bị phá hủy, hàng nghìn nhà máy trong tay bọn Đức. Triền vọng như thế nào? Bây giờ kinh tế là tất cả. Quân đội thì phải được ăn mặc, được cung cấp đạn dược. Đó là tôi chưa nói đến thường dân. Chưa nói đến điều là hơn năm mươi triệu người đang sống dưới gót sắt của bọn phát-xít, chúng ta thiếu họ. Thế thì chúng ta có đủ sức để khắc phục tất cả những cái đó không? Theo anh thì có đủ sức không?
       

        — Đù sức... Năm ngoái tình hình còn xấu hơn. Bọn Đức tiến đến Mát-xcơ-va, thế mà quân ta đã đánh lùi...

        — Còn tôi thì chẳng tin là xấu hơn. Đôn-bát, Rôt-xtổp, Cu- băng, Mai-cốp trước đây là của ta. Bây giờ không còn nữa. Sự giao thông trên sông Vôn-ga thực ra đã bị cắt đứt. Anh thử tưởng tượng xem, dầu mỏ Ba-cu phải chở đi theo con đường xa xiết bao. Anh sẽ bảo là chúng ta có Cu-dơ-bát và toàn bộ U-ran nữa. Đúng thế. Đó là những yết hầu công nghiệp rất lớn. Nhưng trước chiến tranh, ngoài chúng ra, còn có Sừng Cong, Ni-cô-pôn, Da-pa-rô-gi-e, Ma-riu-pôn, Kéc, Khác-cốp. Thế mà cũng không chặn chúng được. Một bộ phận các nhà máy chúng ta đã tản cư rồi, nhưng tản cư không có nghĩa là đã đi vào sản xuất được. Anh thấy không, lúc đó tình hình thế nào.

        Lúc đó, một tốp máy bay «gioong-ke-88» đã ném bom xong vút qua trên đầu chúng tôi. Chúng từ từ rẽ ngoặt và lượn vòng khác để tiếp tục ném nữa. 

        — Thậm chí chúng bay mà chẳng cẩn có máy bay khu trục đi kèm... Bọn súc sinh, muốn làm gì cũng được, như là ở nhà của chúng...

        Chúng tôi lặng im một lúc và theo dõi những chiếc máy bay đen ngòm, có cánh vàng đáng ghét, bình tĩnh và tin tưởng vào lực lượng của mình. Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích hút hết điếu này đến điếu khác. Quanh chỗ của anh đã có đến mười mấu tàn thuốc. Anh nhìn theo hướng những chiếc máy bay đã khuất.

        I-go ngồi ném đá vào một ống bơ nằm không xa. Đá rơi quanh nó, nhưng không làm sao trúng được. Hình như anh mải mê với việc đó.

        Và bỗng anh đứng lên.

        — Không, điều đó thì không thể được. Chúng sẽ không đi xa hơn được đâu. Tôi biết, chúng sẽ không đi được.

        Và anh bước ra ngoài.

        . . .

        Không thế được... Đó là tất cả những cái gì mà hiện nay chúng ta có thể nói được.

        Không thế được...

        Chính là trước đây đã từng có năm mười bảy. Cả năm mười tám, cả năm mười chín nữa. Trước đây, tình hình còn xấu hơn nhiều. Bệnh thương hàn, sự đồ nát về kinh tế, nạn đói rét. Đại liên «mác-xim» và đại bác ba đi-um2 — chỉ có thể thôi. Thế mà chúng ta đã thoát ra khỏi tình trạng khó khăn được. Và sau đó, đã xây dựng nhà máy thủy điện Đơ-nhi-ép. Cả Ma-nhi-tô-goóc nữa, cả nhà máy này nữa mà giờ đây chúng ta phải phá hoại.

        Tôi biết là đáp lại ý nghĩ đó, Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích chỉ mỉm cười thôi. Mỉm cười một cách độ lượng. Khi nói về cái đó bao giờ anh cũng chỉ mỉm cười thôi, làm như tuồng chúng tôi là trẻ con. Anh mỉm cười và nói cái gì đấy rằng cuộc đại chiến thứ nhất đã đến năm thứ tư, làm kiệt sức không những chúng ta, mà tất cả mọi người; rằng binh lính Pháp, Anh và Đức không muốn chiến đấu nữa. Và nói thêm cái gì nữa đấy đại loại như thế. 

        Có một lẩn anh nói:

        — Chúng ta sẽ chiến đấu đến người lính cuối cùng. Dân Nga bao giờ cũng chiến đấu như thế cả. Nhưng dù sao vận hội cũng rất ít. Cứu chúng ta được chỉ là nhờ phép mầu nhiệm mà thôi. Nếu không thì chúng đè bẹp chúng ta. Đè bẹp bằng tính tổ chức và xe tăng.

        Phép mầu nhiệm ư?..

---------------------
        1. Nói về cuộc Chiến tranh vệ quốc của nhân dân Nga năm 1812. — ND.

        2. Ba đi-um bằng 76,3 mm. — (ND).



Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2019, 05:39:33 PM
       
        Cách đây không lâu, có những chiến sĩ đi qua ban đêm. Tôi trực nhật cạnh máy điện thoại và đi ra ngoài để hút thuốc. Các chiến sĩ vừa đi, vừa hát khe khẽ. Thậm chí tôi không thấy họ, tôi chỉ nghe bước chân của họ trên mặt đường nhựa và bài hát khe khẽ, buồn buồn về dòng sông Đơ-nhi-ép và đàn chim sếu. Tôi đi đến gần. Các chiến sĩ ngồi nghỉ trên đám cỏ nhàu nát dưới những cây keo ở hai bên đường. Những điếu thuốc lập lòe sáng. Và từ dưới bụi cây, một giọng của ai đấy trẻ trung và không to vang đến tai tôi.

        — Không đâu, Va-xi-a ạ... Mày đừng nói thế... Tốt hơn của chúng ta thì mày chẳng tìm đâu ra được. Thật đấy... Giống như bơ ấy, đất của chúng ta mầu mỡ, đất ra đất. — Thậm chí người nói còn chép miệng một cách rất đặc biệt. — Còn lúa mì thì tốt vô kể: cao quá đầu người...

        Còn thành phố thì bốc cháy, và ánh lửa phản chiều đỏ rực nhảy múa trên những bức tường các phân xưởng; và ở đâu đấy rất gần, nghe vang lên những tràng tiểu liên khi khoan, khi nhặt; và những chiếc pháo sáng bay vút lên không trung; và ở phía trước là một cái gì không biết được và hầu như là một cái chết không tránh khỏi.

        The là tôi chẳng thấy được người đã nói điều đó. Ai đấy thét lên: «Hãy chuẩn bị lên đường!» Mọi người chuyển động, khua những chiếc cà-mèn kêu lách cách. Và họ đi. Những bước chân chậm chạp, nặng nề của những người lính. Họ đi đến địa điểm không biết ấy mà trên bản đồ của chỉ huy trưởng của họ đã đánh dấu, chắc là bằng một chữ thập đỏ.

        Tôi còn đứng hồi lâu nữa và lẳng nghe những bước chân của những người lính xa dần, rồi hoàn toàn im hẳn.

        Có những chi tiết mà ta nhớ mãi suốt đời. Và không chỉ nhớ mãi mà thôi. Những chi tiết nhỏ nhặt, dường như không cổ nghía lý gì, nhưng chúng ăn sâu, thấm sâu vào ta, bắt đầu nảy mẩm, mọc lên thành cái gì lớn lao, có ý nghĩa, biểu hiện toàn bộ thực chất của những sự kiện đã qua và trở thành như là cái tượng trưng.

        Tôi nhớ một chiến sĩ tử trận. Anh ta nằm ngửa, dang rộng hai tay và trên môi dính một mẩu tàn thuốc. Một mấu tàn thuốc bé nhỏ còn bốc khói. Và cái đó đáng sợ nhất trong tất cả những điều mà tôi đã thấy trước đó và sau đó trong chiến tranh. Đáng sợ hơn cả những thành phố bị phá hủy, hơn cả những bụng người bị vỡ toang hoác, hơn cả những chân tay bị đứt rời. Hai tay dang ra và mấu tàn thuốc trên môi. Một phút trước còn là sự sống, tư tưởng và khát vọng. Bây giờ đã là sự chết.

        Còn trong bài hát kia, trong những lời giản dị kia về đất đai màu mỡ như bơ, về những cây lúa mì cao quá đầu người, có cái gì đấy... Thậm chí tôi không biết gọi cái đó như thế nào. Tôn- xtôi gọi đó là lòng nồng nhiệt ẩn kín của chủ nghĩa ái quốc. Có thể đó là định nghĩa đúng nhất. Có thể đó chính là phép mầu nhiệm mà Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích nóng lòng chờ đợi, phép mầu nhiệm còn mạnh hơn cả tính tổ chức Đức và những chiếc xe tăng có chữ thập đen.

        Bây giờ tôi nhìn Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích. Người nhỏ nhắn, cau cổ, mặc chiếc áo vét-tông bóng loáng. Anh cúi gù lưng, ngồi trên bậc thềm hai tay bó đầu gối gầy và nhọn. Tay của anh nhỏ, trắng bùng có những đường gân xanh; và trên thái dương cũng có những đường gân như thế. Chắc là ở nhà anh, chẳng có trật tự gì hết, trẻ con làm anh bực, và anh cãi nhau với vợ. Chắc là cả trước chiến tranh, anh đã thấy nhiều cái không bằng lòng và mọi việc đều làm anh bực bội.

        Thế mà hôm qua, chính mắt tôi đã thấy một viên đạn đại bác nổ bùng bên cạnh anh. Chừng hai mươi bước thôi, không hơn đâu. Anh chỉ hơi cúi xuống và tiếp tục tìm chỗ đứt. Anh quấn chỗ bị hòng và sau đó lại kiềm tra toàn bộ dây dẫn ở khu vực quanh chỗ viên đạn nổ.

        — Anh có hiểu không, — sau đó anh nói với tôi, — cả cuộc đời tôi gắn chặt với nhà máy này. Tôi đến đây làm thực tập sinh, khi ở những chỗ này người ta còn đo ngắm với kính kinh vĩ. Chính mắt tôi trông thấy xưởng nhiệt điện và tất cả những phân xưởng này mọc lên. Năm đêm tôi không ngủ, khi người ta đặt xong máy phát điện số sáu, anh đã biết nó, máy thứ hai từ cửa sổ ấy mà. Tôi biết các máy đó rất rõ. Tính nết, thói quen của từng máy một. Anh có hiểu phá hoại đối với tôi có nghĩa là gì không? Không, anh không hiểu được. Các anh là quân nhân, chằng qua các anh chỉ tiếc nhà máy thôi, và chỉ thế thôi. Còn đổi vói tôi thì...

        Anh không nói hết và đi đến với chiếc cầu Uýt-xtôn của mình. Một tháng rưỡi trước đây, tôi ngồi với I-go trên một gốc cây cong queo bên đường và nhìn xem các đơn vị quân ta rút lui. Mặt trận lúc ấy không có. Có đường mà theo đổ các xe cộ chạy đi đâu đấy. Và người đi. Cũng đi đâu đấy.

        Đó là một tháng rưỡi trước đây: vào tháng bảy.

        Bây giờ là tháng chín. Đã ngày thứ mười chúng tôi đèn nhà máy này. Ngày thứ mười bọn Đức ném bom thành phố. Chúng ném bom — thế nghĩa là quân ta còn ở đấy. Nghĩa là các trận chiến đấu còn tiếp tục. Nghĩa là có mặt trận. Nghĩa là tình hỉnh hiện nay tốt hơn hồi tháng bảy.

        Một viên đạn bùng nổ cạnh xưởng nhiệt điện. Như thường lệ, chúng bắt đầu bắn đúng vào giờ ăn trưa. Từ ba đến ba giờ rưỡi, không sai một phút nào. Nửa giờ sau phải đi chữa lại mạng điện. Va-lê-ga và Xê-đức cầm cà-mèn chạy đi lấy thức ăn trưa.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 07:31:48 AM

17

        Chừng hai ngày sau, vào lúc sáng tinh mơ, Gôn-stáp đến chiến hào của chúng tôi. Đi theo anh, có chừng mươi cán bộ chỉ huy.

        Chúng tôi ngồi trên bậc chiến hào và làm hộp đựng thuốc lá bằng nhựa xen-lu-lô-ít. Ở trong phòng thí nghiệm của nhà máy có hàng tấn xen-lu-lô-ít đa dạng và tinh dầu lê óng ánh rất đẹp trong những chai lớn giống như chai của hiệu thuốc. Thế là chúng tôi dùng làm hộp đựng thuốc lá. Chúng tôi cưa, cắt, cạo, gọt, dán; chỉ rời tay để chữa lại mạng điện và ăn trưa mà thôi.

        — Thôi, chúng ta sẽ chia tay nhau, — Gôn-stáp nói và mân mê trong tay hộp đựng thuốc lá bé xíu của I-go có cái nắp đẩy.

        — Cổ kíp khác thay cho các anh. Các chiến sĩ của tiểu đoàn công binh hai trăm mười bảy.

        — Thế chúng tôi đi đâu?

        — Đến bên kia. Đến ban công binh của sở chỉ huy mặt trận.

        Hừ, thế thì càng tốt. Chúng tôi bàn giao những mục tiêu của mình, và nửa giờ sau đã bước trên những tầm ván gập ghềnh của chiếc cầu tấn công bắc qua một nhánh của sông Vôn-ga đến cồn bãi.

        Khi chia tay, chẳng hiểu vì sao chúng tôi đã hôn nhau với Ghê-oóc-ghi A-ki-mô-vích. Anh nẳm chặt tay tôi lắc, chớp mắt, nhăn trán và nói:

        — Tôi sẽ nhớ mãi các buổi nói chuyện của chúng ta trên những bậc này. Tôi hy vọng rằng tất cả những điều mà tôi cố chứng minh sẽ không bao giờ thực hiện cả. Sau chiến tranh chúng ta sẽ gặp nhau, và các anh sẽ nói với tôi: «Thế nào, ai nói đúng?» Và tôi sẽ nói: «Các anh».

        Anh tiễn chúng tôi đến đường mòn chạy trên sườn dốc hung hung đồ tới tận sông Vôn-ga, và còn đứng hồi lâu vẫy chiếc mũ cát-két có cúc.

        Lại thêm một người nữa đi qua cuộc đời, để lại dấu vết không lớn, nhưng nhớ mãi, và khuất bóng, có lẽ là mãi mãi.

        Sau đó, chúng tôi ngồi bên bờ trái trên một chiếc thuyền lật sấp khô ráo và nhìn những ống của nhà máy Máy kéo đang phun khói. Nhà máy làm việc không ngừng một phút. Và Sa-pi-rô kể cho chúng tôi rằng tháng bảy nhà máy sản xuất ba mươi chiếc xe tăng trong một ngày đêm, còn tháng tám đã lên đến năm mươi chiếc, và bây giờ chl làm việc sửa chữa các xe bị hư hỏng. Anh còn nói rằng một bộ phận thiết bị đã được đưa đến vùng U-ran, bộ phận khác đang chuẩn bị chuyển đi, nếu có thể đánh lùi bọn Đức ra khỏi chỗ nào đấy, ở đó có cầu hay bến gì đấy không rõ.

        Ban đêm chúng tôi ngủ trong một ngôi nhà gỗ trong rừng. Suốt ngày hôm sau, chúng tôi đi tìm ngôi nhà người kiểm lâm, nó là điểm định hướng theo đó có thể tìm ra ban công binh của mặt trận.

        Trong mỗi khu rừng con đều có các cơ quan tham mưu và hậu cần, chúng nhiều đến nỗi thật khó tìm được ban công binh

        mà chúng tôi cần. Khắp nơi, lính gác, dây thép gai và những tấm biển đề: «Không có lối đi qua».

        Thế mà đến gần tối thì chúng tôi tìm ra. Ban công binh không đóng ở trong nhà. Từ lâu ngôi nhà đã không còn nữa. Chỉ có ở trên bản đồ mà thôi: một hĩnh chữ nhật con với một nhánh nhỏ nằm nghiêng ở góc. Ban công binh đóng ở bổn nhà hầm. Một trong những nhà hầm đó, hóa trang khéo đèn nỗi chúng tôi cứ đi quanh chừng mươi phút, mà không biết. Trong nhà hẩm đổ có một thiếu tá ngồi, đeo kính rất dày không có gọng và cổ áo thì bằng nhựa xen-lu-lô-ít. Anh lướt mắt đọc nội dung trong giấy giới thiệu và bỗng tươi tỉnh hẳn lên.

        — Tuyệt! Tuyệt thật! Thế mà tôi đã lo là không biết làm thế nào  đây. Mời các bạn ngồi xuống đi... Không, tốt hơn là đi ra ngoài. Ở đây bé như cái lỗ mũi, một người cũng đã chật rồi.

        Thì té ra, đại úy ở ban công binh Quân đoàn thứ 62 chỉ vừa mới ở đây trước chúng tôi một lúc — «các anh không gặp nhau à?» Họ thiếu kỹ sư công binh của trung đoàn. Đêm nay, sư đoàn 184 phải qua sông, còn buổi sáng trong thời gian địch ném bom, một kỹ sư và một trung đội trưởng đã bị loại ra khỏi vòng chiến đấu . Và ở các sư đoàn đang chiến đấu bây giờ cũng thiếu tợn: trung sĩ phải làm thay kỹ sư của trung đoàn. Ở lực lượng hậu bị, chẳng có ma nào cả. Với nhà máy Máy kéo kia đã phải kẻo dài bao nhiêu rồi, đã hai lần hỏi rồi đấy.

        — Nói tóm lại... chắc là các anh đói rồi chứ gì? Các anh hãy đến nhà ăn của chúng tôi, cứ đi thẳng theo lối này, ăn tối xong, hãy trở lại đây. Còn tôi sẽ chuẩn bị giấy tờ. Các anh sẽ kịp bắt gặp một sư đoàn nữa ở phía bên này.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 04:13:32 PM

        Ăn cháo gạo với mứt xong, chúng tôi trở lại gặp thiếu tá. Anh ta đang đề phong bì bằng một nét chữ nhỏ nhắn của phụ nữ vói chữ «đ» uốn đuôi cong rất đẹp.

        — Trong các anh, ai là Kéc-gien-xép ?

        — Tôi.

        — Đây, anh thì riêng. Đến một trăm tám mươi tư. Tôi khuyên anh bắt gặp sư đoàn ấy ở đây. Từ khoảng tám giờ họ bắt đầu chuyển quân qua sông từ Bua-cổp-xki. Không thì ngày mai anh sẽ lùng khắp tiền duyên cũng không tìm được đâu.

        — Anh đưa cho tôi chiếc phong bi làm bằng tấm bản đồ địa hình.

        — Hãy cố gặp kỹ sư sư đoàn, rồi sau đó đến trung đoàn. Hay là tùy anh thôi.

        Những người khác cùng được phái đến sở chỉ huy các đơn vị công binh Quân đoàn 62.

        — Sở chỉ huy ở phía bên kia. Hôm qua, đóng ở mương xói Ban-nhi. Bây giờ thì hình như là chuyển đến chỗ nào đấy rồi. Ở đâu đây trong khu vực này thôi. Các anh hãy tìm lấy.

        — Thế ở một trăm tám mươi tư không cần thêm công binh nữa à? — I-go hỏi. — Đồng chí bảo là ở đấy một trung đội trường bị loại ra khỏi vòng chiến cơ mà.

        Thièu tá đưa mắt nhìn I-go qua cặp kính dày và do đó mắt anh ta hình như to và tròn như mắt chim.

        — Anh là thượng úy. Chúng tôi phái anh đi làm kỹ sư. Chúng tôi ở đây đang thiếu kỹ sư nhiều lắm, gay go thật, — và lấy cây bút chì gãi gốc mũi, anh nói thêm: — Trừ đồng chí được phái đến một trăm tám mươi tư, còn tất cả các anh nên đợi ở đây. Đêm sẽ có người ở sáu mươi hai đến lấy xẻng, thì các anh sẽ đi cùng người đó. Các anh hãy nghỉ tạm đâu đấy ở gần đây, dưới các cây liễu hoàn diệp vậy.

        Chúng tôi đi ra.

        — Cậu đi bộ à? — I-go hỏi.

        — Mình sẽ đi đến người điểu khiển giao thông, và ở đấy sẽ xem.

        — Tớ tiễn cậu.

        Tôi chia tay vóì Sa-pi-rô, Pen-gau-nít và Xa-môi-len-cô. Xê- đức lầy lòng bàn tay sần sùi nắm chặt tay tôi hồi lâu.

        — Đồng chí trung úy ạ, chúng ta sẽ còn gặp nhau.

        — Nhất định rồi, — cố tỏ ra vui, tôi đáp như mọi lần tiễn biệt. Giá được thì tôi rất vui lòng lấy cậu ta vào trung đội của mình.

        Sau vài phút, cậu đuổi kịp chúng tôi.

        — Đồng chí trung úy, đồng chí hãy lấy cái hộp đựng thuốc của tôi. Hộp của đổng chí thế là chẳng làm xong. Còn của tôi thì tốt, có hai ngăn.

        Rồi cậu đút vào tay tôi hộp đựng thuốc lá màu vàng, cỡ lớn đến nỗi tôi không tin rằng có thể bỏ nó vào túi được: trong hộp đó có thể đựng được trên nửa bảng1 thuốc lá. Lại bắt tay tôi. Sau đó bắt tay Va-lê-ga, rồi lại bắt tay tôi.

        Chúng tôi lặng thinh đi đến chỗ người điều khiển giao thông.

        — Một trăm tám mươi tư chưa đi qua. Có một tiểu đoàn công binh nào đấy mới đi, còn thì toàn là xe ô-tô thôi, — người điểu khiển giao thông nói; anh ta đứng tuổi có bộ ria thưa màu hung hung và hai tai to vểnh lên, bám đẩy bụi.

        Chúng tôi ngồi hút thuốc trong hòm một chiếc xe ô-tô bị phá hùy. Mặt trời đã lặn, nhưng còn sáng sủa về phía tây, trên thành phô Xta-lin-gơ-rát, bầu trời đỏ rực; và thật khó nói đo đâu mà nó như thế: do mặt trời lặn hay là do đám cháy. Ba cột khói đen ngòm từ từ tỏa ra trong không trung. Ở bên dưới, chúng nhỏ, đặc và đen như bồ hóng. Càng cao, chúng càng tỏa ra to hơn; còn khi ở độ rất cao thì chúng hòa lẫn với đám mây đen dày đặc và dài. Đám mây đen phẳng dẹt và không di động; mặc dù mỗi lúc lại có thêm những làn khói mới hòa vào, nhưng nó không dài ra, cũng không dày lên. Đấy, đã hai tuần rồi đám mây đen binh tĩnh và bất động ấy vẫn treo lơ lửng trên thành phố rực cháy.

        Còn chung quanh là những cây liễu hoàn diệp vàng chói trên nền đen sẫm, những cây liễu hoàn diệp mỏng manh và dễ thương làm sao! Xe ô-tô chạy qua trên đường. Người ta dừng xe, hồi đi đến chỗ qua sông số 62 hay Xóm Chài thế nào, rồi phóng xe đi tiếp. Đường rộng, bị giẫm nát vì xe chạy nhiều, khắp nơi đều có những ổ gà hình thoi, hình tam giác do các bánh xe đào xới lên. Thật khó mà biết được đâu là lề đường và nó rẽ đi đâu. Một cột chỉ đường đứng sừng sững, trước đây chắc là ở bên vệ đường. Nhưng bây giờ nó đứng ngay giữa đường và xe của ai đấy đã va vào nó làm nó xiêu vẹo, và tấm biển đề «Xta-lin-gơ-rát — 6 km» chỉ thẳng lên trời.

        — Đường lên thiên đàng đấy, — Va-lê-ga nói một cách ảm đạm. Thì ra cậu ta vẫn giữ được khiếu khôi hài hóm hỉnh. Điểu đó trước đây tôi không biết.

        Người điểu khiển giao thông đi đến gần.

        — Kia kia, đàn sếu đang bay, — và chỉ ngón tay bẩn thỉu, thô kệch lên trời. — Đối với chúng thì chằng có chiến tranh quái gì cả. Này, các đồng chí cán bộ chỉ huy, có thuốc lá không, hò'?

----------------------
        1. Một bảng Nga bằng 409,5 gam. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tám, 2019, 09:41:01 PM

        Chúng tôi đưa thuốc cho anh hút và theo dõi hồi lâu cái hình tam giác hạt cườm giống như thêu trên trời, đang bay về phương nam. Nghe rõ cả tiếng sếu kêu.

        — Thật là giống hệt như những chiếc «gioong-ke», — người điều khiển giao thông nói và nhổ xuống đằt, — trông mà đáng ghét.

        Sự so sánh đó đã thoáng qua óc, có lẽ là của mọi người cổ mặt ở đây, và chúng tôi bật cười.

        — Thế nào, đến đấy hay từ đấy đến? — người điểu khiển giao thông vừa cầm tay tôi để châm thuốc, vừa hòi.

        — Đến đấy.   .

        Anh lắc đầu và hút thêm vài hơi nữa.

        — Vâng... Ở đấy thì gay lắm, chứ còn nói gì nữa... — và bước đi.

        Những thương binh đi qua. Từng người một, từng đôi một.

        Họ đểu xám xịt, đẩy bụi và mặt mày mệt mỏi. Một người đèn ngồi và hỏi: có gì uống không. Va-lê-ga đưa bình-toong sữa cho anh ta. Anh uống lâu và chậm, làm vương vãi sữa. Anh bị thương ở ngực và qua chiếc áo va-rơi bị rách, trông rõ băng bẩn, bết máu trên bộ ngực xương xấu phù một lớp lông đen.

        — Thè nào, ở đấy ra sao, ở tiền duyên?

        — Xấu lắm, — anh lãnh đạm đáp và đưa tay chùi một cách khó khăn cặp môi nứt nẻ, bê bềt máu bẩn. Trong đôi mắt xám, cũng như cả người của anh, ngoài sự mệt mỏi rã rời ra, không còn gì khác nữa.

        — Nó tấn công dữ lắm à?

        — Chẳng còn ngóc đầu dậy được nữa.

        Anh muốn đứng dậy, nhưng lại ho, và trên môi có nước bọt hồng. Anh lại ngồi xuống, nặng nhọc thở. Có cái gì đấy khò khè trong họng hay là trong ngực của anh.

        — Người ít... Cái đó là xấu nhất...

        — Thế ai ở trong thành phố. Bọn chúng hay là quân ta ?   

        — Bố ai mà biết được thành phố ở đâu nữa... Chung quanh đang bốc cháy... Nó bỏ bom từ sáng mãi đến bây giờ... Nào cháu, cho hớp thêm tí nữa.

        Anh uề oải, đường như không muốn, kể môi vào miệng bình- toong và từ mép miệng một tia sữa chảy ra có màu hồng hồng vì máu. Rồi anh đứng đậy đi, dựa vào một cái gậy cong queo cổ nhánh và khó nhọc lê bước.

        Có ba chiến sĩ cưỡi ngựa đi đến gần người điểu khiển giao thông. Tôi bảo Va-lê-ga đến xem cổ phải họ là người của sư đoàn mà chúng tôi tìm đến không. Va-lê-ga đi đến gần họ, tay giữ sợi dây cương và hỏi cái gì đấy. Rồi quay trở lại.

        — Họ bảo rằng một trăm tám mươi tư đã đi thẳng đến chỗ qua sông rồi. Họ không phải thuộc sư đoàn ấy, nhưng có thấy các chiến sĩ.

        Ba chiến sĩ phi ngựa đi tiếp, tung lên một đám bụi mù mịt.

        — Thôi, thế thì tớ đi đây, — I-go nói.

        — Thôi, đi đi, — tôi đáp và chìa tay.

        Hình như, đáng lẽ phải nói thêm cái gì đấy nữa, nhưng không nói được.

        — Tớ không chào vĩnh biệt đâu, — I-go nói.

        — Mình cũng thế.

        Chúng tôi lắc tay nhau.

        — Va-lê-ga, thôi đi nhé! Nhớ chú ý cần thận đến trung úy nhé!

        — Tất nhiên rồi...

        — Thôi, tớ đi.

        — Mọi sự tốt lành, I-go nhé!

        — À... Con dao nhíp của cậu hình như tớ còn giữ.

        — Lẽ nào?

        — Hôm qua tó. mượn cắt bánh mì, — I-go sờ soạn trong túi. — Nó đây rồi, rơi sau lần vải lót.

        Anh chìa dao. Đó là chiến lợi phẩm của Va-lê-ga, con dao Đức rất đẹp, có hai lưỡi, ruột gà vặn nút chai, dùi, tuốc-nơ-vít và cả những dụng cụ gì gì nữa đầy chằng hiểu được.

        — Thôi, thế là hết. Đi mạnh khỏe nhé!

        — Thôi đi nhé!

        Và đẩy cái mũ ca-lô ra sau gáy, đút hai tay vào túi, anh ra đi. Dáng đi bình thường, tự nhiên và uể oải.

        Lẽ nào tôi và I-go không bao giờ được gặp lại nhau nữa?


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 03:00:35 PM
       
18

        Cũng như mọi khi, ở chỗ bến phà qua sông thật khó lòng mà hiểu được cái gì đấy. Ngựa, xe tải, đại bác với xe kéo pháo, xe ô-tô đi lùi trong bóng tối. Và người. Người nhiều hơn cả: chửi mắng nhau, chen lẫn nhau, tranh giành nhau cái gì đấy. Xe chạm phải một người nào đấy. Người ta bỏ quên những cái thùng gì đấy. Tìm ai đấy tên là Xtê-xen-cô. Đợi ca-nô. Mắng chửi nó. Đáng lẽ phải có từ lâu, thế mà ca-nô vẫn không đến.

        Hai sư đoàn — 184 và một sư đoàn nào đấy nữa, hình như là 29 — lập tức cùng qua sông.

        Và trong toàn bộ tình trạng hỗn loạn tứ tung đó, mà phải tìm một kỹ sư công binh nào đấy của sư đoàn, hay sư đoàn trưởng, hay tham mưu trưởng sư đoàn đề đưa giầy tờ và đợi mệnh lệnh. Còn mệnh lệnh thì chắc chắn là sẽ chẳng có gì hết. Thế này thì đầu óc của mọi người đều đã rối tung rối mù lên rồi: phải chở cả đại bác, cả đạn dược, cả ngựa, và người thì đừng đề lạc mất, và nói chung tình hình như thế này, anh cũng thấy đấy, mà anh lại cứ làm phiền tôi nữa.

        Tôi tìm được một kỹ sư công binh, nhưng không phải ông ấy, tìm được một trung đoàn trưởng, nhưng cũng không phải ông ly.

        Có người nào đầy kéo tay áo của tôi.

        — Này ông bạn, có đèn pin không.

        — Có.

        — Hãy soi đèn giúp, ông bạn ơi. Không thì khổ quá. Người ta giao cho bản đồ, mà tối om thế này, thấy quái gì được...

        Tôi chỉ thấy một hình thù to lớn, mặc chiếc áo bông, còn ở ngực đeo lùng lẳng khẩu tiểu liên.

        — Nào, ta chui vào dưới chiếc thuyền. Chỉ hai. phút thôi... Thật đấy.
    
        Dưới chiếc thuyền chật chội và sực nức mùi gỗ mục. Tôi bấm đèn, Đèn sáng mờ mờ: pin sắp hết, Người kia có bộ mặt to và thô, hai mắt rộng và đôi môi dày, Ở cổ áo, có một hình chữ nhật con1. Anh ta khó khăn lắm mới kéo được tấm bản đồ ra khỏi xắc-cốt đầy ắp những giấy tờ.

        — Thế này thì đố ai mà hiểu được, — anh lấy móng tay bẩn chỉ vào hình tam giác đỏ không đều cạnh trên bản đồ, — Thế này mà cũng là bản đồ cơ đấy! Nhà máy trên bản đồ không ghi gì cả, Thì hiểu quái thế nào được chứ! — và anh chửi rủa một lúc lâu, — Phải đổi sư đoàn. Bảo rằng ở bến phà sẽ có phái viên, Thế mà chẳng có ma nào cả, Bây giờ thì phải tìm cái hình tam giác này trong thành phố, Sở chỉ huy sư đoàn, Chẳng có điểm định hướng, chẳng có cóc khô gì cả,

        Tôi hỏi anh ta ở sư đoàn nào. Thì té ra là tiểu đoàn trưởng của trung đoàn 1147 thuộc sư đoàn 184,

        — Hôm nay, kỹ sư bị tử trận có phải ở chỗ chúng ta không?

        — Đúng là ở chỗ chúng ta, Xư-gây-ca, Thì sao?

        — Mình được phái đến thay anh ấy,

        — Thế cơ à! — đại úy có mặt to thậm chí ngạc nhiên, —  Thế thì tốt. Đi với chúng tớ, Tớ chỉ một mình đơn thương độc mã. Chính ủy nằm ở tiểu đoàn quân y rồi, còn tham mưu trưởng thì ban đêm chẳng thấy gì cả.

        Chúng tôi từ dưới chiếc thuyền chui ra.

        — Cậu đợi tớ một tí, Tớ chi kiểm tra lại ngựa thôi. Chằng tin được mấy tay chuẩn úy đâu,

        Anh biến mất, như tan ra trong đám đông và trong tiếng ồn ào, Tôi tìm Va-lê-ga, Cậu đã nằm nghiêng cạnh những cái hòm gì đấy rồi và bình tĩnh ngủ, hai chân co lại để người ta không giẫm phải, Cậu có một cái tài lạ lùng là ngủ được trong mọi hoàn cảnh, Tôi ngồi xuống bên cạnh, Một luồng hơi mát nhè nhẹ từ sông bốc lên thật dễ chịu, Phảng phất mùi cá và dầu mỡ. Những con ngựa giẫm chân bên cạnh, làm rung động những bộ yên cương. Ở đâu đấy, đã xa lắm, vẫn nghe tiếng gọi ơi ới tìm Xtê- xen-cô.

        Thành phố rực cháy. Thậm chí không phải chỉ thành phố, mà cả bờ sông, trên một chiều dài mắt có thể nhìn thấy được, đều rực cháy. Thật khó nói đó là đám cháy hay cái gì. Đó là một cái gì lớn hơn nhiều. Chắc rừng tai-ga cũng cháy như thế: hàng tuần, hàng tháng trên hàng chục, hàng trăm cây số. Bầu trời đỏ rực, ùn ùn những đám khói. Hình thù thành phố đang cháy đen ngòm như từ một mảnh gỗ cắt ra, nổi bật trên nền trời. Chỉ có màu đen và màu đỏ thôi. Không còn màu nào khác nữa. Thành phố đen ngòm và bầu trời đỏ rực. Cả sông Vôn-ga cũng đỏ rực. «Như máu», — một ý nghĩ thoáng qua trong óc.

        Hầu như không thấy các ngọn lửa. Chỉ ở một chỗ, ở phía hạ lưu, có những ngọn lửa như những cái lưỡi ngắn run rẩy. Và trước mặt chúng tôi là những kho dầu hình trụ, bị nhầu nát, bị đồ sụp và móp méo như làm bằng giầy. Và từ đó, những ngọn lửa to lớn như những tai lửa mặt trời hùng mạnh bốc lên và ẩn khuất trong đám mây kỳ quái, nặng nề, chậm chạp ùn ùn cuộn khói màu đỏ thẫm.

--------------------
       1. Quân hàm đại úy, — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tám, 2019, 06:16:25 PM

        Hồi còn bé, tôi thích xem tờ tạp chí cũ của Anh trong thời kỳ chiến tranh mười bốn. Tờ tạp chí không còn đầu, không còn cuối, thế nhưng nó có những bức tranh tuyệt đẹp, to chiếm cả một trang giấy: những người lính Anh trong chiến hào, những trận tấn công, những trận thủy chiến với những làn sóng sùi bọt và những ngư lôi hạm đâm bổ vào nhau, những chiếc «bơ-lê-ri~ô», «phác-man», và «tau-be» buồn cười, giống như cái giá sách, bay liệng trong không trung. Thật khó rời khỏi những bức tranh ấy.

        Nhưng đáng sợ hơn cả là bức tranh buồn thảm, đồ sộ, chiếm cả hai trang giữa, tả cảnh thành phố Lu-vanh1 bị bốc cháy vì các trận ném bom của Đức. Trong tranh cổ cả ngọn lửa, cả những luồng khói giống như bông, cả những ngườì chạy, cả những ngôi nhà sụp đổ, cả những ngọn đèn chiếu trên bầu trời đỏ rực như báo điểm dữ. Nói tóm lại, bức tranh đó thật là đáng sợ và hấp dẫn đến nỗi không muốn lật sang trang khác. Biết bao nhiêu lần tôi đã vẽ lại bức tranh đó, tô bằng bút chì màu, bằng sơn dầu, bằng phấn màu nhỏ, và sau đó treo những bức tranh ấy trên tường nhà,

        Trước đây, tôi cảm thấy không có gì đáng sợ hơn, không có gì hùng tráng hơn cảnh tượng ấy,

        Giờ đây tôi nhớ lại bức tranh đó, Bức tranh khá đạt, Đến bây giờ, tôi còn nhớ mỗi một chi tiết trong tranh, mỗi một đường cong của đám khói cuồn cuộn bốc lên; và bỗng nhiên, tôi hoàn toàn nhận thấy rõ rằng nghệ thuật thật là bất lực, thật là yếu đuối xiết bao! Chẳng có những luồng khói cuồn cuộn nào, chẳng có những ngọn lửa thế lưỡi liếm bầu trời nào, chẳng có màu sắc phản chiếu hãi hùng nào có thể truyền đạt được cái cảm giác mà hiện nay tôi đang có, khi ngồi trên bờ sông trước mặt thành phố Xta- lin-gơ-rát bốc cháy,

        Trận đánh đang diễn ra ở bờ bên kia, Những viên đạn lửa từ những tràng súng máy và tiểu liên bắn ra, bay rà sát mặt bờ sông, Phải chăng bọn Đức đã đến tận sông rồi? Một vài loạt đạn dài bay qua sông Vôn-ga và mất hút ở phía bên này,

        Ở đâu đấy từ phía sau lưng, «ca-chi-u-sa» đang khạc đạn, Khi đi đến đây, chúng tôi đã thấy tám chiếc xe ô-tô cùng với các giàn súng «ca-chi-u-sa», Những viên đạn nóng đỏ, từ từ bay, vượt nhau trên bầu trời run rầy vì ánh hồng rực rỡ, và rơi xuống ở đâu đấy trên bờ đối diện, Không thấy đạn nổ, Chỉ thấy những ánh lửa chớp lên, Sau đó, tiếng nổ mới vang đèn tai,

        Có người nào đây cạnh tôi nhổ nước bọt và hài lòng chép miệng «chà, chà», Chỉ đến bây giờ, tôi mới nhận thầy các chiến sĩ đang nằm dài cạnh chúng tôi,

        — Mày có kịp đóng móng con ngựa đực không? — người nào đấy hỏi,

        — Kịp, Còn mày?

        — Kịp đóng con Liu-tích, còn con ngựa ô chỉ đóng được hai móng trước, Nó bị thương, nên không chịu,

        Tiều đoàn trưởng đi đến, Anh thở mệt nhọc,

        — Thật đấy, đi qua sông như thế này thì hóa điên mầt, Giảm thọ năm năm đấy, — Anh hỉ mũi kêu to, — Thiếu tướng đã đến đây. Nói rõ: bây giờ chúng ta, sau đó đèn lượt hai mươi chín. Tớ chỉ mới rời bến phà trong một phút thôi, thế mà họ đã xếp các thùng của họ xuống rổi. Pháo binh đã chuyển qua sông, mà đạn thì để lại bên này sông mới bỏ mẹ chứ, Vì sao họ không làm việc đó? Ai làm phiền họ kia chứ? Tớ thì cứ mỗi khẩu đại bác đều chở kèm theo đạn dược. Trời ơi, lại thằng quỷ này nữa.

        Tiều đoàn trưởng lại chạy khuất. Chỉ nghe thấy tiếng anh quát mẵng người nào đấy. Anh quay trở lại,

        — Thôi được, tất cả những cái đó đều không đáng kể. Bằng cách nào đấy chúng ta sẽ qua bờ bên kia được thôi, Quan trọng hơn là ở đằng kia...

        Mới hay là trung đoàn được lệnh đến hai giờ đúng phải chuyển quân qua sông xong; và đến bốn giờ đúng thay cho sư đoàn hầu như không còn tồn tại ở bờ bên kia, tại khu vực nhà máy «Vật phẩm kim loại» — đồi Ma-ma-ép, Bây giờ đã một giờ rồi, mà chưa một tiểu đoàn nào qua sông được, Ở bờ bên kia, chỉ có công binh, trinh sát viên và nhóm tác chiến của sở chỉ huy, Trung đoàn trưởng và tham mưu trưởng, hình như cũng đã ở bên kia, Điều chủ yếu là phải chuyển qua sông được toàn bộ pháo binh — cỡ bốn mươi lăm và bảy mươi sáu — đã giao cho tiểu đoàn và trước rạng đông thì đưa ra tiền duyên để chĩa súng bắn thằng vào quân thù,

        — Được, — tôi nói, — cứ đưa cho mình hai đại đội và các chiến sĩ tổ súng chống tăng, còn cậu cùng với một đại đội, phụ trách chuyển pháo binh. Của cậu một đại đội bao nhiêu người?

        — Khoảng một trăm.

        — Tuyệt, Thế là thỏa thuận với nhau nhé, Chỉ có điều cho biết chỗ đến chính xác.

        — Đây, ở cái hình tam giác chết tiệt này, Nói thật, tớ nghĩ rằng ở đấy chẳng còn ai nữa, Ở sư đoàn kia còn lại chừng một trăm người, chứ không hơn đâu, Đã choảng nhau hai tuần rồi ở bờ bên kia.

        Và anh lại chạy đi, quát mắng với ai đầy, Giọng của anh lanh lảnh, chắc là bờ bên kia cũng nghe rõ,

----------------------
        1. Một thành phố ở Bỉ. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tám, 2019, 06:10:28 AM

        Chiếc ca-nô đến gần bờ. Ca-nô bé nhỏ, thấp lè tè, dường như nó cố ý nép mình dưới mặt nước đề không ai thấy nó, Nó kéo chiếc sà-lan cồng kềnh và chậm chạp có tay lái dài nhô lên.

        Chiếc ca-nô hồi lâu không thể cặp bến được, nó đi lùi, thở phì phi và chân vịt quay bắn tung nước lên. Cuối cùng người ta ném cầu tàu xuống. Một đoàn thương binh đài dằng dặc, thận trọng lên bờ. Họ đông. Đông lắm. Thoạt đầu là những người đi được, sau đến những người nằm trong cáng. Họ được khiêng đến ở đâu đầy trong các bụi cây. Nghe rõ tiếng còi ô-tô.

        Sau đó, người ta chất các hòm xuống ca-nô. Đầy đại bác xuống. Những con ngựa giẫm chân trên cầu tàu. Một con rơi tõm xuống sông, người ta kéo nó ra khỏi nước và lại dắt lên cầu. Thật là bất ngờ, mọi việc đều được tiến hành một cách bình tĩnh và có tổ chức. Thậm chí không nghe tiểu đoàn trưởng của tôi nói.

        Chúng tôi rời bến khi trời bắt đẩu sáng, và khối dày đặc trước đây không rõ là cái gì thì bây giờ là một dãy rừng liễu hoàn diệp ở phía sau lưng chúng tôi. Chúng tôi đứng áp sát người vào nhau. Có người nào đấy thở vào mặt tôi sặc sụa mùi tỏi. Ở đâu đấy dưới chân chúng tôi, bộ máy tàu kêu xinh xịch, trầm trầm. Có ai đấy đang ăn hạt quỳ và phun vò rất kêu. Va-lê-ga vắt cái áo ca-pốt ở thành boong tàu, chống khuỷu tay lên đấy và nhìn thành phố bốc cháy.

        — Thành phố to đấy chứ, — có người nào đầy nói sau lưng tôi, — chẳng khác gì Mảt-xcơ-va cả.

        — Không to, mà dài, — có một giọng trẻ con nào đấy chữa lại, — dài năm mươi cây số đấy. Trước chiến tranh tôi đã ở đấy.

        — Năm mươi à?

        — Đúng năm mươi, từ Xa-rép-ta đến nhà máy Máy kéo.

        — Ố!

        — «Ồ» cái gì?

        — Phải có nhiều đơn vị mới giữ được. Khoảng mươi sư đoàn. Mà cũng có thể đến mười lăm.

        — Thè cậu tưởng ở đây ít hơn à? Đêm nào cũng chuyển quân đến cả.

        Chièc ca-nô đi vòng doi đất nhọn, hầu như không nom rõ trong bóng tối. Ở đâu đấy phía sau chúng tôi, đạn súng cối bay, rít lên. Đạn rơi trong nước phía sau ca-nô.

        — Thằng Đức chẳng thích chúng ta đi, nó muốn dìm chúng ta xuống đáy Vôn-ga.

        Giọng trẻ con cười:

        — Thế thì nó muốn cái gì khác nữa. Tất nhiên là dìm chúng ta. Lính Nga ì oạp, — và lại cười.

        — Thằng Đức thì muốn nhiều cái lắm, — một người thứ ba nào đấy nói, cứ theo giọng thì có lẽ anh này đã đứng tuồi, — còn chúng ta thì không thể nào đi xa hơn nữa... Đã rút lui đến điểm cuối cùng rồi. Đến tận cùng của thế giới rồi. Chằng còn rút lui xa hơn nữa...

        Nghe rõ tiếng người nào đấy, vỗ vào áo ca-pốt của ai đầy.

        — Đúng đấy, bố già ạ. Đấy, chính là cách nói của dân lính thủy chúng tôi. Tự nguyện thì chúng tôi chẳng bò vào nước để tắm đâu. Nước lạnh lắm... Có đúng thế không, hả?

        Và mọi người cười rộ.

        Tôi cố gắng quay đầu lại. Nhưng rất khó, vì tôi bị ép tứ phía. Liếc nhìn, tôi chỉ thấy lờ mờ những chấm trăng trắng của các bộ mặt và tai của ai đấy. Ca-nô đi đến gần bờ.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2019, 09:13:47 AM

19

        Chièc ca-nô lại không thể nào ghé sát vào bến được. Chúng tôi nhảy xuống nước đục ngầu và lạnh buốt.

        Quân ta chuyển lên bờ những cái hòm gì đấy và để ngổn ngang trên khắp bờ sông. Dưới chân thì vướng nào là dây xích, nào là thừng chão. Thương binh lặng thinh, cau có ngồi sát vào nhau trên các hòm và ngay trên đất.

        Bờ sông phẳng và toàn bằng cát. Xa hơn — bờ vách cao và gần như thẳng đứng. Và trên mọi vật là bầu trời đỏ rực đầy khói. Bắn nhau rất gần, như ở ngay sau lưng. Trời trở nên mát, và tôi mặc áo ca-pốt.

        Tiểu đoàn trưởng — họ là Cli-sen-xốp — đang quát người nào đấy quay đại bác không đúng.

        — Sao đẩy đại bác mà lại quay mâm súng ra đằng trước. Óc để ở đâu, hồ1? Đầu bờ...

        Các chiến sĩ ì oạp lội trong nước, mang theo súng máy, súng cối và đạn súng cối đu đưa trên lưng và trên ngực. Họ túm năm tụm ba từng đám trên bờ. Và tất nhiên, hút thuốc. Cli-sen-xốp chạy đến với tôi. Giọng của anh đã khản đặc.

        — Cậu hãy nhận đại đội bốn và năm, và chuyển quân đi! Còn tớ sẽ cho đại bác lên bờ, Và theo các cậu ngay... Có điều là phải phái liên lạc đến, đề khỏi phải lang thang tim vô ích, Ở chỗ tớ có cậu Xi-đo-cô đấy, Cậu ấy sẽ tìm ra tất cả, Cậu cứ hỏi Pha- rơ-be, đại đội trưởng đại đội năm, — Và cầm mép áo ca-pốt của tôi kéo về phía mình, anh thì thào vào tai: — Nghe nói sư đoàn kia bị đánh tan chẳng còn gì nữa, Cậu cố tìm cho được những trinh sát viên của chúng ta, Họ ở đâu đấy đằng ấy... Không có tớ thì cậu đừng có vướng vào chiến đấu đấy, — và anh đút chiếc bình-toong vào tay tôi, — Này, uống đi, lấy sức mà lên đường.

        Rượu trắng nóng bỏng ở cổ một cách dễ chịu và như một tia nóng chạy khắp bên trong.

        Các cán bộ chỉ huy tập hợp quân, Một người cao cẳng, hơi gù, mặc chiếc áo ca-pốt ngắn đến đầu gối và đeo kính, Họ của anh là Pha-rơ-be, Có lẽ, xuất thân từ trí thức: «anh có thấy không», «nói đúng ra là», «tôi nghĩ rằng», Người khác, Pê-tơ-rốp, mảnh khảnh, gầy gò và còn là trẻ con, Cái đó làm tôi không thích lắm,

        Chúng tôi đi đọc theo bờ sông, về phía thành phố, Chân thọc sâu vào cát, Thỉnh thoảng khi đạn súng cối rít lên, chúng tôi ngồi xuống, Các chiến sĩ đi, chẳng nói chẳng rằng, bước khó khăn, thở mệt nhọc và tay thì giữ những viên đạn súng cối đu đưa, Hôm nay, họ đã đi gần bốn mươi cây số.

        Một dãy dài thương binh đi ngược lại phía chúng tôi, họ đi hàng hai, hàng ba hay hàng một, chống vào khẩu súng trường, Họ hỏi bến phà ở đâu.

        Đạn rít lên ngay trên đầu. Rơi lõm bõm xuống nước. Những viên đạn lửa nhảy vút lên cao và tắt ngấm trong không trung.

        — Bọn Đức ở đâu, hở? — các chiến sĩ hỏi những người gặp trên đường. Những người kia khoa tay một cách mơ hồ về phía chúng tôi đang đi đến,

        — Chẳng xa... Gần hơn đi đến nhà...

        Chúng tôi đi qua một tòa nhà trắng, chắc là tháp nước; từ trong đó có những ống dài chạy ra, Rồi con đường lên cao, Trên đường, người ta khiêng đại bác đi xuống,

        — Đi đâu? — tôi hỏi,

        Chẳng có ai trả lời cả.

        — Khiêng đại bác đi đâu thế?

        — Thề mày là ai? Không thầy tình hình thế nào à? Đề lại cho bọn Đức hay saơ

        Tôi rút súng lục ra.

        — Quay trở lại...

        — Trở lại đâu?

        Có người nào đấy mặc áo ca-pốt không cài cúc, đội mũ ca- lô trật ra sau gáy, huých vào ngực tôi.

        — Anh hùng như mày thì chúng tao thấy đủ rồi!.. Ca-xua-ra, đừng thèm đề ý! Cứ khiêng đi.

        Bỗng nhiên, tôi cảm thấy không đủ không khí thở và có cái gì đấy chặn ở họng.

        Đạn đã bắn ngay vào bờ sông.

        Ở phía trên đường, — từ đây chỉ trông rõ cần chắn ngang đường đứng sừng sững, cái cột bị đồ và những cuộn dây thép vứt ở đấy, — có vài hình thù hiện ra. Nấp vào cái cột, chúng bắn, rồi chạy xuống dưới.

        Cổ người nào đầy lấy vai huých tôi và chửi.

        Tôi quay lại và thẳng cánh đánh vào cái mặt trăng trắng đang nhảy trước tôi.

        — Quay lại!.. — tôi thét vỡ họng đến nỗi trong tai nghe rung lên, và chạy lên phía trên đường.

        Bọn Đức đã ở ngay bên kia đường sắt. Đường ray chạy đèn tận mép bờ cao. Những dãy toa chứa dầu lửa đứng lù lù trên nền đỏ rực của cái gi đấy đang cháy. Khẩu súng máy của ta từ đâu đấy ở bên phải, từ dưới những bánh xe, bắn ra tặc tặc.

        Tôi bò dưới toa tàu. Áo ca-pốt vướng vào cái gì đầy và rách toạc. Vạt áo làm phiền lắm, cứ rối lung tung giữa hai chân. Tôi áp mặt vào đường ray — thấy lạnh và dễ chịu, — và cố gắng nhìn xem bọn Đức ở đâu. Thẳng góc với đường ray — một đường phố. Lát đá và thẳng tẳp. Bên trái là các kho dầu. Từ một kho, khói bốc lên. Ở vách có ba lỗ với bờ mép rách ra do đạn đại bác đâm thùng. Giống hệt những vết thương. Bên phải là những nhà chứa đồ đạc đã bị cháy sém, chung quanh rào dây thép gai.

        Có lẽ bọn Đức ngồi trong các kho dầu: những chấm đỏ, trắng, xanh từ đấy bay đèn. Đạn trúng vào các toa dựng dầu lửa kêu đôm đốp.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2019, 10:34:50 AM

        Đầu óc hoạt động rất minh mẫn. Có lẽ chúng có hai khẩu súng máy, và theo tôi, đều là trung liên cả. Súng cối không có. Thế là tốt. Pha-rơ-be phải tấn công từ bên trái: đánh thẳng vào các kho dầu. Còn tôi — tấn công con đường, vòng các kho dầu từ bên phải. Súng máy bắn trực diện. Cần phải kịp chạy qua đường và sau đó dọc theo tường đá.

        Pha-rơ-be bò đi. Bò vụng về, hoi nghiêng người, khập khiễng phía bên phải.

        Một vài viên đạn bắn vào toa đựng dầu, ngay trên đầu. Một tia dầu lửa mòng manh, uốn cong, phun vào đường ray trước mặt tôi, và tôi cảm thấy trên mặt những tia nước li ti, như từ lọ phun nước hoa. Một chiếc pháo sáng bay vút lên không trung. Nó chiếu sáng những kho dầu, những nhà chứa đồ đạc, và bức tường đá. Những bóng đen nhảy múa điên loạn, cái co ngắn lại, cái kéo dài ra. Pháo sáng rơi xuống phía sau chúng tôi, nghe rõ tiếng nó kêu xì xì.

        Đền lúc rồi... Tôi đặt mầy ngổn tay vào mồm, — chiếc còi tôi đã đánh mất hồi còn ở gần Cu-pian-xcơ. Chằng hiểu vì sao tôi cảm thấy hình như không phải tôi, mà một người nào khác ở cạnh tôi huýt còi mồm.

        Tôi chạy đến cái kho dầu có ba lỗ thùng. Từ bên phải và bên trái, quân ta thét lên. Tiều liên nổ giòn giã. Những băng đạn tiểu liên đút vào trong túi áo ca-pốt cứ đập vào hai đầu gối. Có người nào đấy chạy trước tôi, đầu đội mũ không lưỡi trai có những dải vải bay phấp phới. Tôi không thể nào đuổi kịp được. Các kho dầu biến đâu mất, và tôi chỉ thấy những dải vải mà thôi. Những dải dài lắm, chắc là đến tận thắt lưng.

        Tôi cũng thét lên cái gì đấy. Hình như chỉ là «a-a-a-a»1. Chằng hiểu vì sao chạy nhẹ nhàng và vui vẻ. Và ở bụng thấy rung rung: do tiểu liên đang bắn. Và ngổn tay trò ấn cò đến đau ở khớp xương.

        Các kho dầu lại hiện ra, nhưng là những cái khác, nhỏ hơn một tí, có những ống ngoằn ngoèo như rắn. Ống nhiều lắm và phải nhảy qua chúng.

        Sau các kho dầu là bọn Đức. Chúng chạy về phía chúng tôi và cũng thét lên. Những dải vải đen biến mất. Thay vào đó là chiếc áo ca-pốt màu xám và cái mồm mở rộng. Cũng biền mất nốt. Ở hai bên thái dương mạch máu đập mạnh, và chẳng hiểu vì sao thấy đau ở hàm.

        Không thấy bọn Đức nữa.

        Ở phía trước là những cánh cổng trắng có mạng lưới sắt. Tôi sẽ chạy đến cổng và ngồi xuống; rồi chạy tiếp xa hơn... Nhưng tôi không thể dừng lại được, cổng đã ở phía sau rồi, còn trước mặt tôi là đường nhựa và những tòa nhà gì đấy.

        Sau đó, tôi nằm sấp và không thể nào đút băng đạn vào khẩu tiểu liên được nữa. Hai tay run. Trong rãnh có cái gì đầy vướng.

        — Tiều liên bị trúng đạn rồi... Đồng chí lấy khẩu này...

        Hình như Va-lê-ga nói câu đó, nhưng tôi không có thì giờ quay lại.

        Qua mạng lưới — tôi nằm cạnh bức tường thấp bằng đá có dăng mạng lưới mắt cáo, như ở các chuồng gà — lại trông rõ bọn Đức đang chạy. Chúng đông. Chạy qua sân nhà máy, dùng tiểu liên đen tì vào bụng bắn ra, và cảnh tượng đó giống như một cuộc đốt pháo bông vô nghĩa. Bọn Đức thậm chí ban ngày cũng bắn đạn lửa.

        Tôi bắn hết cả một băng đạn, rồi đến băng khác. Cảnh đốt pháo bông bièn mất. Bỗng nhiên, trở nên yên tĩnh ngay. Tôi uống trong bình-toong của ai đấy và không thể nào rời bình được.

        — Đồng chí trung úy, chắc đã ăn cá mòi muối có phải không? — người nào đầy có nhúm tóc trước trán, mặc áo sọc xanh và đội mũ lính thủy không có lưỡi trai, bé nhỏ, nhàu nát, đang cầm bình-toong và nói.

        Tôi uống hết nước. Hình như chưa bao giờ tôi được uống nước lạnh ngon như thế, Tôi tìm Va-lê-ga, Cậu ở ngay đó, đang lắp đạn vào băng. Những viên đạn vàng chói nằm thành một đống con bên cạnh. Gần cậu là một thanh niên mặt tròn đang vội vã hút hết hơi này đến hơi khác một mẩu tàn thuốc còn cháy. Rồi nhổ nước bọt vào nó và dí nó xuống đất.

        Ở phía trước là sân nhà máy rải nhựa và phẳng lỳ. Sau sân là chỗ thải sắt vụn, chiếc đầu máy với những toa bị phá hủy và một công trình xây dựng gì đấy màu trắng như nhà bốt của đường sắt, có một cái ban-công nhỏ. Ở phía sau cũng là sân, trồng trải và to lớn.

        Địa điểm hạng bét: chằng đào công sự được, chẳng ẩn mình được — chỉ có một hàng giậu bằng đá thấp lè tè.

        Rõ ràng là phải chiếm cái nhà và ụ sắt. Còn ở đây thì không thể  nào cố thủ được. Tôi chuyển mệnh lệnh cho Pha-rơ-be và Pê-tơ-rốp. Hai người cũng ở cạnh bức tường, ở bên phải và bên trái của tôi. Người thanh niên mặc áo sọc xanh lính thủy đút ngòi nổ vào những quả lựu đạn tròn có khía to.

        — Tốt... đúng... — cậu nháy con mắt đen hơi nheo — Tôi biết rõ cái nhà đó. Nhà tuyệt lắm. Và hầm nhà tốt vô song!

        — Cậu đã ở đây?

        — Cố thủ ở đấy suốt đêm, cho đến khi bọn Đức đuổi ra. Chúng tôi đến từ tối. Trinh sát. Tìm sở chỉ huy.

        Cậu đút một quả lựu đạn vào túi, một quả thì cài vào đai thắt lưng.

-----------------
        1. Khi xung phong, các chiến sĩ Liên-xô thường hô «U-ra!». — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2019, 10:35:24 AM

        Pha-rơ-be ra hiệu là anh đã sẵn sàng. Một lúc sau — Pê-tơ- rốp. Bọn Đức bắt đầu bắn súng máy từ đâu đấy ở bên trái. Thế là bọn súc sinh đã đào công sự để cố thù rồi. Phải tranh thù thời gian, khi các khẩu súng máy khác của chúng chưa bắn.

        Người thanh niên mặc áo lính thủy, hơi chồm người dậy, giống như ở điểm xuất phát chạy thi, — một chân duỗi thẳng, chân kia co lại, — khóe mắt căng thằng, không nhấp nháy, chăm chú nhìn tôi. Trên tay trái, dưới khuỷu một tí có xăm cái gì đầy, hình như là tên.

        Tôi ra hiệu.

        Có cái gì đấy thấp thoáng: tối và nhanh đến nỗi có gió. Vôi trát tường rơi xuống. Người thanh niên vừa xông thằng đến nhà, vừa vung khấu tiểu liên. Đèn nhà chừng sáu mươi thước, và cái sân phẳng lỳ.

        Và bỗng nhiên, cả sân đầy ắp những người chạy, kêu, màu xanh, màu đen, có sọc. Người thanh niên mặc áo lính thủy đã ở cạnh nhà. Biến mất sau cánh cửa. Bọn Đức bắn loạn xạ, rồi ngừng hẳn. Trông rõ chúng chạy ra sau nhà/Rất dễ nhận ra chúng, vì chúng mặc áo ca-pốt rộng, không thắt đai.

        Tất cả những điều đó xảy ra nhanh chóng đến nỗi tôi không kịp suy nghĩ. Chung quanh trống trải. Chỉ còn tôi và Va-lê-ga. Và mũ ca-lô của ai đó trên sân rải nhựa màu xám.

        Chúng tôi bò qua mạng lưới. Cúi gập người, chạy đến nhà. Ở giữa sân có ba hay bốn người chết. Tất cả đều nằm. gục đầu. Không thấy rõ mặt.

        Cạnh nhà là một đường hào dài dằng dặc, khuất ở đâu 'đấy dưới ụ sắt. Tôi nhảy xuống hào. Có người nào đấy đang lục túi của một thằng Đức chết.

        — Cậu làm gì thế, hở?

        Người chiến sĩ không đứng dậy, quay đầu lại. Trên khuôn mặt rám nắng và đầy mụn, hai con mắt nhỏ màu xám ngạc nhiên nhìn tôi.

        — Sao lại làm gì?.. Lấy chiến lợi phẩm...

        Cậu ta vội vã đút cái gì đấy vào túi và vướng víu sợi dây chuyển. Có lẽ là chiếc đổng hồ.

        — Bước đi khỏi chỗ này! Cút đi cho rảnh mắt!

        Có người nào đầy đụng vào vai tôi.

        — Ấy, trung úy, đó là trinh sát của tôi. Khe khẽ tí chứ.

        Tôi quay lại. Người thanh niên mặc áo lính thủy, mồm ngậm điếu thuốc. Đôi mắt hẹp và dữ sáng lên dưới mở tóc phù lòa xòa trên trán.

        — Còn cậu là ai?

        — Tôi? — mắt cậu ta lại càng nhíu hẹp lại, và những đường gân trên hai má sần sùi, rám nắng giật giật.

        — Tru-mắc, chỉ huy đội trinh sát đi bộ.

        Bằng một cử động không thấy được của đôi môi, điếu thuốc chuyển ngay sang mép khác trong mồm.

        — Hãy chấm dứt ngay hành động thồ phỉ ấy. Rõ chứ?

        Tôi nói chậm rãi và bình tĩnh một cách không tự nhiên.

        — Hãy tập hợp người của mình và bố trí gác đi. Sau mười lăm phút đến báo cáo. Rõ chứ?

        — Thế anh là ai mà ra lệnh?

        — Có nghe tôi nói không? Tôi là trung úy, còn anh là chuẩn úy. Chỉ có thế thôi. Và không được lấy bất cứ chiến lọi phẩm nào, nếu tôi không cho phép.

        Cậu ta chằng trả lời gì. Chỉ nhìn. Mặt hẹp, đôi môi mỏng bặm chặt. Mớ tóc phù xuống trên mắt. Đứng dạng chân, tay đút túi, và người hơi lắc lư phía sau ra phía trước.

        Chúng tôi cứ đứng như thế và nhìn nhau. Nếu cậu ta không quay lại và không đi ngay, thì tôi sẽ rút súng lục ra.

        Xoẹt-xoẹt... Hai viên đạn bắn vào thành chiến hào, giữa tôi và cậu ta. Tôi liền ngồi xồm. Một viên đạn xoáy tròn quay ở cạnh chân tôi. Nó đã trúng vào một vật gì cứng. Người trinh sát viên thậm chí không nhúc nhích. Đôi môi mỏng của cậu hơi run và trong, mắt bật rõ sự chế nhạơ

        — Trung úy sợ cơ à?

        Và uề oải kéo cái mũ không có lưỡi trai bé tí từ sau gáy đèn tận mắt, rồi chậm rãi, không vội vàng quay lưng và đi hơi khập khiễng. Quần bó sát và mông của cậu hơi dô ra.

        Hai chiến sĩ khiêng súng máy trong đường hào. Hào chật, nên súng máy đưa đi rất khó.

        — Các cậu làm cái cóc gì thế, chỉ có chắn đường người ta thôi! — tôi quát họ và tôi thấy bực mình, vì họ cứ lặng thinh và chỉ có mắt nhấp nháy.

        Họ đứng dậy và ép mình vao thành hào đề tôi đi qua.

        — Sao lại đứng thế? Khiêng tiếp đi chứ!

        Cả hai người lập tức tóm lấy chân súng máy và cố đẩy súng đi xa hơn. Tôi nhảy qua súng và đi trong đường hào.

        — Đồ gắt mắm tôm... — giọng nói của một trong hai người bay đến tại tôi.

        Tôi rẽ về tay phải. Các chiến sĩ đã đào công sự trong đất. Pê-tơ-rốp loay hoay, gắt gỏng các chiến sĩ, nhưng không thể đặt khẩu súng máy được — chằng hiểu vì sao nó cứ trượt xuống.

        Pê-tơ-rốp còn rất trẻ. Chắc là mới ra trường cách đây không lâu. Cái cổ mảnh khảnh. Đôi ủng rộng vung vẩy ở chân.

        — Thế nào, đồng chí trung úy, theo đổng chí thì tốt chứ? — anh nổi, sau khi đã kê dưóì súng một cái hòm gì đấy. Anh đưa đôi mắt xanh biếc nhìn tôi có ý hỏi.

        — Thôi được.

        — Còn khẩu thứ hai của tôi ở đằng kia, sau chỗ rẽ ngoặt kia. Đồng chí có muốn xem không? Từ đó trông rõ cả mô đất.

        Chúng tôi đi đến đấy. Từ đấy quả là trông rõ thật. Bọn Đức ngồi sau mô đất. Chốc chốc thấp thoáng những chiếc mũ sắt.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2019, 09:56:38 PM
   
        Ngồi xổm, tôi viết báo cáo. Đại đội bốn và năm và trung đội trinh sát viên đi bộ đã bố trí phòng ngự rìa phía tây nhà máy «Vật phẩm kim loại». Người bao nhiêu, đạn dược bao nhiêu. Số đạn dược thì tôi giảm bớt xuống một ít, dù rằng hôm nay khó mà hy vọng có cung cấp thêm được.

        Xi-đô-cô, chính là người mà Cli-sen-xốp đã nói với tôi, nhanh nhẹn, mắt xềch giống như người Trung-quốc, chỉ vừa kịp nhét bản báo cáo vào mũ ca-lô, thì bọn Đức bắt đầu tấn công.

        Từ đâu đầy, những chiếc xe tăng xuất hiện. Sáu chiếc. Chúng bò phía bên phải. Từ sau nền đường sắt ra. Ở đấy, hình như có cẩu: từ chỗ chúng tỏi nhìn ra khống thấy được. Mà chúng tôi chỉ có bổn khẩu súng chống tăng và khoảng hai chục quả lựu đạn. Chỉ có thể thôi. Đại bác đâu rồi nhỉ? Tôi đã quên khuấy về đại bác. Lẽ nào lại chạy mất rồi... Bây giờ chỉ còn trông cậy vào ụ sắt mà thôi. Có thế là những chiếc xe tăng sẽ không bò qua được... Bên cạnh tôi, là một chiến sĩ đánh xe tăng mặt rám nắng, ria vàng và quăn lại làm cho có vẻ hiên ngang. Anh nóng. Và lần lượt cởi hết tất cả: áo bông, áo va-rơi, áo cánh. Ở trần trùng trục, bộ lưng phẳng lỳ và rất trắng của anh sáng lên.

         Trong đường hào chật và không tiện. Các chiến sĩ bò từ chỗ này qua chỗ kia, đầu gối chạm nhau và nguyền rủa.

        Những chiếc xe tăng chạy thẳng đến chúng tôi...

        Bậy thật! Không có điện thoại. Khó mà biết được tình hình ở đâu như thế nào.

        Xe tăng dừng lại trước ụ sắt và bắn. Đạn rơi ở đâu đấy phía sau. Chắc là đạn thỏi thép, nên không nghe tiếng nổ. Từ đâu đấy bên phải, giọng the thé trong họng của Tru-mẳc vang đến. Cậu ta thét gọi Va-nhi-út-sca nào đầy đem lựu đạn chống tăng đến. 
— Dưới hầm nhà, trong góc, chỗ để ấm nước ấy mà...

        Một chiếc xe tăng bò qua ụ sắt được. Những xích sắt kêu loảng xoảng. Nó nghiêng khi phía bên này, khi phía bên kia và bò thằng đến chúng tôi. Trông rõ chữ thập đen đáng ghét. Anh chiến sĩ đánh xe tăng ở trần đứng dạng chân, tì mông vào thành hào và nhắm. Mũ ca-lô rơi xuống và trên đầu cạo trọc có một vòng tròn không rám nắng, trắng như cái lưng của anh.

        Bẳn trúng hay không?

        Chữ thập càng bò đến gần hơn...

        Có người nào đấy thét vào tai tôi. Tôi chẳng nhận ra được cái gì cả.

        — Cái gì thế?

        — Bọn Đức đi vòng từ bên trái. Bộ binh của chúng từ phía trái đầu máy đi đến...

        Thế sao súng máy lại im? Ở đằng ấy có hai súng máy cơ mà.

        Tôi chạy theo đường hào. Pê-tơ-rốp và người nào đấy nữa ở cạnh súng máy. Súng bị hóc. Băng đạn không đút vào được.

        — Vì sao súng máy thứ hai cũng im?

        Cặp mắt xanh trẻ con như sắp khóc.

        — Tôi không biết, thật đấy. Năm phút trước...

        — Lựu đạn! Nào, ném lựu đạn đi!

        Những viên đạn rít lên ngay trên đầu.

        Tôi ném hết quả này đến quả khác — những quả lựu đạn Đức có cán dài. Tôi giật sợi dây và vứt qua ụ đất bên ngoài chiến hào. Bọn Đức đã ở sát chiến hào. Chúng thét lên...

        Vì sao súng máy không bắn?

        — A-a-a-a-a-a ...

        Cổ cái gì đầy rơi xuống người tôi... Tôi nhảy ra một bên và thẳng cánh nện bằng quả lựu đạn... Trong tay tôi không còn cái gì khác. Có cái gì đấy nặng nề rơi phịch xuống đáy hào. Tôi ném thêm bốn quả lựu đạn nữa. Đó là những quả cuối cùng: không còn gì nữa. Quỷ thật, tiểu liên đâu?

        Tôi muốn rút khẩu súng lục từ trong bao ra, nhưng quai da không tháo được. Không thể nào rút súng ra được... Đồ quỷ!

        Và bỗng nhiên... Yên lặng...

        Cạnh chân tôi có ai đấy mặc chiếc áo ca-pốt màu xám, nằm gục mặt trong góc hào. Trước chiến hào không có ai cả. Trống trải. Phải chăng đã đánh lùi được bọn chúng ư?

        Theo đường hào, tôi chạy lui. Các chiến sĩ lên quy-lát răng rắc. Mọi việc vẫn như trước. Pê-tơ-rốp ở cạnh khẩu súng máy.

        — Báo cáo đồng chí trung úy, đâu vào đấy cả rồi. Súng bắn được rồi.

        Cặp mắt xanh cười vui vẻ như trẻ con.

        — Đồng chí có thấy chúng tôi quật lại thế nào không? Chúng chạy ngay lập tức.

        Quay người lại sát khấu súng máy, anh bắn một tràng. Cái cổ gầy gò của anh rung lên. Cái cổ mảnh khảnh, tội nghiệp làm sao! Và một lỗ hỏm sâu ở phía sau gáy. Và cổ áo rộng thùng thình. Trong đó cái cổ như một ống sậy lắc lư. Chắc trước đây không lâu, cũng như thế, anh đấ đứng cạnh bảng đen và chớp đôi mắt xanh hiển lành, mà không biết trả lời thầy giáo như thế nào.

        — Thè sao khẩu kia không bắn được? Theo tôi, hình như nó cũng có liên quan nào đấy với anh.

        Đôi mắt xanh bối rối nhìn xuống.

        — Báo cáo đồng chí trung úy, tôi đi ngay bây giờ đến xem sao.

        Anh dựa vào nòng súng máy và đứng dậy. Hai tay cũng mảnh khảnh, như trẻ con, có những nốt tàn hương.

        — Tôi cảm thầy hình như...

        Đôi mắt của anh bỗng dừng lại, giống như đã thấy cái gì đấy rất thích, và toàn thân hơi nghiêng, từ từ ngồi phệt xuống đáy hào.

        Thậm chí chúng tôi không nghe cả phát súng bắn. Viên đạn trúng vào trán, giữa hai lông mày.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2019, 09:57:04 PM

        Các chiến sĩ kéo anh đi. Đôi chân mảnh khảnh trong những chiếc ủng rộng vung vẩy một cách bất lực trên mặt đất. Một người khác đã ở cạnh súng máy. Và cổ của anh này thì béo và đỏ. Tôi chỉ định chính trị viên làm đại đội trưởng. Rồi đi đến cái nhà trắng.

        Bọn Đức lặng im. Có lẽ chúng chuẩn bị đợt tấn công mới. Các chiến sĩ kéo những người bị tử trận trong đường hào. Bây giờ họ làm phiền những người sống. Họ được xếp vào một chiến hào nhánh. Hai chiến sĩ cúi gặp người, khiêng ai đấy. Tôi tránh một bên nhường đường. Những cánh tay phẳng, trắng với bàn tay rám nắng, giống như đeo găng tay, kéo lê trên mặt đất. Không nom rõ mặt. Mặt đầy máu. Đầu đu đưa. Trên đỉnh đẩu một vòng tròn trắng, do đội mũ ca-lô. Chính là anh chiến sĩ đánh xe tăng. Cũng xếp vào chiến hào, đặt lên trên một người nào đầy mặc quẩn bê bết máu và từ trong xà cạp một cái thìa nhôm lòi ra.

        Tôi không kịp đi đến cái nhà trắng được. Bọn Đức lại tấn công. Chúng tôi đánh lùi chúng. Sau đó lại...

        Cứ như thế, kéo dài đến bữa ăn trưa. Hai hay ba mươi phút nghỉ: hút thuốc, lắp đạn, đút một mầu bánh mì vào mồm và lại... Lại những hình thù màu xám, những tiếng kêu, những tràng súng và tình trạng hỗn độn, loạn xạ.

        Có một lần, những chiếc «hây-nơ-ken» bay tít tận trời cao, cao đèn nỗi chúng tôi không thấy chúng, và ném bom chúng tôi. Nhưng bom roi vào bọn Đức. Các chiến sĩ cười vang.

        Xi-đô-cô vẫn không thấy về. Và hai người nữa được phái đi sau, cũng không về. Có lẽ họ bị ném bom. Trong không trung, không một phút nào ngừng tiếng động cơ rú ầm ầm. Từ trên chòi cao, nom rõ một đám mây trắng bò lan trên bờ sông.

        Sau bữa ăn trưa, từ đâu đấy pháo binh của ta bắt đầu bắn. Nã vào nền đường sắt. Một vài viên đạn lạc trúng cả vào chiến hào của chúng tôi. Bọn Đức vẫn không chịu yên. Chúng không cho xe tăng ra trận. Còn chiếc kia có chữ thập nằm gục vào ụ sắt — đã bị phá hủy. Nhưng chúng nã súng cối rất dữ. Bên ta có nhiều người tử trận và bị thương. Những người bị nhẹ, chúng tôi đưa ra bờ sông. Những người bị nặng thì khiêng đến hầm nhà dưới nhà, hầm đó rộng có nắp bê-tông cốt sắt.

        Khoảng gần chín giờ, bọn Đức đã kiệt sức. Đến mười giờ thì yên hẳn. Chỉ có thỉnh thoảng những khẩu súng máy khạc đạn.

        Trong hầm nhà người ta hút thuốc nhiều đến mức không chịu nồi. Khói bò lan ra thành từng lớp. Một ngọn bấc đang phun khói trong đĩa. Những thương binh nằm chật cả hầm nhà, xin nước uống. Mà nước thì không có. Đành phải lấy nước từ sông Vôn-ga mang về, mà dọc đường thì người ta uống gần hết.

        Va-lê-ga đưa cho tôi một mầu bánh mì và mỡ lợn muối. Tôi ăn chằng ngon miệng gì cả.

        Tru-mắc phờ phạc đi đến, mặc chiếc áo lính thủy rách. Cậu ngồi trên bàn và nhìn tôi. Rồi cởi áo qua đầu. Trên ngực vạm vỡ và rám nẳng của cậu có xăm một con chim đại bàng quắp một người đàn bà trong vuốt chân. Trên núm vú trái, một trái tim có lưỡi dao găm đâm xuyên qua; còn trên vai, chiếc đầu lâu và những xương chéo. Phía dưới khuỷu, một lỗ thùng nhỏ xuyên qua tay, hầu như không có máu. Có lẽ xương còn nguyên vẹn, nên bàn tay vẫn hoạt động được. Ma-ru-xi-a, chị cứu thương, có hai má tròn trĩnh, đỏ ửng và hai mớ tóc vàng tết đuôi sam buộc ra đằng sau, đang băng vết thương.

        Các chiến sĩ trinh sát hôm nay diệt được hai chiếc xe tăng. Một chiếc do Tru-mắc, còn chiếc kia do người trinh sát viên mặt đầy mụn, chính vì cậu ta mà giữa chúng tôi đã xảy ra va chạm.

        Tôi hỏi Tru-mắc vì sao không báo cáo gì cả.

        — Thế thì báo cáo cái gì?

        — Về ngày hôm nay, về thiệt hại. Trong quân đội có chế độ báo cáo sau trận chiến đấu.

        Tru-mắc từ từ quay lưng .lại. Tôi không thấy mặt cậu. Cái lưng đẫm mồ hôi, vởi một rãnh sâu dọc xương sống, bóng loáng.

        — Ngày thì, như chính anh thấy đấy, nắng ráo; còn thiệt hại thì có gì đáng gọi là thiệt hại? Tôi mất cái mũ không có lưỡi trai, chỉ có thế thôi. Còn hỏi gì nữa không?

        — Còn. Nhưng không phải ở đây. Chúng ta hãy đi ra ngoài một lúc.

        — Ở ngoài đó có đạn., Có thể giết chết.

        Tôi cố nuốt giận và đi đến cửa ra. Tru-mắc cũng thế.

        Dựa vai vào khung cửa, cậu ngậm điếu thuốc.

        — Này, đồng chí trung úy. Chúng ta giải quyết hòa bình với nhau đi nào. Anh đừng đụng đến trinh sát viên. Thế thì tốt hơn, thật đấy.

        — Tốt hơn hay xấu hơn, đó là vấn đề khác. Của anh có bao nhiêu người?

        — Hai mươi bốn. Trước đây thế nào, thì bây giờ vẫn như thế. Còn trinh sát viên thì tôi khuyên...

        — Ai diệt xe tăng?

        — Ai diệt cũng thế thôi, phải không?

        — Anh diệt ư?

        — Thì tôi đấy... Chứ không phải anh...

        — Anh hãy kể đã diệt nó như thế nào.

        — Buồn ngủ quá, thật đấy. Sau chiến tranh, rồi chúng ta sẽ nói chuyện về xe tăng.

        — Tôi nhắc anh nhớ rằng hiện nay tôi thay tiểu đoàn trưởng.

        — Còn tôi thì do đâu mà biết được?

        — Thề thì tôi nói cho anh biết đấy.

        — Tiểu đoàn trưởng là Cli-sen-xốp. Ngoài ra, tôi chỉ phục tùng trung đoàn trưởng và chỉ huy trưởng trinh sát mà thôi.

        — Bây giờ các đồng chí đó không có, vì thế anh phải phục tùng tôi. Tôi là trung đoàn phó phụ trách đơn vị công binh.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2019, 03:00:52 PM

        Tru-mắc đưa mắt sắc như dao liếc nhìn tôi.

        — Thay cho Xư-gây-kin à?

        — Thay cho Xư-gây-kin.

        Ngừng một tí. Một bãi nước bọt từ mồm nhổ toẹt xuống đất.

        — Thôi được... Chúng tôi với công binh thường thì tâm đầu ý hợp lắm đấy.

        — Tôi hy vọng rằng cả về sau này cũng thế.

        — Tôi cũng hy vọng.

        — Còn bây giờ anh hãy kề vể mấy chiếc xe tăng đi. Họ của anh gì đầy, người thứ hai đã diệt tăng.

        — Coóc-phơ.

        — Binh nhì?

        — Binh nhì.

        — Đó là chiếc xe tăng đẩu tiên ư?

        — Không, chiếc thứ tư. Ba chiếc đầu ở gẩn Cát-xto-nai-a.

        — Được khen thưởng không?

        — Không.

        — Sao thế?

        — Bố ai mà biết được vi sao. Giấy báo công đã nộp rồi...

        — Một giờ sau anh sẽ nộp cho tôi giấy báo công mới. Về anh ấy. Và những người khác nữa. Rõ chứ?

        Đến đấy cuộc nói chuyện chấm đứt. Nó đã diễn ra với giọng nói cố hết sức giữ bình tĩnh.

        — Báo cáo đồng chí trung đoàn phó phụ trách đơn vị công binh, xin cho phép đi.

        Tôi không đáp gì cả và đi xuống dưới. Toàn thân ê ầm. Mẳt cay. Chắc là do khói: người ta hút thuốc đến kinh người.

        Tôi viết báo cáo. Bên cạnh, Pha-rơ-be ngủ, gối đầu lên tay. Anh chạy vào một tí để xin thuốc lá và báo cáo về thiệt hại. Và cứ thế ngủ thiếp đi trên hộp thuốc lá mở ra, trong tay vẫn cầm điều thuốc hút dở. Trong góc, có người nào đấy nói chuyện khe khẽ và phì phèo hút thuốc. Chỉ có những câu rời rạc bay đến tai tôi.

        — Còn súng của tớ đúng lúc đó bị hóc. Đành phải lấy đề giày mà nện, tháo đạn ra. Tiếp đó, tớ xin đạn của cậu Páp-len-cô. Còn cậu ta thì nằm gục mặt xuống đất, và có cái gì đấy xam xám chảy ra...

        Rồi bỗng I-go hiện ra. Anh đứng trước mặt tôi và cười. Và ria của anh không nhỏ và đen, mà như ria của anh chiến sĩ đánh xe tăng, hơi cong lên một cách hiên ngang ở mép mồm. Tôi hồi làm sao đến đây được. Anh chẳng trả lời gì cả và chỉ cười. Và ở trên ngực anh, một con đại bàng xanh quắp người đàn bà trong vuốt chân. Con chim ở ngay trên áo va-rơi. Và nó cũng cười, mắt hơi nheo lại. Phải làm sao để nó không cười nữa. Phải giật nó ra khỏi áo va-rơi. Tôi với tay, nhưng có người nào đấy giữ ở vai tôi. Giữ ở vai và lay.
   
        — Trung úy ... Này, trung úy...

        Tôi mở mắt ra.

        Một bộ mặt không cạo. Đôi mắt xám và lạnh. Mũi thẳng và xương xấu. Tóc chải ngược Jên dưới chiếc mũ ca-lô. Một bộ mặt mệt mỏi và rất bình thường. Đôi mắt hơi lạnh lùng.

        — Trung úy, thức dậy đi, cậu sẽ cháy tóc đấy.

        Chiếc đĩa với bấc đèn đang bốc khói nghi ngút ở ngay sát đầu tôi.

        — Anh cần gì?

        Người có cặp mắt xám cất mũ ca-lô và đặt bên cạnh trên bàn.

        — Họ của tôi là A-brô-xi-mốp. Tôi là tham mưu trưởng trung đoàn.

        Tôi đứng dậy.

        — Anh hãy ngồi xuống, — anh ta chuyển sang gọi tôi bằng «anh». — Anh là trung úy Kéc-gien-xép à? Kỹ sư mới thay Xư-gây-kin có phải không? Đó là tôi hiểu qua báo cáo của anh.

        — Vâng.

        Tham mưu trưởng trung đoàn lấy tay vuốt mặt, dụi mắt và trong một lúc nhìn không chớp mắt cái bấc đèn đang bốc khói. Thấy rõ là anh hết sức mệt cũng như chúng tôi.

        Tôi báo cáo tình hình. Anh chăm chú lắng nghe, không ngắt lời và lầy móng tay cạo ở tầm ván bàn.

        — Như thế là Pê-tơ-rốp tử trận rồi à?

        — Vâng. Chắc là thiện xạ. Trúng ngay vào trán.

        — Thế à... — Răng dưới của anh cắn vào môi trên.

        — Nói chung, thiệt hại khá nặng. Khoảng hai mươi lăm tử trận. Gần năm mươi bị thương. Một khẩu súng máy không dùng được nữa. Nòng súng bị mảnh đạn làm hỏng.

        — Thế đơn vị nào ở bên cạnh?

        — Bên trái là tiểu đoàn hai cũng của trung đoàn chúng ta. Còn bên phải...

        Tôi suy nghĩ. Pha-rơ-be đã nói với tôi, nhưng tôi quên khuấy đi mất.

        — Báo cáo đổng chí đại úy, bên phải là bốn mươi lăm, — Trư-mắc nói xen vào. Cậu đứng bên cạnh, hai tay đút túi. — Có người của họ đã đến đây. Tôi và họ đã bàn kỹ về khu giáp ranh của hai đơn vị rồi.

        — Bốn mươi lăm... — A-brô-xi-mốp trầm ngâm nói và đứng dậy. Anh cài cúc áo bông.

        — Thôi được, này Kéc-gien-xép, ta đi xem qua hệ thống phòng ngự, còn sau đó... sau đó, cậu đành phải nhận tiểu đoàn vậy.

        Anh nhìn tôi chằm chằm, như để đánh giá. Anh cài cúc áo. Những chiếc cúc to không thể nào chui qua khuyết được.

        — Cli-sen-xốp, tiểụ đoàn trưởng, tử trận rồi. Bị bom. Ném trúng. Đành phải tạm thời chỉ huy tiểu đoàn vậy. Chẳng làm khác được...

        Và quay lại phía Tru-mắc:

        — Anh hóa chất chân bị đứt. Đã chở sang phía bên kia rồi. Nào, ta đi thôi, kỹ sư. Hay đúng hơn, tiểu đoàn trưởng.

        Chỉ khi chúng tôi đi ra, tôi mới nhận thấy hai người đội viên thông tin có những ngôi sao con màu vàng cắt từ ống bơ  đính trên mũ ca-lô, đang cử động.

        Chúng tôi leo lên phía trên. Ở cửa ra vào, một người lính gác đứng. Tôi đã biết anh ta. Họ của anh là Ca-la-bin. Có một nốt ruổi to ở má. Một tay súng giỏi. Chính mắt tôi thấy anh diệt bốn thằng địch. Anh từ vùng Cổt-xtơ-rô-ma đến, và ở nhà vợ sắp đẻ.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2019, 03:01:46 PM

        Ngoài sân mát mẻ. Tôi thở không khí tươi mát ban đêm đến căng lồng ngực. Bầu trời trong trẻo và đầy sao. Chòm sao Đại Hùng sáng và hơi xếch ở ngay trên đồi Ma-ma-ép. Ớ đâu đấy ngay trên đầu, chiếc «bắp ngô»1 kêu vè vè một cách đơn điệu, như tiếng xe bình bịch. Đúng là như nó giẫm chân tại chỗ. Tôi cố nhìn và nhận ra hình thù của nó. Nó bay đến đồi Ma-ma- ép. Bên phải, chắc là trên nhà máy «Tháng Mười Đỏ», những chiếc pháo sáng treo lơ lửng, gần mười chiếc, rắc xuống bên dưới một trận mưa tia lửa vàng rực. Chẳng có một phát súng nào. Yên lặng,

        Chúng tôi đi theo đường hào, Những bóng người quấn mình trong áo ca-pốt. Súng trường trên ụ đất ngoài mép chiến hào, Chiếc «bắp ngô» bỏ bom ở đâu đấy phía sau đồi Ma-ma-ép: trông rõ ánh chớp, Những ngọn đèn chiếu của Đức quét qua quét lại trên nền trời, Mấy chiếc xe tăng bị phá hủy — thế mà ba chiếc đã bị đốt trong ngày — vẫn cứ cháy, và một đám khói cay sè, khó chịu bò lan ra trên chiến hào của chúng tôi, Gió thổi về phía chúng tôi,

        Tôi tạm biệt đại úy ở ngay sườn trái của tiểu đoàn chúng tôi, cạnh lỗ thủng ở tường, Xa hơn là tiểu đoàn hai,

        — Này, tiểu đoàn trường, hãy cố gắng xứng đáng với sự tín nhiệm đấy. Ngày mai lại choảng nhau ác liệt lắm... Còn đạn thì chúng tôi sẽ gửi. Và đến gần sáng, sẽ có đại bác rồi. Dù sao có chúng cũng vui hơn.

        Và anh đi cùng với những đội viên liên lạc về phía tòa nhà bị phá dở. Ở đằng ấy, hình như là sở chỉ huy đơn vị bạn.

        Một lúc sau còn trông rõ họ nhảy qua ụ sắt. Rồi khuất hẳn.

        Dựa vào ụ đất cạnh mép chiến hào, tôi nhìn về phía bọn Đức. Ở đấy yên lặng và tối om. Chỉ ở một chỗ có cái gì đấy như ngọn lửa nhỏ. Bật lên và tắt ngấm. Chắc là một tên lính quan sát, không thận trọng. Hút thuốc. Mà cũng có thể có cái gì đấy cháy âm ỉ, thế thôi.

        Yên lặng như tờ.

        Còn ngày mai thì lại choảng nhau ác liệt lắm Những chiếc máy bay, những tiếng kêu thét, những tràng súng.

        Hôm nay, thế mà chúng tôi đã cố thủ được. Chỉ có ở một chỗ bọn Đức đánh lùi được chúng tôi. Ở chỗ của Pha-rơ-be. Ở ngay sườn bên phải. Lùi chừng bốn mươi thước. Đành phải ném vào đấy trung úy mũi quặp cùng với trung đội của anh. Họ của anh là Ra-mốp thì phải. Hình như là một thanh niên dũng cảm lắm. Hôm nay, tôi thấy thích anh ta. Còn chừng ba giờ thì sẽ phản kích lại...

         Tôi đi xuống hầm nhà.

        Cạnh nhà, một người lính khác đứng gác: nhỏ nhắn, mặc áo mưa vải bạt dài chấm đất. Tôi không biết anh này.

        Các đội viên thông tin chửi mắng nhau:

        — Cầm thạch! Tôi là hoa cương đây. Nghe rõ không? Cẩm thạch, cẩm thạch! Đồ chó, lại đi hút thuốc rồi. Cẩm thạch, Cẩm thạch, mẹ mày...

        Trong góc một lớp rơm vàng mờ mờ. Tất nhiên là Va-lê- ga đã chăm nom chu đáo. Bây giờ tôi sẽ ngả mình xuống. Sẽ ngủ hai giờ, suốt hai giờ liền. Ngủ như chẽt.

        — Va-lê-ga, đến hai giờ đánh thức dậy nhé. Hai giờ mười lăm.

        Tôi không nghe trả lời. Vừa mới nằm úp mặt vào bụng của ai đấy mềm, ấm, sặc sụa mùi mồ hôi, tôi đã ngủ rồi.

------------------
        1. Cách gọi đùa một loại máy bay Liên-xô thời bình dùng trong nông nghiệp. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2019, 06:02:43 AM
     
PHẦN THỨ HAI

1

        Suốt đời, tôi không bao giờ thấy một mùa thu như thế. Tháng chín trôi qua, xanh lam và ấm áp như tháng năm, với những ban mai tuyệt vời và những buổi hoàng hôn tim tím, thơ mộng. Sáng sáng, cá quẫy trên sông Vôn-ga, và những vòng lớn chạy tản ra trên mặt nước phẳng lỳ như gương. Những con sếu muộn màng vừa kêu, vừa bay qua trên bầu trời cao vời vợi. Bờ trái từ màu xanh đã chuyển sang vàng, rồi đỏ nhạt và vàng chói. Lúc rạng đông, trước khi pháo binh của ta nã súng, thì bờ trái phù dài một lớp sương mù ban mai trong trẻo, nó yên tĩnh lạ lùng và rộng rãi với những vệt của cánh rừng xa xăm mờ nhạt. Bờ trái dịu dàng như một bức tranh thuốc nước.

        Sương mù chậm chạp và miễn cưỡng tan dần. Màu trắng mờ đục của nó còn vương vần một lúc ngay trên sông, rồi biến mất, hòa tan vào không khí trong trẻo ban mai.

        Và hồi lâu trước khi những tia mặt trời đầu tiên ló ra, thì loạt đại bác tầm xa đầu tiên bắt đầu nã. Tiếng vang dập dìu lan xa trên dòng sông Vôn-ga còn mơ màng ngái ngủ. Tiếp đèn loạt thứ hai, thứ ba, thứ tư, và cuối cùng tất cả hòa thành một tiếng ầm ầm dày đặc và trang trọng của các loạt súng đại bác bắn lúc ban mai.

        Ngày bắt đầu như thế. Và cùng với nó...

        Đúng bảy giờ, «cái khung» xuất hiện, bay cao vô cùng đến nỗi mắt không thể nhận ra ngay. Nó bay lâu và cố quần mãi trên đầu chúng tôi, và cứ mỗi lần nó liệng vòng thì những tấm kính ở ca-bin lấp lánh lên trong tia nắng ban mai chiều xiêng. Động cơ  của nó kêu rè rè rất khó chịu, với âm thanh đặc biệt, ngắt quãng; và giống một con cá thần kỳ có hai đuôi, nó từ từ bơi đi về phía tây.

        Đó mới chỉ là bắt đầu thôi.

        Sau đó đến những «ca sĩ». «Ca sĩ» hay là «nhạc công» — đó là nói theo cách gọi của quân ta, còn bằng tiếng Đức thì là «stu- các» — mũi đỏ, có chân, giống như những con chim sẵn sàng vớ mồi. Chúng bay thành một dãy dài hơi nghiêng về một bên, giữa nền trời thu vàng rực và giữa những loạt đạn cao xạ nổ tung ra từng đám khói trắng xóa như bông.

        Vừa mới dụi mắt tỉnh dậy, chúng tôi đã bò ra khỏi nhà hầm, ho húng hắng vì điều thuốc buổi sáng. Và nheo mắt, theo dõi mười chiếc máy bay đầu tiên. Mười chiếc ấy quyết định cả ngày. Căn cứ vào chúng, chúng tôi sẽ biết ô vuông nào, nơi mà hôm nay theo thời gian biểu của bọn Đức, đất sẽ run rầy như cầy sấy, nơi mà mặt trời sẽ bị che lấp bởi khói và bụi, ở khu vực nào suốt đêm nay sẽ chôn cất người chết, sửa chữa súng máy và đại bác bị hư hỏng, đào bới chiến hào và nhà hầm mới thay cho những cái đã biến mất, đã bị xóa sạch khỏi mặt đất.

        Khi dãy máy bay từ từ lướt qua đầu chúng tôi rồi, thì chúng tôi thở dài nhẹ nhõm, cởi áo ra và lấy cà-mèn múc nước dội cho nhau rửa tay.

        Còn nếu chiếc máy bay đầu tiên chưa bay đến chỗ chúng tôi, mà đã bắt đầu nghiêng mình bên cánh phải, thì chúng tôi chạy ùa vào trong chiến hào, chửi rủa bọn Đức, xem đồng hồ — trời ơi, đến tối còn những mười bốn giờ nữa cơ mà! — và liếc mắt đếm những quả bom rơi xuống, rít lên trên đầu. Chúng tôi đã biết rằng mỗi một «ca sĩ» mang theo dưới bụng từ mười một đến mười tám quả; rằng chúng không ném tất cả bom ngay một lúc, mà còn lượn thêm hai hay ba vòng nữa, phân bố liều lượng để đánh vào tinh thần quân ta; rằng đèn vòng lượn cuối cùng thì nó mở còi rú lên rùng rợn nhất, còn bom thì chỉ ném một quả, và thậm chí có khi không ném, mà chỉ dọa dẫm thôi.

        Và cứ thế sẽ kéo dài suốt ngày, khi mặt trời chưa khuất sau đồi Ma-ma-ép. Hoặc đánh chúng tôi, hoặc đánh đơn vị bạn. Nếu không phải đơn vị bạn, thì chúng tôi. Nếu không ném bom, thì xông vào tấn công. Nếu không tấn công, thì ném bom.

        Thỉnh thoảng những chiếc «gioong-ke» và «hây-nơ-ken» nặng nề bay đến. Cứ theo cánh và động co. để phân biệt chúng. Cánh của «hây-nơ-ken» hơi tròn đầu, còn của «gỉoong-ke», đầu cánh như bị cắt ngang và động cơ cùng với thân nằm trên một đường thằng, giống như mào gà.

        Chúng bay cao theo hình chữ V, góc nhọn đi trước, và không thèm đâm nhào xuống, chúng uể oải và rải rác đánh rơi những quả bom sáng và nặng. Vì thế chúng tôi không ưa gì chúng, những chiếc «gioong-ke» nặng nề ấy, vì đôi lúc không biết bom rơi xuống đâu. Và bao giờ chúng cũng bay từ phía mặt trời đến để chúng tôi lóa mắt không thấy rõ chúng được.

        Suốt ngày, những chiếc «mét-xe» bay rè rè trong không trung, từng cặp từng cặp, xông xáo trên bờ sông. Chúng bắn đại bác. Thỉnh thoảng chúng ném xuống một lúc bốn quả bom gọn gàng, nhỏ nhắn, từ dưới mỗi cánh rơi ra hai quả, hay là ném những cái hòm dài như điếu xì-gà, đựng những quả lựu đạn chổng bộ binh. Lựu đạn rơi rải rác, còn cái hòm thì cứ lộn nhào, quay tít trong không trung hồi lâu: và sau đó, chúng tôi cưa đôi nó ra và giặt áo quần trong đó, như trong máng giặt.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2019, 06:04:56 AM

        Sáng sáng, khi những tia mặt trời đầu tiên vừa ló ra, thì những chiếc «i-en-lơ» của quân ta — những chiếc máy bay chiến đấu, — vừa rú lên như điên dại, vừa vút qua rất nhanh trên đầu chúng tôi; và gần như liền ngay sau đó, chúng bay trở về, toàn thân lỗ chỗ vết đạn, mất đuôi và bay là là rất thấp, gần như chạm bánh xe vào đầu chúng tôi. Chỉ trở về một nửa thôi, có khi còn ít hơn. Những chiếc «mét-xe» hồi lâu vẫn liệng vòng trên sông Vôn-ga; còn ở đâu đấy xa xa, sau A-khơ-tu-ba, trông rõ một tai nấm đen ngòm của chiếc may bay đang cháy.

        Ngửa mặt lên trời đến đau xương cổ, chúng tôi theo dõi những trận chiến đấu trên không. Tôi không thể nào biết được máy bay quân ta ở đâu, của bọn Đức ở đâu; những chiếc máy bay nhỏ xíu, đen ngòm quay cuồng như điên dại trên trời cao — đấy, cứ thử phân biệt xem! Chỉ một mình Va-lê-ga không bao giờ đoán sai mà thôi, mắt cậu rất tinh, — mắt của người đi săn, — ở bất cứ độ cao nào cậu cũng phân biệt được «mích» với «mét-xe».

        Còn ngày nào trời cũng tốt cả, xanh lam, không một gợn mây, những ngày mà máy bay hoạt động rất tốt. Giá có được một đám mây đen hiện ra hay một trận mưa lúc nào đấy thì tốt quá nhỉ! Chúng tôi ghét cay ghét đẳng những ngày nắng ráo, quang đãng này và bầu trời mãi mãi trong xanh này. Chúng tôi mơ ước bùn lầy, mây đen, mưa rào và bầu trời thu u ám. Nhưng suốt cả tháng chín và tháng mười, chúng tôi chỉ một lần thấy đám mây đen. Nhiều người nói về nó, chỉ ngón tay đã thấm nước bọt lên trời và đoán xem nó bay đi đâu. Nhưng đám mây đen chết tiệt kia bay qua, và ngày hôm sau, lại vẫn như trước: trời nắng ráo, quang đãng và những chiếc máy bay lại kêu vù vù.

        Chỉ một lần, vào đầu tháng mười, bọn Đức cho chúng tôi nghỉ ngơi hai ngày: chắc là chúng lau chùi máy móc. Ngoài những chiếc «mét-xe» ra, không có những chiếc máy bay khác. Trong hai ngày đó, chúng tôi tổ chức cho các chiến sĩ tắm trong các máng giặt và thay quần áo. Và sau đó, lại bắt đầu...

        Bọn Đức cố sức xông đến bờ sông Vôn-ga. Bọn quỷ say sưa, hung dữ, đội mũ ca-lô lệch, tay áo xắn lên cao. Nghe nói trước mặt chúng tôi là bọn ss — không rõ là «Vi-kinh»1 hay là «Cái đầu chết», hay là cái tên nào đấy khủng khiếp hơn nữa. Chúng hò hét như điên dại, xối xả bắn tiểu liên như mưa vào chúng tôi, rút lui, rồi lại xông vào.

        Hai lần xuýt nữa thì chúng đuổi chúng tôi ra khỏi nhà máy «Vật phẩm kim loại», nhưng xe tăng của chúng bị vướng trong đống sắt cũ vứt quanh nhà máy, và cái đó đã cứu chúng tôi.

        Cứ như thế kéo dài... chẳng biết bao nhiêu ngày... năm, sáu, bảy, mà cũng có thể đến tám ngày.

        Và bỗng nhiên — dừng lại. Yên lặng. Chúng ném quân sang bên phải: đánh vào nhà máy «Tháng Mười Đỏ». Đánh nhà máy cả từ trên không, cả từ dưới đất. Còn chúng tôi thì thò đầu ra khỏi chiến hào và nhìn. Nhà máy tan tành. Chỉ có những mảnh vụn bay lên. Mà mảnh vụn ở đây là những xà nhà mười tấn bằng sắt, những sườn mái nhà, những máy móc, những xe cộ và những nồi súp-de. Đã ngày thứ ba rồi, mà đám mây bụi màu vàng da cam trên nhà máy vẫn không hết. Khi gió bắc thổi, thì cả đám mây ấy tràn sang phía chúng tôi: và lúc đó, chúng tôi cho tất cả các chiến sĩ ra khỏi nhà hầm, vì tiền duyên của bọn Đức không thấy rõ, và bọn chúng, bọn chó đẻ, có thể nhân đó tấn công chúng tôi. Nhưng nói chung thì yên tĩnh, chỉ có súng cối của Đức nã và trọng pháo của ta bắn từ bờ bên kia mà thôi. Và chúng tôi ngồi trong nhà hầm, hút thuốc, chửi rủa bọn Đức, chiến tranh, không quân và những ai nghĩ ra nó. «Giá được thì tớ sẽ bắt mấy thằng sáng chế Rai-tơ2 ấy ngồi ở chiến hào bên cạnh — xem chúng kêu khóc thế nào thì thích lắm nhỉ». Rồi chúng tôi đoán xem đến bao giờ ống khói cuối cùng của nhà máy «Tháng Mười Đỏ» sẽ đổ. Ngày hôm kia còn sáu, hôm qua còn ba, hôm nay chỉ còn một, bị đạn bắn thùng lỗ chỗ và bên trên bị vỡ. Ông khói vẫn đứng và không đồ, như trêu tức mọi người...

        Tháng chín đã trôi qua như thế.

        Và bây giờ đang tháng mười.

--------------------
        1. Tên một quân nhân ở cổ Xcăng-đi-na-vo. mà bọn Đức dùng đề đặt tên cho đơn vị SS. — ND.

        2. Hai anh em Rai-tơ là những phi công Mỹ và người chế tạo máy bay. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2019, 06:07:11 AM
        
2

        Từ «Cẩm thạch» người ta gọi điên thoại cho tôi đến «ba mươi mốt»: đến chỗ trung đoàn trưởng, thiếu tá Bô-rô-đin. Tôi còn chưa gặp ông ta. Ông ở trên bờ, nơi sở chỉ huy đóng. Khi đổ bộ, ông bị đại bác cán phải chân, và vì thế ông chưa đến tiền duyên. Tôi chỉ biết giọng của ông trầm, thấp và chẳng hiểu vì sao ông lại gọi bọn Đức là bọn Thổ-nhĩ-kỳ. «Hãy cố thủ, Kéc-gien-xép ạ, hãy cố thủ, — ông nói ồ ồ trong máy điện thoại, — đừng cho bọn Thổ-nhĩ-kỳ chiếm nhà máy, hãy rán hết sức, nhưng đừng cho chúng». Và tôi rán hết sức và cố thủ, cố thủ nữa, cố thủ mãi. Có khi chính bản thân tôi cũng không hiểu vì sao tôi vẫn cố thủ được, trong khi mỗi ngày người một ít hơn.

        Nhưng bây giờ điểu đó đã qua rồi. Đã ngày thứ ba chúng tôi được nghỉ ngơi. Thậm chí ban đêm, trước khi ngủ chúng tôi cởi ủng ra. Nhưng không biết có được lâu hay không?

        Vả lại chẳng nên suy nghĩ về điều đó đề làm gì! Lấy Va-lê-ga đi theo, tôi đến bờ sông.

        Thiếu tá sống trong một nhà hầm trống trải và bé tí, như cái chuồng gà. Ông đã đứng tuổi, có những sợi tóc mai bạc và vẻ mặt hiển từ như một người cha. Một chân đi ủng, còn chân kia đi giày cao-su, ông uống trà với bánh mì và tỏi. Vừa uống, vừa xuýt xoa. Những người như thế thường yêu trẻ con. Và trẻ con yêu họ. Và chúng làm phiền, quấy rầy họ, bắt phải cho ngồi trên đầu gối đề đu đưa.

        Thiếu tá chăm chú lẳng nghe tôi nói, xuýt xoa uống nước trà từng ngụm một ở trong chiếc ca to sơn màu. Ông lấy chân lành đầy cái ghế bên cạnh ra, rồi chìa bàn tay to và mềm.

        — À, cậu như thế đấy. Thế mà chẳng rõ vì sao tôi cứ tưởng là cậu vai năm tấc rộng thân mười thước cao cơ đấy. — Giọng của ông hoàn toàn không giống như giọng rung ồ ồ nặng nề trong máy điện thoại. — Muốn uống trà không, hả?

        Tôi nhận lời, đã lâu không được uống nước trà thật.

        Người cần vụ mang ấm trà đèn và một cái chén cũng to và sặc sỡ như thế. Ông lấy con dao xếp cắt một lát chanh. Thậm chí tôi thấy thèm chảy dãi. Thiếu tá nháy con mắt nhỏ, sâu và nói:

        — Có thấy không, chúng tôi sống thế nào. Chẳng như các cậu ở tiền duyên đâu. Chứng tôi tiếp khách bằng chanh cơ đấy.

        Trong một lúc, chúng tôi lặng thinh uống trà, cắn đường. Sau đó, thiếu tá lật ngược cái ca, để một mầu đường tí hon còn lại lên đáy ca, đầy ra một bên và cần thận phủi sạch những vụn bánh mì trên bàn.

        — Này tiểu đoàn trưởng, tình hình chỗ cậu thế nào, hả?

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá, chẳng sao ạ, chúng tôi còn cố thủ  được.

        — Còn?

        — Còn ạ.

        — Và cậu nghĩ thế nào, chữ «còn» ấy có kéo dài được lâu không, hả?

        Trong giọng của ông có âm hưởng mới khang khác, không còn như giọng nói của người cha nữa.

        — Chừng nào còn người và đạn dược thì tôi nghĩ là chúng tôi sẽ còn cố thủ. .

        — Tôi nghĩ là, còn... Đó là những chữ không tốt. Không phải là những chữ quân sự. Cậu có biết con chim gì mà nó nghĩ nhiều lắm không?.

        — Con gà tây phải không ạ?

        — Đấy, chính là con gà tây1 — Ông cười bằng khóe mắt. — Có hút thuốc không? Hút đi. Thuốc lá ngon đấy. Gọi là «Cận vệ» thì phải.

        Ông lấy bao thuốc nằm ở bàn và nhìn bức vẽ. Dưới dòng chữ đỏ viết lệch, những người lính đỏ đội mũ sắt đang chạy, và sau họ là những chiếc xe tăng đỏ, còn trên đầu, những chiếc máy bay cũng màu đỏ.

        — Thè nào, các cậu xông vào tấn công có phải như thế không? Hả?

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá, chúng tôi phản công nhiều hơn là tấn công.

        Thiếu tá mỉm cười, rồi mặt ông bỗng trở nên nghiêm nghị, còn đôi môi mềm mại và hoi xệ xuống thì cứng cỏi và đanh lại.

        — Chỗ cậu có bao nhiêu đội viên chiến đấu?

        — Ba mươi sáu.

        — Đó là số hoạt động thực sự chứ?

        — Vâng, hoạt động thực sự. Ngoài ra, còn đội viên thông tin, liên lạc viên, trung đội hậu cần ở trển bờ, khoảng sáu người ở bờ bên kia với ngựa. Tất cả có khoảng năm mươi người. Và còn những xạ thủ súng cối nữa. Tất cả chừng bảy mươi người.

        — Ba mươi sáu và bảy mươi. Thế là không tốt. Một nửa nọ, một nửa kia. Không tốt.

        — Không tốt, — tôi đồng ý. — Tôi đã muốn lấy bớt sáu người kia đến chỗ tôi, còn ngựa thì giao cho tiểu đoàn quân y, nhưng trung đoàn phó của đồng chí không cho, nói rằng họ phải đi lấy cỏ khô.

        Thiếu tá gặm đầu mút tẩu thuốc. Tẩu thuốc của ông to, cong lại và bị gặm nhấm.

        — Tốt nghiệp kỹ sư có phải không? Hả?

        — Kiến trúc sư ạ.

        — Kiến trúc sư... Tức là xây dựng lâu đài các loại, viện bảo tàng, nhà hát... Có phải thế không?

        — Đúng thế.

        — Thế thì hãy xây dựng cho tôi một lâu đài... Công binh của chúng tôi là Li-xa-go... Cậu chưa biết Li-xa-go à? Tôi sẽ giới thiệu. Đã xây dựng một lâu đài rồi đấy, nhưng tư lệnh Sui-cốp lấy mất. Thế là tôi phải ở trong cái xó này; cứ sau mỗi trận ném bom phải móc đất từ sau cổ áo ra. — Thiếu tá lại cười làm cho quanh mắt nổi lên những nếp nhăn. — Còn các loại mìn và những thử như dây xoắn ốc Bru-nô, tất nhiên là cậu biết chứ?

        — Biết ạ.

        — Hiện nay chúng ta chính sẽ làm việc đó. Các tiểu đoàn trưởng đến, chúng ta sẽ nói chuyện. Còn bây giờ thì hút đi, —  ông lấy ngón tay búng bao thuốc cho tôi. — Tôi đã xin một tiểu đoàn trưởng thay cho cậu, thế mà người ta chưa gửi, chó má thật! Mà không có kỹ sư, chẳng khác gì không có tay. Li-xa-go —  người thì cũng tốt đấy, nhưng về đồ án và bản đồ thì i tờ... Có trường hợp như thế đấy.

        Bom nổ ở đâu đấy. Không nghe tiếng nổ, chỉ thấy trong tai một cái gì đấy ép mạnh, và ngọn đèn hoảng hốt lay động.

        Một lúc sau, các tiểu đoàn trưởng và cán bộ chỉ huy khác đến.

---------------------
        1. Theo một câu tục ngữ Nga: «Con gà tây nghĩ, nghĩ mãi và cuối cùng rơi vào nồi canh», ý nói phải hành động dứt khoát, không nên chần chừ, do dự. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2019, 06:07:59 AM

        Hội nghị không lâu, chừng hai mươi phút, chứ không hơn. Thiếu tá nói. Chúng tôi nghe và nhìn bản đồ.

        Thì ra khu vực của sư đoàn chúng tôi có bề ngang rộng nhất: chừng một cây số rưỡi. Ở bên trái của chúng tôi, trên một dải đất hẹp dọc theo bờ là sư đoàn cận vệ 13 của Rô-đim-xép. Dải đất ấy ngoằn ngoèo, mỏng manh — không rộng hơn hai trăm thước — kéo dài gần như đến tận thành phố, đến các bến sông. Ở bên phải, tại nhà máy «Tháng Mười Đỏ» là sư đoàn cận vệ 39 và sư đoàn 45. Thế là bây giờ chính họ đang bị bom. Một đường đỏ của mặt trận chạy qua đúng chỗ của nhà máy mà trên bản đồ không ghi. Bên phải còn hai ba sư đoàn nữa và hết. Chỉ có thể thôi. Chỉ có chừng ấy còn lại trên bờ sông bên này. Năm hay sáu cây số chiều dài, một cây số rưỡi chiều ngang. Và một cây số rưỡi là ở chỗ rộng nhất. Ở trung tâm thành phố: bọn Đức. Nhà máy Máy kéo không có trên bản đồ, nhưng nghe nói rằng ở đằng kia còn có một sư đoàn của ta ấn náu ở đâu đấy nữa. Hình như là của Gô-rô-khốp.

        Đêm nay lữ đoàn 92 phải qua sông. Lữ đoàn đã từng đánh nhau ở Xta-lin-gơ-rát. Bây giờ quay trở lại thành phố, sau mười ngày được tổ chức lại. Địa điểm của lữ đoàn nằm ở giữa sư đoàn của chúng tôi và của Rô-đim-xép. Chúng tôi phải thu hẹp lại chút ít ở bên phải và co lại một tí. Như thế thì tốt.

        Nhưng tôi phải đi khỏi nhà máy «Vật phẩm kim loại». Ở đây sẽ có tiểu đoàn 3. Tôi phải phụ trách khu vực giữa nhà máy «Vật phẩm kim loại» và cuối phía đông của mương xói ngoằn ngoèo như hình chữ s trên đồi Ma-ma-ép. Khu vực xấu nhất. Phằng lỳ và không có đường hào. Các đường đi đến nó thì hoàn toàn trống trải và nằm trong tầm súng của bọn Đức. Ban ngày không tài nào có thể liên lạc được với bờ sông. Ở khu vực trước của tôi, các đường đi đến cũng trống trải, nhưng ở đấy có nhiều đường hào, các kho dầu đủ loại và các công trình xây dựng khác. Cái đó dù sao cũng làm cho việc liên lạc dễ dàng hem.

        Chà, Căn-đi-đi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn I, thế mà may: được phụ trách một khu vực đã có hầm hổ và công sự sẵn sàng. Còn tôi... Chẳng biết rồi đây sẽ đặt sở chỉ huy ở đâu nữa. Chẳng có cái gì giống như cái nhà trắng của chúng tôi cả, cái nhà trắng dễ thương ở bên dưới có hầm nhà.

        Thiếu tá nói chậm rãi, bình tĩnh, thậm chí hơi càu nhàu một tí. Mồm vẫn ngậm tẩu thuốc lá, ông lấy ngón tay to có móng tay cắt ngắn đưa trên bản đồ.

        — Nhiệm vụ đơn giản thôi: đào công sự, dăng dây thép gai, đặt mìn và cố thủ. Một, hai, ba tháng, cho đến khi có lệnh phải làm gì tiếp. Rõ chứ? Chiếm toàn bộ đồi Ma-ma-ép thì chúng ta không đủ sức. Nhưng tất cả những chỗ đã ở trong tay quân ta thì không thể trao cho chúng.

        Thiếu tá thôi nhìn bản đồ, đưa cặp mắt nhỏ và sâu chằm chằm nhìn tôi.

        — Kéc-gien-xép, chỗ cậu khó hơn cả. Gốc của chỗ lồi trong tay cậu. Phía khác là của trung đoàn bốn mươi lăm. Chính trong hai chỗ đó, bọn Đức sẽ xông đến và cắt tiểu đoàn một của ta. Và cả hai tiểu đoàn của bốn mươi lăm nữa. Hai tiểu đoàn ấy cũng ở trên đồi Ma-ma-ép. Còn người thì sẽ không có thêm đâu. Phải dựa vào cái gì có sẵn. Còn bổ sung thì chi là bù lại số thiệt hại thôi. Và bổ sung đó cũng chẳng đáng kể lắm đâu: toàn là trẻ con.

        Rút tẩu thuốc khỏi mồm, ông nhổ toẹt xuống sàn nhà.

        — Chỗ cậu còn bao nhiêu cựu binh, Kéc-gien-xép?

        — Chừng mười lăm người, chứ không hơn đâu. Trong số đó có khoảng mười lính thủy.

        — Còn tốt. Chỗ của Xi-ni-xưn và Căn-đi-đi, cựu binh còn ít hơn. Mà cựu binh là xương sống của các cậu đấy. Nhớ đấy. Đừng thí quân vô ích. Có cuốc xẻng không?

        Tình hình xẻng cuốc thì tệ lắm. Sau khi tổ chức xong, sư đoàn ra đi, mà không kịp nhận dụng cụ công binh. Mà những thứ đã lấy được trên đường đi trong các làng thì han gỉ, không dùng được, chỉ một hai ngày là hỏng. Cuốc chim thì hoàn toàn không có. Chúng tôi đợi kho dụng cụ công binh lưu động sắp đến, nhưng nó bị vướng ở đâu đấy trên bờ bên kia, và chúng tôi phải đào bằng đồ cũ đã tìm được giữa các đống đổ nát.

        — Báo cáo đồng chí thiêu tá, người ta hứa hôm nay sẽ cấp mìn đấy ạ, — một trung úy râu không cạo, mặc áo bông không cài cúc, từ trong góc đứng dậy nói. — Hôm qua tôi đã nói chuyện với trưởng kho quân nhu rồi. Sẽ cho chúng ta khoảng một nghìn quả chống bộ binh. Còn chống tăng thì sau hai tuần, chứ không thể sớm hơn được.

        Thiếu tá khoa tay về phía anh ta, ý nói tôi biết rồi, ngồi xuống đi.

        — Bây giờ cứ đào công sự là chính. Khi chưa có cuốc xẻng công binh thì đành phải dùng của bộ binh vậy, chẳng làm khác được đâu. Xi-ni-xưn, chỗ cậu có nhiều hơn các chỗ khác, tôi nhớ, và khu vực thì dễ hơn. Hãy đưa cho Kểc-gien-xép một nửa vậy. Thôi hết. À, Li-xa-go. — Trung úy mặc áo bông đứng nghiêm. — Đến tối hôm nay, kế hoạch các công tác phòng ngự phải đưa đến chỗ tôi. Còn cậu, Kéc-gien-xép, sẽ giúp. Khoảng hai ngày sau, thì cậu sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm.

        Và ông đứng lên, bằng cử chỉ đó muốn tỏ ra là chúng tôi chằng còn việc gì mà ngồi ở đây nữa, — và hơn nữa chúng tôi đã hút nhiều quá đến nỗi không thở được nữa.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2019, 06:09:30 AM

3

        Ở trên bờ sông, Li-xa-go đi đến gần tôi.

        — Xin phép tự giới thiệu: trung úy Li-xa-go, trung đội trưởng trung đội công binh của trung đoàn bộ binh một nghìn một trăm bốn mươi bảy thuộc sư đoàn bộ binh một trăm tám mươi tư.

        Giọng âm vang, đã từng quen báo cáo. Chào theo đúng quy cách: những ngón tay ghép chặt với nhau, cẳng tay và lòng bàn tay làm thành một đường thẳng, bỏ tay xuống rất mạnh. Mặt hơi phờ phạc và râu không cạo. Đôi mắt thông minh, hơi láu lỉnh. Người vạm vỡ, chắc nịch. Trông bề ngoài, chừng ba mươi tuổi.

        — Anh có muốn tìm hiểu về công việc xây dựng của tôi không? Đúng là xây dựng đường tàu điện ngầm thật sự đấy. Cật lực đào đã ngày thứ năm rồi.

        Và nắm khuỷu tay của tôi.

        Cách nhà hầm của thiếu tá chừng hai mươi bước, người ta đang đào đường ngầm trong một vách đứng ở bờ sông Vôn-ga, đường ngầm dài chừng mười thước, chứ không thể ít hơn. Hình chữ T.

        — Bên phải cho thiếu tá, bên trái cho tham mưu trưởng,

        — Li-xa-go giải thích. — Cao ba thước, rộng bốn thước, anh có tưởng tượng như thế được không? Còn đằng kia, bên trái, còn có một cái nữa: cho các nhóm tác chiến và chính ủy. Mà tất cả chúng tôi chỉ có mười tám người thôi. Kể cả các trung sĩ. Và đến ngày kia phải làm xong. Thế có lâu không chứ?

        Các chiến sĩ dùng cuốc hì hục đào tầng đất cứng như đá. Hai người đào, hai người xách đất trong những cái thùng, hai ngườỉ làm cột chổng trần và vách gỗ, Một cây đèn dầu đặt dưới đất, Phảng phất mùi khói đèn, mồ hôi và đất ẩm,

        Li-xa-go ngồi xổm, dựa lưng vào cột chống bằng gỗ và hút thuốc,

        — Chúng tôi đã đào xong một cái như thế này rồi, Đã lát ván, trần và sàn. Vách bằng gỗ dán. Đặt lò sưởi trong góc. Đấy, tay có ria kia, trung đội phó của tôi đấy, tự tay mình làm lấy tất cả: lò sưởi và ống khói, Khéo chân khéo tay lắm. Chúng tôi đã kiếm được cây đèn to chứa đến hai lít dầu và cả chao đèn màu xanh nữa, Thiếu tá đã định đặt giường ở đâu rồi, Thế mà Sui-cốp đến, ngồi vào ghế, hỏi: trên đầu lớp đất dày bao nhiêu; mà đất thì dày chừng mười hai thước, Và thế là thiếu tá của chúng ta phải bấm bụng mà chia tay với căn nhà của mình. Còn bọn công binh chúng tôi thì lại phải bắt tay làm lại tất cả từ đầu. Đấy, chiến tranh nó như thế đấy, đồng chí trung úy ạ, Mà người thì ít quá chừng,

        — Còn mình cũng muốn xin người của cậu đấy, Chừng năm người,

        Li-xa-go cảnh giác đề phòng,

        — Để làm gì?

        — Trước đây cậu có nghe thiếu tá nói gì về mìn không?

        — Cái đó thì cứ để cho trên sư đoàn người ta làm. Họ tồn tại chính là để làm những việc như thể, Còn việc của chúng ta là: sở chỉ huy và đài quan sát, Họ có đến một trăm, mà chúng tôi chỉ có mười tám người thôi, Chưa làm mìn mà suốt ngày đêm đã không ngủ rồi, Và những mìn kia, thì cậu có biết bao giờ sẽ có ...

        — Chính cậu đã nói là người ta cho một nghìn quả cơ mà.

        — Nói thì nói chứ, Tưởng nói mà được à. Nó là trưởng kho thì nó phải nói dối chứ. Cậu không biết bọn chúng à,

        — Thôi được, Chúng ta đừng cãi nhau, Thu xếp cho mình năm người dù của cậu hay của ai cũng được để đêm mai họ làm việc. Còn những việc khác mình chẳng cần biết,

        Li-xa-go thở phì phì, lấy dao găm ngoáy đất giữa hai chân,

        — Đấy, bao giờ cũng thế: hãy thu xếp, hãy làm đi, đến sáng mai, đến tối nay... Còn ai làm và làm thế nào, thì chẳng ai hỏi đến cả. Trong một đêm tôi chả đẻ được một tiểu đoàn đâu. Cậu thấy đấy, lưng áo của người ta đã ướt đẫm như thế kia, vắt ra nước được.

        Tôi đứng lên.

        — Hừ, thế thì phải đi báo cáo thiếu tá vậy: công binh bận làm nhà hầm, chẳng có ai để cùng cố hệ thống phòng ngự.

        Li-xa-go cũng đứng lên.

        — Chà, cậu bướng quá... Thôi được, đừng đi. Mình sẽ gửi người đến. Nhưng ở đấy họ có việc gì mà làm chứ. Cậu thì còn phải đào đường hào chừng hai tuần nữa.

        — Đường hào là một việc, mà mìn lại là việc khác. Tối mai cậu cho người đến.

        — Đề làm gì? Để đặt mìn à?

        — Thế thì còn để làm gì nữa.

        Li-xa-go không trả lời gì cả. Cúi lưng, đi ra khỏi đường ngầm.

        — Khi còn yên, ta hãy ra bên ngoài đi.

        Mặt trời rạng rỡ chói mắt. Trên bờ sông giống như một ổ kiến. Người ta đào bới, kéo khiêng và xây dựng cái gì đấy. Những bếp đặt sát vào vách đứng bốc khói nghi ngút. Những áo cánh và quần lót đang phơi. Những đống đạn đồng ánh lên — đủ cỡ, bé, vừa, lớn và đầu đạn màu đỏ, xanh, vàng. Những hòm đạn. Những bao. Rồi lại những hòm. Một khẩu đại bác cong queo không nòng. Một xác ngựa trương phình, ruồi bám đầy. Hai chân sau đã bị cắt cụt.

        Bên trái, một chiếc sà-lan bị chìm còn nhô lên trên một nửa. Chỉ có sườn sà-lan còn lại. Những gỗ lót thì người ta đã dùng để đốt lửa rồi. Và bốn chiến sĩ đang giặt áo, ngồi cheo leo trên sườn sà-lan, giống như những con gà đậu trên giàn. Họ cười vui vẻ, vung nước vào người nhau và lưng lấp lánh ánh mặt trời.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2019, 09:09:16 AM

        Còn bầu trời xanh lam, chói lòa và không một gợn mây. Và ngôi nhà thờ trắng xóa như tuyết, với mái vòm nhọn màu lục, nổi bật lên trên đám rừng liễu hoàn diệp vàng rực ở bờ bên kia. Ở đấy cũng nhiều người. Người ta di động, đi lại trên bãi sông trắng toát vì ánh nắng chói lọi. Thỉnh thoảng những viên đạn súng cối nổ làm tung lên những cột nước, giống những bó hoa trắng như tuyết đang nở rộ. Tiếng nổ một lúc sau mới vang đến tai. Người ta chạy tán loạn. Đợi vài phút sau, họ lại đi đứng, lại di động như trước.

        Một chiếc thuyền nhỏ, giống như con niềng niễng, vùng vẫy cạnh bờ. Dòng nước chảy xiết và cuốn nó về bên phải. Những mái chèo nhanh nhanh thấp thoáng.

        — Chúng sẳp bắn đấy, — Li-xa-go nói và rút từ trong túi ra một cái hộp vốn dùng đẻ đựng thuốc đánh răng. Anh vấn thuốc hút.

        Chừng hai phút sau một cột nước trắng tung lên như suối phun, cách chiếc thuyền không xa.

        — Đấy, ngốc thật! Cứ cho thuyền đi thẳng, — Li-xa-go nói và vừa cần thận liếm nước bọt vào điếu thuốc, vừa cho những thuốc rời vương vãi trên lòng bàn tay vào trong điếu thuốc. — Thế thì chỉ tổ kiệt sức và bọn Đức dễ xơi ngon thôi. Giá bơi xuôi dòng, thì đích ngắm của chúng phải luôn luôn thay đồi.

        — Bơi xuôi dòng thì nó trôi đến chỗ quân Đức mất, — có người nào đấy nói ở sau lưng tôi. Các chiến sĩ công binh chổng khuỷu tay lên cán xẻng, cũng theo dõi chiếc thuyền.

        Những cột nước tung lên mỗi lúc một nhiều. Chiếc thuyền hối hả vung những mái chèo lên.

        — Thằng bắn súng cối hạng bét, — một chiến sĩ gầy còm, ngực lép đứng cạnh, cả quyết nói. — Hôm qua, đến phát thứ ba thì chiếc thuyền đã tan tành rồi.

        — Hôm qua, chiếc thuyền to gấp năm lần, — có người nào

        đầy nói chậm rãi, giọng trầm và khản đặc, — và chở đầy ăm ắp, khó khăn lắm mới di động được.   

        Một viên đạn súng cối nổ gần sát thuyền. Chiếc thuyền nhảy lên trên sóng và trong vài giây các mái chèo ngừng bơi. Chắc là những người chèo cúi rạp mình xuống.

        — Chiếc đó không phải của đơn vị ta, hả? Không phải của Cô-rổp-cốp à? Khoảng hai giờ trước họ đã đi.

        — Có thế là của đơn vị ta, nhưng phân biệt thế nào được. Thuyền cũng đi bốn người.

        — Chiếc của Cô-rốp-cốp từ lâu đã phơi trên bờ rồi. Và ở chỗ Cô-rốp-cốp không phải là thuyền, mà là xuồng. Các cậu như thế thì làm lính thủy quái gì được?

        — Súng máy chúng sắp bắn đấy, — Li-xa-go bình tĩnh nói, rồi kéo một hơi đài và từ từ nhả những vòng khói trắng. — Chắc chắn nó sẽ bắn đấy.

        Và hầu như ngay lúc đó, quanh chiếc thuyền, hiện lên cả một loạt những vòi nước phun lên nhỏ và có khi nhập lại với nhau.

        Mọi người chung quanh lặng im. Chiếc thuyền ngừng vẫy những mái chèo.

        — Bọn súc sinh... — có ai đấy ở sau tôi thốt lên, — sẽ giết chết thôi...

        Trên bờ và chung quanh chúng tôi, hầu như mọi người đều theo dõi chiếc thuyền. Những mái chèo lại thấp thoáng. Nhưng không phải bốn, mà chỉ còn hai thôi. Có lẽ một người bị thương hay chết rồi.

        Chiếc thuyền đã đi được nửa sông. Bây giờ nó ở ngay đổi diện chúng tôi. Súng cối lại bắn.

        — Còn chừng năm mươi thước nữa, và từ đồi Ma-ma-ép sẽ không thấy thuyền được nữa.

        — Nào, cố lên đi, cố lên đi, các cậu ơi!

        Các viên đạn súng cối nổ dày đặc đến mức cao độ. Thật là khó hiểu, làm sao mà chiếc thuyền vẫn còn nguyên vẹn. Quả là nó lướt nhanh, và những cột nước lúc nào cũng ở phía sau.

        Có ai đầy trên bờ cố hết sức gân cổ gào:

        — Nào, cố lên nào, cố lên nào!..

        Và đưa tay quá đầu, vẫy mũ ca-lô.

        Và bỗng nhiên, như theo một mệnh lệnh, những cột nước biến mất. Hai hay ba viên đạn súng cối nổ ùng ục trong nước, nhưng chiếc thuyền đã đi xa rồi. Các chiến sĩ vừa tản đi, vừa hiền hậu và hài lòng chửi rủa.

        Li-xa-go vứt mẩu tàn thuốc.

        — Đấy, người ta cung cấp cho chúng ta cái ăn và đạn dược như thế đầy. Cậu thấy chứ? Thế mà các cậu ở tiền duyên thì cứ: nào, cho đạn...

        Té ra chỉ một chỗ qua sông hoạt động cho cả bờ bên phải thôi, đó là bến phà 62 có hai chiếc ca-nô và sà-lan. Trong một đêm, đi được sáu chuyến là nhiều, cố hết sức thì được bảy; mà cái đó đối với tám hay mười sư đoàn ở bên bờ này thì khác nào giọt nước trong biển cả. Đành phải tự tổ chức lấy việc cung cấp bằng phương tiện riêng của từng đơn vị.

        — Ở trung đoàn chúng ta có cả một đoàn thuyền cơ đấy, —  Li-xa-go nói, — năm thuyền, ba xuồng và một cầu phao. Trước đây, có khoảng mười lăm chiếc, nhưng bị hư hỏng không dùng được nữa. Đồ cũ. Bị rò nước. Và mảnh đạn đâm thủng cả. Cầu phao thì như cái rây bột. Ba người của tớ luôn luôn phải ngồi trét các khe hở, — anh liếc nhìn tôi. — Thế mà cậu thì cứ nói đặt mìn. Đêm nay, còn phải phái người đi đến bốn mươi lăm nữa. Hôm qua, chúng tớ bị đánh cắp mất hai chiếc thuyền. Chà! Tất cả thật là chán... Nào, đi đến chỗ tớ đi...

        Chúng tôi bò cả chân cả tay, chui vào nhà hầm của Li-xa-go, nhỏ bé như một cái ồ chó.

        — Có thấy không, chúng tớ sống thế nào. Nhà vườn ăn cau sâu! Chính mình thì đào cho người khác, còn cho mình thì ở chẳng ra sao cả.

        Tia nắng chiếu xiên như một mũi tên mỏng manh đâm vào áo ca-pốt, chiẽu sáng những cà-mèn ám khói, những lọ đồ hộp và bức ảnh một cô gái mập mạp đội mũ bê-rê đính vào tường.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2019, 09:09:38 AM
   
        Dưới chiếc bàn con đóng vào tường, giống như bàn trên toa tàu, có một cút rượu trắng.

        — Thôi được, nhân dịp quen biết nhau, ta chạm cốc đi nào, — Li-xa-go nháy mắt.

        Chúng tôi chạm ca với chai. Li-xa-go nốc rượu từ miệng chai.

        — Còn chúng mình ở ngoài tiền duyên chỉ một lần được nhậm rượu trắng thôi, — tôi nói.

        Li-xa-go cười khẩy và lấy bàn tay xoa cằm không cạo râu.

        — Đến tiền duyên thì phải một cây số rưỡi, còn ở đây kho nằm sát nách tớ. Với lại có năm người trong số các chiến sĩ của tớ không uống. Thôi, cậu cứ giao tiểu đoàn cho ai đấy nhanh lên và bắt tay vào việc công binh. Cậu sẽ thấy chúng tớ sống khá tốt. Sống với tớ thì chẳng chết đâu. Thiếu tá của chúng ta thì tớ đi guốc trong bụng. Nói nửa lời là tớ đã hiểu rồi. Bố già tuyệt thật. Thật ra, thỉnh thoảng cũng nổi trận lôi đình lên, nhưng nửa giờ thì nguôi giận. Chỉ có cái tội là bố già thích nhà hầm tốt. Thiếu một đường bắt người ta trải thảm trong nhà hầm thôi. Nhưng nói chung, thì chịu được. Uống nữa chứ?

        Anh lại lấy thêm một cút rượu nữa.

        — Tớ làm xong hai đường ngầm này, thì sẽ bắt tay làm cho mình. Tình hình chẳng ra làm sao cả. Người thì cứ nằm ngủ ngay trên bờ sông, mà một tháng nữa là mùa đông rồi. Khi nào cậu đến thì sẽ thấy có những lâu đài như thế nào. Tuyệt trần...

        Tôi nhìn chiếc đồng hổ treo ở trên tường có móc một ổ khóa thay vào quả tạ.

        — Đồng hồ đúng chứ?

        — Đúng. Đồng chí trung úy ạ, đừng vội. Cậu còn kịp hưởng lạc thú ở tiền duyên cơ mà. —Li-xa-go vỗ vào đầu gối tôi: — Cậu không giận là tớ nói chuyện với cậu bằng «cậu, tớ» chứ? Đó là thói quen ở ngoài mặt trận. Thậm chí với A-brô-xi-mốp, tớ cũng gọi «cậu», mà tay ấy là đại úy. Nhân tiện nói thêm, — Li- xa-go hạ giọng, cúi sát và thở vào mặt tôi, — tay đó nguy hiểm đấy. Chằng thương người đâu. Bề ngoài trông có vẻ bình tĩnh, còn khi vào việc thì nóng như lửa. Hoàn toàn mất trí. Hùng hùng hổ hổ và quyết định một cách thiếu suy nghĩ. Nhưng cậu đừng làm theo. Phải biết tự chủ mình.

        Ưỡn người ra phía sau, Li-xa-go duỗi hai chân. Bẻ ngón tay. Lần lượt ngón này đến ngón khác. Tôi hỏi một vài câu có tính chất chuyên môn. Anh trả lời trôi chảy và cười xòa. Hai cái răng cửa bị sún.

        — Cậu kiểm tra? Hả? Nhưng trong việc này thì tớ biết tỏng. Dù sao cũng là cán bộ quân sự chuyên môn chứ. Khan-khin Gôn, Phần-lan1... tớ cũng đã từng. Chà, trung úy, trung úy, thế mà cậu còn chưa biết tớ. Thật đấy, cứ chuyển vào bờ nhanh lên đi. Cậu sẽ thấy sống với tớ thế nào. Có muốn ăn cam không? Tớ có cả một thùng đầy. Cả bánh bích quy cũng có... Cậu muốn gì cũng có.

        Tôi ngắt lời Li-xa-gơ

        — Thế thì trung đội của cậu có bao nhiêu người, hờ?

        — Của tớ? Mười tám, tử nữa là mười chín. Toàn là dân cừ khôi cả thôi. Thợ mộc, thợ lò. Cả thợ may và thợ cắt tóc nữa. Còn thợ giày thì đốt đuốc tìm khắp Mát-xcơ-va cũng chẳng có được một tay như thế đâu. Xem đây này, ủng của tớ, thế nào, hở? Đế, mũi, cổ giày... tuyệt trần nhé! Cả thợ đồng hồ cũng có. Đấy, tay trung sĩ có ria ấy mà. Cả thợ mộc làm gỗ quý.

        — Còn đặt mìn họ có giỏi không?

        — Tầt nhiên rồi, đặt mìn cũng cừ lắm! Nhưng nói chung, đó chẳng phải là việc của chúng tớ. Sở chỉ huy, đài quan sát — việc của chúng tớ, còn mìn thí cứ để tiểu đoàn đặt. Còn trung đội thì tuyệt vô cùng. Tớ chẳng có gì than phiền cả. Cứ đến làm việc cậu sẽ thấy. Chính tự tay tớ chọn ở chỗ thành lập các đơn vị. Trong quân đội ta chẳng tìm được trung đội nào như thế đâu. Thật đấy...

        Tôi đứng lên.

        — Như thế là ngày mai, mình chờ người của cậu đấy.

        Li-xa-go cũng đứng dậy, hơi lắc lư.

        — Này trung úy, cậu bướng thế. Sao cứ bám mãi mấy cái bãi mìn ấy. Chỉ có người của ta sẽ bị vướng mìn mà thôi. Nhưng... thôi được, tớ sẽ gửi.

        — Nêu chính cậu cũng đến thì tốt lắm.

        — Điểu đó tớ chẳng hứa, chẳng hứa đâu. Chính cậu cũng thấy đấy, bao nhiêu công việc. Đường ngầm, thuyền... Hôm nay còn phải nhận mìn nữa. Tớ sẽ phái trung đội phó của tớ, Gác- cút-sa, tay đó thì tuyệt. Nhắm mắt, hẳn cũng đặt mìn cho cậu được đấy.   

        — Mình thì chẳng cần, đây là cho các tiểu đoàn một và ba đấy, họ cchẳng có công binh....

        Vịn tay vào bàn, Li-xa-go đưa cặp mắt hơi say nhìn tôi trong giây lát.

        — Đổng chí trung úy này, có biết không, các tiểu đoàn trưởng đều có đầu cả, cứ mặc cho họ phải suy nghĩ chứ. Còn việc của tớ thì nhỏ thôi: thực hiện mệnh lệnh. Họ cũng chẳng phải là trẻ con. Nằm phòng ngự — công binh đặt mìn đi! Xông vào tấn công — công binh tháo mìn đi! Đi trinh sát— công binh đi trước, tìm mìn đi! Mặc kệ họ...

        — Tùy cậu. Cậu còn là kỹ sư. Thì tự cậu quyết định như thế nào cho tốt. Thôi, tạm biệt.

        — Tạm biệt... Cậu cầm lấy một cặp «vi-ta-min» đề đi đường mà ăn.

        Li-xa-go đút vào túi áo bông của tôi hai quả cam vàng rực, sần sùi và lạnh ngắt.

        — Thế là tớ đợi cậu ngày một ngày hai đến đây nhé.

        Và cười hi hi.

-----------------
        1. Nói về những trận đánh nhau với bọn đế quốc Nhật năm 1939 và với bọn bạch vệ Phần-lan năm 1939—1940. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2019, 09:10:40 AM

4

        Ban đêm chúng tôi thay đồi vị trí. Tôi vội vã cố làm xong xuôi tất cả trước mười hai giờ đêm, trước khi trăng lên. Nhưng bọn Đức đốt hai túp nhà kho, nên cả khu vực của tôi sáng rõ như ban ngày. Điều đó làm việc chuyển quân kéo dài suốt đêm. Khẩu súng máy dưới cầu bắn mãi hầu như không ngớt. Tôi cảm thấy rằng khẩu súng máy đó sẽ làm tình làm tội chúng tôi dữ lắm, nó bắn qua tất cả những lối giao thông của chúng tôi. Đèn sáng, ở đấy lại hiện ra thêm một khấu đại bác. Mà chúng tôi chằng có gì để trả lời chúng cả: đạn chỉ đủ nhiều nhất cho một ngày thôi. Thế là chúng tôi cứ chuyển dần, yểm hộ bằng những súng cối đại đội. Súng cối tám mươi hai không có đạn. Tôi yêu cầu pháo binh trung đoàn yểm hộ. Nhưng đạn dược của họ cũng khó khăn: suốt đêm chỉ bắn khoảng ba lần thôi.

        Khu vực này xấu tệ. Bị nền đường sắt cao cắt ngang. Nền đó chạy ngoằn ngoèo dọc chân đồi. Các toa tàu đứng chật. Từ sườn trái hầu như không thấy được sườn phải, mà chỉ thấy phần trên cao của mương xói. Chiến hào, đường hầm — chẳng có gì cả. Các chiến sĩ tiểu đoàn một nhường địa điểm cho chúng tôi, họ nằm trong những hầm gì đấy và hố bom bên trên đậy đủ thứ sắt cũ thải đi. Dọc mương xói, về phía bên kia nền đường sắt, thực ra cũng có cái gì đấy giông giống chiến hào, nhưng hoàn toàn không có hào giao thông.

        Tất nhiên, đây chẳng được như ở nhà máy «Vật phẩm kim loại». Ở đấy, có thể đi từ đầu này đến đầu kia, mà chẳng cần cúi lưng.

        Khu vực không lớn cho một tiểu đoàn bình thường, tất cả chừng sáu trăm thước thôi; nhưng toàn đơn vị của tôi chỉ có ba mươi sáu người. Trước kia bốn trăm, nay chỉ còn lại ba mươi sáu. Và cái nền đường sắt chết tiệt này lại cắt đôi khu vực ra làm hai phần không đều nhau: sườn phải ở trên đồi đài hơn sườn trái chừng gấp đôi. Mà tôi có hai đại đội, mỗi đại đội mười tám người, thực ra là hai tiểu đội. Cộng với hai đại đội trưởng và ba trung đội trường. Không kể xạ thủ súng máy và súng cối. Đấy, thế mà phải chỉ huy tất cả mọi người trong khi không có hào giao thông. Ban ngày, mỗi chiến sĩ trở thành một hỏa điểm biệt lập, tách rời khỏi những người khác. Bọn Đức có thể bắn dọc, bắn ngang, khắp nơi trong khu vực.

        Tôi đi tìm chỗ đặt sở chỉ huy, dù chỉ là tạm thời thôi, để mắc điện thoại. Chỉ rặt toàn là những đống đồ nát, những nhà kho cháy trụi, chẳng có hầm nhà gì cả. Nhưng Va-lê-ga đã giúp tôi. Cậu tìm ra được một cái cống bằng bê-tông cốt sắt dưới nền đường sắt và ngụy trang tốt. Nhưng trong đó đã có những chiến sĩ pháo binh rồi.

        Một trung úy cao cẳng có bộ râu nhỏ và thưa mọc tua tủa ra khắp tứ phía, gặp tôi một cách hằn học.

        — Không lôi thôi gì cả, tớ không cho vào. Ở đây, chúng tớ đã có năm người rồi. Mà cậu còn kéo cả sở chỉ huy vào đây.

        Nhưng tôi không muốn nói chuyện theo lối ngoại giao. Tôi ra lệnh đặt điện thoại và bảo sĩ quan tùy tùng viết báo cáo. Các chiến sĩ pháo binh chửi mắng, không chịu dịch những hòm của mình, nói rằng sẽ kiện lên thủ trưởng pháo binh Pô-giác-xki.

        — Thì cứ kiện đi! Các cậu ơi, cứ bố trí đi, chỉ có thế thôi. Nếu tôi chưa ra lệnh thì không được rời khỏi chỗ này.

        Các chiến sĩ thông tin chằng cần gì hơn nữa. Họ lập tức kéo dây, thu xếp chỗ ngay trên nền đá và đã bắt đầu gọi những «hoa lưu ly» và «hoa uất kim hương» của mình.

        Khác-la-mốp, sĩ quan tùy tùng, mắt cận thị, tất nhiên, đã làm mất cái cặp giấy cần thiết nhất và cứ lục lọi dưới chân; làm phiền mọi người.

        — Chắc là bỏ quên ở đằng kia rồi, ở sở chỉ huy trước, — anh lầm bầm một mình và lúng túng nhìn quanh.

        Ở con người đó có một đặc tính lạ lùng: ở đâu và bao giờ cũng bỏ quên cái gì đấy, Từ khi tôi được biết anh ta, anh đã kịp bỏ quên một áo ca-pốt, ba mũ sắt và cái ví của mình, Còn bút chì và bút thì chẳng cẩn phải nói nữa,

        Khoảng gần năm giờ các đại đội trường đến,

        — Thế nào? — tôi hồi,

        Các-nau-khốp, đại đội trưởng đại đội bốn thay cho Pê-tơ- rốp tử trận, nhún đôi vai rộng,

        — Đặt tạm cái đã, Súng máy thì không sao, còn các chiến sĩ thì... Đành phải ngồi tạm bợ cho qua ngày, trời sáng rồi; còn đến đêm thì bắt tay đào vậy. Trong những chiến hào như thế này, chẳng cố thủ được lâu đâu,

        Các-nau-khốp có giọng nói thấp, hơi ồ ồ, Anh nói hơi đứt đoạn, Chắc là cố chọn chữ. Còn nói chung thì tôi thích anh ta.

        Anh đến đơn vị chúng tôi chừng mươi ngày trước đây, Người to lớn, chân hơi cong, lông mày rậm và nối liền nhau ở gốc mũi, mắt màu xám, đeo ba-lô sau lưng, cúi khom người, cố len qua cái cửa hẹp và thấp.

        Vừa đúng lúc chúng tôi đang ăn trưa, Canh khoai tây khô và bánh mì khô. Mời ăn, nhưng anh từ chối và xin nước, uống ngon lành cả một ca to, to gần bằng cái thùng, rồi quệt môi và mỉm cười,

        — Chắc là tôi nốc hết cả món nước dự trữ của các anh rồi.

        Và hỏi đại đội của anh ở đâu,

        — Anh cứ ngồi nghỉ cái đã.

        Anh lại mỉm cười, như là muốn xin lỗi và lấy bàn tay lau trán ướt có một vạch đỏ do vành mũ lưỡi trai hơi chật,

        — Cả một tháng nghỉ ở bệnh viện rồi. Thậm chí lên được ba cân nữa cơ. Người ta chẳng cho thuốc hút đi đường. Mà không có thuốc, thì chính các anh cũng biết, như là...

        Khác-la-mốp đưa thuốc cho anh. Anh vấn một điếu to lạ lùng và ngồi im hút.

        Tôi hỏi một vài câu thông thường khi mới quen nhau. Anh ngồi trong góc ngay trên ba-lô của mình và bình tĩnh trả lời ngắn gọn. Sau đó đứng lên, đưa mắt tìm xem vứt tàn thuốc ở đâu, và không tỉm thấy chỗ nào thích hợp, anh vứt nó ra ngoài cửa.

        — Thế nào? Ai đưa tôi đi?

        Đến tối, tôi nhận được một báo cáo tỉ mỉ của anh có kèm theo cả những bản kê khai từng khấu súng máy và bản sơ đồ bố trí các loại súng của địch.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2019, 09:10:59 AM

        Ngày hôm sau, anh đuổi bọn Đức ra khỏi khu vực đường hào mà chúng tôi đã mất ngày hôm trước; trong trận đó chỉ thiệt một người. Đền tối, khi tôi cố lần được đến chỗ anh trong nhà hầm, thì thấy nhà hầm không giống như ở mặt trận, mà rất sạch sẽ, tươm tất, với chiếc gương soi mặt, bộ đồ cạo râu và bàn chải đánh răng trên giá, còn anh đang ngồi viết cái gì đầy trong một cuốn vở đặt trên đẩu gối.

        — Thư gửi về nhà chứ gì?

        — Không. Thế thôi... Đồ nhảm nhí... — anh bối rối, cúi đầu và cố đứng lên. Anh vội vã đút cuốn vở vào túi.

        «Chắc là làm thơ», — tôi nghĩ bụng và không hỏi gì thêm nữa.

        Ngay trong đêm đó, đại đội của anh đã cướp được một khẩu súng máy và sáu hòm đạn của bọn Đức. Các chiến sĩ nói rằng chính anh cũng đi lấy súng máy. Nhưng khi tôi hỏi thì anh chỉ cười, và không nhìn vào mắt tôi, nói rằng điểu đó chỉ là bịa đặt thôi, rằng không bao giờ anh dám làm như thế, rằng đại đội trưởng nói chung không được đi lấy súng máy như thể.

        Bây giờ anh đứng trước mặt tôi, hơi gù lưng và râu không cạo. Tôi biết là anh, cũng như tôi, buồn ngủ lắm. Nhưng anh sẽ còn ngồi, hơi thè đầu lười ra và vẽ sơ đồ phòng thù của mình hoặc chạy đi kiểm tra xem chuẩn úy đã đưa bữa ăn tối đến chưa.

        Pha-rơ-be, đại đội trưởng đại đội năm, ngồi ở trên góc hòm đựng đạn. Anh mệt mỏi và như mọi khi lơ đễnh và lãnh đạm. Anh nhìn vào một điểm, và những kính đeo mắt dày lấp lánh lên. Đôi mắt sưng húp vì mất ngủ. Má trước đây đã gầy rồi, bây giờ còn gầy hơn và tóp lại.

        Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được anh. Tôi có cảm tưởng hình như trên đời này không có gì làm anh quan tâm đến cả. Anh cao lêu nghêu, lưng hơi gù, vai bên phải cao hơn vai bên trái, nước da tái nhợt một cách bệnh hoạn, như tất cả những người có mái tóc hung hung khác, và mắt cận thị rất nặng. Hầu như anh không hề nói chuyện với ai cả. Trước chiến tranh, anh là nghiên cứu sinh của khoa toán trường đại học tổng hợp Mát-xcơ-va. Tôi biết điểu đó qua bản khai lý lịch, còn tự anh thì không bao giờ nói cả.

        Một đôi lẩn, tôi muốn gợi chuyện với anh về quá khứ, về hiện tại, về tương lai, cố làm cho anh hoạt động hơn lên, và khêu lại những hồi ức nào đấy. Anh lơ đễnh nghe, thỉnh thoảng trả lời nhát gừng, nhưng rồi chẳng nói gi thêm nữa. Tất cả mọi cái hình như đi qua trước mặt anh, đi quanh người anh, nhưng không có cái gì bám được vào lòng anh. Tôi chưa hề thấy anh cười một lần nào cả, thậm chí tôi không biết răng anh như thế nào nữa cơ.

        Cảm giác tò mò, cũng như cảm giác sợ hãi ở anh ta đã bị teo lại rồi. Có một bận, hồi còn ở nhà máy «Vật phẩm kim loại» tôi gặp anh ở trong một đường hào. Anh mặc áo ca-pốt của lính ngắn cũn cỡn cao quá đầu gối, đứng dựa vào ụ đất ngoài chiến hào, quay lưng về phía bọn địch và lơ đễnh lấy mũi giày khảy đất ở thành hào. Hai hay ba viên đạn xoẹt đến ở đâu đấy không xa. Rồi một viên đạn súng cối nổ ầm. Anh vẫn tiếp tục khảy đất.

        — Pha-rơ-be, anh làm gì ở đây, hở?

        Anh chậm rãi, như là miễn cưỡng, ngoái lại và đôi mắt anh với những hàng lông mi trăng trắng và những mi mắt nặng nể hơi húp lên, đưa về phía tôi như có ý hỏi.

        — Thế thôi... Chẳng làm gì cả...

        — Ở đây thì bọn Đức sẽ giết anh trong nháy mắt.

        — Có thể thế... — anh đồng ý và bình tĩnh ngồi xổm.

        Thật khó mà bảo rằng anh không cẩn thận, bao giờ anh cũng cạo râu và cổ áo giả bao giờ cũng mới giặt, nhưng chắc cái đó chỉ là thói quen hay là sự giáo dục, vì anh không bao giờ quan tâm đến vẻ ngoài của mình cả. Áo ca-pốt bé hơn đến hai cỡ số, đai sau lưng áo nằm cao gần đến xương bả vai, chân quấn xà cạp, mũ ca-lô xòe rộng ra bên trên, áo không có khuyết đề đeo quân hiệu.

        Có một lần tôi nói với anh:

        — Pha-rơ-be, anh nên đính các khối con.

        Cũng như mọi khi, anh trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi.

        — Để tăng thêm uy tín có phải không?

        — Chỉ là vì trong quân đội đã quy định phải đeo quân hiệu.

        Anh lặng thinh đứng dậy và đi. Ngày hôm sau, tôi thấy trên cổ áo ca-pốt của anh có hai khối con bằng vải đính xiên xẹo bằng chỉ trắng.

        — Pha-rơ-be, liên lạc viên của anh hạng bét. Rõ ràng là không đính được các khối con cho ra hồn.

        — Tôi không có liên lạc viên. Tự tôi đính đấy.

        — Vì sao không có liên lạc viên?

        — Trong đại đội chỉ có mười tám người, chứ không phải một trăm năm mươi.

        — Như thế thì cứ để một người làm kiêm nhiệm vụ liên lạc viên cho anh.

        — Xa xỉ thừa mà thôi.

        — Không xa xỉ, mà cũng không thừa. Anh là đại đội trưởng cơ mà.

        Anh không phản đối; nói chung, anh không bao giờ phản đối và tức giận cả, nhưng theo tôi, cho đến bây giờ anh vẫn không có liên lạc viên.

        Một con người lạ lùng. Gần anh, tôi cảm thấy gượng gạo, vì thế không bao giờ tôi lưu anh lại lâu ở chỗ tôi. Sau khi anh nhận mệnh lệnh xong thì «thôi, vế và thực hiện đi». Anh lặng thinh, lơ  đễnh nhìn ở đâu đấy, lắng nghe, gật đầu hay là nói «tôi sẽ cố gắng», rồi ra đi.

        Bây giờ anh đang ngồi, thờ ơ, hơi gù, những cánh tay tái nhợt, xương xẩu thòi ra dưới tay áo ngắn. Anh lấy những ngón tay gõ nhè nhẹ trên mặt bàn.

        — Pha-rơ-be, anh nhớ lấy, — tôi nói với anh, — khu vực của anh chẳng tốt đâu. Đừng có trông cậy vào pháo binh lắm. Mọi sự chỉ nhờ có súng máy thôi. Đừng ham bắn trực diện. Chỉ có tiếng ổn thôi, chứ chẳng lợi gì đâu.

        Anh lặng thinh gật đầu. Những ngón tay dài vẫn không ngừng gõ trên mặt bàn đều đều, đơn điệu.

        Qua khe hở, trông rõ bên ngoài đã sáng hằn. Tôi cho các đại đội trưởng về. Tôi gọi điện cho sở chỉ huy, báo rằng việc thay đồi vị trí đã làm xong và giấy tờ bàn giao tôi sẽ gửi theo liên lạc viên.

        Cuối cùng, các chiến sĩ pháo binh chịu đế chúng tôi ở đấy. Họ đang gào trong máy điện thoại về những tọa độ gì đấy của họ. Có lẽ chằng bao lâu nữa các đại bác của ta sẽ lên tiếng.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2019, 09:17:33 AM
        
5

        Buổi sáng, tất cả chúng tôi chờ đợi trận tấn công của địch, bọn Đức không thể không nhận thấy sự chuyển động của chúng tôi trong đêm qua. Nhưng thật hoàn toàn bất ngờ, ngày yên tĩnh lắm đến nỗi chúng tôi có thể đem thức ăn trưa từ bờ sông đến được.

        Sau những ngày đêm bận rộn tứ tung, sau những lần tấn công, những trận ném bom và những đợt bắn pháo binh không ngớt của địch, thì thật khó mà tin được sự yên tĩnh này. Luôn luôn chờ đợi một cú chơi khăm. Nhưng bây giờ còn đang yên. Việc bắn nhau thường lệ khá uể oải và thưa thớt. Đúng bảy giờ, như mọi khi, «cái khung» bay. Những dãy «ca sĩ» lượn trên nhà máy «Tháng Mười Đỏ»...

        Va-lê-ga xách từ sông Vôn-ga về hai thùng nước, đem đun trên bếp dầu; sau đó cậu kỳ lưng cho tôi bằng một nắm vỏ cây gia. Nước từ thân tôi chảy xuống đen như mực. Còn tôi thì đỏ gay và toàn thân ngứa ngáy. Va-lê-ga cười.

        — Bây giờ tôi sẽ đưa cho đồng chí áo quần lót của bọn Đức. Bằng lụa. Rận không thể nào sống được. Trơn trượt và không bám được.

        Tôi mặc áo quần lót mỏng, màu xanh da trời, cạo râu và đi đến chỗ Các-nau-khốp. Ngồi xổm và liếc mắt nhìn trong mảnh gương bé tí gắn vào bức tường bị phá một nửa, anh ta đang cạo râu.

        — Thề nào, sống ra sao?

        Các-nau-khốp mỉm cười qua đám bọt xà-phòng trắng xóa và đứng dậy.

        — Cứ thế này thì có thể sống được đến khi hết chiến tranh... Thẳng Đức hôm nay đình công thì phải.

        Tôi ngồi xuống bên cạnh.

        Chung quanh chỉ thấy rặt những ống khói. Không có nhà cửa gì cả. Đây đó, những xà nhà đen ngòm còn bốc khói, và những ống khói, lại những ống khói, những ống khói đen ngòm như báo điểm dữ, đứng trên nền trời trong vắt, gần như trời Cri-mê. Chẳng hiếu vì sao những ống khói bao giờ cũng còn lại. Dường như có người nào đấy cố tình để lại, để nhắc nhờ rằng ở đây đã từng có nhà, khu xóm lao động, thành phố, mà bây giờ chỉ còn lại như thế kia.

        Tôi ngồi trên cái cột. Có lẽ, trước đây, đó là cổng. Còn cả cây đèn và số nhà. Đèn tam giác xanh và dòng chữ: «Ngõ Lệch 2, No 24. Nhà của A-gác-cô-va I.N.». Trên một mẩu tường, chẳng rõ vì sao còn lại, có một tấm biển đề: «Thợ may áo quần đàn ông và đàn bà A-véc-búc. Nhận đặt hàng». Một gã má hồng mặc quần là, đội mũ phớt chăm chú và lãnh đạm từ trên cao nhìn tôi, giống như thôi miên. Mấy anh chàng đẹp trai ấy mà người ta treo để quảng cáo, bao giờ cũng có một lối nhìn đặc biệt: dù ta có đi đâu thì chúng vẫn luôn luôn nhìn theo ta.

        — Chỗ của anh đây yên tĩnh thật, — tôi nói.

        — Chỉ bây giờ thôi. Còn nói chung, chẳng yên lắm đâu. Tôi vừa mới ra đây để cạo râu, chứ trong hang chật lắm không quay người được, cạo bị vẹt mặt cả.

        Và nhăn mặt một cách đau khổ, Các-nau-khốp cạo nốt môi trên. Tôi cạo giúp anh sau gáy. Rồi cầm bộ đồ cạo râu, chúng tôi chui vào hang. Trong hang có lò sưởi, cái bàn cắt ngắn chân và hai cái ghế. Trong góc, người đội viên thông tin ngồi, cái ống nghe buộc trên đầu. Còn có hai chiến sĩ nữa. Cây đèn làm bằng vỏ đạn pháo binh, bốc khói nghi ngút. Trên vách: một cuốn lịch có những ngày bị gạch xóa, một bảng mật hiệu, tấm ảnh của Xta-lin cắt từ báo ra và của ai đấy nữa: trẻ, tóc quăn, mặt mày cởi mở, dễ thương.

        — Ai đấy?

        Các-nau-khốp bắt chợt cái nhìn của tôi và thẹn thùng.

        — Giắc Lơn-đơn1.

        — Giắc Lơn-đơn?

        Các-nau-khốp ngồi ngược chiểu ánh sáng, nên tôi không nom rõ mặt anh, nhưng theo hai tai mờ mờ sáng, tôi thấy anh đang đỏ mặt.

        — Sao lại Giắc Lơn-đơn?

        — Thế thôi... Tôi kính trọng ông ta... Vì thế... Anh muốn uống sữa không?

        — Sữa? Ở đây? Lấy đâu ra?

        — Sữa hộp đặc... Của Mỹ. Các cậu lấy được.

        Tôi khoái trá liếm thìa sữa đặc, rất ngọt, giống như mật ong.

        — Nhưng anh kiếm đâu ra cái ảnh này.

        — Đâu ra à? — Các-nau-khốp bật cười. — Tất nhiên là từ bệnh viện. Ở đấy tôi đọc hết cả sách của thư viện. Thế nhưng Mác-tin I-đơn2 thì không kịp đọc. Thế là... tôi lấy tạm.

        — Anh có thích Giắc Lơn-đơn không?

        — Có. Tôi đã đọc đi đọc lại mấy lần của ông ta.

        — Tôi cũng thích.

        — Ai cũng thích ông ta cả? Không thể không thích ông được.

        — Vì sao?

        — Ông là một con người chân chính thế nào ấy... Ngay cả Lê-nin cũng thích ông. Cơ-rúp-xcai-a đã đọc cho chồng nghe.

        — Đọc xong, anh cho tôi mượn xem chứ?

        — Được.

        — Thế trong số các nhà văn anh còn thích ai nữa?

        Anh lại bối rối.

        — Tôi đọc ít. Bà giáo của chúng tôi chỉ có Lơn-đơn, tôi không biết bà lấy ở đâu, chắc anh cũng biết tờ phụ trương đóng bìa màu nâu. Và còn đồ nhảm nhí gì đấy: Men-nhi-cốp - Pê-tréc- xki3. và ai đấy nữa, nước ngoài, tôi không nhớ.

--------------------
        1. Giắc Lơn-đơn (1876-T-1916) — nhà văn Mỹ nổi tiếng. — ND.

        2. Tiểu thuyết viết năm 1906, nói về số phận một nhà văn có tài, xuất thân từ nhân dân, trong xã hội tư bản. — ND.

        3. p.I.Men-nhi-cốp - Pê-tréc-xki (1819-—1883)-—nhà văn Nga. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2019, 06:47:08 AM

        — Nhưng đó là ở trường trung học. Còn sau đó?

        — Sau đó? Sau đó, chẳng có thì giờ. Tôi làm việc ở hầm mỏ. Ở Xu-tran. Anh biết chứ? Gần Vơ-la-đi-vốc-xtốc.
— Biết

        — Khi tôi còn bé, xuýt nữa thì chạy sang Mỹ để đi tìm vàng ở Cơ-lôn-đai. Lấy khấu súng hai nòng của bố và bánh mì khô. Thậm chí đã vào thuyền Na-uy rồi. Lúc đó, gia đình chúng tôi ở Vơ-la-đi-vốc-xtốc. Ông bố làm khuân vác ở hải cảng.

        — Rồi sao nữa?

        Các-nau-khốp mỉm cười và nhìn móng tay.

        — Sao thì anh cũng thấy đấy. Bị tóm cổ áo, kéo lê về nhà. Như con chó con. Sau đó, chừng năm ngày nằm liệt giường. Anh còn lạ gì nữa, tay của bố nặng lắm.

        Và anh lại cười.

        Rồi anh đưa ra một cái máy hát cũ rích, cọc cạch, chẳng biết lấy đâu ra. Và chúng tôi phải đoán nhiều hơn là thưởng thức các bài hát của Cô-dơ-lốp-xki, Đa-vư-đô-va và khúc đối xướng trong vở ca kịch Ngươi Da-pô-rô-gi-e ở bên kia sông Đa-nuýp. Chỉ có một cái kim thôi, và chúng tôi lần lượt mài nó vào cái đĩa vỡ.

        — Đấy, thế là hết, tất cả những cái gì mà tôi có, — Các-nau- khốp ngẩng đầu lên nói. — Có lẽ là đưa anh đi xem tiền duyên nữa... Chỉ có điều là không thể đi đến tận chiến hào được. Đành phải xem từ đây, sau những đống đổ nát.

        Chúng tôi ẩn minh cạnh một bức tường bằng đá thấp. Chắc trước đây là căn nhà ở. Chiếc giường sắt bị lửa cháy cong queo, một máy khâu và một máy nghiền thịt.

        Ở đằng trước là mương xói. Nó bắt đầu từ bên trái của quân ta và kéo dài đến tận đỉnh đồi, ở phía trên nó hơi cong lại. Trước mặt chúng tôi, một khẩu đại bác bị phá hùy. Nòng súng vỡ tung, và mép của nó bị chẻ ra, uốn quăn lại giống như một bông hoa kỳ quái. Cái đó làm cho khẩu đại bác có vẻ cực kỳ lạ thường. Bên cạnh, một chiếc xe kéo pháo bị vỡ tan tành.

        Ở phía đổi diện của mương xói là những chiến hào của bọn Đức. Gần lắm, hầu như với tay tới được.

        — Còn của chúng ta thì không thấy, — Các-nau-khốp thì thầm, — sườn đồi che khuất. Cách bọn địch chừng bảy mươi thước theo đường thẳng. Anh thấy không, bọn chó đẻ đào cả ban ngày đấy.

        Quả thật, ở một chỗ trông rõ có cái gì đấy màu hung hung từ đất nhô lên và thỉnh thoảng lưỡi xẻng ánh lên.

        — Chà, không có đạn đại bác. Có thì tôi cho chúng biết tay vì đào trước mũi chúng ta. Còn tôi, buổi sáng định đào, thì ngay lập tức chúng nã súng cối. Mà bọn chúng lấy đâu ra lắm đạn thế?

        Chúng tôi nằm hồi lâu, theo dõi bọn Đức. Cố phát hiện những hòa điểm của chúng. Những hỏa điểm được ngụy trang tốt, và chúng tôi không tìm ra ngay được. Hai hay ba khẩu súng máy đứng lù lù ở đâu đấy trên đỉnh đồi giống như cục bước lạc đà, ngay trước mặt chúng tôi. Và một khẩu nữa đặt cao hơn trong mương xói và bắn dọc mương xói. Còn một khẩu nữa chúng tôi không thể tìm ra, dù đạn của nó bắn ra bên cạnh, gần chúng tôi.

        Ừ nhỉ!.. Trước chiến tranh, tôi hình dung tiền duyên không như thể này. Những hàng rào dây thép gai ba bổn lớp chạy theo hình chữ chi, những mạng đường hào dày đặc, những lưới được ngụy trang, những lỗ châu mai. Còn ở đây? Ngay trước mũi mình, chúng đào cái gì đấy không rõ, một khẩu đại bác bị phá hủy và có cái gì đấy như là cái thùng phuy đựng xăng bị đạn bắn thủng lỗ chỗ.

        Trước đây tôi có cuốn sách Những anh hùng của đồi Ma-la- khốp. Tất nhiên, có tranh vẽ. Pháo đài thứ tư, ở đó có những đồn lẻ gì đấy, những kính viễn vọng, những thành lũy. Từng đống bao cát, những tháp canh đan giống như những cái giỏ, những cỗ đại bác buồn cười có ngòi dài, đặt trên bục gỗ màu xanh, những quả tạc đạn tròn, bóng loáng với những tia khói mỏng manh bốc lên.

        Gần chín mươi năm đã qua. Trong thời gian ấy, người ta đã sáng chế ra xe tăng và máy bay. Còn bây giờ đây, chúng tôi vẫn ngồi trong những cái hố gì đấy và cái đó gọi là hệ thống phòng ngự.

        Ngay đêm nay, chúng tôi sẽ đặt mìn. Trong những đợt đầu, chúng tôi sẽ gài chừng ba trăm quả. Ở đây không cần loại chổng tăng, vì tăng sẽ không bò qua, mà ở đằng kia kìa, sau nền đường sắt, chỗ của Pha-rơ-be...

        Các-nau-khổp nằm, cau cặp lông mày đen rậm, dường như chúng vô tình bám vào bộ mặt hiền lành trên đôi mắt màu xám của anh.

        — Mà dù sao thì chúng cũng có một hệ thống hỏa lực tốt lắm, mẹ kiềp! Đấy, anh xem kìa. Từ trên cục bướu lạc đà kia, chúng bắn được suốt qua toàn bộ tiểu đoàn ba. Từ dưới cầu —bắn vào lưng chúng ta. Còn từ phía trên mương xói—bắn được dọc qua toàn bộ tiền duyên...

        Và như đề minh họa lời của anh, cả ba khẩu súng máy đồng loạt bắn như đã hẹn trước với nhau.

        — Ôi, giá chiếm được cục bướu kia thì chúng ta sẽ nện chúng tơi bời. Nhưng làm sao được, chỉ với mười tám người thôi.

        Các-nau-khốp nói đúng. Nếu cao điểm kia ở trong tay chúng tôi, thì chúng tôi sẽ đỡ gánh nhẹ cho tiểu đoàn ba biết bao nhiêu và sẽ làm tê liệt cái cầu, và tiểu đoàn một cũng sẽ có những hỏa điểm ở bên sườn.

        Nhưng làm cái đó như thế nào?


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2019, 06:55:47 AM

6

        Buổi tối, tôi phái tất cả những người không bận việc ở tiền duyên đi lấy mìn. Cũng may là tôi có cỗ xe tải. Trong đêm tối dù sao cũng có thể chở ra đèn tận nền đường sắt. Tất nhiên, nguy hiềm, nhưng vẫn làm được. Còn từ đấy khuân bằng tay thì không khó lắm.

        Khoảng gần mười giờ, tôi đã có gần ba trăm quả. Để cạnh cống. Cũng đến lúc đó, công binh đi đến: bốn chiến sĩ và một trung sĩ, chính là người có ria, Gác-cút-sa.

        Họ ngồi trong góc, ăn hạt quỳ và thỉnh thoảng trao đổi với nhau vài lời, vẻ mệt nhọc lắm.

        — Suốt ngày đào bới trong đường ngầm, còn sáng sớm chúng tôi đến, thì lại bắt tay vào cuốc xẻng. Lưng, tay tê dại, rã rượi chẳng còn cảm thấy gì nữa.

        Gác-cút-sa chìa bàn tay xô xám, chai sần, giống như phủ kín bằng một lớp sừng.

        Các chiến sĩ lặng thinh cắn hạt quỳ, đăm chiêu và nghiêm trang nhìn về một phía không chớp mắt.

        Khi đại đội bốn báo tin đã chuyển đến được chừng một trăm quả rồi, thì Gác-cút-sa đứng lên. Anh phủi các vỏ hạt quỳ trên đẩu gối.

        — Thế nào đây? Ta đi chứ, khi trăng còn chưa lên. Ai sẽ chỉ cho chúng tôi?

        Tay bíu vào các bụi cây, các cỏ gai khô, chúng tôi đi đến tận tiền duyên. Chiến hào rời ra thành từng đoạn một, dài hai ba thước, vừa vặn nẳm ở giữa lưng chừng sườn đồi.

        Chẳng biết thằng ngốc nào lại làm như thể? Sao lại không bố trí nó cao hơn và lùi lại sau chừng hai mươi thước. Bắn tốt hơn, mà giao thông cũng tốt hơn, vả lại bọn Đức khó lòng xông lên đến đấy được. Còn các chiến sĩ thì cứ đào. Trong bóng tối không nom rõ, nhưng nghe tiếng xẻng kêu lẻng kẻng.

        — Các-nau-khốp, anh đào cái quỳ gì ở đây, hở? Ở đây, có khác nào trong lòng bàn tay đâu...

        Tôi bấ giác bực mình. Cái đó thường xảy ra khi ta cảm thầy không chỉ những người khác, mà chính bản thân có lỗi. Thậm chí tôi quên bẵng rằng ở đây chỉ có thế nói thầm mà thôi.

        Các-nau-khốp không trả lời gì cả. Sau đó mới biết việc đào hào là do sáng kiến của trung đội trưởng Xen-đê-xki — «Các chiến sĩ lạnh, nên tôi cho đào để ấm hơn».

        Tôi ra lệnh ngay lập tức chuyển người lên cao hơn. Cứ để người ta đào ở trên ấy. Cũng thế thôi, những chiến hào ấy chẳng có giá trị gì. Còn ở đây để lại hai ba chiến sĩ làm cảnh giới.

        Các chiến sĩ vừa kêu ca, vừa chửi tục khe khẽ và bò lên cao, kéo theo sau xẻng, ba-lô và áo ca-pốt.

        — Chà, đồ hủ trưởng...

        Câu đó là để nói về tôi. Nhưng tôi làm như không nghe. Cũng may là không có trăng. Nếu có thì với cái lối đào như thế, một nửa quân số đã đi đời rồi...

        Chúng tôi đi xuống thấp hơn. Sườn dốc và cứng, đất sét đã bắt đầu đóng băng trên mặt và luôn luôn rời ra dưới chân. Các chiến sĩ công binh vác trên vai mỗi người chừng hai mươi quả mìn trong bao tải. Thỉnh thoảng khẩu súng máy thường trực của Đức — chính là khẩu đặt ở phía trên mương xói — bắn vang lên tặc tặc. Nhưng đạn bay cao, vút lên bên trên đầu. Loại đạn nổ.

        Chúng tôi lội trong bùn. Có lẽ là con suối — đã lâu không có mưa. Dưới chân kêu óc ách. Một chiếc pháo sáng bay lên.

        Chúng tôi nằm sấp; mặt, tay, bụng nhúng vào nước bùn sền sệt và giá lạnh. Từ dưới khuỷu tay, mắt tôi liếc nhìn và theo dõi ngôi sao chói lòa ấy đang rung động và từ từ bay trong bầu trời đen nghịt.

        — Thế nào, sẽ làm ở đâu?

        Ngả vai đè nặng lên người tôi, trung sĩ thở ngay vào tai tôi. Sau ánh sáng chói lòa ấy, không còn thấy gì nữa. Thậm chí mặt cũng không thấy. Chỉ có hơi thở ấm áp và thơm phức mùi hạt quỳ rang.

        — Hễ pháo sáng bùng lên, thì cậu hãy nhìn bên trái... — Giọng tôi hơi run run vì bị căng thẳng quá. — Cậu sẽ thấy cái thùng sắt. Hãy bắt đẩu từ đó... Và về bên phải chừng năm mươi thước... Làm ba hàng... Xen kẽ nhau... Như đã bàn rồi.

        Những lời ấy được buông ra rất khó khăn, và hình như mỗi lời phải rán sức mà nói.

        Gác-cút-sa không đáp gì cả. Anh bò đi chỗ khác. Tôi không thấy, mà chỉ nghe anh bò thôi. Mệt phút sau, tôi lại cảm thấy trên mặt mình hơi thở của anh.

        — Đổng chí trung úy,..

        — Cái gì?

        — Tôi sẽ đặt cao hơn một tí. Không thì nước sẽ đông lại, thì...

        Lại pháo sáng. Gác-cút-sa lại ngả người đè lên tôi. Tôi áp mặt xuống đất. Cố không thở. Mồm, mũi, tai đều đầy nước và bùn. Pháo sáng phụt tắt. Tôi ngẩng đầu nói:

        — Được.

        Tôi đã yên tâm về việc làm bãi mìn.

        Tôi lấy tay áo lau mặt.

        Việc công binh dù sao cũng chó má thật. Tối, bùn, ở cách bọn Đức ba mươi thước, còn quân ta thì ở đâu đấy đằng kia, ở phía trên... Và mỗi quả mìn thì phải đào hố, đặt ngòi nổ vào — một loại ống có lò-xo, kim hỏa nhọn như đinh và hạt nổ — kiểm tra, đặt vào hố, lấp đất lại và ngụy trang. Và luôn luôn phải lắng tai nghe xem bọn Đức có bò đến không, và phải lội trong bùn, và phải nằm yên không nhúc nhích mỗi khi có pháo sáng.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2019, 06:56:20 AM

        Nghe rõ tiếng các chiến sĩ thận trọng đổ mìn từ bao tải ra. Theo tôi, trong một giờ họ có thể làm xong được. Còn tôi, bây giờ trí nhớ đang tốt, thì phải bắt tay vào việc làm báo cáo và các phiếu kê về bãi mìn. Đêm nào tôi cũng sẽ phải làm những giấy tờ quỷ quái đó cả. Làm ba bản, và còn phải vẽ sơ đồ có các góc phương vị và các tọa độ, mà hơn nữa, chằng có bản mẫu in sẵn: mọi việc đều phải tự tay viết lấy.

        Tôi đi lên đồi. Hai ba lần xuýt ngã. Tối như hũ đút. Bụi cây gai nhọn gì đấy quào rách cả hai tay.

        Các chiến sĩ lặng thinh đào. Chỉ nghe tiếng xẻng nện vào đất. Ai đấy, ở sát ngay cạnh tôi — trong bóng tối không thầy gì cả — đang nguyền rủa đất rắn như đá, với giọng khản đặc, thì thầm, giống như chửi con ngựa trở chứng.

        — Đáng lẽ người ta cho cả tiểu đoàn một đôi cuốc chim thì mới được chứ. Còn xẻng thế này thì nước mẹ gì! Chỉ có thể xắn bo. được mà thôi.

        Cuốc chim... Cuốc chim... Nhưng mà lấy đâu ra được! Dù có phải đổi với bất cứ giá nào, tôi cũng sẵn sàng đổi, miễn là có được khoảng hai mươi cái cuốc chim! Hình như trong đời, tôi chưa bao giờ khao khát cái gì mãnh liệt như hiện đang ước ao những cuốc chim. Mà ở ga Mô-rô-dốp-xcai-a, thì nằm ối ra đấy. Từng đống cao. Và chẳng ai buồn nhìn chúng nữa. Ai cũng chỉ tìm rượu trắng và bơ.

        Thế này thì suốt tháng cũng không đào xong được.

        Hơn mười hai giờ khuya, trăng lên. Trăng chênh chếch, màu da cam, hiện lên từ đâu đấy phía sông Vôn-ga. Trăng nhìn trong mương xói. Nửa giờ nữa thì ở đấy không làm được rồi. Mà cả thảy có bốn chiến sĩ và một trăm quả mìn...

        Còn trăng cứ bò, bò mãi, trở nên vàng, rồi trắng. Nó thì mặc kệ tất cả! Theo tôi, hình như hôm nay thậm chí nó lên nhanh hơn mọi ngày, như là vội vã đi đâu đầy, hoặc cố đi nhanh đề bù lại khi lên muộn. Và thật như trêu tức chúng tôi, phía quân Đức nằm trong bóng tối, còn của ta thì mỗi lúc một sáng hơn, sáng hơn nữa. Những vệt bóng tối cuối cùng còn lại chậm rãi, miễn cưỡng rút lui, bò xuống thấp, lần lượt xa rời từng bụi cây và bám sát dưới đáy mương xói.

        Có người nào đấy tìm tôi. Một giọng rất trẻ, hầu như trẻ con, và ngắt quãng. Hình như là liên lạc viên của Các-nau-khốp.

        — Các anh có thấy trung úy, tiểu đoàn trưởng không?

        — Ai nhỉ? Có phải là người đeo ống nhòm không? — một giọng của ai đấy từ dưới thấp, chắc là từ chiến hào, đáp lại.

        — Không. Không đeo ống nhòm. Tiểu đoàn trưởng cơ. Chỉ huy trưởng tiểu đoàn cơ. Đội mũ ca-lô xanh ấy mà.

        — À-à. Đội mũ ca-lô xanh... Thế thì phải nói rõ từ đầu là đội mũ ca-lô. Cứ nói tiểu đoàn trưởng... Làm sao mà có thể nhớ được tất cả những thù trưởng trong một ngày được...

        — Thế thì tiểu đoàn trưởng đâu?

        — Tớ không thấy, — vẫn giọng nói ấy hiền lành đáp. — Không có ở đây, thật đấy, tớ không thấy.

        — Chà, đồ ngốc.

        — Có lẽ là Phê-xen-cô thấy... Phê-xen-cô, này Phê-xen-cô...

        Tôi đi về phía những giọng nói. Phê-xen-cô từ chiến hào khác cũng trả lời hiền lành và chậm rãi: «... có một thù trưởng nào đã ở đây, đã quát đại đội trưởng nữa kia, rằng chúng ta đào không đúng cách, nhưng đã đi đâu rồi, đi đâu thì trời mà biết được...»

        — Ai tìm tôi đấy?

        — Đồng chí trung úy, đồng chí đấy à? — một hình thù bé nhỏ và mảnh khảnh đứng nghiêm trước mặt tôi.

        — Tôi đây... Và cậu hãy nằm xuống, đừng đứng thế.

        Cậu ngồi xổm.

        — Việc gì thế?

        — Từ sở chỉ huy gọi điện cho đồng chí, bảo rằng đồng chí phải đến đầy ngay lập tức.

        — Tôi? Ngay lập tức? Ai gọi điện thế?

        — Tôi không biết... Đại tá nào đấy thi phải.

        Đại tá nào, ở đâu mà đến đây? Tôi chẳng hiểu cái gì cả.

        — Và nổi rằng phải đến ngay lập tức, sau ba phút.

        Tôi chưa đi đến hầm nhà của Các-nau-khốp thi đã gặp Va- lê-ga. Chạy hộc tốc. Thở hồng hộc.

        — Đại tá chờ đổng chí. Sư đoàn trưởng thì phải... Đeo huân chương... Và có những người nào đấy đi theo. Khác-la-mốp, thiếu úy, nhầm cái gì ở đấy. Và đại tá quát cho.

        Trời ơi, suốt đời lại vẫn cái anh chàng Khác-la-mốp đáng nguyền rùa ấy! Như là của nợ bám trên lưng tôi. Thế mà cũng gọi là sĩ quan tùy tùng, tham mưu trưởng cơ đấy... Anh ta thì chỉ làm ở nhà bếp được thôi, chứ không phải ở sở chỉ huy.

        Bọn Đức bỗng nhiên bắn ầm ĩ, và chúng tôi phải nằm xuống, gục mặt vào đất có đến mười lăm phút.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2019, 06:57:13 AM

7

        Đại tá, tầm thước không cao, gầy như một cậu bé, má lõm như là cố ý thóp vào, có những vết nhăn thẳng đứng giữa hai lông mày, đang ngồi chống tay ở cằm. Áo ca-pổt có cúc vàng chói không cài. Bên cạnh là thiểu tá của chúng tôi. Giữa hai đầu gối đặt một cái ba-toong. Và còn thêm hai ngươi nào đấy nữa.

        Khác-la-mồp đứng nghiêm, ưỡn thẳng người và tất cả các cúc đểu cài hết. Lẩn đầu tiên tôi thầy anh ta như thế. Anh nháy mắt.

        Tôi đưa tay lên chào. Báo cáo — tiểu đoàn đang đào chiến hào cố thủ và chúng tôi đang đặt mìn. Từ bộ mặt gầy hai con mắt to và đen nhìn tôi không chớp. Những ngón tay khô và mảnh gõ gõ nhè nhẹ trên mặt bàn.

        Mọi người lặng thinh.

        Tôi bỏ tay xuống.

        Chỗ đừng lời hơi kéo dài. Tôi nghe tiếng Va-lê-ga đang hổi hả thở sau lưng tôi.

        Hai con mắt đen bỗng díu lại, trờ thành nhỏ và đôi môi tái nhợt, rất mòng, hình như mỉm cười.

        — Cái gì lạ thế? Đánh lộn với ai? Hả?

        Tôi lặng thinh.

        — Đưa cho cậu ta cái gương soi. Để cậu ngắm.

        Có người nào đầy đưa cho tôi một mảnh gương dày đã bị tróc thủy ngân. Tôi hầu như không nhận ra tôi được nữa. Trừ mắt và răng, còn thì không thể hiểu cái gì nữa. Tay, áo bông, ủng: tất cả đểu bê bết, lằm lem bùn.

        — Thôi được, — đại tá cười, và tiếng cười của ông thật vui vẻ và trẻ trung. — Mọi việc đều có thể xảy ra cả... Có một bận, tôi mặc quần đùi đứng báo cáo với tư lệnh quân khu, may cũng chằng sao, thoát nạn. Trên đầu không mũ mà chào, bị phạt mười ngày đêm cơ đấy.

        Nụ cười biến mất, dường như có ai chùi nó khỏi mặt. Cặp mắt đen và to lại chằm chằm nhìn tôi. Cặp mắt thông minh, hơi mệt, với quầng mắt bên dưới hình tam giác.

        — Thế nào, tiểu đoàn trưởng, hãy kề đi, đã làm gì trong ngày đêm qua? Nếu trên tiền duyên tình hình cũng lung tung beng như trong bản báo cáo thì cậu liệu đấy.

        — Báo cáo đồng chí đại tá, làm được ít lắm.

        — Ít ? Vì sao? — mắt không nhấp nháy.

        — Người hơi ít, mà dụng cụ thì khan hiếm quá.

        — Cậu có bao nhiêu người?

        — Ba mươi sáu đội viên chiến đấu.

        — Còn những liên lạc viên, những kẻ ăn không ngồi rồi, và vân vân?

        — Tất cả gần bảy mươi.

        — Thề cậu có biết ở trung đoàn bốn mươi ba có bao nhiêu không? Mỗi đơn vị mười lăm, hai mươi người, và chẳng sao, cứ chiến đấu như thường.

        — Báo cáo đồng chí đại tá, tôi cũng chiến đấu.

        — Đồng chí đại tá, cậu ấy đã giữ được nhà máy «Vật phẩm kim loại» đấy, — thiếu tá nói chêm vào. — Đêm trước, chúng tôi chuyển cậu sang bên phải.

        — Bô-rô-đin, còn cậu đừng bênh vực. Bây giờ, cậu ta chẳng ở nhà máy «Vật phẩm kim loại», và bọn Đức không phải sẽ đuổi cậu ta từ nhà máy ấy đâu... — và quay lại tôi: — Chiến hào có chứ?

        — Báo cáo đống chí đại tá, đang đào.

        — Thế thì chỉ cho xem.

        Tôi không kịp trả lời. Ông đã đứng ở cửa, và bằng động tác nhanh chóng, mạnh mẽ, ông cài cúc áo.

        Tôi cố nói là ở ngoài ấy chúng bắn rát lắm và có lẽ ông không nên đến đấy.

        — Còn cậu đừng dạy tôi. Tự tôi biết rồi.

        Bô-rô-đin nặng nhọc chống gậy và cũng đứng lên.

        — Còn cậu không cần đi với chúng tôi. Cậu sẽ mất cái chân cuối cùng đầy. Thì tôi sẽ làm thế nào. Thôi ta đi, tiểu đoàn trưởng.

        Chúng tôi — tôi, Va-lê-ga và sĩ quan tùy tùng của sư đoàn trưởng (anh này còn trẻ và có bộ mặt tẹt, tròn vành vạnh) — vất vả lắm mới đi theo kịp ông. Chân bước ngắn, thoăn thoắt, hoàn toàn không phải cách đi của nhà binh, người hoi lắc lư, sư đoàn trưởng đi nhanh chóng, vững vàng, dường như đã đi ở đây nhiều lần rồi.

        Cạnh hầm nhà của Các-nau-khốp tôi dừng lại.

        — Sao đứng lại?

        — Sở chỉ huy đại đội đóng ở đây.

        — Thì cứ mặc nó ở đấy... Chiến hào đâu?

        — Còn đi nữa. Kia kia, sau những cái ống kia.

        — Dẫn đi.

        Bây giờ thấy rõ các chiến hào: cả của quân ta, cả của quân Đức. Trăng rất sáng.

        — Nằm xuống.

        Chúng tôi nằm xuống. Đại tá nằm bên cạnh. Tôi nói: trước đây chúng tôi đã ở đâu và giờ đây đang đào chiến hào ở đâu. Ông không nói gì cả. Hỏi súng máy ở đâu. Tôi chỉ. Súng cối ở đâu. Tôi chỉ. Ông lặng thinh, thỉnh thoảng cố nhịn, chỉ ho khe khẽ.

        — Thế cậu đặt mìn ở đâu?

        — Kia kìa, đằng ấy, bên trái, trong mương xói.

        — Hãy ngừng ngay. Cho người lui.

        Tôi không hiểu gì cả.

        — Cậu có nghe tôi nói gì không, hở? Cho người quay trở lại...

        Tôi phái Va-lê-ga đi xuống. Cứ để người ta đánh dấu sườn phải bằng cọc và quay trở lại. Va-lê-ga bò sát bụng xuống phía dưới thấp, cậu bò nhẹ nhàng không một tiếng động.

        Chúng tôi lặng thinh. Nghe rõ tiếng thở của các chiến sĩ đang đào đất. Ở đâu đấy phía sau đồi, khẩu «con lừa» — súng cối sáu nòng — kêu rống lên một cách khó chịu. Sáu viên đạn súng cối đỏ ngầu, có đuôi giống như sao chồi, chậm rãi lướt trên đầu chúng tôi và nổ ẩm ẩm đến đinh tai váng óc ở đâu đấy phía sau, trong khu vực nhà máy thịt. Thậm chí sóng nổ đến tận chỗ chúng tôi. Đại tá không ngóc đầu lên. Húng hắng ho.

        — Cậu có thầy những súng máy của nó không? Trên đồi.

        — Có thấy.

        — Cậu có thích chúng không?

        — Không.

        — Tôi cũng thế.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2019, 06:57:58 AM

        Lại dừng. Tôi không hiểu ông muốn hướng câu chuyện đến đâu.

        — Tiểu đoàn trưởng này, tôi rất không thích chúng. Hoàn toàn không thích.

        Tôi không trả lời gì. Tôi cũng không thích chúng. Nhưng tôi không có pháo binh. Thế thì lấy gì đề trị chúng được?

        — Thế đấy... Ngày mai cậu phải ở trên ấy.

        — Trên ấy là ở đâu?

        — Trên ấy, chỗ những súng máy kia. Rõ chứ?

        — Rõ, — tôi đáp, nhưng chính bản thân tôi hoàn toàn không rõ làm sao tôi có thể đến ở trên ấy được.

        Đại tá chống tay dưới đất, đứng dậy nhanh nhẹn và nhẹ nhàng như trẻ con.

        — Tá đi thôi.

        Cũng nhẹ nhàng, nhanh nhẹn như thế, ông trở về, qua những đống đồ nát mà không bám vào cái gì hết và không vấp ngã. Ở sở chỉ huy, ông hút một điếu thuốc thơm to. Theo tôi đó là thuốc «Nhãn hiệu chúng ta». Ông giở những trang sách của cuốn Mác- tin I-đơn nằm trên bàn. Nhìn cuối sách. Không hài lòng cau mày.

        — Đồ ngốc. Thật đấy, đồ ngốc.

        Và ngẩng nhìn tôi:

        — Của cậu?

        — Của đại đội trưởng đại đội bổn.

        — Cậu đọc rồi à?

        — Thưa đồng chí đại tả, không có thì giờ.

        — Cậu đọc xong, đưa tôi mượn. Trước đây đã đọc, bây giờ quên rồi. Chỉ nhờ là anh chàng ấy ngoan cường lắm. Chỉ có đoạn cuối là không thích thôi. Đoạn cuối dở. Thế nào, Bô-rô-đin?

        Bô-rô-đin bối rối cười, những môi dày và nặng nhếch lên.

        — Tôi không nhớ... Đồng chí đại tá, tôi đọc đã lâu rồi.

        — Nói dối. Cậu chẳng đọc. Tôi đọc xong, cậu sẽ mượn. Có lẽ đến Tết tôi sẽ đọc xong. Còn sau đó, tôi sẽ tổ chức thi đấy. Đúng theo điều lệnh. Chúng ta phải học nhiều điều ở cậu Mác- tin ấy. Ngoan cường, bền gan, quyết chí.

        Và đóng ập cuốn sách lại, ông đưa mắt nhìn tôi. Suy nghĩ điều gì, ông cau mặt làm những vết nhăn ở trên gốc mũi nổi lên.

        — Sẽ không có pháo binh bắn chuẩn bị đâu. Trời vừa nhá nhem tối, thì cậu phái trinh sát đi. Hình như các cậu chỗ anh cũng khá, — ông hơi quay đầu về phía thiếu tá.

        — Đồng chí đại tá, các cậu có tinh thần lắm.

        — Thế thì thế này. Phái trinh sát đi, khi trời vừa tối. Sau đó... Bao giờ trăng lên?

        — Hơn mười hai giờ.

        — Được, Khoảng mười giờ rưỡi chúng tôi cho mấy «bắp ngô» bay. Sui-cốp đã hứa với tôi, nếu cần. Đền mười một giờ, cậu sẽ bắt đầu tấn công. Rõ chứ.

        — Rõ. — Giọng nói của tôi không tin tưởng lắm.

        — Không được hô «u-ra». Không có một tiếng động nào.  Tất cả bò sát bụng. Như loài bò sát ấy mà. Chị có xuất kỳ bất ý thì cậu mới có thể chiếm được. Cậu có hiểu tôi không, hở? Có còn lính thủy không

        — Còn. Chừng mười người.

        — À, thế thì cậu sẽ chiếm được.

        Và đôi môi mỏng, tái nhợt của ông lại hình như mỉm cười.

        Tôi hoàn toàn không thể hiểu, với ba mươi sáu người, không, thậm chí không phải với ba mươi sáu, mà nhiều nhất là với hai mươi người thôi, tôi làm thế nào có thể tấn công lên cao điểm bảo vệ bởi ba khẩu súng máy chủ yếu, đó là chưa kể những khẩu phụ, và chắc là cao điểm đã cài mìn rồi. Và giả dụ là chiếm được rồi đi nữa, thì đó cũng chỉ mới làm được nửa việc mà thôi, còn phải giữ nữa chứ.

        Nhưng tôi không nói gì cả. Tôi đứng, hai tay buông thẳng và lặng thinh. Thà chết còn hơn...

        — Bô-rô-đin, cậu hãy lấy từ bờ sông cho thêm cậu ta mươi người nữa: ở đấy nào là thợ may, thợ giày và đủ loại trốn việc khác. Cứ đề cho họ quen. Còn sau đó, cậu sẽ lấy lại.

        Thiếu tá lặng thinh gật đầu và luôn mồm hút tẩu thuốc kêu xèo xèo. Đại tá ngửa bàn tay gõ nhẹ các đốt ngón tay trên mặt bàn. Ông nhìn chiếc đồng quá to trên tay mảnh khảnh và xương xấu. Hai giờ mười lăm... Ông đột ngột, mạnh mẽ đứng lên.

        — Nào, tiểu đoàn trưởng... — và chìa tay. — Hình như họ cậu là Kéc-gien-xép thì phải?

        — Kéc-gien-xép.

        Tay của ông ấm và khô.

        Và khi ra đến cửa, ông quay lại,

        — Còn cậu ấy mà... tên gì nhỉ.., cậu mà cuối cùng tự tử dưới nước... à, Mác-tin I-đơn... thì đừng cho ai mượn cả. Nếu cậu không tự mang đến, thì tôi cũng sẽ đến chỗ cậu trên đồi để lấy sách đấy.

        Thiếu tá đi ra sau ông. Nhè nhẹ vỗ vai tôi.

        — Sư đoàn trưởng của chúng ta rất khắc nghiệt. Nhưng tay đó thì thông minh lắm... — và tự mỉm cười vì cách nói không đạt lắm của mình. — Sáng mai cậu đến chỗ minh, ta sẽ nghĩ thêm.

*
     

        Các chiến sĩ công binh quay trở lại. Họ kéo vào một cái gì đấy cồng kềnh và nặng. Gác-cút-sa láu trán và thở mệt nhọc.

        — Bôi-át-giép bị thương, — anh nặng nề ngồi xuống giường. — Mằt quai hàm.

        Các chiến sĩ không nói không rằng, thở mệt nhọc và đặt thương binh ngồi vào giường đối diện. Anh ta nằm phịch trên giường, bủn rủn, hai tay rũ rượi rơi trên đầu gổi và đầu thì gục xuống. Đầu quấn bằng một cái gì đấy đỏ. Áo va-rơi đẫm máu.

        — Quay trở lui... Tôi thấy... Chúng nã súng cối. Côn-xốp bị giết— Thậm chí chúng tôi không tìm thấy dấu vết gì nữa. Còn cậu ta thì bị vào hàm.

        Anh thương binh rên ư ử. Trằn đầu. Ở cạnh chân anh, một vũng máu nhỏ và tròn. Ma-ru-xi-a cởi băng. Qua hai tay thấp thoáng của cô, trông rõ cái mũi, đôi mắt, hai má và cái trán có một mớ tóc đen rủ xuống. Còn bên dưới không thấy gì, chỉ có màu đen và màu đỏ. Hai tay anh yếu ớt bám vào đầu gối, vào váy. Và rên, rên mãi, rên hoài.

        — Trước đây là chiến sĩ cừ nhất đầy, — Gác-cút-sa mệt nhọc nói. Mũ ca-lô của anh rơi xuống, và cứ thế nằm trên sàn anh chẳng buồn nhặt. — Hôm nay, cậu đã đặt năm mươi quả đấy. Và không nói một lời nào.

        Và sau khi lặng thinh một tí, anh nói thêm:

        — Thế là đặt chỉ uổng công toi, hả?

        Tôi không trả lời gì.

        Người ta đưa thương binh đi.

        Các chiến sĩ công binh sau khi hút xong điếu thuốc cũng ra đi.

        Tôi thao thức mãi, không ngủ được.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2019, 11:19:54 AM

8

        Từ sáng, tất cả mọi cái, chằng hiểu vì sao, đều làm tôi bực mình. Tôi cảm thấy trong người không vui, bực bội. Một con bọ chó chui vào xà cạp và không thể nào đuổi nó ra được. Khác- la-mốp lại đánh mất bản báo cáo: anh đứng thừ người trước mặt tôi, chớp chớp cặp mắt đen láy và vung tay lên: «Tôi đã đề nó trong hòm rồi, thế mà bây giờ không có...» Và canh kê thổi chán ngấy, cứ một ngày ba bận: sáng, trưa, tối. Và thuốc lá ẩm, không hút được. Và không có báo từ Mát-xcơ-va đã ba ngày rồi. Và người nhận được từ bờ sông tất cả chỉ có tám, mà không khỏe mạnh.

        Tất cả đều làm tôi tức giận.

        Ở chỗ Pha-rơ-be có hai chiến sĩ bị chết vì đạn rơi ngay vào trong nhà hầm. Tôi đã nói với anh rồi: phải đậy nhà hầm lại bằng thanh đường ray, ở nhà máy «Vật phẩm kim loại» có hàng chồng thanh đường ray, thế mà anh ta cứ lần chần mãi, cho đến khi bị thiệt hại. Thậm chí tôi đã quát anh, và khi anh lặng thinh, quay lại và bước đi, thì tôi bắt quay lui và nhắc lại mệnh lệnh.

        Tôi phái Khác-la-mổp đi đến bờ sông để lấy các mẫu giấy in sẵn mà thực ra tôi chẳng cần để làm gì cả. Chỉ cốt đề anh ta không láng cháng trước mắt mà thôi.

        Tôi ngả người trên giường. Chang biết vì sao thấy nhức đầu. Chiến sĩ thông tin đọc cuốn sách dày cộm và nhàu nát ở trong góc.

        — Nào, đưa đèn đâyl Bây giờ không phải là lúc đọc sách. Tôi lấy cuốn sách của cậu ta. Thừ thách nặng nề ở Xê-bát- xtô-pôn1, tập III. Không đầu, không cuối. Chắc là đã xé để hút thuốc. Tôi giở hú họa.

        «...Thiệt hại trong các trung đoàn rất lớn, mà bổ sung, nếu có, thì không đáng kể, vì thế chính những tên gọi: trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, đã mất ý nghĩa quen thuộc của chúng. Ví dụ, trong một trung đoàn chiến đấu, như Vô-lưn-nhơ, đáng lẽ có bốn nghìn người thì chỉ còn lại không hơn một nghìn; trong tất cả các trung đoàn của sư đoàn mười một: Cam-trát- ca, Ô-khốt-xcơ, Xê-lin-ghin, Ia-cút-xcơ, cũng như trong các trung đoàn của sư đoàn mười sáu — Vla-đi-mia, Xu-dơ-đan, U-gơ-lít, Ca-dan — mỗi trung đoàn không nhiều hơn một nghìn rưởi...»

        Một nghìn rưởi. Một nghìn. Còn chúng tôi thì sao? Nếu trong tiểu đoàn của tôi chỉ có tám mươi người, mà trung đoàn có ba tiểu đoàn thì có hai trăm bốn mươi. Cộng với các chiến sĩ pháo binh, hóa chất, thông tin, trinh sát, chừng một trăm người nữa. Tất cả là ba trăm năm mươi. Thôi được, bốn trăm. Nhiều nhất là năm trăm. Mà sư đoàn trưởng nói là ở các trung đoàn khác còn ít hơn. Mà trong số đó có bao nhiêu người chiến đấu? Không hơn một phần ba. Nếu bọn Đức đã chán nện vào nhà máy «Tháng Mười Đỏ» thì sao? Nếu chúng lại xông vào chúng tôi? Cho xe tăng đánh vào Pha-rơ-be? Quả là ở đầy nền đường sắt có cản trở chúng thật. Nhưng chúng có thể dễ dàng đi qua dưới cầu, ở đẳng ấy, chỗ khẩu súng máy và đại bác của Pha-rơ-be. Lúc đó thì tôi sẽ làm gì? Mười sáu người ngồi trong các hố. Chẳng có mìn gì cả. Bô-rô-đin nói: ba ngày nữa sẽ có, người ta bốc dỡ chúng ở đâu đấy... Cử cho rằng đúng như thế đi nữa. Thì cũng còn phải mất hai hoặc thậm chí ba đêm nữa để đặt. Và trong năm ngày ấy thì cứ chờ đợi và cầu trời khấn phật để bọn Đức chịu ngoan ngoãn ngồi yên.

        Tôi giở tiếp.

        «Công việc của các hiệu cao lâu tấp nập, rộn ràng hơn cả, Những chủ hiệu xây một dãy quán khá rộng. Bây giờ khách của những quán đó là các sĩ quan, sau trận tấn công từ pháo đài đi vào thành phố đề vui chơi chút ít. Trong những quán mến khách, có căng-tin với nhiều loại rượu nho, rượu trắng, thức nhắm và một tá bàn con cho khách, và thậm chí cả cái bếp ẩn sau căng-tin, người ta đánh chén, ăn uống, nói đùa và vui vẻ cười vang...»

        Cái bếp ẩn sau căng-tin, Một tá bàn con cho khách,,.

        Tôi đặt cuốn sách xuống bên cạnh, Kéo áo ca-pốt trùm tai và cố thiếp đi,

        Chiến sĩ thông tin đang lúi húi, ỳ ạch trong góc, Chiếc đồng hồ nhỏ, màu xanh, với hai kim tự làm bằng ống bo. cắt ra, tích tắc kêu không đều, Va-lê-ga đã kiếm được nó ở đâu đấy,

        Giá bây giờ tôi được ăn thịt lợn rán tầm bột với khoai tây cắt lát mỏng giòn tan nhỉ! Lần cuối cùng hình như tôi ăn thịt lợn... tôi không nhớ bao giờ nữa, Ở Ki-ép thì phải? Hay ở đâu đấy, lúc tôi đã nhập ngũ rồi, Hay không phải, không phải thịt lợn, mà chỉ là thịt bò rán thôi,

        Tôi trằn trọc nằm trở mình, Ngọn đèn phun khói làm đau mắt,

        Mười giờ rưỡi, chiếc «bắp ngô» sẽ bay đến, Mười một giờ, tôi phải bắt đầu tấn công, Hơn mười hai giờ, trăng lên, Thế nghĩa là tôi sẽ có một giờ mười lăm phút nữa. Trong một giờ mười lăm phút ấy, tôi phải bò xuống mương xói, leo lên sườn đối diện, đánh đuổi bọn Đức ra khỏi đường hào và cố giữ. Mà nếu chiếc «bẳp ngô» đến muộn? Hay không phải một, mà hai hay ba chiếc? Tôi còn nhớ rõ là sư đoàn trưởng nói mấy «bắp ngô» chứ không phải một chiếc. Tôi thật là ngốc, không hỏi kỹ bao nhiêu chiếc. Chiếc đầu tiên ném bom xong, tôi cho xông vào, và lúc đó chiếc thứ hai bay đến. Còn tấn công thì phải bắt đầu ngay, khi chiếc đầu vừa ném xong và bọn Đức chưa kịp hoàn hồn. Phải gọi điện cho thiếu tá để ông ta hỏi rõ sư đoàn trưởng.

-----------------
        1. Tiểu thuyết của X.N.Xéc-gây-ép — Xen-xki (1875—1958), nhà văn xô-viết nổi tiếng. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2019, 11:21:18 AM

        Chà, đôi mắt của sư đoàn trưởng đen láy và sắc sảo làm sao! Đôi mắt ấy nhìn như xoáy vào người ta và thật khó nhìn chúng lâu.

        Nghe nói mùa hè, ở đâu đấy gần Cát-xtơ-nai-a, ông đã cầm súng trường xông lên hàng đầu, đưa cả sư đoàn thoát khỏi vòng vây,

        Ông lão dũng cảm thật!

        Còn khi đi ra tiền duyên thì rất bạo... Cả đạn, cả mìn đối với ông ta chằng có gì đáng sợ cả, Cái đó là gì — cố làm ra vẻ thế thôi để giáo dục thanh niên à? Nghe nói Na-pô-lê-ông cũng không sợ gì cả, Cầu Ác-côn1, quân y viện dịch hạch... Khi an táng ông ta, người ta tìm thấy trên mình mảy ông những vết sẹo mà trước đây không hề ai biết cả, Điều ấy, hình như, tôi đã đọc của Tac-le.

        Và nói chung, lòng dũng cảm là cái gì? Tôi không tin những người nói rằng họ không sợ các trận ném bom, Họ sợ, chỉ có điều họ biết giấu mà thôi. Còn những người khác thì không biết. Tôi nhớ lại Mác-xi-mốp21 một bận đã nói: «Không có người nào không biết sợ gì cả. Mọi người đều sợ, Chỉ có khác nhau ở chỗ một số thì mất trí vì khiếp sợ, còn một số khác, ngược lại, trong phút như thế đã động viên tất cả lực lượng trong mình và đầu óc hoạt động đặc biệt nhạy bén và chính xác. Đó chính là những người dũng cảm».

        Đấy, bản thân Mác-xi-mốp chính đã là người như thế. Đã... Bây giờ, chắc là anh không còn sống nữa rồi, Được gần anh trong phút khiếp sợ nhất cũng không thấy khiếp sợ, Anh chỉ hơi tái mặt, bặm môi và nói chậm rãi, như tuồng cân nhắc từng chữ một.

        Thậm chí trong khi bị ném bom, (ở ngoại vi Khác-cốp, khi trận tấn công hối tháng năm của chúng tôi bị thất bại, lần đầu tiên chúng tôi mới biết lời nói của anh có giá trị gì,) anh đã biết duy trì một bầu không khí bình tĩnh, thậm chí có phần nào hơi khôi hài nữa trong sở chỉ huy của mình. Anh nói đùa, cười, làm thơ, kể chuyện vui, Trước đây, anh là một con người rất tốt.

        Thế mà bây giờ anh không còn nữa. Và nhiều người khác cũng không còn nữa.

        I-go đâu rồi? Si-ria-ép đâu? Xê-đức đâu? Có lẽ là cũng không còn sống nữa...

        Họ đã từng sống, từng học, từng ước mơ về cái gì đấy, thì bỗng mọi cái đều bay mất: nhà cửa, gia đình, học viện, độ bền vật liệu, lịch sử kiến trúc, những đền Pác-tê-nôn31!

        Đền Pác-tê-nôn... tôi còn nhớ rất rõ, được xây dựng từ năm 454 đến năm 438 trước công nguyên. Một hàng cột khép kín: pê-ríp-te, 8 cột ở mặt tiền, 17 cột ở hai bên. Còn ở đến Tê-dê- ôn thì 6 và 13... Kiểu Đô-rích, I-ô-ních, Cô-rin-tơ. Tôi thích kiểu Đô-rích hơn cả. Nó nghiêm túc và gọn gàng hơn.

        Một thức kiến trúc gồm có bệ, cột và đầu tường. Cột gồm có thân cột, đường mu-luya và đầu cột. Không, tôi chưa quên. Còn đầu tường thì gồm có đế đầu tường, trụ ngạch và hiên bụng rắn. Hay là ngược lại, hiên bụng rắn và trụ ngạch. Còn những cái ở ngoài rìa gọi là gì nhỉ? Lộ... Lộ... quỷ thật, thế mà quên mất rồi. À... Lộ bàn.

        Còn ai xây dựng nhà thờ thánh Pi-e ở La-mã nhỉ? Người đầu tiên là Bơ-ra-măn-te. Tiếp theo, hình như là Xăn-ga-lô hay là Ra-pha-en. Sau đó, còn người nào đầy nữa, người nào đấy nữa, rồi đến Mi-ken-lăn-giơ. Ông này làm nóc tròn. Còn hàng cột? Béc-ni-ni làm thì phải.

        Sao những thứ vớ vẩn ấy cử ám ảnh mãi trong óc. Những cái đó thì cần cho ai. Tôi cần phải chiếm cho được cái đồi kia, mà sao cứ nghĩ về nóc tròn. Một quả bom rơi xuống, và đi đời nóc tròn...

        Phải làm gì với Pha-rơ-be, nếu cuối cùng tôi chiếm được đồi? Đơn vị tôi sẽ tách rời nhau. Đại đội bốn ở phía trước, còn đại đội năm ở phía sau. Chắc là người ta sẽ ra lệnh chiếm cầu. Mà cũng có thể là ra lệnh cho tiểu đoàn ba? Họ sẽ chiếm cầu và nối liền với chúng tôi ở trên đồi. Chà, thế thì tuyệt quá?

        Mà lạ thật... Cách đây không lâu, tôi ngồi với Li-u-xi-a trên đồi này và nhìn dòng sông Vôn-ga, nhìn chiếc tàu lửa chở hàng chạy bên dưới. Và chúng tôi nói chuyện cả về súng máy, Có lẽ vừa vặn đúng từ chỗ ấy mà bây giờ khấu súng máy đang bắn vào chúng tôi,

        Lúc đó, Li-u-xi-a hỏi tôi có thích Blốc không, Cô gái buồn cười thật, Đáng lẽ phải hỏi: trước đây tôi có thích Blốc không. Vâng, trước đây tôi thích Blốc. Còn bây giờ thì tôi thích yên tĩnh. Tôi thích yên tĩnh hơn cả. Tôi mong sao khi tôi ngủ, không ai gọi tôi dậy, không ai ra lệnh cho tôi,,.

        Có người nào đấy kéo áo ca-pốt tôi,

        — Đồng chí trung úy... Đồng chí trung úy... Có người ở ban chính trị đến, hỏi đồng chí.

        Từ dưới vạt áo, tôi nhìn ra, Có hai người mặc áo bông đeo túi dết đầy căng giấy tờ. Chắc là cán bộ kiểm tra hay là phái viên của sở chỉ huy đến xem xét cuộc tấn công ban đêm.

        Phải dậy.

        Kim đồng hồ chỉ hai giờ. Còn chín giờ nữa.

-----------------------
        1. Ở Ý, nơi Na-pô-lê-ông dẫn đầu đoàn quân đánh quân Áo năm 1796, — ND,

        2. E,V,Tác-le (1875—1955) — nhà sử học xô-viết, viện sĩ đã được Giải thưởng Quốc gia, Tác giả nhiều sách về lịch sừ Pháp, lịch sử quan hệ quốc tế, về chính sách đối ngoại của Nga, V, v... — ND.

        3. Công trình kiến trúc nổi tiếng ở A-ten, Hy-lạp. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2019, 11:22:21 AM

9

        Các chiến sĩ trinh sát đến khi trời còn sáng, Áo sọc xanh, áo bờ-lu-dông lính thủy, mũ không lưỡi trai — đủ tất cả những thứ cần thiết, Trên lưng, những khẩu tiểu liên của Đức và những băng đạn dựng lên.

        Tru-mắc chào: chúng tôi đến và thuộc quyền sử dụng của đồng chí. Đôi mắt sáng lên từ dưới mái tóc phù trên trán. Từ dạo va chạm nhau, chúng tôi chưa. gặp lại nhau, vì cậu được điều về bờ sông,

        Cậu chuyện của chúng tôi hoàn toàn có tính chất công việc: nhiệm vụ, thời hạn, điểm đi đến. Tất cả những điều đó, dù không có tôi, cậu cũng biết rối, nhưng chúng tôi vẫn nói, chỉ vì cần phải nói về những điều đó. Và nói chung, tôi chẳng có điều gì khác để nói với cậu. Cậu chẳng mảy may giấu giếm điều ấy. Giọng nói lạnh lùng, khô khan và lãnh đạm. Mắt cậu khi gặp mắt tôi thì có vẻ chán ngán và hơi chế nhạo. Trinh sát viên của cậu có ba người cũng như cậu, mái tóc lòa xòa phù xuống trán, áo chằng cài cúc, tay bỏ túi. Họ đứng bên cạnh, nhìn chúng tôi, mồm ngậm mẩu tàn thuốc.

        — Anh có lấy áo ngụy trang không?

        — Không.

        — Vì sao? Chúng tôi vừa vặn có bốn cái.

        — Chẳng cần.

        — Cần rượu trắng không?

        — Chúng tôi uổng của chúng tôi. Không thích của người khác.

        — Ừ, thì tùy các anh.

        — Anh có thể uống chúc sức khỏe của chúng tôi.

        — Cảm ơn.

        — Không đám.

        Rồi họ đi đến chỗ Các-nau-khốp. Khi tôi đến đấy, thì không còn họ ở đấy nữa rồi.

        Dưới hầm nhà chật chội lắm. Hai người được ban chính trị cử đến. Một người từ sở chỉ huy sư đoàn đến. Trưởng ban thông tin của trung đoàn. Đấy là những người quan sát. Tôi hiểu rằng sự có mặt của họ là cần thiết, nhưng họ làm tôi bực mình. Mọi người đều hút thuốc liên miên, hầu như không ngừng. Trước nhiệm vụ quan trọng bao giờ cũng thế cả. Đại úy, phái viên sở chỉ huy sư đoàn đang thấm nước bọt vào bút chì và ghi chép cái gì đầy trong sổ tay.

        — Anh đã suy nghĩ kỹ về quá trình diễn biến trận đánh rồi chứ? — đại úy ngẩng đầu đưa mắt nhìn tôi và hỏi. Răng cửa của anh ở hàm trên dài và vầu lòi ra trên môi dưới.

        — Vâng, nghĩ kỹ rồi.

        — Bộ chỉ huy cho rằng trận đánh hôm nay có tầm quan trọng lớn đấy. Anh có biết điều đó không?

        — Biết.

        — Thế tình hình các sườn của anh thế nào?

        — Sườn nào?

        — Khi anh tiến lên phía trước, thì anh lấy gì che chờ cho các sườn?

        — Chẳng lấy gì che chở cả. Các tiểu đoàn bạn đóng cạnh sẽ yểm hộ cho tôi. Tôi không có đủ người. Chúng tôi làm liều.

        — Thế là không tốt.

        — Tất nhiên, không tốt.

        Anh lại ghi cái gì đấy trong sổ tay.

        — Thế anh có bao nhiêu người dự trữ?

        — Tôi chằng có dự trữ, mà chỉ một nhúm người nhỏ. Sẽ có mười bốn người.

        — Mười bốn?

        — Vâng. Mười bốn. Còn mười bốn ở tại chỗ. Tất cả hai mươi tám người.

        — Giá ở địa vị anh thì tôi sẽ không làm thế...

        Đại úy nhìn vào cuốn sổ tay của mình.

        Tôi không rời mắt khỏi những cái răng vẩu của anh. Chằng biết những cái răng ấy có bao giờ được ẩn kín dưới môi không, hay là suốt đời cử lòi ra như thế mãi.

        Tôi chậm rãi lấy hộp thuốc lá từ trong túi ra.

        — Đấy, khi nào anh ở địa vị tôi, anh sẽ hành động theo ý anh; còn bây giờ thì xin anh cứ để tôi hành động theo sự suy xét của tôi.

        Anh ta bặm môi lại, trong mức độ mà những cái răng cửa cho phép anh làm việc đó. Những người ở ban chính trị cúi đầu, cặm cụi viết cái gì đấy vào trong sổ. Họ tốt, hiểu rằng bây giờ không phải lúc đặt ra những câu hồi, và họ lặng thinh làm việc của mình.

        Không ai nói gì thêm nữa.

        Thời gian trôi qua chậm chạp đến khó chịu. Sở chỉ huy luôn luôn gọi điện hỏi trinh sát viên đã về chưa. Đại úy lại chuyển sang Các-nau-khốp. Anh này thì bình tĩnh, thỉnh thoảng mỉm cười, đưa mắt nhìn tôi và trả lời tỉ mỉ tất cả câu hỏi: các chiến sĩ được vũ trang những gì, họ có bao nhiêu lựu đạn và mỗi người có bao nhiêu viên đạn. Anh ta có một tính kiên nhẫn đến lạ lùng. Còn đại úy thì ghi chép tất cả.

        Có lẽ tôi sắp yêu cầu tất cả những người ấy đi ra khỏi chỗ này. Họ có thể ngồi ở sở chỉ huy tiểu đoàn cũng được. Ở đây, họ hoàn toàn chẳng có việc gì cả. Họ đã biết được cái gì cần biết rồi, đã kiểm tra rồi, còn về quá trình diễn biến trận đánh thì họ có thể từ đấy theo dõi cũng được.

        Kim đồng hồ chỉ chỉn giờ mười lăm. Tôi bắt đầu phát cáu. Trinh sát viên đáng lẽ đã về rồi, nhưng giờ vẫn chưa thấy. Một chiến sĩ từ tiền duyên đến, nói rằng họ đã bò đi từ lâu rồi và bây giờ vẫn không nghe gì cả. Bọn Đức bắn pháo sáng và bắn súng như thường lệ. Không có gì chứng tò là chúng đã thấy hoặc bắt được trinh sát viên.

        Tôi đi ra bên ngoài.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2019, 11:22:52 AM

        Đêm tối đen như mực. Ở đâu đấy xa xa, sau nhà máy «Tháng Mười Đỏ» có cái gì cháy. Hình thù của những khung mái nhà cong queo nổi rõ lên những vết đen mỏng manh như vẽ bằng bút lông. Từ bờ bên kia, khẩu đại bác đơn độc bắn đì đùng: bắn rồi im, bắn rồi im, như để lắng nghe. Những khẩu súng máy thỉnh thoảng nã một tràng. Những pháo sáng bay vút lên cao.  Hôm nay chẳng biết vì sao chúng vàng. Chắc là bọn Đức đã hết loại trắng rồi. Phảng phất mùi gỗ cháy và dầu lửa. Bên cạnh chúng tôi là đoàn tàu chở nhiên liệu, ban ngày từ đây trông thấy nó rất rõ. Những tia dầu lửa từ các lỗ đạn bắn thùng ở toa xe cứ phun ra suốt ngày, suốt đêm. Các chiến sĩ đêm nào cũng đến đấy đề rót dầu cho đèn.

        Theo thói quen cũ mà tôi có từ bé, tôi tìm những chòm sao quen thuộc trên bầu trời. Chòm sao Cái cày có bốn ngôi sao sáng và một dải ba ngôi nữa nhỏ hơn. Và còn một ngôi nữa, rất nhỏ hầu như không thấy được. Trong số đó một ngôi tên là Bê-ten-gây- de, nhưng ngôi nào thì tôi quên rồi. Còn chòm sao An-đê-ba-ran ở chỗ nào đây, tôi không còn nhớ nữa.

        Có ai đấy đặt tay lên vai tôi. Tôi giật mình.

        — Nghĩ gì thế, đồng chí tiểu đoàn trưởng?

        Trong bóng tối khó khăn lắm tôi mới nhận ra bộ mặt to của Các-nau-khốp.

        — Đứng thế thôi... Chằng nghĩ gì cả. Nhìn sao.

        Anh không nổi gì thêm. Chúng tôi đứng nhìn những ngôi sao lấp lánh. Những ý nghĩ nằm sâu ở đâu đấy trong tiềm thức bỗng hiện ra; những ý nghĩ về sự vô tận, về vũ trụ, về những thế giới nào đấy đã tồn tại và đã diệt vong, nhưng đến bây giờ từ không gian đen ngòm, mênh mông, không bờ không bến vẫn còn lấp lánh với chúng ta. Những ngôi sao tắt đi, sáng lên. Còn chúng ta thì chẳng biết gì hết cả. Và không người nào, không bao giờ biết được rằng trong đêm tháng mười tối như bưng này có

        một ngôi sao từng sống hàng triệu năm, nay đã chết, hay là có một ngôi sao vừa mới ra đời, mà cũng hàng triệu năm sau người » ta mới biết.   

        — Ở Xi-bê-ri, bây giờ đã có tuyết rồi, — Các-nau-khốp nói.

        — Chắc thế, — tôi đáp lại.

        — Và băng giá nữa.

        — Và người ta bán sữa đông lại như nước đá. Bán từng cục. Có phải không?

        — Còn ở Vơ-la-đi-vốc-xtốc, người ta còn tắm biển.

        — Nghe nói biển ở đấy lạnh.

        — Lạnh. Nhưng vẫn tắm cơ đấy.

        Ở đâu đấy rất xa, phía sau sông Vôn-ga, nghe tiếng máy bay «bắp ngô» kêu rè rè khe khẽ, phải chú ý lắm mới nhận ra được. Chiếc dành cho chúng tôi chăng? Còn trinh sát viên mãi vẫn chưa thấy về. Chúng tôi lẳng nghe tiếng máy bay đang đến gần. Nó bay ở đâu đấy bên phải. Đến gần, rồi bay xa. Không phải của chúng tôi. Những tiếng nổ trầm trầm xa xôi trên nhà máy Máy kéo. Những ngọn đèn chiếu của Đức hốt hoảng quét qua quét lại trên bầu trời. Chúng rộng ra, hẹp lại, tắt ngấm và lại bật lên.

        Còn chúng tôi đứng nhìn những ngọn đèn chiếu, những tràng súng cao xạ Đức màu đỏ, vàng, xanh ngoằn ngoèo trong không trung và những chiếc pháo sáng từ từ tắt ở trong mương xói. Và chúng tôi đã quá quen thuộc với cảnh tượng đó đến nỗi giá bỗng nhiên nó ngừng hẳn thì chúng tôi sẽ thấy áy náy thế nào ấy, hình như thiếu cái gì.

        — The nào, chúng ta sẽ chiếm đồi chứ, đồng chí tiểu đoàn trưởng? — Các-nau-khốp hỏi rất khẽ.

        — Nhất định sẽ chiếm được, — tôi đáp.

        — Và tôi cũng cho rằng chúng ta nhất định sẽ chiếm được, —  anh nổi và lấy tay ấn nhẹ vào vai tôi.

        — Anh tên gì? — tôi hồi.

        — Ni-cô-lai.

        — Còn tôi là I-u-ri.

        — I-u-ri. Anh tôi cũng tên I-u-ri, làm thủy thủ.

        — Còn sống chứ?

        — Tôi chẳng biết. Trước đây ở Xê-bát-xtô-pôn. Ở tàu ngầm.

        — Chắc là còn sổng, — chẳng hiểu vì sao tôi nói thế.

        — Chắc thế, — Các-nau-khốp trả lời hơi chậm một tí. Và chúng tôi không nói gì thêm nữa.

        Từ trên trời cao, một ngôi sao rơi xuống. Thời xưa, người ta bảo đó là một linh hồn đã sang thế giới khác. Chúng tôi đi xuống dưới hầm. Khói thuốc lá bay nghi ngút từng đám đến nỗi khó nhận ra được mặt người. Những người ở ban chính trị ngồi xổm, ăn đổ hộp. Trưởng ban thông tin ngồi dựa vào vách, nghiêng đầu ngủ. Đại úy ngồi sát cạnh cây đèn, đọc báo. Thầy chúng tôi, anh ngầng đầu lên.

        — Mười giờ kém mười lăm.

        — Mười giờ kém mười lăm...

        — Mà trinh sát viên vẫn chưa về?

        — Chưa về.

        — Cái đó thì xấu.

        — Có thế.

        Tôi lấy kim băng khêu bấc đèn. Cây đèn hầu như không cháy được, vì thièu không khí.

        — Tôi yêu cầu mọi người không tham gia trực tiếp trận đánh, đi sang chỗ sở chỉ huy tiểu đoàn.

        Đôi mắt của đại úy bỗng trở nên tròn xoe. Anh đặt tờ báo xuống.

        — Vì sao?

        — Vì...

        — Tôi yêu cầu anh đừng quên là anh đang nói chuyện với người cấp cao hơn.

        — Tôi không quên, tôi yêu cầu anh đi ra khỏi chỗ này. Chỉ có thế thôi.

        — Tôi làm phiền anh?

        — Vâng. Làm phiền.

        — Làm phiền thế nào?

        — Vì sự có mặt của các anh. Vì thuốc lá. Đấy, anh thấy không, ở đây như thế nào rồi? Chẳng còn không khí mà thở nữa.

        Tôi cảm thầy tôi bắt đầu nói bậy.

        — Chỗ của tôi ở đài quan sát tiểu đoàn. Tôi có nhiệm vụ theo dõi công việc của anh.

        — Thế tức là anh định luôn luôn ở bên cạnh tôi à?

        — Vâng, Định thế,

        — Và anh sẽ cùng tôi tấn công lên đồi chứ?

        Đại úy chằm chằm nhìn tôi không chớp mắt trong một lúc. Rồi đứng dậy một cách cốt đề tỏ vẻ bực mình, cần thận gấp tờ báo lại, đút vào xắc-cốt. Và quay lại phía tôi, anh chậm rãi nói, dằn từng tiếng một:

        — Thôi được. Chúng ta sẽ nói chuyện với nhau ở chỗ khác,

        Và đi ra khỏi chiến hào. Trên đường đi, túi dết bị móc vào cái đinh và hồi lâu anh không gỡ ra được. Những người ở ban chính trị cười xòa. Họ ăn nốt đồ hộp, Tôi chẳng có gì phản đối việc họ ở lại đây, Nhưng tôi không thể đuổi chỉ một mình đại úy mà thôi. Họ cười một cách thông cảm và chúc thắng lợi, rồi đi ra.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2019, 11:23:27 AM

        Dưới hầm nhà, lập tức trở nên thoải mái hơn. Có thế duỗi chân được và không phải ngồi xổm mãi nữa.

        Tôi không hiểu vì sao tôi nói với đại úy là tôi sẽ đi lên đồi. Trước đó, tôi không định tự mình tham gia cuộc tấn công. Ngay từ buổi sáng khi nói chuyện với thiếu tá, chúng tôi đã bàn đến điều đó. Õng đưa cho tôi xem bài xã luận trong báo Sao đỏ nhan đề Vị trícủa ngươi chỉ huy trương trong trận chiến đầu. Trong bài đó phê phán những cán bộ chỉ huy tự thân hành dẫn đơn vị tấn công. Người chỉ huy trưởng có nhiệm vụ phải trông thấy tẳt cả và lãnh đạo. Đi ở hàng đầu, anh ta sẽ không thấy gì hết cả. Điều đó có lẽ là đúng.

        Nhưng giờ đây, trong câu chuyện với đại úy, câu nói đó về việc tôi sẽ đi tấn công lên đồi tuột ra khỏi mồm tôi. Tuy nhiên, ai biết được ban đêm ở cách xa mà lãnh đạo trận đánh thế nào.  Thông tin, liên lạc có thể bị đứt bất cứ lúc nào. Và cứ ngồi đấy như chuột chũi ở trong hang: không mắt, không tai.

        Hai chiếc kim đồng hồ gặp nhau và đứng lại gần con số mười.

        Từ sở chỉ huy lại gọi điện hỏi trinh sát viên đã về chưa. Cô- rốp-cốp hỏi, anh ta là trung đoàn phó phụ trách hậu cần, trực nhật tác chiến. Khi nào anh trực nhật thì chẳng bao giờ được yên cả. «Anh hãy báo cáo cho biết tinh hình đi, có đủ các loại hạtkhông, có cần dưa chuột không ?» Hạt là đạn, (hạt quỳ là đạn súng trường, hạt bí là đạn tiểu liên), còn dưa chuột là đạn súng cối...

        Đầu Tru-mắc hiện ra trong chiến hào, vừa đúng lúc tôi trao lại ống nghe cho chiến sĩ thông tin. Sau Tru-mẳc là những trinh sát viên khác. Họ thở hồng hộc, lấm lem bùn bẩn và mặt mày ướt đẫm mồ hôi. Lập tức trong hầm đầy người.

        Tôi không hỏi gì cả. Tôi đợi.

        Tru-mắc lặng thinh, có vẻ nghênh ngang, đi đến gần bàn, ngồi lên hòm, ừng ực uống nước ở chiếc cà-mèn từng ngụm to.

        . Khoan thai lau môi, trán và cổ. Móc túi lấy vài bao thuốc lá Đức trong những hộp xanh. Rồi vứt lên bàn.

        — Anh hút đi.

        Cậu đút một điếu thuốc có đầu ngậm vàng chói vào cái bót thuốc lá trong suốt, bằng nhựa plê-xi.

        — Anh có thể bắt đầu được rồi đấy. Đường thông rồi, — và gật đầu với các trinh sát viên của mình, cậu nói: — Các cậu đi nghỉ đi. Đến sáng mai tớ chẳng động đến đâu.

        Tôi hỏi:

        — Có mìn không?

        — Chỉ ở một chỗ thôi. Đối diện khẩu đại bác có nòng súng cong queo. Cao hơn một tí.

        — Nhiều không?

        — Không đếm. Chúng tôi gỡ chừng năm quả. Có ria. Chắc là loại chống bộ binh, loại mìn bi.

        Trong tay cậu cầm ngòi nổ bằng đồng sáng loáng của mìn có ba sợi dây thép dựng lên ở bên trên. Các chiến sĩ công binh gọi những sợi dây đó là ria. Thân mìn chôn trong đất và chỉ có ria còn lại trên mặt đất. Giẫm phải thì kim hỏa đập vào ngòi nổ, ngòi nổ bật lửa cháy thuốc súng, thuốc súng làm cháy lượng thuốc nổ để bật min ra ngoài, mìn nhảy ra khỏi đất và bùng nổ trong không, bắn tung những hòn bi khắp tứ phía. Loại mìn chết tiệt!

        — Cứ thế các anh đừng đi về bên trái khẩu đại bác. Còn bên phải, chúng tôi đã sờ chừng hai trăm thước, chẳng có gì cả.

        — Bọn Đức có nhiều không?

        — Bố ai mà biết được... Hình như chẳng nhiều lắm... Chúng ngồi trong công sự. Quay máy hát. Bài Ca-chi-u-sa của ta...

        Tru-mẳc lục túi tìm cái gì đấy.

        — Anh có làm thơ không?

        Con mắt đen có rìa vàng, từ dưới mớ tóc phù lòa xòa, nhìn tôi có ý giễu cợt.

        — Không. Thì sao?

        — Muốn biếu cây bút máy. Bút tốt. Và mực đặc biệt, trong lọ.

        — Không. Tôi không làm thơ.

        — Tiếc thật. Thế mà tôi nghĩ là anh làm thơ cơ đấy. Anh có cái vẻ như thế, vẻ thơ mộng.

        Và mân mê trong tay cây bút máy đẹp có vân hoa màu lục khổng tước, rồi đút vào túi.

        — Chúng tôi diệt một thẳng Đức ở đấy. Nó ngồi cảnh giới.

        Tôi gọi điện cho sở chỉ huy. Báo tin các chiến sĩ trinh sát đã trở về. Va-lê-ga đề nghị tôi uống rượu trắng. Tôi không thích lắm, nhưng cũng uống chừng một trăm gam. Tru-mắc mỉm cười mỉa mai.

        — Uống để lính vui hơn, hả?

        Tôi chẳng đáp gì cả. Tìm khẩu tiểu liên. Các-nau-khốp cũng sửa soạn. Tru-mẳc gặm cái bót thuốc lá.

        — Xa không?

        — Không. Không xa lắm.

        — Nếu đi lên đồi, thì tôi không khuyên. Ở đây ấm cúng hơn. Tôi đánh thức trưởng ban thông tin. Thế là anh ta vẫn chưa đi. Đôi mắt còn ngái ngủ, chớp chớp có vẻ không hiểu.

        — Cậu hãy chỉ huy ở đây thay tôi, còn tôi đi đây.

        — Đi đâu?

        — Đến đấy.

        — Ừ...

        Theo cặp mắt của anh, tôi thấy là anh không hiểu gì hết.

        — Cùng với tham mưu trưởng của tôi, Khác-la-mốp, các anh sẽ lãnh đạo mọi việc. Nếu thấy tình hình xấu thì bắn:

        Anh đứng và vội vã lấy nắm tay dụi mắt.

        — Được... Được...

        Tôi hầu như không biết anh ta, chỉ gặp một lần ở cuộc họp chỗ trung đoàn trưởng Bô-rô-đin mà thôi. Trung đoàn trưởng bảo là tay đó thông minh. Thượng úy. Đã tốt nghiệp khóa học nào đấy thuộc Viện quân sự.

        Va-lê-ga cũng muốn đi. Nhưng có lẽ cậu ta thì không nên.

        Cậu bị sái chân và đi khập khiễng đã ba ngày rồi.

        — Sao lại thế?. — cậu đưa cặp mắt nhỏ bé, không hài lòng từ dưới cái trán dô, tròn nhìn tôi.

        Tôi lắp băng đạn vào súng tiểu liên.

        — Có lẽ đồng chí ăn cái đã, trước khi lên đường chứ? Có đồ hộp đây. Thịt ninh. Trưa nay, đồng chí ăn chẳng ra sao cả. Tôi sẽ mở.

        Không. Tôi không muốn ăn. Khi nào trở về, tôi sẽ ăn. Dù sao cậu cũng đút vào túi của tôi một mầu bánh mì và một miếng mỡ lợn muối gói trong mảnh báo. Khi tôi còn đi học ở trường, mẹ cũng đút vào túi cho tôi thức ăn bữa sáng. Chỉ có khác là trước đây, mẹ cho bánh mì trắng hay bánh mì khoanh, cắt đôi và phết bơ ở giữa.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2019, 05:46:47 AM

10

        Chiếc «bắp ngô» đèn muộn. Chừng mười phút. Những phút đó đối với tôi hình như dài vô tận. Trong chiến hào không được hút thuốc. Thật chẳng biết làm cái gì cả. Chiến hào nhỏ, chật hẹp. Do thế ngồi không tiện nên hai chân bị tê. Chẳng làm sao ngồi cho tiện được. Cạnh tôi một chiến sĩ đứng tuổi, người Xi- bê-ri, đang gặm bánh mì khô. Hôm nay, đáng lẽ cho bánh mì thì người ta lại phát bánh mì khô. Dưới ánh pháo sáng trông rõ những đường gân cử động trên đôi má không cạo râu.

        Các-nau-khốp ở sườn phải. Ở đấy, trung đội trưởng Xen-đê- xki chỉ huy. Anh ta chẳng thông minh lắm, nhưng được cái gan dạ. Ở nhà máy «Vật phẩm kim loại», anh đã đánh trả bọn Đức cừ lắm. Thậm chí khi bị thương, thực ra thì không nặng, nhưng anh không chịu đến trạm quân y.

        Chiến sĩ ngồi cạnh tôi ngừng nhai.

        — Đồng chí có nghe không?

        — Cái gì?

        — «Bắp ngô» thì phải?

        Từ phía sông Vôn-ga có tiếng rè rè. Còn xa lắm, Chúng tôi cố nín thở, Tiếng kêu đến gần, Đúng rối, Chiếc dành cho chúng tôi, Nó bay ngay trên đầu chúng tôi. Chỉ có điều xin đừng ném xuống đây! Giữa chúng tôi và quân Đức chỉ chừng bảy mươi thước, chứ không hơn đâu, Có thế ném trúng cả vào chúng tôi, Nghe nói họ ném đạn súng cối xuống, loại đạn súng cối thông thường,

        Tiếng máy bay mỗi lúc một gần hơn, Tiếng kêu rầy rà, khó chịu, có vẻ gia đình, chứ chẳng có tính chất quân sự gì cả... «Bắp ngô», «Nga-gỗ dán»... Trên báo chí thì gọi nó là phi cơ hạng nhẹ ném bom ban đêm, Hoàn toàn giống tiếng con bọ rầy rất to bay vù vù, Có những con bọ rầy bay đêm, đơn điệu như thế: cứ kêu, kêu mãi, nhưng chẳng thấy chúng đâu cả,

        Chiếc «bắp ngô» đã ở ngay trên đầu rồi, Nó liệng vòng, chắc là đề phân biệt cho rõ vị trí quân ta và quân địch, Từ sau đồi, bọn Đức bắt đầu nổ súng, Không có đèn chiếu, Đèn chiếu không chiếu được nó, vì nó bay quá thấp,

        Nó sắp ném rồi...

        — Nào, ném đi!

        Có thể nghĩ rằng nó cố tình thử thách lòng kiên nhẫn của chúng tôi,

        Thiều tá đã gọi điện cho biết rằng chỉ có một chiếc bay thôi, Sẽ ném bom hai lần, Sau đó chừng năm, mười phút, nó sẽ liệng vòng, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi bò vào,

        Chiếc «bắp ngô» lượn vòng thứ hai, Tôi cảm thấy hình như chiến sĩ ngồi bên cạnh nghe tiếng trống ngực của tôi đánh thình thình, Thèm hút thuốc quá chừng, Giá tôi chỉ một mình thôi, thì tôi sẽ ngồi xổm và hút đã đời,

        Chiếc «bắp ngô» ném bom, Bom nổ ùng ục như pháo, Ném hơi cao một tí, Chiến hào của Đức gần hơn, Tuy nhiên, hình như ở đấy là súng máy,

        Còn một vòng nữa... Cái còi tôi ngậm ở môi làm mỏi cả hàm và chảy nước bọt, Cũng là cái còi giống như cái của trọng tài đá bóng thổi tính bàn phá lưới,

        Chiếc «bắp ngô» lại ném, Lần này trúng ngay vào các chiến hào quân Đức, Chúng tôi cúi đầu xuống thấp, Vài mảnh bay qua chiến hào chúng tôi với tiếng rít đặc biệt. Một mảnh rít lên hồi lâu trên đầu chúng tôi, như tiếng ong đất. Nó rơi bịch xuống rất gần ở ụ đất ngoài chiến hào, ngay giữa tôi và một chiến sĩ. Nó nóng bỏng đến nỗi không thể sờ tay được. Nó nhỏ và có mép răng cưa. Chằng hiểu vì sao sau lưng tôi da gà nồi lên.

        Chiếc «bắp ngô» bắn liên thanh tặc tặc từng tràng ngắn ngùi và vội vàng, giống như khạc đạn.

        Đến lúc rồi...

        Tôi lấy tay hơi che cái còi và ra hiệu. Tôi lẳng tai. Nghe rõ những hòn đất sét rơi xuống bên phải.

        Liệu chúng tôi có chiếm được hay không? Không thể không chiếm! Tôi còn nhớ cặp mắt sư đoàn trưởng khi ông nói: «A, thế thì cậu sẽ chiếm được».

        Tôi lấy súng tiểu liên khoác ở cổ ra. Bò xuống thấp. Bãi mìn đã ở đằng sau rồi. Khẩu đại bác. Nó ở một bên, cách chừng hai mươi thước. Bên trái tôi còn ba chiến sĩ nữa. Họ biết là không được bò đến đấy. Tôi đã báo trước cho họ. Tôi không thấy họ, chỉ nghe tiếng họ bờ

        Chiếc «bắp ngô» vẫn quần mãi. Không có pháo sáng. Bọn Đức sợ làm lộ mình. Thế là tốt.

        Mà có thể là nó còn ném bom nữa? Có thể có người nào đấy nhầm lẫn? Không phải hai, mà ba lượt... Cũng có khi người ta nhầm lẫn cơ đấy. Hoặc phi công quên mất. Nghĩ là: nào, tớ sẽ ném thêm cho bọn địch vui hơn...


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2019, 05:47:05 AM

        Tôi bò qua đáy mương xói. Tay bám vào các bụi cây. Tôi bò lên sườn đối diện. Coi chừng đừng bất ngờ gặp phải chúng... Nhưng như Tru-mắc đã nói, thì chiến hào của chúng bắt đầu tử sau các bụi cây. Bên phải cành cây răng rắc.: một bụi cây khô. Chà, các tướng thế mà không thận trọng!

        Tôi bờ Mỗi lúc một cao. Tôi cố không thở. Để làm gì — tôi chẳng biết. Dường như có ai đấy nghe tôi thở. Ngay trước mặt tôi là một ngôi sao to, sáng, không lấp lánh. Ngôi sao Vi-phơ-lê- em1. Tôi bò thẳng về phía nó.

        . Theo kinh thánh, chúa Giê-du sinh ở Vi-phơ-lê-em. Khi Giê-du sinh ra, thì trên trời xuất hiện một ngôi sao sáng dẫn đường cho những người chăn cừu đến nơi chào mừng Giê-du ra đời. Ngôi sao đó gọi là ngôi sao Vi-phơTê-em. — ND.

        Và bỗng — tặc, tặc, tặc, tặc... — ngay ở trên tai tôi. Tôi nằm áp mình xuống đất. Hình như tôi cảm thấy cả luồng gió do đạn bắn ra nữa. Khấu súng máy này ở đâu mà ra nhỉ?

        Tôi hơi ngẩng đầu lên. Chằng hiểu cái gì cả... Có cái gì đấy đen đen... Chung quanh yên lặng. Chẳng có tiếng răng rắc, cũng không có tiếng xì xào. Chièc «bắp ngô» đã ở đâu đấy phía sau lưng rồi. Bọn Đức sắp bắt đầu chiêu sáng rìa phía trước.

        Tôi muốn hắt hơi. Tôi lấy ngón tay cố hết sức bóp mũi. Và xoa ở gốc mũi. Tôi bò tiếp. Bụi cây đã ở đằng sau. Sắp đến chiến hào rồi. Chiền hào bọn Đức. Còn năm, còn mười thước nữa. Chẳng có gì cả. Tôi bò thận trọng. Vừa bò, vừa sờ soạn ở phía trước. Bọn Đức rất thích cài những quả mìn bất ngờ. Chẳng rõ từ đâu, giống như từ dưới đất vang lên những âm thanh của điệu nhạc phốc-xtrốt: kèn xẳc-xô-phôn, dương cầm và cái gì gì đấy nữa, tôi không rõ.

        Tặc, tặc, tặc, tặc...

        Lại khẩu súng máy. Nhưng đã ở phía sau rồi. Cái quỷ gì thế này? Tôi đã bò qua rồi chăng? Có tiếng kêu nghẹn họng. Súng bắn. Lại khẩu súng máy. Bắt đầu rồi.

        Tôi ném hú họa một quả lựu đạn về phía trước, vào cái gì đấy đen đen. Bầt thình lình tôi xông lên. Tôi cảm thấy mỗi một bắp thịt, mỗi một đường gân trên thân tôi. Những hình thù thấp thoáng trong bóng tối, giống như những con chim hốt hoảng bay tán loạn lên. Những tiếng thét rời rạc, những cú đấm nặng nề, những phát súng nổ vang, những tiếng chửi tục rít lên qua hàm răng. Đường hào. Đất tụt lở. Những băng đạn súng máy rối tung lên dưới chân. Có cái gì đầy mềm mềm, ấm áp và dính nhờn... Có cái gì đấy lớn lên trước mặt. Rồi biến mất...

        Trận chiến đấu ban đêm. Đó là một loại chiến đấu phức tạp nhất. Ở đây, người chiến sĩ là tất cả. Quyền lực của anh ta vô hạn. Sáng kiến, dũng cảm, bản năng, tiên đoán, nhanh trí: đấy là tất cả những cái gì quyết định kết quả. Ở đây, không có sự say mê quên mình có tính chất quần chúng của các trận tấn công ban ngày. Không có cảm giác đồng đội cùng kề vai sát cánh. Không có «u-ra», tiếng hô xung phong kích động, làm giảm nhẹ tất cả, làm quên tất cả. Không có áo ca-pốt màu xanh lục. Không có mũ sắt và mũ ca-lô với cái quân hiệu hình mục tiêu bắn bia nhỏ xíu ở trên trán. Không nhìn quanh được. Không đi lùi được. Chẳng rõ ở đâu là trước, ở đâu sau cả.

        Không thấy, không cảm thấy kết thúc trận đánh. Sau đó, khó mà nhớ ra cái gì đấy. Không thế nào tả lại hoặc kể lại trận chiến đấu ban đêm. Sáng mai sẽ thấy trên mình những vết sây sát, những vềt tím bầm và máu... Nhưng bây giờ thì không có gì cả. Có đường hào rẽ ngoặt... ai đấy... đấm... bắn... cò súng dưới ngón tay, báng súng... một bước lùi, lại nện. Rồi thì yên lặng.

        Ai đấy? Quân ta... Quân ta đâu? Tiến lên nào. Đứng lại... Quân ta, quân ta, cái gỉ mà rống lên thế...

        Phải chăng đã chiếm được đồi rồi ư? Có lẽ không chiếm được. Bọn Đức ở phía nào? Chúng biền đâu mất? Chúng tôi từ phía kia bò đến. Các-nau-khốp đâu rồi?

        — Các-nau-khốp! Các-nau-khổp!

        — Đã ở đẳng kia rồi, ở phía trước.

        — Ở đâu?

        — Ở đằng kia cạnh khẩu súng máy.

        Ở đâu đấy phía trước xa, khẩu súng máy bây giờ đã là của ta đang bắn giòn giã.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2019, 05:47:41 AM

11

        Các-nau-khốp mất cái mũ ca-lô. Anh sờ soạn tìm dưới chân trong bóng tối.

        — Mũ tốt, bằng dạ. Suốt chiến tranh, tôi đội nó. Tiếc thật!

        — Sáng mai sẽ tìm thấy thôi mà. Chẳng ai lấy đâu.

        Anh cười.

        — Thế nào, đồng chí tiểu đoàn trưởng? Thế mà cũng chiếm được đồi đấy nhỉ?

        — Chiếm được rồi, Các-nau-khốp ạ. Chiếm được rồi. — Tôi cũng cười và muốn ôm hôn anh ta.

        Ở phía đông, một màu vàng nhạt. Một giờ sau, trời sẽ sáng hẳn.

        — Anh hãy phái ai đấy đến sở chỉ huy, bảo người ta kéo dây nói.

        — Đã phái rồi. Nửa giờ sau anh sẽ nói chuyện được với thiếu tá thôi.

        — Đã kiểm tra người chưa?

        — Rồi. Đến bây giờ có mặt mười. Còn bốn chưa thấy. Xạ thù súng máy có đủ. Các trung liên tôi đã đặt rồi. Còn đại liên thì theo tôi đặt ở đây, chằng tồi đâu. Còn khẩu thứ hai...

        — Khẩu thử hai đem đến đây, bên phải. Thấy không? — tôi nói.

        — Hay là chúng ta đi xem?

        — Đi đi.

        Chúng tôi đi dọc theo đường hào. Cúi lom khom, chúng tôi nhìn xem có các ổ súng máy không. Rõ ràng là tuyến phòng ngự của bọn Đức vòng tròn. Không thấy và không nghe bọn Đức ở đâu cả. Chúng bắn ở đâu đấy bên phải và bên trái: ở khu vực tiểu đoàn một và tiểu đoàn ba. Mắt đã quen bóng tối. Có thế nhận ra được chút ít gì rồi. Vài lần chúng tôi vấp phải những xác lính Đức. Phía sau nhà máy «Tháng Mười Đỏ» cái gì đấy vẫn cứ cháy mãi.

        — Xen-đê-xki ở đâu?

        — Tôi đây, — bất ngờ trong bóng tối có tiếng nói vang lên. Sau đó một hình người hiện ra.

        — Cậu phóng nhanh cật lực đến sở chỉ huy. Nói với Khác- la-mốp, bảo anh ta rút quân từ các chiến hào cũ và nối liền với chúng ta ở sườn phải. Dọc đường hãy xem kỹ vị trí sườn của anh ta. Theo tôi thì sau bụi cây kia là đoạn cuối rồi. Có phải thế không, Các-nau-khốp?

        — Vâng, xa hơn chẳng có ai đâu.

        — Rõ chứ, Xen-đê-xki? Nào, ba chân bốn cẳng chạy nhanh lên đi nhé.

        Xen-đê-xki biển mất. Chúng tôi tìm được chỗ đặt súng máy và quay trở lại. Trong bóng tối gặp người nào đấy.

        — Tiều đoàn trường, hở?

        — Tiểu đoàn trưởng. Gì thế?

        — Tôi tìm được một nhà hầm tuyệt vời. Nào, ta đi xem đi. Nhà hầm như thế chưa hề thây bao giờ.

        Giọng nói của Tru-mắc.

        — Cậu làm gi ở đây?

        — Cũng làm cái như anh thôi.

        — Cậu đã sửa soạn nghỉ rồi cơ mà?

        — Dễ thường sửa soạn nghỉ mà được à...

        Tru-mắc bỗng đứng đừng lại, và theo đà đang đi, tôi vấp vào cậu.

        — Thế nào. Sao đứng lại?

        — Tiểu đoàn trưởng này, anh nghe đây... Thực ra thì anh là...

        — Cái gì?

        — Tôi cứ nghĩ anh là thi sĩ, làm thơ cơ đấy... Nhưng té ra...

        — Thôi được rồi, dẫn đi.

        Cậu không trả lời gì cả. Chúng tôi đi tiếp. Một cơn gió nhẹ nổi lên. Tóc lay động thật là dễ chịu. Gió luồn qua cổ áo vào dưới va-rơi đến tận thân mình. Đầu hơi choáng váng và toàn thân nhẹ lâng lâng. Vào đầu mùa xuân, sau chuyển đi dạo đầu tiên ở ngoại thành về, thường hay cảm thấy như thế. Say say vì không khí tươi mát, chân đau vì không quen đi nhiều, toàn thân hơi mỏi mệt, thế nhưng không thể dừng lại và cứ đi, đi hoài, đi mãi, không biết đi đâu cả, áo chẳng cài cúc, đầu trần không mũ, ngực thở căng đầy không khí mùa xuân ấm áp, thơm tho đến ngất ngây.

        Thế là chúng tôi đã chiếm được đồi. Và té ra việc đó chẳng phức tạp lắm. Rõ ràng là bọn Đức không đông lắm. Chúng đã để lại cảnh giới ở đây, còn phần lớn thì tập trung tấn công nhà máy «Tháng Mười Đỏ». Nhưng tôi biết rõ chúng, chúng chẳng để như thế này đâu. Nhất định chúng sẽ bắt đầu đánh trả lại ngay, nếu không phải bây giờ thì sáng sớm. Giá kéo được khẩu bốn mươi lăm ly đến đây và làm chủ cả mương xói thì hay quá! Bây giờ chắc Khác-la-mốp lại sẽ làm thùng thỉnh, loay hoay — lề mề tìm tòi, thu xếp mãi... Ở đấy, thực ra đã có trưởng ban thông tin với anh ta. Hai người thì làm nổi thôi, việc chẳng phức tạp lắm. Xẻng của Xi-ni-xưn vẫn còn ở chỗ tôi, trước buổi sáng các chiến sĩ sẽ đào chiến hào xong, còn đêm mai sẽ bắt đầu đặt mìn.

        Ngôi sao Vi-phơ-lê-em bây giờ đã ở ngay trên đỉnh đầu rồi. Nó không lấp lánh và xanh lục như mắt mèo. Nó dẫn đến chỗ này và đừng lại. Chính ở chỗ này.

        Trăng lên và lơ lửng treo trên chân tròi. Trăng màu vàng, chưa sáng. Chung quanh yên lặng như ở trên cánh đồng. Phải chăng ở đây quả thật đã xảy ra trận chiến đấu?


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2019, 05:48:31 AM

*

        Sau đó, chúng tôi ngồi trong nhà hầm. Hầm sâu, trần có bốn lớp gỗ lót và bên trên còn thêm nửa thước đất nữa. Vách lát ván, dán giấy giống như vải sơn. Bên trên chiếc bàn con đánh bài, mặt bọc dạ màu lục và có những chân uốn cong, là những tờ bưu thiếp xếp theo hình quạt. Trên bưu thiếp vẽ một cành thông với cây nền đang cháy nhỏ sáp, một con chó con mắt tròn làm đồ lọ mực, một thằng lùn đội mũ đồ và một thiên thần đang bay trên trời. Cao hơn một tí, là quốc trưởng mặc áo mưa bóng loáng, môi bặm, vẻ mặt dương dương tự đắc.

        Một cây đèn có chao màu xanh lá cây để trên bàn. Chừng năm chai rượu. Hộp cá trích. Đôi găng tay bằng da cừu non vứt trên giường.

        Tru-mắc tự coi mình như chủ nhân. Cậu rót rượu cô-nhắc vào ly chân thon, có khắc những chữ kết.

        — Dù sao thì quốc trưởng cũng chăm lo đến dạ dày của cánh ta. Cảm ơn hắn.

        Rượu cô-nhắc ngon, nặng, nóng ở trong cổ đến nghẹn thở.

        Các-nau-khốp uống xong thì đi ngay. Tru-mẳc tò mò nhìn những dây nho tết vào nhau trên nhãn hiệu của chai.

        — Trung úy này, tay của anh nặng đấy. Trước đây, tôi không hề nghĩ thế.

        — Tay nào?

        Đôi mắt vàng cười lên.

        — Tay này này, tay anh đang cầm điếu thuốc ấy.

        Tôi không hiểu gì cả.

        — Còn tôi thì đến bây giờ vai trái đau như dần, khống còn cảm thấy gì nữa.

        — Vai trái nào?

        — Anh không nhớ à? — Và cậu ngửa đầu, cười vang. — Không nhớ đã lấy tiểu liên nện tôi à. Nện thắng cánh. Đúng vào xương bả vai.

        — Khoan đã... Khoan đã... Nện khi nào thế?

        — Khi nào? Chừng nửa giờ trước đây. Trong chiến hào. Nhầm là Đức. Và nện như thiên lôi giáng! Đánh mạnh đến nỗi mắt tôi hoa lên chỉ thấy những vòng tròn thôi. Nổi cáu, tôi đã muốn trả đòn lại. Nhưng lúc đó một thẳng Đức thật đến. Thế là tôi nện nó...

        Tôi nhớ lại là quả thật tôi có dùng tiểu liên đánh ai đấy, nhưng trong bóng tối chẳng biết là ai cả.

        — Nện mạnh như thể, thì cho chiếc đồng hồ cũng chẳng tiếc, — Tru-mẳc nổi và lục túi. — Đồng hồ tốt. Có chân kính. Ta- van Vát.

        Hai chúng tôi cùng cười.

        Các chiến sĩ thông tin chạy ùa vào nhà hầm, mang theo nào hòm, nào cuộn dây. Họ thở hổng hộc.

        — Vầt vả lắm mới đến đây được. Xuýt nữa thì ghé lại chơi chỗ bọn phát-xít rồi.

        — Sao lại thế?

        Chiến sĩ thông tin tóc trắng, mắt trong như nước, vừa thớ vừa tháo máy qua đầu.

        — Chúng ở đằng kia, khắp mương xổi, bò lổm ngổm như dán.

        — Khắp mương xói nào?

        — Ở chính chỗ... mà tiền duyên của các đồng chí chạy qua ấy.

        Mắt của Tru-mẳc bỗng trở nên nhỏ và sắc.

        — Cậu một mình hay là đi với các cậu kia? — tôi hỏi.

        — Các cậu kia thì có việc gì ở đây. Bây giờ tôi chỉ một mình...

        Vớ khẩu tiểu liên và thậm chí quên cả mặc áo bờ-lu-dông lính thủy, cậu biến mắt sau cửa.

        Phải chăng chúng đã cắt đứt chúng ta rồi?

        Các chiến sĩ thông tin kéo dây điện thoại qua cửa.

        — Đúng là quân Đức ở trong mương xói?

        — Đúng quá đi rồi, — anh tóc trắng đáp, — mặt chạm mặt kia mà. Chừng năm thằng bò. Chúng tôi bắn chúng.

        — Có lẽ là quân ta lập tuyến phòng ngự mới ở đấy chăng?

        — Quân ta làm sao mà ở đấy được! Khi chúng tôi ra đi, quân ta còn ngồi trong chiến hào cơ. Dọc đường, chúng tôi còn gặp trung đội trưởng cổ bị băng cơ mà. Đang đi tìm tham mưu trưởng.

        — Nào, nối liên lạc với tiểu đoàn đi.

        Anh tóc trắng đeo ống nghe vào đầu.

        — Mộc tinh... Mộc tinh... A-lô... Mộc tinh...

        Cứ nhìn cặp mắt trong vẳt có lông mi trăng trắng, tôi biết không có ai trả lời.

        — Mộc tinh... Mộc tinh... Tôi đây, Hỏa tinh đây.

        Dừng lại.

        — Thôi, hết rồi. Bọn súc sinh, đã cắt đứt rồi. Li-ô-sca, cậu chạy đi kiểm tra xem...

        Li-ô-sca, mũi đỏ, tai vểnh, đội mũ ca-lô to quá cỡ, càu nhàu, nhưng rồi đi.

        — Chúng cắt đứt rồi. Đúng thế... — anh tóc trắng bình tĩnh nói và lấy điếu thuốc giắt ở tai ra, chắc là đã vấn sẵn khi chưa đến đây.

        Tôi đi ra ngoài. Những tràng súng tiểu liên và những phát súng trường từ phía mương xói vang đến.

        Sau đó, Tru-mẳc xuất hiện.

        — Đúng như thế, tiểu đoàn trưởng ạ, bị vây rồi.

        — Bị rồi à?

        — Bị rồi. Bọn Đức đã bố trí trong các chiến hào ở sườn đồi bên này.

        — Có nhiều không?

        — Làm sao mà biết được? Chúng bắn khắp nơi.

        — Còn Các-nau-khốp đâu rồi?

        — Đang đặt lại súng máy. Đến ngay bây giờ.

        Tru-mẳc rút một điếu thuốc ở bao xanh ra.

        — Anh hút đi. Chiến lợi phẩm đầy.

        Chúng tôi hút thuốc.

        — Vâng, chúng ta bị rồi. Đúng thế, chẳng còn nói gì nữa!

        — Bị rồi, — Tru-mẳc cười. — Nhưng chằng sao, tiểu đoàn trưởng ạ. Chúng ta sẽ thoát được thôi. Các cậu trinh sát viên của tôi cũng ở đây. Có súng máy. Dự trữ thì nhiều vô thiên lùng, chúng vứt lại tất cả. Thậm chí trong phích còn cả thức ăn tối đang nóng. Thế thì còn cần thêm gì nữa chứ?

        Các-nau-khốp đi đến. Anh đã bố trí tuyến phòng ngự vòng tròn. Tìm được hai khẩu súng máy của Đức. Lựu đạn cũng nhiều. Chừng mười hòm còn nguyên si. Và ngoài ra, còn nằm trong hốc ở mỗi hố cá nhân.

        — Khỉ thật, từ phía quân ta không thể bắn các công sự của chúng được. Độ dốc cao quá.

        — Anh có bao nhiêu người cả thảy?

        — Bộ binh: mười hai. Hai người thế là chẳng tìm thấy. Hai đại liên. Hai trung liên. Thêm hai khẩu của Đức nữa. Tức là sáu.

        — Còn ba cậu trinh sát viên của tôi nữa, — Tru-mẳc nói chêm, — còn ba chúng ta nữa. Và hai đội viên thông tin. Thè này thì sống được.

        — Vị chi hai mươi sáu, — tôi nói.

        Các-nau-khốp tính nhầm.

        — Không, hai mươi hai. Xạ thù trung liên không kề, họ nằm trong số mười hai người kia rồi.

        Tiếng súng bắn nhau không ngớt từ phía mương xói. Khi bùng lên, khi dịu đi. Chắc là quân ta bắn: từ phía bên kia. Còn bọn Đức bắn trả. Những viên đạn lửa bay từ bên này mương xói sang bên kia. Từ mương xói bắn chúng tôi, thì bọn Đức không tiện. Tình hình của chúng cũng chẳng lấy gì làm tốt lắm: bị ép chặt từ hai phía.

        Sau đó, bắt đầu bắn nhau ở đâu đấy bên trái. Bọn Đức tiến lên. Vây bọc chúng tôi. Chúng không bắn pháo sáng. Thật khó xác định bây giờ rìa phía trước của chúng ở đâu.

        Chúng tôi đi kiềm tra các hỏa điểm.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2019, 05:49:20 AM

12

        Bậy thật! Đáng lẽ tôi không nên đi tấn công lên đồi. Tiểu đoàn trưởng phải lãnh đạo, chứ không phải đi tấn công. Chính là tôi đã lãnh đạo xấu như thế này đây. Trông cậy vào tiểu đoàn một. Mà chính tôi đã thỏa thuận với Xi-ni-xưn rồi: khi nào tôi bắn pháo sáng màu đỏ, thì tất cả các loại súng sẽ bắn, tổ chức một cuộc nghi binh đề tạo điều kiện cho những chiến sĩ còn lại của tôi chiếm những vị trí mới. Nhưng hình như họ đã bắn. Chỉ có điều là Khác-la-mốp và trưởng ban thông tin cứ lần chần mãi. Còn đại úy răng vẩu kia như đã cảm thấy trước, nên đã hỏi về các sườn. Chắc là bây giờ anh phát cáu lên rồi. Hay là hân hoan đắc thẳng. Theo tôi, anh ta thuộc loại người như thế. Chắc đã gọi điện khắp nơi rồi: «Đấy, tôi đã báo trước rồi đấy... mà hắn ta thậm chí chả thèm nghe. Lại đuổi đi. Đấy, bây giờ thì kết quả như thế...»

        Tất nhiên, bây giờ có thể đánh thọc qua vòng vây đề về với quân ta. Nhưng làm thế để làm gì? Mất ngọn đồi, mà chẳng được quái gì cả. Ngồi không và đánh trả lại các đợt tấn công, cũng là ngốc. Nhưng chắc quân ta ở bên kia mương xói chằng chịu nằm bó tay ở đấy. Và bây giờ, chính là lúc tiểu đoàn ba phải bắt đầu hành động, chiếm cái cầu và nối liền với chúng tôi.

        Đạn dược của chúng tôi có đủ dùng trong chừng hai ngày. Ngay cả trong trường hợp luôn luôn phải đánh trả các cuộc tấn công. Gần như suốt ngày hôm qua, các khẩu súng máy của chúng tôi đã cố ý im hơi lặng tiếng, để tiết kiệm đạn. Lựu đạn cũng có. Chỉ có người hơi ít thôi. Và mọi người tập trung ở một chỗ nhỏ. Sẽ có rất nhiều đạn súng cối của Đức bắn đèn.

        Hơn bốn giờ, bọn Đức chuyển sang tấn công. Chúng cố bí mật bò qua. Các khẩu súng máy của chúng tôi chưa kịp xác định đích ngắm, nhưng chúng tôi đánh lùi đợt tấn công đẩu tiên khá dễ dàng. Thậm chí bọn Đức chưa đến chiến hào được.

        Đường hào của chúng tôi nối liền với đường hào của bọn Đức ở hai chỗ. Hai hào giao thông dài, đào theo đúng hình chữ chi, chạy về phía các tháp nước. Sâu gần ngập đầu người. Từ phía chúng tôi, không thấy được những hào ấy. Tôi ra lệnh lấp chúng ở một vài chỗ.

        Lại một thiếu sót nữa. Chúng tôi không mang theo xẻng công binh, mà trong số chiến lợi phẩm, thật ra chỉ cổ ba chiếc bằng thép, chắc chắn, và có cán bào nhẵn.

        Chúng tôi vừa mới bắt tay đào, thì bọn Đức bắt đầu nã súng cối. Lúc đầu một, sau hai, còn đến lúc gần tối thì ba khấu đội bắn. Đạn nổ không ngớt, hết quả này đến quả khác. Chúng bắn chúng tôi một cách rất đều đặn, cần thận, đặc biệt theo lối Đức. Chúng tôi ngồi trong nhà hầm, sau khi đã đặt những người quan sát.

        Hai người bị loại ra khỏi vòng chiến đấu. Một người bị gãy chân, một người bị mù mắt. Chúng tôi dùng băng cá nhân băng lại, chúng tôi chẳng còn cái gì khác nữa.

        "Sau buổi trưa, chúng lại bắt đầu tấn công. Ba đợt liên tục. Chừng hai đại đội, chứ không ít hơn. Cái đó đối với tôi chẳng đáng sợ, khi đang còn súng máy. Với bốn khấu súng máy, chúng tôi có thể chống lại cả một trung đoàn được. Tình hình sẽ xấu hơn, nếu xe tăng của chúng xuất hiện. Địa điểm từ phía các tháp nước phẳng lỳ. Mà chúng tôi chỉ có vẻn vẹn hai khẩu súng chống tăng kiểu Xi-mô-nốp mà thôi. Có lẽ là quân ta có đủ sáng kiền để đặt ở phía bên kia mương xổi một khấu đại bác bốn mươi lăm ly.

        Chừng ba giờ, đại bác tầm xa của ta từ bờ bên kia bắt đầu hoạt động. Bẳn khoảng một giờ. Khá đích. Thậm chí chúng tôi kịp ăn trưa được. Đạn đại bác nổ không xa, cách tiền duyên của chúng tôi chừng một trăm thước. Một loạt nổ rất gần: mảnh đạn bay sang chỗ chúng tôi. Bọn Đức để chúng tôi yên khoảng hai giờ.

        Rồi đến gần tối, chúng mở thêm hai đợt tấn công và một trận pháo kích. Và hết. Tĩnh mịch. Những chiếc pháo sáng đầu tiên xuất hiện.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2019, 06:02:03 AM

13

        Nằm dài trên chiếc giường gỗ. Tru-mẳc kề lại chuyện cô Mu-xi-a nào đấy trong bệnh viện.

        Tôi và Các-nau-khốp chùi súng lục.

        Từ dưới chao đèn màu xanh lá cây, ngọn đèn chiếu sáng một cách thanh bình lạ lùng.

        — Chè độ ở đấy thế nào có biết không? — Tru-mẳc nổi. —  Ở Quy-bư-sép. cổng đóng kín. Lính gác. Giống như ở nhà lao.  Chỉ được dạo quanh sân thôi. Mà sân thì bé bằng cái lỗ mũi. Tứ phía là tường, còn ở giữa rải nhựa, đặt ghế dài, bán kem. Đấy, cứ dạo quanh cái sân con ấy và tán chuyện về các cô y tá. Mà các cô thì tốt, dũng cảm. Chỉ có điều là sợ cấp trên lắm. Ngồi bên cạnh trên ghế dài hay là ghé ngồi trên giường thì được, nếu mình giở trò gì đấy thì nhất thiết không xong... Không được làm thế, và hết... Khi còn phải nằm, chưa đi lại được, thì cái món đó cũng chưa thiết lắm. Thậm chí lúc đầu còn sợ cơ. Nhưng sau đó, khi bắt đầu đi được, thì thấy rằng mình sổng lại rồi và nó bắt đầu quấy dữ. Nhưng quấy thì quấy, chứ chẳng được xơ múi gì. «Đồng chí bệnh binh, không được làm thế, cấm. Đồng chí cần tĩnh dưỡng. Phải bình phục...» Tĩnh dưỡng như thế thì ra cóc gì. Cứ nằm ỳ trên giường và tối tối đi xem xi-nê. Mà phim thì đều cũ rích: A-lếch-xăng Nép-xki, Pô-giác-xki, Cô gái bướng bỉnh. Và phim đứt như giẻ rách. Và hôi mùi thuốc và thạch cao. Tởm...

        Các-nau-khốp nhếch mép cười.

        — Cậu nói sát vào việc đi, về cô Mu-xi-a nào đấy mà cậu đã bắt đầu.

        — Sẽ kể về Mu-xi-a nữa. Cậu đừng ngắt lời. Nếu không thích thì đừng nghe. Đi kiểm tra súng máy của cậu đi. Tớ kể cho trung úy nghe. Trung úy chưa nằm bệnh viện bao giờ. Vì thế cần phải dạy.

        Cậu lại lấy điếu thuốc khác.

        — Nhẹ quá, đồ khỉ. Hút chẳng đã... — và quay về phía tôi, cậu tiếp tục: — Tay thì bó thạch cao. Xương trụ tay trái bị gãy. Ban đêm ngủ, nhưng chẳng nằm cách nào cho tiện được. Vướng cái móc. Cũng may là bị gãy dưới khuỷu. Còn những người bị cao hơn hoặc xương đòn thì còn tệ hơn. Qua khắp ngực là một loại giáp thạch cao và tay thì đặt trên cái giá. Trong bệnh viện, người ta gọi họ là «máy bay». Họ đi, mà tay ở phía trước nửa thước. Còn vết thương thứ hai ở sau đít. Đến bây giờ mảnh đạn vẫn còn nằm trong đó. Bây giờ tớ chẳng cảm thấy gì. Chứ lúc bấy giờ: đi ngoài là cả một vấn đề. Và mình thì e thẹn với Mu-xi-a... Mà cô ả thì tuyệt! Bím tóc mê ly. Áo choàng sát người. Chính cậu cũng tự hiểu thôi. Cô đến ngồi cạnh giường — lúc đó mình còn chưa đi được, — lầy thìa bón cho mình chén món trứng tráng, còn mình thì như ngồi trên ổ kiến lửa... Sau đó, chúng mình trèo qua cửa sổ... Từ buồng tắm nhảy xuống thì tiện lắm. Chừng hai thước chứ không hơn. Đứng trên lò sưởi thì vừa vặn cằm ngang với bệ cửa sổ. Ở đầy, có một đại úy nằm với mình. Kỹ sư, cũng như cậu. Tay đó có học thức, có văn hóa, trước chiến tranh làm chánh kỹ sư ở nhà máy. Và như thế là mình và tay đó mặc quần lót và áo ngủ có đóng dấu bệnh viện, lao xuống. Còn sau góc có nhà quen. Thay áo quần ở đấy và phóng vào thành phố. Đại úy bị thương ở bụng, nhưng đã lành. Leo ra trước, rồi cầm ở cái móc thạch cao kéo mình xuống. Chúng mình nhảy xuống như thế. Còn đến khi người ta đóng bít cửa sổ, — bà phụ trách việc cho giấy ra vào bệnh viện thấy được, — thì chúng mình tìm cách trèo từ máng nước mưa xuống và chúng mình trèo rất cừ!.. Một cậu cụt chân ở chỗ chúng mình. Hẳn ta đeo hai cái nạng vào một tay và cứ thế tụt xuống như con khỉ, chỉ có vôi trát tường rơi lả tả mà thôi. Dân bệnh viện thì tài lắm. Có chôn xuống đất, cũng chuồn ra được.

        Các-nau-khốp phì cười.

        — Còn ở chỗ chúng mình, ở Ba-cu, trong khi chiếu bóng người ta cũng chuồn ra. Chỉ nghe thấy tiếng sau cửa sổ — cốp- cốp-cốp, người này đến người kia. Buổi chiếu xong, trong phòng xem chỉ còn những người không đi được nằm trên giường mà thôi.

        — Xi-nê thì ăn thua gì... — không ngoái cổ lại, Tru-mẳc ngắt lời Các-nau-khốp. — Chúng mình ở buồng sáu làm cả một cái thang dây. Thang làm ra trò, có cả những thanh ngang. Chúng mình dùng được khoảng hai tuần. Ở đấy, có một cây to ở dưới cửa sổ, nên chẳng ai thấy cả. Nhưng sau đó người ta đợi thủ trưởng nào đấy đến, rửa cửa sổ và phá cái thang của chúng mình. Tất cả buồng bị gọi đến bà phụ trách khoa. Nhưng ăn thua quái gì. Ngày hôm sau, từ buồng bảy lại chuồn ra.

        Những con chuột đào bới sột soạt giữa những súc gỗ. Ở đâu đấy ngoài xa, ở bên trên, những phát đạn súng cối thưa thớt bắn nổ ầm ầm trong đêm.

        Thẳng lùn râu vàng ngồi trên cây nấm độc đại hồng nhung và hút tẩu thuốc lá dài dằng dặc và cong queo có nắp đậy. Thiên thần bay trên bầu trời đen như mực. Con chó con ngạc nhiên nhìn lọ mực đồ. Có người nào đấy đã vẽ thêm bộ râu và những ria lộng lẫy kiểu Guy đờ Mô-pát-xăng1 cho Hít-le, và bây giờ Hít-le giống hệt trên bản quảng cáo cắt tóc.

--------------------
        1. Guy đờ Mô-pát-xăng (1850—1893) — nhà văn Pháp nồi tiếng. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2019, 06:02:50 AM

        Ở nhà hầm bên cạnh, những chiến sĩ bị thương nằm. Họ luôn luôn đòi uống. Mà nước thì sắp hết, hai phích của Đức đành cho hai mươi người.

        Trong một ngày, chúng tôi đánh lùi bảy đợt tấn công và thiệt mất bốn người chết, bốn người bị thương và hỏng một khẩu súng máy.

        Tôi bôi dầu súng lục và đút vào bao. Tôi nằm dài trên giường.

        — Thế nào, ngủ à, tiểu đoàn trưởng? — Tru-mắc hỏi.

        — Không, nằm thế thôi.

        — Nghe chán rồi à?

        — Không, không, cứ kể đi. Mình nghe.

        Và cậu tièp tục kể. Tôi nằm nghiêng, nghe câu chuyện trường thiên ấy về cô y tá bệnh viện bị chinh phục, nhìn hình thù mặc áo sọc xanh lính thủy uể oải nằm dài trên giường, nhìn những ngón tay to và bóng loáng dầu của Các-nau-khổp đang nghi ngoáy trong khẩu súng lục, nhìn mái tóc rơi xuống mắt anh ta. Anh khum bàn tay lại đề không bôi dầu vào mặt, và luôn luôn lấy mu bàn tay hất tóc ra sau. Và khó tin rằng cách đây một hay hai giờ, chúng tôi đã đánh lùi các đợt tấn công, đã kéo thương binh theo những đường hào chật hẹp và bất tiện, và bây giờ đang túm tụm ngồi trong một chỗ hẹp, bị cắt rơi hẳn với mọi người.

        — Nhưng dù sao thì ở bệnh viện cũng tốt chứ, Tru-mẳc? — tôi hỏi.

        — Tốt.

        — Tốt hơn ở đây?

        — Thế mà cũng hỏi. Nằm ỳ như lợn, chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ có việc xực, ngủ và đi làm thuốc.

        — Thế có nhớ người mình không?

        — Người mình nào?

        — Nhớ trung đoàn, nhớ đổng đội.

        — Tất nhiên, nhớ chứ. Vì thế mình xin ra trước một tháng. Lỗ rò vẫn chưa khỏi, nhưng mình xin ra bệnh viện.

        — Thế mà bảo là ở bệnh viện tốt, — Các-nau-khốp cười, — xực và ngủ...

        — Cái gì mà cười hô hố thế? Làm như là cậu chưa từng nằm. Tốt là ở đâu không có mình. Ngồi đây, lại muốn nằm ở bệnh viện, nghĩ là ở đấy được ăn không ngồi rồi, khoan khoái nằm trên giường đệm trắng tinh. Còn nằm ở đấy, thì lại chẳng biết làm gì và muốn trở lại tiền duyên, cùng đồng đội.

        Các-nau-khốp lắp khẩu súng lục (khẩu «van-te» chiến lợi phẩm của anh to, có tay cầm tiện với lòng bàn tay), và đút vào bao.

        — Tru-mẳc, cậu nằm bệnh viện mấy lần rồi?

        — Ba. Còn cậu?

        — Hai.

        — Còn mình ba. Hai lần ở bệnh viện mặt trận, một lần ở bệnh viện hậu phương.

        Các-nau-khốp cười.

        — Mà khi - trở về mặt trận lại thì thấy là lạ thế nào ấy. Có phải không? Phải quen lại tất cả.

        — Ở bệnh viện mặt trận thì chẳng sao, ở đấy không nằm lâu đâu. Còn ở bệnh viện hậu phương... Mình ra bệnh viện ở Quy- bư-sép. Thậm chí trở nên vụng về lóng cóng. Nghe đạn súng cối nổ là đã ngồi xổm rồi.

        Cả Tru-mẳc lẫn Các-nau-khốp cùng cười.

        — Đồng chí trung úy, có cái điều lạ lùng này, — Các-nau- khốp chùi tay dính dầu vào quần bông và nói, — khi ngồi ở chiến hào thì cảm thấy hình như không có gì tốt hơn, yên tĩnh hơn nhà hầm của mình. Sở chỉ huy tiểu đoàn của chúng ta đã là hậu phương rồi. Còn của trung đoàn và của sư đoàn... Các chiến sĩ gọi tất cả những ai ở trên bờ sông là người hậu phương.

        — Còn cậu có thấy những thằng cha thế này không, — Tru- mắc ngắt lời, nói chung cậu ta không thể ngồi im, — ngồi cách tiền duyên một trăm cây số, mà cứ đấm ngực thùm thụp xưng là người mặt trận? Ở bệnh viện chỗ tớ có một tay...

        Cậu bỗng ngừng lơi và đôi mắt dừng lại ở cửa.

        — Cậu ở đâu đến thế?

        Các-nau-khốp cũng nhìn ra cửa.

        Va-lê-ga... Va-lê-ga chính cống: đầu to, trán dô, đi giày cao cổ to quá cỡ với mũi giày cong lên. Cậu đứng ở cửa. Mặc áo ca-pốt, hình như của tôi, dài thấu gót. Cậu ngập ngừng.

        — Va-lê-ga, cậu ở đâu đến đây?

        — Ở đằng ấy... Ở chỗ ta...

        Cậu chào vụng về. Việc đó thì chẳng bao giờ cậu làm được tốt cả. Cậu cởi ba-lô sau lưng ra...

        — Tôi đem thịt ninh đến, áo ca-pốt...

        — Cậu điên hay sao?

        — Sao lại điên? Hoàn toàn không điên. Đây này, cả thư gửi đồng chí nữa.

        — Ai gửi.

        — Tham mưu trưởng, Khác-la-mốp, giao.

        — Chính anh ta phái cậu đi à?

        — Hoàn toàn không phải anh ta. Tự tôi đi đến... Va-lê-ga lấy đồ hộp và hai ổ bánh mì to từ trong ba-lô ra. — Tôi xếp đồ đạc vào ba-lô, lúc đó anh Khác-la-mốp đang bàn với một người nào đấy ở sở chỉ huy trung đoàn, nói rằng phải liên lạc với đồng chí. Tôi bảo rằng vừa vặn tôi sắp đi đến chỗ đồng chí. Thế là lúc đó anh tìm và giao cho tôi bức thư này.

        Cậu lấy từ túi áo bên hông đầy cộm giấy tờ và thư từ — như ở mọi người lính — một mảnh giấy nhỏ xé từ sổ tay, gấp làm tư và chìa cho tôi. Nét chữ cần thận của Khác-la-mốp viết:

        «5.10.42.12.15 SCH Cuồng phong.

        Đồng chí trung úy. Nhân có mệnh lệnh của 31 vừa đến, tôi báo cáo đồng chí biết hôm nay lúc 4.00 chúng tôi sẽ tấn công nhằm nối liền với đồng chí bên sườn phải với nhiệm vụ cắt đứt binh đoàn của địch đã lọt vào mương xói và tiêu diệt chúng. Báo tin là đã nhận được 7 (bảy) người bổ sung và từ Bão táp người ta gọi điện cho biết chỉ huy trưởng của đơn vị chúng ta đã đến thay đồng chí. Chúng tôi chưa gặp. Đồng chí trung úy, tình hình ở đấy ra sao? Sáng sớm đại úy A-brô-xi-mốp và một vài người' nữa từ đơn vị lớn đến. Đồng chí trung úy, hãy cổ giữ. Chúng tôi sẽ giúp đỡ.

        T.u. Khác-la-mốp (Khác-la-mốp)».


        Chữ ký rất trang trọng, rộng rãi, hơi lệch, với chữ «K» lộng lẫy, bay bướm và cả một tràng uốn cong, ngoặc và chấm giống như những con chim bay liệng quanh nó.

        Tôi xé bức thư. Đốt từng mảnh nho. Thật là trong đầu óc chằng còn có gì cả mới có thể gửi một bức thư như thế qua tiền duyên! Chà, Khác-la-mốp, Khác-la-mốp! Thực chất anh ta là người không xấu, thậm chí còn cố gắng nữa, chỉ có điều quá...

        Va-lê-ga ì ạch mà không thể nào mở hộp thịt bằng cái chìa khóa có vòng ở đầu cuối. Cậu cũng chằng hỏi tôi có đói không. Tôi không hỏi cậu, vì cảm thầy rằng tôi sẽ không giữ được giọng nói bình tĩnh cần thiết. Các-nau-khốp và Tru-mắc hỏi cậu. Va- lê-ga trả lời miễn cưỡng.

        — Chỉ có áo ca-pốt làm phiền thôi, không hợp tầm người. Còn thì chẳng sao cả. Ở đẳng kia, bên trái một tí: chúng bị đứt đoạn. Giữa các chiến hào. Ban ngày, tôi quan sát được, còn đêm thì... Đồng chí trung úy, hay là hâm cho nóng nhé?

        — Không, không cần. Với lại chẳng có cái gì để hâm đâu.

        — Sao cậu không đủ thông minh mà mang bếp dầu lửa đi theo? — Tru-mắc cười.

        Va-lê-ga chẳng trả lời gì cả, móc túi áo ca-pốt lấy ra một cây đèn cồn bỏ túi của Đức và một nhúm viên cồn khô, trắng giống như đường. Chẳng nói chẳng rằng, cũng không cười mỉm, cậu đặt nó lên bàn.

        — Không cần, Va-lê-ga ạ. Chúng mình chén thế này cũng được.

        Và chúng tôi, cả bốn người, ngon lành ăn sạch cả hộp. Dù sao thì thịt ninh vẫn là món ăn tuyệt vời thật!


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2019, 06:04:10 AM

14

        Kim đồng hồ chỉ ba giờ rưỡi. Bốn giờ kém mười lăm. Bốn giờ. Chúng tôi đợi. Bốn giờ rưỡi... Năm giờ... Tĩnh mịch.,. Sáu giờ, bảy giờ... Trời sáng. Chúng tôi thôi không đợi nữa.

        Thế là còn một ngày nữa.

        Bọn Đức rót súng cối nện chúng tôi suốt từ sáng đến trưa. Chúng bắn loại cối trung bình và cả loại nặng nữa. Đến ba giờ, chúng tôi từ mười sáu người còn lại mười hai. Bốn người bị thương từ ngày hôm qua và đã chết. Theo tôi, vì máu bị nhiễm trùng. Một người bị uốn ván. Đó là bệnh đáng sợ lắm. Anh ta hấp hối trước mắt chúng tôi. Người không còn trẻ, chừng bốn mươi tuồi, Đạn nổ làm anh bị thương ở tay phải, phía dưới khuỷu một tí. Luôn luôn anh sợ bị cắt cụt tay. Trước chiến tranh, anh làm thợ tiện kim loại.

        — Cắt tay thì sẽ như thế nào? — anh nói và thận trong đặt lên đẩu gối cái tay bị băng vào một tấm ván lấy ở hòm đạn. — Trong nghề của chúng tôi, mà không tay thì chằng làm ăn gì được. Thà mất chân còn hơn.

        Anh đưa mắt khi thì nhìn tôi, khi thì nhìn Các-nau-khốp có ý hỏi, dường như ý kiến của chúng tôi có giá trị gì đấy. Chúng tôi an ủi anh rằng xương chóng liền, thịt cũng chóng liền, rằng dây thần kinh còn nguyên vẹn, vì ngón tay của anh nhúc nhích được. Điều đó làm anh yên tâm. Thậm chí anh còn kề về việc anh đã cải tiến thế nào ấy chiếc máy tiện của mình hồi trước chiến tranh. Sau đó, mặt anh bắt đầu giật giật. Mồm méo xệch như một nụ cười gượng gạo kinh khủng. Toàn thân co quắp. Anh ưỡn người cong lên, chỉ có gót chân và đầu tựa vào đất. Anh gào thét. Không thế nào làm cho người anh thằng lại được.

        — Cái đó là uốn ván, — Các-nau-khốp nói, — hồi ở tiểu đoàn quân y chúng tôi cũng có một người chết vì bệnh đó.

        Sau hai giờ người thương binh chết.

        Họ anh ta là Phê-xen-cô. Tôi biết được nhờ xem trong thẻ quân nhân. Tôi đã từng nghe họ ấy ở đâu nhỉ? Sau đó tôi nhớ ra. ĐÓ là một trong hai chiến sĩ ban đêm đã đào, khi tôi từ bãi mìn quay trở về. Lúc đó họ không biết trả lời thế nào cho anh liên lạc đang tìm tiểu đoàn trưởng ở đâu.

        Một viên đạn súng cối một trăm hai mươi ly rơi trúng nhà hầm chúng tôi. Đúng về lý thuyết thì nó phải chịu được: bốn lớp gỗ lót, gỗ đường kính hai mươi lăm phân, và còn đất ở bên trên nữa. Thực tế thì nó bị hỏng, nắp hầm chịu được, nhưng đạn nổ làm hỏng gỗ lát chung quanh và làm đổ đất xuống.

        Chúng tôi chuyển sang nhà hầm bên cạnh, chỗ các thương binh nằm. Họ có bốn người. Một người đang mê sảng. Anh này bị thương ở đầu. Anh nói về những máng kẽm gì gì đấy, rồi gọi ai đấy, rồi lại nói về máng kẽm, Mặt anh vàng như sáp ong và đôi mắt nhắm nghiền. Chắc anh này cũng sẽ chết.

        Chúng tôi không chôn những người chết được. Đạn súng cối liên hồi rít lên và nổ ầm ầm ở chung quanh, không ngớt. Trong một phút, tôi đếm sáu phát nổ. Có lúc chúng ngừng bắn. Nhưng không quá năm bảy phút. Trong bảy phút đó chúng tôi chỉ kịp trấn tỉnh lại và kiểm tra xem người quan sát còn sống hay không.

        Ba chúng tôi — tôi, Các-nau-khốp và Tru-mắc — cùng hút chung một điếu thuốc cuối cùng thu thập ở tất cả các túi: một nửa thuốc lá rời, một nửa vụn bánh mì. Hết thuốc lá. Các mẩu tàn thuốc cũng đã nhặt sạch rồi.

        Nước sắp hết. Mảnh đạn trúng vào một phích. Chúng tôi nhận thấy điều đó khi nước đã chảy ra gần hết: tôi cúi xuống nhặt cây bút chì đánh rơi và tay đụng vào vũng nước. Trong phích kia chừng mười lít, chứ không hơn. Mà thương binh thì luôn luôn đòi uống. Chúng tôi không biết có thể cho họ uống được không. Một người bị thương ở bụng; đổi với anh ta thì không cho uống được. Anh luôn mồm xin: «Đồng chí trung úy, dù chỉ một giọt cũng được, một giọt thôi, mồm khô ráo.» — và nhìn với đôi mắt hết sức khấn khoản đến nỗi tôi không dám nhìn lại. Các khẩu súng máy cũng đòi uống.

        Hơn ba giờ, bọn Đức lại bắt đầu tấn công, và trận tấn công kéo dài đến tối. Cứ lần lượt: tấn công, bắn súng cối, tẩn công, lại bắn súng cối.

        Chúng tôi đánh lùi được đợt tấn công cuối cùng, khi đã hoàn toàn kiệt sức. Những khẩu súng máy réo lên như ấm nước sôi. Kiếm đâu ra được nước? Nếu không có nước, thì ngày mai các khẩu súng máy sẽ câm họng. Mà cái đó có nghĩa là...

        Buổi tối, chúng tôi tổng kết tình hình.

        Người thì có mười một. Tôi. Tru-mắc, Các-nau-khốp, Va- lê-ga, hai chiến sĩ thông tin, bốn xạ thủ súng máy — hai người một khẩu súng máy — và một chiến sĩ thường. Đấy, chính là ông già người Xi-bê-ri mà chúng tôi đã cùng ngồi trong chiến hào. Ông bị gãy ngón út tay phải, nhưng vẫn tươi tỉnh. Ngoài ra, còn ba thương binh. Người mê sảng, đến tối, thì hấp hối. Chúng tôi khiêng anh vào đường hào, Ở đấy, chúng tôi đề tất cả những chiến sĩ tử trận.

        Chúng tôi có bốn khẩu súng máy. Hai khấu đã bị hỏng. Đạn dược đủ cho mấy khấu chiến lợi phẩm, còn cho mấy khẩu sản xuất trong nước thì nhiều nhất chỉ đủ đến trưa thôi.

        Nhưng cái chính là nước. Không có nước, thì tất cả đạn dược kia cũng chẳng có giá trị gì. Lẽ nào đêm nay quân ta không tấn công và nối liền với chúng tôi? Không thế như thể. Chính họ hiểu rằng chúng tôi không đủ sức giữ mãi được. Và nếu chúng giết hết chúng tôi, thì trung đoàn cũng phải mất cao điểm.

        Thèm thuốc đến mức đầu óc choáng váng. Va-lê-ga tìm được ở đâu đấy một điếu thuốc ướt mèm và nhàu nát của một thằng Đức bị chết. Chúng tôi lần lượt hút, kéo thật dài hoi, mắt nhắm lim dim, hút đến lúc thuốc bỏng ở đẩu ngón tay. Chừng hai giờ sau, chúng tôi cũng bắt đầu nghĩ đến nước. Trong phích còn không đầy hai lít, đó là dự trữ bất khả xâm phạm của súng máy.

        Những chiến sĩ thông tin tìm được đâu đấy ở dưới sâu trong nhà hầm mười hai con cá mòi muối, ngậy mỡ, ngon lành, gói trong từ giấy dầu. Tôi bất giác nuốt nước bọt. Những con cá ánh bạc, phẳng phiu, có cái lưng mềm mại và những hạt mỡ nhỏ như hạt sương ở trên đầu. Giá được cắn một miếng thì tuyệt! Tôi đi ra đường hào và cố hết sức ném những con cá ấy thật xa về phía quân Đức. Rồi quay trở vào.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2019, 06:04:37 AM

        Thương binh đã yên. Chỉ thở nặng nhọc. Họ nằm ngay trên đất. Chúng tôi trải áo ca-pốt cho họ, Cái nhà hầm này bất tiện hơn cái trước rất nhiều. Chỉ có cái gì đấy làm bằng những tấm ván giống như cái bàn, bên trên trải giấy báo. Trên nền của vách ầm thấp và rời rã, cây đèn có chao màu xanh lá cây của chúng tôi trông có vẻ hoàn toàn không hợp. Chúng tôi mang nó từ nhà hầm kia đến. Thậm chí thật khó hiểu vì sao đến bây giờ nó vẫn còn nguyên.

        Các-nau-khốp lấy mầu bút chì vẽ những bông hoa gì đấy ở ngoài lề tờ báo. Anh hốc hác và dưới mắt có những quầng thâm tơ  Tru-mắc cởi áo sọc xanh lính thủy và xem các đường khâu.

        — Phải tắm mới được, — cậu mệt nhọc nói và gãi. — Bao giờ nối liền được với nhau, thì mình sẽ tổ chức tắm. Ban đêm sẽ lầy nước sông Vôn-ga về tắm cho đã đời. Toàn thân ngứa ngáy,

        — Chưa hết chiến tranh thì dù thế nào cậu chằng thoát được chúng đâu, — Các-nau-khốp nói đề yên lòng. — Người ta không luộc quần áo. Chỉ giặt ở sông Vôn-ga thế thôi. Mà giặt như thể thì ăn thua quái gì.

        Tôi theo dõi những bắp thịt của Tru-mắc cử động dưới làn da căng tròn như những quả bóng con. Lấy cậu để học giải phẫu thì tốt,

        — Chiến tranh chấm dứt, chúng mình sẽ bắt thằng Hít-le ngồi trong thùng rận và buộc chặt hai tay nó lại để không gãi được, — cậu nói mà không dừng công việc của mình.

        Chiến sĩ thông tin tóc trắng ngồi trong góc, vui vẻ cười vang. Hình như cậu ta thích kiểu hành hạ như thế. Nói thật thì kiểu ấy tôi cũng thích. Rận có lẽ là thứ làm khó chịu nhất ở ngoài mặt trận.

        Tru-mắc mặc áo sọc xanh lính thủy vào người và đứng lên.

        — Chà, giá được hút nhỉ...

        — Ừ, được thế thì tuyệt. Dù là thuốc lá «Động cơ» loại ba mươi lăm xu cũng được. Một điếu cho cả ba người.

        — «Động cơ»... «Động cơ» thì ra quái gì? Đã ước mơ, thì phải ước mơ ra trò.

        — Đồng chí trung úy, trước chiến tranh anh hút thứ gì?

        — «Bạch-hải» và «Lao động». Ở Ki-ép có những loại ấy, cũng hai rúp.

        — Cả tôi cũng hút «Bạch-hải»... Điếu to và ngon. Đặc biệt của Lê-nin-gơ-rát.

        — Nếu thế thì các anh chẳng biết quái gì về thuốc lá cả, — Tru-mắc nói.— Hừ, mơ ước «Bạch-hải»! «Ca-dơ-bếch», mới đáng gọi là thuốc lá chứ. Mình mỗi ngày hút hai bao cơ đầy. Có một thời như thế.

        Cậu đi tới, đi lui trong nhà hầm. Hai bước đi tới, hai bước đi lui. Chắp tay vào đầu, ưỡn người, vươn vai.

        — Mặc quần sác-li vào, lai quần rộng ba mươi phân, đội mũ cát-két lệch xuống lông mày, tay cặp một cô ả và đi trên đại lộ Duyên-hải.

        — Trước chiến tranh cậu làm gì?

        — Mình à? Tài xế. Lái xe «dít». Sau đó, phục vụ trên tàu «U-cơ-ren Đỏ». Đã từng dạo trên đại lộ Duyên-hải ở Xê-bát-xtô- pôn thế này: mặc quần trắng tinh và đội mũ lính thủy dải dài tận đai da. Lấy phấn chùi thật bóng chiếc khóa đồng của đai da, cần thận là cổ áo lính thủy, diện bộ đồ «lễ phục» vào, (chỉ có hạm đội Hắc-hải mới mặc quần trắng có những đường viền hình cái chèn ở lai quần) và cứ thế a-lê... lên đường vào thành phố.

        — Trước chiến tranh, ngoài gái ra, cậu còn nghĩ đên điều gì khác? Hả, Tru-mắc?

        Tru-mắc dừng lại. Thậm chí hình như suy nghĩ nữa.

        — Còn nghĩ về rượu trắng nữa. Còn nghĩ cái gì nữa. Tiền thì mình nhiều lắm. Mình chằng muốn làm nhân viên khoa học đâu... — Cậu ngừng nói một lúc. — Còn bây giờ thì...

        — Chằng lẽ về chuyện gái, cậu không còn hăng nữa?..

        Tru-mắc không trả lời ngay. Đút tay vào túi, giạng chân ra, cậu cố tìm từ đề đáp lại.

        — Không phải không còn hăng nữa... Nhưng đang chiến tranh... — Lại ngừng nói. — Cậu hiểu không, trước chiến tranh mình là chúa tể, muốn làm gì thì làm. Mình có cả một bọn lưu manh anh chị bự nữa kia. Cùng nhau đánh chén, cùng nhau sinh sự, cho những bọn như... — cậu hoi mỉm cười và một mắt láu lỉnh nháy tôi, — như loại này ăn đòn. Nhưng cái đó không quan trọng lắm.

        Cậu ngồi xuống mép bàn. Rung đùi. Cậu khó trình bày ý của mình. Ý cứ loanh quanh ở đâu đấy, nhưng không trúng đích được.

        — Dạo ở Xê-bát-xtô-pôn, có một trường hợp như thế này. Lúc mới bắt đầu bị bao vây cơ. Hồi tháng chạp thì phải, hay là cuối tháng mười một? Mình chẳng nhớ nữa. Mình có một thằng bạn. Cũng chằng phải là bạn, mà chỉ là cùng phục vụ trên tàu «U-cơ-ren Đỏ» thôi. Họ là Tê-ren-chép. Cũng dân lính thủy. Sau đó cùng nhau chiến đấu trên bờ, trong chiến hào. Cạnh nghĩa địa Pháp. Trước chiến tranh, chúng mình sổng với nhau ngùng nghinh như chó với mèo. Hẳn ta muốn đoạt một cô ả của mình. Nhưng hắn cũng là người khá. Tay mình cứ luôn luôn ngứa ngáy muốn đập gãy của hẳn cặp răng...

        Trong góc, chiến sĩ bị thương bắt đầu cựa mình. Đòi uống. Chúng tôi đưa chiếc khăn ướt cho anh mút: đấy là cái gì hiện nay chúng tôi có thể cho được. Anh kéo áo ca-pốt đậy mặt và nằm yên. Tôi cố không nhìn về phía để phích nước. Tru-mắc đặt cái khăn ướt trên phích và lại ngồi ở mép bàn.

        — Nổi chung, mình chẳng yêu gì hắn. Mà hắn cũng chẳng yêu gì mình...

        Các-nau-khốp ngồi chống tay vào cằm, nhìn Tru-mắc không rời mắt. Tru-mắc đưa chân.

        — Thế mà cuối cùng mình vẫn đập gãy của hắn cặp răng. Còn hẳn nện mình gần gãy xương sườn. Chừng hai tuần, mà cũng có thể là ba, không thể thở như bình thường được. Nhưng cái đó không quan trọng lắm... Tóm lại, đạn nổ của bọn Đức làm nát cả lưng mình. Cách chiến hào của chúng chừng mười lăm bước thôi. Mình đã tưởng đi đời nhà ma rồi. Như dân lính thủy vẫn nói: đã bắt đẩu sùi bọt rồi. Nhưng bố ai mà biết được vì sao chẳng chìm hẳn xuống đáy... Còn buổi sáng, mình tỉnh lại trong chiến hào quân ta. Thì té ra chính tay Tê-ren-chép ấy đã kẻo mình về.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2019, 06:05:09 AM

        Chúng tôi ngồi im trong giây lát. Tru-mắc lấy móng tay cạo mép bàn. Các-nau-khốp vẫn ngồi như thể, tay chống cằm. Ngọn đèn lay động. Ngọn lửa dài và mảnh phun khói đen và đầu mút của nó liềm vào thông phong.

        — Sau đó, tay Tê-ren-chép ấy chết. Bị đứt cả hai chân. Khi mình nằm bệnh viện ở Ga-gra thì biết tin đó. Người ta trao cho mình ảnh của hắn. Trước khi chết, hẳn xin trao lại... Như thế là Tê-ren-chép chẳng còn nữa...

        Cậu nhảy xuống đất và lại bắt đầu đi lui, đi tới trong nhà hầm. Các-nau-khốp không quay đầu, đưa mắt theo dõi cậu.

        — Trước chiến tranh mình cũng có bạn bè, nhưng chằng qua cũng chỉ để khỏi ngồi uổng rượu một mình buồn thôi. Còn bây giờ... Đấy, mình có một cậu trinh sát viên. Chính cậu biết hẳn ta đấy, tiểu đoàn trưởng ạ, chính là vì hắn mà mình với cậu hình như đã cãi nhau. Cậu biết đấy, mình có thể vì hắn mà giết người được cơ. Hay cậu Ghen-man, người Do thái, Phái hắn ta đi bất kỳ đâu, thì mọi việc hắn đều làm chu tất. Hắn có gia đình ở một làng Do thái nào đấy, nhưng bọn phát-xít đã giết sạch...

        Cậu ngừng lời giữa câu; và quay phắt lại, cậu đi ra khỏi nhà hầm, Nghe rõ bậc thềm kêu ken két dưới chân cậu. Các-nau-khốp lại tiếp tục vẽ.

        — Đồng chí trung úy, thế nào, anh và Tru-mắc đã từng mâu thuẫn nhau à? — không ngẩng đầu, anh hỏi một cách tế nhị.

        — Vâng. Hình như thế, — tôi đáp.

        Các-nau-khốp mỉm cười.

        — Cách đây không lâu cậu đã kể cho tôi nghe, Vì thằng nào bị giết đấy.

        — Vâng. Chuyện xảy ra vì thằng Đức.

        — Cậu nói rằng lúc đó cậu không thích anh,

        — Làm thế nào được, chẳng thế làm vừa lòng được mọi người,

        — Còn bây giờ thì sao? Ổn rồi chứ?

        — Ổn gì?

        — Hòa thuận với nhau rồi chứ?

        — Mà lẽ nào chúng mình đã cãi nhau? Chỉ vì tính cậu ta cứng đầu cứng cổ thôi. Không thích mệnh lệnh, Mình thích những người như thế. Nghĩa là không phải những người không hoàn thành nhiệm vụ, mà là những người ngang bướng như Tru-mắc,

        — Cậu ta đúng là như thế.

        — Không phải chỉ như thể.

        — Nhưng tôi cảm thầy hình như anh chẳng thích những người như thế mới phải.

        — Không phải những người như thế thì những người nào?

        — Biết nói thế nào với anh đây... Không cùng trang, cùng lứa với nhau.

        — Mà có thể là...

        Nhưng câu chuyện đến đây chấm dứt, Tru-mắc đi vào.

        — Cái thùng không đâu rồi? Thùng đựng nước.

        — Thùng nào?

        — Ừ, cái phích. Cũng thế thôi. Trước đây, nó ở cạnh cửa  kia mà.

        — Thế sao, không có à?

        — Không.

        — Nó bièn đâu mất nhỉ?

        — Thì chính vì thế mà mình hỏi.

        — Khi tôi đi ra, thì nó còn ở cạnh cửa, — Các-nau-khốp nói, — tôi vấp phải nó cơ mà.

        — Thế mà bây giờ không có. Mình đã tìm khắp.

        — Chắc là Va-lê-ga lấy. Để mạng áo quần bị mảnh đạn đâm thùng.

        — Thè Va-lê-ga đâu rồi?

        — Cậu ta mới ở đây. Không lâu. Chùi tiểu liên. Thế cậu cần để làm gì?

        — Cũng phải nghĩ cách thế nào kiếm ra nước chứ. Khát nước lắm. Và những khẩu súng máy chết tiệt kia nữa.

        — Cậu nghĩ cách gì? —tôi không hiểu.

        — Cách nào đấy... Đấy, bố già bảo rằng hình như có nước róc rách. Bố ngồi bên trái, cạnh mương xói. Bảo là: nước róc rách. Có thể là mạch nước nào đấy chăng.

        — Mạch nước nào ở đấy. Dầu lửa chảy từ toa tàu xuống đấy. Cậu có biết ban đêm nghe rõ thế nào không? Đến đường ray chỉ chừng hai trăm thước chứ không hơn đâu.

        — Nhưng sao lại không kiềm tra xem.

        — Neu muốn thì cậu cứ kiểm tra.

        Chúng tôi đổ nước còn lại trong phích ra cà-mèn. Thậm chí không được hai cà-mèn. Vác cái phích lên vai, Tru-mắc bước ra. Chừng năm phút sau, Va-lê-ga hiện ra. Cậu ngồi trong góc, chùi tiểu liên, dường như chưa bao giờ cậu đi ra ngoài cả.

        — Cậu biến đâu mắt thế?

        — Tôi không biến mất, — cậu trả lời và lấy mảnh gỗ cạo bẩn ở khẩu tiểu liên.

        — Cậu lấy thùng? À, phích?

        — Có lấy.

        — Làm quỷ gì mà lấy nó chứ! Ở đây chúng mình đã lo sốt vó.

        Va-lê-ga nhìn tôi có ý trách móc.

        — Chính đồng chí bảo là không có nước.

        — Thì sao, nói đi?

        — Đấy, tôi đi lấy nước.

        — Lấy nước?

        — Vâng, lấy nước.

        — Ra sông Vôn-ga lấy à?

        — Không. Chưa đến sông Vôn-ga-

        — Cậu hãy nói đầu đuôi cho rõ nào. Có mang nước về được không?

        — Nước thì không- Nhưng mang rượu vang về được — Và cậu lại cắm cúi chùi tiểu liên-

        Dần dần mọi việc mới rõ ra. Ngay từ khi ban ngày, cậu đã quan sát và tìm đường đi. Có một lối mòn nào đấy ở bên phải cái cầu về phía tiểu đoàn ba.

        — Thế sao cậu không nói gì cả?

        — Nói thì đồng chí sẽ không cho đi. Thế thì nói làm gì.

        Tóm lại, cậu không lần đến tiểu đoàn ba được, nhưng gặp một bếp nào đầy của Đức.

        — Đẳng kia, cạnh nền đường sắt. Chắc là ban đêm chúng chở bếp đến. Bằng ngựa. Những con to làm sao. Loại ngựa kéo nặng- Tôi bò đến- Mà ở đấy có cái khe rãnh. Chúng vứt thức ăn thừa và rác rưởi ở đấy. Hai thằng Đức ngồi hút thuốc. Trong bóng tối, chỉ thấy lửa lập lòe. Và chúng nói thỉ thẩm bằng tiếng Đức: gâu, gâu, gâu... Sau đó, một thằng đánh bật lửa- Tôi thấy cái phích để cạnh bếp. Cũng giống như cái này. Chừng năm bước. Tôi nghĩ: chắc là nước trà hay cà-phê. Còn chúng thì cứ luôn mồm nói, nói mãi. Rồi một thằng đi ra, thẳng kia ở lại. Ngồi hút thuốc. Còn tôi thì đợi. Độ mười phút. Cả bụng bị rác rưởi thấm ướt. Tiếp đó, thằng Đức ra đi ngoài. Phía sau bếp. Lúc đó thì tôi lấy cái phích. Còn cái của chúng ta để lại đấy. Cái không — Chúng sẽ chửi đấy.

        Và Va-lê-ga hơi nhếch mép mỉm cười. Rất ít khi cậu cười như thế.

        — Rượu vang dở lắm, chua lè — Để cho súng máy thì được.

        Chúng tôi mỗi người uống nửa cốc. Hớp từng ngụm nhỏ, súc miệng, cố kéo dài sự thú vị. Rồi nằm ngủ.

        Tôi mơ thấy Hẳc-hải. Từ tảng đá, tôi nhảy xuống nước trong vắt, lấp lánh ánh mặt trời. Còn chung quanh là những con sứa to và nhỏ, giống những chiếc ô con.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2019, 06:59:48 AM

15

        Trận tấn công của quân ta không thu được kết quả. Chúng tôi đứng trong đường hào, theo dõi quân ta và quân địch bắn nhau. Bọn Đức xối xả bắn súng máy không ngớt. Các loạt súng đan nhau, chéo nhau, bay vút cao trên trời. Những viên đạn súng cối bùng nổ khi ở chỗ này, khi ở chỗ kia, ở phía bên kia mương xói. Sau đó, tất cả đều im bặt. Súng cối còn bắn thêm chừng mười phút nữa. Rồi chúng cũng im. Chỉ còn lại tiếng súng của bọn trực nhật thỉnh thoảng bắn mà thôi. Chúng tôi quay trở vào nhà hầm.

        Chúng tôi thức đến sáng. Chẳng buồn nói chuyện. Thiếu thuốc lá làm cho chúng tôi bực bội. Thương binh đòi uống luôn. Đền gần sáng một người nữa hấp hối.

        Bảy giờ, «cái khung» bay đến. Kêu rè rè, rè rè mãi, lượn vòng làm những kính cửa sáng lóa lên. Tiếp đó, bọn Đức chuyển sang tấn công, mà không bắn chuẩn bị gì cả.

        Chúng tôi dùng bốn khẩu súng máy bắn trả lại. Các xạ thủ súng máy nằm ở hai khấu, còn ở hai khẩu kia — Tru-mắc với Các-nau-khốp và tôi với Va-lê-ga. Các đội viên thông tin và bác chiến sĩ già giữ ở các sườn.

        Mặt trời chiếu từ sau lưng. Bắn rất tốt.

        Rồi bọn địch nã súng cối. Chúng tôi tháo súng máy và ngồi xồm. Mảnh đạn bay qua trên đầu, Chỉ đến bây giờ tôi mới nhận thấy mặt Va-lê-ga hốc hác hẳn đi. Má lõm xuống và phù đầy lang ben. Còn mắt thì to và nghiêm. Đầu gối của cậu gần chấm đến tai.

        Một viên đạn súng cối nổ ầm ở trong hào cách chúng tôi mấy bước.

        — Quân súc sinh! —Va-lê-ga nói.

        — Quân súc sinh! — tôi nhắc lại.

        Địch bắn như thể chừng hai mươi phút, Cái đó làm chúng tôi khổ lắm. Rồi chúng tôi đưa súng máy ra ổ đặt và đợi.

        Tru-mắc vẫy tay. Tôi chỉ thấy đầu và tay của cậu.

        — Hai người ở bên trái bị giết rồi, — cậu thét lên.

        Chúng tôi còn lại với ba khẩu súng máy.

        Chúng tôi đánh lùi một đợt tấn công nữa. Súng máy của tôi bị hóc. Đó là khẩu của Đức, và tôi biết kém về nó. Tôi gọi Tru-mắc.

        Cậu ta chạy trong hào. Khập khiểng. Mảnh đạn trúng vào mông của cậu. Mũ không có lưỡi trai bị đạn đâm thủng ở phía trên tai phải.

        — Chúng bắn chết hai cậu kia rồi, — cậu vừa nói, vừa tháo quy-lát. — Chỉ còn lại đống giẻ rách mà thôi.

        Tôi không trả lời gì cả. Tru-mắc làm cái gì đấy với quy-lát rất nhanh đến nỗi không nhận thấy được và lắp nó lại. Bẳn một loạt. Đâu vào đấy cả.

        — Đù đạn không, tiểu đoàn trưởng?

        — Tạm đủ.

        — Ở đằng kia, cạnh nhà hầm, còn một hòm đạn nữa. Hình như là hòm cuối cùng...

        — Đạn súng cỗi đã trúng vào nó rồi.

        Cậu nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi trông thấy bóng của mình trong con ngươi của cậu.

        — Không rút lui chứ, tiểu đoàn trưởng? — hai môi của cậu hầu nhừ không mấp máy. Môi khô và trắng bệch.

        — Không! — tôi nói.

        Cậu chìa bàn tay ra. Tôi nắm nó. Nắm hết sức chặt.

        Rồi bác chiến sĩ già, người Xi-bê-ri, bị tử trận.

        Chúng tôi lại bắn. Khẩu súng máy rung dữ dội. Tôi cảm thấy những giọt mồ hôi chảy ròng ròng khắp ngực, lưng và nách tôi...

        Ở phía trước là đất đai màu xám đáng ghét. Chỉ có một bụi cây nhỏ, cong queo như những ngón tay bị thống phong. Rồi nó cũng biến mất: súng máy cắt đứt ngang.

        Tôi không còn nhớ ra bọn Đức đã xông đến bao nhiêu lần. Một, hai, mười, hai mươi. Đẩu óc ù lên. Mà cũng có thể là máy bay trên đầu? Tru-mắc kêu cái gì đấy. Tôi không nhận ra được cái gì cả. Va-lê-ga đưa hết băng đạn này đến băng khác. Các băng chóng hết quá. Chung quanh đẩy vò đạn, chẳng còn chỗ giẫm chân.

        Đưa nữa! Nữa... Nữa... Va-lê-ga! Cậu mang hòm đạn đếm Mông đít của cậu núng na, núng nính đến buồn cười: khi bên phải, khi bên trái. Mồ hôi ấm và dính nhỏ xuống mắt.

        Đưa nữa!.. Đưa nữa!..

        Sau đó, có mặt của ai đấy hiện ra, đỏ gay, không mũ ca-lô và láng bóng.

        — Đồng chí trung úy, xin để tôi...

        — Đi đi...

        — Nhưng đồng chí bị thương rồi mà...

        — Đi đi...

        Mặt biến đi, thay vào đó là cái gì đấy trắng, hay vàng, hay đỏ. Cái này và cái khác mờ mờ chồng lên nhau. Thường trên màn ảnh có thế này: những vòng tròn nhòe dần đi, còn ở bên trên là dòng chữ. Các vòng to dần, trở nên nhợt nhạt, không màu. Chúng rung động. Rồi bỗng nhiên, mùi nước đái quỷ. Các vòng biến mất. Thay vào chúng là một cái mặt. Mớ tóc vàng phù xuống trán, cổ áo để hở không cài cúc, cặp mắt xanh lam hơi cười. Đúng là cặp mắt Si-ria-ép. Và mớ tóc Si-ria-ép. Và cây đèn có chao màu xanh lá cây. Và mùi nước đái quỳ nồng nặc đến nỗi chảy nước mắt.

        — Này kỹ sư, nhận ra chứ?

        Và giọng nói Si-ria-ép. Và người nào đầy ôm lắc tôi, và cổ áo của ai đấy rơi vào mồm tôi: cổ áo xô xảm, sần sùi.

        Tầt nhiên rồi, đây chính là nhà hầm của chúng tôi. Và Va-lê- ga. Và Khác-la-mốp. Và Si-ria-ép. Si-ria-ép thật sự, còn sống, bằng xương bằng thịt và có mớ tóc vàng.

        — Thề nào, nhận ra chứ?

        — Trời ơi! Tầt nhiên rồi!

        — Thế thì may quá!

        — May quá!

        Chúng tôi bắt tay nhau và lắc, và cười, và không biết nói cái gì nữa. Và tất cả mọi người chung quanh chẳng biết vì sao cũng cười rộ lên.

        — Đồng chí thượng úy, đồng chí cẩn thận hơn một tí, anh ấy bị thương đấy mà. Đồng chí lắc dữ quá.

        Tất nhiên, chính Va-lê-ga nói câu đó. Si-ria-ép gạt tay.

        — Bị thương quái gì thế này. Trầy da một tí thôi mà. Ngày mai sẽ liền da thôi.

        Tôi cảm thấy trong người yếu hẳn đi. Đầu óc choáng váng. Nhất là khi quay đầu.

        — Muốn uổng không?

        Tôi chưa kịp trả lời thì đã cảm thấy trong răng cái ca sắt tây chua chua và có cái gì đấy lạnh và dễ chịu chạy khắp người tôi.

        — Si-ria-ép, cậu từ đâu đến thế?

        — Từ mặt trăng rơi xuống.

        — Không. Hỏi thật đấy.

        — Sao lại «từ đâu»? Nhận được mệnh lệnh, chỉ có thể thôi. Làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn của cậu. Không hài lòng à?

        Si-ria-ép chằng khác gì trước cả. Thậm chí không gầy đi. Anh vẫn chắc nịch, to xương, hiên ngang và đội mũ ca-lô kéo xuống lông mày.

        — Còn cậu thì hơi... hốc hác, — anh nói và mỉm cười. Nụ cười rộng vẫn không tắt, đề lộ những răng trắng muốt. — Các cậu chẳng được nghỉ ngơi lắm.

        — Vâng, nghỉ ngơi thì hơi ít đầy... Nhưng khoan đã, khoan đã. Từ đâu các cậu đến đây, hở?

        — Từ đâu thì cũng thế thôi. Chúng mình đến và chỉ có thế thôi.

        — Còn bọn Đức?

        — Bọn Đức thì mặc xác bọn Đức. Chạy ra khỏi mương xói rồi. Thậm chí để lại hai thằng tù binh nữa.

        — Thề các cậu có đông không?

        Biết nói thế nào đây. Hai tiểu đoàn. Của cậu và tiểu đoàn ba. Chừng năm mươi người.

        — Năm mươi?

        — Năm mươi.

        — Nói dối!

        Anh lại cười. Và tất cả mọi người đứng quanh đều cười.

        — Nói dối làm gì. Theo cậu thì đông à?

        — Thè theo cậu?

        — Biết nói thế nào đây...

        — Khoan đã... Còn cái cầu? Cái cầu thì sao?

        — Có chừng năm người ở đầy rồi, — Khác-la-mốp nói chêm, — nhưng chắc không ở lâu được.

        — Ồ, tuyệt thật. Đúng là tuyệt thật, Còn Tru-mắc, Các- nau-khốp đâu?

        — Sống cả.

        — Thế thì may quá. Cho mình tí nước nữa.

        Tôi uống thêm một ca rưỡi nữa. Si-ria-ép đứng lên.

        — Cứ nghĩ đi cho tỉnh một tí, còn mình đi xem tình hình thế nào. Tối, chúng mình sẽ nói chuyện: sẽ nhớ lại Ô-xcôn, Pê- trô-páp-lốp-ca. Cậu nhớ không, mình với cậu ngồi trên bờ thế nào? — Anh chia tay. — À, còn nhớ Phi-la-tốp không? Xạ thủ súng máy. Tay đã đứng tuổi ấy mà, chúa càu nhàu.

        — Nhớ.

        — Bị xe tăng Đức cán nát. Anh ta không rời súng máy. Thế là bị cán cùng với súng.

        — Tội nghiệp bố già thật.

        —Tội nghiệp. Bố già tuyệt vời lắm,

        — Tuyệt vòi.

        Chúng tôi lặng thinh trong giây lát.

        — Thôi, mình đi nhé,

        — Đi đi. Tối gặp lại.

        Và anh đi ra, kéo chụp mũ ca-lô xuống lông mày trái.

        Va-lê-ga móc túi lấy gói thuốc lá và chìa cho tôi.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2019, 07:00:31 AM

*

        Buổi tối, tôi cùng Si-ria-ép ngồi ở sở chỉ huy tiểu đoàn: tại cống dưới nền đường sắt.

        Tôi chỉ bị thương xoàng thôi: bị rách da trán, và đầu bị xước một đường dài trong tóc, Nhưng tôi còn uống rượu được. Thực ra, không nhiều. Và chúng tôi uống thứ rượu gì đấy hôi kinh khùng, chẳng phải cồn, mà cũng chẳng phải rượu ngang. Chúng tôi nhắm với cá mòi muối. Đó chính là cá mòi mà tôi đã vứt trên đồi, Tất nhiên, Va-lê-ga không thể không nhặt đem về.

        — Lẽ nào có thể vứt được chứ. Lần trước uổng rượu, chính đồng chí đã bảo: «Va-lê-ga, giá có cá mòi muối nhỉ,..» — và cậu xếp từng lát cá nhỏ đã cắt cần thận, không có xương, lên một tờ báo lấy cắp ở lưu trữ của Khác-la-mốp. Chính vì thế mà giữa hai người thường xảy ra cãi nhau.

        Chúng tôi ngồi uống, nhớ lại tháng sáu, tháng bảy, những ngày rút lui đầu tiên, những nhà lều nhỏ mà chúng tôi đã chia tay nhau ở đấy. Sau đó, Si-ria-ép bị mất gần hết tiểu đoàn. Bọn Đức bao vây tiểu đoàn của anh gần Căn-tê-mi-rốp-ca. Bản thân anh xuýt nữa bị bắt làm tù binh. Tiếp đó, cùng với bốn chiến sĩ còn lại, anh đi đến Vi-ô-sen-xcai-a. Ở đấy, xuýt nữa lại rơi vào tay bọn Đức. Nhưng thoát được. Cả năm người vượt qua sông Đông. Qua sông Đông, anh lại được vào một sư đoàn nào đầy tập hợp quân của các đơn vị đã bị đánh tan. Anh chiến đầu ở gần Ca-lát. Bị thương nhẹ. Rồi được đến Xta-lin-gơ-rát: hậu bị quân của mặt trận. Ở đấy, gần một tháng ngồi không, và bây giờ đây anh được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng trong trung đoàn chúng tôi.

        Nằm trên giường gỗ đóng bằng ván, tôi nhìn Si-ria-ép. Tôi cố tìm dù chỉ một sự đổi thay nào đấy trong người anh. Nhưng không, vẫn con người ấy: thậm chí hình tam giác màu xanh lam của áo mai-ô vẫn thòi ra dưới cổ áo không cài cúc.

        — Có nghe gì về Mác-xi-mốp không? — tôi hỏi.

        — Không. Có người nào đấy, mình chẳng còn nhớ là ai nữa, nói với mình hình như có thầy anh ta ở đâu đấy phía bên này sông Đông. Nhưng không chắc lắm. Mình đã đi khắp phía bên này, nhưng chẳng lần nào gặp cả.

        — Trong số quân ta cũ, cậu đã gặp ai?

        — Trong số quân ta cũ? — Si-ria-ép cau mặt. — Trong số quân ta cũ... đã gặp mấy anh đại đội trưởng nào đấy. Cả trưởng ban trinh sát nữa: Gô-gơ-lít-dê ấy mà. Cậu ta ngồi trên xe ô-tô đi qua. Vẫy tay. Còn gặp ai nữa nhỉ? Các cô ở tiểu đoàn quân y. Bí thư chi bộ Bức-tơ-rít-xki... À! — Anh vỗ tay xuống bàn. — Tất nhiên! Bạn của cậu nữa, tay hóa chất, tên gì nhỉ?

        — I-go? Ở đâu? — Tôi hơi nhổm dậy.

        — Ở phía bên này sông. Chừng năm ngày trước.

        — Nói dối.

        — Lại nói dối. Cậu ta ở nhà máy «Tháng Mười Đỏ». Ở sư đoàn ba mươi chín.

        — Ba mươi chín à?

        — Và chẳng rõ vì sao không làm hóa chất nữa, mà cũng làm kỹ sư như cậu. Những bãi mìn gì đấy, bộc phá và những loại quỳ quái khác.

        — Thế cậu làm gì ở ba mươi chín?

        — Chẳng làm gì cả. Tình cờ thế thôi. Mình tìm sở chỉ huy quân đoàn. Có thằng cóc nào đấy bảo với mình bộ chỉ huy ở khe hẻm Ban-nhi. Mình đến đấy. Mà ở đấy tình hình thế nào, cậu biết không? Quá ba bước là chằng thấy gì cả. Khói, bụi và quý quái gì đấy... Vừa vặn lúc đó «ca sĩ» bay đến. Mình chui vào chiến hào. Cũng chẳng phải là chiến hào, mà là cái gì đấy. Rồi mình thấy cánh cửa gỗ. Thôi cứ vào đây cái đã, dù sao cũng tránh được mảnh bom. Mình chui vào bên trong. Sau đó, khi chúng bay đi rồi, mình muốn đi ra, thì có ai đấy tóm tay mình. Nhìn, thì té ra I-go của cậu. Thậm chí lúc đầu mình chằng nhận ra. Ria cạo nhẵn. Rám nắng, đen thui. Chỉ nhờ trông ở mắt mà nhận ra được thôi.

        — Thè nào, I-go còn sống và mạnh khỏe chứ?

        — Còn sống và mạnh khỏe. Tất nhiên, I-go hỏi cậu. Mà mình có thể trả lời cái gì được chứ? Mình không biết — thế là hết. Chúng mình tiếc, tiếc lắm, còn sau đó I-go bảo là cậu hình như ở sư đoàn một trăm tám mươi tư. I-go chỉ sợ nhầm con số. Nhưng dù sao mình cũng cứ ghi. Mình định tìm đến cùng đơn vị với cậu. Bây giờ ở sư đoàn còn thiếu nhiều cán bộ lắm. Ở sở chỉ huy quân đoàn, mình xin đèn một trăm tám mươi tư. Họ thì sẵn sàng dang rộng tay ra mà đón thôi. Còn đến sư đoàn thì mình biết cậu ở trung đoàn nào.

        — Cậu cừ thật!

        — Đấy, sự thế như thế...

        — Còn Xê-đức, cậu có gặp không?

        — Không, không gặp. Mà cũng quên hỏi. Chúng mình nói chuyện với nhau cả thảy chừng mươi phút thôi.

        — Hộp thuốc lá của cậu ta đến bây giờ mình còn giữ. Khi chia tay, tặng cho mình.

        Tôi móc túi lấy hộp thuốc lá bằng nhựa xen-lu-lô-ít.

        — Hộp tốt đấy, — Si-ria-ép nói.

        — Tốt. Chúng mình tự làm lấy. Khi nằm ở nhà máy Máy kéo. Ở đấy, xen-lu-lô-ít cậu biết nhiều thế nào không?

        — Làm tuyệt thật. Lẽ nào tự làm lấy?

        — Tự làm lấy.

        — Thè ai khắc ở nắp thế?

        — Mình. Đó là chữ kết đấy. Khắc bằng dao thôi.

        — Tuyệt. Cậu chỉ có một hộp thôi à?

        — Một. Hộp của mình đã tặng rồi. Đấy là của Xê-đức kỷ niệm đấy. Cậu bé tuyệt lắm.

        — Tuyệt lắm.

        — Chỉ có điều cậu ta không thể nào tin được là trái đất quay quanh mặt trời, chứ không phải ngược lại.

        Si-ria-ép còn rót nữa.

        — Thôi, đừng rót thêm cho mình nữa, — tôi nói, — đầu mình hơi choáng váng rồi.

        Rồi A-brô-xi-mốp, tham mưu trưởng trung đoàn đến. Mặt tái nhợt. Vẻ không hài lòng. Kề rằng xuýt nữa thì sư đoàn trưởng cách chức anh ta, vì trong đêm trước, chứ không phải đêm vừa qua, đã làm hỏng trận tấn công. Nhưng anh làm sao được, vì trung đoàn lại sắp di chuyến. Sau đó bỏ lệnh di chuyển.

        Si-ria-ép cùng với tham mưu trưởng đi ra tiền duyên, còn tôi và Khác-la-mổp chuẩn bị tài liệu đề bàn giao tiểu đoàn.

        Chừng mười hai giờ, Si-ria-ép trở về. Tôi bàn giao tiểu đoàn. Và khi trăng lên, tôi cùng Va-lê-ga đi đến bờ sông. Các-nau- khốp và Tru-mắc vẫn ở ngoài tiền duyên, và thế là tôi không chia tay với họ được.

        Khác-la-mốp chìa tay.

        — Nếu ở trên bờ buồn, thì anh hãy ghẻ lại chỗ chúng tôi, — và đưa cặp mắt hiền lành nhìn tôi.

        Tôi hơi buồn. Tôi đã quen với tiểu đoàn rồi. Anh chiến sĩ đứng ở lối ra vào (họ của anh ta dài lắm và rất phức tạp đến nỗi tôi không tài nào nhớ được) thậm chí đổi súng từ tay phải sang tay trái và đưa tay chào.

        — Đồng chí tiểu đoán trưởng, đi xa chúng tôi đấy à?

        — Vâng, tôi đi đây.

        Anh đằng hắng và lại chào, nhưng lần này là chào tiễn biệt.
— Đồng chí hãy ghé lại, đừng quên chúng tôi nhé.

        — Nhất định, nhất định rồi, — tôi nói và dựa vào vai Va-lê- ga, đi ra khỏi đường hào. Anh chiến sĩ có họ phức tạp kia trân trọng đẩy vào mông tôi.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2019, 07:02:49 AM

16

        Ba ngày tôi ngồi không. Ăn, ngủ và đọc. Ngoài ra chẳng làm gì nữa. Nhà hầm mới của Li-xa-go quả là tráng lệ: kỳ quang của nghệ thuật xây dựng dưới đất. Đường ngầm dài bảy thước, đào ngay ở sườn dốc. Ở cuối, về bên phải là một căn phòng. Đúng là một căn phòng. Chỉ không có cửa sổ mà thôi. Toàn bộ đều cần thận lát ván mỏng, sít sao đến nỗi lưỡi dao không đút vào được. Sàn, trần, hai cái giường và chiếc bàn con ở giữa. Trên bàn con là một cái gương soi hình bầu dục, kiểu đế chính có tượng thần Ái tình hai má phình. Trong góc một bếp dầu lửa và lò sưởi tròn, cao. Nệm, gối, chăn đủ cả. Thế này thì còn cần cái gì nữa chứ? Đối diện, qua một hành lang nhỏ, những chiến sĩ công binh vẫn còn đào. Nhưng bây giờ làm cho mình ở.

        — Chúng mình bắt đầu sống như ông hoàng, — Li-xa-go nói. — Sẽ làm phản hai tầng, một giá đề súng trường và dụng cụ, một bàn, một ghè dài và bếp nấu ăn. Ở hành lang là kho ngòi nổ. Cậu có biết trên đầu chúng ta bao nhiêu đất không? Mười bốn thước! Và toàn bộ bằng đất sét. Cứng như đá hoa cương. Nói chung, làm thật sự và lâu dài.

        Tất cả những cái đó tôi đều thích. Ngoài mặt trận, chỗ ở tốt, an toàn, nếu không phải là một nửa, thì cũng là một phần tư của thắng lợi. Và ba ngày nay, tôi thưởng thức cái «một phần tư» đó.

        Buổi sáng, Va-lê-ga cho tôi ăn canh mì ống béo ngậy và đặc sệt đến nỗi thìa không múc được, sau đó cho uổng trà nấu ở ấm xa-mô-va riêng. Nó reo một cách ấm cúng trong góc. Lót cái gối dưới lưng, tôi nằm giải đáp trò chơi lắp chữ tréo trong những số báo Hồng quân cũ và thưởng thức những tờ báo ở Mát-xcơ-va.

        Trên thê giới yên tĩnh.

        Ở Tân Tây-lan, công bố lệnh nhập ngũ mới. Trên mặt trận Ai-cập, các đội tuần tiễu của Anh hoạt động tích cực. Chúng ta khôi phục quan hệ ngoại giao với Cu-ba và Lục-xăm-bảo. Không quân của Đồng minh đã tấn công không lớn ở La-e, Xa-la-mau-a, Boa ở Tân Ghi-nê và đảo Ti-mơ Các trận đánh nhau với quân Nhật ở vùng Ô-oen-xten-li trở nên quyết liệt hơn.

        Quân Mỹ đã đến Môn-rô-vi-a, thủ đô của Li-bê-ri-a.

        Ở đảo Ma-đa-gát-xca, quân Anh cũng tiến đến đâu đấy, chiếm cái gì đấy, đánh với ai đấy — thật khó hiểu đánh với ai, — và thậm chí bắt được cả tù binh nữa.

        Ở Nhà hát Lớn diễn ca kịch Đu-brốp-xki1. Ở Nhà hát Bé — vở Mặt trận của Cóc-nây-trúc. Ở Nhà hát của Nê-mi-rô-vích- Đan-tren-cô — vở Nàng Hê-len tuyệt đẹp...

        Còn ở đây, mười bốn thước dưới độ sâu, một cây số rưỡi cách tiền duyên mà bây giờ toàn thế giới đang nói đến, tôi cảm thấy thật ấm cúng, yên tĩnh, theo lối sống hậu phương. Lẽ nào còn có những nơi khác yên tĩnh hơn nữa? Những đường phố sáng trưng, tàu điện, xe tơ-rô-lây-buýt, vòi rô-bi-nê mà hễ vặn là nước chảy? Lạ lùng thay...

        Và tôi nằm dán mắt lên trần và suy nghĩ về những vấn đề cao siêu, về điều nói rằng trên thế giới tất cả đều tương đối, rằng bây giờ đối với tôi là lý tưởng: nhà hầm này và cà-mèn canh mì ống, chỉ mong nó nóng thôi, còn trước chiến tranh thì tôi cần những bộ com-lê nào đấy và những cà-vạt có sọc, và trong hiệu bánh mì tôi đã cãi khi người ta bán cho tôi ổ bánh mì giá hai rúp bảy, nhưng nướng chưa chín tới. Và lẽ nào cả sau chiến tranh, sau tất cả những trận ném bom kia, chúng ta lại... vẫn như trước hay sao.

        Rồi tôi chán nhìn trần và nghĩ về tương lai. Tôi đi ra ngoài. vVẫn như trước, những chiếc máy bay quần trên nhà máy «Tháng Mười Đỏ»; vẫn như trước, đạn súng cối nổ trên sông Vôn-ga, ở bờ bên kia, và thỉnh thoảng cả bờ bên này nữa, những chiếc thuyền xuôi ngược và bọn Đức bắn chúng. Nhưng ít người chú ý đến việc đó. Thậm chí khi hai chiếc «méc-xe» ngẫu nhiên bắn xuống bờ sông và những chiếc «gioong-ke», đề cho có vẻ khác thường, đã ném bom không phải xuộng nhà máy «Tháng Mười Đỏ», mà xuống chúng tôi, thì cũng chằng có ai lo sợ gì cả. Ngươi ta chui vào đâu đấy dưới các súc gỗ hay trong chiến hào, và từ đấy nhìn ra. Sau đó, bò ra và nếu có ai chết thì chôn ngay trên bờ sông, trong các hố bom. Những người bị thương thì đưa đến trạm quân y. Và họ làm tất cả những việc đó một cách bình tĩnh, thỉnh thoảng nghỉ tay hút thuốc hoặc đùa tếu.

--------------------
        1. Theo tác phẩm của Pu-skin. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2019, 07:03:42 AM

        Tôi ngồi trên một cái ống to nào đấy chạy dài dọc bờ sông chằng biết đề làm gì và đưa chân. Tôi hút một điều thuốc lá trộn rất nặng đến nghẹn họng, khoái trá hưởng những tia mặt trời ấm áp cuối cùng, bầu trời xanh lơ, ngôi nhà thờ bờ bên kia, và suy nghĩ... Không, có lẽ tôi chằng suy nghĩ gì cả. Chỉ hút thuốc và đưa chân.

        Gác-cút-sa, trung đội phó có ria, đi đến. Tôi đưa cho anh cái đồng hồ thỉnh thoảng bị đứng lại. Anh nhìn đồng hồ, lắc, nói là cái trục xấu quá, và ngồi ngay đấy cạnh chân tôi; sau khi đặt lên đầu gối tấm ván nhỏ, anh bắt đầu chữa. Những động tác của anh chính xác lạ lùng, mặc dù cảm thấy hình như chỉ một sự đụng chạm nhẹ của những bàn tay hộ pháp chai sần kia, thì chiếc đồng hồ sẽ bị méo mó và bẹp nát ngay.

        Trước chiến tranh, anh ta làm nghề gì, tôi cũng không thể hiểu được. Anh hai mươi sáu tuồi, mà anh đã kịp làm cả thợ chữa đồng hồ, cả thợ xây lò, cả thợ lặn ở Đoàn chuyên trách vớt tàu thủy bị chìm, thậm chí cũng đã từng làm cả diễn viên nhào lộn trong đoàn xiếc, và đã ba lần cưới vợ, và hiện vẫn viết thư đều đặn với cả ba bà, dù hai người đã có chồng mới rồi.

        Anh dè dặt khi nói chuyện, nhưng sẵn sàng trả lời các câu hỏi. Vì chẳng có việc gì làm nên tôi hỏi nhiều. Anh trả lời tỉ mỉ, dường như khai lý lịch. Nhưng không hề rời khỏi chiếc đống hổ. Chỉ một lần anh vào đường ngầm để kiểm tra các chiến sĩ công binh.

        Sau đó, A-xta-phiếp đi đến, anh ta là phó tham mưu trưởng phụ trách đơn vị tác chiến, — PTMT-I, theo cách nói của quân ta. A-xta-phiếp còn trẻ, duyên dáng, có hai hàng tóc mai kiểu ơ-nê-ghin và cái nhìn lạnh lủng. Anh nói hơi chả chớt theo điệu bộ Pháp. Chắc anh nghĩ rằng cái đó hợp với mình. Tôi chỉ mới quen anh hai ngày thôi, nhưng anh đã coi tôi là bạn của anh và gọi tôi là Gioóc-giơ. Tên anh ta là Ip-pô-lít. Theo tôi, cái tên rất
đạt. Có cái gì đấy không rõ trong anh ấy làm nhớ đến Ip-pô-lít Cu-ra-ghin1 của Lép Tôn-xtôi. Cũng thiển cận và quá tự tin như thế. Anh là phó giáo sư sử học ở trường đại học tổng hợp thành phố Xvéc-lốp. Khi cầm thuốc hút, anh chĩa ngón tay út lên và chụm môi lại tròn vo để phun khói.

        Theo thói quen nghề nghiệp, anh đã thu thập tài liệu đế sau này viết sử.

        — Này, Gioóc-giơ, anh có hiểu được việc đó thích thú thế nào không? — sau khi thổi bụi ở ống và ngồi lên ống một cách duyên dáng, anh nói. — Bây giờ, chính là lúc các sự kiện sôi nổi nhất, không thể quên điều đó được. Chính chúng ta, những người tham gia vào các sự kiện này, những người có văn hóa và có học thức, phải nhớ lấy điều đó. Năm tháng sẽ trôi qua, và một mẩu báo cáo bộ binh nào đấy đã bị cháy dở của trung đội trưởng của anh sẽ đáng giá hàng nghìn rúp và được nghiên cứu dưới kính lúp. Có phải thế không?

        Anh cầm cúc áo của tôi và lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ hoi mân mê nó.

        — Gioóc-giơ, và chính anh sẽ giúp tôi. Có phải không? Trông cậy vào A-brô-xi-mốp hoặc những người khác cùng loại như anh ta thì không được, tự anh cũng hiểu đấy. Ngoài việc thi hành mệnh lệnh hoặc chiềm ngọn đồi nào đấy, đối với họ chẳng có gì đáng quan tâm cả.

        Và anh hơi mỉm cười với dáng điệu của một con người không nghi ngờ chút nào có thể có người không đồng ý với anh ta.

        Cũng có thể là anh nói đúng. Nhưng điều đó giờ đây chẳng làm tôi quan tâm đến. Nói chung, anh ta làm tôi bực mình. Cả những hàng tóc mai kia, cả cái tên «Gioóc-giơ», cả những móng tay hồng mà anh luôn luôn lấy dao nhíp cạo sạch.

        Trên dốc đứng, một dãy máy bay «gioong-ke» cánh vàng hiện ra. Đưa mắt liếc nhìn chúng, A-xta-phiềp giơ cánh tay làm điệu một cách rất trang trọng.

        — Thôi nhé, tôi đi đây... Những cái báo cáo làm khổ tôi quá chừng. Mỗi ngày hằng hai mươi bản. Ở sở chỉ huy sư đoàn, người ta loạn óc mất rồi. Gioóc-giơ, anh ghé lại chỗ tôi nhé, — và đi khuất vào trong hầm.

        Những chiếc «gioong-ke» xếp thành hàng và lần lượt đâm nhào xuống nhà máy «Tháng Mười Đỏ».

        Thè đầu lưỡi, Gác-cút-sa cố dùng cái nhíp đút một bánh xe con vào chiếc đồng hồ của tôi.

        Ở bếp cán bộ chỉ huy, vang lên tiếng dao thớt. Có lẽ bữa ăn trưa sẽ có món thịt băm viên.

------------------
        1. Trong tiểu thuyết Chiên tranh và hòa hình. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2019, 07:06:13 AM

17

        Đến cuối ngày thứ ba, tôi được gọi đến sở chỉ huy. Các tài sản công binh đã được chở đến. Tôi nhận một nghìn quả mìn. Năm trăm quả thuộc loại chống tăng IM-5 — đựng trong những hòm bằng ván không bào, to tướng, nặng sáu ki-lô, và cũng chừng ấy thuộc loại chống bộ binh PMD-7 với bảy mươi lăm gam thuốc nổ. Bốn mươi cuộn dây thép Mỹ, xẻng — hai trăm cái, cuốc chim — ba mươi cái. Cả hai thứ đều xấu cả. Nhất là xẻng. Bằng sắt, làm thì cong lên và cán lại không bào nhẵn.

        Toàn bộ món tài sản ấy chúng tôi để trên bờ sông, đối diện lối ra vào đường ngầm của chúng tôi. Các chiến sĩ công binh luân phiên trực nhật, vì thật khó tin cậy vào lòng trung thực của các đơn vị bạn.

        Buổi sáng, chúng tôi mất biến hai mươi cái xèng và mười cái cuốc chim. Tu-ghi-ép, người gác, một chiến sĩ mặt tròn, to lớn, ngạc nhiên chớp mắt. Anh đứng nghiêm hai tay buông xuôi, những ngón tay hơi run vì bị căng thằng.

        — Báo cáo đồng chí trung úy, tôi chỉ vừa mới bước ra đề đi ngoài thôi... Thật đầy... Chứ chằng đi đâu cả...

        — Đi ngoài hay không đi ngoài, cái đó chẳng liên quan gì đến chúng tôi cả, — Li-xa-go nói, cả giọng nói lẫn mắt nhìn đều rất dữ tợn đến nỗi những ngón tây của Tu-ghi-ép càng run nhiều hơn. — Phải làm sao đến tối có đầy đủ...

        Đến tối, khi kiềm tra lại, thì có hai trăm mười cái xẻng, ba mươi lăm cuốc chim. Tu-ghi-ép mặt mày tươi rói lên.

        — Đấy, phải giáo dục như thế! — Li-xa-go vui vẻ nói, và sau khi tập hợp các chiến sĩ trên bờ sông, anh nói hàng tràng những lời quở trách dài dòng, rằng xẻng cũng là súng trường, và nếu bỗng dưng người nào đấy đánh mất xẻng, cuốc hay thậm chí cái kéo cắt dây thép gai, thì sẽ bị đưa ra tòa án ngay. Các chiến sĩ chăm chú lắng nghe và khắc họ của mình vào cán xẻng, cán cuốc. Khi nằm ngủ, họ đặt xẻng dưới đầu.

        Lúc đó tôi làm sơ đồ. Tôi vẽ một tấm bản đồ to về hệ thống phòng ngự của quân ta trên giấy bóng, dùng bút chì màu tô và đi đến chỗ kỹ sư công binh sư đoàn.

        Ông ở cách chúng tôi chừng ba bốn trăm thước, cũng ở trên bờ sông, trong tiểu đoàn công binh. Họ của ông ta là Út-xti-nốp. Đại úy. Đứng tuổi: chừng năm mươi. Đeo kính. Lịch sự. Rõ ràng là lần đầu tiên đến mặt trận. Khi nói chuyện, ông mân mê cây bút chì vàng vót nhọn rất đẹp trong tay. Mỗi một ý kiến diễn đạt đểu được ông ghi lại trên tờ giấy, bằng nét chữ tròn trặn và nhỏ xíu: thứ nhất, thứ hai, thứ ba.

        Trên bàn, ở trong nhà hầm, đặt một chồng sách: Khoa học xây dựng công sự của U-sa-cốp, Củng cố địa điểm của Ghéc-ba- nốp-xki, những tài liệu chỉ dẫn, những sách chỉ nam, những điều lệnh, những tập sách của Viện công binh đóng bìa màu và thậm chí cả cuốn Hủtte1 dày cộm.

        Kế hoạch cùng cố tiền duyên của Út-xti-nốp thật là đặc biệt về quy mô, về tính đa dạng của những phương tiện được sử dụng và về cách thảo ra rất chi tiết của toàn bộ những phương tiện đa dạng đó.

        Ông lấy tấm bản đồ ra. Bản đồ đầy những dấu ngoặc, những đường cung, những chữ thập, những hình thoi, những đường chữ chì đủ màu sắc khác nhau, rải rác khắp nơi. Đó không phải là bản đồ nữa, mà là một tấm thảm nào đấy. Ông cần thận trải nó ra trên bàn.

        — Tôi sẽ không giải thích cho anh rõ tất cả những cái ấy quan trọng đến mức nào. Vì tôi nghĩ rằng tự anh cũng đã hiểu. Qua lịch sử chiến tranh, tôi với anh đều biết rõ rằng trong điều kiện của chiến tranh trận địa, mà chính là chúng ta đang hướng tới loại chiến tranh như thế, — thì số lượng, chất lượng và sự tính toái! có căn cứ xác đáng của các công trình công binh đóng một vai trò rất quan trọng, thậm chí tôi có thể nói, tối ư quan trọng.

        Ông nuốt nước bọt, đưa đôi mắt nhỏ có lớp da xệ xuống trên mi và nhìn tôi qua cặp kính.

        — Chính nhờ thế mà tám mươi bảy năm trước đây, Xê-bát- xtô-pôn đã đứng vững, do các đồng nghiệp của chúng ta, những người công binh, và cả Tốt-lê-ben21 ấy nữa đã biết thiết lập một vành đai các công trình công binh và chướng ngại vật hầu như bất khả xâm phạm. Người Pháp và người Anh và cả người Xác-đe- nhơ nữa cũng quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. Chúng ta biết, chằng hạn, trước đồi Ma-la-khốp...

        Ông kề về những công sự ở Xê-bát-xtô-pôn một cách rất chi tiết với hàng đống con số, rồi chuyển sang chiến tranh Nga-Nhật, sang trận Véc-đon, sang hàng rào dây thép gai nổi tiếng ở ngoại vi Các-khốp-ca.

        — Anh thấy đấy, — ông thận trọng cất bản sơ đồ bố trí các thành quách và hào lũy vào trong cặp có dòng chữ đề «Những tấm gương lịch sử», — công việc của chúng ta ngập lút đầu. Và chúng ta càng sớm thực hiện được điều đó chừng nào, thì càng tốt chừng ấy.

        Ông viết lên tờ giấy con số «1» và vòng nó lại.

        — Đó là thứ nhất. Thứ hai. Xin anh hàng ngày, đến bảy giờ đúng, gửi cho tôi báo cáo về công việc đã làm trong đêm: A, do công binh của anh làm; B, do công binh của sư đoàn làm; c, do công binh của quân đoàn làm, nếu có; mà tôi hy vọng là sẽ có; D, do các đơn vị bộ binh làm. Ngoài ra...

        Tờ giấy lại rải rác những con số: La-mã, A-rập, trong các vòng tròn, các đường cung, các ô vuông hay không có những thứ ấy.

        Khi tạm biệt, ông chìa bàn tay có những khớp phình ra như tay người đau bệnh thống phong.

        — Đặc biệt tôi yêu cầu anh đừng quên đến ngày mười bốn và ngày hai mươi chín gửi báo cáo: I, 1-b, 13 và 14. Và đến ngày ba mươi gửi báo cáo hàng tháng. Nếu đến ngày hai mươi chín gửi thì càng tốt. Và hàng tuần làm bản kê liên tục các công việc đã làm. Điều đó hết sức quan trọng...

        Ban đêm, Li-xa-go ngồi ăn hộp cá, vui vẻ cười vang.

        — Này, trung úy, cậu sẽ chết thôi. Phải mở cả một văn phòng làm đồ án mới được. Những cái mà ông ta viết, ba ngày cậu cũng chả đọc xong đâu. Mà với những cái xẻng này và mười sáu công binh này, thì ba năm cậu cũng không làm nổi. Sao cậu không hòi xem ông ấy có phải ở thành phố Phơ-run-dê không? Có phải từ Viện công binh đến hay không?

-----------------
        1. Sách về kỹ thuật của Đức. — ND.

        2. E. I. Tôt-lê-ben (1818—1884) — kỹ sư công binh Nga đã lãnh đạo công việc công binh trong thời kỳ phòng ngự Xê-bát-xtô-pôn 1854—1855. — ND.



Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2019, 05:31:03 PM

18

        Những ngày trôi qua.

        Quân ta bắn đại bác. Loại nhỏ, nòng ngắn, của trung đoàn, bắn trực diện từ tiền duyên. Loại to hơn, của sư đoàn, giấu mình ở đâu đấy giữa lò sưởi và cái giường hòng, bắn từ vách đứng trên bờ sông. Và loại rất lớn, có những nòng dài chĩa lên dưới lưới ngụy trang, bắn từ phía bên kia sông Vôn-ga. Cả loại nặng, hai trăm linh ba ly cũng lên tiếng. Quân ta dùng máy kéo chở chúng đến, nòng pháo riêng, mâm pháo riêng. Trưởng ban tài chính dễ thương, sinh động, hiếu kỳ (mà mọi người trong trung đoàn đểu gọi là La-da) đi từ phía bên kia đến trả tiền lương, nói rằng ở bờ bên kia đại bác nhiều không biết cơ man nào mà kể.

        Bọn Đức vẫn thích dùng súng cối như trước. Chúng bắn «con lừa» vào chỗ bến phà qua sông, và sau đó những con cá bị chết tức, nồi phình bụng sáng bạc lên, lấp lánh hồi lâu trên mặt sông Vôn-vga.

        Máy bay rú ầm ầm, ban ngày thì những chiếc của bọn Đức, ban đêm thì loại «bẳp ngô» của quân ta. Thực ra, của bọn Đức cũng có loại «đi ăn đêm», và bây giờ đêm đêm chằng làm thế nào phân biệt được đâu là của ta, đâu của địch. Chúng tôi đào đất, đặt mìn và viết những bản báo cáo trường giang đại hải. «Trong đêm vừa qua đã làm được bao nhiêu chiến hào bộ binh, bao nhiêu đường hào, bao nhiêu chỗ đặt súng cối, nhà hầm và bãi mìn, thiệt hại bao nhiêu, trong thời gian đó những cái gì đã bị phá hùy, và v.v...»

        Ở trên bờ sông, chúng tôi đã khai trương những xưởng thợ. Hai chiến sĩ công binh, trong số những bệnh binh, làm những thùng gỗ hình trụ, sản xuất dây xoắn ốc Bru-nô bằng dây thép gai. Những dây này hao hao giống cây đàn phong cầm Nga và khúc giò luộc. Sau đó, các chiến sĩ công binh của sư đoàn dăng chúng ra trên tiền duyên, phía trước chiến hào. Chiểu chiều, một trung đội của đại đội hai thuộc tiểu đoàn công binh lại đến. Các chiến sĩ của tôi đặt mìn và hướng dẫn làm tuyến thứ hai. Việc này do những người gọi là «trốn việc» làm, tức là những người thợ may, thợ cắt tóc, giữ chiến lợi phẩm và những xạ thủ súng phun lửa còn chưa nhận được vũ khí. Tất nhiên, phụ trách việc đặt mìn là Gác-cút- sa và tiểu đội trưởng tiểu đội hai A-gơ-nhíp-xép — một người cương nghị, cố gắng, nhưng không được các chiến sĩ yêu mến vì cái thói lỗ mãng.

        Li-xa-go vẫn hoạt động và quát tháo như trước. Anh ta bao giờ cũng có nhiệm vụ khẩn cấp của trung đoàn trưởng giao cho cả: khi thì phải tổ chức kho lưu động cung cấp vật dụng, khi thì phải xây dựng xưởng quân khí, khi thì phải làm cái gì đấy nữa. Mùi rượu trắng sặc sụa bốc ra từ mồm, nhưng nói chung anh xử sự đúng mực.

        Ban ngày, chúng tôi nghỉ ngơi, sửa sang trang bị nhà hầm, trét các khe hở ở thuyền. Buổi tối, khi sao vừa mọc, chúng tôi lấy xẻng cuốc và đi ra tiền duyên. Các đám cháy còn ít. Pháo sáng soi đường.

        Sau khi làm việc xong, tôi ngồi hút thuốc lá rời với Si-ria-ép và Các-nau-khốp, — tôi thường đến tiểu đoàn hai nhiều hơn cả —  trong nhà hầm chật chội và sưởi nóng, chúng tôi nguyền rủa đời lính và tị nạnh với những người ở hậu phương. Thỉnh thoảng chúng tôi đánh cờ, và Các-nau-khốp luôn luôn thắng tôi. Tôi là một tay cờ thấp.

        Buổi sáng, khi trời mới mờ mờ sáng, chúng tôi trở về nhà. Buổi sáng đã lạnh rồi. Trước mười giờ, sương muối vẫn chưa tan. Trong nhà hầm, đã có sẵn ấm trà, đồ hộp còn lại từ hôm qua, và bếp lò sưởi nổ lép bép một cách ấm cúng trong góc.

        Theo ngôn ngữ dùng trong các bản thông cáo thì tất cả những cái đó gọi là: «Các đơn vị của ta tiến hành cuộc chiến đấu bằng hỏa lực với quân thù và cùng cổ vị trí của mình». Những chữ «khốc liệt» và «nghiêm trọng», chừng mươi ngày nay, không thấy trong các bản thông cáo nữa, dù rằng bọn Đức vẫn như trước, ném bom từ sáng đèn tối, và bắn phá, và tấn công khi thì nơi này, khi thì chỗ kia. Nhưng bây giờ, chúng không còn hăng hái và tự tin như trước nữa, và càng ngày chúng càng ít ném xuống đầu chúng tôi hàng đám truyền đơn kêu gọi đầu hàng và đừng hy vọng vào Giu-cốp đang tiến từ miền bắc đến.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2019, 05:31:20 PM

        Tháng mười một bắt đầu với những cơn giá lạnh buổi sáng ngày càng tăng và với quân phục mùa đông mà bây giờ chúng tôi đã được phát. Mũ lông, áo bông, quần bông, xà cạp bằng dạ, bao tay bằng da lông thỏ bờm xờm. Nghe nói nay mai sẽ có ủng dạ và áo gi-lê bằng lông. Chúng tôi lấy ngôi sao từ mũ ca-lô gắn vào mũ lông màu xám và chuyển sang nội quy mùa đông: không ra sông Vôn-ga tắm và bắt đầu tính xem còn bao nhiêu ngày nữa thì đến mùa xuân.

        Út-xti-nốp thì làm tình làm tội tôi bằng hàng đống giấy tờ. Những tờ giấy nho nhỏ, xếp cần thận, niêm phong hẳn hoi và ở trên góc phải nhất thiết có mấy chữ «Tối mật» và «Chỉ Kéc-gien- xép bóc». Bằng những cách diễn đạt khác nhau, những tờ giấy ấy nằng nặc đòi tôi khi thì bản báo cáo hàng ngày chưa gửi, khi thì báo cáo hàng tháng chậm trễ, khi thì báo trước sự cần thiết phải chuẩn bị bãi mìn trong điều kiện mùa đông: bôi dầu các ngòi nổ và sơn trắng những quả mìn ngụy trang kém.

        Một chiến sĩ công binh vui vẻ, mặt rỗ và mũi hếch đến lạ lùng, liên lạc viên của Út-xti-nốp, thường mang những giấy tờ ấy đến. Từ ngoài cửa, giọng nói trẻ trung và lanh lãnh của cậu đã vang lên:

        — Đồng chí trung úy, mở cửa cho với! Bưu điện buổi sáng đây.

        Cậu này và Va-lê-ga thân nhau. Và hai cậu ngồi xổm ở lối ra vào, nhất định phải hút một điếu thuốc và bàn tán về thủ trưởng của mình hay của người khác.

        — Thù trưởng của tớ thì khi nào cũng viết luôn tay, — giọng cậu liên lạc viên vang lên qua cửa ra vào — Vừa mới dậy là đã cầm ngay bút chì. Theo tớ, thậm chí ông cũng không đi vào nhà xí nữa cơ. Ông sợ đạn súng cối quá chừng. Ra lệnh làm ụ chắn bằng gỗ súc trước cửa ra vào và đậy ở trên nhà xí bằng thanh đường ray.

        — Còn thủ trưởng của tớ thì khác, chẳng thích viết đâu, — Va-lê-ga nói giọng trầm trầm. — Cứ kêu thủ trưởng của cậu luôn đấy, bảo rằng gửi quá nhiều giấy tờ. Thế nhưng thù trưởng của tớ thích đọc sách lắm. Cái gì cũng đọc hết. Tay múc canh ăn, nhưng một mắt cứ nhìn vào sáeh hoặc báo. Thủ trưởng của tớ học cao lắm.

        — Hừ, chằng cao hơn thủ trưởng của tớ, — cậu liên lạc viên bực mình. — Cậu có thấy không, trên bàn chỗ chúng mình để bao nhiêu là sách? Chính mắt tớ nhìn vào một cuốn đến năm trăm trang cơ. Và chữ thì nhỏ lăn tăn, li ti, không có kính thì chằng tài nào đọc được đâu.

        — Thế thủ trưởng của cậu có thường đến tiền duyên không? — bỗng Va-lê-ga hỏi.

        — Đi sao được. Ông già rồi. Vả lại ban đêm chẳng thấy gì cả.

        Va-lê-ga lặng thinh một cách đắc thắng. Sau khi nhận những bản báo cáo của tôi cậu liên lạc viên ra đi.

        Thỉnh thoảng Tru-mắc đến chỗ chúng tôi, cậu sống bên cạnh, cách chừng mươi bước, và đem cỗ bài đến. Và thế là chúng tôi đánh «tú-lơ-khơ» với nhau. Thỉnh thoảng tôi cùng với Li-xa-go đến chỗ cậu ta đề nghe máy hát.

        Đôi khi La-da, trưởng ban tài chính, từ bờ bên kia đến. Anh ở chỗ chúng tôi. Va-lê-ga trải áo ca-pốt giữa hai cái giường cho anh nằm, còn mình thì thu xếp cạnh lò sưởi. La-da kể những tin tức ở bờ trái, nói rằng hình như người ta sẽ đưa chúng tôi đi phiên chế lại. Có thế là ở Lê-nin-xcơ, mà cũng có thể ở cả Xi-bê-ri nữa. Chúng tôi cũng biết đó chỉ là điều nhảm nhí thôi, người ta chẳng đưa chúng tôi đi đâu cả, nhưng chúng tôi giả vờ tin, vì tin thì dễ chịu nhiều hơn là không tin, và chúng tôi cùng nhau bàn những dự định trong cuộc sống hòa bình ở U-phim-xcơ Đỏ hay ở Tôm- xcơ.

        Có một bận, chiếc «méc-xe-smít» rơi ngay trên vị trí của trung đoàn chúng tôi. Ai bắn rơi thì chằng rõ, nhưng trong các bản báo cáo buổi tối của cả ba tiểu đoàn đều viết: «Bằng loạt đạn trung liên chính xác, các đơn vị của tiểu đoàn chúng tôi đã hạ một chiếc máy bay của địch». Nó rơi xuồng cách nhà máy thịt không xa. Và mặc dù súng địch bắn đến và các cán bộ chỉ huy gào thét, nhưng người ta vẫn chạy đến chiếc máy bay rất đông. Sau khi máy bay rơi chừng nửa giờ, Tru-mắc đem đến một chiếc đồng hồ xinh đẹp có những kim phát quang và một miếng thủy tinh plê-xi. Một tuần sau, tất cả chúng tôi đều diện bót thuốc lá to và trong suốt, do Gát-cút-sa sản xuất. Anh ta có vô số khách đặt hàng. Thậm chí thiếu tá đã có ba tấu thuốc lá và không bao giờ hút thuốc lá điếu, cũng đặt làm cho mình một cái bót đặc biệt có vành kim loại.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2019, 05:31:59 PM

19

        Tối mồng sáu, Các-nau-khốp gọi điện thoại cho tôi:

        — Bọn Đức chẳng tấn công. Đang buồn đây. Mà hôm nay tôi lại có thịt băm viên. Và mai là ngày lễ rồi. Đên đây chơi nhé!

        Tất nhiên, tôi đi ngay. Chúng tôi đến. Tôi, Si-ria-ép, và sau. đó là Pha-rơ-be.

        — Cậu nhớ không, — Si-ria-ép nói, — dạo mình với cậu uống rượu ở ngoại vi Cu-pian-xcơ không? Đêm cuối cùng... Ở hầm nhà chỗ mình. Và nhẳm bằng khoai tây rán. Phi-líp của mình là chúa rán khoai tây. Nhớ Phi-líp không? Mình mất cậu ta. Ở gần Căn-tê-mi-rốp-ca. Cậu ta tốt thật... — Anh mân mê cái ca trong tay.

        — Lúc bấy giờ cậu nghĩ gì? Hả? I-u-rơ-ca? Khi chúng mình ở lại trên bờ sông? Trung đoàn đi, còn chúng mình ở lại và nhìn pháo sáng. Lúc ấy thì cậu nghĩ gì?

        — Chẳng biết nói thế nào với cậu đây...

        — Cậu có thể không nói. Mình biết. Lúc đó, bực mình thật. Bực mình vô cùng. Có phải không? Còn sau đó, ở trong làng nào đấy, cậu nhớ không, cụ già cho chúng mình uổng nước? Ông cụ bảo là các anh không muốn chiến đấu à? Khỏe như vâm, mà không muốn. Và chúng mình chẳng biết trả lời thế nào cả. Giá bây giờ đưa bố già đến đây nhỉ, bố già chì còn độc một cái răng.

        Bỗng nhiên, anh dừng lại, và đôi mắt anh trở nên hẹp và sắc. Đã một lần tôi thấy mắt anh như thế, khi anh biết có hai chiến sĩ bỏ trốn.

        — Này, kỹ sư, cậu nói đi, trong thời gian rút lui, cậu có cảm giác thế này không? Hình như là hết rồi... Tan rã cả rồi,.. Chẳng còn gì nữa. Có không? Mình thì một lần có như thế đấy. Khi chuyển quân qua sông Đông, Cậu biêt không, tình hình lúc đó thế nào? Cứ đạp lên đầu nhau mà đi, Mình cùng với một đại úy, cũng là kỹ sư công binh, — tiểu đoàn của tay ấy xây dựng cầu qua sông ở đấy, — chúng mình cố thu xếp trật tự. Cầu phao ọp ẹp, sau trận ném bom thì phải đút nút và trét khe hở khắp nơi. Xe ô-tô thì đi hàng một, nước chấm đến bụng xe, Chúng mình thu xếp tàm tạm. Tổ chức xếp hàng. Và lúc đó, bổng nhiên, có một thiếu tá nào đấy đội mũ lái xe tăng, ngồi trên chiếc «vi-lít». Hắn ta đi xe đến tận cầu, và ở đầy thì đứng thẳng người trên xe và quát mình: «Cái quỷ gì mà mày không cho đi! Xe tăng của Đức thì chỉ cách có ba cây số thôi! Mà ở đây mày lại thu xếp trật tự!» Cậu biết không, lúc đó mình thất kinh, Mà hắn ta thì lăm lăm khấu súng lục trong tay, mặt thớt đỏ ngầu, mắt lồi ra. Chà, mình nghĩ, các thiếu tá mà ăn nói thế, thì chắc là tình hình xấu tệ lắm rồi. Còn xe ô-tô thì cái nọ đã chen vào cái kia rồi. Mình thấy tay đại úy của mình bị hất ngã lộn tùng phèo, Và bỗng nhiên, mình điên tiết lên. Nhảy lên chiếc «vi-lít» và bịch! — một, hai, ba cú ngay vào mõm đồ chó đẻ ấy, Giật lấy súng lục, mình cho hắn ăn tất cả tám viên đạn... Còn xe tăng thì té ra hoàn toàn chẳng có cóc xơ gì cả, Và thằng tài xế trốn biệt đâu mất, Có lẽ là bọn khiêu khích? Hả?

        — Có lẽ, — tôi đáp.

        Si-ria-ép lặng thinh, nhìn chằm chằm vào một chỗ trước mặt. Nghe rõ trong máy điện thoại tiếng ai chửi rủa,

        — Các-nau-khốp, chơi một bài gì đi! — Si-ria-ép ngồi dậy và nói,

        Các-nau-khốp lấy cây đàn ghi-ta trên vách xuống, Hôm qua, các chiến sĩ trinh sát đã tìm thấy cây đàn ấy ở trong một ngôi nhà sụp đổ nào đấy,

        — Chơi bài gì... cho thật xúc động ấy...

        Si-ria-ép duỗi đôi chân bó sát bởi những ống ủng da bốt-can và nằm cho tiện hơn trên giường,

        — Li-ô-sca, tình hình trên tiền duyên thế nào? Yên tĩnh chứ?

        — Báo cáo đồng chí thượng úy, yên tĩnh ạ, — Li-ô-sca cố trả lời tình táo để ngươi ta không cho rằng cậu ngủ, — Người ta đã mang thức ăn bữa tối đến đại đội năm, Anh em kêu là lỏng quá.

        — Được, mình sẽ cho lão chuẩn úy biết tay. Nếu đêm chuẩn úy đến thì đánh thức mình đậy nhé. Nào, Các-nau-khồp, đánh đàn đi.

        Các-nau-khốp lên dây đàn, lấy hòa âm. Té ra, anh có giọng có rất dịu dàng, ở giữa ba-ri-tông và tê-no, và có khiếu nghe nhạc tuyệt vời. Anh hát không to, nhưng say sưa, thậm chí đôi lúc nhắm mắt lại. Tất cả những bài hát đều của Nga cả, buồn buồn làm cho người ta đăm chiêu nghĩ ngợi. Nhiều bài tôi nghe lần đầu. Hát hay thật. Và mặt anh dễ thương, sáng sủa, thanh cao. Lông mày rậm. Mắt xanh lam, thông minh và bình tĩnh. Và bao giờ cũng thế. Đôi mắt có vẻ sâu sắc lạ lùng và khi nào cũng hơi cười. Thậm chí ngay ở trên kia, trên đồi, đôi mắt ấy vẫn cười.

        Pha-rơ-be ngồi, lấy lòng bàn tay che mắt. Những sợi tóc quăn, hung hung đò lòi ra qua các ngón tay. Bây giờ anh ta đang nghĩ, gì đây nhỉ? Thậm chí tôi không thể đoán được, Nghĩ đến vợ, đến con, đến tích phân, đến những trị số vô cùng nhỏ ư? Hay nói chung, trên đời này, chằng có gì làm anh quan tâm đến cả. Có khi tôi cảm thấy hình như cả cái chết cũng chẳng làm anh sợ: khi máy bay địch ném bom anh vẫn hút thuốc với một vẻ thờ ơ, buồn chán lạ lùng,

        Các-nau-khốp đã mệt hay chỉ vì anh hát chán rồi. Anh treo cây đàn lên đinh. Chúng tôi ngồi lặng thinh một lúc. Si-ria-ép chống một khuỷu tay, hơi nhổm dậy,

        — Pha-rơ-be... Trước chiến tranh cậu cũng như thế à?

        Pha-rơ-be ngẩng đầu,

        — Như thế nghĩa là như thế nào?

        — Đấy, như thế, như cậu bây giờ ấy mà.

        — Thế tôi bây giờ thế nào?

        — Bố ai mà biết được... Mình không hiểu được cậu, uống rượu cậu chẳng thích, chửi nhau cậu chằng thích, chơi gái cậu chẳng thích... Đấy, cậu hãy xem kỹ sư của chúng ta kìa. Cũng là dân đại học cả đấy chứ.

        Pha-rơ-be hơi mỉm cười.

        — Tôi không hiểu giữa rượu, gái và bậc đại học có quan hệ gì với nhau.

        — Vấn đề khống phải là quan hệ. — Si-ria-ép ngồi dậy trên giường, giạng chân ra. — Các-nau-khốp thì điểm đạm, khiêm tốn... Này, Các-nau-khốp, cậu đừng nghe đấy! Còn khi chửi nhau thì cậu ta chửi rất cừ.

        — Vâng, trên lĩnh vực đó thì tôi không giỏi thật, — Pha-rơ-be trả lời.

        Si-ria-ép cười.

        — Cậu đừng nghĩ là mình muốn làm hồng cậu đâu. Hay là dạy cậu chửi. Hoàn toàn không phải như thế. Chỉ vì mình không hiểu tại sao lại như thế... Thế cậu biết bơi chứ?

        — Bơi à? Không, tôi chẳng biết bơi.

        — Thế đi xe đạp?

        — Cả đi xe đạp cũng không biết.

        — Hừ, thế thì đã nện vào mõm thằng nào chưa?

        — Chà, sao cậu cứ bám mãi lấy Pha-rơ-be làm gì thế, —  Các-nau-khốp nói. — về chuyện đó thì cậu cứ nói với Tru-mắc ấy. Cậu ta sẽ kể cho mà nghe nhiều ối ra đấy.

        — Đã nện vào mõm rồi, — Pha-rơ-be bình tĩnh nói và đứng lên.

        — Nện? Nện ai?

        — Tôi đi đây... — không trả lời câu hỏi, Pha-rơ-be cài cúc áo ca-pốt.

        — Không, cậu nện ai?

        — Không hay... Xin phép đi.

        Và đi ra.

        — Cậu ấy lạ lùng thật, — Si-ria-ép nói và đứng lên.

        Các-nau-khốp mỉm cười. Anh ta có hai má núng đồng tiền, như trẻ con.

        — Hôm qua tôi ghé lại chỗ cậu ta. Từ bờ sông đến. Cậu đang ngồi viết. Chắc là thư. Viết xong trang giầy thứ tư xé ra ở vở, nét chữ nhỏ lăn tăn, li ti. Chà, tôi muốn được xem quá.

        Si-ria-ép kín đáo nháy mắt cho tôi.

        — Mà có thể đó không phải là thư?

        — Thế là cái gì?

        — Có thế là thơ.

        Các-nau-khốp đỏ mặt.

        — Sao cậu đỏ mặt, hở ?

        — Không, đỏ mặt đâu, — và mặt càng đỏ hơn,

        Si-ria-ép nhịn cười, lặng thinh và nhìn Các-nau-khốp không rời mắt,

        — Nào, của cậu ra sao?

        — Cái gì của tôi?

        — Tất nhiên, thơ ấy mà,

        — Thơ nào?

        — Cậu tưởng là chúng mình không biết hay sao? Thơ trong vở ấy mà. Vở bìa vải sơn. Thế nào, Kéc-gien-xép, trong vở viết thế nào, cậu nhớ không?

        Các-nau-khốp hết dường thoát,

        — Chà, viết thế thôi... Chẳng qua chỉ vì không có việc gì làm,

        — Chằng qua chỉ vì không có việc gi làm... Tất cả các anh đều nói thế cả: chằng qua chỉ vì không có việc gì làm. Chắc là Pu-skin cũng thế, chẳng qua chỉ vì không có việc gì làm...

        Nửa giờ sau, tôi và Các-nau-khốp đi ra. Đến cột tín hiệu xe lửa thì chúng tôi chia tay nhau: anh đi về phía phải, tôi rẽ sang phía trái,

        — Còn thơ thì thế nào cậu cũng sẽ đọc cho nghe nhé, — khi chia tay, tôi nói,

        — Khi nào đấy... — anh trả lời mập mờ và đi khuất vào bóng tối,


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2019, 05:33:41 PM

20

        Đêm tối như bưng, Không thấy sao. Chỉ rải rác một đôi chỗ có những chấm đục đục và mờ nhạt. Chung quanh yên lặng. Thỉnh thoảng ở trên gò có tiếng súng bắn ít một.

        Hai chân cứ bị vướng vào các thứ đồ vật vứt bỏ. Có một lần tôi xuýt ngã, vì vướng vào một sợi dây thép nào đấy.

        Có ai ngồi cạnh chiếc cầu con bị phá hủy. Ánh lửa của điếu thuốc lập lòe.

        — Tay quỷ nào mà lại hút thuốc đấy?

        — Nhưng từ đây chằng thấy được đâu, — một giọng hơi ồ ồ trong bóng tối đáp lại,

        Giọng của Pha-rơ-be.

        — Anh làm gì ở đây?

        — Chằng làm gì cả... Tôi thở không khí,

        Tôi đến gần hơn,

        — Anh thở không khí à?

        — Vâng, thở không khí,

        Và tự nhiên tôi ngồi xuống. Pha-rơ-be không nói thêm gì nữa, Anh ngồi hút, Tôi cũng châm thuốc lá hút, Cả hai lặng thinh, Tôi không biết có thể nói chuyện với anh về cái gì được.

        — Bây giờ sắp có hòa nhạc đấy, — bỗng Pha-rơ-be nói.

        — Không đâu, — tôi trả lời, — «Con lừa» của chúng chằng rõ vì sao hai ngày nay câm họng rồi.

        — Không, tôi không nói về cái ấy, mà về hòa nhạc thật sự cơ. Phía bên kia có đặt loa phóng thanh. Đang phát tin giờ chót. Còn sau đó sẽ có hòa nhạc. Hôm qua, cũng phát vào giờ này,

        — Từ Mát-xcơ-va phải không?

        — Chắc là từ Mát-xcơ-va.

        Các chiến sĩ đi qua, Người nọ nối đuôi người kia thành một hàng dài, chửng mươi người. Họ mang đạn súng cối và các đạn dược khác. Nghe rõ tiếng đá dăm lạo sạo tụt xuống dưới chân họ, và tiếng chửi thầm khe khẽ mỗi khi vấp. Chừng hai mươi phút sau, họ quay trở lại. Và sẽ còn đi nửa giờ nữa, vừa vấp, vừa chửi trời tối, sắt vụn vứt lung tung, thằng Hít-le và chuẩn úy bắt họ vác một lúc mỗi người bốn viên đạn súng cối tiểu đoàn. Mệt đêm họ đi sáu hay tám chuyển. Ban ngày, số đạn đó sẽ được dùng hết. Và khi mặt trời chỉ vừa lặn, thì họ lại đến bờ sông, từ bờ sông ra tiền duyên, từ tiền duyên đến bờ sông,

        — Tình hình ở đại đội ra sao? — tôi hỏi,

        — Chằng hề gì, — Pha-rơ-be lãnh đạm trả lời, — Không có thay đồi gì đặc biệt,

        — Bây giờ chỗ anh có bao nhiêu ngươi?

        — Cũng bấy nhiêu người như trước thôi, Chẳng làm thế nào hơn mười tám, hai mươi người được, Trong sổ những người cũ đổ bộ dạo nọ, bây giờ hầu như chằng còn ai nữa cả,

        — Còn bổ sung?

        — Bồ sung thì ra cái gì...

        — Nhóc con phải không?

        — Dân thấy súng trường lần đầu. Hôm qua, một người bị chết. Lựu đạn nổ trong tay.

        — Ừ... — tôi nói. — Chiến tranh thật là cái trò chẳng lấy gì làm vui...

        Pha-rơ-be không trả lời gì cả. Móc túi lấy hộp thuốc lá, vấn một điếu, anh châm vào mầu tàn thuốc của mình đang cháy. Trong nháy mắt, ánh lửa soi sáng khuôn mặt gầy có hai má lõm, cái mũi xương xẩu và những nếp nhăn ở mép.

        — Anh có khi nào cảm thấy cuộc đời là một trò vô nghĩa không? — Pha-rơ-be hỏi. Anh không thể nào châm thuốc được, vì mẩu tàn thuốc nhỏ cứ tàn dần.

        — Cuộc đời hay chiến tranh? — tôi hỏi.

        — Chính là cuộc đời.

        — Vấn đề phức tạp thật. Tất nhiên, có nhiều cái vô nghĩa. Nhưng điểu ấy có liên quan gì đến câu mà anh...

        — Chẳng có liên quan gì đâu. Tôi suy nghĩ vớ vẩn thế thôi. Phần nào cũng muốn tổng kết.

        — Sớm thế ư?

        — Tất nhiên, hơi sớm, nhưng dù sao cũng có thể tồng kết cái gì đấy.

        Anh chậm rãi lấy gót giày dí mầu tàn thuốc xuống đất. Ánh lửa nhỏ còn cháy âm ỉ hồi lâu cạnh chân anh.

        — Có khi nào anh suy nghĩ đến cuộc đời quá khứ của mình không?

        — Thì sao?

        — Anh có cảm thấy, hình như trong một chừng mực nào đấy, chúng ta đã sống theo lối sống của chim đà điểu không?

        — Của chim đà điểu?

        — Nếu đem so sánh thì có lẽ đạt nhất. Chúng ta hầu như không thò đầu ra khỏi cánh.

        — Anh nói rõ hơn đi.

        — Tôi nói về chiến tranh. về chúng ta và về chiến tranh. Khi nói chúng ta, tôi muốn nói về mình, về anh, nói chung về con người không có liên quan trực tiếp đến chiến tranh trong thời bình. Nói tóm lại, thì trước đây anh có biết là sẽ có chiến tranh không?

        — Có lẽ có biết.

        — Không phải có lẽ, mà anh đã biết. Hơn nữa, anh đã biết rằng anh sẽ tham gia chiến tranh.

        Anh kéo vài hơi thuốc thật sâu và thở phì khói.

        — Trước chiến tranh, anh là cán bộ chỉ huy quân dự bị. Phải thế không? V.U.X1. - 34... Trường huấn luyện cao cấp ngoài quân ngũ hay là cái gì đấy đại loại như thế.

        — V.U.X. - 34... Trường huấn luyện cao cấp ngoài quân ngũ... Trung đội trưởng quân dự bị.

        Chưa bao giờ tôi nghe Pha-ro-be nói nhiều như thế.

        — Trước đây, mỗi tuần các anh có một ngày quân sự. Các anh cố hết sức trốn ngày đó. Còn mùa hè thì vào trại tập luyện. Bên phải... quay, bên trái... quay, đằng sau... quay, bước đều... bước. Các chỉ huy trưởng đòi phải quay cho thật đúng, hát cho thật nhộn. Còn đến giờ học về chiến thuật thì các anh nấp sau bụi cây, ngủ, hút thuốc, nhìn đồng hồ xem đến bữa ăn trưa còn bao lâu nữa. Tôi cho rằng tôi nói thế không nhẩm lắm.

        — Nói thật tinh là không nhầm lắm.

        — Đấy, cái chính là ở đây... Chúng ta trước đây cử ỷ lại vào những người khác. Chúng ta đã đứng trên hè phố xem diễu binh ngày Mồng một tháng năm, hai tay đút túi quần và nhìn những chiếc xe tăng chạy qua, nhìn máy bay, nhìn các chiến sĩ trong các hàng quân đi đều bước... Ôi, tuyệt quá chừng! Ôi, mạnh quá chừng! Đấy, trước đây chúng ta chỉ nghĩ có thế thôi. Đúng thế chứ? Còn về điều có lúc nào đấy chúng ta phải bước không phải trên đường nhựa, mà trên đường đầy bụi, túi ba-lô sau lưng, về điều đời sống dù không phải của hàng trăm đi nữa, thì cũng hàng chục người sẽ phụ thuộc vào chúng ta... Phải chăng trước đây, chúng ta đã suy nghĩ về điều ấy?

------------------
        1. Chữ viết tắt tiếng Nga, có nghĩa là «đăng ký quân sự về chuyên môn». — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2019, 05:34:18 PM

        Pha-rơ-be nói chậm rãi, thậm chí uể oải, dừng lại nhiều lần và cuối mỗi câu thường kéo vài hơi thuốc. Bề ngoài anh có vẽ hoàn toàn binh tĩnh. Nhưng cứ thấy anh hút từng hơi dồn dập, dừng lại ở giữa câu một cách không đều, cứ thầy đôi lông mày cau lại, thì biết rõ là từ lâu anh đã muốn nói về tất cả những điều ấy, nhưng hoặc là không có người tâm sự, hoặc là không có dịp thuận lợi, hoặc là không có thì giờ, hoặc là vì sao đấy nữa mà tôi chẳng biết. Và tôi hiểu rõ là anh đang xúc động, nhưng cũng như nhiều người cùng loại anh ta, nghĩa là kín đáo, trầm lặng, sự xúc động ấy hầu như không biểu lộ ra ngoài, mà trái lại, làm cho anh càng thêm nén mình hơn nữa.

        Tôi lặng thinh. Nghe và hút thuốc. Pha-rơ-be tiếp tục:

        — Đến ngày thứ tư của chiến tranh, hai hàng quân ba mươi người đã xếp trước mặt tôi, Họ là những người thợ mộc, thợ tiện, thợ rèn, thợ lái máy kéo. Và người ta bảo tôi: anh hãy chỉ huy, hãy dạy họ. Việc ấy xảy ra ở tiểu đoàn quân dự bị.

        — Công binh phải không?

        — Công binh.

        — Thế anh là công binh à?

        — Công binh. Đúng hơn, đã từng làm công binh.

        — Thế sao bỗng nhiên anh lại trở thành bộ binh?

        — Trước đó, tôi còn làm xạ thủ súng cối nữa. Còn sau việc rút lui ở Khác-cốp thì chuyển sang bộ binh.

        — Thè mà tôi không biết đấy. Thế là đống nghiệp.

        — Đồng nghiệp, — Pha -rơ-be mỉm cười và nói tiếp: — Người ta nói: chỉ huy đi, dạy đi. Còn trong thời khóa biểu thì: công tác phá hoại bằng thuốc nổ — bốn giờ, xây dựng công sự — bốn giờ, cầu đường — bốn giờ. Mà họ cứ đứng. Đổi chân và nhìn những cái túi đồ đạc của mình xếp đống dưới gốc cây. Họ đứng chờ tôi sẽ nói gì với họ. Mà tôi có thể nói gì với họ được? Tôi chỉ biết rằng thuốc nổ loại tốt giống xà-phòng, còn đi-na-mít thì giống thịt đông; rằng chiến hào có loại toàn thân và loại bán thân, nhưng nếu người ta hòi tôi khẩu súng trường gồm có bao nhiêu bộ phận, thì tôi sẽ gãi đầu gãi tai hồi lâu và trả lời hú họa con số nào nảy ra đầu tiên trong óc tôi...

        Anh dừng lại. Tìm hộp thuốc lá trong túi. Trước đây, tôi không để ý là anh hút nhiều đến thế: hết điếu này đến điếu khác:

        — Nhưng ai có lỗi trong việc này? Ai có lỗi? Người khác ư? Như anh chuẩn úy của tôi thường nói. Không, không phải người khác... Chính bản thân tôi có lỗi. Trước chiến tranh quả là tôi không thích học khoa quân sự. Coi các trại như là chế độ lao địch, — chẳng làm thế nào tránh được, — nhưng rất khó chịu... Đúng là lao địch. Lúc bấy giờ tôi cứ cho rằng cái đó không phải là chí hướng của tôi. Cứ nghĩ là sự nghiệp của tôi là toán học, và vân vân. Khoa học...

        Pha-rơ-be lục lọi trong túi.

        — Chẳng biết lấy gì châm thuốc nữa? — anh nói. — Tôi hết diêm rồi.

        — Mẩu tàn thuốc tắt rồi à?

        — Tắt rồi.

        — Đành phải đợi các chiến sĩ đến vậy. Họ sắp đến bờ sông.

        — Đành vậy thôi.

        Và chúng tôi đợi. Sau khi lặng thinh một lúc, Pha-rcr-be lại tiếp tục cũng với giọng nói bình tĩnh và mệt mỏi kia.

        — Bốn tháng tôi dạy họ. Anh hãy tưởng tưởng việc dạy đó ra thế nào? Và tôi có thể dạy họ được cái gì? Lúc đó, cả một tiểu đoàn của chúng tôi mới có một bản điều lệnh về công tác phá hoại thôi. Và chỉ có thế. Các sách vở khác chẳng còn có gì nữa. Đêm nào cũng vậy, tôi học miệt mài. Còn buổi sáng thì nói lại cho các chiến sĩ biết máy phá hoại được xếp đặt thế nào, mà trong đời tôi chưa hề cầm nó trong tay. Tởm!... Nhớ lại cũng đã phát sợ run lên được.

        Các chiến sĩ đi qua. Chúng tôi xin châm thuốc. Ngồi xổm, một chiến sĩ đánh hòn đá lửa. Và chúng tôi lần lượt châm thuốc ở cái bùi nhùi. Rồi các chiến sĩ đi tiếp. Những hình thù thô kệch, mặc áo ca-pốt choàng lên áo bông lần lượt khuất dần trong bóng tối, hết hình nọ đến hình kia.

        Pha-ny-be quay đầu lại.

        — Kẻ than vãn? Hả? — anh nói rất khẽ.

        Trước đây, khi nói, anh không quay đầu lại, mà nhìn ở đâu đấy trong không gian trước mặt mình. Và bây giờ, trong bóng tối, tôi cảm thấy cặp mắt cận thị của anh đang nhìn tôi.

        — Ai là kẻ than vãn? — tôi hỏi.

        — Tôi. Chắc là anh nghĩ thế. Càu nhàu, kêu ca, cái gì đấy. Có phải không?

        Tôi không tìm ra câu trả lời được ngay. Kể ra anh nói có nhiều cái đúng.

        Nhưng nói chung, có cần nói đến những cái gì đã qua rồi không. Phân tích cái đã qua, đúng hơn là cái xấu đã qua, chỉ có ý nghĩa khi trên cơ sở sự phân tích ấy có thể sửa chữa cái hiện tại và chuẩn bị cho cái sau này.

        — Theo tôi, nếu cứ luôn luôn nghĩ về những sai lầm của mình đã qua và nguyền rùa mình vì những sai lầm ấy, thì sống khổ lắm. Nguyền rùa cũng chẳng giúp được đâu. Còn súng trường thì tôi cho là anh đã biết rồi, và dạy cho các chiến sĩ dùng nó thì anh cũng làm được rồi.

        Pha-rơ-be cười.

        — Có lẽ, anh nói đúng. — Anh dừng lại. — Nhưng anh có biết khòng... Giá trước chiến tranh, tôi được gặp một người như Si-ria-ép chẳng hạn, thì không bao giờ tôi tin là sau này tôi sẽ ghen tị anh ta.

        — Thè anh ghen tị à?

        — Vâng, tôi ghen tị. — Lại dừng lời. — Trong những vấn đề về toán học cao cấp, thì tôi hiểu không kém. Dù sao cũng đã học tám năm rồi. Nhưng cái vấn để sơ đằng nhất, như là việc vạch mặt tay chuẩn úy ăn cắp thực phẩm của chiến sĩ, thì đối với tôi quả là một vật chướng ngại không thể nào khắc phục được.

        — Anh thích tự phê bình thật, — tôi nói.

        — Có lẽ thế. Tôi cho rằng cả anh cũng làm tự phê bình, chỉ có điểu anh không nói ra thôi.

        — Nhưng vì sao anh lại ghen tị Si-ria-ép?

        — Vì sao à?..


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2019, 02:36:32 PM

        Anh đứng dậy, đi vài bước và lại ngồi xuống. Chung quanh yên lặng như tờ. Chỉ có ở đâu đấy rất xa, phía sau nhà máy «Tháng Mười Đỏ», thỉnh thoảng khẩu súng máy bắn một cách rời rạc.

        — Vì khi nhìn anh ta, tôi cảm thấy một cách sâu sắc là mình kém nhiều mặt. Anh cảm thấy cái đó buồn cười. Nhưng đúng là như thế. Anh ta là một người đơn giản, toàn vẹn; anh ta hỏi thẳng thừng tôi có biết bơi hay là biết đi xe đạp không. Anh ta không cảm thầy là những câu hỏi ấy đánh trúng vào chỗ yếu của tôi.

        Chính là tôi đã nói dối, khi bảo là tôi đã từng nện vào mặt ai đấy. Chưa bao giờ tôi đánh ai cả. Tôi không thích đánh nhau, không thích tập thế đục. Thế là bây giờ...

        Bỗng anh lặng thinh. Khịt mũi. Cái đó chắc là do thần kinh. Dần dần tôi bắt đầu hiểu anh. Hiểu tính nhẫn nhục, kín đáo và trầm lặng ấy.

        — Chẳng sao đâu, — tôi nói và cố tìm cái gì có thể an ủi được anh. Tôi nhớ lại, khi còn làm tiểu đoàn trưởng, có lần tôi đã quát anh ta. — Trong chiến tranh mọi người đều khổ.

        — Trời oi! Lẽ nào anh lại hiểu tôi như thế ư? — lời anh thậm chí run run và lạc giọng vì xúc động. — Quả là người ta đã đề nghị cho tôi một chỗ làm việc hoàn toàn tốt ở sở chỉ huy mặt trận. Tôi biết ngoại ngữ. Ở ban trinh sát, người ta đề nghị tôi ở lại làm việc với tù binh. Thế mà anh lại bảo: trong chiến tranh mọi người đều khổ.

        Tôi cảm thấy đúng là câu nói của tôi không tế nhị.

        — Anh có vợ chứ? — tôi hồi.

        — Có. Thì sao?

        — Chẳng sao cả. Tôi muốn biết thôi.

        — Có.

        — Có con không?

        — Chưa có con.

        — Anh bao nhiêu tuổi?

        — Hai mươi tám.

        — Hai mươi tám. Tôi cũng hai mươi tám. Thế trước đây anh có bạn không?

        — Trước đây có, nhưng... — Anh dừng lại.

        — Anh có thể không trả lời, nếu không muốn. Đây không phải là khai lý lịch. Chỉ là... Theo tôi, anh sổng rất cô độc thế nào ấy.

        — À, anh nói về cái đó...

        — Đúng, về cái đó. Tôi với anh biết nhau cũng đã gần một tháng rưỡi rồi. Nhưng trong suốt thời gian đó, chỉ hôm nay mới là lần đầu tiên, nói thế nào đây, anh tâm sự với tôi.

        — Vâng, hôm nay.

        — Tôi có cảm giác thế này, hình như anh xa lánh, lảng tránh mọi người.

        — Có lẽ thế... — Và lại lặng thinh một lúc. — Nói chung, tôi khó gần người khác. Hay nói đúng hơn, người khác khó gần tồi. Thực ra, đối với người khác thì tôi là một con người vô vị. Rượu trắng tôi không thích, hát tôi chẳng biết, và cán bộ chỉ huy thì thuộc vào loại xoàng.

        — Anh nghĩ thế thì không phải.

        — Anh cứ hỏi Si-ria-ép thì biết.

        — Si-ria-ép đối xử với anh hoàn toàn không xấu.

        — Vấn đề không phải là ở sự đối xử. Nhưng cuối cùng cái đó chẳng có gì thú vị.

        — Mà theo tôi thì thú vị. Tôi nói thành thực với anh là lần đầu tiên khi tôi gặp anh... Anh nhớ không ở bờ sông, vào đêm sau lúc chúng ta qua sông ấy mà?

        Pha-rơ-be đưa tay ra hiệu tôi dừng lại.

        — Khoan đã! — và lấy tay đụng nhẹ vào đầu gối tôi. — Anh có nghe không?

        Tôi lẳng tai nghe. Từ phía bên kia sông Vôn-ga, những âm thanh của vĩ cầm và ống tiêu trang trọng, khoan thai, dìu dặt bay đèn, khi xa, khi gần và thỉnh thoảng bị gió làm át đi. Chúng bay trên dòng sông, trên thành phố tan hoang, bây giờ đang lặng thinh, trên quân ta, trên bọn Đức, ra phía sau các chiến hào, phía sau tiền duyên, phía ngọn đồi Ma-ma-ép.

        — Anh có nhận ra không?

        — Bài gì quen... Quen lắm, nhưng... Có phải của Trai-cốp-xki không?

        — Trai-cốp-xki. Andante cantabile1 trích trong bản nhạc giao hưởng số Năm. Phần hai.

        Chúng tôi ngồi lặng thinh, lắng tai nghe. Ở phía sau lưng, khấu súng máy bắt đầu bắn tặc tặc một cách rầy rà, khó chịu, như tiếng máy may. Rồi ngừng bắn.

        — Ôi, chỗ này thì... — Pha-rơ-be lại lấy tay đụng nhẹ vào đầu gối tôi và nói. — Giống như tiếng thét lên. Có phải không? Đoạn cuối thì không như thế. Cũng âm điệu ấy, nhưng không như thế. Anh có thích bản số Năm không?

        — Thích,

        — Tôi cũng thế,,. Còn thích hơn bản số Sáu cơ. Mặc đủ bản số Sáu được coi là nhất... Bây giờ sẽ đến van-xơ. Nào, ta lặng thinh nhé,

        Chúng tôi lặng thinh. Và cứ im như thế cho đến cuối. Tôi lại nhớ đến Ki-ép, vườn Thượng uyển, những cây dẻ, cây gia, Li- u-xi-a, những bông hoa đỏ thắm và người nhạc trưởng có cái gì trăng trắng ở khuyết áo...

        Sau đó, một chiếc máy bay ném bom bay đến, Máy bay nặng nề, ba động cơ, bay đêm, Chẳng hiểu vì sao quân ta gọi nó là «ho lao»,

        — Lạ thật, có phải không? — Pha-rơ-be đứng lên và nói,

        — Cái gì lạ?

        — Tất cả những cái ấy... Trai-cốp-xki, áo ca-pốt này, «ho lao»,

        Chúng tôi đứng lên và đi về phía nhà hầm của Pha-rơ-be. Chiếc máy bay ném bom như giẫm chân tại chỗ, Từ sau đồi Ma- ma-ép, những vệt đèn chiếu quệt qua, quệt lại trên nền trời, giống như những vòi của con mực ma vươn dài ra.

        Tôi không đi đến bờ sông, mà ngủ lại ở chỗ của Pha-rơ-be,

------------------
        1. Chậm, thâm trầm. — ND


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2019, 02:37:38 PM

21

        Tối mồng bảy, chúng tôi nhận được báo có bài diễn văn của Xta-lin, Chúng tôi chờ đợi bài ấy đã lâu, Nghe máy thu thanh thì chẳng nhận ra cái gì được cả, vì bị nhiễu động nhiều, máy kêu rè rè, Chỉ có câu «hết cơn khổ tận, đến ngày cam lai» chúng tôi nghe ra mà thôi,

        Câu đó được mọi người bàn ra tán vào trong tất cả các nhà hầm và chiến hào,

        — Sắp phản công rồi, — Li-xa-go dõng dạc tuyên bố; anh ta nói cái gì cũng rất dõng dạc, — Rồi cậu sẽ thấy, Không phải ngẫu nhiên mà lần trước La-da đã nói thế, Cậu nhớ chứ? Nói rằng đêm đêm có những sư đoàn nào đấy đi, Cậu có thấy họ không? Không à, Cả tớ cũng chẳng thấy, Nên cậu phải hiểu...

        Xta-lin đã đọc diễn văn ngày mồng sáu,

        Ngày mồng bảy, quân đồng minh đồ bộ lên An-giê-ri và Ô- ran, Ngày mồng mười, vào Tu-ni-di và Ca-da-bơ-lăn-ca
 
        Ngày mười một, lúc bảy giờ sáng, chiến sự ở Bắc Phi đã chấm dứt. Hiệp định giữa Ai-xen-hao và Đác-lăng đã được ký kết. Cũng ngày ấy và cũng giờ ấy, theo mệnh lệnh của Hít-le, quân Đức đã vượt qua đường giới tuyến gần Sa-lông, trên sông Xôn và tiến đến Li-ôn. Lúc ba giờ chiểu, quân Ý vào thành phố Ni-xơ. Ngày mười hai tháng mười một, quân Đức chiếm Mác-xây và đổ bộ vào Tu-ni-di.

        Còn ngày mười ba tháng mười một, bọn Đức ném bom Xta- lin-gơ-rát lần cuối cùng. Bốn mươi hai chiếc «gioong-ke-87» bay ba vòng, ném bom xuống các vị trí trọng pháo của quân ta ở vùng Xlô-bo-đa Đỏ trên bờ trái sông Vôn-ga. Ném xong, chúng bay đi. Không trung bao trùm một sự yên tĩnh hoàn toàn lạ lùng, khó hiểu, chưa hề quen.

        Sau tám mươi hai ngày ròng rã, luôn luôn ầm vang tiếng nổ không ngớt và khói bay mù mịt, sau những trận ném bom liên miên từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối, giờ đây bắt đầu một cái gì đấy thật là khó hiểu. Đám mây trên nhà máy «Tháng Mười Đỏ» đã biến mất. Không còn phải luôn luôn ngẩng đẩu lên bầu trời không một gợn mây để tìm những hình tam giác đáng ghét của các phi đội Đức nữa. Chỉ có «cái khung» vẫn xuất hiện hàng sáng vào trước lúc mặt trời lặn với một sự chính xác như cũ, và những chiếc «méc-xe» thỉnh thoảng ầm ầm phóng qua rất nhanh trên đẩu và hầu như biến mất lập tức.

        Rõ ràng là bọn Đức đã kiệt sức rồi. Và trong các chiến hào, người ta bàn cãi nhau: do đâu, vì sao, và có thể coi những sự kiện xảy ra ở châu Phi là mặt trận thứ hai được không. Người ta tranh nhau mời cán bộ chính trị đến. Xê-nhẻt-sca1 Lô-dô-vôi, tuyên truyền viên của trung đoàn chúng tôi, vui vẻ, linh động, bận túi bụi, không bao giờ ngồi yên chỗ. Hầu như anh ta không hề đến bờ sông, chỉ thỉnh thoảng chạy đến sở chỉ huy trong chốc lát để nghe đài và quay trở lại ngay. Còn ở ngoài tiền duyên thì chỉ nghe thấy: «Xê-nhét-sca, đến đây!», «Xê-nhét-sca, đến chỗ chúng tôi!» Mọi người đểu gọi anh là «Xê-nhét-sca». Cả chiến sĩ lẫn cán bộ chỉ huy. Thậm chí có lần chính ủy đã chỉnh anh ta:

        — Lô-dô-vôi, sao lạ thế? Cậu là trung úy, mà ai cũng gọi cậu là «Xê-nhét-sca» cả. The không ổn đâu.

        Anh chỉ cười lúng túng.

        — Nhưng tôi làm thế nào được. Người ta quen mồm đi rồi. Bao nhiêu lần tôi đã nói rồi. Mà họ cứ quên... Cả tôi cũng quên.

        Và cứ thế, mọi người vẫn gọi anh là Xê-nhét-sca. Chính ủy cũng đành khoa tay mà nói:

        — Cậu ta làm đổ mổ hôi, sôi nước mắt... Thì giận cậu làm sao được chứ ?

        Xê-nhét-sca làm việc quả thật là đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Sáng kiến và trí trưởng tượng của anh nhiều đến nỗi không hiểu làm sao chúng có thể chứa đựng được trong con người nhỏ nhắn và gầy còm kia. Có một dạo, anh luôn luôn dùng ống loa. Các chiến sĩ công binh của tôi làm cho anh một cái loa bằng sắt tây thật to, và suốt ngày này qua ngày khác, cùng với người phiên dịch, anh tuyên truyền cho bọn Đức. Bọn chúng nồi giận bắn vào chỗ hai người của ta, nhưng họ đã kẹp nách ống loa và chuyển sang chỗ khác. Sau đó, anh lại làm truyền đơn và vẽ tranh biếm họa Hít-le. Những cái đó anh làm khá. Vừa vặn lúc ấy người ta gửi đến một số đạn súng cối và đạn đại bác tuyên truyền. Khi số đạn này hết đi, thì anh loay hoay làm các ống bơ đựng truyền đơn và chế ra một thứ ná cao-su riêng để bắn. Nhưng ý đồ đó không ăn thua gì, các ống bơ không bay đến tận bọn Đức được. Thế là anh bắt tay làm hình nhân. Tiếp đó, ở tất cả các sư đoàn, quân ta đều bắt đầu làm hình nhân như thế. Cái đó làm các chiến sĩ rất buồn cười. Anh lấy giẻ và quân phục của Đức làm thằng Hít-le giả, có ria và mớ tóc phù xuống trán bằng bùi nhùi nhuộm màu, và treo một tấm biển con trên hình nhân ấy: «Cứ bắn vào tôi!». Cùng với các chiến sĩ trinh sát, ban đêm anh đem nó đến khu đất «không thuộc về ai cả» đặt ở giữa quân ta và quân Đức. Bọn này điên tiết lên, dùng súng máy bắn suốt ngày vào quốc trường của chúng, còn ban đêm thì bò đến lấy trộm hình nhân. Lấy trộm thì lấy trộm, nhưng vẫn phải bỏ mạng ba tên. Các chiến sĩ ta cười vỡ bụng: «Xê-nhét- sca cừ lắm!» Và họ rất yêu mến anh ta.

        Đáng tiếc, chẳng bao lâu người ta lấy anh đi. Là tuyên truyền viên giỏi nhất của sư đoàn, nên anh được phái đi học ở Mát-xcơ-va. Mọi người chờ đợi thư anh khá lâu. Và cuối cùng, khi thư đến thì suốt ngày ở sở chỉ huy tiểu đoàn một, anh thường đến đấy nhiều hơn cả, — các chiến sĩ viết thư trả lời. Thư dài không quá hai trang giấy, nhưng phần lớn là câu hỏi, («còn về phần chúng tôi vẫn như trước thôi, chiến đầu bình thường»), còn chữ ký thì chật ních cả bốn trang giấy: gần một trăm chữ ký.

        Các chiến sĩ nhớ lâu và nghĩ tốt về anh ta.

        — Bao giờ thì cậu ta học xong nhỉ ? — họ hỏi và luôn luôn mong ước Xê-nhét-sca được trở lại trung đoàn chúng tôi. Nhưng thế là anh chẳng được trờ lại, hình như anh được phái đến Mặt trận Bắc.

--------------------
        1. Cách gọi thân mật của Xê-mi-ôn. — ND


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2019, 02:38:29 PM

22

        Mười chín tháng mười một là ngày kỷ niệm của tôi. Sinh nhật của tôi. Khi còn bé, ngày ấy được ghi nhớ bằng bánh ngọt và quà biếu, còn khi lớn lên thì có liên hoan nhỏ, nhưng dù sao năm nào cũng kỷ niệm cả. Thậm chí năm ngoái, ở trung đoàn hậu bị, ngày ấy chúng tôi uống rượu ngang và ăn sữa chua trong một cái chậu to tráng men.

        Và lần này, Va-lê-ga và Li-xa-go cũng có ý định làm cái gì đấy. Từ tối qua, Va-lê-ga đã bắt tôi đến nhà tắm xiêu vẹo không mái trên bờ sông Vôn-ga, đưa cho tôi áo quần lót sạch sẽ, thậm chí là cẩn thận. Rối suốt ngày cậu đi đâu mất và chỉ thoáng hiện ra trong giây lát, có vẻ bận rộn, dưới nách kẹp những gói gì có vẻ bí mật và đang tìm ai đấy. Li-xa-go mỉm cười một cách bí ẩn. Tôi không can thiệp gì.

        Gần chiều, tôi đi đến gặp Út-xti-nốp. Đã ngày thứ ba, ông gọi tôi đến chỗ ông ta. Lúc đầu chỉ là «đề nghị», rồi đến «ra lệnh» và cuối cùng, «lần chót tôi ra lệnh để tránh cho anh mọi điều không hay». Tôi đã biết trước chuyện gì rồi. Tôi đã không kịp thời gửi kế hoạch các công tác công binh về củng cố hệ thống phòng ngự, bảng kê tài sản công binh hiện có kèm theo bảng ghi những đồ đạc mất mát và mới thu nhận trong tuần vừa qua, các bản sơ đồ bố trí các đài quan sát dự định làm. Tôi chờ đón những lời quở trách dài dòng và chán ngấy, đầy những thí dụ lịch sử, những Véc-đon, những Po A-tuya, những Tốt-lê-ben và những Clau-dê-vích. Ông ta sẽ tước mất của tôi chắc chắn không thể ít hơn một giờ, Điều đó thì tôi đã biết trước,

        Út-xti-nốp gặp tôi một cách vô cùng trang trọng, Ông thích hình thức và nghi lễ. Nói chung, những người trí thức ở ngoài mặt trận thường chia ra hai hạng, Một số thì bị chế độ khắc nghiệt của nhà binh hành hạ, dày vò; trên người họ áo quần lôi thôi lếch thếch, áo va-rơi phình lên, khóa thắt lưng lệch bên hông, giày cao cổ to hơn đến ba cỡ số, áo ca-pồt gù lên sù sụ và miệng lưỡi thì nói năng lúng búng, Những người khác, trái lại, toàn bộ bề ngoài của cuộc sồng nhà binh làm cho họ thích thú lắm: họ rất hài lòng, thậm chí với một sự ham muốn nào đấy, đưa tay lên chào, luôn luôn chêm vào câu nói những chữ «đồng chí trung úy», «đòng chí đại úy», phô trương sự hiểu biết các điều lệnh và các nhãn hiệu máy bay của Đức và của ta, lắng tai nghe đạn súng cối hoặc đạn đại bác bay đến và nhất thiết nói rằng «đạn loại súng trung đoàn đấy» hay là «chúng bắn súng cỡ 152 đấy», Nói về mình, bao giờ họ cũng bảo: «chúng ta là những người ở tiền tuyến, ở mặt trận chúng ta», Út-xti-nốp thuộc hạng người thứ hai, Thấy rõ là ông ta hơi tự hào về sự chính xác của mình, về sự tuân theo đúng từng ly từng tí mọi quy tắc của điều lệnh Và cái đó ở ông ta rất đạt, mặc dù tuổi tác đã cao, phải đeo kính và rất thích giấy tờ. Khi chào bất cứ ai, thế nào ông cũng đứng lên; còn khi nói chuyện với những người chức vụ cao hơn thì ông đứng nghiêm và gọi bằng quân hàm, cấp bậc,

        Bây giờ, ông gặp tôi với một vẻ trang trọng đặc biệt thế nào ấy. Toàn bộ trong con người ông đều như nén lại: vẻ mặt kín đáo, không cởi mở, lông mày cố ý cau lại, và dáng điệu nhịp nhàng uyển chuyển khi ông chỉ cho tôi chiếc ghế đẩu. Tất cả những điều đó đều nói lên rằng câu chuyện hôm nay không chỉ hạn chế trong những bản tổng kết và những kế hoạch,

        Tôi ngồi xuống ghế đầu, Ông ngồi đối diện, Chúng tôi lặng thinh một lúc, Rồi ông ngẩng mặt, đưa mắt nhìn tôi qua phía trên cặp kính,

        — Đồng chí trung úy, anh đã biết những sự kiện gần đây chứ?

        — Sự kiện gì ạ?

        — Sao? Anh không biết gì cả à? — cặp lông mày của ông rướn lên ngạc nhiên, — Trung đoàn trưởng bộ binh không nói gi với anh à? — Chữ trung đoàn trưởng bộ binh ở đây ý nói thiếu tá Bô-rô-đin,

        — Không, không nói gì cả,

        Cặp lông mày chậm rãi, dường như do dự, hạ xuống ở vị trí bình thường của chúng, Những ngón tay mân mê cây bút chì dài, cần thận gọt nhọn hoắt,

        — Hôm nay, vào lúc sáu giờ đúng, quân ta sẽ chuyển sang phản công,

        Bút chì vẽ lên giấy một vòng tròn và chấm một điểm ở giữa đề nhấn mạnh tầm quan trọng của câu nói,

        — Phản công nào ạ?

        — Phản công trên toàn bộ mặt trận, — ông nói chậm rãi, dằn từng từ một, — Và trong đó, có cuộc phản công của chúng ta nữa, Chắc anh hiểu cái đó có nghĩa là gì chứ?

        Lúc này tôi chỉ hiểu một điều: từ bây giờ đến cuộc phản công chỉ còn mười giờ thôi và đêm nay tôi đã hứa cho các chiến sĩ nghỉ ngơi, — lần đầu tiên họ được nghỉ sau hai tuần làm việc liên tục, — nhưng việc nghỉ ngơi đó hoàn toàn bị phá sản,

        — Nhiệm vụ của sư đoàn chúng ta hơi hẹp, nhưng quan trọng — ông tièp tục, — phải chiếm lĩnh các tháp nước, Anh có hiểu rằng giờ đây bao nhiêu trách nhiệm đang đặt lên vai chúng ta không? Vào lúc bốn giờ rưỡi, sẽ bắt đầu bắn pháo binh chuẩn bị, Toàn bộ pháo binh của mặt trận sẽ lên tiếng, toàn bộ bờ trái, Thời hạn của anh — bây giờ là tám giờ bảy phút — rất hạn chế, còn khoảng mười giờ, Một đại đội của tiểu đoàn công binh đã được giao cho trung đoàn của anh, Anh phải cho mỗi tiểu đoàn bộ binh một trung đội của đại đội ấy để làm trinh sát về công binh và tháo dỡ bãi mìn của quân địch, Anh hãy đặt công binh của trung đoàn trên các lối đi qua bãi min của mình,

        Tờ giấy nằm trước mặt ông dần dần đầy những dòng đểu đặn và cần thận,

        — Anh đừng bao giờ quên việc tính toán thống kê cả. Mỗi một quả mìn đã gỡ được, đều phải tính toán thống kê; mỗi một bãi mìn đã phát hiện, đều phải đánh dấu trên bản đổ, ghi rõ các điểm định hướng để nhận rõ bãi mìn nằm ở đâu, và nhất thiết điểm định hướng phải cố định. Anh hiểu ý tôi chứ? Nghĩa là không lầy những thùng, những đại bác làm điểm định hướng, mà phải lấy cái gì cố định. Báo cáo về công việc đã làm, thì cứ ba giờ một lần, anh sẽ cho liên lạc viên đặc biệt đem đến.

        Ông còn nói hồi lâu và khoan thai, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt nào, gần như là quy định từng giờ, từng phút tôi phải làm gì. Tôi lặng thinh, ghi ghi, chép chép. Các chiến sĩ công binh của sư đoàn đã chuẩn bị để đi làm nhiệm vụ. Họ chùi dụng cụ, buộc trái phá và làm các ngòi đốt.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2019, 02:39:00 PM

        Tôi nghe, ghi chép và nhìn đồng hồ. Đến chín giờ tôi đi ra. Tôi gặp đại đội trưởng đại đội hai, — chính là đại đội vẫn thường xuyên làm việc ở chỗ tôi — và ước hẹn với nhau họ sẽ đến chỗ tôi lúc hai giờ đêm.

        Li-xa-go giận dữ gặp tôi, đầu tóc rối bù. Cặp mắt nhỏ xíu của anh sáng lên.

        — Cậu xem cái đó tệ đến thế nào? Hả? Trung úy?

        Do xúc động nên anh nghẹn lời, không thể ngồi yên một chỗ, mà đứng lên và bắt đầu đi tới, đi lui trong nhà hầm.

        — Chúng ta đã đào chiến hào, đặt mìn nhiều vô thiên lủng, không biết cơ man nào mà kể. Mọi việc đã làm xong xuôi đâu vào đấy cả. Nhưng cái đó vẫn chưa đủ! Còn bắt phải làm các lối đi qua bãi mìn, bắt phải dọn các dây xoắn ốc Bru-nô... Toàn bộ công việc thế là vứt mẹ nó hết thôi. Giá cứ ngồi yên trong chiến hào mà bắn thì có hơn không, khi bọn Đức không xông đến. Còn cần cái quái gì nữa chứ?

        Li-xa-go bắt đầu làm tôi bực mình.

        — Nào, chúng mình hãy chấm dứt cái câu chuyện ngu ngốc này đi. Nếu không thích, thì cậu đừng chiến đấu. Đó là việc của cậu.

        Li-xa-go vẫn không chịu yên. Trong giọng nói của anh có vẻ than vãn.

        — Trời ơi! Nhưng cũng bực lắm chứ! Bực bỏ mẹ! Cậu hãy xem trên bàn kìa. Một đời một lần, định tập hợp nhau để ăn mừng sinh nhật cho ra hồn, và bây giờ thi mọi việc đi đời nhà ma!

        Trên bàn bày biện nhiều đến nỗi không nhận ra được nữa. Ở giữa, bốn chai rượu — loại nửa lít, — đã mở nút, giò chả thái từng lát mỏng hình bầu dục, một gói bánh bích-quy «Pu-skin», một tấm kẹo sô-cô-la gói trong giấy màu nâu có chữ vàng, cá mòi muối. Và cái chính trong toàn bộ bữa ăn đó là cái xanh đang bốc khói, thơm phức mùi thịt tỏa khắp cả nhà hầm.

        — Cậu hiểu chứ, Va-lê-ga đã kiếm được một con thỏ rừng, thỏ rừng thật sự. Cậu ta đi sang tận phía bên kia chỉ cốt đề làm việc ấy. Tru-mắc cũng sẽ đến. Sữa đặc cô thật ngọt, đó là món mà cậu thích... Hừ, bây giờ làm thế nào đây? Đề lại đến Tết à? Thế phải không?

        Còn nói gì nữa, được ngồi uống rượu vang và nhai thịt thỏ thì dễ chịu hơn nhiều, so với việc xông ra tiền duyên trước mảnh bom, làn đạn. Nhưng chằng làm khác được, đành phải gác việc ăn thỏ lại thôi. Chúng ta chờ đợi trận phản công ấy đã lâu quá đi rồi, gần một năm rưỡi, đã chờ đợi mười sáu tháng trời rồi... Và cuối cùng ngày ấy đã đến...

        Chúng tôi rót mỗi người nửa cốc rượu và uống, không chạm cốc. Nhắm rượu với thịt thỏ. Thịt hơi cứng, nhưng cái đó chằng quan trọng gì. Quan trọng là có thịt thò chén. Thấy phấn khởi hơn. Thậm chí Li-xa-go nháy mắt cho tôi.

        — Này, trung úy, ăn vội lên đi, cho đến khi người ta lại gọi. Đã hai lần phái người đi tìm cậu rồi đấy.

        Một phút sau, liên lạc viên của sở chỉ huy đã đến. A-brô-xi-mốp gọi.

        Thiếu tá và A-brô-xi-mop ngồi xem bản đồ. Trong nhà hầm chật như nêm: các tiểu đoàn trưởng, các cán bộ tham mưu, các cán bộ chỉ huy những đơn vị đặc công. Tru-mắc vẫn đội cái mũ không có lưỡi trai muôn thuở của mình, mặc áo bờ-lu-dông lính thủy không cài cúc đề lộ chiếc áo sọc xanh sạch sẽ.

        — Thế nào, kỹ sư, hỏng cả à?

        — Hỏng cả...

        — Thôi được. Cứ giấu vào tủ buy-phét. Khi trở về chúng tớ sẽ chén giúp, — và cậu vui vẻ cười rộ, đôi mắt sáng lên.

        Tôi chen đến gần bàn. Chằng có gì hay ho cả! Trước khi bắt đầu phản công, chúng tôi phải làm sở chỉ huy mới cho trung đoàn trưởng. Cái cũ không dùng được nữa, vì không thấy được các tháp nước. Tôi đã biết trước mà. Và tất nhiên, phải tháo gỡ mìn, phải làm các lối đi qua bãi mìĩỊ, phải đảm bảo cho hoạt động của bộ binh.

        — Này, kỹ sư, coi chừng đấy, đừng làm chúng tôi thất vọng, — Bô-rô-đin phì phèo hút tẩu thuốc, — các cậu «trồng khoai tây» ở ngoài tiền duyên, thì bây giờ ngoài các cậu ra, chẳng ai biết đâu mà dỡ. Mìn sẽ giêt chết quân ta đấy. Mà mỗi người thì rất quý, chính cậu cũng biết đầy...

        Thấy rõ ông xúc động, nhưng cố giấu. Tẩu thuốc bị tắt luôn, mà diêm thì không bật được, vì xấu quá.

        — Còn đài quan sát thì phải đậy bằng thanh đường ray. Và phải làm lò sưởi đấy. Chứng tê thấp của tôi lại làm tình làm tội. Đúng năm giờ, không sai một phút, tôi sẽ đến. Nếu cậu không làm xong thì liệu đấy. Rõ chứ? Nào, cố gắng lên!

        Tôi đi ra.

        Li-xa-go ngồi thay xà cạp.

        — Thế nào?

        — Cậu lấy một tiểu đội đi làm đài quan sát mới và trước năm giờ đúng phải cho xong.

        — Đài mới? Trước năm giờ à? Họ điên cả rồi...

        — Điên hay không điên, nhưng cậu chỉ còn bảy giờ chuẩn bị thôi đấy.

        Li-xa-go nồi giận xỏ chân vào ủng quá mạnh đến nổi các quai ủng bị rách.

        —   Nước đến chân mới nhảy! Mình đã bảo trước là từ đài quan sát ấy chẳng trông thấy rõ các tháp nước. Người ta nói là chẳng sao, những tháp ấy chằng phải của chúng ta, cấp trên sẽ giao cho trung đoàn bốn mươi lăm. Còn của chúng ta ở bên trái. Đấy, bây giờ thì có mà bên trái!

        — Thôi được. Ngày mai cậu sẽ càu nhàu, còn bây giờ đi làm ngay đi, đừng có lề mề nữa. Cậu hãy dùng đài quan sát của trinh sát. Còn trinh sát viên thì để họ ngồi ở chỗ các chiến sĩ pháo binh. Cậu cứ bảo là thiếu tá Bô-rô-đin ra lệnh. Rõ chứ?

        — Rõ cả. Có quái gì mà không rõ. Và tất nhiên, người ta bảo đậy bằng thanh đường ray phải không? Hả?

        — Cả đậy bằng thanh đường ray lẫn đặt lò sười nữa đấy. Chỉ có điều ống khói thì cho ra về phía quân ta. Lỗ châu mai thì làm hẹp bớt, còn lỗ bên trái có thể bít kín lại.

        — Thế không ra lệnh lát ván ơ chung quanh nữa à?

        — Việc của cậu. Nếu muốn, cậu có thể đặt cả đi-văng nữa. Cậu hãy lầy Nô-vô-hát-cô với tiểu đội đi theo.

        — Cậu ấy bị quáng gà.

        — Để làm đài quan sát thì được. Còn Gác-cút-sa và A-gơ- nhíp-xẻp sẽ làm lối đi qua bãi mìn.

        — Cứ để Nô-vô-hát-cô ngồi ở nhà canh xẻng.

        — Tùy cậu. Miễn là đến năm giờ, đài quan sát phải làm xong là được.

        Li-xa-go ì ạch xỏ chân vào chiếc ủng khác.

        — Chẳng biết ai bày ra cuộc chiến tranh này. Bây giờ giá được nằm bên lò sưởi và cắn hạt quỳ thì tuyệt. Mẹ kiếp! Cuộc đời Jính tráng...

        Và đút vào mồm một nửa giò chả nằm trên bàn, anh đi ra.

        Tôi ở lại đợi các chiến sĩ công binh của sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2019, 02:40:23 PM

23

        Đến gần bốn giờ, tôi đi ra tiền duyên. Đúng là bọn Đức đã linh cảm điểu gì đẫy, nên bắn súng máy không ngớt và soi sáng mép tiền duyên của chúng.

        Tôi đi qua các tiểu đoàn. A-gơ-nhíp-xép và Gác-cút-sa đã làm xong các lối đi qua bãi mìn và ngồi hút thuốc, sưởi ấm trong nhà hầm. Tôi đi đến đài quan sát. Từ xa đã nghe rõ tiếng nói thì thào của Li-xa-go. Ngồi trên nhà hầm, anh cùng với Tu-ghi-ép xếp các thanh đường ray để đậy hầm. Cả hai vừa ì ạch, vừa chửi rủa. Những viên đạn của Đức rít lên, gần như ngay trên đầu họ. Khẩu súng máy của chúng đặt cách chừng năm mươi thước, nên đạn bay qua và trúng vào đâu đấy ở phía sau xa.

        Tôi chui vào nhà hầm. Ở đấy, đã có mặt các chiến sĩ thông tin và sĩ quan tùy tùng của trung đoàn trưởng. Lỗ châu mai được che kín bằng một cái chăn, để địch không thầy ánh đèn. Một cây đèn bằng vỏ đạn đặt ngay giữa nền hầm, đang nghi ngút bốc khói. Một chiến sĩ thông tin dùng thuốc súng lầy ở đạn súng cối để nhen lò. Có lẽ anh ta lấy làm thích thú mỗi khi thấy thuốc súng bùng cháy, vì thế anh luôn tay vứt vào lò từng nhúm thuốc súng nhỏ.

        Chừng mươi phút sau, Li-xa-go huỳnh huỵch đi vào, Mặt lấm tấm mồ hôi, Tay đỏ vì gỉ sẳt và đất sét,

        — Này, kỹ sư, xem đồng hồ đi,

        — Bốn giờ hai mươi,

        — Có thấy tốc độ nhanh tuyệt không? Vừa vặn trước khi pháo binh bắn chuẩn bị, Có thuốc lá không, hở?

        Tôi đưa thuốc cho anh hút, Anh lấy tay áo quệt mặt. Mặt trở nên có sọc, vằn vện.

        — Chà, tay Tu-ghi-ép ấy thật là khỏe như-vâm. Vác nửa thanh đường ray lên vai, mà chằng sao cả. Cậu biết chúng minh vác từ đâu đến không? Gần như tận nhà máy thịt đấy. Dùng thuốc nổ phá chúng từng phần và khiêng lên vai. Này, thử sờ mà xem, mềm nhũn như cái gối rồi. Thật là chỗ an dưỡng tuyệt vời: Xô-si, Ma- xét-xta...

        — Cậu xếp mấy lớp?

        — Hai lớp đường ray, và ở đấy còn một lớp cũ bằng gỗ nữa.

        — Có đánh thành gò không?

        — Cậu có biết ở đây gò đống nhiều biết bao nhiêu không? Cứ mỗi bước là có nhà hầm, mà nhà hầm là gò rồi chứ gì nữa.

        — Có ai bị thương không?

        — Áo ca-pốt của Tu-ghi-ép. Ba lỗ con. Mà cậu đó thì tuyệt Phải báo công cho cậu ta. Đào nhà hầm, mà như đào vườn rau ở nhà mình vậy. Khoan đã!.. Hình như bắt đầu rồi thì phải?

        Chúng tôi lẳng tai nghe. Đúng. Từ bên kia sông Vôn-ga những loạt súng đại bác đầu tiên vang đến. Tôi nhìn đồng hồ. Bổn giờ ba mươi.

        — Và-ào chiên hào đi! — Li-xa-go thét lên. — Họ bắn theo biểu xích của họ, thì quân ta sẽ vỡ sọ, Này, cậu đội viên thông tin, hãy gọi giúp anh em công binh đằng kia bảo họ vào đây,

        Các chiến sĩ công binh chen chúc trong nhà hầm. Họ hút thuốc và vướng nhau bởi những súng trường và xẻng cuốc.

        — Thế Tu-ghi-ép đâu rồi?

        — Còn ở ngoài kia. Ở bên trên.

        — Thấy không, hở? Cậu đang đổ cát. Làm tốt cơ đấy. Xê-đen-nhi-cốp, nào, gọi cậu ta vào đây. Không thì đạn đại bác lấy mất đầu đấy.

        Những loạt súng đại bác mỗi lúc một tăng lên. Qua cánh cửa đóng không sít, nghe rõ tiếng đạn bay xoẹt xoẹt qua trên nhà hầm. Những tiếng nổ ầm ầm dữ dội làm át cả những tiếng súng khác. Nhà hầm rung lên. Và đất từ trần rơi xuống.

        Li-xa-go đụng vào sườn tôi.

        — Thế nào? Cho người về nhà chứ? Khi chưa muộn. Không thì A-brô-xi-mốp đến, là hết. Tay đó sẽ lùa mọi người vào tấn công đấy.

        Có lẽ phải cho người trở lui thật, khi trọng pháo đang bắn chuẩn bị và bọn Đức đang im. Và chúng tôi đã làm như thế.

        Họ chỉ vừa mới đi ra, thì lập tức thiếu tá, A-brô-xi-mổp và trưởng ban trinh sát đã đến. Thiếu tá thở mệt nhọc: chắc là tim có điều gì không ổn.

        — Thế nào, kỹ sư, không chôn sống chúng tôi ở đây chứ? — thiếu tá nheo mắt một cách hiền lành làm nồi những vết nhăn quanh mắt, hỏi và thọc tay vào túi tìm tẩu thuốc.

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá, tôi nghĩ là không ạ.

        — Lại «tôi nghĩ là»... Tôi sẽ phạt đấy. Cứ mỗi lần «tôi nghĩ là» phải phạt năm rúp. Có đặt các thanh đường ray chứ?

        — Có đặt. Hai hàng ạ.

        A-brô-xi-mốp đi đèn. Bặm môi. Cau mắt.

        — Thế Li-xa-go của cậu đâu rồi?

        — Đi nghỉ. Cùng với các chiến sĩ.

        — Nghỉ à? Đáng lẽ phải để họ ở đây. Lúc này mà nghỉ...

        Tôi không trả lời gì cả. Cũng may là tôi đã kịp thời cho họ trở lại bờ sông.

        — Còn những người khác đâu?

        — Đưa về các tiểu đoàn.

        — Làm gì?

        — Làm các lối đi qua bãi mìn.

        — Cậu kiểm tra chưa?

        — Kiềm tra rồi.

        — Thế công binh của sư đoàn làm gì?

        — Đi trinh sát.

        — Vậy sao không trinh sát từ hôm qua?

        — Vì hôm nay mới nhận được mệnh lệnh.

        A-brô-xi-mốp cắn môi. Mẳt của anh lạnh và sắc, nhìn một cách hằn học. Ở mép trái của miệng hơi giật giật.

        — Này, kỹ sư, nếu để mìn nổ, thì liệu hồn đấy.

        Tôi không thích giọng nói đó. Tôi trả lời là các lối đi qua bãi mìn đều đánh dấu bằng cọc và đã báo cho các tiểu đoàn trưởng biết rồi. A-brô-xi-mốp không nói gì thêm nữa. Anh gọi điện thoại cho tiểu đoàn một.

        Đại bác bắn mỗi lúc một dữ dội. Các tiếng nổ và những tràng súng hòa vào nhau thành một tiếng ầm ầm liên tục, không lúc nào ngớt. Cánh cửa luôn luôn đập phành phạch. Người ta lấy dây thép buộc nó lại.

        — Bắn khá đấy, — thiếu tá nói.

        Một viên đạn đại bác nổ ở đâu đấy gần ngay bên cạnh. Đất từ trần rơi xuống. Ngọn đèn xuýt nữa phụt tắt.

        — Còn nói gì nữa, bắn hay lắm... — trưởng ban trinh sát cười gượng. — Hôm qua, xuýt nữa thì một viên một trăm hai mươi hai ly bay vào nhà hầm của Pô-giác-xki, chỉ huy trưởng pháo binh.

        Thiếu tá mỉm cười. Tôi cũng thế. Nhưng nói chung, cảm giác khó chịu. Tiền duyên của bọn Đức cách chúng tôi chừng năm mươi thước, đối với trọng pháo tầm xa thì bán kính tiêu tán khá bình thường,


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2019, 05:20:28 AM

        Chúng tôi ngồi hút thuốc. Trong những phút như thế, thật khó lòng mà không hút.

        Sau đó, một chiến sĩ công binh - trinh sát của sư đoàn đi đến. Họ đã phát hiện và gỡ mười tám quả mìn của Đức. Đã tháo ngòi nổ. Mìn thì đề tại chỗ. Anh nói xong và đi.

        A-brô-xi-mốp không rời khỏi ống nói.

        Phải chăng bọn Đức cố thủ được sau trận pháo binh bắn chuẩn bị ác liệt thế. kia?

        Bây giờ trong nhà hầm trở nên nóng. Hai bên lò đỏ ửng màu da cam. Tôi cởi cúc áo.

        — Đừng bỏ củi vào nữa, — thiếu tá nói với chiến sĩ thông tin. — Trời bắt đầu sáng, bọn Đức sẽ theo khói mà bắn đấy.

        Chiến sĩ thông tin bò đến góc của mình.

        Đến gần sáu giờ, các loạt đại bác ngừng bắn. Từng phút chúng tôi sốt ruột nhìn đổng hồ. Kém mười lăm. Kém mười. Kém năm.

        A-brô-xi-mốp áp mồm sát vào ống nói.

        — Hãy chuẩn bị!

        Những loạt súng rời rạc cuối cùng. Rồi yên lặng. Một sự yên lặng lạ lùng và không tự nhiên. Quân ta đã bắn xong. Bọn Đức chưa bắt đầu.

        — Tiển lên! — A-brô-xi-mốp thét lên trong ống nói.

        Tôi áp mặt sát vào lỗ châu mai. Trên bầu trời xám trước lúc bình minh, nồi lên mờ mờ những tháp nước, những ống khói gì đầy, những chiến hào bọn Đức và một chiếc xe tăng bị phá hủy. Bên phải là một đoạn chiến hào của quân ta. Một con chim bay, chậm chạp vẫy cánh. Nghe nói chim không sợ chiến tranh.

        — Tiến lên đi, mẹ chúng mày! — A-brô-xi-mốp quát tháo trong máy điện thoại. Mặt anh ta tái nhợt và một mép miệng luôn luôn giật giật

        Bên trái tôi là thiếu tá. Cũng đứng cạnh lỗ châu mai. Phì phèo hút tẩu thuốc. Chẳng hiểu vì sao tôi thấy lạnh. Tay run và da gà nổi lên sau lưng. Chắc là vì xúc động. Không có công việc là đáng sợ hơn cả.

        Trên các chiến hào của quân ta, những hình thù hiện lên. Chạy... U-ra-a-a-a! Xông thẳng đến những tháp nước... A-a-a-a...

        Thậm chí tôi không nghe khấu súng máy của Đức bắt đầu bắn. Tôi chỉ thấy các hình thù ngã xuống. Những đám khói trắng của các viên đạn súng cối. Thêm một khẩu súng máy nữa. Ở bên trái.

        Các tiếng nổ mỗi lúc một nhiều hơn. Khói trắng như bông, bay là là sát mặt đất. Rồi dần dần tan ra. Trên đám đất xám xịt bị cày xới lên là những con người. Họ đông. Một sổ bờ số khác nằm. Không còn những người chạy nữa.

        Thiếu tá phì phèo hút tẩu thuốc lá. Ông húng hẳng hơ

        — Chẳng đè bẹp các hỏa điểm được quỷ gì cả...

        A-brô-xi-mốp gọi điện cho tiểu đoàn hai và tiểu đoàn ba. Cũng vẫn cảnh tượng'như thế. Quân ta nằm. Súng máy và súng cối của Đức không cho họ ngóc đầu dậy.

         Thiếu tá rời khỏi lỗ chấu mai. Mặt ông hơi sưng húp và mệt mỏi.

        — Bẳn ầm ĩ một giờ rưỡi, mà chằng chiếm được... Bọn quỷ Đức sống đai thật.

        A-brô-xi-mốp vẫn đứng như thể, ổng nghe cạnh tai, chân đặt lên hòm gỗ và những ngón tay khô cằn và nóng nảy xoắn sợi dây điện thoại.

        — Này, kỹ sư,-nhìn xem từ lỗ châu mai. Bị chết có nhiều không? Hay là họ nằm nấp ở các hố bom.

        Tôi nhìn. Chừng mười hai người nằm. Chắc là bị tử trận. Chân tay giạng ra. Những người khác không trông thấy. Súng máy bắn trúng vào ụ đất trước chiến hào, chỉ tung bụi lên mà thôi. Tình hình xấu lắm rồi.

        — Kéc-gien-xép, — thiếu tá nói rất khẽ.

        — Báo cáo, tôi nghe đây.

        — Cậu ở đây chẳng có việc gì làm đâu. Hãy đến với tiểu đoàn cũ của cậu. Đền chỗ Si-ria-ép. Hãy giúp... — và ông hút tẩu thuốc:

        — Ở đấy bọn Đức đã đào thêm hào giao thông. Si-ria-ép đã tính chuyện làm thế nào chiếm được những hào ấy. Các cậu hãy đặt súng máy và bắn vào sườn chúng.

        Tôi quay đi.

        — Sao đồng chí lại thế, sao lại phái cậu ta đến chỗ Si-ria-ép?

        — A-brô-xi-mốp hỏi, mà không rời khỏi điện thoại.

        — Cứ để cậu ta đi. Ở đây, cậu chẳng làm gì cả. Xung phong trực diện thi chằng chiếm được đâu.

        — Chúng ta sẽ chiếm được! — A-brô-xi-mốp kêu lên thất thanh một cách không tự nhiên và vứt ống nghe. Anh chiến sĩ thông tin khéo léo bắt nó và đeo vào đầu. — Cả xung phong trực diện chúng ta cũng sẽ chiếm được, nếu họ sẽ không nằm nấp ở các hố. Này, Kéc-gien-xép, cậu hãy đi đến tiểu đoàn hai, và hãy tổ chức ở đấy. Không thì họ chỉ suy nghĩ, ức đoán, mà rồi chẳng được tích sự cóc gi hết. Họ cứ cho rằng hỏa lực bọn Đức mạnh, không cho đứng lên được.

        Ngày thường thì cặp mắt của anh ta bình tĩnh và lạnh lùng, nhưng giờ đây chúng tròn xoe và có những tia máu đồ ngầu. Môi vẫn run mãi.

        — Cậu hãy bảo họ dậy, nhấc họ dậy! Họ nằm ỳ mãi rồi!

        — A-brô-xi-mốp, cậu đừng nóng .nảy thế, — thiếu tá điểm tĩnh nói và vẫy tay cho tôi, — thôi, đi đi.

        Tôi đi ra. Phóng rất nhanh đến sở chỉ huy của Si-ria-ép, chạy một quãng lại nằm khi những viên đạn súng cối nổ, rồi tiếp tục chạy lại. Bọn Đức điên tiết, bắn cố mạng không phân biệt gì hết, chỉ cốt bắn thật nhiều. Không có Si-ria-ép. Anh đang ở tiền duyên. Tôi chạy đến đấy. Chạm trán anh ta ở gần của nhà hầm. Chính ở nhà hầm ấy chúng tôi đã cố thủ khi bị bao vây.

        — Tình hình thế nào?

        Si-ria-ép khoa tay.

        — Tình hình... Một nửa tiểu đoàn không còn nữa.

        — Bị giết à?

        — Bồ ai mà biết được. Họ nằm. Vởi A-brô-xi-mốp thì đánh đấm thế quái nào được!

        — Thì sao?

        Những đường gân trên cổ Si-ria-ép nồi lên.

        — Thiếu tá một đường, còn A-brô-xi-mốp thì một nẻo.. Mình đã bàn định xong xuôi với thiếu tá rồi. Mình đã nói cho ông ta chi li cặn kẽ rồi. Nói thế này, thế kia. Giao thông hào của mình và của bọn Đức nối liền nhau.

        — Mình biết. Thì sao ?

        — Ban đêm, minh đã chuẩn bị tất cả. Đã đặt bộc phá để làm lối đi qua. Đấy, những chỗ mà trước đây cậu lấp ấy mà. Mình đã đặt công .binh. Thì... bỗng!.. A-brô-xi-mốp gọi điện bảo là chẳng làm lối đi qua gì hết, cứ xông vào tấn công đi. Mình nói rõ là ở đằng kia có súng máy... «Cóc sợ, pháo binh sẽ đè cổ chúng xuống, còn bọn Đức thì sợ đánh giáp lá cà».

        — Cậu có bao nhiêu quân?

        — Có trên sáu mươi chiến sĩ. Ba mươi vào tấn công. Để lại ba mươi. A-brô-xi-mốp sẽ chửi cho đấy. Bảo rằng: cậu hãy tập trung quân mà đánh... Chỉ để lại các xạ thủ súng máy và súng cối thôi. Công binh cũng phải lùa vào tấn công.

        — Thè thiếu tá có biết việc này không?

        — Mình không rõ.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2019, 05:20:52 AM

        Si-ria-ép bực mình ngồi mạnh xuống chiếc ghế đẩu. Chiếc ghè kêu răng rắc và như muốn gãy.

        — Thế thì làm sao bây giờ? Một nửa bị giết, còn một nửa thì nằm lỳ cho đến tối, vì bọn địch không cho họ đứng lên. Còn tay đó thì bây giờ lại réo ở điện thoại...

        Tôi kể lại cho Si-ria-ép rõ thiếu tá nói gì với tôi. Mắt của anh ta sáng rực lên. Anh nhảy lên, chộp lầy vai tôi và lắc mạnh.

        — Tuyệt! Cậu ngồi ở đây, còn mình cùng với Các-nau-khốp và Pha-rơ-be... Chà, làm sao mà rút người ra khỏi các hố được nhỉ!

        Anh chộp lấy mũ.

        — Nếu tay ấy gọi điện thì cậu cứ ỉm! Cứ để đội viên thông tin trả lời. Li-ô-sca, cậu bảo là tớ ra tiền duyên nhé. Rõ chứ? Đó là nếu như A-brô-xi-mốp sẽ gọi.

        Li-ô-sca gật đầu tỏ ý hiểu.

        Si-ria-ép chỉ vừa mới đóng ập cửa, thì A-brô-xi-mốp gọi điện. Li-ô-sca láu lỉnh nháy mắt.

        — Báo cáo đồng chí đại úy, họ đã đi rồi ạ. Chỉ vừa mới đi thôi. Vâng, vâng, cả hai. Đến và đi rồi.

        Và lầy tay che ống nói, cậu cười.

        — Ông ta chửi... Vì sao khi đồng chí đến lại không gọi điện báo cho ông biết.

        Nửa giờ sau, Si-ria-ép đã chuẩn bị xong mọi việc. Đường hào của quân ta nối liền với của bọn Đức ở ba chỗ: hai chỗ ở trên đồi và một ở mương xói. Ở mỗi chỗ đó đều có lấp đất và đặt mìn. Ban ‘đêm, Si-ria-ép cùng với các chiến sĩ công binh được phái đến đã kéo dây nổ tới những chỗ ấy. Các đường hào từ quân ta đến chỗ bọn Đức đã được kiểm tra và tháo gỡ gần mười quả mìn.

        Mọi việc đâu vào đấy cả. Si-ria-ép vỗ đùi.

        — Ba mươi cậu đã bò lui rồi. Tốt lắm! Bây giờ cứ để cho họ nghỉ cái đã, để họ canh gác. Những người khác chúng mình sẽ cho đến lối đi qua, mỗi chỗ mười người. Thế này cũng không tồi lắm. Hả?

        Mắt của Si-ria-ép sáng ngời lên. Chiếc mũ trắng, xù lông, lệch về một tai, tóc dính vào trán.

        — Mình sẽ cho Các-nau-khốp và Pha-rơ-be đến hai chỗ trên đồi, còn mình thì đến chỗ ở mương xói.

        — Thế ai chỉ huy chung?

        — Cậu;

        — Thôi đi! Mình bây giờ không phải là tiểu đoàn trưởng, mà là kỹ sư, phái viên của sở chỉ huy.

        — Phái viên, thế thì sao? Cậu cứ chỉ huy đi.

        — Còn cậu cứ cho Xen-đê-xki đến chỗ mương xói. Cậu ấy gan lắm đấy.

        — Xen-đê-xki à? Dù sao cũng hơi trẻ. Nhưng cũng...

        Chúng tôi đứng trong đường hào cạnh cửa vào nhà hầm. Mắt của Si-ria-ép bỗng cau lại, mũi nhăn. Anh nắm tay tôi.

        — Eo ôi!.. Bò đến rồi.

        — Ai?

        A-brô-xi-mốp, tay víu vào bụi cây, đang leo lên sườn mương xói. Theo sau là một liên lạc viên.

        — Thôi, thế là hỏng hết...

        Si-ria-ép nhổ toẹt và đấy cái mũ đèn tận lông mày.

        Từ xa, A-brô-xi-mốp đã quát lên:

        — Tôi phái cậu đến đây đề làm quỷ gì? Để ba hoa đấy phải không?

        Anh ta thở hồng hộc, áo không cài cúc, ở mép mồm sùi bọt, cặp mắt tròn xoe, như chực nhảy ra ngoài.

        — Tôi gọi điện, gọi mãi... Giá có ai đến mà nghe điện. Thế nào, các cậu có nghĩ đến việc chiến đấu hay không?

        A-brô-xi-mốp thờ mệt nhọc. Thè lưỡi liếm cặp môi khô nẻ.

        — Tôi hỏi các cậu: có nghĩ đèn việc chiến đầu hay không, mẹ các cậu...

        — Chúng tôi có nghĩ, — Si-ria-ép bình tĩnh trả lời.

         — Thề thì chiến đấu đi, đồ quỷ... Cậu làm khỉ gì mà ở đây, hả? Kỹ sư cơ đấy! Còn tôi thì như thằng nhỏ chạy...

        — Xin phép được trình bày, — Si-ria-ép vẫn bình tĩnh, nhẫn nhục nói, chỉ có hai lỗ mũi run run.

        A-brô-xi-mốp đỏ mặt, tía tai.

        — Này, tao sẽ trình bày cho mày...

        Tay với lấy bao súng lục.

        — Nào, hãy xông vào tấn công!

        Tôi cảm thấy ruột gan tôi sôi lên. Si-ria-ép cúi đầu, thở mệt nhọc. Hai tay anh nắm chặt.

        — Nào, hãy xông vào tấn công! Có nghe không? Tao sẽ không nhắc lại nữa!

        Trong tay lăm lăm khẩu súng lục. Những ngón tay trắng toát. Không một giọt máu.

        — Tôi không xông vào tấn công đâu, nếu đồng chí không nghe tôi nói, — Si-ria-ép nghiến răng, nói từng lời rất chậm.

        Trong vài giây, hai người nhìn thẳng vào mặt nhau. Họ sắp bám vào nhau đây. Chưa bao giờ tôi thấy A-brô-xi-mốp như vậy cả.

        — Thiếu tá ra lệnh cho tôi chiếm lĩnh những đường hào kia kìa. Tôi đã thỏa thuận với thiếu tá rồi.

        — Trong quân đội người ta không thỏa thuận với nhau, mà thực hiện mệnh lệnh, — A-brô-xi-mốp ngắt lời. — Sáng nay, tôi ra lệnh cho anh thể nào?

        — Kéc-gien-xép chỉ vừa mới xác nhận với tôi là...

        — Sáng nay tôi ra lệnh cho anh thế nào?

        — Tấn công.

        — Thế thì anh tấn công đâu?

        — Trận tấn công hỏng, vì...

        — Tôi không hỏi vì sao.— Và bỗng điên tiết lên, A-brô-xi- mốp hoa khẩu súng lục trong không. — Nào, hãy xông vào tấn công! Tao sẽ bắn vỡ sọ, như bắn đồ hèn nhát! Không chịu thi hành mệnh lệnh!

        Tôi cảm thấy hình như ngay bây giờ A-brô-xi-mốp sẽ ngã lăn đùng ra và lên cơn động kinh.

        — Tất cả các cán bộ chỉ huy hãy tiến lên! Cả các cậu cũng tiến lên! Tao sẽ cho chúng mày biết tay tao vì chúng mày tham sống, sợ chết... Cứ bịa đặt ra những đường hào khỉ gió gì đấy, mà chẳng chịu tấn công. Từ khi có mệnh lệnh đến bây giờ đã ba giờ rồi...

        Tôi không thể nào nghe được nữa. Quay lưng, tôi bước đi.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2019, 05:22:18 AM

24

        Hầu như ngay lập tức, các khấu súng máy của Đức bắt chúng tôi phải nằm xuống. Một chiến sĩ chạy bên cạnh tôi đột nhiên ngã sấp mặt ngay, hai tay dang ra về phía trước. Tôi đang chạy thì nhảy

        vào một cái hố mới, còn sực nức mùi thuốc súng. Có ai đấy nhảy qua người tôi. Làm đất rơi xuống. Anh ta cũng bị ngã. Bò hai chân thoăn thoắt, anh rẽ ra một bên. Đạn bay vút ngay sát đất, trúng vào cát, kêu rít lên, Những viên đạn súng cối nổ ầm ầm gần bên cạnh. Tôi nằm nghiêng, cuộn tròn người, co hai chân sát cằm. Tay phải của tôi cầm khấu súng lục. Nó bị dính đầy cát. Buổi tối, Va- lê-ga bôi dầu nhiều quá. Sáng nay tôi quên lau nó.

        Không ai còn thét «u-ra» nữa.

        Si-ria-ép ở đâu? Chúng tôi nhảy ra khỏi chiến hào hầu như cùng một lúc. Tôi bị vấp và tay trái vớ cái gì đấy bằng sắt cắm trong đất. Sau đó, tôi thấy áo ca-pốt của anh ta ở trước mặt, bên phải một tí. Trên áo có một vệt vàng to nên rất dễ nhận ra.

        Những khẩu súng máy Đức bắn không ngớt. Nghe rất rõ tên xạ thù súng máy quay súng như thế nào, từ phải sang trái và từ trái sang phải.

        Tôi cố hết sức áp người sát đất. Hố khá to, nhưng theo tôi, dù sao thì vai trái cũng lòi ra. Tôi lấy tay đào đất. Đất bị đạn nổ nên mềm và dễ đào. Nhưng đó chi là lớp trên thôi, xuống sâu hơn là đất sét. Tôi ráo riết cào đất, như con chó.

        Bùng! Đạn súng cối. Đất rơi xuống toàn thân tôi.

        Bùng! Viên thứ hai. Rồi đến viên thứ ba, thứ tư. Tôi nhắm mắt và thôi đào. Chắc là chúng nhận thấy tôi hất đất ra.

        Tôi nằm nín thở. Bên cạnh, có người nào đầy rên. À-à-à-à... Ngoài tiêng à-à-à-à... không còn nghe gì nữa. Tiếng rên đều đều, không lên bồng xuống trầm. Tôi không biết mình đã nằm như thế bao lâu. Tôi sợ nhúc nhích. Trong mồm đầy đất. Lạo sạo trong răng. Và chung quanh là đất. Ngoài đất ra, tôi chẳng thấy gì nữa. Ở bên trên, đất bột xám xịt, mịn tơi như phấn, còn bên dưới là đất sét đỏ choạch, nứt nẻ, từng cục. Không một bụi cỏ, một cành cây, không có gì hết, chỉ có bụi và đất sét. Giá có một con sâu nào đấy hiện ra nhỉ! Nếu quay đầu lại thì thấy bầu trời. Trời cũng bằng phẳng, xám xịt và ảm đạm thế nào ấy. Chắc là sắp có mưa hoặc tuyết. Có lẽ tuyết thì đúng hơn, vì những ngón chân tôi lạnh buốt.

        Khẩu súng máy bắt đầu thỉnh thoảng ngừng lại, nhưng nó vẫn bắn rất thấp, là là sát mặt đất. Tôi hoàn toàn không thể nào

        hiểu được vì sao tôi không bị thương, không bị giết. Bò trong khoảng cách năm mươi thước trước mũi súng máy, thì quả là cầm chắc cái chết trong tay. Những người phóc ra đầu tiên là Si-ria-ép, Các-nau-khốp, Xen-đê-xki và tôi. Và thêm một người nữa, trung đội trưởng trong số mới đến. Tôi chỉ nhớ là từ dưới mũ lông của anh ta một mớ tóc bạc lòi ra. Còn Pha-rơ-be thì hình như tôi không thấy.

        Chắc là tôi chỉ chạy được rất ít và nằm ngay. Tôi không thể nào nhớ được cái gì đã bắt tôi nằm xuống. Như là ở chung quanh bỗng nhiên trống trải. Trước thì có nhiều người, nhưng bất thình lình không có ai nữa. Chắc đó là bản năng. Một mình thì thấy sợ. Nhưng tôi không nhớ tôi có sợ không. Thậm chí tôi cũng không nhớ vì sao và như thế nào mà tôi đã nằm trong cái hố này.

        Do thế nằm không tiện, nên chân phải của tôi bị chuột rút. Lúc đầu bắp chân, sau đến bàn chân, rồi đến đường gân dài chạy dọc từ dưới đầu gối lên đùi trên. Tôi nằm trở mình sang sườn khác. Tôi cố duỗi chân. Nhưng không có chỗ để duỗi, tôi sợ thò chân ra khỏi hổ. Tôi lấy bàn tay xoa bóp và nhúc nhích những ngón chân. Bắp chân vẫn không khỏi, vì vướng ống ủng không xoa bóp được.

        Người bị thương vẫn rên mãi. Không lúc nào ngừng, nhưng đã khẽ hơn.

        Bọn Đức chuyển sang bắn sâu vào hệ thống phòng ngự của quân ta. Những tiếng nổ nghe đã xa rồi ở phía sau lưng. Đạn bay cao hơn nhiều. Bọn Đức đề chúng tôi yên. Tôi hơi thò cái mũ ra khỏi hố. Chúng không bắn. Thò cao hơn tí nữa. Cũng không bắn. Chống tay, tôi nhìn một mắt. Đền chỗ bọn Đức thì rất gần, dường như tay có thể với tới được. Có thể ném đá đến tận dãy cọc sắt cắm trước chiến hào của chúng. Khẩu súng máy vừa vặn ở ngay trước mặt tôi: một vệt đen của lỗ châu mai.

        Tôi đắp một ụ đất con ở phía quân Đức. Bây giờ thì tôi có thể cả nhìn quanh lẫn nhìn lui mà không bị chúng thầy.

        Từ chỗ tôi nằm đến chiến hào quân ta xa hơn đến chiến hào bọn Đức. Chừng ba mươi thước, mà cũng có thể hơn. Có người nào đấy cúi khom lưng chạy đến chiến hào của ta, chỉ trông rõ ở bên trên những vành che tai của mũ lông đưa lùng lẳng. Rồi khuất hẳn. Anh chiến sĩ trước đây chạy bên cạnh tôi, bây giờ vẫn nằm dang tay ra. Mặt anh quay về phía tôi. Mắt mở. Có cảm giác hình như anh ta áp tai sát đất và lẳng nghe cái gì đấy. Cách anh chừng vài bước là một người khác. Chỉ thấy rõ hai chân quấn xà cạp bằng dạ, dày cộm và đi giày cao cổ màu vàng.

        Tôi đếm có mười bốn xác cả thảy. Một số chắc là bị giết trong trận tấn công lúc sáng sớm. Trong số những xác đó, không thầy cả Si-ria-ép, cả Các-nau-khốp. Nếu có thi tôi nhận ra ngay. Chung quanh có rất nhiều hố bom, hố đạn, to có, nhỏ có. Trong một hố, có cái gì đen đen. Rồi nó biến mất.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2019, 05:22:53 AM

        Chiến sĩ bị thương vẫn rên. Anh nằm cách hồ của tôi chừng vài bước. Nằm sấp, đầu về phía tôi. Cái mũ lông bên cạnh. Tóc đen, quăn, quen lắm. Hai tay co lại, ôm chặt lấy thân. Anh bò. Bò rất chậm và không ngóc đầu dậy. Chỉ dựa vào hai khuỷu tay để bò. Hai chân yếu đuối kéo lê đằng sau. Và luôn mồm rên. Nhưng bây giờ rất khẽ.

        Tôi nhìn anh không rời mắt. Tôi không biết làm thế nào để giúp anh được. Thậm chí tôi không có cả gói băng bông cá nhân nữa.

        Anh đã bò đến rất gần. Tay có thể với tới được.

        — Nào, bò đến đây, — tôi thì thầm và đưa tay ra.

        Đầu hơi ngóc lên. Đôi mắt đen láy và to, đã đờ dại như sắp chết. Khác-la-mốp... Tham mưu trưởng của tôi trước đây... Anh nhìn, mà không nhận ra tôi. Trên mặt không có vẻ gì đau đớn. Nhưng ngây dại thế nào ấy. Trán, má, răng dính đầt. Mồm hé mở. Môi trắng nhợt.

        — Nào, bò đến đây...

        Chống khuỷu tay xuống đất, anh bò đến mép hố. Gục mặt xuống đất. Tôi luồn tay vào nách anh và kéo anh vào hố. Toàn thân anh mềm nhũn, như không xương. Anh ngã chúi đầu về phía trước. Hai chân hoàn toàn tê liệt.

        Khó khăn lắm tôi mới đặt anh nằm được. Hai người trong một hố thì chật. Đành phải để chân anh gác lên chân tôi. Anh nằm, ngửa mặt, nhìn trời. Anh thở nặng nhọc và đứt quãng. Áo va-rơi và phần trên của quần đằm máu. Tôi cởi thắt lưng cho anh và vén áo sơ-mi. Hai lỗ nhỏ ở bên phải của bụng. Tôi biết là anh sẽ chết.

        Anh quay đầu về phía tôi. Đôi môi mấp máy nói cái gì đấy. Tôi chì nghe được: «Đồng chí trung úy... đồng chí trung úy...» Tôi cảm thấy hình như anh ta đã nhận ra tôi. Rồi anh ngửa đầu ra sau và không ngóc dậy nữa. Anh chết rất bình tĩnh. Chỉ ngừng thở thôi.

        Tôi vuốt mắt cho anh. Và đậy mũ lên mặt nghiêm nghị và dài ra ngay.

        Tuyềt bắt đầu rơi. Lúc đầu rất mịn, vừa là tuyết, vừa là tuyết hạt, sau đó là những bông tuyết to và xốp. Chung quanh mọi vật bỗng trắng xóa: cả đất, cả người nằm, cả ụ đất ngoài chiến hào. Chân tay tôi bắt đầu lạnh cóng. Tai cũng thế. Tôi dựng cổ áo lên.

        Bọn Đức bắn. Quân ta trả lời. Đạn luôn luôn rít trên đầu.

        Chúng tôi nằm như thế, — tôi và Khác-la-mốp lạnh cứng, thằng đờ ra, và những bông tuyểt rơi trên tay anh ta không tan ra. Đồng hồ chết. Tôi không thể xác đinh xem đã nằm bao lâu rồi. Cả chân lẫn tay đều tê đi. Lại bị chuột rút. Ôi, nằm như thế mãi đến bao giờ? Có lẽ là cứ nhảy ra và chạy ào đi. Ba mươi thước thì chỉ mất năm giây thôi, đó là nhiều nhất, trong khi thằng xạ thủ súng máy chưa kịp nhắm bắn. Sáng nay, mười ba người chằng đã chạy là gì.

        Ở hố bên cạnh, có người nào đấy cựa mình. Trên nền trắng của tuyết bắt đầu tan, trông rõ cái mũ lông màu xám có vành che tai đang nhúc nhích. Cái đầu thò ra trong giây lát. Rồi khuất. Lại thò ra. Rồi bất thình lình một người nhảy lên ngay khòi hố và ù té chạy. Chạy rất nhanh, lưng cúi khom, tay áp sát sườn và chân đưa caơ

        Anh ta chạy được ba phần tư đường. Cách chiến hào chỉ còn khoảng tám, mười thước. Nhưng khẩu súng máy Đức đã sát hại anh. Anh chạy thêm vài bước và ngã đầu chúi về trước. Và cứ nằm thế chỉ cách chiến hào quân ta ba bước. Áo ca-pốt của anh vẫn còn nổi rõ màu đen trên tuyết trong một lúc, nhưng sau đó cả nó cũng trở thành trắng xóa. Tuyết vẫn rơi, rơi mãi...

         Tiếp đó, ba người nữa chạy. Gần như cả ba cùng một lúc. Một người mặc áo len đài tay. Chắc là đã cởi áo ca-pốt để chạy nhẹ hon. Chúng giết anh này gần như ngay trên ụ đất trước chiến hào. Người thứ hai bị sát hại cách anh ta vài bước. Người thứ ba nhảy được vào chiến hào. Từ phía quân Đức, khẩu súng máy vẫn bắn hồi lâu, khạc đạn đúng vào chỗ anh chiến sĩ nhảy xuống.

        Tôi lấy gót giày đào một chỗ sâu trong hố. Bây giờ thì có thể duỗi chân được rồi. Tôi làm thêm một chỗ sâu nữa để đặt chân của Khác-la-mốp. Hai chân của anh ta đã cứng đờ và không co lại ở đầu gối được. Khó khăn lắm tôi mới đầy chân anh vào đấy. Bây giờ chúng tôi nằm bên nhau, toàn thân thằng đờ ra. Tôi nằm nghiêng, anh nằm ngửa. Giống như anh đang ngủ, mặt đậy cái mũ lông cho khỏi tuyết.

        Công việc làm cho người tôi ấm lên. Tôi nằm nghiêng bên sườn trái để không thấy Khác-la-mốp. Tôi đào thêm một chỗ sâu ở dưới đùi, như thế nằm tiện hơn. Bây giờ thì tốt. Chỉ mong sao đại bác tầm xa của quân ta đừng nã vào tiền duyên quân Đức. Và giá được hút thuốc nhỉ... Dù chỉ ba hơi cũng được. Thuốc lá thì tôi bỏ quên ở nhà hầm của Si-ria-ép. Chỉ có bao diêm kêu lách cách trong túi.

        Tôi buồn ngủ. Tuyết tan dưới người tôi. Bụi xám xịt trở thành bùn bẩn. Hai đầu gối ướt sũng. Và đầu lạnh cóng. Tôi lầy mũ trên mặt Khác-la-mốp và lấy khăn mùi-xoa đậy mặt cho anh. Tôi chùi khẩu súng lục đề khỏi ngủ. Trong súng, té ra chỉ còn bốn viên đạn. Băng đạn dự trữ cũng không có.

        Bây giờ là mấy giờ nhỉ? Chắc là hơn mười hai giờ. Mà sáu giờ thì trời mới bắt đầu tối. Còn phải nằm sáu giờ nữa cơ. Sáu giờ là cả một chuỗi dài vô tận.

        Tôi bỏ vành mũ che tai xuống và nhắm mắt. Một liều ba bảy cũng liều!


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2019, 05:23:20 AM

        Nhưng không ngủ được. Tôi luôn luôn cảm thấy hình như Khác-la-mốp nhúc nhích ở sau lưng tôi. Tôi sực nhớ phải lấy các tài liệu của anh. Việc đó không dễ đâu, vì chúng nằm ở túi sau quần. Tôi nhớ là trước đây anh đã lấy thẻ đảng viên dự bị ở túi sau để đóng nguyệt phí. Tôi loay hoay hồi lâu. Khác-la-mốp trở nên nặng, như đã dính vào đất. Nhưng dù sao tôi cũng lấy được. Tấm thẻ đảng viên dự bị, hai bức thư, một giấy chứng chỉ gì đấy đã mùn rồi và nhòe mực và mấy cái ảnh, gói cẩn thận trong một miếng vải sơn nhỏ và cài kim băng. Ảnh gói riêng. Trước đây, tôi không hể nghĩ rằng Khác-la-mốp lại là người cấn thận như thế. Hồi ở sở chỉ huy của tôi, anh luôn luôn đánh mất hay bồ quên các đồ vật.

        Tôi xem ảnh. Trên một tấm có hình Khác-la-mốp với một thiếu phụ nào đấy. Tóc chị ta dài, quăn và hai mắt rộng. Chắc là vợ. Trên tay một đứa con, mắt cũng đen láy như mắt bố. Trên tấm khác, cũng thiếu phụ ấy, chỉ có khác là một mình và đội mũ bê-rê. Trên tấm thứ ba, một nhóm người trên bờ sông. Họ cười. Một cậu ôm đàn ghi-ta. Khác-la-mốp mặc quần đùi, nằm sấp. Ở đằng xa là cánh đồng và những đổng cỏ khô. Ở mặt sau đề: «Tréc-ki-dô-vô, tháng sáu năm 1939. Cô thứ hai từ bên trái là Mu-ra».

        Tôi gói lại tất cả vào miếng vải sơn, cài kim băng và đút vào túi.

        Một hòn đất sét nhỏ trúng vào tai tôi. Tôi giật mình. Hòn thứ hai rơi bên cạnh, gấn đầu gối. Có ai đấy ném vào tôi. Tôi hơi ngóc đẩu lên. Từ hố bên cạnh, một cái mặt không cạo râu, có gò má rộng, nhô ra.

        — Anh ơi... Có diêm không?

        — Có.

        — Làm ơn, ném chơ..

        — Đề cho mình một mầu nhỏ chứ?

        — Được.

        Tôi ném hộp diêm. Nó bay không tới nơi, còn cách chừng hai bước. Chà, đố quỷ! Người ngồi trong hố thò tay ra. Không, không với tới được. Cả hai chúng tôi đều không rời mắt khỏi hộp diêm. Nó nhỏ bé, hai bên màu đen, nằm trên tuyết và như chề nhạo chúng tồi. Rồi khẩu súng trường hiện ra. Nó thò chậm chạp, thận trọng ra khỏi hồ, di động trên tuyết và đụng vào hộp. Toàn bộ công việc đó kéo dài rất lâu. Cái hộp trượt đi xa hơn, không chịu mắc vào đầu ruồi. Anh chiến sĩ cầm súng thậm chí há hốc mồm vì căng thằng quá. Nhưng cuối cùng anh móc được hộp diêm. Cái đầu và khẩu súng biến mất. Trên hố một làn khói nhẹ bay lên.

        — Cấn thận một chút... — tôi thì thào, nhưng theo tôi, anh ta không nghe tôi nói.

        Anh hút lâu có đèn nửa giờ, chắc là không ít hơn. Thậm chí đầu tôi choáng váng vì thèm muốn và ghen tị. Sau đó, hộp diêm bay về với tôi, bên trong có một mầu tàn thuốc nhỏ xíu, thầm ướt nước bọt. Tôi mút nó, cố hết sức mút. Môi bị bỏng cả.

        — Cậu ơi! Có đồng hồ không? — tôi thì thầm hỏi.

        — Mười hai giờ kém mười lăm,— câu trả lời vang lên từ hố.

        Tôi không tin tai tôi. Tôi đã tưởng là hai hay ba giờ rồi, mà bây giờ chưa đến mười hai giờ. Và hơn nữa lại sắp bắt đầu bắn đây. Hoặc là quân ta hoặc là bọn Đức bắn, có trời mà biết. Những viên đạn đại bác nổ ngay bên cạnh. Chừng mươi, mười lăm phút. Rồi lại ngừng bắn. Rồi lại bắn.

        Phải chạy. Chờ thêm sáu giờ nữa! Tôi không chịu được. Chúng giết thì giết, đằng nào cũng không thoát chết được.

        Từ hố lại khàn khàn vang lên:

        — Này, cậu ơi,.. cậu...

        — Gì thế?

        — Nào, ta chạy ào đi.

        Anh ta cũng không chịu được.

        — Ừ, chạy nào, — tôi đáp lại.

        Chúng tôi dùng mưu mẹo nhở Ba người trước bị giết gần như ở sát ụ đất ngoài chiến hào. Vì thế phải nằm xuống, khi chưa chạy đến tận chiến hào của ta. Khi tràng súng sắp bắn ra, thì chúng tôi sẽ nằm xuống. Sau đó, bất thinh lình chạy lên, nhảy vào chiến hào. May ra có thể thoát được. Tôi quay người về phía chiến hào quân ta. Mong sao đừng bị chuột rút. Địa điểm ở trước mặt phẳng lỳ, chỉ có một cái hố nhỏ và một người chết ở cạnh đấy.

        — The nào, sẵn sàng chứ?

        — Sẵn sàng.

        Tôi dựa vào chân trái, co đầu gối chân phải. Lần cuối cùng tôi nhìn Khác-la-mốp. Anh nằm yên, chân hơi co lại ở đầu gối. Tay để trên bụng. Anh ta chẳng cần gì nữa rồi.

        — Chạy nào!

        — Chạy.

        Tuyệt... Hố đạn đại bác... Người chết... Lại tuyết... Tôi ngã phịch xuống đất. Và gần như ngay lập tức — tặc-tặc-tặc-tặc... Tôi không thở. Tặc-tặc-tặc-tặc... Tôi nằm. Tặc-tặc-tặc-tặc...

        — Sống chứ?

        — Sống.

        Tôi nằm úp mặt xuống tuyết. Tay dang ra. Chân trái dưới bụng. Như thế sẽ dễ nhảy lên hơn. Đến chiến hào chỉ năm, sáu bước nữa thôi. Mắt tôi hau háu liếc nhìn mảnh đất ấy.

        Phải chờ hai hay ba phút để thằng xạ thù súng máy yên trí là chúng tôi đã chết. Bây giờ nó không bắn trúng chúng tôi được, vì chúng tôi nằm quá thấp.

        Nghe rõ tiếng người nào đấy đi trong chiến hào và nói chuyện. Nhưng không nghe được lời.

        — Nào, chạy được rồi.

        — Chuẩn bị, — tôi nói trong tuyết, không ngóc đầu.

        — Rõ, — bên trái đáp lại.

        Toàn thân tôi căng thẳng. Mạch máu ở thái dương đập mạnh,

        — Nào, chạy!

        Tôi đạp chân. Nhảy ba phóc và vào chiến hào.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2019, 08:54:32 AM
    
        Sau đó, chúng tôi còn ngồi hồi lâu ngay trong bùn, dưới đáy chiến hào và cười, Có ai đấy đưa cho mẩu thuốc lá.

        Té ra đã năm giờ rồi. Đồng hồ của anh chiến sĩ kia cũng chết. Chúng tôi đã nằm trong hố từ bảy cho đến năm giờ: chín giờ ròng rã. Chỉ đến bây giờ tôi mới thấy cồn cào đói ghê gớm, đói đến hoa cả mắt.

        Buổi sáng, chúng tôi chôn cất các đồng chí: Khác-la-mốp, Xen-đê-xki và trung đội trưởng có mái tóc bạc. Các chiến sĩ cứu thương đưa xác họ từ chiến trường về lúc ban đêm. Các-nau- khốp thế là không tìm được. Nghe nói có người thấy anh cùng bốn chiến sĩ nữa xông vào chiến hào quân Đức. Chắc là anh đã hy sinh ở đấy.

        Si-ria-ép tự mình bò về, máu me đằm đìa và một cánh tay lùng lẳng. Bò đến và ngã giúi qua ụ đất ngoài chiến hào, anh bất tỉnh ngay tức thì. Người ta đưa anh đến trạm quân y. Tôi ghé lại đầy. Nửa giờ trước, anh đã được chuyển đến tiểu đoàn quần y ở phía bên kia rồi.

        Toàn tiểu đoàn bị thiệt hại hai mươi sáu người, gần một nửa, đó là chưa kể số người bị thương.

        Pha-rơ-be được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đoàn. Anh là cán bộ chỉ huy duy nhất không tham gia trận tấn công. A-brô-xi-mốp giữ anh lại cạnh mình.

        Chúng tôi chôn cất các đồng chí ngay bên bờ sông Vôn-ga.

        Những quan tài giản dị, bằng ván gỗ thông không bào. Những đám mây đen xám xịt, nặng nề, bay qua trên đầu. Gió thổi những vạt áo ca-pốt phần phật. Tuyết ướt át, khó chịu, chui vào cổ áo.  Băng trôi trên dòng sông Vôn-ga — lớp băng non mùa thu.

        Ba cái huyệt đen thẫm.

        Sự chết chóc ở đây, ở ngoài mặt trận, thật quá ư dễ dàng. Hôm qua còn đấy, hôm nay mất rồi. Mà ngày mai, có thể cả mình cũng không còn nữa. Và đất cũng sẽ rơi thình thịch như thế trên nắp quan tài của mình. Mà cũng có thể cả quan tài sẽ không có, mà chỉ có tuyết phủ lên người thôi, và mình sẽ nằm gục mặt xuống đất cho đến khi hết chiến tranh.

        Ba nấm mồ nhỏ, đỏ choạch, mọc lên bên bờ sông Vôn-ga. Ba cái mũ lông. Ba cái cọc. Loạt súng chào vĩnh biệt: loạt súng tiểu liên trầm trầm và ngắn gọn. Giống như tiếng vang của đại bác tầm xa ở bên kia sông Vôn-ga. Một phút im lặng. Các chiến sĩ công binh thu nhặt xẻng, sửa sang lại nấm mồ.

        Và thế là hết. Chúng tôi bước đi.

        Không một người nào trong số đó trên hai mươi bốn tuồi. Các-nau-khốp hai mươi lăm tuổi. Nhưng không chôn cất anh được: xác anh nằm ở bên kia, bên phía bọn Đức.

        Và thế là anh không đọc cho tôi nghe những bài thơ của mình được. Những bài thơ ấy bây giờ ở trong túi tôi, cùng với bức thư của mẹ tôi và tấm ảnh của Li-u-xi-a. Những bài thơ giản dị, sáng sủa, trong trắng vô cùng, như chính con người của anh trước đây.
        
...Từ hầm này tời chỗ em
        Xa vời chẳng khác đến bên kia trời,
        Nhưng anh vẫn thấy gần thôi,
        Tưởng chừng tay với được người thân yêu.
        Thấy cành lay động bỏng chiều,
        Và rừng dương nhỏ đang reo xạc xào
        Thấy cơn giỏ nhẹ lao xao
        Vấn vương buộc chặt anh vào tóc em.

        Tôi treo chân dung của Lơn-đơn dưới cái gương phía trên bàn. Cả hai người — Lơn-đơn và Các-nau-khốp — hao hao giống nhau.

        Lần cuối cùng, tôi nói chuyện với Các-nau-khồp ba phút trước khi bắt đầu trận tấn công. Anh ngồi xổm trong góc đường hào và vặn ngòi nổ vào lựu đạn. Tôi hỏi anh cái gì đấy, bây giờ tôi không còn nhớ nữa. Anh ngẩng đầu lên, và lần đầu tiên tôi không thấy trong mắt anh nụ cười sâu thẳm, ở đâu đấy dưới đáy mắt, nụ cười trầm lặng mà tôi rất thích. Anh trả lời gì đấy, và tôi đi. Sau đó, tôi không gặp lại anh lần nào nữa.

        Tôi nằm thao thức hồi lâu, úp mặt vào gối.

        Li-xa-go đi đến. Ngồi bó gối trên giường. Thở phì phì. Không chửi rủa. Kê cằm trên đầu gối, lặng thinh hút thuốc.

        — Nghe nói sẽ xử án A-brô-xi-mốp đầy, — anh buồn rầu nói.

        — Ai nói thế?

        — Cậu thư ký La-đư-ghin nghe thế.

        — Đồ nói dối...

        — Đồ nói dối, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Dù sao thì hắn cũng quanh quẩn gần thù trưởng.

        — Thế nào, cậu đã đến sở chỉ huy đấy à?

        — Đến sở chỉ huy.

        — Tình hình ở đấy ra sao.

        — Chẳng sao cả. Như mọi khi thôi. A-xta-phiếp vẽ đồ án. Hỏi chúng ta có bao nhiêu người. Mình nói dối là mười hai. Đối với tay đó cũng phải cần thận ra trò. Quan liêu lắm.

        — Cậu có thấy thiếu tá không?

        — Ông ta ghé lại một tí. vẻ mặt rầu rĩ. Lấy bảng kê thiệt hại ở La-đư-ghin.

        — Chà... giá có rượu mà uống cho đã... Uống đến điên thì thôi... Buổi tối, ở nhà ăn của cán bộ chỉ huy, thiếu tá gặp tôi.

        — Này, kỹ sư, cậu hãy chuẩn bị đến ngày mai.

        Tôi không hiểu.

        — Để làm gì ạ?

        Thiếu tá phì phèo hút tẩu thuốc và không nghe tôi hỏi. - Ông hốc hác và mặt tái nhợt.

        — Để làm gì ạ? — tôi nhắc lại.

        Ông chậm chạp ngẩng đầu lên.

        — Cậu sẽ kể lại... tất cả cái gì đã xảy ra... ở đấy, ở trên đồi, —  và chống gậy đi ra. Đến bây giờ ông đi vẫn còn hơi khập khiễng.

        Tôi không hỏi thêm gì nữa. Rõ cả rồi.

        La-đư-ghin, thư ký của sở chỉ huy, người mách lẻo số một trong trung đoàn, kề lại rằng thiếu tá và A-brô-xi-mốp bị triệu tập đến sở chỉ huy sư đoàn và họ ngồi ở đấy ba giờ. Sau đó, A-brô- xi-mốp đóng cửa ngồi lỳ trong nhà hầm, cho đến bây giờ vẫn chưa đi ra ngoài. Trả lại bữa ăn trưa và ăn tối.

        — Cậu liên lạc của ông ta đứng làm gì ở kho thực phẩm. Rồi phóng vào nhà hầm của ông ta, vừa chạy, tay vừa giữ túi. Sáng nay vừa vặn người ta lĩnh rượu trắng.

        Và cậu láo xược nháy con mắt xanh.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2019, 08:56:35 AM

25

        Tôi đến muộn ở tòa án. Khi vào thì thiếu tá đã bắt đầu nói rồi. Tại cống của tiểu đoàn hai, — trong khu vực chúng tôi, chỗ đó rộng nhất, — người ta hút thuốc nhiều đến nỗi hầu như không thấy được mặt người. A-brô-xi-mốp ngồi gần vách. Môi bặm lại, trắng nhợt và khô khan. Mắt nhìn vách.

        A-xta-phiếp, thư ký, sột soạt giở các tờ giấy, xếp đi đặt lại, thử mực ở góc trang giấy. Cạnh anh ta, còn có hai người nữa: trưởng ban trinh sát và đại đội trưởng đại đội chống tăng. Thiếu tá đứng cạnh bàn. Trong những ngày đêm qua, ông già đi chừng mười tuổi. Thỉnh thoảng đưa cốc nước trà lên môi và uống ừng ực từng hớp nhỏ. Ông nói khẽ. Khẽ đến nổi ở cuối cống không nghe được. Tôi chen lên phía trước.

        — Trong chiến tranh không thể không có lòng tin, — ông nói, — chỉ có đũng cảm không đủ. Chỉ có tri thức cũng không đủ. Cần phải có lòng tin nữa. Lòng tin ở người mà mình cùng chiến đấu. Thiếu cái đó thì không thể nào được...

        Ông cởi cổ áo. Trong cồng nóng bức. Tôi cảm thấy hình như những ngổn tay của ông hoi run khi tháo những móc con ở cổ áo.

        — Tôi đã cùng với A-brô-xi-mốp trải qua một chặng đường lớn.. Chặng đường chiến đầu lớn. Ô-ri-ôn, Cat-xto-nai-a, Vô-rô- nét... Và ở đây nữa, chúng ta đã ở bao lâu rồi. Và tôi tin cậu ta. Tôi biết là cậu còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, có lẽ là trong chiến tranh cậu mới học được; tôi biết là cậu có thể phạm sai lầm, — trong chúng ta ai mà không có sai lầm, — nhưng tôi tin, tôi tin cậu ta. Không thể nào không tin tham mưu trưởng của mình được.

        Quay đầu lại, ông chăm chú nhìn A-brô-xi-mốp hồi lâu.

        — Tôi biết là chính tôi có lỗi. Tôi chịu trách nhiệm về người, chứ không phải tham mưu trưởng. Và về trận đánh này tôi chịu trách nhiệm. Và hôm nay, khi sư đoàn trưởng quát mắng A-brô- xi-mốp, thì tôi biết là ông quát mắng cả tôi nữa. Và ông đã nói đúng. —Thiếu tá đưa tay lên vuốt tóc và đưa cặp mắt mệt mỏi nhìn tất cả chúng tôi. — Không có chiến tranh nào mà không có tồn thương. Vì chiến tranh nó như thế. Nhưng việc đã xảy ra hôm qua, ở tiểu đoàn hai, thì cái đó không phải là chiến tranh. Mà đó là sự tiêu diệt. A-brô-xi-mốp lộng quyển. Cậu ta đã thay đổi mệnh lệnh của tôi. Và thay đổi đến hai lần. Buổi sáng, khi gọi điện thoại, và sau đó, tự mình lùa người vào trận tấn công.

        — Đã có lệnh tấn công tháp nước... — A-brô-xi-mốp không rời mắt khỏi vách và nói giọng khô khan, cục cằn ngắt lời thiếu tá. — Mà người ta không chịu xông vào tấn công.

        — Nói dối! — Thiếu tá đấm tay xuống bàn làm cho cái thìa trong cốc kêu lên loảng xoảng. Nhưng ngay lúc đó ông kìm mình lại. Uống nước trà trong cốc. — Người ta xông vào tấn công. Nhưng không phải như cách của cậu muốn. Người ta xông vào tấn công một cách thông minh, sau khi đã suy nghĩ chín chắn. Mà cậu thì làm cái gì? Cậu thấy không, đợt tấn công đầu tiên đưa lại kết quả gì? Nhưng ở đấy, không thể làm khác. Chúng ta trông cậy vào pháo binh bắn chuẩn bị. Đáng lẽ phải xung phong nện quân địch ngay, không cho chúng hoàn hồn. Nhưng đã không làm được... Quân địch thực ra mạnh hơn và láu hơn chúng ta tưởng. Chúng ta không thể đè bẹp các hỏa điểm của chúng. Tôi phái kỹ sư đến tiểu đoàn hai. Ở đấy, đã có Si-ria-ép, cậu ta cũng là người thông minh. Ngay từ đêm, Si-ria-ép đã chuẩn bị tất cả để chiếm lĩnh công sự quân Đức. Và chuẩn bị một cách thông minh. Còn cậu... Còn A-brô-xi-mốp đã làm gì?

        Môi của A-brô-xi-mốp bắt đầu giật giật.

        Mặt của Bô-rô-đin thường ngày đôn hậu, mểm mại, bây giờ trở nên đồ gay và hai má rung lên.

        — Tôi biết, cậu quát tháo ở đấy như thế nào. Vung súng lục lên như thế nào.

        Ông uống một hớp nước trà nữa.

        — Trong chiến tranh, mệnh lệnh là thiêng liêng. Không thực hiện mệnh lệnh là phạm tội. Và bao giờ cũng phải thực hiện mệnh lệnh cuối cùng. Và những người đã thực hiện mệnh lệnh bây giờ đang nằm trước chiến hào của quân ta. Còn A-brô-xi- mốp thì đang ngồi ở đây. A-brô-xi-mốp đã lừa đối trung đoàn trưởng của mình. Cậu ta đã lộng quyền. Mà người thì chết. Hết. Theo tôi, thế là đủ.

        Thiếu tá nặng nề ngồi xuống ghè đấu.

        A-brô-xi-mốp trước ngồi như thế nào, bây giờ vẫn ngồi như thế: hai tay đặt lên đầu gối, mắt nhìn ở vách. A-xta-phiếp cúi đầu, cố gắng viết lia lịa cái gì đấy.

        Thêm vài người nói nữa. Rồi đến tôi. Sau tôi là A-brô-xi-mốp. Anh ta nói ngắn. Cho rằng tháp nước chỉ có thể lấy được bằng cách tập trung quân tấn công mà thôi. Và chỉ có thế thôi. Và anh ta đòi hỏi phải thực hiện trận tấn công đó. Các tiểu đoàn trưởng chỉ lo bảo vệ người, nên không thích tấn công. Tháp nước chỉ có thể  chiếm được bằng tấn công mà thôi. Và anh ta không có lỗi, nếu người ta không có thái độ toàn tâm, toàn ý với trận tấn công, nếu người ta hèn nhát.

        — Hèn nhát ư? — một giọng nói vang lên từ trong cổng.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2019, 08:56:55 AM
 
        Mọi người quay lại nhìn. Pha-rơ-be, người không gọn gàng, mặc áo ca-pốt ngắn cũn cỡn, trông đến buồn cười, cao hơn mọi người một cái đầu, đang cố chen lại gần bàn.

        — Anh bảo là họ hèn nhát ư? Si-ria-ép hèn nhát ư? Các- nau-khốp hèn nhát ư? Đó là anh nói về họ như thế đấy à?

        Pha-rơ-be thở hồn hển, nhấp nháy đôi mắt cận thị — hôm qua anh bị vỡ kính — và cau mặt.

        — Tôi đã trông thấy tất cả... Chính mắt tôi trông thấy... Si- ria-ép xông lên thế nào. Cả Các-nau-khốp lẫn... mọi người xông lên thế nào. Tôi không biết nói... Tôi biết các anh ấy không lâu... Biết Các-nau-khốp và những người khác... Lương tâm của anh ở đâu, mà anh nói điêu đến thế. Lòng can đảm không phải ở người đưa ngực không mà xông vào họng súng máy. A-brô-xi- mốp... đại úy A-brô-xi-mốp nói là đã có lệnh tấn công tháp nước. Không phải tấn công, mà là chiếm lĩnh cho được. Việc mở các đường hào mà Si-ria-ép đã suy nghĩ ra, không phải là sự hèn nhát. Đó là mưu mẹo. Mưu mẹo đúng đắn. Nếu áp dụng thì nó sẽ bảo vệ được người của ta. Bảo vệ để họ có thể chiến đấu. Nhưng bây giờ họ không còn nữa. Và tôi cho rằng... — Giọng nói của anh bị nghẹn, anh tìm cốc nước, nhưng không tìm thấy và khoa tay. — Tôi cho rằng những người như thế, không thể để họ chỉ huy được ..

        Pha-rơ-be không tìm ra được từ, lúng ta lúng túng, đỏ mặt tía tai, lại tìm cốc nước và bỗng nhiên, anh buột mồm nói lia lịa:

        — Chính anh mới là hèn nhát! Anh không xông vào tấn công! Và còn giữ tôi lại để đi theo anh. Tôi thấy tất cả... — Và huých vai, anh chen trở lui, móc áo ca-pốt của anh mắc vào áo của người bên cạnh.

        Tôi đi theo anh ra bên ngoài. Anh đứng dựa vào cống.

        — Pha-rơ-be, anh nói hay đấy.

        Anh giật mình.

        — Hay cái gì đâu. Trong óc cứ lẫn lộn lung tung cả. Anh có biết không, nhìn mặt hắn ta thì tôi... Mà hắn cứ ngồi điểm nhiên và còn cãi lại nữa. Không... Không. Tất cả đều không ồn.

        Anh thồ. mệt nhọc.

        — Hai chiến sĩ già cuối cùng của tôi bị giết rồi. Éc-mẳc và Pê-rê-véc-dép. Anh có nhớ họ không? Một người là lính thủy, người kia hình như là thợ lái máy gặt đập. Những bạn chí thân. Ăn, ngủ, uống đểu cùng nhau, Anh biết họ, Một người làm trò ảo thuật đấy,

        — Còn tay trung đội trưởng trẻ, tôi quên mất họ anh ta rồi, có mái tóc bạc, có phải là người của anh không?

        — Ca-la-bin à? Đại đội trương đại đội súng máy, Còn nhỏ tuổi lắm, Ở chỗ chúng tôi chưa được một tuần, Từ bệnh viện đến, cứ kể mãi chuyện ở bệnh viện người ta cho ăn cháo bột trân châu,

        — Cán bộ chỉ huy mới chưa được phái đến à?

        — Đã phái các đại đội trưởng từ tiểu đoàn một và ba đến, Còn ở1 các trung đội thì tạm thời đặt các trung sĩ. Sĩ quan tùy tùng hiện chưa có,

        — Không có sĩ quan tùy tùng thì hoi khó đấy, — tôi đồng ý. Chằng hiểu vì sao bây giờ tôi hoàn toàn yên tâm về Pha-rơ-be,

        Trong cách nói của anh, trong giọng nói đã có những âm thanh mới mẻ và rắn rỏi thế nào ấy, Những âm thanh đó trước đây không có,

        — Si-ria-ép bị thế nào? Thế là chẳng biết rõ gì cả à?

        — Hình như không nặng lắm, Sọ thì còn nguyên, còn tay thì tôi chằng biết bị ở đâu, Máu ra ít, nhưng tay đu đưa lùng lẳng,

        — Tay phải à?

        — Không, tay trái...

        — Thế cũng may,,.

        — Anh không muốn đi bệnh viện, Quát mắng ầm lên. Nói rằng: thế nào tôi cũng quay trở lại, Các anh có muốn hay không, tôi cũng cứ quay trở lại, Còn với A-brô-xi-mốp, dù hắn có đi đến cùng trời cuối đất, thì tôi cũng gặp.

        — Không may cho A-brô-xi-mốp thật, quả đấm của Si-ria- ép nặng như chùy...

        Chúng tôi còn nói chuyện với nhau một lúc nữa, rồi Pha-rơ-be trở vào cống, Tôi đi về nhà hầm của mình, Tôi không muốn có mặt ở tòa án nữa.

        Va-lê-ga rán bánh mì trên chảo. Trong góc, ấm xa-mô-va đang reo. Tôi tháo ủng, cởi áo va-rơi và nằm dài trên giường.

        — Đồng chí sẽ dùng trà hay cà-phê?.. — Va-lê-ga hỏi.

        — Thế cà-phê với gì?

        — Với sữa đặc.

        — Thế thì cà-phê.

        Va-lê-ga đi giả hạt cà-phê. Bơ trong chảo nổ lép bép. Tôi lấy thơ của Các-nau-khốp và đọc lại. Một lúc sau, Li-xa-go đến. Đóng ập cửa. Nhìn vào chảo. Và dừng lại cạnh tôi.

        — Sao?

        — Hạ xuống làm lính thường và đưa vào đơn vị những người có tội.

        Chúng tôi không nói gì thêm về A-brô-xi-mốp nữa. Ngày hôm sau, anh ta đeo ba-lô sau lưng, ra đi, chẳng chào hỏi ai cả.

        Tôi không bao giờ gặp và không bao giờ nghe nói về anh ta nữa.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2019, 09:00:49 AM

26

        Ban đêm, xe tăng đến. Sáu chiếc «ba mươi tư» cũ rích, vá chằng, vá chịt. Nố máy xinh xịch, xích sắt kêu loảng xoảng trên bờ, chúng đang hóa trang. Bỗng nhiên, trở nên vui hơn thể nào ấy.

        Chúng tôi đợi xe tăng đã lâu rồi. Khoảng mười ngày có những tin đồn được truyền đi. Nói rằng cả một sư đoàn xe tăng từ hậu phương, ngay từ nhà máy, tiến đến đây. Sau đó, người ta rút dần xuống trung đoàn, rồi tiểu đoàn. Nhưng cuối cùng tất cả chỉ vẻn vẹn có sáu chiếc cũ kỹ, già cỗi đến, và không phải từ hậu hương, mà từ nhà máy «Tháng Mười Đỏ», nơi chúng đã chiến đấu gần như từ ngày đầu phòng ngự. Nhưng điều đó chẳng quan trọng gì. Dù sao vẫn là xe tăng, vẫn là kỹ thuật quân sự... Và vẻ ngoài của chúng trông cũng khá dữ tợn.

        Chúng phải có mặt ở tiền duyên khi trời chưa sáng. Thiếu tá ra lệnh cho tôi xem xét và chuẩn bị đường cho chúng chạy. Phải dùng thuốc nổ phá hai toa tàu không mui đứng lù lù ngáng lối đi ở gần cái cần chắn đường. Tôi phái Li-xa-go và A-gơ-nhíp- xép đến đấy.

        Ba chiến sĩ lái xe tăng — hai trung úy và một trung sĩ, — ghé lại chỗ tôi để sưởi. Họ đen điu, bẩn thỉu, từ đẩu đến chân lấm dầu.

        — Có cái gì ăn không? — người lớn tuồi hơn cả hỏi. Mặt anh ta lấm tấm đầy sẹo, chẳc là bị cháy sém. — Từ sáng đến giờ chẳng có cái gì trong miệng cả...

        Va-lê-ga đưa món thịt thỏ sinh nhật còn lại trên bàn. Hai trung úy ăn ngấu nghiến ngon lành.

        — Thế nào? Chiến đấu thế nào? — họ hỏi.

        — Chiền đấu cũng tàm tạm thế thôi, — tôi đáp.

        — Tháp nước đến bây giờ vẫn chưa chiếm được à?

        — Chưa chiếm được. Tay không thì làm sao được...

        Các chiến sĩ lái xe tăng nhìn nhau cười.

        — Thế là hy vọng vào chúng mình à?

        — Thì còn hy vọng vào ai nữa? Không có kỹ thuật quân sự dù sao cũng...

        Trung úy có bộ râu rậm, không cạo, mọc đến tận gần mắt, cười xòa.

        — Cậu có biết cái kỹ thuật quân sự ấy đã chiến đấu khắp nơi rồi không?

        — Trông xe tăng thì biết ngay là chúng đã chiến đấu nhiều. Các cậu đã ở Mặt trận Tây-Nam chứ?

        — Cậu cứ hỏi nơi nào chúng mình không có mặt.

        — Đã ở ngoại vi Khác-cốp chứ?

        — Ngoại vi Khác-cốp? Thế cậu đã ở đấy à?

        — Đã ở đấy.

        — Cậu có biết Nê-pô-crư-tai-a, Téc-nô-vai-a không?

        — Biết quá đi chứ lị. Chúng mình tấn công ở đấy.

        — Thế mà cũng gọi là tấn công... Vì các cậu, bộ binh, mà mất Khác-cốp đấy. Chúng mình đã ở nhà máy Máy kéo. Thỏ còn nữa không?

        — Hết rồi. Chỉ còn bì thỏ thôi.

        — Tiếc thật. Mà chúng mình có rượu cồn đấy...

        — Thế thì chúng mình sẽ tìm cái gì khác.

        Tôi phái Va-lê-ga đến chỗ Tru-mắc.

        — Nói cậu ấy đến đây. Và mang theo thức nhắm. Các cậu có bao nhiêu rượu cồn...

        — Đù dùng. Đừng lo.

        Va-lê-ga đi ra. Trung sĩ cũng thế.

        — Cảc cậu sống sướng như tiên, — trung ủy có nhiều sẹo nói và đưa mắt chỉ lên thần Ái tình trên chiếc gương soi. — Như ông hoàng...

        — Vâng, về chỗ ở thì chúng mình chẳng có gì để than phiền thật.

        — Và còn đọc sách nữa chứ.

        — Thỉnh thoảng.

        Anh ta giở cuốn Mác-tin I-đơn.

        — Mình không còn nhớ đã đọc khi nào. Ở Pê-rê-mư-slơ  thì phải? Vào ngày thứ bảy trước chiến tranh. Bây giờ có lẽ quên cả mặt chữ, không đọc được rồi, — và cười. — Sau chiến tranh, đành phải học lại vậy.

        Một lúc sau, Tru-mắc đi đến. Mắt còn ngái ngủ, tóc dính lông tơ ở gối, cậu gãi.

        — Thế mà cũng là kỹ sư cơ đấy... Nửa đêm uống rượu trắng...

        Sao chằng biết nghĩ gì cả! Này, cầm lấy...

        Cậu lấy dưới áo bờ-lu-dông lính thủy ra hai vòng giò chả và một ồ bánh mì.

        — Va-lê-ga của cậu đến tìm chuẩn úy của mình. Sẽ đem đến hai hộp thịt ninh.

        Cậu nhìn các chiến sĩ lái xe tăng.

        — Mấy cái hộp của các cậu ở trên bờ à?

        — Thế còn của ai nữa?

        — Mình mà ngồi trong những cái hộp ấy thì xấu hổ bỏ mẹ.

        Chúng chằng bò đến tiền duyên được đâu, sẽ rời rã ra cả thôi.

        Trung úy có râu bực mình.

        — Cái đó là việc của chúng tớ.

        — Tất nhiên rồi, chẳng phải việc của mình. Việc của mình là uống rượu và chửi bọn lái xe tăng chiến đấu tồi.

        — Thề cậu là ai?

        — Tở? Thì cứ hồi kỹ sư. Sẽ nói cho cậu biết.

        — Chắc là trinh sát viên. Trong mõm đủ rõ.

        — Mõm nào? — Tru-mắc nắm tay lại.

        — Cần thận tí, cậu ạ. Cậu sẽ uống rượu cồn của ai?

        — Thế nào? Của các cậu à?

        — Của chúng mình.

        — Nếu thế thì thôi. Mình im. Và rút lui cầ ý kiền về các xe tăng nữa. Ngày mai, các cậu sẽ chiếm tháp nước thôi. Với những chiếc xe tăng kia làm sao mà không chiếm được...

        Các chiến sĩ lái xe tăng cười. Tru-mắc vươn vai, bẻ ngón tay. Trung úy có râu nhìn đồng hồ.

        — Tay Pri-hốt-cơ đi đâu rồi nhỉ?

        — Chắc là tháo dây ở thùng. Hay tìm đồ đựng. Này, kỹ sư, cậu có nước không? Không thì rượu cồn nặng lắm, những chín mươi sáu độ cơ đấy...

        — Nước thì chẳng lo. Sông Vôn-ga sát sườn đấy mà.

        — Thế nào, các cậu ngày mai tấn công chứ? — Tru-mắc hỏi.

        — Bố ai mà biết được. Được lệnh đứng ở khởi điểm, còn sau đó thế nào sẽ rõ.

        — Chắc không phải ngày mai. Người ta chưa nói gì với chúng mình cả?

        — Sẽ nói thôi.

        — Nếu không phải ngày mai, — Tru-mắc trầm ngâm lấy dao nghi ngoáy trên bàn và nói, — thì bọn Đức sẽ bắn trực diện vào các cậu và trong một ngày thì tan hết...

        — Nghe nói ở đấy sườn dốc, hình như không thấy được.

        — Nghe nói, nghe nói... Thê «mét-xe» của chúng đề làm gì?

        — Thế trọng pháo chống tăng của chúng có nhiều không? — Trung úy có râu cảnh giác hỏi.

        — Đù để diệt các cậu.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2019, 09:01:20 AM

        Ở ngoài hành lang có cái gì đấy rơi ầm một tiếng. Người nào đấy. chửi rùa. Tiếp đó, trung sĩ chạy vào mang theo nhiều chiếc bình-toong.

        — Có thằng ngốc nào chỗ các cậu vứt xẻng lung tung ở ngoài kia. Xuýt nữa thì vỡ mẹ hết cả bình‘toong.

        Anh ta đặt những bình-toong lên giường. Và quay lại, mặt tươi rói, vui vẻ.

        — Mình nói cái tin này thì sẽ được gì nào?

        — Tin mới gì thế?

        — Tuyệt vô cùng. Các cậu cứ nói đi, sẽ được gì, thì mình sẽ nói.

        Cho thêm một trăm gam, — Tru-mắc thế lưỡi thử rượu cồn và cau mặt. — Nặng lắm, đồ quỷ...

        — Ít.

        — Thế thì cứ giữ lấy đừng nói ra. Cũng thế thôi, uống xong cốc đầu tiên thì cậu sẽ ba hoa, nói toạc móng heo ra hết. Này, kỹ sư, đưa mấy cái ca.

        Tôi đưa ca. Chỉ có hai cái thôi. Đành phải lần lượt uống. Tru-mắc rót rượu. Và rót nước ở ấm ra.

        — Nào, tin mới gì thế? — trung úy có sẹo hỏi.

        — Mình đã bảo là tuyệt vời. Vừa nghe phát thanh ở xe mười sáu.

        — Hít-le ngoẻo chứ gì?

        — Tin này còn hay hơn nữa...

        — Chiến tranh chấm dứt?

        — Trái lại. Chỉ mới bắt đầu thôi... — và dừng lại một tí, anh nói tiếp: — Quân ta chiếm Ca-lát. Rồi đến thành phổ gì đấy, tên gì nhỉ, gm. Cong...

        — Mu-dơ-ga Cong?

        — Đúng... Mu-dơ-ga. Và còn thành phố gì nữa có chữ G...

        — Áp-ga-nê-rốp à?

        — Đúng, đúng... Áp-ga-nê-rốp...

        — Cậu không nói dối chứ?

        — Nói dối làm gì? Một vạn ba tù binh... Một vạn tư thằng bị giềt!

        — Eo ôi!,

        ~ Xảy ra bao giờ thế?

        — Trong ba ngày vừa qua đấy thôi. Ca-lát, Áp-ga-nê-rốp và còn gì gì nữa đây. Cả một đống tên.

        — Thè là rõ. Bọn phát xít ngoẻo đến nơi rồi!

        Tru-mắc nện bàn tay vào lưng tôi, giữa hai xương bả vai, đến nỗi tôi xuýt nữa tụt lưỡi.

        — Các cậu ơi, hãy uống chúc mừng sự ngoẻo!

        Và chúng tôi lập tức cùng uống ở ca, ở bình-toong, và uống thêm nước ngay ở vòi ấm.

        — Thế đấy! Chúng đang nốc rượu...

        Li-xa-go ở cửa. Há hốc mồm vì ngạc nhiên.

        — Mình thì phả toa tàu ở đằng kia, mà chúng thì nốc rượu,

        Tôi chìa ca cho Li-xa-gơ. Anh ta nốc một hơi cạn ca, Mắt nhắm lại, Xít xoa, Đưa tay sờ, tìm vỏ bánh mì, Và ngửi vỏ bánh mì,

        — Các cậu sa đọa ở đây, mà năm giờ thì tấn công rồi, Có biết không? Người ta đã đem bữa ăn sáng cho các tiểu đoàn rồi đấy.

        — Nói dối.,.

        — Thì cứ xem ở ngoài bờ sông kìa.

        Các chiến sĩ lái xe tăng chạy đi, không ăn hết giò chả.

        — Si-ria-ép quát mắng bảo rằng lối đi qua bãi mìn làm chậm quá.

        — Si-ria-ép nào?

        — Sao hỏi thế? Tham mưu trưởng. Thượng úy.

        — Trời ơi... Cậu ta ở đâu đến thế?

        — Cứ lơ tơ mơ thế thì suốt chiến tranh các cậu lỡ hết dịp... -— Li-xa-go cười. — Từ chỗ tiểu đoàn quân y Si-ria-ép chạy về. Đang quát tháo inh ỏi ở trên bờ sông ngoài kia.

        Tôi xỏ ủng, Tìm súng lục. Nhìn đồng hồ, Ba giờ kém mười lăm.

        — Lối đi qua làm rồi chứ?

        — Làm rồi.

        — Suốt bề rộng chứ?

        — Suốt. Bây giờ thì xe chạy qua tốt lắm.

        Các chiến sĩ lải xe tăng đã mở máy. Họ bận túi bụi, chạy ngược chạy xuôi. Cả bờ sông trắng xóa. Tuyết lại rơi. Từ đâu đấy bên trái vang lên giọng nói của Si-ria-ép. Đang thét mắng ai đấy:

        — Sau năm phút phải đến báo cáo đấy... Rõ chứ? Nhanh lên...

        Tru-mắc chạy đến, vừa chạy vừa cài cúc áo bờ-lu-dông lính thủy.

        — Tham mưu trưởng mới đang ra oai. Kỹ sư, cậu cần thận đấy...

        Si-ria-ép đứng ở cửa ra vào của nhà hầm sở chỉ huy. Tay băng và treo trên một chéo vải. Băng trắng lộ ra dưới cái mũ lông có vành che tai, Thấy tôi, anh đưa cánh tay không bị thương lên vẫy.

        — I-u-rơ-ca! Cậu phóng nhanh ra tiền duyên đi. Giúp cho các chiến sĩ lái xe tăng— Không ai biết các lối đi qua của các cậu ở đâu cả.

        — Tay thế nào? — tôi hỏi.

        — Để sau, để sau — Chạy nhanh lên — Còn hai giờ thôi.

        — Báo cáo đồng chí thượng úy, rõ. Đồng chí cho đi chứ?

        — Chạy nhanh lên... Còn Li-xa-go thì bảo đến chỗ mình... Tôi đưa tay lên chào, quay người về phía trái, giập mạnh gót giày và bàn tay rời khỏi lưỡi trai ngay từ bước đầu tiên.

        — Ngừng lại! Hai giờ tập luyện các động tác quân sự —

        Một hòn tuyết lạnh và chắc ném trúng vào gáy tôi. Nó rã ra

        và lọt vào trong cổ áơ

        Tôi nhảy vào chiếc xe tăng đứng trước. Va-lê-ga đã ở đấy rồi, đang buộc bình-toong vào đai da.

        Những chiếc xe tăng nối đuôi nhau chạy trên bờ sông. Chúng chạy qua cần chắn đường và những toa tàu không mui đã bị phá hủy. Đi trên đường lát đá tảng. Bây giờ bọn Đức sẽ bắn, vì những chiếc xe tăng kêu loảng xoảng dữ dội.

        Những bông tuyết rơi, chậm chạp bay lất phất trong không trung.

        Đồi Ma-ma-ép ở phía trước — một khối đồ sộ, nặng nề, trắng xóa.

        Còn một giờ bốn mươi phút nữa thì tấn công.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2019, 06:38:26 AM

27

        Trận tấn công định vào đúng năm giờ. Lúc năm giờ kém hai mươi, Gác-cút-sa hồng hộc chạy đến.

        — Báo cáo đồng chí trung úy.

        — Cái gì thế nữa?

        Anh ta nặng nhọc thở, lầy tay vuốt trán ướt.

        — Trinh sát viên quay trở về.

        — Thì sao?

        — Họ gặp phải mìn.

        — Mìn nào?

        — Của bọn Đức. Vừa đúng ngay đối diện lối đi qua bên trái. Chừng năm mươi thước. Loại mìn gì lạ.
 
        — Chà, đồ quý! Thè hôm qua người ta đã xem rối cơ mà?

        — Họ bảo là hôm qua không có.

        — Không có... Cậu gì... à, Búc-vô-xtốp đâu rồi?

        — Đang ngồi ở nhà hầm tố súng chống tăng.

        — Si-ria-ẻp, gọi điện cho sở chỉ huy đề hoãn hiệu lệnh lại một ít. Mình đi ngay.

        Búc-vô-xtốp, mặt rỗ chằng rỗ chịt, gầy gò, trung đội trường trinh sát của tiểu đoàn công binh, khoa cả hai tay lên mà nói.

        — Chắc là chúng mới đặt đêm nay. Thật đấy, đêm nay. Hôm qua, chính tay tôi mò khắp rồi: không có gì cả. Thật đấy...

        — Thật đấy, thật đấy! Thế sao không báo cáo sớm hơn? Bao giờ cũng để đến phút cuối cùng mới báo cáo. Đằng kia mìn có nhiều không? .

        — Chừng mươi quả. Và loại gì lạ, lần đầu tiên tôi thấy. Đại loại như pôm-dơ. của ta, nhưng không hoàn toàn giống. Ngòi nổ ở đâu bên cạnh.

        — Gác-cút-sa, đem áo choàng ngụy trang đến đây. Còn cậu... dẫn đi.

        May cho chúng tôi, trời không trăng. Chúng tôi bò qua lối đi làm cho xe tăng có đánh dấu bằng những cọc. Trung sĩ mặt rỗ, Gác-cút-sa và tôi. Trước mũi tôi, thấp thoáng gót giày của Gác- cút-sa có đóng cá. Chúng tôi bò quá bãi mìn của quân ta. Chung quanh trắng xóa. Đường chiến hào của bọn Đức ở phía trước mờ mờ sẫm. Trung sĩ dừng lại. Anh lặng thinh, đưa găng tay chỉ vào cái gi đen đen ở dưới tuyết. Pôm-da1! Pôm-da chính cống: một khối kim loại có khía, ngòi nổ và sợi dây. Còn ở bên cạnh thì thêm cái cọc đề cắm cho chắc. Anh ta đã nhầm nó là ngòi nổ. Trinh sát viên đâu mà nghếch đến thế!

        Gác-cút-sa nằm sấp, khéo léo tháo hết ngòi nổ này, đến ngòi nổ khác. Tay tôi bị cóng, và khó khăn lắm tôi mới vặn ra được hai cái. Trung sĩ thì ì ạch.

        Xì-xì-xì-xì... Pháo sáng...

        Chúng tôi nằm im bất động. Trong mồm bỗng thấy khô ngay. Trồng ngực đánh thình thịch. Quân súc sinh sẽ thấy mất.

        Xì-xì-xì-xì... Chiêc pháo sáng thứ hai.., Tôi liếc mắt thẫy trung sĩ đã bò cách tôi chừng mươi thước rồi. Người gì mà tệ đến thế! Bây giờ bọn Đức sẽ thấy đây.

        Một tràng súng máy ngắn.

        Chúng đã thấy rồi.

        Một tràng nữa.

        Có cái gì đấy nện vào tay tôi rất mạnh, rồi vào chân. Tôi chúi đầu xuống tuyết. Tuyết lạnh, dễ chịu, chui vào mồm, mũi, tai. Dễ chịu quá chừng... Tuyềt lạo sạo trong răng... Như kem... Thế mà anh ta bảo là không phải mìn pôm-da... Đúng là pôm-da chính cống... Chỉ có điều cái cọc nằm bên cạnh... Tay trung sĩ gì mà ngốc thật... Hết cả... Không còn gi nữa... Chỉ cổ tuyết trong răng...

----------------
        1. Loại mìn chống bộ binh. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2019, 06:41:05 AM
        
28

        «I-u-rơ-ca thân, cậu tệ quá chừng. Sau bức thư ngắn từ tiểu đoàn quân y gửi về, thế là bặt vô âm tín, tuyệt nhiên không một chữ nào nữa. Quá quắt lắm! Nếu cả tay phải bị thương, thì mới có lý do, chứ cậu chỉ bị tay trái mà thôi. Không tốt, thật đấy, không tốt tí nào cả. Ở đây, ngày nào người ta cũng hỏi thăm cậu, mà mình thì trả lòi thế này: có lẽ cậu ta được ăn uống tẩm bổ ở bệnh viện đã béo quay rồi, lại thêm bắt nhân tình, nhân ngãi với các cô y tá rồi, nên chẳng còn nhớ gì các bạn chiến đấu nữa. Mà cậu ạ, họ thì chẳng quên cậu đâu. Tru-mắc đã đề dành riêng cho cậu một chai rượu cô-nhắc gì tuyệt lắm (những sáu sao cơ!), chẳng cho ai thử hết. Mình cố xin hắn, nằn nì xin mãi, nhưng chẳng được xơ múi gì.

        Còn nói chung thì chán ngấy. Ngồi mãi chán ngấy. Chán mớ đời! Những người khác thì tấn công, tiến lên về phía tây, còn chúng mình vẫn ở mãi trong những chiến hào cũ ấy, những nhà hầm cũ ấy. Kẻ thù, thật ra, không như trước đây. Nhưng tháng trước dù sao cũng hơi khó đấy. Người bị loại ra khỏi vòng chiến đã gần hết, mà trông cậy vào quân bổ sung thì chính cậu cũng biết thôi... Sau khi cậu bị thương, quân ta phối hợp với xe tăng lại tấn công một lần nữa, nhưng tháp nước vẫn không chiếm được, còn xe tăng sau đó được điều sang khu vực khác. Một chiếc bị bọn Đức bắn hỏng, và quân ta phải chiến đấu suốt tháng trời vì nó. Sư đoàn trưởng ra lệnh làm hỏa điểm ở dưới chiếc xe tăng, và chắc là sư đoàn trưởng Đức cũng định như thế, và thế là hai bên choảng nhau chí tử vì chiếc xe tăng đó. Đánh trực diện thi không ăn thua gì, vì mỗi tiểu đoàn chỉ có năm, bảy đội viên chiến đấu thôi. Thế là đành phải đào hào đến. Mà tầng đất thì rắn như đá, và thuốc nổ không có. Sông Vôn-ga đã hai tuần rối mà không đóng băng được. Máy bay «bắp ngô» ném lương khô xuống.

        Cuối cùng, quân ta đã chiếm được chiếc xe tăng ấy. Đào đường ngầm dài hai mươi hai thước, đặt thuốc nổ chừng một trăm ki-lô và ầm. Bò qua hố phễu, xông vào tấn công. Đấy, chúng mình như thể đấy! Mình, Tu-ghi-ép, A-gơ-nhíp-xép (bây giờ cậu ta ở tiểu đoàn quân y vì bị thương) và Va-lê-ga của cậu được đề nghị tặng thưởng huân chương «Sao đỏ». Các cậu cừ thật! Còn những người khác được đề nghị huy chương «Vì lòng dũng cảm». Bây giờ dưới chiếc xe tăng ấy, đặt khấu súng máy của Pha-rơ-be, nó nã bọn Đức hết sức ác liệt. Tháp nước hiện nay vẫn còn trong tay của chúng. Quân ta đào trong đất, như chuột chũi, nhưng chẳng bò từ phía nào đến được cả. Chiến sĩ thiếu, vấn đề chính là ở đấy. Nói chung, chúng mình chiến đấu bằng trọng pháo. Toàn bộ kéo đến bờ phải, trừ loại nặng. Một khẩu đội pháo binh sư đoàn đặt gần nhà hẩm của chúng ta và chẳng cho ai ngủ cả. Người ta điều Rô-đim-xép và sư đoàn 92 ở bên phải chúng ta đến khu vực đường phố Tàu điện. Còn sư đoàn 39 thì rất cừ. Hầu như đã quét sạch quân địch khỏi nhà máy «Tháng Mười Đỏ» rồi. 'Trung đội của chúng ta bây giờ có ba người: mình, Gác-cút- sa và Va-lê-ga. Tu-ghi-ép thay Cu-lê-sốp ở bên bờ trái trông ngựa. Cu-lê-sốp đánh cắp lúa kiểu mạch và bị đưa vào đơn vị những người có tội. Chúng mình mất Trê-pua-nưi, Ti-mốt-sca và cậu gì bẻ nhỏ, luôn mồm nhai, mình quên mất họ của cậu ta rồi, ở trên đồi Ma-ma-ép. Chúng mình cố thủ ở đấy khoảng hai tuần cùng với các chiến sĩ hóa chất và trinh sát. Chôn cất hai người. Còn Ti-mốt-sca thì chỉ tìm thấy cái mũ lông thôi. Thương cậu bé thật! Và cây đàn phong cầm của cậu ta vẫn đề đấy chằng ai chơi cả. U-ra-dốp bị mìn, đứt mất bàn chân. Và ba cậu nữa, trong số mới, phải đưa đến tiểu đoàn quân y, cậu không biết họ đâu. Trong số cán bộ tham mưu thì trưởng ban hóa chất Tu- rin và anh phiên dịch chết rồi. Còn «người yêu» của cậu có hai hàng tóc mai dài, A-xta-phiềp, thi bọn Đức cắm mảnh đạn cho vào đít (làm sao mảnh đạn rơi trúng vào đấy thì mình chịu không biết được, vì anh chàng không bò ra khỏi nhà hầm), bây giờ phải nằm sấp và lục hồ sơ lưu trữ.

        Còn chúng mình bây giờ xây dựng các đài quan sát. Mỗi ngày một đài mới. Đã làm được dăm cái rồi. Cả năm cái thiếu tá đều không thích. Chắc cậu biết rõ ông ta rồi. Một đài làm ở ống khói nhà máy — cạnh nhà máy hóa chất, chỗ có rất nhiều lơ bột ấy mà, một đài khác đặt trên mái, như chuồng bồ câu. Trông rõ, nhưng thiếu tá bảo là lạnh, gió lùa, và bắt làm ở dưới nhà trong khu công nhân, ở gần chỗ trũng nơi đầu máy tàu «FD» đứng. Còn các chiến sĩ pháo binh của trung đoàn 270 kéo đại bác tới đầy và hút hòa lực của địch đến. Đạn đại bác nổ ầm ầm bên cạnh. Bây giờ chẳng đưa thiếu tá đến đấy được nữa.

        Tóm lại, cậu hãy về chóng lên, cùng nhau ta sẽ đi tìm một chỗ tốt. Và cậu sẽ giúp chúng mình đào nữa (ha-ha-ha!), không thì tay mình bị bong cả, chẳng cầm được xẻng nữa rồi. Út-xti- nốp của cậu, kỹ sư sư đoàn, bám vào mình như đĩa đói, cứ nằng nặc đòi hết sơ đồ này đến sơ đồ khác, mà chính cậu cũng biết đầy, cái đó đối với mình quả là... chết. Si-ria-ép gửi cậu lời chào, tay của cậu ta đã khỏi hẳn rồi.

        À ... Ở tiểu đoàn hai có cô quân y sĩ mới. Thay cho Bua-li-úc đi học. Về thì cậu sẽ thấy. Tru-mắc suốt ngày cứ láng cháng ở đấy, ngày nào cũng lầy phấn chùi cái khóa thắt lưng láng bóng. Tóm lại, cậu cứ trở về chóng lên. Chúng mình đợi.


Bạn cậu, A.Li-xa-go        

        T.B. Cuối cùng đã tìm được ngòi nổ «LZZ» mà cậu mong ước mãi. Không có cậu thì minh không tháo ra đâu. Bây giờ bộ sưu tập chiến lợi phẩm của chúng ta tốt lắm: mìn «s» và «TMI-43», có loại mới nguyên, năm loại ngòi nổ đựng trong những hộp tuyệt trần (sẽ dùng đựng thuốc lá) và ống đánh lửa của Đức rất tốt có ngòi nổ ma sát.

A.L.»        

        Ở trang sau, có những đòng chữ to, ngoằn ngoèo, chạy lệch xuống dưới:

        «Đồng chí trung ý, xin kính chào đồng chí. Báo tin đồng chí biết là hiện nay tôi còn sống và khỏe mạnh, mà đó cũng là những điều tôi muốn chúc đồng chí. Đồng chí trung ý, sách của đổng chí đều được giữ gìn cần thận, tôi đã bỏ vào ba-li rồi. Đồng chí trung đội trưởng đã kiếm được hai bình ẳc-quy, và bây giờ ở nhà hầm chúng ta có điện. Thượng ý Si-ria-ép muốn lấy cho sở chỉ huy dùng. Đồng chí trung ý, hãy trở về chóng lên nhé. Mọi người kính gửi đồng chí lời chào, cả tôi cũng thế.

Cần vụ của đồng chí, A.Vô-lê-gốp».       

        Tôi đút bức thư vào túi dết, mặc áo choàng vào và đi đến quân y trưởng. Anh ta là người tốt bụng và dễ dãi. Và đến trưởng kho để lĩnh áo va-rơi mới. Cái của tôi bị đứt cả tay áo rồi.

        Sáng hôm sau, mang đôi ủng kêu cọt kẹt, mặc áo ca-pốt mới của lính, với một đống thư gửi đến Xta-lin-gơ-rát trong túi, tôi tạm biệt các bạn.

        Họ tiễn tôi đến tận cổng.

        — Gửi lời chào Pau-luýt1 nhé!

        — Nhất định rồi.

        — Việc mình nhờ, đừng quên nhé, nghe chứ?

        — Nghe, nghe.

        — Gần đấy thôi mà. Mương xói thư hai cách cái của các cậu. Chỗ khẩu «ca-chi-u-sa» bị phá hủy nằm đấy.

        — Nếu có gặp cô Ma-ru-xi-a, thì nói hộ, khi nào gặp, mình sẽ kể chuyện hay đấy. Trong thư không viết được.

        — Được... Đi nhé... Các cậu trả giúp tạp chí Tìm hiểu thiên nhiên cho buồng sáu nhé. Và gửi lời chào cô huấn luyện viên thể dục.

        — Được, sẽ gửi lời chào.

        — Thôi, các cậu ở lại khỏe nhé.

        — Nhớ viết thư... Đừng quên đầy...

        Anh tài xề đã vẫy tay.

        — Này, trung úy ơi, thôi, đừng dềnh dàng mãi nữa.

        Tôi nắm tay các bạn và chạy ra xe ô-tô.

--------------------
        1. Tướng phát-xít Đức chỉ huy ở Xta-lin-gơ-rát, cuối cùng đã đầu hàng Hồng quân. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2019, 06:44:39 AM

29

        Chúng tôỉ đến ấp Bua-cốp-xki lúc gần tối. Ở đấy có các cơ  quan hậu cần của sư đoàn và La-da, trưởng ban tài chính. Tôi ngủ lại chỗ anh ta, trong một túp nhà xiêu vẹo, trong nhà có cả bà già, trẻ con và những người thư ký nào đấy.

        — Thè nào, ở hậu phương ra sao? — họ hỏi.

        — Thường thôi...

        — Cậu nằm ở Lê-nin-xcơ à?

        — Vâng. Bệnh viện thì tồi. Chẳng so được với nhà hầm của tôi trên bờ sông được.

        La-da cười.

        — Bây giờ thì cậu chả nhận ra được nhà hầm của cậu đâu: điện này, máy hát này, chừng năm chục đĩa hát này, và tường thì treo chăn chiến lợi phẩm. Tuyệt đẹp!

        — Thế cậu từ đấy về đã lâu chưa?

        — Mới về hôm qua thôi. Mình đi phát lương.

        — Bọn Đức vẫn còn đóng à?

        — Không đâu! Chúng đã cút khỏi đồi Ma-ma-ép rối và đào hào cố thủ ở mương xói Dài. Đang hấp hối giãy chết. Chẳng có cái gì xực, đạn dược không có, trong nhà hầm thì ngổn ngang xương ngựa đã gọt hết thịt rồi. Nói chung là ngoẻo thôi...

        Ban đêm, tôi nằm trằn trọc mãi, không ngủ được.

        Sáng sớm, ngồi trên xe «com-măng-ca» của sở chỉ huy, tôi đi tiếp.

        Chúng tôi đến sông Vôn-ga, đi thằng đến tận bờ sông, mà chẳng ngụy trang gì cả. Dòng sông rộng mênh mông, trắng xóa và chói lọi. Ở bờ bên kia, có cái gì đấy đen đen. Có lẽ là sở chỉ huy trung đoàn. Một ngọn cờ đỏ trên nền trắng... Chà, quỷ thật, thời gian chạy nhanh làm sao! Cách đây không lâu, dường như

        mới hôm qua thôi, sông Vôn-ga kia vừa đen, vừa đỏ vi khói lửa, rồi tung lên vi những phát súng nổ trong nước và lốm đốm những tấm ván và những mảnh vụn trôi trên mặt nước. Còn bây giờ thì con đường băng được đánh dấu bằng những mốc chạy thẳng qua bờ đồi diện. Các xe ô-tô rối rít chạy qua chạy lại, nào là xe vận tải, nào là xe «vi-lít», nào là xe «em-mơ-ca» nhiều màu, được hóa trang cẩn thận. Đây đó, có những vết đạn súng cối thưa thớt, cách nhau hàng trăm thước, vềt cũ. Người điều khiển giao thông có bộ ria hung hung, cầm cây cờ con màu vàng, nói rằng chừng hai tuần nay chúng không bắn ở chỗ qua sông nữa: kiệt sức rồi.

         Chúng tôi đi qua sờ chỉ huy trung đoàn.

        — Đồng chí cho xem giấy.

        — Mà nếu không có thì sao?

        — Không được, đống chí trung úy ạ. Cần theo chế độ.

        Thế mới tuyệt chứ! Chung quanh sở chỉ huy của Sui-cốp có một hàng rào dây thép gai, cạnh cửa con một người gác đứng nghiêm, đường thì rải cát, và trên mỗi nhà hầm có biển số đàng hoàng, đóng bằng ván, sơn đen.

        Một bảng chỉ đường đóng trên một cột có sọc: «Đơn vị Bô-rô-đin— 300 thước», và viết bằng bút chì đỏ: «Ngõ đầu tiên, về phía trái». Thè là họ đã đổi chỗ rồi nhỉ. Ngõ về phía trái có lẽ là mương xói, chỗ sở chỉ huy sư đoàn đóng trước đây.

        Tôi hồi hộp xúc động. Thật đấy, tôi hồi hộp xúc động. Thường thì hay như thế, khi ta trở về nhà. Hoặc là đi nghỉ phép về, hoặc là từ đâu đấy về, và càng gần đến nhà, chân bước lại càng mau. Và trên đường đi, ta để ý tất cả, mỗi một chi tiết nhỏ nhặt, mỗi một cái gì mới mẻ. Lề đường rải nhựa, quán bán thuốc lá mới ở trong góc, bến tàu điện đã chuyển đến gần cửa hiệu dược phẩm, nhà số 26 đã xây thêm một tầng bên trên nữa. Ta nhìn thấy tất cả, đề ý tất cả, không bỏ sót một cái gì.

        Kìa, chính ở đây chúng tôi đã đổ bộ lên trong buổi sáng tháng chín đáng ghi nhớ. Kìa, con đường mà quân ta đã khiêng đại bác. Kia, cái tháp nước trắng toát. Một quả bom đã rơi trúng tháp và giết chết ba mươi chiến sĩ bị thương nằm trong đó. Người ta đã xây dựng lại, sửa chữa lại và giờ đây trong đó đặt một lò rèn. Còn ở đây, trước kia là chiến hào, có một bận tôi và Va-lê-ga đã vào tránh bom ở trong đó. Người ta đã lấp rồi hay sao, mà chẳng thấy dấu vết gì nữa. Còn ở đây, người nào đấy đã làm thêm bậc thang, bây giờ không phải leo theo sườn dốc nữa. Thật là văn minh, cho đến tay vịn cũng đẽo gọt cần thận.

        Trên đầu, một phi đội «pét-lia-cốp» của quân ta bay qua một cách bình tĩnh, tin tưởng. Hồi nào, những chiếc «hây-nơ-ken» của Đức cũng đã bay như thể. Những chiếc máy bay của ta, chiếc này đến chiếc kia, lần lượt lao xuống...

        — Ôi! Thế mới tuyệt chứ!

        Trong mương xói trống trải. Một đồng mìn của Đức trong tuyết. Những cuộn dây thép, một cái thùng gỗ hình trụ xiêu vẹo đề làm dây xoắn ốc Bru-nô. Tôi nhận ra cái thùng ấy của chúng tôi mà Gác-cút-sa đã làm. Cạnh nhà xí có khoảng hai mươi tên Đức, bẩn thỉu, râu ria không cạo, quấn giẻ hay là khăn mặt. Thấy tôi, chúng đứng dậy.

        — Đồng chí trung úy, đồng chí tìm ai thế?— một giọng nói vang lên từ đâu đấy ở bên trên.

        Có một cái gì đầy giống một cơn lốc, bọc quanh một đám tuyết, rơi xuống người tôi và xuýt nữa làm tôi ngã lộn nhàơ

        — Đồng chí trung úy còn sống và mạnh khỏe chứ?

        Bộ mặt vui tươi, hai má ửng hồng. Đôi mắt cười, hoàn toàn như trẻ con.

        Xê-đức!.. Tôi thế đấy!.. Đúng là Xê-đức!..

        — Trời ơi, thằng quỷ... ở đâu đến thế?!

        Cậu không trả lời gì cả. Mặt tươi rói lên. Toàn thân tươi rói, từ đầu đèn chân. Cả tôi cũng tươi rói lên. Và chúng tôi đứng mặt đối mặt, cầm tay nhau lắc mãi. Tôi cảm thấy hình như tôi hơi say.

        — Ở đây, mọi cái đều xáo lộn cả rồi, đồng chí trung úy ạ. Chúng ta đuổi bọn Đức vác cẳng lên cổ mà chạy. Sở chỉ huy chúng tôi ở ngay mương xói này. Mọi người đang ở tiền duyên. Còn tôi bị thương xoàng phải ở lại đây. Canh tù binh.

        — Thế I-go?

        — Còn sống, mạnh khỏe.

        — May quá!

        — Hôm nay đồng chí ghé lại chỗ chúng tôi nhé. Chà, mọi người sẽ mừng lắm!.. Thế đồng chí ở bệnh viện ra à? Phải không? Các cậu nói chuyện với tôi.

        — Ở bệnh viện ra. Nào, cậu đứng yên để mình nhìn cậu cho rõ nào.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2019, 06:47:54 AM

        Cậu ta chẳng có gì thay đổi cả, thật đấy. Không, dù sao cũng trưởng thành hơn. Những sợi râu lún phún mọc ở cằm. Má hơi lõm vào một tí. Nhưng vẫn ửng hồng, chắc nịch như trước. Và mắt cũng như trước, vui tươi, tinh nghịch, với những lông mi dài và cong lên như của con gái.

        — Khoan đã, khoan đã!. Thế cái gì của cậu lấp lánh dưới áo bông kia?

        Xe-đức bối rối. Cậu bắt đầu mân mê cục chai ở lòng bàn tay: thói quen cũ.

        — Ô, thằng này cừ thật!.. Thế mà cứ im. Đưa tay đây nào.  Do thành tích gì mà được?

        Cậu càng đỏ mặt hơn. Những ngón tay tôi kêu răng rắc trong bàn tay chai sần của cậu.

        — Bây giờ thì về nông trang không còn xấu hổ nữa chứ?

        — Sao lại phải xấu hổ. — Và vẫn tiếp tục mân mê lòng bàn tay mãi. — Còn đồng chí vẫn giữ cái ấy... cái hộp thuốc lá của tôi chứ, hay là...

        — Tất nhiên rồi! Nó đây, nào, hút đi.

        Và chúng tôi cùng hút.

        — Có lửa không?

        — Găn-xơ, đưa lửa cho trung úy. Nhanh lên! Phây-e, phây-e... Hay là bằng tiếng Đức nói thế nào ấy...

        Tên tù binh Đức gầy gò, đeo kính gọng sừng, chắc là sĩ quan, chạy đên ngay và đánh cái bật lửa hình súng lục.

        — Bít-tê, cam-rát 1..

        Xê-đức cầm lầy bật lửa.

        — Thôi được, bít-tưi2, để chúng tao tự làm lấy, — và đưa lửa cho tôi. — Chà, bọn bòn nhặt đồ cũ! Tất cả các túi đểu đầy ắp đồ cũ. Đã đầu hàng và lại dâng bật lửa ngay. Tôi có đến hàng chục cái thế này. Đồng chí lấy vài cái dùng?
       

        — Được, để khi khác. Tốt hơn cậu hãy kể đi... Dù sao thì cũng bốn tháng rồi, một khoảng thời gian khá dài đấy.

        — Mà kể cái gì được, đồng chí trung úy. vẫn là những việc giống nhau thôi... —Nhưng cậu vẫn cứ kể lại lịch sử cuộc đời lính bình thường mà tất cả chúng ta đều đã biết từ lâu, nhưng bao giờ cũng thích nghe cả... Có một dạo đi đặt mìn và hầu hết bị giết; còn một dạo khác cả một ngày đêm nằm trong mương xói, vì thằng thiện xạ Đức không cho đi, mũ ca-lô bị bắn thùng ba chỗ; rồi sau đó, bị bao vây chừng hai tuần ở phân xưởng đúc, và bọn Đức ném bom, và chẳng có gì ăn, nhất là chẳng có gì uống, và bốn lần cậu đi ra sông Vôn-ga lấy nước; rồi sau đó... sau đó, lại đặt mìn, lại tháo mìn. Cài dây xoắn ốc Bru-nô...

        — Nói chung thì chính đồng chí cũng biết đấy... — và mồm nở một nụ cười tươi sáng và dễ thương.

        — Thế là cậu đã không phụ lòng tin của chúng mình. Mình đã biết trước thế mà. Nào, ta cùng hút thêm một điếu nữa, và mình sẽ đi tìm người của mình. Cậu có biết họ ở đâu không?

        — Tầt cả mọi người đều ở ngoài kia rồi... Ở ngoài tiền duyên. Chắc là sau mương xói Dài. Chỉ một mình tôi còn ở lại, vì bị thọt chân.

        — Và không còn ai nữa à?

        — Còn một cán bộ chỉ huy tham mưu nào đấy của các đồng chí. Kia kìa, ở nhà hầm kia. Bị thương.

        — A-xta-phiếp, phải không?

        — Tôi không biết, thật đấy. Thượng úy.

        — Cậu bảo ở nhà hầm kia à? — Và tôi đi đến nhà hầm.

        — Đồng chí trung úy, thế là tối nay chứng tôi đợi khách đến nhé, — Xê-đức nói với theo,— tôi sẽ không nói gì với I-go Vơ-la-đi-mia-rô-vích cả. Nhà hầm thứ hai sau chỗ rẽ ngoặt về bên trái. Ba bậc thềm và tay nắm màu xanh ở cửa.

        A-xta-phiếp nằm sấp trên giường, dưới bụng lót cái gối, đang viết cái gì đầy. Bên cạnh, máy điện thoại đặt trên ghế đầu.

        — Gioóc-giơ! Bạn thân mên! Đã trở về rồi! — Anh ta cười cởi mờ và chìa bàn tay mập mạp và mềm mại. — Khỏe như vâm chứ?

        — Đấy, anh thấy đây.

        — Còn tôi thì chẳng may. Trung đoàn đang truy kích bọn Đức, mà tôi thì làm cậu bé gác điện thoại, viết báo cáo.

        — Thì sao, thế chằng xấu lắm đâu. Anh sẽ được bình tĩnh hơn đề viết lịch sử.

        — Biết nói thế nào đây... Anh ngồi xuống đi, hãy đặt điện thoại xuống nền nhà và kề chuyện đi nào — Anh ta muốn quay lại, nhưng cau mặt và chửi rùa. — Trúng ngay đây thần kinh ngồi, đau quá chừng.

        — Chiến tranh, thì làm thế nào được. Quân ta đâu rối ?

        — Gioóc-giơ ạ, trong thành phố, trong trung tâm thành phố. Tiểu đoàn một đang xông đến ga. Pha-rơ-be vừa mới gọi điện về báo tin đang bao vây khách sạn gần máy xay. Chừng năm mươi thằng ss đang cố thủ trong đó, không chịu hàng. Anh ngồi xuống đi.

        — Cảm ơn. Còn Si-ria-ép, Li-xa-go ở đâu?

        — Trong ấy. Tất cả mọi người đều ở trong thành phố rồi. Từ sáng, quân ta đã chuyển sang tấn công. Anh muốn hút không? Thuốc lá chiến lợi phẩm, của Đức đấy... — Anh chìa một bao thuốc màu xanh lá cây.

        — Tôi không thích. Hút vào, khản cổ lắm. Còn cái này cũng là chiến lợi phẩm à? — Trên bàn một chiếc đàn phong cầm to, ánh lên màu xà cừ.

        — Chiền lợi phẩm. Tru-mắc biếu Si-ria-ép đấy. Ở trong thành phố, chiến lợi phẩm nhiều vô kể!

        — Thôi được, tôi đi đây.

        — Anh hãy ngồi lại tí nữa, kể cho nghe tình hình hậu phương với nào.

        — Thôi, dần sau vậy. Tôi cần gặp Si-ria-ép.

        A-xta-phiếp mỉm cười.

        — Anh sợ lỡ dịp lấy chiến lợi phẩm chứ gì ?

        — Chính thế.

        A-xta-phiếp hơi nhổm người dậy trên khuýu tay.

        — Goóc-giơ, bạn thân mèn... Nếu có gặp máy ảnh thì anh hãy lấy phần cho tôi với nhé.

        — Được.

        — «Lây-ca» thì tốt nhất. Anh có biết về nhiếp ảnh không? Máy ấy đại loại như máy «phê-đơ» của chúng ta ấy mà.

        — Được.

        — Và giấy ảnh... Và phim... Nghe nói trong thành phố nhiều lắm. Và đồng hồ nữa, nếu gặp. Được chứ? Loại đeo tay tốt hơn...

-----------------
        1. Xin mời đổng chí. — ND

        2. Tiếng Nga có nghĩa là thằng bị đánh; Xê-đức nhại lại chữ «bít, tê» của tên Đức. — ND.



Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2019, 06:50:20 AM

30

        Lúc gần tối thì tôi đã say lắm rồi. Say vì không khí, vì mặt trời, vì đi bộ, vì gặp gỡ, vì cảm xúc, vì mừng vui. Và vì rượu cô-nhắc nữa. Rượu cô-nhắc ngon tuyệt! Chính là chai rượu của Tru-mắc, loại sáu sao.

        Tru-mắc rót hết cốc này đến cốc khác.

        — Uống đi, kỹ sư uống đi! Chắc là hai tháng qua cậu đã quên rồi. Ở bệnh viện thì chỉ có cháo bột trân châu và nước thịt hầm thôi. Uống đi đừng tiếc... Xứng đáng được hưởng!

        Chúng tôi nằm trong một ngôi nhà đồ nát nào đấy, — tôi chằng nhớ vì sao lại ở đây, — tôi, Tru-mắc, Li-xa-go và Va-lê-ga, tất nhiên. Chúng tôi nằm trên rơm khô. Va-lê-ga ở trong góc, hút tẩu thuốc, cau có, giận dỗi. Đúng là cậu ta không bằng lòng về cách xử sự của tôi. Sao lạ thế, áo ca-pốt sĩ quan, đã may lại cho hợp người tôi, có những cúc vàng ánh, thì để lại bệnh viện, mà mang về cái áo ca-pổt của lính, ngắn cũn cỡn ngang đầu gối. Sao lại có thể  làm như thế! Và đôi ủng thì bằng vải giả da, ống ủng rộng, đề bằng cao su.

        — Tôi đã kiếm được đôi ủng da bốt-can cho đồng chí rồi, — Va-lê-ga buồn rầu nói khi gặp tôi, và nhìn tôi từ đầu đến chân một cách không hài lòng. — Trong nhà hầm... Chỉ có cổ chân hơi thấp...

        Tôi cố hết sức thanh minh, nhưng hình như lỗi của tôi chằng đáng tha thứ.

        — Uổng đi, uống đi, kỹ sư, — Tru-mắc vẫn rót, — đừng ngại.

        Li-xa-go vớ cái ca trên tay.

        — Cậu đừng chuốc rượu cho cậu ta say. Hôm nay, chúng ta được mời đến sư đoàn ba mươi chín. I-u-rơ-ca, chén nhiều bơ vào. Chén nhiều vào.

        Và tôi chén nhiều bơ vào.

        Qua bức tường đồ, trông rõ đồi Ma-ma-ép và ống khói của nhà máy «Tháng Mười Đỏ», ống khói độc nhất thế là vẫn không đổ. Cả bầu trời đầy những pháo sáng. Đỏ, xanh, vàng, lục... Cả biển pháo sáng! Và những phát súng. Người ta bắn suốt ngày hôm nay. Bắn súng lục, tiểu liên, súng trường, bắn tất cả các loại súng có sẵn trong tay. Tặc, tặc, tặc— pằng, pằng, pằng... bùng, bùng, bùng...

        Trời ơi! Ngày hôm nay đặc biệt làm sao! Ngồi dựa vào rơm, tôi nhìn trời và không còn sức để suy nghĩ gì cả. Lòng tôi tràn đầy, ứ ngập những cảm xúc. Tôi đếm pháo sáng. Việc ấy thì tôi còn đủ sức làm. Một cái đỏ, một cái lục, lại một cái lục nữa, bốn cái lục liền.

        Tru-mắc nói cái gì đầy. Nhưng tôi không nghe cậu ta.

        — Để cho mình yên.

        — Cái ấy đối với cậu rất dễ mà... Người ta xin cậu. Đừng có vô ơn.

        — Để cho mình yên, đã nói với cậu rồi, sao cứ bám mãi thế.

        — Nào, cậu cứ đọc đi... Cái ấy đối với cậu rất dễ mà. Dù đọc mười dòng cũng được.

        — Mười dòng gì?

        — Đây này. Đồ nhảm nhí. Nhưng hay... Hay, thật đấy.

        Cậu dúi một mảnh giầy bẩn thỉu của tờ báo Đức thẳng vào

        mặt tôi.

        — Đồ vớ vần gì thế này?

        — Thì cậu cứ đọc đi.

        Những chữ nhảy nhót trước mắt, những chữ gô-tích không quen. Bộ mặt thoái hóa của Hít-le: môi bặm, mí mắt nặng, cái lưỡi trai to sù sụ và đần độn. Phên-kì-se Bê-ô-bắc-te. Bài diễn văn của quốc trưởng ngày 9 tháng mười một năm 1942 tại Muy-ních.

        Gần ba tháng trước...

        «Xta-lin-gơ-rát của chúng ta! Trong vài nhà, bọn Nga còn ngồi. Mặc kệ cho chúng ngồi. Đó là việc của chúng. Còn việc của chúng ta thì đã làm xong. Thành phố mang tên Xta-lin đã nằm gọn trong tay chúng ta. Mạch máu lớn nhất của Nga, sông Vôn- ga, đã bị tê liệt. Và bây giờ không có lực lượng nào trên thế giới có thể đẩy chúng ta rời khỏi nơi này được.

        Người nói điều đó với các bạn là tôi — người không hề lừa dối các bạn, người mà số phận đã trao cho gánh nặng và trách nhiệm đối với cuộc chiến tranh vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Tôi biết rằng các bạn tin cậy tôi, và các bạn có thể tin tưởng tôi nhắc lại điều này với tất cả trách nhiệm trước chúa trời và lịch sử: chúng ta sẽ không bao giờ rút khỏi Xta-lin-gơ-rát. Không bao giờ. Mặc dù bọn bôn-sê-vích rất muốn điều đó...»

        Tru-mắc cười sặc sụa.

        — Ái chà, A-đôn-phơ1! Cừ lắm! Cừ, thật đấy. Cơ sự xảy ra đúng như đã viết.

        Tru-mắc xoay lại nằm sấp và lầy tay chống đầu.

        — Mà vì sao, kỹ sư? Vì sao? Cậu giải thích cho mình nghe với nào.

        — «Vì sao» cái gì?

        — Vì sao tất cả lại xảy ra như thế? Hả? Cậu nhớ không, hồi tháng chạp chúng nện chúng mình thế nào? Nhưng chẳng ăn thua gì. Vì sao? Vì sao chúng không hất cổ chúng ta xuống sông Vôn-ga được?

        Tôi bị choáng váng đầu, sau khi nằm bệnh viện ra, dù sao tôi vẫn còn yèu.

        — Li-xa-go, cậu hãy giải thích cho Tru-mắc vì sao. Còn mình thì sẽ đi dạo một tí.

        Tôi đứng lên, vừa lắc lư, vừa đi ra khỏi lỗ thùng, chắc trước đây là cái cửa.

        Bầu trời cao vời vợi và trong sáng tuyệt vời! Không một gợn mây, không một chiếc mảy bay. Chỉ có pháo sáng. Và một ngôi sao nhợt nhạt bị mờ khuất giữa pháo sáng. Và đòng sông Vôn- ga rộng mênh mông, bình tĩnh, phẳng lỳ, chỉ có ở một chỗ, đối diện tháp nước, không đóng băng mà thôi. Nghe nói ở đấy, không bao giờ đóng băng cả.

        Mạch máu lớn nhất của Nga... Nó bảo là đã bị tê liệt... Ái chà, đồ ngu! Ngu như bò! Trong vài nhà, bọn Nga còn ngồi. Mặc kệ cho chúng ngồi. Đó là việc của chúng...

        Đầy kìa, cái mà nó gọi là vài nhà. Đấy kìa, đồi Ma-ma-ép bằng phẳng, không đẹp. Và những tháp nước giống như hai cái nhọt trên đỉnh đầu... Ôi, vì những tháp nước ấy mà quân ta gian khổ quá chừng. Thậm chí bây giờ nhìn mà thấy khó chịu. Còn sau những đổng đồ nát đỏ choạch kia, — chỉ còn lại những bức tường lỗ chỗ thủng như cái rây, — trước đây bắt đầu vị trí của Rô-đim- xép: một dải đất rộng hai trăm thước. Lạ thay! Hai trăm thước, chỉ hai trăm thước mà thôi. Chúng đã vượt qua khắp toàn bộ Bi-ê-lô-rút-xi, U-cơ-ren, Đôn-bát, những thảo nguyên Can-mư- kia, nhưng không thể nào đi qua nổi hai trăm thước này được... Ghê thật!

----------------
        1. Tên của Hít-le. — ND.


Tiêu đề: Re: Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2019, 09:01:54 PM

        Thế mà Tru-mắc lại hồi vì sao. Không ai khác, mà chính là Tru-mắc. Sao cậu ta lại còn hỏi thế! Nếu thế thì có lẽ cả Si-ria-ép, Pha-rơ-be cũng sẽ hòi tôi vì sao à? Hay bác xạ thủ súng máy ba ngày liền nằm cạnh khẩu súng của mình, bị tách rời hẳn mọi người, và cứ bắn mãi cho đến khi hết đạn? Còn sau đó, bác bò đến bờ sông mang theo khẩu súng máy. Và thậm chí kéo theo cả những đĩa đạn không. «Sao lại vứt của cải đi, sẽ có khi dùng đến». Tôi không còn nhớ họ của bác nữa. Tôi chỉ nhớ mặt của bác: có râu, cặp mắt ti hí và cái mũ ca-lô đội ngang trên đầu. Có lẽ bác cũng sẽ hồi tôi vì sao à? Hay cậu bé người Xi-bê- ri luôn mồm nhai nhựa. Giá cậu ta còn sống thì chắc là cậu cũng sẽ hỏi vì sao à? Li-xa-go kể lại cho tôi nghe cậu đã chết như thế nào. Tôi chỉ biết cậu vẻn trong mấy ngày thôi, cậu được phái đến trước khi tôi bị thương không lâu. Cậu vui vẻ, rất nhanh trí và hay bông đùa. Cầm hai quả lựu đạn chống tăng trong tay, cậu chạy đến chiếc xe tăng bị phá hủy và ném cả hai quả vào lỗ châu mai.

        Chà, Tru-mắc, Tru-mắc ơi, tâm hồn lính thủy của cậu, mà sao lại nêu ra những câu hỏi ngốc nghếch đến thế, cậu chẳng biết quái gì cả, chằng biết quái gì cả. Cậu hãy đến đây. Đến đây, đến đây... Nào, chúng mình sẽ ôm nhau đi. Mình với cậu đã uống một ít. Cái đó hoàn toàn không phải là đa cảm, nhất quyết không phải như thế. Và Va-lê-ga nữa, hãy đên đây. Đến đây, đến đây... Uống đi, chú cần vụ của tôi ơi!.. Uống đi để chúc mừng thẳng lợi! Cậu có thấy không, bọn phát-xít đã tàn phá thành phố chúng ta như thế nào... Chỉ có đống gạch vụn, chứ không còn gì nữa... Nhưng chúng mình còn sống. Còn thành phố... Chúng ta sẽ xây dựng mới. Phải không, Va-lê-ga? Còn bọn Đức sẽ ngoẻo. Kìa, chúng đang đi, cậu thấy không, đeo ba-lô và chăn. Chúng đang hồi tưởng lại Bá-linh và các phơ-rau1 của chúng. Va-lê-ga, cậu muốn đến Bá-linh không? Minh muốn đến lắm. Muốn vô cùng. Và mình với cậu sẽ đến đấy nhé, cậu sẽ thấy là mình nói đúng. Nhất định chúng mình sẽ đến đấy. Trên đường đi, chúng mình sẽ chỉ ghé lại Ki-ép trong chốc lát thôi, đề nhìn thấy bố mẹ già của mình. Bố mẹ mình tốt lắm, thật đấy... Nào, chúng mình hãy uống chúc sức khỏe của các cụ. Này, Tru-mắc ơi, trong ấy còn có gì uống nữa không?

        Và chúng tôi lại uống. Uống chúc mừng bố mẹ, chúc mừng Ki-ép, chúc mừng sự đánh chiếm Bá-linh và còn chúc mừng cái gì nữa đấy mà tôi không còn nhớ. Còn chung quanh, người ta vẫn bắn, bắn mãi, và bầu trời đã tím hẳn rồi, và những pháo sáng rít lên, và ở đâu đây rất gần có người nào đấy chơi đàn ba- la-lai-ca bài Phu nhân.

        — Báo cáo đồng chí trung úy, cho phép nói ạ.

        — Cái gì đấy nữa?

        — Tham mưu trưởng gọi.

        — Thế cậu là ai?

        — Liên lạc viên của sở chỉ huy.

        — Thì sao?

        — Ra lệnh tất cả mọi người tập họp đúng sáu giờ tối. Tại sở chỉ huy ở mương xói...

        — Điên thật!.. Quỳ thật! Hôm nay là ngày nghỉ, ngày hội cơ mà.

        — Báo cáo đồng chí trung úy, tôi chỉ là tép riu thôi, tham mưu trưởng ra lệnh thế nào, thì tôi nói lại thế ấy.

        — Nhưng cậu hãy nói đầu đuôi cho rõ. Cứ bảo là ra lệnh, là nói lại, thi chẳng ai hiểu được... Gọi đến ăn tiệc có phải không? Nhân dịp chiến thắng?

        Cậu liên lạc viên cười.

        — Nghe nói ngày mai sẽ đánh nốt binh đoàn phía bắc ở nhà máy «Chiến lũy». Sư đoàn ta và sư đoàn ba mươi chín sẽ được điều đến đấy.

        Thế mới tuyệt chứ!..

        Tru-mắc tìm áo bờ-lu-dông lính thủy và đai da trong bóng tối. Cậu sờ soạn dưới đất. Li-xa-go phui rơm trên áo ca-pốt.

        — Va-lê-ga, dọn dẹp đồ đạc đi, rồi chạy nhanh lên đi tìm Gác-cút-sa. Cách đây một sân, ở dưới hầm nhà. Nhanh lên...

        Va-lê-ga chạy khuất.

        — Chú ý, đừng quên xẻng đấy, — và quay lại phía tôi, anh nói: — Nào, kỹ sư, ta đi đào đài quan sát. Vừa ở bệnh viện ra thì bỗng đánh đùng một cái — thế là lại phải bong tay.

        — Đủ xẻng chứ?

        — Đù. Mỗi người một cái xẻng. Mình, cậu, Gác-cút-sa và Va-lê-ga. Trong một đêm chắc chắn làm xong thôi. Mà có thể chúng mình đặt ở trong nhà nào đấy và từ cửa sổ nhìn ra... Nào, ta đi thôi.

        Ngoài đường đã nghe giọng nói oang oang của Tru-mắc:

        — Xềp hàng tư... Đi theo cách diễu binh! Vừa đi vừa hát... Bước đề-ều, bước!

        Mà trung đội của cậu ta chỉ có ba người tất cả.

        Li-xa-go vỗ vai tôi.

        — Tièc là không đến chỗ I-gơ của cậu được. Bao giờ mình với cậu cũng không may thế cả... Ngày mai, may ra thì được. Miễn là trời cho còn sống.

        Ở đâu đấy, cao tít trên trời, chiếc «bẳp ngô» kêu rè rè, đi tuần ban đêm. Trên nhà máy «Chiến lũy» đã bật «đèn» lên. «Đèn» của quân ta, chứ không phải của quân Đức.

        Bây giờ, bọn Đức chẳng có ai để thắp «đèn» nữa. Và cũng chằng thắp để làm gì nữa. Bọn chúng đang lê bước thất thểu thành một chuỗi dài màu lục đến sông Vôn-ga. Chúng đi lặng thinh. Còn ở phía sau, một trung sĩ trẻ măng, mũi hếch, mồm ngậm cái tẩu thuốc dài, uốn cong và có những dải đu đưa lùng lẳng. Khi đi qua, anh ta nháy mắt với chúng tôi.

        — Tôi dẫn người tham quan đây... Muốn đến xem sông Vôn-ga.

        Và anh vui vẻ cười giòn tan.

---------------
        1. Tiếng Đức, ở đây có nghĩa là vợ. — ND.


HẾT