Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:16:34 AM



Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:16:34 AM
Tên sách: Ký ức miền Đông
Tác giả: Đại tá Trương Văn Đàng
Thể hiện: Đại tá Lê Hải Triều
Nhà xuất bản: Lao động
Năm xuất bản: 2012
Số hóa: macbupda

MỜ ĐẦU

Tôi sinh ra và lớn lên ở miền quê kênh rạch, nước nổi thuộc xã Tân Hòa Tây, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, nay thuộc huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang). Quê tôi nghèo lắm, ruộng tuy nhiều nhưng chỉ tập trung vào một số nhà giàu. Dòng họ Trương của tôi toàn nông dân nghèo cả, chỉ giỏi việc đồng áng, cày bừa.

Ba tôi là Trương Văn Cự (ông mất năm 1945). Má tôi là Trần Thị Cảnh. Ba má tôi sinh được 11 người con. Anh trai Trương Văn Tỉnh, chị gái Trương Thị Nhung, Trương Thị Xuyến, Trương Thị Mín, tôi thứ năm Trương Văn Đàng. Các em Trương Văn Bình, Trương Văn Ký, Trương Văn Lưu, Trương Văn Dương, em gái Trương Thị Út và Trương Thị Thôi (ba tôi nói Thôi là không đẻ nữa). Cô Thôi mất khi mới được hơn một tuổi do bị bệnh hiểm nghèo.

Tôi có sáu anh em trai thì cả sáu anh em đều đi bộ đội. Có ba người hy sinh là Trương Văn Tỉnh, khi hy sinh là tiểu đội trưởng, chiến đấu với lực lượng Hòa Hảo, Trương Văn Bình, khi hy sinh là đại đội trưởng Tiểu đoàn Tây Đô tỉnh Cần Thơ; Trương Văn Ký, khi hy sinh là trung đội trưởng cũng ở Tiểu đoàn Tây Đô. Vì có ba người con hy sinh nên mẹ tôi được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đợt đầu tiên năm 1994.

(https://lh3.googleusercontent.com/d9nadNQ0IxziRkalDev624kXuSHERFU4pmccfASmQA_FjNOtFoZ6WvQpboHpfCvJtskE80_zncn6IU8jDMPPXjqG2Kv23h6wiisIXAjTn-BVQrfsZP4wYI1pWi9okI01A9RhQK05ps6Q1S7xdyyQH_zJPMWmjQ2gN9azPftrMVJr8UXxqsvSvVdzyu7QdjmnEFB_EDLEAd67Avlgew6lUhoULgRhmYT7D4XuKGNCWXzjvfldcZajcD818_SPED2WFPM1dudsSdaMaZcuuj29d2crfWqFIlCpIsDGeqHq2Qde7-_j5KDmbGmb-WRFjZbgaBVzIVOzODstEpjJ3zf5y4gqm3Kh4F2hcTEN1i0DXpU38vJOx-FSIzwEdgmNYGpj85LnguJWN_cgXgjc4_ElGsgrX7k97Rg7QJFqfeQCnAVuhz5s-LbRA01R8Yao_nurtRLamtwhGiS-1Z8Ww53qP7zSJt3-Um-EfHVioDl-K92cPDupna_-3ieCVEJ3rnHdrUHvh5nBfQncU3LDBdzwdJe4dSDblFJ6iAOfTEr_l5vVEHjlbUFuMO70ESt1zMt7DKP2_J0HkM9qyYha8j1MRCSI9jh5v2EECawQxNtQxsz_hwyGF1c059t0XA3xsp_1-hrDUL5aNiBFe_kSLjuBpRCHsSKiooc=w460-h640-no)

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Cảnh
Thân mẫu Đại tá Trương Văn Đàng

Còn chú Trương Văn Lưu lúc nghỉ hưu là Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tây Đô. Chú Trương Văn Dương, sau giải phóng chuyển ngành làm Trưởng phòng Lao động tiền lương ga Sài Gòn. Bốn chị em gái cũng đều tham gia cách mạng ở địa phương.

Nhà đông con nên chúng tôi chẳng được học hành đến nơi đến chốn. Tôi cũng chỉ học đến lớp 2 trường làng. Lên 7 tuổi tôi đã phải theo má đi coi trâu, làm thuê, làm mướn, mót lúa (nhặt những bông người ta cắt còn sót lại) giúp má kiếm chén gạo nuôi gia đình. Má tôi là người hiền lành, chịu thương chịu khó, dù khổ đến thế nào bà cũng cắn răng chịu đựng, không kêu ca phàn nàn. Có những ngày đi mót lúa tới đói lả, thấy vậy, má bỏ liềm chạy lại bế tôi lên, vỗ vỗ vào má tôi. Bà nói:

- Tỉnh lại Năm Đàng. Đừng làm cho má sợ!

Một lúc sau tôi tỉnh lại, ôm tôi vào lòng, má nói:

- Ngày mai con ở nhà, đừng theo má nữa.

Tôi nói với má:

- Con không sao đâu má ạ. Con thương má nhiều lắm. Con muốn được phụ má.

Nhà nghèo như gia đình chúng tôi không có ruộng chỉ làm thuê, làm mướn cho nhà giàu, ngày mùa đi nhặt những hạt thóc rơi vãi và sót lại về mà ăn. Tôi và má gần gũi nhau suốt thời thơ ấu của tôi, tôi học được ở bà đức tính cần cù, thật thà, tháo vát. Những lúc ngồi nghỉ, má thường kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích, căn dặn tôi điều hay lẽ phải. Cứ thể tôi lớn lên trong tình thương của má.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:17:50 AM
Năm tôi 16 tuổi, phong trào yêu nước chống Pháp, kháng Nhật nổ ra khắp cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Cũng như bao thanh niên khác tôi mong có một cuộc đổi đời. Mấy anh em tôi tình nguyện đi bộ đội. Trước ngày lên đường tôi nói với má:

- Con đi làm cách mạng má ạ. Bây giờ nước nhà đã giành độc lập, con phải tham gia lực lượng vũ trang bảo vệ chính quyền Việt Minh.

- Nhưng con còn nhỏ quá. Má rất thương con, không biết con có chịu được không? Con vào Cộng hòa vệ binh là gian khổ, vất vả có khi phải hy sinh tính mạng đấy, con có xác định được chưa?

- Con đã xác định rồi má ạ. Con nhất định chiến đấu dũng cảm, lập công. Má hãy tin con.

Ôm tôi vào lòng, má xoa xoa đầu tôi:

- Má tin con, gắng lên con nhé!

Tôi được biên chế vào trung đội Cộng hòa vệ binh do anh Doanh làm trung đội trưởng, nhiệm vụ là bảo vệ Mặt trận Việt Minh tỉnh Cần Thơ từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, sau đó tôi chuyển sang Chi đội 22 Đại đội 2082 chiến đấu ở Long Châu Hà. Năm 1949 tôi chuyển về Đại đội 2062, rồi chuyển về Đại đội 201 Tiểu đoàn 410 hoạt động ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Tuy là đơn vị chủ lực nhưng trang bị vũ khí của chúng tội lúc này vừa ít lại vừa kém. Giáo mác nhiều hơn súng đạn. Mỗi đại đội chỉ có vài khẩu súng trường cũ kỹ, đủ loại, đủ kiểu. Đơn vị chúng tôi có súng dùng súng, không có súng thì dùng giáo mác, gậy tầm vông.

Việc bảo đảm ăn mặc cho bộ đội lúc này vô cùng khó khăn. Chủ yếu dựa vào dân. Nhân dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ tuy còn thiếu đói nhưng đã nhịn ăn, bớt mặc, góp gạo, quần áo cho bộ đội chúng tôi. Bộ đội đóng quân nơi nào nơi ấy đảm nhiệm việc cung cấp. Bộ đội có rau ăn rau, có cháo ăn cháo mặc lành mặc rách sẵn sàng chịu đựng gian khổ, cần kiệm xây dựng đơn vị.

Vừa chiến đấu vừa xây dựng. Ngơi chiến đấu là chúng tôi bước vào huấn luyện. Nội dung huấn luyện lúc này chủ yếu là động tác cảnh giới, trinh sát, sử dụng vũ khí, động tác chiến đấu cá nhân, cách hành quân, trú quân, đánh phục kích, tập kích… Tài liệu huấn luyện dựa vào tài liệu thu được của quân Pháp và quân đội Nhật, đồng thời chúng tôi rất coi trọng kinh nghiệm chiến đấu thực tế.

Chúng tôi phần lớn là nông dân bao năm tủi nhục vì thất học, nay được cách mạng, được bộ đội tạo điều kiện ai cũng ham học. Trong các buổi sinh hoạt, cán bộ chiến sĩ được trao đổi ý kiến về chủ trương chính sách của Đảng, được thông báo tình hình trong nước và quốc tế, được hát những bài ca cách mạng, mọi người tôn trọng nhau, hết lòng giúp đỡ nhau, thân thiết như anh em một nhà.

Thời gian này, Tiểu đoàn 410 chúng tôi đã đánh hơn 30 trận lớn nhỏ, diệt hàng trăm tên địch. Tôi nhớ nhất là trận đánh Sóc Xoài vào tháng 7 năm 1948 và các trận Chằm Chẹt, Giồng Giềng, Bến Nhất tháng 3 năm 1950. Rồi chiến dịch Xẻo Me huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng tháng 5 năm 1951, đến chiến dịch Long Châu Hà tháng 3 năm 1952… là những trận những chiến dịch Tiểu đoàn 410 chúng tôi lập được nhiều chiến công lớn. Trong chiến đấu tôi cũng trưởng thành qua từng trận được bổ nhiệm cán bộ tiểu đội, trung đội rồi đại đội.

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết đất nước tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý. Theo hiệp định, đến năm 1956 sẽ thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Một phần lực lượng cách mạng tập kết ra Bắc chờ ngày tổng tuyển cử. Lúc này tôi là cán bộ đại đội thuộc Đại đội 201 Tiểu đoàn 410 Trung đoàn Tây Đô, được đi ra Bắc tập kết. Hôm chia tay má, tôi nói:

- Con ra Bắc tập kết, 2 năm sau có sẽ trở về. Má gắng giữ gìn sức khỏe.

Nắm tay tôi má nói:

- Con ra miền Bắc được học tập, được gặp Bác Hồ, con gắng lên nhé cho bằng anh bằng em.

- Con hứa với má sẽ cố gắng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:21:32 AM
Tháng 11 năm 1954 tạm biệt má và các em tôi lên đường về Cà Mau. Tàu của Liên Xô, Ba Lan giúp ta chuyển bộ đội, cán bộ miền Nam ra Bắc rất đông. Lênh đênh trên biển, nhiều người không chịu được sóng biển nôn mật xanh mật vàng. Qua 7 ngày tàu cập bến Sầm Sơn, Thanh Hóa. Tại đây, những ai là bộ đội sẽ được xe đưa về Miếu Môn, Ba Thá, Xuân Mai và một số địa phương khác, còn cán bộ dân chính sẽ được phân đi các nơi theo kế hoạch.

Tháng 3 năm 1955, tôi vào học khóa X Trường Sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây. Tôi được biên chế vào Tiểu đoàn 5 – Tiểu đoàn chính trị, chương trình đào tạo 3 năm.

Thời gian này ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, chúng hô hào; “Bắc tiến”, “lập sông Bến Hải”. Cuộc đấu tranh thống nhất đất nước xem ra còn lâu dài, lúc này tôi đã 28 tuổi, nên nghĩ phải lập gia đình.

Ngày 24 tháng 2 năm 1957, tôi xây dựng gia đình. Nhà vợ tôi ở số nhà 20 phố Cửa Tiền, khu phố 3, thị xã Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Bố vợ tôi là ông Khuất Văn Dương, mẹ là bà Vũ Thị Nại (bà mất năm 2008, thọ 98 tuổi). Ông bà sinh được sáu người con. Chị cả Khuất Thị Liễu, sau đến vợ tôi Khuất Thị Tùng, em trai Khuất Hồng Mai, Khuất Văn Hồng, Khuất Văn Đức, em gái Khuất Thị Điệp. Ba người con trai đi bộ đội, cậu Khuất Hồng Mai chiến đấu và hy sinh tại Mặt trận Sài Gòn, Tết Mậu Thân 1968.

Lễ cưới của chúng tôi tổ chức đơn giản, chỉ trà thuốc bánh kẹo. Lớp học Trường Sĩ quan lục quân, bạn bè cùng tập kết ra Bắc được tin tôi lấy vợ cũng rủ nhau về. Họ hàng, bà con khu phố thấy đám cưới có nhiều bộ đội nên kéo đến rất đông.

(https://lh3.googleusercontent.com/nmQVfPgJZy-IjEBHjaFVu45w92o1EeAU6Cl7wHIU5X3r3V7b2PDvQxpRYgsvBiywKc0S9uo08q-Vf4bUULHhikHI3tFP-DDHwdtcJS5S98nnuo1uFQ3RnpqZNv2MI4T3-9J6V5bLBbJ2TvFRnQyGyauFcb6D732Hip45P7GGuWZKQrwXqLUZl2HOWEwvbYDvHyfj9tGUntVM7pe-ic1espdrd92pAuZ-lSLCjKsJzWNUlkvfVp2CgrcIAdHnxcBDEcEWiTvk-3O6ztg0BxhBrhw251qeNSQF1Qt8OxXw9Pkd2eU-ORaqVjLHze73ADO6qoSoZb5ExB_cILswIaJNg9tkT2u5HZRTpzhieuikUS17bhm8GWdJVORRl2JvbdSb4myt5mw86-XsuZ-8rmIQOEGQEcDauYEnoihwFbU1946zUBMebbG1nUZIuCu_BD0R7SO6hwJkxJPDAHQ4ZGF-sZXOIIuu0yyncMJZdtWNXyVth0tyGSpVwi-92VmPU8pF9GUI49E1eD4YRDgMWQUSkrKzhb1XiLKJmLMjnhztZZe83W9ZouuLGac5VuLjoz7OZ-XjPlY9QLeWW5dS080B8OMzSC41E9JFsEq6rarshQjyu2WRQUQhzSTPNq73CpK8tsJzcl3gRCfzSH2LnvcdEquw5HfV8Ys=w800-h530-no)

Sau ngày cưới 1957

Ngày 10 tháng 11 năm 1958, chúng tôi sinh cháu trai đặt tên là Trương Minh Hoàng. Ba năm sau ngày 16 tháng 11 năm 1961, chúng tôi sinh cháu gái thứ hai đặt tên là Trương Thị Tuyết Nga.

(https://lh3.googleusercontent.com/Q3n0qTNOWi6lKO1ldVmCxO6qhfNtU2CZP_7eLnFadCXFtZbfoy3bWMaj2D3Ni3DSKupd-t5nu3GTZN3sZw0H9-NCHnNHoJ4ddHjYyRniUnyGBqxXIXpIu0pchJV0Qik6qGuKyTLJ8pkyIotHhHnf0Go-hnr7UrUWxt7M5Bcr2pWe-u5a94L7ZAC6CSMCsrkXFuMEXLxrEBKxTGQih1kD1SdTyWR8ss9UMusQMfC8V_Q0OZWZg2eEjgghQpuoSkF8LV3m__R0bPN1r0iIejMe6FSHjrD5r7My588wgeN8Z7TEDv9Gl4Z8A_PSaEOxJZIj7BUHKbflmZxrv1Ky46H1WISNw_Dh51tvzVbOJUaxS_6iuOwfAZ3Svnux7T6E2V3tFgBAr8eqhA-I29FzKrAJxrzRAhrEtT2KJlmKdCdV2Bng744oxf1nCEv4FPR8aXvCFm0jhi0qyVEJbs978bCZqKfO2Oyj7hSD5uZcUcWtZ5PKWQHX6HFa6xl-q0TOIj2CjzJjzDkye750Nh_bIK7-_tMiR3vm1nnwS9dNv6Re_UMbmnNIyRpemHMXNIVpXIicF8dBRlEh0ixnBdAiBK4Xlul4y-qiSBcN16P9HR10TvC3HmDnJhqBft6DYjZMjHhan1FY2uaHGGLw6b-wWY6Lyi9u3FkJdv0=w800-h542-no)

Đại tá Trương Văn Đàng và phu nhân cùng con trai Trương Minh Hoàng

(https://lh3.googleusercontent.com/njXnfQH2m7em_8Avl7pW28KGh5VnSwcXY_Gz-jJu34sH1liuWQSZaYcBa_s3vTy6-8Lb1YkLQswzogBNVx9FwO4M2nMTbsQ6BiWFyJ6hkAc3qUMyM6EPoaItRqkL_2BfOr8D7_FcuAsv8U4-JXWXbh69NzyseymMYMIwwQKriOVXUW_XMOSTpPR_RLPhjGidYhLTunaaydjZWYg8E5vT64flRVblnba91Y-Qm5XWzyBj3-7u4uBsrHlYirEJnH8Wqxed_fEOGljADPHjlEZqGAR_jodXqxzBkA2qtH1zokqaCq5z0AKvZ0kIIeonEQXOMIKInukogjSp1_ZBhxKoTgE7lsKomGoKIosfkorIB2Gf0S5f2k0jM11GzFicXDcBrIXgTFj23orFbHJ3Q3grxkBg0uHIyIWRe77QYMlZs3F1rrqDgz1p_HqkqjsfKHBOhmiQdmFtkLkMriZ38jmcx2FIDivZs12Qc3S5EfyNfxeXWD682wypPWQLoGIviM_eW-JpsbELHaQwGeTGEy3iLE_8AVycrmzGx0tnjf9RmFTnSfccPsZZJQXdyG7AYxr-OTeUBluKOvMmgSuQ-ADhyYLbbUwegF9aFLeFyElBmvUMfgu8CXJjusQ95OeoTS8AqaXm_UE_BpGbS_QXQjYHDY7y9San6Jc=w528-h669-no)

Trương Minh Hoàng và Trương Thị Tuyết Nga

Năm 1959 ra trường, tôi được điều về làm chính trị viên đại đội thuộc Tiểu đoàn 15 công binh công trình Sư đoàn 338 đóng quân ở Xuân Mai, tỉnh Hà Đông, (sau là Hà Tây và hiện nay thuộc Hà Nội).

Vào những ngày cuối năm 1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn 2 (lúc đầu Bộ ý định thành lập lữ đoàn 2, sau đó để tiện thống nhất tổ chức ở chiến trường nên đặt là Trung đoàn 2).

Ngày 24 tháng 11 năm 1961, Trung đoàn 2 có lệnh lên đường vào miền Đông Nam Bộ. Trước khi lên đường đi chiến đấu, tranh thủ về nhà, tôi nói với Tùng:

- Anh được cấp trên cho đi học ở Liên Xô. Em ở nhà nuôi dạy các con thay anh.

- Anh đi mấy năm?

- Ba năm em ạ.

- Sao anh đi gấp thế?

- Anh đi trong diện được bổ sung nên không có thời gian chuẩn bị, anh phải đi ngay.

Thấy tôi nói vậy, Tùng tin là thật nên cô ấy không nói gì.

Lúc này Hoàng 3 tuổi, còn Nga mới được 7 ngày tuổi.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:23:01 AM
Chúng tôi bí mật hành quân bằng ô tô từ Xuân Mai đến làng Ho, tây Vĩnh Linh – trạm đầu tiên của Đường 59. Từ đây chúng tôi bát đầu cuộc hành quân bộ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.

Chúng tôi mang theo súng bộ binh Mas, tiểu liên Tômxơn, Sten và một số súng hỏa lực như cối 82, ĐKZ 57.

Chúng tôi hành quân từ sáng sớm đến chiều tà thì dừng lại nghỉ. Mỗi người mang trên người thường từ 30 đến 35kg. Trọng lượng chủ yếu đè lên hai vai, một phần đeo quanh bụng, móc vào thắt lưng. Bao gạo nặng trên dưới 7kg lúc thì vắt lên vai. Lúc lại đeo quanh người. Khi hành quân bộ, chỉ một vài chặng đầu mọi người không ai bảo ai, đều tự mình xem xét lại các thứ mang vác của mình, từ quần áo, chăn màn, tăng võng, gạo muối, lương khô tới thuốc men, vũ khí… xem có thể bớt được những gì.

Đường mòn, rừng rậm, núi cao, dốc đứng cả đoàn quân lầm lũi bám theo nhau, chỉ nghe thấy tiếng chân đi lép nhép. Thi thoảng có tiếng “uỵch” của ai đó vừa ngã. Bốn mươi năm phút hay một tiếng đại đội trưởng ra lệnh nghỉ giải lao. Nhưng đường đất lầy, nhão chẳng ai bỏ được quai ba lô ra khỏi vai. Có người tựa vào thân cây đổ, hay tảng đá để nghỉ. Cứ giải lao là tôi lại tìm chỗ đặt ba lô rồi quay lại mang đỡ anh em khẩu súng hay vác đỡ bao gạo.

Chúng tôi đã đi trên con đường mòn xuyên Trường Sơn mà những người lính Đoàn 559 thời đánh Mỹ gọi một cách trịnh trọng và tự hào: “Đường Hồ Chí Minh”.

Con đường len lỏi trong núi rừng Trường Sơn giữa biên giới ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Con đường máu lửa chi viện cho miền Nam với nhiều tấm gương anh dũng hy sinh, cũng như bao điều kỳ tích được làm nên bởi những người lính lái xe, công binh, pháo binh, thông tin, những chiến sĩ giao liên, thanh niên xung phong, kho trạm… những con người kiên cường sông chết vì con đường.

Thời gian này chưa có bãi trạm khách giao liên nên chúng tôi phải tự phát cây rừng mắc tăng võng.

Lại nói đến chuyện mắc võng, căng tăng để ngủ. Đây là những công việc tưởng như đơn giản, nhưng thật ra lại rất khó đối với cán bộ chiến sĩ chúng tôi trong những ngày đầu. Trước khi mắc võng, chúng tôi phải chọn khu vực bằng phẳng, không có những tảng đá to, nếu có phải dọn sạch, rồi chặt cây con, mà phải chặt sát đất, không để thành mũi nhọn như mũi chông dễ xiên vào người khi không may bị ngã. Buộc võng vào hai cây to vừa phải, không to quá và cũng không nhỏ quá cách nhau hơn hai sải tay.

Lúc đầu chúng tôi buộc trực tiếp dây võng vào gốc cây. Kho trời mưa nước theo cây chảy qua dây võng làm người ướt sũng. Sau chúng tôi cải tiến dùng hai cọc phụ, một đầu cắm xuống đất còn đầu kia buộc vào gốc cây đã chọn. Võng sẽ buộc vào đầu cọc phụ. Như vậy, nếu trời mưa, nước sẽ chảy theo thân cọc phụ xuống đất, không chảy vào võng. Buộc võng cũng có cách riêng, chắc chắn để khi nằm không bị tuột, mà khi di chuyển gấp chỉ cần giật nút là tháo võng được ngay.

Cách mắc tăng tuy đơn giản nhưng cũng phải làm đúng kỹ thuật. Trước hết buộc một sợi dây (sau này dùng cây sào) rồi vắt tăng qua. Dùng dây buộc bốn góc tăng ra bốn phía thật căng, khi trời mưa nước trôi đi hết, không đọng lại. Nhưng nếu để chỗ trũng trên tấm tăng sẽ trở thành những bọc nước và tới một lúc nhất định cả bọc sẽ đổ ào vào võng. Ngoài mắc võng, căng tăng, chúng tôi còn làm giá phía dưới võng để kê ba lô, bao gạo cho khỏi ướt.

Tăng và võng thực sự là sáng kiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là phương tiện tối cần thiết trong hành trang người chiến sĩ trên đường ra trận, là ngôi nhà che chở bộ đội khi hành quân. Nếu bị thương thì võng trở thành cáng khiêng đưa anh em về nơi điều trị. Không may ai đó hy sinh thì tấm tăng, chiếc võng trở thành tấm vải liệm đưa họ về cõi vĩnh hăng thay cho tấm da ngựa của các hiệp sĩ thời xưa.

Những ngày hành quân trên đường giao liên chúng tôi phải tổ chức cho đơn vị nấu cơm. Thức ăn là đồ hộp, mắm kem, mỳ chính với rau và măng rừng. Tuy nấu nướng tạm bợ nhưng chúng tôi thấy ngon miệng thế. Trong hành quân, nấu ăn là vất vả nhất, thao tác trong cảnh mưa gió thất thường, không được để có khói lửa đề phòng máy bay địch, thời gian lại khẩn trương.

Dòng dã bốn tháng trời đến ngày 18 tháng 3 năm 1962, chúng tôi đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ.

Từ đây, tôi gắn bó cuộc đời mình với chiến trường miền Đông Nam Bộ một thời binh lửa, với những trận chiến đấu không cân sức giữa ta và địch. Thời gian đầu, ta chỉ có vũ khí thô sơ, hỏa lực mang vác ĐKZ 57 ly, cối 82, súng máy phòng không 12,7 ly. Còn địch thì có xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, máy bay trực thăng, máy bay phản lực rồi máy bay chiến lược B-52. Nhưng bằng ý chí, nghị lực và lòng yêu nước quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”. Và các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” mà Mỹ khoe khoang là không sức mạnh nào của đối phương ngăn cản được. Rồi đến các chiến thuật “phượng hoàng vồ mồi”, “bủa lưới phóng lao”, “quét và giữ”, “bình định cấp tốc”… vô cùng thâm độc, cũng lần lượt bị quân và dân ta đánh bại làm cho chúng phá sản. Quân và dân ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành, lực lượng vũ trang ta ngày một lớn mạnh cả về tổ chức biên chế và vũ khí trang bị để rồi cuối cùng buộc Mỹ phải cút khỏi nước ta, ngụy quyền Sài Gòn phải sụp đổ trước cơn lốc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:24:36 AM
CHƯƠNG MỘT
NHỮNG TRẬN ĐẦU THẮNG LỚN

Sau gần 3 tháng hành quân bộ vượt Trường Sơn, ngày 18 tháng 3 năm 1962, khối Trung đoàn bộ và Tiểu đoàn 6 vào đến Mã Đà, Chiến khu Đ. Ít ngày sau, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 và một số phân đội binh chủng, phục vụ cũng đến Mã Đà.

Tháng 6 năm 1962, Trung đoàn 2 do anh Nguyễn Văn Cộng làm trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Đăng Bảy làm chính ủy, anh Tạ Minh Khâm làm Trung đoàn phó – tham mưu trưởng làm lễ thành lập tại Chiến khu Đ. Thời gian này trên bổ sung cho Trung đoàn 2 chúng tôi hơn 400 chiến sĩ quê miền Bắc. Để giữ bí mật Trung đoàn 2 mang phiêu hiệu Q762 và C900.

Trước đó, Trung đoàn 1 được thành lập mang phiêu hiệu Q761.

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 là hai trung đoàn bộ binh chủ lực đầu tiên của quân đội ta ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Trong khoảng thời gian một năm, quân và dân ta đã tổ chức được hai trung đoàn chủ lực ở một chiến trường xa hậu phương, nhưng có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở ngay cửa ngõ Sài Gòn. Kết quả đó nói lên quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước rất cao của Đảng ta, nhân dân và quân đội ta; khẳng định vai trò to lớn của hậu phương miền Bắc ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ; đồng thời thể hiện đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta.

Ngay sau khi hành quân vào chiến trường và làm lễ ra mắt, hai trung đoàn phân chia khu vực hoạt động, căn cứ vào chức năng của bộ đội chủ lực cơ động và nhiệm vụ mà Trung ương Cục và Ban Quân sự Miền giao. Lấy sông Sài Gòn làm chuẩn, phía tây chủ yếu là địa phận tỉnh Tây Ninh (khu B), là địa bàn hoạt động của Trung đoàn 1; phía đông gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Thành (tỉnh Bình Dương ngày nay) (khu A) là địa bàn hoạt động của Trung đoàn 2.

Nhưng trước đòi hỏi của nhiệm vụ trước mắt là hỗ trợ phong trào quần chúng phá “ấp chiến lược”, đã điều động cả hai trung đoàn chủ lực về hoạt động ở một số vùng nông thôn đồng bằng. Trung đoàn 1 xuống Bời Lời, Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Trung đoàn 2 xuống Bến Cát, Phú Giáo, Dầu Tiếng.

Thời gian đầu, phương thức phá “ấp chiến lược” bằng lực lượng quần chúng ở trong ấp nổi dậy (nội công), phối hợp với bộ đội địa phương và du kích (có nơi có cả một bộ phận chủ lực) ở bên ngoài ấp đánh vào (ngoại kích) có kết quả tốt. Năm 1962, quân và dân Nam Bộ phá hoàn toàn 200 ấp, phá lỏng hoặc phá rã gần 1.000 ấp khác. Nhưng khi địch chuyển sang càn quét lớn, dài ngày và dùng bom pháo đánh phá ác liệt, hỗ trợ cho lực lượng bảo an, dân vệ đi gom dân và giữ ấp, xây dựng tháp canh, hào lũy kiên cố hơn xung quanh ấp thì nhiều nơi, phong trào bị chững lại, bộ đội địa phương và kích không đủ sức đối phó với quân chính quy có xe tăng, xe bọc thép lội nước và máy bay lên thẳng yểm trợ trong các cuộc hành quân càn quét của chúng. Có nơi, bộ đội địa phương không bám được địa bàn, du kích phải “ly hương” sang xã khác hoặc rút lên căn cứ.

Hoạt động xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực cũng gặp nhiều khó khăn. Các đơn vị phải thường xuyên di chuyển để tránh phi pháo và đối phó với các cuộc hành quân càn quét của địch. Do đường vận chuyển tiếp tế từ đồng ằng lên căn cứ bị địch kiểm soát gắt gao nên sinh hoạt của các đơn vị rất thiếu thốn. Có thời gian chúng tôi phải ăn cháo hàng tuần liền. Mỗi bữa một biểu đội được một, hai lon gạo nấu với rau hoặc măng rừng.

Về tác chiến, trong năm 1962, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 chỉ đánh được một số trận nhỏ. Đáng kể nhất là trận tao ngộ giữa Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 với một trung đoàn của sư đoàn 5 ngụy ở Bàu Buông (bắc Sông Bé). Trận này ta diệt gần 50 tên địch chết tại trận, đều do bị đạn ta bắn vào đầu. Chúng la lối ầm ĩ về sự xuất hiện của bộ đội chính quy Bắc Việt.

Đầu năm 1963, trên quyết định điều tôi từ chính trị viên phó Tiểu đoàn 4 về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2. Thời gian này hai Trung đoàn 1 và 2 tiếp tục hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá “ấp chiến lược” và chống càn bảo vệ căn cứ. Chúng tôi đã đưa hàng vạn dân ra khỏi ấp chiến lược về vùng giải phóng.

Trong hai năm 1962 – 1963, miền Bắc đã dùng tàu biển chuyển một số vũ khí hỏa lực vào các bến Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre nhưng chưa chuyển lên căn cứ của Miền được. Bộ đội chủ lực miền Đông thiếu súng đạn, nhất là vũ khí diệt máy bay, xe bọc thép. Cả Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 lại bị phân tán vào những nhiệm vụ trước lắt là đánh đồn bảo an, dân vệ và hỗ trợ nhân dân phá “ấp chiến lược”, chiến đấu bảo vệ căn cứ hoặc giải quyết những khó khăn về hậu cần. Một số đơn vị vận dụng máy móc các kỹ thuật, chiến thuật đã được huấn luyện chính quy trên miền Bắc, thiếu kết hợp với thực tế chiến trường vá đối tượng tác chiến mới, làm hạn chế kết quả huấn luyện và hiệu suất chiến đấu.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:26:02 AM
Tình hình ở miền Đông Nam Bộ những năm 1962 – 1963 là, về quy luật phát triển của chiến tranh và trước đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ chiến đấu, vai trò của bộ đội chủ lực ngày càng trở nên quan trọng. Nhưng do một số hạn chế trước mắt đã làm nảy sinh trong một số cán bộ biểu hiện không tin, thậm chí chê bai bộ đội chủ lực, nhất là đối với các đơn vị từ miền Bắc hành quân vào chiến trường. Từ đó đã có những chủ trương không đúng trong xây dựng và sử dụng bộ đội chủ lực. Đó là những nguyên nhân rất cụ thể, làm cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 mặc dù đã được xây dựng từ sớm, nhưng chưa phát huy được vai trò của mình trong những năm đầu chiến tranh.

Để khắc phục tình trạng trên, Bộ Chính trị chủ trương phát động toàn Đảng, toàn dân xây dựng lực lượng vũ trang và phát triển chiến tranh du kích rộng khắp ở miền Nam. Các chiến trường, các đơn vị vũ trang tập trung cần nghiên cứu kỹ hơn nữa các quy luật hành quân và các nhược điểm về kỹ thuật, chiến thuật của địch, tổng kết kinh nghiệm tác chiến trong thời gian vừa qua để phá cho được các cuộc hành quân chớp nhoáng và dài ngày của địch, tranh thủ điều kiện có lợi đánh tiêu diệt ác đơn vị chính quy và biệt kích đường bộ, đường không của địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 10 năm 1963 Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam trực tiếp làm Bí thư Quân ủy Miền. Trung tướng Trần Văn Trà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào miền Nam làm Tư lệnh Miền. Một thời gian sau, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử vào chiến trường, làm Chính ủy Miền. Cùng vào chiến trường đợt này có Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Trần Độ, đại tá Hoàng Cầm và nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp, có kinh nghiệm xây dựng bộ đội chủ lực và chỉ huy đánh lớn. Các trung đoàn bộ binh 1 và 2, Đoàn pháo binh 80 được củng cố về tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền. Đồng chí Nguyễn Thế Truyện được cử làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Văn Nhỏ được cử làm chính ủy Trung đoàn 1. Đồng chí Tạ Minh Khâm được cử làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Quảng được cử làm chính ủy Trung đoàn 2.

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn đề ra nhiều chủ trương cụ thể nhằm tăng cường lực lượng vào chiến trường, đẩy mạnh hoạt động trên tuyến vận tải chiến lược Bắc – Nam dọc theo dãy Trường Sơn do Đoàn 559 phụ trách. Riêng đối với Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ là chiến trường xa nhất, tuyến vận tải cơ giới đường bộ chưa vào đến nơi thì hết sức phát huy tuyến vận tải chiến lược đường biển. Năm 1962 Đoàn 759 bắt đầu mở đường và đưa được bốn chuyến (112 tấn, chủ yếu là vũ khí) vào Cà Mau. Năm 1963, khởi hành 23 chuyến, có 21 chuyến tới các bến Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Đoàn 759 đã đưa vào chiến trường Nam Bộ 1.318 tấn hàng, trong đó có nhiều súng cối cối, ĐKZ, súng máy cao xạ 12,7… là những loại vũ khí có khả năng diệt được xe bọc thép và bắn rơi máy bay lên thẳng của địch.

Được Trung ương tăng cường lực lượng và vật chất, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tích cực tổ chức các tuyến vận tải vũ khí từ các bến ở Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre lên căn cứ, đồng thời tổ chức lại các căn cứ hậu cần A, B, C, E thành các đoàn hậu cần 81, 82, 83, 84. Địa bàn hoạt động của Đoàn 81 là chiến khu Đ (khu A); Đoàn 82 là Chiến khu Dương Minh Châu (khu B); Đoàn 83 là vùng Bến Cát, Thủ Dầu Một (khu C); Đoàn 84 là khu vực Bà Rịa (khu E). Với phương thức hoạt động cơ động hơn, mỗi đoàn hậu cần có thể bảo đảm cho một trung đoàn chủ lực tác chiến trên một hướng chiến dịch. Để giảm bớt khó khăn cho bộ đội, các đoàn hậu cần đưa gạo, muối, súng, đạn, thuốc chữa bệnh lên gần khu vực các đơn vị đóng quân. Lúc bình thường bộ đội đi lấy gạo không quá 2 ngày. Trường hợp đặc biệt, không quá nửa ngày (cả đi và về) trong mùa khô và mùa mưa. Các Trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 đều được biên chế một đại đội vận tải, quân số khoảng 100 cán bộ chiến sĩ, chủ yếu là gùi bộ và sử dụng một số xe đạp thồ. Khó khăn về hậu cần được giải quyết từng bước, bảo đảm cho các đơn vị có thể tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu.

Những năm này, rừng miền Đông chưa bị bom, pháo và chất độc hóa học Mỹ tàn phá. Chỉ cần phát, dọn các cây nhỏ là một bãi tập vừa kín đáo vừa mát mẻ dưới các tán lá cây của rừng già. Giáo viên và trợ giáo là những sĩ quan, hạ sĩ quan đã được đào tạo qua trường trên miền Bắc nên nắm vững kỹ thuật, chiến thuật cơ bản. Với quyết tâm đánh thắng địch, góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn đều miệt mài học tập. Các môn kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê; động tác tiềm nhập, cắt hàng rào, sử dụng bộc phá, các chiến thuật vận động tập kích và vận động phụ kích, đánh điểm và diệt viện, đánh địch trong công sự vững chắc, tập hành quân xa, cơ động… là những bài luyện tập ngày đêm của mỗi cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị. Chiến sĩ cũ tập cùng chiến sĩ mới để giúp đỡ lẫn nhau. Các phân đội hỏa lực tập cơ động với bộ binh, ngắm bắn trực tiếp theo yêu cầu chiến thuật.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:29:04 AM
Trong khi chưa có vũ khí diệt xe bọc thép M113 của địch, các đơn vị đã nghiên cứu lựa chọn một số xạ thủ giỏi, khi gặp xe địch sẽ nhắm bắn trúng tên lái và tên bắn súng đại liên trên xe. Khi xe địch không chạy được nữa mới ném lựu đạn làm đứt xích, diệt xe.

Đối phó với chiến thuật “trực thăng vận” của địch, các đơn vị vừa chú ý phát huy vai trò của súng máy cao xạ 12,7, vừa huấn luyện bộ đội và phát động phong trào bắn máy bay lên thẳng bằng các loại súng bộ binh. Kinh nghiệm chống càn, diệt xe bọc thép và máy bay lên thẳng vũ trang địch của quân và dân Mỹ Tho trong trận Ấp Bắc (ngày 2 tháng 1 năm 1963) được trao đổi ở từng phân đội. Phong trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” sôi nổi trong huấn luyện và chiến đấu.

Tháng 10 năm 1963, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 1 tiêu diệt đồn Bàu Cỏ, mở rộng khu căn cứ Dương Minh Châu.

Ngày 18 tháng 10 năm 1963, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 2 tiến công đồn Cây Trường thuộc xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một. Đây là một đồn lớn nằm sâu trong vùng giải phóng của ta nên địch cho một đại đội bảo an đóng giữ và thiết lập hệ thống công sự hỏa điểm, hầm ngầm, hàng rào kẽm gai để bảo vệ khá chắc chắn. Từ đồn Cây Trường, binh lính địch thường bung ra ngăn chặn ta hoạt động, hỗ trợ bọn dân vệ, ác ôn kìm kẹp dân trong các “ấp chiến lược”, và phối hợp với quân chính quy trong các cuộc hành quân càn quét.

Trung đoàn dùng Tiểu đoàn 5, được tăng cường đại đội đặc công tiến công đồn Cây Trường.

Sau khi vượt qua các lớp rào, bờ tường và diệt các cứ điểm bên ngoài, bộ đội ta tràn vào đồn. Lực lượng còn lại của địch rút xuống hầm ngầm chống trả quyết liệt. Các chiến sĩ đã ném đến quả lựu đạn và thủ pháo cuối cùng. Một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương. Ở giây phút vô cùng khẩn trương căng thẳng đó, tiểu đội trưởng đặc công Trừ Văn Thố đã lao lên, lấy thân mình lấp lỗ châu mai dập tắt hỏa điểm cuối cùng của địch. Từ các hướng, bộ đội ta ào ạt xông lên, diệt và bắt những tên địch còn ngoan cố chống cự. Đồn Cây Trường bị tiêu diệt nhờ tinh thần hy sinh anh dũng của Trừ Văn Thố.

Tôi được biết, Trừ Văn Thố sinh năm 1938, trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Thạnh Hóa, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho(1). Bước vào tuổi thanh niên khi quê hương chìm trong sự cai trì và khủng bố của bè lũ Mỹ - Diệm, anh đã cùng lớp trai làng hăng hái tham gia phong trào “Đồng khởi” và từ giã mẹ già, vợ và hai con nhỏ xung phong vào bộ đội giải phóng. Anh được nghe đồng chí Chính trị viên Đại đội đặc công kể cho toàn đơn vị về gương hy sinh của Anh hùng Phan Đình Giót trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh tâm sự với chính trị viên: “Nếu gặp tình huống như anh Giót, em cũng sẽ làm như thế” và Trừ Văn Thố đã hành động đúng theo suy nghĩ của mình.

Khắp chiến trường miền Đông, nhân dân và bộ đội vô cùng khâm phục gương hy sinh quên mình của liệt sĩ Trừ Văn Thố. Anh được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất (1965) anh được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Đây là chiến sĩ bộ đội chủ lực đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở chiến trường miền Nam được tuyên dương danh hiệu Anh hùng. Tấm gương Trừ Văn Thố sống mãi cùng với đất nước, trong lòng nhân dân và các thé hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2 chúng tôi.

Phát hiện hoạt động của bộ đội chủ lực ta, tháng 12 năm 1963, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân lớn mang tên “chiến dịch Đại phong 35”, càn quét khu vực Bắc Bến Cát. Lực lượng địch trong “chiến dịch Đại Phong 35” gồm sư đoàn bộ binh 5 (ba trung đoàn 7, 8, 9), hai tiểu đoàn biệt động (36 và 37), hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến (92 và 3); một chi đoàn thiết xa vận; một tiểu đoàn pháo 105 (12 khẩu); một trung đội pháo 155 (2 khẩu); một hải đoàn xung phong; 10 máy bay các loại. Tiểu đoàn biệt động quân 32 mang tên “Cọp đen” do cố vấn Mỹ huấn luyện và chỉ huy làm nhiệm vụ “cánh chìm” trong chiến dịch. Đây là đơn vị quen thuộc địa hình vùng Thanh Tuyền (Bắc Bến Cát) có lần đã chạm súng với bộ đội ta nên phần nào đã nắm được trang bị và cách đánh của ta.

Sáng ngày 31 tháng 12, trong khi Trung đoàn 2 chúng tôi đang tập trung cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên ở ấp Đường Long xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát để phổ biến nhiệm vụ chiến đấu thì nhận được tin của trinh sát báo cáo: địch mở cuộc càn lớn và một tiểu đoàn địch đã hành quân đến Bàu Đưng (cách ấp Đường Long 1 kilômét về phía tây bắc). Chúng đang hướng về khu vực đóng quân của trung đoàn. Phán đoán đúng âm mưu và hành động của địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 (có cả hai đồng chí trung đoàn trưởng và chính ủy cũ đã bàn giao xong nhưng chưa chuyển đi đơn vị mới) đã hội ý cấp tốc, hạ quyết tâm: tập trung lực lượng toàn trung đoàn, bao vây tiêu diệt địch bằng cách ngăn chặn ở chính diện, tiến công ở bên sườn và vu hồi vào sau lưng địch. Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm viết mệnh lệnh cho Tiểu đoàn 5 tổ chức lực lượng ngăn chặn.


(1) Nay là tỉnh Tiền Giang.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:30:11 AM
Nhận được lệnh Trung đoàn, tôi điện đề nghị Trung đoàn trưởng cho trinh sát dẫn đường. Từ đầu dây bên kia, Trung đoàn trưởng nói:

- Anh phải tự tìm đường, vận động theo tiếng súng nổ.

Trước thái độ kiên quyết của anh Khâm, tôi bàn với chính trị viên:

- Nhiệm vụ được giao như vậy, bây giờ ta phải chấp hành. Tôi sẽ cùng tiểu đội trinh sát đi trước nắm địch, còn anh ở lại khẩn trương tổ chức đơn vị.

Chính trị viên tiểu đoàn nhất trí ý kiến của tôi và bắt tay vào công tác chuẩn bị cho xuất kích ngay.

12 giờ 45, tiểu đoàn biệt động quân 32 hành quân đến bờ tây nam suối Xuy Nô. Năm máy ba lên thẳng vũ trang bắn nhiều loạt đại liên và hỏa tiễn chế áp bìa rừng, yểm hộ cho bộ binh địch đột phá liên tục vào sườn trái đội hình Tiểu đoàn 5. Trong hai giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 5 đã tập trung hỏa lực của các phân đội nhỏ, đánh mạnh vào quân địch, và đã ba lần đẩy lui bộ binh địch. Nhưng bộ đội ta không tiến lên được vì bị hỏa lực địch ngăn chặn. Phát hiện lực lượng ở chính diện của ta không mạnh, địch huy động hai đại đội tổ chức xung phong lần thứ tư vào lúc 15 giờ.

Chờ địch đến thật gần, bộ đội ta mới nổ súng, diệt và làm bị thương hàng chục tên. Súng cối 60 ly của tiểu đoàn bắn trúng vị trí chỉ huy của địch, diệt tên đại úy cố vấn Mỹ và làm bị thương nặng tên tiểu đoàn trưởng. Đợt xung phong thứ tư của địch bị bẻ gãy. Chúng phải dừng lại củng cố lực lượng, gọi thêm máy bay lên thẳng vũ trang đến bắn mạnh vào trận địa của ta.

Địch quyết vượt qua khu vực đồng trống, chiếm lấy bìa rừng. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 5 lệnh cho bộ đội củng cố trận địa và tích cực bắn máy bay địch. Ba máy bay lên thẳng vũ trang của địch đã bị bắn cháy. Các điểm trực thăng có thể xuống để lấy xác đồng bọn bị hỏa lực cối và đại liên của ta chế áp.

Trước nguy cơ tiểu đoàn biệt động quân 32 bị tiêu diệt, bọn chỉ huy “chiến dịch Đại phong 35” tuy vẫn còn lực lượng dự bị trong tay nhưng không dám tổ chức cứu viện mà chỉ cho máy bay lên thẳng vũ trang bắn phá tạo một “hành lang” và lệnh cho lực lượng còn lại của tiểu đoàn 32 “cố mở đường máu rút về Bến Súc cách Đường Long 7 kilômét theo trục chuẩn bị của máy bay”.

Thời cơ tiêu diệt hoàn toàn quân địch đã tới. Ban chỉ huy trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 4 chúng tôi rời bìa rừng, tiếp cận, xiết chặt vòng vây và chỉ nổ súng khi đã bám sát địch.

Hướng Tiểu đoàn 4 chúng tôi đã nhìn thấy địch. Tôi lệnh cho cối 60 ly của tiểu đoàn bắn cấp tập vào đội hình của chúng rồi cho bộ đội xung phong. Trận đánh của Tiểu đoàn 4 chúng tôi với lính tiểu đoàn biệt động quân 32 diễn ra quyết liệt. Bộ đội ta dùng AK, trung liên, lựu đạn diệt địch. Trước sức tiến công của quân ta, tiểu đoàn biệt động mạnh đứa nào đứa nấy chạy xuống suối Xuy Nô.

Lúc này trời tối hẳn. Tôi lệnh cho các đại đội phối hợp chặt chẽ, chỉ nổ súng khi phát hiện hỏa điểm địch, đồng thời kêu gọi địch đầu hàng, tránh tình trạng bắn nhầm phải nhau. Không còn lối thoát, nên chuẩn úy đại đội trưởng dẫn một số lính mang theo súng ra hàng (có 4 khẩu trung liên). Nhiều tên bị bộ đội ta bắt sống. Tiếng súng ngừng hẳn lúc 18 giờ 30 phút.

Tiểu đoàn biệt động quân “Cọp đen”, một trong những đơn vị được Mỹ rất tin tưởng và ca ngợi đã bị xóa sổ ở Bỗu Cá Trê. Trên 250 tên, gồm cả ban chỉ huy tiểu đoàn và tên cố vấn Mỹ bị chết và bị thương (địch chết tại trận 85 tên), 58 tên bị bắt làm tù binh; 3 máy bay lên thẳng vũ trang bị bắn cháy; ta thu 110 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự. Tiểu đoàn 4 có 4 đồng chí hy sinh, 13 đồng chí bị thương.

Ngày 1 tháng 1 năm 1964, địch điều hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến, ngày hôm sau điều thêm một tiểu đoàn bộ binh (sư đoàn 5) lên cứu lực lượng còn lại của tiểu đoàn 32. Bọn này tiến quân rất dè dặt vì sợ bị phục kích và khi vượt sông hai cánh quân đã bắn nhầm phải nhau làm chết và bị thương thêm hơn hai chục tên. Ngày 4 tháng 1 năm 1964, Mỹ - ngụy buộc phải kết thúc “chiến dịch Đại phong 35” trước kế hoạch.

Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, Trung đoàn 2 mà chủ yếu là Tiểu đoàn 4 đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn quân chính quy ngụy. Một trong những biện pháp chiến thuật chủ yếu của Mỹ - ngụy trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là dùng quân chính quy ngụy hành quân càn quét, hỗ trợ bảo an dân vệ gom dân lập “ấp chiến lược” đã bước đầu bị đánh bại.

Trận đánh góp phần giải quyết nhận thức không đúng trong một số cán bộ cho rằng chống càn là bị động, không thể diệt được địch trong chiến đấu chống càn ở địa hình rừng rậm… Vai trò của bộ đội chủ lực được khẳng định thêm. Trung đoàn bộ binh 2 tích lũy được một sô kinh nghiệm về đánh vận động. Truyền thống “Đi là thắng, đánh là dứt điểm”, hiệp đồng theo tiếng súng của Trung đoàn 2 bắt đầu hình thành từ trận này. Trung ương cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định tặng Trung đoàn 2 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:31:15 AM
*

Hai chiến tháng có tiếng vang lớn, một của quân và dân miền Trung Nam Bộ ở Ấp Bắc (đầu năm 1963) và một của Trung đoàn 2 ở Đường Long, Bến Cát (cuối năm 1963), cùng với bước phát triển mới của phong trào “phá ấp chiến lược” và phong trào đấu tranh của quần chúng ở các đô thị đánh dấu một cục diện mới của tình hình miền Nam.

Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã tăng cường lực lượng và đẩy mạnh hoạt động của Đoàn 559 trên tuyến đường bộ, Đoàn 125 trên tuyến đường biển, đưa thêm nhiều lực lượng, vũ khí trong đó có những trung đoàn bộ binh và tiểu đoàn binh chủng với đầy đủ số quân và trang bị theo biên chế vào chiến trường.

Ở miền Nam, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền bổ sung quân số và trang bị, biên chế đủ cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, mỗi trung đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh và ba đại đội trợ chiến (súng cối 81, ĐKZ 57 và súng máy cao xạ 12,7) đồng thời củng cố tổ chức của Trung đoàn 3 để có thể sớm đưa trung đoàn này ra chiến đấu. Trong năm 1964, hai trung đoàn 1 và 2 tiếp tục hoạt động độc lập dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trên địa bàn đã được phân công (Trung đoàn 1 ở tỉnh Tây Ninh và Củ Chi; Trung đoàn 2 ở các tỉnh Bình Long, Phước Long, Thủ Dầu Một), cả hai trung đoàn đều tích cực huấn luyện, nâng cao trình độ đánh tập trung tiểu đoàn và trung đoàn, thực hiện yêu cầu diệt đại đội, tiểu đoàn bảo an và quân chính quy ngụy. Nhiều cách đánh mới được vận dụng có hiệu quả trong chiến đấu chống cà và phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương phá “ấp chiến lược”.

Phía đông sông Sài Gòn, Trung đoàn 2 phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đánh lui nhiều cuộc hành quân càn quét, tiêu hao và tiêu diệt một số đại đội, tiểu đoàn quân chính quy và bảo an ngụy. Đáng kể nhất là các trận vận động tập kích tháng 2 năm 1964 diệt một đại đội thuộc trung đoàn 48 ngụy ở Bình Mỹ; và tháng 3 năm 1964 trong trận An Nhơn Tây đánh thiệt hại nặng một đại đội (thuộc sư đoàn 5 ngụy); tháng 5 năm 1964, Tiểu đoàn 4 vận động phục kích diệt tiểu đoàn 37 biệt động quân ở Bàu Cá Trê, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược” Sình Bà Đã; tháng 7 năm 1964, Tiểu đoàn 4 chúng tôi lại phục kích ở Cần Đâm đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 34 biệt động quân, phá hủy 20 xe quân sự, bắt sống tên tiểu đoàn trưởng, diệt tên cố vấn Mỹ.

Ngày 16 tháng 10 năm 1964, Tiểu đoàn 4 chúng tôi phục kích một đoàn xe cơ giới địch hành quân càn quét trên đường 13, đoạn đi qua huyện Bến Cát (Thủ Dầu Một). Tại Bàu Trầm, tôi còn nhớ pháo thủ ĐKZ 57 ly Lý Văn Só đã bám công sự, chờ xe địch đến gần, bắn cháy hai xe bọc thép M113. Chiến sĩ Phan Văn Tám bắn cháy một chiếc khác. Lý Văn Só và Phan Văn Tám là những chiến sĩ đã được huấn luyện chính quy trên miền Bắc dẫn đầu về diệt xe bọc thép địch.

Sau trận đánh, Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 đã tổ chức cho hai chiến si của tiểu đoàn tôi đi các đơn vị kể chuyện đánh xe, phổ biến kinh nghiệm tiếp cận, bắn cháy xe M113 địch. Cơ quan tham mưu trung đoàn xây dựng thao trường huấn luyện có mô hình xe M113, rèn luyện bộ đội diệt xe địch bằng lựu đạn, thủ pháo.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:32:46 AM
*

Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở Bình Giã. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy và bọn bảo an, dân vệ; đẩy mạnh chiến tranh du kích, hỗ trợ nhân dân phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng; nối liền các căn cứ miền Đông với vùng ven biển Khu 6, bảo vệ các bến tiếp nhận hàng bằng đường biển do miền Bắc đưa vào và rè luyện, nâng cao trình độ đánh vận động của bộ đội chủ lực.

Đầu tháng 11 năm 1964, Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Đoàn 80 pháo binh (gồm 4 tiểu đoàn) hành quân về chiến trường Bà Rịa. Vượt sông Đồng Nai, băng qua đường số 20, đường số 1, ngày 20 tháng 11 năm 1964, Trung đoàn 1 tập kết ở nam Xuân Sơn; Trung đoàn 2 chúng tôi tập kết ở đông nam núi Nghệ. Các đoàn hậu càn Miền đã đi trước một bước, vừa thu mua, vừa vận chuyển đến các khu tập kết 500 tấn vũ khí, 200 tấn lương thực, thực phẩm.

Mở màn chiến dịch này, ngày 2 tháng 12 năm 1964, bộ đội pháo binh tập kích hỏa lực vào chi khu quân sự Đức Thạnh; Đại đội 445 tiến công “ấp chiến lược” Bình Giã thuộc huyện Đất Đỏ. Đây là những trận đánh khơi ngòi, dụ quân chính quy ngụy ra ứng cứu, tạo cơ hội cho hai trung đoàn 1 và 2 đánh vận động, diệt địch ngoài công sự. Nhưng do lực lượng tiến công ít, ta không diệt được tiểu đoàn 38 biệt động quân khi chúng ra giải tỏa. Bộ đội ta phải tạm di chuyển ra khỏi khu vực Bình Giã.

Sáng ngày 29 tháng 12 năm 1964, trước áp lực ngày càng tăng của ta, địch mở cuộc hành quân “Bình Tuy 33” cho chi đoàn 3 (thiết đoàn 1) giải tỏa dọc đường số 2 lên Bình Giã, Đức Thạnh.

Tiểu đoàn 4 chúng tôi được giao nhiệm vụ bố trí đội hình, ém quân ở phía đông núi Nghệ, chờ đoàn xe địch. Với quyết tâm rất cao, chúng tôi đề ra tư tưởng của trận đánh là: “đánh chắc thắng”, “chặn thật chặt, khóa thật chắc, cắt thật bén”, “đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”.

“Thiết xa vận” là một trong những biện pháp chiến thuật chủ yếu của Mỹ - ngụy trong cuộc “chiến tranh đặc biệt”. Với vỏ thép dày, hỏa lực mạnh, khả năng cơ động trên nhiều loại địa hình phức tạp và tiếng gầm rú của động cơ uy hiếp tinh thần đối phương, địch thường sử dụng xe M113 dẫn đầu các cuộc hành quân càn quét.

Vào năm 1964, bộ đội chủ lực ở chiến trường miền Đông mới được trang bị một số khẩu ĐKZ 57 và 75 ly. Ngòi việc tận dụng hai loại súng này, các đơn vị đề tranh thủ huấn luyện bộ đội đánh gần, dùng súng bộ binh kiềm chế, sau đó áp sát, ném lựu đạn hoặc thủ pháo diệt xe.

Khoảng gần trưa ngày 9 tháng 12, đài quan sát báo cáo tôi đoàn xe địch đang đi tới. Tôi liền lệnh cho Tạ Quang Tỷ (Bảy Tỷ), Đại đội trưởng Đại đội 1 làm nhiệm vụ chặn đầu đoàn xe địch. Bộ đội ta lập tức nổ súng. Có chiến sĩ đứng thẳng người bắn trung liên. Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ nằm sát mép đường chỉ mục tiêu cho khẩu ĐKZ 75 bắn chiếc xe đi đầu. Xe địch trúng đạn bốc cháy. Chớp thời cơ, Tạ Quang Tỷ nhảy lên dùng tiểu liên diệt địch và quay súng trên xe địch về phía sau bắn chế áp các xe khác.

Quân địch dựa vào vỏ thép dày che chắn chống trả quyết liệt. Các phân đội phía sau phải vận động dưới tầm hỏa lực của địch, kiên quyết áp sát, chia cắt, diệt từng xe.

Chiến sĩ Nguyễn Văn Xộn 20 tuổi bị xích xe địch nghiền nát một tay đã dùng tay còn lại ném lựu đạn làm đứt xích xe địch. Chi đoàn xe M113 gồm 14 chiếc bị tiêu diệt hoàn toàn, cùng với hơn 100 lính ngụy, 9 cố vấn Mỹ. Bộ đội ta bắt sáu tên tù binh, thu hơn 80 khẩu súng, trên 3 vạn viên đạn.

Trung đoàn 2 được tặng thượng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba về chiến công xuất sắc này.

Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ được đồng đội yêu mến, khâm phục tặng danh hiệu “Đại đội trưởng chặn đầu”. Đánh cơ giới địch trở thành một sở trường và truyền thống vẻ vang của Trung đoàn 2.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:33:42 AM
Đợt 1 chiến dịch kết thúc. Chiến thắng diệt chi đoàn xe bọc thép địch trên đường số 2 của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận.

Đêm 22 tháng 12, một chuyến tàu biển chở 44 tấn vũ khí từ miền Bắc vào bến Lộc An (Bà Rịa) bổ sung kịp thời súng, đạn cho các đơn vị tham gia chiến dịch.

Ngày 27 tháng 12, Trung đoàn 1 sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 phối hợp với Đại đội 445 bộ đội địa phương tiến công “ấp chiến lược” Bình Giã lần thứ hai, mở màn đợt hai chiến dịch.

Ngày 28 tháng 12 năm 1964, từ sáng sớm, một máy bay trinh sát địch đã quần lượt trên không phận khu vực chiến dịch. Trời trong xanh, rất “lý tưởng” cho một cuộc đổ bộ đường không.

Gần về trưa, bầu trời bỗng rung lên bởi nhiều đợt bom nổ. Đài quan sát báo về sở chỉ huy: “Địch ném bom dọn bãi chuẩn bị đổ bộ”. Chỉ lát sau từ chân trời phía nam, những chiếc trực thăng chở quân đã uất hiện rõ dần. Súng máy xao xạ, súng đại liên và các loại súng bộ binh khác của trung đoàn cùng nhả đạn. Toàn bộ tốp đi đầu, tiếp đến là tốp thứ hai, 12 máy bay lên thẳng, có năm chiếc chở quân địch trúng đạn, nằm phơi xác trên khu vực bãi đổ bộ. Những tốp đi sau vột dạt ra xa, tăng độ cao và tháo lui.

Bầu trời im ắng trở lại. Trung đoàn 1 đã thực hiện được phương án không cho địch đổ quân xuống bãi 1 (đông bắc “ấp chiến lược” Bình Giã). Nhưng chúng sẽ còn tiếp tục cuộc hành quân giải tỏa hay chịu bỏ dở? Bộ chỉ huy chiến dịch thống nhất nhận định: địch chưa đến mức chịu thua, do đó phải chuẩn bị tình huống tiếp theo: đánh quân đổ bộ ở bãi 2 (đông nam “ấp chiến lược” Bình Giã 400 mét).

Hơn một giờ sau, các “con phượng hoàng” lại bay đến Bình Giã, đổ tiểu đoàn 33 biệt động quân xuống các đồng trũng (bãi 2), nơi Trung đoàn 1 đã bố trí lực lượng cách đó 500 mét. Khi tốp lính đi đầu đến mép vườn cao su, các tốp sau vừa tiếp đất thì bộ đội ta đồng loạt nhả đạn, tạo thế bao vây hai bên sườn, dồn địch vào thế bất lợi. Tiểu đoàn địch phơi mình trên bãi trống, nhanh chóng bị chia cắt và tiêu diệt.

Tiếp theo trận diệt chi đoàn xe M113 địch trên đường số 2 của Trung đoàn 2 trận diệt tiểu đoàn 33 biệt động quân, bắn rơi 18 máy bay lên thẳng đổ bộ quân của địch ở khu vực Bình Giã của Trung đoàn 1 là chiến thắng giòn giã thứ hai của chiến dịch Bình Giã. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam và trong phạm vi một chiến dịch, hai biện pháp chiến thuật chủ yếu trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là “thiết xa vận” và “trực thăng vận”, nhưng cách đánh được Mỹ - ngụy khoe khoang là rất “tân kỳ” đã bị bộ đội ta đánh bại.

Tiểu đoàn 4 lính thủy đánh bộ mang tên “Cá kình biển Đông” là đơn vị “anh chị” trong số 9 tiểu đoàn tổng dự bị của quân ngụy lúc bấy giờ. Tiểu đoàn này chưa hề biết thua trận. Tổn thất đáng kể nhất của nó là trong một cuộc hành quân bị vướng mìn làm năm tên lính bị thương. Là lực lượng dự bị chiến lược, thường vào tham chiến khi trận đánh đã đến lúc kết thúc, chúng rất huênh hoang và chủ quan.

Ra khỏi máy bay, lính địch triển khai đội hình chiến đấu nhanh, có bài bản. Những sắc áo rằn ri, những khẩu súng máy nép mình sau các gốc cây cao su, các mô đất. Chúng đã phát hiện đối phương nhưng chưa nổ súng ngay. Bộ đội ta muốn chờ địch đến thật gần nên cũng chưa nổ súng. Đánh gần sẽ làm giảm đáng kể hỏa lực phi pháo địch, đánh địch trong rừng cao su phải biết dựa vào từng gốc cây, không thể xung phong ồ ạt. Đó là bài học xương máu mà cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã rút ra được qua một số trận đánh trong rừng cao su với quân địch có hỏa lực mạnh hơn.

Khoảng hơn 4 giờ chiều, tiếng súng bắn đầu nổ và ngày càng mãnh liệt. Trung đoàn 1 đã gặp một đối thủ mạnh, được huấn luyện khá thành thạo cách đánh ở địa hình rừng. Chúng biết lợi dụng các vật che chắn để tổ chức các cụm hỏa lực vào dựa vào hàng trăm gốc cây cao su làm vật che đỡ chóng trả các mũi tiến công của ta. Có phân đội của ta phải bí mật luồn ra phía sau diệt ổ súng máy rồi mới chia cắt địch thành từng tốp nhỏ để tiêu diệt. Trận đánh kéo dài vì trang bị của bộ đội ta chỉ có súng trường và súng máy do các nước Anh, Pháp, Mỹ sản xuất trước đây. Nhiều khẩu đội súng máy cao xạ 12,76 và ĐKZ đã hạ nòng, cùng bộ binh diệt địch. Cho đến gần 6 giờ chiều, khi đại đội làm nhiệm vụ bọc hậu thọc vào đúng vị trí chỉ huy của địch, diệt tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng và nhiều sĩ quan ngụy khác, sức chiến đấu của địch mới lụi dần.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:35:31 AM
Tiểu đoàn 4 không còn trở về Sóng Thần (Thủ Đức, Sài Gòn), căn cứ của lính thủy đánh bộ ngụy. Con “cá kình biển Đông” mãi mãi nằm lại trong rừng cao su Xuân Sơn. Bộ tổng tham mưu ngụy, Lầu năm góc, tướng bốn sao Oétmolen chỉ huy đội quân Mỹ xâm lược miền Nam không muốn tin vào kết cục bị thảm đó. Mấy chục tên lính thoát chết, trốn lủi chạy khỏi Bình Giã. Về đến Sài Gòn, chúng cố chứng minh rằng chúng là đội quân thiện chiến, dày dạn chiến trận, nhưng đã thua vì “Việt cộng” rất mạnh.

Trong khi Trung đoàn 1 liên tục chiến đấu ở khu vực Bình Giã, Trung đoàn 2 phục kích, sẵn sàng đánh cơ giới địch trên đường bộ. Trong bảy ngày ém quân, mỗi cán bộ chiến sĩ chúng tôi đã ăn hết 21 vắt cơm và bảy lần thay lá ngụy trang kiên trì giữ bí mật cho trận đánh.

Ngày 1 tháng 1 năm 1965, địch cho một số xe cơ giới theo đường số 2 lên Bình Giã cứu bọn tàn quân. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi chặn đánh địch ở gần núi Cóc Tiên, diệt 10 xe. Hai ngày sau (ngày 3 tháng 1 năm 1965), chúng tôi lại vận động phục kích trên đoạn đường từ Bà Rịa lên Đức Thạnh, diệt 170 tên lính ngụy, phá hủy 18 xe (có 2 xe tăng, 6 xe bọc thép M113). Đây là trận đánh cuối cùng của chiến dịch Bình Giã.

Sau chiến thắng Bình Giã, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 lại hành quân trở về Chiến khu Đ. Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, cá cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Miền cùng Đảng ủy, Ban chỉ huy hai trung đoàn tổ chức cho các đơn vị tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung quân số, trang bị, bồi dưỡng sức khoẻ, đồng thời mở nhiều lớp học tập về tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam, nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và huấn luyện bổ sung về kỹ thuật, chiến thuật. Trung đoàn bộ binh 3 mới ổn định tổ chức biên chế và Trung đoàn bộ binh 4 (Quân khu 7) mới thành lập cũng học tập và huấn luyện với Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2. Thời gian củng cố, huấn luyện của các đơn vị được hơn 2 tháng.

Giữa năm 1965, tiêng súng tiến công địch của quân và dân miền Trung Trung Bộ rộ lên ở Việt An, ở Đèo Nhông – Dương Liễu và ở Ba Gia.

Ngày 28 tháng 5, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam vận động tập kích tiêu diệt một đại đội Mỹ ở Núi Thành.

Trên miền Bắc, quân và dân các tỉnh Quân khu 4 giáng trả mạnh mẽ hành động chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi tại chỗ hàng chục máy bay phản lực hiện đại.

Trong không khí sôi sục của cả nước ra quân đánh Mỹ, đầu tháng 5 năm 1965, các đơn vị thuộc khối chủ lực miền gồm 4 trung đoàn bộ binh, Đoàn 80 pháo binh, các đội thanh niên xung phong và lực lượng của ngành hậu cần lại lên đường đi chiến dịch.

Mục đích cuộc ra quân lần này là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, đẩy mạnh chiến tranh du kích và hỗ trợ quần chúng phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ của Miền với nam Tây Nguyên, tạo điều kiện mở rộng đường vận tải chiến lược từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Hướng chính của chiến dịch là địa bàn hai tỉnh Bình Long, Phước Long. Hướng phối hợp là năm tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa. Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập do Thiếu tướng Lê Trọng tấn, Phó tư lệnh Miền làm chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Trần Độ, Phó chính ủy Miền làm Chính ủy và đại tá Hoàng Cầm làm Phó Tư lệnh.

Đêm 10 rạng ngày 11 tháng 5 năm 1965, chiến dịch Sông Bé – Phước Long(1) bắt đầu nổ súng.

Hướng chính, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 840 chủ lực Quân khu 6 được tăng cường một trung đội đặc công, sáu khẩu ĐKZ 75, ba khẩu 12,7 tiến công thị xã Phước Long lúc 0 giờ 45 phút. Sau khi chiếm được một số mục tiêu trong thị xã: khu truyền tin, khu cảnh sát, khu huấn luyện, cư xá Mỹ, bộ đội ta trụ lại đánh lui sáu đợt xung phong của địch, diệt 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 36 biệt động quân, bắn rơi 13 máy bay. Chiều ngày 11 tháng 5, các đơn vị rút ra đánh địch ở vòng ngoài.


(1) Sông Bé – Phước Long là tên chiến dịch trong kế hoạch ban đầu. Sau này tên gọi phổ biến là chiến dịch Đồng Xoài do ý nghĩa quan trọng và tiếng vang lớn của trận then chốt chiến dịch diễn ra ở Đồng Xoài.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:36:19 AM
Cùng thời gian Trung đoàn 1 đánh Phước Long, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 chúng tôi tiến công chi khu quân sự Phước Bình. Đây là một cứ điểm nằm trên trục đường số 2 cách thị xã Phước Long 9km về phía nam do 2 đại đội bảo an và dân vệ phòng giữ. Xung quanh chi khu có các dinh điền, “ấp chiến lược”. khi bị ta tiến công quân địch ở đây có thể gọi pháo ở Phước Long hoặc máy bay đến chi viện. Do chưa bị ta đánh lần nào nên sĩ quan, binh lính địch đều chủ quan. Trước trận đánh, trinh sát của tiểu đoàn và trung đoàn đã nghiên cứu nắm chắc địa hình xung quanh chi khu, hệ thống công sự, vật chướng ngại ở tiền duyên và tung thâm, nắm được một phần quy luật hoạt động của địch. Công tác hậu cần khắc phục nhiều khó khăn, bảo đảm được các yêu cầu của đơn vị về đạn, thuốc nổ, bộc phá.

Công tác chính trị xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ quyết tâm cao trong chiến đấu. Quá trình hành quân tiếp cận, các phân đội đều giữ được bí mật, an toàn. Sau 3 phút pháo bắn chế áp, tiểu đoàn trưởng phát hiện quân địch trong chi khu bị tê liệt, đã lệnh cho các mũi chớp thời cơ đánh bộc phá, nổ mình ĐH10 mở cửa, thọc sâu chiếm lĩnh các mục tiêu. Đại đội 7 chiếm được đầu cầu, nhanh chóng phát triển, diệt lô cốt mẹ. Đại đội 6 đánh chiếm nhà quận trưởng, phát triển sang khống chế sân bay. Đại đội 8 mở được ba lớp rào thì phát hiện các đơn vị bạn đã chiếm đầu cầu. Đại đội trưởng xử lý linh hoạt cho dừng bộc phá, tổ chức cho bộ đội vượt qua lớp rào cuối cùng, đánh chiếm nhà lính số 3, bắt liên lạc với Đại đội 6. Bị mất chỉ huy ngay từ đầu, bị bộ đội ta chế áp, chia cắt, quân địch không kịp đối phó, nhanh chóng bị tiêu diệt.

Đây là một trận công kiên xuất sắc, trong 25 phút, một tiểu đoàn của ta đã đánh chiếm được một chi khu quân sự, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Diệt 140 tên, bắt 105 tên, thu 221 khẩu súng và nhiều đồ dùng quân sự. Tiểu đoàn 5 chỉ có ba chiến sĩ bị thương nhẹ.

Những năm sau này, khi nhớ lại trận Phước Bình, đồng chí Hoàng Cầm – Phó Tư lệnh chiến dịch cho rằng đây là một trong những trận đánh “ngon” nhất mà ông được chứng kiến.

Đợt một chiến dịch mở đầu bằng những thắng lợi giòn giã. Mỹ - ngụy phải mở các cuộc hành quân giải tỏa bằng đường bộ và cơ động bằng máy bay lên thẳng, đổ quân xuống Phước Long và Phước Bình. Do phán đoán khu vực đổ quân của địch không chính xác, các trận đánh quân viện trong cuối tháng 5 ít hiệu quả.

Ngày 9 tháng 6 năm 1965, chiến dịch bước vào đợt 2. Bộ chỉ huy chiến dịch xác định nhiệm vụ then chốt và mục tiêu của đợt này là tiêu diệt chi khu Đồng Xoài, sau đó khống chế, buộc địch phải đổ quân xuống khu vực ta đã chuẩn bị và tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch.

Chi khu quân sự Đồng Xoài (địch gọi là Đôn Luân) thuộc tỉnh Phước Long nằm ở ngã tư bốn con đường: liên tỉnh lộ 13, liên tỉnh lộ 1, quốc lộ 14 và đường số 2. Đây là một điểm của tứ giác Đồng Xoài – Phước Long – Chơn Thành – Bình Long trong hệ thống phòng thủ ngoài của địch ở phía bắc Sài Gòn, một điểm khống chế các đường giao thông huyết mạch nối liền miền Đông Nam Bộ với nam Tây Nguyên và Campuchia.

Lực lượng địch ở Đồng Xoài có bốn đại đội biệt kích, một đại đội bảo an, một đại đội dân vệ, hai trung đội cảnh sát, một chi đội cơ giới (7 xe), 2 khẩu pháo 105 và nhiều loại hỏa lực khác. Chúng xây dựng năm lô cốt chính, nhiều hầm ngầm và hệ thống công sự bảo vệ từng khu vực. Từ sau khi ta đánh thị xã Phước Long và chi khu Phước Bình, địch tăng cường tuần tra, đêm đêm báo động. Mỗi lần báo động (kéo dài 5 đến 10 phút), tất cả các loại hỏa lực trong chi khu đều bắn ra dồn dập và mãnh liệt như một trận đánh thực sự.

Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 2 (do Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm, Chính ủy Nguyễn Văn Quang, Tham mưu trưởng Trần Soa, Chủ nhiệm chính trị Phan Khéo chỉ huy tiêu diệt chi khu Đồng Xoài, sau đó trụ lại không cho địch đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống chi khu mà buộc chúng phải đổ xuống phía bắc, nơi Trung đoàn 1 đã bố trí lực lượng đón sẵn.

Để bảo đảm đánh chắc thắng, Trung đoàn 2 được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3, 1 tiểu đoàn pháo binh của Miền (4 khẩu sơn pháo 75, một đại đội ĐKZ 75 (67 khẩu), một đại đội súng máy 12,7 ly, một đại đội cối 82 ly và một đại đội súng phun lửa.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:38:51 AM
Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn đề ra tư tưởng chỉ đạo tác chiến là “tiến công kiên quyết”. Toàn trung đoàn náo nức không khí ra trận, thi đua lập công giành cờ “Quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.

(https://lh3.googleusercontent.com/Sd8CfUAZu9C1DlmmkDsYtK9FkF3_-RHcKl9umXy1R_cXvfC_X9lwWkCKN2D2eNY1getJPwT8LEfYqMeEBEnuHvX7Q3_uzBwiqVmUNF7FDuPLgFUNqUUlZRX793NrNzNhNmVAjQQrdwJ8p686lJRY_IwbDUIxgP--gTE63AaXVRzRssPw9RgyeHGOoeagqJNVcXWzpyuO4wh__y9SF-K63sTon8VYHU-cs64H2ensJp_UmWu-zub2W6QxZkLdL_VPEl7fFdQM2PAc8GiQr3cVXvHPa8f147y8591NDrQbI4jD816B6imT17MMVFsEd9ReJMZpEC1wjIeCOxgu2ime4FhcnH_fdF9kuMgOPgQ-xKrK-5AA7qj1Lv8oejKFv8R_dQJCPL9l00n8Xi3-gSLKgnkweiIFrxcjmILvP5uC5qkwl7J_SE5kjLif7OjoOgRqVvTFrJR3OJSIixsfsAGwjvMRXhmkhhJcNYWqHK8BW3sKyAXSiDKY383nRCz7TEJUeb561JdW9EDeqGisyHpsEjGnghXi3MzwqImxeK0QblgByGKd_XkA_bLsS9lLoeJGR4eTaCnZbyIneier5pUxEYMv2u8rK6B5KCB_7T_xd9BTNIcXBlt1s6XD-OY4xV576iB2RrSIx_5_RwEshQghyOD9-r_uDUw=w800-h534-no)

Bàn phương án đánh Đồng Xoài
Trong ảnh: Người cầm bút: Trương Văn Đàng

Đối với cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi, nhiều người tự viết khẩu hiệu dán lên nón, lên báng súng và cả bao xe đạn trước ngực với nội dung: “Quyết tử giải phóng Đồng Xoài”, “Bị thương nặng không kêu la, bị thương nhẹ không rời trận địa”, “Quyết tâm dứt điểm Đồng Xoài, không dứt điểm không về”…

Chứng kiến hình ảnh mang khí thế quyết tử của chiến sĩ trước khi xung trận như vậy, cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi rất tự hào về cán bộ chiến sĩ đơn vị mình. Tôi cố nén xúc động, nói nhỏ với chính trị viên tiểu đoàn: “Anh em mình thật gan góc quá!”.

Trưa ngày 9 tháng 6, Tiểu đoàn 4 chúng tôi rời vị trí tập kết, hành quân chiếm lĩnh trận địa. Một cụ già đi làm nương, thấy bộ đội ta hành quân về hướng Đồng Xoài đã đón đường khuyên can:

- Các chú đi đánh Đồng Xoài phải không? Thôi đừng đánh nữa, đánh không nổi đâu. Nó mới tăng quân đông lắm!

Các chiến sĩ vui vẻ trả lời:

- Nó càng đông thì mình diệt nó càng nhiều. Nó đông mấy chúng cháu cũng đánh thắng. Cụ đừng lo.

Theo phương án chiến đấu, thời điểm nổ súng là 24 giờ nhưng vào lúc 22 giờ 40 phút, địch bắn 2 quả pháo 105 ly, sau đó hầu như toàn bộ lực lượng trong chi khu bắn dữ đội về hướng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đang tiếp cận. Có thể đây chỉ là một cuộc báo động mà đêm nào địch cũng tiến hành. Nhưng thấy địch bắn mạnh, mũi đi đầu của Tiểu đoàn 5 tưởng đoàn đã cho đánh nên lệnh cho ĐKZ và đại liên bắn vào các mục tiêu đã được phân công.

Mười phút sau, Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Trên tất cả các hướng, các chiến sĩ xung kích anh dũng xông lên mở cửa. Địch cho cơ giới ra chặn và tập trung hỏa lực vào những nơi phát hiện bộ đội ta tiến công. Bộ binh địch ném lựu đạn và dùng súng phóng lựu vào các cửa mở.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:39:47 AM
Tiểu đoàn 4 chúng tôi phần lớn các chiến sĩ đánh bộc phá bị thương và hy sinh. Một số trận địa pháo bắn thẳng bị trúng đạn địch, pháo bị hỏng. Có khẩu đội đã bắn gần hết đạn. Đại đội trưởng hy sinh và Chính trị viên Đại đội 2 gẫy cả hai chân.

Sau 20 tiến công, bộ đội ta mới mở được hai đến ba lớp hàng rào, chưa mũi nào vào được chi khu. Tôi trực tiếp xuống kiểm tra đơn vị mở cửa và xốc lại lực lượng, chuẩn bị đột phá lần thứ hai và cử Tham mưu trưởng Tiểu đoàn xuống trực tiếp chỉ huy mũi chủ yếu. Tôi điều trợ lý tham mưu Quách Thanh Quang (Hai Quang) xuống làm Đại đội phó Đại đội 2, đưa khẩu sơn pháo 75 lên gần hơn, điều thêm đạn cho các hỏa khí bắn thẳng và đưa các tổ bộc phá dự bị lên thay; đồng thời lệnh cho anh Tạ Quang Tỷ, Đại đội trưởng Đại đội 1 và đồng chí Hà Văn Cheo, trợ lý chính trị tiểu đoàn sang làm Đại đội trưởng và Chính trị viên Đại đội 2, đơn vị chủ công.

Một giờ sáng ngày 10 tháng 6, các mũi tổ chức đột phá lần hai. Rút kinh nghiệm đợt 1 tôi điều các khẩu đội hỏa lực: sơn pháo 75, ĐKZ75, trọng liên 12,7 ly, đại liên, súng phun lửa… lên gần hơn, tập trung chế áp các hỏa điểm địch. Có khẩu đội đưa súng lên sát hàng rào, bờ tường công sự chi viện cho bộ binh đánh chiếm đầu cầu.

Hết bộc phá mà hàng rào vẫn còn, bộ đội ta vượt, chui qua hàng rào vào căn cứ địch. Sơn pháo 75, ĐKZ 57 và ĐKZ 75, súng cối hết đạn thì dùng súng phun nửa, trung liên bắn kiềm chế địch cho bộ đội mở cửa.

Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ hội ý chi ủy ở ngay tuyến xuất phát xung phong, phân công cán bộ xuống từng mũi, động viên và tổ chức bộ đội lên sát hàng rào để khi bộc phá nổi sẽ chớp thời cơ xung phong. Hỏa lực của đại đội chỉ còn một quả đạn ĐKZ 75, một ống bộc phá sào, 100 viên đạn 12,7 ly được sử dụng cho viện cho mũi chủ yếu.

Bộc phá vừa nổ, đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm được đồn địch. Bị thương vào cánh tay, anh tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu và cùng đồng đội đưa thương binh, tử sĩ về phía sau

Sau trận đánh này, các chiến sĩ trong đại đội tặng đại đội trưởng của mình danh hiệu thứ hai “Đại đội trưởng đột phá”.

Vừa tổ chức xong mũi đột phá thì tôi nhận được báo cáo của Đại đội 3 bằng máy bộ đàm:

- Đại đội đang đánh quyết liệt với 1 đại đội biệt kích của địch án ngữ, cách ấp chiến lược Đồng Xoài 500 mét về phía bắc. Ta đã đánh chiếm được 1 công sự, Chính trị viên đại đội Phan Văn Mạnh hy sinh, Đại đội trưởng Lê Minh Liên và Đại đội phó Nguyễn Văn Hiền bị thương nặng.

Nghe báo cáo xong, tôi ra lệnh cho Chính trị viên phó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ứng (Út Ứng) và trợ lý tham mưu Hai Quang sang củng cố và trực tiếp chỉ huy Đại đội 3 tiếp tục đánh bọn biệt kích, sau đó phát triển sang ấp chiến lược Đồng Xoài.

Tôi dặn:

- Chiếm xong ấp chiến lược thì báo cáo về tiểu đoàn, đánh không được đừng báo cáo mà cũng đừng trở về đây gặp tôi…!

Gần 01 giờ sáng ngày 10 tháng 6, ấp chiến lược Đồng Xoài được Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 chúng tôi giải phóng hoàn toàn. Ta bắt sống 60 tù binh gồm cả lính dân vệ, bảo an và biệt kích.

Khi biết được đại đội của Bảy Tỷ đã đột phá thành công, tôi ra lệnh bằng điện thoại cho Út Ứng và Hai Quang củng cố Đại đội 3 thành một mũi đánh cặp theo quốc lộ 14, mở cửa từ hướng đông, đánh thẳng vào sở chỉ huy quận trưởng, bắt liên lạc với Bảy Tỷ.

Chấp hành mệnh lệnh, Đại đội 3 xốc lại đội hình còn sáu tay súng bộ binh, hỏa lực có một khẩu ĐKZ và một đại liên vừa thu được của địch với rất nhiều đạn. Hai Quang cùng Trần Văn Tảo (sau này là Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân đoàn 4) dùng thủ pháo mở rào, đại đội xông lên diệt ngay chiếc “bù lu” (lại xe nồi đồng, bánh hơi, có pháo tự hành 70 ly) ngay cửa mở. Toàn đại đội nhanh chóng thọc sâu và phát triển vào tung thâm bắt liên lạc được với Bảy Tỷ.

Đến 05 giờ sáng ngày 10 tháng 6 ta chiếm được phần lớn các mục tiêu trong chi khu Đồng Xoài, làm chủ hoàn toàn khu biệt động quân, bảo an và khu hành chính.

Cho đến gần sáng ngày 10 tháng 6, bộ đội ta đã chiếm lĩnh phần lớn các mục tiêu trong chi khu. Tiểu đoàn 4 làm chủ khu biệt động quân, Tiểu đoàn 5 chiếm khu bảo an và khu hành chính. Theo phương án chiến đấu, các đơn vị trụ lại, đào công sự, sẵn sàng đánh quân địch phản kích.

Trời sáng, hàng chục máy bay phản lực hiện đại cất cánh từ hạm đội 7 và các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất đến nem bom phá, bom napan vào các khu vực chúng nghi là trận địa ta, nhất là ở phía tây, tây bắc chi khu. Một số công sự bị sập. Thêm nhiều chiến sĩ hy sinh và bị thương vì bom địch. Nhiều căn nhà trong chi khu trúng bom, bốc cháy dữ dội. Bộ đội ta phải đào công sự ẩn nấp dọc theo các bờ tường, lấy ngay súng và đạn của địch bắn trả máy bay địch, kiên quyết giữ vững trận địa, không cho địch đổ quân bằng máy bay lên thẳng và phản kích chiếm lại các khu vực đã mất.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:41:23 AM
Trời nắng gay gắt. Cơm và nước uống không kịp đưa ra các chiến hào. Gạo rang và các bi đông nước còn lại đều phải dành cho thương binh, nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ đều đứng vững trên trận địa, dưới mưa bom của địch.

Khoảng 3 giờ chiều, địch dùng trực thăng đổ tiểu đoàn 52 biệt động quân xuống đông bắc chi khu. Tôi lệnh cho Đại đội 3 nhanh chóng tổ chức chặn đánh. Sau 30 phút chiến đấu, Đại đội 3 diệt gần hết một đại đội, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Trước tình hình không thể cứu vãn được nữa, địch cho máy bay ném bom xuống trung tâm chi khu và khu biệt động quân. Nhiều tên địch còn sống sót trong chi khu đã bị trúng bom. Số chạy ra ngoài bị Tiểu đoàn 4 chúng tôi bắt hầu hết. Hai xe “bù lu” chạy về hướng Phước Vĩnh bị bộ đội, dân công tải thương chặn bắt ở dốc Tà Bế - nơi 18 năm về trước, ngày 19 tháng 12 năm 1947, quân và dân Biên Hòa đã đánh trận giao thông xuất sắc, diệt quân Pháp xâm lược.

Ngày 11 tháng 6 năm 1965, bộ đội ta thu dọn chiến trường và rút khỏi trận địa.

Trận then chốt Đồng Xoài trong chiến dịch Sông Bé - Phước Long kết thúc sau gần ba ngày đêm chiến đấu ác liệt. Ta diệt 608 tên địch, có 42 cố vấn Mỹ bỏ xác tại trận. Bốn đại độit biệt kích, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105 ly, 1 trung đội cảnh sát, 1 chi đội cơ giới bị tiêu diệt. Ta thu 148 khẩu súng và gần hai vạn viên đạn các loại, bắn rơi 7 máy bay.

Trung đoàn 2 cũng bị tổn thất khả nặng: 134 cán bộ chiến sĩ hy sinh, 290 đồng chí bị thương.

Trận then chốt Đồng Xoài còn một kết quả lớn thứ hai, đó là ngay sau khi dứt điểm các mục tiêu chủ yếu trong chi khu, Trung đoàn 2 và các đơn vị được tăng cường đã anh dũng trụ lại, đánh địch phản kích, khống chế đường không, buộc địch phải đổ quân xuống khu vực ta đã lựa chọn, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiêu diệt địch.

Như vậy cả về mặt tiêu diệt địch, đánh chiếm mục tiêu và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo, Trung đoàn 2 đều thực hiện xuất sắc, theo đúng quy định của Bộ chỉ huy chiến dịch. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chính ủy Miền nhận định: Ta đã diệt được Đồng Xoài thì có thể diệt được các căn cứ chi khu khác ở miền Đông Nam Bộ.

Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965, chiến dịch Sông Bé – Phước Long bước vào đợt chiến đấu thứ ba. Theo sự phân công của Bộ chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 tiếp tục hoạt động ở khu vực Phước Long, Trung đoàn 2 có sở trường đánh cơ giới chuyển về hoạt động trên đường 13. Sau hai đợt chiến đấu liên tiếp, cả ba trung đoàn đều bị tiêu hao. Quân số, vũ khí mới được bổ sung một phần. Thời gian nghỉ ngơi, củng cố chưa được 20 ngày. Nhưng từ cán bộ đến chiến sĩ đều quyết tâm rất cao. Chiến thắng giòn giã, càng đánh càng thắng lớn trong hai đợt trước có sức cổ vũ lớn đối với đơn vị.

Với truyền thống “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”, Trung đoàn 2 đã mở đầu đợt ba chiến dịch bằng một chiến công xuất sắc.

Đêm 15 tháng 7 năm 1965, Tiểu đoàn 4 chúng tôi phối hợp một bộ phận Tiểu đoàn tập kích cụm bộ binh cơ giới của trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy tại Bàu Bàng diệt 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe cơ giới và sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn này, bắt sống tên trung đoàn trưởng.

Nhân dân Bàu Bàng được bổ đội ta giải phóng khỏi ách kìm kẹp của địch trong “ấp chiến lược” từ mấy tháng trước đã tận tình giúp đỡ, động viên bộ đội trong quá trình chuẩn bị và diễn biến trận đánh.

Đáp lại sự giúp đỡ và niềm tin của nhân dân, bộ đội ta nhắc nhau không bắn vào nhà dân, hết sức bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Từ Đường Long (Bến Cát) đến Bình Giã, Đồng Xoài, các Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 cùng các đơn vị binh chủng khác thuộc khối chủ lực Miền đã trưởng thành nhanh chóng về trình độ chiến đấu. Bốn trận công kiên, hai trận vận động phục kích đánh quân viện, năm trận đánh giao thông, một trận tập kích dã ngoại trong chiến dịch Đồng Xoài đều thắng lợi giòn giã. Đơn vị nào cũng lập công xuất sắc. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 được thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.

Chiến thắng Sông Bé – Phước Long cùng những con người làm nên chiến thắng sống mãi cùng non sông đất nước. Trung đoàn 2, đơn vị chiến thắng trong trận then chốt của chiến dịch – trận tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài, được Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trao cờ thưởng luân lưu “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” và được tặng danh hiệu vẻ vang: “Trung đoàn Đồng Xoài”.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Năm, 2019, 07:44:25 AM
*

Từ đầu năm 1965, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, đồng thời đưa quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến ở miền Nam. Tháng 7 năm 1965, tổng thống Giônxơn chính thức thông qua quyết định tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Một kế hoạch chiến tranh mới gồm ba giai đoạn(1), do tướng Oétmolen – Tư lệnh Bộ chỉ huy lục quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đề ra bắt đầu được thực hiện từ mùa hè năm 1965. Mục tiêu, lực lượng và biện pháp chủ yếu của kế hoạch này là dùng quân viễn chinh Mỹ, tìm diệt bộ đội chủ lực quân giải phóng ở chiến trường, “đánh gãy xương sống Việt cộng”.

Đánh giá đúng âm mưu và hành động xâm lược mới của đế quốc Mỹ, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 3 năm 1965) đã đề ra chủ trương: “Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công địch. Nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốc phòng…”.

Tháng 5 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh động viên thời chiến. Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Bác kêu gọi: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(2).

Đáp lời kêu gọi thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của Bác, quân đội ta đã phát triển đặc biệt nhanh chóng về quân số và tổ chức lực lượng trên cả hai miền Nam, Bắc. Ở miền Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định tập trung các trung đoàn chủ lực ở Tây Nguyên, Quân khu 5 và miền Đông Nam Bộ để thành lập các sư đoàn chủ lực cơ động. Quyết định thành lập Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5 ở miền Đông Nam Bộ đã được thông báo chính thức tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Đồng Xoài (tháng 8 năm 1965).

Ngày 2 tháng 9 năm 1965, tại một khu rừng bên bời suối Nhung, huyện Phước Thành (tỉnh Bình Long, nay thuộc tỉnh Bình Phước), Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 9 “Sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Miền, hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ”. Để giữ bí mật, sư đoàn mang mật danh “Công trường 9”. Trong đội hình Sư đoàn 9 có 3 trung đoàn bộ binh (1, 2 và 3), một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng, bảo đảm và phục vụ, 3 cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần).

Trong đội hình của Sư đoàn 9 có cán bộ, chiến sĩ quê ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều cán bộ quê ở miền Nam hoặc quen thuộc chiến trường miền Nam, được tổ chức thành các trung đoàn chủ lực trên miền Bắc rồi hành quân vào chiến trường. Có những thanh niên nặng lòng căm thù Mỹ - Diệm, trưởng thành lên trong phong trào Đồng khởi ở các địa phương rồi gia nhập quân giải phóng. Lại có những cán bộ mới lần đầu đặt chân lên đất miền Đông. Nhưng tất cả những con người ấy đã đứng trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, những đơn vị chủ lực đầu tiên, đã từ trong gian lao, anh dũng của miền Đông những năm đầu chống Mỹ mà trưởng thành lên và nay tập hợp thành một sức mạnh mới.

Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân đội ta tổ chức được hai đơn vị cấp sư đoàn. Về chức năng, nhiệm vụ, Sư đoàn 9 là một sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ, nhưng ra đời và hoạt động ở chiến trường miền Đông, trực thuộc sự lãnh đạo và chỉ huy của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Sư đoàn 9 là con đẻ của nhân dân miền Đông, một sư đoàn chủ lực cơ động tại chỗ của chiến trường Đông Nam Bộ.


(1) Gai đoạn 1: ngăn chặn chiều hướng thua của quân ngụy.
(2) Hồ Chí Minh: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970, tr. 362.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:01:26 PM
CHƯƠNG HAI
NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Quân Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam mùa hè năm 1965 là một bước ngoặt lớn trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Tàu chiến, máy bay vận tải cỡ lớn của Mỹ tới tấp đổ quân xuống các bến cảng, các sân bay. Lính Mỹ xuất hiện ngày càng nhiều trên các đường phố, các căn cứ, với đủ mặt các đơn vị lừng danh của quân đội Hoa Kỳ.

Trong lịch sử 200 năm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đây là một trong những lần Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn nhất vào một cuộc chiến tranh ở ngoài nước Mỹ.

Quân Mỹ vào miền Nam nước ta làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường. Hỏa lực bom, pháo tăng lên đột ngột. Chiến sự diễn biến sôi động và ngày càng ác liệt. Quân ngụy có chỗ dựa trực tiếp là đội quân viễn chinh Mỹ, tạm thời vượt qua nguy cơ sụp đổ. Chúng lùi về giữ tuyến trong làm nhiệm vụ giữ địa bàn và hỗ trợ kế hoạch “bình định” nông thôn. Quân Mỹ là lực lượng cơ động, nhiệm vụ chính là mở các cuộc hành quân “tìm diệt” bộ đội chủ lực của ta.

Sau chiến thắng Đồng Xoài, khí thế chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường miền Đông lên rất cao. Trên đà thắng lợi và phát triển quyền chủ động tiến công địch, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Dầu Tiếng trong Đông Xuân 1965 – 1966 nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, hỗ trợ các lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ Dầu Một và vùng Bắc Sài Gòn mở rộng vùng giải phóng. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, các đơn vị đều phải sẵn sàng phương án, nếu quân Mỹ ra sẽ kịp thời chuyển sang đánh Mỹ.

Đầu tháng 10 năm 1965, trong khi đi chuẩn bị chiến trường, tổ trinh sát của Trung đoàn 2 chúng tôi do Lê Chiến Thắng chỉ huy bất ngờ gặp quân Mỹ đang càn quét ở khu vực Lai Khê. Với hai quả mìn ĐH10 và súng bộ binh, các chiến sĩ ta dũng cảm tiến công, diệt và làm bị thương gần một trung đội Mỹ rồi rút lui an toàn. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên của Sư đoàn 9.

Phát hiện nhiều đơn vị chủ lực ta hoạt động ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn, tướng Oét-mo-len quyết định sử dụng sư đoàn 1 bộ binh “anh cả đỏ” mở cuộc hành quân “tìm diệt”.

Ngày 10 tháng 11 năm 1965, hai tiểu đoàn bộ binh tăng cường thuộc lữ đoàn 3 của sư đoàn này xuất phát từ Lai Khê, theo đường 13 hành quân lên phía bắc. Chiều hôm đó, một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, một đại đội pháo binh và sở chỉ huy nhẹ lữ đoàn đóng quân ở một bãi trống tây bắc “ấp chiến lược” Bàu Bàng. Một tiểu đoàn bộ binh và một chi đoàn xe thiết giáp đóng quân ở nam “ấp chiến lược” Đồng Sổ. Chúng đóng quân dã ngoại thành từng cụm, hình vòng, liên kết với nhau, được sự chi viện hỏa lực của các trận địa pháo binh và không quân. Mỗi cụm lấy cơ giới làm nòng cốt, tuyến ngoài có bộ binh làm nhiệm vụ cảnh giới; tuyến trung là các cụm nhỏ, kết hợp bộ binh và cơ giới. Nếu tuyến bộ binh bên ngoài bị chọc thủng, bộ binh ở tuyến trong sẽ dựa vào cơ giới và phát huy hỏa lực của cơ giới để chống lại ta. Ban ngày chúng phòng ngự tương đối rộng, ban đêm thu hẹp đội hình để giữ bí mật, bất ngờ và bảo vệ cho nhau. Cụm thứ nhất chuyển từ bắc xuống nam Bàu Bàng 200 mét. Cụm thứ hai chuyển từ nam lên bắc Đồng Sổ.

Lúc này, Trung đoàn 2 đang tiếp tục thực hiện kế hoạch chuẩn bị để đánh Dầu Tiếng. Trong phương án chiến đấu, Ban chỉ huy Trung đoàn đã dự kiến tình huống quân Mỹ nống ra đường 13, đường 16 và mở màn chiến dịch có thể là một trận tập kích hoặc phục kích quân Mỹ chứ không nhất thiết là trận tiến công quận lỵ Dầu Tiếng.

Sáng ngày 11 tháng 11, nhận được tin của trinh sát Trung đoàn 2 về cuộc hành quân của quân Mỹ, Đảng ủy và chỉ huy Sư đoàn 9 hạ quyết tâm sử dụng Trung đoàn 2, tăng cường Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, hai đại đội bộ binh Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 và phần lớn pháo, cối của sư đoàn vận động, tập kích tiêu diệt cụm quân địch ở bắc Bàu Bàng trong đêm.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:03:07 PM
Chiều tối hôm đó, nghe trinh sát báo tin địch đã thay đổi lực lượng và thế bố trí. Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp bổ sung quyết tâm: dù địch có thay đổi vị trí nhưng di chuyển không xa, lực lượng địch đông (2 tiểu đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng), nhưng chúng đóng quân dã ngoại ở trảng trống, công sự sơ sài, có nhiều sơ hở. Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm quyết định sử dụng lực lượng toàn sư đoàn diệt cả hai cụm quân địch, dù sáng cũng đánh, kiên quyết dứt điểm.

24 giờ đêm 11 rạng ngày 12, Sư đoàn trưởng giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị. Tình hình hết sức khẩn trương. Đơn vị ở xa mất bảy giờ, đơn vị ở gần địch cũng mất bốn giờ hành quân mới đến vị trí chiếm lĩnh. Bộ đội phải chạy bộ. Có đơn vị giao nhiệm vụ cho các tổ, mũi ngay trên đường hành quân, tranh thủ lúc nghỉ và lợi dụng ánh trăng, dùng que vẽ sơ đồ lên mặt đường để bàn phương án chiến đấu. Do phải hành quân gấp, phần lớn các ban chỉ huy trung đoàn không liên lạc được với tiểu đoàn của mình. Sư đoàn chỉ liên lạc được với Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, nhưng tin vào nhiệm vụ đã giao cụ thể cho các đơn vị, quyết tâm chiến đấu rất cao của bộ đội và truyền thống hiệp đồng theo tiếng súng, Sư đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 nổ súng lúc 5 giờ 3 phút ngày 12 tháng 11. Nhận được lệnh mũi đột phá nhanh chóng vượt qua tuyến bộ binh phía ngoài, sau đó phát triển, diệt bộ binh và cơ giới ở tuyến trong.

Nghe tiếng súng của đơn vị bạn, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 đột phá qua đường 13, chia cắt cụm phía bắc với cụm phía nam của địch. Bị ta đánh bất ngờ, quân địch lúng túng, sau 30 phút mới tổ chức được hỏa lực và cơ giới chống trả. Từ các hướng, bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu, chia cắt quân địch thành từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Một trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 đánh trúng sở chỉ huy địch. Mất chỉ huy, quân Mỹ trở nên rối loạn. Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 đánh cắt ngang cụm quân địch ở Đồng Sổ và Bàu Bàng rồi tỏa ra hai bên, bao vây, chia cắt, không cho địch dàn trận đánh theo kiểu chính quy. Kết hợp xung lực và hỏa lực diệt từng xe cơ giới, từng cụm nhỏ quân địch, tạo thế xen kẽ, đánh gần, hạn chế hỏa lực pháo binh và không quân địch, bộ đội ta nhanh chóng đẩy quân Mỹ vào thế bị động, dẫn đến tan vỡ từng mảng và bị tiêu diệt từng cụm. Trận đánh kết thúc lúc 8 giờ 40 phút ngày 12 tháng 11.

Hai tiểu đoàn, hai chi đoàn xe thiết giáp Mỹ (khoảng hơn 2.000 tên) bị loại khỏi vòng chiến đấu. Bộ đội ta phá hủy 39 xe (phần lớn là xe tăng, xe bọc thép), 8 khẩu pháo, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự. Sư đoàn 9 có 109 cán bộ chiến sĩ hy sinh, 200 đồng chí bị thương. Tỷ lệ thương vong là địch năm, ta một.

Sư đoàn bộ binh 1 “anh cả đỏ” Mỹ bị thua và thua lớn ngay trong trận đầu ra quân trên chiến trường Việt Nam. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn sử dụng sư đoàn này làm lực lượng đột kích mạnh với ý định tiêu diệt một đơn vị chủ lực Quân giải phóng để gây thanh thế, giành quyền chủ động ngay trong bước mở đầu mùa khô 1965-1966. Nhưng khi chúng tạm dừng, tổ chức đóng quân dã ngoại vể bảo vệ lực lượng trong đêm, chúng tôi đã đánh trước, giành quyền chủ động về phía mình, phát huy cách đánh vận động tập kích táo bạo, bất ngờ, chia cắt và đánh gần để hạn chế chỗ mạnh của quân Mỹ, đánh đòn tiêu diệt xuất sắc, một trận đánh phủ đầu, hạ uy thế của “quân lực Hoa Kỳ”.

Thắng lợi của trận đánh là kết quả của quá trình xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, tạo nên sự nhất trí cao trong các đơn vị. Đây là kết quả tích lũy của quá trình giáo dục lòng yêu nước, chí căm thù giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Đồng thời là kết quả sự phân tích khoa học, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của quân Mỹ, phát huy dân chủ về quân sự, phát động cán bộ, chiến sĩ hiến kế diệt Mỹ. Do thời gian chuẩn bị cho một trận tập kích thường rất gấp, tôi nghĩ chỉ có một quá trình xây dựng thường xuyên, đến trước trận đánh cán bộ chỉ huy quán triệt thêm, bổ sung những yêu cầu mới thì có thể giành thắng lợi.

(https://lh3.googleusercontent.com/loNT5bmWk1UzuvZJ0O7qUcIaXy4OEZuSACeb9W72qr9zytNABEJeQWK3m660fjLn07ZzMEcEvv0LnYTR0aqmUMlSAJyU1_8SnSY1U4wr3UrHgWg8HJ6SzaU4C_aqV9XNdnH7oVZFTmZHaBjXELHnIbxteMgkHVT-MhqA8DgoRDD4LqPbWjDMv2HoJ2VIQQAQQHxqCpe2pm1HMaIc5rhgGt6--ksVWZuKVEt_kecvcboQvdAaWrI92OIx8RCZoX-W1NrdMJWnIKKDrJxFYg8_wrtGWSr2Sg1NaivIAhQuD8uSecVY09GtQgmzolSBjK3Cpwgalvp_5av28PPo_04DzwH6XhiZe3InYuDKcgnySoMN5WtBkwdwBplS72M00hefCYkh4fRw88dFKx-Gtg3MzMbuz8U2Z9F5XL3cTv-uvqE4-t4GUxUySSHPEYhi9aKnpFqr8LwLVEEvyrtetCWl1P2fxHOAkfom7DpV2yJ1DVfmKshqP2rCoLXdJArQcw6jDq8yHPUowbNsbF9rMVHbhycPOKVlR9XfDphcLZ5Vi7DQEw0LLEGFY_rzYwPembPGcNljVjO2HjWdQzJd_8QQdxzZBisbXB9gctSqJbWekSfs7dbXkEXtwS0gpYrQJBxitrvtN8kbooQGVap4HIyzTOFMzlmKbYA=w800-h539-no)

Họp mặt kỷ niệm 40 năm chiến thắng Bàu Bàng
Trong ảnh từ trái qua phải thứ hai Trương Văn Đàng


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:05:05 PM
Lần đầu tiên Sư đoàn 9 đánh đội hình cấp sư đoàn, và cũng là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân đội ta đánh tập trung quy mô sư đoàn. Qua trận này, sư đoàn tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy chiến đấu, xây dựng tinh thần chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch, phát huy cách đánh bất ngờ, thọc sâu, chia cắt, “bám thắt lưng địch mà diệt” trong chiến thuật vận động tập kích quân địch lâm thời phòng ngự ban đêm. Sau trận đánh, quyết tâm đánh Mỹ và niềm tin thắng Mỹ lên rất cao trong các đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đều khẳng định: với quyết tâm cao, tinh thần tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch và cách đánh thích hợp, sư đoàn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt các đơn vị lớn quân Mỹ - ngụy có cơ giới và phi pháo chi viện.

Cùng với Vạn Tường, Plây Me, trận Bàu Bàng của Sư đoàn 9 là những chiến thắng lớn, mở đầu trang sử đánh Mỹ hào hùng của quân và dân ta trên chiến trường. Nó cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua đánh giặc Mỹ xâm lược, góp phần khẳng định quyết tâm: Dám đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh Mỹ.

Mười ngày sau trận Bàu Bàng, ngày 21 tháng 11 năm 1965, phát hiện một đoàn xe cơ giới gồm hơn 300 chiếc của quân Mỹ đang hành quân trên đoạn đường từ Căm Xe đến Dầu Tiếng, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 chúng tôi chặn đánh đoàn xe. Tôi giao nhiệm vụ cho Đại đội 1 chặn đầu, Đại đội 2 khóa đuôi.

Chúng tôi cho bộ đội cắt đường, xuyên rừng, vượt qua nhiều bãi bom B-52, chia cắt một khúc trong đoàn xe lớn của địch. Đại đội 1 bắn cháy một xe, chặn đầu. Đại đội 2 do Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ chỉ huy bắn cháy một chiếc khác, khóa đuôi. Một đoạn của đoàn xe bị ùn lại, nhân cơ hội đội hình xe của địch rối loạn, các chiến sĩ ta thi nhau dùng hỏa lực và thủ pháo vừa diệt xe địch vừa chặn đoàn xe đi sau đang tràn tới, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt địch.

Sau khi phá hủy hơn 20 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ, Tiểu đoàn 4 rút khỏi trận địa an toàn.

Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ được các chiến sĩ yêu mến, khân phục, tặng danh hiệu thứ ba: “Đại đội trưởng khóa đuôi”.

Trong khi đó, ở khu vực Dầu Tiếng, các cán bộ tham mưu, chiến sĩ trinh sát của sư đoàn vẫn kiên trì chuẩn bị các trận đánh quân ngụy theo kế hoạch.

Trung tuần tháng 11, trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy mở nhiều cuộc hành quân càn quét các làng 10, 18, 21, 22; tiếp đó càn vào các làng 2, 6, 14 nhằm thăm dò lực lượng ta, hỗ trợ bảo an, dân vệ giữ “ấp chiến lược”, bảo vệ các đường giao thông huyết mạch.

Ngày 21 tháng 11 năm 1965, Trung đoàn 3 vận động tập kích cụm quân ngụy ở làng 10, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 26 xe quân sự (có 10 xe bọc thép M113).

Chiều ngày 26 tháng 11, được trinh sát báo tin quân ngụy đang ở làng 14, chỉ huy Trung đoàn 1 lập tức ra lệnh cho bộ đội xuất kích. Trên đường hành quân, phát hiện địch đã di chuyển đến làng 18, đóng quân dã ngoại ở gần làng 32, 33, chỉ huy trung đoàn nhanh chóng cho trinh sát bám sát tình hình, làm công tác chuẩn bị chiến đấu trong quá trình chiếm lĩnh trận địa. Tranh thủ lúc địch chủ quan, sơ hở, chưa củng cố công sự, trung đoàn quyết định tập trung toàn bộ lực lượng đánh nhanh, đánh mạnh tiêu diệt quân địch ngay trong đêm 26 rạng ngày 27 tháng 11 năm 1965.

Tiểu đoàn 2 đột kích hướng chủ yếu: Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 tiến công hai bên sườn và tạo thế bao vây chia cắt, không cho địch tháo chạy. Từ 5 giờ đến 12 giờ trưa ngày 27 tháng 11, trung đoàn 1 đã tiến công dũng mãnh, thực hiện chia cắt, đánh gần, tiêu diệt từng cụm quân địch; sau đó trụ lại dưới hỏa lực phi pháo ác liệt của chúng, đánh lui nhiều đợt phản xung phong của của địch, diệt 2 tiểu đoàn (1 và 3), tiêu hao nặng tiểu đoàn 4 và toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy.

Trận này ta diệt và bắt 1.200 tên, trong đó có tên trung tá trung đoàn trưởng, tên thiếu tá trung đoàn phó. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, một trung đoàn của ta diệt một trung đoàn chủ lực ngụy trong một trận chiến đấu.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:06:18 PM
Ngày 5 tháng 12 năm 1965, phát hiện hai tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1 bộ binh Mỹ ở khu vực Thị Tỉnh - Nhà Mát đến Bàu Da Dốt thuộc xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi ở cách đó 5 km. Tôi nhận được lệnh tiến công quân Mỹ.

Tôi cho Đại đội 1 nhanh chóng cắt rừng, vượt lên trên đội hình đang hành quân của quân Mỹ, chặn chúng lại. Đồng thời lệnh cho Đại đội 2 (chủ công) đuổi theo đánh vào phía sau. Quân Mỹ có hỏa lực không quân và pháo binh chi viện, chống trả quyết liệt. Chúng ném cả bom bi, bom xăng để sát thương bộ đội ta, quyết tạo ra sự ngăn cách với ta bằng hỏa lực. Vận dụng kinh nghiệm đánh Mỹ trong trận Bàu Bàng chúng tôi kiên quyết bám sát, đánh gần, chia cắt địch thành từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Tôi còn nhớ Trung đội trưởng Đức, vóc người nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn và mưu trí đã quật ngã một tên Mỹ cao lớn. Trận đánh kéo dài từ 10 giờ đến 16 giờ. Tiểu đoàn 4 chúng tôi đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ, thu 40 khẩu súng.

Kể từ trận đầu đánh Mỹ ở Đất Cuốc, trong thời gian gần một tháng đầu mùa khô 1965-1966, chúng tôi đã liên tục và chủ động đánh 12 trận vừa và nhỏ, phổ biến đánh quy mô tiểu đoàn và tiểu đoàn tăng cường. “Trung bình một tiểu đoàn của ta diệt một tiểu đoàn của Mỹ; hai chiến sĩ ta diệt một tên Mỹ”.

Đầu năm 1966, đế quốc Mỹ huy động toàn bộ lực lượng quân Mỹ, ngụy và chư hầu mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất với quyết tâm “tìm diệt” bộ đội chủ lực Quân giải phóng, “bẻ gãy xương sống Việt cộng” giành lại quyền chủ động chiến trường. Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1968, chúng mở liên tiếp 405 cuộc hành quân càn quét, trong đó có nhiều cuộc hành quân lớn, đánh ra năm hướng, trên hai khu vực chính là miền Đông Nam Bộ và miền Trung Trung Bộ.

Ở miên Đông Nam Bộ, máy bay chiến lược B-52, máy bay chiến thuật, “pháo bầy” đánh liên tục và ác liệt các căn cứ Dương Minh Châu, Bời Lời, Long Nguyên, Củ Chi, Chiến khu Đ, Xuyên Mộc, Hát Dịch. Quân Mỹ mở nhiều cuộc hành quân lớn đánh phá các căn cứ, “tìm diệt” Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5 chủ lực Miền.

Ngày 15 tháng 2 năm 1966, hai tiểu đoàn bộ binh thuộc lữ đoàn 1, sư đoàn 1 bộ binh “anh cả đỏ” và 2 chi đoàn thiết giáp mở cuộc hành quân “Hòn đá lăn” đánh phá Chiến khu Đ, quân Mỹ đóng chốt ở Sở cao su Nhà Đỏ trong khu tam giác Lai Khê, Phước Vĩnh, Tân Uyên nhằm giữa đường 13 và tỉnh lộ 16. Ban ngày, chúng nống ra càn quét các khu vực Cốn Xanh, Bình Mỹ… Ban đêm rút về đóng dã ngoại bên dòng suối Bông Trang. Hành động của địch diễn ra thành quy luật như vậy, trong hơn một tuần từ 15 đến 21 tháng 2.

Theo dõi, nắm được quy luật hoạt động của địch, Đảng ủy, Bộ chỉ huy Sư đoàn 9 quyết định tập trung lực lượng toàn sư đoàn, vận động tập kích cụm quân Mỹ đóng dã ngoại ở phía tây Sở cao su Nhà Đỏ. Trung đoàn 1 đột phá hướng chủ yếu, từ đông bắc đánh xuống. Trung đoàn 3 dột phá hướng thứ yếu, từ tây nam đánh lên. Trung đoàn 2 làm lực lượng dự bị của sư đoàn.

1 giờ 20 phút đêm 23 rạng ngày 24 tháng 2 năm 1966, các loại hỏa lực của sư đoàn bắn đồng loạt, nhiều viên trúng sở chỉ huy địch. Bảy phút sau, các mũi bắt đầu xung phong. Bị đánh mạnh và bất ngờ, quân Mỹ bỏ tuyến ngoài, chạy vào tuyến trong, dựa vào cơ giới và hỏa lực chống trả. Các tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 phải tổ chức lại đội hình, đưa lực lượng dự bị vào tiếp tục đột phá, chia cắt địch thành từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Chiến sĩ Trần Thành Hiệp dùng lưỡi lê diệt một số tên. Quân Mỹ rối loạn, chỉ huy lúng túng trước lối đánh gần, không phân tuyến và rất dũng mãnh của đối phương. Sau hơn 3 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gần hết cụm quân địch (khoảng 1.200 tên Mỹ chết và bị thương, trong đó có sở chỉ huy nhẹ của lữ đoàn 1), phá hỏng 48 xe quân sự (phần lớn là xe tăng, xe bọc thép). Số lính sống sót còn khoảng trên 100 tên và 10 xe cơ giới dồn lại thành hai cụm, dựa vào địa hình để chống trả.

Nhận thấy tiếp tục đột phá sẽ không có lợi vì trời gần sáng, Bộ chỉ huy Sư đoàn lệnh cho các đơn vị thu dọn chiến trường, giải quyết thương binh tử sĩ và rút về vị trí tập kết bên suối Bông Trang. Một trong năm mũi “tìm diệt” của đế quốc Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất đã bị bẻ gãy.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:07:30 PM
Đầu tháng 3 năm 1966, ở khu vực bắc sông Bé, Trung đoàn 1 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn quân Ôxtrâylia, đánh bại cuộc hành quân “Thành phố bạc” của địch. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi được giao nhiệm vụ ở Bàu Bàng đánh trận vận động tập kích 1 tiểu đoàn Mỹ.

Nhận được lệnh, tôi tổ chức cho tiểu đoàn xuất kích. Khi tiếp cận được quân Mỹ, tôi lệnh cho cối 60 ly cấp tập vào đội hình địch rồi đồng loạt xung phong. Trận đánh diễn ra hơn 40 phút, Tiểu đoàn 4 chúng tôi đã loại khỏi vòng chiến đấu 1 tiểu đoàn Mỹ.

Đánh giá thắng lợi trong mùa khô 1965 – 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: Đây là thắng lợi có tầm quan trọng lớn nhất về chiến lược, chiến thuật và chỉ đạo chiến tranh. Ta đã đánh thắng hiệp đầu trong cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Ta đã thắng cả về quân sự, chính trị, chủ yếu là thắng về quân sự, qua chiến đấu chúng ta đã hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của quân viễn chinh Mỹ, bước đầu rút ra những kinh nghiệm quý báu, nhận rõ những quy luật của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thêm quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Sau cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mùa khô năm 1965 – 1966 với lực lượng 200.000 quân viễn chinh mà không đạt được mục tiêu, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng thêm quân, đẩy mạnh leo thang đánh phá miền Bắc. Mùa hè năm 1966, đội quân Mỹ xâm lược miền Nam lên tới 300.000 tên, 3.200 máy bay các loại, 1.899 khẩu pháo, 1.836 xe quân sự (chủ yếu là xe tăng, xe bọc thép). Kể cả quân Mỹ, ngụy và chư hầu, lực lượng địch có 224 tiểu đoàn chiến đấu. Quân Mỹ tiếp tục giữ vai trò lực lượng cơ động, ráo riết chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Nhưng trước mắt, do quân ngụy quá yếu, không đủ sức phòng ngự, một bộ phận quân Mỹ buộc phải phân tán, giữ cứ điểm, mở đường và bảo vệ các con đường giao thông huyết mạch, tổ chức các tuyến phòng ngự gồm nhiều điểm chốt có thể chi viện cho nhau khi bị tiến công. Có những khu vực như Bình Long, Minh Hòa, Lộc Ninh, quân Mỹ đóng chốt cùng quân ngụy. Do thời tiết đã chuyển sang mùa khô, chúng không tấn công ồ ạt mà dùng lối hành quân cóc nhảy, đánh nhanh, rút nhanh mỗi khi phát hiện lực lượng ta. Có sẵn lực lương dự bị mạnh trong tay, chúng thường tập trung nhiều gấp 8 đến 10 lần lực lượng ta trong cuộc hành quân càn quét. Khi bị ta tiến công, chúng phát huy tối đa hỏa lực phi pháo để ngăn chặn. Mặt khác chúng tăng cường hoạt động của biệt kích, thám báo, đánh phá hủy diệt bằng máy bay chiến lược B-52, chất độc hóa học… làm cho hậu phương ta không ổn định.

Trong mùa khô 1965-1966, Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 đã đánh thắng Mỹ góp phần vào sự chỉ đạo, đúc kết phương châm, phương thức đánh Mỹ; đã vận dụng sáng tạo các hình thức tác chiến nhất là vận động tập kích đã trở thành sở trường chiến đấu của Trung đoàn; Trung đoàn còn xây dựng được tác phong cơ động, tổ chức chiến đấu nhanh, đánh gấp, hiệp đồng theo tiếng súng.

Nhưng do chiến đấu liên tục, trung bình sáu đến bảy ngày đánh một trận, thời gian củng cố và huấn luyện của Trung đoàn rất ít, chủ yếu là huấn luyện theo nhiệm vụ trước mắt, không thực hiện được các chương trình cơ bản. Thời gian huấn luyện thường xen kẽ một ngày hoặc vài ngày giữa hai trận đánh, quân số các đơn vị không đủ biên chế. Thành phần bổ sung từ nhiều nguồn: cán bộ, chiến sĩ hành quân từ miền Bắc vào, bộ đội địa phương, du kích xã lên… trình độ không đồng đều, lại chưa tổ chức được trạm an dưỡng và cơ sở sản xuất nên việc bảo đảm sức khỏe bộ đội, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh gặp nhiều khó khăn.

Về tác chiến, tuy các đơn vị có nhiều tiến bộ và đều đánh thắng địch, nhưng do quân Mỹ là đối tượng tác chiến mới, mạnh hơn hẳn quân ngụy nên nhiều trận đánh không gọn, không bắt được tù binh, không thu được vũ khí. Trong các cuộc hành quân, quân Mỹ thường phát huy tối đa hỏa lực bom, pháo và sức đột kích của cơ giới trên chính diện, đồng thời tổ chức mũi vu hồi dùng máy bay lên thẳng độ quân bất ngờ xuống phía sau đội hình của ta để giành thế chủ động. Nếu trận đánh kéo dài, nhờ có lực lượng dự bị mạnh và phương tiện cơ động hiện đại, chúng nhanh chóng tăng viện tạo ra sự thay đổi đột biến về so sánh lực lượng. Trường hợp bị thua trận, chúng dùng phi pháo hủy diệt chiến trường nhằm sát thương lực lượng ta, không cho ta thu vũ khí. Có đơn vị trong chiến đấu bị thương vong ít, nhưng khi trận đánh đã kết thúc lại bị thương vong nhiều vì bom, pháo của địch.

Trong khi đó, trình độ vận dụng kỹ thuật và sử dụng hỏa lực của các đơn vị của ta chưa tốt. Trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng của cán bộ chưa được chặt chẽ. Công tác chuẩn bị chiến đấu và tổ chức thu dọn chiến trường còn đơn giản. Chúng ta chưa có kinh nghiệm về chuẩn bị vào thực hành đánh lớn. Do quân Mỹ cơ động nhanh, thường xuyên thay đổi vị trí trú quân, nên các bước của một trận đánh thường không triển khai được. Có trận trinh sát đi trước, bộ đội hành quân tiếp sau, nắm được tình hình, cán bộ lên phương án tại chỗ và giao nhiệm vụ cho các đơn đánh luôn. Ngay trong thời gian ở trong căn cứ, các đơn vị cũng thường xuyên phải di chuyển để tránh bị thương vong vì bom, pháo của địch. Sinh hoạt gian khổ, nhiệm vụ chiến đấu căng thẳng, nhiều tổn thất, hy sinh đã làm cho một số cán bộ chiến sĩ có biểu hiện ngại chiến đấu lâu dài, giảm niềm tin vào thắng lợi.

Tháng 5 năm 1966, tôi được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 2.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:09:37 PM
*

Trước hành động tăng quân, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam – Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(1).

Vâng theo lời kêu gọi thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước của Bác, chúng tôi đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, nêu cao hơn nữa tinh thần dám đánh và quyết đánh thắng quân Mỹ xâm lược, làm cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong bất kỳ thình huống nào cũng không mơ hồ, do dự về mục tiêu chiếu đấu, xây dựng niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng. Để tăng cường lực lượng đánh Mỹ, trong năm 1966, hậu phương lớn miền Bắc tiếp tục đưa vào chiến trường nhiều đơn vị, nhiều quân bổ sung và vũ khí, trang bị mới. Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền, các cấp ủy đảng và nhân dân Đông Nam Bộ trực tiếp chỉ đạo và giúp đỡ các đơn vị vũ trang trong đó có đơn vị chúng tôi giải quyết các khó khăn về quân số, bảo đảm hậu cần, nâng cao sức chiến đấu.

Về trang bị, ngoài súng bộ binh (súng trường CKC, tiểu liên AK, trung liên RPĐ), từ giữa năm 1966, chúng tôi được trang bị thêm nhiều súng chống tăng B40 (mỗi đại đội 4 khẩu) và một đội súng phun lửa, hai tiểu đoàn pháo mang vác (4 khẩu cối 120 ly, 12 khẩu súng máy cao xạ 12,7 ly…). Mỗi tiểu đoàn bộ binh biên chế 350 đến 400 cán bộ, chiến sĩ, mỗi trung đoàn có từ 1.800 đến 2.000 cán bộ chiến sĩ.

Về huấn luyện, chúng tôi tranh thủ thời gian xen kẽ giữa hai đợt chiến đấu. Với Trung đoàn 2, tôi chỉ đạo các đơn vị tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học chiến thuật, kỹ thuật. Cán bộ từ đại đội trở lên có ít nhất hai giáo án huấn luyện. Một giáo án soạn theo chương trình cơ bản. Một giáo án huấn luyện bổ sung trong thời gian tạm dừng, sau khi đã bố trí ăn, ở và bộ đội đã làm xong công sự.

Khoa mục tiểu đội, trung đội đánh công kiên, chiến sĩ được huấn luyện động tác đánh bộc phá liên tục để mở cửa, chiếm đầu cầu và thọc sâu, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu. Khoa mục trung đội, đại đội đánh tập kích, các chiến sĩ được huấn luyện động tác tiếp cận địch, đột phá xung phong vào trận địa địch, biết lợi dụng địa hình, địa vật ở rừng cao su, rừng thưa, biết sử dụng nhiều loại hỏa khí, thực hiện bao vây, vu hồi…

Khoa mục tổ, tiểu đội đánh cơ giới, chiến sĩ được học đặc điểm, tính năng kỹ thuật đánh xe tăng M.41, xe bọc thép M113 của địch, tập động tác tiếp cận, diệt xe tăng bằng súng B40, thủ pháo, động tác hiệp đồng giữa hỏa lực và xung lực, thực hiện chia cắt cơ giới địch thành nhiều tốp nhỏ, chia cắt bộ binh với cơ giới… về kỹ thuật, cán bộ, chiến sĩ đều ôn luyện kỹ thuật bắn súng, đặc biệt là ban đêm, bắn gần, các kỹ thuật đào công sự, ném lựu đạn, đâm lê, đánh bộc phá… Cán bộ đại đội, tiểu đoàn chúng tôi được bồi dưỡng nguyên tắc chiến thuật tập kích, phục kích, đánh cơ giới và đánh công kiên do trung đoàn tổ chức.

Sau mỗi trận đánh, cơ quan tham mưu, trung đoàn và các đơn vị đều rút kinh nghiệm, kiểm điểm công tác tổ chức và chỉ huy chiến đấu của các cấp, phê phán sai sót, học tập những động tác chỉ huy tốt. Mỗi cán bộ chỉ huy đều chuẩn bị sẵn nhiều phương án như chủ động tiến công địch theo một kế hoạch đã được chuẩn bị, cách đối phó trong tình huống địch dùng máy bay B-52 hoặc dùng bộ binh đánh vào căn cứ, vào nơi đóng quân; các cách đánh vận động tập kích địch đóng quân dã ngoại, vận động phục kích đoàn xe cơ giới địch trên đường giao thông…


(1) Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập 2, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 430.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:11:11 PM
*

Tháng 5 năm 1966, thực hiện kế hoạch tác chiến của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, chúng tôi mở đợt hoạt động trong mùa mưa ở khu vực Bình Long nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cùng với lực lượng vũ trang địa phương phát triển chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng. Nhưng trong quá trình chuẩn bị, địch phát hiện được ý định của ta. Chúng tăng quân lên khu vực ta dự kiến mở đợt hoạt động, đóng thành từng cụm lớn và tổ chức phòng ngự để ngăn chặn. Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn đã kịp thời thay đổi phương châm hoạt động, hết sức linh hoạt trong sử dụng lực lượng và cách đánh như dùng lực lượng nhỏ đánh châm ngòi, nếu địch ra sẽ đánh lớn, phục kích đánh giao thông, tập kích khi địch đóng quân dã ngoại, pháo kích tiêu hao địch, phát triển chiến tranh du kích.

Theo phương án chiến đấu mới, Trung đoàn 2 chuyển sang phục kích đánh quân Mỹ trên đường số 13. Khu vực được chọn làm trận địa đón đánh địch là đoạn đường dài hơn 3 kilômét từ ngã ba Cây Đa đến cầu Cần Đâm. Đoạn đường này có hai cầu nhỏ, một qua dòng suối Tàu Ô và một qua suối Cần Đâm. Cả hai cầu đều bị hư hại, chi đi được từng xe một và xe phải giảm tốc độ khi qua cầu. Trên đoạn đường này còn một số công sự do bộ đội ta làm trong những trận phục kích đánh địch những năm trước. Hai bên đường rừng cây mọc dày, thuận tiện cho việc che giấu lực lượng và vận động cho bộ đội.

Ngày 25 tháng 5, Trung đoàn 2 hành quân đến vị trí tập kết cách đường hơn bốn kilômét. Cán bộ trung đoàn chúng tôi và các tiểu đoàn trưởng đều ra mặt đường nghiên cứu thực địa, sau đó bố trí lực lượng, vị trí phục kích và phân công, hiệp đồng giữa các đơn vị. Để giữ bí mật, bảo đảm thắng lợi cho trận đánh, chúng tôi tổ chức tuyến xuất phát xung phong cách đường từ 200 đến 500 mét.

21 ngày liền cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 2 kiên trì ém quân chờ quân Mỹ. Mỗi ngày ăn ba vắt cơm, có bữa thức ăm chỉ là một dúm muối, nhưng không một ai nao núng. Hàng ngày, các đơn vị vẫn ôn luyện kỹ thuật, chiến thuật, củng cố công sự và diễn tập xuất kích.

Trưa ngày 8 tháng 6 năm 1966, một đoàn xe cơ giới thuộc sư đoàn bộ binh Mỹ hành quân theo đường số 13 từ hướng Chơn Thành lên. Khi chiếc xe tăng M41 đi đầu đến cầu Tàu Ô, sau đó 17 xe tăng, xe bọc thép lọt vào trận địa phục kích, Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 diệt xe tăng M41 đi đầu chặn đoàn xe địch. Đại đội 2 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 nhanh chóng xuất kích. Nhưng do các đại đội nổ súng và xung phong không đồng loạt, một số xe địch đã kịp quay lại, cụm thành hình vòng để đối phó. May bay địch ném bom và bắn vào tuyến xuất phát của ta làm một số cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh. Trận đánh kéo dài, diễn biến phức tạp. Trung đoàn trưởng Trần Xoa phải đưa lực lượng dự bị Tiểu đoàn 6 vào trận, chặn xe địch đang từ phía sau dồn lên, bảo đảm cho Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 lúc này đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ tổ chức thu dọn chiến trường.

18 giờ cùng ngày, Trung đoàn 2 rút khỏi trận địa, trên đoạn đường từ Cần Đâm đến Tàu Ô có 40 xác xe địch (có 12 xe tăng M41, 19 xe bọc thép M113), trên 300 lính Mỹ, 200 lính ngụy bị thương và chết tại trận, 8 máy bay các loại của địch bị bắn rơi. Bộ đội ta thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân sự. Trận đánh đã tô thắm thêm truyền thống diệt cơ giới của Trung đoàn 2.

Do hoạt động mạnh của ta trên đường 13, đặc biệt là sau khi ta phá sập cầu Cần Lê, địch buộc phải đưa 1 tiểu đoàn ngụy lên sửa chữa, bảo vệ cầu và càn quét thăm dò lực lượng ta bảo vệ các đoàn xe vận tải lên Lộc Ninh.

Mặc dù liên tiếp bị phục kích và bị tổn thất khá nặng nề, quân Mỹ vẫn không bỏ được đường 13, vì đây là con đường tiếp tế chính cho Bình Long, Lộc Ninh. Chúng còn phải đưa thêm lực lượng lên củng cố khu tam giác Hớn Quản – Chơn Thành – Minh Hòa nhằm bảo vệ tuyến phòng thủ Bắc Sài Gòn. Nhưng để tránh bị ta phục kích, địch tăng cường tuần tra, đưa tin đánh lạc hướng, dùng bom, pháo dọn đường… đồng thời chúng tìm ra những con đường khác và thường xuyên thay đổi quy luật hành quân. Ngoài đường 13, đoạn từ Hớn Quản đi Chơn Thành, địch còn sử dụng con đường Đá Đỏ nối liền Hớn Quản với Minh Hòa. Đây là đường độc đạo, nằm giữa đường 13 và sông Sài Gòn nên việc che giấu lực lượng và vận động phục kích của ta gặp khó khăn. Nhưng nếu giữ được bí mật, tổ chức công sự tốt và xuất kích đúng lúc, ta có thể dồn địch vào thế bất lợi để tiêu diệt.

Sau khi được Bộ chỉ huy Sư đoàn phổ biến tình hình, quy luật hoạt động của địch và giao nhiệm vụ chiến đấu; Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn 2 đã cử tôi và trinh sát đi chuẩn bị chiến trường. Qua nghiên cứu địa hình và phân tích tình hình địch, tôi nêu ý kiến với chỉ huy Trung đoàn.

Dùng lực lượng nhỏ phục kích đoạn Cần Đâm – Tàu Ô, ta vẫn có thể tranh thủ được yếu tố bí mật bất ngờ, đánh địch trên đường 13. Nhưng cần tạo thế tập trung lực lượng vận động phục kích địch trên con đường Đá Đỏ, đoạn Xa Cát – Minh Hòa để tiêu diệt lớn quân địch.

Ý kiến của tôi được tập thể chỉ huy Trung đoàn nhất trí.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:12:28 PM
Ngày 28 tháng 6, Trung đoàn 2 chia lực lượng đi hai hướng. Hướng thứ yếu, một tiểu đoàn tăng cường phục kích đoạn Cần Đâm – Tàu Ô trên đường 13. Hướng chủ yếu sử dụng ba tiểu đoàn bộ binh (có một tiểu đoàn của Trung đoàn 16 do sư đoàn tăng cường) và toàn bộ hỏa lực của trung đoàn, phục kích trên chính diện 2 kilômét đoạn Xa Cát – Minh Hòa. Nhưng cho đến ngày 7 tháng 7 vẫn không có một đoàn xe nào của địch đi qua khu vực ta phục kích. Chúng tôi động viên các đơn vị giữ bí mật lực lượng, kiên trì ém quân, chờ đợi.

Ngày 8 tháng 7 năm 1966, nhiều máy bay trinh sát và máy bay lên thẳng vũ trang của địch bay lên khu vực Xa Cát – Minh Hòa. Một tiểu đoàn Mỹ hành quân ra Sở cao su Xa Cát.

Sáng ngày 9 tháng 7, các trận địa pháo binh địch ở Hớn Quản, Chơn Thành bắn phá phía bắc và nam cầu Xa Cát. Tiếp đó là máy bay phản lực, máy bay chiến lược B-52 ném bom hủy diệt các vạt rừng hai bên đường.

Từ 9 giờ đến 10 giờ, không quân và pháo binh địch bắn phá nhiều đợt nữa, yểm hộ cho đoàn xe cơ giới vượt cầu Xa Cát. Xe địch đậy nắp kín vừa chạy vừa bắn mạnh. Máy bay phản lực và trực thăng vũ trang tiếp tục ném bom bi, bom phá, bắn rốc két, bắn đạn 20 ly xuống hai bên đường.

Bộ đội ta kiên trì, bí mật ém quân đợi địch. 10 giờ 12 phút đoàn xe địch dẫn xác tới. Đại đội 8 Tiểu đoàn 5 làm nhiệm vụ chặn đầu, nổ súng diệt 1 xe M113. Các mũi xung kích lao lên mặt đường chia cắt không cho xe địch cụm lại. Hướng chính diện, Đại đội 6 dùng hỏa lực diệt 4 xe và cho bộ đội xung phong. Tiểu đoàn 4 làm nhiệm vụ khóa đuôi, vận động chiến đấu dưới tầm hỏa lực của địch. Nhiều khẩu đội cối, ĐKZ 75 đưa súng ra sát mép đường, bắn chính xác vào từng xe địch. Các khẩu đội súng máy cao xạ 12,7 ly bắn mạnh buộc máy bay địch phải vọt lên cao.

Với kinh nghiệm từ trận Cần Đâm và với sở trường của đơn vị có truyền thống diệt cơ giới, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 2 chúng tôi kiên quyết chia cắt không cho quân địch co cụm, phát huy hỏa lực B40, ĐKZ diệt từng chiếc và từng cụm xe.

Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Chỉnh bị đạn địch dập gãy hai chân. Anh giao nhiệm vụ chỉ huy cho trung đội phó, cố sức dùng khuỷu tay lết tới khẩu B40 của một chiến sĩ đã hy sinh bắn tiếp hai quả đạn, diệt 2 xe tăng M41. Do vết thương quá nặng anh đã hy sinh trong trận này.

Chiến sĩ Lê Hòa Tiêu nhờ đồng đội chặt đứt hẳn cánh tay bị dập nát để có thể tiếp tục chiến đấu. Anh được đồng đội khâm phục, tặng danh hiệu “La Văn Cầu của miền Nam”.

Sau gần 2 giờ chiến đấu, bộ đội ta diệt 35 xe (có 30 xe M113, 5 xe tăng M41 và M48), bắn rơi 8 máy bay các loại.

Ngày 4 tháng 11 năm 1966, lữ đoàn 196 Mỹ tiếp tục đổ thêm quân xuống trảng trống phía tây bắc Bàu Gòn. Sau khi dùng máy bay, pháo binh bắn phá dọn đường, chúng bắt đầu tổ chức xung phong. Mỗi tiểu đoàn Mỹ triển khai hai mũi đột phá (mỗi mũi một đại đội). Một đại đội khác làm lực lượng dự bị. Vừa hành quân đến trong đêm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 16 đã tranh thủ cải tạo các công sự có sẵn và xây dựng thêm một số công sự mới, hình thành khu vực trận địa hình tròn rộng khoảng một kilômét vuông. Chờ quân Mỹ vào đến tầm bắn có hiệu quả nhất, bộ đội ta mới nổ súng, đánh lui chín đợt xung phong của địch.

Đêm xuống, quân Mỹ rút ra ngoài trảng, cụm lại chờ tiếp viện. Bộ đội ta cũng tranh thủ củng cố công sự, sơ bộ rút kinh nghiệm trận đánh trong ngày, chuẩn bị cho trận đánh lớn hơn chắc chắn sẽ diễn ra trong ngày hôm sau.

Ngày 5 tháng 11, thêm một tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 2, sư đoàn bộ binh cơ giới Mỹ 25 “tia chớp nhiệt đới” đổ quân xuống Trảng Dài, đông bắc trận địa của Tiểu đoàn 9, hình thành một mũi tiến công mới. Lữ đoàn 196 tổ chức hai mũi, một từ Bàu Gòn đánh lên và một mũi tiến theo lộ Bà Hảo – suối Ông Hùng. Trận đánh ác liệt, kéo dài gần suốt ngày 5 tháng 11. Tiểu đoàn 9 giữ vững trận địa. Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196, một lữ đoàn được Mỹ tổ chức, trang bị và huấn luyện theo yêu cầu tác chiến ở vùng rừng núi châu Á bị tổn thất nặng ngay trong trận ra quân đầu tiên. Quân Mỹ chết và bị thương 600 tên. Trung đoàn 2 có 21 cán bộ, chiến ĩ hy sinh, 46 đồng chí bị thương.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:13:51 PM
Chiều ngày 5 tháng 11, quân Mỹ phải rút lực lượng còn lại về hậu cứ để củng cố. Bộ tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam buộc phải đình chỉ một số cuộc hành quân trên các hướng khác, đưa toàn bộ sư đoàn 1 bộ binh, sư đoàn bộ binh cơ giới 25, lữ đoàn 173 cơ động, trung đoàn 11 thiết giáp lên đối phó với ta ở khu vực Tây Ninh. Quân Mỹ ra quân hùng hổ. Bộ binh cơ giới tiến theo trục lộ 4 lên Kà Tum, Sóc Mo. Máy bay lên thẳng đổ quân chiếm các bàn đạp có lợi. Ban đêm chúng cụm lại ở các trảng, trong đó có một số cụm lớn ở Đồng Pan, Tà Dạt, Sóc Con Trăng…

Các đơn vị chúng tôi tiếp tục bám đánh địch trên đường liên tỉnh 4. Một bộ phận đánh vào sau lưng địch, phối hợp với quân và dân Tây Ninh. Trung đoàn 1 tổ chức nhiều tổ phục kích diệt cơ giới, phát huy cách đánh bằng lực lượng nhỏ, bất ngờ, diệt 8 xe M113. Ngày 19 tháng 11, trung đoàn đánh địch càn quét ở khu vực Khe Du, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên Mỹ. Nhưng một số đơn vị không đánh được vì cơ động chậm. lại bị hỏa lực địch ngăn chặn, không bám được được, một phần khác do cán bộ đơn vị không coi trọng đúng mức cách đánh nhỏ với lực lượng thích hợp, không linh hoạt trong xử trí tình huống.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Tây Ninh, đặc biệt là quân dân các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu đẩy mạnh hoạt động diệt ác ôn, phá “ấp chiến lược”, đánh giao thong trên các đường số 22, đường số 1… làm cho quân Mỹ thêm lúng túng trong cách đối phó.

Quân dân Củ Chi, Long An, Bến Tre, Mỹ Tho… cũng hoạt động mạnh. Đặc biệt, trong trận chống càn ở khu vực Dầu Tiếng (ngày 20 tháng 11), lực lượng vũ trang địa phương đã diệt và làm bị thương gần 100 tên Mỹ, bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, trong đó có tên chỉ huy phó cuộc càn.

Ngày 18 tháng 11, quân Mỹ buộc phải có lực lượng lại, điều chỉnh kế hoạch hành quân. Phát hiện kịp thời âm mưu của địch, Bộ Tư lệnh Miền lệnh cho chúng tôi bám đánh địch trên các đường chúng rút quân, chủ yếu là trên đường liên tỉnh 4. Đêm 21 tháng 11, Trung đoàn 1 pháo kích cụm quân Mỹ đóng dã ngoại ở Tà Dạt, làm thương vong hơn 100 tên. Đêm 22 tháng 11, Trung đoàn 16 pháo kích trận địa pháo binh địch ở Suối Đa, phá hủy 2 khẩu pháo 105.

Ngày 25 tháng 11, Trung đoàn 2 chúng tôi tập kích cụm quân Mỹ ở Dầu Tiếng, làm bị thương vong hơn 300 tên, phá hủy 5 máy bay lên thẳng, 2 khẩu pháo 105, phá hủy 12.000 lít xăng.

Cuộc hành quân Áttơnborơ, mở đầu cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam chấm dứt. Trong hơn 20 ngày chiến đấu liên tục, với số quân chưa được bổ sung đầy đủ, tương quan lực lượng chênh lệch, nhất là binh khí kỹ thuật và hỏa lực, Sư đoàn 9 được tăng cường Trung đoàn 16 đã đánh 32 trận (có 8 trận cấp tiểu đoàn, 1 trận cấp đại đội, 23 trận nhỏ khác), loại khỏi vòng chiến đấu 3.400 tên địch (có gần 3.000 tên Mỹ), bắn rơi và phá hủy 55 máy bay, bắn cháy 23 xe bọc thép, phá hủy 7 khẩu pháo. Cùng với quân và dân Tây Ninh, Sư đoàn 9 đã mở đầu Đông – Xuân 1966 – 1967 bằng một thắng lợi giòn giã.

Tháng 11 năm 1966, tôi được cấp trên bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 2 Sư đoàn 9.

Ngày 8 tháng 1 năm 1967, sau một thời gian chuẩn bị, quân Mỹ mở tiếp cuộc hành quân Xêđa Phôn, càn quét vùng “tam giác sắt” Củ Chi – Bến Cát – Bến Súc. Địch huy động trên 3 vạn quân, gồm 3 lữ đoàn Mỹ, 3 chiến đoàn ngụy, nhằm củng cố và nới rộng vành đai an ninh phía bắc Sài Gòn, đẩy chủ lực ta ra xa, tìm diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến của thành phố Sài Gòn – Gia Định, chuẩn bị bàn đạp để tiếp tục đánh phá căn cứ Dương Minh Châu. Quân và dân Củ Chi và vùng “tam giác sắt”, có sự phối hợp chiến đấu của Trung đoàn 2 chúng tôi đã dựa vào hệ thống địa đạo và xã ấp chiến đấu, diệt và làm bị thương 300 tên Mỹ - ngụy, đánh bại hai cuộc hành quân lớn của địch.

Củ Chi, Bến Cát, Bến Súc vẫn là “vùng tam giác sắt” ở cửa ngõ phía bắc Sài Gòn, nơi phong trào chiến tranh du kích phát triển cao và là địa bàn hoạt động của Trung đoàn 2 chúng tôi, thường xuyên uy hiếp trung tâm đầu não chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đầu tháng 2 năm 1967, Bộ chỉ huy quân Mỹ quyết định tập trung hơn nữa binh lực, hỏa lực, mở cuộc hành quân Gianxơn Xity đánh thẳng vào căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não lãnh đạo cuộc kháng chiến của ta là Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn 9 chủ lực của Quân giải phóng và Đài phát thanh Giải phóng. Chúng ngăn đường biên giới, tiệt phá kho tàng dự trữ hậu cần của ta nhằm giành lấy một thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định cho cuộc phản công mùa khô lần thứ hai để tạo ra bước ngoặt làm chuyển biến cục diện có lợi cho chúng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:15:22 PM
Tham gia cuộc hành quân này, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn đã huy động đại bộ phận quân Mỹ triển khai ở miền Đông Nam Bộ gồm sư đoàn 1, sư đoàn 25, sư đoàn 4, sư đoàn 9, lữ đoàn 196 và lữ dù 173. Quân ngụy có 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến. Ngoài ra, quân Mỹ còn sử dụng 12 đại đội biệt kích Mỹ. Về cơ giới, tổng số xe tăng và xe bọc thép quân Mỹ tung vào cuộc càn khoảng 1.200 chiếc gồm M113, M114, M41, M40. Pháo binh có 256 khẩu từ 105 ly đến 203 ly và pháo tự hành. Không quân gồm 162 máy bay chiến đấu, 300 máy bay trực thăng, 45 máy bay vận tải và 22 máy bay trinh sát.

Về phía ta, khu căn cứ Tây Ninh được gọi là căn cứ Khu B (địch gọi là Chiến khu C) thuộc phần đất phía bắc huyện Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh (sau được tách ra thành lập huyện Tân Biên) nằm giữa hai sông Vàm Cỏ ở phía tây và sông Sài Gòn ở phía đông. Phía bắc và tây bắc giáp biên giới Campuchia, phía nam giáp liên tỉnh lộ 13. Diện tích toàn khu căn cứ khoảng 1.500km2. Dân số bị địch gom về vùng chúng kiểm soát, đến khi quân Mỹ vào chỉ còn khoảng 800 người theo cách mạng ở rải rác dọc theo biên giới và dọc sông Vàm Cỏ, trên các khu vực Xóm Giữa, Lò Gò, Tà Nốt, có một số ít ở Kà Tum, Sóc Mới làm nghề nương rẫy và tham gia công tác vận tải tiếp tế cho bộ đội. Vùng trung tâm căn cứ không có dân, chỉ có cán bộ, nhân viên các cơ quan, nhà trường, công xưởng, bệnh viện, kho tàng thuộc Bộ Tư lệnh Miền và các ngành dân – chính – đảng trực thuộc Trung ương Cục miền Nam.

Địa hình khu căn cứ là vùng tiếp giáp đồng bằng với rừng núi, thuộc loại rừng bằng, gồm có một số khu vực rừng già xen kẽ rừng chồi, rừng tre và trảng trống. Rừng già ở dọc theo biên giới có nhiều cây gỗ to và quý, nhiều chỗ còn che khuất mặt đường, nhưng ở phía nam căn cứ, dọc theo lộ 22, lộ 4, lộ Đá Đỏ, rừng bị chất độc hóa học làm trụi lá, chỉ còn trơ các thân cây chết đứng. Ở đây có rừng tre và rừng le mọc dày đặc khắp nơi, có khả năng tái sinh mạnh, che kín căn cứ dưới tầng lá thấp, đồng thời là chướng ngại thiên nhiên chống xe tăng, xe cơ giới địch. Các sông suối trong khu căn cứ mùa mưa nước nhiều rất cản trở cho việc đi lại và hoạt động của bộ đội. Mùa khô, sông suối nước cạn khô, đi lại thuận tiện, không cản trở nhiều cho hành quân cơ giới.

Hệ thống đường bộ bao quanh chia cắt căn cứ bằng nhiều lộ đá, lộ kiểm lâm, lộ khai thác gỗ, xe cộ đi lại dễ dàng, thuận lợi cho việc cơ động, chuyển quân. Từ bắc xuống nam có đường 22, đường 4 rải đá, từ đông sang tây có lộ Đá Đỏ nối liền Hớn Quản với Kà Tum, từ đó cắt qua đường 22 và liên tỉnh lộ 13 có các lộ: Kiểm Lâm, Kà Tum, Xa Mát, Bà Chiêm, Vô Tùng, Bổ Tức, Chà Dơ, Đồng Pan, Cần Đăng, Thiện Ngôn, Lò Gò, Xom Giữa; mùa khô xe chạy tốt.

Căn cứ của Trung ương Cục, nhà làm nửa nổi nửa chìm, có hầm chữ A chắc chắn. Cơ quan, kho tàng ở dọc theo suối và các khu rừng già, rừng le, theo từng cơ quan, đơn vị, có hầm hố, công sự giao thông hào và đường cắt bí mật, nối tiếp nhau chằng chịt, được che kín dưới rừng cây và tầng lá ngụy trang, địch khó phát hiện.

Nhìn chung địa hình khu căn cứ bắc Tây Ninh rừng bằng, cây cối tuy bị chất độc hóa học phát quang nhưng vẫn còn che kín được nhiều khu vực mặt đất, sông suối cạn, đường sá nhiều, nhưng dễ bị bao vây chia cắt. Khu căn cứ Trung ương Cục nhờ được xây dựng từ lâu và được cải tạo tốt nên cũng thuận lợi cho việc tổ chức bám trụ phòng thủ tại chỗ, đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch.

Từ tháng 6 năm 1966, biết được âm mưu trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của Mỹ là đánh phá quy mô trên diện rộng vào căn cứ của ta, Bộ Tư lệnh Miền đã có chủ trương chỉ đạo việc củng cố lại việc phòng thủ căn cứ theo phương châm bám trụ chiến đấu tại chỗ, xây dựng mạng lưới chiến tranh nhân dân trong vùng căn cứ ít dân và không dân, phối hợp với hoạt động tác chiến của một bộ phận chủ lực Quân giải phóng kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân của địch.

Để chuẩn bị cho cuộc hành quân then chốt Gianxơn Xity, quân Mỹ mở hàng loạt các hành động thăm dò, nghi binh, dọn bãi. Đặc biệt, ngày 2 tháng 11 năm 1968, khi ta hoàn thành xong công tác chuẩn bị chiến dịch, các đơn vị vào đến vị trí tập kết thì lữ đoàn 196 Mỹ đổ quân xuống Bàu Gòn. Địch tăng cường thêm lực lượng cho cuộc hành quân Áttơnborơ (14-9 đến 25-11-1966) với 30 nghìn quân mở đầu cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Trong hơn 20 ngày chiến đấu liên tục, Sư đoàn 9 chúng tôi đã phối hợp với du kích cơ quan đánh hơn 30 trận (có 8 trận cấp tiểu đoàn) loại khỏi vòng chiến đấu 3.400 tên địch (có gần 3.000 tên Mỹ), bắn rơi và phá hủy 55 máy bay, bắn cháy 23 xe bọc thép, phá hủy 7 khẩu pháo. Riêng Tiểu đoàn 170 bảo vệ diệt 5 xe M113 và 40 tên Mỹ. Cơ quan B5 diệt 8 xe M113 và 55 tên Mỹ, du kích hậu cần dùng mìn ĐH10 diệt 120 tên Mỹ, bắn rơi 5 máy bay trực thăng, bảo vệ được kho tàng…

Ngày 8 tháng 1 năm 1967, sau thất bại của cuộc hành quân Áttơnborơ, quân Mỹ không cam chịu thất bại, chúng lại mở tiếp cuộc hành quân Xêđa phôn cũng với số quân 30 nghìn, càn quét vùng “Tam giác sắt” Củ Chi – Bến Cát – Bến Súc nhằm củng cố và nới rộng vành đai an ninh phía bắc Sài Gòn, đẩy chủ lực ta ra xa, tìm diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến của thành phố Sài Gòn – Gia Định, chuẩn bị bàn đạp để tiếp tục đánh phá căn cứ Dương Minh Châu. Quân dân Củ chi và vùng “Tam giác sắt”, có sự phối hợp chiến đấu của Trung đoàn 2 Sư đoàn 9, đã dựa vào hệ thống địa đạo và xã, ấp chiến đấu, diệt và làm bị thương gần 300 tên Mỹ. Củ Chi, Bến Cát và Bến Súc vẫn là vùng “Tam giác sắt” ở cửa ngõ phía bắc Sài Gòn, nơi có phong trào chiến tranh du kích phát triển cao, thường xuyên uy hiếp trung tâm đầu não chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:16:47 PM
Cuối tháng 2 năm 1967, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn quyết định tập trung lực lượng 45 nghìn quân Mỹ, gồm 31 tiểu đoàn bộ binh và dù, 1 trung đoàn và 8 tiểu đoàn xe tăng – thiết giáp khoảng 500 chiếc do trung tướng Simân, chỉ huy cuộc hành quân Gianxơn Xity đánh thẳng vào căn cứ Dương Minh Châu. Oétmolen – Tư lệnh quân đội Mỹ ở Sài Gòn công khai thông báo trước mục tiêu: Tiêu diệt cơ quan đầu não Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, bắt Đài phát thanh Giải phóng câm họng, phá nát căn cứ Bắc Tây Ninh, diệt Sư đoàn 9 chủ lực Việt cộng, giành thắng lợi quyết định cho cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam.

Với lực lượng huy động như vậy, Mỹ đã thể hiện một trong những cố gắng cao nhất trong chiến tranh Việt Nam, cố gắng cao nhất trong cuộc phản công mùa khô thứ hai.

Sư đoàn 9 của ta vừa đánh bại cuộc càn Áttơnborơ của địch, được bổ sung quân số và trang bị các loại súng mới AK, RPĐ, B40… được tăng cường thêm Trung đoàn 16 bộ binh và các đơn vị pháo binh, cao xạ, công binh, thông tin trực thuộc Miền. Trung đoàn 1 chúng tôi đứng chân ở tây đường 22; Trung đoàn 2 đứng chân ở Chà Dơ; Trung đoàn 16 đứng chân ở Suối Dây; Trung đoàn 3 đứng chân ở Phước Sang (đông đường 13). Cơ quan Hậu cần Miền triển khai xong các đoàn hậu cần khu vực.

Ta còn triển khai các cửa khẩu tiếp nhận hàng viện trợ của Trung ương quá cảnh qua Campuchia đưa hàng thẳng về căn cứ.

Toàn bộ căn cứ đã hình thành thế trận chiến tranh nhân dân trong khu vực không có dân và triển khai xong kế hoạch phòng thù, bám trụ chiến đấu tại chỗ. Qua thắng lợi bẻ gãy cuộc hành quân Áttơnborơ của Mỹ, quân và dan ta càng vững lòng tin tưởng vào khả năng đánh bại các kế hoạch hành quân quy mô lớn của địch. Quân và dân miền Đông Nam Bộ có kinh nghiệm, nắm vững được quy luật hoạt động của địch, càng đánh càng mạnh. Vùng căn cứ của ta được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng thế trận chờ địch. Ta có đầy đủ điều kiện khách quan để thắng địch. Bộ Tư lệnh Miền cho rằng các cuộc hành quân liên tiếp đầu mùa khô 1966-1967 đều có tính chất thăm dò, nghi binh, trinh sát chuẩn bị cho hành quân quy mô lớn đánh vào khu căn cứ chính của ta ở bắc Tây Ninh. Ta cũng nắm được ý đồ của Mỹ tập trung đánh lớn nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền, một bộ phận chủ lực của Đài phát thanh của ta trong căn cứ mà địch cho là mục tiêu chủ yếu trong cuộc phản công chiến lược mùa khô làn thứ hai của chúng.

Để thống nhất chỉ huy các lực lượng, tạo nên một thế trận mới của chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân ở một địa bàn thưa dân, Bộ Tư lệnh Miền quyết định phân chia căn cứ thành 11 “huyện”, mỗi “huyện” gồm một số cơ quan. Trong mỗi “huyện” lại chia thành nhiều “xã”. Thủ trưởng cơ quan giữ chức “huyện đội trưởng”, “xã đội trưởng”. Nhân viên các cơ quan (bác sĩ, y tá, văn công, chiến sĩ nuôi quân, nhân viên đánh máy…) tập hợp thành các đội du kích, được trang bị vũ khí, kể cả súng chống tăng B.40. Mỗi “huyện” thành lập một số phân đội bảo vệ, tổ chức hoạt động như bộ đội địa phương. Mỗi cơ quan, đơn vị đều dự trữ ba tháng lương thực, đạn dược. Một số kho gạo, kho đạn dược, phân tán thành những kho nhỏ và di chuyển đến vị trí an toàn hơn. Hệ thống hầm hào, công sự và thông tin chỉ huy trên các hướng được củng cố.

Kế hoạch tác chiến được Bộ Tư lệnh Miền xác định: Tư tưởng chỉ đạo phải quán triệt: “Chuẩn bị sẵn sàng để bám trụ vững chắc, thực hành phản công kiên quyết và tấn công mạnh mẽ, liên tục, kết hợp chặt chẽ ba thứ quân đánh nhỏ, đánh vừa và tạo điều kiện đánh lớn bảo đảm đánh dài ngày, mạnh bạo nhưng chắc thắng, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo vệ được cơ quan và kho tàng trong vùng căn cứ”. Về phương châm tác chiến, Bộ Tư lệnh Miền nêu rõ; “Du kích cơ quan, bộ đội địa phương và bộ đội bảo vệ căn cứ bám trụ đánh địch tại chỗ, giữ chắc các ấp xã chiến đấu, nơi địch không đến thì bung ra tìm địch mà đánh, bám địch mà diệt, thực hiện tiêu hao tiêu diệt địch rộng rãi, vừa chiến đấu vừa bảo đảm công tác phục vụ cho chiến đấu, bảo vệ an toàn cho cơ quan căn cứ kho tàng, duy trì được sinh hoạt bình thường trong căn cứ đánh lâu dài với địch. Bộ đội chủ lực tập trung và phân tán linh hoạt, sẵn sàng cơ động, phối hợp hỗ trợ cho du kích cơ quan, thực hiện đánh vừa, tạo điều kiện và nắm thời cơ đánh những trận lớn, tiêu diệt được tiểu đoàn, chiến đoàn địch bằng phục kích và tập kích, bẻ gãy các mũi hành quân của địch.

Ta xác định hướng tác chiến chủ yếu của chiến dịch nhằm vào các khu vực trên đường 4 từ Bàu Cỏ đến Kà Tum; trên lộ Kiểm Lâm từ Chà Dơ đến Bổ Tức; trên lộ Đá Đỏ từ Sóc Con Trăng đến Suối Ngô. Ta xác định các khu vực chọn sẵn để đánh trận then chốt phản công là Bàu Cỏ, Đồng Pan, Kà Tum, Chà Dơ, Đồng Rùm, Bố Tức, Sóc Con Trăng, Bà Chiêm, Suối Ngô. Còn khu vực phòng thủ chủ yếu trong căn cứ là khu vực cơ quan Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:18:20 PM
*

Đêm 21 tháng 2 năm 1967, máy bay chiến lược B-52 oanh tạc 19 lần, mỗi lần từ 3 đến 9 chiếc, ném bom rải thảm khu vực căn cứ Dương Minh Châu. Xen kẽ giữa các đợt hoạt động của B-52 trong đêm 21 và trong cả ngày 22 tháng 2 là 234 lần xuất kích của máy bay cường kích chiến thuật.

5 giờ sáng ngày 22, quân Mỹ bắt đầu xuất phát tiến công. Bộ binh cơ giới tiến theo liên tỉnh lọ 4, đóng chốt ở Bàu Cỏ, Đồng Pan, Sóc Ky. Một số mũi vòng qua hướng bắc, tây bắc, lên tới Kà Tum. Từ 5 giờ đến 14 giờ cùng ngày, máy bay lên thẳng cơ động 7 tiểu đoàn bộ binh, cả xe tăng, pháo lớn từ vị trí tập kết lên khu vực càn quét (cự ly khoảng 40 kilômét).

Với phương tiện hiện đại, ngay trong ngày ra quân, quân Mỹ đã triển khai được 8 lữ đoàn bộ binh và hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, pháo, cối… bao vây và án ngữ toàn bộ khu vực căn cứ của ta trên các mũi đổ bộ bất ngờ bằng máy bay lên thẳng và thọc sâu bằng xe tăng, xe bọc thép, vu hồi vào phía sau và đánh xuyên qua từng khu vực. Địch gọi chiến thuật này là “bủa lưới phóng lao” nhằm chụp bắt cơ quan lãnh đạo, hợp vây tiêu diệt các đơn vị chủ lực ta.

Sau khi đổ quân, chúng đóng thành từng cụm, thông thường mỗi cụm một tiểu đoàn, cụm lớn là một lữ đoàn bộ binh, tiểu đoàn pháo binh và cơ giới. Các cụm này nối liền với nhau, có thể chi viện, yểm trợ cho nhau. Mỗi cụm là một vị trí bàn đạp và tập kết lực lượng để thọc sâu, đánh phá căn cứ của ta. Khi hành quân bằng cơ giới, xe tăng, xe bọc thép địch không đi trên đường mà cắt rừng đi cách đường khoảng 20 đến 30 mét. Nhiều khi xe địch chạy ngoằn ngoèo hình rắn lượn và thường thay đổi tốc độ, lợi dụng tiếng máy bay át tiếng động cơ… để tạo thế bất ngờ, phát huy sức mạnh đột kích và tránh hỏa lực chống tăng của ta.

Nhưng trái với sự tính toán trong kế hoạch, quân Mỹ không “vồ trúng” cơ quan lãnh đạo, không diệt được một đơn vị chủ lực nào của ta, lại bị các đội du kích cơ quan đánh trả ở khắp nơi. Ngay trong ngày đầu của cuộc hành quân, chúng bị thương vong 191 tên, 16 xe tăng, xe bọc thép bị phá hủy, 16 máy bay các loại bị bắn rơi.

Trên đường liên tỉnh 4, có 11 xe địch bị các tổ diệt cơ giới của ta phục kích bắn cháy. Đây là bất ngờ lớn đối với Oasinhtơn và các tướng tá Mỹ chỉ huy cuộc hành quân. Bởi vì theo sự tính toán lý thuyết của chúng, với hỏa lực không quân, pháo binh dọn đường như vậy, thì đến cả thú rừng cũng không thể tồn tại ở khu vực hành quân. Sau ngày đầu ra quân ào ạt, từ ngày thứ hai, tốc độ hành quân của địch bắt đầu chậm lại. Chúng vừa đi, vừa thăm dò, tìm cách đối phó, có lúc phải dừng lại để giải quyết hậu quả. Nhiều trường hợp mới chỉ nghe tiếng súng của ta, lính Mỹ đã vội chạy tìm nơi ẩn nấp, gọi phi pháo đánh phá để phân tuyến, sát thương lực lượng ta rồi mới tiếp tục hành quân.

Hoạt động của các đội du kích cơ quan trong những ngày đầu đã tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, đánh đòn phủ đầu vào tinh thần chiến đấu của quân Mỹ, tạo điều kiện cho các trung đoàn chủ lực đánh vào hai bên sườn và phía sau đội hình hành quân của địch.

Ngày 26 tháng 2, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Trảng A Lấn, làm thương vong 150 tên. Ngày 28 tháng 2, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 16 tập kích cụm cơ giới Mỹ ở gần cầu suối Ông Hùng, phá hủy 31 xe, diệt và làm bị thương gần 200 tên. Các phân đội pháo của sư đoàn và các trung đoàn liên tục pháo kích sở chỉ huy hành quân địch ở Dầu Tiếng, căn cứ hậu cần chiến dịch của quân Mỹ ở Suối Đá, cụm quân Mỹ ở Tà Xia…

Hãng tin Pháp AFP ngày 26 tháng 2 đưa tin với lời bình luận: “Bộ chỉ huy Mỹ đã thừa nhận cuộc mạo hiểm lớn này là thất bại”. Tướng Simân chỉ huy cuộc hành quân thú nhận: “Quân Mỹ đã không đến được “Lầu năm góc” của Việt cộng”, “chúng ta đến đây mà không giết được ai và không tìm thấy gì cả thì thật là chưng hửng…”.

Hành quân và chiến đấu trong điều kiện thời tiết nóng nực, phải bỏ nhiều công sức đào công sự để tránh bị ta pháo kích, ban ngày bị ta chặn đánh, ban đêm bị du kích cơ quan quấy rối không ngủ được nên sức khỏe và tinh thần chiến đấu của lính Mỹ giảm sút rõ rệt. Số quân ốm đau lên tới 16 phần trăm. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 3, địch đầu phải co lực lượng về chốt giữ trục đường 22, tìm cách đánh mới.

Theo dõi diễn biến mấy ngày đầu, Bộ Tư lệnh Miền nhận thấy, quân Mỹ đã tập trung lớn lực lượng, ra quân ào ạt, hợp đồng binh hỏa lực chặt chẽ. Nhưng khi tiến vào khu căn cứ rộng hàng nghìn kilômét vuông mà không nắm được mục tiêu đánh chiếm cụ thể lại bị ta đánh mạnh và rộng khắp ngay từ đầu, chúng bắt đầu có biểu hiện dao động. Do đó, cần tập trung chủ lực đánh những đòn tiêu diệt lớn, đánh mạnh vào tin thần quân Mỹ, làm thất bại hoàn toàn cuộc hành quân càn quét của chúng.

Theo tinh thần chỉ dạo đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 2 vận động tập kích, tiêu diệt cụm quân Mỹ ở Đồng Pan. Nhưng trong khi đi nghiên cứu tình hình, anh Trần Xoa, Trung đoàn trưởng hy sinh. Công tác chuẩn bị cho trận đánh triển khai chậm và có nhiều khó khăn.

Tối ngày 10 tháng 3 năm 1967, Tư lệnh sư đoàn Hoàng Cầm điện cho tôi:

- Anh Trần Xoa hy sinh, tôi giao cho anh làm Trung đoàn trưởng chỉ huy diệt bằng được cụm quân Mỹ ở Đồng Pan.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:19:20 PM
Nhận được lệnh sư đoàn, tôi tranh thủ hội ý với anh Nguyễn Tấn Dành – Chính ủy:

- Nhiệm vụ trên giao phải tìm mọi cách tiêu diệt cụm quân Mỹ ở Đồng Pan. Tuy lực lượng của trung đoàn không tập trung, ta không thể diệt gọn cụm lữ đoàn hỗn hợp bộ binh, pháo binh, xe tăng của Mỹ. Nhưng chỉ cần một Tiểu đoàn 4 với hỏa lực của Trung đoàn là ta quyết tập kích cụm quân Mỹ.

Anh Tấn Dành suy nghĩ một lát rồi nói:

- Phải động viên cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn phát huy tinh thần chiến đấu quả cảm, kiên quyết thọc sâu, đánh gần thì nhất định ta sẽ tiêu diệt được quân Mỹ.

- Tôi nhất trí với ý kiến của anh. Tôi sẽ đi trực tiếp với Tiểu đoàn 4, anh ở lại nắm chắc tình hình. Ta quyết thắng trận này.

Nói rồi, tôi cùng một trợ lý tác chiến trung đoàn và một tổ trinh sát đi xuống Tiểu đoàn 4.

Gặp cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 4, ai nấy hăm hở chờ lệnh nổ súng, tôi thấy yêu mến họ biết bao. Tôi nói với Tiểu đoàn trưởng:

- Anh cho bộ đội kiểm tra vũ khí, trang bị lần cuối, tôi ra lệnh cho hỏa lực cối 82, ĐKZ 75, 12,7 của Trung đoàn bắn cấp tập, khi hỏa lực ngừng thì cho bộ đội xung phong.

Tiểu đoàn trưởng điện kiểm tra các đại đội, mười phút sau anh báo cáo:

- Báo cáo Trung đoàn trưởng, tất cả đã sẵn sàng.

Tôi ra lệnh nổ súng. Các loại hỏa lực của ta trút đạn chính xác xuống cụm quân Mỹ. Khi pháo binh vừa ngừng, bộ binh xung phong. Các chiến sĩ B40, B41 của Tiểu đoàn 4 lợi dụng đèn dù, pháo sáng của địch nhằm từng chiếc xe tăng, xe bọc thép của quân Mỹ nhả đạn.

Cuộc chiến đấu kéo dài gần 1 tiếng đồng hồ, Tiểu đoàn 4 đã diệt, làm bị thương gần 500 tên Mỹ, phá hủy 12 khẩu pháo, 150 xe quân sự (có 50 xe tăng, xe bọc thép).

Đây là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất của chiến dịch. Sau trận này tôi được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì.

Ngày 13 tháng 3 năm 1967, bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam cách chức tướng Simân – chỉ huy cuộc hành quân và dùng máy bay lên thẳng bốc quân, rút khỏi Kà Tum, Bổ Tức và một số cụm ở tây bắc tỉnh Tây Ninh.

Trên khu vực chiến dịch chỉ còn lữ đoàn 196 bộ binh nhẹ chốt tại Đồng Pan, Bàu Cỏ trên trục đường 4. Đợt một cuộc hành quân Gianxơn Xity của địch kết thúc.

Sư đoàn 9 cùng cán bộ, nhân viên các cơ quan trong khu vực căn cứ Dương Minh Châu và quân dân tỉnh Tây Ninh đã chiến đấu rất anh dũng, bảo vệ được lực lượng, cơ quan, kho tàng; loại khỏi vòng chiến đấu gần 6.000 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 90 máy bay, phá hủy 497 xe quân sự (có 352 xe tăng, xe bọc thép), 33 khẩu pháo và nhiều phương tiện chiến tranh khác, làm thất bại các mục tiêu hành quân của địch.

Phân tích âm mưu và hành động của địch sau đợt một, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền nhận thấy: Địch đã bị thua đau, không thực hiện được ý định, nhưng chúng còn lực lượng và tham vọng. Những ngày mới, có thể chúng sẽ tiếp tục càn khu vực đông sông Tha La đến tây sông Sài Gòn, từ bắc liên tỉnh lộ 13 đến biên giới (tỉnh Tây Ninh). Lực lượng hành quân như đợt một, riêng xe tăng có thể ít hơn và chúng sẽ phải thay đổi cách đánh.

Về phía ta, trong đợt một, du kích các cơ quan đánh tốt. Bộ đội chủ lực đánh được một số trận nhưng do chưa quán triệt đầy đủ quyết tâm và phương châm chỉ đạo tác chiến nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội tiêu diệt địch.

Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định động viên cao nhất sức mạnh tổng hợp các lực lượng, điều chỉnh lại thế bố trí, chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm chống càn đợt một. Nếu địch tiếp tục hành quân đợt hai sẽ tập trung lực lượng chủ lực đánh cho được một, hai trận tiêu diệt tương đối lớn, diệt cụm tiểu đoàn hoặc chiến đoàn địch; đồng thời nhanh chóng tăng cường trang bị nhất là mìn ĐH10 và súng chống tăng B40, bổ sung phương án chống càn cho du kích cơ quan, chỉ đạo lực lượng này bám đánh, tiêu hao, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, phối hợp với toàn chiến trường đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xiti và cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ.

Chúng tôi đã kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm, kiểm điểm sâu sắc ưu điểm, khuyết điểm trong đợt một. Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn nhận thấy trung đoàn chưa thực hiện được quyết tâm đánh lớn, bỏ lỡ nhiều thời cơ tiêu diệt sinh lực địch là do tư tưởng ngại xe tăng, ngại hỏa lực phi pháo, muốn phân tán đánh nhỏ. Biểu hiện tư tưởng này xuất phát từ chỗ đánh giá địch quá cao, cho là chúng đã tập trung ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, cơ giới trên khu vực chiến dịch. Còn ta chỉ cơ động bằng đôi chân, hỏa lực phòng không yếu. Nếu tập trung binh lực đánh lớn sẽ dễ bị binh khí kỹ thuật địch sát thương.

Đảng ủy Trung đoàn 2 ra nghị quyết lãnh dạo tư tưởng chỉ đạo các đơn vị đấu tranh với những biểu hiệu bi quan, đánh giá địch cao, thống nhất nhận thức xây dựng trung đoàn để đánh tập trung đội hình trung đoàn. Chỉ có như vậy mới phát huy được vai trò quả đấm chủ lực trên chiến trường. Trong khi Trung đoàn còn có nhiều hạn chế về vũ khí trang bị, về phương tiện cơ động và thông tin liên lạc, muốn đánh lớn phải chủ động hiệp đồng, hiệp đồng theo tiếng súng, xây dựng lòng tin lẫn nhau giữa trên và dưới, giữa các đơn vị trong Trung đoàn, tin tưởng đơn vị đến tăng cường phối hợp.

Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 chỉ đạo các đơn vị khẩn trương chuẩn bị, quyết tâm đánh phủ đầu ngay khi quân Mỹ tiếp tục cuộc hành quân, đặc biệt sẽ tập rung lực lượng đánh một số trận tiêu diệt lớn. Nếu địch không càn sẽ nghiên cứu, đánh tiêu diệt một căn cứ xuất phát hành quân của chúng. Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Trung đoàn 2 và Trung đoàn 16 phản công địch trên hướng chính, Trung đoàn 1 chuyển về tây bắc Kà Tum làm lực lượng dự bị.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:22:22 PM
*

Ngày 18 tháng 3 năm 1967, Mỹ tiếp tục đợt hai cuộc hành quân Gianxơn Xity. Chúng chia lực lượng thành hai cánh, càn quét khu vực đông bắc tỉnh Tây Ninh. Từ Dầu Tiếng (hướng tây nam) lữ đoàn 3 sư đoàn bộ binh 4, một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 đổ quân bằng máy bay lên thẳng và tiến quân bằng cơ giới theo lộ Kiểm Lâm lên Đồng Rùm. Lữ đoàn 1 sư đoàn bộ binh cơ giới 25 tiến theo lộ ủi Bà Chiêm lên Đồng Kèn. Từ Hớn Quản, lữ đoàn 2 sư đoàn bộ binh 1, một bộ phận của trung đoàn thiết giáp 11 cơ động bằng máy bay lên thẳng và cơ giới tiến theo lộ Đá Đỏ, đóng chốt ở Bàu Trâm, Bàu Cối, nối liền với cụm quân ở Sóc Con Trăng bằng một cụm cơ giới và pháo binh ở phía nam ngã ba Bà Chiêm.

Rút kinh nghiệm đợt một, quân Mỹ tập trung từng cụm lớn có cả bộ binh, xe tăng, pháo binh, từ đó đánh tỏa ra xung quanh, vừa thăm dò, vừa phá, vừa thọc sâu vào căn cứ của ta, vừa chú trọng giữ vị trí bàn đạp. Chúng tỏ ra dè dặt, thận trọng hơn.

Nhưng cũng như đợt một, quân Mỹ đã bị chặn đánh trên tất cả các hướng ngay trong ngày đầu hành quân. Du kích cơ quan hậu cần Miền diệt 8 xe bọc thép trên đoạn đường từ Suối Đá lên Lộc Ninh. Ở Đồng Rùm, Mỹ đổ quân trúng bãi mìn ta đã bố trí sẵn. Tám máy bay lên thẳng nổ tung, nhiều lính Mỹ chết và bị thương. Trên đường 13, Trung đoàn 3 vận động từ xa, tập kích cụm quân Mỹ (lữ đoàn 1 sư đoàn vệ binh 9) khi chúng đang triển khai đội hình hành quân ở khu vực Bàu Bàng, làm thương vong gần 400 tên, phá hủy 92 xe quân sự (có 65 xe tăng, xe bọc thép) và 9 khẩu pháo.

Ngày 19 tháng 3 năm 1967, lữ đoàn 3 sư đoàn 4 và một tiểu đoàn của lữ đoàn 173 không vận đổ xuống Đồng Rùm. Đây là một trảng lớn, dài hơn 1.000 mét, rộng khoảng 800 mét. Xung quanh có nhiều trảng trống khác như Tri Giếc, Trảng Sài, Sóc Xoài, Chà Dơ, Trảng Tranh… Bìa trảng là những vạt rừng thưa, cây thân gỗ mọc xen với le, phần lớn lá cây đã trụi hết vì chất độc hóa học Mỹ. Phía tây trảng là Suối Dây và sông Tha La, phía nam là đường liên tỉnh 13, phía đông là lộ kiểm lâm Chà Dơ – Bổ Tức, phía bắc có lộ kiểm lâm từ trảng Sóc Xoài đến bờ sông Tha La. Đóng quân ở Đồng Rùm, quân Mỹ có thể tỏa ra, càn quét khu vực giữa liên tỉnh lộ 4 và lộ ủi Bà Chiêm. Sau khi đổ quân chiếm lĩnh toàn bộ khu vực trảng trong hai ngày 19 và 20 tháng 3, quân Mỹ ra sức củng cố công sự, hình thành hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài có xe tăng, xe bọc thép đóng xen kẽ với bộ binh. Tuyến trong bố trí các cụm cơ giới, mỗi cụm có 3 hoặc 5 xe tăng, mỗi xe là một lô cốt di động, ngoài ra còn có 6 lô cốt bằng bê tông do máy bay cần cẩu chuyển tới, đứng giữa là sở chỉ huy, thông tin, trận địa pháo cối.

Khi Mỹ đổ quân, Trung đoàn 2 chúng tôi đang ở Chà Dơ, cách Đồng Rùm 5 kilômét về phía đông nam. Trung đoàn 16 đứng cách Đồng Rùm 7 kilômét về phía bắc. Sau đợt tác chiến thứ nhất, cả hai trung đoàn đã được củng cố về tổ chức, bổ sung quân số, trang bị. Mỗi tiểu đoàn có 350 cán bộ chiến sĩ. Ngoài súng bộ binh, được trang bị 4 khẩu cối 82, 3 khẩu ĐKZ 75, 3 khẩu súng máy cao xạ 12,7. Mỗi tiểu đội bộ binh có 1 khẩu trung liên và 1 súng chống tăng B40. Quyết tâm chiến đấu của các đơn vị rất cao, cán bộ, chiến sĩ đều sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu, lập công.

Ngày 20 tháng 3, sau khi nghe trinh sát bao cáo kết quả điều tra cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm, Đảng ủy Trung đoàn hạ quyết tâm nổ súng, đánh gấp ngay trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3.

Đánh gấp, thời gian chuẩn bị ngắn sẽ có nhiều khó khăn về triển khai mạng thông tin chỉ huy, về bố trí pháo kiềm chế trận địa pháo địch, trận đánh có thể kéo dài sang ngày hôm sau, phải đối phó với không quân và quân tăng viện của địch, có thể xuất hiện nhiều tình huống mới vì bộ đội chưa nắm được cụ thể cách bố trí lực lượng và công sự của địch. Nhưng đánh gấp, Trung đoàn có thể phát huy cao độ yếu tố bất ngờ, khoét sâu được chỗ yếu của địch, tranh thủ lúc địch mới đổ quân, tổ chức hiệp đồng chưa chặt chẽ và chưa kịp củng cố công sự để tiêu diệt chúng. Trung đoàn 2 chúng tôi đột phá hướng chủ yếu, từ phía bắc đánh xuống.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 3 năm 1967, chúng tôi đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức hiệp đồng giữa các hướng. Các đơn vị đều giữ bí mật tốt.

5 giờ 39 phút sáng 21 tháng 3, tôi ra lệnh bắt đầu nổ súng. Sau các loạt bắn cấp tập của cối, ĐKZ, tôi lệnh cho Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6 đột phá qua tiền duyên, đánh nhanh, xung phong đồng loạt, diệt nhiều hỏa điểm và xe cơ giới địch, đánh bật các đợt phản xung phong của chúng.

Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 nhanh chóng thọc sâu, đánh trúng sở chỉ huy địch. Phía bắc, hai tiểu đoàn 7 và 9 Trung đoàn 16 nhanh chóng vận động về hướng có tiếng súng, phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 2 chúng tôi.

Sau ba giờ chiến đấu, bộ đội ta cơ bản diệt được sở chỉ huy địch (nói cơ bản vì tên lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 sư đoàn 4 chạy thoát bằng máy bay lên thẳng), diệt gần hết cụm quân Mỹ ở phía nam, đánh thiệt hại nặng cụm quân Mỹ ở phía bắc trảng. Lúc này trời đã sáng rõ. Từ các trận địa pháo ở Lộc Ninh, Bàu Cỏ pháo địch bắn mạnh vào các khu vực đã bị mất để sát thương lực lượng ta. Nhiều tốp máy bay phản lực, máy bay lên thẳng vũ trang rà thấp trên các vạt rừng xung quanh trảng, ném bom phá, bom bi để sát thương và ngăn không cho ta phát triển. Một đại đội xe tăng địch từ phía tây trảng tiến ra, hợp với lực lượng còn lại của cụm quân phía bắc phản kích quyết liệt trên các hướng Trung đoàn 16. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 đã anh dũng đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa. Nhưng nhiều đơn vị của ta cũng bị tổn thất nặng. Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chỉ còn 9 cán bộ, chiến sĩ nên không đủ sức tiến công.

8 giờ sáng ngày 21 tháng 3, tôi lệnh cho các đơn vị thu dọn chiến trường, giải quyết thương binh tử sĩ và rút khỏi trận địa.

Trận này, quân Mỹ chết và bị thương 1.270 tên. Ba tiểu đoàn, gồm 1 tiểu đoàn bộ binh (lữ đoàn dù 1733, sư đoàn 4), 1 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn cơ giới bị tiêu diệt, 1 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn dù 173 Mỹ bị đánh thiệt hại nặng, 87 xe tăng M41, xe bọc thép M113 bị phá hủy, 12 máy bay các loại bị bắn rơi.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Năm, 2019, 02:23:55 PM
Trong cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity của quân Mỹ, đây là trận đánh tiêu diệt lớn nhất của ta, một trận có ý nghĩa quyết định làm thất bại hoàn toàn cuộc hành quân lớn của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân Miền đập tan cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi của trận đánh là kết quả của quá trình xây dựng, không ngừng nâng cao quyết tâm đánh Mỹ, tìm tòi, sáng tạo cách đánh quân Mỹ có trang bị hiện đại của cán bộ, chiến sĩ ta. Đặc biệt trong trận đánh này, chúng tôi đã có bước tưởng thành mới về vận động tập kích với thời gian chuẩn bị ngắn (7 giờ), về tinh thần chủ động hiệp đồng trong chiến đấu, về trình độ bắn súng, nhất là súng máy cao xạ, về sử dụng các phân đội nhỏ (tiểu đội, trung đội) thọc sâu, chia cắt làm tê liệt ngay từ đầu sở chỉ huy địch. Cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã tích lũy thêm kinh nghiệm với về chuẩn bị và tổ chức đánh cụm quân Mỹ đóng quân dã ngoại, về hành quân chiếm lĩnh trận địa, phát huy hỏa lực và thực hành xung phong đánh chiếm tiền duyên, tổ chức rút lui sau khi trận đánh kết thúc.

Sau khi bị thiệt hại nặng ở Đồng Rùm, cánh quân Mỹ trên hướng này bắt đầu co lực lượng lại. Lính Mỹ hoang mang, chỉ huy lúng túng. Hãng tin Mỹ AP ngày 27 tháng 3 bình luận: “Lính Mỹ đánh vào Chiến khu C Dương Minh Châu như người ta đấm vào một quả bóng”.

Ngày 1 tháng 4, quân Mỹ rút cụm Đồng Rùm và toàn bộ cámh quân trên hướng này về hậu cứ.

Ở hướng Sóc Con Trăng, Bàu Tràm, các mũi hành quân của quân Mỹ cũng liên tiếp bị tập kích phục kích. Một tiểu đoàn Mỹ đóng chốt ở Sóc Trâm bị du kích cơ quan bao vây, kiềm chế. Đây là thời cơ tốt để ta có thể tập trung chủ lực đánh tiêu diệt. Nhưng khi Trung đoàn 1 và Trung đoàn 16 cơ động lực lượng tới thì địch dùng máy bay lên thẳng bốc hết tiểu đoàn này, đồng thời đổ hai tiểu đoàn khác xuống Bàu Ba Vũng (tây bắc cầu Suối Ngô). Bộ chỉ huy chiến dịch lập tức thay đổi kế hoạch, sử dụng một tiểu đoàn kiềm chế và khẩn tương trinh sát nắm địch.Ngày 31 tháng 3, Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 16 vận động tập kích cụm quân Mỹ ở nam trảng, đánh thiệt hại nặng hai đại đội địch, đanh lui ba đợt phản kích của chúng; đồng thời kiềm chế cụm quân Mỹ ở phía bắc, pháo kích cụm quân địch ở Sóc Con Trăng.

Đầu tháng 4 năm 1967, quân Mỹ bắt đầu rút lực lượng ra khỏi khu vực càn quét. Các trung đoàn chủ lực và các đội du kích cơ quan khẩn trương cơ động bám đánh địch ở các khu vực Cần Lê, Bình Phú, Hớn Quản… Nhưng do địch tổ chức rút quân có kế hoạch, tích cực nghi binh đánh lạc hướng ta để rút từng cụm, từng điểm bằng máy bay lên thẳng nên chúng tôi chỉ đánh được một số trận nhỏ.

Ngày 13 tháng 4, cụm quân Mỹ cuối cùng rút khỏi Sóc Con Trăng.

Cuộc hành quân Gianxơn Xity bắt đầu từ ngày 22 tháng 2 và kết thúc ngày 13 tháng 4 năm 1967 với thất bại hoàn toàn của quân Mỹ. Trên khu vực càn quét, địch chỉ đóng thêm được hai chốt ở Đồng Pan và Cần Lê. Các mục tiêu chính của cuộc hành quân như diệt cơ quan đầu não kháng chiến, diệt các sư đoàn chủ lực Miền, triệt phá căn cứ, kho tàng của ta, giành một thắng lợi quan trọng làm chuyển biến cục diện chiến tranh đều không thực hiện được. Quân Mỹ bị tổn thất rất nặng. Một phần tư binh lực (trên 1.400 tên) mà địch huy động vào cuộc càn bị thương vong; một nửa số pháo cối từ 105 ly trở lên (112 khẩu), một phần ba xe tăng, xe bọc thép (775 xe) bị phá hủy, 160 máy bay (có 144 máy bay lên thẳng) bị bắn rơi và phá hủy. Đây là một đòn đau, một bất ngờ lớn đối với cuộc hành quân đầy tham vọng và được tuyên truyền rùm beng lúc đầu. Hành động phản chiến, nghiện ma túy, không chấp hành lệnh chỉ huy lan truyền như một bệnh dịch trong lính viễn chinh Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Nhiều thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch. Các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đòi rút quân về nước của nhân dân Mỹ ngày càng lan rộng đến tập thềm nhà Quốc hội Mỹ.

Trên chiến trường, gọng kìm “tiêu diệt” với cuộc hành quân lớn nhất là Gianxơn Xity đã bị bẻ gãy. Gọng kìm “bình định” bị đánh khắp nơi. Cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ trong cuộc “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam đã bị quân và dân ta đánh bại.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:20:43 PM
CHƯƠNG BA
ĐÁNH ĐỊCH TRONG THÀNH PHỐ SÀI GÒN TẾT MẬU THÂN 1968

Phân tích tình hình trong nước và thế giới, đặc biệt là từ sau khi quân và dân ta đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của đế quốc Mỹ ở miền Nam và đánh bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại của chúng trên miền Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận thấy một cục diện mới và những yếu tố của thời cơ chiến lược đang đến.

Tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất, đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích – tổng khởi nghĩa. Phương hướng và mục tiêu cụ thể là tập trung lực lượng quân sự, lực lượng chính trị tiến công đồng loạt, bất ngờ vào nơi địch sơ hở nhất lúc này là các thành thị, hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Sử dụng những quả đấm chủ lực mạnh, đánh quỵ từng binh đoàn chủ lực của ngụy, thu hút, kiểm chế lực lượng cơ động của Mỹ ở các chiến trường rừng núi Trị - Thiên, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Phối hợp ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự của Mỹ - ngụy, làm đảo lộn thế chiến lược của chính, đánh đổ ngụy quyền, làm thay đổi căn bản so sánh lực lượng trên chiến trường, đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Để thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo lực lượng vũ trang trên các chiến trường cả nước khẩn trương tiến hành các mặt công tác chuẩn bị, đặc biệt là “nâng cao trình độ đánh tiêu diệt lớn của bộ đội chủ lực”(1). Yêu cầu và mục tiêu cụ thể của đánh tiêu diệt lúc này là diệt lữ đoàn Mỹ ở ngoài công sự là chính, tranh thủ đánh địch trong công sự khi có điều kiện và chắc thắng; diệt sư đoàn ngụy ở ngoài công sự, trong vận động. Thực hiện “1 diệt, 4 cắt” (diệt chỉ huy, phá thông tin ngay từ đầu, cắt bộ binh với không quân, bộ binh với pháo binh, bộ binh với cơ giới, bộ binh với bộ binh). Quân ủy Trung ương chỉ rõ: “Trong mọi trường hợp phải có biện pháp làm giảm thương vong đến mức thấp nhất, nhưng phải dám đánh những trận tiêu diệt lớn. Những trận then chốt có tính làm thay đổi cục diện chiến tranh thì dù thương vong cao cũng đánh”(2).

Theo tinh thần đó, đảng ủy, chỉ huy các đơn vị đã tập trung chỉ đạo đơn vị mình củng cố tổ chức, tranh thủ mọi thời gian để huấn luyện bộ đội nhằm nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng, vận động tập kích quân địch trong công sự vững chắc, tập hành quân, trú quân và tác chiến ở vùng đồng bằng, vùng ven thành phố; đồng thời tìm nhiều biện pháp cụ thể để giải quyết khó khăn lớn nhất lúc này là bảo đảm hậu cần.

Trong mùa khô 1966 – 1967, nhiều căn cứ hậu cần của Miền, hậu cứ của sư đoàn và các trung đoàn bị địch đánh phá nhiều lần và rất ác liệt. Một số kho gạo, kho đạn phải phân tán hoặc di chuyển để đối phó với các cuộc hành quân càn quét của địch. Mùa mưa đến làm cho việc vận tải vật chất và bảo đảm hậu cần càng trở nên khó khăn. Bữa ăn hàng ngày của chiến sĩ ở các đơn vị đã phải độn thêm nhiều măng tre, rau rừng và củ rừng. Số quân ốm đau tăng lên, nhiều nhất là bệnh sốt rét.

Do tình hình cần thiết lúc đó, và thực hiện chỉ thị của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, sư đoàn đã điều động Trung đoàn 1 sang làm nhiệm vụ vận tải trong một thời gian trên địa bàn Phước Long, Sông Bé. Đây là khu vực địch thường xuyên ném bom, bắn pháo, dùng máy bay lên thẳng thả biệt kích, thám báo và mở các cuộc hành quân càn quét để tìm dấu vết, đánh phá các kho tàng của ta, ngăn chặn các tuyến vận tải giữa Chiến khu Đ và Chiến khu Dương Minh Châu, giữa các căn cứ miền núi với vùng trung tuyến. Do đó, trong nhiều chuyến vận tải và bảo vệ các đoàn vận tải, các chiến sĩ Trung đoàn 1 đã phải chiến đấu với thám báo và quân địch càn quét. Có chiến sĩ hy sinh, nhiều chuyến hàng phải đổi bằng máu. Trong hơn ba tháng (từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1967), Trung đoàn 1 đã thực hiện nhiều chuyến vận tải và bảo vệ an toàn các đoàn vận tải hàng về đến căn cứ. Từ tháng 10 năm 1967, trung đoàn chuyển sang vùng Long Nguyên, Thanh Tuyền, chuẩn bị bàn đạp tiến công mới trên hướng bắc Sài Gòn theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh Miền và các đơn vị.

Tháng 1 năm 1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 14 ra nghị quyết nhằm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Trung ương Đảng đã dự kiến chiều hướng phát triển của tình hình, đề ra nhiệm vụ của các lực lượng, xác định vị trí của từng chiến trường. trong tình hình địch còn trên một triệu quân ở chiến trường và có tiềm lực chiến tranh lớn, “cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa của quân và dân ta sẽ là một quá trình tiến công chiến lược rất ác liệt và phức tạp”(3). Đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực trên các chiến trường có lợi và đòn tiến công của các đơn vị xung kích kết hợp với nổi dậy của nhân dân ở các đô thị và vùng ven là hai đòn chính. Miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn – Gia Định là hướng quan trọng nhất.

Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã tổ chức lại chiến trường miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định, thành lập “khu trọng điểm” gồm sáu phân khu. Lực lượng vũ trang của mỗi phân khu có từ hai đến bốn tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ các tiểu đoàn mũi nhọn hướng vào nội thành Sài Gòn, cùng các đội công tác, biệt động đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong thành phố. Các sư đoàn chủ lực trong đó có Sư đoàn 9 tiến công các căn cứ địch ở vòng ngoài, kiềm chế và ngăn chặn các sư đoàn Mỹ và ngụy, không cho chúng đưa lực lượng về Sài Gòn, bảo đảm phía sau cho lực lượng vũ trang các phân khu. Mục tiêu tấn công của Trung đoàn 1 là trung tâm huấn luyện Quang Trung. Trung đoàn 2 đánh địch phản kích và ngăn chặn sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù. Trung đoàn 3 tiến công khu kho Long Bình và chi khu quân sự Thủ Đức. Các đơn vị đều được củng cố tổ chức, bổ sung quân số, trang bị.


(1) Điện số 98, ngày 9 tháng 9 năm 1967 của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.
(2) Điện số 98, ngày 9 tháng 9 năm 1967 của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gửi Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.
(3) Nghị quyết hội nghị lần thứ 14 Trung ương Đảng (1-1968).


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:21:19 PM
Theo quyết định điều động của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, anh Hoàng Cầm, Sư đoàn trưởng và anh Lê Văn Tưởng, Chính ủy sư đoàn chuyển về công tác ở cơ quan Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Anh Tạ Minh Khâm được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Tòng được bổ nhiệm làm chính ủy sư đoàn.

Tháng 1 năm 1968, từ các căn cứ, bộ đội ta bắt đầu hành quân về đồng bằng. Khí thế xuống đường, niềm tin “dứt điểm” lên rất cao. Hàng nghìn thư quyết tâm của các đơn vị và cá nhân gửi lên Đảng ủy, chỉ huy sư đoàn, trung đoàn nguyện chiến đấu, hy sinh làm tròn nhiệm vụ trong thời cơ lịch sử. Có những cán bộ, chiến sĩ bị quáng gà do nhiều năm ở trong rừng, ăn uống kham khổ, thiếu sinh tố, nhưng vẫn một mực xin được đi chiến đấu cùng đơn vị. Trên đường hành quân xa hàng trăm cây số, chủ yếu là đi đêm, chúng tôi đã vượt qua nhiều kênh rạch, nhiều cánh đồng trống trải, có đoạn phải đi gần các đồn bốt địch. Nhân dân vùng giải phóng, vùng tạm bị chiếm rất phấn khởi khi thấy bộ đội chủ lực ta tiến về đồng bằng, thành phố để đánh địch. Nhiều người mang bánh tét, trái cây, nước hoa quả, thuốc lá, thuốc chữa bệnh… ra ủng hộ bộ đội. Có người xin với chỉ huy đơn vị cho con em mình được bộ đội giải phóng.

Ngày 31 tháng 12 năm 1967, trên giao cho Trung đoàn 2 chúng tôi tổ chức một bộ phận lực lượng của Trung đoàn vận động tập kích đại đội quân Mỹ ở ngã ba Bà Chiêm. Chúng tôi giao cho Tiểu đoàn 5 dùng một đại đội tăng cường tập kích quân Mỹ. Sau 30 phút chiến đấu Tiểu đoàn 5 làm chủ trận địa, mở đường đưa một đơn vị vượt qua tuyến phòng thủ của địch.

Lệnh tiến công và nổi dậy đồng loạt phát ra rất nhanh và hoàn toàn giữ được bí mật. Thời gian được tính từng phút. Không gian như nín thở chờ đợi sự chuyển mình của lịch sử. Trên đường hành quân, qua làn sóng của Đài phát thành Giải phóng, cán bộ, chiến sĩ chúng tôi vô cùng xúc động được nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ. Cả miền Nam đang anh dũng xốc tới trong lời thơ hào hùng của Bác.

            Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
            Thắng trận tin vui khắp nước nhà
            Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
            Tiến lên!
            Toàn thắng ắt về ta.


Chưa có lần ra quân nào giục giã lòng người ra trận như cuộc Tổng tiến công vá nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Không một ai phân vân do dự trước sự hy sinh có thể xảy ra đối với bản thân mình trong cuộc chiến lịch sử này. Tôi còn nhớ, anh em thương binh, bệnh binh đang điều trị cũng nằng nặc xin được về đơn vị đi chiến đấu. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ trông coi hậu cứ cũng náo nức xin ra trận. Đơn vị nào cũng xuất kích với quân số cao nhất.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, cả chiến trường thao thức, chờ đợi giờ nổ súng. Từ khắp nơi, tín hiệu nổ súng xuyên màn đêm tới tấp báo tin về Bộ Tư lệnh Miền.

Đúng đêm giao thừa và đêm mùng 1 Tết Mậu Thân (ngày 30 và ngày 31 tháng 1 năm 1968), ta tiến công đồng loạt toàn miền Nam gồm 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn. Ta đánh vào hầu hết cơ quan đầu não của địch bao gồm 4 bộ tư lệnh quân khu, quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay, nhiều tổng kho lớn của địch. Do có sự nhầm lẫn trong công tác tham mưu khi truyền lệnh “Ngày N” và “giờ G”, giờ G là 0 giờ giao thừa, không ai nhầm lẫn nhưng “ngày N” hiệp đồng với nhau là đêm 30 Tết. Do lịch (âm lịch) ở miền Nam chậm hơn lịch phát hành ở miền Bắc 1 ngày, mặc dù trong điện có mở đóng ngoặc “tức là dương lịch”, nhưng ở chiến trường miền Nam mọi người chỉ nghĩ là đêm 30 Tết, không chú ý đến ngày dương lịch, nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn không được bất ngờ như nơi khác.

Ở Huế, quân và dân ta đã nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, sau 48 giờ đã làm chủ hoàn toàn thành phố và giữ vững ở đó suốt 26 ngày đêm.

Ở Quảng Trị, Đường số 9, sau khi tiêu diệt chi khu Hướng Hóa, bộ binh và xe tăng ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Làng Vây và tiếp đó vây hãm Khe Sanh – Tà Cơn suốt 77 ngày đêm, buộc quân Mỹ phải rút khỏi Khe Sanh.

Ở Tây Nguyên, 0 giờ 45 phút, ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột; 0 giờ 55 phút, ta tiến công thị xã Plei Ku; 1 giờ 45 phút, ta tiến công thị xã Kon Tum. Trên hướng Buôn Ma Thuột, từ phút đầu, ta đánh chiếm đài phát thanh, sư đoàn bộ sư đoàn 23, tòa hành chính, ty cảnh sát, sân bay Buôn Ma Thuột. Hướng thị xã Plei Ku, ta đánh vào trung tâm thị xã, diệt bọn cảnh sát, bảo an, phá ba nhà lao, giải phóng 2.000 người bị địch bắt. Các đội đặc công tiến công sân bay Arêa và sân bay Cù Hanh, phá hủy 45 máy bay. Hướng thị xã Kon Tu, ta đánh chiếm khu hành chính, tiểu khu Kon Tum, một phần biệt khu 24, sân bay, phá 26 máy bay, nhiều kho tàng đạn dược…


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:21:37 PM
Ở Sài Gòn – Gia Định, bộ đội đặc công, biệt động đánh những trận gây chấn động lớn, như đánh Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu ngụy, biệt khu Thủ đô, Đài phát thanh Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất… cũng các tiểu mũi nhọn của các phân khu nổ súng đánh địch quyết liệt ở vùng ven. Một số đơn vị vượt qua tuyến ngăn chặn của địch, tiến vào nội thành, phối hợp chiến đấu với bộ đội đặc công và biệt động.

Các sư đoàn chủ lực Miền tiến công một số căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy, thực hiện kiềm chế và ngăn chặn, không cho địch đưa lực lượng về Sài Gòn. Do thời gian rất gấp, đường hành quân xa và gặp nhiều trở ngại vì địch ngăn chặn, nhiều đơn vị vừa hành quân vừa đánh địch nên phần lớn không đến kịp thời gian theo kế hoạch.

Trung đoàn 2 chúng tôi có nhiệm vụ đánh địch ở vùng ven thành phố, cắt một số đoạn trên đường số 1, ngăn chặn sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù, không cho chúng kéo về Sài Gòn. Mỗi tiểu đoàn tổ chức trận địa ở một khu vực.

Tại xã Tân Phú Trung, huyện Hóc Môn nằm ven đường số 1 là khu vực ngăn chặn địch của Tiểu đoàn 4. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, lợi dụng các vườn cây che khuất để giấy quân và cơ động lực lượng, tranh thủ củng cố công sự để tránh bị sát thương và đánh địch. Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 4 đã đánh lui các đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa dưới hỏa lực bom pháo ác liệt của chúng. Có ngày, từ sáng đến chiều tối, địch huy động 170 xe tăng, xe bọc thép, nhiều tiểu đoàn dù và bộ binh phản kích liên tục hàng chục lần. Bom, pháo địch phá nát các vườn cây trái, phá hủy nhiều nhà dân, làm thương vong hàng chục dân thường và nhiều cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4. Nhưng trong suốt 14 ngày đêm, địch không giải tỏa được đoạn đường số 1 qua xã Tân Phú Trung. Tiểu đoàn 4 giữ vững trận địa cho tới khi có lệnh lui quân của trên.

Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 tiêu diệt và bức hàng một số đồn bảo an, dân vệ ở vùng ven căn cứ Đồng Dù. Vũ khí thu được trong các đồn của địch, bộ đội ta trang bị cho du kích địa phương.

Bị ta uy hiếp mạnh, quân địch trong căn cứ Đồng Dù gọi máy bay đến ném bom và liên tục bắn pháo vào các khu vực nghi ngờ có bộ đội ta. Có ngày trận địa Tiểu đoàn 5 bị trúng bom địch, 70 cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh. Chúng tôi chỉ đạo cho Ban chỉ huy Tiểu đoàn một mặt dựa vào sự giúp đỡ của cấp ủy Đảng và nhân dân địa phương để mai táng tử sĩ, đưa thương binh về tuyến sau, một mặt lãnh đạo tốt công tác tư tưởng, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi hy sinh, ác liệt, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ trên địa bàn được phân công.

Mấy ngày sau trận oanh tạc của máy bay địch, các chiến sĩ trinh sát trung đoàn phát hiện quân địch đang tập trung lớn lực lượng bộ binh, nhiều xe tăng, xe bọc thép, chuẩn bị đánh vào khu vực đóng quân của Tiểu đoàn 5. Nhân dân địa phương buộc phải sơ tán để tránh cuộc càn lớn của địch. Tình hình hết sức căng thẳng vì tiểu đoàn vừa bị thương vong lớn, lúc này nếu di chuyển đến địa điểm khác thì có thể bảo toàn được lực lượng còn lại, còn trụ lại đánh địch sẽ bị thương vong tiếp, tình hình diễn biến phức tạp khó có thể lường hết. Tôi suy nghĩ rất lung rồi điện cho Tiểu đoàn trưởng Hoàng Thuần: Dù như thế nào cũng không được bỏ vị trí.

Đây là vùng địch tạm chiếm. Trụ lại đánh địch, trận đánh sẽ rất ác liệt vì địch có ưu thế tuyệt đối về quân số, hỏa lực phi pháo và cơ giới. Nhưng đánh thắng địch sẽ có ảnh hưởng chính trị tốt đối với nhân dân trong vùng địch tạm chiếm, nâng cao uy tín của bộ đội cách mạng.

Tiểu đoàn 5 đã nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh của tôi trụ lại đánh địch vì tất cả đều đã được quán triệt quyết tâm chiến lược trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Ban chỉ huy Tiểu đoàn một mặt phân công cán bộ đi xuống từng tiểu đội quán triệt quyết tâm chiến đấu đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, tạo nên sự nhất trí cao với chủ trương của trên, mặt khác khẩn trương tổ chức lại lực lượng, tiến hành công tác chuẩn bị, động viên bộ đội đào đắp thêm công sự sẵn sàng chiến đấu.

Ngày hôm sau, trận đánh diễn ra ác liệt, căng thẳng từ sáng sớm cho đến khi mặt trời lặn. Sau mỗi đợt phản kích bị đánh bật ra, quân địch lại gọi máy bay tới ném bom, gọi pháo bắn vào trận địa của các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 nhiều nhà dân bị cháy, cây cối bị gãy gập, công sự bị phá hủy nhưng không một mũi tiến công nào của địch vào được trong ấp. Cho đến lúc trời đã nhập nhoạng tối, quân địch vẫn tập trung lực lượng bộ binh và cơ giới tiếp tục đánh vào ấp. Tiểu đoàn trưởng Hoàng Thuần phán đoán có thể đây là đợt phản kích cuối cùng của chúng trong ngày, nên anh quyết định cho một số xe bọc thép địch lọt vào trong ấp, sau đó tập trung hỏa lực đánh bật mũi bộ binh ở phía sau ra xa, tạo thời cơ cho các tổ diệt cơ giới.

Đúng như dự đoán của anh, ba chiếc xe M113 lọt vào trong ấp, anh ra lệnh dùng hỏa lực đánh mạnh vào bộ binh Mỹ buộc chúng phải lùi xa. Bộ đội ta dùng B40 bắn cháy 2 xe M113, còn một chiếc tụi lính hốt hoảng phải nhảy ra khỏi xe chạy thoát thân. Tiểu đoàn 5 bắt sống chiếc xe này.

Đêm hôm đó, đồng bào trở về ấp. Nhìn cảnh cây vườn nhà bị bom đạn tàn phá tan hoang, nhiều má, nhiều chị đã khóc vì nghĩ rằng quân giải phóng đã bị địch giết hại hết. Đến khi thấy bộ đội ta vẫn còn ở trong ấp, lại bắt được xe bọc thép Mỹ, đồng bào rất phấn khởi. Ai cũng khen bộ đội giải phóng dũng cảm, gan dạ, tài giỏi. Người lo cơm, người mang theo trái cây đến thăm hỏi, cùng bộ đội chăm sóc thương binh… Tình quân dân thêm mặn mà, gắn bó hơn trong chiến đấu.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:22:53 PM
*

Đánh địch ở đồng bằng và vùng ven thành phố là một giai đoạn mới trong lịch sử xây dựng và chiến đấu của Trung đoàn 2. Mỗi hướng hoạt động, mỗi trận đánh đều phải đáp ứng yêu cầu rất cao về thời gian và tính đồng loạt của chỉ đạo chiến lược. Khi chúng tôi tiến về đánh địch ở vùng ven, hoạt động tiến công và nổi dậy ở nội thành đã lắng xuống. Các lực lượng đánh địch trong nội thành Sài Gòn (các đội đặc công, biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu) đã bị tổn thất. Các mục tiêu quan trọng đều đánh trúng nhưng không giữ được. Phong trào nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng không diễn ra như kế hoạch dự kiến. Quân địch sau phút hốt hoảng, bối rối lúc đầu đã kịp thời hồi tỉnh lại, chúng gấp rút điều động nhiều sư đoàn, lữ đoàn Mỹ - ngụy kể cả lực lượng dự bị chiến lược về Sài Gòn mở cuộc “hành quân quyết thắng” nhằm đẩy lực lượng ta ra khỏi nội thành và vùng ven.

Từ ngày thành lập, Trung đoàn 2 hoạt động và tác chiến chủ yếu ở địa bàn rừng núi. Cách đánh đã trở thành sở trường của trung đoàn là vận động tập kích và vận động phục kích, phát huy yếu tố bí mật, bát ngờ, thọc sâu, chia cắt và đánh gần để tiêu diệt địch. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn tiến về đánh địch ở đồng bằng. Do thời gian ngắn, công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công rất cập rập. Nhiệm vụ và mục tiêu mới được phổ biến trong kế hoạch, trên bản đồ, chưa được điều tra nghiên cứu. Tương quan lực lượng trong các trận chiến đấu rất chênh lệch; địch phát huy tối đa sức mạnh của không quân, pháo binh, cơ giới ở địa hình đồng bằng. Trong phần lớn các trận chiến đấu, ta chỉ giành được chủ động trong những phút đầu, sau đó phải chuyển sang đánh đêm, đánh địch phản kích với hình thức tác chiến phòng ngự.

Nhận định về đợt một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên chiến trường trong những ngày Mậu Thân 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định: Ta đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàn phán với ta để giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.

Ngày 9 tháng 2 năm 1968, trong một báo cáo gửi về Mỹ, tướng Oétmolen – Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam thừa nhận: Nói theo quan điểm thực tế thì đối phương đã đánh cho chính phủ Nam Việt Nam (ngụy quyền) một cú đấm nặng nề. Họ đưa chiến tranh vào các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại…, nền kinh tế bị phá hoại, các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa vì các trại đã bị thương vong rất nhiều.

Về phía ta, do để ra mục tiêu chiến lược quá cao nên đã không thực hiện được. Tổng khởi nghĩa không nổ ra. Đòn tiến công quân sự chưa đủ mạnh, chưa đánh được những trận tiêu diệt các đơn vị lớn quân địch có ý nghĩa rung chuyển. Các chiến trường, các đơn vị đều có cố gắng nhưng vì thời gian chuẩn bị ngắn, lại phải giữ tuyệt đối bí mật nên việc chuẩn bị vật chất và công tác bảo đảm chưa đầy đủ, tổ chức chỉ huy chưa chặt chẽ, hợp lý. Khí thế xuất trận rất cao, nhưng do chuẩn bị tư tưởng một chiều, chỉ thấy khả năng “dứt điểm” nên khi lực lượng bị tổn thất, buộc phải rút ra đã xuất hiện những biểu hiện hữu khuynh, bi quan…

Hội nghị Trung ương cục (tháng 4 năm 1968) chủ trương: “Mở đợt tiến công thứ hai nhằm liên tục tiến công địch và phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, ra sức tiêu hao, tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, duy trì và đẩy mạnh các hoạt động trên địa bàn đô thị, làm chủ các đường giao thông trên địa bàn đô thị, làm chủ các đường giao thông chiến lược, giải phóng và làm chủ toàn bộ nông thôn đồng bằng và miền núi, tăng cường xây dựng hậu phương lớn mạnh về mọi mặt, nhanh chóng xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang và chính trị, giành thắng lợi liên tiếp và vững chắc, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn với tinh thần hết sức khẩn trương, đồng thời sẵn sàng ứng phó một cách chủ động nếu chiến tranh kéo dài và mở rộng”.

Để thực hiện chủ trương trên, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định sử dụng một bộ phận chủ lực (hai trung đoàn của Sư đoàn 9) cùng các tiểu đoàn mũi nhọn tiến vào các khu vực đông dân trong nội thành Sài Gòn, phát động quần chúng nổi dậy phá rã bộ máy kìm kẹp của địch từ quận trở xuống, xây dựng chính quyền cách mạng trong thành phố. Trung tuần tháng 4 năm 1968, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ, thông qua quyết tâm của từng đơn vị chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm đợt một.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:23:20 PM
Đối với một cuộc tập kích chiến lược, một trận đánh tập kích, yếu tố bí mật, bất ngờ có ý nghĩa quyết định thành công hay thất bại. Khó khăn lớn nhất đối với các trung đoàn chủ lực và các lực lượng trên chiến trường khi bước vào đợt hai là không còn yếu tố bí mật, bất ngờ kể cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Kế hoạch tiến công cụ thể của đợt này lại bị lộ. Trước tình hình đó, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn giữ vững quyết tâm, chỉ đạo các đơn vị kiên quyết tiến công, đánh nhanh, thọc sâu vào sào huyệt địch, đạt cho được mục tiêu của cuộc tiến công chiến lược.

Theo kế hoạch, các trung đoàn của Sư đoàn 9 chuyển về hướng tây, tây nam Sài Gòn lấy vùng nông thôn Long An, Gia Định làm vị trí bàn đạp tiến vào thành phố. Đây là vùng đồng bằng trống trải, dày đặc đồn bốt địch. Để tiến tới mục tiêu, các đơn vị đã phải lội qua nhiều đồng lầy, kênh rạch, vượt qua nhiều đồn bốt và tuyến ngăn chặn của địch. Quyết tâm của các đơn vị rất cao, nhưng sức chiến đấu đã giảm sút sau đợt một, tiếp đó lại bị tiêu hao qua ba tháng bám trụ ở vùng ven. Địch đã tăng cường lực lượng về Sài Gòn (50 tiểu đoàn) tổ chức ba tuyến phòng thủ tương đối chặt chẽ. Ở nội thành, bọn cảnh sát, mật vụ ráo riết truy tìm đánh phá cơ sở của ta. Tuyến sát ven đô có 10 tiểu đoàn án ngữ trên năm hướng ta đánh vào nội thành trong đợt một. Ở tuyến ngoài (các quận ngoại thành) các sư đoàn chủ lực Mỹ - ngụy liên tục càn quét, đánh phá các bàn đạp tiến công của ta. Trong đợt tiến công này ta không còn thế phối hợp bên trong và bên ngoài thành phố do lực lượng đặc công biệt động bị thương vong lớn trong đợt một, các cơ sở quần chúng đều đã bị lộ. Ta cũng không còn thế tiến công đồng loạt trên toàn chiến trường vì chỉ có mặt trận Sài Gòn nổ súng.

Đó là những khó khăn rất lớn của chúng tôi khi bước vào đợt hai thực hiện quyết tâm chiến lược của trên. Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968, cùng lực lượng vũ trang các phân khu. Trung đoàn 2 chúng tôi nổ súng đánh vào Sài Gòn – Gia Định. Đợt này diễn ra qua hai bước. Bước một từ ngày 5 tháng 5 ta đánh mạnh đều khắp trên các hướng tây, tây nam, tây bắc và đông, đến ngày 21 tháng 5 rút ra đánh địch ở vùng ven. Bước thứ hai từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 18 tháng 6, ta tiến công trên các hướng bắc, đông bắc và tây Sài Gòn.

Theo nhiệm vụ, Trung đoàn 2 chúng tôi vừa có tiểu đoàn thọc sâu vào nội đô, vừa có đơn vị đánh chiếm chốt chặn ở ngã tư bà Điểm, Hóc Môn. Tôi bàn với anh Tám Dành – Chính ủy:

- Ta dùng Tiểu đoàn 4 thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm ngã tư Bảy Hiền rồi phát triển theo đường Lê Văn Duyệt đánh vào Biệt khu Thủ đô. Dùng Tiểu đoàn 5 đánh chiếm và chốt chặn ngã tư Bà Điểm ở Hóc Môn. Tiểu đoàn 6 triển khai đội hình phòng ngự ở bưng Bình Thủy, bảo vệ Sở chỉ huy Trung đoàn ở Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Anh Tám Dành nói:

- Về sử dụng lực lượng tôi nhất trí ý kiến của anh Năm. Đánh vào Sài Gòn lúc này các yếu tố bất ngờ đã hết. lực lượng của địch vừa đông lại trang bị mạnh, bộ đội ta chỉ có hỏa lực mang vác nên phải phát huy yếu tố tinh thần, quyết đánh anh ạ.

- Thời gian không còn nhiều ta cho triển khai ngay mới kịp, phải động viên bộ đội phát huy truyền thống Đoàn Đồng Xoài quyết đánh vào sào huyệt quân ngụy.

Tiểu đoàn 4 do anh Quách Thanh Quang Tiểu đoàn trưởng chỉ huy đã chiến đấu vô cùng quả cảm. Chỉ bằng súng bộ binh cán bộ chiến sĩ ta đã đánh lùi hàng chục đợt phản kích của tiểu đoàn 7 dù ngụy có xe tăng và máy bay trực thăng vũ trang yểm trợ. Khi Tiểu đoàn phát triển đến khu vực nghĩa địa đô thành, phần lớn đã hy sinh và bị thương, còn hơn chục người trụ lại gần ngã tư Bảy Hiền. Anh em thấy một tên sĩ quan địch cao to, hò hét lính xông lên. Đặng Văn Tuyết – xạ thủ trung liên nhằm vào nó xiết cò. Tên sĩ quan ngụy xã vật, chết ngay. Các chiến sĩ ta còn diệt gần 100 tên địch ở khu vực này.

Mười phút sau anh em thấy một chiếc trực thăng HU1A phành phạch bay lên dùng loa kêu gọi:

- Hỡi các binh sĩ Việt Nam cộng hòa, hãy tiêu diệt hết Cộng sản trả thù cho đại tá Lưu Kim Cương.

Chiếc trực thăng vũ trang bay theo hô tống chiếc trực thăng phát loa bị chiến sĩ ta dùng trung liên bắn rơi tại chỗ.

Cuộc chiến đấu ở ngã tư Bảy Hiền kéo dài đến chiều tối thì im tiếng súng. Nhân dân ở ngã tư Bảy Hiền đêm đó ra khu vực diễn ra cuộc chiến oanh liệt tìm được 11 thi thể của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 4 đã bí mật an táng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:24:28 PM
Sau ngày giải phóng chúng tôi tìm đến hỏi người dân thì được biết về 11 ngôi mộ. Nghe bà con kể lại chính xác các anh đã diệt đại tá cảnh sát Lưu Kim Cương. Cho đến nay chúng tôi mới tìm được tên ba người là Đặng Văn Tuyết, Nguyễn Văn Hai, chiến sĩ quê Thái Bình và Nguyễn Văn Khai, chiến sĩ quê Hải Phòng.

Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 9 đang xây dựng bia ghi danh 11 người con của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 anh hùng tại khu vực ngã tư Bảy Hiền.

Ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 2 chúng tôi được lệnh chuyển ra phía tây Bà Quẹo, trụ lại đánh địch thêm một số ngày nữa, sau đó rút về gần bưng Vĩnh Lộc, Đức Hòa – Long An. Các đơn vị đều bị tổn thất lớn. Riêng Tiểu đoàn 4 trước khi tiến vào thành phố quân số tiểu đoàn là 500 người, khi rút ra chỉ còn 43 người. 457 cán bộ, chiến sĩ đã bị thương và hy sinh anh dũng.

Ngày 8 tháng 5 năm 1968, tôi được trinh sát sư đoàn cho biết:

- Trung đoàn 11 tăng thiết giáp Mỹ từ căn cứ Long Bình theo tỉnh lộ 8 qua lộ 9 vừa đến đóng chốt tại Bàu Trâm xã Mỹ Hạnh.

Nhận được báo cáo, tôi gọi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Trịnh Hồng Ngọc (anh Ngọc đợt 1 là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 mới được điều về) cùng trinh sát trung đoàn là anh Tám Dân – Huyện đội trưởng Đức Hòa giả trang thường dân trà trộn đến gần chốt Mỹ quan sát. Lúc này, một tình huống bất ngờ xảy ra, trực thăng Mỹ đáp xuống kiểm tra giấy tờ. Chúng tôi nhanh chân thoát được. Riêng anh Tám Dân chậm chân bị Mỹ bắn chết.

Tôi giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Trịnh Hồng Ngọc ngay ở thực địa:

- Tiểu đoàn 6 chỉ còn 84 tay súng nhưng không phải vì ít mà ta không dám đánh. Ta dùng Đại đội 12 đảm nhiệm mũi chủ yếu từ hướng bắc đánh xuống. Đại đội 111 làm nhiệm vụ dự bị. Riêng đại đội của huyện Đức Hòa làm mũi giương công, thu hút hỏa lực địch. Tất cả các đơn vị phải có mặt ở vị trí chiếm lĩnh trước 22 giờ.

Khi tôi ra lệnh nổ súng, Đại đội 12 nhanh chóng đưa lực lượng lên mở rào, nhưng quân Mỹ phát hiện được bắn chặn quyết liệt nên phải tạm dừng lại, củng cố đội hình, chờ thòi cơ. Lợi dụng lúc địch tập trung hỏa lực bắn vào Đại đội 12, Tiểu đội trưởng Lê Sơn Hà thuộc Đại đội 13 bí mật tiếp cận dùng B40 bắn cháy chiếc xe tăng nằm cạnh bờ đê, tạo khí thế cho đơn vị đồng loạt xông lên đánh vào bên trong. Đại đội 12 chớp thời cơ nổ súng, phối hợp cùng Đại đội 13 nhanh chóng phát triển vào tung thâm.

Cán bộ chiến sĩ ta chiến đấu rất ngoan cường, lần lượt bắn cháy từng chiếc xe tăng địch. Đạn trong chiếc xe tăng nổ sáng rực một góc trời soi rõ từng chiếc xe tăng Mỹ để bộ đội ta tiêu diệt. Pháo Mỹ từ các nơi bắn về đã trúng đội hình quân Mỹ gây thương vong nặng nề cho chúng.

Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến gần sáng ta mới làm chủ trận địa. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn thu quân, rời khỏi trận địa.

Kết quả, chỉ 84 tay súng, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 6 đã bắn cháy 96 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng M41, xe bọc thép M113, phá hủy 12 khẩu pháo bắn rơi 7 máy bay lên thẳng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên Mỹ.

Hai ngày sau Tiểu đoàn 6 lại đánh một trận xuất sắc phá hủy 54 xe quân sự. Phần nửa là xe tăng, xe bọc thép.

Cùng với các hướng tiến công khác trên toàn chiến trường (Mặt trận Đường 9 – Khe Sanh, Tây Nguyên, Khu 5, đồng bằng Nam Bộ), cuộc tiến công đợt 2 trên mặt trận Sài Gòn của các trung đoàn thuộc Sư đoàn 9 và lực lượng vũ trang các phân khu là một đòn mới đánh vào ý chí xâm lược đã bị lung lay của đế quốc Mỹ.

Mặc dù ta chậm chuyển hướng và cách đánh sau đợt một, đợt tiến công thứ hai diễn ra khi địch đã tăng cường lực lượng và tổ chức ngăn chặn trên tất cả các hướng. Bộ đội ta không còn phát huy được yếu tố bí mật, bất ngờ như đợt một. ta không thực hiện được các mục tiêu đánh chiếm Biệt khu Thủ đô ngụy, các đơn vị bị tổn thất lớn. Nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã chiến đấu cực kỳ anh dũng. Hàng nghìn người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trên đường phố Sài Gòn, để lại “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”(1). Trong lòng dân tộc và mỗi người dân Sài Gòn, hình ảnh các chiến sĩ quân giải phóng những ngày Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân (năm 1968) còn sống mãi.


(1) Ý thơ của Lê Anh Xuân.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:25:47 PM
Sau đợt tiến công thứ hai, lực lượng còn lại của các đơn vị rút về vùng ven phía tây nam Sài Gòn. Lúc này địch đã làm chủ được nội thành, tiếp tục càn quét khốc liệt ở vùng ven để tìm diệt và đẩy bộ đội chủ lực của ta ra xa. Chúng đóng quân thành từng cụm, bịt các đường bộ, đường sông và khống chế từng khu vực. Từ các cụm này, hàng ngày lính địch bung ra, có xe tăng, xe bọc thép dẫn đầu càn quét, sục sạo. Nếu gặp lực lượng ta, bị ta phản kích, chúng lùi ra, gọi máy bay và các trận địa pháo đánh phá hủy diệt rồi lại tiếp tục càn quét. Do địa hình đồng bằng trống trải và để tránh bị thương vong vì bom pháo của địch, các đơn vị phải đóng quân phân tán. Ban ngày, từng tổ, từng chiến sĩ ém mình dưới các lùm cây ngoài bưng, ngoài đồng. Ban đêm vượt đồng, bưng lên đất gò để học tập, sinh hoạt. Mặc dù Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã bổ sung cho Trung đoàn 2 chúng tôi một số chiến sĩ mới vừa từ miền Bắc hành quân vào, nhưng do bị tổn thất lớn trong hai đợt chiến đấu, mỗi tiểu đoàn chỉ còn vài chục tay súng kể cả những cán bộ, chiến sĩ bị thương nhẹ có thể tiếp tục chiến đấu được.

Mùa mưa đến gây không ít khó khăn cho các đơn vị. Trên từng khu vực đóng quân, các đơn vị vừa phải củng cố lực lượng và cùng các lực lượng vũ trang địa phương chống càn, vừa tích cực nghiên cứu quy luật hoạt động của địch để tìm ra cách đánh mới.

Trong tình hình quân số có thể chiến đấu của từng đơn vị không nhiều, lại buộc phải đóng quân phân tán trên địa hình trống trải; quân địch đông, phát huy sức mạnh của phi pháo và cơ giới, chúng tôi đã lợi dụng đêm tối để bí mật tiếp cận cụm quân địch, chủ động đánh trước bằng cách vận động tập kích, buộc địch phải di chuyển hủy bỏ hoặc thay đổi kế hoạch càn quét ngày hôm sau. Trước trận đánh của Đại đội 12, tôi hỏi các cán bộ chiến sĩ:

- Tay súng ít, có đánh được không?

Đại đội trưởng Trần Văn Phách đã quả quyết:

- Đánh được.

Trận tập kích của Đại đội 12 thành công. Cụm xe địch buộc phải di chuyển. Cũng bằng cách đó, Tiểu đoàn 5 do Tiểu đoàn trưởng Hoàng Thuần chỉ huy chỉ 25 tay súng, chủ yếu là súng chống tăng đã tập kích cụm xe quân Mỹ phá hủy 31 xe tăng, xe bọc thép, 3 khẩu pháo, diệt và làm bị thương 120 tên Mỹ.

Những trận đánh trên đây thể hiện quyết tâm chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2, trong tình huống nào cũng chủ động tiến công, sáng tạo cách đánh thích hợp để thắng địch. Quyết tâm chiến đấu và tinh thần sáng tạo đó đã trở thành bản lĩnh của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2 – Đoàn Đồng Xoài.

Sau hai đợt tiến công trong mùa xuân và mùa hè năm 1968, do lực lượng bị tổn thất, thế tiến công của ta yếu dần. Các đơn vị chủ lực Miền phải rút về các vùng căn cứ rừng núi để củng cố. Ở vùng ven Sài Gòn chỉ còn một số đơn vị vũ trang địa phương tiếp tục bám trụ giữ bàn đạp. Nhiều cơ sở chính trị, binh vận ở nội thành và vùng ven bị phá vỡ. Vùng giải phóng bị thu hẹp. Mỹ - ngụy đưa thêm nhiều lực lương về Sài Gòn tổ chức lại tuyến phòng thủ.

Tuyến ngoài có khoảng 25 tiểu đoàn Mỹ và ngụy, đóng thành các cụm bộ binh kết hợp với cơ giới và những cụm hỏa lực hỗn hợp yểm trợ hành quân. Các cụm này nối liền với các căn cứ biệt kích án ngữ vùng rừng núi và vùng giải phóng của ta như Thiện Ngôn, Kà Tum, Xa Mát, Lộc Ninh, Bù Đốp… Các lực lượng đứng ở tuyến này có nhiệm vụ phát hiện và đánh phá ngăn chặn chủ lực ta ngay từ lúc ta chuẩn bị đánh vào thành phố.

Tuyến giữa từ Trảng Bàng, Củ Chi đến Bến Cát, Tân Uyên, Phú Giáo… có 57 tiểu đoàn bố trí dày đặc, không để ta lọt qua.

Tuyến trong gồm nội thành và vùng ven có 54 tiểu đoàn Mỹ và tổng trù bị ngụy, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu rong thành phố và càn quét vùng ven.

Trong khi đó, ta vẫn cho rằng tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt không phải là một đợt hoạt động mà là một thời kỳ, một quá trình chiến đấu gay go, quyết liệt, kết hợp công kích với khởi nghĩa. Tình hình đã thay đổi, nhưng ta vẫn chủ quan, đánh giá địch thấp, không thấy hết âm mưu và thủ đoạn mới của địch trong chiến lược “quét và giữ”; đánh giá ta sau đợt tiến công Tết Mậu Thân đã có thế trận vững vàng ở vùng núi, nông thôn, mở ra mặt trận mới ở đô thị. Mặc dù đã có chuyển biến ở mức độ nhất định trong lãnh đạo tư tưởng, “sẵn sàng chuẩn bị để đối phó với tình huống chiến tranh kéo dài và mở rộng”(1), nhưng trong chỉ thị về đợt hoạt động mùa thu (tức đợt tiến công thứ 3) ngày 30 tháng 6 năm 1968, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn yêu cầu các cấp “nắm vững thời cơ, tổ chức đợt tiến công lớn vào tháng 8 nhằm giành thắng lợi to lớn trong đông xuân, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”(2).


(1), (2) Điện số 21/CTNT ngày 30 tháng 6 năm 1968. Bản sao lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:26:37 PM
Tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị họp, nhận định thắng lợi bước đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, quyết định “đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định, làm cho địch thất bại ở chiến trường, thất bại ở các thành phố lớn và thất bại ở ngay nước Mỹ”.

Cuối tháng 6 năm 1968, phần lớn các đơn vị của chủ lực ta đã rút lên vùng Mỏ Vẹt, sát biên giới với Campuchia. Theo tinh thần chỉ đạo của trên, các trung đoàn tập trung vào việc củng cố các đơn vị. Sư đoàn 9 cử một bộ phận lực lượng do Sư đoàn trưởng Tạ Minh Khâm và cùng một số cán bộ cơ quan chỉ huy tiến xuống vùng An Ninh, Lộc Giang chuẩn bị địa bàn và kế hoạch tiến công Sài Gòn đợt ba. Bộ phận này hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn, căng thẳng. Ban ngày phải nằm hầm bí mật hoặc giấu mình dưới các lùm cây ngoài bưng, ngoài đồng. Ban đêm luồn càn vào vùng địch để móc nối cơ sở, nắm tình hình địch.

Hơn 200 cán bộ, chiến sĩ trinh sát, quân báo đã anh dũng hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ. Đây là tổn thất rất lớn của sư đoàn vì họ đều là những cán bộ, chiến sĩ ưu tú.

Trong chiến đấu, đặc biệt là ở thời điểm khí thế tổng tiến công đang lên cao như năm 1968, quyết tâm chiến đấu đã thấm sâu đến từng cán bộ, chiến sĩ sư đoàn. “Sống anh dũng, chết vinh quang” không còn là khẩu hiệu động viên mà đã trở thành ý thức và hành động tự giác, ai cũng sẵn sàng chấp nhận. Nhưng tình hình thực tế sau hai đợt tiến công đòi hỏi những người lãnh đạo chỉ huy phải tỉnh táo, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm. Căn cứ vào tình hình chung, tình hình địch và khả năng của các đơn vị chúng tôi đề nghị cấp trên không đánh tiếp vào Sài Gòn mà chuyển hướng hoạt động.

Vấn đề này cũng đang được các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ Trung ương đến các chiến trường thảo luận, cân nhắc. Tháng 7 năm 1968, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định chuyển hướng hoạt động của lực lượng chủ lực, không đánh tiếp vào Sài Gòn mà mở chiến dịch tiến công địch trên hướng tây bắc và bắc Sài Gòn (địa bàn hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long), đánh vào tuyến ngoài của địch, làm lỏng thế phòng thủ chung của chúng, kéo lực lượng địch ở tuyến giữa và tuyến trong ra, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang các phân khu hoạt động. Phương châm chỉ đạo tác chiến là đánh quân viện và quân địch thoát ly công sự là chính, kết hợp với tập kích, cơ động nhanh, kết hợp đánh vừa và đánh nhỏ.

Hướng chủ yếu (tỉnh Tây Ninh) sử dụng Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Trung đoàn 174, hai trung đoàn pháo, hai đoàn đặc công của Miền và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh.

Hướng thứ yếu (tỉnh Bình Long) sử dụng Sư đoàn 7 và lực lượng vũ trang địa phương. Ở Sài Gòn và vùng ven, lực lượng vũ trang các phân khu tiếp tục hoạt động để phối hợp.

Để bảo đảm cho Sư đoàn hoạt động trên hướng bắc Tây Ninh, Đoàn hậu cần 83 của Miền tổ chức hai cánh A và B, trong đó có một số tuyến vận tải bộ đưa gạo, đạn đến vị trí tập kết của bộ đội. Bộ Tư lệnh Miền thành lập sở chỉ huy tiền phương trực tiếp chỉ đạo các đơn vị trên hướng chính.

Địa bàn mở chiến dịch (hai tỉnh Tây Ninh, Bình Long) nằm trong tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Ở Tây Ninh, sư đoàn bộ binh cơ giới 25 Mỹ tổ chức lực lượng thành hai thê đội. Thê đội một có hai lữ đoàn, đứng ở xung quanh thị xã (lữ đoàn 1) và khu vực Dầu Tiếng, Bến Củi (lữ đoàn 3). Thê đội hai đứng ở Củ Chi (lữ đoàn 2) Tuyến phòng thủ của địch dựa vào hai trục chính là đường 13 và đường 22, mỗi tuyến có nhiều căn cứ hỗn hợp bộ binh, pháo binh, cơ giới, có khả năng độc lập mở các cuộc hành quân càn quét trong khu vực và yểm trợ cho các căn cứ khác. Đây là một hình thức tổ chức lực lượng và biện pháp chiến thuật mới của địch.

Mở màn chiến dịch, đêm 17 tháng 8 năm 1968, Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 tiến công cụm quân Mỹ ở Trà Phí cách thị xã Tây Ninh 5 kilômét về phía bắc. Các mũi tiến công của trung đoàn giữ được bí mật khi chiếm lĩnh trận địa, lợi dụng lúc pháo bắn để tiếp cận, đột phá hướng chủ yếu chính xác (từ đông nam đánh lên), phát huy tốt các loại hỏa khí diệt tăng, diệt lô cốt và sử dụng phân đột thọc sâu đánh trúng sở chỉ huy, trận địa pháo địch. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Quân Mỹ chết và bị thương hơn 400 tên, 33 xe tăng, xe bọc thép, 6 khẩu pháo 105, 2 khẩu cối 106,7 của chúng bị phá hủy.

Cùng ngày, một tiểu đoàn của Trung đoàn 1 tập kích cụm quân Mỹ ở bắc Trảng Lớn, loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên. Trận đánh không dứt điểm hoàn toàn do ta nắm địch không chắc, không hình thành được thế bao vây ngay từ đầu. Trong khi đó, các Trung đoàn 33, 88 bộ binh, đoàn đặc công Miền và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Tây Ninh đánh tiêu diệt một số trận vận động phục kích trên các đường giao thông và đột nhập thị xã. Chiến dịch mở đầu khá tốt, nhưng ngoài trận Trà Phí, các trận khác đều không dứt điểm, không đủ sức thối động để buộc địch phải tăng viện. Ta không có điều kiện đánh địch ngoài công sự như kế hoạch.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:27:12 PM
Từ ngày 22 đến ngày 30 tháng 8, quân ta hoạt động mạnh hơn. Trung đoàn 3 (thiếu Tiểu đoàn 7) được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 174 tập kích cụm Trà Phí lần thứ hai, loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên, phá hủy 82 xe quân sự, 10 khẩu pháo, bắn rơi 4 máy bay.

Ngày 22 tháng 8, Trung đoàn 2 chúng tôi dùng một đại đội tăng cường tập kích “ấp chiến lược” Bến Sỏi diệt gần 1 đại đội quân ngụy. Đến ngày 28 tháng 8, Trung đoàn 2 dùng Tiểu đoàn 4 được tăng cường hỏa lực của Trung đoàn tập kích cụm quân Mỹ đóng dã ngoại ở tây Bến Sỏi diệt hơn 100 tên.

Cũng vào thời gian này, Sư đoàn 5 và các trung đoàn 33, 88 tập kích cụm quân Mỹ Chà Là (hai lần) suối Ông Hùng, phục kích diệt đoàn xe 141 chiếc của địch trên đường 22, đoạn đi qua ấp Vền Vền, phía nam cầu Đá Hàng.

Hướng thứ yếu (Bình Long), Sư đoàn 7 và lực lượng vũ trang địa phương hoạt động mạnh ở khu vực Lộc Ninh, thu hút 3 tiểu đoàn Mỹ lên, tạo điều kiện cho các đơn vị đánh vận động tiêu diệt một số sinh lực địch ngoài công sự.

Từ ngày 10 đến ngày 28 tháng 9, chiến dịch chuyển sang đợt hai. Hướng chủ yếu (Tây Ninh) các Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 tập kích cụm quân Mỹ ở Lâm Vồ, Bến Sỏi, một tiểu đoàn đột nhập thị xã. Quân Mỹ buộc phải tăng viện bằng cơ giới và máy bay lên thẳng. Đây là thời cơ tốt để Trung đoàn 3 và Trung đoàn 88 vận động phục kích diệt xe cơ giới và sinh lực địch trên đường 22 và liên tỉnh lộ 4.

Trung đoàn 2 chúng tôi có nhiệm vụ diệt đồn Tà Băng Rô Bong dụ quân địch lên cứu viện tạo điều kiện cho bộ phận lớn lực lượng của trung đoàn tiêu diệt địch.

Đêm 19 tháng 9 năm 1968, tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 5 dùng đại đội tăng cường diệt đồn Tà Băng Rô Bong do một đại đội ngụy đóng. Sau 30 phút chiến đấu quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Đồn Tà Băng Rô Bong bị diệt, quân Mỹ liền đưa một tiểu đoàn thủ quân lục chiến Mỹ và 2 đại đội lính ngụy lên phản kích.

Tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 tổ chức trận địa phục kích tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn thủy quân lục chiến và 2 đại đội biệt kích ngụy.

Trong trận này, chúng tôi đã bắn rơi chiếc máy bay lên thẳng chở viên trung tướng Keith Lincoln Ware – Sư đoàn trưởng sư đoàn 1 “anh cả đỏ” trong khi ông ta đi thị sát thị sát chiến trường.

Hướng Bình Long, ta tiếp tục hoạt động mạnh ở phía bắc và phía đông Lộc Ninh, thu hút địch lên, tạo điều kiện cho các đơn vị đánh địch ngoài công sự. Trước áp lực mạnh của ta, ngày 19 tháng 9, quân Mỹ buộc phải rút khỏi Lộc Ninh. Lực lượng vũ trang địa phương tiến vào, áp sát thị thị trấn. Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 vận động phục kích quân địch rút chạy trên đường 13, phá hủy 52 xe quân sự, diệt và làm bị thương nhiều lính Mỹ.

Ngày 28 tháng 9 năm 1968, chiến dịch Tây Ninh – Bình Long kết thúc, bộ đội chủ lực Miền và lực lượng vũ trang địa phương trên khu vực chiến dịch đã đánh 315 trận, làm thiệt hại 13 tiểu đoàn địch (có 12 tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ), 53 đại đội (có 35 đại đội Mỹ), loại khỏi vòng chiến đấu 18.406 tên, bắt sống 77 tên, phá hủy 1.507 xe quân sự (có 1.190 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi và phá hủy 112 máy bay các loại, 107 khẩu pháo, cối.

Diễn ra vào lúc cuộc tiến công trên các chiến trường đã lắng xuống, lực lượng ta bị tổn thất, thế chiến tranh nhân dân và phối hợp lực lượng vũ trang ba thứ quân không mạnh và rộng khắp như trước, thắng lợi của chiến dịch Tây Ninh – Bình Long chứng minh sự chuyển hướng của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền là đúng hướng; là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu rất cao, vượt qua những khó khăn thử thách cực kỳ to lớn để tiếp tục đánh địch của các đơn vị tham gia chiến dịch. Đây là một đòn mới đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, là đòn tiến công tiếp theo, phát huy kết quả cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong những ngày Tết Mậu Thân.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phá với ta tại Hội nghị Pari.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Năm, 2019, 03:28:25 PM
Tháng 11 năm 1968, tôi được Bộ Tư lệnh Miền dự tổng kết. Tôi còn nhớ dự tổng kết có anh Trần Độ, chị Nguyễn Thị Định, anh Trần Văn Trà. Tôi được chỉ định là một trong hai trung đoàn trưởng phát biểu ở hội nghị này. Trước khi trình bày chiến lệ trận đánh của Tiểu đoàn 6 trong trận Vĩnh Lộc tháng 5 vừa qua tôi nói:

- Chủ trương của trên tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là hoàn toàn đúng. Nhưng qua đợt hai, tình hình địch đã thay đổi nhưng ta vẫn chủ quan đánh giá địch thấp cho rằng quân Mỹ rất máy móc. Điều đó chỉ đúng với bọn sĩ quan, binh lính mới sang Việt Nam. Thực ra chỉ huy Mỹ khá thông minh, được đào tạo tốt, thực dụng, giàu kinh nghiệm và thay đổi cách đánh, thay đổi thủ đoạn nhanh. Quân Mỹ có khả năng cơ động cao, phản ứng nhanh, hỏa lực nhiều và phát huy uy lực kịp thời. Đánh giá thấp kẻ thù là tự hạ thấp mình. Nói trăm trận trăm thắng phải nhờ gắn nó với vế trước trong câu nói của nhà quân sự Tôn Vũ “Biết người, biết mình” mới có “bách chiến bách thắng”. Trong đợt hai tiến công vào Sài Gòn, Trung đoàn 2 chúng tôi: Tiểu đoàn 5, xuất kích là 500 cán bộ chiến sĩ, khi lui quân còn 47 người. Tiểu đoàn 4 xuất kích 420 cán bộ chiến sĩ, khi lui còn 32 người. Nhưng cán bộ chiến sĩ chúng tôi vẫn kiên cường chiến đấu, ai cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành thắng lợi.

Sau đó tôi nói về diễn biến của trận tập kích cụm xe tăng và pháo binh quân Mỹ ở khu vực Vĩnh Lộc.

(https://lh3.googleusercontent.com/bTWtkGVe0k93yixVDWABlHS0mXFNyOw216kq0ovY2gtrJ8N1XRi_uBAvs5VrHJpG0R29J-fCigYfNOLAbMKEzQleSKxEEHr3e5vme04E6MiX7MU929MrtFgIoeyjr0U9LjZi59V_hPKvbvRGs418qwrzL-GoAEW4riOEieCaQzM-_6fVpZM9VmommytTQDKXaUXJB-2snG8IfLN2ZtDiCg5wNxnhvATEmBXWXNwBtIBksQA4zqf7eZTIOK7_SB72C6eBQBUPE7OHwczOgDODfbNK2S1SRG5DEdgMl0GQ5O7cagT6EB4eeMF5TelwxrtMMwdxuyFT6LttEiaqcyVZgAhG3mI6zmIw7OBzGoVvJ3l8fDWk85qGM9wv2CNDfSXMQ5vNflGl7zqSOXBwwYSAoeNnuOLWoTPYR2Uk9tuF4H0no4e05uFwnA97SjswBeNi4iZJTaiqaYcnbVrZ5REmN3VrR3XN-kjP_WKIqb0qk4PdplaEbD0a0gtMnsU9OlYeFN9yz-iBALPpYx3lzKqeE3UJjtBNMneXFzppJQ1xJ71YCNzjqUeCJY7-WXc_rrQ8n-pALmwyX-G-9DopSWeJ4l5p8L5ZmOsIHt3WpmH6k5vcSUOjHa3HFNdmgulcR16NfH57PaQjcQAQDradPyuNmMQmeQde2fM=w657-h600-no)

Dự tổng kết ở Bộ Tư lệnh Miền. Chụp ảnh cùng Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Bình
Trong ảnh: Từ phải qua trái, thứ nhất Trương Văn Đàng

Tôi phát biểu vừa ngừng cả hội trường vỗ tay kéo dài mãi. Anh Trần Độ ra hiệu cho mọi người ngừng, tiếng vỗ tay mới dứt.

Cuối buổi tổng kết, anh Trần Độ gọi tôi lên, trao cho tôi tấm Huy hiệu của Bác Hồ và tờ giấy tự tay bác viết: “Đánh giặc, chỉ huy giỏi”. Rồi anh nói:

- Bác Hồ gửi Huy hiệu của Người và tự tay Bác viết khen tặng đồng chí Trương Văn Đàng, đây không chỉ là vinh dự riêng của đồng chí Đàng mà còn là vinh dự cho cả quân dân miền Đông Nam Bộ nói riêng và quân dân miền Nam nói chung. Dù bận trăm công nghìn việc, nhưng lúc nào Bác cũng dõi theo chặng đường chiến đấu của chúng ta. Cán bộ chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam quyết tâm lập nhiều thành tích chiến đấu hơn nữa để dâng lên Bác.

Nhận tấm Huy hiệu của Bác từ tay người Chính ủy Quân giải phóng miền Nam tôi vô cùng xúc động và sung sướng đến trào nước mắt. Tôi thầm hứa với Bác quyết tâm chiến đấu hơn nữa để xứng đáng với lòng tin của Người.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:11:59 PM
CHƯƠNG BỐN
CHIẾN ĐẤU TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MỞ RỘNG

Sau chiến dịch Tây Ninh – Bình Long, các đơn vị chủ lực Miền chuyển về hoạt động ở vùng Trà Cao, Bến Cầu, Gò Noi… thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Nam – Campuchia. Cũng như các đơn vị chủ lực khác trên chiến trường, từ cuối năm 1968, đặc biệt là trong năm 1969, Trung đoàn tôi tiếp tục nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, phức tạp. Một mặt do ta đã đánh giá không đúng tình hình, đề ra chủ trương tiếp tục tiến công vào các đô thị khi thế và lực đã suy giảm, chậm chuyển hướng chiến lược về củng cố địa bàn nông thôn; mặt khác, do địch đã thay đổi âm mưu và biện pháp chiến lược, gây cho ta nhiều khó khăn mới.

Về phía địch, sau thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, đặc biệt là thất bại nặng nề toàn diện cả về quân sự và chính trị khi quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ đã phá sản. chúng phải ngừng ném bom trên miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Pari (13 tháng 5 năm 1968)  R. Níchxơn thay Giônxơn làm tổng thống nước Mỹ đã đưa ra một chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Níchxơn” với ba nguyên tác chính là dựa vào sức mạnh Mỹ, chia sẻ trách nhiệm cho các đồng minh và thương lượng trên thế mạnh.

Ở Việt Nam, R. Níchxơn điều chỉnh kế hoạch “phi Mỹ hóa chiến tranh”. Mục tiêu và biện pháp cơ bản của chiến lược này là tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược bằng quân ngụy được hiện đại hóa và sự yểm trợ tối đa về hỏa lực của Mỹ, bình định quyết liệt để cho cuộc chiến tranh nhân dân của ta mất chỗ dựa, mất nguồn sống. Đồng thời, dùng bom đạn đánh phá hủy diệt và các thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt để bao vây, cô lập, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam, cắt đứt đường vận chuyển bắc – nam, hủy diệt các căn cứ, làm cho các lực lượng vũ trang của ta không còn chỗ đứng ở chiến trường, buộc phải phân tán, không thể tập trung lực lượng đánh lớn vì không có thế chiến tranh nhân dân, không còn căn cứ và không có nguồn tiếp tế hậu cần.

Ý đồ thâm hiểm của địch trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh là làm tan rã các khối chủ lực ta, đẩy các sư đoàn chủ lực ta ra ngoài biên giới, làm cho cuộc chiến tranh giải phóng của ta lùi về trạng thái du kích đơn thuần, tàn lụi dần. Mỹ sẽ thực hiện được cái mà chúng gọi là “thay màu da cho xác chết”, rút được quân viễn chinh ra, vực cho ngụy quân, ngụy quyền mạnh lên, miền Nam Việt Nam vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Ở miền Đông Nam Bộ, tiếp theo các cuộc can quét khốc liệt, làm mất các vị trí bàn đạp của ta ở vùng ven Sài Gòn – gia Định, địch điều sư đoàn 1 kỵ binh bay và sư đoàn 101 cơ động đường không của Mỹ từ miền Trung vào, sử dụng hai sư đoàn này cùng với sư đoàn 25 bộ binh cơ giới “tia chớp nhiệt đới” và sư đoàn 1 bộ binh “anh cả đỏ” liên tục càn quét, đánh phá ác liệt trên tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia. Máy bay chiến lược B-52, máy bay cường kích chiến thuật ném bom, rải chất hóa học và pháo bầy bắn phá suốt ngày đêm nhằm hủy diệt các căn cứ, đẩy các đơn vị chủ lực Miền ra ngoài biên giới. Sư đoàn 21 bộ binh và liên đoàn 4 biệt động quân ngụy chốt chặn tuyến biên giới thuộc miền Tây Nam Bộ, ngăn chặn tuyến vận tải từ cảng Công Pông Xom (Campuchia) lên các căn cứ của Miền ở miền Đông. Chúng chà sát dữ dội các cơ sở của ta, đốt phá nhiều kho tàng, cơ sở vật chất mà từ lâu ta đã chuẩn bị được.

Ngoài ba tuyến phòng thủ xung quanh Sài Gòn, đầu năm 1969, chúng tổ chức thêm một tuyến nữa kéo dài từ nam Kông Pông chàm, qua Mê Mốt, Snun về đến biên giới để án ngữ không cho các đơn vị chủ lực Miền về tác chiến ở Nam Bộ.

Ở đồng bằng Nam Bộ, ba sư đoàn chủ lực ngụy (7, 9, 21) và sư đoàn 9 bộ binh Mỹ càn quét khốc liệt, hỗ trợ lực lượng bảo an, dân vệ bình định nông thôn, vơ vét kiểm soát chặt chẽ lúa gạo của dân, phong tỏa các cửa khẩu thu mua của ta, ngăn chặn các hành lang vận tải từ đồng bằng lên các căn cứ rừng núi.

Chỉ trong mấy tháng đầu năm 1969, chúng đóng thêm 1.000 đồn bốt, kiểm soát thêm một triệu dân, làm cho việc chuyển tân binh và thu mua, vận chuyển gạo, thuốc chữa bệnh… của ta từ đồng bằng lên các căn cứ gặp nhiều khó khăn. Trên tuyến hậu cần chiến lược Bắc – Nam, địch phong tỏa chặt chẽ tuyến đường biển, sử dụng máy bay B-52, máy bay chiến thuật đánh mạnh trên toàn tuyến đường Trường Sơn, đặc biệt là ở các cửa khẩu, gây cho Đoàn 559 nhiều tổn thất về phương tiện vận tải và hàng hóa.

Tháng 9 năm 1969, các kho hậu cần của Miền chỉ còn 2.000 tấn gạo, không đủ cho bộ đội ăn trong một tháng. Một số đơn vị phải ăn bữa sắn bữa cơm.

Giữ hay phân tán và sử dụng các đơn vị chủ lực như thế nào trở thành vấn đề được đặt ra gay gắt ở tất cả các chiến trường từ Trị Thiên, Tây Nguyên, Khu 5 đến miền Đông Nam Bộ. Trước hết, đây là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch vì âm mưu chiến lược của địch là làm cho các đơn vị chủ lực ta phải phân tán, không tập trung đánh lớn được và không còn chỗ đứng ở chiến trường miền Nam.


(1) Hội nghị Pari bắt đầu họp ngày 123-5-1968 giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa với Hoa Kỳ. Từ ngày 25-1-1969 bắt đầu hội nghị bốn bên: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa (ngụy quyền Sài Gòn).


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:13:53 PM
Trong nội bộ cán bộ ta cũng có những ý kiến khác nhau. Một số cho rằng không thể giữ được các đơn vị với đội hình tập trung sư đoàn, trung đoàn vì không có căn cứ đứng chân và không giải quyết được vấn đề bảo đảm hậu cần. Lúc này địch đang bình định quyết liệt ở nông thôn đồng bằng, cần phải phân tán chủ lực về các địa phương đánh địch hỗ trợ nhân dân và các lực lượng vũ trang chống bình định, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân.

Đây là một thực tế khách quan ở chiến trường, một vấn đề đã trở thành đòi hỏi cấp bách, trước mắt. Nhưng để giải quyết, không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi một chiến trường, một đơn vị cụ thể. Lúc này, phân tán sẽ giải quyết được phần nào khó khăn trước mắt. Nhưng phân tán là mất chủ lực, một thành quả mà quân và dân ta đã xây dựng trong nhiều năm. Trong khi đó quy luật phát triển của chiến tranh là ngày càng tiến lên tập trung, đánh lớn, cần có đòn quyết định của chủ lực. Do đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp chính trị, quân sự, ngoại giao, đặc biệt là vai trò có ý nghĩa quyết định của hậu phương lớn miền Bắc để giữ vững khối chủ lực ở chiến trường. Chỉ có như vậy mới phá được thế bao vây chiến lược của địch, từng bước khôi phục, phát triển thế và lực của ta, đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển lên một bước mới, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy.

Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ tiếp nhận sự chi viện của hậu phương lớn về người và vật chất để giữ vững khối chủ lực; đồng thời mở tiếp các đợt hoạt động mới trong mùa xuân và mùa hè năm 1969 nhằm duy trì thế tiến công địch ở chiến trường, phối hợp lực lượng vũ trang ba thứ quân phá kế hoạch “bình định” của địch. Các sư đoàn chủ lực có nhiệm vụ củng cố tổ chức, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu, kiên quyết đánh địch bảo vệ căn cứ; đồng thời tích cực tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ, tham gia mở đường và bảo vệ các hành lang vận tải từ tuyến chiến lược đến các căn cứ của Miền.

Để khôi phục và phát triển lực lượng vũ trang địa phương, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân chống địch “bình định” và chuẩn bị địa bàn cho bộ đội chủ lực hoạt động khi có thời cơ, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền và các quân khu đã điều động một số trung đoàn bộ đội chủ lực về hoạt động ở đồng bằng.

Cán bộ chỉ huy Sư đoàn 9 có sự thay đổi. Theo quyết định điều động của Bộ, anh Tạ Minh Khâm, Sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Tòng, Chính ủy sư đoàn chuyển sang cương vị công tác mới ở cơ quan Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền. Anh Lê Văn Nhỏ (Hai Lâm) được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng và anh Nguyễn Văn Quảng (Năm Phòng) được bổ nhiệm làm chính ủy sư đoàn. Một thời gian sau, do yêu cầu của chiến trường anh Lê Văn Nhỏ chuyển về Khu 8 (miền Trung Nam Bộ). Anh Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng. Tháng 4 năm 1969, tôi được bổ nhiệm Tham mưu tưởng sư đoàn. Đến tháng 7 năm 1969, tôi được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Sư đoàn 9.

Cùng với các sư đoàn bạn trong khối chủ lực Miền, mùa thu năm 1969, Sư đoàn 9 tiếp tục hoạt động ở khu vực Tây Ninh, Bình Long, đánh địch bảo vệ các căn cứ trên tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia.

Ngày 12 tháng 8 năm 1969, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chủ trương tập kích cụm bộ binh cơ giới thuộc trung đoàn 15 quân ngụy ở cua chữ S. Tôi được anh Út Thới phân công đi chỉ huy Trung đoàn 1 đánh trận này.

Tôi đến Trung đoàn 1, gặp các đồng chí Trung đoàn thống nhất sử dụng Tiểu đoàn 2. Tôi đi thẳng xuống Tiểu đoàn 2. Người đón tôi là Lê Văn Dũng (Bảy Dũng)(1) – Chính trị viên tiểu đoàn. Sau khi nghe anh báo cáo phương án và quyết tâm của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 2, tôi nói:

- Phương án và quyết tâm của các đồng chí như vậy là ngon rồi. Vấn đề bây giờ là tổ chức thật chu đáo, phân công cán bộ đi từng mũi. Ưu tiên hỏa lực cho mũi chủ yếu.

Bảy Dũng trả lời:

- Chúng tôi đã phân công. Tôi sẽ đi với Đại đội 7 chủ công. Xin bảo đảm với Sư đoàn phó, trận này Tiểu đoàn 2 nhất định giành thắng lợi.

Nhìn tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát của Chính trị viên Bảy Dũng, tôi thầm nghĩ “tay này rồi sẽ làm nên chuyện đây”.


(1) Lê Văn Dũng sau này là Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:16:02 PM
Trận chiến đấu diễn ra đúng theo phương án đề ra. Kết quả Tiểu đoàn 4 loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên, phá hủy 60 xe (có 30 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 5 máy bay.

Tiếp đó, tiểu đoàn vận động phục kích chi đoàn xe thiết giáp (thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ) ở đông bắc Sở Tư, phá hủy 26 xe, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên Mỹ.

Cùng ngày 12 tháng 8, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 tập kích ấp chiến lược Sở Tư, diệt 1 đại đội bảo an ngụy; sau đó chuyển sang phục kích đánh quân Mỹ lên giải tỏa, bắn cháy 54 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên. Ngoài một số trận trên đây, các trận đánh khác của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 trên hướng Bình Long và của Trung đoàn 3, trên hướng Tây Ninh đều là những trận đánh quân địch khi chúng hành quân càn quét vào các khu vực, căn cứ quy mô nhỏ (tiểu đoàn), hiệu suất thấp.

Từ giữa năm 1969, sau khi bình định, kiểm soát được phần lớn nông thôn, đồng bằng, quân địch lấn tới, càn quét, đánh phá ngày càng ác liệt, nhất là bằng máy bay chiến lược B-52 nhằm đẩy các sư đoàn chủ lực ta ra ngoài biên giới.

Giữa những ngày mùa mưa năm 1969 gian khổ ác liệt ấy, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 vô cùng đau đớn nhận được tin Bác Hồ kính yêu từ trần. Ở Sư đoàn, một số cán bộ đã vinh dự được gặp Bác trước ngày lên đường vào chiến trường; nhiều cán bộ, chiến sĩ chưa một lần được gặp Bác, nhưng tất cả có chung một nguyện ước: đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng Sài Gòn để đón Bác vào thăm. Ước nguyện ấy đã trở thành nguồn sức mạnh, đưa sư đoàn vượt qua biết bao hy sinh, thử thách, càng chiến đấu càng trưởng thành, càng đánh càng mạnh trong những năm qua.

Đau thương, mất mát càng làm cán bộ, chiến sĩ sư đoàn xiết chặt thêm hàng ngũ, nắm chắc thêm tay súng, quyết lập công đền ơn Bác, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Người: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh quan gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.

Đó là niềm tin, là ý chí sắt đá, là Di chúc của Bác cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đó cũng là mục tiêu chiến đấu mà Bác Hồ đã từng chỉ thị cho quân đội ta: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”.

Ngày 5 tháng 9 năm 1969, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 tất cả đều mang băng tang trên áo, vận động phục kích, đánh thiệt hại nặng 1 đoàn xe thiết giáp Mỹ ở Bình Phú.

Ngày 6 tháng 9, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3B đánh quân Mỹ ở Bà Chiêm; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 đánh thiệt hại nặng 2 đại đội thiết giáp Mỹ và 1 đại đội biệt kích ngụy ở Bình Phú, Sở Tư… Đây là những trận đánh mở đầu đợt hoạt động “biến đau thương thành hành động cách mạng, lập công đền ơn Bác” của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9.

Tháng 10 năm 1969, theo quyết định điều động của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Trung đoàn 3B (tức Trung đoàn 88) chuyển thành trung đoàn độc lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền, Trung đoàn 95C được biên chế về Sư đoàn 9.

Ngày 12 tháng 3 năm 1970, dưới áp lực của Mỹ, tập đoàn Lonnon – Xirich Matắc ở Campuchia đóng cửa càng Kông Pông Xom. Sáu ngày sau, ngày 18 tháng 3, Mỹ chủ mưu cuộc đảo chính, lật đổ Hoàng thân Xihanúc, đưa Lonnon lên cầm quyền. đây là nước cờ đã được Níchxơn tính toán kỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với tham vọng lớn và ý đồ rất thâm hiểm là xóa bỏ nước Campuchia trung lập, dựng nên một tập đoàn tay sai trung thành với Mỹ, đưa nước Campuchia và quỹ đạo của Mỹ; đồng thời tiến thêm một bước quyết định trong việc ngăn chặn các tuyến vận tải chiến lược đường bộ và đường biển của ta từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, tiếp tục theo đuổi mục tiêu đánh phá hủy diệt các cơ quan, kho tàng của ta trên tuyến biên giới, làm cho các đơn vị chủ lực Miền không còn chỗ đứng ở miền Nam cũng như trên đất bạn Campuchia.

Để hỗ trợ cho quân ngụy Lonnon, Mỹ điều sư đoàn kỵ bay lên Thiện Ngôn, Tà Xia, Bà Điếc (phía tây quốc lộ 22, sát biên giới). Sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ nống ra Trại Bí, Mỏ Còng (quốc lộ 22) và Trà Vong, Ke Don (lộ 4); đồng thời đưa 2 tiểu đoàn dù ngụy lên án ngữ khu vực phía tây và đông lộ 4. Quân ngụy Sài Gòn phối hợp với quân ngụy Lonnon hoạt động ở hai bên đường biên giới, gây nhiều khó khăn cho việc cơ động lực lượng, vận tải hàng và trú quân của ta. Một tiểu đoàn quân ngụy Lonnon đóng chốt ở Sóc Chàu, Tà Súa (Lò Gò); một tiểu đoàn khác bao vây khu vực Mỏ Vẹt (Bà Hút, Bà Thu), chặn ta qua lại quốc lộ 1 (đoạn Chi Pu – Mộc Bài).


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:17:12 PM
Nhưng Mỹ đã chủ quan, đánh giá không đúng tinh thần cách mạng của nhân dân Campuchia, tình đoàn kết chiến đấu đã có truyền thống từ lâu đời của nhân dân các dân tộc Đông Dương và sự nhạy bén, tài giỏi trong chỉ đạo chiến lược của Đảng ta. Ở nhiều nơi, nhân dân Campuchia đã nổi dậy chống lại ngụy quyền Lonnon. Lực lượng ủng hộ Xihanúc tiếp tục chống đối. Quân ngụy Lonnon bất lực, hoang mang, nhiều đơn vị phải co về Phnôm Pênh và các thành phố, thị xã.

Ngày 4 tháng 4 năm 1970, Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền phải chuẩn bị sẵn lực lượng và kế hoạch tác chiến để khi bạn yêu cầu sẽ giúp nhân dân bạn giành quyền làm chủ ở 10 tỉnh tiếp giáp với nước ta.

Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, trực tiếp là của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 đã bổ sung nhiệm vụ, chỉ đạo các đơn vị tích cực chuẩn bị đánh quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn phản kích qua biên giới; đồng thời có kế hoạch chiến đấu bảo vệ và sơ tán kho tàng từ Xa Mát (quốc lộ 22) đến bắc lộ 1.

Ở bắc và tây bắc thị xã Tây Ninh, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 liên tiếp vận động tập kích và phục kích, gây nhiều thiệt hại cho lữ đoàn 1 (sư đoàn kỵ binh bay Mỹ) ở bắc Thiện Ngôn, tây đường 22. Ngày 26 tháng 3, Tiểu đoàn 4 diệt một đại đội Mỹ ở Mét Mua, thu 24 khẩu súng.

Đêm 28 tháng 3, Tiểu đoàn 9 diệt một cụm quân Mỹ ở Cần Lê, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, phá hủy 30 xe bọc thép, 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay lên thẳng. Đêm 31 tháng 3, Tiểu đoàn 6 diệt cụm quân Mỹ ở Tà Xia, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, phá hủy 30 xe quân sự, 15 khẩu pháo, bắn rơi 2 máy bay lên thẳng.

Do lữ đoàn 1 (sư đoàn kỵ binh bay) bị tổn thất nặng trong một thời gian ngắn, Mỹ buộc phải điều tiểu đoàn 1 trung đoàn 11 thiết giáp, tiểu đoàn 1 lữ đoàn 5 của sư đoàn 25 bộ binh cơ giới và một tiểu đoàn của lữ đoàn 5 kỵ binh bay lên Tà Xia để tăng cường lực lượng đóng chốt, càn quét, đẩy các đơn vị chủ lực ta về phía sau, giữ ngã ba Krếch và con đường chiến lược số 7 nối với quốc lộ 22 từ Thiện Ngôn lên Kông Pông Chàm.

Sở chỉ huy phía trước của sư đoàn gồm các anh Nguyễn Văn Quảng, Bùi Thanh Vân và tôi (Trương Văn Đàng) thống nhất với Tỉnh ủy Tây Ninh mở mặt trận tiến công dọc theo quốc lộ 1.

Ngày 15 tháng 4 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 tập kích cụm quân Mỹ ở trảng Bà Điếc diệt 200 tên, phá hủy 30 xe quân sự, 10 khẩu pháo. Ngày 16 tháng 4, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 tập kích Tà Xia lần thứ hai và Trảng Tròn tây bắc Lò Gò, diệt hai cụm quân Mỹ. Ngày 13 tháng 4, ta đánh chiếm chi khu Krếch, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2, diệt một tiểu đoàn quân ngụy Lonnon ở Krabap; tiếp đó, Sư đoàn 9 phối hợp với nhân dân bạn giải phóng Kimchaimia, Côngpôngtrạch. Nhiều nơi, vùng giải phóng mở rộng và sâu đất bạn 30 đến 40 kilômét.

Ở tây nam thị xã Tây Ninh, các đơn vị của Sư đoàn 9 diệt một số “ấp chiến lược” đánh địch phản kích ở Bến Cầu, khu vực Rừng Dầu, Xóm Lò, Tiên Thuận, Cây Me, nam bắc lộ 1… Tuy chưa diệt nhiều sinh lực địch, nhưng các hoạt động của ta trên hướng này đã gây sức ép mạnh, buộc địch phải điều thêm lính bảo an ở các tiểu khu và quân chủ lực Mỹ - ngụy ở tuyến trung gian lên giải tỏa.

Ở Campuchia, quân ngụy Lonnon sử dụng Chi Pu làm bàn đạp để triển khai cơ giới xuống vùng biên giới và bắn pháo vào khu vực tập kết lực lượng của ta. Để phá tan âm mưu này của địch, ngày 3 tháng 4 năm 1970, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 1 đánh chiếm Chi Pu, diệt một tiểu đoàn quân ngụy Lonnon. Ngày 13 tháng 4 chúng tôi lại lệnh cho Tung đoàn 2, diệt đồn Mộc Bài, làm chủ một đoạn dài 20 kilômét trên đường số 1 (Sài Gòn – Phnôm Pênh). Ngày 26 tháng 4, Trung đoàn 2 tiến công hai chi khu quân sự Chúp và Prasốt, diệt 2 tiểu đoàn quân ngụy Lonnon, bắt được tù binh, thu nhiều vũ khí.

Những đòn tiêu diệt này làm quân ngụy Lonnon rất hoảng sợ, không còn tinh thần chiến đấu mỗi khi gặp chủ lực ta. Quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn buộc phải điều trung đoàn 49 và hai tiểu đoàn biệt động quân lên giải tỏa, phản kích ta ở vùng Ba Thu, Bà Hút.

Hoạt động của Sư đoàn 9 trong thời gian từ sau khi Mỹ đảo chính ở Campuchia đến cuối tháng 4 năm 1970 đã góp phần bảo vệ địa bàn, kho tàng, mở rộng vùng giải phóng của ta, đập tan ý đồ củng cố và tăng cường chi khu Krếch, chiếm giữ quốc lộ 22 của địch, bước đầu làm thất bại âm mưu cấu kết giữa Mỹ, ngụy Sài Gòn và ngụy Lonnon để đẩy lực lượng ta ra khỏi khu vực biên giới. Đây là thắng lợi rất quan trọng, tạo điều kiện cho quân và dân hai nước đánh bại các bước phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:18:30 PM
*

Ngày 29 tháng 4 năm 1970, Níchxơn huy động một lực lượng lớn, quân Mỹ có sư đoàn kỵ binh bay và sư đoàn bộ binh cơ giới 25 “tia chớp nhiệt đới”, quân ngụy Sài Gòn có 6 sư đoàn (5, 25, 18, 7, 9, 21), 3 lữ đoàn dù và lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng dự bị chiến lược, 5 liên đoàn biệt động quân (chiếm 33,8 phần trăm lực lượng chiến đấu của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn) mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia trên toàn tuyến biên giới. Theo sự tính toán của địch, đây là bước quyết định để tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta và các đơn vị chủ lực Miền, triệt phá các căn cứ hậu cần của ta trên đất bạn, hoàn thành kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, đồng thời nhằm đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Campuchia.

Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, quân đội ta đã nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về đẩy mạnh hoạt động phối hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng của Campuchia, chủ động “tiến mạnh về phía tây”, đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục, kiên quyết đập tan cuộc tiến công xâm lược của địch.

Từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 năm 1970, quân đoàn 3 ngụy tổ chức ba chiến đoàn 225, 318, 333 càn quét khu vực nam và bắc đường số 1 (khu vực Ba Thu, Bà Hút, Bố Ba Tây) nhằm triệt phá các kho tàng của ta, giành lại các thị trấn đã mất (Chi Pu, Prasốt, Chúp, Côngpôngtrạch), thuộc tỉnh Svây Riêng. Bị Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 chặn đánh quyết liệt, không chiếm được Chúp, địch điều chiến đoàn 318 sang phía tây thi trấn, tiến về Côngpôngtrạch. Chiến đoàn này bị Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 chúng tôi đánh thiệt hại nặng ở Cramka, Tà Y, Chônâyxa. Trong khi đó, một đoàn giang thuyền gồm 37 chiếc của địch từ Bến Sỏi theo Rạch Tràm tiến lên Côngpôngtrạch với ý định hợp điểm với chiến đoàn 318. Phân đội công binh của Trung đoàn 3 đã phục kích, bắn chìm và bắn cháy 7 chiếc. Số tàu còn lại buộc phải quay trở lại Bến Sỏi.

Lữ đoàn 1 sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ bị Trung đoàn 3 và các đơn vị binh chủng của Sư đoàn 9 chặn đánh liên tục ở khu vực Lò Gò, Trảng Trâu, Tà Súa, Tà Dăng. Chỉ tính từ ngày 6 đến ngày 14 tháng 5, ta diệt và làm bị thương 400 tên, phá hủy 17 máy bay, phá hủy 38 xe bọc thép, bốn khẩu pháo 105 của lữ đoàn này.

Phát triển tiến công, ngày 10 tháng 5, Sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 9 (anh Vân, anh Quảng và tôi) chỉ huy Trung đoàn 2 giải phóng Chúp, Suông, diệt và làm tan rã một lữ đoàn quân ngụy Lonnon, làm chủ đường số 7, một con đường có vị trí chiến lược ở đông bắc Campuchia; đồng thời giản phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn ở hai tỉnh Prây Veng, Kông Pông Chàm, áp sát bờ sông Mê Kông.

Đợt một chiến dịch phản công quân Mỹ và ngụy Sài Gòn xâm lược nhiều sinh lực địch, giải phóng một số địa bàn chiến lược, bảo vệ được lực lượng kho tàng. Nhưng do các đơn vị hoạt động phân tán trên nhiều hướng, sư đoàn đã bỏ lỡ nhiều thời cơ có thể tiêu diệt lớn quân địch, một số trận đánh hiệu suất thấp.

Bước vào đợt chiến đấu mới, từ cuối tháng 5 đến tháng 7 năm 1970, Sư đoàn 9 kịp thời rút kinh nghiệm, nắm vững tư tưởng chỉ đạo “tiến mạnh về phía tây”, cùng với nhân dân bạn đánh địch, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn, đồng thời tập trung lực lượng đánh chiếm thị xã Prây Veng và phản kích địch trên một số hướng.

Ngày 20 tháng 5 năm 1970, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn mở tiếp các cuộc hành quân tiến sâu hơn vào đất Campuchia. Chiến đoàn 333 tiếp theo đường số 7. Chiến đoàn 318 theo đường số 1 lên giải tỏa áp lực của ta ở Prây Veng, rồi theo đường số 15 lên Chúp.

Với tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 chúng tôi cơ động lực lượng và tổ chức chiến đấu nhanh, nhằm đúng đối tượng chính là quân ngụy Sài Gòn, đã kịp thời chuyển sang phản công, đánh hai trận lớn ở Prây Veng (ngày 15 tháng 6) và Bình Cheng (25 tháng 6) và một số trận khác ở Tô Tịa, Xoài An Tô, phum Bà Rài, Prây Xa Năng, Bung Băng, Trại Bí… loại khỏi vòng chiến đấu trên 3.000 tên địch, phá hủy 174 xe quân sự (có 146 xe tăng, xe bọc thép), đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn, chiến đoàn quân ngụy Sài Gòn. Trong đó có chiến đoàn 318 của quân ngụy Sài Gòn bị thương vong trên 800 tên, bị phá hủy 50 xe bọc thép. Ngày 4 tháng 6 năm 1970, địch buộc phải rút hai chiến đoàn 318, 333 về Tây Ninh. Quân ngụy Lonnon, buộc phải bỏ ý đồ giành quyền kiểm soát đường số 7 và chiếm lại Chúp, Suông.

Cùng với các đơn vị bạn trong khối chủ lực Miền và được sự phối hợp chiến đấu của quân và dân nước bạn. Sư đoàn 9 chúng tôi đã góp phần giải phóng vùng nông thôn rộng lớn giáp liền nhau thuộc bốn tỉnh Soài Riêng, Prây Veng, Kông Pông Chàm, Căng Đan.

Trong quá trình chiến đấu, chúng tôi đã giúp bạn tổ chức trang bị và huấn luyện 3 tiểu đoàn bộ binh với tổng số quân là 2.082 người; thành lập nhiều đội vũ trang và mở lớp huấn luyện cho 1.019 dân quân các phum, sóc. Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 đã đi xuống từng phum, sóc, cùng nhân dân bạn dựng lại nhà ở, ra đồng gặt lúa, đào hầm tránh máy bay, cắt tóc cho trẻ em, người lớn, mở lớp đào tạo y tá, cứu thương, cùng với bạn tổ chức chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới. Nhân dân Campuchia coi bộ đội Việt Nam như con em của mình. Ở đâu, cán bộ chiến sĩ sư đoàn cũng được nhân dân tận tình giúp đỡ, phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động và chiến đấu.

Ngày 12 tháng 8 năm 1970, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền họp nhận định về đợt hoạt động xuân hè năm 1970. Tiếp đó là từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 8 mở hội nghị tổng kết đợt hoạt động. Về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Sư đoàn 9, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đánh giá: Sư đoàn đã hoạt động liên tục 4 tháng, đã nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau trên địa bàn rất rộng (cả miền Nam Việt Nam và Campcuhia) và đánh nhiều đối tượng khác nhau (quân Mỹ, ngụy Sài Gòn và ngụy Lonnon); đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị, nhất là chiến đoàn 318 ngụy Sài Gòn và lữ đoàn 1 (sư đoàn kỵ binh bay Mỹ), hai lần đánh bại âm mưu chiến lại đường số 7 của địch; đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, kho tàng, đặc biệt là bảo vệ các kho vũ khí đạn và thương binh. Khi chuyển sang chiến trường mở rộng Campuchia, Sư đoàn đã vừa tác chiến tiêu diệt địch, vừa mở rộng vùng giải phóng, giúp bạn xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang. Cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện cả về chính trị, quân sự, vận dụng tốt nhiều hình thức chiến thuật.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:19:49 PM
Tháng 8 năm 1970, tại hội nghị tổng kết chiến dịch chúng tôi đã nêu lên một số kinh nghiệm. Trước hết đối với chiến dịch dài ngày, công tác củng cố và xây dựng lực lượng có ý nghĩa quyết định để thực hiện yêu cầu tác chiến liên tục và đạt hiệu suất cao. Trong quá trình chiến dịch phải căn cứ vào thời cơ mà tổ chức đợt cao điểm, trong đợt cao điểm tập trung cho quyết chiến điểm nhằm đạt yêu cầu tiêu diệt lớn, gây thối động lớn và phù hợp với khả năng bộ đội, với việc chuẩn bị và bổ sung vật chất. Quân ngụy Sài Gòn hành quân sâu vào đất Campuchia xa hậu phương, phi pháo hạn chế, công sự chướng ngại mỏng, yếu là thời cơ để sư đoàn có thể tập trung đánh lớn, diệt từng cánh, từng cụm hai đến ba tiểu đoàn địch trong một trận đánh, có thể phát huy cách đánh gấp, đánh bồi, mạnh dạn xuất kích đánh ngày… Chiều hướng phát triển tổ chức và sử dụng lực lượng của địch là bộ binh cơ giới hỗn hợp. Muốn đánh thắng địch là phải xem trọng nghiên cứu, bổ sung trang bị cho thích hợp với chiến trường, đặc biệt là súng, mìn chống tăng, khí tài thông tin đảm bảo chỉ huy và hiệp đồng…

Qua chiến dịch xuân hè năm 1970, sư đoàn nói chung và các trung đoàn nói riêng đã có bước tiến bộ mới về khả năng chiến đấu. Trung đoàn có khả năng diệt một tiểu đoàn hoặc một cụm tương dương trong một trận đánh. Sư đoàn có khả năng tập trung một trung đoàn tăng cường hoặc hai trung đoàn trên một khu vực quyết chiến điểm của chiến dịch để diệt từ 2 đến 3 tiểu đoàn địch trong trận đánh căn cứ hành quân mới được thiết lập hoặc một cánh quân địch; có khả năng tham gia các chiến dịch trong đội hình cấp trên hoặc độc lập tác chiến trên hướng chủ yếu hay thứ yếu của chiến dịch.

Sau hội nghị tổng kết, Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi mở liên tục sáu hớp tập huấn cho 410 cán bộ gồm 5 cán bộ cấp sư đoàn, 14 cán bộ trung đoàn, 391 cán bộ tiểu đoàn về các nội dung đã được tổng kết. Đồng thời, triển khai kế hoạch học tập chính trị và huấn luyện quân sự cho các cơ quan và phân đội. Nội dung huấn luyện là các hình thức chiến thuật (tập kích, phục kích, vận động, đánh gấp, đánh đêm chuyển sang đánh ngày, đánh bồi…), rèn luyện, sức dẻo dai, ý thức chấp hành mệnh lệnh chiến đấu, mệnh lệnh hiệp đồng và chủ động hiệp đồng… đối với cán bộ, nhất là chủ trì, chú trọng giáo dục tinh thần trách nhiệm, tác phong chỉ huy tỉ mỉ, chính xác, khẩn trương…

Để bổ sung quân số tiêu hao trong chiến đấu, trong năm 1970, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi chủ trương củng cố các “khung huấn luyện” mở lớp bồi dưỡng tại chức cho 4.526 lượt cán bộ từ tiểu đội trưởng đến trung đoàn trưởng. Trường huấn luyện cán bộ trung đội của sư đoàn mở được bốn khóa, đào tạo 455 cán bộ (có 136 cán bộ pháo binh), riêng cán bộ đặc công mở được 5 khóa gồm 109 cán bộ. Các đại đội huấn luyện của ba trung đoàn mở được bốn khóa đào tạo 132 tiểu đội trưởng. Căn cứ vào biên chế cơ bản do Bộ Tư lệnh Miền quy định và được bổ sung 204 cán bộ trung cấp, sơ cấp do Miền đào tạo, sư đoàn đã từng bước chấn chỉnh tổ chức các đơn vị, đặc biệt là các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng.

Năm 1970, Sư đoàn chúng tôi tổ chức thêm 2 đại đội đặc công cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, một đại đội công binh thay cho Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 được Bộ Tư lệnh Miền điều động đi nhận nhiệm vụ mới.

Hoạt động trên một chiến trường mở rộng, chống lại âm mưu và hành động phản kích quyết liệt và trên nhiều mặt rất phức tạp của địch trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn và các cấp đã thường xuyên giáo dục bộ đội ý thức cảnh giác cách mạng, chống chiến tranh tâm lý, chiêu hồi của địch, hạn chế thương vòng ngoài chiến đấu, giảm thấp nhất số quân nhân đào ngũ…

Theo hướng dẫn của Cục Chính trị Miền, sư đoàn đã mở cuộc vận động “cảnh giác chống địch, phòng gian giữ bí mật”; cuộc vận động “Quản lý quân số, trang bị, tài sản, tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”; cuộc vận động “Đề cao kỷ luật, rèn luyện tác phong”… Các mặt công tác bảo đảm cho việc xây dựng và chiến đấu như nắm địch, nắm ta, chuẩn bị vũ khí, đạn, sơ cứu thương binh… được các đơn vị thực hiện với tinh thần chủ động, tự lực khắc phục khó khăn, sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu mới của nhiệm vụ chiến đấu.

Có thể nói, đến cuối năm 1970, với thắng lợi trong chiến dịch xuân hè và kết quả củng cố tổ chức, huấn luyện bộ đội, tổng kết rút kinh nghiệm… Sư đoàn 9 chúng tôi đã bước đầu vượt qua những khó khăn, tổn thất trong năm 1968. Sư đoàn không phân tán, lui về tác chiến du kích như ý đồ của địch mà đã cùng các đơn vị bạn tạo ra thế mới, lực mới, phát triển tiến công địch ở một chiến trường mới có nhiều thuận lợi cho ta, bất lợi cho địch. Đồng thời, sư đoàn đã từng bước củng cố lực lượng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, tạo ra những khả năng mới để thực hiện các nhiệm vụ đúng với chức năng của một sư đoàn chủ lực cơ động trong khối chủ lực Miền.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:22:17 PM
*

Bước vào mùa khô 1970 – 1971, Trung ương Cục, Quân ủy Miền phán đoán, đế quốc Mỹ và bọn tay sai sẽ có những cố gắng mới. Chúng sẽ đẩy mạnh bình định ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long và xung quanh Sài Gòn; đồng thời tập trung quân chủ lực ngụy Sài Gòn được Mỹ chi viện hỏa lực không quân và hậu cần đánh sang đông bắc Campuchia nhằm phá cơ quan, kho tàng, cắt hành lang, tiêu hao kiềm chế chủ lực ta, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và cứu nguy cho tập đoàn tay sai Lonnon – Xirích Matắc ở Campuchia.

Chủ trương của Trung ương Cục (Hội nghị lần thứ 10) là đẩy mạnh đánh phá bình định đồng thời với việc ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, tạo ra thế tiến công chiến lược mới trên chiến trường miền Nam, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long và xung quanh Sài Gòn; kiên quyết đánh bại cuộc tiến công mùa khô của địch trên chiến trường biên giới đông bắc Campuchia, tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng và củng cố vùng giải phóng, giữ vững hành lang chiến lược thông suốt trong bất cứ tình huống nào.

Đối với chiến trường biên giới và đông bắc Campuchia, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định sử dụng toàn bộ khối chủ lực mở chiến dịch phản công lớn và dài ngày tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân ngụy Sài Gòn, tiêu diệt nhiều tiểu đoàn, chi đoàn, tiến tới tiêu diệt 1 đến 2 chiến đoàn địch, đánh bại phong trào đánh phá bình định ở miền Nam. Trên chiến trường Campuchia, giữ thế tiến công địch trên các hướng, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân ngụy Lonnon, cắt đứt các đường giao thông quan trọng, bao vây uy hiếp Phnôm Pênh, giúp đỡ bạn xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và củng cố vùng giải phóng.

Từ ngày 19 đến ngày 30 tháng 9 năm 1970, Quân ủy và Bộ tư lệnh Miền triệu tập hội nghị cán bộ, phổ biến tình hình chiến trường mùa khô năm 1970 – 1971 và giao nhiệm vụ cho các đơn vị.

Sư đoàn 9, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 tác chiến trên hướng chủ yếu của chiến dịch (tây bắc tỉnh Tây Ninh). Khu vực tác chiến của Sư đoàn từ bờ tả ngạn sông Mê Kông xuống bắc quốc lộ 1, sang Suông, Tà Bao Đầm Be (bắc đường 7). Hướng chủ yếu của sư đoàn là trục đường 7 (Suông, Chúp) vá trục đường 2 Ba Thiết – Đầm Be. Sư đoàn có nhiệm vụ tác chiến độc lập hoặc phối hợp với Sư đoàn 7 diệt một đến hai chiến đoàn địch, đánh thiệt hại nặng các chiến đoàn khác, bẻ gãy cánh quân địch trên hướng của sư đoàn; đồng thời có nhiệm vụ bảo vệ kho tàng, căn cứ, tích cực giúp đỡ và cùng với quân vá dân nước bạn thực hiện các nhiệm vụ quân sự, chính trị ở địa phương. Qua chiến đấu mà rèn luyện nâng cao trình độ chính trị và quân sự của cán bộ, chiên sĩ, nâng cao sức chiến đấu của các đơn vị.

Để bảo đảm cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Miền tăng cường cho Sư đoàn 9 một tiểu đoàn pháo mặt đất và một tiểu đoàn cao xạ 12,7 ly. Mỗi tiểu đoàn bộ binh có từ 150 đến 270 cán bộ, chiến sĩ. Đại đội bộ binh có 40 đến 50 tay súng. Các đơn vị có đủ tiểu liên AK, súng chống tăng B40 và đạn B40.

Đến giữa tháng 10 năm 1970, cán bộ, chiến sĩ toàn sư đoàn đã được học tập tình hình nhiệm vụ, quán triệt chỉ thị của Quân ủy Miền về công tác chính trị trong mùa khô, được thảo luận dân chủ về yêu cầu và cách đánh tiêu diệt gọn, tiêu diệt chiến đoàn quân ngụy Sài Gòn. Nhiều đơn vị tổ chức diễn tập chủ trương và cơ quan hai cấp, diễn tập tiểu đoàn và trung đoàn theo phương án tác chiến. Thời gian mỗi cán bộ, chiến sĩ sư đoàn được học tập trước khi bước vào mùa khô 1970-1971 khoảng từ 50 đến 70 ngày, cao nhất trong khối chủ lực Miền.

Chuẩn bị cho hoạt động mùa khô 1970-1971, từ tháng 7 năm 1970 Mỹ - ngụy bắt đầu tập trung hầu hết lực lượng địa phương và một bộ phận chủ lực thực hiện kế hoạch “bình định đặc biệt”, tiếp sau đó là “bình định bổ sung”, gây nhiều khó khăn cho các hoạt động của ta trên chiến trường miền Nam. Lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng cơ động của các quân khu ráo riết chuẩn bị mở những cuộc hành quân lớn trên hai hướng chiến lược là Đường 9 – Nam Lào (Lam Sơn 719) và đông bắc Campuchia.

Trên chiến trường Campuchia, địch ra sức phát triển quân ngụy Lonnon, sử dụng quân ngụy Lonnon và quân ngụy Sài Gòn mở các cuộc hành quân quy mô 1 đến 2 tiểu đoàn có cơ giới trên các hướng tây nam, bắc Công Pông Chàm và Xiêm Riệp nhằm thăm dò lực lượng, ngăn chặn vận chuyển phá sự chuẩn bị của ta.

Theo kế hoạch hoạt động mùa khô đã được Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền thông qua, Bộ tư lệnh Sư đoàn 9 sử dụng một bộ phận lực lượng chặn đánh các cuộc hành quân của địch ở các khu vực Chăn Tung, Pra Thiếc, Kha Na, gây cho địch một số thiệt hại, đánh bại âm mưu giành lại quyền kiểm soát đường số 7 của chúng. Cuối tháng 11 năm 1970, Trung đoàn 2 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn điều động sang chuẩn bị chiến trường ở khu vực đường 22. Tại đây, trung đoàn đã đánh nhiều trận tiêu diệt quân ngụy Lonnon ở Piêm Chi Căng, Bùm Luông, Prây Xtung…

Piêm Chi Căng là một thị trấn thuộc tỉnh Công Pông Chàm do 3 tiểu đoàn quân ngụy Lonnon chiếm giữ. Chúng dựa vào chướng ngại thiên nhiên là sông Mê Kông và một nhánh sông khác bao bọc ba phía, quân địch tổ chức phòng thủ khá vững chắc.

Nhận nhiệm vụ đánh chiếm Piêm Chi Căng, bộ Tư lệnh Sư đoàn phân công tôi đi cùng Trung đoàn 2 do anh Di Thiện Tích, Trung đoàn trưởng và anh Võ Văn Nhậm, Chính ủy chỉ huy. Chúng tôi đã hành quân liên tục bốn ngày đêm, vượt qua sông Mê Kông, đưa các lực lượng áp sát, bao vây thị trấn. Sau 3 ngày chiến đấu, bộ đội ta dập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Những tên sống sót chạy vào trong thị trấn, quân địch thêm hoang mang, chỉ huy rối loạn.

Chớp thời cơ thuận lợi, tôi ra lệnh cho chỉ huy Trung đoàn 2 nhanh chóng thọc sâu vào thị trấn, diệt và làm tan rã hoàn toàn ba tiểu đoàn địch, bắt sống 500 tên, thu 1.500 khẩu súng các loại và 40 tấn đạn. Thị trấn Piêm Chi Căng có trên 10.000 dân được giải phóng.

Đây là một trong những trận thắng nhanh, diệt gọn, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí… của đoàn Đồng Xoài. Thắng lợi của trận đánh đã cổ vũ tinh thần chiến đấu, củng cố niềm tin vào khả năng đánh lớn, đánh tiêu diệt trong cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:23:52 PM
*

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, trên 30.000 quân ngụy Sài Gòn do Mỹ chỉ huy và được Mỹ yểm trợ mạnh về hỏa lực, bảo đảm cơ động, hậu cần… mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, đánh ra khu vực Đường 9 – Nam Lào. Bốn ngày sau, ngày 4 tháng 2 năm 1971, toàn bộ lực lượng chủ lực cơ động của quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn gồm 3 sư đoàn bộ binh (5, 25, 18), 1 liên đoàn biệt động quân ngụy, 5 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép (450 chiếc), 4 trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo (160 khẩu) và nhiều đơn vị binh chủng khác, số quân khoảng 23.000 tên do Mỹ chỉ huy và được 15 phi đoàn (262 chiếc) máy bay Mỹ yểm trợ, mở cuộc hành công “Toàn thắng 1-71” đánh sang vùng đông bắc Campuchia. Đây là hai cuộc hành quân lớn nhất, điển hình của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ý đồ của địch là đánh bại lực lượng chủ lực cơ động miền Bắc và khối chủ lực Miền, đánh phá hậu phương, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam.

Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch phản công đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch ở Đường 9 – Nam Lào và đông bắc Campuchia, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị chủ lực cơ động của quân ngụy Sài Gòn, đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta tiến lên một bước mới. Đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, tạo ra một cục diện mới trên chiến trường ba nước Đông Dương.

Ở khu vực Đường 9 – Nam Lào, từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, ta đã tập trung một lực lượng chiến đấu tới 60.000 người, gồm nhiều đơn vị binh chủng hợp thành mở chiến dịch phản công quy mô lớn, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy.

Ở chiến trường đông bắc Campuchia, từ cuối tháng 1 năm 1971, quân ngụy Sài Gòn đã tập trung ở vùng biên giới 31 tiểu đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, chuẩn bị mở cuộc hành quân lớn. Phân tích thế và lực của ta và của địch trước khi chúng xuất quân, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chỉ rõ; quân địch có chỗ mạnh tạm thời do tập trung lớn lực lượng, sử dụng nhiều cơ giới (5 trung đoàn, khoảng 450 xe) làm lực lượng đột kích. Nhưng cuộc hành quân diễn ra vào lúc Mỹ đang rút một bộ phận quân viễn chinh, toàn bộ lực lượng dự bị chiến lược bị hút vào khu vực Đường 9 – Nam Lào, các chiến trường khác phải căng ra để thực hiện kế hoạch bình định. Ta đã triển khai lực lượng ở thế sẵn sàng phản công, các đơn vị đã có một thời gian củng cố rút kinh nghiệm chiến dịch xuân hè, học tập chính trị, quân sự, nâng cao trình độ chiến đấu. Vật chất dự trữ trên các hướng tương đối đầy đủ. Do đó, đây là thời cơ để ta tiêu diệt quân chủ lực ngụy Sài Gòn trên một chiến trường mở rộng đã được chuẩn bị, có lợi cho ta, không có lợi cho địch.

Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực, mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” của địch phối hợp với Đường 9 – Nam Lào và phong trào đánh phá bình định ở chiến trường miền Nam.

Yêu cầu cụ thể là tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, diệt gọn từng tiểu đoàn bộ binh, chi đoàn cơ giới, không cho địch lấn chiếm đường 7, bảo vệ cơ quan, kho tàng, tạo ra thế mới, lực mới. Ngày 4 tháng 2 năm 1971, dưới sự chỉ huy của Mỹ, quân ngụy Sài Gòn bắt đầu mở cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71”.

Hướng chủ yếu, 5 chiến đoàn bộ binh (333, 5, 43, 52, 48), lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp, liên đoàn 6 biệt động quân và 5 trung đoàn thiết giáp, 6 tiểu đoàn pháo binh tiến quân theo trục đường 7. Để tạo thế bất ngờ, nhanh chóng bao vây quân ta ở Sở cao su Chúp, quân địch lợi dụng thời tiết mùa khô, sử dụng cơ giới vượt qua đường trống lên chiếm Tô Tịa; dùng máy bay lên thẳng đổ quân chiếm ngã ba Sở Nhật; tiểu đoàn 212 quân ngụy Lonnon từ Tou Le Béc tiến xuống cầu Miek Mong và lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp tổ chức mũi vu hồi thọc lên Phum Kô.

Hướng thứ yếu, chiến đoàn 9 bộ binh (6 tiểu đoàn), một chi đoàn thiết giáp và một trung đoàn pháo tiến theo đường 13 lên Snun. Hướng phối hợp địch sử dụng một chiến đoàn bộ binh (4 tiểu đoàn), một trung đoàn thiết giáp và một tiểu đoàn pháo binh tiến quân theo trục đường số 1.

Ý định của địch là nhanh chóng chiếm đường số 7, bao vây tiêu diệt lực lượng chủ lực ta ở Suông, Chúp; tiếp đó là chiếm Đầm Be, đẩy chủ lực ta ra xa, phá cơ quan, kho tàng của ta, củng cố bàn đạp trên đường số 7, từng bước giao các địa bàn đã đánh chiếm cho quân ngụy Lonnon. Sau đó, sẽ đánh lên Sơ Loong, phối hợp với hướng Snun và tỏa ra đánh phá các căn cứ của ta ở hai bên đường số 2. Trong quá trình hành quân sẽ ra sức tuyên truyền gây ảnh hưởng chính trị nhằm phối hợp với cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 – Nam Lào và cuộc hành quân “Quang Trung 4” ở Tây Nguyên đánh ra ngã ba biên giới.

Theo kế hoạch của bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn 9 dưới sự chỉ huy của Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Thới Bưng, Chính ủy Nguyễn Văn Quảng và tôi (Trương Văn Đàng – Phó tư lệnh được tăng cường Trung đoàn 174 Sư đoàn 5, cùng với Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 đảm nhiệm hướng chủ yếu của chiến dịch. Khi địch mở cuộc hành quân, Trung đoàn 1 đang hoạt động đường 22, khu vực Xa Mát – Trại Bí. Trên hướng đường 7, Suông, Chúp lực lượng chiến đấu của sư đoàn chỉ có Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3.

Đêm 5 tháng 2, chúng tôi cho Trung đoàn 2 (thiếu 1 tiểu đoàn) vận động tập kích cụm quân địch ở nam sân bay Chúp, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 36 biệt động quân, một chi đoàn xe thiết giáp ngụy Sài Gòn. Địch buộc phải đưa lực lượng chủ yếu của chiến đoàn 333 và một trung đoàn thiết giáp lên sân bay Chúp để giải tỏa và thu dọn tổn thất. Đêm 6 tháng 2, Bộ tư lệnh Sư đoàn tập trung cả hai trung đoàn (2 và 3) vận động tập kích cánh quân giải tỏa này ở làng Núi, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, phá hủy 30 xe bọc thép.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:25:08 PM
Các trận phủ đầu trên đây đã đánh mạnh vào tinh thần quân địch, bẻ gãy một gọng kìm, phá thế bao vây chiến dịch của chúng. Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi động viên các đơn vị phát huy chiến thắng trận đầu, kiên quyết trụ bám địa bàn, đánh bại các cuộc tiến công tiếp theo của địch. Trung đoàn 2 triển khai lực lượng ở phía tây, trung đoàn 3 ở phía đông Sở cao su Chúp. Được sự đồng ý của Bộ Tư lệnh Miền, chúng tôi điều động Trung đoàn 1 về tác chiến trên hướng chủ yếu. Tôi được Bộ Tư lệnh cử đi đốc chiến. Với tinh thần rất khẩn trương, ngày 8 tháng 2, Trung đoàn 1 đã hành quân về đến Bình Cheng. Cùng Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 đẩy lui nhiều đợt tiến công vào Sở cao su Chúp của chiến đoàn 333 ngụy.

Ngày 12 tháng 3, địch buộc phải điều chỉnh kế hoạch. Chúng chia lực lượng thành hai cánh đánh lên Tà Pao, phum Ca Đồn và theo đường số 2 lên Đầm Be, ngã tư Nước Đà. Trên cả hai cánh quân, địch tiến quân dè dặt, dựa vào hỏa lực phi pháo, kể cả B-52 yểm trợ hành quân. Bam đên chúng cụm lại giữa đồng trống để hạn chế ta tập kích.

Từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2, hai Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 liên tục vận động phục kích chiến đoàn 333 ngụy đóng ở Tà Pao, nhưng địch đi giữa đồng trống, ta khó tiếp cận nên không đánh được. Các Trung đoàn 12, và Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 ở khu vực Phum Kô, Beng Sê, đường số 2 cũng chỉ đánh được một số trận nhỏ.

Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền họp ngày 17 tháng 2 đánh giá một số thắng lợi bước đầu của Sư đoàn 9 đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, làm chậm và phá kế hoạch vây Sở cao su Chúp, đẩy chủ lực ta ra xa đường 7 của địch.

Đêm 17 tháng 2, Trung đoàn 3 vận động tập kích, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 31 biệt động quan ở Rokapo. Trận đánh không dứt điểm hoàn toàn nhưng đã buộc chiến đoàn 333 bỏ ý định tiến lên Chí Thiêng, co lực lượng về đường 7. Sư đoàn tổ chức trận địa phục kích ở Chúp nhưng do chỉ huy không tốt nên không đánh được. Cùng đêm, Trung đoàn 1 vận động tập kích tiểu đoàn 2 (chiến đoàn 43 ngụy) ở tây chợ Chúp. Quân địch thiệt hại khá nặng nhưng trung đoàn cũng bị thương vong cao.

Từ ngày 22 tháng 2, do bị ta đánh mạnh trên hướng đồng 7 địch chuyển toàn bộ lực lượng sang đường 2 với ý định tiên lên Sở Loong (Công Pông Chàm) hỗ trợ quân ngụy Lonnon ở khu vực đông và tây sông Mê Kông, phối hợp với cánh quân ở hướng Snun, gây ảnh hưởng chính trị.

Bộ tư lệnh Miền quyết định tập trung hai Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 1) tiếp tục đánh địch trên hướng đường 7 và Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 đánh vào sườn phía sau đội hình địch ở khu vực Oatthơmây – Cầu Cháy, điểm quyết chiến một là tây nam Đầm Be.

Trong những ngày cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1971, Sư đoàn 9 liên tiếp đánh bốn trận vận động phục kích với lực lượng hai Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 và nhiều trận nhỏ khác, gây thiệt hại nặng cho các tiểu đoàn 31, 36 biệt động quân, tiểu đoàn 1 và 3 (chiến đoàn 50) ngụy Sài Gòn. Tướng ngụy Đỗ Cao Trí bị chết do pháo phòng không ta bắn trúng chiếc máy bay chở hắn. Lực lượng còn lại của chiến đoàn 333 và lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp bị Trung đoàn 14 Sư đoàn 7 và Trung đoàn 174 chặn đánh trên đường rút chạy về Đầm Be.

Đêm 2 tháng 3, Sư đoàn 9 di chuyển lên tây bắc Đầm Be với ý định tập kích tiêu diệt quân địch ở Đầm Be nhưng không kịp. Sư đoàn 7 và Trung đoàn 174 cũng không kịp ngăn chặn vì địch chạy giữa đồng trống, lại được hỏa lực phi pháo, kể cả B-52 yểm trợ. Ta chỉ diệt được bộ phận của lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp và chiến đoàn 5 ngụy.

Ngày 4 tháng 3, địch rút khỏi Chúp và khu vực đường 7.

Đợt 1 chiến dịch tiến công trên chiến trường đông bắc Campuchia kết thúc. Cùng với các đơn vị trong khối chủ lực Miền, Sư đoàn 9 đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại chúng trên hướng tác chiến chủ yếu của chiến dịch, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi tiếp sau trong mùa khô 1970 – 1971.

Diễn biến đợt một cho thấy, địch đã tập trung lực lượng cỡ chiến đoàn và nhiều chiến đoàn trên một hướng hành quân. Ta cũng đã tập trung hai Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 và nhiều đơn vị binh chủng vào một khu vực tác chiến. Nhưng theo tôi, ta không có một bộ chỉ huy thống nhất và hiệp đồng giữa các lực lượng nên các đơn vị đứng ở chỗ nào gặp địch đánh chỗ đó, thiếu sự phối hợp theo ý định và chỉ huy chung.

Kết quả là không có trận diệt gọn tiểu đoàn bộ binh và chi đoàn thiết giáp địch, không ngăn chặn được địch khi chúng rút chạy.

Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã kịp thời rút kinh nghiệm và khi bước vào đợt chiến đấu thứ hai quyết định thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương của Bộ chỉ huy Miền do anh Trần Văn Trà, tư lệnh và các anh Hoàng Cầm, Lê Ngọc Hiền, Trần Độ, Trần Văn Phác chỉ huy Sư đoàn 9, Sư đoàn 7 và Trung đoàn 28 pháo binh, Tiểu đoàn 12 súng máy cao xạ và nhiều đơn vị binh chủng, phục vụ khác.

Như vậy, do yêu cầu của chiến trường và nhiệm vụ chiến đấu, vào đầu năm 1971, một cơ quan chỉ huy và một lực lượng chiến đấu cấp quân đoàn đã được thành lập ở chiến trường Nam Bộ trở thành lực lượng nòng cốt của khối chủ lực Miền, tiền thân của Quân đoàn 4 – Binh đoàn Cửu Long và đã phát huy vai trò tổ chức, chỉ huy và chiến đấu như một đơn vị cấp quân đoàn ở chiến trường B2 cho đến khi Quân đoàn 4 được thành lập.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:26:01 PM
*

Bước vào đợt chiến đấu thứ hai, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền nhận định: địch đã bị thất bại một bước trong đợt một. Sĩ quan binh lính địch thêm hoang mang vì thất bại lớn của cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 – Nam Lào, nhưng chúng chưa từ bỏ kế hoạch tiếp tục cuộc hành quân. Sắp tới, địch có thể đánh ra Chúp, chiếm lại địa bàn có vị trí chiến lược này, phối hợp với quân ngụy Lonnon nối lại đường số 7. Nhưng do lực lượng đã bị tổn thất, chúng ít có khả năng thọc sâu, đánh lớn. Đây là thời cơ để ta tập trung lực lượng đánh tiêu diệt tiểu đoàn quân địch. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tiền phương của Miền quyết định chọn đường 7 là hướng chính, tập trung Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, Trung đoàn 174 bộ binh, Trung đoàn 28 pháo binh, thực hiện vận động bao vây và tiến công lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp ngụy Sài Gòn, đánh bại chiến thuật sử dụng cơ giới tập trung trên địa hình đồng trống của chúng.

Ngày 16 tháng 3 năm 1971, lữ đoàn 3 và chiến đoàn 48 ngụy chia lực lượng thành hai mũi đánh vào Sở cao su Chúp. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 đã kịp thời điều động Trung đoàn 2 từ Tà Pao về (trong đêm 16 tháng 3) để ngăn chặn lữ đoàn 3, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu của sư đoàn triển khai thế bao vây và vận động tiến công chiến đoàn 48 ngụy trong Sở cao su Chúp. Trung đoàn 3 đột phá hướng chủ yếu phía bắc, Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 đánh địch ở hướng nam và tây nam. Trận đánh diễn ra từ 7 giờ đến 11 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3. Chiến đoàn 48 ngụy bị diệt một tiểu đoàn, hai tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng phải quay về khu vực Krếch để củng cố.

Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 3, Sư đoàn 9 chuyển sang bao vây và phản công lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp và chiến đoàn 5 ngụy ở nam đường 7, cùng các đơn vị bạn đánh trận quyết chiến chiến dịch ở khu vực Tô Tịa – Mông Rêu, đẩy lùi binh đoàn chủ yếu của địch trong chiến dịch về Pônôrây, buộc địch phả kết thúc đợt tiến công trên hướng đường 7.

Phát huy thắng lợi, trong những ngày đầu tháng 4 năm 1971, ta không chờ địch nống ra mà thực hiện vây ép để bức rút và diệt quân địch tăng viện ở khu vực Pra Thiếc, Khana, Pônôrây… đẩy lùi địch thêm một bước nữa về đến Cănđonchrum. Ý định chiếm lại đường 7 của địch bị đập tan. Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp và 3 chiến đoàn (5, 48 và 9) bị đánh thiệt hại nặng.

Từ cuối tháng 4 năm 1971, quân ngụy Sài Gòn và ngụy Lonnon phải tổ chức co cụm để tránh bị tiêu diệt. Ỷ vào lực lượng còn đông, chúng tiếp tục bám giữ một số vị trí đầu cầu trên đường 7, đường 13 và bờ sông Tônlêtút nhằm quấy phá hậu phương, kìm giữ chủ lực ta, hỗ trợ kế hoạch bình định ở miền Nam và ở Campuchia.

Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở đợt ba chiến dịch nhằm đẩy địch về hình thái trước mùa khô, tiếp tục thu hút, kiềm chế một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn, tạo điều kiện cho quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh phá bình định, hỗ trợ quân và dân nước bạn củng cố và mở rộng vùng giải phóng.

Hướng chủ yếu ta tập trung Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 (thiếu Trung đoàn 209), Trung đoàn 28 pháo binh, Tiểu đoàn 12 súng máy cao xạ vây ép, tiêu diệt chiến đoàn 8 ngụy Sài Gòn ở Snun, cụm quân ngụy Lonnon ở bờ sông Tônlêtút, đồng thời sử dụng Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 nghi binh, kiềm chế địch trên đường 7, không cho chúng đưa quân lên Suông, Chúp. Hướng phối hợp, Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 1) được tăng cường Tiểu đoàn 8 pháo binh diệt 3 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 8 tiểu đoàn quân ngụy Lonnon ở khu vực Bàu Điều, đẩy lùi âm mưu lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng, giúp bạn phát triển cơ sở chính trị, vũ trang, tạo thế bố trí lực lượng của ta trên tuyến sông Mê Kông.

Ngày 24 tháng 6 năm 1971, chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-17” của Mỹ và ngụy Sài Gòn trên chiến trường đông bắc Campuchia kết thúc.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:27:00 PM
Qua 15 tháng chiến đấu ta đã diệt một bộ phận rất quan trọng sinh lực tinh nhuệ và lực lượng thiết giáp nòng cốt của quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn, diệt một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của quân ngụy Lonnon, loại khỏi vòng chiến đấu 20.000 tên (có 6.000 quân ngụy Lonnon), diệt 1 chiến đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, đánh thiệt hại 5 chiến đoàn khác, phá hủy 1.500 xe quân sự (có 369 xe tăng, xe bọc thép), 106 khẩu pháo, bắn rơi 200 máy bay, đánh bại hoàn toàn âm mưu đánh phá hậu phương, cơ quan kho tàng, chia cắt hành lang của ta và âm mưu lấn chiếm đường số 7, hỗ trợ quân ngụy Lonnon, thực hiện kế hoạch bình định của địch. Ta đã đánh bại, làm cho Mỹ - ngụy mất tin tưởng ở một số thủ đoạn và phương thức tác chiến dựa vào không quân Mỹ, vào sức mạnh cơ giới, pháo binh để tấn công thọc sâu và phòng ngự từ xa, ngoài biên giới của Mỹ và ngụy Sài Gòn trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Thắng lợi của chiến dịch đã phối hợp nhịp nhàng với chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào đánh phá bình định ở chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Campuchia. Cùng với chiến thắng Đường 9 – Nam Lào và những thắng lợi ở các chiến trường khác, thắng lợi của chiến địch đã mở ra một triển vọng mới và khả năng thực tế của ta về thắng lợi quân sự, đánh bại hoàn toàn đội quân ngụy “xương sống” của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Là một trong những lực lượng tác chiến chủ yếu, đảm nhận hướng chính của chiến dịch trong một số đợt, Sư đoàn 9 đã đánh 806 trận (có 12 trận cấp sư đoàn, 38 trận cấp trung đoàn) diệt 4 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp của quân ngụy Sài Gòn, 7 tiểu đoàn quân ngụy Lonnon, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ được cơ quan kho tàng, căn cứ hậu phương trên khu vực được phân công. Sư đoàn đã trực tiếp giải phóng nhiều vùng rộng lớn, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang của bạn, giúp đỡ các tiểu đoàn 11, 12, 13, 14 bộ đội tập trung của bạn trưởng thành trong chiến đấu. Các đơn vị và cơ quan sư đoàn được rèn luyện, trưởng thành lên một bước mới về nghệ thuật tổ chức, chỉ huy và thực hành chiến dịch, về khả năng cơ động, đánh liên tục, đánh ban ngày và vận dụng các cách đánh trong chiến dịch phản công ở địa hình đồng bằng.

Tháng 7 năm 1971, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền mở hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” của địch ở chiến trường đông bắc Campuchia. Hội nghị đã thống nhất đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của quân ngụy Sài Gòn, đối tượng tác chiến chủ yếu của ta từ khi Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chỉ rõ quy luật và thủ đoạn hành động của chúng; đồng thời đã nêu lên nhiều kinh nghiệm phong phú về chỉ đạo và thực hành chiến dịch, chiến thuật của bộ đội chủ lực.

Từ sau mùa khô 1970-1971, một cục diện mới đã xuất hiện trên chiến trường ba nước Đông Dương.

Qua hai cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở Đường 9 – Nam Lào và “Toàn thắng 1-71” ở đông bắc Campuchia, công thức quân chủ lực cơ động ngụy Sài Gòn, cộng hỏa lực yểm trợ của Mỹ và dưới sự chỉ huy của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã bị đánh bại. Quân ngụy Sài Gòn dù được Mỹ tăng cường trang bị, nâng cao sức cơ động và yểm trợ tối đa về hỏa lực đã không đảm dương được vai trò lực lượng cơ động trên các chiến trường ba nước Đông Dương như Mỹ mong muốn. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến và ỷ vào tiềm lực mạnh, Mỹ tiếp tục quá trình hiện đại hóa quân ngụy Sài Gòn, phát triển mạnh số lượng và nâng cao khả năng tác chiến của quân ngụy Lào và ngụy Lonnon, sử dụng quân ngụy Sài Gòn ngăn chặn phía trước, ngụy Lào và ngụy Lonon đánh vào sườn và phía sau của ta nhằm tiếp tục thực hiện chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong thời gian hơn một năm, chúng đưa quân ngụy Lonnon lên 170.000 tên, tổ chức thành 350 tiểu đoàn chiến đấu (63 lữ đoàn). Ngoài các hoạt động phối hợp với quân ngụy Sài Gòn trong mùa khô 1970-1971 và những tháng mùa mưa 1971, quân ngụy Lonnon dưới sự chỉ huy của sĩ quan cố vấn Mỹ, được không quân Mỹ yểm trợ mở nhiều cuộc hành quân trên các hướng tây nam, tây bắc và đông bắc Phnôm Pênh.

Ngày 20 tháng 8 năm 1971, chúng huy động 30 tiểu đoàn, nhiều xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, tàu chiến… mở cuộc hành quân Chenla 2 ở đông nam Campuchia. Mục tiêu chính của cuộc hành quân làm giành quyền kiểm soát đường số 6, chủ yếu là đoạn đường dài 50 kilômét từ Tăngcốc đến thị xã Công Pông Thom; chiếm vùng đồng bằng rộng lớn đông dân, giàu lúa gạo thuộc hai tỉnh Công Pông Chàm, Công Pông Thom để vơ vét lương thực, bắt linh, gây khó khăn cho lực lượng cách mạng Campuchia; đồng thời nhằm chia cắt hành lang của ta từ đông sang tây, đánh phá hậu phương và phá kế hoạch chuẩn bị của ta cho mùa khô 1971 – 1972. Mỹ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân này, sử dụng không quân,, kể cả máy bay chiến lược B-52 yểm trợ hỏa lực cho quân ngụy Lonnon, quyết giành thắng lợi cho cuộc hành quân mà chúng coi là điển hình của chương trình “Khơme hóa chiến tranh”.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:27:53 PM
Từ ngày 20 tháng 8 đến này 26 tháng 10, lực lượng tại chỗ của ta và quân dân nước bạn đã liên tục chặn đánh, tiêu hao một số sinh lực địch, làm chậm kế hoạch hành quân của chúng.

Ngày 1 tháng 10 năm 1971, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch phản công ở khu vực đường số 6, đánh bại cuộc hành quân Chenla 2 của địch. Lực lượng tham gia chiến dịch có Sư đoàn 9, 2 trung đoàn 205 và 207 bộ binh và một số đơn vị binh chủng.

Tháng 10 ở Campuchia đang là cuối mùa mưa. Nước sông Mê Kông và các kênh rạch còn lớn. Hai bên đường số 6 là các cánh đồng ngập nước. Địa hình trống trải thuận tiện cho quan sát nhưng có nhiều trở ngại cho việc cơ động lực lượng, giấu quân, triển khai chiến đấu. Nhân dân Khơme ở thành từng cụm. Trong các phu, sóc, nằm ven đường số 6 đều có quân ngụy Lonnon đóng chốt. Có nơi lực lượng địch đông tới một tiểu đoàn. Ở các thị trấn, các đầu mỗi giao thông quan trọng địch đóng sở chỉ huy lữ đoàn từ 3 đến 5 tiểu đoàn bộ binh, có trận địa pháo từ 2 đến 4 khẩu, có xe thiết giáp lội nước… Ngoài quân chính quy, ngụy quyền Lonnon còn tổ chức lực lượng phòng vệ dân sự có trang bị súng. Ở một số phum, lực lượng này đông tới trên 100 tên.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Sư đoàn chúng tôi đã hành quân rất khẩn trương. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, sư đoàn đã cho trinh sát đi trước nắm tình hình, tổ chức tốt việc vượt sông Mê Kông và bí mật vượt qua các cánh đồng trống trải, qua hệ thống bố phòng dày đặc của địch, đưa đội hình lớn về tập kết ở khu vực tác chiến chiến dịch đúng thời gian quy định.

Ngày 27 tháng 10, Sư đoàn 9 triển khai lực lượng vây ép và đồng loạt nổ súng tiến công các cứ điểm nằm trong hệ thống phòng thủ của hai lữ đoàn 46 và 61 từ bắc Tan Kul đến Rùm Luông, và đông Rùm Luông đến Krianđét.

Tôi được Bộ Tư lệnh Sư đoàn cử đi chỉ huy cánh quân này. Trung đoàn 2, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Di Thiện Tích và Chính ủy Lê giao đã tiêu diệt tiểu đoàn 377 quân ngụy Lonnon, chia cắt đội hình hành quân Chenla 2 của địch ở phía bắc, đoạn Ba Rài – Rùm Luông và vây ép lữ đoàn 46 địch. Trung đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Phạm Kim tiến công cứ điểm Anđôngpô, chia cắt đội hình hành quân Chenla 2 của địch ở phía nam, đoạn Kreul – Rùm Luông. Trung đoàn dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Quách Mười và Chính ủy Trần Văn Thiệt vây ép lữ đoàn 61 ở Kỉanđét.

Bị ta đánh mạnh, đồng loạt và bất ngờ, đội hình hành quân của địch bị chia cắt thành ba khúc, giao thông vận chuyển từ phía sau lên bị đình trệ, việc chỉ huy hành quân của địch bắt đầu rối loạn. Mỹ phải sử dụng không quân (60 đến 70 lần chiếc xuất kích trong một ngày) ném bom ngăn chặn và đôn đốc Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Lonnon đưa lực lượng lên giải tỏa. Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 chốt chặn phía nam Rùm Luông, Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chốt chặn ở phía bắc là vùng đồng trống. Nhưng cả hai đơn vị đã kiên cường bám trụ dưới hỏa lực bom pháo ác liệt, đánh lui hàng chục đợt phản kích của các lữ đoàn 48, 25 và 20 thuộc lực lượng dự bị cơ động của quân ngụy Lonnon lên tăng viện. Bị đánh mạnh và bất ngờ, ngày 12 tháng 11, lữ đoàn 46 ở Rùm Luông và Triel tháo chạy. Bộ đội ta nhanh chóng chuyển sang truy kích, diệt hầu hết quân địch, bắt trên 1.000 tên, thu toàn bộ xe, pháo, súng dạn. Rùm Luông và Triel được giải phóng. Đoạn đường số 6 già từ Phada đến Tankok do ta làm chủ.

Những ngày cuối tháng 11 năm 1971, địch tăng thêm lực lượng lên khu vực chiến dịch, đưa tổng số quân tới 74 tiểu đoàn và được không quân Mỹ, kể cả B-52 yểm trợ, nhưng vẫn không chiếm lại được Rùm Luông và các điểm đã mất. Trong khi đó ở các chiến trường khác, đặc biệt là ở xung quanh Phnôm Pênh, lực lượng ta và bạn hoạt động mạnh, buộc địch phải rút một số đơn vị về bảo vệ Phnôm Pênh. Địch phải bỏ một số chốt lẻ từ San Tuc đến Ba Rai và hướng bắc Công Pông Chàm, tổ chức co cụm để đối phó với ta và để có thêm lực lượng giải tỏa đường số 6.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi chủ trương củng cố các địa bàn đã chiếm được, tiến công các cụm cứ điểm của binh đoàn 1 xung kích quân ngụy Lonnon, bao vây, cô lập Công Pông Thmar.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:30:27 PM
Ngày 29 tháng 11, một bộ phận lực lượng vượt suối Chinít, vây ép Công Pông Thmar từ hướng bắc. Các Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 3 triển khai lực lượng bao vây hướng đông, đông nam và tây nam. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch phải rút các cứ điểm ngoại vi Công Pông Thmar và Ba Rài.

Trưa ngày 30 tháng 11 ta nắm được tin Lonnon ra lệnh rút toàn bộ lực lượng hành quân Chenla 2. Chúng tôi nhanh chóng điều Trung đoàn 2 tăng cường vây ép phía đông Ba Rài. Trung đoàn 1 hành quân cấp tốc trong đêm 30 tháng 11, đến 7 giờ sáng ngày 1 tháng 12 bắt đầu nổ súng và đến 11 giờ trưa đã chiếm được Thnot Chum, diệt hai tiểu đoàn của lữ đoàn 46.

Sáng ngày 1 tháng 12, chúng tôi sử dụng khẩu pháo 105 thu được của địch ở Rùm Luông bắn 30 quả vào Ba Rài. Từ các vị trí bàn đạp, Trung đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 đồng loạt nổ súng đánh chiếm các vị trí tiền tiêu và thọc sâu diệt sở chỉ huy cuộc hành quân Chen-la 2 và sở chỉ huy binh đoàn 1 xung kích địch.

Phần lớn quân địch ở Ba Rài bị tiêu diệt, tan rã, vũ khí phương tiện không kịp phá hủy theo lệnh của Lonnon. Bộ phận tháo chạy về phía tây mang theo một số xe, pháo bị Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 đánh cắt ngang đội hình. Sĩ quan binh lính địch bỏ cả xe, pháo mà chạy. 13 giờ ngày 1 tháng 12, ta giải phóng Ba Rài.

Ở Công Pông Thmar, ta thắt chặt vòng vây, chặn các ngả đường rút chạy của binh đoàn 1 xung kích. 17 giờ ngày 1 tháng 12, địch cho một tiểu đoàn tiến ra theo đường số 6 nhằm nghi binh, đánh lạc hướng ta; đồng thời sử dụng hỏa lực pháo binh và không quân đánh mạnh vào khu vực bắc cầu Công Pông Thmar đến Prasost để mở đường máu tháo chạy. Trung đoàn 3 nhanh chóng thọc sâu, chiếm sở chỉ huy địch, giải phóng hoàn toàn Công Pông Thmar lúc 20 giờ cùng ngày. Do địch phá sập cầu, ta phải tổ chức vượt sông, tốc độ truy kích chậm nên một bộ phận quân địch đã chạy thoát. Ta diệt và bắt hơn 1.000 tên.

Từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 12 bộ đội ta tiếp tục truy kích, quét sạch các chốt địch trên đường số 6 từ Tăng Krasăng đến San Tuk. Binh đoàn 1 xung kích của quân ngụy Lonnon bị đánh tơi tả, chỉ còn một số tàn quân chạy về được Công Pông Thom, trong đó có tên Nusevuth, Chỉ huy phó binh đoàn bị thương nặng.

“Chenla 2”, một cuộc hành quân điển hình của công thức quân đội Lonnon cộng hỏa lực không quân Mỹ trong chương trình “Khơme hóa chiến tranh”, một thí nghiệm sử dụng quân Lonnon làm lực lượng cơ động đánh vào phía sau ta hoàn toàn bị thất bại. Quân ngụy Lonnon, trong đó có một bộ phận quan trọng lực lượng tinh nhuệ Mỹ đặt nhiều hy vọng đã bị một đòn tiêu diệt nặng. Theo số liệu thống kê chưa thật đầy đủ, trong hơn 1 tháng chiến đấu, Sư đoàn 9 cùng các đơn vị tham gia chiến đấu đã loại khỏi chiến đấu 12.295 tên địch, tức hơn một nửa lực lượng địch huy động vào cuộc hành quân, ta bắt sống 1.994 tên (có hơn 1.000 dân vệ), diệt 2 lữ đoàn, 10 tiểu đoàn bộ binh, 2 chi đoàn xe tăng, xe bọc thép, đánh thiệt hại 7 lữ đoàn khác. Ta thu 60 xe các loại, 4.750 khẩu súng, pháo (có 5 khẩu pháo 105), 150 tấn đạn, bắn rơi 11 máy bay, bán chìm 13 tàu, ca nô, phá hủy 36 xe quân sự.

Thủ đoạn chiến thuật dùng binh đoàn, lữ đoàn phòng ngự thành cụm cứ điểm, tiến công với đội hình dày đặc bị đập tan. Âm mưu chiếm đường 6 để bảo vệ Phnôm Pênh, dùng đường 6 để làm bàn đạp tiến công lấn chiếm đông bắc Campuchia, chiếm vùng đồng bằng đông dân, nhiều của và âm mưu câu kết giữa ngụy quân, ngụy quyền miền Nam, Campuchia, Lào nhằm đánh phá hành lang chiến lược của ta bị đánh bại. Nội bộ ngụy quyền Lonnon thêm mâu thuẫn, chính trị rối ren, kinh tế khủng hoảng. Sau một thời gian tăng nhanh về số lượng và đầu đơn vị, quân ngụy Lonnon bắt đầu quá trình đi xuống về tổ chức và tinh thần chiến đấu. Ở nhiều nơi, nhất là ở Công Pông Thom, Công Pông Chàm… quân địch xin rút hoặc xin tăng viện vì sợ bị ta tiến công tiêu diệt.

Thắng lợi của chiến dịch đã đề cao uy tín của bạn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Campuchia phát triển, làm cho “quan hệ giũa ta và bạn càng khăng khít hơn, hiểu thông cảm nhau hơn”(1). Cùng với các thắng lợi trên chiến trường miền Nam và chiến trường Lào, chiến dịch đường 6 thắng lợi đã tạo ra một thế tiến công chiến lược mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch, đẩy địch vào thế phòng ngự, bị động.


(1) Kết luận hội nghị cán bộ tổng kết chiến dịch đường 6 ngày 16 tháng 1 năm 1972 của đồng chí Hoàng Văn Thái (Mười Khang) – Tư lệnh Miền.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Năm, 2019, 03:32:32 PM
Ngày 16 tháng 11 năm 1972, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền mở hội nghị tổng kết chiến dịch đường 6. Kết luận hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tư lệnh Miền khen Sư đoàn 9 và các đơn vị tham gia chiến dịch đã “hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”. Đồng chí nói: “Bác Hồ đã dạy chúng ta: càng thắng lợi, càng phải kiểm điểm nghiêm khắc, càng thấy khuyết điểm cho sâu sắc thì mới tiến bộ được. Chúng ta phải làm cho được tinh thần trên của Bác dạy, không được thỏa mãn. Phải kiểm điểm các khuyết điểm nghiêm khắc, đưa trình độ bộ đội ngày càng cao hơn. Chiến dịch vừa qua, nếu ta làm tốt hơn thì có thể rút ngắn thời gian hơn, giảm thương vong nhiều hơn(1), thắng lợi còn cao hơn.

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng và thực hiện chức năng đội quân công tác, đội quân sản xuất, trong năm 1971 sư đoàn đã mở được hai lớp tập huấn, nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho 243 cán bộ trung cấp, mỗi lớp học 23 ngày và hai lớp cho 151 cán bộ sơ cấp, mỗi lớp học 14 ngày. Các trung đoàn cũng mở được nhiều lớp tập huấn cán bộ từ tiểu đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng. Các lớp huấn luyện tập trung được tổ chức sau chiến dịch mùa khô, chiến dịch đường số 6 và xen kẽ giữa hai đợt chiến đấu, giữa hai trận đánh. Cộng lại trong một năm, mỗi cán bộ chiến sĩ có ba tháng huấn luyện, trong đó khoảng 50 ngày học chiến thuật, 30 ngày học kỹ thuật và 10 ngày học các khoa mục chung.

Nội dung huấn luyện gắn với nhiệm vụ chiến đấu từng giai đoạn và dựa vào các tài liệu đã được tổng kết kịp thời sau các chiến dịch, các trận đánh. Sáu tháng đầu năm 1971, nội dung chủ yếu về huấn luyện quân sự của bộ đội là các hình thức chiến thuật vận động tập kích, vận động phục kích. Sáu tháng cuối năm 1971, các đơn vị chuyển sang huấn luyện chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt chặn và vây lấn. Ngoài chương trình chung, sư đoàn còn mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng tác phong chỉ huy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần.

Để bổ sung số tiêu hao trong chiến đấu và đào tạo cán bộ theo yêu cầu xây dựng quân đội, trong năm 1971, sư đoàn đã cử 254 cán bộ đi học ở các trường thuộc Bộ Tư lệnh Miền, trong đó có 36 cán bộ học trường trung cao, 174 cán bộ học trường sơ cấp (gồm công binh, pháo binh, trinh sát, đặc công) và 71 cán bộ học các ngành hậu cần (có 48 cán bộ y sĩ, bác sĩ). Trường huấn luyện cán bộ trung đội của sư đoàn mở được tám khóa, gồm sáu khóa pháo binh, một khóa đặc công, 482 cán bộ gồm 430 cán bộ bộ binh, 18 cán bộ pháo binh, 34 cán bộ đặc công đã ra trường trong năm 1971, được bổ sung về các đơn vị và cơ quan sư đoàn, trung đoàn.

Hoạt động trên chiến trường nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả do Đảng và nhân dân giao phó, Đảng ủy Sư đoàn và các cấp đặc biệt chú trọng giáo dục nhiệm vụ, xây dựng các đơn vị dân vận giỏi, thường xuyên kết hợp tác chiến với vận động binh lính địch… Khi vây lấn, bám địch, các đơn vị tổ chức viết truyền đơn, khẩu hiệu, thư tay, nhờ các quần chúng tốt đưa vào đồn, vận động sĩ quan, binh lính địch bỏ súng về với nhân dân. Khi đánh thắng địch ta băng bó cho những tên lính bị thương, giáo dục và thả tại trận. Khi bắt được bọn dân vệ, cảnh sát… ta giáo dục rồi giao cho bạn. Những việc làm đó đã gây ảnh hưởng tốt trong sĩ quan và binh lính địch.

Để thực hiện tốt công tác dân vận, các đơn vị đều có đội tuyên truyền, các đội viên được học tiếng Khơme, học phong tục, tập quán của nhân dân bạn… Cùng cán bộ địa phương của bạn, trong năm 1971, các đơn vị của sư đoàn đã tham gia vận động quần chúng ở 13 quận, 47 xã, 298 phum, sóc. Cũng như khi hoạt động ở chiến trường trong nước, cán bộ chiến sĩ sư đoàn tận tình giúp dân đào hầm chống phi pháo, thu hoạch lúa, khám chữa bệnh, chiếu phim, biểu diễn văn nghệ… góp phần củng cố vùng giải phóng của bạn, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước. Đặc biệt, theo yêu cầu của bạn, mỗi trung đoàn đã tổ chức, trang bị, huấn luyện luyện một tiểu đoàn bộ đội tập trung của bạn, đòng thời tổ chức huấn luyện nhiều đội vũ trang, nửa vũ trang ở các phum, sóc, trực tiếp góp phần phát triển lực lượng vũ trang cách mạng của bạn.

Đây là lần thứ hai, quân đội ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả trên đất nước Campuchia anh em. Nối tiếp truyền thống cao đẹp của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 9 và các đơn vị bộ đội chủ lực của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần tăng cường liên minh chiến đấu, mỗi quan hệ đặc biệt giữa cách mạng ba nước Đông Dương.


(1) Trong chiến dịch đường số 6, ta hy sinh 290, bị thương 1.145 (chủ yếu là Sư đoàn 9), mất và hỏng 141 khẩu súng các loại.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:47:22 AM
CHƯƠNG NĂM
THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972

Đối với đế quốc Mỹ, sau một quá trình cố gắng cao độ trong nỗ lực xây dựng và tăng cường về quân số, về trang bị vũ khí cho quân đội Sài Gòn mạnh lên, đủ sức thay thế quân Mỹ, đủ sức đảm nhận vai trò nòng cốt cho “Việt Nam hóa”, “Khơme hóa” và “Lào hóa” chiến tranh của chính quyền Níchxơn, thì thất bại ở Đường 9 – Nam Lào chứng tỏ quân ngụy Sài Gòn cho dù có tới 43 sư đoàn, 8 trung đoàn và 37 tiểu đoàn độc lập cũng không đủ khả năng mở những cuộc hành quân vừa và lớn. Hơn nữa sau thất bại này, quân ngụy Sài Gòn buộc phải chuyển dần vào thế phòng ngự theo từng khu vực và theo tuyến như tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia, tuyến đường 9, tuyến Trị - Thiên, khu vực Đà Nẵng, khu vực Tây Nguyên, khu vực xung quanh Sài Gòn – Gia Định.

Trong khi quân chủ lực ngụy Sài Gòn, Campuchia và Lào bị đánh mạnh, tinh thần của chúng sa sút nghiêm trọng, thì Mỹ vẫn buộc phải tiếp tục rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Các sư đoàn thiện chiến Mỹ lần lượt kết thúc sự có mặt trên chiến trường Việt Nam, đầu tiên là sư đoàn bộ binh 9 và tiếp đó là sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn kỵ binh không vận số 1, sư đoàn bộ binh 4, sư đoàn thủy quân lục chiến 3, sư đoàn bộ binh 23 và 25, sư đoàn dù 101, sư đoàn bộ binh cơ giới 5, sư đoàn không quân 83… Đến trước ngày 1 tháng 5 năm 1972, quân Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam chỉ còn 60 nghìn tên. Quân các nước chư hầu cũng đang trong quá trình tương tự từ 60 nghìn tên năm 1968, đến năm 1972 chỉ còn 38 nghìn tên. Quân Mỹ và các nước chư hầu của Mỹ rút đi, bỏ trống những vùng đất đai rộng lớn ở miền Nam, quân đội Sài Gòn phải điều quân chắp vá và thay thế những nơi quân Mỹ rút. Chúng phải dàn mỏng lực lượng trong thế bố trí chiến lược mỏng yếu, lộn xộn.

Về phía ta, năm 1971, ở chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang Quân giải phóng có 7 sư đoàn, 19 trung đoàn chủ lực cơ động, 95 tiểu đoàn, 350 đại đội, 185 trung đội bộ đội địa phương, huyện và hàng chục vạn du kích, tự vệ chiến đấu ở khắp các thôn, xã, thị trấn, thành phố. Toàn bộ lực lượng này đứng chân trên những địa bàn chiến lược trọng yếu, hình thành thế bố trí xen kẽ với địch… Chỉ trong năm 1970-1971, miền Bắc đưa nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật như xe tăng, pháo binh, cao xạ, công binh, đặc biệt là xe tăng T54, pháo 130 ly và 122 ly nòng dài, Đ74, hỏa tiễn, súng phòng không A72, súng chống tăng B72 điều khiển bằng vô tuyến điện và hữu tuyến điện vào chiến trường.

So sánh lực lượng quân sự ở miền Nam và Đông Dương, quân ta mạnh hơn hẳn quân địch về mọi mặt, lại nắm quyền chủ động chiến trường và ở thế bố trí chiến lược có lợi, luôn luôn vây hãm quân địch vào thế chống đỡ.

Một thời cơ mới để đưa cách mạng nước ta tiến lên giành thắng lợi quyết định đã xuất hiện. Lường được khả năng diễn biến của tình hình, ngay từ tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả trên chiến trường Đông Dương. Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài.

Ngay trong tháng 6 năm 1971, Quân ủy Trung ương họp nghiên cứu tình hình miền Nam, Campuchia và Lào, bàn kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị. Quân ủy Trung ương xác định quyết tâm chiến lược năm 1972: “Tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh tiến công quân sự và chinh trị trên cả ba vùng, trên khắp các chiến trường Đông Dương, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, giành thắng lợi cao nhất”.

Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5 năm 1971 và Hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 6 năm 1971, đánh giá sát diễn biến tình hình thực tế trên chiến trường và âm mưu của địch, nhận thấy thời cơ chiến lược đang xuất hiện, đề ra chủ trương nhằm tận dụng và kết thúc thời cơ, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công năm 1972.

Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tháng 10 năm 1971, Trung ương Cục họp Hội nghị xác định quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Bộ tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công mang mật danh “chiến dịch Nguyễn Huệ” trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, giải phóng một khu vực có ý nghĩa chiến lược, khôi phục và mở rộng địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực Miền, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở nông thôn đồng bằng và phối hợp chiến trường Quảng Trị và Bắc Tây Nguyên.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:48:22 AM
Bộ tư lệnh chiến dịch gồm Trung tướng Trần Văn Trà – Tư lệnh, Thiếu tướng Trần Độ - Chính ủy, Đại tá Trần Văn Phác – Phó Chính ủy, Đại tá Lê Ngọc Hiền – Tham mưu trưởng, Đại tá Bùi Phùng – Chủ nhiệm Hậu cần.

Đồng thời thành lập một sư đoàn mới mang phiên hiệu C30B. Tôi được điều từ Sư đoàn 9 về làm Tư lệnh Sư đoàn. Anh Thân Ngọc Sang – Chính ủy. Các anh Chín Tùng, Tạ Quang Tỷ - Phó tư lệnh. Anh Bảy Triết – Tham mưu trưởng, anh Năm Đới – Chủ nhiệm chính trị, anh Chánh – Chủ nhiệm hậu cần.

(https://lh3.googleusercontent.com/PlSeMy53GEIM6ro8ZS2Uo-HS0EZnLxKGk9MzXFSlnWWFKUtrykZjdkjW5mt0u_YHtYJI2XZo_U7qv19x-njPStlC7g4hQp-RuMo_TT1N2SY0pKIPzuKotzvY-ERHkuQBaB5wKlQuLP82NxZHoAiyzom0CJW_D6bcrDE8ldysTHkCmxyWSnFidu88A7WaM5ecItVWp1VKcM3P0lb5vbYyXEaUm540VcPh8th9dCoe0dTCEuP5E4umbxSNAAh1YP-Tl-rnARtN0UWRho9x3tdrGg3QKVaAEcE8tnGbEVaPpQj6tNvsgaTtc5KfoXk5TGI3DYFVoAJQhlGldz5kS6M7j3c0tBjq0HNyXM_apznRMJQ8lKhe0oG5S94TpXD2lsXordl04mra5X0RSY_EmwQppTwpY1VLPN8cQN8NpBH3KNUKAnVEGKDW_NShprmarQaFYSjboSP-PRzXHoSFi51bmqQKWWI4txuDoTU3bxCGm8tuiJbsNMMyKHz43FgFGrkQ1pQR6zD8gkoi9Sy21MaMhW2rDq7Jnh1f0y4bYcj63XlbdekYQ2Y4vU5E5SpZbgyXrUQ8lmdEMJ0V_Ui31vSeOptTtyr12j5Po-obVrbJoYOUZ53GzHkSuvNJUSGfSCp9AofPwRPUFs07KpLgqCb6KS0LpY0u5jU=w800-h546-no)

Bộ Tư lệnh Sư đoàn B30C. Chụp ảnh kỷ niệm sau chiến dịch Nguyễn Huệ.
Trong ảnh từ phải qua trái thứ hai Trương Văn Đàng

Sư đoàn C30B có các Trung đoàn 24, Trung đoàn 271 mới từ miền Bắc vào, Trung đoàn Gia Định; các đơn vị binh chủng: Một tiểu đoàn pháo (2 khẩu 105 ly, 2 khẩu cối 120 ly, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo tự hành, 1 đại đội xe tăng M41 (chiến lợi phẩm), cùng các tiểu đoàn thông tin, công binh, đại đội trinh sát và ba cơ quan tham mưu, chính trị hậu cần.

Theo kế hoạch chiến dịch, trên hướng chủ yếu có hai khu vực tác chiến then chốt mở đầu chiến dịch từ ngã ba đường 13 lên bắc Lộc Ninh, trong đó có cụm cứ điểm Lộc Ninh do Sư đoàn 5 được tăng cường Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 đảm nhiệm. Sư đoàn 7 có nhiệm vụ luồn sâu bao vây, chốt chặn chiến dịch dọc theo đường 13 từ cầu Cần Lê xuống bắc Chơn Thành, diệt quân viện và quân tháo chạy. Khu quyết chiến trung tâm của chiến dịch từ ngã ba đường số 7 xuống bắc Chơn Thành, trong đó có thị xã An Lộc. Lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 9 làm lực lượng dự bị chiến dịch sẵn sàng tiến công khu vực này khi có lệnh. Hướng thứ hai là đường 22 do sư đoàn C30B đảm nhiệm đánh địch ở Sa Mát, Thiện Ngôn đường 22 tỉnh Tây Ninh.

Sau khi công bố quyết định thành lập, tôi phổ biến nhiệm vụ của sư đoàn trong hè thu 1972 do Bộ Tư lệnh Miền giao. Tôi nói:

- Vào mùa khô năm 1972, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công mang tên “Nguyễn Huệ” nhằm tiêu diệt một bộ quận quan trọng chủ lực ngụy, đánh chiếm một số địa bàn chiến lược tạo thế bao vây uy hiếp Sài Gòn từ hướng tây bắc. Hướng chủ yếu của chiến dịch là Lộc Ninh, quốc lộ 13 do Miền đảm nhiệm. Hướng thứ yếu là Xa Mát, Thiện Ngôn, quốc lộ 22 do Sư đoàn ta đảm nhiệm.

Căn cứ vào nhiệm vụ và ý định của cấp trên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định phương án tiến công như sau: Trận mở đầu tiêu diệt căn cứ Xa Mát là trận then chốt có ý nghĩa quyết định phát triển tiến công ở hướng quốc lộ 22 nên sư đoàn phải bằng mọi cách dứt điểm nhanh căn cứ này. Trước đây đơn vị bạn đã đánh nhưng không dứt điểm. Trận then chốt thứ hai: Tiêu diệt chiến đoàn 49, kéo chiến đoàn 46 lên đánh buộc sư đoàn 25 phải can viện, diệt sư đoàn 25. Trung đoàn 24 đảm nhiệm vai trò chủ công, bước đầu hoàn thành 2 mục tiêu then chốt trên.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:49:30 AM
Trung đoàn 271 bao vây tiến công căn cứ tiểu đoàn hỗn hợp pháo bộ binh ở Tà Xia, tiêu diệt vá đánh chiếm căn cứ này, phối hợp với Trung đoàn 24 đánh địch tăng viện, rút chạy từ căn cứ Thiện Ngôn.

Trung đoàn 24 đảm nhiệm hướng chủ yếu của sư đoàn trên quốc lộ 22. Trung đoàn 271 đảm nhiệm hướng thứ yếu của sư đoàn.

Các đơn vị trực thuộc do đạn dược, pháo cối, xe có hạn nên sư đoàn trực tiếp sử dụng chi viện là chủ yếu. Trung đoàn 24 được phối thuộc 1 khẩu cối 120 ly.

(https://lh3.googleusercontent.com/G5XJDDlN6rXf1ZF-lcCPp652L9wTCSUZq_IxE5xfTCFHdqaAWge2ro2OY13H5lGbIXeW7VdRnfrjTcrRUGaf10adxRuL2kr0ZH-tKdwwxyqRKmWzssstIHxZuspVf44GamaqmEmZt_dU0SniswqhwcdCeoBu80IBAkczc7S3fEExtzjdCQEqwr8fn67Gm5ZUz1qPnq8tQ0CDLP07btiX7LEJ-DIMN-15qqkJRcGmBq72lfwECKiT6HWPoDMB4sGk5rTR5N20CTCBssDPAcjo0jaVcckAcmPShF7vlHTTeE0RzcoypCDDZx0K3lpPkBiBPIcr5y9bymU9zHP4Mgl-sLpfMC-fpwE7TyBWuotxE4lCF7ELScNOKxhYn7JaFQII0P2b9VIlIsQsNkV2d7PD8o6YliAzFPG1vU-JtnJDi-a7qNU6Vcx4Y_oMyiH9fMtMZ_yR0gW95HLf2BJouuTdvEhPsB1N6BxzXT8A-QSR5c0ZzCcO3foGie_7fuxdx8nr5dYYHggNEHDTL-Pbg-l0BJqafUn32A0Yh0dtcQhJfnTWsTV_O_y6lceZLrOc95nLB_bKXYUTZMVCoASReph2VqEONjcNO3x87ltOH5QBR1I3P8BtItJ3xhZYXkraLoLNO3zY2pTgghDR8gUm4IiBJ7eGIIsfHWc=w800-h544-no)

Thượng tướng Trần Văn Trà tham dự hội nghị Sư đoàn 320B trước chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.
Trong ảnh từ trái qua phải thứ ba người mặc áo sáng màu Trương Văn Đàng

Sau khi phổ biến nhiệm vụ tôi hỏi:

- Có đơn vị nào ý kiến gì không?

Anh Trần Đối, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 giơ tay nói:

- Nhiệm vụ diệt căn cứ Xa Mát sư đoàn giao cho tôi kiên quyết thực hiện nhưng đây là một căn cứ cỡ tiểu đoàn có công sự vững chắc. Vì vậy, để bảo đảm chắc thắng tôi đề nghị phải tổ chức trinh sát nắm địch, trước khi xây dựng phương án. Tôi và các tiểu đoàn trưởng sẽ đi trinh sát Xa Mát càng sớm càng tốt.

- Tôi nhất trí với ý kiến của anh Đối. Trung đoàn 24 cần tổ chức đến cấp đại đội đi trinh sát, tôi sẽ tăng cường cho Trung đoàn anh Bảy Triết – Tham mưu trưởng và một tổ trinh sát đi bám địch. Còn ai có ý kiến gì không?

Không có ai lên tiếng.

Tôi nói:

- Nếu các đồng chí không co ý kiến gì hãy khẩn trương bắt tay vào công tác chuẩn bị.

Ngày 22 tháng 3 năm 1972, các đơn vị báo cáo quyết tâm ban đầu để sư đoàn góp ý. Ngày 28 tháng 3 bao cáo quyết tâm lần cuối cùng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:50:12 AM
Tôi trực tiếp đến Trung đoàn 24 dự cuộc họp Thường vụ và Ban Chỉ huy Trung đoàn 24 nghiên cứu tìm hiểu nhiệm vụ sư đoàn giao.

Trước khi Thường vụ và Ban Chỉ huy trung đoàn thảo luận, tôi sơ bộ nói về địch và địa hình:

- Quốc lộ 22 nối với quốc lộ số 7 Campuchia là con đường huyết mạch từ Sài Gòn đi Phnôm Pênh và các tỉnh của Campuchia, địa hình bằng phẳng, phía đông lộ 22 là rừng không liên hoàn, có nương rẫy xen kẽ. Quân ngụy Sài Gòn đã bố trí một lực lượng mạnh hình thành tuyến phòng thủ Bắc Tây Ninh trên trục quốc lộ 22 từ Xa Mát đến Thiện Ngôn, Tà Xia, Cần Đăng, Trại Bí về Tây Ninh gồm chiến đoàn 49, chiến đoàn 46 và sư đoàn 25.

Xa Mát là căn cứ tiểu đoàn do 1 tiểu đoàn biên phòng chốt giữ, căn cứ này khá kiên cố do công binh Mỹ xây dựng nằm sát tây lộ 22 cách biên giới Campuchia 500 mét về phía tây bắc.

Quân số tiểu đoàn này khoảng 300 tên (4 đại đội) trang bị mạnh cối 106,7 ly, 81 ly, ĐKZ 57, 12,7 ly, đại liên, các loại súng M16, M79, M72…, ngoài ra được 14 đến 16 khẩu pháo 105, 155 ly và không quân chi viện.

Về quân viện có thể có chiến đoàn 49, 46 cả bộ binh và xe tăng thiết giáp chỉ cách Xa Mát 8 kilômét về phía nam.

Với khả năng phòng thủ trên, địch cho rằng căn cứ Xa Mát là bất khả xâm phạm vì căn cứ này chưa bao giờ bị đánh bại.

Tôi nói thêm về căn cứ Thiện Ngôn, do chiến đoàn 49 chốt giữ nằm ở đông sát quốc lộ 22 trên đường đi Tà Xia ra biên giới cách Xa Mát trong tầm pháo 105 ly, 155 ly. Đây là một căn cứ cấu trúc theo hình sao, cũng vào loại kiên cố bậc nhất của địch. Lực lượng địch bố trí 1 chiến đoàn gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo 105 ly, 155 ly, cối 106,7 ly, 1 chi đoàn xe bọc thép M113, 1 tiểu đoàn hỗ hợp gồm lực lượng công binh, thám sát, chỉ huy pháo binh, thông tin, vận tải, phục vụ, quân số từ 1.300 đến 1.700 tên.

Căn cứ Thiện Ngôn được các trận địa pháo 155 ly, 105 ly ở Tà Xia và Trại Bí chi viện từ 16 đến 20 khẩu, ngoài ra còn có không quân yểm trợ. Bộ binh có chiến đoàn 46 và sư đoàn 25 sẵn sàng ứng cứu từ phía nam lên, lại nằm giữa hệ thống phòng thủ liên hoàn, phía đông có chiến đoàn 50 từ núi Bà Đen đến Kà tum, phía bắc đồn Xa Mát, phía tây căn cứ Tà Xia, phía nam Trại Bí chiến đoàn 46 và sư đoàn bộ binh 25. Với một căn cứ vừa lớn vừa kiên cố lại có hỏa lực mạnh, quân đông, địch tin rằng Việt cộng không có khả năng đụng tới, nên có phần chủ quan.

Về địa hình, hai bên trục lộ 22 địch san ủi phát quang từ 300 đến 500 mét địa hình tương đối bằng thuận lợi cho bộ binh cơ giới vận động. Phía đông lộ 22 là rừng hỗn hợp, tre, gỗ, mây có nhiều bãi trống, nương rẫy xen kẽ rất nhiều đường ngang dọc của xe bò, xe ô tô chở gỗ, địch đã dựa vào các hướng này để hàng ngày cho các đại đội biệt kích ra lùng sục, phục kích suốt từ đông Xa Nát về đến Cần Đăng, phía nam thì càng trống trải hơn. Ta muốn đánh địch trên trục lộ 22 phải giấu quân xa hàng kilômét ở đông đường mới bảo đảm bí mật an toàn, tránh bị địch lùng sục phát hiện, vì lộ là bị B-52 đánh liền.

Nhìn chung địch phòng thủ rất vững chắc, quân đông, hỏa lực mạnh, công sự vật cản kiên cố lại chiếm được địa hình có lợi ngăn chặn ta từ xa.

Nếu ta dùng lực lượng lớn đánh hiệp đồng binh chủng thì địch dễ bị cô lập hoang mang và ngược lại.

Sau khi tôi phát biểu, Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy trung đoàn đều thấy được thuận lợi, khó khăn của nhiệm vụ và đều hạ quyết tâm kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.

Do tính chất quyết định then chốt mở đầu nên anh Bảy Triết – Tham mưu trưởng và anh Trần Đối – Trung đoàn trưởng cùng bò vào hàng rào với Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 chủ công nghiên cứu kết luận cụ thể hướng chủ yếu, thứ yếu, biện pháp mở cửa.

Qua nghiên cứu căn cứ Xa Mát, tôi cho rằng với lớp rào, nếu ta dùng mìn ĐH10 hoặc bộc phá liên tục cũng khó giải quyết nhanh gọn sẽ mất thời cơ xung phong.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:50:46 AM
Tôi hỏi anh Trần Đối:

- Có cách nào giải quyết không?

Anh Trần Đối:

- Ở Tây Nguyên có loại mìn ĐH20 có thể thổi bay hết liền 10 lớp rào.

- Thế thì tốt.

Tôi liền tổ chức đại đội vận tải do anh Bé làm Đại đội trưởng với 2 xe thồ, đem thư của tôi đi Tây Nguyên xin 20 quả ĐH20 về sử dụng cho trận đánh.

Sau 20 ngày đi về anh em vận tải đã được Mặt trận Tây Nguyên cấp cho 10 quả mìn ĐH20 còn lại là ĐH10 vì mìn ĐH20 sản xuất đến đâu hết đến đó. Như vậy Trung đoàn đã có đủ điều kiện để đánh các mục tiêu vững chắc.

Trên cơ sở điều tra nghiên cứu xác định sơ bộ phương án tác chiến đánh chiếm căn cứ Xa Mát và Thiện ngôn, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn tập trung chỉ đạo các công tác chuẩn bị về chính trị tư tưởng, xác định rõ nhiệm vụ chủ công của Trung đoàn 24, ý nghĩa trận thắng đầu ở Xa Mát để giáo dục động viên cán bộ, đảng viên cũng như toàn đơn vị, quyết tâm làm hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ. Phát động tinh thần thi đua lập công giữa các đơn vị, giữa bộ binh với hỏa lực bảo đảm quyết chiến và giành thắng lợi.

Chúng tôi chỉ đạo Trung đoàn 24 dùng Tiểu đoàn 4 đi sâu vào huấn luyện đột phá mở cửa và vây lấn, chuyển từ vây lấn sang tiến công diệt cứ điểm, lấy một đồn cũ của quân ngụy Sài Gòn ở Krếch đường số 7 (Campuchia) để luyện tập.

Tiểu đoàn 5: huấn luyện vây lấn và vận động tiến công. Tiểu đoàn 6: vận động tiến công là chính. Tập trung chỉ đạo huấn luyện kỹ chiến thuật chủ yếu vào Tiểu đoàn 4. Nói chung các tiểu đoàn đều đạt kết quả tốt – tin tưởng cách đánh.

Công tác hậu cần bảo đảm tiếp tế đạn dược, giải quyết thương binh tử sĩ, bảo đảm ăn uống cho bộ đội trong chiến đấu cũng được bàn kỹ, nhất là những đơn vị bí mật giấu quân phục kích vận động.

Có thể nói công tác chuẩn bị mọi mặt cho đánh trận mở đầu và toàn đợt anh Chánh – Chủ nhiệm hậu cần sư đoàn đã làm tương đối chu đáo.

Sư đoàn chúng tôi hạ quyết tâm nổ súng trước ngày “N” của toàn chiến dịch Nguyễn Huệ 4 ngày để hút địch tập trung về hướng Tây Ninh, nhằm tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu ở Lộc Ninh.

Anh Hà Đình Thuyên, Trung đoàn phó Trung đoàn 24 có nhiều kinh nghiệm đánh công sự vững chắc được phân công chỉ huy trực tiếp trận đánh Xa Mát.

Sáng ngày 31 tháng 3 năm 1972, toàn Trung đoàn 24 đã xuất kích tiến về hướng Xa Mát. Đến trưa Trung đoàn đã ở cách địch 1 kilômét về phía đông.

Trước khi Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 vào chiếm lĩnh tôi đã đến động viên anh em, tôi nói:

- Đối với Trung đoàn 24 tôi rất tin tưởng, các đồng chí phải chiến thắng trận đầu để tạo tiền đề đánh thắng các trận sau, chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện để hỗ trợ các đồng chí. Chúc các đồng chí chiến thắng.

Tôi nói xong, anh Hà Đình Thuyên, Trung đoàn phó đã thay mặt đơn vị hứa quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:51:27 AM
Đúng 13 giờ ngày 31 tháng 3 năm 1972, các đơn vị ngụy trang kĩ, súng đạn đầy đủ luồn rừng tiến ra phía trước. Trinh sát sư đoàn và trung đoàn bám chặt 2 đại đội địch ra phục sẵn ở đông lộ 22, chúng tiến hoặc lùi đều báo cáo kịp thời cho chúng tôi biết, nếu chúng lùi đến đâu ta bám theo đến đó vào chiếm lĩnh trận địa.

Đến khoảng 17 giờ địch quay hẳn về đồn Xa Mát.

Sau khi bộ đội bí mật đào công sự, bố trí hỏa lực, chiếm lĩnh trận địa và kiểm tra kỹ. Đúng 3 giờ ngày 1 tháng 4 tôi ra lệnh cho pháo 105 ly, cối 120 ly bắt đầu cấp tập vào căn cứ Xa Mát. Bộc phá, mìn ĐH20, DKZ75… đều đồng loạt phát hỏa. Đồn Xa Mát chìm ngập trong khói lửa và tiếng nổ. Địch không còn tâm trí đâu mà bắn trả. Sau 5 phút pháo các nơi mới dội tới hoảng loạn.

Các Đại đội 1 và Đại đội 3 báo cáo hàng rào không phá hết. Đại đội 1 cho tổ bộc phá lên đánh tiếp bị thương vong. Cả Đại đội 1 và Đại đội 3 không xung phong được. Lúc này, địch dùng hỏa lực bắn thẳng từ lô cốt và các lỗ châu mai kiềm chế mạnh. Mặc dù ĐKZ, B41 đã bắn vào lô cốt nhưng không diệt được địch bên trong.

Tiểu đoàn 4 bắt đầu chuyển sang vây lấn theo kế hoạch để tối 01 tháng 4 tập trung hỏa lực đánh chiếm bằng được đầu cầu.

Đại đội 3 báo cáo đã bám được vào bờ tường đất nhưng không xung phong được vì còn nhiều hỏa điểm khống chế.

Trước tình hình đó, tôi điện cho anh Trần Đối. Cho các đại đội được lệnh củng cố công sự phát triển chiến hào vào trong hàng rào, đánh bật phản kích địch giữ vững trận địa để tối dứt điểm. Hỏa điểm nào xuất hiện dập tắt ngay, không để cho địch hoạt động.

Tôi được chỉ huy trung đoàn cho biết phi pháo địch đánh hết đợt này đến đợt khác, rung chuyển các hầm hố nhưng ta vẫn an toàn vì bố trí sát địch.

Trung đoàn 271 vẫn đang vây ép căn cứ tiểu đoàn hỗn hợp địch ở Tà Xia (tây nam Thiện Ngôn 8 kilômét).

Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 đang sẵn sàng đánh địch từ Thiện Ngôn lên giải tỏa cho Xa Mát.

Đồng chí Khìn – Đại đội trưởng Đại đội 1 hướng chủ yếu báo cáo Tiểu đoàn trưởng:

- Địch đối phó rất mạnh ở hướng này vì chúng thấy ta đã dùng bộc phá và mìn mở cửa, ta và địch trông thấy nhau, cách vài chục mét, ta ở địa thế thấp hơn nên sát thương, phá hoại địch kém hiệu quả.

Đồng chí Vấy – Đại đội trưởng Đại đội 3 và đồng chí Tá – Tiểu đoàn phó báo cáo Trung đoàn phó:

- Hướng Đại đội 3 có thể mở cửa được tuy địch đang tập trung đối phó, nhưng ta có lợi thế hơn, có điều kiện phát triển hơn, quyết tâm của Đại đội 3 rất cao, binh lực ít bị tiêu hao hơn Đại đội 1 và Đại đội 2. Trung đoàn phó Thuyên đề nghị với Trung đoàn trưởng Đối cho chuyển hướng thứ yếu thành chủ yếu để đêm nay tập trung đánh dứt điểm…

Anh Trần Đối nói:

- Anh ở gần, anh được quyền quyết định.

Đến 21 giờ, các đại đội được lệnh di chuyển bí mật về vị trí Đại đội 3 và làm ngay công sự ẩn nấp. Tôi ra lệnh cho xe tăng xuất kích dẫn đầu xung phong và thông báo cho Tiểu đoàn 4 biết.

Đến 12 giờ đêm thì cả Đại đội 1 và Đại đội 2 đã có mặt ở vị trí Đại đội 3. Ta vẫn bắn vào đồn, pháo địch vẫn bắn trả từng đợt hàng chục quả.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:52:08 AM
Sau khi hiệp đồng với Trung đoàn 24 tổ chức cho người dẫn đường làm đèn hiệu đón xe tăng bắt đầu xung phong thành 2 cánh. Một cánh bọc sườn theo quốc lộ 22 đánh vào, một cánh đánh chính diện thì bám xe tăng xông thẳng vào đồn.

Lúc 2 giờ, nghe tiếng động cơ xe tăng nổ ngày càng lớn dần, ta lại nghi binh tiếp bằng máy PRC 25: “Cua” đã ra khỏi hầm đang tiến về, chuẩn bị bám theo.

Đại đội 3 đã chuẩn bị 2 quả bộc phá mỗi quả 7 ki-lô-gam và mìn ĐH20 chờ lệnh phát hỏa.

Đúng 2 giờ 30 phút, cối 120 ly cấp tập, xe tăng ta tiến vào, bộc phá, mìn, ĐKZ 75 nổ dồn dập cùng các loại B40, B41, đại liên. Đại đội 3 đã xung phong qua cửa mở đánh thẳng vào giữa đồn. Đại đội 1 đánh cánh trái, Đại đội 2 đánh cánh phải, xe tăng vẫn gầm rú ngoài hàng rào không vào được vì dây kẽm cuốn vào xích sắt, một chiếc bị địch bắn cháy, đồng chí đại đội trưởng cùng tổ lái bị thương vong nặng.

Tôi cho nghi binh tiếp: “xe tăng đang vu hồi phía lộ 22 bọc hậu căn cứ Xa Mát không cho địch chạy thoát, còn một cánh đang “làm cỏ” chúng ở trong đồn cũng đang xung phong đánh giáp lá cà diệt rất nhiều địch”.

Quân địch trong đồn báo cáo chiến đoàn 49 xin rút vì xe tăng Việt cộng đã tràn ngập cùng bộ binh trong đồn, đang bao vây cả bên ngoài… Các Đại đội 1, 2, 3 được lệnh đánh thật mạnh. Địch đang xin rút, nhưng thực tế chúng đang đạp hàng rào phía tây nam tháo chạy.

Tiểu đoàn trưởng Đôn đang chỉ huy đánh báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn. Địch đã chạy, ta đang truy lùng, lúc này là 4 giờ 30 phút. Trung đoàn phó Thuyên đã vào kiểm tra kết quả.

Ta làm chủ hoàn toàn trận địa. Địch dùng pháo chụp bắn dồn dập vào đồn nhằm sát thương lớn quân ta, nhưng nhờ có công sự vững chắc, nắp toàn bao cát dày nên bộ đội ta đều vô sự.

Đúng 5 giờ 30 phút, bộ đội ta đã tảo trừ xong các hầm hào lô cốt, xác định khoảng 50 tên chết, ta bắt 13 tù binh, đại bộ phận địch đã chạy thoát.

Ta thu hàng trăm súng các loại, trong đó có 2 cối 106,7 ly, 2 cối 81 ly, 4 khẩu ĐKZ57, 4 khẩu 12,8 ly, 8 khẩu đại liên… nhiều kho đạn các loại, cùng lương thực quân trang quân dụng, 4 xe GMC…

Thương vong của ta: 25 đồng chí (8 hy sinh, trong đó có 1 đại đội trưởng xe tăng, 1 Trung đội trưởng Đại đội 1), bị hỏng 1 xe M41, 2 chiếc bị vướng dây kẽm không kéo ra được.

Nhân đà thắng lợi to lớn này, chúng tôi đã kịp thời phát động phong trào thi đua lập công giữa các trung đoàn, đặc biệt học tập tinh thần quyết chiến quyết thắng của Tiểu đoàn 4 để chiến thắng Thiện Ngôn giòn giã hơn nữa.

Căn cứ Xa Mát bị thất thủ đã làm cho chiến đoàn 49 ở Thiện Ngôn bị cô lập, nhất là khi thấy xuất hiện xe tăng, xe thiết giáp của ta càng làm cho chúng lo sơn.

Một tiểu đoàn bộ binh đã được địch điều lên chốt chặn ở bắc Thiện Ngôn 3 kilômét để ngăn chăn ta tiến công. Chúng không dám điều lực lượng tái chiếm Xa Mát.

Theo kế hoạch bước 2, tối ngày 4 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 5 vào chiếm lĩnh trận địa vây lấn Thiện Ngôn. Tôi trao đổi với anh Trần Đối:

- Tiểu đoàn 5 có 100% là lính chiến từng giáp chiến, nên phải tăng cường chỉ huy, cử Trung đoàn phó đi cùng trực tiếp chỉ huy. Các Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn bộ đều vào vị trí chiến đấu làm công sự để phòng bị B-52 như Trung đoàn 271 trước khi vào chiếm lĩnh trận địa bao vây Tà Xia.

Chúng tôi tăng cường cho Trung đoàn 24 một khẩu cối 120 ly từ trận Xa Mát, lần này pháo 105 ly của sư đoàn đã kéo theo quốc lộ 22 vào gần Thiện Ngôn để chi viện.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:53:14 AM
Một lực lượng công binh, pháo mang vác của sư đoàn trong đêm 4 tháng 4 cũng hành quân chiếm lĩnh trận địa chốt kiểm trận địa pháo ở Trại Bí để hỗ trợ cho trung đoàn vây lấn Thiện Ngôn và Trại Bí của Trung đoàn 271.

Trong đêm, Tiểu đoàn 5 đã xây dựng trận địa vây lấn ở phía đông căn cứ Thiện Ngôn chia thành 2 mũi đánh vào 2 lô cốt đầu 2 cánh sao. Từ trận địa ở hàng rào ngoài cùng vào đến tường thành khoảng 50-60 mét. Các loại hỏa lực ĐKZ 75, đại liên, B41, đều đặt trong hàng rào thứ hai (tính từ ngoài vào) tất cả các công sự sâu rộng, có nắp bảo đảm vững chắc, bắn được lô cốt, lỗ châu mai, địch hoàn toàn không phát hiện được ta nhờ cỏ tranh đang khô che khuất.

Đúng 5 giờ sáng ngày 5 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 5 được lệnh nổ súng vào căn cứ Thiện Ngôn. Pháo 105 ly, cối 120 ly và cá loại hỏa khí khác đã bắn dồn dập trong 5 phút, sau đó chuyển sang bắn tỉa, hỏa điểm ở đâu phát ra thì ta chế áp vào đó.

Ở hướng Trại Bí (núi Bà Đen), Tà Xia, địch đều bị tiến công.

Cũng thời gian này ở hướng chủ yếu chiến dịch, pháo binh xe tăng của ta và bộ binh đã đánh vào thị trấn Lộc Ninh và các căn cứ của địch. Ngày “N” của chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ đã bắt đầu. Ở miền Tây Nam Bộ, Quân khu 8 và Quân khu 9 cũng như các chiến trường khác đều phối hợp tiến công địch khắp nơi.

Pháo địch ở Thiện Ngôn, Trại Bí, Tà Xia đều bị kiềm chế không dám hoạt động, máy bay địch lên quan sát, chỉ có 2 phi vụ ném bom nhưng Tiểu đoàn 5 vô sự. Chiều ngày 4 tháng 4 pháo ở Trại Bí mới hoạt động chi viện cho Thiện Ngôn và Tà Xia.

Tiểu đoàn 5 vừa đánh vừa đào giao thông hào vào trong căn cứ địch như kiểu Điện Biên Phủ, lúc đầu chưa quen sau đã quen dần nhưng tốc độ chậm.

Chiến đoàn 49 yêu cầu cứu viện gấp vì “Việt cộng đang thành nhiều mũi đánh vào đồn”, sư đoàn 25 trả lời: “Chờ lệnh trên, cứ cố thủ”.

Ngày 6 và 7 tháng 4 năm 1972, ta tiếp tục đánh mạnh hơn, các mũi vây lấn của Tiểu đoàn 5 đã đào qua 8 lớp rào, có giao thông hào ngang đầu gối nối với 2 mũi nhưng gặp bãi rào phản xung phong cao ngang đầu gối, có cỏ tranh, khô đã sụp xuống, chiều rộng khoảng 30 mét bao quanh tường hộp.

Tiểu đoàn 5 tiếp tục đào giao thông hào, quyết tâm vào tận tường hộp và lô cốt. Đêm 6 tháng 4, Chính ủy Phu đã đến tận chiến hào kiểm tra nhắc nhở động viên bộ đội tích cực khẩn trương đào công sự vững chắc hơn và tăng cường bắn kiềm chế phá hủy các mục tiêu. Anh em tân binh chưa đánh kiểu này bao giờ, nhờ cán bộ dẫn dắt và chỉ huy sắt đá quen dần cách đánh và đào lấn dũi vào phía trong căn cứ.

Thời gian này, ở hướng chủ yếu của chiến dịch, ta thắng giòn giã tiêu diệt nhiều địch, giải phóng thị trấn Lộc Ninh, phát triển tiến công trên quốc lộ 13, tiêu diệt thêm nhiều mục tiêu quan trọng.

Thất bại lớn ở hướng Lộc Ninh đã làm cho Bộ tổng tham mưu ngụy phải cân nhắc thận trọng việc sử dụng lực lượng đối phó ở Lộc Ninh.

Chiến đoàn 49 ngụy ở Thiện Ngôn bị ta tiến công liên tục ngày càng mạnh, chúng yêu cầu phi cơ oanh tạc thì được trả lời đang bận ở hướng khác, yêu cầu chi viện bộ binh thì sư đoàn 25 nói chưa có lệnh, yêu cầu chiến đoàn 46 dùng pháo binh chi viện tối đa thì chỉ bắn loạc choạc cho qua chuyện. Địch lo đối phó hết chỗ nọ đến chỗ kia không có khả năng cứu viện cho Thiện Ngôn càng làm cho chiến đoàn 49 hoang mang.

Để tăng cường uy hiếp mạnh hơn nữa, chúng tôi đã cho kéo 1 khẩu pháo 105 ly vào bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Tiểu đoàn 5. Sáng ngày 8 tháng 4, pháo 105 ly bắn gây cháy nổ đồng thời nghi binh tiếng động cơ xe tăng bằng các ô tô, kể cả máy nổ, xe honđa ầm ầm cả khu vực. Tôi tiếp tục dùng máy PRC 25 cho đàm thoại nghi binh, uy hiếp địch. Địch hoang mang bắt đầu tìm cách tháo chạy từ lúc 12 giờ ngày 8 tháng 4.

Tiểu đoàn 5 được lệnh đánh mạnh, chiếm được một góc căn cứ Thiện Ngôn. Địch gắng gượng cầm cự.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:53:58 AM
Ở hướng Tà Xia địch đã rút chạy, Trung đoàn 271 đang chặn đánh ở bên ngoài (lúc 13 giờ 30 phút ngày 8 tháng 4).

Ở Thiện Ngôn, địch đang tập trung quân vừa ở sân bay vừa còn trong căn cứ. Tiểu đoàn 5 đang đánh hất chúng ra khỏi căn cứ. Trước tình hình đó, tôi điện cho anh Trần Đối cho Tiểu đoàn 6, Tiểu đoàn 4 vận động tiếp cận ra quốc lộ 22, địch bắt đầu chuẩn bị rút về hướng Cần Đăng. Tiểu đoàn 6 phải đánh chiếm ngay cầu Cần Đăng chặn đầu địch, Tiểu đoàn 4 đánh vào đoạn giữa liên lạc chặt với Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 5.

15 giờ 15 phút, địch đã rút ra khỏi căn cứ, xe tăng, xe bọc thép M113, pháo các loại, xe bộ binh nối đuôi nhau chạy về hướng cầu Cần Đăng.

Tiểu đoàn 6 do anh Len – Tiểu đoàn trưởng báo cáo Trung đoàn: “Đồn Cần Đăng cũng rút chạy ngay lúc tiểu đoàn vừa tới, hiện nay Đại đội 11 đang chặn đầu, Đại đội 12, 13 đánh trên quốc lộ 22”.

Tiểu đoàn 4, do anh Đôn – Tiểu đoàn trưởng báo cáo Trung đoàn đã diệt và bắt sống nhiều xe bọc thép, địch vứt xe chạy, ta truy kích về hướng tây nam.

Các đại đội dự bị, trinh sát, công binh, vệ binh… đều tổ chức thành từng phân đội cùng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đánh địch tháo chạy khỏi Thiện Ngôn.

Toàn bộ Trung đoàn 24 từ Trung đoàn trưởng và Chính ủy tràn hết lên quốc lộ 22.

Trung đoàn 271 theo hiệp đồng đã cho các tiểu đoàn vận động đánh về quốc lộ 22 theo giới tuyến chiến đấu đã nổ sung diệt và bắt nhiều địch chạy về hướng tây và tây nam, đã bắt liên lạc với Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24.

Đến 16 giờ ta làm chủ hoàn toàn chiến trường, đánh chiếm căn cứ Thiện Ngôn, tiêu diệt chiến đoàn 49 rút chạy. Gần 1.600 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, ta bắt 16 tù binh, thu nhiều vũ khí kho tàng đạn dược nhất là đạn pháo 105 ly, 155 ly, cối 106,7 ly, ĐKZ… thu gần 800 súng các loại – trong đó có 4 pháo 155 ly, 6 pháo 105 ly, 3 cối 106,7 ly, 80 xe GMC, 16 xe tăng, xe bọc thép không kể nhiều chiếc bị cháy, hỏng. Do trung đoàn được lệnh hành quân ngay nên toàn bộ kho tàng vũ khí, lương thực đạn dược ở căn cứ Thiện Ngôn bàn giao lại cho C40 hậu cần Miền tiếp quản.

Sau khi chiến đoàn 49 bị đánh tan tác, các đồn, căn cứ khác của địch như Cần Đăng, Trại Bí, Đồng Pan, Kà Tum (đông lộ 22) đều rút chạy. Huyện Tân Biên được hoàn toàn giải phóng, mở thông hành lang sang Campuchia theo lộ 22.

Sau chiến thắng Thiện Ngôn, ngay trong đêm 8 tháng 4 năm 1972, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 24 phải hành quân vượt sông Vàm Cỏ Đông sang Campuchia theo yêu cầu của bạn giải phóng huyện Chi Phu để tạo bàn đạp tiến công tỉnh Svay Riêng.

Giải phóng huyện Chi Phu cũng có lợi thế cho ta tiến công các căn cứ ngụy Sài Gòn ở biên giới Việt Nam, nhất là vùng Đồng Tháp Mười để tiến xuống đồng bằng Nam Bộ.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi sử dụng Trung đoàn 24 đánh chiếm Chi Phu.

Mặc dù súng đạn nặng nề, sông sâu rộng, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 24 đã có sáng kiến lấy tre, chuối làm bè mảng vượt sông an toàn. Sáng 9 tháng 4, Trung đoàn 24 vào vị trí tập kết ở nam Chi Phu 5 kilômét, xung quanh là đồng trống, hầu hết dân đã bỏ đi vì địch hay vào càn quét bắn phá, nhiều nơi nhà không vườn trống.

Lực lượng địch có trên 1.000 tên với 4 tiểu đoàn bộ binh và 1 trung đội pháo 105 ly, 2 khẩu đóng tại thị trấn Chi Phu. Chỉ huy lữ đoàn ở huyện lỵ cũ, trung đội pháo đóng trong đồn bảo an cũ, có hàng rào kẽm gai. Các tiểu đoàn đóng trong các dãy phố dân đã bỏ chạy từ khi quân ngụy Sài Gòn đánh lên năm 1970.

Địch quyết giữ Chi Phu để bảo vệ thị xã Svay Riêng, quốc lộ 1, cắt hành lang đông tây của ta.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:54:44 AM
Sau khi đã điều tra, nghiên cứu, làm công tác chuẩn bị gấp, chiếm lĩnh trận địa theo kế hoạch, 4 giờ 30 phút sáng 12 tháng 5, Tiểu đoàn 6 nổ súng xung phong đánh vào các nhà có địch đóng quân.

Quân địch bị bất ngờ, từ chỉ huy tiểu đoàn đến lữ đoàn, đại đội chỗ nào cũng bị tiến công dồn dập, không chỉ huy được, chúng buộc phải tháo chạy thục mạng không phải về Svay Riêng mà về hướng tây nam theo trục lộ 1 về Bến Cầu, Gò Dầu – Tây Ninh để dựa vào quân ngụy Sài Gòn.

Trận đánh chỉ diễn ra trong 15 phút, địch đã chạy khỏi Chi Phu, bỏ cả xe, pháo hạng nặng.

Ta giải phóng thị trấn Chi Phu, diệt 13 tên, thu 2 pháo 105 ly, một số súng hỏa lực, quân trang quân dụng, xe cộ tất cả bàn giao hết cho bạn. Ta hy sinh 2, bị thương 7 đồng chí. Bạn rất vui mừng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Quân giải phóng miền Nam.

Ta đã đánh tan tác 1 lữ đoàn Lonnon mở thông hành lang từ Ba Vét đến Prasốt xuống Đức Hòa, Đức Huệ, tỉnh Long An.

Theo yêu cầu của bạn – Trung đoàn 24 đứng tại chỗ (3 ngày đêm) để hỗ trợ bạn truy quét tàn quân, xây dựng thế trận phòng thủ mới.

Sau khi giúp bạn giải phóng thêm huyện Chi Phu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn C30B chúng tôi giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 24 trở lại Việt Nam diệt yếu khu Bến Cầu, mở rộng vùng giải phóng ở Tây Ninh hỗ trợ chiến tranh nhân dân địa phương phát triển.

Yếu khu Bến Cầu do 1 tiểu đoàn bảo an đóng giữ, là một cứ điểm quan trọng cách biên giới Campuchia 1 kilômét về phía đông bắc, khống chế một vùng rộng lớn trong khu vực, là căn cứ xuất phất cuộc hành quân lớn của địch ở dọc biên giới Việt Nam – Campuchia. Đã có một lần ta đánh không dứt điểm, bị thương vong, địch càng tỏ ra chủ quan coi thường đối phương.

Đêm 20 tháng 4 chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 24 vào vị trí tập kết nghiên cứu đánh yếu khu Bến Cầu.

Anh Hai Dương – Tỉnh đội trưởng Tây Ninh đã cung cấp tinh hình địch, ta, địa hình ở yếu khu để trung đoàn xác định cách đánh.

Địa hình xung quanh yếu khu Bến Cầu là đồng bằng bằng phẳng trống trải, được bố trí phòng thủ vững chắc, có trận địa cối 106,7 ly, 81 ly, công sự, giao thông hào, có các lớp rào kẽm gai kết hợp mìn… Phía nam đồn là ấp chiến lược Long Phi, cùng yếu khu dựa vào nhau để tồn tại. Địch còn được phi pháo, bộ binh, xe bọc thép từ phía nam sẵn sàng chi viện khi bị ta tiến công.

Qua điều tra nghiên cứu địch và địa hình, chúng tôi quyết định cách đánh bằng vây lấn mới dứt điểm.

Đêm 22 tháng 4, toàn Trung đoàn 24 vào chiếm lĩnh trận địa. Các hướng, các mũi bộ đội ta đã sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

5 giờ 30 phút sáng 24 tháng 4, Đại đội 11 bị lộ liền nổ súng diệt 3 tên ở ấp chiến lược Long Phi. Toàn trung đoàn đồng loạt đánh vào yếu khu Bến Cầu và ấp chiến lược Long Phi. Đồn Bến Cầu và nhiều nhà lính, nhiều lô cốt bị sập đổ.

Địch ở ấp chiến lược Long Phi chạy về ấp Long Hổ ở phía nam. Đại đội 11 ở phía nam yếu khu Bến Cầu dùng hỏa lực bắn phá khống chế cổng chính… Địch kêu cứu bị tiến công bốn 4 mặt, yêu cầu phi pháo và bộ binh ứng cứu.

Máy bay địch tới ném bom vào ấp chiến lược Long Phi gây nên nhiều đám cháy. Pháo binh địch bắn vào quanh trận địa vây lấn của ta. Địch ở yếu khu Bến Cầu bị thương vong nhiều, phản ứng yếu ớt, ta tiếp tục chế áp.

12 giờ trưa, 1 tiểu đoàn bộ binh và 6 xe bọc thép M113 từ phía nam tiến vào giải tỏa, 2 xe bị trúng mìn nổ tung, còn 4 chiếc lùi lại phía sau. Bộ binh địch dàn hàng ngang chiếm các bờ ruộng bắn về hướng Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:55:40 AM
Tiểu đoàn 6 dùng súng trọng liên và súng cối chi viện, vận động, đến cách địch khoảng 800 mét không tiến được nữa vì toàn ruộng trống, hỏa lực địch kềm chặt. Tiểu đoàn 6 vận động được một đoạn dừng lại. Địch cũng nằm lại không chịu tiến vào, có lẽ chúng không có xe bọc thép dẫn đường và cũng gặp đồng trống không dám tiến.

Chúng tôi xác định: Quân địch lên đón bọn ở đồn Bến Cầu rút chạy là chủ yếu nên ra lệnh cho Đại đội 11 Tiểu đoàn 6 đánh thẳng vào cổng chính để yểm trợ cho Tiểu đoàn 4 và Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 đánh chiếm đồn ngay không chờ đến tối.

14 giờ ta bắt đầu nổ súng đánh thẳng vào cổng chính. Đại đội 11 đã chiếm được đầu cầu và phát triển vào trong. Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 dùng bộc phá mở cửa đánh chiếm được đầu cầu lô cốt số 2 cùng Đại đội 11 đánh mạnh. Địch vừa bắn vừa rút ra rạch Bào Lớn. Đại đội 6 Tiểu đoàn 5 cũng tiến được vào căn cứ.

15 giờ 30 phút, ta làm chủ yếu khu Bến Cầu, một bộ phận lớn quân địch đã rút ra rạch Bào Lớn có ca nô đón sẵn. Trung đội phục kích đóng lõng ở phía tây, không ngờ địch ngược về hướng đông nên ta không gặp địch.

Kết quả ta diệt 40 tên, bắt 3 tên, thu 25 súng các loại, có cối 106,7 ly, 2 cối 81, 2 ĐKZ 57, 3 bazôka 90, 2 khẩu 12,8 ly, 1 đại liên, còn lại là súng M16, AR15, phá hủy 2 xe M113, phá banh ấp chiến lược Long Phi.

Ta thương vong 17 đồng chí.

Chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 24 giao lại toàn bộ số vũ khí đạn dược cùng chiến lợi phẩm cho tỉnh Tây Ninh để xây dựng lực lượng và giúp đỡ đồng bào bị thiệt hại không lấy bất cứ thứ gì (số chiến lợi phẩm có 1 kho mỳ tôm, gạo, thực phẩm, 3 con bò, 2 con heo và một số xe honđa, nhiều đạn dược…).

Đồng chí Hai Dương – Tỉnh đội trưởng tỉnh Tây Ninh nói:

- Từ trước tới bây giờ yếu khu Bến Cầu mới bị diệt, giải phóng được một vùng rộng lớn nối liền với Campuchia, tạo điều kiện cho địa phương có địa bàn hoạt động rộng. Trung đoàn 24 đánh rất giỏi, giải phóng nhanh như thế, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh rất phấn khởi, tin tưởng cách mạng sẽ thắng lợi to lớn hơn nữa.

Thay mặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn C30B tôi nói:

- Trung đoàn 24 hoàn thành nhiệm vụ, giải phóng được một vùng rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến tranh nhân dân địa phương phát triển.

Do yêu cầu của chiến dịch cần có lực lượng hoạt động uy hiếp từ hướng tây bắc Sài Gòn để kéo địch ra bớt ở hướng Bình Long, Chơn Thành, Bộ Tư lệnh Sư đoàn C30B được giao nhiệm vụ vượt sông Vàm Cỏ Đông sang vùng Hậu Nghĩa để đánh địch theo ý định của cấp trên.

Trung đoàn 271 được giao nhiệm vụ diệt đồn Lộc Giang mở mảng, mở vùng đến huyện Trảng Bàng – Tây Ninh. Chúng tôi giao cho Trung đoàn 24 nhiệm vụ mở vùng huyện Đức Hòa, Đức Huệ tỉnh Hậu Nghĩa và đánh viện giải tỏa đồn Lộc Giang hỗ trợ Trung đoàn 271.

Trung đoàn 24 sử dụng Tiểu đoàn 6 bao vây đồn Quéo Ba (huyện Đức Huệ) để bảo đảm hành lang phía sau. Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 diệt đồn Bầu Trần, Bầu Tre, Hiệp Hòa để mở rộng vùng giải phóng sau đó đứng lại đánh địch từ Hậu Nghĩa lên giải tỏa Lộc Giang.

Kết quả từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 6 tháng 5 năm 1972, Trung đoàn 24 đã diệt 3 đồn, đánh chìm 3 tàu trên sông Vàm Cỏ Đông, bắn rơi 1 máy bay L19.

Do Trung đoàn 271 đánh không dứt điểm đồn Lộc Gián nên quân viện không đến. Trung đoàn 24 không thực hiện được kế hoạch đánh viện.

Trung đoàn 271 được lệnh ở lại vùng này hoạt động, Trung đoàn 24 chuyển về hoạt động ở hướng Vĩnh Hưng thuộc tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp). Nhân dân rất có cảm tình với Trung đoàn 24, đề nghị trên cho Trung đoàn ở lại hoạt động ở Đức Hòa, Đức Huệ…, niềm khao khát mong đợi của nhân dân là được giải phóng, quét sạch hệ thống đồn bốt giặc.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:56:32 AM
Bước vào chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ, Quân ủy và bộ Tư lệnh Miền chủ trương sử dụng một số đơn vị chủ lực của Miền cùng lực lượng Quân khu 8 mở chiến dịch tổng hợp ở Trung Nam Bộ tạo thế uy hiếp phía nam Sài Gòn, đồng thời mở thông hành lang đưa lực lượng và vật chất xuống đồng bằng.

Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho các đơn vị; Sư đoàn bộ binh 5 diệt căn cứ Long Khốt mở màn ở tỉnh Kiến Tường.

Sư đoàn C30B đánh Cà Giàng, Cát Cái hướng Thông Bình thuộc tỉnh Kiến Phong, lúc này Sư đoàn C30B chỉ còn Trung đoàn 24 được bổ sung thêm Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 207, Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 được lệnh đi xuống vùng 4 Kiến Tường chuẩn bị điều kiện cho sư đoàn xuống sau. Đồng chí Bảy Triết – tham mưu trưởng Sư đoàn đi trước cùng Tiểu đoàn 6 – Trung đoàn 24 vẫn đủ 3 tiểu đoàn để đánh Cà Giàng, Cát Cái.

Chấp hành nhiệm vụ trên, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24 đánh Cà Giàng – Cát Cái, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 207 đánh viện.

Sau khi điều tra nghiên cứu xong, anh Vụ và Tham mưu trưởng Đôn đã hy sinh trên đường trở về (đi bằng xe đạp) do bị địch phục kích, toàn bộ tài liệu sơ đồ tác chiến bị mất. Địch phát hiện được ta chuẩn bị đánh Cà Giàng, Cát Cái, lập tức điều liên đoàn 41 biệt động quân, liên đoàn 42, trung đoàn thiết xa số 2, liên đoàn 7 biệt động quân lên ngăn chặn ở biên giới Campuchia – khu vực trung đoàn đang đứng chân.

Đồng chí Mười Khang – Tư lệnh Miền đã chỉ thị cho Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn 24 không dự họp nữa về ngay đơn vị, địch đang đến khu vực trung đoàn, kế hoạch tiến công Cà Giàng – Cát Cái tạm ngưng.

Ngày 20 tháng 5 liên đoàn 14 biệt động quân gồm 2 tiểu đoàn 67 và 76 từ phía biên giới đã vào khu vực Ô Rùm Đuôn cách vị trí Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 1,5 kilômét. Trung đoàn phó đang cho trinh sát bám để chuẩn bị tập kích vào đêm 30 tháng 5 thì Trung đoàn trưởng và Chính ủy đã về đến trung đoàn để triển khai kế hoạch bao vây công kích tiêu diệt, vì tập kích sẽ diệt không gọn, địa hình phức tạp, phải tiến công nhiều mục tiêu cùng một lúc…

Địch dựa vào các vườn cây trái và nhà dân đã bỏ chạy để đóng quân dã ngoại, xung quanh ruộng khô xen kẽ các bờ tre xóm nhỏ… ta có điều kiện tiếp cận bao vây từ nhiều hướng.

Đêm 30 tháng 5 các đơn vị vào chiếm lĩnh trận địa tiếp cận địch theo kế hoạch tác chiến.

Sáng 31 tháng 5 năm 1972, địch phát hiện lực lượng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5, ta đã nổ súng diệt một số và thọc luôn vào khu vực địch, chiếm được một tuyến ngoài của tiểu đoàn 67, Tiểu đoàn 1 do anh Cao Tông chỉ huy cũng nổ súng vào tiểu đoàn 76. Địch chống trả mạnh ở các hướng, đồng thời yêu cầu phi pháo chi viện gấp vì đang bị bao vây uy hiếp từ nhiều mặt. Máy bay địch oanh tạc, ta càng xiết chặt vòng vây, các loại hỏa lực đã được phát huy gây cho địch nhiều thương vong, chúng cố co cụm chốt giữ. Ta tiếp tục tiến công đến 15 giờ thì Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 5 đánh bật được 2 cánh quân của địch và di chuyển về phía tây nam để chiếm địa hình có nhiều tre, diệt thêm một bộ phận buộc chúng phải co về khu vực Ô Rùm Đuôn.

Trong đêm 2 tháng 5, ta xiết chặt vòng vây tăng cường hỏa lực áp sát, địch cố thoát ra trong đêm nhưng đều bị đánh phải quay lại. Tiểu đoàn 4 chỉ để lại 1 đại đội đón lõng phục kích ở phía nam còn lại thực hành bao vây cùng Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 5.

Trước khi sáng Tiểu đoàn 4 đã đánh thẳng vào 2 tiểu đoàn 67 và 76 diệt trên 100 tên, chiếm thêm nhiều địa hình có lợi, chia cắt địch. Hai tiểu đoàn địch ở Ô Rùm Đuôn, quyết tử thủ không đầu hàng.

Ta đưa ĐKZ 75, súng máy cao xạ 12,7 ly vào yểm trợ cho Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 1 tiêu diệt tiểu đoàn 76, còn Tiểu đoàn 5 bao vây chặt tiểu đoàn 67. Sau 1 tiếng đồng hồ công kích Tiểu đoàn 76 cơ bản bị ta tiêu diệt, còn một bộ phận sáp nhập với tiểu đoàn 67 cùng chống trả quyết liệt.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:57:56 AM
Chúng tôi chỉ đạo Trung đoàn 24 bao vây chặt tiểu đoàn này, tập trung hòa lực chia cắt địch từng bộ phận, đến 13 giờ ngày 2 tháng 5 tiểu đoàn 67 cơ bản bị tiêu diệt, còn một bộ phận mở đường máu chạy về phía nam, bị đại đội đón lõng của Tiểu đoàn 4 tiêu diệt 40 tên. Tiểu đoàn 67 chỉ thoát được 5 tên.

Sau hơn 1 ngày và 2 đêm liên tục tiến công áp sát ta đã tiêu diệt gọn liên đoàn 41 biệt động quân gồm 600 tên, thu 360 súng các loại, 32 máy thông tin. Ta thương vong 35 đồng chí.

Cuối tháng 5 năm 1972, Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch tổng hợp ở Khu 8 nhằm chuyển thế ở đồng bằng. Sư đoàn 5 và Sư đoàn C30B sẽ tham gia tiến công từ biên giới xuống để phối hợp với lực lượng tổng hợp của Khu 8.

Ngày 10 tháng 6 năm 1972, Sư đoàn C30B chúng tôi đứng chân trong khu vực 10 kilômét ở nam quốc lộ 1 thuộc huyện Ro Mia Nek tỉnh Prây Veng sẵn sàng tham gia đợt 1 chiến dịch tổng hợp với Quân khu 8 tiến công quân ngụy Sài Gòn từ biên giới Việt Nam lên Campuchia.

Suốt ngày các đơn vị trực chiến tại các trận địa sẵn sàng đánh địch. Nhưng lợi dụng được sơ hở của ta, lúc 17 giờ 30 phút trời sắp tối, trung đoàn thiết kỵ số 2 ngụy Sài Gòn khoảng 30 xe M113 chở đầy quân bất ngờ từ hướng Thông Bình (vùng 4 Kiến Tường – Việt Nam) chia thành 2 mũi mở hết tốc lực vừa chạy vừa bắn qua trận địa các tiểu đoàn hướng về quốc lộ 1 nơi Trung đoàn bộ đóng. Các đơn vị không kịp nổ súng, chỉ có 1 cơ cấu B72 (tên lửa diệt tăng) của Tiểu đoàn 5 còn ở trận địa, bắn cháy 1 M113 tại chỗ. Liên lạc từ trung đoàn với tiểu đoàn bị cắt đứt do xích sắt cuốn đứt hết các đường dây điện thoại.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn C30B lệnh cho Trung đoàn 24 truy kích địch. Trung đoàn trưởng, chính ủy cùng trinh sát, tác chiến đi nắm địch, bộ đội cơ động theo sau. Đi suốt từ sáng đến tối bộ phận chỉ huy và trinh sát trung đoàn trú quân ở ấp Sàm Rông, phát hiện 2 đến 3 tiểu đoàn địch đóng quanh khu vực chùa Na Khan.

Tôi ra lệnh cho Trung đoàn 24 triển khai đội hình trước sáng ngày 12 tháng 6 năm 1972, sẵn sàng nổ súng.

Sau gần một ngày chiến đấu dũng cảm (từ 8 giờ đến 16 giờ 30 phút) bằng các loại hỏa lực và bằng cả báng súng, lưỡi lê, Trung đoàn 24 đã diệt gọn liên đoàn 7 biệt động quân gồm 2 tiểu đoàn 58 và 85 cùng ban chỉ huy liên đoàn, gần 600 tên chết. Ta bắt sống một số tên, thu 200 súng các loại, 38 máy thông tin, còn hàng trăm khẩu súng rơi xuống nước chưa thu được.

Ta thương vong 36 đồng chí (hy sinh 12).

Theo yêu cầu của bạn xin được thu dọn chiến trường để bổ sung vũ khí trang bị còn thiếu, 1 tiểu đoàn bạn đã tìm kiếm vớt được 200 khẩu các loại có cả ĐKZ 57, cối 81, đại liên… Bạn rất cảm ơn Quân giải phóng miền Nam.

Sau trận đánh, Trung đoàn trưởng Trần Đối đã hướng dẫn anh Mười Khang – Tư lệnh Miền và tôi tới thăm tặng quà thương binh và đơn vị, xem hiện trường trận đánh.

Anh Mười Khang biểu dương khen ngợi: “Trung đoàn 24 về Miền tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ trong đợt một đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cán bộ chiến sĩ quyết tâm cao, dũng cảm ngoan cường, mưu trí sáng tạo vận dụng các hình thức chiến thuật giỏi, đạt hiệu suất chiến đấu cao, tiêu diệt nhiều đơn vị lớn, nổi bật của một đơn vị chủ lực cơ động… Với một trung đoàn bộ binh biên chế, trang bị như hiệu nay, được huấn luyện tốt, trung đoàn ta có thể tiêu diệt 1 trung đoàn địch hoặc tương dương trên địa hình trống trải…”.

Tháng 7 năm 1972, trên giải thể Sư đoàn C30B, tôi được điều về làm Phó tư lệnh Sư đoàn 5.

(https://lh3.googleusercontent.com/DooQ4D5i62rFCN4pPXvesS6t388jWfPy1gccQUXKoSJiYgTV8IcktCQYamniuWbcSKlfAv566W_4QDxrroBo1yEG8xR_z7cRbvEBgnHoFkGhOAc6i4iH6QKcWc4wG4mnE5jbF73iDYAqrKTBALkPp6ymkewbP4nUHR9zoTVSVxFTqXnlWK304tYGrHmqyIWu-qg3j2npbx8Xq8tzAzkPhLat-s_cGcnQ11iGitBDbl4J5LxB9DVrbs0aWCpaTVDHG280pnpuqyDx9v1bLaaC2hoJWoGumAg2CmXvY80WR_hpXFkJ_NYFYXVT4NKi5O8JlnnE2O81RR32M9ZrNb3IKoXJFwUJj93-gutX_Wiyv4BAapc_mgrDlM9vs_YsHDS47Hzs_QK4MF8xpLqkRMWdgj3f8sT5QkTTc_lHrhGHbKwbONFwtf0tjoRKIvKPQkWJz-5mDp8gn5j7REsQDlRJ4A9EO1A6V1v2A10GXz_afGHL30WsC9z5Ce6Al9mW1vulKvpSRDdb0w72ALm79cdejEe4DPJSNR0j7CimXCWfqws_ojLTaWLbiuMz8eKXx2DHrSGKEFTPQWvwf2TblI3HpOGhBGVWVMomx9KSCPiXhg5NTLqAUL-WPz60GJEAZYDqv4f9WIAjV9947SaUmD5Ke_UJ5Dy86Ns=w800-h530-no)

Cùng anh Đoàn Văn Khoan – Phó chính ủy Sư đoàn 5


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:58:53 AM
Cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên toàn miền Nam đã bước sang tháng thứ bảy. Trong 6 tháng, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và binh khí kỹ thuật của địch. Ta đã tiêu diệt được các đơn vị cõ trung đoàn, sư đoàn, đánh thiệt hại nặng nhiều sư đoàn khác trong đó có 2 sư đoàn dự bị chiến lược và buộc chúng sa lầy ở mặt trận Quảng Trị, phá vỡ được nhiều khu vực phòng ngự then chốt, mở rộng một vùng giải phóng rộng lớn tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ khối chủ lực của ta không những đứng vững trên các địa bàn chiến lược ở rừng núi mà nhiều trung đoàn, sư đoàn đã thọc sâu được vào đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long tạo nên một so sánh lực lượng mới có lợi cho ta, tạo nên thế tiến công mới và khả năng mới để đánh bại âm mưu “bình định” của địch.

Do thắng lợi lớn của ta, vấn đề Việt Nam mà Níchxơn đã cố tình làm mờ nhạt đi nay lại đang nổi lên thành vấn đề số một của nước Mỹ. Níchxơn đang đứng trước những khó khăn chồng chất trong thời kỳ gay go, phức tạp nhất của năm bầu cử tổng thống ở Mỹ.

Đế quốc Mỹ đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và trước sức ép của nhân dân Mỹ đòi chấm dứt hoàn toàn mọi dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Trên mặt trận ngoại giao, chúng ta lại giáng tiếp một đòn tiến công quyết liệt bằng cách đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã phải thừa nhận đây là một văn kiện quan trọng, mở đường cho Hội nghị Pari về Việt Nam mau đi tới một giải pháp cơ bản. Nhưng ngay sau đó, phía Mỹ đã trì hoãn việc ký kết rồi lật lọng đòi thay đổi nhiều vấn đề cơ bản mà các bên tham dự hội nghị đã thỏa thuận. Trong lúc đó, trên chiến trường, chúng ồ ạt tuồn vũ khí vào cho quân ngụy, ráo riết bắt lính, đôn quân, tăng cường càn quét bình định, khống chế, kìm kẹp nhân dân trong vùng chúng kiểm soát và tích cực tổ chức các cuộc lấn chiếm quy mô lớn ra các vùng giải phóng của ta. Những việc làm đó đã bộc lộ rõ Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược miền Nam nước ta.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đang phát triển mạnh mẽ với triển vọng vô cùng tốt đẹp. Mỹ đang gặp khó khăn chồng chất, càng kéo dài chiến tranh càng khó giành được thắng lợi mà còn có thể lại thất bại to lớn hơn. Tình hình kinh tế, chính trị của nội bộ nước Mỹ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Vì vậy, khả năng kết thúc chiến tranh sớm có thẻ xảy ra.

Ta tập trung mọi cố gắng làm cho khả năng này trở thành hiện thực. Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã kịp thời chỉ thị cho các chiến trường chuyển sang đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng, củng cố và bồi dưỡng lực lượng ta, phát triển thế tiến công chính trị và quân sự trên chiến trường.

Đúng như dự đoán, sau khi tái đắc cử Tổng thống nước Mỹ (8-11-1972), Níchxơn ngang ngược giở giọng đe dọa, phá ngang làm cho cuộc đàm phán bị bỏ dở và đến đêm 18 tháng 12 đế quốc Mỹ trắng trợn mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất vào miền Bắc nước ta, lấy tên là “chiến dịch Lainơ Bếchcơ II”. Chúng tập trung một số lượng lớn máy bay, lấy B-52 làm lực lượng đột kích chủ yếu, đánh phá Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số khu vực dân cư, nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng, hòng gây hoang mang rối loạn trong nhân dân ta, làm áp lực buộc ta phải hạ thấp một số điều khoản trong dự thảo hiệp định, phải trở lại Hội nghị Pari với thế yếu.

Phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng của ta, nhằm ngăn chặn từ gốc nguồn tiếp tế lớn của ta sau này ở miền Nam.

Gây tổn thất lớn cho ta về người và của cải vật chất để đe dọa các nước đang đấu tranh chống đế quốc Mỹ và làm cho ta phải mất nhiều thời gian khắc phục hậu quả sau chiến tranh, do đó sẽ không đủ sức tiếp tục cuộc kháng chiến ở miền Nam. Như vậy, chúng sẽ bảo đảm cho ngụy quyền, ngụy quân có một thời gian tương đối ổn định để tăng cường lực lượng, tạo thế mạnh cho một giải pháp chính trị sau này.

Suốt 12 ngày đêm, chúng đã xuất kích 663 lần chiếc B-52 và 3.884 lần chiếc máy bay cường kích đánh phá liên tục vào Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và các trọng điểm giao thông, chân hàng lớn của ta ở Kép, Đồng Mỏ (Lạng Sơn) trên tuyến đường 1 phía bắc. Giặc Mỹ ném bom bừa bãi vào cả bệnh viện, khu phố, trường học, bến xe, nhà ga làm 2.368 người chết, 3.526 người bị thương. Riêng tại khu vực Hà Nội, địch tập trung tới 44 lần chiếc B-52 chiếm 66% tổng số lần chiếc B-52 và hơn 1.000 lần chiếc máy bay cường kích, chiếm 27% tổng số lần chiếc cường kích trong cả đợt đánh phá.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Năm, 2019, 09:59:46 AM
Hành động leo thang đánh phá tàn bạo của Mỹ đã bị quân và dân miền Bắc, nhất là quân và dân thủ đô Hà Nội trừng trị đích đáng. Ngay từ đợt đầu, trận đầu, các lực lượng phòng không của ta đã bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của Mỹ. Mặc dù chúng tìm mọi cách nghi binh gây nhiễu, tổ chức đội hình chặt chẽ, phối hợp nhiều kiểu loại máy bay đánh ở tầng cao và cả ở tầng thấp, đánh ban đêm rồi lại đánh liên tục cả ban ngày, sử dụng nhiều loại bom đạn và tên lửa, kể cả “bom tinh khôn”… nhưng chúng vẫn bị thất bại thảm hại.

Chỉ trong 12 ngày đêm của đợt tập kích, ta đã bắn rơi 81 máy bay, nhiều giặc lái bị bắt sống, trong đó con “át chủ bài” B-52 đã bị bắn rơi 34 chiếc, lực lượng “đột nhập mọi thời tiết” là máy bay F-111 cánh cụp cánh xòe cũng bị bắn rơi 5 chiếc. Các lực lượng phòng không của ta, trong những ngày thử thách quyết liệt này đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc. Nhiều địa phương đã lập chiến công lớn, nổi bật là Thủ đô Hà Nội đã bắn rơi 30 máy bay Mỹ.

12 ngày đêm chiến đấu và chiến thắng trên bầu trời miền Bắc, nhất là trên bầu trời thủ đô cuối năm 1972 là một chiến dịch phòng không đạt mức tiêu diệt máy bay chiến lược hiện đại của Mỹ cao nhất, oanh liệt nhất, đạt hiệu quả chiến lược lớn nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc cũng như trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tôi được biết, đây là chiến dịch tiêu diệt lớn máy bay chiến lược B-52 của đế quốc Mỹ đầu tiên trên thế giới, giáng cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ đòn tiêu diệt nặng nề nhất trong lịch sử xây dựng và xâm lược của nó.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này, trong đó nổi bật thắng lợi oanh liệt đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ đã góp phần quan trọng trong thắng lợi chung, có tác dụng đè bẹp ý chí “đàm phán trên thế mạnh” của Níchxơn, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận việc ngừng ném bom, bắn phá và trở lại Hội nghị Pari trên thế yếu và bị cô lập.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền nam – Bắc, đặc biệt là thất bại trong cuộc tập kích chiến lược đường không vào miền Bắc nước ta, những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc lại bị một sức ép rất mạnh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lên án, đòi hỏi phải chấm dứt ném bom và ký ngay hiệp định hòa bình.

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Níchxơn buộc phải tuyên bố trở lại tình trạng trước ngày 18 tháng 12 năm 1972, nghĩa là ngừng ném bom, bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, bắt đầu từ 7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1972 để có thể tiếp tục trở lại bàn đàm phá ở Pari.

Cuộc gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ được nối lại từ ngày 8 tháng 1 năm 1973. Đứng trên thế mạnh của người chiến thắng, ta đấu tranh giữ vững nội dung của bản dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972.

Lần này, Kítxinhgiơ đã phải hạ giọng, thừa nhận một sự thật cay đắng đối với họ ở miền Nam có 2 vùng kiểm soát, 2 chính quyền, 2 quân đội và 3 lực lượng chính trị. Trong lần gặp gỡ này, chính Kítxinhgiơ đã phải thốt ra với đồng chi Lê Đức Thọ; “Các ngài không những anh hùng lại còn thông minh”.

Ngày 12 và 13 tháng 1 năm 1973, bản dự thảo Hiệp định về cơ bản đã được thỏa thuận. Ngày 15 tháng 1 năm 1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố: “Ngừng mọi hoạt động quân sự bao gồm ném bom, bắn trọng pháo và thả mìn ở miền Bắc ở nước ta”.

Ngày 23 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký tắt giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các bên tham dự Hội nghị Pari. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.

Nội dung của Hiệp định đạt bốn yêu cầu cơ bản mà ta đã đề ra từ trước:

- Mỹ và các nước cam kết phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

- Mỹ phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu, phá hủy các căn cứ quân sự của Mỹ, cam kết sẽ không tiếp tục dính lúi quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

- Chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một bên của “hai bên miền Nam Việt Nam”, phải công nhận trên thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.

- Mỹ phải bồi thường chiến tranh.

Điều mà Mỹ cay cú nhất là chúng phải thừa nhận quân đội miền Bắc không rút khỏi miền Nam, thừa nhận sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:27:55 PM
CHƯƠNG SÁU
BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM TỔ QUỐC LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

Tháng 11 năm 1973, tôi được cấp trên cử ra miền Bắc học ở Học viện quân sự cấp cao. Thế là sau 12 năm xa miền Bắc, xa vợ con, tôi trở lại miền Bắc, khi Mỹ đã ngừng ném bom bắn phá. Tất cả làng mạc, phố phường, đồng ruộng những nơi tôi đi qua còn đầy hố bom vết đạn, nhà cửa đổ nát nhưng nét mặt của người dân đều lộ rõ vẻ phấn khởi, rạng rỡ.

Tôi về đến nhà, vợ con đi vắng, hỏi chị hàng xóm thì được biết Tùng (vợ tôi) đang làm ở Ủy ban Khu phố 3. Chị ấy bảo:

- Để tôi đi gọi chị ấy về.

Nói rồi chị đạp xe ra Ủy ban Khu phố 3. Một lát sau, nhà tôi về cùng chị ấy.

Hơn chục năm xa nhau, khi tôi vào Nam, Tùng mới 24 tuổi, giờ đã 36 tuổi. Nhìn gương mặt cô ấy, tôi biết Tùng vất vả vì công việc xã hội và một mình nuôi dạy con thay tôi, trong chờ đợt khắc khoải, âu lo. Giờ gặp nhau, cô ấy xúc động, một lát sau Tùng mới hỏi:

- Anh về tranh thủ được mấy ngày?

Tôi nói:

- Anh được cấp trên cho đi học, ở nhà với mẹ con em hơn một năm. Hai con, chúng nó đâu rồi?

- Nó đi học, chắc cũng sắp về rồi anh ạ.

Tôi giới thiệu với Tùng:

- Đây là lái xe và cần vụ.

Nhà tôi rất vui, ân cần rót nước mời hai chú. Hơn một tiếng sau, Hoàng và Nga đi học về nhưng không dám vào nhà mà bẽn lẽn đứng ngoài cửa. Vợ tôi giục:

- Hoàng, Nga vào chào bố đi con.

Tôi chạy ra cửa, dắt Hoàng và Nga vào.

Con bé vẫn chưa quen gọi bố. Khi tôi đi Nam, cháu mới được vừa đúng một tuần. Mãi đến hôm sau Nga mới ngượng ngùng gọi tiếng “Bố” đầu tiên.

Tối hôm đó, Tùng kể cho tôi nghe về những ngày xa hau: Hôi anh nói với mẹ con em là đi Liên Xô học. Vài tháng sau chẳng thấy thư từ gì, em đã sinh nghi. Mấy năm sau có người nói anh vào Nam chiến đấu và đã hy sinh. Được tin ấy, em chỉ âm thầm khóc một mình chứ không dám nói gì cho mẹ và các con. Mẹ già, được tin này bả cả nghĩ ốm thì khổ, còn thằng Hoàng và cái Nga nhỏ quá, nó không biết gì càng nghĩ em càng thương các con. Đằng đẵng 10 năm, chờ đợi không một lá thư anh viết gửi về. Thế rồi cuối năm 1971, một hôm em nhận được thư của anh. Chữ viết trong thư không phải chữ anh, anh chỉ ký tên Năm Đàng thôi. Nhận được thư em mừng lắm khóc với mẹ, đưa cho hai con đọc. Chúng nó tin đó là chữ của anh. Có địa chỉ em viết thư và gửi ảnh mẹ cho anh. Anh có nhận được không?

- Chiến đấu liên tục, căng thẳng, quyết liệt lắm. Anh nhờ chú cần vụ viết rồi anh ký đấy. Hai tấm hình em gửi anh còn giữ. Một tấm phía sau em ghi: “Anh giữ lấy trong ngày xa cách. Em, Hoàng và Nga con chúng mình”. Tấm hình này, mẹ con em chụp vào ngày 12 tháng 6 năm 1965. Còn tấm hình kia em chụp ngày 11 tháng 5 năm 1970. Em ghi: “Anh giữ lấy tấm hình này để kỷ niệm trong những năm xa” có phải không nà?

- Đúng rồi.

Tôi an ủi Tùng:

- Lúc đó để bảo đảm bí mật nên anh phải nói đi Liên Xô học. Anh chiến đấu, chỉ bị thương một vài lần. Anh về với mẹ con em đây.

Rồi Tùng kể cho tôi nghe mười năm cô ấy làm Chủ tịch Hội phụ nữ thị xã, được kết nạp vào Đảng, được trên cử đi học y sĩ. 10 năm liên tục được bầu là phụ nữ “Ba đảm đang”. Rồi cả chuyện mỗi tháng ba mẹ con được cấp 36 kg gạo mậu dịch.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:28:05 PM
Tôi ở nhà được hơn một tháng rồi trở về Học viện quân sự cấp cao học. Lúc này tôi mang quân hàm Thượng tá. Chiều thứ bảy, tôi được nhà trường cho về tranh thủ, chiều chủ nhật xuống trường.

Chúng tôi sinh cháu Trương Thị Ngọc Thủy, vào ngày 14 tháng 12 năm 1`974.

Cuối năm 1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 – 1976.

Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, chiến trường Đông Nam Bộ đã tiến công và giải phóng tỉnh Phước Long, tạo ra một thế trận chiến lược trực tiếp. Đồng thời thắng lợi đó cũng tạo thêm cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá của Trưng ương về khả năng trở lại của Mỹ. Các chiến trường khác cũng giành được thắng lợi, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn. Hậu phương lớn miền Bắc dồn sức người sức của cho miền Nam tăng quân, trang bị vũ khí và vật chất vào chiến trường. Đường vận tải chiến lược 559 được mở rộng, tăng cường năng lực vận chuyển và kéo dài đường ống dẫn dầu vào đến Tây Nguyên.

Sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên (tháng 3 năm 1975), buộc địch có những suy sụp đột biến, chúng đang thực hiện co cụm chiến lược với quy mô lớn, rút bỏ Tây Nguyên co về ven biển. Mỹ chưa có biểu hiện can thiệp trở lại miền Nam. Bộ Chính trị kịp thời chuyển quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam từ 2 năm sang ngay trong năm 1975 và xác định phương hướng tiến công chiến lược là Sài Gòn.

Sau thắng lợi của các chiến dịch Trị Thiên – Huế, Đà Nẵng, ta đã tiêu diệt và làm tan rã hàn toàn quân đoàn 1 địch và giải phóng địa bàn quân khu 1 của chúng. Chiến trường Đông Nam Bộ cũng giành được thắng lợi to lớn, càng tạo thế trận vô cùng có lợi cho ta chuẩn bị tiến công vào Sài Gòn. Bộ Chính trị lại kịp thời hạ quyết tâm tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng chủ lực của cả nước cùng với lực lượng tại chỗ nhằm vào hướng chiến lược chủ yếu là Sài Gòn – Gia Định, giải phóng Sài Gòn trước tháng 5 năm 1975.

Ngồi trong nhà trường, nhưng anh em chúng tôi không thể nào tập trung vào việc học được nữa. Tin thắng trận cứ dồn dập dội về. Từ Tây Nguyên, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoài rồi Huế, Đà Nẵng, ta còn giải phóng cả quần đảo Trường Sa. Chúng tôi liên tục đề nghị Ban giám đốc Học viện cho trở lại đơn vị để tham gia trận quyết chiến cuối cùng.

Nguyện vọng của anh em chúng tôi cuối cùng được đáp ứng.

Đầu tháng 4 năm 1975, Học viện có lệnh cho chúng tôi trở về đơn vị.

Tôi tranh thủ về thăm vợ con và nói với Tùng.

- Anh trở lại miền Nam chiến đấu. Chậm lắm là cuối năm anh sẽ ra đón em và các con vào Nam.

- Anh nhớ đấy! Đừng như lần trước nhé.

- Anh hứa!

Chiếc xe Zin ba cầu, phủ kín lá ngụy trang chở anh em chúng tôi rời Hà Nội xuôi về phía Nam. Trong lòng chúng tôi ai nấy đều phấn khởi, mong được tham gia trận đánh cuối cùng.

Đến miền Đông Nam Bộ, tôi được điều về Bộ phận cán bộ dự bị Cục Chính trị Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng bổ sung cho các hướng.

Lúc này tại Mặt trận Sài Gòn – Gia Định qua theo dõi diễn biến chúng tôi được biết chiến dịch Hồ Chí Minh đã bước sang tổng công kích.

Tính từ lúc thực hành nổ súng đến lúc kết thúc là 3 ngày rưỡi. Riêng giải quyết nội thành Sài Gòn trong 6 giờ (5 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút). Chiến dịch diễn ra cơ bản đúng như ý định, đúng như kế hoạch, đúng như dự kiến hiệp đồng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:29:24 PM
Chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã tiêu diệt và làm tan rã khoảng 250.000 tên địch (trong đó có khoảng 160.000 tên bị bắt và đầu hàng, 15.700 tên bị diệt, còn lại tan rã). Tính đến ngày 10 tháng 10 năm 1975, có thêm 700.000 tên ra trình diện (có 30 tướng, hơn 400 đại tá, hơn 2.000 trung tá, gần 5.000 thiếu tá, gần 60.000 cấp úy, còn lại là hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên ngụy quyền), 5 lữ đoàn, 4 sư đoàn phòng không, 90 đơn vị hải quân… Ta đa thu: 500 khẩu pháo, hơn 400 xe tăng thiết giáp, hơn 800 máy bay, hơn 600 tàu chiến, hơn 270.000 khẩu súng các loại, hơn 3.000 xe các loại, thu toàn bộ kho tàng của địch.

Ta hy sinh và bị thương hơn 6.000 cán bộ chiến sĩ bộ đội, bị cháy và hỏng 33 xe tăng, tiêu thụ khoảng 4.500 tấn đạn lớn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng có nhiều ý nghĩa hết sức to lớn.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc ta; mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta.

Nếu trước đây Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp, thì thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam; đây là thất bại to lớn nhất của Mỹ từ trước tới lúc này, mở ra một thời kỳ mới cho phong trào cách mạng thế giới.

Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi trọn vẹn trong thời gian rất ngắn, đã thu được hầu như toàn bộ vũ khí kỹ thuật hiện đại, căn cứ, kho tàng của địch. Nhân dân trong khu vực chiến dịch hầu như không bị tổn thất, thành phố hầu như còn nguyên vẹn, hầu hết cơ sở vật chất về quân sự, về kinh tế, về sinh hoạt ta đều thu được, có tác dụng hết sức to lớn cho công cuộc xây dựng đất nước, trang bị cho quân đội sau này…

Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra thuận lợi, nên số cán bộ dự bị cho chiến dịch chúng tôi không được về đơn vị chiến đấu mà cơ động theo Cục Chính trị Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh vào tiếp quản Thành phố Sài Gòn – Gia Định.

(https://lh3.googleusercontent.com/4aRwIaVJkZXE0CnQnKw3Bw2oVNAV7gdx3zYwGtRja8uXbngCMeY3oQh3o8vQnrRVRMDndMkCMlBxrE29KZsnKg9wBcS-FDDxFOtjrosTgc4PmGmVtSf1Om1R6mOcZude8XWhgGO0W6Y68fNpZR4NvK0Ng6ONy0DYZB0vyCN8iLFU956qXIMdj5C5Y51NtknMZzCYWCPr5XNgt7lQMxF2AC3MSA3Qqmp5lsdXsgoU8RdHCb9-rxT4RU6uKcjM4SQdGem_BS6xsURXrU1eRhMHzg-mrGffIOhgYsV-PYK0nMzS5uUaoCz1vdTHjs-z1rYXt2sryn2tmsSxmwrcULpVhfwGR0pZXoR6nOSf5XX4nIGWPE7X29AN_CUn8FIeEiItcu6OyvniajMh81nqIaX_MEJktvAUfoQsU3I4z26iQoOdr--DTLN7wZw7iOFG3oYIwh2r6qKFvU_g2vb3NZCyWyUHKWvdzOqHa64s_t4u8CyAwlf2Qrgn8J1zmPBofeGidNsDTR6_PeUVOV6yVHYu1zJ7JwDUm7L1OnnyxLfUA2Ie4HBt2sYv-1DZ2wOgN4jCO7M4xJivUGReLpWu26KgmjtcH22PoSMud7wpUhnGWlRMxJLRpwjEH0cggarkFyenFd4AAXHANU6tSqFKfd9R_u34EXlc8co=w476-h654-no)

Cùng phó Tư lệnh Sư đoàn Tạ Quang Tỷ (người không đội mũ)
sau ngày chiến thắng 30-4-1975


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:31:01 PM
Tháng 8 năm 1975, tôi đề nghị Bộ Tư lệnh Miền xin một xe con ra Bắc đón vợ con vào thành phố. Trên xe chỉ có tôi và chú Tân lái xe.

Vợ con thấy tôi về đều mừng vui. Tôi nói với Tùng:

- Em thu xếp cho các con vào Sài Gòn. Công việc của anh sau giải phóng rất bận nên phải đi sớm. Em nhớ đừng nói cho ai biết là đi vào Sài Gòn nhé, mà chỉ bảo đi Hà Nội chơi ít ngày.

Nghỉ ở nhà một ngày, sáng ngày thứ hai chúng tôi lên đường sớm. Xe chở gia đình tôi theo trạm nên cũng nhàn. Có ngày chỉ đi đến trưa đã đến trạm, ăn nghỉ do trạm lo nên sức khỏe cả gia đình đều ổn. Hoàng và Nga lần đầu được đi xe theo chiều dài đất nước, gặp cảnh đẹp đất nước, gặp cả đồng bào dân tộc đóng khố nên tỏ ra thích thú. Đi đến đâu tôi giới thiệu cho vợ con biết đến đó.

Gần chục ngày đi đường, chúng tôi đã đến Sài Gòn an toàn. Bộ Tư lệnh Miền cấp cho một căn hộ ở cư xã Bắc Hải, Chí Hòa, Quận 10.

Tùng và các con nghỉ ngơi một tháng, lúc này mới giải phóng nên ngành nào cũng thiếu người. Tùng là y sĩ, lại là đảng viên nên được bố trí làm việc tại Phòng y tế Quận 10.

(https://lh3.googleusercontent.com/9xQpWcVaTXsajenqxj6ozHrZzdfOngCgQ5-O1oDyoq3JX3gSkTjQP6PZAA7p28hfy-5I8Zd1rr_WazrQLlj_uog20CUeCOgMSuaN5zbYPP00-45WMVXKeqJT_05V14BD-y1-EJb8GEGbIc_wHhrsi61zgX50BxCjk7ort0FOBp2Kwwau50XhMG3EpmqNtDxflVW_VxuN5a3kaa1jTtYFd5KkfDD_7iFdhqYWbQ4gvZWQrOV51DDZ1ExvucYvzX6jQtXODS6wzGEedHTSMP3BRPfhtS9HWD15_TdO2bjDSBBItHNdazHqMJsjHF9m83lFOmXS5XzvAaS9ts958rMEBwZwSfmnsg5lnO2x5UdSdtc4abx_XJ0jL15AJWLhsKfE5lBz7h9FubaEV8injYtGhv9kmrVUTsI219biTYdZNDNstxouon9U6Qt4FVQZeuQPteF91aZ0oZhKb8a8NglhvfeHKz4-E9sz1snGaoslrUGlRnmvT8Zf0S6mvGz9Tnucltl1FuAj0ReGVuHZ89zv5oaxoM8FqC_qrOV-Eya-ugPCB5idGGEA768Ay7m_O3jcuuKzJNQrVxX2QCy4KEimuT5x9YrCaUnOEeBtiXG2TbVivPsZjaGi4kowvkRD5SlXo4zcdXtuhiec3x_iM1dPgKIKklQRV3w=w446-h688-no)

Sau ngày giải phóng miền Nam 1975

Tháng 12 năm 1975, Sư đoàn 5 được biên chế về Quân khu 7, làm lực lượng cơ động của quân khu. Tôi được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 5.

Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi nhanh chóng triển khai làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu của Quân khu, tham gia xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở các địa phương, huấn luyện bộ đội, xây dựng doanh trại, tăng gia sản xuất, đón nhận và huấn luyện tân binh.

Dù phải liên tục cơ động di chuyển, tổ chức biên chế biến động, bàn giao Trung đoàn 3 cho tỉnh Tây Ninh, điều chuyển 378 cán bộ, chiến sĩ đi tăng cường cấp huyện và bổ sung cho Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp nhận Trung đoàn 4, giải quyết chính sách, phục viên, chuyển ngành, cử cán bộ đi học…, tuy có một số ít đồng chí bộc lộ tư tưởng muốn nghỉ ngơi, chờ giải quyết chính sách… song cán bộ chiến sĩ sư đoàn tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp trong chiến tranh chống Mỹ, khắc phục mọi lệch lạc mới nảy sinh, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trên lĩnh vực sẵn sàng chiến đấu, truy quét tàn quân địch, tính riêng năm 1976, sư đoàn đã tổ chức hành quân chiến đấu 25 lần, diệt và bắt 17 tốp địch, truy phá 25 tổ chức phản động, ngăn chặn và vây bắt 180 vụ phản loạn chống đối, bắt 200 tên, thu 69 súng các loại.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:32:26 PM
Vừa sẵn sàng chiến đấu, truy quét, xây cất lán trại, sản xuất tự túc, sư đoàn đã tổ chức huấn luyện quân sự cho các đơn vị trong toàn sư đoàn. Chúng tôi chọn Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174 làm đơn vị huấn luyện đột phá của sư đoàn, đã đạt thành tích cao trong môn kiểm tra bắn đạn thật và khoa mục chiến thuật tiểu đội.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện, Tiểu đoàn 5 được giao nhiệm vụ về đứng chân tại Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai làm nhiệm vụ truy quét tàn quân ngụy và tham gia xây dựng chính quyền cơ sở cách mạng.

Tháng 11 năm 1976, sư đoàn chúng tôi tiếp nhận 3.400 chiến sĩ mới của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là đợt chiến sĩ mới đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong điều kiện vừa di chuyển đội hình về vị trí mới chưa kịp củng cố, ổn định nơi ăn ở, nhưng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã tích cực chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng doanh trại, tổ chức huấn luyện và tăng gia tự túc để nâng cao đời sống bộ đội.

Cuối tháng 11 năm 1976, Trung đoàn 1 đã hoàn chỉnh 47 nhà ở và 4 hội trường đủ để 3 tiểu đoàn tiếp nhận và tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới. Trung đoàn 174 cũng đã tích cực tự khai thác tre, gỗ hoàn chỉnh doanh trại cho Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 và khu vực sở chỉ huy sư đoàn.

Vừa sẵn sàng chiến đấu, truy quét tàn quân, vừa huấn luyện, các đơn vị trong sư đoàn đã tích cực tăng gia sản xuất. Mặc dù phải thay đổi vị trí đứng chân nhiều lần trong thời gian ngắn, đất canh tác ở Tây Ninh phải giao lại cho địa phương, khi về đến Bà Rịa, Long Khánh đã quá thời vụ, bộ đội vẫn tranh thủ thời gian để trồng tỉa, chăn nuôi góp phần cải thiện đời sống bộ đội.

Cuối năm 1976, toàn Sư đoàn 5 thu hoạch được 134 tấn bắp, 650 kg thóc, 21 tấn khoai, 12 tấn đậu, 124 tấn rau quả, chăn nuôi 816 con trâu, bò, heo, 5.716 con gà, vịt, chưa kể 172 ha mì chưa thu hoạch.

Đến cuối năm 1976, Sư đoàn 5 đã xây dựng ổn định xong căn cứ doanh trại, từ sở chỉ huy sư đoàn đến các nhà ở phân đội, hệ thống kho tàng, bệnh xá, hội trường… Mọi hoạt động công tác sinh hoạt trong điều kiện mới đã đi vào nền nếp ổn định.

(https://lh3.googleusercontent.com/I9SBaoGwyRK1cGy8IrAAt9rBgpu5uOpy3uFAN9_DDAz6CIiET6_OcbORvOWiDmP9nEXwcXI1GEy6N_Xg3iOx35b5RYBPuFceBRWNVb2NkSgd2fp9_0_qUYsaTvutCdpUfzQ7b3ErRnRK9NPmnkAh8psvIU9rxZ_s-kKZZij6Wpn-Srbnq1G5__Znhw9JBBGBWb1IN7gCPGIgUiJToZuc7MD5lgt2AOw4PFrV-0oec5EU7UabcLR-PwZXQKPqVnEOXQfDYeqdP6LdsGmUvMfQibIPPGjj5A-f5JtUgf6dj2C3QYZ48Jk_vqbpK-NmS6_9Co25AbkUiqFG8nO4pXSdj_8Z7OuLqN5SpELJJ0pZQW3dnhfIMuP9w14Psr4xCKyTm6GTFYle_X7fjZLFXyimyxz36soHvAbMStULc6TfQauJX7xfpMuMzgK9YE9UmqI7jHkEcoZFvOsC6UXz2KB9a8w6-QLqLo9UlBTIf2paTBL9I0_RGkt9Y2Aspa1RfnUTn7xjfdcIuHQuj0TO8GyN0mo-2vLrb-f1pRZHu43J6rVG92mJ_pmn6E7ZtZjz5sciEU97sVYIS5y7vu2Xex0EeqteMq6j_vioAAuZF9CE2H5yl1RBZG2e7EjOsqJ2dNbJ_AwHl3QXPDF7uhmhsUU5XJX1LCZhmh0=w800-h540-no)

Dự Đại hội đại biểu toàn quân năm 1976
Trong ảnh từ phải qua trái thứ 11 Trương Văn Đàng

Thời gian này, tập đoàn Pônpốt – Iêng Xari thường xuyên tiến hành các hoạt động khiêu khích dọn đường cho cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới. Chúng đột nhập vào kho vũ khí của ta ở Tây Ninh, tăng cường các hoạt động trinh sát, tuần tiễu dọc theo biên giới, sử dụng lực lượng nhỏ (cấp tiểu đội đến trung đội), bí mật thọc sâu vào đất ta để gài mìn, lừa bắt trộm trâu bò, giết hại cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta. Quân Pônpốt còn đào và dời cả cột mốc biên giới tại các khu vực Gò Dầu, Kà Tum, cưỡng ép dân Campuchia sang xâm canh tại các khu vực Mộc Bài, Khuốc, Vát Sa, Tà Nốt, Tà Đạt (thuộc tỉnh Tây Ninh) tung các toán gián điệp, tình báo vào địa bàn Quân khu 7 (đặc biệt là trung tâm Sài Gòn) để móc nối với các lực lượng phản động ở nội địa. Nghiêm trọng hơn, trong hai ngày 25 tháng 2 và ngày 2 tháng 3 năm 1976, quân Pônpốt đã bất ngờ tiến công và Đồn công an vũ trang số 7 và số 8 của ta ở Bu Prăng, Đắc Nông. Số vụ xâm lấn, vi phạm chủ quyền Việt Nam trên biên giới thuộc địa bàn Quân khu 7 từ 18 vụ trong năm 1975, tăng lên 171 vụ (gấp 9 lần) trên 82 điểm trong năm 1976. Căn cứ xuất phát hành quân của những cuộc xâm lấn biên giới trên địa bàn Quân khu 7 là quân khu 203 (còn gọi quân khu Đông) của Pônpốt.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:32:55 PM
Nhằm thực hiện cuộc chiến tranh xâm lấn, chính quyền Pônpốt tổ chức Campuchia thành 7 quân khu Đông, Đông Bắc, Tây, Tây Nam, Tây Bắc, Bắc, và Trung tâm. Hai khu Phnôm Pênh, Kông Pông Chàm trực thuộc trung ương và vùng đặc biệt Krachiê, phát triển quân đội từ 18 đến 20 vạn quân chủ lực, chưa kể 10 vạn quân địa phương.

Đối diện với Quân khu 7 là quân khu Đông của Pônpốt bao gồm địa bàn các vùng 20 (Krek); vùng 21 (Mê Nốt); vùng 22 (phía đông sông Mê Kông tiếp giáp với Phnôm Pênh); vùng 23 (Svay Riêng); 24 (Prây Veng). Trước lúc nổ ra chiến sự, quân khu Đông có hai sư đoàn 3 và 4. Sư bộ binh số 3 đóng ở Svay Riêng (có ba trung đoàn: 153, 269, 182). Sư bộ binh 4 đóng ở Krếch (có 3 trung đoàn 154, 155, 156). Quân số mỗi sư đoàn có từ 3.500 đến 4.000 quân và Pônpốt đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng các đơn vị đặc biệt như trinh sát, đặc công ở các cấp từ trung ương đến các đơn vị chủ lực, địa phương và du kích quận, huyện. Khi chiến sự nổ ra, Pônpốt tập trung lực lượng vào khu vực trọng điểm là quân khu Đông từ 2 sư đoàn tăng lên 7 sư đoàn chủ lực (trong đó có 2 sư đoàn tổng dự bị và 2 sư đoàn ở thủ đô Phnôm Pênh). Tổng quân số của Pônpốt thời điểm đó có 17 sư đoàn thì 13 sư đoàn (76% quân chủ lực) bị huy động vào cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Việt Nam.

Bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, các lực lượng vũ trang Quân khu 7 đứng trước nhiều khó khăn. Đối tượng tác chiến là quân đội của một nước láng giếng mới hôm qua còn là bạn hữu, cùng chung lưng đấu cật đánh đuổi đế quốc để giành độc lập. Phải qua một thời gian dài tìm hiểu và trả giá, nhân dân Việt Nam mới nhận diện và đánh giá được hết ý đồ đen tối của chính quyền Pônpốt – Iêng Xari. Cuộc kháng chiến kéo dài suốt ba thập kỷ chống Pháp, Mỹ để lại gánh nặng hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, không phải một sớm một chiều có thể khắc phục được. Những tồn đọng sau chiến tranh làm cho hậu phương, hậu cần của các quân khu phía Nam nói chung và Quân khu 7 nói riêng đều chưa vững chắc để có thể bước vào cuộc chiến với tư thế chủ động hoàn toàn. Đời sống nhân dân chưa được ổn định. Tình hình trật tự trị an xã hội chưa được củng cố, chính quyền cách mạng ở cấp cơ sở (phường, xã) còn yếu. Sau chiến thắng, một số cán bộ chiến sĩ có tư tưởng thỏa mãn, muốn xả hơi, dẫn đến chủ quan, mất cảnh giác. Việc giảm biên chế, giải quyết sang khung biên chế thời bình, lại tập trung vào việc sản xuất, dẫn đến chất lượng huấn luyện, quản lý cũng như trình độ tác chiến của bộ đội còn nhiều khiếm khuyết. Thế trận chiến tranh nhân dân trên tuyến biên giới chưa được tạo dựng một cách cơ bản.

Ngày 30 tháng 4 năm 1977, Pônpốt – Iêng Xari mở đầu cuộc tấn công bất ngờ, tới cấp sư đoàn, trên toàn tuyến biên giới An Giang (miền Tây Nam Bộ, thuộc địa bàn Quân khu 9), sát hại trên 1.000 đồng bào ta, đốt phá nhà cửa, trường học, bệnh viện, cướp đoạt tài sản của nhân dân.

Đứng trước tình thế nghiêm trọng này, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã ra Chỉ thị số 21, giao nhiệm vụ cho lực lượng trang quân khu: “… bất cứ tình huống nào, lực lượng vũ trang quân khu cũng phải sẵn sàng chiến đấu, khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bảo vệ toàn vẹn biên giới trong toàn quân khu, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, các cơ sở sản xuất, các kho tàng ở biên giới, tránh được tổn thất, thiệt hại cho dân và các lực lượng vũ trang của ta, không để bị bất ngờ, bị động, đối phó lúng túng”.

Triển khai Chỉ thị 21, Quân khu 7 xây dựng kế hoạch phòng thủ biên giới theo hai phương án. Một là, sử dụng lực lượng địa phương phòng thủ chiến đấu tại chỗ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ biên giới. Phương án hai, dùng lực lượng chủ lực quân khu kết hợp với lực lượng địa phương và lực lượng cấp trên đánh vừa, đánh lớn tiêu diệt địch. Công việc cấp bách trước mắt của Quân khu là khẩn trương tổ chức, kiện toàn ba trung đoàn: Trung đoàn 210, Trung đoàn 205, Trung đoàn 6 và xây dựng một số đốn, chốt dọc biên giới, củng cố chính quyền cơ sở, có kế hoạch phòng tránh và sơ tán, nhân dân các xã ở biên giới để tránh thiệt hại cho dân.

Tháng 5 năm 1977, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 hiệp đồng tác chiến với Quân đoàn 4 trên hai hướng. Hướng chủ yếu là nam bắc liên tỉnh lộ 13 (bao gồm hai khu ở nam bắc liên tỉnh lộ 13, đoạn Phước Tân, Ba Chàm giáp Tà Nông). Khu vực quan trọng ở nam bắc đường 1, điểm chính là Mộc Bài, Bến Cầu. Hướng quan trọng từ phía bắc đến tây bắc thị xã Tây Ninh, đoạn chủ yếu là Xa Mát – Lò Gò.

Để chuẩn bị lực lượng chiến đấu bảo vệ biên giới. bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 303, chuyển 6 trung đoàn và 4 tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đồng thời điều Sư đoàn 5 chúng tôi đến vị trí sẵn sàng chiến đấu.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:34:31 PM
0 giờ ngày 24 rạng 25 tháng 9 năm 1977, tập đoàn phản động Pônpốt – Iêng Xari mở cuộc tiến công ồ ạt xâm lấn biên giới thuộc địa bàn các tỉnh Quân khu 7. 4 sư đoàn địch chia làm nhiều mũi, nhiều hướng bất ngờ vượt biên giới đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành tỉnh Tây Ninh. Ý định của chúng là nhằm xâm lấn biên giới, giết hại nhân dân, cướp phá tài sản, chiếm đất đai. Tại Tân Biên, chúng tiến công xã Tân Phú, Tân Lập, Tân Hội, các đồn công an vũ trang ở Ta Nốt, Xa Mát, Tơ Riếc, Ta Đai, Bến Đá, đồi 62, Khuộc. Tại Bến Cầu, Châu Thành địch đánh vào khu vực đông dân cư, các đồn chốt của ta ở Cây Me, Thúc Múc, Long Phước. Tiến tới, lính Pônpốt ra sức đốt phá bắn giết đến đấy. 471 ngôi nhà bị chúng đốt và phá sập. Gần 800 đồng bào ta bị giết hại.

Ngày 30 tháng 9 năm 1977, Quân khu 7 thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân khu, trực tiếp chỉ đạo công cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam.

Trưa ngày 27 tháng 9 năm 1977, sau khi nhận nhiệm vụ chiến đấu từ Quân khu trở về tôi đã khẩn trương trao đổi với anh Nguyễn Ngọc Doãn – Chính ủy Sư đoàn, rồi khẩn trương triệu tập hội nghị cán bộ, truyền đạt mệnh lệnh của Quân khu. Tôi nói:

- Những hành động của tập đoàn Pônpốt – Iêng Xari đặt nhân dân ta trước tình thế không còn con đường nào khác là phải dùng quyền tự vệ chính đáng để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thực hiện chỉ thị 21 của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 về việc tăng cường chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Sư đoàn khẩn trương kiện toàn lại tổ chức biên chế, bổ sung trang bị, rèn luyện nâng cao khả năng cơ động chiến đấu cho bộ đội, tổ chức cán bộ nghiên cứu địa hình. Tuy nhiên, do việc điều chuyển cán bộ, chiến sĩ đi học, chuyển ngành, ra quân với tỷ lệ lớn đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Nhưng dù khó khăn đến mấy, chúng ta cũng kiên quyết chấp hành mệnh lệnh cấp trên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương sư đoàn do các anh Nguyễn Thanh Tùng – Sư đoàn phó, anh Nguyễn Minh Quang – Phó chính ủy sư đoàn phụ trách và điều động Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 cùng một số đơn vị pháo binh, trinh sát, thông tin lên biên giới tham gia chiến đấu.

(https://lh3.googleusercontent.com/E0ocVH-XdXeb4FcW2Bd-ZMkGAJJAHh14aE8xbgNJcG5WuBRPjy_bziiI7c-H-cDG3VwLJ4hql_6lmxRQ4u8QQjvFCqysgN7QlVF598FA4oyiYIxwODN0ApYsE9YM-vJw6yD0xaVXKl7grMtTKBp5k1K1ywKQ7vlfskfmCmdyp4Ucw2nU4R2V2o0neTp1MiHntDZlFsAqW7A1by-HlIddia7ynHpAC5T3_SAlSuR-f0mYU_SvB_HJXEmtye23N43iTGDyMtwzTMEtTJNAfm3FxUZhSpHaEJoUc8k-pk4vvb-8_28hB5yrvIOo95kFE3o8833b33jPALbpAOedEFCo-BQzpEe10rdACzw9otN2cywYxh9xN3jyJHg16hGODG2jLacRDFM-WL5Nlw7teA5HiD2LyNFJvGMisQoXExWIrmJVOW5rsUOuIBtXKD4smsPNAMFmRcMTzTPtqT-pI0a-rpjCoxKo4x0oG_0xbONuGr5fQh8_5qVNIwDFgBSDm0sbA2b2PDfs8KXnn0ZYulvCh2D97OFXvywV5VNHfb7jXYeUdrxPk4Ag2Zcx-LDIahdu3XVwDG1DJzN1_ZRmKKrIqU4mJKcGN4jQwcXQERJX-ofakAlj4b3kfVEQivD0TDSEFJkbg5mowwYkXAdYpuQG9JsMAddnzMM=w800-h488-no)

Cùng anh Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) quán triệt nhiệm vụ bảo vệ biên giới

21 giờ ngày 27 tháng 9 năm 1977, Bộ Chỉ huy tiền phương sư đoàn cùng các đơn vị được điều động cấp tốc cơ động bằng cơ giới lên biên giới Tây Ninh. 10 giờ sáng ngày 28 tháng 9 năm 1977, lực lượng của sư đoàn đã đến vị trí tập kết tại xã Tân Lập thuộc huyện Tân Biên, phía nam đồn biên phòng Xa Mát, cách biên giới 3km.

Tại xã Tân Lập, cán bộ chiến sĩ sư đoàn tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng dã man do bọn Pônpốt gây ra cho đồng bào ta. Hàng trăm ngôi nhà bị đốt chỉ còn trơ lại đống tro tàn và những khung cháy dở. Hàng trăm ngôi mộ hầu hết là người già và trẻ em bị chúng giết hại. Nhiều người bị lính Pônpốt quẳng xác xuống giếng. Ở nhiều hố bom chiến sĩ ta vớt được hàng chục xác dân lành bị lính Pônpốt dùng rìu đập đầu, mổ bụng.

Sự căm phẫn lũ giết người trào dâng trong lòng người chiến sĩ sư đoàn.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:35:19 PM
Ngày 30 tháng 9 năm 1977, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 được lệnh nổ súng tiến công quân địch đang chiếm đồn biên phòng Xa Mát.

Được pháo binh chi viện Tiểu đoàn 2 chia làm hai hướng tiến công. Quân Pônpốt hoảng loạn bỏ đồn tháo chạy về phía bên kia biên giới, bỏ lại hơn chục xác đồng bọn.

Ngày 5 tháng 10 năm 1977, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174 tiêu diệt cụm quân địch ở Bãi Bàu, diệt hai chục tên. Số còn lại chạy thục mạng về bên kia biên giới. Sư đoàn đã quét sạch quân địch ra khỏi biên giới.

Ngày 3 tháng 10 năm 1977, Quân khu ủy họp ra Nghị quyết nêu rõ: “Trên cơ sở quán triệt đường lối quốc tế của Đảng, lực lượng vũ trang Quân khu kiên quyết hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ… chủ động kịp thời giáng trả trừng trị tội ác của bọn xâm lấn. Kết hợp chặt chẽ với tiến công chính trị, vạch trần tội ác của bọn phản động Pônpốt, tuyên truyền vận động nhân dân Campuchia, lực lượng vũ trang Campuchia tôn trọng chuyển biên giới…”.

Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 10 năm 1977, Quân khu điều chỉnh lại lực lượng. Các đơn vị còn lại của Sư đoàn 5 được điều động toàn bộ lên biên giới Tây Ninh. Sư đoàn được bổ sung Trung đoàn 16 đang làm nhiệm vụ kinh tế ở núi Chứa Chan và được tăng cường thêm Trung đoàn 1 Gia Định. Sở chỉ huy sư đoàn chúng tôi đóng ở khu vực Suối Mây. Toàn bộ đội hình của sư đoàn triển khai trên một phòng tuyến kéo dài hơn 10km từ Xa Mát vòng theo cung bắc Lộ Ủi đến Kà Tum.

Từ đây, các đơn vị của Sư đoàn 5 chúng tôi vừa củng cố ổn định tổ chức biên chế và trang bị, vừa liên tục chiến đấu trên hướng chủ yếu của Quân khu, mở các đợt phản công đẩy lùi địch sang bên kia biên giới.

Liên tục từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 11, lính Pônpốt liên tục bu bám đánh phá các điểm chốt của Trung đoàn 174, Trung đoàn 4 và Trung đoàn 16… Tại khu vực làng 24, Đại đội 2 Tiểu đoàn 25 công binh, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, đánh lui hàng chục đợt tiến công của 3 tiểu đoàn địch. Riêng Trung đội phó Vũ Trọng Cường trong một tuần đã cùng phân đội dùng mìn ĐH10 và súng bộ binh tiêu diệt 53 tên địch, giữ vững điểm chốt, tạo điều kiện cho các đơn vi bạn đánh vui hồi tiêu diệt địch tạo cao điểm 62.

Ngày 23 tháng 10, chúng tôi tổ chức đợt phản công quân Pônpốt lấn chiếm phần đất của ta, lực lượng chủ yếu là Trung đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174. Ngày 24 tháng 10, được pháo chi viện Trung đoàn 4 đã đánh bật địch khỏi làng 24, Tiểu đoàn 5 tiêu diệt cụm quân địch ở điểm cao 62. Hướng thứ yếu, Trung đoàn 16 cũng đánh bật địch ra khỏi Chà Rí, bắc cầu 15.

Do chưa xác định rõ ràng kẻ thù và âm mưu của chúng, những ngày đầu chiến đấu phòng thủ biên giới là những ngày vừa đánh vừa giải quyết hàng loạt nội dung trong nhận thức về nhiệm vụ, đánh giá địch, ta và tìm cách thích hợp với đối tượng tác chiến mới. cũng trong những ngày chiến đấu đầu tiên này, nhiều cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đã ngã xuống để bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc.

Từ tháng 12 năm 1977, quân Pônpốt tăng cường thêm lực lượng áp sát biên giới. Trên tuyến biên giới đối diện với các tỉnh của Quân khu 7, quân địch tăng từ 5 sư đoàn lên 9 sư đoàn, đến tháng 11 năm 1978 lên 11 sư đoàn. Chúng luân phiên tác chiến liên tục khu vực giáp biên, đồng thời tổ chức các cuộc tiến công quy mô lớn trên hướng nam – bắc đường số 13 và đông – tây đường 22. Âm mưu của chúng là đánh chiếm các khu vực Bến Sỏi, dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, Xa Mát, Lò Gò, Thiện Ngôn, uy hiếp trực tiếp thị xã Tây Ninh.

Ngày 5 tháng 12 năm 1977, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 họp quyết định mở chiến dịch phản công sang đường 7, nhằm trừng trị đích đáng và quét địch ra khỏi biên giới, tiêu diệt sinh lực địch, đánh phá các bàn đạp tấn công của chúng dọc nam bắc đường số 7, góp phần đẩy cuộc chiến tranh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân khu, đêm 21 rạng 22 tháng 12 năm 1977, tôi bàn với anh Nguyễn Ngọc Ngoãn – Chính ủy Sư đoàn về sử dụng lực lượng. Tôi nói:

- Ta sẽ dùng Trung đoàn 16 được tăng cường 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 Gia Định đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh chiếm cao điểm 53 và đánh vào phum Kh.Đa. Dùng Trung đoàn 4 đánh địch mở đường từ Tơ Riếc đi Ga Lông Xíc đến Tà Đạt. Trên hướng Trung đoàn 2, được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Gia Định quét địch ra khỏi khu vực Vạc Xa.

Anh Doãn hoàn toàn nhất trí phương án của tôi.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:36:36 PM
5 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 1977, tôi lệnh cho Trung đoàn 16 nổ súng. Được pháo binh sư đoàn chi viện các chiến sĩ Trung đoàn 16 tiến công mãnh liệt, diệt gọn 1 đại đội địch ở tây nam phum Kh.Đa. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 nổ súng tiến công tiêu diệt quân địch ở khu vực Vạc Xa đánh chiếm và làm chủ điểm cao 53.

Thừa thắng, tôi ra lệnh cho đại đội xe tăng tăng cường Trung đoàn 16 và Trung đoàn Gia Định tiêu diệt cụm quân địch ở Sàm Rông, cắt đứt đường 7, tạo bàn đạp tiến công thị trấn Mê Mốt.

Ngày 23 tháng 12, Trung đoàn 16 hoàn toàn tiêu diệt quân địch, làm chủ Sàm Rông. Một bộ phận lớn quân địch chạy về Mê Mốt.

Lợi dụng quân địch đang hoảng loạn, đêm ngày 24 tháng 12, tôi lệnh cho Trung đoàn 4 được tăng cường 2 đại đội xe tăng, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định đột kích theo đường số 7 vu hồi đánh cặp sườn đông nam Mê Mốt.

11 giờ trưa Trung đoàn 4 làm chủ sân bay và thị trấn Mê Mốt.

(https://lh3.googleusercontent.com/is-7jT84BpQP-CMNA2JTPM_zCFLelC7RR6e-kjngKHS7TYPDmdjb7_Zyf9BWsZxzPiSnE1nBC00smeXABrXjpOMzQ0iBjtGgceX1Gn29mrILzEKnA72k_91EHncCe2eBeN13BzAXTtelzo8virFu2gQfBZw1NtgnZtoxTjfyGmwb_qE_9Zojr7xF9QtD2L5T5fhvlViYKePSno4EAD69c1ObnzBwJLtNRasHvpq2uhAYeHeYiOKd_EuMSQrirUZWifTy3CeHe_vQwlunx1Kv8ndAx2C_kfMnzkVs-1UKZmtrVYP8mTHVzVSyRY2p8LAnx_sU4REKlbtp1YfDiAkxOeFGTEacIY7QDZVKWYm-Z3YlefAuQesO9nhCajbKL7Ujmy1RMxZLpqSecERDmgKyi88ppYPP3hwJ9hEMbTR3tAs1Raalw8-pCaiC1OTtms4XefTk-J8XTtBVfCqJie-N8krtXaGl7B7N_rP5f1PmqBVWUJeYKCFAAISNn4S00onY254bXkfUuzMsLDW13sKPU3bIurrrkHkv-WNAdtp5BZwNmxuWvBU-xlnZzQw04f-AOUS3rkWI4QHmZ20e9sIZnPBob4ZlBUbnbMHHYl4EjALEeRt1aVFR8lTCD_ExC80-_ONaT8I2zKo-w5NY6Br2YAIlWev87hI=w800-h495-no)

Đánh chiếm và làm chủ thị trấn Mê Mốt – Kông Pông Chàm 1977.
Trong ảnh từ trái qua phải thứ nhất Trương Văn Đàng

Trên hướng bắc, Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 cũng đánh chiếm một phần của thị trấn Mê Mốt, đến 12 giờ ta hoàn toàn làm chủ thị trấn Mê Mốt, kết thúc thắng lợi trận đánh thọc sâu. Sư đoàn đã vừa hành tiến vừa đánh địch lên To Kê, Kà Chay, Mê Mốt phá thế áp sát, dùng phân đội nhỏ đánh vào hậu phương ta.

Trong bước hai của chiến dịch, Sư đoàn 5 chúng tôi tiếp tục phát triển truy kích địch lên Bra Bao, Cây Me, cùng tiểu đoàn đặc nhiệm của Quân khu đánh chiếm Snun.

Đêm 5 tháng 1 năm 1978, chấp hành mệnh lệnh của trên, Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh cho các đơn vị lần lượt rút về tỉnh Tây Ninh, tỏ rõ thiện chí của ta. Hàng nghìn người dân Campuchia mang theo tài sản đổ ra đường yêu cầu bộ đội ta cho về Việt Nam.

Sự tin cậy mà nhân dân Campuchia dành cho quân đội ta làm cho cán bộ chiến sĩ sư đoàn vô cùng xúc động và thấy rõ trách nhiệm của mình phải giúp đỡ nhân dân bạn. Không thể khước từ nguyện vọng chính đáng của người dân Campuchia. Họ không muốn sống thêm dù một ngày, một giờ dưới chế độ khát máu Pônpốt. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 chúng tôi đã cử một bộ phận cán bộ chiến sĩ giúp đỡ lương thực, thuốc men, chuyển nhân dân bạn khỏi vùng địch kiểm soát.

Đến cuối tháng 2 năm 1978, cuộc chiến đấu chống quân Pônpốt ở biên giới Tây Ninh đã bước sang tháng thứ 4. Qua 4 tháng chiến đấu với kẻ thù mới, Sư đoàn 5 đã nhanh chóng thích nghi, nắm quyền chủ động chiến trường, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc. Sư đoàn đã phát hiện thủ đoạn tác chiến của địch, nếu nơi nào lực lượng ta mạnh thì chúng tránh, nơi nào ta sơ hở, mỏng yếu thì chúng tiến công và triệt để sử dụng thủ đoạn cho các tổ nhỏ liên tục bắt bám, quấy phá làm cho ta mệt mỏi. Chúng thường xuyên bắn pháo bừa bãi vào những khu vực nằm sâu trong đất ta, kể cả huyện lỵ Tân Biên và thị xã Tây Ninh gây thương vong cho nhân dân ta.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:38:28 PM
Để dối phó với hành động của địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chuyển Chỉ huy sở về phía Nước Trong và tiến hành củng cố lại tổ chức, lực lượng, sẵn sàng chặn đánh địch. Chúng tôi chủ trương cho Trung đoàn 174 về Bàu Cỏ tổ chức huấn luyện và tiếp nhận tân binh. Trung đoàn 16 chốt giữ phía tây bắc Kà Tum. Trung đoàn 4 án ngữ vị trí Suối Mây. Trung đoàn 5 chuyển sang làm nhiệm vụ mới. Các trung đoàn tích cực chặn đánh địch xâm lấn biên giới.

Trong thời gian này, Đại đội 6 Trung đoàn 16 diệt gọn một trung đội địch ngay trong đêm giao thừa (ngày 6 tháng 2 năm 1978).

Tại bắc cầu Bổ Tức, ngày 10 tháng 2, một bộ phận địch luồn sâu vào khu vực nam Suối Mây chúng chặn đánh đoàn xe vận tải của Trung đoàn 4, bắn hỏng 1 xe ô tô.

Kiên quyết trừng trị bọn lấn chiếm, Tiểu đoàn 3 do Tiểu đoàn trưởng Trần Đức Minh chỉ huy khẩn trương cơ động bao vây tiến công tiêu diệt gọn trung đội thám báo địch, diệt tại chỗ 7 tên, bắt sống 2 tên, thu 1 trung liên, 2 súng B40…

Từ sau ngày 26 tháng 3 năm 1978, Quân khu triển khai xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 chúng tôi tổ chức các đơn vị luân phiên tác chiến và xây dựng lực lượng, thường xuyên cơ động, thực hành phản công và tiến công địch, giành được nhiều thắng lợi. Hoạt động của Sư đoàn cùng với toàn bộ hoạt động của lực lượng vũ trang Quân khu trong thời gian này đã góp phần giữ vững biên giới, ổn định tình hình nội địa của quân khu, mở ra thời kỳ mới cho ta phát triển tiến công tiêu diệt địch, mở rộng địa bàn, từng bước giành lại thế chủ động chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Campuchia phát triển.

Âm mưu của Pônpốt ngày một lộ rõ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta xác định rõ đối tượng kẻ thù, chủ trương chủ động tiến công địch để bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chủ trương trên, Quân khu 7 quyết định mở chiến dịch tiến công đánh chiếm lại đường 7 nhằm hỗ trợ tuyến phòng thủ biên giới, hỗ trợ cho các lực lượng nổi dậy của bạn. Sư đoàn 5 được giao nhiệm vụ tiến công địch trên hướng chủ yếu. Tôi thống nhất với anh Doãn – Chính ủy Sư đoàn sử dụng Trung đoàn 174 đánh vu hồi từ Lộc Ninh qua Chiêu Riêu về ấp sát mục tiêu Cà Chay. Trung đoàn 4 đánh chiếm Phum Cầu, Phum Nghiêm.

Ngày 10 tháng 6, toàn Sư đoàn chúng tôi bước vào chiến đấu. Hướng thọc sâu vu hồi Trung đoàn 174 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Phúc chỉ huy ngay trong đêm đã tiêu diệt cụm địch thuộc trung đoàn 102 tại mũi Chiêu Riêu và tiếp tục phát triển về Cà Chay. Do phải hành quân xa, thiếu nước uống, nhiều cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn lả đi vì đói, mệt và khát. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý vẫn giữ vững quyết tâm chiến đấu, động viên đảng viên, cán bộ khắc phục khó khăn, nhường nước cho thương binh, tiếp tục giữ vững đội hình hành quân, tiến công theo kế hoạch đã định.

(https://lh3.googleusercontent.com/C-YsTSgLVqrSTwdxc-3lfLFAzzsMwtaWeCKCJitbrehVnh_dM1rnx9zbYyZxJtKjqfFtaF9xX0KTtC1XIfvtYJAsLxNPh73rx06PvbR-Lsk3QuxJB-4-1wFPN18wdCQ5qJCmKpjRw82QBOjHvZBeI__dXsCS0pR5wbHeUOrONwCv1YSgEPlvGqjwW8LfEwdshF5WKNtMcLaXuc6os4q2t05vOt76EXu_pb_i-12GBYL-ylIe0uCmAmnz6_DZYcGEKnmTjFRiRNkog5EnocAuESagOG6jmFsnP54ubKJvh20QjZPtPmpFzDqla8Rv-Ajv1iujVyHDBClre6_FXMqLWjaJojTQi7584d3y-Nuq3_LsUPq76hejyYDXLIfTDPq0kUFaAVdnpnkCwHJbpDv9J8m9FhqJ-WMcbKq5F4r_mdmzbFKZgaDxkEA-GOTf6cHd1sW7G1WslZMPmb7wKs1BF91HbwXyvM54o2B2KZ0Y87oYncIRD22sUAaTA6OO_tNz4c7vzDTcEUzgSoylhnGzZR9NgrdMiKDqb50oFvxe9IX_NcTIFeUVHd9vbm5sQOFFYo_jkXMKAjWXa6I2id2krhtejiMspTkEH3yHuVT-aIhzw4TpXfja1bqDbhHRcgYgWGzO-3VRODCkoeFpahXDePkLY1ieK5k=w800-h530-no)

Cùng cán bộ Sư đoàn 5 trên đất Campuchia
Trong ảnh: từ trái qua thứ năm Trương Văn Đàng


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:39:36 PM
Ngày 13 tháng 6, Trung đoàn 174 tiến công mục tiêu Cà Chay. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, nên một số bị tiêu diệt, số còn lại bỏ trang bị vũ khí, chạy dạt về tây đường 7.

Cùng ngày 13 tháng 6, tôi lệnh cho Trung đoàn 4 đánh mở thông đường Chà Ri – Phum Nghiêm, bảo đảm đưa cơ giới vào tiến công mục tiêu Lăng Cà Bơ.

Ngày 14 tháng 6, lực lượng vu hồi thọc sâu đã bắt liên lạc được với cánh quân đột phá chính diện.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 chúng tôi tiếp tục tổ chức tiến công sân bay Lăng Cà Bơ. Đến ngày 15 tháng 6, sư đoàn đã hoàn thành đánh địch mở rộng bàn đạp, tạo hành lang, bảo đảm cho chơ giới vào tham gia hiệp đồng với bộ binh để đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu.

Bước vào đợt hai của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 ra lệnh trong quá trình hành tiến lần lượt đánh chiếm Lăng Cà Bơ, Mê Mốt và truy quét mở rộng bàn đạp, mở đường Đắc Bộ - Vạt Xa. Trung đoàn 4 cùng lực lượng thiết giáp di chuyển xuống truy quét địch ở nam Mê Mốt.

Từ 19 tháng 6 đến 14 tháng 7 năm 1978, Sư đoàn 5 đã phối hợp cùng các đơn vị bạn liên tục đánh phản kích và truy quét ở đông nam Tô Kê, bắc và đông bắc Sa La, Kra Bao, Cây Me, làm chủ Sa La, Cây Me, Kô Ki, bắt liên lạc với lực lượng Quân đoàn 3 ở tây Mê Mốt, đẩy địch ra xa biên giới từ 15 đến 20km, tạo điều kiện cho Quân đoàn 3 cùng tiến công hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ lực lượng địa phương, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới.

(https://lh3.googleusercontent.com/HAAGplTR8i3ZUmsxAnMrCbvU6XTCmYSGpGR0Li0NWeFMHUXBzgOfGbrNjYCeEomjLzgM_2RcODKG_2QBzhiT-un7tyKaW8oeYdjFanbHt3Bth9V4K5YM43fbhElRIbihi4m0D3LadPyMCViQO2RrPEMDze25aT5zOQu6VKX6Jk4Dvp6wh5PgsgRSJFhKpg5sToBgPQBvG5FE1J2hIw-di-nFOLTgsFnVxWU1FhRADP3h8XMQSXZeF5CZdVudcIj_KShrlAooPf2z8IfjGLZ8zkl-M5vzpikrPD6qutO_WVoocqB2BSpDD6YCtKncKXZvVoRT194bF6cz6-tA00bRQ1E6HVRrWm1mdvrLjx4L2i2UDW54y3sWnbzu-FF8340egZ4WoGmBVwtfrXma56k3i4HqePkm2qvZcEHT3El3UxEJrXRAhiThkvXuQLyif-1agR9-TnPUSRrE73O4lHtE8Rmm6r5S61uxpkA12SLhKOW2RxvYb3uI4zn_0G32BWJtC-RyG88uUIPw2HhLhwrfJ3_IbTQhlgH0dAgvBegsTWEeDZUrdVwFioftT04jw_8BTd6r7lrFZog569MTuii1ow5HOCQln-hR9cHmmWWGpnbQwVEPojW3rli44T_mRdl3xrZ7ltMSiC6Y05yDD2YdvMJIzg6EB7I=w800-h534-no)

Giao nhiệm vụ cho các đơn vị truy quét tàn quân địch

Chỉ trong hơn một tháng đảm nhiệm tiến công trên một hướng rộng, trong điều kiện chưa nắm chắc địch, địa hình phức tạp, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5 chúng tôi đã thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, hành động chiến đấu cơ động và linh hoạt, lập được nhiều thành tích xuất sắc.

Đó là chiến thắng của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 4 phối hợp đập tan cuộc phản kích của 3 tiểu đoàn địch vào bắc Mê Mốt, diệt gọn 1 đại đội, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, diệt 120 tên, thu 30 súng các loại.

Đó là chiến thắng của Trung đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 174 vận động bao vây 5 tiểu đoàn địch tại đông nam Tô Kê, diệt 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 103 vùng 21 và tiểu đoàn 155 sư đoàn 4 Pônpốt, diệt và làm bị thương 300 tên, thu 50 súng các loại.

Đó là chiến thắng của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 vừa tiến hành đánh địch trên đoạn đường hơn 100km trong điều kiện địa hình phức tạp, nhiều chướng ngại, địch chống trả quyết liệt, đã mở thông được hai tuyến đường quan trọng cho chiến dịch đúng thời gian quy định.

Tiêu biểu là gương chiến đấu của Trung đội trưởng Nguyễn Đình Thơm trong trận ngày 21 tháng 6 ở đông nam Tô Kê một mình sử dụng 4 loại súng, cùng đồng đội chiến đấu trong nhiều giờ liền, bảo vệ thương binh, bảo vệ xe, tạo điều kiện cho đơn vị tổ chức lực lượng tiến công tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:41:29 PM
Từ ngày 19 tháng 7 năm 1978, Sư đoàn 5 nhận mệnh lệnh bàn giao địa bàn hoạt động cho Sư đoàn 10 Quân đoàn 3, rồi cùng với các lực lượng được tăng cường pháo 130 ly, thiết giáp lật cánh sang hướng bắc Lộc Ninh.

Sau một tháng liên tục chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ, quân số, trang bị, vũ khí tổn thất, sức khỏe bộ đội giảm cần phải có thời gian để củng cố. Thấy rõ những khó khăn của đơn vị, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi chỉ thị cho các đơn vị tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi trong đơn vị nhằm xây dựng lập trường, ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội, phát động phong trào thi đua lập công rộng rãi trong lực lượng đoàn viên thanh niên. Với khí thế thi đua lập công mới, sau 4 ngày hành quân, toàn bộ lực lượng của sư đoàn đã vượt hàng trăm cây số về vị trí chiến đấu mới tại khu vực tây bắc Lộc Ninh an toàn.

Với quyết tâm đánh thắng trận đầu tiên trên địa bàn mới, ngày 28 tháng 8, Sư đoàn 5 chúng tôi đã tiến công đội hình phòng ngự thuộc sư đoàn 260 của địch ở tây nam Snun.

Trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, địch lợi dụng công sự phòng ngự, hỏa lực B40, B41 chống trả.

Chúng tôi chỉ thị cho các đơn vị: Khắc phục khó khăn do địa hình thời tiết mưa lầy trờ ngại cho việc cơ động của xe tăng và pháo binh. Các đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, xe tăng của sư đoàn đã liên tục chiến đấu, tiến công địch trong suốt 2 ngày 2 đêm.

Ngày 29 tháng 7, mũi đột kích của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 174 do tiểu đoàn phó Lê Huy Trạch chỉ huy cùng xe tăng đột phá cụm chốt ngã ba đường 13B – đường 7. Bị đòn bất ngờ của quân ta đánh thọc sườn phía đông nam, quân địch hốt hoảng tháo chạy.

Chiều 29 tháng 7, Sư đoàn 5 làm chủ Snun.

Suốt hai mươi ngày liên tục đánh từ cấp đại đội đến cấp sư đoàn thiếu, bằng nhiều cách đánh linh hoạt như thọc sâu, bao vây vu hồi, hiệp đồng binh chủng đột phá, sư đoàn đã làm chủ hoàn toàn thị trấn Snun và các mục tiêu khác, khai thông tuyến đường 7 từ Mê Mốt lên Snun, đồng thời mở thông hai tuyến đường khác trên đường 13B, mở rông vùng giải phóng đông bắc Campuchia, thiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá hủy các kho tàng dọc biên giới từ Mê Mốt về tây bắc Snun.

Sau thắng lợi chiến dịch đường 7 của ta, địch củng cố lại lực lượng, tăng quân số, dùng thủ đoạn vây lấn, bu bám, đánh nhỏ hòng tiêu hao lực lương ta, đánh bật ta ra khỏi địa bàn Snun… Quân khu 7 chuyển hướng từ tấn công sang phòng ngự mùa mưa, quyết tâm giữ vững địa bàn Snun. Sư đoàn 5 được phân công phối hợp với Trung đoàn 205, các binh chủng tăng cường và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Sông Bé thực hiện chiến dịch phòng ngự. Chúng tôi phân công Trung đoàn 4 bố trí các hướng bắc và đông bắc Snun. Trung đoàn 174 ở hương tây bắc Snun. Trung đoàn 16 ở hương tây và tây nam Snun.

Từ vị trí chốt giữ, Sư đoàn 5 chúng tôi liên tục đánh địch bu bám và xuất kích đánh chiếm các khu vực bàn đạp xuất phát, hậu phương của địch. Ngày 5 tháng 8 năm 1978, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 174 được tăng cường 10 xe M113 tiến công các bàn đạp xuất phát bu bám của 4 tiểu đoàn địch ở bắc cao điểm 142, làm chủ các mục tiêu.

Từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 8 năm 1978, Sư đoàn 5 đã tiến công địch ở dọc tây và đông đường 13, lần lượt đánh chiếm các mục tiêu như trận địa pháo, hệ thống kho tàng ở Phum Sre Sát, ở Phum Thoong, Kà Nông, Sở 2, Sở 3, ngã tư bắc cao điểm 142, cao điểm 106 và sau đó tổ chức chốt giữ các khu vực đã đánh chiếm.

Tháng 9 năm 1978, sư đoàn nhận được chỉ thị của quân khu xây dựng công sự vững chắc cho các trận địa chốt, rút bớt lực lượng để củng cố huấn luyện, cơ động tiến công địch. Trên tăng cường Trung đoàn 205 (tỉnh Sông Bé) về đứng chân chiến đấu trong đội hình sư đoàn. Ngày 10 tháng 9, Sư đoàn mở đợt tiến công đẩy lùi địch lên phía bắc để tiến hành xây dựng các chốt trọng điểm. Vừa đánh địch bu bám và xây dựng hệ thống chốt phòng ngự xung quanh Snun được cơ bản hoàn thành. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 chúng tôi phân công:

Trung đoàn 16 và Tiểu đoàn 25 công binh phụ trách các chốt 1 (điểm cao 142), chốt 2 (điểm cao 191), chốt 3 (điểm cao 159). Trung đoàn 4 phụ trách chốt 4 (điểm cao 570). Trung đoàn 205 phụ trách chốt 5 (điểm cao 152). Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ cơ động cho sư đoàn.

Các trung đoàn bố trí một phần ba lực lượng giữ chốt, hai phần ba lực lượng luân phiên củng cố huấn luyện và cơ động chiến đấu.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:42:19 PM
Tổ chức phòng ngự trên một địa bàn rộng, đợt đầu không có công sự vững chắc, bị địch bu bám đánh phá liên tục bằng bộ binh và hỏa lực, sư đoàn đã chiến đấu trong điều kiện cực kỳ gian khổ. Trên tất cả các chốt, không ngày nào im tiếng súng tập kích, phản kích của địch. Địch phản kích lấn chốt, các phân đội lại tổ chức lực lượng đánh chiếm lại chốt. Thế trận quyết liệt kéo dài hàng tháng ròng. Đặc biệt tại điểm cao 142 “cái yết hầu” của trận địa, đã diễn ra cuộc giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch. Các Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 25 công binh ngày đêm kiên cường bám trụ, ăn cơm vắt, ngủ hầm trong điều kiện chiến hào ngập nước, quần nhau với giặc hàng tháng trời.

Ngày 2 tháng 10, sư đoàn 260 của địch tập trung 5 tiểu đoàn, có pháo cối chi viện, tổ chức phản kích vào chốt 142 đến 18 lần; nhưng Tiểu đoàn 7 vẫn kiên cường chiến đấu, giành và giữ từng mét chiến hào. Chiến sĩ mới Bùi Khánh Thiện một mình táo bạo xuất kích, diệt 6 tên địch, đẩy lùi đợt tiến công của chúng.

Suốt 3 tháng phòng ngự (từ ngày 10 tháng 8 đến 22 tháng 11 năm 1978), Sư đoàn 5 chúng tôi đã chiến đấu 216 trận bằng bộ binh và 780 lần đánh bằng hỏa lực, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 tên địch, bắt 11 tên, thu 51 súng, giữ vững địa bàn Snun. Hơn 100 ngày đêm chiến đấu giữ chốt là giai đoạn thử thách quyết liệt nhất, trong đó mỗi tấc đất Snun đêu thấm máu của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5 chúng tôi, chốt giữ khu vực Snun là giai đoạn lịch sử tuy ngắn ngủi nhưng mỗi cán bộ chiến sĩ của sư đoàn được tôi luyện và lớn lên. Hơn 100 ngày đêm chiến đấu ấy, đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử truyên thống của sư đoàn.

Giữa tháng 11 năm 1978, lực lượng ly khai chống Pônpốt của Hunxen và Hêngxomrin đã liên kết với các bộ phận ly khai của các tỉnh đông bắc Campuchia nhằm tiến hành cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của tập đoàn Pônpốt. Phong trào đấu tranh chống Pônpốt – Iêng Xary nhanh chóng lan rộng khắp địa bàn, quân khu miền Đông và Đông Bắc Campuchia. Trước điều kiện thuận lợi mới, Bộ Tư lệnh Quân khu chủ trương mở rộng chiến dịch đánh chiếm các bàn đạp tiến công của địch xung quanh Snun, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở ộng địa bàn, giải phóng một bộ phận nhân dân Campuchia, giúp lực lượng cách mạng Campuchia xây dựng căn cứ. Một lần nữa, Sư đoàn 5 lại cùng các đơn vị bạn bước vào chiến dịch. Mục tiêu của sư đoàn lần này là Sở chỉ huy của sư đoàn 200 Pônpốt đóng tại điểm cao 107, và các đơn vị đặc nhiệm của vùng 5005 đóng ở ngoại vi phía bắc và tây bắc thị trấn Snun.

Theo kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chủ trương hình thành ba mũi tiến công.

Cánh vu hồi hướng tây gồm Trung đoàn 4 Tiểu đoàn 13 đặc công do Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Bê chỉ huy bí mật luồn rừng áp sát phía tây Snun chặn đường rút của địch; cánh vu hồi hướng đông gồm Trung đoàn 175 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Phúc chỉ huy và Trung đoàn 316 của Sư đoàn 303 bí mật tiếp cận đường 13 tập kích tiêu diệt lực lượng địch tại cầu Cát Dai, phối hợp cùng Trung đoàn 16 hành tiến theo trục lộ tiêu diệt các cụm phòng ngự địch từ Cái Dai – ngã ba Snun.

Ngày 15 tháng 11 năm 1978, tôi ra lệnh cho Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 mở màn chiến dịch tập kích trung đoàn 12 Pônpốt tại khu vực bắc đường 7, diệt 30 tên.

Ngày 17 tháng 11, Trung đoàn 16, Trung đoàn 174 tiến công tiêu diệt cụm phòng ngự tại cầu Cát Dai, diệt 1 đại đội địch.

Ngày 16 tháng 11, tôi ra lệnh cho Trung đoàn 174 và Trung đoàn 4 (trong đội hình vu hồi hướng đông) xuất kích. Rạng sáng ngày 18 tháng 11 năm 1978, các cánh vu hồi đồng loạt nổ súng vào các mục tiêu từ cầu Cát Dai đến bắc ngã ba An Sanh kết hợp với mũi tiến công chính diện theo đường 13 đánh chiếm sở 4.

Ngày 19 tháng 11, Trung đoàn 174 trên đường hành tiến lần lượt đánh chiếm cầu Ba Rát, ngã ba Sàm Rông và Soài Chịa.

Sư đoàn 5 chúng tôi đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch tiến công mở rộng địa bàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, tiêu diệt sở chỉ huy sư đoàn 260 địch, mở rộng vùng giải phóng trên 800 km2, tạo điều kiện thuận lợi cho bạn xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng cách mạng.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 03:43:49 PM
Ngay sau khi thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giai đoạn một chiến dịch, sư đoàn được giao nhiệm vụ tuyên truyền vận động số nhân dân bị o ép chạy vào rừng tở về vùng giải phóng. Trong một tuần, các tổ công tác đã vận động được hơn 3.000 dân trở về phum sóc trên địa bàn Snun.

Chính trên địa bàn Snun, ngày 5 tháng 12 năm 1978, hàng vạn nhân dân Campuchia đổ về dự lễ mít tinh chào mừng Mặt trận đoàn kết dân tộc của nước Campuchia do Chủ tịch Hêngxomrin đứng đầu ra mắt quốc dân. Cách mạng Campuchia bước sang một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn phát triển nhảy vọt, tiến hành tổng tiến công và nổi dậy giải phóng toàn bộ đất nước Campuchia, lật đổ ách thống trị của tập đoàn diệt chủng Pônpốt – Iêng Xari.

Cuối năm 1978, tôi được cử đi học tại Học viện Nguyễn Ái Quốc phân viện II ở Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tôi bàn giao chức Tư lệnh Sư đoàn 5 cho anh Nguyễn Thanh Tùng.

(https://lh3.googleusercontent.com/X2KtVI1PNRRaIGNrv8NYj63IfeC7DJPJsl5L69Hh2j8Peooz48KC49uq6cZSOIOj6LyFXkBb6VzS6mpIsP7IWAK2FIE4OmvLa7jekzzmFNjhNp_LMKHJV3Pl4SLDp0Mn0Xjh7bMJQzmCEe3j3COwX2DWf9I-bBRWKLivPiYYKLW8_nZ6cCEnGkTNSVTTitUP4rRjIiDDsQ8UFkWwJDvr5LtMQJbRNZM5IGw0RS9gXC1IQh06XKTQvdVMrHx7epZI7uOZaTLI2hlO6Rnl60TPsFWO_zgdo43vKBPfIbl1VhxzZxzEcER53ULNauGSlyVlJC7SB2uJ5YA20HL78MFqU3YTibUHlz7qSjJ_bFQJArSP4LPZ4tAnPUrj_2Qaq0Ow_Xae9-WdIXeAuW9ec2yvR_zGwRBeSUcFUOgcoUFZDuH_HKRguYD3-BBcNSTuCkZj8k8AhK6J8dl3-KG9oCtDPAgHssFrVUPQVovwaN73IQ0j4GAfanQPuyUBqQsZUaUdTzd0HLKvNx6gMPZhPvLQkR2plLPas3Z_UXNrRUI5IWXbpIWU_f7wpVabs7DgvsTiMz9mFfDroWEGsI0363ojYJ_GsJbn_hjYUUU2kUIWq_yB_z8OOjdsKF7rM8NAXeVzCYYgPPyWbB1QkOpz2DIncWXWgmPip9E=w800-h548-no)

Bế mạc lớp học bổ túc trường Nguyễn Ái Quốc, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong ảnh từ trái qua phải hàng sau thứ ba Trương Văn Đàng

Đến tháng 6 năm 1979, tôi về Quân khu 7, được bổ nhiệm Tham mưu phó Quân khu.

Ngày 18 tháng 2 năm 1979, Chính phủ hai nước Việt Nam – Campuchia ký Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác toàn diện, cam kết ủng hộ và giúp đỡ lấn nhau về mọi mặt và bằng mọi hình thức cần thiết nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước. Trên cơ sở Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác đã ký kết, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, với tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, một bộ phận lực lượng vũ trang Quân khu 7 cùng chuyên gia các ngành triển khai nhiệm vụ của đội quân tình nguyện giúp bạn toàn diện, vừa sắp xếp, bố trí lại lực lượng cũng như xác định phương thức hoạt động.

Từ đầu năm 1979, Quân tình nguyện Quân khu 7 tổ chức bố trí lại lực lượng trên từng địa bàn, làm nhiệm vụ tiếp tục tiến công đánh phá căn cứ, kho tàng còn lại của địch, giải phóng dân, phát động quần chúng xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng cách mạng cho bạn,đồng thời cứu đói, cứu đau, giúp nhân dân Campuchia khắc phục hậu quả của chế độ diệt chủng, xây dựng cuộc sống mới.

Từ ngày 1 tháng 2 đến trung tuần tháng 3 năm 1979, Quân đoàn 3 lên thay thế cho Quân nguyện Quân khu 7 ở địa bàn Xiêm Riệp, Bat Tam Bang. Quân khu 7 về giữ địa bàn 4 tỉnh phía đông Phnôm Pênh là Svay Riêng, Kông Pông Chàm, Kông Pông Thom, Krachiê. Từ trung tuần tháng 3 đến tháng 6 năm 1979, Quân tình nguyện Quân khu 7 lên phía bắc thay thế cho Quân đoàn 3. Sư đoàn 5 được tăng cường cho Quân đoàn, tiến công căn cứ U Đông (bắc Phnôm Pênh 30km). Đến giữa tháng 4 năm 1979, Sư đoàn 5 được tăng cường thêm Trung đoàn 160 Long An, chuyển về truy quét và giúp bạn ở vùng Thơ Ma Puốc, Poi Pét, Cao Mê Ai. Tháng 3 năm 1979, Sư đoàn 302 được tăng cường Trung đoàn 201 và Trung đoàn 10 biên phòng của Tây Ninh lên chiếm lĩnh địa bàn bắc Xiêm Riệp.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:05:45 PM
Nhằm bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và giúp bạn mọi mặt, tháng 3 năm 1979, Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 7 tách thành hai bộ phận chỉ đạo trên hai hướng:

- Mặt trận 479, gồm các tỉnh phía bắc Campuchia là Xiêm Riệp, Ốt Đô Miên Chay, Bát Tam Bang.

- Mặt trận 779, gồm các tỉnh phía đông Phnôm Pênh là Kông Pông Chàm, Kông Pông Thơm, Krachiê, Svay Riêng, Prâyveng và thủ đô Phnôm Pênh.

Mặt trận 479 được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1979 tại thị xã Xiêm Riệp, với nồng cốt là lực lượng thuộc Tiền phương Quân khu 7 (được bổ sung thêm một số đơn vị của Quân khu 5).

Một nửa lực lượng quân tình nguyện được tách ra làm nhiệm vụ giúp bạn trên địa bàn hai tỉnh Xiêm Riệp, Bát Tam Bang thuộc Mặt trận 479. Nửa còn lại được củng cố và hoạt động tại các tỉnh phía đông Campuchia.

(https://lh3.googleusercontent.com/6Ekw6j-fDuRMJ57QgYuZQwhbh69ixOkpq162Fmjwd7UO9V6YkbW-6T_S0fgFxLzd733nTF7x-Wk23FIaMIZ6bXp1OGAHZPmASEH85QcxdJDce7TaA6UD711Xq9u2TFDChp-dNOWRFfnfuYIV25uB0B-218KNsh2S7fiw6sQZBjG9Z_HZK90h4ugRKIjOSamoe9sAadwx2y0zFDdKaMhFVJX0ijRjj5rOvqBPaEteZkWh4zLObUsdygl46SvqEskrXeKpbPqlMyt2TfSkfISBrO5bObY8lo0BA8wQQZQHratknRrTrm7Heg5jFfaXQ47_i61NTqTite64AyHIFX5dUpwmHMoOwMjtiuLUdY6kUpbLwmYJj3qRSorbyzMgvxCRtrSYC0OIEFpNkfE_Sb9eeznjPkQ-YCMp_ioDvsWiNtAc1LVU0-AsWLuGCInEmAVfIsvAjXJ2lOmOv1yTC1JKqzcV4kMjP03s5tsQ_d2aND5zxdqPAlxIM6HPKxhnBRBMfFg7kRVusF4Sp8gTf7vnqFWbU8fIlSGymL_B3cuDoUUbUz9YwULnYBrvyDI4rhdaCUGyUDW5898-qE4M5dP_QaB4F2cokbuTEwODbBWnItzvLhn76Kl4bETtdCluHtNx24VZdGkVoBtHoW1_hHmnD--fMZVthW4=w503-h702-no)

Cùng cán bộ Mặt trận 779.
Trong ảnh hàng sau bên trái Trương Văn Đàng

Đến 18 tháng 7 năm 1981, Sở chỉ huy tiền phương Quân khu chuyển thành Bộ Tư lệnh mặt trận 779 do anh Bùi Thanh Vân (Út Liêm) làm tư lệnh, anh Đặng Văn Long phụ trách công tác đảng, công tác chính trị. Tôi được Quân khu điều sang Mặt trận 779 giữ chức Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng. Lực lượng Mặt trận 779 gồm:

Sư đoàn 317 (mới thành lập) được phối thuộc một tiểu đoàn và 5 đại đội của Đồng Nai, đảm nhiệm địa bàn tỉnh Kông Pông Thom.

Sư đoàn 303, được phối thuộc hai trung đoàn và 5 đại đội của Tây Ninh đảm nhiệm địa bàn tỉnh Kông Pông Chàm.

Trung đoàn 159 và 5 tiểu đoàn của Long An đảm nhiệm địa bàn tỉnh Svay Riêng.

Trung đoàn 4, Trung đoàn 205 và Tiểu đoàn Phú Lợi (sông Bé) đảm trách địa bàn tỉnh Krachiê.

Tháng 10 năm 1979, địa bàn tỉnh Krachie được bàn giao lại cho Mặt trận 579 (Quân khu 5), Quân khu 9 bàn giao địa bàn tỉnh Svay Riêng cho Quân khu 7 (có cả Trung đoàn 320 Đồng Tháp). Tháng 4 năm 1979, Sư đoàn 310 (thành lập từ năm 1979) được Bộ điều tăng cường cho Quân khu 9. Sau đó Sư đoàn 343 được thành lập, làm nhiệm vụ phòng thủ ở địa bàn tỉnh Đồng Nai. Sư đoàn 310 sau khi tham gia chiến dịch truy quét địch ở Kô Kông, tháng 9 năm 1979, trở về đảm trách địa bàn tỉnh Kông Pông Chàm, đến đầu năm 1981 thì rút về nước.

Tháng 11 năm 1979, Sư đoàn 303 được Bộ điều đi làm nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Tháng 5 năm 1970, Quân khu điều Sư đoàn 317 từ Kông Pông Thơm lên Xiêm Riệp, trong đội hình Mặt trận 479. Đến tháng 5 năm 1982, thì rút về nước. Thay thế cho Sư đoàn 317, Bộ tăng cường Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) cho Mặt trận 479, đứng chân ở Chi Kreng. Tháng 6 năm 1980, Quân khu 7 nhận lại địa bàn Krachiê.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:08:26 PM
Từ giữa năm 1981, lực lượng quân tình nguyện Quân khu 7 dần dần được rút gọn Mặt trận 479 chỉ còn 7 trung đoàn bộ binh, 32 tiểu đoàn bộ binh cơ động trên địa bàn, 1 trung đoàn và 3 tiểu đoàn binh chủng., Đến cuối tháng 12 năm 1983, còn 5 trung đoàn bộ binh và 46 tiểu đoàn cơ động địa bàn, các đơn vị binh chủng và cơ quan không thay đổi. Riêng Mặt trận 479 từ cuối năm 1981 về trực thuộc Bộ, tới giữa năm 1984, lại trở về trực thuộc Quân khu 7.

Trong vòng ba tháng (từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1980) Quân khu 7 thành lập 8 đoàn quân sự để chỉ đạo thống nhất quân tình nguyện và lực lượng bạn đánh địch, vừa làm chuyên gia giúp Campuchia trên địa bàn 8 tỉnh thành của Campuchia, đó là: Đoàn 7701 (Kông Pông Thơm), Đoàn 772 (Kông Pông Chàm), Đoàn 7703 (Svay Riêng), Đoàn 7704 (Bát Tam Bang), Đoàn 7705 (Pray Veng), Đoàn 7708 (Xiêm Riệp), Đoàn 7707 (Krachiê), Đoàn 7708 (thủ đô Phnôm Pênh).

Sau khi điều chỉnh, bố trí lại lực lượng quân tình nguyện và các chuyên gia, địa bàn hoạt động của quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia, địa bàn hoạt động của quân tình nguyện Quân khu 7 bao gồm hai mặt trận: biên giới và nội địa.

Mặt trận biên giới gồm 11 điểm tựa (năm 1979), 20 điểm tựa (năm 1980 – 1982), 18 điểm tựa (năm 1983) do 9 trung đoàn trực thuộc Mặt trận 479 và 2 sư đoàn chủ lực của bạn (Sư đoàn 196, Sư đoàn 286) đảm nhiệm. Quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Campuchia đã liên tục mở các chiến dịch và điểm truy quét địch, tiến công các căn cứ kho tàng còn lại trong nội địa hoặc mới thiết lập trên biên giới của địch, triệt phá các hành lang vận chuyển từ ngoài vào, đánh bóc địch ngầm, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí cùng các phương tiện chiến tranh.

Từ mùa khô 1981 – 1982, quân tình nguyện Quân khu 7 và lực lượng bạn đã phối hợp, phá âm mưu của địch là tập hợp lực lượng, thiết lập căn cứ lâu dài, cài cắm cơ sở ngầm trong nội địa Campuchia. Nổi bật là các đợt hoạt động tiến công căn cứ quân khu trung âm của địch ở vùng sông Xen, sông Chi Nich ở đông tây quốc lộ 7, nơi địch tập hợp 5.000 quân kìm kẹp 7 vạn dân Campuchia (vào tháng 3-197). Sau đó tiếp tục đánh rã cơ bản trên. 1000 tên thuộc nhóm “ly khai Pônpốt” cùng các nhóm phản động trong nội địa (vào mùa khô năm 1979 – 1980).

Mùa khô 1982 – 1983, quân tình nguyện Quân khu và bạn mở chiến dịch A80 ở biên giới Bát Tam Bang, Xiêm Riệp và chiến dịch B80 ở biên giới Bat Tam Bang, phá hủy toàn bộ căn cứ ở Phnom Chát, căn cứ trung đoàn 16 (sư đoàn 415 Pônpốt) ở Com Riêng, buộc địch phải lùi sâu vào đất Thái Lan.

(https://lh3.googleusercontent.com/uylRKmljYadwuJs1DM2-AoYb3TnzwBaI7EE2BFeaNW3lloxZWph4KBnQWbJznst26b0qbfbIPoKYc411TcQGopNWuSAmJfhxPmMw_62wbItM3K-KX7e8mckuGeEPO27HeITI1Y726lyxTdNGLO6W6_8ZovY8BiYVtQojYB9VlSA37TFYtnfI6S_3JSNsY2jgrJ_o6OJgqLZzdpYPEK-nxW6fQtwT3u8A6w7tmEbpXB5-jNXoz5eiaTF0jgdnVfKs6qZqHCGDnpJ6c_7_HFlD0qjICPDBpiQhWof4L9DKroNULLJKR_MUggc8kssHfj4ZbVM2UE62PqsZe19kQdU7YgycY0eoeiqPxONuwzSAOS9SJL4FGeLTwrBkeFv-JcVVsCo959mT3lZEQxMcvYA8ZbyEgRfMFepEduBYgcBmN5mXsqO4Wahl6u6FNJZlw4DK7tTS4T_4XJ9euD56Q19WCzDfBpfjkB5L7zPJmBDbz0ckq_NvuJzoPl3MIvgW1NgIviUQdoS-BHgonfHSZCgZAlfU-f7gVfuE_DOMjsBcBwRXcnQ-wf15e8O2tLZf0y_KhhuUwBUIlT3pGM9p6Uk_Jv2qpw3ro5ijR2vB0fWUNs4scW5Ci6lCDgrBlk0d4HVvPqV1Yr_EXpbi77irRgl7AUEAhdlJVSo=w796-h600-no)

Phát biểu tổng kết phong trào thi đua quyết thắng mặt trận 779

Trong quá trình liên minh chiến đấu, quân tình nguyện Quân khu 7 đã thực hiện nhiệm vụ giúp bạn toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế. Thông qua các đội công tác vũ trang, ta cùng bạn thực hiện phát động quần chúng, tập trung vào việc cứu đói, cứu đau, giúp dân trở về quê cũ làm ăn, ổn định cuộc sống, phục hồi sản xuất, xây dựng chính quyền cơ sở, các đoàn thể quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng. Từ năm 1980, sau khi thành lập các đoàn chuyên gia, chủ yếu tập trung vào việc xây dựng ba phong trào cách mạng quần chúng: “Toàn dân đánh giặc”, “Toàn dân tham gia xây dựng đời sống, khôi phục phát triển kinh tế - xã hội”, “Toàn dân tham gia xây dựng thực lực cách mạng, củng cố chính quyền, xây dựng xã, ấp vững mạnh”.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:09:52 PM
Trong chiến đấu, Quân tình nguyên Quân khu 7 và lực lượng vũ trang Campuchia chỉ huy thống nhất để huy động dân và giúp đỡ các đơn vị chủ lực của bạn, từ cấp sư đoàn cho tới cấp tiểu đoàn bộ đội địa phương.

Qua thực tiễn chiến đấu và công tác lực lượng vũ trang Campuchia đã lớn lên, trưởng thành nhiều mặt. Đến cuối năm 1983, thực tế ba tỉnh Svay Riêng, Pray Veng và Kông Pông Chàm thuộc Mặt trận 779 bạn đã tự đảm đương được mọi mặt.

Tại địa bàn Quân khu 7, các lực lượng vũ trang vừa thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, xây dựng pháo đài quân sự huyện, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, và thực hiện công tác phục vụ chiến đấu ở Campuchia. Ngành hậu cần Quân khu 7 vừa phải bảo đảm cho Quân tình nguyện Việt Nam ở hai Mặt trận 479, 779, vừa phục vụ lực lượng của Bộ phối thuộc (Quân đoàn 4, Không quân, Đặc công) và lực lượng bạn trên địa bàn quân khu phụ trách, gồm 3 binh đoàn (Binh đoàn 2, Binh đoàn 3, Binh đoàn 4) và bộ đội địa phương. Ngoài ra, ngành Hậu cần Quân khu 7 còn phải đảm nhiệm việc cứu đói, cứu đau, vận chuyển 3 vạn dân Campuchia chạy sang Việt Nam lánh nạn hồi hương về Tổ quốc, vừa cứu đói, cứu đau cho nhân dân 8 tỉnh miền Đông Bắc suốt hai năm 1979 – 1980, góp phần phục hồi sản xuất, thúc đẩy nhanh bước hồi sinh đất nước Campuchia.

(https://lh3.googleusercontent.com/O3TD4eQ2EQwh-o3ALMKU1nlIUl-jrr-UlVqHHaa8cub9gp7r5wYEx_9s866jhEutI2OIE3rbN5sJy8t8etfnq5GV78QKHrmW1jj4GsJ6DH9WquK3XScPJE-wOTbh5jkasc84bpU9zySmF5IoN3w88vVo6JGqKGv35E0rEQMY17RHqmmcPu5_5yQKm-Simo2msDpAvJcccI0aPOahM5BZea0AJPTNuKuAP-6OuWQ8jMdPUSjXxQ-7mQtYlcL63MM-5krIp3tGB7hybnkD3Apei49sv5LOPDxOziklA7G4BDJDnYzsbTi4W0Eh66Kg1OOVNWX-fGvSbnt4H4M3sVnPtF0K7Gdb-jG8UWtsgLrR0xue48MHBIHIJE-29W9CR4TlQNY9wx2WguB7QzzLfQ8mFkdmeG05XiGAnwDRH5D38LYwV6giHPnH3WeBDK_av_7hfJtAqPO4HjKf1-Q2o4fG5JBwQN8mpkzc0TuoIGdgLhFOziu5cEOSYo-GOOnxhKsu6c39iTRnbcybvZGrb8kXuapfEPDh1WQmWYZXLZkaRUJ-azXiASPKKfB5P355dCvW6ErqOJFS6ajKm8n0Afv3E5bGGWTQcBFPkuRCB1fzZCV7BnBIxig69rw7lSS9gWoijKTXKU2FqWQm_Ybhe8nlq__PIeS34Zk=w800-h535-no)

Dự hội nghị Tổng kết Mặt trận 779
Trong ảnh từ phải qua trái thứ hai Trương Văn Đàng

Đầu năm 1983, quân Pônpốt dồn nỗ lực chuyển sang “tiến công chiến lược”. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 trong đội hình Quân tình nguyện vũ trang Campuchia tập trung thực hiện ba mục tiêu chiến lược. Đặc biệt mùa khô 1984 – 1985, Quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Campuchia đã sử dụng 9 sư đoàn bộ binh (gồ 4 sư đoàn của bạn là 196, 179, 286, 8 và 5 sư đoàn bộ đội tình nguyện Việt Nam là: 5, 302, 309, 9, 7) mở chiến dịch tiến công các căn cứ toàn biên giới với 14 trận cấp sư đoàn, 20 trận cấp trung đoàn, 90 trận cấp tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng tổng hành dinh Môlinnika, đánh trúng trụ sở trung ương địch và căn cứ của ba sư đoàn bộ binh 320, 474, 519 của Pônpốt.

Qua thực tiễn chiến đấu, lực lượng vũ trang Campuchia có bước trưởng thành vượt bậc. Các đội vũ trang công tác của bạn đều trở thành các đại đội làm hai chức năng: chiến đấu và công tác. Lực lượng vũ trang Campuchia kiện toàn tổ chức biên chế, giải thể Binh đoàn 4 để lập Sư đoàn bộ binh 179, lập Bộ Tư lệnh khu vực 2 và khu vực 4, từng bước đảm nhiệm địa bàn thay thế cho quân tình nguyện Việt Nam. Theo đó, từ tháng 6 năm 1984, quân tình nguyện Quân khu 7 dần rút các Đoàn quân sự 7703, 7706, một số đơn vị lẻ và sau đó là Đoàn quân sự 7702.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:10:47 PM
Từ năm 1985, địch chuyển hướng chiến lược, tăng số đầu đơn vị lấy nội địa làm mục tiêu chủ yếu. Pônpốt và các lực lượng vũ trang chống cách mạng tập trung xây dựng lực lượng tại các căn cứ trên đất Thái Lan, từ đây tổ chức xâm lược vào nội địa hoạt động chống phá cách mạng, cưỡng ép bắt lính. Chúng tập trung đánh vào các khu vực dân cự, thị xã, thị trấn, kho tàng, đường giao thông cùng một số vị trí đứng chân của các lực lượng vũ trang bạn cũng như các đơn vị quân tình nguyện. Địa bàn Mặt trận 779 gồm: tỉnh Kông Pông Thơm và bắc, tây nam tỉnh Kông Pông Chàm (giáp với thủ đô Phnôm Pênh), trở thành trọng điểm đánh phá của các lực lượng phản động.

Để ngăn chặn hành động xây dựng căn cứ ở nước ngoài, lấy đó làm bàn đạp tiến công vào nội địa của quân Pônpốt. Các lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng của Campuchia với sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam xây dựng công trình phòng thủ biên giới chạy dọc theo biên giới giữa Campuchia – Thái Lan. Tuyến phòng thủ dài 604km, bao gồm các công trình chiến đấu, vật cản và cụm điểm tựa, hình thành từng khu vực phòng thủ, vừa có chính diện, vừa có chiều sâu, có đủ công sự, hầm hào, bể nước… Trên 42.000 dân công, 26.000 dân quân du kích, 2 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn công binh Việt Nam, 2 đội cầu đường Campuchia đã góp công sức hoàn thành công trình nói trên. Mặt trận 479 đưa 10 trung đoàn (của 4 sư đoàn) vừa tham gia xây dựng các cụm điểm tựa, vừa chốt giữ bảo vệ biên giới. Trong những năm 1985-1986, Mặt trận 479 đã cử Đoàn chuyên gia Sư đoàn 6 (Sư đoàn 8 chuyển thành) cùng chuyên gia hai trung đoàn pháo binh, chuẩn bị moi mặt bàn giao cho bạn tự đảm đương chốt giữ tuyến phòng thủ biên giới Campuchia – Thái Lan.

Ở nội địa, Mặt trận 779 tăng cường việc phòng thủ thị xã, thị trấn, bảo vệ giao thông, kết hợp đánh phá các căn cứ lõm, căn cứ vùng sâu và các hành lang của địch. Nhằm giúp bạn thiết thực và có hiệu quả hơn, Mặt trận 779 tập trung vào công tác củng cố cơ sở, thông qua việc tổ chức 426 đội công tác, xuống tận xã, ấp, củng cố địa bàn một cách ổn định.

(https://lh3.googleusercontent.com/cHX0NDZflY8VuiT0dXsDlJQlfkYRbMGbdS3Ne9hbpEEOaGRCPetsX_wC9UbYU702mnacezIr6YQ6-oXpLLitQi1k8422dkpPDm5YpFCjOvSdCWSCNuTdjWOVGAd_DoeUITCEMQENclV5iLBpYAM4ERghFdEJIBosgoeHgvZoaXDpPXoUQakpKzYHIeEKvFfujybT5CctBCeAf__4oNhJRamfS9kxtYuzL0iXHN7zbRD4kVS-Q6VFrFYxNXgwAjbesh0HDXknnwMBGb3fxUWDEPsSUM2WGTMZgG7QQACaIPotbcpNCA6eYL6HP-MqQtN4zvvlgePfsINHPBUOCdQEj6nm80bk1qbEePQU33JXx1PLLcmGYW_odS4n0PyyPX7MMi9gM9nnTypMY45SWXXc0xOzXAEiRcvmR5-jg2AiE-JrARYdDH6yjmW5EvmqeilYRSc6SrWhGrGlb4sDRCgywSxnqZ-LGZcd3i8t7sYFYPxywQL6EFKT2xz5dnY7UKySf9HLAv9OhJNRLMLPzWYrmuFIGmU_acAmQ-ppixlQI_vE89e6v1TiZMhuu9FbZlDsKGn5aXdJKXF4uVm5XBVx1-bbgDril6O0iErn8yyr-QCQOjjn-ahHm9iW-78RiIuTMd3g_PATgWd1uXZ6troDsUiJNNhNwSY=w800-h533-no)

Phát phần thưởng cho các chỉ huy các đơn vị lập được thành tích


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:13:36 PM
*

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Campuchia, Xămđéc Hunxen, từ ngày 15 tháng 1 năm 2005 đến ngày 19 tháng 1 năm 2005, Đoàn sĩ quan cao cấp của Quân khu 7, nguyên là cán bộ trong đoàn Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam sang giúp cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đuổi bọn diệt chủng Pônpốt ở hai Mặt trận 479 và 779, địa bàn do Quân khu 7 đảm trách từ biên giới Việt Nam đến biên giới Thái Lan, gồm các tỉnh Xiêm Riệp, Bát Đom Boong, Bần Tia Miên Chây, Kông Pông Chàm, Kông Pông Thơm, Krachiê, Svay Riêng, Svay Veng, thủ đô Phnôm Pênh trở lại thăm chiến trường xưa.

Đoàn gồm đại diện nguyên là Bộ tư lệnh của hai Mặt trận 479 và Mặt trận 779, thủ trưởng các cục thuộc hai Bộ tư lệnh, Ban chỉ huy các sư đoàn, đoàn chuyên gia quân sự Khu vực 4 và hai đoàn quân sự giúp bạn ở hai tỉnh Xiêm Riệp và Bát Đom Boong. Trung tướng Đỗ Quang Hưng, Trung tướng Nguyễn Xuân Hòa, các anh Đặng Quang Long, Võ Minh Như, Mai Văn Phúc, Trần Đối, Hà Mẫn, Võ Thược, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Doanh, Nguyễn Răng, Đoàn Thanh Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Bạch, Nguyễn Thành Út, Nguyễn Duy Tôn, Hồ Đình Quý, Phạm Kinh, Lưu Quang Thiện, Nguyễn Văn Hồng, Phùng Kim Chính, Đinh Văn Huệ, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Giao, Lê Cội, Trần Tấn Quang, Huỳnh Văn Sang và tôi (Trương Văn Đàng).

Ngoài ra còn có các đồng chí từng giúp Thủ tướng Hunxen xây dựng lực lượng từ những ngày đầu, gồm có trung tá Lê Châu Ba, Nguyễn Văn Phiên, Xích Hồng và một bộ phận phục vụ đoàn gồm thượng tá Phan Công Liêm (đối ngoại), Nguyễn Huy Đính (phiên dịch), trung tá Trịnh Văn Hòa (quay phim điện ảnh) và thiếu tá, bác sĩ Nguyễn Văn Điền.

Theo dự kiến lúc đầu Thủ tướng Hunxen đưa trực thăng đến Tân Sơn Nhất để đón đoàn sang Phnôm Pênh, nhưng sau đó vì lý do khách quan nên bạn thống nhất với Tư lệnh Quân khu 7 là Quân khu 7 dùng xe ô tô đưa đoàn lên cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Bạn sẽ đón đoàn từ đó cũng bằng xe ô tô. Chúng tôi ai nấy đều phấn khởi vì được thăm lại chiến trường xưa, gặp lại những người bạn chiến đấu thân thiết sau bao nhiêu năm xa cách.

Sáng thứ bảy, tại khách sạn Tân Sơn Nhất, Trung tướng Lê Mạnh, Tư lệnh Quân khu 7 và Tổng lãnh sự quán Vương quốc Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh, tiễn đoàn lên đường. Bốn chiếc xe Huyndai 15 chỗ đưa đoàn lên cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, biên giới Việt Nam – Campuchia. Tại cửa khẩu Mộc Bài, Đại tướng Kun Kim, phó Tổng tư lệnh quân đội Hoàng gia Campuchia và ông Chia Xô Pha Ra, cố vấn Thủ tướng Hunxen đón đoàn và cùng đi trên ba chiếc xe ca và hai xe hộ tống bảo vệ, đi theo lộ trình Svay Riêng, Niếc Lương, Prây Veng, Kông Pông Chàm, Kông Pông Thơm, Xiêm Riệp.

Đoàn chúng tôi về tỉnh Kông Pông Chàm. Tỉnh Kông Pông Chàm tổ chức đón chúng tôi cách mấy chục cây số, có xe cảnh sát dẫn đường. Tại bến phà Kông Pông Chàm, tháng 1-1979, chúng tôi phải vượt sông bằng sức mạnh thì nay một cây cầu hiện đại đã bắc qua. Tỉnh có hai thành phố là Kông Pông Chàm và thành phố Suông (Suông ngày trước chỉ là thị trấn nay sầm uất đông vui). Kông Pông Chàm trước đây là nơi đặt Sở chỉ huy Mặt trận 779 chúng tôi.

Đại tướng Kun Kim và ông Chia Xô Pha Ra hướng dẫn đoàn đến thăm Tỉnh trưởng tình Kông Pông Chàm. Trong không khí thân mật, Tỉnh trưởng chậm rãi: “Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy uống nước nhớ nguồn, ăn trái cây phải nhớ người trồng. Vì vậy, chúng tôi luôn ghi nhớ các bà mẹ Việt Nam, chị gái Việt Nam đã gửi con em, chồng sang giúp chúng tôi thoát khỏi họa diệt chủng. Nếu không có quân tình nguyện Việt Nam thì không có ngày 7-1. Mà không có ngày 7-1 thì không có chúng tôi. Tỉnh Kông Pông Chàm là tỉnh đầu tiên được đón đoàn đến thăm, cũng là tỉnh đầu tiên được quân tình nguyện Việt Nam giải phóng. Chúng tôi luôn biết ơn các đồng chí”.

Đoàn tiếp tục cuộc hành tình đến thành phố Xiêm Riệp, nghỉ tại khách sạn Angkor. Khách sạn lớn nhất của tỉnh Xiêm Riệp. Tỉnh trưởng Xiêm Riệp chiêu đãi đoàn một chương trình múa Ápsara đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc Khơme.

Sáng chủ nhật ngày 16 tháng 1 năm 2005, đoàn đến thăm Ăngcothơm và Ăngcovát – một kỳ quan kiến trúc độc đáo, một nền văn minh huy hoàng được xây dựng cách đây 10 thế kỷ. Cũng ở nơi này cách đây 26 năm quân tình nguyện Việt Nam đã đặt Sở chỉ huy mặt trận 479. Ở đây có nghĩa trang và Đài tưởng niệm Quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên chiến trường trọng điểm này.

(https://lh3.googleusercontent.com/KRwh_Hadyma1PRcVjWt5ZKtgeoMBurt7w6QOY-6CJcRkgYd78ytFdGYbPUICiySxWcidDFuRYwmVYbkCa4Q2YPnkD5CVwlExoNaIDPo4lVx0jB2S25gE0A0lt-9dqom3txhL_NmbVaCgiLW6bTgNuyPC8rExBadn9WJXs909TryIppxipDvssIAlsJXkgmIFP9loQpGp9k0k65BbMn-N07EaRpNLL3LyLP7PvI0VNpOw6Bk7ULdvj7VHq6V_-GQYVfX_ufllmxNVN7pAZEQNO_igGHomT-x43y2Q2gh6PJjJE--vwe5e5YjVNYG2jeJzW-cBJXqkv_NyQbGTylgwWt0V8HZ951vdp1S13fPmDv-YPFlMo6NQR-6gwzhFnddbxaAa4Cnzm4bxzXHMAiKkU45qgqr2x4CrGbCrzL_cn3hvqnj40K1BvpBW1Lk-DgHcHK7f_ym-0VyxHToqifvggvTco8mZyofQOh-IOfAAT-Tnvknnk0ioimHXj-pc7mVegTmmq7ovO3nV0t7jhbC9dOkvnG4t9rjIYxLyraxXf-EtLDtXlG7cbfqfXCb-HsuXvKwfwn3i_upLRBr_NmP0gGcMAZx3Pfrp3C3PsfQq5E5xzT3lajU5anVRGH3XSbaHUPUa71rUQ1XoKCo-nrBwcD-LdOvUCFw=w800-h541-no)

Cùng cán bộ Mặt trận 779 chụp ảnh kỷ niệm trước Ăngcovát

(https://lh3.googleusercontent.com/LW3zJ35bjt26z7voLV6Blu92rZ-6DirFJZVFBFVNb5mJ1FlzAkCufrQlvUCBvyE_-ygKic6o5UsXT_B2zU5dkFu46XXNBm3T1qWq---FSR7ZHEzOKmPfWRVhIYR9Z3Wl5wTJYhI9oCAVbYQWnQi2IDyEFunXA49UUs_ZQPmsVcsDrMOiv2uvwbMWPSgeeVrQ973QmyC5eqwc5bAJtQiwN-_xRO_yD6shZuOLAYiC2Q2D0DgVVMcxEd3mkiezrT5ATWNZoneNZ0sQAOazh6ox-7gDTHK40LgiJyZ-hUWqmzH1h0VbAdwDWSqlWpxb6EUAj9NvrPC-q2dmX5DYSjMmRrtuh31fgVQTlBb7F4jfcmEQGtIo99KnHt2W5-ubg5xVi6Ugei-zS-1EvRnzoBqLmnrsZ4tMEsdI4WvB8YGjwvIhkMAiqIVFSVMSI8ggGJidQdIpixAL321qRtRnouwOkfNFQnIwDij1GBsLM5pz6E15JOMGNlSVFChETWdyDHuGvH6Nc0BJtMVEhPShQgyYAgVrPLLj8_MJHtaXSgnXESMaMniJxBMl3pnbtsQeyAGYx02BvLQ41NseCWrn0FzSlkn1XBDoFKFAtp_kvrOqam55gbdcp9VTdEoCMRBF_neeOmhiujvAZquNqR0SRbZteLe53zl154s=w517-h722-no)

Bên tượng đài Ăngco


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:14:00 PM
Sau khi tham quan Ăngcovát, một hình ảnh gây ấn tượng mạnh đối với tôi và những người trong đoàn là nghệ sĩ Khơme đàn ca các bài hát dân tộc Việt Nam – Campuchia để phục vụ Đoàn. Đặc biệt các nghệ sĩ đã đàn ca bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và tất cả đều hòa nhịp cùng đồng thanh hát ca một cách nhiệt tình. Bạn cho biết, nhóm nghệ sĩ nghiệp dư này đều là thương binh, từng chiến đấu bên cạnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Mặt trận 479, chống tàn quân Pônpốt.

Chiến tranh đã cướp mất của từng người trong họ đôi mắt, đôi chân, bàn tay và hôm nay họ ca hát để phục vụ chúng tôi bằng trái tim và những phần cơ thể còn lại của một người lính chân chính. Chúng tôi trao tặng bạn những chiếc huy hiệu lưu niệm, họ quý trọng như những tấm huân chương vinh dự, những người cùng chung chiến hào năm nào.

Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Quân khu 5 của Campuchia đón tiếp Đoàn tại Sở chỉ huy Quân khu 4, rất đông cán bộ, chiến sĩ của hai quân khu và tỉnh Xiêm Riệp đón Đoàn rất nồng nhiệt, như những người anh em, đồng đội cùng chiến hào lâu năm được gặp lại. Đêm liên hoan thân tình, các chiến sĩ, tướng tá của ta và bạn không muốn chia tay. Tư lệnh Quân khu 4 tặng đoàn chiếc khăn cà ma xinh xắn. Đoàn tặng cho bạn những chiếc huy hiệu Mặt trận 479 mà bạn rất trân trọng.

Tạm biệt thành phố Xiêm Riệp. Trên đường đi thủ đô Phnôm Pênh, đoàn ghé thăm lãnh đạo tỉnh Kông Pông Thom, nơi đặt Sở chỉ huy Sư đoàn 317 là đơn vị đầu tiên rút quân về nước từ năm 1983, sau ngót 5 năm chiến đấu trên chiến trường Campuchia. Tỉnh trưởng Kông Pông Thom đón tiếp Đoàn với tình cảm rất thân tình Sau đó, Đoàn tiếp tục cuộc hành trình về thủ đô Phnôm Pênh, nghỉ tại khách sạn bốn sao Phnôm Pênh, là khách sạn lớn nhất ở thủ đô Phnôm Pênh lúc bấy giờ.

Thủ đô Phnôm Pênh là nơi đặt đại bản doanh của Bộ Tư lệnh 779, tổng chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Campuchia. Phnôm Pênh vốn là thành phố đẹp, đến nay trong điều kiện đổi mới lại càng đẹp hơn. Hạ tầng cơ sở được mở rộng, thành phố khang trang, nhiều nhà cao tầng mang đặc trưng dân tộc Campuchia mọc lên, nhiều nhà hàng sang trọng được mở cửa. So với thời chiến tranh, bộ mặt của Vương quốc Campuchia đã hoàn toàn thay đổi. Giữa thủ đô của Vương quốc Campuhia, Tượng đài Quân tình nguyện Việt Nam đứng uy nghi như một biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc mãi vững bền. Sau khi thăm một số thắng cảnh ở thủ đô như Hoàng cung, Chùa Vàng, Chùa Bạc… Đoàn vinh dự được Thủ tướng Hunxen dành cho một buổi tiếp kiến, là một cuộc gặp gỡ chủ yếu trong chuyến đi thăm lại chiến trường xưa của đoàn cán bộ đại diện hai Mặt trận 479 và 779. Thủ tướng Hunxen tiếp đoàn tại tư dinh.

Thủ tướng ra tận cửa xe chào đón, bắt tay và ôm hôn từng người hết sức thân tình, như đón những người anh em đi xa mới về nhà. Cuộc gặp gỡ hôm ấy chỉ có Thủ tướng và một vài tướng lĩnh thân cận trong không khí gia đình, vô cùng ấm cũng, đậm tình đồng đội, không lệ thuộc vào nghi thức ngoại giao như các cuộc giao tiếp ngoại giao thông thường. Không cần phiên dịch, Thủ tướng nói chuyện Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia chống bọn diệt chủng Pônpốt.

Thủ tướng Xămđéc Hunxen nói: Công lao của cán bộ chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đối với nhân dân Campuchia thật to lớn, không thể kể hết được. Có thể tóm lại là: Nếu không có ngày đó thì không có ngày hôm nay. Nếu không có sự giúp đỡ của quân đội và nhân dân Việt Nam, Campuchia không thể lớn mạnh như bây giờ.

Thủ tướng nói thật lòng: Trước đây Liên Xô giúp và đưa quân sang Apghanixtan, nhưng không thành công, chỉ có Việt Nam đưa quân sang giúp Campuchia ba lần (đánh Pháp, đánh Mỹ và đánh Pônpốt), mà lần thứ ba là giành thắng lợi lớn nhất. Ngày nay, ở Vương quốc Campuchia có hai ngày đại lễ: ngày “Quốc khánh (ngày 9 tháng 11) và ngày “Thoát nạn diệt chủng Pônpốt” (ngày 7 tháng 1). Ngày 7 tháng 1 đã được Quốc hội và Chính phủ Vương quốc coi là ngày lịch sử lớn nhất của đất nước và trở thành ngày “Đại lễ hội vui vẻ nhất của toàn dân”.

Đối với Việt Nam, Thủ tướng coi như quê hương thứ hai của mình và chúng tôi cũng đáp lại: Campuchia cũng là quê hương thứ hai của Quân tình nguyện Việt Nam. Chiến đấu hy sinh trên mảnh đất Angkor lịch sử, cũng như chiến đấu cho chính quê hương mình.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:15:00 PM
Nói chuyện với chúng tôi hơn một giờ mà Thủ tướng không muốn dứt. Sau bữa cơm thân mật, Thủ tướng cùng chúng tôi chụp ảnh lưu niệm tại tư dinh, với một tình cảm sâu đậm của những người bạn chiến đấu.

(https://lh3.googleusercontent.com/ajIbtHmP_WuE0I63e2VHhPYlf2QQwFR3F1-CHshVeCl519Mzu5VA8eBrFs4diM6lCn0oMYxQ6IWnLSyW3lEpKD8idkNJeACp-fHG1zLMVkZmHsHV1xk2bBuDSg6FYYwdnGVJc93XmnCpNwtF_OECxio14awv_980TV2tVuRT-gI0Wl0y78fjkGEEVyBeLBHVY0JP1pKo_jSO7mK9S49xukbq1kfg3IY0WB06croae89X5a5SixGEoCtHher_5tQ0cOadd6GQNHloXWchLo_t13545-rQHtzjABUNKm6SpYl-NR_xoZzEoXjEkC3jaT-iIGZH4MFLMYbw-X4j-y38W1eOI_nKfTO0nk5-4Yog9fiEgPXyZx_T2nJ0TEe9HRbQbyr8WfaojPhdlcvKKUteSfH9IO7I3DjPfWYq7OO7dKkAx-e7Ry1StA1afncvjaidAUysQGNY1dSrBcpzFJDhFgKS_kIDPhG556mJIy4lzGLEMBsVvMG96ZoiDZYNtfQYvWwUM7y6qHoh8XE4-n7G6ZA-2At0T9K7I6vaEEV5vl8608kwd8JJQKenNtiMnKXraviE_Hutp-DYimDSi_0pTGw-QaLZbhOXTmIPmyklfxbKH-YpFz5hII40LsdjxusZzcfIdtbCmCSsLU18zHrh1Y7Qc4Nv9JQ=w800-h547-no)

Cán bộ Mặt trận 479 và Mặt trận 779 chụp ảnh lưu niệm với Thủ tướng Hun Sen
Trong ảnh từ trái qua phải thứ nhất Trương Văn Đàng

Đoàn rời thủ đô Phnôm Pênh đi thăm thành phố cảng Sihanuk Vin (Kông Pông Xom). Trước kia, địa bàn này Mặt trận 979 – Quân khu 9, Bộ Tư lệnh Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhiệm. Ngày nay nơi đây là thành phố cảng trù phú và là khu du lịch của Vương quốc Campuchia.

Đoàn tạm biệt thành phố Kông Pông Xom, theo quốc lộ 4 trở về Phnôm Pênh, đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia thăm Đại tướng Ke Kim Dan, Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Camuchia, dự chiêu đãi và liên hoan văn nghệ, cùng nhau múa hát các bài ca cách mạng của hai dân tộc một cách say sưa và thân tình, với tình cảm của những người anh em cùng một chiến tuyến.

Trên đường về Việt Nam, đoàn đến thăm tỉnh Svây Riêng, ông Hun Nên, Tỉnh trưởng (anh ruột Thủ tướng Hunxen) tiếp. Chiều về biên giới Bà Vét. Đại tướng Tổng chỉ huy Cảnh sát quốc gia Hốc Long tiễn Đoàn.

Thăm lại chiến trường xưa là một kỷ niệm sâu sắc của những người lính tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Campuchia chúng tôi. Đây là một phần gia tài tinh thần để lại cho con cháu hai dân tộc Việt Nam – Campuchia, làm cho tình bạn giữa hai nước láng giềng cùng nghe chung một tiếng gà gáy càng thêm gắn bó, sâu đậm. Đứng bao giờ quên quá khứ lịch sử hào hùng mà cha ông đã chiến đấu hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Trở lại thăm Vương quốc Campuchia, thăm chiến trường xưa, được Thủ tướng Hunxen và các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội Hoàng gia Campuchia cũng như tỉnh trưởng các tỉnh mà Đoàn đã đến thăm đón tiếp rất trọng thể, nhiệt tình, đầy ơn sâu nghĩa nặng, với tấm lòng anh em, đồng đội như thuở nào, của những năm khói lửa chiến tranh, cùng một chiến hào chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng gắn liền với nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Thay mặt Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam của Mặt trận 479 và Mặt trận 779 nói riêng và Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam nói chung, Đoàn tỏ lòng biết ơn sự đón tiếp nồng hậu của Thủ tướng Hunxen và các địa phương mà đoàn đến thăm.

Chuyến trở lại Vương quốc Campuchia thăm lại chiến trường xưa của đoàn sĩ quan cao cấp của Quân khu 7, nguyên là lãnh đạo của Mặt trận 479 và Mặt trận 779 đã để lại cho chúng tôi nhiều cảm xúc, nhiều dấu ấn mãi mãi không thể nào quên về những miền đất mà đoàn đã đi qua, về những con người mà đoàn đã gặp, nhớ mãi một đất nước Campuchia nặng tình là anh em, là láng giềng tốt của Việt Nam.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:16:12 PM
THAY LỜI KẾT

Lâu nay, thực tâm tôi không có ý định viết hồi ký. Nhưng mấy năm gần đây vợ con, bạn bè, đồng đội nói với tôi nên có một cuốn sách ghi lại những chặng đường làm cách mạng, những trận chiến đấu trên đất miền Đông gian lao mà anh dũng của những năm đánh Mỹ để lại cho con cháu, bạn bè đồng đội, nên tôi đồng ý.

Nhớ lại nơi sinh ra tôi, miền quê sông nước xã Tân Hào Tây, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Gia đình nghèo túng lại đông anh em 6 trai, 5 gái, vì thế nên 7 tuổi tôi đã đi làm thuê, làm mướn với mẹ để kiếm sống. Anh chị em tôi lớn lên đều tham gia cách mạng. Trong 6 người con trai đi bộ đội thì 3 người hy sinh. Mẹ tôi là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Từ nhỏ tôi rất thương mẹ, luôn gần mẹ, được mẹ dạy bảo điều hay lẽ phải. Tháng 3 năm 1945, khi tôi vừa bước sang tuổi 17 đã tham gia cách mạng, tôi nhập ngũ vào Cộng hòa vệ binh, tham gia cướp chính quyền ở huyện Ô Môn rồi vào bộ đội chủ lực chiến đấu ở Long Châu Hà, trưởng thành lên cán bộ đại đội.

Năm 1954, tôi ra Bắc tập kết được học khóa 10 ở Trường Sĩ quan Lục quân rồi lấy vợ, sinh con. Năm 1961, tôi bí mật lên đường cùng Trung đoàn 2 vào miền Đông Nam Bộ chiến đấu. Cuộc chiến đấu trên đất miền Đông thật vô cùng ác liệt. Miền Đông là cửa ngõ Sài Gòn – một trung tâm điều hành bộ máy chiến tranh của Mỹ - ngụy. Ở đây Mỹ - ngụy thí điểm mọi thủ đoạn của chiến tranh: “Thiết xa vận”, “Trực thăng vận”, “Bủa lưới phóng lao”, rồi pháo bầy, máy bay B-52, chất độc hóa học ngày đêm không ngớt cày xới hủy hoại mảnh đất miền Đông. Ở đây cũng luôn diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và địch. Nhưng chúng ta đã giành thắng lợi ở Bình Giã, Đồng Xoài, Bông Trang, Nhà Đỏ, Bàu Bàng, Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Bến Cát…

Có những trận đánh đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, khi Trung đoàn 2 chúng tôi đánh vào Sài Gòn. Có tiểu đoàn xuất kích 500 con người mà khi lui quân chỉ còn vỏn vẹn 47 người. Lại có tiểu đoàn lúc đi 420 người, khi rút ra chỉ còn 32 người. Mất mát là vậy, hy sinh lớn lao là vậy, nhưng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 chúng tôi không lùi bước. 11 người tổ chức một chốt phòng ngự ở Ngã tư Bảy Hiền, các anh đã diệt đại tá cảnh sát ngụy Lưu Kim Cương, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, diệt gần 100 tên địch, để lại sự khâm phục trong lòng đồng bào Sài gòn trong những ngày rực lửa năm 1968.

Tôi còn nhớ vào đầu năm 1972, trước khi bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Sư đoàn C30B, đảm nhiệm hướng thứ yếu phía bắc tỉnh Tây Ninh, giao cho tôi làm Tư lệnh. Sư đoàn C30B, đã lập công xuất sắc tiêu diệt căn cứ Xa Mát – Thiện Ngôn, mở rộng vùng giải phóng tỉnh Tây Ninh phối hợp với hướng chính.

Chiến tranh kết thúc, giang sơn thu về một mối, tưởng rằng từ đây nhân dân ta được sống trong hòa bình xây dựng đất nước, thì tập đoàn phản động Pônpốt lại gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Tôi lại lên đường, chỉ huy Sư đoàn 5 chiến đấu góp phần quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi và đưa chiến tranh sang đất nước của chúng. Sau đó, tôi lại cùng Bộ Tư lệnh Mặt trận 779 sang giúp bạn giải phóng đất nước Campuchia và ngăn chặn không cho chúng quay trở lại. Chúng tôi đã giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, giúp nhân dân phục hồi sản xuất, ổn định đời sống…

Tôi bồi hồi xúc động nhớ lại những chặng đường đã qua, biết bao người đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng tôi chiến đấu và trong công tác mà nay nhiều người không còn nữa và rất nhiều người còn khó khăn.

Năm 1992, tôi được nghỉ hưu. Khi trở về cuộc sống đời thường được anh em cựu chiến binh Sư đoàn 9 bầu làm trưởng ban liên lạc truyền thống của Sư đoàn. Tôi biết nhiều cựu chiến binh của Sư đoàn 9 còn nghèo khó cơ cực. Tôi đã động viên các anh trong ban liên lạc xắn quần cuốc bộ đến những vùng xa xôi, hẻo lánh có anh em đang lâm vào cảnh khó khăn đặc biệt về nhà ở. Có những chuyến đi bộ quá xa, băng rừng, lội nước, một vài thành viên trong ban liên lạc tuổi cao đuối sức, ngồi thở dốc, mồ hôi đầm đìa lưng áo tưởng chừng bỏ cuộc. Chúng tôi lại động viên nhau cố gắng, thế rồi cũng đến được những nơi phải đến. Khi chứng kiến cảnh đồng đội của mình sống trong túp lều xơ xác, chủ nhân của nó dang đôi cánh tay gầy guộc ôm chầm lấy chúng tôi, nước mắt giàn giụa, lúc ấy cảm thấy mệt mỏi bỗng dưng tan biết đi, chỉ còn lại tình đồng chí, đồng đội.

Tôi nói với anh em: “Có đến tận nơi mới thấy hết tụi nó sống cơ cực đến mức nào để mình cố gắng giúp nó tìm cách tháo gỡ”.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:17:11 PM
Tôi đã cùng các anh trong ban liên lạc đi vận động, thuyết phục các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tài trợ kinh phí để xây dựng nhà cho anh em. 17 năm tôi cùng anh em trong Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 vận động quyên góp kinh phí xây dựng được 87 căn nhà tình nghĩa cho cựu chiến binh Sư đoàn 9 là những người đã từng một thời xông phá trận mạc nay trở về đời thường với cuộc sống vất vả và nghèo khổ.

Cứ mỗi lần trao tặng nhà tình nghĩa, nhìn hình ảnh người cựu chiến binh già nước mắt lưng tròng đứng ngắm nhìn căn nhà vừa mới xây làm chúng tôi ai nấy đều xúc động. Lại có người khi được mời lên phát biểu trong buổi lễ trao tặng nhà ình nghĩa đã nghẹn ngào nín lặng không nói được, chỉ cắn chặt môi như cố kìm nén để nước mắt khỏi trào ra. Lúc ấy chúng tôi mới thấm thía trọn vẹn được ý nghĩa của đồng đội thiêng liêng như thế nào.

Chúng tôi đã xây dựng nhà tình nghĩa cho cựu chiến binh Sư đoàn 9 đang sinh sống ở các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Bến Tre, Long An, Tây Ninh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Thanh Hóa, Thái Bình… Tôi vui nhẹ lòng khi được chứng kiến đồng đội của mình bớt đi nỗi nhọc nhằn cơ cực.

(https://lh3.googleusercontent.com/-DzVphW1UMR242o7T2EvazBCdhQ9ojH49IqG7NmXASHVl4bRr-gGMc5l6UyRk8Sn6qKD5WNtKKwzMypQlhirlT10CS0XzOnGAJs3RJr0cXE1wMwNzmTjryp27BlLJ1bF_cE6YAYV-02Z7JEMsY7vQ5q20unSK2_uuGb5PcbWFnFqMUEDAQcQ8BF_-VfDnjCCxdOtJNK-hFhnnHKlZtIETpMLUM_dA10MhPb7gTt34BoJVGj-5_X5lSPHMSjTGj4NKsy8PAfLRwY-q3FyWnkXqwKs35WrKgTxYjvDpdxkI3GZj7GAsWbCljQCZOtTdPjhKMPAmL_uqy9PlgOs3_2OTkYAx48a0Rt81koPm_ccZdAPXB6ot5K3y0ANrQJdXspfneP7y9Ff61T32swpvFIRy9AX4biCMAbhpZRpEOZdMp247Jnbb_EsA9DBYv4-hPx3p1LrKwJ9Gy6eJrLJvYo89gHJfajeJMpBqzLaxUHFf2VWZ1bwk_kGQuR5Ex94GsgpKg0rI_L640NUT3t0y0P2bWD5XsQt9hWCjDPRtETRj81yFvVQ1obvJn4ApNyF4fWdcmn5tJu-EPHGHgO_MH6v3lT_Kmc5JuiiMj9YqNS2cx646WZVe0Js-en7-kI-0v7oc48aqZlhHN1vhjJPKsdFyEoey7Np_Qk=w800-h547-no)

Bàn giao nhà tình nghĩa cho Cựu chiến binh Sư đoàn 9

Nay tuổi cao, sức yếu nhưng hàng tháng anh Nguyễn Cứ Phó Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 9 vẫn đến nhà thông báo cho tô hoạt động tình nghĩa của ban. Mỗi ngày có thêm một ngôi nhà tình nghĩa là bớt đi một đồng đội khó khăn, đó cũng là ước nguyện của tôi với những đồng đội.

Tôi và Tùng lấy nhau đến nay đã được 55 năm. Chúng tôi sinh được bốn người con; Trương Minh Hoàng và Trương Thị Tuyết Nga là thời kỳ tôi ở miền Bắc. Năm 1974, tôi được ra Bắc học tập, thời gian này, vợ chồng tôi sinh cháu Trương Thị Ngọc Thủy. Sau giải phóng miền Nam, năm 1976 vợ chồng tôi sinh cháu Trương Thị Ngọc Lan. Cả bốn người con của tôi đều học hành đến nơi đến chốn. Hoàng đi bộ đội quân hàm đại úy, đầu những năm 80 sang Đức học tập và làm việc 16 năm ở Đức. Sau đó Hoàng về công tác ở Phòng Hóa học Quân khu 7. Hoàng lấy vợ và sinh được 2 người con Trương Trần Hoàng Oanh và Trương Hoàng Phúc. Trương Thị Tuyết Nga bác sĩ, chồng là Vũ Văn Hải, hiện nay là giám đốc tài chính Bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh. Vợ chồng Nga sinh được hai người con là Vũ Hải Anh và Vũ Hải Minh Anh. Trương Thị Ngọc Thủy tốt nghiệp Đại học Sư phạm và Đại học Quản trị - Kinh doanh hiện nay công tác ở Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Chống Thủy Nguyễn Quốc Vinh là bác sĩ hiện nay công tác tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh. Vợ chồng Thủy sinh được cháu gái Nguyễn Ngọc Khải Linh. Trương Thị Ngọc Lan tốt nghiệp Đại học Luật và Đại học Kinh tế, hiện nay là Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Chồng Lan Nguyễn Văn Mai hiện nay làm thẩm phán huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng Lan sinh được hai người con Nguyễn Phước Thái Khang và Nguyễn Phước Khánh.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:17:38 PM
Tôi dành ít trang nói về cháu Tuyết Nga, hiện đang là Tổng giám đốc kiêm Giám đốc điều hành Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh. Cháu sinh được 7 ngày tuổi đã phải xa bố. Nga sống trong tình thương của mẹ và bà ngoại. Kỷ niệm mà cháu giữ lại về tuổi thơ là những ngày cùng ba đi sơ tán máy bay Mỹ đánh phá thị xã Sơn Tây.

Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Định cư tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tuyết Nga học cấp 3 tại trường Nguyễn Trung Trực (Gò Vấp) – ngôi trường thân yêu với bao kỷ niệm ngọt ngào cùng thầy cô và bạn bè. Ước muốn được làm việc trong ngành y, được khám chữa bệnh cho bệnh nhân hình thành trong Nga lúc nào không biết. Vì vậy, tốt nghiệp cấp 3, Nga thi vào Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Ra tường năm 1982, Nga được phân công về làm việc tại Bệnh viện Nhi đồng II. Nga đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu trau dồi kinh nghiệm, y đức và tay nghề. Học hỏi từ sách vở, từ những bậc thầy đi trước. Nga đến nhiều phòng, khoa làm việc để tích lũy kinh nghiệm… bất cứ nơi đâu, bất cứ thời điểm nào có cơ hội là Nga dung nạp thêm kiến thức. Một tời gian sau, Nga được điều động về lại trường Đại học Y Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1998, Tuyết Nga đã thành lập Phòng khám Vũ Anh – tiền thân của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh sau này. Năm 2002, sau hơn 20 năm gắn bó với ngành y và tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trong Nga trỗi dậy khao khát được làm một điều gì đó thật lớn lao và ý nghĩa đối với cộng đồng. Từ niềm đam mê thôi thúc, Nga bắt đầu công cuộc xây dựng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh.

Năm 2007, Bệnh viện Vũ Anh chính thức khai trương và đi vào hoạt động. Đây là một bệnh viện – khách sạn đầu tiên của Việt Nam. Có thể nói, Vũ Anh ra đời là sự kết tinh 20 năm từ một ý tưởng của Trương Thị Tuyết Nga. Chính ý tưởng độc đáo, mới lạ cùng nỗ lực không ngừng của Nga, Bệnh viện Vũ Anh đã dạt được nhiều thành công trong thời gian qua. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh không chỉ là một trong những bện viện hiện đại nhất Việt Nam mà còn có thể tự tin với nhiều bệnh viện lớn ở trong khu vực và trên thế giới.

20 năm hoạt động trong lĩnh vực y tế là từng đó thời gian bác sĩ Trương Thị Tuyết Nga nắm bắt được tâm lý của bệnh nhân. Cũng chính vì thế, khi đầu tư xây dựng Bệnh viện Vũ Anh, Nga đặc biệt quan tâm đến việc “chữa bệnh tâm lý” cho người bệnh trước. Để làm được việc này, Nga đầu tư vào máy móc, thiết bị, thực hiện “hòa mình vào nền y học tiên tiến của thế giới”. Hệ thống hồi sức cấp cứu được áp dụng theo mô hình của Nhật Bản; hệ thống máy mổ nội soi OR1 và máy lọc máu nhân tạo nhập từ Đức; phòng xét nghiệm được trang bị máy móc tự động; máy C-ARM 3D Arcadis Orbic và máy siêu âm màu 4D… Ngoài ra, Bệnh viện Vũ Anh còn trang bị máy MSCT 64 lát cắt MRI 1,5T – các loại máy chỉ có tại những bệnh viện hàng đầu thế giới. Để đầu tư hệ thống máy này, bác sĩ Trương Thị Tuyết Nga phải đi nhiều nước từ Nhật Bản, Hàn Quốc đến Đức, Mỹ nghiên cứu, học tập thêm. Việc đầu tư cho hệ thống máy móc hiện đại không chỉ giúp việc chẩn đoán bệnh được nhanh chóng, kịp thời; mà mục đích xa hơn của Nga là giúp cho người bệnh tin tưởng hơn vào bệnh viện, giúp bệnh nhân thoải mái, yên tâm trong quá trình điều trị.

Cùng với công nghệ, máy móc tiên tiến, bác sĩ Nga còn chủ trương tạo sự khác biệt ở môi trường của bệnh viện. Nga nói: “Người bệnh rất sợ cảnh chen chúc, chờ đợi tại các bệnh viện. Không gian tại các bệnh viện truyền thống vô tình làm cho họ bệnh thêm. Ở Vũ Anh, con cố gắng tạo ra không gian thoải mái nhất khiến bệnh nhân có cảm giác như đang ở nhà mình vậy”. Và sự thực, Nga đã làm được điều đó.

Ở Bệnh viện Vũ Anh không gian rất thoáng mát. Các phòng bệnh không chỉ được trang bị các phương tiện hiện đại như đường truyền internet, wi-fi, truyền hình cáp, máy lạnh, ti vi, tủ lạnh, ô xy âm tường, hệ thống chuông gọi y tá tự động… mà còn được trang trí bằng các bức họa, những đồ nội thất độc đáo mà không kém phần gần gũi, thân quen. Mỗi khoa của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh mang một phong cách, một dấu ấn riêng biệt cả về mặt chất lượng khám chữa bệnh cũng như về phương diện thẩm mỹ, kiến trúc.

Nga giải thích: “Không gian gần gũi, thân thiện sẽ giúp bệnh nhân tưởng rằng mình đang đi nghỉ ở đâu đó, hoặc đang ở nhà mình chứ không phải đi chữa bệnh. Như thế sẽ giúp tư tưởng của họ thoải mái và nhanh bình phục hơn”.

Chẳng thế mà Nga bỏ rất nhiều thời gian, công sức để tạo ra không gian cho bệnh viện. Tự mình chọn mua từng bình hoa, từng bức tranh nghệ thuật. Nga còn đưa cả quán cà phê vào bệnh viện của mình. Một quán cà phê vườn dưới cây xanh rợp mát, dưới âm nhạc du dương sẽ giúp người bệnh cũng như thân nhân của họ tạm quên lo lắng. ý tưởng mới mẻ, độc đáo của Nga thực sự mang lại hiệu quả. Nói đúng hơn Nga đã xóa đi cảm giác sợ vào bệnh viện của nhiều người. Nhiều bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Vũ An đã nhận xét rằng: Họ cảm thấy như đang được thư giãn, nghỉ dưỡng chứ không phải trị bệnh.

Giờ đây Bệnh viện Vũ Anh đã trở thành bệnh viện có công nghệ máy móc hiện đại vào bậc nhất Việt Nam. Đây cũng là bệnh viện duy nhất tại Việt Nam đạt tiêu chuẩn 5 sao. Điều hạnh phúc hơn cả, với những công nghệ máy móc hiện đại vào bậc nhất, Bệnh viện Vũ Anh vinh dự được chọn làm nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của ngành y tế.

Trang thiết bị, vật dụng hiện đại và hoàn hảo khiến nhiều người nghĩ môi trường khám chữa bệnh tối tân, hiện đại cũng đồng nghĩa với việc giá cả sẽ cao, và bệnh viện như vậy chỉ phù hợp cho những bệnh nhân giàu có. Nhưng có lần Nga nói với tôi: “Việc xây dựng và phát triển Bệnh viện Vũ Anh theo mô hình bệnh viện – khách sạn, với máy móc, trang thiết bị và dịch vụ đạt chất lượng ao là ước mơ từ rất lâu của con. Con làm điều đó vì khát vọng của mình, vì muốn được phục vụ người bệnh, vì y đức của một bác sĩ chứ không phải vì lợi nhuận”. Cho nên, tuy có dịch vụ chất lượng cao nhưng chi phí điều trị ở Bệnh viện Vũ Anh cũng không quá cao so với nhiều bệnh viện khác. Người dân bình thường thường cũng có thể điều trị ở đây. Số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện ngày càng tăng là minh chứng rõ nhất cho điều đó.

Năm 2008, Bệnh viện Vũ Anh đã khám và chữa bệnh cho gần 40.000 bệnh nhân tại phòng khám, điều trị nội trú cho gần 7.000 bệnh nhân và thực hiện 513 ca phẫu thuật. Có lẽ uy tín của Bệnh viện Vũ Anh không ngừng được nâng cao chính là lợi nhận lớn nhất mà bác sĩ Trương Thị Tuyết Nga thu được.

Mang nặng chữ “Tâm” của một bác sĩ, tưởng rằng Nga sẽ rất khó khăn trong việc dung hòa giữa hai con người là bác sĩ và doanh nhân. Bởi người làm kinh doanh rất cần sự tỉnh táo, rõ ràng. Nhưng Nga lại quan niệm khác.Nga đồng ý rằng làm kinh doanh cần phải táo bạo, rạch ròi, nhưng làm kinh doanh cũng cần phải có Tâm. “Dù kinh doanh trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải có một tấm lòng. Có như vậy mới tạo ra giá trị lâu dài cho xã hội. Doanh nhân cần cả Tâm và Tầm. Riêng người kinh doanh trong lĩnh vực y tế tâm càng phải sáng”. Nói theo cách của Nga, người kinh doanh trong lĩnh vực y tế, ngoài cái tâm của một nhà quản lý còn cần thêm tấm lòng của một thầy thuốc.


Tiêu đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Năm, 2019, 04:18:15 PM
Nếu như trong kinh doanh Nga không coi trọng lợi nhuận thì trong cuộc sống Nga lại xem sự thành đạt là biết cách sẻ chia trách nhiệm với xã hội. Cho nên, Nga rất hăng hái trong các công tác từ thiện, xã hội. Nga cùng Bệnh viện Vũ Anh đã tham gia xây dựng nhà tình nghĩa cho nhiều gia đình nghèo trên toàn quốc; khám chữa bệnh cho các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; khám chữa bệnh, thăm và tặng quà cho các cụ già neo đơn; khám chữa bệnh và tặng quà cho trẻ em khuyết tật; tham gia vào các chương trình mổ tim từ thiện, vòng tay nhân ái… với số tiền hàng tỷ đồng.

Bằng tất cả những gì đã làm, Nga được Hội Chữ thập đỏ Thành phố Hồ Chí Minh trao tặng danh hiệu “Hoa việc thiện”. Tuy nhiên, với Nga thì bằng đó vẫn chưa đủ. Nga nói rằng: “Những việc con làm được còn quá nhỏ nhoi. Bởi xã hội còn rất nhiều người cần đến sự giúp đỡ”. Nga mong sẽ làm được nhiều hơn nữa và có nhiều người làm việc thiện hơn nữa. Bởi việc tuy nhỏ như hạt cát nhưng nhiều người làm nhiều lần số hạt cát sẽ tăng lên để đến lúc nào đó sẽ biến thành sa mạc. Như vậy cũng có nghĩa là xã hội sẽ bớt đi gánh nặng.

Trong năm 2009, bác sĩ Tuyết Nga hân hạnh được nhận các cúp vàng của cơ quan, bộ ngành trao tặng như: Doanh nhân vì cộng đồng; Lãnh đạo xuất sắc, Doanh nhân, Doanh nghiệp Việt Nam vàng; Doanh nhân xuất sắc toàn quốc; Doanh nhân tâm tài; Đạt danh hiệu “Quý bà thành đạt nhất”.

Ngày 28 tháng 7 năm 2009, Cục Quản lý Khám chữa bệnh – bộ Y tế đã chính thức chấp thuận dự án xây dựng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh II tại phường Bình Khánh, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh II với quy mô 1.000 giường là một trong những bệnh viện tư lớn nhất hiện nay.

Dự án này đi vào hoạt động, chắc chắn sẽ góp phần to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển hệ thống bệnh viện y tế lớn hiện đang còn thiếu tại Quận 2 nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Với việc xây dựng và đưa vào hoạt động thêm Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh II đạt tiêu chuẩn quốc tế, khu phức hợp này sẽ đáp ứng các nhu cầu về khám chữa bệnh phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân, điều kiện sống thông qua đó là một mội trường sống lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Có chuyện này, tôi thấy cũng cần phải nói. Đó là ngày Mùng 4 Tết Nhâm Dần năm 2010, tôi đột ngột phát bệnh ung thư thanh quản. Khi tôi đổ bệnh gia đình thật sự biến động lớn về tinh thần, tình cả và cả vật chất. Các con hội ý tìm cách điều trị cho tôi. Cuối cùng Nga – Tổng giám đốc Bện viện đa khoa quốc tế Vũ Anh quyết định đưa tôi qua Singapore. Do có mối quan hệ từ trước với Bệnh viện Singapore General Hospital – một bệnh viện hàng đầu của nước bạn.

Cùng đi với tôi có Nga và cháu Trương Trần Hoàng Oanh các thủ tục nhập viện đều được thực hiện nhanh chóng bệnh viện rộng rãi Nga và cháu Oanh cùng các nhân viên bệnh viện đưa tôi đi hết phòng này đến phòng khác làm các xét nghiệm. Sau đó bệnh viện tiến hành phẫu thuật cho tôi. Hôm tôi phẫu thuật cả nhà có mặt nhà tôi, Hoàng, Nga, Thủy, Lan và cháu Hoàng Oanh. Ca mổ thành công, tôi nằm điều trị tại ICV 17 ngày đêm. Các con Nga, Thủy, Lan và cháu Oanh luôn ở bên tôi.

Cháu Trương Trần Hoàng Oanh là người lo cho tôi mọi mặt: đi chợ, nấu cháo, nấu cơm, giặt giũ tắm rửa cho tôi. Tôi nhớ có lần tôi không ăn được cơm được cháo cháu Oanh thương tôi đã khóc, rồi cháu điện về Việt Nam nói với bà nội và các cô Nga, Thủy, Lan. Từ Việt Nam, Nga điện cho Oanh chuyển máy cho tôi, Nga nhẹ nhàng động viên tôi cố ăn để lấy sức thuốc thang…

Suốt 7 tháng trời nằm ở viện Singapore General Hospital thi thoảng, Nga sang thăm tôi còn lại chỉ có hai ông cháu. Oanh cần mẫn chăm cho tôi, cháu luôn động viên tôi cố gắng ăn uống và mong tôi khỏi bệnh.

Sau khi ở Singapore về nước, Nga đưa tôi vào Bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh do Nga làm Tổng giám đốc. Đây là bệnh viện khách sạn 5 sao nên có điều kiện, trang thiết bị rất hiện đại. Tôi nằm ở Bệnh viện Vũ Anh 1 năm 4 tháng, ở đây tôi được bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thị Thu Hà giám đốc chuyên môn hết lòng khám chữa thuốc men. Các y sĩ, bác sĩ hội lý chăm sóc tôi từ bữa ăn đến giấc ngủ, các cháu Hải Anh, Hoàng Oanh cũng luôn ở bên tôi. Sức khỏe của tôi dần dần hồi phục: ăn được, ngủ được đầu óc minh mẫn sản xuất. Tôi trở về cuộc sống đời thường hàng ngày tham gia những việc lặt vặt trong gia đình phụ giúp vợ con…

Tôi dành mấy dòng này để cám ơn vợ tôi, các con tôi Hoàng,Thủy, Lan, cháu Hải Anh, đặc biệt Nga, Thủy và cháu nội Trương Trần Hoàng Oanh đã không tiếc công sức tiền của làm tất cả những việc mà nếu không có tình phụ tử thì không thể làm được. Tất cả chỉ mong cho tôi vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, cứu được mạng sống cho tôi còn được ở trên cỏi đời này, tôi vô cùng cảm động nó sẽ theo tôi trọn cuộc đời.

Cuốn sách nhỏ này, trước hết xin dâng lên cha mẹ kính yêu đã sinh thành dưỡng dục tôi nên người. Tôi cũng gửi tới đồng đội – những người đã chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Trong suốt chặng đường gần nửa thế kỷ làm cách mạng tôi đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Quân công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba, Huân chương chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, 4 Huân chương Chiến công Giải phóng (1 hạng nhì, 3 hạng ba). Được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người và lời Bác viết khen tặng: “Đánh giặc, chỉ huy giỏi”, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc, được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới và nhiều bằng, giấy khen khác.

Cuộc đời với bao kỷ niệm buồn vui. Nhớ làm sao hết, ghi làm sao đầy đủ những sự kiện, những con người. Vì vậy, trong cuốn sách có sự kiện nào chưa đúng, có tên ai còn nhầm lẫn xin được lượng thứ.

Tôi chân thành cảm ơn Đại tá Lê Hải Triều đã giúp tôi thể hiện cuốn hồi ký này. Xin cảm ơn Nhà xuất bản Lao động đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách đúng vào dịp 30 tháng 4, ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Viết xong vào đầu tháng 4 năm 2012