Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 01:58:43 pm



Tiêu đề: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 01:58:43 pm
Đề Yêm chống Pháp

Tác giả: Trọng Văn
Sở Văn hoá Thông tin Hà Nam, 2003

Nguồn: Thư viện tỉnh Hà Nam





(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/53256832_2294406520843920_8751261470672551936_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=dd34d4f51222a15644d1cb70fdea9758&oe=5CE0A61B)


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/52958292_2294406540843918_5769813345519534080_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=0a37b9ae93d2ca0e1a02730beaa08fed&oe=5D1B62D2)


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:06:34 pm
LỜI NÓI ĐẦU

Có một câu chuyện tôi nghe từ hồi còn nhỏ, làm cho tôi nhớ mãi và cũng thắc mắc mãi đến bây giờ là chuyện Đề Yêm làm “giặc”.

Lúc còn để chỏm, tôi được một người chị dâu họ thường kể cho nghe câu chuyện trên, vì chị là người cùng làng Đồng Lạc với Đề Yêm.

Tôi còn được nghe mẹ tôi kể thêm rằng: “Lúc quân Đề Yêm đốt xóm Lò bên kia sông Đáy thuộc làng Đinh Xá, bên làng Quyển Sơn ta liền thu xếp các thứ gọn gàng. Xóm nào xóm ấy đều có người ra bến sông để quan sát, hễ quân bên đó xuống đò bơi sang thì làng ta sẽ phải chạy vào núi ngay. Nhưng quân Đề Yêm không sang”.

Khi đi học ở trường huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tôi lại được mấy người bạn quê ở Đinh Xá kể chuyện về Đề Yêm. Chung quy câu chuyện nói về làng Đồng Lạc huyện tôi có thủ lĩnh Đề Yêm đánh nhau với quân Pháp, có đốt phá và giết người. Song, đầu đuôi câu chuyện ra sao, lúc chưa làm “giặc” thì Đề Yêm làm gì? Tại sao lại đi làm giặc, quá trình hoạt động và kết thúc thế nào thì chưa ai nói rõ cho tôi biết.

Mấy năm gần đây, tôi chú ý sưu tầm, nghiên cứu về lịch sử tỉnh Hà Nam, trong đó có một số nhân vật mà tiếng tăm vẫn còn lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác. Tôi nghĩ rằng: Việt Nam ta là một dân tộc anh hùng, các nhân vật lịch sử ấy từ trong quần chúng mà ra và làm nên những chiến công, sự tích hiển hách. Nhiều vị chưa được sử sách ghi chép, nhưng họ vẫn sống trong ký ức và sự ngưỡng mộ của nhân dân địa phương. Ngược lại, một số vị còn bị thực dân Pháp xuyên tạc về chiến công cũng như nhân cách. Chúng cũng ghi chép, nhưng cắt đầu cắt đuôi, khuếch đại, tô vẽ những điểm gì có lợi cho chúng. Còn những vấn đề gì thuộc về nhân dân, về phẩm chất anh hùng của các thủ lĩnh khởi nghĩa thì chúng ghi chép qua loa, sơ lược hoặc bỏ qua không đề cập gì, thậm chí còn vu khống.

Huyện Kim Bảng có những người yêu nước như Đề Yêm ở thôn Đồng Lạc, xã Đồng Hóa; Quản Cầu ở thôn Lưu Xá, xã Nhật Tân; Lý Tài ở thôn Thụy Xuyên, xã Ngọc Sơn; Cả Quẳng tức Lãnh Quẳng ở xã Khả Phong v.v...

Không kể Lãnh Tràng, tức Đinh Công Tráng, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Ba Đình ở Thanh Hóa (1886-1887) mà sử sách đã viết, còn lại các cuộc khởi nghĩa khác chống giặc Pháp ở các địa phương thì việc ghi chép hầu như không đáng kể. Nếu chúng ta không mau mau sưu tầm, nghiên cứu những cuộc nổi dậy ấy thì 10-15 năm tới, những người có thể cung cấp tài liệu, tư liệu cho ta sẽ không còn nữa. Sự nghiệp của các nhân vật đáng kính ấy sẽ mờ dần với thời gian và mất hẳn, nếu chúng ta không khẩn trương tiến hành công việc rất cần thiết trên.

Một điều nữa tôi muốn nói là đương lúc quân xâm lược Pháp thế hùng lực mạnh, vua quan nhà Nguyễn với thân phận trâu ngựa đã can tâm làm tay sai cho giặc để đè nén bóc lột nhân dân ta. Ngược lại, các sĩ phu tiến bộ, các nhà yêu nước một lòng vì nước, vì dân kiên cường, khảng khái, dám đứng lên lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu khiến cho bọn cướp nước và lũ bán nước phải nhiều phen khiếp sợ. Vậy thì tại sao ta lại nỡ gọi họ là “giặc” như kẻ thù gọi. Trước đây, một số người ở các vùng Ứng Hòa, Mỹ Đức (Hà Đông) thì gọi nghĩa quân là “loạn Tuyết Sơn”.

Sở dĩ thực dân Pháp và bọn phong kiến bán nước Nam triều gọi những người đối địch với chúng là “giặc”, là “loạn” là lẽ đương nhiên, bởi vì họ quyết tâm sống chết, tiêu diệt chúng.

Khi Đảng Cộng sản chưa ra đời, giai cấp công nhân chưa thực sự trở thành lực lượng tiền phong duy nhất lãnh đạo cách mạng thì những cuộc khởi nghĩa, chống đối giặc Pháp và ngay cả một số cuộc cách mạng sau này cũng không đạt được kết quả mỹ mãn, nhiều khi bị thất bại đau xót. Tuy nhiên, các nhà yêu nước, cách mạng ấy đã hết lòng xả thân vì nghĩa lớn, sự nghiệp có thành công đến chừng mực nhất định nào hay thất bại đi nữa thì hành động anh hùng và phẩm cách sáng ngời của các vị rất đáng được nêu cao, làm gương cho hậu thế.

Bởi những lẽ trên, nên tôi đã bỏ nhiều trí tuệ, công sức, thời gian để sưu tầm, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của mấy nhân vật nổi tiếng yêu nước ở huyện Kim Bảng, đáng kể nhất là thủ lĩnh Đinh Quang Lý, tức Đề Yêm. Đối với Đề Yêm, tôi xin thay từ “giặc” thành hai từ “thủ lĩnh” nghĩa quân, xin thay từ “loạn” bằng hai từ “khởi nghĩa” 1.

Hà Nam, tháng 1/1965
           Tác giả





-----------------------------------------------------------------------------
1. Tác giả Trần Hà trong bài “Về quê hương người vẽ cờ Tổ Quốc” viết: “Các thế hệ học sinh trong xã còn nhớ thầy Nguyễn Hữu Tiến có lần kể chuyện ông Đề Yêm, một tướng giỏi của Nguyễn Thiện Thuật trong cuộc nổi dậy khởi nghĩa ở Bãi Sậy. Đề Yêm đã có lần hành quân qua đất Duy Tiên. Dân trong vùng đón tiếp, giúp đỡ hết lòng, có người còn cho cả con cháu đi theo nghĩa quân....” (Báo Nhân Dân hàng tháng), số 29 (9-1999) (BT).


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:09:15 pm
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỞI NGHĨA

Đầu thế kỷ 19, nhân dân ta đói khổ dưới ách thống trị của triều đại nhà Nguyễn. Nạn lụt lội, mất mùa đói kém xảy ra thường xuyên. Không những thế, sự nhũng nhiễu, tham ô, bóp nặn của bọn phong kiến suy tàn, trên từ vua dưới đến quan ra tay, chồng chất lên đầu lên cổ người dân Việt Nam bao nhiêu nỗi ê chề, không bút nào tả xiết được. Bởi vậy, các cuộc nổi dậy của nông dân chống đối triều đình nổ ra không ngớt. Vua tôi nhà Nguyễn hầu như không đủ sức giữ gìn trật tự nữa. Kho tàng của Nhà nước (của vua) cũng không còn gì để đắp vào những lỗ hổng đó. Tự Đức cho đánh thuế thuốc phiện, định thuế hàng năm cho người Minh Hương (tức là Hoa Kiều lai người Việt), cho bán ruộng đất công, ruộng đất bỏ hoang, lấy tiền nộp vào công phí, cho các tù nhân được nộp của chuộc tội, định lệ quyên tiền được hưởng hàm từ hoàng thân, công chúa, quan lại đến tổng lý, sĩ, dân; đồng thời còn sai quan đi tìm mỏ vàng, kẽm, đồng và đánh thuế mỏ. Tóm lại là tìm mọi cách để vơ vét của dân.

Trước tình hình chính trị rối loạn, kinh tế kiệt quệ đến cao độ, năm 1847 mượn cớ Thiệu Trị sát đạo, thực dân Pháp đến gây hấn ở Đà Nẵng.

Trước đó, từ thế kỷ thứ 17, thực dân Pháp đã phái bọn cố đạo, con buôn đến nước ta mượn cớ giảng đạo, buôn bán mà thăm dò lực lượng, gây cơ sở bên trong để làm nội ứng. Bá-đa-lộc (Aveque dAdrand) giúp Nguyễn Ánh (1874), Pen-lơ-ranh (Pellerin), Sác-ne (Charner) xúi giục, giúp đỡ Tạ Văn Phụng nổi loạn ở Bắc Kỳ (1861).

Kể từ lúc thực dân Pháp thực sự đánh chiếm thành Gia Định (18-2-1859) cho đến khi đánh chiếm cửa biển Thuận An, Huế (1884), triều đình nhà Nguyễn ký hết hiệp ước này đến hiệp ước khác, nhượng bộ hết bước này lùi sang bước khác trước thực dân Pháp. Ngày 6/6/1884, triều đình Huế ký hiệp ước Pa-tơ-nô-tơ-rơ (Patenôtre) - một văn tự bán nước cuối cùng của triều đình Huế, chứng nhận sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam.Rõ ràng là trước kẻ thù cướp nước, nguy hiểm, nhà Nguyễn đã tỏ ra hèn nhát và bất lực. Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý là ngay trong triều đình Huế đã phân hóa làm 2 phái: chủ chiến và chủ hòa.

Tiêu biểu cho phái chủ hòa là một loạt con cháu nhà Nguyễn như: Tự Đức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa và bọn quan lại như Nguyễn Bá Nghi, Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ... Bọn người này khiếp sợ trước kẻ thù nên đã thỏa hiệp, đầu hàng không điều kiện. Chẳng những họ không lo chống giữ đất nước mà còn ra tay ngăn chặn những cuộc nổi dậy chống giặc ngoại xâm, tăng cường đàn áp, bóc lột nhân dân. Tự Đức lo xây dựng Vạn Niên cơ, nơi yên nghỉ cuối cùng của ông ta bằng bao nhiêu xương máu của nhân dân lao động. Đương thời đã có câu ca dao ai oán:

Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Còn phái chủ chiến như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết... có chủ trương, đối sách chống Pháp phù hợp với nguyện vọng của đa số nhân dân. Tuy vậy, phái này vẫn ở trong vòng cương tỏa, điều khiển của triều đình.

Do không biết dựa vào sức mạnh hùng hậu của nhân dân và với tiềm lực quân sự của một nước phong kiến lạc hậu phải đương đầu với đội quân tinh nhuệ được trang bị vũ khí hiện đại của một nước tư bản lớn mạnh, vì vậy phái chủ chiến tránh sao khỏi thất bại.

Mặc cho triều đình phong kiến suy nhược, tinh thần quật khởi của nhân dân ta vẫn bùng lên mãnh liệt từ Nam chí Bắc. Có thể nói đó là chỗ dựa tinh thần chắc chắn cho phái kháng chiến và tới khi phái này đổ vỡ thì cuộc kháng chiến tự vệ của nhân dân ta vẫn kéo dài. Chính giặc Pháp đã phải thừa nhận: cần phải chinh phục lại những vùng đất đã chinh phục rồi.

Trong toàn cõi nước ta, kể từ lúc đầu, thực dân Pháp đánh chiếm Nam Bộ, chúng đã bị nhân dân ta nổi lên chống đối và mãi về sau cũng thế. Ở Nam Bộ có các cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1860-1864), Nguyễn Hữu Huân (1868), Trương Quyền và nhà sư Pu-cầm-bô người Khmer (tiếp tục sự nghiệp của Trương Định kéo dài đến năm 1876)....  Ở Trung Bộ có những cuộc nổi dậy của Phan Đình Phùng tại Hà Tĩnh, Nghệ An (1885-1896), Phạm Bành, Đinh Công Tráng và Hà Văn Mao tại Thanh Hóa (1886-1887)... Ở Bắc Bộ có các cuộc khởi nghĩa của Tạ Quang Hiệu tại Thái Bình (1886), Nguyễn Thiện Thuật tại Bãi Sậy, Hưng Yên (1885-1889)... Tại huyện Kim Bảng (Hà Nam) có thủ lĩnh Đề Yêm lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp, kế tục sự nghiệp của khởi nghĩa Bãi Sậy. Sau khi Nguyễn Thiện Thuật thoát sang Trung Quốc vào khoảng giữa năm Kỷ Sửu (1889), Đề Yêm chuyển vùng hoạt động từ Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên sang vùng Hà Nam, Hà Đông, về tài liệu thành văn viết về nghĩa quân Đề Yêm có ít, nhưng ảnh hưởng của nghĩa quân vẫn còn nhiều trong trí nhớ của nhân dân Hà Nam, Hà Đông. Chúng tôi đã bước đầu sưu tầm, tìm hiểu về thân thế và quá trình hoạt động của Đề Yêm.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:11:17 pm
VÀI NÉT VỀ ĐỀ YÊM

Đề Yên tên thật là Đinh Quang Lý, người làng Đồng Lạc, tổng Kim Bảng hồi đó thuộc phủ Lý Nhân, nay thuộc xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Danh hiệu “đề” là chức đề đốc do các nhà yêu nước chống thực dân Pháp tự phong cho nhau và được nhân dân suy tôn như: Đề Thám (Hoàng Hoa Thám), Đề Kiều, Đốc Ngữ, Lãnh Tràng, Hiệp Cường.

Nguyên làng Đồng Lạc có 2 họ Trương. Họ Trương lớn có một ngành đổi ra họ Đinh. Gia phả họ Đinh này bắt đầu ghi từ cụ Đinh Chi Hương, tự là Chính Trực, đỗ sinh đồ (tú tài), làm tổng trưởng (chánh tổng) tổng Kim Bảng, có mua hậu thần cả xã. Cụ Hương sinh năm 1708, mất ngày 9/6/1772, sinh được 4 người con trai là Đinh Quang Cơ, Đinh Quang Cát, Đinh Quang Tùng. Gia phả còn ghi thêm các đời kế tiếp nhưng không thấy ghi tên Đề Yêm. Ông Đinh Tự Lập là trưởng tộc, đối với Đề Yêm là cháu 6 đời cho biết: sở dĩ như vậy vì Đề Yêm là ngành thứ, lại đi làm “giặc”, người đương thời sợ liên lụy và ngành đó không còn ai là con trai nối dõi tông đường, nên gia phả chỉ ghi ngành trưởng thôi. Ngôi đất ở của Đề Yêm đã thay chủ mấy lần, hiện nay (1963), gia đình đồng chí Trương Mạnh Tường, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Đồng Lạc và gia đình đồng chí Đinh Quang Do ở đấy.

Theo lời bà cụ Huân, 73 tuổi (1963) và nhiều người trong họ Đinh ở làng Đồng Lạc cho biết thì Đề Yêm có nước da ngăm ngăm, tầm vóc to lớn, rắn chắc, khỏe mạnh, võ thuật giỏi, đặc biệt có đôi mắt xếch. Ông lấy vợ cùng làng, tên là Tiêm, họ Hoàng, con gái bà Nhang Nghiên.

Đề Yêm làm lý trưởng, người anh con ông bác là Đinh Quang Đa, tức phó Đa làm phó tổng. Vào khoảng tháng 5 năm Đinh Hợi 1887, căm tức quân Pháp đến cướp nước nên khi thu thuế gần xong, Đề Yêm liền đem theo cả tiền thuế để đi khỏi làng. Phó Đa cùng phó lý Nai tìm báo cho bọn quan Tây biết việc này. Lập tức chúng cho phát mại tài sản của Đề Yêm để bồi thường tiền thuế. Phó lý Nai còn cho rời nhà Đề Yêm ra đồng đốt sạch. Sau đó, hắn được bổ làm lý trưởng. Song, mọi hành động của phó Đa, phó lý Nai đều không qua được mắt Đề Yêm. Tiếng là đi khỏi làng, nhưng ông chưa đi ngay mà còn nằm ở nhà một người kéo vó là ông chùm Đọ, họ Chu ở làng Yên Lạc (làng trên) để quan sát động tĩnh. Đề Yêm ở Yên Lạc độ 5 tháng mới ra đi thật. Ông sang Bãi Sậy (Hưng Yên) theo ngọn cờ tụ nghĩa Cần Vương chống Pháp của Nguyễn Thiện Thuật (Tán Thuật). Sau khi Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc, năm 1889 Đề Yêm đem quân về hoạt động ở các huyện Kim Bảng, Duy Tiên (Hà Nam), Ứng Hòa, Phú Xuyên (Hà Đông) rồi vào lập căn cứ gây cơ sở ở vùng Tuyết Sơn, Hương Tích thuộc huyện Mỹ Đức để chống Pháp.

Trong thời gian ở Tuyết Sơn, Đề Yêm có về thăm họ hàng, làng mạc hai lần, vào những đêm tình hình chiến sự êm êm. Thường thường mỗi chuyến đi rất ít người, chỉ có 2 hộ vệ cầm giáp đi theo bảo vệ Đề Yêm.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:15:49 pm
DIỄN BIẾN CUỘC KHỞI NGHĨA

Thời đó ở tỉnh Hà Nam chưa có kè đập, đê điều chưa đâu ra đâu. Dòng sông Đáy hiền hòa hay hung dữ còn hoàn toàn phụ thuộc vào lưu lượng nước sông Hồng. Năm nào cũng thế, cứ nước sông Hồng lên to là nước sông Đáy tràn bờ. Vì vậy, hàng năm, làng mạc ở hai bên bờ hai con sông này đều bị ngập lụt suốt bốn, năm tháng.

Năm Kỷ Sửu (1889), tức là năm Thành Thái nguyên niên, về tháng 6 (âm lịch), vùng Kim Bảng lúc ấy cũng nằm trong tình trạng trên. Đường sá, ruộng đồng đều chìm dưới nước. Những chòm cây xanh lỗ chỗ để lộ ra mấy nếp nhà tranh hoặc một vài mái đình chùa nhô lên khỏi mặt nước, trông xa cứ tưởng đó là những hòn đảo nổi. Đó đây một vài chiếc thuyền câu của người đi thả lưới, đánh lờ, bắt cá lênh đênh trên mặt nước... hoặc mấy chiếc thuyền nan bơi vội vàng từ làng nọ sang làng kia dưới trời mưa nặng hạt.

Vào khoảng hai giờ chiều ngày 16, người làng Yên Lạc lấy làm ngạc nhiên khi trông thấy 3 chiếc thuyền đại lững thững xuất hiện. Trống rong, cờ mở, thuyền lao vun vút về phía đường Thần Nông. Tiếng loa gọi trên thuyền dõng dạc: “Loa... oa. Bớ lý trưởng làng Yên Lạc ra đình hầu quan lớn. Loa... oa”. Đoạn, quân lính ở dưới thuyền tất cả đổ bộ lên bờ. Dân làng sợ quá, bàn nhau cử mấy cụ già nhất ra gặp thủ lĩnh nghĩa quân. Hàng ngũ quân lính tề chỉnh, gươm giáo sáng choang, tinh kỳ phấp phới dưới sân đình. Chủ tướng chính là Đê Yêm mời các cụ cùng ngồi và cho mời cụ chùm Đọ ra gặp. Cụ liền được Đề Yêm kéo ghế mời ngồi ngang hàng. Dân làng dõi theo thấy vậy mới yên dạ. Về sau, cụ chùm Đọ được Đề Yêm giao cho nhiệm vụ bảo vệ khu vực đóng quân. Những kẻ xấu lò dò đến do thám đều bị cụ trừng trị. 12 tên đã bị xử tử. Vì vậy, bọn do thám của Pháp hay của quan lại Nam triều phái đến đây đều khiếp sợ nghĩa quân. Chúng chỉ dám đến quấy quá những làng ở xa Yên Lạc rồi chuồn thẳng.

Hôm ấy, vào khoảng 4 giờ chiều, mặt trời đã chếch về phía Tây, đột nhiên xuất hiện một chiếc thuyền bồng chở một tướng và 7 quân lính được phái xuống Đồng Lạc, làng bên của Yên Lạc. Thuyền ghé vào nhà phó tổng Đa, nhưng hắn đi vắng. Con trai hắn là Thiều, 18 tuổi chạy lên, nhưng nhìn thấy người đang sục sạo tìm bố, hắn liền chạy xuống thuyền bơi trốn. Quân Đề Yêm gọi lại, nhưng Thiều vẫn cứ cắm cổ bơi đi. Tức quá, một nghĩa quân liền lập tức nổ súng. “Đoàng”. Thiều trúng đạn từ sườn qua bụng, chiếc thuyền tròng trành rồi từ từ chìm lỉm. Lúc đó, mẹ phó tổng Đa ra chắp tay lạy Đề Yêm xin tha tội chết cho con. Đề Yêm cung kính chắp tay lạy lại và nói:
- Cháu lạy bác. Anh Đa dại lắm, bác cứ bảo vợ chồng anh ấy ra đây.

- Vợ chồng nhà nó sợ chạy đi đâu rồi.

- Bác cứ bảo ra đây, cháu sẽ đưa tiền làm ma cho thằng Thiều. Nó cũng như con của cháu mà. Vì nó cứ bơi thuyền chạy đi nên chẳng may quân của cháu bắn trúng, biết làm thế nào được.

Số là Đề Yêm căm thù phó tổng Đa, định trừ khử hắn. Còn thằng Thiều là con Đa, nhưng nó là dòng dõi ngành trưởng của họ hàng nên Đề Yêm động lòng thương. Nó còn hương khói cúng giỗ ông bà, nên nói xong Đề Yêm cũng khóc. Cùng lúc đó, nghĩa quân lần lượt khuân vác tiền kẽm, tiền đồng, thóc lúa xuống thuyền. Có người vô tình khuân cả đồ thờ, Đề Yêm trông thấy liền quở mắng, bắt trả lại đâu vào đấy.

Trong khi nghĩa quân chưa rút thì phó tổng Đa về. Hắn đi bằng thuyền. Ngõ nhà hắn bổ tre rào từ lâu, chỉ thuyền con mới vào được. Đa bèn ghé thuyền lên nền chòi vịt ở cách nhà độ sáu, bảy thửa ruộng. Hắn đứng gọi đầy tớ “Ngát ơi! ơi Ngát. Cho thuyền ra, tao về”. Ngát đang nấp bờ tre đáp lại nhưng không dám nói to: “Trong nhà có cướp đấy”.

Phó tổng Đa tai lại nghễnh ngãng không nghe rõ, cứ to tiếng gọi. Nghe tiếng gọi mãi, nghĩa quân đoán là Đa về. Họ cứ: “Dạ, dạ” rồi lẳng lặng chèo thuyền ra. Cách Đa độ hai thửa ruộng, hắn mới giật mình biết là có biến liền nhảy tùm xuống nước lặn, nấp vào bờ tre, rét run cầm cập. Một lúc sau hắn được người nhà chèo thuyền chở chạy trốn sang thôn Điền Xá, nay thuộc xã Văn Xá, cùng huyện.

Thu dọn xong quân lương, Đề Yêm cùng binh sĩ rút đi. Lập tức phó tổng Đa đi tìm quân Pháp để báo cáo và mời một tên quan ba Tây về chữa cho con hắn. Xem vết thương của Thiều, hắn lắc đầu bởi không chữa được, vì Thiều đã bị chảy nhiều máu (năm sau thì chết). Hai hôm sau, thuyền nghĩa quân lại xuống ghé vào nhà lý phó Nai. Hắn nhanh chân trốn thoát. Nai chui xuống gầm bục cót lúa, chỉ để hở có hai lỗ mũi và đôi mắt thôi. Nghĩa quân sục sạo tìm mãi mà không thấy. Bố lý Nai là Trương Văn Thạc. Nai có 2 con (một trai, một gái), tên là Lý và Trí. Em rể hắn là Hoàng Văn Trưởng, lúc ấy đương làm phó lý cũng bị bắn chết.

Đề Yêm cho gọi loa để ổn định tinh thần nhân dân, cho quân canh bốn mặt, không cho một người nào ra ngoài. Bắt đầu từ ngày hôm sau, Đề Yêm cho loa gọi, truyền lệnh cấm cửa 3 ngày. Tất cả già trẻ, trai gái được mời ra đình làng ăn khao. Ba ngày liền dân làng được ăn uống no nê. Đề Yêm còn tổ chức hát chèo, bà con nô nức đi xem như xem hội.

Được ít lâu, Đề Yêm lại ra đi, để vợ ở lại nuôi mẹ già. Khi ông trở về nhà thì bà cụ vừa mới chết. Đề Yêm cúng mẹ một tuần rượu rồi đón vợ xuống thuyền cùng đi. Trước lúc ra đi, ông đã tế cờ ở đình.

Đề Yêm đạt giấy chiêu mộ nghĩa dũng và báo cho các xã, tổng trong vùng cung cấp lương thực.

Một lần, ông cho dân nghèo các làng Yên Lạc, Phương Xá, Lạc Nhuế đi theo thuyền xuống nhà chánh Thủy, tức chánh Kinh - một cường hào giàu có ở làng Điền Xá để lấy thóc chia cho bà con.

Các cụ ở làng Lạc Nhuế kể lại rằng: hồi các cụ còn nhỏ cứ nghe thấy tiếng trống đánh tong tong và trông thấy vài ba chiếc thuyền ván con cắm cờ ngũ sắc lướt qua ngoài ao làng thì đoán biết đó là quân Đề Yêm đi lấy lương và chiêu mộ nghĩa dũng.

Về việc chém giết người nhà phó lý Nai kể trên, một số người ở làng Đồng Lạc và quanh vùng cho là Đề Yêm trả thù, báo oán. Có đúng như thế không? Theo ý chúng tôi thì chưa hẳn như vậy, vì sau đó Trương Văn Duyên ra làm lý trưởng làng Đồng Lạc có thù oán gì với Đề Yêm đâu mà ngày 11 tháng 8 (âm lịch), Đề Yêm cũng cho người về giết ở ao dừa (vì có trồng dừa ở bò ao). Sau đó cho treo đầu lên ngọn tre, hạn 3 ngày mới được lấy xuống và cho gọi loa kể tội Duyên đi báo Tây làm tay sai cho chúng. Điều đó chứng tỏ Đề Yêm cũng như nhiều người yêu nước khác đương thời coi giặc Pháp là loại dị chủng (khác giống), tóc quăn, mũi lõ, da trắng, mắt xanh, thường gọi là loài bạch quỷ. Bọn chúng là kẻ thù không đội trời chung của nhân dân ta. Những kẻ làm tay sai cho chúng, tức là nối giáo cho giặc, giết chúng cũng là một cách đánh vào đầu giặc. Mặt khác, đây cũng là lời cảnh cáo những tên tay sai hoặc những kẻ lăm le làm tay sai cho giặc. Chẳng bao lâu ở làng Hội Xá, huyện Mỹ Đức, cánh cai Để, đội Đao - tướng của nghĩa quân cũng giết mẹ tổng Mỹ và đốt sạch một ngôi nhà của anh em tổng Mỹ, vì hắn làm tay sai cho giặc Pháp.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:24:17 pm
Nghĩa quân Đề Yêm đóng ở làng Đồng Lạc một thời gian ngắn thì bị lộ. Giặc Pháp đem quân theo dõi, nhưng chúng đóng cách xa. Trước tình hình ấy, nghĩa quân rất cơ động, khi thì đóng ở làng này, khi thì đóng ở làng khác. Có lần đóng ở làng Lạc Nhuế, cứ ban đêm thì đến, ban ngày lại đi, cả thảy độ 10 ngày.

Đối với những làng như Đinh Xá (xóm Lò), Thọ Xuân (xóm Dí) và Lạc Nhuế kháng cự nghĩa quân thì Đề Yêm cho đốt mỗi nơi độ mươi nóc nhà.

Do lụt lội diễn ra liên miên, nhân dân vùng Kim Bảng cũng như các vùng khác bị nạn đói trầm trọng. Lương thực nuôi nghĩa quân không còn cách nào khác là phải lấy ở các nhà giàu. Làng Lưu Xá hồi đó có nhiều nhà giàu nhất ở phủ Lý Nhân, vì có nhiều ruộng, lại có nghề phụ dệt vải, tiền dư thóc tích. Nghĩa quân đạt giấy lấy thóc, nhưng lý trưởng làng này không tiếp, vì vậy có rào tre dày đặc, lấp hết cả lối vào.

Một buổi trưa ngày cuối tháng 6 (âm lịch), trai làng Lưu Xá sau khi đã đánh trâu đi cày mò ruộng chiêm, về đến cổng làng, họ ngồi nghỉ dưới gốc đa cổ thụ. Người nọ chờ người kia cho đông, chứ đi lẻ thì cổng làng không mở. Họ ngồi trên bắp cày, trên gốc đa, hút thuốc, chuyện trò râm ran. Tại gốc đa này cũng có một người ăn mặc quê mùa quần nâu áo vải, bên nách lại đem một bọc quần áo cũ đang ngồi hút thuốc lào với ba anh chàng đồng nát có mang quang sọt lổng chổng những thau thủng, xanh bẹp, cái cân cũ kỹ để trên mẹt. Người ăn mặc quê mùa nói rằng: “Mình là tay cày bừa rất giỏi, làm bờ làm đỗi thẳng tắp như sợi chỉ vạch. Mình vào làng hỏi xem có ai thuê thì làm mướn”. Còn ba anh chàng đồng nát kia thì khỏi phải nói, tha hồ mà huyên thuyên: nào là giá đồng cao, giá đồng hạ; nào cái cô gái ông chủ mua đồng lại cong cớn nhưng trông cũng được: da trắng, mắt bồ câu... Mỗi người thêm vào một câu, rồi họ cười như nắc nẻ. Mấy chàng trai Lưu Xá cũng ghé xuống rít hơi thuốc lào, vui lấy vui để, cười ròn rã.

Khi thợ cày về đông rồi, cổng làng mới mở. Trâu và người lũ lũ lượt đi vào. Anh đi làm thuê và ba anh hàng đồng cũng gồng gánh theo vào. Người đi nhanh tiến lên ngõ trên. Người đi chậm đứng ở ngõ dưới. Dường như họ đã sắp đặt trước. Họ đứng ở cổng làng và ba ngõ dưới. Nhanh như cắt, họ dở vũ khí trong bọc và ở dưới gánh hàng ra. Bỗng dưng, người đi làm thuê thét lớn: “Cứ mở cổng ra”. Tiếng vang như sét đánh khiến cho mấy người giữ cổng đang đóng lại hồn vía lên mây. Nhìn lên, họ chỉ thấy ngọn kiếm loang loáng múa tay trên người đứng trước, khiếp sợ quá nên đành phải mở cổng. Thế là nghĩa quân Đề Yêm chờ sẵn ở bên ngoài ập vào. Lần này họ mới lấy được lương thực của mấy nhà giàu nhất làng Lưu Xá. Số là Đề Vang, một tướng cũ của khởi nghĩa Bãi Sậy, quê ở Quảng Yên lúc này đã đứng trong hàng ngũ nghĩa quân đóng vai anh thợ cày đi làm mướn kể trên.

Vào đầu tháng 7 (âm lịch) năm ấy (1889), đúng mùa nước to, ngập cả cánh đồng, việc đi lại trong thôn xóm đều phải dùng thuyền. Quân Đề Yêm kéo vào làng Ngang (nay là thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên), đóng ở đình làng và cho dịch loa: “Bớ lý trưởng ra đình hầu quan lớn”. Trong làng cứ “dạ” ran lên. Lo sợ quá, lý trưởng Nguyễn Văn Đức chạy đến lạy cụ đồ Phạm Văn Quang (thường gọi là cụ đồ Tá hay cụ đồ Hai)ra nghênh tiếp hộ. Cụ đồ Tá đang chít khăn, mặc áo chuẩn bị ra đình thì anh trai là cụ đồ cả lên gàn, vì lo lắng cho em. Song, cụ đồ Tá không nghe. Cụ ngồi trên chiếc đò nan mà trong đó lý trưởng Đức đã sắp sẵn một buồng cau để trên chiếc mâm đồng rồi cho người chở cụ bơi ra phía đình. Khi bước vào sân đình, cụ đồ chắp tay vái. Có tiếng trong đình nói vọng ra: “Cho vào”. Mấy nghĩa quân đứng ở hiên đình nhắc lại: “Cho vào”. Cụ đồ thong thả bước vào sân đình, nhìn lên thấy chánh tướng Đề Yêm ngồi với mấy phó tướng ở sập giữa, còn các cấp dưới ngồi hai biên. Cụ đồ được mời ngồi. Cụ ngồi ở sập dưới, nhưng Đề Yêm mời cụ lên cùng ngồi ở sập trên. Trong khi trao đổi đàm luận, Đề Yêm có hỏi ý kiến cụ đồ về việc vừa qua nghĩa quân đốt xóm Dí, làng Thọ Lão (xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng). Cụ đồ Tá thẳng thắn nói: “Các ngài đi mở nước, giết giặc ngoại xâm, trừ hại cho dân mà lại đốt nhà dân, e rằng nhân dân ta thán”. Đề Yêm phân trần: “Dân xóm Dí không tiếp chúng tôi thì thôi, đằng này họ còn bổ tre, rào xóm chống cự và chửi bới chúng tôi. Sự trừng phạt đó chỉ là bất đắc dĩ mà thôi”.

Các tướng lĩnh của Đề Yêm ngỏ ý sẽ cho quân vào các nhà giàu trong làng Ngọc Động để lấy lương thực nuôi quân, nhưng cụ đồ Tá xin đừng làm. Rồi cụ đồ cáo ra về. Cụ bảo lý trưởng trù biện đem ra một con lợn xúc và mấy thúng gạo cho nghĩa quân. Cụ đồ Tá và lý trưởng Đức (ẵm cả cậu con trai Tài theo) đi thuyền chở số lương thực, thực phẩm đó ra đình làng. Thuyền cập bến, thủ lĩnh Đề Yêm ra tận nơi đón và vui vẻ bế bé Tài. Sau đó nghĩa quân bổ tre rào cổng ngoài ngõ cụ tổng Ba.

Đến 3-4 giờ chiều, nghĩa quân gọi loa thông báo cho dân làng yên tâm làm ăn, ngày mai cứ đến họp chợ ở sân đình như thường.

Sáng hôm sau, dân làng Ngọc Động vui vẻ đi chợ. Trẻ con, người lớn tò mò đến xem các thuyền của nghĩa quân đóng ở ngay sau đình. Trong các thuyền có nhiều gạo, gà, vịt và một số thức ăn khác. Có những đứa trẻ nhảy cả xuống thuyền để xem. Dân làng có người được nghĩa quân cho cả nồi tư thịt để mang về ăn.

Số quân của Đề Yêm về làng Ngọc Động có độ 50 người, thủ lĩnh Đề Yêm đã có ống nhòm để quan sát. Khi nhìn thấy quân Pháp ở mạn An Phú, Thọ Lão đi lên, có nghĩa quân đòi đánh. Dân làng sợ Pháp sẽ làm hại làng nên xin Đề Yêm đừng đánh, vì địch còn ở xa. Đề Yêm đồng ý. Cuối buổi chiều hôm sau, nghĩa quân cho gọi dân làng đến bảo: “Thôi chúng tôi đi đây, kẻo ở lâu khi đánh nhau, dân làng sẽ bị thiệt hại”. Rồi tất cả thu xếp xuống thuyền. Thuận buồm xuôi gió, thuyền lướt nhanh vun vút lao về phía Đồng Văn để nhằm hướng ra thôn Bùi Nguyễn (chợ Lương hiện nay).

Vũ khí của nghĩa quân lấp lánh dưới ánh nắng vàng, bao gồm dáo mác, súng hỏa mai và 35 khẩu súng khai hậu của Pháp (loại súng mới nhất lúc đó của giặc). Nghĩa quân quý từng viên đạn một, không bắn phí.

Đoàn thuyền lại kéo về thôn Thần Nữ, xã Bạch Thượng. Trống rong cờ mở, nghĩa quân kéo vào đóng ở nhà bá Nho (người giàu nhất làng mua chức bá hộ) rồi gọi dân làng đến làm lợn, gà cùng vui vẻ. Nghĩa quân ở đây một ngày một đêm rồi lại ra đi.

Trong hoàn cảnh thiếu lương ăn, nhưng các chiến sĩ vẫn vui vẻ ca hát. Vì đều xuất thân từ nông dân nên họ rất yêu mến những người cùng khổ, tuyệt đối không tơ hào của cải của nhân dân. Nghĩa quân chỉ lấy thóc lúa ở những nhà giàu có. Đôi khi họ còn giúp đỡ các gia đình nông dân nghèo.

Nghĩa quân Đề Yêm xuôi thuyền về tới làng Dộc, nay là thôn Thụy Sơn, xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng. Lúc này quân số của Đề Yêm đã lên vài trăm người. Thuyền đậu trên sông san sát như lá tre (cả thuyền ván lẫn thuyền nan). Bữa ăn của quân sĩ thịt thái hàng nong, cơm thổi rất nhiều. Dân làng có người hiểu lầm, sợ hãi. Biết vậy, có nghĩa quân nói: “Chúng tôi có làm gì mà các ông, các bà ngại, cứ yên tâm”. Họ còn âu yếm bế cả trẻ con và cho ăn xôi, thịt.

Sau đó, đoàn thuyền nghĩa quân kéo ngược lên Cầu Go (nay là ấp Thọ Cầu, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng). Ở đây họ được các bậc đàn anh trong làng nghênh tiếp chu đáo rồi cho trai tráng mổ bò làm tiệc thết đãi.

Ăn uống xong, nghĩa quân chèo thuyền tắt qua cánh đồng phía Tây vào đóng ở chùa Tam Giáo, thuộc làng Quang Thừa, xã Tượng Lĩnh. Chùa nằm ở phía trong hang núi, chỗ chân dãy núi con Chắm. Dãy núi này phía đầu ngoảnh về phương Bắc có vực thẳm chùa Ông, cuối là phía Nam, giáp cánh đồng làng Thụy Sơn. Đằng lưng là phía Tây có sông Đáy chảy qua về phía trước mặt, phương Đông có cánh đồng các làng Quang Thừa, Cầu Go, Thụy Sơn, Lạc Nhuế... Nghĩa quân đóng ở chùa Tam Giáo độ gần một tháng.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:26:22 pm
Một hôm về đầu tháng 8 (âm lịch), mặt trời lên cao được độ 2 con sào, 3 tiếng mõ nổi lên ở vọng canh tiền tiêu, đầu mỏm đá cao ngoài mỏm núi, người đốc canh chạy ra. Một nghĩa quân đứng canh, tay chỉ về phía trước nói: “Chiếc thuyền kia chèo gấp lắm, chắc có chuyện gì? Đằng sau chiếc thuyền ấy sao lắm thuyền thế?”. Đốc canh liền đánh 3 hồi mõ, mỗi lần 5 tiếng. Lần lượt các hốc đá, hốc cây, từng chặng một có người đánh như thế, chuyền dây vào tận trong chùa. Lập tức Đề Yêm ra ngay thực địa. Cùng đi có mấy lính hộ vệ. Đến sân, Đề Yêm đứng sát cây nhãn to, đưa đôi ống nhòm đeo ở ngực lên nhìn. Sau đó, ông truyền lệnh báo động và cho người ra bến đón người đang chèo chiếc thuyền con tới. Thuyền vừa cập bến, chủ thuyền liền nhảy lên bờ và rảo cẳng đi lên gặp chủ tướng. Đề Yêm cùng người đó bước đi, chỉ thấy ông gật đầu lia lịa. Quản Cẩm cầm lấy chiếc loa đồng của chủ tướng đi ra và dõng dạc dịch: “Loa...oa. Lệnh truyền cơ nào đạo ấy, sẵn sàng đến vị trí chiến đấu của mình chờ lệnh. Loa...oa”.

Thì ra người ngồi thuyền lúc nãy là một trong những nghĩa quân đi lấy lương về. Nhìn thấy thuyền của Pháp và lính tập, nghĩa quân liền chèo vào đổ bộ lên xóm làng hòa mình với dân làng và không quên cho một người chèo thuyền về để báo tin cho chủ tướng. Không khí diễn ra khẩn trương. Người cầm kiếm, cầm đao, người cầm súng, chỉ nghe thấy tiếng chân người chạy rầm rập. Họ thoăn thoắt trèo lên sườn núi nấp vào các hòn đá cao hay cổ thụ. Chừng dập bã trầu, các cơ, các đội, đâu vào đấy. Tiếng loa lại nổi lên báo: “Đoàn thuyền địch đang chèo gấp về phía ta, tất cả sẵn sàng chờ lệnh”. Trống cái, trống con trong chùa nổi lên ầm ầm. Người nào cũng dán mắt nhìn về phía trước. Những con mắt căm hờn, với bầu máu nóng của nghĩa quân sẵn sàng tiêu diệt quân thù. Có người nghiến răng nhìn quân địch đang chèo tới.

Tiếng trống trong chùa mỗi lúc một dữ dội, khiến thuyền địch dừng lại cả. Chúng bắn hàng loạt đạn vào chùa, tiếng đạn chiu chiu, nổ chan chát vào đá, loé lửa. Địch bắn rất nhiều, nhưng không dám tiến. Nghĩa quân chỉ thúc trống, không bắn trả lại. Một chiếc thuyền của địch tách ra khỏi đoàn , tiến thẳng vào phía chùa. Khi địch đến gần ,tiếng trống bỗng ngắt . Súng ròn rã nổi. Hai thằng Tây (một quan một, một quan hai) lộn nhào xuống sông. Chúng phải vội vã chèo lùi ra. Nghĩa quân bồi thêm một loạt đạn nữa. Lập tức hai tên lính lăn quay tại chỗ . Thế là địch phải ù té tháo chạy.

Một cuộc họp chớp nhoáng được Đề Yêm triệu tập trong chùa. Sau khi nhận định tình hình, các tướng lĩnh đều nhất trí rút vào căn cứ địa mà Đề Yêm đã phái Hiệp Cường đi tìm trước rồi.

Nghĩa quân hoạt động không sao tránh khỏi con mắt rình mò, theo dõi của giặc Pháp. Chúng đóng quân ở xa tại thôn Bài Lễ, nay là Do Lễ thuộc xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, nhưng vẫn chú ý các hoạt động của Đề Yêm. Có một kẻ manh tâm ở thôn Quang Thừa đã đi báo Tây nên chúng mới cho quân đến vây đánh nghĩa quân như đã nêu ở trên.

Hôm ấy, độ 2 giờ chiều, nghĩa quân mới rút đi... Đoàn thuyền tiến thẳng về phía thôn Mã Não, thuộc xã Ngọc Sơn cùng huyện và đóng ở đình làng. Dân làng giết lợn làm cỗ bàn thết đãi binh lính. Trong làng này có tên Cà Vẹt, trước đã đi lính cho Pháp, nay đi báo tin cho Tây. Thế là hôm sau, địch kéo quân về vây làng Mã Não.

Được tin trên, Đề Yêm ra lệnh cho các quân sĩ chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Đình làng được bố trí thành công sự. Các cối đá cắm tàn, lọng cột gỗ, sập ngồi v.v.... đều được vần ra chắn cửa và có chừa khe hở làm lỗ châu mai. Tuy công việc đối phó khẩn trương như vậy, nhưng trong đình vẫn nổi trống phách hát chèo, như không có chuyện gì xảy ra.

Thuyền của quân Pháp vây quanh làng, nhưng dè dặt không dám xông vào. Mãi sau chúng phái một chiếc thuyền con chở thằng quan ba Tây, thằng tri phủ và mấy tên nữa, lượn ngoài xa rồi sấn vào cửa đình. Nghĩa quân đã chú ý, nhưng chờ cho chúng vào gần mới nổ súng.Thằng quan ba Tây trúng đạn ngã kêu rống lên. Thằng tri phủ sợ hãi quá, nằm nép vào mạn thuyền và ra lệnh cho thuyền rút mau. Chúng đóng đen cả cánh đồng rồi nã tất cả các cỡ súng vào làng. Từng tràng, từng tràng đạn bắn, đến nỗi cây cối gần như trụi lá.Cả một vùng vang tiếng súng. Chỗ thằng Tây bị bắn là giếng Lập, nay chỗ đó vẫn còn tên gọi như vậy.

Đêm ấy, Đề Yêm cho treo lên nóc đình một ngọn đèn và cho ông từ đánh trống rền đến sáng. Địch cứ nhòm ngọn đèn mà bắn vào. Còn nghĩa quân thì ung dung rút về làng Thụy Xuyên (tên Nôm là làng Thượng, xã Ngọc Sơn, cùng huyện) bằng thuyền.

Ngày hôm sau, tức là ngày thứ 3, kể từ lúc nghĩa quân đến, dân làng Mã Não bồng bế con cái lên ngôi chùa ở đầu làng để ẩn. Trống trong đình thôi không đánh nữa. Mặt trời lên cao.

Giặc Pháp vẫn dập dờn, không dám vào làng. Sau đó chúng cho quân kéo vào đầu làng, nhưng rất dè dặt và sợ sệt. Chúng xua lính khố xanh đi trước đến gốc đê, cách chùa một cái sân và một góc vườn, ước chừng 25 m. Nó cho lính bắn vào chùa để xem động tĩnh. Một tiếng kêu thét lên. Một người trong chùa bị trúng đạn, chính là con bà từ Cầu. Đạn còn trúng cả vào tượng Phật trong chùa. Lúc ấy trong đình đầy đàn bà, trẻ con không chạy được mới kéo nhau lên đây. Bà đội Xúc, quê ở Vân Đình (Hà Đông) xuống đây buôn bán mới kêu to lên: “Trong này chỉ có đàn bà và trẻ con thôi, đừng bắn”. Mọi người kêu khóc ầm ĩ nên chúng thôi không bắn nữa. Chúng phái hai tên lính vào dò xem thực hư và hỏi xem có còn “giặc” ở trong làng hay không. Hỏi đi hỏi lại thật kỹ rồi chúng mới dám tiến vào làng. Từng tốp, từng tốp rụt rè, lấm lét nhìn ngang liếc dọc. Một tiếng động nhỏ, chúng cũng rúm lại với nhau và lên đạn lách cách. Bỗng tên đi đầu thụt xuống báo cho đồng bọn chuẩn bị chiến đấu. Bất ngờ, một người mặc áo tơi lá đi ra. Bọn lính cuống cuồng, hấp tấp nấp vào hai bên cổng nhà dân. Chúng nắm chắc cò súng rồi cho một thằng ra hỏi. Thằng này mồm thì hỏi nhưng tay súng run lên bần bật. Thì ra người mặc áo tơi nói trên chỉ là một người dân bình thường. Mấy thằng Tây lại tiếp tục thúc lính tiến, vào sâu trong xóm. Lâu lắm chúng mới vào được trong làng. Mấy hôm sau Tây bắt tất cả dân làng ra triệt hạ ngôi đình, gỗ thì chở về Phủ Lý. Ngôi đình làng Mã Não bây giờ là do dân làng làm về sau này.



Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:30:30 pm
Ở miền Bắc nước ta, mỗi năm vào độ đầu xuân, từ cuối tháng giêng sang đầu tháng ba, người miền ngược đổ về, người miền Đông đổ sang, miền xuôi kéo ngược, nườm nượp chảy về phía Tây tỉnh Hà Đông để “Dạo cảnh chùa Hương ngắm nước non”, sau đó đến chợ Đục Khê, xuống Phú Yên, vào chùa Tuyết; chỗ nào cũng có sơn, có thủy, có hang, có động. Trong một cuốn sách do Ty văn hóa - thông tin tỉnh Hà Đông xuất bản đã giới thiệu thắng cảnh Hương Sơn và chùa Tuyết Sơn như sau:

Chùa Tuyết Sơn thuộc hệ thống chùa Hương Tích, nhưng nằm khuất mãi ở giữa vùng núi rừng trùng điệp. Từ xưa, chùa Tuyết Sơn đã nổi tiếng là nơi cảnh đẹp, linh thiêng. Phan Huy Chú trong cuốn sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã viết: “Tuyết Sơn có nhiều lượt núi cao, trong núi có động rất đẹp. Trong động có nhũ đá rủ xuống, chồng chập hiện ra, coi như một dãy tán, cảnh trí xanh tốt âm u...
Trên cửa động Tuyết Sơn có ba chữ lớn “Ngọc Long Động” (Động con rồng ngọc), tương truyền là Tĩnh vương Trịnh Sâm đề. Trong động có nhũ đá, đẹp như ổ rồng, cây bạc và pho tượng Phật tạc vào đá.

Trịnh Tĩnh Vương có đề thơ ở đây
”.

Như vậy là ta mới biết Tuyết Sơn về phương diện phong cảnh, lịch sử, còn về vị trí quân sự của nó thì chưa mấy ai chú ý đến. Có chăng người nào tò mò sẽ biết thêm được ở đây có câu phương ngôn nói lên những điểm đặc điểm của mấy làng trong vùng này là: “Gái Hội Xá, cá Phú Yên, tiền Yến Vĩ”.

Làng Hội Xá có nhiều con gái đẹp, làng Yên Vĩ thu được nhiều tiền đò suối, vì khách đi trảy hội Chùa Hương rất đông. Còn làng Phú Yên có cửa sa bắt được nhiều cá, vì đến mùa mưa, nước sông Hồng tràn, về sông Đáy suốt từ Ba Thá đổ xuôi, nước cũng như cá xuôi theo chân dãy núi từ Hòa Bình đổ về đến Phú Yên mới có lối ra sông Đáy. Làng Phú Yên lại có Tuyết Sơn, một vị trí quân sự liên quan đến lịch sử chống Pháp của Việt Nam mà con mắt Đê Yêm đã nhìn thấy cách đây ngót một trăm năm. Sau đó, Tuyết Sơn cũng vẫn là nơi dụng binh của các nhà yêu nước chống Pháp. Năm 1917, một cánh quân 16 người của Đội Cấn nổi dậy ở Thái Nguyên kéo về đây. Hồi Nhật sắp đảo chính Pháp (9/3/1945), một cánh quân Pháp, kể cả lính Tây và lính khố đỏ đóng ở Nam Định đã bỏ trại kéo theo đường đồng lên Hà Nam rồi vào Tuyết Sơn, đi xuyên qua Hòa Bình. Hồi kháng chiến chống Pháp, tỉnh đội Hà Đông đã lấy Tuyết Sơn làm căn cứ địa. Lúc đánh Pháp ở đồn Yến Vĩ, ta cũng lấy Tuyết Sơn làm nơi đồn trú của bộ đội và dân công.

Tuyết Sơn có một ngôi chùa ở trong động, từ thung lên cao chừng vài chục thước. Trước động là một cái thung, đi từ chùa Bảo Đài vào đây là 1 km, từ động vào trong cùng cũng dài bằng từ Bảo Đài vào động. Diện tích thung này bây giò nhân dân vỡ hoang trồng trọt trên 100 mẫu Bắc bộ (mỗi mẫu có 3600 m2).

Vào Tuyết Sơn ngoài con đường chính phải qua chùa Bảo Đài ra còn 2 con đường nữa: một là Cổng Dại ra lối cánh đồng Yên Vĩ, Đục Khê; hai là quèn Gánh Gạo qua quèn Côm, núi Vua, qua núi Kính Lão ngược lên mạn Hoà Bình hay suối Chi Lê (Hoà Bình), Nho Quan (Ninh Bình). Còn phía trong cùng thung có núi đá vôi đứng thẳng như tường. Hồi đó, đường vào rậm rạp, khúc khuỷu, gập ghềnh. Lối chính vào chùa Bảo Đài, đến chỗ đường hẹp, hai bên vách đá, mỗi bên một người cầm ngọn giáo đứng canh không ai có thể qua được. Địa hình này thật là “một người giữ ải, vạn người bó tay”. Thuở ấy, thực dân Pháp chưa có máy bay, lợi dụng địa thế hiểm yếu này, nghĩa quân Đề Yêm sau khi rút đến làng Thụy Xuyên, ra sông Đáy, rồi kéo ngược đoàn thuyền, gồm cả ván lẫn thuyền nan có trống rong, cờ mở. Người ngồi đầu mũi thuyền cầm lá cờ là Nguyễn Văn Quang, người làng Vĩnh Sơn (Kim Bảng) lúc đò chảy qua, người làng đều thấy cả.

Đến gần Phú Yên, đoàn thuyền chia làm 2 cánh: một kéo vào cuối làng Phú Yên, một đi ngược ngòi vào Đục Khê, Hội Xá. Dân làng lúc đầu do không hiểu nên nhìn thấy nghĩa quân sợ quá, bỏ chạy, nhất là quan viên hai họ đang dự đám cưới cô tổng Ngem ở Đục Khê bỏ cả cỗ bàn. Hai cánh quân đi vòng kiềng gặp nhau ở đình Phú Yên. Lúc ấy, vào cuối tháng 8 (âm lịch) năm 1881. Nghĩa quân đóng ở đây 5 ngày có tổ chức hát chèo cho dân làng xem. Trước khi kéo vào Tuyết Sơn có làm lễ tế cờ. Một tiểu đội đóng ở đình này. Rồi lệnh “cấm cửa” được ban bố, nghĩa là chỉ những nghĩa sĩ mới được ra vào. Còn người thường thì cấm hẳn, không được vào. Nghĩa quân đạt giấy đi các nơi chiêu mộ nghĩa dũng và lấy lương thực của các nhà giàu có. Nhân dân các làng xung quanh hưởng ứng rất sôi nổi. Hàng chục người được cử vào phục vụ nghĩa quân. Trong lúc nghĩa quân thiếu người cấp dưỡng, lập tức cụ Đinh Văn Phê và mấy cụ bô lão nữa ở Đục Khê tình nguyện xin vào làm.

Nghĩa quân vào đến Tuyết Sơn liền bắt tay vào việc xây đồn, đắp lũy, đào hào. Hiệp Cường - một tướng của Đề Yêm được chỉ định chỉ huy việc này.

Nghĩa quân đóng một đồn chính ở động chùa Tuyết và 4 đồn nữa là: Bảo Đài, cổng Dại, quèn Gánh Gạo, Đồng Hến (cuối thung), ở Bảo Đài, chùa hẹp nên chỉ đóng được một tiểu đội. Trại quân phải đóng dịch vào chỗ bể Cạn, vì đây là một đồi đất. Đề Yêm đóng ở đồn chính, còn 4 hiệp quản đóng ở 4 đồn kia, trong đó có Tác Vi đóng ở Ba Tòa rồi sau rút vào Bảo Đài. Mỗi đồn đều có bếp rèn để đánh vũ khí như: dáo, mác, mã tấu và đúc súng thần công 1. Tổng số có 6 bếp rèn, mỗi bếp có mấy bễ sắt. Để phục vụ sản xuất vũ khí, nghĩa quân đã huy động nhiều thuyền chở vật liệu tới. Ngoài ra, có một đồn tiền tiêu đóng bí mật ở chợ Dầu (Kim Bảng) do Hiệp Cường đốc xuất và một đồn nữa ở thung Côm thuộc xã Hòa Lạc, huyện Mỹ Đức, ở phía Bắc dãy núi chùa Hương, cách Tuyết Sơn độ 10 km. Đồn này đóng thành doanh trại 2.

Sự canh phòng trong căn cứ Tuyết Sơn rất nghiêm ngặt. Từ đồn Bảo Đài vào đồn chính phải qua cả thảy 5 trạm canh nữa. Đồn chính được xây dựng dựa vào vách núi, trong chia làm 2 phần: một bên dành cho chủ tướng Đề Yêm rộng hơn (nơi đây kiêm cả làm phòng hội họp của các tướng lĩnh), một bên dành cho vợ Đề Yêm nghỉ thì hẹp hơn. Những buổi họp bắt đầu từ sáng đến non trưa, các tướng lĩnh đều tề tựu đông đủ.




----------------------------------------------------------------
1. Theo một số cụ già cho biết thì nghĩa quân đúc được 2 khẩu súng thần công. Theo tài liệu của Pháp “Lính khố xanh Đông Dương” thì địch bắt được 1 khẩu thần công (loại nhỏ) lúc nghĩa quân tan rã.

2. Hiện nay nền nhà và chỗ vách núi làm nơi ăn uống còn dấu vàng ám khói.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 02:34:21 pm
Về tuyển quân thì ví dụ sau minh họa cụ thể: Vương Văn Trí, Vương Văn Hậu là hai anh em họ, quê ở làng Đục Khê xung phong xin gia nhập nghĩa quân. Sau khi hỏi han quê quán, ý nghĩ của mỗi người, rồi Vương Văn Trí được nhận, còn Vương Văn Hậu thì được cho về, vì anh mắc phải cái tật chống gáy dễ nghe người khác nói và tật chống hơi nữa, người anh lại không được khỏe. Xem ra cách tuyển quân của Đề Yêm không những kén người khỏe mạnh mà còn kén cả tướng người.

Về huấn luyện: Quân sĩ được chia ra các cơ, đội, có tập luyện các môn võ côn, quyền, sử dụng dáo, mác, mộc và tập bắn súng.

Thủ lĩnh Đề Yêm và những người đứng đầu cuộc khởi nghĩa rất chú trọng đến việc trang bị và cấp dưỡng cho nghĩa quân. Nhiều thầy đồ ở vùng Vân Đình, huyện Ứng Hòa chuyên làm mũ bằng da và áo dầy bằng giấy bản cũ bồi lại, làm xong cất giấu xuổng hầm. Khi nào tiện thì chuyển vào Tuyết Sơn, cung cấp cho nghĩa quân.

Trong Tuyết Sơn có dự trữ được nhiều thóc lúa, muối ăn; trâu bò thì hàng đàn. Trước cửa đền chính dưới thung, chỗ cạnh gốc cây thị đi vào về bên tay phải có dựng một căn nhà để xay lúa giã gạo suốt ngày đêm, lấy gạo nuôi quân, về ăn uống, nghĩa quân có tổ chức ban cấp dưỡng hẳn hoi 1.

Ngoài ra, nghĩa quân còn chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục, bên kia gốc thị về tay trái có dựng một rạp hát thường xuyên diễn chèo, tuồng để động viên, kích thích tinh thần yêu nước, chí cám thù giặc xâm lược của quân sĩ và cũng để cho họ giải trí nữa. Nguyên là trong hàng ngũ nghĩa quân từ Bãi Sậy về đây đã có một đội tuồng chèo rồi. Vì vậy, khi đến các làng Yên Lạc, Đồng Lạc, Phú Yên, nghĩa quân đều tổ chức hát chèo cho quân lính và đồng bào xem. Ở các làng Tam Giáo, Mã Não, nghĩa quân vừa đánh nhau với Pháp, vừa đánh trống hát chèo. Khi nghĩa quân về đến Tuyết Sơn, gánh hát của ông trùm Thỉnh ở làng Hữu Vĩnh, huyện Ứng Hòa liền gia nhập hàng ngũ của thủ lĩnh Đề Yêm 2.

Nghĩa quân vào đóng ở Tuyết Sơn được độ mươi hôm, bọn Pháp đánh hơi và kéo quân về đàn áp. Chúng đến bằng hai đường: một từ Ba Thá, huyện Mỹ Đức đi theo bờ sông Đáy qua kênh đào Phù Lưu Tế xuống; một về bên bờ trái qua Vân Đình, Bài Lâm sang. Đầu tiên chúng đến Đục Khê đóng ở đấy rồi cho người đi do thám, dò hỏi nhân dân. Không những ở làng Đục Khê này mà ở các làng xung quanh, tất cả những ai theo nghĩa quân thì đã vào căn cứ Tuyết Sơn. Số còn lại đều là những người dân hiền lành, chất phác một lòng một dạ ủng hộ nghĩa quân Đề Yêm. Khi Pháp dò hỏi, họ đều một mực trả lời: “Không biết”. Chúng dụ dỗ nói ngon nói ngọt rồi cho quân đi lấy thóc lúa của những làng khác về phát cho dân, thậm chí còn dùng tiền bạc để mua chuộc mọi người. Rốt cục, chúng vẫn không đạt được mục đích đen tối. Chúng quay sang dọa nạt, khơi mào, gợi ý, song cũng chỉ biết được rằng nghĩa quân đã vào Tuyết Sơn.

Ba ngày sau, quân Pháp xuống đến Tiên Mai rồi đến Phú Yên. Khi biết tin giặc sắp tràn về, dân làng Phú Yên rút hết vào rừng, kiên quyết thực hiện khẩu hiệu “vườn không, nhà trống”, làm cho chúng không còn chỗ dựa nào.

Tiểu đội nghĩa quân đóng ở đình Phú Yên cũng rút vào đóng ở Ba Tòa. Đây là tốp tiền tiêu do Tác Vi, người làng Dộc (Thụy Sơn) đốc xuất. Đứng trước một khoảng núi non trùng điệp, hiểm trở, trong đó có những kẻ đối địch với mình, lại chưa biết lợi thế nơi này ra sao, chưa nắm được tình hình của đối phương thế nào nên quân Pháp đành phải lui về Đục Khê đóng lại. Cách đó ba hôm, chúng lại mò về Phú Yên và đóng ở đình. Một mặt chúng cho dụ người về làng, đồng thời mở một cuộc họp gồm có chánh, phó công sứ Pháp, chánh, phó quản đạo Mỹ Đức và các võ quan khác để bàn mưu tính kế. Chúng dùng chước quỷ: cho lính đi lấy thóc ở các vùng xung quanh đem về phát chẩn cho dân làng. Ai nói nhà có nhiều người, chúng cho lưng thúng. Mặt khác, chúng cho người đi bắt dân phu các làng đến đắp ụ ở các cánh đồng Ngà (Phú Yên), Bùi (Đục Khê). Hiện nay, hai ụ súng ấy vẫn còn. Quân Pháp làm như vậy là để nấp và đặt bệ súng trên ụ nhằm bắn thẳng vào chùa Bảo Đài.

Một hôm, từ tờ mờ sáng, chưa có tiếng chim kêu, người còn ngái ngủ, bỗng vang lên tiếng súng “đùng, đoàng” từ hai ụ đất bắn vào chùa Bảo Đài. Thì ra quân Pháp đã khởi thế công. Chúng bắn rất nhiều đạn vào núi, vào cây, có viên rơi cả xuống nước. Ngược lại, nghĩa quân bắn lại ít, có lúc còn im bặt, hình như không có chuyện gì xảy ra. Đến độ 8 giờ, nghĩa quân ở Ba Tòa mới nổ súng bắn xuyên sườn quân Pháp. Chúng bị đánh đòn bất ngờ, thành ra lúng túng phải chia hỏa lực về hai nơi và vội vã rút lui. Lúc ấy, Tác Vi nằm trên mái đền Ba Tòa truyền lệnh cho nghĩa quân bắn theo. Thằng quan một Pháp trúng đạn. Chúng cho lính khố xanh tập trung bắn trả lại nghĩa quân và một số xúm lại khiêng xác thằng quan một chạy.

Hôm sau, chúng lại khởi thế công. Tờ mờ sáng, từ chỗ ụ đất chúng nổ súng vào Ba Tòa. Cánh quân này xả súng bắn lia lịa vào đó, lâu lắm chúng mới dám lên đền thì té ra nghĩa quân không đóng ở đấy nữa mà đã rút vào Bảo Đài từ đêm hôm qua rồi. “Đùng, đoàng”, chúng bắn thêm ít phát súng nữa rồi rút về đình Phú Yên. Ít hôm sau, chúng dùng thuyền để tiến nhưng chết một nỗi, hễ thuyền nào nhô lên khỏi Ba Tòa là nghĩa quân rót đạn tới. Một chiếc thuyền bị đắm, hai chiếc thuyền bị thương, luống cuống cả với nhau. Cuối cùng chúng phải rút lui. Rồi sau mấy lần thuyền cứ thập thò ra khỏi mỏm núi là bị nghĩa quân bắn ngay, địch không sao tiến được.





---------------------------------------------------------------
1. Ông Hiền, ông Hương Mát là người làng Phú Yên. Lúc giặc Pháp đến vùng này lần đầu tiên, hai ông cùng nhân dân chạy vào Tuyết Sơn để tránh khủng bố. Hai ông đã tự nguyện đến ban cấp dưỡng này để nhận nhiệm vụ phân phối thức ăn và cơm nước cho dân làng.

2. Ở Vĩnh Sơn, huyện Kim Bảng có một người trước có gia nhập nghĩa quân Tuyết Sơn, sau lại theo Đề Thám. Khi về, ông ấy lại kể rằng: “Không có “loạn” nào lại vui như “loạn Tuyết Sơn” chỗ hát cứ hát, chỗ đánh nhau cứ đánh nhau.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:23:11 pm
Một ngày khác, địch tiến bằng đường bộ theo lối Ba Quèn. Nhưng quân địch cứ chớm lên chân quèn là bên trong nghĩa quân đã biết rồi, vì có mật gác. Nghĩa quân sẵn sàng nghênh chiến, tiêu diệt giặc. Mấy lần địch cố gắng sống chết tiến, nhưng đều bị thiệt hại nặng, không sao xông vào được. Có lần, cánh quân bộ của chúng đến Ba Quèn. Một tên lính Pháp mò vào bãi lầy có sậy mọc um tùm, lập tức bị nghĩa quân nổ súng trừng trị. Trong đồn có tiếng loa truyền “Loa... oa. Bớ ba quân, ai lấy được đầu Tây, thầy sẽ trọng thưởng. Loa...oa”. Tiếng loa vừa dứt, một người một tay cầm mộc, một tay cầm mã tấu, lộn mộc xông ra, đó là đốc Nghễ, quê ở làng Dộc. Gần tới nơi, thằng Tây nhổm dậy bắn luôn một phát, đốc Nghễ trúng đạn sổ ruột ra, chạy được về đến đồn mới chết, cả thảy, giặc Pháp xông vào khu vực nghĩa quân 4 trận, nhưng trận nào cũng không tiến được. Kết quả chúng chết một tên quan một Pháp, một số tên bị chết và bị thương. Chúng đành phải quay về nhưng để lại ở Phú Yên một bộ phận gồm 3 tên lính Pháp, còn toàn là lính tập (sau này chúng lấy vợ ở đây như sếp Tý lấy Nguyễn Thị Cảnh, đội Sán lấy bà Tề).

Trong thời gian trên, chùa Hỏa Quang 1 có 5 gian, 2 trái bị địch sửa lại thành trại đóng quân. Chúng còn khoét cả tường ra làm lỗ châu mai. Mục đích của chúng đóng quân ở đây để làm án ngữ, chặn đứng đường liên lạc tiếp tế của nghĩa quân. Mặc dù vậy, nghĩa dũng các nơi và lương thực vẫn liên tiếp đổ vào Tuyết Sơn bằng cách đi vòng sang bên trái hoặc sang bên phải làng Phú Yên để che mắt giặc.

Quân Pháp có một tàu chiến nhỏ thường thường chạy từ Phủ Lý lên để tiếp tế lương thực, đạn dược cho bọn lính đóng ở chùa Hỏa Quang. Nghĩa quân Đề Yêm cắm trên núi cửa Bịa một lá cờ. Cứ sáng sáng tàu chiến Pháp mò lên là chúng nhằm lá cờ mà bắn 4 phát đại bác. Chiều về, chúng lại bắn 3 phát. Chiếc tàu trên có nhiều khi đậu ở bờ tay phải sông Đáy, chỗ cánh đồng Quan Dã của làng Tiên Mai.

Tuy quân Pháp án ngữ xông xáo, nhưng nghĩa quân vẫn giữ được sự giao thông bình thường. Mỗi chuyến đi độ năm, ba chiếc thuyền để liên lạc, trao đổi tin tức với bên ngoài hoặc đi lấy lương thực. Nghĩa quân còn mang lúa gạo, cỗ lòng và thủ trâu, thủ bò giúp đỡ những người nghèo trong vùng. Việc phân phối đó do ban cấp dưỡng của nghĩa quân chịu trách nhiệm. Một lần, thuyền nghĩa quân đi lấy lương thực về qua núi Vu Ốc ở cánh đồng Phú Yên, liền gọi: “Bớ bố Chỉ có lấy cơm thì ra đây cho”. Ông Chỉ là một người nghèo ở núi Vu Ốc, ngày ngày kiếm cá sinh sống, đời sống hết sức khó khăn. Nghe tiếng gọi, ông liền bơi thuyền ra và được nghĩa quân cho một xanh bảy thịt rang, một nồi thịt luộc và một thúng cơm. Nghĩa quân đi đi, về về trên sông Đáy là thường, nhưng phải có ám hiệu. Một lần, nghĩa quân do Hiệp Cường chỉ huy ở bên làng Phú Dư, tả ngạn sông Đáy sang. Người cầm cờ vừa ló ra liền bị quân Pháp bắn ngay. Nghĩa quân đành lui lại và tản vào bãi mía de 2 um tùm rồi rút về Phú Dư, không ai việc gì cả. Trận này xảy ra vào mùng một tháng 9 (âm lịch), năm Kỷ Sửu (1889).

Một lần khác, bất thần Pháp đem quân ập vào làng Hữu Vĩnh. Lúc đó, một số nghĩa quân đi tuyên truyền cổ động và dẫn nghĩa dũng nhập ngũ vừa về đến làng. Nghĩa quân liền dấu phăng vũ khí đi: Vì không có ai mách bảo nên địch có mắt cũng như mù, nghĩa quân đứng ngay trước mặt mà chúng không biết. Chúng tìm mãi mà không thấy gì, đành phải cút thẳng. Nghĩa quân ra đi, vũ khí lại sẵn sàng trong tay.

Trong thời gian ở Tuyết Sơn, nghĩa quân có đi “mở bạc” hai lần ở chợ Đại thuộc huyện Kim Bảng, gần ga Đồng Văn bây giờ. Chợ Đại hồi ấy là chợ trâu bò to nhất của tỉnh Hà Nam. Nghĩa quân lấy tất cả trâu bò, đánh về hàng đàn qua đường 60 đến chợ Dầu rồi vào căn cứ. Được nhân dân ủng hộ, nên hai chuyến ra quân đều trót lọt. Có lần nghĩa quân đón trên sông, trưng thu cả một thuyền muối (xem phần: Chuyện về một số tướng của nghĩa quân).

Vì ở bến Đục Khê và các làng Tiên Mai, Phú Yên đều có bốt đồn Tây khống chế nên sự ủng hộ của nhân dân phải rất kín đáo. Bên các làng Bài Lâm, Hữu Vĩnh, Phú Dư nhân dân ủng hộ nghĩa quân rất sôi nổi, có việc gì, hễ cứ ba hồi mõ nổi lên là hết thảy trai tráng, dân làng, mỗi người một thứ vũ khí như: gậy tầy, thiết lĩnh, dáo, mác... đến đủ mặt.

Trong các tướng lĩnh của nghĩa quân có Tác Vi giữ đồn Bảo Đài là tướng cũ của khởi nghĩa Bãi Sậy và Tác Hoắm đều là họ Phan, người cùng làng Dộc, sát cánh cùng đốc Nghễ, nhiều đêm đã lội qua ngòi sang cánh đồng Quan Lã, thuộc làng Tiên Mai ra bờ sông Đáy, chỗ chiếc tàu của Tây đậu để quan sát. Họ tính toán dùng mưu phá tàu bằng cách lặn xuống nước đục tàu hoặc tìm phương pháp khác, nhưng vì địch canh phòng ngặt quá mà vũ khí của nghĩa quân còn thô sơ nên họ đành không thực hiện được ý định đó.

Ngót một năm vào Tuyết Sơn lập căn cứ chống quân Pháp, Đề Yêm đã tính đến bước đường có thể xảy ra, cho nên ông đã có những cuộc bàn luận và cho đem nhiều thứ vũ khí, đồ đạc bằng đồng cất giấu vào chùa Âm. Quân sĩ phải vận chuyển mấy ngày mới hết.






----------------------------------------------------------------
1. Chùa Hỏa Quang nay không còn, nền chùa hiện nay còn cao hơn đất xung quanh và là ngôi nhà ở của cụ Hà Văn Dĩ.

2. Mía de là một thứ mía cây nhỏ ngắn, vỏ cứng, trồng không bóc bẹ lá.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:27:04 pm
Vào một ngày hạ tuần tháng 9 năm Canh Dần (1890), trước đồn Đống Hến, phía cuối thung Tuyết Sơn, một nghĩa quân đứng canh. Anh trông khắp cả bốn bề không có gì lạ cả. Ngoài bến, anh em đồng đội đang tập tành đánh côn, múa kiếm, lộn mộc, lăn khiên, chỗ nào anh cũng thấy quen quen: hòn đá, cái cây, lối đi tuy khó khăn, nhưng anh đều thuộc cả. Có lúc, anh ngước lên khoảng trời cao, mấy con diều hâu đang bay liệng trên nền mây vẩn đục. Con liệng lên, con liệng xuống, con là sát đỉnh núi cao. Chỗ này vách đá thẳng như bức tường. Anh nghĩ các tướng lĩnh của mình giỏi thật, chọn được nơi hiểm yếu thế này, địch vào sao được. Đường chính, tuy khúc khuỷu, gập ghềnh hiểm trở, nhưng có lối đi, đặt đồn canh là phải, chứ ở đây về thế núi kia, trừ địch có là con diều hâu mới mong xuống được, vậy còn đặt đồn ở đây làm gì?

Rồi anh tự hỏi: “Nếu địch đi lối này thì sao?” và tự trả lời: “Bao giờ việc quân cũng phải đề phòng, biết đâu được”. Anh miên man tính toán và nhớ đến nhiệm vụ của mình. Anh nhìn quanh bốn bên. Chợt anh mở tròn hai mắt, cố làm cho mắt mở căng thật to để nhìn thấy được cái gì lạ đang cử động phía đỉnh núi cao đằng tay trái kia. Hình như có người, à mà đúng, có cử động thật. Anh đánh ba tiếng mõ và quát hỏi:

- Ai, đi đâu, làm gì đấy?

Đốc canh cũng chạy ra. Trên núi có tiếng nói vọng xuống:

- Tôi là sơn tràng đi kiếm củi.

Sau đó, một rồi hai người đốc canh cũng quát hỏi tiếp:

- Anh em sơn tràng đi làm ăn phải có người nọ, người kia chứ, một mình làm sao nổi?

Sau bọn chúng tăng dần nhiều lên. Đốc canh báo động đánh ba hồi mõ, mỗi hồi năm tiếng, cả đồn trở nên nhộn nhịp. Đốc canh quát sẵng, mấy tên mạo danh sơn tràng kia liền giơ súng bắn liền.

Thì ra hơn một năm rồi, quân Pháp không đánh được nghĩa quân. Án ngữ cũng thế thôi, chúng xoay sang cách khác. Chúng cho tên tri phủ Lý Nhân đòi tổng trưởng tổng Hoa Phong (nay là xã Khả Phong, huyện Kim Bảng) đến và truyền cho về tìm người thông thạo rừng núi vùng Cốc Nội, Ba Sao, Chi Nê. Tổng trưởng về tìm được một người ở thôn Vồng, xã Ba Sao dẫn đường cho chúng. Quan Tây phủ dụ và hứa sẽ trọng thưởng nếu đưa được đường cho chúng vào Tuyết Sơn.

Ngày thứ nhất tên này đi, Tây cho hai tên đội khố xanh đi theo. Ngày thứ hai, một tên đội về báo cáo Tây. Chúng cho thêm ba tên nữa đi vào phá lối qua quèn “Chó cắn” có thế núi đứng thẳng như bức tường. Ngày thứ ba chúng cho quân vào thêm (tên Việt gian đó sau bị Tây đưa đi biệt tích cùng với gia đình hắn).

Quân địch chiếm được cao điểm, nhưng kể cũng xa tầm hoạt động và lối xuống cũng không phải dễ gì.

Người chỉ huy nghĩa quân trận này là tướng Hiệp Cường. Quân ta đánh nhau với giặc ròng rã ba ngày, không bên nào chịu bên nào. Có lúc địch rà xuống thung, nhưng nghĩa quân vẫn vững vàng, kiên cường, đánh ráo riết khiến cho chúng chết nhiều, phải bật lên trên núi. Địa bàn này sau nhiều năm, nhân dân quanh vùng vẫn vào đó làm nương rẫy, nhưng không dám uống nước, vì biết được tại đây quân sĩ của cả hai bên chết thối (quân địch chết nhiều hơn quân ta).

Ngay từ lúc có tiếng súng nổ từ đồn Đồng Hến và có liên lạc báo về, Đề Yêm tức tốc vào đốc chiến ngay. Chiều ngày thứ ba, Đề Yêm đang đứng nấp vào hồn đá để quan sát trận địa thì một phát đạn của địch bắn vào hòn đá, mảnh đá bắn vào mắt ông. Anh Trọng, một thanh niên khỏe mạnh, lanh trai, quê ở làng Hữu Vĩnh, huyện Ứng Hòa cõng chủ tướng lui về chùa Tuyết.

Đêm ấy, Đề Yêm dặn dò vợ. Ngoài anh Trọng ra, ông lấy thêm một tướng tâm phúc nữa quê ở tỉnh Bắc Giang rồi mấy thầy trò ra đi.
Đề Yêm sang Trung Quốc. Năm 1945, sau cuộc Tổng khởi nghĩa, vợ Đề Yêm còn sống đã nói chuyện với các con rằng: “Không biết ông Đề ở Tàu có về không? Nếu về thì có nhận ra mẹ con mình không?”

Sáng sớm ngày thứ tư, vợ Để Yêm cho gọi: “Nhị bộ đâu?”. Bùi Văn Đỗ, một tướng hầu, quê ở làng Yến Vĩ thưa rồi đi đến. Nhị bộ là người hầu gần, nhưng chỉ còn mình Đỗ có mặt. Vợ Đề Yêm truyền: “Chủ tướng đã đi chữa mắt rồi, tuyệt đối phải giữ bí mật”. Bà cho đi mời ngay 5 dinh hổ tướng đến họp, trừ Hiệp Cường đang chỉ huy chiến đấu sẽ cử người đến thay, về báo lại.

Sau cuộc họp quan trọng này, các tướng lĩnh mới tính đường rút trong đêm ấy 1.

Người ở lại chiến đấu, chặn hậu quân Pháp là Tác Vi. Tướng này cuối cùng bị đạn chết giữa đồn Đông Hến. Vợ hai Hiệp Cường cũng bị trúng đạn chết trong doanh trại. Trong lúc rút, nghĩa quân chia làm hai cánh: một rút theo lối quèn Gánh Gạo, quèn Côm rồi qua chùa Vua, núi Kính Lão. Đến đây, nghĩa quân mới giải tán, ai ở đâu về đấy. Lẻ tẻ số ít người phục vụ cấp dưỡng hay làm việc linh tinh khác ra lối cổng Dại, bò qua cánh đồng về làng Đục Khê như Đinh Văn Phê, Phạm Văn Chơi... Còn một cánh quân khác do tướng Xuân La (chưa điều tra được họ tên) và quản cẩm bảo vệ vợ Đề Yêm đang có chửa sắp đẻ, kéo ra lối cổng Dại, qua Yến Vĩ, Đục Khê về chợ Dầu, đỗ lại ở đây. Dân làng quanh vùng làm cơm mời nghĩa quân. Nghĩa quân không cho giết trâu bò, phải để lại cho nhân dân làm ruộng, chỉ cho làm lợn dấm ghém cho quân ăn thôi. Xong xuôi, nghĩa quân kéo ra Ngũ Bái, ngược Đồng Quan, cống Thần (huyện Ứng Hòa) rồi lên Xuân La (huyện Phú Xuyên). Nghĩa quân đóng ở đình. Ngày hôm sau có cuộc họp bao gồm cả quân lẫn tướng. Vợ Đề Yêm sau khi cho chém cả 5 tên do thám của Pháp mà nghĩa quân bắt được, tuyên bố: “Nghĩa quân chúng ta hoạt động là để cứu nước, đuổi quân ngoại xâm, nhưng tình thê bây giờ không cho phép chúng ta tiếp tục sự nghiệp được nữa. Vậy truyền cho tướng sĩ giải tán”.

Quân Pháp rượt đuổi theo. Vợ Đề Yêm bị giặc bắt. Cánh quân này tất cả, kể từ lúc chưa giải tán có độ trên trăm người.

Khi chúng áp giải về Hà Nội, đi giữa đường, vợ Đề Yêm trở dạ đẻ. Chúng cho bà vào ở nhờ một nhà dân bên đường. Bà đẻ xong mà không được trông thấy mặt mũi con ra sao, không biết là con trai hay con gái. Mấy tên lính bảo: “Nó chết rồi” và giục giã tất cả lên đường. Vợ Đề Yêm phải đóng bịt chặt người, rồi chúng giải tán về giam ở Hà Nội.

Địch tra hỏi về Đề Yêm, nhưng bà vẫn một mực trả lời: “Không biết”. Căm tức, chúng liền tẩm dầu lửa vào dẻ đốt mồi, định châm vào đầu bà, rồi lại chặn thúng đút đầu bà vào để khai thác, nhưng bà vẫn nhất quyết không khai. Sau chúng hỏi về mồ mả của bố mẹ Đề Yêm, bà cũng không nói. Chúng chỉ dọa bà thôi, vì bà mới sinh nở. Bọn chúng còn giam bà thêm 3 năm nữa mới tha.

Nhớ lời chồng dặn lúc chia tay: “Tôi đi đây, ngày về chưa biết đến bao giờ, mình còn trẻ có thể tính đến việc đi bước nữa. Nhưng có lấy thì lấy người lưng cao, khố đen, chớ lấy tổng, lý, quan lại...”. Sau khi ở nhà giam về làng Đồng Lạc, bà ở với anh ruột là Hoàng Văn Thạch, lúc đó đương giữ chức lý trưởng. Bà là người rất đẹp, nhất là mới sinh nở một lần. “Gái một con trông mòn con mắt” nên một tên đô lại (thừa phái) đi ngựa, có người hầu, xách điếu cắp tráp đến một hai đòi lấy bà. Người anh ép, nhưng bà kiên quyết từ chối. Sau bà bỏ đi, xuống quai giang Bình Chính (cùng huyện Kim Bảng) làm con nuôi một bà bán quà bánh. Năm sau, bà lấy một người rất nghèo, tên là Khoai làm nghề chở đò, quê ở Ninh Lão, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên. Bà đã làm đúng lời Đề Yêm dặn.





---------------------------------------------------------------
1. Có người nói: “Nghĩa quân bện người giả bằng cỏ cắm ở trại, đốt đuốc sáng cho địch ở xa trông lố nhố những người là người”


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:28:53 pm
Sau khi nghĩa quân rút, nhân dân vùng Mỹ Đức sợ giặc Pháp về càn quét nên chạy cả vào núi. Lúc đó, bà nội ông Phạm Văn Khôi ở Phú Duy đẻ cô của ông ở trong núi nên đặt tên cô là Tuyết để nhớ cuộc chạy giặc này. Năm 1963, bà Tuyết 74 tuổi.

Ngày mà nghĩa quân Tuyết Sơn rút là vào cuối tháng 3 (âm lịch), năm 1890, lúc ấy đã có mía bói. Ông cự đẻ ra bà Hỷ (1963, bà Hỷ 87 tuổi) ở thôn Đục Khê đi tuần vẫn lấy mía về cho con ăn.

Quân Pháp lúc bấy giờ chưa có máy vô tuyến điện và bưu vụ cũng chưa tổ chức được, nên trong Tuyết Sơn đánh nhau như vậy, rồi nghĩa quân rút mà ở chùa Hỏa Quang, quân địch không hay biết gì cả. Ở Đục Khê có tên phó lý Quế, tay sai của thực dân Pháp thường rêu rao: “Ai đem cờ tam tài của Pháp cắm được vào Tuyết Sơn thì sẽ được trọng thưởng”. Hương Chế, tức Phạm Văn Chơi vừa rút ở Tuyết Sơn về liền đến phó lý Quế để nhận làm việc ấy. Hắn rất lấy làm hoan hỉ và ủy nhiệm cho Chơi ngay. Việc này, sau hắn nhận là công của hắn, được thực dân Pháp và phong kiến Nam triều cho làm “bang tá cầm phòng phủ nội”. Hắn được dịp lên nước hách dịch, đi đâu cũng đem túi roi đánh người, tác oai tác quái trong phủ Hoài An, nay là huyện Mỹ Đức. Ngoài ra, thực dân Pháp còn khen thưởng cho một số người nữa đã công giúp chúng, trong đó có Nguyễn Văn Thiều ở làng Yến Vĩ được xuất đội (xem phần: Những di vật và tài liệu hiện còn).

Mãi sau, thực dân Pháp cho người vào hỏi cánh quân chúng đóng ở đằng Chi Nê, Cốc Nội xem trong đó có còn nghĩa quân không? Cánh quân này do một tên lý trưởng người Mường đi đường xuyên núi tìm nghĩa quân. Tên lý trưởng ra trước. Bọn Pháp hỏi, hắn ú ở trả lời không được nên bị chúng bắn chết ngay ở ao Quán (Đục Khê). Mãi sau thằng liên lạc của nó lạc đường mới lần ra được.

Tất cả những người có thể biết về nghĩa quân Tuyết Sơn đều nói chỉ huy nghĩa quân là một ông đề, người làng Đông Lạc. Cụ Từ Khương, 92 tuổi (1962) ở thôn Hữu Vĩnh, huyện Mỹ Đức nói đó là ông Đề Đồng (ngày xưa ta hay kiêng gọi tên húy mà chỉ gọi tên làng như ông nghè Giao Cù, cụ Hoàng Và hoặc Tam nguyên Yên Đổ). Còn phó đề đốc, tức phó súy, một số người nói, đó là cai Đạt, quê ở Phù Sơn, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng. Trong số nghĩa quân có những người chính quê ở Đồng Lạc như đốc Sơn, anh em họ với Đề Yêm, sau vụ Tuyết Sơn tan không thấy về làng nữa. Dương Văn Soạn và Dương Văn Sữa, hai người này có về làng, nhưng bị bọn lý dịch tố cáo, nên đành phải bỏ làng xuống vùng Sở Kiện (Kiện Khê), huyện Thanh Liêm cùng tỉnh để sinh sống. Mãi 15 năm sau họ mới dám trở về làng Đồng Lạc.

Năm Tân Mão 1891, một tên quan ba Pháp đem quân về vùng Mỹ Đức khủng bố nhân dân. Đến làng Đục Khê, hắn thân chinh đốc thúc quân lính đi bắt người. Chúng đến thúc tổng Chùm đương làm tổng trưởng dẫn đường. Nhân dân đều lẩn tránh, không ai dám ra tiếp xúc với giặc. Túng thế, tổng Chùm cứ dẫn lính vào gặp các tên tổng lý khác và bảo: “Các anh làm công, làm việc phải ra hầu quan chứ”. Đi đường, gặp người dân nào, chúng cũng bắt luôn. Chúng giải những người dân này sang đình Chải, làng Hữu Vĩnh. Thằng quan ba Pháp cho quân đóng hàng loạt cọc ở ngoài sân, trói mỗi người vào một cọc, rồi hỏi:

- Giặc Đề Yêm có về làng không?

Người nào trả lời “không” là nó chém ngay. Những người như ông lý Thành, ông phó Học ở Đục Khê, ông xuất Thực ở Hữu Vĩnh và một số người ở Hội Xá, tất cả 14 người đều bị giặc chém. Cùng đi càn quét với thằng quan Pháp này có tri phủ Thường Tín, đóng ở phía chùa Tiên Mai, bên kia sông Đáy, thấy bọn Pháp giết người như vậy mới nói vọng sang:

- Cứ nhận là có đi, không thì nó chém hết.

Đến lượt tổng Chùm nói “có” nên nó thôi không giết nữa. Hôm ấy là mùng 5 tháng 6 (âm lịch). Vì vậy, hàng năm cứ đến ngày đó là nhân dân các làng nói trên có người bị địch giết đều tổ chức cúng giỗ người thân của mình. Để biểu thị tình cảm của bà con, nên con mỗi người bị giặc giết đều được dân làng tặng thêm tên nữa là “nhiêu”, không phải mất tiền và khao vọng gì cả. Riêng con ông phó Học ở Đục Khê được nhân dân bầu làm phó lý.

Trong lúc tên quan ba Pháp đi lùng bắt nhân dân, các cụ già bàn nhau cử ông lý Đỗ đem một nải chuối tiêu tiến về phía nó. Nó bẻ mấy quả ăn, còn ông lý Đỗ cứ đội mâm đi sau. Một tên lính hầu gạt lại và nói rằng: “Về đi, còn theo cho thêm mỏi tay tao”. Ông Tạ Văn Lẹp ở Tiên Mai nhảy xuống sông định trốn, bị chúng phát hiện, bắn chết ngay. Hôm đó là mùng 1 tháng 7 (âm lịch). Còn những người khác đến Tế Tiêu, Hà Ngũ thì chúng tha về như ông Dâu v.v...

Bọn địch còn bắt ông quản Hai là em Hiệp Cường và một người nữa đem về Phú Dư mới chém. Vì tên quan ba Pháp ác độc giết người không ghê tay như thế nên nhân dân vùng này căm phẫn gọi nó là thằng Tây ngộ, Tây điên hay thằng “Ba càn”.

Khi về đến địa phận tỉnh Hà Nam, chúng bắt một người nữa là Thái, chưa rõ quê quán ở đâu, đem về làng Thụy Sơn, chỗ cây đa còng rồi chém. Chúng còn đem tác Hoắm về chém ở chợ Đại rồi bêu đầu ở làng Thụy Sơn, quê hương của ông để uy hiếp tinh thần dân làng. Địch đóng ở đây 3 ngày. Chúng bắt nhân dân phục dịch lợn, gà, cơm nước rất khốn đốn. Ác độc hơn nữa, chúng còn bắt 14 cụ già nhất làng ra đình Ba Xã ở gần núi Nguỳa, trói vào cọc. “Ba càn” chưa cho chém, vì nó còn mải ngủ. Trong lúc đó, một người làng tên là trưởng Quàn, chân trong của tên Tây ở đồn Quang Thừa (đồn này mới lập) chạy lên bẩm với quan thầy. Thằng Tây này tên là Xà-lan (có lẽ tên thật là Chaland hay Saland) phi ngựa xuống đình Ba Xã và cởi trói cho các cụ đang bị trói rồi cho về. Sau đó mới đánh thức “Ba càn” dậy và nói rằng: “Dân chúng ở đây không biết gì cả, chỉ biết vào rừng kiếm củi thôi”. Đây có lẽ là một mưu mẹo của địch xếp đặt ra để mị dân và gây uy tín cho tên quan Pháp ở đồn Quang Thừa mà thôi.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:30:39 pm
NHỮNG DI VẬT VÀ TÀI LIỆU HIỆN CÒN

Sau vụ tên “Ba càn” đàn áp, dân các làng quanh vùng như Phú Yên, Tiên Mai, Yến Vĩ, Đục Khê, An Duyệt, Trung Hòa... đều chạy lên núi cả, vì sợ Tây về càn. Cụ Nguyễn Thị Cháu, 82 tuổi (1964) ở làng Phú Yên kể lại: lúc ấy cụ theo bố mẹ chạy lên núi trông xuống chỗ nghĩa quân đóng hàng dãy nhà tranh, còn bỏ lại nhiều trâu, bò, lợn, nồi ba mươi. Về sau, em chồng cụ là Hồ Văn Khiết được cái nồi đồng to bằng cái nia, ngồi vào có thể bơi qua sông được. Hồi đó, mẹ chồng cụ tu trong động Tuyết Sơn, cứ mươi hôm, người nhà mang gạo và thức ăn vào cho bà cụ. Đường lúc ấy rất khó đi, đến chỗ hai mỏm đá hai bên, ở giữa có khe, chân phải xoạc ra, tay phải vịn vào vách đá. Chính các nồi này, ai đi qua cũng vịn vào mà không biết, vì để lâu ngày nó mốc meo ra, trông tựa như đá rêu. Vả lại, rễ cây chằng chịt gần kín cả đít nồi. Em chồng cụ bước qua rồi, thấy con sâu đá bò ở phía trong nồi trượt rơi nên có một tiếng kêu khác với tiếng rơi xuống đá. Ông liền quay lại xem xét và lấy sọng dao gõ vào chỗ hở của đít nồi, té ra là tiếng đồng. Sau, ông chặt quang hết các rễ và cây mới đem nồi ra được. Để nó ở nhà mãi chẳng dùng vào việc gì, ông mới đem đổi cho người hàng đồng để lấy những dụng cụ nhỏ, thành ra di vật ấy không còn nữa.

Theo lời các cụ già ở làng Phú Yên thì Tuyết Sơn trước vẫn có ngôi chùa Âm, nghĩa là chùa thờ ở hang núi, phải trèo lên 9 bậc đá, đục vào núi, đến chỗ cây giẻ gai rồi phải xuống hang. Nay 9 bậc đá vẫn còn, cây giẻ gai cũng còn, nhưng không tìm thấy chùa Âm ở đâu nữa. Từ sau khi nghĩa quân cất giấu nhiều thứ, rồi khởi nghĩa tan, chưa ai tìm thấy ngôi chùa đó. Đầu năm 1945, ông Vũ Văn Hoàn, nay 60 tuổi (1964) ở Phú Yên và một số thanh niên cùng làng đem đục, choòng, búa vào tìm, nhưng thấy nhiều phiến đá to lại không có mìn phá nên đành chịu. Ông Hoàn nói: “Lấy hòn đá bằng nắm tay thả xuống khe, hốc thấy tiếng hòn đá lăn lóc cóc rơi xuống sâu lắm, có thể ngờ đấy là chùa Âm chăng?”

Hiện nay, bên cạnh đường đi vào, về bên tay trái, gần đến núi để leo lên động Tuyết Sơn còn thấy cây thị to cao và xanh tốt, nơi xưa nghĩa quân đã dựng rạp hát. Hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh đội Hà Đông cũng đóng ở đây. Gần đó, về bên tay phải cũng ở cạnh đường đi vào còn thấy một cối đá đục hẳn và phiến đá nằm nhô lên mặt đất. Đấy là cối của nghĩa quân để xay thóc nuôi quân. Hồi 9 năm đánh Pháp, nhân dân các nơi tản cư vào đây cũng đặt cần và sử dụng cối này để làm gạo ăn.

Cụ Đồng Văn Doãn, 68 tuổi (1964) ở làng Đục Khê kể rằng: cách đây độ ngót 50 năm, em cụ đi kiếm củi trong rừng Phú Yên bắt được một cái lọ ở gần đỉnh núi nhà Tho. Lọ này cao độ một thước ta (0,40m), hình thon, cổ thắt, miệng loe ra trông như lọ độc bình, chỗ phình to nhất, đường kính độ 6 tấc ta (0,24m). Lọ này, ngoài da sành, trong da chu, nhẵn lắm. Phần trên đậy bằng một cái nồi hai. Khi nậy ra thì chiếc nồi thủng và hỏng, vì lâu ngày nó cắn chặt lấy miệng lọ. Trong lọ đựng một chất mùn đen, đốt thử thấy cháy lòe lòe, mùi nọ bén sang mùi kia như ta đốt mụn vải, cái sớp vải cháy thế nào nó cháy thế ấy. Trước kia, người nhà cụ Doãn vẫn dùng cái lọ ấy để đựng chè hạt hay chè khô. Hồi lính Pháp đóng bốt, dân làng phải tản cư cả. Đến lúc về được thì nhà cửa bị Tây đốt phá, cái lọ ấy cũng như các đồ đạc khác bị mất hết, có thể nó là cái lọ đựng thuốc súng của nghĩa quân ngày trước. Anh Nguyễn Văn Cận, cán sự bổ túc văn hoá thôn Hội Xá, năm 1953 cũng được một cái nồi, không vung, rác mùn trong nồi gần đầy, hình dáng là niêu đất, đít không có cạnh bằng đồng, thổi hết 2 bò gạo, cân nặng 1 kg, đường kính 0,15m, chiều cao từ đít nồi lên đến miệng là 0,13m. Miệng nồi sáng hơn đít nồi, cạo ra màu kim khí, ở miệng và đít nồi cũng khác nhau, phía trong đít nồi láng bóng. Anh Cận cho biết: đặc biệt nồi này đựng đất chua, không tanh đồng. Hiện nay nhà anh vẫn dùng nồi đó để thổi cơm hay kho nấu. Chưa biết nồi này làm vào niên đại nào, ai sử dụng? Có phải đây là dụng cụ nấu ăn của nghĩa quân hay không?

Một cây đèn 5 ngọn hiện nay để ở đền Trình làng Phú Yên. Có người bảo đó là một thứ đèn treo, cổ bằng sắt, từ trên tỏa xuống 5 cành, mỗi cành là một cái hoa, ở giữa mỗi cái hoa là một cái vòng tròn dùng để đặt đĩa dầu. Đền Trình nay không dùng đèn đó nữa, vì người ta thắp đèn dầu hỏa cả.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:34:42 pm
GIẤY KHEN CỦA QUẢN ĐẠO VÀ PHÓ SỨ MỸ ĐỨC (HÀ ĐÔNG)

(Tài liệu này viết bằng chữ Hán sau khi nghĩa quân Tuyết Sơn tan, nhằm mục đích động viên, khen thưởng những tên tay chân đã dốc sức giúp thực dân Pháp thực hiện ý đồ xâm lược bình định Việt Nam).

Nguyên văn tài liệu như sau:

Mỹ Đức đạo, Đinh quản đạo, Nguyễn phó quản đạo. Vi bằng cấp sự tiền kinh quan binh tiến tiễu Tuyết Sơn tự phỉ tụ gian, hữu dân đinh Nguyễn Văn Thiều, quán Hoàng An huyện, Phù Lưu thượng tổng, Yến Vĩ xã nãi năng tiên hướng sấn bạt phỉ kỳ định nhận đệ công văn phả thuộc đắc lực (mất 2 từ) tưởng thưởng cấp bằng đội trưởng dĩ thị khích khuyết trà lãnh sĩ chức đệ tỉnh án quán sức tri ngoại hợp hành bằng cấp. Thính xung vi thuộc đạo tòng phái cấp bằng đội trưởng thừa hành chư công vụ, nhược sơ sự, phất cần hữu công pháp lại tu trí bằng cấp dả. Hữu bằng cấp thuộc đạo tòng phái cấp bằng đội trưởng Nguyễn Văn Thiều chuẩn thử.

Thành thái nhị niên, cửu nguyệt, nhị thập bát nhật.

Có đóng dấu: “Mỹ Đức đạo ấn” và dấu kiềm “Mỹ Đức”

Vu & approuvé
Ba Tha le 10 Novembre, 1890
Le vice Résidence Mỹ Đức


Tên Tây ký thảo

Có đóng dấu tròn bằng mực xanh
(Vòng chữ xung quanh khắc:
Protectrat de l’ An Nam du Tonkin)

Ở giữa có khắc dòng chữ:
Vice Ré sidence de Mỹ Đức.



Dịch nghĩa:

Đạo Mỹ Đức, quản đạo là ông họ Đinh, phó quản đạo là ông họ Nguyễn. Vì việc bằng cấp: trước nhân quan lính đi tiễu giặc đóng ở chùa Tuyết Sơn, có tên dân binh là Nguyễn Văn Thiều, quán Hòa An (tức huyện Mỹ Đức), tổng Phù Lưu thượng, xã Yến Vĩ có xông vào cướp cờ của giặc và nhận đệ các công văn đều có đắc lực. Vậy nghĩ thưởng cấp cho tên ấy bằng đội trưởng để tỏ sự khuyến khích ngoài sự sẽ bẩm lên quan trên và sức về bản quán. Nay cấp bằng này để cho xung vào tòng phái của đạo. Cấp bằng đội trưởng thừa hành mọi việc công, nhược làm việc không siêng năng sẽ có phép công ở đó. Nay cấp bằng ấy, đây là bằng cấp thuộc đạo tòng phái, cấp bằng đội trưởng cho Nguyễn Văn Thiều nhận lấy.

Năm Thành Thái thứ hai, tháng 9, ngày 28.

Có đóng dấu: “Mỹ Đức đạo ấn” và dấu kiềm “ Mỹ Đức”.

Xem và chuẩn y

Ba Thá ngày 10-11-1890
Phó sứ Mỹ Đức (tên Tây ký thảo)

Có đóng dấu tròn bằng mực xanh.

Vòng chữ xung quanh khắc:
Trung Kỳ và Bắc Kỳ bảo hộ
Tòa phó sứ Mỹ Đức



Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Hai, 2019, 04:54:53 pm
VÈ NGHĨA QUÂN TUYẾT SƠN

Kể từ năm Sửu kể ra
Trời làm tháng tám mới ra thế này
Ở dưới Đồng Lạc 1 khi nay
5.    Có tên người rầy gọi là Lý Yêm (Đề Yêm)
Trước làm lý trưởng có quyền
Vì chưng thuế má cho nên thế này.
Nghĩ có phó Đa khi nay
Tình nghĩa thúc bá ngày rầy anh em.
Lý Yêm cũng chẳng có hèn
10.    Làm nên tướng cướp anh em mất nhờ.
Đi thì đã bảy năm vừa
Mẹ thì chả biết, vợ thì cũng không.
Vợ thì trực tiết chờ chồng
Bỗng dưng trống róng cờ rong chảy về.
15.    Xuống thuyền quân đã đông ghê
Quân của ông Đề về mở chợ nay (chợ Đại).
Thiên hạ họp chợ đông tây
Bắn khẩu súng này trong chợ phải tan.
Xong rồi chẩy đi các làng
20.    Những quân bên Bắc kéo sang rì rì
Kéo xuống Đồng Lạc một khi
Báo ân báo oán trước thì phó Đa.
Lấy của thì chớ đốt nhà
Quân quyền hầu hạ nó “à” reo lên .
25.    Đứa thì xúc lúa lấy tiền
Đứa thì giở lại, vì khiêng đồ thờ
Quan chánh truyền cho bấy giờ
Quan nào đội ấy, đồ thờ khiêng lên
Ông quản vác loa thu quân
30.    Truyền cho lên đóng trên làng Kiều Cô 2

…………………………………….

Đến chiều mới lại mổ bò làm cơm.
Thoạt đầu đóng những ông trên
Liền bà, con trẻ hãi liền sợ thay.
35.    Cướp đâu lại chẩy bắt ngày (ban ngày)
Chúng ta cũng chả phải nay ra hầu.
Vào chùa Tam Giáo 3 đã lâu
Quang Thừa giờ hầu lại xuống báo Tây.
Tây lên đánh trận ghê thay
40.    Ta đánh trận này Tây cũng phải thua
Trống chầu cử nổi lên trên chùa
Tây nghĩ đánh được chèo đua thuyền vào
Ta nấp trên núi cũng cao
Hễ thuyền nào vào ta bắn tứ tung.
45.    Trên núi bắn xuống đùng đùng
Thấy Tây ngã xuống chèo vung ra ngoài.
Chết ông quan một, quan hai
Lính tập đã tài lại chết một đôi
Tây đồn tiến, bắt ta lùi
50. Xuống đình Mã Não 4 đánh đôi trận liền
Tây nó vây chặt bốn bên
Cướp thì ở giữa, trong liền bắn ra.
Thoạt bắn chết ông quân ba
Ông phủ sợ hãi nằm ra mạn thuyền.
Ngọn đèn cắm trên nóc đình
55.    Quan Tây lính tập đứng đen ngoài đồng
Cứ trông ngọn đèn bắn không
Bắn vào đùng đùng rung cả lá tre.
Cướp thì ở trong kéo ra
60.    Kéo lên cho đến gọi là làng Yên (Phú Yên)
Chợ Đại 5 thì thấy hai phiên
Lấy những thuyền xét 6 kéo lên làm đồn
Ta vào chùa Tuyết tranh sơn
Bắt phu làm đồn xây đá cho cao.
65.   Xây thành, đắp lũy, khơi hào
Đứa thì kiếm củi, mang dao chặt cù 7.
Làm đồn cho kín trong chùa
Để ta ra ngự chầu vua đế đình 8
Cắt cho ông Hiệp 9 liền anh
70.    Giữa đồn cho cẩn xây thành cho cao
Có đứa mang lối Tây vào
Trèo lên ngọn núi nom cao bằng giời 10
Một trăm khẩu súng bắn xuôi
Dưới đồn tan vỡ mỗi người một phương.






--------------------------------------------------------------
1. Thôn Đồng Lạc, xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng (Hà Nam) là quê hương của thủ lĩnh Đề Yêm. Làng Kiều Cô (còn gọi là ấp Cầu Go), nay thuộc xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng.

2. Làng Kiều Cô (còn gọi là ấp cầu Go), nay thuộc xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng.

3. Chùa Tam Giáo, làng Quang Thừa đều thuộc xã Tượng Lĩnh

4.  Làng Mã Não thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng

5.  Chợ Đại thuộc huyện Kim Bảng

6.  Thuyền xét: thuyền buôn bằng gỗ

7. Chặt cù: chặt gốc cây

8. Đề Yêm khởi nghĩa cần Vương, cho nên vẫn ngưỡng mộ nhà vua.

9. Tướng Hiệp Cường

10. Ám chỉ quèn Chó cắn trong căn cứ Tuyết Sơn



Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 09:12:58 am
75.    Thoạt vỡ ở đồn Hiệp Cường
Bảo nhau ta nấp biết lên phương nào?
Trên núi bắn xuống rào rào
Bảo nhau ta nấp biết vào ở đâu?
Đến tối rút ra cho mau
80.    Bấy giờ lạc tướng, biết đâu mà tìm
Có thầy đốc Cảnh, đốc Sơn 1
Có thầy quản Cẩm 2 ở trong đồn này.
Có ông phó đề đi đây
Lại có Đinh Ngọc(?) ngày rầy mới ra.
85.    Lại có ông tướng Xuân La 3
Ba mươi, mùng một mang ra tế cờ.
Bước lên một trạng thủ quỳ
Ông Đinh nhận chén quân thì phục trang.
Các quan 4 ngồi mới luận bàn
90.    Như chim lạc tướng khôn ngoan nỗi gì?
Bẩm cô, cô phải chẩy đi
Có thầy quản Cẩm ở thì hầu cô.
Cô phó 5 nghe nói cũng lo.
Có một xúc nhiễu xé cho quân rầy
95.    May quần may áo bằng nay
Cất quân ta chẩy ra rầy Phú Xuyên
Đi đâu tống gạo, tống tiền
Ra quân rằng đóng cho nghiêm trong làng.



Bài vè này do bà cụ Hiệt, 80 tuổi (1964) ở ấp Cầu Go, xã Tượng Lĩnh đọc cho chúng tôi ghi lại.  Bà cụ kể rằng, hồi cụ lên 6, 7 tuổi có ông cò Thanh, quê ở Bằng Vôi, gần huyện lỵ Thường Tín, tỉnh Hà Đông dạy cho thuộc bài vè. Ông cò Thanh hồi ở Trại Dộc, thuộc thôn Thụy Sơn, xã Tân Sơn, cùng huyện làm nghề nấu rượu. Ông Thanh bắt học thuộc, đọc đi đọc lại nhiều lần cho ông ấy nghe. Tôi đã tìm hỏi các con đời chồng sau của bà Đề Yêm là ông Vũ Văn Huệ và bà Vũ Thị Cúc, tức bà Trương Lác ở thôn Nhị Giáp, xã Duy Hải, huyện Duy Tiên thì cả hai vị đều nói bài vè còn một đoạn cuối nữa nói về việc bà Đề Yêm và các quân lính bị giặc Pháp đuổi đánh, bắt được rồi đưa về giam ở Hà Nội. Hồi xưa, bà Đề Yêm vẫn đọc cho các con nghe, nhưng bây giờ các con không ai còn nhớ.

Theo tôi, tác giả bài vè này quê ở một làng phía Bắc thôn Đồng Lạc hoặc ở phía đầu huyện Kim Bảng hay ở một làng nào đó thuộc một trong các huyện Mỹ Đức, Ứng Hòa, Phú Xuyên. Vì vậy, trong bài vè có câu: “Ở dưới Đồng Lạc khi nay”.

Tác giả bài vè có tài sáng tác một lối thơ dân gian, tức là vè, nhưng tác giả là người ít học nên lời thơ rất nôm na, quê mùa như: Khi này, ngày rầy, bắt ngày... Nhiều câu thơ bị mất vần, lủng củng, tối nghĩa.

Đọc kỹ bài vè ta cảm thấy tác giả đã chú ý đề cao vai trò của thủ lĩnh Đề Yêm và nghĩa quân.

Tây lên đánh trận ghê thay
Ta đánh trận này Tây cũng phải thua.

Người viết sử dụng bút pháp: đưa lên cao rồi mới giật xuống như câu thơ vừa dẫn ở trên. Tây nó đàn áp, chống lại nghĩa quân rất khốc liệt đánh trận ghê thay. Vậy mà rốt cục chúng đành phải thua trước mưu trí và sức mạnh của nghĩa quân.

Tác giả còn có một câu thơ đánh giá rất khéo chiến công của nghĩa quân: Lính tập đã tài lại chết một đôi.

Muốn bài vè được lưu truyền sâu rộng từ đời này sang đời khác che mắt được đế quốc thực dân có bọn vua quan làm tôi tớ nên tác giả buộc phải dùng một số từ ngữ đề cao chúng như:

- Chết ông quan một, quan hai...
- Thoạt bắn chết ông quan ba...
- Ông phủ sợ hãi v.v...


Nhưng ở nhiều chỗ khác, người viết đã thẳng tay gọi thực dân Pháp bằng “nó”: “Tây thì nó vây bốn bên”.

Có lúc tác giả hạ thấp vai trò Đề Yêm, gọi ông là “tướng cướp”: “Làm nên tướng cướp” và gọi nghĩa quân là “cướp”: “Cướp đâu lại chẩy bắt ngày”. Tự bản thân câu thơ này đã nói lên cái mâu thuẫn của người viết muốn thể hiện điều mình cần nói. Cướp không bao giờ dám hành động ban ngày, chỉ có nghĩa quân mới chẩy ban ngày. Chẳng qua là bọn đế quốc, phong kiến căm tức nghĩa quân nên mới gọi là “giặc”.

Về phần thời gian xảy ra các sự kiện của nghĩa quân Đề Yêm, người viết không chú ý và thiếu thận trọng khi diễn đạt:

Bài vè nói: “Đi thì đã bảy năm vừa”. Không đúng, vì theo sự điều tra, nghiên cứu của chúng tôi, Đề Yêm kể cả năm đi và năm về, thời gian hoạt động là 3 năm. Nếu Đề Yêm đi 7 năm thì lúc đó là năm 1882 thực dân Pháp chưa đặt quyền đô hộ ở Bắc Kỳ, thuế má vẫn phải nộp cho vua quan nhà Nguyễn. Đề Yêm hồi ấy chưa có việc gì để căm tức Tây được.

Nghiên cứu bài vè, tôi cảm thấy tác giả là người ngoài cuộc, cho nên có chỗ lúng túng khi diễn tả chiến sự. Nghĩa quân vừa mới đánh nhau mà đã “Đến tối rút ra cho mau” và “Ba mươi, mùng một đem ra tế cờ”.

Tuy nhiên bài vè này vẫn có giá trị hiện thực lịch sử, phản ánh được đôi nét về thủ lĩnh Đề Yêm và nghĩa quân do ông chỉ huy trong cuộc chiến đấu quyết liệt chống thực dân Pháp tại tỉnh Hà Nam và ở một số địa phương khác thuộc tỉnh Hà Đông từ năm 1889 đến năm 1891.




----------------------------------------------------------------
1. Đốc Sơn là anh em họ với Đề Yêm
2. Đốc Cảnh và quản Cẩm là con nuôi Đề Yêm.
3. Xuân La, Chẳng Cò thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông.
4. Các quan ở đây là các cấp tướng của nghĩa quân
5. Vợ của Đề Yêm.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 09:20:12 am
BÀI CA TUYẾT SƠN

(Sưu tầm tại làng Hội Xá, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà đông)

Ai ơi trẻ mãi ru mà
Ngẫm năm chùa Tuyết “giặc” ra trị bình
Lý Đề Đồng Lạc đốc binh
Bốn ông hiệp quản đóng dinh bốn đầu.
Năm canh trông đánh điểm dồn
Phú Yên nôn nức vợ con đem vào.
Nhân tình ai chẳng vọng cao
Hội Xá: cai Để, đội Giao, cai Liền 1
Cơ trời, vận nước chưa yên
“Giặc” ở Bãi Sậy được tin kéo về
Thịnh Ba thua bạc ê chề 1
Bỏ làng xuống ở chăn dê quận Hồng 2
Trời ơi thương kẻ anh hùng
Cai Để dắt mẹ đi cùng quan tân 3
Ô hay con tạo xoay vần

…………………………… (sách thiếu 1 trang).


đốc, người làng Đồng Lạc, tên là Lý (Đinh Quang Lý), tên chính của Đề Yêm và có 4 hiệp quản đóng giữ 4 đồn trong căn cứ địa Tuyết Sơn. Phần mở đầu bài thơ đã nói lên sự nghiệp to tát của Tuyết Sơn: “Giặc” ra trị bình” và đặt hy vọng: “Nhân tình ai chẳng vọng cao”.

Tác giả còn nêu được nghĩa quân ở Bãi Sậy kéo sang, nhân dân làng Phú Yên phấn khởi tham gia hàng ngũ nghĩa quân, kéo cả vợ con vào căn cứ Tuyết Sơn và kể rõ những trận đánh làm cho Tây thua đau đớn: “Đạn yêu quan một nằm queo giữa đồng”.

Tuy nhiên, tác giả còn phiến diện, thấy sao nói vậy như chê nghĩa quân kéo về Hội Xá đốt nhà, cướp của, chém người mà không biết cánh anh em tổng Mỹ là tay sai của thực dân, phong kiến nên nghĩa quân mới trừng trị. Tác giả còn chê nghĩa quân của Đề Yêm có cả người cờ bạc như Thịnh Ba, trước đi chăn dê cho là hèn hạ và có người hút thuốc phiện. Người viết thiên về nêu các thiếu sót (sở đoản) mà không nói đến các ưu điểm, khả năng (sở trường) của họ là nhiệt tình yêu nước, căm thù giặc cao độ, bất khuất, đứng lên theo Đề Yêm tiêu diệt giặc Pháp.




----------------------------------------------------------------
1. Cai Để, cai Liền, Thịnh Ba và Đội Giao (bố cử nhân Nguyễn Mạnh Hướng) đều là người làng Hội Xá.
2. Chưa biết Quận Hồng là ai và ở làng nào?
3. Quan tân: Một cách gọi những người có địa vị cao thời phong kiến, đế quốc. Quan lại Nam Triều đều là quan, thực dân, đế quốc cũng là quan. Giặc tự xưng là quan, cướp cũng tự xưng với khổ chủ là quan. Quan tân (quan mới) có ý nghĩa tôn trọng. “Quan tân” ở đây để chỉ nghĩa quân Tuyết Sơn.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 09:24:29 am
TÀI LIỆU
“LÍNH KHỐ XANH ĐÔNG DƯƠNG” CỦA E.DAUFES

Tài liệu này trích trong cuốn: “La garde Indigène derindochine de sa création à nos jours tome premier” của E. Daufes, hiện lưu giữ tại Thư viện quốc gia, Hà Nội, ký hiệu M7942.

Nguyên văn tiếng Pháp như sau:

1890
Province de Hà Nội

17. September. Le garde Principal Audibert est blessé à l’avant - bras droíen? attaquant une bande retranchesc dans une pagode de Mã Não.

Une recornaissance de 20 fusils envoye’s parleposte militaire de Phulý le rejoint. La position occpe’e par la bande est forte et I’ at taque est, remise au Pendenaun pour at tendre iarrivese de reníorts qui ont e’te’ damande’s d’ urgence. Dans la nuit les pirates disparaissent.

14. Octobre: - Le chef du đạo de Mỹ Đức M. Trimoulet recomait à la pagode de Thuyết Sơn, dans les montages de Khả Phong, Pinstallation d’un fort parti de rebelles. II attaque la position qui est paríaitement retranche’eet doit se retirer après avoir vu le Garde Principal Lemaigre mortellement touche’, un milicien tue’ est 4 autres blesse’s.

A la suite de cette affaire, une colonne de 145 íusils, don’t 45 de Inbanterie de marine, partie de Ninh Bình sous les ordres du commandant Mìchaus - Larrvière exécute’, le 25 Octobre, une reconnaissance offensive de la position pendant que 150 gardes civils agissent sur les ílancs de la bande. Dans la nuit du 28 du 29 Octobre, un détachement parvient af dominer un col donnat accès à la position. Les rebelles ne cèdent qu’a la pointe du jon laissant. 17 cadaves sur le terrain, 3 Winchester et un petit Canon. Le 30 Octobre des renforts arrivent de Hà Nội qui permettent d’occuper la position elle — mêche.


Dịch nghĩa:

1890
Tỉnh Hà Nội

Ngày 17/9, giám binh Ơ-đi-be (Audibert) bị thương ở cánh tay phải khi đánh nhau với một toán giặc đã rút vào một ngôi chùa làng Mã Não. Một tốp lính tuần tra có 20 tay súng của đồn binh Phủ Lý được phái lên bám sát ông giám binh. Vị trí của giặc đóng thì vững chắc, việc chiến đấu phải hoãn lại hôm sau để chờ quân tiếp viện đã đề nghị khẩn cấp. Đêm ấy giặc rút mất.

Ngày 14-10, quản đạo Mỹ Đức là Tơ-ri-mu-lê (M. Trimoulet) được tin ở chùa Tuyết Sơn, trong núi Khả Phong có một đảng phiến loạn mạnh đóng. Ông công kích vị trí mà quân giặc phải thu hẹp lại và ông phải tháo lui sau khi giám binh Lơ-me-gờ-rô (Lemaigre) bị tử thương, một lính tập chết và 4 lính khác bị thương.

Sau vụ này, một cánh quân có 145 tay súng, trong đó có 45 lính thủy đi từ Ninh Bình, do quan tư Mi-sô La-ri-ui-e-rơ (Michaux La rrivière) chỉ huy. Ông thi hành lệnh trên, ngày 25-10, một toán lính tuần tra tiến công vào vị trí, trong khi đó 150 lính bảo vệ chuyển đánh vào sườn toán giặc. Trong đêm 28 rạng ngày 29-10, một cánh quân biệt động vượt một cái quèn cao, cửa vào vị trí. Bọn phiến loạn chỉ nhượng bộ vào lúc gần sáng để lại 17 xác chết trên ruộng, 2 súng Winchester và một súng thần công nhỏ.

Ngày 31-10, quân tiếp viện của Hà Nội tới, chúng ta mới chiếm được vị trí này.




Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy thời gian ghi ở trong tài liệu chưa đúng: sau trận Mã Não, nghĩa quân vào Tuyết Sơn xây đồn đắp lũy, lập doanh trại, lấy người nghĩa dũng, lấy lương thực (trưng dụng thuyền muối, lấy trâu bò ở 2 phiên chợ Đại, đúc súng thần công...). Bọn thực dân Pháp chiếm căn cứ nghĩa quân mấy lần mà không được nên chúng phải lập đồn án ngữ ở chùa Hỏa Quang (làng Phú Yên). Lính tập ở đồn này có những tên đã lân la lấy vợ địa phương. Tài liệu đã ghi nhầm địa danh Tuyết Sơn không phải ở trong núi Khả Phong mà là ở phía trên dãy núi Khả Phong.

Tài liệu kể trên nêu rõ từ ngày 17-9 đến đêm 28 rạng 29-10-1890, giặc nhường lại vị trí Tuyết Sơn. Như vậy, tính ra có 1 tháng 12 ngày. Với thời gian ngắn như thế thì nghĩa quân không thể nào làm được những sự việc như chúng tôi đã nêu. Một điểm nữa là cuốn: “Lính khố xanh Đông Dương” này do E. Daufès viết, xuất bản năm 1933, cách thời gian xảy ra sự việc 44 năm. Theo lời nói đầu, tác giả căn cứ vào các thông tư, chỉ thị của các cấp thống trị Pháp và các báo cáo của các quan binh để lại... Thực thế là thực dân Pháp nói chung ghi chép rất ít về những sự việc, hành động của những người chống đối chúng; nhiều khi chúng còn nhiều thiếu sót, sai lầm. Dầu sao thì đoạn tài liệu này cũng chứng minh rằng nghĩa quân Tuyết Sơn vào năm 1890 là một lực lượng mạnh, khiến cho quân giặc phải gờm.




TÀI LIỆU ĐỊA CHÍ TỈNH PHỦ LÝ

Tài liệu này trích ở tập Monographiede- la province de Phủ Lý. Nguyên văn như sau:

...En   1890, la colonne du commandant Michaux Larivière séjourne dans la région de Kim Phong où elle opère sous la protection de la canonnière “Avalache” pour de’ barrasser la ré gion des pirates qui s’y étaient re’ fugie’s...

Dịch nghĩa:

“Năm 1890: Cánh quân của quan tư Mi-sô La-ri-vi-e-rơ (Michaux Larrivière) đóng ở vùng Kim Phong (có lẽ là Kim Bảng, Khả Phong) và đi càn để giải phóng vùng này mà giặc ẩn nấp, có pháo thuyền “Avalache” yểm hộ....”.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 02:34:35 pm
CHUYỆN VỀ MỘT SỐ TƯỚNG CỦA NGHĨA QUÂN

HIỆP CƯỜNG

Ông Nguyễn Văn Dần, 50 tuổi (1964) ở thôn Phú Dư, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa cho biết: ông nội ông là Hiệp Cường, còn gọi là Lãnh Cường hay Tuần Cường có nước da trắng, tóc dài, đứng trên ghế tóc còn ở dưới đất to như cái rế. Vóc người dong dỏng cao, giỏi võ thuật. Đi đâu hay cầm con dao mười. Có hai người hậu vệ là ông từ Thúc, tức Nguyễn Văn Triệu và ông xã Dã đi theo và luôn luôn có 3 con chó săn không rời Hiệp Cường nửa bước. Tính tình Hiệp Cường hào hiệp, luôn giúp đỡ bênh vực những người bị hà hiếp, ông thường búi tóc, dắt lược ngà. Ngang mình thắt dây lưng điều, còn quần áo mặc như thường dân. Lúc đầu, ông được Đề Yêm giao cho việc đến Tuyết Sơn xem xét địa thế để lập căn cứ địa, sau phụ trách đồn điền tiêu chợ Dầu, quân có độ 30 người. Khi cần chỉ đánh 3 hồi mõ, tức khắc dân làng Hữu Vĩnh xuống khắp mặt. Hiệp Cường lúc thì ở Tuyết Sơn, lúc thì ở chợ Dầu, lúc ở hang núi (hang này nằm ở thẳng thôn Phú Dư trông sang núi Quang Thừa, chỗ mô chùa Bèo). Hiện nay, hang ấy còn có tên gọi là hang ông Tuần. Việc canh gác ở chợ Dầu bằng cách mắc võng trên cây đa, người ngồi canh vừa trông được xa, vừa không bị lộ.

Khi nghĩa quân Tuyết Sơn giải tán, Hiệp Cường về ở làng. Ông có 3 anh em ruột. Sau đó có những người theo đến làng Phú Dư và đổi theo họ của Hiệp Cường. Vì vậy, hiện nay (1964) 33 hộ trong thôn này đều mang họ Nguyễn.




ĐỘI KÌNH

Đội Kình quê ở làng Khả Phong, huyện Kim Bảng, trước khi theo Đề Yêm có làm lý trưởng. Ông giỏi võ và khỏe. Một lần chánh tổng bắt phu phen và tre pheo, các lý trưởng phải đem tiền thế vào. Đội Kình cũng phải nộp. Ông cho người nhà gánh mỗi bên 5 quan tiền kẽm và dặn rằng: “Hễ tao đưa mắt là mày cứ gánh ra”.

Chánh tổng nằm trên sập ở đình làng Mã Não, ngoảnh mặt ra trông thấy thầy trò đội Kình đến đem ít tiền liền giở mình, nằm ngoảnh mặt vào. Bước vào đình, Đội Kình cất tiếng chào. Hắn không trả lời. Ông liền hất hàm, anh người nhà gánh tiền bước ra. Ông chào lần nữa mà nó vẫn không thèm đáp. Bực quá, Đội Kình liền nhảy lên sập, co chân đạp một cái, chánh tổng ngã lăn queo xuống đất. Ông bồi thêm cho hắn mấy quả tống. Thế là ông bỏ về nhà, không làm lý trưởng nữa. Vừa hay lúc đó, Tôn Thất Thuyết từ Huế ra chiêu mộ nhân tài cần Vương chống Pháp, ông liền đi ngay và được cất nhắc lên chức đội.

Sau khi Tôn Thất Thuyết chạy sang Trung Quốc, Đội Kình về quê nhập nghĩa quân Tuyết Sơn. Khi nghĩa quân tan, ông cùng với các ông phó Thủ, thừa Mục trở về làng, quần áo rách tươm, trên cổ áo chỉ còn độc cái lá sen. Từ đó, ông ở hẳn làng Khả Phong làm ăn.




SƯ NHÂN

Sư Nhân người làng Nguyễn, huyện Duy Tiên di cư vào Khả Phong, đi tu từ thuở nhỏ, theo sư cụ Quyến trụ trì chùa Hương Tích. Sư cụ Quyến có nhiều đồ đệ mà sư Nhân đứng đầu trong đám đó.

Lúc còn trẻ, sư Nhân đẹp trai, họa đàn rất giỏi, nhất là lúc chạy đàn đám chay và dâng lục cúng. Các động tác cúng Phật của ông rất khéo léo. Giọng ông đọc kinh nghe rất hay. Ông còn giỏi võ nữa. Ông cùng sư Đôn, người làng Phù Thụy, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng (cũng tu ở chùa Hương Tích) tham gia nghĩa quân Tuyết Sơn.

Trong bọn sơn môn của cụ sư Quyến có người muốn tranh kế thừa trụ trì chùa Hương (lúc ấy khách thập phương các nơi về lễ bái ở chùa này đông lắm) nên đi báo ngầm với Tây cho lính tráng về bắt sư Nhân, sư Đôn về Sở “Săng tan” (Surete’ Centrale), tức Sở mật thám trung ương của Pháp tra tấn. Cuối cùng cả hai ông được chúng tha về, nhưng bị hồi dân quản thúc, hàng tháng phải lên huyện trình diện một lần. Sư Nhân bị mất chân ăn trưởng chùa Hương.

Sau sư Nhân về tu ở chùa làng, cuối đời tu ở chùa Nguyễn Xá, huyện Ứng Hòa (Hà Đông), mới chết năm 1960, thọ 92 tuổi. Còn sư Đôn từ ấy trở về làng Phù Thụy lấy vợ và không đi tu nữa.




SƯ CHÙA ĐẺ

Cụ từ Khương ở làng Hữu Vĩnh, huyện Mỹ Đức kể:

Sau vụ Tuyết Sơn chừng 15 năm, một tốp người làng tôi chừng hơn chục tay lái sang gặt ở Hưng Yên. Đến một nơi có người đón vào gặt ở nhà chùa, tục danh là chùa Đẻ (chưa tra cứu được đó là chùa nào, ở đâu?). Sư cụ hỏi: “Các ông ở về đâu ta?”. Cánh thợ gặt nói quê quán, sư cụ gật gù: “Hữu Vĩnh tôi biết”.

Khi gặt cho nhà chùa xong, bọn này đi gặt nơi khác. Đến lúc về, nhân trời tối nên tạt vào chùa để ngủ trọ một đêm. Nhà chùa có đãi một bữa cơm và sư cụ đến cùng ngồi nói chuyện. Lân la có người nói đến việc tu hành và hỏi sư cụ đi tu từ bao giờ. Sư cụ cho biết là đi tu bán thế, nghĩa là đã ngoài 30 tuổi mới ở chùa. Vui miệng, sư cụ kể: “Năm ngoái mẹ cháu lên, tôi đưa cho 200 bạc về cưới vợ cho thằng lớn”.

Mọi người cười vang: “Sư cụ có vợ con rồi, sao còn đi ở chùa?”.

- Ấy, câu chuyện đi tu của tôi xuất phát từ vùng các ông đấy!

- Vùng chúng tôi à?

- Vâng, các ông còn nhớ vụ Tuyết Sơn chứ?

- Có nhớ.

- Cái năm ấy, tôi quê ở miền bể Nam Định vốn liếng nhà cũng có một ít. Còn hàng phải lấy chịu của bà con hàng xóm. Ngược một chuyến lên bán ở vùng các ông.

- Hàng gì hở cụ?

- Muối mà. Sau khi bán ở chợ Quế, chợ Gốm, thuyền tôi thẳng đường lên chợ Đình. Đến Phú Yên có lệnh của các vị ở Tuyết Sơn đòi vào và trưng thu tất cả. Tôi được các vị ấy nói cho biết đây là việc lớn: đánh Tây cứu nước. Tôi nghĩ: như vậy cũng hay, vả lại hàng hóa đã bị trưng thu rồi. Của mình thì thôi mất cũng đành, nhưng của bà con hàng xóm thì ăn nói với người ta ra sao? Âu đành theo nghĩa quân quách đi.

Khi Tuyết Sơn kết thúc, tôi lần mò sang đến đây. Nhân có biết chút ít chữ Nho nên tôi cạo đầu xin tu ở chùa cho đến ngày nay.




HOÀNG CÔNG CHÍN

Đồng chí Sắt, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp làng Phú Duy, xã An Tiến, huyện Mỹ Đức (1964) kể chuyện:

Làng Phú Duy trước có 2 anh em Hoàng Công Chín, Hoàng Công Mười giỏi võ và đều gia nhập nghĩa quân Tuyết Sơn.

Ông Hoàng Công Chín có nước da ngăm đen. Quanh vùng, những người có máu mặt đều nhờ cậy ông trông nom cho. Có một lần một bà nhà giàu ở thôn trên bị kẻ cướp cũng ở cách đó mấy làng bắn tin sẽ đến cướp. Bà ta tin nhờ ông che chở. Ông bảo: “Bà cứ về đi, lúc nào nó đến, bà cho người tìm tôi, còn mặc kệ nó muốn lấy gì thì lấy”.

Ít lâu sau, quả nhiên tên ấy dẫn người đến cướp thật.

Được tin, ông liền đi một mình và cầm con dao mười, đứng ở cổng. Quân cướp khiêng ra nào tiền, nào của, nồi đồng, mâm, thau, trâu, lợn, quần áo v.v... Ông cứ để mặc cho chúng đi. Đến lúc

………………………………. (sách thiếu 1 trang)

lại rồi buộc vào một cái thang. Người khiêng phải đi dép gỗ (có lẽ là đôi guốc mộc, quai mây ngày xưa vẫn dùng) khiêng đến vườn nhà kẻ xấu, lúc đó có một bụi mái (cùng họ với cây mây) gai góc, xanh tốt và um tùm lắm. Rồi người ta mới lấy hai cây tre dài luồn vào bụi mái. Nhiều người nâng hai đầu tre lên, rồi khiêng thang có ông Chín đi vào lăn để ở trong. Đoạn, rút thang và tre ra.

Chờ mãi mà không có động tĩnh, bọn quan quân sục vào làng, tìm tòi khắp nơi không thấy. Chúng dùng 5 con ngựa cưỡi vào làng từ sáng đến chiều để sục sạo mà chả thấy tăm tích gì. Chúng tra hỏi hết người này đến người khác. Chỗ bụi mái chúng cũng đâm vào tìm, nhưng không thấy có kết quả. Gần tối chúng mới rút đi.

Sau dân làng phải phát hết bụi mái mới đem ông Chín ra được. Có người kể là quan quân nó đâm vào, ông lấy tay vuốt lưỡi dao cho khỏi dính máu. Chúng tôi nghi ngờ, cho rằng chi tiết này không hiện thực, chắc là tô vẽ thêm mà thôi.

Câu chuyện trên đây chứng tỏ nhân dân ta nói chung và nhân dân các vùng mà nghĩa quân Đề Yêm hoạt động nói riêng đều rất quý trọng và tìm cách bảo vệ những người yêu nước chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 03:56:30 pm
DANH SÁCH MỘT SỐ NGƯỜI THAM GIA NGHĨA QUÂN TUYẾT SƠN


Đến nay, chúng tôi mới sưu tầm được tên tuổi của một số người tham gia nghĩa quân Tuyết Sơn ở hai tỉnh Hà Nam và Hà Đông như sau:

TỈNH HÀ NAM

1. Huyện Kim Bảng

-    Xã Tân Sơn:
. Làng Vĩnh Sơn, tức Vãng Sơn (tên cũ) có Lãnh Đình, Nguyễn Văn Quang.
. Làng Thụy Sơn (làng Dộc) có Tác Vi, Tác Hoắm, Đốc Nghễ đều là họ Phan.

-   Xã Khả Phong:
. Làng Khả Phong có Đội Kình, Sư Nhân, Phó Thử, Thừa Mục.

-   Xã Đồng Hóa:
. Làng Đồng Lạc có Dương Văn Soạn, Dương Văn Sữa, Việt; đốc Sơn, họ Trương
.  Làng.Yên Lạc có cụ chùm Đọ, họ Chu.

-   Xã Thi Sơn:
. Làng Phù Thụy có sư Đôn

-   Xã Văn Xá:
. Làng Điền Xá có Bát Khuếch, họ Dương.

-   Xã Nguyễn Úy:
. Làng Phù Lưu Tranh có Điển Tiến; Đội Nghiệp, họ Ngô (sau bị Pháp đầy đi Côn Đảo rồi chết ở đó); Cai Tước, họ Dương; phó Tằng, họ Nguyễn; Đốc Chỏm, họ Phan chuyên trừng trị những kẻ do thám phản bội; Đội Hồng, họ Nguyễn chuyên môn sử dụng bột hồng (đốt một thứ đuốc nhậy lửa và rất sáng)

-   Xá Lưu Xá:
. Làng Lưu Xá ở chợ Sàng có Đốc Hiểu là anh ruột tri phủ Nguyễn Đình Hòe, sau di cư sang làng An Nhân (Duy Tiên) và là cháu sinh đồ Nguyễn Thời Thực.

-   Xã Tượng Lĩnh:
. Làng Quang Thừa có Bếp Năm, họ Nguyễn: Tuần Nông (gọi tên con); phó Kiến, Trưng đều là họ Trần...
. Làng Phù Sơn (tức Lưu Giáo) có Cai Đạt làm phó chỉ huy nghĩa quân (Đề Yêm là chánh)
. Làng Phù Đạm có Phạm Phát; Lại Văn Căn; Ba Xây, họ Nguyễn có tài lặn giỏi.


2. Huyện Duy Tiên

-   Xã Hoàng Đông (có thời kỳ gọi là xã Tiên Lý)
. Làng Hoàng Đạo có Tư Giai, họ Tạ, sau không thấy về làng.

-   Xã Tiên Phong:
. Làng Dưỡng Thọ có Xuất Giang. Ông đã có lần kéo quân về làng đóng một đêm



TỈNH HÀ ĐÔNG

1. Huyện Mỹ Đức:


. Làng Đục Khê có Phạm Văn Kim, tức giáo Kim, Đội Ngàn, Đội Bình, Lý Đội, Lý Tú, Đinh Văn Tín, Đinh Văn Phê, Vương Văn Trí và Hương Chế, tức Phạm Văn Chơi. Chơi theo nghĩa quân, nhưng sau khi Tuyết Sơn tan, hắn về quê hợp tác với tên phó lý Quế làm tay sai cho giặc Pháp.

. Làng Hội Xá có Cai Để, Đội Dao là bố và Hiệp Hai là chú ruột của tri huyện Nguyễn Mạnh Hướng.
. Làng Phú Yên có Bồi Hanh, họ Nguyễn và nhiều người khác, vì làng này là làng sở tại. Có người mang cả vợ con theo nghĩa quân.
. Làng Phú Duy có Hoàng Công Chín, Hoàng Công Mười.
. Làng Yến Vĩ có Bùi Văn Đỗ, Bùi Văn Độ.


2. Huyện Ứng Hòa:

. Làng Phú Dư có Hiệp Cường (còn gọi là Lãnh Cường, Tuấn Cường) và thủ hạ, trong đó có Hương Miện, tức xếp.
. Làng Hòa Xá có Tuần Thấn, một tướng của Tuyết Sơn.
. Làng Hữu Vĩnh có anh Trọng, Bá Lộc, Thủ Nhằng, Từ Đồ, Phó Thắp, Xuất Thực, Trương Thanh và gánh hát của ông trùm Thỉnh. Bây giờ (1964), Trương Thanh có cháu 4 đời đặt tên các con là Sỉnh, Ná (tức sắn), Xét, Quề.
. Làng Kim Giang có Lãnh Hồng.
. Làng Vân Đình có nhiều thầy đồ. Trong đó có một vị tục danh là Đồ Cóc.

3. Các huyện khác:

. Ở Xuân La, Chằng Cò (huyện Phú Xuyên) có một tướng và quân (chưa tra được tên. Ở Bằng Vôi, còn gọi là chợ Bằng (gần huyện lỵ Thường Tín) có Cò Thanh.

. Ở các nơi khác chưa sưu tầm được thì chưa biết, nhưng ở các vùng Kim Bảng, Duy Tiên (Hà Nam); Mỹ Đức, Ứng Hòa, Phú Xuyên (Hà Đông) không mấy làng là là không có người tham gia nghĩa quân Đề Yêm.

. Ngoài 2 tỉnh Hà Nam, Hà Đông, ở Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) có Đề Vang, một tướng của Tuyết Sơn. Ở thị trấn Phả Lại (tỉnh Hải Dương) cũng có người tham gia.

Trong số những nghĩa quân có tên kể trên đây, đa số người có cấp bậc do tổ chức của nghĩa quân phong cho như: đề đốc, hiệp quản, lãnh binh, đốc biện, xuất đội v.v... Mỗi vị đều có đem một số người gia nhập nghĩa quân. Quản lại có một chính, mấy phụ. Bởi vậy, tổng số quân Đề Yêm trong căn cứ địa Tuyết Sơn khá nhiều (ở làng Phú Yên có người ước số quân đến trên 300 người). Trong bài vè dân gian sưu tầm được đã viết:

... Xuống thuyền quân đã đông ghê ...
Những quân bên Bắc kéo sang rì rì
.

Cụ Trương Kếu, 89 tuổi (1964) ở làng Thụy Sơn cho biết: lúc nghĩa quân kéo về núi Nguỳa, thuyền như lá tre, quân số đông đến mấy trăm người.

Khi vụ Tuyết Sơn tan, người làng Phú Yên tránh quân Pháp nên chạy lên núi trông xuống thung doanh trại có nhiều nhà cửa, trâu bò, nồi đồng, xanh đồng bỏ lại ngổn ngang.


Tiêu đề: Re: Đề Yêm chống Pháp (Trọng Văn)
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Ba, 2019, 04:05:27 pm
KẾT LUẬN


Từ giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, quá trình xâm chiếm và thống trị của chúng là quá trình nhân dân ta nổi dậy đấu tranh bất khuất.

Nói riêng về tỉnh Hà Nam, bọn chúng phải thú nhận rằng: sau 10 năm mới chiếm cứ được thị xã Phủ Lý, tức là năm 1883 chúng mới bình định được xứ này. Thế mà liền năm 1884, chúng đã phải đương đầu với phong trào nổi dậy của nhân dân Hà Nam (các huyện Thanh Liêm, Bình Lục) do Lãnh Tràng, tức Đinh Công Tráng lãnh đạo 1 và nhiều cuộc khởi nghĩa khác của nhân dân trong tỉnh. Trong số đó có vụ nghĩa quân Tuyết Sơn do Đề Yêm lãnh đạo. Địch phải tập trung lực lượng, đem cả tàu chiến đi đánh dẹp rất vất vả 2. Không những thế, ngoài địa điểm chính là tỉnh lỵ ra chúng còn phải đóng nhiều đồn trại để án ngữ như: Do Lễ, Quang Thừa (huyện Kim Bảng); Như Trác (huyện Lý Nhân); Thành Thị (huyện Bình Lục); Vũ Xá (huyện Thanh Liêm).... Tuy vậy, nhân dân ta vẫn không chịu khuất phục chúng. Với hai bàn tay trắng và chí căm thù, đồng bào đã dũng cảm đứng lên cướp đồn giặc như nhân dân Kim Bảng đánh đồn Quang Thừa, do ông Hàm 3 và Đinh Hữu Tài chỉ huy.

Về thủ lĩnh Đề Yêm và nghĩa quân Tuyết Sơn, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, nghiên cứu, thu được một số kết quả bước đầu như đã trình bày ở trên. Một điều khá rõ là Đề Yêm đã kế tục sự nghiệp của Nguyễn Thiện Thuật, tức Tán Thuật, sau khi ông sang Trung Quốc. Đến đó, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy cũng chưa phải kết thúc. Đề Yêm đã cùng nhiều tướng cũ của Bãi Sậy như Đề Vang, Tú Lý, Tác Vi, Tác Hoắm và nhiều nghĩa quân khác chuyển vùng hoạt động từ Bãi Sậy (Hưng Yên), Bắc Ninh, Hải Dương sang vùng Hà Nam, Hà Đông, Đề Yêm và nghĩa quân đã tìm được nơi hiểm yếu để lập căn cứ và để kéo dài thêm cuộc đấu tranh với thực dân Pháp hơn một năm trường 4, khiến cho chúng phải vất vả lao đao, không rảnh tay bòn rút sức lao động và của cải, tài nguyên phong phú của nước ta.

Vì hạn chế của điều kiện lịch sử nên nghĩa quân và thủ lĩnh Đề Yêm chưa có được chủ trương, đường lối kháng chiến đúng đắn để đảm bảo cho chiến thắng cuối cùng, nhưng cuộc khởi nghĩa đã chứng minh rằng, nhân dân ta với truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm thời nào cũng có và địa phương nào cũng có.

Trước khi dừng bút, chúng tôi xin rất hoan nghênh và cảm ơn Đảng ủy, chính quyền các xã Đồng Hóa (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam), Hương Sơn (huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông) đã nhiệt tình tổ chức các cuộc họp để trao đổi về tổ chức và hoạt động của nghĩa quân Tuyết Sơn và lãnh tụ Đề Yêm tại các thôn Đồng Lạc (14/8/1964), Đục Khê (4/9/1964). Trong các cuộc họp này, chúng tôi rất cảm động trước nhiệt tình của các đồng chí lãnh đạo và của nhiều bà con địa phương, nhất là các cụ lão ông, lão bà đã đóng góp, cung cấp cho chúng tôi nhiều mẩu chuyện, tư liệu quý báu về diễn biến và những chiến công quan trọng của nghĩa quân Tuyết Sơn và thủ lĩnh Đề Yêm.

Viết xong tại xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
                                         Tháng 1 - 1965


                                          TRỌNG VĂN.



Hết





--------------------------------------------------------------
1. Theo tập Dư địa chí tỉnh Phủ Lý của thực dân Pháp viết ngày 27/12/1932 (lưu lại Cục lưu trữ Trung ương số 54.751), thì tháng 12/1873 tên Balny Avrincourt chỉ huy pháo thuyền (Espingole) xâm chiếm Phủ Lý. Kể từ năm 1883, thực dân Pháp mới bình định được vùng Hà Nam. Tuy vậy, năm 1884, Đinh Công Tráng, tức Cai Tràng (tên gọi theo làng là Nham Tràng, thuộc huyện Thanh Liêm)nổi dậy chống Pháp và mưu đồ đánh chiếm Kẻ Sở, nơi trung tâm công giáo.

Nguyên văn tiếng Pháp như sau:
En Décembre 1873, Balny d’ Avrincourt, commandant de “L’Espringole” s’empara de Phủ Lý... Apartir de 1883, le pays est paciíié... e’ est ainsi qu’en 1884, le nommé Đinh Công Tráng dit Cai Tràng (du nom de son village Nham Chàng, distrist de Thanh Liêm) serévolte con tre les Franxais et forme le proet de s’emparer du centre catholique de Kẻ Sở...”.

2. Xem phần Những di vật tài liệu hiện còn của sách này

3.  Cũng theo tài liệu nói trên viết: “Năm 1884, tên tướng giặc Hàm đánh đến Quang Thừa, huyện Kim Bảng. Hắn bị đánh lui, nhưng đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho quân đội đóng ở các đồn nhỏ này”

Nguyên văn tiếng Pháp như sau:
En 1894, le chef pirate Hàm attaque le poste Quang Thừa dans de distrist de Kim Bảng. Il esr repousse’ après avoir cependant infligé des pertes sérieuses aux troupes de ce petit poste.

4. Chúng tôi căn cứ vào:
a) Bài vè dân gian đã dẫn ở trên, tài liệu của Pháp và quan lại Nam Triều (Lính khố xanh Đông Dương), giấy khen của Quản đạo và Phó sứ Mỹ Đức tặng cho Nguyễn Văn Thiều, người giúp chúng đắc lực.

b) Ngày Đề Yêm kéo quân về làng Yên Lạc 16/6 (âm lịch) năm 1889; ngày giỗ của những kẻ ở Đồng Lạc làm tay sai cho giặc Pháp bị nghĩa quân Đề Yêm giết; ngày nghĩa quân tan vào khoảng tháng 3 (âm lịch) năm Canh Dần 1890, lúc đó trên cánh đồng đã có mía bói.