Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:37:02 am



Tiêu đề: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:37:02 am
     
        - Tên sách : Tiếng vọng Thái Bình Dương

        - Tác giả : Nguyễn Văn Tâm

        - Năm xuất bản : 1959

        - Số hóa : Giangtvx



Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2018, 05:03:37 pm
  
LỜI MỞ ĐẦU

        Chúng tôi phiên dịch để cống hiến độc giả cuốn sưu tầm những mẩu nhựt ký và những bức tâm thư cho lớp sinh viên đại học Nhựt Bổn, lúc họ còn chiến đấu trên khắp mặt trận Viễn Đông. Họ thuộc đủ thứ binh chủng : hải lục không quân. Họ là những người lái phi cơ Thần Phong, điều khiển nhục lôi, cưỡi bom người... Họ đã tham chiến trong vùng sơn cước Trung Hoa, rải rác trên các đảo thuộc Thái Bình Dương, trong rừng thiêng nước độc của Miến Điện.

        Những mẩu nhựt ký và tâm thư được gởi về gia đình, cho cha mẹ vợ con, vị hôn thê, cho bạn bè... Nhiều bức được thảo ra với tánh cách tờ di ngôn, vì họ cầm chắc cái chết trong tay ! Có nhiều bức được viết ra mấy giờ trước khi tác  giả chết. Bức tâm thư áp cuối của một trang thanh niên bị trúng bom nguyên tử. Khắp thân thể bị phỏng nặng, hai tay đau đớn, dầu thế nạn nhân cũng gắng gượng viết ra mấy hàng chữ gởi về cho cha mẹ. Bức thư kết thúc đúng nửa giờ trước khi hồn lìa xác.

        Bức thư cuối cùng của một sinh viên tòng ngũ, bị liệt vào hàng tội nhân chiến tranh, mang án tử hình vì những tội ác của cấp trên đã phạm. Bức thư được viết ra trên mép các trang của một cuốn sách triết học, và kết thư nửa giờ trước khi tác giả bước ra chốn pháp trường.

        Những mẩu nhựt ký và những bức tâm thư nầy, nhiều đoạn có vẻ tầm thường, nhưng đã nói lên tất cả tâm trạng, những phẫn uất, những thắc mắc âu lo về tiền đồ Tổ quốc. Đứng trước cái chết, con người bỗng có quan niệm sáng suốt về vấn đề sinh tử.

        Những tác gỉa nhựt ký và tâm thư này, ngày nay đã ra người thiên cổ. Một nhóm sinh viên đại học Nhựt Bổn đã thâu thập lại và xuất bản thành sách. Nhờ cuốn này, dân chúng và nhứt là sinh viên Phù Tang mới hiểu rõ cái hậu quả khốc liệt của chế độ độc tài hồi tiền chiến và mới hiểu cái kết quả đáng tiếc của cuộc chiến tranh chinh phục do phái quân phiệt chủ trương.

        Chúng tôi thiết tưởng đọc cuốn sách này, sẽ được hiểu người và hiểu ta hơn.

        Chúng tôi chia sách làm 5 chương. Mỗi chương thuật qua những giai đoạn chiến cuộc và tiếp sau là nhựt ký của các vị chiến sĩ thuộc giai đoạn.

        MỤC LỤC

        Chương I Chiến tranh tại Trung Hoa.

        Chương II Trân Châu Cảng và những ngày đầu cuộc chiến tranh ở Nhựt Bổn.

        Chương III Chiến tranh ở Thái Bình Dưong. Chương IV  Đội Thần Phong.

        Chương V Hai trái bom nguyên tử và thất bại.

SAIGON, ngày 23 tháng 9 năm 1959       

        

        


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2018, 08:13:09 pm
       
CHƯƠNG 1

CHIẾN TRANH Ở TRUNG HOA

        Quá say mê vì những chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nhựt Nga, hồi năm 1905, dân chúng Phù tang sớm có quan niệm là họ thuộc dòng dõi vương quyền Á Châu và họ cần giải rộng quyền bá chủ trên khắp lục  địa Trung Hoa, một nước cỗ hủ đang suy sụp và trên các nước chư hầu đã từng bao năm sống dưới quyền đô hộ của Trung quốc.

        Cái quan niệm ấy được phát lộ trong bức thông điệp gồm 21 điều thỉnh nguyện gởi cho chánh phủ Trung Hoa năm 1916. Quan niệm ấy càng tỏ rõ vào năm 1934 trong lý thuyết «Manroe » và nó được thể  hiện trong cuộc đệ nhị thế chiến, trong lý thuyết «khối Thịnh vưọng Á Châu »1.

        Chính phủ Trung Hoa không chịu chấp nhận 21 điều thỉnh nguyện, do đó cuộc xung dột Nhật Hoa bùng nổ.

        Cuộc chiến tranh Nhựt Hoa chính thức bắt đầu ngày 7-6-1937 bằng biến cố xảy ra tại Lư Câu Kiều. Nhưng thực ra, ngay từ năm 1931, mầm chiến tranh, dưới hình thức ngấm ngầm, đã phát khởi bằng mọi biến cố.

        Sau cuộc chiến tranh 1914-1918, Hội Quốc Liên ủy  thác cho Nhựt Bổn kiếm soát con đường hỏa xa miền Nam Mãn Châu. Nhựt lợi đụng hoàn cảnh ấy để biến Mãn Châu thành một nước tự trị, dưới quyền kiểm  soát của chính phủ Nhựt. Nhưng tại đây, người Nhựt đã vấp phải nền thực dân của Trung Hoa.

        Nhân vụ một sĩ quan Nhựt bị ám sát, xảy ra trong tháng 7 năm 1931 và vụ một trái bom nổ dưới đoàn xe lửa, gần Thẩm Dương, Nhựt vịn cớ ấy dùng binh  lực thôn tỉnh luôn một phần Mãn Châu.

        Vụ nầy được đưa ra trước Hội Quốc Liên, nhưng hội nầy không xét xử.

        Năm 1932, người Nhựt làm bá chủ Mãn Châu và tỉnh Nhiệt Hà. Chính Phủ Trung Hoa liền trả đũa bằng cách tầy chay hàng hóa Nhựt trên khắp lãnh thổ Trung  quổc. Việc tẩy chay này gây công phẫn cho các nhà đại doanh nghiệp Nhựt Bổn không ít. Mấy nhà đại doanh nghiệp này có ảnh hưởng rất lớn đến nền chánh  trị Nhựt Bốn1.

        Nhân một số tăng ni Nhựt bị ám sát, chánh phủ Nhựt cho rằng uy quyền của Thiên hoàng bị các nhà báo Thượng Hải xúc phạm, nên cho một đạo quân viễn  chinh đổ bộ lên các vùng phụ cận tô giới quốc tế. Nhưng nơi đây, quân đội Nhựt vấp phải sức kháng chiến mãnh  liệt của sư đoàn 19 Trung Hoa. Quân Nhựt pháo kích và phá hủy khu Sa Bắc, một trong các khu phụ cận Thượng Hải. Nhưng dưới áp lực của mấy cường quốc, người Nhựt phải ký một hòa ước đình chiến và sau 2 tháng phải rút hết quàn.

        Ngày 1-3-1932, chính phủ Nhựt thành lập một nước độc lập với danh hiệu «Mãn Châu quốc », gồm Mãn  Châu và tỉnh Nhiệt Hà. Họ đặt Phổ Nghi, một vị hoàng  thân trẻ tuổi lên ngai vàng. Phổ Nghi thuộc dòng họ đế vương Mãn Châu, trước kia đã trị vì Trung quốc.

        Nhựt cố mở rộng vùng kiểm soát bằng cách thôn  tính miền Sát Nhĩ Cáp thuộc Nội Mông Cổ và luôn cả tỉnh Hồ Bắc. Như thế, Nhựt đẵ chiếm hẳn 5 tính thuộc Bắc Trung Hoa.

        Trong đêm 7 rạng 8 tháng 7 năm 1937, gần làng Lư Cầu Kiều xa Lữ Thuận một chút, cách Bắc Kinh chừng 5 dậm, một lính Nhựt vô phận sự tiến sâu vào vùng đó, bị bắn chết. Tiếng súng từ một làng gần đấy bắn ra. Nhựt vịn vào cớ đó cho quân đổ bộ lên.

        Ngày 9-8-1937, một vị thiếu úy Thủy quân lục chiến, tên Isao Oyama, bị ám sát. Người ta tìm thấy tử thi nạn nhân gần cửa kinh thành Thượng Hải. Nhựt lại cho đô bộ một đạo quân viễn chinh khác. Đồng thời hạm  đội Nhựt kéo dọc sông Hoàng Phố và nhả trọng pháo vào thành phố. Trong khi ấy, các phi cơ Trung Hoa làm đích, đã thả bom xuống tô giới quốc tế.

        Tuy nhiên, cuộc bang giao vẫn chưa bị gián đoạn. Hội Quốc Liên hết sức ủng hộ Trung Hoa bằng tinh  thần. Quân đội Nhựt không cần chiến đấu gì, cứ ung  dung chiếm cứ Bắc Kinh và tỉnh Quế hạc Thành.

------------------
        1. JAMES MANROE, tổng thống thứ năm của Hiệp Chủng quổc, từ 1817 đến 1825. ngày 2-12-1823, tổng thống Manrce gởi cho Quốc Hội Mỹ một thông điệp nêu ra một lập trường chánh trị, thường được mệnh danh là thuyết «Manroe », có ảnh hưởng đến nền ngoại giao của Mỹ từ đó đến nay. Đại ý bức thông điệp là Huê kỳ không can thiệp đến các vấn đề ở Âu  Châu, và yêu cầu các nước Âu Châu không nên dự vào các việc ở châu Mỹ. Vì thế, sau nầy nhiều người cho rằng thuyết «Manroe» là nguyên thủy của lập trường chánh sách ngoại giao của Mỹ.

        2. Mấy đại doanh nghiệp của Nhựt có ảnh hưởng đến chánh trị : Công ty Mitsui với số vốn 7 ức quan, kiểm soát 224 xí nghiệp Nhựt, đứng về đảng Bảo Thủ (Seyukai). Công ty Mitsibischi với số vốn 4 ức quan, kiểm soát 90 xí nghiệp và 5 ngân hàng, ủng hộ và chỉ huy đảng Tự do (Minseỉto). Vào thời kỳ ấy, kinh tế chỉ huy chánh trị ở Nhựt, nên hai đại doanh  nghiệp kể trên tha hồ thao túng nền chánh trị trong nước, nhứt là trong việc đi chinh phục nước ngoài để tìm thị trường kinh tế và thương mại.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2018, 04:03:00 am
 
        Qua ngày 8-12-1937, quân Nhựt lại tiến vào Nam  Kinh, thủ đô của chính phủ Quốc dân Đảng. Ít ngày sau, đến lượt Quảng Đông và Hán Khẩu. Quân Nhựt làm chủ tình thế trên dọc miền duyên hải Trung Hoa, gồm nhiều hải cảng trọng yếu và nhiều đô thị kỹ nghệ, lại cả một đồng bằng bao la, một vựa lúa vĩ đại, được sông Dương Tử chảy qua, làm đất đai thêm phì nbiêu.

        Trong vòng 4 năm, mãi tới năm 1941, quân đội Trung Hoa cầm cự và chiếm giữ vùng sơn cước bao quanh đồng bằng. Quốc quân của Tưởng giới  Thạch và Cộng quàn của Mao Trạch Đông lại cùng nhau ký kết một cuộc liên minh kháng Nhựt.

        Thảng 3 năm 1938, ít ngày trước khi Hán khẩu thất  thủ, Quốc Dân Đảng có mở tại đô thị nầy một cuộc hội nghị nhằm mục đích thảo một chương trình kiến  tliiết và kháng chiến bằng võ trang. Chương trình hội  nghị gồm 4 khoản sau đày :

        1—Mặc dầu ta thất bại lúc đầu, ta vẫn tiếp tục kháng Nhựt.

        2—Cuộc kháng chiến nầy có tính cách co giãn. Thay

        vì bảo vệ một địa điểm, quân ta sẽ rút lui vào sâu nội  địa mỗi khi địch tiến đánh. Ta rải quân xa rộng để làm tiêu hao lực lượng của địch.

        3— Mất đất đai, chúng ta dựa vào thời gian. Thời gian sẽ đem lại thắng lợi cho ta. Địch sẽ bị hao mòn.

        4—Các cơ sở kỹ nghệ sẽ được dời đi xa các đô thị dọc duyên hải. Sẽ thay thế vào đó bằng những cơ sở kỹ nghệ khác rải rác trong vùng thôn quê.

        Quân đội Phù Tang vẫn tiến sâu vào nội địa Trung  Hoa bao la, không gặp sức kháng chiến thực sự. Thống  chế Tưởng Giới Thạch rút lui về miền rừng núi tỉnh Tứ Xuyên và đóng tại Trùng Khánh. Đường giao thông giữa vùng nầy với các hải cảng đều bị cắt đứt. Cuộc Hội nghị ở Munich (giữa Chamberlain, Daladier, Hitler và Mussolini) đã cho Tưởng Thống Chế một bài học: không nên quá tin tưởng vào các cường quốc dân chủ Âu Châu.

        Năm 1941, lúc quân đội Nhựt chiếm đóng Đông  Dương, đỏng cửa giao thông từ Hải Phòng (Bắc Việt), Tưởng Thống Chế phải mượn con đường Miến Điện để tiếp tế. Mỗi ngày có hàng vạn dân công kiến thiết con đường huyết mạch nầy, ăn từ Còn Minh, thủ phủ Vân  Nam cho tới Lashio, đầu cầu thiết lộ Ngưỡng Quang.

        Trong những năm ấy, quân đội Trung Hoa một mình chiến đấu với Nhựt Bổn. Anh Mỹ, Nga, Pháp chỉ ủng hộ Trung Hoa bằng tinh thần. cả thế giới đang kinh ngạc và tin rằng Quốc Dản Đảng thể nào cũng bị tan rã, thì vùng lên phong trào quốc gia Trung Hoa được hồi sinh một cách mạnh mẽ.

        Một lối đánh du kích được xuất phát để kháng Nhựt. Các hệ thống giao thông, kéo dài, bị phá hoại một cách dễ dàng. Những nhóm dân quê được võ trang thô sơ, đánh vào các đồn lẻ và đặt chất nổ để phá hoại cầu cống, đường bộ và thiết lộ. Bao nhiêu tiểu đoàn của Nhựt cũng không đủ sức đương đầu với du kích quân của Trung Hoa. Đoàn quân du kích đã làm tiêu hao quân lực Phù  Tang không ít. Thêm vào, khí hậu nóng bức, ẩm thấp của Lục địa Trung Hoa đã làm cho binh linh Nhựt bị sa giảm.

        Nam Kinh bị thất thủ đánh dấu cho một cuộc tàn  sát dã man, cướp bóc, hiếp dâm và xử tử từng đoàn người Trung Hoa. Từng toán quàn Nhựt đi càn quét càng làm cho thiên hạ oán ghét quàn đội của Thiên  hoàng.

        Năm 1940, gần như kiệt quệ, quân Nhựt phải ngưng hoạt động trong thời gian. Tưởng Thống Chế lợi dụng lúc rảnh tay để cắt đứt liên lạc với Cộng quàn và mưu  tính thanh toán quân lực của Mao. Nhưng Tưỏng Thống Chế chợt thấy Hồng quân đã phát triển quá mạnh và đã từng thấy rõ những hậu quả khốc liệt của chiến tranh.

        Mặc dầu phong trào du kích kém hoạt động nhưng vẫn được tổ chức sâu rộng trong quần chúng. Người Nhựt làm chủ tình thế trong những đô thị lớn, thì người Trung Hoa vẫn giữ vững cánh đồng bao la. Từng sư  đoàn ngụy trang bằng thường phục đột nhập vào vùng Nhựt kiểm soát để đảnh vào sau lưng Nhựt. Không  quân và trọng pháo của Nhựt không đem lại kết quả mấy. Quân đội của Mao Trạch Đông, được huấn luyện từ 10 năm qua trong lối du kích tỏ ra rất lợi hại.

        Ngày 7-12-1941, chính phủ Nhựt tuyên chiến với Huê Kỳ và Anh quốc. Nhựt đã phạm một lỗi lầm rất lớn khi mở mặt trận thứ hai giữa lúc đang bị sa lầy trong cuộc chiến tranh với Trung Hoa. Quốc xã Đức cũng phạm một lỗi lầm như vậy trong việc khai chiến với Nga Sô khi chưa thanh toán được Anh quốc. Anh Mỹ cần có Trung Hoa đễ cầm cự đánh Nhựt, cốt rảnh tay phản công ở Thải Binh Dương. Anh Mỹ tiếp tế võ khí và quân lương cho Tưởng Thống Chế. Trải lại, Tưởng chỉ dùng để tính chuyện riêng với Cộng quân của Mao. Bây giờ chắc đã có Đồng Minh bên cạnh, Tưởng đinh ninh sẽ thắng, nên để mặc Đồng  Minh đánh Nhựt, còn ông, chỉ lo tiễu trừ Cộng quân. Quốc quân dần dà ít hoạt động đánh Nhựt, đến đỗi năm 1941, lúc mà quàn đội Nhựt sắp kiệt quệ ỏ mặt trận Thái Bình Dương thì Trung Hoa Quốc gia để quân Nhựt chiếm được tất cả hệ thống phi trường của Mỹ thiết lập trong khắp miền Nam và Tây Nam Trung quốc. Vì thế mà chính phủ Huê Kỳ chỉ còn tiếp tế võ khí cho Cộng quân để đánh Nhựt một cách hiệu lực hơn.

        Thảng 3 năm 1944, quân đội Anh quốc chiếm lại được Miến Điện và tái lập con đường tiếp tế cho Tưởng Thống Chế. Ngày 7-5-1945, nước Đức đầu hàng vô điều  kiện, Hitler tự tử dưới hầm. Ngày 9-8-1945 Nga Sô tuyên chiến với Nhựt Bổn và đem Hồng quân chiếm Mãn Châu. Ngày 15-8-1945, Nhựt đầu hàng không điều  kiện.

        Đồng Minh chỉ ủy thác cho Quốc quân Trung Hoa việc tước khi giới quân đội Phù Tang. Nhưng tại nhiều chỗ, Cộng quân cũng đi tước bừa.

        Thế là mộng của dân tộc Phù Tang đi chinh phục Trung Hoa và các nước Đông Nam Á đã bị tan vỡ, để mặc hai bên : Quốc quân và Cộng quân xâu xẻ lẫn nhau.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2018, 01:41:17 am

        EIKO OI

        Đỗ cử nhân toán học đại học đường Đông Kinh năm 1937. Nhập ngũ tháng 9 năm 1938.

        Tử trận tại bắc Trung Hoa tháng 6 năm 1941, lúc được 26 tuổi


        ( Trong các mẩu nhựt ký và tâm thư trong sách này rất   khó phân biệt tác giả nào theo tòn giáo nào. Vì danh từ « Thiên Chúa, thiên đường, đời sau, v...v... » đều giống nhau trong 3 tôn giáo ở Nhựt : Thiên chúa giáo, Phật giáo và Tinh Thần giáo. Vả đông người dân Nhựt có ý thức mơ hồ về « thần linh », họ cho thần linh là một vị cao vời có quyền lực siêu  nhiên).

       

        Thơ gởi cho mẹ

        Thưa Má,

        Ngày con vĩnh biệt Má sắp đến rồi, nhưng con ra đi với lòng can đảm. Xin Má luôn luôn giữ gìn sức khỏe. Con mong rằng sau những kinh nghiệm chua cay này, sẽ được trở về thấy sức khỏe của Má được dồi dào hon. Con muốn có thái độ lãnh đạm và bình thản. Lúc ra mặt trận, con để lại bao việc còn giang giở, khiến con khổ tâm lắm.

        Nếu con đặt cả đức tin vào Chúa thì con sẽ đủ nghị lực để chịu đựng mọi gian nguy. Má ôi ! Má đã hiểu lòng con rồi nhỉ ! Con mong ở má và các em Yoshimitsu và Mieko một nụ cười thông  cảm. Nhưng tình Má thương con bao la quấ, khiến con không thể vui cười được. Những giọt lệ của Má không giảm bớt chí can đảm của con. Con ước mong lúc nào Má cũng vui vẻ cả trong khi chờ đọi tin tức của con. Lúc con ra mặt trận mà Má khóc, con cảm thấy như đang đi đến chỗ chết. Sự vắng mặt con, xin Má coi như là con đi chơi, có mang theo giá vẽ, cần cản, giỏ cá và hộp mồi càu. Má hứa với con đi, Má đừng bao giờ để nước mắt tuôn rơi !

        Trong những ngày xuân, tiết trời mát mẻ, hoa anh  đào nở khắp vườn, con cảm thấy tâm hồn thanh thản biết bao ! Má còn nhớ không, Má ? Khi má con ta thảo  luận về vấn đề nhân sinh, về ý nghĩa đau khổ, cảnh  vật và bao vấn đề khác, khiến cho Má con ta vui vẻ và hiểu nhau biết bao. Nhưng bao nhiêu thứ đó đi quá mau, như làn khỏi trước cơn gió thổi mạnh.

        Hiện giờ con chỉ có một nguồn hi vọng là lời chào Má trong Chúa thôi.

        Đức tin của con không một sức mạnh nào lay chuyển được, duy lòng tin của con mời là cái thực  hữu ở trần gian này thôi. Má thấy con là người oán  ghét và sợ chiến tranh, thế mà ngày nay con đã trở thành một quân nhân thực thụ, gạt bỏ được mọi tư tưởng phủ phiếm, tất Má phải ngạc nhiên lắm. Nhưng đối với con, điều đó là việc rất thường. Nếu có người bảo con rằng ! « Anh đã trở thành người quân nhân thuần  túy», con sẽ trả lời rằng : «Tôi đã lãnh thụ một nền giáo dục quân sự, tôi đã trở thành một quân nhân chánh  thức mất rồi, nhưng tôi đâu có phải quân phiệt ?». Điều khiến con phải suy nghĩ đến bối rối hơn hết tức là sợ tình cảm của con bị cằn cỗi, hết cả phản ứng. Con muốn xông ra chiến trường, không như một con vật mà như là một người còn nguyên vẹn cảm giác. Vì thế, con phải có tinh thần tự chủ luôn luôn kiềm chế mọi hành vi để con thẳng tới chiến thắng vẻ vang. Cuộc chiến thắng cuối cùng của con là được trở về kiếp sống hoặc chết ngoài chiến trường. Hai điều này con chưa biết chọn phần nào. Tâm hồn con hết sức bình tĩnh khi cất bước ra đi. Má cùng cả nhà ở lại hãy vui vẻ và cầu khấn cho con được về. Nếu con chết, cũng do ý Chúa khiến định, xin Má và cả nhà đừng khóc. Nếu may mắn mà con được về, cũng xin Má đừng vui vì không phải phần chiến thắng tối hậu của con.

        Con tưởng vừa làm xong một bài diễn văn long  trọng, Má và cả nhà tin con nói thật, chứ không phải con nói đùa.

        Con không thể mất hết tình cảm nhân loại được và con rất ham viết ! Thỉnh thoảng con viết cho Má những cảm tưởng của con để Má đọc cho vui.

        Con xin ngưng lá thư thứ nhứt nơi đây.

Ngày 17-4-1940         
Con của má : EIKO       

         

        Thư gởi cho Cha sở họ đạo

        Kỉnh thưa Cha,

        Sau khi đổ bộ lên X. chúng con qua một đêm ở Bắc Kinh và một đêm ở Thiên Tàn. Hiện giờ chúng con đang ở Y. Mai đây, chúng con sẽ đi z. Tỉnh con đang ở là một miền rất xa xăm, không thể coi được là một đô thị văn minh. Ở đây, người ta tìm thấy tất cả nỗi thống khổ của Trung Quốc. Tư bề, bay lên một lóp bụi vàng, từng đám người lặn hụp trong bụi, con người họ gần như không còn tư tưởng và mất hết hy vọng. Không biết bao giờ ơn Chúa mới thấu đến lớp người này.

        Thân yêu Chúa EIKO

       
        Thư gửi cho Cha sở

        Xin Chúa xuống phưỏc lành cho Cha,

        Nhờ ơn Chúa, con vẫn được mạnh khỏe, Xin Cha đừng bận tâm cho con về điểm này. Ngoài mặt trận, trong buổi chiều êm ả, con tự cảm thấy còn hạnh phúc được hát những bài thánh ca. Con tin tưởng đang sống trong ơn nghĩa của Chúa, Con quên hẳn mình đang ở giữa cảnh gian nguy và còn bình tĩnh nhẫn nhục hơn bao giờ.

        Con vừa đi thị sát tại một thị trấn về, Lần đầu tiên con đặt chân vào một ngôi thánh đường trên đất Trung Hoa. Con thấy tại đây có đông người đang quỳ caafu nguyện. Phần đông là bực già lão đang tập trung trong thánh đường. Con lễ phép chào họ và nói con cũng là một giảo hữu của nước Nhựt. Họ tỏ vẻ hoan hỉ và đưa cho con một cuốn Thảnh kinh viết bằng Nhựt  ngữ. Chắc tại con tò mò nhìn vào cuốn kinh của họ viết bằng Hoa ngữ. Lúc con sắp ra về, một cụ già người Trung Hoa đưa cho con cuốn kinh đó. Con sung  sưỏng quá. Trên đường trở về, lòng con tràn ngập tình thương yêu của người giáo hữu.

        Nguyện xin Chúa ban muôn ơn phước cho Cha và Giáo Hội của Cha.

Kính cha,       
EIKO         


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2018, 10:17:03 pm

        TAKAAKI ISHIGAMI

        Cử nhân triết học Trường Cao đẳng Đông Kinh. Nhập ngũ tháng 12 năm 1939. Tử trận tháng 3 năm 1942 ở miền Trung Trung Quốc.

        Ishigami thuộc tả khuynh. Khi còn là sinh viên, đã tập nhiễm lý thuyết Mác xít. Anh tiên đoán Âu Châu sẽ suy sụp, tại vì anh cũng như bao người Nhựt, không nhận được tin tức xác thực về tình hình ở Âu Châu. Nhà cầm quyền Nhựt Bổn cố ý bưng bít những tin tức bên ngoài. Ishigama quá thất vọng ở Pháp, Nga và cả với các bạn. Sẽ có một cuộc chống đối chia rẽ.


        Ngày 7-10-1938

        Được tin Đức và Tiệp Khắc vừa ký kết với nhau một thỏa hiệp quân sự. Nhưng Tiệp lại đòi có nền chánh trị riêng biệt. Thực là một tấn hài kịch lố bịch, hay nói cách khác, một bi hài kịch của chủ nghĩa Nhân chủng núp sau lưng một tướng khổng lồ, đang vỗ tay reo cười. Không nên quên người khổng lồ ấy.

        Dần dà tôi hết hi vọng ở Pháp và Nga. Nhưng tôi còn tin tưởng vào Mặt Trận Bình Dân đang nổi dậy.

        Bốn cuốn sách hữu danh của giáo sư Kawai bị cấm lưu hành. Trong số đó có cuốn « Nguyên tắc chính trị xã hội». Người ta đang nêu vấn đề bãi bỏ chức vụ của ông ở Đại học đường.

        Sáng nay, tôi vặn máy thâu thanh để theo dõi môn đức dục. Phó Đô đốc Ogasabara đọc bài diễn văn có tánh cách phản động.

        Tôi tự đặt câu hỏi : diễn giả căn cứ vào đâu mà dám ước định con số thánh đường bị triệt hạ, số giáo  hữu bị tàn sát ở Tây Ban Nha ? Đã là một thế giới mới mẻ thì cần phải xây dựng một thế hệ mới, đó chẳng là việc thông thường sao ? (đề tài bài diễn văn : Chính  sách chống cộng với tôn giáo).

        Thấy các sinh viên trường Đại học Thiên hoàng ở  Đông Kinh có thái độ thờ ơ lãnh đạm làm tôi phát chán, Họ chỉ là một lũ xu thời, chạy theo đồng tiền của giới tư bản. Sự hăng hái của họ chỉ là một thỏa hiệp với phái tư bản để cầu mong được ưu đãi; bọn họ ưng làm bất cứ việc chi, cốt thực hiện mệnh lệnh của giới tư sản ban ra. Tất cả bọn chúng đều hèn nhát, ích kỷ. Đâu là tôn chỉ và lòng can đảm của Tổng Hội Sinh viên ? Những sinh viên ấy chỉ là tay sai của bọn phản  động. Mãi bây giờ tôi mới khám phá ra được cái đối  lập giữa chủ nghĩa xã hội và chánh sách độc tài. Chánh sách độc tài chỉ là một chủ nghĩa tập trung tất cả quyền hành. Bao nhiêu cái dùng để ngụy trang chân lý thảy đều là chiến thuật cả. Chúng ta không thể ra mù quáng bởi chủ nghĩa xã hội của một số lý thuyết. Chúng ta cần phải đề phòng kẻo bị tính đa cảm cám  dỗ và cần phải ly khai với những tư tưởng phản động.
1

        Ngày 30-12-1938

        « Cần phải tự mình học hỏi. Không bao giờ nên cúi đầu trước kẻ khác. Hãy bình tĩnh mà sống và hãy ngay ngắn nhìn thẳng. Người ta nói, mình cứ nghe và nếu muốn làm gì thi cứ làm đi». (Trích trong sách : Tuổi thiếu niên của tôi, do Maxime Gorki viết ). Quổc gia đè nén bóc lột, người dân chỉ cần im  lặng phục tùng, thế đủ rồi !

--------------------
        1. Hiệp Hội Sinh vién Nhựt Bổn (Shinjinkai) do một số sinh viên luật  khoa Đạí học đường Thiên Hoàng Đông Kinh sáng lập năm 1918 và được một số cựu sinh viên ủng hộ, như Yoshino, Asa Hisashi, V. V...

        Tôn chỉ Hiệp Hội này :

        1.   Hợp tác với nền phát triền tự do nhân loại, dung hòa mọi xu hướng cùa thế giứi hiện tại.

        2.   Xây dựng một nước Nhựt Bổn mới mẽ.

        Những đoàn viên trong Hiệp Hội có xu hướng xã hội, nhứt là cộng sản. Họ tìm mọi phương tiện để truyền bá lý thuyết Mác xít trong các trường đại học.

        Năm 1922, Hiệp Hội Sinh viên có sáng kiến quy tụ tất cả nhóm sinh  viên chủ trương cải cách nền đại học Nhựt, thành Tổng Hội Sinh Viên và qua năm 1923 (Sau trận động đất ở Đông Kinh) Hội này biến thành Hội Nghiên  Cứu Xã hội học (Gakuren). Ngày 15-3-1927, có lệnh truy nã các nhóm sinh viên Cộng Sản. Trong số có rất đông đoàn viên của Tổng Hội. Đại Học đường Đông Kinh quyết định giải tán Tổng Hội này, và nó tự rút lui vào vòng bí mật.

        Ngày 7-11-1927, Tồng Hôi Sinh Viên tuyên bố giải tán sau 12 năm hoạt động.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:17:32 pm
       
        TADASHI KAWASHIMA

        Tốt nghiệp Trưởng Cao đẳng Canh Nông, Đông  Kinh. Nhập ngũ tháng 12-1940. Được gởi qua bắc Trung Hoa và tử trận ở miền Nam Trung Quốc tháng 2 1945, lúc 29 tuổi.

        Tadashitham dự những cuộc càn quét đẫm máu dã man mà quân đội Nhựt thực hiện để dẹp tan lực lượng kháng chiến của người Trung Hoa. Những cuộc càn quét đó chỉ làm tăng thêm lòng công phẫn của dân chúng và oán ghét người Nhựt Bổn.

        Tadashi Kawashima rất khổ tâm, chàng vẫn biết dân chúng Trung Hoa vô tội nhưng chàng là người Nhựt, hơn nữa là một quân nhân, nên không thể làm chi được. Đến mỗi chặng nghỉ chàng thường lấy chén rượu sa kê để quên thực tại.


       Ngày 31-1-1943

        Cảnh trời đẹp quá !

        Đêm thanh yên tĩnh, bỗng điện thoại của bộ chỉ  huy gọi để ra lịnh : 5 giờ 30 sáng phải tập họp đi tảo  thanh. Nhìn lên đồng hồ mới 1 rưỡi đêm.

        Tảng sáng gió thổi lạnh lùng, là lúc chúng tôi lên đường. Chân dẫm lên những lóp tuyết đông đặc. Một người lính của đại đội Nakazawa1 lấy đá liệng vào một thường dân Trung Hoa. Người này bị thương ở sọ, máu me chảy đăm đìa. Nhiều anh lính vẫn tiếp tục đánh dấm hoặc liệng đá vào nạn nhân.

         Các sĩ quan trong đơn vị thản nhiên đứng nhìn tấn kịch dã man không chút xúc động, và dường như đó là lệnh của ông thiếu úy Tagaki.

        Tôi suy nghĩ rất nhiều về sự oan ức cùa người Trung Hoa đó, tại sao lúc ấy tôi không chạy đến che chở cho hắn? Dù có muộn đi nữa, sao tôi không chạy ra cứu?

        Vợ  kẻ xấu số cũng có mặt tại đấy, nàng cúi mình trên một đống thịt nhày nhụa những máu. Thiếu phụ khóc xướt mướt bên người chồng chưa chết hẳn, chờ cho quân lính kéo đi, người đàn bà đáng thương mới dám vực chồng đứng dậy. Hai tay run rẩy vịn vào vai vợ, anh ta tập tễnh bước đi.

        Không bao giờ tôi cho con tôi vào quân đội, không bao giờ nó sẽ là lính. Thái bình, hòa bình thế giới : là điều tôi mong muốn.

        Ngày 10-2-1933.

        Đại bản doanh Sư đoàn ra lệnh cho chúng tôi phải cố thu phục người dân Trung Hoa. Tôi tán đồng ý điều đó. Nhưng có phải thu phục nhân tâm bằng cách khủng  bố, reo rắc sợ hãi, hiếp đáp dân chúng không ? Tiếc thay ! lệnh ra quá trễ !

        Nếu chúng ta chưa bị họ chỗi dậv sau bao cuộc hiếp đáp và tàn sát sư đoàn đóng trong tỉnh này, đó quả là một điều đáng ngạc nhiên !

        Rồi cái gì phải đến, nó đã đến. Một biến cố đẫm máu xảy ra ; 26 sĩ quan và binh lính của trung đoàn 11 bị dân chủng ám sát. Vậy làm cách nào để đối phó với người dân Trung Hoa vô tội ? Cuộc xung đột với Trung  quốc là do một nhóm quân phiệt chủ trương.

        TADAHIDE HAMADA

        Sinh viên Viện Cao đẳng Thể dục Nhựt Bổn. Nhập  ngũ tháng 12 năm 1941. Bị tử trận ngày 3-11-1944, ở Trường Sa, lúc 23 tuổi.

        Trường kỳ hành quân, vất vả mệt nhọc, ốm đau bệnh tật, thuốc men không có, chán nản thất vọng, đó là tất cả nhựt ký của Hamada.


        Ngày 28-7-1942.

        Có khi tôi quả mệt nhọc, chản nản hay đau khổ vì bệnh sốt rét ngã nước, những lúc ấy tôi thường tự nhủ : « Chán ghét chiến tranh lắm rồi ! » Không hiểu tôi còn phải đi bao nhiêu ngàn cây số nữa ? Còn phải ngủ bao nhiêu đêm ngoài trời nữa ?

        Lúc nhìn thay con đường gồ ghề chạy dài trước mặt, tôi tưởng có thể chết ngay bên lề đường còn hơn. Đó là tâm trạng của tôi trong lúc này. Thế rồi tôi đâm cáu kỉnh với bản thân, vì tôi thấy gần như quên hết mặt chữ. (Trong Nhựt ngữ, có rất nhiều thứ nét chữ, sắp lại thành chữ như chữ Hán, rất khó học và khó nhở).

        Sau khi tôi cầm cuốc đào được một hố, tôi vớ lấy khẩu súng, lê mình đến tận chân trái đồi, nó giống như trái đồi Karikaza. Lúc đó tôi chỉ muốn chết đi cho xong. Càng tiến sâu vào rừng, tre nứa càng thêm rậm rạp, chúng tôi khám phá ra một chỗ yên tĩnh, ánh sáng mặt trời dọi xuyên qua kẽ lá xanh rì. Gần đấy một làng nho nhỏ, tôi cảm thấy như vừa lọt vào chốn thiên  đường trần gian, tựa như chuyện cổ tích của Trung
        Hoa vậy. Nếu không mắc chiến tranh thì đời sống ở chốn rừng núi nầy yên tĩnh biết bao ? Vùng hoang vu này sẽ trở thành bằng phẳng và sung sướng biết mấy ? thêm vào một dòng suối nước trong veo chảy ngang qua !

        Từng đoàn người trai tráng dấn bước lên đường, không mấy khi dừng chân nghỉ. Tại sao người ta bắt chúng tôi khổ mãi như vậy ? Trong khi những người khác được sống yên ổn bên đất Nhựt ? Khi tôi tự đặt câu hỏi này thì bên tai tôi văng vẳng một tiếng trả lời trong thâm tâm rằng : « Điều đó chẳng đúng đâu !» Chiến tranh, tôi không ghét quá như thế đâu, chỉ tại tinh thần tôi bị kích thích quá nhiều, khiến tôi có ý tưởng phân tranh như thế thôi.


-------------------
        1. Những đơn vị nhỏ trong quân đội Nhựt, như đại đội, tiểu đoàn, thường mang tên của vị chỉ huy đơn vị.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:26:44 pm

        Trong khi tôi lê xác trên mặt đường, nưỏc mưa làm lầy lội. Chân tôi ngập bùn đến tận đầu gối, lòng tôi tự nhủ : « Hãy tiến bước, cho tới khi nào ngã quị ».

        Trong đêm tối, không đèn không đuốc, chúng tôi bắt buộc phải đi nhiều dậm nữa. Hai chân lê trên mặt đường, tôi bước theo bóng đen của người đi trước. Lắm lúc tôi nằm ngay bên lề đường ngủ gục lúc nào không hay. Đến khi tỉnh dậy thấy mình đang đầm mình trong bùn. Tôi vẫn phải tiến và kéo dài đời sống như thế để theo kịp đoàn người đi mãi không ngừng. Chỉ một chút nữa, tôi bị té xuống chân cầu.

        Ngày 16, đây là ngày thứ ba trong cuộc hành quân. Cơn sốt rét đến làm tôi quị ngã. Chính là bệnh tê thũng (béribéri) làm tôi mệt nhọc. Tôi phải đi quá nhiều, khiến sức tôi càng kiệt quệ.

        Ngày 17, sau khi đi được 2 cây số, người tôi thêm mệt mỏi. Một lúc sau, tôi tới chiếc tàu chở người bệnh và bị thương trở về hậu tuyến. Lúc đầu, tôi được yên một chút, nhưng 2, 3 ngày sau, tôi lại phải làm việc như mọi người khác. Tôi muốn ngủ nhưng không được. Dàn dà tôi cảm thấy đói bụng và dễ chịu hơn. Lần thứ nhứt, trong đời, tôi thấy nước giải có nhuốm máu, như màu nước trà đặc, làm tôi càng hoảng sợ. Sức tôi đã kiệt quệ lắm rồi. Khi con người bị kiệt sức, không thể nào đứng lên được, dầu trong chốc lát. Tôi đau trong tim, trong phổi và đau khắp thân thế. Trong cơn mê sảng, tôi chỉ có một ý nghĩ, gãi thật nhiều nơi ngực. Tôi thấy khó thở quả, con sốt càng lên cao độ tôi càng thấy đầu tôi như muốn nổ bùng lên. Bệnh tôi giống như bệnh trạng của anh Minegishi, đã bỏ mạng vì sức lực kiệt quệ. Ngoài ra, tôi còn bị cảm ho, từ sáng đến chiều, mình trần, trên người tôi vẻn vẹn một chiếc quần đùi. Chúng tôi tới Yosu, một hải cảng ở Nam Cao Ly.

        Ngày 23, chúng tôi phải đi khám sức khỏe, ngày hôm sau, người ta gởi tôi về bệnh viện để diều trị bệnh tê thũng. Tại đây, có phi cơ chở tôi về hậu tuyến. Nhưng tôi không được phép đem theo một thứ hành  lý nào. Tôi hết sức buồn chán. Nhưng đây là lần dầu tôi được nghỉ ngơi tại bệnh viện của đồng quê. Ban đêm, tôi được ăn một ít cháo gạo. Nghỉ được mấy ngày, phi cơ lại chở lôi đi Hàng Châu.

        Đã lâu tôi không được đi máy bay. Vì không người săn sóc, nên người tôi mệt mỏi, sức lực càng chóng suy giảm. Tất cả những cái mà người ta chăm nom tôi là được để ngủ yên và mỗi ngày cho ăn 3 bữa cháo. Mỗi người lính, cứ lần lượt được gởi về hậu tuyến. Còn nhiều người phải chở đi Thượng Hải, Nam Kinh V. V... Hôm sau ngày tôi đến, nhiệt độ càng lên cao, tới 39,7 liên tiếp trong 4 ngày. Người tôi càng ngày càng gầy  mòn, chẳng khác gì con cả mắm. Không giờ báo thức, không hiệu ngủ, chỉ có điểm danh vào mỗi buổi tối.

        Công việc hằng ngày của chúng tôi là 3 bữa cháo. Ngoài ra, tôi không sao đứng dậy được, cũng không nằm yên được. Tôi chỉ mong số phận tôi sớm được định đoạt, hoặc được gởi đi hậu phương trong bệnh  viện nào khác. Suốt trong 5 ngày liền, tôi chẳng nhận được một viên thuốc nào. Cho tới ngày thứ sáu, ông bác sĩ mới thí cho tôi một chút sinh tố. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút, nhưng vẫn không khỏi bệnh sốt rét. Tôi muốn chiến đấu với căn bệnh sốt của tôi một cách mau lẹ. Tôi cũng chẳng muốn trở về đơn vị, mà chỉ muốn trở về Thiên Tân để ăn cơm nắm (thứ lương khô của binh lính Nhựt).


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:23:26 am
   
        TAKEHEKO FUKUSHIMA

        Tốt nghiệp viện Cao đẳng Thể dục Nhựt Bổn. Tử trận trong cuộc bao vây Lô Giang lúc 22 tuổi.

        Một em gái Trung Hoa bị lạc cha mẹ, theo quán đội Phù Tang và được anh Fukushima nhận làm con nuôi. Anh ta đặt tên em bé là Ichiro, tiếng Nhựt nghĩa là «con trai đầu lòng». Tóc của em được cắt ngắn để cải trang làm con trai, vì trong quân đội Nhựt cấm con gái. Chốn thiên đàng của em là làng Đại Chí Bình, nơi em sinh trưởng, cũng như chốn thiên đàng của sinh  viên là trường đại học.

        Mặc dầu ít tin tưởng, nhưnq anh sinh viên Fukushima cũng hứa hẹn với em bé Trung Hoa, sau này sẽ đưa về Nhựt để theo học ở trường đại học. Không rõ lời hứa hẹn có được thực hiện không.


        Chúng tôi đi đến ranh giới Quận Mỹ Hiền thuộc tỉnh Hồ Nam thì gặp một trái đồi. Nơi đây tôi gặp Ichiro lần đầu. Đơn vị của tôi ngừng chân sau khi đã thám  thính quãng đường này. Bởi tôi đi trước toán quân, nên nhìn thấy anh Sawada dắt một em nhỏ người Trung  Hoa, xinh xắn sạch sẽ, tay đang dắt một con bò. Da em trắng mịn, đôi mắt sáng ngời với một cái mui xinh  đẹp và vẻ người tự nhiên thanh lịch.

        Tôi hỏi Sawada :

        — Bạn gặp em nhỏ ở đâu vậy ?

        — Ở Đại Chí Bình. Trông em bé xinh ngộ đấy chứ ?

        — Phải, xinh khá, nhưng nó là một trẻ gái mà ! coi bộ em ngoan ngoãn và có giáo dục đấy !

        — Đă hẳn.

        — Tội nghiệp em bé, coi chừng em đã quen tập đi bộ. Em bé ngộ quả đi mất ĩ Miệng em cười rất duyên  dảng điệu bộ rất dễ thương, nhưng phải cái em hay buồn rầu. Em dễ bảo, ngộ nghĩnh, hay nhứt là em nói được ít tiếng Nhựt, như thế chúng ta càng được gần em hơn !

        Đầu dội chiếc nón con nít ngộ nghĩnh, em lững  thững theo toán lính. Trong 10 ngày, chúng tôi ở lại Mỹ  Hiền thì em Ichiro chơi với một đứa bé con trai cung người Trung Hoa tèn là Hoàng tùng Chân. Em này cũng theo chúng tôi đi. Nhưng bỗng một hôm, cả hai em nhỏ biến đâu mất và rồi Ichiro cũng không tới đơn vị thăm chúng tôi.

        Trong lúc chúng tôi đang ủ rũ nghỉ chân tại Liêu  Giang thì tôi lại gặp thấy Ichiro. Mấy ngày trước, chúng tôi phải đi quá nhiều, cẳng chân trái của tôi bị đau quá, tôi chỉ mong chết cho rồi. Anh Sawada trước kia làm thợ khâu giày, tỏ vẻ tức giận vì hai anh bạn Ui và Arai muốn một mình săn sóc Ichiro.

        Em liền tìm đến tôi và than vãn. Lúc đó, tôi đang nghỉ dưỡng bệnh, nên không làm chi được cho em. Một hôm, có cây đàn ai bỏ lay lứt trong phòng, tôi đưa ra gảy chơi. Gảy mãi cũng chán, tôi bèn lê chân đến bộ chỉ huy và gặp Ichiro đang khóc xướt mưót. Tôi hỏi ;

        — Ichiro sao vậy ?

        — Tại anh Sawada, hay tại anh Ui, với anh Arai, tại cả 3 anh !

        Trả lòi xong, mắt em ngỏ qua rãy núi. Thôi, đúng rồi, em bé 11 tuổi đầu đang nhớ nhà, nhớ làng xóm cũng như chúng tôi. Em nói tiếp :

        — Nhà em xa lắm, ở mãi Đại Chí Bình cơ. Em muốn trở về nhà lắm, anh ạ !

        Em vừa khóc vừa bám đầu gối tôi. Tội nghiệp em bé chưa ! Người em chỉ lớn bằng đứa con gái Nhựt lên 9 tuổi thôi. Em buồn khổ và áy náy.

        Theo sau đoàn quân ngoại bang càng đi xa bao nhiêu, em bé càng dời xa quê hương bấy nhiêu. Mỗi ngày cuộc hành quân càng lôi kéo em đến nơi vô định. Và rồi không biết nhóm binh sĩ này sẽ đưa em đi mãi đâu. Đã hẳn, không khi nào em bé tìm được lối trở về. Lúc nào em cũng nhớ mẹ mới chết, nhớ cha đang ở Hán Khẩu. Ba em để mặc bà nội và cô bác nuôi nấng. Lúc nào em cũng tỏ ý muốn thấy lại căn nhà, rẫy núi ở Đại Chí Bình, được vui đùa bèn cạnh hồ nước nhiều cá, được hưởng sống những ngày vui quá. Em thường khóc than :

        — Đại Chí Bình, Đại Chí Bình !

        Tôi cố vỗ về em :

        — Chiến tranh sắp hết rồi, chúng ta sẽ về Đại Chí  Bình, chúng ta sẽ bận áo tốt đẹp, mang giầy mới, trong túi sẽ có nhiều tiền. Thôi em đừng khóc nữa đi, em nằm gần anh mà ngủ đi !

        Tôi lấy tay xoa lưng em. Khóc chán rồi, em quay ngủ lăn lúc nào không rõ. Tội nghiệp em bé xinh tươi của nước bại trận ! Mấy hôm sau, em bé đã trở thành con nuôi của tôi.

        Hôm đó, nhằm buổi chiều ngày mở màn trận oanh  tạc tỉnh Liên Giang và tấn công vùng Lý Tính. Tôi đang cởi trần, cùng nói chuyện với anh Sawada, vấn điếu thuốc hút chơi thì em lchiro đến hỏi tôi với giọng lo lắng :

        — Các anh đi đâu bây giờ vậy ?

        — Đi tuầu tiễu em ạ ! Rồi chúng anh về ngay.

        Đã hẳn, chúng tôi nói dối em, những chỉ vì tôi không thể cho em hay là sắp phải đi Quảng Đông. Muốn đến tỉnh này, chúng tôi còn phải đi bộ mấy tháng mấy năm nữa không chừng. Anh Sawada liền nói với tôi nhận quách em Ichiro làm con nuôi. Chính em cũng muốn thế, nhưng với điều kiện mỗi ngày được gặp anh Sawada. Quả thực, trong suốt cuộc hành quân vĩ  đại này, chính anh ta vẫn săn sóc em. Anh ta cho em ăn uống và em bé chỉ cậy tin vào anh ta. Mặc dầu vậy, đôi khi anh ta cũng la lối em bé, khiến em phải khóc : « Thôi mày cứ về cái nhà mày cho xong truyện đi ! »

        Từ lần tôi gặp Ichiro đến giờ chưa được một tuần thì có tin Sawada và tôi sẽ được ở chung với nhau một đơn vị nên Ichiro cũng ưng đến ở đơn vị tôi.

        Cuộc hành quân trường kỳ bắt đầu. Ichiro nhẩn nha bước đi trước chúng tôi. Em đeo trên người chiếc nón sắt, chiếc cà mèn ăn cơm của tôi và chiếc mùng vừa đủ cho hai chúng tôi nằm. Suốt đêm, chủng tôi lặn lội trong đồng ruộng hoặc trên các chặng đường đầy sỏi đá của vùng rừng núi. Mãi sáng ra chúng tôi mới tìm thấy nhà cửa dân chúng ở. Vào trong nhà bếp, nơi đặt bàn thờ tổ tiên, chúng tôi tháo cánh cửa ngả làm giường, trải chiếu lên để nằm ngủ. Chúng tôi cần ngủ hơn cả ăn và uống. Em lchiro hết sức mệt mỏi thường than : « Em thèm ngủ quá anh ! Em thèm ngủ quá ! » Em ngả mình xuống ngủ liền, không kịp để tôi tháo chiếc xắc em đeo sau người. Thấy em phải đi cực nhọc, thực không cảnh nào đáng thương tâm bằng ! Chúng tôi vội vã tháo cánh cửa, mắc mùng để em nằm ngủ. Quần áo em nhuốm sương ban mai đẫm ướt, tôi phải ẵm vào người để sưởi ấm em. Tội nghiệp em mới 11 tuổi thế mà mỗi ngày em phải đi bộ với chúng tôi lối chừng 45 cày số ngàn ! Trót đời, tôi chưa từng thấy một gương can đảm và giàu nghị lực, giàu tình quyến luyến như nơi Ichiro.

        —  Ichiro em ơi ! Đây là chiến tranh, anh không biết làm chi được. Em phải theo anh cho đến cùng. Bao giờ hết phải đi, chúng ta sẽ chiến thắng, nhưng không biết là bao giờ. Chúng ta sẽ đến Đông Kinh, ở đây sẽ có người chăm lo cho em, em sẽ được đi học trường đại học. Rồi em coi, anh sẽ sắm cho em đôi giầy mới tốt đẹp.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:25:06 am
 
        JIRO SHINCZAKI

        Tốt nghiệp ban Văn chương Trường Cao đẳng Doshisha ở Kgoto. Bị động viên năm   1939: Từ Trung Hoa trở về được giải ngũ lại bị tái động viên tháng 8 năm 1941, tử trận tại Ghi Nê tháng giêng năm 1944.

        Shinozaki không có con trai. Theo phong tục người Nhựt, đó là một trọng tội vì không có người nối dõi tông đường, không có người đèn hương phụng sự tổ tiên. Sợ rằng tỏ tâm tình với vợ là điều bất xứng nên chàng ngỏ lời tâm sự với chị Hằng Nga.

        Ngày 25-9-1939

        Vợ tôi vừa biên thư cho tôi, bây giờ tôi biết rõ được số phận của tôi. Vợ tôi không hòng có con. Tôi thì ở ngoài mặt trận, làm sao có con được để lưu  truyền dòng giống ? Nay đã sang tiết thu, khi trời ở đây đã bắt đầu lạnh rét hơn ở Nhựt. Đêm nay, nằm trên chiếu mỏng, tôi rét run lẩy bẩy, không tài nào nhắm mắt được giữa cảnh u tịch này.

        Thư gửi cho vợ là Hisako

        Ngày 15-3-1940

        Những du kích quân đã trở lại hoạt động ráo riết, tình hình đô thị này đã trở nên khẩn trương. Hệ thống du kích quân này được liên lạc với bọn khủng bổ ở Thượng Hải. Vì thế đơn vị anh cùng với đơn vị đóng tại các làng kế cận đã mở cuộc hành quàn tảo thanh. Anh miễn cưỡng phải cho em hay một tin chẳng lành. Đại đội Take Mura mà anh tùy thuộc khi mới đổ bộ lên đất Trung Hoa, bây giờ đang đóng quân cách xa Nam  Kinh chừng 60 cây số về hướng đông. Đại đội này bị một số đông địch quân chận đánh bất chợt, nên đang phải phản công. Trận đánh diễn ra trong 2 ngày 3 đêm. Anh nghe nói một số khá quan trọng tử trận hoặc bị mất tích. Theo tin chính thức ở trung ương điện đài thì đại đội thiệt hại 20 người. Anh đã thầm lặng nguyện cầu cho linh hồn các bạn cũ. Các đại đội khác cũng bị tồn thất nặng nề như thế. Tiểu đoàn này e khó mà bổ  xung cho đủ số quân được.

        Anh xin em, lúc ban mai và buổi chiều, em hãy quỳ trước bàn thờ Phật để cầu cho các hồn tử sỹ ấy.

        Anh vừa đi thị sát ngoài mặt trận. Đây là quang  cảnh một ngày ảm đạm. Anh có quyền ở lại trung ương điện đài đâu ? Tưởng nhớ đến bao con người vừa quị ngã trước họng súng địch mà lòng anh tê tái. Tấn thảm  kịch của chiến tranh nó diễn ra ngay trước mắt anh. Nhưng anh phải tự kiềm chế lại. Dù sao, ở đây anh có nhiệm vụ phải chu toàn. Anh cố cắn răng lại để đi thi— hành nhiệm vụ thông báo.

        Đêm nay trăng thanh sáng ngời !

        Anh tưởng niệm đến anh linh các người bạn đồng  ngũ... Nếu một ngày kia, anh theo số phận của họ thì người bạn trăm năm của anh sẽ ra sao ? Không, anh muốn em phải là người vợ hiền của anh suốt đời. Đó có phải ích kỷ chăng ?

        Ôi ! xin em tha lỗi cho, anh đang tâm sự vởi Chị Hằng Nga cơ mà !




        TOSHIHIRO TANABE

        Tốt nghiệp Đại học đường Thiên Hoàng Đông Kinh. Nhập ngũ tháng Chạp năm 1939. Bị tử trận tháng 8-1942 ở miền Trung Trung Hoa, lúc 26 tuổi.

        Chiến đấu tại vùng rừng miền Trung Trung quốc. Giỏ bấc lạnh buốt từ sa mạc Tây Tạng và Tân Cương thổi tới, xúc cảm chàng sinh viên viết bài thơ sau đây :


        Gã tiếp tục sống dù không hy vọng
        Ở một nơi hẻo lánh,
        Nghĩ đến thời gian sắp tới
        Gã giơ tay trong gió lạnh
        Mơ đến cánh hoa lửa.
        Gã sống sót như ngọn cỏ mùa đông,
        Cảm thấy còn một chút máu nóng.
        Lưu thông ở huyết quản
        Dù đôi tay lấm đầy bùn
        Và tháng ngày rơi xuống hố lãng quên.
        Hy vọng chói lòa
        Như mảng tuyết đóng đàng xa
        Đó chỉ là nguồn sáng mỏng manh
        Nhưng có thể lay tỉnh người tuyệt vọnq.
        Tronq cảnh u tịch cô đơn
        Người người chiêm ngưởng tinh tú
        Ta còn tin tưởng tự do tinh thần
        Ta còn nhớ ta là người trần gian.



Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:27:17 am

        KAORU OKAMOTO

        Sinh viên Đại học đường Waseda, tại Đông Kinh. Nhập ngũ tháng 12 năm 1943. Gởi qua Nam Kinh tháng 11 năm 1944.

        Okamoto thơ thẩn bên hồ « Trinh Nữ » trong vùnq thâm u của Trung Hoa đầy tuyết, khiến chàng chạnh lòng nhớ quê hương. Ngồi một mình đọc cuốn tiểu thuyết rất quen biết của văn sĩ Arijima Takero, nhan đề « Lời Tuyên Ngôn », một cuốn kinh nhựt khóa của lớp thanh  niên hào hiệp, lớp ca kỹ và sinh viên Phù Tang. Bức thư này tác giả viết từ phi trường gần Nam Kinh, nhớ một số sĩ quan liên lạc chuyển giao cho người bạn đang ở Nam Kinh.


        Bạn Ito thân ái.

        Tôi thành thực cảm ơn bạn đã gởi tin tức cho tôi. Đọc thư bạn dưới ánh sảng lu mờ của ngọn đèn cầy làm tôi hình dung đến khuôn mặt bi quan của bạn đang thu hình trong căn phòng chật hẹp và tĩnh mịch.

        Bàn giấy của tôi bị bao phủ bằng những lớp tuyết dầy đặc. Nước mặt hồ óng ánh phản chiếu cảnh trời thâm u, trông chẳng khác gì bức họa lồng trong khung gỗ chạm trỗ tinh vi được đặt trên bức thảm bằng tuyết, cảnh trí này làm tôi liên tưởng đến bức họa « Đức Nữ  Trinh » và cảnh trời tháng 5 bên đất Nhựt. Vì thế tôi không ngần ngại đặt tên hồ ; « HỒ TRINH NỮ ».

        Mới đây, sau khi phân phối những bản đồ khí  tượng tôi tới ở bên cạnh hồ này. Chợt có tiếng chim vỗ cánh, một con chim trĩ từ trong bụi cây vụt bay ra tỏ vẻ hoảng sợ bởi tiếng chân tôi bước đi.

        Trong căn phòng dầy đặc bóng đêm và xung quanh gió lùa vi vu, tôi thấy người tôi trở nên bâng khuâng. Nhưng tôi không oán giận vì chung quanh có bạn bè, tương đối yên tĩnh. Sống nơi đây, không ai xâm phạm tới quyền lợi của tôi và cũng không cái gì có thể làm hạ phẩm giá tôi.

        Đôi khi cảnh u tịch làm xao xuyến và buồn tẻ lòng tôi. Tôi có cảm tưởng ánh sáng lạnh nhạt bao phủ người tôi. Có lẽ cái cảm giác cô quạnh này cứ ám ảnh tôi hoài, mặc dầu sau này tôi được trở về đất Nhựt và sống cuộc đời hạnh phúc.

        Tôi thiết tưởng con người ta ai cũng vậy : hễ còn sống là đều có cảnh tịch mịch đi theo. Bạn đã thảo luận về chân lý. Tôi tin thực chân lý chính là thuần túy, chính là trí tuệ. Thực ra, tất cả những điều đó không đến nỗi quá trừu tượng như ta thường nghĩ. Nhưng điều cốt yếu là phải sống một đời sống cương trực.

        Tôi vừa đọc xong cuốn tiểu thuyết « Lời Tuyên  Ngôn ». Tôi rất cảm tình với mấy nhân vật trong chuyện và tôi thông cảm vói số phận hẩm hiu của họ. Câu chuyện khiến tôi đổ nhiều nước mắt và tôi nhận thấy nhiều điểm tương đồng với chuyện « Nữ Trà Hoa ».

        Bạn Ito thân mến,

        Chúng ta phải duy trì cái lý tưởng cao cả và phải sống gần Thiên Chúa. Khi nào tôi suy nghĩ đến điều này, tinh thần tôi trở nên sảng suốt.

        Kính chúc bạn luôn luôn khỏe mạnh. Xin bạn thứ lỗi cho vì chữ tôi viết xấu quả. Tôi tựa vào chiếc giường để viết thư cho bạn đấy.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:17:04 pm

CHƯƠNG II

TRÂN CHÂU CẢNG VÀ NHỮNG NGÀY ĐẦU CHIẾN TRANH Ở NHỰT BỔN

        Ngày 8-12-1941, lúc bình minh, dân chúng Đông  Kinh được loan tin Chánh phủ Nhựt vừa tuyên chiến với Hiệp Chủng Quốc và Anh Cát Lợi.

        Trong cuốn sách «Dân Nhựt với chiến tranh », tác  giả Robert Guillain đã tả thái độ ngạc nhiên của dân chúng Đông Kinh như sau :

        « Chuyến xe lửa ban mai vừa chui qua cống đục, tiến vào sân ga thì những hành khách lanh chân đã vội vã bước xuống mặt đường. Tiếng còi báo động rú lên inh ỏi. Họ xô lại các sạp bán báo, bỏ ra 2 xu mua một tờ báo. Tờ báo hôm ấy chẳng lấy chi làm to khổ như thướng ngày, đây chỉ là một tờ giấy cỡ nhỏ, không khác tờ quảng cáo hoặc truyền đơn. Trên mặt báo, vẻn vẹn đăng một tin giật gân, in bằng chữ lớn : Hôm nay tảng sáng, Lục quân và Hải quân Hoàng  gia đã tấn công vào lực lượng Anh Mỹ trong các hải  phận Thái Bình Dương ».

        « Tôi chăm chú quan sát nét mặt họ để tìm hiểu cái phản ứng do tin vừa loan ra. Họ đi được 3 bước, ngừng chân lại, đầu chúi xuống tờ báo để đọc kĩ hơn. Đọc xong, họ ngửng đầu lên, nét mặt đăm chiêu, gần như lãnh đạm. Họ không nói năng gì với người bán báo, không trao đổi câu gì với các người đang đọc báo như họ. Tôi đã từng hiểu tính tình người Nhựt, nên tôi đã đoán biết phản ứng của họ. Nhìn nét mặt họ, mặc dầu đăm chiêu, nhưng không giữ nổi mối kinh ngạc. Chiến tranh. Ừ, chiến tranh họ vừa muốn có, vừa mong rằng đừng có. Họ bị lôi cuốn bởi lớp người lãnh đạo, họ hăm dọa khai chiến, họ luôn mồm nói chuyện chiến tranh, nhưng rút cuộc trong bụng họ không dám nghĩ đến chiến tranh. Hiện giờ đã tuyên  chiến mất rồi ! Đông Kinh tràn ngập vẻ lo Sợ. Người Nhựt kinh hoàng là phải vì đã dám khai chiến trước. »

        Một giờ sau khi bản tuyên chiến truyền ra, quân đội Thiên hoàng tấn công ngay và đánh đắm hạm đội Huê Kỳ ở Trân Châu Cảng.

        Ta không nên quả tin rằng lúc tuyên chiến, nước Nhựt đoàn kết chặt chẽ và thống nhứt chánh trị đâu. Trải lại nội bộ chánh phủ bị nhiều phe đảng tranh  dành cấu xé nhau, tình hình rất lộn xộn.

        Nước Nhựt đã trải qua nhiều năm chế độ phong  kiến. Qua thế kỷ XIX mới quật khởi, và chỉ trong ngót 100 năm, đã trở thành một nước văn minh tân tiến. Nước Nhựt tuy tiến bộ, nhưng vẫn duy trì những tập  quán tự ngàn xưa. Lớp thanh niên quý tộc (Samourai) đã trở thành lớp sĩ quan trong quân đội tân tiến. Hạng sĩ quan này vẫn bảo thủ và luyến tiếc thời đại lãnh  chúa và những tập tục của võ sĩ đạo. Bên ngoài bộ mặt nước Nhựt, với những phong tục và đạo đức cố hữu, một lớp men tráng bên ngoài. Chỉ cần lay dộng nó cũng đủ làm nứt nẻ lớp men.

        Trong nước có 2 chánh đảng tranh giành quyền  bính. Phái dàn chính được mệnh danh phái «trường y» và phái quân phiệt mệnh danh phải « quân phục ».

        Thành phần phe dân chính lại thuộc nhiều màu  sắc chính trị : Tự do đảng (Minseito), Bảo thủ đảng (Seiyukai) và Xã hội đảng. Sau lưng đảng Xã hội còn những đại doanh nghiệp dựt giây.

        Phe quàn phiệt gồm Hải quân và Lục quân. Hai binh chủng này lại không hòa hợp, luôn luôn bất đồng  ý. Lục quân được huấn luyện theo kiểu mẫu của Đức, Hải quân theo kiểu mẫu của Anh.

        Hiến pháp Nhựt công bố năm 1892 tấp mập mờ, các luật gia phải giải thích tùy theo khuynh hướng của mỗi người. Một tục lệ cố hữu đã được các luật gia chú  giải theo Hiến Pháp và đã thành luật có quy định rằng : Trong Chánh phủ có hai bộ riêng biệt, bộ chiến tranh và bộ Hải quân. Bộ trưởng Chiến Tranh bắt buộc phải là một quân nhân cấp tướng. Bộ trưởng Hải quân phải là một thủy sư đô đốc. Cả hai bộ không tùy thuộc Thủ  tướng chánh phủ, chỉ trực tiếp thuộc quyền Thiên  Hoàng. Lục quân và Hải quân đề cử người của mình ra giữ chức bộ trưởng. Mâu thuẫn này là tàn tích của chế  độ lãnh chúa.

        Nếu hai bộ trưởng này bị áp lực của hai binh chủng kia từ chức, tức khắc nội các bị sụp đổ.

        Cả hai cấp chỉ huy lục và hải quân (có thực chức mà không có thực quyền) quá chán ghét chiến tranh ở Trung Hoa, nèn họ chủ hòa. Nhưng cả hai lại bị Bộ Tham mưu và hàng sĩ quan trẻ tuổi của hai binh chủng chi phối. Hạng sĩ quan trẻ tuổi lại chia thành từng nhóm từng hội kín. Ngoài ra, hai bộ trưởng này cũng như các nhân viên chánh phủ, đều sống dưới sự kiểm soát của một chế độ ám sát chính trị.

        Theo chủ trương của Nhựt thì ám sát là hình thức cai trị hiệu lực nhứt.

        Ngày 26-2-1936, hạng sĩ quan trẻ tuổi có quan niệm rằng nước Nhựt, tức quân đội, đang bị phản bội, liền tàn sát 80 chính khách, trong số có cựu thủ tướng Saito và 5 vị bộ trưởng tại chức.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:17:48 pm

        Đảng Tự do mở một mặt trận chống việc phát xít  hỏa xứ sở và đã thắng trong cuộc Bầu Cử Quốc Hội, Nhưng quân đội dùng dao găm, súng sáu để giảm số dân biểu thuộc đảng Tự do

        Bên Hải quân không tán thành cuộc đảo lộn số dàn biểu theo lối đó và không tiếc lời chỉ trích quân  đội.

        Năm 1937, Hội đồng Chánh phủ không chấp thuận ngàn sảch quàn đội do Bộ trưởng Chiến tranh đề nghị, Thủ tướng Kawashima, bị ghép vào tội quá thiên hiến  pháp nên bị lật đổ.

        Quân đội thiên về chủ nghĩa phát xít: những thắng  lợi của Phát xít Đức bên trời Âu hun nấu huyết mạch của binh sĩ. Họ muốn tức tốc tham gia vào cuộc phát  xít hóa. Nhiều âm mưu nhơ nhớp được tổ chức và va chạm nhau. Người Nhựt và người Đức vẫn thương  lượng. Đôi bên không biết việc của nhau nhưng vẫn lừa lọc nhau. Phía Nhựt, mặc dầu đã gia nhập khối chống Đệ Tam Quốc Tế, nhưng không muốn tấn công Nga sô! Nhưng Đức cố thúc đẩy Nhựt nhảy vào vụ Đông Dương để gây áp lực với Chánh phủ Pétain, và yêu cầu cho quân đội Nhựt đóng trên đất Bắc Việt.

        Phe dân chính chủ trương hiệp thương với Hoa  Thịnh Đốn, nhưng phe quân phiệt kéo quân sang đóng ở Đông Dương làm hỏng việc thương lượng với Mỹ. Trong việc chiếm đóng Đông Dương, phái quân  phiệt chỉ cố ý áp lực vào Hoa Thịnh Đốn. Tổng Thống Roosevelt thoạt đầu đã ưng thuận mở cuộc thương  thuyết ở Alaska với hoàng thàn Cận Vệ (Kanoye), Thủ  tướng Chánh phủ Nhựt, và đặt điều kiện quân đội Nhựt phải rút quân ra khỏi Trung Hoa và Đông Dương đã. Phải quân phiệt cho điều kiện trên đây là không thể chấp nhận được, nhứt là điểm rút quân ra khỏi Trung  Hoa. Bá Tước Hiranuma, cố vấn của Nhựt hoàng, được dàn chúng coi là có thiện chí hòa bình muốn thỏa hiệp với Huê Kỳ, đang ngồi trong phòng riêng, bỗng nghe có tiếng đạn réo ngang tai. Rồi tiếp đến cuộc khám phá ra vụ mưu sát hoàng thân Cận Vệ. Trong khi ấy, những tay cầm đầu làm tay sai cho phe quân phiệt và cho tòa đại sứ Đức, tuyên truyền thúc đẩy dân chúng nhảy vào chiến tranh.

        Ngày 15-10, Tướng Đông Điều, Bộ trưởng Chiến  tranh đứng lên vái Thủ tướng 3 lạy giữa phiên nhóm họp hội đồng Chánh phủ, ngụ ý xin rút lui khỏi nội các.

        Ngày 18-10-1941, Đông Điều chễm chệ lên ngồi ghế thủ tưởng chánh phủ. Thế là điểm chiến tranh đã báo hiệu !

        Là một quân nhân thiên tài, chỉ nhờ chăm chỉ học hỏi mà có địa vị, Đông Điều chỉ là một tướng bù nhìn của quân dội và của nhóm tướng tá trẻ tuổi, của các Hội kín.

        Ngày 2-12 cùng năm ấy, một điện tín Đông Kinh đánh đi lệnh cho hạm đội phải tập trung ở hải phận Kourilles, dưới quyền chỉ huy của đô đốc Yamamoto và trực chỉ tới Hạ Uy Di. Ngày 7  hạm đội tiến vào hải phận thuộc Huê Kỳ.

        Đó là Trân Châu Cảng và chiến tranh đã mở màn.

        Cùng ngày ấy, bộ Chỉ huy quân lực Đức khước từ việc tấn công vào Mốt cu.

        Buổi sáng ngày khai chiến, dân chúng Đông Kinh lặng lẽ bước vào công sở hoặc xưởng máy. Họ mới biết tin vắn tắt đã khai chiến do một tờ báo cỡ nhỏ (như trên kia đã nói).

        Buổi trưa, từ trong sở ra, họ đã nghe rõ những loa phóng thanh loan tin quân lực Nhựt vừa thắng một trận lớn ở Trân Châu Cảng thuộc Hạ Uy Di, đã phá  hủy hạm đội Hoa Kỳ.

        Niềm vui vẽ khoan khoái xuất hiện trên nét mặt họ, thế vào vẻ trầm ngâm suy tuởng buổi sáng.

        Người Nhựt sớm được yên trí trong cuộc chiến  tranh mới này, nó đang diễn ra từ nơi xa xăm, không chút ảnh hưởng gì đến cá nhân họ. Cũng như chiến cuộc ở Trung Hoa, họ cho chiến tranh mới này chỉ là một cuộc thanh toán của bộ ba: Lục Hải quân với Anh Mỹ.

        Kế đến những chiến thắng oanh liệt dồn dập trong tuần lễ đầu. Hai thiết giáp hạm của Anh bị đánh chìm ở mũi Kuantan ngày 10 tháng Chạp. Uy thế của hải quân thiên hoàng đã được trọn vẹn trên mặt Thái Bình  Dương.

        Hương Cảng, Wake, Guom, Ma Ni, Tân Gia Ba, Ngưỡng Quang lần lượt roi vào tay Nhựt mà không phải chiến đấu gì. Sau đó, đến lượt Borneo, Java, Sumatra với những rừng cao su, mỏ thiếc, mỏ dầu hỏa. Con đường tiếp tế Miến Điện bị cắt đứt, Tưởng Giới  Thạch bị cô lập trong miền núi Tứ Xuvên.

        Dân tộc Nhựt Bổn tưởng rằng họ đã thắng người da trắng, họ lại tự tin vào mình như trước, họ vui vẻ ăn mừng chiến thắng.

        Đông Kinh lúc nào cũng như một khu hội chợ rộng lớn, máy phóng thanh luôn luôn nhả ra những tin chiến thắng mói mẻ ở Thái Bình Dương hoặc trong rừng thẳm Miến Điện. Chiến tranh diễn ra ở miền quá xa xăm !

        Ngày 18-1-1942, tất cả còi báo động Đông Kinh gầm vang. Đoàn phi cơ phóng pháo của tướng Doolittle thả bom xuống Đông Kinh.

        Người dân Nhựt chọt nhớ ra trên hoàn cầu còn có dân tộc Mỹ, chiến cuộc không những liên hệ tới lục  hải quân mà toàn dân tộc họ sẽ phải chịu đựng tất cả may rủi và hiện giờ chiến tranh chưa phải là đã kết  liễu.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:18:29 pm

        TATSUO WANATABE

        Cử nhân luật khoa đại học đường Đông Kinh, Nhập ngũ năm 1939, sinh viên sĩ quan ngành binh lương. Tử trận ở Miến điện tháng 4 năm 1945, lúc 29 tuổi

        Đọc nhật ký này, độc giả hiểu rõ đời sống của binh sĩ Nhựt Bổn trong trại thế nào và nhứt là đời sống của sinh viên sĩ quan. Bao nhiêu hình thức câu nệ, lễ nghi, thủ tục và kỷ luật khắc nghiệt, tinh thần trinh sát thảy đều giao động tâm hồn của sinh viên Walanabe, đã quá

        tưởng nhập nhiễm tư tưởng tự do. Nơi đây hết thảy luật lệ, thử tục và pháp luật đều căn cứ vào cái mà người ta mệnh danh là « kỷ luật quân đội », gọi tắt là « Quân kỉ». Quân kỉ này gồm : quy luật, huấn luyện quân sự, huấn thị của Thiên  Hoàng gởi cho binh sĩ, giao tế quân sự, thế thức xử  dụng võ khí và huấn luyện việc bắn súng.

        Từ ngày, đầu tôi nhập ngũ cho tới ngày cuối cùng khoa thi cấp bực chuẩn úy, những câu hỏi ra cho thi  sinh đều rút trong những cuốn sách kể trên. Những lính mới nhập ngũ đều phải thông hiếu cả. Điều đáng tiếc là họ quên lãng trước khi nhập ngũ, và không chịu quan niệmi tầm quan trọng của những vấn đề ấy. Thường thường am hiểu những vấn đề ấy là việc định  đoạt cả một số phận cho các tân binh.

        Tôi nhờ có anh Masuda cho biết tên những cuốn sách đó. Lúc đầu, cũng không quan tâm cho lắm, nên tôi không chịu học. Nhưng may thay, tôi có học thuộc lòng những Huấn thị của Thiên Hoàng gởi cho binh sĩ, chỉnh nhờ vậy mà số phận tôi được định đoạt.

        Hôm sau ngày nhập ngũ, tôi phải dự thi ngay. Đề  tài thứ nhứt ra là : « Chép thuộc lòng thiên I trong Huấn thị của Thiên Hoàng, nói về đức tính trung trực của người quân nhân ».

        Những huấn thị này rất khó hiểu và khó học, vì viết bằng chữ Hán và cách hành văn theo văn chương cổ  điển của Hoa ngữ. Nguyên đọc lối chữ, cũng đã khó rồi, chứ chưa nói đến việc hiểu và học thuộc.

        Dầu vậy, khi thi, tôi đã chép lại gần như nguyên  văn, và tôi được đủ điểm để vào học khóa chuẫn úy. Anh bạn Tomida,người tôi đã quen biết từ ngày cả hai chúng tôi cùng học ở bực sơ học, anh ta đã đỗ cử nhân đại học đường Waseda, thế mà anh ta thi lại rớt. Anh thừa điều kiện để làm một chuẫn úy, nhưng chỉ vì anh không thuộc lòng những Huấn thi mà anh bị trở về mặt trận.

        Đề tài II là : « Thế nào là quy luật quân sự ? »

        Tôi không biết gì về đề tài này, nên tự nghĩ ra một câu trả lời như sau : « Quy luật quân sự là mẹo mực phải theo để điều hành tất cả những việc về quân sự. »

        Lẽ tất nhiên câu trả lời của tôi không giá trị gì. Đề  tài này đã có trong đoạn IV ở cuốn sách huấn luyện Binh Bộ, và trong cuốn ấy có chép như sau : « Quy luật quân sự ví như linh hồn của quân đội. Quy luật này hướng dẫn người quân nhân trong mọi trường hợp và chỉ định cách phải xử sự của các quân nhân đối với nhau, với một cấp tướng cung như đối với một binh  nhì. Ở mặt trận, khi đóng trại v.V... trong trường hợp khó khăn, khó xử trí mấy, trong quy luật đều có cả. Số phận toàn thể quân đội đều do quân nhân giữ trọn hay không giữ trọn quy luật này ».

        Trong cả kỳ thi, chúng tôi phải trả lời như vậy cả. Những câu giải thích riêng của mỗi người không bao giờ được chấp thuận. Cần phải viết đúng từng câu, từng chữ trong bản quy luật, không được phép thêm bớt, sửa đổi một câu, hoặc một chữ nào. Lối học và thi cử này khác xa với nền giáo dục mà tôi đã hấp thụ. Nền giáo dục của tôi căn cứ vào sáng kiến, vào lý trí và tư  tưởng cá nhân. Nền giáo dục quân đội căn cứ vào việc phải nhai sao cho đến thuộc lòng thì thôi. Quả là điều vô lý !

        Hai, ba ngày sau khi nhập trại, mỗi anh tân binh được nhận một lính cũ để làm người bạn hướng dẫn. Việc bắt buộc nhận bạn này có mục đích để lính cũ có đủ khả năng hướng dẫn lính mới. Bù lại, lính mói phải giúp bạn mình một ít việc vặt vãnh. Như thế gây được tinh thần gia đình trong quân đội.

        Lý thuyết thì thế đấy, nhưng đến thực tế thì lại khác : Đôi khi cũng gặp anh bạn lính cũ tốt bụng, che chở và bênh vực cho khỏi cái nạn « ma cũ ăn hiếp ma mới ». Nhưng thường là chính bạn lính cũ lại chỉ huy việc ức hiếp bạn lính mới của mình. Tân binh nào nhận được anh lính cũ vừa vừa, thì đừng hòng. Trái lại còn phải chịu đựng với anh ta bao nỗi khổ cực.

        Người bạn của tôi là một binh nhứt. Trước kia, khi chưa vào lính, anh ta làm nghề hớt tóc. Tên anh ta là Toyoshi Toyomitsu. Anh ta cũng tử tế khá, nhưng chẳng giúp tôi việc gì cả. Trong lúc rảnh việc, binh lính được xuống câu lạc  bộ, hoặc đi tắm thì tân binh phải ở nhà đánh giầy, chùi súng, lau lưỡi lê và sửa soạn đồ đạc cho linh cũ. Nhưng dễ mấy anh tân binh chịu làm tử tế. Vì thế, chúng tôi luôn luôn phải chịu cực đủ thứ.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:21:14 pm

        SORO FUKUNAKA

        Sinh viên đại học đường Waseda nhập ngũ tháng Giêng năm 1941, tử trận tại Bougainville trong nhóm quần đảo Salomon, tháng 2-1945.

        Trong quân đội Nhựt vẫn chưa bỏ được những tập quán phonq kiến của các hiệp sĩ. Đời sống của một tân binh quá khó. Những nạn «ma cũ hiếp ma mới» rắt thịnh hành : tra khảo hiếp đáp nhau, tình thương bè bạn hoàn toàn không có.


        Thư gởi cho ông Okanda.

        Ngày 1-2-1941.

        Tôi vừa tiếp nhận được thư ông. Tôi rất cảm động. Bị động viên được 20 ngày rồi, mãi nay mới có dịp biên thư hỏi thăm và trả lời cho ông. Nguyên vì ông chưa hiều rõ đời sống của người quân nhân thế nào, nên những cái tôi sắp kể cho ông hay trong thư nầy, chắc ông sẽ không tin. Từ lúc thức dậy ban sáng cho tới hiệu kèn tắt lửa là 9 giờ rưỡi tối, mọi tân binh không một phút rảnh rang. Tất nhiên, không được đọc sách hay là viết lách gì cả.

        Khi còn ở trường đại học, mỗi tuần phải học 2 giờ về quân sự, đã làm tôi chán quân đội rồi. Nói thực ra trong giờ tập thể dục, tôi mệt nhọc hết sức, tôi có cảm tưởng như hồn sắp lìa xác. Nhưng trong người tôi, lại thấy tính cương nghị tráng kiện tái sinh. Quân đội không đến nỗi khó chịu như tôi tưởng tượng khi trước, nhưng một năm sống giữa quân đội, cũng đủ giúp tôi thoát khỏi ách thế nhàn.

        Các lính cũ cả ngày chỉ lo tìm cách bắt chúng tôi làm nô lệ cho họ, hoặc làm trò cho họ đùa giỡn. Họ kiếm cách làm khổ chúng tôi và bắt chịu đủ thứ uy  hiếp. Chúng bắt chơi cái trò « xe lửa » hoặc « máy bay phóng pháo hạng nặng». Hai trò chơi này tôi dã được nghe nói khi trước1.

        Ban đêm, bọn lính cũ đề nguyên cả giày mà đả vào người chúng tôi. Đã có một anh bạn bị mấy trận đòn của chúng, và một lần bị thương, phải khâu 4 chỗ trên mình anh.

        Đại đội của tôi thuộc binh chủng kị binh. Ngoài những liên thanh phòng không, tôi còn phải săn sóc lừa ngựa nữa. Thực quả chán ! Những tân binh nhập  ngũ ngày 1 tháng 2 năm ngoái, nay vừa chẵn một năm mới được nghỉ ngơi đôi chút, được thở không khí trong lành. Trong số 53 tân binh thuộc đại đội, có 21 sinh viên chuẩn úy. Trong số 21 sinh viên sau này có 10 anh đã chuẩn bị học hành để thi trước khi bị động  viên. Một anh sốt sắng học nhứt, anh đã học kỹ càng về loại súng liên thanh, anh ta có thể kể tên của 300 bộ  phận trong chiếc đại bác. Những khóa thi sơ khởi đã bắt đâu, khóa nào tôi cũng bị rớt.

        Ngoài 4 học viên (trong số có tôi) tất cả đều dùng cuốn sách mà chúng tôi thấy bày bán ở các tiệm sách trước khi nhập ngũ. Tôi thức dậy giữa nửa đêm để vào học trong cầu tiêu. Mỗi đêm tôi không ngủ được quá 4 giờ. Mặc dầu vậy, tôi không hi vọng theo kịp các bạn đã học kỹ trước. Ngoài việc học gạo này, tôi còn phải săn sóc lừa ngựa nữa. Cũng vì thế trong 12 thí sinh năm ngoái chỉ có 2 anh đậu.

        Kể từ hôm nay, giờ tắt lửa sẽ lui lại một giờ. Như thế chúng tôi có thể kéo dài giờ học cho tới 10 giờ rưỡi. Tôi vừa cầm bút viết thì hiệu kèn tắt lửa nổi lên, tôi đành vào cầu tiêu để tiếp tục viết cho rồi. Tôi đã hoàn toàn mất hi vọng thi đậu. Anh bạn của tôi, lúc đầu có vẻ thịnh tình với tôi, dần dà tính tình anh đã xuất hiện nguyên hình. Mức trung bình, mỗi ngày anh ta xông vào đánh tôi 2 lần. Trong trại lính này, chẳng ai có nhân đạo cả.

        Đêm hôm tôi nhập ngũ, đã viết 3 lá thư cho ông chú, cho má và cho anh chị tôi. Tôi rất lưu tâm đến việc em tôi thi vào trường trung học. Tôi đã nhắn anh tôi đến thăm. Ngày chúa nhựt, chúng tôi không bị canh chừng chặt chẽ, nên có thời giờ nói chuyện lối 3 giờ. Anh tôi đã đến thăm được 4 hôm nay. Tôi phải vào nhà tắm để lẻn viết thư cho má tôi. Lúc viết cho má hay : tôi vẫn khỏe, nước mắt tự nhiên trào ra. Thực ra, tôi cảm thấy như chết rồi !

        Nếu bọn lỉnh cũ đọc được thư này, tôi tưởng bọn chúng có thế giết chết tôi được. Trong mỗi đại đội, những người gởi thư ra ngoài, đều bị ghi tên cẩn thận. Tôi đã nhận được thư của 14 hay 15 anh bạn. Nhưng tôi chưa có giờ trả lời họ.

        Xin ông tha lỗi cho, vì trong thư chỉ nói đến tôi.

        Kính chúc ông thêm can đảm !

------------------
        1.  Trong quân đội Nhựt, lính cũ có nhiều trò chơi. Tỉ dụ trò chơi «con ve sầu». Lính mới phải leo lên xà nhà, bắt chước ve sầu kêu liên lỉ thật lớn tiếng, cho tới khi bọn lính cũ cho thôi mới được ngừng kêu. Nhiều khi chúng vờ quên, không đề ý tới anh lính mới đang bạnh cổ ra bắt chước ve sầu đề kêu. Vô phước anh nào tưởng lầm mà ngưng kêu ; bọn lính cũ liền bắt xuống, xông vào đấm đá, lấy roi vụt túi bụi, và chỉ còn thiếu việc đánh chết là chúng không dám thôi.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:22:53 pm

        GENTE KAMIMURA

        Tốt nghiệp đại học đường Chuo, nhập ngũ ngày 10- 1-1943. Tử trận ở Okinawa tháng 4 năm 1945 , 24 tuổi.

        Đọc nhựt ký sau đây, thấy tác giả, với tất cả thành thật, ghi chép những biến chuyển trong tâm hồn : lúc lo sợ, khi can đảm, lúc nhẫn nhục, cam phận, khi muốn tự tử hoặc muốn vùng dậy chống đối.


        Ngày 19-3-1943

        Tôi nặng 68 cân. Vừa vào vấn đáp kỳ thi sát hạch cấp bực chuẩn úy. Chưa khi nào thấy cần phải thành  thật phanh phui ý kiến bằng hôm nay.

        Một vị giám khảo hỏi tôi; Nghĩ thế nào về Huê Kỷ ? Tôi đã nói lên tất cả ỷ tưởng, tôi bèn trả lời : Tôi rất cảm phục nền chính trị của Huê Kỳ. Ông Tsuchiya, sĩ  quan binh lương, không dấu nỗi kinh ngạc. Tôi quả  quyết người Mỹ, họ cũng yêu nước nồng nhiệt như người Nhựt chúng ta. Vì thế, trong cuộc chiến tranh hiện tại, chúng ta đừng hòng chiến thắng. Ông thiếu tá nhìn tôi mà nói :

        — Theo anh, người Mỹ họ không có khuyết điểm nào ư ?

        — Chúng ta không chịu tin rằng người Mỹ sẽ chiến  thắng vịn vào lý do nước Mỹ không có lịch sử. Lý do đó không có giá trị gì. Mục đích cuộc sống của người Mỹ chủ trương rất hợp nhân đạo : «Tận hưởng đời sống» (Trong nguyên văn tác giả dùng Anh văn : Enjoy life).

        Lúc đó, ông thiếu tá không cho tôi nói nữa và ông thẳng lời khiển trách tôi vì tôi dùng ngôn ngữ của kẻ thù. Tôi nắm ngay cơ hội để phản đối việc bãi bỏ trong Nhựt ngữ một ít danh từ Anh ngữ quá thông dụng, tí dụ tiếng «News» (mới) và thay thế bằng tiếng «hôdô». ông ta nói tiếp :

        — Anh đã phát biểu quả đủ những cảm tình của anh đối với kẻ thù chung của dân tộc. Anh là người theo duy vật chủ nghĩa.

        Rồi tất cả ban giám khảo cùng tôi tranh luận về nguyên tắc tổng động viên. Tôi cảm thấy khoan khoái. Trước sự hiện diện của các sĩ quan, tôi can đảm phê  bình gắt gao !

        Ngày 21- 6-1943   Thi viết.

        Chắc chắn tôi ăn số không rồi ! Nếu thi đậu, còn chán ngấy hơn nữa. Tôi mơ ước được giải ngũ. Quả thực khó hiểu cho tâm trạng của tôi quá ! Tôi mong muốn được trở về vĩnh biệt cha mẹ cho trọn đạo người con thảo hiền, được thở làn không khí tự do trước khi trở ra mặt trận. Tôi những mong ước được tự do hoàn  toàn để đi chu du, có thời giờ than khóc cho cái kiếp sinh ra ở đời. Rồi tôi sẽ cam phận chết.

        Tưởng chừng 6 tháng sống trong quân đội đã quá thừa cho tôi hiểu biết chuỗi ngày sống. Chiến tranh đảo lộn điều thiện và điều ác, nó xua đuổi chúng ta vào cõi hư vô. Quân đội, chính trị, tư tưởng, pháp luật, kinh  tế, xã hội, văn hỏa, bấy nhiêu thứ chẳng qua đều giống như cảnh hoa tàn úa rụng xuống, sau mấy ngày tươi nở trên cành, nay đã qua rồi.

        Dần dà, tôi cố tạo cho mình một thái độ trước cái chết. Tôi chỉ ước mong được trở về thăm mẹ và thở không khí gia đình một lần cuối cùng.

        Những tàn binh thuộc đại đội Shizuoka không may chút nào. Họ sắp phải di chuyển sang quần đảo Salomon. Họ đã lãnh đủ quân trang quân dụng, chỉ còn chờ lệnh lên đường. Hôm qua, một buổi lễ tiễn biệt được tổ chức. Những anh tự hào cho mình là ca giỏi, đã nhảy ra để ca. Nhưng họ toàn ca những bài buồn thê thảm. Phải rồi, tôi hiểu rõ tâm hồn của họ lắm chứ !

        Giữa đám kẻ ở người đi có một điểm gì kỳ lạ. Ngày 1-7-1943 tôi đang bị một cái nhọt, bèn xin đổi xuống nhà bếp để phục vụ. Tôi không chắc ngày lên đường đi Ghitane, cái nhọt đã lành chưa.

        Còn giấc mộng giải ngũ của tôi, bày giờ ra sao ? Tôi buồn tủi gớm ghê ! Con người lúc nào cũng khát  vọng tự do. Tôi có cái kinh nghiệm trong đời sống quân đội. Có thực chủ nghĩa tự   do đã đầu độc thế giới chăng ?


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:23:51 pm

        Ngày 5-7-1943

        Mấy hôm nay, trời đổ mưa xuống hoài, làm tôi không giặt giũ gì được từ 15 ngày rồi ! Mộng giải ngũ của tôi vò nát con tim. Tôi hiểu rằng hiện giờ có 3 sự việc đang chờ đợi :

        — Chết ở trận tuyến,

        — Chết bệnh,

        — Còn sống trở về.

        Niềm vui được sống không còn hi vọng nữa. Được hưởng sống một lần rồi, đó cả là một điều nên ước vọng. Nếu thật muốn sống, không bao giờ có thể đương  đầu vói cái chết được. Còn sống trở về, sự nghiệp của tôi sẽ còn dài. Nhưng đời sống không liên hệ đến cả  nhân tôi, mà còn liên quan đến cả vạn vật nữa vì nó pha trộn hòa hợp trong tôi. Chúng ta hết thảy đều bị cái chết bao vây và chúng ta đều phải đương đầu với nó. Một «tử thi sống động», một danh từ quái đản thực, nhưng nó diễn tả được hết cả cái bản chất hi vọng của ta và tư cách tương lai đang chờ đợi ta.

        Từ ngày nhận lệnh nhập ngữ, tôi chỉ sợ chết và lòng chỉ mong được sống. Đó là điều quả lố. Tôi có khác chi người đã bị chôn vùi trong nấm mồ và còn ước mong được thưởng thức một chén cơm thơm ngon nóng hổi. Quả thực tôi cần xua đuổi những tư tưởng lệch lạc ấy ra khỏi đầu óc.   

        Nhà thi sĩ Faust de Goethe thường nói: « Chiến  tranh, và chiến tranh, đó là một danh từ mà triết gia không thích nghe nói đến».

        Ta phải cống hiến thể xác chưa đủ, người ta còn bắt buộc chủng ta phải trao nộp cả cái gì cao quí nhứt của chúng ta nữa. Tôi tưởng rằng chiến tranh không thể nào kết liễu trong lúc chúng ta còn sống. Trước kia, muốn trốn lính, chỉ có việc đi tu hành trong chùa chiền làm tăng ni. Ngày nay, nếu còn được như thế, tôi dám chắc, các chùa chiền sẽ chật ních tăng ni. Chúng ta phải chết để người khác được sống, điều đó chẳng mâu thuẫn gì cả. Chúng ta phải thừa nhận điều ấy. Tuy vậy, lòng tôi vẫn muốn sống.

        Ngày 7-7-1943.

        Sáng nay, chúng tôi thức dậy từ 4 giờ, để đáp xe lửa đi Chitane. Trước mặt trải ra một cảnh đồng lúa xanh rì, nó thoa dịu lòng tôi và làm êm dịu con mắt tôi.

        Chúng tôi đi thục mạng để sớm bỏ Chitane trở về mau hết sức. Hôm nay, kỉ niệm ngày khai chiến với Trung Quốc. Tôi ước được làm một người dân Trung  Hoa, khốn nhưng tôi đã là một bụi trần trong cái quân đội khốn kiếp của Nhựt Bốn mất rồi !

        Ngày 14-7-1943.

        Hôm qua, chúng tôi dời Chitane trở về cứ điểm Tôi chỉ nghĩ đến việc tự tử thôi. Nhưng còn má tôi, má tôi lúc nào cũng mong chờ ngày tôi trở về. Tôi đau khổ ê chề, đến khóc lên được. Giờ này, một mình, tôi đang ngòi khóc đây !

        Mỉa mai thay cái số kiếp !

        Mỉa mai thay kiếp con người!

        Tôi đã trúng tuyển kỳ thi cấp bực chuẩn úy. Bây giờ tôi còn phải ở lại trong quân đội những 4 hoặc 5 năm nữa. Đã quá chán ghét quân đội lắm rồi! Chết đi còn hơn ? Nếu không vì má tôi, hôm qua tôi đã tự kết  liễu đời sống của tôi rồi !

        Ngày 15-7-1943.

        Bởi còn nặng nợ, nên tôi tự bắt mình phải cực nhọc để hủy hoại tấm thân.

        Ngày 26-7-1943.

        Tôi được nghỉ phép 3 ngày 4 đêm, mới về hôm qua. Má tôi đinh ninh rằng hai mẹ con gặp nhau lần cuối cùng. Tôi cố an ủi người rằng chiến tranh sẽ không kéo dài quá 3 năm. Trong thâm tâm tôi nghĩ nếu chiến tranh kéo dài đến 4 hoặc 5 năm thì tôi hết hi vọng trở về.

        Tôi không thể ngờ rằng kết quả kỳ thi vấn đáp lại có thể hay đến thế. Đã hẳn, hôm thi, lòng can đảm và ý tuởng của tôi quả là khác thường. Niềm vui chốc lát ấy đã khiến tôi được kết quả như vậy chăng?

        Liệu tôi có còn sống được bao năm nữa ? Hồi còn đi học ở nhà trường, tôi coi quân đội là kẻ thù ghê gớm của tinh thần, lương tâm những oán trách tôi vì để thời giờ trôi qua uổng phí.

        Bây giờ thì ngược lại. Tôi ước mong cho thời giờ qua đi thật mau, để xuân thì, tình yêu, thị dục tiêu tán một cách nhanh chóng.

        Nỗi khắc khoải đau khổ nào cũng đều thuộc phạm  vi cao vời của tư tưởng, vì thế tôi vẫn tìm thấy nguồn an ủi ở những cái ấy. Tinh thần của tôi quả đã xuống thấp rồi.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:25:33 pm
   

        KO TSUTSUI

        Tốt nghiệp đại học đường luật   khoa Đông   Kinh năm 1941, nhập ngũ tháng 2 năm 1942. Được gởi qua miền Đông Nam Á và bị mất tích ở Tân Ghi Nê lúc 25 tuổi.

        Bức thư sau đáy có vẻ rất tầm thường, bất cứ một quân nhân nước nào cũng viết như vậy. Tuy nhiên, sau những danh từ vụng về và thông thường, tác giả nói ra những đau khổ của đôi trái tim bị xa cách.


        Thư gởi cho vợ :

        Dưới ánh đèn leo lét, trong một căn phòng tồi tàn ám khói đen nghịt, anh ngồi viết thư cho em. Đơn vị anh được lệnh lên đường ngày 5, nhưng lại phải rời ngày đi một hôm, thành ra mãi 12 giờ trưa ngày 6 mới cất bước.

        Anh ở lại đây 3 ngày. Thành phố Quảng Đảo chẳng có gì vui cả. Dân chúng đều bị kích thích lạ thường. Có người ở ngoài đường phố cả đêm, đến sáng họ mới trở về nhà. Anh ra ngoài, thường có người chào. Anh đã tìm mua được cuốn II của bộ sách «Nỗi nhớ nhung những cuộc viễn du ». Anh được anh bạn Sachiko giới  thiệu cuốn sách này. Không biết khi nằm dưới tàu biển mà đọc cuốn sách đó, anh sẽ có cảm tưởng gì ?

        Anh đã đọc xong cuốn « Giọt nước mắt của bà hiền mẫu ».

        Không dám quyết cuốn tiểu thuyết này có gọi được là một kiệt tác không, nhưng dù sao, anh cảm tưởng lúc đọc sách đó, đã cùng chia vui sẻ buồn với bà hiền mẫu đang tận tụy nuôi nấng dạy đàn con nhỏ. Tự thâm tâm anh muốn nói to với em câu này : «Anh đặt hết tín nhiệm vào em đấy !»

        Ở dây hiện giờ trời còn rét lắm. Nhứt là cái nệm rơm quá mỏng. Có lẽ tại anh khó tánh quá chăng? Giá được cái nệm dầy hơn chút thì cũng dễ chịu.

        Giờ này, có lẽ con chủng ta đã ngủ yên trên giường rồi nhỉ? Cũng lúc này đây anh đang nhìn vào ảnh của con. Nhìn miệng nó há hốc như tập nói, trông nó ngộ quá! Em hãy đề phòng cho con khỏi bị cảm lạnh. Còn em, hãy cẩn thận, em dễ bị cảm mạo lắm. Lúc em nằm ngủ, nên đắp kín vai. Chị anh ở Yokaichi thường nói với anh: mỗi đêm chị ấy thường dùng một chiếc khăn mặt đặt giữa con nhỏ và người chị không khí lạnh không lọt vào đứa bé, để khỏi sinh bệnh.

        Anh sắp lấy cuốn tiểu thuyết đọc để ru giấc ngủ.

        Thòi chào em ngủ ngon !

        10 giờ rưỡi đêm ngày 5-2-1943,

        SETSUZO HIRAI

        Tốt nghiệp luật khoa đại học đường Đông Kinh. Chết ở đảo Buna thuộc Tân Ghi Nê tháng 9 năm 1944 lúc 24 tuổi.

        Những giờ phút dài dẵng không có việc làm trên chiến hợm, bị cô đơn giữa đám người ác cảm. Hirai chỉ biết ngắm nhìn gió trời sóng biển.


        Nhựt ký viết trên chiến hạm Yvra.

        Ngày 28-2-1942.

        Hôm nay, ngày cuối tháng. Tôi đã mất bao nhiêu thời giờ buồn tẻ đẽ ngắm nhìn cảnh trời biển, để nghiên cứu bản đồ hàng hải !   

        Tôi đã biết giết thời giờ bằng cách ngắm nhìn những mây gió sóng đập. Tôi không có dịp trò chuyện với ai, chỉ trao đòi một vài câu với những người tính tình giản dị xung quanh thôi. Chiều qua, tôi đứng thảo  luận với người cai thợ mảy. Nhận thấy anh có bầu nhiệt huyết đi chinh phục thế giới. Anh ta chỉ muốn reo rắc khói đạn chết chóc khắp nơi. Như thế mà gọi là cuộc thánh chiến sao ?

        Hôm nay tôi nhức đầu quá ! Chắc bị cảm lạnh. Nếu tôi tin cõi hư vô, sẽ được sung sướng lắm. Quốc gia phải chăng là một tổ chức mà người ta có thể không cần chăng? Chỉ có một quốc gia nào có lịch sử mới đáng duy trì, có đúng chăng ?


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:27:19 pm

        KINJI OSHIMA

        Tốt nghiệp Y khoa đại học đường Đông Kinh, nhập ngũ với chức vụ y sĩ quân y, chết ở đảo Tinian, thuộc nhóm quần đảo Mariannes tháng 7 năm 1944 lúc 27 tuổi.

        Bức thư sau đây cũng tương tự như nhật ký trên đây : chứa đựng những chán nản của ngày ở trên mặt biển. Oshina, một quân y, tìm mọi cách để thoát khỏi bệnh tê liệt tinh thần.


        Ngày 6-8-1912.

        Thư gửi cho giáo sư Tomio Ogata, từ trên chiến hạm Yumahishiro.

        Thưa Thày,

        Đã từ lâu, con không viết thư thăm thày. Nói thực ra, trên tàu con chẳng muốn viết gì hết. Đời sống của con, một y sĩ quân đội, không có gì là hoạt động như người ta thường ca tụng trong bài : «Trên chuyến  thuvền lênh đênh trên mặt biển, ta bắt tay làm việc ». Bài này con thường nghe thấy ca trên đài phát thanh. Dầu vậy, chuỗi ngày trống rỗng trôi qua mau lẹ, con không lưu tâm gì cả. Ban đầu, con không thể nào chú ý vào việc gì, con chán nản lắm, chẳng muốn làm chi cả, thế mà con cảm thấy mình bận rộn lắm. Đó chắc là một thứ bệnh về tri óc. Người ta quả quyết với con ! đó là một trạng thái tinh thần bị tê liệt, nhưng cũng không đúng hẳn.

        Dầu vậy, con muốn viết thư thăm Thày. Trong một tiệm sách trước nhà ga xe lửa, con thấy họ bán một trong những tác phẩm của Thày, tức là cuốn «Lòng yêu Tổ quốc và lòng yêu khoa học».

        Người chủ tiệm sách, tuổi đã cao. Con tìm thấy cuốn sách ở một chồng sách cũ, con liền mua ngay. Cuốn sách đóng chẳng lấv gì làm mỹ thuật, giống như hầu hết các loại sách ngày nay.

        Ở các hải cảng rất khó kiếm những sách kể chuyện dã sử. Trên tàu này, trình độ trí thức không dược cao lắm. Nó giống như một chiếc thùng sắt, luôn luôn có người đập vào vỏ nó, làm cho có tiếng động vang ra.

        Trên tàu lúc nào cũng vang dội những tiếng đĩa hát. Trong phòng con ở, các bạn ưa đọc nhứt là cuốn « Mivamato Musashi » do văn sĩ Biji Yoshigawa viết. Một hôm, có anh bạn đem ra phê bình cuốn sách này và chỉ  trích tác giả, tất cả mọi anh khác liền nổi xung. Chính con, con chưa được đọc tác phẩm ấy. Mivamato Musashi chắc là một vĩ nhân. Nhưng con không thích tác  giả Yoshigawa mấy.

        Lúc đầu, ở trên chiến thuyền này, con cũng dự định tổ chức xây dựng văn hóa, để cải thiện sinh hoạt cho thủy thủ. Con thiết tưởng nên khởi sự ngay công hữu ích này trên tàu. Cần phải tạo ra những điều kiện thuận tiện để không lãng phí thời giờ và sức lực của binh sĩ, trước khi họ phải ra trận tuyến. Nhứt là cần liệu sao cho họ đừng lâm bệnh. Nếu chẳng may anh nào mắc bệnh sưng phổi, họ sẽ bị gởi về bệnh viện thì uống quả ! Thủy thủ, họ giống như con nít, vô tư và luôn luôn vui đùa. Hơn nữa, chính con, cũng không muốn mất cái thú làm việc. Con muốn rằng hoặc tiếp — tục trở về học ở trường quản y, hoặc chu du khắp hoàn  cầu trên một khu trực hạm. Trên tàu này con sẽ dễ biết mặt và biết tình trạng sức khỏe của mỗi thủy thủ.

        Con đã kiếm được ít nhiều sách mới, vừa chép xong, như cuốn : «Y học và sinh lý học ». Thế nào cũng phải học cuốn đó, dù trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu không học, con sẽ bị loại khỏi Y khoa đại học  đường. Vì một khi trở về đại học, con sẽ không đủ năng lực. Trái lại, nếu học xong, con sẽ duy trì được tất cả khả năng và lòng hăng hái làm việc.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:28:57 pm

        TAIHO SANADA

        Tốt nghiệp Triết học khoa tại Đại học đường Đông Kinh tháng 12 năm 1941. Nhập ngũ tháng 2 1942. Chết ở Tân Ghi Nê lúc 26 tuổi.

        Những hoài  bão của  tuổi thiếu niên nghèo túng, chính là hình ảnh của bà hiền mẫu Nhựt Bổn, với những đức tính cần cù tận tụy, lòng hi sinh quả cảm trước tiếng kêu gào của người con đang hấp hối


        Má thân yêu,

        Trong thư, má có dạy sao không nói rõ những chi  tiết về con trong cánh thư vừa rồi. Điều đó có thực. Nhưng lúc con viết cho má, nước mắt chảy xuống như mưa, vì đã từ lâu con không gặp phải hoàn cảnh như thế. Trong đời, đây là lần đầu, con cảm thấy đã phạm nhiều lỗi lầm. Từ lúc còn nhỏ bé, má đã đổ biết bao nước mắt vì con ? Không khi nào con hiểu rõ được.

        Con muốn ôn lại những giờ phút êm đềm của buổi thiếu thời được ở gần má. Con nhớ rằng, má thường đưa con đến ông lương y. Nhà ta rất nghèo, nhứt là sau khi ba chết, nhưng má vẫn một lòng săn sóc con luôn. Má thường nói : chúng con không phải là con của má, mà là con của đức Phật, con của Tổ quốc nữa. Sau khi ba con chết đi, má đã liệu hết sức cho chúng con khỏi bị tủi nhục với các bè bạn, nhứt là cái năm con vào trường trung học. Má dẫn con ra tỉnh để mua cho con một chiếc áo cộc mới.

        Con những tưởng má dẫn đến trung tâm thành phố, nhưng khi má con ta đến một đại lộ đầy ánh sáng, thì má rẽ vào một đường chật hẹp tối tăm. Con theo sau má, như bị lạc lõng giữa chốn ấy vậy. Ngày nay, con hãy còn nhớ rõ ràng mà tưởng như hôm qua, đó là một tiệm bán đồ cũ. San khi má bảo con thử một vài bộ, má đã lựa cho con một chiếc áo cộc quá rộng. Lúc đó, má chẳng có tiền, nhưng má hứa với người bán hàng sẽ trả tiền sau.

        Trên đường về, má luôn luôn mỉm cười và bảo con :   « Chiếc áo này lót bằng lông chiên, nó hơi rộng một chút, nhưng rồi con sẽ mau lớn lắm, mặc sẽ vừa.» Giờ đây, nhớ lại, lòng con run lên vì cảm  động.

        Một hôm khác, má không có tiền mua quà bánh cho chúng con như nhà người ta ! Năm ấy con đang theo lớp ba ở trường trung học, anh con năm thứ nhứt. Cả hai anh em chúng con rất buồn. Anh con lộ hẳn vẻ buồn và lẩm bẩm :

        « Ba con đã hi sinh đời sống cho một tổ chức Phật  giảo. Ba chết để lại cho má 6 đứa chúng con và chẳng để lại của cải gì. Trước khi ba chết, người gọi chúng con đến mà bảo : « Các con đừng có giàu sang quả làm chi, đừng lo học thông quả. Duy có một điều các con phải lo là phải khấn vái đức Phật. Nếu các con cần của cải, từ trên tòa sen ba sẽ gởi xuống cho ». Ngày nay sao ba để chúng con quả khổ thế ? Ba có những ỷ  tưởng ích kỷ đến thế ? Bao nhiêu cực khổ đều là do ba cả. »

        Lúc đó, má có vẻ buồn, nước mắt chảy tràn trề trên má, má bèn xây mặt lại anh con mà nói :

        « Con muốn trách móc ba con sao thì trách, nhưng má xin con, đừng nói xấu ba nữa đi ! »

        Độ ấy vào cuối năm, má đang cần tiền để ữang- trải công nợ. Má buồn rầu lắm ! Lúc ấy má đứng tựa bên chiếc tủ áo, tay mặt thọc vào túi, nước mắt tràn trề. Bỗng nhiên, tựa như má chợt nghĩ ra điều gì, bước ra khỏi nhà. Cả nhà lúc ấy hết sức buồn thảm.

        Con trở về lò than lửa để sưởi ám, lòng con căm phẫn với anh con và ngồi chờ má về.

        Chiều ấy, cả nhà được ăn những trái cây và bánh quà. Còn má, má chẳng chịu ăn gì, nhưng má có vẻ sung sướng vì thấy chúng con vui vẻ. Má cười một cách êm dịu chưa ! Ngày Tết má mừng tuổi cho chúng con nhiều tiền. Ôi ! má đã cực khổ vì chúng con nhiều rồi ! Sau khi ba chết, má không còn vui gì dưới trần gian nữa. Muốn có tiền trả học phí cho chúng con, má phải di học khâu may với các thiếu nữ 17, 18 tuổi, con nhà nghèo. Má ôi ! sao má khổ thế má ? Người má đã gầy ốm sẵn, con lại làm cho má gầy thêm. Má đau khổ nhiều, con lại gia thêm nỗi buồn của má.

        Mới đây, má có gởi thư dạy con rằng: «Con yêu quí của má, má sung sướng thấy con gởi tiền về cho má. Nhưng lần sau, má không nhận đâu. Con hãy trả tiền vay mượn đi. Con hãy nhờ dịp này để học biết cách làm điều thiện và thương giúp người. Má tin tưởng vào con, con đã là người lớn rồi. Má biết được việc con sẽ làm. »

        Má ôi ! má quảng đại biết bao! Con muốn trở nên người tốt hơn, sống theo đức bác ái đối với người đồng loại. Con không nên sống đời phù phiếm, phải có một đời sống tinh thần cao quí hơn. Thưa Má, má là người duy nhất của đời con.

        Xin má hãy giữ gìn sức khỏe Con luôn luôn cầu Trời Phật cho má

Con của má : TAIHO.       


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:32:14 pm

        YU1CHI ASAMI

        Tốt-nghiệp trường Cao-đẳng Canh-Nông Cửu-Châu tháng 12 năm 1941. Nhập ngũ 2 năm 1942. Chết trong trận oanh tạc ở Chiba tháng 7 năm 1945,   lúc 27 tuổi.

        ( Người Nhựt cũng giống tính người Ái-Nhĩ-Lan, nghĩa là họ có một chút   ít tính ngông. Trước vẻ lịch thiệp gượng-gạo và phiền phức, họ cố dấu tính vui vẻ hồn nhiên).

        Asami có lối hành văn thật uyển chuyển lưu loát, không khác tính tình vui vẻ hồn nhiên của anh. Anh đã khéo léo mỗi khi diễn tả cảnh trí con người, hoặc hoàn cảnh mà anh đã gặp. Nhiều đoạn văn đọc ta cảm thấy như bức họa vẽ trên mành


        Ngày 27 tháng 9 năm 1942.

        Em gái tôi vừa đến thăm. Bây giờ tôi lại ước mong em trở lại, mặc dầu tôi sợ phải gặp em thêm một lần nữa.

        Quả nhiên, em Katsuko của tôi lại đến. Là một quân nhân đã 25 tuổi đầu, thế mà đưọc em an ủi vỗ về như một đứa trẻ nhỏ.

        Bao nhiêu thức ăn mà em đưa đến, tôi đều ăn hết, thật đẹp mặt ông sinh viên vừa dời ghế trường cao  đẳng chưa !

        Tối qua, dưới ánh đèn dầu leo lét, ngồi ăn hột giẻ nấu, tôi có cảm tưởng như có bà nội ngồi bên cạnh. Khi ngồi nói chuyện với em gái, tôi lại cảm tưởng như đang ngồi bèn cạnh người mẹ. Tôi giục em về và theo em một chặng đường rồi quay lại nhìn em lần nữa, nhưng bóng em đã khuất. Đêm thanh, sao tỏ, mà Chị Hằng Nga vẫn chưa chịu xuất hiện ? Tôi thấy như đang chờ đợi ai.

        Ngày 28-9.

        Bộ quân-phục bị vết dầu làm hoen ố, trông đến tởm ! Thế mà tôi vẫn còn đa cảm để biết thẹn với bộ áo dơ !

        Ngày 30-9.

        Thời-gian sống trong quân đội, chúng tôi chỉ viết những cánh thư chứa đựng bao ý tưởng điên rồ thôi.

        Má thân yêu,

        Chiều nay, con bận rộn quá, má có nhận thấy con người phức tạp không ?

        Trên đời có rất nhiều người học thửc uyên thâm, nhưng lại thiếu phần lương trí. Những kiến thức đó chẳng có giá trị gì dưới mắt con cả !

        Ngày 7-10-1942.

        Màu đen có một vẻ đẹp riêng biệt vì nó nhuốm mầu buồn thê thảm. Phải chăng tôi đang bị lạc lõng giữa đám người đang sôi nổi, vì thế, tôi cần phải thành  thật. Đó chính là cái đích để tôi sống.

        Chúa Nhựt, 11-10.

        Thường người ta có những hành động tựa như họ không còn là người nữa. Mùi mỡ thơm tho từ bên kia hàng lũy bay sang, chắc là con chó đang đói bụng. Bầy giờ vừa đúng ngọ, tôi cảm thấy như có tiếng xiềng xích loảng xoảng đâu đây. Một nhà hiền triết chân mang giầy thô cất bước nặng nề, trông có vẻ nghiêm khắc quá !

        Ngày 19-10.

        Hôm nay, làng tôi làm lễ ông Thành hoàng. Ba tôi viết thư cho hay rằng : Cuộc lễ này có lẽ đã bị xóa nhòa trong ký ức của tôi rồi. Thật là ba tôi tế nhị quá ! Người muốn tôi quên giờ phút đời man rợ hiện tại mà hồi tưởng lại khúc đời thiếu niên của tôi.

        Giữa làn không khí trong sạch của mùa thu, tôi nhớ lại hương vị nồi cơm đang nghi ngút và cảm thấy ở đầu lưỡi có mùi thơm ngon của món rau xào với dầu đậu phộng. Các em gái tôi xúng xính trong bộ áo kimono mới tinh, văng vẳng bên tai tiếng sáo ai đang lả lướt bên thềm !

                Theo tiếng gọi của trống
                 Tôi lên đường dự núi non.
                 Tôi đã đi, đã đi rồi lại muốn trở về
                 Vì tôi chỉ còn nghe hơi gió thổi
                 Và tiếng lá xôn xao.


        Kahushu. Cũng may ! cậu bé chưa tập suy nghĩ. Hồi còn bé tôi vui sướng làm sao ! Nhưng bây giờ, mỗi khi nhớ lại làm tôi cảm động muốn khóc lên thật to.

        Đêm khuya một mình thơ thẩn dưới ánh trăng thanh, tôi huýt sáo miệng đón mừng xuân sắp trở về.

        Kính chào ! Tôi sắp ngủ đây, chỉ có giấc ngủ mới làm tôi quên cuộc sống hiện tại !

        Ngày 13-4

        Đã trở về nhà, có phải tôi đã làm cho ba má tôi được sung sướng không ? Chỉ còn vài ngày nữa sẽ chấm dứt cái tuổi thanh xuân của tôi.

        Chính bực lão thành hay làm cho phái thanh niên do dự !

        Tôi đã khóc xướt mướt trên chuyến xe lửa, tưởng chừng chỉ có mình tôi phải chứng kiến tấn thảm kịch này ! Tồi phải làm gì bây giờ ? Vì tôi không thể để mình trôi theo thời gian được !

        Ngày 6-8

        Nhà văn hào Manfield đã nói : « Tôi không có một căn phòng để nương thân, không một giá để treo chiếc nón bạc phơ ».

        Ngày 22-8

        Tôi là một con người, tuy nhiên tôi vẫn có cảm  tưởng là nó đã mất hết giá trị. Tôi không khác gì một mớ tóc dài, cần phải đem ra chợ hớt đi, vì nó chẳng đẹp đẽ gì. Tuy vậy, mớ tóc vẫn cần để che cái đầu. Nhưng tôi đây, đã bị cắt bỏ tất cả vì tôi đã chết thì còn hòng giúp ai việc chi được ? Đời sống của tôi có khác chi một vật đã đem đi cầm cố, lại để quá lâu trong đống đồ vật chất trong tiệm cầm đồ, nên nó bị hư mòn.

        Dưới trần gian có một khúc nhạc chẳng bao giờ trình diễn xong. Khi đàn ca tới khúc Tử thần thì âm  điệu thê thảm xúc tích mới được phát ra.

        Tai tôi nghe tiếng trống, rồi một điệu nghịch âm vang lên và Tử thần múa lộn. Bao lâu chiếc gậy đánh nhịp của nhạc trưởng chưa gẫy, tôi vẫn tiếp tục nhảy múa.

        Ngày 18-11

        Tôi đi xem cảnh chất hàng lên tầu ở Shibaura. Tròi mưa tầm tã suốt ngày, bến tầu thêm lầy lội. Người tôi rét run lên cầm cập, phát ra một bài ca.

        Một chiếc tầu vừa nhổ neo đi về miền Nam. Nó tên « Shibasona Maru ». Nó biến dạng trong ánh sáng của mặt biển. Bầu trời thâm quầng, cần trục đem dùng cất những két đạn dược lên tầu. Đứng bên đống hàng vừa rỡ xuống, một hạ sĩ quan lẩm bẩm : « Những chiếc cần trục đó có vẻ an nhàn hơn tụi mình ». Tụi lính mặc quân phục mùa hạ, đang đợi giờ khởi hành, họ rét run lên dưói trời mưa. Mặt đượm một buồn tẻ nhớ quê hương.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:34:40 pm

        ISHI IUJI

        Tốt nghiệp trường Cao đẳng thú y Azabu tháng 12 năm 1941.Chết trong viện bài lao Nigata tháng 8 năm 1944.

        Trong lúc các bạn đang chiến đấu trong đồng ruộng bùn lầy Trung quốc, hoặc ở rừng thẳm Miến Điện, hoặc trên các đảo Thái Bình Dương thì Iuju bị vi trùng lao đục khoét lá phổi, càng gia tăng căn bệnh của anh. Anh bình tĩnh nhìn cái chết đang sồng sộc tiến tới.

        Ngày 9 tháng 10-1912

        Thư gởi cho người bọn

        Những tin mà anh gởi cho tôi, làm tôi cảm động lắm. Tình yêu thương là nguồn an ủi đem đến cho bệnh nhân, tình bằng hữu là cả sự nâng đỡ tinh thần của người bệnh.

        Trước kia, tôi còn khỏe mạnh thì ít khi nghĩ tới điều ấy. Nhưng bây giờ tôi lại cần khám phá ra những ý định của người khác. Ngoài ra, tôi rất bình tĩnh và tử tế với những người yếu đuối hơn tôi. Cái đó là do hoàn cảnh của tôi.

        Trông thấy ai tôi cũng sợ, tôi có cảm tưởng như họ chà đạp trên người tôi để mạnh tiến trên quãng đời của họ đã vạch sẵn. Những người đồng bệnh như tôi từ 6 tháng nay họ đã đến một chặng mà tôi không theo kịp họ nữa. Không bao giờ tôi dám mong ước được bình  phục như họ. Thể xác tôi không còn sức nữa. Có một ngày nào tôi lành bệnh chăng ? Có bao giờ tôi có thể cử động như mọi người ? Nếu có được khỏi đi nữa không khi nào tôi đi lại trong nhà, không trở lại hoạt  động nữa. Tôi hoài nghi chính bản thân tôi, hoài nghi cả đến sự công hiệu của thuốc men.   

        Tại sao người ta nỡ sát hại nhan đến cùng cực như thế? Có phải chiến tranh họ mới được sống không ?

        Tôi chỉ sống 2 tháng trong trại lính thôi, hai tháng đó đã đem lại cho tôi kết quả gì? Đế quốc Nhựt  bổn có cần những người lính bệnh tật như tôi đâu? Nếu tôi không ở trong quân đội thì tôi đã có một địa  vị khả quan trọng trong bộ Canh nông rồi. Như thế có phải tôi đã giúp đỡ nhiều cho ba má tôi không ? Cho người tôi không? Có lẽ trong cả bệnh viện này chỉ có mình tôi có ý tưởng như vậy. Các bệnh nhân khác đều vô tư cả. Họ sung sướng và có thể bình phục mau chóng.

        Ngày 31-7-1943.

        Sức nóng trong người lên tới 37,5 của nhiệt độ, mạch tôi chạy tới 90. Tôi chỉ còn nặng 38 cân. Sức khỏe của tôi càng ngày càng suy giảm.

        Cái chết là một việc đơn giản lắm, nhưng còn nhiều cái nó ngăn cản nên tôi cần phải sống cho tới phút chót.

        Cơn sốt hiện giờ không giảm bớt chút nào. Từ hôm 20 tháng 7, hơi thở của tôi thối quá ! Ban đêm lại ra mồ hôi quả nhiều. Tôi cảm thấy mệt nhọc hết sức, không thể cử động được ngay cả trên giường. Lúc cần phải ra cầu tiêu, chỉ xa 20 bườc, tôi cũng phải vịn vào tường mà lần đi. Nước miếng tôi giống như mủ.

        Ba má tôi, tuổi đã cao rồi, các người chỉ mong tôi lành bệnh, vì thương tôi lắm. Nhưng tôi yếu quá mất rồi. Tôi phải có trách nhiệm với ba má tôi cho tới khi anh cả tôi được bỏ mặt trận mà trở về.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:37:43 pm
       
CHƯƠNG III

CHIẾN TRANH Ở THÁI BÌNH DƯƠNG

        Những tin chiến thắng của Hải quân Thiên Hoàng tại biển San Hô đã gây thêm tin tưởng cho dân chúng Phù Tang, quá ngây ngô và tôn sùng các vị tướng lãnh có tài điều binh bố trận, được máy phóng thanh loan  truyền khắp nẻo đường của Đông Kinh vào tháng 5 năm 1942 : đánh chìm của Mỹ 1 thiết giáp hạm, 3 hàng  không mẫu hạm và 2 tuần dương hạm.

        Nhưng con số tổn thất của Huê Kỳ ở biển San Hô hoàn toàn thất thiệt. Trái lại, Hải quân Nhựt gần như thất bại.

        Một đơn vị đổ bộ của Nhựt được trang bị đầy đủ gồm các chiến bạm đang tiến về Úc Châu, định đổ bộ lên hải cảng Moresby thuộc Tân Ghi Nê, đơn vị này đã bị đánh bật ra ngoài. Một nửa hạm đội bị không quân Mỹ oanh tạc dữ dội, bị tổn thất nặng nề, một nửa bị thủy quân Mỹ chận đánh khiến cho Hải quân Nhựt đành phải trở về.

        Thủy quân Mỹ tuy có thiệt hại trong trận này, nhưng đã chặn đứng sức tấn công của quân đội Nhựt  Bổn toan tỉnh đô bộ lên đất Úc.

        Trận đánh quần đảo Midway ngày 5-6-1941 làm cản đường tiến của Nhựt về hướng đông. Vị trí đảo Midway nằm ở Thái Bình Dương giữa Mỹ và Á Châu, nên có một tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược. Nếu để lọt vào tay Nhựt, đảo này sẽ trở nên căn cứ trọng yếu giúp phi cơ phóng pháo của Nhựt phòng ngự được Hạ Uy Di.

        Thủy sư đô đốc Yamamoto, chỉ huy tối cao Hải  quân Nhựt, thoạt vừa quyết định chiếm Midway thì đô  đốc Chester Nimitz bên Mỹ đã hay rồi. Đây không phải một việc khó hiểu gì, vì từ mấy tháng trước, đô đốc Nimitz đã nắm được cuốn mật mã cực kỳ bí mật của Hải quân Nhựt. Một cuộc chạy đua dành thắng lợi về gián điệp rất quan trọng này, không phải công của một tay gián điệp, mà là nhờ một bộ óc điện tử. Nhờ đó mà bao nhiêu ám hiệu, mật mã đều bị khám phá.

        Vì thế, quân Nhựt vừa bắt đầu chuyển quân đi, đô đốc Nimitz đã bí mật tăng cường hệ thống phòng  thủ bằng hạm đội gồm nhiều hàng không mẫu hạm, phi  cơ đủ loại... để đánh úp hạm đội đối phương. Kết quả trận chiến này gây thiệt hại cho Nhựt : 4 hàng không mẫu hạm, 250 phi cơ bị tiêu hủy. Phía Huê kỳ chỉ mất 1 hàng không mẫu hạm và 156 phi cơ. Nhưng quân Nhựt phải rút lui.

        Với sự tồn thất nặng nề như thế, dân chúng Phù  Tang chẳng hiểu một chút gì. Họ chỉ được loan tin về một cuộc đổ bộ không quan trọng tại hải cảng Dutch Harbor, thuộc nhóm quần đảo Aléoutiennes, gần Alaska. Bao nhiều tin tức thế giới đều bị bưng bít bởi chế độ kiểm duyệt gắt gao. Người dân Nhựt bị cô lập với thế  giới bên ngoài.

        Sáu tháng sau trận đánh ở Trân Châu Cảng, quân đội Nhựt bị đặt trong một tình cảnh hết sức nan giải: trên tất cả các mặt trận đều bị phong tỏa. Nền cơ khí Huê Kỳ sản xuất từng loạt rất mau lẹ, nào tầu chuyên  chở, nào khu trục hạm, hàng không mẫu hạm, nào các loại phi cơ tối tân lợi hại gấp bao lần các phi cơ bằng gỗ của Nhựt.

        Đã tới lúc quân đội Mỹ phản công.

        Bị ngăn cách mặt trận bằng mọi hình thức, người dân Nhựt thảnh thơi an hưởng cảnh trí thiên nhiên của mùa hè 1942, qua những tin tức giả tạo. Chiến cuộc đã che lên mắt dân Phù Tang bằng một tấm màn. Các nhà lãnh tụ Nhựt Bổn chỉ lo mất địa vị lãnh đạo Á Châu. Nhưng ánh nắng mặt trời quả gay gắt đã soi thấu tấm màn đỏ. Những chiếc áo kimono muôn mầu tha thướt như cảnh bướm của thiếu nữ Phù Tang, những tiếng cười ròn rã vô tư, bên cạnh những ly rượu sa kê đầy hương vị, của một dân tộc chỉ ham khoái lạc và tham  vọng. Bao thứ đó làm họ mù quáng, đến quên cả những cuộc ác chiến đang diễn ra trong rừng thẳm hiểm độc trên quần đảo Salomon.

        Muốn chiếm Tân Đảo (Nouvelle Caléđonie và Nou  velles Hebrides) người Mỹ đã tìm ra một sách chiến, nghĩa là họ phải chiếm cứ đảo Guadalcanal trước đã. Đảo này chạy dài 150 cây số trên chiều ngang 50 cây số, và bị quân Nhựt chiếm đóng từ đầu chiến cuộc.

        Ngày 7 thảng 8, thủy quân Huê Kỳ, dưới làn trọng  pháo yểm hộ của 3 đơn vị đỗ bộ Anh Mỹ Uc, đã chiếm  cứ được phi trường Guadalcanal. Nhưng quân Đồng Minh gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân Nhựt, làm cản mức tiến của họ nơi đây trong nhiều tháng.

        Hài quân Nhựt thình lình đánh vào hạm đội Mỹ và đảnh chìm 4 tuần dương hạm. Nhưng tại Stewart, hải  quân Mỹ đã bắt Hải quân Nhựt trả một giá rất mắc.

        Trong rừng thẳm, những trận giao phong ác liệt vẫn liên tiếp xảy ra giữa những bãi bùn lầy nước đọng hôi thúi. Nhiều lúc hai bên đánh giáp mặt nhau, họ phải giải quyết bằng mọi lối đánh dã man để dành phần thắng. Ngoài biển, cũng không kém ác liệt, các trận thủy chiến xảy ra liên tiếp. Trận đánh ở Santa Cruz ngày 25 tháng 10, quàn Nhựt thất bại nặng nề và phải rút lui. Ngày 12-11, lại một trận thủy chiến khác xảy ra ngoài khơi biển Guadalcanal. Hàng không mẫu hạm của đôi bên đều bị chìm cả, đại bác từ các chiến hạm đều chĩa vào nhau mà khạc đạn, không khác trận đánh ở Jutland. Trận ác chiến này kéo dài trong 24 phút.

        Hai đô đốc Huê Kỳ bị thiệt mạng trong trận này. Nhưng toàn thể hạm đội Nhựt đến tiếp viện cho quân trú đóng trên đảo bắt buộc phải rút lui dưới làn mưa bom đạn của không quân Mỹ. Đây thực là một cuộc tàn sát dữ dội và thảm hại. Ai đã được mục kích phải đau lòng và không bao giờ quên được cảnh thương  tâm ấy.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:38:23 pm

        Binh lính tiếp viện chen chúc nhau trên sàn tàu như cả hộp. Hai chiếc tàu chở quân bị đánh chìm ngay trong trận mở màn. Trên mặt biển, một khoảng rộng 1 cây số vuông dầy đặc màu ca ki của lính Nhựt. Dần dà lớp người bị chìm trở nên thưa thớt và rồi biến chìm xuống đáy biển. Những trận mưa bom tưới lên boong tầu làm nổ tung giết hại binh lính, gây một cảnh hỗn  loạn máu chảy thịt bay ! Mặc dầu bị cháy nghi ngút, mấy chiếc tàu Nhựt chưa bị chìm cố gượng tiến vào bờ, trong lúc đó, phi cơ Mỹ ung dung đi tiếp tế bom đạn xăng nhớt để trở lại tiếp tục oanh tạc, gây thêm tang tóc. («Người sống sót ở Thái Bình Dương» của Georges Blond).

        Ngày 15 tháng 11, một trận thất bại khác làm lực  lượng hải quân Nhựt hầu như không còn. Trên đất, bệnh sốt rét rừng hoành hành dữ dội, bao nhiêu kho thuốc đều bị thiêu hủy. Quân đội Mỹ mặc nhiên làm chủ tình thế trên trời dưới nước, quân lương đạn dược tiếp tế dư dật.

        Với sự hi sinh cố gắng của Hải quân Nhựt, chỉ có 8.000 quân sống sót trong số 42.000 đã được chuyển lên tầu. Qua ngày 8 tháng 12 thì mọi sức kháng cự không còn nữa. Guadalcanal mấy ngày sau cùng này đã trở thành một trung tâm tự sát tập thể của những chiến sỹ con cháu Thần Thái Dương ! Nhựt báo Yomiuri thuật lại cuộc xung phong tự sát của đơn vị Inagaki như sau :

        Nửa đêm, toàn thể đơn vị tập họp. Trong giờ phút nghiêm trọng đó, họ hát bài suy tôn Thiên Hoàng và 3 làn chúc thọ. Vẫn dáng điệu oai nghiêm, họ hướng về hoàng cung kính vái. Trong lúc đó, qua màn đêm dày  đặc, máy phóng thanh Mỹ, bằng Nhựt ngữ, liên tiếp hô  hào quân Nhựt đầu hàng.

        Trên gương mặt lầm lì can đảm của 200 binh sĩ, kể cả người bị thương và bệnh tật, họ đều xung phong ra trước họng súng của đối phương.

        Tarawa, một cù lao thuộc nhóm quần đảo Gilbert, cũng trải qua nhiều cuộc xung phong tự sát dưới ánh trăng mờ tỏ. Trước họng súng liên thanh và súng phóng hỏa lính Nhựt tay cầm lưỡi lê xông ra, bị quét sạch và bị cháy thiêu thê thảm không khác đàn châu chấu bị thiêu thành tro.

         Cuối năm 1943, những đảo thuộc nhóm cù lao Salomon và một phần đảo Tân Ghi Nê bị quân đội Mỹ chiếm lại được. Đầu năm 1944, hai đảo Marshall và Caroliues cũng theo một số phận.

        Quân đội Nhựt Bổn đã bắt đầu lâm vào tình trạng suy nhược.

        Truck, một hòn đảo kết thành bởi san hô, chiều dài chạy hình cánh cung, đầy bí hiểm, đã hơn một lần được mệnh danh là bất khả xâm phạm, được báo chí sánh ngang với Tân Gia Ba và Gibraltar, cững bị thẩt  thủ vào tháng 2 năm 1944.

        Ngày 11 thảng 6, đến lượt đảo Saipan. Đảo này không phải kết thành bởi san hô và xa thẳm giữa Thái  Bình Dương. Saipan là một phần đất thuộc quyền Nhựt  Bổn từ lâu trong hải phận Mariannes. Trên đảo có nhiều Nhựt kiều đến khai khẩn. Khởi điểm cho cuộc tấn công là một trận thủy chiến mang tên « Trận đánh ở Yap », với 9 hàng không mẫu hạm, đương đầu với 16 hàng không mẫu hạm của Mỹ, được yểm trợ bằng nhiều thiết giáp hạm hạng nặng. Kết quả trận chiến ; 7 hàng không mẫu hạm của Nhựt bị đánh chìm. Trên đảo còn độ 2.000 người sống sót trong cuộc tấn công thì lại bị thiệt mạng trong cuộc xung phong tự sát. Tướng Saito, chỉ huy lục quân, đô đốc Nagumo, chỉ huy hải  quân, cả hai vị đều dùng dao mổ bụng tự sát. Tất cả thường dân trên đảo không thê rút lui được, họ đi trú  ẩn trong những hang đá hiểm trở. Thoạt thấy quân đội Mỹ kéo đến, đàn ông cho nổ tạc đạn tự sát, các bà mẹ bóp chết con mình trước khi tự hủy mình. Các thiếu nữ, gọn gàng trong bộ áo kimono mới tinh, chải chuốt cẩn  thận, thanh thản trèo lên ngọn núi, lao mình xuống biển.

        Sáng ngày 19, bên đất Nhựt nhận được tin Saipan thất thủ. Đài bá âm, báo chí thi nhau ca tụng những cuộc tự sát tập thể. Thủ Tướng Đông Điều im hơi lặng tiếng, rồi được thay thế bằng hai nhân vật bù nhìn, chỉ huy lục và hải quân : Tướng Koiso và Yonai.

        Đông Kinh đột nhiên thay đổi bộ mặt thường ngày : kinh thành tráng lệ bỗng trở nên tiêu điều ảm đạm. Đó đày tràn ngập cảnh tang tóc. Những mảnh vườn tược, những hầm hố, những khoảnh đất trống, trở thành những hang chuột người trú ẩn.

        Các bà mẹ ngồi xổm trong đáy hầm, sâu chừng 80 phân, họ ngước mắt nhìn trời, với nụ cười ngạo nghễ, mặc cho phi cơ của địch đến pháo kích. (Robert Guil  lain, Dân Nhựt với chiến tranh).

        Nước Nhựt xuất hiện với tất cả cảnh nghèo đói và tang tóc. Đàn ông mặc quốc phục may bằng vải sợi nhân tạo thô sơ màu vàng. Phụ nữ mặc quần ống rộng lùng thùng. Thực phẩm hạn chế gắt gao, dàn chúng sắp hàng dài để chờ lãnh tiếp tế. Nạn đầu cơ tung hoành, việc tiếp tế gặp phải tình trạng cực kỳ khó khăn: diêm cạn, xà bông hết, kim chỉ khan hiếm, giày dép, đến cả guốc bằng gỗ cũng biến đâu mất. Nạn gián điệp lan  tràn trong mọi từng lớp dân chúng. Những phụ nữ chân yếu tay mềm, phải miễn cưỡng làm việc trong các xưởng chế tạo quân cụ.

        Hí trường, tửu quán bị đóng cửa. Mỗi tháng một nhân khẩu được lãnh 1 ly bia.

        Bên trời Âu, Ý quốc ngả về phía Đồng Minh. Phát  xít Đức tung ra võ khí bí mật hăm dọa thế giới. Đài bá âm, báo chí Nhựt vẫn nhai lại bài ca tụng những vụ tự tử tập đoàn.

        Ngày 25 tháng 10, trong trận đánh ở đảo Ievte, chiếc phi cơ tự sát đầu tiên đâm nhào xuống chiếc hàng không mẫu hạm Canganon.

        Những thất bại dồn dập ngả về phía Nhựt Bổn, nhưng họ cũng tung ra những võ khí bí mật, quái ác và vô nhân đạo hơn cả những loại bom bay Vl, V2 của Đức, tức là nhũng phi cơ tự sát do các phi công quyết tử điều khiển.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:40:14 pm

        TOKURA NAKAMURA

        Sinh viên khoa địa lý ở Trường Cao Đẳng Khoa học Todai. Bị động viên tháng năm 1942, được qua Phi Luật Tân trong tháng 6 năm 1944, bị mất tích lúc 25 tuổi.

        Nakamura viết nhật ký này giữa đang phục vụ trong đơn vị 9 chiền xa,đóng ở phía đông Narashimo thuộc quận Shiba. Lúc đó tác giả còn là binh nhì. Sau ít ngày được thăng cấp hạ sĩ.Tác giả không muốn bị ỉiêt vào hạng« con xe trong nước cờ bí ».


        Ngày 21-1-1943.

        Tỏi đang giặt tấm vải bông để che miệng khỏi gió bụi bỗng nghe tiếng còi xe lửa rúc vang dội, đập vào dãy núi. Nhìn lên trời, những cụm mây đỏ trong suốt hiện ra với tất cả sự rực rỡ của nó, trông tựa như có bàn tay khéo léo đặt lên một khối pha lê.

        Thứ bảy :20-5.

        Đúng lý, khoa học phải  hướng dẫn nhân loại. Nhưng hiện giờ, chính nhân loại đang hướng dẫn khoa  học. Quả là điều đáng tiếc !

        Chúa Nhựt : 14-3.

        Tôi nhảy dù về thăm nhà tại Đông Kinh. Suốt ngày hôm đó, tôi nằm đọc sách. Qua tập « Thi ca với tình bằng hữu », thi sĩ đã tìm được những hình thức bất diệt gán cho mỗi sự vật thoáng qua, một ý nghĩa thần diệu cho những cái vặt vãnh, một ý tưởng thích hợp cho mọi hiện tượng. Tôi ước ao có một cuộc sống tinh thần cao cả luôn.

        Ngày 28-4.

        Đêm rồi, tôi đi bộ từ Shibuya đến nhà trọ. Tình cờ tôi được gặp ông Tomamoto và được ông cho biết anh Karl Pits đã tử trận! Đã một lần anh thoát chết tại một đỉnh núi trọc ở Honaka, sau khi được thăng cấp hạ sĩ. Anh sống được 4 năm trong quân đội.

        Tôi còn nhớ rõ, không tài nào xóa nhòa những hình ảnh buổi chiều ngày đó. Tử thi anh có nhẽ bị vùi dưới chiến xa. Mặc dầu hai tháng chúng tôi ở xa nhau, nhưng tôi cảm thấy đời sống của hai đứa giống nhau làm sao !

        Ngày 29-4-1943.

        Năng lực linh thần của tôi bị suy giảm, tri tuệ gần như tê liệt. Nhưng trong lúc này hơn bao giờ hết, tôi cần giữ vững tinh thần để chịu đựng mọi thất vọng. Không hiểu, những nỗ lực của tôi có kết quả gì không.

        Chiến xa từ từ tiến về hướng đông, giữa lúc hoàng  hôn đổ xuống cảnh đồng Masashino bát ngát hương thơm nơi đồng cỏ, mọc đầy hoa cúc dại và tre trúc. Tất cả những hương vị đó lồng trong khung cảnh khói đạn bắn nhau lẻ tẻ. Tay cầm tay lái, tôi điều khiến chiến  xa thẳng tiến.

        Ngày 15-5.

        Người Nhựt chúng ta đều giống những con nhái, ngồi dưới đáy giếng nhìn vũ trụ bao la. Chúng ta tự  cao tự đại và hợm mình, không thèm đếm xỉa gì đến thế giới bên ngoài. Chúng ta tôn sùng cảnh trí tráng lệ của đất nước Nhựt Bổn thần tiên. Nhưng không thể kéo dài tình trạng nầy mãi! Chúng ta cần phải nhận  thức xa rộng hơn, đến việc khả dĩ làm chúng ta được hiên ngang.

        Cái lòng tự cao tự đại ấy đã khiến tôi chán sợ. Chỉ khi nào dân tộc chúng ta cứ âm thầm góp phần xây  dựng lịch sử thế giới, lúc đó thể lực dân tộc Nhựt Bổn mới được sáng tỏ cùng nhân loại.

        Chúng ta cần phải gạt bỏ tất cả tính hiếu thắng, vì nó chẳng đi đến đâu, chẳng đem lại kết quả tốt đẹp nào. Chúng ta chỉ có thể tạo được những khả năng thiết thực bằng những cố gắng tích cực. Không hiểu bao giờ chúng ta mới xóa nhòa được cái quan niệm sai lầm, cho Nhựt Bôn là một dân tộc vô địch, bất khả chiến bại ? Nếu chúng ta chịu nghiên cứu lịch sử một cách xác thực hơn, chúng ta không thể ngồi yên mà mơ tưởng hàm hồ mãi thế này, sẽ chấm dứt được cái tính tự cao tự đại như đứa con nít. Không gì nguy hiểm hơn những giấc mơ mộng hoang đường như thế ! Một dân tộc kiêu căng không bao giờ cường phú được.

        Ngày 16-5

        Tôi còn sống mà sống như con vật vô tri. Nhưng ác hại thay ! tôi lại không thể sống như con vật được, mặc dầu cuộc sống cứ vẫn kéo dài vô vị, vô nghĩa lý !

        Ngày 18-5

        Hôm nay, Hiệp Hội Ái quốc các Nghệ sĩ được thành lặp. Nay một tập đoàn ái quốc, mai một hiệp hội ái quốc, mốt lại một đoàn thể ái quốc. Bất cứ cái gì cũng được người ta khoác cho một phụ từ « ái quốc ». Ngay cả đến mấy ông họa sĩ cũng tự mãn tự sung sau khi hoàn thành một họa phẩm, tả về chiến cuộc. Thực là mỉa mai ! Họ khoe khoang mà không chịu suy nghĩ, thế nào là « ái quốc chân chính ». Như thế, vô tình họ đã mở một con đường « diệt quốc ».

        Quay về hướng nào, tôi cũng chỉ nhìn thấy những điều phỉnh gạt giả dối !

        Ngày 20-5-1943

        Thứ năm, trời mưa rả rích.

        Hôm nay, tôi gặp một anh bạn. Anh này đã thành  công phi thường ! anh chưa từng có một hành động nào di hại đến phẩm giá con người, giữa cái thế hệ nhiễu  nhương này. Anh ta làm cho tôi thêm rất nhiều nghị lực.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:37:49 pm

        Ngày 23-5

        Dưới sức nóng gay gắt của mặt trời, tôi cầm súng gác. Cây giẻ gai cổ thụ sừng sững trước cổng trại, tỏa ra tàn lá xanh rì, lá cây đang độ nảy nở. Tôi cảm thấy đời sống của anh lính gác kho đạn phẳng lặng làm sao !

        « Nếu có con, thế nào tôi cũng cho nó đi học ! »

        Câu nói trên đây phát ra với tất cả đau khổ, làm tan bầu không khí im lặng, khiến tôi đau lòng. Trước mặt tôi, hình dáng ông trung sĩ X đang đi đi lại lại.

        Ngày 20-6 : Thứ hai

        Tôi đọc lại câu này trong cuốn «Phương Pháp luận» của Descartes : « Hồi đỏ, luôn luôn tôi có ý chí mãnh  liệt muốn học hỏi để phân biệt cái chân với cái giả, để sáng suốt hành động và mạnh dạn tiến bước trên đường đời

        Ngày5-8-1944 : Chúa nhựt, trời tạnh nắng

        Tôi vừa nhận được tập vở ghi chép những lời tán  dương anh bạn Inada. Tôi đọc cả ngày và hết sức cảm  động. Tĩnh dưỡng trong viện bài lao, anh ta chuyên  chú vào mấy pho sách toán học và cuốn « Pháp ngữ tự  học trong 4 tuần». Dường như anh không hề nghĩ gì đến ngày tận số của anh đã gần kề !

        Anh cũng làm được mấy bài thơ. Khi đọc lên, tôi rất đau lòng vì những ý tưởng diễn tả trong lời thơ. Chúng ta cần phải thành thực với bản thân cho tới ngày cuối cùng đời sống. Cho tới phút chót, chúng ta không được phép trốn nhiệm vụ. Còn chi hèn nhát hơn sống mà thiếu thành thực với bản thân ?

        Ngày 9-9

        Lúc đi tập về, tình cờ tôi nói chuyện với người huấn luyện viên về vấn đề giáo dục thời đại này. Tôi rất cảm động khi nghe ông nói chính ông cũng lo cho số phận hiện tại của xử sở. Ông có một niềm tôn trọng đặc biệt đối với nền học vấn và ông có một chí nguyện theo đuổi sự học hành.

        Cái tin Ý quốc đầu hàng đã được công bố. Không hiểu bao giờ nước Nhựt chúng mình mới chịu đầu  hàng ? Tôi tin chắc chẳng bao lâu nữa !

        Ngày 12-9

        Hôm nọ, tôi nhìn thấy trong phòng ngũ một tập thi ca nhan đề : « Trái bạch đào » của thi sĩ Mokichí. Tôi sung sướng làm sao khi thấy nơi đây còn có người đọc những văn phẩm đó.

        Buổi chiều, ngồi một mình, tôi lại lấy tập thơ trên để đọc lại. Lúc cầm sách mở ra, muốn thưởng thức hương vị tờ giấy trước khi đọc, tôi không ngần ngại đưa lẻn mũi. Một cảm giác mãnh liệt làm tôi phát khóc. Tôi cũng đọc nhiều lần những bài dân ca của miền Takagama. Đó là một buổi chiều thu, gió heo may mát dịu luồn vào da thịt tôi.

        Ngày 11-2.

        Lửa hồng tí tách trong lò. Ánh đèn leo lét qua khung cửa kính mờ ảo. Ngoài trời, một làn mây lơ lửng treo trên không trung. Chúng tôi bao quanh chiếc bàn thưởng thửc hương vị trái thơm và bình nước trà. Mùi hương ngào ngạt từ bình trà bay tỏa, thân thể tôi tuy mệt mỏi, nhưng tinh thần sảng khái, khiến tôi hồi tưởng lại một buổi chiều êm ả đã qua, cách đây trên 4 năm rồi. Thực là một giấc mơ êm đềm, tôi cảm thấy tâm hồn tràn ngập niềm nhớ cố hương vào những lúc hoàng hôn đổ xuống. Hôm đó, tôi đã leo tới đỉnh núi Tam Dao. Giờ đây cầm bút ghi lại chút kỷ niệm.

        Đọc sách đã là một sự quan trọng, nhưng cầm bút viết lại còn quan trọng hơn. Điều hệ trọng là phải biết phân tách lý do thúc đầy ta viết.

        Bởi vì đâu tôi cầm bút viết nhựt ký? Nhựt ký viết ra cho người khác đọc cỏn gì là giá trị ? Ý nghĩa cuốn nhựt ký sẽ mất hết phần thiêng liêng của nó. Đôi khi tôi cảm thấy thích thủ khi cầm bút viết, mặc dầu chẳng có mục đích gì cả, miễn là viết. Nhưng cái đó thường bị tiêu tan như bọt sóng, khiến tôi không thể viết nổi một câu. Mà tôi cũng chẳng hiểu lý do tại sao nữa. Nếu một khi tôi không thích viết nữa thì tôi lại cảm thấy đời mình trở nên vô vị. Hoặc vì một lý do nào làm tiêu tan cái thú viết nhựt ký, quả thực là một việc đáng buồn cho tôi. Cho nên tôi không cần chờ đợi một hoàn  cảnh nào thuận tiện mới cầm bút viết.

        Giờ đây, tôi cần phải cương quyết vượt tất cả trở  ngại trên cuộc sống và cần phải tự tạo hoàn cảnh hiện  tại. Nên tôi không ngần ngại cầm bút viết và cương  quyết không bao giờ lừa dối mình. Muốn được thế, tôi cần phải có một sức mạnh thiêng liêng để giữ vững tinh thần. Sức yếu và hoàn cảnh nghèo túng không phải là trở ngại, chỉ nên cậy dựa vào chí can đảm mãnh liệt của khối óc.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:39:05 pm

        Ngày 14-2-1944.

        Tôi đọc lại tập thơ của các sinh viên Đức đã bỏ mình ngoài trận tuyến. Cuốn thư đó thực hay ! Với hoàn cảnh hiện hữu, tôi càng xao xuyến cảm động khi đọc tập thư này. Lớp thanh niên khiến tôi cảm phục tấm lòng thành thực của họ. Dưới ánh đèn cầy họ ngồi đọc Thánh kinh và thi phẩm của Goethe, miệng họ ngâm thơ, tâm hồn tưởng nhớ tới thi sĩ Wagner. Thực may mắn cho họ ! vì còn có thì giờ đọc sách như vậy mỗi ngày. Vói tất cả bút tích tìm thấy nơi tử thi họ, không hề tìm được một câu chỉ trích đối phương. Điều đó quả đáng ngạc nhiên ! Tôi thấy thèm muốn cái nghị  lực của dân tộc Đức đã tạo được lớp sinh viên tiềm tàng những tinh thần cao quí và tấm lòng thành thực như vậy. Cải chết cao quí, những chiến công, những cuộc xung kích táo bạo, bấy nhiêu thứ đâu có phải của riêng gì quân đội Nhựt Bòn ? Thực đáng cảm phục khi thấy rằng những lá thư đó được viết ra bởi những trang thanh niên sắp sửa ra mặt trận. Còn một số người, với những cánh thơ còn dở dang, chẳng may bị thương nơi mặt trận phải trở về, lại được các bạn ghi thêm vào chỗ bỏ trống. Cũng có người bình tĩnh hơn: họ cầm bút viết ngay bên các bạn đồng đội đang cầm súng chĩa về phía giặc để nhả đạn.

        Vói tất cả tấm lòng thành kính, tôi xin nghiêng mình trước anh hồn các tử sĩ ấy.

        Tôi còn gặp một bài tả về lễ Giáng Sinh rất tài tỉnh. Hồi còn nhỏ, lễ Giáng Sinh được coi là một chuyện thần tiên. Nhưng ngày nay, đối với trẻ con nước Nhựt, nó đã mất hết phần ý nghĩa. Chúng không còn được hưởng những quyền lợi và những cái thú đáng kể đêm Giáng Sinh.

        Ngày 18-2-1944.

        Tôi đọc xong cuốn Địa dư nhân loạỉ. Nền học vấn bao la và khó khăn chỉ giúp tôi thêm can đảm và tin tưởng. Chọt tôi liên tưởng đến một câu của văn   sĩ Mendel : « Số phận tôi sắp được định đoạt» càng gây cho tôi thêm nghị lực.

        Ngày 29-2.

        Tuyết đã ngưng rơi, gió thổi vi vu dưới bầu trời quang đãng. Trên tất cả mái nhà, tuyết tan dần tỏa lên như khói, cảnh tượng đó nhắc tôi nhớ đến đỉnh núi Nishiho vào tiết thảng 3. Một mối buồn man mác xen lẫn niềm vui bỗng nhiên tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy hai chân giá lạnh. Phải chăng, khung cảnh tuyết rơi, nước đông, mây gió đã xúc động tôi một cách dễ dàng đến thể !

        Ngày 1-3-1944,

        Thấm thoát nay đã tới thảng 3, trong lúc con người tôi hãy còn mơ tưởng đến những cảnh tuyết núi. Tôi muốn viết ra cuốn tự thuật của tôi. Tôi không thể nói được rằng đời sống của tôi hiện nay có nhiêu biến  chuyển, nhưng nó chẳng có gì xuất sắc đáng chú ý. Đấy là tôi chưa đề cập tới đời sống nhân loại dưới mọi khía cạnh. Tôi chưa thấu triệt để tiến tới tìm hiểu một lẽ sống. Tôi còn phải nhờ đến lòng hăng hái hơn.

        Ngày 5-3

        Hôm nay, tướng Tohibara đến thị sát. Khi mà con người bị bao vây bằng mọi rủi ro và tàn ác, vẫn còn có bổn phận ăn ở lương thiện và từ tâm...

        Giữa những cảnh tranh đấu vật chất thường ngày, cần phải vượt qua mọi trở lực để giữ gìn cái kho tàng nghị lực, không nên để mất phần lương thiện và nghị  lực. Tôi cần giữ bình tĩnh trong những trận giao tranh dữ dội. Sống với những kẻ bất lương, tôi cần phải lương thiện ; giữa những chiến đấu ác liệt tôi cần phải lạnh lùng. Cuộc đời, ta không cần đến sự người ta chú  trọng, đó cả là một sức mạnh. Những kẻ tước đoạt ngôi thứ, những kẻ ăn cắp địa vị, hạnh phúc của người và che lấp ánh sáng chân lý, thảy đều giống những tử thi. Muốn cho dân tộc được cường thịnh, duy có một phương kế là khát vọng chân lý.

        Ngày 27-3-1944

        Nếu con người mất hết phần lý trí và cương trực thì tinh thần đạo đức sao có thể phát triển được ? Cương trực căn cứ vào lòng trung thành với chân lý. Nếu không tôn trọng chân lý, không thể nào có Công lý được. Thảo luận về đạo đức, luân lý, khoe mình có đạo đức quả là việc dễ dàng. Nhưng nếu không biết tìm chân lý trước đã, thì khó mà có được tinh thần đạo  đức, khó hơn tìm thấy con cá trên ngọn cây.

        Liệu có thể tìm thấy một mục tiêu cho đời sống không ? Bấy nhiêu điểm ẩy làm xáo trộn khối óc của tôi.

        Thời gian theo chiếc kim đồng hồ trôi qua một cách mau lẹ, không ngưng lúc nào. Còn tôi, tôi đã làm nên công chuyện gì đáng kể ? Hiện giờ tôi chỉ biết sống, mà cái sống đó đối với tôi, cũng chẳng giá trị gì hơn cái chết. Những lỗi lầm trong quá khứ của tôi, dầu là vô tình đi nữa, lúc nào cũng khiến tôi suy nghĩ đến hoài. Cỏ một vài lỗi lầm, tôi muốn chuộc lại, nhưng còn ít lỗi lầm khác không khi nào có thể xóa nhòa được.

        Ngày 3-4-1944

        Tôi đứng trước cổng trại, dưới trời mưa rả rích và lạnh lẽo. Tôi có những hành động như viên quan lại. Một em bé đến tiểu tiện trước cổng trại. Tôi không tiếc lời sỉ vả. Nhưng khi nhìn thấy gương mặt em tái xanh, nước mũi chảy nhễ nhại, tôi đâm ra hối hận với những lời lẽ vừa thốt ra. Đôi khi tôi cảm thấy mình có tính hách dịch và quan liêu. Tuy nhiên, trong con người tôi còn có một phần lý trí biết khinh bỉ cái thái độ bỉ ổi ấy. Biết thế, tôi tự trách mình và nguyện với lòng sẽ sửa chữa những tập quán xấu xa đó.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:18:11 pm

        Ngày 8-5

        Tôi vừa trông thấy một giàn đậu nặng chĩu những trái non. Tôi ngắm nhìn đến đắm say. Những chùm trái nặng chĩu khiến tồi hồi tưởng lại cảnh quê hương : trước cửa phòng học lớp sinh vật, cũng có một giàn đậu, chắc lúc này cũng chi chít những trái. Dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời, chúng tôi thường ngả nghiêng dưới bóng mát của nó. Những giờ phút ấy đối với tôi qua đi như một giấc mơ tiên. Nhưng than ôi ! ngày nay, nào ai dám ngả nghiêng bên giàn đậu leo ?

        Ngày 13-5

        Tôi vừa đọc xong cuốn sách nhan đề «Nỗi thất  vọng của chàng thanh niên Werther». Cái chết của thanh niên trong chuyện gây cho tôi một xúc động. Có phải tôi thành thật với bản thân chăng ? Đọc xong cuốn sách, có thể làm tôi buồn lây với người bạc phước chăng ? Hoặc tôi đã mất cả lý trí minh mẫn và sắc bén đối với những gì là công bình chăng ? Nếu quả thế, chẳng là một điều tai hại đáng sợ lắm sao ?

        Tôi không muốn kiếp sống của tôi cứ lặng lẽ trôi đi, nhưng tôi phải sống cho ra sống. Tôi cần phải kiên  nhẫn mà không bao giờ cho phép mình biến thành con vật, mặc cho tay người chăm nuôi.

        Tuổi thanh xuân của tôi phải là danh vọng của tôi, mối cảm xúc phải là bước đường định mệnh của tôi.

        Ngày 5-6-1944.Thư gởi cho ba má

        Không bao giờ con có thể quên được cái công ơn sinh thành và tình thương ba má đã ban cho con từ lúc ba má còn gặp bao cảnh khó khăn. Con chưa đền đáp công ơn hải hà đó được. Xin ba má thứ tha cho đứa con bất hiếu này. Càng nghĩ con càng hổ thẹn với lương tâm !

        Sổ phận của con không chút gì may mắn : tất cả đều là một tấn bi  kịch. Nhà văn sĩ Akutagawa đã nói : « Hễ có cha mẹ và sinh đứa con là tấn bi kịch của nhân loại bắt đầu ». Điều đó con nhận thấy là đúng. Con cầu xin Trời Phật giáng phước cho ba má !

        (Hôm đó tác giả nhận được lệnh ra mặt trận, trên đường hành quân, tác giả viết bức thư sau đây cho cha mẹ. Có lẽ thư này là bức thư cuối cùng, viết từ hải  cảng Moji.)

        8 giờ sáng ngày 20-6-1944.

        Lệnh truyền ra một cách quá đột ngột, nhưng thực ra, nó chẳng làm con ngạc nhiên. Con sung sướng làm sao khi được gặp em Katsuro trong một tiếng đồng hồ. Nói thực ra, chúng con đã phải lên đường từ ngày hôm trước rồi. Như thế con chẳng được gặp em con. Con phải sống trong một khách sạn tiêu điều suốt 12 ngày ròng. Con lang thang giữa những đường phố dơ bẩn, đầy cát bụi và giữa cảnh điêu tàn bởi khói lửa của thị trấn Moji. Con thiết tưởng ba má đã nhận được tin tức qua báo chỉ. Chúng con sắp sửa xuống tầu ra di, để lại bao kỉ niệm đáng ghi nhở. Nếu con biết trước như thế thi con đã đánh điện về cho ba má hay, và biết đâu con lại chẳng được gặp ba má nữa... Thôi, chẳng qua là do định mệnh cả.

        Lễ tự nhiên, con chẳng biết rồi đây sẽ đi đến đâu. Nhưng có thể là chúng con sẽ đến một nơi có những cuộc chiến đấu ác liệt. Con sợ  rằng một thời gian lâu, không thể thư từ được với ba má. Con rất tiếc không thể đem theo mấy cuốn sách mà con vẫn muốn mang đi. Nhưng than ôi! làm sao được trong hoàn cảnh hiện  tại ? những bạn đồng đội còn ở tại hậu tuyến, họ bao vây chúng con trong lúc sắp bước chân ra ngoài cổng trại. Họ tiễn chân con bằng nhiều thứ quà, khiến con cảm động không tài nào ngăn nổi châu lệ. Con đã khóc, cũng như họ đã khóc.

        Quang cảnh hiện tại làm con nhớ lại ngày bị động  viên, con cũng nhận được ngần ấy cử chỉ luyến ái. Chắc rồi đây, không bao giờ quên được tình luyến ái ấy, thực đáng buồn lắm thay !

        Tại đây, các bạn đồng ngũ, do sự ngẫu nhiên quy  tụ lại, có người cảm động đến không thể cầm bút viết được địa chỉ của mình nữa. Không hiểu con có thể duy  trì được tình ưu ái lâu dài với họ không. Nhưng biết chắc một điều là suốt đời không khi nào con quên được tình thân ái của các bạn con.

        Con đã biên thư cho giáo sư Tsujimura và cho ông hiệu trưởng A Bộ. Con không có thì giờ viết thư cho ông Aramata, giảng viên đại học, kiêm trưởng đoàn du lịch, và cả cho ông Tozan, ở trường trung học Daichi. Nếu có dịp, xin ba má chuyển lời con kính chào các vị ấy.

        Sức can đảm nơi con cơ hồ không còn nữa. Con không nhận định nổi những vật biến chuyển xung quanh con nữa. Đối với người có lương trí, còn gì phi lý hơn là tự biết mình đang phải người ta miệt thị và đang quy lụy trước tính kiêu kỳ của người khác.

        Riêng con, con không muốn bị liệt vào hạng «con xe trong nước cờ bí». Được trở về học đường, là một điều con mong muốn hầu để làm trọn nhiệm vụ con người. Cái tuổi thanh xuân của con đã bị tiêu tan từ lâu. Không một người dân Nhựt nào có ý chí mãnh liệt theo đuổi môn toán học như con. Hồi đó, con ở đại  học đường còn có hoàn cảnh thuận tiện để khảo cứu môn học này. Mục đích của con, đâu có phải chỉ để phổ biến ưu thế của nước Nhựt? Theo con thì ưu thế đó phải căn cứ vào việc nghiên cứu khoa học hơn là căn cứ vào chiến tranh.

        Đối với tiền đồ Tổ quốc, con rất âu lo. Nếu Nhựt  Bổn có may mắn đi chăng nữa, cũng không tài nào thoát khỏi cái định mệnh của lịch sử. Dù cho nước Nhựt chiến thắng, con vẫn tự hỏi : chiến thắng sẽ đem lại kết quả gì? Chính lịch sử sẽ phán định đâu thực là lòng ái quốc chân chính. Con không cầu mong được tặng thưởng huy chương mà chỉ muốn phụng sự Tổ  quốc. Như thế con mới được hài lòng. Chẳng may con chết đi, đó là điều con mong muốn, con sẽ không ngạc  nhiên khi một viên đạn của địch đột ngột trúng ngực con, khiến con ngã quỵ. Trước giờ phút thất bại, con sẽ tự tìm lấy cái chết, như thế số phận của con đã được định đoạt. Nhưng sự thực thì con mong cho việc ấy đừng bao giờ xảy ra, con hi vọng như vậy, liệu có thành không?

        Xin ba má chăm lo cho em Katsuro học hành tử tế. Ba má có thế đặt hết tin tưởng vào em con.

        Em con ngày nay không cần lo mua sắm sách vở. Con càng nghĩ đến việc sắm sách vở cho em, con càng đau lòng xót dạ. Hoàn cảnh hiện tại rất bi ai cho lớp sinh viên. Hạnh phúc và tự do của họ không chút gì bảo đảm.

        Bữa hôm con gặp em Katsuro, thấy em đang ngồi trong phòng học của các sinh viên sĩ quan, dưới sự kiểm soát của một viên giám thị. Đầu em chúi xuống tờ giấy, tay cầm bút viết, nước mắt tuôn dòng. Tự  nhiên con thấy se lòng lại.

        Ý tưởng con viết trên đây đã quả nhiều và lộn xộn. Xin ba má chuyển những ý tưởng của con cho tất cả những người con đã nhắc đến trong thư này.

        Màn đêm đã buông xuống không gian, con phải sửa soạn lên đường. Con mạnh dạn dấn bước trên mọi ngả đường.

        Xin Ba má cẩn thận về sức khỏe và đừng quả lo lắng về con. Con đã hi sinh xác thể con cho quân đội từ lâu rồi !

        Thư gởi cho em Katsuro

        Anh gởi riêng cho em những hàng chữ này. Hôm nay, chúng anh đi hớt tóc, nhưng không tiện ghé vào tiệm sách gần đấy để mua một vài cuốn mang theo.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:38:30 pm
       
        KIYOSHI TAKEDA

        Sinh viên Ban văn chương Đại học đường Đông Kinh. Gia nhập Hải Quân tháng chạp năm 1943. Tháng giêng năm 1944 nhập học trường huấn luyện Phòng thủ thủy đội Hải quân ở Kurihama. Bị tử trận ngoài khơi gần Saichu (gần Đại hàn) tháng 4-1944 lúc 22 tuổi.

        Trong 6 tháng đầu năm 1944, người dân Phù Tang đã cầm chắc thất bại. Nước Nhựt vẫn tiếp tục tung ra mặt trận bao trang thanh niên tri thức và ưu tú nhứt, khiến họ phải bỏ mạng một cách vô nghĩa. Tất cả tinh thần và thể xác người lính bị ràng buộc bởi khối kỷ luật sắt đá của quân đội. Thứ nhứt đối với sinh viên sĩ quan Hải quân Nhựt, lại càng được áp dụng một cách chặt chẽ hơn. Thế mà Takeda vẫn gắng gượng cưỡng lại với sự gò bó ấy, chàng phải cầu cứu tới những sách vở và những tác phẩm Thần hoạc, Phật giáo. Lý thuyết Phật giáo lúc nào cũng lên án mọi hình thức chiến tranh.

        Lươnq tâm nhắc nhở cho chàng luôn luôn phải cư  xử như một đấng trượng phu, nhưng tiếng ấy dần dà yếu đi. Theo quan niệm Takeda, người quân nhân Nhựt không phải là con người nữa.


        Chúa Nhựt 6-2-1944

        Hôm 9-12-1943, phù hiệu quốc kỳ đeo trên cầu vai1, tôi từ từ tiến vào trại nhập ngũ. Hai tháng trời vất  vả long đong và xao xuyến, tôi không sao có thời giờ để suy nghĩ. Tôi bắt buộc phải thi hành bao nhiêu công  việc lao động và thao luyện mà chưa bao giờ tôi từng làm, khiến tôi mệt mỏi vô cùng.

        Tâm hồn tôi bị một cảm giác trống rỗng xâm nhập. Trong đời sống ở quân đội, thứ nhứt là những đau  khổ về thể xác và tinh thần dồn dập làm tôi khó chịu khôn xiết : đói rét mệt nhọc, chán nản và khao khát sách vở. Bấy nhiêu thứ đó ám ảnh tôi tối ngày. Đây là một lời thú tội ô nhục, nhưng tôi phải chân thành nhận rằng, có thú nhận như thế mới là thành thực.

        Lúc tôi cầm tờ báo đọc những tin tức chẳng lảnh về chiến tranh, không gây cho tôi một xúc động như hồi tôi chưa bị động viên. Lúc đó, tôi còn là dân chính, tôi có suy lý và tự tạo cho mình một nhận định rõ rệt về chiến cuộc và những cảnh tàn khốc của nó.

        Nhưng trong Hải quân, tôi không thể rảnh rang để lý luận và tự tạo cho mình một lập trường vững chắc.

        Suốt từ sáng đến chiều tối, tôi phải thao dượt dồn đập, khiến người tôi mệt mỏi và tinh thần đâm ra bạc  nhược. Đòi sống của tôi mất hết phần thiêng liêng và trống rỗng, tiêu cực. Tôi tin tưởng rằng với thời gian, mọi công việc sẽ được ổn định. Sau 2 tháng, nỗi ê chề của thể xác tôi có phần thuyên giảm đôi chút và tôi cũng cảm thấy dễ chịu phần nào.

        Nhưng cuộc sống hiện tại không thể giúp tôi tìm được ý nghĩa của nó. Tôi cảm thấy bao nhiêu khả năng tư tưởng đều bị tê liệt hết. Tôi tự bảo : có một thể xác bạc nhuợc cộng với một tinh thần yếu đuối.

        Trong lúc tôi nhập ngành thủy quân, ngay từ phút đầu, tôi đã quyết định chủ trương thuyết «tiêu cực tinh thần ». Tòi muốn gạt bỏ hết mọi quan niệm cá nhân về cuộc sống, vì những quan niệm của tôi không thể nào áp dụng vào đời sống quân đội. Tôi muốn khóa  sự đời sống Hải quân bằng cách chăm chú vào vấn đề thể xác thôi.

        Thử Tư : 16-2-1945

        Trong vòng 10 hay 20 ngày sau khi bị động viên, tôi không cảm thấy thèm muốn cầm sách đọc. Và tôi cũng không có thời giờ nữa. Nhưng dần dà, đời sống của tôi được ổn định, tôi tìm được chút thời giờ rảnh  rang. Chúa nhựt, các tân binh không được phép ra ngoài trại. Trong những buổi chiều dài dặc đó, tự nhiên tôi cảm thấy muốn đọc sách. Đời sống tôi tẻ ngắt, thế nên trong vòng 1 tháng sống trong trại, tôi không viết nổi một bài thơ bát cú. Trái lại, bất cứ tờ chữ gì rơi vào tay tôi, là tôi ngốn hết ngay.

        Tôi đọc đi đọc lại đến 3 hay 4 lần cuốn sách Thẫn  Học Phật giảo của nhà triết học Yanagawa Ryosen. Nhưng vì tôi không đủ kiến thức về môn thần học, nên không sao theo kịp dòng tư tưởng của tác giả. Vì thế, tôi đành xếp cuốn sách vào trong dương. Tôi đọc tất cả những tờ báo cũ rơi vào tay, dĩ chí đến những tờ nhựt trình gói đôi giầy lấm lem, tôi cũng dở ra đọc hết. Một hôm, tòi gặp một bài thơ châm biếm, do Bộ Nội  Vụ phổ biến đã từ 6 tháng, không biết tay nào đã liệng vào gầm chiếc dương đựng bát chén ăn cơm, tôi cũng lôi ra đọc. Trong suốt một tuần, tôi mải miết nghiền  ngẫm bài thơ đó. Mặc dầu những bài tường thuật tin  tức chiến tranh Nhựt Nga, những bài nói về tiết kiệm nhiên liệu, đã quá xưa rồi, tôi đọc vẫn còn thấy thú vị. Lần khác, trước giờ cơm, trong lúc các bạn đồng đội đang tranh dành nhau thức ăn bên cạnh chiếc bàn, tôi cứ điềm nhiên ngồi trên chiếc ghế gỗ để mải miết đọc một tờ chỉ dẫn cách xử dụng một thứ thuốc trị bệnh ngoài da.

-----------------
        1. Những tân binh Nhựt thường đeo phù hiệu quốc kỳ Mặt trời trên vai lúc ra vào trại để tỏ lòng ái quốc.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:25:41 pm

        Thứ Sáu : 18-2-1945

        Tôi lơ đãng ngồi nhìn thẳng trước mặt qua cửa sổ. Ngôi nhà sinh viên sĩ quan ở, xây tựa vào sườn đồi đất nhỏ, không xa bờ biển Kurihama bao nhiêu. Những tấm cửa kính lu mờ, duy có phần trên tấm kính còn đủ trong sáng, để lọt qua những đỉnh đồi lồi lõm. Qua khung cửa khác, xuất hiện một đỉnh đồi khác, đã được san phẳng để làm sàn thao dượt. Tôi không nhìn thấy biển, cảnh tượng lúc đó buồn tẻ hết sức. Nhưng vào lúc ban mai này, giữa mùa đông, mặt trời uể oải lên cao, làm biến đổi hình dạng cảnh thiên nhiên của đồi núi và trời biển. Trái đồi, mau sắc đen sậm, biến thành mầu hồng, rồi hóa mầu vàng, đúng ngọ thì nó biến thành mầu trắng như bạch kim.

        Trẻn nền trời, từng đàn chim tung tăng nhảy múa trên mặt biển, hoặc nhởn nhơ đùa dỡn. Thoát chốc, mấy chiếc phi cơ rồ máy cất cảnh bay đi thao luvện, làm tán loạn bày chim. Đó đây, những tiếng búa đe đập lát chát trong cơ xưởng võ khí Hải quàn, dội vào dẫy núi, vang lại tận khu nhà sinh viên ở.

        Bỗng nhiên, tôi có cảm giác như mình đang bị giam  hãm trong phòng học. Bấy nhiêu ý tưởng dồn dập trong khối óc của tôi. Ngày này năm ngoái, tôi còn đang ngồi trên ghế trường Đại học Đông Kinh. Hồi đó, giường nệm êm ấm, cơm dẻo canh ngọt hương thơm nghi ngút, phòng học sảng sủa, tờ nhựt trình thoang thoảng mùi mực in, đang trải trên chiếc ghế. Điếu thuốc cháy dở đang ngún dần trên chiếc đĩa gạt tàn. Ngoài sân, đàn cả vàng đang nhởn nhơ ngoi trong chiếc bể con. Mỗi khi tôi sắp đi đâu, thường dừng chân lại ngắm nhìn bày cá. Sạp bán thuốc lá ở vào giữa chặng đường từ nhà đến ga xe lửa... Bấy nhiêu hình ảnh cứ dồn dập diễn ra trong khối óc tưởng tượng của tôi, làm tôi luyến tiếc quãng đời sinh viên đại học.

        Chúa Nhựt : 6-3

        Trời tạnh nắng. Hạm đội của đối phương vẫn tiến mau lẹ. Khoảng 2 giờ sáng, một đoàn phi cơ địch tới oanh tạc miền Bắc Cửu Châu. Vào lúc 2 giờ trưa, lại một cuộc oanh tạc xảy ra ở miền Nam Cao Ly. Được tin địch  quân đổ bộ lên đảo Saipan, họ khuyến khích chúng tôi không được ích kỷ. Mặc dầu gạt bỏ lòng ích kỷ là việc dễ dàng mấy đi nữa thì trong vòng 6 tháng sống trong quân đội, tôi cũng đã thoát ly cái lòng vị kỷ từ lâu rồi. Mặc dầu người có ý chí mạnh mẽ đến đâu, không thể nào bóp chết được cái nhàn vị ăn quá sâu vào con người. Và thiết tưởng, trong bản ngã của con người, vẫn còn có một phần bản chất lương thiện cố hữu. Ta có bổn phận phải nuôi dưỡng cái bản chất đó lâu dài và làm cho nảy nở mãi cho tới tột mức. Một cái bản  chất đã được gắn chặt với nhân vị, đâu có thể dùng kỷ  luật mà bóp chết được nó ? Cái bản chất đó có thể tồn tại nguyên vẹn mà không bị lường gạt. Đó cả là một vấn đề đối với tôi.

        Những người xung quanh tôi không làm chi để giúp đỡ tôi, tôi xin họ giúp sao được ? Tôi cần phải lấy lý trí và lương thiện mà suy nghĩ tới điều đó. Tôi có thể chết ngày mai, ai biết đâu được ! Nhưng lạc lõng giữa đám quần chúng, cái đó không có nghĩa là làm tiêu tán nhân vị của con người mãi được. Tôi cảm thấy cái bản ngã của tôi đang bị lung lạc và bị ngộp giữa những làn sóng dâm ô tỏa ra tự đám quần chúng quá tầm thường và ngu dại. Vậy thì cái bản ngã đó đã được tẩy sạch, vẫn còn tồn tại cần phải giơ tay ra cứu vãn lấy nó, đâu có phải là quá trễ ?

        Duy trì cái nhân cách cho lành mạnh cho tới phút chót, dù đang sống trong quân đội, đó phải là điều hợp lý và phải thực hiện.

        Thứ bảy : 21-7.

        Lòng khao khát đọc sách rất mãnh liệt nơi tôi ban đầu, trong mấy ngày vừa qua, tự nhiên giảm bớt đi rất nhiều.

        Trời mựa tầm tã. Đã từ lâu, trời chưa mưa được để làm êm dịu không khí nóng bức như thiêu.

        Khi mà đòi sống cứ đều đều phẳng lặng trôi đi, tôi cảm thấy tâm hồn vấp phải nhiều trở ngại. Chợt tôi nhớ đến một đoạn văn của tác phẩm thần học liagakure : «Ái tình thầm kín chính lá một tâm trạng sâu sắc mà không bao giờ nên thổ lộ ra, cần phải ấp ủ ải tình đó mãi cho đến lúc hồn lìa xác». Xưa kia, tôi tưởng rằng kiên nhẫn là một tập quán, là một nguồn sinh lực tích cực và đã từng được rèn luyện. Nó đã là một tuyệt đích của thời đại Trung   cổ, nhưng ngày nay thì...


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:26:24 pm

        Thứ ba : 7-8.

        Trời hôm nay u ám suốt ngày. Ngoài biển, sóng gió nổi dậy ầm ầm. Nước mưa đổ xuống như thác. Chiều nay, tôi khát nước đến khô họng. Tôi mò xuống phòng ăn để uổng một ly nước trà. Lúc chiều tàn, tôi thấy binh lính đang đứng sắp hàng dài ngoài bãi biển. Một ông hạ sĩ thủy quân đang dạy cho họ một bài dạo đức bằng lối cầm chiếc gậy tầm vông. Ông hạ sĩ lẩm bẩm những gì với lính, bỗng thét vang lên, rồi lần lượt ông gọi từng anh thủy thủ ra khỏi hàng, bắt giơ lưng cho ông giáng thực mạnh chiếc gậy tầm vông vào lưng. Anh nào kêu được lãnh thêm mấy gậy nữa. Mỗi thủy  thủ phải giơ tay lên cao, 2 chân dạng ra, lưng quay về phía ông hạ sĩ. Mỗi gậy giáng xuống lưng thủy thủ là một tiếng thình thịch vang lên. Tôi thấy lối dạy đạo  đức của ông hạ sĩ đó thực kỳ quá và rất bỉ ổi ! Nhưng trong trại này, đâu đâu cũng chỉ thấy cái cảnh nghịch mắt như thế cả !

        Chúa Nhựt vừa qua, một thủy thủ đi phép về trại sớm hơn giờ đã định 10 phút, thế mà ông thượng sĩ đại đội đã đứng chờ ở cổng trại, vì ông không cho là sớm. Ông vớ  lấy người đi phép về, tát lấy tát để túi bụi vào mặt. Ông buộc tội anh ta về phép quá trễ. Xác vóc ông ta đồ sộ, mặt mũi phì nộn, mầu da đen sạm. Còn anh lính thủy xác người ốm o, mặt mũi hốc hác. Anh thủy thủ bị đánh bất ngờ, nên bị té nhào xuống đất đầy cát sỏi. Anh ta rên xiết vì quá đau. Các bạn đồng đội vực anh trỗi dậy, anh ta loạng choạng đứng không vững như người say rượu, hai tay buông thõng, lưng gập đôi lại. Anh lại bị té xuống lần nữa, đằng sau gáy, một dòng máu chảy từ đầu xuống lưng. Tôi ngậm điếu thuốc đứng nhìn tấn thảm kịch đỏ mã lòng se lại. Những thủy thủ đó mai ngày sẽ sống dưới quyền chỉ  huy của tôi. Tôi sẽ giải thích làm sao với họ về cách ông thượng sĩ đại đội xử đối với binh lính? Thôi, không cần phải suy nghĩ nhiều về những cảnh thương  tâm đó, càng nghĩ tôi càng đi sâu vào lối bí !

        Thứ tư : 15-8.

        Đời sống tồi càng ngày càng ươn hèn và thất vọng hơn. Đàng chân trời, ánh sáng đã tiêu tán cả!

        Những giờ thao luyện, những giờ tập dượt bơi lội và thể dục làm tôi hết sức mệt mỏi. Chúng tôi nằm ngủ dưới ánh nắng gay gắt mặt trời như con vật. Giờ thức dậy, giờ đi ngủ, 3 bữa cơm mỗi ngày, thảy đều như cái mảy. Chúng tôi có khác chi con người đã bị moi mất bộ thần kinh. Trong thâm tâm, tôi còn nghe tiếng bảo mình : « Có nên thụ động như thế mãi chăng ? » Nhưng tiếng ấy chỉ còn yếu ớt.

        Mỗi ngày biết bao bạn đồng đội tản mát ra khơi và biến đi như mây ? Tất cả mạng sống con người khi nào thay thế được ? Quả mạng sống con người lúc này không còn đáng đếm xỉa gì nữa ! Ôi! tôi mệt mỏi quá rồi. Nói cho đúng, tôi bị tê liệt mất rồi ! Tỏi không còn đủ sức để suy luận bất cứ gì nữa. Duy còn cỏ sách vở là thứ giải khát cho tinh thần tỏi thôi.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:28:07 pm

        YOSHI OZAKI

        Sinh viên ban kinh tế chánh trị tại Đại học đường Kinh Đô. Gia nhập hải quân tháng 12 năm 1943! Tử  trận tại Clarke Field ở Phi Luật Tân tháng 4 năm 1945, lúc 20 tuổi.

        Yoshi tập tễnh bước ra đường đời, với 18 cái xuân xanh đầy bỡ ngỡ. Tuy vậy, chàng cũng biên thư cho người chị, bị động viên vào đoàn Nữ trợ tá quân đội Nhựt, bức thư chứa đựng những lời lẽ khuyên  răn thống thiết.

        Chị chàng là một thiếu nữ nhan sẵc kiều diễm, hay chải chuốt. Còn chàng, rất hiếu học, ưa hoạt độnq, mặc dầu phải vào chỗ chết. Cái cảm giác rùng rợn đó khiến chàng bộc phái thành lời khuyên nhủ đạo đức.


        Tháng 10 1944.

        Hôm nay, trong lúc hành quân từ Suzuka đến Suikoslia, em đã nhìn thấy lâu đài Osaka : nó xuất hiện với tất cả vẻ huy hoàng tráng lệ dưới ảnh nắng mùa thu mát rượi.

        Lúc này, sức khỏe của chị có được dồi dào không? Em tưởng hiện giờ chị cần phải tùy cơ ứng biến cho đời sống hợp với hoàn cảnh hiện giờ của người nữ trợ  tá quân đội. Chị nên thận trọng giữ gìn sức khỏe trong lúc này, vì nó là bảo vật vô giá của người ta. Chị cần phải nhận định rõ ràng lời em nói đây vì cả thế giới chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình thôi. Thứ nhứt, sức khỏe của chị từ trước tới giờ không được mạnh lắm và hiện giờ có lẽ chị phải làm việc tối ngày. Vì thế, chị cần phải nghĩ ngơi đôi chút cho đỡ mệt nhọc. Một lần nữa, em xin chị chú trọng đến sức khỏe của chị.

        Với 20 cải xuân đi qua đời chị, những sóng gió của bạo lực chiến tranh đang chực hủy hoại cảnh thơ mộng ở cái tuổi đôi mươi của chị. Chị nên chuẩn bị đầy đủ nghị lực để chịu đựng. Đời sống hiện tại sẽ không để chị được mãi mãi trẻ thơ và suốt ngày đọc tiểu thuyết, nó không bao giờ giúp chị trở thành một người đứng đắn được. Em rất tiếc, nếu cứ phải lý luận suông về vấn đề đó mãi. Dù trong hoàn cảnh nào, em cũng xin chị nhớ đến đứa em này, mặc dầu không phải là đứa em mà chị vẫn cho là phi thường.

        Tất cả những điều đó khiến em phải suy nghĩ. Trước kia, em là một thằng con trai hạnh phúc nhứt. Bỏ trường trung học Matsue, vào trường đại học Kinh  Đô, em đã quyết định theo đuổi việc học cho tới kết  quả, nhưng có ngờ đâu, em của chị đã phải quăng bút để cầm lấy thanh kiếm.

        Mỗi lần em nói em không tài nào hiểu được chiến  tranh hiện tại nhằm mục đích gì thì ba tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên và ba dạy em không được nói như vậy. Lẽ tất nhiên em phải tự đặt câu hỏi : Nếu những trang thanh niên như chúng em không lải những chiếc phi  cơ thì ai là người thay thế? Bao lâu ba má được an  toàn sức khỏe thì em không phải lo lắng, em sẵn sàng chết bất cứ giờ phút nào.

        Nhưng còn chị? xin chị hay lo nghĩ đến đạo  hạnh. Đôi khi em thấy chị quá dễ dàng để bọn mày râu say mê chị. Điều này là do cái nhân cách của chị và sự ngẫu nhiên may mắn tạo cho chị. Em tưởng cái đó ta đừng cho là xấu, là trọng tội. Nhưng chị cũng phải tự trách mình. Em chỉ xin chị hãy thận trọng và suy xét kỹ mỗi lần chị có một quyết định thuộc phạm vi tình cảm. Chị cần phải hoàn toàn tự do vả phải được hưởng quyền lợi của chị. Em nói: luôn luôn đề phòng, không có nghĩa là tinh thần cứ phải luôn luôn căng  thẳng. Em chỉ xin chị cư xử như một thiếu nữ cương  trực, biết làm thất vọng tình ái. Nếu chị muốn duy trì cảm tình với mọi người, chị hay thành thực và hoàn  toàn chịu trách nhiệm về những lời nói của chị. Chị hãy sẵn sàng nghe lời người khác nói và để ý tới. Trong câu chuyện, chị hãy tránh xa sự đề cao cả nhân. Cần phải chú trọng điều em vừa nói đây vì thường người ta hay vô tình khoe mình dễ quá. Chị chưa có gì đáng trách cả, nhưng chỉ vì vấn đề quá quan trọng nên em mới nhắc chị đó thôi.

        Hai chị em chúng ta từ trước tói nay vẫn sống gần nhau, nên em không chú trọng tới ; nhưng bây giờ thì quả thực, em thấy chị có đôi mắt đẹp! Nó long lanh như áng nước hồ thu, nó quyến rũ làm sao ! khiến cho ai nhìn vào mắt chị, phải xao xuyến và phải đặt vào đó nhiều cảm tình.

        Hòa mình vào đời sống của người khác, chính là một phương tiện học hỏi để tự kiềm chế, một phương sách hoàn hảo nhứt để huấn luyện tinh thần. Trong đời sống, việc huấn luyện tinh thần còn phải thực hiện mãi mãi. Nếu chị muốn quên hẳn con người chị đi, điều đó chẳng có chi là xấu cả. Còn danh từ «HI SINH» em cũng chẳng ưa gì, nhưng cũng phải tôn trọng nó. Kể từ ngày nay, em đặt hết tin tưởng vào chị. Được như vậy, em chẳng còn ân hận gì và còn lấy làm sung sướng trở ra mặt trận.

        Cỏ lẽ bây giờ chị chưa hiểu rõ được, chỉ khi nào hồn em lìa khỏi xác, nó sẽ bay về gần chị, lúc đó chị sẽ hiểu rõ hơn.
Cái ngày chúng ta còn chung sống dưới mải nhà thân yêu, đã có lần em hỏi chị câu này : « Chị có tin rằng nước Nhựt sẽ thắng trận không ? » Bằng một giọng rõ rệt, quay người lại, chị lấy ngón tay chỉ vào vết thẹo trên mặt mà đáp « Chị đâu có biết được !»

        (Chị có nhớ chăng, hồi chị em ta còn nhỏ dại, em dọa tát chị mấy cái. Chị bèn thách thức em cứ tát di. Vết thẹo trên mả chị ngày nay chính là kết quả cuộc thách thức hôm ấy vậy.)

        Chị trả lòi xong, em ngửng đầu lên thấy mắt chị long lanh ngấn lệ.

        À quên ! em chưa nói với chị, cuốn phim em chụp chị đứng với ba má, chị gọn gàng trong bộ quân phục. Em sẽ in ra tại đây rồi sẽ gởi về cho chị làm kỉ niệm. Với bộ quân phục mang trên người chị, em nhận thấy chị của em đẹp quả !

        Chị ôi ! trong lúc này hơn lúc nào hết, em ước muốn gặp chị, nhưng thời giờ cấp bách, em phải sửa  soạn lên đường bất cứ giờ nào.

        Thôi thế là hết; em xin vĩnh biệt chị trên giấy này ! Hiện giờ chị đang ở vào một hoàn cảnh thuận tiện để ý thức rõ rệt về chiến cuộc. Chị có thể theo dõi mọi biến chuyển của tình thế một cách xác thực. Em ủy  thác cho chị tất cả những thứ gì mà em có. Chị lúc nào cũng xứng đáng để em đặt hết tín nhiệm vào. Những trách nhiệm của em, từ nay phải là trách nhiệm của chị, mặc dầu cái tuổi 20 của chị hãy còn quá trẻ  trung ! Đó là một trọng trách về tinh thần nhưng em xin chị hãy vui vẻ nhận lấy. Chị không thể trốn tránh được. Với thời gian, chị thêm tuổi, sè thêm khôn ngoan, thêm can đảm. Ở đâu, đi đâu, em vẫn luôn luôn cầu xin Trời Phật giáng phước cho chị. Xin chị đừng lo sợ chi, nếu chẳng may em của chị có vận mệnh nào đi nữa, chị dừng giảm bớt lòng cương nghị. Chị phải là nguồn an ủi nâng đỡ tinh thần của ba mả. Chị đừng bận tâm về cái chết : đó chỉ là định mệnh chung mọi người.

        Rất tiếc là em không thể gặp lại được chị. Vĩnh  biệt chị ! Chị hãy giữ gìn sức khỏe, giữ lòng trong  trắng luôn. Được một người chị như chị đây, thật là may phước cho em biết bao ! May phước hơn là chị có một thằng em như em đây ! Nếu các bạn em đến hỏi thăm tin tức của em nơi chị, xin chị hãy niềm nở tiếp rước họ. Chị hãy tận tụy hi sinh cho kẻ khác thì họ cũng hi sinh cho chị. Chị hãy dành cho em một chỗ trong trái tim nếu em còn trở về được.

Em của Chị : YOSHIO       


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:29:44 pm

        KUNINOSURE MIZAKI

        Tốt nghiệp Trường Đại học Văn khoa Đông Kinh, nhập ngũ tháng 7-1944. Bỏ mình tại đất Tât Bá Lợi, sau khi Nhựt thất bại, lúc chàng được 24  tuổi.

        San đây là một bài tả cảnh mùa đông trên đất Tây  Bá Lợi. Tuyết đông giá lạnh, khêu gợi cho tác giả tất cả nỗi thất vọng bằng một điệu văn âm thầm.


        Thu' gởi cho ông X, bạn của Mixaki

        Tôi chưa thể biên thư sớm về thăm bạn được  Xin bạn thứ lỗi cho. Tôi hi vọng, hiện giờ chưa có gì thay đổi đối với bạn. Còn tôi vẫn được khỏe mạnh luôn.

        Ngày ngày tiết đông càng thêm ác liệt, tôi hết sức kinh ngạc thấy trong thiên nhiên có một mãnh  lực. Nhìn thấy trong cảnh đêm đông, sự vật hoàn toàn biến đối quá đột ngột ! đáng ngạc nhiên ! Lúc tôi đặt chân trên đất mầu đỏ sẫm, tỏi không thế nhận định rõ  rệt là đang đi trên sỏi hay trên tảng nước đông. Cảnh giá lạnh tuyết đông đã biến hẳn bộ mặt thiên  nhiên. Mới qua đây, còn cảm giác như trên đất Nhựt, tôi bước chân trên cỏ, nay tôi lại đi trên tuyết đông rồi! Cây cỏ đã biến đâu mất ? Hoặc còn cây nào, thảy đều rụng hết lá. Lơ thơ chỉ còn những thân cây cằn  cỗi, dính một vài ngành khô rủ xuống, trông rất buồn. Một vài cây còn đeo đẳng mấy mầm non, nhưng nó mềm quá rủ xuống tựa cần câu vút xuống và ngọn nó đang cố vươn lên để thở chút ánh sáng. Đời sống con người có khác chi những mầm non yểu đó ! Bao cành khô héo cũng giống như những tâm hồn đang quằn quại hấp hối.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:31:04 pm

        TATSU UTAGAWA

        Sau khi dựt được cấp bằng cử nhân luật khoa ở Đại học đường Waseda. Utagaw nhập ngũ tháng 9-1942. Được thăng cấp chuẩn úy tháng 10-1944và rời đất Nhật.

        Bị chết ở biền Trung Hoa tháng giêng 1945.

        Chiến tranh đã tới giai đoạn cực kỳ khốc liệt. Những tàu chở quân bị trúng thủy lôi, hầm chứa dầu bốc cháy, khiến cho quân lính bị thiêu như heo quay. Utagawa bị chìm một lượt với tàu anh đi trong vịnh Ormoc gần đảo Leyte. Nhờ phép mầu anh được cứu thoát.


        Thượng Hải, ngày 11-10-1944.

        Eo biển Bashi nằm giữa mũi Garan và Appari về hướng Nam Đài Loan, phía bắc Phi Luận Tân. Một chiếc tàu với tốc lực 17 hải lý một giờ, mất một ngày mới qua được eo biển này. Mặc dầu không lấy chi làm rộng lắm, nhưng eo biển này chính là một phần biển nguy hiểm bực nhứt trong Thái Bình Dương. Trong vòng 3 năm đầu cuộc chiến tranh, eo này đã lừng danh là một chốn nguy hiểm. Nhưng từ tháng 7 vừa qua, nó càng trở thành nguy hiểm hơn nữa, khiến chúng tôi đặt tên cho nỏ là « Eo biển tai họa ». Những tầu ngầm Huê Kỳ thường xuất hiện trong hải phận này để gieo tai họa. Hơn 80 chiếc tàu lặn Mỹ luôn luôn ứng trực để chận đánh đoàn tầu của ta. Trong số 80 ấy, 40 cái từ Úc Châu, 40 cái từ Honolulu tới. Căn cứ của đoàn tầu lặn này đặt tại miền duyên hải Trung Hoa. Bắt đầu từ thảng 6, những cuộc chận đánh liên tiếp diễn ra. Khoảng đầu tháng 8, đoàn vận tải 770, thoạt vừa khỏi hành ra khỏi hải cảng Takao, phía nam Đài Loan, chiếc Ojima-Maru, chở dầu, trọng tải 14.000 tấn, bị trúng thủy lôi, nổ tung và chìm giữa một biển lửa lan rộng 2 cây số vuông.

        Chiếc Nichira Maru, một trong các tầu đẹp nhứt của công ty Shosen Osaka, bị trúng ngư lôi, nổ tung. Ngày hôm sau, đến lưọt 4 chiếc tầu mới đóng xong. Rồi sau đoàn vận tải 770, đoàn 771 xuất hành, nhưng cũng gặp tai nạn ghê gớm hơn nhiều. Đoàn tầu này gồm 19 chiếc tầu hàng, được hộ tống bằng 12 khu trục hạm, hàng không mẫu hạm hải phòng hạm. Đoàn tầu này oai phong lẫm liệt từ từ tiễn ra khỏi hải cảng, trực chỉ về Ma-Ní.

        Tới Đài Loan, chưa gặp nguy hiểm nào và tới chiều ngày đó, đoàn tầu tiến vào eo biển Bashi. Trong lúc mọi người trên tầu lâm râm khấn vái Trời Phật cho buổi chiều đó qua đi may mắn vô sự thì một con gió lốc dữ dội như chưa từng có thổi từ hướng nam lại. Đương mùa mưa lớn, nên đêm đến ánh trăng bị khuất dưới làn mây đen giày đặc. Thoạt cơn gió bão ngưng thổi, sóng vừa im đôi chút, chiếc hàng không mẫu hạm Owashi đang theo sát đoàn tầu, đột nhiên bừng sáng lóe giữa một đám lửa cháy nghi ngút và sau chót bị nổ tung vang dội một khoảng trời. Chiếc hàng không mẫu hạm bị trúng ngư lôi.

        Các tàu khác cố gương thả hết tốc lực. Màn trời đen tối đã buông xuống. Trên trời không một bóng sao. Trong khoảnh khắc, bao nhiêu thủy lôi nổ tung từ 4 phía, các tầu lần lượt thi nhau chìm xuống. Cho tới nay, chưa ai rõ số phận chiếc Tamatsu Maru với đoàn  kỳ và 5.000 binh lính.

        Chiếc Tei A Maru, trọng tải 20.000 tấn, dùng chở tù binh trao đổi với Huê Kỳ, trúng phải 4 trái ngư lôi ngay chính chỗ 12 chiếc tầu chở đạn dược mới bị đánh chìm. Trên chiếc Tei A Maru có gần 5.000 lính ưu tú và cần thiết để phòng thủ Phi Luật Tàn.

        13 ngày sau tai nạn khủng khiếp này, chiếc Kashi Maru cứu được 8 người lính đang bất tỉnh trên một chiếc bè trôi lênh đênh giữa eo biển. 8 người này là những người duy nhứt sống sỏt của chiếc Tamatsu Maru. Họ trôi theo luồng sóng trong 13 ngày liền, không ăn uống gì.

        Khoảng đầu thảng 10, một đoàn tầu khác gồm 7 chiếc rời hải cảng Moji để đi Ma Ní. (Moji là một hải  cảng phía Bắc Cửu Châu, vị trí đảo này nằm về phía Nam trong nhóm quần đảo lập thành nước Nhựt). Đoàn tầu này chở binh lính và phi cơ. Chính mắt tôi được mục kích chuyến ra đi của đoàn tầu. Nhưng hình như trong số 7 chiếc có 5 chiếc bị đánh chìm. Còn 2 chiếc chạy về được Ma Ní. Ngoài mấy vụ tòi vừa kể trên, tôi còn nghe biết có 2 đoàn tàu khác cũng bị chung một số phận ghê gớm này.

        Khi tôi hồi tưởng đến từng mấy chục chiếc tầu, hàng ngàn vạn người bị chìm xuống đáy biển, tôi không ngớt thầm lặng cầu cho linh hồn họ.

        Tái bút : Nhựt ký này cực kỳ bí mật, thế nên tôi muốn rằng chính anh bạn Kumiko luôn luôn giữ trong người cho tôi, đừng nói ra ngoài với ai hết.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:32:00 pm

        Santa Nosa : ngày 15-11-1944. Nhựt ký bi đát.

        Chúng tôi khỏi hành từ Ma Ní hôm 8 tháng 11. Địch quân trội hơn ta về quân số cũng như về võ khí. Vì thế, chúng tôi phải lui giờ khởi hành mất 2 giờ. Mãi 12 giờ trưa, tầu mới nhổ neo rời bến. Ngày 9, khoảng 15 giờ, chúng tôi hay tin có 1 chiếc phi cơ loại B 26 của Mỹ đang tiến lại tầu chúng tôi, nhưng may quả, chiếc phi  cơ này không làm chi cả. Thoát chốc, vào khoảng 17 giờ. có mấy chiếc phỏng pháo thuộc kiểu Lockheed xuất hiện từ đàng sau rẫy núi, đến oanh tạc tầu chúng tôi. Lúc đó tầu vừa tiến vào vịnh Ormoc. Những chiếc phi cơ đó đâm bổ thẳng trên tàu, dùng liên thanh và đại bác liên thanh xả đạn vào tầu. Chúng còn thả bom xuống nữa. Một trái bom rớt ngay cạnh chiếc tầu tôi, tức là chiếc Kashi Maru, làm hư hỏng toàn thể hệ thống điện lực. Đến đợt bắn phả thử hai, vì tôi là sĩ quan trực nhật, những phi cơ Mỹ đâm thẳng xuống boong tàu. Một binh nhì và một chuẩn úy bị thuơng ngay bên chỗ tôi đứng, một người bị thương nặng, một người nhẹ. Hạ sĩ Kimura bị tử nạn cạnh ống khỏi tầu trong lúc anh đang bắn liên thanh phòng không. Lại thêm 2 binh nhì phục dịch chiếc đại bác liên thanh. Rất nhiều binh lính bị trọng thương, ống khói tầu bị 26 viên đạn đại bác làm thủng.

        Đến trận bắn phả thứ tư thì có 4 chiếc Lockheed và B 26, nhưng không thiệt hại chi. Lúc đó mặt trời đã lặn hẳn, và trời đã tối sậm. Tôi đang phiên gác. Trên boong tàu không một ánh sáng. Xung quanh chúng tôi là một làn biến đỏ ngầu những máu, mấy anh lỉnh bị thương đang cố gượng bơi trên mặt nước. Tôi tháo cởi hết đồ đạc nơi tử thi anh Kimura và nhờ một y sĩ quân y cắt ngón tay út của anh, nhổ 2 chiếc răng gởi về cho gia đình nạn nhân. Còn ngón tay, chúng tôi thiêu thành tro. Hôm sau chủng tôi thả tử thi anh xuống Vịnh Ormoc.

        Hải cảng Ormoc được chúng tỏi mệnh danh là chốn địa ngục trần gian. Chúng tôi nhận được lệnh đổ bộ trên bãi biển, 1 cây số về phía nam và cho quân lính lên đất. Nhưng những chiếc thuyền bè đã chuẩn bị để đổ bộ đều bị trận bão hôm trước hất lên bãi cát.

        Chúng tôi biết chắc thế nào vào lúc tảng sảng, phi  cơ địch cũng đến oanh tạc. Thế là chúng tôi làm vào một bế tắc nan giải. May thay, khoảng 3 giờ sáng nhờ có mấy chiếc hải phòng hạm, quân lính đổ hộ lên hết được. Công việc hoàn tất vào lúc 7 giờ. Duy còn việc dỡ những két đạn dược xuống bãi biên. Nhưng muốn thi hành việc này cần phải có một số tầu nhỏ, mà hiện giờ không sao có. Vì thế chúng tôi đành phải trở về Ma Ní. Đoàn tầu chúng tôi nhổ neo chạy vào lúc 10 giờ 40. Lúc đến hải phận mà phi cơ địch tấn công hôm trước, chúng tôi thấy phi cơ của ta và phi cơ của địch đang giao tranh dữ dội ngay thẳng trên đầu chủng tôi, trên đám mây. Biết rằng nguy cơ gần xảy đến, chủng tôi thả hết tốc lực chạy miết đi. Nhưng chạy trốn cũng bằng vô ích. Nhìn qua ổng viễn kinh, tôi thấy 30 chiếc B-26 vừa đi oanh tạc Đông Kinh trở về và đang hướng về đoàn tầu chúng tôi.

        Đoàn phi cơ địch đi thành hàng đôi tiến thẳng đến, lượn vòng qua đầu hàng tàu, rồi cứ từng 2 chiếc kích  pháo vào mạn tầu. Mấy chiếc phi cơ đầu của Mỹ bị trúng đạn của ta bắn, bốc cháy và rớt xuống biến. Nhưng bom rớt xuống như mưa trên boong tầu khiến tàu tròng trành. Đến đợt bắn thứ hai, 2 chiếc B 26 dùng liên thanh bắn vào sàn tầu. Từng tràng đạn bay xuống chung quanh chủng tôi. Đến đạt 3, 4 chiếc phóng pháo chia làm 2 nhóm để bắn đằng mũi và đằng lái. Trái bom đầu rớt trúng chiếc tầu đi đầu. Trái thử hai trúng cửa quầy, tức khắc người lỉnh dưới quyền chỉ huy của Kishimoto bị nát tinh. Trải bom này còn làm chảy 180 thùng chứa ẻt xăng. Đằng lái, gần cửa quày thứ 6, lại trúng một chỗ nữa, làm thủng một lỗ to bằng con ngựa chui lọt. Trái bom khác rơi nhằm những két đạn kích  pháo nổ lung tung. Trung sĩ Fujimoto và hạ sĩ Minato chết ngay tại chỗ. Ngọn lửa bén vào những két đạn xếp trên sân tầu cũng nổ dữ đội. Vỏ tầu nứt nẻ ra, Viên chỉ  huy tầu ra lệnh cho mọi người rút khỏi tầu.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2018, 10:32:20 pm

        Nguyên bởi tôi không biết bơi, nên tôi không chịu rời tàu. Tuy nhiên, lệnh đã truyền, tôi phải tuân theo. Tôi trèo lên boong tầu, khoác vào người chiếc phao nổi, bình nước và chiếc xắc đựng đồ rửa mặt. Còn thanh  kiếm tôi đeo bên người. Lúc này, tầu đã trở thành một khối lửa cháy nghi ngút. Dầu vậy, phi cơ địch vẫn tiếp tục bắn. Tôi không còn vật chi để tránh làn đạn ác liệt nữa, đành châm một điếu thuốc hút.

        Tôi ra lệnh cho binh lính đang chạy tán loạn trên sân tầu, phải liệng xuống biển những vật gì nỗi được. Họ khuân những chiếc thùng không, những tấm ván thả xuống biển, trong lúc tầu từ từ chìm xuống.

        Ông đại úy đến giục tôi ra khỏi tầu. Tôi trở về đàng mui, gắn ổ súng đại bác, nơi tử thi của Fujimoto và Minoto đang nằm, để nhìn quân lính nhảy xuống biển. Chính nơi đây, thường ngày tôi hay ngồi ngắm nhìn tinh tú và tưởng nhở quê hương. Chợt nhớ lệnh của vị chỉ huy, tôi vội nhảy xuống biển sau hết mọi người. Tôi không muốn mọi người chế nhạo tôi, vì cấp bực tôi không cao gì mấy.

        Theo luật lệ hàng hài, trong trường họp tầu bị chìm, bao nhiêu người không biết bơi phải nhảy xuống biển hoặc ra khỏi tầu trước hết. Thủ tục đó nhằm mục  đích tránh cho người không biết bơi khỏi bị làn nước xoáy cuốn theo chiếc tầu đang chìm. Nhưng vì còn bao lính dưới quyền tôi chỉ huy, nên tôi không muốn ra khỏi tầu trước người ta. Tôi tin thực nàng Kumiko sẽ hãnh diện khi nghe biết cải chết oanh liệt của tôi nơi đây !

        Khi binh sĩ đã rút ra khỏi tầu, chiếc tầu đã nghiêng hẳn một bên. Tôi chuẩn bị đeo đôi găng tay lót bông để bám vào giây trụt xuống. Lúc đó, tôi cũng chẳng nhớ ra mình biết bơi hay không. Tôi đã thi hành xong nhiệm vụ.

        Xuống biển rồi, nhìn vào chiếc tầu lần chót, tôi thấy hai chữ « KASHI MARU » in trên tấm bảng hiệu tầu. Tôi cố đập đập trên mặt biên thì nghe có tiếng người kêu tên tôi : «Trung úy ơi! » Tôi vừa bơi vừa đáp «Tôi đây». Quay lại tôi thấy anh Sasugawa đang bám vào thanh kiếm của tôi. Tôi bèn nói với anh ta: «Tòi không biết bơi». Anh ta trả lời: «Không hè chi!».

        Nhờ có chiếc phao nổi, tôi nằm ngửa trên mặt nước cố choài ra xa chỗ chiếc tàu đang chìm, để tránh làn nước xoáy do tầu chìm gây nên. Bơi ra xa một quãng, tôi trông thấy trung úy Shimokura đang bám vào một tấm ván thực lớn. Ông này kêu tôi lại cùng bám, vì ông ta cũng không biết bơi như chúng tôi. cả 3 chủng tôi bám vào tấm ván và cố quẫy cựa. Nhưng lớp dầu từ chiếc tầu chảy ra nôi lênh đênh lan rộng mãi ra trên mặt biến bao vây chúng tôi. Cố bơi được chừng 10 phút, tỏi có cảm tưởng như lớp dầu cháy gần đến chúng tôi, vì người bị nóng rát quá. Trên mặt biển lúc đó chỉ còn là một biển lửa. Chúng tôi cố bơi ngược chiều gió thổi cho khỏi bị chết thiêu. Nhưng vì ngọn lửa bốc lan ra quá mạnh và quá mau, nên thổi tạt vào mặt rát quá. Tôi nghĩ trong bụng: Thôi! thế là hết đời rồi, dành chịu chết ở đày thôi. Trong mình tôi lúc đó còn tất cả những bức ảnh thân yêu mà lúc nào tôi cũng cố giữ nơi người. Nhưng tôi cũng mặc.

        Trên tầu, khi lửa bốc chảy tới cửa sổ thứ 6, liền phát một tiếng nổ dữ dội vang trời biển. Những ván gỗ và vụn sắt bắn tung tóe lên. Tiếng nổ quả mạnh phát thành hơi, làm tắt được ngọn lửa. Chính lúc ấy, chúng tôi càng cố gượng bơi ra xa hơn. Kịp khi ngọn lửa lại bốc cháy lại nữa thì chúng tôi đã bơi ra được một quãng xa rồi. Chủng tôi thấy dễ chịu hơn.

        Khoảng 14 giờ, chủng tôi bơi tới một chiếc tầu hàng dùng chở binh lính. Họ thả giây xuống cho chủng tôi bám vào để leo lên tầu. Đến lúc trời tối hẳn, mỗi người chúng tôi được một chén cơm và được nằm trong một chiếc xuồng để nghĩ ngơi. Nhưng vì mệt quá, tôi không sao nhắm mắt được mà cũng chẳng suy nghĩ gì được. Tôi để cả quần áo ướt đế nằm nghỉ.

        Ngày 11 lúc 6 giờ, một chiếc hải phòng hạm, mang số 31, xuất hiện đàng chân trời. Nửa giờ sau, chúng tôi được di chuyển lên chiếc tầu này. Chiếc hải phòng  hạm số 31 theo đoàn tàu chúng tôi xa xa từ hải cảng Moji. Trên tầu chúng tôi được xử đãi rất tử tế. Họ phát cho chúng tôi mỗi người một bao thuốc lá. Viên cai máy tàu, tên là Kakamura thường chốc chốc đến hỏi thăm chúng tôi có cần sự chi.

        Chủng tôi tới Ma Ní hồi 23 giờ 30 ngày 20.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2018, 11:22:13 pm

CIIƯƠNG IV

ĐỘI THẦN PHONG

        Mấy hàng lịch sử

        Danh từ « Thần Phong » (Eamikázés) bắt nguồn từ dã sử của Nhựt Bổn. Cuối thế kỷ XIII, tướng Mông Cổ Koubilai, cháu nội của Thiết Mộc Chân làm bá chủ Trung Hoa, Tân Cương, Mãn Châu, Cao Ly và Miến  Điện. Khoubilai xin giao thân vói Nhựt Hoàng, nhưng Nhựt Hoàng không chịu giao thiệp với giặc Mông.

        Năm 1281, Koubilai trang bị một đoàn tầu gồm 3 ngàn chiếc, chở trên 10 vạn quân đi chiếm cử Nhựt  Bổn. Quân Mòng rất thiếu kinh nghiệm về nghề hàng  hải, quân phục dịch là những người Trung Hoa, Cao  Ly không chút nhiệt tâm và thiếu thành thực với người Mông. Đoàn tầu xuất phát vào giữa thời kỳ nhiều bão. Một trận bão ác liệt đã làm chìm cả đoàn tầu quân Mông ngay trước duyên hải Nhựt Bổn.

        Dân chúng Phù Tang cho là có thứ gió Kamikazé, nghĩa là « gió thần » chận đứng đoàn tầu quân man di, để chúng không dẫm chân lên thánh địa của Thần Thái Dương.

        Chính là để kỷ niệm chiến công oanh liệt ấy mà danh từ «Thần Phong» được đặt cho những đội phi  cơ tự sát điều khiển bởi những phi công quyết tử.

  Đội Thần-Phong này cung có nhiệm vụ cản đường tiến của quàn đội Huê-Kỳ chực đổ bộ lên đất Phù-Tang. Nhưng có khác một điểm: Đại-tướng Mac Arthur đã may mắn hơn tướng Mông Koubilai, mặc dầu Đế-quốc Nhựt-Bổn đã có đội Thần-Phong.

        Nguyên-lai của đoàn Phi-công Thần-Phong hiện nay vẫn còn bí-mật. Theo văn-sĩ Fletcher Pratt thì sau trận thủy không-chiến ở Phi-Luật-Tân, Nhựt bị thất- bại nặng nề, phó thủy-sư đô-đốc Takejiro Onishi có sáng-kiến thành-lập một đoàn phi-công, sẵn-sàng hi-sinh mạng sống.

        Sau khi nhận quyền chỉ-huy không-lực tại Phi- Luật-Tân, đô-đốc Onishi thành-lập ngay giữa các đơn-vị thuộc quyền ông chỉ-huy một vài phi-đội Thần-Phong, gồm một số nhỏ các phi-còng giàu tinh-thần. Đội Thần-Phong, thoạt-đầu, hoàn-toàn biệt-lập và có tánh cách địa-phương. Đội Thần-Phong xuất-trận lần đầu hết trong trận đánh ở đảo Levte ngày 25-10-1944.

        Sáng-kiến của đô-đốc Onishi sau đưọc Bộ Chỉ-Huy tối cao ở Đông-Kinh công-nhận và đem thi-hành. Việc xử-dụng các phi-cơ tự-sát không nguyên nhắm mục- đích đánh một đòn chí-tử vào hạm-đội địch, mà hiện lúc đó hạm-đội Nhựt không đủ khả-năng thi-hành được, lại có mục-đích thúc đẩy toàn thể Hải-quân Nhựt thêm can-đảm, vì họ đã gần quên chiến-tranh, hầu như hoàn- toàn thất-vọng. Nhưng việc xử-dụng này nhằm mục đích chính yếu là thức-tỉnh cả một dân-tộc chỉ say mè hương hoa, chim chóc và ưa chọi dế.

        Tổ-chức Thần-Phong đã trở thành một quân-lực, một khí-giới mới mẻ, một lối xung-kích đặc-biệt. tổ- chức này đặt dưới quyền chỉ-huy của phó đô-đốc Ugaki, và có quân-phục, phù hiệu riêng biệt: 7 chiếc nút chạm 3 cành hoa anh-đào khâu trên ngực áo, nơi hai tay áo có mỏ neo hải-quân.

        Hầu hết các phi-cơ của đội Thần-Phong thuộc Hải- quân. Bộ chỉ-huy tối cao nghĩ rằng cần phải khoác cho đoàn người anh-dũng này một cái vinh-dự đặc-biệt, dù là để tuyển-mộ dễ dàng. Gia-đình họ được ngồi chỗ danh-dự trong những buổi lễ chính-thức, được bảo-chí trương hình ảnh trên trang đầu, được lãnh suất thực- phẩm dư dật. Nói tóm, đội Thần-Phong phải có tinh- thần thư-thái khỏi lo về gia-đình.

        Mỗi đơn-vị không-quân phải cung-cấp một số người tình-nguyện, nhưng khi số người này không đủ, sẽ chính-thức chỉ-định các phi-công sung vào đội Thần- Phong.

        Bộ Chỉ-Huy tối cao có ra mật-lệnh về việc tuyển- lựa. Thứ nhứt, phải tuyển-lựa những phi-công bất tài; thứ hai những phi-công rất trẻ tuổi, chưa được huấn- luyện kỹ-càng. Vì các hạng phi-công khác còn phải dành trong việc phòng-thủ đất Nhựt và các đảo dưới quyền kiểm soát của Thiên-Hoàng.

        -Những phi-công đội Thần-Phong đươcj nhận lãnh phi-cơ cũ kĩ, hầu hết không có võ-khí và được thảo gỡ những dụng-cụ cần-thiết trong buồng máy. Trên phi-cơ chỉ dự-trữ số nhiên-liệu vừa đủ cho một chuyến đi. Họ được những phi-cơ khu-trục hộ-tống và hướng dẫn đến mục-tiêu.

        Họ đưọc lệnh phải đâm nhào xuống các chiến- hạm, nhứt là các hàng-không mẫu-hạm của Huê-Kỳ. Số phi-công này không tinh-nhuệ, không phải hết thảy là tình-ngnyện nhưng vì họ không thể trốn thoát được định-mệnh. Một ít pbi-công đã thoát khỏi đoàn hộ-tống và tự ý hạ cánh xuống những hoang-đảo san-hô giữa Thái-Bình-Dương. Sáu tháng sau khi chiến-tranh kết- liễu, họ được hồi-hương.

        Nếu phi-công đội Thần-Phong không thể hủy-hoại được hạm-đội Mỹ, đó là vì các phi-công ấy không thiện- nghệ. Tuy nhièn, họ cũng gây rất nhiều thiệt-hại lớn : đấnh chìm được 253 chiếc tầu, trong số có 13 hàng- không mẫu-hạm, 10 thiết-giáp-hạm.

        Phía Huê-Kỳ, muốn làm yên lòng các binh-sĩ, đã cố che đậy sức công phạt của đội Thần-Phong. Nhưng bao nhiêu thủy-thủ trên các tầu đều tự-hiểu mình vô phương đề-phòng các loại phi-cơ tự-sát ấy, họ sợ nhứt là loại phi-cơ này.

        Trong tháng 11 năm 1944, một bản thông-cáo đặc- biệt của Tổng-Hành-Dinh cho dân chúng hay việc thành- lập Đội Thần-Phong. Báo chí liền chụp lấy, thi nhau ca tụng, thần-thánh-hóa những người anh-hùng đó. Cả trăm triệu dân đều hiểu một cách mơ-hồ rằng một ngày kia, họ cũng sẽ bị bắt buộc trở thành những người quyết-tử.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2018, 11:23:34 pm

        Sau đây là bản dịch nguyên-văn bài huấn-thị chính- thức của Đại-tướng Tổng-Tham-Mưu không-lực gởi cho đội Thần-Phong đầu tiên :

        « Đế-quốc hiện nay đã đến một chặng đường rẽ đôi : giữa chiến-thắng và chiến-bại. Đệ nhứt đơn-vị quyết-tử đã nhứt-tâm dùng sức mạnh linh-thiêng để chiến-thắng. Những kết quả đơn vị này thâu lượm được sẽ lần lượt lôi cuốn các đơn-vị khác noi theo. Đã hẳn, các bạn còn sống trở về không thành vấn-đề. Nhưng nhiệm-vụ các bạn là cầm chắc cái chết trong tay. Thể xác các bạn có thể chết được, nhưng linh hồn không thể chết được. Một người trong các bạn chết đi, sẽ làm sinh sống 1 triệu người khác. Các bạn không nên khinh-suất một mảy may nào khiến cho di-hại đến sửc khỏe hoặc đến việc thao-luyện. Các bạn không nên để lại một điểm nào cho hậu-thế có thế chỉ-trỉch được.

        Một điểm sau hết ; đừng quả hối-hả trong lúc tìm cái chết. Nếu các bạn không tìm thấy mục-tiêu, hãy trở về, lần sau các bạn sẽ may mắn hơn. Các bạn hãy lựa chọn cái chết đem lại thật nhiều kết quả ».

        Đoạn sau chót của huấn-thị trên hết sức mâu-thuẫn và vô-lý. Có một phi-công nào có can-đảm trở về để mất hết thể-diện chăng ? Hơn nữa, số xăng nhớt chỉ đủ nguyên cho chuyến đi, lại thiếu võ-khí đạn dược, thì còn hòng trở về vô-sự sao được ?

        Chiến-công đầu hết của phi-cơ tự-sát được ghi chép trong lịch-sử Hải-quân Nhựt là cuộc đâm nhào xuống chiếc Raragota, một hàng-không mẫu-hạm hạng nặng của Mỹ, trong trận đánh ở đảo Iwo-Jima. Ba chiếc phi- cơ tự-sát đâm bổ xuống sân tầu, nhưng không làm cho chiếc hàng-không mẫu-hạm chìm, trải lại, 2 chiếc khác tấn-công chiếc Bismark, hàng-không mẫu-hạm loại hộ- tống, bị chìm và đem theo 350 thủy-thủ xuống đáy biển.

        Tiện đàv, xin trích dịch một đoạn văn của văn-sĩ Georges Blond tường-thuật vụ một chiếc phi-cơ Thần- Phong tấn-công chiếc Hàng-không mẫu-hạin Entreprise :

        « Lúc 6 giờ 50 phút ngày 14 tháng 5, máy Radar trên tàu báo-hiệu có một bóng mờ thoáng hiện trên khung kính, xa 20 dậm, cao-độ 2 dậm 600 thước. Các ô súng phía sau tầu đều chĩa về hướng ấy và sẵn-sàng nhả dạn. Đến 6 giờ 54 phút, bóng đó hiện ra rõ hơn chút, vẫn trong kính Radar và đang tiến lại dần. Đây là bóng một chiếc máy bay mang số : 0. Trên radar lại thấy bóng máy bay biến vào đám mây và cách chừng 6 cây số, lại thấy nó sà xuống thấp dần. Các ụ súng bắt đầu nhả đạn. Phi-cơ địch lại biến vào mây trong khi các ổ súng vẫn liên-tiếp bắn. Thủy-thủ đã túc-trực ứng- chiến từ 4 giờ sáng. Các phi-cơ đậu trèn sân hàng- không mẫu-hạm, chưa kịp cất cánh bay, đều phải lấy hết xăng ra, di chuyển xuống hầm tầu.

        « Phi-cơ Nhựt tiến dần về hướng đàng lái tầu, chốc chốc lại bị mây che khuất. Các ổ đại-bác 127 ly, được radar hướng dẫn, vẫn tiếp-tục bắn vào phi-cơ đó. Sau đến lượt các ổ liên-thanh 40 ly cũng khởi sự nhả dạn. Lúc đó thực là một cảnh-tượng kỳ lạ và hỗn- loạn! Bao nhiêu súng đều thi nhau bắn vào một bóng địch vô-hình không khác bắn một bóng ma !

        « Nhìn trong radar, thấy phi-cơ địch đang ra khỏi đám mày và đang bắt đầu đâm bổ xuống với giác-độ 30 (incidence de piqué), tốc-lực 450 cây số giờ, Đích là một phi-cơ tự-sát rồi, không thể nghi ngờ nữa. Máy bay đó từ từ tiến lại, cố lách qua làn đạn ác-liệt đang bắn như mưa, cốt để khỏi trúng đạn quá sớm.

        « Viên phi-công tất hiểu rõ tình-trạng nguy-hiểm lúc đó và phải hiểu nhiệm-vụ của mình, bao nhiêu thủy-thủ trên tầu thấy thế, phát hoảng đến ráo họng. Không tới một phút, hiện-trạng có thể kết-liễu. Nhưng lúc này khó tưởng-tượng được chiếc phi-cơ Thần-Phong có thể tới đích và đâm trúng chiếc Entreprise được hay không.
« Các ổ súng đều bắn : súng 127, 40 ly, 20 ly, dĩ chi cả súng trường nữa. Phi-cơ Nhựt lách qua làn mưa đạn và tiến dần. Nó đã trúng phải nhiều viên đạn ở thân làm bốc cháy, dầu vậy vẫn lao vụt đến. Chiếc phi-cơ lôi theo một vệt lửa dài như một lá cờ lừa và xuất-hiện nguyên hình thẳng như cảnh cung.

        « Thủv-thủ rút khỏi sân tầu, trừ những người có phận-sự điều-khiển các ổ súng. Họ nằm sát xuống sân tầu. Khối lửa gầm thét vang trời tiến sát tầu và sau cùng đâm nhào thẳng chiếc cầu thang đàng trước sàn tầu, gày một tiếng nổ dữ-dội. Toàn thân chiếc hàng-không mẫu- hạm bị lay chuyển, sân tầu bị lột hẳn lên quăn co như vỏ trải chuối bóc, theo chiều dài 40 thước. Tiêng nổ làm chết 14 người tại chỗ, đem theo sang thế giói bên kia cái hình ảnh ghê rợn của người chiến-sĩ đội Thần- Phong.

        « Di-hài của viên phi-công tự-sát vẫn chưa bị thiêu, lúc này được đặt ngay ngắn nơi góc sân tầu. Tất cả cảc thủy-thủ đều nghiêm-chỉnh diễn-hành trước di-hài vị anh-hùng quyết-tử. Lúc này không còn ai chú-trọng đến khuôn mặt đều đặn cứng rắn, đôi mắt đục lờ của kẻ bạc-mệnh, nhưng hết thảv đều chú-trọng đến bộ nút áo. Trên mỗi nút chạm nỗi hình 3 cánh hoa anh-đào, phù-hiệu của đội Thần-Phong. Duy có hàng sĩ-quan cao-cấp trên tầu mới có vinh-dự chiếm đoạt một nút để kỉ-niệm ». (Người sống sót ở Thái-Bình-Dương, của Georges Blond).


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 09:52:09 am

        Cảc loại phi-cơ, dầu cũ-kỹ mấy, cũng dần-dà tiêu- hao. Bao nhiêu phi-cơ được sản-xuất ra đều dành vào việc phòng-thủ đất Nhựt, chờ khi quân đội Mỹ đổ bộ mới đem dùng.

        Lúc này Hải-quân Nhựt bắt đầu đem ra xử-dụng loại « bom người ». Người Mỹ gọi loại bom này là «Baka-bombes ». Tiếng lóng của Nhựt-ngữ, « baka» nghĩa là « điên rồ ».

        Sau trận chiếm-cứ đảo Okinawa, người Mỹ khám phá được một số bom người. Trái bom chiều dài 5 thước, làm bằng gỗ, có hai cánh và có bộ phận lái thô- sơ. Đàng đầu trái bom có gắn một ô trống để phi-công ngồi lái, ô này được gắn liền với một thùng đựng một tấn thuốc nổ. Muốn phóng trái bom người này, phải có 4 hỏa-tiến, với tốc-độ 925 cấy số giờ. Bom người được phi-cơ phóng-pháo chở đi và thả xuống gần chiếc tầu mục-tiêu. Tầm bay của nó rất hẹp. Phi-công cần sao lái trái bom đi thẳng đến đích.

        Chiếc khu-trục Abèle bị trúng một trái bom người bị cắt đứt làm đôi. Khoảng hạ tuần tháng 5, bộ chỉ-huy Hải-quân loan tin về võ-khí mới mẻ và lợi-hại này đã được xử-dụng ở Okinawa. Đồng thời đã tuyên-dương công-trạng trước Hải-quân cho 450 phi-công trẻ tuổi đã hi-sinh mạng sống trong việc xử-dụng loại bom người này.

        Cách chế-tạo loại bom người chưa được hoàn-toàn hầu hết các người cỡi nó đã cho nổ trước khi tới đích.

        Chúng tôi sẽ nói trong chương sau về loại thủy-lôi người, hay là « nhục-lôi ».

        Trong tháng 7 năm 1944,tướng Koiso lên thay tướng Đông-Điều trên ghế thủ-tướng chính-phủ. Thành-phần nội-các Koiso gồm nhiều thủy-quân hơn các binh-chủng khác. Trong lúc đó, quân-lực Mỹ tiếp-tục tảo-thanh miền trung Thái-Bình-Dương. Làm chủ được tình-thế trên đảo Saipan, quân đội Mỹ dùng đảo này làm bàn đạp để đánh Phi-Luật-Tân. Trận mở màn nhằm ngày 17-10-1941. diễn ra tại đảo Leyte, nằm giữa đảo Mindanao và Lữ-Tống (Lucon). Tổng-số trọng-tải hạm-đội dự-chiến trội hơn trận đánh ở Jutland những 400.000 tấn. Số tổn-thất về tầu cũng gấp hai. Số phi-cơ dự-chiến nhiều hơn số phi-cơ bay trên Luân-Đôn năm 1940.

        Ba đơn-vị đổ bộ của Nhựt: một từ Tân-Gia-Ba, một từ Đài-Loan và đơn-vị sau trót từ Đông-Dương lại, kéo đến đánh thẳng vào đảo Leyte. Họ dự tính đánh đột ngột vào hông hạm-đội Huê-Kỳ do đô-đốc Bull Halsey chỉ-huy.

        Trận ác-chiến này diễn ra lâu 2 ngày và kết-liễu bằng thất bại cho bên Nhựt. Phi-Luật-Tân lọt vào tay quân đội Mỹ. Hạm-đội Nhựt thiệt hại 45% trọng-tải tổng-số, đa số là hàng-không mẫu-hạm; trong số này có một chiếc trọng-tải 63.000 tấn. Phía Huê-Kỳ mất 2 hàng-không mẫu-hạm, 128 phi-cơ các loại. Nhưng quân đội Mỹ đã thiết-lập đầu cầu vững chắc tại đảo Leyte.

        Qua ngày 1-11-1944, phi-cơ Mỹ khởi-hành từ Saipan đi oanh-tạc Đông-Kinh. Loạt đầu còn ít phi-cơ, nhưng sau, số phi-cơ tăng lên mãi để oanh-tạc đất Nhựt. Những pháo-đài bay B-29 chia thành từng đội 40, hoặc 50 chiếc để oanh-tạc đại quy-mô. Tháng giêng, thảng 2 vẫn tiếp-tục oanh-tạc với một đà mạnh như thế. Ngày 9-3-1945, một trận oanh-tạc hết sức khổng-lồ chưa từng có. Hôm ấy vào lúc nửa đêm, gió thổi từng cơn mạnh, đoàn phi-cơ B-29 thả tất cả 700.000 trải bom xuống nguyên kinh-thành Đông-Kinh. Toàn thể thủ-đô Nhựt chỉ còn là biển lửa. Nội đêm ấy có 197.000 người tử nạn vì bom. (Trái bom nguyên-tử thả xuống Trường- Kỳ chỉ gây thiệt mạng cho 130.000 người).

        Nhựt-Hoàng Hiro-Hito thất-thểu đi giữa những đống tro còn đang ngủn cháy trong khu Kukagawa, để thị-sát. Dàn chúng ẩn-trú trong những hang chuột, họ rét run lẩy bẩy, nét mặt nhuốm vẻ kinh-hoàng. Thiên- hoàng xúc-động thương dân tràn-trề và hiểu rằng không thể nào theo đuổi chiến-tranh đến cùng được. Từ nay nhà Vua sẽ cố gắng liệu cách xin cầu hòa, để tránh cho toàn dân những hậu-quả ác-liệt của chiến-tranh, tránh nhũng cuộc tự-sát tập-thể. Hiện giờ dân chúng bị nhóm quân-phiệt chi-phối, bị những phần-tử ái-quốc quá- khích, những đội Thần-Phong lôi cuốn tuyên-truyền cho theo đuổi chiến-tranh.

        Ngày 16-2-1945, Iwo-Jima, một đảo nhỏ thuộc nhỏm quần đảo Mariannes lại bị tấn-công. Quân đội đổ-bộ gồm 40.000 người được trợ-lực bằng hỏa-pháo của hạm- đội và không-quân. cả hai lực-lượng rất mãnh-lực.

        Theo dự-đoán của bộ Tham-Mưu Đông-Minh thì mặc dầu quân Nhựt say mê cuồng-tín đến đâu, mặc dầu tin cậy vào đội Thần-Phong, họ chỉ đủ sức cầm-cự trong 6 ngày. Nhưng quân Nhựt đã kháng-cự anh-dũng trong 26 ngày. Bên Nhựt có 21.000 quân tử-trận, bên Huê-Kỳ có 4.600 quân tử-trận và 15.000 bị thương.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 09:52:33 am

        Những binh-sĩ trấn giữ các ụ súng đại-bác xây đúc, đều bị chôn sống, Mỗi ụ súng đều có một pháo đài đúc chắn ngoài cửa, rồi được che phủ bằng lớp đất ! Muốn chiếm cứ hệ-thống hầm-hố phòng-ngự của Nhựt, người Mỹ phải dừng đến hơi ngạt.

        Tổ tiên người Nhựt xuất-phảt từ đảo Okinawa sang đánh đuôi thổ-dân Ainos ra khỏi nhóm quân đảo Phù- Tang hiện giờ, để lập-nghiệp tại đây. Nền văn-minh Trung-Hoa được coi là phát-khởi từ Okinawa và Oki- nawa dirợc coi là thánh-địa, là noi phát-sinh dân-tộc Phù-Tang.

        Ngày 1-4-1945, có 1.400 chiếc tầu được tập-trung ngoài khơi trước đảo Okinawa. 8 sư-đoàn sẵn-sàng đổ bộ. Các loại đại-bác cỡ lớn, các loại phi-cơ, các chiến- hạm thi nhau nhả đạn vào đảo ròng rã 9 ngày đêm. Quân đội Mỹ trừ-liệu quân Nhựt sẽ kháng-cự mãnh- liệt. Nhưng khi đặt chân lên đất, quân Mỹ không phải bắn một viên đạn. Tất cả dân chúng Nhựt đã dồn xuống phía nam đảo và tập-trung quân đội cũng như thường dân trên một giải đất chật hẹp.

        Thoát chốc, từng đoàn phi-cơ Thần-Phong ào-ạt bay tới, tấn-công bổ nhào xuống hạm-đội Huê-Kỳ, từng loạt một. Đa số phi-cơ đó bị cao-xạ Mỹ hạ được, trước khi trúng đích. Những ổ súng cao-xạ phòng-không của Mỹ đặt trên các chiến-hạm hạ được nhiều nhứt. Nhưng cũng có một số phi-cơ Thần-Phong đâm nhào trúng đích.

        Trên đất, lục-quân Huê-Kỳ vấp phải sức kháng- chiến mãnh-liệt và rơi vào các pháo-đài chôn ngầm dưới đất. Đôi bên đánh nhau sát mặt, vật lộn và phải dùng súng phóng-hỏa. Quân Mỹ phải đánh nhau cả với phụ-nữ và con nít. Họ cột lựu-đạn vào chân, chờ khi quàn Mỹ tới, rút kíp ra cho nổ và họ cùng chết theo.

        Bên Nhựt, tất cả các loại phi-cơ đều được xử-dụng vào đội Thần-Phong để đâm nhào xuống chiến-hạm địch. Làm chủ được tình-thế trên trời dưới biển, quân đội Mỹ còn phải mất 82 ngày để tảo-thanh và chiếm xong một đảo nhỏ dài 100 rộng 25 cây số, thiệt hại 880 phi-cơ, 35 chiếc tầu, 7.000 binh-sĩ thuộc bộ binh, không quàn và thủy-thủ tử-trận. Bên Nhựt, thiệt hại 117.000 người tử-trận, 3.800 phi-cơ tự-sát hoặc bom người. Chiếc thiết-giáp-hạm Yamato trọng-tải 63.000 tấn, đã tự đánh đắm để cứu-vãn danh-dự của Hảỉ-quân Hoàng- gia Nhựt.

        Bên trời Âu, Đức-quốc đã đầu-hàng vô điều-kiện, Hitler tự-sát và tử-thi bị thiêu-hủy dưới hầm đúc. Nhựt- Bổn mất hết hi-vọng và tự hiểu điều-kiện đầu-hàng của mình sẽ ra thế nào !

        Đội Thần-Phong hết cả phi-cơ. Toàn lãnh thổ Nhựt- Bổn bị tàn phá. Sau Đông-Kinh, đến lượt Hoành-Tân, Đại-Bản, Nagova đều bị tàn-phá.

        Cuộc tuyên-truyền lôi cuốn người dân tự-sát tập- thể càng lan tràn mạnh mẽ. Thiên-Hoàng tự nghĩ phải liệu sao để chấm dứt tình-thế bi-đát và dã-man này. Tin Okinawa thất-thủ xúc-động dư-luận bên Mỹ rất nhiều. Quân đội Mỹ càng gần đất Nhựt, các trận giao- tranh càng trở nên ác-liệt.

        Bên Mỹ, một nhóm nhà bác-học đã bí-mật chế-tạo xong trái bom nguyên-tử.

        Bên Nhựt, đa số phi-công đội Thần-Phong được tuyển-mộ trong giới sinh-viên đại-học Đông-Kinh và Kinh-Đô - Hết thảy đều bỏ mạng trong trận đánh ở đảo Leyte, Iwo-Jima và Okinawa.

        Mấy tháng trước khi trái bom nguyên-tử được thả xuống Quảng-Đảo, đội Thần-Phong đã phải gọi lớp thanh - niên thất - học vì mấy năm khói lửa làm gián-đoạn việc học. Bây giờ, tình-nguyện hay không tình-nguyện chẳng phải là vấn-đề nữa.

        Theo văn-sĩ Gaston Bouthoul, đêm cuối cùng, trước ngày phi công Thần-Phong xuất trận, phải dự một cuộc an-táng sống. Có tiệc tùng vui chơi. Những người dự tiệc cũng như chính phi-công đền ăn vận đồ trắng, mầu sắc của tang-chế. Lễ an-táng sống này ngụ ý rằng các phi-công quyết-tử phải cởi bỏ hết thảy những gì dưới trần-gian. Ngày hôm sau, tại phi-trường, mỗi phi- công lãnh một chiếc hộp nhỏ mầu trắng, tượng-trung chiếc bình đựng nắm tro tàn của thi-thể họ.

        Đôi khi có những cuộc lễ an-táng sống biến thành những dạ-yến kéo dài suốt đêm và những người dự đều say sưa. Rượu sa-kê tràn ngập. Họ được hưởng một đêm khoải-lạc với phụ-nữ, thường là thiếu-nữ trẻ măng, tìm kiếm được ở các làng mạc gần căn cứ phi-trường. Các thiếu-nữ này hoặc tình-nguyện hiến-thân một đêm, hoặc bị cưỡng-bách đem đi. Vì thế, ở Cao-Ly cũng như ở Nhựt, nhiều cha mẹ hối hả gả chồng cho con gái mình rất sớm để thoát nạn mãi-dâm miễn-cưỡng đó.

        Còn chiếc hộp trắng nói trên, sẽ đựng mấy sợi tóc, móng chân móng tay của viên phi-công, rồi sẽ được gởi về gia-đình, Chiếc hộp này sẽ được đặt lèn bàn thờ Phật của gia-đình, thay thế cho nắm tro tàn đốt ở tử- thi các tử-sĩ.

        Tất cả những bức tâm-thư và nhựt-ký sau đây, thiết-tưởng không cần chú-thích. Đây chính là những lời di-ngôn của những kẻ chỉ còn sống được mấy ngày mấy giờ nữa. Sức chịu đựng, mối phản-ứng nội- tâm, lòng cuồng-tín, nỗi thất-vọng ê-chề, ý-nguyện bảo- tồn danh-dự cá-nhân và gia-đình, ý-định tỏ ra thành- thật.... tất cả những ỷ-tưởng hỗn-hợp đó pha-trộn với nhau trên giấy, qua những hàng chữ viết ra vội vàng...


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 09:55:03 am

        AKIO OTSUKA

        Sinh-viên đại-học-đường Chuo, một trường cao đẳng tư-thục nổi tiếng về khoa luật-học. Tử trận gần Kateno, ngoài khơi biển Okinawa, trên phi-cơ ngày 28-4-1945, lúc24 tuổi.

        Ngày 21-4-1945.

        Con quả-quyết rằng, con chết, chẳng phải do con tình-nguyện, không phải con không luyến-liếc cái sống.

        Tương-lai xử-sở làm con băn-khoăn áy-náy và tương-lai của ba má, của 3 em gái, càng làm con áy-náy hơn. Bấy nhiêu thứ làm con khắc-khoải không bút nào tả hết!

        Xin ba mả đừng quá đau-đớn, đừng mất lý-trí vì cái chết của con. Xin ba má và các em hãy sống hạnh- phúc và hòa-hợp với nhau như từ trước tới nay: đó chính là nguyện-vọng độc-nhất của con.

        Má và các em đều là nữ-nhi yếu-đuối, con không tưởng-tượng hết được những nỗi khó-khăn má cùng các em sẽ gặp trên đường đời. Nhưng má và các em đều là những người giàu lòng can-đảm, mỗi người có nếp sống riêng và đều có lòng cương-trực.

        Lúc nào con cũng sống trong trái tim của má và các em. Nếu ba má và các em muốn gặp con, xin cứ kêu tên con, con sẽ ở gần ngay bên ba má và các em.

        Ngày 25-4-1945.

        Trái với tập-quán của con, hôm nay con thức dây thật sớm, mới 5 giờ sáng con chỗi dậy rồi. Con cởi trần tập thể-dục. Con thấy như vậy dễ chịu lắm.

        Thường thường, trong chiếc hộp nhỏ, người ta bỏ vào một ít tro đốt ở xác tử-sĩ, bây giờ không thế nữa, mà chỉ vào đó một tờ giấy trắng, có thực vậy chăng? Con muốn gởi về cho ba mả và cả nhà một mờ tóc, nhưng hôm qua con đi hớt tóc, người thợ hớt trụi cả tóc và cắt cả mỏng tay mỏng chân của con. Con tiếc quá ! Nhưng trễ mất rồi, trong một đêm, tóc và móng chân móng tay đâu có thể mọc được ?

        Con không muốn có một ngôi mộ. Nếu xác con bị táng trong một ngôi mộ chật-hẹp thì con cảm thấy mình bị giam-hãm và bóp bẹp lại. Một người ưa xê-địch như con, không cần gì đến ngôi mộ. Xin ba mả và các em nhớ vậy cho con.

        Xin ba má và các em đừng khóc vì cải chết của con. Nếu con sống và trong gia-đình ta có người chết, con sẽ cố làm cho cả nhà vui và thêm can-đảm.

        Ngày 18-4-1915.

        Sảng nay, con thức dậy lúc 8 giờ và con được thở làn không khí của miền Sơn-cước. Hôm nay là lần chót mà con được thở không khí lúc bình-minh. Tất cả sự việc con làm hôm nay, đều làm như lần cuối cùng.

        Các phi-công phải tập-họp vào lúc 14 giờ. Chúng con sẽ cất cánh bay vào lúc 15 giờ.

        Thực lạ quá ! Con có cảm-tưởng như muốn viết ra đây rất nhiều điều, nhưng lúc cầm bút viết con chẳng nghĩ ra điều gì hết.

        Con không có cái cảm-giác ra đi để chết. Con thoải- mái và nhẹ-nhàng lắm, tựa như lúc con lên đường đi viễn-du. Con tự nhìn trong tấm gương, thấy mặt con khổng giống mặt người sắp phải chết.

        Thưa ba, xin ba đừng quá lo ngại về bệnh tê-thấp của ba. Nếu ba cứ sống bình-tĩnh thì ba sẽ hết bệnh. Con ước ao muốn cùng ba uống một ly rượu sa-kê, nhưng sự ấy chẳng được nữa. Cả hai cha con ta chẳng được cùng nhau đi lễ bái nơi chùa Phật như trước nữa!

        Thưa má, má nặng 53 kí, nhẹ hơn con một chút thôi. Như thế là tốt rồi, xin má đừng làm cho má gầy đi vì cái chết của con. Từ ngày con nhập ngành Hải- quân, con hằng ước ao cho má luôn luôn được sức khỏe. Gia-đình ta có được thịnh-vượng hay không là do sức khỏe của má. Con biết rằng má rất dễ cảm-xúc và quả dễ khóc, nhưng con ra đi để chết với nụ cười trên môi. Ngày xưa, ba thường nói : « Người ta cười thì mình cũng phải tươi cười chứ ! » Con đang tươi cười đây thì má cũng nên vui cười.

        Hai em Junko và Sazuko, hãy săn sóc sức khỏe của má. Các em không nên buồn rầu mà sinh bệnh.

        Ở Đông-Kinh lúc này chắc hoa anh-đào đã sắp tàn- úa. Hỡi anh-đào ơi ! các người hãy rụng xuống đi ! Ta đây sắp lìa dương-thế, sao các ngưỏi còn nỡ mởn-mơ trên cành ?

        11 giờ 30 ngày sống cuối cùng của con.

        Con sắp đi ăn cơm trưa để rồi ra phi-trường. Con còn bận sửa soạn, nên không thể viết nhiều dược. Con xin vĩnh-biệt ba má và các em. Thư này con viết khó đọc quá, chữ con xấu viết run run, con chỉ viết được mấy câu vô-nghĩa.

        Xin ba má và các em hãy khỏe mạnh !

        Con tin-tưởng vào cuộc thắng trận của khối Đại- Đông-Á.

        Con nguyện xin Trời Phật ban cho ba má và các em nhiều hạnh-phúc. Xin ba má tha thứ cho đứa con bất-hiếu này !

        Con ra đi giết giặc với nụ cười trên môi. Đêm nay trăng tròn, ngoài khơi Okinawa, con sẽ chiêm-ngưỡng cảnh trăng thanh gió mát, con sẽ kiếm tàu địch. Con sẽ tỏ cùng ba má là đứa con biết tìm cái chết can-đảm !

        Với tất cả tình thân-ái của con.

AKIO       


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 09:56:42 am
      
        RYOJI UEBARA

        Sinh-viên kinh-tế chính-trị đại-học-đường Keio, Đông-Kinh. Tử-trận ở Okinawa ngày 11-5-1945, lúc 22 tuổi, trong khi lái phi-cơ đâm nhào xuống tàu Mỹ.

        Tỏi rất lấy làm hiên-ngang vì được tuyển-lựa làm phi-công của đội Thần-Phong và được nhập đoàn anh- dũng này. Nó là tiêu-biểu tinh-thần thượng-võ của nước Nhựt, quê-hương vinh-quang yêu-quí của tôi.

        Nếu chỉ muốn nghe theo lý-trí không thôi và áp- dụng những nguyên-tắc mà tôi đã tin-tưởng lúc còn là sinh-viên thì tôi biết được rằng tự-do sẽ thắng không còn là vấn-đề nữa. Có lẽ người ta sẽ gán cho tôi cái tự- do chủ-nghĩa. Nhưng tự-do là tinh-túy của nhân- loại, nó không thể nào bị tiêu-tan đi được. Nếu người ta muốn bóp chết tự-do, nó vẫn còn sống và vẫn tranh- đấu để được tồn-tại, kết-cục tự-do vẫn thắng. Đó là một chân-lý mà nhà hiền-triết Benedetto Croce đã từng tranh-luận.

        Những quốc-gia chủ-trương chế-độ độc-tài rồi ra sẽ đi đến chỗ bại-vong : sự cường-thịnh của những quốc-gia ấy chỉ là tạm-thời. Những nước trong khối «Trục» đã minh chứng điều tôi mới nói, trong cuộc chiến-tranh hiện-tại. Nước Ý Phát-xít bây giờ thế nào? Còn Phát - Xít Đức cũng đã thất - bại rồi chứ ? Hai nước này đã bị sụp đổ khác nào một lâu dài xây cất trên nền tảng lung lay vậy. Những biến-chuyển thời cuộc hiện-tại luôn luôn minh-chứng cái giá-trị siêu-việt của tự-do. Trong dĩ-vãng cũng thế, lịch-sử hằng chứng-minh điều ấy.

        Lòng tin-tưởng của tôi cần phải xác-thực và nếu xác-thực được thì quả là một tai-nạn tày tình cho đất nước ta ! Quan-hệ chi ? Tôi sẽ sung-sướng vì thế lắm. Cuộc tranh đấu nào cũng căn-cứ vào một chủ-nghĩa. Vậy như tôi vừa nói, kết-quả cuộc chiến-tranh hiện-tại rất dễ đoán được. Tôi mong muốn rằng nước Nhựt, tổ- quốc thân-yêu của tôi, phải là một đế-quốc vĩ-đại, như đế-quốc Anh khi trước vậy. Nhưng nguyện-vọng của tôi ngày nay đã tan vỡ rồi ! Nếu người ta biết nghe lời những nhà ái-quốc chân-chính, tất nhiên ngày nay chúng ta đã chẳng lâm vào cảnh nguy-nan. Tôi những ước mong cho người Nhựt cũng được hiên-ngang sánh vai với thế-giới.

        Một anh bạn đã nói với tôi rằng viên phi-công đội Thần-Phong chỉ là con người máy. Tôi muốn tin như vậy lắm ! tôi chỉ là người máy, tay cầm lái cho phi-cơ lướt gió. Tôi không được duy-trì tình-cảm và nhân-vị của tôi nữa. Tôi không được phép dùng lý-trí của tôi nữa. Tôi chỉ còn là một sợi thép bị thu-hút bởi sức nam-châm. Nam-châm đó tức là chiếc hàng-không mẫu- hạm của Huê-Kỳ. Người Mỹ gọi thế là « tự-sát ».

        Nói thực ra, hành-động này không sao giải-thỉch được. Nhưng tự-sát cách này cũng là một thể-thức hiến mạng sống cho Tố-quốc. Ngoài nước Nhựt ra không một nước nào có thể quan-niệm được. Vì nước Nhựt là một nước duy-tâm.

        Chúng tôi đây, đoàn phi-công của đội Thần-Phong, chúng tôi chỉ là con người máy; chúng tôi chỉ có thể im-lặng, âm-thăm năn-nỉ người đồng-huơng còn ở lại, phải làm sao cho nước Nhựt trở thành một nước như chúng tôi mong muốn. Tòi biết rằng, cái chết của tôi không còn giá-trị gì cả, nhưng tôi vẫn hiên-ngang vì được làm phi-công của đội Thần-Phong. Tôi vui chết với quan-niệm đó lắm!

        Khi người yêu của tôi chết, tôi cũng chết trong tâm-hồn với người tôi yêu. Tôi lại có thể gặp người yêu trên thiên-đường, nơi đây họ đang chờ đợi tôi. Cái chết đối với tôi, chỉ là con đường đưa tôi đến ở với người yêu.

        Mai đây, tôi ra đi giết giặc, tôi chỉ là con người máy ngồi trên phi-cơ. Nhưng, dưới trần-gian, tôi đã là một con người, có tình-cảm, có thị-dục. Tôi không chút sợ cái chết.

        Bao nhiêu điều tôi viết ra đây kể cũng hơi tàn-bạo thực. Nhưng vì tôi không định viết cho công-chúng đọc. Tôi viết ra hết cả mọi uẩn-khúc của tâm-hồn. Bạn hãy thử lỗi cho, ý-tưởng của tôi quả lộn-xộn. Mai đây, có một nhân-vật yêu-chuộng tự-do đến say mê, sẽ lìa khỏi trần - gian.

        Ý-tưởng của tôi có lẽ làm cho bạn chán ngấy. Nhưng trong thâm-tâm, tôi hoan-hỉ vì được chết. Tôi không còn gì để nói với bạn nữa. Xin kết thư và từ-biệt Bạn nơi đây.

        Bạn thứ lỗi cho, vì tôi bất lịch sự
Hôm nay, ngày trước ngày tôi chết.        
RYOJI                           


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 09:59:30 am

        RYOJI UEBARA

        Sinh-viên đại-học-đườnq Keio, Đông-Kinh. Nhập-ngũ tháng 12 năm 1943.Sung vào đội xung-kích đặc biệt.Tử-trận trong lúc phóng mình vào đội cơ-giới đổ bộ của Mỹ trên bãi Kalena thuộc đảo Okinawa, ngày 11-5-1945.

        Thư gởi cho ba má.

        Trong 20 năm trường, con không phải lo lắng điều chi. Con đã trải qua những ngày sung-sướng, được ba má cưng chiều và được các anh chị khuvến-khích đủ diều. Con đã trở thành đứa trẻ tính thất-thường, và gây cho cả nhà nhiều lo-ngại. Con hết sức đau lòng khi nghĩ rằng chưa bao giờ có thể đáp đền công ơn cha mẹ.

        Đời sống của phi-công đội Thần-Phong là cầm chắc cái chết trong tay. Mỗi câu mỗi lời con nói ra miệng hoặc viết trên giấy thảy đều là di-ngôn của con. Lúc ngồi trên chiếc phi-cơ lướt cánh trên mây gió, con không còn cảm-giác rùng-rợn sợ chết nữa. Cái ngày mà con còn sống, con lái chiếc phi-cơ để nhào xuống, con có tin được con sẽ chết chăng ? Đã nhiều lần, con muốn đễ phi-cơ tự rót xuống. Con không sợ gì cái chết: trái lại, còn sung-sướng vì được chết. Con biết thực có chết mới được tái-ngộ với Tatsu, anh cả con đang ở thiên-đường. Cuộc tái-ngộ này tức là cả lý-do thúc-đẩy con muốn chết.

        Lúc nào con cũng nghĩ nước Nhựt muốn được trường-cửu, cần phải lựa chọn một chế-độ tự-do. Hiện giờ con nói điều này quả là quá sớm, và quá ngây ngô, nhưng sự thực, nước Nhựt hiện-tại đang chạy theo chính-sách độc-tài. Nhưng nếu ta suy-nghĩ sâu rộng hon, sẽ thấy rõ, không có gì thích-hợp với bản-tính nhân-loại bằng tự-do chủ-nghĩa.

        Con thiết-tưởng rất có thể căn-cứ vào lý-thuyết của một chính-phủ chủ-trương để ước đoán được cuộc chiến-thắng hay chiến-bại. Khi lý-thuyết thích-hợp với bản-chất của nhân-loại thì cuộc chiến-thắng tỏ rõ hơn ánh sáng mặt trời. Lý-tưởng của con đã tan vỡ rồi! Đối với cá-nhân nước được vinh-quang hay thất-bại là một việc rất quan-trọng, nhưng đối với toàn diện thế-giới, cái đó chẳng quan-hệ gì.

        Ba má sẽ thấy trong phòng ngủ con những sách vở con xếp trong ngăn kéo bên tay mặt. Nếu ba má không có chìa khóa, xin cử mở ngăn kéo bên trái, rút cả ngăn kéo ra, thò tay tháo chiếc đinh sẽ lấy được sách vở ra.

        Xin ba má hãy lo giữ gìn sức khỏe. Em Kiyosho, em hãy chuyển lời anh kính chào anh cả và hết mọi người bà con thân-thuộc.
Vĩnh-biệt! vĩnh-biệt Ba má và các em muôn đời!       
K.YOJJ                                   


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 10:10:46 am
 
        NOBU HASAGAWA

        Sinh-viên trường Cao-đẳng Meiji Gakuin. Nhập-ngũ tháng 12-1943. Tử-trận ngoài khơi Okinawa trong lúc lái phi-cơ bổ nhào xuống, tháng 4-1945, lúc 23 tuổi.

        Ngày 20-4-1944.

        Tôi cầu-khẩn Trời Phật ban cho tôi được ơn phước và giúp đỡ tôi làm tròn nhiệm-vụ của con người.

        Chỉ khi nào chúng tôi được lãnh đôi giầy, thức ăn, cho khỏi nạn bao-tử gào thét thì nét mặt chủng tôi mới tươi lên một chút.

        Mai dây cũng vậy, khi tôi ngồi vào bàn ăn cơm, tôi sẽ khấn vải cùng Phật. Tôi run sợ khi nghĩ rằng chỉ có những lúc đó tôi mới có nét mặt và thổ lộ tâm-tình như một con người.

        Ngày 26-4-1944

        Sáng nay, lúc rửa mặt tắm táp, tôi bỏ quên chiếc khăn mặt ở nhà, tôi phải dùng chiếc áo lót thay khăn mặt. Một người lỉnh cũ đã nhắc nhủ tôi : « Sao anh chẳng biết thú thực đã quên đem theo khăn mặt đi, lại dùng chiếc áo lót, là của Thiên-Hoàng, để lau mặt, như thế có phải một điều đáng nhục lắm sao, sao anh không biết lấy tay mà lau mình ? Nói xong, anh ta tát vào mặt tôi.

        Ngay lúc ấy, tôi đâm chán ghét nhân-loại, hơn nữa tôi chán ngấy cả người Nhựt hiện-tại. Tôi thiết-tưởng, trải qua lịch-sử, không khi nào nhàn-loại xa cách Thượng-Đế bằng lúc này. Một ngày gần đây, nhân-loại sẽ không đếm xỉa chi đến tôn-giáo.

        Hiện giờ tôi tưởng đến đời sống của Dostoiwesky bên Tây-Bá-Lợi. Đời sống của ông thế nào giữa đám người tù đầy ? Ông ta chỉ được giữ có một cuốn sách duy-nhứt, tức là cuốn Kinh-Thánh.

        Tôi cần phải tường nhớ đến hoàn-cảnh ông ta !

        Ngày 10-5-1944

        Tôi đã thi xong cấp bực chuẩn-úy, lúc còn thuộc đơn-vị thứ nhứt. Tôi tự hỏi mình sao đã quá khờ dại xin thi vào cấp bực đó. Thời đại này, chúng ta còn đang được hưởng những hoa trái của nền văn-minh. Nhưng trong quân đội, lúc làm bài thi, chúng tôi bắt buộc phải chép lại nguyên văn từng bài đã có sẵn, không được thay đổi một chữ. Cách thi-cử như thế quả là cỗ-hủ quá! vô-hiệu nữa! Nó chỉ xứng đáng với trình- độ sơ-đẳng thôi. Nghĩ thế mà càng thêm chán.

        Ngày 23-5-1944

        Tập cảo-luận của Ryosen (nhà tư-tưởng thần-học Nhựt-Bổn) và cuốn «Tinh-túy của Thiên-Chúa giáo » do tác-giả người Đức vừa bị tịch-thâu của tôi. Trong một chốn như trong quân đội này, làm sao kiếm được thời giờ để tĩnh-tâm và suy-luận về tinh-thần ?

        Ngày 21-5-1944

        Từ nay cho tới giờ phút tôi chết, cuộc hủy-hoại của tâm-hồn bao giờ mới chấm dứt ? Dàn-tộc Nhựt- Bổn sẽ đi tới đâu ?

        Ngày 22-10-1944. Ngày đầy nghi-cảm.

        Những trẻ thơ không chút hiếu biết chi, chúng được sung-sướng ; còn người lớn tuổi như chúng ta, đều khổ sở. Những người thuộc thế-hệ trước, họ vượt xa chúng ta nhiều, vì đời sống họ sát cận đời sống của con người hơn.

        Ngày 29-11-1944

        Chớ chi, những nỗi khổ cực của ta, cái chết của ta gíup cho những người ta yêu-quí được hạnh-phúc !

        Ngày 2-l-1945

        Chúng ta sinh ra đơn-độc, chúng ta chết cũng đơn- độc. Hôm qua đây, chúng ta yêu ; hôm nay đây, chúng ta đau khổ ; mai đây, chúng ta sẽ chết. Nhân-loại tất cả đều là mỏng giòn và đau khổ !

        Ngày 18-1-1945

        Một vị sĩ-quan thuộc bộ-binh đã thuật lại cho tôi trận giao-tranh ở miền trung Trung-Hoa mà chính ông ta có tham-gia. Những phương-pháp ông ta thi-hành để sát-hại những lính phụ-nữ bị bắt là tù-binh ngườì Trung-Hoa, vượt quả mức tưởng-tượng của tôi về phương-diện tàn-bạo độc-ác.

        Tôi tự cảm thấy nhẹ nhàng khi được thoát khỏi Binh Bộ, để sung vào không-quân. Hoặc giả, một ngày kia, tôi phải trở về binh bộ, không khi nào tôi có can- đảm thi-thố những hành-động tàn-ác đó.

        Tàn-bạo là một bản-chất cố-hữu ăn sâu vào lòng người. Nó biến-chuyển qua các thời-đại cho tới ngày nay. Trong cuộc chiến-tranh hiện giờ, không còn vấn- đề công-lý nữa ! Chỉ có xung-đột giữa dân-tộc này với dân-tộc kia, để thù-oán chém giết lẫn nhau, cho tới khi tiêu-diệt lẫn nhau mới chịu thôi !

        Quả là điều ô-nhục và đáng thương-tâm ! Con người bay giờ khác chi loài khỉ ?


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 10:12:39 am

        YASUO ICHUIMA

        Sinh-viên trường đại-học Waseda (Đông Kinh). Nhập-ngũ ngành Hải-quân tháng 1-1943. Tử trận ngoài khơi biển Okinawa trong lúc đang lái phi-cơ Thần-Phong. Sau đây là bút tích cuối cùng của tác-giả:

        Ngày 20-4-1945.

        Ngày cuối cùng đời tôi, tỏi đã hết sức bình-tĩnh. Tỏi không được gặp mặt các người trong gia-đình, nhưng tôi được gặp các bạn cũ, và đã trò truyện vui vẻ tới họ. Thực sung-sướng thay !

        Chúng tôi không hòng tái ngộ nữa. Như thế mà lại hay đấy ! Được từ-biệt nhau, không hòa lẫn nỗi buồn rầu với câu chuyện vĩnh-biệt.

        Tôi không sao tin được, còn một tuần nữa tôi sẽ chết. Tôi không buồn và không nóng nảy chi.

        Lúc tôi thử mường-tưởng giây phút cuối cùng của tôi ra sao, tất cả đều như một giấc mộng. Tôi không chắc có giữ được bình-tĩnh như vậy cho tới phút chót không. Nhưng hiện giờ tôi tin có thể được lắm,

        Ngày 21-4-1945.

        Sáng nay, tôi dự cuộc thi lái phi-cơ. Tôi rất cảm- động khi thấy bao thợ máy đang bận-rộn sửa soạn chiếc phi-cơ của tôi. Đúng 7 giờ 40, tôi chịu sát-hạch. Tôi bay cao 2.000 thước. Mọi công việc đều xuôi cả. Trên không- trung miền Tsuchiura, tôi đã thực-hiện cuộc bồ nhào, tôi bay lượn theo đủ hướng, hoàn toàn như ý muốn. Đã từ lâu, tôi chưa lèn máy bay, dù sao tôi cũng sung-sướng. Từ trên chiếc phi-cơ, tôi đã từ-biệt các bạn lần cuối cùng.

        Ngày 23-1-1945.

        Trong lúc đi tắm, tôi lang-thang một mình giữa cánh đồng. Mai đây, có lẽ tôi nhận được lệnh đi xung- kích.

        Khoảng đời 23 năm, tới nay đã tới chặng cùng. Tôi không có cảm-tưởng ngày mai sẽ chết. Tôi đang ở phương nam, nhưng tôi tin rất có thể ra đi để đâm nhào xuống tầu địch, giữa những làn mưa đạn đại-bác từ chiến- hạm và phi-cơ địch bẳn ra.

        Thơ-thẩn giữa cảnh đồng ruộng, tay cầm chiếc khăn mặt, nghe tiếng ãnh-ương kêu và tiếng ve sầu rên rỉ. Tôi hồi-tưởng lại thời thiếu-niên của tôi. Hồ sen trổ bông thơm ngát dưới ánh trăng thanh, cảnh đẹp biết bao ! Phong-cảnh tựa xứ Kawazaki về tiết hè.

        Tôi hồi-tưởng đến quê-hương và những cuộc dạo mát với mọi người trong gia-đình.

        Lúc về tới phòng thì điện tắt hết. Anh em phải đổ dầu cặn vào chiếc hộp sắt để thắp, ngọn lửa leo-lét phản-chiếu lên tường những hình-ảnh mờ-ảo ngộ- nghĩnh của mỗi người chúng tôi. Buổi chiều êm ả đó bình-tĩnh trôi qua. Tôi nhìn vào con búp bê để ngủ thiếp đi.

        Ngày 24-1-1945.

        Tôi đang chờ lệnh để ra đi, tâm-trí bình-tĩnh nhẹ- nhàng. Phòng bên cạnh, một anh bạn dờn bài ca : « Ai là người không cần đến quê-hương ? » Bài này là tất cả hương-vị xứ miền Nam của chủng tôi. Chưa có việc làm, tôi đi hái bông sen, nhưng chẳng có ai để tặng bông. Tôi lấy lả chuối bọc hoa lại và tôi tưởng nhớ kỷ-niệm đã qua. Chờ khi màn đèm buông xuống, tôi mới thả mình tắm dưới hồ nước mát trong.

        Ở phòng bên cạnh, mấy anh bạn đang làm ồn, họ uống rượu lu-bù. Như thế mà lại hay đấy. Tôi bình-tĩnh chờ đọi Tử-Thần tới đón đi. Cho đến phút chót, tôi nguyện ăn ở xứng đáng vì tôi thuộc đơn- vị xung-kích đặc-biệt, hiện thân của tinh-thần hiệp-sĩ nước Nhựt. Chính vì lòng tôn-thờ Thiên-Chúa và lòng yêu-thương người đồng-loại mà tôi đã sống một đời trong sạch xứng đáng. Tới giờ, đường đời của tôi tốt đẹp như từng ước muốn. Chính tôi, cũng được người kính trọng, được hãnh-điện vì hi-sinh đời sống trong sạch cho tổ quốc thân-yêu!


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười, 2018, 10:13:29 am
  
       ICHIZO HAYASHI

       Sinh-viên kinh-tế chính-trị trường Cao-đẳng Đông-Kinh. Tử-trận tại Okinawa trong khi phi-cơ đâm vào hạm-độiMỹ, lúc 23 tuổi.

        Sau đây, lá thư cuối cùng gởi cho thân mẫu tác giả viết từ Wonsan (Cao-Ly)(Tác-giả theo Thiên-Chúa- giáo).


        Thưa Má,

        Đã tới lúc con phải cho má hay một tin chẳng lành. Lòng má yêu con hơn là con yêu má. Vậy má nghĩ thế nào về lá thư này ? Con buồn rầu và thất-vọng.

        Trước kia, con rất sung-sướng, có lẽ má cưng- chiều con quá ! Nhưng cái đó không phải lỗi con. Con hết sức yêu má, con lại thích được má cưng chiều như vậy là khác.

        Con rất thỏa dạ vì được tuyển-lựa làm phi-công đội Thần-Phong. Nhưng khi con nghĩ tới Má, con không thể cầm được nước mắt.

        Má đã hết lòng dạy dỗ con, giúp con thắng vượt mọi gian-nan trong tương-lai. Con rất đau lòng phải chết trước khi chưa đền đáp công ơn má, và làm cho má được an vui. Con không thể xin má hi-sinh đời sống cho con, cũng không dám xin má vui lòng nhận lấy cái chết của con, dù nó vinh-quang đến đâu. Thà rằng má con ta đừng nhắc đến làm chi.

        Con không can-đảm để chối từ việc hôn-nhân với thiếu-nữ nọ. Con không dám làm giảm tình thương của má, con sung-sướng khi nhận được thư của má gởi cho. Lòng con ao-ước gặp má lần cuối cùng, được tựa đầu trên cánh tay má. Nhưng mai là ngày con phải ra đi, ngày chót của đời con rồi !

        Có thể là con sẽ bay qua vùng Hakata. Từ trên không gian, giữa đám mày xanh, con sẽ gởi lời vĩnh-biệt má !

        Thưa má, má hằng ước mong tương-lai con rực-rỡ, nhưng con đã làm vỡ mộng của má. Không bao giờ con quên được nỗi âu-lo của má trước những kỳ thi của con. Con đã gia-nhập đội Thần-Phong này. Nhưng trong thâm-tâm, bây giờ con hối tiếc vì đã cưỡng lời má khuyên.

        Xin má đừng buồn khi nghĩ con là một phi-công lành-nghề. Ít khi người ta ủy-thác cái trọng-trảch đó cho một phi-công có ít giờ bay như con.

        Sau khi con chết, má còn em Makio. Má thương con hơn em vì là con cả. Nhưng má tin con đi, Makio hơn con trong nhiều phương diện. Em con biết lo công việc gia-đình, Má hãy còn chị Chiyoko và chị Hiroko, má lại còn mẩy cháu ngoại nữa !

        Xin má hãy cử vui sống. Linh-hồn con sẽ luôn luôn ở bên má. Nỗi vui của má là niềm vui của con. Nếu má buồn, thì con không thể vui được. Nhiều lúc con bị cảm dỗ, định trốn về với má, nhưng đó là một tội hèn nhát !

        Lúc con chịu phép Thánh-Tẩy, cha có dạy con câu này : « Con hãy từ bỏ mình con ». Con nhớ rõ lắm. Con sẽ phú-dâng hồn xác trong tay Chúa, trước khi chết bởi viên đạn của giặc. Mọi việc đều do Chúa cả. Đối với những người sống trong Chúa thì không có sống cũng không có chết. Thuở xưa, chính Chúa Giê-Su đã thưa cùng Chúa Cha rằng : « Xin làm theo ý Cha ! »

        Mỗi ngày con vẫn đọc Thánh-Kinh và những khi đó con cảm thấy ở gần Má hơn. Con sẽ đem theo lên máy bay cuốn Kinh-Thảnh và cuốn Thảnh-Vịnh để cùng đâm nhào xuống quân thù ! Con sẽ đem theo cả phù- hiệu mà ông giám-đốc trường cho con, con không quên đem theo ảnh của má.

        Có lẽ trong việc hôn-nhân của con, con không được đứng đắn lắm. Nhưng con không chủ ý khinh-thị nàng và gia-đình nàng. Má có thể nói với cô ta hai bên nên đoạn-tuyệt với nhau là hơn. Ý con muốn thành- hôn với nàng để làm hài lòng má, nhưng hoàn-cảnh hiện giờ không cho phép,

        Con chỉ xin má một điều : thứ lỗi cho con. Con ra đi với tất cả bình-tĩnh, vì con biết thật má sẵn lòng tha thứ cho con. Thưa Má, con kính phục Má biết bao ! Lúc nào má cũng can-đảm hơn con nhiều lắm. Má có thể chịu đựng mọi khó khăn, còn con thấy không được như Má. Má chỉ có một lỗi lầm là cưng nhiều con thái quả thôi. Nhưng con biết mà con không dám trách má.

        Trong lúc đè bẹp quân thù con sẽ nguyện cầu cho má, xin Chúa khứng nghe lời má cầu xin. Con ủy thác cho anh bạn Ueno trao thư này cho má. Má đừng cho ai đọc, con hổ thẹn lắm. Khi nghĩ không còn được gặp má nữa, con buồn phát điên mất !


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 02:58:19 pm

        NORIMASA HYASHI

        Tốt-nghiệp Đại-học-đường Keio năm 1943. Nhập ngũ tháng 8 năm 1943. Tử-trận ngoài hải phận Kashimayo, khi láiphi-cơ tự-sát ngày 9-8-1945, lúc 25 tuổi

        Ngày 13-4-1945.

        Đại-úy Kunivasu vừa bị tử-trận và trung-úy Tanigawa cũng theo số-phận. Chúng con sắp bị chết như nhau cả! Mạng sống của phi-công Thần-Phong thực quá mong-manh ! Hôm qua, lại được tin thiếu-úy Yatsumani chết. Ông này bị rớt xuống biến trong lúc thao-dượt ban đêm. Thi-hài của sĩ - quan xấu số được tìm thấy trên bãi cát gần Kuju Kurihama. Ôi ! Yatsumani ôi ! tôi vui mừng được gặp lại anh, sau khi chúng ta chia tay nhau ở Mié. Trước ngày lâm nạn, anh đã tới phòng tôi giữa đêm khuya, anh mặc bộ áo ngủ, rồi chúng ta cùng nhau uống bia.

        Tôi không biết đây có phải là một điềm gở không ? Nhưng lúc ẩy, anh bình-tĩnh làm sao ! Tôi khen bộ áo ngủ của anh đẹp quá, anh mỉm cười và nói đấy là vợ anh mới may cho. Anh vừa làm lễ thành-hôn với cô ta xong. Vợ anh chẳng may mắn gì cũng như bao nhiêu bà vợ các phi-công hiện nay. Liệu khi nghe tin chẳng lành này, vợ Yatsumani có thể sống được chăng?

        Thiếu-ủy Tanigawa cũng có vị hôn-thê để ở Kobe. Bao nhiêu thiếu-phụ này chắc chắn sẽ bị bỏ rơi, họ khổ sở đến chừng nào ! Nhưng tất cả những ông chồng đều vui vẻ hi-sinh mạng sống cho tổ-quốc tới bước vinh- quang thì các bà vợ cũng nên hiên ngang, khỏi làm nhục cái tinh-thần cao-cả của những vị anh-hùng cứu- quốc này chứ !

        Ngày 23-4-1915.
        Chúng con vừa thao-dượt một cuộc bay đêm. Lúc về, chúng con uống chầu bia chúc mừng thiếu-úy Kasiu- Daichaku vừa nhập đội. Chúng con uống hơi say một chút. Rồi quay ra thảo-luận với các bạn về tình-hình các người xin nhập ngành hải-quân. Cuộc thảo-luận trở nên gây cấn. Con thành thật tuyên-bố : không khi nào con chịu đánh giặc cho Hải-quân cả, có đánh là đánh cho Tổ-quốc, cho hạnh-phúc riêng con, chứ không đánh cho Hải-quàn là thứ con ghét cay ghét độc, Lời tuyên-bố này phát ra tự đáy lòng con. Chúng con đây là những phi-công trong đội Thần-Phong, thuộc khóa 13, luôn luôn bị hải-quân lấn-át, thì lúc này đây, ai là người đang đánh giặc ? Một nửa số bạn con là phi-công trên các hàng-không mẫu-hạm đã bị tử-trận rồi. Những ý-tưởng của con không bao giờ có thể dung- hòa dược với ý-tưởng của họ. Quan-niệm của con sẽ được thành-tựu cho tới cùng. Con sẽ có thái-độ thờ ơ khi phải giơ cao lá cờ. Bấy nhiêu cái chỉ là một cuộc nỗi dậy đáng buồn. Nhưng đó là tất cả hậu-quả của những ngày sống trong hải-quân. Ba Má thử coi, kết-quả đó là gì ? có đáng kể gì đâu ? Không phải riêng con mới biết thưởng-thức cái hậu-quả chua cay đó. Rồi một ngày kia sự việc tai hại này sẽ lan tràn khắp chốn và Hải-quân phải gánh chịu lấy một mình. Con sống chết vì Tổ-quốc, cho các bạn đồng-khóa, cho lớp sinh-viên bị động-viên và cho danh-dự của con. Một lần nữa, con xin nhắc lại : không phải con sinh tử cho hải-quân, vì binh-chủng này đang bị một số sĩ-quan có óc đảng phái xuất thân ở trường Hải-quản ở Edajima làm mưa làm gió trong hàng ngũ Hải-quân hiện tại.

        Ngày 11-6-1945.

        Ông Matsuda thuộc câu-lạc-bộ Yonedo vừa viết thư cho con. Hôm nọ ông Nichi có đến thăm con, con nhờ ông ta đem hộ một lá thư về cho ba má. Nếu có dịp đi Miho, con sẽ ghé thăm ông. Những người này quen biết con từ lâu, họ là những người tử-tế cả. Mỗi khi nghĩ đến họ con lại cảm-động vô cùng.

        Mẩy con chim đang hót líu lo trong núi. Ngoài trời mưa phùn rơi xuống, trông như khói tỏa. Phòng bên cạnh có người đang cho quay đĩa hát. Khung cảnh đó làm con chạnh lòng nhớ tói cố-hương.

        Ngày 30-6-1945.

        Sáng nay, lúc thức dậy trời còn mưa. Con vui sướng được trở vào chăn để ngủ lại một vài giờ nữa. Đúng 7 giờ con mới trở dậy và ăn điểm-tâm hơi muộn một chút. Ăn xong con sang trại lấy máy chiếu bóng đem chiếu mấy phim dạy cách phân biệt các loại tầu địch. Xong đâu đấy, con lại trở về phòng vừa nghe đĩa hát vừa viết. Phòng bên cạnh, mấy anh bạn Daishaku, Yamahé, Tijima và Masu đang đánh bài trên chiếc mền trải xuống đất. Ngoài trời, mưa vẫn rơi rả rích. Nhưng con chẳng làm gì được hết. Cuộc sống của con chẳng còn mấy ngày nữa ! Con muốn ra đi để chết sớm hơn một chút.

        Ngày 12-7-1945.

        Con đã thay đổi rất nhiều, nhưng ngọn lửa lý- tưởng vẫn còn nóng hổi trong lòng. Vui đùa với phụ- nữ, nhậu nhẹt và ngồi kể chuvện phiếm con không chút hổ-ngươi, nhưng đôi khi con thấy chán cái cảnh tầm- thường này quá !

        Cái lý-tưởng mà con quan-niệm về đời sống, lúc còn trẻ thơ, nay hãy còn. Con tự tin vào mình và tự mãn.

        Muốn kể lại những cái đó với anh Akimara để tỏ ra con cũng là người có lý-tưởng, con muốn chết trung- thành với lời thề mà chúng con đã từng tuyên-thệ với nhau.

        Đàng đông, ánh sáng mặt trời đã lóe đôi chút. Gió nhẹ luồn qua khung cửa lọt vào phòng mát rợi, dễ chịu làm sao ! Con ra ngồi viết gần cửa sổ. Con gởi cho ba má thư này, mà con đang ngồi viết trong hầm trú-ẩn chờ lệnh khởi-hành.

        Con xin vĩnh-biệt Ba Má và tất cả anh chị em nơi đây. Con kính chúc Ba Má và cả nhà luôn luôn khỏe mạnh vui vẻ. Con sắp đến một hơi có nhiều thắng-cảnh thần tiên, như cảnh trong chuyện Andersen vậy. Nơi đó, con sẽ được làm hoàng-tử, con sẽ chuyện trò với chim chóc, với hoa với cỏ.

        Con cầu mong cho nước Nhựt vĩ-đại chúng ta được cường-thịnh muôn đời !


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:11:29 pm

THỦY-LÔI NGƯỜI

        Tháng 3 năm 1945, người Mỹ khám phá được một số võ-khi kỳ-lạ của Nhựt trong những đảo nhỏ rải rác khắp miền Nam đảo Okinawa, một khu rộng 62 cây số.

        Trong những hang đá, chồng chất 300 trái thủy-lôi giống như chiếc xuồng máy. Trên đầu nhọn có kíp nỗ và một ô rất kín, nước không thể vào được. Ô này dành cho một người ngồi lái. Đàng cuối là một thùng đựng chất nổ.

        Người Nhựt đặt tên cho Thủy-lôi này là «Kaitens» nghĩa là thủy-lôi nổ vang động trời đất. Tuy nhiên, họ mới huấn-luyện một số ít người điều-khiển loại nhục- lôi này.

        Đọc qua những di-ngôn sau đây, ta thấy những thủy-lôi mới mẻ này chưa được hoàn-bị.

        MINORU WADA

        Sinh-viên trường Cao-đẳng Đông Linh, gia-nhập Hải-quân tháng 12 năm 1943. Bị tử nạn trong khi thao-dượt trên một ''chiếc nhục-lôi, lúc 23 tuổi.

        Ngày 18-11-1944.

        Hôm qua, con nghe thấy tiếng còi báo-động. Phi- cơ địch bay đến bờ sông Kawadana.

        Hôm nay, một chiếc cam-nhông của công-binh- xưởng Hải-quân cán chết một bà mẹ và hai đứa con nhỏ. Con phải hiệp lực với anh Kudo để lo liệu mai- táng cho các nạn-nhàn. Tại sao trong khoảnh-khac một vật đang sống động chóng trở thành vật vô-tri như vậy ?

        Ngày 1-2-1945.

        Đày là lần đầu của đời con, ngồi trong chiếc thủy- lôi người để tập-dượt.

        Con đọc lại hai cuốn «Tâm-Hồn» và cuốn «Nhân- loại kịch-trường». Hai văn-phẩm giá-trị này làm con thích-thú đến say mê. Vì đời sống của con đang bị hương-vị cái chết ám-ảnh. Con muốn đọc hết cả những tác-phẩm văn-chương một cách mau lẹ, dầu cốt chuyện chẳng có gì, nhưng cũng gây cho con nhiều cảm-xúc mạnh mẽ.

        Những lời an-ủi, câu khuyến-khích, những bài ca, cả đến những tiếng hô của quân đội đều làm cho con chán-nản buồn nôn.

        Con muốn tìm lại mối cảm-xúc hồi còn trong cảnh thái-bình, mối cảm-xúc đã làm con phát lên tiếng khóc.

        Có phải con đã mất hẳn cái khả-năng trí-tuệ, cái mà để giúp con tự phán-đoán một cách vô-tư chăng ?

        Chết cho Tổ-quốc giữa cảnh xuân-thì, điều đó chẳng làm con xúc-động. Con phải bình-tĩnh trong những ngày còn lại. Phải tìm cách sống cho hoàn-hảo hơn.

        Thưa Ba Má,

        Đó là tâm trạng của con lúc này. Ba Má còn nhớ mầu áo của nàng Wahana mặc hôm trình-diễn văn-nghệ không? Bao nhiêu ánh đèn của buổi chiều ấy đều chiếu vào chiếc áo nhung lộng-lẫy của nàng. Thì nay, mặt biển, dưới ánh sáng mặt trời phản-chiếu, cũng không khác chi mầu áo nhung đỏ tươi của nữ nhạc-sĩ vậy.

        Buổi chiều nay, trời oi-ả quả ! Con đang điều-khiển chiếc tầu dắt (remorqueur) trọng-tải 400 tấn. Ông viễn- kính đeo nơi cổ, trên cánh tay áo bên trái có thêu một hoa đại-đóa, phù-hiệu của đội xung-kích đặc-biệt, Còn một giờ nữa chúng con tới Sahuku.

        Viên chỉ-huy tầu, tuổi đã cao, cái đầu lúc nào cũng lúc la lúc lắc như người buồn ngủ.

        Trung-úy Miyoshi vừa bị tử-nạn trong lúc cỡi thủy- lôi chui xuống gầm tầu. Chiếc thủy-lôi đụng phải sườn tầu, nổ tung làm nước biển rỉ vào buồng lái Khi mò được tử-thi nạn-nhân đã lạnh ngắt, máu me đầy mặt. Đến lúc lật ngửa chiếc thủy-lôi, một thứ nước đo đỏ chảy ra, có lẽ nước đó hòa lẫn với máu của kẻ bạc-mệnh.

        Đem nay trời mưa tầm-tã, chúng con đều mượn ly rượu cho say quên hết ưu-phiền, kể cả ông thiếu-tá trên tầu !

        Chúng tôi gặp cơn bão vào lúc 11 giờ đêm. Hai chiếc phóng ngư-lôi bị lật trên bãi. Khi tỉnh rượu, chúng con định chạy đi tiếp cứu, nhưng đã quá trễ.

        Ngày 18-4-1945.

        Kiếp sống của con chỉ còn một tháng nữa. Cái cảm-giác của con như sắp phải qua kỳ thi đệ tam cả- nguyệt. Trong một tháng nữa, con phải đâm vào tầu địch. Con không thấy như mình sắp phải chết. Nhưng dù sao đi nữa, chúng con vẫn sướng !

        Con không thể bắt chước trung-úy N. đọc những bài diễn-văn trường giang đại hải, lời văn rườm rà ca- tụng lòng ái-quổc nồng-nhiệt. Con đã có nhiều mặc- cảm với cái 1ối biểu-lộ tâm-hồn như thế. Con chỉ ưa lối suy-luận âm-thầm thôi.

        Bao nhiêu tâm-tình con cố lấy làm đầu-đề suy- luận. Có người bảo cái lối suy-luận ấy chẳng giá-trị gì và chẳng cần-thiết. Nhưng chúng con là những sinh- viên, tư-tưởng đã rèn-luyện lối suy-luận ấy mất rồi. Suy-tưởng chính là một trọng-trách mà chúng con không thể nào trút bỏ được. Nhưng nó đã giúp con sáng suốt phân-định cuộc đời.

        «Trái tim tôi giá lạnh, xung quanh nó là một sa- mạc u-buồn». Nữ anh-hùng Ishikayva thường nói như thế trong tập thơ bất-hủ của nàng. Trái tim con cũng giá lạnh, có phải là tính hèn nhát đâu?

        Các bạn thấy con mệt-mỏi, họ đều lo ngại cho con. Con thử tìm một ý nghĩa cho cái chết của con. Đến khi con tìm được, tim con sẽ đông đặc lại.

        Một tháng nữa lệnh sẽ đến. có lẽ nó sẽ chấm dứt cuộc đời khô lạt này. Chiếc kim ly trên mặt đồng hồ vẫn xoay quanh một chiều nhứt định, có bao giờ nó xoay ngược chiều đâu ?

        Cho tới giây phút định-mệnh của con đến, có lẽ con sợ lắm ! Cái không-khí lạnh-lùng nó lặng lẽ lướt qua người từ trước tới giờ chỉ gây cho con một khoái- cảm, nhưng bây giờ thì lại khác hẳn rồi. Đây là lần đầu, dĩ-vãng của con quá hỗn-độn. Trong vòng một tháng vừa qua, con có đem cái nhân-vị ra để phàn-tách mà không sao được. Con cảm thấy nó gần như không còn nữa.

        Ngồi trong đầu chiếc thủy-lôi thứ nhứt, con bò đi được 35 thước dưới đáy biến. Con không bao giờ nổi bổng lên mặt nước. Con ngồi lái chiếc thứ hai, đâm vào một ụ cát, sâu đến 30 thước cách xa mặt nước. Chân con chạm phải đầu một người bạn. Khi mở đầu chiếc thủy-lôi thứ ba mà con ngồi, thay một làn khói trắng đục tỏa ra, tạt vào mặt con. Ba lần chết hụt như thế, các bạn đều liệt con vào hạng người kỳ-lạ, gàn như « bất-tử». Nhưng chính lúc này con chỉ muốn khóc lên !

        Ngày   12-6-1945,

        Bao người không còn tín-nhiệm vào nhân-loại, thảy đều đáng thương. Từ ngày chúng con đi xung-kích, được 10 ngày rỗi rãi, không phải làm chi hết. Trông thấy chúng con vui đùa trò truyện, họ cho chúng con là lạnh-lùng trước cái chết. Sự thực, chỉ vì có phản- ứng nội-tâm khiến chúng không dám nhìn thẳng vào cái chết. Hiện giờ con chỉ còn chờ địch-quân tới Urushi trên đường tiếp tế cho Okinawa. Đôi khi những giờ đêm tối đã làm con thoải mải hơn. Con đứng trên sàn tầu nhìn sao Bắc-Đầu về phía tay mặt, sao Hôm xuất-hiện bên phía tay trái, cả hai tỏa ra ánh sáng lập lòe. Con sông Ngân-Hà xuất-hiện như một đám mây trắng mầu sữa.

        Ngày   26-6-1945.

        Con còn sống trở về. Lấy dáng điệu của anh-hùng rơm đứng trước cái sống mỏng manh thường ngày, cái đó chẳng đi đến đâu. Muốn cởi bỏ cái nhân-vị của mình, cần phải sáng suốt và nỗ-lực theo đuổi công- trình đó. Cuộc sống của con chỉ là hư-vô hèn-nhát. Một tháng suy-luận vừa qua đã giúp con gặp thấy chỗ ngã ba đường rẽ. Con tin chắc nó sẽ giúp con biến-cải mọi hành-vi, cử-chỉ và tâm-trạng. Con sẽ được dịp tìm hiểu nhân-vị của con.

        Dĩ-vãng chứa đựng những hành-động sơ-sài vô-vị.

        Quan-niệm đời sống, về cái chết và cả tâm-trạng của con đã được phô bày trên giấy này.

        Con cần phải suy-nghĩ rộng thêm và cố gắng nhiều hơn.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:12:33 pm

TRÁI BOM NGUYÊN-TỬ VÀ THẤT BẠI

        Mùa đông 1944-1945, Bộ Chỉ-Huy tối cao quân đội Nhựt-Bổn rút bớt một số quân rất lớn ở Mãn-Châu và chỉ để lại một ít rải rác khắp biên-giới Mãn-Nga. Nếu Hồng-quân tấn-công lúc ấy, Nhựt sẽ hoàn-toàn thất-bại. Tuy nhiên, các giới thân-cận Nhựt-Hoàng vẫn tỏ vẻ lạc- quan là có thể cùng Nga ký kết một hòa-ước tay đôi và với điều-kiện khả dĩ nhận được.

        Ngoại-trưởng Đông-Điều, trong nội-các Suzuki ngấm ngầm thương-lượng cùng Jacob Malik, đại-sứ Nga tại Đông-Kinh. Ông này chủ ý kéo dài tình-thế, nhưng Mạc-Tư-Khoa vẫn chưa chịu trả lời.

        Ngày 10-3-1945, một sắc lệnh được ban bổ huy- động tất cả lớp đàn ông từ 12 đến 60 tuổi, phụ-nữ từ 12 đến 40 tuồi. Các trường học đều đóng cửa. Tất cả mọi biện-pháp được áp-dụng một cách chặt-chẽ.

        Trong dân chúng, từng đoàn người chí-nguyện được thành-lập. Họ được võ-trang bằng súng cổ, bằng đao, gậy tầm-vông. Muốn tăng thêm lòng can-đảm cho đám người này, người ta loan truyền rằng : bên Đức đã thi-hành kế-hoạch trên và đem lại một kết quả rất khả- quan.

        Trong miền núi Nagamo, Bộ Tổng Tham-mưu tổ- chức những cứ-điểm biệt-lập. Các trại chăn nuôi đều biến thành pháo-đài và xây cất một hầm trú-ẩn thực kiên-cố dự-trù cho Thiên-Hoàng.

        Muốn đề-phòng quân đội Đồng-Minh đô bộ lên đất Nhựt và tránh những cuộc tàn-sát đàn bà con trẻ, những cuộc tự-sát tập-thể, không gì hơn là tìm phưong- tiện cầu-hòa hoặc đầu-hàng vô điều-kiện. Nhưng họ chỉ thỉnh-cầu có một điều : duy-trì chế-độ quân-chủ.

        Mọi biến chuyến đồn-dập xảy ra, ngày 6-8-1945, trái bom nguyên-tử đầu-tiên được thả xuống Trường-kỳ.

        Chính-phủ Nhựt-Bổn phải yêu-cầu Thụy-Sĩ can- thiệp với Mỹ đừng xử-dụng thứ võ-khí quái-ác này. Tiếp đến ngày 8-8-1945, Nga-Sô tuyên-chiến với Nhựt và qua ngày 9-8-1945 Hồng-quân chiếm-cứ Mãn-Chàu cùng một ngày với trái bom nguyên-tử thứ hai dội xuống tàn-phá thành-phố Quảng-Đảo.

        Trong đèm 9 rạng 10 tháng 8 năm 1945, Nhựt-Hoàng triệu-tập các vị bộ-trưởng và có sự hiện-diện của các vị cao-cấp trong hoàng-gia. Một cuộc tranh-luận sôi-nổi giữa hai phe : chủ-hòa hay chủ-chiến. Sau cùng, Thiên- hoàng phải dùng quyền phán-quyết. Ngài tuyên-bố : Nay đã tới giờ phút phải nhận lấy điều không thể chấp- nhận, phải chịu những điều không thể chịu được. Rồi Nhựt-Hoàng ra lệnh mở cuộc thương-thuyết.

        Liền sau đó, Ngoại-trưởng Đông-Điều trao cho Đồng-Minh một thống-điệp tỏ ý xin đầu-hàng không điều-kiện, chuẩn theo những điều-khoản ấn-định trong bản Tuyên-ngôn Hội-nghị Postdam. Nhưng chỉ yêu-cầu cho Nhựt-Hoàng vẫn được duy-trì nền quân-chủ.

        Chính-phủ Hoa-Thịnh-Đổn phúc-dáp vào ngày 11-8- 1945, ưng-thuặn nguyên-tắc đầu-hàng, nhưng tuyên-bố: Ngay sau khi đầu xong, Nhựt-hoàng và chính-phủ Đông- Kinh phải đặt dưới quyền Bộ Chỉ-Huy tối-cao quân đội Đồng-Minh. Bộ Chỉ-Huy này sẽ ban bố những quyết- dịnli cần-thiết để thi-hành mọi điều-khoản đình-chiến.

        Những phần-tử ải-quốc quá-khích, những hàng tướng tá trẻ tuổi nhứt định không chịu hàng. Họ cho rằng đầu-hàng như thế sẽ không bảo-đảm được nguyên vẹn chế-độ quân-chủ. Những vị đại-diện của bộ Tham- Mưu thi-hành mọi áp-lực với thủ-tướng Suzuki quá già, cốt ngăn cản việc ký hòa ước mà họ cho là mất danh- dự.

        Mỹ vẫn chờ đợi chinh - phủ Nhựt hồi đáp. Nhưng thời gian cứ bị kéo dài, Mỹ cho huy-động toàn lực- lượng oanh tạc khắp lãnh-thổ Nhựt. Không chịu đựng nỗi sức tàn-phá, Thiên-hoàng bèn tuyên-bố :

        «Trẫm dùng quyền Hoàng-đế tuyên-bố chấm dứt chiến-tranh ».

        Nhà vua cương-quyết đọc bản tuyên-cáo được thâu thanh vào đĩa và phát-thanh để chấm dứt tình-trạng hiện tại.

        Giữa trưa ngày 14-8-1945, một nhóm sĩ-quan bao- vây hoàng-cung, chận bắt một số nhân-vật của phe chủ- hòa. Họ chiếm đóng đài phát-thanh Đông-Kinh và sửa soạn tuyên-bố tiếp-tục chiến-đấu đến giọt máu cuối cùng. Chiếc đĩa thâu-thanh bản tuyên-cáo của Nhựt- Hoàng được một chuyên-viên cất dấu trong áo mặc, nên bọn quá khích không lấy được.

        Sáng ngày 15 đội Hiến-Binh Hoàng-gia phải ra tay can-thiệp, tước khí giới của đám người nổi loạn. Viên loạn-tướng chĩa súng vào đầu tự-tử. Đồng thời đô-đốc Onishi, bộ-trưởng chiến-tranh cũng mổ bụng tự-sát. Chừng 20 phi-công đội Thần-Phong cho phi-cơ đâm nhào xuống biển. Đa số sĩ-quan và dân-chủng cúi đầu tuân theo tiếng gọi của Thièn-Hoàng.

        Lúc 4 giờ chiều ngày đó, bản hiệu-triệu của Nhựt- Hoàng được loan-truyền trên làn sóng điện của Đài Bá- Âm. Dân chúng đều tụ-họp trước máy thâu-thanh và máy phóng-thanh. Đây cũng là lần đầu tiên họ được nghe tiếng của đấng chí-tôn. Họ đứng yên-lặng, đôi khi ngậm-ngùi, đưa tay lên ngăn cản hàng lệ lấp lánh trên rèm mi. Mặc dầu có tính trầm-lặng lầm-lỳ cố-hữu, họ cũng không giữ nỗi mối xúc-động trước một tan-vỡ của giấc mộng toàn dân.

        Trăm triệu dân khi trước, nay chỉ còn lại 7 chục triệu. Họ sẵn sàng dùng những võ-khí cổ-điển thô-sơ như giáo mác, gậy tầm-vông chống cự quân đội Đồng- Minh, hầu tôn-trọng luật-lệ bảo-vệ danh-dự mà thường nhật họ vẫn chủ-trương chính sách tự-sát tập-thể.

        Họ khóc xướt mướt khi nghe lời tuyên-bố của Nhựt- Hoàng. Nhưng chỉ vài phút qua, họ lấy lại mức bình- tĩnh thường ngày, lặng lẽ quăng bỏ võ-khí. Còn một số người cuồng-tín cầm dao tự mổ bụng ngay trước cửa hoàng-cung. Nhiều người thản nhiên đứng trước thảm- cảnh này. Phải chăng con người họ đã quả đau đớn đến mức thờ-ơ với tất cả sự việc ?

        Báo chí Nhựt đột nhiên chuyển-hướng. Mới đây họ ca-tụng Vương-quyền, nay đã vội hô-hào đón mừng dân-chủ. Bộ Chỉ-huy cho thiêu-hủy tất cả giấy tờ nguy-hại.

        Mười lăm ngày sau, lớp quân-đội đầu tiên của Mỹ đặt chân lên đất Phù-Tang tại Atsugi, dân chủng đã sẵn- sàng tiếp đón đoàn người chiến-thắng với nụ cười vui vẻ. Nước Nhựt có ngay bộ mặt lãng quên khối « Đại- Đông-Á » quên cả 2 trái bom nguyên-tử và bắt tay ngay vào bài học dân-chủ mang nhãn-hiệu «chế-tạo tại Hiệp Chủng-quốc ».

        Dưới đây là bản tuyên-bố của Thiên-Hoàng ban hạ ngày 15-8-1945. (Nhựt-Hoàng dùng lối văn cổ-điển, nhuốm vẻ văn-chương cổ Trung-Hoa, các thính-giả nghe không được hiểu hết).

        «Trẫm, Hoàng-Đế Đại Nhựt-Bổn quốc, hạ lệnh cho chính-phủ thông báo cho 4 nước Đồng-Minh: Hiệp- Chủng-quốc, Anh-Cát-Lợi, Trung-Hoa và Nga-Sô hay rằng: Trẫm thừa nhận bản tuyên-ngôn chung của 4 quốc- gia ấy. Bảo-đảm nền an-ninh cho nhân-dân của Trẫm, cùng chung hưởng nền thịnh-vượng của mọi quốc-gia trên hoàn-cầu, đó là đường lối của các đấng Tiên-Đế lưu-truyền cho Trẫm, và Trẫm cố gắng noi theo. Nhưng ngày nay tình-hình quân-sự của nước nhà đang gặp phải bước không may. Khuynh-hướng chung của mọi quốc-gia không thich-hợp với hoàn-cảnh Nhựt-Bổn.

        « Hơn nữa, đối-phương đem xử-dụng một thứ võ- khí tối nguy-hại, luôn luôn reo rắc tang tóc cho dân Trẫm. Sự thiệt-hại không tài nào ước lượng được. Với những lời lẽ trên, Trẫm thiết-tưởng nếu ta cứ tiếp tục theo đuổi chiến-tranh, chỉ đưa dân-tộc tới chỗ diệt- vong, mà còn phá-hoại nền-tảng văn-minh nhân-loại nữa. Trẫm có bổn-phận bênh-vực trăm triệu sinh-linh mà Trẫm coi như đoàn con thơ dại. Trẫm cần phải cầu xin anh-hồn các vị Tiên-Đế tha thứ. Tâm-hồn Trẫm hướng về linh-hồn các tử-sĩ đã bỏ mình ngoài trận- tuyến, hướng về những kẻ hi-sinh vì nhiệm-vụ. Những gia-đình tang tóc, những kẻ chết non-yểu, làm tâm-hồn Trẫm thêm tan-nát !

        Trẫm ước mong mở một kỷ nguyên thái-bình cho những thế-hệ mai sau, đang gánh chịu nỗi thống-khổ bất khả kham.

        Trẫm có thể đảm-đương nền chính-trị quốc-gia. Trẫm hoàn-toàn tín-nhiệm vào lòng trung-thành của dân chúng. Trẫm sẽ sống chết cùng các ngươi.

        Toàn dân hãy đoàn-kết như con một nhà, hãy noi gương sáng của tiền-nhân. Hãy tin-tưởng vào đặc- tính bất-khả hủy—diệt của đất nước.

        Trẫm luôn luôn nhớ tới trọng-trách của Trẫm, nghĩ tới chặng đường xa thẳm trước mặt. Trẫm sẽ đem toàn lực để xây dựng tương-lai.

        Nhờ có nền đạo-lý sâu xa, Trẫm nguyện sẽ nêu cao nền chính-trị thuần-tủy quốc-gia và theo bước tiến- triển của mọi quốc-gia trên hoàn-cầu.

        Dàn chủng hãy tuân theo ỷ-nguyện của Trẫm!»


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:14:03 pm

        MINORU SUZUKI

        Sinh-viên luật-khoa Đại-học-đường Đông-Kinh. Ngày 6-8-1945,bị trúng bom nguyẻn-tử và chết   tại bệnh-viện quân-y Cono, ngày 25-8-1945, hồi 21 giờ 30 lúc20 tuổi.

        Tác giả bị phỏng khắp thân-thể bị đau đớn. Mặc dầu hai tay bị phỗng rát rùa, nhưng dùng hết nghị lực thảo ra tờ di-ngôn sau đây:


        Thưa Ba Má,

        Xin ba má tha thứ cho đứa con bất-hiếu này. Con muốn ăn ở như người con hiếu-thảo, nhưng chưa dạt ý-nguyện thì con sắp phải chết.

        Mặc dầu ba má nghèo túng, cũng cố gắng cho con học từ bực trung-học cho tới bực cao-đẳng. sắp đến lúc con có thể đền đáp công ơn ba má thi con lại phải chết.

        Các chị con đã từ khước việc hôn-nhân, ưng chọn nghề giáo-viên để giúp ba má. Con không biết làm chi để tỏ lòng biết ơn ba má. Muốn cho con có thể theo đuổi việc học hành, ba má phải làm việc tối ngày, từ sáng tinh-sương lúc trăng chưa lặn cho tới lúc mặt trời đã lặn hẳn, tinh-tú đã hiện lên. Không bao giờ con có thể đền đáp được lòng hi-sinh cao cả của ba má. Bây giờ con sắp phải chết, con chỉ biết xin ba má thứ lỗi cho con !

        Thể xác con chết đi, nhưng linh-hồn con sẽ ở bên cạnh ba má và các chị. Con thề với ba má như thế. Con sẽ làm việc, con sẽ ăn uống, con sẽ vui buồn bên cạnh ba má. Mùa thu đã tới, giun dế bắt đầu rên-rỉ, cỏ cây

        trong rừng đã bắt đần rụng lá, giá đông tuyết lạnh sẽ khêu gợi cho ba má nhớ đến cái chết của con. Nhưng xin ba má đừng khóc làm chi. Xin ba má và các chị hãy lo giữ sức khỏe, hãy thêm can-đảm. Con kính chúc ba mả và các chị trường-thọ và hạnh-phúc.

        Trái bom nguyên-tử rơi xuống ngày 6-8 có một sức ghê gớm.. Con bị những vết phỏng ở mặt mũi, lưng và hai tay.

        Trước khi chết, con xin gởi lời cảm-tạ các vị y-sĩ, y-tá và tất cả các bạn, đã hết lòng săn sóc con.

21 giờ ngày 25/8/1945       
Con của ba má ; Suxuki       


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:38:44 am

        HISAO KIMURA

        Sinh-viên ban Kinh-tế chính trị Đại học đường Đông-Kinh. Nhập-ngũ tháng 10 năm 1942. Bị kết tử-hình vì là tội-nhân chiến tranh. Bị xử giảo tại khám lớn Changi, Tân-gia-ba, ngày 23-5-1946, lúc 28 tuổi.

        Bức thư này Kimura viết trên mép trang cuốn « Triết-học yếu-lược » của Gen Tanabé, nhờ tay một người bạn được phóng-thích đem trao cuốn sách cho cha mẹ. Đọc thư này ta thấy có lẽ tác-giả bức thư bị oan-ức. Những lầm-lẫn như thế rất thường xảy ra trong những cuộc trừng-trị hấp-tấp. Vả, một khi con người đã bại trận, sao lại không có tội ? nếu những người chiến-thẳng đã không « chiến-thắng » thì họ có thoát bị lên án không ?


        Do sự ngẫu-nhiên mà con nhận được cuốn « Triết- học yếu-lược » của Gen Tanabé, con đã đọc cuốn sách này trước khi chết. Lần thứ nhất con đọc tác-phẩm triết-học này, thời-kỳ đang là sinh-viên bên Nhựt. Thời gian đã 4, 5 năm qua rồi.

        Hiện giờ con đang ngồi trên chiếc ghế đá, hình ảnh cái chết bao trùm, con sắp qua đi như giọt sương sa buổi mai, con mường-tưởng đến quê-hương. Con đã lấy lại được lòng ham mê học-hành sẵn có từ trước. Mặc dầu định-mệnh bắt con bị treo cổ trong mấy ngày nữa, nhưng con cũng đọc đi đọc lại tác-phẩm tới 3 lần, và lần nào con vẫn cảm thấy thú-vị hơn mãi lên. Con viết những ý-tưởng cuối cùng trên mép trang sách, khác nào di-ngôn của con vậy.

        Từ 4 năm nay, việc học-hành bị gián-đoạn. Tuy nhiên, con vẫn còn hiểu rõ ý-nghĩa cuốn sách. Con lấy làm hiên-ngang vì cuốn sách thường được coi là rất khó hiểu. Con chưa thể nào mất được cái ham-thích học-hành. Con sắp viết ra đây những ý-tưởng trước khi chết. Con không được phép xin giấy trắng, vậy con tạm viết trên mép các trang sách này.

        Con đã bị kết án tử-hình. Ai có thể ngờ được sự việc xảy ra như thể ? Ai lại không chắc được con sẽ sống ngoài 30 tuổi, lúc mà việc học-hành còn đang dang dở ? Cuộc đời sóng gió của con sắp tan đi như cơn gió, mà chưa ai ngờ được. Con tưởng như đang đọc cuốn tiểu-thuyết mà con đóng vai chính vậy.

        Lúc biết định-mệnh đã được định đoạt rồi, con nhẫn nhục chịu.

        Lịch-sử chẳng qua là tất cả bao nhiêu hi-sinh thầm- kín nối tiếp nhau. Sự hi-sinh và cái chết của con chẳng hạn có khác chi giọt nước rớt vào dòng nước thác chảy xiết mạnh!

        Nước Nhựt đã bại trận trước cơn cuồng-nộ và xỉ- vả của hoàn-cầu. Các nước khác đã vùng dậy chống lại những hành động vò nhân-đạo của người Nhựt. Cái chết của con sẽ trả thù thay cho nhân-loại và thoa dịu lòng căm-phẫn của nhàn-loại. Con sung-sướng và hân-hạnh vì được chết để mở đầu một tương lai sán-lạn cho đất nước.

        Con không phạm một lỗi nào đáng án tử-hình này. Tất cả lỗi lầm đều do người khác làm nên, thế mà con không được phép nói thực để minh-oan. Con phải đền tội thế cho người khác, đó là điều thậm vô-lý và bất-công! Nhưng trải bao năm qua, người Nhựt đã bắt bao người ngoại-quốc chịu những cái mà con đang chịu bây giờ như thế hỏi có chi là bất-công và vô-lý ?

        Con phải công-nhận điều đó, vì con chỉ được phép minh-oan bằng cách nói lên sự thật ở đây thôi. Quân đội Đồng-Minh đã chú-trọng vào con, đó cả là một điều không may cho con. Con không thể hi-sinh mạng sống cho quân đội Nhựt, không bao giờ con chịu như thế! Nếu hi-sinh mạng sống để đền tội toàn dân phạm, lại là việc khác. Con không được phép nói lên để phản đối việc bất-công đó, nên đành chịu chết với nụ cười trên môi còn hơn !

        Trong vụ án này, các sĩ-quan Bộ-Binh đã hoàn- toàn hèn-nhát. Trái lại, hàng sĩ-quan Hải-quân đã cư xử rít đứng-đắn. Bao nhiêu cái con làm được trong suốt thời gian điều-trạ vụ án và cả sau khi tuyên án,

        con đều làm cả để tự minh-oan. Nhưng vì con đã tận- hiến cả xác lẫn hồn con cho nước Nhựt, cũng có trách- nhiệm một phần nào. Nhưng quả thực, con vô tội. Trường-hợp của con nào có khác chi những vị anh- hùng đã chết ở Okinawa, đột nhiên họ bị liệt vào hạng tội-nhân chiến-tranh, vì đã phạm các điều luật thế-giới.

        Chính lúc con khám phá được một ổ gián-điệp đối-phương ở đảo Kanikobal, sắp được tuyên dương công-trạng, được tặng thưởng huy-chương thì bỗng nhiên nước Nhựt bại-trận. Tình-hình chỉ trong một tháng đã xoay chiều đổi hướng. Những hành-động anh-hùng đầy công-trạng của con bỗng biến thành lý- do lên án tử-hình. Cuộc thất-bại điêu-đứng này đã ảnh- hưởng đến tất cả mọi người dân Nhựt. Riêng con, con phải hi-sinh mạng sống.

        Ý con định vùng lên chống lại với tất cả phái quân- phiệt vì họ tự lao mình vào cuộc chiến-tranh, mặc dầu họ biết rằng theo đuổi chiến-tranh chỉ đưa dân-tộc đến chỗ diệt-vong. Cái trách-nhiệm đó hoàn-toàn quy vào đầu tất cả người dân Nhựt, vì họ trao phó toàn quyền cho hàng tướng-lãnh, được tự-do hành-động từ hồi chiến-tranh Mãn-Chàu.

        Bây giờ dân chúng cần phải hồi-tỉnh lại! Sự thức- tỉnh này phải bao-hàm một mầm mống nảy nở một tương-lai rực-rỡ cho đất nước. Còn chỉ tiếc rằng chết đi mà không được chứng-kiến cái ngày huy-hoàng đó thôi !


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:45:28 am

        Nước Nhựt đã tỏ ra thua kém các dân-tộc khác về mọi phương-diện. Toàn dân phải có trách-nhiệm về thái-độ này vì dân-tộc ta để mặc bọn cầm đầu lừa bịp : Nước Nhựt tài-giỏi hơn mọi dân-tộc hoàn-cầu.

        Cải quan-niệm lừa-bịp đó đã đem lại một hậu-quả hết sức tai hại: phải dùng đến võ-khí, và phải thất-bại. Chúng ta cần phải gạt bỏ võ-lực và phải nhận định cái chân giá-trị của mọi sự việc. Đó chính là đường-lối chân-chính đưa nước ta đến con đường cường-thịnh. Chúng ta cần phải canh-tân tổ-chức chính-phủ. Duy với điều-kiện này nước Nhựt mới phát-triển được. Tình- hình nước nhà hiện giờ rất lộn-xộn, nhưng đó là điều may mắn. Khi mà dân-tộc ta biết gạt bỏ những tư- tưởng độc-đoán, lúc đó mới được hoàn-toàn sung- sưởng. Một ngày gần đây, chủ-nghĩa Mác-Xít, chủ- nghĩa tự-do và bao nhiêu lý-thuyết chính-trị khác sẽ được đem ra nghiên-cứu kỹ-lưỡng để chính-phủ mình chủ-trương. Lúc đó, nước Nhựt mới được phát-triển mạnh-mẽ. Con nghĩ đến mà buồn vì điều con nói đây sẽ được thực-hiện sau khi con chết. Nhưng bao nhiêu người được chứng-kiến công cuộc canh-tân này, họ sẽ thay thế con điều-khiển quần-chúng một cách lương- thiện hơn. Nước Nhựt phải có bổn-phận tự cái-cách và tổ-chức lại đi! Con ước mong rằng trong thế-hệ mới này, lớp sinh-vièn sẽ giữ một vai trò quan-trọng.

        Chị Takako, chị nên kết hôn mau lên. Em rất sợ rằng cái chết của em sẽ khiến ba má thất-vọng và gia- đình ta sẽ lâm vào cảnh cơ-hàn.

        Những tội-nhân chiến-tranh bị lính Hòa-Lan canh giữ. Những lính này trước kia đã là tù-binh của nước Nhựt. Họ đã bị ta ngược đãi, ngày nay họ ngược đãi lại mình. Chúng con bị những cú đấm đả. Nhưng khi con nghĩ đến cách người Nhựt đối xử với họ thì con coi chẳng vào đâu. Con không than-vãn gì hết ! Nhiều sĩ-quan thường than-vãn, nhưng họ quên mất những hành-động cũ của họ. Riêng con, đã không làm khổ ai bao giờ, dầu vậy, con vẫn bị ngược-đãi như những người khác. Quả thực đáng tiếc ! Nhưng con biết làm sao được ? Dầu sao, lúc này con chỉ là một người dân Nhựt. Nếu con yêu sách được biệt-đãi. chẳng hóa là vô-lý lắm sao ? Cũng may, con ít bị đập đánh, trái lại được mọi người yêu-quý. Mỗi ngày chúng con ăn hai bữa : sáng ăn một thứ hồ dẻo như keo, chiều cháo nấu bằng gạo. Suốt ngày chúng con đói cào cấu và đi đứng không vững. Người linh canh gác con rất tử-tế : ban đêm anh ta đem lén cho con quà bánh, thuốc lá và bánh khô. Hôm qua, anh ta cho con một chai nước ngọt. Thấy anh ta quá tốt bụng, con cảm-động phát khóc lên. Một người trong bọn lính gác có nói với con: có lẽ anh ta sẽ được thuyên-chuyên qua Nhựt. Con đã biên địa-chỉ ba má và trao cho anh ta một lá thư. Những người lính này đều biết con bị oan-ức. Họ rất ác-cảm với người Nhựt, nhưng bụng họ rất tốt. Rút cục, người nào cũng đều thế cả ! Người gác buồng con đã bị bắt làm tù-binh bên Nhựt, anh ta có kể cho con nghe những cách lính Nhựt xử đãi với anh ta : đấm đá, hơ lửa nóng, v. v...

        Con không hiểu được sao người ta nỡ tàn-ác đến thế ?

        Cỏ một điều mà con quên nói : địa-vị người phụ- nữ Nhựt-Bổn trong xã-hội rất thấp kém !

        Một câu than-thở, một hơi thở, một thìa chảo, tất cả những cái đó đều làm cho con cảm thấy thế-giới hữu-hình. Hôm qua một tội nhân mới bị đem đi xử. Hỏm nay, lại hai người. Chắc sắp đến lượt con rồi ! Vì thế, một chi-tiết nhỏ nhen nào trong cuộc sống cũng đều khêu gọi cho con một kích-thích không tả được, và có một vẻ quan-trọng đối với con. Như một thìa cháo chẳng hạn : Con lim dim đôi mắt lại thưởng- thức hương-vị nước cháo đang từ từ trôi xuống bao- tử. Trong vài phút, con cũng đủ tìm thấy tất cả cảm- giác chứa đựng trong vạn-vật.

        Trong hoàn-cảnh hiện giờ, con không bi-quan và không bồi-hồi nóng nảy. Mặc dầu lo sợ, nhưng con muốn nhận lấy cái chết như đã quan-niệm. và con không nghĩ tới nữa là hơn !

        Tác-phẩm triết-học của Gen Tanabé con ngẫu-nhiên mà được đọc lại từ mấy hôm nay. Con muốn trước khi bị hành-hình, được đọc lại một lần nữa. Lúc còn là sinh-viên, con ham mê khoa xã-hội-học lắm. Con đã mải-miết đọc cuốn triết-học này. Đọc đi đọc lại con vẫn thấy thú. Trước kia, con đọc thấy khó hiểu, nhưng bây giờ ngồi trên chiếc ghế đá lạnh, giữa phòng giam khám lớn ở Mã-Lai, xa cách quê-hương ngàn dặm, con lại thấy dễ hiểu hơn. Trước khi kéo bức màn đời, được đọc cuốn sách này, con lấy làm sung-sướng lắm !

        Mỗi chữ, mỗi tiếng trong cuốn sách đều khêu gọi cho con tìm thấy lại hình ảnh cũ trong trí tưởng-tượng và đă từng bị nhục-dục và ham-vọng nung-nấu.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 07:57:39 am

        Một cuốn sách hay và tốt bao giờ cũng phải phát- sinh cái thị-dục và bình-tĩnh cho linh-hồn, bất cứ trong hoàn-cảnh nào (Một cuốn sách hay cần phải khêu gợi sôi nổi thị-dục khi cần và phải đem lại bình-tĩnh đúng lúc). Cuốn triết-học này con đọc một hơi cho đến chữ cuối cùng. Rồi con lại đọc lại. Hết cả ý nghĩa tự nhiên sáng sủa ra cho con. Đọc nó tựa hồ như lúc con đọc cuốn lễ-giáo và đọc bài sám-hối trước khi chết. Cuốn sách này sẽ là di-ngôn của con và cũng là nấm mồ chôn xác con. Con chưa tới trình-độ hiểu rõ hết các nguyên- tắc triết-học trong cuốn sách, những điều đọc ra mà con nhớ được, có lẽ xa biệt với tư-tưởng của tác-giả. Nhưng con tưởng rằng tác-giả lúc cầm bút viết ra cuốn sách này, chắc cũng có trạng-thái giống như trạng-thái của con, lúc khởi sự học vậy.

        Nhiều thày dạy và các bạn cũ sẽ tiếc thay cho con và bảo nếu con được sống, sẽ là một sinh-viên xuất- sắc. Con không muốn có một đời sống tầm-thường. Nếu sống như thế, chẳng thà chết ở đây còn hơn. Thà rằng bỏ xác ở đây còn hơn con sống một đời sinh-viên, vì tâm-hồn con chưa từng bị những tệ-oan xã-hội làm nhơ. Ý con muốn sổng để tiếp-tục học-hành, nhưng chết đi có lễ còn hơn vì đó là ý của Thượng-Đế đă định-liệu. Mặc dầu việc học đang giang giở, nhưng tâm- hồn con vẫn còn trong sạch.

        Con đã thử hết cách để được sống và minh chứng rằng con oan ức. Cẩp trên con đã ra lệnh tuyệt-đối không được nói thật. Vì thế, những sĩ-quan cao-cấp chỉ bị án khổ-sai chung-thân, mà con lại bị án tử-hình. Quả là điều vô-lỷ và bất-công !

        Tuy nhiên, con tin chắc con sống còn có ỉch cho tương-lai đất nước hơn là họ sống. Những người có trách-nhiệm, chính là những sĩ-quan ấy. Họ biết vậy nên mới bắt con yên lặng và họ tự biện-hộ lấy. Tuy nhiên, con cũng có quyền-lợi thiên-nhiên được sống. Lúc tuyên án xong, con đã kháng án, con đã xuất-trình những chứng-cớ, hiện đã được ghi chép vào biên bản thảo bằng Anh-ngữ. Con chắc là không ai chấp-thuận việc kháng-án của con vì là án bất khả khảng. Dù sao đi nữa, con cũng thử may xem sao. Con đã cung man, nên con mới bị án tử-hình! Rồi sau chính con định nói hết sự thật. Nếu hồ-sơ con được cứu xét lại, thế nào cũng có mấy sĩ-quan sẽ bị tử-hình, và như thế mới là công bình. Nếu con được sống, con sẽ giúp ích cho nước nhà hơn họ. Họ là những người kiêu ngạo và hiếu-thắng. Những hạng người đó làm gì được cho Tổ-quốc?

        Trong hàng sĩ-quan cao-cấp mà con quen biết, có một vài ông có tính-tình khả tốt. Ngoài ra, họ đều có trình-độ quả thấp, chỉ ngang với hàng giáo-viên sơ-cấp thôi. Con đã từng sống chung với họ. Một khi các sĩ-quan ấy cởi bỏ quân-phục, phù-hiệu cấp bực ra thì ngôn-ngữ cử-chỉ của họ rất khả-ố. Dầu nước Nhựt có nền tài-chính trội hơn, cũng không thể thắng-trận được vì cấp chỉ huy quân đội là hạng người kém cỏi.

        Sau cuộc chiến-tranh Mãn-Châu, và sau khi quân đội Nhựt chiếm đóng miền Nam-Á, binh-sĩ Nhựt-Bổn đã trở thành đám quân ươn-hèn, hơn cả những lái buôn, chỉ lo tư-lợi. Thế mà chủng dám khoác-lác về trung-tín, về nhiệm-vụ về lòng hi-sinh quả-cảm! Bây giờ, lột trần ra, không ai chịu nỗi những hạng ấy được nữa! Thế mà dân Nhựt đã thâu nhận, đã bênh-vực những phần-tử ấy. Trách-nhiệm hành-vi của hạng này hoàn-toàn cả dân-tộc phải gánh chịu. Vì dân thiếu óc phê-phán. Cái đó chứng tỏ chúng ta chưa được tiến- bộ mấy.

        Hoặc giả có người đáp lại rằng: dân-tộc ta đã có hai ngàn năm lịch-sử cơ mà ! Nhưng làm quái gì cái lịch-sử lâu dài trống rỗng và nghèo nàn ? Ngày nay, con quả quyết rằng xã-hội Nhựt-Bổn thiếu kinh-nghiệm và thiếu kỷ-luật thì quân đội không làm gì được con nữa! Lúc còn là sinh-viên, đời sống con cả là một

        cuộc cách-mạng liên tục. Nhưng thực ra, con phản-đối lại khuynh-hướng của người dân Nhựt chỉ tuân lệnh của phái quân-phiệt một cách mù-quáng. Trong trại lính, hàng sĩ-quan chỉ ca-tụng đức-tính tùng-phục mù- quáng. Khi con chống lại với cấp sĩ-quan, dù gián-tiếp, con bị gán là thằng theo tự-do chủ-nghĩa. Không khi nào con kể ra hết được những tật xấu, những khuyết-điwrm của quân dội. Chúng ta thảy đều nhắm nghiền mắt lại, chỉ vì chúng ta là người dân Nhựt. Nhưng đúng lý ra ; bọn quân-phiệt phải cầm dao tự phanh bụng ra di, phải cúi mình trước nhân-dân mà nhận lỗi đi, phải hiến mạng sống cho xã-hội mới được. Phái quân-phiệt qụả đã lợi-dụng danh-nghĩa của Thiên-hoàng.

        Ba Má sẽ oán-hận vì bước đường không may của con, bị chết sau khi chiến-tranh kết-liễu. Con sợ rằng ba má sẽ thất-vọng. Đàng khác, con cũng được chút may là được sống cho tới hôm nay. Khi con đang vượt Ấn-Độ-dương, bị phi-cơ đối-phương oanh-tạc và bị hạm-đội địch đánh đuổi, con thường nghĩ giờ phút tận- số đã điểm. Chưa từng bị thương, con vẫn cảm ơn Trời Phật đã luôn luôn bảo vệ con. Con muốn chết mà được cảm-tạ Trời Phật về những ơn đã thụ-lãnh hơn là được sống mà cứ than-vãn số-phận hẩm-hiu. Xin Ba Má đừng buồn. Xin Ba Má cứ nghĩ rằng sống được tói ngày nay là đủ rồi. Chính vì thế mà con vui lòng chết.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2018, 09:49:08 am

        Tình cờ lúc nãy, con được nghe một tin tuy không giá-trị gì, những án tử-hình có lẽ được ân-giảm cho các tội-nhân chiến-tranh. Mấy hôm nay, một lính gác nói vói con : hiện sắp có một quy-định mới sẽ được áp-dụng, các binh lính đã hành-động theo lệnh của thượng-cấp sẽ được coi như vô-tội.

        Những tin tức trên đây gây cho con một tia hi- vọng nhỏ, có lẽ hi-vọng ấy lại sắp tan đi ! Nếu con viết ra đây, chỉ vì con muốn tỏ cho ba má biết tâm-hồn con lúc này đang khoắc-khoải trước giờ chết. Con người đứng trước cái chết không đủ sức chịu đựng !

        Uchida, sĩ-quan binh-lương thủy-quân, quả là một người phi-thường. Ông mới 30 tuồi, rất thông-minh, vừa xuất thân ở trường Cao-đẳng thương-mại Đông-Kinh ra. Những sĩ-quan cao-cấp và cả đến những thường dân, con chưa từng gặp ai giỏi bằng Uchiđa.

        Giữa những kẻ đang khoắc-khoải vẫn bình tĩnh đọc sách được và những người cứ mặc đời sống trôi chảy, có một điểm dị-đồng lớn. Con nhớ rõ ràng hồi còn nhỏ con được bà nội hết sức săn sóc. Con những mong ước khi lớn sẽ đền ơn Bà. Nhưng bây giờ con lại phải chết trước bà, chưa thể đền ơn Bà được. Nghĩ đến mà con đau lòng. Đã có chị Takako thay con để báo đền ơn bà.

        Xin cả nhà cử-hành đám ma con thực đơn giản. Chỉ ít người đi là đủ, vì tính con không ưa những cảnh phô- trương. Con muốn ngôi mộ của con giống hệt ngôi mộ của bà nội. Khi còn nhỏ, con tự hỏi, không biết ai sẽ được an-nghỉ bên cạnh bà. Lúc đó, con đâu có ý-tưởng là con sẽ được nằm nơi ấy.

        Ở nghĩa-trang, phong-cảnh rộng rãi, từ xa, xuất- hiện ngọn tháp cao của đài Phát-thanh Fukiđa và những dinh-thự của nhà ga. Những dịp lễ kỉ-niệm các vị quá cố, con vẫn trèo lên đó để xem đốt pháo bông. Khi chết rồi, con sẽ trở về đó ăn trái cây vải. Xin ba má lo đặt trên ngôi mộ con nhiều bông hoa thược-dược, nhứt là thực nhiều nụ. Con muốn giống như những hoa và nụ đó là biểu-hiệu trái tim con. Con còn nhớ, bàn thờ của gia-đình ta có vẻ sầu-thảm bi-ai quá. Con muốn bài-vị con không quả ảm-đạm đâu. Điều con xin đây có lẽ ngược với giáo-lý nhà Phật, nhưng dù sao chính con đã hóa thành Phật rồi !

        Xin ba mả cứ làm theo ý con. Con mong ước được ba má kỉ-niệm ngày sinh-nhựt con vào ngày 9 tháng 4 hơn là ngày con chết. Con sẽ quên hẳn ngày chết và chỉ nhớ ngày sinh ra thôi. Con sẽ đời đời nhớ ngày tháng 8 năm 1939. Chính độ ấy là ngày con khởi sự đọc những tác-phẩm về xã-hội-học trong thung-lũng Omoka, gần Shikoku. Con khởi sự nhận biết giá-trị khoa- học và suy-luận. Chính ngày đó con đã cảm xúc mạnh nhứt đời con.

        Con đã ủy-thác cho đại-tá Ueda gởi cuốn sách này cho ba má. Đại-tá Ueda là trưởng phòng hành-chảnh dân-sự ở Kanikobal, trong hai năm trời ông đã săn sóc con. Còn bao nhiêu sĩ-quan khác đều xử đối với binh lính không khác nô-lệ. Trong khi ấy đại-tá Ueda rất tốt, vẫn tôn-trọng nhân-vị con người. Không khi nào ông mắng nhiếc ai một câu. Giá không được gặp ông, có lẽ con phải sống khổ sở và phải làm việc vất vả khó nhọc của hàng binh nhì. Và biết đâu con đã chết sớm rồi cũng nên. Nhờ có ông, con đã được biệt— đãi hơn cả hàng sĩ quan. Quả thực mọi điều may là nhờ có đại-tá cả. Ba Má nên biết ơn đại-tá. Trong suốt thời gian xử vụ án, đại-tá đã ăn ở một cách hết sức dửng đắn,

        Con kính gởi cuốn sách này cho ba má tựa như di- ngôn của con. Con đọc xong sách này trong khám lớn Tân-Gia-Ba. Trước giờ chết, cuốn sách này đã đem lại cho con một ham-muốn về chân-lý và giúp con vượt trên hoàn-cảnh. Đây là cuốn sách cuối cùng con đọc ở dưới trần gian. Nó đem lại cho con một ý-nghĩa đặc- biệt về những giây-phút cuối cùng đời sống buồn thảm.

        Má thân-yêu, xin má đừng buồn đừng khóc làm chi. Chính con không khóc cơ mà ! Con sắp chết vì Tổ- quốc. Thưa Ba Má, xin ba má hãy nhẫn-nhục mà nghĩ rằng con đã bị một viên đạn của địch trong trận chiến. Ba Má cứ hỏi những chi-tiết về vụ án con nơi đại-úy Eizo Eukanaka..

        Còn em gái Kochan của anh, em có khỏe không? Em sắp được 22 tuổi rồi. Chắc bây giờ em đã là một thiếu-nữ kiều-diễm lắm nhỉ! Anh tiếc không được gặp em lần chót. Em nên kết-hôn sớm đi, để trông nom nhà cửa thay anh và phụng-dưỡng ba má, sau khi anh chết.

        Thưa Ba Má,

        Ba Má đã hết sức nuôi nấng dạy dỗ con, bây giờ con đã khôn lớn, sắp đền ơn ba mả được thì lại chết. Đó chỉ là định-mệnh, con không trốn thoát được, đành chịu vậy ! Nếu con muốn, còn có thể tự biện-hộ, nhưng mà vô-ích thôi. Dù sao, con chết cũng chẳng khác gì con bị mất tích hoặc bị trúng bom như một kẻ vô danh. Lúc con trở lại bình-tĩnh, trong lúc chờ cái chết, hình ảnh làng quê xuất-hiện trong trí tưởng-tượng rất rõ rệt, không khác chi trước mắt con vậy. Con nhớ rõ : mảnh vườn chạy dài trước căn nhà cậu Tani, cái hồ cá đầy nước mà cậu con thường ngồi câu. Con nhìn thấy con cả đang giẫy đạch nơi đầu cần câu... và tất cả những kỉ-niệm về Cohi... Con kể không bao giờ hết được. Căn nhà mới xây cất, khu rừng thông, ngôi trường trung-học Shinono, những cảnh vật đó lưởt qua trí tưởng tượng con chẳng khác cây đèn kéo quân. Các giáo-sư Shossiri, Yasuđa, và Yatsumani bấy giờ thế nào ? Con chắc khi các vị ấy được tin con chết các ngài sẽ khóc vì các vị ấy có lòng thương con lắm. Con rất tiếc vì phải chết nơi đất khách quê người, không được tỏ lòng tri-ân với những vị ấy. Con trối tất cả sách vở cho thư-viện trường học, nhờ giáo-sư Shojiri làm trung-gian. Dù sau khi chết, con cũng không quên được bao công-lao của các thày đã dạy dỗ. Con rất tiếc trước khi chết không được đọc lại lần nữa tác-phẩm của giáo-sư Shojiri «Vấn-đề tình-ái với chí-hướng nghề-nghiệp».


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2018, 09:49:29 am

        Thất-vọng, cả là một điều không thể hiểu được. Khi con người lâm vào cảnh thất-vọng sẽ không sợ chết nữa.

        Sau khi thất-bại, nước Nhựt chắc đang có nhiều thay đổi về chính-trị và kinh-tế. Mỗi biến-chuyển cần phải xác-thực. Con tiếc rằng không được mục-kích những thay-đổi ấy! Những trào-lưu biến-chuyển của lịch-sử rất mãnh-lực và không ngưng nơi con. Con chỉ là một con kiến nhỏ hèn bị trôi dạt giữa làn nước chảy xiết. Không duy mình con ở trong hoàn cảnh này. Lại còn bao kẻ đã bỏ mình nơi trận tuyến, hoặc bị làn hơi thối của trải bom nguyên-tử. Trên phương-diện tổng- quát, cái chết của cou có đáng kể chi ? Nguyên sự nghĩ đến bao nhiêu sinh-linh đã tử-trận cung khiến con hết muốn sống rồi. Dù sao đi nữa, nếu còn sống được, con có thể làm được một vài việc xứng đạo làm người. Chết quả sớm, khác chi một bông hoa héo rụng trưởc khi cánh hoa chưa kịp nở hết. Thượng-Đế đã ấn-định cho con chết, con chỉ việc cúi đầu tuân theo

        Mấy ngày nay, con không thấy sợ chết. Con không cảm thấy kinh-boàng trước cái chết. Những người chết vì bệnh, chắc cũng có những cảm-giác như vậy. Thỉnh- thoảng, trong một vài giày phút, con cũng thèm sống, nhưng cái đó không lâu. Con không hổ thẹn vì phải chết. Con tin chắc, trên đời không có cuộc thử thách nào quan-trọng như cuộc thử-thách này. Vì không có ảnh của ba má và các chị các em, nên con sẽ nhắm mắt lại, mường-tưởng đến hình ảnh ba má, các chị em, các người thân-yêu để kính chào các vị ấy buổi sáng và buổi chiều. Con ước mong ba má và các chị em cũng làm như vậy. Những bạn con sắp được hồi-hương sẽ kể cho ba má nghe bao nhiêu sự việc về con.

        Thưa ba má,

        Mỗi khi có thể, xin ba má đi thăm các bạn ấy, để họ thuật tin tức về con. Con chưa từng làm một việc gì đáng hổ thẹn với lương-tâm. Con có thể chết một cách yên-ồn, không ai trách cứ được điểm nào. Là một quân- nhân Nhựt-Bổn, nhưng con không làm một điều chi đáng trách cả.

        Con đã ăn ở như một người dân Nhựt được hấp- thụ một nền giáo-dục siêu-việt. Dẫu vậy, con vẫn sợ bị liệt vào hạng tội-nhân chiến-tranh, con sẽ bị nhơ danh, gia-đình ta cũng bị lây ảnh-hưởng và chị Takako không thể kết-hôn được. Bao nhiêu người đã từng chiến-đấu bên cạnh con ở Kanikobal đều sẽ minh-chứng là con bị oan-uổng. Con hi-vọng ba má sẽ tin lời con.

        Nếu quả có kiếp luân-hồi, con sẽ được tái-ngộ cùng ông bà nội và tất cả các bạn bè đã tử-trận. Đó cả là một nguồn an-ủi vì dược trò chuyện với họ về những kỉ-niệm dưới trần-gian. Con không biết ba má có phiền- muộn không, nhưng thỉnh-thoảng xin ba má nhớ đến đứa con này. Xin ba má hãy can đảm lên.,

        Ngày 23-5-1946, Ngày con bị hành hình.

        Con không còn chi phải nói nữa. Giờ chết đã gần. Xin ba má hãy mạnh giỏi ! Xin vĩnh-biệt ba má .... .

1.           — Con nguyện cầu cho Nhựt-Bỗn được thịnh-vượng lâu dài !

1.           — Xin ba mả khỏe mạnh luôn. Con xin cảm tạ ba má

        về mọi ơn đã ban cho con.

2.           — Xin ba má cầu cho con chết xứng đáng.

3.           — Ba má sẽ không nhận được tro tàn của con. Xin thay thế bằng móng tay và tóc của con.

4.           — Đời sống của con sắp tiêu tan đi như sương sa buổi mai nơi miền Nam. Tim con tràn ngập ưu- phiền. Con uống một ly nước trà cuối cùng lúc bình-minh này.

        Thưa ba má, xin tha thứ cho con... Xin ba đừng buồn. Thưa Má, con tưởng nhớ đến má trong lúc uống chén đắng này !

        Con sợ rằng nỗi buồn của ba má còn lớn hơn sự buồn của con vì phải chết nơi xa xăm.

        Con đang đếm đốt ngón tay. Người bạn con sắp bị xử, bây giờ đến lượt anh ta. Tai con nghe thấy anh ta đọc bài sám-hối.

        Con cắn móng tay và nước mắt con tràn trề. Con đang cầu cho ba má. Xin vĩnh-biệt ba má, vĩnh-biệt ba má ! ...

        Mắt nhắm nghiền lại, con đang hồi tưởng đến hình ảnh thân yêu của Má. Hình ảnh đó không rời con giây phút nào !

        Con viết một chữ «MAI» và ngồi nhìn chữ ấy !

        Một luồng gió thổi. Nỏ sắp quét sạch mọi nỗi buồn của con, trong tâm can.

        Đời sống con không có ngày mai, lòng con không có uẩn-khúc nào !

        Câu thơ sau đây con vừa thảo ra hôm qua :

        Hình ảnh má tươi cười tay con ẵm,

        Chân mạnh dạn thẳng tới pháp-trường

        Lòng con chẳng hề nao núng !

        Mai đây, con sẽ giẫm chân trên làn sươmg sa, dưới ánh nắng mặt trời buổi sáng. Tròi quang mây tạnh.

        Con ngừng bút nơi đây đúng nửa giờ trước khi chết.


Tiêu đề: Re: Tiếng vọng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2018, 09:50:56 am
           
           
(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/47682161_346398829423337_2807659055273738240_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1bae7848f42eae95c85c24d6b07fe01e&oe=5CA75750)

HẾT