Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 12:54:31 PM



Tiêu đề: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 12:54:31 PM
KÝ ỨC THỜI TRẬN MẠC

Tác giả: Trung tướng Phạm Xuân Thệ

NXB Quân Đội 2011
Nguồn: Thư viện Hà Nam




(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32741991_2081325238818717_3969426307019702272_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQn1fYRjca57AOAF7Q8hBik0nWkAlxcVJdOlPDbFSsZ558AGpHuqhi_s8JF1JQiYIbo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=845a3ec66e273423edaee2c65892d245&oe=5E2A9361)


(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32803931_2081325298818711_3975958557139927040_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQlTxxxkJ0sIIiFRDaq-kHUjcjBc1FB3LQORHP2qDhjNTTPgxPafljUFtXojVmiwpYQ&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=9053cabc78d3d2d40eb9b3c4d8cf6f39&oe=5E2D1503)




LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ KHẢ PHIÊU


(Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành
  Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2)


       Đồng chí Phạm Xuân Thệ sinh ra ở một vùng quê nghèo thuộc tỉnh Hà Nam nhưng giàu truyền thống yêu nước, cách mạng. Tuổi thơ của đồng chí gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quân và dân ta càng hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước sâu sắc. Sau khi thoát ly gia đình làm công nhân ở Nhà máy thủy điện Thác Bà, năm 1967 theo tiếng gọi của Tổ quốc, của chiến trường miền Nam, đồng chí gia nhập quân đội. Với 40 năm tuổi quân, từ một người lính binh nhì, trưởng thành qua năm tháng, đồng chí đảm nhận nhiều trọng trách mà Đảng, nhân dân và quân đội giao phó: cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn - quân khu. Ở mọi cương vị công tác, đồng chí luôn cố gắng nỗ lực học tập, rèn luyện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong chiến đấu, đồng chí là một chiến sĩ dũng cảm, gan dạ. Trên cương vị chỉ huy, đồng chí là một người chỉ huy có bản lĩnh: vững vàng, kiên định, gặp khó khăn không nản chí, luôn bình tĩnh, mưu trí, sáng tạo quyết đoán; tác phong dân chủ, sâu sát đồng chí, đồng đội, tính kỷ luật nghiêm minh; có lối sống khiêm tốn, giản dị, chân tình, thẳng thắn, được cán bộ và chiến sĩ tin yêu, mến phục.

       Đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Thệ lúc đó là Trung đoàn phó được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy lực lượng đi đầu của Trung đoàn 66 phối hợp cùng bộ đội xe tăng, thiết giáp của Quân đoàn 2 đánh thẳng vào dinh Độc Lập bắt toàn bộ nội các chính quyền ngụy Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

       Khi về hưu, đồng chí vẫn giữ vững truyền thống yêu nước, nêu cao phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, luôn sống có nghĩa có tình với bà con khối phố, với đồng chí, đồng đội. Trăn trở trước sự hy sinh, mất mát của bao đồng chí, đồng đội, đồng chí đã cùng các bạn đồng ngũ tổ chức nhiều hoạt động, như: thăm lại chiến trường xưa, đi tìm mộ liệt sĩ, xây dựng đài tưởng niệm tại Thượng Đức... với mong muốn góp một phần công sức của mình để tri ân những đồng đội đã hy sinh, những gia đình thương binh - liệt sĩ và đồng bào có công với cách mạng.

       Với những thành tích đạt được trong chiến đấu và công tác, đồng chí đã được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương cao quý. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam (30-4-2011), đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi công của Đảng và Nhà nước trước những đóng góp của đồng chí và tôi mong đồng chí luôn xứng đáng với danh hiệu đã được Đảng và Nhà nước phong tặng.

       Trong cuốn “Ký ức thời trận mạc” đồng chí đã nói về mình một cách khiêm tốn thông qua các sự kiện, những câu chuyện về cuộc sống và chiến đấu của mình. Tôi muốn nói thêm đôi nét về đồng chí với mục đích thông qua cuốn hồi ức này, bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ có dịp hiểu thêm những năm tháng cha anh đã rèn luyện, chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh để có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc như ngày hôm nay.

       Với ý nghĩa ấy, tôi xin trân trọng được giới thiệu cuốn “Ký ức thời trận mạc” của đồng chí Phạm Xuân Thệ tới đông đảo bạn đọc.



      
LÊ KHẢ PHIÊU


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 12:56:18 PM
Cùng bạn đọc


       Chiến tranh đã đi qua, đất nước ngày càng đổi mới nhưng những chiến công vang dội gắn với tên người, tên đất... như vẫn còn mãi in đậm trong ký ức của thế hệ cầm súng ngày hôm qua. Bốn mươi năm chiến đấu, hoạt động trên các chiến trường và công tác trong hòa bình đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm buồn, vui.

       Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lúc nhỏ tôi luôn tự nhủ mình sẽ cố gắng học để thoát khỏi cái nghèo. Nhưng khi lớn lên vì gia đình không có điều kiện cho tôi học lên cao nữa nên tôi lại muốn đi thoát ly trở thành công nhân. Nhưng cuộc đời vốn không theo ý định ban đầu của nhiều người, trong đó có tôi. Từ một người công nhân tôi lại trở thành người lính để rồi từ đó tôi gắn bó với quân ngũ suốt 40 năm.

       Mùa thu năm nay (2011) bước sang tuổi 65, tôi muốn ghi lại quá trình sống và phấn đấu không mệt mỏi của mình trong suốt quãng thời gian qua. Tôi đã dành cho mình một khoảng lặng để suy nghĩ, hồi tưởng lại toàn bộ những chặng đường đã qua trong cuộc đời mình, đó là thời niên thiếu bên gia đình và quê hương yêu dấu; là những tháng ngày thoát ly gia đình làm công nhân Nhà máy thủy điện Thác Bà; và là thời quân ngũ 40 năm. Từ một người lính binh nhì, trải qua những năm tháng chiến đấu, công tác tôi dần trưởng thành, được đảm nhận nhiều trọng trách mà Đảng, nhân dân và quân đội giao phó: cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn - quân khu. Ở mọi cương vị công tác tôi luôn được Đảng, quân đội bồi dưỡng, rèn luyện, dìu dắt, được nhân dân cưu mang đùm bọc, được đồng chí, đồng đội giúp đỡ. Bản thân tôi luôn cố gắng nỗ lực học tập, rèn luyện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bên cạnh những thành công và chưa thành công vẫn còn không ít những hạn chế, kể cả những tổn thất, đau thương. Đối với tôi, tất cả đều lưu lại những ký ức đáng ghi nhớ. Cũng chính vì vậy tôi đã cố gắng xâu chuỗi lại những năm tháng sống, chiến đấu và công tác trong cuộc đời binh nghiệp của mình thành tập hồi ức “Ký ức thời trận mạc”. Từ Tiểu đội 9 Quân khu Việt Bắc vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu đến khi được điều động trở lại bảo vệ biên giới Tổ quốc ở Quân khu 1 là cả một chặng đường đầy chông gai mà bao lần tôi cùng đồng đội phải nín thở kề bên cái chết. Đồng đội tôi hôm nay có người còn sống, nhưng cũng có những người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

       Xin cảm ơn các đồng chí, đồng đội - những người đã đồng hành, sẻ chia cùng tôi trong suốt cuộc đời quân ngũ, đặc biệt là những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt.
       Mong muốn lớn nhất của tôi là qua cuốn hồi ức này góp phần tôn vinh truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc và quân đội, đồng thời để tri ân hàng vạn người con đất Việt đã nằm lại nơi chiến trường vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Tôi nghĩ rằng đây cũng là trách nhiệm, là tình cảm của thế hệ đi trước góp phần vào công tác giáo dục truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng cho thế hệ trẻ tiếp tục thực hiện, đi theo lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ, ra sức xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

       Do tuổi tác, trí nhớ và khả năng thể hiện của tôi có hạn nên cuốn “Ký ức thời trận mạc” không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong các đồng chí, đồng nghiệp cùng bạn đọc lượng thứ. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí, đồng đội đã nhiệt tình góp công sức tu chỉnh cuốn hồi ức của tôi; cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cuốn hồi ức của tôi được đến với bạn đọc gần xa.



TÁC GIẢ


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 01:03:37 PM
Chương một
QUÊ HƯƠNG VÀ THỜI NIÊN THIẾU


Khả Phong quê tôi là vùng bán sơn địa thuộc châu thổ sông Hồng, là một xã miền núi ở phía tây huyện Kim Bảng, phía bắc và phía đông giáp sông Đáy, phía nam giáp quốc lộ số 21 từ miền biển Hải Hậu (Nam Định) chạy qua hữu ngạn sông Đáy, qua các xã Thanh Sơn, Thi Sơn, Liên Sơn, Khả Phong, Ba Sao, nối liền vùng đồng bằng với miền đồi núi tới Lạc Thủy - Hòa Bình; có đường Biên Hòa (được mở trong kháng chiến chống Mỹ để xe ô tô vận tải quân sự đi qua và giấu xe mỗi khi cầu Phủ Lý bị máy bay Mỹ bắn phá) qua cầu sông Đáy hợp điểm với đường số 21A tại ngã ba Cửa Đầm. Ngày nay, đường Biên Hòa được mở rộng và nâng cấp thành đường ô tô khách từ Chi Nê (Hòa Bình) qua Ba Sao, Khả Phong huyện Kim Bảng (Hà Nam) ra Đồng Văn nối với quốc lộ số 1. Địa hình quê tôi rất đa dạng, gồm vùng đồi núi, nửa đồi núi, có dãy núi đá vôi chạy dài theo hướng đông nam - tây bắc thành hình vòng cung đồ sộ như một bức trường thành bảo vệ làng xóm, tạo nên những phong cảnh hữu tình với nhiều địa danh gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Khả Phong như quèn Vồng, đồi Bàn Cờ (nay là đồi Hồ Chí Minh), chùa Hang...

Nằm ở tả ngạn sông Đáy, lại là vùng bán sơn địa, nên làng mạc quê tôi hình thành theo các tuyến, cụm nằm bám sát các trục đường giao thông thủy, bộ, bên các bìa rừng và cánh đồng. Bao bọc xung quanh các làng xóm là những lũy tre ken dày. Những khu đồi rừng quê tôi vốn được coi là kho “tiền rừng” của đất Kim Bảng. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, chúng đã chiếm cả vùng rừng núi này, vừa bóc lột nhân công, vừa thu nguồn lợi lớn phục vụ cho chính sách cai trị của chúng. Ngày nay, vùng đồi rừng này đang được khai phá đất hoang hóa để phát triển kinh tế địa phương.

Trong thời kỳ thực dân - phong kiến, cuộc sống của nhân dân quê tôi rất khổ cực. Tuy là một xã thuần nông nhưng quê tôi thuộc vùng bán sơn địa, đất đai phần lớn lại tập trung trong tay địa chủ, quan lại, phe giáp... cả xã lúc đó có hơn 1.000 mẫu ruộng nhưng chỉ tính riêng các địa chủ trong làng và các quan lại hàng tỉnh như Tuần Thành, Bùi Thị Thông, Trần Đoàn Khuê... đã chiếm hơn 400 mẫu, phe giáp, hậu họ gần 100 mẫu, trên 300 mẫu là ruộng công điền, phần còn lại gần 200 mẫu là của nông dân nên hầu hết người nông dân phải đi làm thuê cho địa chủ và vào rừng chặt củi đốt than, mò cua, bắt ốc sống cho qua ngày. Dưối chế độ thực dân - phong kiến, các chính sách thuế đinh, thuế điền khắc nghiệt làm cho cuộc sống của người dân quê tôi ngày càng cùng cực hơn. Cuộc sống đói khổ đó đã được người dân quê tôi đúc kết thành những câu ca: “Thôn Tiên kiếm cá, thôn Mỹ phá rừng”... Nhà thơ Xuân Diệu đã có những câu thơ tả về cuộc sống khổ cực đó của người dân quê tôi:

“Xưa dân có đồng không ruộng
Hái củi về đổi cơm
Đi đốt than khổ quá
Mùa gặt chỉ còn rơm...”
.


Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, mảnh đất, con người quê hương tôi đã góp phần tạo nên nhiều kỳ tích trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ làng quê và đất nước. Cùng với những biến thiên của lịch sử, quê tôi cũng có nhiều thay đổi.

Từ thời vua Minh Mạng (1820-1840) đến đời vua Đồng Khánh (1885-1889), xã Khả Phong thuộc tổng Thụy Lôi 1. Thời Pháp thuộc, xã Khả Phong thuộc tổng Khả Phong, có 7 làng, gồm: Khả Phong, Khuyến Công, Do Lễ, Đồng Sơn, Cốc, Tam Chúc, Vồng. Trong đó, xã Khả Phong có 2 làng là: Khả Phong và Khuyến Công. Làng Khuyến Công không phân chia thôn, còn làng Khả Phong được chia thành 4 thôn, gồm: thôn Tiên (còn gọi là Giáp Tiên), thôn Đoài (Giáp Đoài), thôn Đông (Giáp Đông), thôn Mỹ (Giáp Mỹ). Mỗi thôn có một ngôi đình là nơi hội họp và sinh hoạt văn hóa tinh thần chung của cả thôn. Hàng năm, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch nhân dân trong thôn tụ họp tổ chức “Việc làng” để làm lễ tế thần cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trải qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên và thời gian, đình thôn Tiên bị đổ nát, đình thôn Đoài và đình thôn Mỹ bị bom, pháo của thực dân Pháp phá sập nên chỉ còn đình thôn Đông là nơi tụ họp và sinh hoạt chung của cả 4 thôn.

Đình thôn Đông 2 gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Hà Nam, huyện Kim Bảng nói chung và nhân dân xã Khả Phong nói riêng. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình thôn Đông là nơi in ấn tài liệu của Tỉnh ủy Hà Nam, là nơi thành lập tủ sách cách mạng hợp pháp. Tại đây, cứ thứ bảy hằng tuần Huyện ủy Kim Bảng cho cán bộ về tổ chức các lớp học tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng cho các tầng lớp thanh niên và quần chúng ưu tú nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương. Cũng từ những lớp học này đã hình thành nhóm nghiên cứu mác-xít. Họ là những hạt giống xây dựng chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Kim Bảng và sự ra đời chi bộ Đảng ở Khả Phong. Sau này, nhiều đồng chí trở thành những cán bộ cốt cán của địa phương. Đình thôn Đông còn là nơi cất giấu vũ khí chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng lâm thời tổ chức lại các đơn vị hành chính. Tổng Khả Phong được chia làm 3 xã: xã Liên Sơn có 3 thôn là Do Lỗ, Đồng Sơn, Bút Phong; xã Khả Phong có 2 thôn là Khả Phong và Khuyến Công; xã Ba Sao có 3 thôn là Cốc, Tam Chúc và Vồng.

Đến năm 1971, thực hiện chủ trương của Nhà nước về cải tiến hợp tác xã nông nghiệp, thôn Vồng xã Ba Sao được cắt về Khả Phong cùng với thôn Khuyến Công thành lập hợp tác xã nông nghiệp cấp cao. Từ đó xã Khả Phong có 3 thôn là Khả Phong, Khuyến Công và Vồng.

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương điều chỉnh địa giới hành chính tinh, huyện, xã của Nhà nước, ngày 26 tháng 6 năm 1976, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định sáp nhập 2 xã Khả Phong và Ba Sao thành xã Khả Phong. Hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức quy mô toàn xã, thành lập 18 xóm đồng thời là 18 đội sản xuất. Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, tháng 3 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định tách xã Khả Phong thành 2 xã là Khả Phong và Ba Sao, đồng thời điều chỉnh lại địa giới hành chính của xã Khả Phong. Từ đó đến nay, xã Khả Phong có 3 thôn và được tổ chức thành 16 xóm.

Người dân quê tôi có truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Ngay từ thời Pháp thuộc, trên đất Kim Bảng có nhiều phong trào yêu nước chịu ảnh hưởng của phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục, với các sĩ phu yêu nước có tư tưởng chống Pháp như cụ Đề Yêm ở Đồng Lạc, cụ Quản Cầu ở Lưu Xá, cụ Nguyễn Hữu Tài ở Thụy Xuyên... Hưởng ứng phong trào yêu nước của các sĩ phu yêu nước Kim Bảng, ở Khả Phong có cụ Quản Phổ làm quan “tứ phẩm” cùng cụ Đội Kình và một số sĩ phu yêu nước khác từ Thanh Hóa - Nam Định về Khả Phong lập căn cứ chống Pháp ở khu Văn Miếu tại Xốc Rôm dưới chân núi Yên Ngựa. Thời kỳ 1929-1930, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Kim Bảng phát triển mạnh, các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Trần Tử Bình... thường xuyên về Kim Bảng và Khả Phong chỉ đạo và giúp đỡ xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1930, cơ quan bí mật của Tỉnh ủy Hà Nam đóng ở xã Quyển Sơn (Thi Sơn). Cơ sở in ấn tài liệu của Tỉnh ủy đặt ở Khả Phong.

Trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, nhân dân xã Khả Phong quê tôi bừng bừng khí thế đấu tranh đã tham gia giành chính quyền ở huyện Kim Bảng và ở địa phương, bắt bọn cường hào lý dịch phải nộp triện đồng, giải tán chính quyền phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng lâm thời của xã.

Cuối tháng 9 năm 1945, Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh lâm thời của huyện được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh huyện Kim Bảng, của chính quyền cách mạng lâm thời xã, các tổ chức quần chúng ở Khả Phong được thành lập và hoạt động sôi nổi. Mọi tầng lớp nhân dân Khả Phong hăng hái thi đua thực hiện lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ “thi đua phát triển sản xuất, phát triển chăn nuôi, thực hành tiết kiệm, tự túc tự cấp lương thực để chống giặc đói”.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Theo sắc phong của vua Minh Mạng và vua Đồng Khánh cho cụ Lê Văn Phổ, nay còn lưu giữ tại nhà thờ họ Lê.
2. Năm 1981, đình thôn Đông được Nhà nước tặng Bằng có công với nước.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 01:06:41 PM
Trước âm mưu và những hoạt động khiêu khích của quân Pháp muốn chiếm lại nước ta lần nữa, ngày 20 tháng 12 năm 1946 Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, tiếp đó ngày 22 tháng 12 năm 1946 Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ và thực hiện Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, các tầng lớp nhân dân khắp nơi trong huyện sôi sục ý chí chiến đấu chống quân xâm lược. Hàng trăm thanh niên hăng hái tòng quân. Hàng nghìn người gia nhập lực lượng dân quân du kích ở các làng, xã với trang bị bằng các vũ khí tự tạo, bằng dao, kiếm, mã tấu, lựu đạn ngày đêm hăng say luyện tập để đánh giặc, giữ làng.

Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp, khi các khu vực xung quanh bị địch tạm chiếm thì Khả Phong là vùng tự do ở tả ngạn sông Đáy, là nơi du kích địa phương hoạt động. Quân Pháp đã nhiều lần tổ chức đánh chiếm nhưng không chiếm được và không xây dựng được đồn bốt để lập vành đai trắng và lập tề ở Khả Phong. Do đó, chúng buộc phải chuyển sang xây dựng đồn bốt trên đỉnh núi Nguỳ ở xã Tân Sơn và thường xuyên tăng cường bắn phá vào xã Khả Phong để uy hiếp nhân dân. Khả Phong quê tôi cùng các làng mạc bên tả ngạn sông Đáy còn là cửa ngõ, là hành lang an toàn của đường dây kháng chiến từ trong vùng địch tạm chiếm ra căn cứ Khu 3, vượt qua các đường số 1, 21, 22 vào vùng tự do, băng qua những cánh đồng chiêm trũng của các xã Hoàng Tây, Văn Xá, Kim Bình, Đồng Hóa, Ngọc Sơn để nối liền vùng tự do với căn cứ kháng chiến của ta. Cùng với Ba Sao, Lạc Thủy, Khả Phong từng là nơi trú quân của bộ đội Trung đoàn 66 chủ lực (Trung đoàn Ký Con) thuộc Đại đoàn 304 và là căn cứ xuất phát của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực vượt phòng tuyến sông Đáy đánh vào vùng địch tạm chiếm.

Là vùng tự do tiếp giáp với vùng địch tạm chiếm nên quân và dân quê tôi thường xuyên phải chiến đấu đánh trả các cuộc càn quét và bắn phá của máy bay, pháo binh của giặc Pháp. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng Khả Phong, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân quê tôi đã anh dũng chiến đấu, đánh hàng chục trận, đẩy lùi các cuộc hành quân càn quét của giặc Pháp vào làng quê mình. Hưởng ứng phong trào thi đua tổng phản công của Tỉnh ủy Hà Nam, chi bộ xã đã lãnh đạo nhân dân kẻ khẩu hiệu tuyên truyền trên tường, trên vách núi... Trên đồi Bàn Cờ, nhân dân xã Khả Phong đã kẻ dòng chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” rất to, ở cách xa 3-4 cây số vẫn có thể nhìn rõ. Đồi Bàn Cờ còn là nơi nổi lửa phát động các phong trào du kích đánh giặc, là điểm hẹn gặp gỡ của bộ đội và nhân dân giữa hai vùng tự do và địch tạm chiếm.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược, vừa chiến đấu bảo vệ làng quê, nhân dân quê tôi luôn hăng hái lao động sản xuất, huy động sức người, sức của cho kháng chiến. Vượt lên những mất mát đau thương do bom đạn địch và khó khăn gian khổ, với khẩu hiệu “Tất cả cho kháng chiến thắng lợi”, hàng trăm thanh niên hăng hái tòng quân vào các đơn vị bộ đội để trực tiếp đánh giặc. Các nữ thanh niên cũng hăng hái gia nhập các đơn vị thanh niên xung phong hoả tuyến. Toàn xã có hàng nghìn lượt người tham gia dân công hoả tuyến phục vụ các chiến dịch.

Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi ngày 7 tháng 5 năm 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngày 3 tháng 7 năm 1954, những tên lính thực dân Pháp cuối cùng đã phải rút khỏi Nhật Tựu - sào huyệt cuối cùng của chúng trên đất Kim Bảng. Từ đây quê hương tôi hoàn toàn giải phóng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong 9 năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ (1945-1954), quân và dân quê tôi đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bố tôi là Phạm Văn Huệ, mẹ là Nguyễn Thị Nghiễm phải đi làm thuê cấy rẽ cho địa chủ, hết mùa vụ thì đi chăn trâu thuê cho các gia đình giàu có để có cơm ăn như bao gia đình nông dân nghèo khác. Bố mẹ tôi sinh được 5 người con, ba con trai đầu (anh cả tên Hệ sinh năm 1945, tôi sinh cuối tháng 8 năm 1947, em trai tên Vệ sinh năm 1954) và hai cô con gái sau (tên là Duệ sinh năm 1957 và Dự sinh năm 1961). Tôi là con trai thứ hai trong gia đình. Tuổi thơ của anh em chúng tôi gắn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là những ngày theo cha mẹ gồng gánh chạy càn, những lần chui hầm tránh bom, tránh pháo của giặc Pháp..., là những bữa cháo, bữa rau, khoai sắn đắp đổi qua ngày...

Ngày 27 tháng 10 năm 1955 là ngày hội của người nông dân Khả Phong, ngày đi cắm thẻ nhận ruộng - niềm mơ ước ngàn đời của người nông dân nay đã được thực hiện. Thắng lợi của cải cách ruộng đất đã đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện chính sách người cày có ruộng, người nông dân thực sự làm chủ ruộng đồng. Hòa cùng ngày hội chung cùng nhân dân toàn xã Khả Phong, gia đình tôi cũng đi cắm thẻ nhận ruộng trong cải cách ruộng đất. Lúc này tôi đã lên tám tuổi. Tôi còn nhớ, hôm đó bố tôi dắt tôi đến nhà địa chủ T., thấy đội cải cách đang chia tài sản cho nhân dân nghèo. Một chú cán bộ đội cải cách hỏi tôi: cháu thích gì để chú cho? Tôi chỉ vào một chiếc bát sứ rất đẹp và xin chú chiếc bát đó. Từ khi được chú cán bộ đội cải cách cho chiếc bát, hằng ngày tôi ăn cơm bằng chiếc bát đó. Trong cải cách ruộng đất, gia đình tôi được phân 3 sào ruộng, 1 cái cày và “nửa” con trâu (gia đình tôi được chia chung với gia đình ông Vệ cùng xóm nên hai gia đình cứ chia nhau mỗi nhà chăn 10 ngày). Mặc dù phải chung trâu với nhà khác nhưng anh em tôi rất vui, vì lúc này nửa con trâu là tài sản có giá trị nhất của gia đình tôi. Anh em tôi chỉ mong đến lượt nhà mình chăn trâu. Mỗi khi đến lượt, anh em tôi cùng dắt trâu ra chân đồi và khu vực ven cánh đồng làng để trâu ăn cỏ. Tôi còn bé nên thường được anh trai cho cưỡi trên lưng trâu, còn anh thì dắt bộ.

Hòa bình lập lại, tôi được đi học lớp 1 do thầy Cầm, thầy Khánh, thầy Tuân dạy một số học sinh ở đình thôn Đông. Lên lớp 2 tôi mới được vào học ở trường làng. Hằng năm, trước ngày 19 tháng 5, chúng tôi được các thầy cô tổ chức lên đồi Hồ Chí Minh để phát cỏ và sửa sang nét chữ. Tôi được biết dòng chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” do Đảng bộ và nhân dân Khả Phong khắc trên sườn đồi từ năm 1949 để thể hiện lòng tôn kính Bác Hồ và biết ơn công lao của Bác đã mang lại độc lập, tự do cho nhân dân, đồng thời cổ vũ nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến. Từ năm 1957 đến năm 1961, tôi được vào học ở Trường cấp II Khả Phong. Năm 1961, tôi đạt danh hiệu “Học sinh hai tốt” và được đi tham quan Trường Bắc Lý- huyện Lý Nhân - một điển hình tiên tiến trong phong trào “Hai tốt” của ngành Giáo dục. Những năm học cấp II, buổi sáng tôi đến trường, buổi chiều đi chăn trâu, khi về trên lưng trâu của tôi thường có một đon cỏ cho trâu hoặc một bó khoai nước mang về cho mẹ nấu cám cho lợn. Những năm đầu cấp II, ngày nghỉ chủ nhật không phải đến trường tôi thường theo bố và anh cả vào rừng chặt củi. Có nhiều hôm mải tìm những cây củi mình ưng ý trong rừng nên tôi bị lạc, làm bố và anh phải đi tìm. Hằng năm vào mùa hè cũng là lúc cánh đồng quê tôi ngập nước mênh mông, thuyền nan có thể đi được vào giáp dãy núi Ba Sao. Nhiều hôm một mình tôi tự đi thuyền vào rừng chặt được cả thuyền củi mang về để dùng và đem bán cho lò gốm ở thị trấn Quế huyện Kim Bảng lấy tiền mua gạo và thức ăn. Những năm học lớp 4, lớp 5, tôi và trẻ con trong làng thường thả trâu ở bãi tha ma rất rộng ven cánh đồng làng. Hằng ngày làng tôi có vài chục đứa đưa trâu ra đó để thả. Chúng tôi thường chơi trò ẩn tìm hoặc chia thành hai phe đánh trận giả.

Hè năm 1963, tôi học hết lớp 7 và thi tốt nghiệp cấp II. Bố mẹ khuyên tôi đi học tiếp cấp III, nhưng lúc này các em tôi còn bé, trường lại ở xa và chỉ có bố và anh tôi là lao động chính trong gia đình, mẹ tôi ốm yếu chỉ làm việc nhà; trong khi đó, phong trào thi đua của hợp tác xã lúc này là nhà nào có nhiều công, có nhiều điểm thì được nhiều thóc nên tôi xin nghỉ học ở nhà tham gia lao động sản xuất phụ giúp gia đình.

Theo tiếng gọi của chiến trường miền Nam, năm 1965, anh Hệ nhập ngũ. Sau một thời gian huấn luyện, anh tôi đi B. Từ khi anh cả nhập ngũ, mẹ tôi ốm đau luôn,  hoàn cảnh gia đình càng ngày càng khó khăn. Thời kỳ này, sau khi gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tháng 8 năm 1964), đế quốc Mỹ đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân tăng cường đánh phá miền Bắc. Phối hợp với các lực lượng vũ trang đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân quê tôi vừa chiến đấu, vừa sản xuất, bảo vệ quê hương và hậu phương lớn miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Từ đây, mọi hoạt động của nhân dân quê hương tôi đều chuyển vào nếp sống thời chiến.

Ngày 15 tháng 2 năm 1965, hưởng ứng phong trào “Thanh niên làm theo lời Bác” và “Thanh niên ba sẵn sàng”, tôi tình nguyện đi tham gia xây dựng công trình thủy điện Thác Bà tại tỉnh Yên Bái (năm đó tôi chưa đầy 18 tuổi). Ban đầu tôi làm công nhân lao động phổ thông, chuyên xây dựng lán trại cho công nhân và khai thác đá làm đường. Lần đầu tiên đi thoát ly gia đình, phải sống tự lập trong môi trường tập thể, tôi không khỏi nhớ nhà. Nhưng tôi luôn lao động tích cực và đạt ngày công theo quy định. Trong các đợt bình bầu thi đua, tôi đều đạt danh hiệu Lao động tiên tiến. Sau một năm lao động tích cực, tôi được Nhà máy thủy điện Thác Bà tuyển chọn đi học lái xe ô tô. Tháng 6 năm 1966, tôi về học lái xe tại Trường đào tạo lái xe của Công ty Thủy điện Thác Bà. Với trình độ tốt nghiệp cấp II, nên khi bắt đầu vào học tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng nhờ sự dạy bảo tận tình của các thầy giáo cùng sự chịu khó mày mò học hỏi, tiếp thu kiến thức tốt nên tôi tiến bộ rất nhanh. Ở đây tôi được đào tạo cơ bản từ lý thuyết đến thực hành... Giai đoạn này, không quân Mỹ đánh phá rất ác liệt vào tỉnh Yên Bái và khu vực công trường thủy điện Thác Bà. Trường chúng tôi phải sơ tán vào một khu rừng già cách nhà máy khoảng 7 cây số. Đây là khu vực sinh sống của đồng bào người dân tộc Cao Lan.

Buổi sáng chúng tôi học lý thuyết, buổi chiều thì tự ôn. Hằng ngày, sau buổi học lý thuyết và ăn bữa cơm trưa, mấy anh em chúng tôi rủ nhau vào trong bản vừa ôn bài vừa sơ tán. Một hôm máy bay Mỹ đánh phá vào bản, một số nhà dân bị cháy, nhiều người chết và bị thương. Lúc đó, chúng tôi ở cách xa vị trí bom nổ khoảng 100 mét, đã nhanh chóng đến cứu chữa nhà cháy và sơ cấp cứu bị thương, cùng dân bản đưa người bị thương đi viện. Khi xong việc, tôi mới nhớ mình bị mất cuốn sách lý thuyết động cơ ô tô, tôi cố tìm mãi nhưng không thấy. Hôm sau, khi kiếm tra bài tôi không thuộc nên bị thầy giáo cho điểm kém. Sau đó, tôi phải mượn sách của anh Minh - lớp trưởng chép lại từ đầu. Cũng thời gian này, tôi nhận được tin buồn do gia đình báo lên. Anh Hệ tôi đã hy sinh ở tuyến đường 20 Quyết Thắng, đơn vị và địa phương đã báo về gia đình. Nhận được tin, tôi rất buồn, những ký ức về người anh cả của tôi ngày xưa cứ hiện lên. Tôi buồn mất mấy ngày, có lúc muốn bỏ cả học để về nhà. Anh Minh - lớp trưởng và các bạn bè cùng học đã đến động viên tôi cố gắng vượt qua nỗi đau. Mấy ngày sau đó tôi nén đau buồn và tiếp tục cố gắng học tập để xứng đáng với sự kỳ vọng của gia đình và sự hy sinh của anh trai cũng như bao anh hùng, liệt sĩ đã không tiếc máu xương để chúng tôi được học tập ở hậu phương.

Sau 8 tháng học lý thuyết với kết quả tốt, tôi được chuyển sang học thực hành, được các trợ giáo chỉ bảo nhiệt tình nên tôi đã nắm vững cả lý thuyết và thực hành. Sau thời gian hoàn thành thực hành trên đường, những tháng cuối cùng chúng tôi thường phụ xe, phụ lái cho một lái xe chính chở đá từ công trường khai thác đá khu vực Nhà máy thủy điện Thác Bà ra sân bay Cổ Phúc, cách thị xã Yên Bái về phía bắc khoảng 7 cây số. Giai đoạn này nước ta đang xây dựng sân bay Cổ Phúc - Yên Bái. Cứ mỗi ngày 2 chuyến, chúng tôi chạy từ Thác Bà xuống Yên Bái, cả đi lẫn về khoảng 120 cây số. Thời gian này, máy bay Mỹ đánh phá thị xã Yên Bái rất ác liệt. Do vậy chúng tôi phải vận chuyển vào ban đêm, từ 4 giờ chiều hôm trước đến 8 giờ sáng ngày hôm sau. Một hôm, đoàn xe của chúng tôi đi đến đầu thị xã Yên Bái thì bị máy bay Mỹ đánh bom trúng chiếc xe đi đầu. Đó là xe của anh Duyến (lái chính) và anh Phúc (học cùng lớp tôi) là lái phụ. Xe trúng bom bị lật ngửa, bẹp rúm ca-bin, cả lái chính và lái phụ đều hy sinh. Xe chúng tôi đi sau phải dừng lại cùng các lái xe khác tìm mọi cách để đưa thi hài hai anh từ trong ca-bin ra. Xe của tôi phải đổ đá xuống đường để chở anh Duyến và anh Phúc về Thác Bà để đơn vị tổ chức mai táng.

Sau 3 tháng thực hành ở bãi tập và trên đường, tháng 5 năm 1967 tôi tốt nghiệp và được cấp bằng lái xe tải. Sau đó tôi dược điều về công tác tại công trường 3 Nhà máy thủy điện Thác Bà.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 01:10:28 PM
Chương hai
NHỮNG NGÀY ĐẦU NHẬP NGŨ - VÀO CHIẾN TRƯỜNG THAM GIA NHỮNG TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN


Sau khi về công trường 3 Nhà máy thủy điện Thác Bà, tôi được phân công tham gia khai thác và vận chuyển đá sỏi để xây dựng nhà máy. Nhưng nhận công việc lái xe chưa được bao lâu thì theo yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, ngày 5 tháng 8 năm 1967 tôi được lệnh gọi nhập ngũ (năm đó tôi hơn 19 tuổi). Được nhập ngũ lúc này là niềm vinh dự đối với tôi. Vì từ ngày nhận được tin anh trai cả hy sinh tôi luôn ấp ủ tâm nguyện sẽ nhập ngũ để tiếp bước anh đi đánh giặc, cứu nước. Sau ba ngày tập trung và nhận quân trang ở Yên Bái, đoàn tân binh chúng tôi bắt đầu hành quân về Thái Nguyên. Chúng tôi đi từ Thác Bà - Yên Bái qua bến phà Hiên về Nông trường Tháng 10 ở Tuyên Quang. Sau một đêm hành quân, sáng hôm sau chúng tôi dừng chân ở một bản người dân tộc Cao Lan thuộc Nông trường chè Tháng 10. Đây là lần đầu tiên tôi đi bộ xa, nên hai bàn chân sưng vù, bỏng rát tưởng chừng không thể đi được nữa. Tranh thủ lúc nghỉ ban ngày, làm theo kinh nghiệm của các đồng chí cán bộ tiểu đội và trung đội, đồng chí tiểu đội trưởng lấy muối giúp tôi hòa nước ấm để ngâm chân nên các vết phồng rộp xẹp dần, tối hôm đó tôi lại tiếp tục hành quân được. Cứ như vậy, ban đêm hành quân, ban ngày chúng tôi lại nghỉ. Sau 4 đêm hành quân, chúng tôi về đến một xóm nhỏ nằm xen lẫn trong khu rừng già phía đông chân dãy núi Tam Đảo thuộc xã Bình Sơn huyện Đại Từ tỉnh Bắc Thái.

Đến vị trí mới, tôi được biên chế về Tiểu đội 9 Trung đội 3 Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 2A thuộc Đoàn 250 Quân khu Việt Bắc. Vì doanh trại đơn vị không đủ cho lực lượng tân binh mới nhận, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chủ trương: Tận dụng mọi khả năng để đảm bảo tại chỗ, chủ động tổ chức cho bộ đội khai thác nguyên vật liệu xây dựng thêm doanh trại. Mấy ngày sau đó, chúng tôi bắt tay vào khai thác gỗ, tranh, tre và nứa để xây dựng doanh trại. Sau gần nửa tháng khắc phục khó khăn, gian khổ, vất vả, cơm nắm, cơm vắt với muối vừng, muối lạc, vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối, chúng tôi đã xây dựng xong cơ bản doanh trại, đáp ứng đủ nhu cầu ăn ở cho lực lượng tân binh. Đầu tháng 9 năm 1967, chúng tôi bắt đầu bước vào huấn luyện. Giai đoạn này, ban ngày chúng tôi học chính trị và huấn luyện các động tác kỹ thuật cá nhân chiến đấu, xạ kích và các hình thức chiến thuật từ cá nhân đến tiểu đội. Ban đêm chúng tôi luyện tập hành quân đường dài, trên lưng chúng tôi khi hành quân luyện tập là những chiếc sọt đan bằng tre đựng đầy đất đá, khoảng 18-20 cân. Cứ sau một tuần, các đồng chí chỉ huy lại chỉ đạo tăng cân lên, ai mang được nặng hơn thì được biểu dương khen thưởng. Do đó, chúng tôi thi đua, người nào cũng muốn mang nặng hơn người khác. Những ngày đầu, hai vai và lưng tôi ê ẩm, tưởng chừng không nhấc nổi chiếc sọt đất lên vai, nhưng rèn luyện dần dần, chỉ sau một tuần tôi đã mang được từ 25-28 cân, rồi 30 cân và là một trong những người mang được số cân nặng nhất trong tiểu đội.

Sau 3 tháng huấn luyện, chúng tôi được bắn đạn thật các loại súng. Sau đó tôi được biên chế về tổ hỏa lực và được phân công là xạ thủ chính trung liên RPĐ. Từ đó, hằng ngày tôi làm bạn và huấn luyện với khẩu trung liên nặng hơn 7 cân. Với ý thức “Thao trường có đổ mồ hôi, thì chiến trường mới bớt rơi máu đào”, là một thanh niên có sức khỏe, nên tôi luôn quyết tâm rèn luyện, học tập hăng hái và tích cực tham gia công việc của tiểu đội, trung đội, bắn đạn thật luôn đạt điểm cao.

Đời tân binh của tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ nhưng nhớ nhất là một lần đơn vị tổ chức cho bộ đội đi chặt nứa xây dựng doanh trại, tôi được phân công đi lấy măng để cải thiện cho tiểu đội. Vì quá mải tìm măng, tôi bị lạc trong rừng không biết đường ra, tiểu đội phải cho người đi tìm mất nửa ngày, còn tôi từ lúc biết mình bị lạc thì cứ men theo con suối nhỏ để tìm đường ra. Rất may, khi ra đến bờ sông Công thì tôi gặp người được đơn vị cử đi tìm. Một lần khác, đơn vị tổ chức huấn luyện đêm. Trong quá trình vận động, tôi làm rơi hộp phụ tùng của súng trung liên. Hết giờ huấn luyện đại đội tập hợp kiểm tra mới phát hiện mất, cả tiểu đội đốt đuốc tìm trong rừng, phải đến 3 giờ sáng mới thấy. Lần đó tôi bị phê bình trước tiểu đội và trung đội. Từ đó tôi luôn cố gắng phấn đấu để không bao giờ mắc phải khuyết điểm. Trong huấn luyện, tôi luôn đầu tàu gương mẫu, nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được tiểu đội và cấp trên giao. Với thành tích phấn đấu xuất sắc, cuối năm 1967 tôi được giới thiệu học lớp cảm tình Đảng của đơn vị.

Bằng sự nỗ lực phấn đấu của mình, Tết Mậu Thân 1968, tôi được đơn vị thưởng phép về quê đón xuân cùng gia đình. Sau hai năm xa nhà, kể từ ngày tôi thoát ly đi làm công nhân ở Nhà máy thủy điện Thác Bà, rồi nhập ngũ, nay được về quê ăn tết nên tôi rất háo hức. Không biết những người thân của tôi bây giờ ra sao, chuẩn bị tết như thế nào, quê hương tôi đã có gì thay đổi... Trong bộ quân phục Tô Châu mới, tôi đi bộ từ nơi đóng quân qua huyện Phổ Yên, qua Đông Anh - Hà Nội rồi đi tàu hoả về Hà Nam, rồi từ đó đi bộ về làng. Khi đi đến dốc quèn Vồng, chân tôi như bước nhanh hơn, trong tôi chợt tràn về bao kỷ niệm thời thơ ấu. Thế là tôi sắp được nhìn thấy làng quê mình. Từ dốc quèn Vồng tôi có thể thấy khói đang tỏa ra từ ống khói của Xí nghiệp gạch ngay đầu làng tôi. Vì là vùng bán sơn địa nên những lúc nông nhàn người dân quê tôi xin đóng gạch theo mùa vụ cho Xí nghiệp gạch. Đây chính là một nghề phụ của người dân quê tôi. Khi chưa thoát ly, những dịp nông nhàn, anh em tôi thường rủ nhau xin đóng gạch cho xí nghiệp để kiếm thêm tiền. Đi thêm một đoạn nữa là đến chân đồi Hồ Chí Minh. Đây là nơi anh em chúng tôi và lũ trẻ chăn trâu cùng làng thường thả trâu ăn cỏ rồi rủ nhau chơi trận giả. Nhìn từ xa, bên sườn đồi vẫn hiện rõ dòng chữ “Hồ Chí Minh muôn năm”. Đến con dốc rẽ vào làng cạnh Xí nghiệp gạch, lòng tôi bồi hồi hơn. Đã hai năm trôi qua, quê hương tôi vẫn không thay đổi nhiều. Dọc theo con đường về làng cánh đồng lúa thơm thơm mùi đất, vừa đổ ải chuẩn bị cấy vụ Xuân Hè, đến ngã ba đường rẽ về xóm rặng nhãn đang trổ lá non màu nâu đỏ bóng sáng lên dưới ánh nắng buổi trưa. Vừa bước vào sân, thấy mẹ tôi đang lụi cụi nấu cơm trong bếp, tôi định sẽ làm mẹ bất ngờ nhưng như linh tính mách bảo mẹ ngoảnh mặt ra ngoài sân nên nhìn thấy tôi ngay. Có lẽ vì quá bất ngờ do tôi không báo tin với gia đình là sẽ vể quê ăn tết nên mẹ tôi sững lại một chút rồi chạy ào ra ôm chầm lấy tôi. Mẹ tôi trách sao không báo trước để mẹ bảo người đi đón. Một lúc sau thì bố tôi và các em tôi cũng về đến nhà, ai cũng ngạc nhiên vì tôi được về thăm nhà đúng dịp tết. Rồi hàng xóm kéo đến mỗi lúc một đông. Mọi ngưòi thi nhau hỏi thăm tôi. Vì từ ngày đi thoát ly làm công nhân ở Nhà máy thủy điện Thác Bà đến khi nhập ngũ tôi chỉ biên mấy dòng thư cho gia đình để thông báo tình hình nên mọi người rất vui mừng khi thấy tôi chững chạc và trưởng thành hơn trong bộ quân phục. Hàng xóm chúc mừng bố mẹ tôi vì tết này cả gia đình được sum họp đầm ấm.

Bữa cơm ngày tết cùng gia đình sau hai năm tôi đi xa được mẹ tôi chuẩn bị khá thịnh soạn, có đủ cả thịt mỡ, dưa hành. Ngày tết quê tôi không có nhiều hội hè như những nơi khác nên những ngày đón tết cùng gia đình tôi tranh thủ đưa bố mẹ đi thăm họ hàng và những người thân trong gia đình.

Hai năm rồi mới được về thăm nhà, rồi không biết khi nào lại được về nữa nên tôi tranh thủ thời gian rảnh phụ giúp bố mẹ và các em sửa chưa một số đồ đạc trong nhà.

Trong những ngày sum họp cùng gia đình vui tết, nhân dân quê tôi, gia đình tôi đầy háo hức và vui mừng đón tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam dội về. Từ ngày 30 tháng 1 năm 1968, quân và dân miền Nam đã mở cuộc Tổng tiên công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đồng loạt tiến công vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy, các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng ở hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược. Đây là đòn quyết định làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, buộc Mỹ phải “xuống thang chiến tranh”, tạo ra bước ngoặt, mở đầu thời kỳ đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cùng hoà niềm vui chung với mọi người, tôi không khỏi tự hào trong chiến công chung ấy có phần đóng góp của gia đình tôi, xương máu của anh cả tôi và tôi - một chiến sĩ đang háo hức chờ ngày ra trận để lập công.

Thế rồi mấy ngày nghỉ phép cũng hết. Đến mùng 6 tết, tôi trả phép đúng thời hạn quy định của đơn vị.

Ngày 10 tháng 2 năm 1968, đơn vị chúng tôi được nhận lệnh hành quân đi B. Với khẩu trung liên RPĐ, cùng 300 viên đạn và ba lô, trang bị cá nhân của tôi nặng tới gần 30 cân. Chúng tôi hành quân bộ từ huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, đêm đi, ngày nghỉ. Đường hành quân của chúng tôi đi qua các huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), Hiệp Hoà (Hà Bắc), Khoái Châu (Hưng Yên)... đến các trạm nghỉ, chúng tôi được nhân dân giúp đỡ nấu ăn và đun nước muối nóng để ngâm chân.

Ngày 15 tháng 2 năm 1968, đơn vị chúng tôi tạm dừng chân ở một làng thuộc huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên. 8 giờ tối hôm đó, tại ngôi đình làng, chi bộ Đảng của đại đội đã tổ chức kết nạp Đảng cho tôi. Đó là ngày tôi không bao giờ quên trong ký ức của mình, ngày mà tôi nguyện suốt đời trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Đêm hôm ấy, tôi nhận được nhiều lời chúc mừng, động viên của các đồng chí, đồng đội, tôi lại càng nhận rõ trách nhiệm mới nặng nề nhưng vẻ vang của mình là người đảng viên cộng sản, và tự hứa sẽ không ngừng phấn đấu để xứng đáng với niềm tin của Đảng, của nhân dân.

Ngày hôm sau, đơn vị chúng tôi hành quân tiếp qua các huyện Duy Tiên, Bình Lục - quê hương Hà Nam thân yêu của tôi. Vừa được về thăm nhà trong dịp nghỉ phép đợt tết nhưng khi đi qua quê hương trong lòng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Tôi thầm nghĩ: Tạm biệt quê hương yêu dấu, tạm biệt bố mẹ thân yêu, con cùng đồng đội đang hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Con sẽ cố gắng lập nhiều chiến công để xứng đáng với sự hy sinh của anh cả, của bao người con đất Việt.

Qua Hà Nam, đơn vị chúng tôi vượt sông Đáy qua huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình và từ đó theo đường giao liên vào huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình, rồi vào Thanh Hóa, theo tuyến đường 559 vào tỉnh Quảng Bình. Dọc đường hành quân, tôi càng cảm phục tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường, những hy sinh mất mát của quân và dân đất lửa Khu 4 trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trước thất bại nặng nề về quân sự và chính trị ở cả hai miền Nam, Bắc, ngày 31 tháng 3 năm 1968, tổng thông Mỹ, Giôn-xơn đã buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nhưng ngay sau đó, Mỹ dã tăng cường đánh phá quyết liệt các trọng điểm giao thông của Khu 4 nhằm ngăn chặn sự chi viện của ta cho chiến trường. Nhiều xóm làng, trường học bị đánh phá, những Truông Bồn (Nghệ An), Đồng Lộc (Hà Tĩnh),... bị bom Mỹ cày xới và không một làng nào ở Quảng Bình không bị bom Mỹ phá hoại.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 01:15:02 PM
Ngày 15 tháng 4 năm 1968, đơn vị chúng tôi đến vị trí giao quân cho đơn vị mới. Tôi được biên chế về Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 chiến đấu trên chiến trường Bắc Quảng Trị. Từ ngày hôm đó, tôi chính thức trở thành anh chiến sĩ giải phóng quân. Được biên chế về Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 là một vinh dự lớn đối với tôi, vì đây không chỉ là một đơn vị có bề dày truyền thống chiến đấu mà còn là đơn vị từng có thời kỳ đóng quân và chiến đấu trên mảnh đất quê hương tôi trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Tôi thầm hứa sẽ cố gắng phấn đấu để phát huy truyền thông của đơn vị và quê hương mình.

Ngày hôm sau, đơn vị chúng tôi hành quân theo đường Trường Sơn vào đến trạm giao liên 15 thuộc địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị. Tối hôm đó, chúng tôi nghe tiếng bom B-52 rải thảm cạnh trạm giao liên trên sườn núi. Mặc dù đã nhiều lần nghe tiếng máy bay, tiếng bom đạn của Mỹ, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi được tận mắt chứng kiến sự oanh tạc, gầm rít của phản lực B-52... và được hiểu thêm những khó khăn, vất vả hy sinh của cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên tuyến và ở các trạm giao liên. Tôi và đồng đội càng nung nấu quyết tâm, mong sớm được trực tiếp chiến đấu, trả thù nhà, đền nợ nước và giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Tại cánh rừng già - khu vực hậu cứ của trung đoàn, chúng tôi được nghe đồng chí Đại úy Lê Xuân Lộc - Chính trị viên Tiểu đoàn 9 nói chuyện truyền thống của Trung đoàn 66, phổ biến tình hình nhiệm vụ của đơn vị và được nghe đồng chí Trần Hữu Bào, gương điển hình trong chiến đấu trực tiếp kể về trận đánh của mình trong mùa Xuân năm 1968.
Trung đoàn 66 bí danh là “Trung đoàn Ký Con”, thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1947 tại khu vực Khổng Mục - Trán Voi thuộc vùng Xuân Mai - huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội. Là một trong những trung đoàn chủ lực được thành lập đầu tiên của Liên khu 3 trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Với nhiều chiến công vang dội, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 đã xây đắp nên truyền thống “Đoàn kết - Kiên cường - Trung dũng - Đánh thắng”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ đàn anh của Trung đoàn 66 đã cùng các đơn vị bạn làm nên chiến thắng vang dội, đánh dập đầu quân viễn chinh Mỹ ở thung lũng Ia Đrăng ngay khi chúng vừa đặt chân đến đất Tây Nguyên.

Từ ngày 20 tháng 1 năm 1968, ta mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh để tạo điểu kiện và phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Sư đoàn 304 là sư đoàn đảm nhiệm tác chiến trên địa bàn chủ yếu của chiến dịch ở huyện Hướng Hoá - Quảng Trị. Những Huội San, Làng Vây, Tà Cơn đã gắn liền vối những chiến công vang dội của các đơn vị thuộc Sư đoàn 304.

Đồng chí Bào kể cho chúng tôi nghe về trận đánh giữ chốt trên điểm cao 595. Đồng chí Trần Hữu Bào là Tiểu đội phó Tiểu đội 3 Trung đội 1 Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Điểm cao 595 gồm hai mỏm 595 và một mỏm có bình độ thấp hơn. Đây là điểm cao khống chế trục đường số 9 nằm ở phía Tây, cách cứ điểm Tà Cơn khoảng 1 cây số. Địch rất muốn nhổ điểm cao này để bảo đảm an toàn cho hành lang đường số 9, còn ta thì quyết giữ bằng được để có điều kiện vây ép, đánh chiếm cứ điểm Tà Cơn sau này. Trung đội 1 thuộc Đại đội 5 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 595. Tiểu đội 1 và Tiểu đội 2 chốt ở mỏm thấp, có súng máy phòng không 12,7 ly và cối 60 ly chi viện. Tiểu đội 3 có 5 đồng chí, do đồng chí Trung đội phó Hoàng Nhất Linh chỉ huy chốt ở mỏm 595 và được chia làm 2 tổ. Đồng chí Đợi - Tiểu đội trưởng phụ trách một tổ, đồng chí Trần Hữu Bào - Tiểu đội phó phụ trách một tổ.

Ngày 6 tháng 4 năm 1968, sau khi đổ quân được bốn ngày, quân Mỹ cho lính kỵ binh bay tổ chức đánh chiếm điểm cao 595. Sau khi cho phi pháo đánh phá dữ dội, lực lượng địch tiến dần lên chốt. Đợi cho địch đến gần tầm bắn, lực lượng của Trung đội 1 trên cả hai mỏm đồng loạt nổ súng. Dựa vào lực lượng đông, địch lại tiếp tục tổ chức tiến công lên chốt bất chấp các loại hỏa lực bắn chế áp của ta. Ta và địch giành giật với nhau từng chiến hào, từng ụ đất rất quyết liệt. Dưới sự chỉ huy linh hoạt của Trung đội phó Linh, các tổ của đồng chí Đợi và đồng chí Bào chiến đấu rất dũng cảm đẩy lùi các đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 120 tên.

Sang ngày 7 tháng 4, địch lại đổ thêm một đại đội kỵ binh bay của Mỹ xuống một điểm cao gần điểm cao 595 nhằm tăng cường lực lượng hòng đánh chiếm cao điểm 595. Chúng bỏ cả quy luật ngày đánh, đêm nghỉ, quần nhau với ta cả ngày đến 20 giờ tối. Lúc này Tiểu đội trưởng Đợi hy sinh, Trung đội phó Linh và 3 chiến sĩ bị thương nặng nên trên trận địa chỉ còn Trần Hữu Bào. Anh băng bó cho các anh em bị thương và nhanh chóng đưa họ về hầm dự bị để quay lại tiếp tục chiến đấu. Anh thu gom được hơn 20 quả lựu đạn, các súng B40, súng trung liên và AK của đồng đội anh để sẵn ở các hố chiến đấu. Rồi anh bò ra khỏi hầm dùng B40, lựu đạn đánh tới tấp vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, địch hoảng hốt bỏ chạy, bỏ lại nhiều xác chết. Nhờ tiếng súng của đồng chí Bào nên tiểu đoàn biết Tiểu đội 3 vẫn còn và lập tức cho người lên chi viện, tiếp tục giữ vững trận địa và chuyển thương binh và tử sĩ về tuyến sau.

Với tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm, quyết tâm “còn người còn trận địa”, chỉ với một trung đội các đồng chí đã đẩy lùi một tiểu đoàn lính Mỹ, không cho chúng chiếm điểm cao, diệt gần 200 tên, riêng đồng chí Bào, 19 tuổi đời, một năm tuổi quân đã diệt 79 tên. Tiểu đội đồng chí Bào lập kỷ lục 1 diệt 40, dược anh em trong đơn vị ca ngợi và tặng cho danh hiệu “595 là chốt thép kiên cường” 1.

Noi gương chiến đấu của tiểu đội đồng chí Bào, toàn đơn vị chúng tôi hăng say rèn luyện, học tập để sẵn sàng vào chiến đấu và mọi người đều háo hức lập công.

Sau 3 ngày học chính trị tại hậu cứ trung đoàn, đêm 19 tháng 4 chúng tôi nhận lệnh hành quân về vị trí tập kết mới của đại đội ở gần căn cứ địch ở phía bắc quận lỵ Hướng Hóa. Cũng đêm hôm đó, địch dùng B-52 ném bom vào sở chỉ huy Sư đoàn 304, đồng chí Nguyễn Trọng Hợp - Phó chính ủy sư đoàn và một số đồng chí khác bị thương. Chúng tôi được giao nhiệm vụ đi cáng thương, đưa đồng chí Hợp ra trạm phẫu thuật của sư đoàn.

Ngày 20 tháng 4, tôi được đại đội cử đi lấy thực phẩm ở hậu cứ của Trung đoàn 66. Đồng chí Quyền - Trợ lý Quân nhu của tiểu đoàn phụ trách tổ 3 người chúng tôi. Khi chúng tôi đi qua trảng cỏ tranh thì bất ngờ bị một tốp máy bay trực thăng trinh sát Mỹ phát hiện, nó bay sà xuống bắn đuổi và định bắt sống, cả ba anh em đang lúng túng, quăng cả ba lô thực phẩm để tìm chỗ ẩn nấp và chống trả. Đồng chí Quyền vốn có kinh nghiệm chiến đấu đã kịp nói với chúng tôi lợi dụng bìa cỏ ở mép rừng và chỉ cách ngụy trang để ẩn nấp tránh máy bay địch. Sau một hồi quần đảo, săm soi và bắn phá, máy bay địch không tìm được chúng tôi, chúng gọi pháo bắn vào rừng rồi bay đi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi chạm trán với trực thăng Mỹ, song đã để lại nhiều kinh nghiệm cho những trận đánh sau này.

Khi Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao sát sân bay Tà Cơn thì đêm 22 tháng 4, đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ đi khiêng cáng thương binh, tử sĩ. Chúng tôi vận động vào sát trận địa Tiểu đoàn 7. Người đầu tiên chúng tôi gặp là đồng chí Trịnh Xuân Hiểu, người Thạch Thành - Thanh Hóa, Tiểu đội trưởng bộ binh thuộc Tiểu đoàn 7, bị thương rất nặng ở vai và mông, nên không nằm được trên cáng. Do vậy, chúng tôi phải thay nhau cõng đồng chí trên lưng vượt qua pháo, bom địch từ trận địa về trạm phẫu thuật của trung đoàn. Những ngày tiếp theo, đơn vị chúng tôi tiếp tục củng cố chốt các điểm cao, sẵn sàng chờ lệnh vào chiến đấu.

Đêm 2 tháng 5 năm 1968, Đại đội 11 của chúng tôi nhận lệnh chiến đấu. Khi nhận nhiệm vụ, đại đội chúng tôi có khoảng 50 tay súng, phần đông là chiến sĩ mới bổ sung, chỉ có cán bộ trung đội và tiểu đội là lính cũ. Đại đội chúng tôi được giao nhiệm vụ phối hợp cùng một đại đội đặc công của tiểu đoàn đặc công sư đoàn tổ chức tập kích tiêu diệt một đại đội lính kỵ binh bay Mỹ đang chiếm giữ ở điểm cao 425, cách phía tây bắc căn cứ Khe Sanh khoảng 2 cây số. Lần đầu tiên được xung trận, chúng tôi rất phấn khởi, song ai cũng thấy bồn chồn vì chưa hình dung ra trận đánh sẽ như thế nào. Chúng tôi là lính bộ binh được huấn luyện 6 tháng ở miền Bắc, mới hành quân vào đến chiến trường đã được phối hợp chiến đấu với đơn vị đặc công.

Được biết đây là một đơn vị đặc công rất tinh nhuệ, do vậy chúng tôi lo mình là tân binh, chưa có kinh nghiệm chiến đấu nên rất dễ không hoàn thành được nhiệm vụ. Tuy vậy, chúng tôi cũng được an ủi là bên cạnh mình còn có các cán bộ trung đội, tiểu đội là lính cũ nên yên tâm phần nào.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Năm 1973, dồng chí Trần Hữu Bào được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lưc lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2018, 01:19:02 PM
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32738949_2081325308818710_4291232375259529216_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmdgXjEMvadgtqDTJxfwRvUnrVRMum2ArN71prnyYRf1xYGGaLB1U70hWa6dz5yzO0&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=a266e891d0d14e0e53e117f40d7963cb&oe=5E582EAC)


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/33032158_2081325328818708_2819955666901270528_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQlBpCDBgpcYq1np8VnE94SkxeFyuUm009Qw6OyYpuzqj6HMhfyC0lfS27PN2_EyKdc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=3e7ce4bd0bb93aa312c39a4ead059138&oe=5E6582EB)


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32941479_2081325382152036_7199464248752209920_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQkX_ZMe2--W3AJSyUiZtdYOAym6gkkl0qeNahlzI1gUKoCJzHSZ2f46NxXTo2S7kNc&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=f8285cc6b994dfc331e01fb838291634&oe=5E27F75A)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32739215_2081325482152026_2555920885932359680_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQninheyuCyOWn1FBnokB35tTSSLSpy0BzgRFMDY6CxhHtz36eteXSIyoBTR_K1pTSY&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=0349d7d57a487dde09ac5676fc4fbeca&oe=5E5AF5EB)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32974148_2081325212152053_4640731404781486080_n.jpg?_nc_cat=110&_nc_oc=AQlo46uRH_VsdJZN0lb5--WJ34EkmdkTXgTHl3-EsfXzn7-LftfhUDNAXdcw3jvBEYM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=996f7284dff621eabc25f3a420ebb232&oe=5E2B6ECD)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/32765911_2081325202152054_8721359818163486720_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQkp7sawi5d2DjLLZlA35Me_VPBcb9gzbwOVnRPUzDjyu09Xar6RgD48o7IcziyO3VM&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=920968053b323c19cb720638a1101188&oe=5E2D3A27)


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Năm, 2018, 01:15:28 PM
Khi thực hành cơ động tiếp cận địch, chúng tôi vận dụng các động tác tiềm nhập một cách rất bí mật, không phát ra tiếng động. Trong đêm tối, người sau trườn bò bám sát người trước, cứ như vậy chúng tôi bò ngược dốc tiếp cận địch trên điểm cao 425. Đến khoảng 2 giờ sáng thì chúng tôi chạm hàng rào địch, cả điểm cao im lìm trong đêm, thỉnh thoảng có vài loạt đạn pháo địch từ Tà Cơn bắn cầm canh ra các điểm cao xung quanh và những loạt bom B-52 rải thảm trên dãy Trường Sơn. Khi chúng tôi đang khắc phục hàng rào để đưa lực lượng luồn vào bên trong, thì đơn vị đặc công đã vào được bên trong và thực hành nổ súng theo hiệp đồng. Tiếng súng nổ chát chúa, đạn nổ rát tai bay vèo vèo trên đỉnh đầu, tiếng thủ pháo nổ âm làm rung chuyển mặt đất. Quân Mỹ ở điểm cao 425 chống trả quyết liệt, đạn đại liên, tiểu liên cực nhanh nổ ràn rạt, đạn M-79 nổ tróc, đoành không ngớt. Địch ở các điểm cao xung quanh bắn pháo sáng loạn xạ làm sáng rực trời đêm. Ngay sau đó, máy bay phản lực Mỹ gầm rú, pháo binh địch bắn ra phía sau đội hình tiếp cận của đơn vị chúng tôi. Đại đội chúng tôi nhanh chóng khắc phục vật cản, vượt qua hàng rào cuối cùng đánh vào tung thâm cứ điểm dịch. Lực lượng bộ binh chúng tôi phối hợp chặt chẽ với các mũi đặc công lần lượt đánh chiếm từng ụ súng, từng lô cốt. Qua những ánh chớp của pháo sáng, tôi nhìn thấy một số đồng chí đang xung phong ở phía trước bị trúng đạn địch đã khuỵu xuống, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm tiến lên nổ súng tiêu diệt địch. Lúc này, chúng tôi dường như không biết sợ là gì, lợi dụng pháo sáng của địch, cứ thế các mũi ào ạt xông lên đánh vào các mục tiêu của địch. Trận đánh diễn ra liên tục trong khoảng 2 tiếng đồng hồ. Đến tảng sáng ngày 3 tháng 5 thì tiếng súng thưa dần. Bọn địch một phần bị tiêu diệt, phần còn lại rút chạy về một điểm cao gần Khe Sanh. Đến khi trời sáng hẳn, đơn vị chúng tôi làm chủ hoàn toàn điểm cao 425.

Sau khi làm chủ trận địa, theo lệnh của cấp trên, lực lượng đặc công và 2 trung đội của Đại đội 11 được lệnh thu dọn chiến trường, đưa thương binh và tử sĩ về phía sau. Trung đội của tôi còn khoảng 15 ngươi, do đồng chí Trung đội trưởng Nguyễn Hải Đảo - quê ở Ninh Bình được giao nhiệm vụ đảm nhiệm tổ chức chốt giữ điểm cao 425, không cho quân Mỹ đánh chiếm lại. Trực tiếp chỉ huy trên điểm cao 425 là Đại đội phó Phạm Ngọc Nha.

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 425, chúng tôi nhanh chóng lợi dụng công sự, hầm hào của địch để cải tạo thành trận địa chốt giữ. Suốt một đêm thức trắng và liên tục chiến đấu, lực lượng của trung đội đã bị tổn thất một số, chúng tôi tranh thủ vừa ăn lương khô vừa quan sát, điều chỉnh thế trận chốt giữ điểm cao 425 và hạ quyết tâm chiến đấu, kiên quyết không cho địch đánh chiếm lại.

Ngay từ 8 giờ sáng ngày 4 tháng 5, địch đã bắt đầu phản kích bằng pháo binh. Sau mỗi đợt pháo, quân Mỹ lại sử dụng máy bay phản lực đánh bom vào trận địa của chúng tôi. Khoảng 10 giờ sáng, thì tiếng pháo và tiếng máy bay bỗng im ắng, chúng tôi quan sát thấy lính kỵ binh bay Mỹ từ điểm cao 519 đang dàn đội hình tiến lên điểm cao 425. Vừa kiểm tra, động viên bộ đội, các đồng chí cán bộ đại đội và trung đội chỉ thị cho chúng tôi là chờ địch lên thật gần mới được nổ súng. Chờ cho quân Mỹ tiến gần sát công sự tiền duyên, chúng tôi bất ngờ nổ súng. Ngay lúc đó, các hướng khác trên điểm cao cũng đồng loạt nổ súng.

Tôi và đồng chí Nguyễn Văn Miêng, quê Lý Nhân - Hà Nam cùng được bổ sung về đơn vị một đợt, được giao nhiệm vụ chốt giữ mỗi người một ngách hầm. Tôi nổ loạt súng đầu tiên quật ngã ngay một tên lính Mỹ chết cách cửa hầm của tôi khoảng 3 mét. Khi bị ta bất ngờ tiêu diệt những tên đi đầu, lực lượng quân Mỹ vội tản ra và bắn loạn xạ lên điểm cao. Sau đó những tên Mỹ khác lại tiếp tục tiến lên, đồng chí Miêng liền điểm xạ một loạt ngắn, tôi quan sát thấy một tên Mỹ trúng đạn AK lăn xuống sườn đồi. Một lúc sau, tiêng súng bỗng thưa dần. Chúng tôi quan sát không thấy địch tiến lên nữa liền tranh thủ sửa sang lại hầm chiến dấu. Nhưng ngay tức thì, máy bay địch lại tiếp tục oanh tạc vào trận địa. Do điểm cao 425 khá hẹp và dốc, trung đội chúng tôi chốt ở vị trí cao nên bom và pháo địch đều bị trượt rơi xuống ngọn đồi phía sau. Địch oanh tạc khoảng 30 phút thì chuyển làn đánh ra mỏm đồi phía sau. Chúng tôi quan sát thấy bọn lính Mỹ lại tiếp tục tiến lên. Lần này, bọn lính Mỹ phải bò chứ không dám đi lom khom như lần trước. Khi quân Mỹ tiến lên gần công sự, đồng chí Miêng rướn người lên bắn một loạt AK, ngay sau đó là một loạt tiểu liên cực nhanh của lính Mỹ bắn về phía đồng chí Miêng làm đồng chí Miêng gục xuống. Bọn Mỹ lại trườn lên gần công sự chúng tôi. Tôi nhanh chóng nổ một loạt dài AK và nhoài người lên ném liên tiếp 2 quả lựu đạn diệt tiếp 2 tên lính Mỹ. Bọn lính Mỹ vội tụt xuống, không dám bò lên nữa. Liền sau đó, hỏa lực của địch tập trung vào ngách hầm của tôi. Tôi bò sang ngách hầm của đồng chí Miêng thì thấy đồng chí Miêng đã hy sinh. Tôi đưa thi hài anh vào bên trong và tiếp tục chiến đấu ở ngách hầm của đồng chí Miêng. Cứ như vậy, sau mỗi lần bọn Mỹ tiến công bị ta đánh hất xuống chân đồi, chúng lại dùng pháo và máy bay oanh tạc vào trận địa. Suốt ngày 4 tháng 5 chúng tôi chiến đấu đẩy lùi nhiều đợt địch tiến công lên điểm cao 425.

Đến chiều hôm đó, bọn Mỹ lùi lại điểm cao 519, chúng dùng pháo binh liên tục bắn phá vào điểm cao 425. Đêm đó, chúng tôi tiếp tục củng cố công sự trận địa, đồng thời đưa những đồng chí thương binh nặng và tử sĩ về vị trí chỉ huy của đại đội. Tối hôm đó, Trung đội trưởng Nguyễn Hải Đảo và Đại đội phó Phạm Ngọc Nha đi từng hầm để kiểm tra và động viên chúng tôi. Đồng chí Nha nói: Phải tiếp tục giữ vững trận địa. Khi chưa có lệnh không được bỏ vị trí chốt giữ của mình. Đồng chí Nha giao nhiệm vụ cho tôi làm Tiểu đội trưởng chỉ huy tiểu đội chốt ngăn chặn địch hướng từ điểm cao 519 đánh sang.

Lúc này tiểu đội của chúng tôi chỉ còn 6 người. Mỗi người chốt giữ một hầm. Đồng chí Đảo và đồng chí Nha đều nói với chúng tôi: ngày mai bọn Mỹ sẽ tiến công quyết liệt hơn ngày hôm nay, vì nhiều tên lính Mỹ bị chúng tôi bắn chết vẫn nằm cách hầm của chúng tôi 2-3 mét, chúng chưa lấy ra được. Chúng tôi dồn súng đạn của những đồng chí đã hy sinh và bị thương ngày hôm trước, trang bị mỗi người 2 khẩu AK và rất nhiều đạn. Tôi phân công anh em trong tiểu đội thay nhau canh gác, cảnh giới và tranh thủ nghỉ ngơi. Trận chiến đấu diễn ra liên tục, tôi cũng không có thời gian để suy nghĩ gì về riêng mình, về cương vị, chức trách mới của mình mà chỉ tập trung tâm trí cùng đồng đội làm thế nào để giữ được chốt. Đói, khát và mệt nhoài, tôi ngủ thiếp đi trong tiếng pháo cầm canh, trong tiếng bom toạ độ ầm ào của máy bay địch.

Đúng như cán bộ trung đội và đại đội nhận định đêm hôm trước, sáng sớm ngày 5 tháng 5, bọn Mỹ tiếp tục dùng pháo binh và không quân đánh phá ác liệt vào trận địa chốt của chúng tôi. Cũng như ngày hôm trước, bom và pháo của Mỹ vẫn bị trượt ra phía sau. Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi thấy nhiều làn khói trắng từ lưng chừng đồi bay lên, mắt chúng tôi thấy hơi cay cay nên biết địch sử dụng đạn pháo hóa học. Trên điểm cao gió mạnh, những làn khói trắng đó bay đi rất nhanh, do vậy chúng tôi cũng không bị tác động gì của đạn pháo hoá học. Đến khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi quan sát thấy bọn lính Mỹ lại tổ chức tiến công. Khi đội hình bọn lính Mỹ vừa bám được vào sườn điểm cao 425, thì trận địa súng cối của tiểu đoàn, trung đoàn và pháo của sư đoàn bắn chế áp mãnh liệt vào quân Mỹ. Đến giữa trưa, bọn Mỹ mới dò dẫm, tiến lên được gần trận địa của chúng tôi. Để địch vào thật gần, chúng tôi lại nổ súng.

Từng loạt đạn AK ngắn gọn, đanh chắc nhưng quyết liệt đánh thẳng vào mặt bọn Mỹ, hất chúng trở lại chân đồi. Với sự đánh trả quyết liệt của chúng tôi và sự chi viện hiệu quả của pháo cối cấp trên, địch không thể đánh chiếm được điểm cao 425. Từ chiều 5 tháng 5 đến gần tối, địch liên tục dùng pháo binh và không quân đánh phá dữ dội vào điểm cao 425.

Từ ngày 5 tháng 5, bọn Mỹ tiến công 2 đợt, nhưng đơn vị tôi chỉ có 2 đồng chí bị thương nhẹ vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu. Đêm hôm đó, chúng tôi tiếp tục củng cố công sự, trận địa, sẵn sàng chiến đấu cho ngày hôm sau. Lợi dụng ánh sáng đèn dù của máy bay địch, tôi và các đồng đội xăm tìm các đồ hộp lương thực, thực phẩm của Mỹ lót ổ trên điểm cao sử dụng cùng với lương khô, cơm nắm, gạo rang để lấy sức chiến đấu.

Hai ngày 6 và 7 tháng 5, địch không tổ chức tiến công lên điểm cao 425, chúng chỉ sử dụng máy bay và pháo binh tiếp tục đánh phá lên trận địa. Đến tối 7 tháng 5, chỉ huy tiểu đoàn cho một tổ trinh sát lên nắm tình hình trận địa chốt của chúng tôi. Lúc này cả trận địa im ắng, bỗng tôi nghe thấy có tiếng gọi: Chúng tôi là trinh sát lên tìm các đồng chí đây, còn đồng chí nào trong hầm không? Nghe tiếng gọi, tôi chui ra khỏi hầm thì người đầu tiên tôi gặp là đồng chí Dương Đức Lợi - Tiểu đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 9 cùng đi với Trung đội trưởng Nguyễn Hải Đảo. Đồng chí Đảo đã dẫn các trinh sát tiểu đoàn đi từng hầm tìm chúng tôi. Vì ngày 7 tháng 5 địch không tiến công, chúng tôi nghĩ đêm hôm đó địch sẽ tiến công tiếp nên vẫn chốt trong công sự để quan sát và sẵn sàng chiến đấu. Gặp các đồng chí trinh sát chúng tôi mới được biết, Đại đội phó Phạm Ngọc Nha và tổ đài 2 oát ở vị trí chỉ huy đại đội đã hy sinh cả, nên chỉ huy tiểu đoàn và trung đội không liên lạc được với chúng tôi. Do vậy, chỉ huy tiểu đoàn phải phái trinh sát lên bám nắm địch và tìm chúng tôi, vì tưởng địch đã chiếm lại được điểm cao 425. Tôi nói với các đồng chí trinh sát là ở hướng chúng tôi đang còn mấy tên lính Mỹ bị bắn chết nằm ở mép hào.

Sau khi gặp chúng tôi, Trung đội trưởng Nguyễn Hải Đảo báo cáo tình hình về Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Sau đó, Ban chỉ huy Tiểu đoàn ra lệnh cho chúng tôi chuẩn bị tổ chức rời khỏi trận địa về đội hình của đại đội. Theo chỉ đạo của cấp trên, trinh sát tiểu đoàn đã đưa thêm người để giúp chúng tôi đưa thương binh, tử sĩ về phía sau; đồng thời đưa đồng chí phóng viên của Mặt trận đến chỗ chúng tôi để quay phim, chụp ảnh xác mấy tên lính kỵ binh Mỹ bị chúng tôi tiêu diệt tại trận địa.

Sau 5 ngày liên tục chiến đấu, từ tập kích đánh chiếm điểm cao 425, rồi chuyển vào tổ chức trận địa chốt giữ đánh địch phản kích, trung đội của chúng tôi đã diệt và làm bị thương nhiều tên lính Mỹ. Riêng cá nhân tôi loại khỏi vòng chiến đấu được 3 tên, có một tên chết gục ngay trước cửa hầm. Đây là trận đánh tập kích và chốt giữ đầu tiên của tôi khi vừa bước chân vào chiến trường. Sau trận đánh, tôi được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp III và được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Với những thành tích đạt được trong chiến đấu, ngày 29 tháng 5 tôi được Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 66 bổ nhiệm chức vụ Trung đội phó. Trong mấy ngày nghỉ ngơi tại hậu cứ của đơn vị, những sự kiện của trận đánh ở điểm cao 425 và hình ảnh của các đồng đội tôi anh dũng chiến đấu và hy sinh cứ hiện lên, thôi thúc tôi quyết tâm phấn đấu trên cương vị mới.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Năm, 2018, 01:17:58 PM
Sang những ngày đầu tháng 6 năm 1968, đơn vị chúng tôi tiếp tục củng cố lực lượng, tiếp nhận thêm quân số và đi vận chuyển đạn, gạo rồi nhận nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 622 ở phía tây sân bay Tà Cơn. Tôi phụ trách trung đội có 12 đồng chí.

Đến trung tuần tháng 6 năm 1968 thì mùa mưa đến. Đây là lần đầu tiên tôi được biết mưa ở Trường Sơn, những cơn mưa tầm tã kéo dài nhiều ngày làm nước suối dâng cao rất nhanh. Cùng với các cơn mưa, bom pháo địch đánh phá liên tục làm cho chúng tôi thường xuyên phải sửa sang củng cố lại công sự, trận địa. Những ngày này địch cũng không tổ chức tiến công đánh chiếm lại các điểm cao mà chỉ sử dụng máy bay và pháo binh đánh phá suốt ngày vào các điểm cao xung quanh Khe Sanh và Tà Cơn. Ta cũng không tổ chức những trận đánh tập kích hoặc phục kích vì trời mưa nhiều, rất khó khăn cho cơ động lực lượng tác chiến.

Theo mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tư lệnh Mặt trận, từ trung tuần tháng 6 năm 1968, Sư đoàn 304 bàn giao lại trận địa vây lấn địch ở Khe Sanh, Tà Cơn và nhiệm vụ đánh địch trên đường số 9 cho đơn vị bạn, từng bước rút dần các đơn vị ra khỏi chiến trường, hành quân về hậu cứ, củng cố đơn vị sẵn sàng nhận nhiệm vụ tiếp theo.

Ngày 15 tháng 7 năm 1968, sau hơn 170 ngày đêm tiến công, vây hãm và đánh quân địch rút chạy, chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh kết thúc thắng lợi. Ta đã diệt và làm bị thương 17.000 tên địch (có 13.000 tên Mỹ), bắn rơi và phá huỷ 480 máy bay, bắn cháy 120 xe quân sự, phá huỷ 65 khẩu pháo lớn, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hoá với hơn một vạn dân. Ta đã thu hút và kìm giữ một lực lượng lớn quân địch ở Khe Sanh (lúc cao nhất là 32 tiểu đoàn Mỹ, tức một phần tư lực lượng Mỹ trên chiến trường miền Nam) tạo điều kiện và phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam.

Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1968 đơn vị chúng tôi nhận được lệnh bàn giao lại trận địa cho đơn vị bạn, thực hành cơ động về phía sau. Đầu tháng 8 năm 1968, đơn vị chúng tôi hành quân ra đến Quảng Bình. Đến vị trí mới, đơn vị xây dựng hậu cứ trong một khu rừng già dưới chân dãy núi U Bò ở phía đông dãy núi Trường Sơn, cách phía tây thị xã Đồng Hới khoảng 20 cây số thuộc huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình. Thời gian này, máy bay và pháo từ các chiến hạm Mỹ ngoài biển đánh phá rất ác liệt vào thị xã Đồng Hối và các khu rừng phía tây quốc lộ số 15.

Cuối tháng 8 năm 1968, đơn vị chúng tôi nhận được lệnh tiếp tục hành quân ra tỉnh Hà Tĩnh. Đến đầu tháng 9, chúng tôi hành quân ra đến xã Cẩm Sơn huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh, ở đây chúng tôi đóng quân trong nhà dân chờ bổ sung thêm quân số để huấn luyện. Hà Tĩnh cũng là địa bàn bị địch đánh phá rất ác liệt bằng máy bay và pháo từ các chiến hạm ngoài biển. Quân và dân Hà Tĩnh đã chiến đấu rất kiên cường chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo đảm giao thông vận tải chi viện cho chiến trường; đồng thời huy động hết mình sức người, sức của cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Thời gian này, kinh tế, đời sống của nhân dân Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn, thanh niên thì đã ra hết chiến trường, lực lượng lao động chủ yếu là phụ nữ...

Đóng quân ở Cẩm Sơn (Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh) được gần một tháng, chúng tôi lại nhận được lệnh hành quân về Nông trường Đông Hiếu thuộc huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An. Lúc này tôi được Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn bổ nhiệm làm Trung đội trưởng Trung đội 2 Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Tại Nông trường Đông Hiếu, đơn vị chúng tôi được bổ sung thêm tân binh từ miền Bắc chuyển vào. Anh em hầu hết quê ở tỉnh Hải Hưng và tỉnh Nam Hà. Đại đội 11 được biên chế trên 100 đồng chí. Trung đội 2 của tôi được biên chế hơn 30 đồng chí. Thời gian này, chúng tôi được hưởng chế độ an dưỡng và thực hành huấn luyện bổ sung. Để động viên bộ đội, thời gian này các đồng chí lãnh đạo các tỉnh Hải Hưng và Nam Hà đã đưa các đoàn văn công xung kích vào biểu diễn nghệ thuật và động viên thăm hỏi. Sau những ngày tháng chiến đấu trên chiến trường, nay được về hậu phương lớn miền Bắc để củng cố và huấn luyện, đây là dịp tốt và thuận lợi để chúng tôi rèn luyện, học tập nâng cao trình độ nhận thức về chính trị, về các nguyên tắc chiến thuật, đặc biệt là bản lĩnh của người cán bộ chỉ huy phân đội.

Sau khi ăn Tết Kỷ Dậu (năm 1969) đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân vào Quảng Bình và lại về đóng quân dưới chân dãy núi U Bò. Tại đây chúng tôi chọn các quả đồi có địa hình gần giống như các điểm cao ở chiến trường bắc Quảng Trị để xây dựng các thao trường phục vụ cho huấn luyện, cả năm 1969, Trung đoàn 66 tập trung huấn luyện, củng cố và xây dựng lực lượng. Đây là thời gian chúng tôi được tập huấn và huấn luyện rất cơ bản.

Sau Tết Nguyên đán Canh Tuất, tháng 2 năm 1970, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân trở lại chiến trường bắc Quảng Trị. Thời gian này, Mỹ đã rút dần về phía sau để thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, lực lượng địch ở phía trước trên địa bàn bắc Quảng Trị chỉ còn chủ yếu là quân đội ngụy.

Hai bên đường số 9, quân ngụy tổ chức chốt giữ dày đặc ở các điểm cao như động Ông Do, điểm cao 367, động Chiêm Rồng, các điểm cao 105 Nam, 105 Bắc, động Toàn, động Ngô, điểm cao 241, các điểm cao 300 Đất, 300 Đá... nhằm án ngữ phía tây thị trấn Đông Hà - Ái Tử và phía tây thị xã Quảng Trị, ngăn chặn không cho quân ta tiến công vào các căn cứ ở đồng bằng tỉnh Quảng Trị.

Ý định của ta là kéo địch rời khỏi các căn cứ và công sự ra vòng ngoài để thực hiện các trận đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận lớn quân địch. Để thực hiện ý định trên, ta phải đưa từng bộ phận nhỏ vào để quấy rối, nhằm lừa địch đổ bộ lực lượng lớn ra vòng ngoài để tổ chức tiêu diệt lớn.

Thực hiện ý định của cấp trên, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 đưa Đại đội 11 được tăng cường súng cối 82 ly và ĐKZ 75 tập kích vào động Ông Do. Đại đội 11 chúng tôi đã nhiều lần tổ chức tập kích bằng hoả lực vào động Ông Do, nhưng suốt từ tháng 3 đến tháng 4 địch vẫn cố thủ không đưa quân ra theo ý định của ta. Đến trung tuần tháng 5 năm 1970, địch tiến hành đổ bộ đường không khoảng 1 tiểu đoàn ra khu vực Khe Đong ở phía đông sông Đăk Krông. Khi địch xuất hiện, Trung đoàn 66 đã sử dụng Tiểu đoàn 8 bao vây và tiêu diệt lực lượng địch ở Khe Đong. Quân địch ở Khe Đong bị ta đánh thiệt hại nặng. Những ngày cuối tháng 5 năm 1970, bộ chỉ huy vùng 1 chiến thuật ngụy lại tiếp tục đổ quân xuống động Cô Tiên nhằm đẩy ta ra xa và tạo vành đai an toàn cho vùng tiếp giáp đồng bằng Quảng Trị.

Những ngày cuối tháng 5 năm 1970, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ vượt sông Đăk Krông từ phía đông sang phía tây để bao vây, tiêu diệt quân địch ở động Cô Tiên.

Động Cô Tiên là một dãy điểm cao liên hoàn nằm sát sông Đăk Krông. Lực lượng địch đóng trên động Cô Tiên gồm một tiểu đoàn bộ binh và một sở chỉ huy nhẹ thuộc trung đoàn 54 sư đoàn bộ binh số 3 quân ngụy. Đây là một căn cứ khá kiên cố, trước đây quân đội Mỹ đã chiếm đóng, có nhiều lô cốt và hầm hào. Khi địch đổ quân, chúng đã đổ cả lô cốt bê tông cốt thép đúc sẵn xuống. Địch nhanh chóng xây dựng thành một cứ điểm ở trên cao có công sự vững chắc. Cùng với các hàng rào cũ ở vòng ngoài của căn cứ Mỹ trước đây, bên trong chúng bố trí thêm hai lớp hàng rào bùng nhùng mới và rất nhiều các loại mìn. Lực lượng chủ yếu của địch bố trí trên điểm cao 372 có mặt bằng rộng và cao, lực lượng còn lại bố trí trên hai mỏm đồi, mỏm nọ cách mỏm kia khoảng gần 200 mét.

Lúc này tôi là Trung đội trưởng Trung đội 3 Đại đội 11 Tiểu đoàn 9. Đêm 29 rạng sáng ngày 30 tháng 5, đơn vị chúng tôi tổ chức vượt sông Đăk Krông. Ngày 1 tháng 6, đơn vị bắt đầu tiếp cận đến được chân điểm cao động Cô Tiên. Trong quá trình vượt sông, bộ phận đi cuối cùng của Tiểu đoàn 9 bị máy bay trực thăng địch phát hiện và đánh vào đội hình làm bị thương và hy sinh một số đồng chí. Ngay sau đó, dịch dùng pháo binh và máy bay bắn phá vào các dải địa hình xung quanh động Cô Tiên.

Trong khi cơ động tiếp cận địch, đồng chí Trương Đình Thăng - Đại đội trưởng Đại đội 11, quê ở Cẩm Thủy - Thanh Hóa bị thương nặng không tham gia chiến dấu được. Đồng chí Lê Hải Triền - Đại đội phó, quê ở Hưng Yên được cấp trên chỉ định lên thay đồng chí Trương Đình Thăng làm Đại đội trưởng. Tôi được cấp trên chỉ định làm Đại đội phó thay đồng chí Triền. Đêm mùng 1 rạng sáng ngày 2 tháng 6, đơn vị tôi thực hành tiềm nhập tiếp cận địch. Đội hình Tiểu đoàn 9 hình thành 3 hướng. Hướng chủ yếu là Đại đội 9, Đại đội 10 (thiếu). Đại đội 11 của chúng tôi đảm nhiệm hướng thứ yếu. Một trung đội của Đại đội 10 đảm nhiệm hướng chốt chặn. Đại đội 12 là đại đội trợ chiến đảm nhiệm nhiệm vụ sử dụng súng cối 82 ly chi viện cho chúng tôi trong quá trình chiến đấu.

Khoảng 4 giờ sáng, chúng tôi vượt qua được 2 hàng rào cũ của địch. Khi chúng tôi bắt đầu chạm hàng rào thứ 3, là hàng rào chúng mới bố trí cách đây mấy ngày, thì đúng lúc đó trên hướng chủ yếu, khi tiềm nhập bộ đội vấp phải mìn địch nên bị lộ. Trước tình huống trên, tiểu đoàn ra lệnh cho các đơn vị đồng loạt nổ súng. Địch bắn ra xối xả và chống trả quyết liệt, do vậy tốc độ tiến công của ta rất chậm, đến gần sáng mà hướng chủ yếu của Đại đội 9 và Đại đội 10 vẫn gặp khó khăn, không phát triển chiến đấu được. Lệnh của Tiểu đoàn trưởng cho hướng thứ yếu của Đại đội 11 chúng tôi nhanh chóng dùng bộc phá ống để phá rào mở cửa phát triển vào bên trong cứ điểm địch để chi viện cho hướng chủ yếu. Tôi lệnh cho đội cửa mở mang bộc phá ống lên phá nốt hai hàng rào còn lại của địch. Khi hai lớp hàng rào còn lại được mở tung, lực lượng Đại đội 11 đã nhanh chóng xung phong đánh thẳng vào trung tâm mỏm B của động Cô Tiên. Mỏm này là mỏm cao nhất của dãy động Cô Tiên. Chúng tôi nhanh chóng đánh chiếm từng lô cốt, ụ súng, tiêu diệt từng hỏa điểm của địch. Đúng lúc này, Đại đội trưởng Triền bị thương, tôi thay đồng chí Triền tiếp tục chỉ huy đơn vị phát triển chiến đấu đánh vào trung tâm cứ điểm địch, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu phát triển. Khi đánh chiếm được chiếc lô cốt cao nhất trên đỉnh đồi, dưới ánh sáng của pháo sáng địch, tôi quan sát thấy bộ đội ta ở các hướng đang tiếp tục tiến công vào trung tâm. Riêng hướng vu hồi của một trung đội thuộc Đại đội 10 thì chưa nghe thấy tiếng súng của ta. Ngay sau đó, tôi đứng lên trên đỉnh lô cốt cao đó và hô to: “Tôi - Phạm Xuân Thệ đây, Phạm Xuân Thệ đây! Đại đội 11 đã vào đánh chiếm được điểm cao ở trung tâm rồi, tất cả các hướng xông lên!”. Cứ thế tôi vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chỉ huy, vừa hô to cho các hướng đồng loạt cùng tiến công. Đến khoảng 6 giờ sáng, tôi phát hiện thấy một tốp địch cách mình khoảng 100 mét đang chạy, tôi liền giương khẩu AK siết cò. Nhưng bỗng nhiên tôi thấy mặt mũi tối sầm lại. Sau thoáng bị choáng, tôi mới biết mình bị một quả đạn M79 của địch bắn trúng khẩu AK. May mà tôi đội mũ sắt nên chỉ bị những mảnh đạn nhỏ găm vào cánh tay cùng bàn tay và mặt nên bị thương nhẹ, còn khẩu AK bị gãy làm đôi. Lúc này bên cạnh tôi có mấy đồng chí bị thương đã được đồng đội băng bó đang nằm tại đó, tôi chạy lại lấy khẩu AK của đồng chí Nguyễn Văn Biên, quê ở Đô Lương - Nghệ An để tiếp tục chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Năm, 2018, 01:20:49 PM
Đến khoảng 8 giờ sáng, Tiểu đoàn 9 chúng tôi đã đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn cứ điểm địch ở động Cô Tiên. Đơn vị chúng tôi tiếp tục truy lùng bọn tàn binh và thu gom chiến lợi phẩm. Khoảng 9 giờ sáng, lúc này mặt trời đã lên cao, sau khi địch biết cứ điểm ở động Cô Tiên đã bị mất, chúng bắt đầu dùng máy bay và pháo binh đánh phá vào các khu vực xung quanh động Cô Tiên. Trung đoàn ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 chúng tôi nhanh chóng thu dọn chiến trường, đưa thương binh, tử sĩ về phía sau, đồng thời tổ chức cho tiểu đoàn rời khỏi trận địa và để lại một bộ phận lực lượng tổ chức chốt giữ những điểm cao của động Cô Tiên sẵn sàng đánh địch phản kích. Ngày 3 tháng 6, đơn vị chúng tôi tiến hành giải quyết thương binh, tử sĩ, sau đó lui về đứng chân cách động Cô Tiên 3 cây số, tiếp tục củng cố, bổ sung lực lượng, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không ra các điểm cao khác.

Sau trận chiến dấu, chúng tôi được cấp trên phổ biến: Với quyết tâm chiến đấu dũng cảm và kiên quyết, Tiếu đoàn 9 đã đánh tiêu diệt và làm thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn 54 sư đoàn 3 ngụy. Đây là trận đánh có hiệu suất chiến đấu rất cao. Sau trận đánh này tôi được anh em trong đơn vị và báo chí ca ngợi, suy tôn là “Cơn lốc động Cô Tiên”, vì trong trận này tôi vừa trực tiếp chiến đấu, dũng cảm dẫn đầu chỉ huy đơn vị xung phong, góp phần động viên, cổ vũ bộ đội trên các hướng cùng xung phong, kiên quyết chiến đấu tiêu diệt địch.

Sau trận đánh địch ở động Cô Tiên, với những thành tích đã đạt được, tôi được trên tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Hai và được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp sư đoàn, được báo cáo thành tích điển hình trong Đại hội mừng công của Sư đoàn 304. Trong đợt tập huấn của Sư đoàn 304 cuối năm 1970, tôi được chọn báo cáo điển hình để trao đổi kinh nghiệm chiến đấu với các cán bộ từ cấp trung đội đến tiểu đoàn.

Những ngày cuối tháng 6 năm 1970, mùa mưa lại bắt đầu đến, nước sông suối bắt đầu dâng cao, việc vận chuyển lương thực, thực phẩm và đạn dược cho các đơn vị ở các trận địa gặp rất nhiều khó khăn. Mỗi người chỉ được tiêu chuẩn ăn 2 lạng gạo một ngày, còn chủ yếu ăn sắn. Chúng tôi phải chia nhau vào rừng tìm hái măng và rau rừng để cải thiện bữa ăn. Mùa mưa, điều kiện sinh hoạt ăn ở lầy lội cùng với sự thiếu thốn lương thực, thực phẩm đã làm suy kiệt sức khoẻ của bộ đội. Nhiều đồng chí ở đơn vị chúng tôi bị sốt rét hành hạ, da vàng bủng, có lúc không cầm nổi bát cơm, bát cháo, nhiều khi tưởng chừng phải rời khỏi trận địa chiến đấu. Trong tình hình chung của toàn đơn vị, đầu tháng 7 năm 1970, tôi bị một trận sốt rét ác tính, nằm sốt li bì mấy ngày liền, không bò ra khỏi hầm được.

Sau đó, tôi được anh em đưa lên trạm xá của trung đoàn điều trị trong khoảng một tuần, nhưng những cơn sốt rét của tôi càng nặng hơn. Tôi hoàn toàn mê man bất tỉnh, mọi sinh hoạt không thể tự làm chủ được nữa. Tôi lịm dần đi, các đồng chí quân y ở trạm xá sau nhiều nỗ lực và tận tâm cứu chữa thấy không còn khả năng cứu được nữa vì tôi đã ngừng thở. Nghĩ là tôi đã chết, các đồng chí quân y đã đưa tôi ra nằm riêng ở một căn hầm để chờ mai táng. Khi các đồng đội đến để chuẩn bị mang tôi đi mai táng, thì đồng chí Nguyễn Văn Du, quê ở Nghi Lộc - Nghệ An là Trung đội trưởng cùng đại đội với tôi đã phát hiện tôi vẫn còn thở. Đồng chí vội vào báo cho bộ phận quân y biết. Ngay sau đó, tôi được bộ phận quân y trạm xá trung đoàn đưa về tiếp tục cứu chữa. Nhờ sự tận tình chăm sóc và cứu chữa của các y bác sĩ trạm xá trung đoàn, tôi dần hồi tỉnh. Sau đó, tôi được đưa về bệnh viện của sư đoàn ở Quảng Bình để chữa trị. Đến tháng 10 năm 1970, sức khoẻ đã dần bình phục, tôi ra viện trở về đơn vị để tiếp tục chiến đấu.

Thời gian này, Trung đoàn 66 đã di chuyển ra khu vực Nông trường Việt - Trung gần đường 20 Quyết Thắng thuộc huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình để củng cố, xây dựng lực lượng và huấn luyện. Tại đây, những ngày đầu tháng 11 năm 1970 chúng tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn quán triệt: Địch có ý định đổ bộ đường biển và tiến công đường bộ kết hợp với đường không, vượt sông Bến Hải với lực lượng lớn nhằm đánh phá sâu vào hậu phương của ta. Đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ đi trinh sát vùng ven biển nam sông Gianh thuộc huyện Bố Trạch để xây dựng công sự trận địa sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không lớn ở nam sông Gianh và bắc sông Bến Hải. Sau khi tổ chức trinh sát thực địa, đơn vị chúng tôi đã nhanh chóng xây dựng và hoàn chỉnh quyết tâm chiến đấu và các kế hoạch chiến đấu theo các phương án dự kiến, đồng thời tổ chức bộ đội xây dựng trận địa và luyện tập theo các phương án. Đầu tháng 1 năm 1971, đơn vị chúng tôi được lệnh bàn giao trận địa khu vực nam sông Gianh cho đơn vị bạn và hành quân trở lại đội hình sư đoàn đang chiến đấu ỏ chiến trường bắc Quảng Trị.

Từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 3 năm 1971, bộ chỉ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã triển khai lực lượng thực hiện âm mưu mở cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào với tên gọi “Lam Sơn 719” và cuộc hành quân “Toàn thắng 171” đánh vào vùng Đông Bắc Cam-pu-chia để thực hiện tham vọng lớn là ngăn chặn sự chi viện chiến lược của ta, phá hậu phương của ta trên đất bạn, gây khó khăn trở ngại lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương. Mặt khác, các cuộc hành quân này cũng là những cuộc thử nghiệm chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ.

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của địch được bắt đầu. Lực lượng quân địch tham gia cuộc hành quân lúc cao nhất có 15 trung đoàn bộ binh (sư đoàn dù, sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn bộ binh số 1); hai trung đoàn thiết giáp 450 xe; 21 tiểu đoàn pháo 250 khẩu; 700 máy bay có 300 trực thăng; bốn tiểu đoàn quân ngụy Lào. Tổng cộng có khoảng trên 42.000 quân, trong đó có 9.000 quân Mỹ.

Đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình nhất của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Với lực lượng lớn như vậy, kế hoạch của địch là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ đoạn đường Bản Đông - Sê Pôn, đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sê Pôn, phía bắc lên đến kho Vinh - Na Thôn, phía tây nam đến đông bắc Mường Phin nối liền với cánh quân ngụy Lào từ phía tây sang... sau đó chuyển hướng đánh xuống A Túc đến A Sầu, A Lưới thuộc Thừa Thiên. Chúng dự kiến kết thúc cuộc hành quân trước mùa mưa ở Nam Lào.

Trước tình hình trên, từ ngày 30 tháng 1 năm 1971, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định mở Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch phản công của Quân giải phóng để đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy. Lực lượng tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh 308, 304, 320, 324, 2; 2 trung đoàn bộ binh 27, 278; 8 trung đoàn pháo binh; 3 trung đoàn công binh; 3 tiểu đoàn xe tăng; 6 trung đoàn phòng không; 8 tiểu đoàn đặc công, các đơn vị binh chủng khác và lực lượng hậu cần, vận tải của Bộ Tư lệnh 559. Số quân chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên tới trên 60.000 cán bộ, chiến sĩ.

Tháng 2 năm 1971, tôi được đề bạt cấp quân hàm thiếu úy và điều động sang làm Đại đội trưởng Đại đội 10 Tiểu đoàn 9. Cuối tháng 2 năm 1971, đơn vị chúng tôi vào vị trí tập kết chuẩn bị chiến dấu. Thời điểm này, Trung đoàn 24 và Trung đoàn 9 đang chiến đấu chặn địch ở khu vực cầu Cha Ky và một phần ở Bản Đông - tỉnh Xa Van Na Khẹt. Đơn vị chúng tôi được nhận nhiệm vụ cơ động vào cùng chiến đấu với Trung đoàn 24.

Những ngày đầu tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 làm nhiệm vụ chốt giữ các điểm cao, không cho địch đổ bộ ra phía sau hậu phương của ta. Đến ngày 15 tháng 3, Đại đội 10 được tăng cường 1 khẩu đội cối 82 ly, 1 khẩu đội ĐKZ 75 của tiểu đoàn, đảm nhiệm nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng địch trên điểm cao có tên là đồi Mâm Xôi nằm ở ngã ba giữa đường số 16 và đường số 20 cách phía nam Bản Đông khoảng 1 cây số. Đại đội 10 do đồng chí Đại úy Nguyễn Văn Chinh - Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Đêm 15 rạng sáng ngày 16 tháng 3, Đại đội 10 chúng tôi hành quân vào vị trí tập kết chiến đấu. Đến đêm 16 rạng sáng ngày 17 tháng 3, tổ trinh sát của tiểu đoàn dẫn đường cho đại đội tôi thực hành hành quân chiếm lĩnh. Khoảng 2 giờ sáng ngày 17 tháng 3, chúng tôi chưa đến được điểm cao đồi Mâm Xôi, thì lực lượng đi đầu gặp địch. Chúng tôi nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Khi nổ súng, chúng tôi phát hiện đây là lực lượng xe tăng, xe thiết giáp của địch bố trí ở sườn đồi và dọc đường giáp Bản Đông. Bộ đội Đại đội 10 đã sử dụng súng B41, B40, ĐKZ 75 bắn cháy một số xe tăng, xe thiết giáp địch, khói lửa cao ngút trời. Xe tăng, xe thiết giáp địch nổ máy gầm rú ầm ầm, chúng dùng pháo và đại liên trên xe bắn trả rất quyết liệt. Khi tôi giơ tay chỉ cho đồng chí Nguyễn Văn Chước, quê ở Vĩnh Phúc là xạ thủ B41 bắn chiếc xe tăng đang chồm lên trước mặt chúng tôi, đồng chí xoay người siết cò, một quầng lửa bùng lên, quả đạn lao thẳng vào chiếc xe tăng làm nó khựng lại và bùng cháy. Đúng thời điểm đó, do tình huống quá nhanh, Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Chinh và tổ thông tin 2 oát ở phía sau nằm gọn trong vùng loa đẩy lửa về phía sau của đạn B41. Đồng chí Chinh và 2 đồng chí chiến sĩ thông tin bị thương nặng. Một phần vai phải và tay phải của tôi cũng bị bỏng nặng, cánh tay áo và vai áo phải bị cháy khét lẹt. Ngay sau đó một chiếc xe tăng khác của địch lại chồm lên. Tôi định giơ tay trái chỉ mục tiêu cho đồng chí Chước bắn tiếp, nhưng khi vừa giơ lên thì thấy cánh tay nặng trĩu không thể giơ lên được nữa. Dưới ánh pháo sáng, tôi biết mình bị thương cả tay phải và tay trái. Cánh tay trái bị đạn bắn thẳng xuyên qua bắp tay, tôi cố cắn răng chịu đau, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Sau đó tôi bị ngất lịm đi khi tiếng súng đã ngớt dần.

Sau này tỉnh tôi được đồng đội cho biết, trước tình hình Đại đội 10 gặp địch bất ngờ trên đường hành quân và phải chiến đấu trong thế bị dộng, gặp nhiều khó khăn, trận đánh diễn ra rất ác liệt nên Ban chỉ huy Tiểu đoàn đã điều Đại đội 9 do đồng chí Đại đội trưởng Nguyễn Thiếu Ý chỉ huy cơ động lên chi viện cho chúng tôi. Đại đội 9 đã đến kịp thời và cùng chúng tôi chiến đấu tiêu diệt xe tăng, thiết giáp địch ở ngã ba Bản Đông. Phần lớn xe tăng, thiết giáp của địch bị bắn cháy, bộ phận còn lại bỏ lại phương tiện, vũ khí tháo chạy về phía nam Bản Đông.

Ngay sau trận đánh, tôi được anh em Đại đội 9 cáng thương đưa về trạm phẫu thuật của trung đoàn, rồi chuyển về bệnh viện của sư đoàn. Vì tôi bị thương cả 2 tay rất nặng, nên được quân y sư đoàn chuyển ra tuyến sau để điều trị. Đến tháng 4 năm 1971, tôi được đưa ra đến Đội điều trị 44 của Quân khu 4 tại huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Sau khi về đến Đội điều trị 44 được khoảng một tuần, các y bác sĩ đang chuẩn bị phẫu thuật lại để khâu vết thương trên cánh tay trái tôi vì vết thương quá lớn thì bất ngờ máy bay Mỹ ném bom tọa độ. Một quả bom rơi trúng hầm phẫu thuật làm toàn bộ dụng cụ phẫu thuật bị bay mất nên Đội điều trị không thể tiến hành phẫu thuật lại cho tôi. Trong thời gian điều trị vết thương, tôi luôn chú ý nghe tin tức trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, đặc biệt là chương trình “Sổ tay chiến sự” để biết về tình hình đơn vị. Nghe tin chiến thắng từ Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, tôi cảm thấy rất tự hào và nhớ về đơn vị, nhớ các đồng đội thân yêu của mình và thấy tiếc vì mình bị thương quá nặng nên không thể cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu đến ngày chiến dịch giành thắng lợi trọn vẹn.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Năm, 2018, 01:23:26 PM
Sau hơn một tháng thực hành chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đầu tháng 3 năm 1971, bộ đội ta chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận, bao vây, truy kích tập đoàn lớn quân địch ở Bản Đông, tiêu diệt quân địch ở các điểm cao 273, 660, 550...

Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch Đường 9 -Nam Lào kết thúc thắng lợi. Ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, loại khỏi vòng chiến đấu trên hai vạn tên địch; đánh thiệt hại nặng 6 trung đoàn, lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh; phá huỷ 1.100 xe quân sự (có 528 xe tăng, xe thiết giáp), hơn 100 khẩu pháo lớn, bắn rơi 500 máy bay. Ta bắt hơn 1.000 tù binh, thu trên 3.000 khẩu súng các loại và nhiều trang bị quân sự. Trong chiến thắng chung của toàn chiến dịch có sự đóng góp không nhỏ của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304. Tôi rất tự hào vì mình đã góp một phần xương máu vào chiến thắng vẻ vang đó.

Mất mấy tháng ròng, được các đồng chí y, bác sĩ Đội điều trị 44 tận tình cứu chữa và chăm sóc, nên đến tháng 9 năm 1971 tôi được ra viện và về đơn vị tiếp tục chiến đấu và công tác.

Cuối năm 1971, Trung đoàn 66 tiếp tục xây dựng đơn vị và huấn luyện tại hậu cứ thuộc dãy núi U Bò mà những năm 1969 chúng tôi đã từng đóng quân huấn luyện ở đó. Lúc này tôi lại được trên điều chuyển về làm Đại đội trưởng Đại đội 11.

Tháng 12 năm 1971, theo kế hoạch của sư đoàn, các cán bộ quân sự cấp trưởng từ đại đội trở lên nhận nhiệm vụ đi chuẩn bị chiến trường ở bắc Quảng Trị. Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ trinh sát kỹ địch và địa hình ở động Toàn, động Ngô. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trinh sát, cuối tháng 1 năm 1972 chúng tôi quay về hậu cứ ở Quảng Bình, về đến đơn vị, căn cứ vào kết quả đi chuẩn bị chiến trường, chúng tôi tìm các điểm cao có địa hình gần giống các cứ điểm địch mà chúng tôi đã trinh sát để xây dựng thao trường, làm các ụ súng, lô cốt hàng rào, vật cản gần giống của địch để luyện tập.

Sau khi ăn Tết Nhâm Tý, trung tuần tháng 2 năm 1972, đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân trở lại chiến trường bắc Quảng Trị. Tháng 3 năm 1972, chúng tôi hành quân vào vị trí tập kết và tiến hành làm công tác chuẩn bị tham gia Chiến dịch tiến công Trị - Thiên 1972.

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, Chiến dịch Trị - Thiên - chiến dịch tiến công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam vào hệ thống phòng ngự vững chắc của quân đội Sài Gòn ở hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên, hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 bắt đầu. Trên hướng của Sư đoàn 304, Trung đoàn 66 đảm nhiệm lực lượng đột kích chủ yếu của sư đoàn, được giao nhiệm vụ đánh chiếm động Toàn, động Ngô, sau đó phát triển xuống đánh chiếm căn cứ Mai Lộc và sở chỉ huy của lữ đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Các đơn vị bạn như Trung đoàn 24 đánh chiếm cứ điểm 241, Trung đoàn 9 đánh cứ điểm Đầu Mầu nằm bên trục đường số 9, cách thị trấn Đông Hà trên 10 cây số.

Động Toàn nằm trên điểm cao 548, địch xây dựng ở đây thành một căn cứ phòng ngự vững chắc án ngữ một vùng phía tây đường số 9. Động Toàn có ba mỏm núi rất hiểm trở nhưng tạo thành thế liên hoàn, xung quanh căn cứ là những vách đá, sườn núi dốc đứng; các hoạt động vận chuyển, tiếp tế của địch đều phải dùng máy bay trực thăng. Do ở vị trí cao, nên động Toàn thường bị mây mù che khuất, rất khó quan sát. Địch bố trí tại căn cứ động Toàn tiểu đoàn 4 thuộc lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ 147. Phần lớn lực lượng địch bố trí trên điểm cao nhất, còn lại chúng bố trí ở những mỏm thấp hơn để bảo vệ sở chỉ huy tiểu đoàn ở điểm cao động Toàn.

Trung đoàn 66 sử dụng Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 8 (thiếu) tiến công trên hướng thứ yếu. Tiểu đoàn 9 đảm nhiệm nhiệm vụ xây dựng trận địa phục kích để ngăn chặn và tiêu diệt địch khi bị ta tiến công ở động Toàn rút chạy về Mai Lộc, đồng thời ngăn chặn địch từ Mai Lộc lên tiếp viện cho động Toàn.

Thời gian này, tôi làm Đại đội trưởng Đại đội 11, đồng chí Lương Ngọc Bát, quê ở Hải Hưng làm Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Loan, quê ở Hà Nội làm Chính trị viên phó, đồng chí Hà Công Sàng, quê ở Bá Thước - Thanh Hóa làm Đại đội phó. Sau khi bàn bạc, thống nhất, Ban chỉ huy Đại đội hạ quyết tâm, phải kiên quyết tổ chức phục kích đón lõng bằng được khi địch rút chạy và ngăn chặn bằng được không cho địch ở căn cứ Mai Lộc lên chi viện cho địch ở động Toàn, tạo điều kiện cho đơn vị bạn nhanh chóng tiêu diệt địch ở căn cứ động Toàn.

Khi toàn Mặt trận Quảng Trị nổ súng, Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 nhanh chóng thực hành tiến công căn cứ địch ở động Toàn. Cuộc chiến đấu ở động Toàn diễn ra vô cùng ác liệt. Suốt hai ngày đêm, ta và địch giành giật nhau từng lô cốt, từng đoạn chiến hào. Sau nhiều lần tổ chức tiến công, đến 6 giờ sáng ngày 1 tháng 4, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 mới làm chủ được động Toàn. Số quân địch còn sống sót ở động Toàn vội vã lợi dụng trời mù sương rút chạy về phía điểm cao 303 và căn cứ Mai Lộc đúng như dự kiến của cấp trên. Nhưng chúng không chạy vào trận địa phục kích của chúng tôi mà cách trận địa phục kích khoảng 500 mét. Trước tình hình trên, tôi báo cáo ngay về Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ngần, quê ở Thái Bình đã lệnh cho Đại đội 11 vận động tiến công để tiêu diệt địch. Nhận được lệnh, Đại đội 11 nhanh chóng di chuyển ra khỏi trận địa phục kích, thực hành vận động, áp dụng chiến thuật vận động tiến công để tiêu diệt địch. Quá trình vận động, đơn vị tôi được sự chi viện của pháo, cối của cấp trên bắn chặn vào đội hình rút chạy của địch. Bọn tàn quân địch chạy về gần đến căn cứ Mai Lộc, gặp điểm cao đồi Tròn và liền co cụm tại đó hòng chống đỡ và đợi chi viện từ căn cứ Mai Lộc. Thấy địch co cụm tại đồi Tròn, tôi chỉ huy toàn đại đội hình thành thế bao vây địch. Sau khi tiếng súng cối của tiểu đoàn bắn chế áp ngắn vào đồi Tròn vừa dứt, Đại đội 11 đồng loạt nổ súng xung phong từ ba hướng. Sau gần một giờ liên tục chiến đấu, Đại đội 11 đã tiêu diệt hoàn toàn bộ phận tàn quân địch từ động Toàn chạy về.

Ngay sau khi địch ở đồi Tròn bị tiêu diệt thì cũng là lúc bắt đầu xuất hiện tình huống mới: lực lượng địch ở căn cứ Mai Lộc rút chạy về phía thị trấn Đông Hà. Thấy vậy, Tiểu đoàn trưởng Ngần ra lệnh cho Đại đội 11 chúng tôi tiếp tục truy kích lực lượng địch này. Suốt chiều hôm đó, chúng tôi liên tục truy kích, hình thành thế bao vây, chia cắt, lần lượt tiêu diệt từng bộ phận quân địch rút chạy và làm chủ hoàn toàn khu vực căn cứ Mai Lộc. Cùng lúc này tôi được Ban chỉ huy Tiểu đoàn thông báo: các đơn vị bạn đã tiêu diệt địch và làm chủ căn cứ 241, động Toàn và động Ngô. Tối hôm đó, đơn vị chúng tôi được lệnh củng cố, xây dựng trận địa công sự chốt giữ ở khu vực Mai Lộc, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không và phản kích tái chiếm các căn cứ đã bị mất.

Đầu tháng 5 năm 1972, Tiểu đoàn 9 nhận nhiệm vụ tổ chức chốt giữ khu vực Tích Tường, Như Lệ, Tân Téo. Lúc này đồng chí Lương Ngọc Bát đã được trên điều về Tiểu ban Cán bộ của Trung đoàn 66, đồng chí Nguyễn Văn Loan được bổ nhiệm làm Chính trị viên đại đội. Đêm 1 tháng 5, khi đơn vị hành quân đến Tân Téo thì được lệnh tạm dừng. Ban chỉ huy Đại đội quán triệt cho bộ đội triển khai đội hình, nghỉ để ngày hôm sau hành quân tiếp.

Khoảng 2 giờ sáng hôm sau, đơn vị tôi bất ngờ bị máy bay B-52 rải thảm vào đội hình trú quân. Khi tạm dừng trú quân, Ban chỉ huy Đại đội bố trí nghỉ trong 2 chiếc hầm bán âm cách nhau chừng mươi, mười lăm mét. Tôi cùng hai đồng chí thông tin của tiểu đoàn và đồng chí liên lạc nằm ở một hầm. Chính trị viên Nguyễn Văn Loan, Đại đội phó Hà Công Sàng cùng hai chiến sĩ liên lạc nằm ở một hầm. Quả bom rơi trúng vào giữa hầm của đồng chí Chính trị viên làm tất cả bốn đồng chí nằm hầm đó và ba đồng chí nằm cùng hầm tôi hy sinh ngay tại chỗ. Còn tôi bị bom hất ra khỏi hầm rơi vào vũng nước bên cạnh một khe suối. Khi chợt tỉnh lại, theo bản năng tôi vùng dậy và chạy. Quả thực lúc đó, tôi chỉ biết là mình phải chạy thôi chứ không định hướng được là sẽ chạy đi đâu. Rất may là tôi lại chạy về đúng chỗ trú quân của Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Khi nhận ra mình đã chạy đến được Ban chỉ huy Tiểu đoàn, tôi hô lên, rất to và khẩn thiết: Ban chỉ huy Đại đội 11 hy sinh hết rồi! Sau đó tôi lại ngất lịm đi do bị sức ép nặng. Ngay lập tức các đồng chí trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn điều lực lượng đưa tôi về bệnh xá của Trung đoàn 66 để điều trị.

Trong chiến đấu hay công tác Ban chỉ huy Đại đội 11 chúng tôi luôn đoàn kết, gắn bó yêu thương giúp đỡ nhau. Mặc dù mỗi người một quê nhưng khi về cùng một đơn vị, chúng tôi coi nhau như anh em trong một nhà, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Nơi chiến trận, bom đạn dày đặc nhưng chưa bao giờ tôi phải chứng kiến tổn thất lớn như vậy. Sự nghiệt ngã của chiến tranh đã gây ra bao tổn thất khó lường. Thật là đau thương vô cùng, khi tỉnh dậy và mãi đến tận bây giờ, nỗi đau ấy vẫn quẩn quanh bên tôi.

Được sự chăm sóc tận tình của các y bác sĩ ở bệnh xá và sự động viên, an ủi của đồng chí, đồng đội, đến trung tuần tháng 6 năm 1972, sức khỏe tôi dần ổn định. Tôi xin ra viện về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Các anh, chị ở bệnh xá động viên tôi nên điều trị thêm đế khỏe hẳn rồi hãy về đơn vị. Qua thông tin của các đồng đội và nghe tin tức trên Đài phát thanh, tôi thấy giai đoạn này chiến trường đang có nhiều diễn biến có lợi cho quân ta, tin thắng lợi liên tiếp dồn về thôi thúc tôi trở về đơn vị để cùng đồng đội tham gia chiến đấu nên tôi kiên quyết xin ra viện, về đến đơn vị, tôi được Đảng ủy và Ban chỉ huy Sư đoàn 304 bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Năm, 2018, 01:25:45 PM
Sau khi thị trấn Đông Hà và thị xã Quảng Trị được giải phóng, Trung đoàn 66 được lệnh đưa lực lượng về phía đồng bằng huyện Hải Lăng. Thời gian đơn vị về đứng chân ở đồng bằng huyện Hải Lăng cũng đúng lúc mùa mưa bắt đầu. Do vậy bộ đội rất vất vả khi xây dựng công sự, trận địa, hầu hết là công sự phải nằm trong lòng đất, nửa chìm nửa nổi. Nhân dân trong khu vực này cũng đã tản cư hết, nước ngập đồng lúa, vịt đẻ rất nhiều trứng trên đồng, để có thực phẩm chúng tôi đã cho bộ đội ra nhặt trứng về để bổ sung thêm nguồn thực phẩm cho bữa ăn. Những ngày đầu tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 9 chúng tôi được giao nhiệm vụ tổ chức chốt giữ một số vị trí quan trọng ở phía bắc sông Nhùng. Bên bờ nam, địch bố trí dày đặc các lực lượng đóng theo dọc bờ sông.

Đến trung tuần tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 9 nhận nhiệm vụ hành quân về chốt giữ động Ông Do và các điểm cao 105 Bắc, 105 Nam ở phía bắc sông Nhùng, sẵn sàng ngăn chặn, đánh trả các cuộc phản kích của địch nhằm tái chiếm các cứ điểm đã bị mất. Tiểu đoàn 9 bố trí một đại đội chốt giữ động Ông Do, lực lượng còn lại sẵn sàng cơ động đánh địch ở các khu vực xung quanh để giữ vững động Ông Do. Cho đến tận cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn 9 vẫn chốt giữ ở các điểm cao 105 Bắc, 105 Nam và Thượng Nguyên, không cho địch lấn chiếm ra vùng giải phóng ở bờ bắc sông Thạch Hãn.

Ngày 22 tháng 6, tôi được phân công trực tiếp chỉ huy Đại đội 9 và Đại đội 11, được tăng cường một đại đội xe tăng (thiếu) của Lữ đoàn xe tăng 202 có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt quân địch phòng ngự ở điểm cao 54 thuộc xã Hải Thọ huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Tại điểm cao 54, địch bố trí một đại đội bộ binh và một trận địa pháo 105 ly. Tôi cùng các chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn ra ngầm Thác Mã trên thượng nguồn sông Nhùng đón lực lượng xe tăng phối thuộc về vị trí tập kết chiến đấu của tiểu đoàn để làm công tác tổ chức hiệp đồng chiến dấu. Ngay đêm hôm đó, khi pháo binh của sư đoàn, trung đoàn bắn phá vào điểm cao 54 và các vị trí địch xung quanh, lực lượng bộ binh Tiểu đoàn 9 (thiếu) cùng với lực lượng xe tăng bí mật cơ động tiếp cận địch. Trong quá trình cơ động, có một chiếc xe tăng bị lầy không thể khắc phục cứu kéo được, chúng tôi đành phải để lại phía sau và cho ngụy trang chu đáo. Đúng 5 giờ ngày 23 tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 9 (thiếu) hình thành 3 hướng đồng loạt xung phong tiến công. Đại đội 11 cùng với 6 xe tăng đảm nhiệm hưóng chủ yếu, khi thực hành xung phong đánh chiếm chiến hào tiền duyên của địch thì xích một chiếc xe tăng của ta bị hàng rào bùng nhùng địch quấn vào không tiến lên được đành phải dừng tại chỗ dùng hoả lực chi viện cho bộ binh. Khi ta xung phong đánh chiếm mỏm 1 điểm cao 54, địch dùng các loại hoả lực chống trả quyết liệt làm 2 xe tăng của ta trúng đạn bốc cháy. Kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, bộ binh và xe tăng ta dùng hoả lực chế áp vào các hoả điểm địch và liên tục xung phong. Đến khoảng 7 giờ sáng, trận đánh kết thúc. Ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 54, diệt phần lớn lực lượng bộ binh và trận địa pháo. Số địch sống sót tháo chạy về điểm cao 14 ở sát đường số 1. Không để địch chạy thoát, tôi ra lệnh cho bộ binh và xe tăng truy kích tiêu diệt quân địch ở điểm cao 14. Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 6, trận truy kích địch kết thúc, ta làm chủ hoàn toàn điểm cao 14. Sau khi thu dọn chiến trường, làm công tác chính sách, theo lệnh của trung đoàn, chúng tôi rời khỏi trận địa về vị trí tập kết ở bắc sông Nhùng.

Cuối tháng 6 năm 1972, địch bắt đầu mở các cuộc phản kích và lấn chiếm các địa bàn phía nam sông Thạch Hãn. Với lực lượng đông, hoả lực mạnh, địch đã lấn chiếm được làng Thượng Nguyên ở phía nam sông Nhùng. Sau đó địch bố trí khoảng một trung đội chốt giữ ở đó. Trung đoàn 66 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 9 tổ chức tập kích tiêu diệt lực lượng địch này. Theo sự thống nhất của Ban chỉ huy, ngày 22 tháng 7, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Ngần - Tiểu đoàn trưởng giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Đại đội 10, được tăng cường một trung đội súng cối 82 ly và một tiểu đội ĐKZ 75 ly đánh địch ở làng Thượng Nguyên. Đêm 23 tháng 7, Đại đội 10 tổ chức tiềm nhập tiếp cận địch ở làng Thượng Nguyên. Sau 2 giờ chiến đấu ác liệt, chúng tôi đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng địch ở đây và làm chủ làng Thượng Nguyên. Sau đó, tôi cùng Đại đội 10 tổ chức trận địa chốt giữ làng Thượng Nguyên. Ngày hôm sau, từ sáng sớm đến tận chiều, địch sử dụng pháo binh bắn phá và cho máy bay oanh tạc vào trận địa của chúng tôi. Tôi bị trúng mảnh đạn pháo địch ở bắp chân phải và gáy bên phải, đơn vị cho người đưa tôi về trạm giao liên chờ đưa ra tuyến sau điều trị. Một lần nữa tôi lại phải tạm xa đơn vị, xa đồng đội thân yêu khi tiếng súng đánh địch vẫn nổ rộ trên khắp chiến trường.

Lần này, về điều trị ở hậu phương, tâm trạng tôi tuy thanh thản hơn, song nỗi day dứt nhớ về đơn vị, nhớ về đồng đội vẫn thường trực. Tôi luôn theo dõi tin chiến sự trên khắp chiến trường miền Nam, đặc biệt là Mặt trận Trị - Thiên, nơi đó đơn vị của tôi và các đồng đội của tôi đang hằng ngày, hằng giờ anh dũng chiến đấu đánh trả các cuộc hành quân phản kích tái chiếm của địch để bảo vệ vùng mới giải phóng.

Bị thất bại nặng nề trên chiến trường, để tìm lốì thoát danh dự khi buộc phải rút khỏi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã cố trì hoãn việc ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và thực hiện một âm mưu nham hiểm và tàn bạo bằng cuộc tập kích đường không chiến lược nhằm đưa miền Bắc Việt Nam trở lại “thời kỳ đồ đá”. Mỹ đã sử dụng một lực lượng lớn không quân, chủ yếu là máy bay B-52 ném bom rải thảm vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12 năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân tiến hành chiến dịch phòng không cùng các lực lượng vũ trang trên miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã khác. Ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F.111 “cánh cụp cánh xoè”, bắt một số giặc lái. Dư luận thế giới gọi đây là trận “Điện Biên Phủ trên không”.

Chiến thắng của trận “Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần to lớn cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết tại Pa-ri, thủ đô nước Cộng hoà Pháp. Nội dung cơ bản của hiệp định là Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và các nước khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.

Tin Hiệp định Pa-ri được ký kết đã nhanh chóng truyền lan khắp thế giới và nước Việt Nam. Nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới đã cổ vũ và chúc mừng thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Quân và dân ta trên hai miền Nam - Bắc tự hào và vui mừng báo cáo với Bác Hồ kính yêu là đã thực hiện được lời Bác dạy “Đánh cho Mỹ cút”.

Để đi đến thắng lợi “Đánh cho Mỹ cút”, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua một cuộc kháng chiến trường kỳ, đầy gian khổ và hy sinh biết bao xương máu để đánh bại ý chí và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ - một kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự và hung bạo nhất thế giới. Hiệp định Pa-ri được ký kết, niềm mong mỏi hoà bình của nhà nhà, người người đang dần trở thành hiện thực, trước mắt mọi người dân Việt Nam khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc đang ngày càng đến gần. Ở miền Bắc, nhiều gia đình, người cha, người mẹ, người vợ, người em đang ngày ngày hướng về miền Nam mong ngóng tin về người thân của mình đang chiến đấu ở chiến trường.

Riêng tôi, một người lính đã từng chiến đấu vào sinh ra tử, giáp mặt với kẻ thù luôn ý thức được rằng, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nguyễn Văn Thiệu chưa bao giờ chịu từ bỏ mưu đồ chia cắt hai miền, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Khi kẻ thù còn đó, tôi tự nhủ rằng, cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn, xương máu của quân và dân ta còn tiếp tục phải đổ xuống để “Đánh cho ngụy nhào” thì mới hoàn thành được cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Với nhận thức đó, tôi luôn chuẩn bị cho mình tinh thần sẵn sàng trở lại đơn vị để tiếp tục được cùng các đồng chí, đồng đội thân yêu chiến đấu tiêu diệt kẻ thù, góp sức lực nhỏ bé của mình vào sự nghiệp thống nhất đất nước.

Đầu năm 1973, sau khi sư đoàn ổn định vị trí trú quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 tại Sở chỉ huy ở suối La La - Quảng Trị. Đại tướng đã cùng cán bộ chỉ huy sư đoàn đi thăm Hướng Hoá, Khe Sanh, Làng Vây, Tà Cơn - đây là những địa danh mà sư đoàn đã chiến đấu và chiến thắng quân địch. Đại tướng nhắc nhở lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn phải làm tốt công tác tổng kết chiến đấu, đồng thời căn dặn: Sư đoàn này là một trong những sư đoàn thép của Quân đội nhân dân Việt Nam, phải huấn luyện và rèn luyện cho thật mạnh.

Lời căn dặn của Đại tướng như tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ toàn sư đoàn bước vào thực hiện nhiệm vụ mới.



Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:36:49 AM
Chương ba
TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG


Sau khi ăn Tết Quý Sửu, tôi được Đoàn điều dưỡng 296 cho về nghỉ phép một tháng. Trong thời gian nghỉ phép ở quê nhà, bố mẹ tôi và mọi người trong họ hàng ra sức thúc giục tôi cưới vợ, vì sợ nếu tôi tiếp tục vào chiến trường miền Nam chiến đấu sẽ không biết bao giờ mới được về và không biết sẽ sống chết ra sao? Chắc là tại anh trai tôi đã hy sinh ở chiến trường nên bố mẹ tôi càng lo hơn (mặc dù khi anh trai tôi vào chiến trường đã có vợ và chị dâu tôi đang mang thai cháu trai thứ hai). Thêm vào đó, thời gian này, em trai kế tôi đang học trên thị xã Phủ Lý, ở nhà chỉ còn bố mẹ tôi và hai em gái. Mẹ tôi sức khỏe yếu, lại ốm đau liên miên, hai em còn nhỏ nên mọi việc trong gia đình chỉ còn mình bố tôi gánh vác, bố mẹ tôi muốn tôi cưới vợ để phụ giúp việc gia đình.

Theo sự giới thiệu của họ hàng, bố mẹ tôi đã lên xóm trên hỏi cô Dung cho tôi. Thực sự tôi chưa muốn lấy vợ lúc này vì ý định của tôi là khi sức khỏe hồi phục tôi sẽ xin trở về đơn vị để cùng đồng chí, đồng đội tiêp tục chiến đấu. Chiến tranh còn kéo dài, nếu lấy vợ tôi sợ lại thêm một người phải chờ đợi. Hằng ngày được bố mẹ động viên, tôi thấy rất khó xử. Một phần nghe lời khuyên của mọi người trong họ hàng và một phần cũng muốn bố mẹ yên tâm khi tôi trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu, tôi đã lên xóm trên gặp Dung. Từ nhà tôi đến nhà Dung phải đi qua một cánh đồng, trên con đường trồng hai hàng dừa tỏa bóng rợp hai bên.

Qua tìm hiểu, tôi được biết Dung kém tôi 7 tuổi (năm đó Dung mới 19 tuổi, còn tôi đã 26 tuổi), đã học xong phổ thông cấp II và đang công tác tại cửa hàng lương thực huyện Kim Bảng. Dung là con cả, dưới có hai em trai và hai em gái. Bố Dung cũng là bộ đội đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Mọi việc trong gia đình đều do một tay mẹ Dung quán xuyến. Là con cả, ngoài giờ làm việc ở cửa hàng, Dung còn phải gánh vác việc nhà phụ giúp mẹ chăm sóc các em.

Ngay lần gặp đầu tiên, Dung đã để lại trong tôi một ấn tượng tốt về một người con gái đảm đang, ở Dung toát lên một vẻ đẹp thùy mỵ, nết na của một cô thôn nữ. Là lần đầu gặp mặt nên cả tôi và Dung đều ngại ngùng, không biết nói chuyện gì ngoài mấy lời thăm hỏi bâng quơ. Sau lần gặp đầu tiên đó, hình ảnh của Dung cứ lởn vởn trong đầu tôi. Không hiểu tại sao càng về sau, ngày nào không được gặp Dung tôi cảm thấy bồn chồn và thiêu thiếu gì đó.

Sau vài lần đến chơi, Dung và mọi người trong gia đình đều rất mến tôi. Như có duyên có số từ trước, ông trời đã trao cho tôi và Dung sợi dây tơ hồng. Tôi chính thức đặt vấn đề với Dung và được cô ấy đồng ý. Từ đó, mỗi lần đến chơi tôi được mọi người coi như người trong nhà, sau khi hỏi thăm mẹ Dung và mọi người, tôi được tự do gặp riêng Dung để nói chuyện. Nam nữ thời đó khác hẳn nam nữ bây giờ. Tuy đã được gia đình đồng ý, nhưng chúng tôi cũng chỉ dám cầm tay nhau để nói chuyện. Vì thời gian nghỉ phép của tôi chỉ được một tháng, do vậy hai gia đình thống nhất sẽ tổ chức cưới cho chúng tôi trước khi tôi hết phép.

Sau khi tôi báo cáo lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 296 việc xin cưới vợ, lãnh đạo Đoàn đã cử người về quê xác minh lý lịch gia đình Dung và đồng ý cho chúng tôi cưới nhau. Cuối tháng 4 năm 1973, chúng tôi tổ chức đám cưới. Đang là thời chiến, nên đám cưới của chúng tôi được tổ chức rất đơn giản với sự chứng kiến của hai bên gia đình. Rất tiếc, bố vợ tôi đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam nên không thể về dự ngày vui của chúng tôi. Vì gia đình đang khó khăn, khi tổ chức cưới vợ cho tôi, mẹ tôi phải đi vay của hàng xóm một chiếc chăn hoa (sau này mẹ tôi đã dành dụm để mua trả họ một chiếc chăn khác)... Lúc nhỏ các cô con gái tôi rất thích và luôn tranh nhau được đắp chiếc chăn hoa đó. Sau này, khi các con tôi lớn, chiếc chăn hoa đã cũ nhưng vẫn được vợ tôi cất giữ như một kỷ vật. Thời gian tìm hiểu của chúng tôi chỉ vẻn vẹn trong một tháng, nhưng chừng đó thời gian cũng đã đủ để chúng tôi đến với nhau, tin nhau và tiếp thêm sức mạnh cho nhau, động viên nhau cùng phấn đấu trong công tác.

Thòi gian này, chiến trường miền Nam đang vào giai đoạn quyết liệt. Là người lính, thấy sức khỏe đã dần ổn định, tôi luôn mong muốn trở lại ngay chiến trường để tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Sau khi cưới được hơn 10 ngày, tôi trở về Đoàn an dưỡng 296 để xin được trở lại đơn vị. Nhưng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Đoàn an dưỡng lại thông báo với tôi là vì sức khỏe của tôi giảm sút nhiều do lần bị thương nặng vừa rồi nên cấp trên quyết định cho tôi được phục viên. Nhận được tin này, tôi băn khoăn suy nghĩ, vừa muốn trở lại chiến trường vì mình là một cán bộ, đảng viên đã qua nhiều trận chiến đấu, và cũng vừa muốn phục viên để được về cùng sống với bố mẹ và người vợ trẻ mới cưới. Sau nhiều lần suy nghĩ day dứt, tôi quyết định tìm cách trở lại đơn vị cũ.

Mấy ngày sau tôi xin phép lãnh đạo Đoàn an dưỡng cho tôi nghỉ phép mấy hôm. Tôi về nhà nói với vợ và gia đình là phải vào đơn vị để lấy giấy tờ làm thủ tục chuẩn bị phục viên. Nghe thấy vậy bố mẹ tôi rất mừng vì như vậy sẽ có thêm người ở nhà đỡ đần công việc gia đình và không phải lo lắng như khi tôi ra chiến trường. Nhưng thực chất là tôi nói dối gia đình để trở lại đơn vị cũ xin được tiếp tục chiến đấu.

Trung tuần tháng 5 năm 1973, vợ tôi đi xe đạp xuống ga Phủ Lý để tiễn tôi lên tàu vào Vinh. Vợ tôi tưởng tôi sẽ sớm trở về nên chỉ dặn dò tôi giữ sức khỏe vì sợ các vết thương của tôi vẫn chưa lành hẳn. Còn tôi trong lòng không khỏi bịn rịn, nhớ nhung vì mới lấy nhau lại phải đi xa, mà lần đi này tôi có chủ định đi vào chiến trường để xin tiếp tục chiến đấu nên không biết bao giờ mới trở về. Lúc chia tay, nhìn vào mắt vợ tôi thấy cô ấy rất vững vàng nên lòng tôi cũng bớt đi phần phân vân. Chính lòng can đảm của cô ấy đã tiếp sức cho bước chân của tôi thêm vững vàng. Trong chiến tranh, tình yêu đã trở thành nguồn sức mạnh vô tận. Nó tiếp thêm ý chí, nghị lực cho mỗi con người để dũng cảm, tự tin hơn khi đối diện với bom đạn khốc liệt của kẻ thù. Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu “Của chồng công vợ” nên bây giờ tôi vẫn thường kể với bạn bè “Nếu không có cô ấy chắc sẽ chẳng ai biết đến tên tôi như bây giờ”. Vì nói dối bố mẹ và vợ để tìm cách quay lại chiến trường nên trong lòng tôi luôn cảm thấy có lỗi. Nhưng dần dần mặc cảm có lỗi cũng nguôi ngoai vì chiến trường phía trước và đồng đội đang chờ tôi vào góp sức.

Vào đến Vinh tôi đi tiếp bằng ô tô vào Đồng Hới - Quảng Bình, sau đó tôi đi bộ về Tiểu đoàn 28 thu dung của sư đoàn. Tôi được Tiểu đoàn 28 đưa về Trung đoàn 66 ở Cam Lộ - Quảng Trị. Vào đến nơi tôi báo cáo với Thủ trưởng đơn vị là tôi đã điều trị lành vết thương và trở lại đơn vị xin tiếp tục được chiến đấu cùng đồng chí, đồng đội.

Sau khi được Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 66 đồng ý, tôi viết thư về nhà thông báo là đã về đơn vị để làm thủ tục phục viên, nhưng do đơn vị đang thiếu cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu và thấy tôi đã khoẻ nên quyết định giữ lại tiếp tục chiến đấu. Không biết nên cho là may hay không may, do đơn vị liên tục cơ động và chuyện thư từ thời chiến quả là khó khăn, nên tôi không phải nhận những lời trách móc của gia đình.

Tháng 6 năm 1973, tôi được sư đoàn điều động về làm trợ lý tác chiến ở Ban Tác chiến Sư đoàn 304. Đầu tháng 8 năm 1973, tôi được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn 66. Khi về công tác tại Ban Tham mưu Trung đoàn, tôi được giao nhiệm vụ huấn luyện cho bộ đội. Thời gian này, đơn vị chúng tôi đóng quân tại Tân Lâm - Ba Lòng - Quảng Trị.

Trong thời gian đóng quân tại Tân Lâm, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 được các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quân đội tới thăm và động viên. Tháng 9 năm 1973, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 tại điểm cao 241 đã rất phấn khởi và tự hào được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đồng chí Phi-đen Cát-xtơ-rô - Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà Cu Ba đến thăm. Chúng tôi nhớ mãi hình ảnh đồng chí Phi-đen Cát-xtơ-rô đứng trên nòng khẩu pháo 175 ly “vua chiến trường” của Mỹ, tay phất cao lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và nói: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn”.

Năm 1973, mặc dù Hiệp định Pa-ri về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã được ký kết, nhưng đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Bên cạnh sự bàn giao hầu hết vũ khí trang bị của quân Mỹ ở miền Nam cho quân đội Sài Gòn, Chính phủ Mỹ tiếp tục viện trợ, bổ sung nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự cho quân đội Sài Gòn, nhằm mục tiêu giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trụ vững tại miền Nam và mở rộng lực lượng quân sự, đẩy mạnh các hoạt động lấn chiếm nhằm phá hoại Hiệp định Pa-ri.



Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:39:02 AM
Sau nhiều ngày chiến đấu trên các chiến trường, thời gian này các đơn vị mới có điều kiện để bổ sung quân số và tổ chức huấn luyện cơ bản các hình thức chiến thuật từ tổ 3 người đến chiến thuật cấp tiểu đoàn, về kỹ thuật, bộ đội được huấn luyện các loại vũ khí trong biên chế một cách cơ bản, hệ thống. Trình độ chỉ huy của cán bộ từ cấp tiểu đội trở lên đã được nâng cao, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của chiến sĩ được huấn luyện thuần thục. Giai đoạn này các đơn vị vừa huấn luyện vừa tham gia tăng gia sản xuất, trồng rau để cải thiện đời sống bộ đội. Dọc theo ven suối của nhánh sông Ba Lòng là những vườn rau xanh tốt và chuồng trại chăn nuôi được bộ đội gây dựng chăm sóc như những vườn rau ở quê nhà miền Bắc. Ngoài công tác huấn luyện, đơn vị chúng tôi còn tổ chức cho cán bộ quân sự, chính trị đi xây dựng cơ sở chính quyền cách mạng và tham gia huấn luyện dân quân du kích cho các thôn làng xung quanh khu vực đóng quân của đơn vị. Các đơn vị vừa huấn luyện vừa nhận thêm nhiệm vụ làm đường chiến lược để nối các tuyến đường từ đường số 9 vào sâu trong vùng tây Thừa Thiên.

Đến cuối tháng 10 năm 1973, đơn vị chúng tôi tổ chức diễn tập với hình thức chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc đến cấp tiểu đoàn. Từ tháng 11 năm 1973 đến đầu năm 1974, đơn vị chủ yếu tham gia làm đường. Thời gian này, cùng với việc làm đường, các đơn vị tổ chức học tập nghị quyết Đảng các cấp để nâng cao nhận thức chính trị cho bộ đội, giúp cán bộ, chiến sĩ không mơ hồ mất cảnh giác và sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Theo phân cấp, Trung đoàn 66 tổ chức tập huấn các hình thức chiến thuật cho cán bộ từ tiểu đội đến trung đội. Sư đoàn 304 tổ chức tập huấn cán bộ từ đại đội đến tiểu đoàn. Mỗi đợt tập huấn kéo dài khoảng 1 tháng. Cấp trưởng đi tập huấn trước sau đó là cấp phó đi tập huấn, cứ luân phiên thay nhau theo từng đợt như vậy.

Trong đợt tập huấn ở sư đoàn, tháng 1 năm 1974, đại biểu cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 đã vinh dự được đón đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến thăm. Đồng chí đã ghi vào sổ vàng truyền thống của sư đoàn: “... Các đồng chí hãy xứng đáng là Quân đội nhản dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”. Lời căn dặn đó của đồng chí Trường Chinh như khích lệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 vượt qua mọi khó khăn, gian khổ bước vào năm 1974 đầy cam go thử thách.

Tháng 3 năm 1974, Sư đoàn 304 và Trung đoàn 66 hoàn thành công tác tập huấn cho cán bộ các cấp. Đây là thời gian đơn vị được biên chế đầy đủ nhất về quân số và vũ khí trang bị.

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết số 03 của Quân ủy Trung ương: “Tiếp tục dùng chiến tranh cách mạng để đánh bại chiến tranh phản cách mạng, trước mắt là thực hiện nhiệm vụ trọng tâm đánh bại bình định, lấn chiếm của địch, giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực ta”, với phương châm chủ động phản công và tiến công địch giành lại vùng giải phóng, trong mùa khô 1973-1974, ta đã giành lại hầu hết các vùng giải phóng. Bước sang năm 1974, tình hình chung trên chiến trường miền Nam cũng như trên chiến trường Trị -Thiên dã có bước chuyển biến rõ rệt có lợi cho ta. Thế và lực của ta đã mạnh lẽn nhiều, địch ở thế suy yếu toàn diện. Để đẩy nhanh quân địch đến chỗ thất bại hoàn toàn, xuất phát từ tình hình thực tiễn cục diện trên chiến trường, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chủ trương thành lập các quân đoàn chủ lực.

Sau khi Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng được thành lập tháng 10 năm 1973 tại miền Bắc, ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang được thành lập theo Quyết định số 67/QP-QĐ. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triến mới của quân đội ta trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có ý nghĩa lớn trong việc tạo nên một lực lượng mới trên chiến trường, có sức chiến đấu lớn, sức đột kích mạnh, có tính cơ động cao, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Sư đoàn 304 là một trong ba sư đoàn bộ binh của Quân đoàn 2. Ngoài 3 sư đoàn bộ binh (324, 304, 325), trong đội hình Quân đoàn 2 còn có Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 khi mới thành lập gồm các đồng chí: Hoàng Văn Thái - Tư lệnh, Lê Linh - Chính ủy, Hoàng Đan - Phó Tư lệnh, Nguyễn Công Trang - Phó Chính ủy, Bùi Công Ái - Tham mưu trưởng, Lẽ Khả Phiêu - Chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Ngọc Thực - Chủ nhiệm hậu cần.

Quân đoàn 2 được thành lập, Trung đoàn 66 chúng tôi từ một đơn vị chiến đấu độc lập trong vùng hậu địch chống Pháp năm nào, được vinh dự đứng trong đội hình Đại đoàn Vinh Quang - Sư đoàn 304, nay lại cùng Sư đoàn 304 được đứng trong đội hình Quân đoàn 2. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trung đoàn bồi hồi, xúc động và tự hào trước từng bước lớn mạnh, trưởng thành của đơn vị. Ngày thành lập quân đoàn, trung đoàn chúng tôi cùng các đơn vị trong toàn sư đoàn đang tiếp tục huấn luyện nâng cao các hình thức chiến thuật cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và tiếp tục xây dựng cơ sở quần chúng khu vực vùng mới giải phóng.

Ngay sau khi thành lập Quân đoàn 2, Sư đoàn 304 được Bộ và Quân đoàn giao nhiệm vụ phối thuộc chiến đấu cho Quân khu 5, diệt một số vị trí địch lấn chiếm sâu vào vùng giải phóng nhằm xoá các lõm, tạo thế cho chiến trường. Thực hiện nhiệm vụ trên, cuối tháng 5 năm 1974, đơn vị tôi được giao nhiệm vụ sẵn sàng hành quân vào phía Nam tham gia các chiến dịch lớn. Cán bộ quân sự cấp trung đoàn, tiểu đoàn, các cơ quan tham mưu đi theo đường đông Trường Sơn qua Thừa Thiên đến tây Quảng Đà để trinh sát đường cơ động lực lượng. Sau đó tiếp tục tổ chức trinh sát địa hình và địch tại khu vực Thượng Đức phía tây huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Đà.

Trước những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta trong những tháng đầu năm 1974, nhất là sau khi cứ điểm Ya Súp, Đắc Pét, Măng Đen ở Tây Nguyên bị tiêu diệt, mở ra một khả năng mới về đánh tiêu diệt của ta. Thực hiện ý định chiến lược của Bộ Tổng Tư lệnh, tháng 6 năm 1974, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở đợt hoạt động quân sự lớn, mở Chiên dịch Nông Sơn - Thượng Đức trên địa bàn hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà nhằm tiêu diệt một phần sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng giải phóng, đánh bại một bước kế hoạch “bình định” lấn chiếm của địch, hỗ trợ quần chúng đấu tranh, nổi dậy giành quyền làm chủ, làm chuyển biến so sánh lực lượng và thế có lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong năm 1975. Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu chỉ rõ: Phải tiêu diệt gọn quân địch, giải phóng Thượng Đức, thu hút và giam chân quân chủ lực của chúng để phối hợp với toàn miền Nam, góp phần đẩy mạnh hoạt động của ta ở Quân khu 5 và rèn luyện bộ đội. Chiên dịch mang mật danh K711.

Theo chủ trương trên, Thượng Đức được xác định là khu vực tác chiến trọng yếu. Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức được mở ra nhằm đánh thắng quân địch cả về quân sự và chính trị. Trong đó, về quân sự là diệt gọn quân địch tại chỗ, thu hút, giam chân và tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của địch; về chính trị là giải phóng và bảo đảm đời sống cho hơn một vạn dân, đập tan hệ thống chính quyền cơ sở và bọn tề diệp ác ôn, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại quân địch đến giải tỏa, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch khác trên chiến trường phát triển và giành thắng lợi.

Ngày 6 tháng 6 năm 1974, tại sở chỉ huy Sư đoàn 304 đặt tại Km 282 (cầu Bung), trên trục đường số 14, đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 đến giao nhiệm vụ cho sư đoàn. Theo đó, Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn bộ binh 9) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 3 Sư đoàn 324 Quân đoàn 2 và hai tiểu đoàn bộ binh địa phương tỉnh Quảng Đà, cùng một số đơn vị chiến đấu và bảo đảm chiến đấu khác đảm nhiệm tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch trong khu vực Thượng Đức (từ cầu Chìm trở lên), phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương diệt và bắt gọn lực lượng địch; giải phóng nhân dân trong khu vực Thượng Đức, đánh tiêu diệt một phần quân giải tỏa, thu hút và kìm giữ quân cơ động ngay tại khu chiến, tạo điều kiện cho địa phương đánh phá kế hoạch của địch, giành dân, bảo vệ dân, mở rộng và khôi phục lại vùng địch đã lấn chiếm ở đồng bằng, sẵn sàng phát triển sang vùng B Đại Lộc. Sau khi cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch, sử dụng một tiểu đoàn bộ binh, một bộ phận hỏa lực, phối hợp cùng địa phương tác chiến bảo vệ vùng giải phóng.

Thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 quyết định sử dụng Trung đoàn 66 làm lực lượng tác chiến chủ yếu. Theo nhiệm vụ, Trung đoàn 66 được tăng cường một đại đội tên lửa chống tăng B-72 (thiếu 1 trung đội), một đại đội tên lửa phòng không tầm thấp A-72, một đại đội súng máy phòng không 12,7 ly đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Trước mắt là tiêu diệt cứ điểm Thượng Đức. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ để lại một đại đội bộ binh ở lại chốt giữ khu vực đã chiếm cùng với lực lượng vũ trang địa phương truy quét tàn quân địch; đồng thời đưa một tiểu đoàn bộ binh và một bộ phận hỏa lực sang nam sông Cái, bố trí ở khu vực điểm cao 265 sẵn sàng đánh địch giải tỏa. Bộ phận còn lại chuyển về khu vực An Điềm làm dự bị cho sư đoàn, sẵn sàng đánh địch lấn chiếm.

Đầu tháng 6 năm 1974, toàn đơn vị nhận lệnh hành quân theo tuyến đường đã được trung đoàn tổ chức trinh sát. Được sự hỗ trợ của quân đoàn, toàn bộ đội hình Trung đoàn 66 tổ chức hành quân bằng cơ giới. Đây là lần đầu tiên đơn vị được tổ chức hành quân bằng cơ giới quy mô lớn với hàng trăm xe vận tải của sư đoàn, xe ô tô vận tải quân sự 711 của Bộ Tư lệnh 559 đảm nhiệm vận chuyển bộ đội. Do các đồng chí Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng trung đoàn đã đi trước chuẩn bị chiến trường, tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn giao nhiệm vụ cùng các đồng chí Chính ủy, Phó chính ủy chỉ huy trung đoàn hành quân. Vì hành quân đường dài và bằng cơ giới, chúng tôi làm kế hoạch hành quân rất chu đáo và chặt chẽ, dự kiến nhiều tình huống có thể xảy ra để sẵn sàng xử trí tốt trong quá trình hành quân. Mỗi trung đội được bố trí ngồi trên một xe Zil 157.

Xuất phát từ Khe Van, đoàn xe ra quân với khí thế sôi nổi, trên khuôn mặt của mỗi cán bộ, chiến sĩ đều ánh lên niềm vui háo hức được ra trận lập công. Đoàn xe của trung đoàn nối theo nhau tiến về phía Nam, từng xe được ngụy trang kín đáo. Thanh niên xung phong và nhân dân hai bên đường hân hoan chào đón và tiễn đoàn quân ra trận. Đội hình hành quân của đơn vị chúng tôi đi theo từng tiểu đoàn một. Tiểu đoàn 7 xuất phát trước, khi đi hết chặng thứ nhất, thì Tiểu đoàn 8 xuất phát theo đội hình cuốn chiếu sâu đo. Cứ như thế chúng tôi hành quân rất bí mật và bảo đảm an toàn. Sau nửa tháng hành quân, ngày 20 tháng 6 chúng tôi đến vị trí tập kết tại khu vực Bến Giàng, trong một cánh rừng già sát biên giới Việt - Lào, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 60 cây số về phía tây. Tại đây chúng tôi bố trí từng đại đội, từng tiểu đoàn ở từng khu rừng khác nhau để xây dựng lán trại và công sự hầm hào kiên cố, đồng thời tổ chức tăng gia sản xuất xây dựng hậu cứ tập kết của đơn vị để có đủ rau xanh và thực phẩm bổ sung vào bữa ăn cho bộ đội trong quá trình chiến đấu. Sau một tuần xây dựng công sự và lán trại tại hậu cứ, chúng tôi sử dụng mỗi tiểu đoàn 2 đại đội đi làm đường cơ động, từ tuyến đường đông Trường Sơn theo nhánh đi xuống đồng bằng tỉnh Quảng Đà. Trong quá trình làm đường, chúng tôi phải bảo đảm bí mật tuyệt đối không được chặt các cây to, chỗ nào trống trải thì làm đường đến đâu phải ngụy trang đến đó, không để lộ đất đỏ và mặt đường đề phòng máy bay trinh sát địch phát hiện được những con đường mới. Cán bộ cấp trưởng từ đại đội trở lên tiến hành đi trinh sát thực địa ở căn cứ Thượng Đức, cán bộ cấp phó tổ chức huấn luyện bộ đội và chỉ huy làm đường.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:41:55 AM
Đến trung tuần tháng 7 năm 1974, cơ bản mạng đường sá cơ động đã hoàn thành để đưa pháo, đạn và vận tải lương thực, thực phẩm theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch. Do làm tốt công tác ngụy trang, nên chúng tôi vẫn giữ được bí mật, địch chưa phát hiện được vị trí tập kết và những tuyến đường mới mở của ta.

Khoảng ngàv 20 tháng 7, chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị đưa bộ đội vào vị trí tập kết chiến đấu, sẵn sàng tiêu diệt địch ở căn cứ Thượng Đức. Tham gia chiến dịch này cùng chúng tôi có Trung đoàn pháo binh 68 (thiếu), một đại đội cối 160 ly của Quân khu 5, một tiểu đoàn pháo phòng không 37 ly, một đại đội tên lửa phòng không tầm thấp A-72 (thiếu), một đại đội tên lửa chống tăng B-72, một tiểu đoàn công binh của Lữ đoàn 219, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà, hai đại đội bộ đội địa phương huyện Đại Lộc, một tiểu đoàn đặc công... Quá trình chiến đấu, chúng tôi được pháo binh của Quân khu 5 chi viện.

Khi được nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị rất phấn khởi vì từ sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết và có hiệu lực, hằng ngày địch vẫn lấn chiếm và đánh phá ra vùng giải phóng của ta. Chính vậy, mọi người rất mong muốn được chiến đấu ngăn chặn các đợt hành quân lấn chiếm của địch. Cơ quan chính trị tổ chức học tập cho đơn vị về ý nghĩa, mục đích của trận chiến đấu, xây dựng quyết tâm và đăng ký thi đua diệt địch lập công. Cơ quan tham mưu chỉ đạo tổ chức xây dựng thao trường, bố trí các lô cốt, hỏa điểm, hệ thống vật cản gần giống như căn cứ Thượng Đức của địch mà ta đã đi trinh sát trong những ngày trước đây. Trung đoàn tổ chức, chỉ đạo cho các phân đội huấn luyện thành thạo các thủ đoạn chiến đấu tiến công địch trong công sự vững chắc, hướng dẫn cho các bộ phận làm nhiệm vụ tiến công phá các hàng rào, mở cửa mở để lực lượng ta tiến sâu vào trong căn cứ địch bằng hỏa khí FR (rồng lửa), bằng các biện pháp bộc phá đồng loạt và bộc phá liên tục.

Thượng Đức là một quận nằm ở phía tây tỉnh Quảng Đà (nay là tỉnh Quảng Nam). Quận lỵ Thượng Đức cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 cây số về phía tây. Khu vực Thượng Đức nằm trên một địa hình hiểm trở, ba mặt là núi cao, có nhiều vách núi dựng đứng. Phía Bắc có núi cao, rừng rậm, có dãy Tiên Sơn, điểm cao 776 kéo dài đến điểm cao 1.062 thoải dần xuống sát sông Vu Gia. Đối diện với dãy Tiên Sơn là dãy Đường Lâm có độ cao 1.223 mét. Phía nam cách khoảng 1,5 cây số là dãy Hữu Trinh cao 1.030 mét, kéo về phía đông là điểm cao 265, Cấm Muồng. Sát căn cứ Thượng Đức có dãy An Điềm và các điểm cao 633, 302, 200, 163, Gò Cấm, Ba Khe... Khu vực B Đại Lộc nằm ở phía nam sông Vu Gia là vùng đồng bằng giáp ranh, có nhiều đầm nước, phía bắc và tây bắc là những dãy núi cao liên tiếp, suối sâu. Làng mạc khu vực này xác xơ do bị địch càn quét đánh phá liên tục. Hệ thống đường sá khu vực này gồm đường số 4 chạy từ Hòa Phát qua Hiếu Đức chạy ngang qua Thượng Đức đến Bến Hiên, đường số 14 chạy từ Thượng Đức qua cầu Hội Khánh đến Bến Giàng. Mặt đường từ Hòa Phát đến Hiếu Đức rộng từ 4 đến 6 mét, từ Hiếu Đức đến Thượng Đức đường rộng 4 mét, nhiều đoạn bị hỏng nặng chỉ còn vệt dường mòn, cây cối mọc che khuất nhiều. Ngoài ra, khu vực này còn có nhiều cầu nhỏ bắc qua các con suối, nhưng đa số là cầu bê tông đều đã bị sập hỏng. Phía nam có sông Cái (có đoạn được gọi là Thạch Mỹ, có đoạn gọi là Vu Gia) rộng trên 200 mét. Phía bắc - đông bắc có sông Côn rộng từ 60 đến 80 mét. Cầu Hà Tân bắc qua sông Côn, nổi liền khu trung tâm sang sân bay Đại An. Hai con sông này vào khoảng tháng 5 và tháng 6 nước rất cạn, nhiều đoạn có thể lội qua được.

Qua trinh sát, chúng tôi đi đến kết luận, địa hình vùng Thượng Đức phía tây có các dãy núi cao, cây cối rậm rạp tiện cho ta giấu quân và triển khai lực lượng. Phía nam tiện bố trí hỏa lực, đài quan sát, phía bắc có nhiều dãy đồi thấp liên tiếp có thể tổ chức chiến đấu phòng ngự và phản kích tốt.

Vùng B Đại Lộc là vùng giải phóng cũ. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, địch đã tổ chức lấn chiếm lại nhưng ta vẫn còn cơ sở để hoạt động. Riêng khu vực Thượng Đức, người dân ở đây gồm nhiều thành phần đảng phái, tôn giáo phức tạp, cơ sơ của ta còn yếu nên địch tập trung o ép, kìm kẹp. Nhưng cơ bản người dân nơi đây vẫn giữ vững niềm tin với Đảng, với cách mạng, nên các cơ sơ cách mạng của ta vẫn bám trụ và tiếp tục phát triển, các đội công tác vũ trang từng bước hoạt động có hiệu quả.

Với địa thế là tiền đồn “mắt ngọc của đầu rồng”, là “cánh cửa thép bất khả xâm phạm” ở phía tây thành phố Đà Nẵng, chi khu Thượng Đức được địch tổ chức phòng thủ rất kiên cố. Lợi dụng địa thế hiểm yếu của địa hình, địch xây dựng một hệ thống phòng thủ liên hoàn. Cơ quan chỉ huy, trung tâm thông tin và các kho tàng dự trữ đều nằm sâu dưới lòng đất. Do đó, trong các năm từ 1968 đến 1970 ta đã nhiều lần tổ chức đánh Thượng Đức nhưng không thành công. Sau mỗi lần bị ta tiến công, quân địch lại tăng cường thêm hệ thống phòng ngự kiên cố hơn. Chúng huênh hoang tuyên bố: “nước sông Vu Gia có chảy ngược thì Việt cộng mới lấy được Thượng Đức”.

Căn cứ Thượng Đức được xây dựng công sự trận địa rất vững chắc, có tới 105 lô cốt và hầm ngầm. Lô cốt được xây dựng bằng bê tông cốt thép nửa chìm nửa nổi, quanh các lô cốt có các giao thông hào. Vòng ngoài địch bố trí hệ thống vật cản bằng hàng chục hàng rào dây thép gai và các bãi mìn. Các hoạt động của địch chủ yếu ở dưới mặt đất. Ngoài căn cứ chính còn có 3 tiền đồn bảo vệ vòng ngoài. Tiền đồn A cách trung tâm căn cứ Thượng Đức khoảng 500 mét về phía bắc, có nhiệm vụ án ngữ toàn bộ phần đông bắc và bắc căn cứ Thượng Đức. Tiền đồn B cách căn cứ Thượng Đức khoảng 500-700 mét, án ngữ và bảo vệ phía tây - tây bắc căn cứ Thượng Đức. Tiền đồn C là một quả đồi độc lập nằm sát quốc lộ số 14 từ Đà Nẵng đi lên Giàng nằm sát sông Vu Gia, có nhiệm vụ bảo vệ sườn tây - tây nam căn cứ Thượng Đức. Phía đông và đông nam là thôn Hà Tân, đây là vùng chiếm đóng của quân đội ngụy và chính quyền ngụy cùng khu gia binh của lực lượng địch ở Thượng Đức.

Căn cứ Thượng Đức được chia ra làm 3 khu, khu chính gồm chỉ huy và một đại đội của tiểu đoàn 79, hai khẩu pháo 105 ly, hai khẩu cối 106,7 ly, hai khẩu cối 81 ly, ba khẩu đại liên và một sân bay trực thăng. Khu bảo an được địch bố trí hai đại đội bảo an. Còn khu quận lỵ là khu hành chính, có hầm ngầm, địch bố trí một đại đội cảnh sát dã chiến. Căn cứ Thượng Đức do tên thiếu tá Nguyễn Quốc Hùng - quận trưởng trực tiếp chỉ huy. Hệ thống công sự vật cản ở căn cứ Thượng Đức được cấu trúc kiên cố, vững chắc, phức tạp, xen kẽ với các ấp chiến lược. Mỗi vị trí tiền đồn có từ 5 đến 10 lô cốt, một số bằng bê tông, còn lại bằng gỗ và đất, do một trung đội địch chiếm giữ. Xung quanh các tiền đồn địch đều bố trí hệ thống vật cản bằng hàng rào dây thép gai các loại và các bãi mìn. Trong cứ điểm Thượng Đức còn có hàng rào ngăn cách giữa các phân khu với nhau.

Lực lượng địch ở Thượng Đức có tiểu đoàn 79 biệt động biên phòng, tiểu đoàn bảo an 148 và đại đội bảo an 704, một trung đội pháo 105 ly, một đại đội cảnh sát dã chiến và 21 trung đội dân vệ, 3 trung đội phòng vệ dân sự (có gần 100 tên), 3 ban hội đồng của 3 xã Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Lộc Ninh... Ngoài ra, còn có đại đội biệt động biên phòng đóng ở chợ Hà Tân, đại đội bảo an 704 ở Đông Phước 2 và 17 trung đội dân vệ ở các tiền đồn A, B, C. Tất cả được đặt dưới sự chỉ huy của tên thiếu tá quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng. Đội hình bố trí thành từng cụm cứ điểm liên hoàn, trung tâm cụm là cứ điểm Thượng Đức nối liền với hậu phương địch về phía đông. Về hỏa lực, địch có 18 khẩu pháo cối các loại và 27 khẩu đại liên, trong quá trình chiến đấu sẽ được máy bay chi viện từ 30 đến 40 lần chiếc một ngày và pháo binh từ Ái Nghĩa, Núi Đất bắn chi viện. Lượng gạo và đạn luôn được địch dự trữ với khối lượng lớn đủ bảo đảm cầm cự dài ngày nếu bị ta tiến công.

Sau một tuần học tập chính trị và huấn luyện bổ sung, ngày 20 tháng 7, đơn vị chúng tôi bắt đầu tổ chức từng hướng hành quân vào vị trí tập kết chiến đấu. Khi vào vị trí tập kết chiến đấu, các đơn vị tuyệt đối giữ bí mật, xây dựng công sự hầm hào. Sau đó các cán bộ quân sự tiếp tục đi trinh sát nắm tình hình địch ở khu vực tác chiến.

Chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức do Bộ Tư lệnh Quân khu 5 trực tiếp chỉ huy. Trên hướng Thượng Đức - một hướng rất quan trọng của chiến dịch, để thống nhất chỉ huy và phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng quân sự và chính trị, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã quyết định tổ chức một bộ chỉ huy thống nhất để chỉ huy bao gồm Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304, đồng chí Chủ tịch tỉnh Quảng Đà và đồng chí Chỉ huy phó quân sự tỉnh Quảng Đà. Chủ trương của Bộ Tư lệnh chiến dịch là trong đợt hoạt động tác chiến này phải giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị.

Ý định của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 304 nổ súng vào ngày 25 tháng 7. Nhưng do công tác chuẩn bị chưa chắc chắn, lượng đạn, gạo chưa bảo đảm được nếu chiến dịch kéo dài; mặt khác, một số đơn vị cần hoàn chỉnh nốt những đoạn đường còn lại nên sư đoàn báo cáo với Bộ Tư lệnh Quân khu 5 là chưa thể nổ súng vào ngày 25 tháng 7 được và để nghị nổ súng vào ngày 31 tháng 7. Căn cứ vào quyết tâm, kế hoạch tác chiến chiến dịch và tình hình thực tế, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định vào ngày 29 tháng 7, Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 phải nổ súng tiến công đánh chiếm căn cứ Thượng Đức vì kế hoạch chung đối với toàn mặt trận.

Lúc này địch đã bắt đầu chú ý đến khả năng có một lực lượng lớn bộ đội ta đang hành quân hướng vào căn cứ Thượng Đức, nhưng do chúng ta nghi binh và ngụy trang tốt, nên dù chúng tăng cường máy bay hoạt động trinh sát trên không và tung một số toán thám báo biệt kích mở rộng phạm vi hoạt động để thăm dò hoạt động của lực lượng ta vẫn không phát hiện được ý đồ tiến công vào Thượng Đức của ta. Mặt khác, một số trận trước lực lượng ta đã tổ chức đánh vào Thượng Đức nhưng không thành công, nên địch tỏ ra chủ quan và cho rằng chúng ta chưa có điều kiện để đánh vào Thượng Đức. Đây cũng là một điều kiện thuận lợi cho ta.

Lúc này không khí chuẩn bị chiến đấu ở Trung đoàn 66 hết sức khẩn trương và sôi động, ở các tiểu đoàn, bộ đội hối hả vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm. Tại cơ quan trung đoàn không khí chuẩn bị chiến đấu còn náo nhiệt hơn. Ban Tham mưu ngoài việc chuẩn bị lực lượng đi trinh sát địch còn chuẩn bị hoàn chỉnh các văn kiện và các kế hoạch chiến đấu. Ban Chính trị triển khai các việc xác định quyết tâm, bản đăng ký thi đua diệt địch của từng đơn vị, in và gửi thư động viên của Tỉnh ủy Quảng Đà xuống các đơn vị. Ban Hậu cần trung đoàn đi kiểm tra các đơn vị về công tác bảo đảm hậu cần, cơ số đạn dược, thuốc men, lương thực, thực phẩm theo quy định của trên. Đơn vị nào còn thiếu được bổ sung ngay theo cơ số quy định. Bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà cũng tăng cường các tổ trinh sát của du kích đảm nhiệm dẫn đường xuống tận từng tiểu đoàn để phối hợp cùng trinh sát của các tiểu đoàn dẫn dường cho bộ đội tiếp cận vào vị trí xuất phát tiến công. Trước khi nổ súng tiến công căn cứ Thượng Đức, ý định của trung đoàn là sau khi giải phóng xong căn cứ Thượng Đức sẽ xốc lại lực lượng, nhanh chóng tổ chức bộ đội tiến công đồn Phú Phong, vùng B Đại Lộc. Do vậy, tôi là Tham mưu phó trung đoàn và một số các đồng chí cấp phó ở lại phía sau sẵn sàng nhận nhiệm vụ xuống thay thế các đồng chí cấp trưởng ở tuyến trước và khi có thời cơ thì chỉ huy bộ đội vượt sông Vu Gia sang vùng B Đại Lộc để đánh chiếm đồn Phú Phong thuộc vùng B Đại Lộc.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:43:58 AM
Đúng 5 giờ sáng ngày 29 tháng 7, những loạt pháo đầu tiên của ta thực hành hoả lực chuẩn bị đã trút bão lửa xuống căn cứ Thượng Đức. Những quả đạn tên lửa B-72, đạn ĐKZ 75 bắn thẳng đã phá hủy một số lô cốt, ụ súng của địch trước tiền duyên. Trước khi thực hành hoả lực chuẩn bị, bộ đội của ta đã liên kết các bộ FR để phá rào, nhưng các bộ phá rào không phát huy được hiệu quả. Do vậy các đơn vị phải dùng bộc phá liên tục để phá rào mở cửa mở.

Sau khi hỏa lực chuẩn bị chuyển làn bắn chế áp vào trung tâm căn cứ Thượng Đức, Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu của trung đoàn đã nhanh chóng vượt qua cửa mở, đến 6 giờ 20 phút đánh chiếm được tiền đồn A. Cùng thời gian trên, Tiểu đoàn 9 đảm nhiệm hướng thứ yếu của trung đoàn cũng đánh chiếm được tiền đồn B. Ngay sau đó, bộ đội ta phát triển tiếp vào căn cứ Thượng Đức thì gặp các hàng rào, vật cản giữa các khu nên phải dừng lại. Hướng chủ yếu của Tiểu đoàn 7, bộ đội chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công từ cánh đồng dưới chân căn cứ Thượng Đức, khi bộ đội xung phong bị hỏa lực địch từ khu đồn Ông Máy ở phía đông căn cứ Thượng Đức bắn vào đội hình, nên cũng không phát triển chiến đấu được. Hướng Tiểu đoàn 9, bộ đội dùng bộc phá ống lên phá rào mở cửa thì bị hỏa lực của địch ở tiền đồn C bắn vào đội hình nên không phát triển tiến công được. Sau một thời gian mở cửa không thành, bộ đội ta phải nằm ngoài hàng rào lợi dụng các mô đá và đào hố chiến đấu cá nhân để ẩn nấp. Pháo binh của ta tiếp tục bắn chế áp vào căn cứ Thượng Đức để chi viện cho bộ binh tiếp tục mở cửa mở, nhưng vẫn không thành công.

Thế trận giằng co giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt trước cửa mở trên từng hướng. Sang ngày 30 tháng 7, bộ đội ta mới mở thêm được từ 1 đến 2 hàng rào và phải chuyển sang chiến thuật lấn dũi, tiến từng bước một. Qua hai ngày liên tục chiến đấu, một phần bộ đội ta đã bị thương vong. Đêm 31 tháng 7, trung đoàn quyết định mở đợt tiến công thứ hai vào cứ điểm Thượng Đức. Khi bộ đội xung phong vẫn còn vướng những hàng rào bên trong ta chưa mở hết, nên chưa đánh được vào bên trong căn cứ. Trước tình hình trên, trung đoàn tiếp tục cho pháo, cối và các hoả khí chế áp vào trung tâm căn cứ để chi viện cho bộ binh phá nốt các hàng rào trong cùng. Lúc này, đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Quý bị thương nặng không tiếp tục chỉ huy chiến đấu được. Sư đoàn quyết định cử dồng chí Lê Đắc Long - Tham mưu trưởng sư đoàn xuống thay làm Trung đoàn trưởng. Cùng thời gian trên, đồng chí Lê Thanh Tư - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 cũng bị thương nặng, trung đoàn quyết định cử tôi xuống làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 để chỉ huy đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Sau hai đợt tiến công không thành công, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn 304 họp, kết luận rút ra những mạnh yếu, nguyên nhân thất bại của hai đợt tiến công, đồng thời đề ra chủ trương: kiên định quyết tâm, tiếp tục bám trụ, giữ vững thế trận, củng cố điều chỉnh lực lượng, chấn chỉnh đội hình và chỉ huy hiệp đồng, bổ sung đạn dược. Thường vụ Đảng ủy hạ quyết tâm kiên quyết tiến công dứt điểm vào ngày 5 tháng 8. Ngày 1 tháng 8, Tư lệnh Mặt trận quyết định tạm dừng đợt tiến công để củng cố bộ đội, chuẩn bị thật chu đáo về mọi mặt để đánh chắc thắng và dự kiến tiến công vào ngày 6 tháng 8.

Ngày 3 tháng 8, Trung đoàn 66 tổ chức Hội nghị quân chính, đồng chí Lê Công Phê - Sư đoàn trưởng xuống dự. Sau nhiều ý kiến bàn luận và chỉ đạo của Sư đoàn trưởng, trung đoàn quyết định chuyển từ cách đánh hiệp đồng binh chủng sang hình thức vây lấn dứt điểm trong thời gian ngắn.

Sau khi bổ sung quyết tâm chiến dấu, đêm 4 tháng 8, tại Sở chỉ huy sư đoàn, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Sư đoàn tổ chức giao nhiệm vụ cho các đơn vị chiến đấu đợt 3. Sư đoàn 304 quyết định đưa Tiểu đoàn 8 thay Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm làm lực lượng dự bị, đứng sau đội hình Tiểu đoàn 8. Tiểu đoàn 9 đảm nhiệm tiến công trên hướng thứ yếu, có nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa thu hút hỏa lực địch để tạo diều kiện thuận lợi cho Tiểu đoàn 8 tiến công trên hướng chủ yếu. Tôi đề nghị xin Tiểu đoàn 9 cũng phải thực hành tiến công vào căn cứ Thượng Đức. Lúc này Tiểu đoàn 9 chỉ còn 2 đại đội bộ binh là 9 và 11, còn Đại đội 10 đảm nhiệm tiến công chốt giữ cầu Hà Tân chưa về được đội hình tiểu đoàn. Sư đoàn trưởng nói với tôi: Tiểu đoàn đồng chí còn 2 đại đội, không đủ sức tiến công vào trong trung tâm. Thấy vậy, tôi liền đề nghị cấp trên đưa Đại đội 10 về đội hình tiểu đoàn để chiến đấu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn và Ban chỉ huy Trung đoàn đồng ý với đề nghị của tôi là đưa Đại dội 10 về đội hình Tiểu đoàn 9 để tiểu đoàn có đủ 3 đại đội bộ binh và 1 đại đội hỏa lực.

Trong hội nghị giao nhiệm vụ này, ý thức được tầm quan trọng của “cửa mơ” trong chiến đấu tiến công trận địa, nếu không mở được cửa thì có bắn hàng nghìn quả đạn pháo thì cũng không đưa được bộ đội vào bên trong và tổn thất của ta sẽ rất lớn, xương máu bộ đội sẽ đổ ra bên ngoài hàng rào, với quyết tâm của mình, tôi đã hứa với Thủ trưởng cấp trên: “Tôi xuống chỉ huy Tiểu đoàn 9, nếu Tiểu đoàn 9 không mở được cửa mở vào được trong Thượng Đức thì tôi không về”. Tôi báo cáo quyết tâm là muốn Tiểu đoàn 9 mở cửa từ hướng thứ yếu vào trong trung tâm thì phải tiêu diệt được địch ở tiền đồn C, nếu không diệt được địch ở tiền đồn C sẽ không thể vào được trung tâm Thượng Đức. Để tiêu diệt địch ở tiền đồn C, tôi xin trung đoàn và sư đoàn cho lực lượng pháo binh bắn hỗ trợ 30 viên đạn pháo 85 ly bắn thẳng bố trí từ phía nam sông Vu Gia bắn ngắm trực tiếp để phá hủy và tiêu diệt các lô cốt ở tiền đồn C, tạo điều kiện cho một trung đội của Đại đội 9 lên đánh chiếm tiền đồn C. Phương án của tôi được cấp trên chấp nhận. Theo kế hoạch, ngày 5 tháng 8 các đơn vị hoàn thành công tác chuẩn bị. Ngày 6 tháng 8, các đơn vị sẵn sàng nổ súng.

Khi đợt 3 bắt đầu nổ súng, tôi đã chỉ huy ĐKZ 75 ly và pháo 85 ly bắn ngắm trực tiếp, mãnh liệt vào các lô cốt ở tiền đồn C. Sau 30 phút chiến đấu, lực lượng địch ở tiền đồn C bị tiêu diệt, lực lượng bộ binh của Đại dội 9 do Đại đội trưởng Trương Quang Siều chỉ huy đã dánh chiếm được tiền đồn C. Trên hướng tiến công chủ yếu của Tiểu đoàn 9 từ tiền đồn B đánh sang trung tâm Thượng Đức, Trung đội 1 Đại dội 11 do Đại đội trưởng Hoàng Văn Nam chỉ huy đã thực hành mở cửa đánh chiếm được lô cốt đầu cầu. Tiếp sau đó đã có bộ phận đánh được vào tuyến lô cốt thứ 2 của khu bảo an và bắt được 4 tên địch. Ngay lúc này, tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Du lên trực tiếp chỉ huy Đại dội 11 giữ vững đầu cầu, đồng thời tôi lệnh cho di chuyển vị trí chỉ huy của tiểu đoàn vào trong tiền đồn B. Khoảng từ 19 đến 20 giờ tối 6 tháng 8, tôi báo cáo về Sở chỉ huy trung đoàn và sư đoàn là Tiểu đoàn 9 đã mở thông cửa mở và Đại đội 11 đã đánh được vào khu bảo an và bắt được tù binh. Lúc này cán bộ tham mưu trung đoàn hỏi tôi: Sao nhanh thế, có đúng đã vào được bên trong không? Tôi trả lời: Tôi và đồng chí Nguyễn Văn Du - Tiểu đoàn phó đã ở trong lô cốt đầu cầu, đang chỉ huy bộ đội phát triển chiến đấu ở khu bảo an. Cơ quan trung đoàn thông báo: Hướng Tiểu đoàn 8 vẫn gặp khó khăn chưa vào được chi khu Thượng Đức. Tôi nói: Hướng chúng tôi phát triển chiến đấu thuận lợi, Đại đội 11 và Đại đội 10 đã vào đánh chiếm được một phần phía tây khu bảo an. Đồng chí Nguyễn Văn Du đang chỉ huy bộ đội Đại đội 11 phát triển chiến đấu vào trung tâm khu bảo an. Đồng chí Lê Đắc Long - Tham mưu trưởng sư đoàn xuống trực tiếp làm Trung đoàn trưởng đã lệnh cho tôi: Đánh đến đâu phải giữ chắc đến đó để trung đoàn sẽ tăng cường lực lượng và quyết định chuyển hướng tiến công của Tiểu đoàn 9 từ hướng thứ yếu thành hướng chủ yếu của trung đoàn.

Khoảng 22 giờ tối 6 tháng 8, đồng chí Lê Đắc Long và đồng chí Nguyễn Sơn Văn - Trung đoàn phó thông báo cho tôi chuẩn bị đón lực lượng Tiểu đoàn 7 hành quân về hướng Tiểu đoàn 9 để tăng cường lực lượng cho Tiểu đoàn 9 phối hợp tiến công vào trung tâm quận lỵ Thượng Đức. Hơn 22 giờ đêm 6 tháng 8, Tiểu đoàn 7 về đến vị trí đơn vị chúng tôi đang chốt giữ. Lúc này tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy cả Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 phát triển vào trung tâm tiêu diệt địch ở khu bảo an, sau đó phát triển sang trung tâm căn cứ Thượng Đức. Khi chúng tôi phát triển tiến công và đánh chiếm được gần hết trung tâm căn cứ Thượng Đức thì Tiểu đoàn 8 cũng mở được cửa đánh vào phía đông bắc căn cứ Thượng Đức. Khoảng 24 giờ đêm 6 tháng 8, các lực lượng bộ đội ta đã đánh chiếm được toàn bộ căn cứ Thượng Đức và khu bảo an. Đến 2 giờ sáng ngày 7 tháng 8, tôi chỉ huy Tiểu đoàn 9 phát triển tiến công xuống thôn Hà Tân truy quét địch và chiếm giữ thôn Hà Tân. Khoảng 8 giờ sáng ngày 7 tháng 8, máy bay địch và pháo binh tập trung oanh tạc và bắn phá mãnh liệt vào khu vực Thượng Đức. Do pháo phòng không của ta rất mạnh nên máy bay địch không ném bom được vào trung tâm căn cứ Thượng Đức mà chỉ thả bừa xuống phía tây căn cứ Thượng Đức và xuống sông Vu Gia.

Hơn 8 giờ sáng ngày 7 tháng 8, tôi nhận được lệnh của Ban chỉ huy Trung đoàn: Để lại một bộ phận nhỏ chốt giữ căn cứ Thượng Đức, còn lại bộ đội làm công tác thương binh, tử sĩ và rút xuống thôn Hà Tân. Tôi vừa triển khai đội hình xong theo đúng yêu cầu của cấp trên thì từ trung tâm căn cứ Thượng Đức phát ra một tiếng nổ rất lớn làm rung chuyển cả một vùng, cột khói bốc cao hàng trăm mét. Sau này tôi được biết, đây là quả bom tự hủy của địch để dưới hầm ngầm với ý định khi thất thủ chạy khỏi căn cứ sẽ cho quả bom đó nổ để tiêu diệt lực lượng bộ đội ta, may mắn là sau khi đánh chiếm xong căn cứ Thượng Đức, theo lệnh cấp trên chúng tôi đã cho bộ đội ta kịp triển khai ra xung quanh căn cứ nên không bị thiệt hại gì.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 7 tháng 8, toàn bộ quận lỵ Thượng Đức hoàn toàn được giải phóng. Lúc này bộ đội ta triển khai xây dựng các công sự trận địa để chốt giữ căn cứ Thượng Đức và trong làng Hà Tân để đề phòng lực lượng địch từ Đà Nẵng lên phản kích đánh chiếm lại căn cứ Thượng Đức. Sau khi bố trí cho các đơn vị vào vị trí xây dựng trận địa xong, tôi được gọi về Ban chỉ huy Trung đoàn báo cáo tình hình chiến đấu trên hướng Tiểu đoàn 9.

Trận đánh tiêu diệt căn cứ Thượng Đức đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn một vạn tên địch, tiêu diệt 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 9 tiểu đoàn, thu 2.106 súng các loại, 24 xe quân sự và nhiều đạn dược, trang bị quân sự của địch.

Chiến thắng Nông Sơn - Thượng Đức đã chứng minh thực tế trên chiến trường sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch.

Sau chiến dịch, với những đóng góp của mình, tôi dược tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:46:46 AM
Sau khi mất Thượng Đức, trung tuần tháng 8 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu trực tiếp từ Sài Gòn bay ra Đà Nẵng lệnh cho tướng Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân khu 1 bằng mọi giá phải tái chiếm lại Thượng Đức. Ngay sau đó, địch bắt đầu tung các lữ đoàn dù là lực lượng tổng dự bị số một của quân đội ngụy bắt đầu tổ chức phản kích tái chiếm Thượng Đức bằng cách đánh chiếm các điểm cao phía đông bắc của Thượng Đức như núi Sơn Gà, điểm cao 1062, bình độ 700, bình độ 300. Địch dùng máy bay và pháo binh đánh phá ác liệt các điểm cao trên, ở vùng B Đại Lộc, dịch dùng lực lượng địa phương quân đánh chiếm các điểm cao dọc theo sông Vu Gia: đồi Ghóp Nón, đồi Cánh Bướm và một sô điểm cao khác. Thời gian này dịch dùng máy bay và pháo binh đánh phá rất ác liệt, chi viện tối đa cho lực lượng lính dù và lực lượng địa phương quân đánh sâu vào vùng giải phóng của ta.

Để chốt giữ phía bắc điểm cao 1062 và bình độ 700, bình độ 300, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 chốt giữ từ điểm cao 1062 đến bình độ 700, bình độ 300, núi Hà Sông nằm sát đường số 14, các thôn Hà Nha, Bàn Tân 1, Bàn Tân 2. Ở phía nam sông Vu Gia, Tiẻu đoàn 8 Trung đoàn 66 có nhiệm vụ chốt giữ núi Chóp Nón, dãy núi Hữu Trinh, dãy Tràng Chổi và một số điểm cao quan trọng khác. Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 ở phía sau làm nhiệm vụ vận tải đạn dược và củng cố lực lượng. Thời gian này tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 66. Ban chỉ huy Trung đoàn phân công tôi và đồng chí Bùi Sáu - Phó Chính ủy và một số trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần chỉ huy Tiểu đoàn 8 chốt giữ các điểm cao ở phía nam sông Vu Gia.

Cuối tháng 8 năm 1974, địch bắt đầu tổ chức tiến công vào các điểm cao đồi Cánh Bướm nằm sát sông Vu Gia. Ở đây bộ đội Tiểu đoàn 8 đã xây dựng công sự trận địa kiên cố để chốt giữ, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của dịch. Sau nhiều ngày tiến công, địch vẫn không chiếm được nên chúng phải lui ra dùng máy bay và pháo binh đánh phá vào các trận địa của ta. Sau mỗi lần dùng hỏa lực đánh phá, chúng lại tổ chức tiến công bằng bộ binh. Cứ như thế, địch lặp đi lặp lại nhiều ngày vẫn không chiếm dược những điểm cao ta đang chốt giữ.

Cùng thời gian trên ở hướng bắc, lính dù ngụy đã chiếm được điểm cao dãy núi Sơn Gà, bình độ 700 và một phần điểm cao 1062. Quân đoàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 304 dùng Trung đoàn 24 tổ chức đánh chiếm lại các điểm cao dịch đã chiếm và giữ điểm cao 1062. Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 tập trung chốt giữ dãy núi Hà Sông thôn Hà Nha, thôn Bàn Tân 1, Bàn Tân 2 dọc theo đường số 14, không cho dịch theo đường số 14 tiến công lên. Lực lượng Trung đoàn 24 chốt giữ điểm cao 1062 bị địch tập kích chiếm được mỏm A. Lệnh của Sư đoàn 304 là phải tập kích lấy lại. Thời gian này là mùa mưa nên bộ đội ta hoạt động gặp nhiều khó khăn. Sau nhiều ngày giành đi giật lại ta vẫn không lấy lại được điểm cao 1062. Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1974, Trung đoàn 24 được lệnh rút quân về phía sau củng cố lực lượng để sẵn sàng nhận nhiệm vụ của cấp trên. Sư đoàn 304 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 66 đưa lực lượng Tiểu đoàn 7 lên chiếm giữ các mỏm còn lại của điểm cao 1062 và chốt giữ các điểm cao phía bắc 1062 không cho địch tái chiếm. Để tăng cường hoả lực chốt giữ các mỏm còn lại của điểm cao 1062, Sư đoàn 304 cho tháo rời 2 khẩu pháo bắn thẳng 85 ly thành từng bộ phận nhỏ để khiêng lên điểm cao 1001. Để khiêng pháo lên cao, các lực lượng công binh và pháo binh phải làm đường để vận chuyển. Sau khi khiêng lên đến nơi, bộ đội tập trung lắp ráp lại thành khẩu pháo hoàn chỉnh và xây dựng công sự, trận địa vững chắc. Pháo được bố trí trong hầm, hàng ngày ta dùng pháo bắn thẳng vào mỏm A điểm cao 1062 để chế áp địch. Ngoài ra, ta còn đưa 2 khẩu pháo phòng không 37 ly 2 nòng lên bình độ 200 phía nam điểm cao 1062 để bắn thẳng vào bình độ 700 tiêu diệt lực lượng địch tại đó.

Lực lượng địch ở điểm cao 1062 đã bị ta hình thành thế bao vây ngăn chặn. Trực tiếp tiếp xúc là Tiểu đoàn 7, phía bắc là Tiểu đoàn 8, phía đông bắc là Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66, phía nam là Trung đoàn 3 Sư đoàn 324. Ngày 28 tháng 10, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 24 đã phối hợp tổ chức trận phản kích đánh chiếm lại toàn bộ điểm cao 1062, loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn 3 sư đoàn dù ngụy. Cay cú trước thất bại ở điểm cao 1062, đầu tháng 11 địch điều tiếp lữ đoàn dù số 2 vào phản kích tái chiếm lại được mỏm A của điểm cao 1062.

Với quyết tâm giữ vững trận địa của các đơn vị bộ binh, được sự chi viện dắc lực của các loại hỏa lực pháo binh, sau nhiều ngày giành đi giật lại, địch vẫn không chiếm được thêm điểm cao nào. Sau khi Trung đoàn 24 củng cố lực lượng xong nhận nhiệm vụ sang phía nam sông Vu Gia và căn cứ Thượng Đức đảm nhiệm chốt giữ không cho địch đánh chiếm các cao điểm phía nam sông Vu Gia và căn cứ Thượng Đức. Toàn bộ lực lượng Trung đoàn 66 rút về phía bắc sông để cùng Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 đánh địch ở điểm cao 1062 và bình độ 700 và núi Sơn Gà. Lúc này tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 9 chốt giữ các điểm cao phía bắc và đông bắc điểm cao 1062 nhằm mục đích ngăn chặn không cho địch vòng qua điểm cao 1062 đánh vào căn cứ Thượng Đức.

Trung đoàn 24 vẫn giữ vững các trận địa ở phía nam sông Vu Gia, suốt cả tháng 10 năm 1974, cả hai cánh quân lính dù ở phía bắc và địa phương quân ở phía nam sông Vu Gia đều không chiếm được thêm tấc đất nào. Ta và địch đã phòng ngự thành tuyến, thỉnh thoảng ta lại tổ chức những lực lượng nhỏ, đánh sâu trong lòng địch không cho địch tổ chức tiến công lấn chiếm. Địch không thực hiện được ý đồ tái chiếm Thượng Đức.

Cuối tháng 10 năm 1974, Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 trở về đội hình của sư đoàn, toàn bộ tuyến từ phía bắc 1062 đến phía nam sông Vu Gia, dãy Hữu Chinh, Tràng Chổi bàn giao lại cho Sư đoàn 304 đảm nhiệm.

Đầu tháng 11 năm 1974, quân dù ngụy không hoàn thành nhiệm vụ chiếm điểm cao 1062, địch thay lính dù bằng lính thủy quân lục chiến. Sư đoàn 304 đã tổ chức nhiêu lần tập kích mỏm A điểm cao 1062 nhưng không thắng lợi. Đến cuối tháng 11, các chiến trường phía nam hoạt dộng mạnh, địch rút lực lượng mạnh là sư đoàn dù về bảo vệ phía nam khu vực điểm cao 1062, còn ở vùng B Đại Lộc chủ yếu là địa phương quân và thủy quân lục chiến.

Cuối tháng 11, ta tổ chức tập kích giành lại được toàn bộ điểm cao 1062, lực lượng thủy quân lục chiến ngụy phải lui về giữ dãy núi Sơn Gà, bình độ 700, Ái Nghĩa, Núi Đất. Ở vùng B Đại Lộc địch cũng lui sâu về phía đồng bằng. Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 cũng bao vây áp sát địch ở đồn Phú Phong và phía nam vùng B Đại Lộc, mở ra vùng giải phóng rộng lớn. Sư đoàn 304 có điều kiện vừa chốt giữ các điểm cao không cho địch lấn chiếm vừa tổ chức huấn luyện, xây dựng lực lượng sẵn sàng đảm nhiệm các nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Sang tháng 12 năm 1974, địch hầu như không tổ chức được các cuộc tiến công lấn chiếm vào vùng giải phóng của ta. Ta tổ chức nhiều đợt hoạt động sâu trong vùng địch, đánh tiêu diệt và phá hủy các trận địa pháo ở núi Đất, cầu Chìm. Đặc biệt, trận chiến đấu của Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 66 đánh tập kích vào lực lượng địch ở bình độ 300, sườn nam của bình độ 700 tiêu diệt được gần một đại đội địch, làm cho địch hoang mang và không dám nống ra vùng giải phóng.

Thời gian này, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, Quân đoàn 4 (thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1974) mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Chiến thắng Đường 14 - Phước Long là một thực tế chứng minh, quân đội ta có khả năng mở chiến dịch cấp quân đoàn, đánh chiếm các chi khu, tiểu khu quân sự của địch, giải phóng thị xã, thành phố. Thắng lợi của chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức và thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long dã củng cố vững chắc quyết tâm chiến lược đã được Bộ Chính trị xác định và cho thấy khả năng đối phó của Mỹ khi ta mở cuộc tiến công lớn.

Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng, bổ sung và hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam: Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ơ miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Ngoài chiến lược cơ bản hai năm 1975-1976, cần chuẩn bị một phương án khác, một phương hướng cực kỳ quan trọng là: nêu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Những tháng đầu năm 1975, Trung đoàn 66 tiếp tục đảm nhiệm chốt giữ điểm cao 1062, bình độ 700, bình độ 300, Hà Sông, dọc theo dường số 14 đến thôn Bàn Tân 1, Bàn Tân 2, Hà Nha 1, Hà Nha 2 và một số điểm cao ở phía tây bắc xã Đại Đồng huyện Đại Lộc. Tiểu đoàn 8 chốt giữ ở thôn Hà Nha 1, Hà Nha 2 trực tiếp tiếp xúc với địch.

Trên Mặt trận Quảng Đà, ngay từ những ngày đầu năm 1975, lực lượng dù và thủy quân lục chiến dịch đã rút hẳn vào các chiến trường phía trong. Lực lượng địch ở chiến trường Quảng Đà là lực lượng chủ lực quân đoàn 1 ngụy, về phía ta, có Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9 đang hoạt động ở chiến trường Quảng Trị). Trung đoàn 24 và Trung đoàn 66 để lại một bộ phận chốt giữ các điểm cao giáp ranh giữa ta và địch, còn lại đại bộ phận tập trung vào huấn luyện và củng cố xây dựng lực lượng. Lúc này các đơn vị đều được bổ sung quân số theo biên chế.



Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:49:17 AM
Ngày 10 tháng 2, tôi được giao nhiệm vụ quay xuống phía nam sông Vu Gia về vùng B Đại Lộc chỉ huy Tiểu đoàn 9 đang chốt giữ các cao điểm. Chúng tôi tổ chức một trận tập kích tiêu diệt được khoảng 1 đại đội địch ở đồi Cánh Bướm, cách căn cứ Phú Phong khoảng 1 cây số. Mấy ngày sau địch vẫn không dám nống ra tái chiếm mà chỉ cố thủ trong đồn Phú Phong. Chúng tôi đưa lực lượng chốt giữ đồi Cánh Bướm sát đồn Phú Phong và giữ vững vùng B Đại Lộc.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến chiến lược của Quân ủy Trung ương, ngày 4 tháng 3 năm 1975, quân và dân Tây Nguyên đồng loạt nổ súng tiến công dịch, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Lực lượng ta tiến công cắt đường số 19 và đường số 21 từ Tây Nguyên nối với đồng bằng Khu 5. Tiến công nghi binh quy mô vừa và nhỏ ở Plei Ku và Kon Tum. Tiếp đó, ngày 8 tháng 3 quân ta đánh chiếm Thuần Mẫn, cắt dường số 14 giữa Plei Ku và Buôn Ma Thuật. Ngày 9 tháng 3, ta đánh chiếm Đức Lập - Núi Lửa, cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, ta tập trung lực lượng binh chủng hợp thành lớn tiến công quân địch ở thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, đập vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

Mất Buôn Ma Thuột, địch vội vã điều 2 trung đoàn còn lại của sư đoàn 23 và liên đoàn 21 biệt động quân để phản kích, hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Sau 5 ngày liên tục tiến công, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng phản kích này của địch, rồi phát triển xuống Khánh Dương và Ninh Hòa.

Ngày 16 tháng 3, bộ đội ta tổ chức chặn dánh và truy kích địch rút chạy theo đường số 7. Đồng thời, một đơn vị bộ đội địa phương thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên đã được lệnh chặn đầu đội hình rút chạy của địch tại Củng Sơn. Đến ngày 24 tháng 3, toàn bộ quân địch rút chạy bị tiêu diệt. Chiến dịch Tây Nguyên tiếp tục phát triển xuống các tỉnh duyên hải miền Nam Trung Bộ. Lực lượng quân đoàn 2 ngụy trấn giữ trên vùng cao nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt. Toàn bộ địa bàn chiến lược Tây Nguyên rộng lớn đã được giải phóng.
Ngày 17 tháng 3, trong khi chiến dịch Tây Nguyên đang phát triển, Quân ủy Trung ương đã chuẩn bị một phương hướng hành động mới nhằm triệt để phát huy thời cơ thuận lợi đã giành được. Ngày 18 tháng 3, Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm trong năm 1975. Bộ Chính trị xác định phương hướng tiến công chiến lược chủ yếu là Sài Gòn, nhưng trước mắt cần tiêu diệt ngay quân khu 1 ngụy ở Huế và Đà Nẵng.

Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị nhận định rằng: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suổt 20 năm chống Mỹ, cứu nước, chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này”, do đó cần “nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng và phương hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt”.

Phương hướng chiến lược chủ yếu là tập trung lực lượng của cả nước, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam. Muốn hoàn thành nhiệm vụ cơ bản đó, nhiệm vụ chiến lược trước mắt là tiến hành một trận quyết chiến chiến lược đánh chiếm Huế - Đà Nẵng, tiêu diệt quân đoàn 1 ngụy không cho chúng co về Sài Gòn. Nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức khôi chủ lực Tây Nguyên thành lập Quân đoàn 3 thành binh đoàn cơ động chiến lược của Bộ. Bộ Chính trị cũng quyết định thành lập Hội đồng chi viện chiến trường do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch.

Chiến dịch Trị Thiên - Huế và Chiến dịch Đà Nẵng hoạt động trọng tâm của ta tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên. Quân ủy Trung ương dự kiến hai khả năng và hai phương án tiến công Đà Nẵng. Một là, địch co lại và phòng thủ Đà Nẵng có tổ chức và tương đối vững chắc thì ta sử dụng Quân đoàn 2 và nhanh chóng đưa Quân đoàn 1 vào cùng lực lượng Quân khu 5 tổ chức một trận hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh chiếm Đà Nẵng. Hai là, địch tan vỡ, bị tiêu diệt nặng và Đà Nẵng bị cô lập thì nắm thời cơ, nhanh chóng phát triển tiến công, đánh chiếm Đà Nẵng với lực lượng tại chỗ là chính. Tình hình diễn biến hết sức nhanh chóng theo khả năng thứ hai.

Trên hướng bắc, ngày 17 tháng 3, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 đánh sớm hơn dự kiến vì địch ở đây đang dao động mạnh. Hoạt động mạnh của bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương Trị - Thiên, cộng với thắng lợi của ta ở Tây Nguyên đã khiến quân địch ở Quảng Trị hoang mang rút chạy vào ngày 18 tháng 3 làm vỡ mảng phòng ngự phía bắc của chúng, gây tình trạng hoang mang rối loạn rất lớn ở khu vực Thừa Thiên - Huế.

Khi chiến dịch Tây Nguyên đã mở màn, ở phía bắc lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 bắt đầu đánh địch ở Thừa Thiên - Huế. Tại Mặt trận Quảng Đà, để chi viện cho các chiên trường, Sư đoàn 304 hoạt động ghìm chân địch, không cho địch rút khỏi các khu vực phía tây thành phố Đà Nẵng. Lúc này địch đang bị động, lúng túng, ta ở thế chủ động tiến công. Trung đoàn 66 và Trung đoàn 24 tổ chức các trận tập kích, đánh vào vị trí nào thì địch phải rút chạy khỏi vị trí đó. Do vậy ta đã cải thiện được thế trận tiến công rất lớn và càng có điều kiện để củng cố xây dựng lực lượng ta ngày càng vững mạnh.

Từ đầu tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 9 được lệnh giao lại toàn bộ trận địa phía nam sông Vu Gia cho Trung đoàn 24. Tiểu đoàn 9 rút về phía bắc sông Vu Gia để củng cố lực lượng và tổ chức huấn luyện. Những ngày đầu tháng 3 năm 1975, địch chủ yếu ở từ núi Đất - Ái Nghĩa về đến Hiếu Đức, cầu Chìm, bộ đội ta từng bước áp sát đồng bằng huyện Đại Lộc. Tiểu đoàn 8 chốt giữ thôn Bàn Tân 1, Bàn Tân 2, Hà Nha 1, Hà Nha 2 thuộc xã Đại Đồng chỉ cách địch một cánh đồng khoảng 300-500 mét. Hai bên chỉ dùng hỏa lực bắn vào trận địa của nhau là chính.

Ngày 20 tháng 3, tôi được giao nhiệm vụ xuống Tiểu đoàn 8 để cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn bàn cách tổ chức một trận tập kích vào cụm địch đóng đối diện, cách thôn Bàn Tân khoảng 500 mét. Chúng tôi tổ chức trinh sát nắm tình hình địch, hạ quyết tâm chiến đấu. Tiểu đoàn 8 quyết tâm sử dụng Đại đội 5 và Đại đội 6 thực hành tập kích vào quân địch co cụm, Đại đội 7 vẫn tiêp tục chốt giữ các trận địa đảm nhiệm. Đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng 3, chúng tôi sẽ nổ súng tiến công. Sau đó, chúng tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng trung đội của các đại đội.

Rạng sáng ngày 24 tháng 3, bất ngờ địch dùng pháo binh bắn chế áp rất mãnh liệt vào các trận địa chốt của Tiểu đoàn 8 và các điểm cao ở phía sau. Máy bay địch đánh phá rất ác liệt vào phía sau trận địa phòng ngự của Tiểu đoàn 8. Khoảng 7 giờ sáng, khi đang quan sát ở trận địa phía trước, chúng tôi phán đoán địch dùng hỏa lực đánh mạnh như vậy thì tiếp sau sẽ cho bộ binh tập kích vào trận địa của ta. Sau khi hội ý, tôi cùng đồng chí Tiểu đoàn trưởng Lê Thanh Tư, đồng chí Hoàng Trọng Tình - Chính trị viên tiểu đoàn triệu tập các đồng chí chỉ huy Đại đội 5 và Đại đội 6 để giao nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch tiến công vào trận địa của ta. Đúng lúc đó đài quan sát của Tiểu đoàn 8 báo cáo về có một người phụ nữ một tay dắt một em bé khoảng 10 tuổi, một tay bế một em bé đang chạy về phía trận địa của chúng tôi. Được tin, tôi ra lệnh không được nổ súng bắn vào họ. Thật lạ, phía trước trận địa của chúng tôi là những bãi mìn được bố trí dày đặc khi đơn vị tổ chức phòng ngự nhưng người phụ nữ này hầu như không vấp phải quả mìn nào. Chị ta chạy đến công sự phòng ngự của Đại đội 5 và nói: các ông Quân giải phóng ơi, lính quốc gia đang bỏ chạy về phía Đà Nẵng rồi! Lúc này pháo của địch vẫn bắn rất mạnh vào trận địa của chúng tôi. Chúng tôi quan sát thấy có xe cơ giới đang rút chạy theo đường số 14 về phía Ái Nghĩa. Tôi liền lấy điện thoại điện về sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn báo cáo với Trung đoàn trưởng Nguyễn Sơn Văn là lực lượng địch phía trước mặt chúng tôi đã rút chạy. Một lát sau, đồng chí Nguyễn An - Sư đoàn trưởng gọi điện trực tiếp cho tôi hỏi: Có đúng địch đã rút chạy không? Cậu quan sát thấy thế nào? Tôi báo cáo lại: Lực lượng địch phòng ngự phía trước mặt chúng tôi đã rút khỏi trận địa phòng ngự, có tiếng xe cơ giới chạy về phía Ái Nghĩa và đã có người dân ở thôn Một xã Đại Đồng chạy vào trận địa của chúng tôi báo như vậy. Chúng tôi đã cử trinh sát sang kiểm tra thì thấy đúng là địch đã rút chạy. Lúc này đồng chí Sư đoàn trưởng và đồng chí Trung đoàn trưởng Sơn Văn ra lệnh cho tôi: Chỉ huy Tiểu đoàn 8 nhanh chóng rời khỏi trận địa để truy kích địch. Sau khi nhận lệnh, chúng tôi tổ chức cho Tiểu đoàn 8 xuất kích truy kích địch theo dọc đường số 14. Đến cuối xã Đại Đồng giáp thị trấn Ái Nghĩa, chúng tôi gặp địch và biết dịch tổ chức rút quân theo kiểu sâu đo, bộ phận này chốt chặn thì bộ phận kia rút, cứ như thế lần lượt từng bộ phận một. Thấy vậy, chúng tôi liền triển khai lực lượng đi đầu của Tiểu đoàn 8 là Đại đội 5 chiến đấu tiêu diệt địch còn lại ở xã Đại Đồng. Sau hơn một giờ đồng hồ chiến đấu quyết liệt, quân địch tháo chạy.

Đến chiều tối 25 tháng 3, bộ đội Tiểu đoàn 8 đã áp sát thị trấn Ái Nghĩa, nhưng bọn địch phòng ngự ở đây rất mạnh, chúng dùng các loại hoả lực bắn trả quyết liệt để ngăn chặn ta từ xa. Tiểu đoàn 8 không phát triển chiến đấu được, buộc phải dừng lại ở khu vực cuối xã Đại Đồng và giáp thị trấn Ái Nghĩa.

Tối hôm đó, qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam chúng tôi vô cùng phấn khởi được tin thành phố Huế đã được hoàn toàn giải phóng. Với niềm vui lớn và đầy tự hào, tôi cùng các đồng chí cán bộ Tiểu đoàn 8 tiếp tục làm công tác chuẩn bị chiến đấu cho ngày tiếp theo và kiểm tra, động viên bộ đội.

Cả ngày 26 tháng 3 chúng tôi không phát triển chiến đấu được vì địch đánh trả rất quyết liệt. Đêm 27 tháng 3, chúng tôi đưa lực lượng đi trinh sát nắm địch. Lúc này toàn bộ Trung đoàn 66 đã dồn lên theo sau hướng của chúng tôi và hình thành hai hướng tiến công. Hướng tiến công chủ yếu dọc theo đường số 14. Hướng thứ yếu tiến công theo sườn núi Sơn Gà, bình độ 700 phía bắc thị trấn Ái Nghĩa. Đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Sơn Văn, Chính ủy Lê Xuân Lộc cùng Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn cũng cơ động theo sau để trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9.

Lúc này tôi đang chỉ huy Tiểu đoàn 8 ở phía trước. Khoảng 8 giờ tối 27 tháng 3, đồng chí Nguyễn Sơn Văn - Trung đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn An - Sư đoàn trưởng đến vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn 8 gặp chúng tôi giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trinh sát nắm địch trong thị trấn Ai Nghĩa và trận địa pháo ở Hà Châu. Khi tổ trinh sát lên nắm địch ở ngã ba đường số 14, một đường đi về Đà Nẵng, một đường đi về Hội An, thì tổ đi đầu gặp địch nổ súng, ta bị hy sinh hai đồng chí. Lúc này chúng tôi dùng súng cối 82 ly bắn chế áp vào trận địa pháo ở Hà Châu và lực lượng địch ở ngã ba thị trấn Ái Nghĩa. Đồng chí Nguyễn An giao nhiệm vụ tiếp cho chúng tôi là nắm tiếp địch, không cho chúng rút chạy tiếp về phía Đà Nẵng. Nhưng do đêm tối và chưa nắm chắc địch nên Tiểu đoàn 8 vẫn chưa tổ chức tiến công được.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:51:37 AM
Đến rạng sáng ngày 28 tháng 3, chúng tôi tổ chức lực lượng Đại đội 6, Đại đội 7 tổ chức đánh chiếm ngã ba thị trấn Ái Nghĩa, một mũi đánh vào trận địa pháo ở Hà Châu. Sau khi chúng tôi nổ súng được khoảng một giờ thì địch rút chạy. Chúng tôi tiếp tục truy kích theo trục đường số 14 về Hiếu Đức. Lúc này đội hình địch chạy phía trước cách chúng tôi khoảng 500 mét. Quân địch vừa chạy vừa bắn ngăn chặn. Chúng tôi truy kích phía sau đã cố gắng tăng tốc độ nhưng cũng không rút ngắn được khoảng cách là bao. Có lẽ do bộ đội phải phòng ngự nhiều ngày và mang vác nặng nên sức vận động bị hạn chế. Trong ngày 28 tháng 3, pháo lớn của ta từ đèo Mũi Trâu, đèo Hải Vân và phía nam Đà Nắng bắn phá vào sân bay, quân cảng và trạm ra-đa ở bán đảo Sơn Trà, quân địch ở Đà Nẵng càng hỗn loạn.

Khoảng 10 giờ ngày 28 tháng 3, chúng tôi truy kích địch đến ngã ba quận lỵ Hiếu Đức. Tại đây dịch phòng ngự rất mạnh, chống trả quyết liệt. Địa hình ở đây chỉ có trục đường số 14 độc đạo, còn hai bên là cánh đồng lúa trống trải, địch lợi dụng bìa làng của thôn Hòa Phong 1, Hòa Phong 2 để phòng ngự từ xa cách quân lỵ Hiếu Đức về khoảng 1 cây số và dùng hỏa lực bắn quyết liệt về phía chúng tôi. Tiểu đoàn 8 buộc phải dừng lại triển khai đội hình chiến đấu, đến 1 giờ chiều ngày 28 tháng 3, thì triển khai xong đội hình. Để nhanh chóng đánh chiếm quân lỵ Hiếu Đức, Ban chỉ huy Trung đoàn quyết định tiến công thành hai hướng. Tiểu đoàn 8 do tôi chỉ huy đánh dọc theo đường số 14 và phía nam đường số 14 vào các thôn Hòa Phong 1, Hòa Phong 2. Tiểu đoàn 9 đánh địch phía tây bắc đường số 14, tiến thẳng vào quận lỵ Hiếu Đức.

Trước khi bộ đội xung phong, hỏa lực pháo binh của trung đoàn và sư đoàn bắn chế áp vào các mục tiêu 15 phút. Lợi dụng trong khi pháo binh ta bắn chế áp địch, bộ đội Tiểu đoàn 8 nhanh chóng vận động vượt qua cánh đồng lúa trống trải và áp sát vào bìa làng Hòa Phong 1, Hòa Phong 2. Sau khi pháo binh chuyển làn, bộ đội ta đã đồng loạt xung phong. Trận chiến đấu kéo dài đến khoảng 3 giờ chiều ngày 28 tháng 3 thì địch rút chạy khỏi ngã ba và quận lỵ Hiếu Đức. Chúng tôi vượt qua Hiếu Đức khoảng 1 cây số thì lực lượng đi đầu gặp sông Túy Loan chặn ngang. Quân địch ở bên kia bờ sông Túy Loan hầu hết là tàn quân từ Ái Nghĩa và Hiếu Đức chạy về và bọn bảo an đang chốt ở cầu Tuý Loan đang tiến thoái lưỡng nan vì Đà Nẵng cũng đang bị ta pháo kích nên buộc phải liều chết chống trả. Phía sau làng Tuý Loan là căn cứ Hoà Cầm - từng là trung tâm huấn luyện của quân khu 1 ngụy nên được phòng ngự rất mạnh. Do vậy, ngay lúc này chúng tôi không thể vượt qua sông để đánh sang. Toàn bộ đội hình Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 9 đều phải dừng lại.

Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 3, toàn bộ đội hình Trung đoàn 66 triển khai chiến đấu ở phía tây sông Túy Loan. Sáng ngày 29 tháng 3, sư đoàn và trung đoàn tiếp tục dùng pháo binh bắn chế áp mãnh liệt vào lực lượng địch phòng ngự ở phía đông sông Túy Loan, và căn cứ Hòa Cầm. Đến 7 giờ sáng, chúng tôi vẫn chưa vượt qua dược sông Túy Loan. Khoảng 8 giờ chúng tôi thấy địch phòng ngự bắn trả yếu ớt. Tiểu đoàn 8 đưa một trung đội vượt qua cầu Túy Loan, đánh chiếm và tiêu diệt dịch ở bên kia cầu, địch bỏ chạy. Ngay sau đó toàn bộ Trung đoàn 66 vượt qua sông Túy Loan tiến vào căn cứ Hòa Cầm.

Phía tây căn cứ Hòa Cầm địch đã bỏ chạy nhưng lực lượng địch ở phía đông căn cứ Hòa Cầm vẫn còn. Chúng tôi lại tiếp tục triển khai đội hình chiến đấu. Khoảng 9 giờ sáng ngày 29 tháng 3, toàn bộ lực lượng địch ở căn cứ Hòa Cầm tháo chạy về phía Đà Nẵng.

Ngay sau khi quân địch rút chạy khỏi Hoà Cầm, nhân dân hai bên đường số 14 đổ ra đường vẫy chào Quân giải phóng. Trên mặt đường, khi tháo chạy quân địch vứt ngổn ngang các vũ khí, trang bị. Chúng tôi nhanh chóng cho bộ đội phát triển chiến đấu về phía sân bay Đà Nẵng. Được nhân dân giúp đỡ, chúng tôi dùng một số xe lam, xe vận tải nhỏ chở bộ đội truy kích địch. Khoảng 10 giờ sáng 29 tháng 3, chúng tôi vào được cổng phía tây sân bay Đà Nẵng và phát triển chiếm giữ toàn bộ sân bay Đà Nẵng. Cùng thời gian này, Trung đoàn 9 đánh từ hướng tây bắc về Đà Nẵng. Trung đoàn 24 đánh từ Cầu Chìm theo đường số 1 ra phía nam sân bay Đà Nẵng. Sư đoàn 2 Quân khu 5 đánh từ Hội An lên sân bay Nước Mặn giải phóng bán đảo Sơn Trà.

Đứng trên tháp chỉ huy sân bay, tôi quan sát về phía thành phố Đà Nẵng, nhà cửa san sát, nhà cao tầng xen lẫn các nhà lợp tôn trắng chen lẫn nhau. Xa hơn về phía đông, vịnh Đà Nẵng màu nước xanh thẫm phản chiếu ánh sáng mặt trời lấp lánh trên mặt biển như ngàn vì sao giữa trưa hè. Bán đảo Sơn Trà sừng sững chắn phía đông bắc thành phố, trên đỉnh có mấy trạm ra-đa của địch to đồ sộ. Và xa hơn về chân trời phía đông là biển Đông xanh ngắt... Trong tôi, khoảnh khắc này không khỏi xúc động, bồi hồi nhớ về quê nhà, nhớ về những người thân, nhớ về người vợ trẻ ngày ngày đang ngóng tin chồng nơi chiến trường nóng bỏng, nhớ về miền Bắc thân yêu, nhớ về các đồng đội đã ngã xuống trong các trận đánh quyết liệt và muốn nói thật to lên rằng: Đà Nẵng - thành phố lớn bậc nhì ở miền Nam đã được giải phóng rồi!

Đến chiều 29 tháng 3, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn được giải phóng.

Tối 29 tháng 3, tôi đi một vòng kiểm tra các đơn vị. Tiểu đoàn 8 chiếm giữ khu vực tây nam sân bay Đà Nẵng. Tiểu đoàn 9 ở phía đông sân bay Đà Nẵng. Tiểu đoàn 7 và Trung đoàn bộ ở căn cứ Hòa Cầm. Sau khi kiểm tra các đơn vị của Tiểu đoàn 8 xong, mấy anh em chúng tôi lên một chiếc xe GMC thu được của địch do một người dân ở cổng phía tây sân bay Đà Nẵng lái, chạy một vòng trên đường thành phố. Đi đến đâu chúng tôi cũng gặp nhân dân đổ ra dường, đông đúc, với những nét mặt hớn hở, ánh mắt, nụ cười đầy ắp niềm vui, tay cầm cờ hoa xen lẫn với các chiến sĩ Quân giải phóng đón chào một ngày mới - ngày đổi đời được sống tự do sau hơn hai mươi năm bị Mỹ và chế độ ngụy Sài Gòn kìm kẹp. Đi qua các căn cứ quân sự của quân đội ngụy trước đây chúng tôi thấy đều có bộ đội ta chiếm giữ. Các ngã ba, ngã tư, các chiến sĩ Quân giải phóng đã đứng chốt để bảo đảm an ninh, trật tự trên đường phố.

Khoảng 9 giờ tối 29 tháng 3 tôi về vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 8. Sau dó, tôi và đồng chí trợ lý tác chiến và tổ thông tin bộ đàm đi về sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn đóng tại căn cứ Hòa Cầm. Tôi báo cáo lại tình hình của Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Sơn Văn và Chính ủy Lê Xuân Lộc. Sau dó, Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý xác định nhiệm vụ và phân công các đồng chí trong Ban chỉ huy Trung đoàn xuống các đơn vị để kiểm tra và nắm tình hình. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là giải quyết chính sách thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm, chủ yếu súng M79, máy thông tin PRC 25 và đạn, gạo bổ sung cho dự trữ sẵn sàng chiến đấu.

Đêm 29 tháng 3, khi nằm trên cánh võng tôi mới thấy mình mệt nhoài, mắt cứ díp lại không cưỡng lại được. Thoáng nghĩ đã từ rất lâu rồi, tôi chưa tự cho phép mình được ngủ một giấc thoải mái mà không phải lo nghĩ gì. Thế rồi tôi cũng không biết mình ngủ thiếp đi từ lúc nào ngập tràn trong niềm vui chiến thắng.

Sáng ngày 30 tháng 3, tôi và đồng chí Bùi Sáu - Phó Chính ủy Trung đoàn xuống kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 tổ chức bảo vệ các doanh trại của quân đội ngụy trước đây mà hiện nay chúng tôi đang đóng quân. Doanh trại của chúng hầu hết là nhà khung lắp ghép bằng thép lợp tôn, vách trần bằng gỗ dán nên rất dễ bị cháy. Chúng tôi quán triệt cho bộ đội nhận rõ là mấy ngày trước đây là tài sản của địch, nhưng nay là tài sản của ta, nên ta phải giữ gìn, bảo quản để sử dụng, đặc biệt chú ý công tác phòng cháy.

Tại sân bay Đà Nẵng, chúng tôi trú quân trong các doanh trại ngoài phạm vi đường băng. Các loại xe vận tải quân sự, xe Jeep, quần áo, súng đạn và trang bị của quân đội ngụy vứt ngổn ngang. Chúng tôi giao nhiệm vụ cho các tổ trinh sát đi kiểm tra để xác định chính xác vị trí kho lương thực, kho vũ khí, kho xăng dầu. Phát hiện đến đâu, chúng tôi cử bộ đội chốt giữ và bảo vệ đến đó.

Đi đến phía nam sân bay, gần cuối đường băng thấy mấy chiếc xe Jeep còn mới, tôi liền lên kiểm tra thấy bình xăng còn đầy, xe vẫn hoạt động tốt, tôi lái thử xe vẫn chạy tốt. Vì trước khi vào bộ đội tôi đã được học lái xe ở Nhà máy Thủy điện Thác Bà nên tôi lái xe rất thành thạo. Thế là tôi dùng chính chiếc xe đó để đi kiểm tra các đơn vị. Tôi lái xe đến Ban chỉ huy Tiểu đoàn 8, rồi sang Tiểu đoàn 9 nắm lại tình hình của các đơn vị trong ngày 30 tháng 3. Tiểu đoàn 9 báo cáo: Phát hiện được một kho gạo rất lớn ở khu doanh trại phía tây bắc sân bay. Sau đó tôi về báo cáo Ban chỉ huy Trung đoàn và Bộ Tư lệnh Sư đoàn về tình hình đóng quân của các đơn vị, bộ đội đang tiến hành thu dọn vệ sinh doanh trại và củng cố nơi ăn ở; đồng thời báo cáo về kho gạo vừa phát hiện được ở phía bắc sân bay Đà Nẵng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn yêu cầu trung đoàn phải giữ gìn để bộ phận hậu cần sư đoàn xuống kiểm tra số lượng, chất lượng, báo cáo cấp trên về kế hoạch cấp phát cho các đơn vị.

Chiều ngày 30 tháng 3, chúng tôi nhận được nhiệm vụ sư đoàn giao: ngày 1 tháng 4 tổ chức rút quân ra khỏi sân bay Đà Nẵng, sở chỉ huy Trung đoàn cơ động về quận lỵ Hiếu Đức. Tiểu đoàn 9 về đứng chân ở xã Hòa Phong, Tiểu đoàn 8 đứng chân ở xã Hòa Sơn, Tiểu đoàn 7 đứng chân ở xã Hòa Khương, sở chỉ huy Sư đoàn 304 đóng tại căn cứ Hòa Cầm.

Được phép của Bộ Tư lệnh Sư đoàn, Ban chỉ huy Trung đoàn chúng tôi sử dụng mỗi người một chiếc xe Jeep, mấy ngày đầu chưa có lái xe, tôi tự lái đi kiểm tra các đơn vị. Sau đó, một số đồng chí trước khi vào bộ đội cũng đã học lái xe hoặc từng lái máy cày bánh lốp ở miền Bắc được chúng tôi điều lên làm lái xe. Lúc này, Trung đoàn 66 có 1 đại đội vận tải cơ giới với hơn 10 xe GMC thu được của địch làm nhiệm vụ chở quân, vận tải lương thực, đạn dược.

Mấy ngày sau đó, Ban chỉ huy Trung đoàn chỉ đạo các đơn vị củng cố, tiếp nhận bổ sung quân số, đạn dược, lương thực, thực phẩm và làm công tác vận động quần chúng ở các địa bàn đơn vị đóng quân. Lúc này, từ chiến trường Tây Nguyên, Quân đoàn 3 phát triển tiến công theo các trục đường số 7, 19 và 21, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giải phóng các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, trong đó có quân cảng Cam Ranh.

Từ đầu tháng 4 năm 1975, trong quá trình giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ, Bộ Chính trị đã quyết định nhanh chóng giải phóng các đảo do quân ngụy Sài Gòn đóng giữ thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Quân ủy Trung ương đã giao nhiệm vụ này cho Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân thực hiện. Đêm 13 rạng sáng ngày 14 tháng 4 năm 1975, lực lượng Quân khu 5 và hải quân đã giải phóng đảo Song Tử Tây. Đêm 28 rạng sáng ngày 29 tháng 4, quân ta giải phóng các dảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, An Bang và Trường Sa. Thắng lợi này tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 09:55:15 AM
Chương bốn
THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ


Sau khi mất quân khu 1 và quân khu 2, chính quyền Sài Gòn tính toán rằng ta phải mất hai tháng nữa mới tiếp tục tiến công được, nên chủ trương tổ chức tuyến phòng ngự từ xa, giữ toàn bộ quân khu 3 và quân khu 4, ngăn chặn và làm chậm bước tiến công của ta cho đến mùa mưa. Sau đó chúng sẽ cho quân đánh chiếm lại một số khu vực đã mất để thương lượng với ta. Chúng cho thu thập tàn quân, chấn chỉnh các lực lượng còn lại, khôi phục những đơn vị bị thiệt hại nặng, điều chỉnh bố trí nhằm cải thiện về cơ bản thế phòng ngự của chúng ở khu vực Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long. Quanh Sài Gòn, trên các hướng bắc, tây bắc, tây nam mỗi hướng được chúng bố trí từ một sư đoàn đến một sư đoàn tăng cường. Riêng hướng đông, lực lượng phòng thủ của chúng tăng dần lên đến 9 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, lính dù, lính thủy đánh bộ, 4 trung đoàn thiết giáp. Trung tâm Sài Gòn - Gia Định do một số đơn vị lính dù, biệt động, thiết giáp, các lực lượng bảo vệ căn cứ, lực lượng thuộc “Biệt khu thủ đố phòng giữ, ba sư đoàn không quân trực tiếp chi viện ở khu vực Sài Gòn - Gia Định, ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, địch có 3 sư đoàn bộ binh, 5 trung đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân, tập trung phòng giữ đoạn Tân An - Mỹ Tho. Trong thế phòng ngự mới, Phan Rang là một vị trí tiền tiêu cực kỳ quan trọng, địch đã tập trung ở đây một lực lượng hơn 2 sư đoàn kể cả bộ binh, không quân, quân dù và quân biệt động do bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 3 ngụy trực tiếp chỉ huy.

Những ngày đầu tháng 4, quân và dân cả nước dồn sức người sức của về hướng Sài Gòn - Gia Định. Quân đoàn 1 từ hậu phương lớn miền Bắc, Quân đoàn 2 từ Đà Nẵng vừa được giải phóng, Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên và nhiều đơn vị binh chủng hậu cần, kỹ thuật, hành quân thần tốc về chiến trường trọng điểm. Quân đoàn 4, Đoàn 232 (tương đương quân hàm), cùng nhân dân và lực lượng vũ trang chiến trường B2 khẩn trương mở đường, bắc cầu, cơ động lực lượng, chuẩn bị vật chất, triển khai thế trận chia cắt và bao vây chiến lược...

Từ ngày 9 đến ngày 21 tháng 4, Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9) và Sư đoàn 6 Quân khu 7 đã mở chiến dịch tiến công cấp quân đoàn, đánh chiếm thị xã Xuân Lộc và giải phóng tỉnh Long Khánh, gây thiệt hại nặng cho quân đoàn 3 ngụy, đánh quỵ sư đoàn bộ binh số 18 tổng dự bị chiến lược của quân ngụy, tạo bàn đạp tiến công Sài Gòn từ hướng đông và đông nam.

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định và quyết định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, kết hợp tiến công và nổi dậy tại sào huyệt cuối cùng của địch, chiến dịch quyết chiến chiến lược lịch sử, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, sau khi giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn 2 được Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường Sư đoàn 3 - Sao Vàng của Quân khu 5 và được lệnh hành quân bằng cơ giới vào phía nam chuẩn bị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Từ ngày 6 đến ngày 7 tháng 4, chúng tôi làm công tác chuẩn bị hành quân vào phía Nam để phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu. Sau khi nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao, Ban chỉ huy Trung đoàn 66 đã quán triệt, phổ biến nhiệm vụ cho các đơn vị, xây dựng quyết tâm và kế hoạch tổ chức hành quân. Đặc điểm cuộc hành quân lần này là toàn bộ lực lượng hành quân bằng cơ giới, đường hành quân dài, nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì chúng tôi chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức cho bộ đội hành quân bằng cơ giới. Năm 1974, Trung đoàn 66 đã hành quân bằng cơ giới trên đường Hồ Chí Minh, nhưng lúc đó là tuyến đường xuyên qua những cánh rừng già, được bố trí các trạm giao liên, nền đường đất, nhiều đèo dốc nên tốc độ hành quân chậm. Lần này, chúng tôi hành quân trên trục đường số 1, qua nhiều thị xã, thành phố mới được giải phóng, vừa hành quân, vừa sẵn sàng chiến đấu để đối phó với các tình huống có thể xảy ra như tàn quân địch còn đang ẩn náu ở các cánh rừng, máy bay địch trên không và pháo tàu chiến địch ngoài biển đánh phá dọc đường. Do vậy, trung đoàn đã tổ chức quán triệt nhiệm vụ sâu sắc, xây dựng kế hoạch hành quân cơ động cũng như các phương án chiến đấu trong hành tiến rất chu đáo và tổ chức chỉ huy chặt chẽ.

Từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4, trung đoàn tiếp nhận đơn vị xe ô tô của trên tăng cường. Ngay sau đó nhanh chóng tổ chức cho bộ đội tập lên xuống xe và xếp đội hình. Trung đoàn tổ chức sắp xếp mỗi chiếc xe Zil 157 hay Zil - Hồng Hà và xe GMC chiến lợi phẩm mới thu đảm nhiệm chuyên chở một trung đội. Trên mỗi xe, xếp các bao gạo ở hai bên thành xe làm ghế ngồi, giữa lòng xe để ba lô, bộ đội mang theo vũ khí cá nhân ngồi hai bên thành xe. Phía trước trên nóc ca-bin có bố trí hoả lực trung liên và B.40 để sẵn sàng chiến đấu. Trung đội trưởng ngồi trên ca-bin cùng lái xe, Trung đội phó ngồi trên thùng xe để chỉ huy bộ đội.

Theo kế hoạch hành quân và phân công của Ban chỉ huy Trung đoàn 66, tôi chỉ huy bộ phận đi trước làm nhiệm vụ tiền trạm. Bộ phận tiền trạm có hai trợ lý tác chiến, một trợ lý dân vận, hai chiến sĩ vệ binh, một tổ thông tin bộ đàm 2 oát và một tiểu đội thông tin truyền đạt cùng cán bộ, chiến sĩ tiền trạm của các tiểu đoàn, đại đội trực thuộc.

6 giờ sáng ngày 12 tháng 4, bộ phận tiền trạm của trung đoàn xuất phát. Xe của chúng tôi đi dọc theo quốc lộ số 1 tiến về phía nam, mặt đường còn khá tốt, chỉ có một số cầu bị hư hại nhẹ nên tốc độ hành quân khá nhanh. Các làng xóm hai bên đường cắm đầy cờ Mặt trận Giải phóng trên các nóc nhà, trên các cây cao, nhân dân đã trở lại cuộc sống thanh bình. Đoàn xe chúng tôi đi qua các làng mạc, thôn xóm của tỉnh Quảng Nam và Núi Thành - nơi đã lập nên kỳ tích đi đầu diệt Mỹ của cả nước. Trên đường vào thị xã Quảng Ngãi, nhân dân đổ ra đường rất đông, vai vác, tay cầm hoa quả, mía, chuối, dừa vẫy tay ra hiệu dừng xe để gửi tặng chúng tôi. Chấp hành kỷ luật dân vận, nên chúng tôi xin từ chối, nhưng nhân dân vẫn cứ đưa lên xe. Khoảng 3 giờ chiều ngày 12 tháng 4, chúng tôi gặp Đoàn tiền trạm của Sư đoàn 304 ở cuối thị xã Quảng Ngãi. Ngay sau đó, Đoàn tiền trạm của sư đoàn bàn giao vị trí tạm dừng cho chúng tôi. Khu vực Trung đoàn 66 được bố trí tạm dừng dọc theo trục đường số’ 1 từ nam thị xã Quảng Ngãi trỏ vào với chiều dài khoảng 4 cây số, các đơn vị trú quân vào sâu hai bên đường khoảng 1 cây số để đề phòng máy bay dịch đánh phá vào đội hình trú quân.

Tại đây chúng tôi được lực lượng du kích địa phương đón tiếp và dẫn vào các thôn xóm để bố trí vị trí trú quân cho từng đơn vị. Sau đó, tôi giao cho các bộ phận tiền trạm của các cơ quan, đơn vị bố trí vị trí trú quân cho đơn vị mình.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 10:17:19 AM
Rạng sáng ngày 13 tháng 4, đội hình Trung đoàn 66 bắt đầu xuất phát hành quân. Trước đó mấy ngày, Trung đoàn 24 cũng đã hành quân theo trục đường số 1. Đội hình Trung đoàn 66 đi trước sở chỉ huy Sư đoàn. Tiếp sau là Trung đoàn pháo binh 68. Riêng Trung đoàn 9 được hành quân bằng đường biển do tàu vận tải của hải quân chở từ quân cảng Đà Nẵng vào cảng Quy Nhơn - Bình Định. Bộ đội hành quân trên xe cơ giới với khí thế phấn khởi, vì được tiếp tục tiến sâu vào phía nam để tham gia các trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 13 tháng 4, đội hình đi đầu của Trung đoàn 66 đến vị trí tạm dừng ở nam thị xã Quảng Ngãi. Tôi chỉ huy các bộ phận tiền trạm của cơ quan, đơn vị đưa các đơn vị lần lượt vào vị trí trú quân. Ngay sau đó, tôi tranh thủ báo cáo với Ban chỉ huy Trung đoàn tình hình khu vực đóng quân và kế hoạch chặng tiếp theo của bộ phận tiền trạm.

Khoảng 10 giờ tối 13 tháng 4, bộ phận tiền trạm chúng tôi lại tiếp tục xuất phát theo trục đường số 1 tiến về tỉnh Bình Định. Xe đi trong đêm, trên con đường “Khu 5 dằng dặc khúc ruột miền Trung”, không gian thật tĩnh mịch, im ắng, các xóm làng đang êm ả chìm trong giấc ngủ của cuộc sống mới, cuộc sống độc lập, tự do. Sáng sớm ngày 14 tháng 4, khi đến thị xã Bình Định thì gặp Đoàn tiền trạm của sư đoàn đang tạm dừng để nắm tình hình ở phía trước, nên bộ phận tiền trạm của trung đoàn cũng phải tạm dừng. Sau đó chúng tôi tiếp tục chuẩn bị vị trí trú quân tạm dừng cho đơn vị. Khi đội hình của trung đoàn hành quân đến nơi và vào vị trí an toàn thì bộ phận chúng tôi lại tiếp tục đi trước.

Tối 16 tháng 4, qua sóng phát thanh, tôi và mấy anh em nghe Đài tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin chiến thắng. Cánh quân Duyên hải Quân đoàn 2 chúng tôi và Sư đoàn 3 - Sao Vàng đã đập tan tuyến phòng thủ từ xa của quân đoàn 3 ngụy ở Phan Rang, chiếm sân bay Thành Sơn, bắt hai tướng ngụy là Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang. Tôi vô cùng phấn khởi với chiến thắng to lớn của quân đoàn mình trên đường hành tiến “thần tốc” vào phía Nam và thầm mong nhanh chóng được tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Ngày 20 tháng 4, đội hình hành quân của trung đoàn tiếp tục hành quân đến thị xã Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, được biết hôm qua Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 mới giải phóng thị xã. Cũng từ đây bộ phận tiền trạm của chúng tôi trở về đội hình hành quân của trung đoàn. Tại đây sư đoàn thông báo cho biết thị xã Hàm Tân tỉnh Bình Tuy vẫn còn địch và chúng đang chuẩn bị rút chạy. Đồng chí Tham mưu trưởng quân đoàn Bùi Công Ái trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 66: Trung đoàn được tăng cường Tiểu đoàn thiết giáp 5 của Lữ đoàn 203, Tiểu đoàn pháo binh 12 của Trung đoàn pháo binh 68, 1 tiểu đoàn pháo phòng không 37 ly của Trung đoàn pháo phòng không 268, có nhiệm vụ tiến công diệt địch ở Hàm Tân, theo trục đường số 28, vận dụng phương pháp tác chiến tiến công trong hành tiến.

Lúc này, Trung đoàn 66 cách thị xã Hàm Tân khoảng 20 cây số. Sau khi nhận nhiệm vụ, Ban chỉ huy Trung đoàn 66 đã nhanh chóng hạ quyết tâm giải phóng thị xã Hàm Tân trong ngày 22 tháng 4, đồng thời hoàn chỉnh quyết tâm và các kế hoạch chiến đấu. Ban chỉ huy Trung đoàn đã khẩn trương tổ chức giao nhiệm vụ, hiệp đồng cho các đơn vị.

17 giờ ngày 22 tháng 4, toàn bộ đội hình trung đoàn và các đơn vị tăng cường đã vào vị trí tập kết chiến đấu. Đến 18 giờ cùng ngày, các đơn vị triển khai xong đội hình xuất phát tiến công. Đúng 18 giờ 40 phút ngày 22 tháng 4, Trung đoàn trưởng ra lệnh cho pháo binh thực hành hoả lực chuẩn bị vào trận địa pháo, sân bay và vào các vị trí địch đóng quân trong thị xã Hàm Tân. Sau 20 phút hỏa lực bắn chế áp, đúng 19 giờ đội hình chiến đấu của trung đoàn bắt đầu xung phong. Khi đến cầu Hàm Tân thì cầu bị sập nên ô tô chở bộ binh không vượt qua được, xe thiết giáp phải đi vòng xuống ngầm để vượt qua sông, đội hình bộ binh phải xuống xe để triển khai chiến đấu. Đến 19 giờ 45 phút, đội hình bộ binh đi đầu của Tiểu đoàn 8 đến cách sân bay chừng 300 mét, dùng hỏa lực bắn vào sân bay và xung phong đánh chiếm sân bay. Lúc này Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý và giao nhiệm vụ cho tôi trực tiếp xuống chỉ huy Tiểu đoàn 8, sau khi đánh chiếm sân bay xong chỉ để lại một bộ phận chốt giữ, còn lại đại bộ phận của Tiểu đoàn 8 nhanh chóng phối hợp với Tiểu đoàn 7 đánh vào thị xã.

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 22 tháng 4 chúng tôi bắt được liên lạc với Tiểu đoàn 7 ở bắc thị xã Hàm Tân. Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 7 tiến công từ phía bắc, Tiểu đoàn 8 tiến công từ phía tây nam theo trục đường số 28 vào thị xã. Khoảng 21 giờ ngày 22 tháng 4, chúng tôi nổ súng tiến công. Sau gần 2 giờ chiến đấu, toàn bộ lực lượng địch ở thị xã Hàm Tân bị tiêu diệt và bỏ chạy. Các đơn vị thừa thắng truy kích địch đến tận cảng biển của thị xã Hàm Tân. Sau đó trung đoàn để lại một bộ phận phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chốt giữ trong thị xã, còn hầu hết lực lượng trở về vị trí tập kết để chuẩn bị nhận nhiệm vụ tiếp theo.

Sáng ngày 23 tháng 4, trung đoàn tiếp tục hành quân trong đội hình của sư đoàn. Đêm 23 tháng 4, trung đoàn vào vị trí tập kết ở rừng cao su đồn điền Ông Quế, cách thành phố Sài Gòn khoảng 60 cây số về phía đông. Tại đây, chúng tôi được cấp trên giao nhiệm vụ tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - trận quyết quyết chiến chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trung đoàn 66 chúng tôi được giao nhiệm vụ làm lực lượng dự bị của sư đoàn, sẵn sàng thay thế các trung đoàn 9 và 24. Trung đoàn 9 đảm nhiệm tiên công vào căn cứ Nước Trong. Trung đoàn 24 đảm nhiệm tiến công vào trường sĩ quan bộ binh ngụy ở căn cứ Thái Lan trước đây, giáp căn cứ Nước Trong. Khi Trung đoàn 9 và Trung đoàn 24 hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm hai căn cứ trên thì Trung đoàn 66 có nhiệm vụ nằm trong đội hình Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 nhanh chóng tiến công theo trục đường số 15, xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa tiến vào nội đô Sài Gòn. Tiếp đó, sáng ngày 24 tháng 4, cán bộ quân sự cấp trưởng từ đại đội trở lên và các đồng chí Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó và Tham mưu trưởng đi trinh sát thực địa, nắm tình hình địch ở căn cứ Nước Trong và phía đông tổng kho Long Bình.

Ngày 25 tháng 4, các đơn vị của trung đoàn làm xong mọi công tác chuẩn bị. Lúc này, cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn với khí thế rất cao, mọi người đều hồ hởi được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đánh vào sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Trên những chiếc mũ cứng, cán bộ, chiến sĩ đều dán khẩu hiệu “Quyết tâm giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam”.

Đúng 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu, những phát pháo đầu tiên hoả lực chuẩn bị của Quân đoàn 2 và Sư đoàn 304 bắn vào căn cứ Nước Trong và trường sĩ quan bộ binh của địch. Sau giai đoạn hỏa lực chuẩn bị, bộ đội Trung đoàn 9 và Trung đoàn 24 thực hành xung phong tiến công đánh địch ở căn cứ Nước Trong và trường sĩ quan bộ binh. Suốt ngày 27 tháng 4 các đơn vị Trung đoàn 9, Trung đoàn 24 vẫn chưa đánh chiếm được các mục tiêu đã định. Quân địch dựa vào công sự kiên cố và thế phòng ngự vững chắc của các căn cứ trước đây Mỹ và chư hầu từng đóng giữ để chống trả ta quyết liệt. Cuộc chiến đấu diễn ra rất gay go, căng thẳng.

Đến sáng ngày 28 tháng 4, địch vẫn chống trả quyêt liệt. Trung đoàn 9 vẫn chưa đánh chiếm được căn cứ Nước Trong. Chỉ huy Sư đoàn 304 lệnh cho Trung đoàn 66 đưa Tiểu đoàn 7 lên tăng cường chiến đấu cho Trung đoàn 9. Tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy Tiểu đoàn 7 cơ động lên chi viện cho Trung đoàn 9. Khoảng 9 giờ ngày 28 tháng 4, khi Tiểu đoàn 7 đến sở chỉ huy Trung đoàn 9, đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 sẵn sàng vào chiến đấu nếu hướng chủ yếu của Trung đoàn 9 gặp khó khăn. Nhưng đến khoảng 10 giờ ngày 28 tháng 4, hướng chủ yếu của Trung đoàn 9 đã phát triển chiến đấu thuận lợi. Đến chiều ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 9 làm chủ hoàn toàn căn cứ Nước Trong. Trung đoàn 24 đã làm chủ được trường sĩ quan bộ binh đồng thời đánh chiếm được ngã ba Thái Lan và cầu sông Buông trên đường số 15. Được lệnh của sư đoàn, tôi và Tiểu đoàn 7 trở về đội hình chiến đấu của trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 10:24:51 AM
Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4, các đơn vị của Trung đoàn 66 đã tập kết ở ngã ba Thái Lan, cạnh trục đường số 15 đi vào căn cứ Nước Trong. Đây là một rừng cao su rậm rạp. Từ lúc này, Trung đoàn 66 nằm trong đội hình lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2. Căn cứ vào ý định thọc sâu và sử dụng lực lượng của quân đoàn, trung đoàn tổ chức bố trí đội hình chiến đấu như sau: Đại đội 2 của Tiểu đoàn 7, mỗi tiểu đội ngồi trên một chiếc xe tăng của phân đội đi đầu trong đội hình dẫn Lữ đoàn xe tăng 203. Lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 7 ngồi trên xe thiết giáp và xe ô tô. Cứ mỗi trung đội ngồi trên một chiếc ô tô. Sau đội hình Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203 là đội hình Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9, mỗi trung đội cũng ngồi trên một chiếc ô tô vận tải quân sự.

Để thực hành tiến công trong hành tiến, chúng tôi bố trí bộ đội ngồi trên xe theo tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu, có thể phát huy được hỏa lực, hoặc khi nhảy ra khỏi xe triển khai đội hình chiến đấu được ngay. Tôi được phân công chỉ huy Tiểu đoàn 7 đi đầu đội hình tiến công hành tiến của trung doàn. Tôi đi trên chiếc xe Jeép do dồng chí Đào Ngọc Vân, quê ở Thanh Hóa lái, đi cùng với tôi còn có đồng chí Nguyễn Khắc Nhu - Trung úy, Trợ lý tác chiến, một chiến sĩ vệ binh, một chiến sĩ truyền đạt là đồng chí Nguyễn Huy Hoàng và đồng chí Bàn Nguyên Thất - chiến sĩ thông tin 2 oát.

Đến 15 giờ ngày 29 tháng 4, khi đội hình hành tiến của Tiểu đoàn 7 đã triển khai xong, tôi dùng máy thông tin 2 oát báo cáo về Ban chỉ huy Trung đoàn là Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 đã nhập vào đội hình xe tăng, mọi công tác chuẩn bị đã sẵn sàng. Đúng 17 giờ, lực lượng thọc sâu xuất phát. Xe chúng tôi và xe Ban chỉ huy Tiểu đoàn 7 đi sau phân đội xe tăng đi đầu của tiểu đoàn xe tăng thuộc Lữ đoàn 203. Đến 19 giờ ngày 29 tháng 4, phân đội xe tăng đến cầu sông Buông. Trên trời có rất nhiều tiếng máy bay các loại, nhưng không thấy chúng đánh phá (sau này tôi mới biết đó là các máy bay địch chở người di tản và một số sĩ quan, công chức cao cấp của ngụy bỏ chạy ra Vũng Tàu). Do cầu sông Buông bị địch phá hỏng, nên đội hình hành tiến phải tạm dừng chờ bộ đội công binh của quân đoàn và sư đoàn khắc phục. Đến 21 giờ tối 29 tháng 4, Binh đoàn thọc sâu lại tiếp tục hành tiến. Do cầu yếu, chỉ từng xe một vượt cầu nên mất khá nhiều thời gian. Khoảng 23 giờ tối 29 tháng 4, đầu đội hình đến ngã ba Long Bình và đầu cầu xa lộ qua sông Đồng Nai. Đây là một chiếc cầu lớn và quan trọng trên xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà, bộ đội đặc công của ta đã đánh chiếm và chốt giữ từ mấy ngày trước. Ngay tại đầu cầu xa lộ, do đêm tối, chiếc xe tăng đi đầu lao lên dải phân cách nên bị đội bụng, xích quay tại chỗ không chạy được nên toàn bộ đội hình phải dừng lại.

Sau đó, chúng tôi phải cho bộ đội xuống xe và tìm cách khắc phục sự cố được bằng cách kéo chiếc xe tăng bị đội bụng lùi lại. Tới gần 24 giờ tối 29 tháng 4, đội hình hành tiến thọc sâu theo đường xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa lao thẳng về hướng Sài Gòn. Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4, chúng tôi đến ngã ba xa lộ Đại Hàn thì gặp địch đang tổ chức chốt chặn, chúng dùng hoả lực bắn vào đội hình của ta. Bộ phận đi đầu đội hình đã triển khai đội hình xe tăng và bộ binh đánh trả quân địch. Trận đánh diễn ra được khoảng từ 15 đến 20 phút thì địch bỏ chạy, bộ đội ta lại tiếp tục hành tiến. Khoảng 5 giờ sáng ngày 30 tháng 4, bộ đội ta qua cầu Rạch Chiếc, cầu này cũng đã có bộ đội đặc công ta đánh chiếm từ ngày hôm trước và kiên cường chốt giữ cầu không cho địch phá hoại. Đến 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, phân đội xe tăng đi đầu cùng Đại đội 2 đến đầu cầu Sài Gòn. Khi thấy xe tăng và bộ binh ta, quân địch đã chống trả quyết liệt. Trên đỉnh dốc cầu, địch bố trí các ụ súng dã chiến bằng thùng phi đổ đất đặt hoả khí chống tăng và mấy chiếc xe tăng M.41 liên tục bắn chặn vào phân đội xe tăng đi đầu của ta. Cùng lúc đó, địch ở hai bên đầu cầu phía bên kia sông Sài Gòn dùng hỏa lực xe tăng và pháo bắn thẳng bắn sang đội hình của chúng tôi rất ác liệt. Dưới sông Sài Gòn có nhiều tàu chiến và giang thuyền chạy ngang, chạy dọc mặt sông, chúng dùng pháo và các hoả khí bắn chặn quyết liệt về đầu cầu phía bắc. Lúc nàv, tôi báo cáo nhanh với dồng chí Trung đoàn trưởng là đội hình đi dầu bị địch bắn trả rất quyết liệt phải dừng lại triển khai chiến đấu. Trung đoàn trưởng Nguyễn Sơn Văn ra lệnh cho tôi chỉ huy triển khai Tiểu đoàn 7 phối hợp cùng lực lượng xe tăng của Lữ đoàn 203 nhanh chóng tiêu diệt địch, đánh chiếm cầu và vượt qua cầu bằng được, không để địch phá cầu. Tôi cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn 7 điều Trung đội ĐKZ 75 của tiểu đoàn, đồng thời trung đoàn cũng điều Đại đội ĐKZ 75 của trung đoàn lên phía trước. Ngay sau đó, hoả lực xe tăng, pháo 85 ly bắn thẳng của sư đoàn và ĐKZ 75, B.40, B.41, 12,7 ly của Tiểu đoàn 7 đồng loạt chế áp hỏa lực vào quân địch trên cầu, bên kia cầu và tàu của chúng dưới sông. Khoảng 20 phút sau, bộ đội ta bắn cháy 2 chiếc xe tăng M.41 trên đỉnh cầu Sài Gòn, bắn cháy và chìm 2 tàu chiến địch trên sông Sài Gòn, số tàu chiến địch còn lại vội chạy xuôi theo sông Sài Gòn.

Lúc này tôi quan sát thấy trên tháp pháo một chiếc xe tăng của ta có một đồng chí bi thương nặng gục xuống, chiến sĩ bộ binh và các đồng chí pháo thủ đưa đồng chí đó xuống mặt đường để băng bó, cấp cứu, được một lúc thì đồng chí đó hy sinh. Sau này tôi mới được biết đó là đồng chí Ngô Văn Nhỡ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn xe tăng đi đầu đội hình của Lữ đoàn 203. Tại đầu cầu Sài Gòn, ta bị địch bắn trả làm cháy 2 xe tăng, một xe bị đứt xích, hy sinh và bị thương một số đồng chí. Một số cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 7 cũng bị thương vong ở ngay đầu cầu Sài Gòn.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4, địch vẫn chống trả rất quyết liệt, trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra liên tục và rất ác liệt. Đến khoảng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, quân địch chống trả yếu ớt, sau đó bỏ chạy.

Lúc này đồng chí Hoàng Đan - Phó Tư lệnh Quân đoàn và đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Sơn Văn đã trực tiếp đến vị trí tôi đang chỉ huy Tiểu đoàn 7 chiến đấu. Đồng chí Hoàng Đan ra lệnh cho tôi phải nhanh chóng đưa bộ đội vượt qua cầu để chiếm giữ đầu cầu bên kia, không cho dịch phá cầu. Tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 7 lên xe bám theo lực lượng xe tăng nhanh chóng vượt qua cầu. Lúc này trên mặt cầu, hai chiếc xe tăng M.41 của địch đang cháy rất dữ dội, từng xe một phải lách thật nhanh đổ vượt qua vì lửa bốc rất cao, đạn trong xe tăng vẫn nổ dữ dội. Khi mấy chiếc xe tăng của ta qua được đầu cầu bên kia thì tôi cũng lên xe Jeep lao theo.

Đội hình hành tiến của lực lượng thọc sâu tiếp tục tiến thẳng vào nội đô Sài Gòn. Đến ngã tư Hàng Xanh, vì không biết đường vào nội đô nên xe chúng tôi phải dừng lại để hỏi dường. Lúc này địch đã rút khỏi cầu Sài Gòn chạy vào nội đô, nhưng nhân dân vẫn chưa dám ra đường, mà đóng kín cửa ở trong nhà. Chúng tôi phải vào nhà dân để hỏi đường vào dinh Độc Lập, có tiếng nói vọng ra: Quân giải phóng quẹo tay trái vượt qua cầu Thị Nghè thì đến dinh Độc Lập. Nghe thấy vậy, thế là chúng tôi nhảy vội lên xe, rẽ tay trái chạy thẳng đến cầu Thị Nghè. Lúc này đội hình hành quân của ta xe tăng và ô tô đan cài, xe nọ vượt xe kia không thành thứ tự hàng lối nào cả. Đến cách cầu Thị Nghè hơn 100 mét thì bộ phận đi đầu đội hình phải dừng lại vì gặp địch tổ chức bố trí cả xe bọc thép chốt chặn bên kia đầu cầu. Bộ phận xe tăng và bộ binh đi đầu lại tiếp tục triển khai chiến đấu. Trận chiến đấu diễn ra khoảng 20 phút, xe bọc thép địch bị xe tăng ta bắn nổ tung, bọn địch vội vã tháo chạy.

Sau khi vượt cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đến Thảo Cầm Viên. Chúng tôi lại phải dừng lại để hỏi đường, vì lúc này đường vào thành phố rất nhằng nhịt, nhiều ngả đường khác nhau. Xe chúng tôi vừa dừng, thì thấy trong Thảo Cầm Viên có một người vác lá cờ Giải phóng chạy vội ra phía xe chúng tôi. Ông ta khoảng chừng 40 tuổi. Tôi hỏi ông ta đường vào dinh Độc Lập phải đi lối nào, ông ta bảo cho ông ta lên xe để chỉ đường. Như vậy, chiếc xe Jeep của tôi lúc này gồm có tôi ngồi ghế phía trước, đồng chí Đào Ngọc Vân lái xe, băng ghế phía sau và gác-đờ-bu xe có đồng chí Nguyễn Khắc Nhu - Trợ lý tác chiến, đồng chí Nguyễn Huy Hoàng - chiến sĩ truyền đạt, đồng chí Bàn Nguyên Thất - chiến sĩ thông tin 2 oát và người dân di theo chỉ đường. Sau đó, xe chúng tôi chạy thẳng từ cổng Thảo Cầm Viên theo một con đường rất lớn. Đến ngã tư đường Hồng Thập Tự - Mạc Đĩnh Chi, các loại xe của lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 tràn lên, chia làm hai mũi lao thẳng về hướng dinh Độc Lập. Xe chúng tôi đi đến đâu, người đàn ông lại giới thiệu tên đường phố và những tòa nhà cao hai bên đường, như bên phải là tòa đại sứ Mỹ, bên trái là nhà thờ Đức Bà... Đến cách ngã ba khoảng 100 mét, chúng tôi thấy một tòa nhà trước mặt rất to, ông ta chỉ tay và nói to: Đó, dinh Độc Lập đó! Chiếc xe Jeep của tôi nhanh chóng lách vượt qua những xe tăng và xe chở bộ binh lao lên, cách hàng rào khoảng 50 mét, tôi thấy chiếc xe tăng thứ nhất khựng lại ở phía bên trái trước cây cột lớn của hàng rào sắt, lúc đó tôi chưa biết đó là cổng chính của dinh Độc Lập. Tôi thoáng nghĩ tại sao chiếc xe kia không húc đổ hàng rào mà lại dừng lại ở bên ngoài, thì liền thấy chiếc xe tăng thứ hai lao vào khoảng trống bên phải chiếc xe tăng thứ nhất đang dừng. Hàng rào bật ra, chiếc xe tăng thứ hai đi vòng bên phải vào trong sân tòa nhà lớn, chiếc xe Jeép của tôi lao theo sau chiếc xe thứ hai vượt qua hàng rào vừa bật ra. Khi qua hàng rào, tôi mới biết đây là cánh cổng của dinh Độc Lập, xe của tôi liền vòng bên trái đi vào sát tòa nhà. Lúc này, các chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 cùng các xe tăng của Lữ đoàn 203 đang tràn vào sân dinh Độc Lập. Lực lượng lính ngụy bảo vệ dinh và lực lượng lính biệt kích tăng cường bảo vệ dinh Độc Lập hoảng hốt, một số quăng súng, cởi quần áo ngồi sụp xuống chân tường, số đông tự chạy dồn về đồi đất góc sân phía tây dinh Độc Lập.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 10:29:55 AM
Chúng tôi nhanh chóng xuống xe. Đồng chí Đào Ngọc Vân với tay lấy lá cờ của người đàn ông đi theo chỉ đường. Người đàn ông ấy vội kéo lại và nói: Đây là cờ của tôi chứ. Thấy vậy tôi liền hô: Cờ của ai cũng cứ mang lên mà cắm. Thế là tôi cùng đồng chí Nhu, đồng chí Thất, đồng chí Hoàng, đồng chí Vân tay cầm súng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu tiến vào toà nhà lớn và chạy lên tầng trệt của dinh Độc Lập. Khi vào đến sảnh chúng tôi gặp rất nhiều người, người vác máy quay phim, người cầm máy ảnh, người khoác túi nhốn nháo dưới sảnh ở chân cầu thang. Sau này tôi mới biết họ là các phóng viên, nhà báo trong và ngoài nước. Tôi đưa tay rẽ họ ra và hỏi một nhà báo người Việt: Tôi muốn lên cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập thì đi theo đường nào? Có tiếng người trong đám đông nói ra: Quân giải phóng đi bên trái cũng được, đi bên phải cũng được. Anh nhà báo nói: “Ngài theo cầu thang bên tay mặt lên cũng được”. Lúc này tôi mới để ý thấy trước mặt tôi có hai đường để đi lên cầu thang. Tôi dẫn anh em chạy lên theo cầu thang bên trái, trong tay tôi lăm lăm khẩu súng ngắn K.54 đã lên đạn, đồng chí Nhu cũng cầm súng ngắn trên tay. Đồng chí Hoàng giương khẩu AK về phía trước, đồng chí Bàn Nguyên Thất đeo sau lưng máy 2 oát cũng đeo khẩu AK trước ngực, đồng chí Đào Ngọc Vân đeo AK sau lưng tay vác lá cờ và người dân chỉ đường cũng chạy theo chúng tôi. Khi đi lên bậc thang trên cùng nối vào hành lang, đến sảnh của lầu 1, tôi thấy một người to cao, mặc áo cộc tay màu xám chạy đến trước mặt. Ông giơ tay tự giới thiệu: Báo cáo cấp chỉ huy, tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá của tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các của chính quyền ông Minh đang trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc. Lúc này tôi mới biết toàn bộ nội các chính quyền Dương Văn Minh đang trong dinh Độc Lập. Vì trước đó tôi nghĩ họ đã bỏ chạy hết khi thấy Quân giải phóng tiến vào và nghĩ vào dinh Dộc Lập là chỉ để cắm cờ Quyết chiến quyết thắng lên nóc dinh mà thôi.

Trước tình huống này, chúng tôi không lên sân thượng để cắm cờ nữa. Sau khi tự giới thiệu xong, ông Hạnh dẫn chúng tôi đi khoảng chục bước, qua hành lang để vào một phòng rộng. Từ ngoài hiên nhìn qua tấm kính trong suốt tôi thấy đây là một gian phòng lớn, được trang trí đẹp, nền trải thảm xanh, các ghế ngồi bọc nhung, các cửa sổ che rèm trắng và ở trong phòng có rất đông người đang đứng, ngồi lộn xộn. Chúng tôi bước vào sát cửa, cửa kính mở ra, mọi người trong phòng đứng dậy cả, tôi thấy hai người, một người to cao mặc áo cộc tay màu xám đeo kính, một người thấp dậm, mặc com-plê rất sang trọng. Ông Nguyễn Hữu Hạnh chỉ tay vào người to cao, mang kính và giới thiệu: Đây là tổng thống Dương Văn Minh, sau đó ông chỉ tiếp vào người thấp mặc com-plê sang trọng nói: Đây là thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Sau khi ông Hạnh giới thiệu xong, ông Dương Văn Minh bước lại gần và nói với tôi: Chúng tôi đã biết Quân giải phóng tiến công vào nội đô, chúng tôi đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao. Theo phản ứng tự nhiên, tôi nghiêm mặt, nói lớn: Các anh là kẻ thất bại, các anh bị bắt làm tù binh, các anh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả! Ai có vũ khí bỏ xuống giao cho Quân giải phóng!

Nghe tôi nói xong, nét mặt Dương Văn Minh thoáng chút bối rối và nói: Xin được bắt tay Quân giải phóng. Tôi liền gạt đi: Các anh là kẻ thù của chúng tôi, chúng tôi không bắt tay các anh! Nghe vậy, Dương Văn Minh cúi đầu, ông Vũ Văn Mẫu dịch lùi về hàng ghế định ngồi xuống. Lúc này, những thành viên trong nội các chính quyền Sài Gòn cũng tản dần ra ngồi xuống ghế. Tôi vẫn kiên quyết bắt Dương Văn Minh phải ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Cùng thời gian trên, đồng chí Đào Ngọc Vân vác lá cờ Giải phóng chạy lên ban công sảnh tầng 2 dinh Độc Lập cùng một số chiến sĩ khác liên tục phất cờ báo hiệu quân ta đã chiếm được dinh Độc Lập.

Lúc này ngoài sân dinh Độc Lập và ngoài đường phố tiếng súng AK nổ rất nhiều, tôi biết là quân ta đang bắn súng để chào mừng chiến thắng, nhưng ông Minh và ông Mẫu vẫn nghĩ là đang còn nổ súng giao chiến nên ông Minh nói trong vẻ lo lắng: Ngoài đường phố súng nổ rất dữ, đi ra đài phát thanh không bảo đảm an toàn, cho chúng tôi được tuyên bố đầu hàng tại đây. Nhưng tôi suy nghĩ là phải đưa ra đài phát thanh để phát lên làn sóng mới lan truyền được khắp nơi và để quân đội ngụy Sài Gòn nhanh chóng bỏ vũ khí, kết thúc chiến tranh, nên chúng tôi kiên quyết bắt hai ông Minh và Mẫu phải ra xe để đến đài phát thanh. Lúc này, tiếng súng AK bên ngoài vẫn nổ mạnh. Tôi giải thích cho hai ông: Quân giải phóng đã làm chủ thành phố Sài Gòn nên bắn để chào mừng chiến thắng chứ không phải còn đánh nhau ngoài đường phố. Chúng tôi bảo đảm an toàn cho các ông.

Sau đó ông Minh và ông Mẫu nói nhỏ gì với nhau, tôi không nghe rõ, rồi các ông ấy chấp thuận theo chúng tôi xuống sân dinh Độc Lập để ra đài phát thanh. Lúc này, cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 66 và Lữ đoàn 203 đã lên các tầng nhà rất đông. Chúng tôi đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đi ra khỏi phòng họp. Khi xuống đến cửa sảnh, ông Minh giơ tay về phía bên trái của dinh Độc Lập chỉ vào một chiếc xe sang trọng và nói: Mời cấp chỉ huy lên xe của chúng tôi để đến đài phát thanh. Tôi chỉ vào chiếc xe Jeep bám đầy bụi đất và cắm lá ngụy trang nói với ông ta: Chúng tôi đã có xe để đưa ông đi!

Thế là tôi dẫn Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu lên chiếc xe Jeep do đồng chí Đào Ngọc Vân lái để đi ra đài phát thanh. Trên xe lúc này, đồng chí Đào Ngọc Vân ngồi ở ghế lái, còn ghế bên cạnh tôi để Dương Văn Minh ngồi bên trong, tôi ngồi bên ngoài, Vũ Văn Mẫu và đồng chí Nhu, đồng chí Phùng Bá Đam - Trưởng tiểu ban Cán bộ Trung đoàn 66 ngồi ở băng ghế phía sau, còn đồng chí Thất và đồng chí Hoàng ngồi ở hai bên cạnh sườn xe. Ra khỏi cổng dinh Độc Lập, tôi bảo ông Minh chỉ đường để chúng tôi ra đài phát thanh. Vì đến lúc này chúng tôi vẫn chưa biết đài phát thanh ở vị trí nào. Trong phương án tác chiến của trung đoàn trước khi tiến công vào nội đô, theo nhiệm vụ thì Tiểu đoàn 7 cùng Lữ đoàn xe tăng 203 đánh chiếm dinh Độc Lập, Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn, Tiểu đoàn 9 đánh chiếm bộ tư lệnh hải quân ngụy và cảng Ba Son, nên tôi đoán chắc chắn ở đài phát thanh, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 đã chiếm giữ ở đó.

Ra khỏi cổng dinh Độc Lập, đi ngược lại con dường trước đây ít phút chúng tôi vừa tiến vào, tôi thấy xe tăng, ô tô chở bộ đội giải phóng và nhân dân thành phố đã đổ ra đông nghịt. Ông Minh nói với tôi: Xe cứ đi thẳng, đến cuối đường này thì rẽ trái. Tôi nhìn thấy quang cảnh ngoài đường và dưới các hàng cây trong dinh Độc Lập, xe tăng, ô tô của ta đã đỗ đầy, Quân giải phóng và nhân dân hòa lẫn nhau. Tôi hỏi ông Minh: Ông thấy sức mạnh của Quân giải phóng thế nào? Ồng Minh nói: Trước sức mạnh của Quân giải phóng, chúng tôi biết là chúng tôi sẽ thất bại. Tôi nói tiếp: Biết sẽ thất bại tại sao ông không đầu hàng từ trước, để đến khi chúng tôi đánh vào tận sào huyệt của các ông, các ông mói phải tuyên bố đầu hàng? Ông Minh nói: Khi Quân giải phóng chưa tiến quân vào nội đô, mà chúng tôi đã tuyên bố đầu hàng, bên dưới tôi nhiều người không đồng tình, họ khử chúng tôi mất.

Xe đi đến gần cổng Thảo Cầm Viên, ông Minh chỉ rẽ sang bên trái, sau đó lại chỉ rẽ tiếp về tay phải rồi ông Minh nói xe dừng lại. Ngay lúc đó tôi cũng đã nhận ra một số cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 8. Chúng tôi xuống xe đưa ông Minh và ông Mẫu vào trong sân của đài phát thanh Sài Gòn. Lúc này, ở đài phát thanh Sài Gòn, Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 đã chiếm giữ. Vừa vào đến sân thì tôi gặp Chính trị viên của Tiểu đoàn 8 Hoàng Trọng Tình chạy ra báo cáo với tôi: Theo mệnh lệnh của trung đoàn, Tiểu đoàn 8 đã đánh chiếm đài phát thanh, bảo đảm an toàn, giữ không cho dân vào phá. Tôi nói: Vậy là tốt, tôi đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ra để tuyên bố đầu hàng, đồng chí dẫn tôi lên phòng làm việc của đài phát thanh. Thế là đồng chí Tình dẫn chúng tôi lên tầng 2 của tòa nhà đài phát thanh. Vào một căn phòng rộng, máy móc hiện đại còn nguyên, nhưng điện đã bị cắt, tôi thấy có nhiều máy móc và cả mi-crô trên bàn làm việc. Ngay lúc đó, một ông già chạy đến gặp chúng tôi và nói: Tôi là người bảo vệ gác cổng đài phát thanh, khi Quân giải phóng vào, nhân viên đài phát thanh bỏ chạy hết. Đồng chí Hoàng Trọng Tình cũng nói: Khi chúng tôi vào còn một số người mặc thường phục ở đây, nhưng bây giờ họ chạy đâu cả. Tôi hỏi người bảo vệ: Tìm nhân viên đài phát thanh ở đâu bây giò? Ông bảo vệ nói: Nếu Quân giải phóng muốn sử dụng đài phát thanh, chờ tôi chút xíu để tôi đi gọi họ.

Vào phòng bá âm, chúng tôi mời Dương Văn Minh và Vũ Văn Mầu ngồi xuống ghế, anh em chúng tôi bàn nhau soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng. Mỗi người mỗi câu, mỗi ý, tôi là người chắp bút. Nội dung bản thảo như sau: “Tôi - đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn xin tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tôi kêu gọi chính quyền từ trung ương đến địa phương bỏ vũ khí, trao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Ngay lúc đó, một người to cao, đội mũ cứng đến trước mặt tôi hỏi: Anh là ai? Tôi trả lời: Tôi là Phạm Xuân Thệ - Đoàn phó Đoàn Đông Sơn. Người đó tự giới thiệu: Tôi là Bùi Tùng - Trung tá, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203. Khi vào dinh Độc Lập chúng tôi thấy anh đã đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ra đài phát thanh nên chúng tôi ra đây luôn. Tôi liền nói: May quá, chúng tôi đã đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ra đây và đang cùng soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng, mời anh cùng làm việc.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 01:42:51 PM
Sau khi viết xong, tôi đưa cho Dương Văn Minh xem, vì viết vội và chữ tôi khó đọc, nên Dương Văn Minh đề nghị tôi đọc lại cho ông ta chép. Tôi đồng ý, nhưng khi tôi dọc đến chữ “tổng thống”, ông ta dừng lại và nói: “Báo cáo chỉ huy, vì ông Hương bỏ chạy nên tôi mới lên đảm trách mấy ngày nay, tôi chỉ là đại tướng thôi”. Tôi liền nói: Dù chỉ nắm quyền một giờ hay một ngày, ông cũng là tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Thấy tôi có thái độ cương quyết, Dương Văn Minh buộc phải chép tiếp nguyên văn bản thảo do chúng tôi đã soạn thảo. Sau khi ông Minh viết xong toàn bộ lời tuyên bố đầu hàng, xem lại thấy đúng ý định của chúng tôi, tôi gọi đồng chí Thái Bá Quang - Trung úy, Trợ lý tuyên huấn Trung đoàn giữ chiếc cát sét Hi-ta-chi mang theo từ Đà Nẵng để ghi âm lời đọc của Dương Văn Minh. Khi đồng chí Quang ấn nút thu của chiếc cát sét thì băng lại bị rối. Chúng tôi làm đi làm lại nhiều lần vẫn không được. Thấy vậy, tôi đã phê bình đồng chí Quang là bảo quản máy không chu đáo.

Lúc này có một nhà báo nước ngoài người to và cao bước đến, ông ta đưa chiếc máy ghi âm của ông cho chúng tôi mượn để ghi lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh. Sau này tôi mới biết đó là ông Morít - một nhà báo của Cộng hoà Liên bang Đức.

Trong quá trình chúng tôi làm việc thì đồng chí Trịnh Viết Cả - Tiểu đội trưởng trinh sát Trung đoàn được nhà báo Kỳ Nhân biết nơi ở của nhân viên đài phát thanh Sài Gòn đã dẫn đường đến cư xá của họ và yêu cầu họ về đài phát thanh làm việc, đến lúc này họ cũng đã có mặt. Sau khi nhà báo nước ngoài ghi âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh xong, thì chúng tôi mở máy nghe lại thấy đúng với nguyên văn bản soạn thảo.

Sau khi ghi âm xong lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, chúng tôi bàn nhau phải có lời chấp nhận tuyên bố đầu hàng. Lúc này đồng chí Bùi Tùng là người chỉ huy cao nhất ở đó nên chúng tôi đề nghị anh thay mặt Quân giải phóng chấp nhận lời tuyên bố đầu hàng. Đồng chí Tùng nói với tôi: Anh phát biểu luôn. Nhưng tôi nói: Anh là người miền Nam, thay mặt Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, anh phát biểu đúng giọng hơn. Đồng chí Tùng nhất trí và đọc cho nhà báo nước ngoài ghi âm tiếp: Chúng tôi thay mặt Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của đại tướng Dương Văn Minh - tổng thống chính quyền Sài Gòn. Ngay sau đó, chúng tôi nói với nhân viên đài phát thanh: các anh mở máy làm việc theo hệ thống như trước lúc Quân giải phóng đánh chiếm đài phát thanh. Nhân viên đài phát thanh nói: Báo cáo các ông, toàn bộ máy móc của hệ thống đài phát thanh đã hoạt động tốt. Xin mời các ông làm việc. Ngay lúc này, Vũ Văn Mẫu đề nghị được phát biểu với nội dung là kêu gọi nhân dân Sài Gòn hãy bình tĩnh, Quân giải phóng đã làm chủ thành phố, không xảy ra tắm máu như những lời tuyên truyền trước đây, nhưng chúng tôi nói với ông ta là không cần thiết.

Sau đó, chúng tôi đưa Dương Văn Minh vào ngồi trước bàn làm việc. Nhà báo nước ngoài mở máy ghi âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh vừa ghi âm xong chuyển sang máy phát của đài phát thanh Sài Gòn để phát trên sóng lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của tổng thống chính quyền Sài Gòn và lời chấp nhận đầu hàng của đại diện Quân giải phóng. Quang cảnh ở phòng phát thanh cũng được một nhà báo kịp ghi lại bằng hình ảnh (Tấm ảnh đó hiện được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, với ký hiệu P7877c).

Sau khi lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh và lời chấp nhận đầu hàng của Quân giải phóng được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn, chúng tôi lại đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu lên chiếc xe Jeep của tôi về dinh Độc Lập. Về đến dinh Độc Lập, tôi đã thấy Bộ Tư lệnh Sư đoàn có đồng chí Nguyễn Ân - Sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Bình - Chính ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 cùng nhiều cán bộ cao cấp khác đang đứng ở sân dinh Độc Lập. Trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn tôi chỉ mới biết đồng chí Nguyễn Hữu An là Tư lệnh Quân đoàn, vì khi thành lập quân đoàn ở ngoài Quảng Trị, chúng tôi đang chuẩn bị chiến đấu ở Quảng Đà. Đến tháng 9 năm 1974, sau khi giải phóng Thượng Đức, đồng chí Nguyễn Hữu An vào kiểm tra đơn vị nên tôi mới biết đồng chí là Tư lệnh Quân đoàn.
Khi đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu xuống khỏi xe Jeep, tôi báo cáo vối đồng chí Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hữu An và đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn An cùng một số đồng chí cán bộ của quân đoàn đang ở đó là tôi đã đưa Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng và đã đưa về đến đây. Có một cán bộ trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn có mặt lúc đó đã phê bình tôi là đưa Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu đi mà không báo cáo cấp trên. Tôi không biết nói sao, bởi thực lòng trong tình thế đó tôi chỉ nghĩ đơn giản là làm sao sớm để tổng thống ngụy quyền tuyên bố đầu hàng, chiến sự sè sớm chấm dứt, bớt đi những sự hy sinh không đáng có. Liền sau đó, đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Ân nói: “Đây là Thệ - Trung đoàn phó Trung doàn 66 Sư đoàn 304, sai đâu sẽ kiểm điểm sau, để cho đồng chí ấy về chỉ huy đơn vị”. Như gỡ được thế bí, tôi vội lùi ra. Cùng lúc đó, bất ngờ có một quả đạn cối nổ ngay trước cửa sân dinh Độc Lập. Đồng chí Nguyễn Văn Duyên - Phó phòng Tác chiến quân đoàn bị mảnh văng vào mặt, máu chảy đầm đìa. Mọi người vội vã chạy vào tầng trệt dinh Độc Lập. Sau đó, tôi được biết một đơn vị nào đó vào nội đô sau, tưởng ta chưa chiếm được dinh Độc Lập nên đã bắn cối vào.

Về sự kiện bắt tổng thống và nội các chính quyền Sài Gòn, Lịch sử Đảng bộ Quân đoàn 2 (1974-2009) và Lịch sử Đảng bộ Trung đoàn xe tăng 203 (1965-2010) viết: “Quân địch hoàn toàn tan rã. Được nhân dân và biệt động thành Sài Gòn dẫn dường, xe tăng của lữ đoàn, đi đầu đội hình là Đại đội xe tăng 4, theo đại lộ Hồng Thập Tự tiến vào đánh chiếm dinh Độc Lập, xe tăng 843 do dồng chí Đại đội trưởng Bùi Quang Thận trực tiếp làm trưởng xe, kíp xe gồm: Thái Bá Minh, Nguyễn Văn Kỳ và Lừ Văn Thái luôn dẫn đầu. Tiếp sau là xe 390 do Chính trị viên Đại đội Vũ Đăng Toàn chỉ huy, kíp xe gồm: Lê Đình Phượng, Nguyễn Văn Tập và Ngô Sỹ Nguyên (riêng pháo thủ Đỗ Cao Trường bị thương phải ở lại tuyến sau). Xe 843 tiến đến trước hàng rào dinh Độc Lập húc thẳng vào cổng phụ, bên cạnh cổng chính, xe bị mắc kẹt dừng lại. Ngay lúc dó, xe 390 lao lên húc đổ cổng chính dinh Độc Lập. Trung úy, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận từ xe 843 cầm lá cờ Giải phóng, chạy lên cắm trên đỉnh nóc dinh tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Lúc ấy là 11 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Cùng thời gian, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ và một số cán bộ, chiến sĩ lực lượng thọc sâu của Quân đoàn và biệt động thành tiến vào dinh Độc Lập bắt tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn. Ngay sau đó, đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng một số cán bộ, chiến sĩ áp giải tổng thống Dương Văn Minh đến đài phát thanh. Trong lúc đồng chí Thệ và các đồng chí cán bộ Trung đoàn 66 soạn thảo nội dung lời tuyên bố đầu hàng thì đồng chí Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 đến, mọi người cùng bàn bạc, soạn thảo tiếp. Đồng chí Thệ đọc cho Dương Văn Minh chép lại nội dung bản tuyên bố đầu hàng. Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trên đài phát thanh Sài Gòn.

Từ đài phát thanh Sài Gòn vừa được giải phóng, Dương Văn Minh tuyên bố “Tôi đại tướng Dương Văn Minh - tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi quân lực cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam” (Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004), Nxb Quân đội nhân dân, 2004, tr. 257, 258).

Dương Văn Minh vừa dứt lời, đồng chí Bùi Văn Tùng - Chính ủy Lữ đoàn 203 vinh dự thay mặt các đơn vị quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập, dõng dạc đọc lời tuyên bố: “Tôi đại diện lực lượng giải phóng miền Nam, đơn vị chiếm dinh Độc Lập, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh - tổng thống chính quyền Sài Gòn. Tôi đại diện lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố: Thành phố Sài Gòn - Gia Định hoàn toàn giải phóng, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 01:44:21 PM
Sau lúc ấy, tôi lên xe về đơn vị. Sau đó tôi ra bộ tư lệnh hải quân ngụy để kiểm tra Tiểu đoàn 9. Lúc này Tiểu đoạn 9 đã chiếm giữ bộ tư lệnh hải quân và cảng Ba Son, nhưng một số người dân xô vào cảng Ba Son để cướp tài sản. Tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 phải bảo vệ không để cho dân vào cướp phá, đóng kín các cánh cổng và tổ chức canh gác chu đáo. Sau đó tôi về Ban chỉ huy Tiểu đoàn 9 đang đóng tại bộ tư lệnh hải quân ngụy. Lúc đó khoảng 5 giờ chiều, tôi đi tắm giặt và lấy trong ba lô bộ quần áo Tô Châu mới toanh ra mặc, còn bộ quần áo cũ do đã mặc nhiều ngày nên tôi bỏ luôn. Sau này, tôi cứ tiếc mãi vì không giữ lại bộ quần áo còn vương bụi đường mà tôi đã mặc trong giờ phút lịch sử đáng nhớ của dân tộc.

Khoảng 17 giờ 30 phút tối 30 tháng 4, tôi về Sở chỉ huy Trung đoàn đang ở tòa nhà Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ, ở trước cửa dinh Độc Lập, về phía tay trái cách khoảng 500 mét. Về đến đây tôi gặp đồng chí Nguyễn An - Sư đoàn trưởng đang ở sở chỉ huy Trung đoàn. Vừa thấy tôi, đồng chí Ân nói: Việc đưa Dương Văn Minh ra đài phát thanh, các cậu xử trí như thế là đúng đấy, không có gì sai sót đâu. Lúc bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhõm...

Khoảng 18 giờ tối 30 tháng 4, chúng tôi nhận được lệnh của quân đoàn là bàn giao lại dinh Độc Lập cho đơn vị bạn, Trung đoàn trưởng và tôi cùng Sư đoàn trưởng lên xe đến dinh Độc Lập. Chúng tôi chỉ đạo Tiểu đoàn 7 bàn giao lại các vị trí đóng quân canh phòng cho một đơn vị của Quân đoàn 4, sau đó rút toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn 7 và các đại đội trực thuộc ra khỏi dinh Độc Lập.

Tối 30 tháng 4, bộ phận hậu cần của trung đoàn tổ chức bữa ăn rất thịnh soạn, ngoài thịt hộp ra còn có cả thịt gà tươi, rau tươi và bia 333 để uống. Chúng tôi vừa ăn uống vừa chuyện trò rôm rả. Khoảng 21 giò tối chúng tôi hội ý, Ban chỉ huy Trung đoàn nắm tình hình các đơn vị xong thì về chỗ ở và lăn ngay ra sàn nhà để ngủ. Mặc dù thức trắng nhiều đêm, từ khi đánh địch ở Hàm Tân đến nay hầu như không đêm nào tôi được ngủ trọn giấc, nhưng tôi vẫn nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, suy nghĩ miên man, nhớ thương nhiều đồng đội đã hy sinh trước giờ toàn thắng, những hình ảnh của nội các chính quyền Sài Gòn trong thời khắc cuối cùng, hình ảnh một số người dân vào cướp phá ở cảng Ba Son, rồi nghĩ đất nước đã được hòa bình thống nhất, tôi sẽ được về thăm quê hương, cha mẹ, anh em và người vợ trẻ (chúng tôi cưới nhau mới được vài ngày tôi đã trở lại chiến trường chiến đấu từ năm 1973 đến nay chưa một lần gặp mặt)... Mãi đến 3 giờ sáng tôi mới thiếp di. Tang tảng sáng ngày 1 tháng 5, đồng chí công vụ gọi tôi mới choàng dậy. Bước ra ngoài sân, nhìn ra ngoài đường thấy nhân dân đi lại thanh bình, êm ả, lòng tôi càng nhớ quê hương, gia đình.

Sau khi ăn sáng xong, Ban chỉ huy Trung đoàn phân công tôi xuống chỉ huy Tiểu đoàn 9. Lúc này ở cảng Ba Son dân chúng kéo đến rất đông, vì ở đó có nhiều nhà kho chứa nhiều lương thực thực phẩm, vải vóc và các vật dụng khác. Tôi xuống đến nơi thì thấy rất nhiều người dân tụ tập ngoài cổng. Chúng tôi giải thích với nhân dân: Tài sản này trước đây của chính quyền Sài Gòn, bây giờ là của chính quyền cách mạng, cũng là của nhân dân, chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ để nhân dân sử dụng sau này. Và họ đã nghe theo, dần dần giải tán. Sau đó, tôi đi kiểm tra vị trí đóng quân của các đại đội dọc theo các đường phố ven sông Sài Gòn, ở đây các đồng chí sĩ quan vẫn đang tất bật làm việc với những viên chức cũ của chính quyền Sài Gòn đến xin được trình diện và lấy giấy chứng nhận của Quân giải phóng là đã ra trình diện, vẻ mặt của họ lúc này trông rất khúm núm, sợ sệt. Các sĩ quan của ta cấp giấy chứng nhận cho họ và ghi thẻ căn cước vào sổ, sau đó giải thích và dặn họ: Cứ về nhà nghỉ ngơi, thực hiện theo đúng lệnh giới nghiêm của Ủy ban quân quản, khi nào có lệnh thì mang giấy này đến chính quyền cơ sở để làm việc.

Trưa ngày 1 tháng 5, tôi cùng các anh em trong cơ quan ở lại bảo đảm cho Tiểu đoàn 9 tổ chức hành quân về vị trí mới. Khi đội hình hành quân đến cầu xa lộ qua sông Đồng Nai chúng tôi gặp bộ phận vệ binh của trung đoàn chỉ đường cho chúng tôi đi tiếp theo đường số 15 qua cầu sông Buông sẽ có người đón.

Khoảng 20 giờ ngày 1 tháng 5, chúng tôi qua cầu sông Buông thì gặp bộ phận vệ binh của trung đoàn chỉ đường rẽ vào một làng nhỏ có một ngôi chùa rất đẹp. Đến đây tôi mới biết là chùa Phước Tân thuộc làng Phước Tân. Sở chỉ huy Trung đoàn 66 đóng tại ngôi chùa này, còn các đơn vị đóng quân trong rừng cao su và các làng bên cạnh. Đến hết ngày 2 tháng 5, cơ bản toàn bộ đội hình Trung doàn 66 đã rút khỏi nội đô thành phố Sài Gòn về vị trí trú quân mới an toàn.

Những ngày này, chúng tôi được sống trong không khí thanh bình của một làng quê ven thành phố Sài Gòn. Nhiệm vụ của chúng tôi là vừa củng cố lực lượng vừa làm công tác dân vận, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ cho nhân dân. Cán bộ chính trị thì tổ chức nói chuyện thời sự và thông báo tình hình chiến thắng cho nhân dân nơi đơn vị đóng quân. Bộ đội tổ chức dọn vệ sinh đường sá, giúp các tổ chức quần chúng sinh hoạt và cùng nhân dân chuẩn bị tổ chức lẽ chào mừng chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:02:17 PM
(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/51865937_2285529721731600_5318805873512939520_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQl8rI9CJy0vLond_BsJzN0qk1fPh22i0zQ6hu5S-xL3kypMDw3w8aNQCVJPKmPmDEA&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=8dccea6a1c95a26f3552ed6e9e1b06aa&oe=5E1A3465)


(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/51781111_2285529728398266_3460990234592804864_n.jpg?_nc_cat=101&_nc_oc=AQlOTz2Oe9-lxbKE52AO5_GWQhY-lKyJ7aDvawpE3UZhiDjzwVdtFsxqOYXPYL7ucMo&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=e75d02cf1fa52d42fa62ea354802a1ff&oe=5E283904)


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/l/t1.0-9/51962228_2285529715064934_8295018863028862976_n.jpg?_nc_cat=105&_nc_oc=AQnoblwgfo1a7FoAtVSjd1EZ8b0WBzVaYULb5kw7pkFf3wcDJO2DzoHsVsDNbnQUPSs&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=93beccff3c8f91a7ba91a0ba8db87edb&oe=5E1D23DA)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/52029212_2285529815064924_8082612217477857280_n.jpg?_nc_cat=109&_nc_oc=AQmA5xBokbVyNFskkYkNFWyL7NUJ9QGL3QfEiWVTpkDHqyfPM3epAJzmbu4NxCEyS3o&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=1dcde00405a934c49deb74d1c2e44485&oe=5E293DAC)


(https://scontent.fhan4-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/52646409_2285529825064923_535925254690701312_n.jpg?_nc_cat=104&_nc_oc=AQkAmPBMjJLbZU45osGka7S1yKQ6OQPUP4RLokIqZGhf4G8-Xvdy8mla-7-9s7WAqb0&_nc_ht=scontent.fhan4-1.fna&oh=1595b4583cfa497b6fad5099adab3cf4&oe=5E5A447E)


(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/52464418_2285529841731588_7919052471207460864_n.jpg?_nc_cat=108&_nc_oc=AQljBuUDU5dJOjnA82CER_SINLPlgloBYxaQCI5i_3P-f-99A80SeKJOhMIY-vobJGY&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=1b0ec714b079d1b2a463d8707711d06b&oe=5E61FD25)


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:18:18 PM
Chương năm
NHIỆM VỤ MỚI, THỬ THÁCH MỚI


Trong những ngày đầu tháng 5 năm 1975, các đơn vị thuộc trung đoàn tham gia củng cố cơ sở nơi đóng quân, tổ chức rút kinh nghiệm, tiến hành tổng kết toàn diện từ cấp tiểu đội đến cấp đại đội từ khi thực hiện nhiệm vụ tham gia giải phóng Đà Nẵng, hành quân cơ giới đường dài “thần tốc” đến vị trí tập kết chiến đấu và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trung đoàn chỉ đạo Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 tổ chức rút kinh nghiệm trận tiến công hành tiến đánh địch ở Hàm Tân - Bình Tuy. Để công tác tổng kết rút kinh nghiệm đạt hiệu quả, các đồng chí trong Ban chỉ huy Trung đoàn, cán bộ cơ quan trung đoàn và cán bộ các tiểu đoàn đã xuống các phân đội, đại đội để dự, nắm tình hình, làm cơ sở tổng kết từ cấp tiểu đoàn đến cấp trung đoàn. Cơ quan chính trị trung đoàn chỉ đạo các đơn vị bình bầu khen thưởng các hình thức. Sau đó, Trung đoàn 66 tổ chức Hội nghị quân chính để bình xét các tập thể và cá nhân có thành tích để đề nghị cấp trên khen thưởng từ giấy khen, bằng khen đến huân chương các hạng.

Cũng trong thời gian này, nhiều nhà báo đến phỏng vấn trực tiếp tôi về những sự kiện đã xảy ra vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn. Các nhà báo hỏi tôi rất nhiều về Dương Văn Minh, về Vũ Văn Mẫu, thái độ họ thế nào khi phải làm kẻ bại trận. Tôi chẳng biết nói gì hơn, ngoài việc kể lại chân thực diễn biến các sự kiện đã xảy ra trong buổi trưa ngày 30 tháng 4 và bảo các đồng chí nhà báo nghe lại băng trên đài tiếng nói Sài Gòn ngày hôm ấy, còn riêng tôi tâm trạng lúc bấy giờ cũng như mọi người thôi. Đó là niềm kiêu hãnh của người chiến thắng. Tôi không thể ngờ mình là một trong hàng triệu con người đi qua cuộc chiến này lại có sự may mắn được chứng kiến thời khắc cuối cùng của chế độ ngụy Sài Gòn.

Thời gian sau đó, chúng tôi được cấp trên thông báo có lực lượng FULRO và bọn tàn quân ngụy đang hoạt động rộ lên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là khu vực tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức. Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, FULRO và lực lượng tàn quân hoạt động trên đường số 20, đoạn từ đèo Chuối đến đèo Bảo Lộc, dài khoảng 50 cây số. Đây là khu vực rừng già, địch thường ẩn náu để ra chặn xe, cướp của trên dọc đường từ Đà Lạt về Sài Gòn và ngược lại.

Ngày 15 tháng 5 năm 1975, nhận được lệnh của sư đoàn, Ban chỉ huy Trung đoàn 66 phân công tôi tổ chức một bộ phận cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, cùng với cơ quan sư đoàn lên tỉnh Lâm Đồng làm việc với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương để nắm tình hình địa phương và tình hình hoạt động của địch dọc tuyến đường số 20, đặc biệt đoạn từ đèo Chuối đến đèo Bảo Lộc. Sau khi làm việc với lãnh đạo chính quyền địa phương và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, tôi về báo cáo tình hình với Ban chỉ huy Trung đoàn và sư đoàn.

Ngày 20 tháng 5 năm 1975, Trung đoàn 66 nhận được lệnh của Sư đoàn 304 điều Tiểu đoàn 8 lên khu vực đèo Chuối, đèo Bảo Lộc triển khai lực lượng đóng quân dọc hai bên đường để xây dựng chính quyền cách mạng, cơ sở quần chúng vùng mới giải phóng và bảo đảm an ninh, an toàn cho các chuyến xe lưu thông trên đường số 20 từ Đà Lạt về Sài Gòn. Sau khi nhận nhiệm vụ, Ban chỉ huy Trung đoàn thành lập bộ phận chỉ huy của trung đoàn và phân công tôi trực tiếp chỉ huy chung. Ba cơ quan Trung đoàn gồm có các đồng chí Tham mưu phó, đồng chí Phó chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Phó chủ nhiệm Hậu cần, mỗi cơ quan có từ hai đến ba đồng chí trợ lý và một bộ phận trinh sát, vệ binh của trung đoàn.

Ngày 25 tháng 5, Tiểu đoàn 8 hành quân lên đóng quân trên trục đường số 20, đoạn từ đèo Chuối đến đèo Bảo Lộc. Chúng tôi bố trí ở khu vực đèo Chuối một đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực; khu vực đèo Bảo Lộc một đại đội bộ binh. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 8 đóng tại đèo Chuối. Một đại đội bộ binh và sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn đóng quân ở khu vực Nhà máy tơ tằm tỉnh Lâm Đồng, trên đỉnh đèo Bảo Lộc. Sau khi đến vị trí đóng quân, các đơn vị nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở, vừa làm lán trại, vừa thâm nhập với cán bộ của từng buôn, làng. Khu vực này chủ yếu là các buôn làng của bà con dân tộc K'Ho. Dân các buôn làng ở rất thưa thớt. Một số buôn có hiện tượng chính quyền hai mặt: Ban ngày hoạt động theo sự hướng dẫn của cán bộ cách mạng, nhưng ban đêm lại là cơ sở của lực lượng FULRO. Do vậy, chúng tôi thâm nhập vào các địa phương và các buôn làng khá khó khăn. Trước tình hình trên, chúng tôi chỉ đạo các đơn vị tổ chức thành nhiều bộ phận: bộ phận làm lán trại, bộ phận tăng gia rau xanh để cải thiện đời sống, bộ phận cùng cán bộ cơ quan quân sự huyện Bảo Lộc vào từng buôn làng để vận động quần chúng nhân dân.

Những ngày đầu bộ đội gặp rất nhiều khó khăn. Ban ngày đi vào từng buôn làng, nhưng buổi tối bộ đội phải rút về doanh trại. Cứ như thế, sáng đi tối về hàng tháng trời. Không nản lòng và kiên trì, bộ phận vận động quần chúng đã tích cực tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và kêu gọi nhân dân không nghe theo lời tuyên truyền của bọn FULRO, thực tâm góp sức mình để xây dựng cơ sở chính quyền cách mạng ở buôn làng. Một thời gian sau, bằng chính những việc làm thiết thực như tuyên truyền vận động, giúp dân trồng trọt, sản xuất, dọn vệ sinh quanh buôn làng... bộ đội ta đã cảm hóa được nhân dân. Họ đã trở thành chỗ dựa vững chắc và tin cậy cho chính quyền ở buôn làng. Từ kết quả trên, dần dần chúng tôi đã bố trí được các trung đội đóng quân trong các buôn làng ở khu vực này. Bộ đội vừa làm công tác vận động quần chúng, vừa xây dựng chính quyền cách mạng, vừa cùng nhân dân tham gia sản xuất xây dựng cuộc sống mới và xây dựng cho nhân dân niềm tin với Đảng, với chính quyền cách mạng.

Những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7, tình hình an ninh ở khu vực đèo Chuối và đèo Bảo Lộc dần dần ổn định, không còn cảnh ô tô bị chặn cướp dọc đường, hoặc FULRO hoạt động gây khó khăn cho nhân dân lao động sản xuất. Trong khi đó, ở các huyện Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương thì lực lượng FULRO câu kết với tàn quân ngụy và các phần tử phản động đội lốt tôn giáo chống phá ta quyết liệt. Có nơi chúng đã liều lĩnh tập kích vào cơ quan chính quyền và Ban chỉ huy quân sự huyện. Lãnh đạo Đảng và chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã trao đổi với chúng tôi: Hiện nay FULRO và lực lượng thù địch, lợi dụng các vấn đề về tôn giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số để chống phá ta. Chúng hoạt động mạnh ở khu vực Lâm Đồng, cản trở việc xây dựng chính quyền cách mạng, khôi phục kinh tế sau chiến tranh và phát triển kinh tế - xã hội vùng mới giải phóng.

Trước tình hình trên, đầu tháng 7 năm 1975, Sư đoàn 304 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 66 cơ động toàn bộ lực lượng lên tỉnh Lâm Đồng, sở chỉ huy Trung đoàn đóng quân ở thị trấn huyện Di Linh. Tiểu đoàn 7 đóng quân cách thị trấn Di Linh khoảng 10 cây số cho đến hết địa phận huyện Di Linh tiếp giáp với địa phận huyện Đức Trọng tỉnh Tuyên Đức. Tiểu đoàn 9 đóng quân ở huyện Bảo Lộc, trú quân ở vùng có nhiều người công giáo từ miền Bắc di cư vào từ năm 1954 ở phía đông đường số 20. Tiểu đoàn 8 rời khỏi khu vực đèo Chuối về đóng quân từ đèo Bảo Lộc đến phía nam huyện Bảo Lộc, tập trung ở phía tây đường số 20. Giai đoạn này, chúng tôi tập trung cùng chính quyền địa phương xây dựng chính quyền buôn làng và khu vực thị trấn huyện Bảo Lộc, đặc biệt là các vùng có đồng bào công giáo di cư từ miền Bắc vào. Đồng thời, trung đoàn tiếp tục chỉ đạo các đơn vị truy quét FULRO ở những cánh rừng giáp ranh giữa huyện Di Linh và huyện Đức Trọng.

Địa bàn Trung đoàn 66 làm nhiệm vụ tình hình chính trị rất phức tạp và là nơi chịu hậu quả của chế độ thực dân mới hết sức nặng nề. Tại đây, có hàng nghìn ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát, mật vụ vừa bị tan rã tại chỗ và một bộ phận còn đang lẩn trốn, trà trộn trong dân. Bên cạnh đó, còn hàng chục tổ chức đảng phái phản động chống cộng khác. Sau cơn choáng váng bởi sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, chúng bắt đầu tìm cách móc nối, phá hoại, tiếp tục thực hiện kế hoạch “hậu chiến” vô cùng thâm độc của Mỹ và các thế lực phản động khác.

Nhiệm vụ cấp bách đặt ra đối với trung đoàn lúc này là nhanh chóng cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng ở cơ sở và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 66 đã dành nhiều thời gian nắm tình hình địa phương - nơi đơn vị đóng quân, và tổ chức nhiều cuộc họp với các đồng chí lãnh đạo địa phương để thống nhất kế hoạch công tác. Trung đoàn đã chọn những cán bộ, chiến sĩ có năng lực, kinh nghiệm công tác và được học tập chu đáo, tổ chức thành từng đội đưa về các xã, ấp để cùng cán bộ địa phương thực hiện công tác phát động quần chúng, xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:20:10 PM
Vào những ngày đầu tháng 7 năm 1975, từ vùng Di Linh, Bảo Lộc xuất hiện từng đoàn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 trong bộ quân phục màu xanh giản dị với chiếc ba lô “con cóc” đi bộ trên những con đường về các thôn ấp.

Đối với những người đã từng tiếp xúc với bộ đội giải phóng, những gia đình cơ sở cách mạng gặp lại chiến sĩ trung đoàn đều không nén nổi xúc động. Những người do bị ép buộc một thời cầm súng đánh thuê cho Mỹ và những kẻ đã từng gây nhiều nợ máu với nhân dân thì lo sợ một cuộc trả thù. Bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ, ngụy trước ngày 30 tháng 4, không ngớt tuyên truyền, gây tâm lý lo sợ đối với người dân trong vùng do chúng tạm thời kiểm soát: “Cộng sản chiếm được miền Nam, sẽ diễn ra những cuộc trả thù, tắm máu”.

Vấn đề quan trọng đầu tiên là làm thế nào nhanh chóng ổn định tư tưởng và gây được lòng tin đối với nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Các đội công tác phân công nhau đến từng nhà vừa thăm hỏi, tuyên truyền thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa giải thích chủ trương chính sách của Đảng và chính quyền cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ ta dành nhiều thời gian đến các gia đình cơ sở cách mạng, gia đình nghèo tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, qua đó xây dựng cơ sở, giúp cho công tác được thuận lợi. Mặc dù chưa quen phong tục tập quán địa phương, song bằng lời nói, cử chỉ, tác phong và ý thức tổ chức kỷ luật của mình, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 chúng tôi đã nhanh chóng chiếm được lòng tin và sự yêu mến của nhân dân ở đây.

Phối hợp chặt chẽ với cán bộ địa phương, các đội công tác của trung đoàn đã tổ chức đăng ký cho các phần tử ngụy quân, nhân viên ngụy quyền ra trình diện, tổ chức những lớp học tập ngắn ngày theo quy định của trên cho họ. Trong 20 ngày đầu tháng 7 năm 1975, các đội công tác của trung đoàn đã tổ chức học tập cho hàng nghìn người là ngụy quân, nhân viên ngụy quyền và cho họ trở về gia đình làm ăn. Tinh thần nhân đạo và khoan hồng của cách mạng đã có sức cảm hoá rất lớn đối với người dân. Hàng trăm gia đình đã tự giác đưa con em ra trình diện chính quyền cách mạng.

Nhiệm vụ xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở được quần chúng tín nhiệm là mối quan tâm của Thường vụ Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 66. Việc lựa chọn những người vào cơ quan đoàn thể cách mạng lúc này vô cùng khó khăn. Nhiều thôn, ấp và kể cả xã, số đảng viên không đủ để thành lập chi bộ. Trong khi đó, một số phần tử cơ hội lợi dụng tình hình đó, tự tổ chức ra cái gọi là “ủy ban cách mạng”. Tình hình đó đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ trong các đội công tác của trung đoàn phải hết sức tỉnh táo, nhạy bén trước mọi diễn biến phức tạp. Trên cơ sở dựa vào quần chúng và các gia đình cơ sở, các đội công tác của trung đoàn kiên quyết đưa dần những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi tổ chức chính quyền và đoàn thể cách mạng, đồng thời thận trọng và mạnh dạn đưa những cán bộ mới vào thay thế. Các lớp bồi dưỡng về chức trách, lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân cách mạng và học tập điều lệ các tổ chức quần chúng cho cán bộ mới được liên tiếp mở.

Ủy ban nhân dân cách mạng các xã, ấp lần lượt ra đời và bước đầu phát huy hiệu lực chính quyền của chế độ mới. Cùng với sự ra đòi của Ủy ban nhân dân cách mạng, các tổ chức vũ trang, các đoàn thể quần chúng cũng nhanh chóng được thành lập. Các tổ chức thanh niên, phụ nữ, thiếu niên trở thành lực lượng xung kích trong các cuộc vận động cách mạng, ở hầu hết các xã ấp, đều xây dựng được phong trào văn hoá, văn nghệ tươi vui lành mạnh. Những buổi giao lưu biểu diễn văn nghệ giữa bộ đội và nhân dân liên tiếp được tổ chức với nhiều tiết mục tự biên, tự diễn mang nội dung mới, thu hút hàng chục nghìn người xem đã thiết thực động viên nhân dân tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới. Để góp phần ổn định đời sống nhân dân, các đội công tác của trung đoàn đã cùng chính quyền địa phương từng bước giải quyết trợ cấp, cứu tế và việc làm cho nhiều gia đình lao động ở huyện Di Linh và Bảo Lộc. Bên cạnh đó, cán bộ, chiến sĩ ta còn vận động các gia đình tham gia đi xây dựng vùng kinh tế mới.

Những thành quả bước đầu của ta trong việc xây dựng chính quyền mới và giải quyết những vấn đề xã hội, bảo đảm cuộc sống của nhân dân, làm cho quần chúng phấn khởi, đặc biệt là kẻ thù càng thêm tức tối. Vì thế chúng tìm mọi cách để phá hoại ta. Trên địa bàn trung đoàn đảm nhiệm, chúng thường xuyên gây ra nhiều vụ bắn lén, đặt mìn, phao tin đồn nhảm, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và lợi dụng tôn giáo để móc nối, tụ tập bọn tàn quân và những phần tử phản động chống phá lại chính quyền cách mạng.

Trong gần nửa năm làm công tác phát động quần chúng, xây dựng chính quyền cách mạng, các đội công tác của Trung đoàn 66 đã cùng các lực lượng địa phương phá tan nhiều tổ chức phản động, góp phần cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn trong khu vực do trung đoàn đảm nhiệm. Đồng bào các dân tộc huyện Di Linh, Bảo Lộc tin yêu bộ đội Trung đoàn 66 như con em của buôn làng mình. Họ sẵn sàng giúp đỡ bộ đội, nghe theo bộ đội Bác Hồ làm việc tốt, có lợi cho cách mạng. Nhiều gia đình tự động vào rừng tìm chồng, con, em đang bị FULRO lừa gạt, lôi kéo đổ thuyết phục và gọi họ trở về buôn làng. Bằng nhiều hình thức phong phú, vừa truy quét, vừa gọi hàng, chỉ trong một thời gian ngắn đã có hàng trăm người mang theo vũ khí ra trình diện chính quyền cách mạng.

Sau gần hai tháng làm công tác vận động quần chúng và truy quét FULRO, tình hình an ninh chính trị ở khu vực huyện Di Linh và huyện Bảo Lộc đã tương đối ổn định. Trong thời gian này đã xảy ra nhiều cuộc chiến đấu nhỏ lẻ giữa bộ đội của Trung đoàn 66 với lực lượng FULRO và lực lượng tàn quân ngụy. Có những bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 bị chúng phục kích và bị tổn thất. Một số cán bộ và chiến sĩ ta đã bị thương vong.

Cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1975, Sư đoàn 304 tiếp tục đưa Trung đoàn 24 lên làm công tác xây dựng cơ sở cách mạng và truy quét FULRO trên địa bàn tỉnh Tuyên Đức. Lực lượng của Trung đoàn 24 đóng quân ở huyện Đức Trọng, Đơn Dương để bảo vệ Nhà máy thủy điện Đa Nhim và sân bay Liên Khương. Giai đoạn này Trung đoàn 66 thường xuyên đưa bộ đội lên phối hợp hiệp đồng tác chiến với Trung đoàn 24 dưới sự chỉ đạo và chỉ huy của Sư đoàn 304 để truy quét FULRO và xây dựng cơ sở chính quyền cách mạng vùng mới giải phóng.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:22:54 PM
Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1975, tôi được giao nhiệm vụ lên gặp đồng chí Phạm Thái Bân - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 ở thị trấn Đức Trọng để cùng đi trinh sát địa hình khu vực tỉnh Tuyên Đức và một phần tỉnh Quảng Đức, một phần phía tây bắc tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Lâm Đồng bằng máy bay trinh sát U.17 của ta mới thu được của quân ngụy. Cùng đi trên máy bay có 6 người, hai phi công, tôi và đồng chí Phạm Thái Bân, cùng hai cán bộ trinh sát của sư đoàn. Khoảng 13 giờ, máy bay cất cánh. Chúng tôi bay ở độ cao thấp, chỉ cách những ngọn cây cao khoảng vài trăm mét, vòng đi vòng lại nhiều lần trên những cánh rừng già để quan sát phát hiện các lán trại của lực lượng FULRO hoặc tàn quân ngụy trú quân và hoạt động của chúng trong rừng. Máy bay cứ bay đi, bay lại như vậy suốt mấy giờ đồng hồ. Đến 3 giờ chiều, phi công định cho máy bay hạ cánh xuống sân bay Liên Khương thuộc huyện Đức Trọng thì đúng lúc đó trời lại mưa to, bị mây mù nên máy bay không hạ cánh được. Máy bay phải vòng về đến tận sân bay Biên Hòa xin hạ cánh, nhưng không được phép hạ cánh. Do vậy, máy bay chúng tôi lại phải bay trở về vùng trời tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức. Gần 30 phút bay lượn trên không ở độ cao rất cao, phi công báo cho chúng tôi nếu trong nửa giờ nữa không hạ cánh được, máy bay sẽ hết nhiên liệu. Mọi người trong đoàn rất lo lắng và không biết phải xử trí thế nào, đành ngồi im tùy đồng chí phi công xử lý. May mà đến gần 16 giờ, khu vực sân bay Liên Khương đã tạnh mưa, trời quang mây dần và máy bay của chúng tôi có thể hạ cánh được. Khi máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Liên Khương, mọi người trong đoàn mới thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi không hiểu gì về kỹ thuật hàng không, nhưng các phi công cho biết, nếu lúc đó không hạ cánh được xuống Liên Khương thì chỉ vài phút sau họ sẽ quyết định hạ cánh trên đoạn đường thẳng và lớn nhất của đường số 20 thuộc địa phận huyện Đức Trọng, nếu may thì sẽ an toàn, còn không sẽ hy sinh cả. Thật là hú vía. Lần đầu tiên được ngồi trên máy bay và cũng là lần chết hụt đầu tiên bởi kỹ thuật hàng không của tôi. Khi chúng tôi về đến Ban chỉ huy Trung đoàn 24, mọi người đều mừng rỡ vì khi biết tin máy bay đã bay hơn 3 tiếng lại không thể hạ cánh nên ai cũng rất lo. Thường thì máy bay chỉ bay được hơn 2 tiếng hoặc gần 3 tiếng đồng hồ là phải hạ cánh. Mọi người vui mừng vì chúng tôi đã an toàn trở về. Tối hôm đó trở về Sở chỉ huy Trung đoàn 66, tôi báo cáo lại tình hình bay trinh sát và tình huống hiểm nguy của chuyến bay, mọi người đều chúc mừng tôi vì đã thoát chết trở về.

Tiếp đó, đến tháng 10 năm 1975, chúng tôi vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ truy quét FULRO và xây dựng chính quyền cách mạng ở các khu vực trên. Giai đoạn này FULRO không hoạt động dọc đường số 20 nữa mà hoạt động ở những huyện vùng sâu như huyện Đơn Dương, Lạc Dương, Đạ Oai giáp với tỉnh Quảng Đức. Phương thức truy quét FULRO của chúng tôi cũng được hiện đại hoá, sử dụng máy bay trực thăng chở bộ đội từ sân bay rồi đổ bộ xuống các khu vực FULRO hoạt động. Hằng ngày cán bộ quân sự đi trinh sát bằng máy bay trực thăng, phát hiện được chỗ nào có nhiều lán trại của bọn FULRO thì xác định, đánh dấu tọa độ vào bản đồ. Tại sân bay Liên Khương, cứ mỗi chuyến 3 chiếc trực thăng UH.1A chở được khoảng một trung đội bộ binh đổ quân xuống khu vực có lực lượng FULRO để chiến đấu, truy quét và tiêu diệt. Trung đoàn 66 đã tiến hành như vậy được hai đợt thì lực lượng FULRO không dám ở tập trung, chúng phải phân tán về các buôn làng. Do vậy, chúng tôi không sử dụng trực thăng nữa mà tiến hành đưa từng đại đội tổ chức ăn ở dã ngoại tại các buôn làng thuộc vùng sâu vùng xa, vừa sẵn sàng truy quét tiêu diệt lực lượng FULRO, vừa xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng và làm công tác vận động quần chúng.

Đến cuối tháng 11 năm 1975, nhiệm vụ truy quét FULRO của Trung đoàn 66 cơ bản hoàn thành. Ngày 20 tháng 11, tôi được Sư đoàn cho về nghỉ phép. Từ Lâm Đồng tôi đi xe về sở chỉ huy Sư đoàn ở Tổng kho Long Bình, rồi đến Ban Cán bộ lấy giấy phép. Sau đó, tôi được cơ quan tác chiến Sư đoàn 304 bố trí đi ra Bắc bằng máy bay C.130 tại sân bay Tân Sơn Nhất. Vì đi máy bay, tôi không mang được gì nặng, chỉ có chiếc ba lô với một con búp bê có hai mắt biết nhắm mở, 2 chiếc đài, trong đó có 1 chiếc cát sét JVC 2 cửa băng, 1 chiếc đài Na-ti-on-na 3 băng về làm quà cho bố và mấy cuộn len, mấy mảnh vải lụa mua được từ chợ Đà Lạt về làm quà cho mẹ, cho vợ và hai em gái. Khi tôi lên máy bay C.130 - một loại máy bay quân sự lớn của Mỹ trước đây, ngồi vào hàng ghế dọc như những chiếc ghế băng trong các lớp học trước đây, tôi lại nghĩ đến chuyến bay trinh sát truy quét FULRO bằng máy bay U.17 hồi tháng trước nên thấy hơi sờ sợ, nhưng vì muốn nhanh được về nhà gặp bố mẹ, gặp vợ và người thân trong gia đình, nên tôi cũng tự trấn an mình.

 Sau khoảng 3 giờ bay, máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm vào một buổi chiều mùa đông. Nhiều năm không được hưởng cái rét của miền Bắc, buổi sáng còn ở miền Nam buổi chiều đã ở miền Bắc, khi ra khỏi máy bay gặp ngay gió mùa đông bắc tôi cảm thấy rét thấu xương. Theo hướng dẫn của đồng chí Cục Tác chiến, tôi vai đeo ba lô, tay xách chiếc cát-sét lên chiếc xe tải quân sự về nội thành Hà Nội. Lần đầu tiên được đến Hà Nội trong khung cảnh đất nước hòa bình, thống nhất, nhìn cái gì tôi cũng thấy lạ. Mấy ngày được sống ở Sài Gòn, một thành phố rộng lớn và náo nhiệt, nay về đến Hà Nội tôi mới thấy hai thành phố khác hẳn nhau. Hà Nội luôn nằm trong ký ức của tôi, đó là Hà Nội, niềm tin và hy vọng trong suốt chặng đường vào miền Nam chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nhưng lúc đó tôi chỉ mong sao nhanh chóng được trở về nhà.

Về đến trạm khách của Quân đoàn 2 ở gần chợ Bưởi, xuất trình giấy tờ xong, nhân viên của trạm đưa tôi về phòng nghỉ. Sáng hôm sau, đồng chí Trạm trưởng hướng dẫn tôi ra đi xe điện từ Bưởi ra Bờ Hồ, sau đó ra ga Hàng Cỏ đến bến xe Kim Liên để mua vé xe về Phủ Lý. Lần đầu tiên tôi được ngồi trên chiếc xe điện, tôi rất lạ lẫm. Nhưng vì chặng đường về quê đang dần ngắn lại, tôi cảm thấy như quê hương Khả Phong thân yêu đang hiện dần trước mắt nên tôi chỉ mong mau chóng ra được bến xe để mua vé về quê. Sau đó, xe điện dừng ở ga Hàng Cỏ, từ đó tôi đi bộ thêm một đoạn nữa thì ra đến bến xe Kim Liên. Tôi vào phòng bán vé và đưa giấy giới thiệu của Trạm khách quân đoàn để mua vé xe. Thấy tôi mặc bộ quần áo Tô Châu mới, đeo quân hàm đại úy, mọi người ở quanh đó nhìn, trầm trồ bàn tán, vì họ thấy tôi còn quá trẻ. Sau khi mua vé, tôi lên xe đi về thị xã Phủ Lý. Tuyến đường từ Hà Nội về Phủ Lý gần 60 cây số mà tôi cảm thấy rất nhanh. Gần 3 giờ chiều, tôi về tới Phủ Lý. Ngay sau khi xuống xe, tôi vội đi bộ về nhà. Đên gần tối tôi về đến đầu làng. Bước chân trên con đường làng, chân tôi như ríu lại, mọi cái đều thấy ngỡ ngàng, dưới ánh đèn dầu nhỏ nhoi, le lói từ những căn nhà hắt ra dọc đường đi, tôi chỉ mong sao mau chóng về đến ngôi nhà thân yêu của mình, nơi đó có bố mẹ, người vợ trẻ và hai cô em gái đang ngóng chờ.

Khi về đến đầu ngõ, người tôi gặp đầu tiên là ông Tuệ - người họ hàng của gia đình, trong ánh sáng lờ mờ ông nhận ra tôi, ông reo lên: Thằng Thệ đã về! Và ông gọi to vào nhà tôi: Ông Huệ ơi! Thằng Thệ đã về này! Khi nghe ông hô to, tôi cũng hơi sững lại bởi một cảm giác khó tả, có lẽ là cảm giác của người con đi xa khi trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Khi bước chân vào bậc thềm căn nhà nhỏ của mình, người tôi gặp đầu tiên là mẹ, sau đó là vợ và bố tôi. Ba người như sững lại, bàng hoàng vì tôi về đột xuất mà không báo trước. Tôi vội bỏ chiếc ba lô ra khỏi vai, mẹ tôi bước đến, hai tay mẹ sờ nắn tay tôi và nói: Cha bố anh, giải phóng mãi rồi, sao bây giờ anh mới về! Rồi nước mắt chảy tràn xuống hai gò má khô, gầy của mẹ. Tôi rưng rưng ôm bờ vai người mẹ. Còn Dung cứ đứng lặng nhìn tôi hồi lâu rồi vội vã đi đun nước hãm chè tươi. Bố tôi cứ đứng im nhìn tôi, miệng ông mấp máy mà không nói nên lời. Chỉ một lát sau, mọi người trong xóm đã đến tụ tập chật ngôi nhà nhỏ của tôi. Bố tôi đi tìm chiếc đèn bão thắp lên để căn nhà được sáng hơn. Vợ tôi luýnh quýnh mang nước và bày biện cốc chén mời mọi người uống nước chè xanh Ba Sao. Mọi người trong xóm hỏi tôi có gặp người này, người kia cùng làng không? Thành phố Sài Gòn như thế nào? Chuyện bắt Dương Văn Minh như thế nào?... Rồi mọi người nói, sau ngày 30 tháng 4, được nghe đài nói về quân ta đánh vào dinh Độc Lập bắt tổng thống Dương Văn Minh, trong đó có chú, chỉ mong chú về để hỏi cụ thể...

Sau khi đã chào hỏi các bà con chòm xóm, tôi hào hứng kể lại cho mọi người nghe những giờ phút cùng đồng đội vào dinh Độc Lập bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4. Mọi người khen ngợi và rất vui trước sự trưởng thành của tôi. Mãi đến tận khuya, mọi người trong xóm mới chịu ra về.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:26:46 PM
Tiết trời cuối năm rất lạnh, sau hơn hai năm vợ chồng mới được gặp nhau, một buổi tối yên bình ở làng quê, suốt đêm tôi không chợp được mắt, hết hỏi vợ tôi chuyện ở quê nhà rồi tôi kể chuyện chiến đấu ở miền Nam cho vợ nghe và lên kế hoạch đi thăm gia đình bạn bè đồng chí, đồng đội. Sáng hôm sau vợ tôi dậy rất sớm để nấu cơm, phong tục quê tôi lại ăn bữa sáng là chính để mọi người đi làm đồng. Sau khi ăn cơm xong, mọi người đi ra đồng ngay, vì giai đoạn này là cuối tháng 10 âm lịch nên đang vào vụ thu hoạch lúa mùa. Khoảng 8 giờ sáng vợ tôi lên cơ quan báo cáo xin nghỉ phép. Lúc này Dung vẫn làm ở cửa hàng lương thực huyện Kim Bảng. Một ngày trong chiến tranh tôi thấy rất dài nhưng một ngày về bên gia đình và người thân tôi thấy trôi đi rất nhanh.

Ba ngày sau, bố vợ tôi cũng từ chiến trường trở về. Lần đầu tiên được gặp bố vợ, vì ông đi chiến đấu ở chiến trường xa. Tháng 4 năm 1973, tôi với Dung thành hôn thì ông cũng đang chiến đấu ở chiến trường Lào. Sau khi chiến tranh kết thúc tôi trở về họ hàng và gia đình vui lắm, đến khi bố vợ tôi cũng trở về thì niềm vui ấy được nhân lên gấp bội. Hòa chung niềm vui đất nước thống nhất, những ngày này gia đình chúng tôi cũng vui như có hội, người đến chơi tấp nập thăm hỏi sức khỏe tôi và hỏi thăm tin tức của con em mình vẫn đang ở miền Nam chưa về... Suốt mấy tuần liền nhà tôi lúc nào cũng có khách. Cùng thời gian này, trong xã cũng có một số anh em từ chiến trường trở về quê hương. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, hỏi han nhau ai còn, ai mất trong các trận chiến đấu ở chiến trường và tất cả đều rất phấn khởi vì những người con của quê hương được trở về sau chiến tranh.

Những ngày tiếp theo, tôi đi thăm gia đình một số đồng chí cùng đơn vị nhưng chưa được nghỉ phép. Đến Bình Lục, tôi thăm gia đình anh Mai Đại Thắng, tôi đưa thư và quà của anh gửi cho bố mẹ. Gia đình anh vô cùng vui sướng và phấn khởi vì biết được tin tức của con em mình. Mấy hôm sau tôi đạp xe từ nhà qua bến phà Yên Lệnh đến huyện Yên Mỹ tỉnh Hải Hưng thăm gia đình đồng chí Lương Ngọc Bát - người Chính trị viên đại đội đã chiến đấu cùng tôi ở Quảng Trị những năm 1971-1972, nay anh đang là Trợ lý cán bộ Sư đoàn 304. Tôi gặp mẹ và vợ anh, tôi đưa thư, quà và chiếc đài 3 băng anh gửi cho gia đình. Hàng xóm xung quanh nhà anh đổ đến rất đông để hỏi thăm tình hình sức khỏe của anh. Tôi kể chuyện tình hình sức khỏe và công tác của anh Bát cho mọi người trong gia đình nghe, mọi người rất vui. Chiều hôm đó tôi ăn cơm ở nhà anh Bát rồi đạp xe về. Khi tôi về đến nhà thì trời đã tối. Hàng tuần liền, tôi tranh thủ đi thăm gia đình anh em bạn bè trong đơn vị và bà con trong xóm ngoài làng. Đi đến đâu tôi cũng được mọi người đón tiếp ân cần, vui vẻ.

Một hôm, bố vợ tôi cùng tôi đi thăm ông chú vợ là sĩ quan không quân đang đóng quân tại Sóc Sơn. Hai bố con tôi đi xe đạp từ Khả Phong ra thị xã Phủ Lý, sau đó gửi xe vào nhà người quen rồi mua vé ô tô lên Phúc Yên. Ý định của bố tôi là đến Kim Anh tỉnh Vĩnh Phú thì xuống xe rồi đi bộ vào cổng phía tây của sân bay Nội Bài. Nhưng trên xe mải chuyện trò, nên bố con tôi đã đi quá lên tận bến xe thị trấn Phúc Yên, quá nơi định xuống gần 10 cây số, thế là hai bố con tôi phải đi bộ quay trở lại. Do vậy đến khuya bố con tôi mới tìm đến dược doanh trại của ông chú vợ. Bố con tôi ở đó chơi một ngày. Đến ngày hôm sau bố đưa tôi về nghỉ tại nhà khách Bộ Tư lệnh Thông tin ở cạnh Đền Voi Phục, phía tây Hà Nội vì lúc này ông đang là sĩ quan thông tin. Hôm sau, bố tôi làm việc với đơn vị của ông, đến quá chiều hai bố con mới ra bến xe Kim Liên mua vé xe về Phủ Lý.

Thời gian nghỉ phép khi đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh qua đi rất nhanh, để lại trong tâm trí tôi nhiều kỷ niệm không quên.

Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1975 tôi trả phép trở về đơn vị. Lúc này Trung đoàn 66 đã về đóng quân ở thị xã Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng, về đơn vị, tôi tiếp tục tham gia chỉ huy đơn vị làm công tác vận động quần chúng ở thị xã Bảo Lộc. Lúc này Tiểu đoàn 7 vẫn đang làm nhiệm vụ truy quét FULRO ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng. Đầu tháng 1 năm 1976, Tiểu đoàn 7 báo cáo về Trung đoàn 66 là có lực lượng FULRO vào cướp phá, sát hại một gia đình cán bộ người dân tộc không chịu theo chúng và khống chế nhân dân ở buôn làng vùng sâu, vùng xa cách thị trấn Di Linh khoảng 20 cây số. Theo trinh sát của cơ quan quân sự địa phương cho biết, đây là khu vực có căn cứ của bọn chỉ huy đầu sỏ FULRO.

Ban chỉ huy Trung đoàn 66 đã họp bàn và thống nhất sử dụng Tiểu đoàn 7 thực hành bao vây để tiêu diệt lực lượng này. Tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí cán bộ cơ quan, chỉ huy Tiểu đoàn 7 thực hiện nhiệm vụ trên. Khi đến Tiểu đoàn 7, tôi và các đồng chí cán bộ cơ quan nhanh chóng nắm và đánh giá tình hình, bàn bạc nghiên cứu phương án tác chiến. Ngay sau đó, chúng tôi tổ chức lực lượng phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương huyện Di Linh tổ chức đi trinh sát nắm tình hình ở buôn Đinh Trang Hạ. Đến nơi, chúng tôi tổ chức bộ phận đi trinh sát nắm địch, bộ đội đóng quân tại buôn làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng để đồng bào không hoang mang dao động. Trung đoàn đã chỉ đạo tổ chức cho bộ đội về “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với đồng bào. Sau đó, tình hình an ninh trật tự trong bản Đinh Trang Hạ dần dần trở lại bình thường. Hằng ngày, bộ đội cùng dân bản ra nương rẫy sản xuất. Tối đến bộ đội sinh hoạt văn hóa cùng đồng bào. Ban đêm, chúng tôi cử bộ đội cùng du kích xã canh gác các ngả đường ra vào buôn làng. Do vậy, thời gian sau lực lượng FULRO ở khu vực này cũng không dám tổ chức hoạt động mạnh nữa.

Qua công tác trinh sát của Trung đoàn 66 kết hợp với trinh sát của bộ đội địa phương huyện đã phát hiện được lực lượng FULRO ẩn náu cách buôn Đinh Trang Hạ khoảng 5 cây số ở trong rừng sâu. Bọn địch ở đây có gần một trung đội, trong đó có tên trung tá Kà Lăm là thủ lĩnh lực lượng FULRO ở tỉnh Lâm Đồng trực tiếp chỉ huy. Sau khi nghiên cứu dự kiến phương án và kế hoạch chiến đấu, tôi báo cáo với Ban chỉ huy Trung đoàn 66. Đồng chí Nguyễn Sơn Văn - Trung đoàn trưởng và đồng chí Chính ủy Lê Xuân Lộc lên tận Di Linh để thông qua kế hoạch tác chiến. Kế hoạch của tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn đồng ý. Tiếp đó, Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi là phải tiêu diệt được địch, thu được vũ khí và hạn chế thấp nhất thương vong của ta để lấy lại niềm tin cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đang bị lực lượng FULRO khống chế. Ngay sau đó, chúng tôi điều thêm một đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 7 lên Đinh Trang Hạ. Như vậy, chúng tôi sử dụng một tiểu đoàn thiếu để thực hiện kế hoạch tác chiến trên. Theo phương án, một trung đội bộ binh ở lại chốt giữ trong buôn. Hai đại đội hình thành ba mũi tiếp cận sào huyệt của lực lượng FULRO. Vì khu vực này tiếp giáp với tỉnh Ninh Thuận, nêu không bao vây chặt và ngăn chặn được thì chúng sẽ chạy xuống vùng rừng núi rất hiểm trở thuộc tỉnh Ninh Thuận. Khi tiếp cận địch, lực lượng trinh sát đi trước dò đường bám địch, bộ binh đi sau sẵn sàng triển khai đội hình tập kích địch.

Sau 3 ngày, lực lượng trinh sát đã phát hiện được vị trí trú quân của địch. Chúng tôi tổ chức các đơn vị hình thành thế bao vây và từng bước siết chặt vòng vây quân địch. Ý định của Trung đoàn là dùng hỏa lực B.40, B.41, cối 82 ly, ĐKZ 75 tập kích vào đội hình của địch trước, sau đó mới dùng bộ binh xung phong. Trong quá trình tiếp cận, toán địch cảnh giới ở vòng ngoài đã phát hiện được lực lượng ta và nổ súng. Trước tình huống trên, tôi ra lệnh nổ súng xung phong tiêu diệt địch. Bị đánh từ nhiều hướng, địch chống trả trong ít phút, sau đó tháo chạy về hướng giáp ranh tỉnh Ninh Thuận. Dự đoán trước được tình huống trên, chúng tôi đã sử dụng một trung đội của Tiểu đoàn 7 có một tiểu đội bộ đội địa phương huyện Di Linh dẫn đường vận động xuyên rừng để chốt chặn. Dù thông thạo và quen hoạt động ở địa hình rừng núi, nhưng trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn địch ngoan cố chống cự quyết liệt.

Trận chiến đấu diễn ra khoảng gần một giờ đồng hồ thì toàn bộ lực lượng FULRO ở đây bị loại khỏi vòng chiến đấu, ta tiêu diệt 5 tên và bắt 20 tên. Qua khai thác tù binh, bọn chúng khai tên Kà Lăm và một số tên đã chạy thoát lên đỉnh ngọn núi cao phía đông nam. Chúng nói trên đó có hang rộng và đường lên rất hiểm trở. Do còn lạ địa hình nên bộ đội ta không truy kích tiếp được. Sau đó, chúng tôi thu dọn chiến trường, thu được hàng chục khẩu tiểu liên cực nhanh M16 và M79. Trong trận chiến đấu này, ta hy sinh 2 đồng chí, bị thương 3 đồng chí. Trong số hy sinh có đồng chí Nguyễn Văn Hứa quê ở Ninh Bình, là công vụ của đồng chí Trung đoàn trưởng mới được đưa xuống làm Trung đội trưởng ở Đại đội 3 Tiểu đoàn 7.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:29:54 PM
Sau trận chiến đấu này, chúng tôi rút ra được kinh nghiệm bám nắm địch và quy luật hoạt động của bọn FULRO. Trung đoàn 66 đã tổ chức rút kinh nghiệm và phổ biến cho các đơn vị. Từ sau trận đánh vào sở chỉ huy của FULRO ở cách Đinh Trang Hạ khoảng 5 cây số thỉ bọn chúng không hoạt động mạnh như trước đây nữa. Giai đoạn này chúng tôi đưa bộ đội đóng quân ở ngay trong các buôn làng làm công tác vận động quần chúng và xây dựng chính quyền, tham gia lao động sản xuất cùng nhân dân, đồng thời trấn áp bọn FULRO và các phần tử phản động.

Đầu năm 1976, Trung đoàn 66 tổ chức cho bộ đội ăn Tết Nguyên đán Bính Thìn cùng đồng bào tại các buôn làng vùng sâu, vùng xa. Đây là cái tết hòa bình độc lập đầu tiên, bộ đội miền Bắc được ăn tết cùng với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng giải phóng Tây Nguyên.

Sau Tết Nguyên đán, cuối tháng 2 năm 1976, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy bộ phận Sở chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 66 hành quân ra huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam để chuẩn bị mặt bằng xây dựng doanh trại đóng quân mới của trung đoàn. Thành phần Sở chỉ huy nhẹ có các đồng chí Tham mưu phó, đồng chí Phó chủ nhiệm Chính trị, đồng chí Phó chủ nhiệm Hậu cần, một số đồng chí trợ lý cùng một số nhân viên của ba cơ quan và chỉ huy Đại đội 15 ĐKZ 75, Đại đội 16 súng máy phòng không 12,7 ly. Ngày 25 tháng 2 năm 1976, chúng tôi bắt đầu hành quân, sau 4 ngày thì ra đến Đà Nẵng. Đến nơi, tôi đến báo cáo đồng chí Sư đoàn phó Sư đoàn 304 Đặng Đình Hồ. Đồng chí giao nhiệm vụ cho tôi và cử cán bộ tác chiến của sư đoàn đưa chúng tôi về xã Hòa Khương huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam để nhận mặt bằng xây dựng doanh trại. Khi về đến Hòa Khương, chúng tôi gặp chính quyền địa phương để trao đổi tình hình. Các cán bộ địa phương đã dẫn chúng tôi vào một cánh đồng có tên là Đồng Nghệ, nằm phía đông dãy núi Sơn Gà. Đây là một bãi đất nằm dốc thoai thoải rất rộng, nhiều cây sim, cây mua, lau lách và cây chà là...

Sau khi nghiên cứu mặt bằng, tôi chỉ đạo anh em phát cây dựng lán trại cho hai đại đội 15 và 16. Tiếp đó, chúng tôi xây dựng lán trại cho sở chỉ huy nhẹ trung đoàn. Tại đây, bộ đội vừa xây dựng lán trại vừa cuốc đất trồng rau, trồng ngô, khoai, sắn... Mấy ngày sau đó, cơ quan sư đoàn xuống cùng chúng tôi đo đạc, xác định mặt bằng để xây dựng doanh trại cho cả trung đoàn.

Sang cuối tháng 3 đầu tháng 4, Sư đoàn 304 lại giao nhiệm vụ cho chúng tôi bàn giao địa bàn và mặt bằng khu vực Hoà Khương cho Trung đoàn 9. Chúng tôi nhận lệnh hành quân về thôn Nam Ô, nằm ở chân đèo Hải Vân để nhận vị trí mới xây dựng doanh trại của trung đoàn. Đến Nam Ô, chúng tôi được nhân dân đón tiếp rất nồng nhiệt. Đây là một thôn chuyên làm nghề chài lưới, nhà cửa rất hẹp nhưng vẫn nhường chỗ cho bộ đội ở. Tôi tổ chức cho một bộ phận đóng quân ở nhà dân, một bộ phận ở dã ngoại dựng lán trại trên bãi cát trong rừng dừa ở thôn Nam Ô, sát biển. Chúng tôi vừa củng cố nơi ăn ở, cơ quan sư đoàn xuống giao mặt bằng xây dựng doanh trại cho chúng tôi. Đó là một bãi cát rộng ở chân đèo Hải Vân, cách đường số 1 khoảng 500 mét. Trên bãi cát chỉ có cây xương rồng và những cụm dứa dại mọc. Ngay sau dó chúng tôi nghiên cứu, đo đạc mặt bằng, chuẩn bị lán trại cho 2 đại đội 15 và 16 ra ở tại đó để tập kết vật liệu chuẩn bị xây dựng doanh trại cho cả trung đoàn.

Địa bàn xây dựng doanh trại toàn là vùng cát nên bộ đội phải khắc phục nhiều khó khăn như: thời tiết nắng nóng khắc nghiệt, nguyên vật liệu xây dựng chưa tập kết đủ... Suốt từ cuối tháng 3 đến hết tháng 4 năm 1976, hai đại đội 15 và 16 mới làm xong doanh trại. Tôi cùng cơ quan nghiên cứu xác định mặt bằng cho từng tiểu đoàn để khi trung đoàn hành quân ra đến nơi các đơn vị vào ngay vị trí đóng quân. Lúc này đại bộ phận lực lượng của Trung đoàn 66 đang ở Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng.

Cuối tháng 5 năm 1976, tôi được cấp trên thăng quân hàm Thiếu tá và được lệnh trở về Sở chỉ huy Trung đoàn 66 ở Bảo Lộc. Đầu tháng 6 năm 1976, tôi về đến Bảo Lộc. Lúc này các đại đội trực thuộc và Tiểu đoàn 8 đang chuẩn bị hành quân ra Đà Nẵng. Tôi được giao nhiệm vụ ở lại để tổ chức cho các đơn vị lần lượt hành quân. Đến trung tuần tháng 6 năm 1976, các đơn vị trong Trung đoàn 66 bắt đầu hành quân ra Đà Nẵng.

Đến tháng 7 năm 1976, tôi được cấp trên cử đi học nên không theo đơn vị ra Đà Nẵng nữa. Đầu tháng 8 năm 1976, tôi về Học viện Quân sự Đà Lạt để tập trung chuẩn bị khai giảng năm học 1976-1977. Đây là lần đầu tiên tôi được vào một trường quân sự chính quy để học. Từ ngày nhập ngũ đến khi là cán bộ trung đoàn, qua chiến đấu nhiều nhưng tôi chỉ được huấn luyện tại đơn vị, tự học, tự rèn, học qua đồng chí, đồng đội và tự đúc rút kinh nghiệm chiến đấu qua từng trận đánh chứ chưa từng được học một cách bài bản qua trường lớp chính quy nào. Do vậy, khi đặt chân đến một nhà trường chính quy thì tôi không khỏi cảm thấy có nhiều bỡ ngỡ và lúng túng.

Về học viện, tôi được biên chế vào lớp bổ túc cán bộ trung đoàn. Khóa bổ túc của chúng tôi có hai lớp A và B, mỗi lớp khoảng 60 đồng chí. Lớp chúng tôi biên chế thành 6 tiểu đội, mỗi tiểu đội 10 người. Tôi được cử làm Tiểu đội trưởng. Trong tiểu đội và trong lớp học có một phần ba là cán bộ trung đoàn, tuổi đời sàn sàn như tôi hoặc chỉ hơn nhau ba, bốn tuổi. Một số đồng chí là cán bộ các cơ quan Bộ Quốc phòng nay mới được đi học, nhiều tuổi hơn chúng tôi mà quân hàm đa số là đại úy, nên trong sinh hoạt tiểu đội tôi thấy rất khó khăn trong xưng hô và cắt cử công tác. Việc học tập hay lao động tăng gia sản xuất, giúp bộ phận nuôi quân dọn dẹp bếp ăn của nhà trường và vệ sinh phải cắt cử hằng tuần, do vậy tôi gặp nhiều lúng túng. Nhưng trong tiểu đội, các đồng chí rất tự giác, cứ lần lượt chấp hành theo đúng quy định của Học viện nên dần dần không thấy khó khăn nữa.

Thời gian này, học viện mới chuyển từ Hà Nội vào. Trước đây, khi giải phóng doanh trại này thuộc Tỉnh đội Tuyên Đức quản lý nên còn ngổn ngang, bề bộn. Khi địch rút chạy, chúng đã phá phách, nên chúng tôi phải củng cố nơi ăn ở mất hàng tháng trời. Ngày 5 tháng 9 năm 1976, lần đầu tiên trong đời tôi được ngồi trong hội trường dự lễ khai giảng khóa học của một học viện lớn của quân đội. Tôi rất vui mừng, xúc động và có nhiều bỡ ngỡ. Vì tôi trưởng thành trong chiến đấu từ chiến sĩ đến cán bộ trung đoàn nên chưa biết viết vẽ bản đồ theo quy cách tham mưu, thể hiện các hình thức chiến thuật một cách cơ bản như thế nào nên tôi lo lắm. Đây được coi như lớp vỡ lòng và làm quen các thuật ngữ quân sự, các từ ngữ chiến thuật, cách thể hiện, cách viết, vẽ trên bản đồ và tiêu đề các văn kiện. Bước đầu tôi rất lúng túng, vì bản thân tôi chữ viết không đẹp, vẽ lại không khéo, nhưng được các anh đã là trợ lý các cơ quan Bộ và anh Thước là Trung đoàn trưởng ở Sư đoàn 320 chỉ bảo, giúp đỡ nhiều, nên dần dần tôi cũng học tập và tiếp thu được kiến thức của các thầy giáo giảng trên lớp. Ngoài giờ học, giờ tăng gia, giờ thể thao và sinh hoạt tôi, tại phòng nghỉ tôi và đồng chí Nguyễn Năng Nguyễn - Đại úy, Tiểu đoàn trưởng của Đoàn Đồng Xoài ở cùng phòng lại tranh thủ tập viết vẽ, đọc tài liệu nên tôi nhanh chóng đạt được những điểm khá trong học tập. Sau một năm học tập, tháng 8 năm 1977, tôi tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi.

Rời Học viện Quân sự Đà Lạt, tôi trở về Quân đoàn 2 nhận công tác. Lúc này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đóng tại căn cứ Phú Bài, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tôi về trạm khách của Quân đoàn 2 và nghỉ ở đó 2 ngày. Sau đó, Phòng Cán bộ Quân đoàn viết giấy giới thiệu tôi về nhận công tác tại Sư đoàn 304. Ngay sau đó tôi đi từ Huế về Trạm khách Sư đoàn 304, lúc này đang đóng quân ở khu vực núi Phước Tượng. Khu vực này trước đây là sở chỉ huy của sư đoàn bộ binh 3 quân ngụy cũ. Tại đây, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 tiếp tục điều tôi về giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 66. Như vậy sau một năm đi học, tôi lại được trở về đơn vị Trung đoàn 66 thân yêu của mình. Lúc này sở chỉ huy Trung đoàn 66 đóng ở ngã ba Hòa Khánh thuộc thành phố Đà Nẵng.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 02:33:34 PM
Trở về vị trí công tác cũ, tôi lại được Ban chỉ huy Trung đoàn 66 giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tiếp tục xây dựng doanh trại ở Nam Ô. Vì tôi là cán bộ trẻ nên được cấp trên tạo điều kiện học bổ túc văn hóa để đào tạo cán bộ phục vụ lâu dài trong quân đội. Tháng 11 năm 1977, tôi nhận quyết định ra Bắc để học văn hóa. Đến trung tuần tháng 11 năm 1977, tôi đi xe khách từ Đà Nẵng ra Hà Nội. Sau gần một ngày đêm, một buổi trưa mùa đông cuối năm tôi về đến thị xã Phủ Lý. Sau đó tôi thuê xích lô chở một chiếc hòm gỗ to đựng quân tư trang (lúc này là hòa bình nên mỗi cán bộ chúng tôi ngoài chiếc ba lô còn có một chiếc hòm gỗ đựng quần áo), còn tôi đạp xe đạp - chiếc xe tôi mua ở Di Linh - Lâm Đồng hồi đi truy quét FULRO - về quê.

Khoảng 2 giờ chiều tôi về đến nhà. Người đầu tiên tôi gặp là mẹ tôi, bà đang dẫn một bé gái đã chập chững biết đi. Thấy tôi, mẹ tôi reo lên: Bố Hằng đã về kìa! Con bé đang được bà dắt thấy tôi nó vội chạy núp đằng sau chân bà, ngoái cổ nhìn tôi với đôi mắt tròn xoe. Mẹ tôi khoe: Con gái anh đấy! Tôi hơi sững lại một chút (qua thư vợ gửi tôi biết mình đã làm bố) của một bé gái nhưng không có ảnh nên tôi chưa hình dung được con gái tôi như thế nào?). Tôi vội đến định ôm bé Hằng vào lòng, nhưng cháu không theo cứ nấp sau lưng bà. Thời gian này, vợ tôi vẫn làm ở cửa hàng lương thực huyện nên ở nhà chỉ có hai bà cháu. Tôi khiêng chiếc hòm vào nhà và thu xếp đồ đạc. Trong hòm chỉ có chiếc ba lô, vài mảnh vải, vài gói kẹo và hàng chục cuộn len tôi mua được ở chợ Cồn - Đà Nẵng về làm quà cho mọi người. Tài sản giá trị nhất của tôi lúc ấy là chiếc xe đạp và chiếc hòm đóng từ những tấm gỗ dán của Mỹ. Đây cũng là chiếc hòm đựng đồ quý giá nhất của vợ chồng tôi lúc này. Một lúc sau, mấy người hàng xóm sang chơi, tôi lấy kẹo mời mọi người và đưa cho con gái nhưng con bé cứ tròn mắt nhìn tôi chứ không theo. Đến khoảng hơn 4 giờ chiều, bố tôi đi làm đồng về và vợ tôi cũng từ cơ quan về, con bé sà theo mẹ. Cứ mỗi khi vợ tôi dắt con đến gần tôi thì cháu lại chạy ngay. Mãi đến tối tôi mới làm quen được với bé Hằng.

Tôi ở nhà được 3 ngày thì tiếp tục xuống Phủ Lý để lên Hà Nội rồi về Kiến An học văn hóa. Khi đi bộ đội tôi mới học hết lớp 7, nên tôi phải về Trường văn hóa Quân khu 3 để ôn lại chương trình văn hóa cấp II. Lúc đó tôi chưa biết Trường văn hóa Quân khu 3 ở Hải Phòng. Trước khi đi, tôi được cơ quan cán bộ quân đoàn hướng dẫn về Hà Nội rồi đi tàu về Hải Phòng, xuống Kiến An vì thời gian này Trường văn hóa Quân khu 3 đóng ở đó. Một buổi chiều cuối tháng 11 năm 1977, từ Hà Nội tôi mua vé tàu đi Hải Phòng. Lần đầu tiên đến Hải Phòng, tôi chưa biết đường và cũng chưa biết Trường văn hóa nằm ở đâu. Trong lúc tôi đang lúng túng đưa xe đạp lên xếp ở toa chở xe đạp, có một cô gái khoảng chừng trên hai mươi tuổi cũng dắt một chiếc xe đạp Pha-vô-rít của Tiệp rất mới đến đứng cạnh tôi và nhờ đưa hộ xe đạp của cô ấy lên. Cô ấy bảo tôi đưa hành lý cho cô để cô về toa trước lấy ghế ngồi và cô bảo cũng về nhà ở Hải Phòng. May quá, trong lúc tôi chưa biết Hải Phòng ở đâu thì được người con gái Hải Phòng làm quen và giúp đỡ.

Sau khi tàu về đến Hải Phòng, Hường đưa tôi về nghỉ tạm tại nhà chị gái. Hôm sau, tôi được anh trai Hường dùng xe máy chở đi tham quan thành phố và về Trường Văn hóa Quân khu 3 ở huyện Vĩnh Bảo. Khi tôi đến Ban giám hiệu Trường văn hóa, các cán bộ trường lại chỉ đường cho tôi về lớp ở một thôn cách đó gần 1 cây số. Tôi được bố trí ăn ở trong một nhà dân cùng với đồng chí Lục. Các lớp học của chúng tôi là những gian nhà cấp bốn, lợp mái rạ, chung quanh là tường đất được dựng trên sân kho hợp tác xã, ở giữa có sân gạch rộng là nơi vui chơi và tập thể dục, thể thao. Hàng ngày, buổi sáng và buổi chiều chúng tôi học văn hóa tại lớp. Buổi tối chúng tôi học tại nhà, mỗi người được cấp 1 chiếc đèn dầu và 1 lít dầu một tháng. Trung tuần tháng 12 năm 1977, sau khi học được 1 tháng, tôi tự hỏi đường và đạp xe từ Hải Phòng đi qua Thái Bình rồi thành phố Nam Định về Phủ Lý để về nhà với đoạn đường khoảng 90 cây số.

Từ khi rời ghế nhà trường đi công nhân, rồi nhập ngũ, đã hơn 13 năm, các kiến thức văn hóa của tôi không còn được bao nhiêu nên khi ôn lại các kiến thức cơ bản của chương trình văn hoá cấp II, tôi gặp rất nhiều khó khăn. Trong học tập, bản thân tôi đã rất chịu khó miệt mài nhưng kiến thức tiếp thu được vẫn bị hạn chế. Có lúc tôi cảm thấy học văn hóa khó hơn đánh giặc ở chiến trường.

Sau học kỳ I, sang học kỳ II tôi và Dung xin bố mẹ cho ra ở riêng và làm nhà riêng. Hầu như thứ bảy hằng tuần tôi đều đạp xe từ Vĩnh Bảo về quê để lo việc nhà nên việc học bị ảnh hưởng. Tháng 2 năm 1978, tôi bắt đầu làm nhà ở riêng, đồng thời vợ tôi cũng báo tin có thai đứa con thứ hai. Thời gian này tôi lại về nhà nhiều hơn, có tuần tôi báo cáo nhà trường là có việc nhà xin phép nghỉ ở nhà cả tuần. Nhiều lúc tôi muốn xin trở lại đơn vị chứ không muốn theo học nữa. Nhưng vợ tôi đã động viên: Đơn vị đã cử đi học thì cứ tiếp tục học và yên tâm học tập để tiến bộ, còn mọi việc ở gia đình đã có em lo toan, cáng đáng. Lời động viên chân thành của Dung đã giúp tôi đã yên tâm học tập hơn. Bước vào học kỳ II, tôi quyết tâm tập trung học tập tốt hơn nên cũng dần theo kịp chương trình, các bài kiểm tra luôn đạt điểm khá. Tháng 7 năm 1978, tôi kết thúc chương trình ôn luyện văn hóa lớp 7 tại Trường văn hóa Quân khu 3. Tháng 8 năm 1978, tôi thi tốt nghiệp đạt loại khá.

Sau khi tốt nghiệp, chúng tôi ở lại trường một thời gian chờ quyết định về Trường văn hóa Bộ Quốc phòng ở xã Viên Nội huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây. Sau khi nhận quyết định, cuối tháng 8 năm 1978, tôi cùng mấy anh em gồm 9 người trong cùng một tổ học tập đạp xe về Trường văn hóa Bộ Quốc phòng. Trên đường về trường, tôi mời mấy anh em ghé thăm nhà vì đúng dịp rằm tháng 7. Quê tôi bị lụt nên anh em không thể đi xe đạp vào được nhà. Bố tôi phải dùng thuyền chở từng người vào nhà. Lúc này vợ tôi cũng sắp sinh cháu thứ hai. Trời mưa to nước lên rất nhanh làm ngập lụt hết cánh đồng lúa làng tôi. Hầu như nhà nào cũng phải gặt chạy lũ nên dù bụng to vợ tôi vẫn phải lội nước để mò cắt lúa bị ngập mong vớt vát được ít nào hay ít đấy. Thấy vợ như vậy tôi rất thương nhưng chẳng giúp được gì nhiều vì anh em tôi chỉ được nghỉ lại nhà một đêm, sáng hôm sau chúng tôi phải có mặt ở trường để chuẩn bị khai giảng năm học mới.

Đầu tháng 9 năm 1978, Trường văn hóa Bộ Quốc phòng tổ chức lễ khai giảng năm học mới và chúng tôi bắt đầu học chương trình lớp 8. Đến khi học sang chương trình lớp 10 thì Trường văn hóa chuyển về Phố Gạch thuộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây. Tháng 7 năm 1979 chúng tôi thi tốt nghiệp lớp 10 bổ túc, tôi tốt nghiệp loại khá. Tháng 9 năm 1979, Cục Cán bộ tiếp tục cử tôi đi đào tạo khóa 1979-1981 tại Học viện Quân sự cấp cao của Bộ Quốc phòng. Sau 2 năm học tập, với thực tiễn đã tích lũy trong chiến đấu và những kiến thức học ở Học viện Quân sự Đà Lạt những năm trước đây nên tôi không bị bỡ ngỡ và khó khăn trong học tập như thời gian học văn hóa. Tuy nhiên với các loại hình tác chiến chiến dịch quy mô hiệp đồng quân binh chủng lớn tôi cũng gặp khó khăn, vì chưa hiểu nhiều về các binh chủng. Nhưng nhờ các giáo viên tận tình giảng dạy, các anh trong tổ chỉ bảo thêm nên tôi từng bước tiếp thu được. Các bài tập của tôi đều đạt loại khá, riêng phần vẽ và viết bản đồ tôi gặp khó khăn, nhiều lúc phải nhờ các đồng chí trong tiểu đội giúp đỡ.

Tháng 7 năm 1980, tôi được thăng quân hàm cấp Trung tá và tiếp tục học tập cho đến tháng 7 năm 1981 thi tốt nghiệp khoá đào tạo tại Học viện Quân sự cấp cao với bằng loại khá. Tháng 9 năm 1981, tôi được điều động về Sư đoàn bộ binh cơ giới 304 và được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng kiêm Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn. Từ năm 1980, Sư đoàn 304 được biên chế thành sư đoàn bộ binh cơ giới với nhiều vũ khí hiện đại mà trong kháng chiến chống Mỹ chúng tôi chưa hề được trang bị, nên bước đầu về làm công tác tham mưu tôi gặp nhiều khó khăn. Nhưng trước khi tổ chức bộ binh cơ giới, cán bộ từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn đã được Bộ Quốc phòng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn dưới sự hướng dẫn của các cố vấn Liên Xô nên anh em nắm vững kiến thức về những vũ khí trang bị đó hơn tôi. Tôi phải tự học hỏi, tra cứu tài liệu và được các đồng chí cố vấn hướng dẫn, nên dần dần nắm vững được tính năng, kỹ thuật, chiến thuật các loại vũ khí trang bị của sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:09:56 PM
Tháng 12 năm 1981, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Quân đoàn 2 tổ chức cuộc diễn tập thực binh với mật danh TN-81 do Sư đoàn 304 thực hiện với hình thức sư đoàn bộ binh cơ giới tiến công hành tiến tiêu diệt địch phòng ngự ở địa hình trung du trong chiều sâu chiến dịch tiên công. Cuộc diễn tập được Bộ Quốc phòng và Quân đoàn 2 trực tiếp chỉ đạo, có sự giám sát và hướng dẫn của cố vấn quân sự Liên Xô.

Cuộc diễn tập kéo dài gần một tháng từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc. Hàng trăm xe cơ giới và pháo hạng nặng thực hành bắn đạn thật, được không quân chi viện tại Trường bắn quốc gia TB-1 ở Cấm Sơn. Sau cuộc diễn tập này, bản thân tôi cũng đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc làm chủ trang bị kỹ thuật của sư đoàn.

Tháng 4 năm 1982, trước tình hình Ban chỉ huy Trung đoàn 24 mất đoàn kết, vi phạm kỷ luật, một số đồng chí phải điều về các cơ quan sư đoàn và quân đoàn. Tôi được Quân đoàn 2 và Sư đoàn 304 đưa xuống tăng cường làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24, đồng chí Bùi Xuân Chủ làm Chính ủy Trung đoàn. Để tập trung củng cố đơn vị, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1982, tôi cùng các đồng chí trong Đảng ủy và chỉ huy trung đoàn nỗ lực củng cố mối đoàn kết và xây dựng đơn vị vững mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao. Sau 2 tháng, Trung đoàn 24 đã trở lại hoạt động, huấn luyện và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Sau đó, đến tháng 10 năm 1982, tôi lại được rút về làm Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn.

Tháng 11 năm 1982, tôi được Bộ Quốc phòng cử sang Liên Xô học bổ túc quân sự bộ binh cơ giới cấp sư đoàn tại Học viện Vư-tơ-ren thuộc thành phố Sôn-nhét, cách thủ đô Mát-xcơ-va khoảng 60 cây số về phía nam. Tại lớp học này, tôi được cử làm lớp trưởng và bí thư chi bộ. Vì học bổ túc, chúng tôi phải học thông qua phiên dịch nên bước đầu gặp rất nhiều khó khăn. Giáo viên, học viên chưa hiểu hết nhau vì nhiều khi phiên dịch dịch chưa hết ý. Đặc biệt, trong các hình thức chiến thuật, chúng tôi thường vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu đánh Mỹ ở chiến trường miền Nam, nhưng các giáo viên Liên Xô lại hầu hết chưa qua chiến đấu. Do đó, nhiều hôm chúng tôi tranh luận với nhau rất gay gắt và cuối cùng giáo viên và học viên cũng hiểu nhau. Đặc biệt, các giáo viên người Nga rất tôn trọng chúng tôi, những người đã từng trải qua chiến đấu có nhiều chiến công. Bằng tinh thần cố gắng, nỗ lực học tập, kiến thức thu được của chúng tôi ngày càng tốt hơn. Tháng 12 năm 1983, chúng tôi tốt nghiệp ra trường, tạm biệt đất nước và các giáo viên của quân đội Liên Xô để về nước. Tôi không ngờ đó lại là lời chào cuối cùng của chúng tôi với đất nước Liên Xô. Vì sang đầu thập kỷ 90 (của thế kỷ XX, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết không tồn tại nữa).

Khi về nước, tôi trở về Sư đoàn 304 tiếp tục công tác. Đến tháng 9 năm 1985, tôi được cấp trên bổ nhiệm giữ chức Phó sư đoàn trưởng quân sự Sư đoàn 304. Thời gian này, sư đoàn thường xuyên diễn tập chiến thuật cấp sư đoàn có các trung đoàn bộ binh cơ giới tham gia nên công việc của tôi rất vất vả, đặc biệt là trong chỉ huy bộ binh cơ giới.

Bên cạnh công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bộ đội của sư đoàn còn có nhiệm vụ tham gia phòng chống bão lụt ở địa bàn tỉnh Hà Bắc. Ngày 15 tháng 8, cơn bão số 6 đổ vào Bắc Bộ, mưa to kéo dài nhiều ngày, tuyến đê sông Cầu, sông Thương, sông Đuống của tỉnh Hà Bắc bị uy hiếp và có nguy cơ bị vỡ. Tôi được sư đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn 66 hành quân gấp bằng ô tô và xà lan xuống khu vực kênh Vàng huyện Gia Lương để cùng nhân dân chống lũ. Khi chúng tôi xuống đến nơi, nước sông Đuống đã mấp mé mặt đê, nhân dân đang đánh kẻng, đánh trống báo động sơ tán người và tài sản ra khỏi khu vực có nguy cơ vỡ đê. Với tinh thần khẩn trương, chống lụt như chống giặc, không quản mưa gió và đêm tối chúng tôi đã chỉ huy bộ đội liên tục dùng bao tải cát và đất đá để gia cố đê nâng cao mặt đê. Sau nhiều giờ chiến đấu với giặc lũ, tuyến đê đã được giữ vững, và lúc này mưa cũng ngớt, nước sông bắt đầu rút.

Sáng ngày hôm sau, đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh Hà Bắc do đồng chí Nguyễn Thanh Quất - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc đã xuống thăm và kiểm tra hệ thống đê tại đây. Đồng chí biểu dương cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 và nhân dân huyện Thuận Thành. Đồng chí nói: Nếu không có lực lượng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 làm nòng cốt và nhân dân huyện Thuận Thành, thì tuyến đê này có thể đã bị vỡ từ đêm hôm qua. Đồng chí thay mặt Đảng bộ, chính quyền cùng nhân dân Hà Bắc rất cảm ơn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304 Quân đoàn 2. Tự dưng lúc này tôi lại nhớ đến cảnh vợ tôi bụng mang dạ chửa phải lặn lội mò từng cọng lúa thật vất vả, tôi càng thấy thương vợ tôi hơn. Tôi lại nghĩ nếu đêm qua chúng tôi không kịp thời gia cố, đê bị vỡ thì không biết bao nhiêu gia đình nơi đây sẽ phải lội nước mò lúa như vợ tôi. Sau khi nước rút, tuyến đê đã được bảo đảm an toàn, chúng tôi chỉ huy bộ đội cơ động về đơn vị tiếp tục huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Cuối năm 1987, theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng và Quân đoàn 2, Sư đoàn bộ binh cơ giới 304 được lệnh hành quân di chuyển sang khu vực Vĩnh Phú để thay thế vào vị trí Sư đoàn 320 Quân đoàn 3. Từ tháng 11 năm 1987, Sư đoàn 304 bắt đầu lập kế hoạch hành quân và làm mọi công tác chuẩn bị. Sau Tết Nguyên đán, ngày 5 tháng 3 năm 1988, Sư đoàn 304 bắt đầu hành quân. Với khối lượng vũ khí trang bị và xe pháo rất lớn, sư đoàn phải tổ chức hành quân bằng nhiều đường. Xe ô tô hành quân theo đường quốc lộ, xe thiết giáp bánh xích hạng nhẹ hành quân theo đường làng vượt qua dãy núi phía đông nam dãy Tam Đảo để về vị trí tập kết của đơn vị. Xe tăng di chuyển bằng tàu hỏa từ ga Kép về ga Hương Canh và ga Vĩnh Yên. Ròng rã 4 tháng trời, các đơn vị hành quân bằng nhiều chuyến, nhiều đợt.

Đến tháng 7 năm 1988, đội hình sư đoàn cơ bản về vị trí đóng quân. Trong thời gian này, tôi là Phó Sư đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chỉ huy hậu cứ, đôn đốc chỉ huy hành quân cho các đơn vị. Theo kế hoạch, cứ 17 giờ đội hình hành quân xuất phát từ Hà Bắc, tôi phải thường xuyên duy trì kiểm tra đơn vị, có khi đến một hai giờ sáng mới tổ chức hành quân xong một đợt. Sau khi các đơn vị về tập kết đầy đủ ở vị trí mới, sư đoàn chỉ đạo các đơn vị tiến hành củng cố doanh trại, nhà xe, nhà pháo. Trừ một phần tận dụng được doanh trại cũ của đơn vị bạn để bố trí nơi ở cho bộ đội, số nhà xe, nhà pháo chúng tôi phải làm mới hoàn toàn nên rất vất vả.

Tháng 12 năm 1989, tôi được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm làm Quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Từ khi tôi được bổ nhiệm làm cán bộ cấp đại đội đến nay, hầu như thời gian đảm nhiệm chức vụ cấp phó nhiều hơn cấp trưởng, nay mới được bổ nhiệm làm Quyền Sư đoàn trưởng. Điều trùng hợp là thời gian này, các trung đoàn trưởng của Sư đoàn 304 gồm 3 trung đoàn trưởng bộ binh, một trung đoàn trưởng pháo binh, một trung đoàn trưởng phòng không đều được bổ nhiệm làm Quyền Trung đoàn trưởng. Lần đầu tiên giữ trọng trách cấp trưởng của một sư đoàn bộ binh cơ giới, được biên chế hàng nghìn xe pháo các loại, tôi không khỏi lo lắng suy nghĩ về trách nhiệm. Mặt khác, tôi cũng thấy tự hào là mình có nhiều tiến bộ, từ người chiến sĩ cầm khẩu AK đánh Mỹ năm nào ở Khe Sanh, nay được chỉ huy cả một sư đoàn với nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại.

Đầu năm 1991, Sư đoàn 304 được lệnh của Bộ Quốc phòng bàn giao xe thiết giáp BTR-152 về Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh trong toàn quốc để làm nhiệm vụ cơ động sẵn sàng chiến đấu phòng chống bạo loạn. Chấp hành lệnh của Bộ, chúng tôi tổ chức bàn giao lần lượt cho các quân khu, đến cuối năm 1991 thì hoàn thành. Thời gian này, sư đoàn lại trở lại phiên hiệu như trước là Sư đoàn 304, không còn phiên hiệu là Sư đoàn bộ binh cơ giới 304 nữa.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:13:25 PM
Tháng 5 năm 1991, tôi và đồng chí Quyền - Trung đoàn trưởng trong sư đoàn cùng lúc đều có quyết định bổ nhiệm giữ chức Sư đoàn trưởng và Trung đoàn trưởng. Tháng 11 năm 1991, Quân đoàn 2 chỉ đạo Sư đoàn 304 diễn tập chiến thuật với đề mục “Sư đoàn bộ binh có một trung đoàn bộ binh cơ giới tiến công quân địch đổ bộ đường không ở địa hình trung du và đồi núi”. Bằng tinh thần nỗ lực tập trung làm công tác chuẩn bị và tổ chức thực hành diễn tập, cuộc diễn tập đủ đạt kết quả tốt, được Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 khen ngợi.

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Sư đoàn 304 lần thứ VIII (vòng 2) nhiệm kỳ 1991-1995, tôi được bầu vào Đảng ủy và làm Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Sang tháng 2 năm 1992, Quân đoàn 2 chỉ đạo cho Sư đoàn 304 bàn giao số xe tăng còn lại và tiểu đoàn pháo về các đơn vị của Bộ. Năm 1992, theo kế hoạch huấn luyện của Quân đoàn 2, tôi cùng Ban chỉ huy Sư đoàn chỉ đạo các trung đoàn tổ chức diễn tập các hình thức chiến thuật tiến công quân địch tạm dừng với vũ khí, trang bị có trong biên chế.

Trước tình hình Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, tôi cùng các đồng chí trong Đảng ủy Sư đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tổ chức học tập quán triệt đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ các cấp để giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cán bộ, đảng viên không được mơ hồ mất cảnh giác, không dao động trước mọi biến của của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sư đoàn luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, không hoang mang dao động. Bên cạnh đó, chúng tôi tổ chức cho các đơn vị học tập nhận rõ âm mưu thủ đoạn chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, kiên quyết không “đa nguyên, đa đảng”.

Tháng 2 năm 1993, tôi được Bộ cử đi học bổ túc lý luận chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị - Quân sự. Theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, tôi tạm thời bàn giao cho đồng chí Phạm Nhệch - Phó sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng chỉ huy sư đoàn. Đẩu tháng 3 năm 1993, tôi nhập học tại Học viện Chính trị - Quân sự ở Hà Đông. Trong buổi khai giảng lớp học, đồng chí Thượng tướng Lê Khả Phiêu - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã căn dặn chúng tôi: Các đồng chí là những cán bộ chỉ huy trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, các đồng chí là cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn và quân binh chủng phải tiếp tục nâng cao trình độ lý luận chính trị cao cấp, giữ vững lập trường quan điểm đường lối lãnh đạo của Đảng, tích cực học tập để trang bị cho mình có một trình độ lý luận chính trị vững vàng để sau này giữ những vị trí cao hơn trong quân đội. Chúng tôi luôn ghi nhớ lời căn dặn của đồng chí để phấn đấu đạt thành tích cao trong học tập.

Trong quá trình học tập, tôi luôn cố gắng chủ động và tích cực nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi là cán bộ quân sự trưởng thành trong chiến đấu, được học tập trong môi trường quân đội chủ yếu về quân sự,... do vậy tôi gặp khá nhiều khó khăn, nhất là khi nghiên cứu về các lĩnh vực triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế - chính trị. Nhưng được các giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, nên từng bước tôi cũng tiếp thu được và các bài kiểm tra của tôi đều đạt điểm khá trở lên. Là những sĩ quan chỉ huy cấp sư đoàn còn trẻ, nên ngoài giờ học tập chúng tôi còn tham gia chơi thể thao các môn bóng đá, bóng bàn, bóng chuyền rất sôi động. Hằng tháng, chúng tôi đề nghị học viện tổ chức thi đấu giao lưu bóng đá và bóng chuyển giữa các lớp rất sôi nổi. Thấm thoắt hơn 7 tháng học tập và trau dồi lý luận chính trị ở học viện đã trôi qua. Khi tốt nghiệp, chúng tôi đều đạt loại khá trở lên. Sau khi tốt nghiệp tôi lại trở về đảm nhiệm cương vị cũ ở sư đoàn.

Tháng 9 năm 1993, tôi được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm làm Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhưng thời gian này, tôi vẫn kiêm nhiệm chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 vì Bộ chưa bổ nhiệm Sư đoàn trưởng mới. Tháng 2 năm 1994, Bộ Quốc phòng bổ nhiệm đồng chí Phạm Ngọc Khóa - Phó sư đoàn trưởng Tham mưu trưởng giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304. Ngày 24 tháng 2, tôi bàn giao công tác cho đồng chí Phạm Ngọc Khóa và giữ chức Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lúc này gồm: đồng chí Nguyễn Văn Rinh - Tư lệnh, đồng chí Trần Ngọc Sơn - Phó tư lệnh Chính trị, đồng chí Hoàng Đình Thanh - Phó tư lệnh Quân sự.

Khi nhận nhiệm vụ ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, bước đầu tôi gặp nhiều bỡ ngỡ và lúng túng vì các đồng chí Phó tham mưu trưởng và một số đồng chí trưởng phòng tuổi nhiều hơn tôi. Sau một thời gian ngắn, với phẩm chất và kinh nghiệm chỉ huy của mình, được sự tin yêu, giúp đỡ của các đồng chí trong Bộ Tham mưu Quân đoàn nên tôi điều hành các cơ quan dần đi vào nền nếp và thuận lợi hơn. Trong công tác tham mưu tác chiến và huấn luyện chiến đấu, tôi cùng các cơ quan luôn chú trọng chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị làm tốt công tác sẵn sàng chiến đấu, tổ chức huấn luyện, diễn tập đạt kết quả tốt. Thời gian này, Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 chú trọng chỉ đạo các đơn vị tổ chức huấn luyện các hình thức chiến thuật đánh địch đổ bộ đường không và đánh địch tạm dừng trên các loại địa hình.

Tháng 11 năm 1994, Bộ giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 2 tổ chức chỉ đạo Sư đoàn 325 thực hành diễn tập thực nghiệm theo tài liệu chiến thuật sư đoàn bộ binh được tăng cường pháo binh và xe tăng, được sự chi viện của không quân đánh địch tạm dừng có công sự làm gấp. Từ đầu những năm 1990 đến nay, hầu hết chúng tôi huấn luyện các đơn vị đánh địch với hình thức vũ khí có trong biên chế, nay tổ chức diễn tập sư đoàn được tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật có không quân chi viện, nên đội ngũ cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn rất bỡ ngỡ và lúng túng. Do vậy, Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 đã phải tổ chức tập huấn cho cán bộ từ cấp trung đội đến tiểu đoàn thật thuần thục từ lý luận đến thực hành. Tôi được Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 325 tổ chức chuẩn bị và thực hành diễn tập thực nghiệm. Vì đây là lần đầu tiên chỉ huy và điều hành diễn tập cấp sư đoàn lại là diễn tập thực nghiệm theo tài liệu mới nên tôi không khỏi gặp khó khăn. Được sự giúp đỡ của cơ quan Bộ và các đồng chí giáo viên Học viện Quốc phòng, tôi đã tích cực nghiên cứu các tài liệu có liên quan nên công tác chuẩn bị và thực hành diễn tập diễn ra rất suôn sẻ.

Gần hai tháng trời tôi luôn có mặt ở Trường bắn Cấm Sơn để chỉ huy và chỉ đạo Sư đoàn 325 thực hành nhiệm vụ diễn tập. Hằng tuần, chúng tôi được đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 2 xuống kiểm tra, chỉ đạo và giúp đỡ. Sau hơn hai tháng làm công tác chuẩn bị và thực hành diễn tập, Sư đoàn 325 đã diễn tập thực nghiệm thành công. Trong buổi nhận xét kết thúc diễn tập, đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Đào Đình Luyện nhận xét: Sư đoàn 325 tổ chức diễn tập đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ giao cho làm cơ sở cho Bộ kết luận tài liệu “Hình thức chiến thuật đánh địch tạm dừng có công sự và vật cản” để làm cơ sở cho toàn quân huấn luyện. Đạt được thành tích trên, tôi cùng các cơ quan Quân đoàn 2 và Sư đoàn 325 rất phấn khởi. Trí tuệ, công sức của chúng tôi đã góp phần không nhỏ vào kết quả đó. Mặt khác, qua cuộc diễn tập thực nghiệm, tôi thấy mình cũng tiến bộ lên nhiều cả về tác phong chỉ huy, lãnh đạo và phát triển tri thức quân sự trong điều kiện mới.

Tháng 2 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Văn Rinh làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời giao quyết định cho tôi là Quyền Tư lệnh Quân đoàn 2, đồng thời bổ nhiệm đồng chí Lê Huy Mai - Phó Tham mưu trưởng Quân khu 1 về giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Đến tháng 5 năm 1995, tôi có quyết định bổ nhiệm chính thức làm Tư lệnh Quân đoàn 2. Với cương vị Tư lệnh Quân đoàn, tôi cùng tập thể Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trong Quân đoàn 2 hoàn thành mọi nhiệm vụ Bộ giao. Thời gian này, Quân đoàn 2 liên tục được Bộ giao tổ chức các cuộc diễn tập thực nghiệm các hình thức chiến thuật để Bộ hoàn chỉnh tài liệu mới. Từ năm 1995 đến năm 2000, tôi luôn cùng tập thể Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ giao.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:23:33 PM
Tháng 10 năm 2000, tôi được trên quyết định bổ nhiệm về giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 1. Ngày 28 tháng 11, tôi được Đảng bộ Quân khu 1 mời về tham dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân khu lần thứ XI. Tại Đại hội, tôi được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu và được Ban chấp hành Đảng bộ bầu vào Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu 1. Trước đó, tuy chưa bàn giao công tác ở Quân đoàn và nhận nhiệm vụ ở Bộ Tư lệnh Quân khu 1, nhưng từ ngày 20 tháng 11 tôi đã chuyển sinh hoạt Đảng về Đảng bộ Quân khu 1 theo chỉ đạo của Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị. Ngày 14 tháng 12 năm 2000, tôi bàn giao toàn bộ công tác cho đồng chí Phạm Ngọc Khóa. Ngày 19 tháng 12, tôi chia tay tạm biệt Quân đoàn 2 về Bộ Tư lệnh Quân khu 1 nhận nhiệm vụ mới. Tiễn tôi từ Quân đoàn 2 về Quân khu 1 có đồng chí Tư lệnh và Thủ trưởng bốn cơ quan và các phòng ban của Quân đoàn. Từ khi nhập ngũ đến khi về Quân khu 1, đây là lần đầu tiên tôi rời khỏi quân đoàn, xa đơn vị mình đã từng gắn bó hơn 30 năm. Buổi chia tay rất lưu luyến và xúc động. Tôi thầm cảm ơn các đồng chí, đồng đội đã sát cánh cùng tôi chiến đấu và công tác trong hơn 30 năm. Họ là những người đã đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh, giúp tôi trưởng thành từ người chiến sĩ đến nay tôi đã là một sĩ quan cấp tướng. Nhiều người trong số họ đã nằm lại nơi chiến trường, phần mộ của họ còn thất lạc, gia đình chưa tìm được hài cốt. Tôi nghĩ, sau này khi nghỉ hưu, có thời gian tôi sẽ cùng những đồng đội may mắn còn sống trong chiến tranh sẽ đi tìm để đưa họ về với gia đình thân yêu.

Khoảng 11 giờ ngày 19 tháng 12, tôi về đến Bộ Tư lệnh Quân khu 1 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Hôm đó Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đang họp Hội đồng thi đua nên tiếp đón tôi có đầy đủ các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu 1 và Thủ trưởng các cơ quan. Buổi đón tiếp tôi diễn ra rất xúc động, có lẽ vì Quân đoàn 2 là đơn vị đóng quân nhiều năm trên địa bàn Quân khu 1. Đặc biệt, Tư lệnh Quân khu 1 lúc này là đồng chí Phùng Quang Thanh. Tôi và đồng chí Phùng Quang Thanh đã từng học với nhau ở Liên Xô năm 1983, nên rất thân thiết và hiểu nhau.

Đầu tháng 1 năm 2001, trong phiên họp đầu tiên của tôi ở Bộ Tư lệnh Quân khu 1, tôi được đồng chí Tư lệnh phân công phụ trách công tác hậu cần và kinh tế. Lần đầu tiên tôi đảm nhiệm công tác trên lĩnh vực này. Vốn là cán bộ chỉ huy - tham mưu, nay phụ trách công tác hậu cần và kinh tế tôi cảm thấy rất khó khăn và bỡ ngỡ. Đặc biệt, từ ngày nhập ngũ tôi chỉ ở đơn vị quân đoàn chủ lực, nay về công tác trong Bộ Tư lệnh Quân khu, bên cạnh nhiệm vụ quân sự, quốc phòng còn có lĩnh vực quân sự địa phương và thường xuyên phải quan hệ phối hợp, hiệp đồng với cấp ủy và chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh.

Quân khu 1 có ba phần tư diện tích là địa hình rừng núi, dân số hơn năm triệu người, đa số là dân tộc thiểu số. Quân khu lại có đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc dài hơn 555 cây số. Đời sống kinh tế của nhân dân các dân tộc vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa còn rất nhiều khó khăn. Quân khu 1 gắn liền với cái tên Việt Bắc - quê hương, là cái nôi của Cách mạng tháng Tám, là “thủ đô” của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là hậu phương của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và từng là tuyến đầu trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Về cương vị công tác mới, trên địa bàn mới, tôi rất tự hào với truyền thống của lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu 1, song cũng không khỏi băn khoăn, lo lắng về trách nhiệm của mình. Đặc biệt, đồng chí Tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho tôi đảm nhiệm cùng các cơ quan xây dựng và thực hiện dự án khu kinh tế quốc phòng Bảo Lâm - Bảo Lạc. Lĩnh vực này đối với tôi hoàn toàn mới mẻ. Để tìm hiểu tình hình và nghiên cứu về dự án, tôi làm việc với đồng chí Trưởng phòng Kinh tế để tìm hiểu tài liệu của dự án, làm quen với từng thuật ngữ, địa danh khu kinh tế quốc phòng cũng như nhiệm vụ, tổ chức biên chế của đoàn kinh tế quốc phòng.

Đầu tháng 2 năm 2001, Tư lệnh Quân khu 1 tổ chức đợt đi khảo sát địa hình trong khu vực để chuẩn bị xây dựng khu kinh tế - quốc phòng ở Cao Bằng. Chúng tôi xuống tận cơ sở gặp gỡ các cán bộ địa phương từ thôn bản đến cấp huyện. Đường đi gặp rất nhiều khó khăn. Đi từ bản này đến bản khác có khi mất nửa ngày đường bằng ô tô, nhiều nơi chưa có đường ô tô chúng tôi phải đi bộ. Nhân dân ở khu vực này hầu hết là người dân tộc thiểu số, nhiều người chưa nói được tiếng Kinh. Đi đến đâu chúng tôi phải có cán bộ địa phương cấp huyện và cấp xã phiên dịch tiếng dân tộc thành tiếng Kinh cho chúng tôi nghe. Sau gần một tuần lặn lội khắp các bản làng trong khu vực dự án xây dựng chúng tôi đã làm việc với chính quyền cấp xã cùng hai huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc. Được sự nhất trí và đồng thuận của cấp ủy và chính quyền các cấp, dự án xây dựng đoàn kinh tế - quốc phòng của Quân khu 1 ở khu vực này có khả năng tiến triển rất tốt, có nhiều thuận lợi. Sau khi hoàn thành công tác khảo sát, chúng tôi trở về Bộ Tư lệnh Quân khu hoàn chỉnh dự án Thông qua Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, sau đó báo cáo Bộ Quốc phòng.

Được Bộ Quốc phòng chấp thuận, tháng 5 năm 2002, đồng chí Nguyễn Văn Rinh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đoàn cán bộ Cục Kinh tế và một số cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng trực tiếp lên thẩm định dự án trên thực địa tại huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc. Tôi được đồng chí Tư lệnh Quân khu phân công trực tiếp đưa đồng chí Thứ trưởng và đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng lên huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc để xem xét và thẩm định dự án.

Chúng tôi xuất phát từ Thái Nguyên đi Cao Bằng, đoàn nghỉ đêm tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng. Hôm sau chúng tôi làm việc với các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền và một số sở, ban ngành tỉnh Cao Bằng. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh Cao Bằng rất ủng hộ chủ trương của Bộ Quốc phòng cho phép Quân khu 1 xây dựng dự án đoàn kinh tế - quốc phòng trên địa bàn của tỉnh. Vì dự án này nằm giáp biên giới nên tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương giữ vững an ninh chính trị biên giới, đồng thời phát triển kinh tế ở vùng biên giới, vùng sâu và vùng xa.

Sáng hôm sau, tôi tiếp tục đưa đoàn cán bộ của Bộ và đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh Cao Bằng, lãnh đạo một số sở, ban ngành của tỉnh Cao Bằng có liên quan đến dự án vào Bảo Lâm, Bảo Lạc. Đoàn chúng tôi từ thị xã Cao Bằng theo đường 279 qua Nguyên Bình, Tĩnh Túc đến Bảo Lạc rồi Bảo Lâm. Khi gần đến mỏ thiếc Tĩnh Túc thì gặp một trận mưa rào rất lớn. Con đường đang được mở mới nên đã bị sạt lở, hàng nghìn khối đất đá từ trên cao đổ ập xuống lấp kín mặt đường nên chúng tôi không thể đi tiếp được. Chúng tôi định quay về thị trấn Nguyên Bình thì phía sau lại lở đất đá, hôm đó đoàn chúng tôi với trên 10 chiếc xe con đều phải nằm lại giữa đường, tiến không được, lùi không xong đành phải ăn tạm lương khô, bánh mì (do bộ phận hậu cần chuẩn bị sẵn đề phòng tình huống xấu) và ngủ trên xe chờ trời tạnh mưa.

Sáng hôm sau trời tạnh, các đơn vị thi công trên đường 279 cho máy xúc và máy ủi ra khắc phục giao thông, đến khoảng 10 giờ chúng tôi mới tiếp tục cuộc hành trình được. Gần tối hôm đó, chúng tôi đến huyện Bảo Lạc. Đến đây, chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy và Ủy ban nhân dân cho biết đã chờ đón đoàn suốt từ đêm hôm qua đến cả hôm nay mà không thấy đoàn vào, không biết tình hình thế nào và cũng không nhận được thông tin gì từ Nguyên Bình báo vào. Thấy đoàn vào, đồng chí Khang - Phó Bí thư Huyện ủy Bảo Lạc nói vui: Từ hôm qua đến nay, biết các đồng chí đã xuất phát từ Cao Bằng, nhưng suốt đêm không thấy đoàn vào, những mâm cơm vẫn còn không ai dám ăn, nay các đồng chí vào được đến đây là chúng tôi mừng lắm.

Đêm hôm đó, chúng tôi nghỉ tại nhà khách huyện Bảo Lạc. Đó là một dãy nhà cấp 4 cũ kỹ, cứ bốn người một phòng, bốn giường kê sát nhau, điện chiếu sáng bằng máy phát điện, đến 22 giờ đêm thì phải thắp đèn dầu. Sáng hôm sau chúng tôi làm việc tại huyện Bảo Lạc, nghe lãnh đạo huyện báo cáo tình hình thổ nhưỡng đất đai trên địa bàn huyện. Buổi chiểu chúng tôi đi sang huyện Bảo Lâm. Đoạn đường từ Bảo Lạc sang Bảo Lâm khoảng 30 cây số, chúng tôi phải đi mất 5 tiêng đồng hồ mới đến nơi. Đến thị trấn Bảo Lâm thì trời đã sẩm tối. Vì huyện Bảo Lâm mới được thành lập, nên cơ sở vật chất chưa có gì. Đón tiếp chúng tôi trong phòng học của Trường tiểu học thị trấn mới được thành lập, lãnh đạo của huyện còn đang ở nhờ trong nhà dân. Ban chỉ huy quân sự huyện thì đang ở trong những chiếc nhà bạt dã chiến. Tối hôm đó, lãnh đạo huyện bố trí cho đoàn nghỉ trong các phòng học. Sáng hôm sau chúng tôi làm việc với lãnh đạo huyện. Sau bữa cơm trưa chúng tôi hành quân sang Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Giang.

Khi đến Hà Giang, nhiều đồng chí cán bộ cơ quan Bộ đi cùng đã nói: Đã đi nhiều nơi để xây dựng các đoàn kinh tế - quốc phòng cho các quân khu, nhưng chắc chưa có đoàn kinh tế - quốc phòng nào ở vị trí hiểm trở, khó khăn vất vả như đoàn kinh tế - quốc phòng của Quân khu 1. Các anh còn nói vui: Có đi kiểm tra dự án đoàn kinh tế - quốc phòng của Quân khu 1 ở Bảo Lâm - Bảo Lạc mới được ăn lương khô, bánh mì giò và ngủ trên xe như đêm hôm trước. Các anh ở đây thật vất vả!

Sau chuyến đi thẩm định đó, dự án xây dựng đoàn kinh tế - quốc phòng ở Bảo Lạc - Bảo Lâm của Quân khu 1 được Bộ Quốc phòng phê duyệt. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2002, tôi cùng các cán bộ của cơ quan Quân khu 1 lên Bảo Lâm - Bảo Lạc 5 lần nữa để triển khai dự án và tìm vị trí đóng quân để chuẩn bị thành lập Đoàn kinh tế - quốc phòng 799.

Tháng 6 năm 2001, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Khắc Nghiên - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2 được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân khu 1 thay đồng chí Trung tướng Phùng Quang Thanh được Đảng và Nhà nước bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Vốn đã từng có mối quan hệ công tác trong các binh đoàn chủ lực, đồng chí Nghiên trước đây đã từng làm Tư lệnh Quân đoàn 1, do vậy trong công tác và sinh hoạt tôi và đồng chí Nghiên rất thân tình và thoải mái. Có Tư lệnh mới nhưng cương vị công tác của tôi vẫn như trước, tôi tiếp tục chỉ đạo việc xây dựng Đoàn kinh tế - quốc phòng 799 và chuẩn bị xây dựng cơ bản một số công trình ở cơ quan quân khu.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:27:40 PM
Theo kế hoạch huấn luyện chiến dịch của Quân khu 1, cuối tháng 10 năm 2002, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 1 phối hợp cùng Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo tổ chức cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Lạng Sơn năm 2002. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu phân công tôi tham gia Ban chỉ đạo diễn tập. Đây lại là một lĩnh vực mới mà tôi chưa từng trải nghiệm. Hoạt động của cơ chế theo tinh thần Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị như thế nào thì tôi lại phải tự nghiên cứu, tìm hiểu trang bị cho mình thêm cho mình những tri thức về quốc phòng, quân sự địa phương. Tôi đã mạnh dạn tham khảo ý kiến của một số cán bộ cơ quan quân khu, dần thì tôi cũng tự tin hơn đối với lĩnh vực này. Mặc dù vậy, tôi cũng luôn tự nhắc mình dù ở cương vị chỉ đạo nhưng phải luôn giữ vững mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng với các đồng chí lãnh đạo tỉnh.

Khi cuộc diễn tập khai mạc, thấy tôi tham gia Ban chỉ đạo, một số cán bộ cơ quan quân khu cũng nghĩ rằng tôi tham gia để biểu hiện sự quan tâm của quân khu với địa phương và tầm quan trọng của cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh. Riêng tôi lại nghĩ khác, đây là cơ hội để tôi học tập thêm các tri thức về quốc phòng, quân sự địa phương, đồng thời mở rộng hơn mối quan hệ và hiểu biết đối với các đồng chí lãnh đạo địa phương trên địa bàn của Quân khu.

Trong quá trình thực hành diễn tập, tôi và một số đồng chí cán bộ cơ quan luôn bám sát các giai đoạn, các vấn đề huấn luyện của cuộc diễn tập đề ra. Đặc biệt, tôi quan tâm đến hoạt động của cơ chế 02. Thấy tôi luôn có mặt ở các khu vực diễn tập của Tỉnh ủy, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, khối cơ quan quân sự, công an, anh em cán bộ cơ quan nói: Thủ trưởng theo sát thế làm anh em bị tâm lý khó tập lắm. Tôi cũng thật thà nói: Tôi theo sát là để học đấy, bây giờ mới được học về khu vực phòng thủ.

Cuộc diễn tập tiến hành được một ngày thì Tư lệnh - Trưởng ban chỉ đạo diễn tập quân khu Nguyễn Khắc Nghiên phân công tôi thay đồng chí chỉ đạo diễn tập, đồng chí được triệu tập về họp ở Bộ Quốc phòng. Lúc này trách nhiệm càng đè nặng trên vai tôi hơn. Những ngày sau, với nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn cùng với sự nhiệt tình, trách nhiệm của Ban chỉ đạo, đoàn đạo diễn Quân khu 1, cuộc diễn tập đã thành công tốt đẹp, được cấp trên đánh giá cao.

Ngay sau cuộc diễn tập khu vực phòng thủ ở Lạng Sơn kết thúc, đồng chí Tư lệnh Quân khu phân công tôi về chỉ huy, chỉ đạo cuộc diễn tập chiến thuật cho Sư đoàn 3. Đây là cuộc diễn tập chiến thuật có quy mô lớn, lực lượng tham gia đông và dài ngày với đề mục: “Sư đoàn bộ binh được tăng cường binh khí kỹ thuật tiến công tiêu diệt địch đổ bộ đường không ở địa hình rừng núi”, có một trung đoàn bộ binh và các phân đội xe tăng, pháo binh, phòng không bắn đạn thật. Như vậy, lại một lần nữa tôi bị động với cương vị và trách nhiệm mới. Theo quyết định của Bộ Tư lệnh Quân khu 1, ý định diễn tập, hệ thống Ban chỉ đạo, hệ thống đạo diễn, công tác bảo đảm đã được phê duyệt. Trưóc tình hình trên, khi về đến Sư đoàn 3 tôi phải bắt tay ngay vào nghiên cứu ý định diễn tập, hệ thống chỉ đạo, đạo diễn, các loại văn kiện về các giai đoạn, vấn đề huấn luyện và địa hình các khu vực diễn tập. Đặc biệt, tôi chú trọng kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị binh chủng kỹ thuật tham gia diễn tập tổ chức cơ động lực lượng từ Thái Nguyên đến khu vực diễn tập phải bảo đảm an toàn.

Trong cuộc diễn tập này tôi có nhiều thuận lợi hơn cuộc diễn tập trước, vì có thể nói đó là sở trường của người cán bộ chỉ huy - tham mưu chiến lược, chiến dịch và dịa bàn diễn tập đã quá quen thuộc. Khi còn ở Quân đoàn 2, hàng năm Bộ Tư lệnh Quân đoàn đều chỉ đạo, chỉ huy các sư đoàn bộ binh, lữ đoàn, trung đoàn trực thuộc thực hành diễn tập chiến thuật. Do vậy tôi tiếp cận với công việc chỉ đạo diễn tập cho Sư đoàn 3 khá thuận lợi. Tuy nhiên, một vấn đề cũng làm tôi phải suy nghĩ nhiều là đã hơn mười năm các đơn vị của Quân khu 1 chưa được thực hành bắn đạn thật cấp trung đoàn bộ binh có tăng cường của xe tăng, pháo xe kéo, pháo phòng không và dân quân tự vệ. Do vậy, tôi phải cùng các cơ quan tổ chức nghiên cứu, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức bố trí thao trường, bố trí các mục tiêu, các tuyến triển khai... đến khu vực chỉ huy, chỉ đạo và công tác bảo đảm an toàn.

Đầu tháng 11, cuộc diễn tập bắt đầu thì cũng là lúc các đồng chí Tư lệnh - Trưởng ban chỉ đạo diễn tập Quân khu 1, đồng chí Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng - Tham mưu trưởng diễn tập Quân khu 1 được Bộ triệu tập về dự hội nghị. Căn cứ vào kế hoạch và ý định diễn tập, tôi cùng các đồng chí trong Ban chỉ đạo và đoàn đạo diễn tiếp tục chỉ huy, chỉ đạo và điều hành. Tôi điều hành các cơ quan theo dõi chặt chẽ các giai đoạn diễn tập, kịp thời điều chỉnh một số nội dung phù hợp theo hướng phát triển nghiên cứu. Trong vấn đề huấn luyện hạ quyết tâm chiến đấu, giao nhiệm vụ, chỉ thị hiệp đồng, tôi luôn theo sát và chỉ đạo các đồng chí đảm nhiệm các cương vị và đơn vị tập làm đúng nguyên tắc, đúng trình tự, đúng phương pháp. Do vậy, qua từng giai đoạn, từng vấn đề diễn tập, trình độ chỉ huy, trình độ công tác tham mưu của cán bộ các cấp đã từng bước được nâng lên, tập các nội dung sau đạt kết quả tốt hơn các nội dung trước. Trước khi thực hành bắn đạn thật, tôi trực tiếp kiểm tra các đơn vị binh chủng, từ đường cơ động, tuyến triển khai của xe tăng, trận địa pháo binh, trận địa pháo một cách chu đáo và chặt chẽ. Khi thực hành bắn đạn thật, tôi cùng các đồng chí trong Ban chỉ đạo trực tiếp theo dõi toàn diện các hoạt động của Sư đoàn 3, từ hành động của người chỉ huy, hành động của đơn vị, hiệp đồng giữa các lực lượng binh chủng hợp thành. Do có sự tổ chức chỉ huy, chỉ đạo chặt chẽ của Ban chỉ đạo và tinh thần thái độ nghiêm túc, huấn luyện sát, gần với chiến đấu của Sư đoàn 3, kết quả thực hành “Trung đoàn bộ binh được tăng cường binh khí kỹ thuật đánh địch đổ bộ đường không ở địa hình rừng núi có bắn đạn thật” đạt kết quả giỏi, 100% mục tiêu bị tiêu diệt. Đơn vị an toàn tuyệt đối.

Qua thực hành bắn đạn thật cấp trung đoàn, dưới góc độ nào đó đã giúp cho rất nhiều cán bộ trẻ hình dung được hình thái, không gian, tính chất một trận đánh hiệp đồng trong tác chiến binh chủng hợp thành. Có đồng chí là cán bộ cao cấp thành thật nói với tôi, mấy chục năm làm bộ đội mà bây giờ mới được thấy xe tăng, pháo bắn thẳng, pháo cầu vồng bắn. Kết quả cuộc diễn tập nói chung, bắn đạn thật cấp trung đoàn nói riêng đã góp phần làm tăng niềm tin vào vũ khí trang bị hiện có của quân đội, củng cố quyết tâm sẵn sàng chiến đấu đánh bại kẻ thù trong cuộc chiến tranh tương lai nếu xảy ra.

Đầu tháng 11 năm 2002, đồng chí Nguyễn Khắc Nghiên - Tư lệnh Quân khu 1 được điều về làm Tư lệnh Quân khu 5, tôi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu 1. Ngày 15 tháng 11, đồng chí Nguyễn Khắc Nghiên bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân khu 1 cho tôi. Sau đó Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu bầu bổ sung tôi làm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu. Tháng 12 năm 2002, khi toàn bộ dự án khu kinh tế - quốc phòng Đoàn 799 đã triển khai xong, tôi bàn giao lại nhiệm vụ phụ trách công tác kinh tế, hậu cần và quản lý các đoàn kinh tế - quốc phòng cho đồng chí Thiếu tướng Dương Công Sửu - Phó Tư lệnh Quân khu.

Quân khu là đơn vị địa bàn lãnh thổ, với vị trí, chức năng là Liên binh đoàn chiến dịch trên một hướng, địa bàn chiến lược, có lực lượng vũ trang nhân dân đông đảo và hùng hậu, với cương vị Tư lệnh quân khu, tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình; tích cực nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, quân đội và nghị quyết của Đảng ủy Quân khu để cụ thể hoá vào xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động của quân khu về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tôi suy nghĩ và thấy rất nhiều việc “cần làm ngay”, song cũng không thể nóng vội mà cần tập trung vào các nhiệm vụ chính. Tôi thường xuyên trao đổi bàn bạc dân chủ với đồng chí Phó Tư lệnh về Chính trị cùng tập thể Thường vụ Đảng ủy và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu 1, đề xuất hoạch định các chương trình, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn để lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang quân khu thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả.

Hằng năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quân khu, tôi định hướng, gợi ý, trao đổi với người chỉ huy xây dựng phương hướng công tác cho phù hợp với đặc điểm của quân khu và yêu cầu của tình hình mới. Trong chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang nhân dân quân khu sẵn sàng chiến đấu, bên cạnh việc duy trì nghiêm các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, luyện tập chiến đấu theo phương án, xây dựng các công trình chiến đấu... tôi luôn chú trọng chỉ đạo việc giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng với sẵn sàng chiến đấu, tôi và Bộ Tư lệnh Quân khu chú trọng phối hợp hiệp đồng với cấp ủy, chính quyền các địa phương, tham mưu giúp cho các địa phương chống xâm canh, xâm cư, xâm táng trên biên giới và giải quyết các điểm nóng về tranh chấp đất đai, khiếu kiện dài ngày. Để phục vụ cho phân giới cắm mốc, tôi cùng Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo tốt các đơn vị tham gia rà phá mìn, vật cản trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Do tổ chức bồi dưỡng cho bộ đội về kỹ thuật, phương pháp rà phá chu đáo và công tác bảo đảm tốt, nên hàng năm đều hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trên giao và an toàn tuyệt đối về người và trang bị, khí tài. Kết quả của công tác rà phá mìn, vật cản trên biên giới của lực lượng vũ trang quân khu đã góp phần đẩy nhanh tiến độ phân giới, cắm mốc, tạo điều kiện cho nhân dân các dân tộc trở về làng bản cũ để định canh, định cư, ổn định cuộc sống tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và bảo vệ an ninh chủ quyền biên giới.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:29:31 PM
Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn đã trở thành một nhiệm vụ thường xuyên trong những năm qua của quân đội, địa bàn Quân khu 1 khi mùa mưa bão đến là nơi thường xảy ra các các trận lũ quét, lũ ống ở địa bàn vùng cao và ngập lụt ở vùng đồng bằng. Để giảm thiểu tổn thất do thiên tai gây ra, tôi cùng Bộ Tư lệnh Quân khu luôn chú trọng chỉ đạo các đơn vị xây dựng các kế hoạch và luyện tập phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu nạn, tổ chức phối hợp, hiệp đồng tốt với các địa phương nơi đơn vị đảm nhiệm để sẵn sàng ứng phó. Để làm tốt được nhiệm vụ trên, tôi chỉ đạo cơ quan tham mưu tổ chức xây dựng các kế hoạch diễn tập cho các đơn vị, địa phương, vừa rèn luyện, vừa thích nghi với địa bàn, vừa làm quen với các tình huống có thể xảy ra. Kết hợp với phong trào thể dục, thể thao, tôi thống nhất với Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo các đơn vị và cơ quan huấn luyện bộ đội, công nhân viên tập bơi xuồng, làm quen để tham gia phòng chống lũ lụt. Sau huấn luyện, Quân khu 1 đã tổ chức hội thao để đánh giá kết quả. Việc luyện tập bơi xuồng được cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong quân khu hưởng ứng tích cực, nhất là khối cơ quan Quân khu. Chiều chiều, trên mặt nước hồ của Quân khu 1 rộn rã các tay chèo miệt mài tập luyện.

Từ những năm 2000, nhiệm vụ huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị cho ba thứ quân trong lực lượng vũ trang quân khu đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao hơn. Bản thân tôi đã tích cực nghiên cứu, quán triệt các mệnh lệnh, chỉ lệnh huấn luyện của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu. Tôi cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt, triến khai thực hiện nghiêm túc mệnh lệnh huấn luyện của Bộ, của quân khu và cấp mình.

Hằng năm, quân khu đều duy trì tổ chức chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ cho một tỉnh, chỉ đạo các sư đoàn bộ binh, các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng diễn tập chiến thuật một lần. Để hình thức huấn luyện cao nhất này đạt kết quả tốt, tôi cùng tập thể Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung trí tuệ, tập trung chỉ huy, chỉ đạo các cuộc diễn tập. Đối với khu vực phòng thủ tỉnh, tôi chỉ đạo cơ quan phải làm tốt công tác phối hợp, hiệp đồng với địa phương để chọn thời gian, thời điểm diễn tập cho phù hợp. Để diễn tập sát gần với thực tế chiến tranh và tránh bệnh thành tích, có cuộc diễn tập khi đang diễn theo tình huống của ý định diễn tập trước đó, tôi bàn cùng Ban chỉ đạo điều chỉnh xây dựng tình huống mới, sát gần với thực tiễn hơn để nâng cao trình độ lãnh đạo của cơ chế và năng lực của cơ quan quân sự địa phương. Trước đợt huấn luyện hàng năm, để huấn luyện đạt kết quả cao, Bộ Tư lệnh Quân khu luôn chú trọng tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng cán bộ, chỉ đạo củng cố thao trường, bãi tập, làm mới mô hình học cụ và đồ dùng huấn luyện.

Cùng với chỉ đạo, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, Ban Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu chúng tôi tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, theo dõi các đơn vị xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong những năm qua, Quân khu 1 đã chú trọng xây dựng các đơn vị điểm vững mạnh toàn diện ở khối chủ lực, khối cơ quan quân sự địa phương và cơ quan, nhà trường, các đơn vị trực thuộc. Nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương đã có nhiều cố gắng khắc phục những khó khăn về cơ sở hạ tầng, về tác động của cơ chế thị trường đến đời sống cán bộ, chiến sĩ để xây dựng đơn vị theo các tiêu chí của đơn vị vững mạnh toàn diện. Tôi cùng Bộ Tư lệnh Quân khu và các cơ quan quân khu đã duy trì tốt chế độ kiểm tra các đơn vị về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Do vậy, nhiều cơ quan, đơn vị, nhà trường đã có những tiến bộ khá vững chắc trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tổ chức biên chế đúng, đủ, giáo dục chính trị nâng cao bản lĩnh chính trị, huấn luyện, nền nếp chính quy chấp hành điều lệnh, thực hiện phong trào “Ngành Hậu cần làm theo lời Bác”, xây dựng doanh trại “xanh - sạch - đẹp” và “Cuộc vận động 50” - quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông. Sư đoàn 3 là đơn vị tiêu biểu về nền nếp chính quy, được nhiều đoàn khách quân đội trong và ngoài nước đến thăm.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân là một nhiệm vụ thường xuyên của Quân khu 1. Quán triệt quan điểm trên, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu luôn quan tâm chỉ đạo công tác giáo dục quốc phòng. Là Chủ tịch Hội đồng giáo dục quốc phòng Quân khu 1, tôi cùng Hội đồng đã tích cực xây dựng các chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng cán bộ theo phân cấp của trên. Tôi đề xuất, trao đổi với các đồng chí lãnh đạo các tỉnh xây dựng, tổ chức Hội đồng giáo dục quốc phòng ở địa phương đi vào hoạt động hiệu quả và thiết thực. Qua công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh ở các cấp, trình độ nhận thức về quốc phòng toàn dân của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở địa phương, của học sinh, sinh viên trên địa bàn được nâng lên. Công tác giáo dục quốc phòng trên địa bàn Quân khu 1 đã khích lệ được lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, nhận rõ kẻ thù, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong cán bộ, nhân dân các dân tộc, và động viên họ đoàn kết góp sức mình vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa bàn, trên tinh thần đó, tôi đã đề xuất với Đảng ủy Quân khu ra chủ trương lãnh đạo các cơ quan quân sự địa phương làm tham mưu cho Đảng bộ, chính quyền xây dựng thế trận phòng thủ khu vực trên địa bàn, dựa trên cơ sở các hang động sẵn có của địa phương. Bên cạnh đó, tôi cũng trao đổi, đề xuất trực tiếp với các đồng chí lãnh đạo địa phương kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng, cải tạo một số hang động mang tính lưỡng dụng, thời bình phục vụ cho kinh tế - xã hội, thời chiến phục vụ cho quân sự. Năm 2004, tôi và đoàn cán bộ một số cơ quan quân khu tổ chức đợt kiểm tra tình hình biên giới và làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Cao Bằng. Thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu 1, tôi bàn với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Cao Bằng về dự án mở tuyến đường nối huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn với thị xã Cao Bằng phục vụ cho phát triển kinh tế và củng cố thế trận quốc phòng của địa phương. Cũng trong chuyến đi Cao Bằng, sau khi thị sát, nắm tình hình khu vực thác Bản Giốc, Đoàn cán bộ Bộ Tư lệnh Quân khu đã gặp gỡ, thăm hỏi động viên các chiến sĩ biên phòng và dân quân tập trung của xã Đàm Thủy huyện Trùng Khánh, xác định quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước, bảo vệ thác Bản Giốc - món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng. Sau đó, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng phương thức đấu tranh bảo vệ chủ quyển lãnh thổ, hình thức sử dụng lực lượng dân quân tập trung cùng với phương pháp bảo đảm...

Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cơ quan, đơn vị, tôi và Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã chú trọng chỉ đạo huấn luyện cơ quan bằng các hình thức luyện tập chiến dịch và chỉ huy - tham mưu chiến dịch với quy mô toàn quân khu. Để phục vụ cho luyện tập, những sa bàn địa hình với diện tích hàng trăm mét vuông đã được cơ quan tham mưu thực hiện. Tại sa bàn, tôi chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nghiên cứu địa hình, tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ thị hiệp đồng, bảo đảm. Sau luyện tập, một số cơ quan đề nghị để sa bàn lại một thời gian cho cơ quan học tập, vì nhiều cán bộ chưa hình dung được hết không gian và địa hình cụ thể của quân khu. Cũng chính nhờ loại hình luyện tập chiến dịch này, trình độ của cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp, ý thức với dự báo các hướng, khu vực cùng đảm nhiệm nhiệm vụ chiến đấu của các đơn vị, địa phương trong thế trận phòng thủ của quân khu đã được nâng lên.

Để sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), năm 2004, tôi báo cáo Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu cho phép Quân khu 1 đi nghiên cứu địa hình của Quân khu 2 và Quân khu 3. Được sự đồng ý của trên, Quân khu 1 đã tổ chức đoàn cán bộ gồm một số đồng chí trong Bộ Tư lệnh, Thủ trưởng bốn cơ quan, một số cán bộ cấp trưởng các phòng, ban thực hiện hai đợt đi nghiên cứu địa hình ở Quân khu 3 và Quân khu 2. Qua chuyến đi nghiên cứu địa hình, thực chất giống như một đợt học tập ngoại khoá, đi đến đâu đoàn cán bộ Quân khu 1 cũng được đón tiếp, nghe báo cáo, trao đổi tình hình mọi mặt và hướng dẫn đến những địa bàn xung yếu. Nhờ những hoạt động trên, nhiều đồng chí cán bộ ở Quân khu 1 mới có dịp biết đến bãi Tục Lãm, mũi Trà Vỹ ở địa đầu Móng Cái, trận địa pháo 37 ly Tiền Châu - Thái Bình, những mốc giới mới cắm ở Hà Khẩu - Lào Cai, rồi đồi A1, đồi Him Lam, đồi Độc Lập, Mường Phăng - những địa danh đã được các thế hệ đi trước của quân đội ta đã lập nên nhiều chiến công trong hai cuộc kháng chiến...


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:31:50 PM
Do chú trọng làm tốt công tác chỉ đạo, chỉ huy huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị, địa phương đều đạt kết quả tốt. Tham gia các cuộc hội thao của Bộ, của các quân chủng, binh chủng và các chuyên ngành Quân khu 1 đều đạt được các thứ hạng đáng khích lệ. Kết quả ấy, bản thân tôi rất phấn khởi và tự hào bởi phần nào có sự đóng góp tâm sức của mình.

Thực hiện Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, tôi luôn chú trọng quán triệt Nghị quyết của Đảng một cách nghiêm túc và ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình là người chỉ huy đồng thời là Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu trong việc triển khai thực hiện trong toàn Đảng bộ và các dơn vị. Dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, tôi tham gia đề xuất với Thường vụ Đảng ủy những biện pháp, phương pháp thực hiện Nghị quyết nhằm nhanh chóng kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ đảm nhiệm các cương vị chính ủy, chính trị viên ở các đơn vị để ổn định đơn vị.
Từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 11 năm 2005, Đảng bộ Quân khu 1 tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XII. Tại Đại hội, tôi được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu. Ban chấp hành Đảng bộ đã bầu tôi vào Ban Thường vụ Đảng ủy và giữ cương vị Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu. Ý thức được vinh dự và trách nhiệm, tôi tự nhắc mình tiếp tục rèn luyện, phấn đấu hơn nữa để góp sức lực, trí tuệ nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân khu vững mạnh toàn diện.

Cùng với các nhiệm vụ khác, tôi luôn quan tâm đến việc xây dựng cơ bản nơi ăn, chốn ở, nơi làm việc cho các đơn vị trong quân khu, trước tiên là cơ quan quân khu để làm mẫu về nền nếp ăn ở chính quy cho các đơn vị đến tham quan, học tập. Được sự đầu tư của Bộ Quốc phòng và các nguồn vốn của quân khu, tôi đã cùng tập thể Ban Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng Nhà văn hoá, sân vận động, hồ nước trung tâm và một số nhà ở cho bốn cơ quan quân khu. Sau một thời gian, cảnh quan trong Quân khu bộ đã có nhiều thay đổi. Nhà văn hoá được thiết kế xây dựng khá hoành tráng, với khuôn viên rộng. Sân vận động đúng quy cách, có đường bít điền kinh và diễu duyệt tốt, khán đài A có mái che. Trong khuôn viên cơ quan Quân khu bộ có hồ nước trong xanh lung linh chiếu ánh đèn nê ông trên đường 3 tháng 2, những hàng cây sấu lấy giống từ khu rừng Trần Hưng Đạo đã mở tán che các thảm cỏ tạo nên môi trường trong lành... Cán bộ các cơ quan Quân khu đã rời các nhà cấp 4 cũ kỹ lên ơ các nhà hai tầng thoáng mát. Đó chính là điều kiện thuận lợi để cán bộ khối cơ quan làm gương cho toàn đơn vị về nền nếp ăn ở chính quy. Những cơ sở hạ tầng trên đã tôn thêm vẻ đẹp của doanh trại quân đội thời nay. Ngày 16 tháng 10 năm 2005, Quân khu 1 đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu. Các vị khách quý và đại biểu các địa phương trên địa bàn đã được xem diễu duyệt đội ngũ với những bước đi oai nghiêm, hùng dũng của bộ đội, những màn biểu diễn võ thuật... đặc biệt là màn trình diễn nghệ thuật được sân khấu hóa lịch sử truyền thống Quân khu 1 - Việt Bắc 60 năm với sự tham gia của hàng trăm diễn viên không chuyên là cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên của tất cả các cơ quan, đơn vị trong quân khu.

Là người chỉ huy, tôi rất chú trọng quan tâm chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ, biên soạn lịch sử và tổng kết chiến tranh. Trên cương vị là Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Công nghệ Quân khu 1, tôi chỉ đạo Phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường tham mưu, tổ chức triển khai các chương trình để tài và thực hiện quản lỷ Nhà nước về khoa học trong lực lượng vũ trang quân khu. Tôi đã chỉ đạo cơ quan khoa học tổ chức biên soạn một số tài liệu về nghệ thuật quân sự, tổ chức tổng kết chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, biên soạn lịch sử lực lượng vũ trang quân khu thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quổc (1975-2010), duy trì phát hành Thông tin Khoa học Quân sự Quân khu hàng quý và Bản tin phục vụ lãnh đạo tuần. Năm 2007, Quân khu 1 đã phối hợp với Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 tổ chức thành công Hội thảo khoa học “60 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947”. Cuộc hội thảo đã thu hút được sự tham gia của hơn 30 tướng lĩnh, hàng chục các nhà khoa học trong và ngoài quân đội, và hàng trăm cán bộ khoa học trong toàn quân.

Ngày 27 tháng 12 năm 2007, tôi hoàn thành nhiệm vụ của một người lính Cụ Hồ. Theo quyết định của trên, tôi bàn giao lại chức vụ Tư lệnh Quân khu 1 cho đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Đạo.

Trở về đời thường, song trong tâm trí tôi vẫn vang lên những âm hưởng của cuộc đời người lính. Những âm thanh của bom đạn, sắt thép, tiếng gầm rú của máy bay suốt chặng đường từ Quảng Trị đến dinh Độc Lập, những ngày luồn rừng truy quét FULRO, rồi những ngày vất vả hành quân ngược xuôi Nam - Bắc, cùng đồng chí, đồng đội dưới sự lãnh đạo của Đảng, vững bước dưới Quân kỳ Quyết thắng xây dựng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2, cuối cùng là Quân khu 1 thành đơn vị vững mạnh toàn diện góp phần xây dựng quân đội nhân dân chính quỹ, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Cuối năm 2008, khi đang nghỉ chờ hưu, tôi được Đảng ủy Quân khu 1 mời về dự lễ trao Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Với những thành tích trong chiến đấu và công tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 14 tháng 4 năm 2011, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cho cá nhân tôi. Những danh hiệu trên là những phần thưởng cao quý nhất đối với tôi và gia đình. Tôi luôn tự hào và biết ơn đồng bào, đồng chí, đồng đội đã cùng kề vai, sát cánh chia lửa trên đồng bào chặng đường chiến đấu và công tác. Tôi tự hứa, tiếp tục phấn đấu, rèn luyện giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tiếp tục góp sức mình vào công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sau ngày về nghỉ hưu, ngoài thời gian, tình cảm, trách nhiệm dành cho gia đình, dành cho các con và các cháu, tôi cũng tích cực tham gia sinh hoạt Đảng các hoạt động của cựu chiến binh, tổ dân phố, tôi còn tham gia Hội đồng đội của thành phố Hà Nội, làm hội viên Hội hỗ trợ gia đình thương binh - liệt sĩ, làm Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu cựu chiến binh Sư đoàn 304, Đặc biệt, đối với việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, tôi luôn tự đặt cho mình trách nhiệm thiêng liêng đối với những đồng đội đã ngã xuống trên chiến trường... dù khó khăn đến mấy cũng quyết tâm bằng mọi cách để đưa các anh về với gia đình, quê hương. Đối với tôi, phía trước nhiều việc hữu ích đang chờ đợi và tiếp tục phải làm, sống cho xứng đáng, trọn vẹn với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và của đồng chí, đồng đội.


Tiêu đề: Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)
Gửi bởi: hoi_ls trong 15 Tháng Hai, 2019, 03:33:31 PM
THAY LỜI KẾT


Bốn mươi năm liên tục chiến đấu, công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng với tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Nhớ làm sao, kể làm sao cho hết những ngày trèo đèo, lội suối, băng rừng, biết bao lần sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, nhưng vượt lên tất cả vẫn là tinh thần quả cảm, đức hy sinh và lòng tự hào về một thời máu lửa. Lịch sử đất nước giờ đây đã bước sang trang mới. Tôi không ngờ, từ một đứa trẻ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khó, sớm phải thoát ly để rồi trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, đến hôm nay được sống, viết lại những kỷ niệm vui buồn giữa lòng Thủ đô Hà Nội.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi với bốn chục năm chinh chiến và công tác vẫn còn bao điều trăn trở, nhưng quân đội là một trường học lớn đã đào tạo, rèn luyện tôi nên người. Phát triển rồi trưởng thành từ anh lính binh nhì cho đến khi nhận quân hàm Trung tướng đối với tôi đó là một điều hạnh phúc và may mắn lớn. Ơn Đảng, ơn Bác Hồ và quân đội đã cho tôi lý tưởng cách mạng, ý chí và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.

Tôi rất vui mừng nhận thấy sau 35 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Việt Nam đã tạo được vị thế vững chắc trong lòng bè bạn quốc tế và ngày càng phát triển cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh...

Sau khi về hưu tôi có nhiều thời gian để về thăm quê. Hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình... từ lâu vẫn để lại dấu ấn đặc biệt trong tôi. Dù hôm nay đang sống giữa lòng Thủ đô Hà Nội nhưng cái tên Khả Phong - quê tôi vẫn mãi là nguồn cội, là điểm tựa tinh thần luôn theo tôi suốt cả cuộc đời.

Mỗi lần về quê, tôi đều ước ao và mường tượng ra cảnh mình được đi giữa những cánh đồng lúa chín vàng để mà thả sức nhớ về một thời tuổi thơ đầy gian khó, cái thời chăn trâu, cắt cỏ, kiếm củi... Nhưng cái thời đó đã xa, xa thật rồi vì quê hương tôi giờ đang đổi mới. Đây đó những nhà cao tầng, mái ngói, mái bằng đang mọc lên từng ngày thay cho mái rạ, lều tranh, vách đất.

Cảm ơn quê hương, cảm ơn gia đình với người cha - người mẹ chịu thương chịu khó vượt qua nghèo khổ, cơ cực để nuôi tôi khôn lớn trưởng thành. Cũng không quên cảm ơn người vợ suốt một đời nhẫn nại, thủy chung gắn bó nghĩa tình. Năm tháng qua đi, cuộc sống vợ chồng tôi thật đơn giản và trôi theo những chặng đường chiến đấu, công tác dài đằng đẵng. Vợ tôi luôn xác định: “Lấy chồng công tác trong quân đội thì người vợ phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Mọi công việc trong gia đình đều phải một tay gánh vác”. Tôi hiểu đó là một sự vượt qua chính mình mà không phải người phụ nữ nào cũng làm được.

Xin dành lời tri ân, cảm ơn chân thành đến đồng bào, đồng chí, đồng đội tôi, đặc biệt là những người đã không tiếc máu xương của mình đã ngã xuống chiến trường để cho đất nước có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc hôm nay.

Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn và tri ân đồng bào các dân tộc Việt Bắc, cấp ủy, chính quyền, các ban ngành và lực lượng vũ trang trên địa bàn Quân đoàn 2, Quân khu 1 luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi phấn đấu, công tác trong suốt 40 năm qua từ lúc tôi nhập ngũ cho đến khi tạm biệt cuộc đời binh nghiệp của mình.




Hết