Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:12:12 pm



Tiêu đề: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:12:12 pm
        
        - Tên sách : Đơn tuyến
          (Năm tháng, cuộc đời nhà tình báo công an nhân dân, nhà khoa học, giáo sư Nguyễn Đình Ngọc)

        - Tác giả : Phạm Quang Đẩu

        - Nhà xuất bản Công an nhân dân

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:16:13 pm
       
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26238995_171588153571073_7804499299699199354_n.jpg?oh=09e9dc864df380c7b44c415ee6c6bf7d&oe=5AEA62F5)


        
Chương một

MỘT NGÀY CUỐI NĂM 1947

        Trong đầu óc của thằng bé mười lăm tuổi còn non nớt như tôi, đó là một ngày uất hận!

        Tôi giật mình, thảng thốt. Tràng tiểu liên Thompson trong giây lát xé toạc màn đêm tĩnh lặng. Trước đấy, khi bị bắt cha tôi đã dõng dạc bảo với tên quan hai chỉ huy tốp lính đi càn: “Các ông phải tuân thủ Công ước Genève, không được giết thầy thuốc khi đang cứu chữa thương binh trên chiến trường!”. Giờ thì điều Người cảnh báo ấy trước lũ lang sói đã trở nên vô nghĩa. Có một sự trùng hợp đến kỳ lạ. Vào tầm này tròn một năm trước, một người bạn vong niên của cha là bác sĩ Nguyễn Tài Chất cũng bị chúng sát hại khi đang cấp cứu thương binh trong đêm Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946. Bác sĩ Chất làm ở Quân y viện Hà Nội, tối hôm đó thấy một chiến sĩ Vệ quốc đoàn bị thương đang nằm ở dìa hồ Hale, liền khoác áo blu chạy xuống đường băng bó cho anh, vừa xong thì ông hứng trọn loạt tiểu liên của một tên lính Pháp tại cửa sổ tầng hai tòa nhà gần đó, chết ngay tại chỗ. Nghe tin, cha tôi lặng đi nghẹn ngào: “Quân vô nhân tính đến thế là cùng!” Giờ lại đến lượt Người là nạn nhân của sự vô nhân tính ấy.

        Cha tôi: Nguyễn Đình Diệp, sinh năm 1910; quê Phượng Vũ, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Đông. Ông học trường Y sĩ Đông Dương vào đầu những năm 1930, ra trường hành nghề y ở nhiều nơi như: Uông Bí, Hà Nội, Sơn La, Hải Phòng, Sơn Tây, Đông Khê... Ông có lòng yêu nước, sớm cảm tình với cách mạng và đã có những việc làm cụ thể giúp đỡ nhiều chiến sĩ cộng sản trong thời kỳ hoạt động bí mật. Cách mạng Tháng Tám nổ ra ông tham gia quân đội, là Quân y xá trưởng của Trung đoàn Vĩnh Phúc, bệnh viện dã chiến đóng tại Phúc Yên (Ngày ấy, bệnh viện này còn có những thầy thuốc đầu tiên của đội quân cách mạng non trẻ như: Đỗ Xuân Hợp, Đinh Văn Thắng, Trịnh Văn Tuất, Lê Văn Cát...). Thời gian đó tôi sống bên cạnh cha, làm giao thông liên lạc cho Trung đoàn.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26733999_170838903645998_1221316021991288362_n.jpg?oh=2f47428b1fbcfb5e0eca56790e9e4ec4&oe=5AFF414D)
Gia đình năm 1938 ở Hà Nội: Song thân đứng giữa; Nguyễn Đình Ngọc năm 6 tuổi (ngoài cùng bên trái)


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:17:06 pm
     
        Đầu tháng 10-1947, tướng Salan, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã huy động 1,2 vạn quân với hai gọng kìm lớn trên bộ, đồng thời dùng lực lượng lính dù như mũi thứ ba mở cuộc tấn công quy mô chưa từng có lên chiến khu Việt Bắc, hòng tiêu diệt đầu não của Chính phủ kháng chiến, nhưng chúng đã bị thảm bại. Canh bạc khát nước, ngay sau đó chúng mở mặt trận Đường số 4 ở mấy tỉnh biên giới phía Bắc, lại tung nhiều đơn vị lê dương càn quét khốc liệt các vùng giáp ranh đồng bằng và trung du Bắc Bộ nhằm tiêu hao sinh lực ta và gỡ lại một phần thể diện. Một ngày cuối năm, được tin có những toán lê dương đang từ Sơn cốt, Đô Tân càn về phía bệnh viện dã chiến, cha tôi liền đưa thương binh vượt vòng vây. Chạy đến thôn cầu Vây (xã Đô Tân, huyện Phúc Yên) nơi gia đình tôi sơ tán, thì bất ngờ đụng một toán địch do tên quan hai Pháp chỉ huy. Có kẻ chỉ điểm. Cha bị bắt khi vẫn mặc bộ đồ Vệ quốc đoàn, bên ngoài khoác áo blu của thầy thuốc. Tên quan hai ra lệnh trói ngay, còn bắt theo cả tôi và em Nguyễn Đình Kim lúc ấy vừa đến chơi với tôi (Tôi còn người em trai dưới Kim là Nguyễn Đình Sơn, mất trước đó không lâu vì lao ruột khi mới ba tuổi). Kim kém tôi có một tuổi, gầy nhỏ, chỉ còn biết bám riết sau lưng tôi. Mới đi được một đoạn ngắn, tên quan hai có lẽ thấy Kim còn quá nhỏ, đã giật tay em khỏi hàng, quát:

        - Xéo đi!

        Tôi và Kim đứng ngây giây lát chưa kịp hiểu chuyện gì, thấy cha đang bị trói ở đầu hàng ngoái lại nói to với Kim:

        - Về ngay nhà đi con!

        Nghe vậy tôi cũng vụt tách khỏi hàng, kéo tay em định cùng chạy về phía sau. Thằng quan hai giữ tôi, mắt trợn trừng:

        - Mày ở lại!

        Kim bỗng cởi cái áo dài tay đang mặc đưa tôi, nói nhanh:

        - Anh mặc vào kẻo lạnh.

        Xong em chạy ù. Cái dáng bé nhỏ của em biến vào màn sương từ phía cánh đồng ấp Làng Tây đang dăng cuồn cuộn. Chẳng mấy chốc, sương chiều đã như bát cháo đặc ông trời đổ xuống đọng lại khắp thôn xóm ruộng đồng, mang theo giá rét của chiều đông, lúc ấy tôi mặc thêm cái áo của Kim cũng đỡ lạnh hơn.

        Về sau có người nói với tôi, bị bắt hôm đó còn có mấy du kích xã nữa, tôi không thấy họ vì bị giải sau cùng và đã sớm bị tách khỏi cha tôi đi trước. Được một chặp dài đến gần Đáp cầu, chúng dừng và có ý giam cha tôi một nơi. Tôi bỗng cảm nhận sắp có cuộc chia ly không bao giờ được gặp cha nữa, nên vội lẻn lên phía đầu hàng. Cha đang ngồi ở cửa một ngôi nhà gạch bỏ hoang bên đường, mặc áo trấn thủ có những đường may chéo nhau hình quả trám, ngoài vẫn còn khoác cái áo blu cứu thương lúc bị bắt đã giằng co với giặc đứt hết khuy, hai khuỷu tay thì bị sợi dây dù thít chặt.

        - Cha ơi! - Tôi vụt đến ôm lấy cha.

        - Đừng sợ! - Giọng cha khàn hẳn nhưng vẫn rõ ràng. Từ lúc bị bắt tôi cũng luôn nhẩm trong đầu mỗi câu “đừng sợ” ấy để tự trấn an, vậy là cha đã hiểu ý nghĩ của tôi, động viên tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Bỗng, cha cúi xuống thầm thì vào tai tôi - Con ở lại hãy cố học cho giỏi và giúp người khác học. Dân mình khổ trước hết vì giặc dốt đấy.

        Tôi sững sờ. Sao cha chỉ dặn điều ấy trong lúc máu lửa sinh tử này?

        Chợt có tên lính đến kéo tuột tôi đi. Nó lôi xềnh xệch tôi theo toán lính đang chạy rầm rập lên phía trước, toán người tù trong đó có cha tôi bị tụt hẳn lại phía sau. Từ đây, giữa tôi và cha hoàn toàn bị tách khỏi nhau.

        Mặt trời lặn sau những ngôi nhà mái bằng, mái ngói, mái rạ nhấp nhô trên bầu trời phía Tây, để lại trước mặt tôi một khối mây màu đỏ đậm như một bọng máu khổng lồ đè nặng xuống thành phố. Hơn một năm nay quân Pháp gây hấn, nội, ngoại thành đâu cũng có thể thành chiến trường, đã nhuốm máu bao người. Chẳng mấy chốc, bọng máu ấy sẫm lại biến vào bầu trời tối đen. Tôi đã thấy thấp thoáng trước mặt muôn vàn ánh đèn điện nhấp nháy của Hà Nội soi bóng xuống dòng sông Hồng. Đấy là nội thành, nơi gia đình tôi vừa tản cư tháng trước. Trên con đường nhựa tróc lở lỗ chỗ không một ngọn đèn đường, không một bóng người và xe cộ qua lại, mọi thứ xung quanh tôi giờ đây đều lờ mờ, hỗn độn đến nỗi không thể phân biệt là người hay thân cây, bụi cây đang đứng lặng phắc như bóng ma hai bên đường. Chốc chốc lại gặp lù lù ngôi nhà gạch tiêu thổ kháng chiến đổ nát, hoang phế.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:20:58 pm

        Khi tôi đến gần cầu Long Biên, thì nghe thoảng trong gió tràng Thompson nổ “roẹt” từ phía sau lưng mạn cầu Đuống vọng lại, đó là thời khắc bất ngờ nhất, kinh hoàng nhất trong cuộc đời tôi, không gian, thời gian như bị bóp méo, tan biến, xóa nhòa! Linh cảm mách bảo: cha đã vĩnh viễn rời bỏ thế gian này sau loạt đạn định mệnh đó. Và tôi đau đớn hiểu rằng từ nay mình đã thành đứa trẻ mồ côi cha, lời căn dặn ban chiều cũng là lời trối trăng cuối cùng của Người, về sau này, ngay cả thời gian, địa điểm nơi cha tôi hy sinh cũng không thể xác định được cụ thể, quân thù đã thủ tiêu cha tôi một cách đê hèn.

        Đêm ấy tôi cứ thấp thỏm, lúi cúi bước trên những tấm ván gỗ lát bên thành cầu dành cho người đi bộ. Qua cầu Long Biên, chúng đưa tôi men theo đê sông Hồng, chừng gần nửa giờ đồng hồ thì dừng lại trước nhà thương Đồn Thủy (Bệnh viện Trung ương quân đội 108 bây giờ). Chúng ném tôi vào một căn buồng không đèn đóm, giường chiếu, vừa trải qua một ngày quá hãi hùng, mệt mỏi, tôi ngủ thiếp ngay. Tỉnh dậy đã sáng bạch. Tôi trơ trọi trong một khoảng không gian nhỏ hẹp, lờ mờ. Tôi hiểu mình bị bắt cùng cha vì chúng biết tôi là liên lạc viên, sẽ tra hỏi để tìm manh mối lực lượng Việt Minh. Chúng sẽ còn truy bức tôi về những điều khác nữa sao có thể dự liệu trước được. Mấy ngày đầu chưa có động tĩnh gì. Rồi có viên quan hai Pháp đến. Hắn tỏ vẻ quan tâm đến tôi và đưa ra gợi ý bất ngờ:

        - Nom chú mày linh lợi, thông minh, có muốn làm con nuôi ta không? Ta sẽ đưa về Pháp để nuôi dạy thành tài giúp ích cho mẫu quốc.

        Trái tim non trẻ của tôi lúc đó bỗng trào lên nỗi căm giận vô bờ. Kẻ đã bất chấp đạo lý, công pháp quốc tế giết cha đẻ tôi, một thầy thuốc chỉ làm việc nhân đạo là cứu chữa thương binh giờ lại muốn nhận làm cha nuôi tôi! Và, tôi muốn nhổ bãi nước bọt khinh bỉ vào cái mặt dài vêu, đôi mắt cú vọ sâu hoắm của hắn. Tôi nhìn thẳng vào hắn, hất hàm:

        - Không!

        Hắn chưng hửng bỏ đi. Lát sau quay lại mở toang cửa buồng giam, bất ngờ hắn tung cú đá bằng giày đinh vào mông tôi, làm tôi chấp chới ngã nhoài về phía trước.

        - Việt Minh con! Sướng không muốn, sẽ có người dạy cho mày biết thế nào là lễ phép.

        Bộ mặt hắn tím bầm.

        Mấy ngày sau đó tôi liên tục bị tên sĩ quan Phòng Nhì hỏi cung. Truy bức, mớm cung, dỗ ngon ngọt, rồi giở cả trò đấm đá, nhưng chẳng moi được tin tức gì, hay nói đúng hơn không có gì để moi ở một thằng bé học trò tuổi mười lăm như tôi. Đến đầu tháng 3-1948 chúng phải thả tôi ra.

        Bước thấp bước cao khỏi cổng nhà thương Đồn Thủy, tôi cắm cổ bước như chạy trên vỉa hè qua hết phố này đến phố khác, hướng về nhà xưa ở khu phố cổ. Buổi chiều hôm ấy khi em Kim chạy về báo, cả nhà trong tâm trạng hoang mang, rối bời đã từ Phúc Yên bìu díu nhau tản cư tiếp lên mạn Thái Nguyên. Được hơn một tháng trên đất khách quê người, không nơi nương tựa, không phương kế sinh nhai, cả nhà đành phải quay trở lại nội thành Hà Nội. May mà tôi được thả, đúng lúc cả nhà cũng mới về căn nhà cũ được ít bữa.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:22:12 pm
       
*

*       *

        Nhà số 121 phố Hàng Bạc là của ông bà ngoại, gia đình tôi đã ở chung từ mấy năm trước. Lúc đó mẹ đang lúi húi sắp xếp hàng bày trong tủ kính, chợt ngửng lên thấy tôi vội chạy ra ôm chầm, nước mắt giàn giụa. Em Kim thấy tôi về có một mình thì khóc nức lên:

        -Cha đâu? Cha ơi!

        Tiếng khóc của nó làm em gái út Nguyễn Lê Ninh Thủy, lúc cha mất mới được bẩy tháng tuổi, đang ngủ trên giường bỗng choàng mở mắt, khóc sa sả. Mẹ lại chạy vào bế em Thủy lên, vén áo cho bú. Em nức nở vục đầu vào bầu vú mẹ, tôi thấy nước mắt mẹ rơi lã chã xuống tã của em. Sống mũi tôi cũng cay xè, nhưng nghĩ đến lời cha dặn, quyết mím chặt môi không để bật ra tiếng nấc.

        Tắm rửa, ăn uống xong xuôi, mọi người trong nhà mới xúm lại hỏi tôi sự việc những ngày qua. Tôi kể là chiều hôm đó ở Phúc Yên chúng cố tình tách cha con ra hai nơi, đến quá nửa đêm chỉ nghe tiếng súng nổ gần mạn cầu Đuống, vả lại trời tối om, không thể hình dung cha ngã xuống chỗ nào, lúc nào. Mọi người trong nhà bần thần nhìn nhau, cũng không ai có thể nhớ được ngày hôm đó dẫu chưa xa, là ngày mùng mấy? Cú sốc do cái chết tức tưởi, oan khốc của cha tôi đã hằn sâu vào tâm khảm, cũng xóa nhòa đi nhiều cảm nhận cụ thể về không gian, thời gian của mỗi thành viên trong gia đình. Chỉ biết đó là một ngày cuối năm 1947. Sau này cả nhà đã quyết định lấy ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 hàng năm làm ngày giỗ cha.

        Nỗi đau buồn hiện rõ trên từng khuôn mặt. Ông ngoại đi đi lại lại như cái bóng chập chờn. Ông từng làm công chức ở sở Binh lương, về hưu trước ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra. Còn bà ngoại, giờ phải mở lại cái cửa hàng vàng bạc khi lưng vốn đã tiêu tán hết trong những biến cố vừa qua, gánh nặng của cả gia đình đang đè nặng lên đôi vai gầy của bà và mẹ tôi. Mẹ sau khi nghe tôi kể ngồi thừ một lúc lâu, nước mắt lưng tròng, mới quay sang ông bà nói:

        - Xin ông ngồi lại cho con thưa chuyện. Hay cho con và cháu Ngọc ngày mai đến mạn cầu Đuống dò la xem nơi chúng chôn cất chồng con ở chỗ nào?

        Em Kim ngồi bên mẹ láu táu xen vào:

        - Con cũng đi với mẹ.

        - Không ổn - Ông ngoại đã ngồi trên cái phản đặt giữa nhà, lắc đầu bảo với mẹ tôi - Sự việc diễn ra hơn một tháng nay, nhà mình đã hỏi nhiều nơi mà chẳng có được tin nào cụ thể. Giờ cháu Ngọc không biết gì hơn. Từ đây về cầu Đuống khá xa, có đến được cũng chẳng thể biết chúng đã vùi xác nhà con vào đâu đấy để phi tang, hay cho trôi sông rồi. Như tìm kim đáy bể, ích gì. Thời buổi loạn lạc này, con là trụ cột trong nhà, đi tìm diệu vợi thế nhỡ gặp chuyện không may thì nhà ta còn khốn khổ thêm.

        Bà ngoại ngồi bên ông bỗng tức tưởi nói:

        - Sao cả nhà mình ngày đó lại tự dưng đâm đầu vào nơi có cái tên gở thế không biết! Thôn Câu Vây, âp Làng Tây. Đúng là tây - vây. Tây - vây.

        Ông ngoại nhìn khắp lượt, nhỏ nhẹ vỗ về mọi người:

        - Thôi, giờ ngồi mà than vãn được ích gì. Đành mở lại cửa hàng mà kiếm miếng ăn cho qua ngày đoạn tháng, chờ thời. Ngọc, Kim, phải đi học tiếp ngay đấy. Đồng lương hưu ít ỏi của ông vẫn có thể bù trì được cho các cháu. Hai anh em về lại nơi trọ cũ ở phố Chợ Đuổi, bảo nhau học. Bà Đại chủ nhà vẫn còn ở đấy, bà ấy là người tốt, nói khó vẫn có thể khất tiền trọ được dăm ba tháng đầu.

        Thế là ngay chiều hôm đó chúng tôi trở về Chợ Đuổi (phố Tuệ Tĩnh bây giờ). Liên hệ, dọn dẹp nơi ở xong xuôi, ngày hôm sau chúng tôi trở lại lớp học ở trường tiểu học Thanh Quan, phố Hàng Cót. Lớp cuối cấp, dẫu học đuổi cũng không khó khăn gì. Tôi đỗ tiểu học lên bậc trung học, thi được vào trường chỉ dành cho nam sinh, tuyển chọn rất khắt khe là trường Chu Văn An bên hồ Tây.

        Tôi học đều các môn, riêng toán ngày càng tỏ ra vượt trội. Tôi thường ngồi lì trước bàn học đến quá nửa đêm mới đi ngủ, ban ngày ngoài buổi đến trường vẫn tranh thủ đi làm thuê thêm tiền giúp mẹ. Tôi còn có biệt tài ngủ ngồi, vì sợ ngủ nằm thì “sướng quá” mà quá giấc quên việc thức để học, thói quen ấy về sau đến già còn giữ được. Do học “gạo” như thế, mà thuộc làu cả cuốn sách toán trung học Lebosse. Năm sau Kim cũng đỗ vào trường tôi. Với người ngoài, tôi thường vô tư giải giúp những bài toán khó, nhưng với chú em, sợ nó ỷ lại mà mất đi tính tự lực nên thường tỏ ra khe khắt. Có lần Kim nhờ giải một bài toán quả là hóc búa, hồi trước tôi phải vắt óc mới nghĩ ra. Tuy đã có sẵn lời giải, tôi vẫn gắt um: “Tao giải cho mày thì ai giải cho tao đây!”. Lúc ấy Kim cáu thực sự, bảo từ ngày chạy Tây về sao bỗng dưng ông anh hay dở chứng thế! Rồi sau này dần dần nó cũng hiểu ông anh luôn muốn hai anh em phải ghi nhớ lời cha, dù hoàn cảnh nào cố học, học cho thật giỏi. Thầy dạy toán ở bậc trung học là một người Pháp, từ đầu tỏ ra khoái tôi, từng nói với các thầy cô trong trường: “Khóa nào trường ta chẳng có dăm bẩy cậu giỏi toán, nhưng chỉ Nguyễn Đình Ngọc là thực sự có năng khiếu”. Với thầy, học giỏi chưa chắc đã có năng khiếu; năng khiếu trời ban, bao giờ cũng hiếm hoi. Và lần ấy lên bảng chữa bài tập, tôi làm được không chỉ một mà cả hai cách giải bài toán khó, chính thầy cũng ngạc nhiên, vào sổ điểm 10, còn xoa đầu động viên tôi: Chân trời toán học đang rộng mở trước mắt em đấy. cố lên nhé!

        Niên học 1949-1950 tôi đỗ đầu lớp trung học đệ tứ. Năm sau đỗ đầu tú tài toàn phần, sau đó theo chương trình MG, học tiếp ở trường Cao đẳng khoa học Hà Nội. Thường thì sinh viên mỗi năm hoàn thành một chứng chỉ. Năm đầu tôi lấy chứng chỉ toán học đại cương; năm thứ hai “năng suất” hơn, lấy liền hai chứng chỉ vật lý đại cương và cơ học lý thuyết; chỉ cần có hai chứng chỉ nữa là phép tính vi phân và hóa học đại cương là tôi có bằng cử nhân khoa học.

        Nhưng tôi quên sao mối thù giặc đã giết cha, nuốt hận và nung nấu ý định trả thù trong lòng! Cuộc chiến đang ngày càng lan rộng ra cả miền Bắc, số người trẻ tuổi trong nội thành như vơi đi, do phải đăng lính hay nhiều người đã trốn ra vùng tự do, tham gia kháng chiến. Tôi cũng dự cảm được rằng giờ đây sự học chỉ là tạm thời, tôi sẽ còn có những đoạn đường vòng hay ngả rẽ bất ngờ khi bước vào đời.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:24:41 pm

KỶ NIỆM VỚI HÀ NỘI

        Nhiều đêm tôi nằm mơ cha hiện về, nét mặt vẫn hiền từ như ngày xưa, lạ là Người chỉ nhắc lại mỗi câu đã dặn dò trong buổi chiều định mệnh ấy. Ông ngoại tôi là một viên chức nhỏ được Pháp đào tạo, sau khi phải chứng kiến cuộc càn quét của quân Pháp và cái chết của cha tôi, ông càng ủng hộ chính phủ Cụ Hồ. Có lần tôi hỏi ông: Sao cha cháu không nhắc những chuyện cụ thể như trả món nợ máu với giặc mà chỉ nói đến việc học giỏi, học lên, chỉ nói đến giặc dốt? Suy nghĩ giây lát, ông ngoại bảo có học mới phân biệt được chính tà, mới hiểu cách để giành độc lập tự do, xây dụng lại đất nước. Vậy học đi trước, là cái gốc của chiến thắng ngoại xâm và đói nghèo. Quả lúc đó tôi không thật thỏa mãn lắm với câu trả lời đó, về sau khi lớn hơn, đã đi hoạt động tôi càng hiểu điều ông ngoại nghĩ với lời dặn dò của cha tôi là một. Học là gốc!

        Tôi giống mẹ nhiều hơn: nhỏ người, trắng trẻo, mặt thon, song vẫn có cái giống cha ở đôi mày rậm phía đuôi hình mác hơi xếch ngược và còn thừa hưởng của Người sống mũi cao, đôi mắt sáng, vành tai rộng. Một hôm qua phố Hàng Hành cạnh Bờ Hồ, tôi gặp một ông già để râu ba chòm, mắt kính đen tròn xoe như hai đồng xu đính vào cái gọng nhỏ bằng que tăm, đầu đội khăn xếp, mặc áo the, chân đi guốc mộc. Ông đang thu lu ngồi ở góc mái hiên với cái tráp gỗ bóng mầu thời gian để trước mặt. Đó là hình mẫu quen thuộc của những người hành nghề tử vi tướng số xuất hiện khá nhiều ở nội thành thời đó. Đúng lúc ông thầy bói giơ tay che miệng ngáp dài (có lẽ buồn ngủ vì vắng khách), thì tôi cắp sách đi qua trước mặt. Ông gọi giật lại:

        - Cậu bé. Quay lại đây!

        Tôi dừng bước và ngó chăm chăm vào ông. Hóa ra ông không mù! Trước tôi vẫn nghĩ thầy bói hễ đeo kính đen đều mù. Tôi ngập ngừng:

        - Thưa... thầy không...

        - Mù dở chứ gì - Ông cười khà khà tiếp lời tôi - Thằng bé hỗn, định quở quang ông.

        - Cháu... cháu không có ý đó.

        - Đùa đấy mà - Nói rồi ông vuốt chòm râu thưa, cười hiền cầm tay tôi kéo lại - Ngồi xuống đây. Cháu không biết đó thôi, nghề này sáng cũng phải đeo kính đen để không biết thầy nhìn kiểu gì mà bói ra khối thứ. Còn mù thật cũng đeo để không ai biết là mù, vẫn như người sáng thấy rõ mọi chuyện như thể ma xó trong nhà. Thế mới tréo ngoe chứ. Thôi, đưa tay trái thầy xem cho.

        Tôi ngồi xuống ngoan ngoãn chìa tay ra. Thầy nhìn lướt tôi một lượt, sau mới cúi sát mắt vào các đường chỉ trong lòng bàn tay, còn xoa xoa nắn nắn. Thầy hỏi ngày, tháng, năm sinh, giờ sinh của tôi. Sở dĩ tôi trả lời được ngay vì hồi tôi mới sinh ra, cha tôi cũng nhờ một ông thầy đồ quen lấy cho lá số, nên tôi thuộc làu ngày, tháng, năm sinh, giờ sinh của mình. Thầy lấy ngón trỏ bên phải, đếm nguợc đếm xuôi các đốt của lòng bàn tay trái; miệng cứ lẩm nhẩm liên hồi tên các ngôi sao. Rồi, thầy bảo tôi ngồi đối diện, hắng giọng nói là nếu tôi thích thì ngay bây giờ sẽ đoán tiền vận, trung vận, hậu vận cho, không thích về luôn, không ép. Thầy còn bảo: Do hôm nay rỗi rãi, có nhã hứng làm phúc giúp người, không lấy tiền. “Trò chơi ngẫu hứng” của thầy bói già hay thật đấy! Và tôi còn có cả cái ý định muốn thử tài thầy một phen, sẽ ngầm so lời thầy với cái lá số có sẵn ở nhà xem có trùng hay trệch nhau?

        Thầy hắng giọng, rồi ho khan, quay mặt nhổ vào cái bô để gần chỗ ngồi, bắt đầu phán:

        - Trước hết nói về tướng người. Cậu da trắng, mặt xuôn, cốt nhỏ cân đối, đi đứng đàng hoàng, tư thế hiên ngang. Cậu trán rộng, mày thanh mắt tú, bàn tay mềm, môi đỏ, cằm vuông, nhân trung sâu, tiếng nói thanh tao. Ây là cậu thuộc hình kim có số phận khá, dù đang gặp cảnh cơ hàn vẫn tin tưởng vào một tương lai sáng lạn. Loại người hình kim thiên về văn hơn võ. Lưỡng quyền cậu cao tròn bóng cân đối, đầy đặn; sống mũi cao, thẳng, chuẩn đầu tròn; mồm miệng cân đối, góc cạnh. Mắt cậu sáng, nhìn thẳng biểu lộ sự thông minh, cương cường. Tóm lại, người có hình tướng như vậy, có ý chí không sợ khó khăn, hiểm nguy lại chủ về võ hơn văn. Cậu được cả tướng văn, võ thì kiểu gì sau này chẳng làm nên. Có khi quan võ làm nghề văn không biết chừng.

        Chỉ nhìn tướng ta đã toàn nói tốt cho cậu, nhưng nhân vô thập toàn cậu cũng có nhiều cái hãm. Hai lỗ mũi lộ, cậu không bao giờ có nhiều tiền, dẫu cũng là người dè xẻn chứ không phải tiêu hoang. Đuôi mày cậu bị rối, không phẳng mượt cậu có được lên tướng thì cũng phải vào cuối đời, không được bền. Nhưng vẻ ngoài không nói lên tất cả, phải kết hợp với việc giải lá số mới biết được trọn vẹn. Vậy thì ta nói thêm cho về tử vi, nhá.

        Đây này, ta đã bấm đốt tính sự chuyển dịch của các chính tinh, bàng tinh trong vòng tràng sinh mười hai cung. Cậu sinh giờ Mão, tuổi Nhâm Thân có Thiên Tướng thủ mệnh tại cung Tỵ, Thiên Phủ tại Tài Bạch chính chiếu, Thiên Di có Vũ Khúc, Phá Quân; trợ giúp lại là Ân Quang, Thiên Quý, Tam Thai, Bát Tọa. Nhìn chung cậu có lá số đẹp. Cung phúc đức có Văn Tinh; mệnh, thân có Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu hội hợp, lại có Đào Hoa chiếu thì hẳn là người tài hoa, hậu vận khá...

        Tôi nhanh nhảu cắt lời thầy:

        - Thưa, thầy nói thêm cho cháu về những sao xấu nữa ạ.

        Ấy là tôi muốn kích thầy phán thêm tên các sao, xem có trùng với các sao lá số ở nhà đã có bản chú giải cụ thể bằng chữ Hán cùng quốc ngữ, những năm gần đây tôi hay tò mò giở ra xem và đã thuộc lòng. Ông thầy bói bị cắt lời như vậy thì tỏ ý phật lòng, còn thừa hiểu tôi đang muốn thử tài mình, liền nhíu mày mà ra chiều mắng mỏ:

        - Ta chẳng đã đọc ra một loạt chính tinh, bàng tinh đấy thôi, còn đòi hỏi gì nữa! Hẳn ở nhà cậu đã có người lấy cho lá số rồi nên muốn so đọ với ta chứ gì. Họ nói thế nào ta không cần biết, chỉ mai này cậu không lên tướng, tướng quân, chứ không phải tướng cướp đâu nhá (Thầy bỗng bật cười làm tan biến ngay sự không hài lòng vừa nãy), thì cứ việc đến trước mộ thằng già này mà chửi độc là quân lòe bịp, quân ăn không nói có, quân... bói bù (Thầy lại cuời hóm). Thôi, không vòng vo Tam Quốc nữa, lẳng lặng mà nghe ta đọc tiếp hậu vận cho cậu đây.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:24:57 pm

        Cũng có nhiều hung tinh gây tác hại không ít cho cuộc đời cậu, làm cho cậu lớn lên luôn phải đối mặt với sự nghi ngờ, đố kỵ, phản trắc. May mà cậu xuất tuớng, nhập tướng nên quyền biến ứng phó được với mọi hiểm nguy. Cung mệnh, thân có Phá Quân, Vũ Khúc sáng sủa, lại có Kình, Sát phải là người sáng dạ, khéo tay về sau chuyên về kỹ nghệ. Mà mệnh cư tại Tỵ, thân cư Thiên Di tại Hợi, có Liêm, Phá tọa thủ đồng cung ắt hành nghề phải giỏi và giỏi nhiều nghề, làm thầy thiên hạ. Nhưng ta nói thế cậu đừng phổng mũi quá đấy nhá. Cung phụ mẫu có Điếu Khách, lại bị Tang Môn, Thiên Khốc hợp chiếu kiểu gì phụ mẫu cũng có người chết oan, chết sớm. Cậu lại hãm cách ở cung thê. Có Tử Vi, Tham Lang, vợ đẹp, tính lãng mạn, ủy mị lại Tuần, Triệt đồng cung, Cự Môn, Phá Quân, Thất Sát, Liêm Trinh xung chiếu thì hạnh phúc gia đạo sau này khó mà trọn vẹn được, phải chịu cô đơn, cay đắng, uất ức. Hôn nhân không chỉ một lần, có muốn cố níu kéo người ta cho êm thấm, vợ chồng vẫn phải chia ly...

        Thầy tiếp tục ho và khạc nhổ. Rồi như sự “xuất thần” vừa rồi làm thầy quá mệt, muốn dừng để bồi dưỡng sức lực, thầy với tay lấy ra cái điếu bát ở góc hiên. Hai ngón tay đen đúa, nhăn nheo của thầy thong thả véo một nhúm trong bánh thuốc lào để trên cuốn sách chữ Nho giấy bản trong tráp, vo viên, nhồi vào cái nõ bằng bạc trắng gắn ở bầu điếu. Đoạn thầy cẩn trọng tỳ cằm vào cần trúc, rút một cái đóm tre ngâm mỏng, châm lên ngọn đèn hoa kỳ bé như hạt đỗ đặt cạnh đấy. Đóm bắt lửa ngay, sáng bừng tí tách. Đoạn thầy chúm mồm vào đầu cần, lấy hết sức bình sinh rít một hơi dài đến nỗi hai má hóp lại thành hai lỗ sâu, gân, mạch máu trên cổ nổi cuồn cuộn, cái cục yết hầu nhọn hoắt thì tọt hẳn lên phía trên. Bầu điếu lập tức phát ra tiếng réo giòn tan tựa tràng súng liên thanh. Xong các động tác ấy, vẻ mặt thầy biểu lộ sự khoan khoái thoát tục quay ra phía ngoài đường phả một luồng khói trắng mù mịt. Tôi vội né về phía đầu gió để tránh hít phải “khí độc”. Chẳng mấy chốc thầy được khói thuốc vây bủa như người trần gian bỗng chốc được bồng bềnh trên mây. Dù sao với tôi, khói thuốc lào cũng không thể “xóa mờ” những lời như thánh phán vừa nãy của thầy, không hoàn toàn vì những lời ấy hầu hết đều là tốt đẹp, bốc tận mây xanh cho cái hậu vận của tôi, mà còn vì tôi cảm thấy thú vị giữa lời thầy với chú giải về sự tương hỗ các sao của lá số bạn ông ngoại tôi lấy, khá là trùng khớp nhau. Thầy chẳng đã nói trúng việc tang gia đã diễn ra hơn ba năm về trước ở gia đình tôi, cha tôi ngã xuống khi mới ba mươi bẩy tuổi, chịu oan khiên, đoản mệnh đó sao!

        Đã đến lúc phải chia tay cuộc kỳ ngộ, tôi đứng dậy cúi gập người cảm tạ thầy. Tôi còn mạnh dạn móc trong túi ra tất cả mấy đồng lẻ mẹ cho ăn quà sáng nay đến lớp, vẫn không tiêu để dành, biếu thầy số tiền ít ỏi đó chỉ là muốn để thầy không bị xui xẻo vì làm phúc mà không có tiền công. Thầy cười hể hả nhận đồng bạc lẻ đút túi, khen thằng bé nhỏ tuổi đã hiểu cách đối nhân xử thế ở đời. Lúc bước xuống bậc hiên, tôi còn ngoái lại nói khi nào cháu có việc sẽ hỏi tiếp. Một cử chỉ thân tình, thầy đang ngồi trên bậc, cúi xuống xoa đầu tôi mà răn dạy nốt câu cuối:

        - Đức năng thắng số cháu ạ. Cứ sống tử tế, làm việc nhân đức thì mọi chuyện đều tốt đẹp cả thôi.

        Khoảng hai tháng sau. Tôi có việc lên Bờ Hồ liền ghé thăm thầy, thì thấy mái hiên vắng hoe. Bà bán hàng xén gần đấy bảo là thầy mới qua đời, sắp đến kỳ cúng bốn chín ngày rồi. Tôi ngậm ngùi định đi, bà mau miệng hỏi cháu tìm thầy có việc gì? Tôi lắc đầu nói là đến thăm cụ thôi, vì tuy mới gặp có một lần mà thấy cụ người hiền lành, tốt bụng lại giỏi việc tướng số nên muốn quay lại hỏi thăm sức khỏe và thỉnh giáo vài điều. Bà hàng xén cười phô hàm răng đen nhức:

        - Chắc là cậu đã được thầy phán cho tiền vận, hậu vận rồi chứ gì. Thầy tướng này mà đã phán thì con kiến trong lỗ cũng phải chui ra. Bà ngồi đây lúc vắng khách vẫn thường dỏng tai nghe, hễ ai được thầy phán xong cũng đều tấm tắc đúng quá, đúng quá, như ma xó trong nhà. Ấy vậy mà dao sắc không gọt được chuôi đấy, cháu ạ.

        - Có phải cụ không biết trước được cái ngày tận số này? - Tôi hỏi.

        - Trước ngày mất có ít bữa - Bà hàng xén kể tiếp - cụ sang mua của tôi cái máy lửa bảo để phục vụ cho việc hút thuốc lào. Tôi vui miệng nói, cụ ho sù sự thế còn chưa chịu cai thuốc à. Cụ cười hề hề bảo, tôi biết số mình trời đánh không chết, còn thọ chán. Đàn bà các chị không hay hút thuốc lào không biết cái sướng của sự say thuốc, nhớ ai như nhớ thuốc lào; đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên. Cụ lại cười mà bảo: khói thuốc nó “xông” cho hai lá phổi chẳng mối mọt, vi trùng nào đục phá nổi. Sáng trưng. Vậy mà mấy ngày sau con cháu phải khiêng thầy vào nhà thương Phủ Doãn, ông đốc tờ bảo u trong phổi cụ đã to bằng quả ổi găng rồi. Có thằng cháu cụ hôm nọ đến đây dọn dẹp đồ nghề của thầy, nói là cụ nhất định không cho đụng dao kéo, tỉnh đến lúc chết.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:25:49 pm

*

*      *

        Thời giờ thấm thoắt thoi đưa...

        Hôm nay tôi đang “ngủ ngồi” trước bàn học trong buồng, choàng tỉnh, nghe tiếng mẹ gọi:

        - Ngọc ơi. Chị Tâm đến chơi, có chuyện muốn hỏi con này.

        Chị Đặng Thị Tâm, vợ bác sĩ Nguyễn Tài Chất hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi thôi. Bác sĩ Chất là bạn vong niên của cha tôi, ngày trước hai nhà có đi lại, quen biết nhau bởi tình đồng nghiệp. Cái chết của cha tôi lại giống như của chồng chị, nên từ dạo cha tôi mất chị càng năng đến nhà thăm hỏi động viên mẹ tôi.

        Vừa gặp, chị đã vui vẻ bảo:

        - Dạo này Ngọc chóng lớn, chững chạc quá rồi nhỉ. Em có bạn gái chưa?

        - Em bận học không có thì giờ nghĩ chuyện ấy. - Tôi nói.

        - Lớn rồi có bạn gái đi là vừa. Có muốn cháu chị không? Xinh, ngoan, nữ sinh trường Đồng Khánh đấy.

        Mẹ tôi ngồi bên, nói với chị Tâm:

        - Cô cứ giới thiệu, chứ thằng này chỉ cắm cúi học chẳng có bạn gái nào cả. Biết đâu lại có duyên với nhau, nên vợ nên chồng.

        - Em biết cậu Ngọc nhà ta học giỏi có tiếng ở trường Chu Văn An - Chị Tâm nói với mẹ tôi (dù kém mẹ tôi đến mười mấy tuổi, chị vẫn có thói quen gọi mẹ tôi là “chị”, xưng “em”) - Còn chỗ em định làm mối, dây mơ rễ má thế này. Đây là con gái đầu của bà Đặng Thị Lan, chị cả em, gia đình nền nếp gia giáo lắm. Cha cháu là ông Trịnh Phong trước làm Bưu điện Hòn Gai, sau có thời kỳ làm trưởng ty công an của Việt Minh. Chị Lan em mất đã mười năm rồi, hiện cháu đang ở nhà bà chị thứ dưới chị Lan, chồng là bác sĩ Phan Huy Quát, một chính trị gia có danh vọng, đồng nghiệp quen biết hồi xưa của anh Diệp nhà mình đấy.

        Nghe vậy, tôi đã nghĩ ngay đến “người ấy”, liền cười mà hỏi bà mối:

        - Trịnh Thị Nguyệt Tỉnh phải không ạ?

        - Ồ, biết nhau rồi à?

        - Biết sơ sơ thôi ạ - Tôi nói - Anh Phan Huy Lương em ông Phan Huy Quát là bạn cùng trường Chu Văn An với em. Em đã gặp Tỉnh ở nhà ông ấy.

        - Ra vậy - Chị Đặng Thị Tâm nói với tôi - Hà Nội ta cũng nhỏ hẹp mà, quen biết nhau cả thôi. Thế nào, có vừa mắt không?

        Tôi bỗng thấy nóng tai, cười xòa:

        - Mới gặp có một lần ạ.

        - Thế là được rồi - Chị Tâm nhìn tôi cười, giao hẹn - Để chị thu xếp cho nhé.

        Một tuần sau. Chị nhắn tôi đến nhà chị và đã thấy Nguyệt Tỉnh ở đấy. Nàng có dáng vóc thanh mảnh cân đối của một tiểu thư khuê các, nước da trắng hồng, khuôn mặt trái xoan và nụ cười tươi như hoa nở, khá giống với dì ruột, cũng chắc hẳn nàng giống mẹ. Tuy có những e lệ ban đầu, nhưng nàng tỏ ra dễ gần, hóa ra khả năng “tán” của tôi cũng không đến nỗi nào.

        - Chú Lương luôn nói về anh - Nàng nói - nên em biết anh lâu rồi đấy.

        - Chú ấy nói xấu anh chứ gì. - Tôi cười.

        - Xấu... - Nàng đai miệng một cách dễ thương - xấu mà mấy đứa bạn cùng lớp em không hiểu sao cũng hay nhắc anh thế, bảo cái anh Nguyễn Đình Ngọc học giỏi, có khuôn mặt đẹp như Phan An tái thế kiêu lắm cơ, dễ gì để mắt đến ai.

        Bắt gặp cái nhìn trìu mến của nàng, tôi bỗng tiến lại gần hơn và thì thào vào tai nàng:

        - Để bớt “kiêu”, cho phép anh thường xuyên đến thăm em nhé.

        Lúc chia tay nàng không quên hẹn: mỗi tuần phải ba buổi đến nhà để phụ đạo cho những môn tự nhiên em học rất dở là toán, lý, hóa. Vậy là chẳng mấy chốc tôi đã có bạn gái, một hoa khôi của trường nữ sinh Đồng Khánh ở phố Hàng Bài và mối quan hệ buổi đầu của chúng tôi đúng như câu Kiều “Tình trong như đã mặt ngoài còn e”.

        Một chiều chủ nhật, tôi đến rủ nàng đi chơi. Tôi thong thả đạp xe sát bên lề đường, nàng ngồi trên pooc-ba-ga phía sau, ngồi rất nghiêm lưng thẳng đơ. Đường phố vắng vẻ, thỉnh thoảng có một chiếc xe nhà binh GMC rình rình chạy qua làm những người đang đi vội dạt cả sang hai bên. Dạo này tin từ các mặt trận dội về, quân Pháp thua liểng xiểng, có thêm nhiều cuộc chuyển quân vội vã. Chúng tôi tạt vào vườn hoa Canh Nông gần Cửa Nam, tránh xa con đường chính chạy qua ga Hàng cỏ thường có các cuộc hành quân cơ giới gây tiếng động khó chịu. Xung quanh công viên hàng rào ô rô khá cao được xén cắt cẩn thận, biệt lập và yên tĩnh. Nổi lên giữa công viên là thảm hoa bướm trắng, đỏ, vàng, tím phấp phới trong nắng chiều. Khu vườn có nhiều cây to tán sum suê bóng che râm mát. Một cây bồ đề cổ thụ hết sức độc đáo, không biết được lai ghép từ bao giờ mà những cành nhánh tỏa ra xung quanh, chính giữa thân cây lại nhô lên một cây dừa mập mạp, tầu lá tươi tốt. Chúng tôi vào ngồi ghế đá tựa gốc bồ đề. Nàng ngửng lên chỉ chỗ lai ghép của cây, cười bảo:

        - Đẹp không? Đôi tình nhân ôm nhau.

        - Giống y như chúng mình vậy. - Tôi nói vui.

        - Không giống. - Nàng lắc đầu nũng nịu - Chúng chỉ đứng một chỗ, còn chúng mình bay nhẩy.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:27:02 pm

        Tôi liền quàng tay ôm eo nàng, thủ thỉ chuyện trò. Sau những chuyện trên trời dưới biển, nàng hỏi chuyện nhà và muốn biết tình tiết về ngày cha tôi bị thủ tiêu. Nghe kể xong, nàng hỏi:

        - Anh có căm thù quân Pháp không?

        - Sao lại không - Tôi nói - Họ đã giết cha anh trong khi ông đang làm một việc nhân đạo cứu chữa thương binh.

        - Chú rể em tuy làm Tổng trưởng trong chính phủ Quốc gia Việt Nam, nhưng vốn xuất thân đốc-tờ, khi nghe tin cha anh tử nạn ông cũng phẫn nộ lắm. Em còn có cậu ruột, đang học dở trường y, cách mạng nổ ra đi theo Việt Minh liền. Nghe nói giờ này cậu đang làm sếp gì ấy, cũng to cơ đấy.

        - Cậu Đặng Văn Việt chứ gì - Tôi nói - Anh đọc báo Pháp viết về chiến dịch Thu-đông 1947, Biên giới 1950, họ gọi cậu em là “Hùm xám đường số 4”. Quân Pháp sợ cậu lắm.

        - Cậu ấy đánh trận giỏi vậy, mà có mối tình đầu kỳ khu lắm - Nàng nói và nhìn tôi tủm tỉm.

        - Kỳ khu thế nào? - Tôi hỏi, ngồi xích lại gần hơn, cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng. Nàng cứ để yên tay trong tay, nhỏ nhẹ kể:

        - Cô ấy tên Lan Huê, con nhà tôn thất ở Huế, em gái một người bạn Việt Minh của cậu Việt. Mà cô lại thân với dì Tâm nhà mình. Hồi trước cách mạng hai nhà sát nhau, cô ấy hay vượt rào, tiếng là sang chơi với dì Tâm. Cô xinh đẹp yêu kiều, lại con nhà danh gia vọng tộc, làm cậu Việt mê tơi, loanh quanh mãi không biêt cách ngỏ lời, phải nhờ em gái làm mai...

        - Dì Tâm em rõ bà mối mát tay. - Tôi cắt ngang lời nàng rồi thơm nhẹ trên gò má nàng. Bỗng nàng cau mày ẩy ra, bảo:

        - Tốc độ quá nhỉ.

        Ngọn lửa tình chợt bừng dậy trong nguời, câu nói ấy của nàng chỉ làm tôi thêm tự tin. Thế là tôi xoay hẳn người nàng đối diện và thơm tiếp lên gò má bên kia, áp môi rõ lâu. Tôi đang còn ngây ngất trong mùi hương thơm ngát từ da thịt, mái tóc của nàng, thì nàng lại có vẻ “giận”, cau mày hỏi:

        - Có muốn nghe người ta kể nốt không đấy?

        - Có chứ! - Tôi ôm nàng ngồi im, tỏ ý trật tự đã được vãn hồi.

        Nàng nguýt thêm một cái, rồi nhỏ nhẹ kể tiếp:

        - Mọi suy nghĩ cậu Việt đều ghi vào nhật ký. Yêu mộng mơ lắm nhé, viện dẫn cả những bài thơ tình diễm lệ của các nhà thơ, như bài này của Xuân Diệu:

Thơ ta hơ hớ chưa chồng
Ta yêu muốn cưới mà không thì giờ
Mùa thi sắp tới. Em thơ
Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau.

        Còn dẫn cả câu của nhà triết học Pascal (Nàng đọc bằng tiếng Pháp, giọng khá chuẩn): Trái tim có những lý lẽ mà lý lẽ có khi không thể nào biết được... Hai người kết nhau lắm, chỉ còn chờ một lời ngỏ chính thức. Nhưng cậu Việt em có lẽ do bận việc học hành thi cử, rồi mới đỗ Đại học y Hà Nội nên chưa chủ động cầu hôn. Thế là một lần sang chơi, tình cờ cô Lan Huê thấy cuốn nhật ký của cậu để trên bàn liền mở xem, cô còn đưa về thưa chuyện với thầy mẹ. Bên nhà trai Tham tri Bộ Hình, bên nhà gái Thượng thư Bộ Công, thật môn đăng hộ đối, hai nhà liền đồng ý cho đôi bên tìm hiểu. Đúng lúc Cách mạng Tháng Tám nổ ra, cậu Việt xếp bút nghiên tham gia Giải phóng quân Huế, làm chỉ huy, có thời kỳ sang Lào chiến đấu bị sốt rét bụng báng, da vàng bủng, phải nhờ ông chú rể em chữa cho. Cô Lan Huê thì xung phong làm cứu thương mặt trận Huế, còn vào cả mặt trận Nha Trang nữa. Hai bên nội ngoại đều lo hai người hai nơi thế thì việc thông gia khó thành, liền gọi cả hai về Hà Nội tổ chức cưới sớm hơn dự kiến. Anh biết không, bây giờ mới đến chuyện kỳ khu. Cưới được một ngày, đã thấy cô Lan Huê vội vã khăn gói ra ga bảo về thăm nhà, còn cậu Việt sau khi tiễn cô cũng lẳng lặng khoác ba lô lên đường về đơn vị. Và từ đấy họ chia tay nhau mãi mãi. Hai nhà ngơ ngác không hiểu chuyện gì, về sau hỏi mãi cậu Việt mới chìa ra một bài thơ do mình sáng tác, bài thơ cũng kỳ khu lắm. Thế này nha:

                         Đêm tân hôn thì có tân mà không có hôn
                         Tuần trăng mật thì có trăng mà không có mật
                         Hạnh phúc thì có hạnh mà không có phúc
                         Vợ và chồng thì không có một phút là chồng là vợ.

        Nàng dừng kể. Không ngờ cuộc tình của đôi trai tài gái sắc ấy lại có cái kết vô tiền khoáng hậu như thế. Không ai có thể hình dung đêm tân hôn giữa “Hùm xám” và tiểu thư khuê các đã diễn ra như thế nào (về sau cả hai người đều có vợ có chồng, con cái đề huề và đặc biệt không thấy ai nặng lời trách móc ai). Tôi bỗng nói với nàng:

        - Hóa ra dì Tâm nhà mình không phải bà mối mát tay đâu nhỉ!

        - Anh bảo sao? Anh sợ à?

        Tôi thoáng nhận ra vẻ mặt lo lắng, trách cứ của nàng. Chúng tôi là “tác phẩm mới” của dì. Phủi phui. Xin nói lại: dì mát tay, chứ không có chuyện “kỳ cục” như đám trước đâu! Rồi tôi lại thơm lên gò má ửng mầu táo chín, đôi môi mọng đỏ của nàng thay cho một lời đính chính không còn cần thiết lúc này.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:27:44 pm

BƯỚC NGOẶT TRONG ĐỜI

        Từ đầu năm 1953, quân đội viễn chinh Pháp bị căng ra trên toàn chiến trường Đông Dương, đặc biệt bị hút vào “canh bạc” được ăn cả ngã về không là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chốt tại miền Tây Bắc xa xôi. Chúng tăng cường bắt lính ở những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định... Nhiều học sinh, sinh viên đang học dở phải nhập ngũ. Phan Huy Lương bạn tôi do con nhà gia thế, vừa tập trung đã được gọi đi học sĩ quan lục quân ngay. Nỗi lo quân dịch luôn ám ảnh gia đình tôi. Có lần mẹ đến chỗ trọ của anh em tôi nhắc nhở: Có lẽ con phải nhịn ăn cho thấp bé nhẹ cân để không đủ tiêu chuẩn đăng lính. Chúng tôi đang tuổi ăn tuổi ngủ, hẳn mẹ phải cầm lòng lắm mới “bắt” chúng tôi làm điều như vậy. Không nhịn ăn tôi đã gày gò, cao một mét năm tám, nặng có ba mươi tám cân. Nhưng tôi thấy sức lực mình vẫn dồi dào, học suốt đêm không mệt. Tôi cũng thử nhịn vài bận, thành ra ăn uống thất thường người càng rộc đi. Lần khác mẹ lại chê tôi dạo này gầy, xanh và buồn rầu bảo: Con không thể cứ nhịn ăn mãi được, tránh được lính mà không tránh được bệnh tật thì cũng vậy cả thôi.

        Làm sao tôi có thể đứng trong đội ngũ của những kẻ đã giết cha mình! Một hôm tôi nghĩ: nếu vào trường dòng học làm linh mục thì khỏi phải đi lính. Tôi liền lên nhà dòng Bắc Ninh hỏi, các thầy tu ở đấy bảo đã có mấy linh mục trẻ nhập ngũ đợt vừa rồi. Trở về, tôi bàn kỹ với mẹ và em trai, tốt nhất vào vùng tự do ở Liên khu 4, vừa để tránh quân dịch, vừa tìm đầu mối cách mạng xin thoát ly. Một người bạn cũng về quê trốn quân dịch mách tôi: Không nên đi bằng đường bộ dễ bị khám xét, hàng tuần vẫn có chuyến bay của hãng Autrex vào xứ đạo Bùi Chu - Phát Diệm, theo đường đó an toàn hơn.

        Tôi sang sân bay Gia Lâm với bộ đồ linh mục và dễ dàng mua được vé. Đến Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình không gặp phải rắc rối nào, có thẻ căn cước hợp lệ, là sinh viên bỏ học đi tìm việc làm. Và điều may mắn, trên chuyến bay ngắn ngủi hôm đó, tôi tình cờ quen một người bạn, nhờ anh đã tìm đúng địa chỉ, nơi mà trong tâm trí lúc khởi hành tôi không thể nào nghĩ tới: Công an Liên khu 4.

        Trên máy bay, ngồi bên tôi một thanh niên vạm vỡ có nước da bánh mật. Suốt gần một giờ bay anh không nói gì, cũng chẳng nhìn sang tôi lần nào. Tôi thì mải giở cuốn sách toán vi tích phân của Valiron ra đọc lại, ngẫm ngợi về các bài toán khó để giết thì giờ. Đến Phát Diệm, tôi sấp ngửa bước ra khỏi nhà ga định bụng sẽ tìm chỗ mua vé ô tô đi Vinh ngay. Bỗng có ai chạy theo sau, gọi với:

        - Anh bỏ quên cái này.

        Tôi sững lại, người ấy chính là anh thanh niên ngồi cạnh trên máy bay ban nãy, suốt chặng chẳng ai nói với ai lời nào. Anh đưa tôi cái khăn tay trắng có thêu hoa cùng con chim hòa bình, vật kỷ niệm Nguyệt Tỉnh tặng tôi hôm chia tay ở sân bay Gia Lâm. Tôi để nó trong cặp xách tay, trên máy bay có lúc rút ra ngắm nghía, rồi tiện thể đút ngay vào túi quần, mải đọc khăn roi lúc nào không hay. Lúc mọi người lục tục xuống máy bay, anh phát hiện cái khăn trên ghế định đưa trả, do tôi đi trước luồn ra quá nhanh, anh phải theo mãi mới kịp. Tôi cảm ơn nhận lại cái khăn, anh cười với vẻ mặt thật hồn nhiên, hỏi:

        - Người thương tặng?

        Tôi gật. Anh hỏi tiếp:

        - Anh bao nhiêu tuổi?

        - Hai mốt. Còn anh?

        - Mình hơn ba tuổi, - Anh lại cười vui - mà thua, đã có mảnh tình vắt vai nào đâu.

        Giờ mới thấy anh thật trẻ trung, dáng vóc cường tráng, dường như tương phản với vẻ thư sinh ốm o của tôi.

        - Anh về đâu? Anh ta hỏi tiếp.

        - Định mua vé ô tô Vinh.

        - Ô, làm gì còn ô tô đi Vinh nữa! cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa bị đánh sập rồi. Tôi cũng đi Vinh. Thế này vậy, ta cùng cuốc bộ. Trăm cây số đường tắt, có bạn vừa đi vừa nói chuyện chóng đến lắm. Mệt đâu nghỉ đấy. Được không nào?

        Thế là suốt chặng dài chúng tôi cứ rì rầm chuyện trò không lúc nào dứt. Quên mệt. Anh tên Đào Hữu Thành, quê Vĩnh Yên, vào Vinh làm công nhân sở điện. Anh kể, cùng quản đốc xưởng cơ điện ra Hà Nội mua sắm một số thiết bị phụ tùng thay thế cho máy phát điện, quản đốc có nhà ngoại thành, đã xin giám đốc nhà máy cho ở lại chơi vài ngày, còn anh mang đồ thay về trước. Tôi cũng kể sơ sơ hoàn cảnh của mình và nói thật là vào đây để trốn quân dịch, tìm việc làm...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:46:20 pm

        Qua ba ngày cuốc bộ, đêm nghỉ ngày đi, Vinh đã ở trước mặt. Đến lúc ấy Thành mới bảo nhỏ vào tai tôi, yên chí mình sẽ dẫn cậu đến gặp một “sếp” có thể thu xếp được việc làm. Thời buổi loạn lạc, kẻ gian trà trộn người ngay, phải luôn đề phòng, đừng có mà nhẹ dạ cả tin - đó là lời mẹ dặn đi dặn lại tôi trước lúc lên đường. Nhưng những điều anh Thành đã kể trong suốt chặng đường dài cùng lời hứa hẹn của anh thì tin được, linh cảm mách bảo đây là một người tốt. Và tôi cũng cảm nhận được sự tin cậy của anh với mình.

        Tôi ở một nhà trọ ven thị xã, cứ vài ngày Thành lại đến chơi, anh em chuyện trò ý hợp tâm đầu. Song tôi sốt ruột, sao chưa thấy anh đưa đi gặp “sếp”? Qua hơn mười ngày chờ đợi. Sáng hôm ấy anh mới dẫn tôi đi gặp người mà anh tỏ ra rất kính trọng. Người ấy ở trong một căn nhà tranh có lũy tre um tùm bao quanh một xóm nhỏ cách nơi tôi trọ không xa. Ông trạc ba tư, ba nhăm tuổi, dong dỏng cao, nước da tai tái, tác phong nhanh nhẹn. Thành giới thiệu một cách trịnh trọng:

        - Đây là sếp Nguyễn Hữu Khiếu, Giám đốc Công an Liên khu 4...

        Thật bất ngờ, trước mặt tôi một “sếp lớn”, song giản dị, dễ gần. Ông nói giọng Quảng Trị và ngay từ đầu gọi tôi là “em” một cách tự nhiên.

        - Tổ chức đã xác minh lý lịch, - Ông nhỏ nhẹ nói - biết em là trí thức trẻ, con một liệt sĩ. Nếu em muốn trả nợ nước, thù nhà có thể gia nhập Công an Liên khu 4.

        Tôi còn chưa hết sững sờ, mãi sau mới nói với ông:

        - Em đã kể hoàn cảnh gia đình với anh Thành rồi. Đang học dở cao đẳng, vào đây để trốn quân dịch, cũng là tìm cơ hội xin công tác thoát ly. Nhưng quả thật em chưa hề biết chút gì về công việc anh vừa nói, cho em có thời gian để suy nghĩ kỹ.

        Ông nhìn tôi thiện cảm.

        - Miềng đồng ý, - Ông nói - rứa là một bước ngoặt trong cuộc đời. Cứ nghĩ cho kỹ, hỉ. Miềng nói trước, nghề ni đòi hỏi hy sinh ghê lắm, trung thành ghê lắm. Điệp viên thực ngoài đời không cầu kỳ, mầu mè như kiểu thám tử Sherlock Holmes của Conan Doyle hay các nhà tình báo yêng hùng trong phim ảnh đâu nha. Nghề ni cần phán đoán nhanh nhạy, thiệt chuẩn, hành động thì mưu trí, quyết đoán. Rứa, thực tế có tình huống còn gay cấn, hấp dẫn hơn cả trong tiểu thuyết hay phim ảnh trinh thám. Miềng tin, học trò nhất trường Chu Văn An sẽ thu nhận tốt nghiệp vụ, trở thành điệp viên giỏi. Cũng kể qua về bản thân miềng cho eng bạn trẻ nghe, hỉ. Giữa năm bốn nhăm, vừa vượt ngục Đakmin thì miềng tham gia khởi nghĩa giành chánh quyền ở tỉnh nhà, rồi Đảng bảo vô công an, cũng có biết chi mô. Phải học từ đầu. Khóa huấn luyện của Nha Công an Việt Nam do “sếp” Lê Giản phụ trách, miềng trong số một trăm học viên đầu tiên ra trường cuối năm bốn sáu. Tỏa về các tỉnh, thành. Giờ eng mô cũng đều trưởng thành cả, cũng có eng đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Vậy hỉ. Chừ về nghĩ kỹ, sáng mai trả lời tổ chức.

   
(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26733326_170840400312515_3473957739151944256_n.jpg?oh=abfbb9a216ae85185d04b304d1874155&oe=5AB4643A)
Nguyên Đình Ngọc năm gia nhập Công an Lién khu 4 (1953)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26230027_170840740312481_4590167031525170789_n.jpg?oh=216d731ed6d14177b76c7da68c9d4fe4&oe=5AF20DDB)
ông Nguyễn Hữu Khiếu - Giám đốc Công an Liên khu 4 và vợ (1953)


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:48:13 pm

        Đó là một đêm thao thức khó ngủ, hệt như gặp một bài toán hóc búa phải giải cho xong. Lâu nay, đối với tôi niềm ham mê khám phá khoa học thật vô bờ và đã mường tượng ra con đường trước mặt. Có bằng cử nhân, học tiếp thạc sĩ, tiến sĩ, thành nhà toán học có những công trình đẳng cấp quốc tế. Nếu thấy ở môi trường nghiên cứu không có khả năng phát triển, thì chuyển nghề giáo. Cũng có thể làm nhiều nghề khác miễn là được sử dụng kiến thức đã học, bất kể nghề gì: kỹ sư, công trình sư, bác sĩ, dược sĩ.

        Từ ngày cha hy sinh, tôi đã nghĩ nhiều đến việc cầm súng ra trận, trả thù cho cha và bao nhiêu người đã chết oan ức khác. Đây là sự lựa chọn có tính định mệnh. Bởi thế lúc giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu gợi ý về nghề điệp viên, tôi hình dung ngay, cũng là chiến sĩ ra trận, nhưng trên mặt trận thầm lặng, chiến công thầm lặng, hy sinh thầm lặng. Tôi chỉ còn băn khoăn, liệu khi vào nghề này có thể thực hiện được lời cha học lên; giúp người khác học để họ không phải khổ vì giặc dốt? Và có lẽ việc học sẽ bị gián đoạn, cuộc đối mặt sinh tử với quân thù còn thì giờ, tâm trí đâu để nghĩ đến việc khác, âu đó cũng là hy sinh sở thích cá nhân cho sự nghiệp lớn. Giờ đã ra vùng tự do, tôi cũng còn những sự lựa chọn khác ngoài nghề điệp viên. Nếu không thích, thấy bị gò ép, tôi vẫn có thể từ chối. Có nhiều công việc để làm cũng là trả nợ nước thù nhà...

        Gà đã gáy canh hai. Cuối cùng thì tôi đã có lời giải cho “bài toán” chọn nghề buổi đầu đời. Và dự cảm đây sẽ là một định mệnh tốt lành! Nghề này luôn đòi hỏi phải “cháy” hết mình, phải dốc toàn bộ trí tuệ, bản lĩnh để giành phần thắng, dù có mất mát, hy sinh cũng trong thế thắng, trong danh dự. Tôi tự tin là mình đã có những phẩm chất, trách nhiệm để thực hiện được điều đó. Cuối cùng, sự lựa chọn dứt khoát như vậy làm tôi cảm thấy yên tâm, nhẹ nhõm trong lòng và ngủ thiếp, giấc ngủ còn lại của một đêm tuy ngắn nhưng rất ngon và sâu.

        Tôi vào ngành công an bắt đầu từ buổi sáng hôm sau khi thức dậy, đi gặp giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu.

        Đào Hữu Thành, một điệp viên vào nghề trước tôi ba năm, đã kể thêm với tôi về người sếp đáng kính. Giám đốc công an Nguyễn Hữu Khiếu (Thời kỳ này ông còn là Phó bí thư Liên khu ủy Liên khu 4) vào công an tuy không lâu mới khoảng dăm, bảy năm song đã hội tụ những đức tính của người chỉ huy tình báo có tầm nhìn xa trông rộng; rất yêu thương và tin tưởng đồng đội; biết dùng đúng người đúng việc. Người nào được ông “cài cắm” đều làm tốt nhiệm vụ. Đã có câu ông căn dặn anh em trở thành “danh ngôn” trong nghề, như: Càng giữ kín bao nhiêu càng thành công bấy nhiêu; Mất tài liệu là mất điệp viên; Sự rèn luyện của người chiến sĩ cũng như rèn một cái dùi, nếu đâm thủng được loại vách rơm đất thì đừng vội tự mãn, phải rèn cho đến khi nó đâm vào tường gạch mà không bị quằn mũi... Thành còn cho tôi xem bài thơ do chính sếp sáng tác, từng đọc và bình giảng cho anh em nghe trong một buổi sinh hoạt ở cơ quan:

                                     Nhớ người tình báo năm xưa
                                     Tẩm thân đi sớm về trưa đã từng
                                     Oan như Thị Kỉnh ai bằng
                                     Có ngày giải được mấy tầng nỗi oan

                                     Oan người tình báo vẻ vang
                                     Mang về cơ nghiệp cao sang cho đời
                                     Nhớ ơn muôn vạn con nguời
                                     Cam vui thầm lặng không lời oán than
                             
                                     Ôi vẻ vang!
                                     Ôi cao sang!


        Một năm được huấn luyện, thực hành điệp báo viên ở địa bàn Liên khu 4 đã làm tôi ngộ ra nhiều điều, nhất là về những sự nghiệt ngã chỉ nghề này mới có, đúng như lột tả của những vần thơ nôm na trên. Một nghề mà ngoài sự giữ mồm giữ miệng, quyền biến, can trường trong suy nghĩ, hành động, còn phải chịu đựng nỗi cô đơn triền miên và những rủi ro nghề nghiệp có thể đến bất cứ lúc nào. Một khi đã đi vào lòng địch, khoác một “bộ áo” nào đó để đứng ở bên kia trận tuyến thì mặc nhiên phải chấp nhận bao nỗi oan khiên, hiểu lầm, không thể một sớm một chiều thanh minh được với người thân, bạn bè, thậm chí với tổ chức sau này. Và còn có một logic của nghề này, đơn giản mà thật nghiệt ngã biết bao: điệp viên may mắn là điệp viên chưa bị bắt, chưa bị thủ tiêu!

        Vậy là đầu tháng Tư 1953 tôi nhập lớp, đến đầu tháng Sáu 1954 mãn khóa, tôi cũng như hơn một chục anh em lớp điệp báo đều hồi hộp chờ được phân công. Giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu trao đổi một buổi chiều với tôi. Đó là cuộc gặp cấp trên giao nhiệm vụ cho cấp dưới; cuộc tâm sự về nghề của thầy với trò; cuộc dặn dò thân tình của người anh lớn với đứa em út và tôi còn cảm nhận được cả tình cảm thân thiết như của người cha (Giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu kém cha tôi 5 tuổi) với con.

        Tôi sẽ là điệp báo xã hội hóa, hoạt động đơn tuyến, trà trộn trong dòng người di cư vào Nam. Tôi lấy bí danh “Diệp Sơn”, ghép tên cha và cậu em xấu số. Lúc chia tay giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu “chốt” lại: Em phải cố học lên, càng nhiều bằng cấp càng tốt để tạo một vỏ bọc vững chắc trong giới trí thức miền Nam. Em vừa là nhà khoa học kiêm tình báo hoạt động lâu dài trong lòng địch, cung cấp những tin tức quan trọng có tầm chiến dịch, chiến lược.

        Ông đưa cho tôi nửa sợi dây inox của cái đồng hồ đeo tay Thụy Sĩ mác Omega và bảo rằng, đến một ngày sẽ có người tìm gặp và đưa ra chiếc đồng hồ thiếu nửa sợi dây, lấy cái dây tôi đang giữ chắp lại vừa khớp, ấy là khi người đó sẽ truyền đạt mệnh lệnh cụ thể.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:49:01 pm

*

*       *

        Trên đường về Hà Nội, tôi vừa chân ướt chân ráo đến thị xã Ninh Bình thì đụng bọn hiến binh đi tuần, về sau nghĩ mãi tôi cũng không hiểu sơ hở gì mà bị bắt, chỉ có thể giải thích do chúng tình cờ tra xét, thấy tôi người lạ mặt từ vùng tự do trở về vùng tề mà nghi nội gián của Việt Minh. Chúng nộp tôi cho Phòng Nhì Pháp ở thành phố Nam Định.

        Tên sĩ quan Phòng Nhì có gương mặt khá giống với tên sĩ quan đã gặp trong nhà thương Đồn Thủy gạ tôi làm con nuôi, song hắn trẻ hơn khoảng dăm tuổi, cách thẩm vấn của hắn cũng lẹ và quyết liệt hơn. Cuộc thẩm vấn bằng tiếng Pháp.

        - Anh nói về Hà Nội chữa lao, y bạ, “toa” thuốc đâu?

        - Tôi mới biết mình nhiễm lao - Tôi bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt hắn, nói - khi hôm rồi ở Nghi Lộc, Nghệ An lên lớp ho, khạc ra thấy đờm có máu.

        - Anh dạy học lâu chưa?

        - Mới. Từ Hà Nội bỏ học vào đó được gần một năm.

        - Ở đâu trong Hà Nội?

        -121 Hàng Bạc, nhà ông bà ngoại. Ông ngoại tôi là viên chức Sở Binh lương, đã nghỉ hưu. Kinh tế gia đình tôi rất khó khăn, phải bỏ học kiếm sống.

        - Sao không kiếm sống ngay tại Hà Nội?

        Mắt hắn bỗng quắc lên, như muốn áp đảo tôi bằng nhãn lực của con cú mèo nhao xuống vồ con chuột nhắt. Tôi cũng đánh bài ngửa:

        - Tôi không thể ở Hà Nội vì sẽ phải đăng lính, ông thấy rồi đấy, thể lực tôi không tốt...

        - Thể lực không tốt - Hắn cắt lời - thì không ai lấy anh đi lính cả.

        - Ông nhầm - Tôi nói - Trên Hà Nội hễ ai còn trong độ tuổi khám là trúng. Họ cần đủ chỉ tiêu, chứ chẳng tính đến chất lượng. Bạn sinh viên với tôi không ít người cũng ốm yếu như tôi phải đăng lính, có người đã chết vì bệnh ngay tại nơi huấn luyện.

        -Ai?

        - Nguyễn Thế Thắng, sinh viên năm thứ hai Cao đẳng Canh nông, đã mất hồi đầu năm nay tại Trung tâm huấn luyện Nhổn, Hà Đông.

        Hắn ghi lại điều tôi vừa nói, bảo:

        - Được! Sẽ cho thẩm tra.

        Tôi thầm nghĩ: cứ việc. Tôi biết Thắng. Anh học khác lớp hồi ở trường Chu Văn An, vừa đỗ vào Cao đẳng Canh nông đã phải đăng lính và khi huấn luyện mới được ba tháng bị phát hiện ung thư gan di căn giai đoạn cuối, mất khi chưa kịp đi nhà thương điều trị.

        - Ngay bây giờ kiểm tra phổi. Nếu không có gì thì rõ ràng anh nói dối, trở về Hà Nội với mục đích khác.

        Sáng hôm sau xe nhà binh đua tôi đến một bệnh viện và nguời khám cho tôi là bác sĩ Nguyễn Ngọc Điệp. Tôi nhận ra ông, nhung ông thì không biết tôi con cái nhà ai. Ông là bác sĩ X quang. Hồi đầu năm bốn sáu ở Hà Nội ông quen cha tôi và có lần đã đến nhà tôi ở Hàng Bạc, bẵng đi khá lâu không thấy ông lại, nay mới biết ông xuống Nam Định làm việc. Bác sĩ Điệp cầm tờ giấy yêu cầu khám tên hiến binh đưa, rồi nhìn tôi bảo:

        - Tạng người gày yếu thế này, lại làm nghề bán cháo phổi dễ nhiễm lao lắm.

        Ông khám, chụp kỹ càng, còn lấy mẫu đờm của tôi đưa đi xét nghiệm. Tôi lo: nếu không bị lao thì sao đây? Hay nói thực với ông tôi là con ai để ông biết mà thuận theo yêu cầu ghi vào đơn có lợi cho mình? Không ổn, tôi nghĩ lại, hiện chúng chưa kịp điều tra nhân thân của tôi, chưa biết cha tôi là Quân y xá trưởng Trung đoàn Vĩnh Phúc, thì làm việc ấy khác gì “thưa ông tôi ở bụi này” càng bất lợi hơn, mạo hiểm hơn. Tốt nhất im lặng, tùy tình huống cụ thể mà đối phó. Hai ngày sau, tên sĩ quan Phòng Nhì Nam Định gọi tôi lên, vẻ mặt hắn đã có chút dễ dãi, rút trong ngăn bàn ra cái thẻ căn cước của tôi, nói:

        - Bác sĩ đã xác nhận anh có những đám thâm nhiễm ở đỉnh phổi trái, lao đang tiến triển. Đúng là tại trại huấn luyện Nhổn có tân binh Thắng mới mất vì ung thư. Anh được cầm lại giấy tờ.

        Vạn sự khởi đầu nan. Cũng có may mắn ngẫu nhiên, tôi đã thoát hiểm một cách bất ngờ, lại còn biết thêm được một điều khá hệ trọng mình đang mắc bệnh phổi, cần điều trị gấp trước khi vào Nam như dự kiến.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:50:41 pm
       
Chương hai


CUỘC DI CƯ

        Đài Hirondelle (Con nhạn) của Pháp liên tiếp đưa tin về Hiệp định Genève. Hiệp định với sự tham dự của chín phái đoàn (Mỹ, Anh, Pháp, Quốc gia Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Việt, Lào, Campuchia) đã chính thức khai mạc ngày 8-5-1954 tại Genève, Thụy Sĩ. Một ngày trước đó, Việt Minh đã xóa sổ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng chỉ huy De Castrie. Ngày 20-7, Hiệp định Genève được ký kết, tạm chia lãnh thổ Việt Nam làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 - cầu Hiền Lương (Vĩnh Linh) làm ranh giới, chờ hai năm hiệp thương thống nhất. Hai bên rút quân về hai phía, có giám sát quốc tế với thời hạn tối đa 300 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, riêng từng khu vực có những thời hạn khác nhau, như: Hà Nội 80 ngày, Hải Dương 100 ngày, Hải Phòng 300 ngày. Ngày 9-8, chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Phủ Tổng ủy di cư tỵ nạn ở cấp ngang bộ trong nội các.

        Lúc tôi vừa rời Sở hiến binh Nam Định thì không hiểu lý do gì, cả thành phố bị cúp điện, cũng là khi hàng nghìn người đổ ra đường chen chúc mua vé hoặc thuê xe đi về hai địa chỉ là Hà Nội, Hải Phòng. Đoàn xe hàng bốn, năm chục chiếc rồng rắn nối đuôi nhau trên quốc lộ về hướng Bắc, qua trạm kiểm soát đặt ở Phủ Lý, xe nào ọc ạch không bảo đảm cự ly đội hình lập tức bị ủi sang bên đường để không cản trở cuộc rút chạy vội vã. Trên đường, tại một vài cầu lớn, lính công binh cài sẵn thuốc nổ, tuyên bố sẽ cho nổ tung cây cầu khi chiếc xe cuối cùng đi qua. Không ăn thì đạp đổ, đó là cái cách hành xử thường gặp của kẻ bại trận!

        Người ùn ùn đổ về các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai (Hà Nội), Cát Bi (Hải Phòng), hoặc xuống cảng Hải Phòng, nơi có các tầu há mồm (landing ship) đang trực ngoài khơi. Cũng không ít người tự tìm đường, phương tiện riêng tùy nghi di tản trên bộ hay đường thủy, trong đó đa số theo đạo Thiên chúa.

        Từ Nam Định về, tôi nằm nhà uống, tiêm thuốc chữa tích cực được nửa tháng, đã cảm thấy lại người. Khỏe hơn về thể chất, nhưng tâm trí thì ngổn ngang trăm mối. Nay mình không chỉ con của gia đình, mà đã là con của tổ chức, có trách nhiệm lâu dài với sự nghiệp chung của đất nước. Cuộc chia ly đang đến rất gần. sắp xa Hà Nội, xa mẹ, các em, bạn bè. Biết bao giờ trở lại, hay vĩnh viễn không bao giờ trở lại? Không điều gì có thể nói được trước lúc này.

        Thành phố buổi giao thời nhuộm nhoạm. vẻ bề ngoài bằng lặng, nhiều đường phố ban ngày vắng tanh vắng ngắt. Song trong lòng nó đang sôi sực, xáo trộn. Những tên trùm thực dân ngậm quả đắng khó nuốt, đang chuẩn bị cuốn cờ; những tên lính lê dương hung hăng, lạm sát dạo nào nay đang lủi thủi nhét vài kỷ vật của xứ nhiệt đới vào ba lô và niêm phong súng; kẻ làm công ăn lương người Việt trong bộ máy cai trị, không ít trong số đó bàn tay đã nhuốm máu đồng bào, chiến sĩ đang tìm đường thoát thân; thương gia phất lên nhờ chiến tranh thành tư sản mại bản “ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn”; những “con kỳ nhông” luôn thay đổi màu da thuộc các đảng phái chính trị hẩu lốn hiểu rằng đã hết đất diễn... Tất thảy đều lo âu, hoảng loạn, mệt mỏi hiện rõ trên từng khuôn mặt chuẩn bị cho cuộc trốn chạy lịch sử. Phía đối cực, đa số là dân thường thuộc nhiều tầng lớp có lòng yêu nước thì niềm vui hiện rõ không cần giấu giếm, đang háo hức chờ ngày 5 cửa ô mở toang, đón những người chiến thắng trở về, những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh sau 9 năm kháng chiến trường kỳ.

        Hôm tôi sang phi trường Gia Lâm để tìm hiểu thủ tục cho chuyến bay, ở cổng sân bay có khá đông người đang chen chúc đứng ngồi chờ đến lượt mua vé. Bỗng có một toán thiếu niên trạc mười bốn, mười lăm tuổi xuất hiện. Một em trai đứng vào vị trí đối diện với mọi người và đưa loa lên miệng kêu gọi: “Cha, mẹ, chú, bác, anh chị ơi! Đừng nhẹ dạ cả tin nghe theo bọn xấu mà bỏ nhà di cư vào Nam, nên ở lại quê hương miền Bắc để hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong chế độ mới...” Rồi một em gái tốt giọng ngâm phụ họa bài thơ “Đừng theo giặc vào Nam”:

                                      Nghe ai lầm phải lời điêu
                                       Mà đành cuốn gỏi bước liều ra đi
                                       Ra đi là bước hru ly
                                       Đường vào Nam Bộ sầu bi não nùng
                                       Ra đi là bước long đong
                                       Bỏ nhà nằm bãi ngủ đồng quạnh hiu...



Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:51:37 pm

        Nhiều người lo lắng ra mặt thì thầm với nhau: Bọn mình giờ tiến thoái lưỡng nan, ở lại cũng đỡ phiêu lưu hon chăng? Bỗng có một kẻ lớn tiếng nạt nộ: Cảnh binh đâu, sao để bọn nhóc Việt Minh làm loạn thế này! Các em vẫn tỏ ra bình tĩnh không hề sợ hãi. Suốt buổi chẳng thấy bóng tên cảnh binh nào, có lẽ chúng cũng đang rối mù thu xếp của nả cho cuộc di tản, bộ máy đàn áp hầu như đã tê liệt cả rồi. Mấy người bảo nhau, vừa gặp ông cán bộ Việt Minh công khai về thăm nhà trong nội thành; còn đồ chơi trẻ em bày bán dịp tết Trung thu thấy có sơn vẽ cờ đỏ sao vàng.

        Tôi lặng lẽ rời khỏi nhà ga, ngày lên đường đã được ấn định. Viên Tư lệnh Pháp tuyên bố dành hẳn 12 chuyến bay trong hai ngày 12 và 13 tháng Tám cho sinh viên Hà Nội vào Nam, chở được khoảng trên 1.000 người.

        Tình hình trong nước và thế giới chuyển động rất nhanh, đúng như nhận định của giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu hôm trao nhiệm vụ cho tôi: thể nào ngụy quyền Sài Gòn cũng tìm mọi cách phá hiệp thương, tổng tuyển cử hai miền; thể nào Mỹ cũng hất cẳng Pháp quay trở lại Đông Dương vục dậy chế độ ngụy, chia cắt đất nước thành hai miền. Cuộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân, thống nhất đất nước còn gian khổ, lâu dài và đấu tranh vũ trang sẽ là phương thức chủ yếu. Cần sớm cài cắm được người của ta “nằm vùng”, kịp thời nắm được ý đồ, hành động của địch.

        Cấp trên trực tiếp của tôi có mật danh KD1.

        Thời điểm đồng bào, chiến sĩ sắp ca khúc khải hoàn, thì tôi cùng các điệp viên hoạt động đơn tuyến khác lại âm thầm bước vào một mặt trận mới.

        Ngày nào mẹ cũng lại chỗ anh em tôi trọ lo cơm nước. Nhìn mẹ vẻ mặt hốc hác, đi lại tất tả tôi bỗng thấy thương quá, mà không sao có thể nói hết nỗi lòng mình. Con có lỗi với mẹ, để mẹ khổ, mẹ lo và phải giấu mẹ, dối mẹ về công việc sẽ theo đuổi suốt đời. Liệu đến một lúc nào đấy mẹ có hiểu được cho con? Chắc là khó, tuổi mẹ đã cao, mà cuộc chiến đấu này chưa biết đến bao giờ kết thúc... Dường như mẹ cũng linh cảm cuộc chia ly sắp đến rất dài và đầy bất trắc. Có lần Người hỏi:

        - Ngọc à, hay cả nhà ta cũng đi theo con vào định cư trong ấy?

        Tôi chỉ còn biết an ủi mẹ bằng những lý lẽ đã đặt ra từ đầu. Dịp này con vào Sài Gòn để lấy nốt hai chứng chỉ, hoàn thành chương trình cử nhân, rồi sẽ tính tiếp chuyện tương lai cho mình. Gia đình ta đã có cơ sở làm ăn ở Hà Nội, bỗng chốc bỏ vào trong ấy không người thân quen, không nơi nương tựa thì thật diệu vợi. Em Kim lớn rồi có thể thay con giúp mẹ và trông nom em Thủy... Nhìn ánh mắt mọi người, tôi hiểu dẫu có nói thế, nói nữa cũng chỉ là gượng ép. Song, ngay từ đầu mẹ đã có chủ ý. Ngày tôi dẫn nàng về ra mắt cả nhà, mẹ đã “chấm” cô con dâu tương lai của mẹ rồi! Và mẹ tôn trọng sự lựa chọn của tôi, chỉ vì biết Nguyệt Tỉnh sẽ cùng anh trai, em gái và gia đình ông Phan Huy Quát bay vào Nam. Cuộc đưa tiễn thật buồn, bịn rịn. Trước lúc cái va ly da hành lý của tôi được khóa lại, mẹ mới vào tủ lấy ra một bộ complet pha len màu xám được là phẳng phiu, bảo bộ này cha đã mặc trong ngày cưới cách đây hai mươi ba năm, con giữ mà dùng.

        Ông Phan Huy Quát hơn cha tôi hai tuổi, truớc cách mạng hai nguời có quen biết nhau do cùng nghề y. Cuộc cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra, mỗi nguời một ngả rẽ. Cha tôi theo Việt Minh, còn ông gia nhập đảng Đại Việt, trở thành một nhân vật có vai vế của chính quyền ngụy. Thời quốc truởng Bảo Đại do Pháp dựng lên, ông đã là Tổng truởng Giáo dục (1949), rồi Tổng trưởng Quốc phòng (1950-1954). Lúc giao thời nhuộm nhoạm vừa qua, chính phủ bù nhìn bày trò “tổng tuyển cử”, ông được một số nhân vật chủ chốt thuộc các đảng phái ở Hà Nội vận động tranh cái ghế thủ tướng Quốc gia Việt Nam với Ngô Đình Diệm, nhưng thất bại. Ông quyết định đưa cả nhà vào Sài Gòn, buổi đầu trở về nghề cũ, nhưng vẫn chờ thời, nuôi nhiều tham vọng chính trị.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:51:57 pm

        Từ hôm tôi ở Nam Định về, Nguyệt Tỉnh lo lắng cho bệnh tình của tôi, bảo sẽ nhờ ông Phan Huy Quát kê “toa” thuốc, song tôi đã có phác đồ điều trị bệnh lao của bác sĩ Nguyễn Ngọc Điệp ở Nam Định rồi. “Thùy đỉnh phổi trái có đám thâm nhiễm”, phát hiện ấy của bác sĩ làm tôi bi quan về sức khỏe, có lần tôi bảo nàng:

        - Anh ốm yếu thế, sợ rằng mai này sẽ làm khổ em. Hay là...

        Nàng lấy tay bịt mồm không cho tôi nói tiếp, bảo:

        - Ốm sẽ khỏi! Chú em bảo là quá nửa dân An Nam mình sống vất vả, môi trường bụi bặm trong phổi đều có vi trùng Koch, khi yếu nó vùng dậy, khỏe nó rút lui, phải biết chung sống với nó thôi. Vậy có gì mà lo lắng. Dù hoàn cảnh nào em cũng yêu anh!

        Nói rồi nàng âu yếm cúi xuống thơm nhẹ vào má tôi. Lời nói và cử chỉ của nàng làm tôi cảm động, không ngờ một tiểu thư khuê các, con nhà quyền quý như nàng lại thủy chung son sắt vậy. Nàng từng nói một cách “sách vở” rằng: Em có khối cậu đẹp trai con nhà quyền thế đến tán tỉnh, xin làm vệ sĩ, nhưng lũ công tử bột ấy không thể bén gót được anh. Em yêu tâm hồn trong sáng, trái tim đa cảm, khối óc thông minh sáng láng của anh cơ.

        Có lần Nguyệt Tỉnh đã dẫn tôi đến ra mắt vợ chồng ông Phan Huy Quát, hai người tiếp tôi một cách ân cần, chừng mục, họ tỏ ra tôn trọng sự lựa chọn của cô cháu gái. Ông Quát có lẽ đã biết tôi từ trước do sự “kể tốt về bạn” của anh Phan Huy Lương, ông nói với tôi, sắp tới nếu có “buốc” đi Pháp dành cho những sinh viên xuất sắc, thì thế nào cũng chú ý để cho tôi một suất. Ông tỏ ra trân trọng khi nói về cha tôi, còn bảo: Trong đội quân lê dương không tránh khỏi thu nạp những kẻ khát máu, đã hành xử hết sức tồi tệ làm mất thanh danh của Pháp quốc văn minh.

        Đôi khi nằm vắt tay lên trán suy nghĩ về hạnh phúc, về tương lai, tôi tự vấn lương tâm: ta có thực sự yêu nàng không nhỉ, hay chỉ lợi dụng gia thế của nàng để làm vỏ bọc cho sự hoạt động lâu dài của mình? Tôi thấy khó trả lời cho thỏa đáng điều này, rồi chỉ biết tự an ủi, rằng ta quen biết và ngỏ lời yêu trước khi nhận nhiệm vụ vào Nam cơ mà!

        Tôi để lại cho em Kim một thư ngắn, dặn có người từ Nghệ An tên Thành đến lấy thì đưa. Đó là thư tôi báo cáo tổ chức đã lên đường vào Sài Gòn đúng như dự kiến.

        Ngày 4-8-1954, một cầu không vận dài nhất thế giới bắt đầu hoạt động, trung bình khoảng 6 phút một chuyến hạ, cất cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Toàn khách di cư, mỗi ngày có từ 2.000 đến 4.200 người. “Hòn ngọc viễn Đông” ồn ã, nhiều tòa nhà cao tầng hơn Hà Nội và thời điểm tôi đặt chân đến thành phố này thì nhốn nháo nhất ở khu vực Trường đua Phú Thọ, nơi có “Phú Thọ lều” với hàng trăm lều bạt dụng tạm dành cho người tị nạn, có lúc trại này chứa đến một vạn người di cư. Gia đình ông Phan Huy Quát đủ sức tậu một biệt thự ngay ở Quận 1 gần chợ Bến Thành và thông qua Phan Huy Lương (anh đang học trường bộ binh Thủ Đức) tôi được ông bà cho ở nhờ một căn buồng nhỏ trên tầng ba. Điều này làm Nguyệt Tỉnh hết sức vui mừng, ngày nào chúng tôi cũng có dịp gặp nhau. Ngay từ đầu tôi định cho mình một chế độ tập luyện, ăn uống nền nếp, quy củ để phục hồi sức khỏe. Sáng, năm giờ chạy ra công viên Tao Đàn gần nhà hít thở không khí trong lành, rồi tám giờ đến trường, học thông đến tận chiều. Tự nấu, bữa cơm rau dưa đạm bạc hợp với túi tiền.

        Trường tôi nhập học ở 125 đường Bonard, vốn một chi nhánh của Cao đẳng Khoa học Hà Nội, khi có cuộc di cư vào Nam 1954 thì cơ sở Hà Nội cũng chuyển toàn bộ vào Sài Gòn hợp nhất thành Viện Đại học quốc gia. Ngày 11-5-1955 diễn ra lễ chuyển giao Viện Đại học quốc gia từ chính phủ Pháp cho Việt Nam và giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Quang Trình là người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm làm giám đốc, ông cũng kiêm khoa trưởng Khoa học Đại học đường, tức trường tôi học. Trong 15 giáo sư của trường tôi thì vẫn còn 7 người Pháp.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:52:29 pm

TRƯỚC NGÀY LÊN ĐƯỜNG

        Tôi nhận được chỉ thị ngắn gọn từ KD1: tìm cách sang Pháp, học lên. vẫn là thực hiện kế hoạch do giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu đã vạch ra. Với tôi lúc này chỉ có học, học thật giỏi để giành “buốc”. Mục tiêu có vậy.

        Lớp tôi đa số dân miền Bắc di cư, còn lại người Sài Gòn và mấy tỉnh miền Tây. Tôi thiếu hai chứng chỉ, vào ngay năm thứ ba, có lẽ buổi đầu chỉ Hai Lân người cần Thơ là sức học ngang ngửa được với tôi. Song tôi không mấy thiện cảm với anh ta. Anh ta cao ráo, trắng trẻo, đẹp mã, kiêu ra mặt. Tất nhiên, chỉ có thể vênh vang, làm dáng với các em xinh đẹp trong trường, chứ người như tôi suốt buổi cắm cúi với sách vở thì giờ đâu mà để ý đến anh ta. Song không hiểu lý do gì ngay từ đầu Hai Lân đã tỏ ra quan tâm đến tôi. Ngày khai trường anh ngồi cạnh tôi từ lúc nào, chủ động bắt tay:

        - Mình Trần Mạnh Lân, người Tây Đô - Anh tự giới thiệu - Dân Nam Bộ, con lớn nhất trong nhà gọi là “hai”, mình Hai Lân. Dưới mình còn sáu em nữa, ba gái ba trai.

        Trước sự xởi lởi của anh, tôi cũng mỉm cười đáp lễ:

        - Mình Nguyễn Đình Ngọc, cũng “Hai Ngọc”; cũng có em trai, gái nhưng nhân ba mới bằng số em của cậu.

        Hai Lân cười to, màn làm quen của chúng tôi xem ra thật tự nhiên. Song trong những ngày tựu trường, cái cách xã giao của cậu ta không làm tôi khoái tí nào. Chẳng hạn, một bận trong giờ ra chơi, cậu kéo một em nom cao ráo xinh xắn đến trước tôi, bảo:

        - Chị hai đây cũng tên Ngọc, Mộng Ngọc họ Vương, dân Ba Tầu Chợ Lớn. Đề nghị hai Ngọc quen nhau đi.

        Thế thì phô quá! (Vương Mộng Ngọc phản ứng liền với Hai Lân: Nếu muốn, tự tôi làm quen không cần nhờ đến anh giới thiệu!). Mộng Ngọc có lần nói riêng với tôi: Hai Lân nhìn ai cũng như dưới tầm anh ta cả, vừa nhập lớp chưa thể biết mèo nào thắng mỉu nào đâu. Quả cô gái gốc Hoa đó thông minh, lớp có sáu chục đứa, cô thuộc “top -ten” học giỏi của lớp. Mật ít ruồi nhiều, tôi luôn biết mình, có thiên bẩm mà không cần cù chịu khó cũng khó mà giành “buốc”. Và ngay từ đầu năng khiếu “ngủ ngồi” của tôi đã phát huy tác dụng, tận dụng tối đa thời gian học. Thuộc làu lý thuyết, làm không sót bài tập nào, còn tìm thêm sách toán, sách hóa để tham khảo Chỉ trong vòng ba tháng đầu tôi đã vươn lên đứng đầu lớp, Hai Lân có vẻ hậm hực. Lần ấy thi tôi đạt điểm 10, Lân 9, anh ta tuyên bố: Ngọc huy chương vàng, mình tuy huy chương bạc, nhưng hãy đợi đấy!

        Một lần trên đường đi học về, Hai Lân rủ tôi vào một quán cà phê bên đường, tôi định từ chối, song anh ta nài nỉ quá mà phải vào. Anh rút trong cặp ra một cuốn tạp chí còn mới, giơ tôi xem và hỏi:

        - Cậu đã đọc chưa?

        Đó là cuốn “Ngày mai - tháng 10-1954.” Quả tôi lần đầu nhìn thấy tờ tạp chí này. Cậu ta nói:

        - Của phong trào hòa bình Huế đấy. Ông Diệm đang tố cộng, lấy ngày ký hiệp định đình chiến 20-7 là ngày “Quốc hận” mà nhóm ông Thân Trọng Phước, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn Hữu Đính chủ trương ra văn tập này đòi hòa bình, hiệp thương thì thật là gan hùm...

        Tôi ngắt lời anh ta:

        - Mình không quan tâm! - Và định đứng lên, Hai Lân cứ nhất quyết giữ lại, nói tiếp:

        - Nghe mình nói hẵng nào. Ta chú tâm vào việc học nhưng cũng phải biết thời cuộc chuyển vần ra răng chứ. Mình đã đọc số 1, có nhiều bài đặc sắc ra phết, số 2 vừa mới ra, mình muốn cậu thử đọc đổi món, thư giãn trí não xem sao.

        Nói rồi anh ta chìa cuốn tạp chí trước tôi. Tôi khoát tay đứng dậy, tỏ ý kiên quyết:

        - Nói rồi, mình không quan tâm đến chính trị. Xin lỗi cậu!

        Có thể Hai Lân đọc cuốn tạp chí ấy một cách ngẫu nhiên, cũng có thể anh ta dùng cuốn đó thăm dò chính kiến của tôi, phản xạ khước từ của tôi đến rất nhanh một cách tụ nhiên như vậy, âu cũng là một sự “nhập vai” khá đạt. Hôm rồi ra cửa hàng sách báo cũ ở chợ Bến Thành, tình cờ tôi mua được một cuốn tiếng Pháp viết về trùm tình báo Nga Xô thời nội chiến Derânski, tôi nhập tâm được một câu nói hay của ông: Người điệp viên phải có cái đầu lạnh, trái tim nóng và bàn tay sạch. Trước Hai Lân, tỏ ra không quan tâm đến “Ngày mai”, nhưng ngay sau đấy tôi vẫn lẳng lặng tìm hiểu về văn tập này. Có một tổ chức đứng sau nó gọi là “Chi bộ trí thức”, ngoài ba cái tên Hai

        Lân đã nêu còn có các vị: Cao Xuân Lữ, Tôn Thất Dương Tiềm, Võ Đình Cường, Nguyễn Hữu Ba... đều là những trí thức có tên tuổi ở Huế. Hai cuộc biểu tình lớn mới đây ở quảng trường Phú Văn Lâu có hàng vạn người tham gia, do Chi bộ Trí thức chỉ đạo. Cuối năm 1954, “Ngày mai” ra tiếp số 3, bị chính quyền đàn áp, rút giấy phép xuất bản. Anh em Diệm - Nhu đã giấu bàn tay nhung và chìa ngay bàn tay sắt khi vừa lập nên nền Đệ nhất cộng hòa.

        Sau lần bị cụt hứng, Hai Lân ít khi chủ động nói chuyện với tôi. Thế rồi không hiểu vì lý do gì sau đó anh ta lại phú quý giật lùi, cứ bị tốp đầu bỏ xa dần, mất “huy chương bạc”, thậm chí không có cả “đồng”. Cay đắng. “Buốc”, không đến lượt anh ta! Hôm nhận bằng cử nhân, mặt anh ta buồn thỉu, “đâu rồi vẻ tự mãn, hãnh tiến hồi mới nhập lớp!” Vương Mộng Ngọc kín đáo nguýt hắn, nói nhỏ vào tai tôi một câu như vậy. Cô bắt chặt tay chúc mừng tôi. Khóa ấy có 326 sinh viên, đỗ 96, tôi đỗ đầu và một á khoa được nhà cầm quyền trao hai suất học bổng toàn phần đi Pháp.

        Mãn khóa, chúng tôi mỗi người mỗi ngả, mỗi số phận. Cũng không thể ngờ hơn mười năm sau tôi và Hai Lân lại đụng nhau, lần này là trên hai chiến tuyến một mất một còn.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:53:03 pm

*

*       *

        Nguyệt Tỉnh nói với tôi đã mấy lần bà dì giục: Cháu và Ngọc tìm hiểu cũng lâu rồi, nó lại sắp sang Pháp, tổ chức đi thôi. Tôi báo cáo với lãnh đạo KD1 về việc hôn nhân và nhận được trả lời ngay: đồng ý! Tôi hiểu, chuyện riêng của chúng tôi có lợi cho công việc chung, gia đình Nguyệt Tỉnh có nhiều người ở phía bên kia sẽ càng tốt cho “vỏ bọc” của tôi. Do hoàn cảnh gia đình hai bên đều ở xa, chúng tôi đăng ký kết hôn ở tòa thị chính thành phố, rồi tổ chức một tiệc mặn mời họ hàng, bạn bè thân thiết đến chia vui.

        Thực ra đến dự chỉ có họ hàng bên vợ tôi và của gia đình ông Phan Huy Quát, còn gia đình ruột thịt của tôi đều ngoài Bắc, trong này không có ai. Hoàn cảnh chia cắt hai miền không cho phép tôi báo hỷ, chỉ đến hơn một năm sau chúng tôi đã sang Pháp rồi, mới có điều kiện viết thư và gửi ảnh cưới về cho mẹ, các em.

        Nàng sát bên, cười rạng rỡ trong bộ đồ voan cô dâu trắng muốt dài quét đất, còn tôi khoác tay nàng sánh bước, ngực hơi ưỡn với bông hồng nhung tuyệt đẹp cài trên ve áo chú rể, bộ complet xám của cha, dẫu hơi dài một chút, song tôi cảm thấy rất vừa vặn, hãnh diện. Cha ơi, lúc này con nhớ cha lắm! Tôi cũng chạnh nghĩ về mẹ. Người mẹ hiền tần tảo những năm tháng vất vả đã hết lòng nuôi mấy anh em tôi khôn lớn, sẽ có lỗi biết bao khi không báo được tin vui này để Người chúc phúc cho chúng tôi.

        Đám cưới hạn hẹp trong phạm vi gia đình diễn ra vui vẻ, ấm cúng.

        Sau ngày chúng tôi cưới được một tuần, Phan Huy Lương mới đến thăm, xin lỗi đã nhận được thiệp mời, đúng lúc anh đang bận một công vụ không thể về dự tiệc. Bộ đồ ka ki xanh xám loang lổ của học viên sĩ quan trừ bị bó sát thân, càng làm nổi bật cái dáng kềnh càng có phần dữ dằn của anh. Giờ thì Nguyệt Tỉnh không gọi là “chú” như hồi đầu nữa, vì là bạn tôi, hơn tôi có một tuổi, nàng chủ động gọi “anh”. Lương kể trường bộ binh Thủ Đức của anh vừa đổi tên thành Liên trường võ khoa Thủ Đức, ngoài đào tạo sĩ quan trừ bị bộ binh còn huấn luyện chuyên môn cho các binh chủng thiết giáp, pháo binh, công binh, truyền tin, quân nhu, quân cụ và quân vận. Anh sắp ra trường, đi thực hành phân đội tìm diệt ở vùng Bến Cát vừa về.

        - Tìm diệt là cái chi anh? - Nguyệt Tỉnh hồn nhiên hỏi.

        - Ồ, chuyện nghề nghiệp mà - Lương cười - cô dâu cần chú tâm cho tuần trăng mật hơn chứ.

        Nguyệt Tỉnh có vẻ không vừa lòng với câu trả lời, song nàng vẫn ý tứ cười nói vui vẻ. Lương hỏi tôi:

        - Bao giờ cậu lên đường?

        - Nếu không có gì thay đổi thì đầu tháng 11 này lên đường thôi. - Tôi trả lời.

        - Gấp quá nhỉ - Lương hỏi - Cả hai cùng đi?

        - Mình định sang trước, ổn định chỗ ăn ở, rồi đón Nguyệt Tỉnh sang sau.

        - Cậu chọn con đường khoa học là đúng, còn mình không ngờ theo binh nghiệp.

        - Trường võ bị, lieutenant (trung úy) oai phong lắm chứ. - Tôi tỏ ý tán thưởng.

        - Ông anh mình, - Lương nói - đam mê quyền lực, đam mê làm chính trị, giờ ruốt cuộc lại trở về cái nghề cũ nhân bản hơn, vững bền hơn. Binh nghiệp và chính trị đi với nhau như hình với bóng, ban đầu mình không đồng quan điểm với ông anh, nhưng rồi đã vào guồng quay của nó thì không thể nào thoát ra được. Đó như một định mệnh. Mà nghiệm ra ai đi theo con đường này thì thường kết thúc không có hậu. Hôm rồi mình hỏi rỡn ông anh là đã yên phận hành nghề bác sĩ chưa, thì ông lắc đầu ngán ngẩm nói: Người đã sa vào vòng quyền lực thì ham hố lắm, chẳng thể chối bỏ được, nhưng phải biết thờ chữ “Nhẫn”. Mỹ quá thực dụng, Pháp còn kém xa, xem ra làm chính trị ở đất Sài Thành này không bằng Hà Nội ngàn năm văn vật. Đã ném lao thì phải theo lao thôi.

        - Thì Ngô Đình Diệm thân Pháp hơn, xem ra Mỹ có sủng ái lắm đâu. - Tôi nói.

        - Ông Diệm thân thiết với đức Hồng y vùng New York là Spellman thì đúng hơn - Lương bổ sung - Ông anh mình khi nhắc đến Ngô Tổng thống là giãy lên như đỉa phải vôi, bảo là không thể sống với chế độ nửa cộng hòa, nửa phong kiến như vậy được. Ông biết cũng có nhiều tướng tá quân đội ngán anh em Diệm - Nhu, rục lịch muốn đảo chánh. Giờ thì ông mũ ni che tai, thu mình tọa sơn quan hổ đấu.

        - Quân lực Việt Nam Cộng hòa dạo này có vẻ được củng cố và bắt đầu trang bị vũ khí hiện đại của Mỹ?

        - Cũng khá hơn trước nhiều - Lương nói tiếp - Vừa mới được chỉnh đốn lại từ đầu năm nay. Ngày Quân lực 19 tháng 6 vừa qua chẳng đã khua chiêng gõ trống rùm beng đấy thôi. Lực lượng chủ yếu vẫn là quân đội quốc gia trong Liên hiệp Pháp chuyển giao, với nòng cốt Bảo chính đoàn. Khi Hiệp định Genève được ký kết, cuộc tổng động viên trước đấy đã huy động được 83 tiểu đoàn Việt Nam; 81 tiểu đoàn khinh quân và 5 tiểu đoàn dù, tổng cộng hơn 27 vạn người, cũng là đông quân. Số liệu do ông anh mình lúc còn Tổng trưởng Quốc phòng thời Quốc trưởng Bảo Đại cung cấp đấy. Từ khi chính thức thành lập Quân lực Việt Nam Cộng hòa đến giờ mới được gần một năm, có lẽ cũng đã tăng quân số đến ba chục vạn rồi...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:53:40 pm
     
*

*       *

        Bố vợ tôi, ông Trịnh Phong thời trước cách mạng làm viên chức bưu điện ở Hòn Gai, sau tham gia cướp chính quyền ở địa phương, có thời kỳ làm ở ngành công an của ta. Ông có hai bà, bà cả đẻ được một trai, bốn gái, còn bà hai được hai gái. Ông anh cả Trịnh Tùy Gia vào đây trúng tuyển phi công đang học lớp huấn luyện bay. Vợ tôi con gái đầu của bà cả. Cô em tiếp sau Trịnh Thị Nguyệt Mỹ, chồng là Nghiêm Văn Phú, từ dạo vào Sài Gòn, vợ chồng cô chú ấy luôn tỏ ra sốt sắng với việc cưới xin của chúng tôi. Nghiêm Văn Phú với tôi sàn sàn tuổi nhau, bề ngoài nom anh đúng con nhà võ: cao, to, da ngăm đen, tính nết lại xuề xòa dễ dãi. Ngày tôi chuẩn bị lên đường, vợ chồng anh đến thăm. Anh là sĩ quan hải quân, vừa ở Trung tâm huấn luyện hải quân Nha Trang ra được một năm, biên chế về một hải đoàn ở Sài Gòn. Nguyệt Mỹ với vợ tôi vốn rất hợp nhau, hễ gặp nhau chị em chuyện trò tíu tít như lâu ngày lắm, còn tôi với Phú lẳng lặng rút ra cái bàn ở hiên ngồi nhâm nhi ly cà phê nói chuyện. Tôi hỏi anh về việc học ở Nha Trang. Anh bảo, học khóa hai 1952-1954, có 16 học viên, hầu hết thụ huấn ngành chỉ huy, còn lại học máy-cơ khí. Nghề của anh chú trọng căn bản về vũ khí, tác xạ, hải pháo và ôn tập hải nghiệp. Rồi anh dặn tôi:

        - Anh sang Pháp nhớ đến thăm quan thành phố Brest bên bờ Đại Tây Dương nhé, có trường sĩ quan hải quân lâu đời. Đáng lẽ tôi trong diện sang đấy thụ huấn, rồi đến phút cuối bị trục trặc mà phải học trong nước. Tôi biết anh có năng khiếu toán, học hải quân chắc là hợp, trong chương trình đầy đủ các môn dùng đến toán, như: Toán học đại cương, Lượng giác không gian, Thiên văn, Khí tượng, Hải pháo, Tầu ngầm, các loại máy điện tử để quan sát không gian, máy Sonar, Sondeur, Radar... Tôi có thằng bạn thân là Phạm Trung Giám học khóa một Brest, ngành Hành chánh - tài chánh đi năm 1952, mãn khóa vào tháng Tư vừa rồi, còn được đi vòng quanh thế giới 8 tháng nữa trên Tuần dương hạm Pháp Jeanne dArc.

        - Tôi sang đấy dự kiến sẽ học ngành khí tượng và đóng tầu - Tôi nói - Cũng gần với chuyên môn anh vừa kể. Có điều kiện thì cứ học, chứ cũng chưa biết khi về dùng vào việc gì. Thể nào tôi cũng đến thăm trường hàng hải Brest, thăm thôi chứ không học vì thú thực tạng tôi không hợp với nhà binh.

        Nghiêm Văn Phú mỉm cười, bảo:

        - Tôi cũng có thích nhà binh đâu anh, số phận run rủi đấy chứ.

        - Xem ra anh tin vào tử vi tướng số?

        - Không tin cũng phải tin - Phú nhấp một chút cà phê rồi nhẩn nha nói - Hồi tôi bảy tuổi, hôm đó bố tôi đang dắt đi dạo ở công viên Tao Đàn, có ông thày bói Tầu nhìn tôi bảo ngay, thằng bé sau này phải theo nghiệp võ mới làm nên. Bố mới nhờ ông lấy cho một lá số, nghiệm đến giờ thì “i xì phooc” từ chuyện nghề nghiệp, vợ con, đất cát, tiền bạc, chỉ có nói năm ba mốt tuổi sẽ lên tướng thì chưa biết thế nào thôi.

        - Ồ, - Tôi bật cười - anh cũng giống tôi. Lúc bé, có ông thầy tử vi ở Hà Nội nói tôi cũng sẽ lên tướng. Có mà tướng cướp.

        Phú nghiêm giọng:

        - Anh tuy dáng thư sinh, nhưng ẩn tướng thì sao. Cứ xem trên ảnh Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy quân đội Việt Minh thì biết, người nhỏ nhắn, trắng trẻo rõ là thư sinh mà phẩm hàm đến đại tướng quân, lừng danh thiên hạ. Nhân định không bằng thiên định mà. Anh biết rồi đấy, nghề đi biển từ thời thượng cổ đã gắn với các vì sao trên trời. Thời văn minh tiến bộ như hiện nay dù có nhiều phương tiện máy móc nhưng căn bản việc định vị trí trên biển vẫn bằng các tinh tú. Có phải vậy mà người làm nghề hàng hải như tôi thường thích tử vi do nó giải mã cuộc đời bằng các vì sao trên trời. Trường Brest còn điều đặc biệt này nữa, bắt đầu từ khóa 4 nhập trường năm ngoái, khi chuyển giao tên mỗi khóa cho hải quân ta thì ngoài việc lấy theo số thứ tự còn lấy tên riêng một vì sao đặt cho, tên sao tây cũng giống tên sao ta, chỉ phiên âm là khác đi. Tôi ham tử vi nên cũng thuộc tên các sao tạo thành mười hai con giáp của khoa chiêm tinh học phương Tây. Chẳng hạn, Verseau (Bảo Bình) từ 21-1 đến 19-2; Poissons (Song Ngư) từ 20-2 đến 20-3; Bélier (Dương Cưu) từ 21-3 đến 20-4; Taureau (Kim Ngưu) từ 21-4 đến 20-5; Gémeaux (Song Nam) từ 21-5 đến 21-6... Bởi thế, khóa 4 mới có tên là Đệ nhất Kim ngưu, tiếp theo khóa 5 sẽ là Đệ nhất Song Nam...

        Chuyện của anh em tôi cứ lan man hết chủ đề này sang chủ đề khác như vậy; chị em Nguyệt Tỉnh, Nguyệt Mỹ cũng đã vãn chuyện, vợ chồng họ xin phép ra về.
     
*

*       *

        Trước ngày lên đường tôi đã suy nghĩ rất lung: có nên cho Nguyệt Tỉnh biết mục tiêu lâu dài của chuyến sang Pháp lần này?

        Tôi luôn biết ơn nàng bởi tình yêu nồng nàn, trọn vẹn nàng đã dành cho tôi, song thâm tâm vẫn phân vân, liệu nàng có chấp nhận được, có cảm thông chia xẻ được cuộc đời hy sinh thầm lặng của người điệp báo? Trong gia tộc, họ hàng xa gần của nàng có nhiều người thuộc cả hai chiến tuyến và tôi đã mấy lần thăm dò cũng phần nào hiểu được chính kiến của nàng. Cha nàng làm việc trong ngành công an và bưu điện của ta; nàng đã từng tỏ thái độ hâm mộ người cậu ruột “Hùm xám đường số 4” Đặng Văn Việt; nàng mong mỏi ông anh ruột Trịnh Tùy Gia là phi công đừng thả bom, bắn giết bừa bãi người vô tội... Nàng thiên về phía những người yêu nước, những người kháng chiến. Tôi vẫn chưa có câu khẳng định, song tôi tin vào thiện căn trong con người nàng.

        Tình cảm vợ chồng lạ thế, không thể có đồng sàng dị mộng cả trong việc xác định lý tưởng, mục tiêu sống! Cuối cùng suy đi tính lại, tôi quyết định cần có thêm thời gian nữa, chờ thời điểm thuận lợi sẽ nói cho nàng biết. Và phải chờ đến 6 năm sau, vào cuối năm 1961, sau khi được lãnh đạo KD1 “bật đèn xanh”, tôi mới nói với nàng về một phần công việc của mình sau khi về nước. Đêm hôm đó nàng đang gối đầu lên tay tôi, nghe xong bất chợt quay hẳn người ôm tôi, thì thầm:

        - Khi anh quyết định rời bỏ gia đình di cư vào Nam, em đã linh cảm về điều này. Mục tiêu của anh trong chuyến đi ấy còn cao hơn việc lấy tấm bằng cử nhân và cũng không hẳn vì em đã vào định cư ở Sài Gòn. Chắc anh còn nhớ, có lần em hỏi anh là có căm thù người Pháp không, anh đã nói thật lòng mình...

        Tôi vuốt má nàng, hỏi:

        - Ủng hộ anh chứ?

        - Lại còn hỏi - Nàng nói - em đã là của anh thì cũng là người của tổ chức. Em sẽ tìm cách liên hệ, tình nguyện làm cầu nối giữa anh và tổ chức.

        Nàng nói nhẹ trong hơi thở. Lời nàng thốt ra tự nhiên như thể bản chất nàng phải như vậy. Và tôi ôm ghì nàng, rên xiết vì biết ơn...

        Sau đó nàng đã viết thư về Sài Gòn theo cách do tôi hướng dẫn, muốn nhận việc của một giao thông viên.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Giêng, 2018, 10:55:57 pm
        
Chương ba

GIÁO SƯ "VÙ"

        Đầu tháng 11-1955, tôi đặt chân đến thủ đô Paris hoa lệ. Bao năm học trường Pháp bảo hộ, tôi ngấm được chút nào nền văn hóa Pháp, nay vừa đặt chân lên đất Pháp cái cảm giác đầu tiên là bâng khuâng nhiều cảm xúc trước một nền văn minh hiển hiện. Tháp Eiffel kiêu hãnh vút lên trời xanh; đại lộ Champs Elysées thoáng rộng loáng bóng đến ngỡ ngàng; Điện Louvre cổ kính uy nghi mang trên mình rêu phong mấy thế kỷ; Nhà thờ Notre-Dame nhắc đến kiệt tác của văn hào Victor Hugo tôi đã đọc hồi bé giờ vẫn chưa quên tên nhân vật... Nhưng rồi cái cảm giác mới lạ pha chút lãng mạn ấy mau chóng tan đi, hoàn lại trong đầu một thực tế trần trụi: làm sao để tồn tại, không phải một tháng hay một năm, mà chắc phải nhiều năm ngoại trừ số học bổng ít ỏi ban đầu không có nguồn tài trợ, hay chỗ dựa nào khác nơi đất khách quê người?

        Mười năm, nước Pháp kể từ kết thúc Thế chiến thứ hai bắt đầu hồi phục trở lại thành nước công nghiệp phát triển, còn chủ nghĩa thực dân kiểu cũ mà họ đã thực thi bao năm ở nước Pháp hải ngoại thì đang đổ vỡ theo hiệu ứng quân cờ Domino không gì có thể cứu vãn. Những người dân Pháp tôi gặp đều tỏ ra mến khách và tốt bụng, bao chính thể đã đổ, họ đã đi bầu cho bao đời tổng thống với sự kiên nhẫn chờ đợi, hy vọng để rồi lại thất vọng, tôi chợt nghĩ đến câu ngạn ngữ của dân mình “Quan nhất thời dân vạn đại”. Những năm đầu thập niên 50 thế kỷ XX, cuộc sống của đa phần Việt kiều ở đây đều nghèo nàn, bị o ép trăm bề. số đông Việt kiều sau chiến tranh Đông Dương dồn cả về thị trấn Noyant d’Allier, một vùng mỏ than đã hoang hóa. số sinh viên du học từ Sài Gòn như tôi, trừ một số con em những gia đình thật khá giả, còn hầu hết túng bấn, vừa làm vừa học. Có gia đình gửi con đi du học tụ túc nhờ chủ yếu vào việc đổi tiền. Hàng tháng mỗi người được chuyển một số tiền nhất định, có những nhà huy động cả gia đình họ hàng gửi hộ tiền cho nhà giàu bằng bưu phiếu để được trả hoa hồng và dùng số tiền đó cho con du học. Du học bằng mọi giá vì muốn được hấp thu một nền học vấn tiên tiến, mai này hồi hương nhờ học vấn ấy mà trở nên có vai vế trong xã hội, có tiền của, chức tước vinh thân phì gia. Chỉ tôi du học vì một cái đích hoàn toàn khác, mà không thể sẻ chia với bất kỳ ai.

        Bọn chúng tôi ngày mới đến xứ người, thân cô thế cô phải co cụm, che chở, đùm bọc nhau để cùng tồn tại. Thường thì bốn, năm đứa thuê chung một phòng cho đỡ tiền. Chỗ ở ẩm thấp, hôi hám và hay bị mất nước, nhiều khi một tuần mới được tắm gội một lần. Có cậu không sắm nổi đồng hồ đeo tay, đến lớp phải mang theo trong cặp cái đồng hồ báo thức to bằng cái bát. Có cậu mỗi bộ cánh, tối ở trần vì áo giặt phơi cho kịp khô sáng mai đến lớp. Tôi thì được cậu bạn thải cho cái áo veston hơi dài, người anh họ bên vợ đưa đôi giày đinh da bò rộng như cái thuyền, còn cái mũ vải nhầu nhĩ mua ở hiệu đồ cũ bán như cho, tất cả đều là dùng tạm, lâu nay trang phục đối với tôi có thành vấn đề gì đâu, cốt giữ ấm trong mùa đông tuyết rơi. Nhưng ăn uống kham khổ, điều kiện sống kém vệ sinh thì cái hại là nhỡn tiền, nhiều sinh viên bị nhiễm lao. Phổi tôi vốn yếu, mới sang được một thời gian ngắn đã có dấu hiệu lao tái phát, thế là bọn tôi cứ thay phiên nhau đi dưỡng đường vừa điều trị vừa học. Lần ấy tôi đến dưỡng đường Sceaux ở ngoại ô Nam Paris gặp một chàng trai gầy gò, dong dỏng cao, mái tóc đen dày, gương mặt thanh tú, lông mày rậm, đôi mắt sáng. Vừa gặp anh ta xởi lởi giơ tay bắt trước, chào hỏi:

        - Chắc anh mới từ Sài Gòn sang?

        Gặp đồng hương cùng trang lứa quả là mừng. Chúng tôi mau chóng làm quen. Anh tên Bùi Trọng Liễu, kém tôi hai tuổi, quê Yên Mô, Ninh Bình, cùng người anh ruột sang đây du học đã được 5 năm. Anh vốn cậu ấm con quan. Cha anh từng là tuần phủ Thái Nguyên, rồi tuần phủ Phúc Yên, sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 có liên hệ với phong trào của Việt Minh song ông không chịu được khổ “dinh-tê” về thành, gia đình sống tằn tiệm bằng số vốn tích cóp hồi làm quan. Chiến dịch Biên giới 1950 nổ ra, Việt Minh thắng lớn chấn động đến Hà Nội, ông Tuần sợ, cho hai con “sơ tán” sang Pháp. Để tiết kiệm tiền không đi bằng phi cơ mà tầu thủy, hai anh em lênh đênh cả tháng trên biển. Bùi Trọng Liễu còn bảo, ở nhà chưa học xong tú tài, lo nhất môn văn học Pháp, bốn tuần trên tầu Athos II từ cảng Sài Gòn sang cảng Marseille là bốn tuần khổ học, tranh thủ nhồi nhét thêm chút vốn liếng tiếng Tây, trên tay lúc nào cũng kè kè cuốn tự vị Pháp - Việt của Nguyễn Văn Khôn. Đến Paris, gặp đúng vào mùa đông rét mướt, thể lực yếu, ăn thiếu chất nên bị nhiễm lao ngay, phải mấy năm liên miên qua hết dưỡng đường này đến dưỡng đường khác. Anh cười: Trong cái rủi có cái may. Cuối năm 1950 ốm quá phải bỏ học, chuyển sang điều trị tích cực ở dưỡng đường Aire-sur-lAdour miền Tây nam, thì gặp chỗ ăn ở tốt, lại được bảo hiểm xã hội tài trợ không phải trả tiền, tự do học theo ý muốn, chớp thời cơ mình thi đậu tú tài. Rồi năm sau vào đại học, vẫn quặt quẹo, toàn tiêm Streptomycine ù tai, giảm trí nhớ. May mà ở nhà mình đã có cái căn bản, tiếp thu tốt các môn tự nhiên, vẫn trả chứng chỉ từng khóa học đều đặn...

        Giờ vào dưỡng dường này là khi anh sắp tốt nghiệp đại học. Chúng tôi hợp nhau trước hết vì đều lấy môn toán làm sở trường và đều có ước mơ học lên, cả hai đã nghĩ xa đến việc giành cho được tấm bằng tiến sĩ chuyên ngành (Doctorat 3eme cycle), rồi tiến sĩ nhà nước (Docteur d Etat) về toán trong vòng sáu, bảy năm tới.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:18:46 pm
 
*

*       *

        Đầu năm 1956 vợ tôi sang Paris. Nàng đã kịp học nghề y tá và đã xin được việc làm tại một bệnh viện ở vùng Antony. Cuối năm đó chúng tôi có con trai, đặt tên Nguyễn Hà.

        Trường đầu tiên tôi được học bổng là Khí tượng thủy văn thuộc Bộ Hàng không Pháp, sau 3 năm (1955-1958) tôi có bằng. Tôi đăng ký học trường Hải công thuộc Bộ Hải quân (1960-1963); lại học tiếp trường Viễn thông thuộc Bộ Viễn thông (1963-1965). Các bằng kỹ sư của tôi đều hạng ưu. Trong khoảng thời gian ấy, tôi vẫn dành cho nghiên cứu, thử sức mình. Học xong trường Khí tượng thủy văn, tôi đăng ký ở Viện Đại học Paris đề tài tiến sĩ chuyên ngành về Địa vật lý và hoàn thành học vị này cùng năm với lấy bằng kỹ sư hải công. Năm 1965 tôi đăng ký tiếp đề tài tiến sĩ nhà nước lĩnh vực toán đang là thời thượng lúc đó, thuộc ngành Topo và hình học vi phân: về không gian phân thớ và thác triển (Sur les espacas fibrés et les prolongements), dưới sự hướng dẫn của giáo sư Charles Ehresmann ở Đại học Sorbonne. Năm 1963 lấy bằng kỹ sư viễn thông, năm đó cũng bảo vệ thành công luận văn tiến sĩ nhà nước về toán. Rồi tôi được làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Poitiers và Brest. Trong năm 1965-1966 là thành viên của Viện nghiên cứu khoa học cao cấp IHES có trụ sở ở Bures-sur-Yvette ngoại ô Paris.

        Có lần Bùi Trọng Liễu hỏi tôi: Học gì khiếp thế? Tôi trả lời tỉnh queo, dân mình lạc hậu, cá nhân mình có cố “rặn” thêm vài định lý, vài bài báo khoa học cũng chẳng có ích gì thực sự, chi bằng nhập tâm thêm môn mới rồi đây mang về nước sẽ giúp ích hơn cho đồng bào. Vậy là trong vòng 10 năm ở Pháp tôi cắm cúi học một lèo, không ngừng nghỉ và đã đạt được nhiều bằng cấp, cái vỏ bọc như vậy cũng đã đủ “dầy” rồi! Nhưng với tôi, học không chỉ vì “cái vỏ bọc”, mà còn là niềm ham mê bản năng, muốn thu nạp thật nhiều kiến thức dùng đến cho mai này như lời căn dặn cuối cùng của cha tôi.

        Bùi Trọng Liễu bảo vệ tiến sĩ nhà nước trước tôi một năm, về lĩnh vực toán Xác suất. Nhà tôi và nhà anh đều ở vùng ngoại ô, cách nhau có vài cây số, anh lấy vợ Pháp, về sau cũng có học vị tiến sĩ toán và có hai con trai. Anh dạy ở Lille cách Thủ đô 200 km, còn tôi dạy ở Brest cách những 600 km. Giáo sư đại học chỉ dạy 3 giờ một tuần và hướng dẫn vài ba nghiên cứu sinh mà họ cũng là phụ giảng của mình ở đại học địa phương. Các ngành lý, hóa, sinh còn có phòng thí nghiệm, phải chuẩn bị mất khá nhiều thì giờ, còn ngành toán của chúng tôi chỉ cần cây bút, tờ giấy, nên đến đâu dạy có thể vào cuộc ngay, “đánh nhanh, rút nhanh”. Vì thế sinh viên đặt cho cái tên “giáo sư vù” (turbo prof).

        Đã học phải dốc hết sức lực để đạt kết quả cao nhất, không chấp nhận sự lười nhác, hời hợt. Có thể vì vậy mà tôi rất ít khi hào phóng điểm với sinh viên, cứ đến giờ của tôi là họ sợ, sợ bị gọi lên bảng, sợ bị xơi “ngỗng”. Có lần ở Đại học Rennes tôi đánh trượt tất, nhà trường đề nghị chấm lại, tôi vẫn giữ nguyên điểm ban đầu, cuối cùng trường phải nhờ giáo sư khác đến chấm để vớt điểm cho một số sinh viên. Bùi Trọng Liễu có tính cẩn trọng bẩm sinh. Giải thích điều gì với người khác anh cũng sợ người nghe không hiểu ý mình nên nói đi nói lại; với một bài báo anh viết nhiều khi chú thích còn dài hơn nội dung chính. Anh bao giờ cũng soạn giáo án nghiêm chỉnh, đầy đủ trước khi lên lớp. Riêng việc lên bục giảng tôi thường ngược với anh, do đã thuộc làu nội dung nên coi nhẹ việc soạn bài. Thực ra tôi luôn có ý thức luyện trí nhớ, đó còn như một phản xạ tự nhiên của một người khi đã làm cái nghề mà rồi đây suốt đời phải giấu kín bưng như tôi. Đặt giả thiết, mai này cần ghi nhớ một bản kế hoạch quân sự tuyệt mật của địch mà không có phương tiện chụp ảnh tức thời, thì trí nhớ sẽ là công cụ duy nhất hữu hiệu giúp tái hiện tài liệu sau đó để gửi về cho trung tâm xử lý. Các cuộc trò chuyện với những nhân vật có vai vế, nhiều thông tin tản mác, phải có trí nhớ chọn lọc được những thông tin cần nhất, tin cậy nhất. Muốn trí nhớ đạt độ tin cậy cao, phải luyện hàng ngày, luyện liên tục. Thuộc làu bài giảng là cách luyện trí nhớ thiết thực. Nhất cử lưỡng tiện. Lên lớp không cần giáo án, cũng còn do tôi ảnh hưởng của một ông thầy: Giáo sư Choquet, một trong các tổ sư về Topo. Ông là một tài năng toán học rực rỡ của nước Pháp vào giữa thế kỷ XX. Bạn cùng lớp là Laurent Schwartz, bao giờ ông đứng nhất lớp, Schwartz cũng nhì, song Schwartz lại đoạt Huy chương Fields danh giá vào năm 1950 về Lý thuyết các hàm suy rộng, còn ông thì không. Ông tay không lên giảng đường, một tay đút túi quần, tay cầm phấn, thao thao bất tuyệt giảng cho đến khi hết giờ, sinh viên cứ há hốc mồm ngồi nghe. Tôi cũng lên bục giảng gần giống thế. Vì tác phong tài tử này mà tôi có nhiều giai thoại. Nhưng tôi không hoàn toàn thành công được như thầy Choquet, cũng có bận bị “khớp”, giảng bài lộn, không tìm ra đầu đuôi, phải khất sinh viên lần sau giảng lại.

*

*       *

        Ngày đó, những “tiền bối” sang Pháp làm rạng danh cho người Việt Nam về trí tuệ toán học, có thể kể tên các vị: Lê Văn Thiêm, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu... Họ đều thuộc thế hệ cha chú tôi cả. Khi tôi đến Paris thì giáo sư Lê Văn Thiêm đã về nước tham gia kháng chiến được 6 năm rồi, ông vẫn là thần tượng của bao sinh viên trẻ như tôi. ông là người Việt Nam đầu tiên được nhận học vị tiến sĩ nhà nước về toán ở Pháp (năm 1948); cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành giáo sư toán học tại một trường đại học lớn của châu Âu (Đại học Zurich, Thụy Sĩ). Công trình của ông thuộc đỉnh cao của toán học đương thời. Ông quan tâm đến Lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình của nhà toán học Phần Lan nổi tiếng Nevanlina và ông đã chứng tỏ một bộ óc kiệt xuất khi đưa ra lời giải cho một bài toán khó đã tồn tại nhiều năm: “Bài toán ngược của lý thuyết Nevanlina”. Thành tựu lớn ấy ông đạt được khi còn rất trẻ, một tương lai khoa học rực rỡ đang chờ đón ở phía trước. Vậy mà...

        Nghĩ về ông, tôi còn thấm thìa hơn một bài học về cách hành xử của người trí thức chân chính khi ông dứt khoát rời bỏ công danh, sự nghiệp để về bưng biền chiến đấu: đặt tình yêu Tổ quốc lên trên tất cả!

        Dầu say mê với toán học và cũng có thể tôi sẽ còn tiến hơn nữa trên con đường khám phá khoa học, song noi theo giáo sư Lê Văn Thiêm, trong lòng tôi lúc nào cũng canh cánh nghĩ tới cái ngày sẽ được nhận nhiệm vụ trở về.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:20:42 pm

NHỮNG NGƯỜI XUNG QUANH

        Việt kiều ở Paris ngày đó chủ yếu nằm trong hai phe: thân chế độ Sài Gòn và ủng hộ Hà Nội. Cả hai phe đều ứng xử với nhau một cách cực đoan, nguyên tắc “ba không”: không cùng chơi, không cùng học, không cùng ăn. Tất nhiên, tôi chủ ý tránh cả hai. Trong con mắt của nhiều Việt kiều tôi là cái anh gàn dở chỉ biết vùi đầu vào sách vở, chẳng có niềm ham mê gì ngoài toán học, ăn mặc thì lôi thôi lếch thếch. Tôi rất ít bạn, hầu như cô độc giữa chốn náo nhiệt phồn hoa. Vào năm 1960, Nikita Khruschev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lên nắm quyền ở Moscow, công khai bài xích Staline và ông trở thành biểu tượng của “Chủ nghĩa xét lại hiện đại”. Ông có chuyến công du Pháp. Đôi khi tôi cũng không kiềm chế được bản thân, lại lộ ra cái thói hay chọc ghẹo bạn bè có từ hồi bé. Lần ấy, tôi cố tình phiên âm “Khruschev” trệch đi thành “Cu-treo” và hỏi phe thân miền Bắc: Cu-treo đến Paris, Việt Minh có đem cờ đi đón không? Không ngờ “giễu chơi” vậy mà làm họ tức khí, họp ban chấp hành để đánh giá quan điểm chính trị của anh gàn Nguyễn Đình Ngọc. Chỉ có hai ý kiến bảo lưu, còn lại đánh giá tôi “phản động”, mà phản động có cỡ vì thấy anh ta từng nghiên cứu một cách hệ thống, nghiêm túc bộ Tư bản của Karl Marx; còn ý kiến bảo lưu thì nói chưa bao giờ thấy anh ta đi lại với phe thân ngụy quyền Sài Gòn.

        Một lần Bùi Trọng Liễu hỏi: Sao anh tham gia hội ông Quân mà không tham gia hội ông Quế? Ông Quân bảo vệ tiến sĩ nhà nước trước ở Đại học Paris, còn ông Quế là đồng nghiệp với anh Liễu ở Đại học Lille. Ông Quân lập ra Hội Khoa học và văn hóa cho Việt Nam, ông Quế lập Hội Sinh viên khoa học và kỹ thuật Việt Nam tại Pháp. Vợ ông Quân là em gái Phan Khắc Hy, Đại sứ của chính quyền Diệm tại Pháp, có lẽ vì thế mà ông thân chính quyền Sài Gòn và Việt kiều thường gọi ai tham gia hội của ông ta là phái hữu, còn hội ông Quế được coi là phái tả. Thực ra anh Liễu cũng chẳng theo phái nào, song thâm tâm không ưa ông Quân nhiều hơn, anh không khoái khi thấy một người bạn của mình lại chơi với “phái hữu”. Tôi khó mà giải thích cho anh hiểu, chỉ còn cách đánh bài lảng. Tôi tỏ ra hơi thiên “hữu”, muốn “cái vỏ bọc” tốt hơn nữa mà thôi.

        Vì bị tiếng “phái hữu” mà mùa hè năm ấy, vợ con tôi đi dự trại hè do phong trào Việt kiều Pháp tổ chức, chẳng may vào dịp đó có mấy sinh viên du học Pháp bị chính quyền Diệm cắt kinh phí, nhiều người nghi tôi “chỉ điểm cho địch”.

*

*       *

        Khi tôi đến Paris đã được nghe bà con Việt kiều kể nhiều giai thoại về bà Hoàng Thị Thế, người con gái út của cụ Hoàng Hoa Thám. Cụ Hoàng Hoa Thám đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân ở núi rừng Yên Thế, bền bỉ chống Pháp suốt gần 30 năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đồn điền Phồn Xương thất thủ, bà Thế bị bắt sang Pháp làm con nuôi khi mới 8 tuổi và bà từng là minh tinh màn bạc ở Anh, rồi về già làm nghề bói toán. Mấy lần nấn ná vì bận, lần này cố dứt ra để đến thăm bà. Tôi đến vì tò mò. Bà như người của thế kỷ trước còn sót lại, ai đã ở Paris chẳng muốn diện kiến một lần con gái của vị anh hùng dân tộc. Lúc đó bà ngoài sáu mươi tuổi, đã chia tay người chồng Pháp, ở một mình trong một căn hộ xềnh xoàng trong một hẻm nội ô.

        Bà dáng cao, đi lại nhanh nhẹn. Nước da trắng, gương mặt bà đã có nhiều nếp nhăn, song vẫn còn lưu lại chút nhan sắc của một thời minh tinh màn bạc. Khi nghe tôi xưng danh, bà nở nụ cười tươi tắn, hiền hậu bảo:

        - Nom mặt thì biết, em thông minh, lanh lợi lắm. Dân An Nam mình nhiều người thông minh tài trí lắm chứ...

        Bà đã xa nước hơn nửa thế kỷ mà giọng không hề lơ lớ, nói tiếng Việt rất chuẩn.

        - Việt Nam chứ - Tôi chữa lại.

        Bà cười, tự gọi mình “dân Annamese” và cứ nhất quyết xưng chị, gọi tôi là em dù tôi chỉ đáng tuổi con bà, cháu bà. Bà xua tay bảo gọi “chị” để chị được trẻ. Tôi phải chiều lòng bà.

        - Thưa chị, - Tôi nói - mộ tiếng chị đã lâu hôm nay em mới được gặp. Cụ Hoàng Hoa Thám xưa là một vị anh hùng, trong cuốn sách giáo khoa lịch sử bậc trung học, người Pháp không ưa gì cụ mà vẫn phải nhắc tới cuộc khởi nghĩa do cụ lãnh đạo, tuy gọi “bọn giặc cỏ ngoan cố”.

        - Phải rồi. - Bà gật đầu nheo đôi mắt tinh anh nhìn tôi tiếp lời - Chị lúc nào cũng cảm thấy tự hào khi nhắc đến cha mẹ. Mới rồi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh tiếng mời con gái của anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám về thăm quê hương và có thể được định cư ở Việt Nam. Có lẽ chị sẽ thu xếp hồi hương, em bảo có nên không?


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:21:12 pm

        Câu hỏi bất ngờ của bà làm tôi lúng túng, rồi tôi gật đầu đồng tình. Bà rót nước mời, nói tiếp:

        - Thực ra chị đã gặp Hồ Chủ tịch từ cách đây hơn ba mươi năm rồi. Cuối năm 1909 chị bị bắt đưa sang Pháp. Lần ấy vào đầu năm 1920, chị thăm Bảo tàng Louvre, gặp một người Việt Nam trạc ngoài ba mươi tuổi, dong dỏng cao, hơi gày, khuôn mặt sáng sủa, đặc biệt có đôi mắt to sáng. Người đó chủ động đến gần chị và nhẹ nhàng hỏi: “Cô Thế ơi, cô có biết cha mẹ mình là ai không?” Chị lúc đó chưa đầy hai mươi tuổi, lại mới tham gia đóng bộ phim đầu của điện ảnh Anh, tuy là vai phụ nhưng đã rất hãnh diện rồi. Nghe hỏi thế, chị hơi giật mình, nhưng kịp trấn tĩnh, trả lời: “Chẳng lẽ tôi lại không biết cha mẹ tôi là ai ư!”. Người đó cười, nói tiếp: “Người Việt Nam nào có lòng yêu nước thương nòi đều khâm phục tinh thần quả cảm, kiên cường của cụ Đề Thám và bà Ba Cẩn, thưa cô. ..” Hai bên làm quen, người đó xưng tên là Nguyễn Ái Quốc, thợ ảnh. ô, chị nhớ rồi, một con người nổi tiếng! Năm ngoái, anh đã có hành động dũng cảm đưa bản “Yêu sách của dân An Nam” tới lâu đài Versailles, nơi các đồng minh thắng trận trong Thế chiến thứ nhất đang họp về một hiệp định hòa bình với phe thua trận; còn mãi về sau này chị mới biết Hồ Chủ tịch chính là anh Nguyễn Ái Quốc mình đã gặp ngày ấy.

        Nói rồi bà dừng lại, hỏi tôi, đến đây thích nghe kể về cha mẹ chị hay xem bói? Tôi cười trả lời:

        - Em muốn biết về giờ phút cuối cùng của cụ Hoàng Hoa Thám và bà Ba cẩn, thực ra chưa có sách nào viết cụ thể về giai đoạn cuối đời của hai người cả.

        - Chuyện của cha mẹ chị dài lắm, hay để khi khác vậy - Bà nói - Chị đang định viết một cuốn hồi ký đấy. Mình còn minh mẫn, có những chuyện trong nhà chỉ mình biết, nếu không nói ra hậu thế không biết thì uổng lắm. Nhưng có lẽ để khi về nước chị sẽ viết, Paris nhộn nhạo không còn tâm trí nào mà viết nữa. Cũng có mấy người đến đây hỏi như em, nhưng chị đều từ chối vì nhìn mặt họ gian giảo, không biết chừng đến giăng bẫy mình. Nhưng với em thì chị kể, người như em không thể là người xấu. Linh cảm của chị không mấy khi nhầm lẫn đâu. Chị làm được nghề bói toán cũng là do trời cho có nhiều linh cảm.

        Cha chị họ Trương, không phải họ Hoàng. Trương Văn Thám, người Dị Chế, Tiên Lữ, Hưng Yên, chứ Yên Thế, Bắc Giang chỉ là nơi di cư sau này thôi. Ông nội chị, cụ Trương Văn Thuận trọng nghĩa khinh tài. Chị nhớ có lần hỏi, cha đổi sang họ Hoàng khi nào, thì cha trả lời khi phất cờ khởi nghĩa, đổi họ để về sau ngộ nhỡ thất bại người trong họ tránh khỏi họa tru di. Vậy ngay khi bắt đầu hành sự cha chị đã lường trước thất bại, cũng đúng thôi ngày đó quân Pháp mạnh lắm, súng ống đầy đủ, còn nghĩa quân có gì đâu, giáo mác, hỏa mai, súng kíp ấy mà. Nhưng em nhớ là cha chị tham gia mấy cuộc khởi nghĩa rồi mới đến cuộc khởi nghĩa do mình lãnh đạo. Đầu tiên, cụ tham gia khởi nghĩa với Đại Trận ở Sơn Tây khi mới mười sáu tuổi. Rồi khởi nghĩa của ông lãnh binh Loan ở Bắc Ninh. Năm 1885 cụ theo Cai Kinh lên Lạng Giang, đến khi ông này chết thì thành tướng của Đề Nắm. Đầu năm 1892, Đề Nắm bị thủ hạ Đề Sặt giết, cha chị mới chính thức nắm ngọn cờ khởi nghĩa Yên Thế, trở thành “Hùm xám Yên Thế”...

        Những điều bà kể đều hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, đang hứng thú muốn nghe tiếp thì bà bỗng nheo mắt hóm hỉnh hỏi:

        - Em không muốn chị bói cho thật à? Ai đến đây chẳng thích chị nói tiền vận, hậu vận. Thôi, để khi khác chị sẽ kể tiếp về cha mẹ. Giơ bàn tay đây.

        Song tôi lắc đầu, nghe hết chứ không dở chừng! Bà Thế rộng lượng nhìn tôi bảo, chị biết tính em rồi, dứt khoát, kiên định lắm, người như thế mà làm chính trị là thành công lắm đây. Rồi bà nhẩn nha kể tiếp:

        - Cha chị trong gần 30 năm đã đánh nhiều trận, trận thắng lớn nhất ở thung lũng Hố Chuối cuối năm 1890 và Đồng Hom đầu năm 1892. Còn các năm sau đó đều bị quân Pháp tập trung binh lục truy sát, nhiều phen thoát hiểm trong gang tấc. Cũng có kẻ phản bội như Đề Sặt, bị nghĩa quân kịp thời phát hiện đã trừng trị nghiêm khắc. Thấy chưa thể diệt được thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám, bọn Pháp chủ động giảng hòa vào năm 1894, còn cắt nhượng cho bốn tổng thuộc đất Yên Thế. Cha mẹ chị quá biết tim đen của bọn chúng, nhưng vẫn đồng ý hòa hoãn để có thời gian hưu chiến củng cố lực lượng. Quả nhiên chỉ được nghỉ ngơi có vài tháng Pháp đã bội ước, huy động tổng lực đánh vào đồn điền Phồn Xương, đầu não của nghĩa quân, chúng còn treo thưởng ba mươi nghìn franc cho ai lấy được đầu Hoàng Hoa Thám. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, hai cánh quân của anh Cả Trọng, Cả Huỳnh đều lập được chiến công đầu, quân Pháp bị tổn hao nhiều nên chúng lại xin hòa hoãn lần thứ hai. Thế rồi đến đầu năm 1909 Thống sứ Bắc kỳ huy động 15.000 quân, 400 lính dõng do Đại tá Batay và đại thần Lê Hoan chỉ huy tấn công ồ ạt vào Phồn Xương. Thế địch lớn quá, cha chị vừa đánh vừa rút. Anh Cả Trọng tướng giỏi nhất bị tử trận, chị bị bắt. Chị sang Paris làm con nuôi người ta, mà lòng vẫn để ở quê, ngóng tin nhà. Sau có người kể lại, đến cuối năm ấy lực lượng nghĩa quân hầu như tan rã, cha chị cùng hai người tâm phúc phải trốn lủi ở nhiều nơi. Khi cha chị ẩn náu ở vùng Hố Lày, địch bố trí hai người đến trá hàng, rồi thừa cơ hạ sát cha chị cùng hai thủ hạ. Đó là vào sáng mùng 5 Tết Quý Sửu, 1913...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:21:35 pm

        Bà dừng kể hồi lâu, mắt long lanh nhìn ra xa. Tôi im lặng, không dám khinh động đến cõi lòng đang thương nhớ song thân thời máu lửa oanh liệt, đã phải chết thảm vì đại nghĩa. Có lẽ bà cũng còn chạnh nghĩ về thân phận trôi nổi nơi đất khách quê người của mình. Rồi bà như đã sực tỉnh trở về với thực tại, mắt lại nheo cười nhìn tôi bảo, chị kể vắn tắt vậy thôi, em đã vừa ý chưa. Giờ có thích chị đoán cho tiền vận, hậu vận không?

        Tôi vẫn kiên trì, nhắc: Chị chưa kể đến chuyện của bà Ba cẩn. Bà Thế gật đầu ngay:

        - Phải rồi, phải kể thêm về mẹ chị. Cụ cũng oanh liệt như bất kỳ liệt nữ nào trên đất Việt. Cha chị gặp mẹ chị ở làng Vạn Vân. Mẹ chị xinh đẹp, tên cúng cơm Nguyễn Thị Nhu, khi lấy cha chị do ông đã có hai bà, nên mọi người thường gọi là bà Ba cẩn. Mẹ chị cùng ba con trai của bà cả, bà hai các anh Cả Dinh, Cả Trọng, Cả Huỳnh họp thành bộ tham mưu đắc lực bày mưu tính kế cho cha chị. Bà còn kiêm nhiệm việc hậu cần cho nghĩa quân. Cái năm Pháp đánh vào Yên Thế, Cả Trọng chết, chị bị bắt, mẹ chị đang định thoát khỏi vòng vây thì bị trung đội của Coucron đi tuần bắt được ở gần chợ Gồ, Yên Thế. về sau chị nghe nói, trên đường đầy sang Guyane, mẹ chị thừa lúc quân canh sơ ý đã nhảy xuống biển tự tử. Nhằm ngày 25-12-1910.

        Bà dừng kể hồi lâu. Rồi lại nhìn tôi, ý như sẽ ban cho cơ hội lần cuối: có thích xem tiền vận, hậu vận không? Quả tôi đã từng nghe đồn đại về tài bói toán của bà, đến nỗi nhiều chính khách Pháp và cả chính khách các nước khác đến Paris mộ tiếng, thường tìm đến nhờ bà chỉ bảo sao cho đường hoạn lộ mà họ đang theo đuổi được hanh thông. Bà đã nói vậy, tôi cũng phải thuận theo.

        Tôi giơ bàn tay trái, bà ghé sát mắt hồi lâu xem kỹ những đường chỉ trong lòng bàn tay, rồi bảo chuyển tay phải. Chưa hết, bà lấy trong ngăn kéo bàn ra một mẩu giấy nhỏ hình chữ nhật đưa tôi nói:

        - Em ghi tên họ vào. Viết toàn chữ hoa thôi nhé.

        Tôi ngỡ ngàng, một kiểu bói toán gì nữa đây? Song thấy không tiện hỏi, tôi ghi và đưa trả lại bà. Bà nhìn mẩu giấy, chỉ tay vào từng chữ, lẩm nhẩm đếm, rồi lấy bút khoanh tròn con số “5” bên cạnh họ tên tôi. Bà nói:

        - Người số 5 thiên về công việc đầu óc và có chí tiến thủ cao, kiểu gì sau này em cũng làm nên và là người nổi tiếng. Đường sinh đạo và trí đạo của em khá đẹp song không tránh khỏi những cù lao cản trở, để đi đến thành công sẽ phải trải qua nhiều gian truân, vất vả, thậm chí có lúc nguy hiểm đến tính mạng. Chính nhờ hồng phúc của tổ phụ mà biến nguy thành an, bản mệnh vẫn vững. Nhưng em vất vả về đường vợ con, thể nào cũng phải hai lần đò và người con của em dẫu là đứa hiếu đễ cũng không thể gần gũi em lúc trái nắng trở trời. Em hiếm con và sẽ có con nuôi. Chị nói cụ thể thêm nhé, những tuổi gánh hạn là: 15, 38, 43, 53, 69, 75. Qua được 75 thì thọ đến 80.

        Chị ghi những ý chính vào đây nhé.

        Nói rồi bà lấy mẩu giấy ghi lại những điều vừa nói, rồi ký “Hoàng Thị Thế” thật chân phương, mềm mại. Bà đưa mẩu giấy cho tôi, bảo:

        - Em giữ lấy làm kỷ niệm.

        Đầu năm 1965 tôi nghe tin bà đã hồi hương. Thời kỳ mới về nước bà lên Yên Thế làm việc và đã viết một cuốn hồi ký về cha mẹ. Sau ngày nước nhà thống nhất, tôi ra Hà Nội và tìm gặp lại bà tại khu tập thể ngõ Văn Chương, thuộc quận Đống Đa, lúc đó bà đã ngoài 80 tuổi, minh mẫn, còn nhớ cuộc gặp mấy chục năm trước ở Paris và vẫn xưng “chị”, gọi tôi là “em”. Bà qua đời tại Bệnh viện Việt Xô mùa hè năm 1992, thọ 91 tuổi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:22:21 pm

ALEXANDER...

        Bùi Trọng Liễu bảo tôi: Trong giới học thuật chia ra ba hạng, người bình thường, người tài và thiên tài. Người tài làm được cái mà người bình thường không làm được; còn thiên tài làm cái mà người tài không làm được. Loại như tôi và anh cùng lắm là có tài, hiện giờ ở đất Paris này có Alexander Grothendieck là thiên tài.

        Tôi đồng ý với anh.

        Khi tôi là thành viên của Viện IHES thì ở đây đã có một người rất nổi tiếng không chỉ trong giới toán học Pháp mà trên khắp thế giới. Đó là Alexander, người Pháp gốc Do Thái, hon tôi bốn tuổi. Nhờ anh mà IHES nổi tiếng có trường phái toán học mới thuộc lĩnh vực Hình học đại số. Trước đây ngành toán này đã có tiếng tăm trong giới nhờ những công trình của các nhà toán học Ý như Frobenius, Castelnuovo... Đến Alexander, anh “đại số hóa” những tư tưởng hình học sâu sắc của người Ý, đưa Hình học đại số lên một tầm cao mới. Các định lý anh lần lượt công bố những năm gần đây là sự hợp nhất của nhiều ngành: hình học, số học, tô pô và giải tích phức. Đề tài tiến sĩ nhà nước của tôi chỉ là một ý tưởng triển khai từ ý tưởng lớn của anh. Thầy hướng dẫn luận văn tiến sĩ cho tôi, giáo sư Ehresmann ở Đại học Sorbonne cũng là một tài năng lớn, mà có lần bảo: Đến giờ thì Alexander bạn anh đã là thầy tôi rồi.

        Nhà chúng tôi ở gần nhau. Nhiều buổi cả hai nhà cùng đi cắm trại ngủ trong rừng, picnic hay đi tắm biển. Nguyệt Tỉnh với vợ anh khá thân thiết, thường cùng “biểu diễn” khả năng nội trợ mỗi khi hai nhà đi chung. Nguyễn Hà kém con trai anh dăm tuổi, có gene giỏi toán của bố vẫn thích giải những bài toán khó giúp con trai tôi. Alexander cao lớn, trán lồng lộng, đôi mắt sáng, bộ râu quai nón đen nhánh nom rất đàn ông. Anh đeo cặp kính trắng, miệng cười hồn hậu, ngoài đời luôn là một người nồng nhiệt và tốt bụng. Mỗi khi có dịp chúng tôi thường ngồi hàng giờ nói về sự phát triển của toán học, đôi lúc cũng có những tranh luận thời cuộc và về quan niệm sống của mỗi người.

        Anh vừa dự một hội nghị toán học về, có vẻ không vui, tôi hỏi chuyện gì thì giọng anh pha chút giễu cợt:

        - Cậu bảo thế này có hề không. Xemina về Đại số đồng điều mà có sự bảo trợ của khối Bắc Đại Tây Dưong (NATO). Mình báo cáo viên chính, ban đầu có biết NATO là ai đâu, mới hỏi ông chủ tọa, nghe ông giải thích mình giãy lên. Toán học không được dính chính trị, không liên can đến súng ống, chiến tranh. Mình nhất định không chịu để NATO có danh nghĩa, dù chỉ bảo trợ hội nghị. Hoặc là Alexander hoặc NATO, cuối cùng họ phải nhượng bộ, chọn mình.

        Hóa ra là vậy. Bạn tôi nhà bác học trong toán học, thông minh tuyệt đỉnh, nhưng việc đời lại có lúc “ngây tho”. Không biết có NATO hiện diện trên đời này và cũng khăng khăng tách toán học ra khỏi thời cuộc, chính trường. Tôi bảo anh:

        - Alexander, anh đã đúng. Nhưng mình thì không thể...

        Tôi định nói: không thể làm theo cái cách của anh mặc dù cả hai cùng đồng quan điểm. Anh nghiêm nghị nhìn tôi, bảo:

        - Ngọc. Cậu khác mình ở chỗ đang cố tình vượt ngưỡng sống đấy.

        Quả tôi chưa hiểu lắm cái từ anh dùng: ngưỡng sống. Đôi mắt long lanh qua cặp kính của anh tiếp tục chiếu dọi vào tôi:

        - Mình quan niệm cuộc đời mỗi người đều đến một cái ngưỡng nhất định để làm việc, cống hiến được nhiều nhất - Anh nói tiếp - Giới hạn sống đó của mỗi người nếu ai cứ cố tình vượt ngưỡng, tưởng rằng sẽ làm được nhiều hơn, thực ra lại rơi vào tình trạng mất cân bằng, không còn bản ngã nữa, khủng hoảng tâm hồn là khó tránh, dẫn theo bao hệ lụy. Nguyễn Đình Ngọc là một tài năng, mình biết, song hình như ngoài toán học, cậu còn có ý định làm một cái gì đấy ghê gớm lắm, mà cái đó không được trời phú như với toán học đâu.

        Tôi giật mình: lại một thầy bói! Nhưng tôi hiểu anh không hề có ý thức về điều ấy, anh ghét cay ghét đắng mọi liên quan đến cái gọi là mê tín dị đoan. Anh là nhà duy vật cổ sơ đúng theo nghĩa đen của nó. Vậy điều anh vừa nói một đánh giá tường minh hay mù mờ về con người tôi? Rồi tôi tự trả lời: anh là vậy, hồn hậu, chân thành với cuộc đời, làm sao anh có thể hiểu được cái gọi là “ngưỡng sống” như quan niệm của anh về những con người có hoàn cảnh khác biệt như tôi.

        - Nếu nói vậy - Tôi bảo - Alexander, có thể chính anh cũng bắt đầu vượt ngưỡng sống của mình đấy. Dù sao, anh đã nổi danh thiên hạ rồi, mọi việc anh làm đều được mọi người để ý và tán thưởng cả.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:23:08 pm

        Alexander cười, cái cười thật thoải mái, sự nghiêm nghị ban nãy dường như đã tan biến. Anh nói:

        - Nhiều người cũng có băn khoăn về mình. Nhưng mình không tin đã vưọt ngưỡng. Mình luôn giữ sự cân bằng. Một cuốn sách nói về triết học của nước Trung Hoa cổ, có câu khá hay: Người quân tử trước hết yêu mình rồi mới yêu người. Mình bao giờ cũng sống cho riêng mình, đúng mình. Làm toán, vì bản chất mình phải như vậy. Nó giống như một trò chơi, còn hứng thì còn chơi, hết hứng sẽ hết chơi. Bao giờ đến ngưỡng cho điều ấy, mình cũng không thể lường trước, dù rằng rất có thể mình sẽ từ giã toán học trong nay mai. Ai mà biết được khi nào thì cạn ý tưởng sáng tạo? Giá cậu cứ toàn tâm toàn ý cho toán học thì cậu cũng sẽ là một nhà toán học nổi tiếng, còn làm được nhiều hơn cái đã có. Song mình cảm thấy cậu luôn phân tâm, luôn tự mâu thuẫn với chính mình, luôn muốn vượt ngưỡng. Dường như có hai con người cùng tồn tại trong cậu. Cái ngưỡng sống của cậu bị vi phạm chỉ vì cậu luôn có ý thức vượt qua nó để tự hành xác. Mình muốn nói về sự khổ hạnh, sự kìm nén mọi cảm xúc, sự khước từ hạnh phúc trong con người cậu vì một mục đích gì đó, có thể rất cao cả, cũng có thể rất tầm thường mà một người như cậu đáng ra phải tự đánh giá và điều chỉnh được. Trong một chừng mực nào đó, lối sống và cái cách cậu đối xử với vợ con giống với Albert Einstein.

        - Anh thật hài hước. - Tôi bật cười - Sao lại so tôi với Einstein.

        - Không đùa đâu - Alexander nói tiếp - Này nhé. Ăn mặc đều lôi thôi, bụi bặm như nhau, cậu chỉ không có cái đầu bù xù, cái mũi to đùng của ông ta thôi. Trình độ đãng trí cũng ngang nhau. Còn tính thờ ơ với người thân của mình cả hai giống hệt nhau. Mình nói thế cậu đừng giận nhé.

        Tôi thực sự bất ngờ về nhận định cuối của Alexander. Tôi thờ ơ với người thân? Người thân nhất của tôi giữa chốn này là Nguyệt Tỉnh và con trai, chẳng lẽ tôi thờ ơ với vợ con? Như đọc được ý nghĩ của tôi, anh ta nói tiếp:

        - Thiên tài Einstein của chúng ta đã đối xử với bà vợ đầu Mileva Marie như thế nào cậu biết rồi đấy, lạnh lùng đến độc ác. Hình như ông yêu nhân loại hơn yêu người thân của mình, chẳng có lần ông đã nói thẳng với Mileva: Em đừng mong đợi từ anh các quan hệ thân mật và đừng trách anh về điều đó...

        Từ ngày Nguyệt Tỉnh sang đây, tôi có một tổ ấm, một chốn đi về, đỡ vất vả và đã tập trung tâm trí cho việc học hành. Tôi trở thành giáo sư, có đồng luơng ổn định, có một địa vị nhất định cũng do có nàng giúp sức. Thời gian đầu làm y tá, nàng thật vất vả. Để kiếm đuợc số tiền chẳng nhiều nhặn gì hàng tháng, nàng làm việc như điên, xong ca ở bệnh viện này, lại nhận làm tiếp ca ở một bệnh viện khác. Nàng còn luôn tùng tiệm trong chi tiêu. Hết lòng vì chồng con. Tôi luôn biết ơn nàng vì những điều đó. Song quả là so với hồi còn ở Sài Gòn, sang đây tôi ít quan tâm đuợc đến nàng và con, điều này cũng dễ hiểu, thời khóa biểu học tập dày đặc chẳng có chút kẽ hở nào để vui chơi, để tâm sự. Đến kỳ nghỉ vừa rồi do Hội Việt kiều tổ chức, tôi cũng không thể đi cùng mẹ con nàng. Đêm ấy, tôi đang “ngủ ngồi” trên bàn học thì nàng đến bên từ lúc nào, có lẽ nàng đã đứng nhu thế lâu lắm cho đến khi linh cảm có người đang bên cạnh đã đánh thức, làm tôi choàng tỉnh. Nàng trong bộ đồ ngủ mỏng, xanh xao hao gầy, nhìn tôi với đôi mắt mở to như buồn tủi, như trách cứ. Tôi vội đứng dậy ôm nàng, định hôn, bỗng nàng né và quay ra tìm cái ghế, rồi bảo cùng ngồi xuống. Ngồi sát, tay tôi vòng ôm eo nàng, cằm tôi tì vào vai nàng để má áp vào nhau.

        - Dạo này em hơi gầy - Tôi nói - Hay mai anh đưa đi khám xem có bệnh gì.

        - Em chẳng có bệnh gì cả - Nàng lắc đầu làm mấy lọn tóc buông xõa chập chờn và nói - Nếu có, chỉ là bệnh tưởng thôi.

        - Bệnh tưởng cũng là một loại bệnh thần kinh đấy. cần phải chữa sớm.

        - Khó chữa lắm.

        - Sao vậy?

        - Em những tưởng mình có hạnh phúc, rốt cuộc con số không.

        Tôi cảm thấy ớn lạnh nơi sống lưng. Nàng không có hạnh phúc, có nghĩa tôi là thằng chồng chẳng ra gì! Tôi thì vẫn yêu vẫn trọng nàng, chưa bao giờ cảm thấy mình không hạnh phúc. Thứ hạnh phúc giản đơn, mong manh mà bền chặt. Thứ hạnh phúc có được do lý trí tỉnh táo điều khiển, chế ngự. Rõ ràng đã có sự “lệch pha” nào đó trong quan niệm hạnh phúc mà chính tôi cũng không ngờ tới. Một người vợ xinh đẹp, nhu mì, một cậu con trai khỏe mạnh, thông minh, những tưởng ai có thể hạnh phúc hơn tôi. Vậy mà...

        - Em hiểu anh có những mục đích cao cả - Nàng thủ thỉ bên tai tôi - và dồn mọi tâm trí, nghị lực cho nó. Bởi thế hình như mẹ con em bị thừa ra. Mỗi ngày anh và em gặp nhau, nói với nhau không quá vài chục phút, nhìn lướt mặt nhau, rồi ai có việc người ấy, đến tối anh lại vùi đầu vào sách vở. Nhiều đêm em tỉnh dậy thấy mình nằm một mình trên cái giường rộng mà tủi thân quá, nhưng khi rón rén đi vào đây nhìn thấy anh ngủ ngồi mà thương quá.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:25:01 pm

        - Anh có lỗi với em và con - Tôi nói - Công việc choán hết mọi thì giờ của anh, song lúc nào anh cũng vẫn yêu em, cũng nghĩ về em và con.

        - Điều ấy em quá biết chứ. - Nàng nói và với một cử chỉ âu yếm đưa bàn tay sực vào mớ tóc rối bù đã có những sợi bạc của tôi - Nhưng lúc nào em cũng cảm thấy buồn, thấy cô đon dù có anh bên cạnh. Giá em có được một phần tình yêu mà anh dành cho công việc, cho toán học.

        Chúng tôi cứ ngồi im lặng hồi lâu trong tư thế ấy, rồi nàng nhẹ nhàng gỡ ra, đứng dậy. Chúng tôi ép chặt vào nhau, hôn lên má, lên môi. Chúng tôi khoác tay nhau vào buồng ngủ. Chúng tôi âu yếm nhau đến tận sáng và thiếp đi trong một giấc mơ huyền diệu không dứt cho đến khi choàng tỉnh, mặt trời đã lên cao dọi tia nắng vào nửa giường từ lúc nào.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26229719_170842110312344_4691916055387115318_n.jpg?oh=fc9a8e8d5dede06ff8367244ebc6ed4a&oe=5AE0CF08)
Nguyễn Đình Ngọc (ngồi) cùng vợ (người đứng sau bên phải) và con trai tại Paris (Pháp) năm 1962

        Cuộc sống của gia đình tôi sau đó vẫn diễn ra một cách bằng lặng như vốn có. Khó có thể thay đổi được ý nghĩ của nhau, cũng như nếp sống, nếp nghĩ được hình thành từ bao năm sao một sớm một chiều có thể thay đổi được. Nếu có thật nỗi cô đơn khi sống cạnh nhau, cùng dưới một mái nhà thì quả bất hạnh, bi kịch. Tôi là kẻ vô tâm, kẻ có trái tim gỗ đá. Có thể Alexander đã đúng trên phương diện tình cảm khi so sánh tôi với nhà vật lý thiên tài kia, tôi cũng như ông đã đối xử tệ bạc, nhạt nhẽo với người bạn đời rất mực yêu thưong của mình...

        Tôi hỏi Alexander:

        - Nguyệt Tỉnh đã nói gì với anh?

        Anh nhìn tôi với ánh mắt thật khó tả, như muốn bảo: cậu cần gì phải biết điều ấy nữa; cô ấy chẳng nói gì cả nhưng mình thì cảm thấy điều ấy rất rõ ràng. Và chúng tôi còn ngồi bên nhau thêm lúc nữa, mỗi người đều theo đuổi một ý nghĩ riêng tư nào đó.

        Thế rồi một lần đi dạy về, tôi không thấy Nguyệt Tỉnh và con trai ở nhà, nàng cũng không gọi điện báo trước là đi đâu. Gặp vợ Alexander, chị bảo bị mệt ở nhà, còn bố con anh ấy đã cùng mẹ con Nguyệt Tỉnh đi tham quan thành phố Nimes rồi. Tôi thực sự bất ngờ. Tôi biết Nimes qua sách vở: là thành phố cổ cách Paris hơn 700 km về phía Đông Nam; quê hương của nho, của nhà văn nổi tiếng Alphonse Daudet... Song tôi ở Pháp đã lâu mà cũng chưa từng đến đó. Hành trình quá xa. Vợ Alexander còn nói rằng có lẽ anh ấy chọn Nimes để kết hợp về thăm lại Đại học Montpellier, nơi anh từng học nhiều năm về trước. Nhìn ánh mắt chị lúc đó cũng không được vui vẻ như mọi lần, tôi không muốn hỏi thêm gì nữa. Có lần Alexander đã hồn nhiên bảo với tôi: Nguyệt Tỉnh là người phụ nữ Á Đông tuyệt vời nhất mà mình có may mắn được quen biết đấy. Tất nhiên tôi cũng có thể ca ngợi vợ anh với lời lẽ kiểu như vậy, gọi là đối đáp cho vui, nhưng tôi lại không nói gì.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26731337_170842950312260_6181249536572858255_n.jpg?oh=da1cbbde0ed2abec067ccc6185b3ec50&oe=5AFAD240)
Nguyễn Đình Ngọc năm bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học tại Pháp (1965)


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:25:48 pm
      
        Tình cờ lúc về nhà, tôi tìm thấy một lá thư ngắn với những dòng viết rất tháu của Alexander kẹp trong một cuốn sổ của Nguyệt Tỉnh: “Bỗng dưng anh thấy lòng trống trải và đôi khi hình ảnh người phụ nữ Á Đông nhỏ nhắn, nụ cười hiền nhưng vẫn phảng phất một nỗi buồn nào đó bỗng hiện ra. Trái tim có những lý lẽ riêng, cho dù bộ óc tỉnh táo lúc nào cũng muốn phủ nhận nó. Anh muốn mời em đi du lịch vài ngày ở miền Nam, nơi anh có nhiều kỷ niệm cay cực thời niên thiếu. Xin đừng từ chối!”

        Vài ngày sau, hai mẹ con trở về. Hà tỏ ra rất vui, nó hoa chân múa tay kể những điều tai nghe mắt thấy khi được đến vùng trồng nho và dự lễ hội nho náo hoạt, vui vẻ; về những trò nghịch cát, cưỡi sóng trên biển Địa Trung Hải với anh con nhà bác Alexander; về táo và bơ ngon tuyệt.

        Cậu con còn khoe, biết cả một trại tù binh nữa. Thế giới xung quanh nó đầy rẫy những mới lạ, hứng thú. Nó đã lên muời, gia đình tôi cũng đã ở Paris được 10 năm rồi.

        Nguyệt Tỉnh vẫn tỏ ra bình thản như sau các cuộc đi du hí giữa hai nhà trước đây, cho dù lần này không có tôi và vợ Alexander. Tôi cũng cố giữ vẻ mặt bình thản và tự an ủi: không nên phức tạp hóa mọi chuyện làm gì!

        - Em cũng bất ngờ, ở đấy còn có một trại tập trung thời Đức Quốc xã, giờ thành bảo tàng chiến tranh cho khách tham quan - Nguyệt Tỉnh chậm rãi kể với tôi - Đó là trại Rieucros gần Mende. Chỉ một dãy nhà gạch tường tróc lở, trên mái lợp tôn sóng phủ đầy dây kẽm gai, Alexander bảo, ngày này hai mưoi nhăm năm về trước mẹ và anh bị phát xít Đức bắt trong một cuộc truy đuổi người Do Thái, giam tại đây. Anh đứa trẻ lớn nhất trại và là đứa duy nhất đi học lycée. Trong gió tuyết vẫn đến trường cách đấy năm cây số bằng đôi giày rách sũng nước, bao giờ cũng trở về với đôi bàn chân tê cứng không còn cảm giác gì. Đến năm cuối cuộc chiến tranh mẹ vẫn bị giam, còn anh bị tập trung vào một khu riêng dành cho trẻ tị nạn, luôn phải ẩn náu vì sợ bọn Gestapo truy sát. Vùng Cévennes đầy những người Do Thái ẩn náu và nhiều người sống sót nhờ được dân địa phưong che chở. Alexander bảo, kỷ niệm thời niên thiếu luôn hiện về và gương mặt tiều tụy, hốc hác, tàn tạ của mẹ những ngày cuối đời luôn ám ảnh. Anh căm thù bọn phát xít và hễ nói đến chiến tranh là anh bị dị ứng...

        Chưa bao giờ Alexander kể với tôi những điều đó. Thì ra tuổi thơ của anh cũng giống tuổi thơ tôi từng sống trong sợ hãi dưới mũi súng của những kẻ xâm lược tàn bạo. Chiến tranh đã cướp đi người thân yêu nhất của anh và tôi. Giờ tôi mới hiểu vì sao anh dị ứng với NATO. Sau này, vào năm 1970 khi tôi đã về nước rồi, nhận được thư của Bùi Trọng Liễu mới biết thêm một sự kiện mới diễn ra liên quan đến Alexander, làm bất ngờ giới toán học trong nước và quốc tế. Anh tuyên bố kết thúc sự nghiệp toán học của mình ở tuổi bốn mươi hai đang giai đoạn đỉnh cao tài năng, chỉ vì phản đối người đứng đầu Viện IHES nhận tiền tài trợ của Bộ Quốc phòng Pháp. Nếu không phải Bộ Quốc phòng mà một bộ “dân sự” nào đó tài trợ thì hẳn anh đã không rời IHES và đi ở ẩn. Trước sau anh vẫn là con người nhất quán yêu hòa bình và căm ghét tận xương tủy những gì liên quan đến chiến tranh, chết chóc. Cách hành xử ấy có phần cực đoan gây sốc với nhiều người, nhưng tôi có thể hiểu được, thông cảm được. Tự lúc nào, chính anh cũng đã vượt ngưỡng sống của mình. Có thể rút ra một hệ quả từ “định lý” của anh: bản ngã mỗi người không phải là bất biến theo thời gian, nó cũng có thể bị vi phạm.

        Sau lần ấy, mối quan hệ giữa hai nhà vẫn không có gì sứt mẻ. Đôi lần bắt gặp ánh mắt buồn buồn của Nguyệt Tỉnh khi tôi về nhà bất chợt thấy nàng ngồi một mình bên cửa sổ nhìn ra xa. Thời kỳ này tên tuổi Alexander nổi như sóng cồn, tất nhiên anh là thần tượng của rất nhiều người và từ lâu tôi biết Nguyệt Tỉnh có trong số đó. Sao mà không ngưỡng mộ một tài năng trác tuyệt, trong đời thường lại giản dị dễ mến đến vậy! Chính tôi cũng ngưỡng mộ anh. Nhưng, sự biểu lộ tình cảm của Nguyệt Tỉnh và anh thì đã làm lâu nay tôi không có được cảm giác yên ổn trong lòng. Alexander chẳng bao giờ biết cách che giấu lòng mình; còn tôi phải chăng là con người nhỏ nhen, hay ghen bóng ghen gió?

        Lần ấy nàng còn tỏ ra sốt sắng, vui mừng hỏi tôi: Em nghe người ta đang đồn ầm lên, Alexander “nhà mình” sắp rinh Giải Nobel về cho nước Pháp? Tôi giải thích với nàng rằng không có Giải Nobel trong toán học, song có một giải tương đương mang tên nhà toán học người Canada

        John Charles Fields, ai được Huy chương Fields cũng danh giá như được Giải Nobel. Với những cống hiến to lớn cho toán học thời gian qua, anh ấy hoàn toàn xứng đáng nhận vòng nguyệt quế vinh quang.

        Và giữa năm 1966, lúc tôi vừa từ Paris về Sài Gòn thì được tin: tại Đại hội Toán học thế giới tại Moscow, Alexander Grothendieck cùng ba nhà toán học khác quốc tịch Anh và Hoa Kỳ đều một lần nhận Huy chương Fields.

*

*       *

        Một hôm với tư cách người liên lạc, Nguyệt Tỉnh đi Genève, Thụy Sĩ về bảo với tôi vừa nhận được chỉ thị từ nhà, tôi phải đến ngay Luceme gần biên giới với nước Đức, gặp một nhà ngoại giao là Tùy viên Thương mại Đại sứ quán ta tại Pháp đang ở đấy, để nhận nhiệm vụ.

        Đến Lucerne, điệp viên Diệp Sơn đã nhận được chỉ thị: về nước; tìm một chỗ đứng vững chắc trong giới trí thức, học thuật Sài Gòn.

        Thời khắc bấy lâu chờ đợi đã đến. Tuy đã được chuẩn bị tâm lý song tôi vẫn cảm thấy đột ngột. Tôi và Nguyệt Tỉnh bàn đi tính lại, có nên tất cả cùng về?

        - Nếu giả sử anh bị lộ - Tôi nói với nàng - em và con sẽ bị bắt làm con tin. Đó là một điều rất dễ xảy ra, một điều khủng khiếp.

        Cuối cùng chúng tôi quyết định: chỉ mình tôi trở về, sau đó tùy tình hình thời cuộc biến chuyển sẽ tính tiếp.

        Bắt đầu một thời kỳ mới của cuộc đời tôi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:28:07 pm

Chương bốn

GIÁO SƯ "LẬP DỊ"

        Mới ngày nào ra đi tay không, nay trở về với mấy va ly lèn cứng sách vở, mười năm vèo trôi như cái chớp mắt của lịch sử!

        Ngày trước sang Paris trên chiếc máy bay hành khách cổ lỗ Skymaster phải mất ba ngày do trên đường dừng nhiều chặng tiếp nhiên liệu, nay trở về từ phi trường Orly trên chiếc Constellation cũng của Air France chỉ mất 20 giờ. Phương tiện vận chuyển đã hiện đại hơn nhiều. Bộ mặt thủ đô của chế độ Việt Nam Cộng hòa thì vẫn chẳng mấy khác. Ngoại trừ một số cao ốc kiểu Mỹ mới mọc lên ở khu trung tâm phô diễn sự tân kỳ, hào nhoáng của nền văn minh vật chất phương Tây, nhà cửa Sài Gòn vẫn mang đậm dấu ấn kiến trúc nặng nề, trầm mặc kiểu Pháp, cùng các khu ổ chuột mọc lên như nấm xung quanh các kinh rạch hay vùng ngoại thành, tất cả đều chen chúc, lộn xộn, bụi bặm, đường xá thì chật chội, bong tróc.

        Qua cuộc trao đổi với ông “Tùy viên thương mại”, cùng với việc tổng hợp, phân tích tình hình trong nước, quốc tế qua đài báo, tôi hiểu chính trường Nam Việt Nam giờ đây đã thay đổi rất nhiều và sẽ còn những biến chuyển theo chiều hướng mau lẹ, bất ngờ.

        Hiệu ứng Domino: một con bài đổ sẽ lần lưọt đổ hết. Thập niên 60 của thế kỷ XX, thời kỳ đỉnh điểm của thuyết Domino, phe diều hâu trong chính giới Mỹ đều tin vào thuyết này. Theo thăm dò du luận của Viện Harris tháng 2-1965, đại đa số 78% số người được hỏi cho rằng nếu Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam khiến cả Đông Nam Á sẽ rơi vào tay Cộng sản, chỉ có 10% là không tin. Từ đây đẻ ra lý thuyết về “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Lý thuyết xác định rằng, khi các hoạt động lật đổ ở nước đối phương phát triển đến mức độ cao và “lực lượng lật đổ” đã có những đơn vị chủ lực mạnh thì phải dùng đến sức mạnh quân sự của Mỹ can thiệp dù ở mức độ hạn chế, nhất định sẽ đè bẹp được đối phương trong thời gian ngắn nhất. Năm 1966, năm tôi về nước cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ đang lúc cao trào với trên nửa triệu quân Mỹ và chư hầu có mặt tại Nam Việt Nam. Trong khi ngụy quyền lại bị suy yếu hơn bất cứ lúc nào. Nội bộ mâu thuẫn gay gắt, từ khi Tổng thống họ Ngô bị giết vào đầu tháng 11-1963, đến giữa năm 1965 đã diễn ra 14 cuộc đảo chính và phản đảo chính giữa các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn. Tinh thần quân lính phục vụ nền Đệ nhị Cộng hòa ngày càng rệu rã. Theo hãng tin Mỹ UPI trong hai năm 1963-1964 đã có tới 16 vạn quân đào ngũ, riêng sáu tháng đầu năm 1965 đã có thêm 87 ngàn binh sĩ nữa bỏ ngũ. Chính John A.Mc Cone, Giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã phải ngậm ngùi đưa ra dự báo cho số phận cái lý thuyết “Chiến tranh cục bộ” mà chính giới Mỹ đã có nhiều kỳ vọng: “Chúng ta sẽ bị sa lầy trong cuộc chiến đấu ở rừng rậm, với một cố gắng quân sự mà ta không thể giành thắng lợi được và cũng rất khó lòng rút ra được.”

        Trong vòng 20 tháng của các năm 1964-1965 chế độ Sài Gòn đã xảy ra nhiều biến cố chính trị. Tướng Nguyễn Khánh hết “chỉnh lý”, “tam đầu chế” đến “Hiến chương Vũng Tầu”; các cuộc đảo chính hụt diễn ra sau đó; Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ nắm ủy ban Lãnh đạo quốc gia, gạt bỏ Chính phủ dân sự Phan Huy Quát. Khi tôi về gặp lại ông ở nhà riêng, ông đang tâm trạng buồn bã thất vọng, đã ngồi chơi xơi nước được hơn một năm rồi, mới gần 60 tuổi nom gày xọp, bạc nhược. Ông chú rể của vợ tôi bảo:

        - Lũ lính tẩy ấy còn ngồi trên thì mình khó mà ngóc đầu lên được, cháu ạ. Họ là tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, tỉnh trưởng, cả quận trưởng, xã trưởng. Bây giờ Nam Việt Nam chỉ còn một đảng chính trị duy nhất tồn tại là đảng áo Ka ki thôi. Đen như ông Đặng Văn Sung một lãnh tụ Đại Việt kỳ cựu rất kiệm lời, mới đây trong cuộc chiêu đãi tại nhà hàng Continental cũng cay cú nói rằng: Có ích tước gì mà đi lập đảng phái chính trị, đảng Quân đội thống trị hết trọi rồi!

        Ban đầu chú được sự ủng hộ mạnh của Phật giáo, báo chí Mỹ còn bảo chú là người của Phật giáo. Thực ra chú chỉ thân thôi chứ đâu theo giáo phái ấy, vả lại chú cũng ghét Công giáo, nhất là tổ chức Công giáo đấu tranh của linh mục Hoàng Quỳnh. Ngay Đại sứ Mỹ, tướng Taylor cũng muốn chú cầm đầu chính phủ dân sự, đưa các tướng lãnh trở về nhiệm vụ chính chống sự xâm lăng của Cộng sản, chứ không bỏ bê việc chiến đấu mà lao vào các cuộc đảo chánh như mấy năm qua. Vậy là được “nhân hòa” rồi chớ. Nhưng lại không có cái quan trọng nhất “thiên thời”, thiếu cái đó dẫu Lưu Bị được Phượng Long, Phượng sồ phò tá vẫn không thể khôi phục được cơ nghiệp nhà Hán. Cái số chú lận đận, làm Thượng thư thì được, hễ mon men đến Tể tướng, không bị hớt tay trên thì ngồi chưa ấm chỗ cũng bị nó lật.

        Tôi hiểu những ẩn ức trong con người máu me làm chính trị ấy. Hồi năm 1953-1954 còn Quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại, đảng Đại Việt đưa ông ta ra tranh cử chức thủ tướng với Ngô Đình Diệm, đối thủ cáo già bày trò hề “trưng cầu dân ý” gạt ông không thương tiếc; gần đây khi chính phủ dân sự Trần Văn Hương bị đổ, Nguyễn Khánh đưa ông lên ghế thủ tướng được đúng 5 tháng thì bị Thiệu-Kỳ phế. Tôi chỉ còn biết nói vài câu xã giao gọi là an ủi ông chú rể. Ông cũng hỏi thăm tình hình của mẹ con Nguyệt Tỉnh và dặn tôi, nếu việc đầu đon vào Viện Đại học Sài Gòn khó khăn thì bảo ông, ông sẽ nói với giáo su Nguyễn Quang Trình một câu thể nào cũng phải nể, vì ông ấy vốn Bộ truởng Giáo dục, vừa rồi là thành viên trong nội các của ông. Tôi cảm ơn, nói rằng đã gặp ông tân Giám đốc Viện giáo su Lê Văn Thói, mọi việc chắc không gặp trở ngại gì vì Viện này đang rất cần các nhà nghiên cứu có bằng cấp từ ngoại quốc về. Tôi hỏi thăm Phan Huy Luơng, vẻ mặt ông đã bớt rầu rĩ, nói đuờng binh nghiệp của chú em như diều gặp gió, thăng tiến nhanh đến không ngờ. Trong vòng muời năm khi học xong truờng sĩ quan trù bị Thủ Đức đã từ trung úy lên đại tá, nay đang là Tham muu trưởng Biệt khu Thủ đô, dưới trướng của Đô đốc Chung Tấn Cang. Quả anh ta là niềm hy vọng, tự hào của dòng họ Phan Huy.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Giêng, 2018, 09:28:47 pm

*

*       *

        Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn nơi tôi được nhận làm giáo sư biên chế vào ban Toán nằm trên đường Cộng Hòa, Quận 5, đây là cơ sở mới được xây dựng chuyển từ 125 đường Bonard về. Ngày ấy giáo sư Nguyễn Quang Trình dạy tôi về môn Hóa đại cương; còn giáo sư Phạm Tỉnh Quát dạy môn toán. Giáo sư Trình ham làm chính trị hơn làm chuyên môn. Tôi rất có ấn tượng với thầy Quát về tài năng và đức độ. Thầy cùng giáo sư Lê Văn Thiêm hai người Việt Nam đầu tiên thi đỗ vào Ecole Normale Supérieure (ENS) danh tiếng, trường chuyên đào tạo nhân tài cho nước Pháp thi vào rất khó và học bổng cũng rất cao. Rồi hai giáo sư đều có bằng tiến sĩ nhà nước về toán và cũng là hai người Việt có những công trình đầu tiên đăng ở tạp chí toán học quốc tế. Năm 1956 thầy trở lại Pháp dạy ở Đại học Caen, trở thành một chuyên gia tầm cỡ về Toán - tin. Thời còn ở Paris có lần tôi đến Caen thăm thầy, được tham quan chiếc máy tính đầu tiên IBM 650 thầy đã đóng góp nhiều công sức tính toán và lắp đặt ở trường này. Tôi cũng quen biết anh Frédéric Phạm, con trai thầy, nổi tiếng trong lĩnh vực toán Kỳ dị. Anh là giáo sư Đại học Nice, luôn là một Việt kiều không ngần ngại thể hiện quan điểm “thân Hà Nội”, vì thế ngày ấy dẫu quý trọng anh, tôi thường chỉ “kính nhi viễn chi”.

        Hôm ấy tôi đang ngồi đọc sách trong thư viện của trường, thì có một người đến tìm, tôi nhận ra ngay: giáo sư Tô Đồng của Đại học Dược khoa. Ông cũng sang Paris với tôi hồi năm 1956, làm tiến sĩ về lĩnh vực sinh hóa. Khi tôi mới về Sài Gòn gặp ông ở 41 đường Cường Đe nơi trường Dược mới chuyển từ cơ sở 169 đường Công Lý. Ông tìm tôi muốn hỏi mượn một số sách toán để soạn giáo án vì trường thiếu giáo viên, ông phải kiêm nhiệm dạy thêm môn toán giải tích cho lớp mới vào. Tôi vui vẻ đáp ứng yêu cầu của ông ngay. Chúng tôi ra phòng khách của thư viện nói chuyện. Giáo sư Đồng là người vui tính, xởi lởi và biết khá nhiều chuyện ngóc ngách trong giới học thuật cũng như xã hội thượng lưu Sài Gòn. Từ hôm gặp lại nhau, ông luôn tỏ ra thông cảm với tôi, người bị “biệt xứ” những mười năm nên ngu ngơ về chuyện chính trường trong nước. Ông kể, thời Đệ nhất Cộng hòa các thầy cũng phải đi học “Lý thuyết ấp chiến lược” tác giả cố vấn Ngô Đình Nhu. Suốt năm 1962 kế hoạch Staley - Taylor được triển khai riết ráo với biện pháp chủ yếu lập ấp chiến lược, dồn dân “tát nước bắt cá” Việt Cộng. Các giáo sư, tinh hoa trí thức Sài Gòn cũng phải tập trung ăn ở tại trại ở suối Lồ Ô gần thành phố Biên Hòa trong hai tuần lễ để quán triệt cái lý thuyết này. Trại gồm nhiều dãy lều bạt liên thông, bên trong đặt các giường gấp, ông nằm cạnh mấy vị đổng lý, chánh văn phòng Bộ Giáo dục. Bộ trưởng Nguyễn Quang Trình khai mạc lớp học, nói về chiến lược phát triển ngành giáo dục với triết lý nhân bản, dân tộc, khai phóng và chủ trương phấn đấu cho một nền giáo dục đại học tự trị. Trung tướng Trần Ngọc Tám nói về du kích chiến. Buổi ấy đích thân Ngô Đình Nhu đến giảng về lý thuyết mà ông ta đã ấp ủ nhiều năm từ hồi còn học ở Paris và hãnh diện coi đó là “Binh thư binh pháp mới”. Ông người tầm thước, săn chắc, nhanh nhẹn, có đôi mắt sắc lẻm như mắt con chim cú mèo. Giọng Quảng Bình của ông hơi khó nghe, đều đều, gây cảm giác buồn ngủ, thành ra suốt buổi mấy ai lĩnh hội được điều gì. Khi mở rộng vấn đề về kiến quốc, phát triển kỹ nghệ, bỗng ông chỉ tay lên trời nói rằng sấm sét trong các đám mây đen kia chứa bao nhiêu là điện lực, nếu ta biết cách thu giữ thì dùng sao cho hết. Một giáo sư dạy điện phát dẫn bỗng không kìm được khiếu hài hước, quay sang đồng nghiệp ở bên nói khá to: Ông Cố vấn làm chủ nhiệm dự án thu sét đi, chăng cháy thành con chó thui! Không ngờ câu nói ấy đến tai bọn mật vụ của Nhu trà trộn trong học viên, thế là chỉ khoảng mươi phút sau vị giáo sư mạnh mồm bị điệu ra khỏi hội trường, cả tuần không thấy trở lại. Đấy cũng là bài học giữ mồm giữ miệng cho cánh giáo sư sau này, khi ông cố vấn đến giảng vài buổi nữa ai cũng ngậm tăm, tỏ vẻ nghiêm trang, giở vở ra trước mặt giả vờ ghi chép, ruốt cuộc chẳng ghi được gì, có khi còn vẽ bậy nhăng nhít vào vở. Chỉ khi trực thăng của ông cố vấn cất lên rồi, lùa bụi mù mịt cả khu trại, để cho tan bụi các học viên mới lục tục kéo vào lớp và sự ồn ào như chợ vỡ trở lại.

        Cuộc đảo chính lật đổ anh em Diệm - Nhu, giáo sư Đồng gọi là “Cuộc cách mạng 1-11- 1963”, ông kể tiếp: Khởi đầu xảy ra binh biến lúc một giờ trưa ngày hôm trước, mọi người hoang mang không biết sự việc sẽ đi đến đâu, rồi đến trưa hôm sau đài phát thanh loan tin cách mạng thành công. Người dân tràn ra đường phố đông nghẹt, đài lại cho biết: Tổng thống Diệm và ông Nhu đã chết ngay trên xe bọc thép khi đưa các ông về dinh Tổng tham mưu, về sau nghe nói chính ông Minh Lớn ra lệnh bắn vì sợ để anh em Diệm sống sẽ truy cứu chuyện ông tham gia đảo chánh. Thế là nền Đệ nhất Cộng hòa sụp đổ.

        Tôi hỏi thêm về số phận của vị giáo sư điện phát dẫn mạnh mồm đã rủa cố vấn Nhu là “con chó thui”, giáo sư Đồng nói ông ta bị đưa đi thẩm vấn, may mà không bị thủ tiêu, chỉ chuyển khỏi trường, sau ra khỏi ngành giáo dục. Nghe nói, ông ta bỏ nghề, làm cho một trung tâm chiêu hồi của nền Đệ nhị Cộng hòa. ông tên là Trần Mạnh Lân, Hai Lân. Tôi chợt nhớ đến anh bạn học cùng lớp “tự mãn, hãnh tiến” như lời nhận xét của cô Vương Mộng Ngọc dạo nào, không nhẽ lại là cậu ta?


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:44:39 pm

*

*       *

        Tôi về sống ở chung cư trên đường Công Lý cách trường khoảng 6 km. Không ngờ ở chung cư này tôi gặp lại một người quen cũ là giáo sư Võ Bình, ông sang Paris trước tôi vài năm, học ngành vật lý. Tôi và ông cùng quê gốc Phú Xuyên, tuy khác xã, làng chúng tôi chỉ cách nhau có một cánh đồng. Ông hoàn thành luận văn tiến sĩ chuyên ngành về vật lý hạt nhân rồi về nước sớm, bẵng đi nhiều năm không biết tin nhau, run rủi thế nào giờ lại hàng xóm của nhau. Nhà ông khá vắng vẻ. Bà vợ ông mới qua đời hai năm trước, hàng ngày ông lọ mọ cơm niêu nước lọ với cô con gái đang học năm cuối trường phổ thông trung học. Giáo sư Võ Bình có chiếc xe hơi Peugeot 404 còn khá mới, ngỏ ý hàng ngày cho tôi quá giang đến trường, tôi cảm ơn, từ chối với lý do đạp xe mỗi sáng tới trường cũng là dịp tập thể lực giữ gìn sức khỏe. Rồi mấy bận ông rủ tôi ra ngoại thành chơi cho thư giãn đầu óc. Biết tôi hồi ở Paris có bằng lái xe, có lần ông còn bảo tôi cầm lái “kẻo quên, biết đâu khi có việc lại lóng ngóng”. Câu nói vui của con người tốt bụng, xởi lởi ấy, đã vô tình nhắc nhở tôi về điều có thể xảy đến sau này trong công việc của một điệp viên, thế là tôi liền vui vẻ thay ông ngồi trước vô lăng và thấy mình vẫn không thể quên, điều khiển xe một cách ngon lành. Ấy là thời kỳ đầu mới về trường chưa lên lớp còn rỗi rãi, sau này bận túi bụi với bao việc, hầu như tôi không còn thì giờ để đến thăm cha con ông nữa.

        Hồi mới về, một hôm gặp một nhà sư khất thực chìa cái âu đựng cơm trước mặt, tôi bỗng nảy ra ý nghĩ: nên chăng chỉ ăn một bữa, sẽ tiết kiệm được thì giờ nấu nướng, vả lại tiết chế ăn uống cũng là cách dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe theo Yoga Ấn Độ. Trước kia tôi cũng đã có lần thử nhịn ăn để giảm cân tránh quân dịch, song chỉ một thời gian ngắn thấy khó chịu lại thôi. Nay tôi đã có đủ ý chí, chọn nhịn bữa sáng, bữa trưa, chỉ ăn bữa tối. Mấy ngày đầu cảm thấy đói, hơi chóng mặt, tôi tự nhủ phải ăn bù cho bữa sau, thế là ăn cố, trước ba bát, nay bốn, năm bát. Dần thành quen. Quả “sáng kiến” ấy làm tôi có thêm nhiều thì giờ, lên lớp, chấm bài, nghiên cứu đọc sách báo, tạp chí chuyên ngành mới về các lĩnh vực mình quan tâm. Và còn phấp phỏng chờ đợi chỉ thị của cấp trên, tôi đã về nước được đúng ba tháng, ổn định chỗ ăn ở, công việc.

        Sáng chủ nhật. Tôi đang giở mấy tờ báo tiếng Anh đọc thì có tiếng gõ cửa, một toán sinh viên bất ngờ đến thăm không hẹn trước. Tôi nhớ mặt, đều là các cô cậu của lớp mới vào: Nga, Thanh, Hồng... còn mấy sinh viên nam thì chỉ nhớ mặt có Tuyên vì em này hôm rồi đã xung phong lên bảng giải được một bài toán khó. Các em chủ động kiếm ghế ngồi, không hết thì ngồi giường.

        - Thưa, bài tập tuần rồi thầy ra khó quá, cả bạn Tuyên đây cũng không giải được ạ. - Nga nhanh nhảu nói trước - Chắc sinh viên Pháp họ thông minh hơn bọn em nhiều phải không thầy?

        Tôi cười bảo:

        - Cũng như ở ta thôi, có người giỏi, người kém, người chăm, người lười. Dù ở đâu thầy cũng muốn các em phải gắng hết sức, lúc đầu khó, sau sẽ quen. Thầy ra nhiều bài tập còn dụng ý muốn các em đánh thức vùng não bị bỏ quên. Khoa học đã nói thế đấy: chúng ta mới sử dụng chủ yếu vùng vỏ não, tám mươi phần trăm não bộ của chúng ta chưa được sử dụng hết.

        Tất cả cùng cười trước một thông tin có vẻ “lạ” như thế. Cô Thanh nhanh nhẹn tìm thấy bình nước lọc của tôi để lấp sau đống sách và rót ra mấy cái cốc chia cho các bạn, rồi nói:

        - Thưa, em thấy chỗ ở của thầy đơn sơ quá. Toàn sách là sách. Hay mỗi tuần bọn em cử người đến giúp thầy dọn dẹp.

        Tôi lắc đầu:

        - Thầy có những trật tự riêng. Sách hay tạp chí để ở đâu, cần với tay có liền.

        - Em còn nghe nói dạo này thầy ăn có một bữa - Cô Hồng từ nãy đến giờ không nói gì, bỗng nhìn tôi nói nhỏ - Vậy thì sao thầy đủ sức khỏe lên lớp được ạ?

        - Không sao - Tôi trả lời - nhẹ bụng lại thấy dễ chịu hơn đấy. Các em có biết cách luyện Yoga của người Ân không, họ coi sự nhịn ăn là một cách làm thanh sạch cơ thể và đánh thức các tiềm năng của cơ thể. Yên tâm đừng quá lo lắng về khả năng tiếp thu của mình. Từ trường trung học, các em chưa quen với cách học của đại học, rồi sẽ đâu vào đấy cả thôi. Ngày mai thầy sẽ phụ đạo lại phần mới giảng hôm trước, cũng sẽ giải vài bài toán mẫu để cả lớp rút kinh nghiệm.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:45:20 pm

        Từ lúc vào đến khi ra về mấy cậu nam không thấy nói gì, cứ cười trừ giành quyền phát ngôn cho các bạn nữ. Đên khi cả toán xin phép ra vê thì cậu Tuyên bảo các bạn vê trước, muôn nán lại chút nữa với thầy.

        Giờ tôi mới có dịp đối diện với cậu học trò mới quen được từ ngày khai giảng đến hôm nay tròn một tháng, cậu đã mạnh dạn lên chữa bài tập và có cách giải khá sáng tạo. Tuyên trạc hai mươi tuối, cao ráo, trắng trẻo và có cái miệng cười bẽn lẽn như con gái. Tôi hỏi quê quán, cậu nói ba mẹ hiện ở quận Bình Thạnh, còn quê gốc Bến Tre, gia đình về làm ăn sinh sống ở Sài Gòn đến cậu là đời thứ hai.

        - Chắc em có việc gì muốn hỏi thầy?

        - Thưa thầy - Tuyên nhìn tôi chậm rãi, rành rọt - Thầy còn giữ nửa cái dây đồng hồ Omega chứ ạ?

        Tôi giật mình. Người sinh viên trẻ này lại biết về bí mật cách đây mười hai năm, ám hiệu mà ông thầy trong nghề tình báo của tôi đã trao cho?

        Tuyên nhẹ nhàng nói tiếp:

        - Em là liên lạc của KD1. cấp trên báo thầy ra Trường Đại học Khoa học Huế để gặp “Cô Phương Lan” làm ở bộ phận văn thư ạ.

        Bắt đầu vào cuộc rồi, điều tôi mong đợi đã mấy tháng nay. Cô Phương Lan, tôi nghĩ, một cô gái trẻ, có thể rất xinh đẹp có má lúm đồng tiền chẳng hạn. Nhưng người liên lạc của KD1 thì tỏ ra không biết gì hơn.

        Tôi cảm ơn em.

        Tôi đến bộ môn sớm hơn thường lệ, vì muốn thu xếp công việc chuẩn bị cho chuyến ra Huế. Đến đầu nhà phòng giáo vụ, chợt nghe có tiếng bàn tán sôi nổi. Thường thì đầu giờ các giáo sư hay tụ tập xem chương trình dạy trong tuần, còn thông báo nhanh cho nhau những chuyện gọi là “hot” nhất trong ngày, trong tuần. Hình như họ đang nói gì đó về tôi? Tôi dừng lại, dỏng tai nghe.

        - Các vị có biết một thông tin nóng nhất trong tuần không? - Một người giọng đùa cợt.

        - Gì vậy?

        - Lại đảo chánh à?

        - Có đợt bắt lính mới à?

        - Không! Giáo sư Ngọc của ban Toán quyết định mỗi ngày ăn có một bữa thôi.

        - Kỳ quá!

        - Còn nhiều cái kỳ nữa - Người đó nói tiếp - Hôm rồi mình đến nhà, có lẽ sớm hơn giờ hẹn nên giáo sư chưa về, thì thấy trước cửa buồng một dãy hàng dọc bẩy cái khóa. Mình thề là không bịa chút nào, còn cẩn thận sờ đếm từng cái một. Khóa bi, khóa số, khóa một chìa, hai chìa, đồng, gang, sắt đủ hết.

        Tiếng cười rổn rảng. Rồi nghe ai đó cao giọng “tổng kết”:

        - Tránh đi phương tiện cơ giới, chỉ cuốc bộ hoặc cưỡi xe đạp; sợ đạo chích đột nhập, cửa 7 khóa; khoái đi ngược chiều; không quan tâm đến thời cuộc vùi đầu vào sách vở; quần áo hầu như nhất bộ; ăn một bữa. Đúng là giáo sư lập dị...

        Tôi cũng không ngờ lâu nay mình lại được thiên hạ “soi” kỹ đến vậy. Ở Paris là “giáo sư vù”, nay trên đất Sài thành có thêm hỗn danh “giáo sư lập dị”. Cũng hay! Họ đâu biết có “lập dị” là bản năng, cũng có cái hoàn toàn do chủ ý. Tỷ như chuyện khóa cửa. Đặt giả thiết khi tôi đi vắng có kẻ muốn đột nhập để tìm ra bằng chứng về con người hai mặt của tôi, thì ngoại trừ việc dùng đến biện pháp đập phá cửa, còn trong một thời gian ngắn chúng sẽ khó lòng mở nổi cả bẩy cái khóa ấy mà không bị chủ nhà hay những người hàng xóm phát hiện. Đi ngược chiều ư? Cũng có lúc tôi làm như vậy thật, là để “cắt đuôi”. Dòng người xuôi, chỉ tôi dắt xe đi ngược, kẻ theo dõi không thể cứ lẽo đẽo theo tôi để bị lộ thân phận... Song họ vẫn chưa biết hết về cái gọi là “lập dị” của tôi đâu. Chẳng hạn như chuyện này, chính nhờ một cậu bé mà tôi mới biết. Ây là vào buổi chiều hôm trước. Tôi đứng ở cổng cư xá nhìn ra đường Công Lý, trong một phút suy tư, theo phản xạ tự nhiên tôi đút cả hai tay vào hai túi quần. Dòng người đang qua lại nườm nượp. Bỗng có một thằng bé trạc mười một, mười hai tuổi đang đạp xe từ dưới đường rẽ hẳn lên vỉa hè, đến trước tôi cứ trố mắt, há mồm nhìn. Tôi giật thót: sao nó lại tỏ vẻ chăm chú thế nhỉ?

        - Cháu nhìn gì chú? - Tôi hỏi.

        Thằng bé ngượng ngập giây lát, cười trừ, hỏi lại:

        - Thưa, sao chú tài thế! Bằng cách nào mà cả hai bàn tay chú lại đút được vào trong túi quần ngược như vầy được ạ?

        Ồ! Tôi liền rút hai tay ra, bảo:

        - Đơn giản thôi cháu ạ. Cái quần này bị rách cả hai đầu gối, chú cắt ống và quay đằng trước ra đằng sau, thành ra muốn đút tay vào túi phải quay bàn tay ngược lại như vậy thôi. Khó một chút rồi cũng quen.

        Thằng bé bật cười khanh khách. Dường như chưa thỏa mãn, nó hỏi tiếp:

        - Chú làm vậy để làm chi?

        - Đỡ tốn tiền sắm quần mới cháu ạ...

        Giáo sư lập dị - tôi tự bằng lòng, thêm cái hỗn danh ấy cũng chẳng sao, không biết chừng lại tốt hơn cho việc làm thầm lặng lâu nay của tôi!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:45:56 pm

TRẬN MỚI

        Viện Đại học Huế ra đời đầu năm 1957 do Tổng thống họ Ngô ký sắc lệnh thành lập, gồm bốn trường: Khoa học, Văn khoa, Luật và Sư phạm. Khi tôi đến, vừa thay Viện trưởng, một tiến sĩ vật lý thế chỗ ông giáo sư luật, người ta đang bàn tán là đất này động long mạch, mấy đời Viện trưởng không ai trụ quá được một năm. Song người tôi quan tâm nhất lúc này là “Cô Phương Lan” kia.

        Người phụ trách văn thư của Viện cao gầy, nước da đen đúa, mái tóc lốm đốm bạc, khó đoán chính xác tuổi, nom ông không khác mấy một ông “hai lúa” Nam Bộ. Khi tôi nhắc tên “Cô Phương Lan”, ông gật đầu bảo tôi đi theo vào căn buồng nhỏ bên trong. Rồi ông lẳng lặng lấy trong người cái đồng hồ đeo tay mác “Omega” thiếu một đoạn dây. Tôi cũng móc túi đưa ra sợi dây đã giữ mười hai năm trước từ tay giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu ở Liên khu 4. Ông văn thư để cái đồng hồ lên bàn và chắp sợi dây của tôi vào, vừa vặn trùng khít. Một cái đồng hồ đeo tay hoàn chỉnh.

        - Tôi là Phương Lan.

        - Tôi Diệp Sơn.

        Ông nhìn tôi và chìa tay bắt. Nắm chặt bàn tay gân guốc của ông, tôi còn chưa hết ngỡ ngàng. Trí tưởng tượng đã đánh lừa tôi, song sự hiện diện của người trực tiếp giao nhiệm vụ có cái tên con gái này đã gây cho tôi một cảm giác tin cậy. Dường như ông không có nhiều thì giờ, giọng Huế nhỏ nhẹ giàu âm sắc, ông vào đề luôn:

        - Tổ chức vẫn quan tâm đến việc anh đã làm trên đất Pháp và Tây Âu. Anh tạo được vỏ bọc rất tốt. Giờ là lúc anh luồn sâu, leo cao trong giới trí thức, thượng lưu Sài Gòn. Từ mối quan hệ hiện có, cần mở rộng đến các tướng tá quân đội ngụy, cố vấn Mỹ. Với lợi thế của anh, chắc sẽ thu lượm được nhiều tin tức quan trọng. Trước mắt anh trực thuộc sự chỉ đạo của ngoài này, với mật danh B1. Anh gửi tin và nhận lệnh qua tôi.

        Cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 -1966 của Mỹ ngụy, nhìn chung đã thất bại. Hiện chúng đang tiếp tục cuộc phản công thứ hai. Theo những nguồn tin ta thu thập được thì cuộc phản công lần này quy mô còn lớn hơn lần đầu, vẫn nhắm vào tiêu diệt các đơn vị chủ lực và cơ quan đầu não của ta. Trong mùa khô 1966 -1967 sẽ có rất nhiều chiến dịch tìm diệt, bình định hướng chủ yếu vào vùng Tam Giác sắt gồm ba đỉnh là Bầu Bàng, Bến Súc, Củ Chi và vùng Móc Câu, Mỏ Vẹt trên đất Campuchia. Có một bản kế hoạch quân sự của địch mang mật danh AB144, cấp trên cần biết chi tiết của bản kế hoạch đó. Trên cũng giao nhiệm vụ cho anh, có điều kiện thì tìm hiểu về kế hoạch này. Các động thái chuyển quân gần đây cho thấy địch sắp mở một cuộc hành quân lớn nữa, có cả sự tham gia của hải quân ngụy. Song ta chưa biết thời gian, địa điểm, hướng tấn công cụ thể, anh cũng cần quan tâm đến chiến dịch đó, tin về càng sớm càng tốt...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:47:00 pm

*

*      *

        Ở Viện Đại học Huế về, tôi nghĩ ngay đến việc phải gặp chú em rể vợ, trung tá hải quân Nghiêm Văn Phú. Hồi mới về nước, tôi đã có lần đến nhà Phú, song chỉ gặp Nguyệt Mỹ, anh ta đang đi chiến dịch. Nguyệt Mỹ than phiền, chưa bao giờ anh ấy lại phải đi trận dồn dập như thế, nghe nói Việt Cộng phản kích rất mãnh liệt, anh có lần hút chết. Một buổi chiều đang ngồi nhà, tôi nghe điện thoại của Nguyệt Mỹ: Ông chồng em đã về rồi đó, cũng muốn gặp anh.

        Tôi đến. Phú đứng đón ngay ở cổng. Anh dang tay ôm chặt tôi. Béo đẫy hơn hồi xưa nhiều, Phú có thêm cái oai phong lẫm lẫm của con nhà võ. Chúng tôi vào nhà. Anh rót nước mời, nói:

        - Thoắt đấy đã mười năm. Hôm trước anh tới nghe Nguyệt Mỹ nói lại, tôi đang bận với cuộc hành quân Attleboro nhắm vào chiến khu Dương Minh Châu. Đã kết thúc đâu, nhưng có điện của Bộ Tổng tham mưu gọi về, ông phó của tôi chỉ huy thay. Còn uýnh nhau ra trò anh ạ.

        - Gớm, - Nguyệt Mỹ ngồi bên chen vào - anh em mười năm mới gặp lại, chưa hỏi chuyện riêng tư, cứ uýnh uýnh hoài à. Thế mẹ con bà chị em giờ sống ra sao?

        Tôi kể sơ qua về Nguyệt Tỉnh và cháu Hà bên ấy, cũng mới nhận được thư báo mẹ con bình thường. Nghiêm Văn Phú nhìn tôi cười cười, bảo nom tôi vẫn vậy, bơ sữa Tây cũng không làm mập lên là bao. Tôi nói sức khỏe đã khá hơn hồi ở nhà nhiều, bệnh phổi ổn định. Nguyệt Mỹ bảo, hôm nay anh em phải ngồi nhậu lai rai cho bõ những ngày xa cách. Nói rồi cô đi xuống nhà dưới dặn dò người giúp việc.

        Tôi hỏi Phú về chiến sự. Anh nói:

        - Attelboro khai diễn đã một tháng rưỡi nay. Cuộc tảo thanh trên sông nước do đơn vị tôi thuộc Hải quân Vùng 3 sông ngòi đảm nhiệm. Mục đích của chiến dịch như tài liệu Việt Cộng ta thu được, tiêu diệt các bộ phận chủ lục gồm sư đoàn 9, trung đoàn 16 của Quân khu 4. Nhưng khi tiến sâu vào căn cứ như đấm không khí. Tìm diệt hoài, không đụng chủ lục, toàn bị du kích địa phương đánh lén. Lần này tôi về sớm để gặp tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Quân đoàn 3 nhận chỉ thị mới.

        Công việc của anh ở Viện Đại học đã ổn định rồi chớ?

        Tôi nói chuyện về trường đang giảng dạy, cũng kể thêm vài kỷ niệm với Trường hải quân Brest hồi còn ở Pháp, Phú tỏ ra thích thú lắng nghe. Rồi anh than, khó sống với viên Tư lệnh Quân đoàn, hắn bề ngoài nhã nhặn mà bên trong xét nét với cấp dưới đủ điều và có vẻ không thích anh. Hàn huyên một hồi, người giúp việc đã bê mâm vào phòng ăn, Nguyệt Mỹ bảo đến bữa rồi, mời anh em vô nhậu lai rai.

        Tửu lượng tôi kém, Phú thì vô tư, anh cứ cạn hết ly này đến ly khác, chẳng mấy chốc mặt đỏ dừ. Hình như anh càng uống càng tình. Anh khoe, từng quật đổ không biết bao nhiêu là cố vấn Mỹ trên bàn nhậu. Nguyệt Mỹ nguýt chồng: Anh uống hết phần anh Ngọc rồi kìa. Phú cười tếu táo:

        - Ông anh giáo sư của tôi hiền như con gái, mà thế nào hồi bé được thầy bói đoán mai này sẽ thành tướng quân cơ chứ.

        - Mình sức học trò trói gà không chặt, theo đường binh nghiệp sao được. - Tôi cười và giơ cái ly uống dở suốt từ đầu cuộc chưa hết nửa, chạm vào ly của Phú. Anh ta lại “ực” liền một hơi.

        - Anh cũng được thầy đoán thể nào cũng sẽ lên tướng cơ mà. - Tôi nói.

        - Phải rồi - Phú nói - Nhưng giờ vẫn đì đẹt cái lon này, đại tá chưa thấy đâu, mà theo thầy từ nay còn có bốn năm nữa lên tướng, sao kịp.

        - Anh tuổi gì nhỉ?

        - Bằng anh, Nhâm Thân.

        - Tháng mấy?

        - Bà già nói sanh vào mùa mưa ngâu, chắc tháng bảy âm. Anh coi được tử vi sao?

        - Cũng võ vẽ.

        Tôi nhẩm trong đầu phác ra một lá số cho Phú. Chả là hồi mới về nước, tranh thủ lúc chờ việc tôi đi mua mấy cuốn tử vi cũ bầy bán đầy vỉa hè đọc chơi, nhập tâm cách an sao, tính nhanh được những chính tinh, bàng tinh trong từng cung. Tôi còn có một cách nữa để kết hợp với luận giải lá số, là suy từ chuyện may rủi của mình mà đoán, bởi về cơ bản anh ta cũng trùng năm, tháng sinh với tôi. Ấy là: cung quan lộc có Thiên Phú, Thiên Trù, Hóa Khoa, Hóa Quyền, lại Đào Hoa chiếu kiểu gì năm nay cũng có tin vui. Chút rượu vừa uống đã kích thích làm tôi trở nên hoạt khẩu, tự tin, tôi bảo Phú:

        - Anh sắp có tin vui rồi. Chưa biết chừng tư lệnh gọi anh về lần này là để gắn thêm sao đấy.

        - Vậy hả - Phú đưa ly lên cạch nhẹ vào ly tôi nói - Nếu đúng phải khao thầy một chầu mệt nghỉ. Tôi đợi hoài à.

        - Bây giờ vợ con các ông tướng ông tá - Nguyệt Mỹ nói chen vào - ai chẳng đi coi bói tử vi. Nhà em cũng tin lắm, mùng một, ngày rằm nào chẳng thắp hương lên chùa. Anh cùng tuổi với nhà em, vậy thì năm nay đã có tin vui chưa hử?

        - Có rồi - Tôi nói - Chẳng đã được nhận chân giáo sư chính thức của Đại học Khoa học đó thôi. Còn mới nhận thêm chân giáo sư thỉnh giảng ở Viện Đại học Huế. Tôi định sắp tới còn thỉnh giảng ở Đại học cần Thơ, Mỹ Tho nữa.

        - Giảng chi mà nhiều thế, ông anh? - Phú hỏi.

        - Cái nghiệp nó vậy cố mà tận dụng cho hết khả năng. Cũng như anh đi trận liên miên, đi mới có tiền, có chiến công để gắn thêm mề đay, thêm sao chứ.

        - Cũng phải - Phú nói - sống chết có số mà anh.

        - Chưa đạt mục tiêu cuộc hành quân này - Tôi hỏi Phú - sao đã bày cuộc khác rồi?

        - Ô, cái kế hoạch tìm diệt của Đại tướng Westmoreland, xương máu hai bên còn đổ ra khôn xiết - Giọng Phú đã hơi “khê” - Đúng như ông anh vừa nói, không chiến tích sao có cành tùng đây. Cuộc hành quân vừa rồi là lần đầu tiên quy mô tới cấp quân đoàn, cuộc tới cũng lớn như vậy, được đặt tên Cedar Falls, chắc sẽ khai diễn khoảng một tháng nữa thôi, vẫn uýnh vùng Tam Giác sắt. Hiện ông Khang đang muốn thu dọn Attelboro lại cho êm. Toàn khuếch trương chiến quả, chứ thắng lợi con mẹ gì.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:47:21 pm

        Tôi nhẩm, một tháng nữa, tức Cedar Falls sẽ diễn ra vào đầu năm tới. Và hỏi tiếp:

        - Chắc gì giang đoàn anh tham gia?

        - Sao thoát được - Phú nói - Còn uýnh ở vùng Tam Giác sắt thì đơn vị mình còn đi đầu, cũng tại sông Sài Gòn có thượng nguồn chảy qua mật khu này, chiến dịch nào chẳng có lính nhẩy dù kết hợp với lính thủy đánh bộ. Ông Westmoreland nuôi tham vọng tìm diệt, phá tan sào huyệt của Việt Cộng, nhưng mình tin khó mà thành vì đối phương ghê gớm lắm. Anh chưa đụng Việt Cộng chưa biết đó thôi, vừa mưu cao vừa dũng mãnh, can trường. Để tôi kể ông anh nghe lần hút chết vừa rồi. Giang đoàn tôi đến một đoạn thủy lộ, con sông Sài Gòn uốn lượn như rắn, hai bên bờ nhà cửa, vườn tược vừa bị khai quang. Cao hứng, tôi mới điện bảo với mấy thằng đàn em thuộc đơn vị nhẩy dù là pháo, xe ủi đã dọn sạch mặt đất, dân đã xúc hết, cho lính sông ngòi bọn anh lên bờ thử coi nghe, chú em. Đấy là khu vực Bến Súc. Tôi muốn cuốc bộ xa hơn, nhưng mấy em nhẩy dù cản lại: Đã thế này mà đêm đêm Việt Cộng vẫn dưới đất truồi lên bắn tỉa tệ hại lắm, trung tá đừng mạo hiểm. Anh em dù bảo hầm địch quân không đào quá sâu, nhưng nhiều ngóc ngách không một chỗ nào thẳng. Cửa ngách, lỗ thông hơi thì nhiều vô kể. Tôi chỉ tay về phía trước mặt: Sao không quẳng trái lựu xuống hầm kia? Cái miệng hầm lộ ra cạnh một khóm dừa lớn đã bật gốc. Anh em bảo, cũng quăng vô vài trái rồi không thấy động tĩnh chi, chắc Việt Cộng trong đó hít khói sặc thở, rách màng nhĩ ngoẻo cả rồi. Họ đưa tôi trái lựu khói mới bóc tem, bảo trung tá liệng thử coi. Tôi liệng. Tiếng nổ ục rung rinh mặt đất. Vừa quay đi, chợt có tiếng la lối phía sau. Thấy trong làn khói trắng mù mịt, hai bóng đen như bóng ma dưới âm phủ vọt lên. Cậu thượng sĩ bảo vệ đè xấp tôi, nằm lên trên đỡ đạn. Tràng AK nổ “cái rẹt”. Chưa ai kịp trở tay, hai bóng ma đã mất tiêu. Anh em nhẩy dù cạnh tôi cũng nằm rạp cả xuống, chỉ khi cái bóng ma biến vào khu rừng dừa trước mặt mới bắn được mấy tràng Garant vuốt đuôi. Tôi hú vía, về tầu cho nhanh. Đấy, ông anh bảo quân địch thoắt ẩn thoắt hiện như ma vậy sao mà diệt hết được.

        - Nhưng ta có lợi thế phi cơ, phi pháo áp đảo. - Tôi nói.

        - Thì đấy là lợi thế duy nhất ta có - Phú nói - Sáng nay lên trình diện, Tư lệnh Khang đã thông báo sơ sơ kế hoạch tác chiến. Cuộc hành quân lần này sẽ huy động trên 30 ngàn quân Việt - Mỹ và đồng minh, có sự hỗ trợ đầy đủ của không quân tại nội địa, cùng sự xuất phát từ Đệ Thất hạm đội ngoài khơi và từ Utapao Thái Lan. Riêng hải quân bọn tôi có nhiều giang đoàn xung phong được tăng phái với mục đích xúc dân từ vùng Tam Giác sắt về trung tâm định cư ở Bình Dương. Trên còn điều đoàn Tâm lý chiến dân sự vụ thuộc Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn đón, an ủi, vỗ về dân trên đoạn đường từ Bến Súc đến Bình Dương. Cho chúng đi đẹp đội hình, chứ bọn tâm lý chiến là lũ bẻm mép ăn hại toàn núp bóng lính trận, làm được cái mẹ gì.

        Đến khi ăn uống xong ra ngồi bàn trà, Nguyệt Mỹ bảo tôi:

        - Anh sống có một mình, hay hàng ngày về đây mà ăn cơm cho nhà em vui.

        Tôi cảm ơn thịnh tình của cô em vợ, bảo để tính sau. Đến khi chia tay, Nghiêm Văn Phú đã khật khưỡng, ôm hôn tôi thêm mấy lần, sặc sựa mùi rượu. Anh ta lè nhè hỏi ông anh vợ đến bằng cái chi? Tôi nói xe buýt. Phú gọi người lái chiếc xe Jeep đến, bảo:

        - Phải đưa giáo sư anh vợ tao về tận cư xá. Từ rày về sau có việc chi giáo sư cần mày cứ phải tuân lệnh giáo sư chở đi. Hay chưa?

        - Tuân lệnh! - Viên thượng sĩ lái xe rập gót nói.

        Quả là việc luyện trí nhớ một thời gian dài cũng không thừa, tôi ghi nhớ trong đầu không sót chi tiết nào Phú nói về cuộc hành quân sắp tới. Hồi học lớp điệp viên, những đàn anh cũng đã chỉ dẫn nhiều cách chuyển tài liệu được đúc kết qua thực tế, chẳng hạn: giấu các cuộn phim trong bánh trứng cuộn hay miếng nem chua gói lá chuối; bóc một phần đế dép, gấp nhỏ tài liệu cho vào đó rồi dùng keo dán đế dép lại như cũ... Nhìn hai hộp sữa ông Thọ tôi mua hôm trước do mệt không ăn được cơm, mới mở một hộp, tôi chợt nghĩ được một cách giấu mới. cẩn trọng bóc lớp vỏ nhãn hiệu của hộp sữa còn nguyên, lật mặt trái của nó, dùng mực hóa học viết lên đó toàn bộ những điều biết được về cuộc hành quân Cedar Falls, rồi dán lại như cũ. Hôm trước, rời Viện Đại học Huế, theo sự chỉ dẫn của “Cô Phương Lan” tôi đã làm việc với Ban giám đốc Viện và nhận một chân giáo sư thỉnh giảng.

        Tôi có lý do đi Huế. Và đã trao ngay cho “Cô Phương Lan” hộp sữa đó.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:48:35 pm
   
*

*       *

        Một tuần sau. Tôi nhận được điện thoại của Nghiêm Văn Phú, giọng đầy hào hứng:

        - Ông anh thật có tài bói tử vi. Đúng là Bộ tư lệnh gọi về ngoài trao nhiệm vụ mới, còn gắn thêm sao. Mừng hết cỡ. Chiều mai mời ông anh đến uống chén rượu chia vui với vợ chồng tôi nhé.

        Tôi được “Cô Phương Lan” thông báo: cấp trên khen ngợi tinh thần khẩn trương của đồng chí và những tin tức cung cấp là rât tốt!

        Chiều hôm sau tôi đến nhà Phú, ngạc nhiên thấy một vị khách đã ngồi đấy, chính là Trần Mạnh Lân. Cạnh anh có một bó hoa tươi, gói bọc cầu kỳ đặt trên bàn.

        - Ô, Nguyễn Đình Ngọc! - Anh reo lên.

        - Hai Lân! - Tôi cũng vui vẻ bắt tay anh ta.

        - Quen nhau rồi hả? - Nghiêm Văn Phú ngạc nhiên

        - Bạn đồng môn, thưa Đại tá - Hai Lân nói - còn Đại tá với anh Ngọc?

        - Ông anh vợ tôi đó.

        Hai Lân là người của Đoàn Tâm lý chiến dân sự vụ được biệt phái theo giang đoàn xung phong của Nghiêm Văn Phú. Anh ta đã nhanh chân hơn những kẻ khác, đến “chúc mừng sếp nhân dịp vinh thăng đại tá”. Theo Hai Lân kể thì sau khi mãn khóa lớp cử nhân khoa học hồi cuối năm 1955, anh học tiếp hai năm có bằng thạc sĩ về điện phát dẫn, rồi xin được chân giảng viên tại khoa cơ bản Đại học Dược khoa. Anh cũng kể lại câu chuyện “mó dái ngựa”, cố vấn Ngô Đình Nhu đã trục xuất anh khỏi lớp học về ấp chiến lược giống như lời Giáo sư Tô Đồng đã kể với tôi. Rồi anh phải rời khỏi Viện Đại học Sài Gòn, bôn ba trong quân ngũ từ đó. Tôi cũng kể sơ qua cho anh ta biết về mình

        - Con đường anh Ngọc đi thẳng băng, thành đạt trong khoa học quá ha - Hai Lân nhìn tôi đầy vẻ ngưỡng mộ - Đúng là nhân định không bằng thiên định, phải không anh. Anh còn nhớ người đẹp Vương Mộng Ngọc của lớp ta không?

        Tôi gật đầu bảo nhớ chứ. Anh bảo, sau ngày ra trường ít lâu người đẹp đã kết hôn với một viên trung tá thuộc Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Hoa Kỳ (MACV). Vợ chồng cô ấy làm ăn gặp vận lắm, tậu cái villa to đùng ở ngay đường Catinat, trung tâm Quận 1. Tôi hỏi Hai Lân về công việc chuyên môn, anh ta nói giờ trong đầu không còn chút gì kiến thức khoa học, hay kỹ nghệ nữa rồi, mà toàn về một nghề mới tâm lý chiến. Tôi tỏ ra ngạc nhiên, không hiểu tâm lý chiến là gì. Anh ta liền kể câu chuyện mới xảy ra ở một phân đội thủy quân lục chiến, cũng là được dịp khoe khéo khả năng nghiệp vụ nhậy bén của một sĩ quan tâm lý chiến trước sếp Phú.

        - Hôm rồi - Hai Lân nói - giờ nghỉ buổi chiều tôi thấy một toán binh sĩ đang ngồi túm tụm trong một lều bạt, chuyện có vẻ say sưa. Tôi lẳng lặng đến gần không để chúng hay biết. Cậu thiếu úy mở cuốn sổ tay nói với mấy cậu ngồi kế bên là vừa sáng tác được bài thơ mới toe, đọc để các chiến hữu thử nghe coi:

                             Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chỉ
                             Sa trường dung ruổi đã phơi thây
                             Đoàn quân hùng liệt nay về đất
                             Hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy...

        Bọn ngồi xung quanh vỗ tay tán thưởng, bảo bài thơ đã nói trúng tâm trạng buồn của lính trận. Cuối cùng đều phơi thây cả. Tôi thấy nóng mặt: đúng mẹ nó rồi, đích thị một bài thơ phản chiến! Tôi bước ra nói: Thiếu úy, đưa cuốn sổ tay đây. Lúc đầu hắn làm căng: Đại úy không có quyền can dự vào chuyện riêng tư của tôi! Tôi liền bảo đây không còn là chuyện riêng tư nữa, tôi đã nghe trọn bài thơ anh sáng tác, nội dung phản chiến rõ ràng. Bài thơ cổ súy cho tâm trạng khổ não, hèn nhát làm sa sút tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Mấy đứa ngồi bên nghe tôi nói căng vậy thì sợ liên lụy liền lẳng lặng rút, tôi tịch thu cuốn sổ, báo cáo lên ông thiếu tá phó chỉ huy về diễn biến tư tưởng trái chiều của viên thiếu úy nọ. Hắn liền bị phạt giam. Công việc của tôi chuyên coi sóc phần hồn như kiểu cha tuyên úy vậy đó, anh Ngọc.

        Câu chuyện không đuợc chủ nhà quan tâm và có lẽ Hai Lân đã liếc thấy sếp khó chịu ra mặt, nên bị cụt hứng. Đúng lúc nguời nhà dưới bếp rục rịch dọn cơm, cũng không thấy chủ nhà có lời mời ở lại, anh ta ý tứ đứng lên chắp tay xin phép về trước. Anh ta đi khỏi cổng rồi, Phú bảo với tôi:

        - Thú thực với anh, không hiểu sao lâu nay tôi vẫn ác cảm với bọn tâm lý chiến. Tay Hai Lân này mới được phái về, xem ra khá nhũn nhặn, nhưng nhìn mặt thì gian, hay liếc ngang, ngó trộm, tôi không ưa. Tôi còn nghi bọn này tiếng là đến phối thuộc với mình, nhưng người của mật vụ, của CIA cài cắm dò xét tư tưởng mình. Anh thấy đấy, bài thơ thằng thiếu úy nọ làm có con mẹ gì đâu mà “tư tưởng trái chiều”. Bọn tâm lý chiến mắc bệnh nghề nghiệp nặng, hay làm to chuyện hại người. Bên dân sự các anh, lên bục giảng chắc không có chuyện đồng nghiệp xét nét, xì đểu nhau như vầy đâu nhỉ. Cánh quân sự bên tôi năm bè bẩy mối, hằm hè, hở ra choảng nhau tới số đấy...

        Phú còn bảo với tôi, bạn học với anh ngoài Bắc di cư vô Nam, có anh Phan Huy Lương mới lên đại tá hồi tháng trước, từ ngày về nước anh đã gặp lại chưa?

        - Gặp một lần tại nhà riêng - Tôi nói - Nhưng chưa nói được chuyện gì thì có điện trên biệt khu gọi họp gấp. Anh ấy xin lỗi phải đi ngay, hẹn khi khác hàn huyên. Giờ anh ấy là nhân vật quan trọng rồi. Lần trước anh có nói về tướng Lê Nguyên Khang, có đúng người Bắc, quê Sơn Tây, thì trước học Chu Văn An, Hà Nội với tôi và anh Lương?

        - Phải rồi - Phú nói - Ông ấy hơn tôi có một tuổi, học khóa một sĩ quan trù bị Nam Định năm 1952, tức là trước tôi có một khóa võ bị, mà nay lên trung tướng rồi. Thế mới đúng nghĩa thăng tiến nhanh như diều gặp gió. Trong năm 1964 ông lên liền hai cấp, tháng 8 chuẩn tướng, tháng 10 đã thiếu tướng. So với Lê Nguyên Khang, Phan Huy Lương vẫn chậm, còn tôi thì quá chậm. Anh Lương cũng được gọi mới nổi trong giới quân sự thôi, chứ ảnh hưởng bên ngoài, nhất là với Mỹ sao bằng được ông anh trước đây. Nay ông Quát cũng hết thời rồi, như quả chanh đã bị vắt kiệt dưới tay ông chủ Hoa Kỳ.

        - Anh nói vậy, ta có tự chủ của ta chứ. Như Viện Đại học của tôi giờ không còn giảng dạy y xì theo chương trình của Pháp, Mỹ nữa. Còn rất ít giáo sư người nước ngoài.

        - Giáo dục thì được - Phú nói - Quân sự không thế. Hiện không có nửa triệu quân Mỹ và đồng minh nền Đệ nhị Cộng hòa sao đứng vững được. Việt Cộng đang ùn ùn đưa quân chính quy xâm nhập bờ cõi theo đường mòn bên Lào, Campuchia kia kìa...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:50:32 pm
         
NGOẠI GIAO... TỬ VI

        Một dạo người Sài Gòn vẫn kháo nhau về chuyện Tổng thống Thiệu rất mê bói toán tử vi, ông ta có hẳn một thầy cao tay bên cạnh để bất cứ lúc nào hỏi ý kiến, mọi chuyện từ quốc gia đại sự đến việc hệ trọng trong nhà. Không hiếm tướng tá ngụy, rồi vợ con của họ tình nguyện là đệ tử của môn khoa học thần bí đó. Tử vi tướng số, chẳng phải tôi cũng đã trải nghiệm từ ông thầy ở phố Hàng Hành, Hà Nội hồi bé, đến bà Hoàng Thị Thế ở Paris đó sao. Quả thực, lâu nay tôi không mấy quan tâm và chỉ tìm hiểu về tử vi tướng số để biết thêm một thứ “trò chơi”.

        Hi Di Trần Đoàn, thời Tống của nước Trung Hoa cổ được tôn làm ông tổ của tử vi. ông dựa vào Kinh Dịch, Bát Quái cùng lý thuyết Âm dương ngũ hành để định ra tử vi. Dữ kiện ban đầu cho lá số là giờ sinh, ngày, tháng, năm sinh. Nhưng nếu chỉ có vậy thì quá đơn giản, sẽ chỉ có một số hình mẫu hạn hẹp về số phận con người. Song, thực tế phong phú, biến ảo bởi những biến số không còn bó hẹp của cá nhân riêng lẻ nữa, mà gắn liền với gia đình (cha mẹ, anh em, vợ con, họ hàng, âm đức...), với các mối quan hệ xã hội, tương tác (bạn bè, đồng nghiệp, đối thủ...). Vậy thì tham vọng của tử vi rất lớn, hòng đọc quá khứ và tiên đoán tương lai cho mỗi số phận con người. Nó gián tiếp nói rằng, với mỗi con người sinh ra đã được mã hóa cuộc đời bằng sự hiện diện và tác động lẫn nhau theo quy ước các vì sao trên trời. Mỗi lá số có cách “an sao” khác nhau, bao gồm 118 chính tinh, phụ tinh trải trong 12 cung của vòng tràng sinh, từ đó sẽ “mã hóa” những biến cố, hên xui thuộc tiền vận, trung vận, hậu vận mỗi con người.

        Thực ra lập một lá số, chỉ là việc thực hiện một thuật toán đơn giản, hầu như ai cũng có thể làm được. Song người giải mã tử vi giỏi còn phải có những trực cảm nào đó nằm ngoài những tính toán, quy tắc định sẵn. Ban đầu tôi lập lá số viết ra giấy, về sau này khi máy tính thịnh hành, tôi lập trình, chỉ cần nạp dữ liệu vào máy nhanh chóng có một bản an sao hoàn chỉnh, gồm cả phần lược giải theo mười hai cung. Làm “thầy”, ngoài lấy lá số và dự đoán, còn phải biết kết hợp thuật xem tướng mặt, nghe giọng nói, dáng đi... với xem đường chỉ trong lòng bàn tay theo quy tắc “trai tay trái, gái tay phải”. Với bà Hoàng Thị Thế lại có cách xem khá độc đáo mà đơn giản: xem chỉ tay kết hợp với việc quy ra một số nhất định “típ” người, đàn ông 7, đàn bà 9.

        Người được tôi “hành nghề” tử vi đầu tiên chính là ông em rể vợ. Lời phán cho anh ta trong lúc ấy tuy cũng có dựa ngẫu hứng vào lá số, song chủ yếu do được nửa ly rượu kia kích thích làm hưng phấn thần kinh, cộng với sự suy đoán một cách khiên cưỡng: anh ta cùng năm và tháng sinh nên suy từ mình mà ra. Đó chỉ là trò bịp bợm có chủ định, hay nói khoác gặp dịp mà thôi. Sau này khi đã xem cho nhiều người, đúc kết được nhiều kinh nghiệm, lại cảm thấy như mình ngày càng “ngộ” thêm được sự huyền diệu nào đó, thì tôi đã nói trúng cho nhiều trường hợp và tôi nổi tiếng tự lúc nào. Hóa ra, công việc điệp viên đã bắt tôi trở thành “thầy” bất đắc dĩ.

        Người thứ hai tôi xác định cần sớm đặt mối quan hệ để có thể moi thông tin từ MACV, cũng bắt đầu bằng tử vi, là với Trung tá Jason Kaatz thông qua cô bạn đồng môn Vương Mộng Ngọc.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:53:38 pm

        Bao nhiêu năm gặp lại cô bạn học không thay đổi nhiều, chỉ đẫy người hơn thôi. Vợ chồng cô đã có một bé gái hai tuổi, da trắng mắt xanh, tóc đen, đẹp như thiên thần. Vương Mộng Ngọc tỏ ra một mệnh phụ phu nhân sành điệu đất Sài thành. Khi nghe tôi nói qua Hai Lân mới biết địa chỉ của cô, Mộng Ngọc cười mát tỏ vẻ coi thường anh ta ra mặt. Cô kể, cái anh chàng “hãnh tiến” ấy có lần đã đến đây cứ xoắn suýt với nhà em, nhưng lại nói bằng thứ tiếng Anh dở ẹc, chuyển tiếng Pháp cũng Pháp bồi. Em bảo, thôi anh cứ nói tiếng Việt tôi sẽ dịch cho. Nhưng Hai Lân tỏ ý muốn tâm sự riêng những chuyện bí mật quân sự gì đó. Em biết tỏng, anh ta muốn kết thân với các co vấn, cậy nhờ thế lực Mỹ đế leo cao. Anh ta về rồi, em bảo với Jason, cái ông bạn đồng môn ấy của em khó chơi lắm đấy nhá. Ông chồng em chỉ cười không nói gì.

        Lần ấy tôi đã có dịp trò chuyện với chồng Mộng Ngọc, Trung tá Jason Kaatz bằng tiếng Anh, đôi lúc anh ta thích, chủ động chuyển sang tiếng Pháp (tất nhiên, tiếng Pháp anh không bằng tôi). Một khi không còn hàng rào ngôn ngữ chia cách thì chúng tôi nói chuyện với nhau một cách thân tình, cởi mở. Trước khi sang Việt Nam anh cử nhân luật, làm cho một văn phòng luật sư ở tiểu bang Massachusetts. Con đường binh nghiệp của Jason khá suôn sẻ. Anh có mặt trong một đơn vị lính thủy đánh bộ đầu tiên đổ bộ lên cảng Đà Nẵng tháng 3-1965. MACV hiện diện tại Nam Việt Nam từ đầu năm 1962, về danh nghĩa là cơ quan chỉ huy toàn bộ các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ cùng quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sang Việt Nam, việc đầu tiên Jason có chủ ý học nói tiếng Việt. Một lần Đại tướng Harkins Chỉ huy trưởng MACV đến thị sát vùng ngoại ô Đà Nang, bất ngờ ông ta vào nhà một người dân hỏi chuyện, đúng lúc đơn vị của Jason đang đóng ở đó, anh ta đã nhanh nhẩu làm thông dịch viên cho ông một cách khá trôi chảy. Con đường binh nghiệp của anh ta sau đó hanh thông đến không ngờ. Được Harkins để mắt tới, lấy anh về văn phòng MACV Sài Gòn. Đến đời tướng bốn sao Westmoreland, anh càng được trọng dụng, cất lên làm trợ lý của Tổng hành dinh, trong vòng chưa đầy bốn năm thăng liền hai cấp quân hàm. Jason hết lời ca ngợi “minh chủ”, tác giả của chiến lược bảo vệ vùng duyên hải, ngăn chặn đường xâm nhập của đối phương, sau đó sử dụng chiến thuật “3F” (viết tắt tiếng Anh nghĩa là: tìm thấy, tấn công, thanh toán). Anh còn khẳng định với tôi kế hoạch tìm diệt, bình định của Westmoreland chắc chắn sẽ thành công. Buổi đầu làm quen, tôi tỏ ra không mấy quan tâm đến những công việc “nhà binh” như thế, mà hỏi Jason về những điều xã giao tưởng như vô bổ như: cảm nghĩ của anh về phong cảnh, đất nước, con người nơi quê hương vợ. Anh ta cười vui vẻ, được dịp khoe:

        - Tất cả đều tuyệt vời, thưa giáo sư! Tôi thích phong cảnh, khí hậu Đà Lạt cứ cuối tuần cùng vợ con lên đấy nghỉ dưỡng. Ông bố vợ tôi một thương gia người Hoa có tài kinh doanh và vợ tôi cũng có năng khiếu trong lĩnh vực ấy. Con gái tôi có gene Mỹ - Á nên rất xinh đẹp, thông minh.

        Mộng Ngọc ngồi bên, bảo chồng (cô nói tiếng Anh khá chuẩn):

        - Không được nói quá lên, Jason. Anh nên nhớ là đang nói chuyện với người thông minh nhất lớp em đấy nhá.

        - Biết chứ - Từ nãy đến giờ Jason toàn nói với tôi bằng tiếng Anh, bỗng chuyển sang tiếng Việt, giọng lơ lớ - Giáo sư lấy được nhiều bằng cấp từ Paris. Nghe nói giáo sư còn biết xem tử vi, rất đúng.

        Tôi hoàn toàn bất ngờ về điều Jason vừa nói, song vẫn điềm nhiên bảo:

        - Làm gì có chuyện ấy.

        - Ông Phú ở Quân đoàn 3 vừa nói chuyện với tôi - Jason vẫn diễn tả bằng thứ tiếng Việt khá lủng củng - rằng có người đã tiên tri sẽ lên đại tá, là ông anh vợ chính giáo sư đó.

        - Ô, anh biết xem cả tử vi ư? - Vương Mộng Ngọc nhìn tôi hỏi - Anh thử xem cho em sắp tới hên xui thế nào.

        - Đúng rồi - Jason hùa theo vợ - Người Tây như tôi có xem tử vi được không nhỉ, giáo sư?

        Tôi thấy đây là cơ hội để thân mật hơn với gia đình này, bảo với hai người tôi mới biết xem, xem cho vui thôi, nếu thích thì ghi lại các dữ kiện về giờ sinh, ngày tháng năm sinh, về nhà tôi sẽ lấy cho lá số. Nhưng chỉ là “trò chơi”, để tham khảo cho vui thôi đấy nhá, tôi nhắc lại.

        Hóa ra Mộng Ngọc hơn chồng hai tuổi, đúng như câu về sự hợp cách “gái hơn hai, trai hơn một”. Tôi đã lấy lá số cho hai người, luận ra khá khớp với những gì tôi đã biết về họ. Tôi còn có sự so sánh: vào thời điểm hiện tại cả hai lá số đều có những sao xấu, gặp bất lợi và lá số của Mộng Ngọc thể hiện điều đó khá rõ tại cung “Thiên di”. Quay lại nhà họ, hôm đó Jason đi vắng, chỉ có Mộng Ngọc ở nhà, tôi phán:

        - Tháng tới có sự trắc trở trong làm ăn, dính hạn quan tụng. Em phải biết dừng lại ngay từ giờ.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:54:14 pm

        Mặt bà chủ nhà bỗng tái dại, hỏi ngay:

        - Còn kịp không anh?

        - Kịp - Tôi nói và chỉ tay vào sao Tuần ở cung Thiên di - Có người đỡ cho. Tất nhiên bên phía chồng em. Muốn thoát được hạn quan tụng, ngay bây giờ phải chạy trước các cửa.

        Thực ra những điều tôi nói với Mộng Ngọc hoàn toàn do cảm tính, chính mình cũng không hiểu tại sao mình lại khẳng định có “hạn quan tụng” sắp xảy ra với cô ta. Một thứ “đoán mò” được ăn cả ngã về không. Thế rồi một tuần sau, tôi đọc mấy tờ báo lá cải ở Sài Gòn, viết về một vụ áp phe bị khui ra, có liên quan đến khoản viện trợ của Hoa Kỳ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa. Tuy không thấy nêu tên Vương Mộng Ngọc trong số những đầu sỏ, song tôi chắc cô ta cũng trong nhóm định biển thủ món hàng cứu trợ ấy. Rồi có sự thỏa thuận nào đó bên trong, chỉ một thời gian sau, báo chí Sài Gòn im ắng, vụ áp phe đó coi như không xảy ra.

        Gặp lại, vợ chồng Vương Mộng Ngọc hết lời ca ngợi “tài bói như thần” của tôi và bảo tôi đã cứu họ một bàn thua trông thấy. Tôi cũng thở phào.

        Không ngờ cái cách “ngoại giao tử vi” của tôi lại thần phục được vợ chồng Vương Mộng Ngọc nhanh đến vậy. Hễ có làm ăn gì là thế nào cô ta cũng gọi điện hỏi trước tôi “thầy xem có được không?”. Tất nhiên tôi chỉ trả lời chung chung, có thể những vụ áp -phe ấy đều thông đồng bén giọt, hoặc không được như ý thì cũng không đến nỗi đổ bể trắng tay, trong mắt cô tôi vẫn là một “thầy” được tin cậy nhất. Lần ấy Jason mời tôi đến nhà, có thêm một người Mỹ cũng trạc tuổi anh ta đang ngồi chờ sẵn ở đấy.

        - Đây là Thiếu tá Jack Smith - Jason giới thiệu trước - Còn đây giáo sư Nguyễn Đình Ngọc, hai bằng tiến sĩ tại Paris, hiện giảng dạy ở Đại học Khoa học Sài Gòn. Người mà tôi đã nói trước với anh là có tài về chiêm tinh tử vi, một khoa học tâm linh phương Đông rất thần diệu.

        Tôi hiểu ngay, mình sắp có thêm một “đệ tử bất đắc dĩ”. Qua câu chuyện tôi được biết đây là đôi bạn cùng nhập ngũ một ngày, song số phận đã đưa đẩy họ hai con đường binh nghiệp khác nhau. Jack không có “quý nhân phù trợ” nên thăng tiến chậm hơn, lại không được là lính cậu trên Tổng hành dinh như Jason mà lính chiến thục sự. Anh ta được huấn luyện đặc biệt tại đảo Hawaii, sang Việt Nam biên chế trong một đơn vị biệt kích, luôn phải đối diện với những rủi ro, nguy hiểm và kể đã mấy lần hút chết.

        - Đơn vị tôi - Jack Smith nói và nhìn tôi với đôi mắt xanh lét ẩn duới cặp lông mày rậm trông dữ dằn như mắt cọp - lại sắp vào chiến dịch tìm diệt mới ở vùng Bắc Sài Gòn. Nói thật với giáo sư, tôi không tin vào số mệnh, nhưng thực tế lại bắt tôi phải tin. Tháng trước, một thằng bạn thân trong đại đội, khi ra khỏi doanh trại đã nói nhỏ với tôi: Đêm qua tao nằm mơ thấy ác mộng bị đá lở đè chết, tỉnh dậy toát hết mồ hôi mày ạ. Thế rồi lần ấy đi lùng sực ở rừng Bình Long nó không phải bị đá đè mà cây đè. Tôi đi trước nó có vài mét, bất thần một cây lớn chết khô từ lúc nào đổ “uỳnh” đè ngang thắt lưng nó, nát bét. Cái chết đến bất thần, vô nghĩa thế. Mắt nó không nhắm được cứ mở trừng trừng, tôi phải vuốt mắt cho nó. Đấy, linh cảm trước tai họa mà không tránh được. Chúng ta duy vật, gặp trường hợp này cũng phải duy tâm thôi. Jason cho tôi biết giáo sư có tài chiêm tinh, tôi cũng muốn được thỉnh giáo giáo sư. Đợt này tôi phải đi chiến dịch...

        Quả là viên Thiếu tá biệt kích đã đặt tôi vào cái thế không thể khước từ. Tôi cũng phải “giúp” hắn, lấy các cứ liệu cần thiết. ít ngày sau lập xong một lá số, tôi gửi qua Jason cho Jack, có cả một trang giải đoán. Phần lớn chung chung. Chỉ lưu ý anh ta năm 38 tuổi có một cái “hạn sát thân”, may nhờ “nhờ phúc đức tổ tiên mà qua được ”.

*

*       *

        Giáp Tết Nguyên đán Đinh Mùi. Náo nức đón xuân đấy, nhưng nhiều người vẫn nghe ngóng tin thất thiệt từ cuộc giao tranh giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam ở mặt trận phía Bắc cách Sài Gòn khoảng 40 km. Tôi chưa nhận được chỉ thị mới, thâm tâm cũng phấp phỏng về kết cục cuộc hành quân Cedar Falls. Thế rồi đêm hôm đó, có bài phát trên Đài BBC London: “Chiến dịch Cedar Falls diễn ra từ 8-1 đến 16-1-1967 nhằm triệt nhổ tận gốc rễ căn cứ của Mặt trận Dân tộc giải phóng Nam Việt Nam ở vùng Tam Giác sắt, khu vực rộng 155 dặm vuông nằm giữa sông Sài Gòn và Quốc lộ 13. Mặc dù phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã phá hủy nhiều đoạn công sự của Việt Cộng, nhưng mục tiêu về cơ bản của Mỹ vẫn không thực hiện được. Trong khi đó việc bảo vệ an toàn phần lớn căn cứ có thể coi là một thắng lợi của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Nhờ vào hệ thống địa đạo có quy mô khổng lồ và tổ chức tinh vi, họ không cần mất nhiều công sức để bài binh bố trận, không cần tổ chức những trận đánh lớn đầy rủi ro, mà phía Mỹ vẫn phải rút quân. Thành công của Quân Giải phóng có sự đóng góp của các tin tức tình báo...”.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Giêng, 2018, 10:55:23 pm

Chương năm

CUỘC ĐỐI THOẠI

        Mỗi tuần tôi có ba buổi lên lớp, còn ngồi nhà đọc sách. Một hôm ông trưởng phòng giáo vụ mời tôi đến, thấy một nhà sư đang đợi. Ông trưởng phòng giới thiệu, đây là sư thầy giáo vụ của Viện Đại học Vạn Hạnh.

        - Thưa giáo sư - Sư thầy nói với tôi một cách chậm rãi, từ tốn - Năm nay Đại học Vạn Hạnh có thêm phân khoa Giáo dục và khoa học ứng dụng. Các khoa này đều có trau dồi cho sinh viên kiến thức về toán học. Thầy dạy toán của trường tôi mới chuyển đi mà chưa tìm được người thế chỗ. Được vị trưởng phòng của quý trường đây giới thiệu, muốn nhờ giáo sư đến thỉnh giảng, mỗi tuần hai buổi, chỉ trong vòng một đến hai tháng đầu thôi, sau đó chắc chắn sẽ có thầy mới về biên chế chính thức. Không biết ý giáo sư thế nào?

        Tôi tỏ ý ngạc nhiên: học viên Phật giáo cũng học toán? Sư thầy cười giảng giải là Thượng tọa Thích Minh Châu, nhà sáng lập, kiêm Hiệu trưởng Đại học Vạn Hạnh từng tu nghiệp ở Tích Lan và Ản Độ, đã đem mô hình đại học Phật giáo ở hai nơi đó mà lập nên Viện Đại học Vạn Hạnh. Ở đây cũng có nhiều bộ môn như các trường đại học bình thường khác, kiến thức sơ đẳng về toán rất cần thiết cho các tăng ni, tu sĩ sau này.

        Thời điểm ấy ở miền Nam có 3 viện đại học tư thục và đều của tôn giáo: Viện Đại học Đà Lạt thành lập năm 1957, nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công giáo; Viện Đại học Phương Nam được cấp giấy phép năm 1967 thuộc khối Việt Nam Quốc tự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất; Viện Đại học Vạn Hạnh thành lập năm 1964 thuộc khối Ân Quang đặt ở chùa Xá Lợi và chùa Pháp Hội, khi tôi đến thỉnh giảng thì mới chuyển sang địa chỉ 222 đường Trương Minh Giảng, Quận 3. Một hàng chữ lớn đắp nổi tại mái hiên tòa giảng đường “Duy tuệ thị nghiệp” cũng nói lên chốn giáo đường này coi trọng chữ nghĩa, bài bản. Việc dạy toán học đại cương của tôi ở đây có một tháng, không để lại ấn tượng gì nhiều trước các nhà sư tương lai, song tôi lại dành nhiều cảm tình với vị hiệu trưởng, linh hồn của Đại học Vạn Hạnh.

        Thượng tọa Thích Minh Châu trạc tuổi năm mươi, dáng vóc cân đối, đi đứng khoan thai trong bộ áo nhà chùa mầu vàng ươm. Ông có khuôn mặt tròn phúc hậu, đôi mắt sáng luôn nhìn thẳng nghiêm nghị và giọng xứ Quảng trầm ấm dễ nghe. Hôm đầu đến Viện, tôi đã được sư thầy phụ trách giáo vụ dẫn đến ra mắt hiệu trưởng. Thượng tọa nói, đã được sơ kiến bản lý lịch khoa học của tôi và rất trọng vọng những người được đào tạo toàn diện ở môi trường có nền văn hóa và kỹ nghệ cao. Qua sư thầy tôi cũng biết đây là một cao tăng được đào tạo về Phật học đầy đủ và bài bản vào bậc nhất. Thượng tọa xuất thân danh gia vọng tộc, dòng họ có 5 đời liên tiếp đỗ tiến sĩ. Năm 1940 ông đỗ tú tài trường Khải Định, Huế, trước đấy đã dấn thân theo phong trào chấn hưng Phật giáo của cư sĩ, bác sĩ Lê Đình Thám. Rồi ông có 12 năm du học ở Tích Lan và Ấn Độ. Sau khi đậu bằng pháp sư ở Colombo, ông sang Án Độ tiếp tục học đại học tại Viện Đại Tân Tùng Lâm Naranda. Năm 1961 ông hoàn thành xuất sắc luận án tiến sĩ “So sánh kinh Trung A Hàm chữ Hán và kinh Trung Bộ chữ Pali”. Bản luận án được đánh giá là “Một công trình quý báu và hiếm có, trước đó và cho đến 50 năm về sau gần như không có một công trình tương tự”. Trước hết cần nhìn nhận tác giả bản luận văn này ở khả năng thấu hiểu nhiều ngôn ngữ, trong đó có cả những ngôn ngữ tối cổ dùng cho các loại kinh bổn. Ngoài tiếng Anh, Pháp, Hán, Tây Tạng, Nhật Bản, Thượng tọa thông thạo cả ngôn ngữ Pali, Sancrit...

        Hồi còn ở Paris, có lần tôi và Alexander đã đàm đạo về một chủ đề có vẻ xa với toán học là Khoa học và Phật giáo. Chúng tôi đều quan tâm đến đạo Phật trước hết vì đã có những thành tựu nổi bật hồi đầu thế kỷ XX về vật lý lý thuyết, sự ra đời của Thuyết Lượng tử của Max Planck và Thuyết Tương đối của Albert Einstein. Dường như có những điểm rất tương đồng giữa khoa học nhìn theo quan điểm hiện đại từ các lý thuyết trên với giáo lý nhà Phật, chẳng hạn ở các khái niệm sắc sắc không không và vô thường. Quan niệm về sự thay đổi liên tục và hiện diện khắp nơi của Phật giáo còn gần giống với những luận điểm của vũ trụ học hiện đại. Phật giáo chấp nhận tất cả các cách nhìn nhận hiện thực có những tiêu chí của chân lý. Đức Phật có những lời răn dạy đệ tử hãy bằng chính những kinh nghiệm cá nhân phát hiện lại sự phụ thuộc lẫn nhau của ý thức và thế giới để thay đổi cách nhìn về hiện thực của mình. Phật tử khi đã ý thức được rằng các vật không tồn tại một cách tự lập, có nhân có quả, sẽ làm cho bản năng tăng tính thiện, bớt đi tính ác, cũng là bớt được những khổ đau trong lòng mình, lòng người. Những nhận thức này nằm trong kinh bổn ghi lại lời Đức Phật thông qua sự thu thập lại của các đệ tử hoặc trong các cuốn bình chú của Ân Độ được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng hàng nghìn năm về trước. Tôi và Alexander đều tâm đắc với câu đề cao tư tưởng Phật giáo của Einstein: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó sẽ phải vượt lên trên ý tưởng về một Thiên chúa nhân hóa và thoát khỏi các giáo điều và thần học. Bao trùm cả cái tự nhiên lẫn cái tinh thần, nó sẽ phải dựa trên một ý nghĩa tôn giáo sinh ra từ sự trải nghiệm tất cả các sự vật, tự nhiên cũng như tinh thần, coi như một tổng thể có ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được mô tả này... Nếu tồn tại một tôn giáo có thể phù hợp với các đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo”.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:12:37 pm

        Thế rồi trước khi tôi rời Viện Đại học Vạn Hạnh, Thượng tọa Thích Minh Châu đã dành cho tôi một buổi chiều đàm đạo xung quanh những vấn đề của truyền bá Phật giáo mà tôi quan tâm từ hồi còn ở Paris.

        - Thưa Thượng tọa - Tôi nói - Thời kỳ tôi bên Pháp, đạo Phật Việt Nam chưa phát triển lắm trong cộng đồng người Việt, song đã có thể thấy sự hiện diện của ba tông phái: Tịnh độ, Thiền và Nguyên thủy hòa nhập cùng với tông phái Tịnh độ của người Trung Quốc, Thiền của người Nhật, Mật của người Tây Tạng và Nguyên thủy của người Lào - Khmer. Ngài thường mặc chiếc áo vàng nguyên thủy, phải chăng vẫn theo tông phái Nguyên thủy?

        - Trong khi nghiên cứu về kinh tạng - Thượng tọa Thích Minh Châu nói - tôi thấy những chữ chuyển ngữ từ tiếng Pali, tiếng Sancrit sang tiếng ta có nhiều khó khăn, không đồng nhất, cho nên khi sang học ở Tích Lan tôi tự rèn luyện trở thành một tỳ kheo thực thụ theo truyền thống của Phật giáo nguyên thủy. Từ đó tôi vẫn mặc chiếc áo vàng này, chắc hẳn đến cuối đời cũng không thay đổi. Công việc quan trọng nhất của tôi là truyền bá giáo lý nhà Phật lưu giữ văn bản chuẩn mực từ thế hệ này đến thế hệ khác. Cụ thể dịch toàn bộ Tạng kinh Nikaya cũng gọi là Tạng kinh Pali sang tiếng Việt.

        - Toàn bộ triết lý Phật giáo rất đồ sộ, minh triết rất sâu sắc và giàu tính gợi mở. Tôi biết ngài kiên trì mang những lời răn dạy của Đức Phật đến đồng bào trong nước thông qua những sách kinh được dịch ra tiếng Việt. Đó là cả một số lượng việc khổng lồ, ngài đã làm được đến đâu rồi?

        - Hồi đầu năm ngoái, tập một của Trường Bộ kinh (Digha Nikaya) đã in xong. Sách có ba bài kinh song ngữ tiếng gốc Pali và tiếng Việt. Tôi định năm, bẩy năm nữa sẽ hoàn thành toàn bộ bốn tập Trường Bộ kinh bộ (Majjhima Nikaya). Tiếp đến là Kinh Tăng chi bộ (Anguttara Nikaya), Kinh Tương ưng bộ (Samyutta Nikaya) và Kinh Tiểu bộ (Khuddaka Nikaya). Tôi có ít thì giờ dành cho dịch thuật, do phải kiêm nhiệm nhiều việc khác. Đấy là điều làm tôi rất băn khoăn. Nên nhớ, bộ kinh cuối phức tạp nhất, gồm nhiều phần độc lập với nhau, có tới 18 phần, không biết tôi có đủ thời gian để hoàn thành nó nữa không. Cũng phải nói thêm với ngài rằng, việc dịch kinh Phật ra tiếng của dân tộc mình là nguyện vọng chính đáng với nhiều quốc gia. Một đất nước có truyền thống Phật giáo lâu đời và sâu sắc như Campuchia, họ cũng đang làm việc này. Tôi có người bạn cùng làm tiến sĩ Phật giáo ở Ấn Độ là Hòa thượng tăng thống Maha Ghosananda, lần tôi sang Phnom Pênh cách đây vài năm, ông nói rằng chính Quốc trưởng Norodom Sihanouk khuyến khích việc này và ông đã dịch xong Kinh Tương ưng bộ, bắt đầu vào việc dịch bộ kinh khó nhất. Nhưng tôi biết bên ấy cũng như ta, thường gặp không ít trở ngại do chính thể bấp bênh, khó giữ ổn định.

        - Tôi tuy không đi sâu vào giới Phật tử, nhưng cũng đã nghe có lời xì xào rằng: ngài dịch Tạng Pali là tuyên truyền cho Nam tông, cho Tiểu thừa, phản lại Bắc tông, Đại thừa?

        - Chúng ta nên chấm dứt thái độ ngây thơ và buồn cười này. Đạo Phật không có Đại thừa, Tiểu thừa, không có Nam tông, Bắc tông. Đạo Phật gồm một số giáo lý căn bản mà học phái nào cũng phải tôn trọng, một số pháp môn thiết yếu mà đệ tử Phật tử nào cũng phải y cứ để tu hành, nếu không muốn lạc vào tà giáo, ngoại đạo. Khi chúng tôi dịch từ tiếng Pali ra tiêng Việt là chúng tôi muốn giới thiệu ba Tạng Pali cho các Phật tử và học giả Việt Nam một Tam tạng kinh điển phong phú, rất gần với dạng nguyên thủy của đức Phật, đã được phổ biến rộng rãi khắp năm châu. Ngài còn lạ gì Einstein, ông ta làm khoa học nhưng thấu hiểu ý niệm về Thiên -Địa -Nhân hợp nhất khi nói rằng: “Ngày nay người ta dần dần ý thức rằng chỉ có đạo Phật Nguyên thủy mới đáp ứng được những đòi hỏi của một thế giới khoa học hiện tại. Một tôn giáo muốn được giới trí thức trẻ chấp nhận vừa phải không mâu thuẫn với những phát minh khoa học mới mẻ nhất, vừa phải giải quyết được những vấn đề thuộc phạm vi con người ở thế kỷ XX, XXI. Chỉ có đạo Phật nguyên thủy mới may ra đáp ứng được những đòi hỏi trên.”

        Việc làm của chúng tôi không nhằm ủng hộ lập trường nào, môn phái nào. Càng dịch tôi càng thấy rõ ác ý của nhà Bà La Môn khi dùng danh từ Tiểu thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật, khiến các đệ tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Các vị Bà La Môn đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật khiến giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại bị xuyên tạc do xen lẫn với tà giáo.

        - Ngài làm Viện trưởng hay người dịch kinh, chức vụ nào có lợi cho Phật giáo hơn?

        - Tôi có thể thẳng thắn trả lời rằng dịch kinh có lợi hơn. Song tôi đã không có sự lựa chọn nào khác được, về nước năm 1964, nếu Phật Tổ cho tôi sống được đến năm 80 tuổi chẳng hạn, chuyên tâm vào dịch thuật, chắc chắn tôi sẽ hoàn thành được tâm nguyện là dịch trọn bộ Kinh Tạng Pali.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:13:02 pm

        - Xin hỏi ngài một câu về việc đời. Ngài có quan tâm đến thời cuộc?

        - Tôi đã gác việc đời, từ trẻ dốc lòng theo đạo. Tôi luôn cầu nguyện cho hòa bình và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhân đây cũng xin hỏi lại giáo sư câu ấy: ngoài khoa học ngài có quan tâm đến thời cuộc không?

        - Tôi cũng giống ngài.

        Tôi bật ra câu ấy như thể đó là sự trả lời tự nhiên, cũng là một sự lấp liếm không thể khác. Rồi tôi và ngài đều im lặng giây lát, nhìn về phía xa xa, nơi ánh chiều đang chiếu những tia nắng cuối cùng lên hàng chữ “Duy tuệ thị nghiệp” ở nóc giảng đường và làm cho nó bỗng trở nên sáng lóa. Làm sao tôi có thể thổ lộ góc sâu kín nhất trong tâm hồn mình. Tôi khác ngài. Một khi tôi đã hoàn thành “việc đời”, tức là góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước, hẳn khi đó tôi cũng sẽ được như ngài “Duy tuệ thị nghiệp”. Và tôi tin chắc ngày đó không còn xa nữa!

        Chỉ ít ngày sau khi tôi hết khóa dạy ở Đại học Vạn Hạnh, đài báo Sài Gòn loan tin chiến dịch Junction City kết thúc, như lệ thường thì phải rầm rộ khuếch trương chiến quả, thế mà có tờ báo lại đánh giá bi quan:“Chiến dịch đầy tốn kém và đẫm máu cho cả hai bên, nhưng Mỹ nói chung đã thất bại về mặt chiến lược, gây mất niềm tin cho quân đội Việt Nam Cộng hòa”... Tôi nghĩ ngay đến việc thăm dò qua viên Trung tá Jason Kaatz của MACV, anh ta chẳng đã rất tin tưởng vào tài thao lược của “minh chủ” của mình, tướng bốn sao Westmoreland đó sao.

        Từ dạo Vương Mộng Ngọc “thoát hạn”, tôi đã trở nên thân tình với cặp đôi này. Jason vẫn ân cần với tôi, song không giấu được những nét buồn bực hiện trên mặt. Tôi kể qua cho anh biết về vị sư có trình độ cao, thông thạo nhiều ngoại ngữ ở Đại học Vạn Hạnh, đấy như một mào đầu của một câu chuyện có chủ đề vô thưởng vô phạt. Quả nhiên Jason chẳng thích thú gì, mà kể ngay về chuyện tôi đang quan tâm là chiến dịch Junction City, đó mới thực sự là nỗi bức bối trong lòng, anh ta cũng muốn được cởi tỏa với người khác.

        - Chiến thuật “tủ” của ông sếp Westmoreland của tôi là tận dụng tối đa hỏa lực, - Anh nói - pháo dội ào ạt, bom thả như mưa, đạn bắn như vãi cát. Vậy mà sau 53 ngày đêm của chiến dịch không tìm thấy chủ lực Việt Cộng, không bắt được thành viên nào của Mặt trận Dân tộc giải phóng, cuộc hành quân gặp toàn cạm bẫy như chông mìn, lựu đạn gài. Du kích lúc ẩn lúc hiện. Những căn cứ chiếm được thì rỗng không. Mỗi khi dừng chân ở đâu đều bị bắn tỉa, bị ném lựu đạn, phóng rocket. Bệnh nhiệt đới sốt rét, sốt phát ban hoành hành. Chủ động tìm diệt chuyển sang bị động đối phó, với một bản thành tích nghèo nàn như vậy, tướng ba sao chỉ huy chiến dịch là Jonathan Simon đã bị cách chức. Giáo sư bảo thế có đáng buồn không?

        Cùng với sếp, MACV đã sai nghiêm trọng khi đánh giá đối phương. Chúng tôi bị lừa do tin vào các con số khảo sát bịp của Chính quyền Sài Gòn; mặt khác tin vào các tài liệu tịch thu được cũng như lời khai của một vài kẻ chiêu hồi. Cùng lúc MACV hầu như không quan tâm đến tin tình báo do Văn phòng CIA Sài Gòn cung cấp. Trên thực tế chỉ huy trưởng MACV đã lừa Nhà Trắng và lừa cả ông Bộ trưởng McNamara nữa. về sau nhận ra điều này chính ông Bộ trưởng đã cử một nhóm bí mật vừa đặt chân đến Sài Gòn, với nhiệm vụ thu thập và lập một bộ tài liệu riêng của Lầu Năm Góc để hiểu rõ hơn về tình hình Nam Việt Nam.

        Giáo sư biết không, ông trợ lý đặc biệt của CIA Carver luôn bị MACV miễn cưỡng hợp tác, hóa ra vấn đề còn mang tính chính trị. Cả ông sếp lớn của MACV cùng Đại sứ Bunker đã bóng gió nói với Carver rằng, quân đội không thể báo cáo toàn bộ sự thật về Washington.

        - Vậy kế hoạch tìm diệt, bình định của Westmoreland mà lâu nay đài báo vẫn cổ súy đã không thể thành hiện thực? - Tôi hỏi.

        - Nếu xét về thời hạn bình định miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng thì đã hết rồi. Cũng có thể gọi là thất bại, song kiểu gì giải pháp sẽ kéo dài thời hạn này ra...

        - Thành vô thời hạn chăng? - Tôi ngắt lời Jason.

        - Có thể lắm - Jason cười - Chắc chắn trong năm tới sẽ tăng quân, cũng phải vét hết lực lượng dự bị của Mỹ thôi.

        - Bao nhiêu cho đủ...

        - Ít nhất cũng phải cần cỡ hai mươi vạn quân Mỹ nữa đấy, ông giáo sư thân mến của tôi ạ.

        Sau cuộc gặp với Jason, chiều thứ bảy (Dạo này cứ chiều thứ bảy là Nghiêm Văn Phú cho xe đến đón tôi tới nhà anh ăn cơm), trong cuộc đàm đạo Phú còn nói thêm về thảm bại của cuộc hành quân đẫm máu và tốn kém đó. Anh kể: Giai đoạn hai (Từ 18-3 đến 15-4-1967) hướng tấn công chủ yếu mạn Đông tỉnh lộ 4 được giới hạn bởi sông Sài Gòn nhằm về tuyến biên giới Đông bắc Cà Tum và tuyến thượng nguồn sông Sài Gòn, được B52 rải thảm không hạn chế. Trên toàn mặt trận, sự kháng cự của Việt Cộng lại tỏ ra ngày càng mãnh liệt, các hậu cứ của Mỹ đều bị pháo kích gây nhiều thiệt hại về người và khí tài, vũ khí, như ở Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá...

        Sau các cuộc gặp gỡ, tôi báo về Trung tâm chi tiết chính những diễn biến thất bại của Mỹ ngụy trong chiến dịch lunction City, còn nhấn mạnh khả năng năm tới (1968) Mỹ sẽ đổ thêm quân viễn chinh vào chiến trường Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:14:08 pm

CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG

        Hết giờ dạy, tôi đạp xe từ trường về đến chợ Bến Thành chợt thấy một cô gái phía trước, tay xách bọc nilon khá to đang xấp ngửa bước. Ai như Nga, cô sinh viên trường tôi? Tôi đạp nhanh theo, gần đến nơi, bất ngờ cô dừng, quay lại cúi chào:

        - Em chào thầy!

        Tôi không khỏi ngỡ ngàng, cô biết có tôi đang phía sau và cố tình muốn tránh mặt.

        - Sao em ở đây? - Tôi hỏi. Một tuần nay Nga đã vắng mặt ở lớp. Cô tỏ ra lúng túng chưa biết trả lời thế nào, tôi chỉ vào cái ghế đá chỗ nhà chờ xe buýt, bảo hãy ra đấy ngồi thầy trò ta nói chuyện. Cô ngoan ngoãn nghe theo. Ở lớp tôi có ấn tượng về Nga tính tình vui vẻ, hay quan tâm đến các bạn, tuy cô không phải học khá lắm. Một lần thấy ghế cạnh Nga trống mấy buổi liền, hỏi thì Nga bảo đã đến thăm nhà bạn Hiền, gia đình bạn ấy có ông anh cả đi lính vừa tử thương ở mặt trận Tây Ninh, mẹ bạn bị bệnh tim ngất lên ngất xuống đang cấp cứu trong bệnh viện. ít lâu sau Hiền trở lại lớp, cái ghế bên lại trống, đến lượt Nga nghỉ không rõ lý do. Tôi chỉ vào bọc nilon hỏi cái gì, cô cứ lúng túng, mặt đỏ bừng. Rồi cô nói nhỏ:

        - Thưa thầy, có lẽ em phải nghỉ học thôi ạ.

        - Sao vậy?

        - Hoàn cảnh gia đình em khó quá.

        - Em nói thầy nghe thử xem sao nào.

        - Em không muốn làm thầy bận tâm đâu ạ.

        Gương mặt Nga hiện rõ nét buồn tủi và mắt đã có ngấn nước, có lẽ cô đang cố kìm nén để không bật ra tiếng khóc. Tôi biết, thời buổi kinh tế khó khăn vật giá leo thang này, sinh viên trường tôi không ít người phải bỏ học giữa chừng. Ngoài giảng dạy chính thức ở Đại học Sài Gòn, tôi nhận thỉnh giảng thường xuyên ở nhiều đại học khác như Huế, cần Thơ, Mỹ Tho, Nha Trang... là có dụng ý tạo thêm “vỏ bọc”, một giáo sư chỉ biết có việc lên lớp mà không quan tâm đến những chuyện đời thường nào khác. Nay tình cờ gặp cô học trò ở đây, tôi lại tò mò muốn biết điều gì làm cô phải bỏ dở chuyện học hành như vậy.

        - Em cứ nói hoàn cảnh gia đình xem nào. - Tôi nói.

        - Ba em mất - Nga nói - má em lại ốm yếu, cả nhà trông vào mẹt hàng tạp hóa trong chợ, dạo này hàng ế ẩm quá cơ thầy ạ.

        - Thế nghỉ học em làm gì giúp má?

        - Em cũng chưa biết làm nghề chi cả. Giúp má được đồng nào hay đồng ấy thôi, chạy đi lượm tùm lum các thứ phế thải vỏ lon Coca, lon bia 333 thôi thầy à...

        Giọng cô nghẹn lại, tôi hiểu cô muốn tránh mặt khi đang lượm rác, một thứ nghề bất đắc dĩ, khổ cực nhất trên đời này. Tôi lần túi áo lấy cái ví, có bao nhiêu tiền trong đó đưa cả ra. Tôi nói với cô gái:

        - Thầy chỉ mang có ngần này, cũng chẳng tiêu gì, em cầm lấy mang về giúp má.

        - Không, thầy ơi - Nga nhất quyết từ chối - Thầy cũng nghèo, em đã đến nhà thầy rồi mà. Em cảm ơn sự quan tâm của thầy nhiều lắm. Nhưng em không dám nhận đâu.

        Nói rồi Nga đứng dậy, cầm cái bọc nilon để bên. Tôi nghiêm giọng:

        - Em làm vậy thầy buồn lắm. Thầy sống có một mình, lương khá, bao giờ cũng có món tiền dự trữ ở nhà. Em cứ nhận đi cho thầy vui lòng.

        Nga nhìn tôi, vẫn lắc đầu.

        - Em cảm ơn thầy nhiều lắm. - Cô nói - Song em không dám nhận đâu ạ. Em chào thầy. Nói rồi cô lại cúi gập người chào và cầm cái bọc quay ngoắt đi, bước cun cút trên vỉa hè. Tôi đứng nhìn mà ái ngại cho cô trò nhỏ.

        Hôm sau đến trường, tôi chủ ý vào phòng giáo vụ lục tìm hồ sơ học bạ của Nga và biết được địa chỉ gia đình cô. Phải hỏi mãi mới đến được căn nhà ngói sập xệ trong một hẻm sâu hun hút cạnh bờ kinh Thị Nghè.

        - Ô, thầy! - Nga trợn tròn mắt khi thấy tôi đạp xe lọc xọc vào hẻm và dựa xe trước cổng nhà mình. Trong nhà ngọn đèn điện đỏ quạch, mâm cơm dọn ra phía hiên chắc hẳn là muốn lấy thêm ánh sáng của đèn công cộng treo trên cột điện cuối hẻm. Người đàn bà trạc tuổi trung niên, mặt hốc hác tôi đoán má Nga. Còn một bà cụ ngồi như gập người xuống chiếu, cạnh bà một cậu bé gầy gò, nước da xanh rớt. Mọi người cũng ngỡ ngàng trước ông khách không mời mà đến là tôi. Nga vội chạy ra dắt xe đạp của tôi vào sân và cùng bước lên hiên. Cô nói với cả nhà:

        - Thưa nội, thưa má, đây là thầy Ngọc dạy toán của trường con. Còn giới thiệu với thầy bà nội, má và em trai em. Sao mà thầy tìm được đến đây ạ?

        - Trời ơi, - Bà mẹ Nga còn chưa hết ngỡ ngàng - Sao giáo sư tìm được đây cơ chứ. Rước giáo sư vô nhà uống nước đi con.

        Trong nhà chẳng có thứ đồ đạc gì đáng giá. Một ban thờ cũ kỹ, đầy mạng nhện, bụi bặm đặt lùi hẳn vào phía trong, đập vào mắt tôi tấm biển sơn son thếp vàng đã bong tróc nhiều chỗ treo chính giữa, trên đó có bốn chữ Hán đại tự. Bà nội Nga từ ngoài hiên lưng còng gập chậm chạp bước vào như một con rùa già. Bà ngồi lên cái ghế tựa đặt cạnh ban thờ và nhìn tôi chăm chú. Cậu em thì cứ ngó vào hoài, nhìn hai lóng chân cậu như hai ống sậy, đầu gối phình to, tôi chợt hiểu cậu bị tật nguyền.

        - Hôm trước cháu có về nói - Bà mẹ Nga rót nước mời tôi - gặp thầy ngoài chợ Ben Thành. Không ngờ hôm nay thầy đến thăm, quý hóa quá.

        - Rước giáo sư xơi nước. - Bà cụ ngồi cạnh tôi bỗng cất tiếng, giọng phập phào khó nghe có lẽ do thiếu hàng răng cửa.

        - Thưa, cụ bao nhiêu tuổi rồi ạ?

        Cụ nhìn tôi chỉ cười trơ lợi mà không nói gì. Nga đứng cạnh nói thay:

        - Thưa, tai nội em bị lãng ạ. Cụ nội em đến tết này là chín mươi tuổi đấy ạ.

        - Tiết... Hạnh... Khả... Phong - Cụ bỗng chỉ tay vào tấm biển có hàng chữ Hán đại tự mà chậm rãi đọc từng chữ cho khách nghe - Vua Khải Định ban cho bà đấy.

        Cụ lại cười không ra tiếng, vẻ hãnh diện thoảng qua gương mặt đầy nếp nhăn. Bà mẹ Nga cũng cười và tiếp lời:

        - Đó là tấm biển Vua ban năm Kỷ Dậu (1909) thầy ạ. Ngày đó tôi chưa về làm dâu nhà này, nghe cụ kể lại, rước được cái biển từ Huế vô đây linh đình, kỳ công lắm. Còn có cả lọng Vua ban cùng tấm biển nữa, để trong ban thờ kia, bằng vải nay đã mục trơ lại cái khung. Bố chồng tôi mất năm cụ mới hai mươi mốt tuổi, thủ tiết thờ chồng nuôi đàn con hai trai, hai gái đến trưởng thành. Bố cháu Nga con trưởng, ngày trước làm ký dây thép ở quận Thủ Đức, về hưu được mười năm thì mất. Nhà tôi có được ba đứa con. Thằng anh cái Nga tắm sông Thị Nghè chết đuối năm chín tuổi, còn đứa em đẻ ra đã bị liệt cả hai chân. Chẳng giấu gì thầy, từ ngày nhà tôi mất cửa nhà sa sút, trước nhà mặt tiền trên phố, phải bán đi rút dần vào ngõ, vào hẻm.

        - Vì cảnh nhà khó khăn em Nga phải bỏ học, tôi lấy làm tiếc cho em. - Tôi nói.

        - Cháu ham học lắm. Tôi cũng tiếc - Bà mẹ nói - mà không làm khác được thầy ạ. Giờ cũng chưa biết xin việc gì, đành cho chạy chợ với mẹ.

        Trời tối hẳn. Tôi lấy trong túi ra cái phong bì đựng một ít tiền đã được chuẩn bị từ nhà, đưa cho bà mẹ, nói:

        - Tôi có chút quà gửi gia đình.

        Bà tỏ ý chối một cách chiếu lệ, rồi nhận, cầm cái phong bì mắt rưng rưng, giọng bà nghẹn ngào:

        - Không biết lấy gì để đội an thầy.

        Nga theo tiễn đến hết hẻm, chỗ rẽ ra đường lớn dừng lại. Cô khoanh tay cúi gập người chào tôi, bỗng bật khóc, nức nở như đứa trẻ...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:18:00 pm

*

*       *

        Buổi trưa hôm ấy tôi vừa bước đến cửa nhà mình đã thấy một người khoanh tròn nằm ngủ. Tiếng ngáy của người ấy phát ra nhè nhẹ, đều đều đủ để hiểu là đang ngon giấc. Trong ánh sáng mờ mờ từ hành lang hắt vào, nhìn cách ăn mặc lôi thôi, bụi bặm tôi đoán nhận ngay: lại một gã ăn mày nữa. Tuần trước ở cư xá này xuất hiện một tay bị tay gậy ngồi dưới tầng trệt ngả cái mũ vải cáu bẩn trước mặt mọi người trước khi bước lên cầu thang và cũng lúc tôi đi dạy về, đã đặt vào mũ gã tất cả số tiền lẻ có trong túi. Giờ thì gã leo lên tận cửa phòng tôi. Nhưng gã đang ngủ say quá, không nỡ đánh thức ngay. Và tôi có dịp ngắm gã kỹ hơn. ô, không phải gã hôm trước! Mặt vuông vức (gã kia mặt dài ngoẵng), trạc ngoài bốn mươi tuổi, đeo một cặp kính cận gọng đen tròn xoe, mái tóc dài muối tiêu lòa xòa trên má trên mặt, râu ria tua tủa đầy cằm. Một khuôn mặt biểu cảm đã từng gặp ở đâu đây? Phải rồi, trước cửa chợ Ben Thành cách đây không lâu. Người ấy cũng mặc áo vải gai rộng thùng thình mang nhiều miếng vá, cũng tóc dài muối tiêu, đeo kính cận mắt tròn, chỉ khác lúc đó không nằm mà ngồi xếp bằng, mắt lim dim chắp tay trước ngực không hay biết đến sự ồn ã xung quanh. Người ấy đang tọa thiền. Không hiểu sao, mấy bà trong chợ đi qua thấy người ấy thì thành kính sựp xuống vái: Con lậy Phật tổ giáng trần! Khi tôi vừa quay đi thì có ai đó nói thoảng qua tai: Đích thị thi sĩ khùng Bùi Giáng! Một dịp khác, đang đạp xe trên đường Công Lý, không thể lẫn với ai khác, trước mắt tôi vẫn là thi sĩ khùng với cách ăn vận thế này, có thêm lũ trẻ con hậu thuẫn ông đang khoa chân múa tay... chỉ dẫn giao thông (!) Tôi kể chuyện với đồng nghiệp ở trường về con người dị thường ấy, được anh em cho biết những thông tin bất ngờ: đó là tác giả “Mưa nguồn”, tập thơ đặc sắc xôn xao dư luận Sài Gòn một dạo; một người mà bất cứ lúc nào cũng có thể ngẫu hứng tuôn ra những vần thơ lục bát như “nhập đồng giáng bút”. Rồi tôi tìm mua được tập “Mưa nguồn” ở cửa hàng sách cũ do cuốn này đã xuất bản trước thời điểm tôi từ Paris về Sài Gòn vài năm. Tôi vốn không sành thơ, nhưng cũng có thể cảm nhận được ít nhiều cái hay dở của thơ. Quả có nhiều bài, nhiều câu thơ của Bùi Giáng khác lạ, kỳ ảo, bí hiểm như chính cái cách hành xử ngoài đời của ông. Tôi thích những câu nửa đời nửa đạo như:

Ghì môi cơn mộng la đà
Tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng
Nửa vời trăng rộng mông lung
Đường xa nghi hoặc tháp tùng ni cô.

        Hoặc:

Buồn vui ai biết đâu ngờ
Nằm trong tử diệt nhớ giờ tái sinh...

        Bạn đồng nghiệp còn bảo ngoài thơ, ông có sách bàn về triết một cách sâu sắc, dịch tiểu thuyết theo kiểu phóng tác một cách tài hoa. Thông thạo nhiều ngoại ngữ, không chỉ bệnh khùng, ông còn mắc chứng ngộ chữ nặng. Giờ thì ông đang nằm như câu thơ của Nguyễn Bính tôi thuộc từ hồi học trường Chu Văn An, Hà Nội: “Đầu tôi lại gối cánh tay tôi”. Ông ngon giấc như đang ngủ tại nhà mình. Ngọn gió nào đưa kỳ nhân đến đây?

        Rồi không để tôi phải chờ đợi lâu, dường như biết chủ nhà đã về, ông nhỏm dậy, đôi mắt mở to lóe sáng sau tròng kính dày, mắt của một con rắn ráo tinh khôn, lành hiền. Để ông đứng hẳn dậy, tôi mới hỏi:

        - Ông là Bùi Giáng thi sĩ?

        Nở một nụ cười hồn nhiên như con trẻ, người vừa “tỉnh giấc Nam Kha” liền thốt ngay ra một câu lục bát giọng xứ Quảng pha chút nghịch ngợm:

- Giáo sư lập dị đây à?
 Phật cho hạnh ngộ để ta gặp mình.

        Chao ôi, một sự làm quen mới kỳ cục làm sao, bất ngờ làm sao! Song tôi không chạnh lòng khi ông tố lên cái hỗn danh mà lâu nay người đời đã gán cho tôi. Tôi chỉ gật đầu mỉm cười nhìn ông và thò tay vào túi quần móc ra chùm chìa khóa, lần lượt mở bảy cái khóa cửa phòng. Đến lượt Bùi thi sĩ tròn xoe mắt nhìn tôi, tỏ ý thích thú quan sát cái dãy khóa theo hàng dọc đủ kiểu. Đồng bệnh tương liêu chăng?

        Vào buồng. Bùi thi sĩ để mắt một lượt bốn xung quanh và vừa khoanh chân ngồi bệt xuống sàn nhà, đã xuýt xoa:

        - Thưa, tại hạ đành thua ngài về số sách lèn, chồng, chất đống ở đây.

        Tôi với cái âu nhựa rót nước lọc mời khách, ông gật đầu nói câu cảm ơn và uống ực một hơi ngon lành.

        - Chẳng giấu chi ngài - ông bảo - Trước khi đến đây, bọn đệ tử đãi tới bến chầu rưọu đế, tại hạ khát nước và buồn ngủ quá trời.

        Tôi hỏi:

        - Sao ông biết tôi ở đây?

        - Giản đơn thôi, giáo sư à - Bùi thi sĩ lại chuyển sang ứng khẩu lục bát –
Tui có thằng cháu cũng là sinh viên.
Viện đại học nơi cửa thiền.
Duy tuệ thị nghiệp hữu duyên nhau mà.

        Tôi hiểu: ông có đứa cháu đang học Đại học Vạn Hạnh và chắc hẳn đứa cháu đã kể gì đó về tôi để ông đến tìm. Tôi lại hỏi:

        - Chắc ông có việc?

        Đôi mắt rắn của ông lóe lên, có thêm những vần lục bát giọng Quảng Nam hóm hỉnh:

- Tại hạ có chi trên đời.
Ngoài rong chơi với những lời giỡn vui.
Hẳn Nguyễn cùng cạ với Bùi.
Hôm nay đến mượn đôi lời kết giao.

        Tôi giơ tay bắt chặt tay ông. Cùng cạ - một cuộc kết giao bất ngờ, thú vị. Toán và thơ! Thơ và toán! Giờ tôi mới để ý ông có đeo một cái túi vải căng phồng và nó đang được quàng phía sau lưng liền được xoay hẳn ra trước, đặt lên đùi. Ông lại nhìn với đôi mắt sáng quắc, gật gù, từ đây ngôn ngữ đối thoại đã trở về “bình thường”:

        - Thượng tọa Thích Minh Châu khen ngài lắm, nhứt là cái sở học của ngài. - ông nói.

        - Ngài quen biết thượng tọa - Tôi cũng đổi cách xưng hô từ “ông” sang “ngài” - Tôi vừa có “cua” toán đại cương bên ấy. Thời nay có một vị thượng tọa uyên thâm đức độ như thế thật hiếm.

        - Thượng tọa vẫn xếp một chỗ cho tui ở hẳn bên chùa Phát Hội để tiện đàm đạo. Đôi khi tui cũng dạy chữ Phạn cho các sư trong chùa nữa. Bữa ni tui đến còn là muốn khoe một sản vật nhà làm ra, không biết có hạp nhãn ngài không?

        Nói rồi Bùi thi sĩ lôi trong túi vải một cuốn sách, nói tiếp:

        - Được thầy Thanh Tuệ chiếu cố, tui thường in sách bên nhà An Tiêm đến cả chục cuốn rồi. Hầu hết là thơ, có cuốn khảo luận triết, tui nghĩ triết hạp với toán của ngài hơn thơ.

        Ông đưa ra cuốn sách còn mới cứng, giấy tốt, bìa trình bày trang nhã: Con đường ngã ba. Nhà xuất bản An Tiêm - Sài Gòn 1968.

        - Để tại hạ viết lời đề tặng ngài.

        Ông hỏi mượn tôi bút. Rồi phóng bút một lèo vào trang đầu cuốn sách, xong trịnh trọng đưa hai tay. Tôi đỡ lấy, những dòng chữ như rồng bay phượng múa:

                                   “Lập di lập dị lập gì
                                   Con đường ngã ba thân quen
                                   Nguyễn - Bùi cùng ngả chân chen Thiên Đàng!

                                   Bùi Báng Giù

        Tôi bật cười thành tiếng, cái cười hiếm hoi bởi tôi vốn đã là người hàng ngày kiệm tiếng cười và còn bởi thói quen lâu nay ít giao đãi thoải mái với người ngoài, về sau ngoài cuốn ông tặng, tôi còn tìm mua được khá đủ các cuốn sách khác của ông. Dù là thi ca, dịch thuật, hay phê bình tư tưởng hiện đại đều có chung một “gene” do mẹ đẻ ra: tài hoa, phóng khoáng đến vô cùng. Ngài Thích Minh Châu xao nhãng việc đời dốc lòng cho Đạo; Bùi thi sĩ thì hướng tới cái tự nhiên nhi nhiên, tự do tuyệt đối trong thi ca, trong tư tưởng. Và cuộc đời ông như câu thơ Lý Bạch ông đã dẫn ra khi trò chuyện cùng tôi hôm ấy:

                                   Xử thế nhược đại mộng
                                   Hồ vi lao kỳ sinh

                                   (Sống ở đời như giấc mộng lớn
                                    Làm chi cho vất vả thân mình).

        Sau lần ấy tôi không gặp lại Bùi thi sĩ lần nào nữa, ông mải tiêu dao ngày tháng trong cuộc “giỡn vui” không ngừng nghỉ, còn trong bộ nhớ bộn bề của tôi vẫn có một góc nhỏ dành cho ông.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:18:47 pm

*

*       *

        Thường thì cứ khoảng ba tháng tôi nhận được thư từ Paris của Nguyệt Tỉnh, thư nào cũng không dài chỉ một trang vở học trò, những thông tin về đời sống thường ngày và về sự học hành của con trai. Trong năm nay tôi còn nhận được thư của người bạn giáo sư toán học Bùi Trọng Liễu. Anh cũng kiệm lời, chỉ sơ qua về chuyện thời cuộc bên ấy, chuyện nội bộ Việt kiều. Anh còn kể về Alexander. Sau khi được nhận giải danh giá của Liên minh toán học thế giới IMU năm 1966, anh ấy có thêm nhiều “phen” hâm mộ. Dạo này Alexander công khai bầy tỏ quan điểm chống chiến tranh, anh nói là sẽ đến Hà Nội trong một ngày gần nhất để tỏ lòng ủng hộ nhân dân Việt Nam phản đối đế quốc Mỹ xâm lược. Và mối thân tình của anh với gia đình tôi bên ấy vẫn như xưa... Đến lá thư mới, Nguyệt Tỉnh đã viết dài hơn, nói rõ lòng mình. Cũng giống như điều nàng đã tâm sự với chồng trong cái đêm hôm đó ở Paris, rằng sự cô đơn dường như là vô tận đến mức khó chịu đựng nổi. Nàng muốn trở thành người tự do, dù điều ấy có muộn màng. Tôi ngầm hiểu cái vết rạn nứt trong quan hệ tình cảm giữa chúng tôi đang ngày càng sâu. Có lẽ điều các nhà tiên tri nói về “cung thê” của tôi đều đúng cả. Phải chăng tôi đã vượt quá “ngưỡng sống” như lời Alexander, chỉ có điều cái sự vượt ngưỡng ấy tôi vẫn cố chịu đựng được còn nàng thì không chịu nổi!

        Những khi không lên lớp, không đọc sách, tạp chí, không làm toán tôi cảm thấy nỗi buồn xâm lấn, và tôi tự đặt ra một lịch làm việc dày đặc hơn nữa để không còn khoảng trống nào cả dành cho nỗi buồn len lỏi vào. Thời cuộc đang diễn biến nhanh đến chóng mặt, điều cần nhất lúc này tôi phải giữ cái đầu lạnh, bình tĩnh, tỉnh táo tiếp nhận, phân tích mọi động thái mới nhất của kẻ thù.

        Thế rồi đến đầu tháng 9-1969. Tin từ Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tôi bí mật nghe trong đêm, và cả tin đăng trên báo chí Sài Gòn, báo chí nước ngoài về sức khỏe của Hồ Chủ tịch làm mọi người đều chú ý, tôi hiểu có rất nhiều người xung quanh đã kín đáo giấu đi nỗi lo lắng. Ngày Người qua đời tôi đã âm thầm khóc, tôi khóc như khi nghe tiếng súng nổ mạn cầu Đuống biết cha đã hy sinh. Nước mắt cứ lặng lẽ ứa ra và tôi còn đeo một miếng băng đen nhỏ trên ngực, ai hỏi tôi bảo: Cha tôi ngoài Bắc mới mất.

        Trong cuộc họp hàng tuần hội đồng giáo sư bàn về chuyên môn, về phân phối giờ giảng. Cuối buổi bao giờ cũng có đôi câu bàn luận ra ngoài phạm vi nhà trường, đó là về thời cuộc, chính trường trong nước, quốc tế. Hầu như tôi ít phát biểu những khi ấy, một giáo sư lập dị cần gì quan tâm đến thời cuộc cơ chứ. Giờ đây có điều thôi thúc trong lòng như một sự bột phát, như không thể làm khác hơn, tôi đứng lên, chậm rãi, nghiêm trang nói với các đồng nghiệp:

        - Thưa quý vị. Hôm nay một vĩ nhân qua đời. Đề nghị các vị đứng lên, một phút mặc niệm!

        Thoáng bất ngờ. Rồi không ai bảo ai mọi người đều đứng dậy, cúi đầu.

        Tin loang nhanh toàn trường. Khoa Cơ bản dành một phút mặc niệm lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà người khởi xướng giáo sư Nguyễn Đình Ngọc. Nhiều bàn tán, xôn xao. Không ít câu hỏi. Cuối cùng cũng đâu vào đấy, sự giải thích thật đơn giản: ông Hồ thực sự là một vĩ nhân, được cả thế giới nhắc đến và để tang cơ mà. “Giáo sư lập dị” cũng có thể bộc lộ quan điểm là người khuynh tả chứ. Và ông ấy, cùng các giáo sư khác cả phe “tả”, lẫn “hữu” dành một phút tưởng nhớ vĩ nhân, có gì lạ đâu trong một thế giới tự do tư tưởng được đặt lên hàng đầu này.

        Còn một chuyện hy hữu nữa xảy ra vào thời điểm đầu tháng 9-1969, dư luận ban đầu có ồn lên, rồi sau đó cũng xem là “chuyện thường”: tờ Đất nước dám dành hẳn một số cho “người vừa nằm xuống”, với tất cả các bài đều nói về Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:19:43 pm

SỰ CHÚ Ý KHÁC THƯỜNG CỦA GIỚI QUÂN NHÂN

        Tôi ra Huế gặp “Cô Phương Lan”, vẫn là vẻ mặt điềm đạm có phần khắc kỷ, kiệm lời, ông bảo:

        - Cấp trên đã có chỉ thị mới. Từ nay điệp viên Diệp Sơn không thuộc sự chỉ đạo của BI nữa mà chuyển Trung ương cục Miền Nam quản lý, hoạt động đơn tuyến theo nhóm của Hai Tân. Đây là ám hiệu để gặp nhau...

        Tôi bỗng nhớ đến người thầy đầu tiên: ông Nguyễn Hữu Khiếu, Giám đốc Công an Liên khu 4. Thông qua đài phát thanh miền Bắc tôi vẫn kín đáo nghe vào giờ nhất định trong đêm, thỉnh thoảng biết được công việc của ông. Lúc làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương; ủy viên thường vụ Quốc hội, gần đây là Bộ trưởng Lao động... Vậy ông đã xa ngành tình báo khá lâu rồi. Song những lời chỉ bảo, tâm sự về nghề của ông thì tôi không quên. Hôm chia tay ở căn nhà tranh ven thành Vinh, ông đã nói: “Ngọc này. Rồi đây do hoàn cảnh cụ thể mà em sẽ có những việc làm cụ thể khác nhau. Song điều cần nhất ở mỗi điệp viên vẫn là khả năng phân tích thông tin. Từ những thông tin cụ thể, có thể tản mạn điệp viên thu thập được để đưa ra những suy đoán, nhận định, nhiều khi trở thành những tin tức quan trọng có tầm chiến lược. Nhà tình báo Xô viết trong Thế chiến thứ hai Richard Sorge đã có hai chiến công vĩ đại thông qua khả năng phân tích thông tin cực kỳ nhậy bén và chính xác: báo trước việc phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và khẳng định Nhật sẽ không đánh vào Liên Xô năm 1941. Người ta vẫn ví một nhà tình báo chiến lược với những tin tức quý giá có sức mạnh như một đạo quân, làm thay đổi được cục diện chiến trường.”

        Người liên lạc mới tên Hai Chuối. Ông gầy gò và có khuôn mặt chất phác, đã lặng lẽ đưa tôi đến một căn hầm bí mật thuộc địa đạo Củ Chi ngoại thành Sài Gòn. Ở đây, tôi ra mắt người chỉ huy mới. Ông Hai Tân dong dỏng cao, chắc nịch, tác phong nhanh nhẹn, đôi mắt sáng đầy vẻ linh hoạt quyết đoán ẩn dưới cặp lông mày rậm. Gặp nhau lần đầu, qua những thăm hỏi, động viên tôi biết trước đó ông đã tìm hiểu khá kỹ về tôi và rất có thể ông còn đánh giá tôi qua trục cảm của một chỉ huy tình báo lão luyện. Hôm đó, một ngày khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của quân ta đồng loạt vào các đô thị miền Nam tạm ngưng tiếng súng, một ngày cơn bão qua, cũng có thể sắp sửa đón cơn bão mới. Không ngờ từ hôm đó chúng tôi lại gắn bó với nhau suốt chặng đường dài sau này, đến cả cuối đời. Tôi có một sự so sánh: ông Hai Tân giống giám đốc Nguyễn Hữu Khiếu ở chỗ đều “tay ngang” vào ngành điệp báo do yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, không được học nhiều trên sách vở, học chủ yếu từ thục tiễn, song cả hai đều có nhãn quan rộng rãi, biết dùng người và có tài thu phục nhân tâm. Đó thục sự là hình mẫu chỉ huy tình báo hoàn hảo kiểu Việt Nam.

        Ông Hai Tân tên thật là Nguyễn Văn Chẩn, còn có tên khác Nguyễn Phước Tân, quê thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Ông tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi, sau Hiệp định Genève, không tập kết ra Bắc mà ở lại hoạt động bí mật trong lòng địch. Từ năm 1960 chính thức làm công tác điệp báo, khi chúng tôi gặp nhau, ông phụ trách cụm điệp báo Ban An ninh Trung ương cục. Ông kể tôi nghe một “sự cố” bất ngờ hồi đầu năm 1955 lúc chưa vào nghề này. Trên chuyến xe đò từ Sa Đéc đi Long Xuyên, ông gặp một lính ngụy người Khmer trên xe, anh ta reo lên mừng rỡ: Chào ông lớn! Sao không đi tập kết? Chả là hồi đó ông làm công tác binh vận có gặp người lính này và đã cứu giúp chị vợ anh ta trong cơn đau đẻ. Đó chỉ là một phản ứng tức thì của anh ta trước ân nhân của mình, chứ không có ý gì khác. Song nếu không ứng đối khéo sẽ dễ bị lộ thân phận với những người xung quanh, ông cười xòa nói với người lính ngụy rằng, ở lại vì gia đình đông con, bây giờ chỉ làm ăn buôn bán thôi. Ông bảo, sau này làm công tác điệp báo, việc giấu kín thân phận càng được đặt ra có tính sống còn.

        Ông nói với tôi về tình hình sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhiều điệp báo của Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định (mật danh T4) đã bị bộc lộ, không thể hoạt động trong vỏ bọc lâu nay của mình nữa. Tôi hoạt động đơn tuyến, chưa bị lộ, cần tận dụng mối quan hệ với các tướng tá, những nhân vật có vai vế trong chính quyền ngụy và cố vấn Mỹ, trọng tâm nắm các hướng tấn công vào căn cứ của Mặt trận Dân tộc giải phóng nằm trong kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, dầu kế hoạch đó về cơ bản đã phá sản. Đúng như tin tức tình báo cung cấp, sau sự kiện Tết Mậu Thân, Westmoreland đã yêu cầu Nhà Trắng gửi thêm 20 vạn quân, song theo đài báo phương Tây, Tổng thống Lyndon Johnson trì hoãn sự tăng viện vì không thể vét một lúc hết lực lượng dự bị. Cuối cùng thì viên tướng bốn sao Westmoreland đã bị triệu hồi về nước, kết thúc sự nghiệp sau 4 năm chinh chiến bị thảm bại ở chiến trường Nam Việt Nam và lực lượng quân đội Mỹ chỉ được Nhà Trắng gửi sang một cách nhỏ giọt.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:20:11 pm

        Đã lâu tôi không gặp lại đại tá Phan Huy Lương. Là Tham mưu trưởng Biệt khu Thủ đô, chắc Lương rất bận, vậy mà hôm nay anh ta gọi điện bảo là cần gặp tôi để hỏi một việc. Anh cho xe đón tôi đến dinh thự làm việc có lính canh phòng cẩn mật. Tôi vào ngồi chờ trong một căn buồng rộng rãi, bài trí đơn giản. Anh hiện ra sau cánh cửa căn buồng kế bên, trong bộ quân phục mầu xanh xám oai vệ, trên ve áo đính ba ngôi sao. Nở nụ cười, Lương dang tay bước nhanh đến bên tôi và ôm hôn, cái cách cư xử thân tình của bạn hữu lâu ngày mới gặp.

        - Anh vẫn vậy - Lương nói - ít thay đổi. Khỏe hơn hồi ở Hà Nội đấy. Lần trước ta gặp nhau chưa nói được chuyện gì thì tôi có việc phải đi gấp, giáo sư thông cảm cho nhé.

        Tôi cười, gật đầu:

        - Thông cảm quá đi chứ. Anh bây giờ là yếu nhân, toàn việc quốc gia đại sự mà.

        - Cũng làm công ăn lương cho ông chủ Hoa Kỳ cả thôi - Lương cười và rót nước chè mời tôi - Giáo sư đại học như anh mới tự tung tự tác được, còn đây nhất nhất phải tuân lệnh cố vấn.

        - Có ai dám bất tuân lệnh không nhỉ? - Tôi bất ngờ hỏi câu đó.

        - Cũng có - Lương cười thoải mái - Nhưng hãn hữu lắm. Như trường hợp của ông thầy tôi là chuẩn tướng Lam Sơn Phan Đình Thứ thì đến nay ai cũng phải khâm phục sự khảng khái có một không hai của ông. Hồi ông sang Mỹ học khóa tham mưu cao cấp tại Fort Leavamvorth, một sĩ quan Hoa Kỳ nhìn vào bảng ghi danh, “Lam Son” thành “Lawson” tưởng học viên này dùng tên Mỹ, liền hỏi: “Mày người Việt sao dùng tên Mỹ?” Đại tá Lam Sơn liền nổi đóa, thụi viên sĩ quan ấy một thụi, bảo: “Tao dùng tên mình không dùng bất cứ tên ngoại quốc nào”. Hồi năm 1962, ông là chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức. Trong một buổi duyệt binh thường lệ, viên đại tá cố vấn cùng ông đi duyệt, bất ngờ cố vấn chọc ngón tay vào nòng khẩu Garant MI của một học viên, thấy dầu nhờn lẫn bụi dính ngón tay, ông ta liền quyệt chỗ dầu súng vào mặt người học viên đó. Đang đứng cạnh, ông Lam Sơn liền giáng cho viên cố vấn một cái tát, bảo: “Đừng hành động như thế với bất cứ người lính nào, họ có lỗi ông có thể phạt theo quân kỷ. Rõ chưa!”

        Nói thật với anh mình được bú móm, trang bị tận răng bị người ta sai bảo là đúng thôi. Theo ông Thứ sao được. Mà cái tính hổ lửa như thế của ông người Mỹ chịu thế nào được, hàm chuẩn tướng đeo mãi đến khi nghỉ hưu.

        - Hôm trước nghe Nghiêm Văn Phú - Tôi nói - nhắc đến Lê Nguyên Khang, có phải Khang học dưới cánh ta một lớp ở Chu Văn An không nhỉ?

        - Đúng rồi. Hiện anh ấy là tướng biên ải có điều kiện phóng khoáng hơn tôi, con đường thăng tiến cũng rộng mở hơn tôi nhiều.

        - Nghe Phú nói có năm anh ấy thăng quân hàm hai lần.

        - Còn lên nữa - Lương cười nửa miệng - Có người đỡ. sếp đứng đầu MACV cơ mà. Nhưng ông Westmoreland kỳ này bị gọi về rồi, không biết ai sẽ đỡ tiếp đây.

        Lương mở bao thuốc Cotab mời, tôi lắc bảo không hút do có bệnh phổi. Lương cười bảo:

        - Nghe anh Phú nói, anh sống kham khổ lắm, như tu sĩ hành xác vậy. Tội gì mà khổ vậy ông bạn giáo sư của tôi ơi!

        - Anh đã biết tôi từ hồi ở Hà Nội rồi - Tôi nói - Tính tôi vẫn vậy mà. Ở trường họ còn gọi tôi là giáo sư lập dị nữa. Quả tôi không có nhiều nhu cầu về vật chất, chứ nào muốn hành xác gì đâu.

        - Mỗi người một số phận. Giờ anh ở một mình cũng cần giữ gìn sức khỏe phòng khi trái nắng trở trời đấy - Lương nói - Anh Ngọc ạ, hôm nay tôi mời anh đến đây ngoài chuyện thăm hỏi cũng có một việc muốn tham khảo ý kiến chuyên gia. Biết anh là kỹ sư khí tượng, tôi quan tâm đến tình hình thời tiết Sài Gòn và vùng ngoại vi Bắc Sài Gòn trong vòng nửa tháng tới.

        - Trung tâm khí tượng thủy văn Sài Gòn chắc đã cung cấp đầy đủ các số liệu chứ? - Tôi hỏi anh ta mà trong bụng cũng chợt nảy ra một câu hỏi khác: sắp có một cuộc hành quân mới về hướng Bắc, có các binh chủng cơ giới phối thuộc nên họ mới quan tâm đến thời tiết như vậy chăng?

        - Đã có chuẩn bị cả đây - Nói rồi Lương lấy trong cặp ra một tập tài liệu đánh máy để trước mặt tôi - Tôi đã được phía Trung tâm khí tượng thủy văn trình bầy, nhưng vẫn muốn nghe ý kiến nhận định của chuyên gia từng du học nước ngoài như anh cơ.

        Tôi giở nhanh các số liệu thống kê yếu tố thời tiết, có cả bản tham khảo số liệu nhiều năm trước và hỏi thêm:

        - Vùng này giáp Campuchia?

        Lương gật đầu. Tôi bảo Lương cho ít phút để đọc các số liệu, sau đó mới có ý kiến được. Anh chỉ một cái bàn bên cạnh, để tập số liệu lên đấy. Sau chừng mươi lăm phút, tôi trở lại nói với anh:

        - Như các con số thống kê đây, kết hợp với những hiểu biết của tôi về khí hậu Nam Bộ, thì tôi tin chắc là trong vòng nửa tháng nữa thời tiết tốt, không mưa, có mưa thì mưa nhỏ cục bộ không đáng kể. Tôi hỏi thêm anh về Campuchia vì khí hậu vùng Biển Hồ bên đó có khác Sài Gòn và Tây Ninh của ta, bên ấy mưa thuận gió hòa hơn, chỉ mùa mưa mới có cơn mưa lớn kéo dài ba trăm milimet trở lên.

        - Cảm ơn anh - Lương nhìn tôi với vẻ mặt tươi tỉnh - vẫn biết anh bận, song nghe được ý kiến của anh vậy là yên tâm rồi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:20:29 pm

        Tôi hỏi thêm về bạn học trường Chu Văn An trong này, Lương bảo riêng giới quân sự cũng có khá nhiều đồng môn, như ông Nguyễn Cao Kỳ - Phó tổng thống, ông Lê Nguyên Khang - Tư lệnh Quân đoàn 3 chẳng hạn. Tôi ngỏ ý muốn gặp ông Khang, Lương suy nghĩ giây lát rồi nói:

        - Sắp tới tôi cũng có chuyện muốn gặp Trung tướng Khang, hay anh kết hợp gặp luôn. Ông ấy là người trọng tình đồng hương, đồng môn.

        - Thế có không tiện cho việc trao đổi riêng của anh. - Tôi nói.

        - Không sao. Việc làm ăn thông thường của hai bà xã ấy mà. Tôi sẽ bố trí ta gặp nhau trong một khách sạn nào đấy cho thân mật, kín đáo.

        Thế rồi chỉ mấy ngày sau, Lương gọi điện cho tôi hẹn đến lầu ba của khách sạn Continental.

        Vừa gặp, quả thật tôi không hình dung ra Lê Nguyên Khang bây giờ với Lê Nguyên Khang ngày ấy, anh học sau tôi và cùng lớp với em Kim, trường không phải quá đông để học trò các khóa không biết mặt nhau. Giờ nom Khang thật phong độ, da dẻ mịn màng hồng hào, hàng ria con kiến phớt trên mép, nuột nà trong bộ cánh màu vàng nhạt, nom anh giống một thương gia giàu có hơn viên tướng trận mạc. Lương chỉ tôi hỏi:

        - Trung tướng có nhớ ai đây không ạ?

        Thoáng ngỡ ngàng, rồi giọng Khang trở nên vui vẻ:

        - Ô, Nguyễn Đình Ngọc! Người học giỏi nhất trường ta, sao quên được. Anh có mập lên chút xíu thôi.

        Ngồi được một lát, có người nữa đến mặc thường phục, cũng dáng cao to, nhanh nhẹn. Anh Lương đứng dậy bắt tay trước, tỏ ý thân tình. Lê Nguyên Khang giới thiệu với tôi:

        - Đại tá Lê Nguyên Vỹ, đồng hương Sơn Tây với tôi, cũng bạn đồng môn trường võ bị Thủ Đức với anh Lương. Còn giới thiệu với anh Vỹ, đây là anh Nguyễn Đình Ngọc, giáo sư Đại học Khoa học Sài Gòn, vốn cùng trường với tôi và anh Lương hồi ở Chu Văn An, Hà Nội. Hôm nay đẹp trời, lại ngày nghỉ, ta gặp nhau hàn huyên cho vui.

        Lê Nguyên Vỹ nói giọng Nam Bộ, tỏ ra xởi lởi dễ gần, anh cười với tôi:

        - Nhiều người cứ tưởng tôi với anh Khang là anh em ruột vì cùng quê lại cùng họ, tên đệm. Tôi thua anh Khang hai tuổi, đẻ ở Bắc nhưng ba má vô trong này sinh sống từ hồi tôi bé xíu. Đồng hương Sơn Tây còn có ông Nguyên Cao Kỳ nữa kia, cũng học Chu Văn An nhưng khóa trước anh Khang, về sau ông học Trường không quân Marrakech tại Maroc, còn anh Khang học lớp lục quân cao cấp Fort Benning Hoa Kỳ.

        Lê Nguyên Khang nghe vậy thì bổ sung:

        - Sau khi tốt nghiệp Trường Fort Benning được hai năm, tôi còn học tiếp Trường thủy quân lục chiến Quantico nữa. Bằng cấp đầy mình.

        Đen đây Phan Huy Lương cười, chỉ vào tôi, nói:

        - Cũng không bằng ông bạn của chúng ta đây. Ba bằng kỹ sư, hai bằng tiến sĩ tại Pháp.

        Khang và Vỹ đều tỏ vẻ ngạc nhiên về điều ấy. Tôi cười bảo với hai người:

        - Thì hồi đó ban đầu có học bổng trường khí tượng thôi, sang đấy thấy nhiều trường hay nên cứ học. Học nhiều bằng cấp về nước cũng không biết để làm gì. Hiện tôi chỉ dạy có môn toán.

        Thức ăn được lần lượt bưng đầy bàn, toàn son hào hải vị. Chai rượu Hennessy xo sóng sánh, rót ra từng ly thơm phức. Rồi cụng ly. Tôi chỉ nhắp môi, thứ rượu mạnh đã sực lên óc, các ông tướng thì tỏ ra tửu lượng vô biên. Vỹ gắp thức ăn vào bát tôi và cứ ép uống cạn ly đầu. Tôi phải chiều anh. Đã có chút chếnh choáng, vẫn tự nhủ cần tỉnh táo, hiếm khi có dịp gặp được các “đầu lĩnh” thế này. Vỹ chợt ngửng lên hỏi Lương:

        - Đại tá đã thỉnh giáo giáo sư về tình hình khí tượng vùng Móc Câu, Mỏ Vẹt ngày tới chưa?

        - Đại tá phản ứng lẹ thật đấy. - Lương cười - Báo cáo, tôi đã tham khảo ông bạn đây từ bốn ngày trước rồi. Thời tiết lý tưởng.

        Vỹ giơ cao ly nói:

        - Nào, thế thì ta chúc cho ngày thắng lợi!

        Tất cả cùng cụng. Rồi Khang rót ly mới nói với tôi và Lương:

        - Xin anh Vỹ cho học sinh trường Chu Văn An chúng tôi được cùng cạn ly này.

        Tôi gắng gượng, hiểu rằng sẽ bị gục tại chỗ nếu tiếp tục thêm cú “cạch” nữa. Tôi nói, chậm rãi cho tròn vành rõ tiếng:

        - Thưa anh em. Rất cảm kích trước thịnh tình của anh em. Cho phép tôi được hầu rượu anh em đến đây thôi, vì như anh Lương biết rồi đấy, sức khỏe không cho phép...

        Lương tiếp lời tôi:

        - Anh Ngọc từng được ông anh cả tôi điều trị cho bệnh phổi, vả lại tạng anh không được khỏe từ bé. Thế này, đề nghị anh Ngọc cứ cụng ly nhận các lời chúc tụng, còn tôi sẽ uống đỡ cho.

        Thế là trong buổi chiều nhậu lai rai, lần lượt ba chai Hennessy xo hết bay. Lương tỏ ra nghĩa hiệp đỡ cho phần tôi, đến khi chính anh cũng không thể cố hơn, đứng dậy loạng choạng vào toa let. Một hồi trở ra, mặt anh trở nên nhợt nhạt, trên mép còn dính chút thức ăn vừa ói. Khang và Vỹ quả là những cao thủ, tuy mặt phừng phừng như mặt trời song vẫn tỏ ra tỉnh queo. Khang rót nốt những rọt rượu cuối cùng chia đều cho cả bốn ly, cao giọng:

        - Nào, chúc cho tình bạn bền vững. Chúc cho cuộc xuất binh của chúng ta vạn sự như ý!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:20:51 pm
        
*

*        *

        Như vậy, còn khoảng hơn mười ngày nữa sẽ có một cuộc hành binh của Mỹ ngụy về hướng Tây Ninh và biên giới Campuchia. Chúng sẽ lại nhằm vào căn cứ của Trung ương Cục và Mặt trận Dân tộc giải phóng, nơi được gọi theo mật danh “353”. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, cơ quan đầu não của hai bên đều là mục tiêu tấn công của nhau. Trung uơng Cục miền Nam bao giờ cũng là đích ngắm tiêu diệt hàng đầu của mọi kế hoạch quân sự của Mỹ ngụy. Từ năm 1966 tôi về nước đến nay, đã có tới 6 cuộc hành quân quy mô lớn vào những vùng chúng cho có đầu não của Việt Cộng, song đều không đạt được mục tiêu bắt sống hoặc tiêu diệt các chỉ huy quân đội và thành viên Mặt trận Dân tộc giải phóng. Lần này chắc hẳn cũng một chiến dịch tìm diệt nữa của liên quân Mỹ - Việt, nhưng chưa biết lực lượng, các mũi tiến công và ngày giờ cụ thể. Thời gian không còn nhiều để cho tôi tìm hiểu. Qua bữa cơm chiều chủ nhật tại nhà Phú, tôi gợi ý song Phú tỏ ra không biết gì về cuộc hành quân theo hướng ấy, giang đoàn của anh ta đang có chiến dịch tảo thanh ở đồng bằng sông Cửu Long. Tôi gọi điện đến nhà Jason, nhưng anh ta không có nhà. Vương Mộng Ngọc bảo anh đang tháp tùng Tư lệnh Creighton Abrams về Washington, khoảng mười ngày nữa mới về. Tôi lấy cớ gặp Lương lần nữa tại nhà riêng, song cũng không moi được gì thêm ở anh ta.

        Tôi vẫn lên lớp bình thường, mà trong lòng lúc nào cũng nóng như có lửa đốt. Từng ngày trôi qua. Linh cảm mách bảo tôi, chuyến về gặp Tổng thống của Jason rất có thể có liên quan đến cuộc hành quân này. Nếu Jason từ Mỹ trở về đúng thời hạn như lời Mộng Ngọc thì cũng chỉ còn khoảng ba hoặc bốn ngày là hết “nửa tháng” như Lương, Khang và Vỹ đã tiết lộ. Tôi không muốn Mộng Ngọc có cảm giác dạo này tôi quá quan tâm đến chồng cô. Hẳn cô thừa biết tôi hoàn toàn khác với Hai Lân bám Jason vì ý đồ vụ lợi, cô sẽ hỏi tôi quan tâm đến chồng mình vì mục đích gì? Song không còn cách nào khác. Tôi muốn chờ đến phút chót mới gửi báo cáo đi, có thể có thêm những thông tin quan trọng. Còn mấy ngày. Cảm thấy thời gian trôi rất chậm.

        Thế rồi, Vương Mộng Ngọc gọi điện báo chồng cô đã về. Tôi có chủ định trước, giọng thật bình thản hỏi anh ấy về có khỏe không và hứa khi nào rỗi rãi sẽ đến chơi. Mộng Ngọc cũng ngạc nhiên hỏi lại: Anh chưa đến ngay ư? Tôi bảo đang bận lên lớp ở Đại học cần Thơ, phải tuần sau mới rỗi rãi được. Sau cú điện của Mộng Ngọc, tôi chủ động gọi điện riêng cho Jason. Cũng chỉ là hỏi thăm xã giao sau chuyến đi xa. Còn hỏi: Lần đầu anh gặp Tổng thống Richard Nixon có gì hay không? Hay lắm! Trong điện thoại giọng anh ta sôi nổi hẳn. Dư luận Mỹ đang ồn ào về việc quân Mỹ sắp tấn công vào vùng Mỏ Vẹt trên đất Campuchia, phần đông người Mỹ không muốn cuộc chiến lan rộng cả bán đảo Đông Dương. Vào đầu giờ bản tin tối nay, Tổng thống sẽ lên truyền hình có một tuyên bố quan trọng đấy.

        Tôi cảm thấy phấn khích như vừa uống một ly rượu mạnh, còn choáng váng nữa. Giữa Washington và Sài Gòn chênh nhau nhiều múi giờ, tức là tôi phải mở đài Mỹ chờ đến quá nửa đêm để nghe được lời tuyên bố của Nixon.

        Nixon xuất hiện, vẻ mặt sắt đá lạnh lùng, tuyên bố: “Không thể chấp nhận sự đe dọa tính mạng người Mỹ hiện đang ở Việt Nam sau khi chúng ta đã rút thêm 150 nghìn quân. Các bạn cho rằng liên quân tấn công trên đất Campuchia là một hành động phiêu lưu? Tôi muốn tiêu diệt những nơi ẩn giấu ấy của chúng. Hãy dựng lên các kế hoạch và tiến lên. Nghiền nát chúng để chúng không bao giờ có thể dùng những nơi ấy để chống lại chúng ta nữa. Không bao giờ!” Phần cuối bài, hắn cũng không quên hứa hẹn với cử tri Mỹ rằng hòa bình đang trong tầm tay chúng ta.

        Đó là mở đầu bản tin thời sự buổi tối ngày 30-4-1970 giờ Washington. Một thông điệp đã rõ ràng! Tôi phải truyền ngay tin tức về cuộc tấn công của liên quân Mỹ - Việt vào vùng Móc Câu - Mỏ Vẹt. Càng sớm càng tốt. Đã đến giờ giới nghiêm. Tôi đành mạo hiểm đánh mooc về căn cứ cho Hai Tân, một việc trước đó tôi chưa bao giờ làm bởi tính an toàn không cao. Sợ rằng cuộc đánh mooc tối qua không thành công, để cẩn thận, tôi lại viết một báo cáo ngắn bằng mực hóa học và sáng hôm sau đến để nó vào hộp thư bí mật. Bằng bất cứ giá nào, ở căn cứ đầu não của ta cũng phải biết trước có cuộc càn quy mô lớn, mà địch cho rằng rất bí mật và đầy táo bạo này...

        Sau ba tuần. Qua đài, báo của địch, tôi được biết “12 vùng căn cứ của quân đội Bắc Việt Nam tại Campuchia đã bị tấn công đồng loạt, bất ngờ”. Song cũng chính báo chí Sài Gòn và tại Mỹ lại rộ lên tin thất thiệt của liên quân Mỹ - Việt về cuộc hành quân vào Móc Câu - Mỏ Vẹt. Đích thân Tổng thống Nixon cùng cố vấn an ninh Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird (mới thay McNamara), Đại sứ Mỹ Bunker và Đại tướng Abrams, Trưởng MACV Sài Gòn, đã lập nên một kế hoạch tìm diệt tham vọng nhất từ trước đến nay. Bộ chỉ huy của Việt Cộng đóng cách Sài Gòn 80 km về hướng Bắc, nơi biên giới Campuchia giáp với Tây Ninh -Bình Long. Nhưng khi liên quân đến nơi, căn cứ đã rỗng không. Trong một xác lều, chỉ bắt được tấm hình của một người đội mũ tai bèo, mặc áo bà ba đen, cổ cuốn khăn rằn, được nhận ra là Tướng Chín Vinh, Phó chính ủy quân đội Việt Cộng. Những người đang theo dõi tình hình chính trị ở Mỹ đều cho rằng quyết định của Tổng thống Nixon là một sự liều lĩnh khác thường trên phương diện chính trị và quân sự. Mâu thuẫn trong nội bộ chính giới Mỹ lại có dịp bùng phát, khiến tình trạng chống đối trong lòng nước Mỹ ngày càng dữ dội. Tờ New York Times gọi những lý do mà Tổng thống Nixon đưa ra để kết luận Hoa kỳ phải tấn công là “ảo tưởng chính trị chứ không phải những lý do thực tế”. Tờ Washington Post lên án quyết định của Nixon là “sai lầm và thiếu suy xét”.

        Thế rồi trên nước Mỹ những cuộc tranh luận sôi nổi bùng ra trên khắp các đường phố, trong các trường đại học, trên báo chí cũng như trong Quốc hội. Tin tức về các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam đầy nghẹt trên các trang báo xuất bản ở Mỹ thời gian này. Vào ngày thứ Bẩy, có khoảng 10 vạn người chống đối tụ tập tại một công viên phía sau Nhà Trắng, cảnh sát phải dùng xe buýt để làm hàng rào chặn người biểu tình, báo chí Mỹ miêu tả “chẳng khác gì chính Tổng thống Nixon đang bị bao vây”. Ở bang Ohio chính quyền phải dùng đến vệ binh quốc gia đàn áp người biểu tình. Tại Đại học Kent State cảnh sát đã nổ súng vào đám đông làm bốn sinh viên thiệt mạng...

        Tôi gặp Hai Tân tại vùng giải phóng giáp ranh. Anh siết chặt tay tôi, giọng xúc động:

        - Được báo trước 72 giờ, Trung ương Cục đã kịp thời di chuyển an toàn. Chỉ có một chiến sĩ bảo vệ hy sinh. Trung ương gửi lời khen ngợi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Giêng, 2018, 08:22:33 pm

Chương sáu

PHNOM PÊNH ĐẦU 1970

        Những ngày giáp Tết Canh Tuất (1970) tôi có lịch dạy ở Viện Đại học cần Thơ. Đây là nơi đầu tiên áp dụng quy chế tín chỉ (credit) thay cho chế độ chứng chỉ (certiíicate) để đạt văn bằng cử nhân trong các trường đại học của miền Nam Việt Nam ngày ấy. Viện có ba cơ sở, một ở Công trường Hòa Bình trong thị xã và hai ở thị trấn Cái Răng, Cái Khế. Trong cuộc Tổng tấn công Tet Mậu Thân 1968, chiến sự ác liệt đã diễn ra trong khuôn viên trường, lần này tôi vào giảng đường và phòng thí nghiệm vừa được xây cất lại từ đống đổ nát do bom đạn. Viện trưởng, giáo sư Phạm Hoàng Hộ vốn quen biết với tôi từ hồi ông sang Paris làm tiến sĩ về sinh vật học. Khi tôi dạy xong một “cua” toán nâng cao thì vừa lúc giáo sư Hộ chuẩn bị một đoàn trao đổi kinh nghiệm cách học mới theo tín chỉ với Đại học Hoàng gia Khmer. Tôi ngỏ ý muốn cùng đi với đoàn, bởi chưa lần nào được đặt chân đến thủ đô của đất nước Chùa Tháp. Giáo sư Hộ vui vẻ đồng ý ngay. Trước đấy, lần gặp Jason Kaatz ở tại nhà riêng, trong câu chuyện lan man với tôi về tình hình trong nước, thế giới, anh ta đã hé lộ một tin: Quốc trưởng Campuchia Norodom Sihanouk đang đi chữa bệnh ở nước ngoài, có khả năng ở nhà xảy ra đảo chính. Mấy năm nay, căn cứ 353 được Norodom Sihanouk thỏa thuận cho đặt trên vùng biên giới thuộc đất Campuchia, nếu chính thể khác lên, sự an toàn của căn cứ đầu não này sẽ bị đe dọa. Đến được Phnom Pênh chắc hẳn tôi sẽ nắm rõ hơn nội tình chính thể Sihanouk để có thể khẳng định về thông tin trên.

        Phnom Pênh soi bóng xuống mặt nước của ba dòng sông hợp lại: Mekong, Bassac và Tonlesap, chẳng thế mà còn có cái tên khác Thành Phố Bốn Mặt. Phnom Pênh yên ả, không nhiều nhà cao tầng, không ồn ào, bụi bặm đông xe cộ như Sài Gòn, một thành phố du lịch thanh bình nằm giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay phì nhiêu mầu mỡ của Biển Hồ. Nhưng khi đoàn chúng tôi đến đã cảm nhận được sự ngột ngạt “mùi thuốc súng” lan tỏa từ những tin thất thiệt của quân đội và cảnh sát hoàng gia lộ ra. Thời điểm đó, nhiều trí thức của Đại học Hoàng gia Khmer hay nhắc đến cái tên “Thủ tướng Lonnol”, ông ta đang chấp chính thay Quốc trưởng đi vắng, một người thân Pháp, thân Mỹ và thâm thù không đội trời chung với cộng sản. Tôi muốn tìm hiểu kỹ hơn về ông ta, thì một giáo sư từng tu nghiệp ở Paris nói nhỏ vào tai tôi: Ông nên đến vấn an kiến trúc sư Vann Molyvann, người đang trong nội các của Lonnol, ông ấy thuần túy chuyên môn không ngả theo phe nào, không ưa gì phái lính tẩy.

        Đất nước Chùa Tháp nổi tiếng thế giới với kinh đô Phật giáo xây bằng đá Angkor Wat và Angkor Thom. Đó thực sự là niềm tự hào về kiến trúc của một nền văn minh huy hoàng đã lùi xa mười mấy thế kỷ. Đến thời hiện đại, nền văn minh vang bóng ấy đã sản sinh một trong những kiến trúc sư nổi tiếng nhất: Vann Molyvann. Ông là tác giả của những công trình tô điểm thêm cho vẻ đẹp của Thành Phố Bốn Mặt Sông: Đài Độc Lập, Rạp hát Bassac, Sân vận động Olimpic. Trước khi vào làm việc cụ thể với trường bạn, Giáo sư đoàn trưởng Phạm Hoàng Hộ có nhã ý cho cả đoàn nửa ngày thăm quan các công trình có ấn tượng nhất ở thủ đô như: Cung điện Hoàng gia, Chùa Bạc, Chùa Watt Phnom, Đài Độc Lập...

        Đài Độc Lập sừng sững như một Khải Hoàn Môn phương Đông nằm tại quảng trường lớn, giao lộ giữa đường Norodom và đường Sihanouk, được hoàn thành năm 1962 sau 4 năm xây dựng, đánh dấu 9 năm nước Campuchia độc lập thoát khỏi sự xâm lược của nước ngoài. Như lời giới thiệu của cô hướng dẫn viên du lịch, thì đây là một công trình thuộc thời kỳ Sangkum Reastr Niyum văn hóa Khmer được chú trọng phát triển dưới sự bảo trợ của Quốc vương Norodom Sihanouk. Suốt thập kỷ 60 Quốc trưởng đã chỉ định Vann Molyvann làm kiến trúc sư trưởng cho vương quốc, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Văn hóa nghệ thuật, đô thị và quy hoạch quốc gia. Molyvann sinh năm 1926 ở tỉnh Kampot. Đầu tiên ông học luật tại Đại học hoàng gia. Có học bổng sang Paris, ông bỗng say mê vẻ đẹp kiến trúc của “Thủ đô ánh sáng” và chuyển sang học kiến trúc, về nước năm 1955, Đài Độc Lập một trong những tác phẩm đầu tay của ông. Và đó là niềm tự hào về kiến trúc hiện đại của đất nước Chùa Tháp. Ở đây, ông sử dụng hầu hết các môtip truyền thống của kiến trúc Khmer cổ truyền, có hình đóa hoa sen (stupa) mô phỏng từ Angkor Wat...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:47:46 pm

        Kết thúc buổi tham quan, trong khi đoàn của Viện Đại học Cần Thơ làm việc vói đối tác, tôi được rảnh rỗi liền tìm đến nơi làm việc của Bộ trưởng, kiến trúc sư Molyvann. May mà ông có nhà và khi đọc danh thiếp của tôi, ông vui vẻ nhận lời tiếp ngay.

        Kiến trúc sư Vann Molivann có đủ những nét đặc trưng của người Khmer: nước da ngăm đen, mái tóc đen dày xoăn vài lọn rủ xuống vầng trán cao, cái cằm vuông vức hơi bạnh ra, toát lên đức tính cương nghị và thẳng thắn. Ông tiếp khách Việt Nam trong bộ comple sáng màu, cravat xanh nước biển nền nã. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Tôi xin gặp với danh nghĩa một giáo sư của Đại học Khoa học Sài Gòn muốn tìm hiểu về nền kiến trúc Khmer cổ, cận và hiện đại. Nhưng vừa vào câu chuyện, ông bảo ngay với tôi rằng, chỉ tuần trước ông còn rất bận rộn với việc duyệt thiết kế kỹ thuật cho dự án công trình nhà hát lớn thủ đô, giờ thì đã phải gác mọi việc lại rồi, không biết bao giờ mới giở lại bản đồ án thiết kế ấy nữa. Kiến trúc hiện đại của Campuchia mở đầu xuôn sẻ, bỗng nhiên vài năm gần đây trở nên “còi cọc”. Tôi muốn biết điều gì làm ông phải bỏ dở một dự án lớn và thú vị như vậy, ông nhún vai bảo:

        - Quốc gia nào cũng có những vấn nạn trong phát triển. Tôi là thành viên hội đồng chính phủ, song chỉ làm chuyên môn, tách hẳn chính trị không giống như nhiều quan chức khác. Bộ của tôi bộ của thời bình, mà nay lại sắp một cuộc nội chiến, giáo sư hiểu không, Bộ đó mặc nhiên không có lý do để tồn tại.

        Tôi ngại rằng, nếu ngay từ đầu trò chuyện mà đã quá quan tâm về những điều vượt ra ngoài lĩnh vực “kiến trúc” thì sẽ làm người đối thoại nghi ngờ mục đích của cuộc viếng thăm, liền chủ động chuyển chủ đề. Tôi nói cảm tưởng của mình về đài Độc Lập, về kiểu dáng bên ngoài rạp Bassac, những công trình do ông thiết kế. Ông ngồi nghe với vẻ mặt không chăm chú lắm, dường như ông đã quá quen với những lời tán dương nhàm chán kiểu như thế của khách. Chính chủ nhà lại muốn nói sang chuyện mới. Ông gợi lại những ngày sống và học ở Paris, hỏi tôi có biết những người bạn Pháp của ông. Tiếc rằng ngày đó tôi ít quan tâm đến giới kiến trúc nên không biết gì về họ. Sực nhớ đến cuộc đàm đạo với Thượng tọa Thích Minh Châu hồi giữa năm ngoái, có nhắc đến một vị hòa thượng tăng thống người Campuchia tên là Maha Ghosananda. Nghe tôi hỏi về vị đó, Molyvann trở nên vui vẻ, linh hoạt hơn, ông nói:

        - Hòa thượng tăng thống người bạn gần gũi, thân thiết với tôi. Tôi cũng có lần nghe Maha Ghosananda nhắc đến tên hòa thượng Thích Minh Châu của Việt Nam với sự vì nể. Như thế thông qua hai vị đó, chúng ta đều là bạn của nhau. Cả hai hòa thượng đang dịch kinh Pali, một công việc rất hữu ích cho mai sau. Ghosananda của tôi đến đâu cũng chỉ nói đến lòng từ bi và trí tuệ cảm hóa con người. Hôm rồi ông theo Thủ tướng Lonnol đến làm lễ cầu siêu cho những người lính Khmer tử trận ở một đơn vị đồn trú vùng biên giới Móc Câu - Mỏ Vẹt, nơi vừa có cuộc giao tranh. Liên quân Mỹ - Việt cùng những lính biên phòng của quân đội hoàng gia Campuchia trong khi tiến vào căn cứ của Việt Cộng, đã bị chống trả ác liệt, nhiều thương vong. Hòa thượng nói với binh sĩ và dân địa phương trong lễ cầu siêu là, ông chỉ lên án hành động xâm lấn biên giới chứ không thù ghét những người lính của cả hai phía, với tình thương chúng ta sẽ thiết lập được nền hòa bình. Lonnol nghe nói vậy tỏ ý không hài lòng. Ông ta bảo: Hòa thượng nên biết, còn cộng sản thì không thể có hòa bình và hòa giải dân tộc. Tiếc là Mỹ đã sớm kết thúc viện trợ cho Campuchia vào năm 1963, nếu không tôi đã có đủ thời gian và lực lượng để đánh bật cộng sản ra khỏi biên giới từ lâu rồi. Quốc trưởng Sihanouk cũng vì lòng nhân từ chung chung đó mà cho cộng sản thiết lập căn cứ trên đất mình. Đó là điều thất sách. Nếu tôi nắm quyền việc đầu tiên trục xuất ngay họ khỏi đất nước.

        - Thủ tướng Lonnol hiếu sát vậy ư?

        - Tôi quá biết ông ấy - Kiến trúc sư Molivann lại cười nửa miệng - Vì kính trọng Quốc trưởng mà tôi tham gia chính phủ, chứ tôi với ông ta như mặt trăng, mặt trời vậy. Ông ta hơn tôi 3 tuổi, hồi nhỏ từng học ở Lycee Chasseloup Laubat Sài Gòn đấy, rồi khi tôi vào trường luật thì ông học trường quân sự hoàng gia. Cuối những năm 40 ông mới bắt đầu nhẩy vào chính trường. Sau khi Campuchia giành được độc lập, ông đứng ra lập Đảng Cách tân. Năm 1955 là Tổng tham mưu trưởng quân đội, rồi năm 1960 thăng lên Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng. Năm 1966 làm Thủ tướng, việc đầu tiên là sử dụng quân đội dưới quyền Sihanouk đàn áp không thương tiếc phe cánh tả. Thế rồi ông ta bị một tai nạn xe hơi, nghỉ dưỡng tại nhà, trở lại ghế thủ tướng lần thứ hai vào tháng 8-1969. Lần này ông liên minh với hoàng tử Sirik Matak, một người cũng rất thân Mỹ, càng có ý chống đối Hoàng thân Sihanouk hơn. Một sự kiện vừa xảy ra trên nước tôi, không biết giáo sư sang đây đã biết chưa?


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:48:23 pm

        Tôi nói chưa biết, Molivann tiếp:

        - Quốc trưởng vừa cùng bà hoàng Monique sang Pháp thăm thú, chữa bệnh thì tại Xiêm Riệp nổ ra các cuộc bạo loạn nhằm vào Việt kiều. Ở thủ đô hai đại sứ quán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng bị cướp phá, trong khi chính phủ làm ngơ. Lonnol và Sirik Matak lập tức hạ lệnh đóng cửa cảng Sihanoukville nơi trung chuyển vũ khí lậu tới tay Việt Cộng ở Nam Việt Nam, đồng thời đòi lực lượng quân đội Bắc Việt phải triệt thoái khỏi Campuchia trong vòng 72 giờ, nếu không sẽ bị tấn công. Tôi biết, đây chỉ là màn dạo đầu cho một cuộc đảo chính quân sự sắp nổ ra.

        - Chắc hẳn đứng sau Lonnol là Hoa Kỳ?

        - Sao khác được! Chính CIA đứng sau giật dây Lonnol - Kiến trúc sư Molivann nói tiếp - Lâu nay tôi vẫn biết Quốc trưởng bị kẹt giữa hai làn đạn của Mỹ, đồng minh và Việt Cộng. Vì thế ông luôn tỏ ra trung lập, chủ trương đi với cả hai bên. Nhưng không thể trung lập mãi theo kiểu ấy, sớm muộn gì ông cũng phải bầy tỏ chính kiến, bị hạ bệ thôi.

        - Lonnol - Sirik Matak lên nắm quyền liệu có được sự ủng hộ của dân chúng hay các đảng phái không?

        - Tôi chắc không, vì ông ta nhiều tham vọng, nhưng lại bất lực trong việc tập hợp lực lượng. Tính vô cùng đa nghi, ông ta không tin cả những người gần gũi mình, đến nỗi giờ không có một cố vấn thân cận nào. Ông ta lại là người mê tín cực kỳ, hoàn toàn tin vào thầy bói và phật tử thuộc phái Phật giáo thần bí. Chẳng hạn, vừa rồi nghe tin lực lượng chống đối Khmer Đỏ của Pol Pot - Iêng Xari mới được thành lập, sẽ tấn công vào Phnom Pênh trong nay mai. ông ta liền mời pháp sư đến niệm chú yểm bùa, rồi điều cả tiểu đoàn quân chia nhau đi rắc thành một vòng tròn cát khổng lồ viền quanh ngoại vi Phnom Pênh gọi là “Thánh hóa” để tạo ra “bức thành vô hình bảo vệ thủ đô”, chuyện mà đến đứa con nít cũng không thể nào tin nổi.

        - Thời loạn lạc này, những kẻ cầm quyền ngu dốt như vậy, “Bộ kiến trúc thời bình” của ông sao tồn tại được?

        Molivann cười:

        - Giáo sư nói phải lắm. Nếu sắp tới Khme Đỏ lên nắm quyền, thì Pol Pot cũng chẳng khác gì Lonnol, có khi còn tệ hại hơn. Tôi đã gặp Pol Pot ở Paris lúc anh ta đang định làm một luận văn về triết học. Qua trao đổi, tôi cứ tưởng đang nói chuyện với một kẻ bị bệnh tâm thần hoang tưởng, thứ triết học anh ta nghĩ ra cực kỳ vô nhân tính và bệnh hoạn. Một lũ điên khùng như thế lãnh đạo đất nước thì chỉ có bom đạn tàn phá, máu chảy đầu rơi và thù hận sao có hòa bình, nhân văn, tái thiết được. Chả thế mà tôi buộc phải mau chóng gác mọi chuyện kiến quốc lại. Tôi và gia đình chuẩn bị đi Thụy Sĩ trong nay mai, nhận lời làm việc cho Chương trình định cư của Liên Hợp Quốc. Khi nào đất nước yên bình thì về. Giáo sư thấy không, muốn thuần túy đưa chuyên môn phục vụ nhân sinh cũng không được. Năm nay tôi bốn mưoi tư tuổi, đang tuổi làm việc có hiệu quả nhất mà không được đem hết sức mình phụng sự tổ quốc, thật là điều đau lòng và đáng tiếc...

*

*       *

        Trở về Sài Gòn, tôi viết ngay một báo cáo ngắn gửi đi: “Chỉ trong một, hai ngày tới, Lonnol -Sirik Matak sẽ lật Sihanouk. Chính phủ mới của Campuchia sẽ cấu kết với Mỹ - ngụy Sài Gòn dùng lực lượng quân sự tấn công, chủ yếu vùng Móc Câu - Mỏ Vẹt”.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:49:18 pm

CHÙA ĐẠI TÙNG LÂM

        Dạo này đi lại tôi luôn cảm thấy có “đuôi”. Đấy hoàn toàn là linh cảm, có thể giống như một thứ tự kỷ ám thị. Chỉ vì có lần Nga đến thăm tôi tại cư xá. Bà nội mới mất và em kể bà bảo dìu ra trước bàn thờ, ngước mắt ngắm nhìn lần cuối cùng tấm biển “Tiết hạnh khả phong” rồi mới đi. Em đã xin được làm công nhân ở nhà máy cá hộp, tuy đi ca hai, ca ba vất vả nhưng cũng có thu nhập thêm để giúp mẹ. Em còn cho hay, sau lần tôi đến thăm nhà không lâu, có một người đàn ông đến hỏi: Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc thăm nhà với mục đích gì? Em bảo với người ấy, giáo sư đến thăm bà cháu và biếu mẹ cháu một khoản tiền tuy không nhiều nhưng đầy tình nghĩa. Hắn bỏ đi không thấy quay lại nữa. Tôi hỏi người đó hình dáng thế nào, nghe Nga tả không thể hình dung là ai. Dù sao cũng biết thêm một điều: đã có kẻ ngấm ngầm theo dõi mình

        Tôi vẫn là một giáo sư lập dị, chẳng chơi bời giao du thân thiết với ai, ngày ăn có một bữa và đi dạy liên miên, những bốn, năm trường đại học, thì giờ đâu mà làm việc khác nữa. Tôi còn nghĩ ra “mẹo” đi ngược chiều. Chả là ban Toán nơi tôi làm việc có một thư viện khá lớn, tòa nhà lại gần với trụ sở cảnh sát rất có thể bị tấn công, tôi bàn với anh em: trước mắt sơ tán phần lớn sách quý về nơi tôi ở cư xá đường Công Lý. Anh em tán thành. Thế là hàng tháng liền, tôi cứ kẽo kẹt buộc từng chồng sách sau xe đạp và dắt bộ ngược chiều. Tôi thủng thẳng đi như thể trêu ngươi ai đó. Dù sao cũng chưa lần nào phát hiện “đuôi”.

        Những năm qua thực sự vào nghề này tôi càng hiểu một điều: bản thân người điệp báo như một ngọn đèn dù công suất lớn đến đâu cũng không có giá trị tự thân. Phải có một sợi dây liên lạc, một cách thức để truyền thông tin, không có nó thông tin mà người điệp báo thu thập được chẳng có giá trị gì cả. Tôi nhớ đến một cuốn sách viết về nghề tình báo tình cờ mua được trong đống sách cũ bày bán trên vỉa hè chợ Ben Thành. Đại ý: làm tình báo có hai điều cấm kỵ và bắt buộc. Thứ nhất, nếu chẳng may bị bắt mà không thể trốn thoát, anh phải coi mình là nguời đã chết. Cái cần phải bảo vệ ở đây không phải là thân thể mình. Anh phải tự coi mình đã chết rồi, nhung các nguồn tin của mình thì không bao giờ đuợc tiết lộ. Anh không được thú nhận. Đó là điều bắt buộc. Tất nhiên anh có thể khai nhận những điều mà kẻ thù đã biết. Điều sống còn đối với nghề, phải bằng mọi giá bảo vệ những người đã cung cấp tin cho mình. Thứ hai, tất cả những gì mà anh thu thập được phải đầy đủ và hoàn toàn bí mật.

        Từ ngày trở lại Sài Gòn, tôi luôn cảm thấy bất cứ lúc nào mình có thể bị lộ, bị bắt, bị tra tấn, nhiều khả năng còn bị thủ tiêu. Tôi sẵn sàng đón nhận, coi đó như những rủi ro nghề nghiệp. Vì thế mà tôi còn có thói quen ngủ ngoài ban công nữa, những đêm đông nằm trên sàn gạch lót giấy báo. Đó là sự khổ luyện trong nghề, nếu bị địch bắt, cực hình tra tấn cũng quen chịu đựng. Tôi tin sẽ làm được giống điều đã viết ở cuốn sách kia. Và chính vì nghĩ đến rủi ro mà dạo ấy tôi không muốn vợ con cùng về, họ có thể bị uy hiếp, bắt cóc bất cứ lúc nào. Có lúc tôi nghĩ lại: có lẽ đó là một sai lầm phải trả giá của mình. Nguyệt Tỉnh ở xa và ngày càng xa rời tôi, nàng không còn thuộc về tôi nữa? Tôi không muốn trả lời, hay cố tình lẩn tránh một câu trả lời phũ phàng như thế. Còn về giọt máu duy nhất của tôi. Tôi không được nuôi dạy, chăm bẵm con lớn khôn; không được giúp nó giải những bài toán khó ở trường; mai này không được nghe dù chỉ một lần thôi, nó hỏi ý kiến về người bạn gái nó yêu và chọn làm bạn đời... Đó cũng là một nỗi buồn, nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng. Tôi nhớ hôm sắp rời Paris, chị Hoàng Xuân Sính vừa từ Berlin sang. Chị sang Pháp làm luận văn tiến sĩ nhà nước về toán với Alexander và chị cũng khá thân thiết với gia đình tôi. Chị bảo, anh Ngọc ạ, tôi cảm thấy anh giống con sói trong bài tho của Alfred de Vigny quá. Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, thì chị hắng giọng chậm rãi đọc cả đoạn tho về con sói:

        Rên xiết, nguyện cầu hay khóc than đều hèn yếu
        Hãy tôi rèn nghị lực làm đến cùng nhiệm vụ lâu dài và nặng nhọc của anh
        Trên con đường số phận gọi anh đi
        Sau đây rồi cũng như tôi, khổ đau và chết không một lời than vãn...


        Giờ nghĩ lại, điều chị ấy nói ra hoàn toàn cảm tính, mà xác đáng với những người sống nhiều bằng nội tâm như tôi và bất cứ lúc nào cũng có thể gặp bất trắc, hiểm nguy. Phải rồi, đến một ngày tôi sẽ như con sói kia, chịu đựng khổ đau, chết không một lời than vãn!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:49:56 pm
        
*

*       *

        Ở Phnom Pênh về Sài Gòn chưa được bao lâu, đúng như dự báo của kiến trúc sư Molivann, tôi nghe trên đài loan tin Lonnol - Sirik Matak đã làm cuộc đảo chính lật đổ Sihanouk. Lúc đầu Lonnol còn chần chừ, hắn biết tuy đường lối trung lập nửa vời của Quốc trưởng không giải quyết được gì, ông ta vẫn có uy tín lớn trong xã hội Campuchia, hạ bệ ông tức là cô lập mình. Nhưng rồi Sirik Matak bám riết, thúc giục, cho y nghe cuộn băng ghi âm cuộc họp báo tại Paris. Sihanouk chửi Lonnol và Sirik Matak là kẻ vong ân bội nghĩa, bán nước cầu vinh, dọa khi về nước sẽ xử tử cả hai. Y buộc phải hành động. Tuy vậy y vẫn cảm thấy không chắc chắn trong việc bắt các nghị sĩ bỏ phiếu phế Quốc trưởng. Không thể nhượng bộ thêm, kẻ cùng hội cùng thuyền Sirik Matak và ba viên sĩ quan quân đội liền chĩa súng vào Thủ tướng, chìa ra các văn bản buộc y phải ký. Ngày 18-3-1970 Lonnol yêu cầu Quốc hội bỏ phiếu phế truất Quốc trưởng Norodom Sihanouk, kết quả số phiếu 92-0. Heng Cheng trở thành Chủ tịch Quốc hội. Lonnol Thủ tướng giữ mọi quyền lực, Sirik tiếp tục ghế Phó thủ tướng. Chính phủ mới đón chờ viện trợ quân sự, tài chính từ Hoa Kỳ. Đảo chính đã mở đường cho cuộc tấn công lần nữa vào vùng Móc Câu - Mỏ Vẹt được cho là nơi có cơ quan đầu não của Việt Cộng. Khởi đầu cho hành động quân sự ấy, Lonnol lấy Việt kiều làm con tin, vây ráp giam cầm họ. Cùng với đó là các cuộc tàn sát dã man. Ngày 15-4, thi thể của khoảng 800 nạn nhân người Việt bị bỏ trôi theo dòng sông Mê Kông về miền Nam Việt Nam...

*

*       *

        Đã mấy năm nay, ông Hai Tân trong vai chủ một hãng buôn và sự làm ăn của ông cũng nhiều lần gặp “hên”. Ông đủ tiền để mua một khu đất rộng cỡ dăm hec-ta gần chùa Đại Tùng Lâm bên quốc lộ 51 trên đường đi Vũng Tầu, cách Sài Gòn 70 km. Một trang trại trồng cây lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm và chế biến nông sản, thực phẩm. Người làm, ông chủ ý tuyển toàn thương, phế binh ngụy cùng gia đình của họ, tạo ra một vỏ bọc khá chắc chắn. “Đại bản doanh” của Hai Tân đóng gần ngôi chùa lớn như Đại Tùng Lâm luôn tấp nập khách thập phương còn thuận lợi cho việc liên lạc, hội họp.

        Như lệ thường, tôi đi đến nơi để hộp thư bí mật và nhận ra tín hiệu của Hai Chuối: anh cần về “Đại bản doanh” gấp!

        Chủ nhật. Tôi đi tắm biển Vũng Tầu cùng một số giáo viên trong trường. Nhưng tôi cố ý xuất phát chậm, bắt xe đò dọc đường. Đến khu vực thuộc xã Phú Mỹ (Tân Thành, Bà Rịa -Vũng Tầu) tôi xuống xe, trước hết vào chùa Đại Tùng Lâm nơi đang diễn ra lễ hội nhộn nhịp hoành tráng. Chùa này vào loại lớn nhất trong các chùa ở miền Nam ngày đó, rộng tới 100 hec-ta. Trang trại của ông Hai Tân tiếp giáp khu chùa không xa, lùi sâu về phía bên trong có rừng cây bao quanh. Còn khoảng gần một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ hẹn, tôi có dịp đi thăm thú cảnh chùa.

        Một băng rôn lớn bằng vải sa tanh màu xanh treo ngang cổng chùa “Lễ hội Vía Quán Thế Âm Bồ Tát - Chùa Đại Tùng Lâm 19-6-1970”. Từ sáng sớm, hàng chục nghìn Phật tử từ mọi miền lục tục kéo về đây, hầu hết họ đều mặc đồng phục quần áo tràng màu lam, còn các nhà sư đều khoác áo vàng nguyên thủy của nhà Phật. Chùa này được Hòa thượng Thích Thiện Hòa từ chùa Ân Quang, Sài Gòn về đây khai sơn vào năm 1958. Sau nhiều năm nhờ tiền đóng góp công đức của đệ tử khắp nơi, việc xây cất các tượng Phật lớn tĩnh tọa ngoài trời, điện thờ, tòa bảo tháp, đầm sen... ngày càng hoàn chỉnh, khang trang. Một thế giới tâm linh riêng biệt của một tín ngưỡng đặc sắc! Nữ đệ tử có khuôn mặt tròn phúc hậu đứng bên tôi, thốt nhiên nhỏ nhẹ thuyết minh, bởi cô đoán biết tôi vô thần và đến đây lần đầu: Chú à, cuối năm ngoái ở đây vừa hoàn thành công trình điện Phật tầng lầu gồm 9 pho tượng bằng đá hoa cương. Còn đây là bộ tượng Di Đà Tam Tôn ngoài trời, gồm Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí . Trong các năm tới sẽ hoàn thành nốt bộ tượng Thích Ca Tam Tôn gồm Phật Thích ca Mâu Ni, Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền cùng hai tượng Hộ Pháp và Tổ Sư Đạt Ma. Tôi khẽ gật đầu cảm ơn sự chỉ dẫn ân cần, vô tư của cô. Ngắm các pho tượng đá hoa cương lấp lánh phản chiếu nắng sớm mai, tưởng như tự thân các pho tượng ấy đang tỏa sáng, tôi sực nhớ đến lời Alexander hôm chúng tôi ngồi đàm đạo với nhau về khoa học và Phật giáo: “Một Đức Phật, người không gắn cho các hiện tượng một sự bền vững nào, nhìn thế giới theo cách hoàn toàn khác với cách của chúng ta, đạt tới cấp độ cuối cùng của thiền định, thoát khỏi mọi mê muội và ảo tưởng.” Vậy các pho tượng Phật, đó là chân lý hiện hữu một cách tượng trưng. Tôi vừa vào mấy ngôi chùa lớn lâu đời ở thủ đô nước Campuchia, thấy phong cách kiến trúc cùng các pho tượng Phật bên đó rất khác ở đây, có lẽ hai tông phái mà tôi chưa có dịp tìm hiểu, dù sao chân lý của đạo Phật thì chỉ có một. Thượng tọa Thích Minh Châu chẳng đã nói về điều này rồi đó sao, và suốt đời ông chỉ khoác áo của đạo Phật Nguyên thủy. Giá có Thượng tọa hay Tăng thống Maha Ghosananda ở đây, hẳn sẽ được các ngài giảng giải thêm cho biết được ngọn ngành.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:50:59 pm

        Nhưng tôi còn đang quá nặng việc đời.

        Ai đến đây chiêm bái cũng với vẻ mặt hiền hòa, thành kính, miệng niệm Nam mô a di đà, tôi yên tâm hòa vào dòng người thiện tính sùng đạo. Vậy mà bất ngờ quay đầu lại, tôi bắt gặp một cái nhìn khác lạ, nham hiểm, dẫu kẻ đó cũng mặc bộ quần áo Phật tử. Tôi dừng trước đài Phật Di Lặc ở phía trước ngôi chính điện, kín đáo để ý kẻ kia, hắn cũng tỏ ý dừng bước ngắm nghía pho tượng bên đường, vẫn đôi mắt lấm lét nhìn về phía tôi. Lần đầu tiên tôi gặp “cái đuôi” của mình: hắn trạc tuổi trung niên, dáng thô kệch. Tôi khó lẫn vào dòng đệ tử đang trật tự chuyển động bởi bộ quần áo không giống ai cả. Nhân lúc hắn vừa lo láo quay đầu đi, tôi lẩn nhanh, rảo bước trở ra cổng. Rồi không thấy “cái đuôi” đâu nữa, hay hắn đã nấp vào chỗ kín đáo nào đó quan sát mà tôi không biết? Không muốn choi trò “ú tim”, tôi ngồi vào chỗ khuất của một quán nước, nhâm nhi một ly trà đá. Còn mười lăm phút nữa đến giò hẹn. Trả tiền nước xong, tôi thấp thoáng bên dìa bức tường rào xây bằng gạch đỏ ngăn cách giữa đạo và đời, rồi khuất hẳn vào rừng cây phía sau chùa.

        Ông Hai Tân dạo này gày, nước da xanh hơn hồi tôi gặp cách đây gần một năm. Ông bảo cũng vừa qua một trận ốm, dư âm của cơn sốt rét rừng mấy năm ở cứ. Giọng ông thì vẫn giàu âm sắc và lần gặp này không giấu giếm niềm vui:

        - Nhận định của anh về cuộc đảo chính của Lonnol - Sirik Matak đã giúp cho Trung ương Cục chuẩn bị đối phó kịp thời. Không ít đồng chí thoát hiểm trong gang tấc. Hồi anh vừa về nước năm 1966 đã lập được chiến công. Những năm qua, các tin anh cung cấp đều chính xác, kịp thời. Anh Sáu Hoàng nhờ tôi chuyển tới anh lời biểu dương của Trung ương Cục.

        Đang câu chuyện, người nhà bếp bê lên một nồi bắp luộc bốc khói nghi ngút, ông Hai Tân đưa tôi một bắp to, những hạt màu ngà đều tăm tắp, bảo:

        - Chắc lâu rồi anh không được thưởng thức hương vị quê nhà.

        - Mấy chục năm, giờ tôi mới được ăn ngô luộc đấy. -Tôi nói - Quê tôi ở Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Đông có đất bãi phù sa sông Hồng trồng màu tốt lắm, hương vị ngô nếp luộc ăn hồi bé đến giờ còn chưa quên. Được uống nước ngô non cũng rất tuyệt.

        Mỗi người ăn hết một bắp. Rồi Hai Tân múc trong nồi đưa tôi bát nước ngô sóng sánh màu xanh nhạt, âm ấm, bốc lên mùi thơm ngầy ngậy, uống một hơi, ngọt lự đến tận cùng chân tóc.

        - Lúc nãy anh nói đến anh Sáu Hoàng, - Chúng tôi lại tiếp tục câu chuyện dở - quả tôi chua gặp lần nào. Có lẽ anh ấy cũng cùng lứa với anh Nguyễn Hữu Khiếu, giám đốc Công an Liên khu 4, thuợng cấp của tôi ngày trước.

        - Anh Nguyễn Hữu Khiếu tôi chỉ nghe tiếng, cũng chưa được gặp lần nào - Ông Hai Tân nói - Nhưng tôi có nghe các anh ở cứ nói, thì anh ấy cao tuổi hon anh Sáu Hoàng, đi hoạt động trước. Anh Sáu, tên thật là Cao Đăng Chiếm, người Cai Lậy, Mỹ Tho, thân phụ từng tham gia phong trào khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Trung Trực. Bản thân anh Sáu giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Thòi chống Pháp, ở vùng Mỹ Tho, Tiền Giang địch nghe đến tên “Bảy Chiếm” là run sợ. Năm 1946, anh đã làm Phó giám đốc Sở Công an Nam Bộ, kiêm Trưởng ty Công an Sài Gòn - Chợ Lớn. Rồi sau ngày hòa bình lập lại, anh được bố trí trở lại miền Nam hoạt động qua con đường Campuchia với danh nghĩa một nhà báo. Tôi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh từ năm 1960, lúc anh là Trưởng ban An ninh T4. Đó là con người trí tuệ, quyết đoán và rất hiểu nhân tình thế thái.

        - Hiện Trung ương Cục đã di chuyển đến được nơi an toàn?

        - Hôm rồi tôi có gặp anh Sáu - Ông Hai Tân nói tiếp - do có chuẩn bị trước nên ta không bị động. Sau cuộc đảo chính ở Phnom Pênh, lực lượng thám kích của địch được thả bằng trực thăng đánh úp vào căn cứ. Đại bộ phận văn phòng Trung ương Cục đã di chuyển trước, để lại lực lượng nghi binh và bảo vệ. Cũng có những đụng độ nhưng nhỏ, ta chỉ có một đồng chí thuộc tiểu đoàn bảo vệ hy sinh. Cơ quan Trung ương Cục vượt qua biên giới, điểm trú đầu tiên là cao điểm 81 cạnh phum Mê May. Đến cuối tháng Năm đơn vị tiền phương đã tạm dừng chân tại nhánh sông đổ ra thị trấn Cholong, tỉnh Crachê. Tuy địch đã không đạt được mục tiêu ban đầu là cất gọn mẻ lưới bắt cá lớn, song những nơi cơ quan đi qua đều bị B52 bám đuổi cầy nát và đài, báo nước ngoài có những dự báo về hướng di chuyển không khác nhiều so với thực tế. Vì thế, các anh lãnh đạo đã quyết định không được mở đài liên lạc như cách thông thường và thay đổi kỹ thuật phát sóng. Cũng có khả năng có nội gián trong nội bộ. Cách đây ít hôm, tôi được biết toàn bộ Trung ương Cục đã vượt sông Mê Kông thành công. Đây là một bước đi rất táo bạo, lần này địch không thể lần ra dấu vết.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:51:26 pm

        Tôi đã nhận nhiệm vụ trước anh Sáu nay truyền đạt lại với anh. Bộ máy chiến tranh của Nixon đang ráo riết triển khai những bước phiêu lưu mới của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Chiến tranh không chỉ ở nước ta mà sẽ mở rộng ra toàn bán đảo Đông Dương. Mục tiêu trước mắt của chúng là cắt đứt đường tiếp tế từ Bắc vào Nam qua con đường Tây Trường Sơn trên đất bạn Lào; đồng thời tiếp tục truy đuổi cơ quan đầu não Trung ương Cục. Bằng các mối quan hệ sẵn có, anh vẫn cần nắm các động thái hành quân trong các chiến dịch tìm diệt của địch. Hồi Tết Mậu Thân, một số mạng lưới tình báo của ta đã bị bộc lộ lực lượng, riêng anh vẫn bảo đảm được sự bí mật. Nhưng đến gần đây, rất có thể CIA đã bắt đầu chú ý đến anh. Tôi cho rằng chúng mới nghi thôi chứ chưa có bằng chứng gì cụ thể. Trước mắt anh có thể nằm yên, củng cố cho chắc vỏ bọc. Chờ cơ hội. Sẽ phải thay đổi cách liên lạc giữa anh và anh Hai Chuối. Nếu không có lệnh, anh không được trực tiếp về căn cứ Đại Tùng Lâm.

        Đến trưa. Nhà bếp bê lên một mâm cơm. Đúng là cơm nóng canh sốt, tôi chợt nhìn thấy những món quen thuộc mà lâu rồi ít dùng đến, do tôi đã cố tình tạo ra bữa ăn thật “gọn nhẹ”, thường là cái bánh mì kẹp pa tê để sẵn trong cặp, đến giờ là lấy ra dùng. Trên mâm có những món thời xưa ở Hà Nội mẹ hay làm cho tôi và em Kim ăn: rau cải bắp luộc, cá lóc kho, canh chua, cà muối, nước mắm dằm trứng gà luộc. Ông Hai Tân thản nhiên cầm bát đũa và nhìn tôi ra hiệu:

        - Mời.

        - Anh chưa biết nhỉ - Tôi cười, ngồi nhìn anh đang xới cơm nóng vào bát - Lâu nay tôi chỉ ăn có một bữa, vào bữa chiều.

        - Ủa, lạ vậy!

        - Giờ thành thói quen rồi anh ạ. Anh cứ ăn đi, cho tôi uống thêm một bát nước ngô nữa

        thôi.

        Ông Hai Tân chưa hết ngạc nhiên, bỏ bát đũa xuống và vội ngăn tôi múc nước trong nồi ngô luộc. Ong nói:

        - Quả bây giờ tôi mới biết thói quen đó của anh. Nhưng hôm nay có lẽ nể tôi mà phá lệ cho. Đây là lần đầu tiên tôi có cơ hội được ăn bữa cơm gia đình với anh.

        Ánh mắt của ông nhìn tôi thật chân thành, thân thiết, tôi nhượng bộ và đưa bát cho ông xới:

        - Anh Hai đã nói vậy, tôi không thể không tuân theo.

        Hai Tân cười xuề xòa, cái cười tôi chưa từng thấy ở ông, có lẽ do lần gặp trước ông chỉ chớp nhoáng trao đổi việc, rồi chia tay trong im lặng. Tôi “phá giới” ăn một bát cơm, xong bữa không quên uống thêm chút nước ngô luộc.

        Mâm cơm dùng xong được dọn đi. Ông Hai Tân rủ tôi ra ngoài bách bộ quanh trại nói là cho tiêu cơm. Không đi về phía khu nhà ở của trại viên mà về phía những vạt ngô đang thu hoạch. “Vương quốc” Hai Tân rộng ngút tầm mắt đang tiếp tục được khai phá, biến những đồng cỏ, trảng rừng thưa thành cánh đồng trồng ngô, đậu, lúa nước. Bên cạnh các trại chăn nuôi đang hình thành, tôi thấy những dãy chuồng nuôi lợn, gà theo cách công nghiệp khá bài bản. Nhưng ông chủ lại tỏ ra không mấy quan tâm đến những thứ ông bầy ra chỉ để che mắt thiên hạ, mà trở lại câu chuyện ban nãy về việc mỗi ngày chỉ ăn một bữa của tôi. Ông vui vẻ nói:

        - Tôi cũng nghe nói anh được gọi là “Giáo sư lập dị”. Cái vai đó anh đóng khá đạt đấy. Nhưng anh phải chú ý bồi bổ cho có đủ dinh dưỡng, bảo đảm sức khỏe lâu dài công tác.

        - Lúc đầu không có ý đóng vai gì đâu anh. - Tôi nói - Chỉ nghĩ đơn giản ăn một bữa sẽ có thêm nhiều thời gian lên lớp, nghiên cứu, đọc sách. Không ngờ, nó cũng hợp với những thói quen khác của tôi, lại có lợi cho công việc chung. Còn về sức khỏe, anh yên tâm giờ tôi đã quen, thấy trong người chóng thích nghi.

        Mặt trời đứng bóng.

        Theo đúng lịch trình đầu giờ chiều tôi sẽ đi tiếp Vũng Tầu tắm biển, có những đồng nghiệp ở ban Toán đang chờ duới đó. Trở lại căn nhà ban nãy, ngồi uống nuớc lúc sắp chia tay, tôi mới nói với nguời chỉ huy của mình một nguyện vọng lâu nay vẫn giấu kín trong lòng:

        - Tôi có một đề nghị, anh Hai ạ.

        - Anh cứ nói.

        Ông Hai Tân nhìn tôi, hiểu rằng có một điều quan trọng nào đó sắp được thổ lộ của người đồng đội.

        - Tôi chính thức vào ngành công an từ năm 1953, - Tôi chậm rãi - do hoàn cảnh một thời gian khá dài hoạt động ở nước ngoài, tôi chưa là đảng viên. Nay về nước được hơn bốn năm rồi. Anh biết công việc tôi đã làm rồi đấy, tôi nghĩ mình đã được thử thách. Hồi ở Pháp tôi đã đọc các trước tác của Karl Marx và Engels, đó là một hệ thống lý luận khoa học nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột. Giờ tôi thấy cần được đứng trong đội ngũ của Đảng để tiếp tục được cống hiến.

        - Nguyện vọng rất chính đáng. - Hai Tân bỗng nở nụ cười đôn hậu, siết chặt tay tôi - Anh viết đơn đi. Để khỏi phải đi lại nhiều và bảo đảm việc giữ bí mật, ngay bây giờ có giấy bút đây anh viết đơn và so yếu lý lịch đưa tôi luôn. Tôi sẽ sớm báo cáo chi bộ và Trung ương Cục về trường hợp của anh.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:52:41 pm

Chương bầy

NHẬT KÝ CHIẾN TRƯỜNG

        Một ngày giữa năm 1970. Tôi vừa đi dạy ở Đại học Cộng đồng Mỹ Tho về thì có điện thoại của Jason Kaatz. Lâu rồi không đến nhà anh ta, tôi thầm nghĩ: chắc lại có chuyện gì liên quan đến tử vi đây?

        Vẻ mặt chủ nhà không được vui. Vừa gặp anh ta đã than vãn:

        - Buồn quá! Giáo sư còn nhớ thiếu tá biệt kích Jack Smith không?

        Tôi bảo là vẫn nhớ Jack, cách đây 4 năm đã từng xem tử vi cho anh ta. Jason nói tiếp:

        - Anh ấy vừa tử nạn tuần trước ở núi rừng Bình Long rồi! Đã có quyết định gọi về MACV làm trợ lý tác chiến mà anh chưa kịp nhận giấy điều động, mới đau đớn chứ. Trong cuốn sổ nhật ký anh mang theo vẫn còn kẹp tờ lá số mà giáo sư đã lấy cho lần ấy. Giáo sư đoán năm 38 tuổi gặp hạn sát thân. Jack bằng tuổi tôi, nếu tính theo lịch phương Tây năm nay Jack 37 tuổi, còn lịch phương Đông đúng là 38 tuổi. Chỉ có lời tiên đoán của giáo sư “qua được nhờ phúc đức của tổ tiên” là không đúng thôi. Anh bị viên đạn AK của VC (Việt Cộng) xuyên thủng phổi trái, gần tim, mất máu nhiều. Lúc hấp hối anh trăng trối đưa cái đồng hồ đeo tay đa năng của thủy quân lục chiến, cùng các cuốn nhật ký anh đã viết trong những năm ở chiến trường Việt Nam nhờ tôi gửi về Mỹ cho bố mẹ, vợ con.

        Nói rồi, Jason bê trong tủ ra năm, sáu cuốn sổ khá dầy, bìa bọc nilon và nói trong công vụ về nước sắp tới anh sẽ thực hiện lời trăng trối cuối cùng của người bạn xấu số. Chắc hẳn không thể xem tất cả, tôi chọn cuốn nhật ký cuối cùng của Jack Smith. Giở lướt, thấy những trang viết chữ tháu, sít nhau khó đọc, có chỗ còn nhòe có lẽ do bị dính nước mưa trên đường hành quân. Tôi hỏi Jason:

        - Tôi muốn mượn một cuốn xem thử. Có gì bí mật quân sự trong này không?

        Jason suy nghĩ giây lát, rồi nói:

        - Tôi chưa có thì giờ đọc hết toàn bộ, không biết có bí mật gì tiết lộ trong đó không. Còn cuốn sổ giáo sư đang cầm, viết trong năm nay tôi vừa đọc rồi, nhiều chi tiết thú vị đấy. Cũng chẳng có gì là bí mật quân sự. Giáo sư tò mò muốn biết đời sống, cùng tâm trạng thật của người lính viễn chinh thì có thể lấy về xem. Nội trong ba ngày phải trả lại. Jack có ước nguyện trở thành nhà văn, biết đâu người thân của anh ấy sau khi đọc toàn bộ những ghi chép chiến trường này, sẽ tìm cách công bố, để nơi thiên đàng linh hồn anh được thỏa nguyện.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:53:18 pm

*

*       *

        Tôi đặc biệt quan tâm đến những đoạn viên trung tá biệt kích đó (trước lúc tử trận Jack Smith đã đeo lon trung tá được một năm) mô tả những đợt đột kích vào căn cứ của Trung ương Cục và Mặt trận Giải phóng ở vùng giáp biên giới Campuchia ngày đó. Và tôi lấy máy ảnh chụp lại nhiều trang cần thiết, giữ làm tư liệu. Dưới đây trích một số đoạn:

        “30-3-1970. Bắt đầu cuộc hành quân Delta di chuyển lên Bình Long nhằm thiết lập căn cứ hành quân tiền phương của lực lượng đặc biệt Bunard. Trực thăng đổ toán chúng tôi xuống một khu rừng được cho là căn cứ đầu não của VC. Bãi đáp tôi chọn rộng rãi, trực thăng có thể sà xuống cách mặt đất khoảng 6 bộ và chúng tôi nhẩy ra. Toán có 6 người. Trung sĩ nhất Terry vừa mãn hạn, sau chuyến này hồi hương. Trung sĩ nhất William R. mới từ Hoa Kỳ sang, quê anh ở miền Nam, bang Alabama, đây là công vụ đầu tiên của anh ta. Khu rừng đã bị máy bay rải chất khai quang một, hai năm về trước. Bình Long có những cánh rừng rậm rạp, bao la bát ngát. Địch quân đã xây ở đây nhiều căn cứ, binh trạm, hệ thống đường mòn để chuyển quân, vũ khí, đồ tiếp liệu từ Campuchia sang. Trải qua năm đầu trụi lá, giờ cây cối đã xanh trở lại gây khó cho phi cơ quan sát. Nhiệm vụ trước tiên của toán tôi xem địch có dùng lại đường mòn tiếp vận khi xưa không? Cũng như mọi lần ở căn cứ, sau buổi thuyết trình tôi phải bay trên chiếc máy bay trinh thám 0-1 để thám sát khu vực hành quân, tìm bãi đáp chính, bãi đáp phụ cho toán biệt kích thâm nhập. Tôi đã từng tuần tiễu khu vực này khoảng những năm 1966 - 1967 cùng với một đại đội dân sự chiến đấu của người Thượng. Lúc đó tôi và họ làm chủ thực sự cánh rừng, gặp trái cây ăn được họ hái ăn tại chỗ nhưng không mang về. Tôi không dám ăn sợ đau bụng, họ cười, phiên dịch nói là bụng họ tốt đến nỗi ăn đất cũng không sao. Họ sống hòa hợp với thiên nhiên chứ không phá hoại, trên thực tế họ tôn thờ những cây cổ thụ của đại ngàn như những thần linh. Tôi băn khoăn, không biết người Thượng nghĩ sao khi chúng ta rải chất khai quang hủy diệt những vị thần của họ?

        1-4-1970. Tôi dự trù chuyến hành quân kéo dài 4 ngày và biệt kích sẽ di chuyển đến bãi đáp trực thăng để triệt xuất. Ngoài vấn đề chính đối phó với địch quân, nước uống cũng rất đáng để quan tâm. Hành quân biệt kích trong mùa hè thứ nhất tìm nguồn nước, thứ nhì mới đến địch quân. Hiếm nước, mỗi người lính vác ba lô trèo đèo lội suối cần uống hơn 3 lít nước mỗi ngày. Họ mang tối đa 6 bi đông nước. Chỗ lấy nước là tử địa, dễ đụng địch, vì chúng cũng mò ra đấy lấy nước. Gặp một dòng suối nhỏ, sợ đụng địch quân, tôi cho một người cầm tất bi đông xuống suối lấy nước, còn lại bố trí mai phục sẵn sàng. Cách đấy khoảng một trăm thước có một con đường mòn, nhưng không thấy dấu vết người qua lại. Một cây to bị mục gốc đổ chắn ngang đường, vết đổ còn mới. Tôi chụp một vài kiểu ảnh, để có bằng chứng báo cáo rằng con đường bị bỏ đã lâu, không có người đi. Cả toán ra khỏi rừng, ngồi lại một bụi rậm tiếp giáp trảng cỏ tranh. Trời tối nhanh. Đêm đó địch quân đi thăm dò gần suối, nằm trong bụi chúng tôi không ai ngủ được, thỉnh thoảng nghe tràng tiểu liên và kết thúc bằng tiếng nổ “uỳnh” của trái lựu đạn. Chúng bắn hú họa. Sáng hôm sau chúng tôi vừa chui ra khỏi bụi rậm, chợt nghe tiếng răng rắc, tiếp theo “rầm”, bụi tung mù mịt. Cây đổ. Trước mặt chúng tôi một khu rừng chết, nhiều cây cổ thụ đã chết khô, bị mối ăn, thỉnh thoảng lại đổ rầm như thế. Cây to đổ làm gãy những cây khô khác tạo ra tiếng nổ liên hoàn, đến khi nó lăn xuống dốc chạm vào gốc cây đứng bị chặn lại, phát ra tiếng nổ kết thúc như của một trái lựu đạn. Biết rằng rất nguy hiểm, có thể bị cây đè chết bất cứ lúc nào khi đi vào bên trong tìm dấu vết những con đường mòn, tôi vẫn không muốn gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương xin triệt xuất. Tôi ra lệnh cho cả toán đi trên bãi cỏ tranh dọc theo bìa rừng. Đi như vậy dễ lộ, còn hơn đi bên trong dễ toi mạng vì cây đổ.

        8-4-1970. Đến một vùng chiến sự mới, toán trưởng đi thám sát trước. Tôi ngồi trên máy bay trinh sát Bird Dog. Bay độ cao 2.000 bộ nhìn xuống thấy nhiều cây cổ thụ đã bị chết khô vì chất khai quang như những cánh tay xương xẩu chĩa lên trời. Đây được cho là căn cứ địa của Công trường (sư đoàn) 9 VC, có những binh trạm của các Trung đoàn 271, 272, 273. Đấy là theo tin tình báo cung cấp, còn giờ đây tôi tự hỏi: không biết địch còn ở đó nữa không?


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:53:39 pm

        14-4-1970. Nhiệm vụ trong tháng Tư này của cuộc hành quân biệt kích Delta là thám sát những khu vục dọc theo sông Đồng Nai. Toán của tôi đảm nhiệm một nhánh sông nhỏ chảy theo chân những dãy núi sát vùng trách nhiệm của Quân đoàn 2, Vùng 2 chiến thuật. Chiều hôm trước, trục thăng UH-lA thả chúng tôi xuống một trảng rừng hoàn toàn lạ lẫm, gọi là Thung lũng tử thần. Thung lũng rộng khoảng 40 km xung quanh vách đá dựng đứng. Khu vực thám sát quá rộng, có nhiều con đường mòn trên sườn núi chạy xuống thung lũng. Có dấu hiệu cho thấy địch thường xuyên qua lại nơi này. Khu vực hành quân nằm xa nhất trong tầm bay đổ quân và toán chúng tôi lần đầu tiên đặt chân đến đây. Tôi đã dặn anh em trong đội mang thật nhiều đạn, lựu đạn và mìn Claymore, tất nhiên sẽ ít đi lương khô và các vật dụng cá nhân khác. Phải lo tìm đường sống trước hết. Trung sĩ nhất William R. thì bảo nên dành nhiều thì giờ cầu nguyện và đi ngủ sớm.

        Sáng. Trục thăng đến rước. Hành quân trước lúc rạng đông, vừa hạ độ cao cách mặt đất 6 bộ là cả toán nhẩy ào xuống. “Phụp”! Không ngờ tôi hạ trúng một bãi phân voi nhão nhoét ngập đến lưng ống chân. May mà tiếp đất không ngã vì trơn trượt, nếu không từ chân đến đầu dính toàn phân. Cả bãi đáp và đường mòn đều có dấu vết của voi, rải những đống phân to đùng, hôi hám kinh khủng. Thì ra đường mòn này của voi chứ chẳng phải đường mòn của VC. Tôi nghe thằng William nhắc lại câu ngạn ngữ của người Việt Nam nó mới học được: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Đúng, nên như vậy thì hơn! Dù sao đã có báo cáo viết rằng VC sử dụng voi để chở đồ tiếp vận, chiến cụ nặng. Phải cẩn thận đề phòng, đâu có voi đấy có VC. Không chỉ vậy, ở đây còn có khỉ đàn, sóc, chim chóc. Chúng dạn dĩ, lơ láo nhìn chúng tôi không biết sợ là gì.

        Chiều buông xuống. Bỗng gặp “Nguời Rừng” (Forest people). Tôi từng nghe binh lính Thuợng và lực luợng đặc biệt của quân lực Việt Nam Cộng hòa miêu tả Nguời Rừng, nhưng không tin. Người Tuyết xứ Siberia ở Nga Xô, người Nguyên Thủy ở rừng Amazon Nam Mỹ, đã ai thấy trực tiếp đâu, toàn lời đồn đại. Nay thì thấy tận mắt Người Rừng xứ Đông Dương. Bỗng có tiếng hét thất thanh. William cầm trên tay cả túm bi đông rỗng không từ dưới suối hớt hải chạy lên, mồm lải nhải: Người Rừng! Người Rừng! Tôi lên đạn khẩu tiểu liên báng gập chạy ào xuống quan sát. Bờ suối đối diện có tới bốn, năm Người Rừng lông lá khắp người đen xì, cao chừng 5 bộ (chưa đến 1,6 mét) hai tay dài lòng thòng, đi khom, đang nhe nanh gầm gừ, mắt lóe lên những tia điên dại như muốn nói: hãy cuốn xéo khỏi vương quốc của ta! Tôi chờn chọn định giương súng bắn, nghĩ thế nào lại thôi. Quay lại khoát tay bảo cả toán: Rút!

        1-5-1970. Hôm nay bắt đầu một chiến dịch lớn, gồm liên quân Mỹ -Việt phối hợp với quân chính phủ mới lập ở Phnom Pênh càn quét vùng biên trên đất Campuchia. Đại tá Sam Burrows chỉ huy trưởng Trung tâm biệt kích Bunard nói với tôi: Đã mấy lần vồ hụt bộ chỉ huy cao cấp của VC, lần này đội anh được trao trọng trách thọc lưỡi dao trúng tim chúng.

        Hơn một giờ đồng hồ luồn lách. Phía trước chỉ có cây ken dày trùng trùng, mờ mờ, trên cao tán lá đã che hết ánh sáng mặt trời. Câm lặng. Mắt ai cũng đăm đăm hướng về trước. Tịnh không có dấu vết khả nghi nào. Sát bên là Trung sĩ nhất William R. tôi còn cảm nhận được hơi thở nóng cùng mùi mồ hôi của anh ta tỏa sang. Hắn thì thầm vào tai tôi: Lạc đường chăng, Trung tá? Theo phản xạ tự nhiên tôi cúi xuống bấm đèn pin vào tấm bản đồ và đặt lên đó chiếc la bàn nhỏ. Không, không thể nào chệch hướng được! Chúng tôi đang đi xuyên tâm vùng Mỏ Vẹt. Tôi khoát tay tiếp tục hành tiến.

        Đi được khoảng nửa giờ nữa. Bỗng, khoảng rừng phía trước sáng hơn, thưa hơn. Tôi ra hiệu chậm lại. Chẳng mấy chốc dưới tán rừng rậm rạp thấp thoáng những mái lán lợp cỏ tranh, lá trung quân. Trúng đích rồi! Cả toán nằm ép mình xuống đám lá khô mục để quan sát. Không thấy động tĩnh gì. Dò dẫm tiến lại gần hơn. Hóa ra toàn lán trại rỗng. Chúng đã rút sạch. Một căn cứ hậu cần, thấy có dấu vết tro than đun bếp, nhà kho còn sót lại vài vỏ đồ hộp rỉ mèm, một cái thùng lương khô 701 do Trung Cộng viện trợ bẹp dúm. Mấy căn nhà nhỏ rải ra thành hình vòng cung vây xung quanh, có lẽ là nơi vừa ở, làm việc của từng VC “bự”, trong mỗi lán đều có một giường đơn, bàn viết, bề mặt làm bằng nứa đan. Một đội viên đưa tôi xem tấm hình anh ta nhặt được trên búi cỏ trước một căn lán, có lẽ do vội thu dọn mà chủ nhân lán ấy để rơi ra. Một người trạc tuổi trung niên, thấp đậm, mặt hơi dài, đội mũ tai bèo, cổ cuốn khăn rằn. Chưa rõ hình ai. Tôi bảo đội viên: cất làm chứng cứ. William thì đưa về mấy cành hoa rừng anh ta nhặt được phía ngoài cửa sổ một căn nhà, bảo: Chúng mới rút khỏi đây một, hai ngày gì đó thôi, cành này cắm lọ, hoa vẫn chưa héo hết. Tôi báo về trung tâm: Gặp một căn cứ không người. Lệnh của đại tá Sam Burrovvs: Tiếp tục truy quét, địch quân chưa chạy xa. Tôi bấm lia lịa mấy chục kiểu ảnh. Tư liệu về căn cứ VC sẽ được đăng trên các tờ báo mô tả chiến công quăng gọn mẻ lưới của biệt kích Hoa Kỳ. Trung sĩ nhất William hỏi: Trung tá, đốt sạch chứ? Tôi lắc đầu, không cần thiết!

        Sắp tối. Cả toán rút ra trảng rừng thưa phía ngoài, chờ trực thăng đến bốc đi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Giêng, 2018, 06:54:02 pm

        2-5-1970. Đây là một căn cứ liên hoàn. Tiến sâu thêm chừng một cây số nữa, chúng tôi đụng VC, đội vệ binh làm nhiệm vụ ở lại thu dọn và đánh chặn.

        Chúng tôi đang thận trọng men theo một con đường mòn ngoài căn cứ, bỗng phía trước tiểu liên nổ giòn từng chặp. Đạn chiu chiu qua mang tai tôi. Một biệt kích bị viên đạn găm trúng đùi, máu túa đỏ lòm, lăn lộn, rên la như lợn bị chọc tiết. Đội viên bên cạnh nhanh nhẹn lấy băng gạc cá nhân sơ cứu và cõng anh ta lùi lại phía sau. Chúng tôi nằm sấp, kê súng lợi dụng địa hình xung quanh bắn trả mãnh liệt. Có lẽ lực lượng địch không nhiều, sự chống trả mỗi lúc thưa dần. Khoảng mươi phút sau đối phương im hẳn. Tôi dẫn cả toán chạy khom dí ch dắc, luồn lách qua các gốc cây, tảng đá. “Bịch”, nghe tiếng rớt sát cạnh chân, tôi nhìn ra không phải hòn đá, một trái lựu mắt na. May mà nó không nổ, nếu không tan xác rồi. Tôi lia trọn một băng về phía bụi cây bên trái cách chừng hai chục thước, nơi trái lựu đạn vừa tung ra. William cũng nhanh tay lẳng thêm một trái về phía đó. Tiếng nổ xé toang bụi cây, quầng lửa bùng lên. Khói tan. Chúng tôi xông tới. Xác một VC nằm vật ngửa, khẩu AK vừa rời khỏi tay. Hắn đội mũ tai bèo, quần áo ka ki xanh đã rách bươm ám đầy bụi khói, máu chảy đỏ lòm không thể nhìn rõ mặt. William nhanh tay lục túi ngực hắn, lấy ra cái chứng minh thư quân nhân, đưa tôi xem: Trần Trường Chiến, binh nhất, quê Đồng Châu, Tiền Hải, Thái Bình; sinh 1950, nhập ngũ 1968.

        Hắn còn quá trẻ. Tôi không quên ghi lại mấy kiểu ảnh. Một chiến binh quả cảm, hẳn là hắn ở lại bắn chặn cho đồng đội rút...”

        Những ngày tiếp theo, Jack viết đều đặn. Chủ yếu miêu tả các trận đánh, cũng có xen kẽ những đoạn về riêng tư, suy nghĩ thời cuộc, ước vọng khi trở lại quê hương, vân vân. Và đây là trang cuối cùng, không hiểu vì lý do gì Jack không viết tiếp nữa, ba ngày sau sinh nhật anh ta tử trận:

        “15-5-1970. Theo dự tính đến cuối tháng này chiến dịch kết thúc và có lẽ tôi cũng kết thúc đời biệt kích cái chết cận kề.

        Hôm nay sinh nhật lần thứ 37 của tôi. Vậy là đã chinh chiến ở xứ nhiệt đới chết chóc này được tròn 6 năm rồi. Nhưng lần đầu tiên đón sinh nhật tại rừng. Chắc hẳn Loura cùng con gái Aretta yêu dấu đã gửi thiệp sang chúc mừng và giờ này đang mong nhớ mình. Sáu năm thăng hai cấp. Bán xương máu kiểu này kể cũng là quá rẻ mạt. Nhưng máu phiêu lưu mạo hiểm của mình thì có lẽ đến già vẫn vậy, mãn hạn một nhiệm kỳ rồi mà vẫn tình nguyện ở lại. Mình còn mơ ước trở thành nhà văn nữa. Hemingway tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha trở về viết được kiệt tác chiến tranh “Chuông nguyện hồn ai ” đó thôi; Henri Charriere, một người tù 18 năm khổ sai, về già chỉ kể lại chuyện đời tù tội, vượt ngục của mình, vừa cho ra đời “Papillon người tù khổ sai ”, lập tức trở thành cuốn sách bán chạy nhất trong năm nay, mang lại cho ông một khoản tiền lớn. Một biệt kích thượng thặng như mình sau này có khối cái để viết, sách thể nào chẳng thuộc loại bestseller. Dù sao sắp tới cũng không thể khoác mãi cái bộ biệt kích rằn ri này mà phải về chỗ khác làm việc thích hợp hơn. Thằng bạn cùng nhập ngũ Tason Kaatz đã kiếm cho mình một chân trợ lý hành quân ở Văn phòng MACV rồi. 37 tuổi phương Tây, 38 tuổi phương Đông, mình sực nhớ đến lá số tử vi mà ông giáo sư Ngọc ở Đại học Sài Gòn đã lấy cho, bảo năm nay cẩn thận có họa sát thân, nhẹ thôi, qua khỏi được vì phúc đức tổ tiên. Đúng rồi, tổ tiên mình từ Tondon sang Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đầu thế kỷ mười chín, làm điền chủ, buôn bán rượu nho đời nào cũng ăn ở phúc đức. Chờ gắn thêm một sao nữa là hồi hương. Goodbye VC! ”

        Đọc đến đây tôi thấy số phận đã quá nghiệt ngã với Jack. Trong “vụ” này, tôi đoán trước vận hạn đến với anh ta, mà không gì cứu được anh ta, ngay cả tổ tiên có làm chuyện phúc đức chăng nữa. Chung quy vẫn là sự lấp liếm nói dựa của cái trò “ngoại giao tử vi” của tôi mà thôi.

        Jack theo đạo Thiên chúa, cầu cho linh hồn anh ta được bằng an nơi Nước Chúa!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:51:21 am

CUỘC ĐÁNH ĐỔI BẤT THÀNH

        Hồi cuối năm 1970 tôi đọc trên một tờ báo của Sài Gòn, có dòng tin nổi bật: “Một Việt Cộng “bự” trên đường công vụ bị tóm gọn”, sau đó không thấy các báo nhắc lại nữa. Đó là sự thật, hay chỉ là chiêu giật gân bán báo, cũng có thể đứng sau là CIA nhằm đánh động cho một vụ việc nào đó chúng đang dò tìm manh mối. Hoạt động đơn tuyến, tôi chỉ âm thầm thu lượm mọi tin tức rồi sàng lọc, phân tích, nhận định...

        Một năm sau. Một hôm, tôi được báo đến gặp ông Hai Tân ở địa điểm bí mật. Thoáng chút lo lắng hiện trên gương mặt cương nghị của ông, tôi hiểu đang có sự việc hệ trọng nào đó cần giải quyết gấp.

        - Anh Tư Trọng bị bắt đã hơn một năm nay - Hai Tân nói - Anh là cấp trên của tôi, nắm trọng trách trong an ninh Miền. CIA trực tiếp giam giữ và hỏi cung. Theo cơ sở báo ra, ban đầu anh khai Nguyễn Văn Hợp, đại úy thuộc Cục Nghiên cứu của quân đội ở miền Bắc đưa vào Nam để xã hội hóa giống như trường hợp của anh, chờ khi chiến tranh kết thúc sẽ đi Pháp hoạt động lâu dài. Nhưng rồi CIA đã lần ra lý lịch thật của anh ấy. Chúng còn có cả tấm ảnh chụp Bác Hồ đi dự hội nghị Á-Phi ở Bandung, Indonesia năm 1955, có một người trẻ tuổi đeo kính đen tháp tùng, khẳng định đó chính là anh ấy. Anh Tư Trọng đã bị biệt giam hơn một năm nay. cấp trên vẫn tin tưởng ở sự kiên trung của anh, song có khả năng nếu chúng không lung lạc được tinh thần, biết anh một nhân vật quan trọng trong ngành an ninh thì sẽ thủ tiêu anh. Một đối sách nhằm đánh động trước, cũng là ngăn cản chúng thủ tiêu. Có một sĩ quan của CIA đội lốt nhà ngoại giao tên là Douglas Ramsey bị ta bắt năm 1966, nay báo cho phía Mỹ đánh đổi Ramsey lấy “Nguyễn Văn Hợp”. Mới rồi ta đã viết bức thư trên danh nghĩa Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cho Đại sứ quán Hoa Kỳ về việc một đổi một này và giao cho viên trung sĩ Mỹ bị bắt, phóng thích vào Sài Gòn mang về. Để hỗ trợ cho cuộc đánh đổi, cấp trên muốn anh trực tiếp gọi điện thoại vào Sứ quán Mỹ để biết phản hồi cụ thể. Việc cần tiến hành ngay trong hôm nay.

        Tôi chọn một trạm bưu chánh nhỏ trong thành phố, lúc đó thưa thớt người vào giao dịch để gọi về Sứ quán Mỹ. Vào buồng gọi điện, khóa trái cửa. Tôi thử giọng, nói trước mấy câu tiếng Anh, sực nghĩ: giọng mình cũng phải khác bình thường để phía kia thu âm không thể nhận ra giọng của người nào. Lấy hai ngón tay kẹp vào cánh mũi, khi nói giọng đã méo hẳn. Tôi gọi Văn phòng Đại sứ quán Hoa Kỳ, nhân danh người của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, yêu cầu chuyển dây nói sang ông đại sứ hoặc phó đại sứ. Sau vài giây, đầu dây đã được nối.

        - Đại sứ Hoa Kỳ - Tiếng từ đầu dây bên kia - đã nhận được thư của các ngài. Người chúng tôi bắt được Nguyễn Văn Hợp, thực ra là Nguyễn Tài, tức Tư Trọng, Cục trưởng tình báo của Việt Cộng, một nhân vật rất quan trọng. Vì thế chúng tôi không chấp nhận việc đánh đổi Douglas Ramsey. Cũng không chấp nhận đánh đổi lấy bất cứ ai khác...

        Bốn năm sau cuộc “đánh đổi bất thành” ấy. Đất nước đã thống nhất, tôi có dịp tiếp xúc trực tiếp với ông Nguyễn Tài. Ông hơn tôi gần một chục tuổi, vui vẻ nói có biết cú điện thoại của tôi ngày ấy và ông cảm ơn tôi đã tham gia vào cuộc giải cứu. Ông là con trai nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan và là cháu ruột ủy viên Bộ Chính trị Lê Văn Lương. Năm 32 tuổi ông đã giữ chức vụ quan trọng trong ngành công an: Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị. Năm 1964 ông xung phong vào chiến trường và là cán bộ miền Bắc có chức vụ cao nhất trong ngành công an đi chiến trường lúc đó. Ngày 23-12-1970 trên đường đi công tác ông bị địch phục kích, bị bắt. Đến ngày giải phóng, CIA biệt giam ông tổng cộng 4 năm, 4 tháng, 10 ngày, chúng đã dùng mọi thủ đoạn nhằm khai thác từ ông những tin tức quan trọng, song đều thất bại. Chúng cũng đã lên kế hoạch thủ tiêu ông: đưa lên máy bay trực thăng bay ra biển Đông, từ độ cao 10.000 bộ thả ông xuống. Nhưng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội ta vào Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư 1975, chúng rối loạn và không thực hiện được kế hoạch hiểm ác ấy. Ông Nguyễn Tài còn kể: Bữa cơm trưa ngày 16-4-1975, bưng bát canh dưa lên ông thấy mùi khác lạ, liền bỏ không ăn nữa, nói là bị bệnh đường ruột, có thể khi không còn thời gian thực hiện kế hoạch thủ tiêu kia, chúng đã định đầu độc ông một cách nhanh gọn.

        Trong một cuốn hồi ký xuất bản sau năm 1975 của Frank Snepp, một nhân viên CIA từng hỏi cung ông Nguyễn Tài, có đoạn: “Nguyễn Tài, người mà phía Mặt trân Giải phóng đã từng coi là quá quan trọng để đánh đổi lấy Ramsey năm 1971, nhưng đối với Sài Gòn ông ta cũng là tài sản hấp dẫn nhất không thể đổi lấy một sĩ quan ngoại vụ được.”


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:52:16 am

GẶP LẠI...

        Tờ New York Times giữa tháng 3-1971, thời điểm Tổng thống Richard Nixon mới đắc cử, có đoạn miêu tả sự ra đời của cụm từ “Việt Nam hóa chiến tranh” (Vietnamization). Trong buổi họp của Hội đồng An ninh Hoa Kỳ, Tướng Andrew Goodpaster phụ tá của Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam, Đại tướng Abrams loan báo rằng quân lực Việt Nam Cộng hòa bây giờ đã đủ mạnh, đến độ Hoa Kỳ có thể “Phi Mỹ hóa” (De-Americanization) cuộc chiến tại Việt Nam. Ban đầu Tổng thống và các cố vấn chấp nhận danh từ này. Nhưng sau đó một số người trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird kiến nghị cái tên như thế sẽ gây rắc rối về chính trị và ngoại giao, do nó đã gián tiếp khẳng định Mỹ xâm lược Việt Nam, gây thêm sự bất bình cho người dân Mỹ và sẽ tạo cơ hội tuyên truyền cho Bắc Việt. Bộ trưởng Laird đề nghị chỉ nên dùng một danh từ nào đó gián tiếp có ý nghĩa Hoa Kỳ sẽ rút chân khỏi Việt Nam, nhưng tránh không đả động gì tới Mỹ. Do đó cái tên “nhẹ nhàng” hơn là “Việt Nam hóa chiến tranh” được chấp nhận. Thực ra trước thời điểm cuộc họp kể trên, ngày 18-2-1970 Nixon đã công bố nội dung chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, chương trình gồm 3 giai đoạn: Từng bước chuyển nhiệm vụ chiến đấu cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, rút dần bộ binh Mỹ về nước; Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho quân đội Sài Gòn, trang bị thêm cho họ đủ sức đương đầu với Việt Cộng, giữ được Nam Việt Nam và Lào, Campuchia trong quỹ đạo của Mỹ; Hoàn tất các mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh, Việt Cộng suy yếu đến mức không thể tiếp tục chiến đấu, hai miền Việt Nam vẫn hai quốc gia riêng biệt. Trong đó giai đoạn một quan trọng nhất, dự kiến thực hiện từ 1969-1972. Như vậy, Việt Nam hóa chiến tranh là việc Mỹ tìm mọi cách giành giật để kết thúc chiến tranh trên thế mạnh. Nói cách khác, với chiến lược mới này Mỹ không hề từ bỏ các mục tiêu thực dân mới ở Việt Nam, thực hiện nó trong điều kiện buộc phải rút dần quân viễn chinh, giảm dần chi phí chiến tranh, mà theo dự kiến Mỹ sẽ chỉ còn chi ở mức thấp nhất 5 tỷ dollar mỗi năm, thay vì 30 tỷ dollar như giai đoạn cao trào trong chiến tranh cục bộ.

        Bước sang năm 1972, thời điểm Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ đang vào giai đoạn khốc liệt và quân ngụy Sài Gòn ngày càng bị nhiều tổn thất to lớn. Cái gọi là “Giai đoạn một” không biết bao giờ sẽ kết thúc. Một hôm Vương Mộng Ngọc gọi cho tôi báo Hai Lân bị thương nặng đang nằm ở bệnh viện Lê Hữu Sanh. Cô hẹn sẽ đưa xe đến đón, cùng tới thăm. Từ dạo gặp ở nhà Nghiêm Văn Phú tôi không gặp lại anh ta, nghe nói đã đeo lon thiếu tá, con đường binh nghiệp cũng chẳng mấy hanh thông.

        Cạnh khu Rừng cấm thuộc huyện ngoại thành Thủ Đức, Sài Gòn mới mọc lên một bệnh viện với nhiều tòa nhà ba, bốn tầng rộng rãi do hãng thầu Mỹ xây cất. Lê Hữu Sanh - một viên y sĩ trưởng thủy quân lục chiến bị tử trận ở miền Trung, được lấy tên đặt cho bệnh viện. Bệnh viện 250 giường theo tiêu chuẩn quốc tế, khi tôi và Mộng Ngọc đến thấy lèn chật cứng thương bệnh binh, hầu hết là thủy quân lục chiến. Hai Lân mặc bộ quần áo bệnh viện trắng toát, ngồi trên ghế đá của vườn hoa khuôn viên bệnh viện, bên cạnh dụng cái nạng gỗ, anh đã được báo trước, đang chờ chúng tôi. Anh ta gày xanh rớt, đôi mắt u sầu, bị cắt chân phải. Như lời anh kể lúc gặp lại tôi và Mộng Ngọc, là sĩ quan tâm lý chiến buổi đầu đi theo giang đoàn của đại tá Nghiêm Văn Phú, nhưng không được sếp mặn mà, sau chiến dịch Cedar Falls anh đã chủ động chuyển về đơn vị bộ binh là Sư đoàn 5, thuộc Quân đoàn 3, dưới quyền thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu.

        - Ông ấy gọi điện báo, sắp đến tận đây thăm tôi - Hai Lân tỏ ý trọng thị sếp của mình - Một thiếu tướng tư lệnh hạ cố thăm một thiếu tá quèn, tùng lai chưa từng thấy. Ông Hiếu là vậy, thao lược ngoài chiến trường, cũng rất quan tâm đến cấp dưới.

        Quả tôi có nghe tiếng viên tướng này qua đài báo Sài Gòn, một tướng chiến trường nhiều công trạng. Hai Lân tiếp tục tán dương sếp:

        - Trong cuộc hành quân vào Lộc Ninh hồi tháng 9 -1970, chính tôi được chứng kiến việc ông ấy thẳng thắn chống lại sự tiếm quyền chỉ huy của cố vấn Mỹ. Tướng Jack Wagstaff cố vấn trưởng cứ ép tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Quân đoàn 3 thay đổi kế hoạch điệu hổ ly sơn ở thị trấn biên giới Snoul, tướng Hiếu lúc đó chỉ là Tư lệnh sư đoàn đã dám lên tiếng phản đối. Thế rồi cố vấn phó, trung tá Rhotenberry cứ phải lẽo đẽo theo sau thuyết phục mãi hai viên tướng Việt mà không được. Cuối cùng ông ta báo cáo lên thượng cấp, tướng Hiếu không thèm sử dụng các lục lượng không quân phi pháo Mỹ yểm trợ. Ông ta còn bảo: Đây là cuộc hành quân riêng của quân lực Việt Nam Cộng hòa...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:52:40 am

        - Thôi, tớ chán nghe chuyện chiến sự lắm rồi - Mộng Ngọc cắt ngang lời Hai Lân - Cậu kể chuyện của mình đi, bị thương thế nào?

        Hai Lân nhìn cô bạn học cười gượng, nói tiếp:

        - Chính vì chuộng tiếng tăm của sếp Hiếu mà mình chủ động xin về dưới trướng sếp, để rồi đi chiến dịch gặp họa đấy. Cuộc hành quân lần này tướng Hiếu định khai thông quốc lộ 14 từ Đồng Xoài lên Phước Long. Mọi bận sếp lên trực thăng thị sát mặt trận đâu cần sĩ quan tâm lý chiến theo, hôm ấy ông lại bảo: Thiếu tá Lân có thể theo để nắm tình hình về viết nội dung truyền đơn kêu gọi Việt Cộng chiêu hồi cho sát thực, có sức lôi kéo. Tướng Hiếu giỏi tiếng Anh, thường hay nói giỡn với phi công và cố vấn mỗi khi trực thăng bay vào vùng có lằn đạn cao xạ của Việt Cộng, ngõ hầu làm giảm sự hốt hoảng của họ. Thế rồi, trực thăng vượt qua lưới lửa phòng không.

        Cả toán không ai bị hề hấn gì, thì một trường hợp hy hữu đã xảy đến. Một viên đạn đại liên từ mặt đất bắn lên, xuyên qua vỏ ca bin làm nát ống chân phải tôi, vào viện buộc phải cưa.

        - Hèn gì - Mộng Ngọc nói - ông ta hạ cố đến đây thăm cậu, bởi chính ông gây tai họa cho cậu mà.

        - Tôi cũng không oán ông ấy - Hai Lân nói - Chỉ buồn cho số phận mình hẩm hiu thôi. Không biết sau khi giải ngũ làm gì với một giò thế này. Giấc mộng làm khoa học, rồi binh nghiệp đều tan vỡ cả.

        Tôi vừa nói được vài câu gọi là an ủi anh ta, thì có chiếc xe Jeep từ cổng đi vào, đỗ không xa nơi chúng tôi ngồi. Một quân nhân dáng cân đối, tóc cắt cao, gương mặt khá trẻ nhanh nhẹn nhẩy xuống, ve áo cành tùng đính một sao, tôi biết ngay Tướng Hiếu. Anh ta bước nhanh đến trước Hai Lân, hỏi thăm mấy câu về tình trạng sức khỏe. Hai chúng tôi đang ngồi bên đều đứng dậy, Hai Lân lập cập chống nạng đứng lên. Rồi với vẻ mặt tươi tỉnh, anh trịnh trọng giới thiệu cả hai bên:

        - Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh Sư đoàn 5. Còn giới thiệu với Thiếu tướng, đây là hai bạn học của tôi hồi năm 1955-1956 ở Đại học Khoa học Sài Gòn: Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc, hai bằng tiến sĩ thụ phong tại Paris; Vương Mộng Ngọc, phu nhân của trung tá Jason Kaatz trợ lý của Tư lệnh YlACv'

        Tướng Hiếu mỉm cười, hơi nghiêng người đáp lễ, bắt tay chúng tôi. Bỗng có một trung sĩ chạy đến trước tướng Hiếu, đứng nghiêm:

        - Báo cáo Tư lệnh. - Anh ta nói - ông Giám đốc bệnh viện mời thiếu tướng và mọi người vào phòng khách của bệnh viện nói chuyện.

        - Cho chúng tôi ở đây thoáng mát hơn. - Tướng Hiếu nói.

        - Thưa, không được đâu ạ - Viên trung sĩ giọng cầu khẩn - Ông Giám đốc bảo rằng ông đang bận chủ trì giao ban hội chẩn chứ không sẽ thân chinh ra đón thiếu tướng...

        - Thôi được. - Tướng Hiếu cắt lời - Ta vào cả trong ấy kẻo phụ lòng ông Giám đốc.

        Căn buồng tiếp khách rộng rãi sáng sủa, đã bầy sẵn nước, thuốc lá. Viên đại úy đi cùng, lúc nãy còn bận việc gì cứ đứng ngoài xe, giờ bê vào một hộp vuông vức khá to. Tướng Hiếu đỡ lấy, đặt trên bàn trước mặt Hai Lân, bảo:

        - Sư đoàn có chút quà úy lạo thiếu tá. Thiếu tá cứ lo an dưỡng cho khỏe, khi nào ra ta sẽ tính tiếp chế độ thương, phế binh khi rời quân ngũ. Giờ mọi việc ở nhà đã có đại úy đây lo - Rồi Tướng Hiếu quay sang Vương Mộng Ngọc nói tiếp - Tôi cũng đã mấy lần gặp phu quân của bà ở văn phòng MACV. ông nhà là người lịch thiệp, chu đáo.

        Vương Mộng Ngọc mỉm cười tỏ ý hãnh diện. Tướng Hiếu lại quay sang tôi:

        - Thưa, tôi cũng từng nghe đại tá Phan Huy Lương, Tham mưu phó hành quân có lần nhắc đến tên giáo sư. Ngoài công trình khoa học, nghe nói giáo sư còn giỏi về chiêm tinh thuật toán.

        - Tôi với đại tá Lương bạn học thời tú tài ngoài Bắc - Tôi nói - Còn, tôi hiện giờ thuần túy làm khoa học, chủ yếu về môn toán, chiêm tinh tử vi chỉ là một trò choi giải trí ngoài giờ thôi mà.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:53:15 am

        Có lẽ đụng đến lĩnh vực “tủ” của mình, Vương Mộng Ngọc vui vẻ nói với tướng Hiếu:

        - Giáo sư là người khiêm tốn, thưa thiếu tướng. Quả ông có khả năng khác người về giải đoán tử vi đấy ạ.

        - Xin lỗi quý vị - vẻ mặt tướng Hiếu bỗng trở nên nghiêm nghị - Tôi thì không chuộng thứ đó lắm, nếu nói trò chơi giải trí thì được, còn một khoa học nghiêm chỉnh chắc là không.

        Cách nói của viên tướng này khá thẳng thắn. Tôi nghĩ và tiếp lời anh ta:

        - Như tôi đã nói từ đầu, tôi cũng quan niệm đây chỉ là thứ trò chơi không hơn không kém.

        Hai Lân từ nãy đến giờ im lặng, lên tiếng:

        - Vậy mà không biết nhà khoa học của lớp tôi có biệt tài về lĩnh vực này đấy. Chẳng giấu gì thiếu tướng và các bạn đồng môn, từ khi bị thương đến nay tôi tin con người ta có số.

        Tất cả im lặng trong vài giây. Rõ ràng sếp của anh ta không tin vào số mệnh. Tôi muốn lái câu chuyện sang một chủ đề khác, liền nói với Nguyễn Văn Hiếu:

        - Lúc thiếu tướng chưa đến, anh Hai Lân có kể chúng tôi nghe câu chuyện thiếu tướng bác cả yêu cầu của cố vấn Mỹ để thực thi kế hoạch hành quân của mình. Tôi tuy không rành việc nhà binh, nhưng hiểu rằng cuộc chiến này đều do phía Hoa Kỳ quyết định cả. Tôi khâm phục sự quyết đoán của thiếu tướng.

        - Chắc anh Hai Lân kể - Tướng Hiếu nói giọng vui vẻ trở lại - trong cuộc hành quân ở Lộc Ninh đầu mùa hè vừa rồi. Có chuyện ấy. Nhưng giáo sư biết không, ngay từ đầu tôi lại là người kịch liệt phản đối kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của người Mỹ. Hồi đầu năm 1970, người Mỹ làm lễ bàn giao căn cứ Lai Khê ở Bến Cát cho Sư đoàn 5, tướng Trần Văn Đôn có mặt hôm đó thay mặt Bộ Quốc phòng, hỏi tôi: Anh nghĩ sao về Việt Nam hóa? Tôi trả lời: Sư đoàn tôi bao giàn một vùng mà trước đây có những hai sư đoàn Mỹ đóng quân, làm sao tôi có thể chọi được địch trong tình trạng như vậy. Có nghĩa, chương trình Việt Nam hóa làm chúng ta suy yếu đi.

        - Từ đầu năm đến nay - Hai Lân nói xen vào - Cộng quân đồng loạt tấn công cả ba mặt trận: Quảng Trị tại Quân khu 1; Kon Tum tại Quân khu 2 và An Lộc tại Quân khu 3, không có quân Mỹ bên cạnh như trước, ta vẫn đứng vững đấy chứ.

        - Thiếu tá nên nhớ - Nguyễn Văn Hiếu nhìn Hai Lân nói - ta chỉ đánh nổi địch nhờ vào không yểm dồi dào do không quân Mỹ cung cấp, đặc biệt là bom trải thảm của B52. Tạm thời đến thời điểm này chương trình Việt Nam hóa coi bộ vào “phom”. Tôi được thông báo, trong năm 1973 tới, Hoa Kỳ giảm thiểu ngân sách cho Việt Nam Cộng hòa 30 phần trăm, tức từ 1,6 tỷ dollar xuống 1,26 tỷ. Năm tiếp theo còn giảm nữa. Theo đà giảm này, tôi e truớc sức tấn công ngày càng mạnh của Cộng quân, ta sẽ không còn trụ lại đuợc như trước đâu. Thôi, đến giờ về rồi. Cũng nhân tiện báo cho thiếu tá biết, ngay ngày mai tôi sẽ về Quân đoàn 1 nhận chức Phó Tư lệnh. Hôm nay tôi vẫn trên danh nghĩa thay mặt sư đoàn đến thăm thiếu tá.

        Nói rồi bắt tay Hai Lân, sau đó tướng Hiếu quay sang bắt tay Vương Mộng Ngọc và tôi.

        Tướng Hiếu đi rồi, sau vài lời tán dương vuốt đuôi anh ta, tôi hỏi Hai Lân:

        - Ông ấy vừa nói sắp tới sẽ ít được phi pháo Mỹ yểm trợ, có phải chiến sự vẫn còn đang diễn ra ở nơi anh vừa bị thương không?

        - Chỗ ấy xong rồi. - Hai Lân xua tay, nói với giọng của người am hiểu cuộc chiến - Huề cả làng. Mỗi bên đều khuếch trương chiến quả, đều nói mình thắng cả. Giờ chúng tôi chỉ lo phòng thủ cho vững vùng đã bình định thôi, còn sức đâu nữa mà phản công. Lực lượng Cộng quân mấy năm nay được sự chi viện mạnh mẽ của Nga Sô và Trung Cộng về vũ khí và hậu cần. Miền Bắc lại tuyển quân liên tục, nhiều sư đoàn, trung đoàn, có cả chiến xa đang ngày đêm vượt Tây Trường Sơn vào tận Nam Bộ. Giáo sư biết không, cụm cứ điểm Lộc Ninh của Quân đoàn 3 được coi là mạnh nhất trên tuyến phòng thủ Đông Nam bộ, cũng đang có dấu hiệu bị Cộng quân tấn công bất cứ lúc nào. Theo thiển nghĩ của tôi, khả năng đứng vững trước áp lực lớn như vậy là không nhiều đâu.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:53:32 am

        - Tôi không rành về quân sự - Tôi nói - Chắc anh Hai cũng đã đọc Tam Quốc, “Mã Tốc trái lệnh mất Nhai Đình”, nếu anh ta cứ co cụm giữa đường thì sức mấy mà Tư Mã Ý dùng binh lực nhổ được, đằng này lại đưa quân lên núi.

        - Đấy là trong sách vở thôi - Hai Lân cười nhìn tôi - Đánh nhau thời cổ đại khác xa thời hiện đại này lắm. Tôi nói qua cho giáo sư hình dung về một cụm cứ điểm hiện diện ở An Lộc, Bình Long nhé. Hai trung đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn biệt động và một thiết đoàn đóng giữ trải dài từ Bắc thị xã An Lộc đến điểm cao 222 Bắc Lộc Ninh. Ngoài ra còn có hai thiết đoàn, hai trung đoàn của Sư 5 làm lực lượng dự bị vòng ngoài sẵn sàng ứng cứu. Đấy, hình thành một “Tiểu Điện Biên Phủ” kiên cố, mà khi bị đột phá, liệu có theo số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên ngày trước giăng cờ trắng ra hàng không? Ngay cả tướng Hiếu tài thao lược thế, tôi chắc cũng không trả lời chính xác được câu hỏi đó.

        - Thiếu tá chuyên nghề chiến tranh tâm lý mà rành việc quân sự ghê. - Tôi tiếp tục phỉnh phờ anh ta.

        - Cũng phải biết chuyện quân cơ mới làm được chiến tranh tâm lý chứ - Hai Lân cười chua chát - Nói chuyện vậy với hai bạn đồng môn đây cho vui thôi, từ nay tôi vĩnh biệt chiến trường rồi. Thôi thì trong cái rủi có cái may, những ngày nằm đây, tôi cứ tự an ủi: mất giò còn hơn mất mạng.

        Sau đó ít lâu, tôi tìm cớ đến thăm đại tá Phan Huy Lương tại nhà riêng. Theo chỉ thị của Trung tâm, một chiến dịch lớn của ta sắp diễn ra, tôi cần tìm hiểu thêm về lực lượng bố phòng của địch, chủ yếu của Quân đoàn 3 ở miền Đông Nam Bộ. Những thông tin của Hai Lân cũng rất có ích, song tôi muốn kiểm nghiệm thêm từ Phan Huy Lương, người bạn đồng môn này năm 1971 ở Biệt khu Thủ đô đã được điều về Quân đoàn 3 đảm trách Tham mưu phó hành quân. Trong câu chuyện với Lương, tôi chủ ý nhắc đến cuộc gặp tình cờ tướng Hiếu ở bệnh viện của thủy quân lục chiến. Lương cười bảo:

        - Ồ, một con người đầy cá tính! Lúc bàn kế hoạch hành quân tôi và tướng Hiếu khá hợp nhau về quan điểm tác chiến. Nhưng nói thật với anh, tôi cũng ngại bị tiếng là chơi thân với một người cương trực quá thái như thế. cố vấn hay cấp trên mà trái ý, có khi anh ta cũng “quạt” tuốt, dù cái cách xử sự bề ngoài của anh vẫn tỏ ra rất nhũn nhặn, khiêm nhường. Tướng Hiếu vừa được bổ nhiệm về Quân đoàn 1 làm Tư lệnh phó. Ngồi chưa ấm chỗ, Phó tổng thống Trần Văn Hương đã đề cử giữ chức Phụ tá đặc trách trong ủy ban Bài trừ tham nhũng, cấp bậc tương đương thứ trưởng. Anh ta sang chỗ ấy, với tính cách ấy sẽ càng lắm kẻ thù. Tham nhũng là chuyện muôn thuở của nhà binh, bài trừ thế nào được, đụng vào đó như đụng tổ ong vò vẽ, không tránh khỏi bị đốt sưng vù mặt mũi...

        Nhiều năm sau này, khi phương tiện Internet đã phát triển mạnh mẽ, tôi tình cờ đọc trong một website hải ngoại biết được cái kết cục bi thảm đến với tướng Hiếu với sự chứng kiến của đại tá Phan Huy Lương (Trước ngày Sài Gòn thất thủ 30-4-1975, đại tá Lương đã kịp cùng vợ con chạy ra Hạm đội 7 rồi di tản sang Mỹ). Đó là chiều ngày 8-4-1975, như lệ thường tướng Hiếu, tướng Lê Trung Tường (Tham mưu trưởng Quân đoàn 3) và đại tá Lương ngồi nói chuyện với nhau tại văn phòng tham mưu trưởng trong khi chờ đến giờ cơm chiều. Đến giờ ăn, tướng Hiếu về phòng mình bảo lấy đồ riêng. Khoảng mươi phút sau có tiếng súng nổ, quân cảnh chạy vào báo: Tư lệnh phó Quân đoàn gặp nạn! Một lát, đại tá Lương thấy Tư lệnh Quân đoàn, trung tướng Nguyễn Văn Toàn xuất hiện với vẻ mặt thất thần. Tướng Hiếu bị viên đạn súng lục bắn xuyên từ cằm. Ngày hôm sau quân cảnh tư pháp loan báo tướng Hiếu tự vẫn. Ngày đó nhiều người cho rằng viên tướng ấy không có lý do gì để tự vẫn, nhất là đang trong giai đoạn “tử thủ Sài Gòn”, mà họ nghi chính tướng Toàn đã thừa cơ triệt hạ đối thủ. Hồi làm ở ủy ban Bài trừ tham nhũng, tướng Hiếu từng khui những vụ biển thủ công quỹ của ông ta, một người được gọi là “tham nhũng gộc”.

        Trong câu chuyện của tôi với Phan Huy Lương hôm đó, anh ta để lộ ra việc Quân đoàn 3 sẽ là đơn vị phòng thủ chính ở Lộc Ninh và An Lộc với sự tham chiến trực tiếp của Sư đoàn 25 bộ binh cơ giới do đại tá Nguyễn Công Vĩnh làm Tư lệnh và Sư đoàn 5 bộ binh của chuẩn tướng Lê Văn Hưng và đại tá Lê Nguyên Vỹ.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:54:41 am
   
*

*       *

        Tôi vừa chủ động tìm đến nhà riêng Phan Huy Lương, cũng muốn gặp thêm viên Phó tư lệnh Sư đoàn 5 chống cộng khét tiếng Lê Nguyên Vỹ. Sau cuộc gặp lần đầu cách đây vài năm với hắn cùng Lương và Khang ở khách sạn Continental, sau đó để duy trì mối quan hệ, thỉnh thoảng tôi có gọi cho hắn nói dăm câu sáu điều vô thưởng vô phạt. Nay thấy cần gặp hắn trực tiếp. Nhưng tôi hiểu rằng nhất cử nhất động của mình đều có kẻ theo dõi, không nên tự đi ra ngoài nhiều lần.

        Tôi gọi điện cho Lê Nguyên Vỹ, khi vừa xưng danh, anh ta đã nói “Ồ, Giáo sư! Lâu lắm không gặp lại”. Hẳn anh ta đang trong tâm trạng phấn khích, tôi nói thêm vài câu tán dưong, anh ta vui vẻ hỏi giờ giáo sư có bận gì không, tôi sẽ dành một chút thư giãn với bạn bè trước khi đi chiến dịch. Và hẹn đưa xe đến cư xá đón tôi.

        Lê Nguyên Vỹ trong bộ quân phục, lon đại tá thật oai vệ hợp với cái dáng nhà võ to con của anh.

        - Ta có một giờ đồng hồ nói chuyện phiếm - Lê Nguyên Vỹ bắt tay tôi, giọng bông lơn - Chuyện phiếm thôi, tôi muốn tâm trạng thật thoải mái giáo sư ạ, trước khi vào trận thư hùng.

        - Trận gì mà thư hùng khiếp thế? - Tôi hỏi ngay.

        - Giáo sư cứ tưởng tượng - Anh ta nói - như một trận Điện Biên Phủ thời nay chẳng hạn. Chúng tôi chủ động phòng thủ, chờ Việt Cộng tấn công.

        - Tôi hiểu rồi! Hôm trước gặp tướng Hiếu ở bệnh viện Lê Hữu Sanh, ông có nói, bây giờ Hoa Kỳ đang rút dần ra, chiến trường do quân lực Việt Nam Cộng hòa đảm trách cả...

        - Tướng Hiếu, sếp trực tiếp của tôi ở sư đoàn này hồi trước đấy. Lúc đó tôi trung đoàn trưởng. Ông ấy là một tấm gương cho đàn em chúng tôi noi theo, cố vấn Hoa Kỳ cũng phải nể phục.

        - Cấp trên nào thì cấp dưới thế. Tôi cũng nghe người ta nói nhiều về sự gan dạ và cơ mưu trên chiến trường của đại tá.

        Lê Nguyên Vỹ nở một nụ cười, mũi anh ta cũng nở to sau câu phỉnh phờ ấy của tôi.

        - Đấy là giáo sư chỉ nghe anh em bên ta nói thôi, chứ chắc chưa được biết cố vấn Hoa Kỳ đánh giá về tôi thế nào đâu.

        - Tôi bên giới khoa học - Tôi nói - sao mà biết được. Chắc cố vấn cũng...

        - Tất nhiên là đánh giá trên cả tuyệt vời rồi. - Vỹ nói ngay với giọng đầy tự mãn - Thôi, khỏi cần nhiều lời, cho giáo sư xem cái này để biết tôi không phải kẻ phét lác.

        Nói rồi Lê Nguyên Vỹ đi về phía bàn làm việc rút ra một tập tài liệu, rồi nói tiếp với tôi:

        - Đây là biên bản ghi của phía Hoa Kỳ nhân cuộc kiểm tra mới đây của các cố vấn đến sư đoàn. Tôi có thằng đàn em tay trong ở văn phòng cố vấn, đã sao lại một bản, giáo sư xem thử họ đánh giá tôi thế nào nhé. Xem qua thôi, tuyệt mật đấy.

        Cầm tài liệu, tôi hỏi lại:

        - Tuyệt mật ư?

        - Văn bản gì trong nội bộ quân đội chẳng có dấu tuyệt mật, tối mật - Vỹ cuời - Giáo sư xem cho biết thôi, có hề hấn gì. Đến tôi cũng phải sao lén, đời nào phía Hoa Kỳ cho biết họ đánh giá thế nào về mình. Giáo sư cứ ngồi tại chỗ đọc.

        Tôi ngồi giở tài liệu Vỹ đưa, có mấy trang được đánh máy rõ ràng:

        “Lượng giá.

        - Đại tá Lê Nguyên Vỹ, Phó tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh: Một sĩ quan tài ba. Rất nhiệt tâm, rất nghiêm chỉnh và rất được việc. Ông có nhiều triển vọng. Một người quốc gia nhiệt tình. Đáng được thăng chức. (Trung tá Roy E. Couch. cố vấn phó, ngày 8-3-1972).

        - Đại tá Vỹ từng là chỉ huy trưởng Trung đoàn 8, một trung đoàn trưởng giỏi nhất trong Quân đoàn 3, đủ khả năng trở thành Sư đoàn trưởng. (Cố vấn Mỹ Quân đoàn 3).

        Quan điểm của Đại tá Lê Nguyên Vỹ về Việt Nam hóa chiến tranh.

        Kính gửi: Trung tướng Ewell

        Qua: 1/ Tướng Kinnard

        2/ Tướng Roberts

        3/ Ông Whitehouse

        Kính chuyển đạt Trung tướng văn thư của Đại tá Hayes về cuộc viếng thăm Sư đoàn 5 của Tướng Haig ngày 20 -3 -1972. Tôi thiết nghĩ Trung tướng sẽ quan tâm đến quan điểm của Đại tá Vỹ về những điểm sau đây:

        a/ Yểm trợ pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thiếu sót khi pháo binh Hoa Kỳ rút đi.

        b/ Khả năng của địa phương quân trong việc bảo vệ vùng đông dân cư.

        c/ Cố vấn Hoa Kỳ cấp tiểu đoàn thiếu kinh nghiệm.

        d/ Yểm trợ tiếp vận của Quân lực Việt Nam Cộng hòa yếu kém.

        D.P.McAuliffe, Chuẩn tướng, cố vấn phó Quân đoàn 3.

        Chuẩn tướng Haig đến thăm viếng Sư đoàn 5 lúc 13 giờ 15 ngày 20-3-1972. ông được Đại tá Vỹ thuyết trình về tình báo hiện tại, bao gồm quân bảo vệ, lực lượng chính và các sinh hoạt của Việt Cộng trong toàn vùng. Đại tá Vỹ cũng trình bày tổng lược chương trình Đồng Tiến trong đó có Trung đoàn 8, Sư 5 tham chiến với Sư đoàn 1 bộ binh Hoa Kỳ vừa qua, để rút kinh nghiệm cho việc thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh sắp tới. Đại tá Vỹ đề cập đến các lợi điểm của mình như: yểm trợ tác chiến dưới hình thức bao vây và lùng kiếm, pháo binh, trực thăng vũ trang, các toán lùng và diệt, năng động trong sử dụng các đại đội trực thăng xung kích. Đại tá Vỹ kết luận bằng cách trung bày các thống kê về số địch bị loại đối chiếu vói số thuong vong của đơn vị bạn.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:56:13 am

        Tuớng Haig đặt những câu hỏi và tiếp nhận những lời bàn của Đại tá Vỹ như sau:

        - Hiện tại có bao nhiêu pháo binh yểm trợ cho Trung đoàn 8 dưới quyền?

        - Hai khẩu pháo 105 ly và hai khẩu 155 ly tại Chánh Lưu và Thói Hòa.

        - Các trung đoàn dưới quyền thực hiện bao nhiêu cuộc phục kích và loại nào?

        - Mỗi tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn đều thực hiện nhiều cuộc phục kích mỗi đêm, phần nhiều dùng mìn claymore. Trên 50% số địch chết mới đây là do vướng mìn

        Tướng Haig nhận định là kết quả của các cuộc phục kích này nói lên thành quả cao của đơn vị.

        - Đại tá có khó khăn gì về lãnh vực truyền tin không?

        - Không. Các trung đoàn đều diễn ra tốt đẹp.

        - Đại tá kiếm đâu ra các tân binh?

        - Hầu hết các tân binh là lính động viên, cũng có một số ít là lính tình nguyện.

        - Đại tá nghĩ sao về khả năng tác chiến của địa phương quân trong vùng này?

        - Để các tiểu đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể trở nên di động, việc chuyển giao địa bàn cho địa phương quân lo phần an ninh trong vùng là rất hạn chế, họ khó có khả năng chu toàn trách nhiệm.

        - Để khắc phục tình trạng này nên làm gì?

        - Đặt một sĩ quan từng chỉ huy thành công tiểu đoàn vào chức vụ quận trưởng. Thực hiện một chương trình huấn luyện lại, nghiêm chỉnh cho địa phương quân, chương trình này có thể thực hiện trong vòng 6 tháng. Chỉnh đốn lại tất cả cấu trúc của hệ thống phòng thủ của địa phương quân theo tiêu chuẩn của của Sư đoàn 1 bộ binh Hoa Kỳ để loại bỏ mọi yếu điểm hiện có trong các vị trí này. Rất nhiều vị trí hiện hữu, lô cốt và công sự phòng thủ được thiết kế, xây cất một cách yếu kém và sẽ không chống nổi bất cứ một loại tấn kích nào. Các sĩ quan biệt phái chỉ huy các đơn vị địa phương quân phải là những cán bộ được huấn luyện kỹ lưỡng và chứng tỏ khả năng tác chiến, có tính chuyên nghiệp cao độ để gây sự tin tưởng cho các đơn vị này. Điểm cuối cùng: cần có pháo binh yểm trợ cho họ.

        - Đại tá cho vấn đề nào là to lớn nhất trong sự rút lui của lực lượng Hoa Kỳ?

        - Hỏa lực đầy đủ dưới dạng pháo binh, không trợ trực diện và trực thăng vũ trang dưới mọi hình thức. Các lực lượng này cần có để trám vào chỗ trống do sự rút lui của các lực lượng Hoa Kỳ.

        Tiếp theo cuộc thuyết trình và bàn luận kể trên là những cuộc viếng thăm các căn cứ hỏa lực Kiến An và Apollo, tại đây có những buổi thuyết trình ngắn về tình báo và hành quân do các chỉ huy trưởng Mỹ-Việt cấp tiểu đoàn.

        Địa điểm thăm viếng chót trong lộ trình là căn cứ hỏa lực Okeeíe, nơi đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn 4/8. Khi vừa tới nơi, phái đoàn hay tin là tiểu đoàn trừ đang chạm địch ở cây số 15 bắc dọc theo quốc lộ với một lực lượng địch phục kích một đoàn xe. Tướng Haig tỏ ý muốn bay lên quan sát trận chiến. Khi bay đến chiến trường bắt ngay được liên lạc vô tuyến với Thiếu tá Dyer, cố vấn tiểu đoàn 4/8 và thuyết trình ngắn cho tướng Haig biết tình hình. Trong khi bay lượn trên không chúng tôi trục tiếp quan sát nhiều phi xuất, phi trục và trực thăng võ trang yểm trợ và sinh hoạt của các toán lùng diệt địch. Câu hỏi của Tướng Haig với Đại tá Vỹ xoay quanh danh tánh và sức mạnh của các lục lượng bạn, sức mạnh của địch quân, số thương vong của bạn lẫn thù. Sau khi rời khu vục này trục thăng về Bộ tư lệnh tỉnh Bình Dương, tại đó Tướng Haig gặp Trung tá Fleigh, cố vấn tỉnh.

        Tướng Haig cảm ơn Đại tá Vỹ về một buổi chiều hết sức bổ ích và lý thú, rồi cáo từ.”

*

*       *

        Những ngày đầu tháng 4-1972 diễn ra “Mùa hè đỏ lửa” ở Lộc Ninh và An Lộc, được báo chí Sài Gòn và các hãng thông tấn phương Tây thông tin liên tục, sôi nổi và có nhiều bài bình luận chiến sự đáng quan tâm về khả năng quân đội Sài Gòn trong Việt Nam hóa chiến tranh. Tôi cũng hằng đêm nghe đài miền Bắc về tin chiến sự. Tất nhiên, số liệu đôi bên đưa có khác nhau, nhất là về con số thương vong. Trận Lộc Ninh, trận Tân Biên - Xa Mát và trận Phước Bình là ba trận đánh mở màn của Quân Giải phóng (còn gọi là chiến dịch Nguyễn Huệ) trong cuộc Tổng tấn công mùa hè năm 1972. Tiếp đến là trận An Lộc với 93 ngày đêm vây hãm địch, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề.

        Ông Hai Tân thông báo cho tôi ý kiến của cấp trên, khen ngợi các tin tức tình báo của ta về lực lượng và khả năng tác chiến của địch là chính xác, kịp thời, giúp chỉ huy chiến dịch có những phương án tác chiến thích hợp. Ông còn lưu ý về khả năng CIA đã có động thái thăm dò tung tích của tôi. cần giấu mình và thận trọng hơn nữa khi hành động.

        Về lá đơn xin vào Đảng của tôi, ông Hai Tân cho biết: Đảng ủy cấp trên hoàn toàn nhất trí, tôi đã được thử thách đủ điều kiện để đứng trong đội ngũ của Đảng. Song do đang hoạt động đơn tuyến, tôi không thể về cứ họp chi bộ theo định kỳ được, cần bảo đảm bí mật và an toàn cho tôi mà cấp trên hoãn việc kết nạp, chờ đến khi nào thuận lợi hơn.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:57:44 am
Chương tám

CHUYỆN TRONG NHÀ

        Nghiêm Văn Phú cho xe đón tôi đến nhà chia vui việc anh vừa được thăng từ Đại tá lên Phó Đề đốc. Khi thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên với quân hàm mới của Phú, bảo “nghe lạ tai”, anh giải thích ngay:

        - Sau năm 1964 Hải quân Việt Nam Cộng hòa mới có cấp bậc Phó Đề đốc. Đây là quân hàm cấp tướng hải quân, tưong đưong chuẩn tướng lục quân hay không quân. Vậy ông thầy bói nói đúng, tôi sẽ lên tướng nhưng sai số có khoảng 10 năm thôi, ông ấy bói tôi ngoài ba mươi lên, thì nay tôi đã bốn hai rồi.

        Phú cười to, hả hê đến nỗi Nguyệt Mỹ nguýt chồng một cái và nói nhỏ vào tai ông anh rể:

        - Anh xem, đang sướng quá hóa rồ đấy.

        Thường thì chiều chủ nhật nào Phú cũng cho xe đến đón tôi, song đã cả tháng nay tôi bận với việc thi cử, phù đạo sinh viên nên không đến được. Bởi thế vợ chồng Phú xem như lâu lắm tôi mới tới và lại chuẩn bị bữa cơm có vẻ thịnh soạn đãi khách. Tôi nhắc Nguyệt Mỹ:

        - Cô chú biết rồi đấy, tôi có ăn uống gì nhiều, đừng bầy vẽ.

        - Có bầy vẽ gì đâu anh - Nguyệt Mỹ nói - tại hôm nay có thêm khách sộp đến chơi nữa đó. Ông này cùng ở hải quân, nổi tiếng kiên cường chống Cộng, có lẽ tính cầu kỳ hơn nhà em nhiều.

        Tôi nhìn Phú muốn hỏi là ai đến. Anh nói:

        - Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, cùng thăng quân hàm với tôi đợt này. Quen nhau đã lâu, mấy tháng qua cùng hoạt động ở Vùng 3 Sông ngòi. Không biết bà xã tôi nghe ở đâu nói Phó Đề đốc Minh ăn uống cầu kỳ, chứ tôi biết quá rõ, anh lại là người ăn uống rất đơn giản. Hải quân thời Pháp mới ăn uống kiểu cách, thừa múa, chứ hải quân thời nay theo tính thực dụng của người Mỹ không có thế. Hàng ngày đi làm nhiệm vụ, chúng tôi dùng cơm trong Câu lạc bộ, đôi khi cơm gánh mua từ chợ cần Thơ. Nếu có khách bất ngờ mới mổ con heo hộp, thuốc hút thì rặt Bastos xanh của lính. Khi bay thị sát chiến trường hay thăm viếng các đơn vị, mỗi người mang theo một ổ bánh mì dài, mấy bị cơm sấy và một bi đông nước. Tôi vừa đi vùng đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp với Niên trưởng Hoàng Cơ Minh, Tư lệnh Lực lượng thủy bộ, gồm khoảng 300 chiến đỉnh. Lực lượng này vỏ dày, hỏa lực mạnh, đặc biệt có loại chiến đỉnh Tango nóc bằng, trực thăng có thể đáp dễ dàng, có mặt khắp nơi kể cả những vùng lâu nay được coi là an toàn khu của địch quân.

        Nguyệt Mỹ nghe chồng nói vậy thì tỏ ý không bằng lòng, bảo:

        - Đúng là em chưa biết ông Hoàng Cơ Minh bạn anh tính thích đơn giản, nhưng mời khách đến nhà thì phải chu đáo chứ. Đâu như với anh Ngọc người nhà, ăn uống thế nào cũng xong.

        Nghe vợ nói vậy, Nghiêm Văn Phú cười xòa:

        - Thì nhân tiện anh Ngọc hỏi, anh kể về tánh nết bạn anh, chứ có trách gì em đâu, em cứ chuẩn bị cho đầy đủ. Giầu vì bạn sang vì vợ mà.

        Nói rồi Phú nhìn đồng hồ, bảo ông khách này rất đúng giờ, còn mươi phút nữa là đến. Anh kể tiếp tôi nghe bữa tiệc vừa diễn ra ở Bộ Tư lệnh thủy bộ, do Hoàng Cơ Minh đãi anh và bộ sậu tới thăm. Sáu người một bàn, trước khi vào tiệc, sĩ quan ẩm thực trịnh trọng đọc thực đơn theo truyền thống hải quân trong bữa tiệc quan trọng. Gồm: món canh vịt hầm nhừ trong nồi, đĩa rau sống để nhúng vào nồi vịt, cuối bữa mỗi người tráng miệng một trái chuối. Nghe đọc thực đơn không ai dám cười. Như hiểu ý khách, viên sĩ quan ẩm thực còn nói thêm: Tư lệnh chúng tôi không đồng ý để các sĩ quan phải đóng nhiều tiền đãi khách. Thủy bộ hành quân liên miên, không có một ngân quỹ nào để khoản đãi phái đoàn cả. Quý vị thông cảm.

        Ít phút sau đã thấy Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh hiện ra ở cửa. Phú bắt tay khách và giới thiệu với tôi. Hoàng Cơ Minh cao lớn, nước da ngăm đen, có cái nhìn sắc lẻm. Anh ta bắt chặt tay tôi, nói:

        - Trung tướng Lê Nguyên Khang có lần điểm mặt các học sinh trường Chu Văn An, Hà Nội vào đây thành danh có nhắc đến tên giáo sư. Tôi còn được anh Phú cho biết giáo sư rất rành về tử vi. Tôi từng được ông thầy tử vi của Tổng thống Thiệu xem cho, sau nghiệm cũng đúng.

        Chủ mời khách vào phòng uống nước. Nghiêm Văn Phú bảo với Hoàng Cơ Minh:

        - Phó Đề đốc biết không, cả hai lần thăng quân hàm tôi đều được thầy đoán trước. Lần lên đại tá thì thầy Ngọc đây, còn lần này có sẵn trong lá số tử vi ba tôi lấy cho hồi bé, nhưng ông thầy ấy chỉ đoán sai số có mười năm thôi.

        Phú lại cười rổn rảng. Hoàng Cơ Minh vui vẻ cười theo. Bỗng Phú hỏi anh ta:

        - Anh vừa nói thầy tử vi của Tổng thống bói cho anh, có gì linh nghiệm?

        - Thì cũng đoán năm nay tôi lên tướng.

        - Có lẽ Tổng thống Thiệu muốn bảo vệ thương hiệu cho ông thầy tử vi của mình, nên có chủ ý gắn sao cho anh đúng dịp như lời thầy đó thôi.

        Nghe Phú nói vậy, biết là có ý chọc ghẹo cho vui, Hoàng Cơ Minh bật cười vang, nói lại:

        - Phải rồi. Nếu không thì mình trượt đầu nước. Rồi đây phải sắm lễ tạ ơn thầy mới được. Anh Phú và Giáo sư Ngọc biết không, chính Tổng thống cũng nghe lời thầy mà cải lại ngày tháng năm sinh của mình từ 5 -4 -1923 thành 25-12-1924, nhằm ngày 18-11 Giáp Tý cho vận mạng được hanh thông đại cát đại lợi. Vậy mà xem ra mấy năm nay việc nước việc quân cơ toàn gặp xui xẻo. Nhân tiện, nói thêm với hai anh điều này, nhưng đừng phổ biến rộng ra ngoài mà người ta có thể hiểu lầm tôi. Hôm đó trước mặt Tổng thống Thiệu ông thầy tử vi ấy còn bảo tôi năm 53 tuổi sẽ lên Tể tướng nữa. Tổng thống hỏi ngay: Tể tướng tương đương chức gì thời dân chủ cộng hòa này? Thầy tử vi trả lời: Có lẽ tương đương Thủ tướng. Tôi vội chữa ngay: Thưa Tổng thống, tôi phục vụ trong quân đội đến chót đời.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 07:59:34 am

        - Biết đâu - Phú nói - năm 53 tuổi anh chuyển ra dân sự, thành lập chính phủ mới thì sao. Cơ trời không biết được. Cũng như ông Thiệu sau đảo chánh từ Thiếu tướng lên Tổng thống.

        Đang ngồi, phảng phất mùi sào nấu từ nhà bếp bay lên. Minh bảo Phú:

        - Anh lại bắt chị phải làm tiệc tùng chắc.

        - Tính bà ấy vẫn vậy - Phú cười - Bạn của chồng đến thể nào cũng phải khoản đãi. Ngay như với ông anh vợ tôi đây, thường xuyên đến thăm vào chủ nhật, cũng phải kêu là cô em hay bày vẽ nhiều món quá.

        - Giống hệt tính bà xã tôi - Hoàng Cơ Minh nói, rồi bỗng hỏi Nghiêm Văn Phú - Anh còn nhớ đại úy Sài người đã đón anh hôm đến thăm sở chỉ huy lực lượng thủy bộ của tôi không nhỉ?

        - Có phải anh cao to, đen trũi rất vui chuyện, chỉ huy một giang thuyền xung phong. Anh ta tử trận rồi sao?

        - Không - Minh nói - Nhưng có liên quan đến một câu chuyện về tử vi. Nhân có thầy tử vi đây, tôi kể cho quý vị nghe một chuyện ly kỳ thế này. Trung sĩ nhất cần vụ cho tôi tên Năng, hắn cùng quê, lại cẩn thận chịu khó, tôi cất lên từ một đơn vị lính thủy đánh bộ. Cha hắn quen tôi, lần nào tôi về quê ông cũng đến nì nèo nhờ tôi giúp. Năng là con trưởng của dòng họ, thế mà thầy tử vi xem, nói ra điều độc địa nếu ra trận thì bị chém mất đầu. Cha hắn khóc lóc xin tôi cho về làm cần vụ ở văn phòng bộ tư lệnh, xa nơi chiến sự. Tôi giữ hắn được một năm không hề hấn gì. Hôm rồi cho Năng nghỉ phép, hắn không về nhà ngay mà nói xuống An Giang chơi với thằng bạn thân đang là thủy thủ ở giang đỉnh của đại úy Sài. Buổi trưa hôm ấy hắn đến chơi với bạn trên chiếc Tango Bạch Hổ đang neo gần cửa Ông Đốc. Hắn vừa bước ra khỏi ụ đại liên 20 ly trên boong, thì bất đồ một trái B41 của Việt Cộng từ bờ phụt ra hớt gọn cái đầu của hắn mất tiêu. Trái đạn thì lướt qua sàn platform nổ tung giữa sông. Đại úy Sài gọi điện cho tôi, một giờ sau tôi đến lật tấm chăn đắp hắn, hắn chỉ còn cái xác không đầu. Lại nghĩ đến ông thầy độc mồm ngày trước, càng tin con người ta phúc họa có số, muốn tránh cũng không tránh được.

        Sau đó Hoàng Cơ Minh hỏi tôi rành tử vi đến mức nào? Tôi nói giọng bỡn cợt, hồi bé Nghiêm Văn Phú và tôi đều được thầy tử vi đoán mai này sẽ làm tướng, chỉ đúng với Phú, tôi thuần túy làm khoa học, sao mà có cơ may lên tướng được cơ chứ. Chuyên môn của tôi là toán học, vậy thì trên quan điểm toán xác suất đánh giá tử vi đoán đúng một nửa, sai một nửa, năm mươi phần trăm! Nghe vậy Phú và Minh đều cười.

        Minh còn cho Phú biết, sau lần này anh ta có thể sẽ bị điều ra miền Trung làm Tư lệnh Vùng 2 duyên hải đóng tại Cam Ranh, nơi đang “nóng” nhất trong số 5 vùng chiến thuật của hải quân.

        Đấy là lần đầu tôi gặp Hoàng Cơ Minh, cũng là lần cuối cùng.

        Khoảng hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất, đọc báo thấy cái tên Hoàng Cơ Minh trong một vụ án chính trị phản động. Hắn đứng đầu một tổ chức thành lập ở miền Nam tiểu bang Caliíomia, Hoa Kỳ; rồi thành lập tiếp một đảng gọi là Việt Tân với mục tiêu “xóa bỏ Đảng Cộng sản”, chiêu mộ một số kẻ di tản, phát động cuộc “Đông tiến”. Cuối tháng 8-1987 trên đường Đông tiến xuất phát từ Thái Lan, vừa vượt qua biên giới Hoàng Cơ Minh bị dân quân Lào phục kích, bị thương nặng và đã tự sát ở một nơi gần biên giới Lào - Việt. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện hôm gặp ở nhà Nghiêm Văn Phú hồi 1974. Anh ta sinh năm 1935, đến năm bị giết 52 tuổi tây, tức 53 tuổi ta, ông thầy bói của Nguyễn Văn Thiệu dạo ấy cũng nói đến cái tuổi 53 lên... Tể tướng (!)

*

*      *

        Hoàng Cơ Minh về rồi, Nguyệt Mỹ có ý giữ tôi lại để “nói câu chuyện nội bộ trong nhà”.

        - Em có nhận được thư chị em - Nguyệt Mỹ nói - cũng kể sơ qua tình hình bên ấy. Chị còn nói, rạn nứt trong tình cảm giữa anh chị khó lòng hàn gắn. Sao đến mức độ nghiêm trọng vậy anh?

        Trong lá thư gần đây, Nguyệt Tỉnh đã nói đến cuộc chia tay sẽ diễn ra mà nàng không muốn tí nào, giờ trong chuyện này tất cả do tôi quyết định. Tôi hiểu đấy chỉ là tránh nói trực diện về một sự thật đau lòng, vết nứt trong quan hệ tình cảm giữa chúng tôi đã ngày càng lớn, khó có thể hàn gắn. Lỗi tại ai? Tôi không thể hoàn toàn đổ lỗi cho nàng. Không chung tình ư? Không hẳn như vậy. Tôi đã không làm gì để an ủi, nâng giấc cho nàng, tôi sống có phần khô khan và vị kỷ, vượt quá ngưỡng sống của một con người bình thường. Vậy thì sự ràng buộc chỉ làm khổ nhau thêm...

        - Anh cũng có lỗi, em ạ. - Tôi nói với Nguyệt Mỹ - Chị em là người tốt, hết lòng vì chồng con. Có lẽ anh chị phải chịu đựng nhau như vậy đủ rồi, đã đến lúc cần giải thoát cho nhau chăng?

        Tôi chợt thấy khóe mắt Nguyệt Mỹ có giọt lệ nhỏ lăn ra, lúc đó cô không đứng về phía chị gái hay đứng về phía tôi. Đứng giữa, Nguyệt Mỹ cũng rất đau lòng!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 08:01:28 am
        
DÂN BIỀU TỚI TRƯỜNG

        Phòng Giáo vụ thông báo: đầu giờ chiều nay có một đoàn dân biểu tới trường để nghe ý kiến cử tri, trong đoàn có ông Chủ tịch ủy ban quốc phòng Hạ viện nói chuyện về tình hình quốc gia và quốc tế.

        Ông Chủ tịch ủy ban quốc phòng Đinh Văn Đệ, người tầm thước, trắng trẻo, có nụ cười tươi tắn, trạc năm mươi tuổi. Tôi đã được biết sơ sơ về “lý lịch” ông nghị này: 30 tuổi là trung tá, Chánh văn phòng Tổng tham mưu trưởng; 40 tuổi tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức, kiêm thị trưởng Đà Lạt; sau tỉnh trưởng Bình Thuận; rồi năm 1967 ông ứng cử nghị sĩ, giữ chức Phó chủ tịch Hạ viện, sau lại tự “hạ cấp” bằng cách đi vận động hành lang để được làm Chủ tịch ủy ban quốc phòng Hạ viện. Một lý lịch như thế trong xã hội miền Nam Việt Nam là sáng giá. Tôi còn chú ý tới một khía cạnh liên quan đến hoạt động khoa học thuần túy của ông, không hiểu vì lý do gì ông được Viện Hàn lâm khoa học Hoa Kỳ trao bằng Viện sĩ danh dự về vũ khí.

        Đi theo ông có bốn nghị sĩ nữa, ai vẻ mặt cũng đăm chiêu, có lẽ họ đang suy nghĩ cho quốc gia đại sự. Một giáo sư ngồi cạnh, nói nhỏ vào tai tôi:

        - Lũ nghị gật ấy mà.

        Tôi chỉ cười mỉm, gật gù. Trước hết là tiết mục “đối thoại trực tiếp”. Ông Hiệu trưởng mấy lần dắng, có cử tri nào thắc mắc, hỏi gì dân biểu thì cứ mạnh dạn. Cả hội trường im lặng. Có lẽ nhiều người còn ngại bầy tỏ chính kiến. Thời buổi mật vụ nhiều như ruồi thường trà trộn trong sinh viên, nhân viên nhà trường, nhỡ lỡ lời “không phải đầu cũng phải tai”. Rồi ông Hiệu trưởng chỉ đúng vào vị giáo sư ngồi cạnh tôi đề nghị thay mặt anh em cho ý kiến. Vị giáo sư đứng lên nói mỗi câu ngắn gọn không ra đối thoại cũng không phải câu hỏi:

        - Vật giá leo thang, lương thấp, sống sao đây!

        Một ông nghị được giới thiệu vốn là thương gia, trả lời cũng bằng một dẫn chứng khá ngắn gọn:

        - Cách đây một tuần, tôi có chất vấn Tổng thống câu tương tự như vị vừa nói, thì được Tổng thống trả lời: “Lệnh cấm dầu của Ả Rập ban hành vào mùa Thu năm 1973 đã khiến lạm phát tăng vọt lên năm mươi phần trăm. Nạn lạm phát cùng với sự giảm thiểu viện trợ của Hoa Kỳ đã khiến cho nền kinh tế gần như khủng hoảng. Bên cạnh đó, theo tin tức tình báo thì từ cuối 1973, Bắc Việt tăng cường xâm nhập đã có tới 13 sư đoàn. Tình hình quốc gia lâm nguy như vậy, xin quý vị đừng chất vấn về đời sống khó khăn, mà nên hỏi sắp mất nước đến nơi rồi, phải làm gì?”.

        Mọi người nhìn nhau. Rồi có ai vỗ tay khơi mào, cả hội trường bỗng vỗ tay rào rào. vỗ tay vì Tổng thống nói “sắp mất nước đến nơi rồi”, xem ra quốc sự đã lâm nguy, ra ngoài tầm kiểm soát.

        Chờ đợi đến mươi phút, không ai có ý kiến gì khác, ông Hiệu trưởng quay sang ông Đệ, nói:

        - Vậy không còn cử tri nào có thắc mắc, kiến nghị. Giờ xin ông Chủ tịch ủy ban quốc phòng Hạ viện có bài diễn thuyết. Cũng nói qua để quý vị trong hội trường biết, ông Chủ tịch đây vừa cùng một phái đoàn của chính phủ Việt Nam Cộng hòa sang Hoa Kỳ, được đích thân Tổng thống Gerald Ford tiếp. Xin mời ông.


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26239800_170844146978807_8479290025956010424_n.jpg?oh=f77f94448b97db40da048b202533b7fd&oe=5AE0CA04)
Cùng đồng nghiệp tại Đại học Khoa học Sài Gòn, năm 1972 (Giáo sư Ngọc ngổi bế đứa bé)

        Ông Đinh Văn Đệ nhanh nhẹn bước lên bục nói. Hóa ra ông là người hùng biện, giọng khúc triết, lưu loát. Ông điểm qua tình hình thế giới, trong nước và phân tích kỹ hậu quả của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ làm cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa yếu đi, trên chiến trường đang bị Việt Cộng lấn át. Lối thoát duy nhất hiện nay là thuyết phục Hoa Kỳ tăng ngân khoản viện trợ.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:47:18 pm

        - Thưa quý vị - Ông nói tiếp - Đúng như vị giáo sư Hiệu trưởng vừa nói, tôi có hân hạnh trong phái đoàn được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác sang Hoa Kỳ thuyết phục tân Tổng thống Gerald Ford tăng cường viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Đoàn gồm có các chuyên gia, cố vấn của Tổng thống, ông Phó Chủ tịch Hạ viện, ông Chủ tịch ủy ban đối ngoại và tôi. Có lẽ do tôi từng được Viện Hàn lâm Hoa Kỳ trao bằng Viện sĩ danh dự, nên đoàn trao cho tôi vinh dự được là phát ngôn viên chính khi tiếp xúc với phía Hoa Kỳ. Ra đón đoàn có nhân vật quen thuộc với chính giới Sài Gòn chúng ta những năm khi cuộc Chiến tranh cục bộ bắt đầu và kết thúc bằng Việt Nam hóa chiến tranh, Đại tướng Westmoreland. Vừa gặp, ông ấy đã nói ngay: Vụ Watergate đã phá hỏng tất cả ý đồ trước đây của chúng ta. Ông Nixon người ủng hộ các vị hết lòng phải từ chức và nay Quốc hội vừa ra một đạo luật trói tay Tổng thống trong việc chi viện quân sự ra ngoài biên giới quốc gia. Tuy tân Tổng thống không xa lạ gì với giới chức Sài Gòn, các vị cũng phải có cách nói thế nào đó để ông ủng hộ một khoản viện trợ đáng giá, chứ không phải quá ít ỏi.

        Chắc hẳn qua phuơng tiện truyền thông quý vị đã biết, ngày 9-8-1973 Tổng thống Nixon tuyên bố từ chức vì bê bối Watergate, ngay sau đó tân Tổng thống Gerald Ford đã có một lá thư trấn an đến Tổng thống của chúng ta, nội dung như sau: “Tôi tưởng không cần phải viết rõ để thông báo tới ngài rằng một trong những nét chính của chánh sách Hoa Kỳ là tính liên tục trong chánh sách ngoại giao từ tổng thống này qua tổng thống khác. Hơn bao giờ hết, điều này hoàn toàn đúng vào lúc hiện tại. Những lời cam kết của Hoa Kỳ khi trước vẫn được Hoa Kỳ giữ đúng vào lúc này, dưới chánh phủ của tôi”. Lá thư đã được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc trong giao ban chính phủ và đọc ở lưỡng viện để củng cố niềm tin của mọi người, rằng trong lúc quốc gia lâm nguy, bạn đồng minh lớn Hoa Kỳ không bỏ rơi chúng ta. Đấy là lá thư ngoại giao. Đoàn chúng tôi sang Hoa Kỳ lần này được giao trọng trách cột chặt lời cam kết ấy với những việc làm cụ thể, cấp thời của Hoa Kỳ với Việt Nam. Vậy thì chọn cách nào đây để thuyết phục ông ta? Chúng tôi bàn rất kỹ, cuối cùng khi gặp Tổng thống Ford tôi chọn thuyết phục theo cái cách của nhà quân sự, tránh dùng những từ hoa mỹ, ngoại giao, mà đi thẳng vào vấn đề, nói rõ một phần thực trạng của quân đội, nếu không có sự chi viện khẩn cấp của Hoa Kỳ thì sẽ có nguy cơ bị Cộng sản thôn tính. Tôi nêu cả dẫn chứng về một bức ảnh đã được đăng trên nhiều tờ báo phương Tây, trong một cuộc rút chạy, một người lính Sài Gòn đã bám cả vào càng trực thăng. Một sự thật trần trụi nhưng có sức thuyết phục. Quan sát nét mặt của Tổng thống, tôi đã nhận ra những sự đồng cảm của tình huynh đệ đã bao năm vào sanh ra tử với nhau. Kết thúc cuộc gặp, Tổng thống Gerald Ford bắt chặt tay tôi và các thành viên trong đoàn, hứa sẽ cử ngay một viên tướng có kinh nghiệm và tài giỏi sang Sài Gòn để nắm tình hình và sẽ có quyết định cụ thể sau. Thưa quý vị, đoàn chúng tôi ra về, hiểu rằng đấy là thắng lợi bước đầu và rất quan trọng...

*

*       *

        Trong thời gian gần đây, kể từ sau vụ Watergate, sự ra đi của tổng thống diều hâu nhất Richard Nixon, cùng những thắng lợi dồn dập, to lớn của quân dân ta trên chiến trường, tôi có linh cảm chế độ Sài Gòn sắp sụp đổ, ngày toàn thắng đã đến rất gần. Quân đội Sài Gòn tỏ ra yếu kém ngay cả khi có quân đội đồng minh đứng cạnh, hoặc có hỏa lực phi pháo Mỹ yểm trợ tối đa. Nay càng rệu rã khi không còn sự sát cánh của lục lượng Mỹ và đồng minh, bên cạnh đó hầu bao viện trợ cũng đang thắt lại. Hôm đến nhà Jason Kaatz, tôi gặp Thiếu tá John Murray, tùy viên quân lực Hoa Kỳ (DAO). Trong cuộc tranh luận với chủ nhà về khoản viện trợ của Hoa Kỳ là bao nhiêu cho đủ, Murray đã nói ra điều này: nếu viện trợ hàng năm ở mức 1,4 tỷ Mỹ kim mới giữ được cả 4 vùng chiến thuật; nếu là 1,1 tỷ Mỹ kim không giữ được Vùng 1; nếu chỉ có được 900 triệu Mỹ kim quên đi cả Vùng 1 và 2; 750 triệu Mỹ kim chỉ còn giữ được một số vùng đông dân cư; còn 600 triệu Mỹ kim thì may ra giữ được Sài Gòn và miền Tây.

        Vào tháng 8-1973 hai nghị sĩ Hoa Kỳ Frank Church và Clifford Case đã đệ trình một dụ luật trước Thượng viện cấm tất cả mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Dương nếu không được sự thỏa thuận của Quốc hội. Dụ thảo này đã được thông qua vào tháng 12-1973. Như vậy Đạo luật Case-Church Amendment được ban hành thì bất kỳ một tổng thống nào muốn can thiệp vào Đông Dương bằng quân sự, chẳng hạn như ra lệnh cho B52 oanh tạc đều phải xin phép Quốc hội. Và Quốc hội năm tới hoàn toàn do đảng Dân chủ nắm, mà đa số đảng viên đảng Dân chủ thì chống lại việc đảng Cộng hòa ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng hòa. Do đó dù muốn trợ giúp cho Nam Việt Nam, Gerald Ford cũng khó lòng mà đạt được thỏa thuận của Quốc hội Hoa Kỳ. Việc Ford trấn an Thiệu bằng “tính liên tục trong chính sách” cũng chỉ cách nói xã giao, hình thức. Bằng chứng là giữa tháng 8-1973 đạo luật cuối cùng của Tổng thống Nixon viện trợ cho chế độ Sài Gòn 1,1 tỷ dollar, sau đó Quốc hội biểu quyết chỉ thông qua khoản viện trợ 700 triệu dollar, cuối cùng vì nhiều chính sách khác biệt của Bộ Quốc phòng Mỹ mà đến tay chính quyền ngụy Sài Gòn chỉ còn 400 triệu dollar. Muối bỏ bể!

        Chuyện thương thuyết của ông nghị Đinh Văn Đệ chỉ để thương thuyết, khó mà có một sự ủng hộ cụ thể, thiết thực nào của Tổng thống. Hãy chờ xem!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:48:46 pm
       
Chương chín

VIÊN TRỢ LÝ HÀNH QUÂN

        Đầu năm 1975. Một sự kiện chấn động giới quân nhân Sài Gòn: Phước Long thất thủ! Tôi thì ngầm hiểu, đây là “bài thuốc thử” của ta về khả năng tác chiến của quân ngụy cùng phản ứng của Mỹ, trước khi tung những đòn chiến lược tiếp theo.

        Phước Long ở phía Đông Bắc Sài Gòn, sát biên giới Campuchia, là một trong những tỉnh được thành lập dưới triều tổng thống họ Ngô, nơi chuyển tiếp của địa hình cao nguyên cuối dãy Trường Sơn xuống đồng bằng miền Nam. Tỉnh này núi không cao, rừng không rậm, cư dân hầu hết người thiểu số. Phước Long và Bình Long đều thuộc lãnh thổ quản lý của Quân đoàn 3, Quân khu 3 do trung tướng Dư Quốc Đống làm tư lệnh. Có thời kỳ trung tướng Lê Nguyên Khang làm tư lệnh quân đoàn này, năm 1974 anh ta đã đổi sang làm phụ tá hành quân của Tổng Tham mưu trưởng, rõ ràng bị thất sủng. Tôi tìm cách gặp anh ta. Trong điện thoại anh bảo, mời giáo sư sang chơi, tôi đang rảnh việc. Khi tôi đến, thấy có một viên đại tá còn khá trẻ, đầu chải rẽ ngôi bóng mượt đang ở đấy. Lê Nguyên Khang giới thiệu: Đại tá Phạm Bá Hoa, Trợ lý hành quân của Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Cao Văn Viên. Tôi tỏ ý không hiểu, hai chức danh “phụ tá” và “trợ lý” đều của Tổng Tham mưu trưởng cả, có gì khác nhau? Phạm Bá Hoa nhũn nhặn trả lời ngay:

        - Trong quân đội có những chức danh thoạt nghe có vẻ giống nhau, song lại rất khác nhau. Trung tướng đây bậc thầy tôi, chỗ của ông là đứng bên cạnh Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng, quyết định những việc hệ trọng của quân cơ, còn tôi người giúp việc cho hai vị thôi.

        - Đại tá nói vậy cho phải phép - Lê Nguyên Khang cười nhạt nói - Thực ra lâu nay ngay Tổng Tham mưu trưởng cũng đâu có nhiều việc, việc hệ trọng nhất điều binh khiển tướng lại do Tổng thống quyết hết. Bởi thế nên ít thấy Đại tướng Cao Văn Viên đến nhiệm sở. Tôi nói vậy, có đúng không Đại tá?

        - Cũng có chuyện ấy - Phạm Bá Hoa nhìn Khang gật đầu, cười nửa miệng - Nhưng chuyện mất Phước Long vừa rồi thì chính Tư lệnh Dư Quốc Đống cánh tay mặt của Tổng thống, cũng không hài lòng với cái cách điều binh khiển tướng của Tổng thống.

        - Tôi cũng có nghe phong phanh chuyện ấy - Khang nói - đang dở câu chuyện ban nãy, Đại tá nói tiếp đi.

        - Xin lỗi giáo sư - Hoa nhìn tôi nói - chuyện nhà binh toàn phi pháo, chết chóc ngán lắm, không biết có làm mất thì giờ của giáo sư không?

        Tôi bảo anh ta là công việc giảng dạy, nghiên cứu đến mụ mẫm đầu óc, nay được “đổi món” thế này là rất thú vị. Xin cứ nói, nếu không có gì bí mật quân sự.

        - Thua rồi, mọi con bài đều lật ngửa cả, còn bí mật cái mẹ gì nữa. Lê Nguyên Khang còn có vẻ cay cú.

        - Chuyện thế này - Phạm Bá Hoa tiếp lời - Ngày 24-12-1974 có chuyến Chinook 47 chở toán chuyên viên từ Sài Gòn lên phi trường Phước Long để sửa chiếc phi cơ vận tải C130 bị hư. Vừa sửa xong, chiếc cần cẩu bay đó đã bị pháo phòng không của Cộng quân bắn hạ. Các phi tuần khu trục phản lực A37 được điều lên từ Sư 4 không quân ở cần Thơ cũng bị bắn rát, sau này thiếu tá phi công Trần Quốc Tuấn nói với tôi rằng: Em chưa bao giờ gặp hỏa lực phòng không dày đặc như thế bố trí xung quanh tỉnh lỵ Phước Long. Sang ngày đầu năm nay, Cộng quân lại pháo kích mạnh vào căn cứ không quân Biên Hòa, ngăn những khu trục của Sư 3 yểm trợ Phước Long. Đang tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng phòng trú ở Phước Long thì nổ ra mối bất hòa giữa Tư lệnh Đống và Tổng thống Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng thống. Trung tướng Đống xin lực lượng tổng trù bị cứu viện ngay, nhưng không được chấp thuận. Lực lượng này dưới quyền điều động của Tổng Tham mưu trưởng, gồm Sư dù, Sư Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù và Liên đoàn 7 Biệt động quân. Tổng Tham mưu trưởng lúc nào cũng theo dõi, thấu hiểu tình hình quân sự khắp nơi trên lãnh thổ, nhưng cũng không được hỏi ý kiến. Tổng thống phớt hết. Theo lời trung tướng Đồng Văn Khuyên - Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận thì trung tướng Đống tỏ ý bức xúc xin từ chức ngay trong cuộc họp nhưng không được Tổng thống chấp thuận. Tôi thấy tướng Đống như vậy là làm mình làm mẩy. Có thêm quân thì tiếp tục làm tư lệnh, không thì xin nghỉ, trong khi Phước Long đang nguy ngập. Xin nói với Trung tướng và Giáo sư, tôi vốn rất kính trọng sự khảng khái của tướng Đống từ hồi ông chuẩn tướng, thành viên trong hội đồng kỷ luật đặc biệt năm 1966 tại Bộ Tổng tham mưu, để giải quyết việc 5 tướng gây ra khủng hoảng ở miền Trung. Chuẩn tướng lúc đó đã dõng dạc nói là mình bỏ phiếu trắng, có nghĩa riêng ông không chống lại trung tướng Nguyễn Chánh Thi. Lý do ông trình bầy vì ông kính trọng trung tướng Thi, một bậc thầy của ông. Đồng thời ông cũng xin hội đồng quyết định chức Tư lệnh nhẩy dù của ông. Nay ông từ chức trong lúc Phước Long nguy ngập không đúng với tính cách của ông, một tướng nhẩy dù can đảm. Thế rồi đến khi Tổng thống nhượng bộ lời yêu cầu của Tướng Đống thì đã quá chậm. Liên đoàn 81 Biệt cách dù một đơn vị rất tinh nhuệ đến ứng cứu khi tỉnh lỵ sắp thất thủ, lính biệt cách dù chỉ còn cách băng rừng tháo chạy vì phải đương đầu với 2 sư đoàn tinh nhuệ của Cộng quân.

Chương chín

VIÊN TRỢ LÝ HÀNH QUÂN

        Đầu năm 1975. Một sự kiện chấn động giới quân nhân Sài Gòn: Phước Long thất thủ! Tôi thì ngầm hiểu, đây là “bài thuốc thử” của ta về khả năng tác chiến của quân ngụy cùng phản ứng của Mỹ, trước khi tung những đòn chiến lược tiếp theo.

        Phước Long ở phía Đông Bắc Sài Gòn, sát biên giới Campuchia, là một trong những tỉnh được thành lập dưới triều tổng thống họ Ngô, nơi chuyển tiếp của địa hình cao nguyên cuối dãy Trường Sơn xuống đồng bằng miền Nam. Tỉnh này núi không cao, rừng không rậm, cư dân hầu hết người thiểu số. Phước Long và Bình Long đều thuộc lãnh thổ quản lý của Quân đoàn 3, Quân khu 3 do trung tướng Dư Quốc Đống làm tư lệnh. Có thời kỳ trung tướng Lê Nguyên Khang làm tư lệnh quân đoàn này, năm 1974 anh ta đã đổi sang làm phụ tá hành quân của Tổng Tham mưu trưởng, rõ ràng bị thất sủng. Tôi tìm cách gặp anh ta. Trong điện thoại anh bảo, mời giáo sư sang chơi, tôi đang rảnh việc. Khi tôi đến, thấy có một viên đại tá còn khá trẻ, đầu chải rẽ ngôi bóng mượt đang ở đấy. Lê Nguyên Khang giới thiệu: Đại tá Phạm Bá Hoa, Trợ lý hành quân của Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Cao Văn Viên. Tôi tỏ ý không hiểu, hai chức danh “phụ tá” và “trợ lý” đều của Tổng Tham mưu trưởng cả, có gì khác nhau? Phạm Bá Hoa nhũn nhặn trả lời ngay:

        - Trong quân đội có những chức danh thoạt nghe có vẻ giống nhau, song lại rất khác nhau. Trung tướng đây bậc thầy tôi, chỗ của ông là đứng bên cạnh Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng, quyết định những việc hệ trọng của quân cơ, còn tôi người giúp việc cho hai vị thôi.

        - Đại tá nói vậy cho phải phép - Lê Nguyên Khang cười nhạt nói - Thực ra lâu nay ngay Tổng Tham mưu trưởng cũng đâu có nhiều việc, việc hệ trọng nhất điều binh khiển tướng lại do Tổng thống quyết hết. Bởi thế nên ít thấy Đại tướng Cao Văn Viên đến nhiệm sở. Tôi nói vậy, có đúng không Đại tá?

        - Cũng có chuyện ấy - Phạm Bá Hoa nhìn Khang gật đầu, cười nửa miệng - Nhưng chuyện mất Phước Long vừa rồi thì chính Tư lệnh Dư Quốc Đống cánh tay mặt của Tổng thống, cũng không hài lòng với cái cách điều binh khiển tướng của Tổng thống.

        - Tôi cũng có nghe phong phanh chuyện ấy - Khang nói - đang dở câu chuyện ban nãy, Đại tá nói tiếp đi.

        - Xin lỗi giáo sư - Hoa nhìn tôi nói - chuyện nhà binh toàn phi pháo, chết chóc ngán lắm, không biết có làm mất thì giờ của giáo sư không?

        Tôi bảo anh ta là công việc giảng dạy, nghiên cứu đến mụ mẫm đầu óc, nay được “đổi món” thế này là rất thú vị. Xin cứ nói, nếu không có gì bí mật quân sự.

        - Thua rồi, mọi con bài đều lật ngửa cả, còn bí mật cái mẹ gì nữa. Lê Nguyên Khang còn có vẻ cay cú.

        - Chuyện thế này - Phạm Bá Hoa tiếp lời - Ngày 24-12-1974 có chuyến Chinook 47 chở toán chuyên viên từ Sài Gòn lên phi trường Phước Long để sửa chiếc phi cơ vận tải C130 bị hư. Vừa sửa xong, chiếc cần cẩu bay đó đã bị pháo phòng không của Cộng quân bắn hạ. Các phi tuần khu trục phản lực A37 được điều lên từ Sư 4 không quân ở cần Thơ cũng bị bắn rát, sau này thiếu tá phi công Trần Quốc Tuấn nói với tôi rằng: Em chưa bao giờ gặp hỏa lực phòng không dày đặc như thế bố trí xung quanh tỉnh lỵ Phước Long. Sang ngày đầu năm nay, Cộng quân lại pháo kích mạnh vào căn cứ không quân Biên Hòa, ngăn những khu trục của Sư 3 yểm trợ Phước Long. Đang tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng phòng trú ở Phước Long thì nổ ra mối bất hòa giữa Tư lệnh Đống và Tổng thống Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng thống. Trung tướng Đống xin lực lượng tổng trù bị cứu viện ngay, nhưng không được chấp thuận. Lực lượng này dưới quyền điều động của Tổng Tham mưu trưởng, gồm Sư dù, Sư Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù và Liên đoàn 7 Biệt động quân. Tổng Tham mưu trưởng lúc nào cũng theo dõi, thấu hiểu tình hình quân sự khắp nơi trên lãnh thổ, nhưng cũng không được hỏi ý kiến. Tổng thống phớt hết. Theo lời trung tướng Đồng Văn Khuyên - Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận thì trung tướng Đống tỏ ý bức xúc xin từ chức ngay trong cuộc họp nhưng không được Tổng thống chấp thuận. Tôi thấy tướng Đống như vậy là làm mình làm mẩy. Có thêm quân thì tiếp tục làm tư lệnh, không thì xin nghỉ, trong khi Phước Long đang nguy ngập. Xin nói với Trung tướng và Giáo sư, tôi vốn rất kính trọng sự khảng khái của tướng Đống từ hồi ông chuẩn tướng, thành viên trong hội đồng kỷ luật đặc biệt năm 1966 tại Bộ Tổng tham mưu, để giải quyết việc 5 tướng gây ra khủng hoảng ở miền Trung. Chuẩn tướng lúc đó đã dõng dạc nói là mình bỏ phiếu trắng, có nghĩa riêng ông không chống lại trung tướng Nguyễn Chánh Thi. Lý do ông trình bầy vì ông kính trọng trung tướng Thi, một bậc thầy của ông. Đồng thời ông cũng xin hội đồng quyết định chức Tư lệnh nhẩy dù của ông. Nay ông từ chức trong lúc Phước Long nguy ngập không đúng với tính cách của ông, một tướng nhẩy dù can đảm. Thế rồi đến khi Tổng thống nhượng bộ lời yêu cầu của Tướng Đống thì đã quá chậm. Liên đoàn 81 Biệt cách dù một đơn vị rất tinh nhuệ đến ứng cứu khi tỉnh lỵ sắp thất thủ, lính biệt cách dù chỉ còn cách băng rừng tháo chạy vì phải đương đầu với 2 sư đoàn tinh nhuệ của Cộng quân.

        Lại còn chuyện buồn này nữa. Sau khi đã mất Phước Long, trung tướng Đồng Văn Khuyên mời tất cả các đơn vị trưởng trong phạm vi Quân trấn Sài Gòn và vùng phụ cận đến câu lạc bộ của Bộ Tổng tham mưu để nghe ông tóm tắt diễn biến chiến sự. Cuối cùng ông kết một câu thế này: Quý vị ạ, mất Phước Long lại là điều may, giảm đi cái ung nhọt trên cơ thể, vì với khả năng không vận hiện nay mà chiến trường Phước Long cần đến thì Bộ Tổng tham mưu không thể thỏa mãn nổi. Ông vừa nói xong mọi người “ồ” lên kinh ngạc. Chính tôi cũng thấy trung tướng Khuyên đã không có chuẩn bị trước cho buổi họp này, đã nói một câu làm đau lòng những chiến sĩ trú phòng cũng như tiếp viện Phước Long còn sống sót, và làm tổn thương vong linh những người đã ngã xuống.

        - Sau Tổng thống cử trung tuớng Nguyễn Văn Toàn - Lê Nguyên Khang tiếp lời Phạm Bá Hoa - thay trung tuớng Du Quốc Đống, Tu lệnh Quân đoàn 3, tôi thấy cũng không trúng. Cuối năm 1974, trung tướng Toàn đã bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2 cho trung tướng Phạm Văn Phú, vì theo Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tướng Toàn đã bị tố cáo tham nhũng. Trước đó, khi giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh đồn trú tại Quảng Ngãi, Tướng Toàn đã bị báo chí khui ra nhiều bê bối trong đời tư. Hình như Tổng thống quá ưu ái đến vị này. Binh bị giảm sút, người chỉ huy lại bất tài, vụ lợi thế thì sao không thất bại.

        - Trung tướng có nhớ bản kế hoạch tái phối trí binh lực - Phạm Bá Hoa nói - do Đại tướng Cao Văn Viên đệ trình hồi tháng 1-1974 nhưng bị Tổng thống gạt qua một bên không?

        - Sao không nhớ. Chính tôi và Đại tướng đã bàn nhau soạn bản kế hoạch này - Lê Nguyên Khang nói - Rồi kết luận mới đây của Tổng thống về việc co cụm, thu hẹp vùng lãnh thổ cho tương xứng với sự cắt viện trợ của Hoa Kỳ, cũng là nhắc lại những nét chính trong bản kế hoạch đó. Ai cũng thấy, đối phương muốn mở trong nay mai cuộc chiến tranh tổng lực để quyết định nhanh chiến cuộc. Nhưng chỉ còn e ngại phản ứng của phía đồng minh Hoa Kỳ mà thôi.

        - Tình hình xấu đi quá rõ - Phạm Bá Hoa hỏi - Trung tướng đã có ý định...

        Không để Hoa nói hết câu, Khang hất hàm:

        - Tất nhiên!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:50:43 pm

TÌM CÂU TRẢ LỜI CHO MỘT QUYẾT ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

        Đêm khuya. Tôi dán tai vào cái radio nhỏ, bản tin cuối cùng của Đài Tiếng nói Việt Nam: Rạng sáng ngày 10-3-1975 quân ta đồng loạt tấn công Buôn Ma Thuột và ngày 11-3 thị xã này thất thủ. Ngày 12-3 lực lượng của Quân đoàn 2 ngụy, gồm các trung đoàn của Sư đoàn 23, liên đoàn 21 biệt động cùng bộ phận còn lại của Trung đoàn 53, với sự yểm trợ của Sư đoàn 6 không quân phản kích nhằm tái chiếm Buôn Ma Thuột. Nhưng đã bị quân ta đánh áp đảo, địch bị cầm chân trên đường 14. Sáng 14-3, tại Cam Ranh, Tổng thống Thiệu ra lệnh trung tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, Quân khu 2 tùy nghi di tản, rút các lực lượng khỏi Tây Nguyên. Quân ngụy Sài Gòn bị quân ta truy kích dọc đường số 7 và đang tan rã.

        Huế thất thủ; tiếp đến Đà Nẵng; đầu tháng Tư lần lượt các thành phố biển miền Trung được giải phóng...

        Ngày 25-4, qua ông Hai Chuối, người liên lạc, tôi nhận được một tài liệu gồm 2 tờ in roneo “Thông tri số 10/TT ngày 22-4-1975” của Ban Thường vụ Trung ương cục Miền Nam. Đây cũng là văn bản đầu tiên của cấp cao nhất đến được tay tôi kể từ ngày về nước:

        “1. Do những thắng lợi dồn dập của ta và trước nguy cơ sựp đổ hoàn toàn của ngụy quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã ép Thiệu từ chức hòng tìm biện pháp ngăn chặn tổng công kích, tổng khởi nghĩa của ta, làm lạc hướng đẩu tranh của quần chúng, mong tránh khỏi thất bại hoàn toàn của chúng. Việc Thiệu từ chức, Hương lên thay trong tình hình hiện nay càng làm tinh thần ngụy quân ngụy quyền sụp đổ nhanh, nội bộ chúng càng mâu thuẫn phân hóa sâu sắc, càng có lợi cho ta tổng tấn công nổi dậy và giành thắng lợi nhanh chóng ở thành thị và nông thôn. Vì vậy các cấp bộ đảng và toàn thể quân dân ta cần phải:

        - Nắm vững mục tiêu đánh đổ toàn bộ chỉnh quyền địch, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

        - Quyết đẩy mạnh cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa và quyết giành toàn thắng.

        - Đả phá mọi tư tưởng chờ đợi, chập chờn, do dự.

        2.   Các cấp các ngành đều phải tập trung đẩy mạnh tấn công nổi dậy, đồng thời tiếp quản xây dựng tốt vùng giải phóng và phát triển các lực lượng cách mạng. Phải hết sức tranh thủ thời cơ và thời gian thuận lợi hiện nay để giành toàn thắng, không được một chút nào do dự, chần chừ, dù là kẻ địch có đưa ra bất cứ đề nghị thương lượng nhân nhượng nào.

        - Phải khẩn trương thực hiện các kế hoạch tổng tấn công quân sự thật kiên quyết triệt để, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch và chiếm lĩnh các mục tiêu quy định.

        - Thẳng tay phát động nhân dân nổi dậy giành chỉnh quyền, nhanh chóng tháo gỡ hàng loạt đồn bổt giải phóng nông thôn, nhanh chỏng diệt ác phá kiềm, mở rộng quyền làm chủ đưa lên phong trào khởi nghĩa để phổi họp với tẩn công quân sự giành giải phỏng các thành thị.

        - Đặc biệt đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động binh lính và nhân viên ngụy quyền, nhân thời cơ nầy làm tan rã lớn ngụy quân, ngụy quyền.

        3.   Tiếp theo việc Thiệu từ chức, sẽ còn có những thay đổi khác trong bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền. Các cấp cần theo dõi sát các diễn biến này để liên tục tranh thủ những thời cơ cụ thể mà đẩy mạnh tấn công nổi dậy và kịp thời tấn công binh vận thật sắc bén giành thắng lợi mau lẹ và to lớn hơn nữa.

        4.   Ở Sài Gòn và các thành phổ, phải kịp thời ngăn chặn và đổi phó với mọi âm mưu tuyên truyền lừa mị của Mỹ ngụy, đừng để quần chúng lạc hướng đẩu tranh trong lúc nầy. Phải nhân cơ hội nầy mà đưa quần chúng nổi dậy dùng bạo lực chính trị và vũ trang kết hợp với binh tề vận mà diệt ác trừ gian giành quyền làm chủ ở cơ sở. Phải dựa vào sức đẩu tranh cách mạng của quần chúng cơ bản mà lôi kéo quần chúng tiểu tư sản và trí thức tiến bộ đi theo con đường cách mạng, đừng để cho lực lượng trung gian lừng chừng gieo rắc ảo tưởng hòa bình thương lượng trong quần chúng, kéo quần chúng đi lạc hướng đẩu tranh cách mạng, chệch con đường tấn công nổi dậy giành toàn thẳng.

        Sau việc Thiệu từ chức, thái độ của quần chúng, của nhân viên chính quyền và binh lính địch, của các phe phái chỉnh trị tiến bộ và phản động thế nào, cần báo ngay về KBN (bí danh của Trung ương Cục). ”


        Tôi đọc xong, ghi nhớ và đốt tài liệu này đi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:52:24 pm

        Mười năm, cuộc chiến sắp đến hồi kết. Sài Gòn những ngày giữa tháng 4-1975 có cái gì đó giống như Hà Nội giữa tháng 4-1955, những người trong giới cầm quyền và người thân của họ đang trong tâm trạng cực kỳ hoang mang hốt hoảng chuẩn bị cho một cuộc trốn chạy. Tôi bỗng nhớ đến ông chú vợ, cựu Thủ tướng Phan Huy Quát. Ông đã hết thời từ lâu, dù sao tôi cũng hàm an vợ chồng ông, đã giúp Nguyệt Tỉnh và tôi khi vừa đặt chân đến sinh sống ở thành phố này hai mưoi năm về trước. Tôi đến, cả nhà ông đang rối bời giữa đi và ở. Lý do duy nhất níu chân ông lại là đã già rồi, chẳng còn sống được mấy nả nữa, muốn được gửi thân xác tại quê nhà. Nhưng vợ và các con ông thì nhất quyết ra đi, không đội chung trời với cộng sản. Ông hỏi ý kiến tôi, tất nhiên tôi nói nhỏ vào tai ông, nên ở lại. Ông vẫn dùng dằng, bảo còn chờ tin của cậu cháu trung tá biệt động, nếu việc di tản bằng C130 thuận lợi thì đi. Đi sang một nước nào đấy rồi tính sau. Được một lúc có điện thoại. Ông nghe, mồ hôi vã trên trán, bỏ máy xuống quay ra thở dài thườn thượt nói với cả nhà:

        - Không ổn rồi. Lúc bốn giờ sáng Cộng quân đã pháo kích vào phi trường Tân Son Nhất làm chiếc C130 của không lực Hoa kỳ bị trúng đạn, đúng vào lúc sắp sửa cất cánh, hai binh sĩ thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bị trúng đạn tử vong. Sau cuộc pháo kích này kế hoạch di tản bằng C130 bị hủy hoàn toàn vì phi trường hư hại nặng. Hiện có vài nghìn người Việt và hàng trăm người Mỹ đang bị kẹt lại sân bay. Chỉ còn cách di tản bằng trực thăng tại tòa Đại sứ, ở đó cũng đang rất hỗn loạn, người ngoài không thể lọt vào được.

        - Đi Cần Thơo - Bà vợ ông nói - di tản bằng đường thủy ra Đệ Thất hạm đội với gia đình Nghiêm Văn Phú. Ngay bây giờ, kẻo không kịp.

        Tôi vội vã chia tay ông bà, ra về với tâm trạng xốn xang khó tả. Quân Giải phóng đã áp sát các cửa ngõ Sài Gòn. Thế rồi sau đó chừng một giờ, tôi được tin xe chở gia đình ông Phan Huy Quát mới đi được một chặng ngắn khỏi thành phố đã bị quân ta chặn lại, không một ai trong nhà trốn thoát.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26220224_170844963645392_4847082421551030963_n.jpg?oh=75a6ba1f4be8528a86f5f2ee1e086092&oe=5AE56408)
Nguyễn Phước Tân (1930-2007), tên thật Nguyễn Văn Chẩn, bí danh: Hai Tân, Bảy Chẩn, Bảy Hưởng, là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, người chỉ huy trực tiếp của Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc hoạt động bí mật.

        Tôi nhận được chỉ thị “khẩn” từ ông Hai Tân: Trung ương muốn biết trong tình hình ngụy quyền Sài Gòn sắp bị sụp đổ, Mỹ có quay trở lại hay không? cần trả lời ngay!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:53:24 pm

        Đe có ngay được câu trả lời chuẩn xác theo chỉ thị của cấp trên trong thời khắc gấp gáp, nước sôi lửa bỏng này là điều khó, cực khó! Tôi nghĩ đến hai người: Jason Kaatz và Nghiêm Văn Phú.

        Tôi gọi điện cho Jason, chỉ nghe tiếng “u, u” đường dây đã bị cắt. Nhà Nghiêm Văn Phú cũng không có tín hiệu phản hồi. Phải đến Jason trước. Từ chiều qua khi quân giải phóng áp sát các cửa ngõ vào thành phố, sự hỗn loạn không kiểm soát đã diễn ra ở nhiều nơi trong nội ô, các tuyến xe buýt hầu như đã tê liệt, ngoài đường cũng chẳng còn bóng dáng chiếc xe lam, xích lô hay xe ôm nào. Nhà của hai người khá xa nơi tôi ở. Tôi kéo chiếc xe đạp vẫn thường dùng đến trường khỏi gầm cầu thang chung cư, ra lề đường. Vừa ngồi lên đạp mạnh thì nghe “roẹt”, guồng đạp sau đó nhẹ tênh, xe chẳng hề nhúc nhích. Cái líp xe đã tuột cá. Tôi quăng nó vào gốc cây, cuốc bộ là thượng sách! Và cứ cắm cúi sải bước trên hè phố, mấy lần suýt đụng người đi ngược chiều, họ cũng vội vã chẳng kém. Mỗi khi vượt qua đường, tôi đều phải nhấp nhổm dừng hồi lâu để chọn thời cơ tót được sang bên kia, vì lúc này xe nào cũng rú ga chạy như điên, có khi còn gặp cả đoàn xe nhà binh rầm rầm qua như trận cuồng phong, trên thùng lố nhố đầu súng, đầu mũ sắt. Dầu vậy, tôi vẫn nghe vẳng bên tai tiếng đùng đoàng không ngớt từ ngoại ô vọng về, có lẽ tuyến phòng thủ cuối cùng của quân ngụy Sài Gòn ở Xuân Lộc sắp bị chọc thủng rồi!

        Đen đường Catinat. Và ngôi biệt thự ba tầng kiểu dáng hiện đại, sơn trắng toát, nơi không ít lần tôi đến “coi tử vi” cho vợ chồng Jason - Vương Mộng Ngọc đã ở trước mặt. cổng sắt mầu xanh đen quen thuộc đang đóng im ỉm. Tôi vội nhấn chuông mấy lần. Chờ một lúc vẫn không thấy mở cửa. Chắc vợ chồng anh ta đã cao chạy xa bay rồi? Tôi vừa định quay đi, thì cánh cổng cọt kẹt, một cái đầu ló ra. Tôi lại gần: một người đàn bà đứng tuổi, tóc muối tiêu đang bên trong ánh mắt lộ vẻ sợ sệt. Tôi hỏi:

        - Thưa, tôi muốn gặp đại tá Jason Kaatz. (Cuối năm ngoái, anh ta đã được thăng từ trung lên đại tá).

        - Cả nhà ông bà - Người đàn bà ngập ngừng trả lời - trưa qua đã vô phi trường Tân Sơn Nhứt di tản rồi.

        Nói xong bà ta đóng sập cánh cổng. Tôi lắc đầu quay ra. Giờ mới biết lưng áo mình đẫm mồ hôi và cũng cảm nhận được sự mệt bã bời của cuộc chạy bộ ngót mười cây số vừa nãy. Tôi lo ngại, phải cuốc tiếp hơn mười cây số nữa đến nhà Nghiêm Văn Phú lúc này không biết có còn đủ sức không? Rồi tự nhủ: mệt mấy cũng phải cố! Tôi vừa bước được một đoạn chưa ra khỏi khuôn viên nhà Jason, chợt nghe tiếng nghiến ở cổng sắt phía sau. Bản năng làm tôi quay đầu nhìn lại, người đàn bà tóc muối tiêu ban nãy lại thò đầu ra, gọi với theo:

        - Giờ không có xe buýt, xe lam đâu ông ơi! Đây sẵn cái xe cuốc, ông cần thì lấy mà đi.

        Mừng quá, tôi chạy lại. Người đàn bà mở rộng cổng cho tôi lọt vào. Cái xe đạp cuốc đang dựa hàng rào cây ô rô phía trong sân.

        - Đại tá sáng nào cũng thể thao vài vòng quanh phố cho khỏe người - Bà nói - Lúc loạn lạc này, ông cứ xài nó tự nhiên cho được việc của mình.

        Tôi gật đầu cảm ơn bà và lập cập dắt xe ra khỏi cổng. Rồi tôi nhảy ngay lên yên, đạp dấn, xe hơi cao phải nghến hết chân, song rất nhẹ, xích líp ròn tanh tách. Bỗng chốc tôi trở thành một cua -rơ thực sự lao vun vút trên đường. Nếu không có người đàn bà tốt bụng kia giúp thì không biết đến bao giờ tôi mới đến được nhà Nghiêm Văn Phú ở tận Tân Cảng, trong khu biệt thự dành cho sĩ quan hải quân cao cấp.

        Tôi đến nhà Nghiêm Văn Phú đúng lúc vợ chồng anh bàn tính thu xếp mang đi những thứ gọn nhẹ, đáng giá nhất.

        - Có lẽ em sẽ sang Pháp với chị em. - Nguyệt Mỹ nói với tôi - Nhưng anh Phú thì thích sang Mỹ hơn.

        Bộ mặt Phú bợt bạc, nói độ nửa giờ nữa phải xuống giang đoàn xung phong mạn cần Thơ, còn vợ con anh sẵn sàng khi có xe đón là lên đuờng ngay. Tôi hỏi Phú:

        - Tình hình nguy cấp thế này, sao không cầu cứu không lực Hoa Kỳ yểm trợ?

        - Đã gọi ra Đệ Thất hạm đội cho Đô đốc Noel Gayler rồi, nhưng máy không bắt đuợc, bận liên tục anh à.

        - Gọi lại xem, biết đâu gặp.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:53:50 pm

        Phú bật máy bộ đàm. Bỗng có tín hiệu. Tiếng của người ở đầu dây bên kia tôi đứng cạnh Phú nghe được khá rõ. Phú gào vào bộ đàm:

        - Đô đốc có biện pháp gì yểm trợ khẩn cấp chứ. Chúng tôi không thể tử thủ mãi được, sắp bại trận cả rồi!

        - Hết cách rồi! - Tiếng Noel Gayler, một chất giọng Hoa Kỳ không thanh thoát mà trầm đục, không giấu nỗi thất vọng, chán nản - Ông Thiệu, ông Kỳ cũng yêu cầu như Phó đề đốc nhưng Tổng thống Gerald Ford đã từ chối. Giờ chỉ còn chiến dịch di tản bằng phi cơ C130 tại phi trường Tân Sơn Nhất đưa người Mỹ rời Việt Nam thôi.

        Phú buông máy, nhìn tôi nhún vai lắc đầu. Tôi nói ngay với anh ta:

        - Đằng nào cũng thua. Tử thủ không giải quyết được gì, chỉ thêm đổ máu cho cả hai phía.

        Phú nhìn tôi không biểu thị sự phản đối lời tôi vừa nói.

        - Anh vẫn còn binh quyền, nên ra lệnh cho thuộc cấp - Tôi nói tiếp - án binh bất động. Không đụng độ khi VC tiến vào Sài Gòn bằng đường thủy.

        Đôi mày rậm của Phú hơi nhướn lên khi nghe tôi như thể đang ra lệnh vậy. Tôi đọc được thoáng ngạc nhiên và hoài nghi nào đó từ ánh mắt anh ta. Trong giờ phút sinh tử này, tôi quyết định nói thẳng ra điều ấy với anh, cho dù anh ta có phản đối và lờ mờ hiểu ra về con người thật của tôi thì cũng đã muộn. Nhưng Phú chớp chớp mắt nhìn tôi thay cho một lời đồng tình, còn bảo:

        - Hiện ở phi trường Tân Sơn Nhất đang rất nhốn nháo. Cộng quân có thể pháo kích bất cứ lúc nào. Chỉ còn cách di tản theo đường thủy ra Đệ Thất hạm đội. Anh có theo gia đình tôi thì hôm nay ở luôn lại đây.

        - Tôi có một mình - Tôi nói - Lại chỉ làm khoa học. Thôi thì phó mặc cho số phận.

        Anh ta chủ động bắt chặt tay tôi. Cả hai đều hiểu: đây là cái bắt tay cuối cùng. Và chia tay nhau vội vã.

        Phú cho xe Jeep đưa tôi về. cần phải giải ngay một “bài toán”: chọn cách nào để tin đến ông Hai Tân nhanh nhất? Từ ngày cảm thấy đường dây đơn tuyến của tôi bị “động”, ông Hai Tân đã yêu cầu tôi cắt hẳn việc liên hệ trực tiếp qua điện thoại hoặc đánh mooc (trước đây gặp tình huống bất đắt dĩ lắm tôi mới phải dùng đến cách này). Chỉ được phép gửi tin qua hộp thư bí mật. Theo lẽ thường, người liên lạc có mang báo cáo đến được chùa Đại Tùng Lâm trên đường 51 đi Vũng Tầu nhanh nhất cũng sẽ mất nửa ngày. Nếu ngay lúc này đến thẳng “đại bản doanh” bằng ô tô thì chỉ mất khoảng hon một giò. Nhưng ông Hai Tân đã có chỉ thị: chưa có lệnh không được đến. Chạy đua từng phút từng giò trong thời khắc lịch sử này, dù vi phạm nguyên tắc tôi cũng vẫn làm! Nghĩ vậy, chiếc xe Jeep vừa ra khỏi cổng nhà Phú tôi bảo người lái:

        - Đến chùa Đại Tùng Lâm trên đường 51 đi Vũng Tầu.

        Viên thượng sĩ tỏ vẻ không hiểu, hỏi lại:

        - Giáo sư không về cư xá?

        - Không! Đến chùa Đại Tùng Lâm. - Tôi nhắc lại.

        Bỗng xe giảm tốc độ và đánh sang bên đường, từ từ đỗ lại. Viên thượng sĩ quay hẳn người nhìn tôi với bộ mặt nhăn nhó:

        - Thưa, Sài Gòn cả tuần nay bị vây chặt. Có lọt được ra khỏi nội thành, mà đi trên cái xe nhà binh thế này, sao tránh khỏi bị Việt cộng mai phục, tra xét...

        Vì sốt ruột mà tôi quên bẵng điều “sơ đẳng” ấy. Tôi nghĩ ngay đến giáo sư Võ Bình, người bạn cùng trường có chiếc Peugeot 404, liền vỗ vai cười xòa với viên Thượng sĩ, bảo:

        - Phải! về cư xá thôi.

        Đến nơi, tôi cho chiếc xe Jeep quay lại. Và xộc vào căn hộ tầng trệt ở mé con đường đầu hồi của giáo sư Võ Bình. Tôi suýt reo lên khi ngó thấy chiếc xe của ông vẫn còn nằm trong ga ra. Cả tuần, khi chiến sự liên tục và ngày càng nóng ở các cửa ngõ thành phố, trường học nào cũng đều phải đóng cửa, các giáo sư và nhân viên của trường tôi trừ một số ít người đã di tản được ra nước ngoài, còn hầu hết đều thu vén của nả, nằm im trong nhà mặc cho thời cuộc bên ngoài chuyển vần. Tôi bấm chuông một lúc lâu mới thấy chủ nhà mở cửa. Vừa thấy tôi, giáo sư Võ Bình tròn xoe mắt vì ngạc nhiên, đã lâu quá rồi tôi không lại chơi với bố con ông:

        - Ô, giáo sư Ngọc!

        - Tôi muốn phiền anh - Tôi nói ngay - có việc gấp không thể chậm trễ, muốn mượn anh cái xe trong vòng ba giờ đồng hồ thôi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:54:09 pm

        Thoáng ngỡ ngàng, giáo sư Võ Bình nhìn tôi, chắc hẳn ông không ngờ lúc này tôi lại có yêu cầu ấy. Rồi ông kéo tay tôi vào nhà, bảo:

        - Thì vào trong này hẵng nói chuyện...

        - Thật tình tôi có việc gấp - Tôi vẫn đứng ở cửa - Phiền anh.

        Giáo sư Võ Bình ngần ngừ giây lát, rồi lấy trong túi quần ra chùm chìa khóa đưa tôi. - Vâng - Ông nói - Anh cứ đi.

        Tôi cảm ơn rồi bước nhanh ra ga ra.

        Trên đường 51 nườm nượp xe, hầu hết đều xuôi về mạn biển, hẳn là xe con của các gia đình đi Vũng Tầu di tản. Tôi hòa vào dòng xe với tốc độ đều đều bám đội hình, trong lòng không khỏi phấp phỏng sợ nếu xe nào phía trước gặp sự cố thì ùn tắc là cái chắc, không biết bao giờ mới thông được. May mắn làm sao, sau hơn một giờ tôi đã đến được khu vực chùa Đại Tùng Lâm.

        Vừa gặp, nét mặt ông Hai Tân lộ rõ vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi đến vào lúc này. Rồi tôi kể ngay nội dung cuộc điện đàm giữa Nghiêm Văn Phú với Đô đốc Noel Geyler. Nét mặt ông giãn ra, thoáng một nụ cười nở trên môi, ông choàng người ôm chặt tôi, và nhẹ nhàng bảo tôi cần quay trở về thành phố...

        Sau này khi nước nhà đã thống nhất, theo thời gian dần dần hoạt động của một số điệp viên đơn tuyến được phép tiết lộ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tôi mới vỡ nhẽ: ít ra là trong thời điểm những ngày diễn ra cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, cấp chỉ huy chiến lược đã nhận được 3 tin tình báo, đều khẳng định Mỹ không quay lại cuộc chiến. Đó là của ông Phạm Xuân ẩn, sau này lộ diện Thiếu tướng tình báo quân đội ta, lúc ấy đang trong vỏ bọc Trưởng Văn phòng tạp chí Time tại Sài Gòn; của ông nghị Đinh Văn Đệ tôi đã từng gặp tại Đại học Khoa học, cũng là một điệp viên đơn tuyến và tôi. Ông Hai Tân khi gặp lại cũng cho biết: tin của tôi đến bộ chỉ huy ở cấp cao nhất 24 giờ trước cuộc tổng công kích cuối cùng vào đầu não của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

        Tôi còn biết thêm về câu chuyện xin cầu viện Mỹ mà ông Chủ tịch ủy ban quốc phòng của Hạ viện Đinh Văn Đệ đã kể công khai hôm đến trường tôi, thực ra đó chính là một “mẹo” khá cao cường của người điệp viên này, khi thẳng thừng nói về thực trạng của quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng để làm nản lòng chính Tổng thống Gerald Ford, làm ông ta không còn quyết tâm vực dậy chế độ Sài Gòn nữa.

        Đầu giờ chiều hôm đó sau khi đã gặp trực tiếp và báo cáo, khẳng định với Hai Tân, Mỹ sẽ không quay trở lại, ngụy Sài Gòn hoàn toàn bị bỏ roi, tôi quay trở về cư xá, trả xe cho giáo sư Võ Bình. Ông cũng ngạc nhiên, không ngờ tôi lại trả xe sớm thế.

        Đại học Khoa học Sài Gòn có một phân hiệu đóng tại huyện ngoại thành Thủ Đức, tôi dự định sẽ sang ở hẳn bên ấy, sau khi cảm ơn giáo sư Võ Bình về sự giúp đỡ chí tình vừa rồi, tôi vội trở về căn hộ trên tầng 5 của mình để lấy thêm một số tư trang cần thiết.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:54:58 pm
        
CIA ĐẾN NHÀ

        Vậy là trong giờ phút hấp hối của chế độ Sài Gòn, vợ chồng Jason Kaatz - Vương Mộng Ngọc đã kịp di tản bằng đường không; vợ chồng Nghiêm Văn Phú cũng đi trót lọt bằng đường thủy. Khi tôi vừa leo lên đến tầng năm của cư xá thì thấy hai người Mỹ mặc thường phục đang đứng đợi trước cửa nhà mình

        - ông là giáo sư Nguyễn Đình Ngọc? - Người cao to, mắt xanh, sống mũi gồ, mặc áo kẻ ca rô hỏi ngay.

        Tôi gật đầu bảo họ vào nhà. Anh ta nói tiếp:

        - Chúng tôi biết ông là điệp viên Việt Cộng. Giáo sư chỉ cái vỏ.

        - Các ông là ai? - Tôi hỏi.

        - CIA! - Gã mặc áo ca rô hất hàm nói gọn lỏn và giở thuốc ra hút. Người bên cạnh vẫn im lặng quan sát tôi.

        - Tôi từng diện kiến đại tá Carver - Tôi sực nhớ tên của trùm CIA Sài Gòn được nhắc đến trong cuộc nói chuyện của Jason Kaatz, nói để thị uy hắn trước.

        - Đấy là sếp chúng tôi. Tên mặc áo ca rô nói.

        - Chế độ Sài Gòn sắp cáo chung rồi. - Tôi nói tiếp - Tôi thì chỉ làm khoa học và dạy học. Các ông muốn gì ở tôi?

        Tên mặc áo ca rô, dúi điếu thuốc đang cháy dở vào cái gạt tàn mốc meo đã lâu lắm không sử dụng đến. Hắn nói:

        - Chúng tôi theo dõi ông đã lâu, nay có đầy đủ chứng cứ. Tiếc tình hình hoi muộn. Đúng, chế độ Sài Gòn sắp cáo chung. Nhưng nếu ông cộng tác với chúng tôi thì vẫn có tương lai lâu dài. Thắng lợi của cộng sản chỉ tạm thời. Sớm muộn gì Hoa Kỳ cũng sẽ quay trở lại.

        - Dù chế độ nào tôi cũng là một giáo sư làm khoa học thuần túy - Tôi cười, nhìn thẳng vào mắt hắn - Tôi không theo đảng phái nào.

        - Đúng rồi - Tên CIA nheo mắt, cười mỉm bảo - Ông chưa đảng viên cộng sản, nhưng từ lâu đã là một điệp viên lợi hại. Đây, ông xem tấm hình này.

        Tên Mỹ rút ra tấm ảnh: tôi đang bái Phật tại chùa Đại Tùng Lâm. Chỉ có vậy, tức là chúng chưa biết gì nhiều về tôi. Tôi đưa trả hắn, cười bảo:

        - Thời nay ai chẳng đi lễ chùa...

        - Tiếc hôm đó bị sớm “cắt đuôi” - Tên mặc áo ca rô nói - Chắc chắn ông đi gặp thượng cấp. Thôi, tình hình đang rất cấp bách. Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau. Đây là carte de visite của tôi, khi cần ông cứ liên hệ.

        Tên thứ hai cũng lẳng lặng rút danh thiếp đưa tôi. Cả hai vội vã chuồn ngay.

        Từ lâu tôi vẫn linh cảm sẽ có một ngày mình phải đối mặt với CIA, không ngờ lại đúng vào lúc giao thời này. Nếu chúng gặp sớm hơn chắc chắn tôi đã bị bắt. Một may mắn ngẫu nhiên!

        Khi thành phố vừa được quân giải phóng tiếp quản, gặp Hai Tân, việc đầu tiên tôi kể với ông về cuộc tiếp xúc của hai tên CIA vào giờ phút chót và nộp ông hai tấm danh thiếp của chúng. Nhiêu năm sau, khi tôi đã nghỉ hưu và tham gia vào việc sáng lập trường Đại học dân lập Thăng Long ở Hà Nội, đảm nhiệm Bí thư chi bộ trường, hồ sơ đảng viên được chuyển cả về đây, tôi đã được thấy bản xác nhận của ông Hai Tân về sự việc này. Việc CIA chủ động tiếp xúc với một điệp viên của phía bên kia hẳn sẽ gây ra bao nghi vấn, hệ lụy cho điệp viên đó. Một người trong ngành công an lõi đời như Hai Tân biết rất rõ tính “hệ trọng” của sự việc, song ông đã không ngần ngại đứng ra xác nhận một sự thật như thế, càng cho thấy bản tính trung thực, thẳng thắn, cùng sự tin cậy rất cao với đồng chí, đồng đội của ông.

*

*       *

        Ở phân hiệu của trường tại Thủ Đức, ngay ngày đầu tôi đã chứng kiến một sự việc bi hùng. Một mũi tấn công của quân ta khi tràn qua khu vực nhà thờ Thủ Đức, bỗng xuất hiện ổ đại liên của địch bố trí trên tháp chuông nhả đạn xối xả. Sau ít phút ổ đại liên đó bị dập tắt. Trước mặt tôi, người chiến sĩ giải phóng còn rất trẻ bị trúng đạn ngã xuống hè đường, anh được đồng đội đưa về phía sau cấp cứu. Cái mũ cối của anh bị văng ra. Tôi đến nhặt chiếc mũ đó lên. Một lỗ đạn xuyên phía trước và máu của người lính ấy còn thấm đỏ trên mũ.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:56:17 pm
        
Chương mười

NGƯỜI THÂN VÀ ĐỒNG ĐỘI

        Hơn 20 năm, về lại Hà Nội nơi tôi sinh ra và lúc mới ngoài hai mươi tuổi đã bước chân theo dòng người di cư vào Nam với nhiệm vụ đặc biệt của một điệp viên hoạt động đơn tuyến. Đến giờ phút này mà trọn vẹn trở về là một may mắn. Như một giấc mơ!

        Vẻ bề ngoài của các phố phường nội ô vẫn của Hà Nội ngày xưa cổ kính, trầm mặc. Người đi ngoài đường chủ yếu xe đạp, xích lô, thỉnh thoảng mới gặp chiếc xe Honda từ Sài Gòn hay các tỉnh phía Nam mang ra. Hà Nội nguyên vẹn thời bao cấp, mặt tiền không để mở cửa hàng và người xếp hàng mua gạo, thực phẩm, chất đốt theo tem phiếu vẫn dài và đều đặn. Bờ Hồ - Đồng Xuân - Hà Đông... mấy toa tầu điện leng keng, thứ tầu điện mà thế giới đã lưu giữ trong bảo tàng. Xe buýt còn ít, ô tô thì chỉ có xe công biển xanh dân sự hoặc biển đỏ quân sự. Trong nhà mỗi gia đình rất hiếm đồ điện tử như: tivi, tủ lạnh, đài cassette, dàn Akai, quạt điện, bàn ủi... So với Sài Gòn, Hà Nội đậm nét nghèo, thanh khiết vừa trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc chưa xây dựng được gì nhiều và vẫn đang thực thi cung cách “cộng sản thời chiến” hoàn hảo.

        Tôi còn cố tình qua Cửa Nam thăm lại vườn hoa Canh Nông dạo nào. Gốc bồ đề - dừa vẫn đứng đấy, tươi tốt trẻ mãi không già. Có biết bao đôi tình nhân đã ngồi dưới vòm che của “tuyệt tác lai ghép” ấy và chắc hẳn nhiều người trong số họ đều đã đi qua những năm tháng sôi động, khốc liệt của cuộc chiến tranh, giờ đây tận hưởng hạnh phúc viên mãn. Còn tôi và nàng “đôi tình nhân bay nhẩy” đã có những sự không được như ý trong đời tư và tôi lại nhớ đến “cái xoa đầu” của ông thầy bói già nghiện thuốc lào phố Hàng Hành: cháu ạ, nhân vô thập toàn...

        Theo thời gian, những người thân yêu nhất của tôi ở ngôi nhà 62 Tuệ Tĩnh đã có nhiều thay đổi. Việc đầu tiên khi trở lại mái nhà xưa tôi thắp hương, chắp tay khấn vái trước bàn thờ cha và ông bà nội ngoại. Thưa cha! Con đã về, lưu lạc bốn phương trời và đã trả thù cho cha, thực hiện đúng lời cha dặn, học thật nhiều để chống lại sự dốt nát, để đón lấy văn minh tiến bộ và rồi đây con sẽ còn thực hiện đến hơi thở cuối cùng điều ấy trong chặng đuờng tiếp nối.

        Mẹ giờ đã gần bẩy muơi tuổi, buớc chậm, lưng hơi còng xuống, mái tóc bạc phơ, trên gương mặt phúc hậu nhiều nếp nhăn hằn sâu. Khi vừa gặp, tôi khóc, mẹ cũng khóc ôm tôi hồi lâu. Mẹ ơi! Con vẫn là đứa con bé bỏng của mẹ đây, vẫn cái thằng thích ngủ ngồi, thích ăn có một bữa như ngày nào bên mẹ. Ở xa con vẫn biết mẹ vất vả lo nghĩ nhiều cho con, mà con chẳng biết cách gì để vơi nỗi buồn nhớ của mẹ. Ngần này tuổi đầu rồi vẫn chưa báo hiếu được, lại có lúc còn làm phiền lòng mẹ. Tôi nghẹn ngào hồi lâu. Bỗng mẹ hỏi nhỏ:

        - Đợt này ở nhà, không phải vào Sài Gòn nữa chứ Ngọc?

        - Cũng tùy tổ chức phân công mẹ ạ. Có lẽ sau đợt này con sẽ ra hẳn.

        Bỗng mẹ hỏi, ánh mắt nhìn tôi buồn buồn:

        - Sao không gọi mẹ con nó về xum họp?

        Tôi không biết trả lời sao cho mẹ vui lòng, chỉ dám nói nước đôi:

        - Để khi nào thuận lợi mẹ ạ.

        - Anh cũng khó tính khó nết lắm đấy.

        Hẳn mẹ đã nghe ai nói, đã biết sơ sơ gia cảnh nhà tôi và mẹ có ý trách tôi, bênh vực người con dâu bao năm xa cách của mẹ. Trưa 30-4-1975 giải phóng Sài Gòn, chiều tôi gọi điện, viết thư về nhà ngay, cũng kể sơ về mình và chỉ nói vợ con thì vẫn ở Pháp. Vài năm sau, qua một vài người ở Paris về, Nguyệt Tỉnh đánh tiếng với tôi muốn nối lại sợi dây tình cảm ngày xưa. Và giờ đây mẹ đã nói đúng tính xấu của tôi, tôi là người cố chấp, khó bảo, khó tính. Còn với đứa cháu đích tôn của ông bà, đứa con thương yêu đang tuổi đi học, tôi muốn cháu học hết đại học bên ấy, vả lại nó cũng không muốn rời xa mẹ. Nhiều đêm vì buồn cho duyên phận, thương nhớ con mà tôi trằn trọc không ngủ được...

        Nguyễn Đình Kim em kế tôi, từ khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội vẫn chỉ làm việc ở một nơi là bệnh viện tuyến cuối chuyên chữa lao phổi. Và tôi biết em đã trở thành một nhà phẫu thuật phổi có tay nghề vững vàng. Bao năm tôi biền biệt xa nhà, em đã thay tôi chăm sóc mẹ. Nhiều năm như thế, dường như Kim cũng đoán biết sơ sơ việc hoạt động bí mật của tôi, đã giữ kín tiếng với người xung quanh, lại còn có lúc đóng vai trò liên lạc giữa tổ chức với tôi. Em gái út Ninh Thủy là kỹ sư ở một xí nghiệp dược phẩm trung ương. Em lớn lên chỉ biết tôi qua vài tấm ảnh đã ngả màu, qua chuyện kể của người trong nhà và vì tôi mà đã nhiều phen làm em gặp rắc rối. Em học phổ thông luôn trong diện khá, giỏi thi đại học thừa điểm, nhưng vào Trường Bách khoa suýt bị đánh trượt vì lý lịch ông anh cả di cư vào Nam năm 1954, may nhờ có bố được công nhận liệt sĩ, bằng “Tổ quốc ghi công” mà em được xét vớt. Đen khi kết nạp Đoàn thì bị rớt thực sự vì “ông anh phản động”. Rồi Ninh Thủy còn kể câu chuyện hồi năm sáu bẩy (1967), có một ông Tây đi bộ từ Bờ Hồ tìm đến tận phố Tuệ Tĩnh thăm mẹ, nói là bạn của Nguyễn Đình Ngọc ở Paris. Sau đó anh công an hộ tịch cứ đến truy hỏi mãi: Người ngoại quốc này đến với mục đích gì? Bà có còn liên hệ thường xuyên với con bên Pháp không? Tôi cũng đã biết chuyện này. Sau giải phóng, gặp Hoàng Xuân Sính ở Sài Gòn, chị kể “ông Tây” ấy chính là nhà toán học nổi tiếng Alexander Grothendick, vì phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ mà anh tình nguyện sang Việt Nam để tìm hiểu đất nước con người Việt Nam, còn có một số buổi giảng về “Đại số đồng điều” cho cán bộ, sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ở khu sơ tán trên đất Thái Nguyên.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Giêng, 2018, 06:58:27 pm

*

*       *

        Ông Cao Đăng Chiếm và ông Hai Tân đã lãnh trọng trách cao ở Bộ và Tổng cục An ninh, với tôi hai ông vẫn là người chỉ huy trực tiếp, người bạn gần gũi. Một thời gian chừng 2 năm sau giải phóng, tôi chưa được ra công khai, còn là “giáo sư lưu dung” ở Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Một hôm tôi đi gặp ông Hai Tân bảo lần trước đã viết đơn vào Đảng, do khó khăn trong hoạt động đơn tuyến mà chưa thể kết nạp, nay đất nước đã thống nhất, trong điều kiện thời bình tôi muốn viết lại lá đơn. Ông ủng hộ ngay.

        Thế rồi chờ đợi đã khá lâu chưa thấy chi bộ nói đến việc kết nạp, tôi nhận được trả lời tổ chức đang đi xác minh, có nhiều điểm cần làm rõ trong thời gian tôi hoạt động trong lòng địch. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, ấy thế mà chờ đợi kết nạp đã gần bằng thời gian tôi từ nước ngoài trở về hoạt động trong lòng địch. Tôi vẫn kiên trì và đôi khi tự an ủi bằng bài thơ mộc mạc của sếp cũ khả kính của mình:

        Nhớ người tình báo năm xưa
        Tấm thân đi sớm về trưa đã từng
        Oan như Thị Kỉnh ai bằng...

        Đầu năm 1984 tôi được đứng trong đội ngũ của Đảng (công nhận chính thức 3-1985). Thực ra khi nước nhà thống nhất tôi đã hoàn thành nhiệm vụ điệp viên rồi và một thời gian sau chuyển sang công việc mới. Ban đầu tôi trong tổ Nghiên cứu khoa học lãnh đạo, là Phó chủ tịch Hội đồng khoa học Cục V14; Chuyên viên cao cấp Trung tâm máy tính, rồi Phó cục trưởng Cục Tham mưu tổng hợp; đầu năm 1994 nhận quyết định Cục trưởng Cục Khoa học viễn thông tin học Bộ Công an. Quân hàm từ trung, lên thượng, đại tá, đến tháng 10-1994 tôi được thăng thiếu tướng. Cục trưởng được chừng 2 năm, Nhà nước lập ra Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin, tôi được điều đảm trách Phó ban. Khi nghỉ hưu khi đã ngoài 65 tuổi, tôi lại cùng chị Hoàng Xuân Sính và nhiều nhà khoa học khác, trong đó có cả sự góp sức của người bạn từ Paris là giáo sư Bùi Trọng Liễu, thành lập trường đại học dân lập đầu tiên ở Việt Nam: Đại học dân lập Thăng Long. Trong hồ sơ lý lịch của tôi còn lưu nhiều ý kiến nhận xét, cùng chứng nhận của những người bạn hoạt động trong lòng địch ngày ấy. Chẳng hạn, những văn bản cụ thể dưới đây:

        “Nhận xét

        1/ Anh Nguyễn Đình Ngọc là phái khiển của Bộ Công an năm 1968, chuyển cho Ban An ninh Trung ương Cục do đồng chí Hai Tân trực tiếp chỉ đạo. Anh Ngọc trong thời gian công tác điệp báo đến ngày giải phóng miền Nam là một cán bộ tốt, chấp hành tốt chỉ thị, chủ trương của cấp trên.

        2/ Cuối năm 1970, anh Ngọc nạp đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản, hai đồng chí Tư Bình và Hai Tân cũng đề nghị kết nạp anh Ngọc vào Đảng. Do chìm có yêu cầu và cũng do cần phải không đế lộ anh Ngọc, chúng tôi hoãn kết nạp. Kế đến giải phóng miền Nam vẫn chưa kết nạp.

        3/ Xét phẩm chất đạo đức, sự trung thành của anh Ngọc, như ý thức chấp hành chủ trương của Đảng anh Ngọc xứng đáng được kết nạp vào Đảng Cộng sản.

        Nhưng trong hoàn cảnh thắng lợi hiện nay, đề nghị xét và kết nạp đúng nguyên tắc và thủ tục kết nạp đảng viên của Đảng.

        Ngày 6-4-1976

        Cao Đăng Chiếm. ”

        “Giấy giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

        Tôi tên là Nguyễn Phuớc Tân, tức Hai Tân, đảng viên chánh thức từ năm 1947. Xin giới thiệu anh Nguyễn Đình Ngọc sinh ngày 13-8-1932 tại Hà Nội, cán bộ Cục Bảo vệ chính trị 2, Bộ Nội vụ, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới đây tôi xin trình bầy mẩy điểm:
        1/ Anh Nguyễn Đình Ngọc là tiến sĩ khoa học học ở Paris, Pháp, con của liệt sĩ Nguyễn Đình Diệp. Mẹ và anh chị em ruột của anh Ngọc đều sổng ở Hà Nội, tham gia công tác cách mạng, thuộc gia đình tiểu tư sản yêu nước.

        2/ Năm 1953 Công an Liên khu Tư phái anh Ngọc hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Từ tháng 11-1955 đến tháng 2-1966 theo chỉ thị của Bộ, anh Ngọc sang Paris học, dạy học, đỗ tiến sĩ. Từ tháng 2-1966 đến tháng 12-1968 được lịnh của Bộ anh Ngọc về miền Nam Việt Nam công tác tại Huế do Bộ trực tiếp chỉ đạo. Từ tháng 12-1968 đến tháng 8-1977, tôi được Bộ phân công trực tiếp chỉ đạo công tác anh Ngọc.

        3/ Quá trình công tác của anh Ngọc do tôi trực tiếp lãnh đạo ngót 9 năm, anh tỏ ra trung thành với cách mạng, tin tưởng tuyệt đổi vào Bác Hồ, vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, có lập trường giai cấp vững, hăng say công tác bất kể ngày đêm, khó khăn nguy hiểm. Rất trung thực với Đảng, bất cứ việc gì dù lớn nhỏ cũng báo cáo thỉnh thị, sẵn sàng hy sinh thân mình để phục vụ cách mạng. Anh sổng cần cù, khiêm tổn, giản dị có đạo đức tốt, luôn tha thiết trở thành người đảng viên cộng sản. Anh Ngọc có khuyết điểm là nóng tánh, ít hiểu và gần gũi quần chúng lao động.

        4/ Năm 1972, anh Ngọc có làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chỉ Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm lúc bấy giờ là Phó ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, trên nguyên tắc cho là anh Ngọc xứng đáng kết nạp vào Đảng. Song do hoàn cảnh chiến trường bị chia cắt khó khăn, địch đánh phá ác liệt, nên cần hoãn lại chờ có cơ hội sẽ kết nạp.

        Qua sự trình bầy trên, tôi thay anh Ngọc đủ tiêu chuẩn, xứng đáng trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi xin chịu trách nhiệm về sự giới thiệu của mình.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:30:45 pm

        Thành phổ Hồ Chí Minh ngày 4-3-1977. ”

        “Giấy giới thiệu kết nạp đảng viên mới.

        Tôi là Nguyễn Văn Lộc, tức Hai Chuối, cán bộ hiện đang công tác tại phòng 4KD4B, là đảng viên chỉnh thức từ năm 1965. Được sự phân công của chi bộ, tôi và đồng chí Nguyễn Phước Tăn chịu trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ giáo dục anh Nguyễn Đình Ngọc là cán bộ điệp bảo của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, hoạt động tại thành phổ Sài Gòn.

        Từ năm 1972 tôi hoạt động trong cụm điệp báo do đồng chỉ Nguyễn Phuớc Tân phụ trách, tôi được giao trách nhiệm liên lạc giữa đồng chỉ Tân với anh Ngọc, lúc đỏ là giáo sư giảng dạy ở trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Do nguyên tắc và để bảo đảm bỉ mật nên tôi không hiểu rõ anh Ngọc, nhưng đường dây liên lạc giữa ba chúng tôi vẫn được liên tục, an toàn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu về anh Ngọc nhiều hơn, tôi được biết anh đã hoạt động trong lòng địch từ lâu và đã có nhiều thành tích. Là một trí thức cỏ trình độ khoa học kỹ thuật cao, được địch (ngụy quyền Sài Gòn) kỉnh nể, anh Ngọc vẫn giữ vừng khí tiết của người cách mạng, không bị địch lợi dụng, mua chuộc, hoặc bị cuộc sổng xa hoa trụy lạc lôi cuốn. Sống trong thời kỳ còn bị địch tạm chiếm cũng như sau khi miền Nam được giải phóng, anh Ngọc vẫn giữ được đạo đức, phẩm chất của người cán bộ, hăng say trong công tác và sổng cần cù giản dị, được nhiều người yêu mến quý trọng.

        Tôi xin bảo đảm trước Đảng, truớc chi bộ những lời nói trên của tôi là đúng, xuất phát từ lợi ích cách mạng và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu anh Ngọc vào Đảng. Thành phổ Hồ Chí Minh ngày 4-3-1977. ”

        “Trích tài liệu về anh Nguyễn Đình Ngọc.

        Biên bản ghi lời khai của Lâm Văn Thế, Thiếu tá trưởng G312-F41-E4 khối cảnh sát đặc biệt, hỏi 8 giờ ngày 1-11-1978: Có tổ chức theo dõi giáo sư Ngọc ở mé ngoài vì có bà con là tướng hải quán Nghiêm Văn Phú. Thấy Ngọc là giáo sư đại học nhưng ăn uống rắt kham khổ, chỉ đi xe buýt, lâu lại có người bà con ở hải quân cho xe jeep đến đón vào chiều thứ bẩy ăn cơm. Nhưng chúng tôi chưa vào được hải quân, cũng chưa ghi nhận được anh Ngọc. Chúng tôi coi chủ yếu giáo sư và sinh viên của trường để giám thị quan hệ, nhưng chưa phát hiện được gì cho đến ngày giải phóng.

        Trích báo cáo của đồng chí NQT, cán bộ Cục BVLL ngày 2-11-1978: Giáo sư Ngọc nhà riêng ở chung cư đường Công Lý hay đường Pasteur gì đó, nhưng nơi dạy học của Giáo sư ở trường Đại học Khoa học, đường Cộng Hòa. Tất cả những nơi ở trên Lăm Văn Thế đã cho giám thị và xác minh thì chỉ có Giáo sư Ngọc chưa phát hiện được rõ mối quan hệ với cách mạng, còn các cơ sở khác đều có quan hệ với cách mạng. Nhưng địch chưa bắt ai, vì sẽ động đến các cơ sở khác chúng chưa biết.

        Ngày 6-11-1979. Nguời trích... Kính chuyển Ban thường vụ Đảng ủy cơ quan Bộ ”.

        Hôm đó tôi đang ngồi làm việc tại nhiệm sở bên hồ Hale, Hà Nội. Có điện thoại từ phòng trực ban:

        - Một người cứ nằng nặc xin gặp đồng chí. Hỏi có hẹn trước không, thì ông ấy nói không, mới biết địa chỉ đồng chí ở đây nên tìm đến gặp luôn. Có cho gặp không ạ?

        - Ai vậy? - Tôi hỏi.

        - Người ấy đưa chứng minh thư, tên là Đào Hữu Thành, sinh năm 1929, quê Bình Xuyên, Vĩnh Yên ạ.

        Tôi sực nhớ ngay đến Đào Hữu Thành người bạn đã đưa tôi đến gặp Giám đốc công an liên khu 4, không nhẽ lại chính anh ấy? Tôi nói với người trực ban:

        - Anh đưa vào phòng tiếp khách. Tôi xuống luôn đây.

        Vừa đến cửa phòng khách tôi nhận ra Thành ngay, anh chỉ gày hon, mặt nhiều nếp nhăn, da xạm hơn, còn mái tóc dày đã bạc trắng cả. Tôi bước nhanh đến, nghèn nghẹn gọi tên anh:

        - Đào Hữu Thành!

        - Nguyễn Đình Ngọc! Chưa quên mình sao!

        Chúng tôi ôm nhau. Quen nhau lúc mới ngoài hai mươi, nay đều ngoài 50 tuổi cả rồi, chẵn 30 năm mới gặp lại.

        - Sao anh biết tôi ở đây? - Ngồi vào bàn uống nước, tôi rót nước mời anh và hỏi.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:31:04 pm

        Đôi mắt anh cứ chăm chú, trìu mến nhìn sang tôi và đã có ngấn nước. Rồi anh nhấm nháp chén trà, mãi sau mới nói được:

        - Tình cờ thôi anh Ngọc ạ. Nghỉ rồi, ru rú ở quê chẳng mấy khi ra ngoài. Hôm kia có đám giỗ bên nhà vợ ở Kim Anh, tôi gặp một cậu cháu ngoại họ xa, mới học trường an ninh ra được phân về công tác ở một cục gì đó của Bộ Công an. Lúc ăn cỗ xong, ngồi xỉa răng uống nước, cậu ấy mới khoe vừa có thêm cái bằng B tiếng Anh, lại bảo cháu đang định lấy thêm bằng tiếng Pháp nữa vì công việc cần đến ngoại ngữ lắm. Tôi mới buột miệng hỏi là cơ quan cháu có ai biết nhiều ngoại ngữ không? Cháu nói có chú biết đến bốn, năm ngoại ngữ, ba cái bằng kỹ sư chuyên môn, hai bằng tiến sĩ. Nghe vậy tôi bảo, mày làm như chú không biết gì về cơ quan nhà nước ấy, mà mang người nhà nước có nhiều bằng cấp ra dọa. Cũng có người giỏi thật, nhưng làm gì có ai nhiều bằng cấp, nhiều ngoại ngữ như thế, riêng chuyện học đã “chết” rồi. Thằng cháu cười bảo, chú không tin thì thôi, thời chú lạc hậu, thời hiện đại cần nhiều bằng cấp, không muốn học cũng phải học. Tôi thấy nó chê mình, thì tức khí vặc lại: ai nhiều bằng cấp, nhiều ngoại ngữ thế, nói cụ thể tao xem nào? Chú Nguyễn Đình Ngọc ở cơ quan cháu. Nghe cháu nói tôi giật thót, nghĩ ngay đến anh. Tuy chúng mình gặp nhau có thời gian ngắn, rồi biệt tích bao nhiêu năm, nhưng quên nhau sao được. Tôi sợ mình nhầm, liền hỏi thêm về dáng người, giọng nói, nghe nó tả, tôi khẳng định đúng là anh rồi. Anh không thay đổi mấy, còn đẹp hơn hồi thanh niên ấy chứ, hồi ấy anh xanh, gày chứ đâu béo tốt, trắng trẻo thế này.

        - Anh vừa nói đã nghỉ hun - Tôi hỏi - Anh hơn tôi có 3 tuổi, năm nay mới 54, nghỉ sớm thế?

        - Anh còn nhớ sếp Nguyễn Hữu Khiếu không? - Thành hỏi lại.

        - Sao không nhớ.

        - Thế còn nhớ bài thơ về nghề điệp viên của sếp dạy cho bọn mình không? -Nhớ.

        - Đúng i xì phooc vào cuộc đời tôi, anh Ngọc ạ. Nỗi oan Thị Kính ai bằng.

        - Oan? Có sự hiểu lầm à?

        Đào Hữu Thành lại nhìn tôi hồi lâu, khẽ gật. Tôi rót thêm nước trà vào chén của anh. Anh chậm rãi kể:

        - Sau khi anh đi rồi, tôi thôi làm ở nhà máy điện Vinh, nhận nhiệm vụ hoạt động đơn tuyến, cũng trà trộn trong đoàn người di cư vào Nam. Tôi được phân công phải trụ lại Huế. Rồi mình đăng lính, mười hai năm leo lên đến đại úy biệt kích quân đội Sài Gòn. Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, giai đoạn cuối cơ sở bị vỡ, người liên lạc bị bắt, không chịu được tra tấn đã khai báo nên mình bị an ninh quân đội ngụy tóm. Chuyện hoạt động nội gián rồi bị bắt cũng dài lắm, lúc nào rỗi rãi sẽ kể chi tiết cho Ngọc nghe. Nói tóm lại, mình bị tống giam, hỏi cung, tra tấn. Mình chỉ khai những gì chúng đã biết và những điều vụn vặt không gây thiệt hại đáng kể nào cho cơ sở cách mạng. Hai năm sau ngày bị bắt, tra hỏi mãi cũng chỉ có vậy, chúng đưa ra Phú Quốc giam chung với những quân nhân bị bắt trong chiến tranh. Thêm 4 năm nữa, đến 1973 được trao trả tù binh ở Lộc Ninh. Trở về cơ quan cũ, mình phải tường trình toàn bộ sự việc từ khi bị bắt đến khi thả. Tổ chức ghi nhận, bảo sẽ xác minh. Ngồi chơi xơi nước thêm 2 năm đến ngày giải phóng. Cũng không kết nạp Đảng lại. Sau đó mình tìm đến gặp sếp Nguyễn Hữu Khiếu khi ông đã là Bộ trưởng Lao động - Thương binh xã hội. Ông nói chỉ có thể chứng nhận cho mình thời kỳ ở Công an Liên khu 4, thời kỳ Tết Mậu Thân ông đã chuyển sang công việc khác rồi. Cơ quan thì bảo việc xác minh vẫn còn đang tiếp tục, không biết bao giờ mới ngã ngũ, mà để mình tiếp tục trong ngành cũng khó. Họ gợi ý, có thể làm chế độ về hưu non. Sếp Khiếu biết chuyện, bảo còn trẻ mà nghỉ sẽ thiệt thòi về lương bổng, nhận cho chuyển công tác sang bộ ông, thế là mình sang đó làm thêm sáu, bảy năm nữa, đủ chế độ hưởng bẩy lăm phần trăm lương chính là về. Trường hợp lý lịch như của mình, có sếp trên bộ đỡ hẳn hoi, cũng vẫn không thể giao trọng trách, việc được đứng trong đội ngũ công chức nhà nước đã là một sự minh oan, là ân huệ rồi. Ai đã vào nghề này cũng phải biết chấp nhận một sự thật khắc nghiệt như vậy có thể rơi vào mình, phải không anh?

        Sau lần gặp lại Đào Hữu Thành, tôi lên Bình Xuyên thăm quê anh. Nghèo quá! Nhà tranh vách đất xơ xác, đồ đạc trong nhà chẳng có thứ gì đáng giá. Ke hoạch làm V.A.C của anh mấy năm liền bị thất bát, cụt cả vốn liếng. Vợ anh làm nông nghiệp, ốm yếu, có ba đứa con gái đều lấy chồng xa, tất cả chi tiêu mua sắm trong nhà chỉ trông vào đồng huơng hưu ít ỏi của anh...


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:31:57 pm

CÔNG VIỆC THỜI BÌNH

        Chắc đồng chí Bộ trưởng đã xem kỹ lý lịch tôi, ông quyết định rút hẳn tôi ra Hà Nội để lập một tổ nghiên cứu, đặt tên là “Khoa học lãnh đạo”. Thực ra có thể gọi khác đi: Khoa học quản lý cho dễ hiểu hơn, song cái cụm từ trên cũng khá gợi và hấp dẫn. Thời chiến, trong thử thách nghiệt ngã giữa sống và chết người chiến sĩ an ninh đã được sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, thể hiện được những phẩm chất tuyệt vời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Mô hình công an thời chiến của Việt Nam thời chống Mỹ có thể là một mẫu mực cho bất cứ công cuộc giải phóng dân tộc nào. Đến thời bình điều kiện sống, chiến đấu đã thay đổi nhiều, rõ ràng cần được thay đổi theo mô hình mới, ở cấp cơ sở phải sắp xếp thế nào cho hợp lý. Bộ trưởng đã hỏi ý kiến tôi và một số nhà khoa học về đề tài này, tôi hoàn toàn ủng hộ ý tưởng sáng suốt của ông. Tôi đã có một số buổi xemina về ứng dụng Lý thuyết Hệ thống, Lý thuyết Tai biến trong điều khiển xã hội... cho các cán bộ lãnh đạo cục, vụ, viện, trường có buổi Bộ trưởng cũng đến nghe và nghe rất chăm chú. Lần ấy ông phát biểu nêu ra một gợi ý: “Tôi đã đến một số trại giam phạm nhân nữ. Nên chăng thay vì rào dây thép gai quây xung quanh trại là hàng rào cây bồ kết, thứ cây có gai nhọn tua tủa quanh thân và cành nhánh trở thành một hàng rào tự nhiên kiên cố, tốt cho môi trường lại hàng năm cho quả để nữ phạm nhân gội đầu.” Rõ ràng, Lý thuyết Hệ thống trong trường hợp này là một chuỗi Vật chất - Thông tin - Năng lượng, còn thêm yếu tố mới là “yêu thương, cải hóa con người”.

        Về mặt lý thuyết, tôi đã vận dụng toán học viết ra các chuyên đề cụ thể như “Sắc thái toán học trong Nghị quyết 4”; “Mô hình người thanh niên xung phong trong chống Mỹ cứu nước”... Tôi còn được tham gia chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước, đề tài mang mã số KX.06 “Khoa học công nghệ với các giá trị văn hóa”. Suy nghĩ về những gợi ý của Bộ trưởng, về lời dặn dò trước lúc hy sinh của cha tôi, một “tia chớp” lóe lên trong đầu: hẳn phải có một mối liên hệ nào đó giữa Thuyết Tương đối của Albert Einstein với sự phát triển về tri thức của con người và quyết thức của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Và sau nhiều đêm suy nghĩ tôi đã lần ra mối liên hệ đó, diễn toán như sau:

        Bắt đầu từ công thức nổi tiếng của Einstein: E=m X c2, với E là năng lượng; m là khối lượng và c là vận tốc ánh sáng. Suy ra:

        Kiến thức = Khối lượng dữ kiện X (Tốc độ xử lý)2

        Tri thức = Khối lượng kiến thức X (Tốc độ mô phỏng)2

        Quyết thức = Khối lượng kiến thức X (Tốc độ mô phỏng - Dự báo - Lựa chọn)2

        Ông cha ta xưa kia đã nói: biết thì sống, đề cao vai trò của quyết thức trong những trường hợp sống còn của dân tộc. Biết để sống cũng tức là phải học, phải nâng cao dân trí. Dân trí được chú ý ngay từ bây giờ, từ những công dân tí hon bước vào lớp mẫu giáo. Dân trí của một xã hội văn minh bao giờ cũng phải theo mô hình hình chóp, đồng nghĩa với thượng tầng kiến trúc bao gồm những con người ưu tú nhất, đủ năng lực để đề ra những quyết thức, chính sách mới trong mỗi giai đoạn tiến lên của đất nước.

        Hóa ra tôi có một tủ sách đồ sộ đến vậy. Khi có lệnh chuyển công tác ra Bắc, đã phải dùng đến hai chiếc xe tải hạng nặng chở sách từ Sài Gòn ra và một xe vì chở nặng quá mà nổ lốp trên đường. Lãnh đạo Bộ còn ưu ái phân cho một căn hộ ở tầng 5 khu tập thể lắp ghép Trung Tự. Khi khuân hết số sách đó lên, anh em trong cơ quan cũng như hàng xóm nơi tôi mới đến đều lo sập trần. May mà không đến nỗi như vậy, mối lắp ghép vẫn cứng vững. Căn hộ lèn toàn sách, chỉ để chừa một khoảng hình chữ nhật chừng bốn, năm mét vuông đặt cái phản nằm và chỗ tiếp khách. Thay đổi nơi ở, tôi vẫn không bỏ thói quen ăn một bữa, khi không đi công tác thì ngày ngày vào buổi chiều đạp xe về phố Tuệ Tĩnh, mẹ đã phần sẵn cơm canh. Cái tổ nghiên cứu của tôi được ghép sinh hoạt với bộ phận Xử lý thông tin điện tử ở cùng nhà, trong bảng lương tổ được ký hiệu bằng chữ viết tắt chỉ nội bộ mới hiểu: BPK, tức “bộ phận khác”. Ngày ấy ở biên giới phía Bắc rồi Tây Nam đều không yên, trong năm chúng tôi có khoảng thời gian tập quân sự bắn súng, lăn, lê, bò, toài trong công viên Thống Nhất. Những anh em cán bộ khoa học trẻ trong Cục đều tỏ ra yêu mến và thích trò chuyện cùng tôi. Chắc hẳn họ ít nhiều cũng đã nghe những chuyện tôi hồi còn ở nước ngoài, hay đã về nước hoạt động, có khi chuyện được thêu dệt thêm đến nỗi chính tôi cũng ngạc nhiên về mình. Nhiều khi anh em còn bàn tán rôm rả những cá tính mà trong Nam đã gọi là “lập dị” của tôi. Tôi đi tập quân sự, vẫn đội mũ cối của anh chiến sĩ giải phóng trẻ hy sinh ở cửa ngõ Sài Gòn trước ngày toàn thắng. Anh em hỏi về dấu đạn và vết máu còn đọng xung quanh mũ, tôi kể lại câu chuyện bi hùng ngày ấy, cuối cùng kết luận: Mình cũng là lính chiến, có được may mắn hơn người lính trẻ này. Đến 30-4-1975 hết khấu hao rồi, giờ sống thêm được ngày nào là lãi ngày ấy.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:33:28 pm

        Khoảng một năm ra Bắc, ổn định chỗ ăn ở và tìm hiểu công việc mới, cũng dường như đã đến lúc kết thúc phần “nghiên cứu lý thuyết”, Bộ trưởng muốn chúng tôi thực hành bằng việc xuống một đồn cảnh sát ở phường điểm của Thủ đô để đúc kết, tìm ra một mô hình cụ thể. Đây là nơi từng được đồng chí Thứ trưởng thường trực Bộ tới thăm, kiểm tra, trở về rất khen ngợi. Tôi hỏi chuyện từng chiến sĩ cảnh sát, rồi xuống các nhà dân trong phường nắm tình hình. Tôi bất ngờ, khác về thực chất so với những điều đã được thông tin trên báo chí và thông báo nội bộ. Tôi tự nhủ: mô hình đồn cảnh sát của ta rõ ràng khác với đồn cảnh sát các nước tiên tiến, nó thích hợp với thời chiến, giống như cái gân bò khi chịu sự tác động thì biến dạng để thích nghi, rồi lại trở về như cũ. “Cái gân bò” ấy giờ không còn thích hợp nữa. Ngày đó, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Giám đốc Nhà xuất bản Thế giới, Việt kiều Pháp về nước, cũng nêu nhiều ý kiến đề đạt lên trên về mô hình quản lý xã hội. Chẳng hạn, ông đề xuất để giảm bớt khâu trung gian, giấy tờ phiền hà ở các thành phố, thị xã dân trí đã cao, nên bỏ cấp phường. Người dân chỉ cần đến cấp quận là giải quyết được mọi thủ tục hành chính và nơi đó cán bộ mới đủ trình độ và phẩm chất để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Còn ở những nơi vùng sâu vùng xa, miền núi đất rộng người thưa vẫn nên giữ lại cấp cơ sở là xã, phường. Tôi cũng đã nhận ra nhiều bất cập trong cái đồn cảnh sát của phường điểm này và tôi có những ý kiến đề xuất riêng. Thế rồi trong buổi báo cáo về mô hình quản lý của công an cấp cơ sở, có đông đủ các cục, vụ, viện tới dự, tất nhiên do đích thân Bộ trưởng chủ trì, tôi đã mở đầu bằng một câu: “Thưa các đồng chí, sau một thời gian đi thực tế tìm hiểu hôm nay tôi xin gióng lên 5 hồi chuông báo động...” Và tôi kể ra 5 cái bất cập đáng báo động ở cấp phường. Cả hội trường im phăng phắc. Dường như “hồi chuông” gióng lên bất ngờ quá làm mọi người... giật mình. Hồi chuông cảnh báo về những “mặt trái” mà lâu nay có thói quen chỉ biết đến “mặt phải”. Tôi vừa thuyết trình xong, đầu tiên là nghe được tiếng thở dài của Bộ trưởng. Có vị phụ trách về quản lý hành chính thì không nhịn được, giờ giải lao đã văng về phía tôi một lời khiếm nhã. Rồi Bộ trưởng kết luận hội nghị, tỏ ý không đồng tình với nhận định của tôi, cho rằng “lập luận không logic, lẫn lộn tình hình với nguyên nhân”. Tôi hoàn toàn lẻ loi trong hội nghị và hiểu mình đã thất bại trong lần nghiên cứu, đề xuất này. Có thể vì không hiểu được hết thực tiễn Việt Nam, vẫn nhìn sự việc một cách giản đơn như khi mình sống ở nước ngoài. Cũng có thể tôi chỉ chăm chăm tìm cái xấu mà bỏ quên cái tốt đáng biểu dương như mọi người vẫn thường làm...

        Sau sự việc đó tôi vẫn được cấp trên trọng dụng, nhưng không phải trong lĩnh vực “Khoa học lãnh đạo” nữa, mà trở về với chuyên môn thuần túy của tôi là viễn thông-tin học.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26230920_170845980311957_5013786973761686559_n.jpg?oh=7d54ae8fd3d83fa272bffeaded5aa22e&oe=5AFB2B29)
Thiếu tướng, Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc khi là Cục trưởng Cục Khoa học viễn thông tin học - Bộ Công an (1994)


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:34:00 pm


        Khi tôi lên Cục trưởng Cục Khoa học viễn thông tin học thì đúng lúc Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 49-CP về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta đến năm 2000. Đây là Nghị quyết góp phần quyết định trong tiến trình đổi mới và hiện đại hóa đất nước trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX. Sau đó Bộ Nội vụ (sau đổi là Bộ Công an) có Chỉ thị 06 về phát triển công nghệ thông tin trong ngành. Tôi hiểu trách nhiệm đặt lên vai mình rất lớn, giờ đây không còn gì là lý thuyết nữa, mà thực sự là một bài toán thực tiễn, bài toán dành cho người quản lý, làm sao trang bị đúng và đủ mọi thiết bị hiện đại và nhanh chóng làm chủ khoa học công nghệ trong cả hai lĩnh vực viễn thông và tin học để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của ngành. Tôi và anh em trong đơn vị bắt tay ngay vào dự án quan trọng nhất: Đổi mới, nâng cấp hiện đại hóa và phát triển mạng lưới viễn thông tin học của công an nhân dân (1994-2000). Một dự án đổi mới đồng bộ và toàn diện, kinh phí Nhà nước cấp trong nhiều năm tổng cộng tới vài chục triệu dollar.

        Chiếm lĩnh điểm cao, dường như có một cuộc “thi đua ngầm” với viễn thông quân đội, chỉ một thời gian ngắn đi khảo sát thực địa, ngành công an đã xây các trạm thông tin viễn thông hiện đại trên các đỉnh Tam Đảo, núi Bà Đen. Rồi tổng đài điện tử số cùng mạng cáp truyền dẫn, hệ thống máy tính thế hệ mới được lắp đặt hàng chục nghìn chiếc từ trung ương đến cơ sở. Đến năm 2000, năm kết thúc Dự án cũng là năm thực hiện đúng những gì mà kế hoạch đã đề ra.

        Có một chuyện xảy ra trong quá trình triển khai dự án, tuy không thuộc phạm vi dự án, sự việc không có gì là lớn, nhưng tôi lại nhớ. Hội nghị công nghệ thông tin phục vụ công tác bảo vệ an ninh và trật tự của một số tỉnh Bắc Bộ, họp ở Cửa Lò. Sau hội nghị có chương trình đi thăm khu di tích quê hương Bác Hồ ở Nam Đàn, Nghệ An. Lúc trở về một chiếc xe Uoat bị hỏng nặng, lại rơi đúng vào chiếc xe vừa tốn khá nhiều tiền để đại tu. Cả đoàn đi không thể để một chiếc nằm lại, tôi bảo anh em ngồi trên chiếc xe đó sang cả chiếc Matscovic của tôi, còn tôi ngồi trên chính chiếc xe hỏng đó. Nó được buộc sau một xe khác “kẽo kẹt” kéo về tận Hà Nội. Lỗi không phải của người lái, tôi xác định trưởng phòng Hậu cần đưa xe đi đại tu và nhận xe về có lỗi chính. Tôi gọi cả trưởng phòng Tổ chức cán bộ lên, viết quyết định, tôi ký “xoẹt” cách chức anh trưởng phòng Hậu cần kia. Cục trưởng, kiêm Bí thư đảng ủy Cục cách chức trưởng phòng, tôi cho đó là chuyện bình thường, song trong cơ quan lại có tiếng xì xào bàn tán, họ thương cho anh trưởng phòng không gặp may và “ngán” tôi, quản lý theo phong cách “tây” quá! Có sự khác nhau nhiều về quản lý hành chính ở công sở giữa trong nước và nước ngoài sao? Tôi thì không thấy khác gì nhiều, ở đâu cũng vậy, cấp dưới không hoàn thành nhiệm vụ bị cấp trên trực tiếp cách chức là chuyện bình thường. Sau đó, tôi cũng không thấy cấp trên nhắc nhở, rút kinh nghiệm gì sau vụ cách chức ấy. Tôi đã có lần bảo với anh em: Tôi như chiếc xe tăng, cần húc lúc nào là tôi húc. Liên hệ với điều ông Hai Tân nói về khuyết điểm của tôi trong bản giới thiệu tôi vào Đảng là “nóng tánh, ít hiểu và gần gũi người lao động”. Có thể “chiếc xe tăng” húc chưa thật đúng chỗ, đúng lúc chăng? Dù sao tôi cũng tự rút được kinh nghiệm cho bản thân sau sự việc này. Phương pháp công tác, hay tính cách của người chỉ huy, thủ trưởng đơn vị cũng đòi hỏi luôn có sự tự điều chỉnh để thích nghi.

        Chuyện “xe tăng húc” là vậy, còn chuyện về đối nhân xử thế, đôi khi tôi cho là “bình thường” thì người khác lại bảo “không bình thường”. Chẳng hạn chuyện này. Một tiến sĩ trẻ học ở nước ngoài về, anh cũng có năng lực chuyên môn và tôi quý mến anh như những bạn trẻ làm khoa học công nghệ khác trong cơ quan. Thế rồi, một hôm anh đến gặp tôi trình bầy nguyện vọng muốn được chuyển ra ngoài để phát huy hơn nữa khả năng của mình. Nghe xong tôi bảo ngay: Anh có mang theo đơn đây không, đưa tôi ký cho. Mặt anh ta bỗng trở nên căng thẳng biểu lộ sự lúng túng, sau đó đã đưa đơn và tôi ký ngay, về sau cấp cao hơn không chấp nhận đơn chuyển ngành của anh. Anh ấy vẫn tiếp tục làm ở cơ quan tôi và được phân một công việc mới. Với tôi thực ra đó chỉ như mọi “chuyện thường ngày” khác thôi. Ẩy thế có người đã nói lại với tôi, rằng thủ trưởng “thật” quá, anh ấy có ý trách đấy. Đêm hôm trước ngày đưa đơn anh ấy đã trăn trở, cân nhắc rất nhiều cách trình bày như thế nào để “xuôi tai”, đáng lẽ khi nghe xong thủ trưởng phải tỏ ra muốn giữ lại, đằng này ký “xoẹt” luôn.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:37:51 pm
     
        Trong công việc, tôi thấy mình luôn giữ đúng nguyên tắc và không hề có động cơ cá nhân nào ở các quyết định cụ thể kiểu như vậy. Cũng không có ý kiến phản hồi rút kinh nghiệm của cấp trên, cấp ủy nơi mình công tác. Nhưng bài học được rút ra cách đây vài năm từ việc thực hiện ý kiến của Bộ trưởng xuống tìm hiểu ở một phường điểm của Thủ đô thì tôi vẫn không quên. Có thể do nhiều năm sống ở nước ngoài, rồi lại hoạt động trong lòng địch, tôi chưa thể hòa nhập, thích ứng được với thục tiễn ở môi trường công tác mới, nhất là các mối quan hệ thời bình. Những việc tôi trực tiếp xử lý, qua dư luận đến tai tôi, không phải ai cũng đồng tình, dẫu không có góp ý cụ thể chính thức nào, toàn “xì xào” cả. Lại trở về câu hỏi ban đầu: cái cách điều hành, giải quyết công việc kiểu như vậy thích hợp với bên “tây”, không thích hợp với bên “ta” chăng? Ngay cả khi tôi đã chuyển khỏi ngành làm một công việc khác thuần túy chuyên môn, tôi vẫn nghĩ rằng về mặt quản lý hành chính ở đâu cũng phải tuân thủ một nguyên tắc sòng phẳng, nghiêm minh và trung thực với chính mình và đồng chí, đồng đội. Và tôi đã không ân hận, tiếc nuối về điều đó.

(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26229983_170846736978548_8312329038861479366_n.jpg?oh=acd9428ff4968346fb23df65e77f77cc&oe=5AE6A92F)
Cùng một số bạn đồng môn Trường Chu Văn An, Hà Nội (2002)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26219506_170847133645175_8693774033543877911_n.jpg?oh=516d9d4fdc625660ce4ddee75edc7fdd&oe=5AF04980)
Con trai và cháu nội


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26904450_170848630311692_4699031902921144644_n.jpg?oh=34e0f6efa30a40126254d6a00e3241b5&oe=5AEE4F0F)
Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc khi đã nghỉ hưu


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:42:03 pm

Chương mười một

TRỌNG BỆNH

        Thời trẻ bệnh tật đã hành hạ tôi “phổi trái có đám thâm nhiễm”, rồi lúc về già đã ba lần chảy máu dạ dầy. Cuối cùng thì ung thư gan. Tôi đã nói với mọi người sau 30-4-1975 tôi đã khấu hao hết, sống ngày nào lãi ngày ấy, vậy là đã lãi tới 31 năm, kể ra ông trời quá ưu ái mình rồi!


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26219436_170848210311734_8394412763684085121_n.jpg?oh=522963323ea343c695e6d36f791d8af5&oe=5AF144D3)
Năm 70 tuổi (2002)


        Ca cấp cứu tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108. Khi tôi tỉnh lại, nhà thương Đồn Thủy ngày nào. Quân Pháp đã giam tôi cũng tại chính căn buồng này, sở dĩ nhận ra được vì nhìn qua cửa sổ vẫn thấy cây muỗm cổ thụ có hai trạc khá đều nhau chĩa ra hai bên, vật đổi sao dời, riêng cây muỗm vẫn chẳng lớn lên là bao, chẳng “đi” đâu, như một chứng nhân trung thành của lịch sử. Nhanh vậy, đã 59 năm trôi qua!

        Những ngày cuối cùng, tôi trở về nằm ở Bệnh viện 19-8 của Bộ Công an. Anh em đến thăm liên tục, lúc cơn đau dịu đi, tôi cười bảo: Mình bị ung thư, tức là “ung dung thư giãn” đấy.


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26230910_170849383644950_3355334244097011788_n.jpg?oh=ada19f92b63e74feee53d2d7a554459f&oe=5AF922B2)
Những ngày cuối cùng trên giường bệnh tại bệnh viện 198 Bộ Công an. Ngồi bên là người bạn đời,Tiến sĩ TrươngThị Mỹ Dung.


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:43:46 pm

        Người ung thư đã di căn tỉnh đến lúc chết, chỉ đau đớn vô cùng. Hồi bị chảy máu dạ dầy, dù nhiều lần tôi vẫn kiên trì tự chữa, nay bị căn bệnh quái ác này, phải được như con sói trong bài thơ của Alfred de Vigny, nghiến răng không để bật ra tiếng rên rỉ nào.

        Tôi nhớ hồi mới ra Hà Nội đã đọc được cuốn tiểu thuyết “Quy luật của muôn đời” của nhà văn Liên Xô cũ Nodar Dumbatze, có câu đại ý: người ta cần vào nằm bệnh viện một thời gian để có dịp bình tâm suy nghĩ lại cuộc đời mình.

        Tôi đã có gần nửa thế kỷ phục vụ cách mạng, trong đó có hơn 20 năm hoạt động tình báo - những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời. Phải mất đến 10 năm tạo “vỏ bọc”, sau đó được thực sự cống hiến với nhiều thử thách cam go. Ưu thế của cái anh “giáo sư lập dị” là dễ tiếp cận với giới chính khách, giới quân nhân phía bên kia, để rồi “dỏng tai nghe” phân tích, phán đoán từ những thông tin có chủ định tìm hiểu hoặc tình cờ biết được. Và hầu hết những tin tình báo của tôi đều được cấp trên sử dụng. Cũng có những “bế tắc”, như việc tìm hiểu bản kế hoạch AB 144 của địch hồi năm 1966-1967, không có cách gì tiếp cận và chắc hẳn các điệp viên đơn tuyến khác đã làm việc này tốt hơn nhiều. Có một điều sau này tôi cũng muốn biết thực hư ra sao. Cuộc chiến đã qua lâu rồi, xác minh được chỉ là để thỏa mãn nỗi “tò mò” của một người trong cuộc như tôi thôi. Biết chẳng để làm gì. Đó là về cuộc trao đổi ngắn ngủi của tôi với Phó Đề đốc Nghiêm Văn Phú vào thời điểm sắp giải phóng, anh ta có thực sự “án binh bất động” ở hướng quân ta tiến công đường thủy vào Sài Gòn như điều tôi yêu cầu không? Rồi một lần, tình cờ tôi có trong tay tờ báo của ngành, có bài ca ngợi chiến công của người chỉ huy tình báo tài ba Nguyễn Phước Tân, trong đó ông Hai Tân có nhắc đến những kỷ niệm với tôi, một đường dây điệp viên đơn tuyến ngày đó. Và ông đã đưa ra dẫn chứng rằng: trong giai đoạn cuối của cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn, giang đoàn do Nghiêm Văn Phú chỉ huy ở đồng bằng sông Cửu Long đã không nổ súng khi lực lượng cách mạng hành quân qua khu vực họ kiểm soát.

        Đến 30-4-1975, kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cũng có thể coi là cái mốc kết thúc một nghề. Một sự kết thúc khá trọn vẹn, có phần may mắn. Lại bắt đầu một nghề mới. Tôi đã có những năm tháng tiếp theo làm việc say sưa, nhưng không cưỡng được quy luật của tuổi tác. Những dự án về viễn thông-tin học của ngành công an đã và đang đi vào cuộc sống, có chút ít “bóng dáng” của tôi trong đó. Cũng có vài công trình nghiên cứu, có công trình viết chung với Trương Thị Mỹ Dung và các học trò khác, chủ yếu trong lĩnh vực toán-tin; dăm ba bài báo đã đăng trên các tạp chí toán học quốc tế.

        Còn chuyện này nữa. Tôi không bao giờ có ý định viết hồi ký, có lẽ do còn giữ thói quen “im như thóc” của người điệp viên. Thời hậu chiến nhiều nhà tình báo được tổ chức cho phép ra công khai, đã có một số cuốn sách viết về họ khá công phu và có tiếng vang. Dường như tôi không thể rũ bỏ tấm áo khoác “lập dị”, khép kín trước mọi người và đinh ninh câu các cụ đã dạy “sống để bụng chết mang theo”. Có lẽ vì thế mà cánh nhà văn, nhà báo rồi đây cũng phải... chào thua(!)

*

*       *

        Trong những ngày cuối cùng với đầu óc còn khá tỉnh, lúc cơn đau tạm lắng dịu tôi lại có dịp quan sát và suy nghĩ về người thân, bạn bè, nhất là những người hay đến thăm nom, nâng giấc cho mình.

        Hai Tân hơn tôi 2 tuổi, trước khi về hưu ông là Tổng cục phó Tổng cục An ninh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đời hoạt động tình báo, tôi có hai ông thầy. Giờ nhìn ông Hai Tân đến thăm, tôi lại nhớ đến người thầy đầu tiên là cụ Nguyễn Hữu Khiếu. Cách đây đúng một năm tôi đã đưa tiễn cụ về nơi an nghỉ cuối cùng ở nghĩa trang Mai Dịch, thọ 90 tuổi. Thế là trò lại sắp có dịp được đến vấn an thầy nơi thế giới bên kia rồi! Còn người thầy thứ hai, cũng đang bị nhuốm bệnh. Gầy, xanh xao, Hai Tân bước đi chậm, song trên gương mặt vẫn nụ cười chân thật, đôn hậu dạo nào, còn thêm phần hóm hỉnh nữa. Ông cúi xuống ghé tai tôi bảo: Ngọc à, mình cũng như cậu khấu hao hết đến ngày giải phóng, được lãi nhiều quá, giờ trong hai ta không biết ai lãi hơn ai chút xíu nữa đây nhỉ?

        Đã có câu trả lời ngay sau lần gặp cuối cùng này không lâu, tôi đi trước ông.

        Nguyệt Tỉnh và con trai bay từ Paris về. Hơn hai chục năm trước tôi và nàng đã chính thức chia tay nhau, lúc đó tôi giải thoát cho nàng hay chính nàng giải thoát cho tôi, cũng không biết nữa. Giờ đây nàng từ phương trời xa lắc trở về đau xót nhìn tôi lần cuối. Hẳn trong lòng nàng vẫn còn ẩn chứa bao nhiêu yêu thương, nghĩa tình và tôi thì đến giờ phút sắp rời bỏ dương thế này không còn chút giận hờn nào nữa. Nguyệt Tỉnh à, ông thầy bói già ở phố Hàng Hành, cũng như bà Hoàng Thị Thế tại Paris chẳng đã có cùng một lời tiên tri cho chúng ta: “khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” đó sao!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:44:25 pm
 
        Nguyễn Hà, con trai tôi giờ đã tròn 50 tuổi, là một tiến sĩ dược có việc làm chắc chắn bên Pháp. Và tôi đã có hai cháu nội. Tôi còn đòi hỏi gì hơn ở con nữa. Con cao lớn, sáng sủa hơn tôi nhiều, con hơn cha nhà có phúc. Con nhớ chăm sóc mẹ chu đáo, đôi khi về thăm lại quê nhà, thắp nén hương cho ông bà, cho cha nghe con.


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26231392_170851280311427_793179832618913159_n.jpg?oh=0a9f55aba78fae35f7beed586487cdd0&oe=5AF76E0A)
Vợ và con trai Giáo sư Nguyên Đình Ngọc tại Pháp (2013)

        Luôn bên tôi không rời từ khi bạo bệnh phát ra, “bản án tử hình” treo lơ lửng, là Trương Thị Mỹ Dung. Cô học trò người Sóc Trăng, sinh năm 1949, ở Đại học Khoa học Sài Gòn trước ngày giải phóng, sau này trở thành bạn đời của tôi. Rồi với nghị lực rất cao, học xong đại học, em làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về toán tối ưu ở Viện Toán học Hà Nội. Em từng đi thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, anh em tổ BPK vẫn nói trêu: cái đề tài toán học về thanh niên xung phong là do tôi đúc kết từ người phụ nữ này ra cả.

        Một người không đến được lúc này, song tôi vẫn cảm thấy có anh bên cạnh, đó là Bùi Trọng Liễu. Vào giữa năm 1981, anh là trưởng đoàn trí thức Việt kiều ở Paris về nước theo lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý cho chính phủ lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Anh đã vào Sài Gòn tìm tôi, đến lúc ấy anh mới hiểu, toán học không phải công việc chính của tôi. Anh bảo: Thế mà... Rồi chúng tôi lại nhìn nhau cười, hệt như ngày ấy khi anh cười chọc tôi giảng “lộn” một bài toán vì thói quen tài tử lên lớp không giáo án. Sau lần gặp ở Sài Gòn anh không về lại quê nhà lần nào nữa vì lý do sức khỏe, vẫn là bệnh phổi từ ngày cùng ở dưỡng đường Sceaux.

        Hoàng Xuân Sính kém tôi 1 tuổi, vẫn trẻ trung, nhanh nhẹn và chị khi rảnh việc ở trường Thăng Long, luôn vào bệnh viện chăm nom tôi tận tình như người ruột thịt. Sau 30-4-1975 gặp chị ở Sài Gòn, chị bảo giờ thì anh Ngọc thỏa sức học, nghiên cứu khoa học rồi nhé. Nói vậy thôi, cùng nghề hiểu nhau lắm. Trong lĩnh vực toán học định ra giải thưởng lớn nhất là giải Fields chỉ dành cho người 40 tuổi trở lại, vì độ tuổi trẻ trung như vậy mới có những sáng tạo đột phá. Dù sao, chị Sính ơi tôi không hề nuối tiếc về sự lựa chọn thời trai trẻ của mình! Chị còn kể, hồi tôi về nước là lúc chị sang Paris bảo vệ luận án tiến sĩ toán học. Alexander Grothendieck trong hội đồng chấm luận án, khi gặp anh vẫn nhắc lại kỷ niệm với Nguyễn Đình Ngọc. Ngày còn chiến tranh anh đã sang Hà Nôi bất chấp báo động máy bay Mỹ quần thảo trên đầu, lần mò tìm đến tận nhà mẹ tôi, ngôn ngữ bất đồng, anh chỉ biết tặng mẹ một nụ cười hồn hậu, tươi tắn cùng cái radio nhỏ. Rời Viện IHES, từ năm 1993 anh không còn lưu dấu địa chỉ bưu điện nữa, sống cô đơn trong một căn nhà nhỏ bên sườn dãy Pyrenees hẻo lánh miền Bắc nước Pháp. Đen giờ không biết cố nhân còn hay mất?

        Em trai, em gái và mọi người trong gia đình các em đến thăm nom tôi thường xuyên. Các em ơi, đến lúc này anh vẫn cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm của người anh trưởng, các em hiểu cho tấm lòng anh nhé!

        Kìa, người bạn thân mến của tôi: Giáo sư Đào Vọng Đức! Ngày ấy tôi mới chuyển ra Hà Nội, đang bộn bề việc, nhưng nghe tin ở Viện Khoa học Việt Nam trên Nghĩa Đô có cuộc thuyết trình “Lý thuyết trường và các hạt cơ bản”, là gác mọi chuyện để lên đấy nghe. Tôi vốn có tính “tham lam”. Hồi ở Pháp đã định theo học thêm ngành Vật lý lý thuyết nữa vì thấy nó hay quá, toàn vận dụng toán học giải các phương trình vật lý, tìm hiểu khám phá các quy luật của tự nhiên, nhưng do đã “chật cứng” ngành học rồi, đành phải thôi. Thuyết trình là Giáo sư, tiến sĩ khoa học Đào Vọng Đức, người từng được đào tạo tại trường nổi danh nhất thời Liên bang Xô viết, Đại học Tổng hợp Lomonosov, về sau đã được bầu vào Viện Hàn lâm Thế giới thứ ba. Không chỉ một buổi, Giáo sư đã thuyết trình nhiều buổi về một chủ đề khó nhưng đầy hấp dẫn như thế và từ đó chúng tôi quen nhau, thân nhau.

        Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, một trưởng phòng của tôi hồi ở Cục Khoa học viễn thông tin học, về sau khi tôi đã nghỉ hưu anh lên cấp tướng lãnh đạo một tổng cục. Người bạn trẻ đôn hậu ấy luôn gần gũi tâm sự cùng tôi. Thọ ơi, em có còn nhớ một lần trong lúc giận dỗi nhất thời, tôi đã nói với em là mất hết cả rồi! Trong giờ phút sinh ly tử biệt này, xin cho được nói lại với em một câu, dường như tôi đã tìm ra câu đó từ một “định lý tổng quát” được chứng minh qua cuộc đời mình cùng bạn bè, người thân, đồng đội, ấy là: Ta được hết, khi ta thực sự yêu quý và hết lòng với cuộc đời này!


Tiêu đề: Re: Đơn tuyến
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Giêng, 2018, 06:46:29 pm
   
*

*       *

        Và, bỗng thấy ánh hào quang nơi Thiên Đường đang ló rạng trước mắt tôi. Rực rỡ, ảo huyền biết bao! Linh hồn tôi sắp bay về nơi ấy. Chợt nhớ đến câu thơ của Lý Bạch do Bùi thi sĩ đã dẫn ra hôm nào: Đời như giấc mộng lớn...


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26804634_170850223644866_1409875672419296834_n.jpg?oh=042ef3ed4f1923bfc21c0a31f8709303&oe=5AF95FBE)
Lễ an táng Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc được tổ chức có tính chất gia đình đã diễn ra đơn giản, trang nghiêm (2006)


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/26731781_170851000311455_936039505034632022_n.jpg?oh=70a2ec5f5502e7864c200cfc99557c74&oe=5AEF1C50)
Tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh, phấn mộ của GS. Nguyễn Đình Ngọc ở ngay bên cạnh phần mộ của Anh hùng Nguyễn Phước Tân (Hai Tân) - người chỉ huy trực tiếp trước đây trong chiến tranh và cũng là người bạn thân của Giáo sư những tháng ngày hòa bình sau này.


VĨ THANH

        Nguồn trích từ các báo:

        “Tin buồn.

        Thiếu tuớng Nguyễn Đình Ngọc sinh ngày 13-8-1932, tại Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Tây, nguyên Bí thư Đảng ủy kiêm Cục trưởng Cục Khoa học viễn thông tin học, Bộ Công an; Phó ban chỉ đạo Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin; Phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Vô tuyến điện tử Việt Nam; Bỉ thư chi bộ Trường Đại học dân lập Thăng Long; Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương chổng Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu Vì An ninh Tổ quốc... sau một thời gian lâm bệnh mặc dù được giáo sư bác sĩ Bệnh viên Trung ương quân đội 108, Bệnh viện 19-8 Bộ Công an và gia đình hết lòng cứu chữa nhưng vì bệnh nặng, đồng chi đã từ trần hồi 8 giờ 56 phút ngày 2-5-2006, tức 5-4 Bỉnh Tuất, tại Bệnh viện 19-8, hưởng thọ 74 tuổi.

        Lễ viếng tổ chức từ 9 giờ 30 ngày 8-5-2006 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu hồi 12 giờ 30 cùng ngày, điện táng tại Đài Hóa thân hoàn vũ, Hà Nội. ”

        “Tro cốt của Giáo sư, Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc đã được đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Táng ở khu K6, dãy thứ hai gần tượng đài, phía sau mộ các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bùi Thiện Ngộ...”

        Những người thế hệ anh Ngọc đã phải trải qua những cảnh éo le, có thể nói là rất đau khổ. Có người tham gia cuộc chiến vì lý tưởng, vì bổn phận, có người vì thời cuộc đưa đẩy, chắc chẳng mấy ai vì công danh. Có Bài ca người lính của F.Lemarque, lời thơ gây rung cảm. Tôi chỉ là “dịch dở” xin tóm lược đại ý vài câu:

        Chàng đi chinh chiến trở thành nguyên soái, đó là mong ước
        Trên đường về, quần áo bẩn đeo vai, chân chàng bước
        Ra đi lúc tuổi đôi mươi: chiến tranh đếm xỉa gì đến tình yêu lứa đôi, lời hẹn ước
        Hết chiến tranh may sống trở về, thôi tạm coi là được...

        Paris, 23-6-2006.” (Trích bài “Cố nhân” đăng tại Pháp của nguyên Giáo sư Đại học Paris Bùi Trọng Liễu).

        “... Cái chết thông thường là bất hạnh. Còn ở anh vẫn coi thường, sống phút nào thì phải tận dụng làm điều có ích. Anh bảo: tôi chết cũng là chơi nốt một trò chơi. Ôi, cái câu lãng mạn và chí lí biết bao!” (Trích “Lời tiễn bạn” của ông Nguyễn Bội Tài, một bạn học Trường Chu Văn An).

HẾT