Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:26:36 AM



Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:26:36 AM
Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2006
Người số hóa: macbupda

(https://lh3.googleusercontent.com/2dQVYk6G0Om78G6aoGZ-VbZZdx5ouK23ijhkgdhD3n_t3yfRTD3c5Yw52rYafiUAq0VeNEPBAF_MqKEFORepoKilnmN2AyXECWkisoRwBPMpSGfkvNaOtZp5LCR34somxbm46-hAdJtYdDx-_Xtg5rm45C7Fdq_03KUh8dvP_kkDuHAx5bIdOE7OD5-xGRRrs8H3D-YmuQo1-_MS32qceWjGHNS_pm9RH07YK0AAJLbfaDgjYdCpRgSxf6X21p7UhE71eeTdpNuvI0yd2nWrJFYbSeCOQJEtUtwAr8fOOIeKXoytdo97Yk1fjCUt4FbC-qLHtyqqqNBoK7c-aBBYCkwvl2vAUs3m2iO9fjFsc7gc3l896D4fWm5bEYqJ-8b4Dg77eO7bQdj4qctsIPapWo2OGU1hfY_jpD280_M4Cxtqah9iH_94cAmJKyofMLjoHb5lKCTMjp-v5i5guI7xz1Kak__fme_k-iNz0NO35vUkvKZSV_iulYVBLV1a8jWFwi4R7ZLIHf8j3Au34HaTQDgPs3tmBO5dMzrQ4ZT8vFg_tJ4_uadsPDPRx8NMyW8ju_Mkf-8uqZxDM9iye6XqVooE6EviUvV2i80G0-pemasOdebfxdpS5H_up6wdNWyIFIe_8JuJr4NeVZpEvme_U8ynAIQk52skfhk=w327-h448-no)

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc đời một con người quá nhỏ bé đối với lịch sử của cả một dân tộc. Nhất là khi dân tộc đó đã trải qua ba cuộc chiến tranh liên tục gần nửa thế kỷ, đánh thắng hai đế quốc to và bọn diệt chủng Pôn Pốt để giành và giữ độc lập tự do, phát triển lớn mạnh như ngày nay.

Hơn nửa đời quân ngũ, tôi công tác ở cơ quan lãnh đạo chỉ huy tối cao của quân đội. Do vậy công tác và tình cảm của tôi gắn liền với các đồng chí lãnh đạo cấp trên và cán bộ toàn quân. Cuốn sách này ghi lại những sự kiện to lớn về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế; về các nhân vật lịch sử, các nhân chứng lịch sử mà tôi được biết, được chứng kiến khi đảm trách nhều cương vị ở từng giai đoạn khác nhau. Đó là những con người và sự kiện làm tôi có tình cảm sâu sắc và biết ơn vì đã có nhiều ảnh hưởng đến suy nghĩ, nhận thức của tôi và cả cuộc đời tôi. Hy vọng quyển sách sẽ cung cấp những tư liệu thú vị để tôi trao đổi thêm với bạn bè và nhất là để cho con cháu đời sau hiểu về quá khứ, rút ra được bài học cho mình nhằm bảo vệ và xây dựng đất nước bền vững lâu dài.,

*
*   *

Vừa sau ngày thắng lợi huy hoàng của dân tộc, giải phóng trọn vẹn miền Nam, thống nhất đất nước, đã xảy ra một sự kiện hết sức bất ngờ không những với nhân dân Việt Nam mà cả đối với thế giới: Tập đoàn “Khơ Me đỏ” do Pôn Pốt cầm đầu nhân dân là người lãnh đạo “Đảng Cộng sản”, người đồng minh chiến lược của Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa mới giành thắng lợi, nay lại đang thực hành chế độ diệt chủng đối với nhân dân Cam-pu-chia và gây chiến chống Việt Nam.

Cuộc chiến tranh này gọi là chiến tranh Biên giới Tây Nam theo cách gọi của chúng tôi đã kéo dài gần 13 năm, hơn cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Muốn xem xét đầy đủ vấn đề này, một hiện tượng lạ đời “hiện tượng Pôn Pốt”, phải xem xét từ cội nguồn phát sinh cho đến khi kết thúc hoàn toàn, Pôn Pốt chết gục cùng sự sụp đổ hoàn toàn cơ ngơi của chúng để nhận một bản án lịch sử thế giới về tội danh diệt chủng và tộ ác gây chiến, mà về bản chất là ngang hàng với phát xít Hít-le. Tôi chỉ xin đóng khung vào chiến tranh biên giới Tây Nam mà tôi đã được chứng kiến tương đối đầy đủ.

Chiến tranh đã lùi xa trong lịch sử và đi vào quên lãng. Tôi là một nhân chứng về sự kiện này. Nay tôi đã qua tuổi 80, tôi muốn viết vài dòng tâm huyết để lại cho đời sau con cháu hiểu được phần nào quá khứ và có những bài học bổ ích cho tương lai trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước và bảo vệ tình đoàn kết thủy chung giữa “ba nước Đông Dương anh em” như Bác Hồ sinh thời đã từng mong ước.

Vì sự việc đã diễn ra quá lâu, sự hiểu biết của tôi còn có hạn, chắc còn nhiều hạn chế, mong các bạn đọc vui lòng góp ý. Qua quyển sách này, tôi muốn tỏ lòng biết ơn rất chân thành và sâu sắc đối với các cán bộ, đảng viên chân chính nay là thành viên trong bộ máy lãnh đạo nhà nước của hoàng gia Cam-pu-chia và đối với nhân dân, Quân đội Cam-pu-chia, đã cộng tác tích cực và nhiệt tình giúp đỡ cho quân tình nguyện và chuyên gia trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, phức tạp giúp chúng tôi có thể vượt qua được để hoàn thành một nhiệm vụ lịch sử vẻ vang.[/i]


Tiêu đề: Re: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:28:32 AM
THỜI NIÊN THIẾU – TUỔI THANH XUÂN

Bố mẹ tôi mồ côi từ bé nên ít nói chuyện về ông bà nội ngoại của tôi. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, tôi lao vào cuộc chiến đấu hơn 50 năm. Từ ngày nghỉ hưu tôi mới thực sự về quê cha tìm hiểu về nguồn gốc của mình. Vì cuộc sống, bố tôi từ Hà Nội, đưa chúng tôi vào Huế từ lúc tôi mới lên 8, nhưng đã luôn dạy cho chúng tôi về quê cha là làng Phương Liệt, Hoàn Long, Hoàng Mai, tỉnh Hà Đông – nay là phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vào trường học cũng như sau này vào bộ đội, tôi luôn ghi trong lý lịch như vậy, mặc dù tôi nói đặc giọng Huế làm cho các cán bộ tổ chức đều ngạc nhiên. May mắn là khi về làng quê tôi tìm được nhà thờ họ Mai, tìm được gia phả dòng họ Mai gốc ở Phương Liệt trong đó có ghi tên bố mẹ và hai anh em tôi. Xem gia phả tôi được biết Cụ tổ họ Mai, cách tôi 12 đời, “hiệu là Phúc Đạt, xuất thân ở Thạch Giản, Nga Sơn, phát tích sông Nhị”, ý nói là thành đạt ở Hà Thành. Tôi hiểu là Cụ có học, ra làm quan ở Hà Nội. Được biết đất đai ở nhà thờ trước kia rộng đến mấy ngàn mét, sau này con cháu bán dần. Có thể Cụ làm chức quan cũng khá nên mới để lại được cơ ngơi như thế. Tôi đi tìm hiểu thêm về Cụ ở Nga Sơn. Không có tài liệu về Cụ, nhưng được biết ở Thanh Hóa có nhiều di tích, tài liệu về nguồn gốc họ Mai và nhiều chi từ đây đã thiên cư đi các tỉnh khác. Cụ tổ của tôi chỉ có tên hiệu, không có tên húy hay tên tự, nên không tìm được mối quan hệ họ hàng với các chi khác ở đây.

Trong mấy năm, tôi đã đi nhiều tỉnh để tìm hiểu rõ hơn nguồn gốc của mình. Qua đó tôi được biết các cụ tổ xa xưa nhất là cụ Mai An Tiêm, thời Hùng Vương, biết được là qua truyền thuyết. Theo lịch sử đã có ghi chép thì có Cụ Mai Thông thời Hai Bà Trưng. Cụ Mai Thông có con là Mai Tiến, lấy vợ là Lê Hoa. Sau khi Mai Tiến bị Tô Định giết hòng cướp vợ, Bà Lê Hoa đem bốn con chạy về quê, bán hết gia sản, chiêu mộ được 2.000 nghĩa quân chống Tô Định ba năm, bị thất bại phải chạy vào Yên Lược – Nga Sơn. Khi cá con đã trưởng thành, Bà đưa cả bốn con về gia nhập nghĩa quân chống Tô Định. Bà cai quản đội nữ binh, cá con đều làm tướng chỉ huy các đội tiên phong(1).

Đến giữa thế kỷ thứ tám lại có Cụ Mai Thúc Loan đã ghi những trang sử ngoan cường chống giặc ngoại xâm của một người lao động bình thường có chí lớn.

Gia phả các dòng họ Mai khác còn ghi:

Cụ Mai Thúc Ứng tham gia nghĩa quân Lam Sơn, thuộc hạng công thần của Vua Lê Thái Tổ.

Cụ Mai Thúc Chí làm tướng Tây Sơn.

Ở Hà Mai có Cụ họ Mai làm quan cuối triều Trần đầu triều Lê, đến đời thứ năm, hai anh em đều làm quận công là tước quan võ cao nhất trong triều. Sau hai cụ có đến tám chín đời nối tiếp làm quận công, có cụ Mai Thế Châu, đời Hậu Lê làm đến đề đốc, đã đem thủy binh lên đánh giặc ở Tuyên Quang và hy sinh trong trận thủy chiến ở Bộc Nhiêu, được truy tặng chức Thái Bảo.

Đời sau này còn có các cụ: Mai Lập Đôn, Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ Bắc Kỳ của Việt Nam Cách mạng đồng chí hội.

Cụ Mai Vinh Quí tham gia nghĩa quân của Bình Định Vương Lê Lợi. Khi Lê Lợi lên ngôi, đã ban cho Cụ Mai Vinh Quí quốc tính, đổi thành họ Lê.

Còn có cụ Mai Xuân Thưởng, lãnh đạo phong trào Cần vương ở Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (7-188-5 – 7-1887).

Những điều đó nói lên họ Mai có truyền thống hiếu học, yêu nước, chống ngoại xâm, có chí khí lớn, thời nào cũng có người lập công lớn với đất nước.

Tôi rất tự hào với dòng họ, nên tôi đền ghị các cụ lão thành ở làng họp bàn viết tiếp gia phả. Tôi được giao viết lại bằng tiếng Việt phả họ Mai Phương Liệt cho đến ngày nay, có bổ sung những nội dung còn thiếu. Tôi đã hoàn thành năm 2002, đồng thời cũng viết xong gia phả của gia đình tôi từ Cụ Mai Xuân Vận, Ông nội tôi.


(1) Theo bia ghi “Giả phả thủy tổ họ Mai” được tỉnh Thanh Hóa công nhận di tích lịch sử cùng với đền thờ bà Lê Thị Hoa, nay đặt trước Ủy ban nhân dân xã Nga Thiên, Nga Sơn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:28:51 AM
Ông nội tôi là Mai Xuân Vận, còn có tên là Mai Doãn Xước, quê ở Phương Liệt, Hoàn Long, Hoàng Mai, tỉnh Hà Đông, nay là phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Cụ được học chữ nho, được bổ nhiệm Chánh cửu phẩn ở Thái Bình, sau làm Xứ mục huyện Kiến Xương, Thái Bình, định cư ở Thái Bình. Cụ là người có đức có tài, được cụ Trần Gia Mỹ, tuần phủ Nam Định yêu mến, gả con gái là Trần Thị Tụy. Ông bà sinh được một trai, hai gái. Bác gái tôi là Mai Thị Ước, bố tôi là Mai Xuân Bá, cô tôi là Mai Thị Kết. Cô tôi mới sinh còn bú mớm thì bà nội mất, bác tôi nuôi cả bôi và cô tôi từ thuở bé. Bác tôi có chồng mất sớm, có một con gái là Hà Thị Nữu cùng tuổi với cô tôi. Sau khi ông nội tôi mất một thời gian, bác đành giao con gái cho nhà chồng rồi đưa hai em và mộ bố mẹ về quê, sau khi lo an táng cho bố mẹ và thu xếp cho hai em có người nuôi dưỡng tử tế rồi mới đi tha phương kiếm sống. Tôi rất biết ơn bác tôi. Sau này tôi rất quan tâm đến chị Nữu và các con cháu.

Sau khi sinh bác tôi một thời gian mà vẫn không sinh tiếp được con trai, ông nội tôi có lấy vợ hai sinh được một con trai là chú Mai Xuân Phan. Sau đó ba năm thì bà nội tôi sinh được bố tôi. Chú Phan đông con cháu, đều trưởng thành, có một em Mai Xuân Diệu là liệt sĩ, em làm chính trị viên đại đội, hy sinh trong chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1977. Hai gia đình từ trước tới nay vẫn giữ quan hệ thân thiết anh em một nhà.

Bố và cô tôi thuở bé được bác họ nuôi nhưng quá cực khổ, được ông cậu em bà nội là cụ Trần Lưu Thành làm tri huyện đem về nuôi cả hai anh em. Cụ Thành là con cụ Trần Gia Mỹ, cháu cụ Trần Gia Chiếu, thượng thư bộ Lễ có công đánh giặc, mộ cụ ở chợ Châu Long được nhà nước công nhận là di tích lịch sử. Cụ làm quan thanh liêm, gia đình đông con (chí người) nên đời sống không dư dật lắm. Bố tôi thuở bé có được đi học, nhưng khó khăn nên phải sớm ra đời kiếm sống.

Mẹ tôi là Lê Thị Kỳ, quê ở phường Phú Hội thành phố Huế, bà ngoại là Tôn Nữ Thị Lựu quê ở Bằng Môn, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Ông bà ngoại mất sớm, mẹ tôi được bà dì là Tôn Nữ Thị An nuôi. Em bà An là bà Bùi Huy Tín, giám đốc nhà in Đắc Lập ở Huế. Cụ Bùi Huy Tín quen thân với cụ Trần Lưu Thành, hai người gả con, cháu nuôi cho nhau, nhờ đó bố mẹ tôi người Bắc người Trung lại gặp nhau nên vợ nên chồng. Bố mẹ sinh được bốn chị em ở Hà Nội, chị đầu mất khi còn nhỏ, anh tôi là Mai Xuân Tảo, em gái tôi là Mai Thị Hương. Để thu nhập được khá hơn, cả nhà di chuyển vào Huế, bố làm thư ký kế toán nhà in Đắc Lập của cụ Bùi Huy Tín, mẹ buôn bán nhỏ ở nhà. Thời gian đầu chỉ đủ ăn và cho các con trai đi học, con gái chưa học xong tiểu học đã phải đi làm với mẹ và đi lấy chồng. Con càng ngày càng đông, mẹ sinh chín lần, chỉ nuôi được bảy. Bốn con đầu là đặt tên là Tảo, Tần, Cần, Kiệm, làm phương châm sống mà vẫn không đủ, chưa có nổi một nếp nhà tranh. Cả nhà phải đi ở thuê, nhưng mấy bà chủ quá khắc nghiệt, chịu không nổi phải dời đi chỗ khác đến 11 lần trong thành phố Huế. Cho đến khi anh tôi đậu bằng Thành chung phải bỏ ngang đi làm, bố mẹ dành dụm được ít tiền, lại gặp may trúng số mới mua được một ngôi nhà lá, nay vẫn giữ làm nơi thờ cúng.

Chẳng may đến năm 1943, nhà in vỡ nợ. Bố tôi mất việc, cuộc sống càng khó khăn. Bố tôi phải đi xa kiếm việc làm, quá vất vả, người gầy gò ốm yếu, suy sinh dưỡng, lâm bệnh, mất sớm lúc mới 53 tuổi. Anh em tôi rất thương bộ mẹ và ân hận không làm gì được để đỡ đần cho gia đình. Lúc đó năm 1953, chúng tôi đã thoát ly gia đình, đang thời chiến tranh. Mẹ tôi làm lụng vất vả, trông già hơn tuổi, vẫn tiếp tục kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ ở nhà như làm thêm cau khô hay gồng gánh đi mua chợ này bán chợ khác nuôi các em ăn học.

Bố mẹ thật hiền lành, hay thương người, không khi nào đánh con cái. Chỉ có một lần tôi làm cháy nhà, bố gọi vào đánh mấy cái thước vào mông mà tôi thấy bố đau hơn là tôi. Đặc biệt bố tôi trong bất cứ việc gì dù là công việc, chăm sóc con cái hay đối xử với bạn bè, hàng xóm, láng giềng cũng đều hết sức chu đáo, cẩn thận. Quanh năm suốt tháng chỉ thấy bố mẹ làm lụng lo cho đàn con ăn học. Họa hoằn mới thấy bố mời hai ba người bạn rất thân đến ăn cơm cùng cả nhà. Những lúc như thế, mẹ làm vài món Bắc, cả nhà cùng ăn rất vui vẻ ấm cúng. Chúng tôi ai cũng thấy thật hạnh phúc, Tuy khó khăn vất vả như vậy mà tôi không khi nào thấy bố mẹ than vãn, cáu gắt hay to tiếng với bất kỳ ai, bà con lối xóm ai cũng thương mến, cùng giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Sau này chúng tôi mới biết khi hai anh em tôi đi hoạt động cách mạng, mọi người trong xóm đều biết nhưng ai cũng giữ bí mật và bảo vệ cho gia đình được an toàn ở trong lòng địch.

Đối với chúng tôi, bố mẹ là một gương sáng về tình nhân ái, về trách nhiệm và tình thương đối với gia đình, về ý chí tự lực tự cường, lao động không mệt mỏi, về lối sống trong sáng, lương thiện, ở trong lòng địch mà không khi nào làm gì cho chúng.

Sau ngày giải phóng gặp lại mẹ, tôi mới biết sau khi bố mất, một mình mẹ cùng em gái đã lấy chồng vẫn ở với mẹ lo nuôi hai em trai và một em gái ăn học đến khi đều đỗ đạt. Em trai lớn là Mai Xuân Kiệm đang học đại học thì bị gọi đi lính. Em nghĩ không thể đứng vào hàng ngũ kẻ thù để đánh lại hai anh mình nên đã tìm cách trốn lính. May nhờ ông thầy thương mới cho sang Pháp học tiếp. Vì không đủ tiền để học nên em phải đi làm kiếm sống, nhờ đó có giúp được mẹ và các em qua buổi khó khăn. Sau này các em đều đỗ đại học và ra làm nghề dạy học cả.

Hai anh em cố gắng làm tròn chữ hiếu với mẹ được hai năm nhưng không cố gắng được hơn nữa vì mẹ đã từ giã chúng tôi ở tuổi tám mươi – Tám mươi năm, một đời mẹ đã nếm trải biết bao nhọc nhằn, chỉ lấy việc lo cho các con thành đạt làm hạnh phúc. Chúng tôi vô cùng biết ơn mẹ, lòng xót xa khi chúng tôi đã thành đạt, có điều kiện lại không được chăm sóc mẹ nữa. Không đền đáp hết công ơn của bố mẹ, tôi dồn cho cô tôi. Đời sống của cô tôi thật sung sướng nhưng cũng thật bất hạnh: cô không có con (do chồng). Có lần cô đã vào Huế xin bố cho tôi làm con nuôi, nhưng tôi không chịu. Trước khi chồng cô qua đời ít lâu, ông đã đến nhà chúng tôi nhằm gửi gắm cô cho chúng tôi. Chúng tôi đón cô về ở chung, phụng dưỡng như mẹ của mình suốt 20 năm. Trong một gia đình lớn “tứ đại đồng đường”, cố sống rất vui vẻ, khỏe mạnh cho đến khi mất, thọ 95 tuổi. Trong họ ai cũng bảo cô lúc nào cũng hạnh phúc nhất và thọ nhất trong họ Mai.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:29:26 AM
*
*   *

Chín tuổi tôi mới học lớp năm (lớp một bây giờ) ở trường Đông Ba vì gia đình tôi mới từ Bắc vào. So với các bạn cùng lớp, tôi có vóc dáng hơi nhỏ con nên đôi khi bị các bạn có tính hung dữ bắt nạt. Còn về học tập, có lẽ do tôi lớn tuổi nên láu lỉnh và tiếp thu nhanh hơn các bạn. Thuở ấy tôi đã gây không ít lo âu cho bố mẹ vì sự vô tư, hồn nhiên, nghịch ngợm “như quỷ” của mình. Tôi còn nhớ như in chuyện có lần trèo lên cây mít bị ngã đau điếng, sau này anh tôi kể lại rằng anh đang ngồi trong nhà chợt nghe một tiếng “bịch” rất to, anh nghĩ:”Chà quả mít to quá!...”. Tai hại hơn là lần tôi xem con gà ấp, tôi muốn đuổi nó đi, bắt nó ra mấy lần nó cũng không sợ, một mực quay lại, bảo vệ ổ trứng của nó. Tính tôi lại muốn làm gì thì tìm cách làm bằng được. Tôi dùng biện pháp mạnh, lấy lửa đốt ổ gà, lửa bốc nhanh lên mái tranh. Bác hàng xóm trông thấy bèn hô to: “Cháy, cháy!”, vưa hô vừa chạy vào dập lửa. Phải mấy bà con bên cạnh đến nữa thì mới dập được lửa. Thật hú vía! Lần đó là lần đầu và cũng là lần cuối bố phạt tội tôi bằng mấy roi thước. Kỷ niệm đó đã để lại trong tâm khảm tôi một dấn ấn không bao giờ phai mờ, luôn nhắc nhở tôi trong suốt cuộc đời về tính chu đáo cận trọng và tránh hồ đồ trong mọi công việc.

Những năm sau, từ lớp ba đến lớp nhất (tiểu học), tôi được chuyển sang trường Kê-nhếch, gần nhà hơn. Tôi vẫn học đều đều mỗi năm một lớp. Thời gian này tôi đã có mấy bạn thân: bạn Xu, Tý, Mường… Chúng tôi đi cùng đường, cùng chơi, cùng học. Sau này, nhiều lần gặp nhau trong công tác, nhắc lại thời thơ ấu, ai cũng vui, như chuyện bạn Xu cứ chiều thứ bảy, tan lớp đã thấy bạn đến nói nhỏ với chúng tôi: “Mình vệ đò đây!”. Chúng tôi hiểu ngay và chia vui với bạn.

Qua bốn năm trung học, tôi học ở trường dân lập Hồ Đức Hàm, rồi trường Việt Anh. Hồi đó chỉ có một trường Quốc học là công lập. Chúng tôi không thể chen chân với các cậu ấm con quan và con nhà giàu. Càng ngày tôi càng nhận ra sở thích của mình – Tôi rất ham đọc truyện: thích nhà văn Nguyễn Công Hoan với tấm lòng sẵn sàng chia sẻ nỗi đau, những bất công mà dân nghèo phải gánh chịu, thích thơ văn trào phúng, hài hước của Tú Xương; thích cái trữ tình, lãng mạn của Xuân diệu và cũng rất thích những người hùng của Lê Văn Trương… Tôi cũng đọc nhiều tác giả nổi tiếng của Pháp, từ đó tôi hiểu và thông cảm với nhân dân Pháp, học cũng mang những nỗi vui buồn như ta, cũng những cái cao đẹp và những thói hư tật xấu, những bất công xã hội như ta. Những văn hào như: Victor Hugo, La Fontaine, Molière và Lamarrtine… đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong tôi.

Tôi cũng bắt đầu cảm thấy bị hấp dẫn bởi các trò thể thao. Tôi có thể chơi đủ các môn; điền kinh, dụng cụ, bơi lội, xe đạp,… Chiều nào, sau giờ học, tôi cũng ghé vào sân vận động Xép bên cạnh cầu Tràng Tiền, tập đến khi thành phố lên đèn mới về. Có ngày chiều đi học về, tôi rủ bạn qua đò ngang đến Phú Văn Lâu đi lên bến tắm, bơi một vòng qua sông Hương rồi mới về. Người ta tổ chức thi môn gì tôi cũng thi, không nhằm đoạt giải mà chỉ để rèn luyện và vui chơi với bạn bè. Trong thể thao, tôi chơi với bạn Khánh rất thân. Khánh hơn tôi một tuổi, học cùng lớp nhưng khác trường. Khánh rất giỏi điền kinh, lại đá bóng giỏi, thân người nở nang rất đẹp. Tôi luôn cố gắng để học tập Khánh về những khoản này. Thời gian sau, Khánh đi học ở Phan Thiết và ra làm huấn luyện viên thể dục thể thao.

Trong các môn học tôi mê nhất là Toán và Lý, đặc biệt là Toán. Trong lớp, dần dần tôi nổi tiếng học giỏi Toán, không ai đuổi kịp tôi. Hè đến tôi mượn tập của các anh lớp trên xem trước, làm hết các bài toán theo sách giáo khoa. Đến khi thầy giảng, tôi nghe kỹ càng hiểu sâu hơn, lại có thời gian làm các bài toán mẫu khó. Tôi tìm các bài toán khó cố giải bằng được. Có lần, gặp bài toán khó quá, làm ba bốn ngày vẫn chưa tìm ra kết quả. Sáng hôm sau, khi mới tỉnh giấc, tôi lại nghĩ đến nó, tự nhiên trong đầu lóe lên một cách giải. Tôi vội ngồi dậy, châm đèn vẽ ra giấy thì tìm thấy ngay đáp án.

Năm đệ tứ ở Huế có hai học sinh giỏi được chọn (được chọn trong tất cả các trường ở Huế) đi tham quan Sài Gòn miễn phí: một là học sinh ở trường Quốc học, một là tôi. Không có áo quần chỉnh tề, tôi phải mượn của bạn Khánh. Một đồng xu dính túi cũng không nhưng tôi cố tỏ vẻ không kém gì ai. Đây là lần du kịch xa nhà đầu tiên của tôi. Chuyến đi thật vui vẻ, thú vị, và tôi có dịp làm quen với nhiều bạn học giỏi từ Bắc chí Nam, được tham qua nhiều cảnh đẹp, mới lạ, thêm Hội chợ, khu Đại thế giới… Sài Gòn thật quả nhộn nhịp so với cảnh yên bình ở Huế.

Trong lớp, thầy Khánh dạy Toán rất quý tôi. Tôi cũng rất thích phương pháp dạy học của thầy. Mỗi lần giảng xong, thầy lần lượt ra một loạt bài vận dụng từ dễ đến khó. Mỗi lần ra đề bài xong thầy để mấy phút rồi hỏi:

- Qui voit? (ý hỏi ai biết).

Thầy nhìn một loạt quanh hết lớp rồi mới nhìn chỗ tôi. Thầy biết nếu cả lớp không ai giơ tay thì cuối cùng tôi sẽ giơ tay. Bằng phương pháp đó thầy đã động viên học sinh thi đua học tốt, ai được lên bảng giải toán cho các bạn xem đều thấy rất vinh dự lại được điểm cao. Về nhà các bạn còn tìm những bài khó đố nhau. Hết năm học, khi ghi học bạ cho tôi, thầy hết lời khen. Thầy viết chữ nhỏ hơn, viết chồng lên mấy ô mà chưa ghi hết ý.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:29:45 AM
Sau này thầy Khánh cũng vào bộ đội. Có nhiều lần thầy là cấp trên trực tiếp của tôi, lúc ở đơn vị, lúc ở cơ quan. Giữa thầy và tôi nay thêm tình đồng chí đồng đội, nhưng tình thầy trò và tình đồng hương vẫn không phai mờ. Anh em cùng công tác với thầy đều rất quý mến thầy. Thầy lâm bệnh vì nhiễm chất độc hóa học khi ở chiến trường nên mất sớm. Anh em cán bộ rất thương tiếc một cán bộ quân sự có tài và rất nhân hậu, gương mẫu.

Học Vật lý tôi thích nhất là giờ thực hành. Ngoài giờ thực hành ở phòng thí nghiệp, tôi thường đem những điều học ở lớp về vận dụng ở nhà. Chương trình học môn điện rất nhiều. Tôi vận dụng những điều đã học để làm hết mọi việc trong nhà như một người thợ điện: từ sửa đồ điện đến lập các mạng điện trong nhà, mắc hay sửa đồ điện cho hợp với điện thế của đường phố.

Thi Thành chung năm 1942-1943, đề thi Toán có hai bài, trong đó có một bài Hình học. Đề thi cho một tứ giác chéo ABCD. Tôi vẽ theo thứ tự đó đã làm mấy phút không ra, tôi vẽ theo thứ tự ACDB thì tìm ngay ra cách giải. Tôi giơ tay xin phép thầy coi thi rồi lên bàn thầy nói:

- Thưa thầy đề thi sai. Thầy mắng:

- Idiot, à votre Place! (Đồ ngốc! Về chỗ).

Tuy biết sai nội quy nhưng sợ các bạn không làm được bài, tôi mới đánh bạo lên cho thầy hay, mong thầy giải thích cho các bạn rõ. Nhưng thầy chẳng màng để ý, tôi đành chịu.

Làm xong bài tôi chưa nộp ngay. Tôi vẽ thêm ra hai tờ nháp, để rộng sang hai bên cho hai bạn ngồi gần xem. Nhưng khổ thay các bạn không hiểu ý nên năm đó toàn trường chỉ có tôi làm đúng hai bài với điểm 19¾ trên 20. Thầy giải thích: “Em đáng được 20 nhưng còn để ¼ là của thầy vì không ai được ngang thầy cả”.

Năm đó khi thi Địa lý Pháp tôi cũng có kỷ niệm. Môn này tôi rất lơ là. Đề thi chỉ gọn một chữ: “Les Alpes” (Hãy nói về dãy núi An-pơ). Tôi cố moi óc để viết cho được 12 dòng không sai để tránh bị “trứng” và vẫn đỗ, vì với Toán – Lỹ tôi đã lấy đủ điểm rồi (hai môn này hệ số cao nhất: 3 và 2). Tôi không nhớ nổi thầy đã giảng những gì. May sao tôi nhớ ra tôi đã đọc truyền “Le Berger” (Người chăn cừu – trên dãy núi An-pơ” (hình như của Anphonse Đauet). Tôi lược trong đầu các đề mục của một bài Địa lý, rồi lần lượt, tôi rút từng điểm trong quyển tiểu thuyết ra để kể. Lúc này tôi chỉ còn mong ông tác giả cứu tinh của tôi đã nói đúng thực tế về núi An-pơ mà không quá hư cấu! Cuối cùng tôi cũng được điểm 10/20.

Trong những năm học trung học tôi có thêm hai bạn mới là Trần Phú Tuyển và Hoàng Quý. Tuyển có chị tên là Hàm, chị đã lớn tuổi, cùng học một lớp, coi chúng tôi như em trai. Ngày nghỉ, chúng tôi thường sang nhà Tuyển chơi, nhà ở Vĩ Dạ ngay bờ sông Hương rất mát, có bến tắm sạch, có thuyền bơi. Vĩ Dạ cũng là nơi rất nên thơ, là điểm hẹn tình yêu của các thi sĩ. Mỗi lần đến chơi, chúng tôi có một chương trình riêng theo ngẫu hứng. Có lần nguyên cả buổi, bọn tôi chỉ có một việc là: Bơi! Một người đề xướng: Hôm nay ta bơi quanh Cồn Hến. Mọi người nhất trí ngay. Chỉ cần có mấy chai nước bỏ lên thuyền đẩy theo, thế là cả ba nhảy ùm xuống sông bắt đầu cuộc hành trình kỳ thú, bơi khoảng hơn ba ki-lô-mét: một vòng qua chợ Dinh rồi vòng lên Đập Đá là về đến nhà. Thỉnh thoảng, chúng tôi chỉ dừng lấy nước uống, không ai chịu thua lên thuyền nghỉ cả. Về nhà vừa đói khát vừa mệt nhưng vẫn cười đùa. Chị Hàm biết ý, đã bày sẵn mấy bát chè ra bàn. Không thấy ai “làm khách” cả, ngồi xuống bàn “giải quyết” ngay.

Sau này Tuyến đi chuyên sâu về lý luận chính trị, rồi làm giám đốc trường Nguyễn Ái Quốc 2,. Tôi gặp lại Tuyển nhiều lần: khi thì ở chiến trường lúc chiến tranh phá hoại ác liệt, khi thì cùng học ở Liên Xô, lại có thời gian dài cùng làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Hoàng Quý thì chuyên sâu ngành Toán. Cả ba anh em Hoàng Chúng, Hoàng Quý, Hoàng Tụy đều giỏi Toán, học cao và trở thành cá giáo sư chuyên dạy học và nghiên cứu về Toán học. Tuy Quý thường làm việc ở hậu phương nhưng chúng tôi thường gặp nhau vì tôi đi đâu rồi cũng quay về Hà Nội, nơi ở của gia đình mình. Đến khi nghỉ hưu, hai người lại cùng ở trong Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi ai đi Hà Nội cũng đến thăm Tuyển và thông báo tin tức cho nhau. Đó là tình bạn chân thật, trong sáng và thủy chung nhất trong tuổi thanh xuân của tôi. Tình bạn ấy đã bền vững suốt cả cuộc đời.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:30:13 AM
Sang năm thứ nhất “Tú tài 1” tôi vẫn học ở Việt Anh. Chương trình Tú tài 1 học hai năm nhưng tôi học một năm đã đi thi vì sang lớp này được thi tự do. Tôi tập trung học để “thi viết”, nếu đậu thì tôi còn ba tháng hè để học “thi vấn đáp”. Đậu phần thi viết rồi tôi cố gắng học ngày học đêm để thi vấn đáp luôn vì môn chính tôi đã vững vàng rồi.

Vào vấn đáp, học sinh rất ngại vì năm này chương trình đổi mới có thêm Lượng giác, Hình không gian cũng đáng gờm, lại gặp ông thầy Tây lạ ở trường khác đến hỏi bài. Đặc biệt thầy không hỏi lý thuyết mà chỉ cho giải toán, trông dáng thầy có vẻ rất “hắc”. Khi tôi vào lớp thấy học sinh ngồi đông nhưng im phăng phắc, chưa ai dám lên “nổ phát pháo đầu tiên”, còn chờ xem rút kinh nghiệm để chuẩn bị một cuộc đấu tranh gay go! Tôi vào ngồi yên chỗ, giơ tay, thầy gọi lên, chỉ trên bàn mấy đề thi để sẵn. Tôi cầm một tờ đưa cho thầy xem rồi thầy đưa lại cho tôi. Tôi ra giữa bảng đen, cầm phấn chép đề thi lên bảng, vừa viết vừa suy nghĩ cách giải, tôi nhận thấy đó là bài toán phương trình lượng giác thuộc dạng tôi đã biết, có thông số phải lưu ý phần biện luận. Kiểm tra đề xong, tôi bắt đầu làm ngay, nói đến đâu viết đến đấy, cuối cùng ghi lời giải và đóng khung lại. Tôi bỏi phấn xuống bảng, đứng thẳng người, nhìn thầy nói:

- Thưa thầy, em xong rồi ạ!

Thầy nói luôn:

- Très bien! Dix sept (Rất tốt, em được 17 điểm).

Tôi đi xuống chỗ ngồi, các bạn nhìn tôi cười, mừng cho tôi. Được điểm đó, tôi thấy vững tâm, quyết thi xong phần vấn đáp luôn. Thế là tôi thực hiện được kế hoạch của mình. Nghỉ hè không phải lo thi nữa.

Nhưng tôi lại có mối lo mới. Anh tôi biết tôi thi xong mới nói chuyện với tôi:

- Bây giờ khó khăn quá, một mình anh không chu cấp nổi cả nhà. Tần nên đi làm để giúp thêm gia đình.

- Anh ạ - Tôi trả lời – Nếu bây giờ em đi làm thì chưa có nghề ngỗng gì, không giúp gia đình được bao nhiêu, kéo dài thế này vẫn khổ. Em đề nghị thế này: Cho em tiếp tục học để có được cái nghề. Em sẽ đi dạy thêm, làm gia sư… đỡ gánh cho anh và giúp thêm chút ít cho gia đình.

Mùa hè đó, tôi bắt đầu dạy thêm. Tôi tập trung được mấy em cùng lớp đến học nhà tôi, ngoài ra còn dạy thêm cho mấy cô gái lớn hơn tại nhà. Mấy em này chỉ học kém tôi có một hai lớp, nghĩa là chỉ kém tôi và ba tuổi. Lúc dạy gọi nhau là thầy trò, nhưng đôi bên còn ngượng ngùng, e thẹn. Em Thu Hương thì có nét nhu mì của cô gái Huế, còn Xu-ri Thọ thì còn bạo hơn “thầy”.

Gần hết hè, tôi nhận làm gia sư để kèm cho các con ông Tôn Thất Tùng, cán bộ kỹ thuật giao thông công chính nhà ở gần trường Quốc học, tôi có thể đi bộ đến trường. Trước trường có bến tắm sạch, chiều chiều tôi có thể ra sông bơi. Tôi phải ở nhà ông Tùng ăn cơm và nhận một món thù lao nhỏ vì phải kèm bốn em có trình độ khác nhau, từ đệ tứ trở xuống. Chỉ ngày chủ nhật tôi mới về thăm nhà, có khi bận cũng thôi. Hàng đêm phải kiểm tra bài, hướng dẫn riêng từng em. Các em trai là Đường, Bằng, Tiêu trình độ yếu, phải mất nhiều thời gian hơn. Em gái là Hà học khá và tiến bộ nhanh. Qua một năm học, tôi đã trở thành người thân trong nhà, ai cũng đối xử rất tốt với thầy nhưng lòng tôi vẫn ngầm giữ mặc cảm, thấy không bình đẳng thoải mái. Điều đó làm cho tôi có chiều sống với nội tâm.

Nghĩ lại, tôi thấy không phải mình không biết rung động, vậy thì sao ở tuổi mười tám, đôi mươi ấy lại không có một mối tình nào? Thật ra, tôi cũng có để ý vài người thật dễ thương, nhưng tôi chỉ coi như em gái, vì tôi nghĩ rằng do hoàn cảnh của mình, tôi không thể lấy ai được. Vì vậy, tình cảm của chúng tôi chỉ dừng ở lại những chuyện thơ mộng mà thôi. Có một việc thấy cần nói ra đây. Một bạn thân của tôi sau ngày giải phóng miền Nam, nói riêng với tôi: “H, em mình, chờ Tần cho đến bây giờ đấy!”. Tôi bất ngờ quá! Tôi có ngờ đâu ngày xưa đến chơi nhà bạn nhiều, coi em như em gái, không ngờ để em hiểu lầm đáng tiếc như vậy.

Đến năm thứ ba trung học (3è secondaire), tôi mặc nhiên được vào học trường Quốc học Huế. Lớp này có hai khoa: Toán và Tiết học (chúng tôi gọi tắt là: “Mát” và “Phi-lô”). Chọn vào khoa nào là đã hướng nghiệp cho đời mình. Học Triết sẽ theo hướng học Luật để ra làm quan. Tôi vốn rất ghét làm quan vì ảnh hưởng hình ảnh quan huyện hoặc quan tham là các vị đại quan liêu, gây ra bất công cho xã hội. Học khoa đó không ra làm quan thì đi học trường thuốc để ra mở bệnh viên tư hoặc nhà thuốc tư. Tôi thì lại không có vốn. Chịu nhục đi “đào mỏ” như một số bạn thì tôi lại càng không ham. Cuối cùng, tôi chọn khoa Toán. Không phải chỉ vì mê Toán mà chủ yếu là tôi thấy nó phù hợp với nguyện vọng của mình: tôi có thể chọn được một nghề tương đối tự do làm ăn lương thiện và thực hiện được hoài bão làm một công trình gì đó để lại cho đời sau.

Khóa học của tôi diễn ra vào thời kỳ đang có chuyển biến lớn. Sự kiện Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) đã cắt niên khóa chúng tôi ra hai thời kỳ có thể thay đổi lớn cả về nhân sự và chương trình học. Thời gian đầu là thầy Pháp và thầy Việt dạy bằng tiếng Pháp. Chương trình có Sử, Địa Pháp, Văn học Pháp, trong lớp có cả học sinh Pháp.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:30:32 AM
Tôi ngồi cạnh một bạn học người Pháp, tôi không thích anh ta vì anh ta học thường thôi nhưng được các thầy thương. Bản thân tôi lại bị một thầy Pháp “trù”. Thầy “B” dạy Sử Pháp, tôi học không chút hứng thú vì nhiều chuyện không chấp nhận được nhất là khi nói đến công lao của nước Pháp đối với Việt Nam. Tôi trả bài kém, thầy “trù”: “Em chỉ học Sử Việt Nam thôi!”. Lần nào đến tiết của thầy tôi cũng bị gọi lên bảng để nhận một điểm kém với lời phê nặng nề làm tôi rất hận.

May các môn chính như: Toán, Lý do thầy Hào, thầy Đôn và thầy Phạm Ái dạy nên tôi vẫn học được tốt.

Khi Nhật đảo chính Pháp, trường chỉ nghỉ một thời gian ngắn lại tiếp tục học. Toàn thầy Việt, dạy bằng tiếng Việt theo sách của giáo sư Hoàng Xuân Hãn soạn. Chúng tôi được thêm thầy Tạ Quang Bửu dạy Lý. Chúng tôi rất ngưỡng mộ học vấn của thầy. Hơn nữa thầy là một nhà trí thức yêu nước, chúng tôi rất tự hào có thêm thầy Bửu vể trường. Chính do mấy tháng học với thầy Bửu mà sau này đã quyết định sự hướng của cả cuộc đời tôi.

Trong lớp này tôi lại gặp hai bạn mới: Lê Văn Chiểu và Trần Kỳ Doanh. Chúng tôi chơi thân với nhau, chơi cùng chơi, học cùng học, nhưng tính nết khác nhau, còn học tập người xưa “Kết nghĩa vườn đào”. Chả là chúng tôi thường ngồi dưới bóng cây đào để học với nhau (gọi là cây đào là gọi theo cách người Huế, ngoài Bắc thì gọi là cây roi). Ra trường ba người đều đỗ cao, tôi đầu sổ. Vào đời, tuy đều vào quân đội, nhưng mỗi người đi một hướng: Chiểu được đi học rồi làm nghề sản xuất súng đạn, Doanh học Hóa rồi chuyên theo ngành Hóa, tôi lại gắn bó sự nghiệp với ngành Tham mưu quân sự. Nhưng chúng tôi vẫn luôn tìm nhau, giúp nhau cùng thành đạt.

*
*   *

Tôi đã trải qua thời niên thiếu và tuổi thanh xuân một cách thật tươi đẹp và thật hạnh phúc. Tôi nhớ trong quyển Quốc văn giáo khoa thư tôi học hồi đó có câu thật đúng với thực trạng gia đình và bản thân tôi:

Trong đầm gì đẹp bằng sen…
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Dòng học, gia đình, học vấn và xã hội đã sinh ra tôi và hun đúc cho tôi một cốt cách riêng từ thuở nhỏ:

Không cam chịu số phận, có ý chí tự lập, vươn lên vượt trên số phận, biết quyết định đúng đắn bằng lý trí, hành động hết mình bằng tình cảm.

Cha mẹ đã cho tôi cái khiếu, học vấn đã bồi dưỡng cho tôi đam mê khoa học, ham học hỏi để tìm chân lý, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Làm gì cũng suy xét chu đáo cẩn trọng, tìm mọi cách cho được hiệu quả tốt nhất, luôn khiêm tốn, không khi nào tự mãn với kết quả đạt được.

Cuộc sống đã cho tôi một tình thương sâu sắc với người cùng cảnh ngộ, một tính cách rất trung thực, rất chân thật.

Ngay từ tuổi thiếu niên đã biết vạch cho mình hướng đi đúng đắn của cuộc sống như các cụ đã dạy: “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Đến tuổi thanh xuân lại biết chọn nghề nghiệp đúng đắn để sống được bằng chính sức lao động và trí tuệ của mình mà không phải đánh mất phẩm chất của bản thân.

Tôi liên tưởng đến một câu thơ của Corneille tôi học từ thời trung học đã nói lên một cách súc tích cảm nghĩ của tôi lúc này:

“La veleur n’attend pas le nombre des annéea”. (Giá trị - con người không tính bằng năm tháng).

Những tính cách đó là hành trang quý báu giúp tôi bước vào đời. Sau này, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, theo từng hoàn cảnh khắc nghiệt mà vinh quang của “Anh bộ đội Cụ Hồ”, chúng lại càng được tôi luyện, phát triển.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:31:10 AM
VÀO ĐỜI TRONG THỜI KỲ KHỞI NGHĨA SÔI ĐỘNG Ở HUẾ

Tôi tốt nghiệp tú tài Toán vào thời kỳ có nhiều biến động lớn. Trên thế giới Hồng quân Liên Xô đã chiếm Béc-lin, phát xít Đức đã thất bại đầu hàng, chiến tranh đang chuyển sang châu Á, phát xít Nhật là đối tượng chính trị bị trừng trị. Trong nước, Nhật đảo chính Pháp, lập chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng đang ở thế thua, chỉ là một quá độ rất mỏng manh. Thành phần có nhiều trí thức, thân sĩ yêu nước tham gia chỉ để làm vỏ bọc đợi thời cơ. Cách mạng đã có ảnh hưởng lớn rộng trong cả nước, Khắp nơi nhân dân đã sẵn sàng đón chờ sự lãnh đạo của cách mạng.

Tôi ra trường không lâu thì được tin ông Phan Anh và thầy Tạ Quang Bửu ra lập Bộ Thanh niên, chuẩn bị mở Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến.

Tôi rất tin thầy Bửu. Đó vừa là một người thầy vừa là một nhà trí thức yêu nước. Thầy bảo: “Đất nước ta sẽ rất cần thanh niên có học, có hiểu biết vể quân sự”. Trường này học xong không bắt buộc làm việc cho chính phủ. Được biết thầy Cao Văn Khánh và mấy anh thuộc Tổng hội Sinh viên và Tổng bộ Việt Minh ở Hà Nội cũng vào học. Tôi quyết định xin vào học. Vào trường khi khai giảng, ông Phan Anh đến nói chuyện cũng bảo: Khi ra trường, không bắt buộc làm việc cho chính phủ. Lại được biết có một tổ Việt Minh lãnh đạo trường. Tôi đã yên tâm và chỉ còn lo tập trung học tập và theo các anh để hoạt động.

Sang tháng 7 năm 1945, toàn trường đã được “Việt Minh hóa”. Anh Phan Tử lăng, hiệu trưởng, nguyên là chỉ huy trung đoàn bảo an binh đồng thời chỉ huy bảo an Trung Kỳ, đã được tiếp xúc với anh Lê Tự Đồng, đại diện Việt Minh Nguyễn Tri Phương, và nhận làm theo yêu cầu của cách mạng, đã cho nhà trưởng sử dụng một số vũ khí huấn luyện dùng trong hoạt động chiến đấu và bảo vệ nhà trường. Vũ khí gồm có súng mút (mousequeton) và một khẩu đại liên Hốt-kít. Vài anh có súng ngắn riêng.

Sau ngày Nhật đầu hàng (13-8-1945), việc học tập của chúng tôi ở tại trường chấm dứt. Trường trở thành một trụ sở của Việt Minh Huế.

Toàn trường đã trở thành lực lượng nòng cốt, lực lượng xung kích đi đầu trong mọi công việc, là chỗ dựa đáng tin cậy của Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế, Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ, của Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám.

Đêm đêm, anh em được phân công đi huấn luyện cho tự vệ. Anh Nguyễn Thế Lương, Trung Lập… tham gia đội AS nhưng chưa có nhiệm vụ đi ám sát. Các anh được giao hàng ngày chèo đò trên sông Hương, vận chuyển máy in, tài liệu… từ Bến Ngự đến Vĩ Dạ rồi ngược lại, theo dõi hành động của quân đội Nhật đề phòng chúng đánh úp ngôi trường đã được Việt Minh hóa. Anh Tôn Thất Hoàng tham gia việc kiểm tra canh gác ban đêm của bảo an binh tại các nhà kiều dân Pháp, kiểm soát các con đò trên sông Hương đêm khuya còn qua lại khu vực nhà trường. Đã có lần chúng tôi bắt giữ một chiếc đò chở vũ khí giấu trong những đồ trang sức rẻ tiền, đang ngược lên nguồn sông Hương.

Ngày 23 tháng 8, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố, đại diện chính quyền cách mạng tuyên bố công nhận sinh viên Trường võ bị Thanh niên tiền tuyến đã tốt nghiệp và chuyển thành cán bộ lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế.

*
*   *

Từ sáng 21 tháng 8, chúng tôi thấy hai anh Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương dậy sớm, nai nịt gọn gàng theo trang phục nhà trường, riêng anh Việt đeo một khẩu súng ổ đạn quay có 6 viên đạn, sau mới biết là “đạn thối”. Các anh mang một bao tải dài cuộn lại bỏ lên hai xe đạp buộc chặt vào tay lái, xong hai người gò lưng đẩy xe đi. Thời gian gần đây chúng tôi đã quen việc các anh ra đi như thế, biết là đi làm nhiệm vụ do Việt Minh Nguyễn Tri Phương giao. Theo nguyên tắc bí mật, chúng tôi ai lo việc nấy, không tò mò hỏi gì. Đến hơn 9 giờ, nghe tiếng ồn ngoài phố, chúng tôi ra xem thấy trên ngọn cột cờ nhìn ra Phú Văn Lâu gần chỗ ở của trường, một lá cờ đỏ sao vàng rất to màu tươi rói đang ngạo nghễ bay phấp phới trước cung Vua. Cả thành phố nhân dân đang hoan hỉ reo hò vui vẻ chưa từng thấy:

- Cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ sao vàng!

- Cách mạng đã về!

- Dân ta đã độc lập, tự do rồi!...


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:31:41 AM
Chiều về anh Việt mới kể lại câu chuyện này. Khi hai anh đang đi đến gần mới thấy cột cờ rất lớn. Nó chiếm một khu vực chừng bốn héc ta. Chân kỳ đài có ba tầng, cao 17,5 mét. Ở giữa là một cột cờ xây bằng bê tông cốt thép. Chu vi cột chừng hai ba người ôm, cao 29,52 mét. Dây kéo cờ là một sợi thừng tròn to bằng cổ tay. Trên ngọn cột cờ có một ròng rọc để đỡ đầu dây. Mỗi lần kéo lên xuống phải dùng sức mạnh của sáu người lính vạm vỡ. Bảo vệ kỳ đài là một tiểu đội lĩnh 12 người, chỉ huy là một “thầy đội”. Gặp thầy đội, anh Việt bảo:

Theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa cách mạng chúng tôi có nhiệm vụ treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ. Các anh cho hạ ngay cờ quẻ ly. Các anh phải thi hành, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Trước uy thế của cách mạng, thầy đội không có một chút phản ứng:

- Dạ, dạ, các ông cứ ra lệnh!

- Anh cho lính xuống đường, giúp ông bạn tôi đẩy hai chiếc xe đạp và cờ lên đây – anh Việt ra lệnh.

Sau đó, lễ kéo cờ được tiến hành theo đúng nghi thức, sáu lính pháo và thầy đội đứng hàng ngang, anh Lương đứng đầu hàng, sáu lính pháo sẵn sàng kéo dây. Anh Việt đứng ngoài hàng ra lệnh hạ cờ, sau đó kéo cờ và giơ tay chào.

Kể đến đây anh Việt còn nói thêm: “Khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng từ từ được kéo lên đỉnh cột cờ, lòng tôi rạo rực, máu trong tôi như sôi lên vì tự hào, phấn khởi hồi hộp”.

Chủ trương treo cờ trước ngày khởi nghĩa có ý nghĩa một cuộc tập dượt và thử thách lớn: qua kết quả cuộc treo cờ, sự ủng hộ nồng nhiệt của quần chúng và phản ứng của đối phương, ta đã có thể đánh giá các cuộc vận động cách mạng đã đi sâu vào quần chúng, đối với chính quyền bù nhìn đã đạt kết quả cao, họ không còn khả năng đối phó. Điều đó càng rõ khi sau này đến ngày làm lễ thoái vị, ông lãnh binh đội cận vệ hoàng gia tìm gặp chúng tôi và nói:

- Hôm nọ, hai ông ra lệnh hạ cờ nhà vua, treo cờ Cách mạng lên cột cờ lớn. Được tin, thi hành nhiệm vụ bảo vệ Hoàng cung, tôi đã cho 120 lính khố vàng nằm rạp dọc thành của Ngọ Môn, chĩa súng vào hai ông. Xin ý kiến Hoàng đế, ngài thét lên và bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy, các người mà nổ súng thì trẫm là người chết trước đó”. Nhờ lệnh ấy mà chúng tôi không bóp cò. Hai ông không biết gì cả. Hôm ấy mà Hoàng đế ra lệnh bóp cò thì hôm nay hai ông không còn nữa và chắc chắn hôm nay tôi và vợ con tôi cũng không còn nữa.

Điều còn cần cân nhắc là cô lập bọn Nhật ra sao? Vào thượng tuần tháng 8, tình hình diễn biến rất nhanh: Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Liên Xô tuyên chiến với Nhật, tiến công Mãn Châu, đội quân Quan Đông bị đánh bại. Ngày 13 tháng 8, nhật đầu hàng, 4.500 quân Nhật ở Việt Nam chỉ còn lo cuốn gói. Thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ngày 23 tháng 8 cuộc khởi nghĩa toàn thành và toàn tỉnh bắt đầu. Trường chúng tôi chia làm ba bộ phận làm nhiệm vụ: Tôi và mấy anh em cùng cán bộ chính trị đi tước vũ khí lực lượng vũ trang và tiếp quản các công sở. Anh Đặng Văn Việt, Ngô Thế Lương đi bắt Ngô Đình Khôi, anh Võ Quang Hồ và Phan Hàm đi bắt Phạm Quỳnh. Số còn lại thành đội ngũ chỉnh tề đi tham gia biểu tình với quần chúng rồi tham dự vào bảo vệ cuộc mít tinh lớn.

Tôi trang phục chỉnh tề, tay đeo băng cờ dỏ sao vàng và mấy anh em tự vệ cùng anh Hoàng Lưu cán bộ chính trị cũng đeo băng cờ đỏ sao vàng, đi giải giáp và tiếp quản Hộ thành, nơi chỉ huy bảo vệ toàn thành nội, sau đó đi tiếp quản các công sở. Đi đến đâu cũng có quần chúng tập hợp đông ủng hộ nhiệt liệt.

Đến gặp ông lãnh binh Hộ thành, anh Lưu nói:

- Chúng tôi thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, đến yêu cầu ông chuyển giao việc bảo vệ Hoàng thành cho cách mạng. Vận nước đã đến, mong các ông vui lòng bàn giao để tránh thảm họa cho cả hai bên.

- Dạ thưa quý ngài – ông lãnh binh nói – chúng tôi đã được lệnh tiếp nhận quý ngài để bàn giao êm thấm. Xin quý ngài cứ tiến hành.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:32:00 AM
Từ đó chúng tôi tỏa đi tiếp quản hết các cửa lớn của Hoàng thành giao cho tự vệ các phường, rồi đi tiếp quản Tam Tòa là văn phòng, nơi làm việc của Nội các, ở đây chỉ có một số nhân viên trực chờ bàn giao, sau đó đi tiếp quản Lục bộ là nơi làm việc của cá Bộ cũng vậy, đều tiến hành thuận lợi. Làm đến đâu chúng tôi niêm phong, thu chìa khóa để giao lại cho Ủy ban khởi nghĩa, rồi giao cho tự vệ trông nom. Các cơ quan quan trọng như Hoàng cung do nhà trường tạm thời bảo vệ.

Theo anh Đặng Văn Việt kể, anh cùng anh Nguyễn Thế Lương vào đồn bảo an binh lấy một xe ô tô. Cùng đi có thêm hai anh Trường Thanh niên tiền tuyến. Đến dinh cơ của họ Ngô, anh Việt và anh Lương vào thẳng nhà chính, lúc ấy khoảng 11 giờ trưa, bố con ông Ngô Đình Khôi đang ăn cơm. Thấy mấy người trang phục chỉnh tề, tay đeo băng cờ đỏ sao vàng, hai bố con đứng dậy ra đón. Anh Việt đưa tay chào theo kiểu nhà binh, đưa một phong thư và nói:

- Vâng lệnh Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế, tôi đến mời hai ông lên gặp Ủy ban khởi nghĩa. Xin mời, xe đã sẵn sàng!

- Dạ, dạ, xin vâng, vì đang ăn dở, xin phép ăn nốt bát cơm!

Sau bữa cơm, hai bố con vào mặc áo the, khăn đóng chỉnh tề ra xe.

Các anh không về Ủy ban khởi nghĩa mà theo kế hoạch đưa thẳng đến nhà giam Phủ Doãn, bàn giao, ký giấy tờ đầy đủ mới ra về.

Nhóm anh Võ Quang Hồ và Phan Hàm cũng hoàn thành nhiệm vụ bắt ông Phạm Quỳnh về tập trung ở nhà giam Phủ Doãn.

Đến chiều, về thực tế, việc giành chính quyền đã xong, kể cả ở các địa phương, ở đâu mọi việc cũng diễn ra thuận lợi, không đổ máu. Đó là kết quả rất to lớn của công tác vận động cách mạng của tổ chức Việt Minh Nguyễn Tri Phương, sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế.

Ngày 23 tháng 8, hàng vạn người ở cố đô Huế đổ ra đường và các vùng lân cận kéo về, mang cờ đỏ sao vàng tuần hành rầm rộ, diễu qua các đường phố. Đi đầu đoàn diễu hành là đoàn quân của Trường Thanh niên tiền tuyến, với quân phục, trang bị súng ống, đội ngũ chỉnh tề. Sau mấy tháng hoạt động, nhân dân thành phố đã hiểu nhiều về các anh lính trẻ này. Họ đều là con em các gia đình trong phố, có văn hóa và có đạo đức, chưa khi nào làm một điều gì gây thiệt hại hay làm mất lòng dân, đã được nhân dân quý mến. Nay lại thấy họ đều nằm trong đội ngũ của lực lượng vũ trang cách mạng, đã có mặt cùng nhân dân trong những ngày trọng đại này. Ai cũng thấy lòng tự hào dân tộc sâu sắc và lòng tin mãnh liệt đối với cách mạng đã đem lại sự đổi thay thực sự cho cuộc sống ngột ngạt trước đó. Đi đến đâu, đoàn quân cũng được nhân dân tụ tập hai bên đường, vẫy cờ chào rất vui vẻ, sôi nổi. Anh em trong hàng quân cũng cảm thấy nhân dân ta đang bước vào một cuộc đời mới, thấy một điều gì thật lớn lao, cao cả đang diễn ra, xúc động không cầm được nước mắt.

Đoàn diễu hành của quần chúng đi về tập trung ở Si-tát Huế để dự cuộc mít tinh lớn biểu dương lực lượng và làm lễ ra mặt Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ, Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế cùng chính quyền lâm thời Thừa Thiên – Huế. Đội ngũ của nhà trường làm đội danh dự và bảo vệ mít tinh. Sau khi an tổ chức tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, đại diện chính quyền cách mạng đọc diễn văn và tuyên bố từ nay chính quyền về tay nhân dân, tiếng vỗ tay rào rào kéo dài, khẩu hiệu hô vang trời dậy đất.

Ngày 25 tháng 8, Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Ngày 31 tháng 8, lễ thoái vị, giao ấn kiếm của hoàng triều, tổ chức trên cửa Ngọ Môn. Đồng chí Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ Trung ương vào nhận.

Lễ được tổ chức long trọng và cảm động, có quần chúng và Trường Thanh niên tiền tuyến làm đội danh dự đứng ở bãi giữa cột cờ và Ngọ Môn. Trước khi làm lễ cho kéo cờ quẻ ly lên lại, vua Bảo Đại đọc tuyên ngôn thoái vị có câu: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lê”. Lễ kéo cờ quẻ ly xuống rồi kéo cờ đỏ sao vàng lên đã thể hiện từ nay một chế độ hoàn toàn mới đã thay thế cho một chế độ cũ đã lỗi thời. Mọi người tham dự lễ đều cảm nhận một cách cụ thể và dứt khoát sự thay đổi từ chế độ thực dân phong kiến tàn bạo, độc đoán, bất công sang chế độ cộng hòa, dân chủ, văn minh, tiến bộ. Sau hàng ngàn năm bị đè nén, nay dân ta đã được độc lập, tự do, đã thật sự đổi đời rồi!


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:32:38 AM
*
*   *

Ngày 29 tháng 8, một toán quân Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, gần ga xe lửa cách Huế độ 20 ki-lô-mét, phía Tây Bắc. Dư luận Huế rất xôn xao. Anh Phan Tử Lăng lúc này với chức mới là Ủy viên quân sự giúp đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên trưởng quân sự Trung Bộ, được phái đi gặp toán này vì họ xưng danh là “Phái bộ Đồng minh”. Anh Lăng lây thêm một số anh em sinh viên, trong đó có anh Nguyễn Trung Lập, anh Đặng Văn Châu. Khi về, các anh kể lại chuyến đi với thái độ rất ấm ức. Toán quân nhảy dù xuống Hiền Sĩ gồm có năm sĩ quan Pháp và một quản đội. Chúng tự nhận là phái bộ Đồng minh và đòi được đưa về gặp chức sắc trong triều đìn (Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi). Khi gặp chúng, anh Lăng tự giới thiệu là phái viên của Chính phủ ta, thì tên chỉ huy nói rất láo xược: “Một cái chính phủ kỳ quặc”. Thật láo quá! Tất cả anh em chúng tôi đều sục sôi căm thù và cho đây là bọn thực dân Pháp đội lốt Đồng minh để trở lại xâm lược.

Một cuộc họp cấp tốc những anh em có mặt ở nhà đã được triệu tập. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí cần phải nhanh chóng tóm gọn bọn này. Vì tình hình khẩn trương không thể đợi lệnh của anh Phan Tử Lăng đang đi báo cáo với Ủy ban quân sự, theo đề nghị của anh Nguyễn Trung Lập, anh Nguyễn Thế Lương được bầu chỉ huy “trận đánh”. Một kế hoạch chớp nhoáng được đặt ra dưới sự nhất trí cao: lấy cớ đem thư trả lời của Chính quyền, chớp thời cơ bất ngờ bắt gọn bọn này. Anh Lê Thiệu Huy được phân công mang thư và cầm cờ đỏ sao vàng. Các anh em khác lặng lẽ bao vây ngôi nhà ở của chúng khi anh Huy nói bằng tiếng Pháp, đại ý: “Thừa lệnh của Chính quyền, chúng tôi đến đưa thư trả lời cho các ông và đón các ông về Huế”. Các anh Châu và Diên được phân công đi mượn xe.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày hôm đó, chúng tôi lên xe xuất phát. Xe chạy hơi than, ọc ạch không tới 20 ki-lô-mét một giờ, chúng tôi “bị rang cà phê” mệt lử, nhưng rất vui. Đến sông Cổ Bi, xe không qua cầu được, chúng tôi xuống xe đi bộ khoảng một ki-lô-mét còn lại, đi hàng hai, bước đều vừa đi vừa hát.

Lúc 4 giờ chiều, đoàn đã đến cổng ngôi nhà ở của chúng. Nhà có ba gian xây gạch, chỉ gian giữa có cửa ra vào, còn hai gian kia chỉ có cửa sổ nhìn ra sân. Chúng tôi đã nhìn thấy năm người Âu đang ngồi ở trước thềm nhà. Thấy chúng tôi họ đứng dậy ngơ ngác…

Anh Thế Lương hô: “Đứng lại!”. Đoàn quân đứng “rộp” lại trong sân dọc theo ngôi nhà gạch. Theo đúng kế hoạch, anh Huy vừa chìa thư vừa nói dõng dạ câu tiếng Pháp đại ý: “Nhân dân Ủy ban cách mạng Trung Bộ, tôi giao cho ông một bức thư”. Trong lúc đó, anh em lặng lẽ tản ra bao vây ngôi nhà. Người Âu thứ sáu tay cầm chiếc mũ nghe điện đài từ trong nhà ra nhập bọn. Trong lúc chúng hăm hở thì anh Thế Lương hô to: “Giơ tay lên”, lúc này anh em đã vây chặt chúng lại. Một tiếng súng nổ vì cướp có. Cả sáu tên đều nhất loạt đưa thẳng tay lên trời, mặt tái mét. Sau khi kiểm tra thấy chúng không mang vũ khí, chúng tôi dẫn chúng xuống sân sau bếp bắt quay mặt vào hàng rào trước mũi súng canh chừng của sáu sinh viên. Số anh em còn lại được phân công vào nhà thu vũ khí, phương tiện, thông tin, điện đại, tài liệu, các thỏi bạc và tiền…; không lấy quần áo và đồ dùng cá nhân. Chúng tôi đều thực hiện đúng quy định.

Tất cả chiến lợi phẩm được chuyển ra xe. Trong cặp tài liệu thấy có một công vụ lệnh, tôi cùng mấy anh xum lại xem nội dung như sau:

“Mật lệnh:

Quan tư Castella có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI), để tổ chức chiếm lại các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam.

Tất các FFE và FFI đều phải đặt dưới quyền chỉ huy của quan tự Castella. De Gaulle”.

Chúng tôi phổ biến cho chính quyền xã biết chúng là tù binh nguy hiểm, yêu cầu địa phương vẫn cho ăn uống tử tế nhưng phải giam trong nhà và canh gác cẩn thận, sẽ có lệnh của tỉnh sau. Chúng tôi ra về trong không khí rất hân hoan. Về đến nhà, vừa mới ăn cơm xong chưa kịp nghỉ ngơi đã được tin anh Phan Tử Lăng xuống trường. Chúng tôi vội ăn mặc chỉnh tề, tập trung ra phòng họp làm việc nay. Anh phê bình chúng tôi sao chưa báo cáo đã hành động! Nhưng anh công nhận là chúng tôi đã đánh giá đúng địch nên không truy cứu và thông báo cho chúng tôi biết Ủy ban quân sự đã lệnh cho đưa sáu tù binh đó vào trại giam.

Sau này, Cục Quân báo của ta có tài liệu cho biết Pháp có kế hoạch gọi là “kế hoạch 5 điểm” của Lơ Cléc, tướng bốn sao, Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nhằm khôi phục lại nền thống trị thực dân của chúng trong thời gian ngắn, trong đó có ba toán nhảy dù xuống ba miền, toán xuống Hiền Sĩ là một. Nếu ta chỉ chậm vài ngày, chúng có thể liên lạc với 500 tên Pháp còn bị giam ở trường Thiên Hựu (Providence) với 4.500 tên Nhật còn ở Mang Cá cùng các công chức cũ vẫn còn nguyên thì chính quyền cách mạng mới hình thành sẽ gặp vô vàn khó khăn không lường trước được. Trường Thanh niên tiền tuyến đã lập được một chiến công đầu quan trọng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:33:02 AM
*
*   *

Sau khi giành được chính quyền, trường vẫn giữ nguyên vẹn nhưng mang tên mới là Trường võ bị Thuận Hóa – tuy vậy, nhân dân vẫn quen gọi tên cũ là Thanh niên tiền tuyến – thuộc sự lãnh đạo trực tiếp vừa của Xứ, vừa của Tỉnh. Đồng chí Nguyễn Chánh là Ủy trưởng Quân sự Trung Bộ và ba đồng chí phó là: Phan Tử Lăng, Trần Công Khanh và Cao Thanh Trà. Đồng chí Lê Tự Đồng là Ủy trưởng Quân sự của Tỉnh.

Sau lần đi bắt Tây ở Hiền Sĩ về, anh em thống nhất nên cử người điều khiển công việc chung và bầu anh Phan Hàm làm Chủ tịch, anh Cao Văn Khánh làm Phó Chủ tịch Ban Giải phóng quân. Hôm sau anh Plhan Tử Lăng xuống giao cho chúng tôi nhiệm vụ đứng ra tổ chức Giải phóng quân Thuận Hóa.

Để thực hiện nhiệm vụ mới, sau ngày Hoàng triều làm lễ thoái vị và giao ấn kiếm, chúng tôi chuyển trụ sở sang Trường Quốc học. Nhân ngày tựu trường, theo lời kêu gọi “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”, anh em học sinh tình nguyện tòng quân rất đông. Lòng yêu nước, khát khao độc lập chưa bao giờ cao như vậy. Đặc biệt đồng bào Huế rất có cảm tình với anh em Thanh niên tiền tuyến vì đây là những thanh niên có học thức, có tư cách đạo đức. Nay thấy họ đều đi Giải phóng quân nên cũng lôi cuốn nhiều người làm theo. Đặc điểm của giải phóng quân Thuận Hóa trong đợt đầu tiên này là học vấn rất cao, không thiếu gì tú tài, cử nhân. Tôi coi như nhập ngũ ngày đó.

Ngoài chủ tịch và phó chủ tịch đã có, các anh cử thêm một số ngành: quân báo do anh Nguyễn Thế Lương phụ trách, công binh là anh Đào Hữu Liêu, quân giới là anh Võ Sum, thông tin liên lạc là anh Ngô Đức Thọ. Các ngành khác phải bổ sung dần về sau.

Về tổ chức, lập ra từng phân đội (trung đội), trực thuộc Ban Giải phóng quân, mỗi phân đội 38 người gồm ba tiểu đội 12 người. Phân đội trưởng do anh em Tiền tuyến đảm nhiệm, còn cán bộ phân đội phó và tiểu đội trưởng thì bầu chọn những người có “tư thế” hơn để giao. Chỉ trong tháng đầu đã tổ chức được 25 trung đội. Anh em rất hăng hái, có đơn vị mới tổ chức xong là ra huấn luyện ngay đội ngũ, bắn súng… Chỉ trong một thời gian ngắn đã đi vào nền nếp.

Súng lấy thêm ở đồn bảo an, kho bảo an, kho lính khố vàng không đủ. Theo nhân dân báo tin ở Mang Cá có kho súng do Nhật đang giữ, sau khi anh Nguyễn Trung Lập rất táo bạo vào kho để trinh sát biết chắc có nhiều súng, anh Khánh mới tổ chức anh em đưa xe đi lấy về. Một lần khác lại được tin có chín cái hầm đạn của Nhật ở khu đồi phía Tây Huế, ta phải huy động nhiều xe của dân chở anh em giải phóng quân vào vác đạn, làm quên ăn quên ngủ chuyển hết về kho quân giới. Đây là nguồn cung cấp trang bị cho những ngày đầu giải phóng quân Thuận Hóa.

Về ăn uống, chúng tôi chỉ biết đề ra số người ăn, còn làm thế nào để có cái ăn thì hoàn toàn do các chọ Võ Thị Thể, Phan Thị Cúc Hoa, Ngô Thị Chính và chị em bên Trường Đồng Khánh liên hệ với địa phương giải quyết. Chỉ biết có một điều, nhờ sự chăm sóc của quý chị, chúng tôi được ăn rất ngon, hợp khẩu vị.

Về việc ở trú quân lại rất đơn giản: lập xong trung đội nào thì giao cho trung đội trưởng đưa về các địa phương tập luyện và được đồng bào, đồng chí các nơi tập tình giúp đỡ, địa phương sẵn sàng lo liệu

Một thời gian sau, hai anh Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Chánh đến thăm và nói chuyện với anh em Thanh niên tiền tuyến. Các anh biểu dương những cố gắng và thành tích của anh em, nhất là tinh thần đoàn kết, chủ động tham gia xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Các anh chỉ thị cần thống nhất tổ chức Ban Giải phóng quân của anh em vào Ủy ban quân sự của tỉnh và giới thiệu anh Lê Tự Đồng là Ủy trưởng quân sự của tỉnh. Tháng 10 năm 1945, Ban Giải phóng quân nhập vào Ban chỉ huy quân sự Thừa Thên – Huế và chuyển trụ sở về đồn Phan Đình Phùng gần tòa Khâm cũ.

Khi có yêu cầu của Trung ương, Ban Giải phóng quân đã tổ chức các đoàn Nam tiến, lần lượt cử đi 12 trung đội vào tham chiến trên hai mặt trận Sài Gòn và Nha Trang, mở đầu phong trào Nam tiến của Giải phóng quân Thừa Thiên – Huế. Sau khi mặt trận Nha Trang vỡ (Tết 1945), các trung đội đã phân tán đi nhiều nơi làm nòng cốt cho các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phan Rang, Phan Thiết. Có một số trung đội sang giúp bạn Lào, trong đó có trung đội 14 do tôi làm trung đội trưởng. Có một số anh đã ngã xuống ở các chiến trường. Anh Lê Thiệu Huy, anh Lương Phan Ngọc, anh Võ Ngân, anh Nguyễn Văn Tải, anh Nguyễn Trung Lập, anh Từ Bộ Cam (mất tích)… Trừ một số rất ít rơi rớt do hoàn cảnh, còn hầu hết đều tham gia hai cuộc kháng chiến, tám anh được phong tướng: Cao Văn Khánh là Trung tướng; Phan Hàm, Nguyễn Thế Lương, Nguyễn Thế Lâm, tôi (Mai Xuân Tần), Đoàn Huyên, Võ Quang Hồ, Đào Hữu Liêu là Thiếu tướng.

Tôi vào đời như thế. Đỗ thủ khoa tú tài Toán, tôi có thể chọn con đường học đại học theo ý muốn để đạt ước mơ của tuổi trẻ, nhưng tôi đã rẽ ngang đi theo cách mạng, theo cuộc đời binh nghiệp. trước mắt tôi, con đường khói lửa, khốc liệt còn chờ đợi. Nhưng trong khí thế Cách mạng tháng Tám, tôi vẫn dấn thân với lòng trai trẻ phơi phới niềm tin. Tôi đã chọn đúng hướng, không chút do dự, không hề nuối tiếc.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:34:04 AM
*
*   *

Từ ngày đầu thành lập Giải phóng quân Thuận Hóa (1-9-1945), tôi đã cùng anh Đoàn Huyên xây dựng Trung đội 3 (lúc đó gọi là phân đội) nhằm xây dựng cho nhanh để đi chiến đấu. Sau độ ba tuần huấn luyện, đơn vị đã đi vào nền nếp, các kỹ thuật chiến đấu đã tương đối khá thì được lệnh về tập trung chuẩn bị Nam tiến. Tôi được phân về làm Trung đội trưởng Trung đội 14.

Tôi đưa đên vị lên đóng quân ở Phò Trạch, Cổ Bi, gần Hiền Sĩ, nơi ta đã bắt bọn Tây nhảy dù. Ở đây gần đường tàu, phía Tây có khu rừng, cần đề phòng bọn biệt kích có thể xâm nhập vào thành phố. Vùng này đất sỏi có nhiều lùm cây thuận tiện để huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật tổ, tiểu đội, lại ở gần sông Cổ Bi tiện cho sinh hoạt và nấu ăn.

Thành phần Trung đội 14 ít học sinh hơn, có một số công chức và cựu binh sĩ đã đứng tuổi, nay tình nguyện nhập ngũ. Tôi chọn được anh Vui làm phó. Anh này trước làm văn phòng, tính chân thật, cẩn trọng. Kỳ này biên chế có chính trị viên, do anh Công trước là học sinh phụ trách vì anh đã được học chính trị 15 ngày. Có một anh tên là Bi đã làm y tá. Tôi sắm cho anh một túi thuốc và các dụng cụ y tế, giao cho anh lo chăm sóc sức khỏe và ăn uống cho anh em. Ngoài ba tiểu đội trưởng tôi chọn rất cẩn thận, tôi còn phát hiện anh Xuyên đã từng giữ trung liên, tôi bố trí thêm hai anh giao cho anh Xuyên huấn luyện để lập một tổ hỏa lực chủ yếu của trung đội, khi chiến đấu có thể thay nhau sử dụng khẩu trung liên độc nhất của trung đội. Tôi vẫn giữ khẩu cácbin lấy được trong lần bắt Tây ở Hiền Sĩ. Lần đó, chúng tôi thu được sáu braoning, sáu cácbin và một thùng lựu đạn. Tôi cũng như mọi người đều thích có một khẩu braoning, nhưng tôi cùng một số anh em cùng mới ra trường là nhỏ tuổi nhất, tôi biết thân phận nên chỉ xin giữ một khẩu cácbin để chiến đấu, vì nó bắn rất chính xác, nhiều đạn. Tôi đã tranh thủ tập bắn đạn thật rồi. Lựa chọn của tôi là chính xác vì sau này trong chiến đấu, tôi đã có dịp dùng cácbin diệt một tên giữ trung liên của địch để yểm hộ cho bộ đội xung phong.

Tôi tranh thủ thời gian để huấn luyện cho bộ đội, mong sao khi có lệnh đưa anh em đi chiến đấu, bộ đội sẽ khá về kỹ thuật chiến đấu và chiến thuật của tổ, tiểu đội. Biết rằng kinh nghiệm của mình còn quá ít, tôi kiếm được quyển sách huấn luyện cho tiểu đội của Pháp (Manuel du gradé; sách cho cai đội) để dựa vào đó mà huấn luyện. Cuối năm 1945, tôi nhận được lệnh đưa trung đội đi làm nhiệm vụ ở nước bạn Lào.

Lúc này đã có Mặt trận Đường 9 mới thành lập, do anh Đặng Văn Việt làm chỉ huy trưởng, nhưng chỉ mới có hai trung đội đang chiến đấu, trung đội của tôi lên nữa là ba. Về địch có một toán sĩ quan pháp lẩn tránh trong rừng phía Tây, nay thâm nhập tập hợp tàn quân ngụy Lào, liên lạc với bọn phản động tà xẻng mại bản(1) để lập lại chính quyền đô hộ ở Lào. Bộ phận vào sâu nhất đã đến Mường Phìn. Chúng đang tìm cách phát triển về Sê Pôn, nơi đang đóng sở chỉ huy của mặt trận. Sê Pôn là một thị trấn nhưng chỉ có độ mười nhà gạch, còn lại là nhà sàn của dân, nằm bên bờ sông Thác Thộn, là một đầu mối giao thông quan trọng, cách biên giới Lao Bảo của ta độ 30 ki-lô-mét. Chung quanh Sê Pôn có rừng và cỏ dại rậm rạp, là một vùng còn sốt rét nặng. Bộ đội lên trước đã bị sốt rét nhiều, ảnh hưởng lớn đến chiến đấu, nhưng ta chưa có tổ chức phòng bệnh tốt.

Lúc nhận nhiệm vụ, tôi coi việc đi đánh Pháp ở Lào là một nhiệm vụ của mình vì lúc bắt bọn Tây ở Hiền Sĩ, chúng tôi đã biết chúng có âm mưu trở lại cai trị nước ta. Bọn Castella đã bị bắt, nhưng nay bọn Pháp ở Lào, nếu chúng ra Sê Pôn thì chẳng mấy chốc chúng sẽ đến Lao Bảo. Vậy đối với người lính cách mạng thì “Ở đâu có giặc là ta cứ đi”.

Đối với bộ đội, tôi cũng không phải làm công tác tư tưởng dài dòng. Anh em vào bộ đội đi chiến đấu là hoàn toàn tình nguyện, đã sẵn sàng tinh thần đi đánh giặc. Không khí cách mạng, tinh thần Cách mạng tháng Tám đang hừng hực, trong khi đó quân giặc là kẻ thù chung của ta với Lào, uy hiếp biên cương của ta, việc đi làm nhiệm vụ ở Lào được bộ đội thông suốt rất nhanh. Ngồi xe trên đường ra Quảng Trị, qua Lao Bảo, trước quang cảnh thanh bình, núi rừng hiểm trở, cảnh đẹp hùng vỉ, anh em rất phấn chấn, ca hát suốt dọc đường, rất vui.

Khi chúng tôi lên đến nơi thì cuộc chiến đang diễn ra. Tôi chưa được gặp mặt chỉ huy của hai đơn vị bạn, chỉ gặp chỉ huy trưởng là anh Đặng Văn Việt để nhận nhiệm vụ. Tuy đã mấy tháng không gặp nhau, nhưng anh chưa thay đổi mấy vì anh mới từ Trường Quân chính liên đây. Anh thông báo tình hình và cho biết hiện đang triển khai đánh Kèng Khang. Trung đội 14 mới lên cho về vị trí nghỉ ngơi làm dự bị. Thông tin chỉ có liên lạc chạy chân. Mọi mệnh lệnh sẽ giao bằng giấy, có tình huống về địch tại chỗ thì tự xử trí và báo cáo, trung đội phụ trách kiểm soát khu vực phía Bắc Sê Pôn.

Tôi được biết thời gian qua có trận ta thắng nhưng không gọn. có trận ta chủ quan để bộ đội ngủ trên nhà sàn, canh gác lơ là, bị địch đánh bất ngờ. Thông tin này đã cho tôi những bài học đầu tiên. Mới đến chỗ ở thì trời tối, được chỉ định tạm nghỉ ở một nhà sàn vắng chủ, tôi phải cho quét dọn dưới nhà, ngoài sân vườn, phân chia khu vực ở và canh gác rồi cho bộ đội nghỉ.

Tôi giữ trách nhiệm chỉ huy nên chưa dám phân cho ai trực thay. Bộ đội ngủ không màn lại nhiều muỗi, anh em trăn trở mãi. Tôi cũng thao thức không ngủ được. Sáng hôm sau, mới biết tin một trung đội ta gặp địch phục kích nhưng không có cách gì điều động trung đội của tôi đến phối hợp được, thật đáng tiếc. Sau một thời gian gắn, chúng tôi đã cùng bạn quét hết địch ở Sê Pôn. Chúng tôi vừa giúp bạn tổ chức nắm dân, lùng quét địch, vừa chuẩn bị đánh địch co về Mường Phìn, Đồng Hến.


(1) Như chánh tổng, lý trưởng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:34:39 AM
Trận Mường Phìn là trận đánh lớn lúc bấy giờ vì dùng toàn bộ lực lượng của ta hiện có. Nhưng ta còn ấu trĩ: mục tiêu rộng, quân ta ở xa khoảng 20 ki-lô-mét, cán bộ không đi trinh sát, ban chỉ huy chỉ họp tổ chức hiệp đồng sơ sài trên sơ đồ, ba trung đội chia ba đường từ xa hợp vây cùng đánh một mục tiêu vào giờ G ngày N. Có thể nói là trận đánh của một đại đội mà tổ chức như một chiến dịch.

Trung đội tôi hành quân bằng cơ giới. Gần ba mươi người trên một chiếc xe, đi hơn 15 ki-lô-mét trên đường 9 rồi đổ quân xuống đường, đi theo đường mòn nhờ một người dân dẫn đường, gần sáng đến một con suối cạn đã thấy mục tiêu từ xa, tôi cho người dân về rồi tự tổ chức tiếp cận, vừa đi vừa nắm tình hình địch. Khi đã quan sát rõ mục tiêu, tôi cho dừng lại chuẩn bị giao nhiệm vụ. Đột nhiên tiếng súng nổ ra sau lưng tôi. “Ta bị phản kích chăng?”. Tôi thầm nghĩ rồi ra lệnh cho trung đội tản ra sẵn sàng chiến đấu, có lệnh mới nổ súng. Tôi còn đề phòng có sự nhầm lẫn. Tiểu đội 3 cảnh giới phía sau cho một tổ đi quay ra sau trinh sát và báo cáo. Tôi vừa bước lên thì bị trượt chân, khẩu cácbin tuột khỏi vai, đầu súng bị bít hết lấm bùn bê bết. Tôi xót xa và xấu hổ không dám nói cho ai biết. Vài phút sau tiếng súng đã im, tiểu đội 3 báo cáo: bộ đội bạn đánh hướng khác đi nhầm đường tưởng ta là địch mới vội vàng nổ súng. Lúc đó, tâm trạng tôi vừa mừng vừa lo, lo nhiều hơn vì chưa triển khai xong đã bị lộ, ta chưa hình thành bao vây thì địch dễ tập trung đối phó hoặc bỏ chạy.

Mục tiêu trước mặt tôi vẫn chưa thấy động tĩnh, tôi vội vàng cho bộ đội triển khai và cho một tổ lên trinh sát, chỉ để người ở sau bắt liên lạc với bạn. Trước mặt vẫn yên lặng như tờ. Tôi đã nghĩ đến tình huống thứ hai. Tôi cho khẩu trung liên chiếm mô đất cao sẵn sàng nổ súng và dẫn bộ đội xông thẳng vào vị trí nhằm chiếm trước khu nhà gạch trên bờ đất cao để chủ động trong mọi tình huống. Khi vào giáp bìa thị trấn Mường Phìn thì thấy tổ trinh sát ra hiệu không có địch. Tôi ra hiệu tổ trung liên tiến theo rồi tổ chức lùng sục. Toàn thị trấn không còn địch, cũng không thấy các trung đội bạn đâu. Dân đã chạy từ trước, số ít còn lại chắc bị địch lùa theo làm bia đỡ đạn và phục vụ cho chúng. Những đống củi than còn ấm, những vỏ đồ hộp, những tàn thuốc lá… cho biết địch ở đây không đông, mới rút chạy không lâu, có thể do ta bị lộ. Tôi lập tức tổ chức truy kích trên hướng Pha Lan, để lại đồng chí chuyên làm liên lạc để báo tin về sau. Vì kế hoạch không dự kiến phát triển nên tôi không dám cho đuổi xa. Chạy độ hai giờ bộ đội đã thấm mệt, thấy có mấy nhà dân, tôi cho bộ đội dừng lại tạm nghỉ hỏi tình hình. Một lúc sau, liên lạc đến báo tạm nghỉ chờ lệnh.

Chúng tôi còn truy quét cho đến Pha Lan – Đồng Hến rồi dừng lại.

Sau đó chúng tôi còn ở một thời gian giúp bạn nắm dân, truy quét địch, chủ yếu ven đường 9. Vùng này dân ở rất thưa, chỉ tập trung ở Mường Phìn – Pha Lan – Đồng Hến. Còn hai bên đường phần lớn đất bỏ hoang đầy cỏ dại mọc, bụi rậm; dân ở các bản nhỏ thưa thớt. Nơi gần nước có một ít ruộng, dân sống rất nghèo, áo quần rách rưới. Trừ một số nhà “nại-bản”, “tà-xẻng” hiếm hoi, còn các nhà sàn của dân đều xơ xác, tiêu điều. Ai cũng lo lắng chưa được yên ổn làm ăn. Tuy vậy chúng tôi đi đến đâu cũng được được đón tiếp ân cần, cần gì đều được giúp dỡ. Nhờ dân chúng tôi nắm rõ tình hình địch, nên truy quét rất thuận lợi. Những lính ngụy Lào bị bắt hoặc do chúng tôi hoặc bạn vận động ra đầu thú đều giao cho chính quyền bạn quản lý, giáo dục. Dân thiếu thốn nhiều nhưng thương anh em vất vả, nhiều người đem các típ xôi, muối ớt ra úy lạo. Anh em rất cảm động, thấy dân Lào cũng như bố mẹ người thân của mình ở nhà. Điều đó đã động viên anh em rất nhiều.

Đến mùa hè 1946, ta đã kiểm soát được đường 9. Chúng tôi được lệnh trở về. Qua một thời gian giúp bạn không lâu, nhưng do điều kiện thiếu thốn nhiều, lại do tôi còn thiếu kinh nghiệm nuôi quân, nên bộ đội ốm đau nhiều, phần lớn bị sốt rét. Người bệnh ít ra cũng đã bị mấy cơn sốt làm mất sức rất nhiều, bản thân tôi cũng không tránh khỏi. Ban chỉ huy Trung đoàn 101 Cao Vân cho chúng tôi về đóng ở Thuận An để củng cố đội ngũ và bồi dưỡng sức khỏe, tiếp tục huấn luyện và làm nhiệm vụ canh gác cửa biển trong đội hình của đại đội do anh Nguyễn Đức Thừa làm đại đội trưởng (Anh Nguyễn Đức Thừa sau này làm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa).

Về đấy, chúng tôi được sự thăm hỏi ân cần của nhân dân quanh vùng đóng quân. Tuy làm ăn vất vả, bà con vẫn thường cho anh em từng thúng ruốc, cá cơm, đôi khi cả cá thu còn tươi rói vừa mới đánh bắt ở biển về. Trong đại đội, do anh em Trung đội 14 ốm đau nhiều, anh Thừa thường dành ưu tiên cho anh em. Anh em được ăn nhiều bữa chưa từng có trong đời nên sức khỏe mau chóng hồi phục. Anh em nhớ đến nhân dân Lào vùng hoạt động vừa qua còn nghèo khổ nhưng cũng đã giúp chúng tôi rất nhiều với những tấm lòng thương yêu đồng cảm hỗ trợ chúng tôi vượt qua được bao khó khăn về vật chất và tinh thần. Vì là lính mới bước vào đời binh nghiệp, do đó mặc dù đã cố gắng nhiều nhưng kết quả hoạt động của chúng tôi còn hạn chế, những cố gắng của anh em chưa xứng đáng với sự quan tâm chăm sóc của nhân dân dù là ở nước nhà hay ở nước bạn. Chúng tôi mới chỉ có tấm lòng với dân với nước, có tình cảm trung thành, tận tụy với cách mạng. Nhờ đó chúng tôi đã đem hết sức mình để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, tuy chưa được như mong muốn. Sau này nhìn lại thấy những tình cảm đó chính là những nhân tố ban đầu, quyết định cho cả cuộc đời chiến đấu và trưởng thành của anh em chúng tôi.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:35:06 AM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ CỦA TÔI

Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi đang nghỉ phép ở Hà Nội – quê nội của tôi. Trước tình hình căng thẳng sắp nổ ra chiến tranh, người bạn rất thân của tôi là Lê Đình Chiểu đang ở Hà Nội bèn rủ tôi về quê (Huế). Tôi muốn ở lại Trung ương chiến đấu, công tác, học tập thuận lợi hơn. Vả lại đường sá xa xôi nhiều khó khăn, tình hình đang diễn biến phức tạp, về đến nơi khó tìm được đơn vị. Hiện ở Hà Nội anh Bửu là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Hoàng Đạo Thúy là Cục trưởng đều biết chúng tôi, đã tiếp nhận. Cục giao cho tôi lập ngay một đại đội công binh để chiến đấu. Bạn Chiểu được nhận vào Nha Nghiên cứu kỹ thuật.

Tôi về nhận quân ở một cái đình gần thị xã Hà Đông, được cấp thêm áo quần, xẻng cuốc, thuổng, dao, cưa… Chọn mấy anh có học, nhanh nhẹn giao làm trung đội trưởng, tiểu đội trưởng, chấn chỉnh đội ngũ vào Hà Nội ngay để làm nhiệm vụ. Khó khăn lúc đầu là thiếu áo ấm, chân không dày (đi dép). Trời đã vào đông rét đậm (khác với thời tiết ở Huế). Giọng nói (Huế) anh em toàn ở Bắc khó hiểu. Nhưng cán bộ và chiến sĩ đều thân thiết với nhau khá nhanh, cùng nhau vượt qua hết, đoàn kết chiến đấu vui vẻ, ai cũng lo tập trung làm nhiệm vụ: làm công sự, ụ súng, đào hào chống tăng ở trước bệnh viện Bạch Mai, rồi sang Ô Chợ Dừa đầu phố Khâm Thiên lợi dụng các tà vẹt đường sắt gần đó làm lỗ châu mai.

Khi làm ở Bạch Mai, một lần anh Thúy và chuyên gia Hồ Chí Dân (một hàng binh người Đức) đến kiểm tra hướng dẫn thêm. Đột nhiên một tràng liên thanh từ hướng Học xá bắn sang, hai anh nhanh chóng nhảy xuống hào, tôi còn ngoái đầu xem địch ở đâu bắn ra. May không có ai bị thương. Lúc về các anh còn khen anh em xây công sự tốt, tôi thì gan dạ bình tĩnh.

Lần làm công sự ở Ô Chợ Dừa, có ngày máy bay đến bắn phá đúng vào ngã tư. May có sẵn các hố cá nhân hai bên đường tôi xuống hố nấp, đây là lần đầu tiên thử lửa, nghe tiếng đạn réo tôi cảm thấy nhột bên sườn. Sau những trận đó, anh em trong đơn vị không ai bị thương, vẫn bình tĩnh hoàn thành nhiệm vụ.

Những ngày ở đây chúng tôi thường vẫn thấy các cô, các bà ở phố Khâm Thiên, trước nổi tiếng là phố “Cô Đầu”, nay áo quần gọn gàng đi khiêng cáng thương binh về trạm cấp cứu. Đến giờ nghỉ trưa và chiều tối, cũng chính các chị đó đã chuẩn bị cơm nước sẵn sàng cho anh em như đối với những người em trong nhà. Rau xanh khó kiếm là vậy mà các chị vẫn lặn lội đi lấy ở các vườn rau xanh tốt còn lại, hay phải chạy ra các làng ngoại ô mang về. Tôi thầm nghĩ: Lời kêu gọi của Bác Hồ đã thấm đến từng người dân.

Xong tuyến trong, chúng tôi chuyển ra tuyến ngoài, làm công sự ở bờ nam sông đi qua thị xã Hà đông, phá cầu, phá nhà, đào đường, làm “vườn không nhà trống”. Chúng tôi làm những công trình khó, còn huy động thêm nhiều dân quân cùng làm. Công việc đã quen tiến độ, chất lượng tốt hơn. Thuốc nổ còn ít, nên khi phá nhà, phá cầu chúng tôi làm tay là chủ yếu, rút kinh nghiệm, dần cũng tìm ra cách phá trước một số nơi và chọn nơi đặt thuốc nổ dùng ít công nhất, ít thuốc nổ nhất và vẫn làm đổ được ngôi nhà, thời gian lại rút ngắn! Mỗi lần làm một chiếc nhà đổ, anh em lại hò reo, mừng vì đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng liền đó lại thấy xót xa. Nghĩ đến người chủ nhà, gia đình người ta bỏ ra biết bao công sức, tiền của qua bao nhiêu thế hệ mới tậu được ngôi nhà này, nghĩ như bản thân gần hai mươi năm cả nhà cũng còn đi “ở đậu” (ở thuê). Lại nghĩ: thế mà người ta lại rứt ruột bỏ đi, lúc đi còn giao lại cho chính quyền, nếu cần thì cứ phá, quyết “không đội trời chung” với giặc cướp nước, sẵn sàng hy sinh góp công góp của cho kháng chiến không một chút đắn đo!

Khi bộ đội rút khỏi Hà Nội, Cục đưa tôi về làm Trưởng phòng Nghiên cứu Công binh. Được cấp một chiếc xe đạp, tôi tự đuổi theo cơ quan. Dọc đường, lần đầu tiên tôi tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp vùng trung du, cảnh thanh bình, người dân chất phác, đôn hậu của làng xã Phú Thọ mà sau này tôi còn nhiều lần sống và chiến đấu ở đây với biết bao kỷ niệm. Lúc này còn rất hiếm tiếng máy bay trên vùng trời. Thật lạ lùng, mới bắt đầu chiến tranh mà sao không thấy những đoàn người chạy giặc như những ngày đầu tôi thấy ở các ngõ đường từ Hà Nội ra? Như vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, do có hướng dẫn từ trước, các cơ quan, cơ sở sản xuất, kho tàng đã kịp thổ chức sơ tán ra hậu phương xa, nhân dân đã được hướng dẫn sơ tán tạm ổn định. Nay chỉ còn tốp nhỏ gia đình thưa thớt tiếp tục cuộc hành trình với toàn bộ của cải, con trẻ trên vai gồng gánh hoặc xe thô sơ. Họ đã bỏ hết nhà cửa ruộng vườn; còn nếu có vàng, có gạo họ đã vui lòng đóng góp cho “Hũ gạo nuôi quân”, cho “Tuần lễ vàng”. Nay qua mỗi chặng đường, họ chỉ mang theo một ít tiền, ngô, gạo, muối đủ sống để đi đến chặng dừng chân cuối cùng. Để rồi ở đây họ trông vào đôi tay và khối óc để khai phá thiên nhiên mà sống và chiến đấu với niềm hy vọng tràn đầy vào ngày mai tươi sáng.

Đến Tuyên Quang,  tôi vào thăm mấy anh quen ở Viện Nghiên cứu kỹ thuật và tìm một số tài liêu. Tôi thu thập một số mẫu về các đầu nổ của bom đạn đem về làm “vốn”. Tôi mày mò tháo được mây cái. Đến cái cuối cùng thì loại mới, tôi loay hoay vô tình va thúc mạnh vào đầu làm nổ kíp bị nhiều vết thương máy ra lênh láng. Nhìn sang bên cạnh thấy một anh bạn (anh Nguyễn Xuân Dục) đang kêu la, tôi ân hận quá, quên cả đau. May quá cả hai chúng tôi chỉ bị vào phần mềm. Anh em băng bó cho tôi, đưa vào viện. Nằm lại độ một tuần, vết thương đã khô, đỡ đau nhiều, tôi lại lên đường về cơ quan lúc đó ở ven đường số 3 gần Chợ Mới.

Phòng nghiên cứu của tôi có ba người. Anh Đoan, anh Năm là kỹ sư cầu đường chuyên nghề xây dựng nên ít kinh nghiệm về phá hoại. Chúng tôi xem sách, học cách tính toán lượng thuốc nổ để phá cầu, đường, nhà, cửa, đưa đến chỗ vắng cho nổ thí nghiệm, viết thành tài liệu để hướng dẫn cho các địa phương làm.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:37:22 AM
*
*   *

Tháng 8 năm 1947, tôi được lệnh lên làm bí thư quân sự cho đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Tôi bất ngờ và lo lắng quá vì hiểu biết của tôi về quân sự chưa bằng một anh cán bộ quân đội, làm thế nào để tôi có thể giúp đỡ hiệu quả cho đồng chí ấy được? Nhưng “quân lệnh như sơn”. Tôi chia tay với các anh trong phòng: anh Đoan, anh Năm… Và trước khi đi tôi ghé chào anh Lê Khắc lúc ấy là thủ trưởng trực tiếp của tôi. Các anh vẫn cho phép tôi dùng chiếc xe đạp đang đi để lên cơ quan Bộ. Qua một đoạn đường nhựa, hai bên đường rừng cây xanh tốt, trời xanh trong vắt, cảnh thanh bình, nhưng tôi không dám ngắm cảnh, phải theo dõi các hố giữa đường như các “phím đàn pi-a-nô” vì vô ý một chút là cắm đầu xuống hố. Đến ngã ba Đồn Đu quán hàng đông vui, tôi ghé một hàng nước uống một chén chè xanh khoan khoái cả người rồi lại tiếp tục hành trình. Bây giờ đi con đường đất phải theo vết đường mòn để đi, lâu lâu mới có một quán nhỏ ven đường, dù vắng nhưng ở đâu cũng cảm thấy có cuộc sống. Gần trưa thì đến trạm liên lạc, tôi nghỉ ăn trưa, chờ trạm báo về cơ quan.

Trước khi vào Phòng bí thư nhận công tác, tôi xin phép vào thăm thầy Tạ Quang Bửu lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và anh Phan Tử Lăng là Cục trưởng Cục Quân chính. Một lần nữa, khi gặp khó khăn tôi lại tìm gặp thầy Bửu. Ở đây tôi gặp lại bạn Thảo cùng lứa với tôi nhưng bạn ấy học trường Providence hồi đó nổi tiếng giỏi tiếng Anh, nay làm bí thư cho thầy Bửu. Tôi muốn hỏi kinh nghiệm, bạn đưa cho tôi xem mấy biên bản bạn đã ghi khi dự các cuộc họp giữa các thứ - bộ trưởng. Bạn ấy ghi chép rất giỏi, chẳng cần tốc ký mà câu nào viết cũng rõ ràng, nội dung rất chuẩn. Từng đoạn ghi thái độ của người nói và của cử tọa như: cười to, vỗ tay dài… Tôi tự nghĩ: Mình chưa làm được chư bạn ấy!

Sau giờ thầy Bửu tiếp khách, tôi được vào gặp. Thầy hỏi thăm sức khỏe công tác, tin tức về mấy người bạn cũ: Chiểu, Doanh… Tôi hỏi thăm sức khỏe của thầy cô rồi tôi hỏi luôn, giọng Huế đặc như hồi học ở trường:

- Tui biết chi mô mà làm bí thư quân sự được?

- Mình giới thiệu Tần cho anh Văn(1) đấy! – Thầy Bửu nói và mỉm cười – Làm cách mạng mấy ai được học hành đầy đủ rồi mới làm được đâu. Tần phải cố gắng mà làm, đây là dịp tốt đấy. Tần có cái hay là dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ gì và không sợ ai cả. Tần sẽ học được nhiều và sẽ làm được!

Thấy Thảo vào, tôi biết thầy có khách nên đứng dậy xin chào thầy và ra về. Vừa đi vừa nghĩ về ý của thầy và bước đầu tôi đã định được hướng làm việc của mình, Không sợ khó, học mà làm cho tốt. Điều quan trọng cần giúp cho cấp lãnh đạo chỉ huy là nắm thông tin kịp thời chính xác. Tôi phải sâu sát thực tế, nắm cho được thực chất tình hình, không sợ khó khăn, không nể sợ ai cả để phản ánh thật chân thật về sự việc, con người cả chuyện hay và chuyện dở. Khi truyền đạt nhiệm vụ cho cấp dưới phải dám nói cả cái hay và cái dở của họ theo nhận xét của cấp trên. Phải hiểu sâu ý kiến của trên để thuyết phục được cấp dưới.

Ngay tối hôm đó tôi được gặp anh Văn. Tôi chỉ mới nghe danh, nay mới gặp lần đầu. Ấn tượng đầu tiên của tôi về anh là tính cởi mở, dễ gần. Anh có đôi mắt sáng, luôn tươi cười khi nói chuyện. Lúc mới đến tôi hơi hồi hộp, nhưng qua mấy câu chuyện hỏi han của anh, tôi đã trấn tĩnh và giữ được vẻ nói chuyện thành thật tự nhiên. Anh hỏi chuyện chiến đấu ở Hà Nội, đi từ đồng bằng lên đây thế nào, hỏi gia đình, sao quê Hà Nội mà lại nói giọng Huế, trước học giỏi toán nhất Huế à… Qua câu chuyện tôi hiểu anh muốn nói: “Chắc bây giờ cậu còn muốn học Toán và khoa học. Tương lai cũng rất cần nhiều trí thức cách mạng tài giỏi để xây dựng đất nước, nhưng hiện đang chiến tranh, cậu có văn hóa, rất cần để đào tạo cán bộ đánh vận động chiến cho tương lai gần. Không phải đến trường mới học được, quân đội là một trường đại học lớn. Cốt nhất là có cái tâm”.

Chị Hà(2) ra tiếp nước cũng góp chuyện:

- Trong cơ quan ai cũng có bí danh để giữ bí mật, đề nghị anh Văn đặt tên anh Tần là Tám. Lê Tám được không ạ?

Anh Văn cười:

- Được đấy!

Tôi nói:

- Xin cảm ơn chị!

Câu chuyện như khiến tôi cảm thấy không khí trở nên ấm cúng như trong gia đình.

Chị còn nhắc:

- Anh Tần đã gặp các anh ở nhà bên này chưa?

Tôi xin phép anh Văn và sang chỗ ở của mấy anh đang phục vụ trực tiếp anh Văn ở nhà bên. Tôi đã gặp mấy anh mà sau này tôi thường xuyên có quan hệ công tác. Anh Mộc là bảo vệ, người Tày, to khỏe, hoạt bát, vui vẻ. Anh Thùy quân y sĩ, rất thư sinh, hiền lành như con gái. Anh Thụ nấu ăn, người đứng tuổi, là đầu bếp giỏi đã phục vụ cho anh Văn ở Hà Nội, tự nguyện theo anh lên đây vì sợ không tìm được phục vụ được bằng anh. Em Hồng liên lạc người Tày, mới 16 tuổi, rất nhanh nhẹn dễ thương, em đã đi theo anh Văn từ ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

Sau khi gặp anh Văn, tôi đã thay đổi vấn đề mình đang suy nghĩ. Từ chỗ loay hoay tìm cách để giúp Anh sao cho có hiệu quả thì bây giờ phải suy nghĩ ngược lại: Phải lo học sao cho đáp ứng với yêu cầu công tác. Và tại đây, tôi đã được nhận vào trường “Đại học quân sự lớn” của tôi. Ở đây tôi đã có Anh là người anh, người thầy rồi.

Về nhiệm vụ công tác, tôi cũng đã nhận thức rõ. Lúc chiều khi mới đến phòng bí thư, tôi đã làm quen với anh em trong phòng, đã biết công việc họ đang làm. Anh Mạnh Việt, trường phòng lo công tác quản lý cán bộ công tác Đảng và quan hệ với các cơ quan khác, nhất là phòng bí thư của Tổng chính ủy do anh Nguyễn Cơ Thạch đảm trách. Cụ Đông A lo nghiên cứu sách quân sự bằng tiếng Trung Quốc. Anh Phùng Ngọc Bảo chuyên nghiên cứu tài liệu về địch. Em Phạm Khắc Lâm lo nghiên cứu tài liệu về thời sự báo chí.

Như vậy công việc của tôi là phải: Lập ra chương trình làm việc của anh Văn và tổ chức thực hiện chương trình đó. Làm cầu nối giữa anh Văn với anh Thành(3), với các cơ quan Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng. Làm cầu nối giữa anh Văn và các cán bộ đơn vị. Theo dõi nghiên cứu các chuyên đề do anh Văn giao riêng.


(1) Anh Văn là bí danh của đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, sau trở nên thân mật mà cán bộ quân đội thường gọi cho đến ngày nay.
(2) Chị Hà là vợ anh Văn, công tác ở Phòng bí thư.
(3) Anh Thành lá bí danh của anh Hoàng Văn Thái – Tổng tham mưu trưởng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:41:07 AM
*
*   *
Tôi về cơ quan vào thời kỳ đang diễn ra một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay và có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nó cuốn hút tôi vào một cuộc chiến rất căng thẳng cả thể lực và trí óc, đồng thời nó tạo điều kiện cho tôi được học tập một số vấn đề quân sự rất sống động trong thực tiễn.

Ngay từ thời kỳ đầu chiến tranh, Pháp thưởng đá có thể “ăn tươi nuốt sống” ta được. Chúng không ngờ ta chủ động đánh bại âm mưu của chúng, ta chủ động đánh địch khắp nơi, bảo toàn được lực lượng, kho tàng, bảo vệ được đầu não kháng chiến, ta triển khai được chiến tranh du kích rộng khắp, làm thất bại chiến lược đánh nhanh của chúng, buộc chúng phải đánh lâu dài với ta. Chính phủ Pháp đã thấy nếu kéo dài thì ngân sách của họ không chịu đựng được.

Dù rất khó khăn, họ vẫn phải huy động lực lượng tăng quân sang Việt Nam (11 tiểu đoàn) tổ chức chiến dịch Thu Đông lên Việt Bắc nhằm mục đích rất lớn, chấm dứt chiến tranh. Cụ thể là:

- Diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta.

- Buộc chủ lực của ta phải đối đầu để có cơ hội tiêu diệt và đánh tan.

- Phá tan các kho tàng, nhà máy, xí nghiệp của ta nhằm làm ta không còn cơ sở để tiếp tục cuộc kháng chiến.

Ta đã có chuẩn bị nhưng ta không dự kiến địch đánh sâu rộng như thế. Lần cuối cùng anh Văn đi Tuyên Quang, Chiêm Hóa để kiểm tra thì ngày hôm sau được tin địch nhảy dù xuống Bắc Kạn, Chợ Mới. Tôi rất lo lắng và sốt ruột, trong lòng như lửa đốt. Anh quyết định trở về nhưng anh không vội vã. Trong khi chuẩn bị cho đủ ngựa để về, anh còn làm việc với anh Tôn Thất Tùng, anh Hồ Đắc Di, anh Nguyễn Văn Huyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, giám đốc các trường đại học, các bệnh viện.

Anh cần làm yên lòng các vị đang ở xa Trung ương nay mới được gặp. Anh chỉ đạo các biện pháp sơ tán các cơ sở vào sâu hơn, đề phòng địch có thể đánh vào, huy động sinh viên tổ chức các trạm cấp cứu thương bệnh binh khi chiến sự xảy ra và phân tích tình hình để các vị thấy ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng. Thấy các vị tỏ vẻ tán thưởng, vui vẻ và hứa sẽ thực hiện tốt chỉ thị của mình, anh mới vui vẻ chia tay ra về. Trên đường về, anh còn dừng lại làm việc ở một số nơi như: Tỉnh ủy Tuyên Quang, Trung đoàn 209, Đơn vị pháo sông Lô, kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu, còn ghé qua chỗ anh Phan Mỹ(1) bàn việc sơ tán bảo vệ cơ quan trung ương.

Về đến cơ quan đã tối. Biết tin anh Thận(2) và và anh Thành đang làm việc ở Bắc Kạn ngày địch nhảy dù, anh lo lắng, chỉ thị cho cơ quan cử cán bộ đi đến ngay rồi tập trung làm việc với các anh chuyên trách nắm tin tình báo, quân báo và tình hình các đơn vị ở vùng có chiến sự. Anh cũng được biết tối ngày địch nhảy dù, Thường vụ trung ương họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Bác đã phân tích: địch đã mạo hiểm đánh sâu vào căn cứ hòng giành một thắng lợi vang dội, giải quyết nhanh chiến tranh, nhưng phạm vi quá rộng, lực lượng bị căng mỏng, nên không mạnh, quân số có thể đông nhưng không tạo được sức mạnh. Người nói: “Kể địch muốn tạo thành một cái ô chụp xuống Việt Bắc. Chúng hy vọng cụp ô lại, trên đánh xuống, dưới đánh lên, sẽ phá được cơ quan đầu não của kháng chiến. Chúng mạnh ở hai gọng kìm. Nếu ta bẻ gãy gọng kìm thì cái ô của địch cụp xuống sẽ thành cái ô rách”.

Đến ngày 10 tháng 10, ta đã nắm được tình hình cuộc hành quân của địch: quân dù đã nhảy xuống Bắc Kạn, Chợ Mới, Cao Bằng.

Hướng đường 4 binh đoàn Bô-phơ-rê (Beaufré) đã lên đến Thất Khê.

Hướng đường 2 Sông Lô, binh đoàn Com-muy-nan (Communal) theo sông Hồng đã lên đến Sơn Tây.

Tôi theo dõi khi anh Văn làm việc với anh Thành, tôi hiểu được ý anh:

Đến nay đã có thể phán đoán địch theo đường 4 lên Cao Bằng sẽ đánh xuống Chợ Mới, hướng đường 2 – sông Lô địch sẽ đánh lên Bình Ca, Tuyên Quang. Hai bên sẽ đánh sâu vào căn cứ, liên lạc với nhau vùng Bản Thi, Chiêm Hóa, Đầm Hồng. Ba binh đoàn của địch chỉ khoảng 1 đến 2 vạn quân nhưng bao một một đất rất rộng đến 3.600 ki-lô-mét vuông. Địch mạnh và chủ động tiến công ta, nếu ta bị động đem chủ lực ra đối đầu với chúng như chúng mong muốn thì sẽ phải đối phó với kẻ địch mạnh hơn ta về phi pháo và phương tiện cơ động. Tuy nhiên, chúng sẽ hết sức khó khăn về tiếp tế và lực lượng cơ động, đường cơ động của chúng sẽ kéo ra rất dài, chúng sẽ phải rải quân ra, không còn lực lượng cơ động mà cũng có rất nhiều sơ hở, đó là chỗ yếu chí mạng của chúng. Ta cần tập trung vào ba mặt trận: đường 4, 3, đường 2 – sông Lô.


(1) Anh Phan Mỹ là Chánh Văn phòng Chính phủ.
(2) Anh Thận là bí danh của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:41:29 AM
Trình độ chủ lực ta chưa đánh tập trung trung đoàn có hiệu quả cao, trong lúc chiến tranh du kích nhiều nơi chưa mạnh nhất là các địa phương mới xảy ra chiến sự, ta phải khẩn trương thực hiện chủ trương “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Phải có lệnh cho các quân khu mỗi trung đoàn phải phân tán hai phần ba lực lượng làm đại đội độc lập xuống các huyện hỗ trợ phát triển du kích. Phải có huấn lệnh để hướng dẫn các đơn vị thực hiện khẩn trương và có hiệu quả vấn đề này.

Địch đánh rất sát khu căn cứ. Cần chia cơ quan thành hai bộ phận. Bộ phận nặng đưa sâu và các bản xa đường. Bộ phận nhẹ chuyển ra ngoài, phân công ba người đi sát trực tiếp ba mặt trận, anh Văn đi đường 4, anh Thành đường 3, anh Trần Tử Bình đường 2 – sông Lô.

Tình hình bố trí lực lượng cần điều chỉnh lại. Chuẩn bị sẵn chỉ thị, sau khi anh Văn đi làm việc với Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về sẽ ra chính thức.

Ngày 13 tháng 10, Bộ nhận được kế hoạch và bản đồ của địch mà ta bắt được trong chiếc máy bay junker bị đại đội phòng không Trung đoàn 74 bắn rơi. Đối chiếu với kế hoạch của địch, phán đoán của ta rất đúng. Ta còn biết thêm ngày và điểm gặp nhau của hai cánh quân là Đài Thị, biết trọng điểm càn quét là Bắc Kạn – Chợ Chu – Chợ Mới. Chúng nhầm tưởng trung tâm căn cứ địa là Bắc Kạn. Đồng chí liên lạc Nguyễn Danh Lộc đã tích cực chạy ngày chạy đêm để đưa thông tin lên Bộ, được anh Văn khen ngay. Anh còn nhắc Bộ Tổng tham mưu khen Đại đội phòng không Trung đoàn 74.

Ngày 17 tháng 10, Sở chỉ huy nhẹ lên đường. Tôi tổ chức một bộ phận nhẹ đưa anh Văn đi trước đến Tràng Xá nơi đặt Sở chỉ huy nhẹ, dừng một ngày, anh nắm tình hình và chỉ đạo những việc cần thiết, ngày 22 tháng 10 đi ngay lên mặt trận đường 4 ở Bình Gia. Tôi mang theo một máy điện thoại và một đoạn dây. Dừng chân ở đâu tôi cũng tranh thủ cùng một chiến sĩ vệ binh ra móc vào đường dây điện thoại chạy qua đó, cố nắm được những tin chiến thắng anh rất mong đợi. Chiều 25 tháng 10, được tin trưa nay pháo binh ta đã bắn chìm hai tàu chiến của địch tại Đoan Hùng, bắn bị thương hai chiếc khác, chỉ có một chiếc quay đầu chạy trở lại Tuyên Quang, địch chết hàng trăm tên, anh Văn rất vui, hỏi thêm chi tiết để kiểm tra tin đã xác thực chưa. Đó là tin thắng trận đầu tiên từ khi địch mở cuộc hành quân. Sau đó sông Lô bị cắt 10 ngày. Pháp gọi đây là “thảm họa Đoan Hùng”.

Tối làm việc với đồng chí bí thư và chủ tịch tỉnh Lạng Sơn ở Bình Gia (có đồng chí chỉ huy của Trung đoàn 11 của tỉnh) nắm tình hình, kiểm tra việc thực hiện mệnh lệnh tác chiến, được biết Trung đoàn 74 thuộc tỉnh Cao Bằng đã nhận được lệnh, hai trung đoàn đã phân công phạm vi hoạt động, anh Văn còn nói chuyện với đồng chí chỉ huy Trung đoàn 11, phân tích rõ ý nghĩa quan trọng của việc đánh các đoàn giao thông trên đường 4 cả trước mắt và lâu dài. Ở đây địa hình thuận lợi cho ta, cần tích cực đánh các trận phục kích có hiệu quả lớn. Trong thời gian ở lại đây để chỉ đạo mặt trận đường 4, anh hay chuyện trò thân mật với dân bằng tiếng Tày (dân ở đây người Nùng cũng nói tiếng Tày). Đến ngày 31 tháng 10, nhận được tin ta đánh thắng trận phục kích ở Bông Lau. Đâu là trận đầu tiên trên đường số 4 – anh gọi đồng chí Thế Hùng chính trị viên Trung đoàn 11 lên nói chuyện tỷ mỷ và khen ngợi.

Trận này do Tiểu đoàn 374 đánh. Địch có 30 xe chở già nửa là lính Âu Phi. Ta diệt 104 tên, bắt 101 tên, thu toàn bộ vũ khí, 600 dù. Đường 4 bị cắt một thời gian. Để ghi công, Tiểu đoàn 374 được mang tên Tiểu đoàn Bông Lau. Như vậy trên hai đường chính, bộ đội chủ lực bắt đầu đánh tốt.

Sau trận Bông Lau, anh Văn về Tràng Xá chỉ đạo chung ở Sở chỉ huy nhẹ. Để khắc phục những nhược điểm phát hiện được sau một tháng đối phó với cuộc hành quân của địch lên Việt Bắc, ngày 10 tháng 11 Bộ Tổng chỉ huy đã ra hai huấn lệnh quan trọng; Huấn lệnh “Luyện quân lập công” và huấn lệnh “Phát động chiến tranh du kích, nhiệm vụ cơ bản trong giai đoạn này”, có tác dụng chỉ đạo chung trong cả năm 1948 và năm 1949.

Ngày 17 tháng 11, Sở chỉ huy nhẹ trở về gần vị trí cũ ở Lục Giả. Ngày 18 tháng 11, địch nhảy dù ở Vũ Nhai, đánh hụt. Hai cánh quân Đông – Tây của địch không gặp nhau ở hợp điểm Đài Thị vì thời gian chậm hơn 10 ngày và lệch nhau, chỉ đến nơi là bắt đầu co lại. Nhiều chiến trường trên cả nước đã có những hoạt động chiến đấu phối hợp với quân và dân Việt Bắc.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:41:56 AM
Ngày 21 tháng 11, địch rút Tuyên Quang về Vĩnh Yên, có bộ phận về Đèo Khế, Phú Minh, bị đánh không liên lạc được với cánh phía Đông từ Chợ Mới về. Ngày 22 tháng 11, cánh quân đường 4 rút về Chợ Mới rồi bỏ xe, đi bộ về Thái Nguyên (vì đường bị phá hoại). Một tiểu đoàn địch luồng rừng qua Quán Vuông xuống Yên Thông, đến Quán Ông Già bị Tiểu đoàn 103 do anh Vũ Lăng làm tiểu đoàn trưởng, đánh thiệt hại nặng. Có lúc chúng vào rất sát cơ quan. Biết rằng đó chỉ là một lực lượng nhỏ cảnh giới cho chủ lực rút, mà ở đây ta đã có ba tiểu đoàn mạnh đang bám đánh địch, nhưng tất cả cán bộ cơ quan đã mang vũ khí ra bố trí ở bìa rừng. Tôi đưa anh Văn tạm lánh ở đồi cây sau bản, bố trí vệ binh sẵn sàng ở chân đồi. Đến gần chiều tiếng súng đã xa, tôi cùng một tổ vệ binh xuống trước dò xét nắm chắc không còn địch mới lên đón anh về bản. Đến đây tôi mới thở phào, nhẹ nhõm. Và cũng là đến lúc kết thúc cuộc hành quân đánh lên Việt Bắc của địch. Chúng còn đóng lại ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai.

Ngày 16 tháng 12, sau khi địch rút khỏi huyện Định Hóa, Đại Từ, Bộ Tổng chỉ huy tổ chức hội nghị với các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các khu ở Bắc bộ để rút kinh nghiệm chiến dịch Thu Đông 1947 ở Việt Bắc.

Qua đây tôi hiểu được phong cách chỉ đạo chỉ huy của cấp lãnh đạo chiến lược.

Phải nhìn xa, trông rộng, hiểu sâu về địch về ta, biết phân tích một cách biện chứng, trong cái mạnh cũng thấy được chỗ yếu của địch. Phải biết phát huy thế mạnh của chiến tranh nhân dân, nhờ đó ta luôn có thể chủ động tiến công địch trong chiến đấu và có thể biến bị động thành chủ động về chiến dịch nếu ta biết chuyển thế mạnh thành lực mạnh. Nhìn xa trông rộng không những để giải quyết vấn đề trước mắt mà còn để chuẩn bị cho tương lại. Như năm 1947 khi chiến dịch Việt Bắc chưa kết thúc, anh Văn đã có hai huân lệnh chỉ đạo hai vấn đề hết sức quan trọng cho cả năm 1948, năm 1949 và đầu năm 1950 (năm 1949 lại tổ chức luyện quân lập công lần hai).

Về sử dụng chủ lực, phải hiểu rằng quy mô tổ chức lực lượng phải phù hợp với trình độ tác chiến là một quy luật. Còn trình độ tác chiến lại lệ thuộc con người và vũ khí trang bị. Tháng 7 năm 1947 đã có sắc lệnh thành lập đại đoàn, nhưng đến tháng 10 lại phải phân tán đại đoàn và hai phần ba các trung đoàn để phát triển chiến tranh du kích mà chủ lực còn lại vẫn thực hiện nhiệm vụ tốt.

Khi suy nghĩ để chọn quyết tâm và kế hoạch tác chiến phải luôn quán triệt tư tưởng tiến công. Như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra; Phải “không ngừng giữ thế tiến công”. Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết thời kỳ đầu chiến tranh đã rút ra 11 nguyên tắc thì nguyên tắc đầu tiên là: Phải nắm vững tư tưởng tiến công. Khi đã rơi vào thế bị động phải tìm cách chuyển bị động sang chủ động (khi ta còn yến vẫn thực hiện được).

Về chỉ đạo chỉ huy, phải hết sức coi trọng tập trung thống nhất, nhưng khi cần phải biết tạm phân tán về tổ chức, nhưng vẫn bảo đảm quyết tâm và kế hoạch thống nhất, mọi hành động phải hướng vào trọng tâm trọng điểm, vào mục tiêu chủ yếu.

Qua thực tế chiến dịch này, tôi mới thực sự hiểu rằng, để đánh lại cuộc hành quân, hàng vạn quân rầm rộ như vậy để bảo vệ cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến của ta, kế hoạch chiến lược của ta phần chủ yếu là dựa vào sự che chở của dân. Quả thật “mặt trận trong lòng dân” còn mạnh hơn hàng vạn hùng binh.

Tôi cũng hiểu được rằng: vì sao ta yếu hơn địch, lại đang bị địch chủ động tiến công vây bắt chỉ huy và tiêu diệt lực lượng quân sự của ta, vậy mà ta vẫn chủ động tiến công địch – Đó là nhờ ta có thế trận chiến tranh nhân dân, địch bị đánh khắp nơi phải phân tán đối phó, bộc lộ nhiều chỗ yếu, sơ hở, ta tập trung lực lượng đánh vào chỗ yếu và hiểm yếu của địch thì ta có thể tập trung ưu thế hơn địch và có thể làm đảo lộn kế hoạch của chúng. Như vậy là ta đã chuyển thế mạnh thành lực mạnh, từ bị động chuyển thành chủ động. Đúng như hai câu thơ của Bác Hồ đã nói:

“Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp phải bị động chuyển chiến lược sang đánh lâu dài. Chúng hy vọng dùng chiến tranh nuôi chiến tranh, bình định vùng chiếm đóng, lập ngụy quyền bù nhìn Bảo Đại, phát triển ngụy quân sẽ tập trung được lực lượng ra Bắc hòng lật lại thế cờ.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:43:17 AM
Trung ương Đảng đã nhìn thấy trước điều đó nên đầu năm 1948 đã đề ra chủ trương “biến hậu phương địch thành tiền phương ta” với phương châm “Du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ” đẩy mạnh kháng chiến cả nước, phá chiến lược của địch, phá cuộc tiến công mùa đông ở Bắc Bộ và Bắc Khu 4…

Hai huấn lệnh cuối năm 1947 của anh Văn nói trên có tác dụng thúc đẩy hai phương thức tác chiến chiến lược. Trước mắt thì thực hiện tốt phương châm tác chiến chiến lược. Về tương lai ta cần đẩy mạnh vận động chiến mới có điều kiện chuyển giai đoạn chiến lược.

Để phát triển du kích chiến tranh, anh Văn đã chỉ đạo các liên khu nâng trình độ tác chiến lên quy mô lớn hơn, sáng tạo một hình thức mới ta tạm gọi là “chiến dịch du kích”. Về lực lượng gồm cả ba thứ quân của quân khu hoặc có tăng cường, nhưng chủ lực chưa làm được vai trò chủ yếu, hoạt động trong một thời gian nhất định tùy theo nhiệm vụ đề ra cho chiến dịch, có tổ chức lãnh đạo chỉ huy, chỉ đạo thống nhất nhằm thực hiện yêu cầu nhiệm vụ cụ thể. Đặc biệt năm 1948 và 1949, vừa để giữ chủ động chiến dịch, vừa để phá âm mưu của địch, các liên khu có vùng địch chiếm đóng trong cả nước đều nhằm tiến công vào các mục tiêu sâu trong hậu phương địch. Ở những hướng có tầm quan trọng thường xuyên thì lập mặt trận như: Mặt trận 3 (Trung du), Mặt trận Đường 4, Mặt trận Hà Nội – Đường 5 – Hải Phòng.

Luyện quân lập công là nhằm nâng cao trình độ chiến đấu công tác của bộ đội, trình độ chỉ huy của cán bộ đi đôi với việc tăng cường dần trang bị vũ khí. Qua năm 1949, ta còn tổ chức luyện quân lập công lần hai. Trong chiến đấu, bộ đội chủ lực cần phát triển cách đánh phục kích, tập kích đánh vận động nhỏ. Địch đối phó tăng cường bảo vệ đoàn xe, ta phải nâng trình độ tác chiến lên đánh cấp trung đoàn, trung đoàn tăng cường hay chuyển sang đánh vận động phục kích (1949).

Nói đánh vận động chiến, ta hiểu là đánh cả các cứ điểm. Để nghiên cứu đánh cứ điểm cỡ đại đội, anh Văn rất quan tâm nên rất chú ý chỉ đạo. Năm 1948, ta tổ chức đánh đồn như thật, dùng đội Com-măng-đô(1) làm quân xanh, giao cho Tiểu đoàn 11 do anh Vũ Yên làm Tiểu đoàn trưởng huấn luyện, sau đó giao cho Tiểu đoàn 11 đánh đồn Phủ Thông để thực nghiệm. Lần này trang bị vẫn giữ như hiện có, chưa có bộc phá, còn dùng thang ván và mác xung kích. Trận đánh diễn ra tiến bộ hơn, nhưng chưa dứt điểm được vì vào tung thâm địch có lô cốt cố thủ, ta không giải quyết được. Qua năm 1949, anh giao cho tiểu đoàn anh Thái Dũng nghiên cứu đánh cứ điểm Bản Trại trên đường 4, tiểu đoàn được trang bị súng SKZ và cối 185 do ta sản xuất. Anh trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị và kế hoạch tác chiến. Tôi đi theo sát anh Thái Dũng từ khi chuẩn bị chiến trường, làm kế hoạch và chỉ huy suốt trận đánh. Kết quả rất tốt. Chỉ sau 45 phút, ta đã tiêu diệt gọn, thu toàn bộ vũ khí. Sau khi đem kinh nghiệm của hai tiểu đoàn nói trên huấn luyện cho cán bộ và bộ đội thì kết quả đã nâng được trình độ tác chiến của bộ đội lên nhiều, năm 1949 đã tiêu diệt cả một tiểu khu của địch. Tháng 5 năm 1950, Trung đoàn 174 tăng cường đã tiêu diệt được một cụm cứ điểm cỡ một tiểu đoàn tăng cường của địch trong công sự vững chắc (Đông Khê).

Kết quả năm 1948, chiến tranh du kích phát triển rộng khắp vào sâu trong vùng địch tạm kiểm soát, đánh cả những nơi chúng cho là an toàn nhất, diệt hàng loạt đồn bốt làm cho chúng bị thu hẹp vùng tạm chiếm, phải tăng quân và tăng công sự cho các cứ điểm. Chúng càng thiếu hụt quân số, giảm lực lượng cơ động, cả năm chỉ mở được một cuộc hành quân nhỏ lên trung du hòng bịt cửa ngõ của Việt Bắc, không thực hiện nổi một cuộc tấn công lớn lên căn cứ Việt Bắc lần thứ hai. Ta đã có thể tập trung trở lại các đại đội độc lập về thành lập các trung đoàn chủ lực, làm cho chủ lực ta lớn mạnh hơn nhiều.

Sau này anh Văn đã đánh giá vấn đề này như sau: Đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch là một chủ trương đúng đắn và sáng tạo trong lãnh đạo chiến tranh của ta. Chỉ một năm sau ngày Kháng chiến toàn quốc, lực lượng vũ trang còn rất non trẻ đã cùng toàn dân mở một cuộc phản công chiến lược “mềm” nhằm vào sào huyệt địch trên cả nước. Với việc “biến hậu phương địch thành tiền phương ta”, chúng ta đã làm đảo lộn thế cờ, tạo sự bình ổn cho hậu phương ta, biến hậu phương địch thành chiến trường… Mặt trận mới này còn cho phép chúng ta đánh những đòn trực diện vào chính sách cơ bản của thực dân xâm lược Pháp là “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt hại người Việt”(2).

Tôi nghĩ kinh nghiệm năm 1948 cho thấy lực lượng ta yếu hơn địch cũng có thể “đánh vào đất địch” trên nhiều hướng và là một phương sách giành chủ động về chiến dịch, chiến lược. Như sau này trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ta đã mở rộng, nâng cao thành một cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968 giành thắng lợi quyết định buộc Mỹ phải xuống thang chiến lược.

Về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, “Chiến dịch du kích” là một hình thức sáng tạo. Nó có chỉ huy chỉ đạo thống nhất nhiều lực lượng phối hợp hiệp đồng với nhau (trong đó có thể có bộ phận nhỏ chủ lực không hoạt động vai trò lực lượng chủ yếu) đánh nhiều trận trong một thời gian nhất định, nhằm một mục đích rõ ràng trên một địa bàn cụ thể.


(1) Đội Com-măng-đô là số hàng binh Âu Phi do Bộ Tồng Tham mưu tổ chức để sử dụng trong huấn luyện.
(2) Trích theo sách “Chiến đấu trong vòng vây” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:45:51 AM
Đầu năm 1949, Trung ương Đảng đã quyết định: “Đẩy mạnh cầm cự, tích cực chuẩn bị Tổng phản công” và chuyển phương châm tác chiến: “Du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phù trợ, tích cực đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”.

Trong năm 1949, các chiến dịch liên tục của các quân khu được phát triển mạnh trên nhiều hướng.

Đường 4 trở thành “con đường máu”. Đó là kết quả các trận chiến đấu xuất sắc của Trung đoàn 174 do anh Đặng Văn Việt làm Trung đoàn trưởng đã nổi danh là “Đệ tứ quốc lộ đại vương” khiến cho địch kinh hoàng.

Tây Bắc tiêu diệt tiểu khu Phố Ràng mở một mảng rộng trên phòng tuyến Sông Thao dài 30 ki-lô-mét rồi mở tiếp đến Ba Khe, Nghĩa Lộ.

Mặt trận 3 Trung du hoạt động mạnh.

Kế hoạch khống chế căn cứ địa Việt Bắc của địch bị phá vỡ, âm mưu lợi dụng đồng bào miền núi của chúng lại thêm một thất bại nặng nề.

Mặt trận Hà Nội, đường 5, Hải Phòng gây cho địch khiếp đảm.

Ta phối hợp thắng lợi với Giải phóng quân Trung Quốc diệt và bắt một lực lượng lớn quân Tưởng ở biên giới, mở đường liên lạc với Trung Quốc và đường hành lang Tây Bắc qua Lào.

Trong hai năm, Bộ Tổng Tư lệnh(1) tập trung chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang về nhiều mặt, lấy xây dựng chủ lực làm chính đã đẩy chủ lực lớn mạnh đủ điều kiện xây dựng các đại đoàn chủ lực. Ngày 28 tháng 8 năm 1949, đại đoàn chủ lực đầu tiên với phiên hiệu là Đại đoàn 308 Quân Tiên Phong(2) được thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới của quân đội. Đến ngày 10 tháng 3 năm 1950 ta lập đại đoàn thứ hai là Đại đoàn 304. Lực lượng trực thuộc Bộ bao gồm hai đại đoàn và hai trung đoàn 174, 209, đã mạnh hơn lực lượng cơ động của địch. Ta đã có điều kiện để tổ chức chiến dịch lớn. Đầu năm 1950, Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc lấy tên là chiến dịch Lê Hồng Phong và chuẩn bị mở chiến dịch lớn ở Đông Bắc với ý định rất kiên quyết. Đó là bước mở đầu của một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến.

Qua hai năm, chiến tranh du kích phát triển mạnh, các tiểu đoàn đánh cứ điểm và đánh vận động đã tiến bộ nhiều, địch đã tăng quy mô và công sự các cứ điểm, đồng thời tổ chức nhiều binh đoàn cơ động (7 GM) ta mới có điều kiện và nhu cầu nâng quy mô trận đánh và quy mô tổ chức. Tập trung các đại đội độc lập trở lại, lập các trung đoàn mạnh và phát triển được hai đại đoàn mạnh. Tiếp đến các năm sau tổ chức tất cả là sáu đại đoàn và các binh chủng cũng phát triển hơn.

*
*   *

Trong những năm qua, cường độ làm việc của anh Văn rất lớn. Ngoài công việc của bộ Tổng chỉ huy, Tổng Chính ủy (sau này là Bí thư Quân ủy Trung ương), còn công việc của Chính phủ, của Đảng Đoàn và việc giúp cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

Công việc đòi hỏi phải đi nhiều, thông thường là ngày làm việc, đêm đi, đêm khuya hay gần sáng mới nghỉ. Có khi gấp, đến nơi là chuẩn bị vào làm việc luôn, không có thời gian nghỉ. Thế mà lúc nào cũng thấy anh rất có phong độ, lúc nào cũng tỉnh táo, minh mẫn, điềm tĩnh. Tôi cố gắng rất nhiều nhưng vẫn cảm thấy chưa giúp anh được bao nhiêu. Tuy vậy anh luôn tỏ ra thông cảm, tin cậy và thân mật, điều đó đã khuyến khích tôi nhiều. Đối với tất cả các anh em cùng công tác, anh đều đối xử như vậy.

Năm 1949, anh Phạm Văn Đồng đảm nhiệm công việc của chính phủ và Đảng Đoàn, anh Văn được tập trung vào công tác quân sự nhưng do sang giai đoạn mới công việc lại mở rộng hơn, trách nhiệm lại nặng nề thêm nên tình hình trên không thay đổi mấy.

Phong cách làm việc của anh rất chú trọng tính khách quan, khoa học. đối với các tin tức về địch, về ta, anh kiểm tra đi kiểm tra lại, khi cần thì gặp trực tiếp cán bộ ở đơn vị cơ sở để đánh giá thật chính xác. Giải quyết công việc rất quyết đoán có cơ sở chắc chắn. Đối với vấn đề mới thì rất cẩn trọng, khi cần thì tổ chức thực nghiệm như các trận đánh cứ điểm Phủ Thông, Bản Trại… Mong muốn thực hiện được đánh tiêu diệt và hạn chế tổn thất đến tối thiểu. Trong thế bị động vẫn bình tĩnh mưu trí giành lại chủ động (trong điều kiện ta yếu hơn địch). Đối với những vấn đề lớn về chỉ đạo chiến lược mà anh thường xuyên phải giải quyết, anh nghiên cứu rất sâu rộng, nhuần nhuyễn tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo theo tình hình thực tế từng thời kỳ, nhìn xa trông rộng dự kiến những khả năng có thể xảy ra để luôn chủ động trong công tác. Đối với các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần…, anh rất chú trọng phát huy với tinh thần rất dân chủ, kịp thời giao nhiệm vụ, lắng nghe, hướng dẫn, có khi trực tiếp với cán bộ đang làm một nhiệm vụ quan trọng. Đối với cấp dưới, anh dành tình cảm như người anh, dìu dắt như người thầy. Đó là những vấn đề tôi học được ở anh. Nó đã giúp tôi nhiều trong quá trình công tác các năm sau.

Tôi còn học tập được các anh em trong cơ quan như học đọc sách quân sự bằng chữ Hán với cụ Đông A; học tìm hiểu về lý luận chính trị, về Đảng với hai đồng chí Mạnh Việt và Phùng Ngọc Bảo, những người sau này giới thiệu tôi vào Đảng Lao động Việt Nam.

Trong thời gian tôi làm bí thư quân sự cho anh Văn, tôi đã cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nhưng chủ yếu là tôi học tập được nhiều về một số vấn đề về đường lối và chỉ đạo chiến lược cũng như tác phong lãnh đạo chỉ huy xây dựng, huấn luyện và chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Trước khi rời cơ quan, chuyển ra đơn vị, tôi đã được kết nạp vào Đảng. Đó là các điều kiện rất cơ bản và quan trọng để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ khi ra chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Rời cơ quan ra đơn vị chiến đấu, tôi coi như đã tốt nghiệp “Trường đại học lớn” của tôi, nay được ra trường. Giống như ngày xưa, kẻ sĩ lên núi luyện thành tài, nay Thầy cho “xuống núi” thi thố với đời!


(1) Ngày 20 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra sắc lệnh phong cấp Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình và Thiếu tướng cho 9 đồng chí cán bộ khác của quân đội, còn phong cấp Đại tá cho một số cán bộ cấp cục. Ngày 12 tháng 3 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.
(2) Gồm ba trung đoàn: 102, 88, 36 đã qua chiến đấu; một tiểu đoàn pháo 75mm, một tiểu đoàn phóng pháo, cối 120, 185mm, một tiểu đoàn công binh, một tiểu đoàn thông tin.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:46:54 AM
TRƯỞNG THÀNH TRONG CHIẾN ĐÂU Ở QUÊ CHA

Vào mùa thu 1950, tôi được chuyển ra đơn vị trực tiếp chiến đấu ở Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 – đại đoàn chủ lực đầu tiên của bộ. Từ đây cũng là thời gian ta bắt đầu vào giai đoạn Tổng phản công. Ta đã phải trải qua một giai đoạn chiến tranh quyết liệt với kẻ thù để giữ và giành lại chủ động chiến trường, tạo thế lực và điều kiện chuyển sang quyết chiến chiến lược cuối cùng. Tôi ở đơn vị chiến đấu đã thấy rõ tình chất quyết liệt, khó khăn ở chiến trường.

Trung đoàn 36 thành lập ngày 10 tháng 1 năm 1946 là một trong những trung đoàn thành lập đầu tiên của quân đội. Ngày đầu thành lập trung đoàn có tên là Chi đội Bắc Bắc, gồm một tiểu đoàn tập trung và các đại đội địa phương thuộc khu 12 bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Trung đoàn đã chiến đấu cấp đại đội, tiểu đoàn độc lập hoặc trong đội hình của trung đoàn, giỏi đánh vận động, riêng tiểu đoàn tập trung nay là Tiểu đoàn 80 đánh được các đồn nhỏ có ít công sự, ở địa hình trung du hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Cán bộ chiến sĩ hầu hết là quê ở đây nên quan hệ gắn bó với nhân dân hai tỉnh này.

Trước khi đi chiến dịch, trung đoàn đã có thời gan huấn luyện quân sự, chính trị, đã được tăng cường thêm vũ khí do hai trung đoàn khác của đại đoàn giao lại, sức chiến đấu được tăng lên.

Tháng 8, tôi được lệnh về làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 khi ta đang khẩn trương chuẩn bị chiến dịch Biên Giới, trung đoàn đã hành quân lên vị trí tập kết ở Bố Trạch, Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

Tôi tự đi tìm đến đơn vị bằng xe đạp. Tôi định qua Bắc Kạn lên Cao Bằng trước. Ở đấy có nhà anh Kim Hùng là trưởng ban quân báo Đại đoàn 308, từ đấy tôi có thể theo trinh sát đi đến trung đoàn. Đường đi qua nhiều đèo dốc, phải học tập người đi đường buộc một cành cây to khi xuống dốc mới đi được. Dọc đường có khi lên cơn sốt rét phải vào nhà dân nghỉ, dùng thuốc mang theo, dứt cơn sốt lại tiếp tục đi. Đến nơi tôi gặp anh Kim Hùng đang đi lên đài quan sát để trinh sát thị xã Cao Bằng. Trước khi lên đường tôi đã được biết Đại đoàn 308 đang chuẩn bị để đánh Cao Bằng nên tôi đi theo anh Kim Hùng lên đài luôn. Từ trên đìa nhìn thị xã thật đẹp và nên thơ, ba mặt đều có sông, thật hiếm thấy một thành phố ở một địa thế đẹp như vậy. Hai bên sông cây cối xanh tốt, dòng nước lờ lững trôi thật hiền lành, nhưng tiếc thay, các cứ điểm phòng ngự với các công sự đỏ ối của địch dường như những vết thương lở loét nhức nhối. Tôi suy nghĩ, dự đoán hướng chính của đại đoàn phải đánh vào pháo đài vì chỉ có hướng này mới có đất liền. Nhưng ở đây thật khó đánh vì có thành cao, công sự vững, tôi dự kiến hướng của Trung đoàn 36 có thể ở hướng Đông vì ở dấy có cây cầu, làm sao chiếm giữ nó trước và quan sát sâu vào trong… Tôi rời khỏi đài lòng băn khoăn: đánh trận này liệu có chắc thắng không?

Đến đơn vị vừa kịp đi chuẩn bị chiến trường. Lúc này quyết tâm của chiến dịch đã có thay đổi. Trận đầu của chiến dịch là Đông Khê. Trung đoàn làm nhiệm vụ đánh vận động là hợp với sở trường rồi. Thật là may! Tôi phải tranh thủ tìm hiểu nhiệm vụ, tình hình địch và tình hình chung của ta, chưa kịp làm quen với cán bộ, nhân viên cơ quan trung đoàn. Mấy ngày đi chuẩn bị chiến trường là dịp đầu tiên để hiểu tất cả cán bộ chủ chốt về quân sự của trung đoàn. Chỉ huy trung đoàn lúc đó tôi chỉ gặp anh Hồng Sơn – Trung đoàn trưởng, anh Lê Linh – Chính ủy. Tôi cũng không gặp được anh Tham mưu trưởng cũ để nhận bàn giao. Đó là khó khăn ban đầu.

Chiến địch Biên Giới là chiến dịch lớn nhất. Đại đoàn 308 là lực lượng chủ yếu, mở đầu giai đoạn tổng phản công, dùng toàn bộ chủ lực của Bộ và lực lượng vũ trang của hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và của Liên khu. Mục đích rất kiên quyết, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng biên giới phía Bắc, giải tỏa uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc.

Bác Hồ cũng đi chiến dịch. Anh Văn trực tiếp làm Chỉ huy trưởng, Bí thư Đảng ủy của Bộ chỉ huy chiến địch, có cố vấn Trung Quốc giúp sức. Điều đó nói lên tầm quan trọng của chiến dịch này. Lần đầu tiên số lượng dân công lớn ngang số bộ đội ra mặt trận.

Sự có mặt của Bác là nguồn cổ vũ lớn. Tranh vẽ và bài hát “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” là sáng tác trong thời gian này. Hai trung đoàn của Đại đoàn 308 đã sang Trung Quốc học thêm cách đánh địch trong công sự và lô cốt, có K50 cho chiến sĩ, có pháo 75 (sơn pháo) và trọng liên bắn máy bay, đã tăng sức mạnh chiến đấu lên nhiều.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:47:15 AM
Khu vực chiến dịch địa hình rừng núi hiểm trở, nhiều núi đá, đường sá kém phát triển. Đường số 4 là con đường chiến lược quan trọng chạy dọc biên giới Việt – Trung dài 300 ki-lô-mét, từ Hồng Quảng qua Lạng Sơn lên Cao Bằng. Đây là “liên khu biên giới phía Bắc” của địch do 13 tiểu đoàn chiếm đóng nhằm bao vây căn cứ ta về phía Bắc. Trọng điểm là thị xã Cao Bằng và Lạng Sơn, các cứ điểm chốt ở ngã ba giao thông chính là Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm.

Ý định quyết tâm của chiến dịch lúc đầu định đánh Cao Bằng kéo viện lên để diệt. Sau Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển sang đánh Đông Khê là rất hay. Đó là do tác phong chỉ huy sâu sát, dân chủ, cẩn trọng nắm chắc phần thắng như chỉ thị của Bác: “Chiến dịch này chỉ được đánh thắng!”

Đông Khê là một cụm cứ điểm mạnh đã bị Trung đoàn 174 diệt gọn cuối tháng 5 năm 1950 (ngoài dự kiến của Bộ), nay đã được củng cố, tăng cường. Hai trung đoàn 209 và 174 tăng cường sơn pháo 75 đánh Đông Khê. Đại đoàn 308 chuẩn bị đánh viện.

Địch quyết giữ Đông Khê nên trận đánh kéo dài, nhưng ta quyết đánh tiêu diệt. Trận đánh kéo dài từ 6 giờ sáng ngày 16 đến 5 giờ ngày 18 tháng 9. Ta toàn thắng.

Nhiệm vụ của Trung đoàn 36 là đánh viện cả dù lẫn bộ binh ở Nam Đông Khê, trọng điểm là Khâu Luông, Nà Pá đến Trọc Ngà.

Sau khi đoàn cán bộ từ đại đội trưởng trở lên đi chuẩn bị chiến trường vừa đi vừa trao đổi, khi về tôi đã hình thành quyết tâm. Đồng chí Trung đoàn trưởng họp Đảng ủy thông qua quyết tâm, tôi làm kế hoạch.

 Núi Khâu Luông cao nhất khu vực, sườn núi rất dốc, có bốn mỏm cách nhau qua cá “yên ngựa”, toàn cỏ tranh. Nó có vị trí khống chế toàn khu vực, địch có thể chiếm để bảo vệ sườn. Nhưng chung quanh không có địa hình đặt hỏa lực để chi viện cho bộ binh xung phong, chúng tôi phải tìm một vị trí kín đáo ở sườn đồi ít dốc gần mỏm núi để nhanh chóng chiếm trước bàn đạp khi địch đến. Các đơn vị giấu quân kín ở phía Đông đường là chính, một bộ phận ở phía Tây đường; tất cả khu vực chuẩn bị đường xuất kích, tính toán hiệp đồng các mũi, giữ bí mật với máy bay trinh sát, ngụy trang đánh ngày; điện thoại liên lạc với các mũi và hỏa lực chuẩn bị tín hiệu chỉ huy khi vận động; hỏa lực chính là cối đặt dưới chân núi chi viện sát cho bộ binh.

Thế trận đã bày xong, chờ bảy ngày địch không lên. Địch chủ trương bí mật rút khỏi Cao Bằng, lệnh cho Lơ Pa-giơ từng chặng. Ta không phát hiện được. Sau mới biết địch cho binh đoàn Lơ Pa-giơ đi rất bí mật lên đón binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút về hẹn hợp điểm ở Nậm Nàng – Bắc Đông Khê 15 ki-lô-mét, sau đó hành quân về Thất Khê.

Từ ngày 25 tháng 9, ta chuẩn bị đánh Thất Khê. Tôi cùng cán bộ tiểu đoàn, đại đội đi chuẩn bị chiến trường, hai phần ba quân số bộ đội đi lấy gạo. Khi địch đi qua trận địa phục kích của Đại đoàn 308 ở phía Nam ban đêm, trận địa bỏ trống. Đến đêm ngày 1 tháng 10, Trung đoàn 209 ở Đông Khê phát hiện địch đã nổ súng mới biết. Vì vậy Trung đoàn 36 thế trận không sẵn sàng, không thực hiện được kế hoạch chiếm trước đỉnh Khâu Luông, lực lượng còn ít lại xộc xệch, hôm sau đánh chiếm lại rất khó khăn.

Binh đoàn do đại tá Lơ Pa-giơ chỉ huy có ba tiểu đoàn Âu Phi, tăng cường tiểu đoàn dù 1, chiếm các núi cao Nam Đông Khê trải dài đến Lũng Phầy (hơn 10 ki-lô-mét). Ngày 1 tháng 10, chúng thả dù thêm một đại đội pháo xuống Nà Pá. Hôm sau tiểu đoàn dù 1 và một tiểu đoàn Âu Phi đi vòng phía Tây lên đón binh đoàn Sác-tông.

Chiều 2 tháng 10, Đại đoàn 308 dồn quân còn lại xuất kích chiếm Trọc Ngà diệt một đại đội, đến tối chiếm được đường số 4 từ Trọc Ngà đến Lũng Phầy. Địch dồn lại cố thủ ở Khâu Luông, Nà Pá, Khâu Áng.

Trung đoàn 36 được lệnh xuất kích chiều ngày 2 tháng 10, bộ đội chưa kịp ăn cơm, tập trung lực lượng xuất kích ngay, không kịp nắm tình hình cụ thể của địch, triển khai tiến công Khâu Luông. Lực lượng chỉ có hai tiểu đoàn 80 và 84 xộc xệch dồn lại mỗi tiểu đoàn được một đại đội do Trung đoàn trưởng và Chính ủy trực tiếp chỉ huy. Đồng chí Trung đoàn phó và tôi đi chuẩn bị chiến trường ở Thất Khê. Đây là vị trí chủ yếu của địch đóng trên địa điểm cao rất dốc, có hỏa lực mạnh. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, trung đoàn tổ chức hai đợt xung phong đánh giáp lá cà với địch từ 22 giờ ngày 2 và 8 giờ ngày 3 tháng 10, nhưng chỉ chiếm được đầu cầu, không có hỏa lực yểm hộ chặt chẽ nên lại bị bật xuống sườn núi ở lưng chừng đồi. Có nhiều gương anh dũng như Tiểu đội trưởng Trần Quang Vinh, Đại đội phó Phan Đề Yên (Đại đội 62), Đại đội phó Kim Thảo (Đại đội 63) bị thương không rời trận địa, kiên quyết chỉ huy đơn vị liên tục tiến công. Hai đồng chí Vi Văn Lực, Nguyễn Công Bằng quật ngã, tiêu diệt nhiều quân địch.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:50:30 AM
Mặc dù máy bay, pháo địch bắn phá, trong khói lửa, trung đoàn quyết tâm động viên bộ đội chủ cố tổ chức, đạn dược, rút kinh nghiệm hai đợt qua, tổ chức hiệp đồng lại chặt chẽ, có thêm sức của bộ đội, cán bộ đi lấy gạo về. Tiểu đoàn 80 qua hai ngày đêm chiến đấu liên tục bị tiêu hao và mệt mỏi, trung đoàn đưa Tiểu đoàn 11 thuộc Trung đoàn 209 Bộ tăng cường vào thay. Đến trưa ngày 3 tháng 10, đợt tiến công thứ ba có hai tiểu đoàn 11, 84 lại bắt đầu. Bộ binh và pháo binh phối hợp chặt chẽ, các mũi tiến lên đều, bấm sát địch đánh gần giáp lá cà vật lộn với địch rất quyết liệt. Sau 2 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 84 chiếm được mỏm Đông Nam. Tiểu đoàn 11 đã tiến sát mỏm Đông Bắc, hai mũi hiệp đồng chặt chẽ, đánh bật địch, làm chủ trận địa, diệt một đại đội Âu Phi. Đến 12 giờ đêm, địch rút chạy về phía Cốc Xá, bỏ lại toàn bộ pháo (4 khẩu 105mm), lừa, ngựa và 500 xác chết tại chiến trường.

Chiến thắng oanh liệt của trung đoàn tại Khâu Luông đã làm kế hoạch của địch bị đảo lộn. Hai cánh quân này phải tìm nhau giữa khu rừng Tây Đông Khê. Theo tin trên thông báo điểm hẹn tới là 477, Tây Cốc Xá vì lúc khẩn cấp chúng đánh điện rõ hết.

Cánh quân Sác-tông gồm hai tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn ngụy và 500 dân sự có tỉnh trưởng Cao Bằng. Ngày 4 tháng 10, địch phải bỏ hết xe cộ để đi theo đường đất vào Quang Liệt. Đội hình địch dài 6 ki-lô-mét, đường có nhiều bụi rậm phải phát cây để đi, dọc đường gặp những toán quân nhỏ của ta đánh, chúng phải đi vòng để tránh, mỗi ngày chúng chỉ đi được 4 đến 6 ki-lô-mét.

Đài phát thanh của địch ngày 4 và 5 tháng 10 còn nói ra rả: “Khi hai cánh quân Lơ Pa-giơ và Sác-tông gặp nhau thì phải trở thành một lực lượng mà Việt Minh không thể làm gì nổi”.

Ngày 4 tháng 10, cánh Lơ Pa-giơ đến Cốc Xá, có ba tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, đã phái một tiểu đoàn đi liên lạc ở 477 nhưng dọc đường gặp Tiểu đoàn 18, Trung đoàn 102 chặn đánh phải lui về Cốc Xá.

Đến ngày 6 tháng 10 thì hình thái chung như sau: Binh đoàn Sác-tông lực lượng còn tương đối nguyên vẹn nhưng mệt rã rời, mất tinh thần, chiều ngày 6 tháng 10 mới đến 477, chưa gặp cánh Lơ Pa-giơ đang còn ở Cốc Xá. Cũng đến ngày 6 tháng 10, lần đầu tiên chúng liên lạc với nhau bằng vô tuyến điện.

Chiều 4 tháng 10, tôi đã về kịp đưa bộ đội đi truy kích địch. Tôi đi cùng anh Hồng Sơn theo vết của địch, cho điện thoại kéo theo, đến xế chiều thì đến đỉnh núi 765, đã thấy dãy núi đá trước mặt, máy bay đang thả dù tiếp tế, đoán biết địch ở đó. Một lúc sau điện thoại kéo đến, anh Hồng Sơn đã kịp cầm máy trả lời cho đồng chí Tổng tư lệnh trực tiếp hỏi tình hình. Chúng tôi được biết binh đoàn Lơ Pa-giơ đang ở Cốc Xá và hai binh đoàn của địch đang hẹn nhau ở 477. Chặp tối, chúng tôi gặp anh Chu Phương Đới – Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 154 – Trung đoàn 209 sang tăng cường cho Trung đoàn 36. Chúng tôi được biết bộ đội 154 đang bám địch hướng Đông Bắc núi đá Cốc Xá. Anh Hồng Sơn giao cho Tiểu đoàn 154 đánh địch từ hướng Bắc vào theo đường địch rút rồi thông báo cho anh Chu Phương Đới biết để hiệp đồng. Tiểu đoàn 11 sẽ đánh từ Tây Nam lên, Tiểu đoàn 89 đánh cắt ngang ở giữa. Lúc này anh Văn Nhân – Tiểu đoàn trưởng 89 cũng đã có mặt. Sau đó đến tối thì gặp anh Dũng Mã của Tiểu đoàn 11, giao cho Tiểu đoàn 11 đánh hướng Tây Nam theo đường địch rút, hướng này có đường sang 477.

Trong ngày 5 tháng 10, địch mở đường máu để đi qua 477 nhưng bị Tiểu đoàn 11 đánh lui 4 đợt tiến công của chúng.

Địch được máy bay chi viện dựa vào thế núi chống cự. Ta chiếm được các điểm cao đồi đất, địch co lại cố thủ trong các hang đá trong đó có hang đá lớn gọi là hang Cốc Xá.

Lệnh của đại đoàn giao cho Trung đoàn 36 bao vây, tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ ở Cốc Xá, không cho chúng liên lạc với binh đoàn Sác-tông, lực lượng còn lại của địa đoàn bao vây tiêu diệt binh đoàn Sác-tông ở 477.

Bác Hồ gửi lá thư ngắn: “hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết, giành lấy toàn thắng”.

Đại tướng Tổng tư lệnh điện lệnh: “Bắt sống Lơ Pa-giơ, bắt lính Ta-bo về đi tải gạo”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:50:54 AM
Sáng ngày 6 tháng 10, trung đoàn tổ chức lại trận tiến công với ý chí quyết diệt địch bằng được. Các hướng tổ chức hỏa lực yểm hộ có hiệu lực, bộ đội mang nhiều lựu đạn, len lỏi đánh từng hốc đá. Đặc biệt, nhất là Đại đội 395 thuộc Tiểu đoàn 89 do Đại đội trưởng Tiến Trang chỉ huy đã dũng cảm, chịu đau, khắc phục khó khăn trèo lên một ngọn cao đánh xuống bất ngờ nổ súng vào bọn chỉ huy của binh đoàn Lơ Pa-giơ. Chúng hoảng hốt bỏ chạy ào xuống hướng Tiểu đoàn 11, bị hỏa lực quật ngã rất nhiều nhưng chúng vẫn chạy bừa xuống đạp vào các ổ súng ở gần. Ở sở chỉ huy trung đoàn còn nhìn thấy nhiều tên từ trên cao ba bốn mét thả dây leo xuống, có đứa nhảy ào xuống suối… cố thoát thân trên các hướng, nhưng chúng lại rơi vào trận địa của ta, bị diệt bị bắt rất nhiều. Sau 30 phút, toàn bộ binh đoàn Lơ Pa-giơ đã hoàn toàn tan rã. Một số trong đó có ban tham mưu của Lơ Pa-giơ chạy thoát, nhưng đói mệt, mất tinh thần, gặp ta ở đâu là ra hàng ở đó, nhất là anh nuôi vừa đi vừa giơ cao nắm cơm gọi hàng bắt được rất nhiều tù binh. Một số chạy cả vào Sở chỉ huy của trung đoàn. Trong một ngày ta đã bắt hơn trăm tên. Sáng ngày hôm sau, Đại đội 42 thuộc Tiểu đoàn 84 đi phối thuộc cho Trung đoàn 88 do đồng chí Đại đội trưởng Trần Đăng Khiêm chỉ huy, có đồng chí Trần Phòng giỏi tiếng Pháp làm phên dịch đã bắt gọn ban tham mưu của đại tá Lơ Pa-giơ đưa về báo cáo với trung đoàn biết rõ, trong đó còn có đại tá bác sĩ quân y Du-rích và nhiều sĩ quan đi cùng.

Tin binh đoàn Lơ Pa-giơ bị tiêu diệt là một đòn cân não nặng nề giáng vào binh đoàn Sác-tông đang bị quây đánh ở điểm cao 477. Bị các trung đoàn 88 và 102 đánh mạnh, chúng lập tức tan rã, tháo chạy bừa bãi. Chiều ngày 7 tháng 10, toàn bộ binh đoàn Sác-tông đã bị quân ta tiêu diệt và bắt sống.

Sác-tông và hầu hết ban tham mưu của hắn cùng Hai Thu – tên tỉnh trưởng bù nhìn Cao Bằng bị Tiểu đoàn 18 Trung đoàn 102 bắt sống.

Ngày 8 tháng 10 nhận được thư Bác: “Các chú không quản mệt nhọc, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch, các chú đã đánh tan đoàn quân tinh nhuệ nhất của địch… Bác và Tổng tư lệnh đã ra lệnh khao các chú một bữa thịt bò. Bác hôn tất cả các chú”.

Nghe thư Bác ai nấy đều vui mừng khôn xiết, vỗ tay, hô khẩu hiệu, hát vang cả khu rừng nơi bộ đội tập kết sinh hoạt.

Được tin hai binh đoàn Lơ Pa-giơ và Sác-tông bị tiêu diệt, cánh quân Đờ La Bôm tháo chạy về Thất Khê. Tiếp đó, quân địch ở Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập nằm trên đường số 4 đều hốt hoảng rút chạy hết. Hệ thống phòng tuyến được mệnh danh là “Vành đai khép chặt biên giới” hoàn toàn bị đập vỡ. Từ Bắc đến Đông Bắc được giải phóng. Những ngày sau đó, địch rút từ An Châu (23-10) đến sát Tiên Yên. Tổng cộng đường số 4 được giải phóng gần 100 ki-lô-mét. Vũ khí, quân trang, quân dụng, xe cộ, đạn dược thu được rất lớn. Riêng Lạng Sơn, theo tin địch, chúng bỏ lại “1.500 tấn trang bị, 2.000 tấn quân nhu, 4.000 khẩu tiểu liên, 10.000 viên đạn pháo, 150 tấn thuốc nổ, ước tính đủ trang bị cho tám trung đoàn đối phương”.

*
*   *

Chiến dịch Biên Giới là một thất bại khủng khiếp của thực dân Pháp. Theo chúng thì Hà Nội đã bị trực tiếp uy hiếp. Cũng không phải chỉ Pháp nghĩ như vậy. Chúng tôi có được nghe kể lại rằng đồng chí Trần Canh – Tư lệnh dã chiến quân Trung Quốc sang thăm ta, khi nghe nói về kết quả chiến dịch Biên Giới, đồng chí ước lượng đường đến Hà Nội, rồi vẽ ba cái vòng lớn và nói: 200 ki-l.ô-mét, chỉ ba chiến dịch nữa! Nhà văn Hội văn nghệ quân đội Pháp A-ri-ghi viết: “Cuối tháng 12 năm 1950, Bắc Kỳ như chiếc đèn trước gió, nhân dân Hà Nội chờ đợi điều xấu nhất xảy ra. Việt Minh say sưa vì chiến thắng đường 4 ở Cao Bằng và cuộc rút lui vội vã của Lạng Sơn, chỉ còn một tham vọng chiếm đồng bằng Bắc Kỳ vựa lúa và biển người không bao giờ cạn… Ngày 25 tháng 12 năm nay đã phát hiện đối phương bắt đầu tiến công trên hai hướng: Tám chín tiểu đoàn chủ lực tiến công hướng xứ Nùng hoạt động hướng Móng Cái giáp Trung Quốc. Hai mươi tiểu đoàn khác thuộc Đại đoàn 308 và toàn bộ Đại đoàn 312 ở hai bên dãy núi Tam Đảo cách Hà Nội 65 ki-lô-mét. Mục tiêu đã rõ ràng: Chiếm Hà Nội”.

Thực dân Pháp vội vã điều tướng Đờ Lát mà họ tin tưởng chỉ có ông ta mới cứu vãn được tình hình. Đờ Lát là tướng 5 sao đầu tiên sang Việt Nam làm cao ủy kiêm tổng tư lệnh, mà Pháp coi là anh hùng, là tướng tài đã từng cứu nước Pháp khỏi bàn tay của phát xít Đức.

Ngày 6 tháng 12 năm 1950 Đờ Lát sang Việt Nam đã vội vã vét quân từ trong Nam đưa ra tăng viện cho Tiên yên và lo ngăn chặn ta tiến công vào Hà Nội. Ông ta trưng dụng cả máy bay dân dụng lập cầu hàng không ra Bắc để đưa gấp quân, pháo, đạn pháo, bom na-pan mà ông ta sẽ dùng với số lượng lớn để chặn đứng các cuộc tiến công của quân ta.

Đờ Lát tiếp tục thúc đẩy thực hiện kế hoạch bình định, dựa vào viện trợ Mỹ phát triển lực lượng ngụy để tập trung lực lượng cơ động hòng giành lại chủ động; mặt khác gấp rút xây tuyến vài đai boong-ke từ Đông sang Tây ngăn chặn chủ lực ta xuống đồng bằng để mở rộng vùng tạm chiếm.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:51:18 AM
Để phá âm mưu của địch, Trung ương Đảng ta chủ trương mở các chiến dịch liên tiếp, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển du kích chiến tranh, phá bình định, phá khối ngụy quyền, giữ quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Theo tình hình cụ thể từng địa bàn, mỗi chiến dịch còn có những yêu cầu riêng. Hai đại đoàn 308 và 312 làm nòng cốt,. liên tục tham gia các chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch đều do anh Văn làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy.

Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở trung du bắt đầu ngày 25 tháng 12 năm 1950. Ngoài các mục đích nói trên, chiến dịch còn nhằm phá kế hoạch củng cố của địch và mở rộng khu lương thực. Hướng chủ yếu là Vĩnh Yên – Phúc Yên, hướng phụ là Bắc Ninh.

Thủ đoạn tác chiến của Đờ Lát có thay đổi: tăng viện binh thận trọng hơn, nhưng kiên quyết hơn, tập trung số lượng phi pháo, bom na-pan lớn hơn rất nhiều, bước đầu có gây khó khăn cho ta.

Trở về trung du, chiến trường cũ vốn là quê hương của mình, các chiến sĩ Bắc Bắc rất nô nức, phấn khởi. Sau nửa tháng hành quân, trung đoàn đã về vị trí tập kết chiến dịch.

Đợt 1 chiến dịch. Các trung đoàn 88, 102 thuộc Đại đoàn 308 diệt Tú Tạo, Cà Phê, Thằn Lắn, Hữu Bằng. Tiểu đoàn 80 Trung đoàn 36 dùng chiến thuật “bôn tập” diệt gọn đồn Yên Phụ nằm trong tuyến vành đai của Đờ Lát.

Đợt 2 ta đánh điểm diệt viện. Trung đoàn 141 diệt cơ bản cứ điểm Ba Huyên. Tiểu đoàn 89 Trung đoàn 36 diệt vị trí Tam Lộng. Địch đưa binh đoàn 3 tăng viện. Trận vận động diễn ra ác liệt ở Tam Dương, tiểu đoàn đi đầu của địch lọt vào trận địa của Trung đoàn 36 ở Long Trí, Cẩm Thạch đã bị đánh tan tác. Địch bị diệt hơn 700 tên, 3 xe tăng. Địch cho hai tiểu đoàn lên đón bị Trung đoàn 88 và Trung đoàn 209 quây đánh trên cánh đồng Thanh Vân, Đạo Tú, chúng hoảng loạn tháo chạy về thị xã. Ta truy kích diệt thêm một số và giải phóng một loạt cứ điểm nhỏ: Phổ Sơn, Mậu Thông, Mậu Lan, Khai Quang. Do ta không có mục đích chiếm Vĩnh Yên và không có thông tin kịp thời điều động lực lượng nên đã bỏ lỡ thời cơ. Nhân đó, địch huênh hoang rằng đã đánh lui quân ta và bảo vệ được Vĩnh Yên. Sáng hôm sau, chúng đã kịp cho một tiểu đoàn dù xuống thị xã và tăng viện binh đoàn 1 cùng binh đoàn 4 giải vây cho Vĩnh Yên. Một trận “tao ngộ” rất quyết liệt ở Ngoại Trạch giữa Trung đoàn 102, Tiểu đoàn 89 Trung đoàn 36 với binh đoàn 1 diễn ra trong cả ngày. Ta diệt 100 tên, 3 xe tăng, 3 xe vận tải của địch. Trận chiến đấu trên dãy núi Đanh cũng rất quyết liệt. Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 đánh tan hai đại đội địch ở điểm cao 101, diệt và bắt hơn 200 tên. Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 88 đánh tan một đại đội địch ở điểm cao 41 và 47. Tiểu đoàn 80 Trung đoàn 36 cùng Trung đoàn 209 đánh điểm cao 210. Địch tập trung pháo chi viện đến 2.000 quả đạn pháo, thả bom na-pan tràn lan. Ta đánh lên lại bị bật xuống, giành giật hết sức quyết liệt nhưng không dứt điểm được do hiệp đồng không tốt.

Đến đây sức chiến đấu của bộ đội đã giảm, nhiệm vụ chiến dịch đề ra đã hoàn thành, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch, chuyển hướng chiến dịch sang mặt trận khác.

Địch huênh hoang rằng Vĩnh Yên là bản anh hùng ca của Đờ Lát, nhờ tài chỉ huy của Đợt Lát mà chúng đã giành chiến thắng lớn bảo vệ được Vĩnh Yên. Chúng không ngờ rằng chỉ hai tháng sau chúng bị chính những đơn vị có mặt hôm nay đánh cho thiệt hại nặng nề ở đường số 18 vùng Đông Bắc.



Từ Trung du, trung đoàn về nghỉ ở Thái Nguyên đón Tết Nhâm Thìn (1951) thật vui vẻ.

Một buổi, tôi ngồi nói chuyện, tâm sự với anh Hồng Sơn và Lê Linh. Anh Hồng Sơn nói:

- Tôi với anh Linh bàn và có ý để đồng chí làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 đang thiếu, ý đồng chí thế nào?

- Có phải tôi làm điều gì không phải với hai anh không?

- Không có!

- Thế thì tôi nhất trí. Nếu tôi xuống đó giúp cho đơn vị được tốt hơn.

Tôi nhớ lại, trong ngày đầu làm việc với anh Văn, anh đã nói:

- Cậu có văn hóa, sau này rất cần để đào tạo cán bộ đánh “vận động chiến”.

Nay anh đã cho tôi xuống đơn vị, tôi nghĩ mình xuống đây cũng chưa trực tiếp “làm”. Người ta thường nói: Trăm “thấy” không bằng một “làm”. Ở tiểu đoàn mới thật trực tiếp chiến đấu, thế cũng hay! Tôi đi thăm anh em rồi mang ba lô về đơn vị.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:51:46 AM
*
*   *

Chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đường 18 bắt đầu ngày 23 tháng 3 năm 1951. Lần này Đại đoàn 308 tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám đánh vào tuyến phòng thủ của địch ở duyên hải đường số 18 phạm vi ba phân khu: Núi Đèo, Quảng Yên, Phả Lại là nơi nhạy cảm của địch; ta dự kiến khi ta uy hiếp Hải Phòng và đường số 5 thì chúng sẽ tăng viện, ta có thời cơ tiêu diệt sinh lực địch. Địa hình ở đây trung du xen kẽ rừng núi thuận lợi cho ta giấu quân.

Đường hành quân đi chiến dịch phải qua nhiều núi miền Đông Bắc, nhiều đèo dốc cao, trời mưa liên miên, rét đậm. Cả bộ đội và dân công rất đông, đi qua một lúc đường thành bùn nhão, không giữ được bí mật, chưa đến vị trí tập kết thì địch đã phát hiện hướng hành quân, nên dọc đường và ở nơi tập kết, có đoàn chuẩn bị chiến trường đã bị máy bay oanh tạc. Hành quân dài ngày, bộ đội phải vượt qua nhiều gian khó: mang vác nặng, đi đường trơn, mưa rét, áo quần ba lô luôn bị ướt, địch đánh phá, lo nhất là giữ gìn cho bộc phá khỏi bị ẩm ướt. Song anh em đã qua nhiều cuộc hành quân xa, lại luôn có chính trị viên đi sát động viên cổ vũ bằng nhiều hình thức linh hoạt, lo cả bữa ăn, giấc ngủ, ngày vẫn bảo đảm hai bữa cơm nóng. “Bộ đội chưa nghỉ thì cán bộ không được kêu mệt”, vì vậy anh em đều vui vẻ vượt qua mọi khó khăn, đến vị trí tập kết an toàn, đúng thời gian. Trong thời gian hành quân, “anh nuôi” thường là người chịu vất vả nhiều nhất, đi sau mà phải đến trước, mang nặng hơn anh em, thức khuya dậy sớm bảo đảm cho bộ đội hai bữa cơm nóng và một nắm cơ phụ. Chưa ai biết là “bếp Hoàng Cầm” nên phải nấu ăn ban đêm, che chắn cẩn thận. Ngày mưa càng vất vả, phải có đủ mẹo để giữ củi khô làm mồi, làm lán che mưa. Trong gánh nồi niêu, lúc nào cũng sẵn củi có dầu như cây tràm… ít thấm nước làm mồi nhóm bếp. Các anh lính chiến cũng rất quan tâm anh nuôi, chả là đã đôi lần bị đói vì chậm cơm. Mưa thì thà chịu ướt, còn bộc phá thì phải bao gói cẩn thận, không được để ướt và cũng không quên gói thêm một nắm củi làm đóm như anh nuôi. Thấy cây gì làm rau được như măng, rau tàu bay, rau dền, quả trám, quả mít non… cũng nhặt hết, không bỏ qua thứ gì. Hành quân đến nơi dồn hết cho anh nuôi cải thiện bữa ăn.

Tôi đi trước chuẩn bị chiến trường với Trung đoàn trưởng. Bây giờ mới gặp đơn vị, trao đổi với Chính trị viên về tinh hình bộ đội trong hành quân, tình hình chuẩn bị chiến trường, dự kiến quyết tâm rồi bàn công tác cần làm để chuẩn bị thật tốt cho bộ đội vào chiến đấu,.



Mở màn chiến dịch, Trung đoàn 88 và Trung đoàn 174 diệt: Lán Tháp, Lán Trâu, Lọc Nước, Máng Nước để câu viện nhưng chúng dè dặt chỉ tăng viện cho các cứ điểm bị uy hiếp, không tăng viện lớn sợ sẽ diễn lại thảm họa Biên Giới. Chúng tăng cường máy bay, pháo binh, đánh phá ác liệt để sát thương ta và ngăn chặn các mũi tiến quân. Chờ ba ngày viện binh địch vẫn không lên, chiến dịch chuyển hướng. Đêm 27 tháng 3, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 141 tiến công tiêu diệt Bí Chợ, Tràng Bạch (mỏ). Chúng vẫn không chịu tăng viện. Chiến dịch chủ trương diệt một số cứ điểm nhỏ, đánh viện nhỏ, rồi kết thúc chiến dịch.

Ngày 29 tháng 3, Trung đoàn 36 nhận nhiệm vụ tiêu diệt Mạo Khê đồn và Mạo Khê phố, giao cho Tiểu đoàn 84 diệt đồn, Tiểu đoàn 80 do tôi làm Tiểu đoàn trưởng diệt địch trong phố. Địch đang rút tiếp Uông Bí và một loạt tháp canh. Vì sợ địch rút cả Mạo Khê, lỡ thời cơ diệt địch nên đại đoàn đã hối thúc đánh ngay trong đêm 29 tháng 3, không biết chúng tăng viện tiểu đoàn 1 dù cho Mạo Khê phố từ chiều. Khi đại đoàn nắm được tin này thì ta đã nổ súng, không kịp tăng cường lực lượng tiêu diệt địch. Tiểu đoàn 84 không phá được rào vì bộc phá bị ẩm không diệt được đồn. Tiểu đoàn 80 có kinh nghiệm đánh bôn tập nên tôi đã đưa được bộ đội vào chiếm lĩnh đúng thời gian, vào bên trong biết địch đã tăng viện nhiều nhưng bộ đội vẫn chiến đấu dũng cảm đánh chiếm từng ngôi nhà. Đến gần sáng chiếm được quá nửa phố, diệt hơn 300 tên. Tôi phải cho bộ đội rút ra trước khi trời sáng. Sau mới biết chúng hoảng loạn cũng rút chạy sang ẩn nấp ở nhà thờ cách đấy 300 mét. Đến đây chiến dịch cũng kết thúc.



Từ sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám, toàn Trung đoàn 36 về Thái Nguyên. Tưởng được nghỉ ngơi một thời gian sau hơn sáu tháng liên tục hành quân xa và chiến đấu, nhưng về đến nơi đã được lệnh hành quân về đồng bằng tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh (tên của ba tỉnh) lấy tên là Quang Trung. Địa bàn hoạt động lần này nằm sâu trong vùng tạm kiểm soát của địch. Do đó chiến dịch này có thêm nhiệm vụ là vừa làm tan rã khối ngụy quân ngụy quyền, đẩy mạnh chiến tranh du kích, vừa tranh thủ nhân dân, giác ngộ quần chúng tin tưởng đi theo kháng chiến. Từ Thái Nguyên đi đến chỗ tập kết ở Hoa Lư phải hành quân vòng theo vùng tự do nên rất xa.

Địa bàn chiến dịch có điểm khác trước, đây là vùng đồng chiêm trũng, đông dân cư, nơi có nhiều tín đồ đạo Thiên Chúa, nhân dân bị địch lừa phỉnh, mau chuộc, trình độ giác ngộ chính trị hạn chế.

Trung đoàn 36 có kinh nghiệm chiến đấu ở vùng địch hậu Bắc Ninh nên được chọn làm nhiệm vụ vận động quần chúng kết hợp với nhiệm vụ chiến đấu. Đợt đầu trung đoàn có nhiệm vụ vừa làm dân vận sẵn sàng đánh viện, chuẩn bị chiến trường đánh cứ điểm Hoàng Đan trong đợt 2, vừa đánh địch, bảo vệ cho dân thu hoạch vụ lúa chiêm ở một số địa bàn trọng điểm. Trong đợt 1, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 đánh địch ở thị xã Ninh Bình và các cứ điểm quanh thị xã giành thắng lợi giòn giã, diệt gọn và bắt sống hơn 500 tên địch, trong đó có con trai của Đờ Lát chết trận.

Trong đợt 2, ngày 6 tháng 6 năm 1951, Tiểu đoàn 80 nhận nhiệm vụ làm dự bị cho Trung đoàn 88 đánh Chùa Cao. Tôi bố trí bộ đội bám sát các mũi đột kích. Pháo địch bắn rất dữ đội gây trở ngại lớn cho các mũi tiến công phía trước. Suốt đêm, cán bộ chúng tôi chia nhau đến các công sự nắm tình hình bộ đội và động viên anh em bình tĩnh. vững tâm, sẵn sàng xông vào tăng viện cho phía trước. Đến gần sáng chưa dứt điểm được, tiểu đoàn tôi được lệnh chuyển sang bảo vệ cho trung đoàn rút ra và chuyển thương về hậu cứ. Suốt đêm ở dưới làn đạn của pháo binh địch, tinh thần căng thẳng, nhưng khi được lệnh ở lại làm nhiệm vụ, anh em vẫn tích cực chấp hành. Tiểu đoàn chia ra mấy đoạn cho từng đại đội bố trí sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ đường chuyển thương. Máy bay dò la, bắn phá, dùng cả na-pan thả đúng vào vị trí tiểu đoàn bộ. Tôi quan sát rõ khi máy bay thẳng hướng vào tôi sắp cắt bom, tôi vội nhảy ra khỏi hố chạy ngang sang một bên thì tránh khỏi, bom xuống chụp đúng chỗ tôi vừa nấp. Khi máy bay bổ nhào cắt bom, tiếng rít xé tai, tôi gào to cho an hem tránh sang ngang, nhưng không ai nghe được. Đồng chí Ly Sơn – cán sự chính trị của tiểu đoàn ở gần đó bị dính, lửa cháy đỏ rực toàn thận, may đồng chí nhanh trí nhảy xuống vùng ruộng nước lăn mấy vòng dập tắt được lửa. Nhìn đồng chí bị cháy sém, toàn thân nhem nhốc, rất đau đớn, tôi cảm thấy đau xót, vội cho cáng đồng chí đưa về viện cấp cứu. Đồng chí qua được nhưng sẹo đầy người, đầy mặt, trông dị dạng hẳn đi.

Đến tối thương bị đã vể hết tôi mới thu quân về cho anh em nghỉ ngơi củng cố lại tinh thần và sức khỏe tiếp tục làm nhiệm vụ.

Tôi chuẩn bị sẵn sàng trận Hoàng Đan, nhưng đã về cuối của chiến dịch, mục đích ta đã đạt được và vì địch đã tăng cường thêm lực lượng nên cấp trên dừng không đánh.

Trong thời gian chống càn bảo vệ dân, Tiểu đoàn 80 đã cử Đại đội 63 đánh tàu ở sông Đáy gần Cầu Cổ, trận này đồng chí Phương Nam – Chính trị viên Đại đội 63 bị thương vì pháo. Khi bộ đội cáng đồng chí ấy về tiểu đoàn tôi lại thăm thấy nằm bất tỉnh, nhớ vừa mới đây thôi đồng chí dẫn đoàn quân ra đi, năng nổ, tươi cười lạc quan như thế, mà bây giờ như thế… tôi quá xúc động, thương xót đồng chí đến choáng cả người, tôi vội bíu vào một chiếc ghế ở gần để khỏi bị khuỵu xuống đất! Đồng chí được cứu sống nhưng bị nhiều vết sẹo lớn làm cánh tay bị cong, người hơi bị lệch.

Đại đội 62 chủ công thuộc Tiểu đoàn 870 được tăng cường cho Tiểu đoàn 84 đánh trận Cam Giá Kỳ Vỹ. Trận này Đại đội 62 phối hợp với Tiểu đoàn 84 đưa được địch lọt vào trận địa, ta đồng loạt xung phong đánh gần dưới hỏa lực phi pháo của địch, tiêu diệt hơn 100 tên, phá hủy 10 xe lội nước chỡ nhỏ của địch gọi là “xe cóc”, bảo vệ được cho dân thu hoạch lúa.

Tôi còn tổ chức cho đồng chí Quang Vinh – một đồng chí Tiểu đội trưởng dũng cảm, mưu trí, cùng một đồng chí nữa đưa một thuyền bộc phá đánh chìm một tàu chiến của địch ở gần Cầu Cổ. Đồng chí Vinh bị sức ép, bị thương nặng, thổ huyết, trôi giạt xuống hạ lưu sông, nhờ dân cứu, hai ngày sau mới về đơn vị.

Đến đây kết thúc chiến dịch


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:52:24 AM
*
*   *

Tiếp đến mùa thu năm 1951, Trung ương chủ trương mở nhiều chiến dịch trên nhiều hướng kéo chủ lực địch ra những địa bàn có lợi nhằm cho ta tiêu diệt sinh lực địch, tạo thuận lợi cho việc phát triển chiến tranh du kích trong địch hậu.

Trong khi ta đang tiến hành kế hoạch này thì ngày 14 tháng 11, Đờ Lát đưa 20 tiểu đoàn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình. Chúng cho rằng ta chuẩn bị cho chủ lực xuống đồng bằng đánh lớn. Chúng đánh ra Hòa Bình để giành chủ động, kiềm chế chủ lực, phá kế hoạch của ta, kéo chủ lực ta ra chiến trường chúng lựa chọn để tiêu diệt, đồng thời cắt đứt đường liên lạc, tiếp tế từ Khu 4 ra Bắc.

Đây là thời cơ thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch và phát triển chiến tranh nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ. Chủ trương của Bộ Tổng Tư lệnh được Trung ương nhất trí: Tập trung ba đại đoàn 308, 312, 304 đánh phá cuộc hành quân ra Hòa Bình là mặt trận chính, hai đại đoàn 316, 320 đánh địch ở đồng bằng là mặt trận phối hợp, hình thành một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay (là một chiến cuộc).

Trung ương chỉ thị nhiệm vụ: “Phải phá cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch”.

Bác Hồ gửi thư cho bộ đội “… Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh, nay địch tự ra cho ta đánh, đó là một cơ hội rất tốt cho ta”.

Mở đầu chiến dịch, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 209 tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn địch ở Ninh Mít – một bình độ thuộc núi Ba Vì.

Đêm đó, Trung đoàn 88 tăng cường Tiểu đoàn 80 đánh Tu Vũ thuộc phân khu Sông Đà. Cụm cứ điểm Tu Vũ nằm dọc tả ngạn sông Đà đối diện với Chẹ, do tiểu đoàn 1 Ma-rốc (1/2 è RTM) chiếm giữ, có nhiều lô cốt, ụ súng và trọng liên, ĐKZ và xe tăng thiết giáp yểm trợ, bao quanh có lớp rào dày hơn 20 mét, nhiều mìn; có ba căn cứ pháo binh ở Chẹ, Đan Thê, Đá Chông có thể chi viện.

Bộ đội ta hành quân chiếm lĩnh gặp địch đi tuần nên bị lộ. Chúng dùng pháo của cả ba trận địa bắn mật độ rất cao, từ đầu hôm cho đến khuya. Bộ đội ta rất dũng cảm vượt qua làn đạn pháo bắn chặn. Tiểu đoàn 80 của chúng tôi, khi vào chiếm lĩnh, đồng chí Chí Nhân – Chính trị viên vừa là đồng hương, vừa là bạn học của tôi bị một quả pháo nổ gần, hất văng ra một quãng xa. Tôi phải đưa đồng chí về viện, may sao không bị thương tích nặng, đồng chí đã trở về đơn vị trong trận Tiểu đoàn 80 chiến đấu ở thị xã Hòa Bình.

Đến khuya, chỉ mới có bộ binh vào chiếm lĩnh trận địa xong, các hướng đã tranh thủ thời gian cắt hết rào. Địch tưởng đã đánh lui cuộc tiến công của ta nên cho pháo ngớt bắn, lập tức pháo ta lợi dụng thời cơ chiếm lĩnh trận địa. Khi địch không ngờ đến, ta đồng loạt nổ súng mãnh liệt chi viện cho bộ binh ồ ạt xung phong vào các cửa đã mở sẵn, địch hoảng loạn định bỏ chạy nhưng không còn đường thoát. Đến 5 giờ sáng hôm sau thì trận đánh kết thúc thắng lợi. Đồng chí Hồng Tân – Tiểu đoàn phó của tôi đã hy sinh vì pháo trong trận này. Đồng chí mới được bổ nhiệm về tiểu đoàn tôi, cùng tôi chỉ huy trận đánh này. Tôi rất thương tiếc mất một cán bộ trẻ đầy triển vọng.

*
*   *

Sông Đà là một trong hai đường vận chuyển chủ yếu của địch lên Hòa Bình. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, mặc dù đã bị đánh hai lần trên sông này, địch vẫn cho bốn ca nô và một tàu chiến hộ tống từ Hòa Bình về Trung Hà lấy tiếp tế. Địch đi rất thận trọng, đi đến đâu chúng cũng dùng pháo bắn yểm trợ đến đó, thậm chí còn cho máy bay đi trước quán sát, ném bom vào những vị trí chúng nghi có quân ta bố trí. Lần này Trung đoàn 36 quyết đánh tiêu diệt, không cho chiếc nào chạy thoát. Trung đoàn đã bố trí sẵn ở bến Lạc Song có đủ các phân đội chặn đầu, khóa đuôi và lực lượng công kích tàu địch. Tiểu đoàn tôi đảm nhiệm lực lượng công kích chính. Bộ đội chấp hành kỷ luật rất nghiêm. Địch bắn phá dữ dội, có một số thương vong nhưng vẫn giữ vững trận địa, giữ được bí mật. Khi cả đoàn tàu năm chiếc lọt vào trận địa ta, lúc đó trung đoàn mới phát lệnh nổ súng. Trên một tuyến trận địa dài hơn 1 ki-lô-mét đủ các loại hỏa khí có cả ĐKZ, ba-dô-ca, trọng liên 12,7mm đồng loạt phát hỏa. Từng đảm cháy bung lên giữa dòng sông, lính địch hốt hoảng nhảy xuống nước phần lớn bị trúng đạn trôi theo sông Đà. Trên không, máy bay địch bị 12,7mm bắn ngăn chặn, hạ một khu trục Hen-cát.

Sau 20 phút, cả đoàn tàu năm chiếc (có một LCM) đã bị bắn chìm, toàn bộ một đại đội địch trên tàu bị tiêu diệt hết. ta thu được nhiều vũ khí trong đó có ba pháo 20 đến 40mm, ba súng 12,7mm cùng nhiều trung liên, đại liên. Trung đoàn đã “biến sông Đà thành sông Lô lịch sử”. Pháp không dám đi lại trên sông Đà nữa.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:53:18 AM
*
*   *

Bước vào đợt 2 của chiến dịch, ta tập trung đánh địch ở Hòa Bình và phòng tuyến đường số 6. Trung đoàn 36 có nhiệm vụ tiến công một số cứ điểm và phá các trận địa pháo ở thị xã để phối hợp với đơn vị bạn.

Tiểu đoàn 84 có nhiệm vụ luồn sâu phá trận địa pháo địch, đã dùng một đội xung kích tinh nhuệ bí mật luồn sâu vào phá bốn pháo 105mm, diệt hết pháo thủ, đồng thời diệt gọn hai vị trí Rậm và Khuỷu trực tiếp bảo vệ cho đại đội pháo địch, bảo đảm cho đội xung kích phá pháo rút ra.

Tiểu đoàn 80 của chúng tôi có nhiệm vụ diệt cứ điểm Đình Rè do một đại đội địch chiếm giữ để phối hợp và mở đường ra cho Tiểu đoàn 84. Tiểu đoàn đã có kinh nghiệm diệt cứ điểm cỡ đại đội địch. Mặc dù địch tăng cường tuần tra, phục kích chặn đường ta tiềm nhập vào trinh sát cứ điểm, tôi cùng cán bộ đại đội đã bám sát hành động của địch, tìm chỗ sơ hở của chúng vào trinh sát hiểu rõ tình hình bố trí của địch, để về làm sa bàn, hướng dẫn kế hoạch cho bộ đội, cho anh em thảo luận kế hoạch hiệp đồng trong đại đội và giữa các đại đội, cùng tìm cách khắc phục các khó khăn cụ thể. Trận đánh chỉ diễn ra trong 30 phút đã giải quyết gọn cứ điểm.

Kết quả trận tiến công đêm 7 tháng 1, toàn trung đoàn đã tiêu diệt gần 200 tên địch, bắt sống hơn 20 tên, phá hủy bốn pháo 105mm, thu nhiều súng, quân trang quân dụng.



Sau đợt ba chiến dịch, trung đoàn làm nhiệm vụ vây ép thị xã Hòa Bình. Tiểu đoàn 89 đi làm nhiệm vụ với đơn vị bạn, trung đoàn còn tiểu đoàn 80, 84, pháo trung đoàn và pháo Bộ tăng cường làm nhiệm vụ này. Tiểu đoàn chúng tôi đảm nhiệm cùng pháo khống chế từ Bến Ngọc vòng qua phía Bắc thị xã và một đoạn sông Bắc Bến Ngọc.

Trong vòng hơn một tháng, chúng tôi dùng hình thức tác chiến phân đội nhỏ kết hợp với pháo binh vây hãm khống chế sân bay, bến vượt sông các cứ điểm và việc vận chuyển trong thị xã, làm cho chúng khốn đốn. Ngày thì pháo kích bắn tỉa. Đêm thì gài mìn trên các đường chúng hay đi lại ở sân bay.

Đây là một giai đoạn chiến đấu không kém gian khổ, luôn phải phòng pháo, sống dài ngày trong hầm hố, ăn ngủ trên trận địa, nhưng có thuận lợi là dân công tiếp tế tương đối đều vì gần hậu phương Phú Thọ. Đến ngày Tết Nguyên Đán, có đoàn nhân dân Phú Thọ lên thăm, bữa ăn của bộ đội cũng được thêm một ít quà của hậu phưng, thêm hương vị và vui vẻ với nhau trong từng nhóm nhỏ ở trận địa; có văn công chia nhóm nhỏ biểu diễn cho từng đại đội tuyến sau xem.

Trong đợt vây hãm, từ 12 tháng 1 đến 20 tháng 2, ta đã tổ chức 255 lần đánh, tiêu diệt gần 400 tên, bắn cháy hai máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh.

Vào thời điểm gay cấn nhất, Đờ Lát bị bệnh phải về nước và chết vào ngày 11 tháng 1 năm 1952. Vừa bị bao vây ở thị xã lại bị hai đại đoàn chặn đánh ở đường số 6, ha đại đoàn đánh mạnh ở hậu địch, chúng thấy chẳng những không phá được kế hoạch của ta ở đồng bằng, không tiêu diệt được chủ lực ta ở Hòa Bình, mà còn đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt ở Hòa Bình. Xa-lăng lên thay Đờ Lát nắm quyền tổng chỉ huy vội vã tổ chức rút quân khỏi Hòa Bình.

Chiến dịch hành quân ra Hòa Bình, chiến dịch giành chủ động chiến trường của Đờ Lát đã bị thất bại thảm hại(1). Sứ mệnh mà Chính phủ Pháp đã tin tưởng giao cho Đờ Lát không những không thực hiện được, mà còn mở đường cho Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương. Đờ Lát đã bị thất bại thảm hại. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm sang Việt Nam, ông ta đã mất đi danh dự là ông tướng cứu nước Pháp khỏi bàn tay phát xít Đức mà ông đã mất mấy chục năm mới giành được. Pháp hết hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự.


(1) Riêng Trung đoàn 36 đã diệt gần 600 tên, bắt sống 73 tên, 12 hàng binh, phá 4 pháo 105mm, bắn chìm 4 tàu chiến, 6 ca nô, 2 xà lan, thu được hàng trăm súng các loại. Các đơn vị phòng không phối thuộc cho trung đoàn bắn rơi 8 máy bay.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:54:38 AM
*
*   *

Về cuộc chiến đấu đánh bại tướng Đờ Lát sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đánh giá:

1. Chiến dịch Hòa Bình phải tính cả mặt trận chủ lực và mặt trận đồng bằng vì có chỉ đạo thống nhất, cùng thời gian kế hoạch phối hợp chặt chẽ, sử dụng lực lượng chủ lực của Bộ lớn cùng mục đích đánh bại âm mưu địch (phá kế hoạch về đồng bằng và diệt chủ lực của ta), tạo thế lực mới giành thế chủ động chiến dịch, chủ động chiến lược một hướng (chiến trường Bắc Bộ).

Vì vậy, coi là “chiến dịch kép” hoặc đổi là chiến dịch Đông Xuân 1951-1952, gồm hai mặt trận (sau này ta dùng từ chiến cuộc), đây là chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay trên các mặt trận so với chiến dịch Biên Giới.

- Chiến dịch dài ngày nhất: 3 tháng.

- Diệt nhiều sinh lực nhất: hơn 2 vạn.

- Giải phóng đất đai rộng nhất: 6.000 ki-lô-mét vuông, hơn 2 triệu dân.

2. Pháp hết hy vọng giành chiến thắng bằng quân sự.

3. Chiến dịch Đông Xuân 1951-1952 là biểu hiện tập trung của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta đã giành lại chủ động (dù lực lượng có hạn).

4. Cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân dân ta và Đờ Lát bắt đầu từ Trung Du đã kết thúc với chiến dịch Hòa Bình.

5. Trận Hòa Bình là cuộc tập dượt lớn của bộ đội ta chuẩn bị cho trận Điện Biên Phủ sau này (địch hình thành tập đoàn cứ điểm từ Hòa Bình).

Sau chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 36 về đóng quân luyện tập ở Phú Thọ. Tiểu đoàn 80 ở Bằng Luân, huyện Đoan Hùng. Có thời gian rỗi, Chí Nhân tâm sự với tôi:

- Gần “tam thập nhi lập” rồi, sao mà vẫn “phòng không”?

- Thời đi học, tuổi mười tám đôi mươi thơ mộng tôi chưa có một mối tình nào vì hoàn cảnh chưa cho phép. Vào đời, tôi lao vào cuộc chiến căng thẳng, không còn tâm trí nào để nghĩ đến việc khác. Tôi cũng không muốn ảnh hưởng đến người khác, thà để rảnh rang mà bay bổng – Tôi trả lời.

- Được rồi, tớ sẽ có cách. Nhân nói rồi cười!

Ít hôm sau, Nhân đi họp bên Trung đoàn về, mới về nhà đã bỏ lỡ, vừa nói vừa cười:

- Tần ơi! Chắc ăn rồi!

Tôi ngẩn người… Nhân giải thích:

- Trung đoàn sẽ tổ chức đoàn đi thăm “Anh nuôi” để các chàng ế vợ đi xem mặt.

Đơn vị chúng tôi ở gần một xí nghiệp dược có nhiều nữ công nhân trẻ nguyên là học sinh từ Hà Nội sơ tán lên đây. Ban chính trị, được sự nhất trí của Đảng ủy Trung đoàn, làm một kế hoạch như cho một một chiến dịch. Mưu kế là lấy danh nghĩa đơn vị đi thăm công đoàn là “anh đỡ đầu” của trung đoàn, tạo điều kiện cho năm chàng trai tuổi gần 30 xem mặt và tiếp xúc tự nhiên với các nàng do đồng chí bí thư chi bộ xí nghiệp đã sắp đặt sẵn (như vậy là một công đôi việc, lại có hợi cho cả đơn vị và cả xí nghiệp, đều giải quyết được công việc tế nhị của mình, thật quá hay!).

Riêng tôi không may. Tôi cùng hai anh đến gặp một nhóm được phân công mới đến, tôi đã để ý một cô nhưng đến khi giới thiệu thì cô ấy đã có chồng, còn các cô khác không có ai lọt vào mắt xanh cả. Tưởng đã thất vọng rồi. May sao khi ra chỗ tập trung, Chí Nhân chỉ cho tôi một em ra thắp dèn chuẩn bị cho sinh hoạt buổi tối. Tôi thấy em rất xinh. thật dễ thương, lại nhanh nhẹn, tháo vát. Mới nhìn thấy tôi đã ưng ngay. Nhưng tôi còn thắc mắc:

- Em còn trẻ quá, mới 17!

Nhân làm công tác tư tưởng:

- Thì cũng phải vài năm nữa, có thể phải đến ngày chiến thắng kia mà.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:55:02 AM
Thế là phải nghe chính trị viên thôi. Tôi lại lúng túng hỏi:

- Làm thế nào bây giờ? Cả đoàn sắp về rồi!

Nhân lại nói:

- Sao khi chiến đấu, thì cậu nhanh thế mà bây giờ thì… À, có cách rồi! Tối nay, các cô ra nhà bà Minh tập múa hát ở đấy. Bọn mình sẽ ra thăm bà Mình là người chị lớn của xí nghiệp, rất có uy tín với các cô. Mình làm khách xem các em vui chơi, xong bà Minh giữ cô ấy ở lại nói chuyện là ổn cả. Chỉ còn trông vào tài của cậu thôi.

Tôi bắt đầu biết tên em là Đinh Thị Nguyệt. Khi đến, tôi tránh chỗ đông ở “phòng khách”, cùng em ra đứng ở cửa bên. Tôi nhớ mãi cảm giác của giây phút đầu tiên đó, vì chưa khi nào đứng với một cô gái gần đến như thế. Tôi nhận thấy hương thơm đồng nội tỏa ra từ em. Trong tôi trào lên một tình cảm lâng lâng khó tả. Không biết đó có phải là tình yêu sét đánh không. Tôi chỉ biết trong đầu tôi đã in sâu một suy nghĩ: Không khi nào tôi chịu mất em, em sẽ là người bạn đời của tôi mãi mãi.

Lần đầu, Nguyệt chưa tỏ thái độ rõ ràng vì quá đột ngột. Nhưng với lòng tin đối với chị Minh và lòng tin yêu đối với tôi là một anh bộ đội, Nguyễn vẫn tỏ thái độ thân thiện. Sau này khi tâm sự với nhau, trả lời câu hỏi của Nguyệt:

- Vì sao anh yêu em, em không dứt ra được vì thương anh?

- Vì đồng cảm – Tôi chỉ trả lời gọn, không biết nói gì hơn. Tôi hỏi lại:

- Thế còn em?

- Lúc đầu em chỉ thấy tin anh. Đã có mấy người đặt vấn đề với em, em đều từ chối cả. Nhưng với anh, em không từ chối được!

Tôi gặp may, chỗ tiểu đoàn tôi đóng quân rất gần xí nghiệp, anh chị em trong xí nghiệp hay ra chơi. Tôi cũng có thời gian nhiều lần gần gũi chuyện trò với em. Khi được biết tôi tuy nói giọng Huế nhưng quê ở Hà Nội người ở Kim Liên, người ở Phương Liệt sát liền nhau, chúng tôi lại được thêm tình đồng hương. Sau một thời gian “tìm hiểu”, em đã đồng ý tôi nghỉ phép đi thăm bố mẹ em. Có lần em đã bằng lòng đi chơi với tôi ra thăm gia đình chú ở chợ Ngà…

Đến ngày trước khi đi chiến dịch Tây Bắc, tôi chỉ nói tôi đi chiến đấu, em đã tỏ ra rất lưu luyến, lo lắng cho tôi. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc, từ nay tôi đã có người ở hậu phương mà nhớ. Tôi lớn tuổi hơn em nhiều, không bảnh trai. Tôi hiểu rằng em yêu tôi vì tôi đi chiến đấu vì dân vì nước. Tôi chỉ xứng đáng với em nếu tôi hoàn thành nhiệm vụ tốt. Tình cảm đó đã làm ấm lòng tôi và động viên tôi nhiều. Khi ở chiến trường gian khổ. Khi thấy các gia đình dân trong vùng địch còn nhiều đau khổ, tôi càng thông cảm, thấy hạnh phúc của mình gắn rất mật thiết với hạnh phúc chung. Làm gì để khỏi hổ thẹn với nhân dân ở hậu phương. Chỉ có những ý nghĩ thúc giục tôi xốc tới.

Xem lại các thư từ tôi gửi cho em hồi đó đều toát lên một tình cảm lãng mạn như vậy. Có lần tôi về thăm, có chờ đợi ở nhà chị Huỳnh Quang Đại, dược sĩ, chị đã hỏi tôi:

- Vì sao đã lâu rồi mà chưa cưới? Người ta bảo lấy vọ thì cưới liền tay…

- Tôi nghĩ khác – Tôi trả lời – Mình còn đi chiến đấu. Con người mình bây giờ đâu phải của mình nữa. Nếu có điều gì không may thì chỉ khổ người khác. Cứ để tình yêu lãng mạn thế đẹp hơn, cả hai thấy hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại là hơn. Khi nào yên hàng hãng hay…

Chỉ ngày tôi từ biệt em để đi chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi đã nói thật, cũng kho em biết kỳ này đánh rất to hy vọng ngày chiến thắng sắp đến rồi. Tôi cảm thấy tình cảm của em thật sâu đậm. Đêm trước hai người ngồi nói chuyện dưới ánh trắng rất khuya, mãi không ai muốn về nghỉ. Hôm sau trước khi lên đường, tôi đến chia tay, cảm thấy thật lưu luyến như không muốn rời nhau nữa. Chúng tôi lần đầu tiên, đã hẹn nhau ngày cưới sau ngày chiến thắng trở về và em không quên nhắc tôi; “Anh chú ý giữ sức khỏe, đừng quên nhiệm vụ, nhớ về với em!”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:55:28 AM
*
*   *

Sau chiến dịch Hòa Bình, ta đã giành lại thế chủ động chiến trường, tiếp tục giữ quyền chủ động chọn chiến trường mở chiến dịch. Rút kinh nghiệm các chiến dịch đã qua, ta thấy ở chiến trường rừng núi ta có thế mạnh.

Mùa thu 1952, Trung ương Đảng và Bộ tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với nhiệm vụ:

- Tiêu diệt sinh lực địch.

- Tranh thủ nhân dân.

- Giải phóng một bộ phận đất đai, giải phóng dân, mở hành lang sang Lào vào miền Nam.

Tây Bác là vùng núi rộng lớn gồm bốn tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, có hơn 44 nghìn ki-lô-mét vuông với 44 vạn dân. Dân thưa, hầu hết là dân tộc ít người, là vùng tạm chiếm từ lâu, địa hình rừng núi hiểm trở, đường sá kém phát triển, nhiều đường đã bị phá hoại, lâu ngày cỏ lạc, bụi rậm mọc um tùm. Địch tổ chức làm khu tự trị Tây Bắc (ZANO), có 5 tiểu đoàn ngụy Thái, 3 tiểu đoàn Phi, 40 đại đội ngụy Thái, 11 đại đội pháo các loại; tổ chức 4 phân khu : Nghĩa Lộ, Sông Đà, Sơn La, Lai Châu và một tiểu khu Tuần Giáo.

Bộ dùng đại đoàn 308, 312 và 316, Trung đoàn 148 ở Tây Bắc, hai đại đoàn 304 và 320 ở đồng bằng Liên khu 3.

Hội nghị giao nhiệm vụ cho cán bộ, Bác Hồ đến thăm. Hôm đó trời mưa to, suối sâu, nước chảy xiết, anh em bảo vệ lo cho Bác. Bác nói: “hội nghị cán bộ đang đợi Bác”. Các anh bảo vệ phải căng một sợi dây rừng to cho Bác vịn mới đưa Bác sang suối an toàn, kịp đến dự hội nghị. Kết thúc, Bác kể lại câu chuyện khó khăn dọc đường rồi nói: “chiến dịch này gian khổ, có nhiều khó khăn, nhưng vẫn phải đánh cho thắng… Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên” Câu chuyện Bác kể, cán bộ đều về truyền đạt lại cho bộ đội làm bài học xây dựng quyết tâm bước vào chiến dịch.

Lập tức chúng tôi phải gấp rút đi chuẩn bị chiến trường. Cán bộ quân sự từ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng và trung đoàn trưởng đã 13 ngày đêm vượt suối lũ, băng rừng rậm, núi đá hiểm trở, chịu đựng cái đói mệt, nguy hiểm, vượt mọi khó khăn tiến hành một cuộc trinh sát luồn sâu vào địch hậu gian khổ nhất.

Trung tuần tháng 10, từ Việt Bắc, các đại đoàn chủ lực quân ta chia làm bốn cánh vượt sông Thao bằng thuyền nan do nhân dân hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái mang đến.

Trung đoàn 36 cùng đại đoàn theo những con đường xuyên rừng, luồn lách qua khe sâu đỉnh núi đá tai mèo hiểm trở, bí mật tiến về thị xã Nghĩa Lộ. Bộ đội vừa hành quân vừa học nhiệm vụ chiến dịch, chính sách dân tộc của Đảng và 10 điều kỷ luật được Bác căn dặn trong hội nghị cán bộ. Sau bốn ngày hành quân, trung đoàn đã đến vị trí tập kết bí mật an toàn.

Đợt 1, trọng điểm là Nghĩa Lộ, Trung đoàn 88 và 102 tiêu diệt Nghĩa Lộ đồi và Nghĩa lộ phố. Trung đoàn 36 đánh Cửa Nhì - cửa ngõ vào Nghĩa Lộ theo đường 13.

Ngày 17 và 18 tháng 10, Trung đoàn 36 bao vây Cửa Nhì. Đồn này do một đại đội tăng cường của Pháp chiếm giữ. Trên ngọn đồi dài có công sự vững chắc, lớp hàng rào dày có nhiều mìn. Vị trí chỉ huy và cối ở giữa. Tiểu đoàn 80 làm nhiệm vụ chủ yếu, Tiểu đoàn 89 có một mũi thứ yếu phối hợp, đánh từ phía cửa đồn vào.

Mặt sau cửa đồn có một yên ngựa và một ngọn đồi phía đối diện đặt hỏa lực tốt. Tôi bố trí Đại đội 63 với hỏa lực của tiểu đoàn và trung đoàn tăng cường ở đây, nhưng tôi chọn hướng đột kích chủ yếu ở giữa, giao cho Đại đội 62. Ở đây địch sở hở: rào mỏng, đường vào rậm có thể cắt dây trước thành một lối đi kín đáo, có thể bí mật cắt rào, chiếm đâu cầu là có thể đánh ngay vào vị trí chỉ huy vào trận địa cối; bộ đội có thể bám sát chân đồn ngoài tầm pháo của địch; để một đại đội dự bị vào cửa mở ở giữa đánh ra hai bên coi như đánh từ trong đánh ra (nở hoa), và sẵn sàng để sử dụng khi gặp bất trắc. Trung đoàn chủ trương bao vây gọi hàng, tôi vẫn cho bộ đội chuẩn bị kỹ cả hai hướng nhưng hướng chủ yếu tôi quản lý chặt, bảo đảm an toàn bí mật để giữ thế bất ngờ.

Suốt hai ngày địch vẫn ngoan cố chống cự. Chúng dùng máy bay ném bom Na-pan và bắn phá dữ dội xung quanh đồn gây cho trung đoàn một số thương vong, nhưng trên hướng chính của tiểu đoàn vẫn an toàn.

Lúc 20 giờ ngày 19 tháng 10, địch định bí mật bỏ đồn rút chạy về Bản Khê. Phán đoán đúng ý đồ của địch, khi chúng mới bắt đầu ra cửa đồn, trung đoàn trưởng đã lập tức ra lệnh tiến công. Sau một loạt pháo bắn mạnh, các loại súng nổ ran, trên hai hướng của Tiểu đoàn 80 tiếng bộc phá nổ liên tiếp, bên phía bạn cũng nghe tiếng nổ ran. Sau một phút, đội đột kích Đại đội 62 đã chiếm đầu cầu rồi xông thẳng vào tung thâm. Địch rối loạn đối phó yếu ớt. Đại đội 63 cũng đã chiếm đầu cầu nhanh chóng tỏa ra đánh vào trong, trong đồn thấy qua các chớp lửa bóng địch chạy loạn xạ. Tiếng súng của chúng rời rạc. Bị ép hai đầu chia cắt ở giữa, chỉ huy không còn, chỉ vài phút sau địch đã bị ta tiêu diệt và bắt hầu hết.

Ta diệt gần 100 tên, bắt 80 tên, trong đó có cả hai tên chỉ huy trưởng, phó, thu toàn bộ vũ khí và lương thực chúng dự trữ cho một đại đội tăng cường ăn trong 3 tháng.

Trung đoàn đã cùng đại đội hoàn thành một cách vẻ vang nhiệm vụ đợt một chiến dịch, giải phóng toàn bộ phân khu Nghĩa Lộ, diệt và bắt hầu hết quân địch.

Đại đoàn 312 và Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 đã nhanh chóng giải quyết các đồn lẻ quét sạch quân địch khỏi tiểu khu Phù Yên. Sau 13 ngày chiến đấu, ta đã quét sạch quân địch ở khu vực giữa sông Thao và sông Đà.

Sau trận Cửa Nhì, trung đoàn truy quét một tổ chức gián điệp, thổ phỉ do tên gián điệp Pháp Ghi-rơ và Han-xơ cầm đầu, chuyên mua chuộc, dụ dỗ đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc chống lại cách mạng. Kết quả đó góp phần ổn định vùng mới giải phóng Nghĩa Lộ - Yên Bái, chuẩn bị cho quân ta vượt sông Đà bước vào đợt 2 chiến dịch, tiến đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu. Một trung đội Đại đội 62 thuộc Tiểu đoàn 80 của chúng tôi do đồng chí Nguyễn Ích Tỷ chỉ huy đã bắt được tên Ghi-rơ và một trung đội biệt kích.

Trong chiến dịch này, trung đoàn đã chấp hành chính sách dân tộc và kỷ luật chiến trường rất nghiêm chỉnh, được nhân dân tin yêu.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:56:02 AM
*
*   *

Trung đoàn 36 nhận lệnh về Phú Thọ ngày 10, chậm nhất là ngày 14 tháng 11 phải có mặt. Về đó, Trung đoàn sẽ thuộc quyền chỉ huy của Mặt trận Phú Thọ do đồng chí Vũ Hiển – Phó Tổng tham mưu trưởng chỉ huy. Khi hành quân về, tiểu đoàn tôi còn thiếu Đại đội 63 đi truy quét địch, không về kịp.

Địch mở cuộc hành quân Lo-ren đánh ra hậu phương ta ở Phú Thọ nhằm kéo chủ lực ta từ Tây Bắc về để giảm nhẹ áp lực, điều này không ngoài dự kiến của Bộ Tổng Tư lệnh. Lực lượng địch gồm 4 GM, ba tiểu đoàn dù, xe tăng, thiết giáp, pháo binh, công binh, thủy đoàn, tổng cộng ba vạn quân do Đờ li-na-rét chỉ huy.

Ngày 28 tháng 10 năm 1952, từ Trung Hà, chúng theo đường sông và đường 2 đánh lên thị xã Phú Thọ. Ngày 8 tháng 11 năm 1952 chúng cho quân nhảy dù xuống Đoan Hùng. Ở Phú Thọ, ta có Trung đoàn 176, một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 246 và lực lượng vũ trang địa phương. Địch đánh lên Phú Thọ đã bị quân dân ta đánh khắp nơi… nhưng chúng cũng phá của ta ba kho gạo, một kho muối, một kho vũ khí lớn hơn 100 tấn ta chưa chuyển kịp.

Trung đoàn trưởng 36, tiểu đoàn trưởng hai tiểu đoàn 80, 89 và các địa đội trưởng đi ngày đi đêm, đúng ngày 14 tháng 11 đến gặp đồng chí Vũ Hiển nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Vân Mộng (Nam Đoan Hùng). Ngày 15 nhận được tin địch rút. Đoàn cán bộ đang chuẩn bị ở Vân Mộng thì được tin trinh sát trung đoàn báo cáo trong ngày 16 có rất nhiều xe tải chở đầy quân chạy về, không có xe lên. Đồng chí Hồng Sơn – Trung đoàn trưởng 36 trao đổi với chúng tôi: “Gấp rồi, đánh đây không kịp, ta chuyển hướng phía Nam phục kích thôi”.

Đoàn cán bộ chúng tôi ở vùng này mấy tháng huấn luyện, đều quen thuộc đường và địa hình, nên rất nhanh chóng thống nhất chuyển về phục ở dưới Chân Mộng (lúc đó chưa biết Năng Yên có đồn địch). Cả đoàn lập tức chạy theo đường làng Năng Yên thì trời tối. Chúng tôi quyết định lấy làng Năng Yên làm hậu cứ, cử người về đón bộ đội lúc này đã về đến vùng Tăng Mỹ, sau đó tìm đường ra đường số 2. Trời tối đang khó khăn thì gặp cụ già đốt than tên là Nguyễn Văn Kính, cụ nhận ngay ra chúng tôi là bộ đội nên vui lòng dẫn đường. Sau, chúng tôi cũng gặp được anh Bình đưa đường cho bộ đội Tiểu đoàn 80 ra.

Ra đến đường cái, chúng tôi đi về phía Nam một đoạn, tiếng giày cồm cộp trên đường, gặp đồng chí Châu – Tiểu đội trưởng trinh sát của trung đoàn từ trong bụi cây ra báo cáo: “Đây là đồn Năng Yên”.

Lúc này còn yên ắng. Sau này xem tư liệu của địch được biết lúc đó trong đồn có nghe tiếng giày. Anh Hồng Sơn xác định cho tôi: “Tiểu đoàn 80 chặn đầu từ đấy”.

Tôi cùng các đại đội trưởng đi theo anh Hồng Sơn ngược lên phía Bắc, vừa đi vừa xem xét địa hình và phác qua ý định bố trí và nhiệm vụ các đội. Đến đầu đường vào làng Năng Yên dừng lại một lúc, anh Hồng Sơn xác định cho chúng tôi ranh giới hai tiểu đoàn ở con đường này và liên lạc với trung đoàn ở sườn đồi phía Tây (là khu vực anh dự kiến đặt sở chỉ huy). Từ vị trí đó, anh Cao Lưu – Tiểu đoàn trưởng 89 đi về phía Bắc nghiên cứu) Tôi dẫn cán bộ đi trở lại phía Nam.

Phía Tây đường có một ngọn đồi, có rừng cây thưa cách đường chừng 50 đến 100 mét, bên phía Đông có ngọn đồi dài đứng thành vại, dưới chân đồi này dọc đường có rãnh sâu. Tôi chỉ cho đồng chí Trương Anh Dũng – Đại đội trưởng 62 ngọn đồi dài phía Tây dốc thoai thoải cho Đại đội 62 làm lực lượng xung phong chính, dẫn cả ba trung đội ra từ đây xuống phía Nam, cho trung đội đồng chí Nguyễn Thuận (Đại đội 62 có bốn trung đội) sang chiếm đồi phía Đông chỗ thành vại, mang nhiều lựu đạn đánh từ trên xuống. Đi hết phạm vị của Đại đội 62, một đoạn gần đến chỗ nhìn thấy đồi Năng Yên, tôi giao cho đồng chí Tuấn Nghĩa – Đại đội trưởng 61 – chiếm lĩnh ngọn đồi nhìn sang đồn, bố trí hỏa lực kiềm chế đồn, ba trung đội và hỏa lực bố trí ở sườn đồi làm lực lượng chặn đầu. Liên lạc với tiểu đoàn, tôi sẽ đặt sau Đại đội 62. Đại đội 64 hỏa lực của tiểu đoàn, bố trí ở ngọn đồi bên phải Đại đội 62.

Điều đặc biệt khó trong trận này là giữ bí mật vì ta làm trái nguyên tắc. Không có cách gì dẫn quân từ làng Năng Yên chui qua rừng để chiếm lĩnh trong đêm nay, buộc ta phải chiếm lĩnh ngược lại từ đường lên trận địa, bộ đội sẽ để lại rất nhiều dấu vết. Tôi nhắc kỹ các đại đội phải chấp hành nghiêm mấy điều:

- Xóa hết dấu vết, vào hết vị trí rồi cán bộ phải đi kiểm tra.

- Đón anh nuôi ra đưa cơm nước phải về trước sáng.

- Có lệnh mới được nổ súng. Dù trinh sát địch sục vào trận địa cũng không được tự động nổ súng, bị thương không được rên la.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:56:27 AM
Cán bộ dẫn bộ đội vào vị trí thì tôi gặp Chính trị viên phó Vũ Sơn và Tiểu đoàn phó Ích Tỷ, trao đổi tình hình bộ đội: bộ đội được lệnh trở về Phú Thọ đánh địch bảo vệ hậu phương rất hăng hái quên hết mệt nhọc vì Phú Thọ coi như quê hương thứ hai. Anh em vừa mới ở đấy ra đi. Đi ngày đi đêm đến kịp thời gian nên còn mệt và buồn ngủ, nhưng có địch đến sẽ tỉnh táo ngay, sẽ quên hết mệt, rất phấn khởi. Tin tưởng còn đón đánh địch được kịp thời! Tôi phổ biến lại quyết tâm, kế hoạch của trung đoàn, của tiểu đoàn, mọi người đều nhất trí, bàn thêm một số việc bảo đảm rồi chia nhau đi kiểm tra đôn đốc. Đồng chí Nhận – tác huấn tiểu đoàn đã đi theo tôi từ đầu hôm, tôi giao đi kiểm tra dấu vết để lại trên các đường vào của các đại đội.

Trời gần sáng thì bộ đội vào hết vị trí, đang triển khai, cán bộ đi kiểm tra, hướng dẫn, dặn dò cho đến phân đội nhỏ, từng tổ thông suốt kế hoạch và yêu cầu của trận đánh. Thông tin đang ra dây và tìm đường liên lạc về hậu cứ.

Bỗng nghe tiếng í ới dưới mặt đường, hóa ra một số “anh nuôi” chưa biết đang ở gần đồn địch, sợ lạc đường nên gọi nhau. Mọi người giật thót cả người!

Trời sáng rõ, điện thoại của Trung đoàn đã kéo đến. Tôi báo cáo: “Vào vị trí xong, đã kiểm tra dấu vết trên các đường vào. Còn yên tĩnh!”.

Lúc đó tôi mới thở phào, ngồi dựa gốc cây thư giãn. Tiếng súng nổ ran phía Tiểu đoàn 89, tôi giật mình tỉnh dậy, đã thiếp đi một lúc! Đã bắt đầu rồi đây! Tôi bảo đồng chí tác huấn Nhận:

- Bộ đội sẵn sàng chiến đấu! Nhắc giữ bí mật, chưa có lệnh không được nổ súng, bị thương không kêu la!

Đã hơn 7 giờ sáng.

Từ đây trung đoàn thông báo tình hình liên tục:

Bộ phận của Đại đội 395 qua đường lội ruộng bị lộ, địch sục vào, chưa kịp bố trí, tân binh Lê Văn Hiến bị bắt, đang bám sát theo dõi. Chờ lệnh mới nổ súng.

Địch đánh đập đồng chí Hiến rất tàn nhẫn, nhưng đồng chí Hiến chỉ khai là du kích. Nếu chúng biết Trung đoàn 36 ở đây thì không lường được tình hình sẽ diễn ra phức tạp và nguy hiểm thế nào. Mọi người đang chăm chú theo dõi, lo lắng.

Tra khảo mãi không có kết quả, chúng lôi đồng chí Hiến ra đường buộc vào xe kéo rồi tiếp tục tra khảo, đồng chí Hiến ngất đi. Chúng tưởng chết, hất xác ra vệ đường rồi tiếp tục đi. Đội tiền vệ vừa đi vừa bắn trọng liên sang hai bên đường, chỗ nghi ngờ thì sục vào vài chục mét bắn vu vơ. Vào chỗ Đại đội 62 chúng bắn mạnh, hai chiến sĩ bị thương vẫn cắn răng chịu đau, nòng súng vẫn hướng vào địch.

Tôi nghĩ: Vẫn còn hy vọng, dù bọn này có biết ta ở đây mà ta chưa nổ súng thì coi như không có, mau mau mà thoát thân thì hơn. Lính đánh thuê mà!

Sau này mới biết, chúng đã phát hiện trên đường có chỗ có các lỗ mới đào chưa kịp đặt mìn, có chỗ có đống to cây và đá lấp chặn xe, chúng đã cho rằng Việt Minh phục kích rồi. Nhưng thi gan ta hơn địch nên chúng vẫn bị mắc mưu!

Lúc 9 giờ, trung đoàn báo:

- Bộ phận đi đầu của đoàn xe địch đã đi vào trận địa Tiểu đoàn 89 nhưng dẫn theo dân bị bắt “làm bia đỡ đạn” (vì chúng biết ta không bắn vào dân). Chưa nổ súng.

Tiếng xe xích đã vang dội cả khu rừng. Tôi vẫn bảo đồng chí Nhận:

- Tất cả sẵn sàng!


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:58:06 AM
Đoàn xe đi qua trận địa, khói bùi mù mịt, các mòng súng hướng về chúng tôi, đang tiến lên chậm chạp. Trong tôi trào lên một cảm xúc là lạ khó tả. Một lúc sau, địch đến càng đông gấp bội, xe đi giữa xen kẽ xe tăng thiết giáp, háp-trắc, hai bên đường bộ binh hối hả chen chúc đi chậm sau dồn lên càng đông. Biết là thời điểm đã đến, tôi ra lệnh:

- Tất cả chuẩn bị sẵn sàng!

Liền sau đó, 9 gờ 45 phút, đồng chí Nhận báo to:

- Lệnh nổ súng!

Tiếng kèn xung trận đã vang lên. Tôi ra lệnh nổ súng, tiếng súng đã nổ ran trên toàn tuyến hơn 3.000 mét, tiếng kèn của tiểu đoàn xen lẫn trong tiếng Pháp. Tôi nói với anh Vũ Sơn và Ích Tỷ:

- Tôi xuống Đại đội 62.

Hai phút sau, tôi ra đến bìa rừng cách đường 50 mét. Tôi nghe đạn súng cối nổ sau lưng gần chỗ ban chỉ huy tiểu đoàn, sau mới biết đồng chí Nguyễn Ích Tỷ - Tiểu đoàn phó và đồng chí Vũ Sơn – Chính trị viên phó bị thương. Trước mặt tôi cuộc hỗn chiến bắt đầu. Địch đối phó rối loạn, pháo tăng, trọng liên nổ vu vơ ngoài tầm. Bộ đội ta dũng mãnh dùng ba-dô-ca, lựu đạn, tiểu liên nhằm diệt từng xe và quân địch còn ngồi trên xe, diệt bắt địch ẩn nấp sau xe. Khói lửa mịt mù, trước mặt Đại đội 61, một xe thiết giáp bốc lửa, khói đen nghi ngút. Xe nằm ngang chặn đường làm cho các xe sau dồn lên dày đặc.

Bên phải tôi bỗng thấy một bộ phận của Đại đội 62 nằm lại bắn. Nhìn sang bên kia đường thấy một trung liên của địch đang hướng về ta nhả đạn. Tên lính nằm dưới rãnh, đầu nhô lên rất rõ, tôi giật khẩu các-bin của đồng chí liên lạc đứng cạnh tôi, giương súng bắn, khẩu trung liên im bặt, tốp bộ đội đã xông ra đường. Đó là lần đầu tiên tôi bắn một tên địch gần như thế và lại có điều kiện ung dung ngắm bắn địch như bắn bia!

Nửa giờ sau, tiếng súng thưa dần, đã nghe rõ hồi kèn thu quân của trung đoàn. Tôi cho kèn của tiểu đoàn thổi tiếp bảo đảm cho toàn trận địa nghe lệnh thông suốt. Tôi ra gần mặt đường thấy xác chết la liệt. Suốt một đoạn đường dài đầy xe tăng, thiết giáp cháy hỏng, khói lửa ngút trời, bộ đội đang sục vào các xe thu chiến lợi phẩm rồi nhanh chóng thu quân.

Lúc này một lực lượng lớn quân địch bị cắt lại phía sau mà không thấy hành động gì. Trên không máy bay quần đảo nhưng chưa bắt được liên lạc, chưa dám ném bom xuống đường. Tôi ra lệnh cho Đại đội 62 để lại một trung đội bám trận địa, tiếp tục đánh địch bảo đảm cho tiểu đoàn thu quân, thu dọn chiến trường. Trung đội này do đồng chí Thạnh là Trung đội trưởng, đã ở lại tiếp tục đánh địch phối hợp với Tiểu đoàn 84 đến 2 giờ sáng hôm sau mới trở về đơn vị.

Sau này, đọc tài liệu địch mới rõ chúng vô cùng khủng khiếp thể hiện qua những lời như sau: “Một địa ngục lửa thực sự”, “Trận đánh giáp lá cà ác liệt”, “Bẫy chuột dài 800 mét”. Tên đại tá Kéc-ga-va-ra chỉ huy hành quân đi đoàn đầu lấy dân ta bảo vệ cho nó thoát chết, đến Thái Bình thu thập được một ít lực lượng tàn quân nhưng không dám ở lại, trong đêm hôm đó đã liều chết rút chạy để thoát khỏi “địa ngục”!

Thấy bộ đội đã rời hết khỏi trận địa, tôi cùng anh em còn lại thong thả đi về hậu cứ của tiểu đoàn. Bây giờ mới thấy đói, mệt rã rời, vừa đi vừa ngủ gật, thỉnh thoảng lại va vấp, anh em cười vui thông cảm!

Vào lúc 16 giờ ngày 17 tháng 11 tôi nhận được tin Tiểu đoàn 84 do truy quét xa phải hành quân đuổi theo sau. Trung đoàn đã đôn đốc về kịp vào đánh tiếp. Tiểu đoàn 84 đã kịp phục kích tiểu đoàn đi sau cùng của địch rồi truy kích đánh tăng thiết giáp cho đến Trạm Thản, diệt được nhiều địch, phá nhiều xe tăng thiết giáp, thu được một xe tăng còn chạy được. Tiểu đoàn trưởng Sơn Mã khi truy kích cùng với bộ đội, anh và chiến sĩ đánh tăng bị địch bắn đã anh dũng hy sinh. Sơn Mã là đồng chí cán bộ đã cùng tôi hiệp đồng chiến đấu trong các trận đánh tập trung trung đoàn mấy năm gần đây mà tôi hết lòng tin tưởng khi cùng nhau vào sinh ra tử, nay đồng chí không còn nữa, tôi rất thương tiếc. Tôi càng thương hơn vì Sơn Mã đã cùng tôi và mấy anh em cùng lứa, mới đây thôi đã cùng nhau vào tìm người yêu ở cùng một xí nghiệp, niềm vui của bạn vừa mới chớm đã vội lụi tàn! Chắc tin này về đến xí nghiệp sẽ làm rung động cả “hậu phương”, làm cho bao con tim se lại! Nhưng biết làm sao được, chỉ còn cách xông lên làm nhiệm vụ cho tốt hơn nữa để sớm tới ngày chiến thắng. Hết chiến dịch về, tôi còn biết chuyện anh Dũng Mã, anh ruột Sơn Mã khi nghe tin em hy sinh đã căm phẫn xông lên giết giặc và bị thương nặng trong trận chiến đấu ở Tây Bắc.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 08:58:35 AM
*
*   *

Trung đoàn báo cho biết địch đã co về Việt Trì, chỉ còn hai cứ điểm bảo vệ ở Núi Voi và Phù Ninh. Trung đoàn vận động đuổi địch nhằm diệt địch ở Phù Ninh. Ở đó, có tiểu đoàn 1 khinh binh Đông Dương (1è (BMI) vừa bị ta đánh thiệt hại nặng, bố trí làm hai cứ điểm cách nhau chừng 400 mét, chúng tôi gọi là đồi Chò (vì nằm trên đồi giữa rừng Chò nhỏ) và Núi Quyết (tên địa phương là Núi Khuyết). Cạnh hai đồi này còn có một đồi gọi là Núi Mã Thông cách Núi Quyết một khe sâu và có một yên ngựa nối liền với Đồi Chò. Mã Thông không có địch, ta triển khai ở đồi này đánh sang Đồi Chò rất thuận lợi. Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 80 diệt Núi Quyết do một đại đội và chỉ huy của tiểu đoàn của địch chiếm giữ có hỏa lực tăng cường. Tiểu đoàn 84 có nhiệm vụ diệt Đồi Chò.

Trận này tôi có điều kiện chuẩn bị đầy đủ, trinh sát nắm địch được cụ thể, tiến hành các bước chuẩn bị, tổ chức trận đánh như khi diễn tập, nên khi vào trận đánh tôi rất yên tâm. Đêm 23 rạng sáng 24 tháng 11, bộ đội bí mật vào chiếm lĩnh trận địa trên các hướng, triển khai xong hỏa lực và thông tin. Trong khi chờ dợi, tôi ngủ thiếp đi một lúc, tỉnh lại vừa đúng giờ nổ súng; 2 giờ ngày 24 tháng 11. Hướng chủ yếu do Đại đội 62 đảm nhiệm, đồng chí Trương Anh Dũng chọn đúng điểm đột phá đã dự kiến, bí mật đưa bộ đội vào chiếm lĩnh xong trước giờ nổ súng. Theo nền nếp đã quen, quả bộc phá ở hướng chính nổ, kèn vang lên và bắt đầu nổ súng theo đúng kế hoạch. Trung đội bộc phá liên tục phá rào, sau mấy phút đã đánh sập lô cốt, chiếm đầu cầu; đột đột kích vút lên xông thẳng vào đồn tỏa ra đánh địch nhịp nhàng. Hướng thứ yếu do Đại đội 61, đồng chí Tuấn Nghĩa – Đại đội trưởng bị thương, đồng chí Nguyễn Thuận – Đại đội phó lên thay; một mũi Đại đội 62 đã kịp thời đánh sang phối hợp hỗ trợ cho Đại đội 61 chiếm đầu cầu, đưa các mũi vào đúng kế hoạch.

Bên phía Tiểu đoàn 84, tiếng pháo cối còn nổ rền. Trung đoàn cho biết Tiểu đoàn 84 bị lầy, chưa phá rào được, cối ta bắn vào vị trí địch ở trong rừng Chò đều bị nổ trên cây, không chế áp pháo cối địch được. Khi được tin tiểu đoàn 84 đang gặp khó khăn, tôi nghĩ lại càng thương tiếc anh Sơn Mã, thiếu anh là một thiệt thòi lớn cho đơn vị.

Sau khi Đại đội 62 đột kích vào sâu, tôi rời lên đầu cầu. Qua ánh lửa, tôi thấy một tên địch chạy ngang, tôi đưa lên súng ngắn lên để bắn, bỗng nghe một tiếng kêu to: “Em đây mà!”. Hóa ra “ông bạn” mặc áo “ca-na-điêng” đi giày địch trông chẳng khác gì địch. Vào đến tung thâm, tôi gặp đồng chí Trịnh Tráng – trợ lý tác huấn trung đoàn đã vào đó, tay cầm một thư gắn xi.

Tôi hỏi:

- Anh xem chưa?

- Đây anh xem, thư tiếng Pháp.

Xem thư đó mới biết đó là lệnh cho tiểu đoàn địch sáng hôm sau rút quân do một quan tư mang xuống để đến sang nay mới bóc. Thật là may, ta chậm một hôm là lỡ thời cơ hiếm có diệt một đại đội mà có hai quan tư.

Trận đánh đã kết thúc giòn giã. Tôi báo cáo trung đoàn. Trung đoàn cho rút quân. Trên đường về, bộ đội phấn khởi râm ran: “Ta đánh trận này rất hay… Có luyện tập có khác”. Riêng tôi, cũng thấy vui lây. Đến đây có thể coi là đã hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Kịp thời về bảo vệ cho dân, góp phần đánh bại cuộc hành quân “Lo-ren” lớn nhất từ trước tới nay. Địch không phá được chiến dịch Tây Bắc của ta. Ta vẫn phát triển thuận lợi, giành chiến thắng to lớn. Riêng đơn vị đã có thêm ba chiến thắng để báo cáo cho nhân dân nơi đóng quân, nơi mà tôi may mắn sắp được làm chàng rể.

Kết quả chung của các trận Chân Mộng – Trạm Thản ở Phú Thọ của trung đoàn đó có phần của tiểu đoàn. Ta diệt hơn 400 tên địch, bắt sống 84 tên, bắn cháy 44 xe tăng, cơ giới, 17 xe thiết giáp, thu 1 xe tăng còn nguyên vẹn.

Sau trận này, địch rút cả Đồi Chò và ngày 1 tháng 12 rút hết khỏi Việt Trì, kết thúc chiến dịch Lo-ren. Nơi diễn ra trận Châm Mộng – Trạm Thản đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhận xét; “Trận Chân Mộng – Trạm Thản, Trung đoàn 36 đang hành quân lên Tây Bắc, được lệnh lập tức quay lại Phú Thọ đánh một đòn sấm xét tiêu diệt hơn 400 tên địch và 44 xe cơ giới, bảo vệ hậu phương chiến dịch Tây Bắc, đập tan cuộc hành binh lớn của Pháp vào căn cứ kháng chiến của ta. Chiến thắng Sông Lô (1947) chiến thắng Tu Vũ (1951), Chiến thắng Tu Vũ (1951), Chiến thắng Chân Mộng – Trạm Thản (1952) chứng tỏ, mỗi lần giặc Pháp xâm phạm vùng Đất Tổ, chúng đều bị quân và dân Phú Thọ đánh cho thất bại thảm hại”. Trung đoàn 36 về Phú Thọ đã hoàn thành nhiệm vụ, góp phần để chiến dịch Tây Bắc vẫn phát triển thắng lợi lớn hơn dự kiến cả ba nhiệm vụ, nhất là giải phóng đất và giải phóng dân hầu hết bốn tỉnh: Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu trừ Nà Sản, thị xã Lai Châu.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:00:21 AM
CÁN BỘ TÁC CHIẾN Ở SỞ CHỈ HUY CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trong chiến dịch Tây Bắc, địch đối phó khác: chỗ nào không giữ được thì chủ động rút, rồi co về thành lập tập đoàn cứ điểm có tăng thêm lực lượng, xe tăng thiết giáp, pháo binh, sây bay, dựa vào công sự dã chiến là chính với nhiều rào, mìn làm vật cả, có sức chiến đấu tại chỗ mạnh. Ta không đánh được phải rút vì kéo dài thì không bảo đảm được lương thực, địch có khả năng nống ra khi ta rút quân để khôi phục đất đai (Xa-lăng là người thiết lập tập đoàn cứ điểm đầu tiên).

Thật ra, dạng tập đoàn cứ điểm này đã xuất hiện trên hình thái ở chiến dịch Hòa Bình (như ở thị xã). Cụ thể, ở Nà Sản: có 36 đến 38 đại đội; trong đó có bốn tiểu đoàn lê dương tương đối nguyên vẹn, hai tiểu đoàn Bắc Phi, hai tiểu đoàn Thái mới phục hồi; đóng thành 24 cứ điểm cấp đại đội và 4 cứ điểm cấp trung đội, trên đồi cao, công sự dã chiến, bao chung quanh sân bay, trận địa pháo và sở chỉ huy.

Đêm 30 tháng 11 năm 1952, hai trung đoàn của ta đã diệt Phú Hồng (753) và Bản Hồi, hôm sau chúng chiếm lại. Đêm ngày 1 tháng 12, hai trung đoàn khác đánh chiếm cứ điểm Bản Vậy, Nà Si không dứt điểm. Địch bắn 5.000 đạn pháo. Ngày 2 tháng 12, địch thả dù thêm hai tiểu đoàn thành 10 tiểu đoàn. Pháp coi là chiến lược ngăn chặn mới. Ta không dứt điểm được những cứ điểm nói trên chủ yếu là do nó nằm trong hệ thống cấu trúc chặt chẽ của một tập đoàn cứ điểm, còn ta chưa có đủ pháo và cao xạ để đánh liên tục. Đêm trước dù ta chịu thương vong cao hơn do chúng dùng phi pháo nhiều hơn, ta chiếm được một hai cứ điểm thì hôm sau chúng phản kích chiếm lại.

Trong mấy năm chiến tranh, đã thành lệ, ở cơ quan Bộ Tồng Tham mưu làm kế hoạch chiến lược theo mùa. Năm nay chiến dịch Tây Bắc thắng lớn lại kết thúc sớm. Để tránh thất bại khủng khiếp như chiến dịch Biên Giới năm 1950, tướng Xa-lăng đã chủ động cho một loạt cứ điểm có nguy cơ bị tiêu diệt rút về lập tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Qua hai trận tiến công không đạt yêu cầu, Anh Văn  đã thấy ta chưa đủ điều kiện khách quan để giải quyết hình thức phòng ngự “đồn bốt” mới này của địch nên kiên quyết dứt khoát cho kết thúc chiến dịch. Từ đó đặt ra cho ta suy nghĩ phải có cách đánh thắng “tập đoàn cứ điểm”, phát kiến mới của Xa-lăng được chúng gọi là “con nhím chiến lược” mà chúng cho rằng ta không thể đánh bại.

Trong tháng 2 năm 1953, Bộ Tổng Tham mưu đã triệu tập hội nghị cán bộ nghiên cứu cách đánh tập đoàn cứ điểm gồm cán bộ có kinh nghiệm đánh “công kiên”. Tôi cũng được tham dự và từ đó trở thành trợ lý Cục Tác chiến. Tiếp đó cơ quan huấn luyện chuẩn bị thao trường giống như thật, dự kiến làm ở Đồn Đu để huấn luyện cán bộ, chuẩn bị bộ đội cho mùa khô tới.

Do thời gian còn dài, ta chưa đủ điều kiện để thực hiện ngay chiến dịch giải phóng Nà Sản, được sự nhất trí của bộ Chính trị và sự đồng tình của Bạn Lào, Bộ tổ chức chiến dịch Thượng Lào để giữ chủ động, vừa để mở rộng địa bàn của ta, vừa tạo thế mới cho liên minh chiến đấu Việt – Lào.

Kết thúc chiến dịch Thượng Lào thắng lợi, Bộ Tổng Tham mưu làm kế hoạch giải phóng Nà Sản xong thì địch rút Nà Sản vì nó không còn vị trí tác dụng gì nữa, không bảo vệ được cho Thượng Lào, mà thời cơ để nống ra chiếm lại địa bàn đã mất, không con nữa. Cùng lúc đó, tướng bại trận Xa-lăng cũng bị triệu hồi để thay bằng một viên tướng trẻ Na-va (Navarre) mà chúng đặt nhiều hy vọng mang về một thắng lợi quyết định để đàm phán trên thế mạnh (Kế hoạch 18 tháng của Na-va được Chính phủ Pháp phê duyệt và được Mỹ phê duyệt và được Mỹ đồng tình ủng hộ).

Ta đã có một vùng rất rộng lớn Tây Bắc kéo dài sang Thượng Lào, nhưng cũng đặt cho cơ quan tham mưu của Đảng một khó khăn mới, một yêu cầu nhiệm vụ chính trị nặng nề: Trước tình hình can thiệp của Mỹ ngày càng sâu, Chính phủ Pháp chưa cam chịu thất bại về quân sự, đòi hỏi ta phải có một đòn quyết chiến chiến lược trong mùa khô này. Tuy nhiên, trên chiến trường thuận lợi cho ta (Tây Bắc), nay không còn mục tiêu nào đáng cho ta thực hiện ý tưởng đó. Làm sao kéo địch ra chiến trường ta lựa chọn mà có thể đủ sức đánh thẳng giòn giã?

Đến tháng 9 năm 1953, ta nắm được kế hoạch Na-va, yêu cầu hoàn thành kế hoạch trở nên cấp bách để kịp trình lên Quân ủy và Bộ Chính trị. Theo hướng dẫn của anh Thành – Tổng tham mưu trưởng, cơ quan trung tâm đã làm việc ngày đêm, tính toán các mặt, cuối tháng 9 năm 1953 đã hoàn thành kế hoạch đúng thời gian quy định.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:00:57 AM
Khi Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến lược mùa khô, Bác Hồ kết luận ba điểm:

- Địch muốn tập trung thì ta buộc chúng phải phân tán.

- Hướng chủ yếu Tây Bắc là không thay đổi.

- Nắm vững phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”.

Một hội nghị cán bộ do anh Văn trực tiếp chủ trì được triệu tập ngay sau đó nhằm quán triệt quyết tâm, kế hoạch chiến lược và giao nhiệm vụ mùa khô cho các chiến trường. Được nghe sự phân tích rõ ràng, mạch lạc đầy sức thuyết phục của anh Văn về quyết tâm chiến lược và kế hoạch phối hợp với các chiến trường của cả nước, cán bộ các chiến trường và cơ quan dự họp đều nhận rõ nhiệm vụ và tin tưởng quyết tâm thực hiện bằng được ý định tác chiến chiến lược, chủ động tiến công địch trên nhiều chiến trường, phối hợp chặt chẽ với nhau hình thành một chiến cuộc trong đó năm chiến trường quan trọng là: Tây Bắc, Tây Nguyên, Trung – Hạ Lào, Trung du – đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ; nhằm căng địch ra không cho chúng tập trung ra Bắc, kéo địch lên Tây Bắc thực hiện đòn quyết định của cả nước; về sử dụng lực lượng dự bị cơ động lớn để tung ra đúng lúc vào chiến trường chủ yếu.

Đối với chúng tôi, kế hoạch này rất to lớn và mới lạ nên hết sức chú ý tìm hiểu, trong lòng vừa vui mừng vừa lo lắng hồi hộp. Tôi hồi tưởng đến năm 1947, lần đầu tiên về cơ quan Bộ làm Bí thư quân sự cho anh Văn đúng lúc địch ồ ạt mở cuộc tiến công bất ngờ lên Việt Bắc khi mà ta còn rất nhiều khó khăn, tôi cũng cảm thấy lo lắng hồi hộp như bây giờ. Nhưng năm đó cũng như năm nay, tôi nhận thây anh Văn vẫn tỏ ra rất bình tĩnh, thận trọng và rất tự tin trong việc điều hành cuộc chiến rộng lớn khó khăn phức tạp mà thành quả của nó có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh của đất nước. Đã qua bảy tám năm chiến tranh, biết bao thời kỳ khó khăn, phức tạp, qua những cuộc đấu trí căng thẳng với năm bảy tướng nhà nghề Pháp (Lơ Cléc, Va-luy, Ble-dô, Các-păng-chi-ê, Đờ Lát Đờ Tát-xi-nhi, Xa-lăng, Na-va) thay nhau sang Việt Nam, anh đã biết quá rõ về họ: đánh vào đâu thì họ buộc phải điều quân hay có thể giam quân của họ. Anh cũng đã nắm chắc khả năng các chiến trường nhất là nơi đã có đại diện dự họp. Anh lo nhất là hướng Quân khu 5 vì ở đây vùng tự do nằm trong hướng tiến công của kế hoạch Na-va. Vì vậy, anh đã điện riêng cho Liên khu 5 để các đồng chí hiểu rõ nhiệm vụ phối hợp với chiến trường cả nước mà vẫn đánh bại được kế hoạch của địch đánh ra vùng tự do. Sau hội nghị, anh còn làm việc riêng với anh Nguyễn Chánh – Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 để cùng với anh Thành giải quyết những vấn đề cụ thể của Liên khu do anh Chánh đề xuất. Cuộc làm việc đó đã giúp anh Chánh thêm tự tin có thể thuyết phục Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu, anh hứa quyết tâm thực hiện chủ trương của Trung ương và chỉ thị của đồng chí Bí thư Quân ủy.

Bác Hồ cũng đã đến thăm hội nghị. Bác khen các đại biểu đã thảo luận sôi nổi và đã nhất trí với phương hướng, kế hoạch tác chiến Đông Xuân. Bác nhấn mạnh phương châm chỉ đạo tác chiến của Trung ương Đảng đề ra: “Tích cực, chủ động, cơ động. linh hoạt” và động viên cán bộ vượt mọi khó khăn giành thắng lợi lớn nhất trong Đông Xuân 1953-1954.

Khi hội nghị cán bộ đang tiến hành thì ngày 20 tháng 11 năm 1953, địch bắt đầu cuộc hành quân đổ sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Tình hình phát triển nhanh hơn ta dự kiến. Anh Văn lập tức trực tiếp gặp đồng chí Chu Huy Mận – Chính ủy Đại đoàn 316, giao nhiệm vụ về đưa gấp Đại đoàn 316 lên đánh địch ở Lai Châu, không cho chúng co cụm về Điện Biên Phủ; tổ chức thành từng tiểu đoàn đi nhanh lên cho kịp. Anh cũng dự báo trước cho đồng chí Mân biết ta có thể sẽ đánh Điện Biên Phủ, sau đó điện lệnh tiếp cho Đại đoàn 316: “Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào hiện đang bị ta uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta, tình hình căn bản cho lợi cho ta. Cần nắm thời cơ, tạo cơ hội tốt để diệt địch”.

Tiếp đó, anh trực tiếp bàn bạc với anh Thành – Tổng Tham mưu trưởng(1) chuẩn bị đi trước, lập Sở chỉ huy Tiền phương để chỉ huy lực lượng phía trước nắm thời cơ thực hiện thắng lợi ý định của chiến dịch.

Anh Cao Pha, Cục phó Quân báo được lệnh đi trước triển khai nắm tình hình địch và chiến trường.


(1) Đã có quyết định anh Văn Tiến Dũng về làm Tổng Tham mưu trưởng nhưng chưa về kịp nên anh Thái (tức anh Thành) vẫn giữ chức vụ cũ.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:01:21 AM
Tôi được giao phụ trách đoàn cán bộ đi trước chuẩn bị Sở chỉ huy Tiền phương. Lần đầu tiên đi xe ra trận, mọi người đều vui vẻ phấn chấn, khấp khởi mừng sắp được dự một chiến dịch lớn chưa từng có. Tất cả gần 30 cán bộ chiến sĩ, súng đạn, ba lô bao gạo sẵn sàng để đi bộ tiếp đến đích, ngồi ép sát vào nhau trên một xe Mô-lô-tô-va 3 cầu. đường xấu xe chạy lắc như rang ngô nhưng ai cũng vui vẻ vì tin rằng sẽ đến kịp làm nhiệm vụ. Tôi đã kịp mang theo một bản đồ đường sá một phần triệu, nhưng vẫn phải lần hồi hỏi cán bộ làm đường, hỏi dân lần theo các địa danh còn lạ lẫm để đi đến đích, nào là Cò Nòi, Hát Lót, nào Pha Đin, Tuần Giáo…

Lúc này có hai mục tiêu là Lai Châu và Điện Biên Phủ. Mục tiêu chính là Điện Biên Phủ đã rõ, nếu địch co cụm thì có nhiều khả năng Lai Châu co về Điện Biên Phủ, nếu không thì địch không có lý do gì để chiếm Điện Biên Phủ cả. Do đó, tôi chọn ở Thẩm Púa ở ki-lô-mét 15 đường Tuần Giáo – Điện Biên Phủ (ở sâu vào trong một ít), có đường vào thẳng Điện Biên Phủ và nối với đường từ Lai Châu về, có đường tắt thẳng đường chim bay đã rất gần. Chỗ này là thích hợp nhất để Sở chỉ huy Tiền phương có thể chỉ huy chỉ đạo trước mắt khi chưa có quyết định chọn Điện Biên Phủ là điểm quyết chiến chiến lược. Dự kiến vị trí này chỉ sử dụng một thời gian ngắn nên chỉ tập trung làm khẩn trương một số công việc như nhà ở làm việc, phòng họp, thông tin. Ở đây có thác nước, có suối, có hang đá, chỉ cần làm thêm một số công sự, hố cá nhân, một số đoạn hào quanh chỗ họp. Cuộc họp phổ biến nhiệm vụ lần thứ nhất được tổ chức ngày 14 tháng 1 năm 1954 ở đây, xong ta chuyển lên Nà Tấu để tiện chỉ huy bộ đội chiếm lĩnh, kéo pháo vào.

Ta cũng đã chuẩn bị sẵn vị trí chính thức ở Mường Phăng như: sa bàn, hội trường, nhà ở, và bàn làm việc, thông tin, đài quán sát, hầm chỉ huy v.v… Đây là nơi diễn ra sự chỉ huy chỉ đạo từ đầu đến cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, và sau này đã trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng của nước ta.

Sau hội nghị cán bộ, anh Thành còn làm việc với đại diện các chiến trường. Anh chỉ thị cụ thể cho từng chiến trường biện pháp thực hiện nhiệm vụ, phát huy ba thứ quân, tập trung lực lượng thực hiện nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính, cùng các cơ quan bảo đảm giải quyết các yêu cầu nhằm làm tăng sức mạnh cho các đơn vị. Anh còn làm việc riêng với Tổng cục Cung cấp bàn kế hoạch làm đường, sửa đường, bảo đảm vận chuyển trên mọi loại đường, bằng mọi phương tiện, nhằm đạt cho được mức dự trữ cho chiến dịch.

Anh chỉ thị nhiệm vụ cho cơ quan ở hậu phương (Sở chỉ huy Cơ bản) nắm chắc tình hình các chiến trường, bảo đảm chi viện cho tiền tuyến, giữ chặt liên lạc với tiền phương.

Ngày 26 tháng 11 năm 953, anh Thành cùng Sở chỉ huy tiền phương lên đường, chia làm hai bộ phận. Bộ phận nhẹ đi xe cùng anh Thành có một số đồng chí cục phó và trợ lý các cục, các cố vấn Bộ Tổng Tham mưu, các bộ phận nhẹ của Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp.

Trước khi đi, anh Văn trao đổi công việc với anh Thành, kiên quyết không cho địch co cụm về Điện Biên Phủ, không cho chúng rút chạy. Dự kiến đầu tháng 1 năm 1954, anh Văn sẽ đi lên mặt trận sau khi có quyết tâm của Bộ Chính trị.

Mặc dù vừa đi vừa tranh thủ làm việc dọc đường, anh Thành vẫn đã đuổi kịp cán bộ đi trước của Đại đoàn 316 và 308 ở Tuần Giáo. Biết tin tiểu đoàn Âu Phi của địch ở Lai Châu đã rút về Điện Biên Phủ, anh đã kịp ra lệnh cho Đại đoàn 316 điều một tiểu đoàn đi xe lên đánh chiếm Lai Châu và cử Trung đoàn 174 đi đầu kịp đón đánh địch ở Mường Muộn, Mường Pồn, cắt đường Lai Châu – Điện Biên Phủ, diệt địch từ Lai Châu về và đánh lui địch từ Điện Biên Phủ lên đón. Trong trận này, đồng chí Bế Văn Đàn dũng cảm hy sinh lập chiến công lớn, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh Thành cũng đã ra lệnh cho Đại đoàn 308 cho tách Trung đoàn 36 đi nhanh lên trước chiếm Pom Lót ở Tây Nam Điện Biên Phủ, nhằm chặn đường địch có thể chạy sang Lào.

Đầu tháng 1 năm 1954, Bộ Chính trị quyết tâm tiêu diệt Điện Biên Phủ và cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận.

Ngày 5 tháng 1 năm 1954, anh Văn lên đường ra mặt trận. Sau này tôi được biết khi Bác Hồ dặn: “Tướng quân tại ngoại”, được quyền quyết định mọi việc ở mặt trận. Lần này phải đánh chắc thắng, không thắng thì hết vốn!

Đi cùng anh Văn còn có các anh: Trần Văn Quang – Cục trưởng Cục Tác chiến, Lê Trọng Nghĩa – Cục trưởng Cục Quân báo, Hoàng Đạo Thúy – Cục trưởng Cục Thông tin, còn có đồng chí Vi Quốc Thanh – Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:01:41 AM
Sau khi đoàn anh Văn ra mặt trận, đã phân công lại Sở chỉ huy Cơ bản chỉ còn chỉ đạo trực tiếp trung du, đồng bằng Bắc Bộ.

Lên đến Sở chỉ huy Tiền phương, việc đầu tiên anh Văn hỏi anh Thành là: “Có triệu chứng địch rút không?”.

Nghe anh Thành báo cáo quyết tâm đánh Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh”, anh Văn tỏ vẻ trầm tư. Anh chỉ hỏi thêm cho rõ vì sao Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch với sự nhất trí của cố vấn đã chọn phương án đánh nhanh. Anh Thành kể lại: Khi đi qua Nà Sản, anh đã cùng cán bộ và các đồng chí cố vấn vào nghiên cứu tập đoàn cứ điểm và nhận thấy tốt nhất nên đánh lúc địch mới chiếm đóng, chưa củng cố về tổ chức và công sự, dùng lực lượng mạnh, có pháo binh phòng không chi viện có hiệu quả, đánh nhanh mạnh, thọc sâu vào sở chỉ huy địch, phá vỡ tổ chức của chúng thì mới diệt gọn được. Nếu kéo dài thì sẽ gặp nhiều khó khăn. Đối chiếu với tình hình thực tế hiện nay, ta còn nắm được lợi thế đó, vì vậy ta nên đánh nhanh. Để lâu, địch tăng cường lực lượng, củng cố công sự sẽ khó khăn. Ngoài ra, nếu kéo dài thời gian sẽ khó khăn về hậu cần. Nếu mưa lại càng khó.

Vốn có thời gian từng làm việc bên cạnh anh Văn, tôi cảm nhận được là anh chưa yên tâm với phương án này. Vì thường đối với đề nghị nào của cấp dưới mà anh đồng ý thì anh khen ngay, còn chỗ yếu nào thì anh phân tích, hướng dẫn để bổ sung cho tốt hơn và cổ vũ để cán bộ nỗ lực hoàn thành công việc mỹ mãn hơn. Lần này là một quyết định của tập thể, anh chưa muốn nói gì trái lại để khỏi ảnh hưởng tới quyết tâm. Anh rất tôn trọng tinh thần dân chủ nội bộ. Anh hết sức chăm chú nghiên cứu tình hình địch, chỉ thị cơ quan quân báo, tác chiến theo sát tình hình ở Điện Biên Phủ, có biến đổi gì dù nhỏ cũng phải báo cáo cho anh biết ngay.

Ngày họp cán bộ từ trung đoàn trở lên ở Thẩm Púa để phổ biến kế hoạch giao nhiệm vụ cho các đơn vị, anh Thành phổ biến, anh Văn chăm chú nghe các đơn vị phát biển. Mọi người đều tỏ thái độ nhất trí, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kết luận hội nghị, anh Văn nói:

- Đặc điểm của chiến dịch này là một chiến dịch lớn nhất trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay, có hai cách đánh về chiến dịch “đánh nhanh giải quyết nhanh” và “đánh chắc tiến chắc”. Quyết tâm của chiến dịch là tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Địch cố thủ, ta kiên quyết đánh; địch bỏ chạy, ta kiên quyết truy; địch tăng cường, ta kiên quyết diệt. Về kế hoạch hành động phải nhanh chóng bí mật để đánh địch nguyên hiện trạng. Về phương châm tác chiến phải “đánh chắc thắng”. Đảng ủy đề ra trước mắt tranh thủ khả năng “đánh nhanh giải quyết nhanh”. Nhưng tùy theo tình hình địch, nếu không đảm bảo chắc thắng thì chuyển sang chuẩn bị “đánh chắc tiến chắc”.

Họp xong, anh Văn gặp cán bộ chủ chốt hỏi ý kiến để kiểm tra xem có khó khăn gì. Không có đồng chí nào nói đơn vị mình có khó khăn. Chỉ có đồng chí Phạm Ngọc Mậu – Chính ủy Đại đoàn 351 công – pháo nói:

- Không biết rồi đây bày pháo ra giữa đồng trống đánh phi pháo của địch sẽ phải làm thế nào?
 
Đồng chí Phạm Kiệt – Cục phó Cục Bảo vệ nói:

- Đánh như hiện nay gặp nhiều khó khăn.

Trong thời gian chiếm lĩnh trận địa theo phương châm “đánh nhanh”, tác chiến phải theo dõi tình hình cho Cục trưởng Trần Văn Quang – Trưởng ban Tác chiến chiến dịch hàng ngày báo cáo. Anh Văn rất chú trọng theo dõi tình hình các chiến trường phối hợp nhưng chưa thấy bắt đầu hoạt động thì tỏ vẻ không vui, nếu Điện Biên Phủ bắt đầu trước thì Na-va có thể điều lực lượng cơ động nhiều hơn lên chiến trường chính.

Trực ban tác chiến lúc đó do chúng tôi là cán bộ tác chiến làm: theo dõi tình hình ở Điện Biên Phủ thì chú trọng tình hình kéo pháo vào, những chuyển biến dù nhỏ ở Điện Biên Phủ và tình hình vận chuyển ở hậu phương lên. Có lần tôi làm trực ban, đến sáng hết phiên, tôi được gọi lên phòng làm việc báo cáo tình hình với anh Văn. Tôi đang báo cáo tình hình lực lượng Quân khu 5, đột nhiên anh hỏi:

- Ngày trước Tần đậu tú tài Toán phải không? (Anh vẫn gọi tôi thân mật như vậy từ lâu).

- Dạ? - Tôi ngẩn người ra.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:06:25 AM
Anh nói tiếp:

- Thế mà mấy con tính giản đơn về số đại đội địa phương cũng làm không đúng!

- Xin lỗi anh! Tôi cẩu thả quá, nhận được chưa kiểm tra đã báo cáo.

Tôi nhận lỗi và thấy xấu hổ quá như một chú trò nhỏ trước thầy giáo khoan dung và dí dỏm.

Việc kéo pháo rất gian nan. Địch đánh rất ác liệt. Chưa khi nào ta kéo pháo nặng trên 2 tấn. Quãng đường dài 15 ki-lô-mét qua nhiều dốc, cơ nơi dốc cao 60 độ phải dùng hai trung đoàn của Đại đoàn 312 cùng hai trung đoàn pháo đã cố gắng hết sức kéo cả ngày và đêm mà vẫn không kịp thời gian dự định, chậm nổ súng 5 ngay. Cán bộ chỉ huy pháo còn lo đến ngày nổ súng, bày pháo ra giữa đồng đối mặt với máy bay và pháo binh địch chiếm ưu thế hơn sẽ phải giải quyết ra sao. Trong kéo pháo đã có thương vong, đồng chí Nguyễn Văn Chức đã hy sinh lấy thân mình để chèn pháo khỏi lao xuống vực.

Ngày nổ súng còn phải lui lại một ngày vì địch biết được ngày nổ súng của chiến dịch do điện đài của hậu cần làm lộ, nên chuyển sang ngày 26 tháng 1 năm 1954.

Trong hơn 10 ngày chuẩn bị có nhiều thay đổi, nhất là về địch. Từ ngày chúng nhảy dù xuống đến nay đã hơn hai tháng. Lực lượng tăng lên đến 12 tiểu đoàn dù và bộ binh. Bổ sung nhiều xe tăng và 48 khẩu pháo cỡ 105, 155mm và cối 120mm, công sự đã xây kiên cố hơn, công sự phụ làm dày hơn với nhiều mìn. So sánh lực lượng về quân số bộ binh ta chỉ hơn địch 1,5 lần; đầu khẩu pháo cối lớn ta chỉ hơn địch 1,15 lần, máy bay thì địch hơn ta. Trong quá trình triển khai chiến đấu, cán bộ Đại đoàn 312 – đơn vị đánh trận mở màn chiến dịch còn một số băn khoăn nhất là: Chiến đấu liên tục qua đồng trống dưới phi pháo thì địch có ưu thế hơn ta. Đánh vào bên trong chi viện pháo khó. Anh Hoàng Cầm – Trung đoàn trưởng 209 xin trả bớt pháo.

Những ngày gần “ngày N”, tôi hỏi đồng chí Thùy quân y sĩ:

- Anh Văn có ngủ được không?

 Đồng chí Thủy nói:

- Mấy hôm nay anh thức rất khuya, ngủ rất ít, chắc anh lo nhiều vì trận đánh, hôm nay anh kêu nhức đầu tôi phải đắp ngải cứu cho anh.

Sáng ngày 26 tháng 1 (ngày N), anh dậy thật sớm. Sau khi làm việc với đồng chí Vi Quốc Thanh – Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc, đồng chí phiên dịch cho tôi biết anh Văn đặt vấn đề với đồng chí Vi cần thay đổi phương châm, đồng chí Vi đã nhất trí. Anh Văn triệu tập họp Đảng ủy ngay. Đến xế chiều thì hội nghị Đảng ủy kết thúc, chúng tôi được phổ biến như sau:

Đồng chí Bí thư (anh Văn) báo cáo những thay đổi về địch và tình hình chuẩn bị của ta rồi nêu vấn đề:

- Đã nên nổ súng chưa?

- Đánh nhanh giải quyết nhanh có bảo đảm chắc thắng không?

Lúc đầu các đồng chí Đảng ủy viên đều cho rằng nên đánh, vì mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành, bộ đội đã được động viên sẵn sàng chiến đấu, lực lượng ta đủ mạnh có thể giành thắng lợi, nếu kéo dài hậu cần sẽ khó giải quyết.

Sau một thời gian ngắn thảo luận về các yếu tốt chắc thắng, Đảng ủy nhất trí phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh chắc thắng”, phải chuyển cách đánh sang “đánh chắc tiến chắc” mới bảo đảm chắc thắng được. Và đồng chí Bí thư kết luận:

- Để chuyển phương châm, nay hoãn cuộc tiến công ra lệnh các đơn vị trở về vị trí tập kết, kéo pháo ra.

- Công tác chính trị phải làm cho đơn vị triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như làm nhiệm vụ chiến đấu.

- Hậu cần chuyển sang phương án bảo đảm đánh dài ngày, dự kiến chiến dịch sẽ kéo dài đến mùa mưa.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:06:54 AM
Sau hội nghị, anh Văn phân công anh Thành lệnh cho các đơn vị, còn anh sẽ chỉ thị trực tiếp với Đại đoàn 351 và Đại đoàn 308. Chúng tôi nối liên lạc ngay cho hai anh trực tiếp giao nhiệm vụ trên máy điện thoại. Riêng đối với anh Vương Thừa Vũ, đến 14 giờ 30 phút chiều mới liên lạc được, chúng tôi ghi được mệnh lệnh như sau:

- Chú ý nhận lệnh: tình hình thay đổi, đại đoàn các đồng chí có nhiệm vụ hướng về Luông-phra-băng tiến quân. Dọc đường gặp địch tùy điều kiện cụ thể mà tiêu diệt. Giữ vững lực lượng, có lệnh trở về ngay. Giữ liên lạc vô tuyến điện, khi được hỏi mới trả lời.

- Rõ! – Đồng chí Vũ đáp.

- Triệt để chấp hành mệnh lệnh.

- Xin chỉ thị về sử dụng binh lực như thế nào?

- Toàn quyền quyết định, từ một tiểu đoàn đến toàn đại đoàn. Hậu cần tự giải quyết. Đúng 4 giờ chiều nay xuất phát.

- Xin triệt để chấp hành mệnh lệnh.

Chưa khi nào tôi thấy anh Văn ra một mệnh lệnh cho một đại đoàn trưởng ngắn đến như vậy, lại rất căng. Vì anh Vũ luôn coi: “quân lệnh như sơn” và đối với dưới cũng luôn giáo dục tinh thần đó nên anh Văn tin rằng anh Vũ sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ. nhưng tôi chưa hiểu mục đích nhiệm vụ của Đại đoàn 308 là gì, vì sao lại phải gấp đến thế?

Sau khi tôi được biết rằng liền sau đó anh chỉ thị cho thông tin cử một đài đi về hướng Mộc Châu hàng ngày báo cáo với nội dung Đại đoàn 308 đi đến đâu, liên tưởng đến sáng nay anh trực tiếp giao cho anh Phạm Ngọc Mậu – Chính ủy Đai đoàn công – pháo phải bảo đảm cho phải rút ra an toàn, tôi mới hiểu: ngoài những yêu cầu nhiệm vụ của một đại đoàn ở hướng này, ta có thể ngầm hiểu được rằng có yêu cầu nghi binh đánh lạc hướng địch để bảo đảm cho kéo pháo ra an toàn, mà nhiệm vụ này thì không thể nói rõ trên điện thoại được.

Để giúp Đại đoàn 308, Bộ Tổng Tham mưu đã cho một đại đội trinh sát do anh Hoàng Nghĩa Khánh – cán bộ tác chiến chỉ huy đi trước nắm địch đang mở cuộc hành quân ở Mường khoa, Tổng cục Cung cấp cử anh Nam sang cùng bạn Lào giúp giải quyết hậu cần tại chỗ.

Tối hôm đó anh văn trực tiếp viết báo cáo chuyển phương châm tác chiến chiến dịch về Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Nguyễn Công Dinh – cán bộ tác chiến được lệnh mang thư hỏa tốc này đi xe Jeép về hậu phương. Mấy ngày sau có thư trả lời: “Quyết định thay đổi cách đánh như vậy là hoàn toàn đúng…”. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên bộ đội ra sức vượt khó khăn để giành cho được thắng lợi. Bộ Chính trị sẽ động viên toàn dân, dốc sức chi viện. Hội đồng cung cấp do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch chỉ đạo các địa phương huy động nhân vật lực phục vụ tiền tuyến.

Tết cổ truyền Quý Tỵ vào ngày 3 tháng 2 năm 1954, đến đúng ngày thành lập Đảng trong không khí chuẩn bị chiến đấu rất khẩn trương ở mặt trận, nhưng cơ quan cũng tranh thủ tổ chức được chuộc họp mặt mừng Đảng mừng Xuân. Anh Văn và anh Thành đều đến dự. Các anh chúc Tết cán bộ chiến sĩ trong cơ quan và chuyển lời chúc Tết đến gia đình. Mấy anh đại diện các cơ quan chúc anh Văn, anh Thành mạnh khỏe, chúc quân dân ta thắng lớn trong xuân hè này. Không khí cuộc họp thật ấm cúng chan hòa. Anh Văn biểu dương các cơ quan trong thời gan qua, nhất là Ban quân báo đã cung cấp tin tức chính xác kịp thời, đồng thời cũng nhắc nhở một các vui vẻ:

- Ban quân báo (chiến dịch, chiến lược) có cái tài là địch đánh đến đâu là biết ngay, như địch vừa đánh ra.

Anh Cao Pha ngồi cạnh, nói nhỏ với tôi:

- Đúng quá! Nắm tin chiến dịch chiến lược phải nắm được từ khi địch mới có dự kiến kế hoạch. Ta còn phải cố gắng nhiều.



Đại đoàn 308 đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, bộ đội nhìn đói, nhịn khát, quên hết mệt mỏi truy kích địch ngày đêm trên chặng đường dài 200 ki-lô-mét, cùng bạn đánh nhiều trận tiêu diệt và đánh tan 15 đại đội địch (mỗi đại đội 220 tên), giải phóng một vùng rộng lớn sông Nậm Hu khoảng một vạn ki-lô-mét vuông. Na-va kinh ngạc, sợ thủ đô Lào bị uy hiếp phải điều tám tiểu đoàn cơ động ở Bắc Bộ lên Thượng Lào và thành lập hai tập đoàn cứ điểm mới ở Luông-phra-băng ở Mường Sài bằng 23 tiểu đoàn. Địch ở Điện Biên Phủ không còn đường rút chạy sang Lào.

Đại đoàn được lệnh dừng tiến công kịp thời khi cách Luông Phra-băng 10 ki-lô-mét và chuẩn bị hành quân về kịp ngày nổ súng tiến công Điện Biên Phủ.

Mấy hôm trước ngày tiến công, tin chiến thắng ở các chiến trường phối hợp dồn dập báo về đi đôi với tin kéo căng nhiều lực lượng cơ động của địch vào hướng Trung – Hạ Lào, Tây Nguyên, vùng tự do Liên khu 5… Đến lúc này, địch đã phải phân tán 70 trên tổng số 80 tiểu đoàn cơ động. Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, khối chủ lực đã điều đi 60 tiểu đoàn.

Khi Đại đoàn 308 rời Điện Biên Phủ, địch không hiểu ta định đánh lạc hướng của chúng, mà lại cho là ta từ bỏ ý định đánh lên Điện Biên Phủ. Vì thế Na-va lại tiếp tục sai lầm: mở tiếp cuộc hành quân Át-lăng đã bỏ dở. Hồi ký của Na-va cho biết khi Na-va và Cô-nhi lên kiểm tra tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Cô-nhi khoác lác: “Chúng ta tới đây để buộc Việt Minh đánh nhau. Chúng ta không nên làm gì để họ thay đổi ý định”. Còn Na-va thì viết trong hồi ký: “… Không một nhà chức trách nào, cá bộ trưởng, các tướng lĩnh Mỹ, Anh, Pháp sau khi đến tham quan Điện Biên Phủ lại không khỏi kinh ngạc về sức mạnh phòng thủ mà không tỏ tình cảm với tôi”. Na-va còn huênh hoang: “Cuộc tiến công của Tướng Giáp sẽ bị chặn đứng… sức chiến đấu với Việt Minh ở điểm cao nhất và bắt đầu tàn lụi rồi”. Trong khi đó ta đang chuẩn bị mở cuộc tiến công với sức mạnh hơn bao giờ hết.

Sau này, anh Văn mới nói cảm tưởng của mình:

- Việc thay đổi cách đánh ở chiến dịch Điện Biên Phủ là quyết định khó khăn nhất trong đời tôi”.

Anh Vương Thừa Vũ hồi đó là Đại đoàn trưởng 308 cho rằng:

- Nếu hồi đó ta đánh theo phương châm đánh nhanh, chắc cuộc kháng chiến của chúng ta còn kéo dài 10 năm nữa.

Anh Lê Trọng Tấn hồi đó là Đại đoàn trưởng 312 đã phát biểu trong khi dự lễ 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ:

- Nếu không có quyết tâm chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ.

Và anh Văn đã rút ra “Một bài học đáng nhớ về dân chủ nội bộ”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:07:17 AM
*
*   *

Ngày 7 tháng 2, sau Tết Quý Tỵ, Bộ Tổng Tham mưu triệu tập hội nghị cán bộ để quán triệt phương châm tác chiến mới “đánh chắc tiến chắc” và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Anh Văn thay mặt Quân ủy chúc Tết toàn quân. Sau khi khen ngợi các đơn vị kéo pháo ra an toàn, thông báo quyết định của Bộ Chính trị phê chuẩn chủ trương tác chiến mới của Đảng ủy chiến dịch và hậu phương sẽ dốc sức chi viện tiền tuyến, thông báo tin thắng lợi trên các chiến trường toàn quốc, anh Văn chỉ thị các công tác lớn như sau:

- Tổ chức làm đường cơ động cho pháo, tổ chức trận địa pháo thật kiên cố.

- Xây dựng trận địa tiến công.

- Chuẩn bị bộ đội về sức khỏe, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật, nhất là xây dựng trận địa và hiệp đồng bộ - pháo.

- Chuẩn bị hậu cần vật chất.

Anh Thành họp giao nhiệm vụ cho các cơ quan và trực tiếp chỉ đạo làm đường, làm trận địa cho pháo và xây dựng trận địa tiến công.

Dưới sự chỉ đạo của anh Thành, công binh và bộ đội làm nhiều tuyến đường tổng số lên đến 70 ki-lô-mét, qua các khe sâu có cầu vững chắc bảo đảm xe pháo cơ động cả mùa mưa lũ có ngụy trang cẩn thận địch không phát hiện được.

Tôi và cán bộ chỉ huy pháo cùng đi tìm đường và trận địa pháo. Tôi dựa vào bản đồ (bây giờ đã có), địa bàn, chấm trước trên bản đồ những điểm có thể chọn làm trận địa. Những điểm đó ở sườn đồi hướng về phía địch để thấy rõ mục tiêu ở cự ly bắn tốt, độ dốc không lớn lắm. Sau đó, chúng tôi phát cây đạp đường lên đến lên đến điểm đã định, kiểm tra thực tế đặt được pháo rồi, từ đó lần trở lại theo đường dốc thoải trải ra đường trục. Từ đó pháo binh đã chuẩn bị trận địa, xây hầm có nắp rất chắc, có cửa bắn rộng đủ kiểm soát hết các mục tiêu, xây hầm đạn kiên cố riêng, xây hầm chắc chắn khô ráo cho pháo thủ nghỉ ngơi, tất cả đều ngụy trang cây xay rất kín, ngoài ra còn làm trận địa nghi binh. Điều đó đã làm cho địch phải hết sức bất ngờ làm cho Pi-rốt chỉ huy pháo binh của địch phải tự sát vì không thể phát hiện được trận địa của ta để kiềm chế có hiệu quả như hắn đã huênh hoang trước trận đánh.

Việc kéo pháo ra cũng rất gian nan ác liệt như kéo pháo vào. Cũng có thương vong, đồng chí Tô Vĩnh Diện hy sinh khi lấy thân mình chèn khẩu pháo 37mm khỏi lăn xuống vực, sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng khi vào trận địa rồi thì cán bộ chiến sĩ đều vui mừng và rất tin tưởng ra quân lần đầu sẽ làm nên chuyện. Pháo binh đã sáng tạo được một cách đánh mới có hiệu suất cao.

Anh Thành rất coi trọng công tác xây dựng trận địa. Bước đầu anh chỉ đạo các đại đoàn tập trung làm trận địa tiến công nhằm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là các mục tiêu tiến công đợt đầu. Quá trình làm ta phải tranh chấp quyết liệt với địch, đào rồi lại bị lấp, phải tổ chức và bảo vệ trận địa quyết liệt mới giữ cho được đến khi tiến công.

Công tác bảo đảm hậu cần rất nặng nề, khối lượng tăng gấp ba bốn lần so với trước. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, nhân dân hậu phương nô nức góp lương thực, huy động xe cộ, phương tiện, dân công, thanh niên xung phong làm đường, bổ sung quân số cho bộ đội… Trên mặt trận, Tổng cục Cung cấp có sáng kiến huy động các phó cối làm cối xay tại chỗ; huy động tại chỗ trong bốn huyện Tuần Giáo, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, được 7.500 tấn gạo, 3.000 tấn thịt. Đường vận chuyển được tăng cường vũ khí phòng không ở trọng điểm, tăng cường thanh niên xung phong làm rất nhiều đường tránh như mạng nhện. Nhờ đó, mặc dù địch tăng cường đánh phá, đánh bằng đường này ta đi vòng đường khác, nên đường vận chuyển luôn thông suốt. Hậu cần đã bảo đảm đủ dự trữ đến mùa mưa…

*
*   *

Mọi việc chuẩn bị theo đúng kế hoạch đã gần đến ngày nổ súng. Ngày 11 tháng 3, có thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác căn dặn: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ của các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang… Chúc các chú thắng to”.

Tiếp đó có thư của Đại tướng Tổng Tư lệnh viết; “Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Chiến dịch này là chiến dịch công kiên quy mô lớn nhất trong lịch sử quân đội ta từ trước đến nay… Giờ ra trận đã đến. Tất cả cán bộ và chiến sĩ, tất cả các đơn vị, tất cả các binh chủng hãy dũng cảm tiến lên thi đua lập công giật lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Sáng ngày 13 tháng 3, theo chế độ quy định của Bộ Tham mưu chiến dịch thì trong những ngày có tác chiến lớn, các đồng chí trưởng ban của chiến dịch (thực tế là các đồng chí cục trưởng) làm trực ban chính, cán bộ tác chiến làm phó, nhưng mọi người trong ban tác chiến đều có mặt vì ngày trọng đại chờ đợi mấy tháng nay đã đến. Anh Văn dậy sớm hơn thường lệ, sáng sớm đã đến chỗ trực ban kiểm tra. Anh Trần Văn Quang báo cáo tin tức mới nhận được, mọi việc theo đúng kế hoạch, đồng chí nhắc đến các việc cần đôn đốc kiểm tra trước giờ nổ súng. Chúng tôi chia nhau đi làm việc, ai cũng vui vẻ, phấn khởi cố làm công việc được giao cho xong hoàn hảo để về kịp vào giờ nổ súng, nô nức chờ đón, hy vọng trận mở màn thắng lợi giòn giã, nhất là hồi hộp chờ xem “thần chiến tranh” của ta xuất hiện bất ngờ sẽ làm cho địch sợ hãi thế nào, ta sẽ áp đảo chúng ra sao.

Trận Him Lam mở màn thắng lợi giòn giã làm cho Bộ chỉ huy và cơ quan hả lòng hả dạ. Tiếp đến trận Độc Lập. Cả hai trận địch đưa xe tăng bộ binh có phi pháo yểm hộ ra phản kích đều bị đánh lui. Trung đoàn 36 có sáng kiến dùng địch vận gọi địch hàng nên chiếm Bản Kéo không tốn một viên đạn. Chỉ trong năm ngày đầu chiến dịch, ta đã diệt và chiếm ba “Trung tâm đề kháng” vòng ngoài do ba tiểu đoàn của địch chiếm giữ, áp sát được khu trung tâm của địch, hoàn thành xuất sắc đợt một chiến dịch


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:07:48 AM
*
*   *

Để chuẩn bị đợt hai, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương đào trận địa bao vây và chĩa các mũi vào sát các mục tiêu để khi đột phá khỏi bị phi pháo chặn đường tiến và tránh bị sát thương nhiều. Anh Thành trực tiếp chỉ đạo làm mẫu: chiến hào, giao thông hào có đường trục đường nánh, các ụ súng, các trận địa hỏa lực…, xác định kích thước cụ thể chiều sâu, chiều rộng, khối lượng, thời gian. Anh cho vẽ một sơ đồ các đường hào bao quanh Điện Biên Phủ, các đường hào chĩa thẳng vào các mục tiêu. Sau đó, anh giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, định thời gian hoàn thành và bồi dưỡng kỹ thuật cho cán bộ rồi bắt đầu thực hiện. Anh còn chỉ đạo sắp xếp thời gian công tác cho hợp lý: sáng nghỉ ngơi, chiều chuẩn bị dụng cụ vật liệu rồi làm trận địa cả đêm cho đến sáng. Sự chỉ đạo sát sao của anh đã giúp đơn vị làm đạt năng suất cao, đạt và vượt mức thời gian. Quá trình làm trận địa, các đơn vị căn cứ yêu cầu chiến đấu và sinh hoạt của mình đã có sáng kiến làm thêm các công trình phụ, như: làm những đoạn có nắp, làm hàm ếch để tiện chuyển thương và tránh đạn và mảnh đạn dọc đường hào, làm các râu với ụ súng để tiện đánh địch phản kích, đến khi trời mưa thì làm thêm hầm có che mưa khô ráo để nghỉ ngơi tại trận địa…

Được phân công theo Đại đoàn 308, tôi đã nhiều lần xuống đơn vị kiểm tra, theo cán bộ đi ra các mũi lên phía trước, có mũi vào gần hàng rào, gần sân bay. Nhiều lần địch phản kích, ta đều đánh lui và giữ vững trận địa. Bộ đội làm rất tích cực, càng thấy tác dụng của trận địa, anh em càng hăng say đào quên mệt nhọc. Lúc đào gần cứ điểm, Trung đoàn 36 có sáng kiến làm xe lăn bằng rơm chống đạn thẳng, mở ra khả năng có thể đào sâu vào trong rào và vào sát sân bay, có thể khống chế được sân bay, từ đó sẽ có tác dụng rất lớn. Đến ngày 29 tháng 3, các đơn vị đã hoàn thành theo chỉ tiêu kế hoạch.

Chủ trương của đợt hai là: Tập trung ưu thế tiêu diệt các vị trí phía Đông Điện Biên Phủ là chủ yếu, chiếm các cao điểm khống chế biến thành trận địa của ta để uy hiếp Mường Thanh, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm.

Chiều 30 tháng 3, đợt hai của chiến dịch bắt đầu. Trên hướng Đông là hướng chính, ta chiếm được E, D1, D2, chiếm C1 phát triển sang C2 và một phần A1. Trên hướng Tây, Trung đoàn 36 diệt cứ điểm 106, bức hàng Công Na.

Qua ngày 31 tháng 3, địch phản kích chiếm lại một phần A1 và C1. Từ đêm 31 tháng 3, Bộ chỉ huy cho Trung đoàn 102 và đánh A1, đánh đi đánh lại nhiều lần vẫn bị lực lượng địch được pháo binh chi viện phản kích chiếm lại, ta chỉ giữ được một phần A1, C1. Ngày 4 tháng 4, trước tình hình cán bộ trực tiếp chỉ huy đã nỗ lực hết sức với tinh thần trách nhiệm và dũng cảm rất cao, bộ đội thương vong đã cao, mặc dù chưa đạt yêu cầu của đợt hai, Anh Văn đã ra lệnh cho kết thúc đợt hai, cho Trung đoàn 174 giữ phần còn lại của A1, Trung đoàn 102 rút ra củng cố rút kinh nghiệm.

Tôi nhớ hồi cuối chiến dịch Tây Bắc, khi ta đang thắng lớn, chỉ còn tập đoàn cứ điểm Nà Sản, bộ đội mấy ngày tiến công không thành công mà số thương vong đã cao, ta đánh chiếm được một số cứ điểm đêm trước thì ngày hôm sau địch chiếm lại, ta không có điều kiện để dứt điểm, anh đã kiên quyết kết thúc chiến dịch trong lúc cán bộ còn háo hức muốn đánh tiếp. Tôi hiểu anh với trọng trách của mình luôn cân nhắc nghiêm túc cái giá của thắng lợi và hết sức quý trọng sự hy sinh xương máu của chiến sĩ và biết tạm dừng chiến đấu đúng lúc để chuẩn bị điều kiện cho trận chiến đấu tiếp sau thắng lợi giòn giã hơn.

Tôi làm trực ban, nghe Trung đoàn 174 báo cáo ở A1 có đường hầm ngầm, bộ binh và xe tăng địch theo đường ngầm lên phản kích, phải tìm ra cửa hầm ngầm mới đánh bại phản kích của địch để giữ A1 được. Tôi suy nghĩ thấy không có lý, được biết ngày xưa có ngôi nhà làm kiểu Pháp ở trên ngọn đồi A1 có thể còn hầm rượu của nhà đó chứ không thể có đường hầm ngầm được. Tôi đã nêu vấn đề cho trực ban của đại đoàn là nên hướng dẫn tìm cách khống chế đường địch có thể lên phản kích từ sườn đồi phía địch, không nên mất thì giờ tìm cửa hầm ngầm để lỡ thời cơ đánh phản kích. Tôi cũng đã báo cáo vấn đề này cho Bộ Tham mưu chiến dịch khi bàn giao trực ban ngày hôm sau, nhưng đồng chí chỉ huy Trung đoàn 174 vẫn khăng khăng là địch có hầm ngầm. Do đó, đồng chí Hùng Sinh – Trung đoàn trưởng 102, mới vào thay, chưa nắm chắc địch, vẫn đi theo “vết xe cũ” và gặp khó khăn.

Ngày 6 tháng 4, Bộ Tham mưu triệu tập cán bộ từ trung đoàn trở lên dự hội nghị sơ kết đợt hai. Anh Văn sau khi nghe các đơn vị báo cáo đã kết luận: Thắng lợi vừa qua rất lớn, đã tiêu diệt bốn cứ điểm phía Đông, tiêu diệt và bức hàng hai cứ điểm phía Tây, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Nguyên nhân thắng lợi do chủ trương, phương châm và kế hoạch chính xác. Nhưng ta chưa hoàn thành yêu cầu của đợt hai. Thắng lợi bị hạn chế do một số cán bộ phạm khuyết điểm nghiêm trọng về chiến thuật, về tinh thần trách nhiệm, về nắm địch, về tập trung binh hỏa lực không đủ…

Thực tế ta không tiêu diệt được A1 một phần do khuyết điểm về tổ chức trinh sát không tỷ mỷ ở phía sau A1. Tại đây địch có một giao thông hào đi từ khu trung tâm lên A1, bảo đảm an toàn cho các đơn vị địch phản kích mà ta không phát hiện được. Sau khi đánh thắng, anh Văn đi thăm lại chiến trường, đã lên xem lại đồi A1, tôi đã trình bày cho anh thấy không có hầm ngầm nào cả, chỉ có một giao thông hào từ chân đồi lên mà thôi!

Kết quả đánh C1 cũng ảnh hưởng lớn đến A1. Ngày đầu (30 tháng 3), Trung đoàn 98 chiếm C1 đã có thời cơ phát triển chiếm C2 là nơi xuất phát phản kích của địch, nhưng lại cho thay đơn vị vào lúc địch đã kịp chế áp pháo và cho lực lượng lên phản kích đánh chiếm lại C1. C2 là nơi địch để lực lượng sẵn sàng và lập sở chỉ huy phản kích ở hướng Đông.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:08:58 AM
*
*   *

Mặc dù đợt hai gặp khó khăn, không đạt hết các yêu cầu đề ra, nhưng với ý chí quyết tâm không lay chuyển, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch do anh Văn làm Bí thư kiêm chỉ huy trưởng đã dành thời gian dài nhất, gần một nửa thời gian toàn chiến dịch để làm công tác chuẩn bị đợt ba mà nội dung chủ yếu là hoàn thành các yêu cầu còn lại của đợt hai, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm.

Trước hết, ta tiến hành sinh hoạt chính trị, rút kinh nghiệm, củng cố bộ đội về mọi mặt, huấn luyện bổ sung cho cán bộ, bộ đội huấn luyện tân binh, bổ sung quân số, nâng trình độ, sức khỏe và sức chiến đấu của bộ đội.

Mặt khác, ta tiếp tục phát triển trận địa vào sát các cứ điểm của địch, vào sát sân bay, tiến tới cắt sân bay, vừa vây chặt địch, vừa khống chế tiến đến cắt tiếp tế, cắt chuyển thương bằng đường không, gây cho địch nhiều khó khăn. Đồng thời, ta tăng cường đánh nhỏ bằng nhiều hình thức: diệt từng cứ điểm nhỏ có điều kiện, bắn máy bay, luồn sâu đánh kiểu biệt kích, đánh quân nhảy dù, bắn tỉa, địch vận, cướp dù lấy tiếp tế cải thiện cho bộ đội, lấy đạn pháo cối bổ sung cho pháo binh… trên thực tế, trong thời gian này, thế và lực của ta trở nên mạnh hơn hẳn địch.

Trong thời gian chuẩn bị đợt ba, ngày 12 tháng 4, ta tiến công A1, phát triển thêm một bước. Địch điều hai tiểu đoàn dù phản kích ta ở A1, bị ta diệt ba đại đội, phá hủy hai xe tăng, hai pháo 105mm. Ta giết và làm bị thương 600 tên, nhưng ta không chiếm giữ rộng hơn để giữ được trận địa.

Về trận đánh ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 36 đánh lấn chiếm được cứ điểm 106, sáng tạo ra một cách đánh mới. Trung đoàn tích cực đào hào sát rào, rồi đào vào trong rào, vừa đào vừa phá rào sát lô cốt, sau chiếm luôn lô cốt địch. Địch phản kích, ta đánh lui rồi mở rộng bàn đạp. Tôi trực ban nghe báo cáo như vậy, tôi rất mừng. Tôi khuyến khích trực ban của trung đoàn xem có điều kiện thì phát triển dứt điểm luôn. Mấy chục phút sau thấy tiếng súng nổ rộ lên ở hướng này. Các anh hỏi, tôi báo cáo ngay có khả năng Trung đoàn 36 đánh lấn sắp dứt điểm rồi. Quả nhiên như vậy, một lúc sau tiếng súng ngớt và Trung đoàn 36 báo cáo đã diệt và chiếm được cứ điểm 106; tiếp đó lại báo cáo là đã bức hàng Căng Na, bắt tù binh, thu toàn bộ vũ khí. Trung đoàn chiến đấu cơ động linh hoạt đã có truyền thống. Anh Văn nghe báo cáo đã công nhận là Trung đoàn 36 đã sáng tạo một hình thức chiến thuật mới và khen ngay. Sau đó, từ ngày 22 đến 28 tháng 4, Đại đoàn dùng cách đánh lấn diệt năm cứ điểm phía Tây và Tây Nam(1), có cứ điểm Nà Noọng cách sở chỉ huy của Đờ Cát 300 mét. Đến thời gian này, trận địa đã vây ép chặt gần sát sở chỉ huy của địch, rồi cắt luôn sân bay, phát huy các hình thức đánh nhỏ tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, gây cho địch vô cùng khốn đốn, mất hết sức chiến đấu.

Trong sách “Chúng tôi đã ở Điện Biên Phủ” Giăng Pê-gốt: “Bên cạnh ba bốn nghìn thương binh chất đống trong hầm (bệnh viện dã chiến chỉ chuẩn bị cho 40 thương binh chưa chuyển đi được), ba bốn nghìn quân đào ngũ chui rúc, ẩn nấp trong các ổ chuột, chỉ còn lại có bảy nghìn quân chiến đấu kiệt sức, thiếu tổ chức, thiếu trang bị”.



Nhiệm vụ đợt ba là hoàn thành phần còn lại của đợt hai. Yêu cầu hướng Đông phải đánh chiếm các cao điểm còn lại, chủ yếu nhất là A1, tiến sát bờ sông Nậm Rốm, hướng Tây đánh chiếm các cứ điểm ở Tây Bắc, Tây và Tây Nam sở chỉ huy của địch.

Để bảo đảm đánh thắng A1, Bộ Tham mưu đã cử cán bộ cùng với đơn vị đi trinh sát kỹ A1 đã phát hiện giao thông hào phía sau A1. Đơn vị đã có kế hoạch cho một bộ phận chiếm giữ giao thông hào để cắt đường phản kích của địch, khi ta tiến công A1. Đồng thời Bộ tham mưu hướng dẫn cho Đại đoàn 316 tổ chức một phân đội công binh hỗn hợp của Bộ và Đại đoàn đào một đường hầm vào sát hầm nhà trên đồi A1, dùng 1.000 ki-lô-gam bộc phá để phá.

Đến khi đã bị khốn quẫn, Na-va đã cho tổ chức cuộc hành quân Chim ưng (Condor), cho lực lượng ở Lào sang phá vây nhưng bị ta chặn đánh cho thất bại và tháo chạy. Cuối cùng chúng buộc phải cho mở cuộc hành quân “Chim hải âu” (Albatros) cho Đờ Cát tự rút chạy sang Lào thì đúng lúc ta bắt đầu tiến công đợt ba.

Từ ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta đánh liên tục mấy ngày liền, diệt ba cứ điểm phía Đông gồm có C1, 505, 505A sát sông Nậm Rốm, hai cứ điểm phía Tây và khu C ở Hồng Cúm. Đêm 6 tháng 5, lợi dụng khi địch bị choáng váng bởi quả bộc phá ở A1, Trung đoàn 174 đã nhanh chóng tiêu diệt A1 là cái chìa khóa cuối cùng của tập đoàn cứ điểm. Trung đoàn 98 tiêu diệt C2, sở chỉ huy và lực lượng phản kích phía Đông của địch; Trung đoàn 102 tiêu diệt cứ điểm 310 “Con mắt của khu trung tâm”, áp sát sở chỉ huy của Đờ Cát phía Tây Nam; Trung đoàn 209 tiêu diệt các cứ điểm 507, 508, 509, áp sát bờ sông Nậm Rốm và sở chỉ huy của Đờ Cát ở phía Đông. Các đơn vị đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


(1) Trong đó có cứ điểm 206 do Trung đoàn 36 tiêu diệt theo chiến thuật “đánh lấn”đã được hoàn thiện.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 09:09:26 AM
*
*   *

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, phát hiện địch rối, lẻ tẻ có cờ trắng ở một số cứ điểm, anh Văn ra lệnh tổng công kích. Bắt đầu từ 15 giờ 30, các mũi đều ồ ạt tiến công. Trung đoàn 209 phát triển nhanh nhất đến đầu cầu sông Nậm Rốm, bộ đội vượt qua cầu, lúc 16 giờ 20 phút, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ thọc vào hầm Đờ Cát, bắt sống toàn bộ sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Đến 17 giờ 30 phút, đồng chí Lê Trọng Tấn báo cáo đã bắt được Đờ Cát và toàn bộ ban tham mưu. Các cứ điểm đều trương cờ trắng ra hàng.

Tại Hồng Cúm, địch không kịp rút chạy sang Lào mà ẩn nấp ở hầm hố bên ngoài, bị ta lùng sục, chúng ra hàng 2.000 tên, có cả tên đại tá chỉ huy.

Cả Sở chỉ huy chiến dịch rộ lên, vui mừng tột độ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, trút được nỗi lo, vì mấy ngày gần đây trời bắt đầu mưa, dự trữ lương thực thực phẩm đã gần cạn, khiến mọi người lo lắng nhiều.

Theo chỉ thị của anh Văn, ngày hôm sau, Đờ Cát đã được đưa sang một nhà lá bên ngoài Sở chỉ huy, giao cho anh Cao Pha (quân báo) và tôi hỏi cung. Trông ông ta rất nhũn nhặn, khác hẳn với thái độ thách thức ngạo mạn cách đây chưa đầy ba tháng, khi ông ta nói: “Hãy làm cho quân Việt xuống lòng chảo. Nếu chúng xuống sẽ vào tay chúng tôi”. Chúng ta hỏi một số tình hình để kiểm tra sự hiểu biết của ta về địch và đánh giá của địch về ta thế nào. Ông ta trả lời khá chân thật và trách các tướng chỉ huy Pháp là:”Đồ điên!”, cuối cùng nói: “Chúng tôi thua vì Bộ chỉ huy tối cao của các ông vận dụng chiến thuật rất giỏi…”, và cám ơn chính sách khoan hồng của ta.

*
*   *

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo chỉ huy tài tình, sáng tạo, kiên quyết của Bộ Tổng Tư lệnh, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đã làm nên một kỳ tích, giành một thắng lợi vang dội trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đặt một “mốc son bằng vàng” cho Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành được “độc lập tự do” cho miền Bắc, làm thất bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Tôi nghĩ là ta còn một thắng lợi to lớn về nghệ thuật quân sự: cuộc kháng chiến chống Pháp đã phát huy và nâng cao truyền thống lịch sử toàn dân đánh giặc của nhân dân Việt Nam, đóng góp thêm vào lịch sử một loại hình mới – nghệ thuật “chiến tranh toàn dân” thời đại Hồ Chí Minh.

Chiến tranh toàn dân lâu dài của Việt Nam đã đánh bại chiến lược đánh nhanh của thực dân Pháp. Đó là thắng lợi của tư tưởng chiến lược tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Pháp cũng như các đế quốc khác đều lấy sức mạnh quân sự, vũ khí, tiền của để xâm lược, ức chế kẻ yếu. Việt Nam ta đã biết phát huy thế mạnh của chiến tranh toàn dân, đã luôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh “không ngừng giữ thế tiến công”, từ chủ động tiến công trong chiến đấu, càng đánh càng mạnh, đến phát triển thế lực mạnh hơn để chủ động tiến công chiến dịch rồi chủ động tiến công toàn chiến trường, giành thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình cuộc kháng chiến, ta luôn biết cách giành lại chủ động để tiến lên.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn góp vào kho tàng lịch sử khoa học quân sự Việt Nam một hình thức hội chiến (chiến cuộc) và một hình thức chiến dịch chiến lược độc đáo: tiến công tập đoàn cứ điểm, một hình thức sáng tạo của chiến tranh nhân dân giải phóng đất nước của một nước nhỏ chống một đế quốc to trong thời đại ngày nay.

Nhân dân vui mừng, thế giới ca ngợi. Nhưng niềm vui chưa trọn vẹn vì miền Nam còn chịu sự thống trị của nước ngoài, kẻ thù mới đã lộ mặt. Bước đường đấu tranh tới để giành độc lập, thống nhất Tổ quốc còn lâu dài, gian khổ ác liệt hơn nhiều.

Bản thân tôi cũng như nhiều bạn đồng đội, đồng chí đã trải qua 9 năm chiến tranh chống thực dân Pháp, được tham dự chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng như đã trải qua một “Trường đại học lớn”, vừa học vừa làm đã trưởng thành và hoàn thành nhiệm vụ đối với Tổ quốc, với lịch sử. Được tôi luyện trong khói lửa của cuộc đấu tranh cách mạng, bản thân tôi đã học tập được nhiều bổ ích từ các tướng lĩnh, từ đồng đội về phẩm chất đạo đức, tài năng và tính cách, được bồi dưỡng ngày càng hoàn thiện và vững chắc, giúp cho tôi hoàn thành tới bất kỳ nhiệm vụ nào được giao.

Trong công tác, tôi luôn phấn đấu vươn lên để là một cán bộ tham mưu có năng lực, trung thực, dám nói dám làm, giúp lãnh đạo và chỉ huy có hiệu quả; là một cán bộ chỉ huy vững vàng, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, biết quý trọng xương máu của chiến sĩ, đã trực tiếp chỉ huy đánh trên 10 trận, trận nào cũng thắng, ít thương vong, là một đảng viên có nhiệt tình cách mạng, mật thiết với quần chúng, chính trị vững vàng trong mọi tình huống, luôn tiên phong gương mẫu mọi mặt, đã thay đổi công tác rất nhiều nơi, ở đâu cũng làm được trung tâm đoàn kết, có tín nhiệm cao đối với trên và dưới.

Thật hạnh phúc được làm thanh niên trong thời đại Hồ Chí Minh, được làm anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng tôi có cùng vui sướng và vinh hạnh đã được học những bài học quý báu làm hành trang sẵn sàng bước vào một cuộc chiến đấu mới đầy tin tưởng và tự hào.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:15:36 PM
MƯỜI NĂM HÒA BÌNH Ở MIỀN BẮC

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì các nước tham dự hội nghị buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.

Mỹ hất cẳng Pháp, dựng ngụy quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm, công khai phá Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỹ đứng đằng sau giật dây, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng, làm căn cứ quân sự hòng ngăn cản phong trào cách mạng phát triển xuống Đông Nam Á.

Để thực hiện Hiệp định, ta và Pháp thống nhất tổ chức Ủy ban Liên hợp Trung ương và địa phương. Ủy ban Trung ương bên ta do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn, bên Pháp do thiếu tướng Đen-tơi làm trưởng đoàn, bắt đầu làm việc từ ngày 29 tháng 7 năm 1954 tại Trung Giã. Tôi được chỉ định tham gia trong đoàn của Việt Nam ở Trung ương với quân hàm thiếu tá.

Trước khi đi làm nhiệm vụ mới, có thời gian rảnh, tôi được nghỉ bốn ngày đi tổ chức lễ cưới. Đó là nguồn động viên mới đối với tôi, trong những năm chiến tranh có người bạn đời đồng hành, có thêm ý nghĩa mới. Tôi coi ngày cưới là một phần thưởng rất quý giá với riêng tôi, đối với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ hiến đấu trong những năm qua. Có được ngày này, tôi biết ơn Ban chính trị Trung đoàn 36 cùng đồng chí Chấn – Bí thư chi bộ Đảng của Xí nghiệp Dược đã quan tâm tạo điều kiện cho chúng tôi gặp nhau. Đồng chí Chấn là chuyên viên về Đông y, sau này về Hà Nội, đồng chí được giao phụ trách xây dựng Viện Đông y đầu tiên của Quân đội.

Vì đang bận công tác, cơ quan không ai đi dự cùng tôi. Chỉ có một lá thư chúc mừng của đồng chí Cục trưởng Trần Văn Quang để đọc trong lễ cưới. Đi đến xí nghiệp lúc này đã tập trung về Phú Lương – Thái Nguyên mất một ngày, ngày thứ hai chuẩn bị cưới, ngày thứ tư về cho kịp trả phép. Toàn bộ xí nghiệp họp lại ca hát, chúc mừng và liên hoan một bữa chè để chia vui. Có cả Chủ tịch xã Yên Trạch vào chứng kiến và làm giấy hôn thú đầy đủ pháp lý của Nhà nước. Đến nay năm 2004 đã tròn 50 năm, cùng với kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng đủ thời gian để chúng tôi làm đám cưới Vàng.

Tôi tham gia vào Ủy ban Liên hợp Trung ương, chủ yếu chuẩn bị tài liệu, số liệu phục vụ cho cuộc đấu tranh với đối phương. Tôi biết tiếng Pháp, tôi xem tài liệu của họ, nghe họ nói để kiểm tra nội dung phiên dịch của họ nói lại và để giúp cho đoàn ta chuẩn bị đối sách. Khi có sự việc trong vùng tập kết của Pháp mà họ khiếu nại với Ủy ban là nhân dân ta vi phạm Hiệp định thì tôi đi cùng với họ đến tại chỗ để giải quyết. Đi đến đâu tôi đều đòi họ để cho tôi gặp dân. Qua đó tôi vận động nhân dân, nói rõ nội dung hiệp định cho nhân dân biết để đấu tranh hợp pháp. Ở đâu tôi cũng đợc nhân dân ủng hộ vì qua trang phục và câu chào đầu tiên: “Thưa toàn thể đồng bào”, nhân dân đã biết là “Bộ đội Cụ hồ”, do đó tôi lúc nào cũng đủ chứng lý để bác các khiếu nại của họ. Khi đi làm việc với họ, tôi luôn dùng tiếng Việt, vừa giữ quốc thế, đúng quy tắc ngoại giao, vừa có nhiều thời gian để suy nghĩ cho chặt chẽ trước khi phát ngôn. Khi phiên dịch của họ nói sai, tôi có thể yêu cầu nói lại.

Tôi làm việc ở Ủy ban Liên hợp chỉ một thời gian ngắn, cho đến khi đã chuẩn bị xong các văn bản về việc bàn giao các khu tập kết 80 ngày (Hà Nội), 100 ngày (Hải Dương), 300 ngày (Hải Phòng) để hai trưởng đoàn ký, song song với việc bàn giao các khu tập kết của ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ kết hợp chặt chẽ với kế hoạch chuyển bộ đội và cán bộ ra Bắc.

*
*   *

Sau ngày tiếp quản thủ đô, tôi trở lại Cục Tác chiến làm Phó phòng Giáo luyện. Phòng này mới thành lập, chỉ có: đồng chí Hồ Quang Hóa làm Trưởng phòng, tôi làm Phó phòng và hai đồng chí nữa là Lê Quân, Nguyễn Kim. Nhiệm vụ của phòng là: tổng kết, huấn luyện tác chiến, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến dịch. Công tác chủ yếu lúc này là nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ mới.

Để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của miền Bắc, Quân đội có hai nhiệm vụ chính: Xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, xây dựng hậu phương vững chắc; sẵn sàng chiến đấu chống các cuộc tiến công lớn của địch có thể tiến công đường bộ hoặc đổ bộ đường biển ra Bắc và sẵn sàng chi viện miền Nam.

Đây là bước ngoặt để huấn luyện, xây dựng quân đội, chuyển hướng xây dựng chính quy, từng bước hiện đại, đánh lớn hiệp đồng binh chủng, tiến lên hiệp đồng quân chủng nhằm đối tượng là đế quốc Mỹ với ngụy quân tay sai.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:15:57 PM
Tổ chức quân đội ta lúc này cao nhất là cấp Quân khu và Đại đoàn. Miền Bắc có 6 quân khu và 12 đại đoàn, 13 trung đoàn bộ binh, 3 đại đoàn pháo, 2 trung đoàn pháo chống tăng, 2 trung đoàn hỏa tiễn, 1 đại đoàn cao xạ. Cơ sở cho Hải quân và không quân có Cục Phòng thủ bờ biển và Cục Hàng không.

Tôi được giao nhiệm vụ giữ liên hệ với tùy viên quân sự Liên Xô để sắp xếp làm việc về những vấn đề mà Bộ yêu cầu giúp đỡ. Tùy viên quân sự Liên Xô lúc này có đồng chí thiếu tướng Bu-nha-sin, đồng chí đại tá hải quân Công-stăng-ti-nốp, đồng chí trung tá An-đờ-rê, và đồng chí thượng úy phiên dịch tiếng Pháp Sa-phơ-rô-nốp, vì lúc này chưa có phiên dịch tiếng Nga.

Tôi đã có dịp đưa một đoàn cán bộ do một viện sĩ hàn lâm Liên Xô dẫn đầu đi nghiên cứu trận Điện Biên Phủ, đưa đoàn của tùy viên quân sự liên Xô do đồng chí Công-stăng-ti-nốp đi nghiên cứu các quân khu ven biển.

Theo yêu cầu của đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Bu-nha-sin đã giới thiệu về nguyên tắc tác chiến hiệp đồng binh chủng hiện đại, đi sâu vào tổ chức và thực hành chiến đấu cấp trung, sư đoàn. Đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp nghe cùng các thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục và một số cục giúp Bộ làm công tác chỉ đạo huấn luyện, xây dựng. Trong các lần làm việc này, tôi thường làm phiên dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt.

Sau đó, các đồng chí Liên Xô giao cho tôi bản tiếng Pháp cùng một số sách tiếng Pháp về một số trận đánh ở Liên xô thời chống phát xít Đức để làm chiến lệ. Tôi đã nghiên cứu kỹ, dịch ra và trao tài liệu cho cơ quan quân huấn phối hợp tổ chức những lớp học đầu tiên về chiến thuật đánh hiệp đồng binh chủng hiện đại cho cán bộ huấn luyện các quân khu và đơn vị.

Để huấn luyện rộng rãi cho bộ đội, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức ban biện soạn ở trường trung cao gồm đồng chí Hoàng Minh Thảo, Vương Thừa Vũ, Vũ Lăng, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng tham mưu phó Trần Văn Trà, Ban biên soạn nghiên cứu vận dụng vào điều kiện địa hình trang bị của ta, phát huy kinh nghiệm và truyền thống tốt đẹp của bộ đội ta, biên soạn tài liệu tiến công phòng ngự của ta, trong điều kiện xe tăng chưa có, pháo binh còn ít, phá rào còn dùng “rồng lửa”. Sau đó, cơ quan quân huấn làm huấn luyện cho đơn vị thuộc Đại đoàn 308 làm thực nghiệm rồi diễn tập ở Hòa Lạc trên địa hình trung bình cho cán bộ toàn quân tham quan học tập. Lần diễn tập này được vinh dự có Bác Hồ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến xem. Bác khen tinh thần tích cực học tập cái mới cái hay của bạn, nhưng phải chú ý cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Trong thời gian này kế hoạch đào tạo cán bộ có thêm nhiều cán bộ đi học ở Học viện Liên xô, Trung Quốc cả các trường binh chủng.

Bộ còn chỉ đạo các cuộc diễn tập thực nghiệm như: Cuộc diễn tập trung đoàn tiến công của Trung đoàn 36, Trung đoàn 102 ở đồng bằng vùng Thanh Oai – Hà Đông do đồng chí Trần Văn Quang – Cục trưởng Cục Tác chiến chỉ đạo. Cuộc diễn tập vượt sông bằng sức mạnh của Đại đoàn 308 tăng cường một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn pháo, một tiểu đoàn cao xạ, một số đơn vị vận tải cộng với xe vượt sông Thái Bình, khu vực Cẩm Giàng, Nam Sách, Hải Dương; cuộc diễn tập này không đạt, bị ùn tắc, không hiệp đồng được với quân dù. Cuộc diễn tập vùng sông nước của Đại đoàn 320 ở Kiến An, Hải Phòng, Phú Xuyên, Hà Tây, Đồng Văn, Hà Nam, v.v… Ở giới tuyến thì tổ chức thực tập kế hoạch tác chiến Trung đoàn 270 do Quân khu chỉ đạo, phòng Giáo luyện giúp đỡ.

Ta cũng học kinh nghiệm của Liên Xô, tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan hai cấp. Cách diễn tập này là một phương pháp rèn luyện thực tế cho người chỉ huy và cơ quan rất sát thực tế và có hiệu quả cao. Quân huấn đã vận dụng thực hiện thành nếp hàng năm hết mùa huấn luyện bộ đội thì tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan hai cấp kết quả rất tốt.

Các đồng chí lãnh đạo quân đội còn đi thăm và nghiên cứu công tác tham mưu chiến lược ở một số nước bạn:

Năm 1957, đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đi thăm Liên Xô, tôi cũng được đi theo. Năm 1959, đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Văn Tiễn Dũng dẫn đầu đi thăm nghiên cứu công tác tham mưu chiến lược ở bốn nước Đông Âu trong hai tháng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:16:16 PM
Theo yêu cầu của đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, Liên Xô tổ chức lớp ngắn ngày cho các đồng chí lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Chương trình 12 tháng chia ra hai năm vì các đồng chí không thể vắng quá lâu. Lớp được tổ chức ở Học viện Vô-rô-si-lốp, nơi chuyên dạy về chiến dịch chiến lược cho cán bộ Liên Xô, bắt đầu từ hè 1960. Tham sự lớp này có các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Cao Văn Khánh, Nguyễn Quyết, Lê Quang Đạo, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Đôn. Cùng đi để lo việc tổ chức và bảo đảm có các đồng chí: Thanh Quảng bên Văn phòng, tôi với hai cán bộ Phòng Giáo luyện là Bùi Công Ái và Trần Độ (Bé) vừa mới tốt nghiệp trường Phơ-run-de Liên Xô về, và bác sĩ Kính. Do đã có hai đồng chí Ái và Độ làm phiên dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt, nên các anh cho phép đồng chí Thanh Quảng và tôi được cùng học.

Tôi đã tự học tiếng Nga theo quyền Ni-na Pô-ta-pô-va, sang đấy lại được học với cô giáo Nga và được giao tiếp nhiều, vì vậy tôi đã được được sách quân sự, được mượn sách ở thư viện của Học viện để xem thêm. Tôi tìm được quyển cẩm nang tra cứu tính toán các vụ nổ hạt nhân mà tôi chưa từng thấy, nên tôi ghi dần vào sổ việc vì sổ học tập phải gửi vào bảo mật trước khi về nhà. Hết sáu tháng đầu, tôi đã ghi hết quyền sách dày hơn 500 trang, sau đem về in thành sách để tổ chức cho cán bộ học trong thời gian đầu. Nhờ lõm bõm tiếng Nga, trong giờ nghỉ giải lao tôi thường nêu thắc mắc với thầy giáo Nga vì thấy quá nhiều vấn đề khác ta. Chẳng hạn, họ nêu rất rõ ràng, ta mạnh hơn địch thì tiến công, có nguyên tử thì tiến công, yếu thì phải phòng ngự; như địa hình Việt Nam ở đồng bằng thì ruộng lúa nước, nhiều sông ngòi, ở rừng núi thì rất ít đường, rừng rậm, núi rất dốc cơ động rất khó khăn, làm sao có tốc độ cao trong tiến công? Quân đội ta theo chế độ tập thể lãnh đạo thủ trưởng phụ trách, làm sao làm theo thứ tự công tác tham mưu? Rõ ràng là ta phải làm khác v.v… Thầy giáo Nga cũng nói: Phải theo điều kiện cụ thể mà vận dụng, không được máy móc, tôi tin ở các đồng chí Việt Nam, các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi.

Từ đó Liên Xô tổ chức các chương trình ngắn hạn một năm riêng cho cán bộ Việt Nam sang học ở Học viện Vô-rô-si-lốp.

Khi đồng chí Hồ Quang Hóa chuyển sang công tác khác, tôi được bổ nhiệm làm Trường phòng Giáo luyện. Phòng được bổ sung thêm các đồng chí Bùi Công Ái, Trần Độ là hai vừa tốt nghiệp trường Phơ-run-de về. Nguyễn Kim học ở Triều Tiên về, Lê Quang San tốt nghiệp học viện Trung Quốc, Nguyễn Thế Nguyên kỳ cựu ở Bộ Tổng Tham mưu có nhiều kinh nghiệm của cơ quan chiến lược, Nguyễn Văn Lung cán bộ tham mưu giỏi.

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, phương châm tác chiến thời kỳ đầu chiến tranh là “Phòng ngự tích cực”, phương thức tác chiến là “Đánh vận động kết hợp đánh trận địa và đánh du kích”. Về chiến dịch, quân đội ta tập trung nghiên cứu hai hình thức: chiến dịch tiến công trên địa hình trung bình và tiến công trên địa hình rừng núi; chiến dịch phòng ngự bờ biển.

Biên soạn tài liệu là chức trách của Cục Khoa học Quân sự, nhưng Phòng Giáo luyện biên soạn riêng một tài liệu để làm cơ sở thống nhất làm tưởng định diễn tập. Nó có tính chất vận dụng cả hai loại địa hình trung bình và rừng núi, đồng thời vận dụng chiến thuật, chiến dịch khác tài liệu của Liên Xô.

Về chiến thuật chiến dịch tiến công: Luôn tránh vỗ mặt mà đánh nhiều hướng để thực hiện bao vây chia cắt thọc sâu đánh tiêu diệt. Chưa có xe tăng, pháo binh có ít, còn dùng bộc phá phá rào theo kỹ thuật mới (“rồng lửa”). Có phối hợp với du kích và bộ đội địa phương.

Về phòng ngự: Áp dụng phòng thủ khu vực có trọng điểm với lực lượng cơ động mạnh để phản kích, phản đột kích (về chiến dịch) và phản công kết hợp tác chiến ba thứ quân.

Về sau, khi Mỹ bắt đầu tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam thì chiến dịch tiến công phát triển nhiều hình thức và quy mô như đã chuẩn bị, xuất hiện khá phổ biến hình thức “vây lấn” như ở chiến trưởng Trị - Thiên. Nhưng phòng ngự chiến dịch ít diễn ra, chỉ một lần ở Quảng Trị.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:16:36 PM
Về công tác tham mưu, nói rộng ra là công tác tổ chức chiến đấu, ta tập trung: huấn luyện cho cán bộ chỉ huy thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, thủ trưởng phụ trách; Đảng ủy thông qua quyết tâm, thủ trưởng giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng rồi chỉ huy thực hành chiến đấu, chiến dịch. Ở đại đội khi có điều kiện thì họp đại đội bàn thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.

Về diễn tập, đây được coi là biện pháp quan trọng để nâng cao trình độ cán bộ chỉ huy và cơ quan, đồng thời để nâng trình độ sẵn sàng chiến đấu của các quân khu nhất là quân khu ven biển và khu giới tuyến.

Tháng 10 năm 1959, Bộ tổ chức lần đầu tiên ở Quân khu Hữu Ngạn diễn tập chỉ huy và cơ quan ba cấp: Quân khu, sư đoàn, trung đoàn và tỉnh đội. Đồng chí Lê Trọng Tấn – Phó tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo diễn tập, bảo đảm Quân khu chấp hành nghiêm chỉnh. Phòng Giáo luyện làm trung tâm, thêm cán bộ các tổng cục, các quân binh chủng làm cơ quan chỉ đạo. Tôi làm Tham mưu trưởng.

Theo số đơn vị có cơ quan diễn tập, chúng tôi huy động cán bộ ở đơn vị lên để tổ chức ra các “tổ đạo diễn đáy”. Những tổ quan trọng thì không cử cán bộ ra làm tổ trưởng. Điều quan trọng là cán bộ của đơn vị lên làm “đáy” phải theo sự chỉ đạo của Bộ và giữ bí mật tuyệt đối nội dung.

Chúng tôi phải làm ba văn kiện. Chỉ thị diễn tập để gửi cho đơn vị để có chuẩn bị. Còn kế hoạch diễn tập và tưởng định diễn tập được đồng chí Tấn thông qua, làm cơ sở cho cơ quan chỉ đạo diễn tập chuẩn bị nội dung công việc của từng bộ phận. Tôi phải hiệp đồng cán bộ cho thống nhất để cho cuộc diễn tập diễn ra thông suốt từ đầu chí cuối như kịch bản “một gánh hát” (như tên các quân khu thân mật đặt cho chúng tôi).

Cuộc diễn tập bắt đầu bằng một cuộc báo động đưa các cơ quan tham gia đến vị trí quy định như vị trí tập kết thời kỳ đầu chiến tranh (khác vị trí thực tế của kế hoạch tác chiến để giữ bí mật). Nội dung này rất quan trọng nhằm bảo đảm cho cơ quan sẵn sàng chiến đấu cao, tránh khỏi bị bất ngờ thời kỳ đầu chiến tranh.

Sau khi diễn tập, đồng chí chỉ đạo trưởng có nhận xét rút kinh nghiệm kèm theo chỉ thị những biện pháp cụ thể Quân khu phải thực hiện để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu hơn nữa.

Cuộc diễn tập này đã mở ra triển vọng diễn tập quy mô lớn nhằm đáp ứng từng bước hoàn thiện phương án tác chiến theo yêu cầu bảo vệ miền Bắc khi có chiến tranh.

Từ năm 1962 trở đi, năm nào cũng vậy, cứ hết mùa huấn luyện của cán bộ và đơn vị là ta lại tổ chức diễn tập một Quân khu.

Riêng khu giới tuyến thì Bộ giao Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ đạo, Phòng Giáo luyện xuống giúp Quân khu chỉ đạo.

Nhờ diễn tập, các cơ quan Quân khu tiến bộ nhiều. Năm 1965, địch bắt đầu ném bom miền Bắc. Ngày đầu tiên, Quân khu Đông Bắc và Quân khu 4 đã bắn rơi máy bay.

Trong những năm này, Phòng Giáo luyện đã hoàn thành nhiệm vụ:

- Giúp Bộ nghiên cứu xây dựng cách đánh mới phù hợp với tình hình mới ở Việt Nam. Mặc dù công việc mới mẻ phải học tập bạn Liên Xô, Trung Quốc nhưng không mắc phải giáo điều.

- Giúp Bộ huấn luyện và rèn luyện cho cán bộ, cơ quan cấp Quân khu nâng cao trình độ chỉ huy và sẵn sàng chiến đấu.

- Sau này khi Mỹ bắt đầu chiến tranh cục bộ, các cơ quan đã giúp Bộ tổ chức, chỉ huy các chiến dịch ở khu vực Đường 9, Quảng Trị rất thuận lợi.

Bản thân tôi cùng cán bộ Phòng Giáo luyện được học tập nâng cao trình độ lên một bước: Được học tập ở Học viện Vô-rô-si-lốp ở Liên Xô, tham gia nghiên cứu và chỉ đạo diễn tập dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Trọng Tấn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:17:01 PM
*
*   *

Năm 1959, nhân dịp Tổng thống Xu-các-nô sang thăm chính thức nước ta, theo thông lệ quốc tế cần có hai sĩ quan tùy tùng phục vụ khách là Tổng thống và chủ là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi may mắn được chọn làm một trong hai sĩ quan đó. Đồng chí thứ hai là Thao (đã quá lâu tôi nhớ tên không chắc lắm, chỉ nhớ con người), hồi đó anh ấy đang công tác ở Cục Địch vận, rất lịch thiệp và tháo vát, biết giao tiếp hơn tôi nhất là đối với người chưa từng quen biết, giỏi tiếng Anh. Hai người vóc dáng, chiều cao gần như nhau, đều mang quân hàm trung tá, mặc quân phục đại lễ, khá nghiêm chỉnh để phục vụ gần gụi với các vị đứng đầu hai quốc gia. Thật là dịp hiếm có, được ở gần Bác là quá hạnh phúc rồi, nhưng tôi muốn hơn nữa, nên tôi đề xuất với Thao:

- Cậu giỏi tiếng Anh và giỏi ngoại giao, đề nghị cậu phục vụ Tổng thống Xu-các-nô, để mình phục vụ Bác Hồ cho.

Nghe tôi nói có vẻ hợp lý, Thao đồng ý ngay.

Về việc lớn là công tác bảo vệ và tổ chức các cuộc đi thăm… đã có cả một bộ máy có kinh nghiệm, chúng tôi chỉ giữ liên hệ chặt chẽ với các cán bộ phụ trách các việc phục vụ Bác Hồ và Tổng thống cho ăn khớp, không để vấn đề gì thất thố với khách làm Bác phải phiền lòng.

Ta đã tổ chức đưa Bác cùng Tổng thống Xu-các-nô đến thăm một số nơi, đến đâu Bác cũng mời Tổng thống phát biểu, rồi Bác nói chuyện thân mật với mọi người làm cho không khí sôi động hẳn lên, thấm đậm tình hữu nghị anh em giữa nhân dân hai nước. Tôi chăm chú nghe thấy Bác không nói dài, chỉ nói những việc thiết thực mọi người cần làm, với lời lẽ bình dị, trong sáng, vừa có lý, vừa có tình, đầy sức thuyết phục. Bác nói ngắn nhưng nhiều lần bị gián đoạn bởi những tràng vỗ tay dài và chỉ dừng lại khi Bác giơ tay ra hiệu để cho Bác nói tiếp. Tôi tin rằng những lời Bác dặn sẽ được thực hiện tích cực. Không những thế, sau này tôi được biết những cơ quan được Bác đến thăm, đã ghi những lời Bác dặn thành những bài học trong “sổ vàng” của đơn vị để vận dụng về lâu dài. Về phần tôi, tuy không thuộc các cơ quan đó, nhưng tôi cũng rút ra được những bài học cho đơn vị mình. Tôi không thể kể hết nội dung các cuộc nói chuyện của Bác trong những ngày đó mà chỉ kể một số việc cụ thể mà chưa ai đề cập tới:

Trong những ngày đón tiếp khách, chúng tôi ở luôn trong Phủ Chủ tịch với khách. Không kể tiệc lớn, có bữa ăn “cơm thường” Bác cùng ăn với khách, cũng cho chúng tôi ngồi cùng bàn, tôi ngồi nghe như nuốt từng lớn của bác: thật lịch tiệp và thân tình làm sao! Có những cử chỉ hết sức tế nhị, tôi không kịp hiểu ra: Bác ngồi cạnh Tổng thống, cô phiên dịch xinh đẹp đứng sau vừa nói vừa đặt tay lên vai Tổng thống, anh nhiếp anh vừa đưa máy lên ngắm, Bác liền cầm tay cô gái đặt lên vai mình. Thế là trong tấm ảnh đã có hai tay cô gái đặt lên vai hai người, quả là có nhiều ý nghĩa thật sâu sắc!

Trong khi tôi đang nghe Bác nói và ngắm nhìn cử chỉ của Bác, đột nhiên tôi thấy Bác nhìn sang tôi và nói:

- Sao chú ăn xúp bằng đũa?

Tôi giật mình, một cử chỉ nhỏ của mình Bác cũng nhắc nhở. Thật ra tôi có nghĩ gì để ăn. Để nhận lỗi, tôi nói:

- Vâng ạ!

Và tôi cầm thìa ăn…

Những buổi đi ra ngoài trời, tôi lo chuẩn bị một cái dù thật lớn che nắng cho Bác thật kín. Tôi còn thủ sẵn một hộp quẹt thật nhạy, hễ thấy Bác cầm hộp thuốc lá mở ra là tôi đã đưa quẹt lửa lên mời Bác.

Thấy Tổng thống Xu-các-nô thích văn nghệ, ca múa, có buổi ta tổ chức ca múa trong phòng khách Phủ Chủ tịch. Cả Tổng thống và Bác Hồ cùng tham gia, thấy vậy chúng tôi cũng vào tham gia. Tôi chưa thừng thấy có quang cảnh nào vui vẻ hết mình và chan hòa giữa người đứng đầu một nước với nhân dân đến như vậy. Đến khi kết thúc buổi liên hoan, các cô văn công vã mồ hôi trên má, Tổng thống Xu-các-nô đã có cử chỉ bất ngờ, ông đã rút khăn tay đưa lên thấm mồ hồi cho một cô, lúc này anh nhiếp ảnh lại giương máy quay phim lên nhưng chưa kịp bấm máy thì Bác Hồ đã kín đáo đưa tay ra sau làm hiệu không được quay, Lúc đó không biết có ai nhìn thấy hay không. Riêng tôi, tôi thấy rất tế nhị và cũng rất thú vị. Việc này tôi chưa kể với ai công khai vì tôi hiểu ý theo cử chỉ của Bác là cần giữ kín đáo về ngoại giao. Ngày nay tôi nghĩ là có thể nói được rồi.

Những ngày đi phục vụ gần gũi bên cạnh Bác Hồ, tôi cảm thấy đó là những khoảng thời gian hạnh phúc hiếm có. Tư tưởng phong cách và tình nhân ái bao la của Bác toát ra từ lời nói, cửu chỉ của Bác thường ngày, đối với mọi người. Lời nói của Bác bình dị mà đi thẳng vào lòng người, cử chỉ của Bác là một tấm gương sáng mọi người muốn vui vẻ làm theo. Có lần tôi thấy Bác đi dép thì các bộ trưởng đến dự họp cũng không dám đi giầy bóng nhoáng. Mấy ngày đi phục vụ bác Hồ đã để lại cho tôi một dấu ấn không bao giờ phai.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:17:30 PM
*
*   *

Trong thời gian này, tôi có điều kiện củng cố sức khỏe. Qua cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi bị sốt rét nặng dài ngày, gây nhiều biến chứng, cơ thể suy kiệt. Vào Viện 108 điều trị một thời gian không hồi phục, viện trưởng khuyên tôi nên nghỉ, nhưng tôi không tin. Về nhà, tôi tự giữ cho cắt cơn, không để sốt lại lần nào nữa, đồng thời tôi rèn luyện đều đặn, dần dần gan, lách, thận cũng phục hồi được bình thường để tiếp tục công tác.

Tôi cũng có điều kiện học thêm ban đêm về Nga văn và tiếng Trung Quốc mà tôi đã học được một ít với cụ Đông A ở Việt Bắc. Không khí hòa bình nhắc nhở tôi nhớ lại đam mê thời đi học. Tôi lại tiếp tục học đại học ban đêm, nhưng tôi chỉ học được hai năm, qua năm thứ ba đang học nửa chừng thì có nhiệm vụ đi Nam, tôi đành bỏ học, tất nhiên không có gì nuối tiếc. Có điều kiện thì học cho đỡ phí thời giờ thôi mà!

*
*   *

Năm 1955, vợ tôi mới về Hà Nội, lúc đó đã có một con gái đầu lòng. Tôi có dịp bàn kế hoạch gia đình. Trước tình hình yêu cầu đi chiến đấu còn cao, tôi bàn với vợ:

- Cuộc chiến đấu còn dài, để bảo đảm cho gia đình về lâu dài, em cần phải học nữa cho có một cái nghề, chứ không thể trông cậy vào anh được.

Vợ tôi đồng tình ngay.

Những đêm không trực, tôi về giúp vợ học. Lúc đó đã có hai con còn bé. Xí nghiệp của vợ chi cho một căn buồng 9 mét vuông. Trời tối, sau khi tắm rửa, cho con ăn, cho chúng chơi một lúc rồi đi ngủ, vợ tôi trải chiếu xuống sàn học đến khuya. Tôi giúp các việc vặt trong nhà, thỉnh thoảng giúp vợ những bài khó, chủ yếu là giúp giữ vững ý chí, vì cuộc sống đã quá vất vả, tưởng chừng không gắng gượng được nữa. Thế mà trong bốn năm liền, vợ tôi việc xí nghiệp vẫn làm tròn, con cái vẫn lo đầy đủ, mà năm nào cũng xong một lớp, đủ cho kịp lúc Cục Quân y có chủ trương đào tạo cán bộ thì được chọn đi học tập trung chương trình cấp 3 trong 6 tháng để thi vào đại học.

Lớp học ở tận Bắc Giang, gặp lúc tôi phải đi Liên Xô, con phải đem gửi bà ngoại để học. Trước khi đi, tôi lên thăm, thấy ăn uống kham khổ. Tôi ra chợ mua mấy con cá về kho một nồi để mấy chị em ăn dần. Khổ nỗi mình đói nhưng mèo lại đói hơn nên nó ăn tranh gần hết.

Tôi nghĩ, sự cố gắng của con người thật không tưởng tượng được, khi người ta có ý chí, quyết học bằng được 6 tháng xong chương trình cấp 3, mỗi ngày ngủ 3 giờ, thế mà học vẫn nhớ bài, thi vẫn đỗ vào đại học đàng hoàng, không chịu thua các em học đầy đủ thời gian, chương trình.

Xong dịp đó, vợ tôi được về học trường y ở Hà Nội, đã có thuận lợi hơn. Tôi còn ở tập thể cơ quan, phải đưa một cháu vào ở cùng. Khi tôi đi làm việc thì cháu theo các chú tha thẩn chơi. Có lần cháu đi thế nào lọt qua cổng gác rồi đi lang thang ngoài phố. Tôi về không thấy, hoảng quá, vội gọi đến các đồn công an gần đó. Mãi mới thấy một đồn ở cách cơ quan đến hai ki-lô-mét báo về có một cháu tên cu Tí, mặc áo…, biết đúng là con rồi, tôi mừng quá, vội đạp xe ra đón con về. Thật hú vía!

Do thuận lợi hơn, với tinh thần học tập vẫn giữ vững, nên vợ tôi năm nào cũng được là sinh viên tiên tiến và được kết nạp Đảng trước ki ra trường.

Đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Gia đình tôi bước vào một cuộc chiến mới.

Tôi đi Nam yên phận một mình.

Ở nhà vợ tôi vừa lo hai con vừa lo công tác, thời chiến phải cấp cứu nhiều, trực nhiều. Thế mà các con vẫn ngoan, đều học khá, về nhà phân công nhau lo việc nhà cho mẹ yên tâm công tác. Vợ tôi luôn được biểu dương phụ nữ ba đảm đang, chiến sĩ thi đua, báo cáo điển hình nhiều lần. Tôi thường biết tin nên rất yên tâm chiến đấu. Tôi nghĩ, những huân chương tôi nhận được ít ra một nửa là công của vợ tôi.

Đến thời gian địch leo thang ra Hà Nôi, cơ quan tổ chức cho các cháu sơ tán mỗi đữa một nơi. Lại thêm khó khăn mới, làm sao đi thăm, làm sao đem quà cho chúng…? Nó ăn ở ra sao? Có xảy ra chuyện gì không…? Con xa mẹ, mẹ lo từng giờ! Những vấn đề tầm thường như thế sao bây giờ trở nên quan trọng lạ thường.

Khoảng năm 1972, trong lúc ở chiến trường căng thẳng vì đang chiến dịch lớn, tôi được một tin vui và một tin không vui. Con gái tôi thì được điểm cao, được đi học ở Liên Xô. Còn vợ tôi được cử đi học nước ngoài mà lại phải từ chối. Hồi đó đi học nước ngoài cán bộ nào cũng mừng vì không những là một quyền lợi được học mà còn là một quyền lợi về kinh tế. Phải từ chối vì ở nhà còn một cậu con trai nhỏ tuổi cũng là một hy sinh đáng kể!

Tôi rất cảm ơn vợ tôi đã lo hậu phương chu đáo giúp tôi yên tâm chiến đấu, xây dựng gia đình hạnh phúc.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:18:03 PM
TRỞ VỀ QUÊ MẸ

Tháng 5 năm 1965, tôi được lệnh về làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 325C với nhiệm vụ xây dựng sư đoàn đưa vào Nam chiến đấu.

Tôi về nhận nhiệm vụ ở Thanh Hóa lúc sư đoàn mới có khung cán bộ từ trung đội trưởng trở lên. Ở sư đoàn chỉ có đồng chí Công Trang là Sư phó Chính trị, tôi làm Tham mưu trưởng. Như vậy, trách nhiệm của tôi phải đảm nhiệm là tổ chức đi tuyển quân, tổ chức biên chế, trang bị thành đơn vị, tổ chức huấn luyện để sớm đưa vào Nam chiến đấu, thời gian dự kiến một năm.

Để tranh thủ thời gian, tôi chia cán bộ làm hai bộ phận. Bộ phận chủ yếu cùng tôi lo xây dựng một kế hoạch huấn luyện và chuẩn bị thao trường. Bộ phận thứ hai đi nhận tân binh. Việc đi nhận vũ khí do cơ quan chuyên trách lo.

Về huấn luyện phần chiến thuật, tôi tập trung huấn luyện đánh điểm cao và đánh cứ điểm có công sự dã chiến. Phần kỹ thuật thì học kỹ thuật cơ bản, đánh bộc phá, đánh gần, rèn luyện hành quân xa mang nặng 45 đến 50 ki-lô-gam, làm bếp Hoàng Cầm, giữ bí mật hành quân.

Tôi thống nhất trong chỉ huy, lập một khung cán bộ làm đơn vị mẫu cho tất cả cán bộ xem rút kinh nghiệm rồi huấn luyện cho đơn vị với những cứ điểm mẫu như thật.

Đối với cơ quan tham mưu, tôi giao cho đồng chí Thông – Tham mưu phó giúp tôi, lấy việc xây dựng đơn vị và công tác huấn luyện để hướng dẫn cho từng người và từng bộ phận, phối hợp với nhau làm công việc cho tốt, qua đó mà rút kinh nghiệm để tự học nâng cao trình độ, hiểu nhau hơn và đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.

Về việc tuyển quân, tôi giao cho từng đơn vị tự đi nhận quân cho mình bằng cách tự liên hệ với địa phương nhận quân để bảo đảm đúng đủ chất lượng cho đơn vị mình, biết trước anh nào đủ điều kiện để xếp làm tiểu đội phó hay trưởng. Quá trình hành quân về đơn vị, cán bộ đã hiểu thêm anh em và đưa anh em dần vào kỷ luật của đơn vị.

Tháng 9 năm 1965, sư đoàn hoàn thành tuyển quân, bước vào huấn luyện, xây dựng đơn vị toàn diện nội dung huấn luyện bao gồm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đảng, đào tạo cán bộ tiểu đội, huấn luyện xong các nội dung theo kế hoạch, rèn luyện hành quân, mang vác nặng, xây dựng sức khỏe dẻo dai…

Tháng 8 năm 1966, sư đoàn hành quân vào chiến trường.

Từ tháng 2 năm 1966, Trung ương và Quân ủy chủ trương mở một mặt trận mới tạo một hướng tiến công mới ở Trị - Thiên. Tháng 4 năm 1966, Bộ quyết định lập Quân khu Trị - Thiên (phiên hiệu mật là B4) tách khỏi Quân khu 5. Tháng 6 năm 1966, Mặt trận Đường 9 (phiêu hiệu bí mật là B5) được thành lập, với nhiệm vụ là: Tạo một hướng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch ở miền Nam, buộc địch phải phân tán lực lượng lên rừng để tác chiến với chủ lực mạnh của miền Bắc, hỗ trợ cho các chiến trường khác, trực tiếp nhất là vùng đồng bằng Trị - Thiên, (ta thường nói là miền Bắc chia lửa với miền Nam) làm cho địch đã bị động càng bị động hơn, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh ra Bắc nhất là Quân khu 4.

Như vậy chiến trường Trị - Thiên từ nay thành hai mặt trận: phía trước là đường 9 do B5 dùng lực lượng chủ lực là chính; phía sau là Quân khu B4, là chiến tranh nhân dân với lực lượng địa phương dân quân du kích là chính. Trị - Thiên trở thành một hướng chiến lược trọng yếu, có lúc là hướng tiến công chủ yếu, có chủ lực lớn nhất, là nơi đọ sức quyết liệt giữa hai chế độ, hai thế lực ta và địch.

Tháng 2 năm 1966, Bộ quyết định đưa Sư đoàn 324 vào. Sư đoàn 324 được thành lập với các trung đoàn đã có nhiều kinh nghiệm chiến đấu ở các tỉnh miền Trung thuộc Quân khu 5 từ tháng 7 năm 1955 thuộc quyền chỉ huy của Quân khu 4. Lúc này Sư đoàn trưởng là Chu Phương Đới, Chính ủy là Nguyễn Tiến Lợi. Tháng 5, sư đoàn vào đến nơi, chuẩn bị xong thế trận; tháng 6 bắt đầu đánh, tiêu diệt Đầu Mầu, tây đường 9, kéo địch ra để đánh viện. Sự xuất hiện chủ lực của miền Bắc làm cho quân Mỹ vội vàng đổ quân ra ứng cứu. Chiến sự ác liệt ở vùng Cùa, Cù Dinh Ba De và Miếu Bái Sơn – Đó là trận đầu tiên chủ lực ta đối đầu với quân Mỹ. Sư đoàn 324 là sư đoàn chủ lực miền Bắc đầu tiên vào đánh Mỹ và thắng Mỹ.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:18:45 PM
Kết quả ta đã kéo địch ra Trị - Thiên: 11 tiểu đoàn ngụy và 7 tiểu đoàn Mỹ, buộc địch phải tổ chức một Mặt trận Đường 9 kéo dài từ Cửa Việt lên đến Lao Bảo. Từ tháng 8 năm 1966, đường 9 chỉ còn quân Mỹ. Lực lượng Mỹ - ngụy ở Trị - Thiên đã tăng nhanh, tổng số 41.935 tên, có 16.700 Mỹ gồm sư đoàn 3 và một bộ phận sư đoàn 1 thủy quân lục chiến Mỹ.

Ta đã làm đảo lộn bố trí chiến lược của Mỹ. Hai sư đoàn thủy quân lục chiến chúng đưa sang để tăng cường đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển ra Trị - Thiên. Hiệu quả đã tạo điều kiện cho quân dân Trị - Thiên khôi phục được thế ba vùng đã bị địch chiếm trong năm 1965.

Phát huy thắng lợi, Trung ương chủ trương: “Năm 1967 phải giành thắng lợi lớn, để đi đến giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”.

Bộ tăng cường cho Mặt trận Đường 9 (B5) Sư đoàn 325C, hai trung đoàn bộ binh và một số binh chủng. trước khi lên đường, tôi vẫn làm Tham mưu trưởng, đồng chí Công Trang – Phó chính ủy. Sư đoàn được tăng cường thêm đồng chí Chu Phương Đới làm Sư đoàn trưởng, đồng chí Trần Ân làm Chính ủy. Đồng chí Chu Phương Đới nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324, làm Phó tư lệnh B5, nay chuyển về làm Sư đoàn trưởng 325C.

Mặt trận Đường 9 tổ chức hoạt động liên tục cả năm chia ra từng đợt.

Các trận có tác dụng và ý nghĩa lớn là:

- Trận bắn pháo phủ đầu khi Mỹ mới ra đóng điểm cao 241 chưa kịp củng cố công sự, tiêu diệt 1.000 tên, phá 31 pháo lớn (ngày 7 tháng 3 năm 1967).

- Diệt Làng Vây và Cồn Tiên bằng lực lượng đặc công.

- Bắn pháo từ bờ bắc giới tuyến vào Cồn Tiên, Dốc Miếu (29 tháng 3 năm 1967) làm cho địch khiếp đảm.

Giữa tháng 6 năm 1967, Trung đoàn 90 thuộc Sư đoàn 324 do đồng chí Thái Cán làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Võ Dược làm Chính ủy, bố trí trận địa sẵn sàng ở khu vực đường 76 Gio An, đã chiến đấu liên tục 7 ngày đêm (từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 7 tháng 7), tiêu diệt 1.300 tên, bắt 35 tên, làm thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn Mỹ, phát triển chiến tranh du kích, giải phóng 22 thôn thuộc Gio An.

Sư đoàn 325C khi mới vào, hoạt động nhỏ tạo thế, đánh địch khi chúng hành quân hay nống ra hoạt động, bao vây tiêu hao Cồn Tiên. Riêng Trung đoàn 2 bắt đầu đánh địch tạo thế vào bao vây sân bay Tà Cơn. Tôi trực tiếp ở hướng này. Lúc này địch đã tăng cường đánh B52 để ngăn chặn ta, nhưng trung đoàn đã dũng cảm vượt qua, đã lần lượt diệt một đại đội Mỹ đang hành quân tập kích diệt một đại đội Mỹ đang đóng quân dã ngoại ở trên đường 9 gần Hướng Hóa và một đại đội ở Nguồn Rào, diệt một đại đội Mỹ ở điểm cao 832, diệt một đại đội 180 tên mỹ ở Động Trị có công sự, tập kích cối vào sân bay Tà Cơn diệt 70 tên, phá hỏng một máy bay. Tuy mới vào chiến trường, địch đánh phá rất ác liệt bằng pháo lớn 175mm, trực thăng vũ trang, máy bay ném bom B52, nhưng các đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ tốt.

Do bị đánh thiệt hại nặng, địch buộc phải tăng quân ồ ạt sang Việt Nam, lên 38 vạn rồi 43 vạn hòng tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh nhanh giải quyết nhanh. Chúng phải bố trí thường xuyên ở đường 9: sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ và trung đoàn 26 sư đoàn 1 thủy quân lục chiến Mỹ. Khi bị đánh, chúng phải điều 11 đến 15 tiểu đoàn Mỹ, 7 đến 8 tiểu đoàn ngụy ra tăng cường. Tháng 6 và 7 năm 1967, chúng phải đưa cả ba lữ đoàn tổng dự bị của quân ngụy. Tháng 9 năm 1967, ở đây đã hình thành tuyến hàng rào điện từ Mác Na-ma-ra. Chúng dồn dân từ phía bắc xuống phía nam, tạo một vùng trắng chia cắt chiến trường, nhằm ngăn chặn giao thông Bắc Nam, cắt đứt đường hành lang chiến lược vào Nam của ta.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:19:11 PM
*
*   *

Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị hạ quyết tâm “… Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định… Bằng phương pháp tổng công kích tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi cao nhất”. Tháng 1 năm 1968, Hội nghị Trung ương Đảng đã thống nhất quyết tâm của Bộ Chính trị hồi tháng 12 năm 1967.

B5 nhận được chỉ thị đánh mạnh trước từ ngày 20 đến 23 tháng 1 năm 1968 để kéo lực lượng địch, đánh lạc hướng chúng, tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam trong Mậu Thân 1968.

Bộ tăng cường chỉ huy cho B5: đồng chí Trần Quý Hai – Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh; đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy; đồng chí Quang Trung – Tư lệnh Quân khu 4 làm Phó tư lệnh; đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng – Phó Chính ủy.

Lực lượng được tăng cường gồm: Sư đoàn 304 và 320 cộng Sư đoàn 325 có sắn; 4 trung đoàn độc lập có sẵn; 3 trung đoàn cộng một số tiểu đoàn pháo; 3 trung đoàn cao xạ; 3 tiểu đoàn tăng; các đội đặc công, công binh, hóa học.

Phân công khu vực phía tây, Khe Sanh là chính do hai sư đoàn 304 và 325 (trước ngày nổ súng Bộ rút bớt Trung đoàn 1 và 3 thuộc Sư đoàn 325 tăng cường cho Quân khu Trị - Thiên đánh Huế, sư đoàn chỉ còn nắm một trung đoàn và các đơn vị binh chủng trực thuộc. Từng thời gian được tăng cường một số đơn vị bạn để làm nhiệm vụ). Còn lại Sư đoàn 320 và ba trung đoàn thuộc Sư đoàn 324 cũ đảm nhiệm khu vực phía đông, Trung đoàn 27 ở khu đệm chuẩn bị phát triển vào Quảng Trị.

Khe Sanh là khu vực bao gồm phần lớn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, nằm trên đường 9. Đường này chạy dài từ Đông Hà qua Khe Sanh đến Lao Bảo, biên giới Việt – Lào qua Sê Pôn, Mường Phìn, Sa-va-na-khét bên bờ sông Mê Kông. Đông giáp huyện Cam Lộ, tây giáp vùng giải phóng Lào; bắc giáp sông Sê Băng Hiên, đường giới tuyến quân sự tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam; nam giáp sông Cam Lộ. Địch tổ chức ở đây thành một tập đoàn cứ điểm vững mạnh.

Khu trung tâm là thung lũng Tà Cơn có sân bay, sở chỉ huy và trận địa pháo, chung quanh có các cứ điểm bố trí trên điểm cao để bảo vệ vòng ngoài, do lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ đóng giữ.

Khu Lao Bảo – Làng Vây do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ.

Khu Huổi San do quân ngụy Lào chiếm giữ.

Ngoài ra chúng bố trí một đài quan sát và trạm thông tin trên đỉnh cao của Động Trị (1.009 mét cao nhất ở vùng này) nằm phía bắc Tà Cơn hơn 10 ki-lô-mét do một đại đội Mỹ canh giữ (đã bị Trung đoàn 2 Sư đoàn 325C diệt ngày 9 tháng 5 năm 1967).

Đây là tập đoàn cứ điểm của địch án ngữ ngay cửa ngõ hành lang chiến lược của ta từ Bắc vào Nam theo dãy Trường Sơn, đồng thời là căn cứ lớn tập kết của địch để đánh ra vùng giải phóng của Lào, hòng cắt đôi toàn bộ hệ thống hành lang chiến lược của ta từ Bắc vào Nam Đông Dương.

Do điều bớt lực lượng nên đợt đầu khu Tây chỉ vây Khe Sanh. Ta châm ngòi bằng các trận Tân Lâm, Ca Lu (13 tháng 1), Động Trị (18 tháng 1) do Sư đoàn 325 chiếm để tiến vào bao vây sân bay Tà Cơn. Đêm 20 tháng 1 diệt quận lỵ Hướng Hóa. Ngày 25 tháng 1 chiếm Huổi San. Đêm 6 tháng 2 diệt cứ điểm Làng Vây.

Sư đoàn 325C tiến vào bao vây sân bay Tà Cơn đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1968. Lực lượng bao vây do Trung đoàn 2 bộ binh, một trung đoàn pháo, một tiểu đoàn pháo ĐKB, một trung đoàn pháo cao xạ, và bốn đại đội súng máy 12,mm. Để bao vây cả bốn phía, Trung đoàn 2 đã đánh chiếm căn cứ 832, điểm cao 635, và điểm cao Không tên phía đông Tà Cơn. Từ ngày 21 tháng 1 năm 1968, hỏa lực pháo cối của ta liên tục bắn phá sân bay và sở chỉ huy; đồng thời bộ binh đánh lấn áp sát sân bay để đánh địch phản kích và chỉ điểm cho pháo binh, bắn máy bay địch tiếp tế, tăng viện, chuyển thương cho Tà Cơn. Ban đêm ta đốt lửa làm hiệu cho máy bay ta thả bom và sân bay và sở chỉ huy của địch.

Trong đợt một, ta thắng lớn ở đường 9, tiêu diệt trên 16.000 Mỹ - ngụy, bắt 233 tên (có 5 cố vấn Mỹ), thu hút kìm giữ 29 tiểu đoàn (có 19 tiểu đoàn Mỹ), giải phóng một bộ phận Hướng Hóa và 8.000 dân, phá gần hết các ấp chiến lược của hai huyện Gio Cam, giải phóng hai vạn dân.

Hoạt động ở Đường 9 – Khe Sanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị – Thiên giữ được bất ngờ, thắng lớn; ta chiếm Huế, đánh địch phản kích quyết liệt, ta giữ được 25 ngày đêm. Khi Huế bị đánh chiếm, Mỹ không rút được đường 9, phải điều quân từ Sài Gòn, ra ứng cứu cho Huế.

Sang đợt hai ta vây lấn ngày càng áp sát hàng rào bao quanh Tà Cơn. Theo kinh nghiệm của Điện Biên Phủ, ta dùng chiến thuật vây, lấn, tấn, phá, triệt đi đến diệt. Trải qua 50 ngày (từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 31 tháng 3 năm 1968), địch dội xuống mảnh đất vỏn vẹn 30 ki-lô-mét vuông tới 10 vạn tấn bom và hơn 10 vạn quả đại bác hạng nặng cỡ 175mm. Nhưng ta vẫn giữ vững 13 điểm vây hãm. Địch bị buộc phải chui lủi dưới hầm, máy bay bị khống chế: C130 đến tiếp tế tải thương 140 lần liều chết xuống được 40 lần, làm cho chúng khốn quẫn, làm náo động nước Mỹ: “Khe Sanh sẽ là một Điện Biên Phủ với nước Mỹ”. tổng thống Giôn-xơn yêu cầu hội đồng tham mưu trưởng liên quân họp để cảm kết bảo vệ Khe Sanh.

Ngày 1 tháng 4 năm 1968, chúng phải điều quân giải tỏa Khe Sanh, dùng sư đoàn “kỵ binh bay” kết hợp với hành quân Lam Sơn 270” của một chiến đoàn dù tổng dự bị, một tiểu đoàn biệt động quân tương đương 17 tiểu đoàn, có 13 tiểu đoàn Mỹ.

Ta có chín tiểu đoàn chuyển sang trọng tâm tiêu diệt quân viện, vẫn tiếp tục vây hãm Khe Sanh.

Sau 47 ngày đánh viện, từ 1 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 1968, địch bị thiệt hại nặng. Sợ bị tiêu diệt, ngày 9 tháng 7 năm 1968, địch bắt đầu rút khỏi Tà Cơn, đến ngày 15 tháng 7 năm 1968 thì rút hết. Ta chuyển sang đánh địch rút chạy.

Cả hai đợt từ 1 tháng 4 đến 15 tháng 7, ta diệt 5.100 tên (chủ yếu là Mỹ), diệt gọn 10 đại đội Mỹ, tiêu hao nặng năm đại đội Mỹ, một chiến đoàn và hai tiểu đoàn ngụy, bắn rơi, bắn cháy 96 máy bay, phá hủy 46 xe (15 tăng), 31 pháo cối, thu nhiều chiến lợi phẩm – Khe Sanh hoàn toàn được giải phóng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:19:38 PM
*
*   *

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trị - Thiên – Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn Miền. Nhiệm vụ là: đánh chiếm thành phố Huế và các thị xã, thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan vỡ ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách mạng, tiêu diệt và tiêu hao nhiều quân Mỹ; bao vây cô lập chúng, làm cho chúng không ứng cứu được cho quân ngụy; sẵn sàng đánh địch phản kích, đánh cho chúng tổn thất nặng, giữ vững chính quyền cách mạng tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Thời gian bắt đầu vào Tết Mậu Thân năm 1968 (ngày 31 tháng 1 năm 1968). Quân khu lần lượt được tăng cường năm trung đoàn bộ binh trong đó có hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 325C tăng cường từ đầu (Trung đoàn 1 và 3).

Trong khi Sư đoàn 325 chúng tôi đang vây chặt quân Mỹ ở Tà Cơn thì nhận được tin chiến thắng lớn của Trị - Thiên – Huế, điều đó đã cổ vũ cán bộ chiến sĩ của sư đoàn đang chịu đựng bom đạn địch, tiếp tục cầm quân Mỹ diệt Mỹ ở đây để phối hợp chiến trường thật tốt.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân khu chủ trương trọng điểm toàn chiến trường là thành phố Huế, Quảng Trị và Phú Lộc là phối hợp, đánh liên tục thành hai bước: bước một từ ngày 31 tháng 1, bước hai dự kiến từ hè 1968.

Sáng ngày 31 tháng 1, ta đã đánh chiếm hầu hết các mục tiêu chủ yếu bên trong và vành ngoài thành phố, trừ đồn Mang Cá và khách sạn Thuận Hóa, một số nơi ta đánh xong không chiếm giữ.

Đúng 9 giờ ngày 31 tháng 1, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng phấp phơi bay cao trên đỉnh cột cờ trước cửa Ngọ Môn. Từ đó ta vừa đánh địch phản kích nhỏ, vừa phát động quần chúng khởi nghĩa. Anh chị em từ công nhân, lao động, tiểu thương, học sinh, sinh viên, cho đến các tầng lớp khác, đã tiến hành vũ trang quần chúng, nổi dậy như triều dâng thác đổ, diệt ác trừ gian, đập tan ngụy quyền, thành lập chính quyền cách mạng từ phường, vạn, đến khu phố. Nhân dân hân hoan tham gia tự vệ, nô nức tòng quân, tiếp tế nuôi quân, tải thương, vận động binh lính địch ra hàng, cùng bộ đội đào giao thông hào, lập chướng ngại vật bảo vệ thành phố.

Một mặt trận “Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình” thành phố Huế ra đời – thành phố đầu tiên được giải phóng ở miền Nam, ra mắt quần chúng đã cổ vũ đồng bào miền Nam, tác động sâu sắc đến hàng ngũ địch và đến cả nước Mỹ.

Sau khi bị một đón choáng váng, địch huy động lực lượng tổng trù bị từ Sài Gòn và từ vùng 1 chiến thuật ra cùng với một số ít rút từ đường 9 về để phản kích giải vây cho Huế, nâng tổng số địch tại Mặt trận Huế lên 23 tiểu đoàn Mỹ - ngụy (có 15 tiểu đoàn Mỹ). Trận chiến hết sức ác liệt. Ta và địch giành giật nhau từng góc nhà, từng điểm tựa, từng góc phố ở chợ Đông Ba, cửa Chánh Tây, cửa Hữu, Thượng Tứ, sân bay Tây Lộc… Mặc dù quân số địch đông hơn ta nhiều lần, hỏa lực địch rất mạnh, nhưng quân và dân ta hết sức kiên cường đánh bại các cuộc phản kích của địch. Có ngày ta diệt trên 1.000 tên Mỹ - ngụy, bắn rơi và phá hàng chục máy bay và xe tăng địch.

Do ta không chiếm được Mang Cá, không chia cắt được địch từ Cửa Thuận lên Huế qua Bao Vinh, nên ta mất dần thế có lợi. Bộ đội ta chiến đấu lâu ngày không được thay quân và bổ sung, có đơn vị tổn thất nặng, trong lúc đó thì địch đã tăng viện rất đông. Mặt khác, sự phối hợp với Huế trong toàn Miền lúc này đã dịu xuống. Sau khi cân nhắc kỹ và được Bộ đồng ý, ngày 25 tháng 2 ta chủ động rút quân sau 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế.

Sau thất bại nặng nề và toàn diện trong Tết Mậu Thân, địch điều động lực lượng mức cao nhất ra Trị - Thiên. Đến tháng 4 năm 1968, lực lượng Mỹ - ngụy đạt con số kỷ lục 14 vạn tên trong đó có 98.000 Mỹ gồm 4 trong số 10 sư đoàn Mỹ ở miền Nam, 1 trung đoàn (tổng cộng 40 tiểu đoàn). Quân ngụy có 42.000 tên gồm 1 sư đoàn và 2 trung đoàn. Vũ khí trang bị có 24 tiểu đoàn pháo (462 khẩu), 11 tiểu đoàn thiết giáp 835 xe, 450 máy bay trực thăng vũ trang.

Chúng thực hiện kế hoạch “quét và giữ” bằng hai biện pháp lớn. Một là quét đồng bằng một cách ác liệt và liên tục dài ngày, sử dụng với mức độ lớn xe tăng, đại bác, máy bay, kết hợp với bộ binh đánh giá có tính hủy diệt nhằm phá cơ sở và đẩy chủ lực ta ra khỏi đồng bằng. Hai là, địch mở cuộc hành quân quy mô lên miền Tây Thừa Thiên (từ ngày 19 tháng 4) với lực lượng 15 tiểu đoàn, có chín tiểu đoàn Mỹ, từ Động Tranh, Tà Lương đến A Lưới (ngày 2 tháng 5) nhằm đánh phá hành lang chiến lược, đẩy chủ lực ta ra xa, nhăn chặn các cuộc tiến công mới của ta.

Chấp hành chỉ thị của Bộ, Thường vụ Khu ủy họp ra nghị quyết tiếp tục chuẩn bị để đánh vào thành phố Huế, đặc biệt đợt tháng 5 năm 1968 phải đánh mạnh để phối hợp với toàn Miền, nhất là Sài Gòn.

Lúc này, Sư đoàn 325C được lệnh của Bộ rút ra để đi vào làm nhiệm vụ ở Tây Nguyên, chỉ để lại Trung đoàn 3 tiếp tục chiến đấu ở Trị - Thiên. Sau này, khi Trung đoàn 3 trở lại sư đoàn, chúng tôi được biết: Từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1968, cuộc chiến đấu của quân và dân Trị - Thiên - Huế để giành và giữ nông thôn đồng bằng lúc này diễn diễn ra vô cùng quyết liệt, đã đạt được một kết quả đáng kể. Nhiều nơi chiến tranh du kích phát triển cao như tuyến sông Cửa Việt – Đông Hà, cắt giao thông từ Mỹ Thủy đến Diên Sanh, phong trào bắn máy bay ở Phong Điền, hai huyện Phú Vang, Hương Thủy đánh địch áp sát vùng ven thành phố. Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 3 bám ở đồng bằng đánh trả hàng trăm cuộc càn quét của địch. Trong tháng 5 năm 1968, để phối hợp với toàn Miền, ta đánh trên 66 mục tiêu, căn cứ và quận lỵ như ấp 5, Động Toàn, bắn pháo vào Huế, Đồng Lâm, phá nhiều máy bay Mỹ. Các đường giao thông Mỹ Thủy – Hải Lăng, Đông Hà – Mỹ Chánh, Thuận An – Huế bị đánh đi đánh lại nhiều lần, đường Huế - Đà Nẵng bị cắt 10 ngày.

Ở miền núi, ta đánh bại cuộc hành quân lớn của địch, buộc chúng phải rút bỏ A Lưới, diệt và làm bị thương 2.197 tên, diệt gọn 26 đại đội Mỹ, bắn rơi và phá hủy 72 máy bay, phá 30 xe, 33 pháo.

Nhưng thành phố Huế là mục tiêu chính thì ta không tổ chức đánh vào được. Do đó, kế hoạch đề ra không thực hiện được, nhiệm vụ không hoàn thành mà sau đó ở đồng bằng, tình hình xấu đi một cách nhanh chóng. Lực lượng cơ sở bị bộc lộ, ta bị tổn thất nặng cả lực lượng vũ trang an ninh và cán bộ đảng viên ở cơ sở. Quần chúng mất thế, nhiều nơi bị dồn vào khu tập trung, chạy khỏi địa phương, để tránh bom đạn địch, làm cho vùng giải phóng nhiều nơi thành vùng trắng.

Đến cuối tháng 5 năm 1968, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và một số dân quân du kích đều bị bật khỏi đồng bằng, phải rút lên rừng để củng cố. Đến cuối năm 1968, trên thực tế nông thôn đồng bằng đã trở thành vùng kiểm soát của địch.



Thắng lợi lịch sử có ý nghĩa chiến lược to lớn, toàn diện của Xuân Mậu Thân 1968 là đỉnh cao và là kết quả tổng hợp của cả một quá trình chiến đấu và xây dựng trong những năm trước, nhất là năm 1966-1967.

Rút bỏ Khe Sanh là một thất bại lớn của Mỹ sau thất bại Tết Mậu Thân. Sle-sinh-giơ là bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã mỉa mai:”Tuy chúng ta ném cả danh dự nước Mỹ ra để giữ (Khe Sanh) và bắt hội đồng liên quân cam kết bằng máu, nhưng cuối cùng cũng phải rút chạy”.

Nó đánh dấu sự bất lực của Mỹ không ngăn chặn được chiến lược của miền Bắc với nỗ lực cao nhất của đế quốc Mỹ. Nó báo hiệu sự mở đầu cuộc rút lui quân viễn chinh Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Với thắng lợi Khe Sanh, tiếp sau thắng lợi đánh chiếm thành phố Huế 25 ngày đêm, chiến trường Trị - Thiên – Huế và Mặt trận Đường 9 đã lập được những thành tích có ý nghĩa chiến lược to lớn: Góp phần xứng đáng cùng quân dân toàn Miền đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, phải chịu đi vào đàm phán hòa bình tại hội nghị bốn bên ở Pa-ri, chỉ ba năm sau khi chúng tiến hành “chiến tranh cục bộ”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:21:54 PM
*
*   *

Tôi cùng Sư đoàn 325C vào Tây Nguyên tổ chức một đợt hoạt động nhỏ ở Plây Cần để phối hợp với đợt tiến công tháng 5 ở Sài Gòn. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 bị ốm, tôi thay mặt trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 2 tiến công diệt 200 địch ở Ngọc Hồi (điểm cao 832). Chúng tôi được lệnh để lại hai trung đoàn, còn trở ra Trị - Thiên nhận nhiệm vụ mới. Ra đến Trị - Thiên, chúng tôi nhận hai trung đoàn 1 và 2 cũ của 324 cùng Trung đoàn 8 bộ binh, tổ chức thành một sư đoàn lấy tên mới là Sư đoàn 324, mật danh là Đoàn Ngự Bình – tên một ngọn núi đẹp ở ngoại ô thành phố Huế, làm kỷ niệm

Tháng 8, tôi về công tác ở Quân khu, làm Trưởng phòng Tác chiến rồi Tham mưu phó. Lúc này, Bộ Tư lệnh Quân khu có: Tư lệnh kiêm Chính ủy là đồng chí Lê Chưởng, trong năm 1968 đồng chí Trần Văn Quang vào làm Tư lệnh, Phó tư lệnh về quân sự có đồng chí Nam Long, Dương Bá Nuôi. Phó tư lệnh về chính trị là đồng chí Thanh Quảng. Phó tư lệnh về pháo binh là đồng chí Nguyễn Thế Lâm; về hậu cần là đồng chí Hoàng Văn Thái. Chủ nhiệm chính trị là đồng chí Phan Xuân Kính; Chính ủy hậu cần là đồng chí Doãn Sửu; Phó chủ nhiệm hậu cần là đồng chí Trần Minh Đức, Võ Hạp; Phó chính ủy hậu cần là đồng chí Võ Dược.

Sau khi nghiên cứu rút kinh nghiệm đợt tháng 5 của Quân khu, tôi thấy địa bàn rừng núi ở Quân khu rất có lợi thế, nó giáp liền với đồng bằng, liên hoàn với miền Bắc và với vùng giải phóng Lào, nhưng chưa được tổ chức. Mới chỉ có một con đường trục chiến lược xe chỉ chạy được mùa khô. Cần xây dựng tổ chức chiến trường mới có điều kiện cho chủ lực làm chủ ổn định. Dựa vào rừng núi, ta làm chủ giáp ranh mới có điều kiện hỗ trợ xuống đồng bằng xây dựng cơ sở ở nông thôn được. Đồng bằng lại rất hẹp, địch chỉ tăng một ít lực lượng là tình hình đã thay đổi rất nhanh. Ta phải làm chủ ổn định ở địa bàn rừng núi mới giữ vững được thế ba vùng. Tình hình lúc này chưa có điều kiện để đánh chiếm và làm chủ thành phố.

Theo chỉ thị của Quân khu, tôi làm phương án tác chiến để đồng chí Bảy Tiền (Trần Văn Quang) – Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu đi họp Khu ủy bàn kế hoạch tiến công đợt ba vào Huế và đồng bằng Trị thiên.

Đánh giá tình hình và đề nghị chủ trương, Quân khu lúc này có lực lượng lớn nhưng có rất nhiều khó khăn.

Ở đồng bằng địch tăng cường lực lượng, phi pháo, xe tăng thiết giáp, tiến hành bình định đánh phá ác liệt, dồn dân vào khu tập trung, lực lượng ta bị bạt ra hết, thế bất ngờ không còn nữa.

Ở vùng giáp ranh, địch tăng cường phục kích, ta xuống đồng bằng lấy gạo rất khó khăn. Mặt khác tốn rất nhiều xương máu, lấy được một tấn gạo phải mất sáu bảy người hy sinh. Phải tiếp tế gạo từ phía sau lên, nhưng muốn có một đại đội đứng ở giáp ranh phải có 14 đại đội gùi gạo.

Lực lượng chủ lực lớn, ngoài lực lượng của quân khu còn thêm hai sư đoàn 324 và 304, nhưng đã chiến đấu dài ngày, chưa được củng cố, nhiều đơn vị bị thiệt hại, chưa được bổ sung. Khó khăn lớn nhất là hậu cần: Chủ lực mới tăng đột ngột, chưa có tổ chức chiến trường để bảo đảm. Dự trữ lương thực đã cạn, nếu để nhiều lực lượng thì không còn dự trữ để tạo thế đánh địch đầu mùa khô sau. Hậu cần tại chỗ không có. Khi bộ đội xuống đồng bằng để thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không tính trở lại nên đã dốc hết lực lượng, cơ sở sản xuất cũ không còn. Năm nay hạn hán kéo dài, dân miền núi đói, ta còn phải chia bớt gạo cho dân.

Kết luận; Không có điều kiện tiến công thành phố, thị xã. Kiến nghị dùng lực lượng nhỏ giữ hành lang giáp ranh để xuống đồng bằng xây dựng cơ sở. Dồn khẩu phần ăn cho phía trước, cơ quan lui ra sau bên đất Lào ăn sắn với một lạng gạo một ngày. Chủ lực ra Quảng Bình củng cố, chuẩn bị mùa khô tới, một bộ phận vào trước tạo thế.

Ta vẫn chủ trương tiến công đợt ba, nhưng không đánh vào thành phố được mà tình hình đồng bằng càng xấu đi. Tháng 10 vẫn phải cho chủ lực ra sau.

Bản thân tôi thời gian này cũng gặp khó khăn nhất, đặc biệt là sức khỏe, sốt rét nặng kéo dài không dứt cơn, ăn uống kham khổ gần kiệt sức, khi di chuyển cơ quan phải chống gậy lê từng bước, tưởng chừng không đi đến nơi được.



Tháng 12 năm 1968, lực lượng chủ lực ta dần dần trở lại chuẩn bị thế chủ động đánh địch ở rừng núi. Ngày 21 tháng 1 năm 1969, địch mở cuộc hành quân lê Cô Ka Va, Cô Tiên (Dewey, Comyon 1) gồm 12 tiểu đoàn nhằm phá kho tàng và đường vận chuyển, đẩy lực lượng ta ra xa. Ta dùng Trung đoàn 6, Tiểu đoàn 3 đặc công và binh trạm cùng du kích miền Tây đánh địch trong 18 ngày, diệt 2.863 tên, bắn cháy 49 máy bay, phá 6 khẩu pháo, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ, buộc chúng phải rút bỏ Cô Ka Va, chiến thắng đã có sức cổ vũ lớn cho quân và dân toàn Quân khu.

Ngày 17 tháng 3 đến ngày 31 tháng 4, địch lại mở hành quân Maine-Crog và Lam Sơn 271 lên Tanh Tanh, A Giới (tây nam Quảng Trị) với 5 tiểu đoàn (có 3 tiểu đoàn của trung đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ) bị lực lượng Quảng Trị, quân dân Hướng Hóa cùng Trung đoàn 8 đánh cho thiệt hại nặng phải rút bỏ cuộc hành quân.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:22:20 PM
*
*   *

Ngày 5 tháng 5 năm 1969, sau một đợt bom pháo dọn đường từng bầy trực thăng chở 13 tiểu đoàn đổ quân xuống A So – A Lưới và các điểm cao dọc đường 14 trong khu vực đã dự kiến của Quân khu. Ở đây đã bố trí sẵn Trung đoàn 8 tức Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324.

Quân khu lệnh cho Trung đoàn 8 tập trung đánh gẫy mũi đi đầu do lữ đoàn dù 3 sư đoàn 101 dù Mỹ bằng cách chốt kết hợp vận động tại khu vực núi A Bia. Ta phán đoán mục đích của địch là đẩy chỉ huy ta ra xa, đánh phá hành lang kho tàng nên địch sẽ cố chiếm A Bia là điểm cao 999 khống chế cả khu vực.

Trung đoàn 8 chủ trương dùng chốt kết hợp đánh vận động nhỏ, đánh gần diệt địch tạo điều kiện đánh chốt kết hợp vận động toàn trung đoàn. Về sử dụng lực lượng, ta dùng hai tiểu đoàn tăng cường hỏa lực một đại đội 12,7mm và một đại đội cối 82mm chiếm xây dựng chốt ở A Bia, 903 và 916 thành thế liên hoàn đánh địch khi chúng đánh lên A Bia, còn một tiểu đoàn dự bị cơ động, trước mắt vận động chuyển gạo đạn.

Bộ đội chiếm lĩnh ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 5 bắt đầu nổ súng đánh địch khi chúng vào đúng như dự kiến. Cuộc chiến diễn ra rất quyết liệt từ ngày 10 đến 15 tháng 5, ta diệt rất nhiều địch, bắn rơi và cháy nhiều máy bay trực thăng nhưng địch chiếm được 916. Tiểu đoàn 8 ở A Bia bị tách khỏi trung đoàn gặp rất nhiều khó khăn đã đề nghị cố giữ hai ngày nữa rồi rút. Trung đoàn đã quyết tâm tập trung lực lượng thực hiện đánh chốt kết hợp vận động cấp trung đoàn, kiên quyết đánh chiếm lại 916 khôi phục thế liên hoàn, giữ liên lạc thông suốt với Tiểu đoàn 8.

Địch điên cuồng phản kích, chiều 17 tháng 5, chúng tổ chức bốn mũi có phi pháo mạnh và cả hóa học quyết tiến công lên A Bia. Tiểu đoàn 8 chiến đấu đến cùng để giữ vững trận địa. Có chốt ở mỏm 1 còn năm đồng chí do tiểu đội trưởng chỉ huy đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, sau chỉ còn ba đồng chí vẫn chống trả đánh bật một đại đội địch, giữ vững trận địa. Chốt phía nam chỉ còn một đồng chí dùng nhiều loại hỏa khí đánh địch, bị bom vùi ba lần vẫn vùng dậy tiếp tục đánh. Một mình đồng chí ấy diệt 38 tên địch, giữ vững trận địa. Trung đoàn dùng Tiểu đoàn 7 phản kích ngang sườn địch hất chúng xuống chân núi, kết thúc đợt tiến công cuối cùng của địch.

Sáng 18 tháng 5, địch dùng trực thăng hạ xuống A Lưới bốc quân còn lại của lữ đoàn dù 3 về Phú Bài.

Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 dùng chốt kết hợp vận động đánh địch hết sức dũng cảm, kiên quyết, đã đánh bại cuộc hành quân của địch, diệt 1.500 tên gây chấn động dư luận, quốc hội Mỹ, chúng gọi A Bia là “đội thịt băm lính Mỹ”.

Từ ngày 9 tháng 7 đến ngày 22 tháng 9, địch lại mở cuộc hành quân lên A Bia, A Lưới, Động Pho, Tà Bạt lần thứ hai, bị Trung đoàn 1 đánh cho thất bại. Sau đó, chúng phải lui về tuyến giữa, không dám đánh sâu vào vùng hành lang chiến lược của ta.

Trong năm 1969, ta hoạt động vũ trang rất tích cực. Cả Quân khu Trị - Thiên và B5 đã diệt 38.000 tên (có 2 vạn Mỹ), bắn cháy, bắn rơi 535 máy bay các loại, 1.167 xe quân sự, 62 tàu xuồng chiến đấu, 21 kho, thu 125 súng.

Ở đồng bằng, ta xây dựng cơ sở hết sức tích cực nhưng chưa vực dậy được.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:22:45 PM
*
*   *

Trong hai năm 1970-1971, địch ráo riết thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với âm mưu thủ đoạn:

1. Ra sức bình định giành dân biến đồng bằng, thành phố thành hậu phương an toàn của chúng.

2. Tiến hành mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, mở hành quân ra Đường 9 – Nam Lào cắt hành lang chiến lược đưa miền Nam trở lại chiến tranh du kích tàn lụi.

3. Tích cực xây dựng ngụy quân đủ sức thay thế quân Mỹ.

4. Ra sức xây dựng ngụy quyền mạnh.

Tháng 1 năm 1970, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 đề ra phương hướng mới là phải “Đẩy mạnh tiến công toàn diện trên cả ba vùng chiến lược, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, vận dụng đúng phương châm chiến lược, trên cơ sở đánh lâu dài, tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Hội nghị Khu ủy quyết định: “Đánh bại bình định là nhiệm vụ trung tâm cấp bách của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiện nay”. Khu ủy và Quân khu ủy đề ra: “Vấn đề quyết định là phải tập trung nỗ lực làm chủ cho được miền núi, từ đó mà nối lại thế ba vùng, phát huy sức mạnh tổng hợp quân sự chính trị để đánh bại bình định của địch”.

Tôi làm kế hoạch được Quân khu thông qua. Trọng tâm là: Đánh bại các cuộc hành quân của địch lên miền núi, đánh bại chiến thuật chốt điểm cao, nhảy cóc, trực thăng vận, phục kích giáp ranh, củng cố bộ đội chủ lực, khẩn trương tăng cường lực lượng vũ trang huyện và du kích xã, phát động phong trào bắn máy bay trực thăng và phong trào sản xuất (chỉ tiêu 5 triệu gốc sắn), tổ chức chiến trường, khẩn trương làm đường 71, 72 (đường nhánh nối từ trục chiến lược ra Quảng Trị, Huế).

Kế hoạch tác chiến của Quân khu xác định trung tâm 1970 đánh liên tục kết hợp đánh địch ở vùng núi và khôi phục từng bước thế lực cách mạng ở đồng bằng, đô thị, chia làm ba đợt:

Đợt một dùng lực lượng tại chỗ đánh hướng chủ yếu Tà Lương – Động Tranh hỗ trợ chiếm giáp ranh xuống đồng bằng, tạo điều kiện tổ chức chiến trường đưa cơ giới cho vào vận chuyển chuẩn bị vật chất cho chủ lực (Quân khu có Sư đoàn 324 và Trung đoàn 6, được tăng cường Sư đoàn 304).

Đợt hai và ba đánh liên tục phá tuyến giữa của địch, phản công Sư đoàn 324 hướng Thừa Thiên – Huế tập trung diệt căn cứ 935, Sư đoàn 304 hướng Quảng Trị tập trung diệt căn cứ Đá Bàn.

Điểm cao 935 thuộc vùng núi huyện Phong Điền, đỉnh rộng 350 × 550 mét là cửa ngõ về đồng bằng, là căn cứ của địch tiến công hành lang chiến lược và kho tàng của ta. Đây là căn cứ pháo gồm một đại đội pháo 85mm, một đại đội pháo 105mm, một đại đội cối 106,7mm được xây dựng thành ba khu: khu chỉ huy, hậu cần và trận địa pháo. Công sự kiên cố, bao cát nửa chìm nửa nổi, xung quanh có 8 đến 10 lớp rào kẽm gai, có bố trí nhiều mìn đủ lại. Năm 1970, ở đây được tăng cường hai tiểu đoàn bộ binh 1 và 2 Mỹ và lữ đoàn dù 3 Mỹ. Ngoài lực lượng chốt trong căn cứ, địch còn rải quân ở các điểm cao chung quanh 935 như: 902, 884, 805, 797 và 550.

Nhiệm vụ Quân khu đã giao cho Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 2) tăng cường Trung đoàn 6 và Tiểu đoàn 7B đặc công là: Tiêu diệt căn cứ hành lang 935, chặn đánh các cánh quân quanh điểm cao và lực lượng đến giải tỏa.

Quyết tâm của sư đoàn được Quân khu phê chuẩn là vây lấn 935 để diệt viện, lấy diệt viện là chính, tiến tới dứt điểm 935. Khu vực đánh viện chủ yếu là Dốc Mây, 665, hướng phối hợp là Tâm Tanh, Cung Cáp, Sông Bò. Dự kiến phải chiến đấu thời gian dài hình thành một chiến dịch nhỏ với lực lượng sư đoàn tăng cường.

Vì thời gian tác chiến dài ngày ở trọng điểm của Quân khu, nên Bộ Tham mưu phải đôn đốc theo dõi sát sao, đồng thời chỉ đạo các cơ quan bảo đảm tốt các mặt của sư đoàn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:23:18 PM
Ngày 1 tháng 7, ta bắt đầu nổ súng bằng một trận trận kích hỏa lực mạnh, bất ngờ vào 935 và các điểm cao chung quanh gây cho địch tổn thất nặng. Chúng dùng hỏa lực mạnh để đối phó nhưng do chúng bị động, bị bất ngờ nên chỉ trút đạn bắn vu vơ. Địch giải tỏa ngay với lực lượng nhỏ, ngày đầu một đại đội xuống 805 giữ sườn cho 935, ngày thứ hai tăng một tiểu đoàn vào khu vực đã chuẩn bị của Trung đoàn 1, bị đánh thiệt hại nặng.

Sau 10 ngày chiến đấu, ta dùng nhiều hình thức phát huy các lực lượng và các loại vũ khí như: tập kích hỏa lực, đánh trực thăng vận chuyển, đổ quân, tập kích điểm cao, phục kích, tập kích địch đóng quân dã ngoại, công binh phục kích bằng trận địa các loại mìn, đặc công tập kích trận địa pháo… Ta đã diệt gần 700 tên, phá 7 pháo, bắn rơi hơn 10 trực thăng. Địch bốc tiểu đoàn 2 về củng cố được một ngày đã phải vội vã đưa trở lại chiếm thêm chốt 805.

Những ngày tiếp sau, ta có đợt đánh rộ lên. Đặc biệt, ngày 17 tháng 7, ta tổ chức một đợt tiến công mạnh trên tất cả các hướng với tất cả các lực lượng, các hỏa lực, thi đua bắn máy bay làm cho tất cả tám đại đội địch ở 935 và chung quanh đều bị thiệt hại nặng. Ta chiếm lại 805, vây chặt 935 hơn.

Ngày 19 tháng 7, ta tập kích hỏa lực vào 935, khiến khu hậu cần và kho đạn cháy trong 3 giờ.

Ngày 20 tháng 7 là ngày cố gắng cuối cùng của địch. Chúng cố chiếm lại 935 và nhặt xác, lại bị đánh thiệt hại, 935 hết sức khó khăn nhưng chúng chỉ tăng cường nhỏ giọt, đêm 20 tháng 7 chỉ tăng cho 935 thêm một đại đội đưa tổng số lên 11 đại đội.

Ngày 23 tháng 7 có triệu chứng địch chuẩn bị rút. Quân khu ra lệnh sư đoàn dứt điểm 935, không để địch rút. Sư đoàn tập trung hỏa lực cao nhất, bắn không cho trực thăng bốc quân. Ta bắn cháy 10 trực thăng, nhưng có 2 chiếc liều chết hạ xuống trong khói lửa mù mịt bốc được một số tàn quân. Chúng bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị. Đến 12 giờ ngày 28 tháng 7, tại 935 không còn địch. Đến 14 giờ cùng ngày, chúng dùng B52 ném bom hủy diệt 935.

Hơn 23 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, sư đoàn đã tiêu diệt 1.700 tên Mỹ, bán rơi và cháy 97 máy bay lên thẳng thu và phá 16 pháo 105-155mm, đánh thiệt hại 5 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn dù 3 Mỹ, tiêu diệt 3 sở chỉ huy tiểu đoàn. Quân ủy Trung ương đã khen: “Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi cán bộ chiến sĩ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giành thắng lợi cho chiến dịch. Sư đoàn cần tiến hành tổng kết thật tốt kinh nghiệm vừa qua, tập trung giải quyết các vấn đề: Vây điểm, diệt viện, tiến tới diệt điểm bằng mọi hình thứ chiến thuật”.

Sau 935, Quân khu giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 324 phát triển tiến công tiêu diệt căn cứ Cốc Bai (565) để phối hợp tác chiến với các hướng trong Quân khu.

Cốc Bai ở ranh giới hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thên, cách 935 khoảng 9 ki-lô-mét về hướng đông bắc, hẹp hơn 935 và lực lượng ít hơn, do trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 ngụy chiếm đóng. Mất 935, Cốc Bai trở thành vị trí đột xuất ở vòng ngoài tuyến Sông Bồ, bị kẹp giữa hai con sông Ô Lâu và Mỹ Chánh, dễ bị cô lập.

Trực tiếp ở Cốc Bai, ta sử dụng bốn tiểu đoàn bộ binh thuộc ba trung đoàn 3, 1, 6 và Tiểu đoàn 7B đặc công. Ta dùng cách vây đánh vây điểm diệt viện, lấy diệt viện là chính, chiến đấu dài ngày từ chiều 1 tháng 8 đến ngày 7 tháng 10, sư đoàn có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, chiến đấu kiên quyết hơn hai tháng trong mùa mưa, đánh 205 trận lớn, nhỏ, diệt hơn 2.000 Mỹ - ngụy, bắn rơi, cháy 92 máy bay, phá 14 pháo, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 ngụy, buộc địch phải bốc quân rút về La Vang, bỏ tuyến trung gian.

Chúng tôi cũng nhận được báo cáo hướng Sư đoàn 304, ta đánh thắng giòn giã trại biệt kích Mai Lộc – Trân Cùa, Cồn Tiên – Động Ché, tiếp đó mở chiến dịch ở Nam Ba Lòng và vây đánh bức rút Đá Bàn (677).

Đến tháng 10 năm 1970, tuyến giữa không còn địch, miền núi được hoàn toàn giải phóng. Trong thời gian này, ở đồng bằng, việc đánh phá bình định được đẩy mạnh, sau một thời gian trầm lắng. Trong hai năm 1969-1970, ta xây dựng cơ sở hết sức tích cực. Nhiều nơi, chính quyền cấp xã bị đánh ta, phải dựng đi dựng lại 14 đến 15 lần, cấp huyện đến 5 đến 7 lần. Thế ba vùng được cơ bản khôi phục.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:23:50 PM
*
*   *

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra Đường 9 –Nam Lào bắt đầu. Địch coi đây là trận có ý nghĩa quyết định nhằm cắt đứt hành lang chiến lược, đánh phá sự chi viện của miền Bắc từ gốc, bóp nghẹt cách mạng miền Nam, cắt đôi Đông Dương, uy hiếp miền Bắc, cô lập Lào và Cam-pu-chia.

Đó là một thử thách vai trò của quân ngụy trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Nếu thắng, địch có thể đánh có mức độ ra Nam Quân khu 4 tạo thế mạnh để ép ta về ngoại giao. Do đó chúng tập trung lực lượng rất lớn.

Từ 29 tháng 1 đến 2 tháng 2 năm 1971, địch huy động trên 4 vạn quân Mỹ - ngụy với đủ quân binh chủng hiện đại đã triển khai xong trên các địa bàn gồm 49 tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới (11 tiểu đoàn đủ thuộc sư đoàn 101 Mỹ, sư đoàn A-mê-ri-cơn số 23, lữ đoàn 1 sư đoàn 5 cơ giới Mỹ), 17 tiểu đoàn pháo binh với 264 khẩu pháo, 3 thiết đoàn và chi đoàn thiết giáp 442 với 149 xe tăng, 1.200 máy bay chiến đấu các loại.

Báo chí đã miêu tả về sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của “đồng minh” trong chiến trường Đường 9 – Nam Lào. Hơn 400 máy bay phản lực sẽ thay nhau hoạt động suốt ngày đêm. Máy bay U2 cải tiến đảm nhiệm vai trò con mắt điện tử di động trên không. Máy bay lên thẳng với số lượng thỏa mãn để sử dụng như “con ngựa thồ” lý tưởng trên chiến trường rừng núi. Xe tăng thiết giáp sẽ tạo nên sức mạnh đột kích chủ yếu mà đối phương không thể chống nổi. Còn đại bác và B52 với số lượng bom đạn thừa đủ để nghiền nát đối phương và như vậy sẽ có một “Điện Biên Phủ đảo ngược” như Ních-xơn mong muốn.

Địch hý hửng tưởng sẽ nhanh chóng cắt đứt hành lang vận chuyển của ta ở Tây Tường Sơn đoạn đường 9 từ bản Đông lên Sê Pôn và sau đó sẽ phát triển xuống Sa Đi, Mường Noòng – A Túc, chọc xuống A Lưới rồi vòng về Huế và “làm lễ khao quân chiến thắng”.

Nắm được âm mưu của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã xác định quyết tâm rất lớn: “Nhất quyết phải thắng địch trong chiến dịch này, dù có phải động viên sức người sức của và hy sinh như thế nào cũng phải quyết tâm thắng lớn, vì đây là trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược”.

Bộ thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận lấy bí danh BTL 702 để chỉ huy. Lực lượng tham gia chiến dịch phản công chiến lược này gồm: các đơn vị trong Binh đoàn 70 như các sư đoàn 308, 304, 320, các đơn vị binh chủng; Sư đoàn 3 Quân khu 5; Sư đoàn 324 Quân khu Trị - Thiên; 4 tiểu đoàn xe tăng, 3 trung đoàn pháo binh cơ giới, mang vác; 3 trung đoàn pháo cao xạ; các lực lượng tại chỗ của B5, B4, 559. Công tác chuẩn bị đã tiến hành từ cuối năm 1970, thế trận đã sẵn sàng.

Riêng Quân khu Trị - Thiên khi đang triển khai kế hoạch mùa khô thì nhận được lệnh của Bộ điều Sư đoàn 324 tham gia chiến dịch và cử một bộ phận tiền phương để chỉ huy. Đồng chí Nam Long – Phó tư lệnh được cử đi chỉ huy hướng này, tôi phụ trách tham mưu và một cơ quan nhẹ, nhanh chóng cơ động đơn vị và Sở chỉ huy kịp triển khai làm nhiệm vụ.

Thời gian đầu, địch triển khai đội hình theo đường 9, tiến công đánh chiếm Bản Đông và tiếp tục phát triển lên Sê Pôn, ta chỉ dùng lực lượng của B5 đánh địch từ hậu cử, đường 9, đường sông lên đến Khe Sanh.

Đến Sê Pôn, ta bắt đầu chặn đánh và phản kích để giữ. Lúc này lực lượng chủ yếu của chiến dịch đã triển khai hình thành thế bao vây chia cắt địch trên một địa hình rộng và thuận lợi để đánh vận động lớn: ở phía bắc, lực lượng ba sư đoàn với binh chủng kỹ thuật mạnh đánh xuống, ở phía nam có Sư đoàn 2 thuộc Quân khu ở Nam Sê Pôn, chúng tôi bố trí Sư đoàn 324 từ phía nam đánh lên, khép kín vòng vây.

Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cường lực lượng cho Sư đoàn 324 Trung đoàn 141 (ở Cu Bốc), một đại đội xe tăng, một đại đội pháo Đ74 (ca nông 130mm) và lực lượng các binh trạm 33, 41, 107. Nhiệm vụ: Bẻ gẫy cánh quân phía nam của địch; bảo vệ đường hành lang kho tàng ở Sa Đi – Mường Noòng, cắt giao thông đường 9 đoạn Lao Bảo – Làng Vây, trước mắt diệt trung đoàn 3 ngụy ở điểm cao 619 và trung đoàn 1 ngụy ở điểm cao 550 thuộc sư đoàn 1 ngụy.

Lúc 7 giờ ngày 24 tháng 3, ta nổ súng tiến công 619 Bản Ngàn. Ở Bản Ngàn, Trung đoàn 3 của ta tiến công chia cắt địch, đánh phản kích, địch bị thiệt hại nặng phải bốc hai tiểu đoàn của trung đoàn 3 về Phu Khe Gio. Trung đoàn 3 ta vây ép 619 (do sở chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn 1 chiếm giữ). Địch từ 530 phản kích lọt vào trận địa của Trung đoàn 1 của ta đã bày sẵn, chúng bị đánh chạy tán loạn rút về lại 550, hai tiểu đoàn địch ở ngoài bị chia cắt ra từng tiểu đoàn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:24:14 PM
Sư đoàn mở đợt tiến công kiên quyết diệt từng tiểu đoàn địch,trong lúc hỏa lực tập trung đánh phá 619. Địch bị tiến công mạnh tan rã tháo chạy, nhưng lại lọt vào trận địa bố trí sẵn của ta đón đánh, ha tiểu đoàn này đều bị loại khỏi chiến đấu. Khi mất liên lạc với hai tiểu đoàn này, địch ở 619 hoang mang, tối 28 tháng 2, sở chỉ huy trung đoàn 3 của địch bí mật rút 619. Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 2 ta truy kích từ đêm đến sáng 29 mới đuổi kịp bộ phận đi sau, diệt được 100 tên.

Sau năm ngày đêm liên tục tiến công, sư đoàn 324 đã đánh quỵ trung đoàn 3, đánh thiệt hại trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy, nhổ bật căn cứ hành quân 619, chốt của cuộc hành quân xuống phía Nam của địch.

Sáng ngày 5 tháng 3, lữ đoàn 147 ngụy đổ quân xuống 550, 500 thay cho trung đoàn 1 ngụy lập căn cứ hành quân.

Điểm cao 550 cách Huổi San 6 ki-lô-mét về phía nam, cách Lao Bảo 10 ki-lô-mét về phía tây nam. Phía bắc giáp sông Sê Pôn; phía nam giáp đường 70; phía đông có các điểm cao Cô Rốc (811), 654; phía tây có các điểm cao 425, 332, 619. Điểm cao 550 có nhiều hang đá tự nhiên và công sự cũ do bọn ngụy Lào xây dựng từ trước. Điểm cao 550 dài 1.500 mét, rộng 80 mét đến 1.500 mét, hình thành ba mỏm từ bắc đến nam: mỏm 400, 550 và 500. Giữa mỏm 550 và 500 có một yên ngựa, sườn phía đông và tây có độ dốc lớn 30 đến 70 độ, phía nam và tây nam khoảng 10 đến 15 độ.

Địch bố trí thành ba điểm tựa. Mỗi điểm có từ một đến hai đại đội bộ binh, một đại đội pháo. Sở chỉ huy lữ đoàn ở 550. Phía yên ngựa có sân bay lên thẳng, nhà kho và một trận địa pháo hỗn hợp. Công sự làm bằng tôn vòm, trên đắp bao cát dày một mét, xung quanh căn cứ có 2 đến 5 mét lớp rào kẽm gai. Phía Nam có bãi mìn dài 300 mét. Trong căn cứ có hàng rào riêng từng khu vực. Lực lượng có hai tiểu đoàn hoạt động ở vòng ngoài, còn lại ở cả trên điểm cao 550. Hỏa lực có 9 pháo 105mm, 4 khẩu 155mm, 5 khẩu cối 106,7mm, 16 đại liên và súng máy 12,7mm, 4 khẩu ĐKZ75mm, bố trí thành nhiều tầng bao bọc xun quanh sở chỉ huy. Phía đông bắc 550 khoảng 10 ki-lô-mét là lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ở 640. Các trận địa pháo có thể chi viện tới là: Hướng Hóa, Lao Bảo, Cha Ki, Tà Mây, Tả Rích, 640 cùng máy bay phản lực và B52.

Trung đoàn 141 đã được điều đi làm nhiệm vụ khác. Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 324 được lệnh làm nhiệm vụ cắt đường 9. Lực lượng còn lại của sư đoàn được tăng cường một đại đội xe tăng và một đại đội Đ74 diệt lữ đoàn 147.

Quyết tâm của sư đoàn được Quân khu thông qua: Vây lữ đoàn 147 ở 550, diệt hai tiểu đoàn vận động ở ngoài, xiết chặt vòng vây tiến tới tiêu diệt lữ đoàn 147 ở 550, kìm giữ lữ đoàn 258, bảo vệ Sa Đi – Mường Noòng.

Chiều 15 tháng 5, ta nổ súng, hai tiểu đoàn địch ở ngoài bị thiệt hại nặng, lữ đoàn 258 và sư đoàn 1 cũng bị tiêu hao nặng.

Trên hướng chính của chiến dịch, các sư đoàn 308, 320 và Sư đoàn 2 đã đánh địch đại bại ở Bản Đông, lao Bảo, Cha Ki… Địch không chiếm được Sê Pôn.

Tối 16, lữ đoàn 147 được lệnh bỏ 550.

Ngày 18 tháng 5, ta đại phá Bản Đông, diệt trung đoàn 1 ngụy, đánh tan lữ đoàn dù 1 và thiết đoàn 11 ngụy.

Lữ đoàn 258 bị các binh trạm cầm chân ở Sa Đi Mường Noòng. Lữ đoàn 147 bị vây kêu cứu nhưng không được tăng viện.

Đồng chí Lê Trọng Tấn – Tư lệnh chiến dịch, chiều 18 tháng 5 lệnh sư đoàn khẩn trương tiêu diệt lữ đoàn 147 không thì chúng bốc quân chạy hết.

Sư đoàn đã dốc toàn lực bắt đầu tiến công vào ngày 20 tháng 3. Bộ binh phối hợp với hỏa lực tiến công chiếm từng phần, trụ lại đánh phản kích, giữ trận địa. Đến chiều 21 tháng 3, ta tổ chức trận tiến công mạnh bằng hỏa lực tập trung với hơn 700 viên đại các loại bắn phá trong một giờ; bộ binh đánh chiếm được vòng ngoài, khép chặt vòng vây đến hàng rào vòng trong, vây địch suốt đêm. Đêm này xe tăng mới đến, 6 chiếc chiến đấu được. Sáng 22 tháng 5, sư đoàn tổ chức tiến công hiệp đồng binh chủng liên tục, đến 22 giờ đêm ta làm chủ mục tiêu. Sở chỉ huy lữ đoàn địch lợi dụng sơ hở ở hướng bắc, đã rút chạy, ta truy kích trong đêm diệt thêm được 50 tên.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:24:46 PM
Hơn 10 ngày liên tục tiến công, sư đoàn đã loại khỏi chiến đấu lữ đoàn 147, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ngụy, tiêu diệt 1.797 tên, phá hủy 12 pháo, thu gần 1.500 súng, hoàn thành tốt nhiệm vụ diệt cánh quân phía nam, giữ vững hành lang vận chuyển chiến lược, bảo vệ được kho tàng. Do sơ hở, sư đoàn đã để hai sở chỉ huy của địch chạy thoát trong hai trận, không thực hiện được trận đánh tiêu diệt gọn trung đoàn 3 và lữ đoàn 147 ngụy. Đồng chí Nam Long và Sở chỉ huy nhẹ của tôi trở về Quân khu.

Qua 52 ngày đêm thực hành chiến dịch, ta đã chia cắt ra từng bộ phận địch, đánh hiệp đồng binh chủng trong vận động hoặc địch đánh địch tạm dừng phòng ngự có công sự dã chiến, đã tiêu diệt từng trung đoàn, lữ đoàn địch, buộc chúng phải vội vã rút chạy. Bộ đội ta truy kích đánh cho chúng thiệt hại nặng nề, đã tiêu diệt 21.102 tên, bắt 1.112 tên trong đó diệt gọn ba lữ đoàn và trung đoàn bộ binh, năm tiểu đoàn bộ binh, tám tiểu đoàn pháo, bốn thiết đoàn; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, đánh chìm 43 tàu sà lan, phá hủy 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo, đốt cháy 25 kho, bảo vệ kho tàng, hành lang chiến lược vẫn thông suốt.

Ta đã đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của địch, đánh bại cuộc thử nghiệm lớn nhất của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

Riêng Sư đoàn 324 đã diệt gần gọn lữ đoàn 147, đánh quỵ trung đoàn 3 ngụy, đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 258, diệt 3.900 tên bắt 176 tên, bắn rơi và phá hủy 151 máy bay, 150 xe, phá 45 khẩu pháo, thu 460 súng các loại, 50 máy vô tuyến điện.

*
*   *

Cuộc hành quân lớn Đường 9 – Nam Lào của địch bị ta đánh thất bại nặng nề. Chúng phải tập trung thực hiện các biện pháp nhằm ổn định tình hình, giữ vững thế trận: nhanh chóng bắt lính, đôn quân, bổ sung quân số; vội vã tổ chức cuộc hành quân lên miền Tây Quảng Trị, Thừa Thiên để ngăn chặn ta phát triển tiến công xuống giáp ranh đồng bằng và để trấn an tinh thần binh lính và dư luận; tiếp tục bình định gắt bao đồng bằng, ngăn chặn giáp ranh.

Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1971, địch liên tiếp mở ba cuộc hành quân ra Động Ché, Đá Bàn, Tây Quảng Trị; một cuộc ra Tà Lương, A Vai, Tây Thừa Thiên (tháng 4 đến tháng 7 năm 1971); một cuộc ra Đường 9.

Thực hiện chủ trương của Khu ủy và Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, ta đã đánh bại cuộc hành quân ra A Vai – Tà Lương.

Phong trào đánh phá bình định được đẩy mạnh đều hơn trước. Tháng 5 năm 1971, nhân kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta đánh 185 trận có 85 trận ở đồng bằng; tháng 10 năm 1971, trong mưa lũ, vẫn đánh được 40 trận. Cuối năm 1971, ta đã đưa số thôn tranh chấp lên 117/841 thôn, trong đó các thôn ở giáp ranh đã làm chủ được ban đêm, 472/841 thôn có cơ sở quần chúng, 40 xã ở giáp ranh mỗi xã có trung bình 15 du kích bí mật và công khai. Bộ đội được củng cố cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Ta đã chú trọng hơn về tổ chức chiến trường, tập trung làm ba đường nhánh: 71, 72, 73 xuống giáp ranh và đồng bằng hai tỉnh. Sản xuất được đẩy mạnh. Lực lượng sản xuất 2.000 người chia làm 109 đội, từ tháng 11 năm 1970 đến tháng 5 năm 1971 Quân khu tự túc được 1.626 tấn quy ra gạo (kể cả mua ở đồng bằng).

Nổi nhất là phng trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh, đặc biệt là ở thành phố Huế. Năm 1971, thành phố Huế có 68 cuộc đấu tranh với 65 ngàn lượt người, có cuộc có hàng vạn người, hình thức rất phong phú, có cả những hình thức quyết liệt như chặn đánh xe Mỹ, phá phòng thông tin, tòa lãnh sự Mỹ…

Qua đấu tranh, ta đã liên kết được một mặt trận chống Mỹ - Thiệu rộng rãi, làm cho hậu phương Mỹ - Thiệu càng hỗn loạn.

Qua hai năm chiến đấu, ta đã bước đầu hình thành được thê chiến lược mới liên hoàn trên ba vùng, các mặt đều có tiến bộ, chiến trường càng ổn định và có đà tiến công mới.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:26:33 PM
*
*   *

Ngày 13 tháng 3 năm 1972, chấp hành Nghị quyết Trung ương lần thứ 20, Quân ủy Trung ương và Bộ quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch lấy tên là BTL 702(1) và giao nhiệm vụ: “Tiến hành chiến dịch tổng hợp, hiệp đồng binh chủng, tiến công vào tuyến phòng ngự của địch ở Trị - Thiên, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phối hợp giữa đòn tiến công chủ lực với phong trào nổi dậy của quần chúng, giải phóng tỉnh Quảng Trị, tạo điều kiện và nắm thời cơ có lợi giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên – Huế, phối hợp với các chiến trường bạn làm thay đổi cục diện chiến tranh”.

Để tạo điều kiện cho chiến dịch, Quân khu Trị - Thiên(2) làm nhiệm vụ phối hợp, nổ súng trước.

BTL 702 chỉ huy trực tiếp với các sư đoàn chủ lực, kể cả Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 3) với B5 (bao gồm Quảng Trị) và B4.

Để phối hợp đắc lực với hướng tiến công chính của chiến dịch, kế hoạch của Tham mưu được Quân khu phê duyệt là tập trung lực lượng gồm Trung đoàn 6, Tiểu đoàn 74 đặc công và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 cùng hỏa lực của Quân khu đánh địch trên đường 12, vì đó là con đường độc nhất, ngắn nhất chọc thẳng vào Huế - nơi hiểm yếu nhất của địch ở Trị - Thiên. Nếu vượt qua Động Tranh, Bình Điền thì ta đã áp sát Huế, pháo có thể khống chế hết các mục tiêu ở Huế. Pháo chiến dịch (Đ74) có thể vươn xa đến cửa Thuận An và Phú Lộc, là hai hướng địch có thể tăng viện hay rút chạy.

Đánh mạnh đường 12, ta có thể kìm giữ thu hút địch tối đa và có thể chuẩn bị bàn đạp để phát triển thuận lợi giai đoạn hai chiến dịch giải phóng Thừa Thiên – Huế.

Từ ngày 22 tháng 2 năm 1972, Quân khu B4 đã bắt đầu đánh địch trên đường 12 từ Cù Mông, Tà Lương. Trung đoàn 6 có nhiệm vụ đánh địch, giải phóng đoạn Tà lương – Động Tranh, tạo thế cho Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 tăng cường Tiểu đoàn 7B đặc công đánh chiếm Động Tranh.

Tôi thay mặt Quân khu xuống trực tiếp giúp cho Ban chỉ huy Trung đoàn 6 đánh địch, kéo được hai trung đoàn và một lữ đoàn của chúng lên đối phó. Ta cắt đường 12 đoạn giữa Tà Lương – Động Tranh, kéo địch ra để giải tỏa. Sau mấy ngày đêm chiến đấu liên tục, ta tiêu diệt được hai đại đội và một chi đoàn thiết giáp, buộc địch co về Động Tranh, chiếm các điểm cao, làm công sự chiếm giữ ngăn chặn.

Động Tranh cách Huế 15 ki-lô-mét. Cách phía đông Động Tranh một ki-lô-mét có ngã ba đường 12 và 12B đi ngược lên phía Bắc đến Hòn Vượn, cách bốn ki-lô-mét là căn cứ Bình Điền; phía nam một ki-lô-mét là điểm cao 372, phía bắc cách ba ki-lô-mét là điểm cao 220 và 286, các cao điểm vòng ngoài do tiểu đoàn 1 trung đoàn 54 thuộc sư đoàn 1 ngụy chiếm đóng. Địa hình toàn mây gianh lau lách dễ trú quân nhưng khó cơ động.

Trong căn cứ Động Tranh, địch bố trí tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 54, sở chỉ huy trung đoàn 54 một chi đoàn thiết giáp, tiểu đoàn 12 pháo. Địch xây dựng thành năm khu vực: khu chỉ huy, trận địa pháo, khu thông tin, khu hậu cần và khu sân bay lên thẳng. Diện tích trên đỉnh khoảng hai ki-lô-mét vuông. Công sự trận địa bố trí khoảng 200 lô cốt nửa nổi nửa chìm, trên đắp bao cát, có công sự cá nhân và hào giao thông nối lại với nhau. Dựa vào các bình độ, địch ủi thành các tuyến phòng ngự cao từ hai đến bốn mét và dùng thang để lên xuống, xung quanh có 10 lớp rào kẽm gai có gài các loại mìn. Chi viện hỏa lực cho Động Tranh có các trận địa pháo ở Bình Điền, lăng Minh mạng, ấp 45, Hòn Vượn và các trận địa cơ động.

Quyết tâm của Trung đoàn 3 được Quân khu thông qua ngày 1 tháng 4 là: Vây lấn Động Tranh, đánh địch vòng ngoài và địch giải tỏa, tạo điều kiện đi đến dứt điểm. Đêm 1 tháng 4, bộ đội vào chiếm lĩnh. Quân khu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 6 đánh giao thông đoạn đông Động Tranh đến Bình Điền để phối hợp với Trung đoàn 3 diệt Động Tranh.


(1) Do đồng chí Lê Trọng Tấn – Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh.
(2) Trong chiến dịch này, Quân khu Trị - Thiên chỉ còn đảm nhiệm tỉnh Thừa Thiên – Huế làm hướng phối hợp. Chủ lực Quân khu còn Trung đoàn 6, Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324, Tiểu đoàn 7B đặc công.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:27:35 PM
Lúc 5 giờ sáng ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 nổ súng, hỏa lực các đơn vị chiến đấu kiên quyết, thực hiện nhiệm vụ tốt, phá hủy pháo, diệt sinh lực, bắn máy bay… Đến ngày 7 tháng 4, ta đã vây kín bốn mặt, 12,7mm áp chế sân bay, bắn trực tiếp các hỏa điểm của địch, bắt đầu đánh lấn, phá rào, một số hướng đã chiếm được đầu cầu ở tuyến trong, 12,7mm vào cách sân bay 100 mét, dùng DK diệt các hỏa điểm địch, các tổ bắn tỉa diệt nhiều địch. Địch phản ứng quyết liệt, chúng dùng súng phun lửa hóa học, có ngày chúng bắn hơn 1.000 quả đạn pháo, 9 lượt B52, 8 lượt B57 hòng bít cửa mở, phá vòng vây, nhưng vòng vây càng bị xiết chặt.

Để phối hợp và tạo điều kiện cho Trung đoàn 3 ta, Tham mưu Quân khu chỉ huy trung đoàn 6 cùng các lực lượng khác đánh địch ở vòng ngoài, đánh địch phản kích và giải tỏa ở hướng đông làm thiệt hại nặng trung đoàn 1 và tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 54 của địch. Địch hoang mang. Ngày 14 tháng 4, tiểu đoàn 2 trung đoàn 54 ở Động Tranh xin rút.

Trung đoàn 3 ta chủ trương giảm bớt lực lượng vây, chuyển sang đón lõng sẵn sàng đánh địch rút và đánh địch giải tỏa. Lúc 2 giờ ngày 22 tháng 4, ta chuyển xong đội hình chiến đấu nhưng vẫn tổ chức các tổ bộc phá phá rào ở các hướng khác để hướng chính tiếp tục đào hào luồn qua 10 lớp rào. Đến ngày 24 tháng 4, ta tiếp tục xiết chặt vòng vây, tăng cường bắn tỉa, hỏa lực khống chế các hỏa điểm của địch. Súng 12,7mm của ta khống chế sân bay cắt đường vận chuyển, làm cho địch khốn đốn.

Quân khu chỉ huy hiệp đồng hai trung đoàn 3 và 6 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 3, tiểu đoàn 4 thuộc trung đoàn 1 ngụy, loại khỏi chiến đấu hai tiểu đoàn, các tiểu đoàn khác bị tiêu hao nặng. Địch bỏ ý định giải tỏa. Ngày 28 tháng 4, bọn ở Động Tranh được lệnh rút. Ta đón được tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 54 của địch lọt vào trận địa bày sẵn, ta vừa đánh mạnh vừa gọi hàng, địch ra hàng 141 tên có cả ban chỉ huy, Hướng cao điểm 372, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 3 đón đánh tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 54 ngụy, diệt được gần 150 tên có cả ban chỉ huy. Đến 18 giờ ngày 30 tháng 4, tuyến phòng thủ đường 12 đã bị chọc thủng.

Kết quả ta đã diệt gọn hai tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng các tiểu đoàn của địch lên giải tỏa, giải phóng khu Động Tranh ra sát sông Tuần, áp sát Huế.

Sau thời gian dài gần hai tháng đánh liên tục, dự trữ bảo đảm vật chất hậu cần kỹ thuật đã cạn(1), Quân khu không được tăng cường lực lượng và vật chất nên không phát triển xuống sâu được. Bỏ lỡ cơ hội đáng tiếc.

Quân khu được thông báo trên hướng chính chiến dịch tiến công phát triển rất nhanh.

Ngày 30 tháng 3, chiến dịch mở màn. Sau năm ngày, toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của Mặt trận Đường 9 của địch bị phá vỡ; sư đoàn 3, lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, hai thiết đoàn 11 và 17 xe tăng thiết giáp của địch bị tiêu diệt; phần lớn trung đoàn 56 bị bao vây ở căn cứ 241 đầu hàng. Nhân dân Gio Cam nổi dậy đồng loạt, giải phóng hoàn toàn hai huyện hơn 10 vạn dân.

Địch ồ ạt tăng quân ra Quảng Trị ba liên đoàn biệt động, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến và hai thiết đoàn. Ngày 1 tháng 4, Mỹ đưa một tàu chở sân bay và một tiểu đoàn thủ quân lục chiến ra bờ biển Quảng Trị chi viện tối đa hỏa lực phi pháo và B52 để ngăn chặn ta, cứu nguy cho Quảng Trị.

Mỹ đánh phá miền Bắc trở lại, thả ngư lôi chặn đường vào cảng Hải Phòng là cảng độc nhất ở miền Bắc.

Ngày 27 tháng 4, ta phát triển tiến công, sau bảy ngày (đến ngày 1 tháng 5), tập đoàn phòng ngự của địch ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang - Quảng Trị bị tiêu diệt và tan rã. Nhân dân hai huyện Triệu Hải đồng loạt nổi dậy. Tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.


(1) Quân khu đề nghị BTL 702 tăng cường lực lượng và vật chất để phát triển tiến công khuếch trương thắng lợi và phối hợp với hướng Quảng Trị, nhưng hướng chính chiến dịch đang phát triển tiến công không có lực lượng phương tiện tăng cường cho Trị - Thiên.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:29:12 PM
*
*   *

Vì không có điều kiện tăng cường lực lượng và phương tiện mở thêm một hướng tiến công Huế từ hướng tây, đến ngày 10 tháng 5, đồng chí Lê Trọng Tấn – Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 324 (Trung đoàn 3 đang chiến đấu ở Thừa Thiên): “Lật cánh vào tây nam Huế, tiến công địch trên đường 12, phối hợp với hướng chính của chiến dịch ở phía bắc Thừa Thiên”. Sư đoàn đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Đồng thời Quân khu được thông báo rằng, cuối tháng 4, sau khi giải phóng Quảng Trị, nhân lúc địch tháo chạy hỗn loạn, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương “Tranh thủ thời cơ cao độ, nắm vững thời cơ phát triển tiến công liên tục để giải phóng Thừa Thiên - Huế, thời gian phấn đấu càng sớm càng tốt trong tháng 5”.

Nhưng thực tế có nhiều khó khăn: Mỹ đưa không quân và hải quân tham chiến. Bộ đội ta cần có thời gian củng cố, chuẩn bị để vượt qua các con sông lớn là sông Thạch Hãn trên đường 1 và sông Bồ phía tây đường 1.

Ngày 26 tháng 5, Quân khu Trị - Thiên giao nhiệm vụ: “Sư đoàn được tăng cường Trung đoàn 6 bộ binh, một đại đội xe tăng thiết giáp, một tiểu đoàn cao xạ, một tiểu đoàn vận tải, có nhiệm vụ tiêu diệt địch tiến tới phá tuyến phòng thủ của địch trên đường 12. Đối tượng tác chiến là sư đoàn 1 bộ binh ngụy”.

Lúc này địch đã có thời gian củng cố, bổ sung quân số và vũ khí đạn dược, chỉ huy của chúng rất ngoan cố. Từ giữa tháng 5, sư đoàn 1 ngụy phản kích chiếm lại tuyến phòng thủ đường 12 từ Động Tranh về đến sông Hữu Trạch hình thành một cụm cứ điểm lớn gồm ba trung đoàn 1, 3 và 54, tuyến sau có trung đoàn 51 biệt động quân, thiết đoàn 7 thiết giáp và các đơn vị pháo.

Từ đây, Bộ Tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung theo dõi hoạt động của Sư đoàn 324, luôn nắm chắc tình hình. Những dự kiến của đồng chí Sư đoàn trưởng, Quân khu đều nhất trí và huy động tập trung chi viện cho sư đoàn đánh thắng.

Sư đoàn 324 chủ trương dùng hai trung đoàn 3 và 1 tập trung vào trọng điểm là Động Tranh – 372 và chung quanh.

Từ ngày 28 tháng 5, ta bắt đầu nổ súng đánh nhỏ hơn 10 ngày, từ ngày 18 tháng 6 trở đi chiến đấu quyết liệt hơn, nhất là 372 – Động Tranh. Ngày 29 tháng 6, Trung đoàn 3 của ta mới chiếm được 372. Nhưng đến 18 giờ ngày 5 tháng 7, địch phản kích chiếm lại. Ta và địch giành đi giật lại nhiều lần điểm cao 372 trong gần ba tuần lễ. Sư đoàn đưa Trung đoàn 1 vào bao vây Động Tranh, Trung đoàn 6 ở Sơn Na – 300 chặn địch vòng ngoài. Địch đưa trung đoàn 51 ra Hòn Vượn, chuyển trung đoàn 3 vào thay cho trung đoàn 1 ở Động Tranh. Lúc 9 giờ 20 phút ngày 20 tháng 7, Sư đoàn 324 quyết định tranh thủ thời cơ tiến công lúc chúng thay quân. Ngay 21 tháng 7, Trung đoàn 1 chiếm được cao điểm gọi là “mái nhà”. Ngày 22 tháng 7, ta chiếm được đồi Không tên bắc Động Tranh một ki-lô-mét, tạo được thế bao vây phía bắc và phía nam, dồn địch vào khu vực quanh Động Tranh và ngã ba đường 12.

Thời gian này, đồng chí Chu Phương Đới – Sư đoàn trưởng bị mệt vì chiến đấu liên tục kéo dài mấy tháng liền, tôi được xuống làm Sư đoàn phó giúp đồng chí Đới một thời gian rồi làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 để đồng chí Đới ra hậu phương nghỉ.

Ta đánh hai tiểu đoàn địch thiệt hại nặng cả ban chỉ huy, làm chủ mục tiêu, toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn 3 bị diệt và bị bắt.

Sau khi chiếm Động Tranh, ta không có điều kiện tiến công xuống Huế, tôi điều chỉnh lực lượng để đánh phản kích. Từ ngày 28 tháng 7, cuộc chiến đấu diễn ra liên tục và quyết liệt, ta diệt được nhiều địch, giam chân sư đoàn 1 ngụy, giữ vững vùng giáp ranh để phối hợp với hướng chủ yếu ở Quảng Trị và duy trì hoạt động ở đồng bằng.

Trên hướng chính của chiến dịch, chúng tôi được thông báo tình hình như sau; Đến ngày 20 tháng 5 mới tiếp tục đợt 3. Sau mấy ngày tiến công, các hướng đều không phát triển được theo kế hoạch, địch lại tăng thêm lữ đoàn 1 dù và trung đoàn 51, lại có tin chúng mở hành quân lớn để phản công lấy lại Quảng Trị.

Ngày 28 tháng 6, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định chuyển sang phản công để tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng mới giải phóng. Đây là thời gian dài nhất của chiến dịch diễn ra từ ngày 28 tháng 6 năm 1972 đến ngày 23 tháng 1 năm 1973, đồng thời là cuộc đọ sức hết sức quyết liệt. Hàng ngày, địch trút xuống 24 tấn bom, đạn trên một ki-lô-mét vuông. Thành cổ Quảng Trị bị phá nát vụn. Mặc dù ta tiêu diệt được lực lượng lớn quân địch nhưng chúng vẫn bổ sung nhanh, huy động lực lượng lớn(1) và được chi viện phi pháo rất mạnh, nên chúng đã chiếm lại được thành cổ Quảng Trị và huyện Hải Lăng. Bộ đội ta quyết chiến đấu đến cùng để giữ vững vùng còn lại, hỗ trợ cho cuộc hòa đàm ở Pa-ri đang tiến triển đến giai đoạn cuối – đến ngày ký kết: ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Cuối tháng 12 năm 1972, Mỹ lật lọng dùng B52 tiến công ồ ạt ra Hà Nội và Hải Phòng, nhưng bị thất bại nặng nề do chiến dịch Điện Biên Phủ trên không của ta, buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Trước ngày 28 tháng 1 năm 1973 là ngày Hiệp định có hiệu lực, Quân ủy chủ trương đẩy mạnh một đợt hoạt động trong 7 đến 10 ngày để cải thiện thế (chiến dịch “cắm cờ”), tôi chuyển Sư đoàn 324 lên phía bắc đánh chiếm thêm bốn thôn ở giáp ranh huyện Phong Điền.

Tháng 4 năm 1973, Bộ quyết định sáp nhập B4 và B5. Tôi trở lại Quân khu làm Tham mưu phó I (làm chức năng của Tham mưu trưởng). Tháng 3 năm 1974, tôi được điều ra làm Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.


(1) Sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn dù, trung đoàn 51, sư đoàn 1 bộ binh.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:29:39 PM
*
*   *

Thời gian tôi công tác ở Quân khu Trị - Thiên là thời kỳ đầu ta đối mặt với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ có trang bị kỹ thuật hiện đại mạnh hơn Pháp nhiều. Chiến trường Trị - Thiên là nơi đấu trí đấu lực, tập trung chủ lực mạnh nhất của hai bên. Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vận dụng vào cuộc chiến đấu mới này vẫn còn nguyên giá trị. Đó là do ta đã tổng kết thực tiễn, tìm thấy được quy luật đặc thù trong chiến tranh cách mạng của một nước nhỏ yếu chống lại một đế quốc lớn mạnh hơn nhiều về kinh tế và quân sự. Điều đó đã giúp tôi cùng với các đồng chí đồng đội đi qua kháng chiến chống thực dân Pháp có thể xây dựng một sư đoàn 100 phần trăm là tân binh, với cán bộ tập hợp từ nhiều nơi về mà chỉ chưa đầy một năm đã đưa vào một chiến trường ác liệt nhất mà đơn vị nào cũng hoàn thành nhiệm vụ tốt. Mỹ trang bị mạnh hơn Pháp, chiến tranh ác liệt hơn đòi hỏi xây dựng ý chí, tinh thần dũng cảm chiến đấu phải cao hơn; đồng thời cũng đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải thông minh sáng tạo để vận dụng cách đánh cho thích hợp. Tư tưởng chỉ đạo vẫn là “đánh gần”, nay phát triển lên đánh gần hơn, kiên quyết hơn như câu nói bất hủ của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh “bám thắt lưng địch mà đánh”, vẫn là tư tưởng tiến công, đánh vận động kết hợp đánh cứ điểm, đánh tập đoàn cứ điểm, đánh du kích, nhưng chủ lực thì phát triển đánh vận động nhiều hơn. Thực tế chỉ hai lần vây lấn có tính chất chiến dịch như 935 – Cốc Bai và Khe Sanh, có ý định vây lấn để diệt, nhưng diễn biến địch tăng viện, ta có thế trận tốt để đánh viện nên chỉ huy linh hoạt đã chuyển sang đánh vận động diệt nhiều địch, ta ít thương vong hơn. Vì vậy cách đánh từ “vây, lấn, tấn, diệt” chuyển thành vây để tạo điều kiện đánh vận động duy chỉ một lần phong ngự do tình hình bắt buộc ở Quảng Trị.

Từ khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, chỉ sau ba năm, năm 1968, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chủ trương sáng tạo, đúng đắn, từ Bộ Tổng Tư lệnh xuống đến địa phương đã tổ chức hết sức chặt chẽ, giữ được bí mật tuyệt đối, thực hiện thành công một đòn tiến công vũ bão vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn trên cả nước thu được thắng lợi lớn, buộc Mỹ phải xuống thang, chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Tiếp đó, ta đã tổ chức hai chiến dịch lớn: Năm 1971, ta đánh bại cuộc hành quân lớn của địch ra Đường 9 – Nam Lào hòng bắt đứt đường Hồ Chí Minh, định “bóp nghẹt cách mạng miền Nam thành chiến tranh du kích tàn lụi”. Ta diệt một bộ phận lớn quân địch, bảo vệ được kho tàng, hành lang chiến lược vẫn thông suốt. Năm 1972, ta tiến công đánh tan phòng tuyến đường 9 của địch, giải phóng phần lớn tỉnh Quảng Trị, trụ lại một thời gian dài đánh bại các cuộc hành quân lớn, các cuộc phản kích của địch có phi pháo chi viện ác liệt chưa từng thấy của Mỹ.

Kết hợp với miền Bắc đánh thắng trận “Điện Biên Phủ trên không”, ta đã buộc Mỹ phải chịu ký Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Có điều là khi thực hiện cuộc tổng công kích (tôi chỉ nói riêng về chiến trường Trị - Thiên mà tôi được chứng kiến) đã dốc sức, ở đồng bằng thì bộc lộ hầu hết cơ sở, miền núi và giáp ranh thì dốc hết cơ sở vật chất kể cả lương thực tăng gia, không có kế hoạch dự phòng khi rút quân nên sau đó không giữ được thế ba vùng như trước.

Tiếp đó đến tháng 5, rồi tháng 8, ta còn mở hai lần tiến công xuống đồng bằng vẫn nhằm hướng chính vào thành phố Huế. Kết quả đã không đánh vào Huế được mà thế ba vùng cũng mất và đồng bằng xấu đi rất nhanh. Đó là bài học về đánh giá tình hình địch và ta.

Về chiến dịch năm 1972, mục đích của Quân ủy Trung ương đề ra rất kiên quyết: “giải phóng tỉnh Quảng Trị, tạo điều kiện và nắm thời cơ có lợi giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên – Huế, phối hợp với các chiến trường bạn làm thay đổi cục diện chiến tranh”.

Quán triệt tinh thần đó, Quân khu Trị - Thiên (lúc này chỉ đảm nhiệm tỉnh Thừa Thiên – Huế) đã hoạt động sớm từ ngày 22 tháng 2 năm 1972 với hai trung đoàn, chiến đấu rất tích cực để kiềm giữ lực lượng địch và diệt địch, làm chủ đường 12 áp sát Huế vào cuối tháng 4, cũng vừa lúc hướng chủ yếu đã giải phóng Quảng Trị mở ra khả năng giải phóng Thừa Thiên – Huế.

Trong Quân khu ai cũng muốn đề nghị Bộ tăng cường lực lượng và chi viện vật chất để mở hướng tiến công thứ hyếu vào Huế phối hợp với hướng chủ yếu từ phía bắc đánh vào, nhưng không được chấp nhận vì không có đường vận chuyển.

Vì không có hướng thứ yếu đánh vào Huế, hướng tiến công chủ yếu trở nên đơn độc. Địch tăng cường lực lượng phòng giữ hết hợp với phản kích mạnh, được phi pháo của Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt. Ta tiến công gặp khó khăn, không phát triển được mà phải chuyển sang phòng giữ vùng mới giải phóng hết sức ngoan cường từ cuối tháng 6 năm 1972 đến 27 tháng 1 năm 1973.

Những ví dụ thực tiễn đó đã cho ta bài học là khi tổ chức chiến dịch lớn nhằm mục đích kiên quyết phải có dự kiến kế hoạch phát triển và có chuẩn bị đầy đủ cho kế hoạch phát triển thắng lợi, nhất là tổ chức chiến trường, xây dựng đương sá, dự trữ vật chất, kỹ thuật. Những công việc này đòi hỏi thời gian rất dài, nếu không triển khai trước thì khi có thời cơ cũng bị bỏ lỡ.

Đó cũng là bài học lớn cho cấp Quân khu. Chiến dịch lớn diễn ra trên địa bàn Quân khu, nếu không nhìn ra, ngay từ những năm trước chưa coi trọng tổ chức chiến trường, làm đường vận chuyển, đến nay khi cần thì không bảo đảm được.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:31:24 PM
CỤC TÁC CHIẾN Ở TỔNG HÀNH DINH MÙA XUÂN ĐẠI THẮNG

Đến năm 1974, tôi về lại Cục Tác chiến. Lúc này Cục Tác chiến đã phát triển lớn mạnh lên nhiều theo đà phát triển của quân đội. So với đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ngoài Phòng Chiến trường (A), Phòng Kế hoạch, Phòng Tổng hợp, Phòng Giáo luyện, Phòng Máy tính, Phòng Hành chính bảo mật, Phòng Trực ban, Cục Tác chiến đã thêm các phòng mới chuyên lo miền Nam (B và chi viện hậu phương), chiến trường Lào, Cam-pu-chia (C, K), quân chủng, bước đầu có máy tính. Sở chỉ huy đã có hầm kiên cố sử dụng từ trước phòng chống khi địch cho máy bay đánh phá ác liệt, từ đây có đường dây nóng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến Trung ương Đảng và Chính phủ, có tiêu đồ theo dõi máy bay địch – ta từng giờ, từng phút…

Thủ trưởng Cục Tác chiến lúc này có: Cục trưởng là đồng chí Vũ Lăng, Cục phó là các đồng chí Võ Quang Hồ, Phan Hàm, Lê Hữu Đức, Hoàng Nghĩa Khánh và tôi mới về.

Tôi làm Cục phó, được phân công công tác huấn luyện, tổng kết, nhưng chưa làm được bao nhiêu(1) thì chuyển sang làm tác chiến vì đã đến lúc phải tập trung nắm tình hình địch và các chiến trường để giúp Bộ chỉ đạo trước mắt, đồng thời cung cấp các yếu tố cho Bộ Tổng Tham mưu hoàn thiện đề cương chiến lược hai năm 1975-1976 để kịp thời báo cáo Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị.

Kế hoạch này được chuẩn bị rất công phu từ năm 1973. Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức một số trung tâm do đồng chí Lê Trọng Tấn – Phó Tổng tham mưu trưởng là một vị tướng đã từng được Bộ giao chỉ huy cá chiến dịch đánh thắng lớn, làm tổ trưởng để tập trung nghiên cứu. Đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến là một tổ viên, thời gian đầu là đồng chí Vũ Lăng, sau này đồng chí Vũ Lăng được tăng cường cho Tây Nguyên thì đồng chí Lê Hữu Đức thay. Tôi còn nhớ một kỷ niệm của buổi chia tay giữa các Thủ trưởng Cục, tôi hỏi anh Lăng có kinh nghiệm gì, anh buột miệng nói một câu tiếng Pháp, với nghĩa là: “Ôi vinh và nhục!”. Thật bất ngờ mà cũng đúng tính anh. Trong cục cũng có các cán bộ chuyên trách làm kế hoạch để cung cấp các yếu tố cần thiết giúp đồng chí Cục trưởng.

Tổ trung tâm đã nhiều lần làm việc với Thường trực Quân ủy Trung ương, lúc nào đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng trực tiếp nghe, cùng nghiên cứu và nêu nhiều vấn đề đi sâu nghiên cứu giúp cho kế hoạch ngày càng hoàn chỉnh. Có thời gian Đại tướng phải đi Liên Xô chữa bệnh, cán bộ các cơ quan gần gụi với đồng chí biết tin nên hết sức lo lắng về sức khỏe của đồng chí, luôn chú ý theo dõi. Công việc của tổ trung tâm vẫn tiếp tục. Có khi đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nghe tổ trung tâm báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo. Sang năm 1974, mới bình phục trở về, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã làm việc ngay với tổ trung tâm. Tôi may mắn có dịp báo cáo tình hình với đồng chí, đã tranh thủ hỏi thăm sức khỏe. Đại tướng vui vẻ cho biết phải qua một cuộc phẫu thuật lớn, nay sức khỏe đã khá, dần dần sẽ khôi phục bình thường. Tôi cùng cơ quan biết tin, rất mừng và lúc này mới câm thấy thật yên tâm. Bản kế hoạch này còn được các cán bộ lãnh đạo từ miền Trung và Nam Bộ ra họp góp ý kiến cho sát với tình hình ở chiến trường. Bộ Tổng Tham mưu cũng đã bàn với các chiến trường kế hoạch chi viện mọi mặt để chiến trường có điều kiện thực hiện kế hoạch chiến lược.

Tháng 12 năm 1974, đề cương chiến lược được trình Bộ Chính trị thông qua, nó trở thành kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Khi được biết kế hoạch này, tôi liên tưởng đến chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Nó cũng phát huy cao độ lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân, phối hợp với các chiến trường một cách chủ động và mưu trí, cũng nhằm mục đích rất kiên quyết tạo thời cơ lịch sử, giành một trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Nhưng ngày nay quy mô về lực lượng và trang bị hiện đại, về địa bàn hoạt động và về thời gian thì rộng lớn và phức tạp hơn nhiều lần. Tuy nhiên tôi lại cảm thấy vững tâm và tin tưởng chắc thắng hơn nhiều.


(1) Làm xong tài liệu đánh tiêu diệt trung, lữ đoàn Mỹ, căn cứ tổng kết các trận đánh tiêu diệt tiểu đoàn, đại đội Mỹ.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:32:16 PM
*
*   *

Cuối năm 1974, Bộ lập đoàn cán bộ có đủ thành phần đại diện cho cơ quan Bộ tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và Cục Cán bộ, do đồng chí Lê Trọng tấn làm trưởng đoàn đi thăm Liên Xô và Cộng hòa dân chủ Đức. Tôi được tham gia trong đoàn. Mục đích chuyến đi thăm là học tập kinh nghiệm xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Đó là mục đích công khai. Còn trong nội bộ thì đây là ý định đánh lạc hướng đối phương vì đã vào mùa khô, đồng chí Lê Trọng Tấn thường là người chỉ huy các trận đánh lớn mà lại đi nghiên cứu xây dựng quân đội, hàm ý năm nay chưa có đánh lớn.

Để rút ngắn thời gian của đồng chí Lê Trọng Tấn, từ Bắc Kinh đi Liên Xô, cả đoàn đi tàu hỏa, còn đồng chí đi máy bay thẳng sang Liên Xô, và sau khi hoàn thành chuyến thăm Cộng hòa dân chủ Đức đồng chí cũng đi máy bay thẳng về nhà.

Kết quả là bạn hoan nghênh, thắt chặt được tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân và quân đội của bạn và ta. Đối với cán bộ trong đoàn, chúng tôi đều cố tận dụng dịp này để nghiên cứu những kinh nghiệm của bạn về xây dựng lực lượng vũ trang chính quy hiện đại trong thời bình, nhất là tìm hiểu vấn đề tự động hóa chỉ huy – vấn đề này, đối với ta còn rất mới mẻ, nhưng bạn đã phát triển khá cao. Qua đó, chúng tôi đã học tập được thêm kinh nghiệm hay của bạn. Đối với kẻ thù thì ta giữ được bí mật chiến lược.

*
*   *

Vào mùa khô năm 1975, các hướng bắt đầu hoạt động theo kế hoạch đã báo cáo bộ và đều thu được những thắng lợi ban đầu.

Đặc biệt, bước vào đợt hai, cơ quan chúng tôi tin tưởng trận tiến công vào Buôn Ma Thuột, mục tiêu quan trọng của chiến dịch là tất thắng vì đã có Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng một đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, các tổng cục vào chiến trường trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy và công tác chuẩn bị các mặt đã đầy đủ, nhưng chúng tôi cũng rất hồi hộp, lo lắng liệu có giữ được bất ngờ cho trận đánh không? Cục 2 và Cục Tác chiến rất chăm chú theo dõi các động thái, điều động quân trên chiến trường Tây Nguyên, cho đến ngày N-1 không thấy gì đáng ngờ, chúng tôi mới thở phào, yên tâm. Trận đánh đã diễn ra đúng như dự kiến kế hoạch. Ta đã thắng một trận giòn giã, tiếp theo là các trận phản kích của lực lượng dự bị mạnh của địch bị bẻ gãy làm rung động mạnh cả chiến trường Tây Nguyên và phủ tổng thống Thiệu. Nhưng điều chúng tôi không ngờ tới là toàn bộ lực lượng còn lại của quân khu 2 ngụy vội vã rút một cách hỗn loạn như rắn mất đầu theo con đường 7 là con đường độc đạo, địa hình hiểm trở, lâu nay không dùng đến, cầu đường không bảo đảm. Sau này xem tài liệu mới biết rằng Phan Văn Phú tư lệnh quân khu 2 đã lập mưu để chuồn về Nha Trang trước một cách hợp pháp vì y đã xin gặp tổng thống Thiệu ở Nha Trang, được lệnh của Thiệu cho chuyển quân đoàn 2 về giữ đồng bằng ven biển, lại được Thiệu chấp nhận thăng cấp thiếu tướng cho đại tá Phan Văn Tất để y có thể giao cho Tất chỉ huy rút quân, chúng tôi mới vỡ lẽ. Trước tình hình đó, khó khăn nhất của chiến trường là khi phát hiện được chắc là địch rút quân thì không vượt được lên trước để chặn địch, chúng tôi đã báo tin thẳng cho Quân khu 5. Các đồng chí ở đó cũng biết tin và đã điều hai tiểu đoàn địa phương cấp tốc chạy ngày đêm đến kịp cắt cầu Sơn Hòa, chặn địch ở Củng Sơn. Được tin đó chúng tôi rất mừng vì biết rằng mặc dù địch rất đông nhưng lại mang theo cả gia đình, nên rất ô hợp, nếu bị đánh chúng sẽ hoảng loạn tranh nhau tìm cách thoát thân, một lực lượng nhỏ của ta với khí thế chiến thắng sẽ đủ sức chặn chúng không để chạy thoát. Ở phía bắc, Sư đoàn 320 được lệnh trực tiếp của đồng chí Văn Tiến Dũng đã tích cực vượt khó khăn kiên quyết truy kích đánh ngang sườn địch rồi đánh thốc xuống Củng Sơn phối hợp với các tiểu đoàn địa phương vây chặt quân địch. Chỉ sau mấy ngày chúng tôi đã nhận được tin ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch rút lui trên đường 7. Ta coi như xóa sổ quân khu 2 ngụy, giải phóng một vùng rộng lớn từ Tây Nguyên xuống sát cánh đồng ven biển, tạo thời cơ chiến lược lớn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:34:17 PM
*
*   *

Sau chiến thắng Tây Nguyên, không khí cơ quan trong khu “Nhà Rồng” nơi trực tiếp phục vụ sự lãnh đạo chỉ huy ở Tổng hành dinh, sôi động hẳn lên. Mọi người hồ hởi phấn khởi chào mừng nhau như được giải tỏa những lo lắng dồn nén, sự nóng lòng, chờ đợi bao năm qua. Các “tham mưu con” xì xào bàn tán: “chắc lãnh đạo sắp có những quyết định mới bất ngờ lắm đây!”.

Ngày 18 tháng 3 nam 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương(1) họp đánh giá thời cơ đã xuất hiện, quyết định chuyển sang tổng công kích giải phóng miền Nam trong năm 1975, phương hướng chủ yếu là Sài Gòn, trước mắt diệt quân khu 1 của địch, giải phóng Huế - Đà Nẵng, không cho địch co cụm chiến lược. Chúng tôi hiểu rằng như vậy khi xác định chuyển sang kế hoạch thời cơ, đồng thời Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định ba bước lớn của kế hoạch mới: một là diệt quân khu 2, giải phóng Tây Nguyên; hai là tiêu diệt quân khu 1 của địch, giải phóng Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng và cuối cùng là Sài Gòn.

*
*   *


Kể từ ngày 18 tháng 3, Bộ Tổng Tư lệnh bắt đầu chỉ đạo các chiến trường theo kế hoạch thời cơ. Tôi thấy yêu cầu tính khẩn trương công tác đã lên cao độ khi được biết ngay chiều ngày 18 tháng 3, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí Lê Quang Hòa – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã đi làm việc với Quân đoàn 1 và Văn phòng Bộ và Cục Tác chiến phải lo tổ chức cuộc đi này… Tôi hiểu rằng ý định của Quân ủy Trung ương là tập trung sức mạnh, kiên quyết đánh thắng nhanh thắng nhanh, đánh tiêu diệt và làm tan rã quân khu 1 ngụy, không cho co cụm chiến lược hòng”tử thủ” Sài Gòn để kéo dài thời gian. Mấy ngày trước đó, Cục 2 nhận được điện có dùng “mật ngữ” của tổng thống Thiệu gửi Ngô Quang Trưởng – Tư lệnh quân khu 1 đã lộ rõ ý định của địch sẽ bỏ Trị - Thiên – Huế co về tập trung giữ Quảng Đà. Ta phải sẵn sàng để đánh thắng trong mọi tình huống.



Trước mắt Bộ tập trung chỉ đạo cho Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2, Quân đoàn 1(2) (thiếu Sư đoàn 308) cùng các binh quân chủng quán triệt quyết tâm mới của Bộ Chính trị, điều chỉnh kế hoạch phối hợp giữa Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5. Đồng chí Tổng tư lệnh đã chỉ đạo Quân đoàn 2 tập trung lực lượng kiên quyết chia cắt chiến dịch giữa Huế - Đà Nẵng cùng Quân khu Trị - Thiên tiêu diệt bằng được sư đoàn 1 ngụy, không cho co cụm, giải phóng Huế, tạo thế tập trung tiêu diệt quân khu 1 còn lại ở Đà Nẵng, nhằm thực hiện nhanh đòn chiến lược lớn thứ hai: Giải phóng Huế, Đà Nẵng.

Đòn chiến lược này do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Trên địa bàn của Quân khu 5 và Quân khu Trị - Thiên, dùng lực lượng hiện có, Bộ có thể điều thêm Quân đoàn 1 và quân binh chủng khi cần.

Kể từ ngày 21 tháng 3 năm 1975, Quân đoàn 2, lực lượng chủ yếu của chiến trường Trị - Thiên, bắt đầu thực hiện “kế hoạch thời cơ”. Toàn bộ năm trung đoàn có mặt của Sư đoàn 325, 324 thuộc Quân đoàn 2 tập trung đánh cắt chiến dịch đường 1 đoạn giữa nam Phú Lộc – bắc Hải Vân.

Từ ngày 18 tháng 3, tôi được giao nhiệm vụ làm kế hoạch đánh Đà Nẵng. Đồng chí Tổng tư lệnh xuống cơ quan tác chiến muốn sớm nắm những tin tức từ chiến trường. Có hôm đồng chí vào phòng làm việc của tôi, tôi báo cáo ý định quyết tâm và dự kiến giao nhiệm vụ cho đơn vị. Nghe xong đồng chí hướng dẫn: phải là hai kế hoạch, nếu nó cố thủ thì đánh có chuẩn bị, huy động thêm lực lượng cho chắc thắng; phải chuẩn bị trường hợp chúng rối loạn thì dùng lực lượng tại chỗ đánh thật táo bạo không cho chúng rút chạy(3).


(1) Từ ngày bước vào giai đoạn thực hành chiến dịch lịch sử này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thường dùng hình thức họp chung để bàn bạc và xử trí các tình huống quyết định. Vì nhiều đồng chí đã đi chỉ đạo ở các chiến trường nên cuộc họp chỉ có ít người, nhưng khi nào cũng có mặt đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất và đồng chí Võ Nguyên Giáp – Bí thư Quân ủy Trung ương. Sau khi nghe ý kiến của cơ quan tham mưu, ý kiến đề xuất của đồng chí Võ Nguyên Giáp, hội nghị thảo luận kỹ, đồng chí Lê Duẩn kết luận. Thường thống nhất rất nhanh, sau đó các thành viên dự họp theo trách nhiệm của mình về thực hiện ngay.
(2) Chiều ngày 18 tháng 3, đồng chí Tổng tư lệnh cùng đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa đã xuống Quân đoàn 1 trực tiếp giao nhiệm vụ chuẩn bị xuất quân, chỉ để lại Sư đoàn 308 và xuống trực tiếp động viên các đơn vị.
(3) Ngoài lực lượng chủ lực của Quân khu 5, còn có Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2 đang còn đứng chân ở Thượng Đức, tây Đà Nẵng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:36:04 PM
Lúc này tình hình rất khẩn trương: khoảng trưa ngày 19 tháng 3, ta đã nhận được tin địch ở Quảng Trị rút chạy. Khuya ngày 22 tháng 3, tôi nhận được báo cáo của Quân đoàn 2 đã cắt được đường 1, nhưng chưa chiếm được Núi Bông, Núi Nghệ. Tôi sống lâu ở Huế, cũng vừa mới từ Quân khu Trị - Thiên ra, anh Cao Văn Khánh lúc này là Phó tổng Tham mưu trưởng, trước là thầy học của tôi ở Huế, hai anh em rất hiểu địa thế ở đây. Tôi đề nghị với anh Khánh chỉ thị cho Quân đoàn 2 vượt qua Núi Bông, Núi Nghệ đánh thắng ra Cửa Thuận và chú ý khống chế cửa Tư Hiền thì địch sẽ thua mà Huế đỡ bị thiệt hại. Anh Khánh đồng ý, tôi về viết điện ngay. Quá khuya, đồng chí Tổng tư lệnh nóng lòng biết tin, còn gọi điện hỏi. Đồng chí lại chỉ thị điện tiếp một mệnh lệnh:

“Quân đoàn 2 cử lực lượng đánh ngay ra Cửa Thuận”. Ký: Văn.

Sáng hôm sau, tôi hỏi trực ban Quân đoàn 2:

- Đã nhận được điện số… chưa?

- Vừa mới nhận được. Bộ Tư lệnh Quân đoàn cũng đang tính như vậy.

Có điện của trên, Quân đoàn hiểu rõ thời cơ đòi hỏi rất gấp, nên đã chia nhau xuống các sư đoàn và toàn quân đoàn coi như đã xuống đồng bằng đôn đốc đơn vị theo hai hướng về Cửa Thuận và về Phú Bài phát triển về Huế.

Sau chúng tôi mới biết tin ngày 25 tháng 3, ta đã tiêu diệt rất lớn quân địch, xe tăng thiết giáp cơ giới trên đường từ Huế ra Cửa Thuận, bộ đội vượt phá phát triển ra cửa Tư Hiền. Lúc 13 giờ chiều ngày 25 tháng 3, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 vào trước, tiếp sau là Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 vào chiếm Huế, treo cờ. Phía bắc, Tiểu đoàn 8 của Quảng Trị cũng đã tiến vào Huế hồi 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3. Phía tây, Trung đoàn 6 của Quân khu Trị Thiên tối ngày 25 tháng 3 đến bờ sông, 6 giờ 30 phút ngày 26 tháng 3 mới vào Huế và treo lá cờ lớn(1) lên cột cờ, chính thức báo hiệu Trị - Thiên – Huế đã hoàn toàn giải phóng.

Ngày 24 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp nắm tình hình, qua ngày 25 tháng 3 quyết định: Thời cơ chiến lược mới đã đến. quyết tâm giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa; trước mắt kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Huế, Đà Nẵng và tiếp theo là quyết chiến chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Quân ủy Trung ương đề nghị mở Mặt trận Quảng Đà – cử đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy. Đồng thời Bộ Chính trị cũng quyết định thành lập Quân đoàn 3, đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy.

Ngày 26 tháng 3, trong khi Bộ Tổng Tham mưu bàn kế hoạch, đồng chí Cao Văn Khánh đã điện cho Quân đoàn 2: sẵn sàng chuyển đánh Đà Nẵng, tăng cường pháo ở Mũi Trâu (từ trận địa này pháo ta có thể bắn đến các mục tiêu quan trọng ở Đà Nẵng) cho đủ một tiểu đoàn, đủ đạn.

Sáng sớm ngày 26 tháng (đêm ngày 25 tháng 3 chúng tôi chưa nhận được tin Huế đã giải phóng)(2), tôi dẫn một đoàn đi trước chuẩn bị cho đồng chí Lê Trọng Tấn hợp nhất với đồng chí Chu Huy Mân để lập Bộ chỉ huy Mặt trận. Các cán bộ thuộc Tổng cục Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật đi riêng, sẽ do đoàn chúng tôi đón tại Sở chỉ huy của Đoàn 559 ở Bãi Hà vào tối ngày 26 tháng 3. Đồng chí Lê Trọng Tấn còn họp đến chiều mới đi máy bay vào Bãi Hà, đi cùng có đồng chí Phi Long là cán bộ Cục Tác chiến, được chỉ định làm Trưởng phòng Tác chiến của Mặt trận.

Sáng ngày 27 tháng 3 đi tiếp, chúng tôi cùng đoàn tiền trạm xuất phát thật sớm. Vì đi trước nên tôi không biết là sáng ngày 26 trong cuộc họp có đồng chí Tổng Tư lệnh dự; đồng chí đã quyết định thời gian chuẩn bị chỉ được ba ngày, nên tôi đã quá ung dung khi đồng ý với đoàn tiền trạm để cho đồng chí Tấn tạm nghỉ trước khi đến đường rẽ vào Quân đoàn 2. Lẽ ra tôi phải ép anh em đi qua đấy hơn 10 ki-lô-mét nữa có trạm thông tin mới được nghỉ. Vì vậy, khi đến đồng chí Tấn vào nghỉ, đồng chí không bằng lòng, cho rằng phải tiếp tục đi luôn, tối nghỉ ở trạm thông tin là đúng đắn nhất. Tôi đã không theo kịp với diễn biến chiến trường bấy giờ đã trôi quá nhanh rồi!

Sáng ngày 28 tháng 3, quay trở lại đường 74 do Quân đoàn 2 mới sửa lại, đường rất xấu, nhiều dốc, có chỗ lầy, gặp đồng chí Thanh Quảng – Phó Chính ủy Quân khu Trị - Thiên mới biết ngày 25 tháng 3 ta đã chiếm Huế. Đến tối chúng tôi mới đến Sở chỉ huy của Quân đoàn 2. Vừa ngồi vào bàn làm việc, đồng chí Phi Long bị ngất xỉu vì quá mệt sau mấy ngày làm việc và hai ngày hành quân căng thẳng.

Khi làm việc với Quân đoàn 2, được biết ngày 26 tháng 3 theo điện của Bộ, Quân đoàn đã ra lệnh Trung đoàn 18 tăng cường một đại đội xe tăng phát triển tiến công lên hướng đèo Hải Vân, do đồng chí Hoàng Đan – Phó tư lệnh, đi trực tiếp chỉ huy. Tối 28 tháng 3, Trung đoàn 18 do sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 325 chỉ huy, đã chiếm Lăng Cô, đang phát triển lên đèo.


(1) Cờ may sẵn rộng 8 mét, dài 12 mét.
(2) Do liên lạc bằng vô tuyến điện mật nên tin chậm.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:36:29 PM
Hướng đường 14 (qua Mũi Trâu), sáng ngày 28 tháng 3, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 đã đến vị trí tập kết, sẵn sàng đánh các mục tiêu làm bàn đạp ở tây bắc Đà Nẵng.

Pháo chiến dịch đặt ở Mũi Trâu đã bắn vào làm tê liệt sân bay Đà Nẵng, bắn vào cảng làm cho tàu không dám vào, bắn vào sở chỉ huy địch làm mất liên lạc với Sài Gòn.

Quân đoàn cũng đã ra lệnh cho Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) hiệp đồng với Quân khu 5 tiến công vào hướng đông nam Đà Nẵng).

Sau khi nghỉ một đêm ở Sở chỉ huy quân đoàn 2, mọi người đã hồi phục, đồng chí Phi Long đã tỉnh táo. Chúng tôi làm một nhóm đi trước vào Đà Nẵng tìm liên lạc với đồng chí Chu Huy Mân, bố trí chỗ làm việc, chuẩn bị buổi họp đầu tiên của Bộ Tư lệnh Mặt trận.

Xe bắt đầu lăn bánh, tôi nghĩ mọi việc thật suôn sẻ! Lòng phấn khởi mừng thầm quê mẹ đã được giải phóng, nhưng lại băn khoăn lo lắng trong khói lửa thế này không biết có an toàn không? Mẹ ngoài bảy mươi lăm, bây giờ già yếu rồi. Tiếng súng đã lùi xa, con đường rừng sao hôm nay cảnh vật thanh bình lạ. Xe chạy giữa các lùm cây xanh tươi còn dọng sương sớm, gió ban mai hiu hiu thổi thật mát mẻ, dễ chịu, bao nhiêu mệt nhọc mấy ngày qua đều tan biến hết. Ra khỏi cửa rừng, đến con suối nhỏ, không hiểu vì sao tôi cho xe dừng lại, bảo đồng chí lái xe:

- Em tranh thủ rửa sạch bùn đất đi.

Tôi vừa xuống suối rửa mặt mũi tay chân xong, đang chỉnh lại áo quần thì đồng chí Phi Long đi xe sau vừa tới hô to:

- Lại xem anh Tần chuẩn bị về quê anh em ơi!

Tôi như sực tĩnh, cười nói:

- Ta lên xe đi đi thôi, “Tết” mới về quê được. Ai đi tìm cụ Mân cho đây?

- Chắc ra đường sợ gặp bà con đây mà – đồng chí Phi Long chưa chịu tha.

Thế là lại tiếp tục đi.

Ra đến quốc lộ 1, xe quẹo phải hướng vào Đà Nẵng, tôi còn quay đầu nhìn về hướng Huế.

Đi dọc đường quốc lộ 1, chúng tôi chỉ thấy xe dân, xe nào cũng mang cờ Phật, biết rằng Đà Nẵng đã giải phóng. Trong lòng thấy thất vọng. Một ý nghĩ thật trái ngược nhưng lại rất thật: Không phải chúng tôi đang cố vượt thời gian lo cho các vị chỉ huy bàn tổ chức chiến dịch đó sao. Thế mà bây giờ còn để mỗi người một nơi. Đó là cảm tưởng không đạt yêu cầu nhiệm vụ. Nhưng rồi không khí nhộn nhịp, hồ hơi, phấn khởi chưa từng có của nhân dân trên đường chúng tôi đi lại kéo tôi về thực tại. Huế giải phóng rồi sao? Đà Nẵng giải phóng thật rồi sao? Cả quân khu 1 đồ sộ, niềm kiêu hãnh của chế độ Sài Gòn đã tan thành mây khói rồi sao? Chiến trường sỏi đá, mỗi tấc đất đều bị đào bới bởi bom đạn, đã được giải phóng rồi, nhân dân bốn tỉnh, hai thành phố lớn đã được độc lập tự do rồi! Kể từ lúc nổ súng ở Buôn Ma Thuột mới 20 ngày, hai quân khu của địch đã bị đánh tan. Như một giấc mơ, thật đúng là “Một ngày bằng 20 năm”.

Tôi đang miên man trong đầu óc với những ý nghĩ hết sức lạc quan đó bỗng nghe có tiếng hô to:”Đến Đà Nẵng rồi!”. Lúc ấy đã quá trưa. Khi vào đến phố, ở đâu cũng thấy dân rất phấn khởi, nhà, xe đều treo toàn cờ Phật, chỉ  một số cơ sở quân ta mới tiếp quản có cờ Giải phóng, giữa đường rài rác áo quần, giày, mũ, đủ các thứ trang bị của lính ngụy, vứt bỏ để tháo thân… Tôi tìm đến sở chỉ huy sư đoàn 3 ngụy tìm đồng chí Chính – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, theo đồng chí ra trung tâm gặp cán bộ của địa phương tìm được đến chỗ đồng chí Nguyễn Chánh - Tư lệnh Quân khu 5. Theo hướng dẫn của đồng chí Chánh, chúng tôi tìm được địa điểm ở Phước Tượng có chỗ làm việc yên tĩnh, an toàn, đề nghị đồng chí Chánh mời đồng chí Chu Huy Mân tối làm việc với đồng chí Tấn.

Chúng tôi quay về chỗ hẹn đón đồng chí Tấn đưa đồng chí đến chỗ họp, lúc đó trời đã sẩm tối. Đó là lần gặp mặt và làm việc đầu tiên của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Khi đó bộ đội các hướng đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch thuộc quân khu 1 ngụy là quân khu mạnh nhất ở tuyến đầu của địch. Hồi 13 giờ hôm nay Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Sau này chúng tôi mới biết khi Trung đoàn 8 Sư đoàn 325 cùng xe tăng tiến vào cổng Sơn Trà – nơi địch đang tập trung rất đông để đợi tàu, chúng hoảng hốt chạy tán loạn, chỉ có Ngô Quang Trưởng và một số ít nhảy ào xuống biển tháo thân, bởi được đến một chiếc xuồng tuần tiễu của hải quân ngụy đón sẵn để ra tàu chiến Mỹ ở ngoài khơi.

Đến đây, quân dân bốn tỉnh và thành phố Đà Nẵng, Huế cùng Quân đoàn 2 đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân khu 1 của địch, mở ra thời cơ và điều kiện cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng vào sào huyệt của Mỹ - ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:36:52 PM
*
*   *

Sau ngày giải phóng Đà Nẵng tôi được giao nhiệm vụ trở lại cơ quan để phục vụ ở Tổng hành dinh, đồng thời chuẩn bị làm tổng kết cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 theo chức trách của tôi.

Trên đường về, tôi có điều kiện ghé qua nhà – từ đây tôi đã ra đi cách đây 30 năm… Ngày xưa chuyển đi bộ, nay đã lâu ngày lại ngồi xe, tôi mất khái niệm về không gian nên bị lạc ngõ kiệt về nhà. Đến ngang tầm nhà mình mới nhận ra mình đang ở trước nhà bà Sáu ở vườn sau nhà mình. Tôi vào hỏi thăm, bà Sáu kể:

- Hồi Mậu Thân pháo bắn vào sau vườn, cả nhà sợ quá. Lúc này đánh nhau to hơn nên bà và các em đã chạy vào Sài Gòn, chắc ở nhà cậu Kính đang dạy học trong đó.

Tôi vẫn ghé qua nhà. Nhà vẫn như xưa, chỉ khác là tường xây và mái tôn đã gỉ thay cho mái lá. Cửa đóng then gài, im ắng quá, lạnh lẽo quá! Chỉ có con chó có nghĩa vẫn nằm trên một cái bàn thấp trước cửa trông nhà. Thấy người lạ vào nó không buồn cắn, chắc là đã bị đói lâu ngày. Tôi đành lủi thủi ra về.

*
*   *

Về đến cơ qua, gặp đồng chí Cục trưởng Lê Hữu Đức bắt tay rất mừng rỡ:

- Các anh (ý nói các cụ phó) đi các hướng cả rồi – anh Đức nói – may anh về không thì tôi xoay sở không kịp, phấn khởi thì quá phấn khởi rồi, nhưng bù đầu quá! Làm ngày làm đêm cũng không kịp

- Anh yên tâm – Tôi nói – lúc này ai chẳng muốn lao ra chiến trường tự mắt chứng kiến chiến thắng cuối cùng đang diễn ra trước mắt, được nhìn thấy nhân dân được hoàn toàn giải phóng sau 30 năm đau khổ, tang tóc, chờ đợi, được thấy quân thù ngã gục dưới chân nhân dân! Ngày anh Tấn lên đường, anh Khánh cũng muốn đi, nhưng anh Tấn nói “ở nhà” ai giúp anh Thái khi ấy chỉ còn một mình. Ra mặt trận, anh còn lo công việc ở cơ quan. Lúc anh Tấn bảo tôi về, tôi hiểu nên chẳng dám đề nghị gì. Việc tổng kết để phòng chuẩn bị, tôi sẽ tập trung giúp anh!

Trong thời gian này, Phòng Tổng kết Cục Tác chiến do tôi chỉ đạo lo thu thập tư liệu từ khi chuẩn bị kế hoạch cho đến khi kết thúc.

Sau ngày chiến thắng ít lâu, tôi mới tập trung cùng anh em nghiên cứu tư liệu của cơ quan Bộ, các báo cáo của các quân khu, quân đoàn, để thảo ra bản đề cương.

Sau đó, chúng tôi đi dự các hội nghị tổng kết của đơn vị, đưa ra những vấn đề không khớp về thời gian, về đơn vị, sau thống nhất rồi mới viết ra bản dự thảo.

Bước cuối cùng, chúng tôi báo cáo Thủ trưởng Bộ, trực tiếp là các đồng chí Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, rồi đến đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí Chu Huy Mân, sau cùng là đồng chí Tổng Tư lệnh.

Tập tài liệu tổng kết gồm hai phần. Riêng phần thứ hai là các bài học, tuy khối lượng tương đương phần một, nhưng phải mất công sức và trí tuệ tập thể lớn nhất, phải qua nhiều cuộc hội thảo mới thống nhất được những bài học thiết thực có giá trị. Đến khi thông qua các đồng chí lãnh đạo, phần các bài học càng được nâng chất lượng lên nhiều, nhất là tính khái quát và tính khoa học.

Đến năm 1976, tài liệu tổng kết mới được hoàn thành, lưu lại ở Cục Tác chiến làm cơ sở cho công tác nghiên cứu về sau. Bản này tôi đã phổ biến cho cán bộ trong lớp học của Học viện Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) năm 1976.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:37:14 PM
*
*   *

Trở lại với công việc của Cục Tác chiến trong Tổng tiến công Xuân 1975.

Ngày 1 tháng 4, sau khi đồng chí Lê Hữu Đức – Cục trưởng dự họp về cho tôi biết Bộ Chính trị đánh giá tình hình và hạ quyết tâm như sau: “Cả về thế chiến lược và lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo quân địch, còn địch thì đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoan toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn tình thế sụp đổ đến nơi của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyện của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất cả nước… Cách mạng nước ta hiện đang phát triển sôi nổi nhất, với nhịp độ một ngày bằng 20 năm”.

Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể để chậm”.

Qua ngày hôm sau, Cục Tác chiến được chỉ thị của đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương viết điện chỉ đạo chiến trường với các nội dung như sau:

Theo dự kiến kế hoạch giải phóng Sài Gòn có hai phương án:

Một là: Bao vây Sài Gòn dài ngày, tạo điều kiện tiến tới đứt điểm.

Hai là: Tiến công táo bạo từ đầu, đánh nhanh, dứt điểm nhanh.

Căn cứ tình hình hiện nay, Quân ủy Trung ương xác định nên chọn phương án 2 là chính, tức là làm thật táo bạo, đồng thời phải có sự chuẩn bị, để trong điều kiện nào đó thì chủ động chuyển sang phương án 1, cũng nhằm giành thắng lợi cuối cùng trong một thời gian ngắn.

Cần tiến công liên tục không dừng lại, không cho chúng hoàn hồn, củng cố thế trận để đối phó. Chú trọng tiến công tiêu diệt địch ở vòng ngoài, nếu tiêu diệt địch ở Xuân Lộc, khống chế sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, đánh cắt giao thông lộ 4, khi có thêm lực lượng đánh cắt đường ra biển chiếm Bà Rịa, sông Lòng Tàu, Nhơn Trạch thì Sài Gòn – Gia Định sẽ bị nguy khốn, bị cô lập, có thể xảy ra biến động.

Cần chuẩn bị phương án tiến công và nổi dậy với lực lượng hiện có, nắm lực lượng dự bị, chuẩn bị tổ chức lực lượng quần chúng nổi dậy, nắm thời cơ tiến công kiên quyết táo bạo hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Tôi đã làm việc ở cơ quan tác chiến từ năm 1974 nên tôi hiểu rõ những chỉ đạo quý báu trên đây không phải mới có ngày một ngày hai gần đây. Tôi hiểu rằng nó đã hình thành trong quá trình đồng chí Tổng Tư lệnh chỉ đạo “Tổ trung tâm” nghiên cứu kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976. Trong quá trình chỉ đạo thực tiễn thực hiện kế hoạch từ mùa Xuân 1975, khi thấy những yếu tố thời cơ xuất hiện, đồng chí đã chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu báo cáo, đồng chí đề xuất, sau khi tập thể Bộ Chính trị cùng Quân ủy Trung ương thảo luận, có kết luận thống nhất của đồng chí Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương thành quyết tâm chiến lược của Đảng rồi thì đồng chí Tổng Tư lệnh mới chỉ thị cho chiến trường.

Sau này chúng tôi được biết đoàn của đồng chí Văn Tiến Dũng(1) ngày 3 tháng 4 vào đến Bộ chỉ huy Miền, tiếp đó đồng chí Đinh Đức Thiện vào đến nơi, ngày 7 tháng 4 năm 1975 Trung ương Cục đã khẩn trương họp thông qua kế hoạch tiến công Sài Gòn – Gia Định do đồng chí Phạm Hùng – Bí thư chủ trì. Hôm sau đồng chí Lê Đức Thọ vào phổ biến quyết định của Bộ Chính trị thành lập Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định. Đoàn đồng chí Văn Tiến Dũng đã vào kịp.


(1) Ngày 8 tháng 4, đồng chí Lê Đức Thọ đã phổ biến cho Trung ương Cục quyết định ngày 6 tháng 4 của Bộ Chính trị thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định. Anh Văn Tiến Dũng là Tư lệnh, anh Phạm Hùng là Chính ủy, các anh Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện là Phó tư lệnh; anh Lê Quang Hòa, Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị, anh Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng. Anh Lê Đức Thọ tham gia Trung ương Cục và Đảng ủy Mặt trận.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:37:58 PM
*
*   *

Từ ngày 2 tháng 4 đã hình thành một chủ trương lớn, sáng tạo. Đồng chí Lê Trọng Tấn – nguyên tư lệnh chiến dịch Quảng Đà về Hà Nội kiến nghị một chủ trương mới, chủ trương này được Thường vụ Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Quân đoàn 2 ủng hộ, đó là mở hướng tiến công trong hành tiến dọc ven biển với lực lượng đã tham gia chiến dịch Quảng Đà. Sau khi được đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương nhất trí, Bộ Tổng Tư lệnh lập tức tổ chức cuộc tiến quân này, chỉ giữ lại Sư đoàn 324 củng cố vùng mới giải phóng. Như vậy là hầu hết lực lượng chủ lực của miền Bắc ồ ạt, thần tốc đổ vào miền Nam theo tất cả các con đường, đi ngày đi đêm, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, tất cả vì miền Nam, tất cả vì Tổ quốc, nhằm một đích đến đúng thời gian thực hiện nhiệm vụ tối cao là giải phóng Sài Gòn trong tháng Tư. Vấn đề lớn nhất là hậu cần, kỹ thuật xe pháo và phương tiện vận chuyển. Không biết ngày xưa cuộc tiến quân thần tốc của vua Quang Trung đã làm cách nào, nhưng đối với ta thì phải phát huy hết mọi lực lượng, mọi phương tiện của Đoàn 559, các quân khu, quân đoàn, các quân binh chủng, sử dụng vũ khí đạn dược, lương thực, phương tiện mới thu được của địch và của nhân dân ở vùng mới giải phóng. Để cổ vũ động viên cán bộ chiến sĩ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã điện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị riêng cho Quân đoàn 2: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, mấy ngày sau thấy còn chậm, đồng chí lại điện lệnh cho các đơn vị:

“Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Chúng tôi ở xa mặt trận hơn 2.000 ki-lô-mét cũng cảm thấy rất gần hơn bao giờ hết. Cơ quan sôi nổi hẳn lên, làm việc ngày đêm bám sát chiến trường không biết mệt, tin thắng trận tới tấp bay về. Chúng tôi không để một tin nào chậm cho Cục Tuyên huấn đưa tin lên đài chia vui với nhân dân, với gia đình, bà con chiến sĩ ngoài mặt trận.

Tôi thấy tình hình phát triển thật kỳ diệu, trong mơ cũng không tưởng tượng được: ngày 25 tháng 3 giải phóng Trị - Thiên – Huế; ngày 29 tháng 3 giải phóng Quản Nam – Đà Nẵng; ngày 1 tháng 4 giải phóng Quy Nhơn, Bình Định, Tuy Hòa, Phú Yên, Ninh Hòa; ngày 3 tháng 4 giải phóng Nha Trang, Cam Ranh. Ở đây còn có sự phối hợp chiến trường tuyệt đẹp. Ngày miền Nam bắt đầu trận đánh cắt đường 4 và tiến công Xuân Lộc – trọng điểm của tuyến bảo vệ vòng ngoài Sài Gòn thì ngày 10 tháng 4, cánh Đông (lực lượng tiến công dọc ven biển) chuẩn bị tiến công Phan Rang, trọng điểm tuyến phòng ngự từ xa của Sài Gòn. Ở Xuân Lộc, Quân đoàn 4 kiên quyết tập trung hai sư đoàn 341 và 7 đánh địch, nhưng chúng chống cự quyết liệt vì đó là chỗ sống chết của Sài Gòn và địch còn dựa được vào căn cứ sân bay Biên Hòa nên trận đánh kéo dài. Chúng tung lữ đoàn dù phản kích quyết giữ cửa ngõ của Sài Gòn. Tiểu đoàn 8 thuộc Sư đoàn 7 bị địch vây, đã chiến đấu đến cũng, giữ vững trận địa. Khi Quân đoàn 4 chuyển sang đánh cắt và khống chế Biên Hòa thì cánh Đông đã kịp vào tăng viện một trung đoàn đánh Xuân Lộc, buộc địch phải tháo chạy vào ngày 22 tháng 4.

Đưa một lực lượng lớn vào kịp tham gia chiến dịch ở hướng Đông có ý nghĩa rất quan trọng làm thay đổi thế và lực của ta, thêm yếu tố tất thắng cho chiến dịch, và là một bất ngờ lớn đối với địch.

*
*   *

Thời gian này tôi thấy đồng chí Võ Nguyên Giáp hầu như không khi nào vắng mặt ở chỗ làm việc. Đêm khuya khi đồng chí đi nghỉ còn dặn trực ban hễ có tin quan trọng không được để chậm. Có lần đã khuya, có điện báo cáo cần trả lời gấp, đồng chí dậy nghiên cứu xử trí, thấy vấn đề cần có ý kiến của đồng chí Bí thư thứ nhất, đồng chí đi sang luôn nhà đồng chí Lê Duẩn bàn thống nhất xong mới về ra lệnh. Đồng chí luôn suy nghĩ tìm phương án tối ưu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, rất quan tâm phát huy các cán bộ tham mưu. Tuy còn rát ít cán bộ ở Tổng hành dinh, đồng chí cũng giao cho đồng chí Cao Văn Khánh – Phó tổng tham mưu trưởng lập một nhóm nghiên cứu kế hoạch. Đồng chí để thời gian lắng nghe và nêu nhiều vấn đề rất sâu, những giải pháp rất cụ thể, những dự kiến nhìn xa giúp cho kế hoạch ngày càng hoàn thiện. Cuối cùng cơ quan tham mưu đã xây dựng được một kế hoạch được đồng chí chấp nhận, chuyển gấp vào cho Bộ chỉ huy chiến dịch đồng thời cử các cán bộ đầu ngành của quân binh chủng đã được tham gia nghiên cứu kế hoạch tăng cường vào giúp Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo ra cho biết chiến trường rất nhất trí với Bộ.

Khi làm tổng kết, tôi đã nghiên cứu kỹ tài liệu lưu trữ, nắm được đầy đủ nội dung quyết tâm và kế hoạch chiến dịch, khi thực hành chiến dịch đã diễn ra cơ bản như kế hoạch đã được xác định như sau:

Sài Gòn – Gia Định là một thành phố lớn, rộng khoảng 60 ki-lô-mét vuông, có khoảng 4 triệu dân, là trung tâm chính trị quân sự và kinh tế, là dinh lũy cuối cùng của địch, nơi tập trung các cơ quan đầu não. Bên trong có nhiều nhà cao, kiên cố, kiến trúc tổng hợp. Địa hình chung quanh phức tạp, trống trải, sình lầy, có nhiều sông, rạch, cầu cống. Đặc biệt có những cầu khá lớn như cầu Bông, cầu Xáng, Bình Triệu, Bình Phước, cầu Ghềnh, cầu xa lộ Đồng Nai, cầu xa lộ Sài Gòn…

Địch đang ở trong quá trình bị thất bại nặng và bị tan rã lớn. Nhưng trên chiến trường Nam Bộ nói chung, trên mặt trận Sài Gòn – Gia Định nói riêng, lực lượng của quân đoàn 3 và quân đoàn 4 ngụy chưa bị tan rã và chưa bị ta đánh đau. Do đó chúng còn ngoan cố bám giữ Sài Gòn – Gia Định, đồng bằng sông Cửu Long, hòng kéo dài cuộc tiến công của ta sang mùa mưa. Lúc đó ta gặp khó khăn phải chịu giải pháp chính trị. Lực lượng địch tuy còn đông và chưa bị tan rã nhưng ô hợp, bị sa sút nghiêm trọng về tinh thần và sức chiến đấu. Các sư đoàn chủ lực giữ tuyến ngoài bị phân tán, đối phó trên nhiều hướng. Các lữ đoàn dự bị chiến lược giữ tuyến trong đều bị tổn thất nặng và xộc xệch. Các sư đoàn 2 và 22 địch tổ chức lại để giữ Sài Gòn không còn sức chiến đấu.

Ý định và cách đánh:

Ý định cơ bản của chiến dịch là: Tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật, vật chất ưu thế áp đảo địch, tiêu diệt và làm tan rã quân đoàn 3 địch, đập tan ngụy quyền trung ương, giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Cách đánh chiến dịch như sau: Thực hành chia cắt chiến lược, cắt đường bộ, đường thủy, khống chế các sân bay, đánh chiếm Ô Cấp, cắt đường rút lui ra bể của địch, bao vây cô lập Sài Gòn, tạo nên sự rung động toàn diện đối với địch. Bao vây, tiêu diệt và ngăn chặn quân địch ở vòng ngoài không cho chúng co về Sài Gòn, đồng thời đánh chiếm và giữ các đầu cầu lớn để mở đường và bảo đảm cho các binh đoàn đột kích thọc vào nội đô. Tổ chức các binh đoàn đột kích mạnh binh chủng hợp thành vận động bằng cơ giới từ nhiều hướng, nhiều mũi thọc sâu vào nội đô, kết hợp chặt chẽ với đặc công, biệt động ở bên trong, kết hợp với quần chúng nổi dậy, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu, nhằm đánh ngã địch ở bên trong, trong thời gian ngắn nhất.

Về chọn hướng và mục tiêu, ta xác định bốn hướng và năm mục tiêu. Bốn hướng: tây bắc, bắc và đông bắc, đông và đông nam. Hướng tiến công chủ yếu là bắc và tây bắc, trong đó tây bắc là chủ yếu nhất. Năm mục tiêu chủ yếu của nội thành là: bộ tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, tổng nha cảnh sát, dinh Độc Lập. Ngoài ra cỏn có các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế khác.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:39:10 PM
*
*   *

Theo tin tức trực ban tác chiến ở Tổng hành dinh nhận được, tình hình những ngày cuối tháng 4 hết sức khẩn trương.

Cuộc tiến công dọc ven biển Nam Trung Bộ đã phá vỡ tuyến phòng ngự từ xa cuối cùng của địch ở Phan Rang, là niềm hy vọng cuối cùng để kéo dài cuộc chiến sang mùa mưa của Sài Gòn. Phan Thiết được giải phóng ngày 19 tháng 4 và Hàm Tân, Xuyên Mộc ngày 22 tháng 4, địa bàn tiến công hướng đông được mở rộng.

Cùng ngày 22 tháng 4, ta đã đánh sập Xuân Lộc, tuyến phòng thủ vòng ngoài, Sài Gòn bị uy hiếp trực tiếp, địch hết hy vọng ngăn chặn cuộc tiến công của ta vào nội đô.

Trần Văn Đôn – bộ trưởng quốc phòng ngụy đã nhận định: “Quốc gia đang ở trong tình trạng nguy ngập thực sự, sự sống chỉ có thể tính từng ngày, từng tuần, không tính từng tháng”.

Đại sức Mỹ Mác-tin ngày 19 tháng 4 cũng đánh giá:”… Sài Gòn có thể bị bao vây cô lập trong một hai tuần và có thể rơi vào tay Bắc Việt trong ba hoặc bốn tuần nữa”.

Ngày 18 tháng 4 tổng thống Mỹ Giê-rôn Pho ra lệnh di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn, chỉ để lại khoảng 1.000 người. Ngày 19 tháng 4, Pho kê gọi ngừng bắn, thương lượng và đề nghị quốc hội viện trợ khẩn cấp 722 triệu đôla cho ngụy Sài Gòn, nhưng không được.

Ngày 21 tháng 4, Thiệu buộc phải từ chức. Mỹ đưa Trần Văn Hương lên để mong duy trì chính quyền hợp hiến hợp pháp hòng trì hoãn cuộc tiến công của ta. Sau đó Mỹ đưa Dương Văn Minh lên để vớt vát về chính trị… Như vậy Mỹ đã chịu thua về chiến lược, thôi cam kết về quân sự ở miền Nam Việt Nam. Ngày 23 tháng 4, Giê-rôn Pho đã tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”.

*
*   *

Ngày 26 tháng 4, ngày mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã đến.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp ngồi làm việc ở cái bàn to có tấm bản đồ mở rộng đã có vẽ kế hoạch. Trực ban tác chiến chúng tôi bám sát chiến trường từng giờ từng phút. Nhận được tin mới là nhanh chân thoăn thoắt qua mấy bậc thềm có bốn con rồng chầu lên báo cáo và dời lá cờ có nam châm lên đúng vị trí đơn vị đã chiếm được.

Đến ngày tổng công kích thì đồng chí Võ Nguyên Giáp đến rất sớm. Sau đó đồng chí Lê Duẩn rồi các đồng chí Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đến họp bàn chỉ đạo công tác tiếp sau chiến dịch, đồng thời theo dõi diễn biến tổng công kích. Cuộc họp thỉnh thoảng dừng lại nghe đồng chí Cao Văn Khánh báo cáo tin mới nhận được và ra chỉ thị khi cần.

Cuộc tiến công phát triển rất nhanh. Lúc 17 giờ ngày 25 tháng 4, hướng đông và đông nam bắt đầu nổ súng sớm hơn.

Đến ngày 28 tháng 4, ta đã chiếm được Bà Rịa, Long Thành, trường huấn luyện thiết giáp, yếu khu Trảng Bom, tiêu diệt và làm tan rã lữ đoàn 3 dù, lữ đoàn 468 thủy quân lục chiến, sư đoàn 18, trung đoàn 5 thiết giáp… Địch phản ứng bằng pháo binh, thiết giáp và không quân. Các lực lượng biệt động và đặc công đã chiếm được cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Đồng Nai, pháo binh chiến dịch đánh tê liệt sân bay Biên Hòa, bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy phải bỏ chạy về Gò Vấp từ chiều ngày 28 tháng 4.

Hướng tây nam, Đoàn 232 đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 22 ngụy, chiếm đoạn Bến Lức – Tân An. Sư đoàn 8 thuộc Quân khu 8 chiếm đoạn Trung Lương – Long Định, công binh Quân khu 8 và bộ đội địa phương chiếm đoạn Cai Lậy – An hữu. Đường số 4 đã hoàn toàn bị cắt đứt.

Hướng tây bắc, Sư đoàn 316 chia cắt lộ 22 và lộ 1, chế áp trận địa pháo và bức hàng một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 25 ngụy; Quân đoàn 1 mở đường tiến, giải phóng một đoạn trên lộ 16.

Ngày 28 tháng 4, Dương Văn Minh tuyên bố nhậm chức tổng thống. Lúc 17 giờ cùng ngày, ta dùng năm máy bay A37 lấy được của địch ném bom sân bay Tân Sơn Nhất và sau đó dùng pháo chế áp, làm tê liệt cầu hàng không “di tản” của địch, buộc Mỹ phải tổ chức “di tản liều mạng” bằng máy bay trực thăng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:39:35 PM
Tóm lại, qua hai ngày chiến đấu, về cơ bản ta đã phá vỡ khu vực phòng thủ phía đông Sài Gòn – Gia Định, đã cắt đứt hẳn lộ 4, và triển khai xong đội hình chiến dịch, tăng cường vây ép Sài Gòn trên các hướng. Cuối ngày 28 tháng 4, bộ tổng tham mưu và quân đoàn 3 ngụy bỏ chạy, trên thực tế địch đã mất chỉ huy về chiến lược, chiến dịch, càng tạo thêm cho ta điều kiện thuận lợi mới để thực hành tổng công kích và nổi dậy trên toàn mặt trận.

Ngày 29 tháng 4, theo lệnh Quân ủy Trung ương, Quân khu 5 và hải quân đã chiếm hoàn toàn quần đảo Trường Sa.

Ngày 30 tháng 4, các mũi đồng loạt thọc sâu vào nội đô. Năm cánh quân ta hợp điểm giữa Sài Gòn:

Quân đoàn 3 chiếm sân bay Tân Sơn Nhất lúc 13 giờ 30 phút, cùng Quân đoàn 1 chiếm bộ tổng tham mưu, tiến vào dinh Độc Lập thì gặp Quân đoàn 2.

Quân đoàn 1 bắt sống 8.000 tên của sư đoàn 5 ngụy, bức hàng sư đoàn 5, cùng Quân đoàn 3 chiếm bộ tổng tham mưu.

Đoàn 232 chiếm biệt khu thủ đô lúc 10 giờ 30 phút, diệt sư đoàn 22 ngụy và liên đoàn biệt động quân số 8. Trung đoàn 24 đặc công chiếm cầu Nhị Thiên Đường, cầu chữ Y, chiếm tổng nha cảnh sát 10 giờ 30 phút.

Quân đoàn 4 chiếm bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy lúc 9 giờ, chiếm sân bay Biên Hòa 11 giờ, vào nội đô 16 giờ 30 phút. Sư đoàn 7 vào dinh Độc Lập 13 giờ, chiếm bộ quốc phòng, căn cứ hải quân, cảng Bạch Đằng.

Quân đoàn 2 chiếm Vũng Tàu lúc 9 giờ. Lực lượng thọc sâu gồm: Lữ đoàn 203 xe tang, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 66, một đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 18. Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn cao xạ 284, một tiểu đội A72, Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn 219 công binh. Mũi thọc sâu đã chiếm vào dinh Độc Lập đầu tiên lúc 10 giờ 45 phút, bắt sống toàn bộ ngụy quyền, buộc tổng thống Dương Văn Minh lên đài đọc bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4.

Tóm lại, đến 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, trận tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định đã giành được toàn thắng. Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch quyết chiến chiến lược đã toàn thắng. Nhiệm vụ của Bộ Chính trị đề ra đã hoàn thành một cách xuất sắc. Ta đã đánh sụp bộ máy ngụy quyền trung ương, đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng Sài Gòn – Gia Định với 4 triệu dân và miền Đông Nam Bộ với 5 triệu dân, tạo điều kiện quyết định cho quân và dân đồng bằng Nam Bộ thực hành tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn đồng bằng sông Cửu Long, hoàn thành vẻ vang cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Khi nghe đài phát thanh báo tin chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng và liên tiếp phát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” của nhạc sĩ Phạm Tuyên mới sáng tác, các cơ quan trong Tổng hành dinh quên cả kỷ luật trật tự quy định, hò reo ầm ĩ, nhiều người chạy ra sân gọi nhau í ới báo tin chiến thắng mong đợi đã bao ngày. Thật quá vui mừng, quá xúc động không cầm được nước mắt! Nghe bài hát nhắc Bác Hồ, tôi mủi lòng muốn khóc, sao lúc này không còn Bác?

Trong hai ngày 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5 năm 1975, quân và dân đồng bằng Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Hồ Chí Minh, đã đồng loạt tiến công và nổi dậy, bắt quân đoàn 4 và ngụy quyền địa phương đầu hàng, giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chiều ngày 30 tháng 4, Cần Thơ được giải phóng. Nguyễn Khoa Nam – tư lệnh vùng 4 tự sát. Đêm 29 và 30 tháng 4, Vĩnh Long và Trà Vinh bị quân dân ta tiến công, địch còn một bộ phận chống trả; đến chiều ngày 30 tháng 4, tỉnh trưởng Vĩnh Long và sư đoàn trưởng sư đoàn 9 ngụy đầu hàng. Trà Vinh được giải phóng. Tại Côn Sơn, ngày 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5, những người cách mạng bị giam đã nổi dậy phá ngục, giải phóng đảo…



Với thắng lợi tên, ta đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam nước ta, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên đất nước thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước(1).

Thắng lợi to lớn của của nhân dân ta đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân châu Á, Phi, Mỹ La-tinh và nhân dân yêu chuộc hòa bình thế giới chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phản động để giành độc lập dân tộc, tự do, dân chủ và giữ vững hòa bình trên toàn thế giới.

Ngay chiều ngày 1 tháng 5, Cục Tác chiến chúng tôi được vinh dự đặc biệt và rất xúc động đón đồng chí Võ Nguyên Giáp đến thăm. Chúng tôi đều biết trong những ngày theo dõi chiến dịch, đồng chí đã nhiều đêm không ngủ, nay công việc còn bề bộn thế mà đồng chí đã để thời gian đến thăm chúng tôi đầu tiên ngay sau ngày chiến thắng. Vì đột ngột quá, chúng tôi không kịp chuẩn bị gì, chỉ có tấm lòng tình cảm kính mến đối với người Anh cả của quân đội. Lúc đo còn làm việc nên có mặt cả anh Cao Văn Khánh, và anh em trực của mật mã, thông tin… Anh thăm hỏi chân tình, khen cục đã tiến bộ vượt bậc về công tác tham mưu. Chúng tôi ai cũng muốn nói lên lời chúc mừng thắng lợi, chúc anh sức khỏe, sống thật thọ để lãnh đạo quân đội, để dìu dắt chúng tôi. Cuộc thăm hỏi ngắn ngủi nhưng đầy tình cảm chân thành đã để ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi.


(1) Ta đã tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ quân ngụy gồm trên 1 triệu tên, làm tan rã 1,5 triệu phòng vệ dân sự. Tính đơn vị thì ta đã tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn, gần 13 sư đoàn bộ binh, 18 liên đoàn biệt động, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn thiết giáp, 22 trung đoàn hải quân, 66 tiểu đoàn pháo, toàn bộ cảnh sát dã chiến, bảo an, dân vệ, cùng mọi tổ chức quân sự khác của địch. Ta đã thu nhiều vũ khí trang bị, chiếm giữ nguyên vẹn các sân bay, hải cảng, kho tàng…


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Một, 2017, 10:41:21 PM
*
*   *

Sau ngày Sài Gòn giải phóng, hòa cùng niềm vui chung của nhân dân cả nước, niềm vui của tôi còn được nhân lên gấp bội, tôi đã tìm được mẹ và các em sau 30 năm xa cách. Câu chuyện cũng có khúc quanh co. Gia đình tôi ở Huế, lẽ ra tôi đã được gặp gia đình sau ngày giải phóng Huế nhưng mẹ và các em sợ đánh lớn không tránh được bom đạn nên đã vào Nam ở nhà chú em tôi tên là Kính đang dạy học ở đó.

Sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi lại may mắn được giao nhiệm vụ phục vụ đoàn đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Võ Nguyên Giáp vào thăm nhân dân miền Nam. Giờ nghỉ tôi muốn đi tìm mẹ, nhưng không có thông tin nào khác. Tôi đành dùng cách nhắn tìm người thân, lúc đó ngày nào trên đài phát thanh, truyền hình cũng đưa những lời nhắn tìm người nhà. Để làm việc đó, tôi phải có một địa chỉ để gia đình đến tìm tôi. Vào tiền phương bộ ở phía nam thì không được rồi. Tôi phải nhờ địa chỉ của đồng chí Hoàng Nghĩa Khánh –bạn cùng công tác ở Cục Tác chiến, nay là Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 đang đóng quân ở “Biệt khu thủ dô”. Ngày nào rảnh tôi cũng gọi điện hỏi đồng chí Khánh nhưng vẫn bặt vô âm tín. Sau này mới biết nhà có đài hay tivi đâu mà nghe!

Một ít thời gian sau tôi hay đi vào Nam công tác để nắm tình hình biên giới Tây Nam và đi dự tổng kết ở các quân khu, quân đoàn. Qua nhiều lần dò hỏi tôi được biết một tin quan trọng: anh Lê Đình Diệm, anh bạn Chiểu của tôi, là giáo sư dạy ở trường đại học tổng hợp. Tôi đến trường, gặp người quản lý, xin phép xem danh sách các giáo sư. Tôi phải dò từng tên qua các trang giấy của một quyển sổ to, mờ cả mắt nhưng máy mắn thay, tôi tìm được địa chỉ của anh Diệm. tôi đến nhà gặp anh. Lâu ngày, hàn huyên rất lâu. Anh Diệm hỏi:

- Thỉnh thoảng tôi có gặp, nhưng không biết nhà của Kính. Khi nào gặp, tôi sẽ đến nhà cho biết, lần sau vào đây tôi sẽ đưa đi.

Thế là mừng rồi.

Chuyến công tác sau, tôi dự trữ một chiếc xe “đít vuông”(1), mặc dù chỉ có ba người cùng đi. Xong công tác, trước khi về, tôi lại đi tìm mẹ. Lần này thì thuận lợi rồi. Tôi đi xe tới đón anh Diệm, đi đến cư xá Thanh Đa, đến nhà lô P, anh Diệm đưa tôi lên lầu một chỉ cho tôi cửa phòng nhà của Kính. Tôi đã thỏa thuận với anh Diệm đừng nói trước cho gia đình biết, tôi muốn giữ niềm vui bất ngờ. Tôi ăn mặc bộ đồ giải phóng, đội mũ cứng, lưng đeo súng ngắn vì đang đi công tác, đi chầm chậm, tôi định giấu không xưng tên. Hành lang lờ mờ tối, tôi thấy một bà cụ đang ngồi chơi trên chiếc chiếu ở trước cửa phòng như ngóng chờ ai, người nhỏ nhắn, hơi gầy, mặc bộ bà ba đã cũ, mặt nhăn nheo, tóc cắt cụt ngủn, chắc mới qua một cơn bệnh nặng, duy chỉ có đôi mắt sáng. Tôi cố giữ bình tĩnh nói:

- Chào cụ ạ!

Bà từ từ đứng dậy, nhìn chằm chằm vào mặt tôi rồi nói:

- Ai ngó quen quen!

Chắc mẹ đã nhận ra con nhưng với bộ dạng của tôi lúc đó mẹ còn thăm dò. Lúc này tôi không còn bình tĩnh được nữa, nói giọng run run:

- Con đây mà!

- Thằng Bé à? – Mẹ gọi tôi bằng cái tên móc nôi như tôi còn bé.

Thế là hai mẹ con ôm nhau khóc, chiếc mũ cứng rơi lúc nào tôi cũng không biết. Cả nhà thấy có người lạ đổ xô ra. Rồi mọi người nhao nhao tranh nhau nói: Anh Bé về, anh Bé về!

Vào phòng, mọi người xúm lại, người cầm tay, người kéo áo hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, bao nhiêu tin tức cần biết, bao nhiêu kỷ niệm cần nói… mẹ thì hỏi nhiều về anh Tảo tôi, tôi thì chú ý hỏi về ba (chúng tôi gọi bố bằng ba). Mọi người lắng xuống ngậm ngùi, ba mắt sớm quá, cuộc đời ba vất vả quá, nay con đã về đây, cả nhà đông đủ mà ba không còn.

Tôi hỏi về chuyến đi từ Huế về đây thì được biết cả nhà vào Đà Nẵng theo tàu di tản đi đường biển, lênh đênh ba chìm bảy nổi rồi cũng đến được Sài Gòn, may nhờ có chú Tư, người con rể xốc vác, lo toan cho mọi việc khó khăn dọc đường…

Mọi việc rồi cũng có lúc kết thúc. Tôi nói:

- Con đang có công tác, hai ngày nữa con ra Bắc. Đề nghị cả nhà thu xếp sẵn sàng, sau hai ngày, sáng sớm con đến đây đón cà nhà ra Huế. Ai bận việc thì ra sau.

Cả nhà đồng ý, sẽ có năm người ra. Thật là vừa khéo. Tôi chuẩn bị xe đít vuông cũng không thừa.

Đưa mẹ về đến nhà, tôi chỉ ở lại với mẹ một đêm. Tôi nói với mẹ:

- Ngày xưa khi gia đình khó khăn thì con còn bé chưa giúp được gì cho ba mẹ. Nay mẹ đã già yếu mà cả hai anh em lớn còn bận công tác ở ngoài Bắc, cho các con đón mẹ ra Bắc để chúng con chăm sóc mẹ lúc ốm đau.

Mẹ bảo:

- Mồ mả, nhà thờ ở đây, mạ phải ở đây. Mạ đã quen ở đây rồi. Rồi đây mạ cũng đi theo ba mi ở đây thôi. Mạ chỉ mong mi đưa vợ con về thăm mệ, rảnh rỗi thì vô đây chợ. Mạ đã già yếu rồi, chưa biết ra đi khi mô, bay ở xa, cứ lo công việc đi, chỉ cần sắm cho mạ một cái “nhà” (ý nói cái quan tài) cho sẵn sàng là được rồi. Chỉ sợ khi đó bay vô không kịp.

Hai anh em tôi lớn nhất nhà, ngày Cách mạng tháng Tám đều tham gia khởi nghĩa rồi thoát ly, để cho mẹ một bầy em nhỏ, nên rất thương mẹ. Chúng tôi đã cố gắng chăm sóc mẹ được hai năm. Theo mong ước của mẹ, tôi đã đưa gia đình vào thăm mẹ được đôi lần, lần nào mẹ gặp được vợ con tôi, có cả cô tôi vào, thấy mọi người mạnh khỏe, vui vẻ, gia đình êm ấm mẹ rất mừng. Mẹ không ngờ rằng chiến tranh lâu dài, gian khổ ác liệt như vậy mà mọi người đều được khỏe mạnh cả, thật là phúc đức quá! Tất cả số tiền cả đời tôi tiết kiệm được dồn hết chăm sóc cho mẹ, thuốc thang ốm đau; khi mẹ qua đời, tôi đã cùng gia đình vào kịp cùng anh em trong nhà lo cho mẹ cái tang chu đáo thì vừa đủ. Lúc trở về đơn vị phải khéo thu xếp mới trở ra được yên ổn.


(1) Xe com-măng-ca kiểu xe Gát của Liên Xô chở được một tiểu đội.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:06:07 PM
BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG TÌNH SÂU NGHĨA NẶNG

Sau ngày miền Nam được giải phóng, biên giới Tây Nam nước ta giáp với Cam-pu-chia trở nên căng thẳng vì những cuộc xung đột vũ trang do bọn Pôn Pốt gây ra. Cục Tác chiến phải tập trung giúp Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo xử trí tình hình. Tôi được giao nhiệm vụ chỉ đạo Phòng K nắm tình hình biên giới Tây Nam. Trước sự kiện bất ngờ này, tôi phải cùng Phòng K nghiên cứu tình hình quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia và đặc biệt là hiểu sâu hơn về kẻ đã gây nên hiểm họa này. Dựa vào Phòng K, tôi được biết những điểm cơ bản về đất nước, con người, lịch sử Cam-pu-chia như sau:

Cam-pu-chia ở phía Tây Nam Việt Nam, ba mặt liền biên gới với Việt Nam, Lào, Thái Lan, mặt phía Tây Nam giáp biển.

Từ thủ đô Phnôm Pênh có đường đi bộ đi khắp các tỉnh và nối với Việt Nam, Lào, Thái Lan. Diện tích rộng 181.000 ki-lô-mét vuông, chiều ngang đông – tây rộng hơn nhưng không nhiều lắm so với chiều dài bắc – nam nên việc đi lại từ đầu này đến đầu kia đất nước khá dễ dàng, nếu đi ôtô cũng chỉ mất một ngày là đến nơi.

Ngày xưa Cam-pu-chia chỉ có 1 đường xe lửa từ Phnôm Pênh đi qua Kom-pông Chơ-năng, Pur-sát, Bat-tam-bang, Poi-pét qua Thái Lan (Đến đầu những năm 60 có thêm con đường xe lửa từ Phnôm Pênh đi Tà Keo, Kăm-pốt đến cảng Kom-pông Som).

Cam-pu-chia có một đoạn từ biển dài gần 250 ki-lô-mét từ Hà Tiên (Việt Nam) đến Trat (Thái Lan) và có nhiều sông ngòi nên giao thông đường thủy khá phát triển. Cảng sông Phnôm Pênh và cảng biển Kom-pôn Som là hai cửa khẩu nắm phần lớn hàng hóa xuất nhập khẩu của Cam-pu-chia.

Biển Hồ, một biển nước ngọt với 3.500 ki-lô-mét vuông nằm giữa nước Cam-pu-chia. Vào mùa mưa hàng năm, sông Mê Kông đưa vào Biển Hồ vài ba chục tỷ mét khối nước, chia sẻ một lượng nước khổng lồ với đồng bằng sông Cửu Long của ta. Biển Hồ lúc này biến thành một vựa cá và nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á với nhiều chủng loại quý được xuất khẩu đi nhiều nước.

Rừng chiếm một diện tích rất lớn, có nhiều gỗ quý và nhiều loại động vật quý. Núi là nguồn cung cấp vô tận về vật liệu xây dựng hàng năm cung cấp vật liệu xuất khẩu thu về khá nhiều ngoại tệ. Cam-pu-chia có một mỏ đá quý ở gần Pai-lin, Bat-tam-bang, chứa nhiều ngọc bích, hồng ngọc có giá trị rất lớn nhưng chỉ khai thác bằng thủ công. Số đá quý khai thác được ở đây đều đem bán sang Thái Lan để chế biến xuất khẩu.

Cam-pu-chia có hai mùa rõ rệt. Mùa nắng từ khoảng cuối tháng 11 đến cuối tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 24 đến 27 độ, lúc nóng nhất từ 31 đến 35 độ. Ở vùng rừng núi phía bắc lạnh hơn phía nam nhất là về mùa đông. Mùa mưa, nước ở Biển Hồ lên đến bảy tám mét, làm cho nhiều vùng rộng lớn chung quanh bị ngập gây nhiều khó khăn cho hoạt động quân sự, nhất là đối với đơn vị lớn, đông người.

Đến năm 1945, Cam-pu-chia có trên 4 triệu dân, trong đó có 30 vạn Hoa kiều và 35 vạn Việt kiều. Ngoài dân tộc Khơ Me chiếm tuyệt đại đa số trong dân cư, trên đất nước Cam-pu-chia còn có trên 20 dân tộc ít người như Chăm (10 vạn), Thái (1 vạn), Kuoy, Stiêng, Pua, Khạ… Thủ đô của Cam-pu-chia là Phnôm Pênh thành lập đã hơn 500 năm (Dân số Cam-pu-chia hiện nay hơn 13 triệu. Theo thống kê năm 1982, Phnôm Pênh có trên 60 vạn dân, trong đó có 6 vạn Hoa kiều và trên 3 vạn Việt kiều).

Trên 90 phần trăm người Khơ Me theo đạo Phật. Đạo Phật từ Ấn Độ truyền đến Cam-pu-chia bằng con đường biển và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của nhân dân Khơ Me. Dân tộc Khơ Me có một nền văn hóa lâu đời và có thời kỳ phát triển rực rỡ, có chữ viết rất sớm bắt nguồn từ chữ Bắc Phạn, có một quần thể đền đài đồ sộ, trong đó nổi bật nhất là hai đền Ăn Co Vat, Ăng Co Thom nổi tiếng là kỳ quan của thế giới, được xây dựng từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII.

Trên 90 phần trăm người Khơ Me là nông dân, sống với nghề làm ruộng, đánh cá, chế biến thủy, hải sản và khai thác lâm sản. Dòng sông Mê Kông hàng năm đem đến cho phần lớn các tỉnh của Cam-pu-chia một lượng phù sa màu mỡ khổng lồ. Cam-pu-chia có khoảng 1.200.000 héc-ta đất trồng lúa chiếm 6,63 phần trăm diện tích nhưng phần lớn nằm trong tay bọn tư bản địa chủ, phong kiến và phú nông. Phương pháp canh tác còn rất lạc hậu với những dụng cụ thô sơ, mỗi năm chỉ làm một vụ lúa, hoàn toàn trông cậy vào thiên nhiên. Do vậy sản lượng rất thấp. Hàng năm chỉ sản xuất được khoảng 1.400.000 tấn lúa (chỉ được trung bình 1 tấn 27kg thóc mỗi héc-ta). Một số người Pháp lập đồn điền trồng lúa nước ở tỉnh Bat-tam-bang, có sử dụng một phần máy móc như máy cày bừa, vận chuyển. Nhưng sản lượng không cao.

Cam-pu-chia có khoảng 40 đồn điền cao su lớn nhỏ với diện tích chung 28.900 héc-ta, phần lớn được trồng trên vùng đất đỏ ba-zan thuộc các tỉnh Kom-pông Chàm, Kom-pông Thom và Kra-tiê. Công nhân cao su hầu hết là người Việt Nam được mộ từ các tỉnh ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Sản lượng hàng năm là 20.000 tấn mủ cao su sơ chế.

Biển Hồ và sông Mê Kông cung cấp một sản lượng cá nước ngọt rất lớn và đa dạng. Hàng năm Cam-pu-chia đánh bắt được khoảng 125.000 tấn cá nước mặn và nước ngọt, trong đó 20.000 tấn cá khô và cá sấy.

Cam-pu-chia xuất khẩu khoảng 5 vạn trâu bof, 8 vạn con heo, nhiều cá tươi, cá khô và cá sấy, khá nhiều lúa gạo, bắp, mẻ, các loại đậu (6 vạn tấn), đường (3-4 vạn tấn), cao su, tiêu… Trong thời điểm này, mỗi năm Cam-pu-chia sản xuất trên 6.000 tấn tiêu.

Nền công nghiệp ít phát triển. Chỉ có một số nhà máy với quy mô sản xuất nhỏ như nhà máy điện, nhà máy thuốc lá Mic, nhà máy bia nước ngọt BGI, nhà máy xay xát gạo, nhà máy cưa xẻ gỗ, nhà máy chế biến mủ cao su… Do vậy, hàng tiêu dùng trong nước sản xuất chỉ có các mặt hàng thủ công, còn các mặt hàng công nghiệp đều phải nhập ở nước ngoài.

Với chính sách ngu dân để dễ dàng cai trị, nhà cầm quyền thực dân cho mở rất ít trường học. Cả đất nước Cam-pu-chia không có một trường đại học và chỉ có vài trường trung học ở Phnôm Pênh. Trong gần 100 năm cai trị, thực dân Pháp chỉ đào tạo có hai bác sĩ người Khơ Me. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính trong tất cả các trường. Nhà chùa tuy không nằm trong hệ thống giáo dục nhưng đóng vai trò khá quan trọng trong việc dạy học… Theo lý thuyết của nhà Phật và đã trở thành phong tục của nhân dân, người con trai khi lớn lên, thường vào chùa để tu cho bản thân mình và tu cầu phúc cho ông bà cha mẹ. Người đi tu, ngoài công việc của chùa còn được học chữ do các nhà sư trong chùa dạy. Về sau thực dân Pháp lợi dụng nhà chùa dạy học để đỡ tốn kém. Nhờ nhà chùa nên nhiều thanh niên biết đọc, biết viết, nhưng đại đa số phụ nữ Khơ Me, nhất là ở vùng nông thôn và người nghèo đều mù chữ.

Báo chí rất kém phát triển. Cả nước Cam-pu-chia chỉ có một tờ báo của nhà cầm quyền lấn tên là “Cam-pu-chia” xuất bản bằng chữ Khơ Me và phát hành rất ít, chủ yếu là phát không cho các công sở.

Ngành y tế rất ít được chú trọng. Chỉ những người giàu mới được chăm sóc sức khỏe. Còn dân nghèo nhất là ở các vùng xa, việc chữa trị ốm đau chỉ trông cậy vào các thầy lang với những món thuốc gia truyền hoặc bằng cách chúng bái không có một chút khoa học nào cả. Do đó hàng năm có rất nhiều ngươi chết vì bệnh tật không có thuốc chữa.

Trong thời điểm 1946, Cam-pu-chia chia làm 14 tỉnh: Bat-tam-bang, Pur-sát, Kom-pông Chơ-năng, Kom-pông Spư, Kăm-pốt, Tà Keo, Kan-đai, Prey Viêng, Svây Riêng, Kom-pông Chàm, Kra-tiê, Kom-pông Thom, Stung Treng, và Xiêm Riệp. Sau hòa bình được tách ra thêm bốn tỉnh là Cô Công, Rát-ta-na-ki-ri, Mon-dol-ki-ri và Presh Vi-hia.

Cam-pu-chia là một nước rất giàu tài nguyên đồng thời đất rộng, người không đông. Nhưng dưới ách thống trị nghiệt ngã trên 80 năm của thực dân Pháp, trong đó có năm năm thêm một tầng áp bức của phát xít Nhật, nhân dân Khơ Me luôn sống trong cảnh nghèo đói, lầm than, không thể ngóc đầu lên nổi.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:07:16 PM
*
*   *

Do địa lý chính trị, quân sự, vị trí chiến lược trọng yếu ở Đông Nam Á, các nước đế quốc thường nhòm ngó, âm mưu chia rẽ ba nước Đông Dương để dễ bề thôn tính, cai trị. Do đất đai sông núi liền nhau nên từ lâu đời nhân dân ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào có mối quan hệ láng giềng gắn bó với nhau trong làm ăn sinh sống cũng như trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặt khác, các triều đại vua chúa của ba nước có những mối quan hệ, những lần liền minh chiến đấu chống quân xâm lược, viết nên những trang sử đẹp trong mối quan hệ giữa ba nước.

Năm 1705 và 1772 đã hai lần hai nước liên minh chống quân Xiêm xâm lược. Lần thứ nhất quân Xiêm xâm lược Cam-pu-chia. Lần thứ hai, quân Xiêm đánh chiếm và tiêu hủy Hà Tiên, sau đó đánh sang Phnôm Pênh. Cả hai lần quân Việt Nam sang Cam-pu-chia phối hợp Miên – Việt đánh bại quân Xiêm, đưa vua chính thống lên ngôi rồi rút quân về nước, đã thắt chặt mối quan hệ hữu nghị bền chặt giữa nhân dân hai nước.

Năm 1785, sau khi bị quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đánh bại ở Rạch Gầm – Xoài Mút, Mỹ Tho, một bộ phận quân Xiêm bỏ ghe thuyền dẫn nhau chạy bộ băng qua đất Cam-pu-chia, bị quân dân Cam-pu-chia phối hợp với quân Việt Nam chặn đánh, gây cho chúng thêm nhiều thiệt hại.

Năm 1807, nhân lúc tình hình Cam-pu-chia đang rối ren, quân Xiêm lại kéo sang xâm chiếm Cam-pu-chia. Theo yêu cầu của vua Ang Chan II, tướng Lê Văn Duyệt đưa quân sang chi viện, đánh đuổi quân Xiêm ra khỏi bờ cõi, khôi phục độc lập chủ quyền cho Cam-pu-chia và củng cố lại địa vị của vua Ang Chan II, xong Lê Văn Duyệt rút quân về.

Khi quân Pháp xâm chiếm ba nước Đông Dương, nhân dân ba nước cũng nhiều lần liên minh chiến đấu. Trong đó cuộc kháng chiến của ba dân tộc chống quân xâm lược Pháp âm mưu đô hộ ba nước một lần nữa từ 1945 đến 1954 là một liên minh chiến đấu có quy mô lớn nhất, toàn diện nhất và có thời gian dài nhất (Tính đến năm 1954).

Từ lâu đời, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều người Việt Nam sang Cam-pu-chia và Lào để làm ăn sinh sống. Mặt khác, thực dân Pháp đặt ba nước trong một thực thể gọi là Đông Dương thuộc Pháp gồm năm xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên và một guồng máy cai trị chung, có một đồng tiền chung. Trong thời kỳ này, chính quyền thực dân điều động khá nhiều công chức Việt Nam thuộc nhiều lĩnh vực sang làm việc tại Cam-pu-chia và Lào. Các chủ đồn điền cao su, chủ hầm mỏ người Pháp cũng mộ hàng vạn người Việt Nam, hầu hết là người miền Trung và miền Bắc sang làm phu cho chúng ở hai nước nói trên.

Ngoài ra còn có nhiều người Việt Nam sang Cam-pu-chia và Lào để tránh sự khủng bố trong nước, đồng thời tìm cách tiếp tục hoạt động vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì sự sinh tồn và hạnh phúc của nhân dân.

Vì vậy, trong thời kỳ đó, Cam-pu-chia và Lào là hai nước có Việt kiều đông nhất. Đến năm 1945, ở Cam-pu-chia có khoảng 35 vạn và Lào có khoảng 6 vạn Việt kiều.

Từ thế kỷ thứ XVIII, đã có người Việt Nam sang sinh sống ở Thái Lan. Nhưng đến thời kỳ thực dân Pháp cai trị Đông Dương, người Việt Nam mới sang đông đảo trong đó có nhiều người thuộc phong trào Cần Vương và sau này là các phong trào do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Bác Hồ đến hoạt động ở Thái Lan trong những năm 1927-1929. Nhờ vậy, Việt kiều ở Thái Lan mới sớm giác ngộ cách mạng và có những đóng góp quan trọng trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào và tổ chức lực lượng đưa về chi viện cho ba nước ở Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai(1).

Đến đầu năm 1945, ở Thái Lan có khoảng 4 vạn Việt kiều. Tháng 4 năm 1946, khi quân Pháp đánh chiếm lại toàn bộ nước Lào, phần lớn Việt kiều ở Lào vượt sông Mê Kông sang lánh nạn ở đất Thái, nâng số Việt kiều ở Thái Lan lên khoảng 10 vạn người.


(1) Dựa theo sách “Tư liệu lịch sử quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia thời kỳ 1945-1954”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:09:45 PM
*
*   *

Đầu năm 1933, Quốc tế Cộng sản có thư gửi cho những người cộng sản Đông Dương khẳng định: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng cách mạng của gia cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng ấy phải là một Đảng duy nhất, và ở Đông Dương chỉ có một Đảng ấy là tổ chức Cộng sản mà thôi”(1).

Từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, ba nước chịu sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã nâng tình đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia lên một tầm cao mới xứng danh “Đông Dương là một chiến trường” có “quan hệ đặc biệt” với nhau đã lãnh đạo ba nước giành được độc lập.

Ở Cam-pu-chia, đầu năm 1930, chi bộ cộng sản đầu tiên đã được thành lập tại trường trung học Sisôvat. Đến năm 1931 đã lập được 5 chi bộ, trong đó có một số đảng viên người Khơ Me hình thành Ban cán sự Đảng bộ Cam-pu-chia.

Từ những năm 40, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ba nước đoàn kết, liên minh chống ách thống trị của Pháp.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì có đoạn viết: “Pháp – Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của Pháp – Nhật”(2).

Nghị quyết cũng đề cập việc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước và viết: “Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên – Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh”.

Về xây dựng Đảng, “Hội nghị giao trách nhiệm cho Đảng bộ miền Nam phải giúp đỡ việc xây dựng Đảng ở Cam-pu-chia, Đảng bộ miền Trung phải giúp đỡ Đảng bộ Lào. Toàn bộ công tác xây dựng Đảng đều nhắm theo hướng làm cho Đảng có năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”(3).

Do âm mưu của thực dân Pháp đối với ba nước Đông Dương nên chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương vạch rõ: “về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung”.

Pháp bị Nhật lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhưng đến ngày 13 tháng 8, Pháp dựa vào quân Anh (đồng minh) lần lượt trở lại Đông Dương âm mưu khôi phục quyền thống trị ba nước.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự giúp đỡ của Anh, Pháp đánh chiếm Sài Gòn rồi lần lượt chiếm các tỉnh Nam Bộ. Nam bộ bắt đầu cuộc kháng chiến.

Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Pháp theo Anh nhảy dù xuống Phnôm Pênh, bắt thủ tướng Sơn Ngọc Thành và lập chính quyền tay sai.

Tháng 4 năm 1946, Pháp dựa vào Anh đã lần lượt chiếm lại nước Lào.

Tháng 12 năm 1946, Pháp gây chiến xâm lược miền Bắc Việt Nam, nhân dân Việt Nam bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.

Trong hội nghị liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương họp tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam – Lào – Miên như anh em một nhà. Cả ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất định đánh bại thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì để thay thế chữ “giúp”, chứ thực ra không phải là giúp, là là làm nghĩa vụ quốc tế”(4). Người còn nói: “Việt Nam kháng chiến thành công thì Lào, Miên mới thắng lợi và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”.



Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ ta tổ chức giúp bạn Lào và Cam-pu-chia với quy mô lớn nhất, toàn diện nhất và thời gian dài nhất. Liên minh ba nước có tổ chức lãnh đạo thống nhất, lúc đầu do Đảng Cộng sản Đông Dương, về sau do các đảng riêng của mỗi nước để phát huy tính độc lập tự chủ và theo điều kiện thực tiễn của mỗi nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cách mạng chân chính, Lào và Cam-pu-chia được sự giúp đỡ chí tình của quân tình nguyện Việt Nam, được sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào hòa bình, dân tộc, dân chủ của thế giới. Việt Nam được sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, ba nước đã giành được thắng lợi to lớn, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập chủ quyền lãnh thổ của mỗi nước.

Quân tình nguyện Việt Nam lại rút hết quân về nước, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Lào và Cam-pu-chia.

*
*   *

Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, hất Pháp, nhảy vào thay Pháp. Ba nước tiếp tục liên minh chống đế quốc Mỹ. Theo yêu cầu của bạn, ta đã tiếp tục cử quân tình nguyện sang giúp. Bạn cũng giúp ta căn cứ đứng chân, mở đường hành lang vận chuyển chiến lược, căn cứ bố trí hậu cần quân y… Nhưng chỉ Lào vẫn giữ tinh thần “Đông Dương là một chiến trường”, quan hệ hai nước là “quan hệ đặc biệt” suốt 20 năm chống đế quốc Mỹ gian khổ ác liệt gấp nhiều lần, cuối cùng ta đã giành thắng lợi huy hoàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở Lào, được sự giúp đỡ của Việt Nam, cách mạng Lào ngày càng phát triển. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào tiến công và nổi dậy đánh đổ chế độ quân chủ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, mở ra một thời kỳ mới để nhân dân Lào xây dựng đất nước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa chân chính.

Ngược lại, tập đoàn lãnh đạo Pôn Pốt, mặc dù ta đã giúp đỡ chí tình nhưng đến năm 1973, họ yêu cầu ta rút hết về nước. Đến khi Mỹ lật đổ vua Xi-ha-núc đưa bù nhìn Lon Non lên, ta lại đưa quân tình nguyện sang cứu nguy, giúp đánh địch, xây dựng lực lượng rất nhanh rồi ta rút quân về, nhưng vẫn còn tiếp tục vận chuyển vũ khí đạn dược quá cảnh giúp đỡ. Trên đà thắng lợi của nhân dân Việt Nam, quân và dân Cam-pu-chia đã mở trận tiến công đánh sụp đổ chế độ ngụy Lon Non tay sai của Mỹ, giải phóng toàn bộ đất nước ngày 17 tháng 4 năm 1975. Bọn Pôn Pốt trở mặt, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, phản bội ba nước Đông Dương. Chúng bắt tay với các lực lượng thù địch với Việt Nam, lập tức quay lại chống nhân dân Cam-pu-chia, chống lại Việt Nam. Chúng thi hành chính sách đối nội, đối ngoại cực kỳ phản động. Trong nước thì thực hiện chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo, đối ngoại thì gây xung đột vũ trang ở biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, rồi tiến hành chiến tranh biên giới Tây Nam, coi Việt Nam là “kẻ thù truyền kiếp” phá hoại hết sức nghiêm trọng tình đoàn kết quốc tế lâu đời giữa hai nước.

Như vậy ba nước Đông Dương có tình sâu nghĩa nặng, đoàn kết liên minh chiến đấu lâu đời chống mọi kẻ thù xâm lược, nay đang bị bọn cầm quyền Pôn Pốt phá hoại nghiêm trọng. Điều đó đặt ra cho Đảng và nhân dân ta một nhiệm vụ lịch sử rất nặng nề ngay sau khi vừa mới kết thúc cuộc trường chinh 30 năm. Trong hoàn cảnh mới, Cam-pu-chia là một nước có chủ quyền, đã lâu đời là đồng minh chiến lược của ta, trước hết ta phải tìm mọi cách bảo vệ nhân dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới của ta và sẵn sàng giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi tai họa diệt chủng, khôi phục tình đoàn kết lâu đời giữa Việt Nam – Cam-pu-chia.


(1) Lịch sử Đảng, tr.89-90.
(2) Lịch sử Đảng, tr.339.
(3) Lịch sử Đảng, tr.342.
(4) Tổng kết kháng chiến chống Pháp, tr.367-371.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:11:48 PM
CỤC TÁC CHIẾN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ
BẢO VỆ LÃNH THỔ BIÊN GIỚI TÂY NAM

Qua mấy năm theo dõi tình hình chiến trường phục vụ sự chỉ đạo của bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tôi tổng hợp diễn biến trên chiến trường được những vẫn đề lớn làm cơ sở để Cục Tác chiến báo cáo Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu đánh giá tình hình và đề xuất ý kiến chỉ đạo chiến tranh.

Sau ngày Cam-pu-chia được giải phóng (17-4-1975), Pôn Pốt thi hành chính chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo.

Vừa chiếm được Phnôm Pênh, chúng đuổi hết dân ra khỏi thành phố. Nhân dân đổ ra đường chưa kịp vui mừng thì họ vô cùng bàng hoàng nghe lệnh tất cả mọi người phải ra khỏi thành phố. Tất cả đàn ông đàn bà con trẻ, sư sãi, nhà giáo, nhà buôn, sinh viên không kịp mang theo thứ gì, con gọi bố mẹ, vợ gọi chồng, bị lùa đi như bầy nô lệ.

Tháng 5 năm 1975, khối thuốc nổ lớn phá sập nhà ngân hàng quốc gia Cam-pu-chia. Chúng gọi đó là tiếng súng đại bác tiến công vào dinh lũy đồng tiền.

Chúng bắt đầu xây dựng xã hội mới của Cam-pu-chia không tiền, không chợ, không trường học, không trí thức, không tôn giáo, không đô thị. Tất cả mọi người dân sống chung trong những “công xã”(1), lao động cực nhọc như những nô lệ dưới sự kiểm soát của những “Ang Ka” luôn sẵn sàng trong tay một cái búa để đập chết người nào muốn phản kháng. Không còn gia đình, không còn tư hữu, không còn quê hương. Cha mẹ và con cái phải sống cách biệt nhau theo giới tính và tuổi tác, hình thành từng đội lao động sản xuất tập thể, làm việc theo định mức, dưới sự kiểm soát của Ang Ka. Người lớn lao động nặng, làm ruộng đào kênh, đẵn gỗ trên ngàn. Thiếu nhi chăn bò, nhặt phân, cuốc đất. Tất cả phải làm đúng, làm đủ số lượng theo Ang Ka quy định, nếu thiếu thì phải phạt, hình phạt khổ nhất là cắt khẩu phần ăn. Cha mẹ không có quyền chăn sóc con vì con đều là của Ang Ka. Thanh niên không có quyền yêu. Lấy vợ lấy chồng đều do Ang Ka quy định. Chúng ghép từng cặp không hề biết nhau, tổ chức đám cưới tập thể chỉ nhằm mục đích “sinh sản” cho có người để lao động, để chiến đấu vì Việt Nam “xâm lược”.

Không ai được có bất cứ một thứ gì là của riêng vì phải xây dựng một xã hội không có tư hữu, dù đó là dụng cụ sinh hoạt hay những sản phẩm, những rau quả mình trồng được. Trẻ nhỏ nhặt một trái cây rụng xuống đất đã bị thối một phần cũng bị kết tội ăn cắp và bị phạt, nhẹ thì cắt khẩu phần ăn. Lúa gạo làm ra phải nộp hầu hết cho Ang Ka, sau những buổi lao động cực nhọc chỉ được ăn cháo loãng.

Chúng thanh trừng nội bộ hết sức khốc liệt đối với những ai không theo chúng. Thường vụ trung ương đảng Pôn Pốt ra chỉ thị tuyệt mật tiến hành một chiến dịch thanh trừng nội bộ: “Dù có phải hao tốn một triệu người, đảng ta (Pôn Pốt) cũng không tiếc. Đảng ta cần phải mạnh. Nếu chỉ còn lại hai triệu người Cam-pu-chia thì chúng ta vẫn xây dựng lại được đất nước”. Chúng giết người quá nhiều, xác người đem vùi lấp dưới những hố chôn tập thể ở các “cánh đồng ma”. Trong 3 năm 8 tháng 20 ngày dưới chế độ Pôn Pốt, như nhân dân Cam-pu-chia thường nói, bọn diệt chung Pôn Pốt đã giết hại hơn hai triệu người. Để thúc đẩy việc thanh trừng nội bộ, chúng ra sức kích động hận thù dân tộc, coi Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp, để gây xung đột vũ trang với Việt Nam.

Chúng kết hợp đánh ta bên ngoài với thanh trừng bên trọng nhằm vừa thực hiện chế độ diệt chủng vừa gây chiến tranh xâm lược Việt Nam. Để dễ bề xua quân đánh sang Việt Nam, năm 1976, chúng thanh trừng hết sức khốc liệt trong nội bộ từ ủy viên trung ương đến bộ chỉ huy quân khu xuống cho đến cán bộ sơ cấp kể cả bác sĩ, kỹ sư…, nhằm những cán bộ học ở Việt Nam về, những đảng viên chân chính chúng gọi là “phái 51”, các cán bộ Ít-xa-rắc và những ai chúng nghi vấn không phục tùng chúng. Chúng rêu rao rằng “Việt Nam không dám đánh Cam-pu-chia mà chỉ đánh bằng chính trị vì vậy phải trừ hết nội gián, làm trong sạch nội bộ mới mạnh được”. Chúng thanh trừng đến 60 phần trăm, có đơn vị đến 90 phần trăm.

Sự tàn bạo đó đã làm dấy lên phong trào ly khai rộng khắp, bắt đầu từ Cô Công và đông bắc. Ở Cô Công, lực lượng đồng chí Sại Phuthoong trốn ra biên giới Thái Lan hoạt động bí mật. Ở đông bắc, lực lượng đồng chí Bu Thoong, Soi Keo tránh ra biên giới Lào, Việt Nam hoạt động, liên lạc với ta. Năm 1976, cuộc đấu tranh lan rộng ra các tỉnh Bat-tam-bang, Kan-dal, Prey Viêng, Kom-pông Thom, Stung Treng, Mon-dol-ki-ri. Phong trào đặc biệt mạnh ở khu Đông nơi bọn Pôn Pốt thanh trừng khốc liệt nhất. Sang năm 1977, nhiều cán bộ đảng viên chân chính tìm đường chạy sang ta cầu cứu, trong đó có Hun Xen, Chia Xim, Hêng Xom Rin, Úc Bun Sươn… Nhân dân ở quân khu Đông giáp biên giới ta sang tỵ nạn ở Việt Nam rất đông. Từ các cán bộ lãnh đạo đến người dân bình thường đã thấm đậm tình sâu nghĩa nặng giữa ba nước Đông Dương, đều chung một suy nghĩ: Trong tình thế nguy cấp của đất nước và của bản thân gia đình, chỉ còn con đường cứu nước cứu nhà duy nhất là sang Việt Nam, nhờ giúp đỡ, chỉ tin ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh cái sống cái chết trong gang tấc, ai cũng phải cần trọng, không ai nói với ai, chỉ từng nhóm tự tìm đường cho mình, nhưng cuối cùng đều đã gặp nhau ở Việt Nam.


(1) Sau này theo sách “HÀNH TRÌNH QUA CÁNH ĐỒNG CHẾT” của Chanrithy Him, người đã thoát chết khỏi bàn tay của “Ang Ka” khi Cam-pu-chia được giải phóng tháng 1 năm 1979, cô Him kể: Lúc đó còn bé, gia đình có tám người, cha làm thầy thuốc ở Phnôm Pênh, cả nhà bị lùa ra khỏi nhà, đưa đến một nơi xa lạ, ở các lều tồi tàn, từ đó mọi người mang tên là dân mới. Cha cô bị chúng đưa đi, chúng nói là đi cải tạo, nhưng chúng đã dập chết. Mẹ, chị và hai em cô bị bắt lao động cực nhọc, ăn đói, chỉ có cháo rau, không đủ no, suy dinh dưỡng rồi bị bệnh chết. Mẹ bị kiết lỵ không có thuốc, chúng ném xuống hố sâu cho chết, chị và hai em đều bị phù thũng một thời gian cũng chết. nhà chỉ còn ba người sống sót, nhân khi quân ta vào giải phóng, bọn Ang Ka bỏ chạy, mấy anh em chạy được sang Thái Lan. Chị cô Him bị bọn Ang Ka bắt ép lấy một người xa lạ. Chúng nói vì Việt Nam đánh sang, cần phải đẻ nhiều để có người đánh giặc vì Cam-pu-chia chỉ còn hai triệu dân. Chị cô không chịu ở với người chồng đó, may anh này tốt bụng, không ép nên bọn Ang Ka không biết gì. Cô Him còn kể có một trường hợp cô biết được có hai thanh niên yêu nhau, tự lấy nhau có thai, chúng phát hiện được, bắt đem ra giết cho dân chứng kiến để uy hiếp tinh thần. Khi người mẹ chết, đứa con trong bụng còn quẫy, chúng đập chết luôn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:12:16 PM
*
*   *

Trong khi nhân dân ta đang vui mừng vì chiến thắng oanh liệt nhất của thế kỷ: giải phóng miền Nam – điều mà ai cũng mong đợi trong 30 năm qua, thì chỉ ba ngày sau, tức ngày 3 tháng 5 năm 1975, bọn Pôn Pốt đã dùng lực lượng vũ trang đổ bộ lên đảo Phú Quốc. Ngày 8 tháng 5 năm 1975, trên biên giới An Giang, chúng đưa một tiểu đoàn và 18 xe tăng, có pháo binh yểm trợ, đánh vào thôn An Phúc, xã Phú hữu, tây bắc thị xã Châu Đốc 30 ki-lô-mét, giết và làm bị thương 64 dân. Ngày 10 tháng 5 năm 1975, chúng chiếm đảo Thổ Chu của ta, bắt đi thủ tiêu 515 dân thường.

Chỉ trong tháng 5, tháng đầu tiên hòa bình ở Việt Nam, lực lượng của Pôn Pốt đã đánh phá 23 lần trên biên giới và ra hải đảo, làm thương vong hơn 635 người, đốt phá nhiều nhà cửa, cướp đi 900 trâu bò của đồng bào ta.

Trước những hành động trắng trợn xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt, ta kiên quyết giáng trả đích đáng buộc chúng phải rút khỏi Phú Quốc, diệt và bắt toàn bộ quân địch xâm phạm đến Thổ Chu, tiêu diệt cụm địch lấn chiếm ở xã Phú Hữu, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội, bắt 14 tên, thu 75 súng, có 1 pháo 105mm…

Trong hai năm 1976-1977, riêng trên biên giới phạm vi Quân khu 7, chúng đánh sang 500 vụ, gây tổn thất rất lớn cho nhân dân ta dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, bằng hành động đốt phá, cướp của, giết người mổ bụng moi gan… vô cùng tàn bạo, hết cả tính người. Toàn tuyến biên giới không yên ổn để sản xuất, nhân dân phải sơ tán ra sau xa, bỏ một vùng đất hoang rất rộng lớn.

Mọi người đều ngỡ ngàng, vì sao lại kỳ lạ vậy? Cam-pu-chia với ta là bạn lâu đời, hai nước xưa nay luôn đoàn kết giúp nhau cùng chiến đấu chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ, cũng vừa mới được giải phóng gần như cùng thời gian (tháng 4 năm 1975) kia mà?

Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng lúc này do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Bộ trưởng, Phó bí thư Quân ủy Trung ương tập trung chỉ đạo xử lý tình hình biên giới. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng để nhiều thời gian theo dõi, đã trực tiếp cho nhiều ý kiến chỉ đạo sáng suốt và sắc bén.

Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức thận trọng và tự kiềm chế, cố tìm mọi cách cứu vãn hòa bình mà chúng ta mới giành được sau 30 năm chiến tranh, đồng thời đi sâu nghiên cứu nắm đúng thực chất tình hình, nắm đúng đối tượng, kẻ thù. Ta đã tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc thương lượng để hòa giải nhưng không có kết quả.

Trong hai năm 1975-1976, ta đã chủ động mở bảy cuộc hội đàm, nhưng đều không có kết quả. Phía Cam-pu-chia không thành thật bàn bạc, bên ngoài nói tôn trọng đất Việt Nam, tôn trọng đường biên giới sẵn có, nhưng bên trong vẫn âm mưu liên tiếp vi phạm biên giới có hệ thống. Thực chất là Pôn Pốt muốn kéo dài thời gian để chuẩn bị chiến tranh, thực hiện mưu đồ gây chiến. Chúng đã đưa phần lớn lực lượng vũ trang ra biên giới chuẩn bị sẵn sàng. Mặt khác với sự viện trợ ồ ạt của bên ngoài, chúng gấp rút tăng lực lượng vũ trang từ 5 vạn lên 12 vạn, xây dựng 12 sư đoàn, 12 trung đoàn địa phương và các đơn vị binh chủng. Chúng tiếp tục xâm lược đánh phá biên giới dã man hơn, gây cho nhân dân ta tổn thất rất lớn.

Ngày 30 tháng 4 năm 1977, đúng hai năm sau ngày giải phóng miền Nam, khi toàn dân ta đang vui mừng làm lễ kỷ niệm ngày chiến thắng thì chúng bất ngờ phát động chiến tranh, dùng lực lượng lớn đánh toàn tuyến. Pôn Pốt huy động ra biên giới 12 trong số 17 sư đoàn.

Đợt đầu, chúng tập trung đánh phá ở Quân khu 9 (theo Thủ tướng Hun Xen sau này cho biết, quân khu Đông cũng có lệnh tiến công sang biên giới Việt Nam nhưng không thực hiện được cùng một thời gian). Đêm ngày 30 tháng 4 năm 1977, một sư đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương Pôn Pốt đánh vào 13 trong số 15 xã và 13 đồn biên phòng của ta từ xã Vĩnh Gia đến xã Vĩnh Dương thuộc tỉnh An Giang. Đánh đến đâu, chúng cũng đến cướp của giết người, đốt phá nhà cửa, sát hại dã man 758 đồng bào ta.

Ngay sau khi sự kiện trên xảy ra, Chính phủ ta đã gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bắn giết dân thường một cách dã man và yêu cầu chấm dứt ngay những hành động xâm phạm biên giới, đề nghị hai bên gặp nhau ngay để bàn bạc giải quyết vấn đề biên giới bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Bọn Pôn Pốt khước từ đề nghị của ta, còn đổ lỗi cho ta gây ra tình hình căng thẳng ở biên giới. Trong khi đó, chúng vẫn liên tiếp mở các cuộc tiến công vào các vị trí của ta, tập kích vào vùng đông dân, phá rào gài mìn, lấn đất, không cho đồng bào ta làm ăn, có nơi chúng tiến sâu vào đất ta 15 đến 20 ki-lô-mét, đi đến đâu chúng cũng cướp của giết người, tàn sát đồng bào ta một cách man rợ. Chúng hô hét đánh Việt Nam, rằng “Việt Nam không dám đánh ta, phải ngăn chặn, tiêu diệt chúng trên đất chúng”.

Ngày 25 tháng 9 năm 1977, địch tập trung 9 trong số 14 sư đoàn và lực lượng địa phương tiến công trên toàn tuyến biên giới, trọng điểm là tỉnh Tây Ninh. Chúng dùng hai sư đoàn đánh vào ba xã Tân Lập, Long Thuận, Long Khánh thuộc hai huyện Bến Cầu và Tân Biên, tàn sát trên 1.000 đồng bào ta. Chúng chủ trương “quét sạch, đốt sạch, phá sạch” triệt hạ làng mạc, chặt đầu, mổ bụng, moi gan từ cụ già, em bé, phụ nữ có thai, gây nên sự khủng khiếp và hận thù dân tộc, gây nhiều tổn thất về người và của đối với đồng bào ta ở biên giới.

Pôn Pốt càng leo thang chiến tranh. Ngày 20 tháng 10 năm 1977, trung ương đảng Pôn Pốt ra chỉ thị đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Ngày 15 tháng 11 năm 1977, chúng dùng năm sư đoàn chủ lực, năm trung đoàn địa phương mở cuộc tiến công vào biên giới Tây Ninh nhằm chiếm tây sông Vàm Cỏ Đông, Bến Sỏi và thị xã Tây Ninh, chúng đã tiến sâu vào đất ta bảy ki-lô-mét.

Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1978, quân Pôn Pốt đã đánh sang ta giết hại 30.704 người, đốt phá 21.223 trường học, bệnh viện, chùa, nhà thờ, 40 vạn nhà dân, cướp bóc 1.123 trâu bò, phá 3.300 héc-ta ruộng, khiến 43.000 héc-ta ruộng bị bỏ hoang.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:12:39 PM
*
*   *

Tội ác của tập đoàn Pôn Pốt với nhân dân ở vùng biên giới thật chồng chất. Ta không còn đường nào khác phải tăng cường chủ lực để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, để đánh thật đau buộc chúng phải ngồi lại bàn đàm phán, để nắm thực chất tình hình trên chiến trường phía bên đất Cam-pu-chia. Từ ngày 5 tháng 12 năm 1977 đến ngày 5 tháng 1 năm 1978, ta mở chiến dịch phản công trên hướng đường số 1, số 2, số 7, đánh thiệt hại năm sư đoàn chủ lực địch, trong đó có ba sư đoàn bị thiệt hại nặng, làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của chúng. Địch thừa nhận bị mất thế chủ động và bị tổn thất nặng, buộc phải tháo chạy hết về bên kia biên giới.

Ta đã khắc phục được một số khó khăn nhược điểm, giành lại thế chủ động chiến trường, có thế chủ động tiến công, đẩy địch ra xa biên giới, có điều kiện xây dựng tuyến biên giới, huấn luyện bộ đội, hiệu suất chiến đấu tăng lên rõ rệt. Đồng thời, ta cũng thu được nhiều tài liệu quan trọng, hiểu sâu âm mưu thủ đoạn của địch, thực trạng tình hình Cam-pu-chia, dưới chế độ diệt chủng Pôn Pốt nhân dân bị kìm kẹp, khủng bố rất tàn bạo, nhân dân rất căm thù chúng, mong được Việt Nam giúp đỡ giải phóng. Về chính trị, lực lượng cách mạng chân chính của Cam-pu-chia đã chủ động tập hợp lực lượng, bắt liên lạc với ta để nhờ giúp đỡ. Đó là cơ sở tốt nhất để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng Cam-pu-chia.

Mặc dù vậy, Pôn Pốt vẫn ngoan cố và đơn phương cắt ngoại giao với ta. Chúng tiếp tục đẩy mạnh thanh trừng nội bộ, tập trung vào các đơn vị miền Đông giáp với ta. Ở biên giới, chúng tiếp tục áp sát, đánh phá với cường độ cao hơn, sâu hơn. Mặt khác, chúng càng đẩy nhanh phát triển lực lượng quân đội, thêm nhiều sư đoàn và đủ các quân binh chủng không quân, hải quân, pháo binh, xe tăng thiết giáp…; ra nghị quyết gây chiến tranh lâu dài với ta, ra sức bắt lính tăng quân từ 15 vạn lên 17 vạn, đưa ra biên giới 19 trong số 23 sư đoàn, liên tiếp mở những cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới, chủ yếu tập trung nhằm vào ba trọng điểm tỉnh Tây Ninh, An Giang và Hà Tiên. Ngày 7 tháng 6 năm 1978, chúng tập kích vào thị trấn Kiên Lương và nhà máy xi măng Hà Tiên, sâu vào đất ta từ 15 đến 20 ki-lô-mét, giết 150 dân, đốt 600 nóc nhà; địch dùng pháo 130mm bắn vào thị xã Tây Ninh, Châu Đốc, thị trấn Mộc Hóa, Hồng Ngự làm chết và bị thương trên 100 dân.

Sau hàng trăm năm (nhất là đầu thế kỷ XVIII), ba nước Việt Nam – Cam-pu-chia – Lào đoàn kết chống quân ngoại xâm đã giữ và giành được độc lập cho mỗi nước. Vậy mà đến thời kỳ này, tập đoàn Pôn Pốt nắm quyền lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia đã phản bội dân tộc ba nước, gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đã làm phá vỡ tình đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương.

Qua những sự kiện nói trên, chúng ta thấy rõ bọn Pôn Pốt là một bọn mang tư tưởng dân tộc cực đoan, không tưởng, mang nặng hận hù dân tộc. Chúng dùng một chế độ diệt chủng kỳ quặc, chưa có tiền lệ trong lịch sử để “xây dựng” đất nước Cam-pu-chia, bắt dân làm việc hết sức cực nhọc, trong những điều kiện sống tồi tệ như bầy nô lệ để mạnh hơn Việt Nam. Chúng còn hy vọng hão huyền dựa vào các thế lực thù địch với Việt Nam, cùng chung mục đích làm cho Việt Nam chảy máu, suy yếu không gượng dậy được sau 30 năm chiến tranh. Trong chưa đầy 5 năm mà chúng hy vọng dựa vào vật chất, tiền của của nước ngoài, xây dựng một quân đội mạnh có hơn 24 sư đoàn với đủ các quân binh chủng, cơ sở bảo đảm để xâm lược Việt Nam.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:13:17 PM
*
*   *

Thời gian này ta đã thu thập đủ tình hình, đồng chí Nguyễn Khánh – Chánh Văn phòng Trung ương Đảng đã triệu tập Cục Tác chiến và Ban Đối ngoại Trung ương sang họp để chuẩn bị báo cáo Trung ương Đảng.

Tôi là Cục phó lúc này chuyên trách về Cam-pu-chia thay mặt Cục Tác chiến sang báo cáo, đi cùng có đồng chí Trần Hiệu – Trưởng phòng K, đồng chí Phi Long – Trưởng phòng Chiến trường. Bên Ban Đối ngoại Trung ương Đảng do đồng chí Nguyễn Hữu Tài – Trưởng ban sang báo cáo. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo tình hình thật cặn kẽ, đồng chí Khánh đã nhất trí với chúng tôi là đã đủ cơ sở để kết luận bè lũ Pôn Pốt là kẻ thù gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời chúng đã phản bội nhân dân Cam-pu-chia gây nên một họa diệt chủng chưa từng thấy đối với dân tộc mình.

Từ đầu năm đến giữa năm 1978, trên cơ sở tình hình thực tế trên chiến trường có thêm thông báo tình hình Cam-pu-chia do đồng chí Hun Xen cung cấp, Thường trực Quân ủy Trung ương đã báo cáo lên Bộ Chính trị về tình hình biên giới Tây Nam, xác định Pôn Pốt là kẻ thù gây chiến và đề nghị chủ trương phương hướng giải quyết, đánh đấu một bước mới trong sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh biên giới Tây Nam.

Lúc này ta đã có thể kết luận rằng Pôn Pốt đã biến chất, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, thi hành chế độ diệt chủng ở trong nước, đồng thời dựa vào các lực lượng thù địch nước ngoài, gây chiến với Việt Nam hòng làm cho ta tiếp tục chảy máu, suy yếu, còn hy vọng chiếm Sài Gòn với lòng hận thù dân tộc nặng nề. Bọn diệt chủng gây chiến Pôn Pốt vừa là kẻ thù của nhân dân Cam-pu-chia vừa là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam của ta có quan hệ hữu cơ với nghĩa vụ giúp bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã bị bọn Pôn Pốt phải bội. Chừng nào chưa đánh đổ được bọn diệt chủng Pôn Pốt thì biên giới Tây Nam của ta vẫn chưa có thể ổn định được.

Địch đã dùng quân sự đánh sang lãnh thổ của ta, gây cho quân dân ta tổn thất rất lớn, nhân dân ta không thể chịu đựng được nữa, nhân dân Cam-pu-chia đã đứng trên bờ vực của họa diệt chủng, đang tha thiết kêu cứu, tình thế buộc ta phải giúp bạn, bảo vệ mình, diệt trừ tận gốc bè lũ gây chiến và gây họa diệt chủng.

Để bảo đảm chắc thắng cả quân sự và chính trị, cả trước mắt và lâu dài, Đảng và Chính phủ ta phải chuẩn bị thật khẩn trương về ba mặt chủ yếu nhất: chuẩn bị lực lượng ta, bảo đảm chắc thắng về quân sự; giúp bạn chuẩn bị lực lượng bảo đảm chắc thắng về chính trị; chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đề phòng tình huống bất trắc bảo đảm chắc thắng trước mắt và lâu dài.

Đặc biệt nhất là chuẩn bị lực lượng cho bạn. Năm 1977, nhiều cán bộ đảng viên chân chính ở Cam-pu-chia ly khai. Ở Khu Đông có nhóm đồng chí Hun Xen, ở Đông Bắc có nhóm đồng chí Bu Thoong, Soi Keo. Phía bạn đã có thư đề nghị ta giúp.

Từ tháng 4 năm 1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định thành lập các tổ chức giúp cho bạn tập hợp cán bộ, đảng viên chân chính để bạn tự tổ chức bộ phận lãnh đạo, xây dựng lực lượng, ngọn cờ và căn cứ đứng chân ban đầu làm công tác chuẩn bị liên minh chiến đấu với ta.

Tháng 5 năm 1978, Quân ủy Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang. Bạn đã tập hợp các cán bộ chân chính cách mạng lập ra một đơn vị đầu tiên 125 người, bạn đặt tên là “Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia”, sau chuyển thành khung huấn luyện cán bộ do đồng chí Hun Xen đứng đầu ban chỉ đạo. Trong số này có nhiều đồng chí tiến bộ rất nhanh. Bạn đến các trại tỵ nạn người Khơ Me chọn các thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, có thù sâu với Pôn Pốt đưa về tổ chức lực lượng vũ trang có chất lượng tốt. Quân khu 7 tổ chức ra một khung cán bộ huấn luyện do đồng chí Ba Cung phụ trách. Đồng chí Ba Cung đã từng giúp bạn ở cơ sở, biết tiếng Khơ Me nên phối hợp ăn ý với bạn. Chủ yếu ta lo phần quân sự. Về chính trị thì hết sức phát huy bạn, có bài đồng chí Hun Xen trực tiếp soạn và lên lớp, cán bộ chiến sĩ bạn trực tiếp thu thanh. Khi lực lượng phát triển đông, quy mô hơn ở Thủ Đức, Long Giao liên tục tổ chức nhiều khóa huấn luyện ở đấy. Đến tháng 12 năm 1978, với sự giúp đỡ tận tình của Quân khu 7, bạn đã xây dựng được 21 tiểu đoàn, 5 đại đội và 69 đội vũ trang tuyên truyền… coi như lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của chính quyền mới khôi phục.

Ít lâu sau nhóm các đồng chí Hêng Xom Rin, Chia Xim, Úc Ban Sươn sang Việt Nam. Lúc này số cán bộ đảng viên chân chính của bạn đã khá động, đã biết được tin tức của nhóm đồng chí Sại Phu Thoong ở Cô Công, Phía bạn có năm nhóm gồm: nhóm ly khai, nhóm Ít-xa-rắc, nhóm đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia cũ, nhóm Đông Bắc và nhóm Cô Công, tất cả đã được 60 đảng viên. Các đồng chí họp hội nghị trù bị lập ra Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước và bầu đồng chí Hêng Xom Rin làm chủ tịch, sau đổi thành Mặt trận đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một thời gian sau, bạn họp tất cả đảng viên, chỉ thiếu nhóm Cô Công. Hội nghị hoàn toàn nhất trí khôi phục lại Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia và tổ chức ba chi bộ đầu tiên kể cả nhóm Cô Công, hoạt động theo cương lĩnh đường lối Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:13:39 PM
*
*   *

Cuối năm 1978, căn cứ Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 của Đảng ngày 27 tháng 7 năm 1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng ta đã có chủ trương kiên quyết bảo vệ biên giới Tây Nam, giúp nhân dân bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Từ tháng 6 đến tháng 9, ngay trong mùa mưa, Bộ quyết định tổ chức chiến dịch phản công lần thứ hai. Chiến dịch này do Bộ Tổng Tham mưu, trực tiếp là đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến báo cáo lên, được Bộ duyệt.

Tình hình Cam-pu-chia lúc này có sự diễn biến mới. Do chính sách diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt, các lực lượng chân chính và nhân dân Cam-pu-chia đã nổi dậy mạnh mẽ chống lại chúng. Mặc dù bị khủng bố, đàn áp dã man nhưng các cuộc nổi dậy vẫn liên tiếp diễn ra. Đặc biệt từ khi lực lượng Pôn Pốt tập trung chủ yếu xâm lược Việt Nam thì các cuộc nổi dậy phát triển rộng và quy mô ngày càng lớn. Ngày 25 tháng 5 năm 1978, nhiều đơn vị của công nhân cao su, nông dân và một số đơn vị thuộc quân khu 203 (khu Đông) đã nổi dậy chống lại chúng. Pôn Pốt phải đưa bốn sư đoàn, trong đó có hai sư đoàn điều từ biên giới về để đàn áp.

Nắm vững thời cơ đó, ta mở chiến dịch mùa mưa nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực quan trọng của địch, giúp đỡ lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển, giúp bạn mở rộng địa bàn làm căn cứ cách mạng, đồng thời làm bàn đạp trong cuộc phản công sắp tới.

Lực lượng chiến dịch gồm Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, các sư đoàn của Quân khu 7, Quân khu 5, trên hướng đường số 1, số 7, vùng biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài.

Chỉ huy chiến dịch này do tiền phương của Bộ. Đồng chí Lê Đức Anh – Phó Tổng tham mưu trưởng (ở trong Nam mới ra) làm Chỉ huy trưởng. Bộ Tổng Tham mưu có đồng chí Lê Ngọc Hiền, Tổng cục Chính trị có đồng chí Lê Hai. Tôi phụ trách nhóm cán bộ tham mưu.

Về lực lượng ta, các quân đoàn mới khôi phục chưa đầy đủ biên chế quân số, các sư đoàn của Quân khu 7 chuyển từ đơn vị sản xuất khôi phục biên chế và huấn luyện bổ sung. Khu vực tác chiến có chính diện rộng, địch thường đánh nhỏ lẻ thâm nhập vào nơi cơ hở đánh vào hậu phương làm cho các quân đoàn phải rải quân ra để giữ, bảo vệ dân; còn ta chỉ cần tập trung tiến công không tạo được lực lượng mạnh và tiến sâu để củng cố bàn đạp do đó kết quả diệt địch ít và mở rộng địa bàn rất chậm. Sau khi bàn bạc với tham mưu Quân khu 7 nhanh chóng kiện toàn các sư đoàn để đưa vào chiến đấu, tôi chuẩn bị một kế hoạch điều chỉnh bố trí đưa các sư đoàn mới sức cơ động tiến công yếu hơn vào phòng ngự, chuyển các quân đoàn nhất là Quân đoàn 3 sang thế cơ động tiến công phần lớn đứng luôn bên đất bạn. Tôi báo cáo với đồng chí Lê Đức Anh, đồng chí rất vui và chấp nhận ngay, khen tôi có biện pháp tốt, giải quyết được tốt vấn đề mà đồng chí đang muốn thực hiện sớm. Vì Quân đoàn 4 ở xa sở chỉ huy, tôi phải dùng trực thăng đi liên lạc với Quân đoàn để phổ biến kế hoạch mới.

Chiến dịch tiến triển tốt, ta loại khỏi chiến đấu sáu sư đoàn chủ lực địch, đánh thiệt hại bốn sư đoàn khác. Ngoài ra, chúng thanh trừng nội bộ hai ba vạn tên, làm cho ba sư đoàn khác bị tiêu hao nặng, lực lượng địch bị giảm sút nặng.

Đặc biệt, ta đã chiếm giữ các địa bàn có lợi, vừa đánh địch vừa hỗ trợ kịp thời cho các lực lượng ly khai, nổi dậy của các đơn vị thuộc quân khu 203 và nhân dân các tỉnh thuộc quân khu Đông và Đông Bắc. Ta đã tổ chức các đội công tác tuyên truyền vận động nhân dân, bắt liên lạc, móc nói với các lực lượng ly khai, giúp bạn tập hợp lại, nuôi dưỡng, tổ chức huấn luyện, đào tạo tập hợp lại, nuôi dưỡng, tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ giúp bạn xây dựng lực lượng, xây dựng bộ máy lãnh đạo, chính quyền đoàn thể và lực lượng vũ trang; đồng thời phối hợp với lực lượng nổi dậy mở đợ tuyên truyền vạch trần bản chất phản động và tội ác của Pôn Pốt làm cho chúng càng bị cô lập. Bạn đã có một vùng giải phóng, làm căn cứ đứng chân bước đầu, sau này ngày 2 tháng 12 năm 1978, bạn đã tổ chức mít tinh ra mắt Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, phổ biến bảy chính sách và tổ chức diễu binh, nhân dân rất phấn khởi.

Ta đã tranh thủ củng cố, kiện toàn lực lượng, xây dựng thêm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, phát triển thêm dân quân, ba thứ quân ở biên giới được hình thành. Hậu phương đã được động viên (bộ phận), có các phong trào quần chúng hỗ trợ cho phía trước.

Kết quả đợt tiến công mùa mưa, ta đã phối hợp quân sự, chính trị, binh vận và vận động nhân dân Cam-pu-chia, được các lực lượng chân chính và nhân dân bạn đồng tình ủng hộ, giành được thắng lợi to lớn về quân sự và chính trị. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực địch. Điều quan trọng là bước đầu ta đã giúp bạn hình thành và phát triển lực lượng cách mạng Cam-pu-chia đứng lên chống lại Pôn Pốt.

Địch thất bại cả về quân sự, chính trị, ngoại giao. Lực lượng vũ trang bị tổn thất nặng, chúng đã huy động tổng lực 19 trong số 23 sư đoàn nhưng đã bị mất một phần ba tổng số sư đoàn, một phần ba sinh lực chủ yếu. Quân khu 203 bị tan rã hoàn toàn, số còn lại bị giảm sút sức chiến đấu, tinh thần hoang mang, nội bộ mâu thuẫn, khủng bố, đàn áp tràn lan.

Đến cuối tháng 8, chiến dịch đã cơ bản đạt yêu cầu, đồng chí Lê Đức Anh chỉ thị cho tôi giao lại cho anh Mật làm tổng kết, còn tôi về ngay Sài Gòn gặp đồng chí Lê Trọng Tấn – Tổng Tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ mới.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:07 PM
*
*   *

Tôi được đồng chí Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 đang ở Phú Bài, chuẩn bị cho Quân đoàn về mọi mặt để sẵn sàng cơ động đánh lớn. Tôi bay về Hà Nội và chuẩn bị vào ngay Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ.

Sau này tôi mới được biết thay đổi nhiệm vụ đột ngột này nằm trong ý đồ cấp trên chuẩn bị cho một cuộc tiến công nhằm giải quyết chiến tranh biên giới Tây Nam.

Thực hiện ý định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến đảm nhiệm đã nhiều lần nghiên cứu phương án tác chiến chiến lược. Đồng chí Hiền đã hỏi ý kiến của bạn, báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn. Trong quá trình thảo luận có xem xét nhiều phương án, cuối cùng đi đến quyết định phương án giúp bạn đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, giúp bạn hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng bị Pôn Pốt phản bội.

Sau khi ta và bạn đã chuẩn bị đầy đủ những yếu tố quan trọng bảo đảm đánh chắc thắng, về ngoại giao, ta đã có phái đoàn đi các nước Đông Nam Á vạch trần tội ác của Pôn Pốt, nói rõ thiện chí của ta, tranh thủ sự đồng tình của một số nước ở Đông Nam Á.

Ngày 7 và 8 tháng 12 năm 1978, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm và kế hoạch phản công và tiến công lần cuối. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho các quân khu phía Nam giúp bạn ở các khu vực và xác định, lực lượng quân tình nguyện do bạn yêu cầu bao nhiêu thì để bấy nhiên, đến khi hoàn thành nhiệm vụ thì rút quân về. Chủ tương lên minh ta với bạn, thời gian đầu lực lượng của ta và của bạn đều quyết định, về lâu dài, lực lượng bạn là quyết định cuối cùng. Bộ Chính trị giao cho Bộ Tổng Tư lệnh thực hiện, không quyết định thời gian, để thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho chắc thắng.

Được biết quyết tâm và kế hoạch chiến lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam và giúp bạn Cam-pu-chia, cán bộ cơ quan nhất là Cục Tác chiến rất vui mừng phấn khởi, thỏa lòng mong ước bấy lâu này, vì cơ quan chúng tôi bám sát chiến trường đã nung nấu căm thù trước thái độ giả dối, hai mặt và hành động vô nhân đạo mất hết tính người của bọn Pôn Pốt đối với nhân dân ta và cả với nhân dân Cam-pu-chia, với chính đồng bào của chúng. Đã có lúc, để tỏ ró thái độ của cơ quan đối với bọn Pôn Pốt, chúng tôi đã dùng “màu xanh” để vẽ hành động của chúng lên bản đồ báo cáo lên cấp trên, nhưng Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu chưa cho phép vì chưa có kết luận của Trung ương Đảng. Qua đó, chúng tôi thấy rõ trước một sự kiện hết sức phức tạp nhất là về chính trị, ngoại giao, Đảng ta đã hết sức thận trọng, kiên trì tìm mọi biện pháp cứu vãn hòa bình; khi đã phải dùng biện pháp quân sự thì có tầm nhìn chiến lược sâu sắc và toàn diện, đề ra những chủ trương sáng suốt, sắc bén, dựa vào lòng tin vững chắc chính nghĩa sẽ thắng để kiên quyết vượt qua vô vàn khó khăn trong nước và trên thế giới, quyết thực hiện thắng lợi một sự nghiệp cao cả. Các cán bộ trong Cục Tác chiến được phân công đều hăng hái lên đường thực hiện nhiệm vụ theo chức trách của mình, mặc dù chưa được một ngày nghỉ ngơi sau 30 năm chiến tranh liên tục.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:40 PM
*
*   *

Tôi về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Lúc này Bộ Tư lệnh có: Tư lệnh là đồng chí Nguyễn Hữu An; Chính ủy là đồng chí Lê Linh; Phó Chính ủy là đồng chí Đoàn Chương; Tham mưu phó là đồng chí Thái Cán; quyền chủ nhiệm chính trị là đồng chí Lê Văn Dương.

Tôi về tập trung lo: Hoàn chỉnh biên chế tổ chức, huấn luyện cho Sư đoàn 325 mới chuyển từ loại 3 lên loại 1. Tổ chức Sư đoàn 306 mới. Kiện toàn các đơn vị binh chủng. Tổ chức diễn tập thực binh sư đoàn chiến đấu hiệp đồng binh chủng có tăng, pháo để nâng trình độ chiến đấu và để bạn Lào tham quan rút kinh nghiệm theo chỉ thị của Bộ.

Đầu trung tuần tháng 12 năm 1978, Quân đoàn 2 được lệnh cơ động vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, ngày 30 tháng 12 phải có mặt.

Ngày 16 tháng 12 năm 1978, đoàn đi nhận nhiệm vụ và chuẩn bị chiến trường do đồng chí Nguyễn Hữu An, đồng chí Lê Linh và đồng chí Thái Cán chỉ huy lên đường.

Tôi cùng đồng chí Đoàn Chương, đồng chí Lê Văn Dương chỉ huy hành quân.

Quân đoàn đã có kinh nghiệm cơ động thần tốc từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và hành quân trở ra Phú Bài. Lần này lực lượng xe pháo, xe tăng thiết giáp tăng nhiều, đường xa hơn nhiều, đường xấu, thời gian rất gấp, đi bằng nhiều phương tiện. Chúng tôi phải chia thành từng đoàn có lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ bảo đảm bí mật, an toàn, đến nơi chiến đấu được ngay.

Đơn vị cần đến nơi chiến đấu ngay là Sư đoàn 304 với toàn bộ xe pháo, cùng bộ phận nặng của Quân đoàn đi đường bộ thì đã có xe của Bộ tăng cường. Đồng chí Ba – Sư đoàn trưởng Sư đoàn 571 đã đến Quân đoàn nhận kế hoạch bảo đảm.

Bộ phận nhẹ của Quân đoàn cùng Sư đoàn 325 (trừ đơn vị xe pháo, đơn vị hỏa lực) đi máy bay. Tôi đã cùng đi với đồng chí Chính – Sư đoàn phó đến Bộ Tư lệnh Không quân và Hàng không hiệp đồng đủ các loại máy ba TU134, IL18, DC6, DC4, C130, An24 tính ra đến hàng trăm lần chiếc. Khi đi hiệp đồng ở sân bay Đà Nẵng, xe đồng chí Chính đâm vào xe tôi, tôi bị ngất 20 phút, đồng chí Chính bị thương ở trán. Anh em băng bó xong lại tiếp tục đi hiệp đồng với bạn.

Các đơn vị tăng, pháo, cao xạ đi theo đường sắt và đường biển bằng LST, LSM.

Tất cả chia làm 11 khối có chỉ huy lãnh đạo chặt chẽ.

Khó khăn nhất là xe tăng thiết giáp, vì phải chạy bộ vào Đà Nẵng để xuống tàu, có cầu Hói Rui không bảo đảm trọng tải phải bắc cầu công binh, chúng tôi phải trực tiếp kiểm tra, dùng lái giỏi để đưa qua suốt cả đêm, bảo đảm an toàn. Xuống tàu cũng phải cần thận mới bảo đảm.

Xong tôi mới đi máy bay đến trước kiểm tra tiền trạm các khối, đón bộ đội vào vị trí tập kết ở Tri Tôn, Bảy Núi, kiểm tra đường cho xe tăng thiết giáp từ bến đổ bộ đến vị trí tập kết.

Để giữ bí mật hướng hành quân, chúng tôi cho một đài đi ngược ra Bắc hàng ngày điện báo cáo về Bộ. Tàu chở tăng thiết giáp, khi khởi hành từ Đà Nẵng đi ngược ra Bắc một đoạn, ra xa mới vòng trở vào Nam.

Quân đoàn đưa bộ đội đến đủ xe pháo, tăng thiết giáp đúng thời hạn, an toàn, bí mật được Bộ khen.

Đồng thời chúng tôi được thông báo làn gày 23 tháng 12 năm 1978, địch dùng 10 sư đoàn tiến công trên tuyến biên giới Quân khu 7 và Quân khu 9, nơi ta đang tập trung lực lượng của Bộ và Quân khu. Trong đó chúng cho ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi nhằm chiếm Tây Ninh, hai sư đoàn đánh sang Hồng Ngự, Đồng Tháp, hai sư đoàn đánh vào Bảy Núi – An Giang, một sư đoàn đánh vào Trà Phô, Trà Tiên, hai sư đoàn đánh vào Hà Tiên – Kiên Giang.

Thừa cơ địch tập trung lực lượng tiến công, Bộ ra lệnh lập tức phản công chuyển sang tiến công. Tiền phương Bộ Quốc phòng ở phía Nam chỉ huy chung do đồng chí Lê Trọng Tấn – Tổng Tham mưu trưởng làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Đức Anh – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách hướng tây nam; đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Lê Hai – tiền phương Tổng cục Chính trị; tiền phương Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật – hai tổng cục này có trách nhiệm bảo đảm cho chiến dịch.

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, ta mở đầu cuộc phản công bất ngờ, mãnh liệt, thần tốc trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Lực ượng vũ trang của bạn phân về các quân đoàn, sư đoàn của ta để phối hợp chiến đấu, công tác.

Trên hướng Quân đoàn 4, Sư đoàn 341 bao vây tiêu diệt quân địch ở Bến Sỏi. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 5 phát triển theo đường quốc lộ 1 đánh chiếm thị xã Xoài Riêng.

Ngày 24 tháng 12, các đơn vị Quân khu 7 đánh chiếm trục lộ 13, phát triển hướng Kra-tiê; ngày 30 tháng 12 giải phóng thị xã.

Ngày 24 tháng 12, Quân đoàn 3 đánh chiếm các bàn đạp theo trục đường 7, chiếm Suông, Chúp, phát triển hướng Kom-pông Chàm.

Ngày 25 tháng 12 lực lượng Quân khu 5 đánh chiếm bàn đạp đường 19, phát triển hướng Stung Treng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:58 PM
*
*   *

Lúc Quân đoàn 2 vào tham chiến thì các hướng khác đã bắt đầu phản công.

Ngày 31 tháng 12, Quân đoàn 2 phối hợp với Quân khu 9 đánh địch lấn chiếm kênh Vĩnh Tế. Chúng chiếm mất khu Núi Tượng là tuyến xuất phát tiến công Quân đoàn. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1979, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 đã đánh đuổi hai trung đoàn địch bật khỏi kênh Vĩnh Tế, sau một ngày đêm chiến đấu quyết liệt, Lữ đoàn công binh 219 bám theo, khi còn khói lửa đã dũng cảm triển khai làm cầu qua kênh Vĩnh Tế. Trong khi bộ binh còn tiếp tục chiến đấu, máy bay A37 của ta đánh phá các sở chỉ huy của quân khu Đông Nam của sư đoàn 250 và 210 của địch.

Sáng ngày 2 tháng 1 năm 1979, sau khi Lữ đoàn 219 công binh bắc cầu xong, các đơn vị bộ binh, pháo binh, xe tăng đã vào vị trí xuất phát tiến công ở Núi Tượng nam kênh Vĩnh Tế, Sở chỉ huy vào vị trí ở xã Lương Phi thì Quân đoàn bắt đầu nổ súng. Theo kế hoạch đã định, dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh, xe tăng thiết giáp cùng bộ binh ào ạt vượt kênh Vĩnh Tế tiến công mãnh liệt vào các cụm địch, phối hợp cùng Quân khu 9 diệt địch. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy trên gò cao nhìn rất rõ các mũi tiến quân phối hợp với pháo binh, xe tăng thiết giáp rất nhịp nhàng, trên trời thỉnh thoảng cường kích của ta gầm rút bay qua, tạo cho tôi một cảm tưởng khó tả, cảm nhận sâu sắc sự lớn mạnh của quân đội ta. Đến 13 giờ ngày 3 tháng 1, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn 250, đánh thiệt hại sư đoàn 210, 230 của địch và một số địch còn lại phảo tháo chạy vào rừng, quân khu Đông Nam rút chạy về thị xã Tà Keo.

Chúng tôi được thông báo, đến ngày 2 tháng 1 năm 1979, sau 11 ngày phản công, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu và đánh thiệt hại nặng các sư đoàn tuyến trước, đánh vỡ tuyến phòng ngự chiến lược của địch, ba cụm địch mỗi cụm năm sư đoàn địch án ngữ các trục đường 1,2 và đường 7 bị ta tiêu diệt và làm tan rã, địch ở Kratiê và đường 19 kéo dài tháo chạy về sau. Ta và bạn phát triển nhanh, đang tiếp cận bờ đông sông Mê Kông.

Trước nguy cơ bị sụp đổ hoàn toàn, ngày 4 tháng 1, Pôn Pốt ra lệnh chuẩn bị di tản khỏi Phnôm Pênh.

Tình hình diễn biến hết sức khẩn trương và phức tạp (về ngoại giao), thể theo nguyện vọng của bạn, trên đã chỉ thị cho tiền phương Bộ Quốc phòng giúp bạn tổng tiến công giải phóng Phnôm Pênh trước ngày 8 tháng 1.

Ngày 4 tháng 1 năm 1979, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh: Ngày 6 tháng 1 bắt đầu tổng công kích.

Tôi được biết sát cạnh Quân đoàn 2, ngày 6 tháng 1, Quân đoàn 4 được Bộ tăng cường phương tiện, tiếp tục tổ chức vượt sông Niếc Lương, phát triển tiến công vào Phnôm Pênh.

Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ tiến công nhanh ra cảng Kom-pông Som (Xi-ha-núc-vin) tiếp sức cho Lữ đoàn 126 lính thủy đánh bộ, chậm nhất ngày 7 tháng 1 phải có mặt.

Riêng Sư đoàn 304 tăng cường pháo binh, xe tăng thiết giáp sẵn sàng cơ động đánh chiếm Phnôm Pênh sau khi Quân khi 9 chiếm được Tà Keo.

Khi nghe đồng chí Mật – Cục phó Cục Tác chiến ở Sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh trực tiếp chỉ huy Quân khu 9 và Quân đoàn 2 phổ biến kế hoạch Quân đoàn 2 đi theo đường Dốc Mía – Chhuc, Kăm-pốt, tôi đã đề xuất nên đi đường Kom-pông Trạch và cho thêm thời gian vì sợ không kịp tiếp sức cho bạn. Đồng chí Mật khẳng định đường Dốc Mía tốt, tôi không tin vì trên bản đồ chỉ có đường đất, nhưng đồng chí Nguyễn Hữu An không đặt thành vấn đề, chấp nhận như vậy. Tôi vẫn băn khoăn nên những ngày tiếp sau trong lúc lo hướng tôi đảm nhiệm chỉ huy Sư đoàn 304, tôi thường theo dõi tình hình phát triển chiến đấu của Quân đoàn.

Sau khi Đảng ủy Quân đoàn bàn, Tư lệnh Quân đoàn đã chuyển Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 sang Sư đoàn 304 và chuyển Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 sang Sư đoàn 325 để điều hòa chất lượng và phân công tôi cùng đồng chí Đoàn Chương đi chỉ huy Sư đoàn 304 tăng cường.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:15:19 PM
Tôi nhận thấy lần này có sự lặp lại của lịch sử: Vì trước đây 5 năm cánh quân chúng tôi đảm nhiệm gồm đúng các thành phần đã thọc sâu vào chiếm “dinh Độc lập” đầu tiên ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chúng tôi đã dùng ý tưởng đó, khi xuất quân truyền đạt cho bộ đội: “Chúng ta sẽ lặp lại lịch sử, sẽ vào Phnôm Pênh đầu tiên!”, anh em rất hồ hơi nô nức hẳn lên.

Mất một ngày đêm, chúng tôi mới tập hợp lực lượng nhất là chuyển đội hình xe tăng, pháo nặng qua mấy đoạn đường đất vào vị trí xuất phát ở đường ngang Ta Ni - Kom-pông Chư Rây (nối đường 2 với đường 3), kéo theo điện thoại liên lạc thẳng đến Sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh phụ trách hướng Quân khu 9 và Quân đoàn 2). Lúc này, ta cũng đã nhận đủ xe ca chở quân huy động của dân ở An Giang đưa sang. Tại đây chúng tôi tiếp tục làm công tác chuẩn bị, động viên bộ đội phát huy truyền thống của đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Gần trưa ngày 7 tháng 1, tôi thấy đã đến giờ xuất kích, tôi trao đổi thống nhất với đồng chí Đoàn Chương gọi điện thoại trực tiếp với đồng chí Lê Đức Anh:

- Tôi xin xuất kích và cắt liên lạc bằng điện thoại.

Đồng chí Lê Đức Anh đồng ý. Tôi bắt đầu chuyển bộ đội ra hướng đường 2 theo đội hình thọc sâu. Từ đây tôi chỉ còn chiếc máy thu thanh mang theo người để biết tình hình diễn biến trên toàn mặt trận nhanh nhất: ngày nào, giờ nào giải phóng ở đâu đều biết hết, duy chỉ có Kompông Som vẫn chưa có tin. Như vậy đúng là điều tôi đang lo đã xảy ra.

Đến sẩm tối, đường 2 vẫn kẹt, tôi đang suy tính tìm đường tránh để vượt lên thì nghe tin Phnôm Pênh đã giải phóng. Tôi hiểu ngay là lần này mình bị chậm chân hơn Quân đoàn 4 rồi, lịch sử bị đảo ngược cũng phải thôi! (Lần trước Quân đoàn 2 đã giành vinh dự đáng được hưởng của Quân đoàn 4 rồi).

Hôm sau, chúng tôi được lệnh giúp bạn kiểm soát khu mới giải phóng. Trong lúc chưa biết chắc tình hình của Quân đoàn thì hồi 10 giờ sáng có một trực thăng đổ xuống hồi ruộng khô gần nơi đóng quân của đơn vị. Khi biết là máy bay của ta, tôi đã đón, khách đến là các đồng chí Phạm Công Lý và Nguyễn Hoàng Vị - hai trợ lý Cục Tác chiến rất năng nổ, tháo vát hiện đang làm nhiệm vụ ở sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh. Gặp cán bộ cùng cơ quan tại chiến trường, tôi rất vui, tay bắt mặt mừng. Như biết lòng mong mỏi của tôi, các đồng chí hỏi ngay:

- Chúng tôi xuống Quân đoàn nắm tình hình, ghé xuống đây cho anh biết tin, hiện Quân đoàn bị chậm ở đoạn đường đất đang còn đánh địch ở Chhuc. Hôm nay đã là ngày 8 tháng 1 năm 1979.

Tình hình đã rõ, Quân đoàn ta chưa hoàn thành nhiệm vụ đến kịp tiếp sức cho bạn ở Kom-pông Som. Tôi lo lắng vì Quân đoàn đến chậm không những bạn đang gặp khó khăn mà hơn nữa chậm chiếm cảng là chưa khóa được đường rút và đường tăng viện dự kiến của địch. Tôi bàn với anh Đoàn Chương để tôi lên Sở chỉ huy xin cho đổi nhiệm vụ, chuyển sang đánh Kom-pông Som theo đường Kom-pông Trạch để hoàn thành nhiệm vụ của Quân đoàn.

Sẩm tối đến Sở chỉ huy, đồng chí Mật cho biết đồng chí Lê Đức Anh ra Phú Quốc huy động lực lượng lên tiếp ứng cho Kom-pông Som, đồng chí Mật không dám thay đổi nhiệm vụ của Sư đoàn 304. Tôi nghĩ rằng Lữ đoàn 126 ở Kom-pông Som đang gặp khó khăn, đồng chí Lê Đức Anh phải trực tiếp đi huy động lực lượng là chuyện khá nghiêm trọng, do đó tôi đề nghị đồng chí Mật điện báo cáo đề nghị đồng chí Mật điện báo cáo đề nghị của tôi lên đồng chí Lê Đức Anh, tôi sẽ chờ. Vì dùng điện mật bằng vô tuyến điện, nên đến sáng hôm sau (ngày 9 tháng 1) mới được điện đồng chí Lê Đức Anh đồng ý.

Tôi vội về ngay. Ở nhà, đơn vị đã chuẩn bị sẵn sàng. Trưa tôi về là lệnh xuất quân ngay, chỉ chỉnh lại đội hình bộ binh với xe M113 đi trước, pháo nặng và tăng đi sau. Tôi đi cùng Trung đoàn 66 đi đầu hàng quân.

Dọc đường không có trở ngại gì lớn. Tối thì đến gần thị xã Kăm-pốt, tôi lên quan sát thì thấy có đốt lửa, cho trinh sát bí mật vào gần thì biết là quân ta, lên hỏi mới biết là Quân đoàn còn nghỉ ở đây. Tôi báo cáo đồng chí Tư lệnh và đề nghị tôi tiếp tục đi. Đồng chí Tư lệnh đồng ý.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:16:15 PM
Khi đến gần cầu Bô-ko thì xe tăng đi trước đã làm sập cầu. Trong khi chờ công binh đánh đường vòng, tôi cùng tổ trinh sát đi lên trước một đoạn thì gặp tổ trinh sát đang chờ đón, đưa cho tôi tờ giấy ghi điện của đồng chí Lê Đức Anh: “6 giờ sáng mai đón tôi ở cầu số 8”. Tôi vội quay lại đôn đốc sửa đường nhanh để đi cho kịp, nhắc sư đoàn để xe tăng đi sau, cho thiết giáp cùng Trung đoàn 66 đi gấp lên trước cho kịp.

Trời vừa sáng, tôi cùng bộ phận đi đầu của Trung đoàn 66 vừa đến trạm quân y đầu cầu số 8, thì nghe tiếng máy bay trực thăng đang rõ dần, trong lúc đó còn nghe thấy tiếng súng từ ngọn đồi bên cạnh. Đồng chí Cường – Lữ đoàn trưởng 126 chạy ra đón, vẻ rất mừng rỡ. Tôi hỏi ngay tình hình, đồng chí nói:

- Bộ phận phái đi trước của ta gồm tám xe tăng và một đại đội bộ binh đã vào chiếm Xi-ha-núc-vin hồi 4 giờ ngày 7 tháng 1, bị địch phản kích phải lui lại cùng lực lượng đổ bộ tiếp sau cụm lại cách Xi-ha-núc-vin gồm 30 xe tăng và một tiểu đoàn bộ binh, không đánh địch mà chờ đại bộ phận lên tiếp ứng nên bị địch đánh lui dần. Trưa ngày 8 tháng 1, địch đã chiếm cao điểm không tên tây bắc ngã ba Rem – đồng chí chỉ tay về hướng tây nam cầu số 8 – Lực lượng của lữ đoàn đến sáng ngay 9 tháng 1 mới đến nơi đang bố trí ở phía tây nam cầu số 8(1).

Tôi giao nhiệm vụ ngắn gọn cho đồng chí Chính – Sư đoàn phó đi cùng với tôi đang có mặt ở đó, xong vừa vào đón chiếc máy bay đang hạ cánh.

Từ hôm tôi chào đồng chí Lê Đức Anh ở biên giới Tây Nam để về Quân đoàn 2 đến nay mới mấy tháng mà thấy đồng chí gầy hẳn đi, nhưng trên mặt vẫn nở nụ cười. Đồng chí đối với tôi vẫn như khi còn làm việc ở cơ quan. Cùng đi với đồng chí có đồng chí Ninh phụ rách quân chủng của Cục Tác chiến và mấy cán bộ ở cơ quan tiền phương. Đồng chí Ninh cho biết:

- Hôm kia ở đảo Phú Quốc được điện của tôi, anh Lê Đức Anh rất mừng, anh chấp nhận ngay.

Vào trong nhà, đồng chí Lê Đức Anh làm việc ngay. Sau khi nghe đồng chí Cường và tôi báo cáo, đồng chí nói:

- Thôi, tối rồi, đồng chí Tần về theo đơn vị, động viên bộ đội hoàn thành nhiệm vụ tốt, chú ý bảo đảm chính sách, quản lý, bảo vệ cẩn thận trang thiết bị vũ khí đạn dược còn nhiều ở cảng về sau này giao lại cho bạn.

Lúc này Sư đoàn 304 đã triển khai đội hình đang tiến ra cảng, xe tăng đã vượt lên trước, pháo đã vào trận địa. Sư đoàn đã quen cách đánh khi tiến vào Sài Gòn cách đây mấy năm, trong hành tiến tiến công hiệp đồng binh chủng ào ạt xông vào diệt từng vị trí và nhanh chóng thọc sâu, đang truy lùng và cho Trung đoàn 9 phát triển sang Rêam.

Đến chiều, đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho tôi trở về Kăm-pốt tổ chức quân quản và chỉ đạo Sư đoàn 325 truy quét địch. Bộ Tư lệnh sẽ về sau khi ổn định tình hình ở cảng.

Tôi dùng một xe M113 về ngay trong đêm, đến Kăm-pốt an toàn. Đường về chạy ven rừng căn cứ cũ của địch, tôi có đề phòng nhưng địch mới bị đánh đang chạy tán loạn, chưa kịp phản ứng lại.


(1) Lữ đoàn 126 lính thủy đánh bộ do thượng tá Trần Chí Cương làm Lữ đoàn trưởng, trung tá Nguyễn Văn Luật – Lữ đoàn phó chính trị, trung tá Mai Năng và tung tá Trần Sỹ Kích – Lữ đoàn phó. Lực lượng chủ yếu của lữ đoàn có 5 tiểu đoàn bộ binh và 30 xe tăng. 18 giờ 30 phút ngày 6 tháng 1 năm 1979, xuất phát từ An Thới. Bãi đổ bộ chọn ở tây Kămpốt 5 ki-lô-mét. Đổ bộ từ 2 giờ ngày 7 tháng 1 được 30 xe tăng và 1 tiểu đoàn bộ binh. Toán phải đi trước gồm 8 xe tăng và 1 đại đội bộ binh do trung tá Mai Năng chỉ huy, đổ bộ xong xuất kích ngay, đến 4 giờ ngày 7 tháng 1 đã vào Xi-ha-núc-vin. Địch phản kích, toán này không trụ lại mà lui về cách Xi-ha-núc-vin 7 ki-lô-mét thì gặp lực lượng phía sau lên cụm lại đó cả 30 xe tăng và 1 tiểu đoàn bộ binh. Do không đánh địch mà chờ lực lượng phía sau lên, nên địch đánh phải lui dần đến trưa ngày 18 tháng 1 địch chiếm cao điểm Không tên tây bắc ngã ba Rem. Ta bị tổn thất lui về giữ phía đông cầu số 5. Đồng chí Luật hy sinh. Lực lượng chủ yếu của lữ đoàn (4 tiểu đoàn bộ binh) đi ôtô nhưng ôtô không đổ bộ lên được, phải đi bộ đến 3 giờ sáng ngày 9 tháng 1 mới gặp bộ phận đi trước ở đông cầu số 8 và chiếm giữ ở đó cho đến khi bộ phận đi trước của Quân đoàn 2 đến nơi.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:16:38 PM
Sau này tôi được biết, theo yêu cầu của đồng chí Tư lệnh Hải quân, Quân đoàn đã cử một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 do đồng chí Trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy đi tàu biển cùng bộ đội hải quân, theo đồng chí Ba Song – cán bộ Cục Tác chiến hướng dẫn đã đổ bộ lên chiếm Cô Công phối hợp với bạn chiếm thị xã Cô Công ngày 17 tháng 1 là thị xã cuối cùng của Cam-pu-chia được giải phóng.

Chúng tôi được thông báo liên tiếp tin chiến thắng.

Ngày 6 tháng 1 năm 1979, ta bắt đầu tổng tiến công Phnôm Pênh.

Quân đoàn 4 với hai sư đoàn vượt sông Mê Kông ở phà Niếc Lương cùng với trung đoàn giang thuyền và trung đoàn đặc công ngược sông Mê Kông đánh vào trung tâm thủ đô Phnôm Pênh. Chỉ trong hơn một ngày tiến công, hồi 11 giờ 30 phút ngày 7 tháng 1 năm 1979, Sư đoàn 7 đã tiến vào Phnôm Pênh, đến cuối ngày ta và bạn đã chiếm toàn bộ thủ đô.

Quân đoàn 3 vượt sông bằng sức mạnh, đánh chiếm thị xã Kom-pông Chàm, thọc sâu theo đường 7, vượt sông Tông-lê-sáp ở Niếc Đam, tiến vào Phnôm Pênh từ hướng bắc.

Quân khu 9 ngày 6 tháng 1 chưa chiếm được Tà Keo, dùng Sư đoàn 9 bao vây Tà Keo, Sư đoàn 339 và Sư đoàn 330 tiến theo đường 3 đánh vào sân bay Pô-chen-tông theo theo hướng tây nam.

Quân đoàn 2 sau khi đánh chiếm Kăm-pốt ngày 9 tháng 1, phát triển tiến công cùng lữ đoàn lính thủy đánh bộ chiếm cảng Rem và Kom-pông Som ngày 10 tháng 1.

Ngày 8 tháng 1 năm 1979, lực lượng yêu nước Cam-pu-chia tuyên bố thành lập Hội đồng nhân dân cách mạng Cam-pu-chia đứng đầu là Chủ tịch Heeng Xom Rin. Ngày 10 tháng 1, Hội đồng nhân dân cách mạng Cam-pu-chia công bố chính sách đối nội, đối ngoại, quyền đại diện chân chính, hợp pháp của nhân dân Cam-pu-chia.

Từ đó lực lượng ta phát triển tiến công rất nhanh.

Quân đoàn 3 tiếp sau là Sư đoàn 5 Quân khu 7 đánh chiếm Kompông Chom ngày 9 tháng 1, thị xã Xiêm Riệp sáng 10 tháng 1, Xi-xô-phôn ngày 11 tháng 1, sau đó thọc xuống đánh chiếm thị xã Bat-tam-bang ngày 12 tháng 1, thị xã Pô-sát ngày 14 tháng 1.

Sư đoàn 339 Quân khu 9 bị địch phản kích quyết liệt ở U-đông, Sư đoàn 330 phát triển tiến công chiếm thị xã Kom-pông Chơ-năng ngày 11 tháng 1.

Hướng Quân khu 5, sau khi giải phóng các tỉnh đông bắc, dùng Sư đoàn 307 đánh thị xã Preah Vi-hia ngày 16 tháng 1.

Một tiểu đoàn của Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 do trung đoàn trưởng chỉ huy cùng lực lượng hải quân có không quân yểm hộ, phối hợp với bạn đánh chiếm thị xã Cô Công ngày 17 tháng 1 là ngày cả nước Cam-pu-chia được giải phóng khỏi ách diệt chủng của Pôn Pốt.

Trong cuộc tiến công từ ngày 23 tháng 12 năm 1978 đến ngày 17 tháng 1 năm 1979, ta và bạn cơ bản đạt được các mục tiêu đã đề ra; Đã tiêu diệt, làm tan rã 18 trong số 23 sư đoàn chủ lực địch, trong đó có 5 sư đoàn bị xóa sổ. Số còn lại tan rã tại chỗ. Giải phóng trên 3 triệu dân, thu hồi cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự của địch ở các thành phố, thị xã, thị trấn, sân bay, bến cảng, trên các tục đường giao thông chiến lược của Cam-pu-chia. Đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở. Chính quyền cách mạng Cam-pu-chia được thành lập, đã được các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước độc lập dân tộc công nhận (9 nước) kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chuyển sang làm nhiệm vụ giúp Cam-pu-chia hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng.

Ngày 18 tháng 2 năm 1979, đại diện Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hội đồng nhân dân cách mạng Cam-pu-chia ký hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác lâu dài giữa hai nước tại Phnôm Pênh.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:16:55 PM
*
*   *

Sau thời gian truy quét mở rộng vùng kiểm soát và ổn định tình hình trong tỉnh, bạn và ta đã tổ chức lễ ra mắt của chính quyền và mặt trận của tỉnh bằng một cuộc mít tinh rất đông và an toàn. Nhân dân hết sức vui mừng phấn khởi vô cùng biết ơn Bộ đội Cụ Hồ, nhưng trên mọi người còn mang nhiều dấu ấn của những người vừa thoát khỏi cõi chết.

Tôi đã thay mặt quân đoàn ký kết bàn giao với Chủ tịch mới của tỉnh Kăm-pốt, bao gồm các biên bản bàn giao cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược, xe cộ, kho tàng nhà cửa đầy đủ. Bạn rất hài lòng và rất cám ơn Đảng, nhân dân, Quân đội Việt Nam.

Sau này, khi đã hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn về nước, tôi đã tập trung trung hơn 200 xe chiến lợi phẩm mà Quân đoàn tạm sử dụng để làm nhiệm vụ ở Cam-pu-chia, đem tập trung về Bộ để bàn giao cho bạn.

Quân đoàn còn ở lại một thời gian truy quét địch ổn định tình hình ở Kăm-pốt, cảng Kom-pông Som và phối hợp với đơn vị Quân đoàn 3, 4, v.v… truy quét các căn cứ cũ của địch ở tây nam Cam-pu-chia, diệt địch, giải phóng dân, vừa chiến đấu, vừa giúp bạn hồi sinh; đưa dân về nơi cư trú, giúp làm chỗ ở, giúp sản xuất, giúp chữa bệnh, cứu đói… phối hợp với các đội công tác của bạn, tuyên truyền và vận động nhân dân đánh địch ngầm, xây dựng lực lượng, chính quyền cơ sở.

*
*   *

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc nổ ra thì ngày 27 tháng 3, Quân đoàn được lệnh cấp tốc hành quân ra Bắc. Lại một lần nữa, cơ động đường dài thần tốc, nhưng lần này suốt cả chiều dài của đất nước hơn 2.000 ki-lô-mét. Tôi trở về Sở chỉ huy quân đoàn nhận nhiệm vụ, đi trực thăng về Sài Gòn báo cáo kế hoạch hành quân bằng đường không, đường biển và đường sắt để cơ quan tiền phương Bộ giúp bố trí phương tiện sẵn sàng. Tôi cùng đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường và đoàn tiền trạm đi một chuyến máy bay Bôing ra Hà Nội. Đoàn tiền trạm các đơn vị về các vị trí dự kiến, chuẩn bị đón bộ đội về tập kết. Tôi cùng đoàn cán bộ đi lên biên giới phía Bắc chuẩn bị chiến trường, tập trung nghiên cứu trên hướng chính Lạng Sơn, Đồng Đăng, nắm tình hình và trao đổi với các Bộ Tư lệnh Quân đoàn đang chiến đấu ở mặt trận, sau đó đón đồng chí Tư lệnh Quân đoàn tiếp tục đi xác định trên thực địa hoàn thành phương án phản công phối hợp với các quân đoàn đứng chân trên hướng chủ yếu của chiến dịch.

Do chủ trương của Trung ương Đảng, Quân đoàn chưa phải tiến hành chiến dịch phản công đã dự kiến. Từ nay Quân đoàn chuyển sang một thời kỳ mới.

Với thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, Quân đoàn 2 vinh dự được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Chính phủ Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia trao tặng Huân chương Ăng Co kèm theo bức trướng mang dòng chữ: “Tinh thần quốc tế vô sản trong sáng tuyệt vời”. Trung đoàn 24 bộ binh, Sư đoàn 304, Đại đội 7 Lữ đoàn 203 xe tăng được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai, 163 tập thể và 1.260 cán bộ chiến sĩ Quân đoàn có thành tích xuất sắc được tặng Huân chương Quân công và Chiến công các loại.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:17:18 PM
*
*   *

Tôi nghĩ rằng chiến tranh biên giới Tây Nam có nhiều đặc điểm khác thường vì hai nước vốn có quan hệ đoàn kết đặc biệt từ lâu đời. Nhưng thực tiễn đã cho thấy rõ cuộc chiến tranh này là do bọn Pôn Pốt mang nặng đầu óc dân tộc cực đoan, không tưởng và lòng hận thù dân tộc nặng nề, đã phản bội nhân dân ba nước Đông Dương, thực hiện đường lối vô cùng phản động. Pôn Pốt phạm tội ác chưa từng có là gây chiến tranh biên giới Tây Nam là chiến tranh xâm lược phản động, phi nghĩa; đồng thời thực hiện chế độ diệt chủng chưa có tiền lệ trong lịch sử đối với nhân dân Cam-pu-chia. Chúng vừa là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, vừa là kẻ thù của nhân dân Cam-pu-chia.

Đối với ta, chiến tranh này là chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống với kẻ thù mới, là chiến tranh tự vệ, chính nghĩa, chống chiến tranh xâm lược dưới loại hình mới, đồng thời là nghĩa vụ quốc tế sang giúp nhân dân Cam-pu-chia và cùng nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ kẻ thù chung nhằm bảo vệ ổn định biên giới Tây Nam Việt Nam và giải phóng nhân dân Cam-pu-chia khỏi họa diệt chủng.

Nó thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và nghĩa vụ quốc tế giúp cách mạng Cam-pu-chia trong hoàn cảnh mới, ba nước Đông Dương đã giành được độc lập và có chủ quyền, trong một quá trình lâu dài.

Đây là một cuộc đấu tranh toàn diện, kết hợp việc tiến hành chiến tranh với giúp bạn hồi sinh, làm lại một cuộc cách mạng chống lại chiến tranh xâm lược phản cách mạng.

Chiến tranh chỉ diễn ra trên một hướng trong khi cả nước đang hòa bình xây dựng. Ta có lực lượng lớn quân tình nguyện ở đất bạn trong thời gian dài. Kẻ thù chống phá ta cả quân sự, chính trị, ngoại giao, chúng thường dùng phương thức đánh du kích, ta giúp bạn vừa đánh địch vừa vận động quần chúng, vừa xây dựng lại lực lượng từ đầu, đòi hỏi thời gian lâu dài và có nhiều khó khăn. Đó là cuộc chiến tranh mang tính chất dân tộc, giai cấp và tính chất quốc tế sâu sắc, đồng thời là một cuộc chiến đấu, đấu tranh hết sức quyết liệt, gay go phức tạp và lâu dài.

Song đó cũng là một hành động tự vệ bảo vệ Tổ quốc hướng Tây Nam, giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng thắng lợi lớn.

Ta đã đánh mạnh, đánh nhanh, thắng lợi lớn. Đã đánh bại chiến tranh xâm lấn biên giới của địch, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh tổ, phá thế bị uy hiếp các tỉnh phía Nam, không được yên ổn để xây dựng, làm thất bại một bước âm mưu của kẻ thù chống Việt Nam. Đã cứu dân tộc Cam-pu-chia khỏi họa diệt chủng… mở đường hồi sinh dân tộc làm lại cuộc chác mạng đã bị tập đoàn Pôn Pốt phản bội. Bước đầu khôi phục đoàn kết liên minh đặc biệt Việt Nam - Cam-pu-chia, Việt Nam – Cam-pu-chia – Lào.

Sau này, Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-núc đã nói: “Không có bộ đội Việt Nam giúp đỡ giải phóng nhân dân Cam-pu-chia thoát nạn diệt chủng thì con cháu của nhà vua cũng chết hết”.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:18:00 PM
MƯỜI NĂM GIÚP BẠN CAM-PU-CHIA

Giữa năm 1981, tôi được lệnh sang làm chuyên gia quân sự giúp bạn Cam-pu-chia. Tôi hiểu rõ quân đội ta ở lại giúp bạn trên tinh thần hết sức vô tư trong sáng. Sau ngày 7 tháng 1 năm 1979, chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã bị sụp đổ, song chúng còn giữ được bộ phận đầu sỏ và còn nhiều khủng sư đoàn, trung đoàn. Được sự chi viện của các thế lực phản động nước ngoài, chúng gấp rút khôi phục lực lượng điên cuồng phản kích, chống lại cách mạng Cam-pu-chia và Việt Nam. Ý đồ của chúng là tăng cường sức ép về mọi mặt, buộc Việt Nam phải rút ngay khỏi Cam-pu-chia, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia sụp đổ, Pôn Pốt tở lại. Cam-pu-chia trở thành địa bàn để Pôn Pốt dùng chống lại Việt Nam.

Trước tình hình đó, bạn rất cần quân đội ta ở lại giúp cho đến khi bạn đủ sức tự bảo vệ thành quả cách mạng của Cam-pu-chia. Để lực lượng lớn quân đội ở nước bạn, ta gặp rất nhiều khó khăn trước hết là về chính trị, ngoại giao. Về quân sự, ta phải để lực lượng thường trực lớn ảnh hưởng đến kinh tế đang gặp vô vàn khó khăn sau 30 năm chiến tranh. Quân đội sau bao nhiêu năm chiến tranh chưa được củng cố, cán bộ chưa được một ngày nghỉ nơi. Trong lúc cả nước đang xây dựng hòa bình, một bộ phận khá lớn lại phải tiếp tục làm nhiệm vụ xa nhà trên đất nước bạn hiện đang rất nhiều khó khăn phức tạp là một hy sinh rất lớn. Tuy vậy, do yêu cầu cấp thiết của bạn để bảo vệ thành quả cách mạng của bạn mới giành được, đồng thời cũng vì lợi ích ổn định biên giới của ta, với tinh thần quốc tế vô tư, trong sáng, Đảng ta chấp nhận để quân đội ở lại giúp bạn cho đến khi bạn tự đảm nhiệm được sự nghiệp của mình thì rút quân về. Tin rằng với tinh thần “Giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” theo lời dạy của Bác Hồ, cán bộ chiến sĩ tâ sẽ chấp nhận sự hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày 18 tháng 5 năm 1981, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh quân tình nguyện giúp bạn Cam-pu-chia lấy tên là Bộ Tư lệnh 719 (để nhắc lại ngày lịch sử 7 tháng 1 năm 1979) để chỉ huy quân tình nguyện giúp bạn và trực tiếp chỉ đạo Đoàn 478 chuyên gia quân sự giúp Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia. Thời kỳ đầu Bộ Tư lệnh quân tình nguyện do đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, đồng chí Lê Hai là Tư lệnh phó về chính trị, đồng chí Hoàng Cầm – Tư lệnh phó quân sự, đồng chí Nguyễn Văn Tiên – Tư lệnh phó về kỹ thuật, đồng chí Khôi – Tư lệnh phó về hậu cần. Một thời gian sau bổ sung thêm đồng chí Hồ Quang Hóa làm Phó tư lệnh. Về sau, khi đồng chí Lê Đức Anh được bầu Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng và trực tiếp Ban lãnh đạo chuyên gia, đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh quân tình nguyện.

Thời kỳ này, địch dựa vào nơi gọi là “Đất Thánh” quân ta không sang được. Chúng gấp rút khôi phục lực lượng, tìm đường thâm nhập vào nội địa điên cuồng phản kích, đánh phá cách mạng, kích động hần thù dân tộc, vu cáo Việt Nam xâm lược… tìm mọi cách ép ta phải rút quân về nước để chúng dễ bề đánh đổ chính quyền cách mạng mới thành lập, chiếm lại Cam-pu-chia, từ đó chúng có thể tiếp tục gây chiến tranh lâu dài với ta ở biên giới, ta phải làm giúp bạn là điều bất khả kháng.

Tổ chức quản lý đất nước mới giải phóng của bạn hầu như chưa có gì. Nhưng bạn đã có những nhân tố cơ bản, quyết định nhất là bạn đã có Đảng mới khôi phục lại, có Hội đồng cách mạng làm chức năng Nhà nước, có Mặt trận đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làm chức năng đoàn kết dân tộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Lực lượng vũ trang bạn đã có từ trước, tuy còn nhỏ bé nhưng đó là lực lượng rất đáng quý ban đầu đã cùng phối hợp với Quân đội Việt Nam lập công chiếm thủ đô Phnôm Pênh, giải phóng cả nước Cam-pu-chia.

Nhân dân Cam-pu-chia vừa thoát khỏi họa diệt chủng, cơ sở kinh tế chính trị xã hội hoàn toàn bị đảo lộn và phá vỡ, các thành phố, thị xã, thị trấn đều hoang tàn đổ nát, không một bóng người. Chợ búa, chùa chiền, trường học đều phá bỏ. Nhân dân ở nông thôn, một phần rất lớn đã bị giết hay bị bỏ đói, bị bệnh không có thuốc mà chết; phần còn sống sót, thoát khỏi các “công xã” đang lếch thếch trên các ngõ đường tìm người nhà và tìm về quê cũ. Người nào cũng gầy gò rách nát, xơ xác, hành trình phải đi từ xã này qua xã khác, tỉnh này qua tỉnh khác có người phải đi hàng trăm ki-lô-mét, ở đâu cũng là nhà, là giường ngủ, đói khát, bệnh tật, đồ đạc chẳng còn gì chỉ gọn trong cái túi nhỏ, có con nhỏ thì nhặt bất cứ thứ gì có thể đặt con lên mà kéo mà đẩy, không có thì đành cõng con mà đi…; gặp bộ đội ta thì chắp tay chào, nở nụ cười cảm ơn nhưng còn đậm nét nỗi kinh hoàng vừa mới từ cõi chết trở về, còn nhớ đến cái chết tức tưởi của người thân, nhớ những mất mát quá nhiều trong cuộc đời! Nhìn bộ mặt đau khổ, thân hình xơ xác của nhân dân bạn, ai cũng không cầm được nước mắt vì như thấy trước mặt mình là bố mẹ, anh chị em đang cơn hoạn nạn.

Tưởng về đến nhà là xong. Sự thật còn đau đớn làm sao! Nhà chỉ còn ngôi lều đổ nát, nếu không phải chỉ là đám đất trống, cỏ mọc hoang vu. Giống má, dụng cụ sản xuất không có, nồi niêu, bát đĩa… không còn, biết sống làm sao đây? Bộ đội phải trích phần của mình về mọi thứ để giúp cho bà con bước đầu cũng là rất tự nhiên.

Trước tình hình đó bộ đội ta nhận rõ nhiệm vụ của mình, trước hết phải phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và các đội công tác vũ trang tuyên truyền của bạn giúp bạn hồi sinh dân tộc, vừa chiến đấu, vừa giúp bạn làm công tác vận động quần chúng đánh địch, xây dựng cơ sở, xây dựng thực lực cách mạng.

Phát huy thắng lợi của cuộc tổng tiến công, ta tập trung giúp bạn đánh bại các cuộc phản kích của địch, tiến hành 11 chiến dịch đánh quỵ hẳn quân địch mùa khô 1979, đồng thời triển khai quân đội và các chuyên gia trên toàn quốc, giải phóng dân, cứu đói, cứu đau, đưa dân về quê cũ, giúp dân sản xuất, giúp bạn xây dựng chính quyền (thời gian đầu lập ủy ban tự quản ở cơ sở), cùng với bạn giành thắng lợi to lớn và toàn diện về quân sự năm 1979.

Với sự giúp đỡ hết sức tích cực và vô tư của bộ đội, của chuyên gia các cấp các ngành của ta, bạn đã giành thắng lợi lớn về kinh tế năm 1979, vụ mùa thắng lợi giúp bạn bước đầu vượt qua được nạn đói. Về chính trị năm 1981, bạn tiến hành thắng lợi cuộc bầu cử Quốc hội và mở Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia lần IV.

Thời kỳ này, ta đã giúp bạn hồi sinh dân tộc, khắc phục một bước hậu quả của nạn diệt chủng, tạo được điều kiện cho bạn xây dựng chế độ mới, làm lại cuộc cách mạng, khôi phục tình cảm đoàn kết Việt Nam – Cam-pu-chia trong cá tầng lớp nhân dân Cam-pu-chia trên phạm vi cả nước. Trong cơn hoạn nạn, có người bạn Việt Nam tình sâu nghĩa nặng cứu sống, lại ở lại bảo vệ, giúp đỡ tận tình vô tư, chia sẻ khẩu phần từ miếng cơm manh áo, chữa bệnh, giúp làm nhà, giống má, dụng cụ sản xuất… nhân dân hết lòng yêu quý Bộ đội Cụ Hồ, giúp đỡ bộ đội đánh địch và công tác, chân thành quý mến gọi anh em là “Bộ đội nhà Phật”. Sau này, trong hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, tiến sĩ Chhy Yi-heng – Cố vấn Chính phủ hoàng gia Cam-pu-chia phát biểu: “Cái gì còn đọng lại trong trái tim người dân Cam-pu-chia về Việt Nam thế kỷ XX? Đó là lòng biết ơn, đó là tình hữu nghị, hình ảnh của một đội quân nhà Phật từ cõi thiện xa xôi đến cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia”.

Về quân sự, ta bố trí lực lượng hình thành thế trận từ biên giới đến nội địa, triển khai lực lượng đến huyện, xã (đơn vị địa bàn, đại đội hai chức năng) thực hiện toàn diện các nhiệm vụ đánh địch, giúp dân hồi sinh, giúp bạn xây dựng.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:18:29 PM
*
*   *

Từ 1982 đến 1985 là thời kỳ đấu tranh quyết liệt giữa ta và bạn với địch. Địch tiến hành ba cuộc phản kích lớn, hòng giành thắng lợi quân sự, giành dân, chống phá chính quyền hình thành “hai vùng hai chính phủ”, làm đảo ngược cục diện. Chúng lập “chính phủ ba phái” chống ta và bạn.

Quân tình nguyện, chuyên gia cùng với bạn kiên quyết đấu tranh thực hiện ba mục tiêu chiến lược làm phương hướng giành thắng lợi của cách mạng Cam-pu-chia, đó là:

1. Tiếp tục làm cho bọn Pôn Pốt tan rã và suy tàn.

2. Xây dựng lực lượng cách mạng Cam-pu-chia ngày càng lớn mạnh về mọi mặt, tự đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng bảo vệ và xây dựng đất nước, trở thành lực lượng quyết định thắng lợi cuối cùng của cách mạng Cam-pu-chia.

3. Tăng cường liên minh Việt Nam – Cam-pu-chia thêm một bước vững chắc hơn chống mọi âm mưu kích động phá hoại của kẻ thù.

Trong quá trình ta và bạn cùng thực hiện ba mục tiêu chiến lược, trong hoạt động sôi nỏi của nhân dân, đã hình thành ba phong trào cách mạng là:

- Đánh địch và địch vận.

- Sản xuất và ổn định đời sống.

- Xây dựng thực lực cách mạng.

Ba phong trào đó đã trở thành biện pháp chiến lược để thực hiện ba mục tiêu. Ta va bạn cùng thực hiện phương hướng ba mục tiêu chiến lược trong ba đến năm năm, đã đánh bại các cuộc phản kích của địch. Từng bước ta chuyển cho bạn tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc: năm 1982 tự bảo vệ các đường giao thông chiến lược; 1983 tự bảo vệ thị trấn, thị xã, thành phố trừ Phnôm Pênh và Kom-pông Som; 1984 tự đảm đương hoàn toàn bốn tỉnh và một phần quan trọng các huyện; 1985 tự đảm đương một phần quan trọng tuyến phòng thủ biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan. Quân tình nguyện Việt Nam bắt đầu rút dần lực lượng về nước.

Sự đoàn kết liên minh chiến đấu giữa quân tình nguyện với các lực lượng và nhân dân Cam-pu-chia hình thành và phát triển, giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược mùa khô 1984-1985 đạp tan toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự của ba phái Khơ Me phản động trên toàn biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan, xây dựng thế làm chủ của bạn và ta trên toàn biên giới, mở ra một cục diện mới trên chiến trường, tạo điều kiện đẩy nhanh việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược trong thời kỳ tiếp sau.

Trong các cuộc bộ đội tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ rút quân về nước, bạn tổ chức lễ tiễn đưa rất trọng thể và tình cảm từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã. Từ cơ sở, qua các chặng đường cho đến Trung ương, ra đến cửa khẩu giáp biên giới Việt Nam, nơi cách đây mấy năm đã xảy ra những cuộc chiến đấu đẫm máu giữa quân Pôn Pốt và nhân dân Việt Nam, nhân dân bạn đến tập trung rất đông cả người già, cả các em bé mặc áo quần mới, đẹp như ngày hội, mang nhiều quà, hoa, tiễn đưa thật lưu luyến. Các bà, các chị nhiều người hô to lời chào, vừa cười vừa rơi lệ.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:18:48 PM
*
*   *

Từ 1985 đến 1989, địch mất thế ở biên giới, phải chuyển hướng chiến lược, luồn lực lượng vào nội địa “lấy chính trị làm cơ bản”, lấy việc giành dân, giành chính quyền cơ sở là chính nhằm xây dựng thế lực trong nội địa, chờ thời cơ ta rút quân hoặc có giải pháp chính trị để giành thắng lợi.

Khi ta thực hiện rút quân tình nguyện trên quy mô lớn, địch lợi dụng thời cơ mở những cuộc tiến công lớp tập trung trên biên giới phía Tây nhàm làm chuyển biến cục diện chiến trường. Nhưng ý đồ của địch bị thất bại, địch bị thiệt hại nặng, suy yếu và khó khăn hơn.

Để đẩy nhanh tốc độ hoàn thành ba mục tiêu chiến lược, ta để cho bạn tự làm công tác vận động quần chúng. Bạn huy động một đợt rất lớn cán bộ các ngành ở cơ quan Trung ương và các tỉnh, vận dụng kinh nghiệm của ta xuống cơ sở làm thí điểm ở ba nơi, rút kinh nghiệm rồi làm đại trà. Bạn tập trung chỉ đạo công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở và kết hợp phát động quần chúng cùng bộ đội tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới thực hiện kế hoạch K5 thành một phong trào quần chúng rộng lớn; qua đó rèn luyện cán bộ, xây dựng lực lượng địa phương dân quân trình độ được nâng lên rõ rệt, làm thất bại âm mưu của địch ở nội địa và ở biên giới. Các cơ sở trong nội địa được củng cố một bước, lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển cả số lượng và chất lượng. Bạn tăng thêm lực lượng địa phương trong nội địa lên làm nhiệm vụ ở biên giới, khắc phục được nhược điểm ở biên giới dân quá thưa. Trình độ tác chiến và trình độ chỉ đạo của cơ quan các cấp được nâng lên, mở ra triển vọng có khả năng hoàn thành ba mục tiêu chiến lược sớm hơn kế hoạch dự tính.

Tháng 8 năm 1985, Bộ Chính trị Đảng ta và Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia hội đàm tại Phnôm Pênh nhất trí kế hoạch. Đến năm 1987, lúc lực lượng vũ trang Cam-pu-chia tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ đất nước, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục rút cho đến năm 1990 thì rút hết.

Đầu năm 1988, việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược phát triển tốt, lãnh đạo hai Đảng đã nhất trí rút quân tình nguyện và chuyên gia sớm hơn kế hoạch.

Ngày 30 tháng 8 năm 1988, lễ tiễn trọng thể Bộ Tư lệnh, các cơ quan 719 và chuyên gia quân sự về nước diễn ra ở Phnôm Pênh với năm vạn nhân dân Cam-pu-chia và 200 nhà báo các nước. Cùng thời gian đó, ở các hướng khác, năm vạn quân tình nguyện cũng hoàn thành nhiệm vụ trở về Tổ quốc.

Lực lượng quân tình nguyện còn lại đặt dưới quyền lãnh đạo và chỉ đạo chỉ huy của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng bạn.

Trung ương Đảng bạn ra Nghị quyết 12 đánh giá đã hoàn thành ba mục tiêu, lực lượng của bạn đã mạnh hơn lực lượng của địch. Cuối năm 1989, ta chủ động rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam về nước.

Ngày 27 tháng 9 năm 1989, đơn vị cuối cùng qua biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia.

*
*   *

Để giúp bạn xây dựng cơ quan Trung ương và các tỉnh thành, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, ta đã tổ chức các đoàn chuyên gia B68, A40 để giúp các ban, bộ; các đoàn chuyên gia giúp các tỉnh, đoàn chuyên gia Phnôm Pênh gọi là A50… đặt dưới sự lãnh đạo của Ban lãnh đạo chuyên gia do một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhiệm. Đồng chí đầu tiên làm nhiệm vụ này là Lê Đức Thọ.

Riêng đối với Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia thì do Đoàn 478 chuyên gia quân sự đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh quân tình nguyện cử đoàn cán bộ ra giúp. Đối với các huyện, thời gian đầu có chuyên gia giúp nhưng sau thấy khó khăn, các Bộ Tư lệnh mặt trận quân tình nguyện giao cho các trung đoàn, tiểu đoàn đứng chân làm nhiệm vụ ổn định ở địa phương nào thì giúp cho huyện ở đó. Các đơn vị này có tên là “trung đoàn, tiểu đoàn địa bàn”.

Khi thành lập Bộ Tư lệnh quân tình nguyện cũng đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban lãnh đạo chuyên gian.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:19:06 PM
*
*   *

Khoảng giữa năm 1981, tôi nhận nhiệm vụ sang làm chuyên gia giúp Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia. Lúc đó tôi đang làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Từ ngày vào quân đội, phần nhiều thời gian tôi ở đơn vị chủ lực. Tôi đã làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 chiến đấu cơ động lớn từ miền Trung vào miền Nam, rồi từ miền Nam ra biên giới phía Bắc. Hiện nay Quân đoàn mới được trang bị bộ binh cơ giới rất hợp với truyền thống cơ động của Quân đoàn, tôi rất ham mê, lúc đang say sưa cùng đơn vị lo xây dựng thành một Quân đoàn mạnh, tôi đinh ninh và khấp khởi mừng vì còn mấy năm cuối đời quân ngũ, mình sẽ được ở đơn vị mình yêu thích, thì tôi nhận được chỉ thị lên Bộ gặp Thượng tướng Lê Trọng Tấn – Tổng tham mưu trưởng nhận nhiệm vụ sang công tác ở Cam-pu-chia, tôi rất bất ngờ và băn khoăn nhiều. Trong đời quân ngũ, tôi đã nhiều lần thay đổi nhiệm vụ, thường đi đến các chiến trường sôi động, tôi đã quen, khi rời khỏi một nơi tôi đã xây dựng được nền nếp, công việc đang thuận lợi để chuyển đến một nơi xa lạ nhiều khó khăn, tôi cũng dễ dàng tự xác định để vui vẻ lên đường. Nhưng lần này, nghĩ đến nhiệm vụ mới, tôi thấy mình vào một chiến trường mới lạ, nhiệm vụ rất nặng nề, tôi không có chỗ để phát huy sở trường, chiến trường lại phức tạp và nhạy cảm, mấy đồng chí sang Cam-pu-chia trước tôi đã có đồng chí vấp váp, sai lầm. Một điều nữa khiến tôi suy nghĩ là vì sao lại do đồng chí Tấn giao cho tôi nhiệm vụ này. Đồng chí là vị tư lệnh có tài chỉ huy nhiều chiến dịch của chủ lực thắng lớn, chúng tôi học tập được nhiều ở đồng chí, đặc biệt là bản lĩnh và phong cách chỉ huy, đồng chí quyết đoán rất nhanh nhạy và rất kiên quyết. Đồng chí đã nhiều lần trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi đều là nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu của chủ lực như chỉ đạo diễn tập chiến dịch cấp Quân khu, xây dựng Sư đoàn 325C đưa vào chiến đấu ở miền Nam, về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 chuẩn bị cho đơn vị vào chiến đấu. Lần này thì khác. Tôi lại nghĩ xa xôi không biết thời gian qua ở đơn vị mình đã làm gì mà đồng chí không bằng lòng không? Trong lúc còn trăm mối tơ vò, tôi bỗng nhận thấy xe đã đưa tôi đến trước “Nhà Rồng”. Nơi đây những năm trước, tôi thoăn thoắt lên xuống mấy bậc cấp này gần như hàng ngày, thế mà bây giờ thấy nó là lạ, bước chân cứ chậm rãi vừa đi vừa nhìn vào trong nhà như thăm dò. Khi đến cửa, tôi thấy đồng chí Tấn ngồi làm việc ở cái bàn bên, lưng quay ra cửa, đang tập trung suy nghĩ về công việc, không biết tôi đang đi đến gần. tôi đứng lại nói:

- Báo cáo Thủ trưởng, tôi có mặt theo chỉ thị của đồng chí.

Đồng chí Tấn tươi cười chỉ ghế trước mặt mời ngồi rồi vui vẻ, thân mật nói:

- Tần có biết tại sao anh Lê Đức Anh nhớ đến mà xin Tần sang giúp anh ấy không?

- Thưa anh – tôi trả lời, những bâng khuâng lo lắng vô căn cứ trong đầu tan biến mất – trong mấy năm gần đây nhất là từ khi có chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi thường làm việc trực tiếp với anh Lê Đức Anh, kể cả khi Quân đoàn 2 vào chiến đấu ở Cam-pu-chia.

Anh Tấn nói tiếp:

- Tôi định vẫn để Tần tiếp tục ở Quân đoàn 2 giúp anh Chơn, nhưng anh Lê Đức Anh yêu cầu Tần sang,vì anh ấy đang cần…

- Thưa anh, tôi hiểu, tôi quen lo việc xây dựng và chiến đấu của chủ lực, sang đấy, tôi như cầu thủ mạnh chân phải lại chơi bên cánh trái (anh Tấn thích bóng đá), nhưng anh Lê Đức Anh gọi tôi sang thì tôi sẽ cố gắng.

Cuộc giao nhận nhiệm vụ chuyển sang chuyện tâm tình giữa hai thầy trò. Anh Tấn căn dặn:

- Việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang phải đi từ cuộc vận động cách mạng, vừa vận động quần chúng đánh địch vừa xây dựng cơ sở và xây dựng lực lượng vũ trang, phải biết dựa vào hệ thống quân tình nguyện và chuyên gia các ngành để giúp bạn. Đối với việc giúp bạn xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng, Tần có thuận lợi là đã công tác ở cơ qua Bộ qua các thời kỳ từ thấp đến cao, cũng đã qua các cấp chỉ huy từ cơ sở lên, đã có một số kinh nghiệm. Cái chính là nhớ lời Bác Hồ dạy: “Giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình”, phải hiểu bạn, tôn trọng ban, có phương pháp đúng đắn,. Cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Sau lời chúc hoàn thành, đó là một cái bắt tay rất chặt với một nụ cười tỏ ý tin tưởng.

Tôi kính chào và chúc thủ trưởng khỏe rồi ra về, lòng đầy nhẹ nhõm, thanh thản, đã biết mình sẽ làm gì.

*
*   *

Tôi không ngờ rằng lần nhận nhiệm vụ nặng nề khó khăn đó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc sống của gia đình tôi. Tôi thống nhất với vợ chuyển gia đình vào Nam. Đó là một quyết định rất quan trọng và càng về sau càng thấy hết sức đúng đắn. Cũng phải trăn trở để rời bỏ một nơi mà cả gia đình đã ở một thơi gian dài qua bao nhiêu biến cố, bỏ lại biết bao kỷ niệm ở thủ đô thân yêu, nơi chôn rau cắt rốn cả vợ chồng con cái tôi, bỏ lại tất cả họ hàng nội, ngoại, bạn bè chúng tôi đã có được qua một thời gian dài công tác ở miền Bắc để đến một nơi xa lạ, điều kiện sinh sống chưa có gì trừ tiền lương. Nhưng căn cứ một số thuận lợi có bản: Một là tôi công tác ở Cam-pu-chia, gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện gần nhau hơn. Sau mấy chục năm chiến tranh, gia đình luôn phân tán mỗi người một nơi, nay có điều kiện đoàn tụ. Hai là vợ tôi có nghề bác sĩ, vào Thành phố Hồ Chí Minh là nơi quen sống theo cơ chế thị trường, có thể sử dụng nghề chuyên môn để sinh sống khi nghỉ hữu. Ngoài ra có điều hết sức quan trọng nữa là Cơ quan hậu cần của Bộ đã đồng ý đề nghị của tôi khi vào Nam sẽ cấp nhà ở và thu lại nhà ở Hà Nội. Khi thực hiện ý định này cũng gặp rất nhiều khó khăn. Trong lúc tôi nhận công tác mới, phải tập trung làm việc để tránh những thất thố có thể xảy ra, toàn bộ gánh nặng của gia đình một lần nữa lại dồn cả trên vai vợ tôi. Cái nặng nề khó khăn nhất đối với vợ tôi là đi xin chuyển công tác vào Nam cho bản thân và các con, sống tạm bợ một mình ở một trạm khách thiếu thốn đủ thứ trong một thời gian dài gần một năm trước khi nhận nhà ở, rồi lại chuyển toàn bộ cơ sở vật chất của gia đình vào… Được sự giúp đỡ nhiệt tình của Quân khu 7, lúc ấy do anh Năm Ngà làm Tư lệnh, anh đã hết lòng giúp đỡ, thu xếp điều chỉnh trong nội bộ mới giải quyết cho tôi được một ngôi nhà rộng rãi chỉ sửa sang một ít là ở được. Từ khi có nhà, chuyển được các con vào ở chung một chỗ, gia đình tôi đã giải quyết được việc “an cư” nên việc “lạc nghiệp” cũng trở nên tốt đẹp. sau này đến khi tôi nghỉ hưu thì đời sống cũng đã dễ thở rồi, theo đà từng bước vững chắc mà tiến tới bằng anh bằng em. Khá thoải mái không còn gì phải lo lắng nữa.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:19:37 PM
*
*   *

Đồng chí Nguyễn Bá Ngọc – thư ký riêng của đồng chí Lê Đức Anh, báo cho tôi ngày giờ ra sân bay quân sự Tân Sơn Nhất đi chuyên cơ cùng đồng chí sang Cam-pu-chia. Đồng chí Ngọc nguyên là cán bộ Cục Tác chiến, trong chiến dịch năm 1978, đã từng làm đội trưởng một đội trinh sát luồn sâu vào khu Đông Cam-pu-chia để bắt liên lạc và đón các đảng viên chân chính của Cam-pu-chia ly khai với Pôn Pốt. Đúng hẹn, tôi ra gặp đồng chí và được xếp vào khoang riêng của đồng chí Lê Đức Anh để… bắt đầu làm việc ngay.

Đồng chí Lê Đức Anh hỏi thăm sức khỏe, tình hình gia đình, khi chuyển công tác có gì khó khăn.

Tôi thành thật trả lời:

- Tôi mới điều trị một đợt vì bệnh tim ngoại tâm thu ở Bệnh viên 108, nay đã ổn định, bệnh viện có cấp thuốc dự phòng, tôi tin là thời tiết trong Nam hợp với sức khỏe của tôi. Tôi nghĩ là với nhiệm vụ mới này tôi sẽ làm cho đến khi không còn làm việc được nữa vì tôi đã gần 60 rồi, nên tôi đã bàn trong gia đình sẽ chuyển vào Nam, cơ quan quản lý đã hứa sẽ giúp đỡ điều kiện để chuyển gia đình.

Đồng chí nói:

- Thế thì được!

Sau đó, đồng chí hướng dẫn, dặn dò tinh thần thái độ, phương pháp làm việc với bạn.

Tôi có những băn khoăn trước công tác mới cũng mạnh dạn nêu ra để hỏi, đồng chí đều vui vẻ giải đáp, giúp tôi yên tâm và bắt đầu nghĩ đến hướng công tác của mình sắp tới.

Ta phải giúp bạn đồng thời xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng với xây dựng lực lượng vũ trang. Việc giúp bạn xây lực lượng vũ trang phải tiến hành từ cơ sở trở lên do các mặt trận giúp. Đoàn 478 chỉ giúp bạn đề phương hướng chủ trương, kế hoạch để trình Bộ Chính trị, sau đó kiểm tra đôn đốc thực hiện.

Ta giúp bạn xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng từ đầu hầu như chưa có gì, hình thành ba bước lớn:

Bước 1: Ta giúp bạn tập hợp một số cán bộ, bồi dưỡng cho anh em biết một số công việc để giúp Bộ Quốc phòng phối hợp với quân tình nguyện giúp bạn hồi sinh. Từng bước giúp bạn hình thành cơ quan gọn nhẹ để làm nhiệm vụ bước 2.

Bước 2: Ta giúp bạn xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng để làm việc theo chức trách, làm được các văn bản để trình Bộ Chính trị, các quyết định về tổ chức để quân tình nguyện có cơ sở pháp lý giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang,biết kiểm tra đôn đốc thực hiện, biết bảo đảm cho bộ đội trước hết là về hậu cần, tài chính. Kiện toàn cơ quan về tổ chức để đủ điều kiện qua bước sau chỉ đạo chỉ huy có hệ thống từ trên xuống dưới. Về phía bạn thì bạn lo xây dựng Đảng cho có tổ chức ở các cấp để qua bước sau bạn đủ điều kiện lập Đảng ủy Quân sự Trung ương thực hiện lãnh đạo toàn diện và có hệ thống.

Bước 3: Chuyển cho bạn tự làm công tác vận động quần chúng, làm chủ nội địa và phần lớn biên giới, tiến tới bạn tự đảm đương sự nghiệp của mình.

Bước 1 được tiến hành từ năm 1979 đến 1981. Thơi gian này các đồng chí làm Trưởng đoàn 478 có đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng, đến đồng chí Hoàng Thế Thiện và đồng chí Nguyễn Trọng Hợp. Bạn mới có 13 cán bộ sơ cấp, 10 đảng viên. Chuyên gia đã trải qua thời gian rất khó khăn. Số chiến sĩ phục vụ không đủ, chuyên gia cũng phải làm giúp như việc nhà của mình. Các đồng chí đã giúp bạn được nhiều việc bồi dưỡng đường lối quan điểm của Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, hướng dẫn nghiệp vụ, đã giúp bạn hình thành bước đầu cơ quan Bộ Quốc phòng, mỗi ngành cần thiết đã có vài cán bộ biết làm một số việc. Các cơ sở đã có chỗ làm việc khá khang trang, đầy đủ, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tham mưu, Chính trị, Hậu cần đã có đủ. Tổ chức đảng có ba chi bộ ở cơ quan Bộ, Đông Bắc và Cô Công đều trực thuộc Trung ương Đảng bạn. Bộ Quốc phòng chưa có hệ thống dọc xuống cơ sở, đang thực hiện chế độ bản ủy quyền chỉ huy hiệp đồng cho các mặt trận 579, 779, 979 và 479 của quân tình nguyện. Về Đảng, Bộ Quốc phòng chưa lãnh đạo toàn diện.

Bước 2 ta triển khai từ năm 1982 đến năm 1985. Khoảng giữa năm 1981 tôi được lệnh sang làm chuyên gia của Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia. Tôi có nhược điểm là biết ít kinh nghiệm về công tác quân sự địa phương, dân quân. May thời gian đầu có đồng chí Vũ Hải – Phó đoàn nguyên là Cục phó Cục Dân quân giúp sức, nhưng chỉ một thời gian ngắn đồng chí đó được chuyển sang phụ trách trường chuyên gia. Tôi phải cố gắng nhiều, đem hết kinh nghiệm công tác ở Quân khu và ở Bộ tổng Tham mưu để giúp bạn.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:20:01 PM
Tôi làm Phó đoàn năm 1981 là bước quá độ tốt cho tôi nắm tình hình bạn, làm quen với bạn để chuẩn bị năm 1982 làm Trưởng đoàn đỡ bỡ ngỡ. Từ đó tôi giúp bạn cho đến khi kết thúc, tất cả chuyên gia về nước.

Để qua thực tế giúp bạn vừa học vừa làm, chúng tôi tập trung giúp bạn chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng vũ trang để xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng.

Bắt đầu từ kế hoạch 5 năm xây dựng lực lượng vũ trang K (1981-1985). Khi đồng chí Chăn Xi – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giao cho đồng chí B.T – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí S.K – Tổng Tham mưu trưởng làm kế hoạch này để thông qua thì hai đồng chí rất lo lắng vì các đồng chí chưa làm bao giờ.

Tôi cũng thấy rất khó khăn cho mình vì tôi mới sang, chưa có ai khảo sát gì về cơ bản để có cơ sở làm một kế hoạch lâu dài cho chính xác và cụ thể được. Tôi kể lại chuyện ở Việt Nam chúng tôi làm kế hoạch 5 năm thời kháng chiến chống Mỹ rồi tôi nói kinh nghiệm:

- Điều quan trọng nhất là quán triệt đường lối của Đảng, đề ra phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cho đúng, còn cụ thể về mức độ số lượng, quy mô tổ chức thì ta căn cứ tình hình khả năng của ta, sự giúp đỡ của bạn và yêu cầu của nhiệm vụ mà đề ra một phương án khả thi – Tôi cũng nói thêm: kinh nghiệm hồi đó cũng chưa dự đoán chính xác ngay được vì còn mới mẻ, phải điều chỉnh luôn nên chúng tôi nói là “Kế hoạch năm năm có nghĩa là năm năm làm kế hoạch”.

Các đồng chí nghe xong cười vui vẻ, tôi hiểu là các đồng chí đã yên tâm và sẽ giao cho cơ quan làm tốt.

Về quán triệt đường lối và quan điểm của Đảng thì có thuận lợi là các đồng chí đã là cán bộ quân đội Ít-xa-rắc nhiều năm, đã học tập ở Việt Nam nên nhanh chóng tiếp thu.

Bàn về phương hướng, các đồng chí cùng nhất trí đánh giá về địch:

Mặt trận biên giới, địch dựa vào “Đất Thánh” làm căn cứ là chỗ mạnh của chúng, nhưng bước đầu có quân tình nguyện giúp.

Trong nội địa, địch phải giành dân, giành chính quyền với ta nên chúng coi phum xã là trận địa chính, đó lại là chỗ mạnh của ta vì dân rất căm thù chế độ diệt chủng của chúng. Chỉ có một bộ phận nhỏ bị chúng khống chế mới theo chúng chống lại cách mạng.

Về khả năng của địch, chúng chỉ có thể dùng cách đánh du kích để chống phá cách mạng. Đánh tập trung với lực lượng tương đối lớn chỉ có khả năng ở một vài hướng trọng điểm ở biên giới.

Từ đó các đồng chí nhất trí phương hướng với những nội dung chính là:

- Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia phải có ba thứ quân. Lực lượng vũ trang phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng. Phải chăm lo xây dựng Đảng trong quân đội, xây dựng quân đội về chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ thì quân đội mới vững mạnh. Lại xây dựng chất lượng làm chính, không nên phát triển nhiều quá sức quản lý. Phải vừa chiến đấu vừa công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở. Từ phong trào quần chúng mà phát triển lực lượng, kể cả lực lượng vũ trang.

- Xây dựng chủ lực lấy bộ binh làm chính, chủ yếu là đánh giỏi phân đội nhỏ. Xây dựng binh quân chúng và cơ sở bảo đảm chi khi nào thật cần thiết.

- Về quy mô lấy cấp tiểu đoàn, trung đoàn làm chính, chỉ tổ chức một số sư đoàn để sau này thay thế quân tình nguyện ở một số hướng trọng điểm, nhưng chỉ tổ chức sư đoàn nhẹ với hỏa lực bộ binh là chính. Phải xây dựng từ thấp lên cao, theo trình độ chỉ huy và sức chiến đấu của bộ đội.

- Về quân số: cuối năm 1980 đã được 6 vạn, khả năng huy động hàng năm 2 vạn, trừ hao hụt tự nhiên thì có thể đạt mức 10 vạn năm 1985 là thực tế. Tuy về cán bộ và khả năng nuôi dưỡng còn nhiều khó khăn. Phải có nhiều biện pháp nhất là thông qua thực tế công tác và chiến đấu, từng bước biết rút kinh nghiệm kịp thời, có chế độ nền nếp huấn luyện cán bộ, chiến sĩ để khắc phục dần những mặt còn yếu so với yêu cầu nhiệm vụ được giao.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:20:54 PM
Đầu năm 1983, căn cứ Nghị quyết Đại hội IV của Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, tình hình và kết quả 4 năm xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ yêu cầu quyết tâm chiến lược trong giai đoạn tới, Bộ Chính trị bạn đã chủ trương: “Khẩn trương xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang… từng năm thay thế dần lực lượng vũ trang Việt Nam cả ở biên giới và nội địa, để lực lượng Việt Nam tập trung làm nhiệm vụ cơ động chiến lược chung… Yêu cầu Việt Nam tăng cường một số càn bộ mà Cam-pu-chia chưa kịp đào tạo, một số cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm làm công tác quân sự địa phương và công tác vận động quần chúng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Đảng và quân đội Cam-pu-chia” (trích Nghị quyết Bộ Chính trị số 39 ngày 3 tháng 2 năm 1983).

Để thực hiện nghị quyết trên, Bộ Quốc phòng bạn đã thống nhất với Tư lệnh quân tình nguyện tổ chứ ba hình thức hỗn hợp Việt Nam – Cam-pu-chia để khắc phục tình trạng thiếu cán bộ.

Bạn đã nâng chỉ tiêu kế hoạch trong 3 đến 4 năm tới lên: 12 vạn quân và 15 vạn dân quân.

Đối với đơn vị cấp sư đoàn, năm 1981 và 1982 đã đôn hai binh đoàn lên sư đoàn ở hai hướng trọng điểm, sẽ đôn hai binh đoàn lên sư đoàn và xây thêm một sư đoàn ở các hướng trọng điểm.

Năm 1983, bạn đã hình thành bốn Ban chỉ huy khu vực bên cạnh bốn Mặt trận quân tình nguyện. Nhiệm vụ chủ yếu là quản lý xây dựng đơn vị, phối hợp tập dượt hiệp đồng tác chiến và làm công tác vận động quần chúng.

Chúng tôi giúp bạn làm các kế hoạch tuyển quân, đào tạo cán bộ, và công tác bảo đảm.

Bạn tuyển quân ba năm 1983, 1984, 1985 đều vượt chỉ tiêu ba vạn, nhưng do chất lượng tuyển quân, công tác quản lý, giáo dục và nuôi dưỡng chưa tốt nên số phải thải còn cao. Đến năm 1985, quân số đạt 10 vạn, dân quân tự vệ được 13,5 vạn đạt 90 phần trăm kế hoạch.

Để soạn thảo văn bản, chuyên gia phải giúp cho các cơ quan có liên quan chuẩn bị, nhưng lúc này bạn chưa có hệ thống tổ chức Đảng, chưa chỉ đạo có hệ thống xuống cơ sở nên bạn chưa nắm được tình hình từ cơ sở lên. Chuyên gia phải dựa vào cơ quan quân tình nguyện để nắm tình hình địch và tình hình bạn, dân bạn để cung cấp cho bạn, do đó lúc đầu dự thảo văn bản đều do chuyên gia làm, sau khi chuyên gia từng ngành bàn với bạn thống nhất thì bản dự thảo trở thành văn bản của bạn. Cách làm này kéo dài làm cho trình độ cơ quan bạn chậm tiến bộ, trừ những cơ quan có những cơ sở bạn trực tiếp chỉ đạo như hậu cần, tài chính, huấn luyện, xây dựng Đảng, thì biết làm sớm hơn.

Về công tác chỉ đạo thực hiện, mặc dù Bộ Quốc phòng bạn chưa chỉ đạo theo hệ thống, nhưng chúng tôi thường tổ chức đưa các đồng chí lãnh đạo và cán bộ các ngành có liên quan xuống làm việc với tỉnh, huyện và đơn vị vũ trang của bạn ở cơ sở để cán bộ bạn tiếp xúc nhiều với thực tế, xây dựng lòng tin và mối quan hệ chặt chẽ giữa cán bộ cấp trên cấp dưới của bạn, cơ quan Bộ được học tập kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng, kinh nghiệm chiến đấu và xây dựng quân đội.

Bước 3 được thực hiện từ năm 1985 đến 1989. Tình hình đã có thay đổi có tính chất bước ngoặt. Địch thua lớn ở biên giới phải chuyển hướng chiến lược “lấy chính trị làm chính” tập trung giành dân, giành chính quyền ở nội địa, lấy phum xã làm trận địa chính. Quân tình nguyện đã giúp bạn tổ chức lực lượng lớn làm công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở ấp xã. Đến năm 1984-1985 có 23 trung đoàn, 122 tiểu đoàn cơ động và tiểu đoàn địa bàn, 1.230 đội công tác.

Để chuẩn bị cho bạn, năm 1984-1985 đã có các chuyển biến mới quan trọng;

- Hình thành hệ thống chỉ huy chỉ đạo ba cấp: Bộ; quân khu (ban đầu là khu vực); sư đoàn, tỉnh.

- Cơ quan, đơn vị binh quân chủng trực thuộc, các cơ sở bảo đảm hậu cần kỹ thuật được tăng cường.

- Do Bộ Chính trị Đảng bạn quan tâm xây dựng Đảng bộ Quân đội đến nay đã hình thành hệ thống Đảng lãnh đạo toàn diện từ Đảng ủy Quân sự Trung ương xuống đơn vị, địa phương.

- Tổ chức chuyên gia mở rộng. Đoàn 478 được tăng cường: tôi được bốn đồng chí phó đoàn làm chuyên gia Nguyễn Hữu Đóa (Tham mưu), Lê Ba (Chính trị), Nguyễn Thiết (Vận động quần chúng), Trương Công Tiêu (Hậu cần) và các chuyên gia tác chiến, binh quân chủng kỹ thuật.

Các trường đào tạo của bạn được mở rộng các ngành và phân cấp ở Bộ và Quân khu. Công tác đào tạo ở nước ngoài được mở rộng cả ở Việt Nam và Liên Xô.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:21:47 PM
*
*   *

Để giúp bạn đẩy nhanh tốc độ tự đảm đương nhiệm vụ cả biên giới và nội địa, Bộ Tư lệnh 719 chủ trương ta và bạn phối hợp xây dựng “tuyến phòng thủ biên giới” gọi là K5 – nhằm đẩy địch ra xa, hạn chế địch thâm nhập, tạo điều kiện cho bạn có thể tự đảm đương bảo vệ biên giới để quân tình nguyện tập trung làm lực lượng cơ động(1).

Nội dung chính là “Cò cây” trên diện rộng kết hợp đánh mìn, làm đường cơ động bên trong để cơ động, tuần tra đánh địch. Chỉ làm công sự chủ yếu gỗ đất trên một số hướng chính diện có thể đánh lớn. Bố trí lực lượng kết hợp chủ lực ở hướng chính và bộ đội địa phương, dân quân trên diện rộng, phân khu vực cho các tỉnh kể cả tỉnh ở trong nội địa.

Kế hoạch ước tính ba năm. Để giúp bạn, cả ba đoàn chuyên gia ở Trung ương gồm B68, A40 (các ban, bộ) và 478 (quân sự) phối hợp giúp bạn dưới sự chỉ đạo chung của Ban lãnh đạo chuyên gia toàn K, thời gian này do đồng chí Lê Đức Anh - Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhiệm.

Bạn tập trung chỉ đạo vận động quần chúng phát động ba phong trào nhằm xây dựng cơ sở trong nội địa vững mạnh, xây dựng tuyến biên giới K5 để bảo vệ Tổ quốc.

Bạn hy động cán bộ các ngành từ Trung ương, tỉnh, huyện xuống chỉ đạo, tổ chức làm thí điểm ở U-đông sơ kết rút kinh nghiệm rồi làm ở Kom-pông Spơ, Kom-pông Thom. Năm 1986, bạn tổ chức thêm được 25 đội công tác của Trung ương gồm 437 người xuống trực tiếp làm ở cơ sở, đồng thời xây dựng cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hình, quân sự làm tham mưu và chỉ huy lực lượng vũ trang.

Ta còn giúp bạn phát triển mạnh các đội công tác. Từ tháng 10 năm 1987, thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 của Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, tập trung xây dựng cơ sở ở 14 tỉnh – 582 xã, đã củng cố cơ sở được một bước đáng kể.

Kết quả tác chiến của bạn đã tăng nhiều: Năm 1982, bạn diệt 347, bắt 763, hàng 325, thu 340 súng. Năm 1987, bạn diệt 1.238, bắt 838, hàng 1.842, thu 2.113 súng.

Lực lượng địa phương dân quân tăng nhiều. Năm 1987 có 17 vạn dân quân, 95 vạn súng, địa phương có 45 tiểu đoàn, 347 đại đội. Qua năm 1988, dân quân có 22 vạn với hơn 12 vạn súng, địa phương có 90 tiểu đoàn (trong đó có 9 trung đoàn và 9 tiểu đoàn lên biên giới), 372 đại đội.


(1) Bạn lập ra 137 đội hỗ hợp cán bộ Trung ương, tỉnh, huyện gồm 1.948 người xây dựng 463 xã, 133 đội của huyện gồm 1.224 người xây dựng 135 xã. Kết quả như sau:
Ở khu vực địch khống chế, đã củng cố được 212/411 xã = 51,6%.
Ở khu vực tương đối ổn định đã củng cố được 256/741 xã = 34,54%.
3 năm xay dựng tuyến K5: Đã huy động 32 vạn người = 33 triệu ngày công, có 52.000 lượt dân quân và 4.700 lượt cán bộ. Ta và bạn xây dựng được:
Tuyến vật cản dài 1.046 ki-lô-mét, cài 14 triệu chông, Cò cây 150 triệu mét vuông.
Đào 50 ki-lô-mét hào lũy, 600 ki-lô-mét chiến hào, giao thông hào, 4 cụm điểm tựa gỗ đất, 4 đường hầm bộ binh, 1.784 ki-lô-mét đường tuần tra, 1.431 ki-lô-mét đường nhánh từ sư đoàn ra phía trước, 32 sân bay trực thăng, 2 bệnh viện, 2 kho, kéo 30 ki-lô-mét đường dây trần.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:22:39 PM
*
*   *

Trong những năm 1985 đến 1987, Bộ Quốc phòng bạn tham gia Ban chỉ đạo, cán bộ cơ quan tham gia các đội công tác và trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng cơ sở, đã học tập thực tế, trình độ được nâng lên nhiều mặt, cả chiến đấu, vận động quần chúng, xây dựng lực lượng cũng như công tác nghiệp vụ. Bước đầu, các cấp đã nắm được cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quân sự làm tham mưu và chỉ huy lực lượng vũ trang ở cấp tỉnh, huyện qua đó hiểu rõ hơn trách nhiệm của cơ quan Bộ Quốc phòng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng tổng hợp trong cả nước.

Thời gian này, chúng tôi tập trung giúp cho cơ quan Bộ Quốc phòng làm đầy đủ chức năng nhiệm vụ của mình theo chế độ nền nếp công tác hàng năm; dựa vào nền nếp Bộ Tư lệnh 719 để tiện phối hợp công tác, tiện hiệp đồng chiến đấu.

Nghị quyết, kế hoạch và tổng kết năm theo lịch; kế hoạch, chỉ đạo tổng kết tác chiến theo mùa khô, mùa mưa.

Thời gian đầu cơ quan bạn chưa nắm được tình hình đầy đủ, chưa biết phân tích kết luận, đề xuất ý kiến.

Chúng tôi phải dựa vào cơ quan của quân tình nguyện để nắm tình hình địch, bạn, ta giúp cho các ngành của bạn làm báo cáo tổng kết và phương hướng công tác năm sau cho đầy đủ. Đồng thời chúng tôi tập trung hướng dẫn cho bạn rút kinh nghiệm để xây dựng chế độ báo cáo nắm tình hình từ cơ sở lên, xây dựng rèn luyện tác phong công tác hướng về cơ sở sâu sát với đơn vị. Đã đề ra công tác gì thì phải kiểm tra đôn đốc có nhiều biện pháp có hiệu quả để thực hiện cho được, dưới báo cáo lên trên phải đúng sự thật… Phải cố gắng phát hiện vấn đề và đề xuất ý kiến giải quyết.

Trước khi bạn họp Đảng ủy, tôi phải làm việc với đồng chí bí thư giúp đồng chí ấy nắm, đánh giá tình hình để có cơ sở đề ra những dự kiến chủ trương lớn, những biện pháp chính, một số chỉ tiêu nhằm làm cho bạn có kế hoạch hiệp đồng thống nhất với quân tình nguyện(1). Thông thường thì bạn thống nhất với ta. Nhưng đôi khi bạn thấy ta đề ra yêu cầu quá cao so với khả năng của bạn. Tôi cố gắng thuyết phục bạn cố gắng hơn và bàn tìm biện pháp để thực hiện. Nếu không được thì tôi phải liên hệ với cơ quan quân tình nguyện hoặc của mặt trận để điều chỉnh kế hoạch.

Về sau, chúng tôi thấy cách giúp bạn này có nhược điểm là chuyên gia hay phạm khuyết điểm làm thay bạn cho kịp thời gian hoặc áp đặt cho bạn, hoặc hay thay đổi kế hoạch.

Chúng tôi thay cách làm để phát huy chủ động của bạn: Giúp bạn chuẩn bị từ dưới lên, quá trình chuẩn bị có trao đôi với các Bộ Tư lệnh Mặt trận quân tình nguyện thống nhất trước kế hoạch phối hợp ta – bạn trước khi Ban Cán sự ra nghị quyết và Bộ Tư lệnh 719 quyết định kế hoạch.

Theo cách này, chúng tôi giúp bạn có chương trình làm việc với đơn vị, với Mặt trận quân tình nguyện, tăng cường đi kiểm tra đôn đốc cấp dưới thực hiện kế hoạch, qua đó nắm được tình hình và chủ động công tác hơn.

Khi đồng chí Tổng Bí thư Hêng Som Rin hay đồng chí Hun Xen – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng muốn đi thăm mặt trận, thăm đơn vị, Bộ Quốc phòng phải cử cán bộ có trách nhệm đưa đi để có trách nhiệm với cấp trên và trực tiếp nghe các đồng chí lãnh đạo nhận xét hoặc có chỉ thị công tác. Trong chuyến đi đó, tôi đều đi cùng để hiểu rõ hơn ý kiến chỉ đạo của Trung ương, về nhà rút kinh nghiệm và bàn thực hiện với bạn, đồng thời làm cầu nỗi giữa quân tình nguyện với bạn.

Riêng tôi cũng đặt nếp công tác đi làm việc với các mặt trận nhiều hơn để xây dựng quan hệ đoàn kết phối hợp giúp bạn có hiệu quả hơn.

Đến năm 1978, ta đã giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang quân số hơn 10 vạn quân, đủ các đơn vị bộ binh, các binh quân chủng cần thiết. Bộ đội địa phương có: 45 tiểu đoàn, 347 đại đội, 17 vạn dân quân, có 95 vạn súng.

Đến cuối năm 1987, trên biên giới, lực lượng bạn đảm nhiệm hầu hết tuyến 1, chỉ còn ba bốn trung đoàn của quân tình nguyện đóng xen kẽ ở tuyến 1. Bạn phối hợp với ta đánh địch, làm K5 xây dựng và giữ vững tuyến biên giới, đánh bại các cuộc tập kích của địch, hạn chế nhiều việc ra vào của địch. Các nhiệm vụ chiến đấu, công tác bảo vệ ấp, xã, thành phố, thị trấn, thị xã trên phần lớn các huyện, các đường giao thông thủy bộ, đường sắt đều do bạn đảm nhiệm. Kết quả tác chiến hàng năm từ 1985-1987 đạt khá cao: trên dưới 5.000 địch bị loại.

So với năm 1979, tổng quân số tình nguyện đã giảm gần một nửa mà tình hình vẫn phát triển tốt.

Từ năm 1988-1989 là bước chuyển cho bạn hoàn toàn tự đảm nhiệm sự nghiệp của mình. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta và Bộ Chính trị Trung ương Đảng bạn thống nhất đánh giá đã cơ bản hoàn thành ba mục tiêu chiến lược, bạn đã có thế - lực mạnh hơn địch. Năm 1988, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương Đảng ta quyết định rút phần lớn quân tình nguyện, rút Bộ Tư lệnh 719 và toàn bộ chuyên gia quân sự, thay đổi tổ chức và phương pháp giúp bạn để bạn giương cao ngọn cờ độc lập, dân chủ, tạo điều kiện hoàn thành ba mục tiêu chiến lược, nhanh chóng vững chắc hơn.

Lúc này tổ chức lãnh đạo chỉ huy của bạn đã hình thành, cơ bản tự đảm đương được công việc, lực lượng vũ trang đã trưởng thành và tự đảm đương được phần lớn các nhiệm vụ. Ta chỉ còn lại một bộ phận lực lượng phối hợp với bạn tiếp tục cuộc đấu tranh, dưới sự chỉ đạo của bạn rồi sẽ tiếp tục rút hết về nước khi bạn đủ sức tự đảm đương hoàn toàn sự nghiệp của mình.

Chúng tôi giúp cơ quan Bộ Quốc phòng làm kế hoạch điều chỉnh bố trí chiến lược, chuẩn bị thay thế quân tình nguyện; chủ yếu là sử dụng các lực lượng hiện có, chỉ điều chỉnh bố trí và tổ chức một số ít đơn vị chủ lực. Về lực lượng địa phương, trên cơ sở các lực lượng tham gia chiến đấu và xây dựng tuyến biên giới để tổ chức 9 trung đoàn cộng với 9 tiểu đoàn địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới gồm các tỉnh: Kan-dal, Tà Keo, Phnôm Pênh, Xoài Riêng, Kom-pông Chàm, Prey Viêng, Xiêm Riệp, Bat-tam-bang, Bần Tia Miên Chây.


(1) Tôi là Ủy viên Ban Cán sự 719, nên đã nắm trước nghị quyết của Ban Cán sự và kế hoạch của Bộ Tư lệnh 719.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:23:00 PM
*
*   *

Để giúp bạn làm công tác cán bộ, thời gian đầu Đoàn 478 trực tiếp giúp bạn làm và thực hiện kế hoạch cán bộ; đã giúp Bộ đào tạo cán bộ sơ cấp, trung đội, đại đội. Cán bộ tiểu đoàn trở lên theo cách đôn quân.

Để thực hiện kế hoạch cán bộ, đoàn phải dựa vào các mặt trận quân tình nguyện là người trực tiếp giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang để hiểu cán bộ và nhu cầu cán bộ, từ đó giúp bạn lên kế hoạch sắp xếp cán bộ hàng năm cũng như xử lý trường hợp đột xuất để trình lên Đảng ủy bạn thông qua và ra quyết định.

Để thực hiện kế hoạch đào tạo cán bộ sơ cấp, đoàn bước đầu xây dựng cho bạn một trường cán bộ trung đội theo chương trình ngắn hạn một năm, nội dung sát với nhiệm vụ công tác thực tế, một trường huấn luyện cán bộ trung cấp của bạn, hai trường này đều có chuyên gia.

Đồng thời hàng năm, đoàn thống nhất với Phòng Nhà trường Cục Cán bộ để giúp bạn cử cán bộ sang học ở Việt Nam.

Sau này, khi bạn đã có hệ thống lãnh đạo chỉ huy thì mọi việc do bạn làm. Chuyên gia chỉ giúp cho cơ quan cán bộ làm kế hoạch và giúp cho các trường đào tạo cán bộ. Khi lực lượng vũ trang phát triển, chúng tôi giúp bạn mở rộng trường lớp của Bộ đào tạo đủ các binh chủng các ngành, xin tăng cường chuyên gia cho các trường mới, đồng thời Bộ phận cấp cho quân khu, tỉnh mở trường lớp đào tạo và thống nhất với các mặt trận để cử chuyên gia.

Ngoài ra, đoàn cũng giúp bạn làm kế hoạch hiệp thương với Việt Nam, Liên Xô để mở rộng việc đào tạo ngoài nước.

Kết quả, cán bộ đã cơ bản đủ, chất lượng bảo đảm. Từ cỗ chỉ có 361 cán bộ vào tháng 1 năm 1979, nay đã có 19.000 cán bộ đang công tác, hơn 4.000 cán bộ đang học ở trong nước và nước ngoài, chiếm 20 phần trăm tổng quân số, 37 phần trăm cán bộ là đảng viên, hơn 67 phần trăm cán bộ đã được qua trường lớp, hơn 57 phần trăm đã qua rèn luyện thử thách trong chiến đấu, hơn 33 phần trăm có trình đội văn hóa từ cấp 2 trở lên. Số cán bộ chính trị chiếm hơn 24 phần trăm so với tổng số cán bộ, nhưng còn 30 phần trăm chưa phải là đảng viên.

Đạt được kết quả như trên là do có sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, sự nỗ lực lớn của Bộ Quốc phòng bạn đối với công tác xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang. Tổng cục Chính trị bạn đã xây dựng một số văn kiện quan trọng xác định những nguyên tắc cơ bản về cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội, về thành lập Đảng ủy Quân sự Trung ương và về phương hướng nhiệm vụ ba năm xay dựng Đảng bộ Quân đội 1983 đến 1985. Trên cơ sở những kiến nghị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Chính trị bạn đã ra Nghị quyết 166-167. Bộ Quốc phòng ra quyết định về chế độ chính trị viên trong quân đội. Bạn thực hiện những văn kiện đó đã tăng cường củng cố sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của Đảng đối với lực lượng vũ trang, xây dựng cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp của các cơ quan ở Trung ương, ở địa phương đối với bộ đội chủ lực, địa phương và dân quân. Công tác phát triển Đảng bạn làm nhanh và chặt chẽ, dùng chủ lực, bảo đảm chất lượng, hầu hết các tiểu đoàn có chi bộ, các trung đoàn có Đảng ủy (trừ đơn vị mới thành lập).

Đội ngũ cán bộ hiện nay tuy còn nhiều mặt yếu nhưng chất lượng cơ bản tốt, tuyển chọn đúng hướng. Nhìn chung cán bộ có tinh thần trách nhiệm, có ý chí chiến đấu, chịu đựng gian khổ, cố gắng từng bước vươn lên để đảm đương nhiệm vụ. Tỷ lệ hỏng rơi rớt ngày càng giảm.

Rất nhiều cán bộ từ một dân quân, một chiến sĩ cho đến cán bộ sơ cấp trưởng thành rất nhanh, nay đã trở thành cấp tướng được tín nhiệm cao, đã đảm nhiệm các trọng trách của quân đội và của Nhà nước.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:23:26 PM
*
*   *

Cuối năm 1988, cuộc họp giữa Đoàn 478 và cơ quan Bộ Quốc phòng bạn, đã thống nhất đánh giá cơ quan Bộ Quốc phòng như sau;

Từ chỗ lúc đầu khi thành lập mới có 13 cán bộ, 10 đảng viên và một số chiến sĩ chưa có chuyên môn nghiệp vụ, nay cơ quan Bộ Quốc phòng đã có 3 Tổng cục, 32 Cục, bao gồm các cơ quan chỉ huy, chỉ đạo các mặt công tác, các ngành nghiệp vụ, các quân chủng, binh chủng của lực lượng vũ trang, hệ thống các trường, các đơn vị trực thuộc, các cơ sở hậu cần kỹ thuật, trực thuộc đã cơ bản bảo đảm được công tác đào tạo cán bộ, nhân viên, bảo đảm chỉ huy, hậu cần kỹ thuật cho yêu cầu chiến đấu xây dựng của lực lượng vũ trang, bảo đảm cho Bộ Quốc phòng tự đảm đương được nhiệm vụ lãnh đạo chỉ huy.

Cán bộ cơ quan có 73 phần trăm đã qua trường lớp đào tạo cơ bản (toàn quân là 67 phần trăm), số có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở lên là 73 phần trăm so với 37 phần trăm trong toàn quân. Từng cơ quan đều có một số cán bộ chủ chốt nắm chắc nhiệm vụ chức trách điều hành được công việc.

Cơ quan Bộ Quốc phòng bước đầu đã nắm được tình hình, biết tổng hợp đánh giá tình hình, ra các quyết định và tổ chức thực hiện, hướng dẫn chỉ đạo và kiểm tra đôn đốc cấp dưới, đã làm và chỉ đạo thực hiện được kế hoạch năm, mùa khô, mùa mưa và một số kế hoạch dài hạn, biết làm tham mưu cho Đảng và Nhà nước.

Nhiều cơ bản đã có nền nếp chế độ làm việc thích hợp, sâu sát cơ sở, kiểm tra đôn đốc cấp dưới, thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

*
*   *

Trước khi Bộ Tư lệnh quân tình nguyện và chuyên gia quân sự rút, để tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình vô tư, trong sáng của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự, Đảng và Chính phủ Cam-pu-chia đã làm lễ trọng thể tặng thưởng Huân chương Ăng Co cho quân tình nguyện và cho đoàn chuyên gia quân sự, tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất cho cán bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự. Bạn cũng tổ chức lễ tiễn đưa hết sức trọng thể tỏ rõ tình cảm quý mến và lưu luyến của lãnh đạo và nhân dân Cam-pu-chia đối với quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam.

Trước khi rút về, Bộ Tư lệnh quân tình nguyện và đoàn chuyên gia đã đi chào và cảm ơn sự giúp dỡ của các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan và nhân dân đã hết lòng giúp đỡ và hợp tác với quân tình nguyện và chuyên gia để hoàn thành nhiệm vụ chung.

Sau khi rút quân và rút chyên gia, để đề phòng những tình huống bất ngờ có thể xảy ra theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng bạn, ta còn để lại một bộ phận nhỏ cán bộ ở lại gọi là K88 do đồng chí Khiếu Anh Lân – nguyên Tư lệnh Mặt trận 479 và đồng chí Ba Cung – nguyên Phó Chính trị Mặt trận 779 phụ trách, có nhiệm vụ theo dõi tình hình giữ liên lạc với bộ phận đại diện Bộ ở phía Nam.

Tháng 5 năm 1988, Bộ thành lập đại diện Bộ Quốc phòng ở Thành phố Hồ Chí Minh để chỉ đạo chỉ huy các đơn vị còn lại ở Cam-pu-chia và giúp bạn theo yêu cầu của bạn, gồm bảy cán bộ lấy tên là Đoàn 890 do đồng chí Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu) – Tư lệnh Quân khu 7 làm trưởng đoàn; đồng chí Lê Ngọc Hiền – đại diện Bộ Tổng Tham mưu, đồng chí Lê Hai – đại diện Tổng cục Chính trị, tôi làm tham mưu trưởng Đoàn 890.

Năm 1990, địch tập trung lực lượng tiến công vào hướng Bat-tam-bang, bạn bị mất một mảng lớn, thị xã bị uy hiếp. Theo yêu cẩu của đồng chí Hun Xen, Bộ Quốc phòng đã cho hai trung đoàn và cán bộ của Quân khu 9 (nguyên Tư lệnh 979) sang giúp. Ta chỉ giúp bạn phân tích trận đánh, cho bạn thấy không phải do địch mạnh giúp cho bạn củng cố bộ đội, hướng dẫn cách đánh, bạn tự đánh địch, khôi phục lại trận địa đã mất. Xong ta về ngay. Sau lần thử thách đó, bạn đã tự tin hơn và tiếp tục làm tốt nhiệm vụ của mình.

Đến nay hơn 10 năm sau, bạn đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng Pôn Pốt. Cán bộ bạn tiếp tục trưởng thành trong đấu tranh ngày càng vững vàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn được nhân dân tín nhiệm trong hai lần bầu cử. Các đồng chí lãnh đạo vẫn làm vai trò chủ chốt trong bộ máy Nhà nước, bảo đảm quan hệ hữu nghị đoàn kết Việt Nam – Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:23:44 PM
*
*   *

Thắng lợi của mười năm giúp bạn là thắng lợi toàn diện.

Chúng ta đã đánh bại âm mưu của kẻ thù gây chiến, chia rẽ ba nước Đông Dương, hòng làm ta suy yếu. Ta bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, cả nước hòa bình xây dựng.

Ta đã giúp nhân dân Cam-pu-chia hồi sinh, làm lại cuộc cách mạng theo điều kiện thực tiễn của bạn, tự bảo vệ bằng lực lượng của mình. Mười năm sau, bằng lực lượng tự thân của mình, bạn đã đánh bại hoàn toàn bọn diệt chủng Pôn Pốt, nay đang đưa chúng ra tòa án tối cao để xử tội ác chiến tranh và diệt chủng, được quốc tế nhiệt liệt ủng hộ.

Ta đã khôi phục và củng cố tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Cam-pu-chia, phá âm mưu chia để trị của kẻ thù, làm dịu vết hằn trong quan hệ hai dân tộc do lịch sử để lại, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia; góp phần vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới và ở khu vực.

Trong hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Cố vấn Chính phủ hoàng gia Cam-pu-chia, tiến sĩ Chhay Yiheng kết luận bản tham luận như sau; “Chế độ diệt chủng của Pôn Pốt không phải chỉ là kẻ thù của nhân dân Cam-pu-chia mà còn là kẻ thù của toàn nhân loại. Việc nhân dân, Chính phủ và quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt và hồi sinh dân tộc là một sự nghiệp cao cả, sáng ngời chính nghĩa trong thế kỷ XX”.



Thắng lợi toàn cuộc của chiến tranh này là “cực kỳ quan trọng”.

Bộ Chính trị Đảng ta đã đánh giá: “Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hướng Tây Nam và mười năm giúp bạn Cam-pu-chia là thắng lợi giữ nước đầu tiên của nhân dân ta khi đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đánh bại một bước quan trọng âm mưu làm suy yếu lâu dài đất nước ta… đảm bảo cho đất nước ta, trước hết là các tỉnh phía Nam giữ được hòa bình ổn định để hàn gán vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, củng cố cơ sở chính trị, nâng cao đời sống nhân dân.”.

Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam rút về nước với tư thế hoàn thành nhiệm vụ, sáng ngời chính nghĩa. Lực lượng yêu nước và tiến bộ Cam-pu-chia tự mình đứng vững trước sự tiến công của các thế lực thù địch. Hai nhân tố ấy là biểu hiện nổi bật của thắng lợi cực kỳ quan trọng của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hướng Tây Nam và mười năm giúp bạn, đã góp phần xứng đáng với những thành tựu tổng hợp về kinh tế, chính trị, ngoại giao, lập ra cho đất nước ta một cục diện mới, một thế mới thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thắng lợi.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:24:08 PM
*
*   *

Tôi nghĩ rằng những thắng lợi nêu ở trên đây là những thắng lợi cơ bản, lâu dài. Khi ta đã phải dùng một lực lượng lớn quân đội giúp bạn và cùng bạn đánh đổ Pôn Pốt, hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng là chưa có tiền lệ. Vì chưa có tiền lệ nên phải có ngoại lệ. Có thể nói ai chưa sang Cam-pu-chia thời gian mới giải phóng thì chưa cảm nhận hết hậu quả của nạn diệt chủng mà sau hơn ba năm cầm quyền bọn Pôn Pốt đã để lại. Với chế độ như cộng sản nguyên thủy, không tiền, không chợ, không có của riêng, không gia đình, không trường học, không trí thức, không nhà chùa… tất cả dân sống như một bầy nô lệ, lao động cực nhọc, ăn đói mặc rách, mọi việc đều theo lệnh Ang Ka nếu không thì được một nhát búa và làm mồi cho cá sấu. Ta cùng bạn giải phóng đất nước xong phải bắt đầu từ con số không, phải giúp bạn hồi sinh đã, phải làm cả ba việc lớn một lúc:

- Giúp dân có ăn, có thuốc chữa bệnh, có chỗ ở, ổn định cuộc sống, sản xuất.

- Giúp bạn tổ chức hệ thống chính trị từ cơ sở đến Trung ương để quảy lý đất nước.

- Song song đó vẫn phải tiếp tục đánh địch.

Lúc đó cuộc sống của nhân dân bạn bị đảo lộn, không có nơi cư trú, không nhà, không có dụng cụ sản xuất, sinh hoạt, đói rách, đau ốm, cả nước dân đang tìm đường hồi hương… một phần quan trọng còn bị địch lùa theo, số mạng còn bị đe dọa. Hệ thống lãnh đạo của Đảng không còn, Đảng cầm quyền, đoàn thể mới có một nhóm nhỏ trên Trung ương.

Trong hoàn cảnh đặc biệt, lịch sử chưa từng có như vậy, chỉ còn cách phải làm giúp bạn để bạn hồi sinh, ta phải vừa đánh địch vừa giúp dân trở về quê cũ, cứu đói, cứu đau, giúp dân làm nhà, sản xuất cho ổn định đời sống, làm chỗ dựa cho bạn có điều kiện xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng mặt trận dân tộc để bạn giương được ngọn cờ cách mạng chân chính của mình. Vậy ai làm đây? Vì chưa có tiền lệ nên chưa ai có thể chuẩn bị sẵn những đội vũ trang tuyên truyền thật giỏi đủ để giúp bạn trong cả nước được. Do đó bộ Chính trị Đảng ta và Quân ủy Trung ương đã quyết định cử chuyên gia các ngành sang giúp bạn, còn mọi việc giúp bạn toàn diện, giao cho Ban Cán sự, Bộ Tư lệnh quân tình nguyện đảm nhiệm, tất cả đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của ban lãnh đạo chuyên gia là rất đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế. Đối với quân tình nguyện, nhiệm vụ này tuy mới mẻ và có nhiều khó khăn, nhưng với bản chất Quân đội nhân dân là một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, lại đang gắn bó với bạn cũng chiến đấu và cộng tác với nhau vì mục đích chung cũng là lực lượng phù hợp nhất để giúp bạn lúc này. Thực tế cho thấy những việc lớn như vậy hoàn thành trong ba năm (1979 đến 1981) là quá nhanh. Không thể làm được nếu không có một tổ chức mạnh dưới sự lãnh đạo đúng đắn tập trung thống nhất toàn diện của Đảng thực hiện với tinh thần rất kiên quyết, trong sáng của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ 1982 trở đi, bạn đã tự đảm nhiệm từng phần, bộ đội ta rút dần về nước. Nếu suốt cả mười năm ta đều làm thay thì không thể có kết quả là bạn vẫn đứng vững và cuối cùng đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn bọn Pôn Pốt, khi ta rút hết quân về nước. Có thể nói rằng ta giúp bạn như vậy là đúng quy luật đặc thù của quan hệ đoàn kết Việt Nam – Cam-pu-chia và của quan hệ đoàn kết ba nước Đông Dương.

Những người cho là kết quả thấp, vì có ý so sánh với lòng mong muống của mình ta phải giúp bạn đạt được ngay một nước độc lập tiến lên chủ nghĩa xã hội có quan hệ đoàn kết đặc biệt với Việt Nam. Tôi nghĩ rằng đặt mục tiêu như vậy là chưa phù hợp với thực tiến, vì chế độ xã hội thế nào là quyền tự quyết của dân tộc Cam-pu-chia, còn phải căn cứ điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và tương quan lực lượng bạn – thù – ta.

Muốn xây dựng thực lực trong điều kiện của bạn phải làm lại cách mạng từ đầu, ta phải giúp bạn làm lại một cuộc vận động cách mạng hết sức phức tạp. Nhân dân bạn căm thù bọn diệt chủng, nhưng vừa mới thoát khỏi bọn diệt chủng khủng khiếp chưa kịp hoàn hồn trở lại. Một bộ phận khá lớn nhân dân có con em trong hàng ngũ địch, còn chịu ảnh hưởng lớn về nhiều mặt, nhất là luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch về hận thù giữa Việt Nam - Cam-pu-chia. Bạn lại bắt đầu bằng con số không, chưa có cán bộ và lực lượng để làm công tác vận động quần chúng, mà ta cũng không có cán bộ chuyên trách để giúp bạn. Dùng một lực lượng lớn bộ đội chủ lực để làm công tác vận động quần chúng đánh địch và xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở trên đất nước bạn cũng chưa có tiền lệ trong lịch sử. Ta phải sáng tạo trong bố trí sử dụng và tổ chức lực lượng.

Mặt trận chính của địch là giành dân với ta ở phum xã. Thời gian đầu, ở xã bạn chưa có cán bộ, chưa có lực lượng, bộ đội ta phải bố trí ổn định ở các địa bàn quan trọng mới giúp bạn đánh địch, vận động quần chúng và giúp bạn xây dựng lực lượng được, từ đó mới có cái tên “tiểu đoàn, trung đoàn địa bàn”.

Khi bạn cần phát triển lực lượng nhanh, thiếu cán bộ thì sáng tạo ra hình thức mới là đơn vị tăng cường, đối với đơn vị lớn thì dùng “đơn vị làm nền” để có cán bộ của ta thay cho bạn ở cơ quan và trong ban chỉ huy. Cán bộ của ta biên chế vào đơn vị bạn chịu sự lãnh đạo và chỉ huy của bạn. Để hình dung cho cụ thể, ta có thể đem so sánh, cách này có phần giống với đội bóng chuyên nghiệp thuê thêm cầu thủ giỏi là nâng ngay trình độ của đội bóng. Chỉ khác là đá bóng là vì tiền, còn thay chỉ huy là đem xương máu để chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng chung của hai dân tộc anh em. Những hình thức giúp bạn kể trên có nhược điểm nhất định vì không chuyên môn và nếu là người mang nặng tư tưởng nước lớn thì làm không có hiệu quả, điều đó ta có thể khắc phục được. Thực tế kết quả giúp bạn xây dựng thực lực và lực lượng vũ trang với số lượng lớn chất lượng tốt đã chứng tỏ điều đó.

Để giúp cho bạn nhanh chóng tự đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, việc đặt ra cho bạn cùng ta xây dựng tuyến biên giới gọi là tuyến K5 (bạn gọi là K – 5) là một sáng kiến có ý nghĩa chiến lược. Có người hiểu nhầm là tuyến trận địa phòng ngự như Ma-gi-nót của Pháp chống phát xít Đức, nên phản đối.

Thực chất đây là một tuyến có các công trình đơn giản kết hợp với bố trí lực lượng đánh địch để hạn chế địch thâm nhập vào nội địa, trên một số hướng chính có công sự điểm tựa, hào giao thông, hào chống tăng để đề phòng địch tiến công lớn, tạo điều kiện cho bạn đủ sức bảo vệ biên giới bằng một số đơn vị chủ lực và phần lớn trên diện rộng bằng lực lượng địa phương, dân quân của các tỉnh biên giới và các tỉnh từ trong nội địa đưa lên. Trên biên giới dân rất thưa, không thể tổ chức lực lượng tại chỗ để đánh du kích, chỉ có cách này bạn mới nhanh chóng đảm nhiệm tuyến biên giới được.

Nó còn có tác dụng to lớn là tạo điều kiện cho bạn tập dượt tự tổ chức, thực hành một chiến dịch đặc biệt phát động ba phong trào quần chúng cả nước đánh địch và xây dựng lực lượng cả biên giới và nội địa.

Đối chiếu với kết quả to lớn đã đạt được, ta phải nhìn nhận đó là giải pháp đúng có hiệu quả. Tuy nhiên cũng có việc làm không cần thiết như hào chống tăng, đường hầm, hoặc một số mìn, hoặc cò cây chất lượng kém có gây lãng phí.

Để làm được các nhiệm vụ như trên thì chỉ có một quân đội cách mạng, các anh “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân bạn còn gọi là “Bộ đội nhà Phật” thì mới làm được. Thời gian cũng không thể vài năm mà làm xong.

Yêu cầu lãnh đạo của các cấp đã đề ra từ đầu là chống tư tưởng nước lớn, mọi cán bộ chiến sĩ đều luôn ghi nhớ, đã thể hiện tinh thần tin yêu quý trọng nhân dân bạn, đã chịu bao hy sinh vì nhân dân bạn với tinh thần quốc tế trong sáng cao cả “Giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình” như Bác Hồ dạy, chúng ta mới có thể giúp bạn đạt kết quả to lớn như vậy. Nhưng trong công tác cụ thể, một số cán bộ chuyên gia ta còn có những khuyết điểm, sai lầm như áp đặt làm thay kéo dài, cả về một số phương pháp cụ thể giúp bạn… đã làm hạn chế kết quả giúp bạn và đánh địch, đưa đến kết quả kéo dài thời gian giúp bạn, làm tăng thêm khó khăn cho đất nước. Ta cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Chúng ta phải công nhận rằng các cán bộ chiến sĩ đã tham gia chiến tranh Tây Nam tính từ ngày địch bắt đầu gây chiến tranh ngày 30 tháng 4 năm 1977 đến tháng 9 năm 1989, suốt hơn 12 năm trời đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Cam-pu-chia. Cuộc chiến đấu và đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp đó đã nâng chất lượng Quân đội nhân dân ta lên trình độ mới, đã lập một công trạng thật tuyệt vời xứng đáng được thưởng công lớn. Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cho Quân Tình nguyện, Huân chương Hồ Chí Minh cho Đoàn 478. Bản thân tôi, đồng chí Khiếu Anh Lân, Phùng Đình Ấm được Huân chương Quân công hạng nhất và nhiều cán bộ được tặng hưởng huân chương các loại.

Trong thời gian đó đất nước ta phải chịu đựng vô vàn khó khăn nhưng đó là nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi. Chúng ta phải lấy đấy làm vinh dự tự hào.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:24:47 PM
CẢM NGHĨ VỀ CUỘC ĐỜI QUÂN NGŨ

Tôi sính ra ở Hà Nội, lớn lên ở Huế, cuối đời lại sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có ba quê mà ở đâu tôi cũng thấy hạnh phúc như nhau, tình cảm Bắc, Trung, Nam hình như tôi có từ trong dòng máu cha mẹ cho và đã sắp đặt cho tôi có nghĩa vụ trung hiếu với cả ba miền như nhau, ở đâu có những đòi hỏi nặng nề nhất thì tôi đều phải có mặt.

Khởi nghĩa thì tôi tham gia ở Huế. Toàn quốc kháng chiến, ngẫu nhiên tôi có mặt ở Hà Nội, chiến đấu ở Hà Nội, đến khi Pháp mở cuộc hành quân định hốt gọn đầu não kháng chiến của ta thì tôi đã có mặt ở Việt Bắc, phục vụ ở cơ quan đầu não đó. Khi ta mở đầu giai đoạn tổng phản công tôi may mắn được ra đơn vị trung đoàn 36 Bắc Bắc – một trung đoàn giỏi đánh vận động, lại được tham gia chiến dịch Biên Giới lừng lẫy làm quân địch khiếp vía. Từ đó tôi cùng đơn vị không vắng mặt một trận nào trong tất cả các chiến dịch lớn của Bộ Tổng chỉ huy mà trận nào đơn vị tôi cũng thắng. Đến khi cần chuẩn bị cho một chiến dịch quyết định, tôi là một trong những cán bộ được chọn lên làm công tác chuẩn bị rồi phục vụ ở Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo chỉ huy, quân dân ta đã đánh thắng một trận chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải chịu ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, nửa nước đã được độc lập.

Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam mở “chiến tranh cục bộ”, tôi được giao xây dựng một sư đoàn vào chiến đấu ở Trị – Thiên – Huế cũng đúng lúc Bộ Tổng Tư lệnh đưa chủ lực vào đánh Mỹ ở đây. Từ đây, Trị – Thiên – Huế trở thành nơi đối đầu của hai lực lượng mạnh, là chiến trường gian khổ ác liệt nhất ở toàn miền Nam. Trên chiến trường này đã có những chiến dịch nổi tiếng như Mậu Thân 1968, ta đã làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm; chiến dịch Khe Sanh khét tiếng là “Điện Biên Phủ đối với Mỹ”; chiến dịch Đường 9 – Nam Lào đánh bại cuộc thử nghiệm lớn nhất của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; chiến dịch tiến công Quảng Trị rất quyết liệt buộc địch phải ký Hiệp định Pa-ri sau khi địch dùng ồ ạt B52 tiến công Hà Nội, Hải Phòng để ép ta nhưng bị chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” của ta đánh bại; chiến dịch Trị - Thiên phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975, lợi dụng thời cơ chiến lược, phát triển phối hợp với chiến địch Quảng Đà thành chiến dịch Huế - Đà Nẵng tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân khu 1 mạnh nhất của quân ngụy, tạo điều kiện thuận lợi phát triển tiến công thần tốc hình thành chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chỉ ba ngày sau ngày giải phóng miền Nam, tập đoàn Pôn Pốt đổ bộ lên Phú Quốc, bắt đầu xung đột vũ trang ở biên giới Tây Nam, tôi lại được cử vào Nam chuyên giúp Tiền phương Bộ chỉ huy chiến đấu, mở đầu nhiệm vụ của tôi đối với miền Nam của Tổ quốc. Khi cả nước xây dựng trong hòa bình, lại xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam uy hiếp đến an ninh của miền Nam, tôi lại được ở trong hàng ngũ của Quân đoàn 2 phản công bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Cam-pu-chia, tiếp đó làm chuyên gia cho Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia trong điều kiện rất phức tạp, khó khăn.



Cuộc đời quân ngũ của tôi kéo dài hơn nửa thế kỷ, đến năm 72 tuổi tôi mới nghỉ hưu ngoài dự kiến của tôi, vì không ai có thể tính trước được rằng phải trải qua ba cuộc chiến tranh, nước ta mới thực sự hòa bình, độc lập, thống nhất. Tôi đã trải qua các chiến trường ở Trung, Nam, Bắc và cả ở nước bạn Lào, Cam-pu-chia. Trong cả ba cuộc chiến tranh, lần nào tôi cũng có mặt trực tiếp ở đơn vị chiến đấu, lại cũng có thời gian lúc nhiều lúc ít ở cơ quan chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu. Tôi chỉ vừa học vừa làm mà tiến lên, thế mà tôi rất vui mừng khi nhìn lại thấy lúc nào và bất kỳ nhiệm vụ nào được giao tôi cũng đều hoàn thành được tốt. Tôi coi quân đội và các cuộc chiến tranh này là một trường học lớn.

May mắn thay, hạnh phúc thay được sống trong thời đại Hồ Chí Minh! Vinh dự được làm “Bộ đội Cụ Hồ”!

Cách mạng có sức cuốn hút lạ kỳ cho đại đa số những ai đang mong chờ được đổi đời. trong không khí Cách mạng tháng Tám, hầu hết học sinh, sinh viên đều theo lời kêu gọi “xếp bút nghiên…” hăng hái đi tòng quân. Bản thân tôi cũng không phải ngoại lệ. Nghe tiếng gọi của Tổ quốc là lập tức lên đường, không hề nuối tiếc ước mơ đang ấp ủ.

Chiến tranh là đáng tránh. Nhưng chiến tranh cách mạng là lẽ sống. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, phải dùng chiến tranh cách mạng để đánh bại chiến tranh xâm lược, mới giành được độc lập tự do.

Quân đội cách mạng là một trường học lớn để đào tạo rèn luyện con người. Miễn là anh có chí có tâm thì anh có thể học làm được những việc mà mình không ngờ có thể làm được. Như được tôi luyện trong lò lửa, anh sẽ rắn như thép trước kẻ thù, nhưng lại nhân ái như “người nhà Phật” trước nhân dân.

Gia đình là hậu phương của cán bộ chiến sĩ. Cũng như hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến trường, gia đình có vững vàng mới tạo được sức mạnh cho cán bộ chiến sĩ có quyết tâm và yên tâm chiến đấu.

Mọi người sinh ra ở đời ai cũng mưu cầu hạnh phúc. Những ai biết sống có hoài bão, mình vì mọi người, mọi người vì mình, (không sống ích kỷ chỉ vì lợi ích riêng của mình), thì hoàn cảnh nào cũng tìm thấy hạnh phúc xứng đáng; lúc nào cũng toàn tâm toàn ý lo thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình làm hạnh phúc nhất và sẵn sàng hy sinh cho nó. Trong hoàn cảnh chiến tranh như đã qua, phải chăng sống suốt đời chỉ có chiến đấu gian khổ, hy sinh thì không có hạnh phúc? Không! Chỉ những ai định đi tìm hạnh phúc ở tiền tài, danh vọng hay dục vọng tầm thường thì không tìm thấy hạnh phúc ở chiến trường thật. Với những ai biết sống vì mọi người, không chỉ vì bản thân mình thì luôn sống hạnh phúc, lạc quan với đồng đội: tổ chức được một trận đánh thắng giòn giã, hát một bài hát hay cho đồng đội, hoàn thành tốt một nhiệm vụ được giao, hy sinh cho đồng đội… là hạnh phúc cao quý nhất khó mà có được, từ đồng bằng lên núi họp, mang cho đồng đội một túi gạo mới, một bữa cơm với rau rừng cũng còn hơn một bữa tiệc linh đình!

Dù anh là tướng đi chăng nữa thì anh cũng chỉ là một người lao động vì yêu cầu của đất nước mà mặc áo lính, mà đeo quân hàm tướng. Hết nhiệm vụ, cởi áo lính anh trở lại là người lao động. Nếu nhớ điều đó sẽ là tiền đề để “sống vui, sống khỏe, sống có ích”, anh vẫn thực hiện được lời thề thiêng liêng khi gia nhập Đảng “Suốt đời phấn đấu cho chủ nghĩa cộng sản”. Đó là điều hạnh phúc nhất.


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:25:32 PM
(https://lh3.googleusercontent.com/AgXS5WSUKBmVBp2Jreh7PxJZdBy24KfVkgicqFUAozY0g8JDyEu4soKDzD6DMbFOO1d_Oiq48_gUKPUCvvTazBZlFpQnt-In95yoozXl802-jZVh_5q8JVYvC-sN_JcD0U-vUtZ-tMmd0rFOMiKPM5tuwhUcEe12seg5-Qp9hyyNNxPnDqZIsxC3y9N6ZvmVxHIuWz4HOiTNXR23-zz886pqJwXzbrFd2ZAM7n7cJxq-grrtKVkMg5MjYswhA6113KqRPqOfRKx7DnNXB6De5tvMVWpq4xYvJVDmvfC3ZEL5dq_FugUN2ELmoraagdwh6V98xbzekvYXqbPzcEvuiWT6I_y-SS-J_mCJ-Z3RdJAWhvfWmnfU1un3vCaJkLLhcVFGXJgY2WXBo0HudZrS9TzdjhrIFgt6Ae3NUp83uY61BS9YpH3zxjxElxPWOqvc9vu5ki6Kg8h8gZ9rUC3XE_cVhsZJ3fVGTnZ0MJFnqwlPdS7oxt41rWkW67tL8ZSqdb5hxXNseLYD9LoINvB_ojKs3dt-x-2eyj1SA5fzvtdIlggBsOwC485yp6cceEfj-5u3JHT0YhH6zq2ystOb6-oXLUG9Mp_PhlleIiIOQPrxBok3aOh94fn_lQIMhydnQxG8G2xoSK-A0gjXmsqRZ8tuxVez6KmNKNA=w1024-h768-no)

Vinh dự làm sĩ quan tùy tùng phục vụ Bác Hồ, nhân dịp Tổng thống Xu-các-nô sang thăm Việt Nam, năm 1959

(https://lh3.googleusercontent.com/kauUfNekP61ansgaw3rYX2_rgtRD9Y3oLiNuQOiJ9DnISa4iWwwVqnv700t9LENHzPD50SaLZLqQpzm7UvdTSpOfOpvIIcLRg344I5sQ-SWjxY3cl9JU4MVXkkf6M6MRP9NoDbGczV0RsS6TyGmFWeuOHtJAWc945dBxrl901xit1q6jr9rDi9frwVeMabFVJSFu3HRkrewPYR9pN0lz62Fgt-Mz0h01P6t1ChIUMHEAHGczUkGw9Z7j5h7Xx4DeimtYha2yUebH2Eq8cDixwaCAN4BjhxMaOikAn9OZy6wocqF-Ymoxaq8SzJhRFa9dgFS65uV2h5knyAz6i47tWGSxJBsBPtV52uYCYKyL39RZRWJcZeVxOHYIf1wuNBmt7B1vAvOk_e1922lBCAGexVjfiVJ0dT1Nh6s-4Bvi5pavMKNT9qEz0Z-062DUhAiplvBkMKYWoMRqkpx4Y4-C_pDq3cAbbqQRbSKys5B3SVn0H0Jmujltzc1sGBkvyuRbOdJXnrtstduCTyKm0UA5Sw7uRhsXKq60678XQQtxDiMO7TeC4_OYbjhHQYx5gpbt5sXTdXjGfADT5YfLpmVLR0xPiJCIKvLxN62lpEJcj7h7lDQ3r4g9un12i-rzcPCouWaVY5QjRLypPHTJUYB3lmpvL-9U0AL_WqE=w1024-h686-no)

Tham gia đoàn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đồi A1, thăm lại chiến trường Điện Biên Phủ sau ngày chiến thắng (Tôi đi thứ ba sau Đại tướng)

(https://lh3.googleusercontent.com/fHj9h-u8c7gDCj_VS8KXI_Tz5VmG3w37BCDhnBdNooltGz_0R8rgd4falBuKGlG_9YEI___4SSkeimTI0KNf0S_3XWN4qzYddXcFNXGZq5uija42qK10tEswE2IXyI9X01oLKPOEI_tL_x3E8CZwfeZ7NmggEGyKfwhg3ECbRircgULEm9uU7YXnP-VufVKxIzsSq89kjhSWShJZfFiyiKRuCzVdmAP3v5Y3XeKJonDnxvQdJaOogmUJ2XWd-2Zjgssr2fa2wrypiaQVMm84LAvudJPcjgEg0vz8lGFuJLiObzCQxs6arLX4CXQu0I30oVHkByQsLVMLblTaMsTDSC13hIs-9uwDTyi1lc490TDVLq3qfZKmIuh66SkN1m3fb6wuQO6Zw1VmFwIpM0e558oc4TeLOwTBWg4QeqXiUHkNRyhC5ZQeNCCZpT85YddLcOUXp4kMYNj8EsfjEmS4ZU_9JskP9xb7PmZR4sFYw7Q5Lp7GMcsDBLC_156NaNsd9Ytv5JY75_x9snHlvgb6SDzPE6ajELfIuPZIZMaltBPP-yXWmjz5ViwOBcqPuz55k_Y9QOEF_0e-K-0WzHxyJKmpt4sUH7sFwtrWrGhJ4QUDkYJ8Hr0ELB7bMaWjQyU0jlBODD45ZD2sZyEgBJ69HIYZ3nTAZTZQzvY=w988-h768-no)

Đưa đoàn đại diện Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đi thăm Điện Biên Phủ (Tôi ngồi trên xe tăng, bên phải)

(https://lh3.googleusercontent.com/mExlpY2vbsFXH-NcMuD90P1Jse3bJbuU-IcqPbLyxmaOGsGPplM4KyCRVV8goI4x7SuCMFu90mxXj7JR6DBWANy9tI9RBIV4Vzqhm-H42N4bJ4KHjH7U-yHwZkxdDkr8ncC7vAjuWAadNJVNWldKGqM6WkZGeJyWnf_sXO1iic_FXLTUECYQvCF_2CwTtxSP6oiJCA8gJyPvM-8RPol2WR-slbuDNR67-wLl12HJupd_88NQ4caHD-YicMVkFRAtaaEbkNtHPiBF87tpuIuQ4PVyd6vZEWZBzKCLGVBiiI69vXHsi0JouGTKHXzWx9CUV3rleE_EA5kVY_rK7m8EOlTNEGgWhcthx4hOQcdtZhPncp9lAXTAUeMfP28GJOGBGxRwJ2kd8aHhH6XCO7aCZTay-YljZuulQ4NlyjR-t7qFmJdaAYO5Wc1w1b5TIa8_f_5v3iyyR-60-yAC_-xfkIUcKF_b2r3I-lJPVnvdar1-GsmajplVwa4rAUeLaQl1f2IX4rs0OvSDnVH6e6BkRXBjl4lIRtHIQafdEJ6qp0_LSqwBlUHqEZnf91vtbQUA-LAJrNe81vK-XQnpmd2QoJCT4R13YhSptfguEbRCzTXD2HFKzuu5AIpHveSorWH-lFYCW1nwPXw--Lay5LgTFL1HAY3C2suZYNs=w991-h768-no)

Đưa đoàn đại diện Viện Hàn lâm Liên Xô đi thăm Điện Biên Phủ sau ngày chiến thắng

(https://lh3.googleusercontent.com/Elq4db-EFR41tKL3eA5D2zsfaCbpyK6A7ePivH954lpE1ruYUIEsFe1lwXLPSVw7WmGKnOQn64mOQOOTQ6tfVDSIChpLydaUZbdzq2ERZ0-M3WjuMw2slYcfK2PWlHwCHEvhahMSWvM9RsTUpfkP4J_FFWdnT8oIzkWhogfCq7HA_aCA7tvu6PAyWFPPtawz3cqsd5onybFsNgESm4k9dlq8_yobZd7Q5vqCMk2XLCDUBcxVD_mO7kzA71zmhuUUcI-xo98patRtTGzxtPpSYB6i4FBiPTxsclegQN5FziLJyBA6l1-5zVwA7ZZ1bvQRKVdOfx-x3qCfA1kRppOEjnR_TgPfvk3aSoQ5bS7NYPDYRtaWgjoJZ3bzngcBWO2D-t2Js2-gjhwIP7Ah1zwLfbo0mCo5Um5ynsqD29uIlpBBmJ2a42T2_X4giH-Eeuo98s0VKri5nTG7xcDg9nU60BYfEhpL1bPWKftKfTfd6UyK1BarUR8xY5EazU-jJd7oiUQMnTTMACu5Ik6o2QaaN9radesaDeF_P4bhQieuAX5dn4oHZEu3aLVaHYXoEwY57VvUXYFGqABBMZ6LPiYV0OwS3lRnpUoIJVWXeFbpzSDQfZUn1IdjQwynW2NMnti827RXMwPLHUGaxKQ5EyBkJMCBCBGUGx5QA7k=w963-h704-no)

Dự họp cùng cán bộ Khu ủy và Quân khu bàn chủ trương kế hoạch tiến công xuống đồng bằng Trị - Thiên - Huế, đợt ba năm 1968 (Tôi ngồi hàng đầu, thứ hai từ phải sang)

(https://lh3.googleusercontent.com/rCDtEFaoYaGoTQTRaD0yxbTRowEM8YM0QozACZDoUil7TwTNtGxX8QaXmUppuxG6tUEGFwzFmp5YBUCYyUpRrheBenw-3GR6BwsKbu1IilT2aNYiwFNgs3xvi87yLeczHN3HF7FuNKVFr7Je9LO_Mibk53zL9pWfWcgfFtiM5AZt_-QwBWaTiVXWDJA_qqs97DHMJBi5Td9hIsj2zmfIgnp9vON5zHvAOC6bDRu4QMD6SuVhGadxdTUaIEgsla3Jay9gHK6LkNUdtENLsOeqDGB0E04Eb4GIv6-my1lJK64rtLa3-gYas4DA_6dhKVNT-5dVXS_qaX9ge3sCwe1XqtYNvaTd4jWb3pjpBo2YzJj9ZBktmTkuF0WTfN11RI1ysAg5ruu6SpRBYQ9DSBMVz3aa-iZP5ty1c_L57p6FEmdybhbd5_jEcZNtNHLfdnPxiKitJGUWbIzxI7jdG_xH3Vo4dObfzpJOZuSDUjnaS_DUi92ABrR_HTCAEcNBkKNXNGFjgBf9yRAEeJqfW4PaUm3GAncIWQehnEUpnkVxES_XEignMwk3_HlzakZQfNQYTzrPqXuXM0jF_vTez7TtqUniLaErqU_zRhc0vF4H2kc47wWPBjHL2Uq4vmwV5Gw9SYYUTtEnm8LZQmN_Y9YaZndl8RDMR9EtvtM=w876-h575-no)

Một buổi làm việc giữa Đoàn chuyên gia quân sự với đồn chí Chan-đra, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia


Tiêu đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:26:28 PM
(https://lh3.googleusercontent.com/1ldbI3XpnIdFZ4990Rr9gRXoZeum_yud8vMdE6NkC9XiRkmz864lxf5koLlU6wdj-5fz8VmWJYlboF1EecPi8sTuxkOWiCTcIPRfLkO6flyC9s27o6di__simc8tZjU6dYLQPECYzfjcx7yAkIMcncQ0__dncL6Pv6_uPbohtpkDWHYdO4nXpul6D-zsiYYghFujpC9BOIMf7dt0mAxnOXWQZ4fZ9fROT4plr9NEZTObLzsxEfqxty2McLpUYQNq5jBgVPi0Y8IhErkuRW38qQdFwPX1ErLP0GlDt0_D4OpX3761ajNV0ZeoHd9yZEh8NiQx_mbodI1euLnKL4JqmmHZEczu3T3ebuz3NOhEmQBU99t2FUW5LlYst46zR73Eq5t40irqiKXYvRszKs0kjYhJtMpos_5-yes9NcJ_10v4Sr-cQMbgMfz9_NavIOkM_JlYmOeqhDA3vpq9LY5kZ7x7z-lW8x7fyQh1I7rJ4i5qCaU7HBZyaGAlBAf5sA4fAvC8xOlYhaW20Pq0YIjfVRhjEpDFqmnljUwVhqrHj8pGyJT5TgOPIS3M52dRrLxiNhd8f0xKKkJ4YrYNnvfq2T-Kiw6K-tlVBdvSXOwsMmO_doVNYXwCiow667P35hBuV0Hb1Z1xNjbUfGosA76HBoOskJqZYorN2gc=w1024-h663-no)

Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Cục Tác chiến tại Sở chỉ huy 719 Phnôm Pênh, năm 1985

(https://lh3.googleusercontent.com/HqeZU0-GC8OYl-88cf1jLOg8w2W6yrICfCYJnhaJoVByYCM7VPU7SQD8mOLxsYwk-ItkfWl_dqsYK0FMUDQR_6v0XwWIwL95ABXbKThAtAnGiFJXShAyRaBc3XNPBgHk-2ZCjqc9mAeR3dWMqDoxCOcBR_h3OmpexwvP4cTxOrSNawRIuGqN_YP-HFKx9OfdP56go6cfW6k8LeyUmyFUK3EC9kpONAjvBSnQRAs-ZjeZDwPID_8wgb0Eye-iCqba53GatgnYTSeJ1W1CucY0z-5BsBf9TagyBZzd-38utKr2lQ7GdrBxJrigrn1wc384r76ZN1qe0JUknSTLkmp5wYZolrTwO2U9-V9B71MkzzhMr4MPV4RsgGL4GCUywx12UYFSrlaBLW2xYejn8E0Daf5Vn_w6GfS6528OngEqbwZLOHQHFn7-bhw3AJWe5D3OHRONLbjuE0f2AlFsgYELEBXM85Xo6vEEub6kmd75SI-mHaTuEY2R2EUS0gyO0sr9j5B3MmaKJeC0TazcHK6Tp-9D5kfYynQ4ePK-BYbXAjOp9wZP9yJuv_Nr7UPvnATpuOkXQKmJdJFZoQK428hMRMo0JEF0q4tsP902mazHtC7KxZtpcYySWPLGSvwDBGxnTRP0vD82Ya0o0gwAUu7fG7wA0J7E1bweU0E=w1267-h832-no)

Đưa đồng chí Hêng Xom Rin đi thăm biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan

(https://lh3.googleusercontent.com/85-st7lcO-aRELA9N2Vcs_o9awt267l7bMzd-V7aJYEo55vj9IUyQFRspEBajJiybHnnEWQxByLCbkPBK7745m6uP6ylJ6J9jgXetg6-qr5KXlYkIo_kgNtb6dXpHE6QNhmarKcrKc5u59JQgXqS_8yzwguptZUcWqUbvQeS0wqwXYzMOasG36DP9TeqJRpyoQ1Iff1lL1-ShdDdbXV8xDMpAyB9I33KC3BoNekqZSKc8ofRysAn-ERrL2MHZ1_zRDiAOHGfpsbsQKxc3jrqp7dTZfPeOPJdMaqE4YnviJdIvYfipAIjePsbAXFxUxR6CjSCRrKPv6QaUVbKQizxhyYgHUm7Rpn8P1o8JZMwqCqhPlPHJz4ZyPK1DZ3RKPlYJB9xhO4z1l51chM3bkpQDaletyr4pbjGL3WjmZV7aYb6OaZRj8_YIUQCt444aGr74F1X2Brn4yXnZepCGdueB6Co-cNWe3NlLGinGTuQRgd_VIUK1BkciwTPzNts9dsyUVVf4W2dIOemoqsSPWUCct7s8UmnQ1UQ7WfwEtQxhNESIU2eN7Jg_QNYp5sQhRkT_oJC36pUhulbxEi3nTCIdhWIasYRHdiT6yNUOmE8WSXR51VE2bunDhXTRbkagJIX6r9nkhSINkdgl6NcrMOU9lf8ZxW2sGzDMxQ=w1024-h735-no)

Cơ quan Bộ Quốc phòng Cam-pu-chia trao tặng phẩm kỷ niệm nhân dịp quân tình nguyện về nước

(https://lh3.googleusercontent.com/1E-FFPS69RIRKvUqCdzanIPFyRFj61WApWAOCBKZrfJPiSlhZREbI9M6ADkD9OMKZNKlKQbDb5zEdEKfDUEzddnh6olwvAUe5DNw-czC7o3O2oUw74m6p-Bkff5EdIiRQvdd_dnxk8V1RjhcHSz5CAlGxRUO8sw6wkiRz0NsJagJwTnuEZYoWD4bRvS3XV3Frieb2T8qJqUaY9xLiFg1MP3Q3Lup4caufnzar6d7pmgMbsvWjIGhhKUYegvO4xn3Jvdz1iNPz0CRlmUWhDTlAmiHAqZ5fLpk2HhRLKmQBcE55nsJ2UbsQt-Bfv-E4WLudx4xCPjGYZwHq3umYLYh-qXIjdcZ5EooTS8bO6PcKc8MLTUlEdhnwOWByZQ4cz3QsuBabH8TVCgeocwgFduePykwUy4zNiZjYccz9k9HUjvtLslV3UCVifvN8KYzHN8DJEBR0ifxiE5jNDagQL_q-ticgMmjKAprvb46ZvJ99WvbCKjmYgkim3yHKCwhtwF1d7kLnFjStYvUbUf20qeQGJhue7C2oA7gT20liiOv2xJyO2GO7XkG4TpQLfTtZXggP682Ub4wmXgUBxPYm2d1DoU0WR-G0ehHb5zA3TOA_KDeX7MTN-5SWlsi2x8wLibAN8a6AWxF_xaIFGsiw8MbRLY5W9BrkwbMY54=w1024-h647-no)

Đồng chí Hêng Xom Rin trao Huân chương Ăng Co của Nhà nước Cam-pu-chia cho Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam và đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cam-pu-chia

(https://lh3.googleusercontent.com/gQfbKXmXo-nmmwkms7X2oObjT1JKgkgX4Efe1RgLcboWeu6t2U00R5Vw5AouzHAb1su0ZvUxESPv7hQHtba0vaNs74iW5Lo9GqvYxIxw0Vyd9kkh9J9lDxZTrjVWL1ipgvjftQC9nE4USKgyC12SCHz1cU_cGmFLkrxCUkxDgCMB5JH5r1gtbRRPEkSQ8wcxE3bHKjjRMfFI2TC2gI_3TvplRMCPuv3yWi763hqM-NupsJ69BRKGMAEmXzijnS-Fw928SO_WCAZUeEhkxxK2hnY-iRf4ytxTuorknVOyPAjemgcRyEQuZseYJVMybbzLIgzt-CsaF2Ntp6Na00XSfCYBZSu9M800ah4MShAnoNHswFoQqkTVwnwWem1cY-GLi18sLk5Ik6C9-WHo-nf_nzWM7bKFalfyfkR0sCuk02o12beBmb2AYMtnUBNzVlLzUES7ApdUDaf6tFlAK90S6Te-A52dsz8OeTQZK8sYlEM5I0OEfrLutuv3v3Gfyi_ZvOHvTfVhELhdX2K-166Xf0JXimm33qFlkESGRRoKY8ThU9VN99ghACllrk-MUhkrB1VbAZ1DbStqZUItVjZNit2lVnEb0vzEr717rt4i8WyKZz35epvSCPHVm9RrElwsWNKppI3kOUPk38VwCPsMLReTgYZulsbnSfM=w1024-h704-no)

Đồng chí Bu Thoong tao tặng phẩm cho Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và Đoàn chuyên gia quân sự trước khi về nước

(https://lh3.googleusercontent.com/_K7NNBCYDBLm0nEG9dnzsQwRy9Io3ZLym0_MvuIEREF9fEtv6h9ZP-fJMpFYr5BruBxiqc5tFmBS_g3QmZ8kwX-yTnPBAEHHYqvVGA9QG1blClimLhccBcGt1HSL4b6yADinUz-sl46-tLzrqupO_9YINXj_fr_RLZcNkP3atrpw14wBYrJsDkT7G46V1cGL4zfBBfwyLFg2gR4zt7GcZglOQe4jtgqoKJRbrI1FMgt2M5fL7h06ZDXf40aTRj9hsGHYH5UsgOfpfJtEDLoazqhDFNbxOrJf2p3UZ1TPa99zhRI0ah6INU7indByrwyIonUDWEmA9z7g9_2Cyl-62gSpLY0mjYEe1WFH49lcRanQN7p3fKH2geiyx66LhD0v1wm4aXYQmtozFpryTXwgvJCMfjanXmpdsu7HJ3yOd1CmaN0FDI6Dsez3y_dquKzlt1CFYIVE7bunlgBymAswsJ8aWJXMPoXzklWRdJ5dCEMnrtF3dwZ084pnItgLxAg9J6T1ycbWL1SuKc9af4jPUHCFctZiJensjOSmJz2u8uVx_ZiVomSV7tkiu6fnBbxK_7lnZWmBqrtq1becUBjr7lu5073XYufxaaKzYk5k9ByFtt93MRNApq64IyfeVRy-LekqJz2T0F0DTptrwJbfiaxl5wTZLEVtLLM=w1024-h685-no)

Đồng chí Chia Xim – Chủ tịch Quốc hội Cam-pu-chia chụp ảnh kỷ niệm nhân dịp Bọ Tư lệnh Quân tình nguyện và Đoàn chuyên gia quân sự chuẩn bị về nước

(https://lh3.googleusercontent.com/rFsIa26OX2qVRz7PKoTd6pCa_DKXhTWJGYLVXMow7VZlSoS_fPimpVgrNZH0VV1-Ze43wbB9kz40LTK53mf3L3fXnEGjSf4y0au34Nk9KgUnpEwfzeztvVwAmCIQOE0rwV2NYVSU-i01LUE7N3sQ7RcVZjC4zSEKTWl4QDS0YA4ed72lgkSBy1vw5CEz5JfftefDLKxoC0rPBTd7pEKDMp1JDXeA-HtqrU3H7eN7Z0CyTurzjIPXAOnGenLu1EgTTvoQA-Mz9aweodaWDz7b4wNPCVtNJUa0O5Q7QamHMuteAeozB9H5wADLinfF9fe0GFkXqSnkaE8xn3r7JkxajXqDEJA4PGNVejatF39emJ0PPTxFM_iA7oxj8IxUMtRGQk_8Og7yvYJV7hJGeKgA6ceFvp4ERfi2nbELKp6vOmi03FyzCtMRCWbzHIS90xUDumy0e5B7zyj1snnaFq6r3xh0kWjDjlNNsuuvIs0RFgxom516_DVdtUjKh4vaSErpEpd3lqm3-qo0ypdjf7DvpS2smem9WlDl2KsGqGHbw0ID96DNXePAv8piJxFPH8NT35WehPPcXOWvfplbEPLFyD-6vQ_-GagEWU_Lu8oF5c8MFAgYWV31IBUVhWvXTtoo2VOn6siPh572BZ8SZkgL4eCRwdc9bM34x4I=w1024-h665-no)

Lễ tiễn Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và Đoàn chuyên gia quân sự tại sân bay Pô-chen-tông Cam-pu-chia (Tôi đứng ở hàng thứ hai, bên phải)

(https://lh3.googleusercontent.com/CoV9VjvjJ79E-XX7k3wPiAPT_1D4kXi-6WCC-GStzP1UY0TSPstRTZ-8FP5dn7dlD0gEvBCxhTMuHFOmI_w73sZuJ1yMxoAiK8cyigTYBnSgVf6sosK5fFrcBYJs54uxNzts9IMuut2WeoBH6UYjty3uo8lR4C88oymIpO_bZJOw7SfMS30Wo9eV_QCCuzyvV7Eq9I3InszW6-SdoRqMiGwC6dmF-HJwCD5DApXxO03tGT6hwyq1l7jQWxWHbO4jujsqAxMK7QyuuPWGrwGlm3mHDaGa-McHOP4xY0Eq4wS53fCzaWXWKtNmSCzxx05k17pTh-ySK0x8z6KYq3tsWHPx85JQVoPpczfu6wK44tgGRHh9Zmqb0l7wLxj_N1snIGsDlz8pYFzvQVzpFCIMT7ettnQz3ixampMmPPhK3jEk1-yUmSsJOOC8gOWMIZUXs2gcr7HNCFdvj4tmrw4TErv8w7mrni8rO4G-LkDrUi09CBGoct1aVMHGXTCGQyMQMjvA6B68KE3Azy_5RzSyjQBC7IHFB3C5VoCODUiKzjEtU92QxUxUszBOE1mDKw9jT1tJ96TJEZSBlhrXn72MY_biQH_ERpSRA7CncyoRYh-QtK5EE5jtR-23JroCtcKSFQ4pO16fxlda1yZgd-kcW1mrInWgYcWCEko=w1024-h661-no)

Kỷ niệm đám cưới Vàng (21.6.1954 – 21.6.2004)