Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:13:32 PM



Tiêu đề: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:13:32 PM
1/Đối thoại trên bãi rác xưa

Tôi có cậu con trai út sang du học ở Mỹ. Cháu phải hoàn tất nhiều thủ tục pháp lý rất nghiêm ngặt. Một trong những thủ tục quyết định là phải trả lời phỏng vấn của người Đại diện sứ quán Mỹ ở phố Láng Hạ. Tôi dặn Công – con trai tôi:

- Người nước ngoài họ rất coi trọng nét lịch sự trong giao tiếp. Con phải mặc chỉnh tề, phải nói năng bình tĩnh, gãy gọn để chứng tỏ mình là người có văn hóa, nhưng chớ có khúm núm. Khúm núm đánh mất tự tin, là thiếu văn hoá đấy con ạ!

Hàng ngày, tôi thường nói vui với các con tôi rằng, ta là người “Song Hà” trong ta có cái cốt cách, chân thành, bộc trực, chặt chẽ của gốc quê mình - Hà Tĩnh, và ta có cả vẻ thanh lịch, hào hoa của người Hà Nội, ta phải hoà nhập hai cái đó.

Ông đại diện sứ quán Mỹ có cái nhìn mở hết độ sáng dõi thẳng vào người đối diện. Ông bắt đầu hỏi bằng tiếng Việt:

- Anh trả lời bằng tiếng Anh hay tiếng Việt?

- Ông hỏi tiếng Anh thì tôi trả lời bằng tiếng Anh. Ông hỏi tiếng Việt thì tôi trả lời bằng tiếng Việt. Tuy vậy, tôi muốn trả lời bằng tiếng Việt.

Đôi lông mày rậm của ông dãn ra. Ông hỏi những câu xã giao rồi lục vấn đến kinh tế gia đình, trình độ học vấn. Thỉnh thoảng, ông vặn vẹo lại câu ông đã hỏi. Ông gài thêm vào các chi tiết mâu thuẫn, bất ngờ để gây xáo trộn suy nghĩ nhằm thẩm tra sự trung thực. Thấy Công trả lời xuôi lọt, ông Đại diện sứ quán hỏi Công câu thường xuyên ông vẫn hỏi:

- Tại sao anh lại sang Mỹ học tiếng Anh? - Giọng ông dằn nặng tiếng cuối.

- Vì có trình độ tiếng Anh chuẩn thì rất thuận lợi để đọc tài liệu và học các chuyên ngành.

- Anh dự định học chuyên ngành gì?

- Tôi học nghề Y để thành thầy thuốc, thưa ông.

- Anh sẽ mở nhà bệnh viện ở Mỹ chứ? - Nhạc điệu câu nói của ông được nhấn mạnh chữ cuối.

- Không, thưa ông. Học xong tôi sẽ về Việt Nam ngay! - Ông đại diện sứ quán hỏi lại ngay:

- Tôi biết Việt Nam đâu có thiếu thầy thuốc giỏi. Việt Nam đang đưa thầy thuốc sang làm việc ở Algérie và ở các nước khác kia mà…

- Thưa ông, qua báo chí chúng tôi biết rằng ở Mỹ đã có cơ sở khoa học nghiên cứu được thuốc chữa cho người mắc bệnh ung thư vì nhiễm chất độc chiến tranh. Ông biết đấy, ở Việt Nam chúng tôi còn nhiều người nhiễm chất độc từ trong chiến tranh. Đến nay, thế hệ thứ hai, thứ ba vẫn mang di hại - Công ngập ngừng, chẳng lẽ anh nói toạc ra rằng: Tôi sang Mỹ học cách chữa bệnh cho người Việt Nam chúng tôi. Mà bệnh “nan y” đó lại chính do người Mỹ gây ra.

Nghe đến đó ông đại diện sứ quán gấp tập hồ sơ lại. Không biết ông đang suy nghĩ gì. Ông nghĩ đến cuộc chiến tranh tàn khốc đã qua. Hay ông nghĩ đến trách nhiệm về chất độc dioxin, nghĩ đến những nạn nhân của nó, một vấn đề lớn đang làm xúc động đến những người có lương tri. Như ông Bill Clinton lúc còn đương nhiệm tổng thống sang thăm Việt Nam, nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh… cùng Việt Nam nghiên cứu di hại chất độc dioxin… Ông rút tấm giấy màu xanh trong hộp để trên bàn đưa cho Công. Đó là tấm giấy hẹn ngày làm hộ chiếu, xin visa và ngày bay sang California.

- OK!

- Thanh you very much!

Công cảm ơn ông. Ông đưa bàn tay to lớn cầm lấy tay Công.

Cùng ở phố Láng Hạ, nơi có tòa đại sứ Mỹ đóng có một gia đình người Mỹ thuê nhà ở. Anh ta là Michael. Biết Công sắp qua Mỹ du học, lại đến đúng bang California quê anh. Michael sang nhà tôi chơi. Vợ Michael là Eli, hai đứa con trai của anh đều sinh ra ở phố Láng Hạ. Đôi vợ chồng người Mỹ này đang dạy tiếng Anh ở một trường Đại học. Michael có dáng người cao, mảnh và mái tóc vàng như tơ, óng mượt.

Những ngày nghỉ, Michael thường sang nhà hàng phố chơi. Gặp ai từ xa, Michael đã tươi cười chào hỏi. Anh thích chuyện trò với mọi người. Cái gì anh cũng hỏi để qua câu chuyện anh học thêm tiếng Việt, biết thêm những ngôn ngữ dân gian trong tiếng Việt. Michael tìm hiểu về nếp sống, về ca dao tục ngữ Việt Nam… Chiều chiều Michael ra vườn hoa đá bóng, ăn kem với trẻ em. Đứa nào hỏi anh một câu, một từ khó tiếng Anh, Michael bày đến nơi đến chốn.

Cách vài ngày, anh lại cõng con sang nhà tôi, lúc thì anh hỏi về một món ăn, lúc thì anh tìm hiểu về một lễ hội. Anh đã nhiều lần nói với tôi và bà con phố Láng Hạ rằng: - Sống với người Hà Nội thật là tuyệt. Ấn tượng nhất là sự bình đẳng và sự đầm ấm, con người quan tâm đến nhau.

Anh kể nhiều về phố xá, về sinh hoạt, về khí hậu và con người ở California. Nói xong, anh cười và nhìn tôi:

- Thế là bác đã biết nhiều điều về quê hương cháu - Anh gọi tôi là bác - Còn cháu thì chưa hiểu tại sao phố ta đang ở đây lại có tên là phố Láng Hạ?

Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi trả lời:

- Michael tìm đọc cuốn sách Hà Nội phố, làng… thì biết rõ. Chuyện dài lắm, nhưng đại loại là thế này. Michael ạ, xưa kia ở đây nguyên là thôn xóm, đồng ruộng, ao hồ của một làng có tên là Yên Lãng Hạ, thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận. Nó cũng giống như các làng Yên Lãng Trung, Yên Lãng Thượng nay là phố Láng Trung, Láng Thượng thôi mà. Vùng đất này trước đây người dân chuyên trồng rau mùi làm gia vị ngon cho bữa ăn…

- À, thưa bác. Vậy là cháu đã hiểu. Có phải là cây hành, cây rau húng, rau răm in trong cuốn Ca dao tục ngữ Việt Nam cháu đã đọc. Riêng rau răm thì buổi sáng vợ chồng cháu ăn với trứng vịt lộn đấy…

- Hà Nội mở rộng, khu đô thị phát triển thì cả vùng đất này thành phố xá sầm uất. Nơi ta đang ngồi đây, Michael có hình dung được không, chính là ao tù, ruộng rau muống, bãi tha ma chen lẫn với những khóm tre còi cọc. Kế bên một tí là bãi rác. Nơi ấy người ta đổ rác phế thải, rác sinh hoạt của cả Hà Nội đấy. Michael ạ! Cậu có biết không, Đại sứ quán Mỹ xây trên đỉnh một núi rác đấy. Nhà chiếu phim quốc gia, các siêu thị, các khách sạn, các ngân hàng, liền kề đó là hồ bơi, các công sở, các công ty ô-tô, xe máy, Trung tâm thể thao, Đài truyền hình… cả những khu nhà mười lăm, mười bảy tầng đều mọc trên những núi rác cả đấy.

- Cháu đã đến Hồ Trúc Bạch, nơi mà mùa hè năm 1967, người Hà Nội đã vớt Đại tá phi công John MacCain. Ngày ấy, báo chí Mỹ đã nói rằng ba đời nhà John lập nghiệp trên đại dương, đến đời ông ta thì mất nghiệp ở Hồ Trúc Bạch. Vì cụ nội rồi cụ ông nội của ông ta và đến cả đời bố đẻ của ông đều giữ chức Đô Đốc Hạm đội Thái Bình Dương. Đến ông ta nhận lệnh đánh phá một điểm tối quan trọng ở trung tâm Hà Nội thì bị thương rơi xuống hồ bác ạ.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:14:10 PM
Sau đó, vào ngày 23/12/1967, nhà báo Harrison… Tờ New York Times được đến Hà Nội (Cháu đọc sách, nếu nhớ không nhầm). Khi trở về Mỹ, ông ta kể lại rằng: sát bên hồ nước ấy có ngôi đền cổ kính. Trong đền có pho tượng thần linh bằng đồng nặng đến hàng mấy tấn. Người Việt Nam thường đến đứng cúi đầu trước tượng, đặt tay vào đầu gối ông để cầu nguyện sự may mắn, bình yên… Và họ khẳng định rằng vị thần linh thiêng đó trấn giữ một phương đất trời Hà Nội đã hạ “Con Ma" (Người Việt Nam gọi máy bay F4 là Con Ma).

- Michael thấy điều nhà báo ấy nói đúng chứ?

- Phần đầu câu chuyện thì đúng. Còn phần cuối, theo cháu nghĩ đó là tâm linh, là niềm tin của người Việt Nam vào sự phù hộ của ông cha, vào truyền thống trong quá khứ. Và điều đó đã làm nên sức mạnh. Người Mỹ chúng cháu thời đó chả có gì để gửi gắm niềm tin - Michael cười - Họ chỉ tin cậy vào thế mạnh vật chất họ có. Đó là thuốc nổ và chất độc…

- Nên đã thất bại - Tôi nói chen lời Michael.

- Vâng, đã trả giá. Người Mỹ chúng cháu không quên lời tướng Taylor nói sau khi thua trận ở Việt Nam. Tháng 5 năm 1975 báo Sao & Vạch đã in lời ông. Cháu đọc trong đống báo lưu thấy ông ấy nói dài nhưng cháu chỉ nhớ đại ý rằng:

“Chúng ta đã dùng vô số phương tiện, bom đạn và cả chất độc. Chúng ta đã dội bom vào dân cư, bệnh viện… ở thủ đô Bắc Việt để uy hiếp. Chúng ta đã rải chất độc huỷ diệt sự sống một vùng đất đai rộng lớn; xuất những tướng lĩnh tài giỏi; và con cháu các nhà võ binh ưu tú: dòng giống như John MacCain …; vạch cả một kế hoạch oanh kích vào khu trung tâm đầu não ở Hà Nội mà không chiến thắng…”

Michael cười - Giờ đây lớp người Mỹ chúng cháu sống vì tương lai chứ không phải vì thuốc nổ và chất độc, nếu ai mù mờ mới giấu diếm sự chua xót ấy. Nay ông John là Thượng nghị sĩ. Năm 1994, ông John sang Hà Nội thăm nơi ông từng bị giam, ông nói rằng: “Tôi cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã đối xử rất tốt với tôi - một tù binh chiến tranh…”. Bác ạ, ông John nói câu ấy là biết điều, là thay lời những người dân Mỹ có lương tri đấy - Cháu nghĩ như vậy. Và ngay cả ngài Peter Peterson - Một thời là ông chủ của tòa Đại sứ ở phố Láng Hạ này cũng là tù binh chiến tranh vì máy bay của ông cũng bị rơi. Nay ông là con rể Việt Nam đấy!

Thấy tôi cười, Michael biết ý, anh quay về câu chuyện đang nói dở ban đầu:

- Bác cho em Công sang California học ngành gì ạ? Michael hỏi tôi. Tôi trả lời Michael giống như cậu con trai út đã trả lời ông Đại diện sứ quán Mỹ. Michael ngồi im một lúc rồi chậm rãi nói:

- Bác cho em Công học Công nghệ điện tử, vi tính hoặc ngành Quản trị kinh doanh thì hợp. Cháu biết người Việt Nam sang bên ấy ít ai tìm học ngành Y.

- Michael biết đấy, cuộc chiến tranh tuy đã lùi xa rồi nhưng những người Việt Nam chúng tôi còn đau lòng lắm vì phải gánh chịu tai họa di hại của chất độc…

Michael quay lại nhìn tôi.

- Cháu biết, cháu biết, người Mỹ đã gây ra việc ấy ở Việt Nam. Nhưng thưa bác, đó là những người Mỹ thời ấy, lớp trước. Thưa bác, bố cháu đã kể lại và báo chí ở Mỹ đã nói đến nhiều. Ngày ấy, người Mỹ đã chi vào cuộc chiến tranh vô nghĩa và lầm lạc đến 350 tỷ đô la, rải xuống Việt Nam 72 triệu lít chất độc để huỷ diệt sự sống.

Nghe Michael nói, tôi lại nhớ tới các tư liệu tôi đã ghi được từ các bản tin, từ các báo… Đúng thế, từ năm 1961, quân Mỹ đã rải các loại chất độc xuống nước ta. 3.440.000 ha rừng núi, sông suối, đất đai bị nhiễm độc. Trong số 72 triệu lít chất độc, có tới gần 44 triệu lít chất độc dioxin. Loại chất độc này cỡ phần triệu gam trên một kilôgam trọng lượng là giết chết súc vật và người. Cỡ phần tỷ gam trên một kilôgam trọng lượng thì gây ra bệnh ung thư, tai biến sinh sản, teo não, mù, điếc, ngớ ngẩn… Chỉ cần 80 gam dioxin cho vào hệ thống cấp nước là đủ diệt toàn bộ dân số một thành phố lớn như New York - 8 triệu dân. Vậy mà thời đó có một số vùng nước ta Mỹ đã rải tới 170 kilôgam chất độc dioxin. Ba đến bốn triệu người Việt Nam chết trong chiến tranh thì có gần triệu người chết hoặc mang dị tật bởi loại chất độc này (Tư liệu của Uỷ ban điều tra hậu quả các loại chất độc dùng trong chiến tranh Việt Nam - An ninh thế giới số 221).

- Đúng vậy - Tôi nói - Việc đó đã gây ra nhiều đau khổ cho người dân chúng tôi và hiện nay còn có hơn ba vạn bà mẹ sinh con bị quái thai, chết yểu…báo Hà Nội mới đã đưa tin. Cả nước chúng tôi hiện có hơn 2 triệu trẻ em phải mang tật nguyền. Hầu hết là nạn nhân của chất độc dioxin thời chiến tranh.

- Thưa bác, nhiều người Mỹ có lương tri đã hổ thẹn và căm phẫn với những việc làm điên rồ đó. Lớp trẻ chúng cháu rất hối hận với những tội lỗi ấy. Bố cháu là người trực tiếp chứng kiến.

- Thế bố Michael…

Vâng, bố cháu là cựu chiến binh chiến tranh, ông đã bị đẩy sang Việt Nam. Ông là lính sư đoàn “Kỵ binh bay”. Ông nói, ông đã từng đến Khe Sanh, đến Cao Nguyên trung phần. Ông may mắn hơn nhiều đồng đội của ông là được sống sót trở về. Ông nói, hồi ấy ông không hề biết gì về Việt Nam. Ông được người ta tuyên truyền rằng, người Mỹ phải là “Hiệp sĩ của thế kỷ XX” cứu lấy một vùng đất của Chúa đang bị xâm lăng, đang bị áp đặt chế độ độc tài…

- Bác ạ! Về sau, chính bố cháu đã mắc chứng bệnh máu trắng vì nhiễm chất độc dioxin… Lúc nằm trên giường bệnh, bố cháu còn kể rằng Đô đốc E Zumwalt chỉ huy hải quân Mỹ ở chiến trường Việt Nam, đôn đốc việc rải chất độc xuống sông ngòi, kênh rạch Việt Nam. Con trai ông ta là Đại uý Elmo - Zumwalt chỉ huy chiến đoàn giang thuyền lấy vợ, sinh hai đứa con đều bị đần độn, ngớ ngẩn. Rồi anh ta chết vì bệnh ung thư…

Michael vẫn nói chậm rãi, vô tư:

- Bác ạ! Trước khi chết, bố cháu khóc nhiều, ông gọi các con đến. Ông nói, người Mỹ đã có tội với đất nước Việt Nam. Thế hệ các con phải chuộc lại lỗi lầm đó! Thế là cháu và vợ cháu sang đây. Chúng cháu dạy tiếng Anh cho trẻ em Việt Nam. Cháu học về văn hóa Việt Nam. Vợ cháu tên là Eli. Cháu gọi bằng cái tên cô gái Việt là Kim Liên. Có cái tên ấy là sau khi chúng cháu được vào thăm Thành phố Vinh. Còn hai đứa con trai của cháu, một đứa tên là Việt, một đứa tên Nam.

Michael vẫn chậm rãi nói. Những âm tiếng Việt, anh ta nói trầm dần xuống vì thiếu dấu nên cứ lớ ra. Đôi mắt màu nâu nhạt của Michael đỏ rựng. Không biết anh thương tiếc người bố, hay anh đồng cảm với sự sám hối của người bố. Cổ họng tôi bỗng nghèn nghẹn, vì tôi đã từng đứng trong chiến hào mặt trận Khe Sanh, nơi lính “Kỵ binh bay” Mỹ gọi là “Cối xay thịt”.

Và tôi cũng từng giữ điểm cao chốt chặn ở chiến trường Đắc Tô - Tân Cảnh. Nơi ấy, lính “Kỵ binh bay” Mỹ gọi là “Nóc nhà Đông Dương”, ai chiếm được nơi ấy người đó sẽ thắng cuộc. Tôi đã chạm trán với họ trong lửa đạn. Hai vết thương trên cánh tay tôi đây, lúc này bỗng nhức nhối lạ lùng - biết đâu do chính băng đạn từ nòng súng AR15 cực nhanh của bố Michael…

Đúng là cái chất “Hà gốc” trong tôi đã thức dậy. Nhưng có lẽ cái chất “Hà thanh lịch” hòa nhập trong tôi 40 năm đã kìm giữ tôi. Tuy vậy, cái ấn tượng mạnh mẽ về một suy nghĩ cứ day dứt khôn nguôi: Nơi núi rác đầy ô nhiễm ở Láng Hạ đây, người Hà Nội đã làm sạch và xây nên các biệt thự, các nhà cao tầng sang trọng - Trong đó có tòa Đại sứ Mỹ. Còn tai họa những di hại của chất độc chiến tranh do người Mỹ gây ra thì biết đến bao giờ mới xóa sạch…!

Michael vẫn chậm rãi, thỉnh thoảng anh dừng lại lựa lời nói tiếp:

- Cháu biết, cháu biết. Báo chí của nước cháu như tờ New York Times hay Washington Post… và cả thế giới cũng đã nói nhiều đến điều ấy. Bác ạ! Chất độc dioxin còn đọng lại trong môi trường sinh thái…

- Đúng thế đấy. Đến nay không những người từ chiến trường về bị bệnh mà còn di hại đến con cháu, giống nòi họ. Mỗi năm có thêm hàng vạn người mắc bệnh ung thư. Ngay ở Hà Nội đây, khu phố nào cũng có người gánh chịu tai họa đó. Michael ạ, qua thông tin trên báo chí, truyền hình mới biết được ở Mỹ đã có nơi nghiên cứu chữa trị bệnh ung thư, đã thí nghiệm thành công trên cơ thể chuột.

Vừa lúc ấy, Công ở hiệu ảnh về. Công ra đấy phóng to, ép cứng tấm ảnh bố anh đội mũ cối, mang ba lô cốc, bế anh trên tay tươi cười đứng cạnh mẹ anh trong buổi vợ con tiễn ông đi vào chiến trường, để mang theo. Công cũng ghé vào “chợ thuốc” to nhất nhì Hà Nội ở ngã tư Láng Hạ mua thêm mấy hộp cao Trường Sơn, dầu gió, mươi gói bạc hà, dăm củ gừng mang sang xứ lạnh.

… Tôi ngắm nhìn Công - chàng trai Hà Nội ra đời trong đêm 26/12/1972, đêm máy bay B52 rải thảm bom hủy diệt phố Khâm Thiên, tươi cười bắt tay Michael. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh và cả tiếng Việt. Tôi có cảm nhận: Lớp trẻ bây giờ là thế đấy. Vì nghĩa cả, họ dễ gác lại chuyện gay cấn của ông cha trước đây. Họ dễ kết bạn với mọi người. Họ sẵn sàng để cho dĩ vãng đi vào quá khứ… nhưng lương tâm thì không cho phép được quên. Vâng! Đó là nét đẹp thanh lịch của người Thăng Long. Nét đẹp văn hóa Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:17:16 PM
2/Chùm dâu da vẫn ngọt

Văn công lên Đồn biên phòng. Tin ấy làm các chiến sĩ nức lòng. Bởi đây là lần đầu đồn tiền tiêu có niềm vui này.

Các chiến sĩ chặt cây dựng lán ở để nhường nhà cho các diễn viên. Đội tuần tra của Mạnh Cường tìm chọn nơi đặc sắc nhất vùng non xanh nước biếc này, nơi có thác chảy đẹp, vực sâu có cá bơi lội, đồi cây có quả dâu da chín ngọt... để đưa các diễn viên đến chơi. Rộn ràng nhất là cánh lính trẻ đua nhau tìm chọn những kỷ vật độc đáo: cái gậy trúc bọc lá chuối hơ lửa có hoa văn vàng óng, cái gối nhồi cỏ thơm, viên đá có màu sắc long lanh dưới lòng suối... để tặng các diễn viên làm kỷ niệm.

Các chiến sĩ xuống tận chân núi đón Đoàn văn công, cầm tay các diễn viên dìu lên từng bậc đá. Mạnh Cường, đội trưởng đội tuần tra, mang ba lô, vác nhạc cụ cho hai diễn viên Minh Hiền và Mai Hằng. Hai cô diễn viên xinh tươi cầm tay Cường, vịn vai Cường hỏi tên anh với giọng ngọt ngào. Cường sung sướng, vì từ trước tới giờ anh chưa được người con gái đẹp nào có cử chỉ thân mật đến thế. Anh trả lời: “Tên tôi là Mạnh Cường, đội tuần tra, có việc gì xin cứ gọi tôi”. Mấy chiến sĩ trẻ người Thái, người Mông lần đầu tiên tiếp xúc với các nữ diễn viên xinh đẹp, niềm nở đã không kìm được sự hồ hởi, reo to lên: “Hoan hô văn công! Hoan hô văn công!”. Tiếng cười vui xao động cả vùng rừng lộng gió...

Rồi các diễn viên diễn buổi sáng, diễn buổi chiều, diễn cả buổi tối cho chiến sĩ xem. Những tiết mục vừa diễn xong, chiến sĩ yêu thích, diễn viên chiều lòng diễn lại.

Chiến sĩ người Tày, người Mông muốn được nghe bài Cô gái Tày cầm đàn lên đỉnh núi, Trước ngày hội bắn… Minh Hiền, Mai Hằng hát lại hai lần, ba lần. Chiến sĩ đổi phiên gác, đội cơ sở từ xóm, bản mới về chưa được xem… vậy là diễn viên hóa trang, nổi đàn, trống diễn ngay. Nhiều buổi người xem ít hơn người diễn. Đội tuần tra của Mạnh Cường thích nghe bài hát Chiều biên giới, Tiếng hát biên thùy... Đoàn văn công xếp trọn một chương trình phục vụ. Ban đêm, đoàn diễn dưới ánh đèn măng sông, ban ngày diễn ở sân đồn trong màn sương mù mịt. Áo diễn viên, áo khán giả thấm ướt. Bốn bên sân diễn chiến sĩ đốt bốn đống lửa để sưởi ấm, để hơ áo.

Đội tuần tra của Mạnh Cường được “ưu tiên” đón Minh Hiền, Mai Hằng về lán tập hát, dạy nhạc, luyện dân ca... Các chiến sĩ đều ở độ tuổi 20, 22, 23; các nữ diễn viên cũng trẻ trung, xinh tươi, cởi mở nên không khí rất ấm áp thân tình. Minh Hiền, Mai Hằng “đòi” được ăn cơm lam, ăn củ mài nướng, “đòi” được uống nước trong lòng cây nứa đốt cháy như những buổi chiến sĩ đi tuần tra… Đội trưởng Mạnh Cường chiều lòng thực hiện ngay. Minh Hiền đã đôi ba lần khen anh đội trưởng sáng dạ, có giọng hát ấm, có khuôn hình đẹp hợp với sân khấu lại rất chiều chuộng, nên không giấu nổi... cảm tình. Hiền chăm luyện cho anh hát bài có nhiều ca từ anh yêu thích: “...Vượt đèo cao ta bước tới chân mây, núi non này ta đã leo tháng ngày...”.

Đội trưởng Cường đề xuất với Minh Hiền, Mai Hằng viết mấy dòng kỷ niệm vào sổ tay các chiến sĩ trong đội. Hai diễn viên đồng ý ngay. Hiền cười, thưa lại: “Vì không nhiều thời gian, Minh Hiền xin các anh cho phép thế này, anh nào bao nhiêu tuổi, Hiền và Hằng xin được viết bấy nhiêu từ thật thắm thiết rồi cùng ký tên Minh Hiền - Mai Hằng liền với tên anh đó để chúng ta nhớ nhau nhiều”.

Thế là cả Đội tuần tra anh nào trong sổ tay cũng có một câu gần giống nhau 20, 22, 23 từ: “Minh Hiền - Mai Hằng nhớ anh nhiều. Không bao giờ quên người chiến sĩ dãi dầu sương gió nơi biên cương...”. Anh nào nhiều hoặc ít tuổi hơn thì chỉ thêm bớt vài từ, dưới ký tên hai diễn viên liền nét với tên người được ghi lưu niệm. Anh lính trẻ nào cũng vui, mừng rỡ như có “bảo vật”, bọc cuốn sổ vào bao ni lông cất trong đáy ba lô. Đội trưởng Mạnh Cường được đồn giao trách nhiệm đưa Minh Hiền, Mai Hằng đi xem suối nước đầu nguồn biên cương nơi mà ông bà thường gọi là “phân mao cỏ rẽ”. Nước từ mạch suối chia đôi chảy một nửa về phía mái núi bên nước bạn, nửa chảy về mái núi bên nước ta. Hiền nói: “Ôi, thế là nhà mẹ Hiền ở cửa sông, nơi cuối dòng chảy này đây”. Hiền nhí nhảnh cất tiếng hát: “Con ở đầu dòng sông, mẹ ở cuối dòng sông...”. Mai Hằng đế luôn: “Giá như em và anh ở đầu dòng sông thì ấm áp quá”...

...Mái núi bên bờ suối có cây dâu da đang mùa quả chín. Mạnh Cường đưa Minh Hiền, Mai Hằng đến đó. Loại dâu da đất rừng cây thấp, gốc to, từng chùm quả chín mọng hồng treo từ gốc lên cành, ken dày, nhiều lớp nhìn như tổ ong xây tầng mật ngọt. Minh Hiền, Mai Hằng chưa nhìn thấy bao giờ nên càng lạ lùng, thích thú. Hiền, Hằng lật từng chùm, chọn hái từng quả chín bóc lớp vỏ như hai cánh môi son, nếm. Hương vị quả dâu rừng vừa thơm mát vừa ngòn ngọt lại vừa dịu chua. Ôi, ngon chưa từng thấy.

Hiền và Hạnh vừa hái từng quả bóc ăn vừa chọn những chùm chín đẹp hái bỏ đầy các túi ni lông mang về cho đoàn. Bỗng Mai Hằng kêu rú lên: “Ôi, máu! Hiền ơi, máu thấm ướt ống quần Hằng rồi”. Hiền cuống cuồng, nhìn xuống, mặt tái mét, chân Hiền nhảy thon thót như đang đứng trên tổ kiến lửa. Miệng mếu máo, hai tay Hiền ôm chặt lấy Mai Hằng: “Cứu tao! Cứu tao với Hằng ơi...”. Hiền líu lưỡi, nhìn sang phía Cường: “Cứu Hiền, cứu Hiền với anh Cường ơi?”. Cường giữ chặt lấy tay Hiền. Anh chả lạ lẫm gì chuyện vặt này nữa. Hiền đang bị vắt cắn, hút máu. Ở đây có loài sên đất và vắt xanh. Sên đất chỉ bò trên thảm bì rừng và ẩn náu trong lớp lá mục ẩm ướt. Còn vắt xanh thì độc lắm, nó bật tanh tách chuyền trên cành lá. Nó bò êm nhẹ luồn vào cổ áo, vào lưng quần tìm đúng chỗ da non, mạch máu phập phồng mới cắn hút máu. Khi đã no, say máu thì máu trào ra thấm ướt áo quần như thế.

Hiền bị vắt cắn hút máu ở nếp gấp dưới lưng quần trong. “Không sao, Không sao. Bình tĩnh, gỡ vắt ra thôi”, Cường nói. Hiền vẫn bám chặt vào vai cổ Cường: “Cứu Hiền với! Cứu Hiền với, anh!”. Cường xắn cao tay áo lên. Nhưng ống quần quân phục Hiền mặc chật quá, không thể nào luồn tay vào sâu được. Mai Hằng nói: “Cởi khuy quần ra vậy”. “Không. Không” - Hiền giữ chặt lấy. “Thôi phải thế này nhá - Hằng nhìn Cường - Anh nhắm mắt lại vậy. Nó khó tính quá mà Hằng cũng sợ lắm”. Hiền giãy nảy lên: “Không được!”. Hai chân Hiền nhảy thon thót. Đám cây cỏ bị xéo nát. “Thôi có cách rồi, chiều nó vậy - Hằng rút khăn mặt trong túi ra - Hằng bịt kín mắt anh lại, rồi cầm tay anh dí vào chỗ có con vắt cắn, được không?”. Hiền không nói gì, Hằng thực hiện ngay cách làm “tối ưu” ấy. Theo thói quen của lính biên phòng, “nhả nước bọt vào tay, giựt vắt ra ngay tức khắc”. Cường cầm con vắt no máu to bằng ngón tay cái vứt mạnh xuống tảng đá, tóe máu.

Cường xé ngay mẩu giấy lót chỏm mũ vải nhấm nước bọt dán vào chỗ vắt cắn để cầm máu. “Được rồi. Nhẹ nhàng thế thôi mà”, anh nói. Nét mặt Minh Hiền tươi tắn trở lại, hai bờ môi lại hồng lên. Cô cười bẽn lẽn, ngượng ngùng: “Hiền cảm ơn anh nhiều lắm...”.

Đứng bên dòng suối nước trong xanh chảy từ các kẽ đá ra tạo âm thanh nỉ non như tiếng nhạc, Minh Hiền, Mai Hằng nhìn nhau thầm thì rồi quay lại hỏi Cường: “Ở đây có người qua lại không anh?”. Hiểu ý, Cường nói: “Vùng này gần đồn, nhưng anh em ít ra. Tôi đi xuống sau gốc cây lim có bụi rậm ấy, chờ”. “Hiền nó lấm láp bùn đất, bẩn quá. Anh Cường trông hộ nhé”.

Anh đội trưởng ôm súng ngồi sau gốc cây lim có bụi rậm che khuất. Để Minh Hiền, Mai Hằng không có cảm giác vắng vẻ, thỉnh thoảng anh lại hát to lên bài hát Hiền dạy hôm qua “Vượt đèo cao ta bước tới chân mây, núi non này ta đã leo tháng ngày...”. Bỗng Hiền lại kêu thất thanh: “Anh ơi! Anh ơi giúp Hiền với, nhanh lên!”. Cường vội chạy xuống. Thì ra, tắm rửa xong Hiền ngồi trên tảng đá bên suối lau chân, đi giày, bị tuột tay một chiếc trôi theo dòng nước. Cường chạy nhanh xuống đón dưới dòng chảy. Anh nhoài người bơi ra vớt chiếc giày. Khi trở về đồn, nhìn thấy áo quần, giày tất anh đội trưởng ướt sũng, cả đội tuần tra xúm lại hỏi. Anh đã kể lại “sự kiện” bắt vắt, vớt giày... Tất cả cười: “Hơn cả chuyện hoàng tử nhặt giày cho cô Tấm rồi đấy”.

... Mấy năm sau Mạnh Cường được Đồn biên phòng cho thi tuyển vào học trường Báo chí, rồi anh được về làm phóng viên ở tòa báo. Khi đọc những bài, những chuyện viết về chiến sĩ Biên phòng, Minh Hiền, Mai Hằng đã mấy lần đến tòa báo thăm anh. Tình thân ngày nào nơi sương gió biên cương giữa họ vẫn nồng ấm. Minh Hiền hỏi nhỏ Cường: “Anh còn để lòng những kỷ niệm ngày chúng ta đi thăm suối đầu nguồn, đi ăn quả dâu da rừng không? Đến bây giờ Hiền vẫn nhớ hương vị nó sao mà ngọt thơm thế!”.

- Có chứ. Nhớ nhiều lắm - Cường nhìn sang Hiền, cô diễn viên xinh tươi, đôi má sương sương lớp phấn hồng trông đẹp hơn ngày anh gặp ở biên cương - Tôi nhớ cả kỷ niệm Hiền bị vắt cắn nữa đấy.

- Ứ… Anh quên đi những kỷ niệm xấu về Hiền.

- Bây giờ Minh Hiền còn sợ vắt nữa không?

- Sau đó Hiền có đi biểu diễn ở các đồn biên phòng Tây Bắc. Nhưng Hiền vẫn sợ vắt xanh lắm. Nhìn thấy nó bò, tay chân Hiền đã bủn rủn, người nổi gai ốc lên rồi. Lúc đó, sao Hiền lại nhớ đến anh Cường nhiều thế. À, sau lần ấy Hiền mới biết rằng vắt cắn đã để lại trên người vết sẹo hình ba ngạnh như hoa khế ấy. Rất buồn cười anh Cường nhỉ?

- Vết sẹo nay đã lành chưa?

- Sẹo thì lành lâu rồi. Nhưng vết sẹo trong kỷ niệm ở Đồn biên phòng thì vẫn hằn sâu mãi đấy.

- Anh Cường ơi - Mai Hằng nói chen vào - Hằng nói với anh điều “vô cùng bí mật” này nhé, Minh Hiền đang muốn viết thêm những dòng kỷ niệm vào sổ tay cho anh đấy... Anh hỏi viết thêm những gì à. Hiền muốn viết rằng chùm dâu da rừng anh hái trao cho ngày ấy hương vị vẫn ngọt lành, nhớ mãi... Hằng tán thành Minh Hiền viết cho anh câu ấy đấy!


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:23:11 PM
3/Thông điệp “cấp cấp” của bầy rái cá

Không biết từ đời nào, đầu suối ngàn nơi “phân mao rẽ cỏ” này có bầy rái cá sinh sống. Chúng trú ngụ bình yên trong những hang hốc bên suối, dưới vòm cây um tùm che kín. Ban ngày chúng tung tăng đùa giỡn thả sức bắt mồi, “tình tự” trên suối nước trong lành. Bỗng vài hôm nay bầy rái cá nháo nhác kêu “cấp cấp, cấp cấp” hoảng sợ, bỏ nơi trú ngụ bơi tản ra các ngả suối.

Hiện tượng kỳ lạ ấy được các chiến sĩ trinh sát biên phòng và người dân xóm Kim giáp biên chú ý. Đồn trưởng Tiến Tương mời cụ Huấn, người cao tuổi nhất xóm, từ đời ông, đời cha đã làm nghề săn bắt thú rừng lên. Theo cụ Huấn, rái cá sống từng bầy, gắn bó với nhau từng cặp đôi lâu đời ở dòng suối Ngàn này. Nó như một “xóm thú” ở bên xóm Kim vắng vẻ này đấy. Thân hình nó dài hơn con chồn, chân có màng để bơi lội. Cá là thức ăn hàng đầu của nó. “Nó sống thân thiện với nhau, không làm hại mùa màng, không xung khắc với các loài thú khác – cụ Huấn cười hóm hỉnh – Lão chỉ thấy nó tranh nhau “bạn tình” là quyết liệt thôi. Dân xóm Kim chưa bao giờ thấy rái cá “chạy loạn” bỏ vực suối, bờ cây như mấy hôm nay. Nó vừa bơi vừa hoảng hốt kêu “cấp cấp”, lão nghĩ nó gọi con người cứu nó đấy…”.

Nghe cụ Huấn nói, Đồn trưởng Tiến Tương nhớ có lần anh được xem một tài liệu nói về động vật hoang dã. Anh biết thêm những điều thú vị về loài thú này. Nó là loài động vật có vú, chuyên ăn thịt. Nó là động vật mà biết… “xấu hổ”. Khi đánh nhau thua, mất chỗ ở, mất “bạn tình”, rái cá đội mảng rêu, ngọn lá lên đầu che mặt, bơi đi. Hiện nay, rái cá đang có biến động bất thường về sinh sản, về nòi giống. Bởi chất độc trong các dòng suối làm cho “của quý” của nó nhỏ dần, teo tóp đi…

- Thưa cụ – đồn trưởng hỏi cụ Huấn với giọng nể trọng của lớp cháu con – Bầy rái cá ở suối Ngàn có biến động lạ thường như vậy là vì sao ạ?

- Lão chưa thấy như thế bao giờ. Theo lão, có thể có con thú dữ, hoặc con trăn đã theo dòng nước về chiếm chỗ ở của nó, hoặc có người quấy phá.

- Trăn... – đồn trưởng nhìn về phía dòng suối, vẻ ngỡ ngàng – Theo cụ suối Ngàn có trăn không ạ?

- Đoạn này không có. Nhưng vùng rừng đầu nguồn giáp biên thì có đấy. Ở đó có trăn mốc, trăn hoa, trăn đất, trăn đen, lão đã nhìn thấy rồi. Có con dài đến hai ba sải tay. Nó không có nọc độc, nhưng nó quấn xiết con mồi, có lúc là con hoẵng, con nai… mềm nhừ ra rồi nuốt. Trăn có thể tiêu hóa toàn bộ con mồi nó bắt được kể cả xương, lông. Nó có bộ phận hút canxi trong xương con mồi để có nhiều chất dinh dưỡng. Nên nó nhịn được hàng tháng đấy. Trăn cũng ăn chuột, ăn cá, bắt gà, vịt, chim xuống bờ suối. Nó ở trong hang đá, hốc đất, ẩn nấp dưới thảm rừng ẩm ướt, cây cối um tùm…

… Sau buổi tham vấn ý kiến của cụ Huấn và với những tình huống đột biến vừa xảy ra, đồn trưởng nhận định có hai khả năng: Một, có con trăn theo dòng suối đến ở trong hang đá dưới vòm cây lá che khuất. Hai, rất có thể có bọn biệt kích tránh để lại dấu vết ở thảm rừng đã lội theo dòng suối về đang ẩn nấp ở đó, chờ thời cơ xâm nhập vào nội địa. Đồn trưởng biên phòng nghiêng về khả năng thứ hai. Anh nói với các chiến sĩ trinh sát: “Mấy trận đánh trong năm qua, ta đã tóm gọn biệt kích dù chúng dùng thủ đoạn đi giày dưới đế có gắn lốt chân hổ, chân gấu, hoặc đi giày đế ngược. Chúng đi vào nhưng dấu vết để lại trên đất rừng là đi ra… Lần này có thể chúng đã lội theo suối để không có dấu vết. Bởi phía dưới dòng chảy suối Ngàn là khu lâm trường lớn. Mục tiêu đó chúng đã rình rập lâu nay...”.

Đội trinh sát thống nhất với nhận định của đồn trưởng. Các phương án chiến đấu được triển khai ngay.

- Phương án một, phải xác minh hang đá, bờ cây bên suối có trăn trú ngụ không.

- Phương án hai, “nước có lặng cá mới sủi tăm, rừng có yên thú mới lộ mặt”. Bao vây chốt chặn các ngả rừng, phong tỏa chặt suối Ngàn, 24/24 giờ trong ngày.

Đội trinh sát lập tức thả 6 con vịt từ trên dòng nước để nó bơi về đoạn suối cửa hang đá… Hai lần thử, bầy vịt vẫn nhởn nhơ vỗ cánh bơi lội trên suối Ngàn…

Thế là rõ. Cánh rừng biên cương vẫn vắng lặng, trầm tư. Dòng suối Ngàn vẫn rì rào chảy. Vòng vây của các chiến sĩ biên phòng khép chặt. Vòng ngoài dân quân, tự vệ lâm trường đã lên tiếp sức. Một buổi chiều muộn mưa bay, sương mờ núi, mây trắng về thung lũng, hai tên biệt kích từ hang đá trong vòm cây rậm chui ra. Chúng men theo bờ suối đi về phía lâm trường. Đoạn vực sâu, chúng ngồi xuống tra chân vịt vào để bơi qua. Chúng đã nằm gọn trong trận địa phục kích. Các chiến sĩ biên phòng đang chờ chúng…

Những ngày sau, bầy rái cá lại gọi nhau về. Suối Ngàn xanh biêng biếc, in bóng núi biên cương hùng vĩ, từng đôi rái cá tung tăng bơi lội trong cuộc sống thanh bình. Anh chiến sĩ đội tuần tra nhìn chúng đã có câu thơ vui:

Mong con rái cá suối Ngàn

Yên lành “của quý” thêm đàn cháu con

Tao canh đỉnh núi chon von

Mày canh suối biếc giữ non nước này

Chiến công bắt giặc hôm nay

Giữ miền biên ải có mày, có tao…


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:23:59 PM
4/Thỏ trắng say tình dưới trăng khuya

Trăng trung tuần, rừng biên cương nhuộm màu vàng huyền ảo. Cuối tiết thu các lối mòn khô ráo. Lợi dụng những đêm đẹp trời như thế lũ “ma rừng” cõng ma túy vượt biên vào đất Việt. Chúng đi từng tốp 5-6 tên, lưng mang ba lô, tay cầm súng AK.

Đội đặc nhiệm biên phòng đón chúng ở bìa rừng. Khuya vắng. Chỉ có tiếng gió xạc xào. Và, biết cơ man nào là tiếng giun dế, côn trùng, nỉ non khắp cả bốn phương tám hướng. Đội trưởng Thanh Mai chỉ định chiến sĩ trinh sát trẻ giữ vị trí đầu đội hình chiến đấu, chốt lối mòn. Phía trước chiến sĩ trinh sát chừng ba tầm đá ném là đám cỏ nhuộm vàng ánh trăng. Bỗng chiến sĩ trinh sát phát hiện tiếng động. Tiếng “sàn sạt, sàn sạt”. Anh trinh sát trẻ ngồi im, nghe ngóng. Tiếng động càng rõ dần giống như nhịp chân người bước trên lớp lá, thảm rừng. Anh báo cáo với Đội trưởng phát tín hiệu “sẵn sàng chiến đấu”. Đội trưởng Thanh Mai im lặng. Anh cũng đã nghe được tiếng động “sàn sạt, sàn sạt” ấy rồi. Sự từng trải của người chỉ huy đã qua nhiều trận phục kích đối mặt với lũ “ma rừng”, nên anh hiểu rõ từng tiếng động giữa rừng khuya. Anh đập nhẹ tay xuống đất rừng ra hiệu: “bình tĩnh, bình tĩnh”. Dưới trăng rừng, trong vòm cây lá, Đội trưởng Thanh Mai vẫn ngồi im như khối đá núi. Anh đã biết tiếng động này rồi…

… Anh đã được các cụ già ở vùng sơn cước và các anh ở Trạm lâm nghiệp nói chuyện về loài thỏ đuôi bông ở khu rừng này. Nó được xếp vào danh mục loài thú quý hiếm. Con người biết tới nó từ trước công nguyên và cũng đã thuần hóa được nó. Vùng rừng nào cây cỏ tốt tươi như vùng này là nhờ có nước tiểu và phân của nó… bón. Bởi trong phân nó có nhiều chất nitơ. Nó là loài động vật có vú, gặm nhấm, sống hoang dã ở bìa rừng và phát triển rất nhanh. Thời kỳ mang thai của nó ngắn lắm, chỉ 31 ngày. Điều kỳ lạ nữa là thỏ đuôi bông mẹ sinh ra lũ con thì chúng mở mắt ngay và có bộ lông đầy đủ. Thỏ đuôi bông đánh dấu lãnh thổ của mình bằng nước tiểu. Nó rất hung dữ và hiếu chiến. Tranh “bạn tình” thì cắn nhau suốt cả ngày, đến lúc “tình địch” chết mới thôi. Còn chuyện say tình thì chưa con vật nào sánh bằng nó.

Những đêm mùa thu trăng sáng trời đẹp như thế này, thỏ đuôi bông chọn đám cỏ xanh gọi bạn tình ra đó… tình tự. Nó chỉ biết dùng hai chân sau phẩy, cào mặt đất, dùng đuôi đập xuống thảm cỏ để chuyển đạt thông tin, biểu lộ thái độ trao đổi tình cảm với nhau. Ông bà ta từ xa xưa đã nói rồi: “Mồm ếch, tai thỏ là thế” (ếch chỉ biết kêu, không biết nghe; thỏ thì biết nghe, mồm không kêu được). Khi con thỏ đực đạt đến đỉnh cao tình cảm thì nó có động tác đập đuôi mạnh gây ra tiếng động như thế. Hoặc khi nó liên tục phẩy hai chân sau nghe như nhịp chân người đi trên thảm rừng là nhằm khẳng định với bạn tình rằng vùng lãnh thổ này là của nó, chỉ có nó thôi…

Đội trưởng Thanh Mai biết chắc tiếng động này không phải lũ “ma rừng cõng ma túy” gây ra, mà là tiếng động của đôi thỏ đuôi bông báo “tín hiệu” rằng đang lúc bình yên.

Đội trưởng đi đến cầm tay chiến sĩ trinh sát. Hai người di chuyển nhẹ nhàng đến gần bãi cỏ trải vàng ánh trăng khuya.

Trước mặt các anh, đôi thỏ đuôi bông đang say tình đùa giỡn nhau, vờn nhau.

Anh đội trưởng và người chiến sĩ đứng im, các anh không nỡ gây ra tiếng động làm dở cuộc tình của đôi thỏ trắng. Khi đã rời xa đám cỏ, anh đội trưởng ghé tai người chiến sĩ trinh sát dặn nhỏ: “Nhớ nhé, khi tuần tra, phục kích trong rừng mà nghe tiếng động như đêm nay là con thỏ đưa đến cho chúng ta tín hiệu vui: rừng đang bình yên đấy nhé…”.

Hôm sau trong cuốn nhật ký chiến công của Đồn biên phòng anh đội trưởng ghi những vần thơ vui:

Rừng khuya đôi thỏ trắng

Say tình dưới ánh trăng

Xạc xào nền núi vắng

Rung rinh màn sương giăng

Tôi nắng mưa dầu dãi

Giữ suối thẳm rừng sâu

Mong muôn loài cầm thú

Sống hiền hòa - yêu nhau


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:24:49 PM
5/Con sóc “phất cờ” chỉ điểm

Con sóc đuôi cờ lông màu hạt dẻ chuyền cành trước. Cái đuôi nó bông lên như “phất cờ” theo từng bước nhún nhảy, vẫy gọi. Ba bốn con chuyền cành theo. Con trước cắp cái túi giấy bóng. Các con sau cắp những mảnh giấy rách, con sau cùng cắp cái gì nhìn xa như mẩu đầu lọc điếu thuốc lá…

Hiện tượng kỳ lạ này xảy ra ở một khu rừng đệm giáp biên. Đội trưởng Công Tạo chỉ huy đội tuần tra nép mình bên gốc cây quan sát các hoạt động của bầy sóc cờ. Anh thấy nó chỉ chuyền cành di chuyển đến một hướng để cắp nhặt các vật lạ đó. Nhiều năm sống với rừng biên cương, anh đã được bà con người các dân tộc anh em nói cho biết về loại sóc cờ này. Nó là loài gặm nhấm, chỉ hoạt động được ban ngày, đêm không nhìn thấy gì. Sóc cờ, sóc đất, sóc bay… đều tránh rét, ngủ suốt mùa đông trong tổ chúng lót ở các hốc cây, hang đá. Vào những tháng cuối mùa thu thì sóc thay “bộ áo ấm” lông dày hơn, mượt mà hơn. Và, chúng rủ nhau đi tìm “vật liệu” làm tổ chống lạnh. Tổ chúng thường làm bằng lá khô, gỗ mục, xơ cây… Nhưng sao giờ đây chúng lại tìm ra những thứ lạ lùng này. Những thứ ấy ở đâu ra giữa rừng hoang này. đội trưởng Công Trợ cùng các chiến sĩ có lần được nghe cán bộ bảo vệ động vật hoang dã nói về các loài thú ở vùng rừng này. Nghe xong, anh đội trưởng suy ra rằng “lính biên phòng sống ở rừng nào phải biết giống cây, loài thú ở rừng đó. Có lúc mình cần nó “hợp tác” với mình đấy”. Nên anh đã tìm hiểu sâu về con sóc. Nó là loài động vật quý hiếm, còn ít và có nguy cơ tuyệt chủng. Rồi, thật là thú vị, khi anh biết sóc là “chúa” mưu mẹo ngụy trang. Sóc vốn là món “khoái khẩu” của rắn. Anh được nghe chuyện kể rằng con rắn cạp nong nhìn thấy con sóc đang rình mồi. Rắn cũng đang đói, bò đến. Con sóc vội vàng cắp cái xác con rắn mới lột quấn kín mình. Sóc ngồi chồm chỗm nhai cái xác rắn bôi vào lông. Con rắn bò đến, nằm im nhìn, thập thò cái lưỡi chẻ đôi nhánh, hít ngửi (rắn không có thính giác, vị giác, ngửi bằng lưỡi), rồi bò đi. Sóc khôn ngoan thoát chết. Loài sóc có môn võ “cực độc” đối với loài nhím. Gặp nhím, sóc leo lên cành cây nơi gần nhím nhất rồi nín thở căng bụng, phun ra từ hậu môn một thứ hơi “đặc biệt thối”. Nhím hít vào lập tức lăn đùng ngã ngửa quằn quại hôn mê. Thế là sóc gọi bầy đến moi ruột nhím. Nên nhím có thù truyền kiếp với sóc. Rừng có sóc thì họ hàng nhà nhím lánh xa.

Sóc còn lưu giữ cái “di truyền cực kỳ” của nòi giống nó. Đó là sự “sung mãn tình dục”. Con sóc cái có đặc quyền nhất – trong loài sóc – ở khu rừng nó trú ngụ. Vì nó có nhiều “bạn tình”. Và, nó có thể thỏa mãn không hạn chế với tất cả, 15 đến 20 con đực một ngày. Thời điểm sóc cái “động tình”, nó tỏa ra mùi thơm giống mùi lá cây cơm nếp mọc bìa rừng để quyến rũ bạn tình đến. Một ông lang người dân tộc nói rằng, loài sóc sung mãn “điều ấy” là bởi nó chuyên tìm “huyết lình” (của con khỉ cái đến tháng) để ăn. Ông cũng tìm thứ ấy về làm thuốc. Ông lang còn nói rằng sóc ăn quả cây rừng, ăn bắp… Nhưng nó rất thích thú gặm nhấm cây thuốc lá…

… Với những hiện tượng đó, Đội trưởng Công Trợ, các chiến sĩ đội tuần tra khẳng định rằng: biệt kích đã xâm nhập biên giới ta. Chúng đang ẩn nấp ở đâu đó. Những con sóc cờ này biết nơi chúng ở, nó đang tha bao gói thức ăn, đầu lọc thuốc lá, giấy gói thuốc lá về tổ.

Thông tin ấy được báo ngay về đồn biên phòng. Các phương án tác chiến lập tức được triển khai. Đội tuần tra bám sát, dõi theo bầy sóc chuyền cành đến tận nơi chúng nhặt các hiện vật nghi vấn đó. Con sóc cái nhảy nhót tung tăng “phất cờ” dẫn đầu. Đám “bạn tình” của nó di chuyển trên cành cây theo nó về phía đầu mạch suối. Đội tuần tra ập đến. Các anh phát hiện ra hố chôn giấy gói lương khô, giấy bọc thức ăn, bao thuốc lá… lấp kỹ dưới lớp đất ẩm, lá mục thảm rừng, nhưng bầy sóc đã bới tung tóe. Cách đó không xa, dưới gốc cây lim bên một tảng đá lớn còn có một hố chôn nữa. Trong hố này có ba bộ quần áo chúng vừa thay ra và có cả súng, lựu đạn, thuốc chữa bệnh… Tất cả được bọc trong một túi giấy dầu chống ẩm. Đội trưởng Công Trợ chỉ vào túi áo quần: “Toán biệt kích có ba tên”.

Chú chó “Dũng Cảm” trong đội chó chiến đấu được điều đến phối hợp. Chú “Dũng Cảm” bắt mùi từ các hiện vật rồi truy tìm theo dấu vết. Ngay sáng hôm sau, ba tên biệt kích bị tóm gọn. Chúng mặc quần áo công nhân giống ba cán bộ lâm trường đi khảo sát rừng. Chúng cầm bản đồ đi xuyên rừng mò đến cây cầu trên đường giao thông huyết mạch xuyên biên giới. Cả ba tên biệt kích đều mang theo mìn, thuốc nổ.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:27:08 PM
6/Yêu rừng, yêu tiếng tắc kè

“Tắc kè, tắc kè”. Tiếng kêu giữa rừng vắng nghe nỉ non tha thiết, như gọi nhau, tìm nhau. Mỗi lần nghe tiếng kêu ấy, các chiến sĩ biên phòng lại nhìn nhau cười vui và nhại “bắt về, bắt về”. Vì đã có đôi lần Đội tuần tra lần theo hướng có tiếng tắc kè kêu mà phát hiện ra nơi tội phạm hút hít, cất giấu ma túy. Đó là chuyến tuần tra mới đây, khi đến gần một hang đá giáp biên thì các anh nghe tiếng tắc kè kêu nhiều. Rồi 2, 3 con cùng chạy vào hang đá. Thấy hiện tượng lạ thường, các anh sục vào hang. Thì ra hang đá nhỏ, ẩm ướt này có dấu vết người ẩn trú. Lớp lá cây “lót ổ” nằm còn nguyên nhưng đã héo khô. Dưới lớp lá ấy có thạch sùng, gián, các loại côn trùng nhỏ trú ngụ. Và, đặc biệt nhiều dấu vết hút, hít vẫn còn… Ở vài hốc đá vách hang, những chú tắc kè thè dài lưỡi liếm màng da trong suốt che mắt nhìn ra (tắc kè không có mi mắt, chỉ có màng da che mắt).

Đội trưởng Trần Văn đứng im quan sát hang đá. Anh nhớ trong một cuốn truyện viết về người lính biên phòng, đã nói tới… Ở một bản Hà Nhì trên chót vót biên cương ngày nào còn có nhiều người nghiện hút thuốc phiện. Quanh nhà những người đó, con gà ngửi hơi thuốc cũng say lừ đừ. Nó luôn mồm kêu “túc tục, túc tục” như giục giã người nghiện “hút đi, hút đi” để nó được ngửi mùi thuốc. Và, những con tắc kè, thạch sùng từ rừng rủ nhau về “làm khách” cũng nghiện luôn. Chúng cứ quanh quẩn trên mái nhà, nép trong các xó vách chờ người nghiện hút… Thế thì những con tắc kè, thạch sùng ở đây chắc là đã quen hơi ma túy. Đội tuần tra sục tìm các hốc đá, ngách đá trong hang. Các anh đã thu được những bánh hêrôin còn rõ nhãn hiệu “Sư tử vàng” bọn tội phạm chuyển từ Tam Giác Vàng xuyên biên giới về giấu ở đây. Điều phát hiện mới nữa, lần đầu các anh nhìn thấy tắc kè cắn rách vỏ bao gói để “nhấm nháp”... hêrôin.

… Từ chuyện “thần kỳ” đó, Đội trưởng Trần Văn và các chiến sĩ biên phòng tìm hiểu về con vật hoang dã được xếp vào loại động vật quý hiếm này. Nó là sản vật ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên dành cho vùng đất núi. Nó là môn thuốc cực quý bổ dưỡng cho những người muốn được cứng cáp gân cốt, tráng khí cường dương, sung mãn tình dục... Tắc kè sống từng đôi quấn quýt với nhau trên các vách đá, các kẽ nhỏ của núi đá vôi, các hang hốc của cây to. Tắc kè được coi là “cao thủ” bậc nhất về ngụy trang trong những con vật ở rừng.

Tắc kè hoa có thể thay đổi các gam màu hồng, đỏ, cam, vàng, xanh, đen, nâu trong nháy mắt để săn mồi, tránh kẻ thù và để… tìm bạn tình. Lúc gặp nguy cấp, tắc kè có khả năng biến thành cành khô, mảnh đá vỡ hoặc giả vờ chết để đánh lừa kẻ thù. Trên thế giới có 75 loại tắc kè. Đông Nam Á có 30 loại, Việt Nam ta có 12 loại. Tắc kè có chiếc lưỡi dài gần bằng cơ thể nó (75-80mm)... Đó là vũ khí lợi hại nhất của nó để phóng ra bắt gọn các loại côn trùng như gián, bướm, châu chấu, dế…

Biết rõ về con vật quý hiếm sống trong vùng rừng mình bảo vệ, người lính biên phòng càng thêm yêu tiếng “tắc kè, tắc kè”.

Và, mới đây thôi, con vật quý hiếm ấy đã trợ giúp các anh lập thêm chiến công. Đó là hôm Đồn biên phòng kiểm tra nơi cư trú của tên tội phạm chuyển ma túy từ bên kia biên giới về. Hắn ngồi bình thản trên sàn nứa giữa nhà tay cầm cái điếu ục (điếu hút thuốc lào dài hơn hai lóng tre của người Thái). Bên cạnh điếu có một xô nước. Hắn liên tục nạp thuốc vào nõ và châm lửa hút. Tiếng nước trong ống điếu sòng sọc, sòng sọc, chảy tràn ra sàn nứa, chảy xuống ngấm vào đất rừng. Tên tội phạm vẫn luôn tay cầm ca múc nước đổ vào ống điếu, mắt nhìn mọi người có vẻ thách thức. Trên mái nhà, những con tắc kè rúc rích và gióng lên tiếng “tắc kè, tắc kè”. Rồi nó bò xuống vũng nước. Ở đó thạch sùng, gián và các loại côn trùng khác cũng đã bò đến. Con tắc kè thè dài lưỡi bắt mồi thỏa thích.

Đội trưởng Trần Văn bước tới trước mặt tên tội phạm, anh nhìn cái ống điếu hắn đang cầm hút. Anh bảo hắn chẻ đôi cái ống điếu trước sự chứng kiến của mọi người. Thì ra trong ống điếu nước đã duềnh lên tắc nghẽn bởi một thứ bột trắng sền sệt. Tên tội phạm đã dùng thủ đoạn nhồi vào ống điếu nhiều cục hêrôin rồi đổ nước đầy mong nó tan chảy xuống ngấm vào đất rừng để không còn tang vật: Đúng lúc ấy con tắc kè đang săn mồi ở dưới sàn nứa nơi vũng nước đọng đục lờ lờ, gióng lên tiếng kêu “bắt về, bắt về”…

Đội trưởng Trần Văn viết vào sổ tay câu thơ vui kỷ niệm về con vật quý hiếm đã giúp mình giữ bình yên vùng biên cương:

Yêu rừng yêu tiếng tắc kè

Đường tuần mỗi bước vui nghe… tiếng chào

Tắc kè ơi, ở nơi nào

Có ma túy – nhớ gọi tao – “bắt về”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:28:04 PM
7/Chuyện xảy ra bên “lâu đài” mối

Lại có “ma rừng” cõng ma túy vượt biên vào đất Việt. Lần này “ma rừng” ranh mãnh hơn, chúng không hiện hình vào ban đêm nữa mà lộ mặt ngay buổi xế chiều để dễ tiếp cận với các đối tượng đi làm nương. Đội đặc nhiệm biên phòng biết rõ mưu đen ấy đã ra quân “tiếp đón” “ma rừng”. Chúng có năm tên, lưng mang ba lô chất đầy ma túy và đều có vũ khí nóng. Đội trưởng Hồng Sơn chỉ huy đội đặc nhiệm bố trí trận địa phục kích ở mái núi, chặn đường mòn từ biên giới đi vào. Đội trưởng kiểm tra địa hình. Anh bố trí vị trí chiến đấu cho các chiến sĩ. Khi các tổ chặn đầu, khóa đuôi, xung lực, truy đuổi đã vào thế, anh đi về vị trí của mình. Đó là sau một tổ mối sừng sững cao hơn 1 mét, dày gần 2 mét. Sơn trông rõ các tầng cao có ngấn nối nhau chồng lên hệt như một tòa “lâu đài cổ kính” màu nâu. Mái che trên là lớp vật liệu đất dày màu rêu nhạt. Đứng sau tổ mối, Đội trưởng Sơn quan sát được dốc núi và đường mòn thấp thoáng ẩn hiện trong cây rừng. “Lâu đài” mối là vật che khuất và che đỡ tốt, rất thuận lợi cho vị trí chỉ huy của anh. Anh lấy ngón tay gõ nhẹ vào vỏ “lâu đài”. Nó cứng như đá, nhưng lại không phải đá. Nó là công sự nổi rất lợi hại. Đạn tác động vào không phá vỡ mảnh nhỏ văng ra gây sát thương. Ngày học ở trường Biên phòng, Sơn đã được biết về con mối cấu trúc tổ của nó như thế này rồi. Nó là bậc thầy kiến trúc xây dựng đấy. Cái xã hội lâu đời nhất trên quả đất này là xã hội loài mối. Nó đã có hơn 2 triệu năm trước khi có loài người biết làm nhà. Một “hoàng hậu mối” đẻ 4.300 quả trứng mỗi ngày. Nên chỉ trong vài năm mỗi tổ mối có ít nhất cũng tới 3 triệu con. Tuổi thọ của nó từ 25 đến 30 năm. Mối có hơn 2.000 chủng loại anh em ở các nước vùng nhiệt đới. Mối là  “kiến trúc sư đại tài”, “lâu đài” của nó cao đến 5-6 mét. Mùa đông mối rước “hoàng hậu mối” lên ở tầng cao. Mùa nóng chúng xuống ở các tầng sâu trong lòng đất để được mát mẻ. Để có nước sinh sống, mối đào giếng ngầm sâu đến các mạch trong lòng đất. Từ những năm 60 thế kỷ trước có nhà côn trùng học của nước Thụy Sĩ đã nghiên cứu về “kiến trúc cực kỳ tài giỏi” của loài mối. Ông đã tìm ra con mối xây dựng tổ có liên hệ trực tiếp với thói quen ăn uống hàng ngày của nó. Thức ăn của mối là chất xơ từ gỗ. Mối đã “trồng cấy” vào đó một loại nấm đặc biệt từ nước bọt nó để biến đổi thực phẩm khó tiêu thành chất “bổ béo” dễ hấp thụ. Và, từ chất liệu đó trộn với đất cát, các mảnh vụn của cây nó nhào nhuyễn thêm với nước bọt tạo thành vật liệu xây dựng quánh, bền chắc không có một thứ vữa nào sánh bằng. Đặc biệt, tổ mối không ngấm nước. Lũ tràn qua, đê vỡ, núi lở tổ mối vẫn trơ trơ. Nắng hun, lửa đốt, tổ mối không hề nứt nẻ. Con mối làm tổ biết tạo ra một hệ thống lưu thông khí hậu rất thích hợp. Bức tường vỏ chúng xây chắc để chắn phía ngoài, chỉ có những luồng gió thổi chậm mới len lỏi được vào bên trong. Nhờ đó trong “lâu đài” mối khí trong lành mát mẻ luôn đến tận các ô, các ngách. Và, khí thải luôn được đưa ra ngoài. Vùng nóng ẩm sâu xuống lòng đất, để kiểm soát độ mát. Mùa đông, để giữ tổ được ấm áp, mối lót dưới đáy một lớp gỗ và cỏ được nhai nhuyễn trộn với nhau. Hỗn hợp này giống như một miếng siêu bọt biển. Nó có thể hút vào nhả ra đến trăm lít nước để thường xuyên cân bằng độ ẩm trong tổ. Mối xây “lâu đài” ở mọi nơi cũng giống như nơi Đội trưởng Hồng Sơn đang đứng đây. Cửa đều quay về hướng đông nam để được tận hưởng ánh nắng mặt trời và tránh gió mùa đông bắc hắt nước mưa, lùa gió rét vào.

… Bỗng có tiếng chim xanh kêu hốt hoảng ở phía chân núi. Rồi con chim vỗ cánh hãi hùng bay vút lên. “Ma rừng” đã xuất hiện. Đội trưởng phát tín hiệu chiến đấu. Toán “ma rừng” cõng ba lô nặng, tay cầm súng lọt vào trận địa phục kích. Từ sau “lâu đài” mối, tiếng thét của Đội trưởng Hồng Sơn vang rừng chiều: “Đứng im! Chống lại sẽ bị diệt!”. Tên toán trưởng đi đầu vãi gọn cả băng AK vào tổ mối. Đạn cắm phầm phập, phầm phập, nhiều viên trượt vỏ tóe lửa bay đi. Khác hẳn với tảng đá, đầu đạn không phá vỡ thành mảnh sắc nhọn.
Các chiến sĩ ở các tổ khóa đuôi, xung lực xông ra dùng những miếng võ biên phòng quật ngã, bắt gọn toán “ma rừng”. Lúc đưa chúng và những ba lô tội ác về phía sau, đội trưởng và các chiến sĩ đã được chứng kiến một hình ảnh đẹp lạ lùng. Bầy mối trong “lâu đài” lũ lượt bay lên – chắc là vì tiếng nổ, đạn găm vào đánh động – Chúng tung những đôi cánh màu nâu nhạt, màu vàng lụa, màu trắng mờ… bé nhỏ, lấp lánh trong nắng rừng buổi chiều thu. Các anh có cảm giác như đàn mối giữa đại ngàn cũng đang mừng vui, vẫy cánh chào chiến công của đội đặc nhiệm biên phòng.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:28:53 PM
8/Giữa đất vùng biên có... tơ bạc lưới vàng

Đường tuần tra đã đến đoạn rẽ vào hẻm núi theo lối mòn là phía cột mốc. Đội trưởng chỉ định tôi đi lên trước trinh sát địa hình để quyết định phương án tuần tra. Tôi nhìn ngọn cỏ, nhìn thảm rừng tìm dấu vết lạ. Việc đầu tiên tôi chú ý một cách cẩn trọng là nhìn các màng nhện giăng ngang đường. Các chú nhện bé nhỏ nhưng nó có những điều thần kỳ trong cuộc sống hoang dã ít người biết đến. Nhiều lần nó đã “trợ giúp” Đội tuần tra chúng tôi sớm phát hiện ra manh mối kẻ gian xâm phạm biên giới.

Chúng tôi đã tìm hiểu về nó. Loài nhện đã có trên trái đất 53 triệu năm trước. Và, hiện nay họ hàng nhà nhện có khoảng 40.000 giống nhện khác nhau. Màng lưới nó giăng ra là cái “bẫy mồi” để nuôi sống nó, là nơi nó “ân ái” với “bạn tình”, là nơi nó sinh con đẻ cái duy trì nòi giống. Và, ít ai biết rằng cái màng lưới ấy là nơi kết thúc cuộc sống hàng trăm “bạn tình” của “đời cô… nhện”! Cứ cuối buổi chiều lúc sẩm tối và buổi sáng tinh mơ mỗi ngày, nhện nhả tơ đan lưới và “củng cố” lại màng lưới. Nó phải nhả ra từ 600 đến 1.000 mét tơ để đan được một màng lưới. Tơ nhện là một tổ hợp prôtêin rất mạnh. Trong bụng con nhện có tuyến quay tơ. Chất nhựa lỏng từ bụng nó theo một đường ống dẫn ra ngoài. Nó miệt mài dệt tơ đan thành màng lưới có nhiều ô, nhiều lớp, nhiều ngăn trong vòng 40 phút. Con nhện giữ một đường tơ chính và “trực chiến” 24/24 giờ ở góc lưới. Khi tín hiệu phát ra đối thủ đã dính bẫy thì nó “nhấn nút” phóng thêm tơ lỏng để trói chặt đối thủ. Nhện nhanh như chớp xông ra dùng một đôi chân như kìm kẹp chặt đầu đối thủ. Một đôi chân giữ, và bốn đôi chân như búa bổ mạnh để hạ sát đối thủ. Nhện chọn nơi giăng màng lưới là các khoảng trống trên các lối mòn ngang tầm côn trùng bay. Nhiều loài nhện có đến 8 mắt, 6 mắt hoặc 4 mắt. Nhưng nó chỉ nhìn được rất gần. Chỉ khi đối thủ rung lưới thì nó mới phát hiện được. Đặc biệt có loài nhện có thể thở bằng phổi. Và loài nhện có lông tơ (ở rừng nước ta) là thuộc loại động vật có vú. Nó có khả năng tiết sữa ở các bộ phận tạo tơ. Mỗi lứa nhện có một túi trứng to. Nếu được “mẹ tròn con vuông” thì số nhện con sẽ bằng dân số của nước nhiều… thứ hai thế giới.
Nhện có cuộc sống “vô hạn” nếu không có sự tác động của thiên nhiên đối với nó. Ở Trung Quốc đã tìm thấy những con “thánh nhện” 2.800 tuổi. Nhện chịu đựng được áp suất khí quyển cao khó tin. Chúng sinh sống được trong các môi trường chân không. Sống được dưới biển, sống được trong lòng đất sâu. Nhện cũng có thể sống nơi nhiệt độ cao đến 3000C, và dưới mặt băng lạnh. Năm 2001, các nhà khoa học đã thử nghiệm và biết được cuộc sống lạ kỳ của con nhện. Họ đã mang lên vũ trụ một hộp chứa 300 con nhện bằng tàu con thoi Atlantis. Và, đã thấy rằng trong điều kiện không trọng lực, nhện vẫn nhả tơ dạng hình ống ba chiều, phức tạp chứ không phải màng nhện phẳng như ở mặt đất…

Có một điều lạ kỳ trong loài động vật đó là lúc các “chú nhện” tìm đến “ân ái” với “bạn tình” là giây phút sống cuối cùng của nó. Vì khi “đỉnh điểm” nhất “cô nhện” sẽ dùng đôi chân kìm chặt để cắn đứt đầu “bạn tình” ăn thịt luôn…

… Lần này được cử đi trinh sát lối mòn, tôi đặc biệt chú ý đến những màng nhện giăng ngang đường. Nó còn nguyên vẹn. Cô “nhện vàng” vẫn thu càng ngồi “trực chiến” ở góc màng lưới. Dưới thảm rừng, những “bạn tình” của nó bị cụt đầu và xác những con bướm, ruồi vàng, châu chấu… ăn thừa, rơi xuống chết khô – Đường an toàn. Khác hẳn với chuyến tuần tra tháng trước, ngay đầu lối mòn đi lên cột mốc đường biên, tôi đã nhìn thấy những màng nhện giăng ngang tầm người đi bị đứt tung, rách nát. Ở trên lớp lá mục thảm rừng có dấu vết lạ. Đội trưởng lập tức chuyển đội hình tuần tra sang phương án đội hình chiến đấu, truy lùng. Và, chúng tôi đã tóm gọn tên tội phạm mang ba lô có 20 bánh hêrôin vừa vượt đường biên vào đất ta.

Tối hôm sau bên bếp lửa ấm của Đồn biên phòng, Đội tuần tra họp rút kinh nghiệm chuyến tuần cuối năm, tôi đọc bài thơ vui viết trên mảnh giấy lót đỉnh mũ mềm:

Con nhện vàng giăng tơ trắng

Con nhện trắng dệt lưới vàng

Đường biên cương chập chùng núi vắng

Nhện giúp ta giữ dấu vết kẻ gian

Sương núi treo lấp lánh chuỗi kim cương

Gió rủ mây trời kết vầng nâng màng lưới

Đường tuần tra nắng nồng mưa giội

Nhện với ta là “bạn” giữ vùng biên…


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:31:20 PM
9/Kỳ tích chú ngựa hồng

Mới tờ mờ sáng, đất trời biên cương đang đằm gió, đằm sương bỗng một chú ngựa hồng rẽ mây trời lao như tên đến. Chú ngựa dừng lại trước cửa Trạm y tế biên giới. Bờm chú ngựa ướt đẫm sương đêm, bay bay trong gió núi. Đôi mắt khuyên vàng của chú mở to như hai ngọn đèn chiếu thẳng vào cổng trạm. Hai chân sau chú ngựa đứng thẳng lên, hai chân trước thi nhau khỏa mây trời. Người trong Trạm y tế đã nhận ra chú ngựa hồng này của đồn biên phòng số 9. Và, họ cũng biết chuyện đồn về con ngựa này rất mê tiếng huýt sáo theo nhịp điệu bài hát “Vượt đèo xuân bước tới chân mây...”. Anh bác sĩ của trạm thì đoán rằng đêm qua có một chiến sĩ của đồn tên là Lục nhập trạm băng bó vết thương, chắc chú ngựa đến tìm người chiến sĩ đó. Anh bác sĩ cầm chiếc áo của Lục ra cho chú ngựa nhận hơi. Chú ngựa hồng hít, ngửi chiếc áo, cắn chiếc áo, nó lồng lên, hí từng tràng dài như để thỏa sự tìm nhớ. Chân chú ngựa cào mạnh xuống đá núi. Đá tóe lửa như đánh diêm. Chú ngựa hung hăng định xông vào trạm.
Chuyện kỳ tích chú ngựa hồng bắt đầu như thế.

...Từ ngày đội trưởng Lục được làm chủ chú ngựa hồng này, anh đã nhận ra tướng mạo kỳ dị khác thường của nó. Chú ngựa có bờm dựng cao như cái mào bay phất phơ trong gió, bốn chân có đủ bốn khoáy và một khoáy ở đỉnh đầu. Chú ngựa có bộ chân dài hơn hẳn những chú ngựa khác, móng dày, mũi khô, đôi mắt sáng trong có khuyên vàng. Đúng, chú là giống ngựa quý phái, kiêu hùng. Giống này thì khôn và quý chủ. Nhưng có thể đây là chú ngựa bất kham, khó dạy... “Phải chinh phục nó bằng lòng thương yêu nó”. “Nuôi người thì người trả ơn, nuôi vật thì vật trả nghĩa”, nghĩ thế, Lục đã xem chú ngựa như “người bạn thân, bạn chiến đấu”. Lục đặt tên cho nó là Phong. Phong có nghĩa là “phi nhanh như gió”. Ngoài Lục ra, không một chiến sĩ nào trong đội kỵ binh sờ được vào lưng nó. Nêu nó bị ép để cho người khác ngồi lên lưng thì chỉ trong nháy mắt, nó rùng mình, nhảy lồng, đá hai chân sau để người văng xa 2-3 mét. Hoặc nó lao vào bụi cây rậm đầy gai để người treo lại trên cây. Nhưng với Lục, nó chỉ là một chú bê non, thuần phục. Vắng Lục một ngày, chú đứng ngẩn ngơ, thẫn thờ nhìn về phía nhà Lục ở. Chú dỏng đôi tai mỏng lên lọc trong âm thanh sâu thẳm của núi rừng tìm nghe tiếng nói, tiếng huýt sáo theo nhịp điệu bài hát thân quen anh thường hát “Vượt đèo xuân bước tới chân mây, núi non này ta đã leo tháng ngày...”. Những chuyến tuần tra nghỉ lại trên lưng đèo, bên bờ suối vắng, Lục nằm trên võng, con Phong đứng sát bên. Chú vẫy đôi tai, quất mạnh đuôi xua ruồi vàng, đuổi muỗi cho anh. Chú hí nho nhỏ như tiếng ru nâng giấc ngủ cho anh.

Ngày học ở trường, Lục đã biết rằng từ xa xưa ngựa là gia súc thân cận với cuộc sống, gắn bó về lịch sử văn minh của loài người. Ngựa là một thành phần quan trọng trong xã hội loài người. Loài ngựa vốn tính thân thiện, thích sống hòa đồng với nhau và cũng rất quyến luyến nhau. Nhưng ngựa có tính “ích kỷ số một” về mặt tình cảm. Trong đàn, con ngựa đực đầu đàn được chiếm đặc quyền “kham” hết ngựa cái. Muốn được tôn lên chức đầu đàn thì chúng phải thi tuyển “nghiêm ngặt”, con nào kêu ré lên to nhất, vang nhất, dài hơi nhất thì chiếm ngôi “quán quân”. Nếu con ngựa đầu đàn phát hiện “chị em” nào trong đàn “ngoài luồng”, trót có thai với con khác thì nó hành hạ đến sảy thai mới thôi – với mục đích nó toàn quyền truyền nòi giống của nó. Người ta đã biết sở dĩ loài ngựa hăng hái “món ấy” là vì bộ phận “nhạy cảm” của nó tiết ra quá nhiều chất Testosterone. Một tuổi rưỡi, ngựa đã bước vào tuổi trưởng thành, “giao tình” dày đặc trong suốt mùa đông - xuân. Nên để tận dụng sức lực của ngựa vào công việc, người ta đã nghĩ ra trò “thiến” nó.

Cách đây 6.000 năm, con người đã biết sử dụng sức ngựa vào việc đồng áng, chiến tranh và thể thao. Thế giới ta đang sống hiện có hơn 60 triệu con ngựa nuôi và ngựa hoang của 100 giống ngựa khác nhau. Đọc tài liệu về loài ngựa, Lục biết nó hiện diện trên trái đất này khoảng 50 triệu năm trước. Thủy tổ của nó ban đầu ở Bắc Mỹ, chỉ nặng 35kg, cao 25-50cm, ăn lá cây và hoa quả. Rồi từ 20 triệu năm trước, loài ngựa có bước tiến hóa, thay đổi lớn lao. Cách 7.000 năm trước Công nguyên, ngựa mới chỉ xuất hiện trên một số vùng thảo nguyên Trung Á. 2.000 năm trước Công nguyên, con ngựa mới xuất hiện nhiều ở nước Trung Hoa. Và, nó là thành phần quan trọng trong các cuộc chiến tranh. Cái thời hoang sơ ấy, người cưỡi ngựa chỉ ngồi trên đệm vải. Yên ngựa hoành tráng, bàn đạp để chân vững chắc như ngày nay là phát minh từ nước Trung Hoa từ thế kỷ I sau Công nguyên rồi lan dần ra các nước khác. Cũng ở thời ấy, xuất hiện các hiệp sĩ oai phong cưỡi ngựa chiến mặc áo giáp khắp châu Á, Âu. Người Mông Cổ được xếp hàng đầu có tài thuần phục ngựa, dùng ngựa vào các cuộc chiến tranh, chinh phục nước Trung Hoa, tràn sang đến Đông Âu... Và sau đó, con ngựa mới có vai trò trong đời sống của người Việt Nam ở vùng núi phía Bắc như Bắc Hà, Hà Giang. Lục cũng biết rõ con Phong, bạn chiến đấu của anh đây chính là con ngựa lai từ giống ngoại với ngựa Bắc Hà (Lào Cai). Anh hiểu sự lai tạo giống loại đó có nhiều ưu việt, con ngựa được cải tạo vóc dáng, thể chất mà lại thuần thục khí hậu, thông thổ. Nó tiếp thu được sự mạnh mẽ, bền bỉ, táo tợn của giống ngoại. Nhưng nó vẫn giữ được tính cách của ngựa bản địa. Nó có trí nhớ tốt, có lòng trung thành với chủ...

Biết rõ đặc điểm “bạn chiến đấu”, đội trưởng Lục đã kỳ công chinh phục con Phong. Không phải Lục gan góc hơn anh em. Cũng không phải Lục chịu đựng được những cú đá như búa tạ của ngựa. Mà cũng chẳng phải Lục dùng thủ pháp  “chó dữ có xích, ngựa bất kham có hàm thiếc”. Đúng là Lục đã chinh phục nó bằng lòng yêu thương nó. Ví như chuyện anh biết con Phong đến tiết xuân - hè phải “đổi áo” (thu - đông lông ngựa dày để chống rét, đến xuân - hè rụng dần đi, mọc lớp lông mới), nó ngứa ngáy, bứt rứt sinh ra cáu gắt, bất kham. Anh chải lông, kỳ cọ, lau mồ hôi tạo sự mát mẻ dễ chịu cho nó. Lúc nó đi tập, đi tuần tra về, anh chưa uống nước nhưng đã tiếp cho nó chậu nước đường, đoạn mía ngọt, bó cỏ non... Những cử chỉ nho nhỏ đó đã tạo nên tình cảm lớn với con Phong. Lục cũng biết loài ngựa chạy được nhanh vì đầu gối cũng chính là mắt cá nó. Khớp chân nó như cái bản lề, di chuyển lên phía trước và về phía sau rất nhạy và không tốn nhiều sức. Chân ngựa dài chỉ có xương và gân, không có cơ thịt. Lòng bàn chân ngựa có những bộ phận có tính “cao su” để tiếp thu chấn động khi chạm đất. Ngựa chỉ đứng và chạy bằng đầu ngón chân... Biết rõ đặc điểm cấu tạo “bộ chân ngàn dặm” đặc biệt như vậy, Lục đã có cách chăm sóc đặc biệt riêng cho nó. Mỗi chuyến đi xa về, anh dùng khăn tẩm rượu ngâm gừng hơ nóng, xoa bóp khớp chân cho “bạn chiến đấu”. Lục biết rõ con Phong của anh có cơ quan hô hấp cũng cực kỳ đặc biệt. Lúc nó phi nước đại 70km/giờ, tiêu hao mỗi phút hết 60 lít dưỡng khí thì cũng như lúc nó chạy nước kiệu một phút hết 1 lít dưỡng khí mà thôi. Có được ưu việt tuyệt vời đó là nhờ lúc chạy nhanh, ngựa vẫn thở đều, cứ mỗi sải chân chạy là một nhịp thở, do buồng phổi điều hòa tốt sự giãn nở bóp vào, mở ra. Nên Lục phải coi trọng việc giữ ấm lồng ngực và buồng phổi cho ngựa. Nhiều đêm đông giá buốt, sương muối trắng trời, Lục đưa chăn bông của mình đắp cho ngựa. Đôi mắt có khuyên vàng nhìn tinh tường trong đêm tối cũng là “tài sản vô giá” trời đã ban cho loài ngựa. Đôi mắt ấy có thể nhìn ngó được cả phía sau dù lúc đó mặt ngựa đang hướng về phía trước. Để giữ gìn đôi mắt mà Lục gọi vui là “bộ kính hồng ngoại” của ngựa, anh đã có riêng những tấm khăn bông để lau nước mắt, thấm mồ hôi quanh mắt cho ngựa. Anh cũng chuẩn bị nắm que quấn sẵn bông để chuyên chăm lau bộ tai cực kỳ thính của ngựa. Bộ tai ấy có khả năng “di động”, nghe ngóng, phát hiện từng tiếng động nhỏ cả bốn phía. Ví như lúc nó đang phi nước đại trên đường mà tai phía bên nào cụp xuống tức là nó báo cho Lục biết phía bên ấy có tiếng động lạ...
Lục đã tận dụng những ưu thế hoàn hảo, tuyệt vời về cơ thể, về trí khôn của nó, đưa nó đến thực nghiệm ngay trên những vùng đất biên cương mà đồn biên phòng được phân công bảo vệ. Đêm rừng tối như nhìn vào hang đá, con Phong vẫn tập chạy băm, chạy đại trên các lối mòn để mắt nó tập nhận đường. Trời mưa như trút nước, Lục và con Phong vẫn lặn lội trong những cánh rừng có nhiều gỗ mục, lá úa, cỏ hoang, cây dại bốc mùi để mũi nó tập bắt hơi, phân biệt mùi. Trong những đêm gió xào xạc cây rừng, thác nước réo ầm ào, tiếng giun dế, côn trùng nỉ non khắp bốn phương tám hướng, Lục đưa con Phong đến đó tập nghe, tập phân biệt từng tiếng động khác nhau...

Lục xem con Phong như “bạn thân, bạn chiến đấu”. Con Phong cũng rất quyến luyến Lục. Dạo Lục về phép thăm nhà, chỉ xa nó có mấy hôm mà lúc anh trả phép đến với nó, hai chân sau nó đứng lên, hai chân trước như muốn ôm lấy cổ anh. Mũi nó đặt sát vào mặt anh. Nó... hôn anh. Đôi mắt khuyên vàng của nó lấp lánh nước mắt mừng rỡ.

Mấy hôm sau, đội trưởng Lục nhận được thư của người vợ trẻ gửi lên: “Anh yêu. Anh về, em vui mừng quá. Sau những ngày xa vắng, em lại được nằm bên anh, gối đầu lên cánh tay mềm ấm của anh. Nhưng anh ơi! Cái mùi “thơm” nồng nồng, ngai ngái của ngựa ở anh làm em không tài nào ngủ được. Em quay mặt ra thì thương anh, mà nằm ấp vào anh thì em chỉ hắt hơi, nhức mũi. Nhưng rồi em cũng quen dần. Em lại cảm thấy cái mùi “thơm ngựa” ấy sao mà hay đến thế. Nay xa anh, em nhớ anh. Và, anh ơi em lại cảm thấy cái mùi “thơm ngựa” ấy sao mà mạnh mẽ, đằm thắm đến thế. Anh ơi...”.

... Một buổi chiều cuối tháng chạp, bà con các bản vùng biên rậm rịch sắm Tết. Ở bờ suối, rừng đào đã có những tiếng khèn dìu dặt bay lên. Sau chuyến tuần tra, Lục cho ngựa xuống đèo. Con ngựa hồng đi như bơi trong những đám mây bông bảng lảng về núi. Lục nhìn mây trời, nhìn sương núi, anh nhẩm đọc những vần thơ trên tờ báo tường của đồn:

Sau giờ đổi gác xuống đèo
Buông cương cho ngựa đi theo nhịp khèn
Mây trời nâng vó ngựa lên
Ngựa đi mà tưởng bơi trên mây trời.

Về đến đồn, Lục biết thông tin bà con bản Na vừa cấp báo lên: “Có toán người mang ma túy vừa xâm nhập vùng biên ở vùng cột mốc Ngôi sao”. Lục và tổ kỵ binh quay ngựa lại, lên đường ngay.

Trong đêm cuối tháng, những con ngựa chiến phi nước đại trên đường. Mỗi bước ngựa chạy, mặt đường tóe lửa. Bỗng con Phong ghìm chân đột ngột. Đội trưởng Lục nhìn xuống đôi tai nó. Tai bên trái của con Phong đã cụp xuống. Rồi cái mũi “ra đa” của nó thở khìn khịt bắt mùi. Con Phong đã báo cho anh biết có chuyện khác thường xảy ra ở phía bên trái đường. Lục thả lỏng cương, lệnh cho nó dừng. Đội kỵ binh để lại những con ngựa chiến trước cửa một hang đá. Chúng đứng thành vòng cung, đầu quay vào cửa hang, chân hướng ra phía ngoài, phòng thủ. Lục vỗ nhẹ vào đầu con Phong, dặn dò nó. Lục dẫn đầu các chiến sĩ đi cắt rừng đêm, chặn lối mòn từ cột mốc Ngôi sao vào các bản. Các anh đã kịp chặn toán người mang ma túy đang mò mẫm đường đi về phía bản Chiềng, bản Na. Trận “tao ngộ chiến” diễn ra trong đêm. Bốn tên mang ma túy dùng súng, dùng dao điên cuồng chống lại. Chúng đã bị diệt, bị bắt gọn.
Đội trưởng Lục bị một nhát dao chém vào cánh tay. Các chiến sĩ kỵ binh đưa anh về Trạm y tế biên giới.

... Con Phong vẫn đứng đó. Nó cắn lấy chiếc áo của Lục. Nó nhảy lên, hí vang núi. Các chiến sĩ kỵ binh đến dỗ nó, dắt nó về. Nó vùng vằng, ngúng nguẩy không chịu đi. Anh bác sĩ của Trạm y tế đứng tần ngần: “Vết thương nhẹ, băng bó chu đáo rồi...”, anh buộc lòng phải cho Lục ra gặp chú ngựa. Nó đứng hai chân sau lên. Hai chân trước đặt lên vai Lục. Nó rên rỉ, mừng rỡ. Anh bác sĩ đã thua con Phong. Anh trực tiếp băng bó lại vết thương, rồi... cho Lục xuất trạm.

Anh em công kênh đội trưởng Lục đặt lên lưng con ngựa hồng. Nó vừa đi vừa ngoái cái cổ dài lại nhìn người chủ thân thương. Nó hí nho nhỏ, như có ý muốn được nghe tiếng huýt sáo của anh “Vượt đèo cao ta bước tới chân mây...” như mọi ngày.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:34:10 PM
10/"Nhạc trưởng giữ rừng xanh"

Từ lâu khu rừng già Khe Mắc (HàTĩnh) có con gấu ngựa sinh sống. Mỗi lần gấu ngựa “tấu” lên ba tiếng thì những con gà trống cất tiếng gáy lanh lảnh như kèn đồng hòa nhịp theo. Rồi cả bầy gà mái cũng cục tác phụ họa. Rừng Khe Mắc cứ rộn rã như hội của chim muông. Đội đặc nhiệm biên phòng đưa chuyện lạ kỳ đó hỏi cụ Châu. Cụ đã từng làm nghề săn bắt thú rừng ở vùng này. Nhưng từ ngày có lệnh phải bảo vệ động vật hoang dã giữ môi trường sinh thái, cụ Châu đã “gác súng, cất bẫy”. Cụ cười vui nói rằng: “Thế đấy, gấu và gà rừng quấn quýt nhau là nghiệp sinh tồn của loài chim muông đấy. Chúng dựa vào nhau để sống. Nơi nào có gấu là ở đó có đàn gà”. Lúc rừng bình yên, tiếng gấu hú nghe ngân nga vang vọng, tiếng gà gáy lảnh lót nghe vui tai đáo để. Những lúc Khe Mắc có thú lạ về, có mấy lão tìm vàng sục vào thì rừng ồn ã, xáo động lên. Tiếng gấu gầm gừ, hú liên hồi để xua đuổi nghe rùng rợn. Tiếng đàn gà quang quác như động rừng. Người dân xóm Vàng đã chứng kiến chỉ một cú táp của gấu, con bò rừng lừng lững như con trâu mộng từ Lào lạc sang đã vỡ sọ chết tươi. Mới năm ngoái đây thôi, gấu đã vả móc quai hàm một lâm tặc giơ lưỡi rìu dọa nó. Bà con vùng đồng rừng này đã gọi gấu bằng “ông” và truyền tụng rằng: “Ông gấu là kiểm lâm giữ rừng cho ta đấy”. Lính biên phòng thì đặt cho gấu cái tên nghe lãng mạn “Nhạc trưởng giữ rừng xanh”. Cụ Châu còn nói thêm rằng: gấu có biệt tài đánh hơi và rất nhạy cảm với ánh mắt, cử chỉ của con người, con vật nó gặp và phản vệ tức thì.

Đội trưởng Chung chỉ huy đội đặc nhiệm tiếp cận khu rừng nằm trong địa bàn xung yếu đồn biên phòng bảo vệ. Thời điểm này các toán tội phạm thường mang ma túy lén lút qua đây. Đội trưởng đặc nhiệm đã dự kiến các tình huống có thể giáp mặt gấu. Anh chuẩn bị nhiều phương án kể cả phải mang theo súng xịt hơi cay, phun khói ngạt… Mới qua khỏi bìa rừng tiếp giáp với vùng hỗn giao tre, nứa thì đội đặc nhiệm giáp mặt gấu. Con gấu to chừng đến 2 tạ, lông đen tuyền. Ngực gấu có lông hình chữ V màu vàng nhạt (đặc trưng của loài gấu ngựa). Con gấu đang trèo lên cây sung để hái quả. Nhìn thấy người, nó nhảy từ trên cây cao xuống chui vào bụi rậm đứng. Nó giương cao chân trước, móng vuốt dài cong như một chùm câu liêm lên dọa. Đầu gấu lúc lắc, mắt gườm gườm. Đội trưởng Chung ra hiệu cho các chiến sĩđứng phía sau bình tĩnh, cứ nhìn thẳng vào mắt gấu. Vì cụ Châu đã dặn rồi, gặp gấu cứ đứng yên nhìn thẳng vào mắt nó, đừng có cử động gì làm cho nó giật mình cảm thấy nguy hiểm. Nếu thấy nguy hiểm nó sẽ xông vào tấn công ngay. Bộ móng vuốt nó có sức mạnh vô hạn. Cụ còn dặn thêm, khi gặp gấu đừng bỏ chạy. Người hai chân, gấu bốn chân hung dữ làm sao mà thoát nó được.

Lúc này con gấu ngựa vẫn đứng trong bụi rậm đấu mặt với lính đặc nhiệm. Rồi, hình như con thú hoang dã nhận biết rằng sự có mặt của những người lính biên phòng không gây nguy hiểm cho nó, không tấn công nó, đầu nó lúc lắc mấy cái, bỏ đi. Đàn gà đang xao xác quanh nó cũng đi theo.

Nhiều lần vào rừng Khe Mắc, Đội trưởng Chung và các chiến sĩđặc nhiệm lại giáp mặt gấu ngựa. Họ biết đích xác rằng con gấu này chỉ sống độc thân trong hang đá. Ngày gấu đi kiếm ăn, tối về đó trú ngụ. Đàn gà rừng có đến ba chục con cũng quanh quẩn trên các cành cây bên hang đá. Những con gà trống không to lớn nhưng trông đẹp mã làm sao. Bộ đuôi dài uốn cong mềm mại, lông lấp lánh nhũ kim tím ngát, xanh rêu, trắng ngà, vàng rực rỡ. Lông cổ xù lên đỏ tía màu gấc chín điểm xuyết chấm đen trông oai phong, hiếu chiến như “vị tướng” khoác chiến bào ra trận. Mào gà đỏ bầm, những đỉnh nhọn nhô lên rung rinh phơ phất như lá cờ lệnh. Cựa ở chân nhọn hoắt trông như mũi giáo, mũi lê. Nhìn nó, Đội trưởng Chung cứ đinh ninh nó là hình ảnh con gà rừng Việt Nam in trên bộ tem đặc biệt “Gà tiên mắt rồng” đã liệt vào Sách Đỏ sánh với mẫu tem “Gà rừng đỏ” của nước Singapore phát hành nhân ngày kỷ niệm hai nước lập quan hệ ngoại giao.

Vào rừng Khe Mắc, lính đặc nhiệm mới hiểu hết lời cụ Châu nói “Gấu và gà sống chung với nhau là nghiệp sinh tồn của loài chim muông”. Gấu trèo lên cây phá tổ ong ăn mật, những con ong non rơi xuống thì đàn gà có bữa “đại tiệc” ngon lành. Con gấu bới đất tìm măng, ăn củ, bẻ cành khô, móc gỗ mục để ăn côn trùng thì đàn gà cũng “mót” được bữa no nê… Ngược lại, con gấu ăn mật say khướt rơi từ cây cao xuống nằm ngất lịm thì đàn gà đến bới lông bắt chấy, nhặt rận cho gấu; những lúc gấu phơi nắng say giấc nồng, gà cũng đến “chăm sóc” như thế. Nên tình thân “hoang dã” đã gắn chúng vào nhau. Đội trưởng Chung và lính đặc nhiệm đọc Sách Đỏ Việt Nam đã biết rằng loài gấu được xếp nhóm 1B, tuyệt đối nghiêm cấm săn bắt trong thiên nhiên và phải bảo vệ để nó phát triển. Các anh cũng biết rõ rằng quả đất chúng ta đang sống có đến 8 loài gấu. Gấu ở Bắc Mỹ chuyên ăn thịt; gấu trúc chỉ ăn măng tre, trúc, nứa, mai… Các loài gấu khác: gấu chó, gấu lông đen, gấu lông màu quế… và cả con gấu ngựa ở Khe Mắc này thì thuộc loại gấu… ăn tạp: quả cọ, quả sung, hạt dẻ, quả chuối, bắp ngô… Loài gấu thọ nhất cũng chỉ sống được trên 40 năm. Hiện nay loài gấu đang có nguy cơ tuyệt chủng vì tệ nạn săn bắt lấy mật làm thuốc, lấy xương nấu cao… Mật gấu được con người trọng dụng từ hơn 3.000 năm trước, được đồn đại tốt đầu bảng hơn bất cứ mật loài động vật có vú nào. Những năm trước, rừng nước ta có hàng ngàn con gấu thì nay rất hiếm rồi. Nhiều cánh rừng ở miền Trung, Tây Nguyên, Tây Bắc chỉ còn thấp thoáng vài ba con. Con gấu ngựa “Nhạc trưởng giữ rừng xanh” có hình chữ V màu vàng trước ngực được xếp vào “siêu quý hiếm”. Nó là láng giềng “đặc biệt” cư trú cùng “xóm đồng rừng” với lính biên phòng. Tiếng hú ngân lên giữa rừng xanh như khúc dạo đầu của “vị nhạc trưởng”, rồi tiếng gáy lanh lảnh như kèn đồng của những con gà “chiến binh” mỗi sáng, mỗi chiều là nhạc vui báo hiệu vùng rừng biên cương yên tĩnh. Mỗi lần vào rừng Khe Mắc, các anh đặc nhiệm lại để bánh lương khô, bánh quy, vài bắp ngô trước hang đá. Biết loài gấu rất thích ăn mật ong, vào những mùa ong đang ngủ đông chưa làm mật, các anh để mấy chiếc kẹo làm quà cho “hàng xóm”. Đã nhiều lần gặp gấu giữa rừng xanh rồi, nhưng việc gấu, gấu làm; việc của lính đặc nhiệm đi, cứ đi…

… Bỗng có tiếng súng nổ. Rừng Khe Mắc xáo động lên với những tiếng hú rùng rợn, tiếng gầm gừ dội đá, rung cây; tiếng tao tác hoảng loạn của đàn gà. Đồn biên phòng báo động. Đội đặc nhiệm lên đường. Đội trưởng Chung dẫn các mũi chiến đấu sục sâu vào tâm rừng. Mũi truy tìm phát hiện vết máu trên lối mòn ra phía đường biên. Truy theo vết máu, Đội trưởng Chung nhìn thấy tên tội phạm nằm úp mặt bên gốc cây táu. Cánh tay phải của hắn bị bật ra khỏi khớp vai, chỉ còn mảng da bèo nhèo dính lủng lẳng. Mắt hắn dại đờ, môi tái thâm màu tro bếp, rên gừ gừ như con mèo hen chờ chết. Các chiến sĩ đặc nhiệm băng bó cấp cứu vết thương cho hắn. Tên tội phạm thều thào khai rằng, hắn cùng với một tên nữa vượt biên mang ma túy sang cho người ở xóm Vàng. Vào đến lõi rừng Khe Mắc thì chúng gặp gấu ngựa. Chúng không định bắn gấu, vì bắn sẽ bị lộ. Chúng chỉ giương súng, quơ tay dọa gấu để mong gấu chạy thì đi tiếp. Nhưng con gấu hú lên, rồi xông đến vả tới tấp. Hắn đưa tay lên che mặt, bị gấu vả thê thảm… Tên đi sau hoảng hốt làm súng cướp cò, bỏ chạy về bên kia biên giới.

… Buổi tối hôm ấy, cụ Châu lên Đồn biên phòng. Nghe Đội trưởng Chung và các chiến sĩ đặc nhiệm kể lại chuyện vừa xảy ra trong rừng Khe Mắc, cụ vui lắm. Cụ vuốt chòm râu bạc trắng như bông lau, cười hể hả rồi hát một làn điệu ví trèo non dân ca xứ Nghệ:

“Có ông gấu xênh xang trong rừng thẳm

Có chú trống hoa gáy lanh lảnh tiếng kèn đồng

Lưới thép biên cương ta có đặc nhiệm biên phòng.

Dù chúng có ba đầu sáu tay đi chăng nữa cũng đừng hòng vượt qua…”

Sớm hôm sau, rừng Khe Mắc trở lại bình yên, Đội trưởng Chung vào kiểm tra hiện trường và tăng cường quân cho các tổ mật phục. Các anh mang lương khô, bánh quy, chuối và cả tảng đường mía hơn 1kg để trước hang đá thưởng cho “Nhạc trưởng giữ rừng xanh”.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:36:26 PM
11/Dê hoa vằn trên núi Hoa Mơ

Ông Giàng Pao Ly kể rằng, núi Hoa Mơ giáp biên có con dê dị thường lắm. Dân bản gọi tên nó là dê xồm hoa vằn. Nó chỉ có một sừng nhọn hoắt như mũi dùi. Giữa trán nó có một cái xoáy lông trắng bồng lên trông như bông hoa mơ nở. Và, mình dê lông màu vàng nâu nhưng mỗi bên vai có hai dải lông đen hình lưỡi liềm giống vằn con hổ. Vậy là lưng dê có vằn, đầu dê có hoa nên dân gọi nó là dê hoa vằn cho dễ nhớ. Ông già người Mông còn nói vui, dê hoa vằn oai lắm. Nó cai quản dê vùng núi Lao Táo, Tả Ngải Chồ, Lũng Phúng này đấy. Dê hoa vằn từng lập được một “kỳ tích” làm rạng rỡ cho nòi giống dê nhà nó. Trẻ con các bản đang đua nhau chặt gỗ pơ mu tạc tượng nó để trước cửa nhà lấy vía.

Cho đến bây giờ người dân vùng biên này cũng không biết dê xồm hoa vằn trú ngụ ở núi nào, chỉ thấy thỉnh thoảng nó lừng lững xuất hiện như trên trời rơi xuống. Nó tìm mô đá cao nhất đứng lên trông oai vệ như thần núi. Nó nghếch mỏ lên, chĩa sừng nhọn, vểnh râu xồm, mắt nhìn ra bốn hướng vẻ quyền thế, kiêu hãnh. Giọng nó khàn khàn, đục đục “be be, be be e e...”. Nghe tiếng kêu đó những con dê đực trong vùng bủn rủn, nháo nhác tìm đường lẩn trốn. Còn lũ dê cái cả dê rừng lẫn dê nhà ở các bản đều vểnh tai, ngoáy mông hớn hở ra mặt. Chúng mừng rỡ rên “ư ử, e e...” rồi lục đục kéo nhau đến tí tởn với dê xồm hoa vằn.

Hết đợt ở núi này, dê hoa vằn lại “lưu động” sang ngọn núi khác. Nó lại đứng trên một mỏm đá cao kêu: “be be, be be e e...”. Lũ dê cái ở đó lại rộn ràng như “trẩy hội” đến với nó. Xong “phiên tuần”, dê hoa vằn lại sang núi khác. Ông Giàng còn kể rằng những lúc dê xồm hoa vằn “gọi tình tìm bạn” như thế thì cả thú lẫn người phải tránh xa. Nếu nó nhìn thấy con vật, con người lảng vảng gần đấy thì xông đến “gây hấn” ngay và chỉ có chết nẫu như cải muối dưa với nó. Ông Giàng nói mẹ ông đẻ ông bên cửa bếp, ông làm nương trên cửa trời, ông đã phát rừng bằng như gấu áo mà chẳng sợ bất kỳ cái gì ở vùng núi này. Vậy mà ông phải kiềng nể con dê hoa vằn một sừng đấy.

Theo tài liệu di cư của loài dê rừng, các nhà cổ sinh vật học và di truyền học cho biết rằng, tổ tiên của chúng xa xưa ở tận miền Trung Đông. Đầu kỷ băng hà (120-80 ngàn năm trước) rất có thể nó di chuyển từ dãy núi Alpes đi qua miền Nam nước Pháp vào khu vực Pyrénées (dãy núi phía tây nam châu Âu, đường biên giới tự nhiên giữa Pháp và Tây Ban Nha) khoảng 18 ngàn năm trước. Tuy nó có khác vài chi tiết với loài dê hoang sống ở Tây Ban Nha nhưng chúng có thể cùng nguồn gốc rồi từ đó dê hoang di chuyển theo triền núi đến các châu lục. Dê thuộc loài động vật có vú, bộ móng chân, bộ phụ nhai lại và thuộc họ sừng rỗng. Nòi giống loài dê hay có những biến động dị thường. Ở Ấn Độ có con dê lông trắng chỉ có một mắt. Con mắt kỳ quái ấy nằm ngay giữa đỉnh trán. Sau khi nghiên cứu, người ta cho rằng con dê mắc chứng rối loạn gien. Ở một nơi khác có con dê kỳ dị hơn. Dê mang khuôn mặt người. Loài dê rừng có bản năng liều lĩnh đến hung dữ để bảo vệ nòi giống trong cuộc sinh tồn. Một con dê con bị báo đốm tấn công, dê mẹ đã dùng cặp sừng sắc nhọn lao vào đánh nhau suốt buổi với báo để cứu con. Dê mẹ đã buộc con báo đốm phải bỏ mồi tháo chạy với nhiều vết thương trên mình. Báo cam chịu ngồi nhìn mồi thèm thuồng mà liếm vết thương loét to đến... chết. Loài dê còn có trí nhớ tốt. Người ta đã thử trí nhớ của chúng bằng cách cho chúng kéo đòn bẩy mở nắp lấy thức ăn là trái cây trong một chiếc hộp ra. 12 con dê 10 tháng tuổi thực hiện trò thử này thì có tới 9 con chỉ mất 2 phút đã mở nắp gọn gàng lấy trái cây ra ăn, 3 con còn lại chỉ hơi lúng túng.

Điều đặc biệt đáng nói nhất ở loài dê là nó cực kỳ mạnh mẽ về mặt “dê”. Không biết có phải “trời ưu đãi” nòi giống nó “khoản ấy” không? Hay hằng ngày nó rủ nhau tìm ăn các loại cây lá trong bài thuốc “linh đơn thần dược” để bồi bổ về “khoản ấy”. Đó là quả dâu, lá dâu, quả sung... Những vị thuốc có hàm lượng kẽm cao, kiểm soát hoócmôn Testosterone sản xuất ra nhiều tinh trùng, có lợi cho chức năng sinh dục. Quả sung có nhiều vitamin A, B1, B2, canxi, sắt, phốt pho, natri, cali, mangan... giúp con dê tăng cường khả năng kích thích.

Trong văn học cổ của ta, Cung oán ngâm khúc đã nói đến chuyện ấy: “Xe dê lọ rắc lá dâu mời vào”. Ngày xưa vua vào với cung nữ thường đi xe do con dê dắt. Dê vào cung nào thì vua theo dê cùng vào cung đó. Nên các cung nữ đã “khôn ngoan” rắc lá dâu trước cửa để nhử dê vào dắt xe vua vào theo. Con dê cường tráng cái “khoản dê” như thế, ông cha ta xưa chắc đã tìm mãi mà không có con vật nào để “đấu” với nó. Cuối cùng các cụ đã đưa “ngài Thái thú Nhâm Diên” ra. Chỉ 4 năm cai trị quận Cửu Chân, Thái thú Nhâm Diên đã lấy hơn 2.000 người vợ. Những đứa con đều phải đặt họ tên... Tàu (Đại Việt sử ký toàn thư, trang 69, kỷ nguyên thuộc Tây Hán).

Từ những thế kỷ trước, con người đã thuần phục được loài dê rừng, đưa nó về làm vật nuôi trong nhà. Loài dê ít bệnh tật, dễ thích nghi với thời tiết đổi thay, khắc nghiệt. Dê là loài vật rất tạp ăn. Nó cần mẫn đến liều lĩnh leo lên tận các mỏm núi đá cheo leo, trèo được cả lên cành cao như chim để vặt lá xanh, hái quả chín. Dê ăn được nhiều loại lá cây, kể cả lá xoan ta xem là rất độc. Ông Giàng Pao Ly nói rằng dê ăn lá ngón đen, ngón vàng ngon lành như ăn cỏ. Trong khi con ngựa, con trâu chỉ ăn mấy lá là đã lăn ra chết; con người chỉ nhai vài ba lá là mặt mày tím tái, sùi bọt mép. Các cụ ta ngày trước ở vùng núi giải độc cho những người ăn phải lá ngón thì mổ con dê lấy buồng gan cho họ ăn và đốt lông dê lọc lấy nước cho họ uống.

Loài dê vào tuổi trưởng thành sớm. Chừng bảy tháng tuổi, 35kg dê đã vào thì... mạnh mẽ. Di truyền của nòi giống nó rất “mắn”. Cứ 2 năm dê cho ra lò đều đặn, liên tục 3 lứa, mỗi lứa 3 con. Mồ hôi dê có mùi... hôi kỳ lạ, kỵ với muỗi, ruồi vàng, ruồi trâu; kỵ với loài côn trùng hút máu. Con dê đứng đầu gió thì những loài côn trùng ấy dưới gió... bay xa.

Từ thuở xa xưa, ông bà ta đã truyền lại thịt dê đứng đầu bảng ngon và bổ. Thịt dê được xem là “sư phụ” tiếp thêm năng lực đặc biệt, mau chóng phục hồi sức mạnh cho giới mày râu. Chất dinh dưỡng trong sữa dê thì hiếm có loại sữa nào sánh bằng. Sữa dê nhiều chất đạm, chất béo, protein, vitamin A, B1, B6... giúp tiêu hóa tốt và đặc biệt có lợi cho người bị bệnh tim mạch, tiểu đường. Sữa dê cũng giúp cánh má hồng có làn da mịn, nõn nà.

... Ông Giàng Pao Ly kể tiếp về chuyện con dê hoa vằn. Dạo ấy dân bản đã xong mùa làm nương, đến mùa làm khách. Phong tục của người Mông thu hoạch mùa lúa xong là nghỉ tròn 1 tháng để ăn tết và đi “làm khách” thăm nhau. Dịp ấy chợ Xín Cái cũng vào phiên Tết. Người các bản xa, người bên kia biên giới che dù xanh, dù đỏ đẹp như hoa rừng về bán hàng, ăn chợ. Con dê xồm hoa vằn ngày đó cũng đến kỳ về thăm thú núi Hoa Mơ. Từ sáng sớm, trời còn đằm mây, đằm sương dân bản đã nghe rõ tiếng “be be, be be e e...”. Con chim nồng chay(*) lông xanh cổ vàng mỏ đỏ vừa cất tiếng hót gọi ngày thì ông Giàng đã thấy một người lạ, mặt mày tái xanh như xoa chàm chạy từ lưng núi xuống. Anh ta thở cứ như gió lò trong khe núi. Miệng anh ta méo xệch như chảo gang vỡ, kêu: “Cứu với. Cứu với. Người Việt Nam hảo hảo nhiều. Cứu với... Hai đứa nguy thật rồi...”. Hỏi ra thì biết bọn người đó bị dê xồm hoa vằn húc. Anh ta nói với dân bản rằng bọn họ là “thương gia” từ bên kia biên giới theo đường tiểu ngạch mang hàng sang phiên chợ. Người dân bản Lũng Phúng, Lao Táo, Tả Ngải Chồ gọi nhau chạy lên núi Hoa Mơ. Bà con gõ thùng tôn, đánh mõ, thổi tù và, reo hò xua dê hoa vằn để tìm cứu các “thương gia” vượt biên. Đến lưng núi thì bà con nhìn thấy hai xác người nằm gục trên thảm rừng. Máu chảy thành vũng thấm đỏ đất. Một người bị dê hoa vằn xốc sừng nhọn từ hông xuyên ngực thấu đến cổ. Một người nữa chắc là đang bỏ chạy, bị dê đuổi theo đâm sừng nhọn từ lưng xuyên phổi, thủng ngực. Nhìn xác hai người đàn ông béo ụ, tay chân nung núc thịt, cổ to bằng mặt, bà con người các bản Mông đã nhận ngay ra chúng. Đó là hai tên trùm thổ phỉ nổi loạn năm xưa. Hai tên này đã nối giáo cho giặc cướp, dẫn chúng về bắt ngựa, bắt trâu, bắt con gái, đốt nhà, giết người Mông. Bị dân tiễu trừ truy đuổi, chúng theo giặc chạy sang bên kia biên giới lẩn trốn. Chúng đã thay tên đổi họ “mai danh ẩn tích” lâu nay...

Trong các đẫy hàng chúng mang theo có nhiều loại thuốc cao đơn hoàn tán giả và thuốc phiện. Ông Giàng Pao Ly nói rằng bây giờ nhiều nhà dân các bản có tượng con dê xồm hoa vằn đặt trước cửa để trừ tà, đuổi ma. Lúc nhà có việc không lành, bà con cắm cành lá xanh vào đầu nó để cấm cản người lạ vào. Từ chuyện dê xồm hoa vằn ấy, con trai con gái bản Hoa Mơ đã lưu truyền câu hát lúc lên nương về chợ như câu dân ca của người Mông:

“Mùa xuân tới

Con bướm mặc váy hoa xòe đón mùa sâm mới

Ta hát chuyện con dê

Đâm đứa hại dân đi theo kẻ ác, mò về

Ta hát chuyện anh là cái kim em là sợi chỉ

Đôi ta khâu tấm áo vải lanh

Chăm luống pà (kê) tốt trồng nương ngô xanh.

Giữ rừng yên bản ấm

Ta hát đến ngày con dê gỗ đứng trước nhà, chân lấm

Biết mọc sừng kêu be be chạy lên núi Hoa Mơ...”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:39:23 PM
12/Chuyện con vắt xanh và... sợi tơ hồng

Vào đến vùng rừng ẩm ướt, Đội đặc nhiệm phát hiện dấu vết “nóng”. Hai, ba con vắt xanh, căng tròn, mọng máu to bằng ngón chân cái người đang ngọ nguậy. Và, có các dấu vết giày xéo lên xác những con vắt khác, tóe máu. Xác những con vắt ấy đã khô, dính vào tảng đá. Đội trưởng Mạnh Cường nhìn dấu vết, nói ngay: “Lũ ‘ma rừng’ đã vượt biên trong đêm. Nhiều khả năng chúng đang lẩn vào những người làm nương hoặc ẩn nấp trong các bản có con nghiện để phát tán ‘hàng’”. Anh đi một vòng quanh tảng đá, nhìn lại xác những con vắt đã khô, nói thêm: “Có thể toán ‘ma rừng’ có ba đến bốn tên, chúng đến đây trước ta chừng 4 tiếng đồng hồ nên vết máu mới khô thế này. Còn những con vắt no máu thì chúng ta đã hiểu về nó rồi...”. Chúng tôi nhất trí với nhận định của Đội trưởng.

Các nhà khoa học đã cho lính biên phòng chúng tôi biết rằng loài vắt đen, vắt vàng, vắt xanh... này có nhiều bí ẩn thú vị mà ta chưa khám phá hết. Nó là loài sinh vật bé nhỏ, trọng lượng chỉ dưới 100mg, sinh sống trong các vùng rừng núi nước ta. Nó giỏi đánh hơi và thích thú con mồi máu nóng. Vắt dùng giác cả đầu và đuôi bám chặt vào da thịt con mồi rồi dùng răng cứa đứt da (răng vắt rất khỏe, nó cứa đứt da trâu, da báo, da lợn rừng...) bơm chất hirudin vào. Chất này làm cho con mồi không biết đau, không biết ngứa ngáy và máu không đông lại rồi nó hút đến no nê như những con vắt ở tảng đá này. Các nhà khoa học cũng cho biết chất hirudin là sản phẩm vi khuẩn đặc biệt sống ký sinh trong bộ tiêu hóa của vắt. Cấu tạo cơ thể con vắt rất hoàn thiện. Nó có miệng, thực quản, dạ dày, ruột, hậu môn... Nó di chuyển bằng cách co đi co lại. Thân hình con vắt có 33 đốt, dài chừng 2,3mm, nhưng lúc di chuyển nó có thể vươn dài tới gấp đôi. Vắt là loài không chịu được lạnh. Nó sẽ chết cứng lúc nhiệt độ xuống dưới 10 độ C. Vắt chỉ thích hợp với vùng rừng ẩm ướt, nhiệt độ 24, 25 độ C. Điều rất đặc biệt là dạ dày của vắt có nhiều cặp túi nên nó chứa được lượng máu tươi lớn hơn chục lần trọng lượng của nó. Ví như con vắt nặng 100mg, nó hút cả tiếng đồng hồ được 1.000mg máu mới thỏa mãn. Rồi vắt “nhẩn nha thưởng thức” trong nhiều tháng, đến cả năm. Lúc hết “kho máu tươi dự trữ” ấy, nó mới đi tìm con mồi mới. Điều đáng nể là sức bám dai kỳ lạ của giác con vắt. Nó bám dai dẳng như lò xo, như dây cao su. Một chú gà trống nặng 4kg bị con vắt bám hút máu, gà dùng mỏ kéo, dùng móng cấu, dứt mà không thể nào lôi con vắt ra được. Chú gà phải chịu để vắt hút no máu rồi tự nó nhả ra.

Rõ ràng vắt là loài “đáng ghét”. Các cụ cao niên ở vùng đồng rừng nói rằng nó “nẩy nòi” ra từ “uất khí” của rừng xanh. Nó chỉ gây sự bực bội cho trăm loài. Nhưng rồi cả trăm loài cứ phải chịu sống “thuận hòa” trong “mái nhà chung” là rừng, với nó. Riêng người lính biên phòng đã chọn trong ngàn vạn sự “bực bội, đáng ghét” ấy, tìm ra chút “đáng yêu”. Đó là đôi lần con vắt đã giúp các anh giữ lại hiện trường, dấu vết của lũ “ma rừng” cõng ma túy vào đất ta.

... Theo nhận định của đội trưởng Mạnh Cường, phương án tác chiến của Đội đặc nhiệm được triển khai ngay. Các đội truy lùng, phục kích của Đồn biên phòng và dân quân các bản chốt chặn mọi ngả đường mòn, hẻm núi vắng, kiểm tra lều nương, khống chế những đối tượng nghiện hút... Lúc trời chạng vạng, rừng nhá nhem tối, ba tên “ma rừng” lần đến “đường dây” thì bị tóm. Những chiếc ba lô căng phồng ma túy dạng bánh, ma túy dạng đá... chưa kịp phát tán, và ba khẩu súng AK báng gấp, lựu đạn giấu ở bờ nương đã được thu giữ.

Sau ngày mừng công, Đoàn nghệ thuật Sao Xanh lên biên cương biểu diễn phục vụ các chiến sĩ. Những buổi diễn rất dân dã, thân tình được tổ chức ở sân đồn, bên bờ suối, ở bãi cỏ chân núi. Các anh lính trẻ người Tày, người Mông trong Đội đặc nhiệm chống ma túy muốn nghe bài Cô gái Tày cầm đàn lên đỉnh núi, bài Trước ngày hội bắn, diễn viên Minh Hiền, Mai Hằng hát hai lần, ba lần và tập cho các anh cùng hát. Các đội tuần tra truy lùng bắt “ma rừng” thay nhau về, Minh Hiền hát những bài các anh yêu cầu như Chiều biên giới, Tiếng hát biên thùy phục vụ các anh. Những bài hát có ca từ các anh yêu thích: “… Vượt đèo cao ta bước tới chân mây. Núi non này ta đã leo tháng ngày...”. Các diễn viên hát rồi cùng với các chiến sĩ hát chung. Đêm diễn ở sân đồn, mây lạnh, sương dày, áo diễn viên, áo người xem ướt, các chiến sĩ vác củi đốt nhiều đống lửa xung quanh để sưởi ấm, hơ áo. Tình thân giữa lính biên phòng và các diễn viên nghệ thuật thật ấm áp, thân tình.

Trước hôm Đoàn nghệ thuật rời đất biên cương, đội trưởng Mạnh Cường đưa Minh Hiền, Mai Hằng đi xem mạch suối, xem nơi “phân mao cỏ rẽ”, tìm cây dâu rừng hái quả chín... Các diễn viên nữ trẻ trung đang cười vui như chim họa mi núi, bỗng Mai Hằng kêu rú lên: “Ôi, máu! Hiền ơi! Máu thấm ướt ống quần Hiền rồi”. Hiền nhìn xuống, mặt tái xanh. Hai chân cô diễn viên nhảy thon thót như đứng trên tổ kiến lửa. Miệng cô mếu máo, hai tay ôm chặt lấy vai Hằng: “Cứu tao. Cứu tao với Hằng ơi!”, Hiền nhìn sang anh lính biên phòng, cô ríu lưỡi: “Cứu Hiền với. Cứu Hiền với anh Cường ơi!”. Cường giữ chặt lấy tay cô diễn viên. Anh chả lạ lẫm gì chuyện này nữa. Cô đang bị con vắt xanh cắn hút máu thôi. Loài vắt này thường chuyền trên cành, trên lá cây. Khi bám được vào con mồi rồi thì nó nhẹ nhàng lần đến những nơi “ngon lành, mềm mại”, có mạch máu phập phồng như kheo chân, bẹn, đùi non, nách, quanh thắt lưng quần... cứa da hút máu. Dứt nó ra cũng dễ dàng thôi. “Bình tĩnh. Bình tĩnh, không sao đâu”- Cường nói. Nhưng hai tay Minh Hiền càng ôm chặt lấy anh: “Cứu Hiền. Cứu Hiền. Anh Cường ơi”. Cường xắn tay áo lên nhưng ống quần quân phục Hiền mặc chật quá không thể nào luồn tay vào sâu được. Mai Hằng nói: “Phải cởi khuy quần ra thôi”. “Không. Không” - Hiền giữ chặt lấy. “Thôi đành phải thế này nhé. Anh Cường nhắm mắt lại vậy. Nó khó tính quá. Mà Hằng cũng ghê sợ lắm, người nổi gai ốc lên rồi đây này”. Minh Hiền giãy nảy lên, hai chân cô cứ nhảy thon thót. Đám cỏ dưới chân bị xéo nát. Máu từ ống quần Hiền từng giọt đỏ thẫm rơi xuống. “Thôi có cách rồi. Chiều nó vậy” - Hằng nói rồi cô rút chiếc khăn tay trong túi ra. “Hằng buộc kín mắt anh Cường lại rồi cầm tay anh dí vào chỗ có con vắt cắn, có được không?”. Hiền không nói gì, Mai Hằng thực hiện ngay sáng kiến “tối ưu” ấy. Cường nhả nước bọt vào bàn tay... Ở đùi và cả dưới lưng quần trong của cô diễn viên có đến hai con vắt xanh. Một con đã hút no nê máu vừa nhả ra. Một con nữa đang bấu chặt, mải mê hút. Cường gỡ hai con vắt no kềnh càng ra rồi nhưng ở vết cắn máu vẫn còn chảy đến hơn 10 phút nữa, vì chất hirudin vẫn còn. Cường xé hai mảnh giấy lót trong đỉnh mũ mềm thấm đẫm nước bọt dán vào đó. Nhưng lúc bắt con vắt thì tay của Cường được tay của Mai Hằng “chỉ điểm”, còn giờ thì phải nhìn thấy rõ vết vắt cắn mới dán được. Vậy là anh lính biên phòng dùng chiếc khăn đã bịt mắt lau sạch máu để dán vào đúng vết vắt cắn cho cô diễn viên... “Rồi. Nhẹ nhàng thế thôi mà” - Mai Hằng nói vui. Chỉ lát sau nét mặt Minh Hiền tươi tắn lại. Hai bờ môi chúm chím của cô diễn viên trẻ, xinh đẹp lại hồng lên. Cô đập tay vào lưng anh lính biên phòng. Cả năm ngón tay cô chí xuống lưng anh một cách tình cảm, ý nhị. Cô muốn kín đáo chuyển tới anh “thông điệp”: “Em cảm ơn anh nhiều lắm. Thế này thì nhớ lâu hơn nói bằng lời đấy nhé”...

Mấy tháng sau, đội trưởng Mạnh Cường được đi học tại trường nghiệp vụ rồi được điều về đơn vị phòng chống tội phạm ma túy. Những ngày chủ nhật, Minh Hiền và Mai Hằng đến rủ anh đi xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật, đi chơi Công viên nước. Những kỷ niệm nơi sương gió biên cương ngày nào giờ đây càng làm họ nồng ấm, thân tình. Có lần, Minh Hiền hỏi nhỏ Cường: “Anh còn để lòng những kỷ niệm ngày chúng ta thăm suối đầu nguồn, hái quả dâu da nữa không?”. “Có chứ. Nhớ nhiều lắm” - anh lính biên phòng nhìn cô diễn viên xinh tươi, đôi má phơn phớt phấn hồng, nói: “Tôi nhớ cả lúc Hiền bị vắt xanh cắn nữa đấy”. “Ứ. Anh quên ngay đi những kỷ niệm xấu về Hiền nhé”. “Bây giờ Hiền còn sợ vắt nữa không?”. “Hiền vẫn còn sợ lắm. Nhiều đêm mơ thấy vắt cắn, Hiền ngồi bật dậy, toát cả mồ hôi. Mà sao những lúc ấy Hiền nhớ đến anh Cường nhiều thế. Buồn cười anh Cường nhỉ. Con vắt cắn để lại trên người Hiền vết sẹo ba cạnh như hình hoa khế ấy”. “Vết sẹo ấy đã mờ chưa?”. “Sẹo thì mờ lâu rồi nhưng kỷ niệm thì vẫn còn mãi đấy...”.

“Anh Cường ơi - Mai Hằng cười rất tươi nói chen vào - Hằng nói với anh điều này nhé. Con vắt xanh trên núi biên cương ngày ấy đã nối đẹp sợi tơ hồng ở thủ đô rồi đấy...”.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:40:46 PM
13/Thân nhau thì cụng đầu nhau

Đến tảng đá dưới gốc cây lộc vừng, đội trưởng Huyên dừng lại. Anh bố trí chiến sĩ cảnh giới rồi cho đội tuần tra nghỉ chân. Anh định ngồi lên tảng đá thì... giật mình, dừng lại. Bởi anh nhìn thấy đường “vận tải” của kiến ngay dưới chân tảng đá. Đội trưởng cúi xuống nhìn, anh ngạc nhiên thấy đàn kiến rừng con thì tha những hạt bột trắng, con thì cõng trên lưng những mảnh vụn bột kết lại chưa tan. “Sao giữa rừng sâu lại có những thứ kỳ lạ này?”. Anh đội trưởng liền lần theo con đường “vận tải” của đàn kiến. Đến đám thảm rừng sau gốc cây lộc vừng có bụi mâm xôi rậm che khuất, anh phát hiện ra đám cỏ được ai đó lót lá chuối làm ổ nằm. Chính nơi đây có những thứ mà đàn kiến rừng đã đánh hơi tìm đến ăn và đang tha về tổ. Những con kiến hối hả bò đến. Những con kiến ì ạch, tất bật bò đi. Đường “vận tải” của chúng mỗi lúc thêm đông đúc. Gặp nhau trên đường, kiến cũng có “thủ tục xã giao” riêng theo thói quen hoang dã của chúng. Chúng cụng đầu nhau, chạm miệng nhau để tỏ sự thân tình, để thông tin với nhau nơi có mồi ngon. Và, con tha mồi về tổ nhả ra chút dinh dưỡng chia vui với bạn cùng đàn...

Đội trưởng Huyên đứng im nhìn đàn kiến rừng. Đọc các tài liệu về loài kiến, anh đã hiểu về chúng. Kiến sống hầu như khắp nơi trên trái đất, chỉ trừ vùng Bắc cực và đại dương. Xã hội loài kiến có tổ chức cực kỳ chặt chẽ, có “tôn ti trật tự”. Chúng sống hiền hòa, thân thiện với nhau, cùng đàn biết bảo vệ nhau. Chúng biết phân chia công việc cho nhau. Một bầy kiến có từ vài trăm đến vài triệu con. Tổ của nó to, dài hàng mét được chia ra nhiều ngăn, nhiều phòng. Phòng riêng cho kiến chúa và trứng, phòng chứa nhộng, phòng ở cho kiến thợ... Trong tổ cũng có kho dự trữ lương thực, phòng nuôi nấm. Mùa hè, chúng chui ra ngoài hưởng gió mát. Mùa lạnh, kiến xuống ở phòng sâu nhất, ấm áp. Đứng đầu đàn, quản lý chung là “bà kiến chúa”. “Bà” to lớn nhất tổ, và có đôi cánh màu sắc rực rỡ. Còn kiến thợ nhỏ hơn, đều là kiến cái, không có cánh. Đó là đội quân chủ lực xây tổ, tìm thức ăn, phụng dưỡng “bà chúa” và chiến đấu bảo vệ tổ lúc có sự xâm lấn. Vì trong rừng cũng có loài “kiến lê dương” sống “vô gia cư”, tụ tập từng bầy đi cướp phá các tổ kiến khác để ăn con non, ăn trứng, chiếm thức ăn. Nó cắn chết, phanh thây những con kiến chống lại. Vũ khí chiến đấu của đội “nữ chiến binh” có kim chích ở ngay dưới bụng để phun nọc độc axit formic vào kẻ thù. Trong tổ kiến có một nhóm rất ít kiến đực. Chúng được ưu đãi nhất, thảnh thơi nhất và có cánh như kiến chúa. Chúng chỉ xuất hiện trong thời kỳ kiến chúa cần giao phối để duy trì nòi giống. Thời kỳ ấy, kiến chúa và kiến đực cùng chui ra khỏi tổ, bay lên cao tung tẩy vờn nhau rồi giao phối. Xong việc, kiến chúa ung dung xếp cánh về tổ. Còn kiến đực bò quanh tổ một vòng như để vĩnh biệt đàn, vĩnh biệt tổ... rồi chết. “Bà kiến chúa” có thể giao phối với nhiều “chàng” kiến đực. “Bà chúa” kiểm soát số lượng tinh trùng trong bụng để sinh sản suốt đời làm chúa 15 đến 20 năm. Kiến thợ có tuổi thọ 1 đến 5 năm. Kiến đực đoản thọ nhất chỉ vài tuần hoặc vài tháng sau khi kiến chúa cần đến. Trong rừng có trên 10 loại kiến. Các nhà khoa học đã phân chia chúng ra làm 8 nhóm theo thói sống hoang dã của chúng. “Kiến lê dương” là nhóm tàn bạo, hung ác nhất, kiến chủ nô, kiến nhà nông, kiến sữa, kiến mật, kiến nấm, kiến đan tơ, kiến đục gỗ. Loài kiến to nhất cũng chỉ dài 3,5mm và con nhỏ nhất chỉ 1mm. Điều cực kỳ đặc biệt ở loài kiến là nó có sức mạnh phi thường. Nó có thể tha, cõng một vật nặng đến 50 lần so với cơ thể nó (như con người ta nặng 60kg thì tha được 3.000kg). Kiến sống nhiều nhất ở vùng nhiệt đới. Thực chất tổ kiến là tổ của “bà chúa” chỉ huy đội “nữ chiến binh” nên chúng rất có kỷ luật, chăm chỉ, miệt mài đào hầm, khuân đất xây tổ... Chúng biết leo lên cành cây, tìm các hốc cây, đan, kết lá cây, làm tổ tránh mùa mưa. “Đội nữ binh trong mùa khô thiết lập các con đường “vận tải”, tìm nhặt hoa quả, hạt cây, xác sâu bọ chuyển về kho dự trữ trong mùa mưa rét. Kiến còn biết “bắt cóc” côn trùng về nhốt, nuôi như nuôi bò sữa để lấy dinh dưỡng chúng tiết ra “dâng bà chúa” và nuôi kiến non. Các nhà khoa học cho biết rằng cách đây vài triệu năm, kiến là con vật tiến hóa từ loài ong bắp cày. Cấu tạo cơ thể của chúng rất giống nhau. Chúng có một nốt tròn chuyển tiếp giữa bụng và ngực để tạo ra eo. Chúng đều có ba cặp chân, mỗi bàn chân có hai móc để bám cành cây, mặt phẳng, bới móc, đào hầm xây tổ.

Loài kiến có hai mắt. Mắt kiến thuộc loại đa tròng. Có loài kiến mắt có nhiều đồng tử nhưng chỉ phân biệt được sáng và tối. Kiến có hai tai nhưng chúng nghe được ở ngực, đầu và cả chân nữa. Giác quan chính của loài kiến tập trung vào hai cần ăng ten ở đầu nó. Đó là thính giác, xúc giác, khứu giác để ngửi mùi trong không khí, xác định phương hướng, giao tiếp, kiểm tra thức ăn, nhận đồng loại... Kiến còn tiết ra mùi đặc trưng, rất nhạy là hóa chất pheromone ở đầu, ở bụng, ở các sợi lông quanh mình để nhận bạn cùng tổ, cùng đàn, để chúng thông tin cho nhau nơi có thức ăn hoặc báo cho nhau điều nguy hiểm cần tháo chạy.

... Đội trưởng Huyên nhặt mấy mảnh vụn bột trắng bỏ vào lòng bàn tay. Anh bóp nát rồi gọi các chiến sĩ đến cùng xác định. “Đây chính xác là bột bánh bích quy, lương khô và có cả đường trắng. Đàn kiến rừng đã giữ hiện trường và mách chỗ kẻ gian ẩn nấp giúp chúng ta...”- Nói với các chiến sĩ rồi đội trưởng chỉ cho mọi người nhìn chỗ mồi giun đùn bùn non lên còn in rõ dấu giày đi ra phía biên giới. Đội tuần tra chia thành hai mũi truy bắt ngay. Một mũi truy theo đường mòn, một mũi thần tốc xuyên núi bám đường biên, đón lõng. Vừa lúc ấy ba chiến sĩ đội cơ động ở đồn đuổi theo kịp đội tuần tra. Các anh thông báo lệnh của Bộ chỉ huy: “Có hai tên vượt biên mang ma túy vào bản Nà Noi bị dân quân bắt. Trên đường áp giải về công an xã, chúng đã gây thương vong cho hai dân quân. Trong lúc chạy trốn, chúng đã xông vào quán của dân cướp bánh, kẹo, đường, sữa làm lương ăn”. Vì giữa lũng núi sâu, không có sóng điện, các anh đến truyền đạt mệnh lệnh và tăng cường lực lượng truy bắt tội phạm.

Đội trưởng Huyên tăng thêm một mũi truy lùng nữa. Mũi này gồm ba chiến sĩ cơ động khép chặt lũng núi dọc đường mòn phòng tội phạm quay lại trốn trong vùng “nước đục” nơi ta rà soát.

Ngay chiều hôm ấy, hai tên tội phạm đã lọt vào trận địa của mũi đón lõng giáp biên. Nhưng lợi dụng rừng rậm mù sương, một tên chạy về phía rừng nội địa, tên này đã gặp các chiến sĩ cơ động tăng cường.

Trên đường đưa tội phạm về đồn, lúc đi qua cây lộc vừng, tảng đá có đường “vận tải” của đàn kiến, một chiến sĩ đội tuần tra đã ghi lại cảm xúc chiến công:

“Con kiến nhỏ giữa rừng

Giúp ta nên việc lớn

Kiến tảo tần trưa sớm

Ta chăm chú chuyến tuần

Đâu chỉ nhìn to nhỏ

Đâu chờ khen nhiều lời

Ơi con ong cái kiến

Góp việc tốt giúp đời...”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:42:46 PM
14/“Xóm giềng thân thiện” giữa non xanh

 Xa xưa, việc qua lại biên giới giữa ta và nước bạn Lào ở vùng này chỉ có con đường mòn xuyên cánh rừng rậm từ huyện Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) sang tỉnh Savannakhet (nước Lào). Từ khi mở quốc lộ số 8 vào những năm đầu thế kỷ 20 thì con đường ấy bị bỏ quên, chìm mờ dần trong rừng vắng. Nay con đường ấy chỉ có kẻ gian và dân buôn hàng quốc cấm chui luồn. Đứng ở đỉnh núi biên phòng, chúng tôi chỉ nhìn thấy dải non xanh mờ mây khói. Khi tìm ra dấu vết con đường, chúng tôi chú ý đến cái hang đá. Trước cửa hang có một tảng đá bằng, mưa rừng gió núi bào chải nhẵn lì. Tảng đá to gần bằng sân bóng chuyền. Hang đá ấy là “mái nhà chung” của đàn khỉ lông vàng hơn 40 con. Còn tảng đá ấy là sân chơi “cộng đồng” của chúng. Buổi sáng trước lúc tản đi tìm thức ăn, buổi chiều trước khi về hang đá, đàn khỉ nô đùa, nhảy nhót trên cái sân chung ấy. Chúng ngồi bắt rận, chải lông cho nhau. Chúng dỗ dành con và “tình tự” với nhau. Lần đầu nhìn thấy chúng tôi, đàn khỉ khiếp sợ, hoảng loạn, bế, cõng con nhảy lên cành cao hú hét vang rừng. Con khỉ đầu đàn tướng mạo dữ dằn, hung hãn. Nó có hai vành da đỏ khuyên tròn hai con mắt lồi màu hạt dẻ, có ria dài hai bên má và có râu mép. Nó nhảy chồm lên, nhe răng, nhăn mặt, nhép môi dọa chúng tôi. Hai chân trước nó liên hồi đập vào ngực căm tức kẻ xâm phạm lãnh địa nó. Mấy lần nó chực xông vào cào cấu “ăn thua” với chúng tôi...

Đội tuần tra nghỉ lại trên tảng đá ấy. Chúng tôi muốn được làm “xóm giềng thân thiện” với đàn khỉ. Bữa ăn trên tảng đá, chúng tôi để lại biếu “chủ nhà” những mẩu lương khô, bánh bích quy, cơm nắm và những chùm dâu da, quả ổi chín hái được trên đường đi. Chúng tôi còn để lại cả gói muối ở cửa hang. Mãi đến chiều, lúc mây về núi, con khỉ đầu đàn mới mon men về nghiêng ngó, thăm dò. Nhớ lời các cụ già nuôi khỉ nhiều năm dặn: “Muốn làm thân với khỉ thì cho nó ăn muối và kiêng nhất lần đầu gặp nó đừng chĩa mũi súng, mũi dao dọa dẫm gây ác cảm với nó. Nó khôn như con người đấy...”.

Chúng tôi nấp sau bụi cây chiếu ống nhòm nhìn rõ con khỉ đầu đàn cầm bánh lương khô, lát cơm nắm lên ngửi, nếm thử. Nó nhấm nháp từng hạt muối... rồi hú gọi cả đàn về.

Mỗi tuần có ba chuyến tuần tra, đội chúng tôi đều đến đó. Rồi hàng tháng, hàng năm cứ đều đặn như thế, chuyến tuần nào chúng tôi cũng mang thêm lương khô, muối và hoa quả làm quà cho “xóm giềng”. Dần dần tình “thân thiện” được đậm đà hơn. Nhìn thấy chúng tôi ăn lương khô, cơm nắm, đàn khỉ bồng con rủ nhau ngồi trên cành cây, chờ. Được ném thức ăn cho thì con đầu đàn, chúng tôi gọi vui là “ông trưởng xóm” nhảy xuống nhặt đưa trước cho những con khỉ con mà mẹ chúng đang cõng trên lưng hoặc bế trước ngực. Mỗi lần nhìn thấy chúng tôi đến, đàn khỉ nhảy lên cành cây ngồi như xếp hàng. “Ông trưởng xóm” rung rung ria mép, nhép môi cất tiếng hú trước rồi cả đàn hú theo. Nó cầm nhịp cho cả đàn hú, tiếng hú của đàn khỉ bổng trầm, du dương có cung bậc như bản hòa tấu vang vọng khu rừng thâm u. Chúng tôi cười vui: “Xóm giềng thân thiện” chào mừng chúng mình đấy. Khi chúng tôi rời tảng đá, đàn khỉ chuyền cành theo một đoạn dài như để tạm biệt, dõi nhìn hướng chúng tôi đi.

 Các nhà khoa học đã giúp lính biên phòng chúng tôi biết loài khỉ có nhiều điều kỳ lạ. Trong thế giới hoang dã, khỉ là động vật rất đặc biệt và thú vị. Nó có cấu tạo cơ thể và có nhiều đặc tính giống con người. Khỉ được xếp vào nhóm 2-B động vật hoang dã cần được bảo vệ. Loài khỉ thông minh, bắt chước người rất nhanh. Chúng bộc lộ cảm xúc vui buồn, yêu thương, hờn giận trên gương mặt giống con người. Chúng có gương mặt tươi tắn, hớn hở để thu hút bạn tình. Gương mặt giãn ra với ánh mắt rộng mở, nhép môi khi nhận biết bạn cùng đàn. Gương mặt nhăn nhó để chia sẻ nỗi nhọc nhằn khi tìm kiếm thức ăn.

Loài khỉ có đặc trưng chung, đều sở hữu cái mông “màu hồng rực rỡ”. Cái mông trở thành niềm tự hào của chúng. Gặp bạn, gặp đồng loại, các bầy lạ, động tác đầu tiên là chúng phô “cái mông hồng” để bạn chiêm ngưỡng... Đó như là “thông điệp ngoại giao” trao đổi tình cảm ban đầu để làm quen và xét cho nhập đàn hay không. Loài khỉ còn có nét rất đặc biệt là bàn tay chúng giống bàn tay người. Chúng có móng tay, đầu ngón tay có đường vân khác biệt nhau. Ngón tay khỉ cũng mềm dẻo hữu ích như ngón tay người. Chúng biết dùng ngón tay bắt chấy rận, làm vệ sinh thân thể, chải lông, làm đẹp cho nhau; bóc vỏ quả chín đút cho con ăn. Khỉ biết hái lá cây làm thuốc, buộc vào các vết thương; biết tìm các loại lông, dây nhỏ như “chỉ nha khoa” dùng tay cọ, kéo làm sạch hàm răng. Khỉ có tuổi thọ đến hơn 40 năm. Việt Nam ta có hai loài khỉ sống ở đất liền và ở đảo. Chúng sống thành bầy đàn. Mỗi đàn có từ 10 con, 40 con, có đàn đến cả trăm con. Những khu rừng nguyên sinh ẩm ướt nhiều hoa quả, côn trùng có độ cao trên dưới 2.000m là nơi lý tưởng để khỉ sinh sống. Con khỉ đực nặng đến 8,3kg; khỉ cái nặng 4,8kg. Khỉ cái mang thai 156 ngày. Loài khỉ giao phối và sinh sản cả bốn mùa.

Các nhà khoa học, khảo cổ quốc tế ở Viện Nghiên cứu nhiệt đới Smithsonian của Mỹ, nhánh ở Panama đã tìm thấy hóa thạch của loài khỉ cổ nhất có niên đại hơn 20 triệu năm trước. Và họ cũng đã phát hiện thêm nhiều điều rất mới lạ về loài khỉ. Khi nói chuyện với nhau, khỉ cũng nhép môi tạo ra cung bậc âm thanh có nhịp điệu tương tự như lời nói của con người. Trong giao tiếp, khỉ biết nhường nhau, không chen ngang, không cướp lời nhau. Nó thân thiện, hòa đồng và cũng hoạt ngôn như con người lúc “buôn dưa lê” và lúc cãi vã nhau vậy. Chúng có thể duy trì các cuộc trò chuyện đến hơn nửa giờ với những con thân quen và cả những con xa lạ mới gặp. Con khỉ cất tiếng hỏi trước 5 giây. Con khỉ đồng loại đợi sau 5 giây “suy nghĩ” rồi mới trả lời. Lúc nói chuyện, khỉ biết nhìn mặt nhau dò xem thái độ của nhau rồi điều chỉnh nhịp điệu cuộc trò chuyện. Các nhà nghiên cứu về loài khỉ cho đó là “nền móng” hình thức giao tiếp chỉ xuất hiện ở con người. Và họ xác nhận rằng những con khỉ cái thường nhiều lời, hay “chuyện trò”, đàn đúm với nhau hơn hẳn khỉ đực.

Một điều bất ngờ và lý thú nữa, loài khỉ sống “thủy chung” với bạn đời của mình. Chúng coi trọng “chế độ một vợ một chồng”. Khỉ đực và khỉ cái sống thành đôi, gắn bó với nhau. Con khỉ “bố” dành nhiều thời gian chăm sóc, yêu thương, chơi đùa với “vợ” con. Các nhà khoa học đã lấy mẫu gien của loài khỉ ở vùng Azara (Argentina), 35 khỉ con là con đẻ của 17 cặp khỉ “bố mẹ”, đã thấy rằng khỉ con đều mang gien di truyền của khỉ “bố”. Điều đó cho ta thấy thật lạ kỳ với một loài động vật hoang dã sống bầy đàn mà chúng “chung tình” đến thế.

Nhóm nhà khoa học thí nghiệm bản gien khỉ đuôi ngắn ở Ấn Độ cũng cho biết loài khỉ ở châu Phi có đến 98% gien giống con người. Loài khỉ ở Ấn Độ cũng có 93% gien giống con người. Và, họ cũng cảnh báo rằng có một loài khỉ ở vùng Đông Nam Á sống trên cao nguyên thuộc đảo Borneo (nơi giáp ba nước Malaysia, Brunei, Indonesia) có chất rất độc Nycticebus Kayan trong miệng. Loài khỉ này thuộc họ cu li (khỉ gió) mũi cong. Nó có họ hàng với cáo và vượn. Họ cũng phát hiện thêm những điều cực kỳ thú vị ở loài khỉ vàng sống ở Indonesia. Nó đã biết dùng “dịch vụ” để “đổi tình”. Và, nó biết dùng “quà cáp” để làm trò “hối lộ”. Những “chàng” khỉ muốn ve vãn mồi chài bạn tình, thường lân la làm quen, chải lông, vuốt ve, bóp chân, xoa lưng, tìm thức ăn về nịnh nọt các “nàng” để mong được... chiều. Những “chàng” khỉ “đa tình” ở các đàn khác muốn mon men đến “trăng hoa” với các “nàng” ở đàn bên cạnh, chúng cũng có những “mánh” riêng. Chúng tìm hái những chùm quả chín, bắt tổ trứng chim đưa đến dâng, cống cho “bác” khỉ đầu đàn để có sự thân tình, dễ dàng lui tới. Và, khi đã chiếm đoạt được các “nàng”, có vây cánh rồi thì nó “dở trò khỉ” gây gổ, xua đuổi “bác” khỉ già để chiếm ngôi đầu đàn.

Đâu có ngờ một buổi chiều từ dải núi cao xanh mờ mây khói ấy vang lên tiếng hú, tiếng gào thét thê thảm của “xóm” khỉ vàng. Tiếng hú dữ dằn làm rung động vùng cây rừng vắng lặng. Đàn khỉ rời bỏ “mái nhà chung”, bồng cõng con tháo chạy. Chúng di tản đến cánh rừng gần đồn biên phòng. Đồn trưởng nghĩ ngay đến hiện tượng lạ đó. Anh dự tính đến một tình huống xấu đã xảy ra. Phương án tác chiến được bổ sung. Đội tuần tra chúng tôi lên đường. Đội truy tìm dấu vết chuẩn bị. Mũi bao vây ngăn chặn triển khai chốt chặn các con đường mòn, hẻm núi từ khu rừng đệm vào nội địa. Chúng tôi đến hang đá, nơi “xóm giềng thân thiện” ở thì mọi điều đã rõ ràng. Đất rừng, núi đá còn giữ nguyên hiện trường. Đó là “lời tố cáo” đầy đủ nhất. Bên “sân chơi cộng đồng” của đàn khỉ, chiếc bao ni lông đựng thuốc lọc nước còn nguyên. Ở bờ suối còn rõ dấu vết bếp lửa. Gần đó là hố chôn giấu thức ăn thừa, xương, lông và còn nguyên cái đầu con khỉ. Lẫn trong đó có hai vỏ đạn của súng giảm thanh. Cái hố ấy đã được lấp đất, lá mục và đá đắp lên. Những loài thú rừng tìm mồi đã bới ra. Đội truy tìm dấu vết vào cuộc, có cả chó chiến đấu giúp sức. Toán biệt kích bị diệt gọn lúc chúng đang đặt mìn phá cầu N. là “yết hầu” trên con đường thông quan sang nước bạn.

... Những chuyến tuần tra sau đó, chúng tôi lại đến với “xóm giềng thân thiện”. Cánh rừng đã trở lại bình yên. Đàn khỉ vàng lại ríu rít chuyền cành tìm quả chín. Tiếng hú của chúng lại khoan thai, ngân nga với giai điệu thanh bình, yên ả. Chúng đã trở về “mái nhà chung”. Chúng tôi lại biếu “xóm giềng thân thiện” bánh lương khô, cơm nắm và cả những chùm dâu da chín mọng, quả bứa vàng ươm vừa hái.

Trên “sân chơi cộng đồng”, đàn khỉ vàng nô đùa. Chúng “nói” gì líu ríu với nhau. Chúng cầm tay nhau vui mừng nhảy múa quanh những món quà chúng tôi để lại. Chúng tôi không còn nhìn thấy bóng dáng “ông trưởng xóm” đâu nữa. Song “xóm giềng thân thiện” hình như đã “bầu ông trưởng xóm mới”, trẻ hơn. Da mặt “ông” đỏ và hai quả mông của “ông” cũng rực hồng hơn. “Ông” tỏ ra thân thiện và dám đến gần với chúng tôi hơn. “Ông” biết chìa bàn tay về phía chúng tôi, nhấp nháy mắt, chép môi “nói” gì líu ríu. Không hiểu được ngôn ngữ của “ông”, nhưng chúng tôi đoán... “ông” muốn xin thêm bánh bích quy, muối... Chúng tôi trút hết tất cả những gì mang theo cho “ông”. Và, “ông” cầm đến chia cho cả đàn.

Hôm đó anh đội trưởng rất vui. Vốn là người vùng quê hát phường vải, anh đã cất lên làn điệu Ví trèo non:

“Sớm khỉ rong chơi bên suối biếc

Trưa hót giữa đỉnh rừng vàng

Giữa non xanh mây trắng

Gần bản làng với nhau

Chúng ta cùng giữ đất rừng sâu...”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:45:48 PM
15/Hương tình thơm xóm núi

Chuyện như một sự tích, diễn ra vào cuối mùa thu năm 1954 thế kỷ trước. Năm ấy Đoàn 280 quân tình nguyện Việt Nam sang giúp bạn Lào, rút về nước. Đơn vị đóng quân bên suối Nậm Tuồng, Nước Sốt và xóm núi Kim Cương. Cái xóm nghèo nhà dân chỉ là cột tre, mái cỏ hiu hắt đơn côi dựng bên đường số Tám. Nhưng cái xóm ấy lại mang tên rất đẹp nghe như tột đỉnh của sự giàu sang: xóm Kim Cương. Các chiến sĩ hỏi về tên xóm thì được các cụ già kể rằng, đây chẳng có vàng ngọc kim cương gì đâu. Đây chỉ là bãi đất cằn, chó ăn đá gà ăn sỏi thôi. Dân trong xóm là “phu lục lộ” mở con đường số Tám. Bãi đất này xưa là nơi người Pháp và chủ thầu đưa máy móc về đây cất giữ sau mỗi ngày làm đường. Họ nói với dân phu rằng các cỗ máy ấy cực kỳ quý vì đều có gắn kim cương đầu mũi nên nó mới khoan đục, xuyên phá được đá núi. Dân phu thâu đêm phải đốt lửa để xua đuổi “sói gấu Kim Cương, hổ Nậm Tuồng, voi Nước Sốt” và cả lũ cướp rừng nữa để canh giữ số máy móc ấy.

Sau ngày mở đường, những người dân phu nghèo đói tha phương vô gia cư đã cụm lại đây hái măng, tìm nấm, lập phường săn bắt thú rừng để kiếm sống. Vậy là cái xóm núi nghèo này từ đó mang tên xóm Kim Cương.

Một buổi chiều muộn, phường săn giăng bẫy bắt được con chồn hương. Họ mang con thú lạ đến bộ đội biên phòng đổi lấy gạo. Chỉ huy trưởng Trường Sinh bàn với các chiến sĩ: “Ta nên bớt tiêu chuẩn ăn mỗi ngày một lạng, tức là bảy lạng còn sáu thôi, để có được hơn hai tạ đổi lấy con thú này. Đó cũng như đơn vị giúp bà con những ngày giáp hạt…”.

Con chồn hương lông màu vàng mơ pha xám nhẹ, nặng gần 4kg, trông thật đẹp mã. Hai tròng mắt nó lồi, màu hổ phách, nhìn không biết nhấp nháy, sáng như hai bóng đèn pha. Và, thật lạ lùng, dọc thân hình con thú có 7 giải lông mượt mà màu đen nhẹ chạy dọc từ vai đến mông trông như 7 dòng suối chảy trên lưng nó. Còn đuôi con thú thì dài gần bằng thân, có các vằn đen trắng và rất nhiều đốm vàng nhạt, đen mờ trông giống như chuỗi hoa phong lan đang nở. Anh em phường săn nói rằng, con chồn hương này sắp vào thì rồi, sang tháng 3 mùa quả bí bầu rụng rốn nó sẽ thả hương thơm. Nó là con vật quý, làm thuốc tốt, hiếm khi bắt được. Thịt nó mềm ngon thơm ngọt nhất trong các con vật ở rừng.

Chỉ huy trưởng Trường Sinh giao con thú quý ấy cho chiến sĩ trinh sát Vi Viết Khèn, người dân tộc Tày, nuôi. Các cụ già xóm núi bày cho anh cách thức chăm nó. Nhưng rồi lúc con chồn hương vừa bén chuồng, quen người thì Đoàn 280 được lệnh hành quân đi nhận nhiệm vụ mới. Cả đơn vị nhất trí với chỉ huy trưởng thả con chồn hương về rừng, mong nó sẽ sinh nòi đẻ giống. Rồi biết đâu nơi khỉ ho cò gáy này sẽ có đàn thú quý. Anh Khèn cùng ba chiến sĩ đưa con chồn hương vào khu đồi đất nơi có nhiều hang hốc giáp rừng cây rậm, giống môi trường nó sinh sống. Các anh đặt chuồng nó xuống, mở cửa. Nhưng lạ chưa, con thú vẫn đứng ngơ ngác giương đôi mắt tròn xoe màu hổ phách nhìn mọi người. Nó như ngỡ ngàng chưa hiểu con người sẽ làm gì nó ở đây. Vì các anh thường đưa nó ra suối tắm, chải lông, vuốt ve nó. Hằng ngày lúc nhìn thấy các anh đến gần, nó bấu vào cửa chuồng kêu “khìn khịt” như đón, như chào. Và, điều kỳ lạ nữa là con thú hoang dã đã biết ngoe nguẩy đuôi mừng khi các anh để vào cửa chuồng nó quả chuối chín, quả ổi ngon, con dế vừa bắt được. Anh Khèn vuốt lưng, xoa đầu nó và đẩy nó ra cửa. Con chồn hương vẫn đứng im, giương đôi mắt sáng trưng nhìn. Dùng dằng một lúc, bốn cái chân ngắn cùn cũn của nó mới chầm chậm bước ra cửa chuồng. Cái đuôi nó lúc này như chuỗi hoa phong lan cuối mùa rũ xuống kéo lê trên thảm rừng. Đi được mấy bước, con thú lại ngoái cổ nhìn các anh…

Rồi anh Vi Viết Khèn được ở lại bổ sung vào đội trinh sát của đơn vị 927 mới đến. Công việc của anh thường gần gũi với phường săn thú và gắn bó với bà con xóm núi. Anh như người “bảo kê” cho con thú quý này. Thực ra ngày ấy từ người chỉ huy đến các chiến sĩ nhìn con thú lạ, đẹp và nghe đồn nó làm được thuốc, lại biết thả hương thơm trong gió thì cứ nói chuyền nhau là con thú quý hiếm. Chứ chưa ai hiểu “đầu cua tai nheo” loài chồn hương quý hiếm như thế nào.

Sau này, được đọc tài liệu của các nhà khoa học, mọi người mới vỡ lẽ sự quý hiếm của nó đến mức kỳ diệu như thế. Con chồn hương thuộc loài động vật hoang dã đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Nhà nước đã có chỉ thị nghiêm cấm khai thác nó. Nó là tài nguyên của đất nước.

Chồn hương là loài động vật thuộc họ cầy được tìm thấy trong khu vực Đông Nam Á, kể cả các quần đảo. Trên thế giới có khoảng 200 loài cầy khác nhau. Việt Nam ta có loài chồn hương trú ngụ khắp các tỉnh miền núi và trung du nhưng số lượng còn rất ít. Chồn hương còn được gọi là cầy hương, cầy vòi hương, chồn ngận hương. Nó thuộc bộ thú ăn thịt, ăn tạp. Chồn hương ăn quả chín có vị ngọt như chuối chín, ổi chín, na chín và rất thích ăn quả cà phê chín. Chồn hương ăn cả chuột, rắn, ếch nhái, kỳ nhông, sâu bọ, côn trùng, giun dế… Chồn hương có bộ móng vuốt sắc nhọn rất hung hãn “hiếu chiến”, thích gây gổ đánh nhau với đồng loại và cả các loài thú khác. Chồn hương rất giỏi leo trèo, nó leo lên tận ngọn cây cao tìm bắt chim non trong tổ, bắt chim lớn ngủ trên cành. Nếu ở gần xóm bản, nó táo tợn rình mò bắt gà vịt… Cùng họ với chồn hương còn có các loại chồn, cầy khác: cầy mực, cầy giông, cầy vằn, cầy gấm, cầy vòi mốc… Nhưng chỉ có giống cầy hương là đặc biệt hơn cả. Cũng có những tài liệu nói rằng, trên thế giới cũng có những loài động vật, thực vật có xạ hương như: hươu xạ (ở châu Âu), chuột hương (một loài gặm nhấm ở Bắc Mỹ), vịt hương (ở Australia), cá sấu hương, bò hương… Thực vật thì có cỏ hương… Nhưng tất cả những loài đó đều không thể nào sánh bằng loài chồn hương. Vì nó được thiên nhiên đặc ân ban cho một thứ quý hiếm trên cả tuyệt vời mà không có một loài vật nào trên thế gian này có. Đó là chú chồn hương đực có một “túi thơm bí ẩn” chứa xạ hương. Cái túi ấy nằm ở một vị trí đặc biệt và rất kín đáo: giữa vùng rốn và hai tinh hoàn. Túi xạ hương căng phồng chừng 3x3cm, chứa 90g xạ hương. Phần giữa túi xạ có hai lỗ nhỏ thông lên phía trên. Trong cái “túi thơm ngàn vàng” ấy có các tuyến xạ tiết ra chất xạ hương sánh đặc như mật ong đầu mùa, màu nâu đỏ, có mùi thơm nồng nàn. Có chất nhờn, nếu nếm có vị đắng. Thành phần quan trọng nhất của xạ hương là chất amoniac (một loại tinh dầu), muối khoáng và các thành phần hợp chất hương hữu cơ. Đến mùa động tình (tháng 3 và tháng 9 âm lịch hằng năm), chú chồn đực nổi máu phong tình chọn dốc núi cao đứng “thả hương tình” nhờ gió trời lan tỏa bốn phương rừng để quyến rũ, rủ rê các “nàng” chồn cái. Mùi thơm của xạ hương có mùi lá cây cơm nếp, mùi ngọt ngào của mật ong, mùi cao sang của trầm, kỳ, mùi thơm man mát của hoa móng rồng, hoa lan núi… Ngửi được mùi thơm quyến rũ ấy, các “nàng” chồn cái đa tình rạo rực bỏ ăn, mõm luôn phát ra tiếng kêu “khìn khịt” rồi mấy dốc cũng vượt, mấy núi cũng trèo để đến với “hương tình”. Có những hãng sản xuất mỹ phẩm hảo hạng đã thổ lộ rằng, nếu trong nước hoa có mùi xạ hương và xịt nó lên người vài giọt thôi thì cũng đủ làm cho lòng dạ xốn xang, đôi má rực hồng và giục giã sự “nổi loạn”.

Đặc điểm rõ nhất của loài chồn hương là phát dục rất sớm, sớm hơn nhiều loài thú khác. Bảy tháng tuổi chồn hương đã vào thì động tình, phát dục. Khi “nàng” chồn đến với “chàng” thì quấn quýt mãnh liệt dăm bảy ngày với nhau. Nhưng lúc đã “no hoa chán quả, suối cạn vực đầy” rồi thì chúng “trở mặt” gây gổ với nhau, cắn nhau làm xao động cây rừng. Trận chiến ấy không phân thắng bại mà chỉ như để “nhớ nhau”. Rồi khoảnh rừng của con nào trú ngụ con ấy lại trở về yên phận ở. Chồn hương mang thai từ 85 đến 90 ngày. Mỗi năm, chồn mẹ sinh hạ 2 lứa. Mỗi lứa từ 2 đến 4 con. Chồn hương con được 7 ngày thì mở mắt nhìn rừng. Bú mẹ 40 ngày thì chồn con rời tổ ra sống lập thân. Tập tính của loài chồn hương là không sống thành đôi, thành bầy đàn đúm với nhau. Đến mùa động tình, chồn mẹ lại hóng gió đón “hương tình” đến với bạn. Vòng đời của loài chồn hương trên 15 năm.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:46:34 PM
3.500 năm trước công nguyên ở Trung Quốc, xạ hương đã được xem là vị thuốc quý đưa vào chữa bệnh. Trong Dược phẩm Á Đông ghi rõ: “Xạ hương đựng trong túi thơm của loài chồn hương là vị thuốc được ghi hàng đầu trong sách thuốc “Bản Kinh”. Xạ hương cay, tính ôn, quy kinh tâm, can, tỳ, có đặc tính thơm xuyên thông suốt 12 kinh”. Xạ hương đã có mặt trong 70 bài thuốc khác nhau. Từ cổ xưa, xạ hương được bào chế với các vị thuốc quý: ngưu hoàng, sừng tê giác, hổ phách… chữa các bệnh nguy cấp, có tác dụng làm hưng phấn hệ thần kinh trung ương, giải phù não, tăng kích thích cơ thể đối với trạng thái thiếu oxy, cải thiện tuần hoàn. Xạ hương có tác dụng chữa bệnh mạch vành, tai biến khối huyệt, trúng phong, khử độc, trị ác khí phụ nữ đẻ khó, phòng rắn độc cắn, xạ hương còn dùng làm cao dán ở huyệt tâm du chữa cho người bị bệnh tim. Xạ hương là thành phần trong viên thuốc An cung ngưu hoàng cấp cứu người bị tai biến… Lịch sử nước Trung Hoa xa xưa còn ghi các cung tần mỹ nữ chà xát xạ hương thơm nồng nàn lên vùng rốn, làm cho cuộc tình trở nên “đậm đà” hơn...

Xạ hương có giá cực đắt: 45.000 USD/kg (tức là phải giết trên 35 con chồn hương, hươu xạ mới thu được 1kg). Để ngăn cấm việc săn bắt bắn giết chồn hương, hươu xạ, Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) và Liên minh châu Âu đã nghiêm cấm nhập khẩu xạ hương của chồn hương, hươu xạ. Các hãng sản xuất mỹ phẩm đã phải tìm nguyên liệu tổng hợp thay thế. Bởi vậy thị trường đã xuất hiện nhiều xạ hương giả.

Loài chồn hương còn có một điều đặc biệt đến kỳ diệu nữa. Điều kỳ diệu này do thiên nhiên đặc ân ban cho nó và con người đã hỗ trợ nó tạo nên. Đó là loài chồn hương đã tạo ra một đồ uống độc đáo được đánh giá vào bậc nhất hành tinh: cà phê chồn. Nó đã đi vào huyền thoại thức uống đắt nhất hành tinh. Một ly cà phê chồn có nơi trên thế giới giá đến 90 USD, trong khi một ly cà phê bình thường chỉ từ 2 đến 4 USD. Điều đáng nói nữa, trên hành tinh này chỉ có vài nước có thể sản xuất được cà phê chồn như: Việt Nam, Indonesia, Ethiopia, Philippines… Thứ đặc sản uống vào loại hiếm và đắt nhất hành tinh này mỗi năm mỗi nước chỉ làm ra “thứ thiệt” được 200kg đến 300kg là cùng, nên giá có năm cao ngất ngưởng: trên 3.000 USD/kg.

Lần lại thuở khởi nguồn của cà phê chồn ở nước ta. Năm 1857, người Pháp du nhập cà phê vào Việt Nam. Những cánh rừng ở Tây Nguyên, Đắc Lắc đã trở thành một trong những “thánh địa” của cà phê thế giới. Từ đó cà phê chồn được xem như một “truyền thuyết” xuất hiện một cách tự nhiên ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Ngày ấy loài chồn hương sinh trú nhiều ở vùng đất Tây Nguyên. Tập tính của nó thích ăn loại quả chín cây có vị ngọt, thơm nên vào mùa cà phê (tháng 8 đến tháng 12) là “mùa hội kiếm ăn” của chúng. Loài chồn hương tinh khôn, khứu giác, vị giác của chúng rất mẫn cảm, chúng chỉ tìm chọn những quả cà phê chín mọng, thịt dày không có dấu vết xây xước do sâu bọ đục khoét, không bị chim chóc cào rỉa, không có mùi vị lạ (thuốc trừ sâu) mới ăn, nuốt cả hạt. Chừng bốn tiếng đồng hồ sau, chồn hương thải hạt cứng ra trong phân. Loài thú hoang dã này có tập tính “rất khéo” là chỉ tìm đến một nơi cố định ở góc rừng để “xả thải”. Thấy lạ mắt, những người phu đồn điền nhặt hạt cà phê tách khỏi phân, rửa sạch phơi khô. Họ rất lạ lùng nhìn thấy hạt cà phê xuất hiện màu xanh nhẹ, khác hạt cà phê bình thường. (Sau này các nhà nghiên cứu mới biết rằng trong bộ máy tiêu hóa của loài chồn hương có các vi khuẩn phân giải đường, phân giải protein thấm vào nên hạt cà phê biến đổi màu như thế). Khi rang cà phê trên than củi có độ nóng đến 200 độ C, điều bất ngờ nữa xảy ra là những mẻ cà phê đó có hương thơm đặc trưng. Họ pha chế thành những ly cà phê rồi chuyền tay nhau nếm thử. Nó vừa có vị bùi của đất, vừa phảng phất mùi của khói, vừa ngai ngái âm hưởng của rừng già, lại vừa có hương vị của mật ong… Buổi ban đầu ấy ai đã có cơ duyên may mắn được thưởng thức ly cà phê đặc biệt quyến rũ đến rạo rực lòng người thì không bao giờ quên được. Một trong những khởi nguồn “huyền thoại” cà phê chồn ở nước ta do những phu đồn điền tạo ra là như thế đấy.

Có vị giáo sư trường Đại học Guelph của nước Canada sau khi nghiên cứu thành phần, tính chất của cà phê chồn đã kết luận: “Chất enzyme tiết ra từ dạ dày con chồn hương đã thúc đẩy quá trình lên men tiêu hết vỏ trấu của hạt, phá vỡ cấu trúc protein vốn có trong hạt cà phê. Khi được rang lên, hạt cà phê trở nên cứng, giòn và ít protein hơn. Do đó độ đắng của cà phê giảm đi tạo ra hương vị mạnh rất lạ, rất đặc biệt gây nên sự hứng khởi thích thú so với các loại cà phê bình thường… Đó là hương vị của mật đường hòa quyện với sô cô la, vị đắng dịu đi, có vị chua của trái cây và một chút vị… thuốc lá…”. Người dùng cà phê chồn không chỉ là thưởng thức hương vị mà là đẳng cấp của nó.

Trong chuyến công tác trở về vùng biên cương, chỉ huy trưởng Trường Sinh thăm những người lính biên phòng, thăm bà con xóm núi.

Chỉ sau mấy năm thôi mà cái xóm nghèo bên đường số Tám đã đổi đời. Nhiều bà con đã ở nhà gỗ, mái ngói. Đường đi vào các ngõ xóm được ghép đá bằng phẳng. Cái xóm nghèo heo hút đã bước đầu ánh lên nét đẹp rạng rỡ như tên của nó: xóm Kim Cương. Phường săn đã giải tán sau ngày có chỉ thị của Nhà nước về giữ gìn môi trường, bảo vệ loài thú hoang dã. Anh em phường săn đã được biên chế thành một tiểu đội trong Đội dân quân. Bà con kể với ông rằng, vùng đồi giáp rừng cây bên suối Nước Sốt đã gần như thành “xóm chồn hương”. Vào mùa tháng 3, tháng 9 hằng năm, người dân xóm Kim Cương đều ngửi được hương thơm phảng phất trong làn gió núi…

Chỉ huy trưởng Trường Sinh nhìn lên phía ngàn xanh đầu dòng Nước Sốt, nơi khởi nguồn làn gió thơm. Nét mặt ông đang vui bỗng thoáng vẻ buồn. Ông bâng khuâng nhớ tới người lính trinh sát năm nào đã chăn nuôi con chồn hương và đưa nó về sống lại với rừng, nay không còn nữa. Trong trận lũ quét nước dâng, núi lở, anh Vi Viết Khèn xuống xóm cứu dân đã bị dòng nước cuốn trôi… Ông đứng lặng người. Gió núi như thầm thì bên tai ông, nghĩa tình người lính biên phòng với bà con, với tài nguyên của đất nước nơi non xanh này còn lưu mãi trong làn gió thơm…


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:48:18 PM
16/Nai chiều ngơ ngác gọi mẹ ơi

Năm ấy Đoàn nhà báo Quân đội vượt Trường Sơn vào mặt trận. Dưới ánh đèn gầm, chiếc ô tô của Đoàn 559 như “bò” trên cung đường dày đặc hố bom và mờ nhòa bụi hồng đất đỏ. Gần đến ngã ba Đông Dương, anh lái xe tên Biên nói: “Chúng ta đang lên đèo Mẹ Ơi”. Rồi anh kể sự tích cái đèo có tên kỳ lạ ấy cho chúng tôi nghe:

- Nơi đây máy bay Mỹ dội biết cơ man nào là bom đạn nhưng mùa này bờ suối, chân đèo vẫn xanh rờn những bãi cỏ non. Những buổi chiều muộn, đêm khuya có con nai mẹ thường đưa con ra đó ăn cỏ. Một đêm, máy bay thả đèn dù soi xe qua đèo. Nai mẹ, nai con đứng ngơ ngác nhìn đèn. Mắt nai cứ sáng xanh như nhìn đèn người đi săn soi chiếu vào nó. Bốn đốm sáng là mục tiêu cho máy bay dội rốc két xuống. Nai mẹ chết. Từ đó cứ mỗi buổi chiều hoặc đêm khuya vắng, nai con khát sữa tìm mẹ lại ra bãi cỏ đứng kêu “be…e…be…e…e…”. Cánh lái xe chúng tôi nghe tiếng nai con kêu xót lòng thương nó lắm. Chúng tôi nói với nhau “Nai con đang khóc tìm mẹ, gọi mẹ ơi, mẹ ơi đấy”. Tên đèo Mẹ Ơi có từ ngày đó.

Chiến tranh đã lùi xa rồi, mà tiếng con nai con khát sữa, ngơ ngác khóc tìm mẹ giữa rừng khuya như còn thổn thức trong lòng những ai đã qua đèo Trường Sơn năm ấy.

Tâm tưởng đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về loài động vật hoang dã này. Con nai, thuộc họ hươu nai bộ móng guốc ngón chân, loại động vật có vú, thuộc lớp thú nhai lại. Con nai đã được Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới (1996-2000) xếp vào bậc A2 trong danh sách các loài thú hoang dã quý hiếm đang trong quá trình nguy cấp phải nghiêm cấm săn bắn, bẫy bắt, buôn bán… Nghị định số 48-2002 của Chính phủ quy định phải tăng cường bảo vệ loài động vật này.

Ở nước ta, loài nai sinh trú trên các vùng núi Kon Tum, Lâm Đồng, Hà Tĩnh… và những nơi có rừng thưa, rừng nhiều cây xanh, gần khe suối, trảng cỏ, có địa hình bằng ở độ cao 500-600m so với mặt biển. Vùng châu Á, loài nai sinh trú ở miền Đông Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc… Trên thế giới có khoảng hơn 60 loài nai. Rừng nước ta có 4, 5 loài nai: nai vàng, nai cà tông, nai Giava…

Loài nai còn có “họ hàng” gần xa với con hoẵng, con mang Trường Sơn, con cheo, con tuần lộc…, chúng đều có sừng và sừng rụng theo mùa.

Họ hàng nhà nai từ xa xưa có tập tục sống rất “lãng mạn”, rất “có duyên” với trăng vàng, sao sáng, mây chiều, gió mát. Loài nai thích nghi với hoạt động ban đêm. Chúng ưa rủ nhau về các thung lũng yên bình có thác reo, suối hát, nằm nhai lại và tự tình với nhau.

Đặc biệt loài nai có đôi tai to quá khổ so với cơ thể, đôi tai luôn dỏng lên nên nó cực kỳ nhạy cảm với âm thanh, tiếng động từ bốn phương tám hướng. Cặp mắt loài nai sáng trưng, cái nhìn ngơ ngác sợ sệt với tất cả những gì ở xung quanh nó. Tính cách đó tạo cho loài nai dáng dấp lúc nào cũng sẵn sàng co chân chạy trốn. Tạo hóa ban cho loài vật quý hiếm này một thân hình đẹp mượt mà, thon thả, chân cao thuôn dài và cuộc sống hiền lành, “thơ mộng”. Nhưng tạo hóa lại không ban cho nó một thứ vũ khí gì để tự vệ. Con nai đực có cặp sừng hình vòng cung trông hoành tráng nhưng lại mảnh mai. Bốn, năm nhánh của cặp sừng xòe ra giống ngón tay người hướng về phía trước như chỉ để đón chào thân thiện bạn bè và… làm dáng với bạn tình chứ không thể là vũ khí bảo vệ cuộc sống.

Thịt nai là món “đặc sản” mềm ngon thơm ngọt vào loại khoái khẩu hàng đầu của mọi loài ác thú ăn thịt trên hành tinh này. Nên khi gặp kẻ thù, con nai vàng tội nghiệp chỉ có một “chiêu” duy nhất là tháo chạy. Mà nai chạy nhanh nhất cũng chỉ được 35-40km/giờ trong quãng thời gian ngắn, thì làm sao thoát khỏi nanh vuốt của con báo có tốc lực nhanh nhất trong các loài vật trên hành tinh này: 115km/giờ lúc nó săn đuổi mồi. Loài nai có bộ lông màu vàng mơ mềm mại như gấm nhung, như tơ lụa (con cái). Con đực có màu lông vàng sẫm đẹp như màu ráng chiều và có hai hàng lông vàng nhạt giống như hai chuỗi cườm trang trí chạy dọc trên lưng. Ở gáy và cổ nó có những chùm lông dài mềm mại rủ xuống phơ phất trông rất điệu nghệ. Nai đực là con vật phong tình nhất nhì trong các loài thú. Khi gặp bạn tình, “chàng nai” có động tác nhảy múa xung quanh “nàng” rồi ngúng nguẩy cổ, ngúc ngắc đầu làm duyên, ve vãn. “Chàng ta” xông vào rủ chùm lông mềm xuống đầu, xuống mặt “nàng” như âu yếm, như vuốt ve. Rồi “chàng” nhả chút nước bọt dính vào mặt “nàng”. Làm được động tác ấy, “chàng nai” coi như đã chinh phục được “nàng”. Thường vào mùa xuân ấm áp, ngàn cây nõn nà lộc non lá biếc là mùa nai tìm bạn tình. Nai mang thai 8 tháng thì sinh, mỗi lứa một con. Rồi chỉ một mình nai mẹ “tần tảo” chăm nuôi con, còn nai bố thì mải rong chơi… Đến mùa gió thu trăng sáng, nai bố lại lượn lờ đến các trảng cỏ non phát tín hiệu “be…ắc…be…ắc…” gọi bạn tình. (Loài nai, hươu rất sung mãn về mặt sinh lý, mỗi ngày “chú nai” có thể “vui vẻ” với cả chục bạn tình). Nai con hơn 4 tuổi, nặng hơn 1 tạ thì đến thời kỳ mọc nhung (sừng non). Nhung nai có màu cực kỳ đẹp, đỏ hồng, mọng trơn mơn mởn nhú lên trên nền lông tơ vàng. Mỗi ngày nhung nai có thể mọc cao gần 2cm. Nai sống trong rừng tự nhiên chừng 5 năm thì cặp nhung già thành gạc (sừng), rụng đi, đến mùa xuân nó lại mọc lên cặp nhung non. Một đời con nai có thể để lại cho rừng vàng nhiều cặp sừng đẹp. Nhưng nếu con người nuôi nai để lấy nhung thì cả đời nó khai thác được chừng 18 năm. Mỗi năm, nai cho người một cặp nhung. Mỗi cặp nhung nặng 1,4kg đến 1,6kg. Giá bán lộc nhung cực đắt. Nhung nai hoang dã có giá trên 15 triệu đồng/kg. Nhung nai nuôi nhốt thì rẻ hơn, trên 10 triệu đồng/kg. Lộc nhung thái lát, sấy khô, chỉ 50g cũng có giá đến hơn 2 triệu đồng.

Tập tính của loài nai vàng sống hiền lành, thân thiện quần tụ với nhau thành bầy đàn. Nai vàng là loài “dễ tính”, không khảnh ăn. Ngoài thức ăn cổ truyền của nòi giống là cỏ non, chúng còn ăn được trên 160 loài cây mềm, nõn lá của rừng. Nai vàng chỉ thua vọoc mông trắng ăn được 204 loại thực vật: chồi, lá, hoa, quả, củ, vỏ, rễ cây… trong rừng. Từ cổ xưa con người đã xem loài nai vàng là biểu tượng cho sự cát tường, phúc lộc. Trong văn hóa cổ Trung Hoa có truyền thuyết kể rằng loài nai vàng hươu sao sinh ra từ ánh hào quang của viên ngọc quý, nó mang lại điều tốt lành cho thiên hạ. Những người sống có đức độ mới có duyên may gặp được nai vàng. Các đấng quân vương thời xa xưa trị nước bằng hiếu đạo, trăm dân được hưởng thái bình thì nai vàng mới xuất hiện. Lão Tử xưa từng cưỡi con nai đi đến bốn phương tám cõi đất trời. Nơi nào Lão Tử đến thì nơi ấy đất nước được thịnh trị thanh bình, cuộc sống muôn dân được an lành. Chúng ta khó tin vào điều huyễn hoặc ấy nhưng điều chắc chắn từ thuở hồng hoang, ông bà ta đã xem loài nai vàng tượng trưng cho sự hiếu thuận, phúc lộc và tốt lành.

Ở vùng Bắc Âu và cả vùng Bắc Mỹ vẫn còn những sắc tộc người du mục nuôi giống nai cả con đực và con cái đều có sừng. Giống nai này có đặc điểm rất kỳ lạ là ở khuỷu chân nó có một sợi gân cứng. Lúc nó di chuyển khớp xương theo nhịp đi tạo ra tiếng kêu “cách, cách” nghe giống như nhịp giày đinh của toán lính hành quân. Giống nai này được con người nuôi dạy thuần thục để kéo xe chở hàng và cung cấp sữa cho người dùng. Sữa nai được đánh giá quý vì có nhiều chất bổ dưỡng tốt cho sức khỏe trẻ em, người già.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:48:57 PM
Con nai vàng quý hiếm là tuyệt tác của tạo hóa làm sinh động cho những cõi non xanh. Con nai vàng đã in đậm trong suốt chiều dài lịch sử của nền văn hóa các dân tộc trên thế giới. Ở nước ta, hình tượng đẹp của con nai đã khơi nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ sáng tạo nên những tác phẩm để đời.

Bài thơ Tiếng thu của nhà thơ Lưu Trọng Lư còn sống mãi trong nền thi ca Việt Nam: “Con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô…”. Con nai vàng đứng ngơ ngác trên thảm lá vàng trong Tiếng thu là tiếng mây gió biến ảo khôn lường của đất trời thì thiết tưởng không còn gì đẹp hơn. Trên sân khấu, vở kịch Con nai đen của nhà văn Nguyễn Đình Thi đã một thời được nhiều người ngưỡng mộ. Ca khúc Bài ca Trường Sơn (thơ Gia Dũng, nhạc Trần Chung) “Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác, dừng lưng đèo nghe suối hát, ngắt một nhánh hoa rừng cài lên mũ ta đi…”. Người lính ra trận với tâm hồn lạc quan phơi phới vì cả Trường Sơn hùng vĩ nâng bước chân anh, trong đó có hình ảnh đẹp của con nai vàng…

Trong văn học dân gian của ta còn lưu truyền những câu ca dao thấm sâu ân nghĩa: “…Quyết lòng lên chốn lâm sơn/ Săn nai lấy lộc đền ơn mẫu từ”. Ông bà ta xem lộc nhung là vật quý hiếm nhất đẳng hạng. Những người con hiếu nghĩa quyết vào rừng sâu săn nai mong lấy được vật quý hiếm ấy về dâng hiến mẹ hiền để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục…

Khi viết bài này, tôi có ý tưởng tìm đến nơi có người nuôi nai vàng, để mong có thêm chuyện hay. Một anh bạn nhà báo mách cho tôi ở vùng Thái có ông bộ đội về hưu đang làm việc đó. Anh bạn nói rằng ông ấy có những điều kỳ lạ khác người trong việc chăn nuôi con thú quý hiếm này. Trên đường đưa tôi về đó, anh nói ông ấy tên là Biên Bác Ơi. Như nhận ra sự ngạc nhiên của tôi “sao ông ấy có cái tên lạ thế”, anh bạn cười: “Về đến nơi rồi ông sẽ hiểu. Chuyện vui lắm đấy”.

Đến nơi gặp ông Biên, tôi ngờ ngợ với cái sẹo trên trán của ông… Rồi chúng tôi nhận ra nhau... Cái sẹo có từ ngày ở Trường Sơn lúc ông rời xe chạy vào hang đá tránh bom, bị ngã vào vách núi. Cái sẹo ấy dẫn dắt chúng tôi trở về những kỷ niệm trên chặng đường ra trận… Tôi hỏi ông: “Sao bây giờ tên ông lại là “Biên Bác Ơi”, kỳ quặc vậy?”. Ông cười cởi mở. Cái cười còn rất đẫm chất trẻ trung hào sảng của anh lính Trường Sơn năm nào: “Con nai vàng cắm đuôi vào tên tôi đấy”. Ông Biên kể rằng rời quân ngũ lâu rồi nhưng nhiều đêm ông vẫn chiêm bao thấy mình đang lái xe tránh bom trên đường Trường Sơn. Và, tiếng nai con khát sữa “khóc gọi mẹ ơi” trên đèo khuya vẫn làm ông thổn thức xót lòng. Thế rồi ông đánh đường lên tận vùng Sơn nơi có người nuôi nai, ông xem họ nuôi và mua luôn một con giống giá 20 triệu đồng, mang về. Người bán nai dặn ông: mỗi ngày ông phải bảo đảm cho nó 10kg cỏ tươi non… Nhưng ông Biên không những cho con nai ăn đủ cỏ non, mà ông còn bồi dưỡng cho nó ăn hạt đậu xanh, hạt đậu nành, hạt ngô nếp. Mùa nóng, ông ưu tiên cho con nai chiếc quạt máy, vài ngày ông lại phun nước tắm, chải lông cho nai một lần. Mùa đông giá lạnh, ông đặt nồi than hồng cạnh chuồng sưởi ấm cho nai. Từ ngày vùng Thái có điện lưới ổn định, ông Biên sắm chiếc lò sưởi cho nó. Điều rất vui, con nai vàng càng mượt mà béo tốt càng “quen hơi bén tiếng” ông Biên. Mỗi lần nhìn thấy ông đi đâu về hoặc nghe tiếng nói của ông, con nai vàng lại dỏng đôi tai lên, thò cổ ra ngoài cửa chuồng ngơ ngác nhìn rồi kêu khàn khàn “bá…a, bá…a” nghe như nó gọi “bác ơi, bác ơi”. Nó đòi ông cho nó ăn, hoặc gọi ông đến với nó. Từ đó con cháu trong nhà và bà con xóm giềng gọi vui ông là ông “Biên Bác Ơi”. Người lính lái xe Trường Sơn năm xưa nói rằng mỗi lần ông chăm bẵm con nai, cho nó ăn, chải lông vuốt lưng cho nó, ông lại nhớ đến tiếng nai con khát sữa, khóc gọi mẹ trên đèo Mẹ Ơi năm nào. Và, những lúc ấy ông cứ tưởng như trước mắt mình đang có bóng dáng chú nai vàng đang nghiêng đôi tai ngơ ngác đứng trên đèo đất đỏ nghe suối hát, nhìn đoàn quân ra trận. Ông Biên cầm chặt tay tôi, nói thêm: “Hóa ra loài động vật hoang dã quý hiếm cũng thân thiện với con người nếu con người cũng thật lòng thân thiện và đừng làm hại nó…”.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:52:14 PM
17/Đêm xuân dế hát vui cùng nước non

Đêm biên cương thâm u, huyền ảo biết cơ man nào là tiếng dế từ bốn phương tám hướng rừng rền rĩ, nỉ non. Người dân các bản giáp biên đã “xong mùa làm ăn đến mùa làm khách” - bà con người Mông có phong tục đón Tết, vui xuân thăm chơi nhà nhau tròn một tháng… Đội trưởng Hải nghĩ ngay tới tình huống xấu sẽ xảy ra: lũ “ma rừng” cõng ma túy vượt biên sang đất ta. Hải điều đội đặc nhiệm và tổ dân quân bản Nà Khoa lên đường biên “đón khách”.

Canh khuya, rừng càng tĩnh lặng, mây gió hoang sơ, huyền bí, tiếng dế gáy nỉ non thẳm sâu. Ở vị trí chỉ huy, đội trưởng ngồi sau gốc cây lim. Bên anh là Pu Hừ, tổ trưởng dân quân. Hải và Pu Hừ đều hiểu rằng tiếng dế nỉ non, râm ran ấy như đang đưa đến cho các anh “tín hiệu bình yên”. Tiếng dế từ lâu rồi là “bạn đồng hành” với các anh. Sự nhạy cảm của nó với những rung động ở thảm lá rừng đêm là “tai mắt” giúp các anh. Nó như cùng thức canh rừng với người lính.

Cảm ơn các nhà khoa học đã cho lính biên phòng biết nhiều điều kỳ lạ và lý thú về loài dế. Trên hành tinh chúng ta đang sống có đến cả ngàn loài dế khác nhau. Nước ta có các loài dế mèn, dế dũi, dế than, dế nâu… Dế là thành viên của bộ côn trùng cánh thẳng cùng với loài châu chấu. Thân hình con dế lớn nhất cũng chỉ gần bằng hai đốt ngón tay người. Loài dế có thính giác cực kỳ nhạy và thị giác thì đặc biệt tinh tường. Nó có cặp mắt phức hợp (nhiều tế bào cực tốt hợp thành), có thể nhìn được nhiều hướng cùng một lúc. Dế có đôi cánh bóng bẩy, mỡ màng, đẹp. Đôi cánh ấy bay được rất ngắn mà chỉ hỗ trợ đắc lực cho sự vang xa rung nẩy của “tiếng gáy, tiếng hát, tiếng rúc…” của nó. Dế là loài vật được thiên nhiên ban tặng cho lối sống mang nhiều chất “nghệ sĩ”. Dế có cặp râu dài óng mượt, cong vút trên đầu. Lúc thảnh thơi nó thường dùng hai càng vuốt chải râu làm dáng, lúc di chuyển thì nhún nhảy điệu đà như múa, như lượn. Dế dùng cặp râu của mình để giao tiếp với đồng loại và để biểu thị hành vi ứng xử. Khi gặp kẻ xâm lấn thảm rừng, tranh cướp mồi ăn… dế lập tức dương cặp râu lên thể hiện khí phách nghênh ngáo xua đuổi. Nó nhe răng sắc, múa càng giơ gươm đầy răng cưa lên dọa… xung trận. Nhưng khi giao tiếp “hữu hảo” với bầy đàn hoặc đối với bạn tình thì cặp râu ấy ngoe nguẩy hiền lành như mừng rỡ, như vẫy chào. Bộ nghe của con dế nằm ở đốt chày chân trước. Và ít người biết rằng dế đã dùng bộ chân đó cọ, gẩy vào đôi cánh, bật vào hàm, vào các bộ phận cứng trên cơ thể để tạo nên những âm thanh khoan nhặt, những giai điệu tuyệt vời bổng trầm rền rĩ, nỉ non. Trong dân gian có nơi gọi đó là tiếng dế kêu, dế rúc; có nơi gọi nghe văn hoa thơ mộng hơn: dế gáy, dế hát. Con dế đực gáy, hát thường tạo nên âm thanh có giai điệu năn nỉ, giục giã để mời gọi bạn tình; giai điệu nghênh ngáo để hù dọa, khuyến cáo các chú dế lạ chớ xâm phạm vào lãnh địa nó, chớ quyến rũ bạn tình của nó. Con dế cái lại thường tạo nên âm thanh nhỏ nhẹ, giai điệu dịu dàng như để ru nựng dỗ dành con và tâm tình với đồng loại. Mỗi loài dế phát ra một thứ âm thanh “ngôn ngữ” khác nhau.

Đặc tính chung của loài dế là cực kỳ nhạy cảm với thời tiết đất trời, với tiếng động ở thảm rừng nơi nó trú ngụ. Theo các tài liệu khoa học, khi con dế và các loài côn trùng rời bỏ tổ bay chạy nháo nhác là cảnh báo thời tiết có các biến động khôn lường: gió bão, mưa lụt, động đất… Thời tiết ấm ách đổi mùa thì tiếng dế rừng Nà Khoa này nghe bức bối, ảo não như than vãn, nỉ non. Mùa xuân mưa nắng dịu hòa, ấm áp, thảm lá rừng khô ráo, mùa nó “tình tự” thì tiếng dế rộn ràng, có cao trào, có cung bậc trầm bổng nghe như dàn nhạc vui của rừng. Tuổi thọ của loài dế có thể kéo dài hơn một năm nếu môi trường nó sống có nhiều thức ăn. Mùa đông các “nàng” dế tìm hang đất, hốc cây để ẩn mình, đẻ trứng. Dế đẻ từ 200 đến 400 trứng. Trứng dế có hình trụ. Con dế có điều kỳ lạ không giống bất cứ động vật nào là ống đẻ trứng của nó thò dài ra ngoài cơ thể. Mùa xuân ấm áp, trứng dế nở con rồi lột da, lớn dần. Khi đôi cánh chùn chụn, mỏng manh của dế con kín lưng thì dế mẹ dạy cho nó “biết gáy, biết hát” rồi rời tổ. Dế là sinh vật “ăn chay”. Rau, quả, cỏ non, mầm cây… là thức ăn truyền đời của nòi giống nhà dế.

Từ xa xưa ông bà ta đã truyền lại rằng con dế là nguồn thực phẩm lành chế biến được nhiều món ăn ngon, giàu dinh dưỡng, nhiều chất đạm, chất béo, nhiều protein… Ngành đông y đã xác định con dế là vị thuốc nam tốt, chữa được nhiều bệnh. Dế có vị mặn, tính hàn, chữa bệnh đau bàng quang, đại tràng, bí đại, tiểu tiện, chữa cho phụ nữ sau đẻ rau thai chậm ra. Dế còn là vị thuốc tốt chữa bệnh phù thủng, táo bón, sỏi đường tiết niệu, chữa cho người bị đau nhức mình mẩy, trẻ em bị bệnh cam tẩu mã…
Trong lịch sử nước láng giềng - Trung Hoa - còn ghi lại nhiều điều “kỳ diệu” về con dế. Họ xem con dế là “vật báu” trong đời sống “tinh thần” của họ. Tiếng hát du dương của dế trong đêm thanh vắng như tiếng từ cao xanh vọng về quyến rũ được cả vua chúa, quần thần… Đời nhà Đường (618-707), các hoàng đế đã nhốt dế trong những chiếc lồng đúc bằng vàng mười và đặt ngay trên giường để dế hát, dế ru ngủ thâu đêm. Tiếng dế hát trong hộp vàng có âm thanh vang vọng, nẩy rền nghe càng ấm, càng mê. Rồi người dân cũng học đòi thú vui tao nhã ấy nhưng chỉ làm được lồng tre, hộp giấy nhốt dế. Đến đời nhà Minh trở về sau, từ hoàng gia, trí thức đến cả dân quê đã có thời đổ xô đi bắt dế về nuôi để đêm đêm nghe “dế hát”. Họ xem dế là linh vật báo điềm lành. Họ đồn đãi rằng “tiếng ru, tiếng hát” thâu đêm của dế sẽ mang lại niềm vui và sự may mắn cho con người. Họ còn luyện dế chọi nhau rồi mở hội chọi dế, xem đó là môn thể thao thú vị, có thời nhiều nước ở châu Á đã học theo. Người ta cân hai con dế có trọng lượng bằng nhau rồi thả vào chung một hộp, dùng ngọn cỏ kích động chúng “gây chiến”. Cuộc chiến của “võ sĩ” dế kéo dài được 30-45 phút. Chúng dùng hàm cắt cụt chân, cánh của nhau. Chúng nhảy vào cắn đá nhau đến cụt đầu, đến chết. Họ chăn nuôi dế như chăn nuôi các ca sĩ, võ công. Những con dế có cặp đùi khỏe, răng nhọn, các vuốt chân sắc như giáo như gươm, bộ mặt hầm hố, vẻ xấc xược hiếu chiến; những con dế có giọng “vàng” biết chào hoàng hôn, biết đón bình minh, họ “bồi dưỡng” thuốc bổ nhung hươu, canxi, cho ăn cả nhân sâm… Ngày nay có con dế được bán đến giá 200 nhân dân tệ, hoặc hơn 20 USD. Hằng năm từ tháng 7 đến tháng 10, người dân nhiều vùng quanh các đô thị ở Trung Quốc phát triển nghề bắt dế, buôn dế, nuôi luyện dế. Họ cho đó là nghề béo bở, kiếm tới hàng ngàn đôla mỗi vụ. Họ truyền nhau câu nói “Muốn giàu hãy đến mau với vua dế”.

… Sang canh, gió đổi chiều, lá cành xào xạc. Thảm rừng lá mục càng ánh lên nhiều đốm sáng lân tinh nhấp nháy, rung rinh trông như sao trên nền trời khuya. Ở đó hằng hà sa số dế nỉ non, rền rĩ càng làm cho vùng rừng đêm biên cương huyền bí. Đội trưởng Hải vẫn nín thở, căng tai để lọc nghe tìm sự bất thường trong “tiếng rừng bình yên” ấy. Và lúc đó, tiếng gáy của con dế như nhắc Hải nhớ về câu chuyện ngày xửa ngày xưa ông nội anh đã kể. Chuyện rằng một ngày giáp Tết có kẻ gian hàng xóm mò vào chôm chỉa nhà phú ông. Quản gia đã nhìn thấy, cầm dao nấp ở cửa bếp chờ. Tên trộm đã bò qua vườn nhưng vào gần đến cửa bếp nó dừng lại rồi bò trở ra, lủi mất. Qua Tết, phú ông hỏi nó: - Sao mày mò vào đến cửa bếp nhà tao rồi lại trở ra? Tên trộm lạy lục phú ông, trả lời: - Con nghe lũ dế vườn nhà ông đang gáy râm ran bỗng im bặt. Biết đã lộ, con lủi nhanh ra…

Anh dân quân người Mông ngồi như khối đá, dán mắt về phía con đường mờ ảo trong đêm vắng. Từ thuở lên mười Pu Hừ đã theo cha đi săn bắt thú ở vùng rừng Nà Khoa này. Anh thuộc tính hết các loài thú, loài chim, loài côn trùng ở đây. Anh phân biệt được tiếng động của con chồn đi tìm mối, tìm giun khác con trút xuyên sơn bới cào hốc cây bắt kiến, bắt dế… Anh càng biết rõ loài dế đêm uống sương, ngày nhấm lá sống ở thảm rừng Nà Khoa này rồi. Nó có tập tính bầy đàn cực kỳ cao. Buổi chiều muộn, con dế cụ cất tiếng gáy là cả bầy, cả ổ nhà dế trong đám rừng đó lên tiếng như để cùng hòa âm hưởng ứng tạo thành một dàn đồng ca. Nhưng sự phản ứng dây chuyền của loài dế cũng cực kỳ nhạy. Thoạt nghe ở thảm rừng có tiếng động, con dế gần nhất câm lặng thì lập tức họ hàng nhà dế im bặt. Sự im bặt ấy cứ kéo dài dài theo tiếng động trong thảm rừng sâu.

Bỗng Pu Hừ quay về phía đội trưởng Hải, anh “tặc lưỡi” giống con thạch sùng chép miệng phát tín hiệu “ma rừng hiện hình”. Phía dốc núi từ đường biên đi vào đất ta, tiếng dế im bặt. Rồi tiếng chân người bước trên thảm lá khô rõ dần. Bốn ánh đèn pin đã che mặt, ánh sáng chỉ còn bằng hạt ngô hiện ra lấp loáng chập chờn. Bốn “con ma” tay cầm súng AK, lưng mang ba lô nặng dò dẫm từng bước như những con thú đi ăn đêm. Đi mấy bước chúng lại dừng để nghe ngóng, hít ngửi mùi lạ trong gió đêm (chúng dò tìm mùi thuốc lá, mùi dầu cao xoa chống lạnh, mùi lương khô).

Vượt qua cây lim, bỏ lại tảng đá ở phía sau, bốn “con ma” không ngờ đã lọt gọn vào giữa hai vòng vây khép chặt…

Đêm đầu xuân, dân bản Nà Khoa cùng đội Đặc nhiệm biên phòng mở hội mừng công.

Bên bếp lửa bập bùng trong mây núi, anh dân quân Pu Hừ khai hội bằng điệu múa khèn và bài hát theo làn điệu dân ca Mông:

“Trời không yên, đất không vững

Vì con ma rừng đưa cái chết sang đây

Dế mèn ơi mày hát giữa ngàn cây

Canh con ma dế cùng ta bắt chúng.

Ma chết thì người Mông mới sống

Dế gọi sên đất giăng chỉ vàng

Dế gọi nhện trời đan tơ trắng

Bắt ma rồi dế hát, ta thổi khèn

Tiếng đàn môi bên suối gọi trăng lên

Chú Biên phòng xòe ô hoa

Lấy núi đồi làm thang lên Nà Khoa vui Tết

Bài hát hết mà chưa hết

Đêm vui dài bài hát còn dài…”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:54:54 PM
18/Chiều biên cương tiếng chim kêu trong sương “bịp bịp bịp”

Vùng rừng Ma thực sự đã trở thành vùng rừng chết. Mấy năm trước giữa lõi rừng là sào huyệt của bọn thổ phỉ. Nay phỉ đã bỏ chạy rồi mà dân bản không ai dám vào đó hái nấm, hái rau, đào măng, chặt củi... Vì một lẽ lạ lùng đến bí hiểm, vùng rừng đó các loài rắn hổ mang bành, hổ mang chúa, rắn lục, rắn cạp nong, rắn ráo, rắn sọc xanh, đốm đỏ, có cả loài rắn có sừng(*) sinh sôi rất nhiều. Dân bản nói rằng loài chim bịp bịp đã gọi rắn về đây. Ông lang Dín người ở bản Lao Táo (bản Dao Sắc) vào rừng hái lá thuốc, đào củ tam thất, bạch truật về chữa bệnh cho dân bản nói với lính biên phòng: “Lão thấy trước khi bỏ chạy sang bên kia núi, bọn thổ phỉ đã đưa chim bịp bịp về thả vào rừng Ma rồi dồn nhau vác đá lấp cửa hang. Chúng giấu kín lắm, kín như giấu nắm lá ngón bỏ vào chảo canh làm hãi người mà, lão nghe lỏm được đấy...”.

Nguồn tin ấy nghe như chuyện “quái dị từ thủa nào” làm cho Trần Ngọc - đồn trưởng biên phòng nghĩ về cánh rừng thâm u huyền bí trong địa bàn bảo vệ vẫn còn nhiều điều ẩn khuất...

Đồn trưởng ra lệnh cho Đội trinh sát tìm những tài liệu khoa học và đến gặp những người có nghề nuôi luyện chim hoang dã để biết đặc trưng, tập tính của loài chim “quen mà lạ” này. Riêng anh từ hồi còn là học sinh cấp I, anh chỉ biết về loài chim bịp bịp qua những câu chuyện cổ tích được ông bà truyền lại. Những câu chuyện đó đều mang tính nhân văn răn dạy người đời sống thật thà trung hậu và trừng phạt kẻ dối trá không giữ lời hứa của mình... Chuyện rằng có nhà sư ăn chay niệm Phật nơi cửa chùa đã lâu năm mà tu không thành chính quả. Nhà sư khăn gói quả mướp đi ròng rã hết ngày dài hết đêm thâu để hỏi Phật tổ cho ra nhẽ. Một đêm nọ nhà sư ghé vào xin ngủ trọ nhà dân ở chân núi. Người đàn bà xinh đẹp ra mở cửa, nói rằng, chồng nàng đi vắng không dám cho đàn ông ngủ trọ. Vừa lúc đó chồng nàng về. Anh ta vác cây đại đao và cứ đổ riệt cho nhà sư gạ gẫm vợ mình. Nhà sư kêu oan và kể lể sự tình. Nghe xong, người đàn ông nói thật với nhà sư: “Ta là kẻ cướp đường, đã giết hại nhiều sinh linh, không biết có tu hành chính quả được không?”. Nhà sư trả lời: “Con người ta tu cốt ở cái tâm, nếu thật sự muốn xóa tội...”. Nghe vậy, kẻ cướp đường liền cầm đại đao phanh ngực mình ra moi quả tim đưa cho nhà sư nhờ chuyển lên Đức Phật. Nhà sư khăn gói lên đường mang theo quả tim đó. Giữa tiết nắng nồng oi bức, đến ngày thứ ba thì quả tim hôi thối, ruồi nhặng bay theo. Nhà sư liền vất quả tim vào bụi rậm. Hôm sau nhà sư gặp một cụ già râu tóc bạc phơ liền kể lể công lao tu hành và con đường trần ai lặn lội tới đây với ý định của mình. Cụ già phán bảo “Dọc đường đi có ai gửi gì cho ta không?”. Nhà sư kể chuyện quả tim hôi thối đã vất đi. Cụ già nói “Con quay về tìm lại quả tim của tên cướp đường rồi hãy đến gặp ta...”. Lúc ấy nhà sư giật mình tỉnh ngộ... Ông ta liền quay lại chui rúc khắp bụi bờ rậm rạp để tìm mà chẳng thấy quả tim đâu. Rồi nhà sư gục trên thảm rừng, chết trong bụi rậm, biến thành con chim bịp bịp. Màu lông của loài chim nửa nâu, nửa đen giống chiếc áo của nhà tu hành. Đôi mắt con chim đỏ đọc vì nhà sư tiếc nuối đã sắp thành chính quả mà không đạt, còn phải mang cái tên “bịp bịp” là án trừng phạt cho tội dối lừa.

Các tài liệu khoa học và lời người thuần dạy chim hoang dã đã cho đồn trưởng Trần Ngọc và lính biên phòng biết tường tận về loài chim bịp bịp. Nhưng có lẽ ít ai biết điều cực kỳ bí ẩn về loài chim này, đó là món ăn khoái khẩu bậc nhất của nó là rắn. Và, cũng chưa có một tài liệu nào lý giải vì sao loài rắn (nước ta có hơn 200 giống rắn, 53 giống rắn có nọc độc đến cực độc) khi gặp chim bịp bịp đều sợ hãi, run rẩy rồi... tê liệt. Có người đoán già đoán non rằng lông và phân chim bịp bịp có mùi hôi “đặc trưng” làm cho loài rắn khiếp sợ. Nên khi gặp chim, con rắn khỏe thì bò nhanh lẩn trốn, con rắn yếu thì bủn rủn, nằm im làm mồi cho chim. Mà bịp bịp thì lại thích thú món rắn lục. Nên người vào rừng gặp chim bịp bịp ở đâu là nhìn thấy rắn ở đó. Tổ chim bịp bịp ở chỗ nào thì quanh đó đầy rẫy rắn độc.

Theo Bách khoa toàn thư mở, bịp bịp là loài chim hung dữ và rất nhạy bén với thời tiết môi trường. Ở nước ta chim bịp bịp sống định cư trong vùng đồng bằng, trung du và vùng ven rừng, chân núi. Chúng sống ở bờ sông, bờ suối, đầm lầy. Chúng ham luồn lách chui tìm trong các bụi rậm nơi có nhiều rắn rết, ếch nhái, côn trùng sâu bọ. Loài chim bịp bịp có đến hơn 30 giống khác nhau. Do tiếng kêu của chúng gần giống nhau “bịp, bịp, bịp...” khàn khàn, đùng đục như thảm sầu, như khổ não nên chúng có cái tên chung là chim bịp bịp. Vào mùa sinh đẻ, lúc rủ nhau đi kiếm ăn và cả lúc gọi bạn tình, chúng cũng chỉ “diễn” một nhịp điệu thảm sầu ấy. Chim bịp bịp không phải phân họ của loài chim cu như trước đây có người nói. Nó cũng không phải loài chim đẻ nhờ tổ như con tu hú. Chim bịp bịp có “danh pháp” riêng về tập tính và sinh sản. Chúng có giới tính “đảo ngược”. Con chim trống nhỏ bé hơn con chim mái (một tám, một mười). Chim bịp bịp có tập tính ổn định sống từng đôi với nhau. Nhưng nó có “thói đa thê” và rất thoáng về việc “ngoài luồng” của nhau. Các nhà khoa học đã thử ADN cho chúng, và chứng minh rằng chim bịp bịp là một họ riêng có thói sống “ngoài luồng” như thế.

Con chim trống, chim mái có màu lông giống nhau. Lúc còn non, toàn thân chúng phủ màu nâu chấm đen. Lúc trưởng thành, phần đầu, cổ, ngực, đuôi có màu đen lợt, mình có màu nâu đỏ. Từ chót mỏ đến đuôi dài gần 40 cm (con trống ngắn hơn). Thân hình con chim bịp bịp lớn nhất cũng chỉ nhỉnh hơn con chim cu cườm. Bịp bịp có chiếc mỏ khoằm dài tới 3,5 cm sắc nhọn như kìm, như dao. Đặc biệt nhất bàn chân của loài chim này có bốn ngón xếp thành hai bộ đối xứng nhau, một cặp ngắn, một cặp dài. Móng vuốt như lưỡi câu quặp vào đâu bấu chặt đấy. Đó là đặc trưng của loài chim săn bắt rắn. Rắn là món ăn “chủ lực” của nó rồi mới đến loài ếch nhái, côn trùng... Mỗi ngày một con bịp bịp có thể nhấm nháp hết một chú rắn. Chim con sống trong tổ lâu càng đòi hỏi nhiều thức ăn để lớn. Nên khi làm tổ, chim bố mẹ đã lo toan gom tha rắn về “giam lỏng” quanh tổ để dự trữ thức ăn cho bầy con. Điều kỳ diệu đó của loài chim bịp bịp phải chăng do thiên bẩm hay là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên đã tạo thuận lợi cho sự sinh tồn của nòi giống chúng. Mùa sinh sản của chim bịp bịp kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm. Mỗi năm bịp bịp đẻ từ hai đến ba lứa. Mỗi lứa ba quả trứng, nở được hai hoặc ba con. Bịp bịp bố mẹ làm tổ cho con bằng cỏ khô, lá cây như tổ chuột đồng nhưng cao hơn mặt đất chừng vài mét. Điều rất đặc biệt, tổ chim bịp bịp thường to, rộng để có chỗ cho... rắn làm kẻ trông giữ chim non! Vậy là chim bịp bịp đã gửi con cho rắn mà rắn không “dám” làm hại những con chim non. Điều kỳ bí ấy đến nay chưa có lời giải thích.

Ông bà ta từ xa xưa đã xem thân cốt con chim bịp bịp được loài rắn độc bồi luyện thành vị thuốc quý. Thịt chim bịp bịp lành, thuộc tính âm, có vị ngọt. Bịp bịp được ngâm rượu với tam xà, ngũ xà để chữa trị các bệnh suy nhược cơ thể, đau lưng mỏi gối, tê nhức chân tay, bồi bổ xương cốt tâm can tỳ vị... Những người sành điệu còn nhốt bịp bịp đói ba ngày rồi cho ăn rắn lục, rắn hổ mang, rắn mai gầm... Chờ đến bảy ngày sau, rắn ngấm vào xương cốt chim, họ mới mổ thịt, bỏ hết phủ tạng rồi ngâm rượu. Đó là thang thuốc bổ “thần tiên nội công nhất đẳng” chữa bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ. Đặc biệt công dụng của thang thuốc ấy tăng cường cực mạnh “nam tính” cho giới mày râu. Con chim bịp bịp đã được nhiều ông lang vùng núi xem như là vị “chim y” bậc thầy. Ông lang Dín kể rằng con chim bịp bịp đã bày cho ông đi tìm cây thuốc trong rừng... Không phải bây giờ ông Dín mới nói mà dân gian đã lưu truyền câu chuyện này từ lâu. Có một chàng trai đi tìm nấm, hái rau nhìn thấy tổ bịp bịp có hai chú chim non. Anh ta định bắt về. Nhưng thấy nó chưa giập bọng đái chẳng bõ bữa ăn, anh chưa bắt. Song anh sợ rằng để mấy hôm nữa chim non ra ràng nó nhảy lên cao thì mất bữa. Anh ta nghĩ ra cách độc ác bẻ gãy chân, bẻ gãy cánh chim non để chờ mẹ nó chăm nuôi lớn. Mấy hôm sau anh chàng tham lam ấy quay lại thì ôi thôi, hai chú chim non đã lành chân, liền cánh nhảy tâng tâng trong bụi rậm. Anh chàng chưng hửng lủi thủi về kể chuyện ấy với ông lang. Ông lang liền đi tìm tổ chim bịp bịp rồi cũng bẻ chân, bẻ cánh chim non như chàng trai nọ. Ông lang kiên tâm nấp sau bụi cây xem chim bố mẹ chữa bằng cách nào cho chim con. Chờ chim mẹ bay đi, ông đến tận nơi xem đó là lá cây gì nó quấn vào chân cho con, nhựa quả gì nó bôi vào cánh cho con mà hay vậy… Rồi trong những lá cây thuốc hái ở rừng chữa đau xương, gãy tay… cho dân bản giờ đây có những vị thuốc ông lang Dín học được ở “thầy chim” bịp bịp.

Loài chim hoang dã này cũng đã trở thành những “vệ sĩ đắc lực” giữ nhà, canh vườn cây ăn quả. Con người đã khéo thuần dưỡng và dạy dỗ nó, đã biết dựa vào tập tính, bản năng dữ dằn, quyết liệt bảo vệ lãnh địa của nó và biết “thiết lập” cho nó kỹ năng phản xạ có điều kiện. Mỗi lần “vệ sĩ” lập công phải khen thưởng khích lệ nó ngay, mà không có gì khích lệ hiệu quả bằng cho nó nhấm nháp một… chú rắn. “Vệ sĩ” bịp bịp sẽ nhặt sạch sâu bọ, côn trùng, ếch nhái… và xua đuổi lũ chim lạ. Các “vệ sĩ” được thả tự do bay lượn xênh xang trong khu vườn như con chim bồ câu nuôi thì hiệu quả bảo vệ càng được phát huy. Nếu đó là một “nàng vệ sĩ” non tơ thì nó rất có duyên quyến rũ nhiều “chàng” bịp bịp si tình về thành một “đội vệ sĩ” hỗ trợ nó. Rồi thật là thú vị, trên tầng cao khu vườn có “vệ sĩ tuần thám”, dưới tầng thấp có “vệ sĩ canh phòng”, sự bình yên đã thấy rõ.

Như vậy con chim bịp bịp là vị thuốc “thần tiên nội công nhất đẳng”, là “vệ sĩ tin cậy”, là “thầy thuốc”, có bài thuốc hay, là thực phẩm ngon lành bổ dưỡng… nên nó có giá đến 200.000 đồng một con. Nhiều người “trúng nghề” săn bắt thuần dưỡng loài chim này và kết với nghề nuôi rắn đã trở nên giàu có.

Trước giờ xuất kích, đồn trưởng Trần Ngọc nói với các chiến sĩ: “Vậy là chưa rung cây thú đã lòi mặt. Bọn thổ phỉ muốn dùng rắn độc để giữ sào huyệt của chúng. Thế thì còn gì ở đây mà chúng giữ. Ta phải mở ngay cửa hang đá trong sào huyệt thổ phỉ giữa rừng Ma…”.

Các phương án phòng chống rắn độc cổ truyền được chuẩn bị: hạt chanh, củ sả, xạ hương, ngưu hoàng… Quân y được bổ sung thêm huyết thanh cấp cứu, bình xịt hơi cay… Đội dò mìn đi tiên phong. Ông lang Dín, đội dân quân bản, các chiến sĩ biên phòng tiến vào lõi rừng Ma.

Cuối mùa hanh hao, buổi trưa nắng vàng bảng lảng trên lá cành, nhưng giữa lõi rừng biên cương thâm u vẫn đằm mây, đằm sương. Rắn độc nháo nhác bò xạc xào trên thảm lá khô. Tiếng chim bịp bịp kêu nhịp ba, nhịp năm “bịp bịp bịp…” não sầu, ai oán…

Rồi những tảng đá che chắn cửa hang được xô đổ. Hang đá tối tăm, ẩm mốc được mở rộng. Dưới ánh đèn pin sáng xanh những hòm gỗ, những bao vải to bọc hai ba lớp giấy dầu chống ẩm xếp ngay ngắn trong hang được kéo ra. Trong đó là súng, đạn, đao, kiếm, lựu đạn mỏ vịt, lựu đạn cổ dài… Bọn thổ phỉ đã tháo chạy nhưng chúng để lại “kho vũ khí bí mật” này cho lũ giấu mặt nằm lại nhằm lập các ổ nhóm phản loạn vùng biên.

Ngày Hội Gâu tào (hội Cầu phúc lộc đầu năm) của người Mông, bà con các bản giáp biên về dự đông chưa từng thấy. Màu khăn thêu hoa, màu váy áo mới trông rực rỡ như quả đồi cây tam giác mạch mùa xuân nở hoa. Bởi hội Cầu phúc lộc năm nay còn gắn với ngày mừng công dọn sạch sào huyệt thổ phỉ. Ngày hội tưng bừng với các trò vui cổ truyền: múa ô, thổi khèn, thổi đàn môi, sáo trúc, chọi quay, hát tình ca… Trai bản phô diễn trò bắn cung, bắn nỏ múa kiếm. Hội Gâu tào năm nay còn có thêm trò biểu diễn bắt sống rắn trong sào huyệt thổ phỉ, thi nhái tiếng chim bịp bịp kêu xem ai giống hơn… Ông lang Dín mời các già bản nhâm nhi bát rượu ngâm bịp bịp tam xà, ngũ xà với củ tam thất, bạch truật ông đào trong rừng Ma. Đặc sắc nhất trong hội Gâu tào là cây nêu cao tới 12 mét dựng giữa đỉnh đồi. Ngọn nêu hướng về phía mặt trời mọc có lá cờ Tổ quốc bay trong gió núi. Phía dưới cờ có treo bầu rượu với ba bông lúa chín tượng trưng cho sự bình yên, no ấm của bản làng nơi phên giậu. Ông lang Dín đứng dưới cây nêu. Ông nói to: “Dân bản ơi! Người Mông, người Dao, người Tày, người Thù Lao, Pa Dí, người Nùng… ta sống với nhau như đàn ong cùng tổ xây chung tầng mật, như hạt ngô cùng bắp, như hạt lúa chung bông. Lũ phỉ đã chạy rồi, những thứ giết người chúng để lại ta đã dọn rồi. Nay rừng dài thì rừng nuôi cây nuôi chim, suối dài thì suối nuôi cá nuôi thú. Đất nuôi người thì người phải giữ bản giữ rừng. Dân ta cùng với các chú Biên phòng tình thân như nắm xôi nhuyễn chặt, ta phải giữ bình yên vùng cương thổ này… Nào con gái các bản đẹp rỡ ràng như đàn bướm mùa xuân mặc váy hoa xòe. Nào con trai các bản mẹ đẻ bên cửa bếp, đứng giữ đất trên cửa trời, chắc như cây tông dù (gỗ tốt) làm cột nhà hãy múa khèn, xòe ô, hãy hát bài cứ dìn xê (vác cây nêu) to lên để gọi cây rừng nở hoa, gọi mùa ngô nhiều bông, chắc hạt, gọi nương cải xòe lá đơm hoa nở vàng đẹp như sao bay trên ngọn cây nêu ngày hội đầu xuân…”

(*) Nước ta có loài rắn lục Phan Xi Păng có sừng, và loài rắn có mào (sừng) ở Tràng An - Ninh Bình. Tuy nhiên những thứ đó không phải từ đầu mọc ra mà do lớp vảy dày trên mi mắt nó dựng lên..


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:58:17 PM
19/Nơi con “Rắn biển” đầu đàn “ẩn náu”

Toán người nhái mang bí danh “Rắn biển” xâm nhập vùng bờ biển hiểm yếu - phía nam đèo Ngang. Chúng có mưu đồ đánh phá đoạn “yết hầu” con đường giao thông huyết mạch xuyên qua đèo. Chuyện ấy diễn ra vào thời kỳ chiến tranh ác liệt - giữa thập niên 60 thế kỷ trước. Lính công an vũ trang và dân quân đã phong tỏa vùng đèo vây bắt chúng. Duy chỉ còn tên toán trưởng chỉ huy toán biệt kính gián điệp “Rắn biển” thì mất hút, không để lại dấu vết. Ta đã huy động nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ truy tìm nhưng vẫn không phát hiện ra manh mối con “Rắn biển” đầu đàn.

Các bậc cao niên từ thời đánh Pháp đã từng rào làng kháng chiến lập nên kỳ tích “Cảnh Dương lũy thép anh hùng” thì quả quyết rằng giặc nào vào đây rồi cũng chết. Chúng không thể sống được nơi đất linh sơn thủy tú, núi Phượng sông Loan, đất cỏ Vũng Chùa, Đảo Yến này. Nói xong các cụ còn đọc những câu thơ hào sảng trong Hương ước của làng mà ông bà đã truyền lại: “… Làng ta đó linh sơn thủy tú. Trước minh đền sau huyền vũ vây quanh. Hòn La, Đảo Yến che sóng biển xanh. Sông Loan núi Phượng như tranh họa đồ… Ông bà xưa đã từng vô chốn này...”. Các cụ nói rằng xa xưa con sông xanh mát chảy phía nam đèo Ngang được gọi là sông Loan. Nhánh núi nam đèo Ngang nhô ra Vũng Chùa nhìn về phía Đảo Yến tên là núi Phượng. Nhưng từ năm người Pháp đến bắc cầu qua sông, họ không nói được tiếng Loan mà biến âm thành tiếng Ron, Ròn. Từ đó con sông đẹp không còn cái tên đẹp nữa. Nơi đây sơn thủy hữu tình nên hầu như năm nào cá ông cũng “ghé” vào thăm…

Các bậc cao niên nói đúng. Chỉ ít ngày sau, các bác ngư dân đã tìm thấy nơi “ẩn náu” của “Rắn biển” đầu đàn. Nơi ấy là trong bụng “sát thủ đại dương” - con cá mập!

Loài cá mập - theo tài liệu khoa học khám phá đại dương - là loài sát thủ nguy hiểm đáng sợ vào bậc nhất của mọi sinh vật ở biển và cả loài người. Cá mập không có kẻ thù tự nhiên mạnh hơn trong đại dương. May ra cá mập chỉ kiềng nể mỗi loài cá voi sát thủ. Nhưng hai loài “đại khủng” này thường không đối mặt với nhau.

Loài cá mập có rất nhiều điều bí ẩn cực kỳ lý thú… Cá mập là một nhóm cá thuộc lớp xương sụn, không có bộ xương cứng. Cá mập không có bộ khung xương sườn, nên nếu chúng rời môi trường nước thì trọng lượng cơ thể sẽ đè bẹp các cơ quan nội tạng và chết ngạt ngay tức khắc. Mang cá mập cũng khác mang các loài cá khác. Mang nó mỗi bên có từ 5 đến 7 nắp mang để khi di chuyển thì nước lùa vào đảm bảo sự hô hấp, nếu không nó sẽ chết vì thiếu oxy. Vì vậy cá mập chỉ bơi thẳng tới chứ không bơi giật lùi được. Điều kỳ lạ nữa, loài cá mập có bộ răng đồ sộ nhất trong các loài vật. Bộ răng có đến hơn… 300 chiếc. Răng cá mập mọc thành nhiều lớp, có ba hàng phía trước, còn nữa mọc ở lợi nhiều hơn mọc ở hàm. Răng cá mập khỏe, sắc nhọn, có lớp như lưỡi cưa, có lớp cong như móc câu. Khi nó đã ngoạm được thì con mồi đừng hòng thoát. Trong cuộc đời cá mập, bộ răng chúng luôn được thay mới. Nếu như răng hàm trước bị gãy, bị rụng vì mắc vào con mồi thì lớp răng “dự bị” hàng sau lập tức trồi lên thay thế. Vì vậy những vùng biển cá mập sinh sống, răng hóa thạch của chúng được phát hiện nhiều. Cá mập khi đã ngoạm được con mồi thì chúng thường nuốt chửng, ít khi cắn xé nghiền nát với hàm răng sát thủ quái dị của mình. Bởi thế đánh bắt được cá mập người ta đã phát hiện trong dạ dày nó có những đồ vật kỳ lạ như bộ áo giáp, chai rượu vang, con dao còn nguyên trong vỏ da hoặc xương tóc người… Đặc biệt loài cá mập có bộ ngửi bắt mùi tinh tường đến kinh ngạc. Nó có thể ngửi được mùi của giọt máu, mùi chất thải của những con mồi trong nước biển cách xa đến gần hải lý. Thính giác của loài cá mập cũng rất nhạy, nó nghe được con mồi quẫy nước xa đến gần cây số. Bởi nó có bộ tai trong. Loại tai này các nhóm cá khác đã tiêu biến từ lâu. Còn đôi mắt của cá mập thì được phủ một lớp màng mỏng đằng sau võng mạc, phản chiếu ánh sáng vào võng mạc nên trong bóng tối, hoặc giữa biển nước đục nó vẫn nhìn rõ con mồi. Loài cá mập còn có khả năng chuyển động cảm giác qua những lỗ trên đầu nên phát hiện được điện trường của các loại con mồi phát ra trong sóng nước để nó lựa chọn săn bắt. Một số giống cá mập có râu quanh mép để tăng độ nhạy bắt mồi. Các nhà khoa học nói rằng tạo hóa đã ban cho loài “sát thủ đại dương” này một giác quan nhạy bén và hoàn hảo đến mức trên cả tuyệt vời nên nó xứng đáng được nhận ngôi vị “bạo chúa hàng đầu của biển cả”.

Một chuyện cực kỳ bí hiểm và lý thú nữa của loài sát thủ này là hành vi giới tính độc đáo đến kỳ lạ của chúng. Các nhà khoa học khám phá đại dương đã hé mở cho chúng ta biết rằng loài cá mập trắng có một vùng biển “duyên nợ” để chúng “giao lưu tình cảm” giống như vùng đất “chợ tình” của con người. Vùng biển đó ở gần đảo Guada Lupo ngoài khơi bờ biển Mexico, đông bắc Thái Bình Dương. Cá mập trắng thường “hẹn hò” nhau về đó tình tự, giao phối sinh sản. Các nhà khoa học ngồi trong lồng sắt bảo hiểm thả xuống đáy đại dương đã sờ được vào vi, vào bụng chúng, gắn được các thiết bị khoa học lên mình chúng, đã chứng kiến được những giây phút loài cá mập… “ân ái” trao tình cho nhau. Thì ra loài sát thủ dữ dằn là vậy nhưng lúc ấy chúng có những cử chỉ cũng hiền lành và thân thiện. Chúng nhẹ nhàng bơi đến gần nhau, cọ vi vào nhau như “bắt tay” mừng rỡ chào nhau. Chúng vờn nhau, đấu mõm, cài răng nhau như “hôn nhau” âu yếm. Và rõ ràng loài vật nào dù là sát thủ đại dương cũng biết ghen tuông, giữ bạn tình. Lúc chúng đang say tình với nhau nếu như nhìn thấy “tình địch” lảng vảng, lượn lờ, “chàng” liền xông ra nổi máu sát thủ há mõm nhe răng, quẫy đuôi, khỏa vi xua đuổi. Đến lúc “đỉnh điểm”, “chàng” cắn vào gốc vi ở bụng của “nàng”. Cú cắn ấy phải đủ mạnh để nó đưa được cái “thùy bám” ở bụng nó vào sâu trong cơ thể “nàng”. “Chàng” cá mập vốn có một cái vi đặc thù ở bụng (các nhà khoa học gọi là “thùy bám”, thực chất là cơ quan sinh dục của nó). Làm xong việc “ân ái” đó, “chàng và nàng” thỏa thuê lượn lờ vài vòng bên nhau, vẫy đuôi chào tạm biệt nhau. Rồi “nàng” di tản đến một vùng biển vắng lặng hơn, đó là thời kỳ thai nghén của nó. 18 tháng sau “nàng” sinh con.

Cũng thật là công bằng, tạo hóa sinh ra loài sát thủ hung dữ số một trên đại dương thì ngài cũng ban cho nó cái đức rất mực thủy chung với bạn tình. Các nhà khoa học cho ta biết - trong Bách khoa toàn thư mở - nếu một con cá mập trong cặp đôi bị câu, bị diệt thì con kia không kết đôi với bất kỳ một con nào khác. Và, nếu là con cái thì nó sẽ sống một mình. Sự không sinh nở ấy sẽ có nguy cơ làm suy giảm dần số lượng dẫn đến tuyệt chủng giống nòi.

Ở tuổi 15, loài cá mập mới đến giai đoạn thành thục giới tính. Lúc ấy cái “thùy bám” của con cá đực mới đủ sức mạnh mẽ để có con. Đúng như lời người xưa truyền lại, loài cá mập chửa trứng nhưng đẻ con. Con cá mập mẹ có thể chửa những quả trứng to bằng chiếc bánh pizza, có đường kính đến 25cm (có tài liệu nói trứng cá mập có kích thước 14-15 inch, khoảng 35cm). Trứng cá mập lớn vào loại nhất trong trứng các loài vật. Những quả trứng đó được cá mập mẹ nuôi dưỡng trong bào thai cho đến lúc nở.

Khi cá mập mẹ sắp đẻ, những con cá mập con vừa nở chưa chui ra khỏi bụng mẹ đã kịp chén hết những quả trứng đang nằm ở hai bên tử cung cá mập mẹ. Nên mỗi lứa, cá mập mẹ chỉ đẻ được một hoặc hai chú cá mập con. Có tài liệu nói rằng phôi thai cá mập con đang phát triển trong trứng đã có khả năng cảm nhận được điện trường của kẻ săn mồi trong vùng biển xung quanh. Và, cũng có giống cá mập đẻ con ra trong những cái túi, các nhà khoa học gọi là “ví của nàng tiên cá” hay “ví của quý” rồi cá mập con cắn túi chui ra. Có điều khi gần đến ngày sinh con, cá mập mẹ “kiêng” ăn thịt các loài cá khác để nó… không ăn thịt con nó.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 12:59:31 PM
Cá mập con bơi đến các vùng biển xa tìm cuộc sống riêng. Còn cá mập mẹ du ngoạn khắp bốn biển rồi “đến hẹn” hai năm sau lại trở về vùng biển “tình cảm” Guada Lupo thuộc biển Mexico để ân ái với bạn tình, sinh lứa con mới.

Trong đại dương mênh mông dạt dào sóng nước, cá mập trắng có thể sống đến trăm năm. Riêng giống cá mập Greenland, sát thủ tàn bạo sống ở vùng biển lạnh, khẩu vị thích thú món “đặc sản” hải cẩu, gấu biển Bắc cực thì có tuổi thọ hơn trăm tuổi.

Các nhà khoa học cho ta biết rằng tổ tiên loài cá mập đã xuất hiện trên các đại dương cách đây hơn 420 triệu năm, sớm hơn 200 triệu năm so với loài khủng long. Cá mập là một trong 10 quái vật sát thủ ăn thịt kinh hoàng nhất thời tiền sử. Cá mập Megalodon khổng lồ thời đó sống ở Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương… to như một chiếc tàu ngầm, dài hơn 20m, nặng đến trăm tấn. Những chiếc răng của nó hóa thạch còn sót lại dài hơn 1m, bằng 18 lần răng cá mập hiện nay (trên vùng biển Nhật Bản trước đây người ta đã phát hiện răng và cơ thể con vật hiếm hoi này).

Từ thời cổ xưa đó loài cá mập đã có đến gần 440 giống khác nhau (có tài liệu nói trên 300 giống). Chúng được chia làm nhiều nhóm. Ngày nay con người vẫn còn nhận diện được hình dạng chúng trong các nhóm: cá mập gai, cá mập đầu bò, cá mập sừng, cá mập vằn, cá mập đèn lồng, cá mập voi, cá mập đầu búa, cá mập thiên thần, cá mập yêu tinh, cá mập hổ, cá mập trắng… Các giống cá mập có thân hình rất đa dạng. Cá mập voi có kích thước khổng lồ dài 20m, nhưng cá mập đèn lồng chỉ dài 15cm. Có giống cá mập chỉ to bằng bàn tay người…

Đến cuối thế Thượng Tân - một thế địa chất dài từ 5,332 tới 1,806 triệu năm trước (theo Bách khoa toàn thư mở), loài cá voi, hải cẩu… chuyển đến và thích nghi với vùng biển lạnh. Trong khi đó cá mập Megalodon không thể sống được ở môi trường biển lạnh mà chỉ thích ứng với vùng biển nước có nhiệt độ từ 11 đến 26 độ C. Rồi số lượng cá mập trắng, cá mập hổ, cá nhà táng… và các loài cá săn bắt mồi phát triển rất nhanh ở vùng biển có nhiệt độ này nên con mồi ngày càng khan hiếm, khả năng sinh tồn của loài cá mập khổng lồ nhất hành tinh không còn. Và do biến đổi khí hậu, nó đã tuyệt chủng từ 2,5 triệu năm về trước.

Ngày nay trên thế giới mỗi năm con người đã giết chết đến hơn 73 triệu con cá mập do các đội tàu săn bắt trên các đại dương. Bởi con người đã phát hiện ra vị thần dược quý hơn vàng và thực phẩm ngon lành bổ dưỡng hiếm có ở sụn vi cá mập. Ở đó có chất chondroitin chữa các bệnh thoái hóa khớp xương, hạn chế sự phá hủy sụn khớp, giúp các khớp xương hoạt động tốt. Sụn vi cá mập còn cung cấp độ nhờn, tăng cường nội mô giác mạc mắt, tái tạo lớp phím nước mắt, giữ thủy tinh thể giác mạc mắt luôn trong suốt, hạn chế mỏi mắt, khô mắt khi làm việc nhiều. Thuốc quý từ sụn cá mập còn hạn chế sự phát triển các mạch máu nuôi dưỡng các u cục ung thư, ngăn chặn ung thư trên cơ thể con người phát triển… Con người cũng đã phát hiện ra loài cá mập có bộ da đẹp, có sức đàn hồi cao gấp bốn lần da bò.

Những vùng biển lành, quanh năm nước ấm của châu Á, châu Úc và phía nam châu Phi, nhiều loài cá đã quyến nhau về đó quần tụ, sinh sôi, nhiều sinh vật phù du phát triển. Những vùng biển ấy cũng rất “mặn mòi duyên nợ” với các “sát thủ đại dương”. Cá mập trắng, cá mập hổ, cá mập bò đực… trong 30 giống cá mập gây tai họa cho con người thường về đó săn bắt mồi. Những vùng biển ấy đã trở thành nơi nguy hiểm đối với ngư dân, với khách du lịch bơi lội, tắm biển… Tính bình quân mỗi năm trên thế giới các “sát thủ” đã có gần trăm vụ “thăm hỏi” con người, và, có vài chục người đã “chạm mốc cuộc đời” vì nó.

Một buổi chiều muộn, các bác ngư dân phải nhọc nhằn lắm mới đưa được “sát thủ đại dương” vào bờ. Phải chăng có một định mệnh nào đó của biển trời vùng “sơn linh, thủy tú” này đã chấm vào số phận con cá mập. Nên nó cứ ngậm cái dây câu - thực ra chưa phải loại câu cá mập mà vì nó đã nuốt chửng con cá ngừ đã cắn câu vào sâu trong bụng - nên phải theo sau con thuyền như cái đuôi. Có lúc các bác ngư dân đã tính đến nước phải cắt dây câu để tránh nguy hiểm. Các bác phải chèo, phải lái con thuyền lựa chiều sóng nước lúc thủy triều lên mới đưa được con cá sát thủ từ ngoài vùng biển Hòn Nồm, Hòn La vào. Rồi lúc nó gần sát đuôi thuyền, các bác đã phóng được mũi lao vào trúng đầu nó… Đó là một con cá mập trắng non, háu mồi. Mổ con cá mập ra, mọi người đều sửng sốt, choáng váng. Trong dạ dày nó có bộ đồ bơi lặn của người nhái tanh tưởi, nhầy nhụa, có cả tóc, xương người và còn nguyên cả chiếc đầu lâu trắng ởn. Lẫn trong những thứ kinh khiếp ấy sáng lên một chuỗi dây kim loại trắng tinh. Và, có một mảnh kim loại to bằng nắp chiếc bật lửa mang hình quả lê ki ma dính vào chuỗi dây ấy. Nhìn kỹ ở giữa cái mảnh kim loại có dấu chữ thập ngoặc sơn đen. Mọi người hiểu rằng nếu chữ thập ngoặc đứng thẳng, cái ngoặc quay thuận chiều kim đồng hồ là biểu tượng của Phật giáo. Chữ thập ngoặc đổ nghiêng, cái ngoặc quay ngược chiều kim đồng hồ là biểu tượng của phát xít Hitler. Đây đích thị là chữ thập ngoặc biểu tượng của phát xít. Những người lính biên phòng và các bác ngư dân đều nghiêng về nhận định đây đúng là con “Rắn biển” đầu đàn ta đang truy tìm. Nhưng tại sao nó lại mang biểu tượng của bọn phát xít Hitler?

Tên gián điệp biệt kích bị ta bắt hôm trước được đưa đến làm đối chứng xác minh. Thoạt nhìn thấy bộ áo quần người nhái và mảnh kim loại có hình chữ thập ngoặc, hắn run rẩy như sắp ngã khuỵu xuống. Hắn xác nhận ngay tên trong bụng con cá mập đúng là chỉ huy của hắn. Hắn kể rằng tên này chính là người bên phía Giải phóng bị lính biệt động bắt cùng với hai người nữa trong hầm bí mật. Nhưng tên này đã đầu hàng và khai có người chú đang làm chỉ huy sư đoàn trong quân đội Cộng hòa. Hắn được bảo lãnh. Để lấy lòng tin của bọn lính biệt động, hắn bắn chết ngay hai đồng đội trước mặt bọn giặc. Rồi hắn xin được gia nhập vào đội quân biệt kích gián điệp của giặc và được chúng đưa sang đảo Guam huấn luyện. Ở đó, hắn được những tên nguyên là lính SS của Hitler trong thế chiến II dạy cách ám sát, bắt cóc, phá hoại, các thủ thuật tra tấn người… Đợt kiểm tra “tài năng” trước khi về nước, hắn đạt danh hiệu “kiêu hùng bốn biển”, được đội mũ nồi xanh và đeo huy chương Chữ thập ngoặc. Về nước, hắn được phong làm chỉ huy toán gián điệp, biệt kích “Rắn biển”. Trong cổ hắn luôn đeo cái biểu tượng huy chương Chữ thập ngoặc quái đản ấy.

Ngồi trên bãi cát trong buổi tối lộng gió biển, tôi - ngày ấy là phóng viên báo Công an Vũ trang - được các bác ngư dân, được Anh hùng Lực lượng vũ trang Phạm Bá Hạt và những người lính biên phòng kể cho nghe câu chuyện kỳ thú này. Bỗng một bác cao niên đứng dậy, nói to, át cả tiếng sóng biển:

- Tôi là người cầm chèo trên con thuyền câu hôm ấy, nay tôi cùng các lão làng hương khói đền thờ Cá Ông, chúng tôi muốn xin làng viết thêm mấy câu vào Bản hương ước ông bà để con cháu mai sau nhớ:

“Đất Cảnh Dương sáng ánh dương

Núi Phượng sông Loan gió lành sóng đẹp

Giặc nào đến cũng chui đầu vào lưới thép

Non nước ông bà mang hồn Việt hào hoa”.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 01:03:07 PM
20/Hương gỗ đêm rừng

Đội tuần tra nghỉ lại trong hang đá. Bếp lửa được nhen lên. Những dăm gỗ tùng tươi bén lửa nổ bem bép và bốc lên mùi thơm thoang thoảng như mùi nhựa thông. Trong khoảnh khắc mùi thơm đó loang vào không khí át hẳn mùi ẩm ướt của lá mục và mùi tanh mốc của rêu đá.

Đội trưởng Hiền đứng khom người trước cửa hang. Anh nhìn ra xung quanh. Cái áo mưa anh đang mặc xoè rộng ra. Trông anh như một con phượng hoàng đất sắp vỗ cánh bay lên... Trước mặt anh, toàn một màu trắng đơn điệu, tẻ ngắt của mây chiều cuối năm và sương lạnh. Cây cối mờ nhoè đi. Núi rừng xung quanh như xa hẳn ra. Và, những hạt mưa đêm đã bắt đầu gõ đều lên ngọn lá. Anh đội trưởng rút cuốn sổ tay trong bao băng đạn ra. Phân chia giờ gác đêm nay cho chiến sĩ xong, anh trở vào bên bếp lửa. Lúc nào anh cũng lao đi những bước thật dài như vậy. Bước đi của anh lẽ làng, khoẻ khoắn. Đó là thói quen của anh, của một người săn thú rừng từ bé.

Các chiến sĩ ngồi hơ những bàn tay giá cóng lên ngọn lửa, nhưng ánh mắt họ đều dồn về cả phía đội trưởng.

Đọc song bản phân chia giờ gác, người đội trưởng đưa mắt nhìn một lượt các chiến sĩ. Ánh mắt anh luôn chia sẻ với đồng đội tất cả niềm vui và nỗi buồn nhỏ của từng người. Giờ đây, ánh mắt của anh như muốn hỏi các chiến sĩ “ Các đồng chí thấy đã được chưa?”

Bỗng, binh nhất Phấn cài vội khuy áo rồi đứng dậy. Anh vẫn đứng dạng chân như khi đang ngồi xổm. Bởi anh đã quen lối đứng dạng chân chèo mà cái nghề vào lộng ra khơi lượn quăng sóng ném biển cả đã rèn cho anh như vậy.

-Báo cáo đội trưởng - giọng nói trầm, ấm hằng ngày của Phấn, hôm nay khàn đi- Tôi xin được gác phiên đầu tiên ạ!

Đôi lông mày rậm của người đội trưởng dãn ra. Cặp mắt anh trở lên sắc lạnh nhìn thẳng vào Phấn.

Khói bếp bay lên gặp làn sương lạnh, vẩn tròn lại như hình những dấu hỏi lớn.

Giọng đội trưởng nghiêm nghị:

-Tại sao vậy, đồng chí Phấn?

Phấn khịt mũi vài cái nhè nhẹ. Anh tránh cặp mắt dò hỏi của đội trưởng. Cặp mắt một mí của Phấn nhìn lảng sang chỗ khác, chỗ những dòng thạch nhũ và mắt bầy dơi đậu trong đáy hang bắt ánh lửa sáng lên lấp lánh như những chấm sao trong bầu trời khuya. Giọng Phấn khẩn khoản hơn:

-Xin đội trưởng cho tôi được gác phiên đầu tiên!

Giọng đội trưởng như một mệnh lệnh:

-Đồng chí Phấn, sao lại như vậy? Đêm qua chúng ta thức trắng cả. Đêm nay Phấn gác từ một giờ đến ba giờ mười lăm phút, sau đó tôi gác đến sáng là đúng rồi. Gian khó chúng mình chia sẻ cùng nhau chứ?

Nói xong câu đó, đội trưởng Hiền đứng lặng nhìn từ đầu đến chân người chiến sĩ của mình với ánh mắt ngạc nhiên như lần đầu nhìn một người xa lạ từ đâu mới đến... “ Sao hôm nay Phấn lại  trở chứng  như vậy? Phấn là một chiến sĩ tốt. Anh lầm lì, hiền như con thuyền đánh cá, nhưng lại coi thường sóng bão ở quê anh... Hình ảnh trước dòng nước thác chảy xiất, giá buốt, một chiến sĩ xung phong cột dây vào người nhảy ùm xuống, rẽ nước bơi sang một cách khoẻ khoắn như con kỳ đà quen suối. Anh cột một đầu dây vào gốc cây to bên kia, để cả đội tuần tra nắm dây lần sang. Người chiến sĩ biên phòng dũng cảm đó, giờ đây không hiểu vì cơn cớ gì lại thoái thác một phiên gác bình thường vào lúc nửa đêm? Sao lại có sự trái khoáy như vậy?”.

Tất cả chiến sĩ trong đội đều nhìn vào Phấn với ánh mắt trách móc, khó chịu “ Sao Phấn lại như thế?” Không khí im lặng làm cho mùi thơm của gỗ tùng bén lửa như đậm thêm.

-Đồng chí Phấn hãy nói rõ vì sao lại đề nghị như vậy?

-Báo cáo đội trưởng, vì ........- giọng Phấn ngập ngừng.

-Vì sao? - Giọng đội trưởng căn vặn hơn.

-Vì tôi đoán đêm nay...

Phấn nói nhỏ hẳn đi như thầm thì. Và bây giờ lại đến lượt Phấn nhìn anh đội trưởng: Trong ánh mắt của Phấn như muốn nói: “ Tôi không muốn nói điều này ra đâu. Bởi vì, đội trưởng ạ, lúc nào cũng vậy, nói điều hay về mình hay chỉ thoáng nghĩ điều hay về mình thôi, cũng là điều không nên... Nhưng bởi vì đội trưởng hỏi nhiều...”

-Đêm nay thế nào? - Đội trưởng hỏi dồn.

-Tôi ... sẽ lên cơn sốt rét. Tôi muốn được gác phiên đầu tiên để đêm các đồng chí khác không phải gác bù giờ của tôi...

Cặp mắt đội trưởng bỗng chớp chớp. Anh cảm động nhìn người chiến sĩ. Một ý nghĩ từ lâu đã lắng đọng trong anh, giờ đây sáng chói lên. “ Họ tự nguyện nhận lấy việc nặng nề, họ không muốn ai biết, ai khen việc họ làm. Họ coi đó là điều tất nhiên của người chiến sĩ. Cái đáng quý của các đồng chí chúng ta là ở chỗ đấy...”. Bỗng giọng đội trưởng trầm hẳn xuống, run run:

-   Phấn ạ! Phấn hãy nghỉ đi. Phiên gác của Phấn tôi sẽ gác thay!

Đứng trước ánh lửa, anh đội trưởng và người chiến sĩ biên phòng lúc này như cao lớn hơn nhiều so với tầm vóc thực của họ và mùi thơm của gỗ tùng như cũng đẫm hơn ....



Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 01:08:46 PM
21/Anh vẽ tranh bằng cây bút mái tóc em

Trong những ngày thần tốc tiến công của quân dân ta, tôi gặp họa sĩ Minh Hải (tên anh ngoài Bắc là Hồng Châu) tại mặt trận Cực Nam Trung bộ. Trên một quả đồi chỉ mọc toàn cây le, Hải đang say sưa vẽ bức tranh Chiến sĩ Cực Nam hành quân đêm trăng. Mùa khô ở đây lá le rụng hết chỉ còn trơ lại thân cành, những cây le mảnh mai nhưng nom thật rắn rỏi. Hải ngừng tay vẽ, anh nói với tôi “Giặc Mĩ gọi giống cây này là cây “cộng sản” đấy. Nó có sức sống mãnh liệt và sinh sôi nhanh chóng lắm. Bom đạn tàn phá, chất độc rải dày đặc cũng không thể nào diệt được nó”. Hải cười vui rồi anh tiếp nét vẽ. Hải có dáng người nhỏ, gầy. Nước da anh sạm xanh vì sốt rét và cả vì nắng gió của miền Cực Nam hun đốt. Song nom anh rắn rỏi như cây le từng trải nắng mưa bom đạn... Tôi từ miền Bắc vào tìm anh, đưa đến cho anh tin vui. Anh vừa có hai bức tranh Phá nhà lao Phan Thiết và Du kích Bác Ái được trưng bày tại phòng tranh Quân đội trong dịp kỉ niệm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (22- 12- 1974). Báo Ảnh cũng vừa in bức tranh Anh hùng PiNăngTắc của anh. Hải cười. Nụ cười anh rộng mở. Đôi mắt anh ánh lên niềm vui. Tôi hỏi chuyện anh. Giọng Hải nói đã pha nhiều âm của vùng Cực Nam Trung bộ, song tiếng “n” nói thành tiếng “l” của vùng Hưng Yên thì còn rất rõ. Hải tâm sự với tôi. Đầu năm 1964, anh rời trường Cao đẳng Mỹ thuật nhập ngũ vào đoàn Văn nghệ sĩ chi viện cho chiến trường. Hải mang ba lô đi bộ hơn sáu tháng trên đường Trường Sơn rồi dừng lại ở mặt trận Cực Nam Trung bộ. Ngày đó bài thi tốt nghiệp anh chưa kịp làm. Anh hứa với thầy với bạn rằng, những tác phẩm anh vẽ về chiến trường sẽ là bài thi ra trường của anh.

Hải về đơn vị “Lá bép” (đơn vị ăn lá bép, củ nần rừng thay cơm) ở cùng với chiến sĩ. Rồi anh về Mặt trận Ninh Thuận sống với du kích chiến khu Bác Ái, sống với bà con Raglây... Anh lên Blao, vào Phan Thiết... Hải làm chông, làm bẫy đá đánh giặc, phá lộ, phá kìm với du kích, làm rẫy trồng ngô. Những ngày thiếu lương, Hải cùng anh em đi đào củ nần, củ chụp để ăn. Hải đã ra Khu Lê ở rừng ô rô tắm lửa. Từ trong cuộc sống gian lao đó, họa sĩ đã tìm ra vẻ đẹp hào hùng của người chiến sĩ Cực Nam để đưa vào nét vẽ. Ở chiến trường thiếu thốn mọi bề, thiếu thuốc màu, thiếu bút... Hải tìm đá núi có màu nâu, màu đỏ, màu xám về mài, hái quả dành thay màu vàng, lấy lá khoai thay màu xanh... Thiếu giấy, Hải cùng anh em thu nhặt giấy gói hàng về vuốt thẳng để vẽ. Hải cắt vỏ bom bi, lấy lò xo ở các quả pháo sáng, hỏa mù của địch tạo nên cặp vẽ... Thiếu bút, Hải cùng chiến sĩ săn, bẫy thú rừng lấy râu, lấy lông nó làm các loại bút... Và, Hải đã kể cho tôi nghe về Cây bút Cực Nam của anh. Anh dừng nét vẽ, đưa cây bút cho tôi nhìn rồi nói. Giọng anh rất vui: “Lúc ấy là mùa khô năm 1970, cứ của ta đóng trong một hang đá của vùng núi Cà Toóc. Bọn lính Mĩ đổ quân vây, càn và sục được vào hang. Chúng bày tranh của anh ra xem. Chúng để riêng những tranh anh vẽ các tên tù binh Mĩ ta vừa bắt được. Chúng nhận ra đồng đội rồi viết tên từng đứa vào tranh. Xong, chúng lấy bút mực của anh viết một dòng chữ lên vách đá: “Việt cộng Minh Hải! Ta bầu người là họa sĩ giỏi nhất Hoa Kì bởi người vẽ các chiến hữu của ta giống quá”.

Sau trận đó, Hải mất hết “đồ nghề”. Về căn cứ mới bên sông La Ngà, Hải lại đi tìm đá, tìm quả rừng, nhặt nhạnh giấy gói hàng để vẽ và đêm đêm, Hải lại rủ các chiến sĩ làm bẫy săn bắt thú rừng lấy lông làm bút. Thấy anh vất vả và miệt mài mà không bắt được thú, bom đạn, chất độc giặc rải nhiều, thú rừng đã lánh xa, cô Đông, cô Oanh... chiến sĩ văn thư của đơn vị đã hỏi nhỏ Hải: “Anh ơi, liệu chuôi tóc của chúng em có làm được bút vẽ đó không anh?”. Hải đứng lặng nhìn Đông, nhìn Oanh. Thực tình anh không ngờ các cô lại hỏi anh câu đó. Một lúc sau anh mới trả lời: “Cũng làm được vài loại bút nhưng...”. Đông nhanh nhảu: “Nhưng làm sao. Anh ngại à. Tóc của chúng em đây, sao anh không nói”. Hải nhìn mái tóc của Đông, của Oanh cũng như mái tóc của nhiều chiến sĩ khác đã ngắn đi và thưa ra nhiều vì sốt rét liên miên. Thấy Hải phân vân, Đông nói: “Có sao đâu. Chúng em hết sốt rồi, tóc sẽ dài ra mà...”. Rồi cô mở xắc lấy chiếc kéo cắt giấy ra, cô nghiêng đầu xuống gần Hải: “Chỗ nào làm được bút, anh cứ hớt đi...”. Thấy Hải lùi ra, đứng im, Đông nói tiếp: “Nào, anh không hớt thì Oanh và em hớt cho. Đoạn nào, đoạn chuôi nhá có được không anh?”. Đông hất chuôi tóc ra phía trước, rồi cô hớt đoạn cuối đưa cho Hải. Tay anh run run cầm lấy. Nắm tóc mềm, đen mượt còn thoảng hương chanh rừng Đông vừa gội.

Hải về tháo mấy đốt sắt ở cần ăng ten máy thu thanh làm quản bút. Đó là sự tích “cây bút Cực Nam” anh đang vẽ lúc này... Với những cây bút đó, những năm tháng ở chiến trường, Hải đã vẽ nên các bức tranh: Đi phá kìm, Tiến lên toàn thắng ắt về ta... và hơn 300 bức tranh khác: Làm bẫy đá, Muối cách mạng, Bà già Raglây xem ảnh Bác Hồ... Bức tranh Bữa nay anh đã đỡ rồi, Hải vẽ một chiến sĩ đang bị cơn sốt rét dày vò nhưng khi đơn vị được lệnh đi phục kích giặc, chiến sĩ đó vùng dậy, cuốn võng mang súng cùng đồng đội vào trận. Cô quân y cầm tay anh giữ lại. Anh nói: “Bữa nay anh đã đỡ rồi cô để anh đi”. Đó là bức tranh gửi gắm nhiều tâm huyết của anh ở một vùng chiến trường cực kì gian khổ. Minh Hải tiếp nét vẽ bức tranh anh đang vẽ dở Chiến sĩ Cực Nam hành quân đêm trăng. Trong tranh có hình ảnh một nữ chiến sĩ trẻ trung đội mũ tai bèo, một vai mang súng, vai kia mang chiếc đàn. Cô tươi cười đưa tay lên như đang vẫy vầng trăng... Tôi hỏi Hải: “Chắc đó là hình ảnh...”. Anh nói: “Đó là Đông. Đông đã hi sinh trong một chuyến đi tải lương. Tôi đang vẽ hình cô bằng cây bút của mái tóc cô...”. Giọng Hải trầm xuống. Lát sau anh nói tiếp: “Mười một năm gắn bó với chiến trường khu Cực Nam Trung bộ, tôi chỉ mong dựng được một phòng tranh nói về những năm tháng gian lao, đói cơm, thiếu muối, lấy củ rừng làm lương, lấy vỏ cây làm áo...”. Ngay chiều ấy, được tin quân ta tiến công giải phóng vùng Tánh Linh- Hoài Đức đập nát chốt “tử thủ” của địch ở phía Bắc Sài Gòn, Hải cùng chúng tôi lên đường đến đó. Trên đường đi, Hải đã bị thương vì pháo địch. Rồi anh phát bệnh nhiễm chất độc hóa học. Họa sĩ Minh Hải hi sinh trên đường từ Tánh Linh đi Bình Tuy.

Gần bốn chục năm rồi, rừng le Cực Nam vẫn xào xạc gió, hang đá vùng căn cứ Cà Toóc năm xưa đã thành một di tích lịch sử. Cô Đông trinh trắng đã mãi mãi nằm lại với non ngàn. Cô Oanh đã thành bà nội, bà ngoại ở đất hoa Đà Lạt... Không bao giờ còn phải cảnh “Rừng ô rô những năm tắm lửa, và củ nần lá bép thay cơm; ăn tro than thay muối...”. Đồng đội trong rừng le năm ấy đã “Bạn về xứ bạn ấm thôn làng...”. Còn chúng tôi- Trần Hữu Tòng- Anh Ngọc- Hà Đình Cẩn trong đoàn Nhà báo Quân Đội vào dịp tháng Tư hàng năm mỗi lần nhắc đến kỉ niệm về họa sĩ Minh Hải lại bâng khuâng nhớ đến lời anh và những ước mơ của anh...


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 06 Tháng Tám, 2017, 10:06:20 PM
22/Mùa chim cu làm tổ

Mỗi lần đi học về, Kiên vội để cặp sách lên bàn, nó chào bà nội rồi chạy nhanh sang nhà ông Bằng. Kiên thích sang chơi bên nhà ông Bằng lắm. Nhà  ông Bằng có hai gian lợp ngói và một bếp cũng lợp ngói đỏ lựng. Các ông trong Hội Cựu chiến binh làm giúp ông. Nhưng Kiên thích nhất vẫn là vườn chim của ông. Đó là bờ tre rậm phía sau nhà. Ngoài bờ tre ấy là cánh đồng lúa. Hết cánh đồng là dòng sông chảy ra cửa biển. Gió tre cứ xào xạc, kẽo kẹt quanh năm. Bờ tre như   “ làng” của các họ chim. Nào là chào mào đội ca lô đen, sáo sậu mỏ ngà, bồ chao lắm mồm… Kiên thích nhất là những đôi chim cu cườm lúc nó gáy gọi nhau. Rồi mùa gió nồm tháng Ba, ngày mưa thu tháng Tám, chim biển bay vào từng đàn sà cánh lượn vòng đậu trắng ngọn tre. Nào là cò trắng, cò nâu, nào là chim chanh lông xanh biếc, chim chả mỏ đỏ như đánh son, chim vàng anh mặc áo vàng rực rỡ… Vào những mùa ấy, suốt ngày bờ tre rộn tiếng chim như mùa hội của chúng. Còn chim sẻ thì rủ nhau tha rác làm tổ trong các kẽ ngói trên mái nhà. Những con sẻ non mới ra ràng lông tơ vàng óng kêu chiu chit gọi chim bố mẹ đưa mồi về.

Những bữa cơm trưa, ông Bằng cứ ngồi lặng im, tay ông nâng chén rượu, mắt ông nhìn đàn sẻ nhảy nhót ngoài sân. Kiên thì vừa ăn vừa gẩy cơm cho chim sẻ chí chóe tranh nhau. Kiên thích thú trò ấy lắm. Nhiều lúc Kiên còn tinh hơn ông Bằng. Nó nhận được những con chim sải cánh chao liệng là “ chủ làng”, những con vừa đến khép cánh đậu im ngó nghiêng như để “ xin làng” trú ngụ! Kiên phân biệt được những tiếng hót cao vút, tiếng luyến láy líu lo của chim chìa vôi bố và tiếng huýt nhịp một nhịp hai của con chim non ham nhún nhẩy trên vòi măng. Kiên biết rõ từng tổ chim mới làm, trong đó chim mẹ đang ấp trứng hay chim con vừa nở. Kiên còn biết chim gáy mẹ làm tổ không chằm lá khô, lót cỏ mềm cho chim con nằm. Gặp gió to, chim con hay bị rơi. Kiên và ông Bằng thường đón chim con về nuôi. Kiên nhai gạo đút cho chim con ăn. Khi cánh chim đã mọc đủ lông, cổ nó đã đeo chuỗi cườm thì ông Bằng và Kiên lại thả chim vào bờ tre.

Ông Bằng chỉ sống một mình. Trong bữa cơm ông hay ngồi nâng chén rượu nhấm nháp hạt lạc rang. Đôi mắt ông ưu tư sâu lắng nhìn chăm chắm ra phía bờ tre đầy tiếng chim kêu và tiếng gió xào xạc. Ông buồn. Hai gò má ông ngày càng nhọn hơn. Nhiều lần ông chảy nước mắt.

Một đêm nằm ngủ với bà nội, Kiên hỏi:

-Bà ơi! Sao ông Bằng không có vợ con hở bà? Sao ông Bằng chỉ sống có một mình hở bà?

Bà Hòa - Bà nội của Kiên chép miệng kể cho Kiên nghe, rằng ngày còn trẻ ông Bằng đi bộ đội vào tận trong miền Nam đánh giặc. Ngày ấy máy bay Mỹ ném bom xuống làng ta. Cả chùm bom rơi trúng nhà ông. Vợ và ba người con của ông trú trong hầm đều bị chết. Nhà cửa cháy tan…

-Thương ông Bằng, bà nhỉ!

Giọng Kiên như mếu máo. Nó ôm chặt lấy bà. Bà Hòa nằm im. Bà không muốn kể tiếp cho thằng cháu bé bỏng nghe chuyện thương tâm mà ông Bằng nói với người làng khi họ mai mối để ông xây dựng lại tổ ấm, là ông đã bị thương… Ông không còn gì nữa. Bây giờ ông cũng như đàn bà. Ông không nỡ làm khổ người khác. Từ đó, Kiên càng quý mến ông Bằng. Kiên càng quấn quýt với ông hơn. Kiên muốn được ở luôn bên ông, muốn giúp ông dù là việc gì, mong làm sao để ông vui.

Kể cho cháu nghe chuyện nhà ông Bằng, bà Hòa cũng thao thức, xót xa. Cháu ngủ lâu rồi, bà còn trăn trở mãi. Bà sụt sùi khóc. Bà xa chồng từ năm bà chưa đầy hai mươi lăm tuổi. Ngày ra đi, ông để lại cho bà giọt máu duy nhất - đó là bố thằng Kiên! Mười năm trong chiến trường xa, ông không về thăm nhà. Con chưa biết mặt bố. Chiến tranh đã cướp mất ông lúc nó lên mười - ngày 10 tháng 3 năm 1975, ngày ta đánh Buôn  Mê Thuột. Từ ấy bà đằng đẵng tần tảo nuôi con, rồi nuôi cháu. Bố mẹ thằng Kiên đã vào tận trong ấy thăm viếng mộ ông. Biết nơi đó làm ăn được, bố mẹ nó đã đưa con chị và thằng em nó vào. Còn Kiên ở nhà với bà giữ gốc quê và hương khói tổ tiên.

Kiên còn bé, nó chỉ nghĩ theo “ cái lý” của nó rằng nhà bà nó còn có nó. Ông lại có một “ làng chim” mà nó thích thú đến mê hồn. Ông còn hay kể cho nó nghe chuyện ông đánh giặc ngày nào, chuyện dốc đèo, chuyện khe suối ở Trường Sơn… Chuyện nào đối với nó cũng ly kỳ, cũng mới mẻ. Nên nó sang chơi với ông nhiều hơn là phải. Nhiều ngày Kiên đã ở lại ăn cơm cùng ông Bằng, ngủ với ông Bằng. Đã mấy lần Kiên nói với bà:

-Bà ơi! Ông Bằng ăn khổ lắm bà ạ! Chỉ có món lạc rang với nước mắm, canh rau cải. Thỉnh thoảng mới có cá kho. Chả bù cho nhà mình ăn ngon. Có canh cua, có ốc nấu chuối, nhiều bữa còn có cá rô rán giòn. Bà cho ông Bằng với.

Có lần Kiên ngồi chờ bà nấu canh cua rồi múc vào bát mang sang cho ông Bằng. Có bữa Kiên gắp đầy đĩa cá rô rán, nó còn cầm thêm quả ớt tươi đưa sang để ông pha nước chấm. Trước đây bà Hòa ít sang nhà ông Bằng. Nhưng rồi “ vì cây dây quấn”, dạo này bà phải sang lấy bát, lấy đĩa Kiên đưa thức ăn sang, hoặc gọi nó về học bài. Bà Hòa nhìn cái bếp, cái chạn… nhà ông Bằng lạnh lẽo, cô quạnh mà mủi lòng. Những ngày sau bà xào nấu thức ăn ngon có món trứng rán, có bát canh cần, có đĩa ngồng cải xào, bà sắp ra mâm sai Kiên đưa sang. Kiên nói với bà:

-Bà ơi, hay nhà mình với nhà ông Bằng ăn chung đi bà ạ! Bà nấu ngon lắm. Bà sang bên ấy nấu để cháu đỡ phải bê. Thế cũng vui bà ạ!

Bà nhìn thằng cháu. Bà thương yêu sự ngây thơ trong trắng của nó. Đôi mắt nó sáng. Cái sống mũi thẳng, nhô cao. Dáng nó nhanh nhẹn. Mới mười tuổi mà đã biết sống rất có tình, có nghĩa. Sao mà nó giống ông nội nó đến thế. Đúng là giỏ nhà ai quai nhà ấy. Bà không nói gì. Nét mặt bà trầm lắng, ánh mắt u buồn. Sự trầm lắng, u buồn ấy như làm tăng vẻ đẹp hiền dịu, đoan trang còn lại của thời son trẻ. Bà ngước nhìn lên bàn thờ chồng và buông tiếng thở dài kín đáo.

Trưa hôm sau, bà Hòa sang nhà ông Bằng gọi cháu về đi học. Lâu lắm, trước khi ra khỏi nhà, bà Hòa mới soi gương, lấy khăn ướt lau mặt và chải lại mái tóc. “ Ừ, - bà nói một mình- thế mà đã nhiều sợi bạc rồi!”.

Lúc ấy, ông Bằng và Kiên đang ngồi ăn cơm. Ông Bằng nâng chén rượu. Ông mời bà Hòa vào. Kiên thì nhanh nhảu:

-Bà ơi, có món lạc rang với nước mắm giòn ngon lắm. Bà vào nếm đi. Cháu lấy chén để bà cùng ông nhắm nhé!

Kiên chạy đi lấy bát đũa. Bà Hòa vào ngồi xuống ghế bên bàn nước. Bà nhìn mâm cơm, nhìn đôi đũa so bằng bặn để trên mâm. Bỗng cái điều từ lâu đã nguội lạnh vì mất mát xoáy thành nỗi đau lắng đọng đáy lòng bà nay ấm nóng lên, thức dậy…

Ông Bằng đặt chén rượu xuống. Ông nói, nhát gừng:

-Bà ơi ….bà …- giọng ông ngập ngừng, bối rối - món canh cua hôm qua bà nấu ngon lắm. - hình như ông Bằng định nói câu gì nhưng ông … ríu lưỡi. Ông đã lảng tránh đi…

-Vâng, có mẻ, nó dậy mùi mà ông…

-Bà ơi … bà … - ông Bằng lại ngập ngừng, lại bối rối. Giọng ông hạ thấp dần, đến những tiếng cuối thì như thầm thì - món cải ngồng hôm kia bà xào sao mà ngọt đến thế. Bà cho tôi nhiều thế…

-Ông ạ! Kiên nói chen vào - bà cháu cứ bảo rằng các món ngon phải nấu thêm để sẻ cho ông đấy.

Ngoài bờ tre vọng vào tiếng chim cu “ cúc cù cu cục - cúc cù cu cục …” nghe ngọt ngào ấm áp. Kiên vội đặt bát xuống, nó vỗ tay, reo to: “ Ông ơi, ông ơi! Con cu cườm ta thả ra dạo nọ đã biết gáy rồi ông ạ!” đấy. Chính nó đang gáy “ bộ tứ” đấy!

-Ừ, mùa nó làm tổ đấy cháu ạ!



Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 07 Tháng Tám, 2017, 01:36:18 AM
23/Phượng hoàng đất núi Cầu Treo

Lời ông bà truyền lại cho con cháu câu nói nào cũng chí lý. Ví như câu “ Có người đất mới thiêng”

Một vùng non ngàn hùng vĩ từ lâu có đàn chim phượng hoàng quý hiếm sinh trú được trở thành địa danh Cầu Treo từ mùa xuân năm 1954. Năm ấy nước ta và nước bạn Lào mở “ Chiến dịch Trung Lào” đánh đuổi giặc Pháp xâm lược. Trong chiến dịch đó hàng ngàn dân công hỏa tuyến tiếp lương ra trận bằng phương tiện gánh những đôi bồ đầy gạo đi bộ trên đường số Tám. Con đường  dài gần trăm cây số từ Bãi Vọt ( nay là thị xã Hồng Lĩnh) lên biên giới, xuyên qua dải Trường Sơn sang Lào. Những năm Kháng chiến chống Pháp, ta thực hiện “ tiêu thổ kháng chiến”,  đường số Tám trở nên hoang phế. 36 cây cầu bị phá sập, nhiều đoạn đường chìm lấp trong lau cỏ bên bờ thung lũng. Các bậc cao niên từng là “ phu lục lộ” mở đường, từ đầu thế kỷ 20 nói rằng con đường này từ ngày mở  chưa nghe tên Cầu Treo.

Sau trận mưa rừng nước từ các đỉnh non cao dồn xuống cuốn trôi hết những cây gỗ lót đường đi qua khe nước, chặn các đoàn dân công chuyển gạo ra trận. Hàng ngàn người phải dựng lán nằm lại ven rừng. Ở đó tiếng hò hát vang lên dậy đất “ Ơ hò... Dân công tiếp vận Trung Lào, Chiến trường đang đợi không khó khăn nào ngăn được bước chân ta...”

Một đơn vị bộ đội hành quân đến. Các anh lựa chọn những chiến sĩ có sức khỏe tốt nhất, có tầm cao ngang nhau đứng xếp hàng giữa thác nước chảy xiết làm “ trụ cầu”. Họ vác những cây tre, phên tre trên vai làm “ sàn cầu” và buộc sợi dây rừng nối hai bờ thác nước. Các đoàn dân công hỏa tuyến chân đi trên “ sàn cầu” tay nắm chặt sợi dây rùng rùng gánh gạo ra mặt trận. Từ sự tích lịch sử năm ấy, địa danh Cầu Treo xuất hiện.

Mùa hè năm 1955 chúng tôi hành quân lên đây lập Đồn biên phòng trên đỉnh núi cao cũng lấy tên là Đồn biên phòng Cầu Treo. Dòng suối chảy dưới chân đồi cũng gọi suối Cầu Treo. Trạm Kiểm soát đường biên giới xa gần chục cây số cũng lấy tên Trạm Cầu Treo. Đỉnh núi cao chót vót như “ hòn đảo xanh” trôi bồng bềnh giữa ngàn mây trắng  bên kia Lũng Mây từ lâu đời có đàn chim phượng hoàng sinh trú nay cũng gọi chim phương hoàng ở núi Cầu Treo... Những buổi chiều tà phơ phất mây ngàn khói biếc ánh hoàng hôn nhuộm màu vàng huyền ảo sườn non, thung lũng đón mây về như lớp lớp sóng biển dâng trào. Đỉnh núi hoang sơ như hòn đảo nổi bồng bềnh. Cảnh biên cương như trong cổ tích. Những đôi phượng hoàng sải cánh bay lượn trong làn gió trầm thơm. Tiếng chúng gọi nhau đưa con về tổ nghe sao giông giống tiếng người “ ai hát, ai hát”. Lính biên phòng chúng tôi đứng ở sân Đồn Cầu Treo nhìn sang vỗ tay cười vui pha chút tếu táo: “ lính biên phòng hát. Lính biên phòng hát...”

Đột nhập lãnh địa phượng hoàng

Đội tuần tra chúng tôi sau một ngày vượt Lũng Mây sâu thẳm mới tới được lưng đỉnh núi hoang sơ. Thảm rừng rễ cây, cành khô, lá mục chất dày hàng mét. Bước chân đi cứ bập bênh, chênh vênh như đi trên tấm đệm bông. Mỗi bước đi chúng tôi phải đu cây, bám rễ, dắt díu nhau, có đoạn phải bò mới lên được. Càng lên, thảm rừng càng khô, lạnh không có sên vắt và rất thưa vắng các loại côn trùng. Chớm vào lãnh địa phượng hoàng đã thấy dấu vết nguyên sơ gần như rừng cây xứ lạnh. Rừng một tầng. Cây nào từ gốc lên đến cành rêu cũng bọc dày mấy lớp như quấn chăn bông. Chiều mùa thu đỉnh non cao nắng vàng bảng lảng trên lá cành. Chúng tôi nhìn nhau cứ mờ nhòa lãng đãng hệt như giữa thời khắc “ mặt trăng ăn mặt trời”.  Không gian tràn ngập vẻ kỳ bí thuở hồng hoang.

Dưới gốc các cây cao có nhiều lớp xương các loài thú nhỏ, có vỏ các loại quả rừng, có xương cá và xương các loài rắn... Đặc biệt có nhiều lông phượng hoàng màu sắc đẹp. Mỗi người lính chúng tôi nhặt vài chiếc dắt lên mũ bông. Thấy lãnh địa bị xâm phạm, bầy chim phượng hoàng chừng bốn mươi con hoảng loạn, nháo nhác bay lên. Lần đầu chúng tôi nhìn thấy những con chim lạ, to lớn đẹp lộng lẫy và lông vũ thì óng ánh như có gương chiếu vào... Để giữ bình yên “ thánh địa” của bầy chim đẹp chúng tôi lặng lẽ lui quân và xem đây như một “ Trạm cảnh giới” bên kia Lũng Mây của Đồn biên phòng Cầu Treo.

Mãi sau này khi được đọc các tài liệu khoa học và xem sách Bách khoa toàn thư mở, lính biên phòng chúng tôi mới biết rõ hơn về loài chim phượng hoàng . Loài chim đang còn nhiều bí ẩn như trong huyền thoại. Nó được người đời truyền tụng là một trong bốn vật tứ linh ( Long – Ly – Quy – Phượng). Con chim phượng hoàng biểu tượng cho đức hạnh, duyên dáng, thanh nhã, cho sự hòa hợp  âm dương. Theo truyền thuyết, chim phượng hoàng  chỉ xuất hiện trong thời thiên hạ thái bình thịnh vượng. Từ xa xưa nhiều người vẫn tin rằng sẽ rất may mắn cho ai được một lần gặp nó trong đời. Nhiều thư tịch còn lưu lại, người xưa từng miêu tả con chim phượng hoàng: đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá. Các màu sắc rực rỡ trên mình nó tượng trưng cho các thiên thể trên bầu trời. Đầu phượng hoàng đội công lý, mắt tượng trưng cho mặt trời, lưng là mặt trăng, đôi cánh là ngọn gió bốn phương, đôi chân là mặt đất. Đuôi phượng hoàng có bốn nhánh lông dài tượng trưng cho bốn hướng đất trời. Màu lông phượng hoàng đại diện cho ngũ hành: đen, trắng, đỏ, xanh, vàng. Khi phượng hoàng bay, múa tượng trưng cho hoạt động của mây gió trăng sao chuyển vần trong vũ trụ.

Phượng hoàng vốn là loài chim có từ thời  tiền sử nhưng người đời biến nó thành con chim trong thần thoại chịu ảnh hưởng đậm nét  văn hóa Trung Hoa. Hơn 7000 năm trước hình ảnh con chim phượng hoàng đã xuất hiện ở nước Trung Hoa. Thời kỳ đầu nó được in hình trên các miếng ngọc dấu tích vật tổ của các bộ lạc thời cổ đại. Đến thời nhà Hán – 2200 năm trước, chim phượng hoàng có biểu tượng con trống là phượng, con mái là hoàng – hoàng hậu, phi tần. Khi cặp đôi với rồng, phượng hoàng mang biểu tượng Hoàng đế - đại diện cho quyền lực tối thượng. Hình ảnh phượng hoàng được trang trí trong nhà để biểu thị lòng trung thành, trung thực của người sống trong ngôi nhà đó. Thời cổ đại, nước Trung Hoa xem hình ảnh con phượng hoàng cùng với con rồng trang trí trong đám cưới của hoàng tộc để tượng trưng cho hạnh phúc vợ chồng, một kiểu ẩn dụ của sự hòa hợp âm dương.

Theo sự truyền tụng trong dân gian, phượng hoàng còn là biểu tượng của sự tái sinh bất diệt. Nó được kết hợp nhiều đặc điểm tốt và nét đẹp của cả trăm loài chim trong cõi đất trời. Nên nước mắt phượng hoàng chữa lành được vết thương trong trận mạc. Tiếng kêu kỳ diệu của nó giúp người nghe bình tâm lấy lại lòng can trường. Tim gan của nó được xem như một thứ bùa hộ mệnh và vũ khí chống lại cái ác. Khi đã đến 500 tuổi, phượng hoàng tìm nhặt những mảnh gỗ có mùi hương trầm, những loài hoa thơm cỏ lạ và cả lông của mình xây cho mình một cái tổ. Rồi nó tự thiêu bằng chính nguồn nhiệt của mình trong cái tổ đó. Ba ngày sau trong đám tro tàn sẽ tái sinh ra một chú phượng hoàng non. Với sự linh thiêng đó nên loài chim phượng hoàng chỉ sống trên núi cao trong gió mây tinh khiết (!) Nên từ xa xưa con người đã gắn hình tượng phượng hoàng vào các kiến trúc cung đình, các lăng mộ bậc đế vương và đồ trang sức quý dành riêng cho hoàng tộc

Quan niệm của Phật giáo đối với chim phượng hoàng cũng rất được tôn sùng ngưỡng mộ. Tôn giả A Nan (1) nói rằng Đức Phật Tổ Như Lai là con phượng hoàng chúa hoành tráng nhất nên phượng hoàng là vua của muôn loài chim.  Trời xanh mây nước bốn cõi giang sơn là của Ngài. Ngài tu hành trong Thiền viện Trúc Lâm vùng đất thiêng sáng hào quang là ánh mắt của phượng hoàng. Nơi đó có 99 con phượng hoàng túc trực. Rồi nó đưa Ngài về cõi Phật. Theo quan niệm của Phật giáo chim phượng hoàng còn có khả năng hồi phục sau những đổ nát hoang tàn. Theo phong thủy thân hình chim phượng hoàng còn biểu thị năm đức tính của con người: đầu phượng hoàng tượng trưng cho đức hạnh; đôi cánh tượng trưng cho sức mạnh tinh thần; tấm lưng tượng trưng cho cách đối nhân xử thế, gánh vác cứu vớt con người; bộ ngực là lòng nhân từ và sự trắc ẩn; phần bụng biểu thị cho đức tin cậy bao dung, từ bi hỉ xả. Chim phượng hoàng chiếm giữ cung hướng Nam của bầu trời, phù hợp với ánh lửa phương Nam, hơi ấm mùa hè, niềm vui có được sự ấm no.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 07 Tháng Tám, 2017, 01:39:45 AM
Con chim phượng hoàng trong các chuyện cổ tích của nước Nga là những con chim lửa có bộ lông màu vàng rực rỡ luôn thể hiện đức tính thẳng thắn, bộc trực mang chất hiệp sĩ đứng về lẽ phải cứu khổ, cứu nạn.

Ở Nhật Bản, cùng với mặt trời chim phượng hoàng là biểu tượng cho sức mạnh của đế chế Nhật Hoàng được khắc trên chuôi gươm của các hiệp sĩ và được thêu đẹp trên áo Ki mô nô.

Người dân nước Ai Cập, La Mã, Hi Lạp xem phượng hoàng là con chim linh thiêng của thánh thần. Phượng hoàng là hình ảnh bất tử của đất trời, không một sức mạnh nào đánh bại được nó. Từ xa xưa nhiều bộ lạc đã chọn chim phượng hoàng làm linh vật tiến cúng hiến dâng các vị thánh thần trong các lễ hội lớn. Họ coi máu thịt của chim phượng hoàng giúp con người trường sinh bất tử, an ủi được những linh hồn oan khuất. Và, sức mạnh của phượng hoàng sẽ là vị thần ngăn chặn chiến tranh.

Ở Đài truyền hình Trung ương Đài Loan đã lấy hình ảnh đôi chim phượng hoàng hùng vĩ quấn quýt với nhau làm biểu tượng.

Còn chúng ta, người Việt Nam thì từ thuở bình minh của dân tộc thời đồ đồng 4000 đến 5000 năm trước, ông cha đã khắc họa lên mặt trống đồng hình ảnh đàn chim Việt. Đó chính là những con chim phượng hoàng sinh trú trên đất Việt. Biểu tượng đó nói lên người Việt chúng ta có sức sống mạnh mẽ, kiên cường, có ý chí sắc nhọn như lưỡi búa, lưỡi rìu đã đánh thắng mọi kẻ thù để dựng nước và giữ nước. Hình tượng con chim phượng hoàng hào hùng, thơ mộng trong bài hát “Đàn Chim Việt” của nhạc sĩ Văn Cao sáng tác từ năm 1942 còn sống mãi với “non sông gấm vóc” chúng ta: “Về đây khi gió mùa thơm ngát. Ôi lũ chim giang hồ. Bao cánh đang còn dập dờn trên khắp Cố Đô. Từng đôi chim đất bắc ríu rít ca. Mờ mờ trong nắng ven trời Chim reo thương nhớ chim ngân xa. Hồn còn vương vấn về xưa…”.

Loài chim phượng hoàng có tập tính sống trên miền núi cao khí hậu nhiệt đới vùng Đông Nam Á:  Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Mianma, Nam Trung Quốc... Ở Việt Nam ta vùng núi Hà Tĩnh, Nghệ An, Tây Nguyên, Tây Bắc... có các đàn chim phượng hoàng sinh trú. Nó là loài chim lớn nhất trong họ chim hồng hoàng . Chim phượng hoàng có con nặng đến gần bốn kg, dài đến 1,2m ( tính cả đuôi). Sải cánh có con rộng đến 1,6 mét. Đặc biệt phượng hoàng có chiếc mỏ khác lạ với muôn loài chim dưới vòm trời. Mỏ nó rất lớn trông như bông hoa chuối rừng màu vàng rực. Trên mỏ có chiếc mũ vàng nhô lên che mỏ và đầu trông như: “ Hoàng đế đội Sớ dâng lên thiên đình”. Mắt con chim trống màu đỏ tía nhìn như chớp lửa lóe sáng. Con mái, mắt xanh màu nước suối rừng.  Khi phượng hoàng bay dưới nắng trời như có “ vầng hào quang”, bởi bộ lông óng ánh.

Chim phượng hoàng sống thành bầy đàn trên đỉnh núi cao 1500 mét trở lên của các giải rừng nguyên sinh. Nó sống cách biệt với các loài chim khác. Phượng hoàng sống “ ấm cúng” theo từng “ gia đình”. Nhưng nhiều người chưa biết rằng cuộc sống của loài chim này rất “ lãng mạn”. Nó sống theo “ chế độ đa thê”. Một “ chàng” chim trống với hai “ nàng” chim mái. Điều rất đặc biệt nữa là “ chàng” phượng hoàng là con chim “ đĩ tính” thích làm duyên dáng vào bậc nhất trong họ nhà chim. “ Chàng” luôn dùng chiếc mỏ rỉa vào chân lông lấy chất nhờn bôi khắp mình  để bộ lông luôn có màu vàng óng ánh. Và, mỏ của nó thì luôn giữ được màu vàng tươi quyến rũ các “ nàng”. Phượng hoàng làm tổ vào đầu mùa mưa hàng năm. Khi đã ân ái với nhau rồi thì “ chàng” bay đi tìm nơi xây tổ ấm. Đó là những hốc cây cao hơn thảm rừng chừng vài, ba chục mét. “ Chàng” chăm lo tìm kiếm những mảnh gỗ mục, cành khô, vỏ quả, cánh hoa, cả bùn... về lót tổ cho hai “ nàng”. Mỗi lứa chim mái đẻ 3 quả trứng nhưng thường có hai quả nở thành con. Khi “ nàng” đẻ trứng rồi thì “ chàng” tha bùn về bịt kín tổ, kéo cành lá xanh che kín cửa hang, chỉ để hở một lỗ nhỏ... Những ngày “ nàng” nằm ổ ấp trứng, “ chàng” và cả “ dì chim” chăm nuôi. Chúng tần tảo tìm mồi tha về đút qua các lỗ nhỏ ấy cho “ nàng” ăn. Thức ăn của chim phượng hoàng: quả chín, sâu bọ, côn trùng. Nó ăn cả cá dưới suối, rắn trong thảm rừng và cả các loài thú nhỏ. Mỗi ngày phượng hoàng “ xài” đến gần hai kg thức ăn. Sau 38 đến 40 ngày “ màn che, trướng rủ”, khi nghe tiếng phượng hoàng con chi chít kêu thì phượng hoàng bố chọn buổi sáng đẹp trời nắng ấm dùng chiếc mỏ “ vĩ đại” của mình mở rộng cửa tổ, dọn sạch cành lá che cửa hang. “Chàng” đón mẹ con “nàng” ra ngắm rừng xanh mây trắng. Chim phượng hoàng có tuổi thọ trên 60 năm, nhưng có “cụ đại thọ” sống đến gần 90 tuổi.

Sách Đỏ Việt Nam năm 1999 -2000 đã xếp phượng hoàng vào nhóm B2 loài chim hoang dã quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng. Nghị Định của Chính phủ số 48 năm 2002 đã chỉ rõ cần có biện pháp ngăn chặn có hiệu quả trong tập quán săn bắt thú rừng để bảo vệ loài động vật hoang dã quý hiếm này.
Loài chim phượng hoàng có tầm lớn giá trị về khoa học, nghệ thuật về nghiên cứu lịch sử... Nhiều quốc gia đang nuôi nhốt mong thuần hóa loài chim quý hiếm này vì nó đang còn “ che dấu” nhiều bí ẩn như trong huyền thoại. Với tốc độ săn bắn tàn bạo và khủng khiếp của con người để lấy mỏ lạ, lông đẹp làm vật thờ cúng, làm đồ trang sức như hiện nay thì chim phượng hoàng thật sự đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Đất thiêng người nhớ phượng hoàng

Ngày ấy vùng biên cương yên tĩnh. Trên “ Đảo xanh” bên Lũng Mây trong ngọn gió trầm thơm mỗi buổi chiều vàng bầy phượng hoàng sải cánh gọi nhau “ ai hát, ai hát” thì giặc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại. Máy bay điên cuồng dội bom. Đường số Tám ta vừa sửa, cầu cống mới xây lại đã bị đánh sập. Xóm núi Kim Cương bị bom đạn hủy diệt. Đồn biên phòng Cầu Treo bị bom, tên lửa phá tan. Các chiến sĩ Đinh Quang Tiêu, Xuân Lục, Phan Đăng Tố vác súng lên đồi Ba Mụ cao hơn nghìn mét phục kích máy bay. Các anh đã bắn cháy Con Ma, Thần sấm Mỹ. Tên giặc lái đền tội, xác rơi xuống mặt đường số Tám gần chân Cầu Treo. Các anh được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công. Đồn biên phòng Cầu Treo hai lần được tuyên dương Danh hiệu Anh Hùng.  Rừng Cầu Treo đã trở thành vùng Đất thiêng nơi cương thổ này. Nhưng bầy chim phượng hoàng quý hiếm đã bị bom đạn kẻ thù xua đuổi. Có người nói nó là loài chim của thời yên bình nay loạn lạc đã lánh đi, ngày ta chiến thắng nó sẽ trở về. Lính biên phòng chúng tôi tin thế. Nhưng có bậc cao niên chòm râu trắng ở xóm núi Kim Cương thờ Mẫu Thượng Ngàn thì nói như một vị tiên tri “ Phượng hoàng đã bay về rừng Tràng An, Hoa Lư Cố đô ngàn xưa để nương nhờ uy linh của Tổ tiên chở che rồi đấy...” ( Ngày nay ở Tràng An, Hoa Lư – Ninh Bình có những bầy chim phượng hoàng đẹp).

Mùa xuân này có người lính già tóc bạc chống gậy cùng với các ông Đinh Quang Tiêu, Xuân Lục lên thăm lại Đồn Biên phòng. Các ông thắp nén hương tưởng nhớ người đồng đội Phan Đăng Tố đã nằm lại với núi Cầu Treo. Trong một buổi  sớm mùa xuân mờ nhòa sương khói, tiếng mạch nước đầu nguồn nỉ non như thao thức với rừng thiêng. Gió trầm hương thơm nhẹ như hơi thở giữa mây ngàn. Trời biên cương huyền ảo như trong cổ tích. Các ông đứng lặng, tay nắm chặt lan can Cầu Treo, mắt nhìn sang “ Đảo xanh” đang trôi bồng bềnh giữa vầng mây sớm. Người lính già tóc bạc đã để lại trong cuốn sổ Truyền thống của Đồn Cầu Treo mấy vấn thơ:

“ Phượng hoàng có nhớ núi mây
Đất thiêng tối đợi ngàn cây sớm chờ
Thung Mây, sương trắng đôi bờ
Ngẩn ngơ núi đứng mây vơ vẩn buồn
Gió trầm thao thức nước non
Bâng khuâng người lính nhớ con phượng hoàng.”

1). Tôn giả A Nan là một trong mười đệ tử lớn nhất của Đức Phật. Người tiếp thu giáo lý trọn vẹn như nước thấm vào cát. A Nan có khuôn mặt đẹp tuấn tú, phái nữ rất ái mộ


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 07 Tháng Tám, 2017, 10:07:31 PM
24/Xuân này anh chị ở đâu

Sáng Mồng một Tết Ất Mão- 1975

Cánh rừng Binh trạm 10 bên dòng sông Xê Ca Bốc bừng lên sự rộn ràng và ấm áp. Sự ấm áp không do đất trời mà từ lòng cánh rừng tạo ra, từ tiếng nói, tiếng cười râm ran, từ những bước chân người đi rậm rịch, từ tiếng hát trong các máy thu thanh phát ra. Làn gió xuân như đưa sự ấm áp, rạo rực, niềm vui len vào từng thớ thịt con người. Ở sân Binh trạm các chiến sĩ hối hả trang trí đón Xuân (vì 30 là ngày đầu của lệnh ngừng bắn dịp Tết Nguyên đán, Binh trạm bận rộn đón, tiễn đến 52 đoàn khách vào ra; 6 đoàn thương bệnh binh đặc biệt). Hai cây sang lẻ  to trước cửa nhà khách được đẽo vỏ theo chiều đứng tạo thành hình hai câu đối. Một chiến sĩ cật lực giã lõi pin làm mực đen rồi nắn nót viết hai dòng chữ: “Trọn một đời diệt thù dựng nước ơn Người biển cả khôn đong. Bốn lăm năm chỉ lối đưa đường nghĩa Đảng non cao khó sánh”. Một chiến sĩ khác dùng thanh tre làm bút nhúng vào xô hồ loãng viết lên tấm ván vỏ các thùng đạn ghép lại. Rồi anh rắc đất đỏ, lá vàng vào để kết dính thành dòng chữ: “Chúc mừng năm mới. Đón mừng chiến công”. Ở lán Hậu cần, người nhộn nhịp vào ra giống như một Cửa hàng bán hàng Tết. Từ trong đó có đôi trai gái đi ra. Anh xách cặp bánh chưng, vai mang hai bi đông nước. Chị xách túi ni lông, trong đó có gói chè, gói kẹo... Họ cầm tay nhau đi. Vài bước, hai người lại nhìn nhau nói cười tình cảm ấm cúng. “Tết Binh trạm cũng rộn ràng kém gì Tết ở làng quê đâu. Người đi sắm Tết đấy...”. Tôi vừa nói xong câu ấy thì anh lính trẻ đứng cạnh đập vào cánh tay tôi: “Đôi vợ chồng mới cưới đang hưởng tuần trăng mật đã tình nguyện vào chiến trường ấy mà. Họ cùng Đoàn Thái Bình với em đấy”. Dứt lời, anh nhìn tôi với vẻ sững sờ: “Ôi, nhà báo. Nhà báo có nhớ em không”. Tôi nhìn anh, ngờ ngợ. Tôi xin lỗi anh. Anh nói: “Em là Cường, lính Đồn Công an vũ trang Cửa Sông Thái Bình đây. Tết năm trước nhà báo về viết bài chúng em rà phá bom giải phóng cửa lạch đấy. Nhà báo ạ- anh lính trẻ nói vui, vô tư, pha chút hài hước, dễ gần , đậm đặc trưng phong cách lính Trường Sơn- Đôi vợ chồng ấy, chị ở làng “ứ ứ ừ” với em đấy. Còn anh chồng thì tiếng nói “mặn mà” giống như nhà báo. Đoàn Thái Bình chúng em vào chi viện cho tỉnh Trà Vinh kết nghĩa, ăn Tết ở Binh trạm có nhiều chuyện lý thú lắm. Chuyện “ứ ứ ừ” về đôi vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật em sẽ kể cho nhà báo nghe”. Tôi mời anh lính trẻ về lán ăn Tết mừng năm mới. Trong lán, anh Hà Đình Cẩn, Anh Ngọc đã nhận tiêu chuẩn Tết của Binh trạm cấp. Có 3 chiếc bánh chưng, 12 chiếc kẹo Hải Châu, 6 điếu thuốc lá Tam Đảo, 1 gói chè Thanh Tâm. Cẩn mượn được 2 chiếc vỏ thùng đạn kê làm bàn, 3 chiếc vỏ thùng lương khô làm ghế. Cỗ Tết chúng tôi bày trên bàn có bánh chưng, 3 chiếc “bát B52”, 3 phong lương khô ngon, nhãn hiệu 702 trong đó có 3 viên thuốc tăng lực... Cẩn khéo tay cắt chiếc bánh chưng. Anh “mời” mỗi người mỗi góc. Bánh chưng không có nhân. Ba góc hạt nếp còn lõi trắng. Anh Ngọc ngồi trên võng ăn bánh, đọc thơ vui: “Chành bành ba góc nhân không có. Khép lại đôi bên nếp vẫn còn”. Chúng tôi cười rung mái lán lợp lá trung quân. Tôi nói: “Lo Tết cho hơn hơn 2000 con người vào ra, nấu cả trăm thùng phi bánh chưng thì làm sao mà bánh rền được. Tết chiến trường mà”. Anh lính trẻ Thái Bình bắt đầu “mở máy”: “Tết này chúng em mang cả quê hương ra trận đấy các anh ạ. Hôm qua chúng em đón đôi vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật đến ăn “cỗ tất niên” nữa đấy. Chúng em rửa sạch thùng phi trăm lít làm nồi, chặt cây tre chẻ đôi làm đũa cả, lấy gáo múc nước buộc dài cán làm muôi. Chúng em đổ cả yến gạo vào rồi cho luôn mấy bao ruốc thịt, bao bột trứng vào nữa. Nồi cháo tất niên của chúng em ngon lắm, ngon hơn đặc sản Nhà máy cháo Cầu Bo quê em đấy. Chắc các anh biết rồi, Cửa hàng ăn Mậu Dịch Cầu Bo- Thái Bình từng bán cháo gà, cháo sườn, cháo cá, cháo trai, cháo lòng... Năm hào một bát ô tô cũng chả ngon bằng cháo Tết Binh trạm chúng em nấu. Vợ chồng bác sĩ trẻ còn háo hơn chúng em. Mỗi người “oanh kích” đến 3- 4 bát B52”. Anh lính trẻ nói rằng: “Anh ấy tên là Thắng, chị tên là Bê, cùng ở ngành Y tế Thái Bình đấy. Ăn “cỗ Tết” xong, em sẽ đưa các anh “xông đất” chúc mừng cánh võng tuần trăng mật nhé...”. Trên đường đi qua các Bãi khách, Cường kể cho chúng tôi nghe rằng: “Quê em là vùng đất lành, nhiều của ngon, lắm người đẹp, nhiều đặc sản bán vào dịp Tết. Ở đó có làng nuôi được giống gà thơm thịt; có làng nuôi giống lợn béo, ngon lòng; có làng ở cửa sông làm nghề vó bắt được nhiều tôm cá; có làng chuyên nghề dệt vải, con gái da trắng nõn nà, bàn tay mũm mĩm; có làng trồng được cam ngọt, dịp Tết chín vàng ươm, thơm lừng. Người các nơi cứ nườm nượp đổ về mua như trảy hội. Bởi thế nên các cụ mới có câu nói vần vè lưu truyền lại cho con cháu. Nhưng có một tiếng “húy” Mồng một Tết phải “kiêng”, các anh nhà báo luận ra nhé: Gà Tò, lợn Tó, vó Vạn Đồn; “ứ ứ ừ” Cổ Am; cam Bích Thuận. Chị ấy ở làng “ứ ứ ừ” với em đấy”.

Chúng tôi đến Bãi khách số 2, vào chúc Tết đôi vợ chồng trẻ. Chúng tôi được biết anh chị tổ chức lễ cưới vào tối 23 tháng 12 năm 1974 thì sớm ngày ngày 28 tháng 12 mang ba lô nhập Trạm, nhận trang bị hành quân vào chiến trường. Cánh võng hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ cũng thật là đặc biệt. Hai chiếc võng vải bạt lồng vào nhau. Mỗi đầu võng hai sợi dây dù cũng xoắn bện vào nhau, buộc vào hai cây bằng lăng. Trên võng hai chiếc gối thêu hai bông hoa hồng rực rỡ đặt bên nhau. Mái tăng hạnh phúc màu trời xanh được che thấp xuống. Tôi đứng lặng nhìn mà lòng bâng khuâng cứ ngỡ như cả khoảng trời mùa xuân Trường Sơn đang che chở cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trên đường ra trận. Và, sợi dây dù giăng bên cánh võng phơi hai chiếc khăn mặt, áo quần... Trông ấm cúng như trong gian phòng nhỏ của một gia đình. Hai chiếc bánh chưng, mấy chiếc kẹo, gói chè, hai chiếc bát “B52”, bi đông nước để trên hai chiếc ba lô được xếp vuông vắn. Đó là bàn tiếp khách Tết trong lán Trường Sơn. Phía trên bàn tiếp khách có treo một tờ giấy bằng 2 bàn tay, găm bằng gai rừng vào mái tăng. Đó là đôi câu đối: “Hồng Lĩnh trai hùng lên tuyến lửa. Lam Giang gái đảm xuống đồng xanh”. Thấy tôi chăm chú đọc câu đối, Thắng nói: “Hôm nghỉ tại Binh trạm Kì Anh- Hà Tĩnh quê nhà, em đọc được đôi câu đối này ở nhà khách. Thấy hay quá, em ghi lại. Hôm qua ăn cháo “quê hương ra trận” về, em xé tờ giấy trong sổ tay viết treo lên để có không khí Tết đấy mà”. Thắng đi đến “bàn khách” rót nước từ bi đông ra hai bát và rót vào hai nắp hăng gô, mời chúng tôi uống. Thắng cười rộng mở. Sự hồn nhiên, trẻ trung, dồi dào sức lực rực lên trong ánh mắt của anh: “Các anh uống bát, còn em và Bê uống chung “cốc Trường Sơn” này (nắp hăng gô) để càng thêm gắn bó”. Tôi cầm chặt tay anh, ngắm nhìn anh. Ở đời đôi khi chỉ nghe giọng nói, nhìn ánh mắt, nụ cừoi hoặc nắm bàn tay đã phần nào phân biệt được con người vừa gặp, đang nói chuyện với mình đáng tin hay không, hay chỉ quen biết qua loa mà thôi. Nhưng đối với Thắng, dù mới gặp lần đầu trên chặng đường ra trận, anh đã chiếm trọn cảm tình và sự quý mên của chúng tôi. Chị Bê ngồi trên võng mở tập ảnh cưới ra xem, cười tủm tỉm. Trông chị hiền hậu, duyên dáng. Chị có nét đẹp thầm kín, mãnh liệt của thời con gái. Nhưng lúc này chị không dấu được niềm vui và sự thỏa thuê đã được giải tỏa khi được gần chồng. Điều đó dù chỉ thoáng trên gương mặt và cái nhìn của chị. Tôi, Anh Ngọc, Hà Đình Cẩn không nói ra thành lời nhưng đã gặp nhau trong ánh mắt... Chị Bê nói với chúng tôi: “Mồng một Tết chắc bố mẹ em, anh chị em và bọn bạn bầu nhắc đến nhiều, em nóng ruột lắm, máy mắt luôn. Nhưng được cái anh Thắng cứ luôn mồm như khiếu: “Đường ra trận xuân này vui lắm. Võng Trường Sơn có anh và có em...” nên em cũng khuây khỏa đi nhiều”. Thắng nhìn vợ cười to, nói: “Nếu có con trai, chúng em sẽ đặt tên là Nguyễn Thắng Lợi, con gái là Nguyễn Thị Trường Xuân. Vì giữa mùa xuân Binh trạm Trường Sơn mà. Các anh “mời cỗ Tết” đi. Được các anh xông lán đầu xuân, chúng em cầm chắc đạt nhiều may mắn. Có Thắng Lợi, có Trường Xuân như em nói...”. Đôi má chị Bê đỏ dậy lên như xoa phấn hồng. Chị đưa cặp mắt long lanh, ướt át nhìn chồng, cười.

Nhìn ra phía bờ suối thấy có cây trổ hoa, tôi đi nhanh đến đó, trèo lên bẻ hai cành. cánh hoa rừng màu trắng ngà phơn phớt tím nhạt gần giống như hoa bằng lăng thoảng nhẹ hương thơm ngọt. Anh Ngọc xé tờ giấy trong cuốn sổ công tác viết câu thơ:

         “Mừng cánh võng hạnh phúc
         Nhành hoa xuân Trường Sơn
         Đường dốc đèo mưa nắng
         Tình yêu nồng thắm hơn
         Hẹn ngày mai chiến thắng
         Vui Tết trên quê nhà
         Kể con nghe “huyền thoại”
         Võng hạnh phúc rừng xa.”

Chúng tôi đặt hai nhánh hoa và bài thơ lên hai chiếc gối thêu hoa hồng. Hà Đình Cẩn đừng tần ngần vẻ băn khoăn như thấy còn thiếu một thứ gì nữa. Bất ngờ anh mở túi thuốc đeo ở thắt lưng rút ra gói “Thuốc tăng lực” làm quà mừng đặt lên đó. Chúng tôi và cả đôi vợ chồng trẻ Thắng- Bê nhìn gói thuốc, nhìn nhau cười rung cây rừng Binh trạm. Đứng bên cánh võng hạnh phúc trong lán Trường Sơn, lòng chúng tôi dâng lên sự mến yêu và ngập tràn cảm phục. Chúng tôi nắm chặt tay nhau, ôm chặt vai nhau hẹn ngày chiến thắng gặp nhau.

... Thế rồi sau ngày chiến thắng, trên các chặng đường công tác, chúng tôi tìm hỏi thông tin đôi vợ chồng bác sĩ Thắng- Bê. Có người mách rằng anh chị đang công tác ở Bệnh viện Đồng Nai. Tôi đến đó. Không có. Rồi có tin Đoàn Thái Bình đã vào bổ sung cho ngành Y tế Trà Vinh. Tôi hỏi về đó, cũng không ai biết. Và hỏi. Và tìm những nơi khác nữa, nhưng đều không có thông tin trả lời. Những ngày sau anh Hà Đình Cẩn theo đoàn tàu hải quân ra Trường Sa ta vừa giải phóng. Anh Ngọc lên biên giới Tây Nam rồi đi với các đơn vị tiêu diệt bọn lính Pôn- Pốt diệt chủng, sang đến Ăng-co. Còn tôi ra Bắc đến với các chiến sĩ trên điểm tựa Thanh Thủy, Vĩ Xuyên, Mường Khương, Cao Ba Lanh... Công việc của người lính làm báo hàng ngày cuốn hút chúng tôi không ngừng nghỉ. Từ ấy, mỗi lần gặp nhau, chúng tôi lại nhắc đến chuyện của anh chị và xem đó như một “kì tích”.

Nay đã tròn 40 mùa xuân. Ngồi đọc lại những trang ghi chép ở Binh trạm Trường Sơn, lòng tôi cuộn trào lên nỗi bâng khuâng. Tôi bồi hồi nhớ đến ngày Tết đứng bên cánh võng hạnh phúc vui tuần trăng mật của anh chị dưới cây rừng năm ấy.

          “Xuân này anh chị ở đâu
      Bâng khuâng, mong gửi đến câu chúc mừng
         Bốn mươi năm hỏi thăm chừng
      Ước mơ “Thắng Lợi”, “Trường Xuân” thuở nào...”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:10:25 AM
25/Chàng rể si tình và...táo tợn

Rừng nhập nhoạng, ba lâm tặc tìm gỗ sưa chạy bán sống bán chết vào Trạm Biên Phòng. Cả ba người vừa khóc vừa gào méo cả tiếng: “ Xin các anh cấp cứu. Xin các anh cấp cứu. Chúng em có hai người bị con trâu đen, chân trắng, sừng cong húc chết ở bìa rừng…” Trạm Biên Phòng mời ông thợ săn thú ở xóm Khe Vàng đến nghe để xác định con ác thú. Ông thợ săn nói đúng là con bò tót rồi. Nếu dưới cổ con thú có đám lông trắng hình chữ V là con trâu rừng; dưới cổ có cái yếm da thủng thẳng gần phết đất là con bò xám, bò rừng. Đây đúng là con bò tót. Loài thú này hung dữ lắm. Nếu bị vây đuổi hay nghe tiếng súng nổ, các loài thú khác bỏ chạy nhưng bò tót thì tìm người xông vào húc đến chết mới tha. Nó là loài thú “ nhị đẳng sơn lâm” đấy. Mùa thu, tiết cỏ non sương giáng này là mùa nó động tình đi tìm bạn nên càng hung dữ hơn …

Sau này khi được đọc các tài liệu khoa học nói về loài bò tót hoang dã, lính biên phòng chúng tôi mới biết rõ về nó. Bò tót là loài thú quý hiếm, nước ta chỉ còn khoảng hơn 300 con. Bò tót đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, được phân hạng vào nhóm 1B. Nghị định 48/2002 của Chính phủ đã ghi rõ nghiêm cấm săn bắn, bẫy bắt, buôn bán; nghiêm cấm khai thác rừng nơi bò tót sinh sống để bảo vệ chỗ ở cho loài thú quý hiếm này. Liên minh Quốc tế bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ( IUCN) đã công bố tổng số 41.415 loài sinh vật trong khoảng 1,9 triệu chủng loại trên thế giới đã xếp hạng, có 16.306 loài đang nguy cấp; 785 loài đã bị tuyệt chủng; 65 loài chỉ còn tồn tại trong môi trường nhốt. Loài bò tót hoang dã quý hiếm trong rừng Việt Nam được coi là đang nguy cấp. Với vóc dáng đồ sộ, có con nặng đến gần hai tấn, cao 2,2 mét, dài hơn 3 mét, bò tót Việt Nam là loài động vật xếp thứ hai sống hoang dã trên cạn. Nó chỉ thua loài voi. Bà con người dân tộc vùng Tây Nguyên gọi bò tót là con min. Bà con người Thái, người Mông gọi nó là con tu ngưu pá… Bò tót thuộc bộ móng guốc ngón chân, họ trâu bò. Phần trước nó giống con trâu, phần sau giống con bò và có một lườn cơ bắp cuồn cuộn chạy từ bả vai đến sống lưng. Con bò tót đực có bộ sừng dài tới gần mét uốn cong hình bán nguyệt, trông oai phong hoành tráng; có bộ lông ngắn mềm mượt màu nâu thẫm lấp lánh ánh kim trông huyền bí như màu áo của hiệp sĩ thời cổ xưa. Con bò cái lông màu vàng bóng như màu tơ lụa gấm nhung. Loài bò tót từ đầu gối trở xuống đều có màu lông trắng đục trông như “ đi bít tất trắng” đặc trưng của loài bò tót hoang dã là dữ tợn, hung hãn và hiếu thắng.

Bò tót có tập tính sống bầy đàn, 8 , 10 đến 15 con một đàn. Cũng có lúc nó sống đơn lẻ một, hai con, hoặc những con già nua, yếu ốm sống riêng với nhau thành một nhóm như “ nhóm dưỡng lão”. Nơi bò tót sinh trú là vùng đồi cao gần nghìn mét so với mặt nước biển. Những nơi ấy là rừng già, rừng hỗn giao nhiều cây xanh tre nứa và có suối khe. Ban ngày chúng rủ nhau đi kiếm ăn. Loài bò tót biết tìm chọn thức ăn tinh, ngon, sạch không ăn tạp, xô bồ như các loài thú khác. Chúng ăn cỏ non, mầm lá, măng tre nứa, trúc lau, chuối rừng, cây non vừa mọc lên ba, bốn lá ở nơi rừng cháy, rừng mới đốt làm nương rẫy. Ban đêm, bò tót về quần tụ nơi thoáng mát. Gặp hổ báo gây sự, cả đàn lập tức đứng thành vòng tròn dương những cặp sừng nhọn thành hàng rào bảo vệ bê non, con già nua và “ các nàng” bò cái. Bò tót mang bầu gần chín tháng và sinh con vào mùa thu. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa một con. Ở nước ta, loài bò tót chọn nơi sinh trú ở vùng núi Sơn La, Mường Nhé, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, dọc biên giới miền Trung đến Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai… Các nước vùng Đông Nam Á: Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc… cũng có loài bò tót sinh sống. Riêng ở Malaysia có loài bò rừng gọi là bò Malai. Ở Ấn Độ có loại bò rừng Bizon nhưng đều không có quan hệ huyết thống với bò tót Việt Nam mà nó gần với  bò Châu Âu, bò Bắc Mỹ.

Bò tót hoang dã sinh trú trong rừng Việt Nam được các chuyên gia động vật thế giới công nhận là loài bò tót lớn nhất trong tự nhiên, lớn hơn cả trâu rừng Châu Á và bò rừng Bizon Bắc Mỹ. Với vóc dáng khổng lồ thiên định và sức mạnh vượt trội, bò tót không có kẻ thù trong thiên nhiên, ngoại trừ loài hổ. Nhưng phải là con hổ rất lớn, rất dữ dằn như hồ Bengal Ấn Độ mới dám đương đầu với nó.

Theo Bách khoa toàn thư mở, con bò tót trong đấu trường ở Tây Ban Nha là nòi giống bò hoang dã trên bán đảo Tây – Bồ được chọn lọc lai tạo với giống bò nhà Toro Bravô xuất hiện từ thời Đế chế La Mã cổ đại.

Những nghiên cứu về di truyền cũng chỉ ra rằng các con giống ấy có nguồn gen ADN cổ được tìm thấy trong loài bò ở Châu Phi có niên đại từ thời chiếm đóng của người Hồi Giáo trên đất Tây Ban Nha. Nó đều có nguồn gốc từ loài bò tót. Những con bò ấy được nuôi dưỡng và huấn luyện kỳ công trong thời gian bốn năm với những động tác cực kỳ táo tợn về khả năng gây hấn. Nó chỉ biết xông lên và … chết, không biết trốn tránh, chạy lùi. Người ta chỉ sử dụng nó một lần, vì lần sau nó không còn hung tợn nữa. Ngày xa xưa ấy con người đã sử dụng bò tót vào các trận chiến đấu với kẻ thù, sau đó mới đưa vào các đấu trường bò hiện đại ở Tây Ban Nha. Rồi lan sang các nước Nam Mỹ vì người Tây Ban Nha sang định cư tại đó.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:11:26 AM
Hình ảnh những con bò tót có màu lông huyền bí, với cặp sừng kỳ vĩ bất khả chiến bại trong các trận đấu là một trong những biểu tượng hùng mạnh  của đất nước Tây Ban Nha và là biệt danh của đội bóng đá quốc gia có bề dày đỉnh cao lịch sử.

Ở nước ta có điều bí ẩn mà chưa ai “ giải mã” được. Nhiều bà con người dân tộc sống lâu ở vùng Phước Bình, Đồng Nai đã nói rằng, từ lúc họ lớn lên biết sáng làm rẫy, chiều bẫy chim đến nay tóc bác như râu ngô, tóc vằn như lông cọp mới thấy con bò tót tốt với bò nhà như thế, “ si mê các em” bò nhà đến thế. Nó bỏ bầy đàn, lìa rừng sâu thẳm xăm xăm băng thác, vượt đồi ra ve vãn  bò nhà nhỏ nhắn chỉ bằng một phần ba cơ thể nó. Năm 2008 một chàng “ hiệp sĩ” từ bỏ đại ngàn về chân núi TaNin. Và chỉ trong vài ngày, “ hiệp sĩ” đã hạ gục gần chục “ tình địch”, xua đuổi hết bò đực choai vừa biết mon men đi sau bò cái… hích mỏ cười, để chiếm lĩnh trọn vẹn các “ nàng bò” non tơ. Rồi, chỉ trong vài ba năm, hàng chục “ hiệp sĩ” con ra đời.

Một bác già người vùng Bạc Lây – Phước Bình nói vui rằng, cái “ chàng rể si tình” ấy về “ ở rể” với các đàn bò nhà chỉ mấy năm từ chỗ nó hung tợn, nghênh ngáo đã “ hiền ngoan, nhẫn nhịn”, đã thành kẻ “ chăn coi” đàn bò thả rông; con cọp, con sói cũng phải lánh xa. Có lần bác đi theo đàn bò đến lúc mờ  bóng núi mút chân đồi, bác tránh mắt con chim Ktia bay cao, tránh mắt con chim Ktao lượn vòng để nhìn “ chàng rể si tình” chăm “ các em” bò nhà mà thấy lạ, mà thấy vui.

Ví như khi nhìn thấy những con ruồi trâu, ruồi vàng đến bâu đậu trên mình các “ nàng” là “ chàng ta” ba chân bốn cẳng chạy đến dùng mỏ, dùng đôi tai phẩy quạt xua đuổi. Rồi, chàng nghiêng mũi sừng kỳ cọ đám lông ấy để “ em” không ngứa ngáy. Nhìn thấy con vắt xanh, con sên đất bấu vào chân “ em” là “chàng” dùng mũi sừng gẩy rụng đi. Ban ngày “ chàng rể si tình” thường dẫn dắt     “ các em” đến những mái đồi, lũng núi có nhiều cỏ non, và cuối chiều lại dẫn “các em” đến đoạn suối trong uống nước. Mỗi lần dẫn các em đi, “chàng rể si tình” cứ lượn vòng quanh phóng tầm mắt nhìn tám hướng rừng giống như một “vệ sĩ”. Những lúc ấy trông “chàng ta” đầy vẻ oai phong, huyền bí giống một hiệp sĩ với cặp sừng nhọn dương cao giữa “đàn mỹ nữ kiều diễm”.

Bác già kể rằng thật là vui có những buổi cả đàn bò đang gặm cỏ thì “chàng rể si tình” đến cụng đầu, đọ mặt từng “em”. “Chàng” ngửi má, ngửi mồm rồi hòa nước bọt vào nhau. “Chàng” làm động tác âu yếm như “hôn” các “em”. Lúc ấy con vật nhắm tít mắt lại. Ôi! Thế có giống con người ta không nhỉ. Có nhà nghiên cứu tâm lý nói, con người ta khi ngủ, khi khóc, lúc nguyện cầu, lúc suy tưởng đến những ước mơ đẹp, hứng khởi nhất… và cả khi hôn nhau cũng nhắm mắt lại. Bởi vì những điều sung sướng nhất thường không thể nhìn thấy bằng mắt mà chỉ cảm nhận được trong lòng. Không biết con vật lúc ấy có nét nào giống con người ta không?

Thực ra việc loài động vật có vú biết hôn nhau để giao lưu tình cảm với nhau thì đã có từ lâu đời rồi. Có nhà nghiên cứu lâu năm về các loài động vật cho ta biết rằng hồ sơ lưu trữ cổ xưa ghi trong văn tịch bằng chữ Phạn của nền văn hoá Hin Đu đã nói về điều ấy. Từ thời Vệ Đà cách ngày nay hơn 3500 năm đã mô tả loài động vật có vú biết hôn nhau. Nụ hôn như đã hút hồn chúng nó. Loài tinh tinh và vượn biết hôn nhau rất sớm. Một nhà tinh tinh  học Hoa Kỳ nói ông ta đã chứng kiến nhiều trường hợp hai con tinh tinh ôm hôn nhau sau khi có xung đột với nhau như để hoà giải, để xin lỗi nhau. Loài vượn bonobo họ hàng với tinh tnh còn biết dùng lưỡi lúc hôn nhau. Con cái sẽ nhận biết được con đực  nào tiết ra nhiều chất hấp dẫn có sức cuốn hút thì quấn quýt với con đó. Loài động vật cũng giống như con người lúc hôn nhau mùi hương có vai trò kích thích mạnh mẽ, nhất là thời kì sinh sản. Vì lúc ấy giống đực tiết ra nhiều chất pheromone trong nước bọt, trong mồ hôi. Chất đó làm hưng phấn bạn tình. Con người chúng ta cũng thừa hưởng những đặc điểm sinh học như các loài động vật có vú. Vì thế mà con bò tót hoang dã trở thành “chàng rể si mê” và những “nàng” bò son tơ đã mê mẩn để cùng được hưởng thụ “lộc trời” theo bản năng.

Chuyện ấy mấy năm vừa rồi đã diễn ra ở các vườn Quốc gia, ở Phước Bình, ở Ninh Thuận... Một “chàng rể si tình” đã lẳng lặng tách đàn về giao duyên với các “nàng” bò son tơ. Rồi “chàng rể” đã để lại những đứa con lai mang hình dáng “bố” như lột. “Đúng là nòi nào giống ấy”. Những con bê lai về hình dạng đều có sọc đen trên lưng, chân đi “bít tất trắng” và rất rõ tính năng vượt trội, thân hình to lớn gấp hai các chú bê nhà. Đặc biệt nó có giá trị tạo ra nguồn gen quý hiếm trong tự nhiên, tạo ra giống bò lai có năng suất cao về kinh tế, vì mỗi con sẽ cho đến sáu, bảy trăm kg thịt… Nó còn tạo ra những thế hệ bò lai lớn nhanh, sức đề kháng cao, chịu đựng được sự khắc nghiệt của thời tiết, vượt qua được những bệnh tật mà giống bò nhà thường mắc phải. Nghe bác già nói, tôi ngầm nghĩ rằng phải chăng đây là một thông điệp cho con người. Nếu con người hiền hòa sống thân thiện không đuổi đòi dồn ép những con vật hoang dã vào chỗ chết thì chắc chúng sẽ bớt dữ dằn hung tợn…

Điều rất vui là bà con người Raglai, người Chura nuôi bò ở đây đang tìm cách mai mối và vun vén cho những mối tình của các “nàng” bò nhà với các “chàng rể si tình”. Vì một lẽ “các nàng bò son tơ” dù đẹp mượt mà đến đâu cũng chỉ có giá trên chục triệu đồng, nhưng khi đã “bén duyên” và nhận được “chút hoang dã” với “chàng rể si tình” thì giá tăng lên đến bảy mươi, tám mươi triệu đồng. Và nếu có bê con chào đời thì lập tức giá tăng vọt lên đến hai trăm, ba trăm triệu đồng. Điều đó đã thực sự làm cho người dân sống ở buôn làng nơi thâm u vùng non nước cao xanh này đổi đời.
Các nhà khoa học ở Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đang trăn trở thực hiện thành công Đề tài nghiên cứu giám định di truyền nguồn gen quý và đánh giá khả năng phát triển bò lai giống F1. Điều đó sẽ góp sức làm cho ngành chăn nuôi của chúng ta phát đạt. Và, điều đó không còn chỉ riêng trong phạm vi nước ta mà thế giới đã biết đến những điều kì lạ về “món quà thiên nhiên ban tặng chúng ta”. Được người bạn đồng nghiệp cho biết ở  vườn Quốc gia Phước Bình có ông già tạo được chiếc kèn làm bằng sừng con bò tót. Chiếc kèn chỉ dài bằng bắp ngô. Nhưng chiếc kèn của ông đã cất lên tiếng trầm bổng du dương nghe như tiếng gió thổi đầu non, như tiếng thác reo trong lũng thẳm. Tiếng kèn như quy tụ âm hưởng của đất trời vùng non nước cao nguyên. Tiếng kèn đã gợi được đàn khỉ về nhảy nhót hót mừng. Tiếng kèn đã  gọi được đàn voọc chà vá má hồng mông trắng về, gọi được mang Trường Sơn đến, gọi được chim về làm tổ trên cành Knia… Bà con đang mong ông hãy thổi chiếc kèn K’rây ấy lên gọi những “chàng rể si tình” ở chốn non ngàn hoang dã về….


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:15:16 AM
26/Sam biển thủy chung gặp người nhân hậu

“Ngóng lên đỉnh rừng vàng cậu con trai đứng gác. Ngó ra bờ biển bạc ông bố mang súng tuần canh. Xóm làng ta khuya sớm được yên bình. Nhớ con người thuần hậu sống trọn nghĩa vẹn tình với dân…”

Những câu hát theo làn điệu ví ấy trong hoạt cảnh vui của Đội Văn nghệ Làng Hội trình diễn tặng ông Trần. Ông là Trưởng công an làng. Ông đang có cậu con trai cả là lính trên Trạm gác tiền tiêu của Đồn biên phòng Cầu Treo.

ấy ông Trần được trang bị một khẩu súng trường CKC. Ông nhận nhiệm vụ hàng ngày vào lúc hừng đông mới ló dạng và buổi chiều muộn lúc khói sóng mờ nhòa biển xanh đi tuần từ bãi ngang lên Cửa Hội. Bởi ngày ấy lúc đêm khuya, lúc trời nhập nhoạng bọn giặc thường dùng thuyền cao su đưa người nhái xâm nhập vào cửa biển dò la, thám sát tuyến phòng thủ của ta. Có lần chúng đã táo tợn vào các xóm vắng bắt cóc ngư dân đưa đi khai thác thông tin rồi vất xác xuống biển. Lúc triều lên, ông Trần đi bên mép sóng, ông xem có dấu vết thuyền trượt cát vào bờ không; trong rác biển có truyền đơn, có hàng “chiến tranh tâm lý”, có máy thu thanh rẻ tiền đã cài sẵn băng xuyên tạc nói xấu làm suy giảm lòng tin của nhân dân, giặc thả sóng đêm lùa vào bờ không. Lúc triều xuống, ông nhìn kỹ những đám cát non bầy dã tràng  đã xe viên tìm mồi, có dấu chân, dấu giày không… Có những buổi đi sớm, ông Trần đã nhặt được những con chim vàng anh lông vàng, con chim cu biển cánh xanh đốm tím, con chim bói cá mỏ đỏ như nhuộm sơn… Chúng từ Đảo Ngư, Đảo Mắt bay vào bị gió đập mưa vùi sóng biển trôi dạt. Ông Trần ủ ấm nó trong áo đưa về nuôi. Lúc chim khô lông rộng cánh cất được tiếng hót, ông thả nó vào rừng phi lao. Có bữa ông nhặt được con mèo lông vàng của một nhà đã chuyển đi xa bỏ lại. Ông ôm nó về nhà, chăm chút và tắm cho nó (lần đầu ở vùng biển này có người tắm cho mèo). Con mèo béo tốt mượt lông vàng. Ông đặt tên cho nó là con Biển Vàng. Đi đâu về đến cửa, ông Trần gọi “meo, meo Biển Vàng”, con mèo chạy ra đón ông, quấn quýt bên ông. Đêm ông nằm trên chõng tre, con Biển Vàng nằm gác đầu lên chân ông. Một buổi sáng ông Trần nhặt được chiếc túi vải vùi lấp trong cát. Trong túi có cả triệu đồng gấp chung với một lá thư. Cái túi vải đó của một bà ở xóm bên đi mua cá, và lá thư đó của cậu con trai bà ở chiến trường vừa gửi về. Ông Trần đã đưa tiền, đưa thư đến tận nhà cho bà. Còn buổi sáng nay, ông Trần đã gặp con sam bò từ trên bãi cát xuống biển sóng. Nhìn nó, ông đã nhận ra ngay  đây là con sam “chồng”, vì phía đầu vành mai cứng của nó vẹt lõm một mảng lớn.
Là người dân biển quen vào lộng ra khơi với nghề đánh cá, ông đã được các bậc cao niên truyền lại rồi. Nhờ cái “khuyết tật” vẹt lõm vành mai tạo hóa ban cho mà con sam “chồng” được “vợ” nuông chiều cõng trên lưng suốt đời. Nó sống được chỉ nhờ sam “vợ”. Con sam “vợ” tròn vành kín mai úp bắt được mồi ở đáy biển rồi “đút” cho ăn. Rời sam “vợ”, sam “chồng” chết đói. Các cụ ở vùng biển có thói quen ngắm tướng mạo con cháu rồi “phán”: “Con trai đứa nào hớt môi sam chỉ bẻm mép, suốt đời sống nhờ vợ!

Ông Trần đoán chắc rằng vợ chồng nhà sam này đêm qua đưa nhau lên bãi cát tìm chỗ đẻ trứng. Vì khi đẻ xong, sam “vợ” bò xuống biển thì sam “chồng” ở lại ấp trứng, thụ tinh cho trứng nên bò xuống sau.  Ông Trần nấn ná dừng lại. Ông chờ con sam “chồng’ bò xuống biển, lúc con sóng nâng nó ra xa bờ ông mới đi. Ông phòng xa nhỡ có người đi sau, họ sẽ bắt nó. Và, khi lẻ đôi thì “vợ chồng’ nhà sam đâu còn sống được nữa. Ông Trần cũng đã nghe các cụ kể chuyện về sự tích “thủy chung” của “vợ chồng” nhà sam ở vùng biển Cửa Hội này. Chuyện rằng một cặp vợ chồng thuyền chài nghèo hàng ngày thả câu dăng lưới bắt cá trên vùng biển quanh Đảo Ngư. Rồi người vợ bị bọn cướp biển lừa phỉnh bắt đi. Người chồng cầu khẩn ông tiên ngự trên đỉnh Đảo Ngư, xin ông cứu vớt. Ông tiên thương tình cho người chồng mượn viên ngọc quý ngậm vào miệng đi tìm vợ. Ông tiên dặn anh ta rằng không được rỉ răng với ai chuyện ông cho mượn ngọc. Nhưng khi tìm cứu được vợ rồi, chị ta nằng nặc đòi chồng kể cho nghe câu chuyện thần bí đó. Anh chồng chiều vợ, quên lời tiên dặn đã kể cho vợ nghe. Viên ngọc trong miệng anh rơi tòm xuống biến sóng... Rồi cơn cuồng phong ập đến, vòi rồng cuộn nước dâng lên. Chiếc thuyền câu chìm xuống đáy biển. Vợ chồng người thuyền chài chết đuối. Khi chết, họ vẫn còn ôm chặt lấy nhau và đã hóa thành đôi sam biển. Từ sự tích đó mà người dân vùng biển đã có câu nói: “ Thương nhau dính chặt như sam”.

*

Loài sam biển – theo các tài liệu khoa học là sinh vật giáp xác thân mềm thuộc ngành chân khớp đã xuất hiện hơn 200 triệu năm trước dưới đáy Đại Dương. Chúng sống thành từng đôi với nhau. “ Vợ chồng” nhà sam        “ thủy chung” và không lúc nào rời nhau. Quanh năm cùng tháng                   “sam vợ” cõng “ sam chồng” trên lưng. Bắt được con mồi, “ sam vợ” dùng hai chân sau quắp lấy ngoặt ngược lên “ đút” vào miệng cho “ sam chồng”. Có tài liệu gọi loài sam biển là “ cua móng ngựa”. Thoạt nhìn không ai thấy nó giống loài cua và móng nó cũng không giống móng ngựa. Nhưng từ xa xưa nó có quan hệ di truyền với loài cua và nhện.

Sam được các nhà khoa học gọi là loài vật đã “ hóa thạch sống”, bởi qua hàng trăm triệu năm rồi mà hình hài của nó vẫn không hề biến đổi. Loài sam có cấu tạo cơ thể thật lạ đến kỳ quái. Nó có đến bốn mắt. Hai mắt lồi ra hai bên cơ thể. Hai mắt còn lại nằm trên đầu. Mai cứng của con sam có dạng cái gáo, hình móng ngựa. Ở con sam đực mai bị vẹt lõm một đoạn ở phía trước. Con cái có chiều dài gần 400 cm, con đực nhỏ hơn chỉ gần 300cm. Loài sam có tám đôi chân đều tua tủa gai nhọn, sáu đôi chân trước dùng để bơi, còn hai đôi chân sau thì chuyên bắt kẹp, giữ, xé con mồi đưa vào miệng. Và nếu là con “ sam vợ” thì quặt ngược lên “ đút” mồi cho “ sam chồng”. Loài sam có một cái đuôi dài đến 30cm hình ba cạnh nhọn sắc như mũi lê có gai móc câu. Cái đuôi sam rất khỏe, nó là “ bánh lái” định hướng lúc di chuyển và giữ thăng bằng lúc bị sóng xô đẩy lật nghiêng ngửa...

Sam là loài sinh vật thở bằng mang. Nó có tới 150 tấm màng mỏng như lá cây hút lọc oxi trong nước. Sam chỉ có thể thở và sống được khi những tấm màng mỏng ấy dầm trong nước. Sam là sinh vật tạp ăn. Nó xài hầu hết những loài giáp xác thân mềm: cua, tôm, ốc, hến... ẩn nấp trong cát, trong bùn mà cái mai của nó là cái chụp úp bắt được. Sam ăn cả tảo biển và không từ xác chết của sinh vật.

Đặc tính của loài sam ưa thích sống trong môi trường vùng đáy biển cát pha bùn. Vào khoảng tháng ba đến tháng mười hàng năm, sam thường rủ nhau về quần tụ, ở các triền cát cửa sông nơi có nhiều thức ăn. Chúng đến đó như để “mở mùa hội… giao phối”. Chúng đến từng cặp với nhau, rất hiếm con đi lẻ. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và cả bà con ngư dân chuyên làm nghề đánh cá biển nói rằng, “Vợ chồng nhà sam” bò đi đau cũng cõng nhau từng đôi, nếu một con bị người bắt, bị chết thì con còn lại cũng chết luôn. Nếu nó còn sống một mình sẽ trở thành con “sam độc”. Cho đến nay chưa có ai giải mã được điều bí hiểm vì sao một loài sinh vật ở biển lại có “cuộc sóng thuỷ chung cực đoan” đến như thế. Sau “mùa hội….” đó, chúng tìm đến các bãi cát ấm đẻ trứng. Trứng sam có hình dáng giống hệt như hạt tiêu sọ màu trắng ngà. Lúc “sam vợ” đẻ trứng, “sam chồng” là kẻ bảo vệ trung thành túc trực canh giữ rồi thụ tinh cho trứng. Xong, “vợ chồng nhà sam” bới cát vùi lấp kín ổ trứng rồi xoá dấu vết và lặng lẽ trở về biển xanh.Gần chục ngày sau, ấu trùng trong trứng nở ra lột xác biến thành hình hài chú sam con nhưng chưa có đuôi. Sau ba tuổi, sam phân biệt giới tính và chọn “bạn tri kỷ” kết đôi. Cả cuộc đời con sam sau đó phải lột xác từ 16 đến 20 lần.

Ở Việt Nam ta, loài sam sinh trú nhiều nhất vùng biển các tỉnh Miền Trung. Ở biển Ấn Độ, Tây Thái Binh Dương, vùng Biển Đỏ, biển Đông Phi, biển Nhật Bản… Cũng có loài sam sinh sống,


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:16:53 AM
Ngoài ý nghĩa khoa học, phát hiện loài sam là hiện vật “hoá thạch sống” từ kỷ nguyên ordovic (1), loài sinh vật biển này còn có giá trị về dược học. Máu loài sam màu xanh vô cùng quý giá (trên 15.000 USD/ lít), có nhiều chất mang hoạt tính sinh học cao, có khả năng nhanh chóng phát hiện độc tố endotoxin của vi khuẩn trong sản xuất thuốc. Máu loài sam còn có tác dụng làm đông tụ lượng vi khuẩn và khiến tác nhân gây bệnh bất động. Nhờ đặc tính này mà ngành dược học nước Mỹ dùng máu sam tạo ra chế phẩm lysate sử dụng trong việc chẩn đoán bệnh lậu, bệnh nhiệm khuẩn máu ở trẻ sơ sinh và một số chứng bệnh khác. Có tài liệu khoa học đã cho biết rằng chế phẩm lysate từ máu loài sam dùng để thử các loại vacxin xem có sót độc tố trước khi sử dụng cho người. Máu của loài sam còn chế ra thuốc có khả năng ngăn ngừa và chữa bệnh ung thư, diệt khuẩn, thải độc, tăng cường sức đề kháng cho người. Loài sam biển tính hàn còn chế biến được nhiều món ăn ngon trở thành đặc sản biển như: gỏi sam, sam xào chua ngọt, sam xào sả ớt, trứng sam chiên dòn, sam bao bột rán, sam nướng, sam hấp…

Đặc biệt sam là loài không thể nuôi được như các loài tôm, cá. Nó chỉ phát triển tự nhiên hoang dã trong Đại Dương. Loài sam biển đã được ghi tên vào Sách Đỏ Việt Nam từ năm 1992 và năm 2000. Hội Bảo tổn tài nguyên biển đã có kiến nghị cần có những khu bảo tồn các bãi đẻ trứng của sam để bảo vệ loài sinh vật này.

Một buổi sáng sớm, ông Trần mang súng đi bên mép sóng. Ông ngạc nhiên vì nhìn thấy hàng chục con hải âu từ biển bay vào lượn vòng rồi thi nhau chúc đầu xuống bãi cát nhặt mồi. Ông đi nhanh đến thì ra lũ chim đói đang nhặt những con sam tội nghiệp bò trốn nhanh xuống biển. Ông Trần vẫy khăn, tung mũ đuổi đàn chim đói đi. Ông đứng canh giữ cho lũ sam con bé bỏng chập chững bò trên cát. Khi con sóng triều ban mai xô lên đón hết lũ sam con về biển cả, ông Trần mới đi lên phía cửa Hội. Nhìn sóng biển, ông cười vui, nụ cười thật hiền hoà và thân thiện - “Chắc bố mẹ chúng đang chờ ở ngoài đó” ông Trần thầm nghĩ.

Vừa về đến sân nhà, ông Trần nhận được tin sét đánh. Cậu con trai ông vừa được đồng đội đưa về Quân y viện. Ông bàng hoàng, treo vội khẩu súng lên cột nhà rồi nhờ người bà con đèo xe đạp lên Viện. Anh Quân y đón ông ở cửa phòng cấp cứu. Anh nói với ông rằng mừng cho bác, anh Hữu đã tỉnh lại rồi, đã qua cơn nguy kịch rồi. Anh ấy bị bệnh sốt rét chuyển sang dạng ác tính hôn mê. Anh em ở Đồn biên phòng phải cáng anh ấy đi xuyên rừng suốt đêm, ra đến bến sông Ngăn phố mới có đò chở về đây. May lắm bác ạ. Bệnh này mười ca chỉ cứu được một, hai ca…..

Ông Trần nhìn cậu con trai, đôi chân ông khuỵu xuống. Da cậu như màu đất rêu, tóc trên đầu rụng gần hết…” Nhưng đôi mắt nó, cái nhìn của nó còn thần sắc. Nó sẽ lại hồn. Nó sẽ sống…” Ông Trần mừng thầm.

Buổi chiều, ông ngồi đút cho cậu con trai từng  thìa cháo mà lòng cứ tính gần nghĩ xa… Ông nhớ về một bữa cơm chiều của nhà ông năm xưa dọn ra trên sân cát biển. Cái mâm gỗ sứt mẻ vành được đặt giữa chiếc nong nan tre hàng ngày phơi tôm cá. Cả nhà ngồi quây quần xung quanh. Ông nội gắp vào bát cho các cháu mỗi đứa một đũa trứng sam vàng hươm, thơm phức  đã nướng chín gói trong lá chuối. Ông nói với con cháu lời tâm huyết như muốn dốc cả nỗi lòng của tuổi già: “Phúc lộc ông cha để lại giống như mạch nước ngọt mát lành chảy ngầm trong lòng đất. Mạch nước ấy sẽ chảy về cái giống nhà cho con cháu hưởng đời đời…”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:20:02 AM
27/Dã tràng "hát" với biển trăng

Sóng biển muôn đời dạt dào. Gió đại dương muôn đời vi vút. Biết cơ man nào những con dã tràng muôn đời cần mẫn xe cát tìm mồi tạo nên các âm tiết hoang dã rồi tan biến trong những đợt sóng triều. Theo sách “ Khám phá biển”, cách đây 4,5 tỷ năm trái đất được tạo thành từ những vật chất trong vũ trụ kết lại, rồi phải đợi hàng triệu năm sau các Đại dương mới xuất hiện. Nước không ngừng những vòng tuần hoàn và tạo ra những vỉa san hô ở đáy đại dương. Từ các vỉa san hô ấy sinh ra hàng ngàn loài động vật giáp xác biết bơi, biết đi bằng hai chân. Chúng sống dưới đáy biển và tụ tập thành đàn đến hàng vạn con ở bãi cát, bùn non lầy lội ven bờ các vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương. Còng còng tên gọi chung để chỉ nhóm cua biển trong bộ giáp xác có mai cứng, yếm mềm, có năm cặp chân hoạt động cực kỳ nhanh nhạy như: con cua, cáy, dam, rạm, con ghẹ, con tôm hùm... Em út bé nhỏ nhất trong nhóm là con còng còng – chỉ bằng đốt ngón tay người. Không biết cái tên dã tràng nó được mang từ bao giờ. Phải chăng cái tên thoạt nghe đã gợi nên sự bi ai buồn thảm ấy bắt nguồn từ truyện cổ tích truyền tụng trong dân gian: “ Dã tràng xe cát biển đông” không? Truyện kể rằng trong vườn của một ông già, tên là Dã tràng có cái hang rắn hổ mang. Một hôm con rắn chồng bò ra một mình, rắn vợ nằm cuộn trong hang vì mới lột. Lúc sau rắn chồng bò về miệng cắp một con nhái đút cho vợ ăn. Ít lâu sau rắn chồng lột, rắn vợ bò đi tìm mồi nuôi rắn chồng. Lúc rắn vợ trở về có một con rắn đực bò theo. Rồi hai con quấn lấy nhau như bện dây thừng trước cửa hang. Xong, con rắn hổ mang đực hăm hở bò vào hang. Dã Tràng nghĩ có thể nó sẽ làm điều ác với con rắn chồng đang ốm yếu. Ông dương nỏ bắn con rắn đực hoang tình. Nhưng chẳng may múi tên trúng đầu con rắn vợ... Một hôm trong bữa cơm chiều, ông Dã Tràng kể lại chuyện đó cho vợ con nghe thì có con rắn hổ mang phì phì trên xà nhà, rồi nhả xuống một viên ngọc. Giữa đêm khuya viên ngọc phát ra tiếng nói “ Ông là ân nhân của tôi. Trước đây tôi cứ ngỡ ông là kẻ thù, tôi tìm đến báo oán. Nhưng bây giờ đã rõ chuyện, tôi xin biếu ông viên ngọc quý này. Ông đeo nó bên mình thì nghe được tiếng nói của muôn loài chim muông...” Một hôm ông Dã Tràng nghe được tiếng lũ chim sẻ rủ nhau bay lên vùng biên ải ăn thóc gạo, vì nước láng giềng động binh sang đánh, xe chở lương thực sụt đổ bên sông. Dã Tràng báo tin đó với triều đình. Vua đem quân lên chống giữ ngăn chặn được cuộc chiến tranh... Một lần khác, Dã Tràng đến chơi nhà người bạn thân. Đêm ông nghe được vợ chồng nhà ngỗng sụt sùi than khóc với nhau ngày mai sẽ phải chết không bao giờ được gặp đàn con nữa. Sáng sớm Dã Tràng nói với người bạn “ Tôi có trọng bệnh phải kiêng ăn thịt ngỗng”. Vợ chồng bạn dọn cơm với đĩa tép đãi Dã Tràng. Lúc khách rời nhà, vợ chồng nhà ngỗng đi theo. Con ngỗng chồng khạc từ cổ ra một viên ngọc báo ơn, nói: “ viên ngọc này sẽ giúp ngài đi khắp thiên hạ qua sông biển cũng như đi trên đất bằng vậy...”. Để nhớ ơn thế mạng, từ đó loài ngỗng không ăn tép và trên đầu mọc lên một cái mào trắng để tang cho loài tép.

Biết Dã Tràng có ngọc quý, Đông Hải Long Vương muốn cướp đoạt, đã xuống chiếu: Ai đưa ngọc quý đến dâng, đàn ông thì được phong làm Tể tướng, đàn bà được phong làm Hoàng hậu. Vợ Dã Tràng đã trộm túi ngọc của chồng dâng lên Đông Hải Long Vương. Dã Tràng tức giận, suốt ngày dài đêm vắng ông miệt mài xe cát lấp biển mong thành con đường đi xuống Thủy phủ gặp Long Vương để đòi lại ngọc quý. Ông già làm việc đó đến lúc kiệt sức chết hóa thành con còng còng. Dân gian gọi là con Dã Tràng xe cát biển Đông...

*

Theo Bách khoa toàn thư mở, Dã Tràng có tập tính xe cát thành từng viên để tìm thức ăn, khi thủy triều xuống. Thức ăn của Dã tràng là xác tôm tép, rong rêu, xác cá nát vụn lẫn trong cát. Trong cuộc sinh tồn, dã tràng có những động tác rất lạ lùng và thú vị. Đó là hai chiếc càng to phía trước của nó hoạt động nhịp nhàng như hai chiếc máy xúc đào hất cát lên, bốn cặp chân sau của nó mềm mại đón cát. Miệng nó  phun vào cát  những bong bóng nước bọt như để lựa chọn tiếp nhận mồi và “ tăng chất phụ gia” để xe thành viên tròn trĩnh, đều đặn như  đúc nén trong một khuôn lò. Chừng vài giây đồng hồ lại có một viên cát ướt lẫn cả sạn biển được “ chế tác rất nghệ thuật” đặt nhẹ nhàng xuống  quanh cái hang lỗ của nó. Rồi cứ thế những viên cát được xếp rộng vòng ra bằng cái mâm ăn cơm, bằng cái nong phơi tôm, cá. Khi vòng tròn viên cát giáp với “ lãnh địa” của đồng loại thì cũng vừa lúc sóng triều lên. Con sóng như những cái lưỡi tàn nhân cuốn đi tất cả “ công trình nghệ thuật” ấy của nó, thì nó chui xuống hang hầm hình xoắn ốc ẩn náu. Dã tràng nằm nhấm nháp thức ăn, kiên tâm chờ vầng trăng, mặt trời, biển cả tạo con nước triều ngày mai rút xuống. Và, có thể chưa nhiều người biết điều bí ẩn đến kỳ diệu này của con Dã tràng. Đó là mỗi con “ trời ban” cho nó một “ bộ máy khí tượng thủy văn” gắn ở chân. Các cặp chân của Dã tràng đều được phủ một lớp lông. Lớp lông đó giúp nó phát hiện con mồi, thăm dò mặt cát, đo nhiệt độ của nước, biết chừng thủy triều lên, sớm phát hiện tiếng động từ xa để chui xuống hang ẩn náu. Trong biển đêm mịt mùng sóng gió, “ chàng” dã tràng đã dùng đôi càng to phía trước gẩy vào mai cứng tạo nên các âm tiết như tiếng đàn để quyến rũ bạn tình đến. Nên có những vùng biển, bà con gọi nó chung tên với loài cua vĩ cầm. Tuy “ đa tình” vậy nhưng dã tràng có tập tính sống “ cô đơn” trong “ lâu đài” xoắn ốc. Mỗi “ lâu đài” chỉ có một con sinh trú. Những đêm trăng sáng mùa biển ấm, “ chàng ta gẩy đàn” gọi bạn tình đến. Tàn cuộc vui thì “ nhà ai” nấy về yên phận ở, chờ nghe “tiếng đàn” gọi tình dưới trăng khuya chúng lại đến với nhau. “ Nàng” dã tràng mang bầu đến hàng nghìn quả trứng. Mỗi quả chỉ nhỉnh hơn hạt cát biển. Ấu trùng dã tràng nở ra trôi dạt vào đám phù du làm mồi cho đồng loại, chỉ có một phần rất nhỏ trưởng thành dã tràng con.




Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 23 Tháng Tám, 2017, 12:25:18 AM
Từ xa xưa những người dân đánh cá trên biển đã bắt được “ cái thần” của loài giáp xác hoang dã này. Họ đã gắn những điều “ tinh tế” ấy vào tính cách của những ai quanh mình để “ thuận” cho việc giao tiếp hàng ngày. Ví như người có tính ngang như cua; nhát như cáy; người có mồm mép như tép nhảy; đôi trai gái không rời nhau thì được ví như đôi sam; kẻ sống lộn xộn tình cảm trong họ hàng hoặc hỗn láo với bậc sinh thành thì gắn cho “ mác đen” họ nhà tôm phân lộn lên đầu. Người có tính xấu hổ e thẹn hay lánh mặt thì được ví như con dã tràng luôn ẩn mình trong “ lâu đài” cát... Thế nhưng theo các nhà nghiên cứu tâm lý con người thì riêng điều sau cùng này chưa chuẩn, vì loài vật không hề biết xấu hổ. Xấu hổ là một trạng thái nhận thức của con người. Con người là loài động vật duy nhất sống trên trái đất này biết xấu hổ. Cha đẻ của thuyết tiến hóa nhân loại (1) nói biết xấu hổ là hành vi đặc thù của loài người so với cầm thú. Vì khi con người biết mình làm những điều không hợp với chuẩn mực thông thường, sai đạo lý, trái lương tâm, tham lam, gieo điều ác, tiếng xấu cho đồng loại... thì biết xấu hổ, nếu không nhận thức được điều đó thì họ chưa thoát ra loài cầm thú. Con dã tràng hoang dã thì không phân biệt được điều đó.

*

Rạng sáng. Hừng đông tỏa ánh hồng xuống biển xanh. Triều lên muộn. Con sóng vô tư dập dờn mơn man bờ cát hiu quạnh trải rộng dưới chân đèo. Hằng hà sa số dã tràng mê mải với cuộc sinh tồn xe cát tìm mồi. Bạt ngàn những viên cát xếp trải kín bãi, nhìn vơi tầm mắt.

Đội tuần tra của Đồn biên phòng Mũi Gió dừng lại trước những dấu giày, vết trượt trên bãi cát. Đây là vùng bờ biển hiểm yếu, là trọng điểm bảo vệ của Đồn biên phòng. Vì hàng ngày tất cả các phương tiện giao thông qua đèo Ngang duy nhất chỉ có một con đường độc đạo cheo leo và buộc phải qua cầu Khe Lũy.

Ngày ấy – những năm sáu mươi thế kỷ trước – bọn giặc ở Trung tâm huấn luyện đặc biệt có biệt danh “ Flying John” đặt ở một hẻm núi vắng giữa biên giới hai nước Việt – Miên. Trung tâm này chuyên đào tạo gián điệp biệt kích: “ Sói điên”, “ Cọp đen”, “ Gấu xám” ... thả ra phá  hoại các tỉnh phía Bắc. Chúng đã hai lần thả lũ “ thú điên” ấy ra đây. Một toán nhảy dù xuống giữa đêm trăng, một toán luồn rừng vượt biên giới nhằm đánh sập cầu Khe Lụy, khống chế con đường huyết mạch qua đèo Ngang. Nhưng lũ “ thú điên” ấy đã bị biên phòng bắt nhốt vào “ cũi sắt”.

Anh đội trưởng ngồi xuống. Anh nhìn kỹ những đám cát dã tràng xe tìm mồi trong đêm bị xéo nát. “ Cư dân” dã tràng sinh trú nơi đây đã giữ nguyên vẹn hiện trường dấu giày, vết trượt bên mép sóng của ba kẻ xâm nhập để “ tố cáo” với các anh. Thoạt nhìn các dấu giày đó đều cùng một hướng từ bãi cây rậm dưới chân đèo đi ra biển nơi có vết trượt dài trên cát. Sự cảnh giác đã sáng lên trong ánh mắt của anh Đội trưởng. Anh gọi các chiến sĩ trong đội tuần tra đến đo dấu giày, xác định độ lún của nó trong cát... Chẳng lẽ lũ biệt kích đã đưa thuyền cao su vào bờ đón người trong đất liền đi ra? Không. Không thể như thế. Vì người đi lên phía trước thì mũi giày bao giờ cũng lún sâu hơn trong cát bởi phải rướn sức lên theo đà lao tới. Ở đây gót giày lại ngập sâu vào trong đám cát dã tràng xe viên. Đúng rồi, những tên giặc đã dùng thủ đoạn đi loại giày ngược đế- gót giày quay về phía trước, mũi giày phía sau – hòng đánh lừa ta.

Đồn biên phòng Mũi Gió triển khai ngay phương án chiến đấu bảo vệ cầu giữ an toàn con đường lên đèo. Đội chó chiến đấu xung trận. Thấy động, “ ba con thú điên” lẩn vào giải núi Giăng Màn.

Chúng chôn dấu các phương tiện thông tin, quần áo cải trang, chất nổ phá cầu... rồi tìm đường ngược lên phía biên giới. Nhưng chú chó “ Mũi tên” đã bắt mùi truy đuổi theo dấu vết. Và, chỉ đến quá chiều thì “ ba con thú điên” đã được đưa về nhốt trong “ cũi sắt”. Vậy là những người lính biên phòng thì nuôi dạy con thú để nó gần gũi với con người, hỗ trợ con người giữ bình yên cuộc sống. Còn lũ giặc thì lại muốn biến con người thành bầy thú dữ... Điều đó ngược với quy luật tiến hóa nhân loại. Chúng bị loại bỏ là điều tất yếu.

*

Ánh trăng rải đều xuống biển khuya. Đêm chan hòa một màu vàng nhạt nhòa huyền ảo. Từ trong ánh trăng vắng lặng, từ trong tiếng sóng rì rào, tiếng gió trời vi vút có một thứ âm tiết rúc rích nhỏ nhẹ, tiếng gẩy tí tách đều đều của biết cơ man nào là con dã tràng đang mải mê xe cát “ đàn hát” tình tự với biển trăng. Đó là tiếng muôn đời trong cuộc sinh tồn của thế giới hoang dã truyền đi tín hiệu bình yên. Và, chỉ có người lính biên phòng trong khoảnh khắc của chuyến tuần đêm mới cảm nhận được.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Mười Hai, 2017, 09:06:25 PM
28/Truyện con trăn gấm hoa vàng với người giữ đất Vị Xuyên

Ngàn năm trăn gấm hoa vàng
Mùa xuân “ mở hội” non ngàn Vị Xuyên
Ngàn năm đá núi đường biên
Máu xương người lính xây nên cõi bờ.

Hoàng hôn lụi tàn sau giải Lão Sơn. Chân trời phía Bắc xám xỉn mây mù hắc ám dâng lên. Cơ man nào là giun dế từ bốn phương tám hướng rừng nơi biên viễn hoang vắng tấu lên khúc nhạc muôn đời thảm sầu rền rỉ.  Giờ khắc đất trời giao hòa ấy như gọi những chú trăn gấm hoa vàng sinh trú trong các hang , hốc bò ra bờ suối làm việc sinh tồn muôn thuở - tìm mồi, tìm bạn. L oài thú quý hiếm hoang dã đó, người Tày, người Mông, người Kinh... ở vùng Vị Xuyên trập  trùng núi non này truyền nhau rằng nó là cháu, chắt, là “hậu duệ” của tổ tiên loài trăn gấm hoa vàng trong chuyện cổ sử xuất xứ nơi này. Các cụ già ở bản Nà Cáy, Làng Pênh... thường kể chuyện đó cho con cháu nghe. Dù chuyện có pha màu huyền thoại, dã sử nhưng các cụ đều khẳng định rằng đó là chuyện của các bậc hùng tài đại lược xa xưa truyền lại. Chuyện rằng vào thời Lê – Trịnh cách nay hơn ba trăm năm rồi nơi đèo ải Vị Xuyên heo hút này đã có mốc giới bằng đá  phân chia rạch ròi cương thổ hai nước, Theo sách “Biên giới lịch sử tư liệu Việt – Hoa” và sách “Khâm Định Việt sử thông giám Cương mục”. Năm 1728 Vua Mãn Thanh đã phải trả lại 80 dặm dất cho Nhà Lê và lập mốc giới hai bên dòng sông Đỗ Chú (một dòng sông nhỏ chảy sát vùng đất Tụ Long thuộc Châu Vị Xuyên). Nơi này có mỏ đồng nhưng đã bị ngoại bang xâm lấn. Trên bia đá mốc giới đặt tại bờ Nam sông ghi: “...Mốc giới Vị Xuyên, trấn Tuyên Quang nước An Nam lấy sông Đỗ Chú làm căn cứ. Ngày 6 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6-1728. Chúng tôi là nguyễn Huy Nhuận, Tả Thị Lang Bộ binh và Nguyễn Công Thái Tế Tửu Quốc Tử Giám được Triều đình ủy sai vâng  theo chỉ dụ lập bia mốc giới này..”. Trên bia đá mốc giới tại bờ Bắc sông ghi: “... Khai dương ở xa tận một góc trời, tiếp giáp đất Giao Chỉ...bọn Sĩ, Côn chúng tôi cùng bọn Nhuận, Thái quan Thái úy nước Giao Chỉ đặt mốc giới này bên bờ sông Đỗ Chú. Từ đây biên cương bền vững lâu dài, ức muôn năm không bao giờ mai một... Ngày 7 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6 -1728...”.

Ấy vậy mà các quan tham Mãn Thanh luôn tìm mọi mánh khóe tạo cột mốc giả dời đến bên một dòng suối nhỏ để lấn đất Vị Xuyên. Có lần Nhà Thanh sai hai Đại quan mũ cao áo dài kéo lũ lính tráng gươm giáo sáng lòe sang đất ta. Họ hung hăng đòi ta phải trả đất cho họ, phải dời mốc giới lùi về phía đất ta 40 dặm Tàu (bằng 20 km). Chúa Trịnh Cương nước ta liền sai hai Đại quan đã từng “hội khám” đặt mốc giới năm trước lên nghênh tiếp. Người dân các bản vùng biên nước ta mở lòng thân thiện dựng nhà bên suối, lo việc ăn ở, lo cả việc hầu hát, hầu múa, hầu xôi ngũ sắc, rượu ngon Tùng Bá, thịt nai hun khói để các quan bàn thảo. Lúc Đại quan nhà Thanh đang vạch đất chỉ đồi tranh biện phun ra những lời kiêu láo thì bỗng có hai chú trăn gấm hoa vàng bò từ phía hang đá ra bờ suối. Hai chú trăn thân to bằng cột nhà sàn người Tày, dài hơn hai sải tay người Kinh, cổ có vằn đỏ như màu khăn đội đầu của người Dao, như trên tấm vạt đeo trước ngực của người Mông... Lưng trăn lốm đốm vằn hoa màu vàng giống màu hoa nghệ ở các đồi cây nghệ trên đất châu Vị Xuyên này. Hai chú trăn dừng lại nghiêng đầu nhìn vào lán mới dựng, Miệng trăn phát ra tiếng phì phì, khè khè... Vì ở đó lan tỏa ra mùi tanh tưởi của huyết, của thịt lợn, thịt trâu vừa mổ. Cái lưỡi chẻ thành hai nhánh  của hai chú trăn hệt như những mũi mác nhọn thò thụt, thụt thò ra vẻ thèm thuồng... Hai Đại quan Nhà Thanh mặt mày tái mét, mắt tròn mắt dẹt, run rẩy nhảy cẫng lên. Một vị “tè” ướt quần, quẳng áo mũ chực bỏ chạy. Một vị nhảy tót lên bàn kéo thân  áo che kín mặt.... Hai vị Đại quan nước ta vội nắm tay giữ họ lại, nói: “An tọa, An tọa. Xin các Đại quan an tọa. Con thú đi tìm mồi thôi mà. Ở nơi cương thổ nước Nam chúng tôi, con thú cũng như con người muốn nơi mình sinh trú được yên bình, Nó không ác với ai nếu họ không có dã tâm ám muội làm hại nó...”

Vùng cương thổ đất Vị Xuyên từ xa xưa đã từng chứng kiến biết bao phen tao loạn. Còn từ 17 tháng 2 năm 1979 họ đã xua 60 vạn  lính sang tàn phá sáu tỉnh vùng biên giới nước ta, Theo sử sách Trung Hoa để lại từ thời Nhà Ân – năm 1218 trước Công nguyên đến nay, giặc phương Bắc đã có 14 lần xâm lăng nước Việt. Lần thứ 14 này giặc tràn sang ào ạt nhất. Thời Nguyên - Mông, giặc tràn sang nước ta nhiều nhất cũng chỉ có đến 50 vạn quân. Thế mà riêng vùng đất Vị Xuyên – rộng hơn 10km2 – lần này đã có gần 14 Sư đoàn của Quân đoàn 40 thuộc Quân khu Côn Minh tràn sang như một trận bão(!)
Chúng định tiến về Thị xã Hà Giang, cắt đứt vùng đất Đồng Văn, Quản Bạ.. phía trên và thọc sâu vào nội đại nước ta. Các sư đoàn 312, 316, 313, 356... của quân đội ta đã lên Vị Xuyên chặn đứng, đẩy lùi lũ giặc. Các chiến sĩ ta một tấc đất không lùi. Sống bám đá núi Vị Xuyên chết làm đá đắp cao đường biên Tổ quốc. Trên đất Vị Xuyên đã diễn ra những trận tử chiến bi hùng. Hơn bốn ngàn chiến sĩ đã hy sinh, hiện còn hai ngàn chưa tìm thấy hài cốt. (theo thông tin chiến sự Vị Xuyên và tài liệu chiến tranh biên giới những dấu mốc không thể nào quên – Truyền thông tháng 2 – 2017). Có ngày giặc dội hơn 30 ngàn quả đại pháo, chục ngàn quả đạn cối xuống các cao điểm 1509, Đồi Đài, Núi Đất, Hang Dơi, Đồi Không Tên, Hang Mán, Làng Lò... nơi chiến sĩ ta chốt giữ. Nhiều quả đồi đã bị bạt thấp đến bảy, tám mét. Sự tàn phá khủng khiếp ít thấy trong lịch sử chiến tranh. Cả vùng núi non ngút ngàn Vị Xuyên thành một bãi cháy hoang tàn. Cây cối thành than đen. Nhiều mỏm núi đá trở thành “lò vôi thế kỷ”. Một loạt đạn nổ, một ngọn gió lướt qua, bột vôi trắng xóa bay lên mù mịt đất trời. Nước suối Thanh Thủy đỏ ngầu như máu. Vùng đất Vị Xuyên ngày không còn tiếng chim, đêm không còn tiếng thú, không còn cả tiếng giun dế, côn trùng... Duy chỉ còn những chú trăn gấm hoa vàng tội nghiệp sống sót chúng chui vào ẩn náu trong các hang sâu. Đến khuya hoặc các buổi chiều  yên tiếng súng chúng mới bò ra tìm mồi, tìm bạn.

... Ở cửa Hang Dơi, những người lính trẻ như Trịnh Huyến, Lê Hồng, Hữu Quân, Lê Văn Phương... nhìn chú trăn gấm hoa vàng đói, cái lưỡi thò, thụt đánh hơi tìm mồi mà thương hại. Các anh ném cho nó nắm bột mì vo tròn luộc chín, hoặc lát cơm chấm ruốc thịt đang ăn. Quen dần rồi trăn vàng trở nên “thân thiện”. Mỗi lần ngửi thấy mùi ruốc thịt, mùi lương khô là chú trăn lại từ trong hang đá bò ra chờ các anh cho ăn. Lúc vắng người trăn vàng bò quanh bếp nhặt hạt cơm rơi, mẩu thức ăn thừa. Các anh đặt chậu nước ở cửa hang cho trăn uống. Nhiều đêm chú trăn gấm hoa vàng bò vào khoanh tròn trong thùng đựng nước, trong chảo nấu cơm... ngủ ngon lành...

Qua sự cảm thụ tinh tế từ huyền bí và cả linh khiếu của người lính nơi trận mạc, Trịnh Huyến, Quân, Phương... đều có cảm nhận rằng sau những ngày lửa cháy, tiếng nổ rung núi chuyển đồi, con trăn như đã nhận thấy sự khủng khiếp đang diễn ra. Rừng cây, khe suối và cả không khí nữa cũng luôn phừng phừng, hun nóng. Nó chui vào hang sâu ẩn náu còn đồng loại nó tản đâu hết rồi. Những con tan xác thì bị hất lên bên bờ suối. Rồi nó thấy một loài sinh vật lạ lùng xuất hiện hàng ngày bên nó. Bằng những tín hiệu mà tổ tiên muôn đời của nó mách bảo, con trăn gấm hoa vàng như đã nhận ra rằng loài sinh vật lạ đó không làm hại nó, không xua đuổi nó mà còn cho nó ăn, cho nó chỗ dung thân, nhìn nó với ánh mắt thân thiện rồi cùng trú trong hang núi với nó. Ôi giữa cái sống và cái chết cận kề, bản năng của muôn loài sinh vật trong cõi đất trời này dù hoang dã đến đâu rồi cũng tìm đến với nhau để nương tựa vào nhau mà sống...

Trịnh Huyến, người lính quê xứ Thanh – nói với Quân với Phương rằng: “Các cụ ta từ xưa đã truyền lại rồi. Thiện sẽ thắng ác mà, nhân từ sẽ thắng cường bạo mà. Sống có tình thương thì thuồng luồng sẽ thành giun đất mà. Ta đã thu phục được con thú hoang dã này rồi đấy các cậu ạ!”


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Mười Hai, 2017, 09:09:06 PM
Một buổi chiều muộn, Phương nhìn thấy không phải một mà là hai chú trăn vàng từ bờ suối  bò vào bên bếp lửa ở cửa hang. Chúng gạt tro than tìm những mẩu sắn nướng, đoạn xương gà: “Anh em ơi. Anh em ơi, trăn vàng rủ bạn về đây này”. Phương gọi to rồi anh bẻ đôi nắm bột mì luộc đang ăn chấm ruốc thịt ném về phía hai chú trăn. Con trăn đã từng sống ở Hang Dơi ngoảnh cổ nhìn Phương rồi nhìn nắm bột mì, nó ngúc ngắc đầu như biểu thị sự... “cảm ơn”. “Nhẹ thôi, nhẹ thôi Phương ơi, nó rủ bạn tình về đấy. Đừng làm  nó sợ - cả tiểu đội nhìn ra, nhắc Phương  - “Quý quá đấy, Trong lửa đạn thế này mà loài vật cũng còn biết tìm đến với nhau. Biết đâu nó là đôi “bạn tình đấy”. Ta bao dung chúng nó đi. Ta xem chúng như “bạn” cùng bám trụ Hang Dơi giữ đất Vị Xuyên này nhé” – Quân nói thêm vào. Những người lính chốt giữ điểm tựa nhìn nhau. Họ không nói ra lời nhưng ánh mắt họ đều chung ý nghĩ “ Ôi đến bao giờ, đến bao giờ con người, con thú ở vùng đất Vị Xuyên này được sống bình yên như bà con người Mông người Tày ở đây dặn dò nhau:” Chim đang làm tổ ấp trứng trên cây xin đừng đốn hạ. Cá đang đưa con bơi tìm mồi dưới suối xin chớ cạn dòng...” Vừa lúc ấy tổ thông tin từ phía sau chuyển sách báo, thư tín lên điểm tựa Đồi Đài, đồi Hang Cáo... dừng lại, các anh nói: “Mùa hội trăn” chúng đi tìm “bạn tình” đấy các cậu ạ. Các cụ già ở bản Nà Cáy, Làng Pênh đã kể chuyện ấy rồi. Vào tháng giêng, hai hàng năm là mùa “hội trăn” đấy. Các cụ kể rằng ( các tài liệu nghiên cứu về loài trăn cũng nói thế ) loài trăn gấm hoa vàng có tập tính sống rất “lãng tử, hào hoa”. Hàng năm vào độ đầu Xuân ngày cây rừng đơm lộc non lá mới, dịp thanh minh nắng vàng hoa nở, trăn gấm ở đất Vị Xuyên này lại vào “mùa hội”. Những ngày ấy từng nhóm chừng năm, bảy “chàng trăn” cụm nhau tìm một “nàng” non tơ. Rồi chúng rủ nhau bò ra bờ suối Thanh Thuỷ quần tụ trên một bãi đất bằng. Các “chàng trăn” vào cuộc đấu sức với nhau, vờn nhau, quấn riết nhau nô đùa nghịch ngợm. Còn “nàng trăn” nằm im “chiêm ngưỡng”. Miệng “nàng” luôn phát ra tiếng “phì phì, khè khè” như để “cổ vũ các chàng”. Vậy là tạo hoá đã ban cho các “chàng trăn” mùa thi thố sức lực, trình diễn các mảng miếng đánh bắt mồi để các “nàng” tuyển chọn “nhà vô định”. Tan hội, chỉ có một “chàng trăn” thắng cuộc. “Chàng ta” ung dung bò đến “nàng” với tư thế hiên ngang hãnh diện. “Chàng” đấu đầu, đấu lưỡi “âu yếm” “nàng” rồi quấn lấy nàng tình tự, ân ái! Những “chàng trăn” thua cuộc biết thân phận bò lùi ra xa cụm lại với nhau thành một bối như thể hiện niềm vui mừng đồng loại. Vậy là loài thú hoang dã muôn đời cũng có “luật chơi” riêng của nó.

Các tài liệu khoa học và trong Bách khoa toàn thư mở đã nói rõ về loài trăn gấm. Từ thưở hồng hoang, tạo hoá đã an bài định phận cho nó rồi. Nó là loài bò sát máu lạnh, da dày, cấu tạo địa sừng vảy như rắn, như cá sấu, kỳ đà… Loài trăn không có nọc độc như rắn. Nó là loài bò sát “đặc sinh” chỉ có một lỗ huyệt. Nơi bài tiết cũng là nơi sinh sản. Nó được sự dìu dắt của bản năng nòi giống hoang dã săn bắt trong thế giới nguyên thuỷ xa xưa nên rất tinh khôn và mạnh liệt. Đúng như các nhà nghiên cứu về loài trăn đã nói. Thực ra đó là cái khôn ranh của nòi giống nó. Khôn ranh của loài thú man rợ ăn thịt. Cái “thông minh” của nó cũng là cái “ thông minh” để sinh tồn nòi giống cộng với thói quen bản năng thu lượm “ mà ta gọi là kinh nghiệm” trong việc kiếm sống để tồn tại hàng ngày. Những điều đó biến nó thành một sinh vật ghê gớm như bất kỳ loài thú hoang dã ăn thịt nào.  Nó nhận biết mọi vật xung quanh qua cái lưỡi chẻ thành hai nhánh để ngửi được và nghe được (trăn không có cơ quan thính giác và khứu giác riêng).

Loài trăn rất nhạy cảm, nó vừa nhận thức vừa quyết định vừa hành động gần như cùng một lúc. Các thớ thịt của con trăn luôn ứ thừa sinh lực nó sẵn sàng bật dậy nhạy như giây cao su. Bộ xương sống khủng khiếp của nó gồm có 400 đốt như chiếc lò xo thép bị nén bung ra sức mạnh  quấn riết con mồi. Dù đó là nai, lợn, gấu, ngựa… cũng phải nát xương, nhũn thịt rồi nó nuốt chửng. Vậy là trăn giết con mồi không phải bằng răng cắn xé mà bằng “thủ thuật” của tổ tiên nó muôn đời truyền lại là quấn riết chặt con mồi nhiều vòng. Rồi cứ mỗi hơi thở ra của con mồi là nó lại xiết chặt thêm một nấc. Và cứ thế cho đến khi con mồi hắt ra hơi thở cuối cùng… Điều rất đặc biệt của loài trăn, là cấu tạo bộ hàm của chúng không có khớp hàm mà chỉ có giây chằng với độ đàn hồi rất lớn dính vào nhau. Nên trăn mở miệng rộng đến bao nhiêu là do yêu cầu nuốt con mồi (nai, ngựa, lợn rừng, hoẵng…) lớn hay bé. Và, khi trăn đã nuốt mồi rồi thì các bộ phận trong cơ thể nó phải tăng hoạt động lên tới ba mươi, bốn mươi lần để tiêu hoá. Bộ máy tiêu hoá của loài trăn có hệ thống “máy móc cực kỳ tinh xảo” hút cạn kiệt chất canxi trong xương con mồi để bồi bổ thêm dinh dưỡng cho nó. Nên loài động vật “đặc sinh” này kéo dài tuổi thọ được tới gần bốn mươi năm.

Trên thế giới có đến 26 loài trăn lưu trú và sinh sống khắp các châu lục. Có loài trăn đã trở thành quái vật. Ở nước Mianma có loài trăn dài sáu mét nặng tới 113 kg. Nó là nỗi kinh hoàng cho con người và các loài động vật khác. Nó có thể giết con báo chóng vánh trong vòng mấy phút. Và lúc đói, nó có thể nuốt phăng cả con cá sấu. Trăn đá màu da nâu xám sinh trú ở Châu Phi là loài trăn khoẻ nhất lục địa. Nó dài tới 7mét, nặng 150 kg sinh sống ở đồng cỏ, đầm lầy, suối cận rừng. Loài trăn này cực kỳ hung hãn. Nó tấn công bất kỳ con vật nào nó nhìn thấy. Nhưng nó “đoản thọ” chỉ “hưởng dương” được chỉ 12 năm. Ở Nam Mỹ có loài trăn xanh dài tới 9 mét. Loài trăn này có “vòng eo khiêm tốn” hơn 40 cm, nặng tới 250 kg, chúng sống ở rừng mưa nhiệt đới Amazon, Orinoco… Và rất thích thú các món ăn “nặng ký”: hươu, nai Bắc Cực, báo, trâu rừng… Loài trăn này có sức mạnh thần kỳ của tổ tiên  nó truyền lại là quấn riết con mồi du to lớn hơn nhiều lần cũng phải nát nhừ xương rồi nuốt chửng. Loài trăn vua Anaconda (1) dài gần tới 15 mét nặng trên một tấn là loài trăn đáng sợ nhất trong các loài trăn trên trái đất. Nó được tôn là “Vua” của các loài trăn. Nó sống đơn độc và hung án cực độ. Loài trăn này di chuyển ung dung đĩnh đạc coi như sông núi đất trời này là của riêng nó. Cách rình rập bắt mồi của nó cũng rất “vua”. Mỗi lần ra đòn là nó tóm ngay được chú cá sấu cực lớn, hoặc con hươu rừng cực to. Loài trăn “vua” này sống rất “phong tình”, suốt ngày chỉ rong chơi đùa dỡn với “bạn tình”. Một sự kiện lịch sử về loài trăn đã khiến các nhà khoa học bất ngờ. Đó là vào năm 2009 họ đã tìm thấy dấu vết của loài trăn Titanoboa(2) trong các mỏ than tại miền Bắc Colombia. Loài trăn khổng lồ nhất lịch sử trái đất này đã tuyệt chủng từ 60 đến 58 triệu năm trước thì nay đã hiện diện 28 cá thể hoá thạch. Loài trăn này dài trên 15 mét, nặng đến gần một tấn hai, đường kính của thân mình nơi dày nhất gần một mét. Nó có thể nuốt gọn con bò tót lớn gần bằng trọng lượng cơ thể nó khi đã quấn xiết nát nhừ. Và mới đây, vào ngày 14 tháng 12 năm 2014 tại một khu đầm lầy phía Bắc nước Argentina, các nhà nghiên cứu đã ghi lại được khoảnh khắc trăn mẹ sinh con (chứ không phải đẻ trứng) chưa từng thấy trên hành tinh của loài trăn boa sống ở Nam Mỹ…

… Ở nước ta có ba loài trăn: trăn gấm (có nơi gọi là trăn hoa, trăn mắc vọng…); trăn đất, trăn cộc (có nơi gọi là trăn mốc, trăn cá, con luôm, tu lườn…) Ba loài trăn của nước ta đều được xếp vào loài động vật hoang dã quý hiếm nhóm II B trong Sách Đỏ Việt Nam; được đưa vào Danh Lục Thế Giới C.T.T.E.S; Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thế giới. “Nghị Định số 18 HĐBT nước ta quy định loài trăn thuộc nhóm động vật nghiên cứu, cấm khai thác, sử dụng; cấm triệt để săn bắn và buôn bán bán trái phép. Cần thành lập các trại nuôi tập thể, khuyến khích nuôi ở gia đình nơi có nghề truyền thống... Tập tính các loài trăn ở nước ta không khác nhiều với trăn ở vùng Đông Nam Á và thế giới. Chúng ưa sống ở môi trường ẩm ướt, đầm lầy, ven sông suối, cây cối rậm rạp, có hang hốc ẩn náu. Trăn sinh trưởng và phát triển nhanh ở vùng biên giới, bưng biền Nam Bộ, vùng đất Quảng Nam, Hoà Bình, Hà Giang… Mùa đông trăn thường quần tụ từ hai đến năm, bảy con trong các hang hốc để tránh rét. Ban đêm chúng mới bò ra tìm mồi. Mùa hè trăn “rủ nhau” ngâm mình dưới suối mát… Thức ăn chủ yếu của loài động vật “đặc sinh” này là loài bò sát, ếch nhái, loài thú gậm nhấm như cầy hương, cầy mực, các loài linh trưởng, có lúc chúng bắt cả lợn, nai…

Con trăn gấm còn có miếng đánh “độc nhất vô nhị” để rình rập bắt mồi. Đó là sự kiên nhận đến lỳ lợm không biết mệt mỏi. Sự kiên nhận thuộc bản năng của tổ tiên nó truyền lại trong thế giới nguyên thuỷ săn bắt xa xưa. Nó tìm lối mòn nơi những con thú thường đi qua lại rồi leo lên quấn vào cành cây nằm im phăng phắc thòng cổ xuống với thời gian vô tận đề chờ mồi. Nó hơn hẳn cả con nhện nằm im giữa màng tơ; hơn hẳn con rắn cuộn tròn giấu mình sau lớp lá mục; và “bậc thầy” con hổ chỉ biết nằm mai phục sau gốc cây, trong bụi rậm… Điểm lại sự kiên nhận hoang dã trong cuộc sinh tồn muôn đời của các loài sinh vật thì xem ra con trăn gấm là “cao thủ” hơn cả. Miếng đánh hiểm độc, bất ngờ đó, làm cho con mồi chỉ còn cách chết đứng trong vòng quấn xiết của trăn. Có lẽ vì miếng đánh đó mà trăn gấm còn được gọi là trăn mắc vọng chăng? Loài trăn gấm sinh trú ở nước ta có con dài đến 4 mét nặng ngót trăm kg. Đầu trăn hình tam giác có sọc đen chạy dài từ mắt đến hai khoé miệng. Mặt lưng và hai bên lườn có những đốm đen trắng trên hoa văn màu be vàng hay màu nâu nhạt. Dưới bụng và cổ trăn có màu vàng nhẹ với những chấm màu nâu xám nối nhau thành dạng mặt lưới trên màu vàng sẫm rất giống màu hoa cây nghệ trên đồi núi Vị Xuyên. Những hoa văn độc đáo rất “ nghệ thuật” đó là thứ hóa trang khiến các loài thú khác khó nhận biết khi trăn di chuyển trên thảm rừng.

Điều thần kỳ nhất ở loài trăn gấm là chúng có bốn tấm vẩy ở vành môi trên. Mỗi tấm có một lỗ nhỏ, đó là cơ quan cảm giác nhiệt nhạy bén nhất của trăn. Và, các tấm vảy ở môi dưới, đến tấm thứ 18 cũng đều có một lỗ nhỏ. Đó là cơ quan điều hòa nhiệt độ của cơ thể và giúp nó biết trước được thời tiết nắng mưa, nóng lạnh của đất trời trong những ngày tới.

Sau mùa “ hội trăn” thì các “ nàng trăn” mang bầu, gần ba tháng thì sinh nở. Mỗi lứa “ nàng trăn” sinh hạ từ 60 đến 80 quả trứng. Trăn mẹ cuộn tròn thành cái tổ kín đáo, ấm áp, đảm bảo nhiệt độ từ 30 đến 32 để ấp trứng. Gần ba tháng sau thì đàn con chào đời. Con trăn non có thể  dài đến 60cm, nặng đến 20kg. Sau hơn 10 ngày thì đàn trăn non “ thay áo” để thân hình nở nang rồi tỏa ra bốn hướng non ngàn đón nhận cuộc sống tự lập. Khác hẳn các loài sinh vật là trăn mẹ không hề nuôi nấng, ôm ấp, và cũng chẳng “ chuyền nghề” kiếm sống cho lũ trăn con. Nhưng chỉ ít ngày sau đó con trăn non đã có thể bắt sống và nuốt gọn con mồi dài bằng một phần tư chiều dài và khối lượng bằng nửa cơ thể nó.

Với tập tính của loài thú hoang dã quý hiếm, con trăn sống “ phóng khoáng”, “ thân thiện” với đồng loại, nhưng nó hung dữ khủng khiếp khi bị tranh cướp mất mồi, bị xâm lấn lãnh địa và nhất là khi nó đang ân ái với bạn tình mà bị quấy phá, đòi đuổi. Lúc ấy nó sẽ quăng mình đến, cắn ngập răng vào kẻ thù và quấn xiết đến nhừ xương nát thịt.


Tiêu đề: Re: Tổng tập truyện ngắn của nhà văn Trần Hữu Tòng
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Mười Hai, 2017, 09:13:35 PM
Cách điểm tựa Hang Dơi và dòng suối Thanh Thủy không xa là bản Nà Cáy, Làng Pênh. Ở đó có Thư viện mặt trận đặt trong một hang đá lớn. Thư viện có hơn bốn ngàn cuốn sách, có báo Nhân dân, báo Quân đội..., có các loại sách văn nghệ, sách khoa học... xếp ngay ngắn trên các hốc đá, các giá làm bằng tre. Ở cửa Thư viện luôn có hàng chục ba lô, túi đựng đầy sách báo. Những người lính ở đây gọi đó là: “ Thư viện ba lô”, “ Thư viện túi” lưu động, các chiến sĩ thông tin chuyển lên đến chiến hào hơn 40 điểm tựa phía trước. Thư viện mặt trận Vị Xuyên có hai “ thủ thư” là Hùng và Được cùng với hai chú trăn gấm hoa vàng trông coi. Theo tập tính sinh tồn, ban ngày hai chú trăn chui vào hang sâu ngủ. Đêm, trăn bò ra “tung hoành sục sạo, kiểm tra” trong từng hốc đá, chạn sách. Con chuột rúc rích, con thạch sùng chép miệng, bầy mối, lũ côn trùng và cả những con rắn vào ẩn trú, hai chú trăn gấm nhặt bằng hết. Trăn còn chộp được cả những con dơi sà xuống đớp muỗi. Cứ mỗi lần nghe tín hiệu “khẹc khẹc, phì phì” là các “thủ thư” biết được “hai chú bảo vệ” đang giệt  “kẻ phá hoại..” trong các giá sách.

Hai chú trăn quấn quýt với hai người lính “thủ thư”. Đến bữa các anh “bồi dưỡng” nó, miếng lương khô, củ sắn nướng, nắm ruốc thịt hoặc khúc xương gà. Có ngày nắng ấm, mặt trận yên tiếng súng, hai chú trăn gấm hoa vàng rủ nhau ra nằm phơi nắng trên các tảng đá. Nó quấn vào tay các anh. Nó co kéo như thử sức lực với hai người lính “thủ thư”. Đã có nhiều lần hai người lính “thủ thư” kể cho đồng đội nghe về câu chuyện con trăn gấm “trừng trị” tên giặc ở vùng núi Quảng Nam ngày nào. Chuyện đó xảy ra vào năm 1967 thời đánh Mỹ. Năm ấy Lữ đoàn 196 thủy quân lục chiến Mỹ vừa vây ráp, tàn sát bà con ta ở miền duyên hải Quảng Nam kéo về đóng ở chân Núi Già. Một tên lính Mỹ xuống suối lấy nước đụng con trăn gấm phục sẵn trên cành cây. Con trăn lao xuống quấn riết tên lính nhiều vòng rồi nuốt chửng. Khi gần nửa Lữ đoàn lính Mỹ đi tìm thì đã thấy con trăn gấm nằm thảnh thơi ngâm giữa dòng suối mát. Trong cái bụng to kềnh càng của nó, tên giặc đã đền tội.

Người lính “thủ thư”  nói rằng truyền thông đã nhiều lần đưa chuyện đó do ông Mai Xuân Hưởng nguyên phó bí thư Huyện ủy Quế Sơn – Quảng Nam chứng kiến, kể lại. Ông cũng rất lạ lùng, rừng Quảng Nam lắm trăn, nhiều thú, bộ đội và bà con ta gặp nó liên hồi nhưng không có ai bị trăn làm hại. Nó chỉ giết tên lính Mỹ mới đi càn gây tội ác. Hóa ra con thú hoang dã quý hiếm cửa rừng nước ta giúp ta đánh giặc.

Rồi những buổi hai người lính “thủ thư” ngồi ở cửa hang tỷ mẩn xếp lại các loại sách, báo quân bưu vừa chuyển lên vào các ba lô, túi xách để đêm đưa lên  điểm tựa. Các anh đã ghép tên những tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn chiến sĩ thành những câu thơ. Và không ngờ những câu thơ vui đó có sức cổ vũ đồng đội  đã lan tỏa trong các chiến hào, ụ súng trên các điểm tựa Vị Xuyên như các tác giả đó cùng ra trận (3)

“ Gương mặt tôi yêu – Rừng lá đỏ
Bến quê – Đất trắng – Nắng Đồng bằng
Dấu chân người lính – Đường phía trước
Vào trận hôm nay – Đất ngọn nguồn.

Đầu súng trăng treo – Đường ra trận
Tình dân – Lòng mẹ - Hoa trong cây
Đất nước đứng lên – Thời xa vắng   
Khúc hát anh hùng – Chim én bay.

Gặp gỡ cuối năm – Vùng biên ải
Thơ tình người lính – Chiếc lược ngà
Chiến hào biên giới – Màn sương lạnh
Lá rụng trong vườn – Những ngày xa.

Quần đảo san hô – Cơn gió lốc
Đường vào thành phố - Huế mùa mai
Đất Tổ Hùng Vương choàng áo trận
Ván bài lật ngửa -... Đất nhiều ma.

Mùa đông ấm áp – Hoa sim tím
Khoảng trống giữa rừng – Mảnh trăng non
Tín hiệu bình yên – Người Hà Nội
Cao điểm cuối cùng - ... Có chúng con...”


***

Một đêm trăng non cuối tháng mười năm 1987, những người lính Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 165 Sư đoàn 312 chốt giữ vùng Điểm tựa Hang Dơi đã viết lên đá núi những dòng chữ bằng máu của đồng đội, của Phương – Lê Văn Phương người Ngõ Thổ Quan – Phường Khâm Thiên – Hà Nội. Đêm đó Phương xuống suối Thanh Thủy lấy nước và đón tổ thông tin mang thư, mang sách báo lên thì đúng lúc giặc bắn pháo sang. Đạn nổ, lửa khói trùm kín cửa hang. Suối Thanh Thủy dựng lên hàng trăm cột nước. Đồng đội đưa Phương vào Hang Dơi, đặt anh nằm trên tảng đá. Nơi đó những buổi chiều Phương và đồng đội thường ngồi ăn lương khô, nắm mì luộc. Các anh bẻ nắm mì chấm ruốc thịt ném cho chú trăn gấm hoa vàng ngước cổ chờ. Nơi đó những lúc mặt trận yên tiếng súng, Phương ngồi đọc sách, viết thư cho Yến, người cùng phố, bạn học cùng trường. Phương và Yến đã hẹn ước với nhau, hai gia đình đã ngỏ lời, chạm ngõ chờ ngày Phương về làm lễ cưới. Quân, Huyến... cầm tấm áo thấm đẫm máu của Phương, của đồng đội viết lên tảng đá nơi các anh nằm:

“ Hang Dơi, Thanh Thủy vùng biên máu
Đồng đội nằm đây xin chớ quên...”


Thế rồi những hôm sau, lúc chiều tà sương xuống, gió núi gọi mây về, đôi trăn gấm hoa vàng từ hốc đá bò ra. Đôi trăn thẫn thờ bò quanh tảng đá. Chúng ngước cổ nhìn lên như trông ngóng, đợi chờ.

Giáp Tết Đinh Mão – 1987, Quân được về nghỉ phép. Xuống xe khách ở Bến Nứa, chân cầu Long Biên, Quân ghé vào chợ Đồng Xuân mua bó hương rồi đến Ngõ Thổ Quan, Phường Khâm Thiên thăm gia đình Phương và thắp nén hương tưởng nhớ người đồng đội. Lúc ấy Yến đang chăm sóc bố mẹ Phương. Nhìn Quân, Yến nghẹn ngào. Tiếng nói của Yến chìm trong nước mắt: “ Anh Quân. Anh Quân ơi. Có thật anh Phương đã hy sinh rồi không. Đêm nào em cũng gặp anh Phương về ...”.

7.2017
Trần Hữu Tòng
1. Loài trăn anaconda sống ở lưu vực sông Amazon – Nam Mỹ
2. Loài trăn titanoboa khổng lồ nhất trong lịch sử trái đất tuyệt chủng cách đây 60 đến 58 triệu năm. Năm 2009 phát hiện các tiêu bản hóa thạch của chúng trong các mỏ than vùng Bắc Colombia.
3. Tác giả: Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Trí Huân, Vương Trọng, Chu Lai, Vũ Quần Phương, Minh Châu, Chính Hữu, Hữu Mai, Cao Tiến Lê, Thao Trường…


HẾT