Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Anh ở biên cương... => Tác giả chủ đề:: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:27:57 AM



Tiêu đề: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiến
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:27:57 AM
1/Chiến dịch CM12

Kỳ 1: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-324315/

Cách đây 25 năm, vào tháng 9-1981, Chiến dịch phản gián mang tên "Kế hoạch CM-12" được khởi đầu bằng một chiến công ghi đậm dấu ấn của bản lĩnh và trí tuệ của Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.  Chiến dịch phản gián có một không hai này được kéo dài 7 năm, từ năm 1981 đến 1988 là kết thúc. Trong đó, Kế hoạch CM-12 là phần cốt lõi nhất, thắng lợi to lớn nhất.

Vào một ngày thượng tuần tháng 1/1981, đồng chí Phạm Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) gọi điện thoại cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm ở TP HCM:

- Ông biết gì chưa? Có bọn xâm nhập ở biên giới Tây Nam đấy. Cho triển khai ngay công tác xác minh và truy bắt bọn xâm nhập!Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm báo cáo đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng là cũng đã nhận được tin này và triển khai ngay việc thực hiện lệnh của Bộ trưởng. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm gửi điện cho Công an các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang triển khai phương án truy tìm gián điệp biệt kích. Bức điện có nội dung:

“Theo  tin từ Campuchia ngày 11 tháng 1, một toán gián điệp đang đi qua tỉnh Tà Keo để xâm nhập vào Việt Nam. Đề nghị các đồng chí triển khai phương án nắm tình hình và truy quét. Cần phải xác nhận tin này đúng không? Có tin tức gì cụ thể báo ngay K4 và K4/2”.

Vào lúc đó, tình hình an ninh miền Nam vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp. Lãnh đạo Bộ Nội vụ phân công đồng chí Cao Đăng Chiếm phụ trách công tác công an ở các tỉnh miền Nam. K4 là ký hiệu của Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, còn K4/2 là ký hiệu của Tổ An ninh trực thuộc đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm.

Xuất phát từ tình hình thực tế an ninh ở miền Nam, được sự đồng ý của đồng chí Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ, một số cán bộ có kinh nghiệm được bố trí vào ba tổ công tác tham mưu cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm. Tổ K4/1 là bộ phận nghiên cứu tổng hợp. Tổ K4/2 giải quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ của lực lượng an ninh. Tổ K4/3 giải quyết các vấn đề thuộc lực lượng cảnh sát.

Tổ K4/2 về danh chính có chức năng tham mưu cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm là chủ yếu, nhưng trên thực tế, bộ phận K4/2 đã trở thành các đơn vị chiến đấu thực sự khi có các vụ án lớn xảy ra và được đồng chí Thứ trưởng trực tiếp giao nhiệm vụ.

Lãnh đạo Bộ Nội vụ cử đồng chí Nguyễn Phước Tân, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 2 làm Tổ trưởng Tổ An ninh K/2. Chức vụ này tương đương Cục trưởng. Các đồng chí Lê Tiền, Phó Cục trưởng phụ trách đơn vị PK9 và đồng chí Hồ Khiết, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 1 làm Tổ phó. Các đồng chí Nguyễn Phước Tân và Lê Tiền sau này được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh.

Bộ cũng điều động một số cán bộ an ninh dày dạn kinh nghiệm, có trình độ nghiệp vụ giỏi từ các đơn vị về Tổ An ninh K4/2 như các đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Thi Văn Tám, Trần Tôn Thất,... Hiện nay, đồng chí Nguyễn Khánh Toàn là Thượng tướng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an; đồng chí Thi Văn Tám là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an và đồng chí Trần Tôn Thất là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục An ninh.

Trở lại với vụ xâm nhập của bọn gián điệp biệt kích.

Ngày 11/1/1981, Công an tỉnh Tà Keo (Campuchia) trao đổi cho chúng ta biết có một tên Khmer Đỏ ra đầu thú khai báo rằng y có tham gia dẫn một toán người Việt Nam từ nước ngoài đi qua Campuchia để xâm nhập  về hoạt động chống Việt Nam. Tin này được báo cáo ngay cho đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng, các đồng chí Thứ trưởng Viễn Chi, Cao Đăng Chiếm và đồng chí Huỳnh Thanh Việt (Mười Việt), Giám đốc Công an tỉnh An Giang, địa phương có biên giới giáp tỉnh Tà Keo.

Nguồn tin cho biết: “Một tên Khmer Đỏ tên là Săm Sua đã ra đầu thú chính quyền cách mạng Campuchia tại Tà Keo. Y khai có tham gia dẫn đường cho 23 tên gián điệp biệt kích xâm nhập về Việt Nam”.

Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, được sự đồng ý của chính quyền Campuchia, đồng chí Huỳnh Thanh Việt, Giám đốc Công an tỉnh An Giang và một số cán bộ an ninh là đồng chí Trần Văn Lệnh, Trưởng phòng Chấp pháp và đồng chí Huỳnh Hữu Chiến, Trưởng phòng Tổng hợp (hiện đồng chí Huỳnh Hữu Chiến là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh) ngay lập tức lên đường sang Tà Keo, Campuchia. Qua trực tiếp xét hỏi tên Săm Sua, đoàn Công an An Giang nhận thấy khả năng là tên Săm Sua đã khai báo thật. Ngày 12/1/1981, đồng chí Mười Việt đã báo cáo cho lãnh đạo Bộ nhận định về việc có một toán gián điệp biệt kích mang vũ khí, điện đài xâm nhập Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:29:52 AM
Tiếp đó, ngày 13/1, Công an Kiên Giang điện báo cáo lãnh đạo Bộ Nội vụ biết về việc có một toán gián điệp, biệt kích xâm nhập. Theo báo cáo của Công an Kiên Giang, ngày 8/1/1981, bộ đội làm kinh tế ở Bình Sơn (Kiên Giang) bắn chết 1 tên gián điệp, biệt kích từ nước ngoài xâm nhập về Việt Nam.

Qua nguồn tin của quần chúng phát hiện, Công an Kiên Giang đã thu được 12 súng AK báng gấp, 7 quả lựu đạn, 2 tay quay máy phát điện dùng cho điện đài và một số quân trang, quân dụng. Đáng chú ý là có một số phù hiệu đề là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”... Có dấu hiệu đây là một tổ chức phản cách mạng đưa quân xâm nhập vào Việt Nam.

Ngày 15/1/1981, đồng chí Phạm Hùng đã điện chỉ thị cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tổ chức xác minh, khai thác và truy bắt cho hết bọn xâm nhập. Đồng thời, tin này còn được thông báo cho các Cục nghiệp vụ kiểm tra.

Báo cáo của lực lượng trinh sát kỹ thuật cũng phù hợp với những diễn biến toán gián điệp biệt kích xâm nhập trong thời gian cuối năm 1980.

Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trực tiếp đi miền Tây để chỉ đạo tại hiện trường. Các đơn vị nghiệp vụ an ninh của Bộ cũng được huy động tham gia, phối hợp cùng với công an các địa phương điều tra, truy bắt bọn xâm nhập. Các biện pháp nghiệp vụ trinh sát, điều tra được sử dụng. Chính vì vậy, chỉ ít ngày sau khi bọn địch xâm nhập bị phát hiện, công tác truy bắt đã có sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Bộ.

Chỉ trong vòng một thời gian tương đối ngắn, với sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ mà trực tiếp là đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, các Cục nghiệp vụ an ninh và công an các địa phương Nam Bộ đã nhanh chóng phối hợp truy bắt và khai thác bọn gián điệp biệt kích xâm nhập.

Trong khi đang khẩn trương triển khai công tác truy bắt bọn gián điệp biệt kích xâm nhập, thì Công an Kiên Giang báo cáo là đã bắt giữ được 1 tên trong bọn chúng. Ngày 18/1/1981, Trần Minh Hiếu sau khi được lệnh của toán trưởng cho phân tán, y về quê ở An Biên. Sau một thời gian biền biệt không được tin gì kể từ ngày Hiếu vượt biên, nay thấy con trở về, mẹ của Hiếu vừa mừng lại vừa lo.

Hiếu nói thật cho mẹ biết về việc tại sao y lại trở về Việt Nam. Ông cậu ruột của Hiếu làm việc ở Tỉnh đội Kiên Giang biết được chuyện của Hiếu và động viên anh ta ra đầu thú công an. Trong khi Hiếu đang lừng chừng vì sợ thì người cậu của Hiếu đã báo cho công an địa phương biết. Công an Kiên Giang ngay lập tức bắt giữ Trần Minh Hiếu và khai thác.

Được công an động viên, giáo dục và thuyết phục, Trần Minh Hiếu đã khai nhận là một trong số 23 tên gián điệp biệt kích của tổ chức “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” của Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh. Hiếu đã khai quá trình xâm nhập của toán gián điệp.

Qua lời khai của Hiếu, ta biết chúng sẽ gặp nhau vào ngày 15 và 30 hàng tháng ở  bến Ninh Kiều (Cần Thơ). Hiếu cũng khai nơi ẩn náu của tên toán trưởng Lê Hồng Dự. Công an Kiên Giang và Công an Hậu Giang đã tổ chức bắt giữ Lê Hồng Dự tại Cần Thơ. Qua các buổi xét hỏi, Lê Hồng Dự khai báo quá trình xâm nhập của y và những hiểu biết của y về tổ chức phản cách mạng của Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh. Những lời khai này khớp với lời khai của Trần Minh Hiếu.

Qua lời khai của Lê Hồng Dự và Trần Minh Hiếu, bước đầu chúng ta đã xác định đây là một tổ chức phản cách mạng do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu có cơ sở hoạt động ở nước ngoài.

Để tiến hành đấu tranh với tổ chức này, về mặt tổ chức chỉ đạo, trên cơ sở tính chất, phạm vi hoạt động khá phức tạp và rộng của bọn Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh, lãnh đạo Bộ nhất trí với đề xuất của Tổ An ninh là thành lập Ban chuyên án do đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chỉ đạo và K4/2 trực tiếp thực hiện.

Chỉ vài ngày sau, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh để trực tiếp chỉ đạo đấu tranh với vụ án này. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng đã yêu cầu đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm triệu tập ngay một cuộc họp để bàn biện pháp, kế hoạch đấu tranh với vụ án này tại TP Hồ Chí Minh.--PageBreak--

Cái gọi là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” của Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh là một tổ chức phản cách mạng được một số nước lớn và một số cơ quan tình báo nước ngoài ủng hộ, hậu thuẫn. Sau khi xác minh từ các nguồn tin, cơ quan an ninh đã nhanh chóng dựng lại quá trình hình thành và sự ra đời của tổ chức này.

Qua nhiều nguồn tin và tài liệu thu thập được, chúng ta biết được  vào năm 1976, một tổ chức phản cách mạng Việt Nam lưu vong được thành lập tại Paris, thủ đô nước Pháp. Đó là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”.

Ngày 17/2/1976, tại khách sạn Méridien, Lê Quốc Túy và những kẻ cầm đầu tổ chức này làm một cuộc họp báo cho ra mắt cái gọi là “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”. Chủ tọa cuộc họp báo này là Lê Quốc Túy - “chủ tịch”, Lê Phước Sang - “phó chủ tịch”, và Lại Hữu Tài làm “tổng thư ký”.

Tại đây, Túy ba hoa giới thiệu “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam” ở Pháp do y làm “chủ tịch” là một bộ phận của “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” được thành lập từ tháng 10/1975 tại đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và một số đảng phái chính trị, một số sĩ quan ngụy cũ do Hội trưởng Phật giáo Hòa Hảo Lương Trọng Tường làm “chủ tịch”. Lê Quốc Túy và đồng bọn quyết định dùng cờ vàng ba sọc đỏ của ngụy Sài Gòn làm cờ của “mặt trận”.

Trong buổi họp báo, Túy thay mặt “Hội đồng trung ương mặt trận” giới thiệu thành phần “lãnh đạo” của tổ chức này như sau:

- Lê Quốc Túy: chủ tịch mặt trận.

- Lại Hữu Tài: ủy viên sáng lập.

- Lê Phước Sang, ủy viên,

- Lương Trọng Văn, ủy viên.

- Mai Văn Hải, ủy viên.

- Thùy, phát ngôn viên của “mặt trận”.

Trong số người tham dự cuộc họp báo của Túy, có một người bạn thân của Lê Quốc Túy là Mai Văn Hạnh từ Marốc sang. Ngồi hàng đầu, người ta thấy có Trần Văn Hữu, cựu Thủ tướng ngụy thời Bảo Đại; Phạm Văn Huyến, Trần Xúy (người Việt gốc Hoa, nguyên là sĩ quan hậu cần của tướng ngụy Đỗ Cao Trí)...

Mặc dù tổ chức cuộc họp báo có vẻ ầm ĩ và tuyên bố huênh hoang nhưng thực lực của chúng lúc đó chưa có gì ngoài những gương mặt tham dự tại khách sạn Méridien hôm ấy.

Ngay từ khi mới phát hiện, cơ quan an ninh đã tập hợp được những tài liệu ban đầu về những tên đầu sỏ của tổ chức “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam”.

Lê Quốc Túy sinh ngày 1/1/1934 tại An Bình, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Túy sinh ra trong một gia đình giàu có trong vùng. Bố của Túy là Lê Văn Năm hay thường gọi là Quản Lọ, đã chết vào ngày 20/7/1957. Mẹ là Vương Thị Đối, sống cùng con trai là Lê Quốc Quân, em trai kề Túy tại số nhà 201/42 đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Lê Quốc Túy có hai đời vợ. Vợ thứ nhất là người Pháp có tên là Dupuis Jacqueline. Túy cưới cô gái Pháp này vào năm 1955 tại Paris khi y còn đang học trường không quân ở Pháp.

Năm 1974, Túy và Dupuis Jacqueline ly dị và họ đã có với nhau ba con: hai trai, một gái. Vợ thứ hai là Nhan Thị Kim Chi, một phụ nữ Việt Nam sang Pháp du học lúc còn nhỏ. Kim Chi khoảng 34 - 35 tuổi, kém Túy chừng 20 tuổi. Kim Chi là cháu gọi Trần Văn Hữu, cựu Thủ tướng chế độ Sài Gòn thời Bảo Đại bằng cậu ruột. Túy cưới Kim Chi vào năm 1976 tại Paris và có một con gái.

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:33:40 AM
Kỳ 3: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Phan-3)-324327/ (hình như lỗi đánh máy hay sao mà không có kỳ 2)

Ngày 27/1/1981, tại phòng họp lớn của Văn phòng Bộ Nội vụ ở phía Nam, có một cuộc họp rất quan trọng để bàn chủ trương, phương hướng, biện pháp đấu tranh và lề lối làm việc trong vụ án gián điệp biệt kích mới xảy ra. Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng dự họp nhưng giao nhiệm vụ chủ trì cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm.

Đồng chí Phạm Hùng đã từng là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này là Phó chủ tịch HĐBT, Chủ tịch HĐBT - Thủ tướng), khi vào miền Nam công tác là Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng đồng chí Phạm Hùng đã nhạy cảm nhận thấy đây là một vụ án có tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia. Chính sự chỉ đạo sát sao và việc đồng chí trực tiếp vào TP HCM để chỉ đạo đấu tranh vụ án này đã góp phần quyết định bước mở đầu đúng hướng của kế hoạch đấu tranh.

Dự cuộc họp quan trọng này gồm các đồng chí lãnh đạo Công an TP HCM, Công an một số tỉnh ở Nam Bộ và một số Cục nghiệp vụ.

Không khí của cuộc họp rất khẩn trương. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trình bày tóm tắt diễn biến chính của vụ án, rút ra âm mưu, tính chất hoạt động của địch và phát biểu ý kiến chỉ đạo về phương hướng đấu tranh với chủ trương nghiên cứu đánh lại địch.

Sau đó, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng phát biểu ý kiến đánh giá những kết quả bước đầu và thông báo tình hình chính trị, an ninh và những yêu cầu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Nói về vụ lực lượng của Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam, đồng chí Bộ trưởng nhận định:

- Đây là một toán biệt kích hoạt động táo bạo, có nhiệm vụ móc nối cơ sở, xây dựng căn cứ, gây tiếng vang chính trị. Vụ này rất nghiêm trọng, chúng xâm nhập vào nội địa ta bằng lực lượng vũ trang. Nếu trót lọt chúng sẽ còn những toán khác tiếp theo. Ta làm triệt để, ngăn được một toán đầu tiên mà còn phá được âm mưu của chúng. Tuy nhiên, ta cũng cần xem lại âm mưu và hoạt động tiếp theo của chúng.

Đồng chí Phạm Hùng nêu chủ trương của ta là: Đối phó phải toàn diện, trung ương phối hợp với địa phương, thống nhất hành động, truy quét và khai thác... Vụ này nằm trong âm mưu chung của địch, nên công tác đấu tranh của ta cũng phải thống nhất chỉ huy. Tất cả tin tức phải báo cáo về Bộ (tại TP HCM), không báo cáo nhiều nơi. Tất cả tài liệu báo cáo về Bộ phải tập trung vào anh Sáu Hoàng (đồng chí Cao Đăng Chiếm). Không được điện báo lung tung, không được dùng điện thoại. Tất cả tài liệu đều phải tập trung vào một đầu mối. Khi khai thác có những việc cần trao đổi, nếu khẩn trương lắm thì được phép trao đổi thẳng. Phải khẩn trương, không được làm theo lối hành chính.

Sau cuộc họp ngày 27/1/1981 do Bộ trưởng Phạm Hùng và Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chủ trì, Công an các địa phương và các Cục nghiệp vụ ở phía Nam nhanh chóng triển khai chỉ đạo của lãnh đạo Bộ. Chỉ sau một thời gian ngắn, với tinh thần cảnh giác cao và được sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, chúng ta đã bắt gọn cả toán gián điệp biệt kích do tên Lê Hồng Dự cầm đầu xâm nhập.

Trên cơ sở kết quả khai thác bọn xâm nhập, tổng hợp các nguồn tin, lãnh đạo Bộ phán đoán địch sẽ tiếp tục tổ chức xâm nhập bằng đường biển. Vấn đề là chúng ta chưa biết đích xác địch sẽ xâm nhập vào thời gian nào, khu vực bờ biển tỉnh nào. Do đó, Công an các tỉnh ven biển từ Khánh Hòa đến Kiên Giang đều phải triển khai các phương án sẵn sàng đón bắt bọn xâm nhập.

Thế trận của ta được bố trí chặt chẽ, liên hoàn.

Lại nói về phía địch.

Sau khi tung toán “Minh Vương 1” xâm nhập Việt Nam không thành, Lê Quốc Túy quyết định tung toán “Minh Vương 2” xâm nhập Việt Nam bằng đường biển, tiếp tục thực hiện ý đồ tung quân vào rừng U Minh, xây dựng “căn cứ” và tăng cường hoạt động ở thành phố. Kế hoạch này hình thành trong đầu của Túy. Ý đồ của Lê Quốc Túy là sẽ đưa vào Việt Nam 10 tấn vũ khí và chiến cụ cùng với một toán quân nhằm mục đích trước mắt là thành lập “mật khu kháng chiến”. Để thực hiện kế hoạch có tên là “Chiến dịch Hồng Kông 1”, Lê Quốc Túy nhờ nước ngoài tạo điều kiện về chỗ neo đậu và cấp các thủ tục giấy tờ cho quân của Túy hoạt động.

Được T.V.V (K12) giới thiệu K64 là người Cà Mau, am hiểu vùng này và có thể lập kế hoạch xâm nhập được, cho nên Túy cho điều K64 từ “Mật cứ Tự Thắng” về trung tâm.

K64 là một người khá nhạy cảm, anh đoán được ý đồ của Túy và Hạnh là muốn đưa vũ khí và quân xâm nhập bằng đường biển nhưng chưa biết đưa vào vùng nào. Vì muốn thoát khỏi cái “án tử hình” treo lơ lửng do bị nghi là cộng sản, K64 chủ động gợi ý với Mai Văn Hạnh nên tổ chức xâm nhập vùng Cà Mau và nói thêm là muốn xâm nhập thì phải có người địa phương quen thuộc vùng này. Trong toán “Minh Vương 2” có hai người cùng quê với K64 là K59 và K61. Buổi chiều hôm đó, Mai Văn Hạnh cùng nhóm này bàn kế hoạch xâm nhập vùng biển.

Nhiệm vụ của toán “Minh Vương 2” là xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng ở trong nước theo kế hoạch “Hồng Kông 1”. Chúng được giao những nhiệm vụ cụ thể là sau khi đã xâm nhập Việt Nam thì tổ chức tiếp nhận người và vũ khí từ nước ngoài chuyển về các chuyến sau, đưa khối lượng vũ khí đó về các địa bàn hoạt động. Toán này còn có nhiệm vụ tổ chức phá hoại, ám sát cán bộ ở các mục tiêu: trụ sở các cơ quan của đảng, chính quyền, công an, bộ đội, nhất là Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại TP HCM, các cơ sở công nghiệp, điện, nước, kho xăng Nhà Bè, cầu cống, các trại cải tạo... Chúng dự kiến sẽ dùng tiền thuê bọn bụi đời, bọn tù được thả về, ngụy quân ngụy quyền cũ; giao vũ khí, mìn để bọn này làm những việc phá hoại.-


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:35:55 AM
Toán “Minh Vương 2” do Nguyễn Văn Thanh mang ám danh “K44” làm toán trưởng. Hắn là một sĩ quan quân đội Sài Gòn trốn cải tạo. Chịu trách nhiệm “chỉ huy trưởng” toán “Minh Vương 2”, Thanh có nhiệm vụ liên lạc và giữ liên lạc với những “giới chức” trong nước, giới thiệu những “giới chức” đó với những “cán bộ” mà “trung ương” phái về. Ngoài ra, hắn còn được Túy giao những nhiệm vụ đặc biệt, những “tín vật”, ám hiệu để bắt liên lạc với các cơ sở của Túy ở Sài Gòn, kể cả nơi nhận tài liệu theo một đường dây chuyển ngân đen ở số nhà X đường Hoàng Phố, quận 8, TP HCM. Vai trò của tên Thanh rất quan trọng...

Ngày 12/5/1981, chiếc tàu của bọn Túy – Hạnh chở 16 tên gián điệp biệt kích khởi hành từ R đi xâm nhập Việt Nam. Cùng đi có một chiếc tàu hải quân nước ngoài hộ tống. Khi đến hải phận quốc tế, K12 chuyển sang tàu nước ngoài và quay trở về. Chúng dự định đổ bộ vào vàm sông Ông Đốc - vùng quê của K64.

Trong một phiên liên lạc, Lê Quốc Túy từ trung tâm ra lệnh cho Nguyễn Văn Thanh thủ tiêu HK121 và HK125 vì nghi là cộng sản. Tên Nguyễn Văn Thanh thi hành mệnh lệnh ngay và hất xác hai người này xuống biển. Sau đó, chúng cho tàu xâm nhập vùng biển Cà Mau.

Nhưng chúng không biết rằng, thế trận an ninh nhân dân của ta đã được triển khai.

* * *

Ngày 14/5/1981, Cơ quan trinh sát kỹ thuật phát hiện một tàu lạ ở hải phận Việt Nam và nhận định: bọn Lê Quốc Túy đã tổ chức xâm nhập bằng đường biển. Kết quả phát hiện có tính chất mở màn này lập tức được báo cáo lên Bộ Nội vụ và Ban chuyên án.

Lúc này đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng đang ở TP HCM. Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm rất phấn khởi báo cáo với Bộ trưởng và nhanh chóng chỉ thị cho các lực lượng An ninh triển khai ở vùng biển Minh Hải - Kiên Giang. Nguồn tin kỹ thuật đã giúp Ban chuyên án không chỉ đạo dàn trải quân dọc biên giới nữa mà tập trung phía biển Kiên Giang - Cà Mau và khẳng định lần này chúng xâm nhập bằng đường biển.

Suốt dọc bờ biển từ Hà Tiên đến Cà Mau dài 350km đã được canh phòng chặt chẽ. Mạng lưới cảnh giác đã giăng kín.

* * *

Đúng 21 giờ ngày 15/5/1981, chiếc tàu của bọn gián điệp biệt kích cập bờ biển khu vực Bãi Ghe gần vàm sông Ông Đốc (Minh Hải). Bọn gián điệp biệt kích được lệnh lên bờ. Chúng lục đục xuống tàu, lội bì bõm. Chúng nặng nề đi theo hướng tây, tính vượt đầm lầy vào U Minh.

Trời đã dần dần sáng rõ. Thấy tình thế không ổn, Nguyễn Văn Thanh ra lệnh phân tán theo từng nhóm và hẹn nơi tập kết. Mạnh tên nào tên nấy tìm nơi ẩn nấp.

K64 đã tính toán một nước cờ mà chỉ riêng một mình anh biết, không hề nói cho ai. Anh quyết định sẽ ra đầu thú lập công chuộc tội và mong muốn được trở về với vợ con, gia đình. Và thế là K64 ra đầu thú tại Cơ quan Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải. Trước Cơ quan An ninh, anh đã thành khẩn thú nhận mọi tội lỗi của mình và đồng bọn, khai rõ mục đích ý đồ của “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Nam Việt Nam...”.

Chỉ trong vòng một ngày sau, ta đã tóm gọn toán gián điệp biệt kích xâm nhập đêm 15/5/1981. Toàn bộ toán “Minh Vương 2” bị sa lưới, riêng toán trưởng Nguyễn Văn Thanh bị bắn chết.

Sau đó, lực lượng của ta tiếp tục ra bờ biển thu giữ toàn bộ 3,5 tấn vũ khí. Đến khoảng 3 giờ chiều 17/5/1981 thì vớt được hết và đưa toàn bộ về đến Công an huyện.

Vào đêm 16/5, Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm gọi điện thoại cho đồng chí Nguyễn Phước Tân và yêu cầu đến nhà riêng ngay vào lúc nửa đêm. Đồng chí Cao Đăng Chiếm nói:

- Minh Hải vừa báo cáo có bọn xâm nhập. Đúng là của đám Túy - Hạnh, có mang theo vũ khí, điện đài. Có một số tên ra đầu thú. Ta đã bắt được tất cả. Tôi cử Hai Tân xuống Minh Hải thực hiện kế hoạch “tương kế tựu kế”, dùng địch đánh lại địch.

Đồng chí Cao Đăng Chiếm chỉ nói ngắn như vậy. Đồng chí Nguyễn Phước Tân hiểu đó là mệnh lệnh.

Khoảng 2 giờ sáng, đồng chí Nguyễn Phước Tân cùng đồng chí Thi Văn Tám, lúc đó là cán bộ của Tổ An ninh  cùng đi. Nhận được chỉ thị của đồng chí Cao Đăng Chiếm, Cơ quan trinh sát kỹ thuật cũng cử cán bộ đi Minh Hải ngay sáng hôm đó.

Đồng chí Nguyễn Phước Tân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, năm 1986 được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là một cán bộ an ninh lão luyện, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh với địch. Ông sinh năm 1930, quê ở Đồng Tháp. Tham gia hoạt động cách mạng từ thời thanh niên, ông được lãnh đạo An ninh khu Tây Nam bộ điều động về làm nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy công tác điệp báo từ năm 1959.

Năm 1968, ông được Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam rút lên tổ chức và chỉ đạo một mạng lưới điệp báo an ninh ở ngay trung tâm Sài Gòn. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, từ sau tết Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Phước Tân là người chỉ huy trực tiếp của cố Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc, một cán bộ tình báo hoạt động trong lòng địch, sau này là Thiếu tướng Công an. Trong kế hoạch CM-12, đồng chí Nguyễn Phước Tân được lãnh đạo Bộ Nội vụ giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác đấu tranh với địch.

Ngày 22/5/1981 tại TP HCM, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm chủ trì cuộc họp để quyết định kế hoạch này. Dự cuộc họp có các đồng chí Nguyễn Phước Tân, Lê Tiền và Hồ Khiết. Tại cuộc họp này, chuyên án CM-12 chính thức được quyết định mở màn. Hai chữ cái CM lấy hai chữ cái đầu của Cà Mau, còn 12 là ngày xuất phát của toán gián điệp biệt kích là 12/5/1981.

Ngày 23/5/1981, đồng chí Cao Đăng Chiếm xuống Cà Mau để chỉ đạo công việc. Địa điểm điện đài của “Tổ đặc biệt” được bố trí tại một căn nhà dành cho cán bộ công an của trại giam Rạch Ruộng. Căn nhà lá này nằm ở bìa trại. Một căn nhà khác được dành cho đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm làm việc và nghỉ ngơi cách đó chừng 10 mét



Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:37:33 AM
Kỳ 4:http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Phan-4)-324335/

Trong phiên liên lạc đầu tiên với trung tâm địch dưới danh nghĩa là "Tổ đặc biệt" vào lúc 21giờ ngày 25/5/1981, ta chỉ gửi một bức điện ngắn có nội dung như sau: "Tất cả đều an toàn và công tác đang xúc tiến. Vũ khí đã chôn giấu xong. Cần thêm cán bộ thành và tiền bạc. Hẹn 20 giờ ngày 28/5/1981 lên máy". Trung tâm của địch cũng chuyển cho "Tổ đặc biệt" một bức điện: "Tàu đã về tới B. vô sự. Ngày giờ khởi hành chuyến thứ nhì sẽ cho biết sau. Tổng đài sẽ trực máy theo giờ quy định".

Phiên liên lạc đầu tiên thành công.

Đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm rất vui, khen ngợi các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Đêm hôm đó tất cả cùng được thưởng thức một nồi cháo gà thật ngon lành. Anh em cảm thấy sung sướng vì công việc bước đầu đã thành công.

Sau khi anh em về nghỉ, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân bàn bạc về những công việc sắp tới. Đồng chí gợi ý là ta phải thiết kế một kế hoạch, chọn bãi đổ, làm “mật cứ” giả... Rồi cần phải đấu tranh với các mảng của địch trong nội địa như thế nào, làm sao cho địch bộc lộ hết những cơ sở của chúng ở trong nước...

* * *

Sau thắng lợi ban đầu là thực hiện việc liên lạc giữa CM-12 và “Tổng hành dinh” đã được “nối”, cơ quan an ninh bàn kế hoạch đón chuyến xâm nhập mới của địch. Kế hoạch được vạch ra rất khẩn trương và được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng. Sau đó vài hôm, ngày 29/5, Bộ trưởng có ý kiến chỉ đạo và nêu rõ 4 điểm cần chú ý nghiên cứu kỹ và bố trí kế hoạch thực hiện cho chu đáo. Đồng chí Bộ trưởng còn chỉ đạo cụ thể về cách tổ chức đón bắt địch xâm nhập.

Do phạm vi, đối tượng đấu tranh của CM-12 đã vượt tầm cỡ một “chuyên án”, mặt khác, do các đối tượng đấu tranh lại không đơn thuần là gián điệp biệt kích mà còn mang tính chính trị hết sức nhạy cảm, nên đến đầu tháng 6/1981, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng gọi đây là “Kế hoạch CM-12”.

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nêu yêu cầu của Kế hoạch CM-12 là: Thu hút, đánh bắt hết các lực lượng xâm nhập theo kế hoạch của ta.  Thông qua bọn Túy - Hạnh để bóc gỡ lực lượng bí mật của chúng ở trong nội địa. Từ công tác đấu tranh phản gián trong Kế hoạch CM-12 ta cần nắm cho được  toàn bộ âm mưu của các thế lực thù địch với cách mạng nước ta. Bảo đảm an toàn tuyệt đối an ninh của đất nước, kiên quyết không để cho địch phá hoại. Nâng cao trình độ năng lực chiến đấu của lực lượng an ninh. Từng bước rút kinh nghiệm về tổ chức công tác an ninh trong quá trình đấu tranh.

Trong thời gian này, một mặt ta vẫn tiếp tục chuẩn bị về việc đón nhận chuyến xâm nhập tiếp theo của bọn gián điệp biệt kích, đồng thời tiến hành các biện pháp điều tra đối với các mảng khác trong nội địa có liên quan đến CM-12 như cụm Lê Quốc Quân,  cụm Lê Chơn Tình và cụm Hồ Tấn Khoa trong đạo Cao Đài. Tổ An ninh K4/2 được giao nhiệm vụ chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị, công an các địa phương liên quan như thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang... đấu tranh với các chuyên án có liên quan. Yêu cầu bảo đảm bí mật đối với công tác đấu tranh với CM-12 rất cao, nhưng ta lại phải đấu tranh với nhiều chuyên án có liên quan, phạm vi khá rộng, có nhiều đối tượng, vì vậy nhiệm vụ lại càng khó khăn gấp bội.

* * *

Trong khi đó, các yêu cầu của “chủ tịch” Lê Quốc Túy đều được “tổ công tác đặc biệt” thi hành một cách “nghiêm chỉnh” nhưng cũng làm cho Túy hiểu là không phải hoàn toàn dễ dàng.

Để có lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh trong chuyên án này,  đồng chí Trần Phương Thế, tức Tám Thậm, Trưởng phòng Bảo vệ chính trị của Công an Minh Hải được chọn vào vai NK-A1, nghĩa là “Kinh Kha số 1” ở trong nước. Để tránh lộ bí mật, ta thường gọi NK-A1 là A1, tên thường dùng khi hoạt động của anh Tám Thậm là Hai Tài, còn bọn biệt kích thường gọi là Hai Râu vì anh Tám Thậm vốn có bộ râu quai nón rất đẹp.

Đồng chí Tám Thậm lúc đó mới ngoài ba mươi tuổi, tính điềm đạm, cẩn thận và chắc chắn. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí làm hiệu thính viên, chữ viết rất đẹp. Địa bàn Cà Mau thì anh rất thông thuộc. Nếu có các tình huống xuất hiện ngoài dự kiến của Ban lãnh đạo kế hoạch anh cũng có đủ khả năng để xử lý khi cần thiết. Tuy nhiên, đồng chí Tám Thậm chưa hoạt động trong lòng địch, kinh nghiệm hoạt động bí mật chưa nhiều, chưa sử dụng ngôn ngữ trong chế độ cũ thường dùng trước đây.

Mặt khác, ở Minh Hải, rất nhiều người biết mặt đồng chí Tám Thậm, ta không loại trừ một số người vượt biên hoặc bọn biệt kích có thể nhận biết, nhất là trong trường hợp Túy, Hạnh yêu cầu ra nước ngoài để huấn luyện, hội họp... Nhưng đồng chí Tám Thậm có ngoại hình phù hợp với “vai” được giao, nhất là khi anh để râu quai nón, rất dễ ngụy trang và có thể khắc phục những “nhược điểm” ấy. Đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tỏ ý hài lòng về sự lựa chọn này.

Người đóng vai NK-A2 là đồng chí Hồ Việt Lắm (hiện nay là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ), lúc đó là Phó Công an huyện phụ trách An ninh của Công an huyện Trần Văn Thời.

Đồng chí Mười Lắm cũng là người địa phương này, am hiểu ngọn nguồn sông lạch và là người đã được đào tạo về nghiệp vụ trinh sát. Một số cán bộ của Tổ An ninh K4/2 như Nguyễn Khánh Toàn, Vũ Thành Hà, Trần Tôn Thất, Trần Lương Tư..., khi cần có thể thực hiện các vai được phân công. Đồng chí Nguyễn Văn Xíu, tức Ba Tài cũng được chọn đưa vào kế hoạch với vai phụ tá điện đài và lo cơm nước, bảo vệ...

Các đồng chí này đều phải làm việc trong điều kiện giữ bí mật tuyệt đối. Thậm chí, họ hàng và người ngoài không biết các đồng chí này còn làm việc cho công an nữa...

* * *

Trong các bức điện gửi cho “Tổ đặc biệt”, Lê Quốc Túy cho biết ý đồ của y là định đưa vào 3 chuyến trong tháng 9/1981 với khối lượng vũ khí khoảng 40-50 tấn. Ngày 25/8/1981, trung tâm địch gửi một bức điện hỏi “Tổ đặc biệt” là “trong đêm có thể đổ hai bãi cùng một lúc được không, khoảng 15 tấn 2 tàu”. Cũng trong bức điện này chúng còn yêu cầu K64 chuẩn bị một địa điểm an toàn tạm trú cho “6 cán bộ thành”.

Như vậy là có thêm tình huống địch sẽ cho một toán gián điệp biệt kích xâm nhập trong chuyến này. Công việc chuẩn bị của ta không chỉ đón “hàng” mà còn bắt bọn gián điệp biệt kích, tổ chức khai thác để phục vụ công tác nghiệp vụ tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:38:08 AM
Trong phiên liên lạc vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 31/8/1981, trung tâm địch thông báo cho “Tổ đặc biệt” 2 tàu xâm nhập sẽ khởi hành vào ngày 6/9/1981. Qua biện pháp trinh sát khác, chúng ta cũng nắm được quá trình chuẩn bị, tên tuổi cụ thể số “cán bộ thành” sắp xâm nhập  và chỉ huy chuyến xâm nhập này là T.N.C, có ám danh là K19.

Trong những ngày hạ tuần tháng 8/1981, công việc chuẩn bị rất khẩn trương. Sau khi nghiên cứu kỹ, ta quyết định chọn các bãi đổ cho Kế hoạch CM-12 ở vùng phía tây mũi Cà Mau chứ không ở phía đông. Vùng biển phía tây vừa có nhiều luồng lạch và thường lặng sóng. Bãi đổ ở khu vực này không sình lầy nhiều như vùng phía đông.

Kế hoạch được báo cáo lên đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và được đồng chí Bộ trưởng phê duyệt.

Chiều 7/9/1981, đồng chí Cao Đăng Chiếm và đồng chí Nguyễn Phước Tân từ TP Hồ Chí Minh đi xuống Minh Hải. Các đồng chí Sáu Phương, Ba Dũng, Sáu Sáu, Tám Phú, Hoài Việt, Năm Xinh, Hai Minh từ công an các tỉnh đã có mặt tại trại Cây Gừa. Đồng chí Nguyễn Phước Tân thông báo tình hình và phân công từng đồng chí chuẩn bị khai thác đối tượng khi chúng bị bắt.--PageBreak--

Đúng như ta dự đoán, “Tổ đặc biệt” nhận được điện của trung tâm địch gửi, cho biết khoảng 20 giờ ngày 9/9 tàu sẽ đến bãi đổ.

Lực lượng của ta đã triển khai theo phương án chiến đấu thứ nhất. “Tổ đặc biệt” chuẩn bị ra bãi biển. Các đồng chí Thi Văn Tám, Trần Phương Thế, Hồ Việt Lắm và một số chiến sĩ Công an Minh Hải đã chuẩn bị đủ vỏ lãi để “nhận” người và không quên mang theo 6 chiếc khóa số 8.

Biển tốt. Gió nhè nhẹ. Đúng 19 giờ 10 phút ngày 9/9/1981, hai chiếc tàu đã vào đến bờ biển Minh Hải. So với thời gian dự định, chúng vào sớm gần một tiếng đồng hồ. T.N.C  (K19) quyết định cho hai chiếc tàu neo cách cửa sông ông Đốc khoảng 2.000 mét chờ các “chiến hữu” ra đón. Sau khi phát và nhận tín hiệu, hai bên gặp nhau và trao đổi những điều cần thiết. K19 ra lệnh cho bọn ở trên tàu ném “hàng” xuống biển. Phải mất hơn 3 tiếng mới thả “hàng” xong. K19 bàn giao thư và quà của Lê Quốc Túy gửi cho “Tổ đặc biệt”. Việc vớt vũ khí tương đối vất vả, mãi tới tối 10/9/1981 mới xong và chất lên ba chiếc tàu.

Trong lúc đó, 6 tên “cán bộ thành” đi theo người của “Tổ đặc biệt”. Cả toán đi được khoảng 4km thì đến một con kinh. Ở đây đồng chí Mười Lắm chỉ huy 12 chiến sĩ an ninh của ta đã mai phục bắt gọn 6 tên biệt kích. Diễn biến trận đánh rất nhanh, gọn, không một tiếng súng nổ.

Chiến công này có ý nghĩa rất quan trọng và quyết định đối với kế hoạch CM-12 sau này. Có thể gọi đây là chiến công đầu trong Kế hoạch CM-12. Lãnh đạo Bộ đánh giá cao thành tích của lực lượng tham gia đấu tranh với chuyên án. Thắng lợi này nâng cao tinh thần và càng củng cố niềm tin vào kế hoạch đánh địch tiếp theo.

Bộ trưởng Phạm Hùng đã báo cáo về Kế hoạch CM-12 cho các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức Thọ. Bộ Chính trị rất phấn khởi và căn dặn cần phải thận trọng, kiên quyết làm thất bại âm mưu của địch, nhưng đồng thời không để địch phá hoại ta trong quá trình thực hiện Kế hoạch CM-12.

* * *

Kế hoạch CM-12 tiếp tục giành được những thắng lợi quan trọng. Tháng 3/1982, Mai Văn Hạnh có ý định xâm nhập Việt Nam và thông báo cho “Tổ đặc biệt” biết qua bức thư của y, trong đó có yêu cầu liên lạc với Huỳnh Vĩnh Sanh và một số đầu mối khác, bố trí cho họ xuống gặp Hạnh tại Minh Hải.

Người của ta tiếp cận được với Huỳnh Vĩnh Sanh và  Lê Quốc Quân, thông báo ý kiến của Hạnh. Cả hai rất phấn khởi và nhận lời sẽ đi “căn cứ” gặp Hạnh. Đồng chí Lê Tiền chỉ đạo thực hiện kế hoạch đưa Huỳnh Vĩnh Sanh và Lê Quốc Quân xuống gặp Mai Văn Hạnh trong chuyến xâm nhập tới. Chúng ta cũng có kế hoạch  khéo léo khai thác thật kỹ Huỳnh Vĩnh Sanh để nắm được nội dung mà ông ta sẽ trao đổi khi gặp Mai Văn Hạnh.

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 lập kế hoạch đón, đưa, bố trí Mai Văn Hạnh vào nội địa và đặt ra yêu cầu đối phó với việc kiểm tra của Mai Văn Hạnh làm sao để Hạnh tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và các “cơ sở”,  qua đó, buộc chúng bộc lộ lực lượng ngầm, âm mưu, kế hoạch hành động sắp tới của chúng. Đồng chí Phạm Hùng thấy báo cáo hợp lý và phê duyệt kế hoạch của Ban chỉ đạo CM-12.

Lãnh đạo Bộ Nội vụ nhận định rằng, việc tổ chức thực hiện kế hoạch đón Mai Văn Hạnh vào kiểm tra thành công sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, có tính chất quyết định Kế hoạch CM-12 tiếp tục hay không. Bởi vì nếu Hạnh vào thấy tình hình khả quan thì sẽ báo cáo lại cho Túy tiếp tục hành động. Mặc dù tính cách của Túy và Hạnh xung khắc với nhau nhưng Túy lại rất tin Hạnh và cần Hạnh.

Đúng như kế hoạch của Túy – Hạnh và ta đã khéo léo “tương kế tựu kế”, Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam trong một chuyến tàu mà ta đã biết trước và tổ chức “đón tiếp” khá chu đáo. Trong thời gian Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, ta bố trí cho Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân gặp y.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:38:39 AM
Do chuẩn bị chu đáo và các cán bộ, chiến sĩ an ninh cũng như người của ta thực hiện tốt kế hoạch nên Mai Văn Hạnh và đồng bọn rất phấn khởi, tin tưởng vào “Tổ đặc biệt” và “các lực lượng ngầm” ở trong nước. Mặc dù Mai Văn Hạnh tỏ ra rất xảo quyệt, dùng thủ đoạn kiểm tra chéo, hỏi riêng từng người về một sự việc, nhưng do ta đã có kế hoạch đối phó rất bài bản nên y không nghi ngờ gì. Trái lại, y rất tin vào “Tổ đặc biệt”.

Lúc Huỳnh Vĩnh Sanh gặp Mai Văn Hạnh ở Minh Hải, Sanh phấn khởi nói với Hạnh:

- Tôi không thể tưởng tượng được là chúng mình lại được gặp nhau ở đây. Tôi nói thiệt, gặp anh ở đây là thắng lợi rồi. Trên thế giới không có tổ chức nào làm được điều này - ý của Huỳnh Vĩnh Sanh là nói đến các tổ chức phản động người Việt lưu vong hoạt động chống phá cách mạng nước ta không có được đám nào làm nổi việc này.

Do tàu của địch bị sự cố và phải khởi hành chuyến tiếp theo chậm hơn một ngày, nên ta để Hạnh ở thêm một ngày nữa ở trong nước. Sáng hôm sau, Mai Văn Hạnh và anh em mình “từ giã” ông bà Sáu Tiệm cơ sở của ta bố trí cho Hạnh ở trong thời gian ở "quốc nội". Lại xuống ghe đi theo đường Kinh Xáng Bạc Liêu, qua Cà Mau rồi đến Rạch Ruộng. Đến Rạch Ruộng thì có các đồng chí Bảy Thất, Ba Tài ra đón. Các đồng chí này trong vai là cơ sở  “Tổ  đặc biệt”. Một cái chòi được dựng trong rừng là của ông bà Năm Tài.

Cái chòi này được giao cho đồng chí Mười Lắm chịu trách nhiệm chuẩn bị và đảm bảo an ninh trong thời gian diễn ra các hoạt động của kế hoạch. Đến gần 4 giờ chiều thì ghe tới rừng lá. Sau khi cơm nước xong cả toán ngủ lại một đêm ở trong chòi. Hôm sau khoảng 4 giờ chiều mới lên đường ra bãi biển.

Sau khi biết Mai Văn Hạnh vào trong nước an toàn, ngày 16/4, Lê Quốc Túy điện cho Mai Văn Hạnh yêu cầu Hạnh chỉ đạo “Các K trong quốc nội phải trực lo sẵn sàng đón rước C4 trong vòng tháng tới. C4 sẽ đón C5 khi trở về để bàn gấp chuyện này”. Như vậy là Túy cũng nóng lòng được vào Việt Nam như Hạnh.

Đến khoảng 20 giờ ngày 19/4/1982 thì tàu đón Hạnh do Trần Văn Bá chỉ huy xâm nhập vào bờ biển Minh Hải. Khi thấy tín hiệu của tàu xuất hiện, Mai Văn Hạnh mừng ra mặt. Phía ta có hai tàu ra đón, trong đó có một chiếc chở Mai Văn Hạnh. Chuyến này, địch đem gần 10 tấn vũ khí gồm đạn AK và B40. Do đồng chí Thi Văn Tám có sáng kiến dùng ống khóa lớn móc vào hai khoeo ở cột buộc dây neo của hai con tàu nên việc nhận “hàng” gọn gàng và đỡ nguy hiểm hơn trước rất nhiều.

Kế hoạch đưa đón Mai Văn Hạnh được thực hiện thắng lợi. Đây là một thành công quan trọng, tạo được niềm tin cho bọn đầu sỏ để tiếp tục duy trì Kế hoạch CM-12 theo chủ trương của lãnh đạo Bộ Nội vụ.

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:40:15 AM
Kỳ 5: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Phan-5)-324338/

Lúc đầu, chúng chỉ đặt ra mục đích “giải phóng” miền Nam Việt Nam, nhưng sau đó được sự hậu thuẫn của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế, Túy và Hạnh điều chỉnh ý đồ chiến lược đầy tham vọng. Lê Quốc Túy đổi tên “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Miền Nam Việt Nam” thành “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam”.

Qua bức điện của Túy gửi cho CM-12, chúng ta thấy y cũng rất phấn khởi và rất muốn vào “quốc nội” như Mai Văn Hạnh để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của chúng. Ngày 10/5/1982, Lê Quốc Túy điện cho biết là: “C4 và C5 sẽ vào cuối tháng với 12K và 8,5 tấn phân gồm 630 cục đá. Chương trình 5 hôm, ngoài việc gặp với các tổ, mỗi tổ 3 giờ, phải dự trù nửa ngày cho C.5 S.G ( Lê Quốc Quân - TG) và bác Tư (Huỳnh Vĩnh Sanh – TG). Riêng cậu út và thím Ba một ngày. Nếu có thể bố trí cho tổ N.C.B, A.Đ. và C.T lưu lại trong suốt thời gian nói trên. Sắp đặt không cho các tổ biết nhau. Sẽ xác định trước vài hôm ngày tới”.

Sau khi quán triệt sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và căn cứ vào thực tế, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 bàn rất kỹ và thống nhất kế hoạch đối phó với địch trong thời gian tới. Đồng chí Lê Tiền, Tổ phó Tổ An ninh K4/2 được đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm cử ra Hà Nội báo cáo về kế hoạch đối phó của ta và xin chỉ thị của Bộ trưởng.

Thiếu tướng Lê Tiền, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tham gia cách mạng từ lúc còn nhỏ, làm liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến Liên khu 1, sau đó chuyển sang ngành công an. Trước khi vào miền Nam chiến đấu năm 1961, ông đã là Trưởng phòng Bảo vệ chính trị của Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Khi vào miền Nam, ông chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ rồi ở miền Đông Nam Bộ. Ông có trí nhớ rất tuyệt vời và có tác phong làm việc cực kỳ tỉ mỉ, thận trọng. Cùng với đồng chí Nguyễn Phước Tân, đồng chí Lê Tiền là những trợ lý đắc lực của đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm trong công tác an ninh.

Ngày 12/5/1982, đồng chí Lê Tiền bay ra Hà Nội. Bộ trưởng sắp xếp làm việc với đồng chí Lê Tiền vào buổi tối hôm đó, từ 7 giờ tối đến 9 giờ. Cùng dự có cả đồng chí Thứ trưởng Trần Đông. Đồng chí Lê Tiền báo cáo với đồng chí  Bộ trưởng Phạm Hùng về nhận định về tình hình và kế hoạch đấu tranh của ta, trong đó có việc gây trở ngại để chưa cho Túy và Hạnh vào.

Sau khi hỏi thêm một số chi tiết, đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Thứ trưởng Trần Đông trao đổi, nhận định tình hình, cân nhắc các tình huống có thể xảy ra, cuối cùng đồng chí Bộ trưởng kết luận như sau: Trong kế hoạch này ta nắm chặt toàn bộ lực lượng địch xâm nhập, vũ khí, phương tiện... Một phần lớn lực lượng nội địa của địch thông qua ta để móc  ráp, tuy ta chưa biết hết mạng lưới ở dưới nhưng đã biết được một số tên nòng cốt của từng mạng lưới. Cho nên Túy và Hạnh vào dù có quyết định những chủ trương liều lĩnh nào  đó, ta vẫn có đủ cách đối phó, địch có triển khai thêm lực lượng vào các địa bàn mới ta cũng có kinh nghiệm bắt chúng sử dụng theo ý định của ta. Bọn nội địa có thể có tên hung hăng, manh động, nếu thấy có nguy hiểm ta vẫn có thể chủ động đánh tỉa, bắt giữ, gây khó khăn, không để chúng hành động được. Cũng có thể có lúc địch nghi ngờ điều này, điều khác, ta phải làm cho địch tin bằng cách lý giải của ta. Có thể có lúc địch tạm dừng để xem xét, kiểm tra sau đó vẫn bắt buộc tiếp tục kế hoạch. Do đó, hiện nay ta nên kiên định kế hoạch đấu tranh, cho Túy và Hạnh vào để làm rõ thêm âm mưu, tổ chức và hành động sắp tới của chúng.

Đây là quyết định rất táo bạo nhưng được suy tính kỹ lưỡng trong việc cho cả Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng vào, hơn nữa lại không kết thúc Kế hoạch CM-12 ngay mà vẫn cho hai tên đầu sỏ trở ra nước ngoài. Đồng chí Bộ trưởng cũng chỉ đạo cụ thể về kế hoạch đấu tranh của ta. Tuy nhiên, theo kế hoạch của địch, ta phải đối phó với hai vấn đề khá hóc búa như có cho chúng mang tiền giả vào hay không? Khi Túy và Hạnh vào kiểm tra có nên bắt hai tên đầu sỏ này hay chưa?

Lúc đầu Bộ trưởng Phạm Hùng không cho mang tiền giả vào. Phương án là có thể dùng lực lượng không quân ném bom tiêu diệt hai tàu B1 và B2 trên đường vào. Bộ trưởng Phạm Hùng có trao đổi phương án này với  Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng sau khi cân nhắc các yếu tố thì thấy có thể ảnh hưởng đến kế hoạch chung nên phương án này bị huỷ bỏ. Cuối cùng, Bộ trưởng Phạm Hùng chỉ đạo chấp nhận cho đưa tiền giả vào chỉ thị là bằng mọi giá kiên quyết không để lọt ra ngoài.

Vấn đề thứ hai thì qua tính toán, ta mới chỉ “hút” vào, bắt giữ và tiêu diệt khoảng gần 100 tên, trong khi đó ở trung tâm địch còn đang tuyển mộ thêm lực lượng, do vậy quyết định kiên trì mục tiêu chiến lược đã đề ra là “thu hút toàn bộ lực lượng của địch”, buộc chúng phải đưa hết lực lượng ở nước ngoài xâm nhập về theo kế hoạch của ta, tổ chức bắt gọn các toán gián điệp biệt kích, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện. Vì vậy, lãnh đạo Bộ quyết định vẫn cho Túy và Hạnh trở ra sau khi “làm việc” để tính toán thực hiện chủ trương chiến lược.

Sau đó, đích thân Bộ trưởng Phạm Hùng vào TP HCM, kiểm tra công tác chuẩn bị “đón” Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Đặc biệt, trong chuyến này, theo kế hoạch của địch là đưa tiền giả (hàng đặc biệt) vào. Do đó, công việc nhận “hàng” lần này được bàn rất kỹ, nhất là số hàng “đặc biệt”. Công tác hậu cần phục vụ chiến dịch này được bảo đảm chu đáo, từ tàu thuyền, xe cộ, xăng dầu, lương thực, kinh phí, thuốc men. Mặt khác, trong Kế hoạch CM-12, chủ trương “dùng địch đánh địch” kể cả việc khai thác nguồn tài chính, một số cơ sở vật chất của địch cung cấp cho lực lượng “quốc nội” mà thực chất là của ta để đánh lại địch rất có hiệu quả.

Phải nói rằng, vào thời kỳ bao cấp, đất nước còn khó khăn, việc tổ chức được như thế là cả một vấn đề. Hơn nữa, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến vấn đề này. Có lần đồng chí Phạm Hùng báo cáo với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về quá trình tổ chức đấu tranh với địch trong Kế hoạch CM-12, người đứng đầu Chính phủ ta lúc đó đã nói là sẵn sàng ưu tiên cho lực lượng an ninh, nếu cần thiết thì sẽ chi cả kinh phí đặc biệt của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng để đảm bảo cho kế hoạch đánh địch thắng lợi.

Tất cả các bộ phận được phân công đều triển khai nhiệm vụ một cách khẩn trương và Ban chỉ đạo phân công từng đồng chí chỉ huy kiểm tra và báo cáo kết quả chuẩn bị. Mọi việc cũng đã sẵn sàng để đón “C4, C5”


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 01:41:12 AM
Vào ngày 23/5/1982, CM-12 có nhận được một bức điện của Trung tâm địch cho biết: “C4 đến trước với 10 cán bộ thành... C5 vào sau 2 ngày với phân bố như đã hứa. Mọi tổ chức để gặp nhau với tất cả các tổ và giới chức. Phải cẩn thận ai cũng có thể bị Cộng sản theo dõi”.

Việc C4 và C5 không cùng vào là tình huống nằm ngoài dự kiến của ta, vì vậy ta kiên quyết không để chúng thực hiện ý định này. Lấy lý do “rất khó bố trí tiếp đón và bảo đảm an ninh di chuyển đến nơi làm việc”, ta yêu cầu cả Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng vào một lúc và nhắc lại đề nghị phải vào trước 21 giờ. Đề nghị này được đáp ứng. Ngày 25-5-1982, trung tâm thông báo cho Tổ đặc biệt “C4 và C5 sẽ tới tối 1/6 như trù liệu, sẽ có 600 gói hàng và 10 cán bộ thành”. Tuy nhiên, thực tế không diễn ra như mong muốn của ta và cả Lê Quốc Túy. Tàu của Mai Văn Hạnh đi nước khác về trễ hơn dự kiến, Túy liên tục hẹn vào tối 2 rồi 3/6 và cuối cùng ấn định chắc chắn là tối 4/6/1982 sẽ vào. Ngày 3/6, Túy sang tàu B2 cùng với Mai Văn Hạnh xâm nhập Việt Nam. Một toán gián điệp biệt kích gồm 11 tên (chứ không phải 10 tên như chúng thông báo) do T.N.M (K18) làm toán trưởng cùng vào trong chuyến này.

Sáng 4/6, anh em trong Tổ đặc biệt đi từ “nhà thiếc” – nơi đặt “sở chỉ huy tiền phương” của ta  ra huyện Trần Văn Thời. Chiều thì đến nơi và ra chốt chỉ huy. Trời tối dần. Biển tím ngắt. Gió thổi mát rười rượi. Thời gian nặng nề nhích từng phút một. Đúng 21 giờ 30 phút, từ trong màn đêm, đèn tàu địch xuất hiện và nháy sáng theo quy định. Khi tàu ta cập được vào tàu địch, Trần Văn Bá ra đón. Bọn gián điệp biệt kích nằm im và chĩa súng vào tàu của ta đề phòng bất trắc. Trần Văn Bá lên tiếng chào anh Hai (Tám Thậm) và K64 sau đó dẫn tới chỗ Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh để giới thiệu “anh Hai” với “Chủ tịch”. Lê Quốc Túy thông báo sơ bộ về “thuốc nổ đặc biệt” (tiền giả), vũ khí và toán của K18 trong chuyến này. Đồng chí Tám Thậm “báo cáo” cho “Chủ tịch” và “Chú Năm” biết về lịch trình đi vào việc tiếp nhận “hàng” và toán của K18. Túy và Hạnh chăm chú lắng nghe, vẻ hài lòng. Cả hai đều bận đồ bà ba màu đen như nhiều ông già Nam Bộ. Sau đó, Túy và Hạnh được anh Tám Thậm và K64 đưa vào nội địa theo kế hoạch.

Đưa Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đi xong thì ta cũng “nhận” quân của toán T.N.M (K18). Cả toán gồm 11 tên được đưa vào hầm chiếc tàu và một chiếc ghe rồi đi thẳng vào cửa sông ông Đốc, sau đó đến địa điểm đã bố trí sẵn. Trong khi đó, đồng chí Mười Lắm cùng lực lượng thủy thủ của ta đi trên ghe nhận “hàng”. Đồng chí Thi Văn Tám chỉ huy việc đưa “hàng” về địa điểm tập kết tại cầu Sập, cách thị xã Bạc Liêu vài kilômét, bàn giao cho đồng chí Ba Bút nhận. Tiền giả địch mang vào rất giống tiền thật. Trong chuyến này, địch còn đưa vào 637 thùng thuốc nổ cực mạnh, ta cũng thu giữ an toàn.

Ngày hôm sau, đồng chí Phạm Hùng chỉ thị là bằng mọi biện pháp, bằng mọi cách đối phó, giữ ngay số tiền giả. Nếu đã đưa cho bọn chúng chở về thành phố thì phải tổ chức xét và lấy lại cho bằng được tất cả và giữ cả người.

* * *

Trong thời gian Túy và Hạnh ở “quốc nội”, ta cho A.Đ từ TP HCM xuống Minh Hải gặp lại người tình cũ. Đó là một phụ nữ trạc ngoài 40, còn chút nhan sắc. Thị chỉ mang theo một giỏ sầu riêng. Túy và cô bồ cảm động, mừng rỡ, ôm nhau một cách tự nhiên. A.Đ nói: "Được báo là em đi, chứ dọc đường không chắc là gặp anh ở đây. Không ngờ lại gặp anh ở Cà Mau". Lê Quốc Túy hể hả: "Thấy không? Anh nói là anh làm mà. Anh làm là thành công. Hôm nay gặp đây là bước đầu của sự thắng lợi đó em". Cả hai ngồi tâm sự trên chiếc giường nhỏ rất thân tình.

Còn Mai Văn Hạnh lặng thinh, có ý chờ đợi người tình của mình. Nhưng C.T không tới. A.Đ đưa cho Năm Hạnh bức thư của C.T. Hạnh lấy kính ra và đọc rất kỹ bức thư. Sau đó y đi ra ngoài và không nói gì.

Các ngày sau đó, ta bố cho Túy, Hạnh gặp lại Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân và một số cơ sở của ta theo kế hoạch. Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh trực tiếp nghe và có vẻ hài lòng với báo cáo của các tổ. Túy khen việc các tổ làm được là những "thắng lợi" bước đầu, sắp tới sẽ giải quyết yêu cầu cho các tổ. Túy nói việc cấp tiền và vũ khí sẽ do “Tổ đặc biệt” giải quyết. Sau đó Lê Quốc Túy khoe là đã đi vận động nhiều nước, kể cả CIA. Nào là “Mặt trận” bây giờ “tiếng tăm lừng lẫy”. Túy chê lực lượng của Hoàng Cơ Minh “không là cái gì” và nói khoác nếu Hoàng Cơ Minh muốn về nước thì Túy cho quá giang về. Lê Quốc Túy hứa cấp cho Lê Quốc Quân 500.000 đồng. Quân mừng lắm. Việc này Túy “chỉ thị” cho “Tổ đặc biệt” thực hiện.

Ta buộc phải đưa 500.000 tiền giả cho Lê Quốc Quân. Tuy nhiên, ta cũng đã có kế hoạch phá án TQ-42. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ trưởng, lấy lý do Quân mang tiền giả ta bắt y trên đường về. Mười ngày sau đó, CM-12 điện thông báo cho Lê Quốc Túy biết là Quân đã bị bắt vì “xài tiền giả”.

Đến chiều 11/6, tàu của ta đưa Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh trở ra vàm Mỹ Bình. Trong khi đó, một con tàu đánh cá đi qua chiếc tàu chở Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Tất nhiên là Túy và Hạnh không biết trên tàu đó có những ai. Được sự đồng ý của đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm, các đồng chí Trưởng ty Công an các tỉnh từ Vũng Tàu  đến Minh Hải để chứng kiến việc ta tổ chức cho Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh xâm nhập theo kế hoạch, đồng thời đây cũng là dịp để các đồng chí chỉ huy công an ven biển tham quan chiến trường, có thể rút kinh nghiệm cho việc đấu tranh chống xâm nhập. Các đồng chí Sáu Ngọc (Giám đốc Công an TP HCM), Chín Nghĩa (Tây Ninh), Tư Nam (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Trắng (Cửu Long), Mười Việt (An Giang), Ba Thành (Bình Dương), Tư Chiểu (Long An), Sáu Huấn (Tiền Giang), Võ Thái Hòa (Đồng Tháp), Hai Hồng (Kiên Giang) đã tham gia chuyến đi này.

Trời tối dần. Vào khoảng 19 giờ, bóng đêm buông xuống. Lúc đó, 2 tàu địch từ nước ngoài vào cũng vừa tới. Chuyến này địch cho xâm nhập một toán quân nữa gồm 12 tên do Đ.Q.B chỉ huy và đưa thêm 9 tấn vũ khí, gồm 450 thùng đạn B40 vào. Ta tiếp nhận và tổ chức bắt giữ chúng theo kế hoạch được chuẩn bị từ trước một cách chủ động. Còn Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh thoả mãn lên tàu trở lại Thái Lan sau một chuyến xâm nhập “thành công”.

Đêm tối mênh mông nhưng yên tĩnh.

(Còn nữa)


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 10:55:25 AM
Kỳ 6: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Phan-6)-324351/

Qua các biện pháp nghiệp vụ và nghiên cứu các “chỉ thị” của “chủ tịch” Lê Quốc Túy, chúng ta đã biết được mục tiêu chiến lược của địch là tìm mọi cách để “giải phóng” miền Nam và sau đó là toàn bộ Việt Nam “khỏi tay Cộng sản (?!)”.

Để thực hiện mục tiêu đó, kế hoạch của chúng được chia ra làm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ năm 1977 đến năm 1980: Nhiệm vụ của giai đoạn này là móc nối tìm quan thầy để tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ về tài chính, phương tiện, vũ khí, xây dựng căn cứ, tuyển mộ và tổ chức huấn luyện để xây dựng và phát triển lực lượng. Đồng thời tìm cách móc nối với các tổ chức, đảng phái phản động trong nước để bàn kế hoạch phối hợp hành động.

Giai đoạn 2: Từ năm 1980 đến năm 1984. Đây là giai đoạn chủ yếu nhằm tổ chức xâm nhập người, vũ khí và phương tiện về trong nước, xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng trong nước, tiến hành các hoạt động phá hoại, tổ chức chiến tranh du kích.

Giai đoạn 3: Bắt đầu từ năm 1985. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tiến hành các hoạt động vũ trang, cướp chính quyền ở từng vùng, chủ yếu là các vùng núi, vùng biển. với phương châm lấy “nông thôn bao vây thành thị” kích động quần chúng nổi dậy, tổ chức thành lập chính phủ, dùng đài phát thanh tranh thủ dư luận quốc tế và kêu gọi các nước giúp đỡ... để tiến tới chiến tranh giành chính quyền trong cả nước.

Trên thực tế Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cùng một số tay chân đắc lực đã phần nào thực hiện được giai đoạn 1. Túy đã “móc” liên lạc với các viên chức tình báo một vài nước lớn và nhận được sự hậu thuẫn nhất định. Với sự trợ giúp của lực lượng tình báo quân đội  một nước trong khu vực Đông Nam Á Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đã lập được “Tổng hành dinh” ở thủ đô và xây dựng một căn cứ huấn luyện tại nước này. Trong các năm 1981, 1982 đồng thời với việc huấn luyện, chúng ráo riết thực hiện các chuyến đưa người xâm nhập về nước để xây dựng cơ sở, căn cứ.

Trong kế hoạch của chúng, dựa vào sự thỏa thuận từ năm 1975 với các tổ chức, đảng phái phản động lợi dụng đạo Cao Đài, Hòa Hảo... Lê Quốc Túy có ý đồ tổ chức đưa người và vũ khí về trang bị cho những tổ chức đó. Kế hoạch của Túy, triển khai thành lập 3 “quân khu”: “quân khu” A (miền Tây), “quân khu B” (miền Đông), “quân khu” Sài Gòn - Gia Định và một “Liên tỉnh xứ”, đồng thời phát triển các tổ chức phản cách mạng, nắm nhân sĩ, chuẩn bị lực lượng chính trị, hình thành bộ máy chính quyền, chờ thời cơ nổi dậy cướp chính quyền một số nơi, tiến tới giành chính quyền trong cả nước.

“Tương kế tựu kế”, trên cơ sở kế hoạch của địch,  ta đã thành lập “quân khu A” với căn cứ ở Minh Hải và “quân khu Sài Gòn - Gia Định”. Còn việc triển khai thành lập “quân khu B” được “triển khai” sau chuyến xâm nhập 9/9/1981 của địch. Tất nhiên, cũng như “quân khu A”, “quân khu B” chỉ là giả. Địa bàn “quân khu B” và các hoạt động của các toán này được ta tính toán kỹ để đối phó với địch, làm cho chúng tin tưởng.

Thông qua CM-12, ta phát hiện được âm mưu của địch là muốn xây dựng một căn cứ mật ở vùng Đồng Nai - Bà Rịa. Thời kỳ đó, tỉnh Đồng Nai còn gồm cả Bà Rịa -Vũng Tàu, nghĩa là có cả bờ biển. Ý đồ của Túy là muốn thiết lập một “bãi đổ” cho các chuyến xâm nhập ở vùng biển này. Không những thế, Túy còn muốn mở rộng ra cả miền Trung để đổ quân, vũ khí cho “Liên tỉnh xứ”. Lê Quốc Túy còn có kế hoạch đưa T.N.M (K18), một trong những “Kinh Kha” lớp đầu tiên “Minh Vương 1” vốn là một sĩ quan quân đội Sài Gòn, về “quân khu B” hoạt động, sau đó sẽ đưa M lên vị trí chỉ huy các lực lượng quân sự của Túy -Hạnh ở trong nước.

Trong Kế hoạch ĐN-10, ta sử dụng toán “6 cán bộ thành” xâm nhập ngày 9/9/1981, tức là chuyến xâm nhập đầu tiên của địch theo kế hoạch của ta. Toán này do T.Đ (K55) làm toán trưởng và T.H.M.(K66) làm hiệu thính viên. Lê Quốc Túy rất tin tưởng K55. Đây là một thanh niên khá lanh lợi nhưng cũng có cá tính mạnh. Sau khi mới bị bắt, lúc đầu K55 rất “cứng đầu”, không chịu khai báo và quyết định tự tử. Nhưng cán bộ, chiến sĩ công an trại Cây Gừa kịp thời phát hiện và cứu sống anh ta. Sau khi được bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, Đ đã thực sự cảm động trước tấm lòng của những cán bộ công an chăm sóc cho mình. Trong một cuộc hỏi cung, vốn rất thèm thuốc lá mà Đ lại quen hút thuốc lá ngon, nên khi đồng chí Ba Gừng, cán bộ của Công an Minh Hải đưa gói thuốc lá cho Đ hút, còn ông lại lấy trong túi một gói thuốc rê ra quấn hút, Đ rất cảm động. Từ đó, anh không còn mặc cảm và tự hại mình nữa. Đ chấp nhận khai báo và tự nguyện làm việc cho ta.

Theo sự phân công của lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Tổ An ninh K4/2, đồng chí Lê Tiền phụ trách công tác đấu tranh với các chuyên án trong nội địa và Kế hoạch ĐN-10. Tham gia công tác quan trọng này có đồng chí Nguyễn Khánh Toàn và một số cán bộ từ công an các tỉnh được điều động về như đồng chí Nguyễn Đông Phương (Sáu Phương, nguyên là Phó giám đốc Công an tỉnh Sông Bé trước đây, nay là Giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Bình Phước). Công an Đồng Nai cũng cử một số cán bộ an ninh giỏi, tham gia Kế hoạch ĐN-10. Tuy được phân công chuyên trách các mảng như vậy, nhưng trên thực tế, mỗi khi có các chuyến xâm nhập, các đồng chí Lê Tiền, Nguyễn Khánh Toàn... cũng trực tiếp tham gia chỉ đạo hoặc các công tác đón bắt.

Thực hiện Kế hoạch ĐN-10 nhằm khống chế việc mở rộng phạm vi hoạt động của địch, ta chọn một địa điểm thích hợp ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Ban chỉ đạo Kế hoạch chọn 4 cán bộ trinh sát có kinh nghiệm vào các vai “phụ việc” cho toán K55.

Mặt khác, thông qua đường liên lạc của CM-12 với “Tổng hành dinh”, ta đã khéo léo buộc địch phải đưa quân và vũ khí xâm nhập ở Cà Mau để có thể kiểm soát cho chắc và đỡ vất vả. Mặt khác, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Nội vụ, ban chỉ đạo Kế hoạch ĐN-10 chuẩn bị chu đáo, cho bộ phận điện đài của “quân khu B” lên máy liên lạc với trung tâm. Ngày 16/8/1982, ta tổ chức phiên liên lạc đầu tiên của điện đài ĐN-10. Chúng ta cho K66 lên máy theo quy ước đã được “Tổng hành dinh” trao cho toán K55. Trong phiên liên lạc này, ta cho đài ĐN-10 gửi một bức điện cho trung tâm dưới danh nghĩa K55. Nội dung như sau:

“K55 kính trình, HK132 an toàn đang thiết lập căn cứ và phát triển lực lượng. Điều kiện lên máy khó khăn. Hẹn 20 giờ 15 phút ngày 25/8 liên lạc lại. Nếu không gặp sẽ lên máy vào 21 giờ ngày 28”.

Trung tâm gửi một bức điện thông báo là từ nay điện đài ĐN-10 liên lạc với “Tổng đài” theo quy ước “đã gửi cho K66”.

Phiên liên lạc đầu tiên của ĐN-10 thành công. Trung tâm địch không hề nghi ngờ gì cả. Hơn thế, Túy - Hạnh lại còn tỏ ra đắc thắng vì đã mở rộng phạm vi hoạt động và phát triển được thêm lực lượng.  Như vậy là cùng một lúc ta duy trì hai điện đài liên lạc với “Tổng hành dinh” của địch ở nước ngoài. Kế hoạch CM-12 được phát triển. Tuy nhiên, để làm cho bọn Túy - Hạnh hiểu được là hoạt động bí mật ở vùng Đồng Nai - Bà Rịa không dễ dàng nên ngay trong phiên liên lạc đầu tiên ta đã cho biết tình thế khó khăn của ĐN-10 và báo cho trung tâm biết là điện đài của toán K55 chỉ nên liên lạc với trung tâm sau 10 ngày nữa.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 10:57:33 AM
Đúng ngày 25/8/1982, theo hẹn, ta cho đài ĐN-10 lên máy bắt liên lạc với trung tâm địch. Cũng vẫn với giọng điệu là đang gặp khó khăn, nên ta cho K55 báo cáo với “Tổng hành dinh” như sau:

“Hiện nay Cộng sản kiểm soát gắt để bảo vệ lễ 2/9 nên chưa gặp được các tổ để nhận tin. Đang thiếu tài chánh, số đã cấp chưa dám xài vì sợ lộ. Do thiếu tiền và phương tiện nên hoạt động rất hạn chế. Hẹn 20 giờ ngày 6-9 liên lạc lại”.

Trong phiên liên lạc này, trung tâm địch gửi một bức điện cho toán K55 có nội dung:

“Khoảng giữa tháng 9 có 15K vào do K55 di chuyển, có K14. K14 hoàn toàn thuộc hệ thống hành chánh vận chuyển và truyền tin của toán K55. Trong giai đoạn này K14 chỉ được bổ nhiệm một số việc quân sự của tỉnh Biên Hòa - Xuân Lộc. Phải cố gắng nghiên cứu dùng đường thủy chuyên chở hàng hóa với K64. Phải điều nghiên đường biển từ K64 tới Xuyên Mộc dùng ghe loại 5 hoặc 6 tấn để chuyển hàng khi biển yên. Theo dõi lộ trình của tàu vận tải Liên Xô trên sông Đồng Nai từ Vũng Tàu vào Sài Gòn, dùng B40 bắn chìm để làm gián đoạn dòng sông. Một số mục tiêu phá hoại dự định K55 phải ráng nghiên cứu để thực hiện trong đầu năm tới. Khi Đại đội HK132 có căn cứ an toàn phải tiếp vận chất nổ và vũ khí đầy đủ để tiến tới những mục tiêu đã ấn định”.

Qua bức điện này, chúng ta thấy bọn Túy - Hạnh đang rất muốn gây tiếng nổ để phô trương thanh thế. Chúng đặt hy vọng nhiều vào toán K55. Vì vậy cần phải tính toán cẩn thận về việc đối phó với địch trong Kế hoạch ĐN-10. Tổ An ninh K4/2 và Công an tỉnh Đồng Nai tích cực triển khai kế hoạch này.

Trong thời gian này, ta biết địch đang thúc giục các đối tượng trong nội địa khẩn trương triển khai kế hoạch hành động. Tuy nhiên, ta cũng đang thực hiện đối sách ngăn chặn và gây cho địch hiểu được những khó khăn để chúng chùn lại ý đồ phá hoại. Đặc biệt, thông qua CM-12 và các đầu mối khác, kể cả ĐN-10, một trong những mục tiêu trước mắt của ta là làm cho Túy - Hạnh từ bỏ việc sử dụng tiền giả.

Cũng như CM-12, “mật cứ” của ĐN-10 cũng chỉ là những mật cứ ảo mà ta dựng nên để cho Túy - Hạnh tưởng như thật. Những “kế hoạch phát triển lực lượng”, “xây dựng cơ sở” của toán K55, trong Kế hoạch ĐN-10 chỉ là đồ giả. Nhưng để làm cho địch tin là thật lại không phải dễ và phải thực hiện chu đáo, cẩn trọng, kín kẽ từng li từng tí.

Trong thời gian này, địch dự kiến sẽ đưa quân về tăng cường cho khu vực miền Đông. Ngày 6/9/1982, ta cho đài ĐN-10 lên máy và hỏi lại trung tâm về việc Lê Quốc Túy dự định đưa 15 tên nữa vào thì bố trí ở đâu? K14, tức B.S sẽ ở nơi nào là chính để “K55 lo sắp xếp trước và cần biết sớm thời gian vào để kịp phối hợp với K64 đón nhận”.

Nhưng sau đó, thông qua điện đài CM-12, địch báo cho “Tổ đặc biệt” là chiến dịch tới đến đầu năm 1983 mới thực hiện được. Chiến dịch này được dự kiến là thực hiện trong ba tháng liên tục. Trong phiên liên lạc ngày 21/9, trung tâm địch cũng thông báo cho ĐN-10 biết là chiến dịch xâm nhập tạm ngưng và chỉ thị là không nên xài “hàng đặc biệt” vào lúc này.

Như vậy là những động tác của ta nhằm ngăn chặn địch chỉ đạo sử dụng tiền giả đã có kết quả. Tuy nhiên, Lê Quốc Túy vẫn chỉ thị cho ĐN-10 tiếp tục nghiên cứu, nắm tình hình để tổ chức phá hoại ở khu vực miền Đông để “tiếp tay cho sự vận động ngoại giao của C4”. Lê Quốc Túy đang rất muốn có “sự biến” ở trong nước để chứng minh rằng lực lượng của y ở trong nước là có thật và đang hoạt động có hiệu quả, tiếp tục phô trương thanh thế, hòng kiếm thêm viện trợ và sự ủng hộ của các thế lực quan thầy. Mặt khác, y cũng muốn qua những hoạt động đó để lên mặt với các đối thủ cạnh tranh của chúng ở nước ngoài. Cùng thời gian này, Túy cũng chỉ thị cho CM-12 tiến hành phá hoại để gây tiếng vang và hỗ trợ cho hoạt động tuyên truyền, vận động của chúng ở bên ngoài.

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 quán triệt nguyên tắc là bảo vệ tuyệt đối an ninh, không để địch phá hoại. Ban chỉ đạo soạn thảo các bức điện gửi cho Lê Quốc Túy, tất nhiên là dưới danh nghĩa của K55 nêu những khó khăn trong việc thực hiện yêu cầu của “Tổng hành dinh”. Mặt khác, trước sự thúc bách phá hoại của địch, ta cũng nghiên cứu các phương án gây ra một vài vụ nổ mà không ảnh hưởng đến an ninh nhưng giữ được niềm tin của bọn đầu sỏ đối với Kế hoạch CM-12 và Kế hoạch ĐN-10. Sau này ta thực hiện một vụ nổ phá hoại giả tạo tại ngoài hàng rào nhà máy nước ở Thủ Đức vào ban đêm. Sau đó, ta cho K55 báo cáo qua đài ĐN-10 và một số đầu mối phản động nội địa thông báo cho Túy biết. Lê Quốc Túy rất phấn khởi, tổ chức họp báo ở nước ngoài và điện khen toán K55.

Quá trình thực hiện Kế hoạch ĐN-10 đã tạo được niềm tin cho Túy - Hạnh và trên thực tế, ta đã tạo ra được một lối rẽ để thực hiện kế hoạch thu hút lực lượng của địch ở nước ngoài về. Quá trình thực hiện Kế hoạch ĐN-10 thể hiện sự sáng tạo và quyết đoán trong cách đánh địch của lực lượng An ninh Việt Nam, góp phần ngăn chặn không cho địch chuyển sang giai đoạn phá hoại mới...

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:03:30 AM
Kỳ 7: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian(-Phan-7-)-324352/

Cuối tháng 12/1981, Bộ trưởng Phạm Hùng gọi Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm từ miền Nam ra Hà Nội để họp về Kế hoạch CM-12 trong hai ngày 29 và 30. Cùng dự cuộc họp quan trọng này có đồng chí Thứ trưởng Trần Đông, phụ trách công tác an ninh.

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm báo cáo tình hình diễn tiến của Kế hoạch CM-12 gồm các vấn đề đối phó với hoạt động xâm nhập mới của địch, hoạt động của các tổ chức địch trong nội địa có liên quan đến tổ chức của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh, và dự kiến một số tình hình tiếp theo. Thứ trưởng Trần Đông nêu một số ý kiến về chủ trương đối phó với địch, nhất là đối với hai tên đầu sỏ này.

Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo Bộ Nội vụ rất chú trọng đến việc bóc gỡ các tổ chức phản cách mạng ở trong nước. Về chủ trương này, Bộ trưởng Phạm Hùng nhắc lại ý mà ông đã báo cáo với Bộ Chính trị và được Bộ Chính trị nhất trí.

Bộ Chính trị nhận định rằng, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế câu kết với nhau chặt chẽ và có ý đồ chống phá cách mạng nước ta. Tuy nhiên, họ cũng thấy “lấy lại” Việt Nam là khó nên cố tình gây rối loạn, xáo động ở Đông Dương, âm mưu lâu dài của họ vẫn là tổ chức bạo loạn, lật đổ bằng hoạt động gián điệp biệt kích và kết hợp với bọn phản động ở trong nước. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch đối với cách mạng Việt Nam thời bấy giờ.

Bộ trưởng Phạm Hùng nhấn mạnh: "Muốn giải quyết tốt Kế hoạch, trước hết phải đánh giá tình hình cho đúng rồi mới quyết định. Phải quan sát các đầu mối khác, giải quyết các ẩn số đặt ra và phải làm sao cho “nó” thấy là chưa đến lúc mở chiến dịch hoạt động. Tiếp tục đấu tranh có hiệu quả chống địch xâm nhập, chống địch phá hoại kinh tế. Đặc biệt phải sử dụng CM-12 với tần suất tối đa nhằm biết được âm mưu, tổ chức, chủ trương hoạt động cụ thể của địch. Phải “cắt” cho được những tổ chức có dính líu đến CM-12. “Nó” muốn làm cho ta rối thì ta cũng phải cho “nó” thấy là không phải dễ...

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ, Tổ An ninh phối hợp với công an các tỉnh tổ chức đấu tranh bóc gỡ bọn phản động ở trong nội địa có liên quan đến Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Sau khi bắt Lê Quốc Quân, ta phá án TQ-42 một cách có hiệu quả. Đóng góp rất lớn vào kế hoạch này là Công an TP HCM.

Nắm được kế hoạch của địch, ta chủ động phá tổ chức phản động “Mặt trận quốc gia Việt Nam” do Lê Quốc Quân cầm đầu (Chuyên án TQ42). Thông qua Huỳnh Vĩnh Sanh, tác động y báo cáo với trung tâm địch ở nước ngoài để chúng tự thấy do tổ chức của Quân bị phá vỡ nên không thể tiến hành sử dụng “hàng đặc biệt” cũng như kế hoạch đã định.

Kết quả là Sanh đã nhân danh “Chủ tịch quốc nội” yêu cầu và trung tâm địch đã chính thức ra lệnh tạm hoãn việc sử dụng “hàng đặc biệt”, tạm hoãn việc phá hoại vào cuối năm 1982. Huỳnh Vĩnh Sanh đã ra lệnh cho bọn bên dưới “án binh bất động” để bảo toàn lực lượng. Vì vậy ta chủ động ngăn chặn các hoạt động phá hoại của địch, bảo vệ được an ninh chính trị ở TP HCM và các tỉnh miền Nam.

* * *

Trong số các chuyên án ở trong nước có liên quan đến CM-12 có hai chuyên án lớn mang bí số TK-90 và H-82. Chuyên án TK-90 đấu tranh với bọn phản động lợi dụng đạo Cao Đài mà chúng có tổ chức cái gọi là “Thiên khai huỳnh đạo”. Còn Chuyên án H-82 chính là tổ chức trong nội địa do Huỳnh Vĩnh Sanh cầm đầu.

Trong các đầu mối của Lê Quốc Túy xây dựng ở trong nước, Hồ Tấn Khoa, Bảo đạo Cao đài Tây Ninh có vai trò rất quan trọng. Hồ Tấn Khoa, sinh năm 1898, quê quán ở xã Bình Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Khoa được thực dân Pháp tin dùng và cho làm nhiều chức tước.

Năm 1939 được thăng phẩm Đốc phủ sứ, một chức ngang với tỉnh trưởng sau này. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, đưa Hồ Tấn Khoa làm tỉnh trưởng Châu Đốc. Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Tấn Khoa vẫn được cách mạng sử dụng và bố trí làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến sau đó là Chủ tịch Ủy ban hành chánh tại Châu Đốc.

Đến ngày kháng chiến bùng nổ, Hồ Tấn Khoa không tham gia mà lên Sài Gòn, chạy vào Tòa thánh Cao Đài ở Tây Ninh và gia nhập đạo này. Đến năm 1954 y được phong chức Bảo đạo, vì vậy thường được gọi là Hồ Bảo đạo.

Năm 1956 Bảo Thế bị anh em Diệm - Nhu đàn áp, Hồ Tấn Khoa theo Hộ pháp Phạm Công Tắc sang Phnôm Pênh sống lưu vong ở đó với tư cách là “tị nạn chính trị”. Sau khi Phạm Công Tắc chết, Hồ Tấn Khoa thay Phạm Công Tắc điều hành Hội thánh Cao Đài ở Campuchia.

Năm 1961, Quốc trưởng Campuchia Norodom Sihanouk tổ chức một hội nghị quốc tế hòa bình ở Đông Dương. Lê Quốc Túy được Trần Văn Hữu cử làm đại diện về tìm gặp Hồ Tấn Khoa để bàn việc tổ chức tiếp đón nhóm Trần Văn Hữu và nâng uy tín của Trần Văn Hữu tại hội nghị này.

Sau hội nghị, Trần Văn Hữu về Pháp, còn Lê Quốc Túy ở lại Phnôm Pênh khoảng một tháng và thường xuyên đến gặp Hồ Tấn Khoa. Trước khi Lê Quốc Túy về Pháp thì Túy và Hồ Tấn Khoa có hứa hẹn với nhau là sau này sẽ cùng nhau hoạt động nếu có cơ hội. Sau đó, thỉnh thoảng Lê Quốc Túy gửi bưu thiếp cho Hồ Tấn Khoa để duy trì liên lạc.

Năm 1970, Lon Nol được Mỹ hậu thuẫn tổ chức cuộc đảo chính Norodom Sihanouk. Việt kiều ở Campuchia bị tàn sát đẫm máu. Hồ Tấn Khoa được Mỹ dàn xếp với Nguyễn Văn Thiệu cho về Sài Gòn.

Khi Hồ Tấn Khoa về Sài Gòn buổi chiều thì sáng hôm sau một viên chức hàng đầu của Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã đến “thăm” ông ta. Sau này, Hồ Tấn Khoa khai rằng, người Mỹ đó có nói với ông ta y là bạn của Lê Quốc Túy.

Trong bối cảnh chính quyền Sài Gòn sắp sụp đổ hoàn toàn, ngày 27/4/1975, tại nhà Đỗ Cao Minh, Đại tá quân đội Sài Gòn, con rể của Hồ Tấn Khoa đã diễn ra một cuộc gặp được dàn xếp  từ trước. Viên Bí thư thứ nhất Sứ quán Mỹ và Lê Quốc Túy đến gặp Hồ Tấn Khoa. Túy và người Mỹ nọ hỏi Hồ Tấn Khoa có muốn xuất ngoại không thì sẽ thu xếp cho đi. Nhưng Hồ Tấn Khoa nói y đã già rồi nên ở lại.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:05:38 AM
Túy đề nghị Hồ Tấn Khoa ở lại trong nước tổ chức lực lượng Cao Đài phá hoại chính quyền cách mạng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, mặc dù được chính quyền cách mạng tôn trọng, nhưng Hồ Tấn Khoa vẫn tiếp tục thực hiện ý đồ chống phá cách mạng.

Y đã chỉ đạo cho tay chân các tổ chức phản động có liên quan đến đạo Cao Đài như Truyền trạng Võ Văn Nhơn và Hồ Vũ Khanh lập “Hội đồng hòa giải quốc tế”, còn Chí Mỹ với Bạch Hùng lập tổ chức “Thiên khai Huỳnh đạo”...--PageBreak--

Lãnh đạo Bộ Nội vụ và Tổ An ninh K4/2 giao cho đồng chí Hồ Khiết tổ chức thực hiện kế hoạch đấu tranh với mảng Hồ Tấn Khoa. Đồng chí Hồ Khiết có công lớn trong việc phối hợp với Công an Tây Ninh tổ chức thực hiện kế hoạch do lãnh đạo Bộ Nội vụ giao. Đồng chí Hồ Khiết, nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị 1, là một cán bộ an ninh lão thành, được đào tạo kỹ về công tác phản gián và là người có không ít kinh nghiệm trong công tác an ninh.

Lợi dụng Lê Quốc Túy đã cho người móc nối liên lạc với Hồ Tấn Khoa, người của ta đóng vai liên lạc của Túy và đã thực hiện thành công việc “móc nối” với Hồ Tấn Khoa. Chính vì vậy, Hồ Tấn Khoa đã bộc lộ lực lượng bí mật mà ông ta cho tổ chức thành lập để chống phá cách mạng.

Đặc biệt, Hồ Tấn Khoa đã giới thiệu hai tổ chức vũ trang nòng cốt của lực lượng phản động lợi dụng đạo Cao Đài để yêu cầu Lê Quốc Túy cung cấp vũ khí, phương tiện hoạt động. Đó là tổ chức “Thiên khai Huỳnh đạo” do tên Bạch Hùng cầm đầu, lập căn cứ trên núi Bà Đen và xây dựng lực lượng vũ trang bí mật ở nhiều tỉnh Nam Bộ có tín đồ Cao Đài.

Một tổ chức khác là  “Hội đồng hòa giải quốc tế” để hỗ trợ cho hoạt động của “Thiên khai Huỳnh đạo” do Truyền trạng Võ Văn Nhơn và Hồ Vũ Khanh lập ra. Sau khi bắt được liên lạc với Lê Quốc Túy, Hồ Tấn Khoa cùng đồng bọn có âm mưu gây bạo loạn và lật đổ chính quyền cách mạng vào tết Quý Hợi - 1983. Và dần dần qua các lần gặp gỡ của “đặc phái viên”, ta đã nắm được hệ thống tổ chức và lực lượng vũ trang ngầm của chúng ở 11 tỉnh Nam Bộ. Âm mưu của chúng khi được trang bị vũ khí đầy đủ sẽ đứng lên cướp chính quyền.

Để thực hiện quyết định trên, ngày 17/11/1982, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Lê Tiền lên Tây Ninh họp với lãnh đạo Tỉnh ủy và Công an Tây Ninh bàn kế hoạch đấu tranh với bọn phản động lợi dụng đạo Cao Đài.

Dự họp có đồng chí Hai Bình, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Ngô Quang Nghĩa, Giám đốc Công an tỉnh. Sau khi nhận định, đánh giá tình hình, các đồng chí đã đề ra kế hoạch phá án đối với các tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài. Kế hoạch này cũng được tính toán rất kỹ, không để lộ bí mật và ảnh hưởng tới Kế hoạch CM-12.

Thực hiện kế hoạch tấn công hai bước, trong thời gian đầu năm 1983, ta tổ chức phá các vụ án đấu tranh với bọn phản cách mạng lợi dụng đạo Cao Đài. Kết quả thực hiện bước 1: ta đã bắt 714 tên và gần 100 tên tự thú, đầu thú. Qua phân loại có 41 tên cấp trung ương, 122 tên cấp tỉnh, 171 tên cấp huyện, số còn lại là tay sai cốt cán. Bước 2 được thực hiện trong 7 địa phương (Tây Ninh, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Minh Hải).

Phát huy thắng lợi về việc phá tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh và theo kinh nghiệm dùng kết quả của việc phá TQ42, ta đã tác động “Tổng hành dinh” có hiệu quả. Lần này Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 quyết định dùng việc phá tổ chức phản động lợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh để tác động đẩy lùi ý đồ hành động của bọn Túy – Hạnh, trong đó có việc làm cho chúng từ bỏ ý định đưa quân về bằng đường bộ.

* * *

Trong các mạng lưới nội địa của bọn Túy - Hạnh, Huỳnh Vĩnh Sanh đóng vai trò rất quan trọng. Huỳnh Vĩnh Sanh, nguyên là đại úy quan thuế thời ngụy, bạn thân của Mai Văn Hạnh. Từ trước và sau ngày 30/4/1975, Sanh đã gặp Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy bàn bạc kế hoạch phối hợp hành động chống phá cách mạng.

Sau giải phóng, Sanh được bọn địch bố trí ở lại miền Nam hoạt động. Y bí mật móc nối, tập hợp lực lượng trong giới trí thức, công chức cũ, ngụy quân ngụy quyền lập tổ chức để chống phá cách mạng. Nhưng bề ngoài y lại khéo léo che đậy nên được cử làm tổ trưởng dân phố.

Thực hiện chỉ đạo của Túy, Hạnh, Huỳnh Vĩnh Sanh còn nhằm vào số cán bộ chính quyền, trí thức đang nắm giữ các chức vụ để móc nối, âm mưu xây dựng tổ chức của Sanh thành chỗ dựa chủ yếu về chính trị khi bọn Túy, Hạnh cướp được chính quyền. Qua công tác điều tra, ta còn phát hiện Sanh đang cầm đầu một tổ chức phản cách mạng tại TP HCM và có quan hệ chặt chẽ với bọn phản cách mạng ở miền Trung.

Vì vậy, ta đã xác lập chuyên án H82 trong Kế hoạch CM-12. Trong các chuyến bí mật về nước (tháng 4 và 6/1982), Mai Văn Hạnh và  Lê Quốc Túy đều gọi Huỳnh Vĩnh Sanh xuống Minh Hải bàn bạc kế hoạch hoạt động, đồng thời giao cho y chuẩn bị nhân sự “Chính phủ lâm thời” khi lật đổ chính quyền cách mạng, lập chế độ mới của chúng.

Tháng 7/1982, sau khi xác định được tính chất, vị trí quan trọng của Huỳnh Vĩnh Sanh và tổ chức của y trong kế hoạch CM-12, lãnh đạo Bộ Nội vụ chủ trương: Thông qua Huỳnh Vĩnh Sanh để tìm hiểu và làm rõ hơn âm mưu ý đồ của địch ở trong nước, tiếp tục phát hiện các đầu mối lẻ và các lực lượng của Huỳnh Vĩnh Sanh trong nội địa, khống chế, tác động không cho chúng hoạt động phá hoại và phát triển lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương của Bộ, ban chuyên án vạch kế hoạch đấu tranh cụ thể và huy động một số cán bộ của Công an TP HCM như các đồng chí Hai Sơn, Trương Hòa Bình (hiện là UVT.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an), Nguyễn Chí Dũng (hiện là Thiếu tướng, Giám đốc Công an TPHCM), Nguyễn Chí Thành, Lê Thanh Bình (hiện đều là Đại tá, Phó Giám đốc Công an TP HCM)... tham gia trực tiếp đấu tranh với chuyên án này. Bộ phận đấu tranh Chuyên án PK07 có liên quan trực tiếp tới Huỳnh Vĩnh Sanh ở Phú Khánh và các tỉnh miền Trung cũng được triển khai.

Để chủ động ngăn chặn các hoạt động manh động của địch, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 chủ trương phá toàn bộ bộ Chuyên án PK07 ngay sau khi phá toàn bộ Chuyên án D781 tại Đồng Nai. Thực hiện kế hoạch phá án, ngày 20/5/1983, ta đồng loạt bắt 8 tên trong cánh của Nguyễn Chuyên ở địa bàn Phú Khánh và các đối tượng ở Nghĩa Bình, Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng.

Ta khéo léo làm cho chúng hiểu rằng nguyên nhân “đổ bể” là do đồng bọn của chúng khai báo dây chuyền từ Đồng Nai đến TP HCM ra các tỉnh miền Trung. Sau này, thông qua Kế hoạch CM-12, ta đã bóc gỡ và vô hiệu hóa 10 tổ chức phản cách mạng trong nước có liên quan đến tổ chức của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh ở miền Nam. Làm thất bại âm mưu lớn của thế lực thù địch sử dụng bọn phản động lưu vong, bọn phản động trong nội địa, với ý đồ ngoài đánh vào, trong nổi dậy.

Với kết quả đấu tranh một cách có hiệu quả đối với các mảng nội địa của địch, ta đã ngăn chặn được ý đồ chuyển giai đoạn của địch, đồng thời vẫn giữ được Kế hoạch CM-12 theo chủ trương chiến lược đã đề ra.

(Còn nữa)


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:09:21 AM
Kỳ 8: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Phan-8)-324365/

Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm triển khai ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và nhắc một số vấn đề cần chú ý khi tiến hành đấu tranh với các đầu mối ở nội địa là: Kế hoạch CM-12 đến nay trở thành kế hoạch có tính chất quốc gia và liên quan tới quan hệ đối ngoại, do đó mọi việc làm phải chú ý bảo vệ, giữ gìn, thúc đẩy Kế hoạch CM-12 phát triển, không được làm việc gì lộ bí mật.

Thực hiện kế hoạch thông qua CM-12 và ĐN-10 ngăn chặn ý đồ phá hoại của địch, ta đã cho “báo cáo” với trung tâm là trong thời gian này tình hình trong nước rất khó khăn và lồng vào đó tin tức nhằm vô hiệu hóa một số đối tượng xâm nhập mà ta đã bắt giữ. Chẳng hạn, ĐN-10 báo cáo: “Trình Chủ tịch thêm tin cẩn. Từ nay đến tết, Cộng sản tăng cường hoạt động mạnh để bảo vệ mục tiêu quan trọng, mở các cuộc truy lùng sâu các bìa rừng, xét hỏi và kiểm tra gắt gao giấy đi đường, xét nhà; nhiều trạm kiểm soát kinh tế, bắt dân vào hợp tác. Cho đến nay toán vẫn chưa liên lạc được với tổ HK168 và HK143. Từ khi HK168 cưới một gái điếm thì càng trốn tránh nhiệm vụ. Đại đội HK132 đã bám và sống nhờ vào sự che chở và tiếp tế của dân chúng”.

Đúng 20 giờ ngày 23/3/1983, 2 tàu địch xâm nhập vào Vàm Đồng cùng thuộc tỉnh Minh Hải, ta cho 2 tàu ra tiếp nhận. Trong chuyến này có 10.788kg vũ khí, số hàng hóa và 4.000 đôla tiền mặt cùng 3 tên gián điệp biệt kích trong đó có K14 và 2 tên khác là K104 và HK201. Ta tổ chức tiếp nhận vũ khí và tiền, đồng thời bố trí kế hoạch bắt giữ ba tên gián điệp biệt kích xâm nhập, đặc biệt là đối với S.

Đúng như ta đã biết qua các nguồn tin, trong chuyến xâm nhập này của địch, Lê Quốc Túy đã có gửi một chỉ thị đặc biệt cho K64 là thực hiện lệnh tử hình K14. Nhưng ta thực hiện kế hoạch bắt giữ K14 và thực hiện theo sự chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng. Cách xử lý của ta đối với S. thể hiện tính nhân đạo cao cả của cách mạng.

(Còn tiếp)

Ban chỉ đạo thông qua “Tổ đặc biệt” ở Minh Hải gửi một bức điện có nội dung đề đạt với “chủ tịch” Lê Quốc Túy về việc thực hiện kế hoạch “Khởi động toàn quốc vào tháng 6/1983”. Bức điện viết: “Gần đây, qua một số chỉ thị rõ ràng của Chủ tịch, Tổ đặc biệt đã bàn thảo với B4 (bí số Túy đặt cho Huỳnh Vĩnh Sanh - TG) + các toán và rút ra hai yếu tố cần cho mốc khởi động toàn quốc vào tháng 6/1983 như sau:

1- Nếu tổ phối hợp chiến lược theo chủ trương của Mặt trận thì Đông Dương là một chiến tuyến đồng nhất về nhiều phương diện. Nếu tháng 6/1983 ta khởi động toàn miền Nam, kể cả Campuchia thì chúng tôi thấy quá vội vàng và đơn lẻ chăng? Vì thiếu sự phối hợp của miền Bắc và Lào thì Cộng sản vẫn còn nơi hậu thuẫn làm bàn đạp đàn áp chúng ta.

2- Phải được sự đồng lòng hưởng ứng của toàn dân lẫn các đảng phái, tôn giáo. Theo Tổ + B4, việc thu phục dân chúng và những phe nhóm trong nước phải chuẩn bị một cách chu đáo, kiên nhẫn vì không chỉ Mặt trận mình, các nhóm chống Cộng mà thôi... Có một số lực lượng trong nước chống Cộng có thành tích và sức mạnh lớn nhất nhưng chưa nghe Chủ tịch đề cập đến. Ngoài ra, việc kết hợp với các nhóm bên ngoài sẽ giúp thêm trong nước hoàn tất nhiệm vụ tạo một ảnh hưởng bao quát trong nhiều tầng lớp toàn quốc để khi hành động sẽ gây tác dụng rộng lớn hơn. Nhưng thời gian qua chỉ thấy Chủ tịch nhắc đến nhóm ông Quang + tướng Là mà thôi. Chúng tôi mong được biết ý kiến Chủ tịch trong vấn đề này”.

Đây là một bức điện mang nhiều ý nghĩa và nhằm vào hai mục tiêu chủ yếu là ngăn chặn ý đồ chuyển giai đoạn 2 của địch và gợi cho Lê Quốc Túy bộc lộ thêm các đầu mối của chúng ở trong nước và cả ở nước ngoài mà ta chưa biết. Tất nhiên là lời văn phải phù hợp với giọng điệu của lực lượng nội địa và đề cao “chủ tịch”.

Đúng như phán đoán và tính toán của ta, bức điện đã gợi trúng các vấn đề và Lê Quốc Túy đã “thông báo” cho “Tổ đặc biệt” những tin tức quan trọng mà ta đang cần nắm thêm. Trong bức điện trả lời sau đó, Lê Quốc Túy cho biết:  “Hiện nay Nguyễn Văn Thiệu đang làm bình phong cho Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Ngọc Huy và với sự hậu thuẫn của nước ngoài sắp sửa thành lập chính phủ lưu vong. Bọn Hoàng Cơ Minh đang tìm đường về nước nhưng bị Thái chặn lại. Bọn Thiệu đã công khai đả kích mặt trận mình vì mình từ chối không làm con mồi cho chúng ở trong nước.

Việc đoàn kết toàn dân là mục đích của mình nhưng đừng quên là mình không chấp nhận những thành phần của chế độ cũ. Đường lối của Mặt trận là đánh đổ Cộng sản, tiêu diệt chế độ phong kiến và làm lại nước Việt Nam với những người mới.

Ở Mỹ cộng đồng người Việt và nhóm Công giáo theo cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày trước đã chuẩn bị sẵn sàng ủng hộ Mặt trận mình chống lại bọn Thiệu. Ngoài ra những sự phối hợp của mình đã có ở trong nước, nếu có đoàn thể nào thì mình sẵn sàng thu nạp họ... Tuần tới C4 và C5 sang đàm đạo với các nước lớn và trong tháng 2 tới sẽ có hẹn với Phó tổng thống Hoa Kỳ tại Hoa Thịnh Đốn...”.

Nội dung bức điện của Lê Quốc Túy đã nói lên được nhiều điều quan trọng mang tính chiến lược mà ta đang cần tìm hiểu về âm mưu của các thế lực thù địch cũng như của bọn Túy - Hạnh.

Trên cơ sở các nguồn tin và tài liệu cũng như diễn biến tình hình, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 dự kiến hoạt động của địch trong năm 1983 và năm 1984. Quán triệt chủ trương và phương hướng lãnh đạo Bộ đã chỉ thị, Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 nhanh chóng triển khai công tác chuẩn bị để đối phó với chiến dịch xâm nhập mới của địch. Đồng thời, Tổ An ninh K4/2 và công an các tỉnh phía Nam cũng tích cực thực hiện kế hoạch trinh sát và đấu tranh với các mảng nội địa của địch.

Trung tâm địch thông báo cho “Tổ đặc biệt” là “Chiến dịch mới” sẽ có tất cả 5 chuyến “chở toàn than và củi”, ý chúng là có cả vũ khí và quân “Tổng hành dinh” cho biết cứ mỗi chuyến sẽ có 10 K (tức là gián điệp biệt kích) vào, khi Mai Văn Hạnh “hành quân” xong sẽ để lại cho Tổ đặc biệt 2 “cá” tàu) và số thủy thủ luôn.

Ta lấy lý do là lúc đầu trung tâm nói chiến dịch bắt đầu từ giữa tháng nhưng nay thay đổi vào cuối tháng nên gây khó khăn cho Tổ đặc biệt vì phải thông báo lại cho thủy thủ và các toán khác. Đồng thời, ta yêu cầu trung tâm địch phải cho biết cụ thể hơn về kế hoạch xâm nhập trong thời gian tới.

Lê Quốc Túy yêu cầu: “NKA1 + K64 cần cho C4 biết tới cuối năm có thể tuyển được 1.000 NK không? K27 phải nghiên cứu bành trướng hệ thống phá hoại, bằng mọi cách phải thực hiện được một vài phá hoại lớn ở Sài Gòn. Vì tình hình chính trị và ngoại giao bắt mình phải thực hiện việc này trong năm nay”. Đồng thời, Túy cũng gửi điện ĐN-10 thúc giục nghiên cứu thực hiện kế hoạch vận chuyển vũ khí, tuyển thêm quân và phá hoại.--PageBreak--

Trong năm 1983, chúng có kế hoạch tổ chức 5 chuyến xâm nhập để đưa thêm vũ khí, phương tiện và số quân còn lại. Tương kế tựu kế, trong năm 1983, ta cho tiến hành tiếp nhận chiến dịch vận chuyển quân, vũ khí, hàng và tổ chức tiếp nhận theo kế hoạch.

Đối với nội địa chúng dự kiến sắp xếp như sau: Vùng ven biển: giao cho K64 phụ trách tổ chức kiểm soát. Khi Mai Văn Hạnh vào nội địa sẽ tổ chức phương án cụ thể để khống chế và kiểm soát chặt chẽ vùng biển ngăn ngừa các nhóm khác lợi dụng đưa người của chúng vào nội địa. Xây dựng thêm căn cứ ven biển để phục vụ cho công tác hậu cần, huấn luyện và mở rộng tầm hoạt động, trước mắt củng cố các cơ sở ở Minh Hải và mở thêm địa bàn hoạt động mới ở Kiên Giang.

Vùng chiến khu A: giao cho NKA1 (tức đồng chí Trần Phương Thế) phụ trách, có nhiệm vụ tổ chức lực lượng khoảng 1.000 người rải rác đều các tỉnh, tăng cường phát triển lực lượng tình báo, hệ thống kinh tài... Dùng hàng “đặc biệt”  mua chuộc cán bộ để phát triển lực lượng trong nội bộ Cộng sản, lực lượng này là đội quân hợp pháp có nhiệm vụ nằm tại làng xã. Khi có điều kiện tổ chức đánh chiếm, cướp chính quyền ở các tỉnh miền Tây.

Vùng Vĩnh Bình giao cho K18 phụ trách, có nhiệm vụ xây dựng vùng Vĩnh Long, Trà Vinh thành địa bàn hoạt động quân sự. Chúng dự kiến sẽ bổ sung cho vùng này thêm 20 tên nữa, bổ sung HK24 làm phụ tá cho K18. Lê Quốc Túy có ý đồ lợi dụng bọn phản động trong dân tộc Khmer ở Trà Vinh để xây dựng căn cứ.

Mở thêm quân khu C: Đưa K94 cùng 5 cán bộ thành về vùng Rạch Giá phát triển lực lượng mở quân khu C gồm các tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc. Chuẩn bị mở thêm một bãi đỗ mới từ cầu số 2 đến Hòn Đất, Rạch Giá dùng để tiếp nhận vũ khí vì ở đây thuận lợi hơn, trong tương lai có thể thay thế bãi đỗ ở Minh Hải.

“Quân khu” Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn có nhiệm vụ tăng cường tổ chức tình báo và hoạt động phá hoại trước mắt tiến hành phá hoại các mục tiêu quan trọng như Nhà đèn Chợ Quán, Nhà hát Thành phố... Chuẩn bị kế hoạch móc nối các lực lượng trong nội địa mà chúng sẽ giới thiệu trong các chuyến xâm nhập tới.

Vùng Cao Đài và quân khu B giao cho HK122 phụ trách, tăng cường phát triển lực lượng, móc nối và trang bị cho lực lượng vũ trang của Võ Văn Nhơn chuẩn bị điện đài làm đầu mối mới để liên lạc trực tiếp với trung tâm.

Vùng miền Trung: các cơ sở miền Trung giao cho H82 nghiên cứu xây dựng, phát triển thêm lực lượng. Đưa hàng “đặc biệt” mới và cũ ra miền Trung tổ chức hệ thống kinh tài, trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang cánh miền Trung.

Kế hoạch nói trên của địch đã nằm trong dự kiến  của ta và chúng ta đã có kế hoạch đối phó cụ thể.

Ban chỉ đạo Kế hoạch CM-12 yêu cầu trung tâm địch chi viện thêm tiền để giải quyết một số khó khăn của “Tổ đặc biệt”. Thực ra, mục đích chính là gián tiếp nêu khó khăn để ngăn chặn ý đồ chuyển giai đoạn của địch, đồng thời làm cho chúng thấy nhu cầu về tiền của lực lượng nội địa là hợp lý.

Trong thời gian này, qua một số gián điệp biệt kích mới xâm nhập ta biết được S, tức K14 rất bất mãn với Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Túy nghi ngờ K14  đang tìm đường để chuyển sang gia nhập tổ chức phản động lưu vong khác. Lê Quốc Túy muốn trừ khử K14.

Theo số gián điệp biệt kích xâm nhập khai báo, thì trong số những tên ban đầu mà Túy tuyển ở Thái Lan có một cô gái. Đó là T.K.H. Thị là người Khmer ở Trà Vinh. Vốn là một giáo viên tiểu học, nhưng H. lại muốn có một cuộc sống giàu sang ở nước ngoài nên đã vượt biên. Nhưng H. cũng không được đi định cư ở nước thứ ba vì không có người thân bảo lãnh. Khi S. vào trại của HCR tuyển người cho Túy, S. đã lôi kéo được H. tham gia tổ chức phản cách mạng này. Lúc đầu, H. được phân công làm y tá, sau đó H. lọt vào con mắt “háo ngọt” của “Chủ tịch” Lê Quốc Túy. Vì vậy khi S. đưa H. về, Túy sử dụng thị như là thư ký đồng thời là người tình của mình ở "Tổng hành dinh". Trong khi đó, H. cũng lại có tính lăng nhăng, cùng một lúc quan hệ trăng gió với S. và một số tên khác ở “Tổng hành dinh” như một ả điếm. Túy biết chuyện này và đã điều S. đến căn cứ huấn luyện làm “chỉ huy trưởng” “Mật cứ Tự Thắng”. Khi được mật báo là S. có ý định tìm cách nhảy sang tổ chức của Hoàng Cơ Minh, Lê Quốc Túy quyết định sẽ trừ khử anh ta.

Bộ trưởng Phạm Hùng có chỉ thị hướng xử lý đối với trường hợp K14 khi vào Việt Nam là bắt giữ, cho anh ta biết ý đồ của Lê Quốc Túy muốn giết nhưng ta đã cứu để tính toán kế hoạch lâu dài và cũng thể hiện chính sách nhân đạo của cách mạng.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:13:21 AM
Kỳ cuối: http://vnca.cand.com.vn/Truyen-thong/Bi-mat-cua-mot-chien-dich-phan-gian-(Tiep-theo-va-het)-324372/

Gần như hàng tuần, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Phạm Hùng báo cáo những diễn biến quan trọng của Kế hoạch CM-12 với Bộ Chính trị. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đánh giá cao kết quả và vai trò của Kế hoạch CM-12 trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia của ta.

Thực hiện chủ trương của Bộ, cho đến tháng cuối năm 1983, Lực lượng An ninh đã tiến hành Kế hoạch CM-12 rất sáng tạo và đầy bản lĩnh, buộc kẻ địch xâm nhập theo kế hoạch của ta với 15 chuyến bằng đường biển với 30 lượt tàu vào vùng biển Cà Mau. Do đó, ta đã bắt toàn bộ 126 tên gián điệp, biệt kích từ nước ngoài về, thu 132 tấn 278 kg vũ khí, 299.750.000 đồng tiền giả...

Cũng thông qua Kế hoạch CM-12, ta đã buộc địch phải bộc lộ 10 tổ chức phản cách mạng và một số đầu mối của địch trong nội địa. Từ đó, Lực lượng Công an nhân dân chủ động tiến hành đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả với các lực lượng thù địch, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.

Trước tình hình địch tăng cường hoạt động, chuẩn bị chuyển sang giai đoạn 3 là tiến hành phá hoại và dùng lực lượng vũ trang cướp chính quyền ở các vùng hẻo lánh, Bộ trưởng Phạm Hùng báo cáo Bộ Chính trị về chủ trương kết thúc Kế hoạch CM-12. Bộ Chính trị rất phấn khởi và đánh giá đây là một vụ án rất lớn, thắng lợi của ta cũng rất lớn và đồng ý với chủ trương kết thúc Kế hoạch CM-12 của Bộ Nội vụ.

Theo chỉ đạo của Bộ trưởng Phạm Hùng trong cuộc họp ngày 12 và 13/3/1984,kế hoạch kết thúc CM-12 được vạch ra. Bộ Nội vụ chủ trương: Khôn khéo dụ Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh từ nước ngoài về nước, bắt gọn cả người, tàu xâm nhập, vũ khí, điện đài và đưa toàn bộ bọn gián điệp xâm nhập từ năm 1981 đến nay ra xét xử công khai. Nếu cả Túy và Hạnh chưa vào thì ta chưa kết thúc kế hoạch này. Nhưng nếu tình hình không hoàn toàn theo đúng kế hoạch của ta thì cũng cần phải bắt cho được một trong hai tên đầu sỏ.

Đồng thời, phá toàn bộ lực lượng ngầm của chúng đã cài lại trong nội địa. Phối hợp với các cơ quan truyền thông vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch trước dư luận quốc tế, đập lại những luận điệu chiến tranh tâm lý xuyên tạc chế độ xã hội ta, nâng cao uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.

* * *

Bước vào năm 1984, tình hình và diễn biến quốc tế cũng như âm mưu và hoạt động của Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh đã chuyển biến theo đúng ý đồ và kế hoạch của ta. Nhưng lúc đầu, chúng chỉ dự định có một mình Mai Văn Hạnh vào.

Để buộc địch thực hiện theo kế hoạch, ta  khéo léo tác động để Túy cùng vào với Hạnh. Tuy thông báo là Túy có thể cùng vào với Hạnh, nhưng đến ngày 9/5/1984, Trung tâm chỉ huy của địch có thông báo là chuyến xâm nhập mới hoãn lại và sau đó chỉ có C5 (Mai Văn Hạnh) vào vì Túy “bị bệnh bất ngờ nên C5 phải trở về Pháp sắp xếp công việc của C4”.

Qua các nguồn tin ta được biết đúng là Lê Quốc Túy bị bệnh thận nặng, phải dùng máy lọc máu thận. Ban chỉ đạo quyết định vẫn thực hiện kế hoạch theo phương án 2, nghĩa là một tên đầu sỏ vào ta cũng kết thúc chiến dịch.

Trong thời gian này, chuyến xâm nhập lần thứ 16 của địch gồm hai tàu chở gần 6 tấn vũ khí vào hòn Đá Bạc, ta “tiếp nhận” an toàn.

* * *

Cuối tháng 8/1984, Lê Quốc Túy thông báo cho cơ sở trong “quốc nội” biết là trong thời gian khoảng đầu tháng 9 thì Mai Văn Hạnh sẽ vào và “không thay đổi” kế hoạch nữa.

Ban chỉ đạo chiến dịch kết thúc Kế hoạch CM-12 phân công đồng chí Bùi Thiện Ngộ, lúc này là đặc phái viên của Bộ trưởng, đồng chí Lê Minh Học và đồng chí Nguyễn Phước Tân xuống Minh Hải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến dịch. Có thể gọi đây Ban chỉ huy tiền phương của chiến dịch kết thúc Kế hoạch CM-12.

Tại TP HCM, đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm và đồng chí Lê Tiền thường xuyên liên lạc với  đồng chí Bộ trưởng Phạm Hùng ở Hà Nội và Ban chỉ huy tiền phương ở Minh Hải qua hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt của chiến dịch.

Ngày 1/9/1984, Lê Quốc Túy cho "Tổ đặc biệt" biết là sẽ vào Việt Nam khoảng tối ngày 7 hoặc 8/9. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Phước Tân, ban lãnh đạo Kế hoạch CM-12 quyết định ép địch phải vào đêm 9/9/1984 vì cách đó ba năm chuyến “hàng” đầu tiên của địch thực hiện theo kế hoạch của ta vào đêm 9/9/1981.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:14:01 AM
Sáng 8/9/1984, các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương từ “mật cứ” của “Tổ đặc biệt” ở ngoại ô thị xã Bạc Liêu đi xuống Công an huyện Trần Văn Thời đóng ở  Rạch Ráng.

Còn một bộ phận của Tổ An ninh, trong đó có đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Trần Tôn Thất, Nguyễn Đông Phương, Phan Trung Tiến và một tổ trinh sát vũ trang của đại đội đặc biệt do đồng chí Hữu Ân chỉ huy triển khai kế hoạch đón bắt Mai Văn Hạnh tại ngã ba Tân Thành.

Yêu cầu rất cao của kế hoạch là tuyệt đối bảo đảm tính mạng lực lượng của ta. Đây là một trận đánh kiểu an ninh. Các đồng chí lãnh đạo Kế hoạch CM-12 cho rằng những tên gián điệp biệt kích cũng là con em của nhân dân, chẳng may bị lôi kéo làm tay sai cho bọn đầu sỏ gián điệp. Do vậy tinh thần chỉ đạo là hạn chế tối đa thương vong kể cả số gián điệp biệt kích xâm nhập. Trong trường hợp bất khả kháng mới tiêu diệt chúng.

Chiều 9/9/1984, các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương ra hòn Đá Bạc. Biển tương đối êm. Gió nhè nhẹ thổi. Những đợt sóng duềnh lên như đón chào các chiến sĩ an ninh vào trận. Trời mùa thu trong xanh và thỉnh thoảng có những đám mây trắng xốp hiện ra rồi tan đi...

Khoảng 18h, bỗng gió lớn nổi lên. Trời vần vũ. Những đám mây đen kịt ập xuống. Sóng biển dồn dập. Hai chiếc tàu của ta neo sẵn bị sóng biển dồi lên dồi xuống, chao đảo. Trong cái chòi lá mà đại đội đặc biệt dựng trên lưng chừng đảo gió rít ào ào. Các đồng chí trong Ban chỉ huy tiền phương lo lắng.

Nhưng độ hơn một tiếng đồng hồ sau, trời trở lại bình thường. Gió lặng. Biển êm. Lực lượng của ta triển khai vào vị trí chiến đấu theo kế hoạch. Các đồng chí Bùi Thiện Ngộ và Lê Minh Học ở trên chòi chỉ huy. Các đồng chí Nguyễn Phước Tân, Thi Văn Tám, Huỳnh My (Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Ninh Hải) xuống gần mép bãi đổ. Đại đội Cảnh sát đặc biệt của ta triển khai vào các vị trí và sẵn sàng chiến đấu.

20h kém 15', tàu địch xuất hiện. Hai tàu của ta áp sát hai tàu của chúng. Đồng chí Tám Thậm (Trần Phương Thế) xuống đón Mai Văn Hạnh và đưa lên xuồng máy để đưa vào đất liền theo kế hoạch.

Sau đó, người của ta trong “Tổ đặc biệt” dụ Trần Văn Bá và tên điện báo viên của địch lên đảo. Theo đúng kế hoạch, các đồng chí trong Đại đội Cảnh sát đặc biệt đã quật ngã hai tên Trần Văn Bá và tên điện báo viên, nhét khăn vào miệng chúng nên việc bắt giữ diễn ra êm ru.

Trong lúc đó, những tên gián điệp biệt kích có nhiệm vụ cảnh giới vẫn ôm súng không rời vị trí, mặc dù anh em thủy thủ của ta dụ sang tàu “nhậu lai rai”. Trước tình hình đó, kế hoạch nổ súng đánh phủ đầu để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho kế hoạch được thực hiện.  K64 khai hỏa bằng một loạt đạn AK-47. Quân ta nhất loạt nổ súng áp đảo bọn gián điệp biệt kích. Bọn biệt kích bị bất ngờ không kịp chống cự, đứa bị bắn chết, đứa nhảy xuống biển...

Trận đánh chỉ diễn ra trong vòng 2 phút 7 giây. Bọn gián điệp biệt kích bị ta tiêu diệt tại trận 12 tên, còn 7 tên khác bị bắt sống. Ta thu hai tàu xâm nhập cùng toàn bộ vũ khí, phương tiện của chúng, kết thúc thắng lợi trận đánh quyết định.--PageBreak--

Trong khi đó, theo đúng kế hoạch, Công an TP HCM phối hợp với các tỉnh đồng loạt bắt Mai Văn Hạnh và toàn bộ các đối tượng trong Chuyên án H82.

Sau khi ta bắt giữ Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá và bọn gián điệp biệt kích, công tác giam giữ được tiến hành rất khẩn trương và thận trọng. Ta đối xử với bọn gián điệp, biệt kích theo đúng chính sách nhân đạo.

Riêng Mai Văn Hạnh, trong thời gian giam giữ, bệnh đau dạ dày của y tái phát nặng. Ta cho Hạnh vào điều trị tại Bệnh viện 30-4. Các bác sĩ quyết định phẫu thuật để cắt bỏ phần viêm loét quá nặng.

Đây là một quyết định y học nhưng lại có tác động rất mạnh về tư tưởng và chính trị. Nếu không may Mai Văn Hạnh bị chết thì sẽ rất phức tạp. Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết là nếu không phẫu thuật thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng của y.

Lãnh đạo Bộ đồng ý cho phẫu thuật để cứu sinh mạng của Mai Văn Hạnh. Sau này, các đồng chí trong Tổ An ninh được giao nhiệm vụ giám sát Hạnh kể lại rằng, khi bác sĩ đưa dao cạo râu để cạo lông bụng của y cho sạch trước khi mổ, mặt Hạnh tái đi. Có lẽ y sợ bị chết.

Nhưng ca mổ đã thành công. Sức khỏe của y nhanh chóng hồi phục. Một lần tâm sự với cán bộ ta, Mai Văn Hạnh thành thật nói rằng chính các bác sĩ Công an Việt Nam đã sinh ra y lần thứ hai. Ta còn cho cả hai con gái của Hạnh từ Pháp về thăm. Những điều này cũng góp phần thức tỉnh lương tâm của Mai Văn Hạnh.

Từ ngày 14 đến 18/12/1984, tại TP HCM, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm vụ án gián điệp Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh.

Chủ tọa phiên tòa là đồng chí Huỳnh Việt Thắng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; giữ quyền công tố trước tòa là đồng chí Trần Tề, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

21 bị cáo, trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch và nhiều tên khác đã phải ra trước vành móng ngựa. Một số khác được đưa ra làm nhân chứng. Phiên tòa đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế. Nhân dân tự hào về chiến công to lớn của Lực lượng Công an Việt Nam.

* * *

Về nhiệm vụ tiếp theo, trong Kế hoạch ĐN-10, ta khéo léo tung tin giả là Mai Văn Hạnh mâu thuẫn với Lê Quốc Túy, có âm mưu lật đổ Túy và Năm Quân trong nội địa. Ta đã làm cho Túy tin như vậy, vừa đảm bảo bí mật của Kế hoạch CM-12, vừa duy trì được Kế hoạch ĐN-10.

Lực lượng An ninh lại tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh mới kéo dài suốt ba năm nữa trong Kế hoạch ĐN-10, buộc Lê Quốc Túy phải đưa hết quân đã huấn luyện ở nước ngoài về nước qua Campuchia.

Trong thời kỳ này, đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh nhân dân cùng đồng chí Thứ trưởng Cao Đăng Chiếm tiếp tục chỉ đạo đấu tranh với bọn gián điệp biệt kích Lê Quốc Túy.

Các đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Trần Tôn Thất, Thi Văn Tám và nhiều đồng chí khác đã trực tiếp tổ chức thực hiện các phương án nghiệp vụ câu nhử địch một cách sáng tạo và đã thành công. Ta đã hút hầu hết lực lượng gián điệp biệt kích trong hai khóa huấn luyện “Phù Đổng 1” và “Phù Đổng 2” sau này của Túy ở nước ngoài về.

Công tác đấu tranh trong giai đoạn này không kém phần gian khổ và khó khăn, nhất là trong điều kiện phải di chuyển trên những vùng rừng núi ở Battambang hay ở vùng biển đảo Phú Quốc. Các đơn vị và công an các địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong Kế hoạch ĐN-10.

Đặc biệt, ta đã làm tốt công tác hợp tác quốc tế với Lực lượng An ninh Campuchia, đảm bảo thực hiện tốt Kế hoạch ĐN-10 trong hơn ba năm tiếp theo. Gần cuối năm 1987, ta hốt mẻ lưới cuối cùng, bắt các toán xâm nhập qua Campuchia về Kiên Giang.

Vào hạ tuần tháng 1/1988, Lê Quốc Túy đã chết tại Paris vì bệnh thận. Trước khi chết, Túy ủy quyền cho tên Hiển (tức K36, sau này đổi bí số là F2) xử lý toàn bộ công việc của “mặt trận”.

Ngày 30/1/1988, tên Hiển gửi điện cho các toán của ĐN-10 bức điện khá dài báo tin Lê Quốc Túy đã chết hồi 11h ngày 25/1/1988 và an táng vào ngày 6/2/1988 tại Paris (Pháp). Sau khi lo đám tang cho chồng, Nhan Thị Kim Chi, vợ của Lê Quốc Túy bay tới “Tổng hành dinh” để thu vén và thanh toán số tài sản còn lại của Túy. Tên Hiển đề nghị Nhan Thị Kim Chi thay chồng “lãnh đạo” “mặt trận” nhưng Chi từ chối và nhanh nhóng bay trở lại Pháp.

Như rắn mất đầu, không còn tiền bạc và cả tương lai, Hiển đã thấy rõ y phải làm gì. Ngày 4/3/1988, Hiển gửi bức điện cuối cùng cho các toán ở trong nước với nội dung sau:

“Đã đến lúc phải báo sự thiệt cho các bạn rõ là C4 mất không có để lại di chúc gì cả. Mặt trận ta không có người thay thế, hướng đi tới trong tương lai rất là xa vời. Chúng ta sẽ trở thành công cụ của nước ngoài. Vì thế, vì quyền lợi của tất cả chúng ta và sự sống còn của mình, chúng ta phải giải tán toàn bộ... Kể từ điện này sẽ chấm dứt mọi sự liên lạc. Chúng tôi ở ngoài này chưa biết số phận sẽ ra sao... Thôi cầu chúc các bạn gặp được nhiều sự may mắn để xây dựng lại một cuộc đời mới. Chào tạm biệt - VT5”.

Kế hoạch ĐN-10 kết thúc.

Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 thật sự to lớn và trọn vẹn.

* * *

Mới đây, kỷ niệm 25 năm mở đầu Kế hoạch CM-12, Bộ Công an và Tổng cục An ninh cùng Công an Cà Mau tổ chức cuộc gặp mặt các nhân chứng chỉ đạo thực hiện Kế hoạch CM-12. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an như Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Trung tướng Thi Văn Tám, Thiếu tướng Trương Hòa Bình, và lãnh đạo Tổng cục An ninh đã về dự.

Nhiều đồng chí cán bộ an ninh lão thành và cán bộ chiến sĩ an ninh từng tham gia Kế hoạch CM-12 bồi hồi, xúc động ôn lại những kỷ niệm khó quên. Không khí sôi động và những tình cảm đồng chí, đồng bào vẫn nồng ấm như những năm tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công an nhấn mạnh: Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 rất to lớn, góp phần giữ vững an ninh của Tổ quốc.

Đây là thắng lợi chung của toàn Lực lượng Công an nhân dân, có sự hợp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân và một số cơ quan khác. Thắng lợi của Kế hoạch CM-12 còn thể hiện tính nhân văn cao bởi đã đưa những người con của dân tộc lầm đường lạc lối trở về với con đường sáng


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:16:51 AM
2/ Vụ nội gián mang bí số 109 tại Long An

Thực hiện chỉ thị của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về bóc gỡ mạng lưới nội gián của địch, với yêu cầu trước mắt là tập trung điều tra xác minh, làm rõ những vấn đề về lý lịch chính trị chưa rõ ràng của một số cán bộ đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị trong tỉnh, Ty Công an (nay là Công an tỉnh) Long An đã triển khai lực lượng trên toàn địa bàn tỉnh, bước đầu xác định được một số đầu mối trước đây làm việc cho địch, đã cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho địch đánh phá Cách mạng. Trong đó có vụ T.H.P. là Phó ban Cải tạo Công thương nghiệp Tư bản tư doanh tỉnh Long An. Ban lãnh đạo Ty chỉ đạo Phòng Bảo vệ An ninh nội bộ cùng một số cán bộ an ninh phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra xác minh làm rõ vụ này.

T.H.P. (bí danh Ba Ký, Hai Hùng) sinh năm 1928 tại huyện Mộc Hóa - Kiến Tường, tham gia Cách mạng năm 1946, vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1948. Quá trình hoạt động Cách mạng liên tục từ năm 1946 - 1979, đã có nhiều thành tích trong công tác và chiến đấu. Gia đình có nhiều người tham gia Cách mạng và có người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1970, P. là Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Kiến Tường, phụ trách khối dân vận.

Nắm rõ tư tưởng cầu an, thiếu rèn luyện về đạo đức, phẩm chất chính trị, ham sống sợ chết, ngại gian khổ, khó khăn của P., Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) bước đầu đã tổ chức móc nối với Năm L., là vợ lẽ và cũng là giao liên của P., và kết nạp Năm L. vào mạng lưới bí mật của CIA. Sau đó, CIA giao nhiệm vụ cho Năm L. vận động P. gia nhập vào CIA, với phần thưởng cho P. là một khoản chế độ ưu đãi lớn, như được cung cấp một số đồ dùng cá nhân, gia dụng loại đắt tiền, đồng thời CIA sẽ bảo vệ cuộc sống lâu dài, khi đi đến đâu hoạt động Cách mạng cũng không bị đánh phá… Do mang tư tưởng ham sống sợ chết, sau khi nghe vợ lẽ đặt vấn đề này và các yêu cầu đã nêu, P ngay lập tức đồng ý, làm tình báo viên cho CIA ở Kiến Tường từ tháng 2/1970 (mang bí số 109).

Đầu năm 1972, Tỉnh ủy Kiến Tường bầu lại Ban Chấp hành mới. Do chưa có thông tin chính thức về hoạt động phản Cách mạng của P nên trong danh sách dự kiến vẫn có tên P.. Tuy nhiên, qua trao đổi bước đầu của lực lượng An ninh, Tiểu ban Bảo vệ Chính trị nội bộ đã báo cáo Tỉnh ủy đưa P. ra khỏi danh sách bầu Ban Chấp hành. Qua khai thác hồ sơ địch sau ngày giải phóng, lực lượng An ninh đã bắt đối tượng truy nã Nguyễn Văn Đ. là tình báo CIA đặc trách Vùng IV chiến thuật vào tháng 6/1975 tại phường Nhật Tảo, quận 10, TP HCM.

Qua đấu tranh, Đ. đã khai nhận về P. là nội gián cho CIA từ năm 1971 và nói rõ hoạt động của Năm L. là giao liên cho P.; nói rõ Võ Văn A. (Tư Trí) là giao liên giữa P và Đô. Về phía P., sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, y đã tìm mọi cách bịt các đầu mối trước đây biết hoạt động của mình nhằm che giấu thời gian làm việc cho CIA. Năm 1978, P. được bầu làm Phó ban Cải tạo Công thương nghiệp Tư bản tư doanh tỉnh Long An. Thực hiện phương châm chỉ đạo của Bộ Công an về công tác phòng, chống nội gián, với phương châm "Thận trọng, chính xác, không để lọt đối tượng, không để oan sai đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng…", lực lượng An ninh tỉnh Long An phối hợp với Cục Trinh sát nghiệp vụ của Bộ chỉ đạo Phòng Bảo vệ An ninh nội bộ, Phòng Công tác hồ sơ… tập trung lực lượng sưu tầm tài liệu, thẩm tra xác minh làm rõ vụ này.

Tháng 3/1979, thực hiện chỉ đạo của cấp trên, Phòng Bảo vệ An ninh nội bộ mời P. đến làm việc. Với những chứng cứ rõ ràng như bản cam kết làm việc cho CIA, lý lịch, ảnh, bí số, lời khai của những tên trong tổ chức, liên lạc… P. đã thú nhận toàn bộ hành vi tội lỗi của mình. Cơ quan thẩm quyền tỉnh Long An đã quyết định khai trừ P. ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, cách chức Phó ban Cải tạo Công thương nghiệp Tư bản tư doanh tỉnh Long An, đưa về quản lý tại địa phương.

Việc xác định T.H.P. làm nội gián cho CIA do địch cài trong tổ chức của ta là sự nỗ lực rất lớn của Công an Long An, góp phần làm trong sạch nội bộ. Đây là một trong nhiều vụ mà lực lượng An ninh đã bóc gỡ trong thời gian đó. Qua công tác khai thác hồ sơ địch để lại, tiến hành thẩm tra xác minh, một mặt ta đã bóc gỡ được mạng lưới nội gián của địch, mặt khác cũng góp phần minh oan cho một số cán bộ trung kiên của ta bị địch bắt, dựng hồ sơ giả để vô hiệu hóa.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:18:24 AM
3/Vụ nội gián Sông Hồng tại Đồng Tháp

Tháng 7/1980, qua nguồn tin ban đầu do quần chúng cung cấp, ta tiến hành xác minh và kiểm tra hồ sơ do địch để lại, kết hợp xét hỏi một số sĩ quan cảnh sát đặc biệt cũ của ngụy và qua các biện pháp nghiệp vụ của trinh sát, cuối năm 1979 đến tháng 7/1980, ta đã xác minh được chính xác đầu mối nội gián mang bí danh "Thanh Bạch" của Ty Cảnh sát Quốc gia tỉnh Kiến Phong (trước năm 1975) đánh vào nội bộ ta (Tỉnh ủy Kiến Phong trong kháng chiến chống Mỹ) do tên L.V.C. (tự Ba Ngân), Quyền Trưởng ty Tài chính Đồng Tháp làm nội gián, và vợ y là N.T.D. (tự Bẹp) làm tình báo liên lạc.

Từ tháng 8/1972, Ba Ngân đã cung cấp cho địch các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện ủy và hàng trăm báo cáo, tin tức, danh sách cán bộ an ninh, cán bộ các ban, ngành của tỉnh, cơ sở nội tuyến của ta… gây nhiều thiệt hại cho Cách mạng.

Sau ngày đất nước giải phóng, Ba Ngân tiếp tục chui sâu, leo cao theo kế hoạch hậu chiến, lên đến chức Quyền Trưởng ty kiêm Bí thư Đảng ủy Ty Tài chính. Ba Ngân còn khai man lý lịch để tránh sự phát hiện của ta. Lợi dụng danh nghĩa Quyền Trưởng ty Tài chính, Ba Ngân quan hệ với một số tên phản động và nhân viên tình báo CIA cũ, đưa nhiều phần tử xấu vào làm việc trong các cơ quan của tỉnh.

Ngoài ra, y còn câu kết, móc nối với một số đồng bọn ngoài xã hội có tư tưởng và hành động chống phá Cách mạng. Qua đấu tranh với Ba Ngân, lực lượng An ninh phát hiện nhiều tối tượng khác đã chui vào nội bộ ta. Bằng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát, đến tháng 7/1980, Ban chuyên án đã thu thập toàn bộ tài liệu, chứng cứ để đấu tranh, kết thúc chuyên án, bóc gỡ toàn bộ mạng lưới này của địch, nắm rõ ý đồ hoạt động hậu chiến của CIA ở Đồng Tháp, bắt 25 đối tượng, thu nhiều tang vật, tài liệu phản Cách mạng.

Đây là vụ nội gián đặc biệt nghiêm trọng, đối tượng có nhiều thủ đoạn nguy hiểm, ngụy trang che giấu để chui sâu, leo cao vào nội bộ ta. Với tinh thần cảnh giác Cách mạng cao, qua hơn một năm kể từ ngày xác lập (ngày 11/3/1979 đến ngày 31/7/1980), chuyên án đã kết thúc. Thắng lợi trên còn là bài học quý báu về công tác bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ an toàn cơ quan, xây dựng chính quyền các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Lat-mat-nhung-quan-co-den-trong-ke-hoach-hau-chien-cua-dich-364158/


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:30:16 AM
4/Dập tắt “Kế hoạch Hải Triều”

Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, ngành Công an đã có kế hoạch bóc gỡ mạng lưới nội gián của địch cài vào nội bộ ta hoạt động nhằm bảo vệ trong sạch nội bộ Đảng, cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang. Ngày 12-7-1975, qua đơn tố giác của người dân kết hợp với việc khai thác tài liệu do chế độ cũ để lại, Công an Bình Định phát hiện vụ nội gián trong “Kế hoạch Hải Triều” của Cảnh sát đặc biệt Ngụy đánh vào Thị ủy Quy Nhơn, do tên Võ Tám cầm đầu.

Theo tài liệu điều tra của cơ quan Công an, Võ Tám sinh năm 1921 tại Hoài Nhơn, Bình Định, từng tham gia du kích thôn và bị địch bắt. Sau khi ra tù, qua giới thiệu của người cháu (gọi Võ Tám bằng cậu ruột) là du kích thoát ly, Võ Tám được cán bộ Công đoàn giải phóng móc nối tuyển chọn làm cơ sở nội tuyến hoạt động tại thị xã Quy Nhơn. Võ Tám bị địch phát hiện và bí mật giám sát, theo dõi tính toán sử dụng vào kế hoạch tình báo của chúng.

Đầu năm 1970, sau khi dự lớp huấn luyện ngắn hạn của ta tổ chức từ chiến khu trở về, Võ Tám bị Cảnh sát Ngụy ở Bình Định bắt bí mật, đe dọa, mua chuộc, khống chế và y đã nhận làm việc cho chúng.

Cảnh sát quốc gia Bình Định thiết lập kế hoạch nội gián mang mật danh “Kế hoạch Hải Triều” đưa Võ Tám trở lại hàng ngũ cách mạng, thâm nhập vào Thị ủy Quy Nhơn để thu thập tin tức và giúp chúng đánh phá cơ sở cách mạng.

“Kế hoạch Hải Triều” được thực hiện vào ngày 1-4-1970, Võ Tám được Cảnh sát quốc gia Bình Định cho mang bí số “X6”. Lợi dụng chủ trương của cách mạng phát triển cơ sở nội tuyến, Cảnh sát quốc gia Bình Định đã hướng cho Võ Tám xây dựng cơ sở vào số người do chúng giới thiệu, tạo thành nhóm nội gián hoạt động cho địch.
Chúng đã xây dựng các tên Nguyễn Đức Bé (bí số X11), Trần Mùi (bí số X7), Phạm Minh Nhậm (bí số X9) và 2 người con của Võ Tám là Võ Thị Quán (bí số X8) và Võ Ngọc Chánh (bí số X10). Được cơ quan tình báo Ngụy chỉ đạo chặt chẽ và sự giúp đỡ của CIA, Võ Tám đã gây được tín nhiệm với cách mạng, được kết nạp vào Đảng.

Trong quá trình hoạt động nội gián cho địch đến khi bị lực lượng Công an nhân dân Việt Nam phát hiện, bắt giữ, Võ Tám đã báo cho địch 200 tin tức quan trọng, chỉ điểm cho địch bắt nhiều cán bộ cách mạng hoạt động tại nội thị Quy Nhơn, trong đó có một Tỉnh ủy viên Bình Định, phá vỡ 4 tổ chức cách mạng. Hoạt động bán nước hại dân của Võ Tám được cố vấn CIA Đa-vít Mô-ra-lét đánh giá: “Đây là kế hoạch mạnh nhất vùng 2 chiến thuật”.


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 01 Tháng Tám, 2017, 11:31:27 AM
5/Phá tan “Kế hoạch Hải Yến”

Tháng 4-1977, Cơ quan an ninh miền Nam đã phát hiện Nguyễn Tấn Đức (bí số N001) do CIA và Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo Ngụy tuyển lựa, hoạt động trong “Kế hoạch Hải Yến”, Ban công tác Nam vụ.

Đi sâu điều tra nghiên cứu về Đức, lực lượng an ninh đã dựng lại quá trình hoạt động của y. Nguyễn Tấn Đức sinh năm 1925 tại Ba Tri, Bến Tre. Đức tham gia cách mạng năm 1945, được kết nạp Đảng năm 1948, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa (năm 1966), Đức được cử vào B2 công tác, là ủy viên Ban dân y Phân khu II, khu Sài Gòn - Gia Định, sau đó làm Trưởng ban quân y Tân Bình. Năm 1969, Đức được đề bạt làm Viện trưởng Bệnh viện A10, Hiệu trưởng trường Y sỹ Phân khu II. Tháng 2-1970, trên đường đưa đoàn cán bộ và thương binh về địa điểm mới gần biên giới Việt Nam - Campuchia, thì bị địch phục kích và Đức ra lệnh cho anh em không được chống cự.
Sau đó, Đức và cả đoàn bị địch bắt. Đức tỏ ra hoang mang dao động, mất tinh thần, khai báo với địch để bảo toàn tính mạng. Sau khi thử thách, địch đưa Đức về Sài Gòn sử dụng làm nội gián mang bí số N001. Chúng đưa Đức về nằm vùng tại huyện Tân Bình để chờ cơ hội chui vào nội bộ ta.

Tháng 4-1973, Đức móc nối và trực tiếp gặp lãnh đạo Huyện ủy Tân Bình và được giao nhiệm vụ hoạt động công tác y tế ở huyện, bằng các hoạt động như mở rộng y tế trong nhân dân lao động; đào tạo các lớp y tế, hộ sinh do các cơ sở xã gửi đến để phục vụ sau này. Sau khi hoàn thành một số nhiệm vụ do địch giao, Đức được quan thầy của hắn đánh giá: “Kế hoạch đang tiến triển tốt. Tình báo viên đã có cơ hội chui vào nội bộ cách mạng”.

Khi bộ đội ta vào giải phóng Sài Gòn, Đức được Huyện ủy Tân Bình sử dụng vào công tác y tế phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau giải phóng, hắn làm cán bộ Phòng Y tế huyện Tân Bình. Nhưng, trước con mắt cảnh giác của nhân dân và sự nhạy bén của lực lượng An ninh miền Nam, tên nội gián Nguyễn Tấn Đức mang bí số N001, nhân vật chính trong “Kế hoạch Hải Yến” do địch cài lại để hoạt động chống phá cách mạng đã sa lưới.

nguồn: http://anninhthudo.vn/the-gioi/boc-go-mang-luoi-noi-gian-do-dich-cai-lai/323922.antd


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 04 Tháng Tám, 2017, 01:31:40 AM
6/Sự đền tội của trùm phản động Hoàng Cơ Minh

nguồn: http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Su-den-toi-cua-trum-phan-dong-Hoang-Co-Minh-(phan-3)-287141/

phần 1:

Cách đây gần 20 năm - ngày 28/8/1987, trên đường xâm nhập qua lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để vào Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân, Hoàng Cơ Minh, nguyên Phó đề đốc quân đội Sài Gòn, kẻ cầm đầu tổ chức phản động gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam", đã bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào phát hiện, truy đuổi và bắn bị thương tại vùng Bản Pon, tỉnh Xa La Van.

Sau đó, do lo sợ bị bắt, cũng như  đoán trước được kết cục dành cho mình, Hoàng Cơ Minh tự sát.

Chiến dịch Đông tiến 2

Sau khi “chiến dịch Đông  tiến 1” tổ chức hồi tháng 8/1986 thất bại, rồi bị cộng đồng người Việt hải ngoại vạch trần âm mưu bịp bợm vì thực chất của “chiến dịch” này, chỉ là đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới tiếp giáp giữa Thái Lan, Lào, dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, và sau đó cho mặc quần áo rằn ri, vai đeo balô, tay cầm súng, lăn lê bò toài để quay phim, chụp ảnh, đưa về Mỹ tuyên truyền rằng, “mặt trận” đã thành lập được nhiều “khu chiến” bên trong lãnh thổ Việt Nam, thì Hoàng Cơ Minh, chủ tịch “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (từ đây gọi tắt là Mặt trận Hoàng Cơ Minh) cùng đám tay chân thân tín nhận ra rằng, trò lừa đảo của “mặt trận” đang có nguy cơ đổ bể.

Nếu như trước kia, hệ thống "phở Hòa" – là cơ quan kinh tài của “mặt trận”, có chi nhánh trên nhiều tiểu bang của nước Mỹ, liên tục kêu gào cộng đồng người Việt vào... ăn phở để góp phần ủng hộ “kháng chiến”, thì nay dù thúc ép, thậm chí hăm dọa, họ cũng chẳng vào. Những cuộc biểu tình do “mặt trận” tổ chức, người tham dự cũng ngày càng thưa thớt.

Đã thế, trong nội bộ “mặt trận” lại xuất hiện sự chống đối, nhiều người thẳng thừng gọi tổ chức Hoàng Cơ Minh là “kháng chiến tái nạm béo”, Hoàng Cơ Minh là chủ tịch lừa.

Vì thế, tên trùm phản động quyết tâm tiến hành một chiến dịch nữa nhằm tạo tiếng vang và lấy lại uy tín, hầu dễ bề quyên góp tiền bạc. Đầu tháng 7/1987, y cho di chuyển khoảng 130 người (cả số đang còn nằm lại ở biên giới Thái Lan, Lào sau “chiến dịch Đông tiến 1”, lẫn số từ Mỹ sang), đến một khu rừng thuộc tỉnh U Bon – Thái Lan, rồi móc nối với bọn thổ phỉ người Lào để thuê bọn này dẫn đường vượt qua đất Lào.

Theo kế hoạch – được Hoàng Cơ Minh đặt tên là “chiến dịch Đông tiến 2”,  nhóm phản động chia thành 4 bộ phận: Đó là “Quyết đoàn tiền phương”, gồm 40 tên do Phan Thanh Phương làm quyết đoàn trưởng (mỗi quyết đoàn lại chia thành nhiều dân đoàn, mỗi dân đoàn gồm 9, 10 tên), có nhiệm vụ mở đường. “Quyết đoàn Bắc Bình”, gồm 29 tên do Lê Đình Bảy làm quyết đoàn trưởng, đi giữa. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Huy, Trần Khánh, Võ Hoàng (là ủy viên trung ương mặt trận) cùng một số tên chóp bu khác.

Đi sau cùng là “Quyết đoàn Anh dũng” gồm 40 tên, do Khu Xuân Hưng làm quyết đoàn trưởng. Các quyết đoàn ngoài vũ khí cá nhân như súng AK, M16, lựu đạn, mìn claymore, còn có một hoặc hai khẩu B40, B41, và vài máy bộ đàm tầm hoạt động khoảng 3km.

Tất cả những thứ ấy, bọn chúng mua lại từ các nhóm thổ phỉ Lào hoặc từ các chợ trời vũ khí dọc theo biên giới Lào, Thái Lan. Riêng bộ chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, còn được trang bị thêm 2 khẩu cối cá nhân M79. Quần áo, giày dép, mũ nón chúng sử dụng cũng vậy, hầu hết đều mua ở chợ trời biên giới với đủ chủng loại.

Về lương thực, mỗi tên mang  trên lưng 20 - 30 kg, gồm gạo, mì ăn liền, mắm muối, nồi niêu xoong chảo. Bên cạnh đó, các quyết đoàn còn được cấp một ít tiền kíp để mua lương thực nếu đi ngang thôn bản người Lào. Riêng các quyết đoàn trưởng và các ủy viên mặt trận, Hoàng Cơ Minh giao cho mỗi tên từ 2 đến 5 lượng vàng, một số USD và đồng bạt Thái Lan  để... hối lộ bộ đội Lào nếu bị bắt!

Theo kế hoạch, cả bọn sẽ vượt sông Mê Kông, sang tỉnh Xa La Van – miền Nam nước Lào rồi từ đó, dưới sự dẫn đường của 20 tên thổ phỉ Lào, chúng sẽ đi về tỉnh Sê Kông và xâm nhập khu vực ngã ba biên giới, thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Tại đây, chúng sẽ lập căn cứ, tiến hành phục kích xe cộ, đặt mìn phá cầu, tấn công các đồn biên phòng Việt Nam để gây tiếng vang, tạo cơ hội cho bọn ở lại bên Mỹ, thúc ép cộng đồng người Việt góp tiền ủng hộ...

23 giờ ngày 18/7/1987, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh lên đường, đi đầu là “Quyết đoàn Tiền phương”. Càng đến gần biên giới Thái - Lào, bọn chúng càng hoang mang, lo sợ, nhất là những tên chỉ huy các quyết đoàn, dân đoàn vì chúng biết chuyến đi này không phải để dàn cảnh, quay phim, mà dữ nhiều, lành ít. Khi chỉ còn cách điểm tập kết là bờ sông Mê Kông ngăn đôi hai nước Lào, Thái Lan chừng 3km,  Hoàng Cơ Minh sai “Quyết đoàn trưởng quyết đoàn Tiền phương” Phan Thanh Phương, cử một dân đoàn đi trinh sát.

Thế nhưng, 9 gã trong dân đoàn ấy chỉ đi khoảng 300 mét, rồi lủi vào bụi rậm nằm chờ đến giờ quay về báo cáo. Tuy nhiên lúc quay về, thì một tên trong “dân đoàn” bỗng dưng biến mất. (Do quá sợ hãi, gã vứt bỏ toàn bộ lương thực, súng ống, vạch rừng mò ngược trở lại rồi sau một thời gian sống chui lủi, khi nghe tin toàn bộ nhóm xâm nhập đã bị bắt hoặc bị giết, gã dạt về Campuchia, chạy xe ôm kiếm sống, cạch mặt “mặt trận” tới già).

Tin một gã “dân đoàn viên” bỏ trốn được Phạm Thanh Phương giấu kín vì sợ bị Hoàng Cơ Minh trừng trị mặc dù y rất lo gã kia ra hàng chính quyền, bộ đội cách mạng Lào. Trong suốt ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba của cuộc xâm nhập, Phương đứng ngồi không yên, lúc nào cũng nơm nớp.

Đám thổ phỉ Lào ở riêng một góc, lo sợ không kém vì chúng được trả tiền để dẫn đường, nhưng Hoàng Cơ Minh dùng dằng nửa đi, nửa ở khiến chúng như ngồi trên chảo lửa. Chúng không biết Hoàng Cơ Minh đang chờ một bộ phận nữa, là “đoàn đặc nhiệm” do Nguyễn Quang Phục, biệt danh Hải “xăm” cầm đầu.

Đoàn đặc nhiệm này chỉ gồm 7 tên nhưng  hầu hết đã từng tham gia các sắc lính trong quân đội Sài Gòn nên dạn dày kinh nghiệm, được Hoàng Cơ Minh đặc biệt tin tưởng. Thế nhưng, lúc nghe tin Hải “xăm” không đến điểm hẹn vì bất ngờ lên cơn sốt rét, và cả “đoàn đặc nhiệm” còn cách nơi tập kết khá xa, nên  Hoàng Cơ Minh đành ra lệnh cho Hải “xăm” khi nào hết sốt, sẽ dẫn quân đuổi theo các “quyết đoàn”. Việc Hải “xăm” bị sốt ít nhiều gây hoang mang trong hàng ngũ, và có tin đồn truyền tai nhau, rằng sốt chỉ là cái cớ để Hải “xăm” được nằm lại


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 04 Tháng Tám, 2017, 01:32:20 AM
Xẩm tối ngày 20/7/1987, Hoàng Cơ Minh cùng bọn phản động nhắm hướng sông Mê Kông thẳng tiến. Tại đây, nhóm thổ phỉ Lào đã thuê sẵn mấy chiếc ghe máy, mỗi chiếc có thể chở được 30 người nên việc vượt sông diễn ra êm ả. Nhưng ở bờ bên kia, là những vách đất cao, trơn trợt nên đám  phản động phải mất hơn 10 phút mới trèo lên được.

Sau này, khi bị bộ đội cách mạng Lào bắt, nhiều tên phản động khai rằng, tinh thần của hầu hết các “dân đoàn viên” đã rệu rã ngay từ khi vượt sông, và chúng cầu mong chỉ vào sâu trong đất Lào chừng vài cây số để quay phim, chụp hình rồi rút về như “chiến dịch” trước. Thậm chí có tên trong khi trèo lên con dốc dựng đứng ở bờ sông, đã lén vứt đi mìn, lựu đạn và đạn.

Có tên giả bộ ngã trặc chân để mong được cho ở lại. “Dân đoàn viên” Nguyễn Văn Náo khai: “Lúc vượt sông, lợi dụng trời tối không ai để ý, tôi thả xuống nước 2 băng đạn và 1 quả lựu đạn. Tôi tính nếu đụng trận, tôi sẽ tìm cách trốn về Thái Lan”.

Vượt qua được bờ dốc, Hoàng Cơ Minh cho cả bọn nghỉ đêm. Bên các bụi tre, chúng ngủ chập chờn trong tư thế ngồi co quắp. Mờ sáng, sau khi nhai trệu trạo nắm mì gói vì không dám nổi lửa, chúng đi ngang một trảng lớn, cỏ mọc lưa thưa rồi bắt đầu leo lên dãy núi đá, sườn núi đầy những bụi cây nhỏ lúp xúp.

Đến 9 giờ, khi bọn phản động đang ở ngang lưng chừng núi thì bất ngờ trên trời có tiếng động cơ máy bay, rồi một chiếc máy bay trinh sát xuất hiện khiến đám phản động đứa lủi vào bụi cây, đứa lăn ra đất nằm im như chết.

Thoạt đầu, Hoàng Cơ Minh cùng bộ chỉ huy nhận định đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng khi thấy chiếc máy bay đảo đi đảo lại hai, ba vòng, chúng liền đặt câu hỏi, rằng đó chỉ là nhiệm vụ hàng ngày của Không quân cách mạng Lào trên vùng biên giới, hay chúng đã bị lộ?

Khoảng 10 phút sau, chiếc máy bay trinh sát biến mất, Hoàng Cơ Minh ra lệnh tiếp tục lên đường vì y tin rằng sự xuất hiện của chiếc máy bay chỉ là sự tình cờ. Các “quyết đoàn”, “dân đoàn” lầm lũi bước, mắt dáo dác nhìn chung quanh. Gần tối, khi đến cạnh một con suối lớn, Hoàng Cơ Minh cho dừng chân, bố trí đội hình phòng thủ và nấu cơm.

Bữa cơm một phần ăn với mắm kem còn phần kia nắm lại, để dành hôm sau. Bốn năm gã – trong đó có Nguyễn Văn Dũng lén lút mang theo được mấy bi đông rượu từ đất Thái, giờ tụm lại dưới bụi cây, chuyền tay nhau tu. Bị “dân đoàn trưởng” là Đỗ Bạch Thố phát hiện, chửi bới, Dũng toan chụp khẩu M16, lia cho Thố một băng nhưng đồng bọn ngăn cản. Sau này khi Dũng kiệt sức, chính tay Đỗ Bạch Thố đã dùng dây giày, xiết cổ Nguyễn Văn Dũng đến chết để trả thù hành động Dũng định bắn mình.

Sáng ngày thứ 5 của chuyến xâm nhập, bọn phản động khởi hành sớm. Lúc mặt trời lên, chúng nhận ra địa hình đang đi khá trống trải và nếu xảy ra đụng độ, sẽ chẳng khác gì phơi lưng ra làm bia. Hỏi nhóm thổ phỉ Lào dẫn đường, thì chỉ nhận được câu trả lời là cứ đi tiếp. Y như rằng, khoảng 8 giờ sáng, ở cuối đội hình bọn phản động bỗng vang lên từng loạt súng.

Trận chạm súng giữa bộ đội cách mạng Lào và nhóm phản động đi đoạn hậu diễn ra rất ngắn, cả hai bên không ai thương vong nhưng chứng tỏ rằng việc xâm nhập đã bị lộ và điều này khiến tinh thần của hầu hết bọn chúng đều hoang mang. Bất lợi hơn nữa là theo kế hoạch, các dân đoàn, quyết đoàn sẽ tìm cách tiếp cận với những bản làng người Lào trên đường đi qua để mua thức ăn tươi, cũng như tìm hiểu tình hình.

Nhưng nay cuộc chạm súng đã khiến chúng phải lùi sâu vào rừng trong lúc gạo, mì bắt đầu vơi dần. Đã vậy, một số tên từ Mỹ, Pháp, Nhật về, do không quen với khí hậu, địa hình, không quen với cuộc di hành chỉ bằng đôi chân nên đâm ra cáu kỉnh. Hầu như lúc nào cũng có những cuộc cãi vã – không ở dân đoàn này thì cũng ở quyết đoàn khác. Hơn 100 tên xâm nhập nhưng chỉ có 1 y tá. Các vết lở loét ở chân do giày thấm nước, vết rách ở tay, ở cổ do đá cắt, gai cào, muỗi đốt, vắt cắn, chỉ được rửa ráy, băng bó sơ sài nên nhiều tên bị nhiễm trùng, bước đi phải có kẻ xốc nách hoặc chống gậy.

Sau cuộc chạm súng, Hoàng Cơ Minh hạ lệnh đi nhanh hơn. Đến 4 giờ chiều, lúc lên tới một triền núi và khi nhóm phản động chuẩn bị dừng chân qua đêm, thì vài gã dân đoàn viên thuộc “Quyết đoàn Anh dũng” mò xuống những bụi tre phía dưới kiếm măng tươi. Chỉ vài phút sau đó, đột ngột tiếng súng AK nổ từng loạt dài, cùng tiếng la hét inh ỏi.

Lúc bọn lấy măng tháo chạy về, kiểm điểm lại thấy mất Nguyễn Văn Náo. Theo lời bọn chúng, một toán bộ đội cách mạng Lào đã bí mật bám theo, rồi bất ngờ tập kích, bắt sống Nguyễn Văn Náo. Điều này rất nguy hiểm vì Hoàng Cơ Minh nhận định, nếu Náo bị bắt, toàn bộ kế hoạch xâm nhập cũng như lực lượng và trang bị vũ khí của cả đoàn, coi như hoàn toàn bị lộ.

Đã đâm lao thì phải theo lao. Quay về cũng dở mà ở cũng không xong, Hoàng Cơ Minh ra lệnh đi tiếp. Đường đi càng lúc càng khó vì phải leo lên những tảng đá, tảng nọ chồng tảng kia. Sẩm tối, khi toán đoạn hậu báo cáo không thấy dấu hiệu bộ đội cách mạng Lào đuổi theo, Hoàng Cơ Minh mới dám cho dừng chân  nấu cơm gần một con suối.

Để đề phòng, y  chỉ thị cho các quyết đoàn trưởng, là từng dân đoàn lần lượt cử người xuống suối lấy nước chứ không đi đồng loạt. Lúc này, nhiều bếp lửa đã được nhóm lên, “dân đoàn viên” Trần Văn Thảo đang ngồi hong khô đôi giày thì phát hiện bóng người thấp thoáng. Gã hỏi lớn: “Ai đó?". Phía bên kia đáp lại một chữ ngắn gọn, nghe như tiếng Lào, rồi lập tức, hàng loạt đạn AK quạt xối xả vào đội hình bọn phản động, kèm theo những tiếng nổ tức ngực của đạn B40. Một quả B40 nổ ngay cạnh bếp cơm của “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Hòa khiến gã bật ngửa, đầu tung tóe máu.

Đến lúc ấy, cả bọn phản động vẫn không hay biết, rằng chúng đã bị một tổ dân quân Lào tuần tra biên giới phát hiện ngay từ khi chúng đang vượt sông Mê Kông. Và bởi vì lực lượng ở khu vực đó mỏng, hơn nữa chưa rõ nhóm phản động vượt sông có phải là nhóm đi đầu mở đường cho những nhóm tiếp theo hay không, nên bộ đội cách mạng Lào quyết định chỉ cử một toán nhỏ bám theo, trinh sát, tìm cách bắt tù binh đưa về khai thác, điều tra...


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 04 Tháng Tám, 2017, 01:34:09 AM
phần 2:

Trong  những ngày cuối cùng của “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh chỉ còn chưa đầy 40 tên, hầu hết đều bị thương hoặc kiệt sức vì đói. Lương thực mang theo cạn kiệt nên nhiều tên dù muốn trốn, cũng chẳng biết về đâu. Hơn nữa, các bản án tử hình mà Hoàng Cơ Minh thi hành với đồng bọn khi phát hiện âm mưu đào ngũ đã làm bọn chúng kinh sợ.

Ngày tàn của bọn xâm nhập

Trước khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, Hoàng Cơ Minh quyết định giết bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ngô Chí Dũng vì cho là chống đối, giết Trần Tuyết Ánh, A Hừng, Bùi Duy Hiền, Lưu Tuấn Hùng, Võ Sĩ Hùng, Đào Văn Lâm do nghi ngờ bỏ trốn, giết Thạch Kim Ca, Trần Tự Nhiên... vì nghi là nội gián.

Trên đường hành quân, Hoàng Cơ Minh còn cho các quyết đoàn trưởng, dân đoàn trưởng được quyền giết những tên thương binh như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Anh Điền, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hòa..., hoặc bỏ mặc nằm chết giữa rừng để khỏi phải khiêng, cáng. Ngay cả Lê Hồng (bí danh Đặng Quốc Hiền), cựu trung tá nhảy dù quân đội Sài Gòn, được Minh phong làm “thiếu tướng, tư lệnh quân kháng chiến”, cũng bị Hoàng Cơ Minh giết vì đã dám chất vấn Minh về những mờ ám trong việc sử dụng tiền.

Sáng 24, nghĩa là đúng 1 tháng 6 ngày kể từ khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, bọn phản động tiến gần đến bản Phón, thuộc tỉnh Xa La Van. Đêm hôm trước, lại có thêm 3 tên bỏ trốn là Phạm Hoàng Tùng, Hà Văn Lâm và Đặng Quốc Hùng. Trốn khoảng nửa ngày, chúng gặp Nguyễn Văn Thông, cũng đang trốn nên cho đi cùng. Lúc đi hái măng, Phạm Hoàng Tùng bị lạc rồi bị bộ đội cách mạng Lào bắt sống. Hai ngày sau, 3 tên còn lại cũng vào trại giam.

Trở lại chuyện bản Phón, từ trên đỉnh núi nhìn xuống thấy mấy nóc nhà, Đinh Văn Bé, khi đó được đưa lên làm “quyết đoàn trưởng”, đã đề nghị Hoàng Cơ Minh cho 2 dân đoàn viên vào bản  mua lương thực với mệnh lệnh “không mua được thì cướp”.

Tài sản duy nhất mà chúng còn lại là 5 chỉ vàng, do Hoàng Cơ Minh giữ, được lấy ra đưa cho Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền. Cũng cần nhắc lại khi thành lập “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, bên cạnh hệ thống kinh tài là một chuỗi những tiệm “phở Hòa”, Hoàng Cơ Minh và bọn cầm đầu như Hoàng Cơ Định, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Kim còn tổ chức nhiều đợt quyên góp trong cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài “ủng hộ kháng chiến”. Và nếu ai không đóng góp, thì bị bọn chúng chụp cho cái mũ “cộng sản nằm vùng”, rồi cho tay chân hành hung, hăm dọa, thậm chí ám sát mà cụ thể là giết vợ chồng nhà báo Lê Triết khi Triết cho đăng loạt bài vạch trần sự bịp bợm của “mặt trận Hoàng Cơ Minh”.

Tổng số tiền bọn Hoàng Cơ Minh thu được, theo số liệu của Cục Điều tra liên bang và Sở Thuế Mỹ sau này, là khoảng 10 triệu USD. Phần lớn số tiền ấy ngoài việc chui vào túi bọn cầm đầu, chúng còn dùng để ăn chơi, du hí ở Nhật, Pháp, Thái Lan, Đức bằng hình thức  “đi công cán”, cũng như để mua lương thực, vũ khí, mua vàng cho các “chiến dịch Đông tiến”.

Sau khi “chiến dịch” bị đánh tan nát, Hoàng Cơ Minh phải đền tội, một số tên cầm đầu còn lại lặng lẽ lấy tiền chia nhau, mua cổ phần trong những công ty chứng khoán, hoặc lập những đội tàu đánh cá, và nó nghiễm nhiên trở thành tài sản riêng.

Cầm 5 chỉ vàng, Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền xuống núi. Nhưng mới đi chưa được 50 mét, một loạt AK vang lên đanh gọn, khiến  Trần Văn Yên chết ngay. Cùng lúc, tứ bề súng nổ giòn, cả tiếng AK lẫn tiếng đạn cối, đạn sơn pháo. Huỳnh Văn Miền lủi vào một hốc đá, giơ khẩu M16 lên đầu, bắn bừa. Ở phía trên, Hoàng Cơ Minh lăn xuống khe suối cạn, cánh tay trái máu tuôn xối xả vì  mảnh đạn cối ghim phải. Trên ghềnh đá bên bờ suối, dân đoàn viên Tạ Hoàng Thiện lãnh nguyên một trái M79 nổ tung vào mặt.

Lẫn trong tiếng súng nổ, là tiếng quát gọi hàng của bộ đội cách mạng Lào. Trần Đế, Quyết đoàn phó Quyết đoàn Cải Cách dẫn 4 dân đoàn viên, vừa bắn loạn xạ, vừa lùi xuống khe suối cạn nơi Hoàng Cơ Minh đang nằm lăn lộn. Chưa kịp đặt chân xuống lòng suối lổn nhổn đá củ đậu, dân đoàn viên Nguyễn Văn Sĩ  ngã bổ ngửa ra, máu từ ngực phun thành tia, còn dân đoàn viên Ngô Tấn Nghiêm, chân phải đứt tới háng, chỉ còn dính lại bằng mẩu da lủng lẳng. Cạnh đó, “ủy viên trung ương mặt trận” Trần Khánh nằm chết.

Khoảng 40 phút sau, tiếng súng im hẳn. Bọn phản động chết 6, bị thương 3, còn vài tên bỏ trốn hoặc chạy lạc. Thuốc men hầu như chẳng có gì nên cánh tay Hoàng Cơ Minh chỉ được băng bó bằng một miếng giẻ, xé ra từ chiếc khăn rằn quấn cổ.  Kiểm điểm lại, chúng chỉ còn 26 tên trong đó 4 tên không vũ khí vì chúng đã vứt bỏ khi tháo chạy.

Đạn dược cũng thế, mỗi tên chỉ còn chừng 3 băng với vài quả lựu đạn. Bên bờ suối, tiếng rên của Ngô Tấn Nghiêm lúc nghe như  con lợn bị chọc tiết, lúc chỉ ư ử trong cuống họng nhưng chẳng tên nào còn đủ tinh thần để  kết thúc nỗi đau đớn cho mình.

Cái chết của Trần Khánh khiến Hoàng Cơ Minh mất tinh thần. Đây là lần đầu tiên, bọn phản động nhìn thấy Hoàng Cơ Minh mặt tái mét, tay run rẩy, mắt mở trừng trừng nhìn xác Trần Khánh. Là nhân vật thứ hai – chỉ đứng sau Hoàng Cơ Minh trong “chiến dịch Đông tiến”, phụ trách tâm lý chiến, Trần Khánh còn có bí danh là Trần Thiện Khải, một thời gian dài chỉ huy và điều hành đài phát thanh “kháng chiến” đặt trên đất U Bon, Thái Lan.

Tự nhận là mình có họ hàng với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, Khánh đã sáng tác một số bài hát nhằm lên dây cót tinh thần đồng bọn. Những gã bị bắt sau này cho biết, Trần Khánh có tác phong quân phiệt, thường xuyên la hét, đánh chửi “chiến hữu”. Trong suốt thời gian thực hiện “chiến dịch Đông tiến 2” cho đến khi chết, Khánh đã trực tiếp hạ lệnh cho các dân đoàn, quyết đoàn giết chết ít nhất là 7 tên đồng bọn bị thương, đồng thời bỏ rơi hàng chục tên khác khi thấy chúng kiệt sức.

Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa càng lúc càng nặng hạt. Lợi dụng thời tiết, Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho bọn phản động nhanh chóng rời con suối lúc này đã ngập nước, bỏ mặc 3 tên bị thương nằm lại với đất trời. Xẩm tối, chúng phát hiện ra một hang đá, cả bọn chui vào ẩn náu. Nếu không kể những tên  từ Mỹ, Pháp, Nhật, Đức về, thì hầu hết dân đoàn viên đều là những tên vượt biên – trong đó không ít là các sắc lính quân đội Sài Gòn, vào trại tị nạn Sikhiu ở Thái Lan, rồi được Hoàng Cơ Minh tuyển mộ với lời hứa “sẽ cho đi định cư tại Mỹ” sau khi hoàn thành nhiệm vụ


Tiêu đề: Re: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiế
Gửi bởi: bodoibienphong trong 04 Tháng Tám, 2017, 01:35:05 AM
Nhưng đến giờ phút này, chẳng tên nào còn nghĩ đến giấc mơ được tới nước Mỹ, mà chỉ mong thoát khỏi vòng vây của bộ đội Lào. Trước lúc lên đường, chúng bóp nhỏ những gói mì, nhét xuống đáy ba lô. Thịt gà, thịt heo, chúng xé nhỏ, rang thật mặn rồi ém chặt. Bây giờ vét kỹ, còn được vài nắm nên chúng hứng nước mưa, nấu thành một thứ canh lõng bõng, chia nhau húp.

Mưa suốt cả ngày hôm sau. Và có lẽ cơn mưa cũng gây khó khăn cho bộ đội cách mạng Lào, nên chúng tạm thời yên ổn. Đói quá, một vài tên liều mạng bò ra ngoài, hái mấy mớ rau rừng về luộc. Tâm trạng tuyệt vọng khiến cả bọn hầu như chẳng còn suy nghĩ gì nữa. Chúng đốt lửa sáng rực, vừa để hong khô những bộ quần áo, vừa đỡ lạnh. Vết thương trên cánh tay nhiễm trùng khiến Hoàng Cơ Minh lên cơn sốt. Y nằm co quắp trong một góc, chẳng “chiến hữu” nào còn để ý đến y. Tất cả chỉ lo cho mạng sống của mình. Nhiều tên thì thào với nhau, rằng nếu bộ đội Lào đánh vào, chúng sẽ đầu hàng hết.

Sáng 28/8, trời tạnh. Khoảng 9 giờ, Hoàng Cơ Minh ra lệnh lên đường. Trước lúc di chuyển, y nói với đám tàn quân, rằng ai có thể quay về đất Thái thì cứ về. Chẳng phải y tốt lành gì nhưng có lẽ y nghĩ đến phát súng “ân huệ” của đồng đội khi cánh tay y sưng to vì nhiễm trùng, đi phải chống gậy. Nhưng về thế nào được nữa khi tấm bản đồ duy nhất, đã nằm cùng với xác Trương Ngọc Ny.

Cả bọn dò dẫm ra khỏi cửa hang. Sau cơn mưa, vắt xuất hiện nhiều vươn mình bám chặt vào những ống chân khẳng khiu, ghẻ lở, nhưng chẳng tên nào còn tinh thần đâu mà gỡ. Võ Hoàng, “Tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” kéo “dân đoàn trưởng” Võ Văn Tuấn lùi lại phía sau, vừa bước vừa hỏi nhỏ “Nếu quay lại Thái Lan thì đi đường nào, mất bao nhiêu ngày?”.

Tuấn dáo dác nhìn quanh như sợ có người nghe thấy, rồi vẫy “dân đoàn viên” Nguyễn Linh lên: “Hồi trước nghe nói mày có đi khai thác gỗ ở Lào phải không?”. Linh gật đầu: “Dạ. Em đi tuốt tới gần biên giới Thái Lan, rồi em chạy qua đó xin... tị nạn luôn” – “Vậy mày còn nhớ đường không?” –  “Nếu đi đường từ Quảng Trị lên thì em nhớ, chứ đường này lạ quá. Thái Lan nằm ở phía Tây, là sau lưng mình...”. Võ Văn Tuấn gừ gừ trong cuống họng: “Thôi, nghe thì biết vậy thôi. Hó hé ra là mày chết trước. Từ bây giờ, mày đi sát với tao”.

9 giờ 30 sáng, trời không có nắng nên quang cảnh vẫn âm u. Đám tàn quân nặng nề lê bước nhưng không phải là tản ra theo đội hình vừa đi, vừa sẵn sàng nổ súng như những ngày đầu, mà co cụm lại với nhau. Qua một trảng cỏ tranh trống trải, chúng cũng chẳng buồn ngụy trang vì đối với nhiều tên trong bọn, cái chết lúc này chính là sự giải thoát, còn bị bắt thì coi như được sinh ra lần thứ hai.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã tuyên bố cho phép đám phản động được trở lại đất Thái, nhưng chẳng tên nào dám công khai quay lưng bởi lẽ đường sá không rành, lương thực không có, lại thêm bộ đội cách mạng Lào lúc ẩn lúc hiện nên chúng chẳng còn cách nào khác hơn là bám theo bầy đàn. Sau này, trong trại giam, “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Đức kể lại: “Kể cả Hoàng Cơ Minh, chẳng ai còn tinh thần và cũng chẳng ai có một tí hy vọng gì về cuộc “Đông tiến”.

Trước lúc lên đường, ông Minh nhiều lần thao thao bất tuyệt về các “khu chiến quốc nội”, về các “đường dây xâm nhập”, về các “trạm dưỡng quân” đã được thiết lập từ nhiều năm trước. Thực tế cho thấy Hoàng Cơ Minh chỉ giỏi nói dóc, đánh lừa...”.

Đi được chừng 1km, lúc cả bọn đang dò dẫm bước xuống những tảng đá trơn trợt, thì súng lại nổ. Võ Hoàng – “tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” bị một quả M.79 vào đầu. Nguyễn Văn Đẩu, tên còn khỏe nhất, đeo balô đựng quần áo, tài liệu của Hoàng Cơ Minh lĩnh nguyên một loạt AK vào bụng. Quyết đoàn phó Trần Đế vừa giương súng bắn bừa, vừa kéo Hoàng Cơ Minh, xuống con suối cạn, là điểm tiếp giáp giữa hai ngọn núi. Dân đoàn trưởng Đinh Văn Bé, có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Cơ Minh và Nguyễn Tấn Phát, “dân đoàn viên” nhỏ tuổi nhất, mới có 16 tuổi cũng vội vã lao theo.

Bộ đội cách mạng Lào tràn xuống tiếp tục bắn Dân đoàn phó Nguyễn Vĩnh Lộc trúng đạn, giãy đành đạch, dân đoàn trưởng Võ Văn Tuấn ngã gục như thân chuối bị phạt ngang. Biết là chẳng còn làm gì được nữa, Hoàng Cơ Minh rút khẩu súng ngắn Browning đeo bên mình, kê lên thái dương bóp cò tự sát. “Ủy viên trung ương” Nguyễn Huy cũng tự sát. Riêng Lưu Minh Hưng, “ủy viên mặt trận” khi vừa buông chốt quả lựu đạn ra, định ném thì bất ngờ lựu đạn nổ. Cả nửa thân trên của Hưng chỉ còn là nhúm thịt bầy nhầy...

Sáng ngày 1/12/1987, Tòa án nhân dân TP HCM đã mở phiên xét xử những tên phản động trong nhóm Hoàng Cơ Minh do Chính phủ nhân dân Cách mạng Lào chuyển giao vì mục tiêu của chúng là xâm nhập, bạo loạn lật đổ Nhà nước Việt Nam. Chúng đã lĩnh án từ 3 năm tù đến chung thân. Tổng cộng trong số 130 tên xâm nhập, có 83 tên chết. 19 tên bị bắt, số còn lại bỏ trốn khi đang trên đường xâm nhập.

Năm 1990, khi tình hình Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều biến động, hí hửng tưởng rằng thời cơ đã tới, “quyết đoàn trưởng mặt trận Hoàng Cơ Minh” là Đào Bá Kế, nguyên  sĩ quan Binh chủng nhảy dù, quân đội Sài Gòn, đã dẫn 30 tên mở cuộc “Đông tiến 3”. Nhưng cũng như nhóm phản động do Hoàng Cơ Minh cầm đầu, “chiến dịch Đông tiến 3” bị đánh tan tác. Nhiều tên chết, nhiều tên bị bắt trong đó, Đào Bá Kế lĩnh án tù chung thân